Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần I


Giới thiệu

Gần đây, dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus corona (COVID-19) bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc và sau đó lây lan ra bên ngoài nước này đã làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng của Trung Quốc và khu vực. Ngày 31/12/2019, các nhà chức trách Trung Quốc thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về một vài trường hợp mắc bệnh viêm phổi ở Vũ Hán, và đã thực hiện những hành động chính sách chưa từng có để khống chế virus này, nhưng dịch bệnh bắt đầu lây lan sang các nền kinh tế khác trong khu vực. Ngày 30/01/2020, WHO tuyên bố dịch COVID-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Giờ đây, cuộc tranh luận xoay quanh mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh này và tác động có khả năng của nó đối với nền kinh tế trong nước và các nước khác.

Dịch bệnh tác động đến hoạt động kinh tế trên nhiều mặt trận khác nhau:

+ Ở Trung Quốc, dịch bệnh này tạo ra sức ép lớn đối với hệ thống y tế, khiến tiền lương sụt giảm và năng suất thấp hơn do người lao động nghỉ ốm và nghỉ làm. Nỗi lo sợ bị lây bệnh và nỗ lực hạn chế tình trạng lây lan có thể dẫn đến những gián đoạn về giao thông vận tải, chuỗi cung ứng trong ngành chế tạo, việc cung cấp hầu hết các dịch vụ, đóng cửa các trường học và doanh nghiệp. Do đó, việc chống lại dịch bệnh có thể có tác động đáng kể đến kinh tế.

+ Bên ngoài Trung Quốc, khả năng lây lan đã gia tăng đáng kể do sự hội nhập và kết nối trong khu vực tăng cao. Ngoài việc lây lan bệnh do lưu lượng di chuyển quốc tế khổng lồ, ngành công nghiệp hàng không, lĩnh vực du lịch và dịch vụ khách hàng, cũng như thương mại, trong đó có các chuỗi cung ứng toàn cầu là những ngành tiêu biểu cảm nhận được tác động của nó.

+ Hành vi tránh lây nhiễm của người dân và các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan có thể gây ra thêm sức ép lớn đối với các nền kinh tế khu vực. Ngoài ra, cảm giác bất trắc và nỗi sợ hãi tràn ngập khắp nơi sẽ làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng, và gia tăng tâm lý sợ rủi ro trong các thị trường tài chính và hàng hóa tiêu dùng.

Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN+3 (gồm các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và 3 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – khiến tăng trưởng giảm tốc rõ rệt, có khả năng sẽ ảnh hưởng lan rộng khắp khu vực và toàn thế giới. Những ước tính về tác động của dịch bệnh này sẽ phụ thuộc vào thời gian kéo dài, tính độc hại và khả năng lây nhiễm. Các dịch bệnh do virus trước đây, đáng chú ý là Hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) vào năm 2003, có thể đưa ra gợi ý về những thiệt hại kinh tế tiềm tàng đối với Trung Quốc, mà sau đó có thể được sử dụng để ước tính tác động đối với các nền kinh tế khác trong khu vực:

+ Tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong năm 2020 sẽ giảm nhiều nhất là 0,5%, xét tới các biện pháp hỗ trợ của chính phủ.

+ Sự giảm tốc của Trung Quốc sẽ khiến tăng trưởng của các nước ASEAN+3 giảm 0,2%. Các kênh tác động chính đối với khu vực này sẽ là thông qua (1) lưu lượng đi lại và du lịch ra nước ngoài của Trung Quốc giảm mạnh; (2) sự sụt giảm trong hoạt động đi lại và du lịch của khu vực phản ánh nỗi lo sợ lây lan dịch bệnh; (3) sụt giảm hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc qua chuỗi cung ứng khi hoạt động chế tạo bị gián đoạn và nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng: và (4) tình trạng lây lan dịch bệnh sang các nền kinh tế khu vực.

Tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc

Trong số các dịch bệnh lớn trong 2 thập kỷ qua, dịch SARS có thể đưa ra chỉ dẫn nào đó về tác động tiềm tàng của COVID-19. Dịch SARS bùng phát vào quý IV/2002, nhưng hầu hết các ca nhiễm bệnh được ghi nhận vào quý I và quý II/2003. Hơn 8000 người nhiễm SARS, chủ yếu ở Trung Quốc, ngoài ra còn ở các nơi khác trong khu vực – tương tự như COVID-19 tính đến nay. Tại thời điểm này, số lượng người nhiễm COVID-19 đã vượt xa tổng số người nhiễm SARS, và con số này dự kiến còn tăng cao hơn nữa. Tỷ lệ tử vong trung bình do SARS là gần 10% so với mức chỉ 2% của COVID-19 cho đến nay. Tuy nhiên, những ước tính ban đầu cho thấy SARS có tỷ lệ lây nhiễm thấp hơn nhiều, có khả năng là vì virus này không lây trong thời gian ủ bệnh. Một kịch bản có khả năng xảy ra là COVID-19 sẽ lây lan trong khoảng 4 tháng, tương tự như SARS; có tỷ lệ tử vong thấp hơn SARS; lây lan rộng hơn SARS, các vùng lây nhiễm chính là những trung tâm kinh tế chính của Trung Quốc.

Tác động của dịch bệnh này đối với Trung Quốc dự kiến sẽ lớn nhưng không kéo dài. Tăng trưởng trong quý I/2020 dự kiến sẽ giảm mạnh, ở cả lĩnh vực chế tạo lẫn dịch vụ. Trong ngắn hạn, những hạn chế đối với hoạt động đi lại của người dân gây tổn hại đến hoạt động sản xuất và nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các địa phương tuyên bố kéo dài kỳ nghỉ Tết Âm lịch thêm khoảng 7 ngày, điều này đồng nghĩa rằng các nhà máy và doanh nghiệp sẽ phải trì hoãn hoạt động sản xuất.

AMRO dự báo COVID-19  sẽ khiến GDP trong năm 2020 của Trung Quốc giảm 0,5%. Các kịch bản sau đây giả định rằng:

+ Trong lĩnh vực chế tạo, chuỗi cung ứng toàn cầu tập trung ở các khu vực chịu ảnh hưởng sẽ bị gián đoạn đáng kể. Tuy nhiên, sau đó, các công ty có khả năng sẽ tìm ra cách để bù đắp hầu hết (dù không phải toàn bộ) hoạt động sản xuất mất đi để đáp ứng nhu cầu, do lĩnh vực chế tạo tương đối ít bị hạn chế bởi năng lực sản xuất hơn. Do đó, lĩnh vực chế tạo có khả năng sẽ phục hồi mạnh mẽ.

+ Trong lĩnh vực dịch vụ, các công ty có khả năng hạn chế trong việc bù đắp lại những ngày nghỉ. Nhu cầu đối với một vài loại hình dịch vụ như du lịch sẽ không phục hồi đáng kể, và việc cung cấp dịch vụ không thể tăng mạnh trong giai đoạn ngắn. Do đó, quá trình phục hồi về mức trước khi xảy ra dịch bệnh sẽ chậm hơn.

Tác động ước tính bao gồm: (1) lĩnh vực chế tạo khiến tăng trưởng giảm 0,15%; và (2) lĩnh vực dịch vụ khiến tăng trưởng giảm 0,35%, cao hơn một chút so với dịch SARS. Những ước tính này đã tính đến giả định của AMRO về sự hỗ trợ của chính quyền đối với nền kinh tế.

Tác động đối với Trung Quốc sẽ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đến việc làm và có khả năng cả sự ổn định tài chính. Với hơn 200 triệu người lao động di cư trên toàn quốc trở về quê nhà nghỉ ết Âm lịch, và nhiều thành phố (gồm khoảng 50 triệu dân) bị cách ly, hầu hết các lao động này không thể quay trở về thành phố nơi họ làm việc như họ thường làm sau khi nghỉ Tết – đặc biệt là những người ở khu vực miền Trung, khu vực chịu nhiều tác động nhất. Khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ chịu tác động nhiều nhất, điều có thể khiến nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Ngoài ra, vụ bùng phát dịch bệnh này có thể khiến giá cả hàng hóa ở địa phương gia tăng trong tương lai gần.

Tác động đối với khu vực ASEAN+3

Hầu hết các nước trong khu vực ASEAN đã bị lây nhiễm do dịch bệnh lây lan, và tăng trưởng của họ cũng có thể bị ảnh hưởng như đang diễn ra ở Trung Quốc. Kênh tác động chính là thông qua vận chuyển hành khách, du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung gian có liên quan đến sản xuất thành phẩm tiêu dùng trong các khu vực chịu nhiều ảnh hưởng ở Trung Quốc. Ngoài ra, các biện pháp trong nước nhằm khống chế dịch bệnh có thể làm gián đoạn sản xuất cũng như đầu tư và tác động đến tiêu dùng. Tác động này có quy mô và cường độ lớn đến mức nào có khả năng sẽ phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của dịch này. Tuy nhiên, nếu trong năm 2020 nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc hơn so với dự kiến, thì những tác động đối với các nền kinh tế khu vực có thể là khốc liệt.

