Liệu Iran có thể trở thành Triều Tiên thứ hai?


Philip Gordon & Amos Yadlin

Các cuộc thử nghiệm tên lửa đạn đạo tầm xa gần đây nhất của Triều Tiên, để chứng tỏ rằng vũ khí hạt nhân do nước này phát triển đã đạt được tiến bộ, có thể tấn công các mục tiêu trên lãnh thổ Mỹ tại châu Á. Tuy nhiên, hậu quả của vụ thử rõ ràng đã vượt ra khỏi khu vực châu Á và Bắc Mỹ. Trên khắp Trung Đông, dư luận đặt nghi vấn rằng phản ứng của Mỹ đối với vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, khi số vũ khí này giờ đây có thể vươn tới lãnh thổ Mỹ, sẽ là câu trả lời cho những gì sẽ xảy ra ở Iran. Các nhà lãnh đạo và người dân trong khu vực, đặc biệt là ở Israel và các quốc gia vùng Vịnh, lo ngại rằng họ sẽ có thể sớm được xem ngay gần nhà một bộ phim điện ảnh đang chiếu ở Đông Á.

Sự lo lắng này không phải là vô căn cứ và sự tương đồng giữa hai trường hợp đang gây chú ý cho dư luận. Năm 1994, Chính quyền Bill Clinton từng tuyên bố rằng “Thỏa thuận khung” sẽ “đóng băng và sau đó xóa bỏ” chương trình hạt nhân của Triều Tiên, đồng thời hứa hẹn rằng “Hàn Quốc và các đồng minh khác của chúng ta sẽ được bảo vệ tốt hơn”, “tòa thế giới sẽ an toàn hơn” và “Mỹ cùng với các thanh sát viên quốc tế sẽ giám sát Triều Tiên cẩn trọng để đảm bảo rằng nước này sẽ thực hiện các cam kết của mình”. Tuy nhiên, Bình Nhưỡng đã lừa gạt, thỏa thuận đổ vỡ và trong vòng một thập niên, Triều Tiên đã quay lại phát triển vũ khí hạt nhân.

Chính quyền George W. Bush đã thử một cách tiếp cận mang tính đối đầu hơn, nhưng cũng thất bại. Mặc dù đưa ra học thuyết mới về tấn công phủ đầu và cam kết ngăn chặn các quốc gia thù địch như Triều Tiên sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, ông Bush đã không thể làm gì ngoại trừ tuyên bố “lên án hành động khiêu khích này” khi Bình Nhưỡng thử vũ khí hạt nhân vào năm 2006. Và mặc dù cam kết Triều Tiên sẽ phải chịu “hoàn toàn trách nhiệm” nếu phát triển vũ khí hoặc vật liệu hạt nhân, Chính phủ Mỹ vẫn không hành động khi Bình Nhưỡng tiến hành xây dựng một lò phản ứng nước nặng sản xuất plutoni bí mật ở Syria. Theo các quan chức tình báo cấp cao của Mỹ, nỗ lực của Triều Tiên chỉ dừng lại khi Israel tự tay giải quyết và tiến hành ném bom khu vực này vào năm 2007. Mặc dù tấn công quân sự Iran không phải là lựa chọn lý tưởng, nhưng Mỹ và các đồng minh cần tiếp tục cân nhắc.

Năm 2009, Chính quyền Barack Obama triển khai chính sách “kiên nhẫn chiến lược”, tránh đối đầu quân sự, từ chối đàm phán với Triều Tiên, nhưng kết quả là Mỹ cũng chỉ có thể kiên nhẫn đứng nhìn Bình Nhưỡng xây dựng một kho vũ khí hạt nhân quan trọng và đạt được tiến bộ trong phát triển hệ thống mang vũ khí hạt nhân.

Tiếp đến là Chính quyền Donald Trump. Tháng 1/2017, khi nhà độc tài Triều Tiên Kim Jong-un đánh tiếng về ý định thử tên tửa đạn đạo tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, Tổng thống Trump khoe khoang trên Twitter rằng “điều đó sẽ không xảy ra!” và sau đó tuyên bố rằng ông đã điều “một hạm đội” đến khu vực. Phó Tổng thống Mike Spence củng cố thông điệp của ông Trump bằng chuyến thăm đến khu phi quân sự của Hàn Quốc đồng thời cảnh báo Bình Nhưỡng không nên “thử thách quyết tâm (của Trump) hay sức mạnh của quân đội Mỹ”. Tuy nhiên, Triều Tiên đã thử vũ khí và điều này cho thấy rằng các phản ứng của Mỹ không hề mang lại hiệu quả hơn so với những gì mà nước này từng sử dụng để đối phó với Triều Tiên trong vòng 20 năm qua.

Trước tình hình như vậy, việc các nhà lãnh đạo và dân chúng trên khắp Trung Đông nghi ngờ khả năng Mỹ thành công trong việc ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân cũng là điều dễ thông cảm. Tuy nhiên, có những điểm khác biệt chính giữa hai nước này và điều quan trọng là phải rút ra bài học đúng đắn từ kinh nghiệm với Triều Tiên. Vẫn còn thời gian để ngăn Iran không theo bước Triều Tiên, nhưng chỉ khi các nhà lãnh đạo Mỹ và các nước khác đánh giá khách quan về thách thức và nhận ra điểm tương đồng cũng như điểm khác biệt giữa hai tình huống này.

Một số người cho rằng từ thất bại ngoại giao đối với Triều Tiên, Mỹ và các đối tác nên tránh mọi cuộc đàm phán và chỉ tập trung cô lập kinh tế và ngoại giao đến khi Chính phủ Iran nhượng bộ hoặc sụp đổ. Nhưng đó sẽ là một sai lầm vì một số lý do. Đối với Triều Tiên, Thỏa thuận khung đổ vỡ một phần là do Quốc hội Mỹ, nhất quyết không “dỗ dành” Bình Nhưỡng, từ chối cung cấp năng lượng cho Triều Tiên như đã thỏa thuận trước đó. Nhưng việc không thực hiện thỏa thuận đã không làm cho Triều Tiên sụp đổ hay thỏa hiệp mà dẫn đến sự xuất hiện của một quốc gia vũ khí hạt nhân hoang tưởng với khả năng tên lửa đạn đạo liên lục địa – hầu như không phải là quảng cáo cho chiến lược đó. Do đó, cách tiếp cận đúng đắn với Iran hiện nay không phải là từ bỏ đàm phán, dẫn đến khả năng xuất hiện quốc gia hạt nhân Iran hoặc sẽ phải đưa ra lựa chọn thảm khốc là tấn công Iran, mà phải là tiến hành đàm phán thành công.

Iran là một xã hội cởi mở và năng động hơn Triều Tiên. Iran có một chính phủ không được nhiều người ủng hộ, tầng lớp trung lưu có học thức và dân số trẻ mong muốn hội nhập với cộng đồng quốc tế, nên điều này sẽ khiến chính quyền phải chịu nhiều áp lực hơn. Mặc dù chưa thể đảm bảo nhưng sau một thập kỷ nữa khi một số hạn chế hiện nay đối với chương trình hạt nhân của Iran hết hiệu lực, với nhà lãnh đạo khác cầm quyền tại Tehran, có thể sẽ có nhiều cuộc đối thoại mang tính xây dựng hơn, các đảm bảo về hạt nhân và thậm thậm chí hợp tác khu vực có thể diễn ra.

Sẽ là ngây thơ khi tin rằng sẽ có một chính phủ tại Iran – ngay cả khi chính phủ đó không thù địch với Israel và các quốc gia Hồi giáo do người Sunni chiếm đa số – hoàn toàn từ bỏ nỗ lực phát triển ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân đã được thực hiện nhiều thập kỷ nay. Tuy nhiên, sẽ là khôn ngoan khi xem xét quan điểm cho rằng sự kết hợp đúng đắn giữa khuyến khích và làm thoái chí có thể khiến các nhà lãnh đạo Iran khác nhau chấp nhận những giới hạn có ý nghĩa và giám sát hiệu quả ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân. Triều Tiên đã có lựa chọn khác và hiện là một trong những nước nghèo nhất và bị cô lập nhất trên thế giới. Tehran, hoặc thực tế hơn, những người Iran, có thể nhìn vào tiền lệ đó và quyết định một tương lai khác.

Điểm khác biệt nữa là giải pháp quân sự nhằm ngăn chặn Iran sở hữu năng lực hạt nhân sẽ vẫn là lựa chọn cuối cùng. Ở Triều Tiên, quyền tấn công phủ đầu quân sự từ lâu không thể thực hiện được do thực tế chiến lược rằng hầu hết dân số Hàn Quốc, bao gồm thủ đô Seoul, nằm trong tầm bắn của hàng ngàn tên lửa của Triều Tiên. Đồng thời tất cả các nước láng giềng của Triều Tiên, bao gồm Hàn Quốc, phản đối sử dụng hành động quân sự để ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân. Một cuộc tấn công phủ đầu chống lại chương trình hạt nhân của Iran tất nhiên sẽ tốn kém và không rõ hiệu quả, nhưng khi cân nhắc giữa chi phí và hậu quả từ khả năng hạt nhân của Iran, đây vẫn sẽ là một lựa chọn thực tế được nhiều nước láng giềng của Iran ủng hộ.

Vì vậy, mặc dù giải pháp quân sự đối với Iran là không lý tưởng, nhưng Mỹ và các đồng minh vẫn cần tính đến lựa chọn này. Điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ vẫn duy trì và phát triển thêm các khả năng như: sử dụng Massive Ordnance Penetrator, quả bom 30.000 pound (gần 14 tấn) có khả năng phá hủy các boongke dưới mặt đất, để bảo vệ chính sách mà Mỹ từng tuyên bố rằng nước này sẽ không cho phép Iran sở hữu vũ khí hạt nhân; triển khai các hệ thống phòng thủ tên lửa hiệu quả tại Israel và các quốc gia vùng Vịnh để đảm bảo rằng thủ đô của các nước này không bị Iran đe dọa như cách thức mà Triều Tiên đang làm với Seoul. Tehran có thể sẽ nhìn vào tiền lệ của Bình Nhưỡng và sẽ đưa ra một quyết định khác.

