Tác động của việc Mỹ rút khỏi INF tới khu vực Thái Bình Dương


Clive Williams

Khả năng sẽ có một cuộc chạy đua vũ trang mới ở khu vực Thái Bình Dương sau khi Mỹ tuyên bố chính thức bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) được ký kết giữa Mỹ và Liên Xô vào năm 1987.

Washington bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) năm 1987 vào đầu tháng 2/2019. Tổng thống Trump đã nói vào cuối năm 2018 rằng Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp ước vì “họ (người Nga) đã vi phạm Hiệp ước trong nhiều năm”. Mối lo ngại đối với Australia là sự sụp đổ của hiệp ước có thể dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang mới ở Thái Bình Dương.

Hiệp ước cấm Mỹ và Nga có tên lửa trên đất liền với tầm bắn từ 500 km – 5000 km và các bệ phóng của chúng. Để tuân thủ hiệp ước, cả hai nước đã phá hủy khoảng 2600 tên lửa phóng từ mặt đất cùng các bệ phóng.

Do Trung Quốc không tham gia hiệp ước, nước này đã dần dần xây dựng một kkho vũ khí phóng từ mặt đất đáng gờm gồm 2000 tên lửa đạn đạo và hành trình tầm trung trong nỗ lực hiện đại hóa quân sự.

Ngày 4/1/2018, Washington đã cho Nga thời hạn 60 ngày – kết thúc vào ngày 2/2/2019 – để tháo dỡ các tên lửa mà họ tuyên bố vi phạm thỏa thuận hoặc Mỹ sẽ bắt đầu quá trình 6 tháng chính thức rút khỏi hiệp ước. Vào ngày 2/2, do không có sự phản hồi từ phía Nga, Mỹ đã ra thông báo chính thức về việc rút khỏi thỏa thuận.

Cả Mỹ và Nga đều cáo buộc bên kia vi phạm hiệp ước.

Năm 2008, Mỹ cáo buộc Nga vi phạm hiệp ước khi tiến hành thử tên lửa hành trình phóng từ mặt đất SSC-8 (9M729). Cáo buộc đã được đưa ra một lần nũa vào năm 2014 và 2017. Theo các quan chức Mỹ, việc triển khai hai tiểu đoàn tên lửa của Nga được trang bị SSC-8 là vi phạm hiệp ước. Mỗi tiểu đoàn gồm 4 bệ phóng, mỗi bệ phóng có 6 tên lửa hành trình với đầu đạn hạt nhân. Mỹ tuyên bố tầm bắn tối đa của SSC-8 là 2500 km. Ngày 23/1, chỉ huy pháo binh Nga Mikhail Matveevsky nói với một cuộc họp báo rằng tầm bắn tối đa của 9M729 chỉ là 480 km.

Về phần mình, Nga cáo buộc Mỹ vi phạm hiệp ước kể từ năm 2016 khi đặt các bệ phóng cho các hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore ở Rumani và ở Ba Lan từ năm 2020. Nga tuyên bố những bệ phóng này có thể được sử dụng cho tên lửa hành trình Tomahawk và coi đây là vi phạm Hiệp ước INF. Nga còn tuyên bố rằng Mỹ triển khai các máy bay không người lái có vũ trang tầm xa MQ-9 Reaper là vi phạm Hiệp ước INF.

Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng nếu Washington có hành động đặt nhiều tên lửa ở châu Âu sau khi hủy bỏ thỏa thuận, Nga sẽ có biện pháp đáp trả tương ứng và cảnh báo rằng bất kỳ quốc gia châu Âu nào đồng ý cho đặt tên lửa của Mỹ đều có nguy cơ bị Nga tấn công.

NATO và EU rất lo lắng về việc chấm dứt hiệp ước nhưng Tổng thống Trump dường như bận tâm nhiều hơn với khả năng Trung Quốc đe dọa bá quyền của Mỹ ở Thái Bình Dương so với khả năng đe dọa tên lửa tầm trung vũ trang hạt nhân của Nga đối với châu Âu.

Nga ít lo ngại về khả năng quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc và không muốn là bên đầu tiên rút khỏi một thỏa thuận vũ khí nền tảng. Tuy nhiên, sẽ rẻ hơn nhiều cho Nga khi chế tạo tên lửa tầm trung mới để đối phó với Trung Quốc so với chế tạo máy bay ném bom tầm xa, điều mà hiện tại nước này sẽ phải thực hiện theo Hiệp ước INF.

Mặc dù có nhiều lo ngại ở phương Tây về sự trỗi dậy của Nga, nhưng nên nhớ rằng GDP của Nga không lớn hơn nhiều so với Australia và chỉ tương đương với bang Texas (Mỹ). Nga không có khả năng chạy đua vũ trang với Mỹ hoặc để chống lại khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc.

Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ước tính Mỹ chi 3,1% GDP cho quốc phòng năm 2017, trong khi Trung Quốc là 1,9% và Nga là 4,3% GDP danh nghĩa hàng năm của Mỹ, Trung Quốc và Nga vào ănm 2018 lần lượt là 20.412, 14.092 và 1.720 tỷ USD. Từ những số liệu này, chúng ta có thể giả định rằng Hoa Kỳ đang chi khoảng 610 tỷ USD mỗi năm cho quốc phòng, Trung Quốc 228 tỷ USD và Nga 66 tỷ USD.

Do đó, việc rút khỏi Hiệp ước INF sẽ cho phép Mỹ thoải mái chi tiêu nhiều hơn Bắc Kinh và nhanh chóng xây dựng một kho vũ khí mới đáng gờm trong khu vực để thách thức Trung Quốc. Việc làm này của Mỹ chắc chắn sẽ có ý nghĩa đối với các đồng minh của Mỹ ở châu Á khi Wasington có thể sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của các đồng minh để triển khai các loại vũ khí tầm trung trên đất liền và các vũ khí thông thường tiên tiến để kiềm chế Trung Quốc.

Trong khi đó, Trung Quốc sẽ tránh tham gia các hiệp ước giới hạn vũ khí và tiếp tục mở rộng kho dự trữ tên lửa đạn đạo tầm xa.

Vào tháng 2/2018, Mỹ và Nga đồng ý theo Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới (START mới) về giới hạn 1550 đầu đạn hạt nhân triển khai chiến lược. (Mỹ hiện có 6550 đầu đạn hạt nhân trong khi Nga có 6850; Trung Quốc chỉ có 280).

START mới đã có hiệu lực vào ngày 5/2/2011 và dự kiến sẽ được gia hạn vào tháng 2/2021, nhưng nếu Tổng thống Trump giành được một nhiệm kỳ mới và với cố vấn an ninh quốc gia có lập trường cứng rắn John Bolton, thì thỏa thuận này cũng có thể bị hủy bỏ để bắt đầu một cuộc đua vũ khí hạt nhân tầm xa mới.

Australia sẽ ngày càng khó khăn trong việc cân bằng mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc – và sẽ vẫn duy trì mối quan hệ tốt với cả hai bên trong 5 năm tới. Do đó, sẽ là vấn đề lớn nếu như Mỹ muốn yêu cầu Australia cho phép đặt một số tên lửa ở đây.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

TKNB – 12/02/2019

Advertisements

Đông Nam Á năm 2019 – Phần II


Liên minh kinh tế Đông Á (EAEC) sẽ hồi sinh?

Các cuộc thảo luận về cấu trúc khu vực đã trở nên hấp dẫn hơn với việc Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad trở lại cầm quyền, người rất muốn phục hồi đề xuất của mình về một EAEC cho sự hội nhập chặt chẽ hơn giữa ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc). Gần 1/2 số người tham gia khảo sát (49,2%) cho rằng “đề xuất này không còn phù hợp vì EAEC đã được thay thể bởi Hội nghị thượng đỉnh Đông Á và RCEP trong tương lai”. Những nước có quan điểm dè dặt nhất đối với EAEC là Singapore (65,6%), Indonesia (56,7%), Philippines (55,1%), Thái Lan (57,2%) và Việt Nam (52,1%).

Đồng thời, đứa con tinh thần của Mahathir đã tìm thấy lực kéo ở 5 nước thành viên khác. Những người tham gia khảo sát từ Brunei (55,6%), Malaysia (50,7%), Campuchia (50%), Lào (50%) và Myanmar (47,2%) cho rằng EAEC sẽ “tăng cường hơn nữa mối quan hệ của ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc”. Toàn diện hơn những người tham gia khảo sát dường như không quan tâm đến tư cách thành viên hẹp của EAEC, mà loại trừ Australia, Ấn Độ và New Zealand. Chỉ 1/5 số người tham gia khảo sát (20,6%) quan tâm đến việc 3 nước này không gia nhập EAEC. Có thể thấy rõ mối quan tâm này ở Singapore (29,7%) và Việt Nam (27,7%).

