Nga và phương Tây khó xảy ra Chiến tranh Lạnh lần thứ hai?


Theo nhận định của Richard N. Haass, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ, căng thẳng gia tăng giữa Anh và Nga là một bằng chứng nữa cho thấy Nga và phương Tây đã bước vào cuộc “Chiến tranh Lạnh lần thứ 2”. Tuy nhiên, Sergei Karaganov – Chủ nhiệm khoa Kinh tế và Chính trị thế giới tại Trường cao học Kinh tế ở Moskva – lại không đồng tình với ý kiến này.

Trên thực tế, quan hệ Nga với Mỹ, và hiện giờ là với Anh, đang xấu hơn rất nhiều so với những năm 50 của thế kỷ trước. Khả năng xảy ra một cuộc xung đột trực tiếp cao hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Do các loại vũ khí hạt nhân chiến lược cũng như các hệ thống được thiết kết nhằm vô hiệu hóa chúng ngày nay vô cùng phức tạp nên không ai dám loại trừ khả năng 1 trong 2 bên xung đột, hoặc cũng có thể là bên thứ 3, sẽ kích động căng thẳng leo thang.

Điều tồi tệ hơn nữa là giới lãnh đạo Mỹ và Nga gần như cắt đứt liên lạc với nhau, do hai bên mất lòng tin vào nhau. Người Mỹ nhìn Nga với ánh mắt căm thù, còn nhiều người ở Nga thẳng thừng bày tỏ thái độ miệt thị Mỹ. Có thể nói, mối quan hệ song phương này hiện nay thực sự còn tồi tệ hơn cả thời Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những căng thẳng này sẽ dẫn tới một kết cục bi thảm. Một cuộc đối đầu sẽ thực sự xảy ra nếu như các bên xung đột nung nấu ý tưởng đó, nhưng ở đây Nga lại không như vậy. Nga không muốn khuấy động một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Mặc dù việc đối đầu với Mỹ ở một mức độ nào đó sẽ giúp Tổng thống Nga Vladimir Putin đoàn kết, được dư luận trong nước, đồng thời đánh bóng thành tích dân tộc chủ nghĩa của giới tinh hoa Nga, song Nga không phải là một quốc gia dễ bị kích động về mặt tư tưởng.

Trên thực tế, Điện Kremlin không muốn làm gì ảnh hưởng đến lợi ích của Nga. Cách tiếp cận của Nga đối với các vấn đề quốc tế lâu nay vẫn tập trung vào việc tôn trọng các lợi ích cũng như chủ quyền quốc gia, và niềm tin rằng tất cả các dân tộc cũng như quốc gia, và niềm tin rằng tất cả các dân tộc cũng như quốc gia trên toàn thế giới có quyền tự quyết trong mọi vấn đề chính trị, kinh tế và văn hóa của riêng họ.

Vấn đề giữa Nga và phương Tây hiện nay thực sự là vấn đề của chính những người phương Tây với nhau. Mỹ đang sử dụng chiêu “sự can thiệp của Nga (vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016) để giành lại quyền kiểm soát chính trị đã bị mất của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền thông xã hội, nơi một bộ phận dân số bất đồng ý kiến và các chính khách phi đảng phái, cuối cùng cũng được lên tiếng. Tuy nhiên, cho dù giới tinh hoa Mỹ đang tìm cách giành lại quyền kiểm soát thì nguyên nhân sâu xa dẫn đến cảm giác lo sợ của phương Tây vẫn tồn tại. Trong ít nhất một thập kỷ qua, thế giới đã chứng kiến giai đoạn cuối cùng của quyền bá chủ phương Tây vốn kéo dài suốt 500 năm qua. Giai đoạn này đã bắt đầu vào thế kỷ 16, khi châu Âu phát minh ra súng và tàu chiến tối tân hơn, đồng thời bắt đầu mở rộng đế chế. Trong những thế kỷ sau đó, người châu Âu thường tận dụng ưu thế kinh tế, văn hóa, chính trị và đặc biệt là quân sự để vơ vét tài nguyên trên thế giới.

Trong vài thập kỷ nửa cuối thế kỷ 20, Liên Xô và Trung Quốc đã thách thức sự thống trị của phương Tây. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ nổi lên là bá chủ duy nhất, và thế giới dường như trở lại nguyên trạng lịch sử. Thế nhưng, ngay sau đó, Mỹ mở rộng quá mức bằng cách lao vào các rủi ro địa chính trị, như cuộc xâm lược Iraq chẳng hạn. Và khi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 bùng nổ, nó làm phơi bày sự yếu kém của tư bản chủ nghĩa thế kỷ 21.

Đồng thời, Mỹ lâu nay vẫn theo đuổi sức mạnh quân sự vượt trội. Năm 2002, nước này đơn phương hủy bỏ Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo năm 1972. Và gần đây hơn, nước này bắt tay vào việc xây dựng ồ ạt các lực lượng thông thường và hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân với quy mô lớn. Tuy nhiên, Nga, Trung Quốc và phần còn lại của thế giới sẽ không để cho Mỹ trở lại ngôi bá chủ. Gần đây, Putin đã không ngần ngại công khai một loạt hệ thống vũ khí chiến lược mới hàng đầu như một phần của cái gọi là chiến lược “đánh phủ đầu”. Thông điệp mà Putin muốn truyền tải là Mỹ không nên hy vọng sẽ giành lại được ưu thế quân sự tuyệt đối, cho dù nước này có quyết định dốc toàn lực vào một cuộc chạy đua vũ trang đi chăng nữa, như Liên Xô đã từng làm.

Các đánh giá ban đầu được giới chuyên gia đưa ra cho thấy dù Mỹ đơn phương quyết định phát động một cuộc Chiến tranh Lạnh thì cơ hội để nước này chống lại nga, Trung Quốc và các cường quốc đang nổi khác là rất ít. Sự cân bằng về sức mạnh quân sự, chính trị, kinh tế… đơn giản là đã tuột khỏi tay phương Tây quá xa, khó có thể được khôi phục.

Tuy nhiên, một cuộc Chiến tranh Lạnh mới, cho dù chỉ đến từ một bên, cũng sẽ cực kỳ nguy hiểm cho nhân loại. Các cường quốc trên thế giới nên tập trung vào việc tăng cường sự ổn định chiến lược quốc tế thông qua đối thoại; mở lại các kênh giao tiếp giữa các lực lượng quân đội; và giữ phép lịch sự với nhau. Họ cũng nên cân nhắc việc tăng cường trao đổi ngoại giao, luật pháp, giáo dục, và trên tất cả, nên ngừng việc biến nhau thành quỷ dữ.

Thế giới đang bước vào thời kỳ nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu sáng suốt, các nước có thể xây dựng một hệ thống quốc tế cân bằng hơn, trong đó các cường quốc sẽ ngăn cản nhau, nhưng vẫn hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề toàn cầu. Còn các nước nhỏ hơn sẽ được tự do phát triển tùy thuộc vào chính trị, văn hóa và kinh tế của riêng họ. Hệ thống trước đây do phương Tây lãnh đạo đã sụp đổ. Để đảm bảo có được một tương lai hòa bình, các nước cần bắt đầu cùng nhau xây dựng một hệ thống mới.

Nguồn: atimes.com – 27/03/2018

TKNB – 28/03/2018

Advertisements

Việt Nam nên sẵn sàng cho một trận chiến nữa với Trung Quốc


Việt Nam từng chiến đấu với Trung Quốc trên Biển Đông và Việt Nam nên sẵn sàng chiến đấu một lần nữa.

Chuyến thăm Việt Nam của tàu sân bay Mỹ Carl Vinson vào ngày 5/3 mang tính biểu tượng về nhiều mặt. Dù chưa biết liệu chuyến thăm này có thể xóa bỏ được mãi mãi bóng ma Chiến tranh Việt Nam hay không, nhưng cả Việt Nam và Mỹ đều lạc quan về triển vọng lâu dài của mối quan hệ song phương đang nảy nở này. Chuyến thăm diễn ra trùng thời điểm khi Hà Nội điều chỉnh chính sách đối ngoại, vốn thiên về độc lập và không liên minh/liên kết, thay vào đó là nhìn xa hơn nhằm thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực để thực hiện chính sách “Đổi mới”.

