Liệu Trung Quốc có sáp nhập Đài Loan vào năm 2030?


Theo đài BBC, tình báo Mỹ cho biết, Trung Quốc đang xây dựng năng lực quân đội có thể thôn tính Đài Loan vào năm 2030, nhưng liệu điều này có khả thi?

Đầu tháng 5/2022, Avril Haines, Giám đốc tình báo quốc gia Mỹ, cho biết mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra đối với Đài Loan đến năm 2030 là “cực kỳ nghiêm trọng”. Trung Quốc hiện không đủ năng lực để xâm lược Đài Loan, nhưng Bắc Kinh đang xây dựng một quân đội có thể thôn tính Đài Loan vào năm 2030.

Đó là một suy đoán dựa trên các nghiên cứu về việc mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của Trung Quốc.

Ông Sean King, chuyên gia của công ty tư vấn Park Strategies ở New York (Mỹ), cho rằng khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan trong tương lai gần là rất thấp. Liên minh 3 bên Mỹ, Australia và Nhật Bản đã họp bàn về việc làm sao cùng nhau giải quyết mối đe dọa tiềm tàng với Đài Loan. Tập Cận Bình sẽ suy tính kỹ lưỡng trước khi đẩy chế độ của mình vào nguy hiểm.

Đài Loan khác với Ukraine

Cuộc tấn công của Nga ở Ukraine cũng làm dấy lên lo ngại về khả năng Trung Quốc sẽ thôn tính Đài Loan trong tương lai gần.

Trong chuyến thăm Đông Bắc Á vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden cảnh báo rằng Trung Quốc đang “vờn với mối nguy” xung quanh vấn đề Đài Loan, đồng thời tuyên bố sẽ can thiệp quân sự để bảo vệ hòn đảo này nếu bị tấn công.

Liệu Mỹ có bảo vệ Đài Loan về mặt quân sự nếu như Trung Quốc xâm lược? Ông Biden khẳng định, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan là “không thay đổi” và thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”.

Ông Sean King nhận định việc Mỹ hiện diện mạnh mẽ ở khu vực sẽ khiến cho Bắc Kinh phải kiêng dè nếu muốn thử bất kỳ điều gì.

Mỹ có 50.000 quân đóng ở Nhật Bản, 28.500 quân ở Hàn Quốc và vài trăm thủy quân lục chiến ở Đài Loan với mục đích tập luyện. Nhiều người cho rằng, Đài Loan và Ukraine có tình cảnh khá giống nhau vì cả hai đều là vùng lãnh thổ độc lập nằm bên cạnh quốc gia có sự tương đồng về mặt văn hóa, nhưng quyền lực hơn nhiều.

Tuy nhiên, ông Sean King lại dẫn chứng, không giống như Ukraine vốn nằm sát Nga với đường biên giới chung dài khoảng 2000 km, Trung Quốc và Đài Loan cách nhau eo biển với khoảng cách gần nhất giữa lãnh thổ Trung Quốc và hòn đảo là khoảng 130 km.

Mỹ không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, nhưng vẫn bán vũ khí cho hòn đảo này như một phần của Đạo luật Quan hệ với Đài Loan – tức Mỹ phải cung cấp cho Đài Bắc các phương tiện để tự vệ.

Ông Sean King nhấn mạnh Trung Quốc chưa bao giờ kiểm soát Đài Loan, chưa có lực lượng quân đội nào đặt chân đến hòn đảo.

Tầm quan trọng cảu Đài Loan

Đài Loan là hòn đảo nằm cách bờ biển phía đông nam của Trung Quốc khoảng 100 hải lý. Hòn đảo nằm trong chính sách gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” có ý nghĩa quan trọng với chính sách ngoại giao của Mỹ từ những năm 1950, bao gồm các vùng lãnh thổ thân thiện với Mỹ.

Trong khi đó, sự tiếp cận tự do ra vùng biển lớn hơn của Trung Quốc lại bị kiềm hãm bởi “chuỗi đảo thứ nhất” – bao gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ kéo dài từ Quần đảo Nhật Bản, Okinawa và Philippines, đến đảo Borneo, Sumatra.

Những nhóm đảo này được goi là “tuyến phòng thủ đầu tiên” vì chúng nằm ở vị trí án ngữ, có thể kiểm soát chuyển động của Hải quân Trung Quốc. Mỹ có sức ảnh hưởng đến những quốc gia nằm trong “chuỗi đảo đầu tiên” này.

Chuyên gia Sean King cho rằng, Đài Loan đóng vai trò quan trọng với một số quốc gia vì các nước đó đều có chương trình nghị sự của riêng mình, đặc biệt với Trung Quốc. Nếu Bắc Kinh chiếm được Đài Loan, sẽ phá vỡ cái gọi là “Chuỗi đảo đầu tiên” – để cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể tiếp cận tự do và phát triển sức mạnh ở các phần rộng lớn của Thái Bình Dương, thậm chí có thể đe dọa các căn cứ quân sự ở xa của Mỹ như Guam và Hawaii.

Đây sẽ là bước lật ngược thế cờ, với chiến lược “chống tiếp cận/chống xâm nhập”, Bắc Kinh có thể chặn đứng sự tiếp cận và đẩy lực lượng Mỹ lẫn Nhật Bản vào khu vực Biển Đông. Đây sẽ là điều tồi tệ với Việt Nam.

Bên cạnh đó, sáp nhập thành công Đài Loan là một trong những tham vọng chính trị của Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông nhấn mạnh việc hiện thực hóa sự thống nhất hoàn toàn Trung Quốc là sứ mệnh lịch sử và là cam kết không gì lay chuyển được của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Bài học từ Nga

Ông Sean King cho biết không nhìn thấy mối liên kết giữa Ukraine và Đài Loan vì đó là hai trường hợp rất hác biệt. Tập Cận Bình và Đảng Cộng sản Trung Quốc xem mình là một cường quốc đang trở lại, trong khi họ coi Nga là cường quốc chết dần chế mòn. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể rút ra cho mình bài họ từ Nga. Trung Quốc đang học hỏi từ sự bành trướng của Nga, nghiên cứu kỹ lưỡng sai lầm, kinh nghiệm của Nga cũng như cách phản ứng của thế giới tự do đối với cuộc chiến, để tìm cho mình lối thoát nếu rơi vào thế bí.

Theo suy đoán của ông Sean King, trong ngắn và trung hạn, Trung Quốc sẽ gây sức ép khiến Đài Loan bị cô lập trên trường quốc tế và làm cho người Đài Loan cảm thấy vô vọng như thể chỉ còn có cách duy nhất là hợp nhất với Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 02/06/2022

“Đối sách tiếp theo” của Mỹ trong cuộc so găng với Trung Quốc


Điều phối viên của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Kurt Campbell tuyên bố Mỹ sẽ sớm công bố các kế hoạch để có thể đối phó hiệu quả hơn trước những hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp ở Thái Bình Dương. Đây là một phần trong chính sách can dự tăng cường của Mỹ đối với khu vực này nhằm đối trọng với tầm ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc. Tờ The Age (Australia) ngày 10/5 cho rằng tuyên bố trên cho thấy Mỹ sẽ đẩy mạnh nỗ lực ở Thái Bình Dương sau khi Trung Quốc ký thỏa thuận an ninh với Quần đảo Solomon.

Tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) có trụ sở ở Washington, khi được hỏi về mối quan hệ hợp tác tăng cường giữa Trung Quốc và Quần đảo Solomon – một đối tác truyền thống lâu đời của Mỹ, ông Campbell cho biết: “Một trong những thách thức to lớn nhất ở Thái Bình Dương là vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp. Trong những tuần tới, với sự phối hợp của các thể chế khác nhau, chúng tôi sẽ công bố một loạt biện pháp cơ bản nhằm nâng cao nhận thức hàng hải”. Ông khẳng định vai trò sống còn của những biện pháp này.

Mỹ sẽ tìm kiếm những biện pháp để có thể vẫn theo dõi sự di chuyển của tàu thuyền ngay cả khi những tàu này đánh cá bất hợp pháp nhưng tắt hệ thống nhận diện tự động. Ông nhấn mạnh nhiều nước hiện đang đẩy mạnh nỗ lực kiểm soát vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp bằng cách triển khai các hoạt động tuần tra biển và tăng cường đào tạo lực lượng liên quan. Ngoài ra, ông khẳng định Washington cần làm nhiều hơn nữa để hỗ trợ Quần đảo Solomon. Tháng 4/2022, ông Campbell dẫn đầu phái đoàn Mỹ đến Quần đảo Solomon. Sau đó, Nhà Trắng cho biết Washington sẽ “quan ngại sâu sắc và đáp trả tương ứng” đối với bất kỳ bước đi nào nhằm thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài của Trung Quốc tại quốc đảo này.

Cũng tại sự kiện do CSIS tổ chức, ông Campbell cho biết phái đoàn của Mỹ sẽ trở lại Quần đảo Solomon vào tháng 9 tới.

Mặc dù Washington và các đồng minh có cùng quan ngại ở Thái Bình Dương , song các nước này lại chưa phối hợp đủ mạnh theo cách mà những nước khác kỳ vọng. Giải thích về điều này, ông Campbell cho rằng là do những “bối cảnh và tình hình chiến lược mới”, ám chỉ đến những tham vọng ngày càng lớn của Bắc Kinh. Mặc dù vậy, ông vẫn kêu gọi thúc đẩy hợp tác giữa các nước đồng minh của Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực chia sẻ thông tin. Ông nhấn mạnh sự hợp tác này không chỉ giữa Mỹ với Australia, New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc, mà còn cả Liên minh châu Âu. Trong một đề cập riêng đến Ấn Độ, ông cho rằng Washington và các nước châu Âu cần quan tâm đến vấn đề hợp tác với New Delhi, lôi kéo quốc gia Nam Á này ngả theo phương Tây, một ám chỉ về việc Ấn Độ vẫn “làm thân” với Moskva bất chấp chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine.

Tuyên bố của Campbell được đưa ra trước thềm chuyến công du của Tổng thống Mỹ Joe Biden đến Nhật Bản và Hàn Quốc diễn ra từ ngày 20 – 24/5. Nhân dịp này, một cuộc họp của “Bộ tứ” sẽ được tổ chức tại Tokyo. “Bộ tứ” đã tăng cường hợp tác trong những năm qua nhằm đối trọng với những hành động ngày càng hung hăng và quyết đoán của Trung Quốc. Ngoài ra, những bình luận của Campbell được đưa ra trong bối cảnh Tổng thống Biden đang chuẩn bị nội dung cho hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ – ASEAN bắt đầu diễn ra vào ngày 13/5 tại Washington.

Một vài quốc gia ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã đối đầu với các đội tàu đánh cá quy mô lớn của Trung Quốc. Các nước này tố cáo tàu thuyền của Trung Quốc thường xuyên vi phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của họ, gây ra những thiệt hại về môi trường và thiệt hại về kinh tế. Theo Lực lượng Bảo vệ bờ biển Mỹ, nạn đánh bắt cá bất hợp pháp đã gia tăng mạnh, vượt xa cả nạn cướp biển, đồng thời có nguy cơ làm gia tăng căng thẳng giữa các nước đang tranh giành nguồn tài nguyên thủy sản đang bị khai thác quá mức hiện nay. Lực lượng này cũng từng kêu gọi Trung Quốc có trách nhiệm hơn trong công tác kiểm soát hoạt động của các tàu thuyền của họ.