Bất ổn chính trị trong nước, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, và biến đổi khí hậu là những thách thức hàng đầu về an ninh của Đông Nam Á

Cuộc khảo sát này đưa ra 6 lựa chọn – suy thoái kinh tế, khủng bố, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, những căng thẳng quân sự gia tăng từ những điểm bùng phát tiềm tàng trong khu vực, bất ổn chính trị trong nước và sự biến đổi khí hậu – để những người tham gia khảo sát xác định 3 mối quan ngại về an ninh hàng đầu của họ. Hơn 50% người được khảo sát đưa ra 4 lựa chọn là sự bất ổn chính trị trong nước (53,7%), những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo (52,9%), sự biến đổi khí hậu (51,6%) và suy thoái kinh tế (51,1%). Khủng bố xếp ở thứ tự thấp nhất với chỉ 37,2% số người tham gia khảo sát lựa chọn.

Điều thú vị là các mối đe dọa từ “các sự kiện thời tiết dữ dội và diễn ra thường xuyên hơn do biến đổi khí hậu” đứng thứ ba, xếp trên vấn đề suy thoái kinh tế, khủng bố và những căng thẳng quân sự khu vực. Biến đổi khí hậu là mối quan ngại an ninh hàng đầu ở Lào (62,1%, cùng với suy thoái kinh tế), Philippines (62,2%, cùng với những căng thẳng quân sự trong khu vực) và Singapore (61,2%).

Mối quan ngại an ninh hàng đầu đối với các nước thành viên ASEAN lần lượt là: Brunei (suy thoái kinh tế, 80%), Campuchia (bất ổn chính trị trong nước, 75%), Indonesia (nhữung căng thẳng dân tộc và tôn giáo, 67,8%), Lào (suy thoái kinh tế và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,1%), Malaysia (suy thoái kinh tế, 63,7%), Myanmar (căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, 67,1%), Philippines (những căng thẳng quân sự trong khu vực và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,2%), Singapore (biến đổi khí hậu, 61,2%), Thái Lan (bất ổn chính trị trong nước, 78,3%), Việt Nam (những căng thẳng quân sự khu vực, 78,2%).

Người Đông Nam Á lo ngại điều gì về ASEAN

Mối lo ngại chính về ASEAN là nhận thức rằng ASEAN đã không “thực hiện đúng lời hứa” với 650 triệu dân của nó. Gần 3/4 số người tham gia khảo sát (72,6%) bày tỏ họ thất vọng vì “không nhận thấy những lợi ích rõ ràng của ASEAN”. Những người tham gia khảo sát từ 7 nước thành viên ASEAN (ngoại trừ Campuchia, Lào và Việt Nam) lựa chọn đây là mối quan ngại hàng đầu của họ. Định hình 3 mối quan ngại hàng đầu là nỗi lo sợ rằng ASEAN đang trở thành đấu trường cạnh tranh nước lớn (62%) và ASEAN “không có khả năng đối phó với những diễn biến chính trị và kinh tế hay thay đổi” (61,9%). Cảm nhận của Đông Nam Á về “sự mất kết nối” không cao (35,3%). 44% số người tham gia khảo sát chia sẻ họ quan ngại về việc ASEAN ngày càng trở nên mất  đoàn kết. Đây là mối quan ngại hàng đầu của những người tham gia khảo sát ở Việt Nam (69,4%).

Về những diễn biến ở Bán đảo Triều Tiên và vấn đề Rohingya

Cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Kim ở Singapore vào ngày 12/6/2018 là một trọng tâm chính trị của năm 2018, một minh chứng cho vị thế ngoại giao của Singapore, cũng như cho thấy ASEAN là một môi trường thân thiện và không có kẻ thù. Thực tế là chỉ 26,8% số người tham gia khảo sát cho rằng “việc ASEAN làm gì không quan trọng vì có vai trò rất nhỏ” cho thấy đa số người tham gia khảo sát mong muốn tổ chức khu vực này tiếp tục can dự vào vấn đề này.

Rất ít người tham gia khảo sát trả lời câu hỏi nhiều lựa chọn này xem xét “cách tiếp cận củ cà rốt và cây gậy” của ASEAN với chỉ 28,5% đồng ý rằng ASEAN nên “đưa ra những sự khích lệ về kinh tế cho Triều Tiên để nước này duy trì cam kết phi hạt nhân hóa” và 24,9% ủng hộ “duy trì các biện pháp trừng phạt cho đến khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc dỡ bỏ chúng”. Phần lớn (60,8%) ủng hộ cách tiếp cận ngoại giao “tiếp tục can dự với Triều Tiên một cách song phương và thông qua Diễn đàn khu vực ASEAN”. Sự can dự ngoại giao là phản ứng hàng đầu ở tất cả các nước thành viên ASEAN ngoại trừ Campuchia, nơi 75% số người tham gia khảo sát muốn ASEAN “có vai trò tích cực với tư cách là một nhà trung gian hòa giải trung thực”.

Gần hơn, vấn đề Rohingya tiếp tục ảnh hưởng khắp khu vực và xa hơn nữa. ASEAN đã bị chỉ trích vì giấu mình đằng sau bức màn “không can thiệp” khi một cuộc khủng hoảng nhân đạo tiếp tục gây thiệt hại cho hơn 500.000 người Rohingya phải di cư. Kết quả khảo sát cho thấy ASEAN cần có cách tiếp cận chủ động hơn khi lựa chọn “không làm gì vì đây là vấn đề trong nước của Myanmar” có số lượng phản hồi thấp nhất (14,6%). Ngya cả trong số những người tham gia khảo sát ở Myanmar, thì “việc không làm gì” không phải là cách tiếp cận ưa thích.

Nhìn chung, 66,5% số người tham gia khảo sát lựa chọn “làm trung gian hòa giải giữa Chính phủ Myanmar, cộng đồng quốc tế và cộng đồng người Rakhine và Rohingya” là cách tốt nhất để đạt được tiến triển. Quan điểm này được chia sẻ bởi 59,2% số người tham gia khảo sát ở Myanmar và 79,1% 73 Indonesia. Câu trả lời ưa thích thứ hai (50,9%) là “tăng cường viện trợ nhân đạo cho người Rohingya ở các trại bên ngoài Myanmar”, sau đó là “gia tăng áp lực ngoại giao đối với Myanmar” (38%).

Phản ánh thực trạng trên thực địa, ASEAN bị chia rẽ giữa lựa chọn giúp đỡ nhân đạo “an toàn hơn” và một hành động hòa giải tương đối mang tính thâm nhập hơn. Hầu hết những người tham gia khảo sát từ Brunei (77,8%), Philippines (71,2%) và Singapore (66,1%) chọn hỗ trợ nhân đạo làm phản ứng chính của họ, trong khi hòa giải là lựa chọn hàng đầu cho người tham gia khảo sát từ Indonesia (79,1%), Lào (51,7%), Malaysia (72,4%), Thái Lan (66,1%), Việt Nam (67,2%) và Myanmar (59,2%). 62,5% số người tham gia khảo sát ở Campuchia lựa chọn cả viện trợ nhân đạo lẫn làm trung gian hòa giải là câu trả lời hàng đầu của họ.

II/ Các nước lớn và sự can dự của họ ở khu vực

Phân tích quan điểm về Mỹ của các nước Đông Nam Á

Cuộc khảo sát đã yêu cầu những người tham gia khảo sát chia sẻ nhận thức của họ về (a) Mỹ như một cường quốc và ảnh hưởng toàn cầu ngày  nay so với một năm trước; (b) sự can dự của Chính quyền Trump với khu vực; và (c) độ tin cậy của Mỹ với tư cách là một đối tác chiến lược và nhà cung cấp an ninh khu vực. Đối với cả ba câu hỏi này, quan điểm chung về Mỹ là cực kỳ tiêu cực.

Gần 6/10 người tham gia khảo sát (59,1%) cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trên vũ đài toàn cầu đã suy giảm (45,6%) hoặc suy giảm đáng kể (13,5%). Ngược lại, chỉ có 19,7% cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ đã tăng lên (15,4%) hoặc tăng lên đáng kể (4,3%). 21,2%  rằng địa vị của Mỹ là không thay đổi. Để đưa ra cái nhìn về bức tranh lớn hơn này, số người tham gia khảo sát giữ quan điểm rằng Mỹ đang suy yếu nhiều gấp 3 lần số người nghĩ rằng sức mạnh của Mỹ tăng lên hoặc tăng lên đáng kể. Các nước có mức độ quan ngại cao nhất về sự suy giảm của Mỹ là Philippines (75,7%), Singapore (72,7%), Brunei (68,2%) và Malaysia (67,6%). Đi ngược lại xu hướng bi quan này là Việt Nam, nước duy nhất có quan điểm tích cực (47,1%) vượt xa quan điểm hoài nghi (31,7%).