Trận chiến Trường Sa năm 1988

Một cái nhìn khác về chuyến thăm của tàu Carl Vinson là chuyến thăm này diễn ra chỉ khoảng một tuần trước lễ tưởng niệm 30 năm trận chiến Gạc Ma vào ngày 14/3/1988. Trận chiến này, cùng với trận chiến Hoàng Sa năm 1974 giữa miền Nam Việt Nam và Trung Quốc, không xa lạ với các nhà hoạch định quân sự Việt Nam. Hai trận chiến chứng kiến sự thất bại chiến lược và chiến thuật của lực lượng Việt Nam dưới tay Trung Quốc.

Hà Nội chắc chắn không ảo tưởng về một cuộc giao tranh hải quân trong tương lai với Bắc Kinh. Hai bên đã căng thẳng suốt 2 tháng xung quanh vụ giàn khoan Hải Dương 981 vào năm 2014 ở ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa. Dù vụ việc này không leo thang thành cuộc xung đột vũ trang như sự kiện năm 1988, nhưng các lực lượng Việt Nam đã kiệt sức bởi cuộc đối đầu căng thẳng. Suy cho cùng, sự không cân xứng về khí tài và nhân lực giữa lực lượng hải quân hai bên là quá lớn.

Trong cuộc đối đầu tương lai với Trung Quốc, trước tiên Việt Nam sẽ phải chiến đấu với lực lượng dân quân biển và cảnh sát biển của Trung Quốc. Tuy nhiên, chính hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc – giấu mặt và sẵn sàng yểm trợ lực lượng bán quân sự, mới là mối lo ngại lớn nhất. Điều này có thể thấy rõ trong trận chiến năm 1988, trong đó Việt Nam mất 3 tàu chiến và hơn 60 bộ đội hy sinh.

Bóng ma Trung Quốc

Không còn nghi ngờ gì nữa, bóng ma Trung Quốc ám ảnh tâm trí của các nhà lãnh đạo ở Hà Nội và Washington khi họ tiếp cận nhau.

Hà Nội không giấu diếm cảm giác lo lắng về sức mạnh ngày càng lớn và sự quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Điều này thể hiện rõ ràng trong việc Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa các đảo nhân tạo trên Biển Đông cùng lúc xúc tiến “thuật ngoại giao nụ cười” và kêu gọi hợp tác với ASEAN, trong đó có thỏa thuận tiến hành đàm phán chính thức về COC trên Biển Đông. Việt Nam ngày càng lo lắng về tương lai tranh chấp, sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc sửa đổi Hiến pháp, qua đó, tạo điều kiện cho Chủ tịch Tập Cận Bình cầm quyền vĩnh viễn.

Sự phô trương sức mạnh của Trung Quốc trong những năm gần đây diễn ra dưới thời Tập Cận Bình. Điều này có nghĩa là mọi việc có thể diễn ra hiện nay – và thậm chí kịch bản tương lai của Biển Đông sẽ xấu đi dưới sự cầm quyền kéo dài của Tập Cận bình. Thỏa thuận ASEAN – Trung Quốc về tranh chấp còn lâu mới được đảm bảo và có thể bất ngờ bị phá vỡ bất cứ lúc nào. Điều có vẻ bất biến là việc Bắc Kinh không ngừng củng cố ở trên và xng quanh quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Trong khi “hộp đen” của các ý đồ thực sự của giới tinh hoa chính sách Trung Quốc luôn tối tăm, thì những căn cứ trên các đảo nhân tạo là một thực tế không thể phủ nhận, rõ như ban ngày.

Vì vậy, chuyến thăm của tàu Carl Vinson là thực sự đúng lúc. Động thái này nên được xem là một phần trong loạt biện pháp đồng bộ mà Hà Nội tiến hành để gửi tín hiệu nghiêm túc tới nước láng giềng phương Bắc. Ngay trước chuyến thăm của tàu sân bay, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đến thăm New Delhi, một trong những đối tác gần gũi nhất của Hà Nội. Hai nước nhất trí hợp tác xây dựng “khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương độc lập, cởi mở và thịnh vượng” – dường như cộng hưởng mạnh mẽ với khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở” do Nhật Bản, một đối tác gần gũi khác của Việt Nam, cổ vũ.

Những năm gần đây, ngày càng nhiều tàu hải quân nước ngoài đến thăm cảng Việt Nam. Trước chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson là tàu khu trục Arleigh mang tên lửa dẫn đường lóp Burke, các tàu chiến của Australia, Ấn Độ và Nhật Bản. Đáng chú ý, năm 2017, tàu khu trục mang trực thăng JS Izumo (DDII-183) thăm Việt Nam trong chuyến thăm nước ngoài đầu tiên. Trong khi Trung Quốc đóng thêm nhiều tàu sân bay, Nhật Bản có kế hoạch biến tàu lớp Izumo thành tàu sân bay thậm chí có thể triển khai máy bay chiến đấu F-35B để tác chiến. Do vậy, chuyến thăm của tàu Izumo ở Biển Đông dường như là chỉ dấu thách thức Trung Quốc.

Điều đáng chú ý là các chuyến thăm cảng nào do 4 thành viên của nhóm “Bộ tứ” thực hiện. Ngoài ra, các tàu đã hiện diện ở Biển Đông, khu vực kết nối Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Quan hệ và vũ khí

Bất chấp mọi tín hiệu ngoại giao thân thiện diễn ra từ sau hội nghị cấp cao ASEAN hồi tháng 8/2017, nguy cơ xung đột trong tương lai ở Biển Đông vẫn tồn tại. Trong khi chưa chắc chắn về triển vọng đạt được COC, Hà Nội dường như chắc chắn đang chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. Trận chiến năm 1974 và 1988 là những cảnh báo từ lịch sử. Tuy nhiên, bây giờ, bối cảnh địa chính trị đã khác nhiều; do đó, Hà Nội có nhiều lựa chọn chiến lược hơn về mặt quan hệ về vũ khí.

Về mặt quan hệ, việc điều chỉnh chính sách đối ngoại hậu Chiến tranh Lạnh mang đến cho Việt Nam một vị thế chưa từng có trước nhiều nước. Tất nhiên, Hà Nội nỗ lực duy trì tình hữu nghị truyền thống với các nước cựu cộng sản, chủ yếu là Nga. Tuy nhiên, Việt Nam cũng tìm cách thúc đẩy quan hệ gần gũi hơn với phương Tây. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam không còn đơn lẻ mà đã được công nhận là thành viên ASEAN và qua nhiều thập kỷ đã chứng tỏ là nước ủng hộ tích cực khối ASEAN và những ý tưởng của khối về một kiến trúc an ninh khu vực, vạch ra hướng tiếp cận bao trùm tiến tới lôi kéo các nước lớn xung quanh như Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ đóng vai trò thực sự vào hòa bình và ổn định châu Á.

Môi trường hậu Chiến tranh Lạnh đến nay cũng mở ra cho Việt Nam một lộ trình khác tiến tới xây dựng năng lực quốc phòng. Trong khi vẫn tiếp tục dựa vào vũ khí quân sự Nga, Việt Nam cũng tận dụng các nước khác như Israel, Hà Lan và Thụy Điển. Trong bối cảnh hiện nay, Hà Nội cần thêm thời gian để cuối cùng tự tách mình ra khỏi sự phụ thuộc quá nhiều vào vũ khí Nga, với nguy cơ bị cắt đứt nguồn cung trong thời điểm xung đột với Trung Quốc do các quan hệ chiến lược Trung – Nga trở nên mạnh hơn sau cuộc khủng hoảng Ukraine năm 2014. Đến nay, thông qua cách tiếp cận này để dần dần đa dạng hóa các nguồn vũ khí của mình, Việt Nam có khả năng xây dựng lực lượng quân sự mạnh mẽ hơn, trong đó có hải quân – không giống như lực lượng hải quân trước đây vào những năm 1988.

Tính toán thực tế trong tương lai

Trong bối cảnh chiến lược khác biệt lớn như vậy mà Việt Nam vẫn tìm thấy chỗ đứng trong ngày hôm nay, thì không có chỗ cho sự tự mãn. Việt Nam cần tính đến khả năng giao chiến với Trung Quốc. Khả năng này không phải là không thể xảy ra, vì hồi tháng 8/2017, Bắc Kinh từng đe dọa tấn công Việt Nam ở vùng biển tranh chấp nếu Hà Nội không yêu cầu công ty Repsol ngừng thăm dò dầu khí.