Trung Quốc nhấn mạnh trách nhiệm của mình trong các hoạt động đánh bắt cá khi phối hợp với cộng đồng quốc tế để kiểm soát chặt chẽ nạn đánh bắt cá bất hợp pháp. Ngoài ra, Bắc Kinh khẳng định đánh bắt cá trong EEZ có liên quan đến những thỏa thuận song phương.

Tờ The Age cho biết chính quyền Biden sẽ hợp tác với Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) và Tập đoàn Tài chính Phát triển Quốc tế Mỹ để xin cấp vốn tài trợ cho các dự án kiểm soát các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp ở Thái Bình Dương. Ngoài ra, Mỹ cũng đang gấp rút khôi phục hoạt động của Tổ chức Hòa bình Mỹ tại nhiều nước ở khu vực này với mục tiêu tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa Mỹ và các nước khu vực.

Nguồn: TKNB – 12/05/2022

Trung Quốc tham vọng đóng tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân


Trang 19fortyfive.com của Mỹ ngày 6/4 đăng bài cho biết Hải quân Trung Quốc “khao khát” sở hữu hạm đội tàu sân bay như của Hải quân Mỹ với lực lượng hải quân nước xanh có thể dễ dàng tiến vào Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư. Nếu đạt được tham vọng này, Trung Quốc có thể bảo vệ tốt hơn các tuyến hàng hải phục vụ thương mại ở Biển Đông và bên ngoài Biển Đông, đồng thời đảm bảo cung cấp năng lượng cho những thập kỷ tới.

Điều gì sẽ xảy ra nếu họ chế tạo và triển khai tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân có thể đi vòng quanh thế giới, giống như Hải quân Mỹ? Đó là mục tiêu của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN).

Chương trình tàu sân bay của PLAN

Trung Quốc đang đáp ứng các mục tiêu và cột mốc của chương trình tàu sân bay. Nước này hiện có hai tàu sân bay đang hoạt động – Liêu Ninh được tân trang trong nước và Sơn Đông do Trung Quốc tự chế tạo. PLAN cũng đang xây dựng tàu sân bay thứ ba. Không có tàu nào trong số này chạy bằng năng lượng hạt nhân, song PLAN luôn tự tin về năng lực đóng tàu của mình và muốn chế tạo tàu sân bay thứ tư có động cơ đẩy hạt nhân.

Các tàu sân bay Trung Quốc đang được cải thiện

Trung Quốc đang cho thấy họ có thể tập hợp các nhóm tác chiến tàu sân bay do Liêu Ninh dẫn đầu và triển khai vào các vùng biển có thể trở thành tâm điểm nếu xảy ra xung đột với Hải quân Mỹ. Giờ đây, lực lượng Trung Quốc có thể phóng và bắt giữ máy bay dù ngày hay đêm. Cuối năm 2021, một lực lượng đặc nhiệm của Trung Quốc đã trở về sau khi hoạt động ở biển Hoàng Hải, Biển Hoa Đông và Tây Thái Bình Dương. Điều này cho thấy Trung Quốc rất nghiêm túc với các hoạt động của tàu sân bay hiện đại.

“Giấc mơ sở hữu tàu sân bay như Pháp và Mỹ

Hiện chỉ có Mỹ và Pháp là hai quốc gia có tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân có thể hoạt động trong 20 năm mà không cần tiếp nhiên liệu và tái nạp nhiên liệu, thậm chí có thể phục vụ trong 50 năm.

Tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc có thể sẽ được coi là Type 004, ít nhất là trong thời gian đầu. Tàu có lẽ sẽ có một hệ thống cho phép máy phóng điện từ – một bước phát triển đáng kể – chỉ lớp Ford của Hải quân Mỹ mới có tính năng này. Tàu có thể triển khai tới 100 máy bay, gồm máy bay chiến đấu J-15 hoặc J-20 và máy bay điều khiển và cảnh báo sớm trên không, cùng với máy bay tác chiến chống tàu ngầm.

Như thường lệ, Trung Quốc khá kín tiếng về việc công bố kế hoạch đối với tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân. Trung Quốc biết rằng khát vọng đóng tàu chiến chạy bằng năng lượng hạt nhân sẽ là một con đường dài và không chắc chắn. Năm 2021, tờ South China Morning Post  cho biết tàu sân bay thứ tư đã trải qua 2 năm trì hoãn và không rõ việc bổ sung động cơ hạt nhân sẽ mất bao lâu.

Một nguồn tin trong Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết: “Các công ty đóng tàu và kỹ sư động cơ đẩy tàu đang muốn tạo ra một bước đột phá đáng kể với việc đóng tàu sân bay thứ tư. Đây sẽ là bước nhảy vọt về công nghệ đối với ngành đóng tàu… nhưng việc xây dựng có thể mất nhiều thời gian hơn so với các tàu sân bay trước do có hệ thống động lực khác nhau”.

Sở hữu tàu hạt nhân là không dễ dàng

Những điều kiện cần để chế tạo một tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân? Sự đầu tư lớn về thời gian và tiền bạc.

Khám phá hành trình của USS Gerald R. Ford, siêu tàu sân bay mới của Mỹ. Ford đã trải qua một chặng đường dài dẫn đến thành công. Tàu được phép xây dựng vào năm 2008. Quá trình xây dựng mất gần 4 năm. Sau đó tàu được đưa vào hoạt động năm 2013. Nó cần thử nghiệm bên bến tàu trong 3,5 năm. Quá trình này tiêu tốn 13,3 tỷ USD. Ford vẫn đang trong quá trình thử nghiệm sốc tính đến năm 2021.

Vì Trung Quốc không có kinh nghiệm về các tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân, họ có thể không sẵn sàng trải qua thử thách như vậy. Tuy nhiên, theo kịp Hải quân Mỹ là mối quan tâm chiến lược của PLAN.

Trung Quốc sẽ sớm đóng tàu sân bay hạt nhân?

Trung Quốc có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới với 355 tàu. Việc đạt được tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân sẽ là một bước tiến quan trọng đối với tham vọng của PLAN về một lực lượng hải quân đa bán cầu chiến lược. Trung Quốc có thể thực hiện chiến lược “chuỗi ngọc trai” cho phép họ có các cơ sở bảo trì và hỗ trợ dọc theo các tuyến hàng hải ở Ấn Độ Dương để đảm bảo Trung Quốc có lộ trình rõ ràng để thu được năng lượng xuất khẩu từ khu vực này.

Trung Quốc nên hài lòng với sự lớn mạnh và tham vọng của PLAN. Tàu sân bay tượng trưng cho sức mạnh và sức đẩy hạt nhân thậm chí còn khẳng định sức mạnh hơn nữa. Các tàu Trung Quốc đã đến gần Mỹ và Cảnh sát biển Mỹ sẽ mất nhiều thời gian hơn để xua đuổi tàu Trung Quốc vào lần tới khi chúng “lang thang” gần các bờ biển của Mỹ.

Nguồn: TKNB – 08/04/2022

Cuộc chiến Nga – Ukraine định hình lại thế giới như thế nào?


Một câu hỏi lớn khiến cả thế giới phải hồi hộp: Cuộc chiến Nga – Ukraine sẽ kết thúc như thế nào?

Lựa chọn chiến tranh của Tổng thống Nga Vladimir Putin ở Ukraine là một sự kiện lịch sử thế giới, đánh dấu hành động cuối cùng của thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh và sự khởi đầu của kỷ nguyên mới. Những hệ quả có thể xảy ra bao gồm một cuộc chiến tranh nóng hoặc chiến tranh lạnh mới đầy biến động liên quan đến Mỹ, Nga và Trung Quốc; một cuộc xung đột đóng băng ở Ukraine: một hiệp ước thời hậu Putin, trong đó Nga trở thành một phần của cấu trúc an ninh châu Âu đã được sửa đổi. Với việc phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt chưa từng có đối với Nga với thời gian nhanh kỷ lục và nguy cơ thực sự dẫn đến chiến tranh hạt nhân, thế giới đang ở trong địa hạt chưa được khám phá. Rất khó để để dự đoán Putin sẽ “chiến thắng” như thế nào. Nhưng ông ta không thể chấp nhận thất bại.

Sau đây là 4 kịch bản về cách cuộc chiến Ukraine có thể kết thúc và tương lai địa chính trị thay thế có thể xảy ra, làm thay đổi các mối quan hệ quốc tế trong vòng 2 – 3 năm tới. Các kịch bản này được phát triển không phải để dự đoán tương lai mà để giúp giới quyết sách hình dung điều gì có thể xảy ra tiếp theo và tìm cách ngăn chặn trường hợp xấu nhất. Điều chắc chắn duy trì về cuộc chiến Ukraine tất cả những điều chắc chắn hiện có đã bị phá vỡ.

Nỗ lực chiến tranh của Nga ở Ukraine sẽ kéo dài hơn một năm, với số dân thường thiệt mạng tiếp tục tăng. Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky vẫn ở Kiev, cho dù tính mạng của ông luôn bị đe dọa do các âm mưu ám sát do Nga chỉ đạo.

Năm 2023, giá dầu thô toàn cầu vẫn ở mức trên 100 USD/thùng, khi châu Âu phải vật lộn để cắt giảm nguồn năng lượng từ Nga. Mùa Đông khắc nghiệt 2022 – 2023 sẽ khiến các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) bắt đầu hạn chế các nguồn cung năng lượng, làm ảnh hưởng đến các ngành công nghiệp và buộc các trường học phải đóng cửa nếu thời tiết xấu vì không đủ khí đốt để sưởi ấm các lớp học. Châu Âu chìm vào suy thoái. Mặc dù Mỹ đã thoát khỏi suy thoái kinh tế, nhưng giá xăng cao vẫn tiếp tục khiến người Mỹ tức giận. Đảng Dân chủ mất quyền kiểm soát cả Thượng viện và Hạ viện trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 tới, làm suy yếu đáng kể khả năng thúc đẩy chương trình chính sách của Tổng thống Mỹ Joe Biden.

Trong khi đó, Nga đang ở trong tình trạng vô cùng tồi tệ. Bất chấp việc Ngân hàng Trung ương Nga đã xử lý khéo léo trong một tình huống bất khả thi, lạm phát vẫn tăng nhanh trong bối cảnh nguồn cung lương thực cơ bản bị gián đoạn và việc trợ của Trung Quốc ít hơn so với dự đoán. Ban lãnh đạo quân sự của Nga hiểu rằng cuộc chiến ở Ukraine là không thể tránh khỏi và có tin đồn về một liên minh lỏng lẻo gồm các nhà tài phiệt bất mãn và các “siloviki” – chính khách xuất thân từ các cơ quan tình báo và quân đội với kế hoạch phế truất Putin và đưa cựu Tổng thống Dmitry Medvedev lên thay thế. Cơ quan An ninh Liên bang Nga (FSB) ngăn chặn một cuộc đảo chính ở Điện Kremlin và Putin quyết định tống giam hàng chục tướng lĩnh.

