Nhà Trắng chuyển trọng tâm chiến lược từ Trung Đông sang Trung Quốc


Trang Politico ngày 28/01 đăng bài phân tích cho rằng, tân Tổng thống Mỹ Joe Biden đang chuyển hướng sang châu Á, nhưng có thể ông không nói ra một cách rõ ràng.

Theo bài viết, Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan mới đây tiến hành tái cơ cấu đội ngũ nhân viên của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC), tập trung vào hai tổng cục Trung Đông và châu Á, cụ thể là giảm bớt người chuyên trách về Trung Đông và tăng cường người ở bộ phận điều phối chính sách của Mỹ đối với châu Á, một khu vực rộng lớn trên thế giới trải dài từ Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương. Politico nhận định rằng động thái này là dấu hiệu mới nhất cho thấy chính quyền mới của Mỹ sẽ ưu tiên châu Á trong các sáng kiến chính sách đối ngoại của họ.

Điều này cũng phản ánh sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc trong hai thập kỷ qua và mối quan tâm ngày càng tăng của các quan chức và nhà lập pháp thuộc cả hai đảng lớn ở Mỹ về cách thức các nhà lãnh đạo chuyên chế ở Bắc Kinh đang sử dụng sức mạnh cơ bắp mới của họ. Một phóng sự truyền hình của CNN dẫn lời ông Rory Medcalf, Hiệu trưởng trường cao đẳng an ninh quốc gia, Đại học Quốc gia Australia khẳng định rằng châu Á đang là tâm điểm của một cuộc cạnh tranh quyền lực: “Châu Á đang là đấu trường để tranh giành ưu thế cả về kinh tế lẫn chính trị có ảnh hưởng đến toàn cầu. Trung Quốc đang tìm cách có sức mạnh chi phối, thậm chí họ muốn có quyền lực như một đế quốc và nhiều nước trong khu vực không muốn thấy có sự thống trị như vậy”.

Theo CNN, nhà khoa học chính trị và tác giả sách Richard Heydarian ở Philippines chỉ ra rằng với sức mạnh ngày càng tăng, Trung Quốc đang lợi dụng điều đó để hăm dọa các nước láng giềng. Ông Heydarian nói: “Trung Quốc đối đầu với hầu hết các nước láng giềng, chỉ trừ Nga, điều đó nói lên rất nhiều về việc Trung Quốc đang thực hiện một chính sách đối ngoại không phù hợp trong quan hệ với các nước khác”.

CNN cho biết bản thân Trung Quốc đang dính líu đến một loạt những điểm nóng trong khu vực. Đó là lãnh thổ Đài Loan, vùng Hymalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Biển Đông và Biển Hoa Đông. Tất cả những nơi này đều có tiềm năng bùng nổ thành xung đột.

Politico dẫn lời một số quan chức hiện tại và cựu quan chức cho biết, theo cấu trúc mới của NSC, phạm vi của ông Kurt Campbell, điều phối viên về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đang mở rộng thêm, trong khi bộ phận dưới quyền điều phối viên về Trung Đông Brett McGurk sẽ thu hẹp lại.

Những thay đổi này về cơ bản làm đảo ngược cấu trúc của NSC dưới thời Tổng thống Obama, khi đó, Tổng cục Trung Đông có quy mô lớn hơn nhiều so với hiện tại, còn bộ phận châu Á có số nhân viên ít hơn và cấp bậc của họ cũng thấp hơn.

Tổng thống Biden và đội ngũ của ông giờ đây tin rằng những thách thức an ninh lớn nhất sẽ xuất hiện từ cuộc cạnh tranh quyền lực lớn giữa Mỹ, Trung Quốc và Nga, do đó, bộ máy của ông Biden đang điều chuyển nguồn lực của họ sao cho phù hợp. Bộ máy của ông Biden muốn tránh chuyện lại có một vũng lầy nữa ở Trung Đông. Họ củng cố các liên minh cốt lõi ở châu Á và châu Âu mà họ cho rằng đã bị bỏ rơi hoặc bị hắt hủi dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump.

Trong bài viết của Politico, ông Sadjadpour Karim Sadjadpour, chuyên gia về Trung Đông tại Quỹ hòa bình quốc tế Carnegie, cho biết: “Việc điều chuyển các nguồn lực phục vụ chính sách từ Trung Đông sang châu Á phản ánh tốt hơn về hiện thực kinh tế Mỹ. Chính sách châu Á có liên quan trực tiếp đến các nông dân, các tập đoàn và các công ty công nghệ Mỹ, trong khi Trung Đông thì không, đặc biệt là xét đến tình hình về tài nguyên năng lượng nội địa của Mỹ. Sau 2 thập kỷ đau đớn ở Iraq và Afghanistan, giờ đây lưỡng đảng ở Mỹ cũng còn rất ít sự ủng hộ đối với chuyện cần làm nhiều hơn nữa ở Trung Đông”.

Các ưu tiên mới được thể hiện rõ ràng từ những hoạt động ban đầu của đội ngũ của ông Biden để tiếp xúc với các đồng minh châu Âu và châu Á quan trọng, đó là việc họ gọi điện chào hỏi với các nước bao gồm Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada và Mexico.

Ở thời điểm hiện tại, các công việc về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thuộc thẩm quyền của ông Campbell và ông có 3 cục trưởng thường trực, Laura Rosenberger là cục trưởng thường trực chuyên trách Trung Quốc, Sumona Guha là cục trưởng thường trực chuyên trách Nam Á và Andrea Kendall-Taylor là cục trưởng thường trực chuyên trách Nga và Trung Á.

Tuy nhiên, một cựu quan chức, người phục vụ cho chính quyền Obama, cho rằng trong NSC dưới thời ông Obama, bộ phận về Trung Quốc không có “cục trưởng thường trực”, còn bộ phận về châu Á không có tổng cục trưởng đứng đầu: “Về cơ bản đây là sự tiếp nối với chính sách “xoay trục” sang châu Á nhưng có lẽ người ta không nói công khai nhiều”.

Ông Campbell, hiện là tổng cục trưởng chuyên trách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, từng là một trong những nhân vật chủ chốt thúc đẩy cho chiến lược xoay trục sang châu Á dưới thời Tổng thống Obama, khi đó, ông giữ chức Trợ lý Ngoại trưởng chuyên trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương trong chính quyền Obama. Tuy nhiên, mức độ thành công của chiến lược đó không được rõ ràng và nó đã bị các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông và châu Âu nhìn nhận một cách hoài nghi.

Vì vậy, cựu quan chức thời Obama mà Politico không nêu tên trên cho rằng việc chính quyền Biden tái cơ cấu một cách âm thầm, không phô trương hay ra tuyên bố rầm rộ, dường như là việc làm có chủ ý.

Sự chuyển đổi rõ rệt này không chỉ giới hạn ở NSC. Politico chỉ ra rằng các chuyên gia về châu Á cũng đang được đưa vào nhiều nơi trong chính quyền mới, bao gồm cả tại Bộ Quốc phòng Mỹ, ở đó, cựu phụ tá của ông Biden là Ely Ratner được bổ nhiệm làm cố vấn chính về Trung Quốc cho Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin: còn Kelly Magsamen, từng là phó trợ lý chính của Bộ trưởng Quốc phòng chuyên trách về an ninh châu Á và Thái Bình Dương cho đến năm 2017, đã được bổ nhiệm làm chánh văn phòng của ông Austin.

Ông Austin, một cựu tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (Centcom), nhận thức rõ ràng chính quyền Biden muốn chuyển trọng tâm của Lầu Năm Góc về phương Đông. Ông Austin nói trong phiên điều trần để được chuẩn thuận làm bộ trưởng rằng: “Trên bình diện toàn cầu, tôi hiểu rằng châu Á phải là trọng tâm trong nỗ lực của chúng ta. Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất trong tương lai bởi vì Trung Quốc đang đi lên”.

Một trong những động thái đầu tiên của ông Austin trong công việc mới là bổ nhiệm 3 cố vấn đặc biệt về các vấn đề chính là Trung Quốc, đại dịch COVID-19 và khí hậu. Có thể thấy Trung Đông đã vắng bóng trong nghị trình của ông.

Tại Bộ Ngoại giao Mỹ, chuyên gia châu Á – Thái Bình Dương Mira Rapp-Hooper được bổ nhiệm làm cố vấn cấp cao về Trung Quốc ở Vụ Hoạch định chính sách; còn tại Liên hợp quốc, Jeffrey Prescott, từng là phó cố vấn an ninh quốc gia và cố vấn cấp cao về châu Á cho Phó Tổng thống Biden trước đây, được đề cử làm phó đại sứ.

Việc Mỹ giờ đây nhấn mạnh rất nhiều vào châu Á là những gì tiếp nối chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2020 mà trong đó Trung Quốc là vấn đề nổi bật, khi đó, cả hai ứng cử viên là ông Trump và ông Biden đều cố chứng tỏ mình cứng rắn hơn người kia trong việc xử lý quan hệ với Bắc Kinh.

Nguồn: TKNB – 02/02/2021.

Ba điểm “nóng” làm cơ sở định hình chiến lược của Biden đối với Trung Quốc


Nhiệm kỳ của ông Donald Trump kết thúc nhưng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc tại châu Á – Thái Bình Dương có lẽ sẽ không hạ nhiệt. Theo giới quan sát được CNN trích dẫn, 3 điểm “nóng” có thể giúp Mỹ và các đồng minh trong khu vực kìm hãm bớt đà hung hăng của Trung Quốc.

Chính quyền mới tại Mỹ chỉ vừa mới yên vị, Bắc Kinh đã đưa ra một chuỗi hành động mang tính thách thức: Điều hơn 10 chiến đấu cơ đến không phận gần đảo tự trị Đài Loan, rồi thông qua đạo luật cho phép hải cảnh nã súng hay kiểm soát các tàu nước ngoài. Mỹ lập tức đáp trả khi gửi một nhóm tác chiến hàng không mẫu hạm đến Biển Đông.

Có một điều chắc chắn, theo giới quan sát, những hành động trên của Bắc Kinh là nhằm thăm dò ý định và phản ứng của Mỹ.

Theo như phân tích của ông Carl Schuster, cựu Giám đốc Trung tâm tình báo chung, Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương, Mục tiêu của Trung Quốc là vạch ra một “lằn ranh đỏ” với chính quyền Biden.

Mặt khác, giới quan sát cũng nhận thấy tần suất sách nhiễu của Bắc Kinh hay những hành động dọa dẫm các nước láng giềng về quyền thăm dò khai thác năng lượng tỷ lệ nghịch với số chiến dịch quân sự Mỹ trong khu vực. Đây chính là một trong những khó khăn lớn nhất cho chính sách của Mỹ trong những năm gần đây. Làm thế nào chứng minh được rằng sự hiện diện của Mỹ trong khu vực không chỉ nhất thời và các lực lượng của Mỹ có thể phản ứng nhanh để hỗ trợ các đồng minh?

Các nhà phân tích cho rằng trong bối cảnh này, Mỹ có thể dựa vào 3 điểm nóng để vạch ra một chiến lược đối với Trung Quốc trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương:

Thứ nhất, tại Biển Đông, Mỹ không công nhận các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh trên hầu hết diện tích khu vực. Số cuộc tuần tra tự do lưu thông hàng hải, vốn dĩ đã tăng mức kỷ lục (10 chiến dịch trong năm 2020) rất có thể sẽ còn được tăng cường thêm, cho dù Bắc Kinh liên tục đưa ra nhiều xác quyết chủ quyền như gửi chiến đấu cơ đáp xuống các đường băng trên các đảo nhân tạo, hay như tăng tần suất tập trận… Chính sách này của Mỹ cũng đã từng được Joe Biden đề cập đến trong kỳ vận động tranh cử, khi nhắc lại rằng “quân đội Mỹ không quan tâm đến các vùng nhận dạng phòng không” do Trung Quốc thành lập.