Sự khác biệt cuối cùng là mặc dù Triều Tiên hiện đã trở thành một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân được trang bị nhiều tên lửa tầm xa, nhưng vẫn còn thời gian với Iran. Ngay cả các nhà lãnh đạo ở Washington và Trung Đông phản đối thỏa thuận hạt nhân với Iran cũng nên thừa nhận rằng cho đến nay thỏa thuận này ít nhất đã ngăn chặn Iran tiếp tục phát triển chương trình hạt nhân và họ nên sử dụng thời gian đó một cách khôn ngoan. Mỹ nên chấp nhận các kết luận của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế và các cơ quan khác rằng Iran đang tuân thủ thỏa thuận và cần tiếp tục trì hoãn áp dụng các biện pháp trừng phạt bổ sung định kỳ để duy trì thỏa thuận. Một quyết định đơn phương của Chính quyền Trump tuyên bố Iran không tuân thủ, hoặc gây ra một cuộc khủng hoảng giả tạo trong quá trình tiến hành các cuộc thanh sát, như một số nhân vật trong chính quyền này đang lên kế hoạch, sẽ chỉ có tác dụng cô lập Mỹ và tạo cho Iran cái cớ để nối lại các hoạt động hạt nhân.

Thay vào đó, Mỹ và các đối tác quốc tế nên tận dụng thời gian mà thỏa thuận hạt nhân tạo ra để bắt đầu tính đến khả năng Iran sẽ bỏ qua cơ hội trấn an cộng đồng quốc tế và thay vào đó tìm cách làm theo kịch bản của Triều Tiên. Mỹ nên khởi động cuộc đối thoại chiến lược chân thật với tất cả các đối tác quốc tế để bàn biện pháp thẩm tra và thực thi thỏa thuận hạt nhân Iran trong khi thỏa thuận vẫn còn hiệu lực, cũng như những gì cần làm nếu Iran đang hoặc sẽ vi phạm thỏa thuận trong tương lai.

Theo thỏa thuận hạt nhân Iran, nước này có thời gian từ 10 năm đến 15 năm để chứng minh rằng chương trình năng lượng hạt nhân của họ là hoàn toàn vì mục đích hòa bình. Nếu tại thời điểm các hạn chế đó được dỡ bỏ, Iran vẫn là quốc gia chủ yếu tài trợ khủng bố, không muốn sống trong hòa bình với các nước láng giềng cũng như không thể đảm bảo rằng nước này không có ý định sở hữu vũ khí hạt nhân, Mỹ và các đối tác trong khu vực và trên thế giới sẽ phải quyết định làm thế nào để đối phó với Iran. Để có thể cùng đưa ra được một quyết định phù hợp, Mỹ và các nước đối tác nên bắt đầu thảo luận từ ngày hôm nay.

Triều Tiên luôn có một đồng minh, đó là Trung Quốc, quốc gia không ủng hộ các biện pháp trừng phạt đối với những vi phạm về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên bởi nước này lo sợ sẽ dẫn đến sự sụp đổ của một chế độ và mất đi một quốc gia ủy nhiệm. Iran không có người bảo vệ như vậy. Nếu Iran không thể sử dụng thời gian mà thỏa thuận hạt nhân tạo ra để trấn an thế giới rằng “Iran sẽ không bao giờ tìm kiếm, phát triền hoặc sở hữu bất kỳ vũ khí hạt nhân nào”, các cường quốc của thế giới cần thống nhất rằng họ vẫn còn đầy đủ các lựa chọn, trong đó có lựa chọn quân sự và tái áp dụng các lệnh trừng phạt khiến Iran phải quay lại đàm phán từ đầu.

Không thể phủ nhận những điểm tương đồng gây khó chịu giữa trường hợp của Triều Tiên và Iran, nhưng cũng có thể là sai lầm nếu bỏ qua những khác biệt. Nếu các nhà lãnh đạo Mỹ và các đối tác Trung Đông rút ra được bài học đúng đắn từ kinh nghiệm đối với Triều Tiên, họ sẽ có cơ hội tránh đi vào vết xe đổ đối với Iran.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/north-korea/2017-08-01/will-iran-become-next-north-korea

TLTKĐB – 15/08/2017

Advertisements

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần cuối


Lưu ý điều này, những sự chuẩn bị của Mỹ chia thành một số loại hình:

+ Cải thiện khả năng duy trì các hoạt động quân sự cường độ cao: Bộ Quốc phòng cần phân tích “những vật tư tiêu hao” quan trọng (các vũ khí và đạn được) mà có thể không hết hạn sử dụng và làm nghiêng cán cân trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh kéo dài.

+ Thay đổi hướng tới những phương tiện mang vũ khí có khả năng tồn tại hơn: Lầu Năm Góc không cần tăng các kho dự trữ các phương tiện mang vũ khí dễ bị tổn hại (các tàu mặt nước và các máy bay có người lái) mà được cho là chịu những tổn thất đáng kể do A2/AD của Trung Quốc. Đúng hơn, Lầu Năm Goác cần thực hiện một chương trình có chủ đích trong dài hạn để thay thế các hệ thống có khả năng sống sót hơn, ít nhất là đối với khu vực này.

+ Cải thiện các khả năng tiến hành chiến tranh của Mỹ và đồng minh: Ngoài việc cải thiện khả năng tồn tại, các lực lượng Mỹ và đồng minh cần lợi dụng về mặt chiến lược nhiều hơn các công nghệ mà Trung Quốc đang lợi dụng ở A2/AD  của nước này, bao gồm các tên lửa nhằm mục tiêu, phạm vi chiến trường, hệ thống phòng không phạm vi rộng tiên tiến và các tàu ngầm.

+ Thực hiện lập kế hoạch tình huống bất ngờ với các đồng minh then chốt: Nhật Bản là đồng minh quan trọng nhất nhưng cũng gây tranh cãi nhất; tuy nhiên, việc lập kế hoạch quân sự Mỹ – Nhật không phô trương hiện nay là một khuôn khổ đã định (được Trung Quốc biết rõ) có thể bắt đầu động chạm đến các vấn đề về cuộc xung đột xác suất thấp và hậu quả cao với Trung Quốc. Việc lập kế hoạch tương tự với các đồng minh Đông Á khác được khuyến khích. Việc lập kế hoạch của NATO cần được mở rộng theo hướng các đồng minh châu Âu sẽ phản ứng như thế nào trước mối đe dọa của Nga nếu Mỹ ở trong cuộc chiến tranh lớn với Trung Quốc. Một lần nữa, đây là một vấn đề tế nhị và tốt nhất được làm mà không phô trương ầm ĩ.

Thực hiện các biện pháp làm giảm nhẹ sự gián đoạn của các sản phẩm quan trọng từ Trung Quốc: ở đây một lần nữa đánh giá có cơ sở phải phổ biến. Đối với Mỹ, cắt giảm bớt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc trong trường hợp vạn nhất xảy ra một cuộc chiến tranh sẽ làm phương hại đến chính nền kinh tế nước này khi lường trước một sự kiến khó có khả năng xảy ra, mà mặc dù sẽ gây ra khó khăn về kinh tế, sẽ không mang tính thảm họa. Nó sẽ đủ để Chính phủ Mỹ xác định các nguồn cung cấp trong và ngoài nước thay thế chỉ cho các sản phẩm và linh kiện quan trọng nhất sản xuất ở Trung Quốc. Việc này có thể bao gồm dự trữ các nguyên vật liệu đặc biệt thiết yếu.

+ Phát triển những lựa chọn để ngăn chặn sự tiếp cận của Trung Quốc với các hàng hóa và công nghệ quan trọng cho chiến tranh trong trường hợp xảy ra chiến tranh: Mặc dù một cuộc phong tỏa chung của Mỹ sẽ không phải là cần thiết để làm phương hại đến nền kinh tế Trung Quốc, Mỹ có thể thực hiện các biện pháp gây khó khăn cho Trung Quốc trong việc duy trì một cuộc chiến khốc liệt và kéo dài. Cắt giảm sự tiếp cận của Trung Quốc với các nguồn cung dầu lửa và khí tự nhiên hóa lỏng bằng đường biển sẽ có tác động đáng kể nhất. Mặc dù Nga có thể hăm hở và có khả năng cung cấp cho Trung Quốc thiết bị quân sự trong một cuộc chiến tranh, sự tiếp cận của Trung Quốc với các hệ thống phức tạp hơn của phương Tây có thể bị ngừng lại.

Những biện pháp như vậy của Mỹ có thể củng cố những nhận thức của Trung Quốc rằng Mỹ kiên quyết bao vây và cô lập Trung Quốc, cũng như tạo ra những nhận thức chor ằng Mỹ sẽ tìm cách phá Trung Quốc và phá hủy nhà nước của họ trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Sự phân biệt đưa ra là Mỹ không tìm cách cô lập Trung Quốc trừ khi cuộc chiến tranh đòi hỏi nước này làm vậy. Nguy cơ làm phương hại các mối quan hệ Trung – Mỹ có thể giảm bớt, mặc dù chỉ ở mức độ nhất định, bằng các nỗ lực kiên nhẫn và kiên trì của Mỹ để cùng những người đồng nhiệm về chính trị và quân sự của Trung Quốc thảo luận về hợp tác và xử lý khủng hoảng.

Lục quân Mỹ, với tư cách là lực lượng thuận Chuẩn luật số 10 và trong các trách nhiệm chung của nó, có các vai trò quan trọng trong nhiều mặt sự chuẩn bị như vậy. Quân đội Mỹ nên làm những việc sau:

+ Đầu tư vào các khả năng A2/AD được đặt trên đất liền (ví dụ như các tên lửa di động tầm chiến trường và các hệ thống phòng không tiên tiến) để góp phần gây những tổn thất quân sự lớn của Trung Quốc.

