Liệu Nga – Mỹ có rơi vào một cuộc chiến tranh?


Xét tới mối quan hệ đầy hiềm khích giữa Washington và Moskva, khả năng 2 cường quốc phải đối mặt với một cuộc đối đầu quân sự đang tăng lên.

Dmitri Simes, Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Trung tâm lợi ích quốc gia đã nói trong một cuộc họp nhóm vào giờ nghỉ trưa ngày 26/3: “Tôi không nghĩ nhiều người trong chúng ta sẽ đặt câu hỏi rằng liệu chúng ta có thực sự phải đối mặt với một cuộc chiến tranh lạnh mới không. Hiện nay, một cuộc chiến tranh lạnh mới có thể khác so với cuộc Chiến tranh Lạnh trước đây về nhiều khía cạnh. Trước hết là cán cân sức mạnh rất khác. Thứ hai là sự thiếu vắng một hệ tư tưởng quốc tế hấp dẫn ở phía Nga. Thứ ba, rõ ràng là Nga tiếp xúc với phương Tây nhiều hơn rất nhiều so với trong Chiến tranh Lạnh trước đây, nhưng tôi nghĩ rằng có thể ít có quy tắc và nhiều cảm xúc hơn ở cả hai phía và những tình cảm thù địch ngày càng tăng ở cả hai phía”.

Khả năng xảy ra một cuộc xung đột

Simes, người vừa trở về từ một chuyến công du đến Nga, đã nói rằng trong khi Kremlin không được Washington coi trọng, những cảm giác đó cũng xuất hiện ở Moskva. Quả thật, những căng thẳng giữa 2 cường quốc vũ trang hạt nhân cao tới mức các nhà phân tích công khai tự hỏi liệu có thể có một kiểu đối đầu quân sự nào đó giữa Washington và Moskva hay không. Được Simes yêu cầu đánh giá khả năng xảy ra bất cứ kiểu xung đột quân sự tiềm tàng nào (mặc dù không nhất thiết là một cuộc xung đột hạt nhân) ở Syria hoặc ở nơi khác trên thang điểm từ 1 – 10 – thang điểm 10 có nghĩa là một cuộc xung đột gần như chắc chắn xảy ra – một nhóm chuyên gia về Nga đã kết luận rằng rất có khả năng xảy ra một cuộc đối đầu quân sự giữa Washington và Moskva.

George Beebe, Giám đốc phụ trách các nghiên cứu về tình báo và an ninh quốc gia thuộc Trung tâm lợi ích quốc gia, nói với các cử tọa trong cuộc thảo luận nhóm vào giờ nghỉ trưa: “Tôi sẽ chấm 6 điểm. Tôi nghĩ rằng nó rất có khả năng, nhưng còn lâu mới chắc chắn. Mặc dù vậy, tôi nghĩ rằng 6 điểm – khi bạn đang nói về một cuộc đụng độ quân sự giữa hai cường quốc hạt nhân lớn nhất thế giới – là một mức độ rủi ro cao không thể chấp nhận được”.

Michael Kofinan, một nhà khoa học nghiên cứu thuộc Trung tâm phân tích hải quân, người cũng phát biểu trong buổi thảo luận nhóm tại Trung tâm lợi ích quốc gia, đã đồng ý rằng có nguy cơ thực sự xảy ra cuộc đối đầu quân sự giữa Nga và Mỹ. Kofinan đặt mức rủi ro ở thang điểm 6 hoặc 7. Kofinan nói: “Trong một thời gian dài chúng ta sẽ đi đến đó”.

Nếu có kiểu khủng hoảng nào đó liên quan đến cả Mỹ lẫn Nga, thì nguy cơ xảy ra cuộc đối đầu là rất cao. Kofinan nói: “Trong một cuộc khủng hoảng hoặc đối đầu, tôi nghĩ nó rất  có thể xảy ra. Những cuộc đối đầu này không xảy ra một cách đột ngột, trước tiên bạn phải có một cuộc khủng hoảng và sau đó người ta đưa ra những lựa chọn và những lựa chọn đó cuối cùng dẫn đến việc mọi người chĩa súng vào nhau”.

Paul Saunders, Giám đốc vận hành Trung tâm lợi ích quốc gia, người phát biểu cùng với Beebe và Kofinan, đã nói rằng ông không tin rằng một cuộc đối đầu quân sự với Nga là điều không thể tránh khỏi. Saunders đã đặt mức độ rủi ro ở mức khoảng 5 điểm, nhưng nói thêm rằng do các nguy cơ xảy ra một cuộc đối đầu hạt nhân tiềm tàng, đối với ông, điều đó là quá nguy hiểm. Saunders nói: “Tôi không nghĩ nó có nhiều khả năng xảy ra nhưng đối với tôi, tôi nghĩ rằng đó vẫn là một rủi ro không thể chấp nhận được”.

Putin đang ở vị thế mạnh

Trong khi nhiều người ở Washington tin rằng Nga sẽ nhượng bộ nếu Mỹ đối đầu với Kremlin, cuộc bầu cử tổng thống gần đây của Nga vào ngày 18/3 dường như cho thấy Tổng thống Nga Vladimir Putin nhận được sự ủy nhiệm của dân chúng lớn hơn nhiều so với nhiều nhà quan sát phương Tây có thể dự đoán. Như Beebe – cựu lãnh đạo nhóm nghiên cứu về Nga của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) – lưu ý Putin đã thể hiện trong các cuộc bầu cử của Nga tốt hơn nhiều so với những gì các nhà phân tích dự đoán.

Beebe nói: “Về quyền lực chính trị, đây thực sự là một câu chuyện tin tức tốt dành cho Putin. Về cơ bản ông đã đạt được điểm tối ưu 70/70 mà Điện Kremlin đã dự đoán là mục tiêu của cuộc bầu cử. 70% cử tri đi bỏ phiếu và Putin giành được 70% trong tổng số phiếu bầu đó. Sự kiện thực tế hóa ra là có hơn 67% cử tri đi bỏ phiếu và hơn 76% trong số đó bỏ phiếu cho Putin.

Ông Simes đã lưu ý rằng ông Putin đã thể hiện tốt hơn mong đợi với các khu vực cử tri của Nga mà ông vẫn thường không làm tốt, chẳng hạn như ở Moskva và với người Nga sống ở nước ngoài. Một phần lý do giải thích tại sao Putin có thành tốt đến vậy là vì cuộc tấn công được cho là của Nga nhằm vào Skripal, do người dân Nga nói chung không tin rằng chính phủ của họ có dính líu đến việc đó.

Beebe nói rằng quả thực, những người Nga có tư tưởng tự do của Nga đã thất bại hết sức tồi tệ trong bầu cử ít nhất một phần là do ảnh hưởng của hiệu ứng “tập hợp dưới lá cờ”. Beebe đã lưu ý rằng một phần của vấn đề là cả Mỹ lẫn Anh đều không đưa ra được bằng chứng cụ thể cho thấy Nga đã thực hiện vụ tấn công. Thông tin được công khai là nguyên nhân gây nhiều người nghi ngờ rằng Nga đứng đằng sau vụ tấn công, tuy nhiên Beebe nói rằng đó không phải là bằng chứng. Ý tưởng rằng Nga đang bị các thế lực nước ngoài thù địch bao vây đã góp phần đáng kể vào tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu cao trong cuộc bầu cử ở Nga và dành sự ủng hộ lớn hơn cho Putin. Simes nói: “Tôi đã tham dự một bữa tiệc mừng hậu bầu cử dành cho các nhà báo, nơi có rất nhiều ở phe đối lập, các ứng cử viên, những người đại diện của họ, và tất cả họ đều nói rằng “chúng tôi đã đánh mất rất nhiều cử tri trong những ngày cuối cùng trước cuộc bầu cử vì vụ việc ở Anh”.

Hơn nữa, những nỗ lực của phương Tây nuôi dưỡng thế hệ trẻ của Nga đã chứng tỏ là một thất bại hoàn toàn. Saunders, cựu quan chức Bộ Ngoại giao, đã lưu ý rằng một phần trong những mục tiêu của Mỹ ở Nga vào những năm 1990 là lôi kéo được giới trẻ và tạo ra một sự thu hút đối với phương Tây. Tuy nhiên, điều đó đã không xảy ra. Thanh niên Nga lớn lên trong thời kỳ tương đối thịnh vượng và vào thời điểm Putin bắt đầu khôi phục lại tầm vóc của Nga ở nước ngoài. Saunders nói: “Họ nằm trong số những người ủng hộ Putin nhất. Một phần không nhỏ là vì trong suốt quãng đời ngắn ngủi của họ, nói chung đó là một giai đoạn thịnh vượng và Nga có vai trò ngày càng lớn trong các vấn đề quốc tế”.