Thứ hai, hồ sơ Đài Loan và eo biển Đài Loan. Kể từ khi Mỹ thiết lập bang giao với Trung Quốc năm 1979, theo truyền thống, Washington không bao giờ bày tỏ công khai ủng hộ Đài Bắc mỗi khi Bắc Kinh có hành động đe dọa đảo tự trị.

Tuy nhiên, chính quyền Donald Trump đã có những cam kết mạnh mẽ bảo vệ Đài Loan khi thông qua hợp đồng bán thiết bị quân sự tinh vi, bán chiến đấu cơ F-16, tên lửa tân tiến và xe tăng chiến đấu cũng như là gửi phái đoàn cấp cao đến thăm Đài Bắc. Những tuyên bố gần đây của tân chính quyền Biden dường như cho thấy Mỹ sẽ không lùi bước trong chính sách này.

Thứ ba, điều mà Mỹ có thể tính đến để kìm hãm Trung Quốc là Nhật Bản, vốn dĩ có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Liên minh Mỹ – Nhật trong khu vực là một mối hợp tác quan trọng nhất.

Thành phố Yokosuka, gần Tokyo là nơi trú đóng hạm đội 7 Hải quân Mỹ, lực lượng chuyên tiến hành các chiến dịch tuần tra vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Còn căn cứ không quân Kadena, trên đảo Okinawa là bãi đáp cho các loại chiến đấu cơ như F-15 và máy bay chống tàu ngầm P-8A.

Trong khuôn khổ hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Nhật, Mỹ luôn lên tiếng ủng hộ những đòi hỏi chủ quyền của Nhật Bản. Sự hậu thuẫn này đã được tân Tổng thống Mỹ một lần nữa tái khẳng định trong cuộc điện đàm đầu tiên với Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga vừa qua.

Ngoài những điểm nóng trên, giới quan sát còn cho rằng Mỹ có thể trông cậy vào một số đồng minh, đối tác khác như Philippines, Việt Nam, Indonesia… Tuy nhiên, ông Carl Schuster cảnh báo: “Các nhà lãnh đạo trong khu vực rất hài lòng về sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, vì điều đó cho phép kiểm soát hành vi của Trung Quốc. Nhưng họ không muốn làm bất kỳ điều gì để phải chọn phe giữa hai siêu cường này”.

Nguồn: TKNB – 02/02/2021.

FOIP sau năm 2020: Những điểm giống và khác nhau giữa Chính quyền Trump và Biden – Phần cuối


Tương tự, trong đảng Dân chủ có sự nhất trí rằng Mỹ đang mất cân bằng cơ cấu kinh tế với Trung Quốc, rằng Bắc Kinh đang có những hành vi bất hợp pháp trong hệ thống kinh tế quốc tế thông qua việc ăn cắp quyền sở hữu trí tuệ, ép buộc chuyển giao công nghệ, trợ cấp chính phủ…, và nước này coi địa chính trị là vũ đài cạnh tranh hàng đầu. Để tranh thủ các đồng minh, đối tác và bạn bè của mình, nhiều khả năng chính quyền đảng Dân chủ sẽ tìm kiếm hành động kinh tế và ngoại giao mang tính tập thể hơn để can ngăn hoặc làm giảm bớt hành vi của Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế. Điều này có thể bao gồm sự quan tâm mới đối với Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (trong bối cảnh đảng Dân chủ chỉ trích FOIP thiếu khía cạnh kinh tế và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương là một sáng kiến của Obama), mà có lẽ sẽ được nhiều quốc gia khu vực chào đón và tiếp nhận. Điều này cũng có nghĩa là chính quyền đảng Dân chủ càng suy nghĩ nhiều hơn về cách thức tích hợp tốt hơn các nguồn lực và công cụ quân sự, kinh tế và ngoại giao để đạt được các mục tiêu an ninh quốc gia liên quan đến Trung Quốc.

Điều không thoải mái hơn có lẽ là việc đảng Dân chủ chú trọng nhiều hơn vào việc thuyết phục các quốc gia Đông Nam Á từ bỏ quan điểm trung lập về một số khía cạnh mang tính trục lợi và/hoặc không minh bạch của các thông lệ kinh tế của Trung Quốc, ví dụ như trong khuôn khổ BRI. Đảng Dân chủ cũng có thể sẽ yêu cầu các quốc gia ASEAN tham gia một cách tích cực hơn vào các giải pháp thể chế. Nhà Trắng do đảng Dân chủ lãnh đạo sẽ không tiếp tục giữ im lặng hay thờ ơ trước những thỏa thuận sai trái và tay trong giữa Trung Quốc và các giới chức cầm quyền ở Đông Nam Á.

Việc này có thể mở rộng sang những lĩnh vực khác như 5G, trong đó Huawei đã hoạt động mạnh mẽ ở khu vực này. Hiện tại, những thúc giục của Chính quyền Trump về Huawei và 5G tuy mạnh mẽ nhưng vẫn còn rời rạc và phần lớn được dựa trên cơ sở song phương với các đồng minh ở các cấp cao hơn. Những đảng viên Dân chủ vốn cũng nghi ngờ về Huawei như Tổng thống Trump, có thể ít có sự thông cảm hơn với ASEAN và cá nhân các quốc gia mà tiếp tục có quan điểm cố tình “nhắm mắt làm ngơ” về vấn đề này. Quả thực, các đảng viên Dân chủ đã chỉ trích chính phủ hiện tại thất bại trong việc phối hợp trước với các đồng minh và đối tác.

Đối với ASEAN, Biden chắc chắn sẽ can dự với tư cách cá nhân hơn Trump. Đảng Dân chủ tìm kiếm những phản ứng tập thể trước các mối đe dọa và thách thức (đối với Mỹ và hệ thống rộng lớn hơn) mà cần đến hành động tập thể dưới sự lãnh đạo của Mỹ, và liên quan đến việc khẳng định sự lãnh đạo như vậy trong các tiến trình và kết quả mang tính thể chế. Nếu theo góc nhìn này, thì Nhà Trắng dưới thời đảng Dân chủ sẽ tìm cách áp dụng chương trình nghị sự và chiến lược của mình thông qua ASEAN chứ không phải tách rời khỏi tổ chức này.

Mặc dù đảng Dân chủ sử dụng chính sách ngoại giao mềm mỏng và lấy lòng hơn, nhiệm kỳ tổng thống của Biden có vẻ sẽ không có thiện cảm với một nghị trình của ASEAN mà nhấn mạnh vào sự tổng hòa và trung lập trong khi đem lại cho Trung Quốc vỏ bọc ngoại giao để theo đuổi các mục tiêu của mình mà gây tổn hại cho các mục tiêu của Mỹ. Tuy nhiên, thay vì phớt lờ hay đánh giá thấp ASEAN, Biden có thể gia tăng sức ép buộc. ASEAN và các quốc gia thành viên phải có lập trường mạnh mẽ hơn về một số vấn đề. Là một phần trong sự chú trọng mới của đảng Dân chủ vào các công cụ ngoại giao và kinh tế, điều này bao gồm việc ngấm ngầm gây sức ép buộc ASEAN và các quốc gia thành viên phải tuân thủ các tiêu chuẩn và quá trình khi đề cập đến vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kết nối số, mà nhất quán hơn với những nguyên tắc của FOIP và dẫn đến nhiều sự kháng cự hơn đối với những khía cạnh gây rắc rối của BRI. Các quan chức cấp cao và đại sứ ở khu vực sẽ được trao quyền, nguồn lực và chỉ dẫn để xử lý một cách chủ động hơn những vấn đề liên quan đến việc Trung Quốc thúc đẩy ảnh hưởng của mình như Mekong. Quan trọng hơn, Biden sẽ không chấp nhận việc ASEAN hay cá nhân quốc gia nào đó lựa chọn các tiêu chuẩn hay dự án có lợi nhất cho bản thân mà bất chấp những tác động địa chiến lược hay địa kinh tế rộng hơn. Nếu Washington thất bại trong việc thay đổi ASEAN trong bối cảnh này, thì nhiều khả năng Mỹ giảm chú trọng vào ASEAN, và tăng cường tập trung vào các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á có cùng chí hướng hay vào các thực thể như Bộ tứ vì những lý do đã được đưa ra ở phần trước. Quả thực, đảng Dân chủ ưa thích những phản ứng mang tính thể chế và muốn thể chế hóa hơn nữa và mở rộng vai trò của Bộ tứ.

d/ Biến quá trình thúc đẩy dân chủ và các giá trị tự do thành vũ khí

Dù đảng Dân chủ sẽ không tán thành việc biến các giá trị thành vũ khí, tuy nhiên đúng là bộ máy chính sách ngoại giao của đảng Dân chủ, và nhiều nhân vật trong đảng này ủng hộ mạnh mẽ nhất vấn đề nhân quyền liên quan đến Trung Quốc vẫn tiếp tục chú trọng những giá trị chính trị. Trong khi Trump không nhấn mạnh đến các giá trị liên quan đến Trung Quốc và chính sách khu vực (mặc dù những nhân vật cấp cao như Mike Pence và Mike Pompeo có xu hướng làm vậy), thì Biden đã thường xuyên làm điều đó. Việc này bao gồm khôi phục “sự lãnh đạo tinh thần của Mỹ” thông qua một “hội nghị thượng đỉnh quốc tế vì nền dân chủ”.

Việc thúc đẩy dân chủ và các giá trị tự do sẽ là đặc điểm nổi bật trong bất kỳ cách tiếp cận chủ đạo nào với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của đảng Dân chủ trong khía cạnh dân chủ của tư cách thành viên Bộ tứ sẽ trở thành một nhân tố đáng kể đối với chính quyền do Biden lãnh đạo.

Đảng Dân chủ cũng lưu ý rằng “dân chủ” được viết rõ trong Hiến chương ASEAN và nhiều khả năng sẽ được nêu rõ hơn trong các vụ lạm quyền ở các quốc gia Đông Nam Á. Bên cạnh lời nói, nhiều khả năng chính quyền do đảng Dân chủ lãnh đạo sẽ có một chương trình nghị sự thúc đẩy dân chủ mạnh mẽ hơn trong bất cứ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nào so với thời Chính quyền Trump, kể cả khi những lãnh đạo cấp cao như Pence và Pompeo đã mạnh mẽ lên tiếng ủng hộ những nguyên tắc.

Kết luận

Đối với các quốc gia Đông Nam Á, Chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai hoặc nhiệm kỳ tổng thống của Biden hẳn sẽ mang đến những khía cạnh được hoan nghênh hoặc gây quan ngại nà đó. Nhiều người Đông Nam Á nhớ một cách trìu mến về nhiệm kỳ thứ hai của Chính quyền George W. Bush, khoảng thời gian mà Mỹ tập trung vào việc xây dựng các mối quan hệ liên minh và quan hệ đối tác sau khi bị cuốn vào cuộc chiến chống khủng bố, và thậm chí cả những năm Obama nắm quyền, khi mà Mỹ trở nên dễ đoán và không đe dọa, ngay cả có phần không hiệu quả về mặt chiến lược. Dù cuộc bầu cử tháng 11/2020 có kết quả ra sao, thì rồi những ngày đó cũng sẽ đi qua.

Cuối cùng, người Đông Nam Á có thể lập luận rằng lý do họ vẫn đứng ngoài cuộc xung đột là bởi vì họ hoài nghi về việc liệu Mỹ có vẫn giữ được quyền lực, sự hiệu quả và tính có thể đoán trước dù dưới bất kỳ chính quyền nào hay không. Dưới thời Chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai hay chính quyền do Biden lãnh đạo, câu trả lời sẽ là Đông Nam Á có vai trò trung gian và ảnh hưởng đối với vấn đề này. Khả năng Mỹ có thể mở rộng vai trò của mình trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tỷ lệ thuận với mức độ các quốc gia Đông Nam Á sẵn sàng chấp nhận sự rối loạn, rủi ro và phí tổn để hợp tác với Mỹ.