Đầu năm 2023, với việc các bên tham chiến rơi vào bế tắc và không có hồi kết cho xung đột cường độ thấp, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Đức Olaf Scholz đề xuất làm trung gian cho một lệnh ngừng bắn. Gần 10 triệu người Ukraine đã di cư đến EU, nơi cuộc suy thoái ngày càng trầm trọng khiến công chúng phản đối việc tiếp nhận thêm người tị nạn. Các nhà lãnh đạo châu Âu sẵn sàng đưa ra các biện pháp khuyến khích đối với Putin: dỡ bỏ một số lệnh trừng phạt sau khi quân đội Nga kết thúc giao tranh và bắt đầu giảm bớt sự hiện diện của họ ở Ukraine.

Dưới áp lực trong nước, Putin rút một phần quân đội Nga khỏi Ukraine nhưng vẫn giữ lại một lực lượng đủ để tiếp tục kiểm soát phần lớn đường bờ biển của Ukraine, đảm bảo một cầu nối trên bộ giữa vùng Donbass và bán đảo Crimea. Các nhà lãnh đạo Pháp và Đức thất vọng trước việc Nga chỉ rút quân một phần và sẽ đáp lại bằng cách chỉ dỡ bỏ trừng phạt đối với các nhà tài phiệt được cho là liên quan đến âm mưu lật đổ Putin. EU cũng tạm thời dỡ bỏ lệnh cấm vận mà họ đã áp đặt đối với năng lượng của Nga, nhưng chủ yếu là để giúp phục hồi các nền kinh tế châu Âu. Chính quyền Biden không dỡ bỏ lệnh cấm vận năng lượng đối với Nga.

Nhưng với hy vọng giá dầu sẽ bắt đầu giảm khi chu kỳ bầu cử tổng thống Mỹ bắt đầu vào giữa năm 2023. Washington sẽ làm ngơ trước việc các quốc gia khác nhập khẩu năng lượng của Nga, bao gồm cả các đồng minh châu Âu.

Các cuộc đàm phán với Putin, dẫn đầu bởi Pháp, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ và Israel, vẫn tiếp tục diễn ra. Moskva muốn có sự đảm bảo rằng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) sẽ ngừng cung cấp vũ khí cho quân kháng chiến Ukraine và sẽ hủy bỏ cam kết năm 2008 về việc kết nạp Ukraine và Gruzia vào khối này. Mỹ sẽ không nhượng bộ, mặc dù Zelensky đã thừa nhận rằng giấc mơ gia nhập NATO của Ukraine không còn khả thi. Tổng thống Ukraine sẽ chấp nhận vị thế trung lập miễn là 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Anh và Pháp) cùng với Đức và Thổ Nhĩ Kỳ trở thành những người đảm bảo an ninh cho Ukraine. Tuy nhiên, Zelensky không muốn công nhận độc lập cho các vùng ly khai Donetsk và Luhansk.

Với việc các cuộc đàm phán vẫn bế tắc về những điểm này, Washington muốn đẩy mạnh cung cấp quân nhu cho các lực lượng Ukraine trong khi Pháp và Đức vẫn hy vọng đạt được thỏa thuận với Moskva và lo sợ Putin sẽ đưa quân trở lại Ukraine. Ba Lan và các quốc gia Trung Âu khác ủng hộ quan điểm của Mỹ, đặc biệt vì Zelensky không muốn giảm áp lực đối với Nga. Ông khẳng định nếu các lực lượng Ukraine được hỗ trợ quân sự nhiều hơn, họ có hội tốt để đẩy lùi tất cả các lực lượng còn lại của Nga.

Khi chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ nóng lên đồng thời giao tranh ở Ukraine cũng tiếp tục, chính quyền Biden sẽ triệu tập một hội nghị thượng đỉnh đặc biệt của NATO để quyết định các bước đi tiếp theo. Mỹ và các đồng minh châu Âu đều cho rằng diễn biến hiện tại của cuộc xung đột là không bền vững. Người dân EU ngày càng không hài lòng với việc giá nhà tăng và thách thức từ việc hỗ trợ hàng triệu người tị nạn Ukraine trong bối cảnh suy thoái kinh tế. Tại Mỹ, chính quyền lo ngại Đảng Dân chủ sẽ bị “xóa sổ” trong cuộc bầu cử năm 2024 do giá xăng dầu và lạm phát vẫn ở mức cao và nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả. Ở Trung Đông, Ai Cập bị rung chuyển trong hai năm bởi các cuộc bạo loạn do tình trạng thiếu lương thực ngày càng khốc liệt hơn khi giá bánh mì tăng vọt. Người châu Âu lo sợ một Mùa xuân Arab tái diễn với nhiều bất ổn, khủng bố và người tị nạn. Mỹ và các nước châu Âu cũng gặp khó khăn hơn trong việc buộc các quốc gia khác tuân thủ các lệnh trừng phạt đối với Nga. Moskva có thể không bán nhiều dầu mỏ và khí đốt tự nhiên cho châu Âu như trước đây, nhưng họ tìm được nhiều người mua ở nơi khác để giảm giá năng lượng của Nga. Ác nhà lãnh đạo phương Tây lo ngại rằng cú sốc ban đầu của các lệnh trừng phạt đã qua và hầu hết người Nga bình thường đang học cách thích nghi. Sau những âm mưu của giới tinh hoa nhằm lật đổ ông, Putin đã tái khẳng định quyền kiểm soát đất nước.

Tại hội nghị thượng đỉnh NATO, Biden tuyên bố phương Tây có 2 lựa chọn. Đầu tiên là gây áp lực buộc Zelensky và Putin đồng ý ngừng bắn và một thỏa thuận hòa bình có giới hạn, mặc dù điều này có nguy cơ dẫn đến một nền hòa bình mong manh. Thứ hai là phương Tây tăng cường hỗ trợ quân sự cho Ukraine với hy vọng rằng một bước đột phá quân sự của Ukraine sẽ buộc Putin phải nhượng bộ lớn, ngay cả khi điều này sẽ dẫn đến rủi ro leo thang như việc Nga nhắm mục tiêu vào các kho tiếp tế dọc biên giới với Ba Lan hoặc Romania. Mặc dù Biden có thể chỉ thoáng nhìn thấy điều này vào thời điểm đó, nhưng lựa chọn đầu tiên có nhiều khả năng dẫn đến một cái gì đó giống như kịch bản thứ hai (“chiến tranh lạnh kép”) trong khi lựa chọn sau có nhiều khả năng dẫn đến các tình huống giống như tình huống thứ ba (“kịch bản về ngày tận thế hạt nhân”) hoặ thứ tư (“một thế giới mới với nhiều thách thức”).

Nguồn: www.atlanticcouncil.org

TKNB – 08/04/2022

Cuộc nổi dậy xanh: Bức tranh địa chính trị mới về năng lượng – Phần cuối


Làm thế nào để giảm thiểu rủi ro

Quá trình chuyển đổi năng lượng sạch đòi hỏi một sự chuyển đổi hoàn toàn của nền kinh tế toàn cầu và sẽ cần một khoản vốn bổ sung lên tới 100.000 tỷ USD trong ba thập kỷ tới. Có rất ít lý do để tin rằng một cuộc đại tu triệt để như vậy có thể được hoàn thành một cách có phối hợp, được quản lý tốt và suôn sẻ. Một quá trình chuyển đổi có trật tự vẫn sẽ gặp nhiều khó khăn ngay cả khi có một nhà quy hoạch tổng thể thiết kế hệ thống năng lượng toàn cầu có tính kết nối cao – và trên thực tế là chúng ta không có. Khi thế giới có được một hệ thống năng lượng phi carbon hoàn toàn, hay thậm chí ở mức cao, nhiều rủi ro về an ninh năng lượng ngày nay sẽ được cải thiện đáng kể (ngay cả khi một số rủi ro mới phát sinh). Ảnh hưởng của các nhà nước dầu mỏ và đòn bẩy của Nga ở châu Âu sẽ giảm bớt, giá điện từ năng lượng tái tạo sẽ ít biến động hơn và xung đột về tài nguyên thiên nhiên sẽ giảm bớt. Nhưng nếu trên con đường đi tới mục tiêu đó, tính kinh tế, độ tin cậy hoặc mức độ an toàn của việc cung cấp năng lượng, hoặc các yêu cầu an ninh quốc gia khác, xung đột với các ứng phó đầy tham vọng đối với biến đổi khí hậu, thì các mối quan tâm về môi trường có nguy cơ bị lép vế. Do đó, vai trò lãnh đạo quốc tế về khí hậu đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn là chỉ đàm phán các thảo thuận khí hậu, đưa ra những lời hứa về việc trung hòa carbon và giảm thiểu các tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu tới an ninh quốc gia. Nó cũng có nghĩa là hạ thấp theo nhiều cách khác nhau, các rủi ro kinh tế và địa chính trị bắt nguồn từ một sự chuyển đổi thành công sang năng lượng sạch.

Đầu tiên, các nhà hoạch định chính sách cần mở rộng các bộ công cụ của họ để tăng cường độ tin cậy và an ninh năng lượng cũng như chuẩn bị cho những biến động không thể tránh khỏi. Trước tiên, sẽ là thiển cận nếu loại bỏ một nguồn năng lượng phi carbon hiện có mà có thể hoạt động ổn định, đó là năng lượng hạt nhân. Và sẽ thật ngu ngốc nếu loại bỏ các công cụ an ninh năng lượng hiện có, chẳng hạn như Kho dự trữ dầu mỏ chiến lược của Mỹ; Quốc hội Mỹ đã hấp tấp khi quyết định đem bán nhiên liệu từ nguồn dự trữ này, một phán ứng trước tình trạng dồi dào dầu khí của Mỹ trong tương lai gần và dự báo về một thế giới trong đó dầu mỏ không còn chiếm thế thượng phong. Khi quá trình chuyển đổi năng lượng tăng tốc, các nhà hoạch định chính sách nên tiến hành các phân tích về chi phí – lợi ích để đánh giá xem liệu các kho dự trữ chiến lược bổ sung có phải là giải pháp hợp lý để đảm bảo nguồn cung khí tự nhiên, khoáng chất quan trọng, hydro và amoniac hay không. Các nhà hoạch định chính sách cũng nên duy trì sự linh hoạt tối đa đối với các nguồn năng lượng ngay cả khi họ loại bỏ dần năng lượng “nâu” (thuật ngữ chỉ các nguồn năng lượng gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng – ND). Lập luận rằng Mỹ đã chứng kiến mức sử dụng xăng cao nhất vào năm 2007 và thế giới đã có mức sử dụng than nhiều nhất vào năm 2014 đã được chứng minh là không chính xác. Do sự không chắc chắn về nhu cầu và đòi hỏi trong tương lai, các nhà hoạch định chính sách nên chuẩn bị dự trữ một số tài sản nhiên liệu hóa thạch, trong trường hợp cần tới chúng trong những giai đoạn ngắn của quá trình chuyển đổi khi cung và cầu không tương thích với nhau. Các bên quản lý các công ty sản xuất và cung cấp điện nên áp dụng cấu trúc định giá để bù đắp và đảm bảo sự tin cậy cho các công ty. Ví dụ, để chuẩn bị cho nhu cầu cao điểm, các cơ quan quản lý nên thiết kế thị trường mà đem lại lợi nhuận cho các công ty sản xuất và cung cấp điện để duy trì công suất và nguồn cung ngay cả khi chúng hiếm khi được sử dụng và khuyến khích các công ty này đưa ra các kế hoạch thưởng cho khách hàng khi giảm mức sử dụng điện trong thời gian cao điểm. Nói rộng hơn, các nhà hoạch định chính sách nên ban hành các biện pháp để tăng tính hiệu quả nhằm giảm nhu cầu từ đó thu hẹp những mất cân đối cung cầu tiềm ẩn.