Beebe đã lưu ý rằng các cuộc bầu cử tổng thống Nga không phải là về việc lựa chọn ra một tổng thống mới – mà chắc chắn Putin sẽ giành chiến thắng – thay vào đó, đó là một thước đo quyền lực chính trị của tổng thống Nga. Mặc dù các cuộc bầu cử ở Nga không tự do và công bằng, nhưng mức độ sai thực tế là một dấu hiệu cho thấy chính phủ được lòng dân như thế nào. Beebe đã nói: “Theo tiêu chuẩn của Nga, cuộc bầu cử này là tương đối tự do nếu không muốn nói là thực sự công bằng. Đó là một cuộc bầu cử trên danh nghĩa, nhưng việc bỏ phiếu diễn ra tương đối tự do. Điều này cho mọi người thấy kết quả đã phản ánh đúng. Đây là một dấu hiệu tốt xét về mặt quyền lực chính trị đối với Putin”.

Cuộc đối thoại Melian của Nga

Với sự đảm bảo về quyền lực chính trị, Tổng thống Putin có thể chuyển sự chú ý của ông sang xây dựng lại nước Nga thành một nước lớn. Bài học mà Putin và giới tinh hoa của Điện Kremlin rút ra được từ sự sụp đổ của Liên Xô và sự hỗn loạn của những năm 1990 khi Moskva yếu kém là Nga phải mạnh mẽ. Beebe nói: “[Putin] nói rằng Nga cần phải mạnh mẽ. Nếu tôi nói giảm thành một câu, thì nó sẽ là “sự mạnh mẽ cho phép họ làm những gì họ muốn và sự yếu kém khiến họ phải chịu đựng những gì họ phải chịu”.

Beebe nói rằng vấn đề đối với Nga là có sự căng thẳng giữa các mục tiêu khác nhau của nước này. Để có một nền kinh tế vững mạnh, Kremlin phải nới lỏng sự kiểm soát xã hội, hành động này làm suy yếu sức mạnh của nhà nước. Nhưng một quân đội hùng mạnh đòi hỏi một nền kinh tế mạnh mẽ, có nghĩa là Nga sẽ phải thực hiện những cải cách đó. Và một quân đội hùng mạnh là một phần trong tự nhận thức của Nga là một nước lớn. Beebe nói: “Đó là sự cân bằng mà ông sẽ phải thực hiện và không có cách nào dễ dàng làm được điều đó”.

Beebe nói rằng trong bối cảnh của Nga, những yếu tố cạnh tranh nhau đó đang đẩy Putin hướng tới một lập trường dân tộc chủ nghĩa hơn, tập trung vào sức mạnh quân sự. Đổi lại, điều đó làm cho Nga trở nên đối đầu hơn. Như vậy, theo quan điểm của Kofinan, nếu có một kiểu khủng hoảng nào đó phát triển ở nơi Washington và Moskva đang đối đầu với nhau, người Nga không sẵn sàng ngoan ngoãn đứng sang một bên và làm theo ý muốn của Mỹ. Mặc dù Nga suy yếu ngay sau khi Liên Xô sụp đổ, nhưng những ngày đó đã qua đi từ lâu.             Nga ngày nay, với quân đội hiện đại, tự tin hơn nhiều so với những năm 1990, sẵn sàng và khao khát đẩy lùi Mỹ.

Giải pháp của Kremlin

Kofinan mới đây đã lưu ý rằng Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Nga, Tướng Valery Gerasimov, đã cảnh báo Mỹ rằng Moskva sẽ trả đũa nếu lực lượng Mỹ ở Syria tấn công lực lượng của họ. Như Kofinan lưu ý, không như phần lớn các nhân vật chính trị Nga, Gerasimov không tạo ra những mối đe dọa vu vơ và ông nghiêm chỉnh thực hiện sự chỉ đạo của Tổng thống Nga Vladimir Putin. Kofinan nói: “Khi Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Nga nói điều gì đó, bạn phải lắng nghe bởi vì có người bảo ông ấy nói như vậy”.

Do đó, sẽ là sai lầm khi cho rằng Điện Kremlin chỉ đơn giản là cúi đầu trước Mỹ khi tình hình xấu đi như nhiều người ở Washington có xu hướng cho là vậy – căn cứ vào kinh nghiệm của họ trong việc đối phó với một nước Nga yếu kém vào đầu những năm 1990. Kofinan nói: “Người Nga khá tự tin với địa vị của họ và họ thực sự muốn đẩy lùi và họ phải thực hiện thêm các bước đi để duy trì sự đối đầu. Người Mỹ rất hiếu chiến – họ cũng muốn gây áp lực cho Nga và đẩy lùi theo những cách khác nhau và đó là một hệ thống tự duy trì, nơi nó cơ bản là một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại”.

Quên đi những bài học của Chiến tranh Lạnh

Và trong đó tiềm ẩn nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột với một nước Nga vũ trang hạt nhân. Như Kofinan đã lưu ý, cộng đồng an ninh quốc gia Washington phần lớn đã quên mất các khái niệm răn đe hạt nhân và quản lý đối đầu với một đối thủ vũ trang hạt nhân trong Chiến tranh Lạnh. Trong hơn 25 năm qua, Washington đã quen với một thế giới không có các thách thức nước lớn và mối đe dọa thực sự duy nhất xuất phát từ chủ nghĩa khủng bố.

Kofinan nói: “Mọi người có những quan điểm thiếu chín chắn về cuộc đối đầu nước lớn ở đây. Trong thực tế, rất nhiều người thậm chí còn không hiểu rõ chiến lược và sự răn đe hạt nhân nữa và cả những động lực gây leo thang. Và bạn có thể nói qua các cuộc trò chuyện – chúng tôi từng ở trong trò chơi khủng bố/chống nổi dậy quá lâu và mọi người không hiểu họ đang đối đầu với cái gì ở cấp cao. Tôi nghe việc đó suốt. Đó tất cả là một công thức cho sự tương tác kiểu những năm 1950 – 1960 với một nước lớn khác”.

Quả thật, có lẽ cần phải có một phiên bản mới của Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 thì một bộ máy chính sách đối ngoại của Mỹ mới nắm bắt được đầy đủ việc đối đầu với một cường quốc vũ trang hạt nhân có thể nguy hiểm như thế nào. Kofinan nói: “Tôi ghét phải nói điều này, nhưng đó có lẽ là một điều đúng đắn. Tôi thực sự nghĩ rằng việc có cuộc khủng hoảng như vậy có thể là một việc tốt để mọi người trưởng thành”.

Nguồn: The National Interest

TLTKĐB  05/05/2018

Advertisements

Mở rộng hợp tác Trung – Nga: Hai mối đe dọa lớn đối với Mỹ


Báo Liên hợp Buổi sáng (Sing) có chi nhánh ở Hong Kong mới đây dẫn lời các quan chức cấp cao thuộc các cơ quan tình báo Mỹ cho rằng Trung – Nga đang mở rộng hợp tác, mối quan hệ này mật thiết hơn so với cách đây vài thập kỷ và hai nước này đang cố gắng sử dụng Internet để đánh cắp thông tin, phá hoại quan hệ giữa Mỹ với các đối tác, đồng thời tác động đến chính sách của Mỹ, qua đó hình thành nên nhiều mối đe dọa. Hai mối đe dọa lớn nhất hiện nay đến từ Trung Quốc và Nga chính là hoạt động gián điệp và tấn công mạng. Cả Bắc Kinh và Moskva đều đang tìm cách can dự vào cuộc tổng tuyển cử ở Mỹ năm 2020.

Khi đề cập đến các mối đe dọa toàn cầu, tại phiên điều trần thường niên trước Ủy ban Tình báo Thượng viện gầy đây – do những người đứng đầu Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), Cục Điều tra Liên bang (FBI) và Cơ quan An ninh quốc gia chủ trì – giới quan chức Mỹ nhận định các mối đe dọa mà Trung Quốc và Nga tạo nên bao gồm gián điệp và tấn công mạng, đặt ra một loạt thách thức lớn đối với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tình báo, quân sự và ngoại giao của Mỹ và các đồng minh. Tại phiên điều trần, Giám đốc Tình báo quốc gia Mỹ Daniel Coates nói: “Trung Quốc, Nga, Iran và Triều Tiên đang sử dụng các biện pháp tấn công mạng để đánh cắp thông tin, tác động đến tư duy của người dân Mỹ và phá hoại các cơ sở hạ tầng quan trọng của nước Mỹ”. Theo ông, quan hệ hiện nay giữa Trung Quốc và Nga gần gũi hơn so với cách đây vài thập kỷ, trong khi đó, một số đồng minh của Mỹ ngày càng xa cách hơn so với cách Washington, do những thay đổi trong chính sách an ninh và thương mại của Mỹ, để tìm kiếm sự độc lập hơn. Ông nhấn mạnh: “Trung Quốc và Nga đang mở rộng hợp tác và thiết lập các quy tắc cũng như tiêu chuẩn quốc tế có lợi cho họ thông qua các tổ chức quốc tế nhằm cạnh tranh với các nước phương Tây như Mỹ… Họ cố gắng sử dụng ảnh hưởng của Internet để làm suy yếu thể chế dân chủ Mỹ, phá hoại quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh và đối tác nhằm tác động lên chính sách của Mỹ”.