+ Khuyến khích và giúp cho các đối tác Đông Á tăng cường phòng thủ mạnh mẽ, bao gồm các tên lửa và phòng không.

+ Cải thiện khả năng hành động phối hợp với các đối tác, đặc biệt là Nhật Bản.

+ Góp phần mở rộng và làm sâu sắc sự hiểu biết và hợp tác giữa quân đội với quân đội Trung – Mỹ để giảm những mối nguy hiểm của sự hiểu sai và tính toán sai.

Bởi vì một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ, trong cấu trúc được sử dụng ở đây, sẽ không bao gồm một trận chiến trên bộ lớn, những tổn thất dự kiến của Lục quân Mỹ sẽ ít hơn so với những tổn thất của lực lượng Hải quân và Không quân. Do đó, phân tích này không thay đổi các yếu tố lên kế hoạch hiện nay liên quan đến những đòi hỏi tổng thể về quân số thực hay huy động – cho dù với những đầu tư quan trọng vào công nghệ và phươgnt iện mang vũ khí và những thay đổi trong cấu trúc lực lượng để tăng cường hỏa lực tầm xa và phòng không như đã lưu ý. Tuy nhiên, một cuộc xung đột lớn trên bán đảo Triều Tiên sẽ làm thay đổi giả định này.

Các nhận xét kết luận

Khi những cải thiện về quân sự của Trung Quốc vô hiệu những lợi thế quân sự của Mỹ, và bởi vì công nghệ có lợi cho lực đối kháng thông thường, cuộc chiến tranh giữa hai nước có thể khốc liệt, kéo dài trong 1 năm hoặc hơn, không có người thắng, và gây ra những tổn thất và chi phí lớn ở cả hai phía. Một cuộc chiến tranh như vậy càng kéo dài, thì những tác động kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế càng đáng kể. Trong khi các tác động phi quân sự như vậy sẽ giáng vào Trung Quốc mạnh nhất, chúng cũng có thể gây phương hại lớn cho nền kinh tế Mỹ và khả năng của Mỹ đáp ứng các thách thức an ninh trên toàn thế giới. Mỹ cần tạo ra những sự chuẩn bị thận trọng để có thể tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt với Trung Quốc. Không kém phần quan trọng là khả năng của Mỹ giới hạn quy mô, cường độ và khoảng thời gian của một cuộc chiến tranh với Trung Quốc thông qua việc lập kế hoạch của nước này, hệ thống kiểm soát dân sự, và khả năng của Mỹ thông tin liên lạc với Trung Quốc trong thời bình, trong khủng hoảng và trong chiến tranh.

Cũng tương tự đối với Trung Quốc, đòi hỏi phải có sự kiểm soát chính trị và thông tin liên lạc cấp cao tốt thời chiến. Thực sự là những cải thiện về quân sự của Trung Quốc làm giảm bớt nguy cơ thất bại rõ ràng trước Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc không thể dựa vào một cuộc chiến tranh ngắn, và một cuộc chiến tranh kéo dài có thể khiến Trung Quốc yếu kém, không ổn định, không an toàn và nghèo khổ.

Để diễn giải lời Frederick the Great, các cường quốc được vũ trang tốt ngang sức nhau đang toan tính chiến tranh sẽ muốn cân nhắc xem liệu những thành quả có thể thậm chí có sẽ “trả lãi” cho những phí tổn có thể có không. Khi Mỹ và Trung Quốc trở nên ngang bằng về khả năng phá hủy của các lực lượng của nhau, không bên nào có thể tin tưởng sẽ giành chiến thắng với một cái giá có thể chấp nhận được. Tốt hơn hết là nếu cả hai phía suy nghĩ về làm thế nào để hạn chế thiệt hại, chứ không phải chỉ về làm thế nào để chiến thắng, nếu một cuộc đối đầu hoặc một sự cố có thể dẫn đến những hành động thù địch.

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XVI


Hậu quả này cho thấy rằng một cuộc xung đột có thể được quyết định bởi các yếu tố chính trị trong nước, quốc tế, và đặc biệt là kinh tế, tất cả sẽ có lợi cho Mỹ trong một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt:

+ Mặc dù một cuộc chiến tranh có thể làm phương hại cả hai nền kinh tế, thiệt hại đối với nền kinh tế Trung Quốc sẽ tồi tệ hơn nhiều (có thể là 25 – 35% GDP sau 1 năm). Bởi vì phần lớn Tây Thái Bình dương sẽ trở thành một vùng chiến tranh, thương mại của Trung Quốc với khu vực này và phần còn lại của thế giới sẽ suy giảm đáng kể. Những mất mát của Trung Quốc về nguồn cung năng lượng bằng đường biển sẽ đặc biệt gây thiệt hại. Mặc dù tiêu thụ chiếm một phần nhỏ hơn trong nền kinh tế Trung Quốc hơn so với trong nền kinh tế Mỹ, nó được dự kiến sẽ tăng lên, làm cho nền kinh tế Trung Quốc dễ bị tổn hại trước sự suy giảm hơn nữa trong trường hợp xảy ra chiến tranh.

+ Về mặt chính trị, một cuộc xung đột dài, đặc biệt là nếu khốc liệt về quân sự mang tính trừng phạt về kinh tế, có thể đưa Trung Quốc vào tình trạng chia rẽ nội bộ – đòi hỏi nhiều và thử thách nhà nước.

+ Sự tham gia của Nhật Bản và ở một chừng mực ít hơn là các đối tác của Mỹ trong khu vực có một ảnh hưởng đáng kể lên các hoạt động quân sự. Những phản ứng của Nga, Ấn Độ, và NATO ít quan trọng hơn. Tuy nhiên, các nỗ lực của NATO duy trì an ninh ở các khu vực khác (ít nhất là ở châu Âu, nếu không muốn nói là cả ở Trung Đông) sẽ cho phép cam kết lớn hơn hoặc ít mạo hiểm hơn của các lực lượng Mỹ đối với cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Một sự kết hợp những phản ứng quốc tế như vậy có thể làm tăng những tổn thất của Trung Quốc trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt, bất chấp A2/AD được cải thiện.

Nói tóm lại, bất chấp những xu hướng quân sự có lợi cho mình, Trung Quốc không thể giành chiến thắng, và có thể thất bại, một cuộc chiến tranh khốc liệt với Mỹ vào năm 2025, đặc biệt nếu kéo dài. Hơn nữa, những phí tổn về kinh tế và những nguy cơ chính trị của một cuộc chiến tranh như vậy có thể gây nguy hiểm cho sự ổn định của Trung Quốc, chấm dứt sự phát triển của nước này và làm xói mòn tính hợp pháp của nhà nước.

Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, các khả năng, động lực và các kế hoạch quân sự của cả hai phía khiến cho một cuộc xung đột khốc liệt, kéo dài, và quá tốn kém trở thành một khả năng rõ ràng. Trong số nhiều lý do mà Mỹ không muốn có một cuộc chiến tranh như vậy, quan trọng nhất là những tổn thất lớn về quân sự và những phí tổn kinh tế đối với chính nước này và những ảnh hưởng đối với đất nước này, khu vực và thế giới của tổn hại gây choáng váng cho Trung Quốc. Những triển vọng như vậy làm nổi bật tầm quan trọng của việc Mỹ và Trung Quốc suy tính nên làm thế nào để kiểm soát và hạn chế chiến sự nếu một cuộc khủng hoảng trở nên bạo lực, điều làm nổi bật các nguyên tắc và thủ tục cho sự kiểm soát chính trị và thông tin liên lạc.

Những khuyến nghị

Những phát hiện khẳng định những gì đang được nhìn nhận rộng rãi: một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ sẽ có hại tới mức cả hai bên cần đặt ưu tiên rất cao cho việc tránh một cuộc chiến như vậy. Trong khi những triển vọng như vậy làm cho cuộc chiến tranh có suy tính trước rất không chắc chắn, chúng cũng đòi hỏi quản lý khủng hoảng cá nhân và song phương hiệu quả, cũng như các biện pháp khác để tránh những sự hiểu sai và những sai lầm.

Bởi vì Mỹ không thể kiểm soát, giành chiến thắng hoặc tránh những tổn thất và chi phí lớn của một cuộc xung đột khốc liệt, nước này phải bảo vệ chống lại việc tự động thực hiện các cuộc tấn công ngay lập tức vào A2/AD của Trung Quốc và cần có các kế hoạch và biện pháp để ngăn chặn những hành động thù địch trở nên nghiêm trọng hơn. Việc thiết lập những dàn xếp “dự phòng để đảm bảo an toàn” sẽ đảm bảo sự chấp thuận về mặt chính trị dứt khoát  và có hiểu biết cho các hoạt động quân sự.

Cũng như vậy, Trung Quốc có quá nhiều thứ mất mát từ một cuộc xung đột khốc liệt, và thậm chí còn mất nhiều hơn từ một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt. Bất kể các xu hướng quân sự thuận lợi, Trung Quốc cũng có nhiều lý do như Mỹ phải tránh việc thực hiện tự động các kế hoạch quân sự cho một cuộc đấu đối kháng dữ dội và ngay lập tức, bao gồm một đòi hỏi song song về phải có một sự kiểm soát chính trị rõ ràng. Một lần nữa, nếu cả hai nhà nước thực hiện các kế hoạch quân sự của mình để tấn công lực lượng của phía kia, một cuộc chiến tranh khốc liệt có thể xảy ra sau đó.