Các chính phủ có thể tăng cường an ninh năng lượng bằng cách giảm rủi ro trong chuỗi cung ứng – nhưng không phải theo cách khuyến khích chủ nghĩa bảo hộ. Các quan chức không nên theo đuổi điều hão huyền là sự độc lập trong chuỗi cung ứng, mà thay vào đó cố gắng xây dựng tính linh hoạt trong một hệ thống được đa dạng hóa và liên kết với nhau. Ở châu Âu, an ninh năng lượng được cải thiện không phải do giảm nhập khẩu khí đốt của Nga – quả thực, nhập khẩu năng lượng đã liên tục tăng – mà là do cải cách cơ sở hạ tầng và quy định nhằm đưa thị trường châu Âu trở nên hội nhập và có tính cạnh tranh cao hơn. Ngược lại, trong cuộc khủng hoảng điện năm 2021 ở bang Texas (Mỹ), các khu vực của bang này có lưới điện kết nối với các bang lân cận ở tình trạng tốt hơn so với các khu vực còn lại, vốn có hệ thống truyền tải và lưới điện biệt lập. Các nhà hoạch định chính sách cũng phải giải quyết một số cách thức mà quá trình chuyển đổi năng lượng không đồng đều sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng sâu sắc trong xã hội và có khả năng tạo ra phản ứng chính trị chống lại năng lượng sạch. Các cộng đồng phụ thuộc vào doanh thu và việc làm từ nhiên liệu hóa thạch sẽ bị ảnh hưởng nếu không có phát triển kinh tế và đào tạo lực lượng lao động do chính phủ hỗ trợ. Trong khi đó, để giúp người tiêu dùng có thu nhập thấp đối phó với biến động giá cả, các nhà hoạch định chính sách nên bắt đầu áp dụng trợ cấp hoặc các điều chỉnh thuế suất tạm thời, như nhiều nước châu Âu đã làm trong những tháng gần đây.

Ngoài việc thúc đẩy sự đổi mới và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch để hạn chế biến đổi khí hậu, các chính phủ cũng phải tiến hành các bước đi tỉnh táo để giảm thiểu rủi ro địa chính trị mà sự thay đổi này sẽ tạo ra. Công nghệ mới có thể giải quyết các vấn đề kỹ thuật và hậu cần nhưng không thể loại bỏ cạnh tranh, sự chênh lệch về sức mạnh hoặc động lực khuyến khích tất cả các quốc gia bảo vệ lợi ích và tối đa hóa ảnh hưởng của mình. Nếu các chính phủ không nhận ra điều này, thế giới sẽ phải đối mặt với một số gián đoạn gây bất đồng trong những năm tới, bao gồm các mối đe dọa kinh tế và an ninh mới mà sẽ tái cơ cấu nền chính trị toàn cầu. Nhưng có lẽ rủi ro lớn nhất của việc không xác định và lập kế hoạch cho những cạm bẫy này là khi các quan ngại an ninh quốc gia xung đột với tham vọng về biến đổi khí hậu, thì một quá trình chuyển đổi thành công có thể sẽ không diễn ra. Thế giới không thể chịu đựng thêm những thách thức hơn nữa trên con đường vốn đã gập ghềnh hướng tới mức phát thải bằng 0.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/world/2021-11-30/geopolitics-energy-green-upheaval

TLTKĐB – 10/12/2021

Cuộc nổi dậy xanh: Bức tranh địa chính trị mới về năng lượng – Phần IV


Tuy nhiên, trong ngắn hạn, con đường đi đến một thế giới có mức phát thải bằng 0 có thể không suôn sẻ đối với quan hệ Mỹ – châu Âu. Chính trị phức tạp của Washington trong vấn đề khí hậu đòi hỏi các phương pháp tiếp cận chính sách tốn công sức, chẳng hạn như cố gắng sử dụng biện pháp điều chỉnh chính sách của Quốc hội (một thủ tục nghị viện đặc biệt của Quốc hội Mỹ nhằm thúc đẩy thông qua một số luật ngân sách – ND) để vượt qua sự phản đối của đảng Cộng hòa đối với cá tiêu chuẩn khí thải nghiêm ngặt và thuế carbon, cũng như chỉ dựa vào phần thưởng (chẳng hạn như trợ cấp) chứ không phải các biện pháp trừng phạt để thay đổi hành vi của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Điều này sẽ gây khó khăn trong việc hài hòa chính sách giữa Mỹ và châu Âu, có nguy cơ làm trầm trọng thêm căng thẳng thương mại khi châu Âu cam kết áp dụng các biện pháp như thuế nhập khẩu carbon (thuế nhập khẩu đối với một hàng hóa dựa trên lượng khí thải carbon được tạo ra từ quá trình sản xuất hàng hóa này – ND).

Cuối cùng, quá trình chuyển đổi năng lượng chắc chắn sẽ làm thay đổi quan hệ của Nga với các cường quốc khác. Nga phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu dầu khí và về lâu dài, quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch sẽ gây ra những rủi ro đáng kể đối với tài chính và ảnh hưởng của nước này. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi lộn xộn, vị thế của Nga so với Mỹ và châu Âu có thể mạnh hơn trước khi suy yếu. Khi các nước châu Âu ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào khí đốt của Nga trong những năm tới và biến động trên thị trường dầu mỏ gia tăng, cả Mỹ và châu Âu sẽ dựa vào Nga để kiểm soát giá thông qua quan hệ đối tác của các nước này với Saudi Arabia, với tư cách là các nước lãnh đạo liên minh OPEC+ (bao gồm các thành viên của OPEC và 10 quốc gia xuất khẩu dầu lớn khác).

Trong khi đó, cách tiếp cận gần như coi thường của Nga đối với biến đổi khí hậu sẽ trở thành nguồn căng thẳng ngày càng lớn trong quan hệ của Moscow với Washington và Brussels – mặc dù những lời hùng biện gần đây của Putin đã nhấn mạnh sự nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Và trong một thế giới phi carbon, dùng nhiều năng lượng điện hơn và kết nối kỹ thuật số nhiều hơn thông qua Internet vạn vật (IoT), Nga có thể khó cưỡng lại việc nhắm mục tiêu vào cơ sở hạ tầng năng lượng bằng các cuộc tấn công mạng, như khi nước này làm tê liệt lưới điện của Ukraine vào năm 2015 và 2016. Hơn nữa, khi người tiêu dùng năng lượng truyền thống ở phương Tây hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, Nga sẽ ngày càng chuyển nguồn cung sang thị trường Trung Quốc, nuôi dưỡng liên kết địa chính trị giữa Moscow và Bắc Kinh.

Từ hội tụ đến khác biệt lợi ích

Trong 30 năm qua, tốc độ tăng trưởng ở các nước đang phát triển nói chung đều cao hơn của các nước phát triển, thúc đẩy sự hội tụ kinh tế dần dần giữa các nước giàu với các nước nghèo. Về lâu dài, sự chuyển đổi sang năng lượng sạch hứa hẹn sẽ củng cố xu hướng đó. Mặc dù một thế giới có mức phát thải bằng 0 sẽ vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng điều đó cũng có nghĩa là các nước đang phát triển sẽ đối mặt với ít thách thức hơn so với một thế giới mà biến đổi khí hậu không được kiểm soát. Hơn nữa, nhiều nước đang phát triển được hưởng nguồn năng lượng sạch dồi dào, chi phí thấp, chẳng hạn như năng lượng mặt trời, mà họ có thể sử dụng trong nước hoặc xuất khẩu dưới dạng điện hoặc nhiên liệu. Một số nước cũng có hệ tầng địa chất tuyệt vời để lưu trữ carbon dioxide, mà sẽ cần được loại bỏ khỏi bầu khí quyển. (Theo một số ước tính, việc loại bỏ carbon sẽ chiếm tới 1/5 mức giảm carbon dioxide cần thiết để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0).

Tuy nhiên, con đường gập ghềnh để loại bỏ carbon cũng gây ra những rủi ro nghiêm trọng cho các nước đang phát triển. Rạn nứt giữa các nước giàu và nghèo đã được thể hiện rõ tại Hội nghị thượng đỉnh khí hậu COP 26 tại Glasgow. Các quốc gia có thu nhập thấp hơn đã dứt khoát kêu gọi các quốc gia công nghiệp hóa chi trả cho những thiệt hại mà lượng khí thải nhà kính trong quá khứ của các nước này gây ra. Biến đổi khí hậu là kết quả của lượng khí thải carbon tích lũy theo thời gian. 1/4 tổng lượng khí thải từ khi bắt đầu thời kỳ công nghiệp cho đến nay xuất phát từ Mỹ, và châu Âu cũng đóng góp lượng khí thải tương tự. Chỉ 2% lượng khí thải đến từ toàn bộ lục địa châu Phi. Khi các nước giàu cảm thấy cẩn phải tăng cường cắt giảm lượng khí thải carbon và các nước đang phát triển vẫn tập trung vào nhu cầu mang lại tăng trưởng cho công dân của họ, hai nhóm này sẽ xung đột với nhau.

Căng thẳng cũng trở nên rõ ràng về số phận của khoản viện trợ 100 tỷ USD cho các nước nghèo mà các nước giàu đã cam kết tại Hội nghị thượng đỉnh khí hậu COP 15 tại Copenhagen năm 2009, mà theo kế hoạch lẽ ra phải được thực hiện vào năm 2020. Cam kết đó vẫn chưa trở thành hiện thực – và thậm chí số tiền lớn đó giống như một sai số làm tròn so với mức 1000 – 2000 tỷ USD hàng năm cần thiết để đầu tư vào năng lượng sạch tại các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, nhằm đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Khi mức độ cấp bách của việc loại bỏ carbon gia tăng cùng với chi phí biến đổi khí hậu, việc các nước giàu không thể hỗ trợ các nước nghèo sẽ là một nguồn gây căng thẳng địa chính trị ngày càng lớn – đặc biệt là khi các nước đang phát triển phải chịu gánh nặng thiệt hại lớn hơn nhiều mà họ không hề gây ra.