Ông Coates cũng cho biết chính quyền Mỹ đã bảo vệ thành công cuộc bầu cử quốc hội năm 2018 khỏi sự can thiệp từ bên ngoài, nhưng dự kiến trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2020, sẽ có một đợt tấn công và can thiệp mới, và đó là những hành động tấn công phức tạp hơn.

Coates cảnh báo rằng sức ảnh hưởng của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể và các năng lực tình báo của họ cũng thực sự gây kinh ngạc; đồng thời nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đã đạt được điều này thông qua việc đánh cắp thông tin tình báo từ các công ty Mỹ và sử dụng mạng lưới gián điệp.

Giám đốc FBI Christopher Wray cũng cho rằng công tác chống các nguy cơ tình báo từ Trung Quốc cũng ngày càng sâu rộng, các vụ gián điệp kinh tế mà FBI bắt tay điều tra hầu hết đều liên quan đến Trung Quốc.

Ông thừa nhận tình hình hiện nay rất đáng lo ngại và sẽ “đa dạng nhiều thách thức hơn”. Ông nói: “Chúng ta đã thấy đối thủ rất quan tâm đến việc xâm nhập hệ thống máy tính. Cuộc xâm lược này đến từ cả chính quyền và tội phạm mạng, và cả hai đối tượng ngày càng hiện diện trong một mối đe dọa hỗn hợp”.

Trong báo cáo “Đánh giá các mối đe dọa toàn cầu” thường niên trình bày trước Thượng viện, ngoài Trung Quốc và Nga, các quan chức tình báo cấp cao Mỹ cũng đã phân tích các mối đe dọa đối với nước Mỹ đến từ Triều Tiên, Iran và Syria, song quan điểm của họ đều trái ngược với quan điểm của Tổng thống Mỹ Donald Trump khi cho rằng Triều Tiên khó có thể từ bỏ vũ khí hạt nhân.

Trong báo cáo, Coates nêu rõ: “Mặc dù Triều Tiên đang tìm cách đàm phán với Mỹ về phi hạt nhân hóa, nhưng chúng tôi tin rằng Triều Tiên sẽ không hoàn toàn từ bỏ năng lực sở hữu và sản xuất vũ khí hạt nhân.

Các nhà lãnh đạo Triều Tiên vẫn tin rằng nếu muốn tiếp tục duy trì quyền lực, việc sở hữu vũ khí hạt nhân là cực ỳ quan trọng”.

Không lâu sau khi Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un tổ chức hội nghị thượng đỉnh lịch sử Mỹ – Triều ở Singapore vào tháng 6/2018, Trump tuyên bố “mối đe dọa hạt nhân Triều Tiên đã không còn tồn tại”, nhưng các quan chức cấp cao như Coates tin rằng “mối đe dọa đến từ Triều Tiên vẫn tồn tại giống như một năm trước”, khiến người ta hoài nghi liệu cu65c gặp thượng đỉnh Trump – Kim lần hai dự kiến tổ chức tại Việt Nam trong tháng này có đạt được kết quả cụ thể hay không.

Ngoài ra, báo cáo “Đánh giá các mối đe dọa toàn cầu” cũng đưa ra phân tích ngược lại với Trump về các vấn đề liên quan đến tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) và Iran.

Trump trước đó đã lên kế hoạch rút quân Mỹ khỏi Syria với lý do “IS đã bị đánh bại”, tuy nhiên, Coates cho rằng việc IS điều hàng nghìn chiến binh đến Iraq và Syria cho thấy khả năng tổ chức cực đoan này tiếp tục tấn công Mỹ là rất cao.

Coates còn cho biết giới chức tình báo  Mỹ không tin Iran đang tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhiên, điều này cũng khác biệt đáng kể so với quan điểm của Trump về việc rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran hồi tháng 5/2018.

Nguồn: TKNB – 13/02/2019

Đông Nam Á năm 2019 – Phần cuối


Phân tích “vấn đề niềm tin” trong người Đông Nam Á

Bảng xếp hạng “lòng tin” của các nước lớn dựa trên các yêu cầu trả lời tích cực của những người tham gia khảo sát như nhau: Nhật Bản (65,9%), EU (41,3%), Mỹ (27,3%), Ấn Độ (21,7%) và Trung Quốc (19,6%). Ngược lại, bảng xếp hạng “không tin tưởng” của các cường quốc như sau: Trung Quốc (51,5%), Mỹ (50,6%), Ấn Độ (45,6%), EU (35,2%) và Nhật Bản (17%). Bốn nhận xét bổ sung đáng để chỉ ra:

a/ Số lượng người trả lời “không tin tưởng” (58,3%) cao hơn đáng kể so với số người trả lời “tin tưởng” (20,9%) trong số những người Campuchia tham gia cuộc khảo sát về Trung Quốc, điều gây ngạc nhiên khi Campuchia vốn được cho là “gần gũi” với Trung Quốc;

b/ Số lượng người trả lời “tin tưởng” Nhật Bản trong số những người tham gia khảo sát ở Philippines (82,7%) là cao thứ hai trong số tất cả các quốc gia thành viên ASEAN, cho thấy rằng “những ký ức chiến tranh” không còn là gót chân Achilles trong quan hệ Philippines – Nhật Bản. Kết quả này, cùng với “những phản hồi tiêu cực” về Trung Quốc, cao thứ hai (66,6%) trong ASEAN, có thể đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ lại về sự hiểu biết của chúng ta đối với cái được hiểu là sự thay đổi của Manila hướng tới Bắc Kinh;

c/ Niềm tin vào Mỹ tương đối thấp ở 3 quốc gia thành viên ASEAN mà theo truyề thống có quan hệ gần gũi nhất với Washington. Thái Lan – là đồng minh hiệp ước phi NATO của Mỹ – có tỷ lệ bỏ phiếu tích cực cho Mỹ thấp thứ hai (14,1%). Các con số ở Philippines (45,4%) và Singapore (29,7%) tốt hơn nhiều, nhưng vẫn không thể che giấu sự thật rằng Mỹ không nhận được đa số phiếu tín nhiệm trog số những nước bạn bè thân nhất trong khu vực; và

d/ Trong khi Trung Quốc được coi là cường quốc chủ yếu có ảnh hưởng lớn nhất trong cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị – chiến lược và được mong đợi sẽ đảm nhận vai trò lãnh đạo lớn hơn trong khu vực, thì ảnh hưởng ngày càng mở rộng của nước này đã không mang lại cảm giác tin tưởng vào cách nước này xử lý các vấn đề toàn cầu. Ngược lại, Nhật Bản, không được đánh giá cao như Trung Quốc hay Mỹ về sức mạnh cứng và ảnh hưởng khu vực, được nhìn nhận rộng rãi là nước lớn đáng tin cậy nhất trong khu vực.

IV/ Kiểu sức mạnh mềm nào nói với chúng ta về lập trường của các nước lớn trong khu vực?

Nhóm câu hỏi cuối cùng trong cuộc khảo sát xem xét việc áp dụng sức mạnh mềm trong khu vực, cụ thể là: (a) Nước nào sẽ là lựa chọ đầu tiên của bạn nếu bạn (hoặc con của bạn) được cấp học bổng học tại một trường đại học?’ (b) Nước nào là điểm đến yêu thích mà bạn ghé thăm hoặc muốn ghé thăm trong tương lai gần; và (c) Bạn nghĩ rằng ngoại ngữ nào là hữu ích và có lợi nhất cho công việc và sự phát triển nghề nghiệp của bạn? Nói chung ba câu hỏi này cung cấp một sự hiểu biết sâu sắc nào đó về sức mạnh của sức mạnh mềm.

Giáo dục đại học

Lựa chọn hàng đầu cho giáo dục đại học là Mỹ với khoảng 1/3 số người tham gia khảo sát (31,5%) chọn các trường đại học Mỹ là điểm đến ưa thích nhất của họ. Đứng sau Mỹ là EU (28,4%), Australia (21,2%) và Nhật Bản (12,4%). Có nhiều người Đông Nam Á hơn ưa thích học đại học tại một nước thành viên ASEAN (3,5%) so với tại Trung Quốc (2,7%). Ưu tiên dành cho các trường đại học Mỹ cao nhất là ở Singapore (48%), Việt Nam (41,9%), Thái Lan (35,4%). EU là lựa chọn ưa thích nhất ở Brunei (53,3%), Indonesia (41,7%), Malaysia (34,5%), Thái Lan (35,4%, cùng với Mỹ) và Philippines (30,9%). Nhật Bản là lựa chọn hàng đầu ở Myanmar (29,2%) trong khi Campuchia (50%) và Lào (31%) thích các trường đại học Australia.

