Triển vọng Đông Nam Á năm 2018 – Phần cuối


Philippines

Việc thành phố Marawi bị một liên minh gồm các nhóm khủng bố địa phương có sự ủng hộ của khu vực và Nhà nước Hồi giáo (IS) vây hãm trong vòng 5 tháng là tin tức hàng đầu đối với Philippines trong năm 2017. Năm 2018, Marawi có thể để lại một di sản tồi tệ trên khắp cả nước.

Khi Tổng thống Duterte nhậm chức vào tháng 6/2016, ông đã đảo ngược chính sách an ninh của người tiền nhiệm. Việc tìm kiếm các giải pháp chính trị cho tình trạng nổi loạn kéo dài của người Moro ở khu tự trị Hồi giáo Mindanao và tình trạng nổi loạn của những người Cộng sản trên toàn quốc, chứ không phải là mối đe dọa từ Trung Quốc ở biển Tây Philippines, đã trở thành ưu tiên hàng đầu.

Cuộc vây hãm Marawi, khiến phần lớn thành phố lớn nhất ở khu tự trị Hồi giáo Mindanao bị hư hại, và việc không thể mang lại bất kỳ tiến triển rõ rệt nào trong tiến trình hòa bình với nhóm nổi dậy lớn nhất của người Moro cho thấy rằng năm 2018 sẽ không chứng kiến một sự cải thiện lớn nào liên quan đến cuộc nổi loạn của người Moro. Điều ngược lại có nhiều khả năng xảy ra hơn. Các quyết định của tổng thống trong năm 2017 nhằm kết thúc các cuộc đàm phán hòa bình với những người Cộng sản và gán cho đảng Cộng sản Philippines và phe cánh có vũ trang của họ, Quân đội nhân dân mới, là các nhóm khủng bố cho thấy rằng năm 2018 sẽ không thấy một sự cải thiện lớn nào liên quan đến cuộc nổi loạn của người Cộng sản. Điều ngược lại có nhiều khả năng xảy ra hơn.

Khi cuộc vây hãm Marawi bắt đầu, Tổng thống Duterte, được sự ủng hộ đông đảo của các nhà lập pháp, đã nhanh chóng tuyên bố thiết quân luật trên toàn Mindanao. Ông lập luận rằng cuộc vây hãm là một hành động nổi loạn cho phép tuyên bố thiết quân luật. Tòa án tối cao đã nhất trí và tạo ra một tiền lệ pháp lý rất dễ dài cho những tuyên bố về thiết quân luật trong tương lai. Việc chấm dứt các cuộc đàm phán hòa bình với những người Cộng sản có thể mang lại cho Tổng thống Duterte, người thường xuyên khen ngợi những lợi ích của thiết quân luật và thậm chí là một chính phủ cách mạng, cơ sở để mở rộng thiết quân luật ra cả nước. Tổng thống Marcos đã lợi dụng chính mối đe dọa từ phía những người Cộng sản này như là lý do chính để tuyên bố thiết quân luật trên cả nước từ năm 1972 đến năm 1981. Cuộc nổi loạn của những người Cộng sản diễn ra ở đa số các tỉnh của Philippines. Nếu cuộc vây hãm Marawi mang lại cơ sở pháp lý để tuyên bố thiết quân luật trên toàn Mindanao, thì các cuộc tấn công của Quân đội nhân dân mới có thể mang lại cơ sở để mở rộng thiết quân luật bền ngoài Mindanao. Nhiều người ở Philippines đã hy vọng rằng thiết quân luật trên toàn quốc là một việc thuộc về quá khứ, là tai tiếng dưới chế độ độc tài Marcos. Tổng thống Duterte, một người hâm một Marcos, có thể không nhất trí với điều này.

Thái Lan

Lễ hỏa táng Quốc vương Bhumibol Adulyadej quá cố theo nghi thức hoàng gia vào tháng 10/2017 đã đánh dấu sự chuyển tiếp của Thái Lan sang một kỷ nguyên chính trị mới. Những sự không chắc chắn tiềm tàng đang dần che mờ di sản của quốc vương quá cố, người đã mang lại cho vương quốc này sự ổn định và khả năng dễ đoán định trong 7 thập kỷ qua. Những dàn xếp về quyền lực giữa quân đội, hoàng cung và chính phủ vẫn chưa chắn sau cuộc đảo chính năm 2014.

Trước hết, mối quan hệ giữa quân đội và hoàng cung sẽ tiến triển như thế nào là điều vẫn chưa chắc chắn. Quốc vương mới, Maha Vajiralongkorn, đã lựa chọn một cách tiếp cận trực tiếp hơn để truyền tải cách thức đáp ứng những mong muốn của ông, chẳng hạn như bằng những sắc lệnh mở rộng quyền lực của ông, đặc biệt là trong các vấn đề của hoàng cung và các vấn đề về tài sản và quân sự nào đó. Mặc dù mối quan hệ giữa hai trung tâm quyền lực này bề ngoài không thấy có xung đột nào, nhưng mức độ mà quân đội thích ứng với cách tiếp cận này là điều chưa rõ ràng.

Để hạn chế những sự không chắc chắn, quân đội đã xây dựng một cấu trúc chính trị mới thông qua hiến pháp mới. Nó trao cho các nhà lãnh đạo quân sự quyền bổ nhiệm các thượng nghị sĩ có quyền phủ quyết và mở ra một vài kênh cho khả năng có một thủ tướng không qua bầu cử. Quân đội chắc chắn sẽ có khả năng sử dụng ảnh hưởng của họ trong lĩnh vực lập pháp sau cuộc bầu cử tiếp theo bất cứ khi nào có thể, thông qua thượng viện hoặc trực tiếp thông qua vị trí thủ tướng.

Vụ án nhằm vào cựu Thủ tướng Yingluck Shinawatra liên quan đến chương trình trợ giá gạo và cuộc tẩu thoát đáng ngạc nhiên của bà khỏi Thái Lan vào tháng 8/2017 đã bổ sung thêm một sự không chắc chắn nữa cho năm 2018, đặc biệt là trong nội bộ phe phái ủng hộ Thaksin. Nó giúp hợp pháp hóa chính phủ quân sự và làm cho cán cân quyền lực chính trị nghiêng về phía nhóm chống lại Thaksin. Cùng với kế hoạch hiến pháp mới, các chính đảng ủng hộ Thaksin, vốn chi phối các cuộc bầu cử trong vòng 2 thập kỷ qua, có thể không có khả năng giành được đa số hay thành lập một chính phủ đa số sau cuộc bầu cử tiếp theo.

Vụ án Yingluck sẽ ảnh hưởng đến nền chính trị Thái Lan ở một vài phương diện ngoài các cuộc bầu cử. Về mặt tích cực, nó sẽ báo cho các chính quyền tương lai biết rằng tham nhũng có thể dẫn đến một số phận pháp lý và chính trị tương tự như những gì mà bà Yingluck và các quan chức chính phủ khác đã phải chịu. Mặt khác, quyền tư pháp sẽ bao phủ rộng liên quan đến nhánh hành pháp. Điều này có thể dẫn đến các chính sách ít đổi mới hơn mà có khả năng đáp ứng các nhu cầu của dân chúng kém hơn, vì các chính sách phải được xây dựng sao cho phù hợp với kế hoạch dài hạn của chính quyền quân sự. Sự tiến triển này sẽ lại đặt nền chính trị Thái Lan vào tay bộ máy quan liêu và các nhà kỹ trị mà mục tiêu thể chế mang tính bảo thủ của họ là duy trì nguyên trạng.

Bất chấp những nỗ lực để đạt được sự ổn định và giảm bớt ảnh hưởng của gia đình Shinawatra, cuộc tranh giành chính trị kéo dài một thập kỷ của Thái Lan vẫn tiếp diễn. Vì một tiến trình hòa giải dân tộc được chấp nhận rộng rãi vẫn chưa diễn ra, nên Thái La sẽ phải chịu đựng những căng thẳng gay gắt giữa các nhóm đang tranh giành quyền kiểm soát nhà nước trong tương lai có thể thấy trước.

Nguồn: Viện ISEAS – Yousof Ishak – Singapore, 02/01/2018

TLTKĐB – 30/01/2018

Advertisements

Triển vọng Đông Nam Á năm 2018 – Phần II


Indonesia

Sẽ có 4 vấn đề nổi bật trong năm 2018. Thứ nhất sẽ là các cuộc bầu cử chính quyền địa phương được tổ chức vào tháng 6/2018. Thứ hai sẽ là thành tích kinh tế của Chính quyền Tổng thống Joko “Jokowi” Widodo, vốn được xem là nguồn mang lại tính hợp pháp cho chính quyền này và cũng là một nhân tố quan trọng trong triển vọng tái đắc cử của ông vào năm 2019. Thứ ba là sự trỗi dậy của các nhóm cực đoan vốn đã thắng thế sau thắng lợi của Anies Baswedan trong bầu cử thủ hiến năm 2017 ở Jakarta, và việc cựu Thủ hiến Basuki Tjahaja Purnama có biệt danh là Ahok bị tống giam vì “báng bổ đạo Hồi”. Vấn đề cuố cùng nhưng không kém phần quan trọng sẽ là những bước chuẩn bị cho cuộc bầu cử tổng thống năm 2019.