Trong bối cảnh thế giới đã chờ đợi quá lâu để hành động chống lại biến đổi khí hậu, các nước nghèo sẽ cần đi theo các quỹ đạo phát triển khác với các quỹ đạo phát triển của các nước giàu; họ sẽ phải phụ thuộc ít hơn vào nhiên liệu hóa thạch. Tuy nhiên, gần 800 triệu người không được tiếp cận với bất kỳ dịch vụ năng lượng nào, chưa kể tới mức năng lượng cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa ở mức có ý nghĩa. Mặc dù năng lượng mặt trời, gió và các nguồn năng lượng tái tạo khác có thể là một phương thức tuyệt vời để đáp ứng phần nào nhu cầu của thế giới đang phát triển, nhưng chúng hiện không đủ để cung cấp năng lượng cho quá trình công nghiệp hóa và các con đường khác hướng tới tăng trưởng, và có những giới hạn đối với tốc độ mở rộng quy mô sản xuất các năng lượng này. Một số nước đang phát triển cũng sẽ phải đối mặt với những trở ngại hiếm khi xảy ra ở các nước giàu. Ví dụ, việc sạc điện cho ô tô có thể không khả thi ở những quốc gia xảy ra tình trạng mất điện hàng ngày hoặc những nơi có lưới điện được hỗ trợ bởi máy phát điện diesel.

Nếu các nước giàu ngày càng tìm cách ngăn chặn việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và các nước đang phát triển không thấy có nhiều lựa chọn thay thế khả thi với giá cả phải chăng cho họ, thì khoảng cách giàu nghèo sẽ ngày càng gia tăng. Ví dụ, vào tháng 4/2021, Bộ Tài chính Mỹ thông báo rằng Mỹ sẽ không còn tài trợ cho các dự án khí đốt tự nhiên ở nước ngoài vì lo ngại về biến đổi khí hậu – ngoại trừ các quốc gia nghèo nhất, chẳng hạn như Siera Leone – mặc dù 60% điện năng của Mỹ vẫn bắt nguồn từ nhiên liệu hóa thạch. Ngay sau đó, Phó Tổng thống Nigeria Yemi Osinbajo đã tranh luận trên tờ Foreign Affairs rằng thật không công bằng khi yêu cầu đất nước ông phát triển mà không sử dụng khí đốt tự nhiên.

Căng thẳng giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển sẽ leo thang không chỉ về việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch mà còn về hoạt động khai thác chúng. Một số quốc gia nghèo trên thế giới, chẳng hạn như Guyana, Mozambique và Tanzania, có nguồn tài nguyên hydrocarbon đáng kể mà họ muốn khai thác. Nhưng các nước giàu, vốn tự coi mình là các lãnh đạo về khí hậu, sẽ ngày càng gây áp lực đối với những nước này và các nước đang phát triển khác, hoặc các công ty muốn hợp tác với họ, để không tiến hành thăm dò khai thác, ngay cả khi ít nhất một số nước giàu đó tiếp tục khai thác dầu, khí đốt và than đá của họ. Các tổ chức tài chính sẽ phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ các nhà hoạt động đòi họ không được tài trợ cho các dự án khai thác ở các nước đang phát triển. Trong một thế giới mà phạm vi sử dụng nhiên liệu hóa thạch ngày càng co lại, các nước nghèo có lý khi đặt câu hỏi tại sao họ không được khai thác nhiên liệu hóa thạch nhiều hơn trong khi các nước giàu ít sử dụng chúng.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/world/2021-11-30/geopolitics-energy-green-upheaval

TLTKĐB – 10/12/2021

Triển vọng về một liên minh đang hình thành ở Biển Đông


Trang web của Viện nghiên cứu quốc tế Hoàng gia Anh (Chatham House) ngày 12/01 đăng bài viết của chuyên gia Bill Hayton cho rằng khả năng các nước Đông Nam Á có thể đẩy lùi lực lượng tuần duyên, dân quân biển và hải quân Trung Quốc là rất nhỏ, song có thể tính đến một phản ứng phối hợp hơn. Nội dung bài viết như sau:

Cơ quan an ninh hàng hải Indonesia đã mời các đối tác từ Brunei, Malaysia, Philippines, Singapore và Việt Nam “chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy tình anh em” do 6 quốc gia Đông Nam Á là những “nạn nhân” lớn nhất của Trung Quốc ở Biển Đông. Sáng kiến này của Jakarta có lẽ bắt nguồn từ các báo cáo về việc tàu tuần duyên Trung Quốc “quấy rối” hoạt động thăm dò dầu khí của Indonesia.

Indonesia từ lâu đã hành động như thể một bên không liên quan đến các tranh chấp ở Biển Đông, song giờ đây, Jakarta buộc phải thừa nhận rằng các công ty và cơ quan nhà nước của Trung Quốc đang “nhòm ngó” dầu khí và nguồn cá ngoài khơi Indonesia. Và vì vậy, Jakarta đang trên cùng chiến tuyến với các nước láng giềng Đông Nam Á.

Trở lại năm 2020, Việt Nam buộc phải trả khoảng 1 tỷ USD cho các công ty năng lượng quốc tế sau khi phải hủy các hợp đồng thăm dò dầu khí ngoài khơi do sức ép của Trung Quốc. Năm 2017, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte cho biết Chủ tịch Tập Cận Bình đã cảnh báo rằng sẽ có “chiến tranh” nếu Philippines tìm cách phát triển một mỏ khí đốt ngoài khơi bờ biển Philippines. Malaysia và Brunei cũng chịu áp lực tương tự từ Bắc Kinh.

Tất cả các quốc gia trên đều phải gánh chịu tổn thất kinh tế với việc ngân sách chính phủ mất đi nguồn thu từ thuế và giấy phép trong khi các công ty năng lượng buộc phải mua dầu và khí đốt trên thị trường mở, phát triển cơ sở hạ tầng nhập khẩu và bỏ qua thu nhập từ xuất khẩu. Một số sẽ phải mở rộng sản xuất nhiệt điện để đáp ứng nhu cầu điện năng, với hậu quả không thể tránh khỏi là biến đổi khí hậu.

Hoạt động nghề cá cũng đang bị ảnh hưởng, gây ra tình trạng mất an ninh lương thực khi các cộng đồng ngư dân bị cắt nguồn thu nhập, khiến họ rơi vào cảnh nghèo đói và gây ra những cuộc di cư mới đến các thành phố vốn đã quá đông đúc.

Giới hạn đối với Trung Quốc hoặc Mỹ

Cho đến nay, các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông đều kỳ vọng vào việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông liên quan đến Trung Quốc và tất cả 10 thành viên ASEAN để hạn chế hành vi của Trung Quốc, trong khi Trung Quốc muốn COC giúp hạn chế hành vi của Mỹ bằng cách cấm Washington tham gia các cuộc tập trận quân sự trong khu vực.

Việt Nam cũng muốn COC áp dụng cả ở quần đảo Hoàng Sa, song Trung Quốc nói rằng chỉ nên áp dụng ở quần đảo Trường Sa. Philippines muốn bãi cạn Scarborough được đưa vào bộ quy tắc, song Trung Quốc không đồng ý. Singapore và các quốc gia khác muốn COC mang tính “ràng buộc pháp lý” trong khi Trung Quốc không muốn bị ràng buộc.

Với việc Campuchia làm Chủ tịch ASEAN năm 2022, lãnh đạo Trung Quốc cảm nhận được đây là cơ hội vì khi Campuchia cũng giữ ghế chủ tịch của khối cách đây 10 năm, họ đặc biệt “thân thiện” với các lợi ích của Trung Quốc, dẫn đến cuộc đối đầu kịch tính với các nhà lãnh đạo ASEAN khác tại hội nghị thượng đỉnh 2012.

Campuchia hiện vẫn thân thiện với Trung Quốc và Bắc Kinh cũng có thể tìm kiếm sự hỗ trợ từ Myanmar, Lào, thậm chí cả Thái Lan.

ASEAN có lẽ chưa thể giải quyết bế tắc về COC trong thời gian tới. Các thành viên của khối từ lâu đã phản đối đề xuất thành lập các nhóm nhỏ hơn để giải quyết từng vấn đề cụ thể. Cuộc họp vào tháng 2 tới của 6 quốc gia ven Biển Đông dường như giải quyết chính xác vấn đề này. Đây có thể là sự khởi đầu của một phản ứng phối hợp hơn.

Dù trong nội bộ ASEAN đang có sự chia rẽ do một số quốc gia lo lắng về hoạt động của Trung Quốc, vẫn là tin xấu đe dọa sự ổn định của khu vực, nhưng có một giải pháp đơn giản. Các chính phủ chỉ cần tuân thủ các quy định của UNCLOS mà họ đã đàm phán, ký kết và phê chuẩn. Các quốc gia Đông Nam Á đã sẵn sàng làm điều này, song Trung Quốc cho đến nay vẫn không.

Nguồn: TKNB – 14/01/2022

Cuộc nổi dậy xanh: Bức tranh địa chính trị mới về năng lượng – Phần III


Xanh hơn nhưng ít mang tính toàn cầu hơn

Nền kinh tế toàn cầu phát thải ròng bằng 0 sẽ đòi hỏi các chuỗi cung ứng quy mô lớn cho các linh kiện sử dụng năng lượng sạch và các sản phẩm chế tạo, trao đổi nhiên liệu phát thải ít carbon và các khoáng sản quan trọng, cũng như tiếp tục buôn bán (mặc dù ít hơn nhiều so với hiện nay) dầu khí. Thoạt đầu, thế giới trung hòa carbon dường như có khả năng toàn cầu hóa hơn thế giới phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch hiện tại. Nhưng để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0, thế giới phải tạo ra ba lực đẩy gây sức ép cho toàn cầu hóa.

Thứ nhất, một thế giới trung hòa carbon sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào điện – và một thế giới phụ thuộc vào điện hơn sẽ chứng kiến buôn bán năng lượng toàn cầu ít hơn. IEA dự đã dự đoán rằng trong một thế giới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, tổng thương mại liên quan đến năng lượng sẽ chỉ bằng 38% khối lượng thương mại năng lượng trong bối cảnh thế giới vẫn tiếp tục quỹ đạo hiện tại. Cách tốn ít chi phí nhất và dễ dàng nhất để khử carbon trong một số lĩnh vực của nền kinh tế, chẳng hạn như ô tô sử dụng năng lượng từ các chế phẩm dầu hoặc nhiệt tạo ra từ khí đốt tự nhiên, thường là biến các nguồn năng lượng này thành điện năng và đảm bảo rằng điện được tạo ra từ các nguồn tài nguyên không phát thải carbon. Theo các nhà nghiên cứu của Đại học Princeton, vì lý do này, tổng lượng điện sử dụng ở Mỹ có thể sẽ gấp 2 – 4 lần trong một nền kinh tế hoàn toàn trung hòa carbon so với hiện nay. Và so với dầu khí, điện được khử carbon có nhiều khả năng được sản xuất trong nước hoặc trong khu vực hơn; chỉ có chưa đầy 3% lượng điện năng toàn cầu được buôn bán xuyên biên giới vào năm 2018, so với 2/3 lượng cung cấp dầu toàn cầu vào năm 2014. Điều đó là do việc chuyển điện qua khoảng cách xa khó khăn và tốn kém hơn, bất chấp sự phát triển của công nghệ truyền điện cao áp, một chiều. Việc phụ thuộc vào điện nhập khẩu cũng gây quan ngại về an ninh năng lượng cho một quốc gia hơn so với việc phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu, vì điện khó dự trữ và tích trữ hơn nhiều trong trường hợp nguồn cung bị gián đoạn hoặc phải chuyển sang nhập khẩu từ các nguồn khác.