Tuy nhiên, rõ ràng là Việt Nam không muốn tỏ ra yếu thế trước Trung Quốc vì nếu làm như vậy, mức độ tín nhiệm đối với chính phủ sẽ bị ảnh hưởng ở cả trong và ngoài nước. Bây giờ, sau khi chứng kiến cách ASEAN hành động đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông trong nhiều năm qua, Hà Nội rút ra kết luận đau đớn rằng: Nếu xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, ASEAN sẽ không đưa ra lập trường thống nhất, ngoại trừ một tuyên bố bắt buộc kêu gọi tất cả các bên ngừng bắn và đàm phán giải quyết vấn đề. Một số thành viên ASEAN thậm chí có thể đứng về phía Bắc Kinh hoặc giữ quan điểm trung lập. Tốt nhất là Việt Nam có thể dựa vào ASEAN như một bước đểm để hồi phục kinh tế thời hậu chiến, dù viễn cảnh như vậy không có gì chắc chắn khi kinh tế của khối ASEAN phụ thuộc vào Trung Quốc và sau đó có thể bị Trung Quốc trả đũa kinh tế.

Rất có thể trong thời gian xảy ra chiến tranh với Trung Quốc trên Biển Đông, Việt Nam sẽ được nhiều nước lớn hỗ trợ, nhưng không phải là sự can thiệp quân sự trực tiếp, nhất là khi Bắc Kinh khăng khăng cuộc đụng độ này là vấn đề cục bộ và kiềm chế được để tránh kích động phản ứng của cộng đồng quốc tế. Như vậy, Hà Nội có thể kỳ vọng các nước lớn ngoài khu vực cổ vũ cho mình, hoặc tốt nhất là lên án Bắc Kinh về mặt ngoại giao, và có thể là một hình thức viện trợ vật chất – kỹ thuật nào đó cho nỗ lực chiến đấu của Việt Nam.

Tuy nhiên, sẽ chỉ có thế mà thôi.

Nếu ngày định mệnh đó cuối cùng xảy đến, Mỹ sẽ phô trương sức mạnh với nhóm tàu sân bay ở đâu đó gần biển Trung Quốc hoặc gần nơi xảy ra trận chiến, và điều đó có tạo ra một kết quả khác không? Có lẽ, không ai có thể nói chắc chắn điều gì.

Nguồn: The Diplomat – 23/03/2018

TKNB – 28/03/2018

Thế giới sắp đối diện biến động lớn?


Thời báo Hoàn cầu (Trung Quốc) ngày 03/07/2018 đăng xã luận dưới tiêu đề “Có lẽ chúng ta đang ở vào đêm trước cuộc biến động lớn của thế giới”. Nguyên văn như sau:

Phải chăng thế giới đang ở vào đêm trước một cuộc biến động lớn?  Xem ra rất có khả năng như vậy. Xác suất cuộc chiến tranh thương mại toàn cầu do chính phủ Trump gây ra cuối cùng sẽ trở thành hiện thực đang ngày càng cao, điều đó sẽ làm thay đổi nhận thức của các nước về trật tự thế giới và tính chất mối quan hệ quốc tế trong thế kỷ 21, tiếp đến sẽ đem lại một loạt phản ứng dây chuyền.

Không thể coi cuộc chiến tranh thương mại là thứ từ trên trời rơi xuống, cá tính của Trump cũng chẳng phải là nguyên nhân duy nhất của cuộc chiến ấy. Tiến trình toàn cầu hóa vốn dĩ do phương Tây chủ đạo trải qua quá trình phát triển đã đem lại một số thay đổi có tính cấu trúc mà phương Tây lúc đầu chưa dự kiến tới, trong đó có sự trỗi dậy của các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ v.v… Mỹ cho rằng những thay đổi ấy đã làm suy yếu địa vị ưu thế tuyệt đối của họ và mong muốn đơn phương sửa đổi quy mô lớn các quy tắc kinh tế toàn cầu.  Sự đe dọa chiến tranh thương mại cực đoan của Trump ăn nhập với nỗi bất mãn và lo ngại đó của một số người Mỹ.

Từ đây có thể thấy cho dù cuộc chiến tranh thương mại ấy sẽ tiến hành như thế nào, với quy mô lớn ra sao, thì nước Mỹ vẫn khăng khăng muốn “cải tạo thế giới”. Trong thời gian gần đây, tư duy đối ngoại cấp tiến của chính phủ Trump dần dần chiếm thế thượng phong ở Mỹ, nhất là Trump lại kiểm soát hữu hiệu được Đảng Cộng hòa. Có thể coi cuộc chiến tranh thương mại tiền tiêu xung quanh vấn đề đánh thuế vào mặt hàng thép-nhôm là quá trình Nhà Trắng động viên xã hội Mỹ.

Mục tiêu mới của Washington là: biến nước Mỹ thành nước xuất siêu thương mại, khôi phục địa vị nước lớn của Mỹ trong ngành chế tạo trên toàn cầu; bảo đảm nước Mỹ dẫn đầu toàn diện về khoa học công nghệ, loại bỏ bất cứ khả năng nào xuất hiện kẻ thách thức nước Mỹ; giữ ưu thế trang bị quân sự cao hơn hẳn một thế hệ và sức mạnh tổng hợp không quốc gia nào có thể sánh được, v.v…

Kế hoạch của Mỹ sẽ đả kích nghiêm trọng hệ thống thương mại quốc tế lấy quy tắc của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) làm trung tâm, sẽ làm rối loạn sự phân công ngành nghề sản xuất toàn cầu đã tự nhiên hình thành trong mấy chục năm qua, tạo ra sự điều chỉnh lợi ích hầu như sẽ động chạm đến toàn nhân loại. Điều nguy hiểm là vì không có sự kiểm soát của một chính quyền siêu quốc gia nên công cuộc điều chỉnh đó trên một mức độ nhất định sẽ dẫn tới sự tái khởi động điên cuồng của các quy tắc luật rừng, đem lại những tính chất bất định và rủi ro.

Xét theo tình hình hiện nay, phản kích nước Mỹ là phản ứng thứ nhất của các cộng đồng kinh tế chủ yếu trên thế giới đối với sự kiện Washington phát động chiến tranh thương mại. Hiện nay khó có thể dự đoán vòng biến động lớn này sẽ dẫn thế giới đi tới đâu. Thế nhưng nước Mỹ sẽ trả giá nặng nề cho dã tâm muốn toàn thế giới đều biến thành  “Phiên thuộc kinh tế” của Washington; hiển nhiên điều đó không thể tránh khỏi.

Cuối tuần trước EU để lộ tin nói họ sẽ cùng các cộng đồng kinh tế khác tiến hành trả đũa đối với các sản phẩm có tổng trị giá 300 tỷ USD của Mỹ. Đây là ý đồ chống đối có quy mô lớn nhất cho tới nay của các nước để trả đũa sự đe dọa về thuế quan của Mỹ đối với họ, lớn hơn nhiều so với phương án trả đũa Trung Quốc đã tuyên bố.

Một khi chiến tranh thương mại tiến hành đến giai đoạn sự trả đũa lẫn nhau từng đơn mục sản phẩm lên tới vài chục tỷ USD thì có lẽ nó sẽ gây ra ảnh hưởng xấu tới mức không thể đảo ngược và có quán tính đáng sợ diễn biến thành chiến tranh thương mại toàn cầu. Các cuộc chiến tranh truyền thống đều được gây ra bởi dã tâm cộng với tâm lý cầu may, chúng khó có thể giữa chừng dừng lại để ngừng tổn thất, xem ra có vẻ phi lý trí nhưng nó có quy tắc nội tại của nó. Một khi chiến tranh thương mại toàn cầu đã nổ ra thì rất có thể cũng sẽ như thế.

Giả thử chiến tranh thương mại bùng nổ thì đó sẽ là một trận hỗn chiến, các bên đều không có kinh nghiệm và cũng đều không có bạn đồng minh. Nhưng ở đây sẽ có một quy luật tự nhiên: kẻ nào có dã tâm lớn, tham chiến trên diện rộng thì sẽ càng có lắm địch thủ, rất có khả năng trở thành mục tiêu công kích của nhiều bên. Nước Mỹ đang đặt mình vào vị trí đó.

