Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần cuối


Tóm lại, từ đầu bài cho đến giờ, chúng ta có thể nhận thấy hàng loạt các hệ thống sinh sản khác nhau ở các loài động vật như hệ thống sinh sản đơn thê, tạp hôn, các kiểu hậu cung, vân vân, có thể hiểu được dựa trên khía cạnh xung đột lợi ích giữa các cá thể đực và cá thể cái. Các cá thể ở cả hai giới đều “mong muốn” cực đại hóa sản phẩm sinh sản của chúng trong suốt quãng đời của mình. Do sự khác biệt cơ bản giữa kích thước và số lượng của tinh trùng và trứng, cá thể đực nói chung có lẽ thiên về tập tính tạp hôn và thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái. Cá thể cái có hai thủ đoạn đối phó chính, hai thủ đoạn đó là chiến lược anh ta-người được lựa chọnthuần hóa-hạnh phúc. Hoàn cảnh sinh thái của một loài sẽ quyết định liệu cá thể cái có thiên về một trong số các thủ đoạn đối phó đó hay không, và cũng sẽ quyết định cách thức cá thể đực phản ứng lại. Và như chúng ta đã thấy, trong thực tế, tất cả các dạng trung gian giữa chiến lược anh ta-người được lựa chọn thuần hóa-hạnh phúc đã được tìm thấy, có những trường hợp mà cá thể đực thực hiện việc chăm sóc con non nhiều hơn cả cá thể cái. Chúng tôi không bàn chi tiết về các loài động vật cụ thể, do vậy tôi sẽ không bàn luận về những điều có thể làm cho một loài thực hiện một dạng này trong số các hệ thống sinh sản chứ không phải là dạng khác. Thay vào đó, tôi sẽ cân nhắc sự khác biệt thường thấy giữa các cá thể đực và các cá thể cái nói chung, và chỉ ra cách giải thích những khác biệt đó. Do đó, tôi sẽ không nhấn mạnh các loài động vật có sự khác biệt rất ít giữa các giới tính mà chú ý đến cá thể cái ưa thích chiến lược thuần hóa-hạnh phúc.

Trước tiên, cá thể đực có khuynh hướng ham thích màu mè lòe loẹt và tạo sự hấp dẫn giới tính, cá thể cái có vẻ như tẻ nhạt hơn. Các cá thể ở hai giới tính đều muốn tránh những kẻ săn mồi, và vì vậy một vài áp lực tiến hóa đối với cả hai giới xuất hiện buộc chúng phải có màu xám. Các màu rực rỡ cũng cuốn hút kẻ săn mồi không kém gì khi chúng hấp dẫn những cá thể khác giới. Trong ngôn ngữ di truyền, điều này có nghĩa rằng các gen quy định màu sắc rực rỡ có lẽ hợp với kết cục phải ở trong bụng của kẻ săn mồi hơn so với các gen quy định màu xám. Mặt khác, các gen quy định màu xám ít có khả năng được tìm thấy ở thế hệ kế tiếp hơn các gen quy định màu sắc rực rỡ, bởi vì các cá thể màu xám gặp khó khăn trong việc hấp dẫn bạn tình. Do đó, hai áp lực chọn lọc xung đột sẽ tồn tại: kẻ săn mồi có khuynh hướng loại bỏ các gen quy định màu xám. Cũng như trong nhiều trường hợp khác, các cỗ máy sống hiệu quả có thể được xem như một sự thỏa hiệp giữa các áp lực chọn lọc xung đột. Điều gây hứng thú cho chúng ta lúc này là sự thỏa hiệp tối ưu cho cá thể cái. Dĩ nhiên, điều đó sẽ tương thích hoàn toàn với quan điểm các cá thể đực là những con bạc với rủi-ro-cao, phần-thưởng-lớn. Do một cá thể đực sản sinh hàng triệu tinh trùng cho mỗi quả trứng của một cá thể cái nên các tinh trùng có số lượng lớn hơn rất nhiều so với số trứng trong quần thể. Vì thế, bất kỳ một quả trứng nhất định nào cũng có nhiều khả năng tham dự vào quá trình hợp nhất các tế bào sinh sản hơn so với một tinh trùng. Trứng là một nguồn tài nguyên tương đối có giá, và do đó một cá thể cái không cần phải trở nên quá hấp dẫn đối với giới khác như cá thể đực đã làm để đảm bảo cho trứng được thụ tinh. Mặc dù, cá thể đực có đời sống ngắn ngủi bởi vì cái đuôi lòe loẹt của nó thu hút kẻ săn mồi hoặc bị vướng trong bụi rậm, nhưng nó vẫn có thể trở thành cha của rất nhiều con non trước khi chết. Một cá thể đực không hấp dẫn hoặc xám màu thậm chí có thể sống lâu bằng một cá thể cái, nhưng nó có ít con non và gen của nó không được truyền lại. Điều gì sẽ đem lại lợi ích cho một cá thể đực nếu nó chiếm hữu cả thế giới và mất đi gen bất tử của mình?