(còn tiếp) 

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

Mối đe dọa từ sự suy yếu của các cường quốc


Cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 dự báo trước 3 bước ngoặt: sự chấm dứt của kế hoạch hội nhập châu Âu; sự kết thúc của một nước Mỹ thống nhất, thực dụng; và sự kết thúc của khế ước xã hội ngầm giữa nhà nước và người dân ở Trung Quốc. Do đó, sau đại dịch COVID-19, cả 3 thế lực này sẽ bị suy yếu từ bên trong, dẫn tới khả năng lãnh đạo toàn cầu của họ bị suy giảm.

Bắt đầu với châu Âu. Cũng như cuộc khủng hoảng tại khu vực này giai đoạn 2010 – 2012, đường đứt gãy của khối hiện nay chạy qua Italy. Kiệt quệ sau hàng thập kỷ phát triển năng động và nền tài chính mong manh, vấn đề này quá nghiêm trọng đến nỗi châu Âu không thể cứu vãn và cũng quá quant rọng tới nỗi không thể để thất bại. Trong đại dịch, người Italy đã cảm thấy họ bị các đối tác châu Âu bỏ rơi khi cuộc khủng hoảng liên quan tới sự tồn vong của họ đang diễn ra, tạo ra “mảnh đất màu mỡ” cho các chính trị gia dân túy khai thác. Hình ảnh thi thể các nạn nhân của COVID-19 ở Begamo được bọc trong các túi đụng và được đoàn xe quân sự chở đi an táng mà không có người đi cùng sẽ còn khắc sâu trong tâm trí người dân Italy.

Trong khi đó, phát biểu về việc làm thế nào để giúp các quốc gia thành viên bị đại dịch, giới tinh hoa kỹ trị của Liên minh châu Âu một lần nữa sa đà vào “một loạt chữ cái thể chế” – ECB, ESM, OMT, MFF và PEPP – những từ vốn đã trở thành ngôn ngữ mặc định của họ. Các nhà lãnh đạo của lục địa đã chùn bước và do dự, từ câu nói có vẻ bị hớ của chủ tịch ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde hồi tháng 3/2020 – khi bà nói rằng: “ECB không phải ở đây để thu hẹp chênh lệch chi phí đi vay giữa các quốc gia thành viên”, đến các cuộc cãi vã về vấn đề biến các khoản nợ riêng thành nợ chung và quỹ cứu trợ COVID-19, và cả sự thay đổi dần dần một cách miễn cưỡng của thỏa thuận mới nhất. Và, gnay cả khi đạt được những tiến bộ hạn chế, tính bảo thủ trong bản năng của Đức – được minh chứng gần đây nhất bởi phán quyết của tòa án Hiến pháp Liên bang Đức về các hành động của ECB – luôn tìm cách làm suy yếu tinh thần hội nhập.

Giả sử rằng các nền kinh tế thành công vốn là cốt lõi của EU có thể phục hồi sau khủng hoảng trong khi những nền kinh tế ngoại vi bị lung lay – và điều này nhiều khả năng sẽ xảy ra. Không có kế hoạch hội nhập chính trị nào có thể tồn tại khi các quốc gia vốn luôn thuộc tầng lớp dưới không được chia sẻ sự thịnh vượng với các nước láng giềng khi tình hình còn tốt đẹp, và bị bỏ rơi khi tai họa xảy ra.

Trong khi đó, sự suy yếu của Mỹ bị thổi phồng và bị hoài nghi. Ngay cả trước cuộc khủng hoảng COVID-19, các thể chế chủ chốt của Mỹ đã báo hiệu sự sa sút: nhiệm kỳ tổng thống hành động khó kiểm soát của Donald Trump, một Quốc hội có sự sắp xếp đảng phái không thỏa đáng. Tòa án Tối cao bị chính trị hóa, chủ nghĩa liên bang rạn nứt và các thể chế lập pháp bị kiểm soát (với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ là một ngoại lệ nổi bật).

Nhiều người Mỹ trong thâm tâm nhận thấy sự sa sút này, nhưng bác bỏ các quan điểm cho rằng nước Mỹ đang suy giảm sức mạnh. Họ vẫn tin rằng mạng lưới các tổ chức phi nhà nước và những sức mạnh ngầm – bao gồm các trường đại học, truyền thông, tinh thần khởi nghiệp và năng lực công nghệ, cũng như vị thế của đồng USD trên toàn cầu – tạo ra khả năng phục hồi mà nước Mỹ cần để duy trì địa vị của mình. Tuy nhiên, cho đến nay, quốc gia giàu nhất thế giới vẫn là nước đối phó với đại dịch tệ nhất. Mặc dù dân số Mỹ chiếm chưa tới 5% dân số thế giới, nhưng hiện Mỹ đã chiếm khoảng 24% tổng số ca tử vong ở những người đã được xác nhận nhiễm COVID-19 và 32% tính cả các trường hợp chưa được xét nghiệm. Do đó, uy tín và sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ đã liên tục bị tổn hại nặng nề bởi hành động xâm phạm kiểu đế quốc (chiến tranh Iraq), một hệ thống kinh tế gian lận (khủng hoảng tài chính toàn cầu), rối loạn chính trị (nhiệm kỳ tổng thống của Trump), và hiện nay là khả năng đối phó với dịch COVID-19 một cách kém cỏi của Mỹ khiến nhiều người phải ngạc nhiên. Những đòn giáng liên tiếp này đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng, mặc dù nó chưa gây ra tai họa chết người.

Rất nhiều trong số những vấn đề kể trên hóa ra lại xuất phát từ sự chia rẽ sâu sắc và độc hại trong xã hội Mỹ. Quả thực như vậy, Tổng thống Trump đang kích động những người ủng hộ nổi dậy. Đến tháng 11/2020, ngay cả tiêu chí dân chủ cơ bản là tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng cuối cùng cũng có thể bị bỏ qua. Tất nhiên, sẽ là quá vội vàng và gây hoang mang khi đánh giá rằng thất bại sâu rộng của Mỹ trong việc đối phó với khủng hoảng COVID-19 sẽ đe dọa nền dân chủ và sự tồn tại của nhà nước Mỹ. Tuy nhiên, việc khăng khăng tin vào chủ nghĩa ngoại lệ Mỹ ở một thời điểm như hiện nay có vẻ như sẽ là sự phủ nhận nguy hiểm.

Cuối cùng là Trung Quốc. Kể từ thời Đặng Tiểu Bình, đất nước đã phát triển dựa trên một thỏa thuận ngầm đơn giản: Công dân giữ im lặng về vấn đề chính trị, chấp nhận bị hạn chế sự tự do và các quyền tự do, và nhà nước – nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Đảng Cộng sản Trung Quốc – bảo đảm trật tự và sự thịnh vượng ngày càng đi lên. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng COVID-19 đe dọa thỏa thuận lớn này theo hai cách.

Thứ nhất, chính quyền Trung Quốc đã xử lý đại dịch một cách tệ hại ở thời điểm đầu, đặc biệt là việc họ lấp liếm sự thật về đại dịch COVID-19 bùng phát ở Vũ Hán làm dấy lên sự nghi ngờ về tính hợp pháp và năng lực của chế độ Bắc Kinh. Xét cho cùng, thỏa thuận xã hội có vẻ kém hấp dẫn nếu nhà nước không thể đảm bảo cho công dân phúc lợi cơ bản, bao gồm cả chính cuộc sống của họ. Số ca tử vong vì COVID-19 thực sự của Trung Quốc, gần như chắc chắn cao hơn con số chính quyền đang thừa nhận, cuối cùng sẽ được đưa ra ánh sáng. Và sự tương phản rõ rệt giữa phản ứng của Bắc Kinh với phản ứng mẫu mực đối với đại dịch của các xã hội tự do hơn là Đài Loan và Hong Kong cũng sẽ được phơi bày.

Thứ hai, đại dịch có thể dẫn đến sức ép từ bên ngoài trong lĩnh vực thương mại, đầu tư và tài chính. Nếu thế giới mất cân bằng do COVID-19, các quốc gia khác gần như chắc chắn sẽ tìm cách giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc, từ đó, cơ hội thương mại của Trung Quốc sẽ bị thu hẹp. Tương tự, nhiều công ty Trung Quốc sẽ bị chặn đầu tư ra nước ngoài, và không chỉ vì lý do an ninh – như Ấn Độ gần đây đã phát đi tín hiệu. Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc – nỗ lực đáng khen ngợi của Bắc Kinh để tăng cường sức mạnh mềm bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại và truyền thông từ châu Á đến châu Âu – có nguy cơ bị đổ vỡ khi những quốc gia nghèo tham gia bị tàn phá bởi đại dịch bắt đầu vỡ nợ.