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Đông Nam Á năm 2019 – Phần I


Trung tâm nghiên cứu ASEAN tại Viện ISEAS-Yusof Ishak đã thực hiện cuộc khảo sát trực tuyến về “Tình trạng Đông Nam Á: 2019” từ 18/11 đến 5/12/2018 để tìm kiếm những quan điểm của người Đông Nam Á về các vấn đề khu vực. Cuộc khảo sát đã sử dụng phương pháp lấy mẫu có chủ đích, thu thập những quan điểm từ tổng số 1008 người Đông Nam Á là các chuyên gia khu vực và những người có lợi ích liên quan từ các cộng đồng chính sách, nghiên cứu, kinh doanh, xã hội dân sự và truyền thông. Do đó, kết quả của cuộc khảo sát này không có nghĩa là mang tính đại diện. Thay vào đó, nó nhằm mục đích trình bày một quan điểm chung về thái độ phổ biến giữa những người ở vào vị thế đưa ra thông tin hoặc gây ảnh hưởng đến chính sách đối với các vấn đề và các mối quan ngại chính trị, kinh tế và xã hội khu vực.

Cộng đồng học giả và tư vấn tạo thành nhóm người tham gia khảo sát lớn nhất với tỷ lệ 42%. Gần 1/3 số người tham gia khảo sát (32,9%) đến từ chính phủ, nhóm tổ chức liên chính phủ và quốc tế, mà mang lại một cơ hội hiếm hoi để tiếp cận các quan điểm từ các giới thường kín tiếng này. Cộng đồng doanh nghiệp và tài chính (10,4%), xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ (NGO) (8%), và giới truyền thông (6,7%) tạo thành 25,1% số người tham gia khảo sát còn lại.

1008 người tham gia khảo sát đã là những người ở tất cả 10 nước thành viên ASEAN nhằm đảm bảo rằng cuộc khảo sát phản ánh chính xác quan điểm khu vực. Các nước có tỷ lệ trả lời cao nhất là Myanmar (16,9%), tiếp theo là Malaysia (14,5%), Singapore (12,7%), Việt Nam (12,3%), Indonesia (11,4%), Thái Lan (11,4%), Philippines (11%), Brunei  Darussalam (4,5%), Lào (2,9%) và Campuchia (2,4%).

I/ Các quan điểm và tiến triển khu vực

Bức tranh lớn

Tâm trạng chung của khu vực là bi quan với 42,5% số người tham gia khảo sát dự đoán khu vực này sẽ gặp phải một giai đoạn không chắc chắn và một tỷ lệ nhỏ (2,2%) tỏ ra có những quan ngại về một năm đầy biến động ở phía trước. Mặt khác, 32,3% cho rằng khu vự này “ổn định” (30,3%) hoặc “rất ổn định” (2%). Gần 1/4 số người tham gia khả sát (23%) cho rằng các nguyên tắc cơ bản của khu vực “không thay đổi”. Lạc quan nhất là Lào với 68,9% người tham gia khảo sát cho rằng khu vực “ổn định” hoặc “rất ổn định”, trong khi người Singapore thì bi quan nhất, với 66,9% dự đoán năm 2019 sẽ được đánh dấu bởi những sự không chắc chắn và thậm chí là rối loạn.

Những triển vọng kinh tế

Ở tất cả các nước thành viên ASEAN, quan điểm tích cực (55,4%) về nền kinh tế khu vực vượt xa các phản ứng tiêu cực (21,3%). Hơn một nửa số người tham gia khảo sát (55,4%) mong đợi rằng khu vực này sẽ có sự tăng trưởng, dù ở mức vừa phải (49,9%) hay mạnh mẽ (5,5%). Gần 1/4 (23,3%) dự đoán một năm ổn định ở phía trước. Sự khẳng định mạnh mẽ về kinh tế có phần đáng ngạc nhiên khi có những trở ngại hiện tại từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đang diễn ra.

Mặt khác, 21,3% số người tham gia khảo sát nhận thấy khu vực này đang hướng tới sự suy giảm vừa phải (19,9%) hoặc suy giảm mạnh (1,4%). Có thể thấy những quan điểm lạc quan nhất (tăng trưởng vừa phải đến mạnh) là ở Lào (86,2%), Campuchia (66,7%) và Brunei (64,4%). Ở Malaysia (34,9%), Singapore (33,5%) và Thái Lan (32,2%) là những quan điểm bi quan nhất (giảm vừa phải đến giảm mạnh) trong khu vực.

Sự không chắc chắn về việc ký kết RCEP và tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung

Các quan điểm tích cực về khả năng phục hồi của nền kinh tế khu vực không tiếp nối tới Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Khi được hỏi về quan điểm của họ về việc kết thúc các cuộc đàm phán RCEP, “47,1% cho rằng không thể bình luận”. Điều này có thể được hiểu là không có đủ thông tin để đưa ra ý kiến, cho thấy cần phải nỗ lực nhiều hơn để đưa các bên lợi ích liên quan tham gia cuộc thảo luận này.

Nhìn chung, 29,2% số người tham gia khảo sát trả lời “tin tưởng” (27%) hoặc “rất tin tưởng” (2,2%) rằng RCEP sẽ được ký vào năm 2019. Ngược lại, 23,7% cho rằng các cuộc đàm phán RCEP là một vấn đề kéo dài mà “không có khả năng” (21,3%) hoặc “rất không có khả năng” (2,4%) được hoàn tất trong năm 2019. Những người tham gia khảo sát ở Campuchia là những người lạc quan nhất với 45,8% bỏ phiếu “tin tưởng” đối với một kết thúc nhanh chóng và cuối cùng, tiếp theo là Thái Lan (34,8%) và Indonesia (33,4%). Mức độ hoài nghi cao nhất là từ Singapore (35,2%), Việt Nam (30,7%) và Malaysia (30,1%) – 3 trong số 4 nước ASEAN ký kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Cũng có rất nhiều sự không chắc chắn xoay quanh những rối loạn (và lợi ích) có thể xảy ra do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung khi 39,7% số người tham gia khảo sát không rõ về tác động cảu cuộc chiến tranh thương mại đối với các nước tương ứng của họ. Tuy nhiên, nhiều người tham gia khảo sát hơn nghĩ rằng đất nước của họ sẽ phải chống chọi lại những tổn thất do cuộc chiến tranh thương mại này thay vì gặt hái được bất kỳ lợi ích nào. Gần 1/5 số người tham gia khảo sát (19,9%) chia sẻ rằng “nền kinh tế của nước họ sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực vì cuộc chiến tranh thương mại sẽ phá vỡ chuỗi cung ứng trong khu vực”. Những người tham gia khảo sát ở Singapore có cảm giác mạnh mẽ nhất về điềm gở này với 29,7% có quan điểm tiêu cực. Cảm giác lo lắng này cũng xuất hiện ở Thái Lan (27,2%) và Indonesia (21,8%). Đồng thời 13,7% số người tham gia khảo sát nhận thấy đất nước của họ “được hưởng lợi từ sự chuyển hướng đầu tư và thương mại sang khu vực này”, với Campuchia dẫn đầu sự lạc quan (29,2%), tiếp theo là Malaysia (19,9%) và Việt Nam (17%).

Một số ít người tham gia khảo sát (8,5%) cho rằng cuộc chiến thương mại sẽ dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ và chống thương mại gia tăng trong khu vực. Chỉ có 18,2% số người tham gia khảo sát thực tế coi Cộng đồng kinh tế ASEAN, RCEP và CPTPP là những nơi trú ẩn an toàn để vượt qua được cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

CPTPP có thể mở rộng?

CPTPP có hiệu lực từ ngày 30/12/2018, sau khi được 7 thành viên – Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand, Singapore và Việt Nam – đảm bảo thông qua, 4 nước ký kết còn lại – Brunei Darussalam, Chile, Malaysia và Peru – dự kiến sẽ làm theo đúng trình tự. Cuộc khảo sát đã nêu lên những quan điểm của những người tham gia khảo sát từ 6 nước thành viên ASEAN không tham gia CPTPP (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines và Thái Lan) về việc nước họ có thể gia nhập hiệp định thương mại này hay không. Trong câu hỏi nhiều câu trả lời này, phần lớn số người tham gia khảo sát (53,6%) cho rằng “tốt hơn là nên áp dụng cách tiếp cận chờ xem để xác định khả năng tồn tại của CPTPP”.