Do đó, sẽ là cần thiết nhưng không đủ nếu Mỹ có thể kiềm chế thực hiện đầy đủ các kế hoạch quân sự một khi cuộc chiến bắt đầu, vì nước này có thể không do dự tấn công mạnh nếu Trung Quốc đang hoặc sắp làm vậy. Do sự trừng phạt cực đoan đối với việc để cho các lực lượng của một bên bị tấn công trước khi họ tấn công, việc tạo ra sự kiên nhẫn với nhau ngay từ khi bắt đầu tình trạng thù địch có thể cũng ở mức khó như mức độ quan trọng của nó. Nó đòi hỏi một khả năng hợp tác vào thời điểm áp lực căng thẳng buộc phải tấn công, mà đến lượt nó khiến việc thông tin liên lạc chính trị rõ ràng, trực tiếp và kịp thời sau đó cũng quan trọng như trước khi chiến sự bắt đầu. Cùng với việc đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo chính trị Mỹ và Trung Quốc có những lựa chọn quân sự ngoài các cuộc tấn công ngay tức khắc nhằm phá hủy các lực lượng đối phương, việc có các phương tiện tham khảo và kiềm chế một cuộc xung đột trước khi nó vượt ngoài tầm kiểm soát là khuyến nghị quan trọng nhất từ bài phân tích này.

Cùng với các biện pháp ngăn cản các cuộc khủng hoảng trở nên bạo lực và ngăn chặn bạo lực trở nên khốc liệt, Mỹ cần tìm cách giảm tác động A2/AD của Trung Quốc trong những năm tới. Công việc tại RAND và những nơi khác ngày càng nhấn mạnh sự cần thiết phải đầu tư vào các phương tiện mang vũ khí có khả năng tồn tại hơn (ví dụ như các tàu ngầm) và vào chống A2/AD (ví dụ các tên lửa chiến trường). Những nỗ lực như vậy sẽ củng cố biện pháp răn đe, giúp làm sự tin tưởng của Trung Quốc vào việc thắng thế trong một cuộc xung đột khốc liệt, và cải thiện sự ổn định trong các cuộc khủng hoảng, cũng như trong giai đoạn đầu quan trọng của một cuộc xung đột. Nhưng các nỗ lực này sẽ không làm giảm đáng kể những tổn thất về quân sự và những phí tổn về kinh tế của Mỹ trong một cuộc xung đột khốc liệt.

Ngay cả khi các khả năng quân sự của Trung Quốc cải thiện, nước này sẽ gánh chịu những thiệt hại lớn trong một cuộc xung đột kéo dài, khốc liệt. Hơn nữa, những tác động về kinh tế, ở trong nước và quốc tế của một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt có chiều hướng chống lại Trung Quốc. Mỹ cần đảm bảo rằng Trung Quốc đặc biệt nhận thức được khả năng có những kết quả mang tính thảm họa cho dù một cuộc chiến tranh không gây ra tổn thất về mặt quân sự.

Trong khi quên thiệt hại nghiêm trọng đối với Mỹ trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt, những sự chuẩn bị cẩn thận của Mỹ cho một cuộc xung đột sẽ giúp cho Trung Quốc tỉnh ngộ trước ảo tưởng về một chiến thắng đầy mong đợi với cái giá có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, nhấn mạnh thêm lẽ phải thông thường cần thiết trong việc suy tính về những sự chuẩn bị như vậy. Như được nhấn mạnh ngay từ đầu nghiên cứu này, cuộc chiến tranh với Trung Quốc là điều không thể, một phần bởi vì cả hai phía hiểu rằng những cái giá sẽ lớn hơn những thành quả đạt được, ngay cả với người dành chiến thắng – nếu quả thực có một bên chiến thắng như vậy. Hơn nữa, những cái giá của việc hoàn toàn sẵn sàng là quá cao – chắc chắn là lớn hơn những cái giá của cuộc chiến tranh khi bị giảm bớt bởi khả năng thấp của một cuộc chiến.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XV


Những lời báo trước về phản ứng của các bên thứ ba đầy sự thiếu chắc chắn ngay cả vào lúc này, chứ chưa nói đến 10 năm tới. Phần nhiều sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân chiến tranh: Chẳng hạn, một động thái của Trung Quốc nhằm giành được quyền kiểm soát biển Hoa Đông hay Nam Trung Hoa đủ trắng trợn để buộc Mỹ can thiệp có vũ trang sẽ có nhiều khả năng tạo ra một phản ứng đáng kể của quốc tế chống lại Trung Quốc hơn so với một cuộc xung đột về Đài Loan, đặc biệt là nếu có vẻ là người Trung Quốc đã bị khiêu khích. Có thể hiểu được rằng nhiều bạn bè của Mỹ, gần và xa, sẽ ngồi yên chờ thời cơ hoặc rằng Nga hoặc Triều Tiên sẽ hành động theo các cách làm gia tăng các nguy cơ và gánh nặng quân sự cho Mỹ. Nhưng một khả năng khác, đã được đề cập trong phần thảo luận trước về “các giới hạn trên” của chiến tranh, là nhiều nước sẽ bị lôi kéo vào hoặc tham chiến một cách cơ hội, dẫn tới một cuộc chiến tương tự như chiến tranh thế giới. Tuy nhiên, nhóm tác giả cho rằng phản ứng quốc tế có khả năng nhiều hơn sẽ là việc các nước khu vực với những lợi ích trực tiếp và then chốt, chẳng hạn như Nhật Bản, sẽ tham gia, chủ yếu gây bất lợi cho Trung Quốc.

Tóm lại, công luận thế giới sẽ ủng hộ việc ngừng chiến ngay lập tức. Nga có thể cằn nhằn khó chịu, tỏ thái độ và lợi dụng một cuộ xung đột Trung – Mỹ bằng cách chủ động hành động ở một nơi khác, dù có đồng thuận với Trung Quốc hay không. Một số nước Đông Á, ở các mức độ khác nhau, sẽ đứng sau ủng hộ cho Mỹ. Sự tham gia của Nhật Bản có thể khiến một cuộc xung đột khốc liệt kéo dài trở nên tốn kém hơn cho Trung Quốc nhưng cũng có thể gia tăng những mối nguy hiểm cho sự leo thang.

4 trường hợp và tác động của chúng

Mỗi loại tác động đều quan trọng vì bản thân nó và vì những ảnh hưởng của nó tới những tác động khác:

+ Những thiệt hại quân sự có thể tác động tới năng lực, đặc biệt là của Trung Quốc, để duy trì thương mại, ngăn chặn việc phá hoại cơ sở hạ tầng, và duy trì quyền tiếp cận các nguồn năng lượng.

+ Những lĩnh vực mới của chiến tranh – mạng và không gian – có thể có cả tác động quân sự lẫn kinh tế, do các hệ thống sử dụng kép (ví dụ như thông tin liên lạc, các mạng lưới hậu cần, GPS) có thể bị vô hiệu hóa.

+ Chiến tranh mạng, nếu không được hạn chế ở các mạng lưới quân sự, có thể cản trở các phản ứng chính trị tới chiến tranh, ảnh hưởng tới các bên thứ ba, và làm trầm trọng thêm những gián đoạn về kinh tế.

+ Các phí tổn kinh tế, dù do chiến sự hay do gián đoạn về thương mại, sẽ ảnh hưởng tới năng lực của các binh lính bù đắp cho những thiệt hại quân sự trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt.

+ Khó khăn về kinh tế, chẳng hạn như giảm tiêu dùng và sự tiếp cận các mặt hàng thiết yếu, có thể ảnh hưởng tới sự ủng hộ chính trị, sự ổn định và sự gắn bó, và từ đó ảnh hưởng tới năng lực và quyết tâm của mỗi bên để tiếp tục chiến đấu với cường độ cao.

+ Dư luận thế giới bất lợi với một hoặc cả hai bên sẽ mang lại ít sự khác biệt trong năng lực và ý chí chiến đấu của họ, ít nhất trong ngắn hạn. Tuy nhiên, những phản ứng của các bên thứ ba quan trọng cuói cùng có thể giúp bên này hoặc bên kia bằng các cách chính: chiến đấu trực tiếp, tiếp tế chiến tranh, thương mại, quyền tiếp cận năng lượng, và, trong trường hợp của Mỹ, hỗ trợ trên các chiến trường khác mà tạo điều kiện cho tập trung các lực lượng.

Nhìn chung, sự giảm sút trong các lợi thế chiến đấu của Mỹ không có nghĩa là Trung Quốc có thể chiến thắng một cuộc chiến mà Mỹ sẵn sàng chiến đấu. Tới năm 2025, một cuộc chiến tranh có thể là một thế giằng co ngoài những thiệt hại trên mạng và trong không gian. Tuy nhiên không bên nào sẽ rơi vào tình trạng kém hơn nhiều so với bên kia đến mức cảm thấy bị buộc phải nhận thua, làm gia tăng khả năng rằng một cuộc chiến có thể vừa khốc liệt vừa kéo dài. Một cuộc chiến nhưv ậy có thể được quyết định bởi các phí tổn kinh tế, các tác động chính trị trong nước và những phản ứng quốc tế. Sự tham gia của Nhật bản có thể bù đắp cho sự suy giảm ưu thế quân sự của Mỹ, đặc biệt là trong một cuộc xung đột kéo dài. Tất cả những nhân tố này, tổng hợp lại, sẽ có lợi nhiều cho Mỹ.

Hãy nhớ lại nhận xét trước đây rằng chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ có thể tồi tệ hơn cả trường hợp khốc liệt và kéo dài đã được mô tả ở đây. Trong thế kỷ 20, hai cuộc chiến tranh giữa các nước lớn đã trở thành chiến tranh thế giới, và một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba có thể đi theo tiến trình tương tự, thậm chí tồi tệ hơn. Khả năng một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ lôi kéo thêm các cường quốc và nhiều nước khác không thể bị loại trừ: Ngoài Nhật Bản, có thể Ấn Độ, Việt Nam và NATO sẽ đứng về phía Mỹ; Nga và Triều Tiên sẽ ở phía Trung Quốc. Chiến sự có thể lan vượt ra ngoài khu vực. Các mục tiêu chiến tranh có thể mở rộng, và khi điều này xảy ra, các phí tổn của thất bại cũng vậy. Thậm chí nếu vũ khí hạt nhân không được sử dụng, Trung Quốc có thể tìm các cách khác để tấn công Mỹ thích đáng. Việc sử dụng không gian và không giang mạng có thể bị cắt giảm. Chừng nào chiến sự vẫn còn mang tính toàn diện, sự phá hủy và khó khăn có thể tiếp thêm nhiên liệu cho quyết tâm và sự huy động thêm. Tóm lại, cả thời lượng và mức độ khốc liệt của chiến tranh đều có thể vượt quá trường hợp cao hơn được sủ dụng trong bài viết này vì mục đích phân tích. Nếu vậy, những thiệt hại và phí tổn thậm chí sẽ còn lớn hơn đối với cả hai bên và thế giới, và kết quả sẽ không có lợi hơn cho Trung Quốc, bất chấp sự mở rộng sức mạnh của nước này.