Ngày 27/6/2018, các cuộc bầu cử chính quyền địa phương sẽ được tổ chức đồng thời tại 17 tỉnh, 115 quận và 39 thành phố. Nhiều người sẽ theo dõi những cuộc bầu cử chính quyền địa phương này để có được những dấu hiệu cho thấy hiệu quả hoạt động của các chính đảng và ứng viên trong cuộc tổng tuyển cử và bầu cử tổng thống năm 2019. Nếu ứng viên từ những đảng trong các liên minh của Jokowi có thành tích kém cỏi, thì điều này có ảnh hưởng đến khả năng tái đắc cử của ông trong năm 2019.

Ước tính mức tăng trưởng kinh tế của Indonesia trong năm 2018 là 5,3%. Mức tăng trưởng ước tính năm 2017 là 5,1%, cao hơn một chút so với mức được ghi nhận trong năm 2016 là 5,02%. Tuy nhiên, thương mại bán lẻ đã giảm tốc, sức mua giảm sút và khoảng cách giàu nghèo tiếp tục mở rộng. Các nhóm nhất định đã lợi dụng điều này để tăng cường sự ủng hộ của họ đối với chủ nghĩa bản địa. Mức độ yêu mến của dân chúng đối với Jokowi vẫn cao (khoảng 60%), nhưng thành tích kinh tế mờ nhạt có thể làm thay đổi điều này.

Các nhóm phản đối Jokowi, trong đó có đảng Gerindra của Prabowo Subianto, tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo, sắc tộc và đảng Cộng sản Indonesia (PKI) như là những vũ khí dân túy để chống lại ông. Đồng thời, chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo đã phát triển, và không có dấu hiệu nào cho thấy phe đối lập sẽ ngừng sử dụng các chiến thuật gây chia rẽ để chống lại Jokowi.

Malaysia

Cuộc tổng tuyển cử năm 2018 có thể là một sự kiện mang tính bước ngoặt trong nền chính trị Malaysia. Nó phải được tổ chức trước tháng 8/2018, nhưng có khả năng sẽ được tổ chức vào tháng 3 hoặc tháng 4.

Nhìn chung, 2017 là một năm tốt đẹp đối với Thủ tướng Najib Razak. Ông đã có thể “chặn họng” những kẻ chỉ trích mình và loại bỏ hoàn toàn những kẻ chống đối mình ra khỏi Tổ chức dân tộc Mã Lai thống nhất (UMNO) chiếm ưu thế. Đại hội đảng UMNO năm 2017 đã được tổ chức như một minh chứng cho sự ủng hộ vững chắc của đảng đối với ông.

Ngược lại, liên minh đối lập, Pakatan Harapan (HP), lại trong tình trạng hỗn loạn. Dưới sự lãnh đạo của cựu Thủ tướng, tiến sĩ, Mahathir Mohamad, nó vẫn chưa được Cục đăng kiểm hiệp hội (RoS) chứng nhận là một liên minh riêng rẽ. Ngoài lời kêu gọi chung về việc chấm dứt chế độ tham nhũng, sự thống nhất của liên minh này cũng là vấn đề còn phải bàn cãi. Ngoài ra, một số người Malaysia không thoải mái khi nhìn thấy Mahathir đứng trên cùng một vũ đài với những đối thủ lâu năm của ông là Lim Kit Sang của đảng DAP (đảng Hành động dân chủ) và Wan Azizah Wan Ismail (vợ của Anwar Ibrahim) của đảng PKR (đảng Công lý nhân dân). Mặt khác, đảng PAS (đảng Hồi giáo Malaysia) có lập trường nước đôi: Họ vẫn là một đảng đối lập, nhưng lại đứng ngoài PH, và dường như đang tạo dựng quan hệ với UMNO. Cuộc bầu cử năm 2018 có thể chứng kiến các cuộc cạnh tranh ba bên, điều sẽ có lợi cho liên minh Mặt trận quốc gia (BN) cầm quyền.

Ba vấn đề dưới đây sẽ xác định rõ ràng các cuộc bầu cử trong năm 2018:

Thứ nhất là mức độ mà phe đối lập có thể thuyết phục cử tri rằng họ có thể cùng nhau hành động. Thời gian có lẽ không đứng về phía PH, và họ phải cạnh tranh với sự phối hợp giữa bộ máy của đảng và tầm với ở cấp cơ sở của BN. Khả năng của Mahathir trong việc tập hợp cử tri ở khu vực nông thôn Malaysia sẽ quyết định liệu PH có thể làm suy yếu UMNO được hay không.

Thứ hai là mức độ mà các cuộc điều tra quốc tế về vấn đề quỹ IMDB có thể thuyết phục cử tri rằng Najib đã quản lý nền kinh tế một cách tồi tệ. Trên mặt trận trong nước, Bộ trưởng Tư pháp đã minh oan cho Thủ tướng khỏi mọi sai phạm, và việc đưa ra những cáo buộc chống lại ông giờ đây phụ thuộc vào các cuộc điều tra liên quan đến quỹ IMDB đang được tiến hành bởi Bộ Tư pháp Mỹ và tại các khu vực thuộc thẩm quyền ở nước ngoài.

Thứ ba là mức độ chấp nhận của cử tri đối với chiến dịch Hồi giáo hóa của Najib và UMNO. Điều này đã mở đường cho sự hợp tác với PAS, nhưng lại thúc đẩy sự ủng hộ của những người không theo Hồi giáo đối với liên minh đối lập. Nếu UMNO không thận trọng thì những người ủng hộ họ ở Sarawak và Sabah cũng có thể bỏ phiếu cho phe đối lập nếu họ thúc đẩy quá cứng rắn nghị trình Hồi giáo.

Myanmar

Những vấn đề di sản vốn ăn sâu bám rễ từ các chính quyền trước sẽ tiếp tục gây phiền toái cho Chính quyền Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD), thậm chí có thể đến tận các cuộc bầu cử vào năm 2020. Cách thức họ giải quyết xung đột sắc tộc và mâu thuẫn cộng đồng sẽ là mối quan tâm trước hết của họ.

Sự chú ý tới quốc tế tập trung vào cuộc di tản lớn nhất cho đến nay của các cộng đồng người Rohingya từ bang Rakhine (theo ước tính của Liên hợp quốc là 646.000 người) sau các hoạt động quân sự hà khắc chống lại các cuộc tấn công của Đội quân cứu thế Arakan Rohingya (ARSA) vào tháng 8/2017.

Năm 2018, cách thức phản ứng của Chính quyền NLD đối với những phương diện khác nhau của vấn đề người Rohingya sẽ tiếp tục xác định rõ ràng thái độ và nhận thức ở Myanmar và đối với Myanmar. Kể từ khi NLD lên nắm quyền, ưu tiên hàng đầu của họ là chấm dứt cuộc nội chiến đã kéo dài nhiều thập kỷ. Nhưng sự tiến triển trong điều kiện tốt nhất dường như mang tính hỗ tạp, và vai trò của quân đội với tư cách là bên đảm bảo an ninh nhà nước đã trở nên quan trọng.

Đồng thời, Chính quyền NLD đang cố gắng nhấn mạnh vai trò lãnh đạo dân sự trong việc phối hợp các phản ứng trước những nhu cầu nhân đạo ở bang Rakhine. Liên minh hỗ trợ nhân đạo, tái định cư và phát triển ở Rakhine đã được thành lập dưới sự bảo hộ của Văn phòng cố vấn nhà nước vào ngày 17/10/2017, do Bộ trưởng Phúc lợi xã hội, cứu trợ và tái định cư làm nhà điều phối.

Myanmar tiếp tục nhấn mạnh rằng vấn đề người Rohingya là một vấn đề nội bộ, và dường như muốn giải quyết trực tiếp với các bên đối thoại trong một khuôn khổ song phương hơn. Mặc dù các kênh song phương chắc chắn là quan trọng đối với việc đàm phán chi tiết về việc hồi hương với láng giềng của họ là Bangladesh, nhưng điều này sẽ ảnh hưởng đến cách thức các tổ chức khu vực làm việc với Myanmar. Với việc quan hệ của Myanmar với Liên hợp quốc hiện đang ở thế bế tắc, ASEAN dường như là nền tảng duy nhất mà Myanmar cảm thấy đủ thoải mái để thảo luận về “tình hình ở Rakhine”.

Tất cả những điều này đã làm gia tăng sự chỉ trích của quốc tế đối với việc chính phủ – cụ thể là Daw Suu – không sẵn sàng giải quyết vấn đề người Rohingya theo đúng các nguyên tắc và khuyến nghị nhân đạo. Sự chỉ trích, vốn vẫn tiếp tục gia tăng, đã dẫn đến việc sự ủng hộ ở trong nước đối với Daw Suu, và ở một mức độ nào đó đối với quân đội, được củng cố.