Áp lực tăng thêm đối với việc toàn cầu hóa sẽ xuất phát từ thực tế là năng lượng sạch đã góp phần khiến xu hướng bảo hộ trở lại. Các quốc gia trên thế giới đang dựng lên các rào cản đối với đầu vào năng lượng sạch giá rẻ từ nước ngoài, lo ngại sự phụ thuộc vào các quốc gia khác và tìm cách xây dựng các ngành công nghiệp tạo công ăn việc làm ngay trong biên giới của mình. Một ví dụ nổi bật là các loại thuế quan mà Ấn Độ đang áp tấm pin mặt trời của Trung Quốc để tạo lợi thế cho ngành công nghiệp năng lượng mặt trời trong nước. Theo cách tương tự, Quốc hội Mỹ đang xem xét một khoản tín dụng thuế có lợi cho các công ty sản xuất xe điện ở Mỹ có công đoàn. Ngoài ra, những nỗ lực quốc tế nhằm loại bỏ những trở ngại đối với thương mại hàng hóa môi trường, như tuabin gió và tấm pin mặt trời, đã bị đình trệ.

Cuối cùng, các quốc gia đang thực hiện những bước đi mạnh mẽ đối với quá trình trung hòa carbon có thể cố gắng buộc các quốc gia khác làm theo thông qua quản lý nhà nước về kinh tế – do đó có thể dẫn đến sự chia rẽ trên toàn cầu. Thí dụ, các nhà hoạch định chính sách ở EU có ý định thiết lập các cơ chế điều chỉnh biên giới liên quan đến phát thải nhà kính vào năm 2023. Theo chính sách này, hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia không đáp ứng được tiêu chuẩn khí hậu của EU sẽ phải chịu các khoản phí giống như thuế quan nhằm điều chỉnh giá cả hàng hóa dựa trên hàm lượng carbon của chúng. Thí dụ, theo cách đó, thép “xanh” sản xuất tại châu Âu sẽ không thua kém thép “bẩn” nhập khẩu trên thị trường châu Âu. Tuy nhiên, theo thời gian, thuế quan nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng có thể biến thành thuế quan nhằm gây sức ép cho các quốc gia bị coi là quá chậm chạp trong việc trung hòa carbon để theo đuổi các chính sách khí hậu hiệu quả hơn. Và mặc dù ý tưởng sử dụng các biện pháp trừng phạt để đẩy nahnh tiến trình trung hòa carbon có vẻ được ưu tiên hàng đầu hiện nay, trong một thế giới mà phát thải khí carbon ngày càng bị coi là mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh quốc tế, các biện pháp trừng phạt có thể trở thành một công cụ chung để buộc những tụt hậu phải hành động.

Kẻ thắng và người thua                                                        

Việc chuyển sang nền kinh tế toàn cầu phát thải ròng bằng 0 sẽ đòi hỏi mức độ hợp tác toàn cầu chưa từng có nhưng cũng sẽ dẫn đến xung đột trong quá trình này và cuối cùng sẽ tạo ra tình thế kẻ thắng, người thua. Một số cường quốc, như Trung Quốc và Mỹ có lợi thế để hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi này. Những quốc gia khác, như Nga, dường như có nhiều khả năng sẽ phải đối mặt với kết cục tồi tệ hơn. Tất nhiên, những quỹ đạo khác nhau này sẽ làm thay đổi quan hệ giữa các cường quốc.

Mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington hiện đang căng thẳng hơn so với những thập kỷ trước. Cho đến nay, hai cường quốc vẫn ít hợp tác về biến đổi khí hậu, mặc dù hai bên đã đạt được một thỏa thuận vào phút chót để cùng nhau giải quyết vấn đề này tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) tại Glasgow. Nếu những diễn biến gần đây – chẳng hạn như việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không đích thân tham dự hội nghị ở Glasgow, việc Trung Quốc gần như không sửa đổi các mục tiêu về khí hậu, và việc Bắc Kinh bớt mạnh tay đối với chính sách than khi đối mặt với tình trạng thiếu khí đốt gần đây – là dấu hiệu của một xu hướng, thì Trung Quốc và Mỹ có thể ngày càng xung đột về vấn đề biến đổi khí hậu, mà sau đó có thể làm suy yếu chính trị của các quốc gia khác trong việc thực hiện các hành động mạnh mẽ để ngăn chặn biến đổi khí hậu.

Quá trình chuyển đổi sang năng lượng sạch dường như có khả năng sẽ trở thành một lĩnh vực khác trong đó hai quốc gia cạnh tranh gay gắt về công nghệ, trình độ chuyên môn, nguồn cung cấp, thị trường và tiêu chuẩn. Sự cạnh tranh đó có thể đẩy nhanh tốc độ triển khai năng lượng sạch, nhưng cũng sẽ thổi bùng căng thẳng giữa hai nước lớn. Trung Quốc sẽ ngày càng khẳng định sức mạnh của mình, tận dụng vị thế thống trị trong sản xuất năng lượng sạch và sự kiểm soát các khoáng sản quan trọng. Tuy nhiên, khi quá trình chuyển đổi diễn ra, ảnh hưởng của Trung Quốc có thể suy giảm khi các công nghệ mới xuất hiện ở những nơi khác, chuỗi cung ứng thay đổi và có sẵn nhiều nguồn năng lượng được sử dụng để sản xuất năng lượng sạch.

Một mối quan hệ nước lớn khác có thể chịu tác động bởi quá trình chuyển đổi năng lượng là mối quan hệ giữa Mỹ và các đồng minh châu Âu. Vào thời điểm mà các mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương cần được hàn gắn và chấn hưng, chính sách khí hậu có thể đóng vai trò như một chất liên kết mạnh mẽ. Washington và các đối tác ở châu Âu cuối cùng có thể sử dụng sức mạnh kinh tế và ngoại giao tập thể của mình để thúc đẩy quá trình trung hòa carbon trên toàn thế giới; họ có thể thành lập một “câu lạc bộ khí hậu” gồm các quốc gia cam kết phát thải ròng bằng 0 sẽ áp đặt thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước không thuộc câu lạc bộ – như chủ trương của nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel William Nordhaus năm 2020. Họ cũng có thể áp dụng các cơ chế chung để khử carbon trong các ngành thâm dụng năng lượng nhất, như thép, xi măng và nhôm, và thậm chí điều chỉnh lại mục đích của NATO để tập trung vào việc ứng phó với các thảm họa môi trường và an ninh liên quan đến khí hậu.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/world/2021-11-30/geopolitics-energy-green-upheaval

TLTKĐB – 10/12/2021

Cuộc nổi dậy xanh: Bức tranh địa chính trị mới về năng lượng – Phần II


Sức mạnh đến từ sức mạnh

Để hiểu được tình hình địa chính trị của một thế giới từ bỏ sử dụng nhiên liệu hóa thạch, điều quan trọng là phải biết những yếu tố nào sẽ giúp một siêu cường năng lượng sạch thực sự có được ảnh hưởng địa chính trị. Ở đây, thực tế khác với sự hiểu biết thông thường, và quá trình chuyển đổi sẽ rất khác với kết quả cuối cùng. Về lâu dài, công cuộc đổi mới và các khoản vốn với mức lãi suất thấp sẽ quyết định ai là người chiến thắng trong cuộc cách mạng năng lượng sạch. Các nước có được cả hai yếu tố đó sẽ chi phối thế giới theo ít nhất 4 cách.

Một nguồn tạo ra khả năng chi phối là sức mạnh thiết lập các tiêu chuẩn năng lượng sạch. Sức mạnh này sẽ tinh vi hơn sức mạnh địa chính trị đến từ việc sở hữu nguồn tài nguyên dầu mỏ, nhưng nó cũng bền bỉ không kém. Trên bình diện quốc tế, một quốc gia hoặc một công ty có khả năng xây dựng các tiêu chuẩn toàn cầu về thông số kỹ thuật của thiết bị hoặc các tiêu chuẩn hợp tác sẽ có lợi thế cạnh tranh so với những quốc gia hoặc công ty khác. Chẳng hạn, Australia, Chile, Nhật Bản và Saudi Arabia trở thành những nước đầu tiên ủng hộ hoạt động mua bán khí hydro ít carbon và amoniac xuyên biên giới và do đó có thể thiết lập các tiêu chuẩn cơ sở hạ tầng và tiêu chuẩn chứng nhận cho các nguồn nguyên liệu đó, giúp các công nghệ và thiết bị của họ có lợi thế cạnh tranh. Đối với các công nghệ liên quan đến số lượng dữ liệu, như công cụ số nhằm tối ưu hóa lưới điện hoặc quản lý nhu cầu của người tiêu dùng, bất kỳ nước nào có khả năng thiết lập tiêu chuẩn cũng sẽ có thể xuất khẩu các hệ thống tương thích cũng như khai thác dữ liệu từ chúng.

Việc thiết lập tiêu chuẩn sẽ đặc biệt quan trọng trogn vấn đề năng lượng hạt nhân. Theo IEA, từ nay đến năm 2050, sản lượng năng lượng hạt nhân toàn cầu cần phải tăng gấp đôi thì thế giới mới đạt được mức phát thải ròng bằng 0. Tính đến năm 2018, trong số 72 lò phản ứng hạt nhân được lên kế hoạch hoặc đang trong quá trình xây dựng bên ngoài biên giới nước Nga, hơn 50% là của các công ty Nga, khoảng 20% của Trung Quốc; trong khi các công ty Mỹ chiếm chưa đến 2%. Điều này sẽ ngày càng cho phép Moskva và Bắc Kinh gây ảnh hưởng đến các chuẩn mực không phổ biến hạt nhân cũng như áp đặt các tiêu chuẩn vận hành và an toàn mới nhằm giúp các công ty của họ có chỗ đứng lâu dài trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân, vốn cần được phát triển khi quá trình chuyển đổi năng lượng bắt đầu diễn ra.