Sự khác biệt giới tính thường thấy nữa là các cá thể cái kén chọn đối tượng mà nó sẽ giao phối hơn so với các cá thể đực. Một trong số những lý do cho tính cầu kỳ của một trong hai giới đó là sự cần thei61t trong việc tránh cặp đôi với một thành viên của một loài khác. Sự lai tạp như vậy là một điều tồi tệ vì rất nhiều lý do. Đôi khi, như trong trường hợp một người đàn ông giao phối với một con cừu, sự giao phối này sẽ không hình thành một phôi thai, và như vậy sẽ không mất mát gì nhiều. Tuy nhiên, khi các loài có quan hệ gần gũi hơn như ngựa và lừa lai với nhau, cái giá phải trả có thể là đáng kể, chí ít cũng là đối với cá thể cái. Một cái phôi cho ra con la có thể được hình thành và sau đó nằm trong bụng của cá thể cái khoảng 11 tháng. Nó chiếm một lượng lớn trong tổng mức “sự đầu tư của cha mẹ” của cá thể cái, không chỉ ở dạng thức ăn được hấp thụ qua nhau thai và sau đó là ở dạng sữa, mà trên hết là thời gian mà cá thể cái có thể dùng để nuôi nâng những đứa con khác. Sau đó, khi con la đến tuổi trưởng thành, hóa ra nó lại vô sinh. Điều này có thể là vì các nhiễm sắc thể của ngựa và lừa không đủ tương đồng để hoạt động cùng nhau một cách thích hợp trong giảm phân, mặc dù chúng đủ tương đồng để phối hợp xây dựng nên cơ thể một con la khỏe mạnh. Dù cho bất kể lý do chính xác nào, sự đầu tư rất đáng kể của cá thể mẹ trong việc nuôi dạy con la là hoàn toàn lãng phí nếu nhìn từ khía cạnh các gen của nó. Con ngựa cái nên rất, rất cẩn thận để đảm bảo rằng cá thể mà nó giao phối là một con ngựa khác chứ không phải là một con lừa. Về mặt gen, bất kỳ gen nào của ngựa mà quy định “này cơ thể, nếu ngươi là cái, hãy giao phối với bất kỳ cá thể đực già nào, bất kể kẻ đó là lừa hay ngựa” là một gen có thể sẽ ở trong cơ thể một con la ở thế hệ kế tiếp, không lối thoát, và sự đầu tư chăm sóc của cá thể mẹ vào con la non sẽ lấy đi rất nhiều “sự đầu tư của cha mẹ” vào những con ngựa non tiềm năng khác. Mặt khác, một cá thể đực có ít thứ để mất hơn nếu như nó có giao phối với một thành viên khác loài, và mặc dù nó có thể cũng không thu được điều gì, chúng ta vẫn lường trước rằng cá thể đực ít cầu kỳ hơn trong sự lựa chọn bạn tình. Xem xét điều này ở bất kỳ đâu, chúng ta đều thấy nó đúng.