Do đó, cuộc khủng hoảng COVID-19 có thể sẽ làm tổn hại đến triển vọng kinh tế dài hạn của Trung Quốc. Những nỗi bất bình ở trong nước đã bắt đầu lan rộng. Tình trạng rối loạn ở trong nước không chắc sẽ xảy ra, bởi Chủ tịch Tập Cận Bình có thể tăng cường đàn áp mạnh hơn những gì ông đã làm. Tuy nhiên, đối với những người dân thường Trung Quốc, thỏa thuận xã hội hiện tại có vẻ sẽ ngày càng giống “thỏa thuận với quỷ dữ”.

Kiểm soát tài nguyên là điều kiện tiên quyết cho quyền lực. Tuy nhiên, như lý thuyết quan hệ quốc tế nhắc nhở chúng ta, việc triển khai sức mạnh ra bên ngoài lãnh thổ đòi hỏi phải có chút ít sự đoàn kết và nhất trí trong nội bộ.. Xã hội yếu kém, rạn nứt thì cho dù quốc gia giàu có đến đâu cũng không thể tạo ra ảnh hưởng chiến lược hoặc nắm giữ vai trò lãnh đạo quốc tế.

Chúng ta đã sống một thời gian trong thế giới lưỡng cực G-2, nơi Mỹ và Trung Quốc thể hiện sự lãnh đạo yếu kém. Cả hai quốc gia này đã và đang mang đến cho cộng đồng toàn cầu “những điều tệ hại” như chiến tranh thương mại và làm xói mòn các tổ chức quốc tế, thay vì các hàng hóa công cộng như sự ổn định, các thị trường và nền tài chính rộng mở. Bằng cách làm suy yếu thêm sự gắn kết nội bộ giữa các cường quốc hàng đầu thế giới, cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 gây ra có nguy cơ khiến thế giới trở nên hỗn loạn, bất ổn và dễ xảy ra xung đột hơn. Sự kết thúc ở châu Âu, Mỹ và Trung Quốc sẽ dẫn tới những khả năng địa chính trị nghiệt ngã như vậy.

Nguồn: project-syndicate.org

TKNB – 12/05/2020

Triển vọng u ám của vấn đề hạt nhân Triều Tiên – Phần cuối


Tuy vậy, Seoul đã giảm nhẹ điều này. Ban đầu Bộ tổng tham mưu liên quân Hàn Quốc (JCS) đã tránh dùng từ “tên lửa”, chỉ gọi chúng là “vật thể phóng”. Seoul hiện đã gọi một cách thẳng thắn, nhưng hầu như vẫn phản đối: giọng điểu tỏ ra lấy làm tiếc một cách yếu ớt chứ không phải là lên án. Chỉ trong tháng 11/2019, khi Kim Jong-un đích thân giám sát (như ông ta vẫn thường làm) một cuộc tập trận pháo binh ven biển với kỹ thuật lạc hậu, Hàn Quốc đã phản đối gay gắt vì điều này vi phạm hiệp ước quân sự liên Triều tháng 9/2018. Những phản ứng mâu thuẫn như vậy khiến nhiều người băn khoăn về cách Seoul nhận thức về mối đe dọa hiện nay – hoặc ít nhất là thừa nhận mối đe dọa đó. Quân đội Hàn Quốc, vốn luôn cảnh giác trước một nhà lãnh đạo ngả sang cánh tả như Moon Jae-in, rất có thể sẽ duy trì thảo luận nội bộ trong thời điểm hiện tại.

Các đời tổng thống Hàn Quốc đều chỉ phục vụ trong một nhiệm kỳ 5 năm, và Moon Jae-in đã bước và nửa cuối nhiệm kỳ của mình; ông sẽ rời nhiệm sở vào tháng 5/2022. Nếu những người bảo thủ Hàn Quốc có thể cùng nhau hành động và làm chủ Nhà Xanh, Kim Jong-un sẽ phải đối mặt với một Hàn Quốc mạnh mẽ và kém bao dung hơn (khi đó có thể ông sẽ ước gì mình đối xử với Moon Jae-in tử tế hơn). Một quan ngại đặc biệt là những lời kêu gọi Hàn Quốc phát triển vũ khí hạt nhân của riêng nước này – điều mà dư luận đã ủng hộ từ lâu – có thể phát sinh mối đe dọa từ Triều Tiên gia tăng trong khi Mỹ dường như ngày càng kém tin cậy hơn (đặc biệt là nếu Trump tái cử nhiệm kỳ thứ hai). Ngay cả khi Moon Jae-in duy trì tiến trình hòa bình còn nhiều sơ sót của ông, nó chắc chắn sẽ không tồn tại sau khi ông ra đi.

Triển vọng cho năm 2020 và trong tương lai

Ít nhất là các kỹ năng của Kim Jong-un chưa thể giúp ông giành được thế chủ động và kiểm soát vấn đề. Khi năm 2019 dần trôi qua mà không có gì diễn ra trên mặt trận phi hạt nhân hóa, ai là người có lỗi? Triều Tiên đã làm rõ: Lỗi hoàn toàn là do Mỹ không thay đổi chính sách của nước này, chứ không phải do Triều Tiên không làm gì – ngoại trừ việc thử vũ khí mới. Có lẽ chính tuyên bố này của Bình Nhưỡng đã định hình các nhận thức và việc đưa tin, đặc biệt là xét tới hạn chót cuối năm mà Kim Jong-un đưa ra. (Giới truyền thông thích việc đếm ngược: nó đơn giản và tạo ra nhiều tin tức hấp dẫn). Triều Tiên đã lợi dụng điều này, thu hút nhiều sự chú ý hơn bằng cách đe dọa đưa ra một “món quà Giáng sinh” mà chưa bao giờ thành hiện thực.

Thay vào đó, Triều Tiên đã đánh dấu kỳ nghỉ lễ – theo lời các nhà bình luận Hàn Quốc là phá bỏ nó – bằng cách tổ chức một cuộc họp lớn. Sau phiên họp CMC đã đề cập đến ở phần trên, Hội nghị toàn thể lần thứ 5 của Ủy ban trung ương đảng Lao động Triều Tiên khóa 7 kéo dài 4 ngày vào năm 2019 – thường thì cuộc họp diễn ra ngắn hơn – với điểm sáng là bài phát biểu kéo dài 7 tiếng của Kim Jong-un. (Năm nay Kim Jong-un không có bài phát biểu năm mới như thường lệ). Như nhiều người mong đợi, ông đã chính thức bãi bỏ lệnh cấm trong 2 năm đối với việc thử hạt nhân và ICBM của Triều Tiên. Kim Jong-un đã dành cho Mỹ những lời gay gắt, nhưng hoàn toàn không nhắc đến Hàn Quốc (hoặc Trung Quốc về vấn đề đó).

Với giọng điệu nhìn chung là cứng rắn và ủ rũ – ông cảnh báo về việc đẩy mạnh chính sách “thắt lưng buộc bụng”, điều mà cách đây 7 năm ông đã đảm bảo với người dân Triều Tiên rằng nó đã kết thúc – trên thực tế Kim Jong-un cũng đã khôi phục chính sách “song tiến”, chỉ là không nhắc đến quá nhiều. Việc quay trở lại tập trung vào WMD cũng có nghĩa là việc phát triển kinh tế không còn là ưu tiên hàng đầu. Kim Jong-un khoe khoang rằng “thế giới sẽ chứng kiến một vũ khí chiến lược mới do Triều Tiên sở hữu trong tương lai gần”, rất có thể là một tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM). Ông cũng đe dọa “chuyển sang hành động gây sốc khiến Mỹ phải trả giá cho những nỗi đau mà người dân Triều Tiên phải chịu đựng và cho sự phát triển (đã qua)”. (Điều thú vị là mặc dù chính sách song tiến trên thực tế nghĩa là “súng và bơ”, nhưng Kim Jong-un hiểu đó là một sự trao đổi).

Chúng ta đã được cảnh báo. Một lần nữa Triều Tiên lại chiếm thế chủ động. Tuy vậy, trong tình hình hỗn loạn của nền chính trị toàn cầu hiện nay, có lẽ Kim Jong-un đã rất thất vọng khi nhận ra điều này khó có thể trở thành trung tâm duy nhất của sự chú ý. Sau khi sát hại vị tướng hàng đầu của Iran, trong những tháng tới Mỹ có thể bận rộn hơn nữa ở vịnh Perisa và vùng Trung Đông rộng lớn hơn. Một câu hỏi đặt ra là Kim Jong-un sẽ tính toán đến điều đó bằng cách nào. Điều đó có thể khuyến khích ông, nếu ông cho rằng Trump quá sa lầy ở Tây Á – và tha thiết muốn tái cử – đến mức không thể đáp trả bất kỳ khiêu khích nào từ phía Bình Nhưỡng. Mặt khác, số phận của Qassem Soleimani cũng xua tan mọi ý kiến cho rằng Trump chỉ nói mà không làm, do đó tốt nhất là nên cẩn trọng. Kế hoạch tấn công là tiêu diệt đầu não được biết đến như là một phần trong kịch bản của Lầu Năm Góc nhằm đối phó với cuộc xung đột ở bán đảo Triều Tiên. Dù máy bay không người lái của Mỹ có thể xuyên thủng hệ thống phòng không của Triều Tiên hay không, ý tưởng này cũng khó có thể giúp Kim Jong-un yên giấc.