Nguồn thứ hai tạo ra khả năng chi phối trong thế giới năng lượng sạch sẽ là quyền kiểm soát chuỗi cung ứng khoáng sản như coban, đồng, liti, niken và đất hiếm, vốn đóng vai trò then chốt đối với nhiều loại công nghệ năng lượng sạch khác nhau, như điện gió và xe điện. Tại đây, ở một mức độ nào đó, sức mạnh này tương đồng với sức mạnh mà dầu mỏ đem lại. Theo IEA, nếu thế giới nhanh chóng tiến tới mục tiêu kết hợp sử dụng nhiều loại năng lượng bền vững hơn, nhu cầu đối với các loại khoáng sản này sẽ vượt xa nguồn cung sẵn có hiện nay. Theo ước tính của IEA, để thế giới đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, thì tới năm 2040 sẽ cần lượng khoáng sản trên cao gấp 6 lần so với mức hiện nay. Trong khi đó, hoạt động thương mại toàn cầu đối với các khoáng sản quan trọng sẽ tăng vọt, với hoạt động thương mại liên quan đến năng lượng sẽ tăng từ 10% lên khoảng 50% vào năm 2050. Do đó, trong quá trình chuyển đổi, một số ít các quốc gia cung cấp phần lớn các khoáng sản quan trọng sẽ có được tầm ảnh hưởng mới. Hiện nay, Cộng hòa Dân chủ Congo chiếm hơn một nửa nguồn cung cấp coban toàn cầu, Australia chiếm một nửa nguồn cung liti và Trung Quốc chiếm một nửa nguồn cung đất hiếm. Ngược lại, 3 nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới – Nga, Saudi Arabia và Mỹ – mỗi nước chỉ chiếm 10% sản lượng dầu toàn cầu. Trong khi các nước nhỏ và nghèo hơn, chẳng hạn như Cộng hòa Dân chủ Congo, có thể do dự khi lợi dụng thế mạnh khoáng sản của mình để gây sức ép đối với các nước mạnh hơn, thì Trung Quốc lại chứng tỏ họ sẵn sàng làm như vậy. Việc Trung Quốc ra lệnh cấm xuất khẩu các khoáng sản quan trọng sang Nhật Bản vào năm 2010, trong bối cảnh tình hình căng thẳng gia tăng ở biển Hoa Đông, có thể là một dấu hiệu cho những điều sẽ xảy ra trong tương lai.

Sự kiểm soát của Trung Quốc đối với các yếu tố đầu vào cho nhiều công nghệ năng lượng sạch không chỉ giới hạn ở năng lực khai thác của nước này; sự kiểm soát này thậm chí còn chi phối việc chế biến và tinh chế các khoáng sản quan trọng. Ít nhất trong thập kỷ tới, những thực tế này sẽ mang lại cho Trung Quốc sức mạnh kinh tế và địa chính trị thực sự được công nhận. Tuy nhiên, trong dài hạn, ảnh hưởng này sẽ suy yếu. Giá dầu tăng đột biến trong những năm 1970 đã khiến những bên tham gia mới phải tìm kiếm các nguồn dầu mỏ mới; viễn cảnh chính trị sẽ thao túng thị trường khoáng sản khan hiếm cũng đang tạo ra hiện tượng tương tự. Hơn nữa, những khoáng sản như vậy có thể được tái chế và các chất thay thế cho chúng cũng sẽ sẵn có.

Yếu tố thứ ba của sự thống trị về năng lượng sạch là khả năng sản xuất các thành phần công nghệ mới với chi phí thấp. Tuy nhiên, việc này sẽ không mang lại những lợi thế như việc sở hữu các nguồn tài nguyên dầu khí. Đơn cử, Trung Quốc chiếm lĩnh sản xuất 2/3 lượng silicon đa tinh thể của thế giới và 90% “tấm wafer” bán dẫn được sử dụng để sản xuất pin mặt trời. Bằng cách đột ngột loại bỏ những mặt hàng này khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu, Trung Quốc có thể tạo ra những nút thắt có tác động lớn. Nhưng đầu vào cho các sản phẩm năng lượng sạch vốn sản xuất hoặc lưu trữ năng lượng không giống như năng lượng. Nếu Trung Quốc hạn chế xuất khẩu các tấm pin mặt trời hoặc pin, thì sẽ không xảy ra tình trạng mất định. Trung Quốc sẽ không thể khiến các nền kinh tế rơi vào bế tắc trong một sớm một chiều hoặc gây rủi ro cho cuộc sống và sự an toàn của người dân – như Nga đã làm khi cắt giảm xuất khẩu khí đốt tự nhiên sang châu Âu trong những mùa Đông lạnh giá năm 2006 và 2009.

Điều chắc chắn là hành động của Trung Quốc sẽ tạo ra sự gián đoạn, hỗn loạn và lạm phát tương tự như ảnh hưởng của việc trì hoãn xuất khẩu chip máy tính trong suốt năm 2021. Tình trạng hỗn loạn như vậy có thể làm đình trệ quá trình chuyển đổi năng lượng nếu nó khuyến khích người tiêu dùng quay trở lại sử dụng đồ gia dụng chạy bằng xăng hoặc hủy bỏ kế hoạch lắp đặt tấm pin mặt trời trên mái nhà. Tuy nhiên, ngay cả khi Trung Quốc áp dụng chiến thuật đó, theo thời gian, các thị trường sẽ phản ứng lại và các quốc gia và công ty khác sẽ tạo ra sản phẩm hoặc nguồn cung cấp thay thế của riêng họ – theo cách mà khó có thể áp dụng được với một nguồn tài nguyên thiên nhiên chỉ có sẵn ở một số địa điểm nhất định như dầu mỏ.

Cách cuối cùng để một quốc gia có thể trở thành siêu cường năng lượng sạch là thông qua sản xuất và xuất khẩu nhiên liệu phát thải ít carbon. Nhưng nhiên liệu này – đặc biệt là hydrogen và amoniac – sẽ có tầm quan trọng đối với quá trình chuyển đổi sang một thế giới phát thải ròng bằng 0 do vai trò tiềm năng của chúng trong việc khử carbon trong các lĩnh vực khó điện khí hóa như sản xuất thép; tiếp nhiên liệu cho xe tải, tàu thủy và các phương tiện hạng nặng khác; và cân bằng các lưới điện được cung cấp chủ yếu bởi các nguồn năng lượng tái tạo, vốn có thể bị gián đoạn. Kịch bản “phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050” của IEA dự đoán giao dịch hydrogen và amoniac sẽ tăng từ gần như không có hiện nay lên hơn 1/3 tổng số giao dịch liên quan đến năng lượng. Theo thời gian, nguồn cung cấp hydrogen được dự đoán sẽ bao gồm phần lớn là hydrogen xanh được sản xuất ở những nơi có nguồn năng lượng tái tạo dồi dào, chi phí khai thác thấp, chẳng hạn như Chile và các quốc gia vùng Vịnh, vốn có nguồn năng lượng dồi dào được khai thác với chi phí thấp. Bằng cách này, một số quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào việc khai thác và xuất khẩu dầu khí bị đe dọa bởi việc từng bướ từ bỏ nhiên liệu hóa thạch có khả năng tự biến đổi thành các quốc gia xuất khẩu hydrogen.

Nếu một thị trường nguồn cung cấp đầy đủ và đa dạng nguồn hydrogen và amoniac cuối cùng phát triển, thì lỗ hổng năng lượng ở một nơi có thể được bù đắp bằng nguồn cung từ nơi khác, giống như với dầu mỏ ngày nay. Điều này sẽ hạn chế ảnh hưởng địa chính trị của các nhà cung cấp vượt trội. Tuy nhiên, trong thời gian gần và trung hạn, việc phát triển sản xuất và buôn bán nhiên liệu phát thải ít carbon sẽ tạo ra căng thẳng và những rủi ro địa chính trị. Cũng giống như thị trường khí đốt tự nhiên hóa lỏng toàn cầu còn non trẻ nhiều thập kỷ trước, nguồn cung cấp nhiên liệu phát thải ít carbon thoạt đầu sẽ bị chi phối bởi một số ít các nhà sản xuất. Do đó, nếu một quốc gia như Nhật Bản đầu tư nhiều vào hydrogen và amoniac và chỉ phụ thuộc nhiều vào một hoặc hai quốc gia cung cấp nhiên liệu, thì họ có thể phải đối mặt với những rủi ro lớn về an ninh năng lượng.

Các nhà cung cấp nhiên liệu phát thải ít carbon vượt trội cũng sẽ phát triển theo thời gian. Theo IEA, trước khi hydrogen xanh (hoặc amoniac dễ vận chuyển hơn và có thể chuyển hóa trở lại thành hydrogen) có vị thế thống trị, hydrogen lam có khả năng sẽ trở nên phổ biến. Hydrogen lam được tạo ra từ khí đốt tự nhiên sử dụng công nghệ thu giữ carbon để giảm lượng khí thải. Các quốc gia có khí đốt giá rẻ và khả năng lưu trữ carbon dioxide tốt, như Qatar và Mỹ, có thể nổi lên với tư cách là một số quốc gia xuất khẩu hydrogen lam hoặc amoniac hàng đầu. Đối với các quốc gia thiếu khí đốt tự nhiên nhưng có khả năng lưu trữ carbon dioxide dưới lòng đất, cách có được hydrogen với chi phí thấp nhất (hydrogen khó vận chuyển trên quãng đường dài) có thể là nhập khẩu khí đốt tự nhiên và sau đó biến nó thành hydrogen ở gần nơi được sử dụng, do đó tiềm ẩn một số rủi ro và phụ thuộc giống như khí đốt tự nhiên ngày nay. Và điều tồi tệ nhất sẽ là các quốc gia thiếu cả khí đốt và khả năng lưu trữ, như Hàn Quốc, và do đó sẽ phải nhập khẩu hydro lam, hydro xanh và amoniac; những quốc gia này sẽ vẫn dễ bị tổn thương cho đến khi thị trường hydrogen và amoniac lớn hơn và đa dạng hơn nhiều phát triển.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/world/2021-11-30/geopolitics-energy-green-upheaval

TLTKĐB – 10/12/2021

Cuộc nổi dậy xanh: Bức tranh địa chính trị mới về năng lượng – Phần I


Jason Bordoff & Meghan L. O’Sullivan

Thật dễ hiểu vì sao người ta lại mơ về một thế giới trong tương lai được định hình bởi năng lượng sạch. Khi lượng khí thải nhà kích tiếp tục tăng và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng xảy ra thường xuyên và gây nhiều thiệt hại hơn, những nỗ lực hiện nay nhằm giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch dường như là không đủ. Điều khiến chúng ta thêm thất vọng là dầu và khí đốt vẫn đóng vai trò quan trọng đối với địa chính trị, và vấn đề này đang trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết. Châu Âu đang chật vật với cuộc khủng hoảng năng lượng, khi giá điện tăng cao đến mức đáng kinh ngạc buộc các doanh nghiệp trên khắp lục địa này phải đóng cửa và các công ty năng lượng phải tuyên bố phá sản. Họ cho rằng chính Tổng thống Nga Vladimir Putin đã lợi dụng tình hình khốn đốn của các nước láng giềng từ nguồn dự trữ khí đốt tự nhiên của nước này. Tháng 9/2021, trước tình trạng mất điện xảy ra trên diện rộng ở Trung Quốc, có tin Phó Thủ tướng Hàn Chính đã chỉ thị cho các công ty năng lượng thuộc sở hữu nhà nước phải bằng mọi giá đảm bảo nguồn cung cấp điện cho mùa Đông. Và khi giá dầu tăng đến mức trên 80 USD/thùng, Mỹ và các quốc gia thèm khát năng lượng khác đang phải van nài các nhà cung cấp dầu lớn, trong đó có Saudi Arabia, gia tăng sản lượng của họ. Điều này giúp Riyadh có thêm sức ảnh hưởng trong quan hệ với các nước và cho thấy những giới hạn của Washington trong mục tiêu duy trì sự độc lập về năng lượng.