Thậm chí ở trong cùng một loài, chúng ta cũng vẫn tìm thấy nguyên do của tính cầu kỳ trong sự lựa chọn bạn tình. Giống như sự lai giống, giao phối loạn luân có thể gây ra những tổn hại di truyền. Trong trường hợp này, nguyên nhân là vì các gen lặn gây chết và chết gián tiếp được tập hợp lại và hoạt động. Một lần nữa, cá thể cái có nhiều điều để mất hơn cá thể đực, bởi vì sự đầu tư của nó vào bất kỳ một đứa con cụ thể nào cũng đều có khuynh hướng lớn hơn. Ở những nơi mà sự cấm kị loạn luân tồn tại, chúng ta cần lường trước rằng cá thể cái sẽ cứng nhắc hơn trong việc vi phạm điều cấm kỵ so với cá thể đực. Nếu chúng ta giả định rằng bạn tình già hơn trong mối quan hệ loạn luân có khả năng là kẻ khởi xướng chủ động, chúng ta nên lường trước rằng hôn nhân loạn luân trong đó cá thể đực già hơn cá thể cái thường thấy hơn hôn nhân loạn luân mà cá thể cái già hơn. Ví dụ sự loạn luân cha/con gái phải thường thấy hơn giữa mẹ/con trai. Loạn luân anh/em gái sẽ là trung gian trong các trường hợp thông thường. Nói chung, các cá thể đực có khuynh hướng giao phối bừa bãi hơn các cá thể cái. Bởi vì các cá thể cái sản sinh một lượng trứng giới hạn với một tốc độ tương đối chậm, nên nó thu được ít hơn từ việc giao phối nhiều lần với các cá thể đực khác nhau. Mặt khác, cá thể đực có thể sản sinh hàng triệu tinh trùng mỗi ngày sẽ thu được mọi thứ từ nhiều lần giao phối bừa bãi của nó. Giao phối quá giới hạn thực tế có thể không gây tổn thất nhiều cho cá thể cái, chỉ mất một chút thời gian và năng lượng, nhưng chúng cũng không tạo nên điều gì tích cực cho nó. Mặt khác, cá thể đực có thể chẳng bao giờ cảm thấy giao phối là đủ với tất cả các cá thể cái mà nó có thể có: từ “quá nhiều” không có ý nghĩa gì đối với cá thể đực.

Tôi đã không trình bày một cách rõ ràng về con người nhưng chắc chắn là khi chúng ta nghĩ đến những lập luận về tiến hóa như những điều tôi trình bày trong bài này, chúng ta không thể không nghĩ về chính loài người và những trải nghiệm của bản thân chúng ta. Các khái niệm về việc cá thể cái từ chối giao phối cho đến khi cá thể đực thể hiện một vài bằng chứng về lòng trung thành lâu dài có thể đánh đúng vào tình cảm quen thuộc của chúng ta. Điều đó có thể cho thấy rằng phụ nữ thường dùng chiến thuật thuần hóa-hạnh phúc hơn là chiến thuật anh ta-người được lựa chọn. Nhiều xã hội loài người thực tế là xã hội một vợ một chồng. Trong xã hội của chúng ta, “sự đầu tư của cha mẹ” ở cả cha và mẹ là lớn và không mất cân đối rõ rệt. Người mẹ chắc chắn làm nhiều việc trực tiếp hơn so với người cha, nhưng người cha thường làm việc chăm chỉ một cách gián tiếp hơn để cung cấp các nguồn tài nguyên vật chất chu toàn cho con cái. Mặt khác, một vài xã hội loài người là xã hội tạp hôn và nhiều xã hội dựa trên cơ sở hậu cung. Sự đa dạng đáng kinh ngạc đó cho thấy rằng phương thức sống còn của con người được xác định phần lớn là nhờ văn hóa chứ không phải thông qua các gen. Tuy nhiên, như chúng ta đã dự đoán trên cơ sở tiến hóa, việc người đàn ông nói chung có khuynh hướng hướng tính tạp hôn, và người phụ nữ hướng tới gia đình một vợ một chồng là có thể xảy ra. Khuynh hướng nào trong số các khuynh hướng ấy sẽ giành thắng lợi trong các xã hội cụ thể sẽ phụ thuộc vào đặc điểm chi tiết của hoàn cảnh văn hóa, cũng như là nó phụ thuộc vào đặc điểm chi tiết của các hệ sinh thái ở các loài động vật khác.