Kỳ nghỉ mơ ước

Châu Âu là điểm đế kỳ nghỉ mơ ước của người Đông Nam Á với 34% số người tham gia khảo sát lựa chọn một nước châu Âu là địa điểm yêu thích của họ. Khoảng 1/4 số người tham gia khảo sát (26,2%) mong muốn được trải nghiệm du lịch ở Nhật Bản. Tạo thành 3 điểm đến du lịch hàng đầu là một nước thành viên ASEAN (11,7%). Thực tế, việc ASEAN được cho là vượt qua Mỹ (11,4%), Australia (10,7%), Trung Quốc (4,1%) và Ấn Độ (1,9%) trở thành điểm đến được ưa thích là một dấu hiệu lành mạnh cho thấy người Đông Nam Á đang đạt được ý thức về mối quan hệ khu vực và thể hiện sự quan tâm cao hơn đối với các nước láng giềng ASEAN. Châu Âu là điểm đến du lịch phổ biến nhất trong ố những người tham gia khảo sát ở tất cả các nước thành viên ASEAN trừ Singapore và Thái Lan, họ thích Nhận Bản hơn tất các nước khác.

Ngoại ngữ

Tiếng Anh là ngoại ngữ phổ biến nhất trong khu vực. Đa số áp đảo (91,3%) số người tham gia khảo sát cho rằng tiếng Anh là hữu ích và có lợi nhất cho công việc và sự phát triển sự nghiệp của họ. 44,7% coi tiếng Trung Quốc là “hữu ích và có lợi”, thấp hơn rất nhiều so với tiếng Anh nhưng không phải là một con số không đáng kể, nói lên ảnh hưởng kinh tế, chính trị và văn hóa ngày càng tăng của Trung Quốc và ngày càng nhiều người sử dụng tiếng Trung Quốc trong trao đổi, thương mại và du lịch trong khu vực. Các nước thừa nhận tầm quan trọng của tiếng Trung Quốc cao nhất là Singapore (71,1%), Brunei (62,2%), Malaysia (55,9%) và Indonesia (54%).

Dự đoán tương lai sức mạnh mềm

Nhìn chung, sức mạnh mềm của phương Tây vẫn thống trị ở Đông Nam Á. Nói chung, 81,1% số người tham gia khảo sát ủng hộ giáo dục phương Tây (tức là các tổ chức đại học của Mỹ, châu Âu và Australia); 56,1% lựa chọn châu Âu, Mỹ và Australia là điểm đến yêu thích của họ; tiếng Anh được đa số áp đảo coi là ngoại ngữ hữu ích và có lợi nhất ở khu vực này.

Nhật Bản là “quốc gia có sức mạnh mềm” châu Á không thuộc phương Tây/châu Á thành công nhất ở Đông Nam Á. Nước này đứng thứ tư (sau Mỹ, EU, Australia) với tư cách là lựa chọn ưu tiên cho giáo dục đại học. Đây là điểm đến ưa thích thứ hai để ghé thăm. Và tiếng Nhật là ngoại ngữ phổ biến thứ ba sau tiếng Anh và tiếng Trung Quốc.

Từ góc độ vi mô, kết quả của cuộc khảo sát này cho thấy sự thâm nhập của sức mạnh mềm của Trung Quốc ở Đông Nam Á lục địa (Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam) là thấp một cách đáng ngạc nhiên bất chấp niềm tin phổ biến rằng các nước này có mối quan hệ văn hóa gần gũi hơn với Trung Quốc. Đối với những người tham gia khảo sát từ Myanmar và Việt Nam, các trường đại học Trung Quốc là lựa chọn ít được ưu tiên nhất choo giáo dục đại học. Về sức hấp dẫn du lịch, Trung Quốc đứng thứ hai từ dưới lên, chỉ trước Ấn Độ. Công cụ sức mạnh mềm mạnh nhất của Trung Quốc là tiếng Trung Quốc. Ngay cả khi đó, số người tham gia khảo sát ở Đông Nam Á lục địa lựa chọn tiếng Trung Quốc là “ngoại ngữ hữu ích và có lợi nhất” thấp hơn đáng ngạc nhiên so với ở Đông Nam Á biển: Thái Lan (49,1%), Campuchia (37,5%), Lào (24,1%), Việt Nam (27,6%) và Myanmar (18,7%). Sức hấp dẫn thấp của các tổ chức giáo dục và du lịch của Trung Quốc và sự quan tâm vừa phải đối với quốc ngữ của nước này là những thách thức sức mạnh mềm quan trọng đối với Trung Quốc trong khu vực. Tuy nhiên, các tác giả báo trước cho độc giả suy nghĩ kỹ càng về những phát hiện này với lời cảnh báo rằng tư duy của giới tinh hoa có thể không nhất thiết phản ánh các quan điểm đại chúng.

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Đông Nam Á năm 2019 – Phần IV


Trung Quốc và Mỹ trong tiến trình xung đột

Trung Quốc đã không ngần ngại tỏ rõ tham vọng giành lại vị trí xứng đáng của mình trong các vấn đề toàn cầu và Đông Nam Á sẽ là nơi thử thách Bắc Kinh về khía cạnh này. Đồng thời, Mỹ sẽ không từ bỏ “sự vượt trội” của mình mà không chiến đấu. Có phải Trung Quốc và Mỹ đang trong tiến trình xung đột ở Đông Nam Á? Hầu hết những người tham gia khảo sát (68,4%) nghĩ như vậy, vì họ nhìn nhận “cả hai nước đều coi nhau là đối thủ cạnh tranh chiến lược”. Quan điểm này được thể hiện rõ nhất ở Malaysia (74%), Myanmar (73,5%) và Indonesia (72,2%).

Ở thái cực khác, chỉ 22,5% số người tham gia khảo sát mong muốn Trung Quốc và Mỹ giải quyết những bất đồng của họ và tán thành một mối quan hệ làm việc. Hầu hết những người có quan điểm lạc quan này là ở Việt Nam (31,7%), Thái Lan (25,7%) và Philippines (25,5%).

Ngoài ra, một số lượng đáng kể người tham gia khảo sát (62%) lo ngại rằng ASEAN “đang trở thành đấu trường cạnh tranh nước lớn”. Nếu thực tế diễn ra theo dự đoán này, chính trị khu vực sẽ bị phân cực hơn và các quốc gia thành viên ASEAN sẽ cần phải vận dụng mọi sự tháo vát của mình để tránh trở thành một con tốt trong các trò chơi quyền lực của Trung Quốc hoặc Mỹ.

Việc thiếu minh bạch làm xói mòn sự ủng hộ dành cho Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Các phát hiện trong cuộc khảo sát cho thấy việc Mỹ phản ứng lại bằng cách ngăn chặn những lợi ích chiến lược của Trung Quốc trong khu vực thông qua chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương khó có thể đạt được tiến triển. Đa số những người tham gia khảo sát (61,3%) cho rằng khái niệm này là “không rõ ràng và đòi hỏi sự cụ thể hóa hơn nữa”. Nói cách khác, khu vực này kêu gọi sự minh bạch và cụ thể từ các yếu tố trong khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những hoài nghi kéo dài về “chương trình nghị sự không rõ ràng” của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng được thể hiện rõ khi 1/4 số người tham gia khảo sát (25,4%) nghĩ rằng “khái niệm này nhằm mục đích kiềm chế Trung Quốc” trong khi 17,3% cho rằng khái niệm này hoạt động để “làm xói mòn tính thích đáng và vị thế của ASEAN trong trật tự khu vực”.

Một lưu ý mang tính phương pháp luận là để xem xét những con số này theo triển vọng của nó. Câu hỏi cụ thể này để cho những người tham gia khảo sát tự do lựa chọn nhiều câu trả lời. Một cách khác để giải thích những phát hiện này là 74,6% số người tham gia khảo sát không nghĩ rằng khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm mục đích kiềm chế Trung Quốc. Tuy nhiên, sự ủng hộ dành cho Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vẫn thấp khi chỉ 17,2% cho rằng khái niệm này “đưa ra một lựa chọn khả thi cho một trật tự khu vực mới”, với sự ủng hộ mạnh mẽ nhất đến từ Lào (31%), Philippines (26,4%), Indonesia (24,8%) và Campuchia (20,8%).

III/ Đông Nam Á tin tưởng ai?

Cuộc khảo sát đã yêu cầu những người tham gia khảo sát chia sẻ họ tin tưởng như thế nào vào việc các nước lớn – Trung Quốc, Liên minh châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ – sẽ “làm điều đúng đắn” để góp phần vào hòa bình, an ninh, thịnh vượng và quản trị toàn cầu.