Các hành động và tuyên bố về chính sách đối ngoại của Chính quyền NLD giờ đây sẽ được xem xét qua lăng kính của cuộc khủng hoảng người Rohingya. Tháng 11/2017, Chính phủ Myanmar và Chính phủ Bangladesh đã ký một thỏa thuận song phương cho “Sự trở về của những người phải rời bỏ nhà cửa ở bang Rakhine”. Bằng chứng về sự cam kết của hai bên sẽ nằm ở cách thức tiến hành việc hồi hương trong năm 2018.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện ISEAS – Yousof Ishak – Singapore, 02/01/2018

TLTKĐB – 30/01/2018

Triển vọng Đông Nam Á năm 2018 – Phần I


Tóm tắt

+ Quan hệ Mỹ – Trung và Trung Quốc – ASEAN có khả năng phát triển theo những chiều hướng khác nhau.

+ Các cuộc bầu cử, và những bước chuẩn bị cho bầu cử sẽ quyết định nền chính trị ở Malaysia, Indonesia và có thể là Thái Lan.

+ Tiến trình chuyển tiếp chính trị ở Myanmar và Thái Lan phải đối mặt với những thách thức di sản nghiêm trọng.

+ Năm 2018 có thể thấy sự mở rộng thiết quân luật trên khắp cả nước ở Philippines.

Năm 2017, những quan ngại địa chính trị về một nước Mỹ không thể đoán định dưới thời Chính quyền Trump và một Trung Quốc quyết đoán hơn dưới thời Tập Cận Bình là những chủ đề nổi bật ở Đông Nam Á mà vẫn rất đáng chú ý trong năm 2018. Tuy nhiên, các diễn biến chính trị trong nước phần lớn tách biệt khỏi những động lực nước lớn này ở 5 trong số các nước đông dân hơn ở Đông Nam Á cũng đòi hỏi sự chú ý sát sao.

Bối cảnh địa chính trị

Năm 2017 đã thấy triết lý “Nước Mỹ trước tiên” và các chính sách của Tổng thống Trump làm lung lay niềm tin vào việc Mỹ sẵn sàng thực hiện vai trò lãnh đạo thế giới và duy trì trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc mà nước này đã thiết lập trong những năm 1940. Nhưng không có cường quốc nào khác có cả tính hợp pháp (dựa trên sự công nhận rộng rãi) lẫn phương tiện để làm vậy. Thế giới, bao gồm cả châu Á – Thái Bình Dương, sẽ trở thành một nơi xảy ra nhiều tranh chấp hơn giữa các cường quốc đối địch và do đó dễ xảy ra tình trạng căng thẳng và mất trật tự hơn.

Trong bối cảnh đáng lo ngại này, người ta có thể mong chờ điều gì ở Đông Á/Đông Nam Á trong giai đoạn 2018 – 2019? Vấn đề khó khăn (và nguy hiểm) về các năng lực hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên sẽ là vấn đề nổi bật. Kết cục của vấn đề này có thể có tác động lớn đến hòa bình và sự ổn định cũng như các mối quan hệ nước lớn.

Điều thậm chí còn quan trọng hơn và cũng nổi bật sẽ là mối quan hệ trọng yếu giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những lần thử thách về vấn đề Triều Tiên cũng như các vấn đề kinh tế và chiến lược. Giới chính sách Mỹ ngày càng lo lắng về thách thức được nhận thấy của Trung Quốc đối với các lợi ích của Mỹ ở châu Á. Văn kiện Chiến lược an ninh quốc gia được công bố tại Washington vào tháng 12/2017 xác định Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh và một nước “theo chủ nghĩa xét lại”, với việc Tổng thống Mỹ thậm chí còn nhắc đến hành động “gây hấn kinh tế” của Trung Quốc. Vậy nên quan hệ Mỹ – Trung sẽ khó khăn hơn và không khó hiểu khi Tổng thống Trump kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa bài Trung Quốc ở Mỹ.

Quan hệ Trung – Nhật có thể được cải thiện, phần nào do cả hai nước đều sẽ phòng ngừa trước một nước Mỹ khó đoán định hơn. Trung Quốc cũng sẽ quan tâm đến việc chi phối dư luận Nhật Bản bằng những cử chỉ thân thiện tại thời điểm Chính phủ Nhật Bản tìm kiếm sự ủng hộ của dân chúng để sửa đổi “hiến pháp hòa bình”. Về phần mình, Nhật Bản muốn giảm bớt căng thẳng trong mối quan hệ song phương này, nhưng lại không thỏa hiệp về liên minh an ninh chặt chẽ và ngày càng được tăng cường của họ với Mỹ.

Trung Quốc sẽ tiếp tục các nỗ lực tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng của họ ở Đông Nam Á thông qua nhiều phương tiện khác nhau bao gồm cả Sáng kiến “Vành đai và Con đường” và các nỗ lực chi phối dư luận và các nhóm lợi ích. Điều này sẽ bị thách thức bởi một liên minh hàng hải lỏng lẻo bao gồm Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ và Australia mà sẽ mang lại cho các nước Đông Nam Á cả cơ hội lẫn rủi ro.

Nhật Bản, Australia, Mỹ và Ấn Độ sẽ có những động thái tăng cường hợp tác quân sự nhằm phát triển một thế cân bằng không chính thức chống lại sức mạnh ngày càng gia tăng và thái độ quyết đoán được nhận thấy của Trung Quốc. Với việc Triều Tiên và các vấn đề kinh tế chi phối quan hệ Mỹ – Trung, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) có khả năng ít nổi bật hơn. Trung Quốc sẽ tiếp tục quân sự hóa các cấu trúc địa hình mà họ cải tạo, Mỹ sẽ tiếp tục các hoạt động tự do hàng hải (FONOP), trong khi đó ASEAN và Trung Quốc bắt đầu đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử. Tuy nhiên, nếu quan hệ Mỹ – Trung xấu đi thì vấn đề biển Nam Trung Hoa có thể bùng phát trở lại.

ASEAN

Singapore tiếp quản chức chủ tịch ASEAN lần thứ 4 vào năm 2018, và sẽ tập trung “tăng cường khả năng phục hồi và mở rộng khả năng đổi mới của ASEAN”. Một số sáng kiến mà Singapore sẽ làm mũi nhọn dẫn đầu bao gồm việc thực thi Cửa sổ chung ASEAN… sáng kiến sẽ nâng cao các biện pháp hỗ trợ thương mại, mở rộng thương mại điện tử trên toàn khu vực và tạo ra một mạng lưới các thành phố thông minh trên toàn khu vực ASEAN.

Năm 2018 chắc chắn sẽ là một năm bận rộn đối với ASEAN. Các nhà lãnh đạo ASEAN đến New Delhi vào tháng 1 để tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Ấn Độ lần thứ 2. Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, Ấn Độ sẽ có nhiều hơn một khách mời chính tại Lễ duyệt binh chào mừng Ngày Cộng hòa khi 10 nhà lãnh đạo ASEAN cùng Tổng thống Shri Ram Nath Kovind có mặt trên khán đài dự lễ duyệt binh. Vào tháng 3, các nhà lãnh đạo sẽ đến Sydney để tham dự Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ASEAN – Australia. Một vấn đề then chốt đối với đối tác thương mại lớn thứ 7 của ASEAN là vai trò của nước này trong hợp tác an ninh Bộ tứ mới nổi với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ. ASEAN sẽ phải nghiên cứu kỹ về tác động của Bộ tứ và khái niệm một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở đối với vai trò trung tâm của ASEAN và các tiến trình trong khu vực do ASEAN dẫn dắt.

Quan hệ của ASEAN với Trung Quốc đã được cải thiện rõ rệt sau khi vượt qua được cơn bão xảy ra sau phán quyết của Tòa Trọng tài vào năm 2016. Trung Quốc đã thực hiện lời hứa của họ là hoàn tất khuôn khổ cho Bộ Quy tắc ứng xử (COC), và hai bên được cho là sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán về COC trong quý I/2018. Trong khoảng thời gian đó, ASEAN và Trung Quốc đang làm việc để kích hoạt Bộ quy tắc cho các vụ va chạm ngoài ý muốn (CUES) trên biển Nam Trung Hoa, mà ASEAN hy vọng sẽ được mở rộng để bao gồm cả tàu thuyền phi quân sự (nghĩa là các lực lượng  bảo vệ bờ biển và bán quân sự). Hai bên hy vọng tận dụng thiện chí này để tiến hành các cuộc tập trận hải quân chung đầu tiên giữa họ, điều sẽ báo hiệu quan hệ chiến lược ngày càng được mở rộng.

Mặc dù quan hệ ASEAN – Trung Quốc đã trở nên ổn định, nhưng không có gì đảm bảo rằng tình trạng tích cực này sẽ tiếp diễn. Chưa thấy có tiến triển thực chất nào về COC, ngay cả khi Trung Quốc tiếp tục phát triển và củng cố vị thế của mình tại các cấu trúc địa hình đang tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa.