Một đặc điểm dường như được xem là bất thường của xã hội chúng ta là vấn đề phô trương giới tính. Như chúng ta vừa thấy, chúng ta phải kỳ vọng rằng trên cơ sở tiến hóa, ở đâu có sự phân biệt giới tính thì ở đó cá thể đực thích phô trương và cá thể cái là tẻ nhạt. Người phương Tây hiện đại chắc chắn là ngoại lệ trong khía cạnh này. Dĩ nhiên, một vài người đàn ông ăn mặc lòe loẹt và một vài phụ nữ ăn mặc xấu xí là chuyện có thật, nhưng tính trung bình thì trong xã hội của chúng ta những điều tương tự với đuôi của con công đực lại được xuất hiện ở nữ giới, chứ không phải ở nam giới. Phụ nữ trang điểm khuôn mặt của họ và đeo mí mắt giả. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như các diễn viên, đàn ông không làm vậy. Phụ nữ dường như quan tâm đến ngoại hình cá nhân của chính họ và được khuyến khích làm như vậy thông qua tạp chí và báo chí. Tạp chí của đàn ông ít bị chiếm chỗ bởi những điều gợi cảm ở nam giới, và một người đàn ông tỏ thái độ quan tâm bất thường đến cách ăn mặc và ngoại hình của mình có thể gây nghi ngờ cho cả nam giới và nữ giới. Khi chúng ta mô tả về một phụ nữ trong câu chuyện hàng ngày, có lẽ rằng vẻ đẹp gợi cảm, hoặc là không có vẻ đẹp, của cô ấy sẽ là chủ đề chính. Điều đó là sự thật, cho dù những người đang nói chuyện là đàn ông hay đàn bà. Khi nói về đàn ông, tính từ thường dùng có lẽ chẳng liên quan gì đến sự gợi cảm.

Khi đối mặt với những sự thật này, nhà isnh học sẽ buộc phải nghi ngờ rằng anh ta đang xem xét một xã hội mà ở đấy cá thể cái sẽ cạnh tranh để tranh giành cá thể đực, chứ không phải là ngược lại. Trong trường hợp chim thiên đường, chúng ta đã quyết định cá thể cái là xấu xí bởi vì chúng không cần cạnh tranh để giành giật các cá thể đực. Cá thể đực bảnh bao và thích phô trương bởi vì cá thể cái được nhiều cá thể đực ưa chuộng và có thể có quyền kén chọn. Lý do mà chim thiên đường mái được nhiều chim trống ưa chuộng là trứng của nó trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm hơn so với tinh trùng Điều gì đã xảy ra ở người phương Tây hiện đại? Có phải đàn ông thực sự đã trở thành giới tính được săn đón, giới tính được những kẻ khác giới ưa chuộng, giới tính có quyền kén chọn? Nếu như vậy, thì tại sao?

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Advertisements

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần VII


Do đó, sự lãng phí như đuôi của chim thiên đường trống có thể đã tiến hóa nhờ một kiểu quá trình bỏ chạy không ổn định. Ở thuở ban đầu, đuôi dài hơn một chút so với bình thường có thể đã được các chim mái chọn làm phẩm chất mong muốn ở chim trống, có lẽ bởi vì nó báo hiệu một thể chất khỏe mạnh và sung sức. Đuôi ngắn ở chim trống có lẽ biểu hiện của sự thiết một vài vitamin – bằng chứng của khả năng kiếm được ít thức ăn. Hoặc có lẽ những con chim trống đuôi ngắn không giỏi trong việc chạy trốn khỏi kẻ săn mồi, và do đó đuôi của chúng đã bị cắn đứt. Hãy chú ý, chúng ta không phải giả  thiết rằng đuôi ngắn là đặc điểm di truyền được truyền lại, mà nó có vai trò như một yếu tố chỉ thị một vài tính chất di truyền thấp hơn. Dù sao đi nữa, vì bất cứ lý do gì, chúng ta hãy cứ cho rằng các con chim mái ở loài chim thiên đường cổ đại đã thích tìm đến với những con chim trống có đuôi dài hơn kích thước trung bình. Miễn là những biến đổi tự nhiên về chiều dài đuôi chim trống có một vài liến quan đến di truyền, theo thời gian, điều này sẽ làm cho đuôi chim trống trong quần thể dài thêm. Các con chim mái đã tuân theo một quy luậ đơn giản: quan sát tất cả các con chim trống và tìm đến con trống có đuôi dài nhất. Bất kỳ con mái nào không thực hiện theo quy luật này sẽ bị trừng phạt, mặc dù cái đuôi đã trở thành quá dài đến nỗi chúng gây vướng víu cho chính những kẻ sở hữu chúng. Nguyên nhân của điều này là vì bất cứ một con mái nào không sinh được chim trống có đuôi dài đều khiến cho nó ít có cơ hội trở thành kẻ hấp dẫn. Giống như thời trang quần áo của phụ nữ, hoặc thời trang về thiết kế xe hơi ở Mỹ, khuynh hướng nghiêng về những cái đuôi dài đã diễn ra và đã tạo thành phong trào của riêng mình. Nó chỉ bị dừng lại khi cái đuôi dài đến mức kỳ cục và những bất lợi hiển nhiên của chúng bắt đầu vượt xa lợi thế về sự hấp dẫn giới tính.