NHỮNG PHÁT HIỆN, KHUYẾN NGHỊ VÀ NHẬN XÉT KẾT LUẬN

Những phát hiện

Trừ khi các nhà lãnh đạo chính trị của cả Mỹ lẫn Trung Quốc từ chối cho phép quân đội của họ thực hiện các chiến lược đối kháng, khả năng của hai nhà nước kiểm soát cuộc xung đột xảy ra tiếp sau sẽ bị suy yếu nghiêm trọng. Cả hai nước ngay từ đầu sẽ phải chịu những tổn thất lớn về quân sự và trong suốt một cuộc xung đột khốc liệt: Vào năm 2015, những tổn của Mỹ có thể là một phần lực lượng tương đối nhỏ, nhưng vẫn đáng kể; những tổn thất của Trung Quốc có thể nặng nề hơn so với những tổn thất của Mỹ và phần lực lượng đáng kể. Khoảng cách về tổn thất này sẽ thu hẹp lại khi A2/AD của Trung Quốc cải thiện: Cho tới năm 2025, những tổn thất của Mỹ có thể từ đáng kể đến nặng nề; những tổn thất của Trung Quốc, trong khi vẫn rất nặng nề, có thể phần nào ít hơn so với năm 2015, do sự suy giảm ngày càng tăng của các khả năng tấn công của Mỹ. Một cuộc xung đột khốc liệt và kéo dài có thể làm cho cả hai nước bị suy giảm đáng kể toàn bộ khả năng quân sự và do đó dễ bị tổn hại trước các mối đe dọa khác.

A2/AD của Trung Quốc sẽ làm cho Mỹ ngày càng khó có thể giành được sự thống trị tác chiến quân sự và chiến thắng, ngay cả trong một cuộc chiến tranh kéo dài. Tuy nhiên, miễn là Mỹ sẵn sàng chiến đấu, Trung Quốc không thể hy vọng giành chiến thắng về quân sự. Do đó, hai nước có thể đối mặt với triển vọng thế đối đầu giằng co về quân sự hết sức tốn kém.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XIV


Những tác động quốc tế

Những tác động quốc tế của một cuộc chiến Trung – Mỹ có thể được hình dung như những vòng tròn đồng tâm: dư luận của thế giới nói chung ở ngoài cùng và ít gây ảnh hưởng nhất; ở vòng tròn tiếp theo, các phản ứng của các bên liên quan phi khu vực chính, bao gồm các đồng minh của mỗi bên; ở giữa và quan trọng nhất, các nước Đông Á. Bất chấp lập trường của họ về các nguyên nhân, phẩm chất và bên được ủng hộ trong một cuộc xung đột, các quốc gia, thể chế và doanh nghiệp trên toàn thế giới, vì lo sợ thiệt hại kinh tế, sẽ yêu cầu chấm dứt ngay lập tức chiến sự Trung – Mỹ. Nhưng các quan điểm như vậy không có khả năng gây ảnh hưởng tới bất kỳ bên tham chiến nào.

Có ý nghĩa quan trọng hơn so với dư luận thế giới sẽ là những phản ứng của các cường quốc khác, đặc biệt là Nga, Ấn Độ và các nước châu Âu (thành viên NATO). Ấn Độ và nga, hai láng giềng trên đất liền hùng mạnh nhất của Trung Quốc, tương ứng có khả năng sẽ ủng hộ Mỹ và Trung Quốc. Mặc dù Ấn Độ sẽ muốn kiềm chế không can thiệp quân sự trực tiếp, nước này có thể tăng cường sự sẵn sàng của lực lượng của mình dọc theo biên giới, đặc biệt là nếu nước này cảm thấy những lợi ích sống còn của mình có thể bị ảnh hưởng. Điều này có thể khiến Trung Quốc làm điều tương tự với các lực lượng lục quân PLA (mà trong mọi trường hợp không được sử dụng nhiều để chống lại các lực lượng Mỹ).

Nga là một nhân tố khó đoán hơn. Mặc dù nước này thiếu các khả năng để thực hiện các chiến dịch quân sự có hiệu quả ở Tây Thái Bình Dương, nước này có thể lợi dụng mối bận tâm của Mỹ ở Thái Bình dương để gia tăng các mối đe dọa tới các nước Liên Xô trước đây ở Đông Âu (ví dụ như Ukraine) và vùng Caucasus (ví dụ như Gruzia), và thậm chí cố gắng hăm dọa các nước láng giềng Baltic của nước này bất chấp tư cách thành viên NATO của họ. Một khả năng khác – ít có khả năng hơn nhưng với ý nghĩa rất khác – là Nga có thể nắm bắt cơ hội của một cuộc chiến Trung – Mỹ để củng cố vị thế của nước này ở Trung Á và Siberia gây tổn hại cho Trung Quốc. Đặt địa chính trị sang một bên, Nga sẽ nhiệt tình giúp Trung Quốc bù đắp lại các nguồn cung dầu và khí đốt đã mất, mặc dù không miễn phí. Ngoài ra, vũ khí của Nga có thể bù đắp phần nào cho những thiệt hại quân sự và phí tổn của Trung Quốc (ví dụ như máy bay và hệ thống phòng không), mặc dù sẽ mất thời gian để chúng được đưa vào vận hành, và phần lớn sẽ rất kém so với các lực lượng của Mỹ. Tuy nhiên, nhìn chung, điểm yếu kinh tế, những hạn chế quân sự và những mối nguy hiểm trên và bên trong biên giới của chính Nga giảm bớt tầm quan trọng của sự hỗ trợ của nước này cho Trung Quốc và khả năng hoặc tầm quan trọng của sự can thiệp của nước này.

Giả định rằng các đồng minh châu Âu của Mỹ nhìn nhận nước này là chính đáng, họ có khả năng sẽ hậu thuẫn nước này về chính trị, trong khi thúc giục kết thúc cuộc xung đột vì lo sợ nó leo thang hoặc phá hoại nền kinh tế thế giới. Không tham chiến trực tiếp, bản thân NATO có thể hứa hẹn hỗ trợ cho các nỗ lực của Mỹ nhằm chống chọi với sự gây hấn của Trung Quốc. Một trong số những đóng góp quan trọng nhất của châu Âu sẽ là ngăn chặn trước hoặc phản ứng trước bất kỳ áp lực gia tăng nào của Nga đối với Đông Âu. Trong quá trình diễn ra một cuộc xung đột kéo dài, châu Âu có thể sẵn sàng tham gia một lệnh cấm vận xuất khẩu sang Trung Quốc đối với bất kỳ hàng hóa, công nghệ và dịch vụ nào có thể hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của nước này.

Còn về các “đồng minh” Trung Quốc khác, Triều Tiên thậm chí còn khó dự đoán hơn Nga. Mặc dù Triều Tiên không còn có khả năng quân sự thông thường để xâm chiếm và đánh bại Hàn Quốc, nước này có thể sử dụng tên lửa chống lại Hàn Quốc hoặc Nhật Bản; mặc dù Seoul gần như chắc chắn sẽ không tham gia một cuộc chiến chống Trung Quốc trong bất kỳ trường hợp nào, các lựa chọn của Tokyo sẽ là phức tạp bởi sự hiếu chiến của Triều Tiên.

Một cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Mỹ có thể làm rối loạn Trung Đông rộng lớn hơn bằng việc đem lại một cơ hội cho bạo lực gia tăng từ các nhóm cực đoan Hồi giáo và chống Israel (IS, al-Qaeda, Hamas và Hezbollah). Những khó khăn của Trung Đông có thể gia tăng đòi hỏi lên các lực lượng hải quân và không quân Mỹ ở một thời điểm đang cần sự xuất hiện của họ nhiều hơn ở Tây Thái Bình Dương. Ngược lại, một sự chuyển dịch đáng kể của các lực lượng Mỹ từ Bộ Chỉ huy Trung tâm tới Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ có thể gia tăng khả năng bất ổn ở Trung Đông. Bạo lực gia tăng, chủ nghĩa cực đoan và bất ổn ở Trung Đông cũng có thể gây tổn hại cho Trung Quốc, khi phần lớn dầu mỏ của nước này đến từ đó (mặc dù dù sao đi nữa phần lớn dầu mỏ sẽ không được vận chuyển qua vùng chiến sự).

Các nước Đông Á sẽ có nhiều điều để mất nhất từ một cuộc chiến Trung – Mỹ: Phần lớn khu vực này có thể trở thành vùng chiến sự; nền kinh tế tập trung vào thương mại của khu vực này có thể rơi vào khủng hoảng; Trung Quốc có thể nổi lên vượt trội hoặc bất ổn; những thành tựu phi thường của khu vực về an ninh và thịnh vượng có thể bị đe dọa. Phần lớn các nước Đông Á sẽ muốn thấy chiến tranh kết thúc nhanh chóng trong chiến thắng về quân sự cho Mỹ, nhưng với Trung Quốc nguyên vẹn. Phần lớn các nước láng giềng của Trung Quốc đã dịch chuyển dần theo hướng quan hệ an ninh gần gũi hơn với Mỹ. Chiều hướng này có thể được nhấn mạnh trong một cuộc xung đột được coi là bắt nguồn từ tính hiếu chiến của Trung Quốc.