Sau tất cả, điều Mỹ bắt bẻ là nhiều người Đông Nam Á coi sự quyết đoán và ép buộc của Trung Quốc, mà đã khiến cho môi trường an ninh trở nên xấu hơn, là điều bình thường. Họ càng đứng ngoài, thì viễn cảnh Trung Quốc đạt được mục tiêu loại bỏ các đối thủ tiềm năng khỏi cuộc chơi càng lớn, gây phương hại cho cả Mỹ và các quốc gia Đông Nam Á.

Nguồn: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Sing)

CVĐQT – số 10/2020.

Xu hướng vũ lực mới trong quyết sách của Trung Quốc


Theo đài RFA, Trung Quốc đã có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới và đang tích lũy những chiếc tàu chiến hung hãn. Giờ đây, họ sẵn sàng tham chiến.

Trong quá khứ, Trung Quốc từng là nước gây chiến, liệu họ có lặp lại điều này một lần nữa? Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, năng lực quân sự của Trung Quốc đã được củng cố. Họ gia tăng sức ép quân sự đối với Đài Loan, thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn trên Biển Hoa Đông và Biển Đông. Ngoài ra, các cuộc đụng độ ở biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ đã dẫn đến nhiều thương vong cho cả hai bên.

Giới phân tích quốc tế đang cân nhắc về khả năng hành động quân sự sắp xảy ra. Trung Quốc thừa nhận họ có phương tiện, vấn đề là Bắc Kinh tin tưởng vào sự nghiệp này đến mức độ nào. Tháng 11/2020, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa phát biểu với giọng điệu gay gắt: “Chúng tôi sẽ không cho phép bất kỳ ai, bất kỳ lực lựng nào xâm phạm và chia cắt những vùng lãnh thổ thiêng liêng của Trung Quốc”. Rắc rối chính là nhiều phần trong đó cũng là lãnh thổ thiêng liêng mà các nước khác tuyên bố chủ quyền.

Các nhà ngoại giao “chiến lang” của Trung Quốc khẳng định rằng mục đích của họ là hướng tới hòa bình. Họ tuyên bố Đảng Cộng sản Trung Quốc chưa bao giờ phải viện đến xung đột quân sự. Các nước láng giềng của họ hẳn sẽ phản đối điều này.

Trong một cuộc tranh luận của Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), Tiến sĩ Oriana Mastro, nhà phân tích thuộc Viện nghiên cứu quốc tế, Đại học Stanford cho rằng sẽ sớm xảy ra một cuộc đụng độ. Dường như Trung Quốc không phải đang chuẩn bị cho hòa bình. Vũ khí của họ không nhằm mục đích phòng thủ. Cho dù họ triển khai sức mạnh với các tàu nổi hay đưa nhiều tàu sân bay vào hoạt động, thì điều đó có thể thấy rõ là nước này đang xây dựng một quân đội có khả năng sử dụng vũ lực để đánh chiếm vùng lãnh thổ mà họ cho là của riêng mình. Ban lãnh đạo nước này không hài lòng với nguyên trạng. Tuy nhiên, khi quân đội Trung Quốc ngày càng trở nên hùng mạnh hơn, họ càng trở nên thoải mái hơn khi sử dụng các công cụ quân sự để đạt được mục tiêu của mình.

Tập Cận Bình gia tăng sự hiếu chiến

Dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình, giọng điệu hiếu chiến của Bắc Kinh đã được nâng lên tầm cao mới. Tháng 9/2020, tờ Thời báo Hoàn Cầu tuyên bố: “Người Trung Quốc không muốn chiến tranh, nhưng chúng tôi có những tranh chấp lãnh thổ với một số quốc gia láng giềng đã bị Mỹ xúi giục đối đầu với Trung Quốc”.

Trung Quốc có tranh chấp trên biển với Philippines, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia,Indonesia, Brunei, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan. Họ có tranh chấp trên đất liền với Nga, Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Lào, Mông Cổ và Myanmar. Tuy nhiên, đối tượng mà cơ quan tuyên truyền của Trung Quốc nhắm tới không phải là các nước láng giềng này mà là phần còn lại của thế giới. Họ muốn gieo rắc vào trong tâm trí của cộng đồng quốc tế một lời phủ nhận chính đáng. Hồ Tích Tiến, Tổng biên tập tờ Thời báo Hoàn Cầu, một vị trí do ĐCSTQ bổ nhiệm cho biết, Trung Quốc phải làm rõ một số điều. Thứ nhất, phía bên kia, chứ không phải Trung Quốc, mới là bên phá vỡ nguyên trạng. Thứ hai, phía bên kia mới là kẻ khiêu khích trong một tình huống phức tạp.

Ông tiếp tục lập luận rằng mọi kịch bản hẳn phải được dàn dựng theo cách có thể lý giải cho cách hành xử của Trung Quốc. Bằng cách đó, họ có thể phát động một cuộc chiến tranh chính nghĩa.

Theo Mastro, có thể ta nhận thấy ý định của Bắc Kinh qua hành động của họ. Ông cho rằng dù người ta coi đó là vì uy tín và danh dự hay vì những lý do chính trị trong nước (chủ nghĩa dân tộc dâng cao ở trong nước khiến ban lãnh đạo Trung Quốc cần chuyển hướng sự chú ý của người dân ra bên ngoài), hay dù Trung Quốc có lý (họ đang tính toán giữa phí tổn và lợi ích để tìm cách xây dựng và triển khai sức mạnh của mình) tất cả những yếu tố này đều dẫn đến một khả năng là Trung Quốc sẵn sàng sử dụng vũ lực.

“Hành động đạo đức” của Trung Quốc?

Theo Hồ Tích Tiến, Trung Quốc phải là một quốc gia dám chiến đấu. Điều này cần dựa trên cả sức mạnh và đạo đức. Trung Quốc có sức mạnh trong tay, có lý lẽ và không sợ đứng lên bảo vệ những tài sản quan trọng của mình. Vấn đề là phải làm cho phần còn lại của thế thế giới tin vào điều đó. Đó là lý do giải thích tại sao Bắc Kinh đang đầu tư mạnh tay vào các chiến dịch gây ảnh hưởng và truyền bá thông tin sai lệch.

Một chiến thuật khác là tạo dựng cảm giác “việc đã rồi”: lớn tiếng tuyên bố quyền sở hữu, kiên trì đòi quyền sở hữu, chiếm đóng lãnh thổ tranh chấp, ép buộc các bên không liên quan phải công nhận. Đây là kịch bản đang diễn ra trên dãy Himalaya, Biển Hoa Đông và Biển Đông. Vấn đề là các quốc gia khác cũng nắm quyền kiểm soát đối với những khu vực đó và điều này khiến Bắc Kinh cảm thấy bất mãn. Hồ Tích Tiến cho rằng Trung Quốc là một cường quốc đang trỗi dậy bị Mỹ và phương Tây bác bỏ về mặt ý thức hệ. Các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc đồng cảm với nhau. Nếu Trung Quốc quyết định gây chiến với một láng giếng, cộng đồng quốc tế sẽ có xu hướng ủng hộ bên yếu hơn. Dù động thái của Trung Quốc có chính đáng hay không thì vẫn có rủi ro lớn về mặt đạo đức.

Tuy nhiên, liệu ban lãnh đạo ĐCSTQ có tin rằng đây là rủi ro đáng để họ chấp nhận? Vẫn chưa nước nào ngăn chặn được Bắc Kinh từng bước củng cố lãnh thổ của mình. Tiến sĩ Mastro cho rằng sẽ ít có khả năng hòa bình. Trung Quốc rất có thể sẽ đụng độ với Mỹ hoặc các đồng minh của nước này. Điều này sẽ dẫn đến những thiệt hại về người và của mà có thể leo thang thành chiến tranh, đặc biệt là trong môi trường chính trị hiện nay.

Sử dụng con bài “chủ nghĩa dân tộc”

Giống như hầu hết các nhà lãnh đạo độc tài, Chủ tịch Tập Cận Bình xây dựng quyền lực của mình dựa trên niềm tự hào dân tộc. Để duy trì quyền lực, ông phải tạo ra được kết quả. Tiến sĩ Mastro nhấn mạnh Tập Cận Bình là người rất có tinh thần dân tộc. Chẳng hạn, ông đã nhiều lần nói rằng việc thống nhất Đài Loan là cần thiết để phục hưng dân tộc Trung Hoa.

Theo Mastro, sự nghiệp phục hưng dân tộc Trung Hoa đã trở thành nguồn gốc mang đến tính hợp pháp cho ĐCSTQ. Mastro lập luận rằng hầu hết các cuộc chiến tranh đều nổ ra khi các nhà lãnh đạo tin rằng lực lượng quân sự sẽ tạo ra các nguồn lực, quyền lực, vinh quang và uy tín. Về bản chất, kết quả sẽ biện minh cho phí tổn. Ban lãnh đạo Trung Quốc rõ ràng tin rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của họ là giành lại quyền kiểm soát đối với những gì họ coi là lãnh thổ của mình. Nếu người dân Trung Quốc tin tưởng vào cách biểu lộ và thể hiện chủ nghĩa dân tộc, họ cũng tin tưởng vào sự nghiệp này.

Mặc dù ĐCSTQ muốn sử dụng các phương tiện kinh tế và ngoại giao, nhưng có những dấu hiệu cho thấy họ đang mất hết kiên nhẫn. Tiến sĩ Mastro cho biết điều phải làm rõ ràng không thể giành lại hoàn toàn các vùng lãnh thổ tranh chấp bằng những công cụ này. Đó là vì các nước ở phe còn lại sẽ không bao giờ hoàn toàn chấp nhận lập trường của Trung Quốc.

Ấn Độ sẽ không sẵn lòng từ bỏ lãnh thổ của mình ở vùng núi cao trên dãy Himalaya. Đài Loan sẽ không dễ dàng từ bỏ nền dân chủ và độc lập của mình. Việt Nam, Nhật Bản và Philippines không thể để mất các ngư trường truyền thống của họ. Mastro nói rằng khi các quốc gia này kiên định với lập trường của mình và bắt đầu đoàn kết lại với nhau, thì nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ tiến hành một cuộc phô trương sức mạnh.

Tại thời điểm này, quân đội Trung Quốc tin rằng có một số tình huống bất ngờ mà trong đó Mỹ sẽ không đích thân can dự, như hành động chống lại Việt Nam hoặc Ấn Độ và điều này sẽ làm tổn hại đến vai trò của Mỹ trong khu vực; hoặc những tình huống mà dù Mỹ đích thân can dự thì Trung Quốc cũng sẽ chiếm ưu thế. Điều này đem đến lợi ích to lớn cho Tập Cận Bình. Thông điệp tuyên truyền của Trung Quốc vẽ nên một bức tranh tương tự. Hồ Tích Tiến cho rằng Trung Quốc tự tin sẽ giành chiến thắng trong cuộc xung đột với các nước láng giềng có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Tương tự, nếu chiến sự với Mỹ nổ ra gần khu vực ven biển Trung Quốc, Trung Quốc cũng có nhiều cơ hội chiến thắng.