Trong khi đó, sự ủng hộ dành cho CPTPP không phải là không đáng kể với hơn 1/3 số người tham gia khảo sát (36,4%) có khuynh hướng tích cực đối với hiệp định thương mại. Trong nhóm này, 26,6% ủng hộ nước họ tham gia CPTPP khi hiệp định được thiết lập như hiện tại và 9,8% muốn nước họ tham gia lại “chỉ khi Mỹ tham gia hiệp định thương mại này”. Nước ủng hộ CPTPP dưới hình thức hiện nay mạnh mẽ nhất là Campuchia (39,1%), Philippines (38,1%) và Thái Lan (33,6%). Một số ít người tham gia khảo sát (10%) cho rằng đất nước của họ “tốt hơn hết là không gia nhập CPTPP”.

Trong câu hỏi rộng hơn về CPTPP, bao gồm các câu trả lời từ cả 10 nước thành viên ASEAN, hầu hết những người tham gia khảo sát (46,1%) đồng ý rằng CPTPP là “quan trọng trong việc giữ đà hướng tới một chế độ thương mại khu vực dựa trên quy tắc và có chất lượng cao”. 20,2% số những người tham gia khảo sát đều ủng hộ tính hữu ích của RCEP so với CPTPP; mức độ ủng hộ cao hơn dành cho RCEP so với CPTPP đến từ Lào (39,3%) và Indonesia (35,1%). Nhìn chung, 28,4% số người tham gia khảo sát nghĩ rằng CPTPP sẽ có tác động hạn chế vì không bao gồm Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ; những người tham gia khảo sát ở Campuchia tỏ ra bi quan hơn với 43,5% số người tham gia khảo sát cùng có quan điểm này.

(còn tiếp)

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần cuối


Ba là cục diện an ninh toàn cầu tương đối cân bằng hiện nay có thể bị phá vỡ. Mặc dù mỗi năm trênt hế giới đều xảy ra rất nhiều sự kiện xung đột, chiến tranh cục bộ và tấn công khủng bố, nhưng nhìn chung tình hình an ninh thế giới không có nhiều biến động, cơ bản ổn định, tình hình an ninh nằm trong phạm vi có thể kiểm soát, cục diện an ninh thế giới cũng ở trạng thái tương đối ổn định và cân bằng. Tuy nhiên, việc Mỹ rút khỏi INF có thể tác động đến cục diện an ninh thế giới. Nguyên nhân do Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với Mỹ và Nga không còn sự rằng buộc, trở thành đối thủ chiến lược, hai nước đều muốn phát triển mạnh và bố trí các loại thiết bị vũ khí tiên tiến hơon bao gồm cả tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thậm chí còn có khả năng vũ trang cho các nước đồng minh.

Đối với Mỹ, chỉ khi triển khai một số lượng lớn tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, đặc biệt là khu vực phía Đông của châu Âu thì mới có thể tạo thành mối đe dọa lớn nhất đối với Nga. Hiện nay, mặc dù đa số các nước châu Âu không muốn, thậm chí phản đối sự bố trí tên lửa của Mỹ ở châu Âu, nhưng nếu Nga bố trí tên lửa ở khu vực biên giới phía Tây, tạo nên mối đe dọa thực sự đối với các quốc gia châu Âu thì các quốc gia này tự nhiên sẽ không phản đối chủ trương của Mỹ, và có khả năng chủ động mua vũ khí của Mỹ để phòng thủ. Bên cạnh đó, để tạo thành mối đe dọa ở phía Nam của Nga và tranh chấp chủ quyền với Nga ở Trung Đông, Mỹ còn có khả năng bố trí tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa ở khu vực Trung Đông.

Đối với Nga, các lực lượng của Mỹ được triển khai đến đâu, Nga sẽ bám sát theo đến đó, nếu không sẽ rơi vào trạng thái bị động, chẳng hạn như trước việc Mỹ và NATO thâm nhập sâu vào Ukraine và các nước Baltic, Nga tích cực thắt chặt quan hệ với các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) như Belarus để ứng phó; đối với việc Mỹ bố trí tên lửa đạn đạo ở khu vực Trung Đông, Nga triển khai các loại vũ khí tương tự ở các nước như Iran, Syria…, tạo thành mối đe dọa đối với quân đội Mỹ đồn trú ở khu vực Trung Đông. Hai bên có khả năng bố trí các loại vũ khí tiên tiến khác nhau nhiều hơn ở các nước đồng minh của mình. Ngoài ra, hai nước còn thường xuyên tự mình hoặc phối hợp với các nước đồng minh tổ chức các hoạt động quân sự như diễn tập quân sự quy mô lớn ở các khu vực nói trên để thể hiện sức mạnh, đe dọa lẫn nhau. Mỹ và Nga thay nhau tăng cường sức mạnh quân sự trong khu vực, cường độ đối đầu leo thang theo kiểu xoắn ốc, nếu tình hình tiếp tục kéo dài nhất định sẽ khiến cán cân cân bằng sức mạnh trong khu vực bị phá vỡ, cục diện an ninh đương nhiên cũng sẽ bị phá vỡ theo.

Bốn là tình hình quốc tế có thể rơi vào tình trạng hỗn loạn trong thời gian dài. Mỹ rút khỏi INF thì Nga cũng sẽ không tiếp tục tuân thủ, khiến sự ràng buộc của hiệp ước mất đi, chỉ cần điều kiện kinh tế cho phép thì Mỹ và Nga sẽ có thể chạy đua phát triển sức mạnh quân sự, các nước, đặc biệt là các đồng minh ở khu vực điểm nóng cũng đưa nhau mô phỏng theo, nghiên cứu chế tạo hoặc mua nhiều vũ khí tiên tiến. Như tại khu vực châu Á, các nước láng giềng tiếp giáp Nga như Ukraine, Gruzia, 3 nước vùng Baltic, Ba Lan, Romania và Đức, Pháp, Nhật Bản… sẽ đi đầu phát triển sức mạnh quân sự mới, đồng thời mở rộng quy mô quân đội; Belarus với tư cách là đồng minh của Nga có thể sẽ cho phép Nga triển khai các đơn vị tên lửa trong lãnh thổ của mình hoặc tự mình tăng cường bố trí sức mạnh quân sự tương tự. Ở khu vực Trung Đông, để ứng phó với Mỹ, Israel, Saudi Arabia, rất có thể Iran sẽ mở rộng hơn nữa quy mô bố trí tên lửa đạn đạo. Để ngăn chặn các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Iran, bên cạnh việc tăng cường bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, Saudi Arabia, Israel cũng sẽ phát triển mạnh các loại vũ khí mang tính tấn công như tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa; Ấn Độ và Pakistan cũng có thể mô phỏng theo Mỹ và Nga, phát triển tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung để chiếm ưu thế trong cuộc đối đầu quân sự. Từ cuối năm 2018 đến nay, Nga đã tiếp xúc thường xuyên với 2 nước Trung Nam Mỹ là Cuba và Venezuela: bố trí hệ thống định vị vệ tinh Glonass ở Cuba, triển khai tạm thời 2 máy bay ném bom chiến lược Tu-160 ở Venezuela, đồng thời huấn luyện cho lực lượng không quân của Venezuela. Nếu quan hệ Mỹ – Nga xấu đi nghiêm trọng, không loại trừ khả năng Nga sẽ thiết lập căn cứ quân sự ở Cuba và Venezuela để đe dọa Mỹ từ hai bên sườn. Nói cách khác, Mỹ đang tăng cường sức mạnh quân sự ở khu vực Đông Âu – các cửa ngõ của Nga để đe dọa Nga. Trong khi đó, Nga lại tăng cường xây dựng các căn cứ quân sự ở khu vực Trung Nam Mỹ – sân sau của Mỹ để đối chọi với Mỹ. Sự tranh giành lợi ích giữa Mỹ và Nga gia tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các nước đồng minh trên toàn thế giới, theo đó các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt của hai bên có thể bị thúc ép cùng với Mỹ và Nga rơi vào vòng xoáy đối đầu quân sự, đọ sức chính trị và ngoại giao trên phạm vi toàn cầu. Khi đó, tình hình an ninh thế giới sẽ ngày càng phức tạp, hỗn loạn, có thể diễn biến theo chiều hướng mất kiểm soát.