Trung Quốc

Phần lớn số người tham gia khảo sát (51,5%) hoặc ít (35,5%) hoặc không tin tưởng (16%) rằng Trung Quốc sẽ “làm điều đúng đắn” để góp phần vào hòa bình, an ninh, thịnh vượng và quản trị toàn cầu. Chưa đến 1/5 số người tham gia khảo sát (19,6%) có quan điểm tích cực về Trung Quốc về khía cạnh này, với lần lượt 17,9% và 1,7% số người tham gia khảo sát cho thấy họ “tin tưởng” và “rất tin tưởng”. Ba nước hàng đầu có quan điểm tiêu cực về Trung Quốc là Việt Nam (73,4%), Philippines (66,6%) và Indonesia (60,9%). Đáng chú ý là mức độ tin tưởng và Trung Quốc trong số những người tham gia khảo sát từ Campuchia – phần lớn được xem là một quốc gia “có xu hướng nghiêng về Trung Quốc” – là thấp. Hơn một nửa số người Campuchia tham gia khảo sát (58,3%) ít hoặc không tin tưởng và Trung Quốc, hơn gấp đôi số người có quan điểm tích cực (20,9%). Đi ngược lại xu hướng của quan điểm tiêu cực này là Lào, nơi có 41,3% số người tham gia khảo sát tin tưởng hoặc rất tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ “làm điều đúng đắn”. Lào là nước duy nhất ghi nhận hơn 30% người tham gia khảo sát có quan điểm tích cực về Trung Quốc, tiếp theo là Brunei (26,6%) và Malaysia (25%).

Liên minh châu Âu

Người Đông Nam Á có quan điểm tích cực về EU, với 41,3% cảm thấy “tin tưởng” (36,1%) và “rất tin tưởng” (5,2%) rằng EU sẽ “làm điều đúng đắn”. So với 35,2% có quan điểm trái ngược, với 28,7% “ít tin tưởng”; và 6,5% “không tin tưởng”. EU được tin tưởng nhất ở Philippines (60%), Campuchia (58,4%) và Malaysia (48%). Chính sách ngoại giao của EU cần phải làm việc chăm chỉ hơn ở Myanmar và Brunei, nơi có mức độ “ít tin tưởng” và “không tin tưởng” cao nhất lần lượt là 46,8% và 44,4%.

Ấn Độ

Ấn Độ không nhận được kết quả quá tốt trong cuộc khảo sát với số người có quan điểm tiêu cực gấp đôi số người có quan điểm tích cực, 45,6% số người tham gia khảo sát cho thấy hoặc “ít tin tưởng” (34%) hoặc “không tin tưởng” (11,6%) vào Ấn Độ so với 21,7%, cho thấy “tin tưởng” (19,6%) hoặc “rất tin tưởng” (2,1%). Gần 1/3 số người tham gia khảo sát (32,7%) lựa chọn phản hồi “không bình luận”. Quan điểm tiêu cực là phổ biến nhất ở Indonesia (54,8%), Malaysia (52,4%), Campuchia (50%), Singapore (50%) và Thái Lan (50%). Những nước có số người phản ứng tích cực lớn nhất là Myanmar (29,3%), Việt Nam (25,8%) và Philippines (23,2%).

Nhật Bản

Nhật Bản được các nước Đông Nam Á ưu ái nhất. Gần 2/3 số người tham gia khảo sát (65,9%) cho thấy “tin tưởng” (53,5%) hoặc “rất tin tưởng” (12,4%) rằng Nhật Bản sẽ “làm điều đúng đắn” trong các vấn đề toàn cầu. Tỷ lệ 65,9% là cao nhất trong số tất cả các cường quốc chủ yếu, mang lại cho Nhật Bản lớp vỏ bọc cường quốc chủ yếu đáng tin cậy nhất trong khu vực một cách hiệu quả. Mức độ tin tưởng vào Nhật Bản cao nhất ở Campuchia (87,5%) và Myanmar (71,9%). Mức độ không tin tưởng vào Nhật Bản (17%) là thấp nhất trong số các nước lớn. Sự hoài nghi về vai trò của đất nước mặt trời mọc trong các vấn đề toàn cầu là cao nhất ở Singapore (25,2%), Lào (24,1%) và Indonesia (22,8%). Nhật Bản là cường quốc duy nhất trong cuộc khảo sát nhận được “những quan điểm tích cực” trong đa số các phản hồi ở tất cả các quốc gia thành viên ASEAN.

Mỹ

Quan điểm của người Đông Nam Á về Mỹ là ảm đạm. 50,6% số người tham gia khảo sát “ít tin tưởng” (36%) hoặc “không tin tưởng” (14,6%) vào Mỹ “làm điều đúng đắn” trong các vấn đề toàn cầu. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận Biến đổi khí hậu Paris, chống lại thương mại tự do và coi thường chủ nghĩa đa phương có thể dẫn đến những quan điểm bi quan này về Mỹ. Quan điểm tiêu cực là phổ biến ở tất cả các quốc gia thành viên ASEAN, ngoại trừ Philippines và Việt Nam, nơi lần lượt có 45,4% và 45,2% số người tham gia khảo sát vẫn tin tưởng vào Mỹ. Những nước có quan điểm bi quan hơn là Brunei (64,4%), Malaysia (63,9%), Indonesia (60,9%) và Thái Lan (60,5%).

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Đông Nam Á năm 2019 – Phần III


Quan điểm bi quan tăng gấp đôi khi những người tham gia khảo sát đưa ra đánh giá về sự can dự của Chính quyền Trump đối với Đông Nam Á. Chỉ 13,3% cho rằng sự can dự của Mỹ với khu vực đã tăng (11,4%) hoặc tăng đáng kể (1,9%) trong khi khoảng 68% cho rằng sự can dự đó đã giảm (51,2%) hoặc giảm đáng kể (16,8%). Đánh giá tiêu cực này mạnh mẽ nhất ở Campuchia (87,5%), tiếp theo là Malaysia (80,7%), Singapore (77,3%), Indonesia (73,9%), Thái Lan (72,8%) và Philippines (71,2%). Việt Nam một lần nữa là nước duy nhất có quan điểm tích cực (41%) cao hơn so với tiêu cực (36,9%).

Những phát hiện về độ tin cậy của Mỹ với tư cách là đối tác chiến lược và nhà cung cấp an ninh khu vực hỗ trợ cho xu hướng chung của khu vực cho rằng Mỹ đang suy yếu. Gần 1/3 số người tham gia khảo sát tin tưởng (26,9%) hoặc hoàn toàn tin tưởng (5%) vào Mỹ, với sự ủng hộ mạnh mẽ nhất đến từ Việt Nam (54,9%) và Campuchia (45,8%). 34,6% số người tham gia khảo sát ít hoặc không tin tưởng vào độ tin cậy của Mỹ. Quan điểm này được thể hiện rõ nhất ở Malaysia (47,9%), Brunei (45,4%) và Thái Lan (43,5%).

Đáng chú ý không kém là mức độ không chắc chắn cao về cam kết của Mỹ với khu vực. Khoảng 1/3 số người tham gia khảo sát (33,5%) không chắc chắn về độ tin cậy của Mỹ, một quan điểm được chia sẻ rộng rãi nhất ở Indonesia (42,6%), Lào (41,4%) và Myanmar (41,2%).

Kết hợp lại với nhau, 68,1% số người tham gia khảo sát không chắc chắn hoặc có ít niềm tin vào độ tin cậy của Mỹ với tư cách là đối tác chiến lược và nhà cung cấp an ninh khu vực. Tuy nhiên, tác giả sẽ thận trong khi đánh đồng mức độ không chắc chắn cao hoặc ít tin tưởng này với kết luận rằng Mỹ không được mong muốn hoặc không được chào đón ở khu vực này. Câu hỏi thứ hai không được đề cập trong khảo sát này.

Cảm nhận hơi thở của rồng: Trung Quốc tương tác với Đông Nam Á

Những người tham gia khảo sát được yêu cầu chia sẻ quan điểm của họ về việc Trung Quốc tái nổi lên như một nước lớn đối với Đông Nam Á. Hầu hết những người tham gia khảo sát (45,4%) nghĩ rằng Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc xét lại với ý định đưa Đông Nam Á vào phạm vi ảnh hưởng của mình. Đây là phản ứng hàng đầu ở 6 nước thành viên ASEAN: Philippines (66,4%), Việt Nam (60,7%), Singapore (57%), Campuchia (50%), Thái Lan (45,1%) và Indonesia (37,7%).