Theo một báo trình Quốc hội Mỹ gần đây, những tiến bộ trong thời gian qua về trang thiết bị, tổ chức và hậu cần đã cải thiện đáng kể khả năng của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) trong việc triển khai sức mạnh và các lực lượng viễn chinh ở xa bờ biển Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc có những lợi ích khi chiến đấu với các nước nhỏ hơn không phải là đồng minh, chẳng hạn như Việt Nam hoặc Ấn Độ, nhằm trau dồi khả năng quân sự của họ, làm suy yếu vai trò của Mỹ trong khu vực, chuẩn bị (trong vào 7 – 9 năm) cho các cuộc xung đột lớn chống lại Nhật Bản hoặc cho việc giành lại Đài Loan bằng vũ lực. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là sắp xảy ra một cuộc đụng độ giữa các nước lớn.

Nguồn: TKNB – 02/02/2021.

FOIP sau năm 2020: Những điểm giống và khác nhau giữa Chính quyền Trump và Biden – Phần VII


Dưới sự cầm quyền của Biden, ngôn ngữ và phong cách sẽ có sự thay đổi đáng kể. Cụm từ “cùng tồn tại trong cạnh tranh” sẽ được nhắc đến nhiều hơn “sự đối đầu”. Tuy nhiên, chính quyền hay các đảng viên đảng Dân chủ ôn hòa sẽ không rút lại quan điểm cho rằng việc cân bằng và đối phó với Trung Quốc là thách thức bên ngoài lớn nhất. Hơn nữa, sẽ không có việc trở lại cách tiếp cận của Barack Obama là né tránh những vấn đề khó khăn liên quan tới Trung Quốc (ví dụ như vấn đề biển Nam Trung Hoa) để đạt được sự hợp tác của Bắc Kinh trong các vấn đề khác (ví dụ như vấn đề biến đổi khí hậu). Nhiều khả năng việc thiếu cách giải quyết vốn đã quá rõ ràng dưới thời Obama sẽ không lặp lại ở cùng mức độ dưới sự cầm quyền của Biden. Thế nhưng, họ đang tìm cách tạo sự khác biệt khi đề cập đến cách thức Mỹ nên đối đầu với sự thách thức từ phía Trung Quốc. Những khác biệt này, do liên quan tới FOIP và Bộ tứ, sẽ được thảo luận dưới đây.

b/ Vẫn là FOIP, nhưng tách biệt khỏi chủ nghĩa đa phương, và công khai chú trọng tới các đồng minh và đối tác

Ngay cả khi các đảng viên đảng Dân chủ không còn nhắc đến cái tên FOIP, và ngôn từ mang tính đối đầu của Chiến lược An ninh quốc gia năm 2018, phần lớn chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ tiếp tục tồn tại. Khuôn khổ hoạt động vẫn sẽ là bảo vệ và thúc đẩy các nguyên tắc của một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở, và “thúc đẩy sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ”, mà cũng là nhiệm vụ củachương trình Hành động an ninh quốc gia. Chính quyền Nhật Bản sẽ vẫn là kho tàng kiến thức lớn nhất về chính sách khu vực, nên liên minh với Nhật Bản sẽ là ưu tiên hàng đầu. Tầm quan trọng chiến lược và chính trị của Đài Loan sẽ được nâng ca. Ở biển Nam Trung Hoa, chính quyền do đảng Dân chủ lãnh đạo tiếp tục chú trọng vào việc ngăn cản chủ nghĩa phiêu liêu và sự cưỡng ép của Trung Quốc thông qua phương tiện quân sự, kinh tế và ngoại giao (mặc dù đảng Dân chủ sẽ nhanh chóng nhận ra rằng Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận trả giá về ngoại giao để đạt được mục đích của mình, điều đó có nghĩa là cuối cùng đảng này chú trọng đến việc răn đe bằng hành động thực tế).

Điều quan trọng là nhiều đảng viên đảng Dân chủ gần đây đã bắt đầu chấp nhận tư duy của chính quyền hiện tại và lập luận ủng hộ việc dựa nhiều hơn vào các năng lực bất đối xứng, như tên lửa, vũ khí siêu thanh, máy bay không người lái, kể cả phải sử dụng cả những phương tiện lớn như tàu sân bay và máy bay F-35. Điều này có nghĩa là ngay cả khi tái ký kết các hiệp định trước đây như Kế hoạch hành động chung toàn diện (hay còn gọi là Thỏa thuận Iran), khả năng tái ký kết Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung là tương đối thấp, khi xét tới mức độ quan tâm tới tên lửa phóng từ mặt đất ngày càng cao.

Về chính sách đốingoại, sự chỉ trích mạnh mẽ và nhất quán nhất của đảng Dân chủ đối với chính quyền hiện tại nhắm vào cái gọi là chủ nghĩa đơn phương của Trump, mà có thể được khái quát qua khẩu hiệu “Nước Mỹ trước tiên” của ông, và sự đánh giá thấp các đồng minh, đối tác cũng như các cách tiếp cận mang tính hợp tác (nhất là hợp tác thông qua các cách tiếp cận đa phương). Với đảng Dân chủ, “Nước Mỹ trước tiên” không chỉ là cách tiếp cận của một tổng thống bất tài khác thường mà còn là một biểu hiện “ngông cuồng và cực đoan” của người Mỹ.

Trong trường hợp đảng Dân chủ thắng cử, người ta ngờ rằng sự nghi ngờ đối với các cách tiếp cận đa phương sẽ hoàn hoàn toàn không giảm bớt. Như đã lập luận ở phần trước, Mỹ với tư cách là siêu cường duy nhất sẽ vẫn có xu hướng quan tâm về Trung Quốc hơn bất cứ đồng minh và đối tác nào. Các cách tiếp cận đa phương không phù hợp với hành động dứt khoát hay việc đạt được các mục tiêu mang tính công cụ hay định hướng mục đích. Nhà Trắng của đảng Dân chủ tìm cách cân bằng và đối phó tốt hơn các khía cạnh chính sách của Trung Quốc sẽ nhận thấy các thể chế và cách tiếp cận đa phương là một rào cản và trở nên tức giận trước sự do dự này. Dù “Nước Mỹ trước tiên” sẽ bị bác bỏ và giọng điệu sẽ không công khai thù địch với các thể chế và cách tiếp cận đa phương, nhưng sẽ dựa hơn vào chủ nghĩa đơn phương và các liên minh tạm so với giọng điệu hiện tại của đảng Dân chủ.

Dù vậy, sẽ có nhiều nỗ lực rõ ràng và thực chất hơn nhằm tranh thủ các đồng minh và đối tác, và sự can dự nhất quán hơn với các tổ chức như ASEAN ở các cấp độcao nhất. Những phát ngôn về “gánh nặng” của những căn cứ và cam kết ở nước ngoài sẽ ít hơn nhiều trong khi các đồng minh và đối tác sẽ được chào đón hơn là được yêu cầu biện minh cho việc họ dựa vào sự bảo vệ và các nguồn lực của Mỹ.

Đúng vậy, thay vì yêu cầu đồng minh và đối tác trả lời câu hỏi “Nước Mỹ sẽ được lợi gì?” của Trump, Biden có lẽ sẽ đặt ra câu hỏi “Nước Mỹ và các đồng minh/đối tác nên cùng nhau làm gì nhiều hơn để đương đầu với sự thách thức từ Trung Quốc, và từng đồng minh/đối tác này sẽ được lợi gì?” Mục tiêu không phải là đạt được ưu thế kiểu những năm 1990 mà giới chức chính sách đối ngoại của Mỹ thừa nhận đã kết thúc, mà là thúc đẩy sự lãnh đạo của Mỹ và bảo vệ những điều khoản thuận lợi về các lĩnh vực quân sự, kinh tế, chính trị và quản trị toàn cầu.

c/ Những tin tốt và xấu cho ASEAN và các nước thành viên

Nhìn tổng thể, điều này sẽ khiến nhiều đối tác Đông Nam Á và những người ủng hộ ASEAN, mà bị tổn thương và công kích bất ngờ bởi những chính sách đơn phương và sự khó lường của Trump, thở phào nhẹ nhõm. Thoạt nhìn, Nhà Trắng do Biden lãnh đạo sẽ biết tiếp thu hơn, đồng thời cũng cởi mở hơn trong việc tìm kiếm những quan điểm khu vực. Mang phong cách của Abe, Biden sẽ tìm cách cho chính phủ của mình đóng vai trò là một chủ thể đảm bảo trật tự được ưa thích và là “bên giải quyết vấn đề”. Thế nhưng, dưới thời Nhà Trắng do Biden lãnh đạo, Mỹ sẽ không quay lại như cách tiếp cận thời trước Trump, mà thay vào đó sẽ mang lại cả vận rủi và vận may cho những quốc gia đang tìm cách tránh xa các cuộc xung đột. Cách tiếp cận đơn phương hơn của Trump tình cờ cho phép một số quốc gia khoanh tay đứng nhìn, kể cả họ bị chỉ trích khi làm vậy, trong khi Obama, với cách tiếp cận ít mâu thuẫn hơn của mình, thì đặt lên vai họ những nghĩa vụ nhẹ nhàng hơn. Dưới thời Nhà Trắng do Biden lãnh đạo, rất có thể các quốc gia Đông Nam Á sẽ phải gánh vác những gánh nặng mới và/hoặc nặng nề hơn so với dưới thời các chính quyền Trump và Obama. Nói cách khác, một phần trong sự chú trọng mới của chính quyền do Biden lãnh đạo đến Đông Nam Á là ỳ vọng các nước nhỏ hơn này là “tiến bước”.

Hãy xem các lập luận của đảng Dân chủ rằng Mỹ sẽ cần phải đa dạng hóa và mở rộng sự hiện diện quân sự của mình tại khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Dương để tạo ra nhiều điểm áp lực hơn và làm phức tạp môi trường chiến lược và chiến thuật đối với Bắc Kinh. Không giống như Chính quyền Trump, vốn chủ yếu dựa vào Nhật Bản và Australia để đạt được điều này, nhiều khả năng Nhà Trắng dưới thời Biden sẽ kêu gọi các đồng minh và đối tác ở Đông Nam Á chủ động tạo điều kiện thuận lợi để Mỹ áp đặt các tài sản quân sự hay góp phần chia sẻ những gánh nặng an ninh – điều đã được Trump thúc đẩy và sẽ được đảng Dân chủ tiếp tục. Đảng Dân chủ đã nói về việc mở rộng những thỏa thuận tiếp cận mà không cần những quyền xây dựng các căn cứ mà tốn kém thời gian và tiền của trong khu vực. Sullivan đề nghị Mỹ tăng cường hoạt động hải quân ở biển Nam Trung Hoa và “yêu cầu các đồng minh của họ làm điều tương tự”, điều mà các nước Đông Nam Á không sẵn lòng làm. Trong tương lai, những kỳ vọng của Mỹ có thể thậm chí bao gồm việc những quốc gia trong khu vực cho phép bố trí những năng lực có khả năng thay đổi cuộc chơi, ví dụ như các tên lửa đặt trên mặt đất. Tuy rằng hiện giờ tất cả mới chỉ là suy đoán, nếu cán cân quân sự ở khu vực biển Nam Trung Hoa tiếp tục thay đổi đáng kể, thì các quốc gia Đông Nam Á sẽ có thể được yêu cầu chấp nhận gánh nặng an ninh này.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Sing)

CVĐQT – số 10/2020.

FOIP sau năm 2020: Những điểm giống và khác nhau giữa Chính quyền Trump và Biden – Phần VI


Hơn nữa, nhiều khả năng việc loại bỏ “tự do” khỏi Tầm nhìn của ASEAN là do quan ngại về Mỹ, vì Washington cho rằng Bắc Kinh cố tình tìm cách thiết lập một bộ giá trị và thông lệ độc tài tại khu vực này, điều về cơ bản không phù hợp với những nguyên tắc chủ chốt của FOIP. Vì lý do này, chủ đích của Tầm nhìn ASEAN về thúc đẩy một cách tiếp cận xây dựng sự đồng thuận và mang tính dung nạp để giải quyết bất đồng là không đủ đối với Mỹ, kể cả khi Tầm nhìn của ASEAN thể hiện một quan điểm rõ ràng hơn của các quốc gia Đông Nam Á đối với những diến biến trong khu vực.