Trung Quốc cần phải tính toán tới khả năng xấu nhất, chuẩn bị đón tiếp cuộc đại biến động thế giới đang tiến đến. Vì Trung Quốc là thị trường mới nổi thành công nhất nên tất nhiên sức ép mà chúng ta phải chịu sẽ lớn hơn các quốc gia nói chung, rất khó dùng biện pháp chiến lược đối phó để tránh khỏi sức ép đó. Chúng ta phải bình tâm đối diện hiện thực cơ bản này.

Nhưng cần thấy là trong việc đối phó với những biến động phá hủy quy tắc thì sức mạnh sẽ là pháp bảo lớn nhất. Thực lực kinh tế thương mại của Trung Quốc đã đứng ở hàng đầu trên thế giới, vì thế năng lực chống đỡ của chúng ta cũng sẽ mạnh hơn rất nhiều quốc gia. Trung Quốc không có lý do sụp đổ sớm trong khi nước khác vẫn còn đứng được.

Trung Quốc cần nói nguyên tắc chứ không chủ động nâng cấp xung đột, cũng kiên quyết không nhượng bộ vô nguyên tắc. Chúng ta phải kết bạn rộng rãi, cho dù chưa làm được việc liên kết hành động thì cũng phải tránh tạo ra kẻ địch cho mình. Như vậy chúng ta mới có thể tăng được tính chủ động trong cuộc hỗn chiến.

Đương nhiên trong trận đại chiến thương mại thế giới này Trung Quốc không làm được vai trò “chỉ lo cho mình [nguyên văn: độc thiện kỳ thân]”, nhưng chúng ta cũng khẳng định sẽ không phải là kẻ duy nhất bị đánh, lại càng không phải là mục tiêu công kích của nhiều bên. Chúng ta không chi phối nổi tình hình toàn cầu song chúng ta có thể làm được việc thực thi kiểm soát một số rủi ro lớn, làm cho chúng ta có thể đi qua cuộc khủng hoảng này một cách bình ổn hơn, gắng hết sức phí tổn trên con đường phục hưng dân tộc Trung Hoa.

Nguyễn Hải Hoành  biên dịch từ 社评:我们或许处在世界大变动的前夜, 03/07/2018.

Thế giới đối mặt với biến động lớn?


Thời báo Hoàn cầu (Trung Quốc) ngày 03/07/2018 đăng xã luận dưới tiêu đề “Có lẽ chúng ta đang ở vào đêm trước một cuộc biến động lớn của thế giới”. Nguyên văn như sau:

Phải chăng thế giới đang ở vào đêm trước một cuộc biến động lớn? Xem ra rất có khả năng như vậy. Xác suất cuộc chiến tranh thương mại toàn cầu do chính phủ Trump gây ra cuối cùng sẽ trở thành hiện thực đang ngày càng cao, điều này sẽ làm thay đổi nhận thức của các nước về trật tự thế giới và tính chất mối quan hệ quốc tế trong thế kỷ 21, tiếp đến sẽ đem lại một loạt phản ứng dây chuyền.

Không thể coi cuộc chiến tranh thương mại là thứ từ trên trời rơi xuống, cá tính của Trump cũng chẳng phải là nguyên nhân duy nhất của cuộc chiến ấy. Tiến trình toàn cầu hóa vốn dĩ do phương Tây chủ đạo trải qua quá trình phát triển đã đem lại một số thay đổi có tính cấu trúc mà phương Tây lúc đầu chưa dự kiến tới, trong đó có sự trỗi dậy của các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ v.v… Mỹ cho rằng những thay đổi ấy đã làm suy yếu địa vị ưu thế tuyệt đối của họ và mong muốn đơn phương sửa đổi với quy mô lớn quy tắc kinh tế toàn cầu. Sự đe dọa chiến tranh thương mại cực đoan của Trump ăn nhập với nỗi bất mãn và lo ngại đó của một số người Mỹ.

Từ đây có thể thấy cho dù cuộc chiến tranh thương mại ấy sẽ tiến hành như thế nào, với quy mô lớn ra sao, thì nước Mỹ vẫn khăng khăng muốn “cải tạo thế giới”. Trong thời gian gần đây, tư duy đối ngoại cấp tiến của chính phủ Trump dần dần chiếm thế thượng phong ở Mỹ, nhất là Trump lại kiểm soát hữu hiệu được Đảng Cộng hòa. Có thể coi cuộc chiến tranh thương mại tiền tiêu xung quanh vấn đề đánh thuế vào mặt hàng thép-nhôm là quá trình Nhà Trắng động viên xã hội Mỹ.

Mục tiêu mới của Washington là: biến nước Mỹ thành nước xuất siêu thương mại, khôi phục địa vị nước lớn của Mỹ trong ngành chế tạo trên toàn cầu; bảo đảm nước Mỹ dẫn đầu toàn diện về khoa học công nghệ, loại bỏ bất cứ khả năng nào xuất hiện kẻ thách thức nước Mỹ; giữ ưu thế trang bị quân sự cao hơn hẳn một thế hệ và sự lớn mạnh tổng hợp không quốc gia nào có thể sánh được, v.v…

Kế hoạch của Mỹ sẽ đả kích nghiêm trọng hệ thống thương mại quốc tế lấy quy tắc của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) làm trung tâm, sẽ làm rối loạn sự phân công ngành nghề sản xuất toàn cầu đã tự nhiên hình thành trong mấy chục năm qua, sẽ tạo ra sự điều chỉnh lợi ích hầu như sẽ động chạm đến toàn nhân loại. Điều nguy hiểm là vì không có sự kiểm soát của một quyền uy siêu quốc gia nên công cuộc điều chỉnh đó trên một mức độ nhất định sẽ dẫn tới sự tái khởi động điên cuồng của các quy tắc luật rừng, đem lại những tính chất không xác định và rủi ro.

Xét theo tình hình hiện nay, phản kích nước Mỹ là phản ứng thứ nhất  của các cộng đồng kinh tế chủ yếu trên thế giới đối với sự kiện Washington phát động chiến tranh thương mại. Hiện nay khó có thể dự đoán vòng biến động lớn này sẽ dẫn thế giới đi tới đâu. Thế nhưng nước Mỹ sẽ trả giá nặng nề cho dã tâm muốn toàn thế giới đều biến thành  “Phiên thuộc kinh tế” của Washington; hiển nhiên điều đó không thể tránh khỏi.

Cuối tuần trước EU để lộ tin nói họ sẽ cùng các cộng đồng kinh tế khác tiến hành trả đũa đối với các sản phẩm có tổng trị giá 300 tỷ USD của Mỹ. Đây là ý đồ chống đối có quy mô lớn nhất cho tới nay của các nước để trả đũa sự đe dọa về thuế quan của Mỹ đối với họ, lớn hơn nhiều so với phương án trả đũa Trung Quốc đã tuyên bố.

Một khi chiến tranh thương mại tiến hành đến giai đoạn sự trả đũa lẫn nhau từng đơn mục sản phẩm lên tới vài chục tỷ USD thì có lẽ nó sẽ gây ra ảnh hưởng xấu tới mức không thể đảo ngược và có quán tính đáng sợ diễn biến thành chiến tranh thương mại toàn cầu. Các cuộc chiến tranh truyền thống đều gây ra bởi dã tâm cộng với tâm lý cầu may, chúng khó có thể giữa chừng dừng lại để ngừng tổn thất, xem ra có vẻ phi lý trí nhưng nó có quy tắc nội tại của nó. Một khi chiến tranh thương mại toàn cầu đã nổ ra thì rất có thể cũng sẽ như thế.

Giả thử chiến tranh thương mại bùng nổ thì đó sẽ là một trận hỗn chiến, các bên đều không có kinh nghiệm và cũng đều không có bạn đồng minh. Nhưng ở đây sẽ có một phép tắc tự nhiên: kẻ nào có dã tâm lớn, tham chiến trên diện rộng thì sẽ càng có lắm địch thủ, rất có khả năng trở thành mục tiêu công kích của nhiều bên. Nước Mỹ đang đặt mình vào vị trí đó.

Trung Quốc cần phải tính toán tới khả năng xấu nhất, chuẩn bị đón tiếp cuộc đại biến động thế giới đang tiến đến. Vì Trung Quốc là thị trường mới nổi thành công nhất nên tất nhiên sức ép mà chúng ta phải chịu sẽ lớn hơn các quốc gia nói chung, rất khó dùng biện pháp chiến lược đối phó để tránh khỏi sức ép đó. Chúng ta phải bình tâm tiếp thụ hiện thực cơ bản này.