Thời điểm lại là một vấn đề khác. Theo những gì quan sát được trong quá khứ, Triều Tiên có thể chọn thời điểm tổ chức một sự kiện lớn để đánh dấu những ngày quan trọng của nước này vào bất cứ lúc nào. Trong đó có sinh nhật của Kim Nhật Thành vào ngày 15/4, và kỷ niệm 75 năm thành lập Đảng Lao động Triều Tiên 10/10/2020. Nước này cũng có xu hướng tổ chức trùng vào các sự kiện của các nước khác, chẳng hạn như năm 2017 khi ICBM đầu tiên của Triều Tiên, tên lửa Hwasong-14, được phóng vào ngày Quốc khánh Mỹ 4/7. Vì thế, Seoul rất dễ nhận thấy rằng cuộc tập trận pháo binh ven biển của Quân đội nhân dân Triều Tiên (KPA) vào tháng 11/2019, dù vô hại, nhưng cũng diễn ra vào lễ kỷ niệm 9 năm trận pháo kích vào đảo Yeonpyeong gần đó, khiến 4 người Hàn Quốc thiệt mạng. Triều Tiên không làm điều gì ngẫu nhiên. Tương tự như vậy, lễ kỷ niệm 10 năm con tàu hộ tống Cheonan của Hải quân Hàn Quốc bị đánh chìm vào ngày 26/3, khiến 46 người thiệ mạng có thể là một ngày đáng để theo dõi – dù Triều Tiên chưa bao giờ thừa nhận trách nhiệm.

Kết luận: Không có gì thuận lợi cho chúng ta

Bức tranh rộng lớn hơn cũng ảm đạm không kém. Trong số tất cả các nước trên thế giới mà không ai muốn họ sở hữu vũ khí hạt nhân hay các phương tiện hạt nhân, Triều Tiên đứng đầu danh sách. Một nước bất hảo thực sự, với truyền thống lâu đời coi thường luật pháp quốc tế và gây bất ổn trên mọi mặt trận, chế độ nhà Kim đã bước sang năm 2020 mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Quả thực, nền kinh tế nước này khó có thể phát triển mạnh. Nhưng khi nhiều báo cáo liên tiếp của Hội đồng chuyên gia Liên hợp quốc (PoE) cho thấy, Triều Tiên rất giỏi trong việc tránh né các biện pháp trừng phạt – hoặc đơn giản là can dự các vụ trộm cắp trên mạng, điều mà PoE cho rằng đã mang lại cho Bình Nhưỡng tổng cộng 2 tỷ USD cho đến nay.

Xua tan những dự đoán về sự sụp đổ, Triều Tiên vẫn đứng vững. Tương tự như vậy với Kim Jong-un, nếu ông chăm sóc sức khỏe của chính mình. Bước sang tuổi 36 vào tháng 1/2020, ông có thể phải nắm quyền trong nhiều thập kỷ tới. Tập Cận Bình cũng vậy, dù lớn tuổi hơn, cũng không có kế hoạch rời khỏi chính trường. Trong khi các nhà độc tài này vẫn tiếp tục nắm quyền, ở Seoul, Washington và nhiều nơi khác, các nhà lãnh đạo được bầu vẫn đến rồi đi. Những người chưa xuất hiện sẽ phải đối mặt với một Triều Tiên mạnh mẽ và kiêu ngạo hơn bao giờ hết – và hi vọng là không ảo tưởng.

Cho đến nay, những gì Kim Jong-un thực sự làm sẽ bị kiềm chế bởi các biện pháp răn đe, điều sẽ trở nên ngày càng quan trọng trong nhiều năm tới. Có thể cho rằng Kim Jong-un sẽ làm bất cứ điều gì ông nghĩ là có thể giúp tránh né việc bị trừng phạt. Khi Triều Tiên gây sức ép, nhiều bên thường không thể chống đỡ. Ngoài các mối quan ngại về hạt nhân, tháng 2/2017, người anh cùng cha khác mẹ của Kim Jong-un là Kim Jong Nam bị ám sát bằng chất độc thần kinh giữa ban ngày tại một sân bay đông đúc ở thủ đô của một đất nước thân thiện – nơi không chỉ không thể trừng phạt những kẻ ám sát ông mà còn sẵn lòng nối lại quan hệ bình thường với Triều Tiên. Kim Jong-un rất có thể cho rằng ông có thể thoát được tội giết người, vì thực tế đúng là như thế.

Khó có thể nói thêm, vì có quá nhiều điều chưa sáng tỏ. Chắc chắn năm nay Kim Jong-un sẽ tiếp tục khiêu khích. Những gì ông làm, ở đâu và khi nào, sẽ lần lượt đặt ra những vấn đề nan giải cho các bên bị ảnh hưởng – dù là Trump, Moon Jae-in hay những người khác – về cách đối phó với chúng. Với Moon Jae-in, có thể dự đoán ông sẽ cảnh giác – trừ phi có một cuộc tấn công như Cheonan. Nhưng với Trump, ai có thể lường trước được tình hình? Nếu thực tế cho thấy quan hệ giữa hai nhà lãnh đạo đã kết thúc và luôn xuất phát từ một phía, thì sức hấp dẫn của ván cờ có thể sớm bị lãng quên. Trong những thời điểm lạ lùng này, ở bán đảo Triều Tiên hay nơi nào khác, mọi thứ đều có thể xảy ra. Đó không phải là một suy nghĩ mang tính trấn an.

Nguồn: The Diplomat – 2/2020

CVĐQT – số 2/2020.

Một cuộc chiến tại Biển Đông có thể định hình lại châu Á – Phần cuối


Trong khi đó, Trung Quốc cho dàn hàng trăm tàu đánh cá, tàu hải cảnh và tàu dân quân biển khắp vùng biển Nam Trung Hoa, như trong chiến dịch dàn tàu để ngăn cản họa động xây dựng của Philippines tại quần đảo Trường Sa năm 2018. Trung Quốc hy vọng có thể hăm dọa và đánh lạc hướng lực lượng liên quân do Mỹ đứng đầu tại biển Nam Trung Hoa, và kéo lực lượng này ra khỏi bãi cạn. Trong trường hợp xảy ra đối đầu quân sự, các tàu không trực tiếp chiến đấu sẽ làm nhiệm vụ đánh lạc hướng và gây lúng túng cho các nhà chỉ huy liên quân, đồng thời liên tục cung cấp thông tin tình báo và hỗ trợ hỏa lực cho PLA.

Ngày 26/1, Trung Quốc tuyên bố thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Nam Trung Hoa và thành lập một lực lượng đặc nhiệm gồm 1 tàu sân bay, 15 tàu chiến mặt nước và 10 tàu ngầm từ đảo Hải Nam tiến về phía Nam. Đồng thời, Không quân PLA đã triển khai máy bay chiến đấu tới đảo Hải Nam và các căn cứ dọc bờ biển Đông Nam của Trung Quốc, bao gồm các phi đội Su-27 Flankers và FB-7 Flounders có khả năng thực hiện các cuộc tấn công trên biển. Lực lượng tên lửa của PLA được bố trí ở Đông Nam Trung Quốc, đối diện với Đài Loan, cũng được đặt trong tình trạng báo động cao và được bổ sung nhiều trung đoàn với các loại tên  lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung.

Theo đề nghị của Trung Quốc, lực lượng không quân và hải quân Nga tại khu quân sự Viễn Đông cũng được đặt trong tình trạng báo động cao. Trung Quốc và Nga đã tiến hành các cuộc tập trận chung ngày càng tinh vi trong gần một thập kỷ qua. Trung Quốc kỳ vọng khả năng can dự quân sự của Nga sẽ giúp ngăn ngừa Mỹ tham chiến vì biển Nam Trung Hoa. Mặc dù Nga đã gián tiếp thông tin cho Mỹ rằng nước này sẽ không can dự vào cuộc chiến tại biển Nam Trung Hoa, nhưng Mỹ và Nhật Bản vẫn bắt tay vào việc xây dựng các phương án đối phó.

Trên phạm vi toàn cầu, Bắc Kinh đã dàn dựng các cuộc biểu tình hòa bình quy mô lớn thông qua các tổ chức thuộc Mặt trận thống nhất của họ tại những thành phố lớn. Đồng thời, nước này cũng tăng cường các cuộc tấn công mạng và bắt đầu các hoạt động phá hoại tại những thù địch nhằm làm gián đoạn các hoạt động quân sự và tiến trình ra quyết định cấp quốc gia.