Trong khi đó, Singapore sẽ đảm nhận nhiệm vụ điều phối quan hệ ASEAN – EU vào tháng 8, và nhiều người sẽ theo dõi xem liệu nước này có đạt được tiến triển hướng tới thỏa thuận thương mại tự do ASEAN – EU vốn khó khăn hay không. Sát sườn hơn, tình hình bất ổn tại bang Rakhine của Myanmar có thể một lần nữa đặt ASEAN vào vị thế không thoải mái, đặc biệt là nếu cuộc khủng hoảng nhân đạo leo thang. Vấn đề người Rohingya sẽ thử thách uy tín và khả năng của ASEAN trong việc quản lý các xung đột nội khối.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện ISEAS – Yousof Ishak – Singapore, 02/01/2018

TLTKĐB – 30/01/2018

1000 năm tới: “Năm động lực lớn” tăng trưởng kinh tế – Phần cuối


Một chất bột ngọt tổng hợp có độ ngọt gấp 50.000 lần so với loại đường thông thường. Về mặt lý thuyết, một vài cơ sở sản xuất loại chất bột ngọt này có thể thay thế hàng triệu hecta và người lao động được sử dụng để sản xuất các chất bột ngọt có hương vị tự nhiên. Điều quan trọng nhất là các chất bột ngọt có nồng độ cao có tiềm năng lớn trong việc làm giảm quá trình hấp thụ calo, hạn chế béo phì, tăng cường sinh lực và nâng cao tuổi thọ.

Công nghệ vi tiểu dùng để chế tạo các loại máy móc và công cụ cỡ phân tử trở thành loại công nghệ tiên phong có kích cỡ nhỏ li ti mới chỉ bắt đầu được khám phá. Công nghệ vi tiểu sẽ sử dụng ít nguyên liệu hơn, tốn ít năng lượng hơn, và giảm thiểu được chất thải. Các ống nghiệm với đường kính trong lòng là 10 phần tỉ mét được chế tạo để sử dụng các ống carbon siêu nhỏ. Các động cơ tĩnh điện nhỏ tương đương 70 trắc vị kế (đường kính tương đương 0,003 inch) có thể đạt vận tốc trung bình 240.000 vòng quay/phút và vận tốc tối đa là 600.000 vòng/phút. Nhiều khả năng kỳ diệu hơn bao gồm xe “giao” thuốc, các thiết bị giải phẫu hiển vi có thể khai thông mạch, và các thiết bị tự nhân bản sử dụng các bản vẽ giống AND để tự liên kết. Các tiểu robot thì chưa thể có.

Khoa học siêu vật chất sẽ khám phá những công nghệ tiên phong thậm chí còn nhỏ hơn cả công nghệ vi tiểu: từng bước và từng phần, các tia hạt hoạt động và/hoặc các dạng hình sóng hình thành cấu trúc nguyên tử sẽ tiếp tục được khám phá. Các nhà khoa học đang bóc đi các lớp vỏ bên ngoài của các hạt nhân của một nguyên tử giống như lớp vỏ bên ngoài của một củ hành và xác định được rất nhiều các thành tố dưới nguyên tử. Còn lại những lớp và vỏ sâu tận cùng của chất dưới nguyên tử vẫn chưa được khám phá.

Hơn 300 hạt hạ nguyên tử đã được khám phá, nhưng kết quả cho đến nay vẫn nằm ngoài nhãn tiền. Tại Trung tâm Nghiên cứu hạt nhân châu Âu (CERN), máy phân tích hạt điện tử Pozitron phóng đại có thể cho phép nhìn thấy các phân tử nhỏ tới 10 phần tỉ mét. Khả năng đo được phân tử ở mức này cho phép nhìn thấy những thành tố đầu tiên của vật chất và năng lượng. Đây chính là những thành tố giúp toàn bộ vũ trụ phát triển. Máy phân tích hạt điện tử Hadron phóng đại tại CERN sẽ giúp phát triển hơn nữa những công nghệ tiên phong. Kết quả phân tích sẽ được đưa lên mạng vào năm 2005. Lĩnh vực vi phân này đem lại kỳ vọng lớn lao về một nền văn minh tiên tiến của chúng ta.

Việc kiểm soát nguyên tử phụ thuộc vào khả năng “nhìn” hoặc tạo ra hình ảnh quá trình và cấu trúc nguyên tử và dưới nguyên tử. Các máy siêu âm sử dụng tia X có thể tạo ra hình ảnh cấu trúc các phân tử, protein, và các chất hóa hữu cơ (enzime). Những kính hiển vi mới sử dụng năng lượng nguyên tử có thể phân tích từng nguyên tử. Một khi bản chất thực sự của vật chất được thấu hiểu, thì khoa học sẽ có thể kiểm soát được nó một cách dễ dàng. Thời điểm đó không còn bao xa nữa.

NGUYÊN TỬ MỚI

Thời đại nguyên tử mới: thống trị trong giai đoạn các năm 2100 – 2500

Năng lượng nhiệt hạch sẽ mở ra một thời đại nguyên tử mới. Năng lượng này sử dụng hoàn toàn khí hydro làm nhiên liệu, và vì thế nó có tiềm năng làm thỏa mãn nhu cầu về nguồn năng lượng vô hạn. Khi chúng ta biết cách nhân đôi nguồn năng lượng khí hydro, nguồn cung cấp chất đốt cho mặt trời, thì con người sẽ khai thác năng lượng từ chính những “lò tinh tú” của họ.

Nhu cầu năng lượng nhiệt hạch sẽ trở nên cấp thiết vào khoảng các năm 2050 – 2100 khi các nguồn dầu khí cạn kiệt. (Viện Dầu khí Hoa Kỳ ước tính hiện trên trái đất không còn quá 2 nghìn tỷ thùng dầu thô, tức là sẽ không còn đủ dùng cho hơn 95 năm nữa). Trước năm 2050, các nền kinh tế sẽ ngày càng phụ thuộc vào than. Tiếp đó, khoảng 2250 – 2500, khi trữ lượng than cũng đã cạn kiệt, thì nguồn cung cấp các nhiên liệu hóa thạch sẽ bị cạn kiệt và nhu cầu về năng lượng thay thế sẽ trở nên cấp bách.

Nguồn năng lượng khí hydro có thể cung cấp năng lượng thoải mái trong vòng 50 triệu năm! 10 feet lớp bề mặt của đại dương chứa đủ chất deuteri (một chất đồng vị với khí hydro) làm nhiên liệu đốt cho các lò phản ứng nhiệt hạch trong khoảng thời gian lâu như vậy. Khí hydro tự nhiên trong lớp vỏ bề mặt của trái đất có thể cung cấp trữ lượng bổ sung khổng lồ. Các nguồn ngoài tầng khí quyển có thể trở thành nguồn cung cấp bổ sung khi cần thiết. Chi phí để chuyển chất deuteri thành chất triti, một chất đồng vị mạnh hơn có tiềm năng cung cấp năng lượng gấp 4 lần, là không quá đắt. Các chất đồng vị heli có thể cung cấp thậm chí nhiều năng lượng hơn.

Để năng lượng nhiệt hạch có tính thương mại, sẽ cần một số đột phá khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý, hóa huyết tương, phát triển các lĩnh vực phòng ngừa tốt, thiết bị gia tốc trao đổi phân tử, kỹ thuật giảm quán tính, các thiết bị kích thích (chẳng hạn như laze), và tinh chế nguyên liệu thô. Tuy nhiên những trở ngại này có thể xử lý được. Cần phải có thời gian cần thiết cho các quá trình điều tiết, xây dựng, và các biện pháp khởi động khác. Việc thành lập các cơ sở sản xuất năng lượng nhiệt hạch có thể bắt đầu sớm nhất là vào năm 2025, và kết quả sẽ được đưa lên mạng vào năm có một con số ý nghĩa là năm 2050.

Các nguồn thay thế khác có thể cung cấp năng lượng, nhưng không nhiều. Các tấm điện quang có thể chuyển ánh sáng mặt trời thành dòng điện nhưng vẫn còn rất tốn kém. Năm 1997, ở Mỹ, sức gió góp 7.630 MW điện (tăng từ 10 MW năm 1980), nhưng vẫn còn ở mức tương đối nhỏ trong tổng số lượng cung cấp năng lượng. Các tế bào nhiên liệu của một loại đã được cải tiến dự kiến sẽ được đưa vào sử dụng thương mại vào năm 2025.

Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự phân hạch hạt nhân đã được khai thác, không chỉ nhằm tạo ra những kho vũ khí khổng lồ, mà còn được sử dụng vào những mục đích hòa bình. Con số các quốc gia phụ thuộc hoàn toàn vào việc phân hạch hạt nhân để đáp ứng nhu cầu năng lượng của họ ngày càng tăng. Sự phụ thuộc đó sẽ còn tiếp tục tăng. Chúng ta cũng có thể trông đợi vào sự phát triển ổn định trong lĩnh vực này.

VŨ TRỤ MỚI

Thời đại vũ trụ mới: thống trị trong giai đoạn 2500 – 3000

Đến năm 3000 và có lẽ sớm nhất là năm 2500, thương mại trong vũ trụ sẽ trở thành động lực chính của hoạt động kinh tế. Trong nhiều thế kỷ qua, nhiều kính viễn vọng và thiết bị quan sát ngày càng tinh vi đã và đang tìm kiếm, nghiên cứu các điểm cực xa trong khoảng không vũ trụ. Vật lý học thiên thể và nhiều lĩnh vực nghiên cứu mới đã vén dần, tuy chậm nhưng chắc, những bí ẩn của vũ trụ bao la. Nhiều con tàu vũ trụ có người điều khiển hoặc không có người điều khiển đã bắt đầu nhiệm vụ khám phá khoảng không vũ trụ ngoài trái đất. Vũ trụ ngày càng trở nên gần với chúng ta hơn bao giờ hết.