Quan điểm phổ biến thứ hai trong khu vực (35,3%) là “Trung Quốc sẽ mang lại sự lãnh đạo thay thế ở khu vực sau khi Mỹ được nhìn nhận là không còn can dự”. Đây là phản ứng hàng đầu của Brunei (61,4%), Malaysia (44,8%) và Myanmar (32,1%). Xung quanh 3 quan điểm hàng đầu là một phản ứng trung lập rằng “còn quá sớm để xác định những ý định chiến lược của Trung Quốc” (25,7%).

Chưa đến 1/10 số người tham gia khảo sát (8,9%) coi Trung Quốc là một cường quốc “ôn hòa và rộng lượng”. Các kết quả cấp quốc gia tô vẽ nên một bức tranh bi quan tương tự về Trung Quốc với chỉ 4 nước có tỷ lệ người trả lời ở mức 2 con số khiêm tốn là Lào (13,8%), Myanmar (13,1%), Campuchia (12,5%) và Indonesia (12,3%). Kết quả này, cùng với quan điểm của đa số rằng Trung Quốc sẽ là một cường quốc xét lại, là một lời cảnh tỉnh để Trung Quốc đánh bóng hình ảnh tiêu cực của mình khắp Đông Nam Á mặc dù Bắc Kinh đã nhiều lần đảm bảo về sự trỗi dậy ôn hòa và hòa bình của mình.

Sáng kiến Vành đai và Con đường

Những quan điểm về dự án hàng đầu của Trung Quốc – Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) do Chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra năm 2013 – là lẫn lộn. Gần một nửa số người tham gia khảo sát (47%) cho rằng BRI “sẽ đưa các nước thành viên ASEAN đến gần hơn với quỹ đạo của Trung Quốc”, một phát hiện có ý nghĩa sâu sắc đối với Đông Nam Á vì khu vực này lo ngại rằng Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc xét lại. Nỗi lo sợ bị kéo vào quỹ đạo của Trung Quốc cũng được chia sẻ rộng rãi khắp 7 nước thành viên ASEAN: Singapore (60,2%), Việt Nam (58,7%), Brunei (52,3%), Malaysia (51,8%), Thái Lan (51,3%), Indoneisa (44,4%) và Philippines (38,7%).

Mặt khác, việc Trung Quốc đã chi rất nhiều tiền cho vay để cung cấp “phần lớn nguồn tài trợ cho cở sở hạ tầng rất cần thiết đối với các nước trong khu vực” cũng được thừa nhận một cách thích đáng. Động thái này thể hiện phản ứng phổ biến thứ hai (35%). Tuy nhiên, sự thiếu minh bạch, đôi khi gắn với các dự án BRI, đã tạo thành ấn tượng phổ biến thứ ba về BRI. Khoảng 1/3 số người tham gia khảo sát (30,7%) cho rằng “còn quá sớm để phân tích tác động của BRI do thiếu thông tin đầy đủ”. Nhìn chung, 15,7% số người tham gia khảo sát nghĩ rằng BRI “sẽ không thành công vì hầu hết các dự án của nó hầu như không mang lại lợi ích gì cho các cộng đồng địa phương”. Quan điểm này thể hiện rõ nhất ở Việt Nam (20,7%), Indonesia (19,1%), Malaysia (18,9%) và Philippines (18,9%).

Lào có quan điểm tích cực nhất về BRI, với 75,9% cho rằng BRI sẽ “mang lại lợi ích cho sự phát triển kinh tế khu vực và thúc đẩy quan hệ ASEAN – Trung Quốc”. Ở nước láng giềng Campuchia, phần lớn người tham gia khảo sát (70,8%) cũng lạc quan rằng BRI “cung cấp phần lớn tài trợ cho cơ sở hạ tầng cần thiết đối với các quốc gia trong khu vực”.

Những người tham gia khảo sát từ những nước có dự án BRI hoặc đang đàm phán các dự án BRI (tức là tất cả các quốc gia thành viên ASEAN trừ Singapore) sau đó được yêu cầu bình luận về các bài học cho quốc gia tương ứng của họ được rút ra từ các dự án BRI trước đây, đặc biệt là cảng Hambantota ở Sri Lanka và Dự án đường sắt kết nối bờ biển phía Đông (ECRL) ở Malaysia. Đa số những người tham gia khảo sát (70%) cho rằng chính phủ của họ “nên thận trọng trong hi đàm phán các dự án BRI, để tránh mắc nợ không thể chi trả với Trung Quốc”. Sự thận trọng này đáng chú ý ở cả 9 quốc gia thành viên ASEAN và đặc biệt mạnh mẽ ở Malaysia (84,2%), Philippines (78,6%), Thái Lan (72,7%), Indonesia (72,6%) và Campuchia (70,8%). Nước ít quan tâm nhất về vấn đề nợ là Lào, nơi chỉ có 46,2% đồng ý rằng chính phủ của họ nên thận trọng trong việc đàm phán các dự án BRI với Trung Quốc.

Mặc dù nhận thức nhìn chung thận trọng đối với các dự án BRI, chỉ một tỷ lệ nhỏ (6,6%) muốn đất nước của họ “tránh tham gia các dự án BRI”. Ở thái cực khác, 8,4% cho rằng “BRI mang lại những lợi ích lớn hơn so với những hậu quả tiềm tàng về kinh tế và chính trị”.

Đánh giá ảnh hưởng kinh tế về chính trị – chiến lược

Tuy nhiên, ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc vẫn thống trị trong khu vực, một quan điểm của 73,3% số người tham gia khảo sát. Mỹ đứng sau với một khoảng cách đáng kể (7,9%), tiếp theo là Nhật Bản (6,2%). Việc lan rộng và củng cố ảnh hưởng kinh tế trong khu vực không hoàn toàn đáng ngạc nhiên vì Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN kể từ năm 2009 và thương mại song phương đã vượt mốc 500 tỷ USD vào năm 2017.

Một trong nhiều phát hiện bất ngờ của khảo sát này, các nước Đông Nam Á xếp hạng ASEAN (10,7%) co hơn Mỹ và Nhật Bản về ảnh hưởng kinh tế đối với khu vực này. ASEAN nhận được số phiếu tín nhiệm cao thứ hai ở Thái Lan (16,8%), Philippines (14,4%), Lào (13,8%), Indonesia (10,4%), Malaysia (10,4%), Singapore (9,5%) và Campuchia (8,3%).

Tuy nhiên, sự hiểu biết thông thường rằng Trung Quốc thống trị lĩnh vực kinh tế trong khi Mỹ có ảnh hưởng trong lĩnh vực chính trị – chiến lược sẽ cần phải được xem xét lại trong bối cảnh các kết quả khảo sát. 45,2% số người tham gia khảo sát coi Trung Quốc là nước có ảnh hưởng nhất trong các vấn đề chính trị và chiến lược. Quan điểm này được thể hiện rõ nhất ở Brunei (53,4%), Việt Nam (52,1%) và Campuchia (50%). Để so sánh, 30,5% cho rằng Mỹ vẫn có nhiều ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực này. ASEAN – tiếp tục gây bất ngờ trong suốt cuộc khảo sát – nhận được 20,8% số phiếu.

Việc Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng từ lĩnh vực kinh tế sang lĩnh vực chính trị – chiến lược đang chuẩn bị nền tảng cho Bắc Kinh đảm nhận vị trí lãnh đạo khu vực. Khoảng 3/4 nước Đông Nam Á (74,1%) dự đoán Trung Quốc sẽ “cạnh tranh quyền lãnh đạo chính trị để đáp lại việc Mỹ ngày càng thờ ơ với Đông Nam Á và ASEAN”. Quan điểm này được chia sẻ rộng rãi nhất ở Singapore (90,5%), Malaysia (78,5%), Brunei (77,8%), Philippines (77,1%) và Thái Lan (76,8%).

Khu vực này không thấy có bất kỳ nhà lãnh đạo khả thi nào ngoài Trung Quốc để thay thế Mỹ trong số các đối thủ tiềm năng khác – Liên minh châu Âu (EU), Ấn Độ, Nhật Bản hoặc Nga. Cường quốc gần nhất có thể cạnh tranh giành vai trò lãnh đạo khu vực là Nhật Bản, nhưng triển vọng dường như mờ nhạt với chỉ 9,5% số người tham gia khảo sát ủng hộ triển vọng này. Nhật Bản là lựa chọn thay thế thứ hai ở Myanmar (15,9%), Philippines (13,8%), Campuchia (8,7%) và Singapore (3,9%). EU là lựa chọn thay thế thứ hai ở Lào (13,8%) và Campuchia (8,7%). Vai trò lãnh đạo của Ấn Độ được một số người công nhận ở Brunei (4,5%), Lào (3,4%) và Thái Lan (2,7%) và Nga gần như tương tự ở Myanmar (4,7%), Lào (3,4%) và Thái Lan (2,7%).