Tuy nhiên, các chiến dịch ép buộc, răn đe và cuộc chiến chính trị của Bắc Kinh đều đã thất bại. Sau khi từ bỏ chính sách nhượng bộ kéo dài gần 4 thập kỷ đối với Trung Quốc, Mỹ đã chuẩn bị cho tình huống đối đầu quân sự.

Cùng với lực lượng không quân và hải quân của Nhật Bản, các lực lượng Mỹ đóng tại Nhật Bản đã được đặt trong tình trạng báo động cao. Các máy bay chiến đấu bổ sung được triển khai tới khu vực này, và các tàu chiến đất mặt nước được điều động tới quần đảo Ryukyu ở phía Nam. Các lực lượng lục quân bổ sung của Nhật Bản được triển khai tới khu vực Nansei Shoto và được trang bị tên lửa chống hạm. Ý thức được việc các hoạt động thù địch tại biển Nam Trung Hoa có thể đe dọa nghiêm trọng tới Đài Loan, Đài Bắc cũng đặt các lực lượng vũ trang của mình vào tình trạng báo động cao nhất và bắt đầu các bước chuẩn bị cho phòng thủ dân sự.

Tàu USS Ronald Reagan, tàu xung kích của Hải quân Mỹ, cùng một nhóm tác chiến đã khởi hành về phía Đông đảo Okinawa, và nhóm tác chiến tàu sân bay thứ hai đã khởi hành từ San Diego. Hai phi đội máy bay tiêm kích tàng hình F-22 được tăng cường tới Thái Bình Dương, một phi đội tới căn cứ không quân Kadena trên đảo Okinawa và phi đội còn lại tới Guam. Trong khi đó, hai máy bay ném bom tàng hình B-2 được triển khai tới Guam.

Thủy quân lục chiến Mỹ nhanh chóng thiết lập một loạt tiền đồn và đổ bộ lên các đảo nhỏ rải khắp khu vực. Được trang bị tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm tầm xa, Thủy quân lục chiến có thể góp phần quan trọng vào chiến lược “chống xâm nhập/ngăn chặn tiếp cận” của liên quân tại biển Nam Trung Hoa. Các lực lượng vũ trang với khả năng tác chiến tương tự cũng bắt đầu được triển khai từ cá căn cứ của Mỹ tới Nhật Bản.

Ngày 28/1, Bắc Kinh tuyên bố tất cả các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) ven bờ biển nước này đều là những khu vực cấm đối với lực lượng quân sự nước ngoài và toàn bộ vùng  biển bên trong cái mà Trung Quốc gọi là “đường 9 đoạn” thuộc lãnh hải của Trung Quốc. Bắc Kinh kiên quyết không cho phép bất kỳ ai xâm phạm chủ quyền không được nước nào công nhận này.

Ngày 29/1, Trung Quốc tái dựng sự kiện giữa tàu Lan Châu và tàu USS Decatur ngày 30/8/2018, Bắc Kinh hoàn toàn chắc chắn về hệ quả của nó: Sẽ có nổ súng, và thương vong.

Tập Cận Bình và đội ngũ thân tín của ông tin rằng Mỹ sẽ xuống thang giống như lần trước. Nếu không thì giới lãnh đạo Trung Quốc cũng tin rằng lực lượng của họ sẽ đánh bại liên quân do Mỹ đứng đầu trong trường hợp xảy ra giao tranh.

Dường như không ai trong Bộ Chính trị bị ám ảnh bởi hồn ma của 22 triệu người chết trong cuộc đại chiến, hoặc những hình ảnh về sự sụp đổ và tiêu vong của các đế quốc Áo-Hung, Nga, Đức và Ottoman.

Giống như vụ ám sát đã thổi bùng ngọn lửa Chiến tranh thế giới thứ nhất, vụ việc châm ngòi cho một cuộc chiến tranh ở biển Nam Trung Hoa cũng đơn giản nhưng nghiêm trọng.

Một tàu đánh cá treo cờ Trung Quốc, được tàu hải cảnh Trung Quốc hộ tống, đã tiến thẳng về phía tàu USS Chancellorsville, một tàu tuần dương được trang bị tên lửa dẫn đường thuộc Hạm đội 7 của Mỹ. Mặc dù tàu Chancellorsville đã cảnh báo qua loa phát thanh về nguy cơ va chạm, nhưng hai con tàu Trung Quốc vẫn lao thẳng về phía tàu Mỹ. Sau khi cố gắng tránh né hai con tàu đang lao về phía mình và sử dụng mọi biện pháp hòa b2inh, tàu Chancellorsville đã bắn 4 phát cảnh báo từ khẩu pháo cỡ nòng 5 inch (127 mm) đặt phía trước tàu.

Chỉ trong vài phút, tàu khu trục Lan Châu (DDG-170) được trang bị tên lửa dẫn đường cảu Hải quân Trung Quốc vốn đang hoạt động cách đó khoảng 100 hải lý, đã bắn một loạt 4 tên lửa hành trình chống hạm tầm xa YJ-62. Vậy là Trung Quốc đã bắt đầu cuộc chiến tranh giành biển Nam Trung Hoa.

NATO lập tức kích hoạt Điều 5 của HIệp ước Washington và tiến hành các phản ứng quân sự, bao gồm cả việc nhanh chóng triển khai lực lượng tới biển Nam Trung Hoa và biển Hoa Đông để hỗ trợ các đối tác dân chủ truyền thống của họ tại đó. EU cũng nhanh chóng can dự, bằng việc khởi đ6ọng các cuộc tham vấn để kích hoạt Hiệp ước về Liên minh châu Âu, với lý do phòng thủ trước nguy cơ hành động gây hấn của Trung Quốc ảnh hưởng tới các vùng lãnh thổ của Pháp ở châu Á – Thái Bình Dương. Trên phạm vi toàn cầu, các nước trước kia vẫn hy vọng sẽ không bao giờ phải chọn phe trong một cuộc chiến giữa Mỹ và Trung Quốc nhận ra rằng cuối cùng cũng đã đến lúc phải đứng về một bên.

Vậy là Trung Quốc đã thực sự bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ ba.

Nguồn: https://nationalinterest.org/blog/buzz/war-south-china-sea-would-reshape-asia-and-world-127557

TLTKĐB – 21/04/2020

Một cuộc chiến tại Biển Đông có thể định hình lại châu Á – Phần II


Khi Hải quân Hoàng gia Anh và Hải quân Mỹ tổ chức tập trận chung tại biển Nam Trung Hoa đầu năm 2019, Bắc Kinh đã được thông báo trước. Cuộc diễn tập Mỹ – Anh diễn ra ngay sau hoạt động tự do hàng hải đầu tiên của Hải quân Hoàng gia Anh vào tháng 8/2019, gần khu vực quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp. Anh cam kết tái can dự vào khu vực để đối chọi với sức mạnh ngày càng lớn của Trung Quốc và hoạt động quân sự hóa của nước này tại biển Nam Trung Hoa.

Đương nhiên là Trung Quốc chỉ trích gay gắt những hành động của Anh. Nhưng có lẽ điều khiến giới cầm quyền Bắc Kinh bực bội hơn nữa là mối quan ngại ngày càng lớn của Liên minh châu Âu (EU) và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trước những hành động hung hăng, bất hợp pháp của Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa và những hành động cưỡng ép thể hiện sự tha hóa của nước này trên toàn cầu.

Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg thường bày tỏ mối lo ngại của NATO về tình hình tại biển Nam Trung Hoa và biển Hoa Đông, cũng như tái khẳng định việc NATO phản đối những hành động hăm dọa đơn phương mà có thể làm thay đổi nguyên trạng và gia tăng căng thẳng. Quyết tâm chính trị này được phản ánh trong cam kết mới của NATO về việc tăng chi tiêu quốc phòng và hiện đại hóa tiềm lực.

Điều cũng quan trọng không kém đối với vấn đề biển Nam Trung Hoa là cam kết của NATO về việc thúc đẩy sự ổn định ở nước ngoài thông qua các lực lượng viễn chinh có khả năng triển khai nhanh. Mặc dù vậy, Bắc Kinh tỏ ra xem nhẹ những quan ngại của NATO, cũng như khả năng đã được chứng minh của liên minh này trong việc tiến hành các hoạt động tác chiến lâu dài ở những vị trí xa xôi như Afghanistan sau vụ tấn công khủng bố 11/9 vào nước Mỹ.

Các quan chức cấp cao của EU cũng bày tỏ sự lo lắng về hành động phi pháp của Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa. Chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc được xem là mối đe dọa trực tiếp đối với EU, trong bối cảnh EU đang tập trung vào việc tăng cường an ninh và hội nhập quốc phòng. EU đã tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu, cũng như hợp nhất chính sách và năng lực phòng thủ với Quỹ phòng thủ châu Âu và Thỏa thuận hợp tác cấu trúc thường trực về quốc phòng (PESCO), bằng cách phát triển các lực lượng triển khai nhanh, và xây dựng Sáng kiến can thiệp châu Âu do Pháp thúc đẩy.