Những người ủng hộ chiến lược năng lượng sạch hy vọng (và đôi khi hứa hẹn) rằng ngoài việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, quá trình chuyển đổi năng lượng cũng sẽ giúp giải quyết những căng thẳng trong vấn đề tài nguyên năng lượng. Đúng là năng lượng sạch sẽ biến đổi địa chính trị – nhưng không nhất định sẽ theo những cách mà nhiều người ủng hộ chiến lược này mong đợi. Quá trình chuyển đổi này sẽ tái cấu trúc nhiều yếu tố trong nền chính trị quốc tế, vốn đã hình thành hệ thống toàn cầu ít nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ảnh hưởng đáng kể đến các nguồn sức mạnh quốc gia, tiến trình toàn cầu hóa, quan hệ giữa các nước lớn và sự hội tụ về kinh tế đang diễn ra giữa các nước phát triển và đang phát triển. Tiến trình này sẽ rất lộn xộn. Thay vì thúc đẩy sự thân thiện và hợp tác, nó có thể tạo ra những hình thức cạnh tranh và đối đầu mới rất lâu trước khi một nền địa chính trị mới dễ chịu hơn hình thành.

Thật viển vông nếu nói tiến trình chuyển đổi năng lượng sẽ diễn ra suôn sẻ: chắc chắn thế giới không thể tránh được những cuộc biến động lớn khi tái tạo toàn bộ hệ thống năng lượng, vốn là huyết mạch của nền kinh tế toàn cầu và là nền tảng của trật tự địa chính trị. Hơn nữa, hiểu biết thông thường về “người được, kẻ mất” thường sẽ không chính xác. Chẳng hạn, cái gọi là các quốc gia dầu mỏ, có thể tận hưởng nốt thời gian tốt đẹp còn lại trước khi nền kinh tế của họ lao đao, vì sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp nhiên liệu hóa thạch chiếm ưu thế, như Nga và Saudi Arabia rất có thể sẽ tăng trước khi giảm sút. Những khu vực nghèo nhất trên thế giới sẽ cần sử dụng lượng lớn năng lượng – nhiều hơn so với trước đây – để phát triển kinh tế ngay cả khi họ cũng phải đối mặt với những hậu quả tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu. Trong khi đó, năng lượng sạch sẽ trở thành một nguồn sức mạnh quốc gia mới nhưgn chính nó cũng sẽ mang đến những rủi ro và bất ổn mới.

Những lập luận này không phải nhằm trì hoãn hoặc cản trở quá trình chuyển đổi năng lượng. Ngược lại, các nước trên thế giới phải đẩy nhanh nỗ lực chống biến đổi khí hậu. Những lập luận này nhằm khuyến khích các nhà hoạch định chính sách nhìn bao quát hơn những thách thức của chính vấn đề biến đổi khí hậu và đánh giá những rủi ro và nguy hiểm sẽ xảy ra trong quá trình chuyển đổi năng lượng sạch. Ngay lúc này, điều dẫn đến nhiều hậu quả hơn những tác động địa chính trị trong dài hạn của một thế giới không phát thải xa xôi là những mối hiểm họa trong ngắn hạn, đôi khi trái với những gì chúng ta mong muốn, mà sẽ xuất hiện trong vài thập kỷ tới, khi các nhân tố địa chính trị của năng lượng sạch kết hợp với các nhân tố địa chính trị của dầu mỏ và khí đốt. Việc không đánh giá đúng những hậu quả không mong muốn khi thực hiện nhiều nỗ lực khác nhau hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 không chỉ có các tác động an ninh và kinh tế; mà nó còn phá hoại chính quá trình chuyển đổi năng lượng. Nếu các nước tin rằng những kế hoạch đầy tham vọng nhằm giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu sẽ đe dọa an ninh năng lượng, ảnh hưởng đến giá thành và sự an toàn của nguồn cung năng lượng, thì quá trình chuyển đổi sẽ giảm tốc. Nhiên liệu hóa thạch cuối cùng có thể sẽ không còn nữa. Nhưng chính trị – và địa chính trị – về năng lượng thì không.

Các quốc gia dầu khí

Chiến tranh thế giới thứ nhất đã biến dầu mỏ trở thành một mặt hàng chiến lược. Năm 1918, chính khách người Anh, Lord Curzon, đã có câu nói nổi tiếng rằng “Phe Đồng minh đã chiến thắng một làn sóng dầu”. Từ thời điểm đó trở đi, an ninh của Anh phụ thuộc nhiều vào nguồn dầu mỏ từ Ba Tư hơn là than đá từ Newcastle, vì năng lượng đã trở thành một nguồn sức mạnh quốc gia và thiếu năng lượng là một điểm yếu chiến lược. Sang thế kỷ 20, các quốc gia may mắn sở hữu nguồn tài nguyên dầu và khí đốt đã phát triển kinh tế xã hội và có sức mạnh vượt trội trong hệ thống quốc tế, và các nước có nhu cầu tiêu thụ dầu cao hơn sản lượng họ tạo ra đã thay đổi chính sách đối ngoại để đảm bảo quyền tiếp tục tiếp cận nguồn tài nguyên này.

Việc hạn chế sử dụng dầu mỏ và khí đốt sẽ tái định hình thế giới một cách mạnh mẽ. Nhưng các cuộc thảo luận về một tương lai năng lượng sạch thường bỏ qua một số chi tiết quan trọng. Thứ nhất, ngay cả khi thế giới đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0, điều đó cũng không có nghĩa là nhiên liệu hóa thạch sẽ biến mất. Một báo cáo mang tính bước ngoặt của Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) công bố vào năm 2021 dự báo rằng nếu thế giới đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 – như Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc đã cảnh báo đây là mục tiêu cần thiết để kiểm soát mức tăng nhiệt độ toàn cầu dưới ngưỡng 1,5oC so với mức tiền công nghiệp và do đó ngăn chặn những tác động tồi tệ nhất của biến đổi khí hậu – thì thế giới sẽ vẫn sử dụng gần một nửa lượng khí đốt tự nhiên như hiện nay và khoảng 1/4 lượng dầu mỏ. Một phân tích cảu nhóm các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Princeton cũng cho thấy kết quả tương tự, rằng dù Mỹ đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, thì nước này sẽ vẫn sử dụng 1/4 đến 1/2 lượng khí đất và dầu mỏ như hiện nay. Đây là một mức giảm đáng kể. Song, các nước sản xuất dầu mỏ và khí đốt sẽ tiếp tục tận hưởng sức ảnh hưởng đòn bẩy từ nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình trong nhiều thập kỷ.

Các nhà cung cấp truyền thống sẽ được hưởng lợi từ tình hình biến động giá nhiên liệu hóa thạch – hậu quả của quá trình chuyển đổi năng lượng đầy chông gai. Sức ép buộc các nhà đầu tư thoái vốn khỏi các doanh nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch cộng với tương lai bất ổn của dầu mỏ đã làm dấy lên quan ngại rằng mức đầu tư có thể giảm mạnh trong những năm tới, dẫn đến nguồn cung dầu giảm nhanh hơn cầu – hoặc nguồn cung giảm ngay cả khi nhu cầu tiếp tục tăng lên, như tình hình hiện nay. Kết quả đó sẽ khiến nguồn cung dầu mỏ thường xuyên thiếu hụt và do đó đẩy giá dầu tăng cao và biến động hơn. Tình hình này sẽ làm tăng doanh thu và do đó là sức mạnh của các quốc gia dầu mỏ và tạo thêm ảnh hưởng cho Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), mà các thành viên của tổ chức này, trong đó có Saudi Arabia, kiểm soát phần lớn trữ lượng dầu mỏ của thế giới và có thể tăng hoặc giảm sản lượng dầu toàn cầu trong thời gian ngắn.

Ngoài ra, quá trình chuyển đổi năng lượng sạch sẽ gia tăng ảnh hưởng của một số nhà xuất khẩu dầu và khí đốt khi hoạt động sản xuất toàn cầu tập trung trong tay một số ít quốc gia. Cuối cùng, nhu cầu dầu mỏ sẽ giảm đáng kể, nhưng vẫn ở mức cao trong nhiều thập kỷ tới. Nhiều nhà sản xuất có lợi nhuận không cao vì chi phí bỏ ra quá lớn, chẳng hạn như ở Canada và vùng lãnh thổ của Nga ở Bắc Cực, có thể phải rời khỏi thị trường khi nhu cầu (và có lẽ là giá dầu) giảm. Trong tương lai, các quốc gia sản xuất dầu khác muốn trở thành người đi đầu trong vấn đề chống biến đổi khí hậu – chẳng hạn như Na Uy, Anh và Mỹ – có thể hạn chế sản lượng nội đia của họ trước sức ép ngày càng tăng của người dân và đẩy nhanh quá trình giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Do đó, thị phần dành cho các nhà sản xuất dầu mỏ ở vùng Vịnh có thể sẽ tăng. Các nước này sản xuất dầu giá rẻ, ít phát thải carbon, ít phụ thuộc vào các thể chế tài chính hiện tại, do đó hầu như không phải đối mặt với sức ép cắt giảm sản lượng. Việc cung cấp gần như toàn bộ lượng dầu mà thế giới tiêu thụ sẽ giúp họ có ảnh hưởng địa chính trị lớn hơn, ít nhất là cho đến khi nhu cầu sử dụng dầu giảm mạnh hơn. Các quốc gia dầu mỏ khác sở hữu nguồn dầu dễ đưa vào sử dụng – chẳng hạn như Argentina và Mỹ, vốn có trữ lượng lớn dầu đá phiến – có thể không chịu nhiều tác động vì họ có thể thu hút các nhà đầu tư mong muốn nhanh chóng hoàn vốn và né tránh các khoản đầu tư có chu kỳ dài vì thị trường dầu mỏ trong dài hạn có nhiều bất trắc.

Một phiên bản thậm chí còn khốc liệt hơn của động lực này sẽ diễn ra trên thị trường khí đốt tự nhiên. Khi thế giới bắt đầu giảm sử dụng khí đốt tự nhiên, thị phần của một số ít công ty sản xuất khí đốt tự nhiên giá rẻ và thân thiện với môi trường sẽ tăng lên, đặc biệt nếu các nước có hành động mạnh mẽ hướng tới nỗ lực chống biến đổi khí hậu quyết định hạn chế sản lượng của chính mình. Đối với châu Âu, điều này sẽ đồng nghĩa với việc gia tăng sự phụ thuộc vào khí đốt của Nga, đặc biệt là khi dự án đường ống dẫn khí Dòng chảy phương Bắc kết nối Nga với Đức được triển khai. Những lời kêu gọi hiện nay của các nhà lập pháp châu Âu về việc yêu cầu Nga tăng sản lượng khí đốt để tránh cuộc khủng hoảng năng lượng vào mùa Đông là một lời nhắc nhở rằng tầm quan trọng của Moskva đối với an ninh năng lượng của châu Âu sẽ tăng lên trước khi suy giảm.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/world/2021-11-30/geopolitics-energy-green-upheaval

TLTKĐB – 10/12/2021