Năm là khu vực châu Âu có thể bị “xé nát”. Cuối năm 2018, trước việc Mỹ tuyên bố rút khỏi INF, một số nước thành viên của NATO đã nhiều lần kêu gọi Mỹ không nên rút khỏi hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân này mà nên nỗ lực tranh thủ thúc đẩy Nga tuân thủ hiệp ước, hy vọng sẽ tránh được sự chia rẽ của NATO có thể bị Nga lợi dụng. Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg từng nói NATO không muốn khởi động một cuộc chiến tranh lạnh mới và cũng sẽ không tăng cường bố trí vũ khí chiến lược ở châu Âu để khơi mào một cuộc tranh chấp.. Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: “Chúng ta cần phải nắm chắc vận mệnh của mình”. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron lại tích cực kêu gọi xây dựng “quân đội châu Âu”, giảm thiểu sự lệ thuộc về an ninh vào Mỹ. Theo đó, các bên có liên quan đã lần lượt phát đi thông điệp phản đối Mỹ rút khỏi INF.

Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với việc khu vực châu Âu sẽ bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung, thậm chí tăng cường bố trí tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Mỹ, động thái này nhất định dẫn đến phản ứng mạnh mẽ của Nga và Nga sẽ áp dụng biện pháp đối phó tương tự để đe dọa Mỹ và các nước thuộc Tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tại cuộc họp báo thường niên vào ngày 20/12/2018 Tổng thống Nga Putin cảnh báo: Hiện nay, khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân trên toàn cầu đã ngày càng gia tăng, nếu Mỹ cố ý rút khỏi INF, đồng thời bố trí hệ thống tên lửa liên quan ở châu Âu thì Nga cũng sẽ buộc phải đưa ra sự đáp trả tương ứng. Trước đó, Tổng thống Putin cũng cảnh báo nếu châu Âu chấp nhận tên lửa của Mỹ thì tên lửa của Nga sẽ nhắm vào họ. Có thể thấy nhà lãnh đạo Nga đã thể hiện thái độ rất rõ ràng và cứng rắn.

Hiện nay, NATO không đoàn kết, các nước châu Âu cũ và mới có mâu thuẫn. Với tư cách là quốc gia chủ chốt trong NATO, Mỹ luôn thể hiện rõ hành vi bá quyền ở khắp mọi nơi, phần lớn các quốc gia châu Âu cũ đại diện là Đức, Pháp, Anh có mâu thuẫn với Mỹ và những mâu thuẫn này càng được thể hiện rõ rệt hơn sau kkhi Donald Trump lên cầm quyền. Các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô trước đây mới tham gia NATO với mong muốn nhận được sự bảo vệ của Mỹ, thắt chặt quan hệ với Mỹ, đặc biệt là Ba Lan, Romania, Czech và các nước vùng Baltic có mối quan hệ rất tốt với Mỹ, chủ động mời quân đội Mỹ đến đồn trú, phần lớn các nước đã chấp nhận quân đội Mỹ, Ba Lan tuyên bố chi 2 tỷ USD để quân đội Mỹ tu bổ các cơ sở và căn cứ quân sự. Rất dễ nhận thấy hiện nay NATO đang chia thành hai phe là rời xa Mỹ và thân Mỹ. Trong tương lai, nếu Mỹ buộc phải bố trí tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, các quốc gia châu Âu như Đức, Pháp, Anh… sẽ không chủ động tiếp nhận, thậm chí có thể ngăn cản. Trong bối cảnh đó, Mỹ có thể lựa chọn Ba Lan, Romania và các nước Baltic cũng như các nước có mối quan hệ tốt như Ukraine để triển khai, tuy nhiên, vấn đề này sẽ khiến các nước châu Âu cũ và mới xuất hiện rạn nứt mới, chia rẽ nhiều hơn. Trên thực tế, các nước châu Âu đã trở thành vật hy sinh của cuộc đọ sức giữa Mỹ và Nga.

Phân tích một cách toàn diện, việc Mỹ rút khỏi INF chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc đọ sức gay gắt mới giữa Mỹ và Nga, có tác động tiêu cực tới tình hình an ninh và phát triển kinh tế thế giới, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc xung đột mới hoặc chiến tranh ủy nhiệm cục bộ, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ những vấn đề diễn biến tiếp theo.

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần đầu


Ngày 16/1/2019, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách vấn đề kiểm soát vũ khí và an ninh quốc tế Andrea Thompson cho biết do không đạt được bất cứ tiến triển nào trong đàm phán với Nga nên Mỹ bắt đầu rút khỏi Hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) kể từ ngày 2/2/2019, thời gian có hiệu lực là 6 tháng. Theo đó, việc Mỹ rút khỏi INF có thể gây nên những tác động tiêu cực sau đây:

Một là có thể dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang với cường độ cao. INF được Mỹ và Liên Xô ký kết vào năm 1987 để ngăn chặn chiến tranh xảy ra đột ngột, hiệp ước quy định Mỹ và Liên Xô phá hủy các tên lửa tầm ngắn có tầm bắn từ 500 – 1000 km và các tên lửa tầm trung có tầm bắn từ 1000 – 5500 km, bao gồm cả các tên lửa thông thường và tên lửa mang đầu đạn hạt nhân cũng như các bệ phóng tên lửa trên mặt đất. Theo giới truyền thông, tính đến nay hai bên đã phá hủy gần 2700 tên lửa. Mặc dù hiệp ước này là di sản của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhưng nó đã ngăn chặn khả năng Mỹ và Liên Xô cũng như NATO và khối Vacsava xảy ra chiến tranh, thậm chí là chiến tranh hạt nhân. Các tên lửa tầm ngắn và tầm trung đều được phóng từ xe đặc chủng, cơ động linh hoạt, bố trí thuận lợi, thời gian chuẩn bị ngắn, khả năng ngụy trang và yếu tố bất ngờ rất mạnh, được Mỹ và Liên Xô và các nước khác ưa chuộng. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô chạy đua nghiên cứu, lắp đặt, Đông Tây Âu đã trở thành khu vực bố trí tập trung của hệ thống tên lửa tầm ngắn và tầm trung, làm cho tình hình an ninh thế giới lúc bấy giờ, đặc biệt là an ninh củ khu vực châu Âu vô cùng căng thẳng, cơ bản ở trong trạng thái chiến tranh. Trên thực tế, cả Mỹ và Liên Xô đều nhận thức rõ một khi xảy ra chiến tranh thì hậu quả là không thể tưởng tượng được. Để ngăn chặn phán đoán sai làm dẫn đến chiến tranh, hai nước đã trải qua 6 vòng đàm phán gian khổ kéo dài trong 7 năm, tổng cộng tổ chức 110 cuộc họp, sau cùng mới đạt được thỏa thuận và ký kết INF. Hiệp ước này đóng vai trò quan trọng đối với hòa bình của khu vực châu Âu và thế giới.