Để nêu bật mối lo ngại ngày càng lớn trước sự bành trướng của Trung Quốc, tháng 3/2019, Pháp đã điều tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân Charles de Gaulle cùng một đội tác chiến gồm ba tàu khu trục, một tàu ngầm và một đội tàu tiếp tế đến khu vực này.

Lúc này, Trung Quốc phải đối mặt với một mặt trận thống nhất đang được hình thành gồm những quốc gia quyết tâm duy trì quyền tự do hàng hải tại một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới.

Trong bối cảnh thái độ hung hăng trên biển và cuộc chiến chính trị của Trung Quốc với các quốc gia cũng có tuyên bố chủ quyền trong khu vực ngày càng gia tăng, các nước Đông Nam Á như Philippines và Việt Nam đã bắt đầu tìm kiếm sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.

Chính phủ Philippines trước thời Duterte đã chính thức đề nghị Mỹ hỗ trợ theo Hiệp ước phòng thủ chung. Năm 1994 và một lần nữa vào năm 2012, các nhà lãnh đạo của Philippines đã sửn g sốt khi không được Chính phủ Mỹ ủng hộ trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, việc Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo tuyên bố hôm 1/3/2019 rằng bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào các lực lượng, máy bay hoặc tàu thuyền của Chính phủ Philippines ở biển Nam Trung Hoa đều sẽ kích hoạt các cam kết theo Điều 4 của Hiệp ước phòng thủ chung, chứng tỏ rằng một thế hệ quan chức an ninh quốc gia mới của Mỹ đã rút được kinh nghiệm từ những sia lầm trong mối quan hệ đồng minh trước đây. Quân đội Mỹ đã nhanh chóng tăng cường sự hiện diện của họ tại vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Trong một động thái tăng cường liên minh khác, Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ và Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản tại biển Nam Trung Hoa đã mở rộng các hoạt động có sự phối hợp của tàu sân bay, tàu chiến mặt nước và tàu ngầm. Động thái này phát đi một thông điệp rõ rang tới Bắc Kinh rằng biển Nam Trung Hoa vẫn là vùng biển chung chứ không phải cái “ao nhà” của Trung Quốc và biển Nam Trung Hoa sẽ không phải nơi ẩn náu an toàn cho lực lượng tàu ngầm có trang bị tên lửa đạn đạo của nước này. Màn thể hiện tinh thần đoàn kết này là sự khích lệ đáng kể chưa từng có đối với nhiều nước trước những hoạt động bành trướng của Trung Quốc.

Trong khi đó, Australia kêu gọi một giải pháp hòa bình cho tình hình căng thẳng ngày càng gia tăng, nhưng tuyên bố nước này sẽ không để Trung Quốc thống trị biển Nam Trung Hoa. Máy bay do thám hàng hải P-8A Poseidon của Không quân Hoàng gia Australia đã bắt đầu các chuyến bay hàng ngày trên biển Nam Trung Hoa như một phần của chiến dịch tuần tra hàng hải Operation Gateway. Quan trọng không kém, Australia cũng đã bắt đầu công khai những hình ảnh về các hoạt động bành trướng trên biển của Trung Quốc tại khu vực này.

Ngày càng lo lắng trước sự bành trướng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, Ấn Độ cũng đã tăng cường, dẫu có phần muộn màng, việc hợp tác với các thành viên khác của nhóm Bộ Tứ là Australia, Nhật Bản và Mỹ. Bốn nước này đã bắt đầu lên kế hoạch về việc phối hợp các hoạt động răn đe ở biển Nam Trung Hoa.

Năm 2020: Những dấu hiệu, cảnh báo và chiến tranh

Trung Quốc đã để lộ các báo cáo cho rằng Tập Cận Bình ra lệnh cho PLA dùng vũ lực để giành lại Đài Loan vào năm 2020. Bước sang năm 2020, Tập Cận Bình đã để mắt tới biển Nam Trung Hoa và coi đó là mục tiêu cũng có thể đạt được trong năm nay. Hai mục tiêu đan xen mật thiết với nhau. Trong đó, biển Nam Trung Hoa là mục tiêu cần đạt trước.

Ngày 21/1/2020, Tập Cận Bình ra lệnh triển khai 5 tàu nạo vét xây đảo cỡ lớn từ đảo Hải Nam, cùng với các tàu và trang thiết bị phụ trợ liên quan đến giai đoạn đầu của việc xây dựng đảo nhân tạo ở biển Nam Trung Hoa. Đích đến của những con tàu này là bãi cạn Scarborough, cách Luzon, hòn đảo mà Philippines tuyên bố chủ quyền nhưng trên thực tế lại thuộc sở hữu của Trung Quốc sau khi bị nước này chiếm đóng bất hợp pháp vào năm 2012, 124 dặm (gần 200 km). Cơ quan tình báo của Mỹ và các nước khác đã nhanh chóng phát hiện ra hoạt động này.

Một hòn đảo nhân tạo tại bãi cạn Scarborough sẽ mang đến cho Trung Quốc một căn cứ không quân và hải quân mà có thể ngăn chặn các lực lượng quân sự của Mỹ xâm nhập biển Nam Trung Hoa qua eo biển Ba Sĩ. Nó cũng mở đường cho cuộc tấn công của Trung Quốc vào Đài Loan từ phía Nam.

Đáp lại, Mỹ và Philippines đã nhất trí tăng cường sự hiện diện quân sự quanh bại cạn Scarborough. Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ đã chỉ đạo các hoạt động chuẩn bị bao gồm cả việc điều các lực lượng thuộc Hạm đội 7 của Mỹ “hạ trại” cách bãi cạn này 12 hải lý muộn nhất vào ngày 24/1.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://nationalinterest.org/blog/buzz/war-south-china-sea-would-reshape-asia-and-world-127557

TLTKĐB – 21/04/2020

Triển vọng u ám của vấn đề hạt nhân Triều Tiên – Phần III


Hội nghị thượng đỉnh Hà Nội sẽ không tái diễn

Nếu người ta có thể nhận thấy rõ quỹ đạo đáng buồn của quan hệ liên Triều trong thời gian gần đây, thì trái lại, quan hệ Mỹ – Triều vẫn còn không gian cho sự mơ hồ, dù không nhiều. Với Washington, Bình Nhưỡng chơi một ván cờ khác. Chấp thuận phi hạt nhân hóa một cách trừu tượng, Kim Jong-un đã gạt đi mọi nỗ lực nhằm buộc Triều Tiên phải có những bước đi cụ thể, hay thậm chí tham gia các cuộc đàm phán phù hợp ở cấp chuyên viên mà có thể dẫn tới những bước đi như vậy (như đã chứng kiến trong thời kỳ Đàm phán 6 bên). Việc cho nổ tung bãi thử hạt nhân Punggye-ri trước mặt các nhà báo (nhưng không có sự xác minh của các chuyên gia độc lập), hay dỡ bỏ một phần bãi thử tên lửa Sohae chỉ để xây dựng lại bãi thử này sau đó, chỉ là những cử chỉ còn xa mới đạt tới các cuộc đàm phán nghiêm túc về vấn đề giải pháp như Đàm phán 6 bên hay Khung thỏa thuận.

Bao trùm tất cả những điều này là một câu hỏi mang tính giả định. Liệu Hội nghị thượng đỉnh Hà Nội có thể có một kết quả khác hay không? Điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ đề nghị giảm nhẹ một phần các biện pháp trừng phạt, như mong đợi của Moon Jae-in, cho phép nối lại các tuyến đường bộ và đường sắt liên Triều? Liệu điều này có thể dẫn tới một vòng tuần hoàn những diễn biến khả quan hơn chứ không phải bi quan hơn hay không? Chúng ta sẽ không bao giờ biết câu trả lời. Với những gì đã diễn ra, bằng việc làm theo lời khuyên của John Bolton và đòi hỏi Triều Tiên giao nộp toàn bộ vũ khí hủy diệt hàng loạt – đầu đạn hạt nhân, vũ khí hóa học và sinh học, tên lửa…  – Trump chỉ bảo đảm rằng trong khi Hội nghị thượng đỉnh Singapore (dù hời hợt) đạt được kết quả cùng thắng, thì Hội nghị thượng đỉnh Hà Nội lại là thất bại đối với cả ông lẫn Kim Jong-un. Ngày 11/1, Kim Kye-gwan, từng là nhà đàm phán hạt nhân hàng đầu trong khuôn khổ Đàm phán 6 bên, đã cảnh báo rằng Triều Tiên sẽ không bao giờ lãng phí thời gian như vậy một lần nữa: “Chúng tôi không muốn trao đổi giống như những thương nhân”. Điều này đương nhiên là không thành thật. Sự trao đổi như vậy chính là những gì mà Kim Kye-gwan và Christopher Hill đã làm khi đó, và là điều mà điểm cốt lõi của bất kỳ cuộc đàm phán chi tiết nào đòi hỏi.