Nhưng cần thấy là trong việc đối phó với những biến động phá quy tắc thì sức mạnh sẽ là pháp bảo lớn nhất. Thực lực kinh tế thương mại của Trung Quốc đã đứng ở hàng đầu trên thế giới, vì thế năng lực chống đỡ của chúng ta cũng sẽ mạnh hơn rất nhiều quốc gia. Trung Quốc không có lý do sụp đổ sớm trong khi nước khác vẫn còn đứng được.

Trung Quốc cần nói nguyên tắc chứ không chủ động nâng cấp xung đột, cũng kiên quyết không nhượng bộ vô nguyên tắc. Chúng ta phải kết bạn rộng rãi, cho dù chưa làm được việc liên kết hành động thì cũng phải tránh tạo ra kẻ địch cho mình. Như vậy chúng ta mới có thể tăng được tính chủ động trong cuộc hỗn chiến.

Đương nhiên trong trận đại chiến thương mại thế giới này Trung Quốc không làm được vai trò “chỉ lo cho mình [nguyên văn: độc thiện kỳ thân]”, nhưng chúng ta cũng khẳng định sẽ không phải là kẻ duy nhất bị đánh, lại càng không phải là mục tiêu công kích của nhiều bên. Chúng ta không chi phối nổi tình hình toàn cầu song chúng ta có thể làm được việc thực thi kiểm soát một số rủi ro lớn, làm cho chúng ta có thể đi qua cuộc khủng hoảng này một cách bình ổn hơn, gắng hết sức giảm phí tổn trên con đường phục hưng dân tộc Trung Hoa.

Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành

Nguồn: 社评:我们或许处在世界大变动的前夜,  2018-07-03

Tiếp sau việc Trung Quốc triển khai tên lửa đến quần đảo Trường Sa là gì? – Phần cuối


Aleksey Leonkov, chuyên gia quân sự và là biên tập viên tạp chí Kho vũ khí Quốc gia, bình luận: “Trước kia, Mỹ hành xử rất ngổ ngáo trên Biển Đông, họ tiến hành nhiều cuộc tập trận với Australia và các nước châu Á – Thái Bình Dương kể cả Ấn Độ. Giờ đây, nhiều khả năng là họ không còn cơ hội đó nữa”. Ngoài ra theo chuyên gia này, sự hiện diện của Trung Quốc trên các đảo nhân tạo khiến cho việc Mỹ đổ quân đến bán đảo Triều Tiên không còn bí mật được nữa. Ông Leonkov nói thêm: “Bằng cách đó, Trung Quốc tạo nên một vùng đệm an ninh, vạch ra ranh giới cho hệ thống phòng thủ quân sự của mình. Mối đe dọa chính đối với Trung Quốc đến từ phía Thái Bình Dương, nơi Mỹ có khá nhiều tàu hải quân”.

Xét từ góc độ chiến lược quân sự, hành động của Trung Quốc hoàn toàn dễ hiểu vì ranh giới phòng vệ càng mở rộng “quân đội Trung Quốc tại lục địa càng có thêm thời gian để vào tư thế sẵn sàng chiến đấu và tấn công”. Chuyên gia Leonkov chỉ ra rằng ngoài các hệ thống tên lửa, Trung Quốc còn xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng để sửa chữa và neo đậu tàu thuyền với mục tiêu là sánh ngang với Hải quân Mỹ trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Căn cứ gần Biển Đông nhất của Mỹ nằm ở Okinawa, phía Nam Nhật Bản. Theo ông Leonkov, căn cứ này cũng không còn an toàn như người ta tưởng bởi hiện nó đã nằm trong “tầm với” của tên lửa hành trình Trung Quốc, cho phép Trung Quốc có một lợi thế quân sự trước Mỹ. Theo chuyên gia quân sự người Nga, lựa chọn duy nhất của Mỹ hiện nay là tăng số lượng hạm đội tàu chiến, song phương án này đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí tốn kém. Ông Leonkov cho rằng ít có khả năng Mỹ công khai xung đột với Trung Quốc vì “họ phải xem lại số lượng tàu ở châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Ưu thế gấp ba lần mà Mỹ có cho đến gần đây đã thay đổi theo hướng đồng đẳng”.

Liệu Mỹ có hành động gì?

Mỹ đã nêu quan ngại với Trung Quốc về hoạt động quân sự hóa mới nhất của nước này ở Biển Đông và sẽ có những hậu quả trong ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, phát ngôn viên Nhà Trắng Sarah Sanders không nói những hậu quả đó có thể là gì.

Ngày 4/5, ông Joseph Felter, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách Nam Á và Đông Nam Á, cho biết thông tin về việc Trung Quốc bố trí tên lửa trên các đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa trên Biển Đông “hoàn toàn giống âm mưu quân sự hóa những thực thể tranh chấp”.

Quan chức này nêu rõ: “Chúng tôi không ủng hộ điều đó. Chúng tôi muốn một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp này”, đồng thời nhắc lại lập trường phản đối của Mỹ đối với hành động bồi đắp và quân sự hóa các thực thể, gồm đảo san hô và đảo nhỏ, tại các khu vực tranh chấp.

Ông Felter nhấn mạnh: “Mỹ sẽ tiếp tục điều máy bay, tàu và hoạt động bất kỳ đâu mà luật pháp quốc tế cho phép. Chúng tôi khuyến khích các nước khác thực thi quyền tương tự trong khuôn khổ luật pháp quốc tế… Chúng tôi duy trì cam kết vững vàng ủng hộ đồng minh hiệp ước thân cận của chúng tôi, Philippines”.

Theo atime.com, Trung Quốc đã tận dụng việc nước này giúp đỡ Mỹ trong các cuộc đàm phán về vấn đề Triều Tiên để trang bị 2 hệ thống tên lửa là HQ-9B và YJ-12B cho 3 hòn đảo trên Biển Đông.

Tất cả động thái gần đây của Trung Quốc gây nghi ngờ về công thức răn đe truyền thống của Washington, trong đó, Mỹ sử dụng sức mạnh chính trị và quân sự để duy trì trật tự tại Biển Hoa Đông và Biển Đông. Các hoạt động của Mỹ bao gồm các cuộc tập trận hải quân di chuyển tự do, vốn đang bị các máy bay và tàu chiến của Trung Quốc theo dõi chặt chẽ, và sự hiện diện của nhiều loại máy bay Mỹ, như máy bay ném bom B-52, máy bay tiêm kích, các chuyến bay do thám, cũng kéo theo những hành động đối phó của Trung Quốc. Việc triển khai máy bay tàng hình thế hệ mới J-20 tại Biển Đông là cách Bắc Kinh khẳng định sự hiện diện và năng lực của mình.

Vì vậy, để đạt hiệu quả, Mỹ phải tăng cường các nguồn lực và công tác huấn luyện cho hải quân, hiện đại hóa lực lượng không quân và năng lực phòng thủ tên lửa, đồng thời triển khai thêm nhiều căn cứ gần cả Biển Đông và Eo biển Đài Loan. Đây là nhiệm vụ nặng nề vì chi phí lớn và đòi hỏi sự cam kết và tầm nhìn trong dài hạn.

Ngoài ra, Mỹ phải củng cố sức mạnh cho các đồng minh khu vực là Nhật Bản và Đài Loan, bằng việc đẩy mạnh các cuộc tuần tra chiến lược và ủng hộ các thỏa thuận hợp tác quân sự, đặc biệt giữa Nhật Bản và Đài Loan.

Ý định của Philippines

Chính quyền Manila dường như đang lúng túng, không biết phản ứng ra sao trước sự việc Trung Quốc bố trí tên lửa.

Ngày 4/5, Phủ Tổng thống Philippines bày tỏ quan ngại về việc Trung Quốc triển khai tên lửa ở Trường Sa, đồng thời khẳng định “tin tưởng là các tên lửa này không trực tiếp nhằm vào chúng ta”.

Ngày 5/5, Phủ Tổng thống Philippines lại thông báo vẫn đang thẩm định thông tin về các tên lửa mới của Trung Quốc, ngay cả khi Bắc Kinh chính thức khẳng định đã triển khai tên lửa.