Thật dễ dàng để ngụy biện rằng Bộ tứ sẽ không bao giờ dẫn tới một liên minh quân sự thực sự giữa bốn nước vì tranh chấp đất liền giữa Ấn Độ với Trung Quốc và Pakistan khiến New Delhi quá dễ vướng vào mối bất hòa với Bắc Kinh tới mức không thể tập trung đủ vào các vấn đề hàng hải tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Đó không nhất thiết là một tiêu chuẩn cao mà sẽ làm mất đi tầm quan trọng của mọi mối quan hệ hay tổ chức khu vực, ngoại trừ những mối quan hệ với các đồng minh hiệp ước của Mỹ.

Khởi điểm hợp lý hơn là phải hiểu được lý do thành lập Bộ tứ 2.0. Bộ tứ được tái thiết lập không phải để thách thức tính trung tâm ngoại giao của ASEAN. Bộ tứ được khôi phục vì nó bao gồm 4 quốc gia mà sẵn sàng cân bằng và chống lại sức mạnh và các hành vi của Trung Quốc hơn rất nhiều so với các quốc gia ở Đông Nam Á. Nói một cách thẳng thắn, các thành viên của Bộ tứ nhắm tới cân bằng và đối phó với Trung Quốc (kể cả khi 4 nước không có chung một chiến lược lớn nào) trong khi các nước Đông Nam Á tiếp tục nước đôi với những mức độ khéo léo và thành công khác nhau. Trong trường hợp này, những cuộc đối thoại hướng tới tương lai và nhạy cảm hơn về việc cùng hành động nhằm cân bằng và chống lại Trung Quốc sẽ diễn ra ngày càng nhiều trong nội bộ chứ không phải bên ngoài Bộ tứ.

Tính thích đáng ngày càng tăng của Bộ tứ dựa vào sự hội tụ của các quan điểm về Trung Quốc. Mặc dù Mỹ là quốc gia duy nhất trong Bộ tứ công khai nhận định Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh và đối địch, các thành viên còn lại đều bắt đầu từ lập trường rằng vấn đề chính không phải là sự ngờ vực hay thậm chí sự tính toán sai lầm, mà là kết luận rằng Bắc Kinh áp dụng cách tiếp cận được mất ngang nhau và xét lại căn bản để mở rộng tầm ảnh hưởng và quyền lực của Trung Quốc tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – một cách tiếp cận gây phương hại cho Mỹ, các đồng minh của Mỹ và những quốc gia như Ấn Độ.

Sự tiến bộ từ cuộc gặp của các quan chức cấp cao cuối năm 2017 tới Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao tháng 9/2019 là có thể dự đoán được và đó chỉ là mới bắt đầu. Sẽ không gây bất ngờ nếu Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các quốc gia thuộc Bộ tứ cuối cùng được nâng tầm ngang với Đối thoại an ninh ba bên giữa Mỹ, Nhật Bản và Australia. Nhiều khả năng cũng sẽ có những cuộc gặp thường xuyên hơn hoặc thậm chí được thể chế hóa giữa các nguyên thủ.

Trong khi đó, các quan chức cấp cao của các quốc gia thuộc Bộ tứ đã có những cuộc gặp không chính thức để thảo luận về các vấn đề chính sách và hoạt động thực chất. Quan trọng là, họ làm vậy dưới danh nghĩa Bộ tứ đang phát triển. Sự hợp tác hiệu quả hơn về chính sách và hoạt động thông qua các cơ chế của Bộ tứ sẽ diễn ra đều đặn khi xét tới sự nhất trí của các nước thành viên về những chính sách chung như sự cần thiết phải chống lại những mặt tồi tệ nhất của BRI, mức độ nghiêm trọng của hành vi ăn cắp và chiếm đoạt tài sản sở hữu trí tuệ của Trung Quốc, sự cần thiết phải phối hợp kiểm soát xuất khẩu các công nghệ trọng yếu và sự nhất trí rằng Trung Quốc không thể được phép hành xử tại Ấn Độ Dương giống như tại biển Nam Trung Hoa và biển Hoa Đông.

Hơn nữa, mặc dù Bộ tứ không tồn tại để tạo ra một chương trình nghị sự nhằm thúc đẩy dân chủ một cách mạnh mẽ khắp khu vực, những thành viên của Bộ tứ đều đồng ý rằng phần lớn mục tiêu quyết đoán và theo chủ nghĩa xét lại của Bắc Kinh bắt nguồn từ Đảng Cộng sản Trung Quốc, những khuynh hướng độc tài và sự bất an của đảng này. Vì lý do đó, các thành viên Bộ tứ nhìn chung nhất trí về tầm quan trọng của các thể chế, tiến trình và giá trị chính trị trong nước, cũng như quan hệ của chúng với chính sách và các mục tiêu bên ngoài. Tóm lại, các thành viên Bộ tứ có xu hướng nhất trí rằng một Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo là nguyên nhân lớn của vấn đề này.

Những cơ chế và những cuộc thảo luận này của Bộ tứ không nhất thiết gây bất lợi cho ASEAN nhưng sẽ xảy ra dù ASEAN và các nước Đông Nam Á sẽ theo đuổi bất cứ phương hướng nào. Bên cạnh đó cũng sẽ có những mức độ can dự khác nhau của các nước Đông Nam Á với các cơ chế của Bộ tứ. Những quốc gia này mong muốn cân bằng và chống lại một số khía cạnh của sức mạnh Trung Quốc, ví dụ, Việt Nam và có lẽ cả Indonesia, sẽ quan tâm hơn tới Bộ tứ khi nhóm này phát triển. Những hội nghị Bộ tứ mở rộng với một số nước Đông Nam Á được chọn lọc là không phải không thể tưởng tượng được.

Những điểm tương đồng và những thay đổi dưới sự dẫn dắt của một Nhà Trắng do đảng Dân chủ nắm quyền

Phần lớn phần này sẽ tập trung vào khả năng thắng cử tống thống của ứng cử viên đảng Dân chủ Joe Biden. Bởi Biden là ứng cử viên có vị thế vững chắc mà những quan điểm và tư duy cá nhân của ông cũng như những cố vấn chủ chốt của đảng Dân chủ có khả năng đảm nhiệm các vị trí quan trọng trong chính quyền do Joe Biden lãnh đạo được nhiều người biết đến và được công khai thể hiện – bao gồm cả thông qua sáng kiến Hành động an ninh quốc gia, thành lập bởi Ben Rhodes (Phó Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Obama) và Jake Sullivan (Cố vấn an ninh quốc gia cho Phó Tổng thống Biden).

a/ Giọng điệu có thể mềm mỏng nhưng sẽ vẫn là về việc cân bằng và đối phó với Trung Quốc.

Vào ngày 4/03/2020, Hạ viện Mỹ đã nhất trí thông qua Đạo luật sáng kiến Bảo vệ và tăng cường đồng minh quốc tế Đài Loan (với 415 phiếu thuận – 0 phiếu chống). Tuy khi thông qua dự luật nhằm ngăn chặn việc các đồng minh ngoại giao của Đài Loan cắt đứt quan hệ với Đài Bắc do sức ép từ phía Bắc Kinh, Chủ tịch Hạ viện thuộc đảng Dân chủ Nancy Pelosi tái khẳng định sự ủng hộ của Quốc hội Mỹ dành cho “một Đài Loan tự do, công khai và dân chủ”. Những tháng trước đó, Pelosi đã mạnh mẽ lên tiếng ủng hộ Đạo luật Chính sách Tây Tạng 2019 nhằm ủng hộ nguyện vọng bảo vệ bản sắc văn hóa của người Tây Tạng.

Việc đảng Dân chủ trở nên cứng rắn với Trung Quốc được thể hiện rõ không chỉ tại Quốc hội. Trong một bài viết của đồng tác giả Kurt Campbell và Jake Sullivan, hai ứng cử viên sáng giá cho các vị trí cấp cao trong nhiệm kỳ tổng thống của Biden, luận điểm được đưa ra là nên đặt mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi để cùng tồn tại với Bắc Kinh trên 4 phương diện cạnh tranh chủ chốt: quân sự, kinh tế, chính trị và quản trị quốc tế… hơn là bất cứ thỏa thuận lớn nào (ví dụ như G2)”.

Mặc dù hai nhân vật này, vốn đang tập trung vào cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11/2020, đang tìm cách lập luận rằng cách tiếp cận của đảng Dân chủ ưu việt hơn cách tiếp cận của chính quyền hiện tại, cơ sở cho cách tiếp cận mang tính đối đầu hơn của Trump vẫn sẽ được giữ nguyên. Ví dụ, mặc dù cả hai ông đều đồng ý răng cần có các tiến trình “xử lý khủng hoảng” tốt hơn để đảm bảo cùng tồn tại ổn định với Trung Quốc, nhưng họ công nhận rằng Trung Quốc từ lâu đã cạnh tranh với Mỹ trong tất cả các lĩnh vực đã được đề cập ở phần trước, và Washington cần phản ứng một cách hiệu quả hơn, thay vì phủ nhận sự cạnh tranh đó. Như Sullivan (người được coi là nhà trí thức và nhân vật hàng đầu trong lĩnh vực chính sách đối ngoại trong các đảng viên đảng Dân chủ ôn hòa) đã lập luận rằng mối đe dọa từ bên ngoài đối với sự lãnh đạo, các giá trị và lợi ích của Mỹ nằm trong “chiến lược lâu dài của Trung Quốc nhằm thống trị khu vực phát triển nhanh nhất của thế giới, khiến nền kinh tế thế giới phải thay đổi sao cho phù hợp với cái mác chủ nghĩa tư bản độc tài của họ, và trên hết gây sức ép lên các mô hình kinh tế và chính trị tự do và cởi mở”.

Biden đã từng bước thay đổi và bắt đầu nhận ra thực tế cạnh tranh chiến lược và sự đối địch với Trung Quốc. Theo Sullivan (người có tầm ảnh hưởng lớn đối với phe Biden), không thách thức nào trong đó “có thể được đối mặt một cách hiệu quả nếu không có sự can dự của Mỹ” và nếu Mỹ “không thiết lập chương trình nghị sự, thì điều này sẽ không xảy ra”. Ông đã nhiều lần đưa ra những ý kiến này trong các cuộc gặp nhiều nhân vật hàng đầu của đảng Dân chủ có ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Sing)

CVĐQT – số 10/2020.

FOIP sau năm 2020: Những điểm giống và khác nhau giữa Chính quyền Trump và Biden – Phần V


Trong bối cảnh này, Mỹ ngày càng khó chấp nhận những nguyên tắc trung lập mà các tổ chức như ASEAN tuyên bố ưu tiên. Trong môi trường hiện nay, những nguyên tắc này dẫn tới sự thiếu quyết đoán, trì trệ và thái độ từ chối lên án các cường quốc xét lại ngay cả khi những cường quốc đó thay đổi môi trường chiến lược theo hướng bất lợi cho các nước thành viên ASEAN. Đối với Mỹ, những lời kêu gọi hòa bình và ổn định mà ASEAN bền bỉ đưa ra đang củng cố cho nguyên trạng, nhưng là một nguyên trạng mà Trung Quốc có không gian để thúc đẩy một cách phi pháp lập trường chiến lược và lợi ích của mình, còn Mỹ lại được cho là phải kiềm chế bất cứ biện pháp đối phó nào gây xáo trộn. Nước Mỹ lo ngại rằng nhiều nước ASEAN đã bình thường hóa hành vi ép buộc và thái độ quyết đoán của Trung Quốc và chấp nhận viễn cảnh bị Trung Quốc chi phối. Trong trường hợp này, Washington tin rằng họ không còn cách nào khác ngoài viện tới các hoạt động ngoại giao mạnh mẽ và gây rối loạn hơn nhằm vào Trung Quốc và các nước trong khu vực.