Đây là một ý tưởng khó có thể chấp nhận, và nó đã gây ra nhiều nghi ngờ từ lúc Darwin đề cập lần đầu tiên dưới cái tên là chọn lọc giới tính. A. Zahavi là người không tin vào giả thuyết này. Ông cũng là người đưa ra thuyết “cáo, cáo” mà chúng ta đã đề cập đến. Nguyên lý “vật cản” đối lập đầy điên rồ được A. Zahavi đề xuất để giải thích hiện tượng trên. Ông ta chỉ ra rằng sự kiện cá thể cái đang cố gắng lựa chọn những gen tốt giữa những cá thể đực sẽ mở ra cơ hội cho sự dối trá ở những cá thể đực. Các cơ bắp khỏe mạnh có thể là một phẩm chất tốt thực thụ để cá thể cái lựa chọn, nhưng vậy điều gì sẽ ngăn chặn cá thể đực không phát triển các cơ bắp giả chẳng khác gì các bả vai được lót đệm ở người? Nếu hình thành các cơ giả ở cá thể đực ít tốm kém hơn các cơ thật, chọn lọc giới tính sẽ phải ưu đãi các gen quy định hình thành các cơ giả. Tuy nhiên, điều này sẽ không thể kéo dài vì sự chọn-lọc-chống-đối sẽ tạo ra những cá thể cái có khả năng phát hiện sự dối trá. Tiền đề cơ bản của Zahavi là sự quảng bá giới tính gian dối cuối cùng sẽ bị các cá thể cái phát hiện. Do đó, ông ta kết luận rằng các cá thể đực thành công thực sự sẽ là những cá thể không quảng bá một cách dối trá, mà thể hiện rõ ràng rằng chúng không lừa dối. Nếu đặc điểm cơ bắp khỏe mạnh là điều chúng ta đang bàn luận, vậy thì những cá thể đực chỉ làm ra vẻ có ngoại hình cơ bắp sẽ sớm bị cá thể cái phát hiện. Nhưng, một khi cá thể đực chứng minh nó có cơ bắp thực thụ bằng cách nâng tạ hoặc khoe khoang chống đẩy, nó sẽ thành công trong việc thuyết phục các cá thể cái. Nói cách khác, Zahavi tin rằng cá thể anh-ta-người-được-lựa-chọn không chỉ phải là một cá thể đực có phẩm chất tốt và phẩm chất tốt đấy phải là thực sự, nếu không nó sẽ không được các cá thể cái có tính nghi ngờ chấp nhận. Do vậy phô trương sẽ tiến hóa để chỉ một cá thể anh ta-người được lựa chọn chân thật có khả năng làm được điều đó.

Cho đến thời điểm hiện tại mọi việc đều tốt. Bây giờ sẽ đến phần thực sự khó có thể chấp nhận trong lý thuyết của Zahavi. Ông ta gợi ý răng đuôi của những con chim thiên đường, chim công, các gạc lớn ở loài hươu, các đặc điểm chọn lọc giới tính khác, những điều dường như luôn luôn đối nghịch vì trông chúng có vẻ như là những vật cản cho chủ nhân của chúng, trên thực tế sẽ luôn tiến hóa bởi chúng là những vật cản. Một con chim đực có đuôi dài và cồng kềnh đang khoe với những cá thể cái rằng nó là một cá thể anh ta-người được lựa chọn mạnh mẽ, mạnh mẽ đến mức mà nó vẫn có thể sống sót bất kể cái đuôi cồng kềnh của mình. Hãy nghĩ về một người phụ nữ đang quan sát hai người đàn ông chạy đua. Nếu cả hai cán đích cùng một thời điểm, nhưng một người đã cố ý làm khó mình với một chồng than trên lưng, người phụ nữ này tự nhiên sẽ đưa ra kết luận rằng người đàn ông gánh nặng thực sự là kẻ chạy nhanh hơn.