Trang mạng Philstar.com dẫn tuyên bố của Ngoại trưởng Philippines Alan Peter Cayetano ngày 6/5 cho biết nước này đang tìm kiếm cách tiếp cận đa phương, trong đó có sự tham gia của Mỹ và các cường quốc phương Tây, trong việc đươgn đầu với tình hình an ninh đang dần trở nên xấu hơn tại Biển Đông, sau khi Trung Quốc triển khai tên lửa trên các đảo nhân tạo tại vùng biển tranh chấp này.

Ông Cayetano phản bác mạnh mẽ những chỉ trích cho rằng chính quyền của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte không nỗ lực phản đối việc Bắc Kinh triển khai các tên lửa hành trình chống hạm và những hệ thống tên lửa đất đối không trên Đá Chữ thập, Đá Subi và Đá Vành Khăn trong những tuần qua. Ông nói: “Chúng tôi không phớt lờ những diễn biến này. Chỉ có Philippines và Trung Quốc thì không thể giải quyết được tình hình tại Biển Hoa Nam (Biển Đông)”.

Ngoại trưởng Philippines cho rằng các bên tuyên bố chủ quyền khác cũng có những cơ sở trên Biển Đông và hải quân phương Tây cũng cho tàu di chuyển qua khu vực này.

Theo ông Cayetano, cũng giống như các cuộc đàm phán phi hạt nhân hóa và hòa bình giữa Hàn Quốc – Triều Tiên, các cường quốc phương Tây cần phải tham gia đàm phán về vấn đề Biển Đông: “Tất cả các bên tuyên bố chủ quyền như Malaysia, Việt Nam, Brunei cũng cần đối thoại với nhau… Khi bạn hỏi Trung Quốc, họ sẽ nói rằng hải quân các cường quốc phương Tây đang ngày càng khiêu khích nên họ cần bảo vệ đất nước. Khi bạn hỏi các cường quốc phương Tây, họ lại nói rằng họ đến bảo vệ chúng ta vì Trung Quốc ngày càng hung hăng. Chúng tôi hoan nghênh việc phương Tây hăng hái bảo vệ chúng tôi nhưng mà làm thế nào chúng ta mới có thể đi đến đàm phán đây?”.

Ngoại trưởng Cayetano nhận định, các nước ASEAN đang bị “kẹt giữa (cuộc đối đầu của) Trung Quốc và các cường quốc phương Tây”.

Ngày 5/5, CNN Philippines dẫn lời người phát ngôn của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, ông Harry Roque cho biết chính phủ nước này sẽ sử dụng con đường ngoại giao và mọi biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề Trung Quốc triển khai các hệ thống tên lửa tại Biển Đông.

Trả lời báo giới ông Roque nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ sử dụng tất cả những quy định liên quan trong Hiến chương Liên hợp quốc, biện pháp ngoại giao và thậm chí là gửi công hàm phản đối nếu Bộ Ngoại giao cảm thấy phù hợp. Tuy nhiên, tất cả sẽ đều là những biện pháp giải quyết mâu thuẫn bằng con đường hòa bình”.

Trước đó, Tổng thống Duterte đã cho rằng người tiền nhiệm Benigno Aquino III và Mỹ phải chịu trách nhiệm về việc Trung Quốc tăng cường hiện diện quân sự tại Biển Đông.

Trong bài phát biểu tại thành phố Davos, ông Duterte nhấn mạnh: “Không thể xây dựng một hòn đảo nhân tạo ở ngoài biển khơi. Điều này không được phép. Quốc gia duy nhất có thể ngăn chặn họ (Trung Quốc) là Mỹ”.

Theo ông Duterte, chính quyền cựu Tổng thống Aquino đã không thể đương đầu với Trung Quốc bằng phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye (Hà Lan).

Trong lúc chính quyền còn đang chần chừ, việc Trung Quốc bố trí hàng loạt tên lửa tại quần đảo Trường Sa vấp phải sự phản ứng trong dư luận Philippines.

Theo abs-cbn.com, ngày 6/5, cựu Cố vấn về pháp luật của Chính phủ Philippines Florin Hilbay cho rằng Tổng thống nước này Rodrigo Duterte nên ngừng đổ lỗi cho người khác về việc Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông.

Trong khi đó, Phó Tổng thống Philippines Robredo lên án Trung Quốc triển khai tên lửa tại Biển Đông, đồng thời hối thúc chính quyền Duterte gửi công hàm ngoại giao phản đối Trung Quốc để khẳng định các quyền của Philippines.

Cựu Cố vấn An ninh Roiko Golez khẳng định, nếu không có phản ứng chính thức trước một hành động như vậy, thế giới sẽ nghĩ rằng Philippines “nhân nhượng”, “chấp nhận điều này như một sự đã rồi”.

Nguồn: TKNB – 08/05/2018

Đòn tấn công Hoa Kỳ – Phần cuối


Chuyện xảy ra ở California đã làm rung chuyển các tiểu bang miền nam lân cận. Arizona và New Mexico đối mặt với làn sóng người tị nạn từ California “được giải phóng”, chủ yếu là dân gốc Mexico, đã tuyên bố động viên thật sự, bắt đầu thành lập các đơn vị tự vệ. Thậm chí đã vang lên lời kêu gọi tuyên chiến với California, đồng thời yêu cầu Washington phải ra tay can thiệp. “Ở đây không nên nóng vội”, Tổng thống nghiêm túc nghĩ ngợi vấn đề này. “Nếu ngả theo quan điểm của một trong các bên, có nghĩa chính thức thừa nhận sự tan rã đất nước, và đó sẽ là đòn đánh vào danh tiếng của Hoa Kỳ trên trường quốc tế. Bởi muốn hay không sẽ xuất hiện câu hỏi: làm sao một quốc gia chính thức thừa nhận phải trải qua những vấn đề lãnh thổ trong nước có thể dạy dỗ những nước khác làm gì với những lò lửa ly khai riêng của họ? Ở đây đầu tiên, dĩ nhiên, là nói về Ukraine, nơi Bộ Ngoại giao bị mắc kẹt trong chính bẫy của mình khi ra sức cứu vớt chế độ bù nhìn thân Mỹ cố thủ ở Kiev và kiểm soát trên thực chất chỉ vài tỉnh phía tây của Ukraine cũ. Ở đó chính quyền của tổng thống Hoa Kỳ cả năm nay đã cố gắng trong vô vọng chữa trị chủ nghĩa ly khai của miền đông nam và một số tỉnh trung tâm của một “Ukraine” tồn tại đến lúc đó chỉ trên danh nghĩa”.

Đồng hồ trên tường điểm đúng giữa trưa. Cửa phòng Bầu dục mở ra, trên ngưỡng cửa là trợ lý tổng thống về an ninh quốc gia cùng với một số quan chức Nhà Trắng. “Ngài Tổng thống…”, viên trợ lý bắt đầu, nhưng bị ngăn lại bởi cái gật đầu im lặng và động tác tay chỉ vào những chiếc ghế đặt quanh bàn không lớn lắm ở bên phải cánh cửa. Mọi người bước vào yên vị. “Thưa ngài…”, “Vâng, tôi nghe đây”, Tổng thống nói. Giọng ông hơi khàn, vẻ ngoài chán nản. “New Mexico tuyên bố trưng cầu dân ý về việc công nhận tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính thức cho các văn kiện nhà nước…”. Vâng, rõ rồi, chuyện không đáng kể”, một lần nữa Tổng thống ngắt ngang “còn có gì nghiêm trọng không?”. – “Thưa ngài, các đội dân quân…”, viên trợ lý nhìn xuống vài giây, thở dài rồi lại nhìn lên, “tiếp tục được thành lập”. Nếu tính cả việc người dân California cũng như Arizona và New Mexico vũ trang hàng loạt, có thể nói về khởi đầu nội chiến…”. “Nội chiến?”, bất ngờ Tổng thống dường như tập trung vào người báo cáo, “vậy thì làm gì với tuyên bố độc lập của California? Bởi nếu chúng ta công nhận nó, xung đột sẽ phát triển thành cấp độ giữa các quốc gia. Còn nếu chúng ta công nhận độc lập New Mexico và Arizona, hai bang này cũng đang kêu gào đòi độc lập ngày một dữ hơn. Khi đó sẽ không còn là việc của chúng ta nữa. Và nói chung…”. Tổng thống chưa kịp dứt lời, điện thoại trên bàn ông đã reo lên. Người thư ký đứng cạnh bắt máy, “Bộ tham mưu tác chiến Nhà Trắng gọi, ngài tổng thống”, người thư ký thông báo, dằn từng tiếng. “Gì nữa đây” – tổng thống khó chịu quay lại. “Bộ phận an ninh gửi tin nhắn CRITIC. Họ nói những người biểu tình đang tiến theo đường Tanlo về phía đồi Capitol. Còn các đại diện của phong trào “Lựa chọn cộng hòa” mới tổ chức họp với đại sứ Nga, sau cuộc họp đám đông tiến về phía Nhà Trắng, hô to “Nước Mỹ cho người Mỹ”. “Các người thậm chí không đại diện cho chúng tôi”. Căn phòng im lặng một lúc. “Hướng tới Nhà Trắng”, tổng thống đăm chiêu lập lại. Nó không hơn bốn dặm…”.