Điều này gây nguy hại đối với ASEAN và khái niệm “vai trò trung tâm ngoại giao của ASEAN” vốn được khối này trân trọng. Mặc dù ASEAN hiện là một bên tham gia mang tính ngoại giao nhiều hơn chiến lược, nhưng vai trò ngoại giao của khối này có thể bị suy giảm nếu họ bị coi là một phần của vấn đề chứ không phải là giải pháp. Việc ASEAN bị coi là thiếu hiệu quả trong việc gia tăng phí tổn ngoại giao mà Bắc Kinh phải gánh chịu vì những hành vi phi pháp và quyết đoán ở biển Nam Trung Hoa cũng có nghĩa là Mỹ sẽ ít có khả năng dựa vào các cách tiếp cận thể chế trong tương lai để kiểm soát và tạo thế cân bằng trước sức mạnh của Trung Quốc, ngay cả khi nước này có những lời lẽ đãi bôi dành cho các thể chế hiện có để được khu vực nhìn nhận một cách tích cực.

Suy cho cùng, Trung Quốc đã cho thấy họ có thể, thậm chí sẵn sàng gánh chịu tai tiếng và những phí tổn ngoại giao. Washington dần nhận ra rằng những nỗ lực chỉ đơn thuần nâng cao phí tổn ngoại giao và làm tổn hại tới danh tiếng của Trung Quốc không phải là đối sách hiệu quả trước các chính sách của nước này. Trong bối cảnh Bắc Kinh không ngừng giẫm đạp lên lợi ích của Mỹ để thúc đẩy lợi ích của chính mình, Washington sẽ ngày càng khó chấp nhận những cách nghĩ và hành động mang lại cho Trung Quốc lá chắn ngoại giao.

d/ Chú trọng các thỏa thuận kinh tế phù hợp với mục đích.

Mỹ chú trọng các mối quan hệ kinh tế tự do, công bằng và có đi có lại (bao gồm việc đàm phán lại các hiệp định thương mại tự do hiện tại và các thỏa thuận khác) là để đạt được những dàn xếp có lợi hơn cho nền kinh tế cũng như người lao động và các công ty Mỹ. Nằm trong khuôn khổ FOIP, những nguyên tắc này cũng phục vụ mục đích tuyên truyền các quy tắc và thông lệ trong thương mại và đầu tư có khả năng thúc đẩy sự quản trị tốt, tính minh bạch, các tiêu chuẩn hợp lý trong quản lý nợ và các dự án chất lượng cao. Những cân nhắc này rõ ràng nhằm mục đích chống lại các cách tiếp cận thay thế, trong đó có những thỏa thuận mơ hồ và những dàn xếp ngầm trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI).

Một ví dụ là việc cả hai chính đảng lớn đều đã thông qua Đạo luật sử dụng hiệu quả hơn các khoản đầu tư phát triển (BUILD) năm 2018, qua đó thành lập Cơ quan phát triển tài chính quốc tế Mỹ để phối hợp tốt hơn viện trợ phát triển và đầu tư tại các nước đang phát triển, đồng thời giúp thu hút dòng vốn tư nhân vào các dự án đầu tư. Điều quan trọng là Chính quyền Trump tỏ ra cởi mở về ý định đằng sau đạo luật BUILD. Theo Pompeo, đạo luật này “củng cố năng lực tài chính của Chính quyền Mỹ trong hoạt động phát triển, đưa ra một lựa chọn phù hợp hơn thay thế cho các khoản đầu tư do nhà nước chỉ đạo và thúc đẩy các mục tiêu chính sách đối ngoại của Mỹ”. Một ví dụ nữa là Đạo luật tái đảm bảo châu Á, mà theo đó Mỹ dành ra 1,5 tỷ USD mỗi năm cho các chương trình ở Đông Á như các hoạt động huấn luyện hàng hải chung và tự do hàng hải. Những động thái này diễn ra trong bối cảnh ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng khuôn khổ FOIP cần phải mang lại cho các nền kinh tế Đông Nam Á những lựa chọn khác ngoài những đề nghị của Trung Quốc trong các lĩnh vực tài chính, cơ sở hạ tầng, thương mại và công nghệ.

Nhìn chung, Mỹ sẽ ngày càng đẩy mạnh việc cân nhắc lại về những thỏa thuận kinh tế và tài chính hiện tại của mình để xem chúng có phù hợp với mục đích trong thời đại cạnh tranh và đối đầu chiến lược với Trung Quốc hay không. Mỹ sẽ đánh giá các thỏa thuận, cả mới lẫn cũ, để xác định xem chúng sẽ thúc đẩy hay cản trở khả năng của Mỹ cạnh tranh với Trung Quốc và liệu có thúc đẩy các nguyên tắc, lợi ích hay vị thế tương đối của một trong hai nước hay không. Viện trợ phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng và các công ty liên doanh thương mại về bản chất đều có liên hệ với cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc.

Tương tự, nước Mỹ cũng sẽ không còn áp dụng cách tiếp cận tránh can thiệp trong việc xác định và theo đuổi “chủ nghĩa khu vực cởi mở”. Washington sẽ cân nhắc xem liệu các quốc gia và thực thể có hoạt động theo nguyên tắc kinh tế tự do hay không, thay vì đặt niềm tin vào mô hình dựa trên sự đồng thuận để xác định một hành vi có công bằng hay không mà Đông Nam Á đang áp dụng.

Ngoài ra, các cách tiếp cận kinh tế song phương và đa phương hẹp như Quan hệ đối tác cơ sở hạ tầng ba bên giữa Mỹ, Nhật Bản và Australia sẽ được ưa chuộng hơn, bởi một nhóm nhỏ các quốc gia và chính phủ cùng chí hướng sẽ dễ đạt được các mục tiêu cụ thể chung hơn so với trong các khuôn khổ đa phương. Mỹ sẽ tiếp tục là thành viên tích cực của những cơ chế đa phương hiện có như APEC. Tuy nhiên, giống với cách làm của Trung Quốc trong nhiều thập kỷ, nước Mỹ sẽ tích cực tìm cách cạnh tranh và thúc đẩy các lợi ích cụ thể thông qua các thể chế và nhóm đa phương, thay vì tiếp tục đóng vai trò bảo lãnh cho các tổ chức này với thái độ thờ ơ hòa nhã. Quả thực, chính quyền hiện tại cho rằng sự ủng hộ dành cho các chương trình như Sáng kiến hạ lưu sông Mekong hay các tổ chức như Hiệp hội vành đai Ấn Độ Dương đồng nghĩa với việc thúc đẩy các nguyên tắc của FOIP.

e/ Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Bộ tứ.

Trên nhiều khía cạnh, 5 yếu tố then chốt trong khái niệm Hợp tác Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương do Indonesia thúc đẩy theo diễn giải của Tổng thống Jokowi Widodo tại Hội nghị cấp cao Đông Á vào tháng 11/2018 – cởi mở, dung nạp, minh bạch, tôn trọng luật pháp quốc tế và tính trung tâm của ASEAN – nhất quán với khuôn khổ của FOIP.

Việc nhấn mạnh tôn trọng luật pháp quốc tế, giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và tạo lập các trung tâm phát triển kinh tế tại Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương trong một hệ thống kinh tế “công bằng và cởi mở” thể hiện sự nhượng bộ nào đó với thế giới quan và chủ nghĩa kinh tế của Trump nhưng vẫn có thể chấp nhận được đối với những quốc gia ASEAN thận trọng hơn. Trong khi Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của ASEAN không sử dụng thuật ngữ “công bằng và cởi mở”, nhưng vẫn nêu bật tầm quan trọng của luật pháp quốc tế và quyền tự do hàng hải liên quan.

Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của ASEAN là một nỗ lực giành lại thế chủ động từ các quốc gia ngoài ASEAN như các nước thuộc nhóm Bộ tứ trong việc định hình quy tắc hàng hải tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Đó là sự công nhận muộn màng rằng ASEAN không thể đơn giản hoàn toàn bác bỏ FOIP mà phải đưa ra những điều khoản của mình khi can dự với khuôn khổ FOIP.

Dù tầm nhìn của ASEAN có nhiều khía cạnh tương đồng với tầm nhìn của Mỹ, vẫn có những khác biệt đáng kể về mục đích và tư duy. Theo cách này hay cách khác, Tầm nhìn của ASEAN bắt đầu từ một khởi điểm khác biệt, và tìm cách giảm bớt cũng như kiểm soát sự hợp tác và những căng thẳng chiến lược thông qua giảm bớt sự ngờ vực, triển vọng tính toán sai lầm và tránh cách tiếp cận được mất ngang nhau. Ngược lại, Mỹ quyết định rằng Trung Quốc từ lâu đã tiến hành cuộc cạnh tranh được mất ngang nhau và đối địch với Mỹ, và rằng mọi sự hợp tác từ phía Trung Quốc chỉ mang tính chiến thuật chứ không bao giờ mang tính chiến lược. Vì lý do này, Mỹ không tin rằng chỉ giảm bớt ngờ vực và tránh tư duy được mất ngang nhau và đối địch với Mỹ, và rằng mọi sự hợp tác từ phía Trung Quốc chỉ mang tính chiến thuật chứ không bao giờ mang tính chiến lược. Vì lý do này, Mỹ không tin rằng chỉ giảm bớt ngờ vực và tránh tư duy được mất ngang nhau là giải quyết được vấn đề, vì cuộc cạnh tranh và sự đối địch kéo dài với Trung Quốc (được Bắc Kinh đẩy nhanh hơn) đã diễn ra từ lâu và khó có thể giải quyết. Giảm bớt tính toán sai lầm có thể giảm bớt xung đột ngẫu nhiên, nhưng không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc hiện đại hóa các lực lượng Quân Giải phóng nhân dân. Động thái này nhằm mục đích gây tổn thất cho các lực lượng của Mỹ và đồng minh.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Sing)

CVĐQT – số 10/2020.

FOIP sau năm 2020: Những điểm giống và khác nhau giữa Chính quyền Trump và Biden – Phần IV


Nhật Bản và Australia liên kết chặt chẽ với Mỹ trong việc truyền bá FOIP và đã có hành động dứt khoát nhằm tạo thế cân bằng hay đối phó với Trung Quốc. Cả hai nước đều có ưu thế trong việc đối phó với các năng lực của Trung Quốc và cản trở Trung Quốc trong việc lập kế hoạch chiến lược về phương diện địa lý và tác chiến. Ví dụ, Nhật Bản ở vị trí tiên phong trong việc phòng thủ hay đối phó với Trung Quốc ở khu vực phía Bắc của cái gọi là “chuỗi đảo thứ nhất” (kéo dài từ quần đảo Kuril tới quần đảo Nhật Bản, Đài Loan, Bắc Philippines và Đông Malaysia). Australia là chỗ dựa phía Nam trong cách tiếp cận do Mỹ dẫn dắt.

Điều đáng nói là cả Tokyo và Canberra đều ủng hộ việc Mỹ chú trọng hơn đến vai trò của họ, thể hiện qua việc chia sẻ nhiều hơn gánh nặng an ninh liên quan đến chi tiêu quốc phòng, cho phép cái tài sản của Mỹ lưu trú tại nước họ, và sẵn sàng chịu phí tổn ngoại giao, kinh tế và thậm chí là cả quân sự khi đối mặt với sự bất mãn của Trung Quốc. Quả thực, Australia đã rất nhiệt tình trong việc nâng cấp các cơ sở quân sự tại Lãnh thổ phía Bắc nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngcủa máy bay ném bom tầm xa của Mỹ, và tăng cường hỗ trợ hậu cần cho các chiến dịch chung và chiến dịch của Mỹ tại Đông Á. Ngoài ra còn có các cuộc thảo luận nghiêm túc về việc cho phép tàu ngầm hạt nhân của Mỹ lưu trú tại những nước này trong tương lai. Những nỗ lực chung nhằm phát triển và tạo điều kiện cho các tên lửa trên đất liền lưu trú trên lãnh thổ của nhau được kỳ vọng sẽ là một phần trong các cuộc thảo luận tương lai giữa Mỹ, Nhật Bản và Australia.