Tôi không tin vào lý thuyết này, mặc dù tôi không tin lắm vào sự nghi ngờ của mình khi mới nghe đến nó lần đầu. Khi đó tôi đã chỉ ra rằng kết luận logic của nó sẽ phải là tiến hóa tạo ra những cá thể đực chỉ có một chân và một mắt. Zahavi, xuất thân từ Israel, đã ngay lập tức bác lại: “một vài trong số các vị tướng giỏi nhất của chúng ta chỉ có một mắt!” Tuy nhiên, vấn đề còn tồn tại là lý thuyết vật cản đường dường như chứa đựng một sự nghịch lý cơ bản. Nếu vật cản là một vật thích hợp, và cốt lõi của lý thuyết là nó phải là một vật thích hợp, thì bản thân vật cản sẽ trừng phạt con cháu một cách chắc chắn như là nó có thể hấp dẫn cá thể cái. Trong mọi trường hợp, điều quan trọng là vật cản phải không được truyền lại cho con cái non.

Nếu chúng ta trình bày lại lý thuyết vật cản theo ngôn ngữ của các gen, chúng ta sẽ có một điều tương tự như sau. Gen khiến cá thể đực hình thành vật cản, chẳng hạn như một cái đuôi dài, trở nên phổ biến trong vốn gen bởi vì các cá thể cái lựa chọn các cá thể đực có vật cản. Nguyên nhân ở đây là các gen quy định cá thể cái lựa chọn như vậy trở nên thường gặp trong vốn gen. Các cá thể cái thích cá thể đực có vật cản sẽ tự động có khuynh hướng lựa chọn cá thể đực này đã sống sót đến lúc trưởng thành mặc dù chúng có vật cản. Các gen tốt khác sẽ có ích cho cơ thể của những con non, do đó chúng có thể sống sót để phổ biến gen quy định vật cản, bên cạnh đó chúng cũng có ích cho các gen quy định chọn lựa các cá thể đực có vật cản. Lý thuyết này chỉ có thể áp dụng trong trường hợp các gen quy định vật cản chỉ ảnh hưởng đến các cá thể đực con, cũng như các gen quy định ưa chuộng các cá thể khác giới có vật cản chỉ tác động lên các con non cái. Nhưng khi lý thuyết này được trình bày bằng lời, chúng ta không thể đảm bảo liệu nó có áp dụng được hay không. Chúng ta sẽ hình dung tính khả thi của những lý thuyết như vậy tốt hơn kkhi nó được diễn đạt lại trên phương diện mô hình toán học. Cho đến nay, các nhà toán học di truyền đã thất bại khi cố gắng đưa nguyên tắc vật cản vào một mô hình có thể áp dụng. Điều này có thể là do lý thuyết đó không phải là nguyên tắc có thể áp dụng, hoặc nó có thể là vì họ chưa đủ thông minh để tạo ra đúng mô hình. Nhưng mà một trong số những nhà toán học di truyền đó lại là Maynard Smith, và linh cảm của tôi nghiêng về khả năng trước.

Nếu cá thể đực có thể thể hiện sự vượt trội của nó so với các cá thể đực khác theo cách không liên quan đến việc cố ý tạo vật cản cho mình, chắc chắn rằng cá thể đực này có thể làm tăng khả năng thành công của nó về mặt di truyền theo cách đấy. Do đó, những con hải cẩu voi chiến thắng và giữ được bầy hậu cung của chúng, không phải bằng cách tạo sự hấp dẫn bề ngoài đối với các cá thể cái, mà đơn giản là bằng hành động, đánh bại bất cứ một cá thể đực nào đang cố gắng tiếp cận. Những kẻ chiếm giữ hậu cung có khuynh hướng chiến thắng trong các cuộc chiến chống lại kẻ-có thể tiếm quyền, chỉ vì một lý do đơn giản: đây là nguyên nhân tại sao chúng lại là những kẻ nắm giữ hậu cung. Những kẻ tiếm quyền thường không giành thắng lợi trong các cuộc chiến, bởi vì nếu chúng có khả năng chiến thắng thì chúng đã làm được điều đó trước đây! Do vậy, bất kỳ cá thể cái nào chỉ cặp đối với một kẻ nắm giữ hậu cung, nó sẽ gắn các gen của mình với một cá thể đực đủ mạnh để đánh bại tất cải những thách thức liên tiếp từ vô số cá thể đực đơn độc liều mạng. Nếu may mắn, những con non của cá thể cái sẽ thừa hưởng khả năng chiếm giữ hậu cung của cá thể đực đó. Trong thực tế, hải cẩu voi cái không có nhiều lựa chọn, bởi vì ông chủ hậu cung sẽ tấn công nó nếu nó ly khai. Tuy nhiên, nguyên tắc đó vẫn duy trì, các cá thể cái chọn cách cặp đôi với cá thể đực giành thắng lợi trong các cuộc chiến, bằng cách làm như vậy, có thể mang lại nhiều lợi ích cho gen của chúng. Như chúng ta đã thấy, các cá thể cái thường thích cặp đôi với các cá thể đực chiếm giữ các vùng lãnh thổ và cũng ưu tiên các cá thể đực có vị trí cao trong quần thể có thứ bậc thống trị.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần VI