Phát biểu của Thompson đã dẫn đến sự phản đối mạnh mẽ của Nga. Tổng thống Putin cảnh báo Tổng thống Mỹ Donald Trump không nên rút khỏi hiệp ước, nếu không Mỹ và Nga sẽ quay trở lại thời kỳ đối đầu một mất một còn thay phiên nhau bố trí các thiết bị vũ khí tối tân. Không những Mỹ và Nga sẽ quay trở lại việc bố trí các tên lửa tầm ngắn và tầm trung hiện đại hơn, mà hai nước sẽ còn chạy đua phát triển và bố trí các loại trang thiết bị vũ khí tối tân hơn, đọ sức toàn diện trên lĩnh vực quân sự. Để thể hiện khả năng răn đe, Nga có thể sẽ nhanh chóng hồi sinh các loại tên lửa đạn đạo như SS-20, SS-23, SS-26…, hơn nữa cấy ghép những vật liệu và công nghệ tiên tiến hơn để nâng cao tính năng của các tên lửa. Đồng thời Nga cũng sẽ tăng cường xây dựng năng lực răn đe hạt nhân chiến lược “3 trong 1”, tăng cường bố trí tên lửa đạn đạo liên lục địa để tạo thành mối đe dọa đối với Mỹ, chẳng hạn như kéo dài thời gian phục vụ của tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng trên đất liền “Bạch Dương M” (RS-12), tăng cường bố trí tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng trên đất liền Yars và tên lửa phóng từ tàu ngầm Blava, nhanh chóng triển khai tên lửa đạn đạo liên lục địa hạng nặng Sarmar (RS-28) vừa mới nghiên cứu phát triển; thúc đẩy toàn diện việc đầu tư các trang thiết bị mới như tên lửa siêu siêu thanh Kinzhal, Avangard… và hệ thống laser chiến đấu Peresvet cũng như thiết bị lặn không người lái Poseidon có thể mang đầu đạn thông thường hoặc đầu đạn hạt nhân; đẩy nhanh bước đi nghiên cứu chế tạo và triển khai trước thời hạn tên lửa hành trình Calibre M; tiếp tục cải tiến máy bay ném bom chiến lược Tu-160, Tu-95MS… Ngược lại, Mỹ cũng không chịu lép vế, sẽ hồi phục và sử dụng công nghệ tối tân nhất để cải tiến tên lửa đạn đạo tầm trung Persing II; đồng thời phát triển mạnh tên lửa đạn đạo liên lục địa Military 3 và tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ tàu ngầm Trident, cải tiến và nghiên cứu phát triển tên lửa hành trình tầm xa của các căn cứ hải quân, không quân; tiếp tục thử nghiệm, hoàn thiện và bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa, đặc biệt là hệ thống phòng thủ tên lửa ở khu vực châu Âu sẽ được tăng cường và triển khai sớm hơn dự kiến.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô (Nga) chiếm ưu thế hơn Mỹ trên các phương diện số lượng đầu đạn hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tầm bắn và khả năng xuyên thủng… Mỹ xé bỏ INF, Nga sẽ tiếp tục chiếm ưu thế vượt trội trên phương diện này, khi đó Mỹ buộc phải nhanh chóng đuổi theo, đồng thời có thể khởi động lại kế hoạch Chiến tranh giữa các vì sao, thách thức Nga từ không gian. Cuối năm 2018, tại hội thảo nghiên cứu không gian, Mỹ cho rằng việc triển khai vũ khí hạt nhân trong không gian sẽ khiến vấn đề diễn biến nghiêm trọng và phức tạp hơn. Ngoài ra, Mỹ và Nga đều đang tích cực phát triển máy bay ném bom chiến lược tàng hình, loại vũ khí này có thể chứa một lượng lớn tên lửa, khả năng ngụy trang tốt, có thể thự chiện tấn công hạt nhân, khả năng răn đe cao. Những biện pháp tiếp cận của Mỹ và Nga nhất định sẽ gây ra cuộc đối đầu toàn diện trên lĩnh vực quân sự, có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang mới. Việc Mỹ và Nga chạy đua vũ trang sẽ khiến cả thế giới không được hòa bình. Các nước, đặc biệt là châu Âu, đồng minh và các nước có quan hệ tốt với Mỹ và Nga ở khu vực Trung Đông có thể sẽ lần lượt làm theo, tích cực phát triển sức mạnh quân sự.

Hai là có thể khiến thế giới rơi vào trạng thái “Chiến tranh Lạnh lần thứ hai”. Tác động từ việc Mỹ rút khỏi INF không chỉ giới hạn ở sự đối đầu giữa Mỹ và Nga trên lĩnh vực quân sự, mà còn cả trong chính trị, ngoại giao, thậm chí lan tỏa đến cả kinh tế, hậu quả rất tai hại, INF bị phá vỡ, Mỹ và Nga không những muốn khôi phục sản xuất và bố trí các loại thiết bị vũ khí tối tân hơn. Theo đó, Nga sẽ ưu tiên bố trí các loại vũ khí trên ở khu vực biên giới phía Tây, Tây Bắc và phía Bắc của mình để đe dọa Mỹ và NATO. Trong khi đó Mỹ lại bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung và các hệ thống vũ khí tấn công và phòng thủ tiên tiến hơn ở châu Âu, đặc biệt là ở các quốc gia giáp với Nga. Hai bên sẽ rơi vào trạng thái đối đầu trong thời gian dài: răn đe lẫn nhau về quân sự, gây sức ép lẫn nhau về chính trị, chỉ trích lẫn nhau về ngoại giao, quan hệ Mỹ – Nga sẽ trở nên tồi tệ, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh khu vực và thế giới. Cùng với cuộc đọ sức giữa hai nước leo thang, đồng minh, thậm chí các nước có quan hệ tốt với Mỹ và Nga đều có thể bị cuốn vào vòng xoáy này. Do đó, ở các khu vực điểm nóng như châu Âu, Trung Đông, châu Á… không thể tránh khỏi việc hình thành cục diện đối đầu giữa một bên là Mỹ với các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt và một bên là Nga với các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt, nghĩa là sức mạnh của Mỹ và Nga kéo dài đến đâu thì ở đó có thể xuất hiện sự đối đầu dưới hình thức tương tự như Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, sự đối đầu này sẽ không gay gắt như thời kỳ Chiến tranh Lạnh trước đây, thấp hơn nhiều so với cường độ đối đầu giữa Mỹ – Liên Xô và NATO – Vacsava trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hai bên có thể rơi vào trạng thái “chiến tranh lần thứ hai” vừa đối đầu vừa hợp tác. Tuy nhiên, đối đầu lớn hơn hợp tác, nghĩa là hai bên đối đầu, ngăn chặn, gây sức ép lẫn nhau về mặt quân sự, chính trị, ngoại giao và sẽ tiếp tục hợp tác về kinh tế, chẳng hạn như Nga không cắt đứt cung cấp năng lượng cho các nước châu Âu. Do xu thế phát triển không thể đảo ngược của thế giới đa cực hóa, kinh tế toàn cầu hóa, nên đối đầu giữa Mỹ và Nga cũng sẽ không phát triển đến mức độ của chiến tranh thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019

Trung Quốc mạnh lên và Việt Nam phải chuẩn bị cho điều đó


Báo Đất Việt bình luận, muốn chơi với một nước lớn thì Việt Nam phải thay đổi cách chơi, phải lớn dần lên, TS Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách công nghiệp thuộc Bộ Công Thương cũng đồng tình với nhận định của GS.TS. Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore) khi cho rằng Trung Quốc đang mạnh lên và Việt Nam phải chuẩn bị cho điều đó.

Theo ông, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và quốc gia này cũng cho thấy họ sẽ không dừng lại mà thậm chí còn tiến xa hơn nữa để trở thành nền kinh tế số 1 thế giới, thay thế Mỹ. Đây là điều Mỹ không hề mong muốn, nhất la sau thời gian dài quốc gia này để Trung Quốc phát triển tự do. Tới thời điểm này, Mỹ đã giật mình nhận ra khả năng phát triển rất nhanh của Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Vì thế, Mỹ phải nhanh chóng đưa ra biện pháp nhằm kìm hãm tốc độ bùng nổ của Trung Quốc.

TS Dương Đình Giám cho rằng Trung Quốc chưa thể so sánh được với Mỹ về cả đẳng cấp chính trị, kinh tế cũng như trình độ khoa học công nghệ. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn c1o được những gì mình muốn nhờ vào những chiêu trò, hoặc các chiêu thức xâm phạm bản quyền sở hữu trí tuệ của các công ty Mỹ để tạo ra các sản phẩm khoa học cho mình.

Với cách đi như vậy, cuộc chiến tranh thương mại chưa thể dừng lại nhưng cũng không đi theo hướng sát phạt nhau mà thực chất là cả hai quốc gia đều đang thăm dò, tìm kiếm lợi ích từ nhau. Cuộc chiến có thể sẽ dừng lại khi cả hai bên thống nhất đi tới một số thỏa thuận nhất định. Vì thế, TS Dương Đình Giám cũng đồng ý với nhận định của GS.TS Vũ Minh Khương khi cho rằng Trung Quốc là quốc gia có khả năng ứng đáp chiến lược rất tốt. Chắc chắn sau khi cuộc chiến thương mại dừng lại, trật tự thế giới sẽ tiến tới một nấc thang mới mà trong đó Trung Quốc cũng sẽ nắm giữ vị trí rất quan trọng. Ông cho biết, Trung Quốc là quốc gia có sức ảnh hưởng rất lớn về thương mại, giao thương với các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới. Do đó, khi vị thế của Trung Quốc thay đổi, mối quan hệ giao thương giữa các nước với Trung Quốc cũng sẽ có nhiều thay đổi.

Việt Nam cần làm gì?