Mỹ không chỉ quan tâm đến việc nâng cao khả năng phối hợp tác chiến với hai đồng minh đáng gờm, mà còn chú trọng đến việc củng cố chiến lược nhằm đối phó với những năng lực quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc.

Vì lý do địa chiến lược, Việt Nam và có lẽ là cả Philippines (sau thời Rodrigo Duterte) đang được cho là các quốc gia quan trọng bậc 2 khi xét tới vị trí địa lý mang tính chiến lược của hai nước, cũng như việc chính phủ hai nước sẵn sàng tỏ thái độ đối đầu hơn với Trung Quốc và cho phép các tài sản quân sự của Mỹ lưu trú trên lãnh thổ của mình trong tương lai. Mỹ cũng đang có kế hoạch hỗ trợ hai nước – cùng với Singapore – thông qua chính sách “cân bằng nội bộ”: tăng cường năng lực nội tại và khả năng độc lập của hai nước. Bên cạnh đó, việc Mỹ và Singapore mới đây gia hạn một hiệp ước phòng thủ nhằm cho phép các lực lượng Mỹ sử dụng các căn cứ không quân và hải quân của Singapore làm nổi bật tầm quan trọng của Singapore đối với các nỗ lực cân bằng của Mỹ.

Một quốc gia không nằm trong danh sách các nước có mức ưu tiên cao là Hàn Quốc. Việc Tổng thống đương nhiệm Moon Jae-in ưu tiên việc khơi lại các vấn đề từ thời chiến với Nhật Bản – quốc gia hữu hảo duy nhất ở khu vực ngoại vi của Hàn Quốc – thay vì để tâm đến những mối đe dọa và thách thức chiến lược như Triều Tiên và Trung Quốc đang làm giảm bớt mức độ liên quan và hữu ích của Seoul trong vai trò đối tác chiến lược bên ngoài khuôn khổ các vấn đề liên quan đến bán đảo Triều Tiên. Ngoài vấn đề liên quan đến Tổng thống Moon Jae-in, tình hình phần lớn sẽ phụ thuộc vào việc liệu Seoul có còn bận tâm đến vấn đề bán đảo Triều Tiên hay không, và khi vấn đề bán đảo Triều Tiên không còn được coi trọng thì liệu Seoul có sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi phải đối mặt với sự bất mãn của Trung Quốc trong những vấn đề nằm ngoài khu vực ngoại vi của họ hay không.

Tất cả những điều này đều không có nghĩa là chính quyền đương nhiệm đang hạ thấp vai trò của mối quan hệ với các đối tác khác như Malaysia, hay từ bỏ các cơ chế phòng thủ ngoại giao hiện có. Tuy nhiên, các nước đang tiến hành đánh giá lại việc chú trọng và huy động các nguồn lực cho những nỗ lực phòng thủ và chiến lược của mình. Theo đó, Mỹ sẽ không tìm cách duy trì vị thế là bên tham gia chiến lược giữ vai trò quyết định bằng việc khai thác tất cả các mối quan hệ an ninh của mình. Thay vào đó, họ sẽ tăng cường cam kết của mình với một số quốc gia được cho là có tầm quan trọng chiến lược. Với những quốc gia có mức ưu tiên thấp, Washington có lẽ sẽ nỗ lực vừa đủ để đảm bảo không khuyến khích các quốc gia này liên kết với Trung Quốc.

Một biến số thú vị và rất quan trọng là Đài Loan. Mỹ có thể đưa Đài Loan vào danh sách các bên tham gia tích cực hơn trong việc đối phó với các hoạt động của Trung Quốc ở các khu vực phía Bắc và trung tâm chuỗi đảo thứ nhất để đổi lấy những đảm bảo an ninh chắc chắn và rõ ràng hơn về việc chống lại những đòn tấn công có thể có của Trung Quốc. Quan trọng hơn, Washington có thể khôi phục quan hệ phòng thủ với Đài Bắc, cũng như giúp tái trang bị và củng cố khả năng phòng thủ và gây rối loạn cho Đài Loan tới mức Trung Quốc phải chú trọng trở lại việc duy trì thế cân bằng quân sự tại eo biển Đài Loan thay vì tăng cường năng lực triển khai sức mạnh ở những khu vực khác.

Cần nhớ rằng chiến lực FOIP cũng có khía cạnh cứng rắn, vốn bắt nguồn từ việc đẩy mạnh cách tiếp cận cân bằng. Chính quyền đương nhiệm đã chuyển sang lập trường táo bạo như hiệnnay là do cách tiếp cận của Trung Quốc đẩy Mỹ ra khỏi khu vực mà không cần gây chiến.Để làm được điều này, Trung Quốc sử dụng biện pháp ép buộc kiểu “vùng xám” và một chuỗi những hành động mà trong đó, mỗi động thái riêng lẻ không đủ để châm ngòi xung đột vũ trang (đồng thời tăng khả năng gây ra cho Mỹ những phí tổn quân sự lớn đến mức Mỹ không dám hành động). Mỗi động thái riêng lẻ của Trung Quốc trong các lĩnh vực hàng hải, không gian, không gian mạng, thậm chí cả kinh tế, đã từng bước thay đổi phương trình chiến lược theo hướng có lợi cho Trung Quốc, gây tổn hại tới lợi ích của nước Mỹ và bào mòn uy tín của hệ thống các liên minh do Mỹ dẫn dắt.

Để đẩy mạnh cách tiếp cận cân bằng có thể đối phó được với chiến lược này của Trung Quốc, Mỹ cần gia tăng những phí tổn mà hành vi ép buộc theo kiểu “vùng xám” sẽ gây ra cho Trung Quốc (mà không viện tới xung đột quân sự). Dù là chống lại hành vi ép buộc kiểu “vùng xám”, tìm cách răn đe Trung Quốc về mặt quân sự hay bảo đảm uy tín của các liên minh, thì vấn đề “quyết tâm” vẫn vô cùng quan trọng. Mỹ và các đồng minh/đối tác càng tỏ ra quyết tâm đối phó với Trung Quốc và sẵn sàng chấp nhận chi phí quân sự và phi quân sự càng lớn, thì Trung Quốc càng gặp nhiều rào cản trong việc tìm cách buộc Mỹ chịu phí tổn lớn. Trong bối cảnh này, việc đẩy mạnh cách tiếp cận cân bằng sẽ không có tác dụng nếu Mỹ hay các đồng minh/đối tác của họ tỏ ra thiếu quyết tâm.

Vì những lý do đó, Mỹ sẽ ngày càng khó chấp nhận sự lung lạc của các đồng minh/đối tác trong việc thể hiện quyết tâm chung chống lại Trung Quốc và các hoạt động của nước này.Nước Mỹ nhiều khả năng sẽ làm rõ với các đồng minh và đối tác của mình rằng không có lựa chọn nào không tốn kém. Đối với những đồng minh đang dần xa cách như Thái Lan hay những đối tác an ninh không phải đồng minh như Malaysia, Mỹ sẽ phải hối thúc họ đóng góp nhiều hơn vào nỗ lực đối trọng với Trung Quốc; nếu không, họ sẽ ngày càng bị lãng quên khi sự chú ý và các nguồn lực được điều chuyển sang các quốc gia khác.

c/ Ngoại giao khu vực – Lấy lòng và né tránh công kích không còn là đủ.

Giai đoạn mà nước Mỹ chỉ đơn giản là xuất hiện trong khu vực – theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng – và trưng ra một bộ mặt thân thiện và vô hãi đã chấm dứt. Nước Mỹ muộn màng nhận ra rằng Trung Quốc coi ngoại giao, cũng như việc kết giao hữu nghị và gây ảnh hưởng tới các quốc gia khác, là một trò chơi “được mất ngang nhau” đầy cạnh tranh, và Washington đang nhanh chóng điều chỉnh để thích nghi. Biểu hiện rõ ràng nhất của sự điều chỉnh đó là việc hình thành FOIP nhằm đưa ra một tầm nhìn tích cực về khu vực và dung nạp bất cứ quốc gia nào sẵn sàng ủng hộ nguyên tắc này. Tuy nhiên,nó cũng là một khuôn khổ nhằm chống lại những giá trị, chính sách và hành động của Trung Quốc.

Mặc dù các nước Đông Nam Á, với những biện pháp phòng vệ “nước đôi”, tiếp tục nhấn mạnh rằng họ không muốn bị buộc phải chọn giữa Trung Quốc và Mỹ, nhưng Washington ngày càng yêu cầu các quốc gia phải lựa chọn giữa hai bộ nguyên tắc và nguyện vọng đối nghịch nhau cho khu vực: Một bên là FOIP, và một bên là tầm nhìn mang tính thứ bậc, lấy Trung Quốc làm trung tâm, về một châu Á mà ở đó Bắc Kinh và các thực thể Trung Quốc có được các đặc quyền và đặc quyền mà nhữgn quốc gia và thực thể ngoài Trung Quốc không được hưởng. Quả thực, Mỹ hiện cho rằng việc Trung Quốc thể hiện sự hậu thuẫn đối với các chế độ, nguyên tắc và tiêu chuẩn mang tính độc tài có mối liên hệ căn bản với quyết tâm của nước này nhằm tái định hình khu vực theo hướng phù hợp với hình ảnh và ưu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Sing)

CVĐQT – số 10/2020.

Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách của Việt Nam về Biển Đông trong năm 2021


Giáo sư Carl Thayer từ Đại học New South Wales, Australia, mới đây đã chia sẻ với phóng viên TTXVN tại Sydney một số nhận định về chính sách Biển Đông của Việt Nam trong năm tới trong bối cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 01/2021.

Dự đoán về những đề xuất chính sách đối phó với Trung Quốc có thể sẽ được bàn thảo tại Đại hội Đảng sắp tới, Giáo sư Thayer cho rằng nếu căn cứ vào Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội, nhiều khả năng chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc sẽ không thay đổi. Mặc dù bản Dự thảo không đề cập đến Trung Quốc hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, nhưng Phần X yêu cầu thực hiện nhất quán chính sách đối ngoại “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại… [và] trên cơ sở hợp tác đấu tranh, tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”. Đây là chính sách lâu dài của Việt Nam.

Về tác động của chính sách châu Á của chính quyền Biden đến việc ra quyết định của Việt Nam, Giáo sư Thayer dẫn lời một nhà ngoại giao cấp cao của Việt Nam nói Việt Nam ưa thích “công thức Goldilocks” trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ – “không quá nóng (thân mật) và không quá lạnh (thù địch)”.

Theo ông Thayer, chính quyền Biden có khả năng loại bỏ luận điệu chống Trung Quốc quá mức được Ngoại trưởng Mike Pompeo áp dụng. Chính quyền Biden sẽ duy trì lập trường cứng rắn chống lại Trung Quốc trong khi tìm kiếm hợp tác trong các vấn đề toàn cầu như đại dịch (Tổ chức y tế thế giới – WHO), khôi phục tăng trưởng kinh tế toàn cầu (Tổ chức thương mại thế giới – WTO), biến đổi khí hậu và phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên.