Vũ trụ thật mênh mông bao la, vì thế thật khó mà hiểu hết được nó. Dải ngân hà “Milky Way” mà trái đất của chúng ta nằm trong đó có 200 đến 400 tỉ tinh tú và rất nhiều hành tinh khác. Theo ước tính, vũ trụ có hơn 125 tỉ dải thiên hà khác.

Bất chấp những con số gây thất vọng như vậy, nhiều chuyên gia có tầm nhìn xa đã thiết lập những doanh nghiệp tổ chức du lịch trong vũ trụ cho những người ưa mạo hiểm và dịch vụ “mai táng” những hài cốt đã hỏa táng trong vũ trụ. Nhiều người dự đoán các thuộc địa vũ trụ sẽ là nơi để khai thác các tài nguyên từ sự phong phú của hệ thống mặt trời này, thiên hà này, và xa hơn. Sự khám phá vũ trụ của con người là vô tận. Nhiều công nghệ cần thiết cho Thời đại Vũ trụ mới đã được ứng dụng. GIờ đây, những công nghệ này cần được phát triển tiếp tục.

Những triển vọng tiến bộ

Các kỷ nguyên kinh tế lớn không bỗng nhiên xuất hiện như là một “dấu ấn gây kinh ngạc”. Phải mất hơn 100 năm để phát triển những công nghệ phục vụ cuộc cách mạng công nghiệp. Vạch ra những tác động về mặt chính trị và xã hội phải mất lâu hơn. Cần ít nhất 250 năm mới thấy được những tác động phụ, có biện pháp cải thiện những tác động hệ quả, và chú trọng mặt tích cực.

Lối sống tốc độ nhanh và những lo toan trước mắt của ngày hôm nay đã hạn chế tầm nhìn dài hạn. Chúng ta hiểu lịch sử một cách lờ mờ. Tuy nhiên, sự kiểm chứng chi tiết quá khứ và hiện tại là cần thiết để dự báo những triển vọng có thể có, khả dĩ sẽ có trong tương lai. Đường thời gian kinh tế được trình bày ở đây đưa ra một tầm nhìn xa như vậy, cho phép các cá nhân tận dụng những cơ hội kinh tế trong tương lai, nắm bắt được những cơ hội của xu thế phát triển và bỏ qua những cơ hội trong xu thế tụt hậu.

Cuối cùng, nghiên cứu quá khứ và hiện tại cho thấy rằng điều kiện của con người đã được cải thiện một cách ổn định và tăng dần. Chúng ta còn có thể trông đợi sự cải thiện tiếp tục trong những năm tới.

Người dịch: Nguyễn Hồng Hải

Nguồn: G. Molitor – The next 1000 years: The “Big Five” engines of economic growth – The Futurist, 2000, No. 10, Vol. 33, p13 – 20.

TN 2000 – 54

1000 năm tới: “Năm động lực lớn” tăng trưởng kinh tế – Phần II


KHOA HỌC VỀ SỰ SỐNG

Kỷ nguyên khoa học về sự sống: thống trị vào năm 2100

Đến năm 2100, khoa học về sự sống sẽ thống trị thay thế cho hoạt động kinh tế và sẽ tiếp tục phát triển trong thế kỷ tiếp theo. Việc họa đồ hệ thống gen của con người và các cấu trúc khác sẽ mở ra những tiềm năng mang dấu ấn mới trong lịch sử nhân loại. Bí mật của sự sống, một trong những điều thần bí luôn là mục tiêu để khám phá, đang dần dần được vén mở. Nắm bắt được các “bản họa đồ” cho sự sống sẽ cho phép các chuyên gia về gen kiểm soát được sự tiến hóa của thực vật, động vật và con người.

Sớm nhất là năm 2020, khả năng đó sẽ tạo ra khó khăn có tính chất chia rẽ sâu sắc trong sự lựa chọn giữa chuẩn mực và đạo đức. Thuyết ưu sinh – tức là con người có khả năng kiểm soát sự tiến hóa của họ – chắc chắn trở thành một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất. Các tổ chức tôn giáo, cùng với nhiều nhà phê bình và những người tham gia chiến dịch vận động sẽ phát huy những ảnh hưởng mạnh mẽ của họ để phản đối những công nghệ gen làm biến đổi sự sống.

Những tiến bộ lớn nhất trong sinh học cũng đã gặp phải sự phản kháng tương tự. Cách đây không bao năm, nhiều lãnh tụ nhà thờ đã có những lời lẽ gay gắt phỉ báng việc lai tạo giống thực vật của Lurther Burbank. Nhiều thế kỷ trước đây, các lãnh tụ tôn giáo đã ngăn cản việc giải phẫu trên người với lý do rằng điều đó là phi đạo đức và bẩn thỉu. Việc thay đổi cấu trúc gen sẽ vượt qu những trở ngại đó, và cũng sẽ không thể phủ nhận những lợi ích còn chưa chắc chắn của nó như xóa bỏ những căn bệnh về gen, kéo dài tuổi thọ, tăng sản xuất thực phẩm và cải thiện dược phẩm.

Việc xóa bỏ những căn bệnh về gen thực sự nằm trong khả năng của chúng ta. Hơn 4000 gen được phát hiện là có liên quan tới những bệnh di truyền. Nhiều ca chuẩn đoán được thực nghiệm trên một mẫu AND trong phòng thí nghiệm để phát hiện những bệnh về gen. Các bộ phận phôi của con người được đưa lên màn hình để chuẩn đoán bệnh xơ nang và thiếu máu do huyết cầu có hình lưỡi liềm gây ra. Nhìn từ góc độ tiêu cực, những người bị dị tật gen sẽ chịu sự phân biệt, mất tự do, hạn chế chăm sóc y tế, dị dạng, và được chết để tránh đau đớn.

“Nhà thiết kế trẻ em”, đó là phương pháp tốn kém đối với mọi người, nhưng với người giàu thì lại không, và phương pháp này sẽ dần dần trở thành chuẩn mực. Việc phẫu thuật buồng trứng và thay thế tinh trùng sẽ được chọn lựa một cách cẩn thận, sau đó sẽ được ghép lại với nhau trong phòng thí nghiệm để tạo ra một hợp tử hoàn hảo. Khi hợp tử phát triển thành phôi, người ta sẽ cấu nó vào trong mẹ đẻ hoặc một người mẹ thay thế khác. Tình dục rồi sẽ trở nên có tính giải trí hơn là để sinh đẻ con cái. Biện pháp hạn chế sẽ được áp dụng rộng rãi. Việc sinh sản thông qua quan hệ tình dục “thông thường” giờ đây sẽ được xem là ngớ ngẩn cũng gống như việc chăm sóc chu sinh.

Tuổi thọ con người kéo dài từ 125 đến 160 tuổi sẽ đặt ra những khó khăn mới liên quan đến những căn bệnh của tuổi già. Con người sẽ duy trì thể chất như thế nào trong thời gian nghỉ hưu là 100 năm? Xã hội sẽ phải có quyết định về bệnh thiếu máu. Những thay đổi chính sách về việc ủng hộ phương pháp sinh đẻ hợp pháp trên đây của Jack Kevorkian ở Oregon và Australia là những dấu hiệu sớm cho thấy một cuộc tranh cãi sẽ xảy ra.

Công nghệ sinh học sẽ làm tăng sản lượng nông nghiệp. Người ta sẽ thiết kế những vụ mùa sử dụng phương pháp biến đổi cấu trúc sinh học để phát triển trong những môi trường khó khăn, tăng hàm lượng chất dinh dưỡng, giảm thiểu nhu cầu sử dụng phân bón… Nhiều loại cà chua được biến đổi gen đã được ứng dụng để chống bị hư hỏng và bảo quản trong điều kiện không tốt. Liệu pháp tăng hóoc môn đã được sử dụng thành công để tăng sản lượng sữa ở bò. Nhiều loại “dược phẩm” được biến đổi cấu trúc gen đã được thử nghiệm để tiêm chủng phòng bệnh. Các vụ mùa có thể được thiết kế lại để thu chỉ những thành phần mong muốn – thí dụ các túi nước cam -, sẽ không còn rễ, mầm, nhánh, lá, vỏ hoặc hạt. Monsanto có loại cây bông được biến đổi cấu trúc sinh học để cho những trái bông ra màu sắc ngay từ ở trên cây.

Cuối cùng, những nguyên tắc về gen sẽ được ứng dụng để tạo ra những cơ quan vô tính của con người dùng cho việc cấy ghép và khám phá những bộ máy vận hành do quá trình lão hóa. Khả năng “bất tử” là thấy rõ.

SIÊU VẬT CHẤT

Kỷ nguyên siêu vật chất: thống trị trong giai đoạn các năm 2200 – 2300

Công nghệ siêu vật chất, bao gồm khả năng tách và kết cấu lại vật chất ở mức nguyên tử và hạ nguyên tử, sẽ làm thay đổi căn bản ngành khoa học tự nhiên, nhưng cũng sẽ phải mất một thời gian đáng kể nhằm đạt được điều đó. Những công nghệ này có thể sẽ thống trị trong giai đoạn các năm 2200 – 2300. Khoa học siêu vật chất vén mở dần dần những thần bí của những trạng thái bao la và hình thù của vật chất.