Việt Nam là quốc gia đứng cạnh Trung Quốc, chắc chắn sẽ chịu rất nhiều tác động cả tiêu cực lẫn tích cực từ sự thay đổi của quốc gia này. Đặc biệt, trong bối cảnh mối quan hệ kinh tế hai chiều gắn kết, chặt chẽ nhưng phía bị phụ thuộc là Việt Nam, khả năng tìm kiếm lợi ích của Việt Nam sẽ ngày càng khó khăn hơn. Dù vậy, TS Dương Đình Giám vẫn cho rằng, còn có nhiều cách Việt Nam có thể tận dụng, khai thác được từ người láng giềng khổng lồ để giúp cho nền kinh tế trong nước phát triển, quan trọng nhất là vẫn phải thay đổi “cách chơi”. Việt Nam không thể chơi với Trung Quốc theo cách như đang chơi, mà cần phải chuẩn bị một tâm thế lớn khi chơi với một nước lớn. Do đó, việc Việt Nam phải làm là:

Thứ nhất, cần tận dụng lợi thế của mình, khai thác tốt thị trường đông dân, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cao và đa dạng ở nhiều cấp chất lượng của Trung Quốc để bán hàng. Đối với Việt Nam, Trung Quốc vẫn được coi là thị trường xuất khẩu rất tiềm năng, nhưng thực tế, chúng ta vẫn chưa tận dụng được lợi thế này. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện mới chỉ nhìn nhận thị trường Trung Quốc theo tầm nhìn ngắn hạn, “có lợi là làm, dễ làm khó bỏ”; chứ chưa xác định được chiến lược một cách bài bản để từng bước chinh phục thị trường này, chí ít là các thị trường ngách, các địa phương ở Tây và Nam Trung Quốc. TS Dương Đình Giám nói: “Vấn đề chính của chúng ta là làm sao vươn lên được để có thể tận dụng, khai thác được lợi thế từ thị trường xuất khẩu vào nước này chứ không chỉ tìm cách bán hàng theo con đường tiểu ngạch vừa rủi ro, vừa thiệt thòi”.

Cùng với đó, ông cũng cho rằng, Việt Nam phải đang phải đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ trên mọi lĩnh vực, không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế để tránh nguy cơ lệ thuộc hoàn toàn vào một thị trường, mà cụ thể ở đây là Trung Quốc.

Thứ hai, về nhập khẩu, ông cũng nhắc nhở doanh nghiệp trong nước phải thay đổi tư duy, tâm lý ham rẻ, mua bán dễ dàng (nhập khẩu qua đường tiểu ngạch) để nhập hàng hóa, nguyên vật liệu chất lượng thấp từ thị trường Trung Quốc làm tổn hại đến ngườit iêu dùng cũng như bóp chết sản xấut trong nước.

Bản thân các doanh nghiệp trong nước phải xác định lại thị trường mục tiêu của mình theo cấp độ tăng dần… Tuy nhiên, để mở rộng sang các thị trường khó tính (cả xuất khẩu và nhập khẩu), đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư khoa học công nghệ để nâng cao phẩm cấp của hàng xuất khẩu; đồng thời nâng cao năng lực quản trị để tiết giảm chi phí, bù lại chi phí vận chuyển xa hơn đối với các thị trường này (so với xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc), thì mới mong giảm được sự phụ thuộc và tránh được những rủi ro từ thị trường Trung Quốc.

Theo TS. Dương Đình Giám, ngay cả khi xác định Trung Quốc là thị trường mục tiêu, Việt Nam cũng phải xác định làm sao để nâng cao được năng lực sản xuất, tận dụng được các lợi thế mà thị trường Trung Quốc mang lại, từ đó củng cố vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên thương trường quốc tế. Sự thay đổi này là bắt buộc vì Trung Quốc mạnh lên cũng đồng nghĩa với những yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật hàng hóa cũng cao hơn, khắt khe hơn. Khi đó, hàng hóa Việt Nam muốn vào được thị trường Trung Quốc cũng đòi hỏi phải đạt tới một trình độ, chất lượng nhất định, ngược lại với tình trạng tại thị trường nội địa, hàng hóa Trung Quốc sẽ tràn ngập. Nếu hàng hóa trong nước không bảo đảm sẽ không thể cạnh tranh được.

Với sự thay đổi tới đây, ông cho rằng cuộc cạnh tranh giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa Trung Quốc không chỉ dừng lại ở những chiêu trò như đội lốt hàng Việt, hàng nhái, hàng giả nữa mà sẽ là cuộc cạnh tranh công khai, rất khốc liệt. Do đó, nếu doanh nghiệp không thay đổi thì chỉ có thất bại và nhận thua.

Từ nhìn nhận trên, ông Dương Đình Giám cho rằng, nếu Việt Nam muốn tiến nhanh và có thể hưởng lợi được từ nước láng giềng thì cần phải thực hiện cải cách, thay đổi một cách toàn diện. Đặc biệt về khung khổ chính sách, phương thức phát triển, hỗ trợ nhằm giúp doanh nghiệp trong nước có được điều kiện phát triển tốt nhất.

Tuy nhiên, hơn ai hết, bản thân các doanh nghiệp mới là người quyết định. Vấn đề thay đổi tư duy, tầm nhìn, tự thay đổi để trưởng thành lên. Tóm lại, nếu Việt Nam muốn giảm sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thì phải có sự thay đổi đồng bộ từ cả hai phía Nhà nước và doanh nghiệp. Quan trọng nhất, Việt Nam vẫn phải đẩy mạnh, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, trong tương lai, đây chính là nền tảng thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Những thách thức đối với chiến lược tấn công tin học của Pháp


Minh Anh

Nước Pháp kể từ giờ đã sẵn sàng cho cuộc chiến tranh mạng. Ngày 18/01/2019, bộ trưởng Quân lực Pháp, bà Florence Parly, trong bài diễn văn đã công bố học thuyết quân sự mới của Pháp trong lĩnh vực tin học: Đó là chiến lược tấn công tin học – (Lutte Informatique Offensive – LIO).

Trước sự hiện diện của hàng ngàn tướng lĩnh và quân nhân tại trụ sở bộ, bà Florence Parly, bộ trưởng Quân Lực Pháp khẳng định nước Pháp từ nhiều năm qua và nhất là vào năm 2017 đã trở thành mục tiêu của nhiều vụ tấn công tin học. Do vậy, đã đến lúc Pháp phải thay đổi chiến lược, và không có thế phòng thủ nào tốt hơn bằng cách tấn công. Bà Florence Parly tuyên bố :

« Tính trung bình, mỗi ngày có hơn hai sự cố an ninh mạng xẩy ra ở bộ Quân Lực, liên quan đến các hoạt động tác chiến, các đánh giá kỹ thuật và thậm chí ở cả một viện quân y. Do vậy, chúng tôi tăng cường củng cố nhân sự. Từ nay đến năm 2025, chúng tôi dự kiến có thêm 1000 chiến binh tin học ở bộ chỉ huy tin học, ở tổng cục tình báo và tổng cục vũ khí khí tài.

Chúng tôi gia tăng các phương tiện, đầu tư 1,6 tỷ euro vào cuộc chiến trong lĩnh vực tin học. Chúng tôi coi vũ khí tin học thực sự là vũ khí tác chiến và sẽ sử dụng một cách tương xứng. Những kẻ nào tìm cách tấn công lực lượng vũ trang của Pháp nên biết rằng chúng tôi không e ngại sử dụng và sẽ không e ngại gì để sử dụng vũ khí này ».

Theo giải thích của kênh truyền hình TV5, lực lượng tin học của quân đội Pháp có khoảng 3000 nhân viên tin học, chuyên về an ninh hệ thống và mạng. Cho đến nay, quân đội Pháp chủ trương một chiến lược phòng thủ – Lutte Informatique Défensive, bao gồm các bước : phân tích, củng cố, dò tìm mọi ý đồ thâm nhập vào các hệ thống hay thiết bị kết nối nhằm « bảo đảm chức năng vận hành tốt của bộ và hoạt động có hiệu quả của các lực lượng vũ trang trong việc chuẩn bị, lập kế hoạch và tiến hành các chiến dịch quân sự ».

Nhưng khi xảy ra vụ tấn công tin học hồi cuối năm 2017 với phần mềm Malware Turla nhắm vào bộ Quân Lực và đây cũng chính là phần mềm virus tấn công các máy điện toán của bộ Quốc Phòng Mỹ, gây ra những thiệt hại to lớn chưa từng có, Bộ chỉ huy phòng thủ mạng (Commandement de la cyberdéfense – COMCYBER) được thành lập vào tháng 5/2017, quyết định tổ chức và chính thức soạn thảo chiến lược tấn công tin học.

Chiến lược mới này cho phép quân đội đạt được ba mục tiêu tác chiến khi tiến hành các chiến dịch quân sự, theo như giải thích của tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp Francois Lecointre : « Trước hết là quân báo, qua việc khai thác và thu thập thông tin ; đánh lừa bằng cách làm thay đổi khả năng phân tích của kẻ thù ; vô hiệu hóa bằng cách giảm thiểu hay phá hủy khả năng tin học của quân đội đối phương ».