Tiền lệ cho thấy bất luận thế nào, Triều Tiên cũng sẽ “chơi rắn” và gian lận như trong thời kỳ Khung thỏa thuận. Những người hào phóng hơn có thể sẽ không đồng tình. Viết cho trang mạng 38North gần đây, Leon V. Sigal, với niềm hy vọng không bao giờ bị dập tắt, cho rằng còn quá sớm để đưa ra những nhận định về ngày tàn của ngoại giao hạt nhân, dù sự lạc quan của ông có đôi chút trống rỗng: “Nếu không có các cuộc đàm phán tiếp theo, thì ia có thể biết chắc được?” Hồi tháng 12/2019, cũng trên trang 38North, Glyn Ford – một cây bút không biết mệt mỏi từng 50 lần tới Bình Nhưỡng – khẳng định rằng bài phát biểu năm mới 2019 của Kim Jong-un chứa đựng, theo tiêu đề mà ông đã đặt, “những dấu hiệu và cơ hội bị bỏ qua”.

Có thể là như vậy. Tuy nhiên, lý thuyết dao cạo Occam (lời giải thích đơn giản nhất thường là lời giải thích xác đáng nhất – ND) và toàn bộ giai đoạn 2017 – 2019 lại chỉ ra một giả thuyết đơn giản hơn dù mang tính hoài nghi hơn: Kim Jong-un chưa bao giờ nghiêm túc có ý định phi hạt nhân hóa, và cũng không trông đợi các cuộc đàm phán đi đến đâu cả. Tuy nhiên, sau 6 năm dường như ở ẩn – trên thực tế là bận rộn củng cố cơ sở quyền lực của mình và đảng Lao động Triều Tiên trong nước – đã đến lúc Kim Jong-un bước ra thế giới bằng một trò giật gân, theo cách của riêng mình và tối đa hóa lợi thế của Triều Tiên.

Kế hoạch tổng thể của Kim Jong-un

Kim Jong-un đã lên kế hoạch cho quá trình đó một cách tỉ mỉ, chia làm ba phần: dụ dỗ Seoul, thuyết phục Trump, lôi kéo Tập Cận Bình.

Hiện vấn đề cuối cùng rõ ràng là có ý nghĩa quan trọng nhất – mặc dù đã bị xem nhẹ trên các phương tiện truyền thông phương Tây vốn mụ mị vì những tin tức ồn ào xoay quanh Trump và Moon Jae-in. Việc nối lại quan hệ với Trung Quốc vẫn được tiến hành như dự kiến trong khi phần còn lại của kế hoạch đã bị bỏ dở – cũng đúng theo dự định. Sau 4 lần tới thăm Trung Quốc (và 6 năm quan hệ lạnh nhạt), tháng 6/2019, Kim Jong-un đã nhận được phần thưởng của mình: một chuyến thăm đáp lễ của Tập Cận Bình. Hỗ trợ ngoại giao cũng đi kèm với hỗ trợ kinh tế. Bắc Kinh đã giảm nhập khẩu theo yêu cầu các biện pháp trừng phạt, nhưng điều này dẫn đến mức thâm hụt lớn trong khi không rõ bên cấp vốn. Trung Quốc vẫn luôn cần Triều Tiên, và sẽ làm những gì cần thiết để giúp nước này thoát khỏi tình trạng khó khăn. (Một số người ở Washington cho rằng sự thật hiển nhiên này khó chấp nhận một cách kỳ lạ). Tháng 12/2019, Trung Quốc đã kêu gọi Nga cùng nới lỏng các biện pháp trừng phạt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đối với Triều Tiên, bao gồm cả các dự án liên Triều. Đề xuất này có thể không được thông qua, nhưng đó là một dấu hiệu đáng chú ý cho thấy chính sách “gây sức ép tối đa” đã sụp đổ ra sao – cho dù Triều Tiên không hề từ bỏ số vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) của nước này.

Kim Jong-un cũng giành được ưu thế từ những sai lầm mà các kẻ thù của ông tự gây ra. Một trạng thái bất cân xứng đáng lo ngại đã xuất hiện giữa Mỹ và Liên Xô – “hai tam giác” đối đầu nhau tại DMZ trong Chiến tranh Lạnh. Khi đó, Triều Tiên có Liên Xô và Trung Quốc, trong khi Hàn Quốc có Mỹ và Nhật Bản. (Hai mối quan hệ này không phải lúc nào cũng êm đẹp hay minh bạch, với tranh chấp Trung – Nga và quan hệ Nhật – Hàn đầy bất ổn).

Bức tranh hiện nay không rõ ràng đến thế, xét tới mối quan hệ mới của Hàn Quốc với Nga và Trung Quốc, trong đó Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của nước này. Tuy vậy về mặt ngoại giao, mô hình cũ đang xuất hiện trở lại, với những rạn nứt đáng ngại ở một phía. Kim Jong-un không chỉ cải thiện quan hệ với Trung Quốc và Nga – ông đã gặp Vladimir Putin tại Vladivostok vào tháng 4/2019 – nhưng bản thân Moskva và Bắc Kinh cũng đang hợp tác chặt chẽ hơn bao giờ hết, ít nhất là về mặt quân sự. (Mỗi bên đã bay thử trong không phận Hàn Quốc trong những tháng gần đây).

Trong khi đó, phe “thế giới tự do” đang hỗn loạn trên hai mặt trận. Thất bại bi thảm kinh niên của Hàn Quốc và Nhật Bản trong việc xây dựng mối quan hệ hướng đến tương lai đang dẫn đến những chia rẽ mới sâu sắc hơn, và có thể sẽ không sớm chấm dứt trong tương lai gần Và định kiến của Donald Trump rằng hầu các đồng minh đều là những kẻ ăn bám có nguy cơ gây tổn hại nghiêm trọng liên minh Mỹ – Hàn. Nếu Trump kiên quyết yêu cầu Hàn Quốc tăng gấp 5 lần khoản thanh toán cho sự hiện diện của binh lính Mỹ ở nước này, thì nhiều người Hàn Quốc sẽ bắt đầu băn khoăn, điều họ hiếm khi làm cho đến nay, rằng liệu điều này có lợi nhiều hơn hại hay không. Trong một khu vực và thế giới ngày càng hướng theo trường phái Hobbes, với sức hấp dẫn của Trung Quốc ngày càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết, sự suy tàn hay thậm chí sụp đổ của cấu trúc liên minh sau năm 1945 ở Đông Bắc Á là điều hoàn toàn có thể hình dung ra. Gạt mọi tính toán sang một bên, điều này chỉ có thể mang lại lợi ích to lớn cho Triều Tiên.

Trump và Moon Jae-in: Bộ đôi không chấp nhận sự thật

Hãy quay trở lại với kế hoạch ngoại giao tổng thể của Kim Jong-un. Việc dụ dỗ Seoul và thuyết phục Trump đều tỏ ra thành công ngoài mong đợi. Triều Tiên đọc vị được các đối thủ của mình và thể hiện một cách rất thuyết phục khi nói với mỗi bên về những gì họ muốn nghe. Có vẻ không công bằng khi đánh đồng Moon Jae-in và Trump: Moon Jae-in có tầm nhìn xuất sắc về hòa bình trên bán đảo, Trump chỉ đơn thuần là một bản ngã dị hợm. Đức hạnh và sự trụy lạc đều chỉ là lừa dối – và kinh ngạc thay, đến nay vẫn vậy. Ngay cả giờ đây, sau gần một năm, bằng các hành động (cũng như sự án binh bất động) của mình, Bình Nhưỡng đã thể hiện rõ và cũng ngày càng đưa ra những lời lẽ cay nghiệt và nhạo báng, rằng Mỹ hoàn toàn không có động thái gì và vẫn nuôi dưỡng ảo tưởng. Ngày 15/1, trong khi ký kết thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 với Trung Quốc, Trump nhận định về quan hệ Mỹ – Triều: “Đó là một ván cờ, hoặc một ván poker, vô cùng hấp dẫn”. Sự hấp dẫn này không quá rõ ràng, nhưng có thể thấy rõ ai là người chiến thắng.