Quốc gia then chốt nhất là Nhật Bản, với sức mạnh quân sự đang ngày một gia tăng của nước này, mối quan hệ đối kháng của nước này với Trung Quốc, và khả năng mạnh mẽ rằng Trung Quốc sẽ tấn công các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản. Cách giải thích lại hiến pháp Nhật Bản gần đây, theo sáng kiến của Chính phủ Abe, đã hợp pháp hóa trên thực tế việc hỗ trợ quân sự cho Mỹ trong chiến tranh với Trung Quốc. Dĩ nhiên, khả năng về sự tham gia đáng kể của Nhật Bản trong cuộc chiến sẽ trở nên lớn hơn nếu Nhật Bản có liên quan tới vấn đề hoặc mâu thuẫn đã làm nổ ra xung đột (ví dụ ở biển Hoa Đông). Sự tham gia của quân đội Nhật Bản sẽ gần như được bảo đảm nếu Trung Quốc tấn công Nhật Bản. Mặc dù Trung Quốc có thể lựa chọn không tấn công các căn cứ Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản, một quyết định như vậy sẽ liên quan tới những trở ngại hành động lớn.

Còn đối với các khả năng, tàu ngầm, tàu chiến, máy bay tấn công, vũ khí tấn công và ISR có thể làm nên một sự khác biệt quan trọng trong một cuộc chiến khốc liệt vào năm 2025. Một cuộc xung đột Trung – Mỹ càng kéo dài, tác động có khả năng xảy ra của những đóng góp quân sự của Nhật Bản đối với phía Mỹ càng lớn. Trong một cuộc chiến khốc liệt kéo dài, Trung Quốc sẽ cảm thấy khó đấu tranh với các lực lượng Mỹ và Nhật Bản kết hợp, khi lực lượng Nhật Bản bù đắp cho sự tiêu hao của lực lượng Mỹ. Hơn nữa, sự tham gia của Nhật Bản sẽ giảm bớt nhu cầu của Mỹ lấy đi các lực lượng của mình ở nơi nào đó để tiếp viện.

Nhìn chung, sự tham chiến của Nhật Bản có thể gia tăng thiệt hại của Trung Quốc và bù đắp hoặc thậm chí làm giảm thiệt hại cho Mỹ trong một cuộc xung đột khốc liệt kéo dài. Vì các lực lượng Nhật Bản đang được cải thiện một cách vững chắc, sự tham chiến của nước này có thể mở rộng khoảng cách giữa thiệt hại của Mỹ và của Trung Quốc vào năm 2025 như đã được mô tả trên đây. Khả năng này củng cố nhận xét đã được đưa ra rằng thậm chí với A2/AD được cải thiện của Trung Quốc về sự vượt trội về quân sự đã giảm xuống của Mỹ, Trung Quốc không thể tin chắc vào việc chiến thắng một cuộc chiến khốc liệt kéo dài. Đồng thời, sự can thiệp của Nhật Bản sẽ khiến người Trung Quốc nổi giận và có thể kích động, kéo dài hoặc mở rộng cuộc xung đột. Điều đó có thể khiến Trung Quốc chiến đấu lâu dài hơn và chịu những phí tổn lớn hơn so với khi điều đó không xảy ra. Trung Quốc có thể mở rộng các cuộc tấn công vào Nhật Bản, mặc dù với cái giá của việc chuyển hướng các lực lượng vốn đã phải chịu sự tấn công và áp lực nặng nề.

Phụ thuộc vào nguyên nhân và địa điểm của cuộc xung đột, các nước Đông Á khác phần lớn sẽ cùng phe với Mỹ ở các mức độ khác nhau: với sự hỗ trợ từ cho phép sử dụng các căn cứ cho tới sự cam kết lực lượng có thể có (ví dụ như Australia, New Zealand, Philippines), cho tới việc hỗ trợ thận trọng cho Mỹ trong số các quốc gia có quan hệ vững chắc với Trung Quốc (đáng chú ý là Hàn Quốc) hoặc có dân gốc Trung Quốc đáng kể (ví dụ như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan), cho tới ủng hộ cho Trung Quốc (chỉ có Triều Tiên). Sự tham gia của các lực lượng Australia, vì chất lượng của chúng, có thể có ý nghĩa về quân sự bất chấp quy mô nhỏ của chúng. Ngoài những đóng góp về quân sự, cuộc xung đột càng kéo dài và càng khốc liệt, thì Trung Quốc càng trở nên bị cô lập và có thể càng bị cô lập lâu dài hơn khỏi chính khu vực mà nước này có tham vọng dẫn dắt. Điều này, đến lượt nó, có thể củng cố những tiếng nói ủng hộ hòa bình ở Bắc Kinh (ví dụ như trong Bộ Ngoại giao).

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XIII


Những tác động chính trị

Những tác động của chiến tranh đến phản ứng chính trị trong nước giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ khác biệt đáng kể vì các điều kiện chính trị của hai nước này quá khác nhau. Nhóm tác giả giả sử rằng những điều kiện này vào năm 2025 về cơ bản sẽ vẫn giữ nguyên như năm 2015. Bản chất, quy mô và thời điểm của các tác động chính trị, nếu có, thậm chí còn khó dự đoán hơn những thiệt hại quân sự và phí tổn kinh tế. Liệu những tác động được mô tả dưới đây có diễn ra trong hoặc sâu một cuộc xung đột kéo dài 1 năm (khoảng thời gian được coi là một cuộc chiến lâu dài) hay không là không thể biết được, nhưng mặc dù vậy nó vẫn đáng để xem xét.

Trung Quốc là một nước độc đảng, và hiện đang có một người đứng đầu chính phủ đầy quyền lực. Nhà lãnh đạo đó đang làm việc để củng cố quyền kiểm soát dân sự đối với quân đội. Những bất đồng giữa các quan chức dân sự hàng đầu hoặc giữa họ với các lãnh đạo quân đội hoặc các nhân vật tinh hoa kinh tế là không đáng kể hoặc được che đậy kín đáo. Công luận, dù là một nguồn áp lực quan trọng và có thể là cái nôi bất đồng tiềm tàng, không là then chốt đối với sự tồn tại của chế độ: Tầng lớp trung lưu chủ yếu có tình cảm yêu nước, những người nghèo ở nông thôn không có tiếng nói, những công nhân nhà máy di cư không có tổ chức, và những người chống đối chỉ là thiểu số và quan tâm tới tự do chính trị hoặc tôn giáo hơn là chính sách đối ngoại. Tranh luận và phản kháng được nhà nước miễn cưỡng chấp nhận. Quyền tiếp cận thông tin có thể bị kiểm soát, tới một mức độ nào đó, do quyền truy cập Internet rộng rãi. Nhà nước và bộ máy an ninh nội bộ của nó có nhiều biện pháp để đàn áp phe đối lập và ý chí để sử dụng những biện pháp đó. Tuy nhiên, sự cam kết của Bắc Kinh đối với trật tự trong nước phản ánh nỗi lo sợ kiểu bất ổn mà Trung Quốc từng trải qua trong quá khứ và có thể một lần nữa nhấn chìm đất nước, đe dọa chế độ, và khiến Trung Quốc yếu ớt và dễ bị tổn thương.

Chính trị trong nước của Mỹ gần như ngược lại so với Trung Quốc. Hiện tại, chính trị Mỹ bị phân cực và chính phủ bị chia rẽ. Gần như bất kỳ vấn đề nào, thậm chí chiến tranh và hòa bình, đều có thể dẫn tới sự chỉ trích, sự cãi vã giữa hai đảng, và sự tê liệt một phần. Năng lực của tổng thống để đóng vai trò một tổng tư lệnh hiệu quả có thể bị suy yếu bởi sự chính trị hóa; phe đối lập có thể đến từ các phe cánh hòa bình, phe cánh chiến tranh, hoặc cả hai. Trừ phi an ninh của đất nước trực tiếp bị đe dọa, sự hỗ trợ toàn tâm toàn ý của công chúng nói chung và giới tinh hoa không thể được giả định, đặc biệt là sau những cuộc chiến tranh tốn kém với kết quả đáng thất vọng ở Iraq và Afghanistan. Các chính quyền Mỹ khăng khăng liều mạng tiến hành các cuộc chiến tranh không hợp lòng dân. Cả sự kiên nhẫn lẫn sự liên tục đều không thể được giả định, đặc biệt là với các cuộc bầu cử 2 năm một lần. Đồng thời, không có nghi ngờ gì về sự tồn tại của nhà nước trong trường hợp xảy ra chiến tranh với những thiệt hại và phí tổn lớn, giống như có thể xảy ra trong trường hợp của Trung Quốc.

Những phản ứng, kiềm chế và hệ quả chính trị ở hai nước có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nhận thức về những lợi ích của chiến tranh. Những vấn đề liên quan tới các tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc, những bất công về lịch sử, và quyền chủ quyền sẽ có điểm tựa vững chắc trong giới tinh hoa Trung Quốc và công chúng. Tuy vậy nhiều người Mỹ có thể coi những vấn đề như vậy là ngoại vi đối với lợi ích sống còn của Mỹ và không đáng giá một cuộc chiến tốn kém, trừ phi ban lãnh đọa thống nhất có thể thuyết phục họ theo hướng khác. Khi chiến sự tiếp diễn, những lợi ích ban đầu có thể bị thay đổi bởi việc cuộc chiến đang diễn biến ra sao về số người thương vong, tác động kinh tế, các cuộc tấn công vào dân thường, và sự giận dữ hoặc khiếp sợ của dân chúng, khiến cho chính trị  trong nước không ổn định và khó dự đoán.

Chính phủ Mỹ có thể trải qua những vấn đề chính trị “chiến thuật” nghiêm trọng (ví dụ sự phân cực giữa hai đảng và trong dân chúng) xuyên suốt cuộc xung đột, trong khi đó chính phủ Trung Quốc sẽ có ít những vấn đề như vậy và sức mạnh để quản lý chúng. Nhưng Trung Quốc có thể đối mặt với các vấn đề chính trị “chiến lược” mà chế độ phải đương đầu trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột lâu dài và khốc liệt. Động lực “tập hợp dưới cờ” của Trung Quốc ban đầu có thể mạnh hơn nhưng sau đó nhường chỗ cho những sự bất ổn mà Mỹ không phải đối mặt.