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Tác động của việc Mỹ rút khỏi INF tới khu vực Thái Bình Dương


Clive Williams

Khả năng sẽ có một cuộc chạy đua vũ trang mới ở khu vực Thái Bình Dương sau khi Mỹ tuyên bố chính thức bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) được ký kết giữa Mỹ và Liên Xô vào năm 1987.

Washington bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) năm 1987 vào đầu tháng 2/2019. Tổng thống Trump đã nói vào cuối năm 2018 rằng Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp ước vì “họ (người Nga) đã vi phạm Hiệp ước trong nhiều năm”. Mối lo ngại đối với Australia là sự sụp đổ của hiệp ước có thể dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang mới ở Thái Bình Dương.

Hiệp ước cấm Mỹ và Nga có tên lửa trên đất liền với tầm bắn từ 500 km – 5000 km và các bệ phóng của chúng. Để tuân thủ hiệp ước, cả hai nước đã phá hủy khoảng 2600 tên lửa phóng từ mặt đất cùng các bệ phóng.

Do Trung Quốc không tham gia hiệp ước, nước này đã dần dần xây dựng một kkho vũ khí phóng từ mặt đất đáng gờm gồm 2000 tên lửa đạn đạo và hành trình tầm trung trong nỗ lực hiện đại hóa quân sự.

Ngày 4/1/2018, Washington đã cho Nga thời hạn 60 ngày – kết thúc vào ngày 2/2/2019 – để tháo dỡ các tên lửa mà họ tuyên bố vi phạm thỏa thuận hoặc Mỹ sẽ bắt đầu quá trình 6 tháng chính thức rút khỏi hiệp ước. Vào ngày 2/2, do không có sự phản hồi từ phía Nga, Mỹ đã ra thông báo chính thức về việc rút khỏi thỏa thuận.

Cả Mỹ và Nga đều cáo buộc bên kia vi phạm hiệp ước.

Năm 2008, Mỹ cáo buộc Nga vi phạm hiệp ước khi tiến hành thử tên lửa hành trình phóng từ mặt đất SSC-8 (9M729). Cáo buộc đã được đưa ra một lần nũa vào năm 2014 và 2017. Theo các quan chức Mỹ, việc triển khai hai tiểu đoàn tên lửa của Nga được trang bị SSC-8 là vi phạm hiệp ước. Mỗi tiểu đoàn gồm 4 bệ phóng, mỗi bệ phóng có 6 tên lửa hành trình với đầu đạn hạt nhân. Mỹ tuyên bố tầm bắn tối đa của SSC-8 là 2500 km. Ngày 23/1, chỉ huy pháo binh Nga Mikhail Matveevsky nói với một cuộc họp báo rằng tầm bắn tối đa của 9M729 chỉ là 480 km.

Về phần mình, Nga cáo buộc Mỹ vi phạm hiệp ước kể từ năm 2016 khi đặt các bệ phóng cho các hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore ở Rumani và ở Ba Lan từ năm 2020. Nga tuyên bố những bệ phóng này có thể được sử dụng cho tên lửa hành trình Tomahawk và coi đây là vi phạm Hiệp ước INF. Nga còn tuyên bố rằng Mỹ triển khai các máy bay không người lái có vũ trang tầm xa MQ-9 Reaper là vi phạm Hiệp ước INF.

Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng nếu Washington có hành động đặt nhiều tên lửa ở châu Âu sau khi hủy bỏ thỏa thuận, Nga sẽ có biện pháp đáp trả tương ứng và cảnh báo rằng bất kỳ quốc gia châu Âu nào đồng ý cho đặt tên lửa của Mỹ đều có nguy cơ bị Nga tấn công.

NATO và EU rất lo lắng về việc chấm dứt hiệp ước nhưng Tổng thống Trump dường như bận tâm nhiều hơn với khả năng Trung Quốc đe dọa bá quyền của Mỹ ở Thái Bình Dương so với khả năng đe dọa tên lửa tầm trung vũ trang hạt nhân của Nga đối với châu Âu.

Nga ít lo ngại về khả năng quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc và không muốn là bên đầu tiên rút khỏi một thỏa thuận vũ khí nền tảng. Tuy nhiên, sẽ rẻ hơn nhiều cho Nga khi chế tạo tên lửa tầm trung mới để đối phó với Trung Quốc so với chế tạo máy bay ném bom tầm xa, điều mà hiện tại nước này sẽ phải thực hiện theo Hiệp ước INF.

Mặc dù có nhiều lo ngại ở phương Tây về sự trỗi dậy của Nga, nhưng nên nhớ rằng GDP của Nga không lớn hơn nhiều so với Australia và chỉ tương đương với bang Texas (Mỹ). Nga không có khả năng chạy đua vũ trang với Mỹ hoặc để chống lại khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc.

Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ước tính Mỹ chi 3,1% GDP cho quốc phòng năm 2017, trong khi Trung Quốc là 1,9% và Nga là 4,3% GDP danh nghĩa hàng năm của Mỹ, Trung Quốc và Nga vào ănm 2018 lần lượt là 20.412, 14.092 và 1.720 tỷ USD. Từ những số liệu này, chúng ta có thể giả định rằng Hoa Kỳ đang chi khoảng 610 tỷ USD mỗi năm cho quốc phòng, Trung Quốc 228 tỷ USD và Nga 66 tỷ USD.

Do đó, việc rút khỏi Hiệp ước INF sẽ cho phép Mỹ thoải mái chi tiêu nhiều hơn Bắc Kinh và nhanh chóng xây dựng một kho vũ khí mới đáng gờm trong khu vực để thách thức Trung Quốc. Việc làm này của Mỹ chắc chắn sẽ có ý nghĩa đối với các đồng minh của Mỹ ở châu Á khi Wasington có thể sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của các đồng minh để triển khai các loại vũ khí tầm trung trên đất liền và các vũ khí thông thường tiên tiến để kiềm chế Trung Quốc.

Trong khi đó, Trung Quốc sẽ tránh tham gia các hiệp ước giới hạn vũ khí và tiếp tục mở rộng kho dự trữ tên lửa đạn đạo tầm xa.

Vào tháng 2/2018, Mỹ và Nga đồng ý theo Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới (START mới) về giới hạn 1550 đầu đạn hạt nhân triển khai chiến lược. (Mỹ hiện có 6550 đầu đạn hạt nhân trong khi Nga có 6850; Trung Quốc chỉ có 280).

START mới đã có hiệu lực vào ngày 5/2/2011 và dự kiến sẽ được gia hạn vào tháng 2/2021, nhưng nếu Tổng thống Trump giành được một nhiệm kỳ mới và với cố vấn an ninh quốc gia có lập trường cứng rắn John Bolton, thì thỏa thuận này cũng có thể bị hủy bỏ để bắt đầu một cuộc đua vũ khí hạt nhân tầm xa mới.

Australia sẽ ngày càng khó khăn trong việc cân bằng mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc – và sẽ vẫn duy trì mối quan hệ tốt với cả hai bên trong 5 năm tới. Do đó, sẽ là vấn đề lớn nếu như Mỹ muốn yêu cầu Australia cho phép đặt một số tên lửa ở đây.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

TKNB – 12/02/2019

Đông Nam Á năm 2019 – Phần II


Liên minh kinh tế Đông Á (EAEC) sẽ hồi sinh?

Các cuộc thảo luận về cấu trúc khu vực đã trở nên hấp dẫn hơn với việc Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad trở lại cầm quyền, người rất muốn phục hồi đề xuất của mình về một EAEC cho sự hội nhập chặt chẽ hơn giữa ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc). Gần 1/2 số người tham gia khảo sát (49,2%) cho rằng “đề xuất này không còn phù hợp vì EAEC đã được thay thể bởi Hội nghị thượng đỉnh Đông Á và RCEP trong tương lai”. Những nước có quan điểm dè dặt nhất đối với EAEC là Singapore (65,6%), Indonesia (56,7%), Philippines (55,1%), Thái Lan (57,2%) và Việt Nam (52,1%).

Đồng thời, đứa con tinh thần của Mahathir đã tìm thấy lực kéo ở 5 nước thành viên khác. Những người tham gia khảo sát từ Brunei (55,6%), Malaysia (50,7%), Campuchia (50%), Lào (50%) và Myanmar (47,2%) cho rằng EAEC sẽ “tăng cường hơn nữa mối quan hệ của ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc”. Toàn diện hơn những người tham gia khảo sát dường như không quan tâm đến tư cách thành viên hẹp của EAEC, mà loại trừ Australia, Ấn Độ và New Zealand. Chỉ 1/5 số người tham gia khảo sát (20,6%) quan tâm đến việc 3 nước này không gia nhập EAEC. Có thể thấy rõ mối quan tâm này ở Singapore (29,7%) và Việt Nam (27,7%).