Áp suất có ảnh hưởng sâu sắc tới hình thù của vật chất, và những thí nghiệm bằng áp suất trong phòng gần đây đã cho những kết quả đầy hứa hẹn. Các chất đồng vị carbon ở thể “rắn trong suốt” chịu áp suất không khí 200.000 atmosphere, sẽ tạo thành những hạt kim cương tổng hợp. Khí hydro dưới áp suất không khí 2,5 triệu atmosphere sẽ tạo thành kim loại. Ở dạng này, khí hydro sản sinh ra một lực đẩy lớn gấp hàng trăm lần so với bất kỳ một loại nhiên liệu nào khác, kết quả này cho thấy khả năng mới về lực đẩy.

Nhiệt độ chuyển từ cực nóng sang cực lạnh cũng làm thay đổi mạnh mẽ hình thái của vật chất. Ở nhiệt độ cực thấp – xấp xỉ mức 0 – nhiều chất được tạo thành chất siêu dẫn; tức là khi cho dòng điện chạy qua chất này sẽ không bị giảm do điện trở. Các thí nghiệm trong phòng nâng dần nhiệt độ ở mức mà các chất siêu dẫn có thể hoạt động. Một ngày nào đó, người ta có thể tạo ra các chất siêu dẫn hoạt động ở nhiệt độ trong phòng bằng việc pha trộn tổng hợp những nguyên tố cần thiết trong môi trường thích hợp. Tiềm năng tiết kiệm năng lượng của chất siêu dẫn là rõ ràng. Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực này cũng có thể tạo ra giao thông đệm từ, tĩnh và êm như lụa.

Ở nhiệt độ 1.870.000 độ F, hầu hết các chất đều được tạo thành thạch anh lục và có thể tạo ra hợp chất hỗn hợp. Điều này dễ dàng đạt được nhờ các tia laze mạnh. Kể từ thập kỷ 50, nhiều loại laze đã được phát minh, bao gồm một loại laze nguyên tử sản sinh ra các nguyên tử hoạt động tạo thành các sóng ánh sáng. Loại laze mạnh nhất, một loại laze phi điện tử (free-electron) được hoạt động nhờ một hoạt chất xúc tác có thể chuyển năng lượng điện tử thành một tia laze. Ứng dụng thực tế các loại laze, từ giao thông đến giải phẫu, đã làm chuyển hóa tất cả các ngành công nghiệp.

Nhiều loại chất tổng hợp tiếp tục được chế tạo với số lượng nhiều đến chóng mặt. Các loại nhựa, chẳng hạn như nhựa cứng và nhựa tổng hợp được chế tạo năm 1828 đã hình thành những ngành công nghiệp quan trọng trong thế kỷ XX. Các loại nhựa dẫn điện, nhựa kết dính, và nhựa Teflon dùng để chế tạo các dụng cụ nấu ăn “không dính (non-stick)” là những thí dụ về những loại chất tổng hợp làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng hơn đôi chút. Hàng ngày, nhiều chất mới được tạo ra. Mỗi năm, hơn 10 triệu hợp chất hóa học được xác định, và thêm 400.000 hợp chất khác được phát hiện.

“Nhà thiết kế vật chất” không hạn chế đối với chất vô cơ: Chất hữu cơ tổng hợp cũng nhiều vô kể. Thí dụ, hãy xem một chất thông thường được tìm thấy trong hầu hết các chạn đựng thức ăn: bột ngọt. Các nhà khoa học đã phát hiện ra các chất bột ngọt hóa học tổng hợp trong thời gian khoảng cuối những năm 1880, và nhiều chất bột ngọt được biến đổi gen vào những năm 1990. Được biết, hiện có khoảng 1000 chất bột ngọt cả tự nhiên lẫn nhân tạo trong chiếc chạn đựng thức ăn toàn cầu của chúng ta.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Hồng Hải

Nguồn: G. Molitor – The next 1000 years: The “Big Five” engines of economic growth – The Futurist, 2000, No. 10, Vol. 33, p13 – 20.

TN 2000 – 54

1000 năm tới: “Năm động lực lớn” tăng trưởng kinh tế – Phần I


G. Molitor

Chỉ còn vài tháng nữa là kết thúc năm 2000, năm cuối cùng của thế kỷ XX, nhân loại sẽ bước sang một thiên niên kỷ mới, thiên niên kỷ thứ ba – 1000 năm tới. Nhìn vào thế kỷ XX – 100 năm và rộng ra là 1000 năm qua, chúng ta quả là không thể tin vào sự phát triển một cách kỳ diệu trên hầu khắp mọi lĩnh vực, trong đó phải kể đến sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ đã cứu triệu triệu con người khỏi đói nghèo, đưa lịch sử phát triển của nhân loại vào thời đại có thể nói là văn minh, nhờ có những phát minh vĩ đại trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.

Trong khoảng thời gian chuyển tiếp còn lại này, chúng ta hãy thử nhìn lại quá trình phát triển kinh tế, xem những động lực nào và sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đến mức nào đã giúp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong suốt 1000 năm qua, và cùng dự đoán xem con tàu khoa học – công nghệ, động lực mạnh mẽ của tăng trưởng kinh tế, sẽ tiếp tục đi đến đâu trong 1000 năm tới khi người ta giờ đây đang nói nhiều đến nền kinh tế tri thức (Knowledge-based economy).

MỞ ĐẦU

Một nhà tương lai học nổi tiếng tiên đoán rằng trong 1000 năm tới, nền kinh tế thế giới sẽ trải qua năm đợt sóng lớn.

Trong suốt lịch sử nhân lạoi cho đến nay, đã có bốn đợt sóng kế tiếp nhau làm thay đổi kinh tế mà động lực chính là nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, dịch vụ và thông tin. Trong 1000 năm tới, nhân loại sẽ chứng kiến ít nhất năm đợt sóng tương tự như vậy nổi lên, đó là giải trí, khoa học về sự sống, siêu vật chất, kỷ nguyên nguyên tử mới và một kỷ nguyên vũ trụ mới. Mỗi lực lượng mang tính thương mại này tạo dựng động lực cho hàng trăm năm và không còn khiến cho những người có thông tin phải ngỡ ngàng.

Thời đại nông nghiệp phát triển dựa trên sự thu hoạch các nhu phẩm từ đất đai, và nghề nông ở Mỹ phát triển nhất trong suốt thập kỷ những năm 1880. Kỷ nguyên công nghiệp mà ở Mỹ việc làm được tạo ra nhiều nhất trong suốt những năm 1920 chủ yếu tập trung vào sản xuất các sản phẩm đại trà. Đợt sóng thứ ba được bàn luận nhiều – kỷ nguyên dịch vụ – đã qua lâu rồi: ngành dịch vụ phát triển nhất trong thời kỳ giữa thập kỷ những năm 1950.

Kỷ nguyên thông tin hiện nay được tạo dựng nhờ có sự phát triển về công nghệ truyền thông và máy tính đang ở giai đoạn phát triển nhất, nhưng cũng chỉ ở vị trí độc tôn một số năm, cùng lắm là 20 năm nữa. Hai thập kỷ không phải là một khoảng thời gian quá ngắn ngủi để bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc về điều gì sẽ diễn ra tiếp theo.

Điều gì rồi sẽ diễn ra tiếp theo? Sự tấn công của loại hình doanh nghiệp mới dẫn đến những thay đổi chưa rõ ràng sẽ thúc đẩy cũng như làm tiêu hủy công ăn việc làm và thu nhập, hình thành lại các nền kinh tế và gây ảnh hưởng tới toàn bộ thế giới. Những lĩnh vực ngày càng suy yếu được thay thế bởi công nghệ mới sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Cần thiết phải lên kế hoạch về phương cách giải quyết sự thay đổi to lớn diễn ra đồng hành với những dịch chuyển như vậy để giảm thiểu những xáo động bất thường. Sự sống còn của toàn bộ các ngành và sự tăng trưởng kinh tế trong tương lai nói chung sẽ phải phụ thuộc vào tính tiên phong của các công nghệ mới.

Mỗi đợt sóng mới trong số “năm đợt sóng lớn” sẽ chiếm vị trí độc tôn trong một thời gian ngắn ngủi, tương tự như “bốn đợt sóng lớn” trước đó. Trước tiên, nó sẽ trở thành người tạo công ăn việc làm lớn nhất và ngay sau đó, sẽ chiếm cổ phần lớn nhất trong tổng sản phẩm nội địa.

Những nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy rằng các lực lượng đứng đằng sau sự thay đổi kinh tế căn bản bắt đầu tích tụ từ nhiều thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ trước khi đợt sóng dâng cao. Dấu hiệu của từng đợt sóng kinh tế mới đã thực sự hình thành.