Tổng thống Mỹ có thể bị chỉ trích ngay từ đầu vì đã đưa đất nước tham gia một cuộc chiến tranh vì những lợi ích chưa đến mức sống còn. Những chỉ trích như vậy có thể được tăng cường bởi những thiệt hại đáng kể, đặc biệt là thương vong, trong chiến sự khốc liệt. Mặt khác, tổng thống có thể bị chỉ trích vì sự rụt rè nếu kiềm chế quân đội Mỹ để hạn chế các hoạt động thù địch và thiệt hại. Mặc dù quyền kiểm oát dân sự đối với quân đội sẽ không bị nghi ngờ, những căng thẳng có thể xuất hiện về sự quản lý vi mô của tổng thống, được thúc đẩy bởi những lo ngại về phí tổn. Trong khi có khả năng số thương vong ngày càng tăng có thể tập hợp sự ủng hộ của công chúng, đặc biệt nếu được xen vào đó những tình cảm chống Trung Quốc, cũng có khả năng rằng sự phản đối chiến tranh sẽ gia tăng. Phụ thuộc vào những lợi ích và những phản ứng trước những thiệt hại, một cuộc chiến lâu dài và khốc liệt có thể chia rẽ nước Mỹ và làm trầm trọng thêm những vấn đề về tinh thần đảng phái không thỏa hiệp và chính phủ hoạt động sai chức năng.

Trong khi những tiến bộ quân sự của Mỹ cho đến nay đã đem lại cơ hội chiến thắng một cuộc chiến một cách nhanh chóng và do đó tránh được những áp lực và cạm bẫy chính trị, điều này có thể ít có khả năng hơn trong tương lai. Tổng tư lệnh có thể rơi vào thế gọng kìm giữa logic quân sự giành chiến thắng trong cuộc chiến và logic chính trị – kinh tế kiềm chế phí tổn. Liệu chính trị trong nước của Mỹ có cho phép nước này tiến hành một cuộc chiến kéo dài, tốn kém và có thể không có kết quả với Trung Quốc hay không sẽ phụ thuộc một phần vào nguồn gốc của cuộc chiến và quyền lợi của Mỹ trong kết quả của nó. Lịch sử cho thấy – và Trung Quốc không nên bỏ qua – rằng Mỹ có khả năng chịu đựng chính trị đáng kể trong chiến tranh.

Sự hỗ trợ chính trị, quyền kiểm soát của nhà nước và sự ổn định ở cả hai nước  có thể cũng chịu các tác động của chiến tranh mạng, nếu như nó leo thang tới các lĩnh vực dân sự. Ở đây, Trung Quốc cũng có thể trở nên dễ bị tổn hại hơn tới chừng mực mà chính phủ Trung Quốc phụ thuộc nhiều hơn vào việc gây ảnh hưởng tới tình cảm của dân chúng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng Internet và các kênh truyền thông khác so với những gì chính phủ Mỹ làm hoặc có thể làm. Nếu năng lực của Bắc Kinh trong việc thao túng thông tin, duy trì ủng hộ và ngăn chặn hỗn loạn bị giảm sút, những ý kiến tự phát và đối lập có thể gây rối loạn một số bộ phận dân chúng.

Những căn thẳng trong hệ thống và sự gắn kết chính trị của Trung Quốc có thể kiểm soát được trong trường hợp xảy ra chiến sự cường độ nhẹ. Mạng xã hội có thể trao quyền cho phe đó lập ở một mức độ nào đó, tuy vậy khả năng của chế độ hạn chế và thao túng thông tin và kiềm chế bất đồng sẽ chiếm ưu thế. Một lựa chọn của chế độ nhằm giới hạn các hoạt động thù địch để tránh tổn thất lớn, các cuộc tấn công vào Trung Quốc và sự leo thang có thể tạo ra những lời phàn nàn trong quân đội nhưng không phải sự kháng cự rõ ràng. Giả sử rằng các nhà lãnh đạo và giới tinh hoa Trung Quốc có quan điểm rõ ràng về những lợi ích của cuộc xung đột (ví dụ như các vấn đề về chủ quyền và danh dự quốc gia), mọi sự phản đối trong công chúng sẽ không buộc chế độ phải ngừng chiến.

Tuy nhiên, chiến sự khốc liệt, nếu kéo dài, có thể tạo ra hỗn loạn chính trị trong nước và các lực lượng phân quyền. Mối nguy hiểm về sự bất ổn bắt nguồn từ sự phụ thuộc của tính hợp pháp của chế độ vào sự thịnh vượng kinh tế và lòng tự hào dân tộc; nếu tới mức cả ai bị rạn nứt bởi các thiệt hại và phí tổn chiến tranh, các bộ phận của xã hội (ví dụ như giới tinh hoa, trung lưu, công nhân và nông dân nghèo) có thể không ưa ban lãnh đạo nữa. Không chỉ vốn mà các nhà tư bản cũng có thể chạy khỏi nước này. Mặc dù tình trạng rối loạn trong nước có thể không gây nguy hiểm cho chế độ, nó có thể buộc chế độ phải thẳng tay đàn áp những bộ phận lớn trong công chúng giận dữ, làm suy yếu thêm tính hợp pháp của chế độ. Mối nguy hiểm của chủ nghĩa ly khai nằm ở cơ hội mà những phần tử ly khai ở Tây Tạng hay Tân Cương có thể nhận thấy nếu nhà nước bận tâm với một chiến nhiều tổn thất và đòi hỏi cao với Mỹ. Bởi số lượng đáng kể các lực lượng lục quân của PLA và các lực lượng an ninh trong nước khác được cho là sẽ vẫn có sẵn ngay cả trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột lớn với Mỹ, chế độ sẽ có thể trấn áp các phần tử ly khai, nhưng với phí tổn về nguồn lực và tính hợp pháp trong nước cũng như quốc tế trong thời điểm mà cả hai có thể đang còn thiếu.

Đặt những tác động chính trị có thể xảy ra của Mỹ và Trung Quốc cạnh nhau, dường như các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ đối mặt với ít sự chống đối trong nước trong một cuộc xung đột ngắn, bất chấp mức độ khốc liệt của nó, trong khi đó các nhà lãnh đạo Mỹ có thể đối mặt với sự chống đối kịch liệt, tinh thần đảng phái và sự phân cực ngay từ đầu. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể và sẵn sàng đàn áp sự chống đối trong nước. Trong khi sự hỗ trợ yêu nước có thể được giả định ở cả hai trường hợp, nó có thể nhiệt thành hơn ở Trung Quốc, đặc biệt là nếu phần lớn người Trung Quốc có quan điểm rõ ràng hơn phần lớn người Mỹ về những lợi ích quốc gia bị đe dọa trong cuộc xung đột. Tuy nhiên, trong trường xảy ra một cuộc xung đột kéo dài và tốn kém, Trung Quốc có thể đối mặt với biến động trong nước nghiêm trọng hơn so với Mỹ, điều có thể thúc đẩy Bắc Kinh tìm kiếm hòa bình.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XII


Tính chất dễ bị tổn hại của thương mại Trung Quốc nêu lên một câu hỏi: Liệu Mỹ có gây trở ngại bằng vũ lực cho việc vận chuyển phi quân sự đường hàng không và đường biển đến Trung Quốc và từ Trung Quốc đi hay không? Cần nhớ rằng cả hai bên đều có những khả năng lớn phá hủy tàu và máy bay – tên lửa chống hạm nổi và phòng không, năng lực tấn công trên không, tàu ngầm, và năng lực tấn công hải quân mặt nước, chưa nói tới chiến tranh mạng – cũng như những động cơ để sử dụng chúng. Ngoài ra, mặc dù Mỹ có những hệ thống cảm biến tinh vi để phân biệt giữa các mục tiêu quân sự và phi quân sự, trong chiến tranh, họ sẽ tập trung vào việc tìm kiếm và theo dõi các mục tiêu quân sự; hơn nữa, ISR của Trung Quốc kém tinh vi và phân biệt kém hơn, đặc biệt là ở khoảng cách xa. Điều này cho thấy những vùng trời và vùng biển rất nguy hiểm, có thể trải khắp từ Hoàng Hải tới biển Nam Trung Hoa. Giả sử rằng những doanh nghiệp thương mại không thuộc Trung Quốc sẽ thà mất doanh thu còn hơn mất tàu hay máy bay, Mỹ sẽ không cần dùng tới vũ lực để dừng hoạt động thương mại đến và đi vào Trung Quốc. Trung Quốc sẽ mất đi một lượng hoạt động thương mại đáng kể cần quá cảnh ở vùng chiến sự. Việc Mỹ đe dọa một cách rõ ràng việc vận chuyển thương mại đường biển sẽ mang tính khiêu khích, nguy hiểm và phần lớn là không cần thiết. Do đó nhóm tác giả cho rằng Mỹ sẽ không gây trở ngại như vậy.

Phần phân tích sau đây giả định chiến sự khốc liệt, mà thời lượng của cuộc chiến sẽ xác định mức độ của các tác động kinh tế. Các phí tổn gần đúng được đánh giá dưới dạng tác động lên GDP từ những sự gây rối loạn đến 3 chức năng kinh tế: thương mại, tiêu dùng và thu nhập từ các khoản đầu tư ngoài nước. Các tác động của việc phá vỡ nguồn cung năng lượng tới Trung Quốc được coi là một thành phần của sự sụt gỉm thương mại, bởi phần lớn khí tự nhiên và dầu thô mà Trung Quốc tiêu thụ là được nhập khẩu. Giả sử là những điều kiện hiện tại, tầm quan trọng và mối quan hệ của hai nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc sẽ không thay đổi đặc tính tới năm 2025 (không giống như những thay đổi được trông đợi trong các khả năng quân sự trong thời gian đó).