Để đơn giản hóa, tôi đã coi như cá thể đực chỉ đơn thuần là trung thực hoặc hoàn toàn dối trá. Trong thực tế, một khả năng dễ xảy ra hơn là tất cả các cá thể đực, thực ra là tất cả các cá thể riêng lẻ, đều dối trá đôi chút. Theo cách đó chúng đều được lập trình để tận dụng các cơ hội khai thác bạn tình của mình. Chọn lọc tự nhiên, bằng cách mài sắc khả năng khám phá sự không trung thực của mỗi cá thể đối với cá thể khác, đã giữ cho sự dối trá ở tỉ lệ cao giảm xuống một mức tương đối thấp. Các cá thể đực thu lợi từ sự không trung thực nhiều hơn so với cá thể cái, và chúng ta phải lường trước được rằng, thậm chí ở những loài mà cá thể đực thể hiện tính vị tha đáng kể trong việc nuôi dạy con cái, chúng sẽ luôn luôn có khuynh hướng làm việc ít hơn một chút so với cá thể cái, và sẵn sàng lẩn trốn hơn. Ở các loài chim và động vật có vú, đây là trường hợp thường gặp.

Tuy nhiên, thực tế ở một số loài, cá thể đực chăm sóc con non nhiều hơn so với cá thể cái. Những trường hợp tận tâm của người cha thường cực kỳ hiếm ở các loài chim và động vật có vú, nhưng lại rất thường gặp ở loài cá. Tại sao lại như vậy? Đây là một thách thức đối với lý thuyết gen vị kỷ, điều đã gây khó dễ cho tôi một khoảng thời gian dài. Cô T.R. Carlisle trong một bài giảng gần đây đã gợi ý cho tôi một lời giải thông minh. Cô ấy đã sử dụng ý tưởng “sự gắn bó bắt buộc” của Trivers, được đề cập ở trên. Ý tưởng của cô ấy như sau.

Nhiều loài cá không giao phối, nhưng thay vào đó sẽ phun các tế bào sinh sản của chúng vào môi trường nước. Sự thụ tinh diễn ra ở môi trường nước bên ngoài, không phải ở bên trong cơ thể của cá thể mẹ hoặc bố. Có lẽ đây là cách sinh sản hữu tính được thực hiện lúc ban đầu. Mặt khác động vật trên cạn như chim, động vật có vú và bò sát, không thể đảm bảo cho kiểu thụ tinh ngoài như vậy bởi vì các tế bào sinh sản rất dễ bị khô. Các giao tử của một giới tính, chẳng hạn cá thể đực, được đưa vào phần ẩm ướt bên trong của thành viên khác giới, cá thể cái bởi vì các tinh trùng có khả năng di động. Tất cả chỉ là sự kiện. Bây giờ tôi sẽ đề cập đến ý tưởng. Sau khi giao phối cá thể cái sống trên cạn bị bỏ lại với cái thai. Cái thai ở bên trong cơ thể cái. Mặc dù cá thể cái gần như ngay lập tức đẻ ra quả trứng đã thụ tinh, nhưng cá thể đực vẫn có đủ thời gian để biến mất, bằng cách đó buộc cá thể cái rơi vào hoàn cảnh như ý tưởng “sự gắn bó bắt buộc” của Trivers. Cá thể đực chắc chắn có được cơ hội có quyền quyết định bỏ rơi trước, khép lại khả năng chọn lựa của cá thể cái, và buộc cá thể cái phải quyết định có nên để mặc con non chế dần hay ở lại và nuôi nấng nó. Do đó, sự chăm sóc con non ở các loài động vật trên cạn thường gặp với cá thể cái hơn là cá thể đực.