Những ảo tưởng ở Washington về một mối quan hệ thân tình giữa hai nguyên thủ, và ở Seoul là về hòa bình, rõ ràng đã cho phép Kim Jong-un vào tháng 5/2019 triển khai một chương trình chuyên sâu thử các loại tên lửa đạn đạo tầm ngắn mới và tiên tiến cùng các hệ thống vũ khí khác, chẳng hạn như máy phóng rocket đa nòng (MLR) mà hoàn toàn không bị trừng phạt. Vì đó không phải là tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) nên Trump coi đây chỉ là một chương trình mang tính thủ tục, cho thấy sự thiếu hiểu biết và tự mãn. Ngược lại, nhiều loại vũ khí trong số này có vẻ như là vũ khí mới hoặc được cải thiện, làm gia tăng đáng kể mối đe dọa của Triều Tiên đối với Hàn Quốc và Nhật Bản.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Diplomat – 2/2020

CVĐQT – số 2/2020.

Một cuộc chiến tại Biển Đông có thể định hình lại châu Á – Phần I


Kerry K. Gershaneck & James E. Fanell

Một cuộc chiến có thể nổ ra bất kỳ lúc nào ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và có thể định hình lại châu Á nói riêng và thế giới nói chung, trong bối cảnh cả Mỹ lẫn Trung Quốc đều đang chuẩn bị cho kịch bản này.

Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với biển Nam Trung Hoa là phi pháp, nhưng các lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở Bắc Kinh vẫn không ngừng khuyến khích các lực lượng của mình tấn công tàu hải quân Mỹ hoạt động hợp pháp tại vùng biển này.

Có vẻ như Trung Quốc đang kích động chiến tranh – một cuộc chiến mà rất có thể sẽ khiến nước này phải gánh chịu hậu quả. Thế nhưng, cuộc chiến đó sẽ không chỉ giới hạn ở vùng biển này mà cuối cùng có thể kết thúc bằng sự thay đổi chế độ ở Bắc Kinh.

Một sĩ quan của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) gần đây đã hô hào tàu hải quân PLA đâm chìm các tàu hải quân Mỹ đang thực thi các hoạt động tự do hàng hải tại biển Nam Trung Hoa. Một sĩ quan khác thì kêu gọi đánh chìm hai tàu sân bay của Mỹ và tiêu diệt 10.000 lính thủy Mỹ để buộc nước này phải rời khỏi vùng biển tranh chấp này.

Tại một cuộc hội thảo ở Bắc Kinh do tờ Thời báo Hoàn Cầu tài trợ ngày 8/12/2018, Đại tá Không quân PLA Đới Húc, Viện trưởng Viện nghiên cứu an ninh và hợp tác hàng hải Trung Quốc, tuyên bố: “Nếu tàu Mỹ còn tiếp tục xâm phạm lãnh hải của Trung Quốc, đề nghị điều hai tàu chiến: một để ngăn chặn và một để đâm chìm”.

Một sĩ quan cấp cao của Hải quân PLA sau đó đã kêu gọi đánh chìm hai tàu sân bay của Hải quân Mỹ để dọa cho Mỹ phải sợ mà rời khỏi biển Nam Trung Hoa. Trong một bài phát biểu ngày 20/12/2018, Chuẩn đô đốc La Viện, Phó Viện trưởng Viện khoa học quân sự Trung Quốc, khẳng định yếu tố then chốt để Trung Quốc kiểm soát tình hình tại biển Nam Trung Hoa là sử dụng tên lửa hành trình đánh chìm hai tàu sân bay, tiêu diệt càng nhiều lính thủy Mỹ càng tốt. Trong lời hô hào tiêu diệt 10.000 lính Mỹ, ông tuyên bố: “Điều khiến Mỹ lo sợ nhất là bị thương vong. Chúng ta sẽ thấy Mỹ sợ hãi như thế nào”.

Có thể có những ý kiến bao biện rằng thái độ hiếu chiến như vậy của các sĩ quan PLA cấp cao không phản ánh chủ trương chính thức của Trung Quốc hoặc đơn giản đây chỉ là một cuộc chiến tranh thông tin, nhưng những lời biện hộ như vậy là không thỏa đáng. Không một ai trong số các sĩ quan cấp cao nói trên bị Trung Quốc công khai chỉ trích vì kích động chiến tranh, và Hải quân Trung Quốc vẫn có những hành động ngày càng nguy hiểm trên khắp vùng biển Nam Trung Hoa.

Ngày 30/9/2018, tàu khu trục Lan Châu của Hải quân Trung Quốc chỉ còn cách tàu USS Decatur khoảng 40 m khi cắt ngang mũi tàu chiến Mỹ tại khu vực gần Đá Gaven ở biển Nam Trung Hoa. Thuyền trưởng tàu Decatur buộc phải đánh lái đột ngột để tránh hành động khiêu khích của tàu Lan Châu. Hải quân Mỹ cho rằng hành động có toan tính của tàu Lan Châu nói theo ngôn ngữ ngoại giao là không an toàn và thiếu chuyên nghiệp, còn nói thẳng ra thì là hành động mưu sát.

Hải quân Trung Quốc, cùng với Lực lượng cảnh sát biển và  các lực lượng dân quân biển cũng đã đe dọa – và đánh chìm – tàu Việt Nam, truy đuổi tàu hải quân và tàu đánh cá của Philippines ra khỏi vùng biển này.

Đài Loan cũng có một vai trò quan trọng trong toan tính của Bắc Kinh ở biển Nam Trung Hoa. Nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình đã ra lệnh cho PLA sẵn sàng đánh chiếm Đài Loan vào năm 2020. Với việc kiểm soát toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, Trung Quốc sẽ mở thêm một hướng tấn công khác cho lực lượng đánh chiếm Đài Loan của họ, qua eo biển Ba Sĩ.

Tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với biển Nam Trung Hoa đương nhiên là không có giá trị. Ngày 12/07/2016, Tòa Trọng tài thường trực tại La Hay đã ra phán quyết khẳng định tuyên bố chủ quyền lịch sử của Trung Quốc đối với biển Nam Trung Hoa thông qua “đường 9 đoạn”, là phi pháp. Tuy nhiên, nếu xét tới tham vọng theo đuổi cuộc phục hưng vĩ đại của Tập Cận Bình thì có thể thấy quyền kiểm soát vùng biển trọng yếu giàu tài nguyên và có giá trị chiến lược toàn cầu này rõ ràng là mục tiêu đáng để Trung Quốc gây chiến – một cuộc chiến toàn cầu.

Đại họa với những hậu quả khôn lường

Theo cựu Trung tướng Thủy quân lục chiến Mỹ Wallace C. Gregson, Chiến tranh thế giới thứ nhất là câu chuyện cảnh giác về một sự việc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại dẫn đến thảm họa toàn cầu.

Gregson cho biết: “Năm 1914, khi mà chiến tranh được xem là điều phi lý và khó xảy ra, một công nhân lang bạt đã ám sát Đại công tước Ferdinand và vợ ông ta. Hành động bạo lực này đã thổi bùng một cuộc chiến tranh không ai ngờ tới với mức độ khốc liệt chưa từng thấy”. Hơn 8 triệu binh lính đã thiệt mạng khi tham gia cuộc chiến, và có lẽ khoảng 13 triệu dân thường đã thiệt mạng do hậu quả của cuộc xung đột.

Bốn đế quốc lớn chịu trách nhiệm gây ra cuộc đại chiến – Nga, Áo-Hung, Đức và Ottoman – đều sụp đổ. Gregson nhận định: “Hiện nay, biển Nam Trung Hoa là khu vực nguy hiểm nhấ trên thế giới. Những tuyên bố thù địch và hành động khiêu khích tạo thành mồi lửa khô, chỉ còn chờ tia lửa là bùng lên thành thảm họa”.

Vậy thì bằng cách nào Trung Quốc có thể tạo ra “tia lửa” ở biển Nam Trung Hoa để làm bùng lên một thảm họa với những hậu quả khôn lường – một cuộc chiến tranh thế giới mới?

Nhìn lại năm 2019: Môi trường chính trị bất ổn

Trong suốt năm 2019, Tập Cận Bình tiếp tục theo đuổi giấc mộng về “cuộc phục hưng vĩ đại” để thống nhất những vùng mà Bắc Kinh xem là thuộc chủ quyền lãnh thổ của mình. Công cụ của ông bao gồm cuộc chiến chính trị hung hăng và lực lượng quân sự ngày càng mạnh mẽ và tự tin thái quá.

Bất chấp lời cam kết của Tập Cận Bình năm 2014 về việc không quân sự hóa các đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa, Trung Quốc vẫn xây dựng các căn cứ không quân và công trình phòng thủ tại đó và triển khai tàu chiến đến những căn cứ hải quân mới ở đá Chữ Thập, đá Vành Khăn và đá Subi. Tại biển Nam Trung Hoa, lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển và dân quân biển Trung Quốc đã quấy nhiễu tàu đánh cá và tàu quân sự của các nước khác.

Tuy nhiên, các nước trên thế giới bắt đầu từng bước chống lại sự hung hăng quá mức của Trung Quốc tại biển Nam Trung Hoa.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://nationalinterest.org/blog/buzz/war-south-china-sea-would-reshape-asia-and-world-127557

TLTKĐB – 21/04/2020