Việt Nam tin tưởng rằng Mỹ sẽ tiếp tục phản đối sự uy hiếp và bắt nạt của Trung Quốc ở Biển Đông. Việt Nam sẽ đặc biệt vui mừng khi Tổng thống Biden và các quan chức cấp cao của ông sẽ khôi phục quan hệ với ASEAN và hợp tác với ASEAN trong các vấn đề khu vực. Dự thảo Báo cáo Chính trị khẳng định: “ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác khu vực, nhưng cũng đối mặt với nhiều khó khăn” (Phần II.1).

Về khả năng Việt Nam có thể đưa Trung Quốc ra tòa trọng tài quốc tế như Philippines đã làm trong thời gian tới, ông Thayer cho rằng Việt Nam luôn coi việc giải quyết vấn đề bằng trọng tài là một trong những giải pháp để đáp trả sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ không thực hiện biện pháp này trừ khi có lý do thực sự, chẳng hạn như một sự cố tàu Hải Dương 981 khác. Để sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc hoặc ràng buộc trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), Việt Nam cần chứng minh rằng mình đã áp dụng hết các giải pháp hòa bình với Trung Quốc.

Bình luận về tin đồn Việt Nam muốn hợp tác với các công ty Nhật Bản để phát triển Lô dầu khí 05-01 ở Biển Đông, giáo sư Thayer cho rằng, PetroVietnam đã khai thác hai mỏ Đại Nguyệt và Sao Vàng trong Lô 05-01 với các công ty Nhật Bản Idemitsu và công ty con của Inpex là Teikoku Oil. Lô 05-01 hiện hoàn thuộc về các công ty Việt Nam và Nhật Bản. Các kế hoạch phát triển mỏ đã được chính phủ Việt Nam phê duyệt. Nhật Bản và các công ty dầu mỏ của nước này đang có lợi thế lớn hơn nhiều so với Repsol và Rosneft vì họ có thể ký hợp đồng với các tàu khảo sát và khoan của Nhật Bản. Trung Quốc và Nhật Bản đã có mối quan hệ song phương thân thiện hơn trong vài năm qua. Trung Quốc dường như không muốn làm suy yếu mối quan hệ này, đặc biệt khi Chính quyền Biden có thể sẽ nhanh chóng điều phối chính sách khu vực với sự tham gia của Nhật Bản. Nhật Bản có khả năng cử tàu của Lực lượng Phòng vệ bờ biển đến Lô 05-01, phối hợp với Lực lượng Cảnh sát biển và Hải giám của Việt Nam. Ngoài ra, Trung Quốc sẽ phải tính đến việc Nhật Bản là đồng minh hiệp ước chính thức của Mỹ. Theo ông Thayer, Việt Nam lại chính là mắt xích yếu trong tất cả những vấn đề này. Như trường hợp của Respol và Rosneft đã chứng minh, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã lùi bước trước sức ép của Trung Quốc và hủy hợp đồng với các nhà khai thác nước ngoài.

Theo giáo sư Thayer, có 2 lý do đang ngăn cản ExxonMobil hoặc một công ty khác của Mỹ hợp tác với PetroVietnam trong Lô 05-01. Một là, các công ty Nhật Bản đã có vốn cổ phần ở đó và đã có kế hoạch phát triển mỏ được chính phủ Việt Nam phê duyệt. Hai là, ExxonMobil đã g8a5p phải những rủi ro liên quan đến dự án Cá Voi Xanh. ExxonMobil cũng đã bày tỏ ý muốn chuyển sang xây dựng các nhà máy điện chạy bằng khí đốt trên bờ tại Việt Nam.

Về khả năng có thể lặp lại tình trạng căng thẳng của năm 2019 ở Biển Đông trong năm 2021, giáo sư Thayer nhận định, nếu VIệt Nam quyết định tiếp tục thăm dò tại lô Lan đỏ 06-01 hoặc ở vùng biển gần Bãi Tư Chính, Trung Quốc chắc chắn sẽ trả đũa và chúng ta sẽ thấy lặp lại tình hình đối đầu căng thẳng của năm 2019. Trong năm 2020, các tàu của Cảnh sát biển Trung Quốc vẫn tiếp tục theo dõi khu vực này. Nếu PetroVietnam và các đối tác Nhật Bản quyếtđịnh tiến hành phát triển mỏ ở Lô 05-01, rất có thể Trung Quốc sẽ gây sức ép đáng kể với Việt Nam, thậm chí đe dọa sử dụng vũ lực, như trường hợp của Repsol của Tây Ban Nha năm 2017 – 2018.

Nguồn: TKNB – 22/12/2020.

Chính quyền Biden sẽ dùng “liên minh” để đối phó với Trung Quốc


Theo đài BBC, với việc Nhà Trắng bắt đầu tiến trình chuyển giao quyền lực và việc Tổng thống đắc cử Biden vừa ra mắt đội ngũ, chính sách đối ngoại, một lần nữa thu hút sự chú ý của dư luận.

Theo ba nhà phân tích chính trị là Adam Ni, Carl Thayer và David Hutt, với chính quyền Biden thì “căng thẳng Mỹ – Trung sẽ tiếp tục”, nhưng Biden sẽ tiếp cận thách thức Trung Quốc bằng cách thu hút đồng minh để cùng hợp tác đối phó với Bắc Kinh, thay cho cách hành xử đơn phương, một mình một ngựa của Tổng thống Trump.

Chiến thắng của Biden sẽ ảnh hưởng thế nào đến mối quan hệ của Mỹ và chính sách của Washington với Trung Quốc, theo Carl Thayer, lưỡng đảng Mỹ đồng thuận rằng Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh chiến lược và Mỹ có những bất bình chính đáng trước cạnh tranh thương mại không công bằng của Trung Quốc. Tình trạng cưỡng bức chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, đánh cắp tài sản trí tuệ của Mỹ, cũng như trợ cấp của chính phủ Trung Quốc cho các doanh nghiệp nhà nước cần phải được giải quyết. Căng thẳng hiện tại sẽ tiếp tục cho đến khi những vấn đề này được giải quyết xong.

Còn theo David Hutt, còn phải chờ xem. Tuy nhiên, sự cạnh tranh Mỹ – Trung sẽ tiếp tục dưới thời Biden, mặc dù nó sẽ trở thành một tiến trình hành chính hơn là cách hành xử tùy hứng như dưới thời ông Trump. David Hutt đồng thời cho rằng không lường trước được bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách của Mỹ liên quan đến Biển Đông, cũng là chính sách do Obama đặt ra, và không có bất kỳ sự giảm thiểu nào của mối quan hệ Việt – Mỹ ngay cả khi Biden giảm bớt sự thù nghịch với Trung Quốc.

Adam Ni cũng cho rằng, có một đồng thuận ở Washington là nước Mỹ cần phải cứng rắn hơn với Trung Quốc, vì tầm ảnh hưởng ngày càng lớn của Bắc Kinh trên nhiều mặt và sự cạnh tranh giữa Trung Quốc với Mỹ. Với chính quyền Biden, Mỹ sẽ không có sự thay đổi chính sách về mặt dài hạn, tuy nhiên, sẽ có khác biệt trong cách tiếp cận. Ông Trump tỏ ra khá hung hăng với Trung Quốc trong thời gian gần đây, nhưng với Biden, cách tiếp cận sẽ thiên về việc thu hút đồng minh, cùng nhau hợp tác để cạnh tranh với Trung Quốc. Ông Trump phản đối và không tin tưởng vào các tổ chức đa phương, ông ấy cũng không đối xử với đồng minh của Mỹ với sự tôn trọng mà họ xứng đáng được có, vì vậy, một nhiệm kỳ tổng thống của Biden sẽ tốt hơn cho giới lãnh đạo Mỹ và quốc tế, cũng như khả năng xây dựng mạng lưới liên minh để đạt được chính sách kiềm chế sự hiếu chiến của Trung Quốc.

Nếu chính sách ngoại giao của Mỹ với Trung Quốc không có gì khác biệt, vậy với chính quyền Biden, sự căng thẳng giữa hai nước sẽ đi đến đâu? Theo Carl Thayer, chính quyền Biden sẽ tiếp tục đẩy lùi sự uy hiếp và bắt nạt của Trung Quốc với các quốc gia ven biển và tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Mỹ sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động tuần tra tự do hàng hải và các cuộc tập trận hải quân đơn phương và đa phương, nhưng chính quyền Biden sẽ loại bỏ những luận điệu chống Trung Quốc quá khích của Tổng thống Trump và Ngoại trưởng Mike Pompeo.

Adam Ni khẳng định, với Biden, bạn sẽ có một cách tiếp cận khác, vì chúng ta đang ở trong một thế giới khác, một thế giới cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ.

Về tương lai quan hệ Mỹ – Việt, Carl Thayer cho rằng, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam dưới thời chính quyền Biden sẽ được tiếp tục, vì khuôn khổ cho quan hệ đối tác toàn diện đã có sẵn. Khuôn khổ này được thương lượng khi Barack Obama còn là tổng thống và được nâng cao dưới thời Tổng thống Trump.

Sự thay đổi lớn trong mối quan hệ giữa hai bên là các mối đe dọa về thuế quan, các biện pháp trừng phạt của Đại diện Thương mại Mỹ và Bộ Tài chính Mỹ sẽ không còn là tác nhân chính gây khó chịu trong quan hệ song phương Việt – Mỹ. Chính quyền Biden sẽ hợp tác với Việt Nam để giải quyết những lo ngại của mình về khả năng tiếp cận thị trường của các công ty Mỹ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ. Hai nước sẽ tham gia vào các cuộc đàm phán mang tính xây dựng để giải quyết các mối quan tâm của cả hai bên và hiện Việt Nam đã phát đi tín hiệu rằng, họ sẵn sàng cam kết mua dài hạn khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) của Mỹ và đầu tư vào lĩnh vực năng lượng của Mỹ trị giá hàng tỷ USD mỗi năm.

David Hutt cũng cho rằng, sẽ không có bất kỳ thay đổi cơ bản nào với chính sách Việt Nam – Mỹ dưới thời chính quyền Biden.

Ông Trump từng nhận xét rằng, Việt Nam là “kẻ lạm dụng tồi tệ nhất” trong tương quan thương mại của Mỹ, chỉ vài tháng sau khi ông lựa chọn Hà Nội là địa điểm diễn ra các cuộc đàm phán hòa bình với Triều Tiên và từ tháng 10/2017, Bộ Tài chính của ông Trump đã mở các cuộc điều tra về cáo buộc rửa tiền của Việt Nam. Thế nhưng, một nhiệm kỳ tổng thống của Biden sẽ đảm bảo sự giao thương với Việt Nam và chính sách của ông Biden sẽ dễ đoán hơn cho Hà Nội. Tuy nhiên, ông Biden có thể sẽ muốn thảo luận về nhân quyền thường xuyên hơn với Hà Nội và có thể quay lưng lại với sự kình địch Mỹ – Trung, nhưng sự ủng hộ đối với Việt Nam đến từ lưỡng đảng và Tổng thống Biden sẽ không buông bỏ quan hệ thân thiết với Hà Nội.

Chiến thắng của Biden cho thấy điều gì về chủ nghĩa dân túy, Carl Thayer cho rằng, di sản chủ nghĩa dân túy của Donald Trump sẽ đeo bám chính quyền Biden trong nhiều năm tới và sẽ làm phức tạp nếu không nói là hạn chế khả năng của Biden trong việc thay đổi các chính sách của Mỹ, từ đối đầu và khó lường sang hợp tác và dễ đoán. Ví dụ, một thượng viện do đảng Cộng hòa kiểm soát có thể cản trở bất kỳ nỗ lực nào của Biden trong việc tái gia nhập châu Âu và khôi phục thỏa thuận hạt nhân Iran đạt được dưới thời Tổng thống Obama.

Nguồn: TKNB – 27/11/2020.