Bất ổn chính trị trong nước, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, và biến đổi khí hậu là những thách thức hàng đầu về an ninh của Đông Nam Á

Cuộc khảo sát này đưa ra 6 lựa chọn – suy thoái kinh tế, khủng bố, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, những căng thẳng quân sự gia tăng từ những điểm bùng phát tiềm tàng trong khu vực, bất ổn chính trị trong nước và sự biến đổi khí hậu – để những người tham gia khảo sát xác định 3 mối quan ngại về an ninh hàng đầu của họ. Hơn 50% người được khảo sát đưa ra 4 lựa chọn là sự bất ổn chính trị trong nước (53,7%), những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo (52,9%), sự biến đổi khí hậu (51,6%) và suy thoái kinh tế (51,1%). Khủng bố xếp ở thứ tự thấp nhất với chỉ 37,2% số người tham gia khảo sát lựa chọn.

Điều thú vị là các mối đe dọa từ “các sự kiện thời tiết dữ dội và diễn ra thường xuyên hơn do biến đổi khí hậu” đứng thứ ba, xếp trên vấn đề suy thoái kinh tế, khủng bố và những căng thẳng quân sự khu vực. Biến đổi khí hậu là mối quan ngại an ninh hàng đầu ở Lào (62,1%, cùng với suy thoái kinh tế), Philippines (62,2%, cùng với những căng thẳng quân sự trong khu vực) và Singapore (61,2%).

Mối quan ngại an ninh hàng đầu đối với các nước thành viên ASEAN lần lượt là: Brunei (suy thoái kinh tế, 80%), Campuchia (bất ổn chính trị trong nước, 75%), Indonesia (nhữung căng thẳng dân tộc và tôn giáo, 67,8%), Lào (suy thoái kinh tế và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,1%), Malaysia (suy thoái kinh tế, 63,7%), Myanmar (căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, 67,1%), Philippines (những căng thẳng quân sự trong khu vực và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,2%), Singapore (biến đổi khí hậu, 61,2%), Thái Lan (bất ổn chính trị trong nước, 78,3%), Việt Nam (những căng thẳng quân sự khu vực, 78,2%).

Người Đông Nam Á lo ngại điều gì về ASEAN

Mối lo ngại chính về ASEAN là nhận thức rằng ASEAN đã không “thực hiện đúng lời hứa” với 650 triệu dân của nó. Gần 3/4 số người tham gia khảo sát (72,6%) bày tỏ họ thất vọng vì “không nhận thấy những lợi ích rõ ràng của ASEAN”. Những người tham gia khảo sát từ 7 nước thành viên ASEAN (ngoại trừ Campuchia, Lào và Việt Nam) lựa chọn đây là mối quan ngại hàng đầu của họ. Định hình 3 mối quan ngại hàng đầu là nỗi lo sợ rằng ASEAN đang trở thành đấu trường cạnh tranh nước lớn (62%) và ASEAN “không có khả năng đối phó với những diễn biến chính trị và kinh tế hay thay đổi” (61,9%). Cảm nhận của Đông Nam Á về “sự mất kết nối” không cao (35,3%). 44% số người tham gia khảo sát chia sẻ họ quan ngại về việc ASEAN ngày càng trở nên mất  đoàn kết. Đây là mối quan ngại hàng đầu của những người tham gia khảo sát ở Việt Nam (69,4%).

Về những diễn biến ở Bán đảo Triều Tiên và vấn đề Rohingya

Cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Kim ở Singapore vào ngày 12/6/2018 là một trọng tâm chính trị của năm 2018, một minh chứng cho vị thế ngoại giao của Singapore, cũng như cho thấy ASEAN là một môi trường thân thiện và không có kẻ thù. Thực tế là chỉ 26,8% số người tham gia khảo sát cho rằng “việc ASEAN làm gì không quan trọng vì có vai trò rất nhỏ” cho thấy đa số người tham gia khảo sát mong muốn tổ chức khu vực này tiếp tục can dự vào vấn đề này.

Rất ít người tham gia khảo sát trả lời câu hỏi nhiều lựa chọn này xem xét “cách tiếp cận củ cà rốt và cây gậy” của ASEAN với chỉ 28,5% đồng ý rằng ASEAN nên “đưa ra những sự khích lệ về kinh tế cho Triều Tiên để nước này duy trì cam kết phi hạt nhân hóa” và 24,9% ủng hộ “duy trì các biện pháp trừng phạt cho đến khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc dỡ bỏ chúng”. Phần lớn (60,8%) ủng hộ cách tiếp cận ngoại giao “tiếp tục can dự với Triều Tiên một cách song phương và thông qua Diễn đàn khu vực ASEAN”. Sự can dự ngoại giao là phản ứng hàng đầu ở tất cả các nước thành viên ASEAN ngoại trừ Campuchia, nơi 75% số người tham gia khảo sát muốn ASEAN “có vai trò tích cực với tư cách là một nhà trung gian hòa giải trung thực”.

Gần hơn, vấn đề Rohingya tiếp tục ảnh hưởng khắp khu vực và xa hơn nữa. ASEAN đã bị chỉ trích vì giấu mình đằng sau bức màn “không can thiệp” khi một cuộc khủng hoảng nhân đạo tiếp tục gây thiệt hại cho hơn 500.000 người Rohingya phải di cư. Kết quả khảo sát cho thấy ASEAN cần có cách tiếp cận chủ động hơn khi lựa chọn “không làm gì vì đây là vấn đề trong nước của Myanmar” có số lượng phản hồi thấp nhất (14,6%). Ngya cả trong số những người tham gia khảo sát ở Myanmar, thì “việc không làm gì” không phải là cách tiếp cận ưa thích.

Nhìn chung, 66,5% số người tham gia khảo sát lựa chọn “làm trung gian hòa giải giữa Chính phủ Myanmar, cộng đồng quốc tế và cộng đồng người Rakhine và Rohingya” là cách tốt nhất để đạt được tiến triển. Quan điểm này được chia sẻ bởi 59,2% số người tham gia khảo sát ở Myanmar và 79,1% 73 Indonesia. Câu trả lời ưa thích thứ hai (50,9%) là “tăng cường viện trợ nhân đạo cho người Rohingya ở các trại bên ngoài Myanmar”, sau đó là “gia tăng áp lực ngoại giao đối với Myanmar” (38%).

Phản ánh thực trạng trên thực địa, ASEAN bị chia rẽ giữa lựa chọn giúp đỡ nhân đạo “an toàn hơn” và một hành động hòa giải tương đối mang tính thâm nhập hơn. Hầu hết những người tham gia khảo sát từ Brunei (77,8%), Philippines (71,2%) và Singapore (66,1%) chọn hỗ trợ nhân đạo làm phản ứng chính của họ, trong khi hòa giải là lựa chọn hàng đầu cho người tham gia khảo sát từ Indonesia (79,1%), Lào (51,7%), Malaysia (72,4%), Thái Lan (66,1%), Việt Nam (67,2%) và Myanmar (59,2%). 62,5% số người tham gia khảo sát ở Campuchia lựa chọn cả viện trợ nhân đạo lẫn làm trung gian hòa giải là câu trả lời hàng đầu của họ.

II/ Các nước lớn và sự can dự của họ ở khu vực

Phân tích quan điểm về Mỹ của các nước Đông Nam Á

Cuộc khảo sát đã yêu cầu những người tham gia khảo sát chia sẻ nhận thức của họ về (a) Mỹ như một cường quốc và ảnh hưởng toàn cầu ngày  nay so với một năm trước; (b) sự can dự của Chính quyền Trump với khu vực; và (c) độ tin cậy của Mỹ với tư cách là một đối tác chiến lược và nhà cung cấp an ninh khu vực. Đối với cả ba câu hỏi này, quan điểm chung về Mỹ là cực kỳ tiêu cực.

Gần 6/10 người tham gia khảo sát (59,1%) cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trên vũ đài toàn cầu đã suy giảm (45,6%) hoặc suy giảm đáng kể (13,5%). Ngược lại, chỉ có 19,7% cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ đã tăng lên (15,4%) hoặc tăng lên đáng kể (4,3%). 21,2%  rằng địa vị của Mỹ là không thay đổi. Để đưa ra cái nhìn về bức tranh lớn hơn này, số người tham gia khảo sát giữ quan điểm rằng Mỹ đang suy yếu nhiều gấp 3 lần số người nghĩ rằng sức mạnh của Mỹ tăng lên hoặc tăng lên đáng kể. Các nước có mức độ quan ngại cao nhất về sự suy giảm của Mỹ là Philippines (75,7%), Singapore (72,7%), Brunei (68,2%) và Malaysia (67,6%). Đi ngược lại xu hướng bi quan này là Việt Nam, nước duy nhất có quan điểm tích cực (47,1%) vượt xa quan điểm hoài nghi (31,7%).

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019