GIẢI TRÍ

Kỷ nguyên thời gian giải trí: thống trị vào năm 2015

Các ngành kinh doanh hướng vào giải trí – mọi thứ, từ quán bar đến các cửa hàng video, nhà hát kịch – sẽ chiếm 50% tổng sản phẩm quốc dân ở Mỹ ngay sau năm 2015.

Các công ty tổng hợp “Giải trí lớn” bao gồm phim, truyền hình, xuất bản, âm nhạc, khách sạn, và công viên giải trí – chẳng hạn như Viacom – Paramount – Simon & Schuster, Disney’s ABC, và Time – Warner – Turner – luôn đi đầu trong lĩnh vực mới này. Một thực tế không mấy người quan tâm liên quan đến địa điểm mà người dân nước này thường đến thăm đó là 15 triệu người Mỹ đã đến thăm lãnh địa Disney ở Anaheim năm 1996, trong khi đó chỉ có 10,8 triệu người (không kể các du khách là doanh gia) đến thăm thủ đô của nước này. Các nhà đầu tư có đầu óc đã bắt đầu chuyển tiền của họ vào các doanh nghiệp trong ngành giải trí.

Cùng với sự tiến triển của xã hội qua từng kỷ nguyên trước đó, thời gian dành cho giải trí tăng lên. Khi nông nghiệp phát triển khoảng 10.000 năm trước đây, thì người ta đã không phải dành nhiều thời gian cho săn bắn và hái lượm mà có thể đã dành khoảng 10% thời gian của cuộc sống cho hoạt động giải trí. Trong khoảng thời gian từ năm 6000 trước công nguyên (B.C) đến năm 1500 sau công nguyên (A.D), những người thợ thủ công và nghệ nhân đã tạo điều kiện cho những người khác không phải làm những công việc lãng phí thời gian, giải phóng và dành cho giải trí tới 17% thời gian. Vào khoảng những năm 1770, mọi việc được thực hiện nhanh hơn nhờ có máy móc, bao gồm cả động cơ hơi nước còn thô sơ, và điều này đã làm tăng thời lượng giải trí lên đến 23%. Đến thập kỷ 1990, máy móc chạy bằng sức điện đã đẩy nhanh tốc độ mọi thứ từ chuẩn bị thức ăn đến giao thông, và đã tạo điều kiện cho con người hưởng thụ 41% cuộc sống của họ dành cho giải trí. Từ nay đến trước năm 2015, công nghệ mới và một số trào lưu khác sẽ cho phép con người dành hơn 50% thời gian cuộc sống của họ cho giải trí.

Tuần làm việc đã giảm đều: từ 72 giờ trong suốt cuối những năm 1700 xuống còn 69,8 giờ năm 1859, dưới 40 giờ trong những năm 1990; ở châu Âu chưa áp dụng tuần làm việc 30 giờ. Hiện nay, người ta, đặc biệt là các công đảng chính trị ở châu Âu, đang tranh luận về tuần làm việc 20 giờ.

Càng ngày càng có nhiều ngày nghỉ hơn. Trong năm 1998, ở Mỹ có 10 ngày nghỉ được công nhận cho toàn liên bang. Các cơ quan hành pháp Nhà nước và địa phương thường ít có ngày nghỉ hơn. Các quốc gia khác mỗi năm có tới 18 ngày nghỉ, gợi ý rằng người Mỹ sau rốt cũng nên có nhiều ngày nghỉ hơn. Nhiều lợi ích chủng tộc, dân tộc và tôn giáo sẽ khích lệ xu hướng này.

Các kỳ nghỉ cũng sẽ kéo dài hơn. Người Mỹ, hiện bình quân được hưởng 12 ngày nghỉ, đang hướng tới 40 ngày vào năm 3000. Người lao động Phần Lan năm 1993 được hưởng 37,5 ngày nghỉ. Số ngày nghỉ của người Tây Âu dài gấp từ hai đến ba lần số ngày nghỉ của người Mỹ: 32,5 ngày ở Hà Lan 32 ngày ở Italy, và 30 ngày ở Đức. Nghỉ phép hoặc nghỉ không lương cũng tiếp tục trở nên thông thoáng hơn.

Chưa bao giờ người dân nghỉ hưu sớm đến thế. Tuổi nghỉ hưu ở Mỹ bình quân là 67 thời kỳ 1950 – 1955, và giảm xuống còn 63 thời kỳ 1985 – 1990; năm 1994, tuổi nghỉ hưu phổ biến nhất là 60. Tuy nhiên, tuổi nghỉ hưu sẽ trở lại như xưa. Đến năm 2022, độ tuổi thích hợp được hưởng an sinh dự tính tăng từ 65 lên 67; và đến năm 2025, tuổi nghỉ hưu có thể tăng lên 70 do cuộc sống lành mạnh hơn và tuổi thọ cao hơn. Ngay bây giờ, hãy thử giả thiết rằng ngày càng có nhiều người tuổi thọ cao và nhiều cá nhân sống đến 160 tuổi; nếu người ta 60 tuổi đã phải nghỉ hưu, thì 100 năm còn lại sẽ làm gì?

Nền kinh tế giải trí sẽ đánh dấu một loạt thái độ, triển vọng và hoạt động mới. Người ta sẽ bỏ tiền để đổi lấy trải nghiệm thay vì vật chất: riêng các ngành kinh doanh chào mời những cuộc thám hiểm và những chuyến đi gây cảm giác kỳ thú sẽ bùng nổ. Trước tiên, người ta sẽ muốn đi thăm những nơi khác trên thế giới. Trung Quốc sẽ trở thành điểm du lịch được xếp hàng đầu trên thế giới vào năm 2020.

Đối với một số người, thời gian giải trí sẽ dành để phát huy tối đa giá trị bản thân và phát triển tiềm năng nội tại. Những người khác sẽ dành nhiều thời gian hơn cho các vấn đề tinh thần; tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống của tuổi già sẽ đem lại động lực mới. Tuy nhiên, phần lớn mọi người sẽ dành thời gian giải trí cho thể thao và các hoạt động giải trí khác.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Hồng Hải

Nguồn: G. Molitor – The next 1000 years: The “Big Five” engines of economic growth – The Futurist, 2000, No. 10, Vol. 33, p13 – 20.

TN 2000 – 54

Thế giới sẽ nguy hiểm nếu Mỹ từ bỏ vai trò lãnh đạo – Phần cuối


Nhưng chính quan điểm cho rằng những hoạt động quốc tế chỉ là vô bổ lại cất giấu trong lòng nó một huyền thoại. Qua cặp kính màu hồng, chúng ta nhìn lại Chiến tranh Lạnh và tưởng tượng rằng nước Mỹ lúc đó đã dễ dàng thúc đẩy các quốc gia khác làm những gì mà Mỹ muốn. Nhưng nếu bỏ sang một bên những thành công, thì trong Chiến tranh Lạnh, sách lược ngoại giao của Mỹ cũng đã phạm phải hàng loạt những lỗi lầm, những xuẩn ngốc, nhiều tai nạn và cả một số thảm họa theo đúng nghĩa. Ngay từ đầu, các đồng minh của Mỹ đã tự chứng tỏ là họ thích gây rối, hay hờn dỗi và luôn bướng bỉnh. Phải chăng giới chiến lược gia của ngày hôm nay thật sự nghĩ rằng những người tiền nhiệm của họ trong các chính phủ trước đây có nhiều thuận lợi hơn họ?

Đường lối ngoại giao của bất kỳ quốc gia nào cũng thường thất bại nhiều hơn thành công. Ngay cả những cố gắng tác động vào hành xử của dân chúng trong nội địa cũng đã rất khó khăn. Vậy thì việc gây ảnh hưởng lên những dân tộc khác, quốc gia khác mà không lạnh lùng hủy diệt họ đương nhiên phải là một công việc khó khăn nhất của loài người. Điều chắc chắn trong ngoại giao –  nó cũng chắc chắn như sự tồn tại của loài người chúng ta, là tất cả những hành động giải quyết các vấn đề chỉ có thể làm nẩy sinh ra những vấn đề mới. Và điều này có giá trị cho mọi cuộc chiến tranh. Không có một cuộc chiến nào có kết cục hoàn hảo, ngay cả những cuộc chiến có những lý cớ tốt đẹp nhất cũng như vậy. Tiêu chuẩn cho một chiến thắng không nằm ở chỗ là kết quả cuối cùng có đáp ứng 100 % ước vọng ban đầu hay không, mà là liệu kết quả không ưng ý đã đạt được tốt hơn hay xấu hơn so với cái kết quả sẽ có nếu không có hành động. Việc chỉ chú tâm vào những kết quả phục vụ những mục tiêu tối đa với tốn phí tối thiểu là một biểu hiện của tâm thức trốn chạy thực tế.

Thực tế cho thấy người Mỹ ngày nay có vẻ như bị quá tải trước sự phức tạp của thế giới. Họ mong muốn được quay trở lại vị trí “vô tội của người vô trách nhiệm” như nhà thần học Mỹ Reinhold Niebuhr có lần đã nói, hay ít nhất cũng là có được một vị trí bình thường để nước Mỹ có thể giảm thiểu mức độ đóng góp cho thế giới. Với phương cách đó, nước Mỹ có thể sẽ quay trở về không khí của những năm 20. Tuy nhiên, ở đây có một điều khác biệt: Trong những năm 20 người Mỹ tin là Anh quốc và châu Âu có trách nhiệm bảo vệ cái trật tự thế giới mà họ đã tạo ra. Còn bây giờ, liệu người Mỹ có hiểu ra rằng lần này chỉ có họ mới có khả năng giữ vững trật tự thế giới đó?