Căn phòng xịch mở. “Sĩ quan trực cấp cao của Bộ tham mưu tác chiến”, – viên trợ lý nhấn từng tiếng khô khan giới thiệu người mới đến đang ở phòng chờ. Được, để anh ta vào”. Tại cửa xuất hiện một sĩ quan rắn rỏi không cao lắm. Bước qua ngưỡng cửa, anh ta ưỡn người, lập tức báo cáo: “Những người chống đối đang đi thành đoàn với tổng số hơn 100.000 người. Nghe thấy tiếng súng. Đám đông đang tiến tới. Chúng tôi đã chặn đường Tanglo ở nút giao với phố 37. Tại đó có một lối dẫn ra đại lộ Wiscosin, nơi có một số đội cảnh vệ và đường bị chặn bởi xe tải cảnh sát, nhưng có vẻ không đủ mạnh. Đám đông sẽ đánh bật đội cảnh vệ đầu, những người theo lệnh của ngài đã không vũ trang. Tiếp đó cảnh sát sẽ sử dụng hơi cay và vòi rồng, nhưng lực lượng cũng có vẻ không cân bằng. Thêm vào đó còn có những đoàn khác…”. “Họ muốn gì?” – tổng thống ngăn viên sĩ quan lại. “Họ đòi ngay lập tức chấm dứt các hoạt động chiến sự bên ngoài Hoa Kỳ, rút hết các binh đoàn Mỹ từ bất cứ vị trí trú đóng nào, đóng cửa các cơ sở quân sự bên ngoài nước Mỹ, bắt đầu cải cách giáo dục, y tế, tăng lượng trợ cấp xã hội, giảm thuế…”.

“Giám đốc Cơ quan liên lạc quốc phòng đang gọi”, thư ký đứng bên điện thoại cắt ngang báo cáo của viên sĩ quan, “Xin lỗi ngài, khẩn cấp”. Tổng thống chậm chạp rời ghế tiến về phía điện thoại. “Tôi nghe”, ông nói, cầm lấy ống nghe từ tay thư ký. “Tôi mới tham vấn Bộ trưởng quốc phòng, và ông ấy khuyên nên gọi ngài”, giọng nói quen thuộc bên kia đầu dây. “Chúng ta gặp rắc rối”, “Tôi biết rồi” – Tổng thống nói với sự tức tối không che giấu, – chúng tôi ở đây cũng ngập vấn đề tới tận mũi, quỷ tha ma bắt. Chỗ các ông có chuyện gì?”.

“Thưa tổng thống” – giám đốc tiếp tục sau một chút gián đoạn – “Bộ trưởng Quốc phòng thông báo bộ chỉ huy các căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở Afghanistan, Iraq, Hy Lạp và một số đơn vị riêng biệt khác đã không còn phục tùng ông ta nữa”. “Có âm mưu à?”, Tổng thống buột miệng. “Dường như, vâng – giọng nói trong điện thoại đáp khô khan. – Người Nga hứa hỗ trợ di tản qua lãnh thổ của họ những ai từ bỏ vũ khí. Ông biết binh lính đang có những vấn đề gì rồi đấy. Có thể hiểu họ, chúng ta đã ném những gã trai của mình vào tình cảnh thế này…”. “Vâng, vâng, tôi hiểu rồi. Nhưng đó là người lính. Họ đã tuyên thệ”. “Chỉ huy các cơ sở đã tổ chức họp báo trực tuyến tuyên bố giờ đây họ chỉ phục tùng các tổng thống của mình, đó là nói về Cộng hòa Texas, California, Nex Mexico…”. “Được, tôi hiểu”, tổng thống gác máy.

Các báo cáo lần lượt thay phiên nhau như một dòng chảy bất tận. Tổng thống bắt đầu thấy ong ong ở thái dương và đau đầu – điện thoại bàn, báo cáo miệng, di động. Rồi lại điện thoại bàn. Trong lúc ông đang nói qua điện thoại, trong phòng lại xuất hiện thêm các báo cáo viên. Ngẫm ngợi về những gì mới được nghe, tổng thống vẫn nhận ra ai đó đang cố lôi kéo sự chú ý của ông. “Thứ trưởng an ninh nội địa muốn nói chuyện ngay với ngài” – tiếng ai đó vang lên bên hông. Trước mặt ông hiện ra chiếc máy di động. “Tôi nghe” – “Có cháy lớn ở các nhà máy lọc dầu Philadelphia và Houston cũng như việc phát tán khí clo chết người ở một số nhà máy hóa chất tiểu bang New Jersey và Delaware. Những kẻ vô chính phủ cực đoan của tổ chức “Trong tim chúng tôi” đã thực hiện lời đe dọa của họ. Họ hứa sẽ gây ra một loạt vụ khủng bố lớn nếu cảnh sát bắt đầu giải tán cuộc tuần hành trên đồi Capitol ở Washington. “Chết tiệt, lũ con hoang” – Tổng thống buột miệng. “Họ cần chuyện này lắm đây, bọn trì độn bẩn thỉu. Họ hứa… Các ông làm cái quái gì?” – bỗng nhiên tổng thống gần như hét vào ống nghe. “Chúng ta biết về những cuộc khủng bố sắp xảy ra, nhưng không biết nơi chúng xảy ra”.

Tổng thống ném điện thoại xuống sàn. “Đã đụng độ rồi à?” – ông hỏi hai sĩ quan mới xuất hiện ở cửa. “Vâng, thưa ngài, có nạn nhân ở cả hai phía. Những người biểu tình chọc thủng hai vòng vây đầu và đốt cháy cái xe tải bằng bom xăng. Các ô tô đang cháy đó tạm thời phong tỏa đường phố nhưng cả cảnh sát cũng phải thoái lui. Đa số phương tiện đã bị vô hiệu. Một bộ phận cảnh sát cơ động đang bao vây lối ra phố Dupon Cirle. Đặc biệt nóng trên đại lộ Massachusetts, ở đó người biểu tình đốt lốp xe, không để bị đẩy ra giao lộ với phố 20. Nhưng không thể để họ vào được đại lộ Connecticut, vì từ đó có thể đi thẳng tới…”. “Đủ rồi”, tổng thống lấy tay bịt mắt.

Trong phòng ngự trị sự im lặng chết chóc. Không quá một phút trôi qua, nhưng đối với những người đang ở đây, cạnh tổng thống, vào những giây phút nặng nề có lẽ là cuối cùng trong lịch sử nhà nước Hoa Kỳ, thời gian đó dường như là vô tận. Giọng người thư ký trực điện thoại phá tan sự yên lặng: “Lầu Năm Góc mới gọi, thưa ngài. Họ nhận định rằng, chiến tranh mạng lưới đang đánh vào Hoa Kỳ. Họ đề nghị làm rõ, ai đang tấn công chúng ta: Nga, Trung Quốc hay liên minh các nước? Thưa ngài?”

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017

Tiếp sau việc Trung Quốc triển khai tên lửa đến quần đảo Trường Sa là gì? – Phần đầu


Reuters CNBC đưa tin Trung Quốc đã triển khai hệ thống tên lửa chống hạm và tên lửa đất đối không tại 3 căn cứ tiền đồn ở Biển Đông.