Một cuộc chiến tin học, một cuộc đua nhân lực

Tấn công tin học là một bước chuyển biến quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Pháp. Với học thuyết mới này, nước Pháp kể từ giờ có thể tiến hành tấn công trên mạng nhắm vào các nước hoặc các thực thể là kẻ thù của Pháp.

Đây sẽ là một nhiệm vụ đầy khó khăn và cực kỳ phức tạp, theo như lưu ý của ông Fabrice Epelboin, giảng viên về địa chính trị trong lĩnh vực tin học tại Viện Khoa Học Chính Trị Paris với đài RFI. Ông Epelboin còn là đồng sáng lập viên Yoghosha, một công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực an ninh mạng.

« Có thể nói là quân đội Pháp tập trung và làm rõ một điều đã tồn tại và bây giờ, người ta bắt đầu vạch rõ phạm vi và thể thức tiến hành chiến tranh. Đương nhiên, những điều này hoàn toàn khác hẳn với cuộc chiến tranh tin học mà nước Pháp đã chủ trương cho đến nay.

Có lẽ cần phải nhắc lại là trong lĩnh vực tin học, việc nhận diện kẻ tấn công luôn luôn cực kỳ tế nhị, đứng về mặt kỹ thuật. Hơn nữa, kẻ địch rất dễ dàng đánh lừa, làm nhầm tưởng là người khác và làm cho mọi việc trở nên cực kỳ phức tạp.

Đến mức mà ANSSI, cơ quan phụ trách an ninh mạng quốc gia của Pháp, chịu trách nhiệm bảo vệ các lợi ích của Pháp đã từ bỏ mọi ý định xác định thủ phạm vụ tấn công tin học và đổ mọi việc cho lĩnh vực chính trị. Do sự phức tạp về kỹ thuật, nên việc “vạch mặt chỉ tên” thủ phạm chỉ có thể là một hành động chính trị. »

Với LIO nước Pháp khẳng định tin học là một vũ khí như bao loại vũ khí khác, đồng thời cho phép cảnh báo các tác nhân có thể là kẻ thù của nước Pháp, rằng quân đội Pháp có thể phản công trả đũa. Nhưng để có thể thực hiện được các mục tiêu đó, quân đội Pháp phải vượt qua nhiều thách thức lớn, trong đó nguồn nhân lực chiếm vị trí hàng đầu.

« Tôi nghĩ là những tác nhân có thể là kẻ thù của nước Pháp hoàn toàn ý thức được là nước Pháp có khả năng phản công, trả đũa. Người ta cố gắng làm rõ, nhấn mạnh, đề cao giá trị của lực lượng tin học trong quân đội, qua đó thu hút nhân tài và năng lực. Cuộc chạy đua thu hút nhân tài, năng lực là yếu tố chủ chốt trong lĩnh vực tin học, không chỉ đối với các doanh nghiệp mà cả đối với các Nhà nước. Nguồn nhân lực có trình độ và năng lực khan hiếm đến mức những nước nào thu hút được nhiều thì trong tương lai sẽ trở thành cường quốc tin học. »

Trở lại với phát biểu của bà Florence Parly khi cho biết có tới 700 vụ tấn công tin học nhắm vào bộ Quân Lực đang được điều tra, chuyên gia Fabrice Epelboin nhận định đó là ý muốn thu hút sự chú ý đến một bộ phận của quân đội cho đến nay vẫn tỏ ra khá kín tiếng và việc chuẩn bị tuyển dụng ồ ạt. Quân đội Pháp hiện đang cố gắng tuyển dụng nhiều nhưng việc tuyển dụng các « tin tặc chính thức » này sẽ gặp nhiều khó khăn và tốn kém.

« Đúng là hiếm và tốn kém, nhưng quân đội cần phải có khả năng hành động và tạo ra hấp lực đối với một cộng đồng từ lâu nay sống trong một thế giới với những mục tiêu và phương châm hành động riêng của họ. Những điều này không phải lúc nào cũng tương đồng với những giá trị mà một quốc gia bày tỏ.

Đây là một thách thức thực sự trong việc quảng bá, truyền thông và chắc chắn là phải có một sự điều chỉnh thích ứng văn hóa quân đội bên trong lực lượng tin học này. Đương nhiên là các đơn vị tin học cũng đã có nhiều biến đổi, họ cũng cần phải có những điều chỉnh, thích ứng với văn hóa của một Nhà nước. »

Tin tặc : Kẻ thù không biên giới bất kể đồng minh hay đối tác

Câu hỏi đặt ra : Trong lĩnh vực tin học này ai mới là kẻ thù của quân đội Pháp ? Trong quá khứ, Pháp đã tấn công tin học những đối tượng nào ? Ông Fabrice Epelboin khẳng định tổ chức Nhà nước Hồi giáo vẫn tiếp tục là mục tiêu tấn công của quân đội Pháp. Đây cũng là đối tượng tấn công của nhiều tác nhân lớn, cũng như trên chiến trường.

Thế nhưng, Daech chưa phải là mục tiêu ưu tiên, do khả năng quấy rối và gây tổn hại của tổ chức khủng bố cho đến lúc này vẫn thật sự chưa đáng quan ngại, vì hiện chỉ được sử dụng chủ yếu cho mục đích tuyên truyền và tuyển mộ binh sĩ. Theo chuyên gia Fabrice Epelboin, tùy từng lĩnh vực, các nước Nga, Mỹ và Trung Quốc là những đối tượng đáng quan tâm nhất.

« Người ta thường nói là không có bạn bè trong lĩnh vực địa chính trị và tất cả phụ thuộc vào những lĩnh vực nào mà nước Pháp muốn bảo vệ. Nếu để bảo vệ các bí mật công nghiệp, sở hữu trí tuệ và khả năng phát minh của các doanh nghiệp Pháp thì đối tượng chính hiện nay cần cảnh giác là Hoa Kỳ ; cơ quan an ninh tình báo quốc gia Mỹ rất mạnh. Nếu về tình báo kinh tế, công nghiệp, thì đương nhiên nên chú ý tới Trung Quốc và chắc chắn đó là mối đe dọa lớn nhất.

Nếu nói đến đe dọa an ninh, quân sự, trong một cuộc xung đột tin học, hệ quả của xung đột vũ trang thì người ta lại ít e ngại Hoa Kỳ hơn và chú ý nhiều hơn đến Nga, Trung Quốc. Có những quốc gia hiện nay không phải là cường quốc quân sự, nhưng nhờ có chiến lược thông minh về tin học, lại trở thành đối tượng rất đáng gờm. »

Chiến tranh mạng : Không thương tích, chết chóc nhưng cũng đầy rủi ro

Thế giới đang lâm chiến. Một cuộc chiến mà không ai ý thức được tầm mức của nó. Một cuộc chiến âm thầm lặng lẽ diễn ra giữa một nhóm người am hiểu. Trong một thế giới mà ngày nay công nghệ chiếm một vị trí quan trọng. Một đất nước không có một lực lượng tấn công, bảo vệ an ninh mạng rõ ràng là bất lợi trên « địa bàn quân sự kỹ thuật số » nhưng ngược lại người ta có trong tay một lá bài chiến lược và ngoại giao quan trọng : Người ta không dễ gì bị cáo buộc tấn công quốc gia khác thông qua mạng Internet.

Giờ đây khi « tuyên chiến trên mạng », nước Pháp có thể bị nhiều nước khác nghi ngờ là tấn công vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số của họ, nhất là trong khuôn khổ « các cuộc xung đột mạng tần suất thấp », những cuộc xung đột thường xảy ra nhất, ở đó không một quốc gia nào muốn thú nhận là họ đã gây bất ổn cho một nước khác.

Do vậy, « cuộc chiến tranh mạng » trở thành một thực tế chí ít trên bình diện chiến lược tại Pháp. Bởi vì kể từ nay, lợi thế thuộc về nước nào có khả năng phá hủy từ xa các trang thiết bị tin học quân sự của đối thủ.

Trong cuộc chiến này, có một câu hỏi quan trọng cũng đang được đặt ra liên quan đến việc quy trách nhiệm cho tấn công tin học. Phần lớn các vụ tấn công tin học là không thể quy trách nhiệm cho ai nếu có xảy ra bởi vì những người thực hiện các vụ tấn công đều che giấu xuất xứ, xóa tan vết tích và thậm chí có thể để lại nhiều dấu hiệu giả để đổ lỗi cho nước khác.

Nguồn: http://vi.rfi.fr/phap/20190125-thach-thuc-chien-luoc-tan-cong-tin-hoc-phap?