Chỉ những thiệt hại GDP trực tiếp được xem xét; chưa có nỗ lực nào được thực hiện nhằm đánh giá tác động của chiến tranh trên các nền kinh tế khu vực và toàn cầu và tiếp đó là những tác động dội ngược lại nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc. cũng không được bao gồm là những phí tổn tự thân nó ít có tác động trực tiếp tới GDP (ví dụ cơ sở hạ tầng bị hư hại, các hệ thống quân sự bị thiệt hại, chăm sóc ngắn và dài hạn cho các thương vong, những tài sản bị chiếm giữ), mặc dù bất kỳ phí tổn nào trong số này cũng có thể là khổng lồ.

Nhóm tác giả cũng không tính đến một yếu tố có thể khiến những thiệt hại của Trung Quốc trở nên tồi tệ hơn một cách đáng kể so với những thiệt hại được xác định dưới dây: sự hội nhập sâu sắc hơn của nền kinh tế Đông Á. Nền kinh tế Trung Quốc và các nước láng giềng (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, và ngày càng tăng là Đông Nam Á) phụ thuộc lẫn nhau rất nhiều, nhờ vào các mạng lưới giá trị sản xuất. Phần lớn thương mại Đông Á được tạo nên từ các hàng hóa và thành phần trung gian: Đầu vào được sản xuất ở một quốc gia được vận chuyển tới một quốc gia khác để kết hợp với các bộ phận được làm ở một nơi khác nữa và được lắp ráp thành một sản phẩm cuối trước khi được đưa vào các hệ thống phân phối của thị trường. Trong khi sự hội nhập này đã đóng góp hiệu quả và năng suất cho phép Trung Quốc và các nước láng giềng phát đạt, nó cũng làm tăng tính dễ bị tổn hại của các nền kinh tế Đông Á trước những sự gián đoạn, nhiều hơn so với thương mại thành phẩm truyền thống. Trung Quốc có thể giảm sự phụ thuộc của nước này vào hoạt động sản xuất khu vực liên kết chặt chẽ với nhau như vậy, nhưng sẽ rất khó khăn và tốn kém.

Tác động chính lên GDP là do thiệt hại về thương mại. Nhóm tác giả tỏ ra chắc chắn nhất về sự sụp đổ được ước đoán của thương mại song phương Trung – Mỹ, mà theo kinh nghiệm sẽ tụt xuống gần 0 giữa hai nước tham chiến trong khi xảy ra chiến tranh. Nhưng một điều cũng quan trọng là tính đến thiệt hại của Trung Quốc về thương mại khu vực và thương mại toàn cầu khác, do tác động vùng chiến sự.

Bây giờ, hãy xem xét điều gì có thể xảy ra đối với GDP nếu thương mại khu vực và toàn cầu không liên quan tới Mỹ của Trung Quốc, mà phần lớn bằng đường biển, cũng bị ảnh hưởng bởi chiến sự lan rộng ở Tây Thái Bình dương. Nhóm tác giả cho rằng thương mại khu vực của Trung Quốc sẽ giảm 80% và thương mại toàn cầu của nước này sẽ giảm 50%. (Một lý do khiến thương mại khu vực và toàn cầu không giảm mạnh hơn là những nhà vận chuyển Trung Quốc có thể được nhà nước ra lệnh tiếp tục hoạt động).

Mức giảm GDP được dự đoán của Trung Quốc có thể được so sánh với mức giảm GDP thực tế 29% của Đức trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi bản thân Đức không phải chịu thiệt hại nặng nề, cũng như mức giảm GDP 64% của Đức và mức giảm GDP 52% của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai, khi cả hai nước đều bị tấn công nặng nề. Dĩ nhiên, cho rằng người Trung Quốc sẽ không sẵn sàng hoặc không thể tiếp tục chiến đấu bất chấp những phí tổn như vậy tức là phớt lờ việc người Đức và người Nhật đã chịu đựng được những phí tổn lớn hơn nhiều, cùng với đó là sự phá hủy lan rộng, và đã không đầu hàng cho tới khi không còn lựa chọn nào khác. Hơn nữa, nhà nước Trung Quốc có lẽ sẽ hành động để giới hạn tác động lên sự tiêu thụ, như nhóm tác giả đã đánh giá. Tuy vậy, các tác động lên Trung Quốc và các công dân nước này do sự sụt giảm 1/3 GDP rõ ràng sẽ là nghiêm trọng và kéo dài. Ngược lại, các tác động của một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt lên Mỹ và các công dân nước này, dù mạnh mẽ, cũng sẽ tương đương với một cuộc suy thoái nghiêm trọng.

Trong một cuộc xung đột bị kiềm chế và cường độ nhẹ, các phí tổn kinh tế từ thương mại bị thiệt hại, tiêu dùng và thu nhập từ nắm giữ tài sản ngoài nước sẽ có kiểu tương tự, về cơ bản có quy mô nhỏ hơn nhiều và có hại cho Trung Quốc một cách không cân xứng.

Theo một cách có tính suy đoán hơn, cả Trung Quốc và Mỹ sẽ dễ bị tổn hại bởi các phí tổn kinh tế trong trường hợp chiến tranh mạng, điều có khả năng xảy ra trong một cuộc xung đột khốc liệt, chuyển đổi đột ngột từ lĩnh vực quân sự sang các lĩnh vực dân sự. Mặc dù mỗi nước sẽ có ác cảm mạnh với chiến tranh mạng “phổ biến” và do đó cả hai có thể kiểm chế lẫn nhau để không tấn công các mạng lưới máy tính phi quân sự của bên kia, năng lực kiềm chế chiến tranh mạng, một khi đã bắt đầu, là chưa biết – nếu không muốn nói là không thể biết được. Một số hạ tầng mạng lưới hỗ trợ nhiều hệ thống máy tính, và một số hệ thống máy tính hỗ trợ hoạt động quân sự cũng được sử dụng cho các mục đích thương mại hoặc các mục đích dân sự khác. Ví dụ, việc cung cấp các lực lượng Mỹ trong một cuộc xung đột có vũ trang lớn có thể phụ thuộc vào các công ty hậu cần, vốn dĩ phụ thuộc chủ yếu vào các hệ thống dữ liệu mở, có thể là dựa vào Internet, để quản lý và vận chuyển nguyên liệu. Liệu Trung Quốc có kiềm chế không cố gắng phá hoại những hệ thống như vậy trong trường hợp xảy ra chiến tranh hay không? Liệu cả hai nước có không bị cám dỗ để phá hoại hệ thống viễn thông hoặc kiểm soát không lưu hoặc các hệ thống phân phối năng lượng hỗ trợ chiến đấu, hoặc can thiệp vào các mạng lưới dịch vụ chính phủ hay không? Tóm lại, “vành đai trắng phòng lửa” tách rời chiến tranh mạng hoạt động quân sự với mạng kinh tế quốc gia có thể tỏ ra yếu kém; một khi đã bị vượt qua, chiến tranh mạng có thể vượt ra ngoài tầm kiểm soát, ảnh hưởng tới tất cả các kiểu hạ tầng thông tin then chốt, mạng Internet và các hệ thống thương mại.

Nói một cách rất chung, Trung Quốc và Mỹ đểu dễ bị tổn hại như nhau trước những thiệt hại mà chiến tranh mạng dân sự như vậy có thể gây ra, bởi cả hai nền kinh tế và xã hội đều phụ thuộc nhiều vào các mạng lưới máy tính. Những đánh giá về thiệt hại kinh tế từ một loạt các cuộc tấn công mạng quy mô lớn vào Mỹ rơi vào khoảng từ 70 tỷ USD đến 900 tỷ USD. Với ít nhất 200 triệu người dùng Internet nhiều hơn so với Mỹ, Trung Quốc cũng có nhiều điều để mất từ việc nhắm vào hạ tầng mạng dân sự ngang bằng với Mỹ. Nền kinh tế Trung Quốc đã trở nên rất hợp nhất trong nước và với phần còn lại của thế giới, và sự hội nhập này được tạo điều kiện bởi mạng lưới dữ liệu có thể dễ bị tổn hại. Sự gây rối loạn về thương nghiệp cả trong nước lẫn ngoài nước do các cuộc tấn công mạng gây ra có thể làm trầm trọng thêm các phí tổn kinh tế của Trung Quốc cho chiến tranh. Cả hai nước đều có khả năng vá víu, khắc phục dần, và mặt khác kiềm chế các tác động của các cuộc tấn công mạng; tuy nhiên, các tác động tích lũy của nhiều cú sốc ở các lĩnh vực khác nhau có thể gây ra những sự sụt giảm đáng kể về sản xuất, thương mại và tiêu dùng. Mặc dù nhóm tác giả không đưa ra ước tính về những phí tổn có thể có của chiến tranh mạng leo thang, rõ ràng những phí tổn này có thể là rất lớn đối với cả hai bên trong trường hợp xảy ra xung đột Trung – Mỹ khốc liệt và kéo dài.

Nói tóm lại, thiệt hại kinh tế mà một cuộc chiến Trung – Mỹ có thể gây ra, trừ phi chóng vánh hoặc cường độ nhẹ, sẽ là lớn hơn đáng kể đối với Trung Quốc so với Mỹ, một điểm bất cân xứng có khả năng sẽ còn tồn tại nếu không muốn nói là còn tăng lên tới năm 2025. Không giống như sự cân bằng quân sự, Trung Quốc không thể làm gì nhiều, do nhu cầu của nước này về các thị trường toàn cầu và các nguồn lực, để giảm nhẹ những nguy cơ kinh tế của một cuộc chiến với Mỹ. Sự hội nhập kinh tế đã tạo điều kiện cho sự phát triển của Trung Quốc lại đặt nước này vào nguy cơ rằng chiến tranh có thể khiến sự phát triển đó đột ngột dừng lại. Mặc dù điều này hẳn sẽ làm giảm bớt bất kỳ sự khích lệ nào mà quân đội Trung Quốc có thể cảm nhận hoặc truyền đạt về một bức tranh quân sự ngày càng tươi sáng, nó không có nghĩa là người Trung Quốc sẽ không sẵn sàng hoặc không thể chịu đựng được một cái giá như vậy. Những nước lớn thu trận đã từng chịu đựng những điều tồi tệ hơn nhiều.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017