Khi Tổng thống Obama mới nhậm chức, Peter Baker đã viết trên tờNew York Times rằng Obama muốn “tiếp nhận một thế giới như nó đang hiện hữu chứ không phải như người ta có thể mong muốn”. Đó chính là gốc rễ của cái điệp khúc mà các đại diện của nội các Obama luôn luôn đưa ra để giải thích tại sao Tổng thống lại chống việc tiến hành các hoạt động tại nơi này hay nơi kia trên thế giới để phấn đấu cho một “lý tưởng” đáng mơ ước nhưng khó thực hiện. Có vẻ như càng ngày càng ít người hiểu được rằng, đối với người Mỹ và nhiều người khác, 70 năm qua là một thời hạn ân huệ của chính cái thế giới “đang hiện hữu”.

Giai đoạn hòa bình và thịnh vượng có thể làm cho con người quên mất bản chất thật sự của cái thế giới  “đang hiện hữu”; nó cũng ru ngủ con người với lòng tin là loài người đã đạt đến một cấp bậc sinh tồn cao hơn. Người ta công bố những kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy đã đến “giai đoạn chuyển hóa của các quan hệ quốc tế”, và “sự thay đổi biên giới bằng vũ lực” đã giảm mạnh “kể từ năm 1946″.

Nhưng liệu có phải ngẫu nhiên mà trào lưu đáng phấn khởi như trên đã xuất hiện sau khi trật tự thế giới kiểu Mỹ được tạo dựng sau Thế chiến thứ hai? Thật ra thì thế giới – như nó “đang hiện hữu”, là một nơi đầy nguy hiểm và nhiều khi rất tàn bạo. Hành xử của con người, và cả các quan hệ quốc tế, về cơ bản cũng chẳng có nhiều thay đổi. Ngay cả trong thế kỷ 21, vũ lực vẫn là phương tiện cuối cùng. Vấn đề được đặt ra không phải là các quốc gia có sẵn sàng sử dụng vũ lực hay không, mà là các quốc gia đó nghĩ rằng, nếu sử dụng vũ lực thì họ có bị trừng phạt hay không. Khi Vladimir Putin thấy rằng không thể đạt được những mục tiêu của mình tại Ukraine bằng phương tiện chính trị và kinh tế, ông ta đã dùng đến vũ lực vì tin rằng mình có thể làm như vậy. Chừng nào vẫn còn tin rằng hiệu quả cao hơn cái giá phải trả khi dùng vũ khí, ông ta sẽ tiếp tục sử dụng vũ lực. Suy tính này cũng không có gì đặc biệt. Trong cách nhìn như vậy, liệu Trung Quốc sẽ làm tất cả những gì nếu như họ không bị ngăn cản bởi một hàng rào nhiều cường quốc được sự hỗ trợ của Mỹ? Và cũng trong mối liên quan này: Nhật Bản sẽ làm gì nếu như nó sẽ mạnh lên nhiều và ít phụ thuộc hơn vào nước Mỹ? Hiện tại chúng ta chưa phải tìm trả lời cho câu hỏi này vì với vị thế thống lĩnh của Mỹ, chiếc hộp thần tai họa của Pandora vẫn còn được giữ kín.

Hệ thống thế giới là một đan kết chặt chẽ của các tương quan sức mạnh, trong đó mỗi một quốc gia – từ lớn nhất cho tới nhỏ nhất, luôn phải ghi nhận một cách tinh vi những biến động và quấy rối. Từ 1945, và nhất là từ 1989, mối đan kết này đã được tạo ra để choàng vào nước Mỹ. Các đồng minh quan sát thái độ của Mỹ và tìm cách đánh giá độ tin cậy của nó. Các quốc gia cảm thấy bị Mỹ chèn ép hay đe dọa thì soi tìm những chỉ dấu tăng giảm về sức mạnh và quyết tâm của nó. Và khi nước Mỹ có vẻ như lùi bước, thì các đồng minh của nó an lòng trong khi các quốc gia khác hoan hỉ chờ cơ hội.

Trong những năm qua, thế giới đã tiếp nhận những tín hiệu cho thấy người Mỹ không còn muốn tiếp tục gánh vác trên vai sức nặng của trách nhiệm toàn cầu. Mới đây, khi nói về chuyện tiến quân vào Syria, Tổng thống Obama tuyên bố: “Đó không có nghĩa là việc này không đáng làm. Nhưng sau một thập niên chiến tranh, nước Mỹ đã tiến tới giới hạn của mình.”

Đến hôm nay thì những chỉ dấu sụp đổ của trật tự thế giới đã xuất hiện ở khắp nơi. Khi Nga tiến quân vào Ukraine và thâu tóm Krym, thì đây là lần đầu tiên kể từ sau Thế chiến hai, một quốc gia châu Âu đã xâm chiếm lãnh thổ của nước khác. Nếu Iran chế tạo bom nguyên tử, các nước khác bắt buộc phải làm theo. Iran, Saudi Arabia và Nga tiến hành chiến tranh uỷ nhiệm tại Syria, giết hại cho đến nay là 150.000 người và làm cho hàng triệu người phải phiêu bạt. Và những sự kiện mới đây tại Syria và Iraq đang làm tăng khả năng hình thành một nhà nước Thánh chiến Hồi giáo tại trung tâm Cận Đông, một nhà nước không chấp nhận biên giới. Nếu trào lưu này tiếp diễn thì trong tương lai gần, chúng ta sẽ có nhiều chiến tranh về lãnh thổ hơn, nhiều bạo lực vì sắc tộc và tôn giáo hơn, và sẽ nhìn thấy một thế giới vị tự do càng ngày càng thu hẹp.

Câu hỏi là nước Mỹ phải phản ứng ra sao. Liệu nước Mỹ sẽ còn sống sót khi Syria vẫn ở trong tay của Assad hay – có khả năng hơn, là Syria sẽ bị phân rã và trong vòng hỗn loạn,  quân Thánh chiến sẽ kiểm soát thêm nhiều vùng đất mới? Liệu nước Mỹ sẽ còn sống sót nếu như Iran có trong tay bom nguyên tử và để đáp lại thì sẽ xuất hiện những quả bom như vậy tại Saudi Arabia, tại Thổ Nhĩ Kỳ và tại Ai Cập? Liệu nước Mỹ sẽ còn sống sót trong một thế giới mà trong đó nước Nga thống lĩnh Đông Âu, không phải chỉ là ở Ukraine, mà ở cả vùng Baltic và có thể là cả Ba Lan?

Tất nhiên là nước Mỹ có thể còn sống sót. Có thể việc can thiệp thực tế là không bức thiết. Nước Mỹ vẫn có thể làm ăn buôn bán với một Trung Quốc nắm quyền thống lĩnh và cũng có thể tìm thấy một phương thức thỏa thuận chung sống với một đế quốc Nga tái hùng cường. Rồi sẽ như trong quá khứ, người Mỹ sẽ là những người cuối cùng phải chịu nỗi đau khi trật tự thế giới sụp đổ. Và khi họ thực sự cảm nhận được nỗi đau đó thì đã là rất muộn.

Nhà nghiên cứu chính trị Mỹ Robert Osgood, có thể được coi là tư tưởng gia chính trị thực tiễn thông minh nhất của thế kỷ vừa qua, khi nhìn lại thời kỳ trước Thế chiến hai đã phát hiện ra một điều kinh hoàng: Những định nghĩa thuần thực dụng về “lợi ích quốc gia” là hoàn toàn không đủ. Điều nghịch lý là chính những “người có lý tưởng” đã là những người phản ứng một cách “đặc biệt nhanh nhậy trước nguy cơ phát-xít đối với văn hóa và văn minh phương Tây”.  Lý tưởng chủ nghĩa là một “động cơ tinh thần không thể bỏ qua để con người có thể nhận ra những đòi hỏi bắt buộc của một chính sách quyền lực”. Điều này cũng chính là thông điệp của Roosevelt khi ông kêu gọi người Mỹ phải đứng lên bảo vệ “không những nhà cửa đất đai, mà cả lòng tin và tình người của họ”.

Có lẽ người ta lại phải khuyến khích người Mỹ làm như vậy ngay cả khi không có sự đe dọa của một Hitler mới. Nhưng lần này nước Mỹ sẽ không có một thời gian dài 20 năm để suy tính và quyết định. Thế giới biến chuyển nhanh hơn sức tưởng tượng của người Mỹ. Và sẽ không có một siêu cường dân chủ nào khác túc trực đằng sau sân khấu để cứu vãn thế giới nếu như nước Mỹ, siêu cường dân chủ duy nhất hiện nay, tỏ ra ngần ngại.

Biên dịch: Phạm Việt Vinh

Nguồn: Robert Kagan: ”Die Welt wird zu gefährlich, wenn Amerika den Führungsanspruch aufgibt“, Spiegel 26/2014