Theo CNBC, các tên lửa hành trình chống hạm YJ-12B cho phép Trung Quốc tấn công các tàu trong bán kính 295 hải lý. Trong khi đó, các tên lửa đất đối không tầm xa HQ-9B có thể tấn công máy bay, máy bay không người lái và tên lửa hành trình trong bán kính 160 hải lý.

Một quan chức tình báo giấu tên của Mỹ cho biết trong suốt một tháng qua, những tên lửa này đã được chuyển đến Đá Chữ thập, Đá Subi và Đá Vành khăn.

Theo phóng viên TTXVN tại Hong Kong, Trung Quốc chưa từng đề cập đến việc triển khai tên lửa ở Biển Đông, chỉ tuyên bố rằng các công trình quân sự của Trung Quốc nằm ở quần đảo Nam Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa) phục vụ mục đích phòng thủ.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc không đưa ra bình luận gì, trong khi Bộ Ngoại giao nước này không đề cập đến việc triển khai tên lửa, song nói rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với quần đảo Trường Sa và rằng việc triển khai thiết bị quốc phòng cần thiết là nhằm phục vụ nhu cầu an ninh quốc gia chứ không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói: “Những ai không có ý định gây hấn thì không việc gì phải lo lắng hoặc sợ hãi”.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên CNBC, ông Greg Poling, chuyên gia về Biển Đông tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Washington, nhận định: “Có thể xem Trung Quốc đã có một bước tiến quan trọng. Các dàn tên lửa đó rõ ràng là một mối đe dọa tấn công đối với các bên tranh chấp khác, đồng thời đưa Trung Quốc gần thêm đến mục tiêu kiểm soát hoàn toàn vùng biển và vùng trời ở Biển Đông”.

Chuyên gia Poling nhấn mạnh giờ đây mọi tàu bè hay máy bay hoạt động tại khu vực Trường Sa đều nằm trong tầm bắn của tên lửa Trung Quốc. Hiện vẫn chưa rõ Bắc Kinh sẽ triển khai bao nhiêu tên lửa trong khu vực song với hệ thống vũ khí này, quân đội Trung Quốc không chỉ đủ sức tự vệ mà còn có khả năng tấn công các thực thể mà các quốc gia có tuyên bố chủ quyền khác kiểm soát.

Nhiều ý kiến nhận định Bắc Kinh sẽ không dừng ở đó.

Theo dự báo của Bonnie Glaser, cố vấn cao cấp về châu Á của CSIS, sau tên lửa, bước kế tiếp của Trung Quốc sẽ là triển khai máy bay chiến đấu, tương tự những gì đã diễn ra tại quần đảo Hoàng Sa.

Nhà nghiên cứu Collin Koh, hiện làm việc cho Chương trình An ninh Hàng hải, thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (Singapore), cho rằng việc triển khai tên lửa ở Trường Sa sẽ giúp Trung Quốc nâng cao khả năng triển khai lực lượng ở Biển Đông. Cùng với các phương tiện di động như máy bay và tàu chiến, Trung Quốc đã tự tạo một vùng an ninh bao phủ toàn bộ vùng Biển Đông, kể cả tại những vùng biển và vùng trời mà họ không nắm giữ. Theo ông Collin Koh, vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc có một khái niệm về “quân sự hóa” rất khác các nước khác.Bắc Kinh khẳng định những hoạt động nói trên không phải là quân sự hóa, mà chỉ là những biện pháp mang tính phòng thủ, tự vệ, trong khi họ xem những hoạt động tương tự của các nước khác là quân sự hóa!

Câu hỏi đang được đặt ra hiện nay là Trung Quốc sẽ tuyên bố thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông hay không. Theo một số nhà phân tích, sau việc triển khai tên lửa ở Trường Sa, việc thiết lập ADIZ có thể là bước kế tiếp để Trung Quốc thật sự thao túng Biển Đông.

Tháng 4/2018, tân Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của quân đội Mỹ, Thượng tướng hải quân Philip Davidson khẳng định: Căn cứ tác chiến tiền phương của Trung Quốc ở Biển Đông có vẻ đã hoàn chỉnh. Ông bình luận: “Điều duy nhất còn thiếu hiện nay là triển khai các lực lượng trên bộ”. Tướng Davidson chỉ rõ Trung Quốc có thể sử dụng các căn cứ này để thách thức sự hiện diện của quân đội Mỹ ở khu vực, và “về quân lực có thể dễ dàng áp đảo bất cứ một bên nào khác có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông”.

Chuyên gia Steven Stashwick viết trên tạp chí The Diplomat rằng việc Trung Quốc triển khai các tên lửa này là hành động khiêu khích nghiêm trọng. Ông nhận định: “Không thể có bất kỳ tuyên bố nào về mặt ngoại giao đủ để xoa dịu sự tức giận của các nước ở Biển Đông và các cường quốc bên ngoài như Mỹ, Nhật Bản và Australia nếu những hệ thống tên lửa này được duy trì tại các căn cứ của Trung Quốc ở Trường Sa… Nhiều khả năng Trung Quốc sẽ cân nhắc phản ứng của dư luận trước hành động này để tính toán thời điểm và tốc độ phù hợp khi triển khai thêm các hệ thống phòng thủ trong khu vực, chẳng hạn như máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, và các tên lửa đạn đạo truyền thống có khả năng tấn công cả các tàu bè và căn cứ ở xa, thậm chí là ở ngoài khu vực Biển Đông”.

Trung Quốc tạo thách thức lớn mới đối với quân đội Mỹ?

Phóng viên TTXVN tại Moskva dẫn lời giới chuyên gia quân sự Nga nhận định Trung Quốc đã chặn đứng tuyến đường hoạt động của tàu chiến Mỹ, cũng như tạo ra một vùng đệm an ninh, thiết lập nên ranh giới cho toàn hệ thống quốc phòng trên biển của mình. Nói cách khác, Bắc Kinh đã tìm ra cách bảo vệ an toàn cho khu vực dễ tổn thương nhất của mình trước nguy cơ tấn công của Mỹ. Theo phân tích của Mỹ, Trung Quốc đã xây dựng khoảng 27 tiền đồn tại Biển Đông. Như vậy, thực chất Trung Quốc đã xây dựng một kiểu tam giác chiến lược trong khu vực, đảm bảo quyền kiểm soát đối với tất cả các lãnh thổ nằm bên trong cái gọi là “Đường 9 đoạn”.

Tạp chí National Interest cho rằng việc Trung Quốc triển khai tên lửa YJ-12B có thể tạo ra thách thức rất lớn với quân đội Mỹ. Theo nhận định của tổ chức Liên minh Ủng hộ Phòng thủ Tên lửa (MDAA), loại vũ khí này được xem là “tên lửa chống hạm nguy hiểm nhất mà Trung Quốc sản xuất từ trước tới nay”.

Sự nguy hiểm của YJ-12B tới từ “tầm bắn lên tới 400 km, khiến nó trở thành tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có tầm bắn xa nhất và có tốc độ cao nhất”. Bởi vậy, theo MDAA, hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis và các tên lửa đất đối không SM-2 vốn được triển khai để bảo vệ các hạm đội tàu sân bay của Mỹ khó có thể phát hiện hoặc đánh chặn loại tên lửa này nếu nó được phóng từ khoảng cách ngoài tầm ngắm của chúng, điều có thể khiến Hải quân Mỹ gặp bất lợi về mặt thời gian. Hơn thế nữa, các hệ thống phòng thủ cũng khó có thể chống đỡ YJ-12 do quỹ đạo bay theo đường xoắn của loại tên lửa này. MDAA kết luận: “Việc Trung Quốc triển khai YJ-12 và các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa khác cho thấy ý đồ thiết lập khả năng chống tiếp cận và chống xâm nhập trong trường hợp xảy ra xung đột”.

Trong khi đó, tên lửa đất đối không tầm xa HQ-9B, dù không thể sáng bằng các tên lửa S-300 và S-400 của Trung Quốc, song cũng là hệ thống tên lửa cực kỳ tối tân. Chuyên gia vũ khí Carlo Kopp viết trên tạp chí Air Power của Australia: “Tính cơ động của các mẫu tên lửa HQ-9 tương tự khả năng đánh chặn và phá hủy tên lửa đối phương của các mẫu SA-10, SA-20 và SA-21…”. Ông cũng nhấn mạnh rằng khả năng của các loại tên lửa này là điều “không nên đánh giá thấp”.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 08/05/2018