Nhưng đối với cá và những động vật khác sống dưới nước, sự việc lại rất khác. Nếu cá thể đực không đưa trực tiếp tinh trùng của nó vào cơ thể của cá thể cái thì chiều hướng cá thể cái bị bỏ mặc để “nuôi giữ con non” là không cần thiết. Một trong hai con có thể chạy trốn và bỏ con khác lại với nhiệm vụ trông giữ trứng mới thụ tinh. Nhưng ở đây, cá thể đực có thể lại là cá thể dễ bị bỏ rơi lại nhất, lý do có thể giải thích cho điều này như sau. Dường như cuộc chiến tiến hóa đã nghiêng về phía kẻ đầu tiên đưa ra các tế bào sinh sản của chúng. Đối tác thực hiện điều này sẽ có lợi thế ở chỗ nó có thể bỏ rơi bạn tình của mình ngay sau đó, để nó một mình trông coi những cái thai mới. Mặt khác, đối tác đẻ trứng đầu tiên sẽ phải đối mặt với nguy cơ bạn tình tiềm năng của nó có thể sẽ không thực hiện bước thụ tinh cho trứng sau đó. Lúc này, cá thể đực là kẻ dễ bị bỏ rơi hơn, chỉ vì các tinh trùng nhẹ hơn và dễ có khả năng phát tán hơn trứng. Nếu một cá thể cái đẻ trứng quá sớm, ví dụ trước khi cá thể đực sẵn sàng, thì cũng không phải là vấn đề lớn lắm bởi vì trứng tương đối to và nặng nên chúng có khả năng gắn kết với nhau tạo thành ổ trong một khoảng thời gian. Do đó, con cái có thể sẵn sàng chấp nhận “rủi ro” từ việc đẻ trứng quá sớm thì tinh trùng của nó sẽ phát tán đi ngay trước khi cá thể cái sẵn sàng thụ tinh và sau đó có thể cái sẽ không đẻ trứng bởi vì chẳng có ý nghĩa gì khi cá thể cái làm như vậy. Do vấn đề phát tán, cá thể đực phải đợi cho đến khi cá thể cái đẻ trứng, và sau đó nó phải tưới tinh trùng của nó lên đám trứng. Nhưng cá thể cái đã có được vài giây quý giá để có thể bơi đi mất, bỏ cá thể đực ở lại trông đám trứng đã thụ tinh và buộc cá thể đực rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan mà Trivers đã đưa ra. Vậy thì, lý thuyết này giải thích một cách gọn gàng việc vì sao sự chăm sóc con non ở cá thể đực thường thấy ở những loài sống dưới nước hơn ở những loài sống trên cạn.

Bỏ qua cá, bây giờ tôi quay trở lại với một chiến lược chủ yếu khác của cá thể cái, chiến lược anh ta-người được lựa chọn. Ở những loài mà chiến lược này được áp dụng, vì mục đích của nó, cá thể cái từ bỏ việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ cha của những đứa con của chúng, và thay vào đó là tìm kiếm bằng mọi giá các gen tốt. Một lẫn nữa chúng sẽ sử dụng vũ khí từ chối giao phối của mình. Chúng sẽ từ chối cặp đôi với bất kỳ cá thể đực nào, nhưng sẽ thể hiện sự thận trọng và phân biệt cực điểm trước khi cho phép cá thể đực giao phối. Một vài cá thể đực chắc chắn sẽ có một lượng lớn gen tốt hơn các cá thể đực khác, các gen sẽ đảm bảo cho khả năng sống sót của cả những con bất kể đực, cái. Nếu một cá thể cái, bằng cách nào đó phát hiện được các gen tốt ở cá thể đực qua những dấu hiệu có thể nhìn thấy bên ngoài, cá thể cái đó có thể đem lại lợi ích cho các gen của nó bằng cách kết hợp chúng với những gen tốt đó. Nếu sử dụng thuật ngữ tương đồng của chúng ta là các đội chèo, thì một cá thể cái có thể giảm thiểu khả năng các gen của nó sẽ bị gục ngã vì có bạn đồng hành kém cỏi. Nó có thể cố gắng chọn lấy những bạn chèo tốt cho các gen của nó.

Do các cá thể cái đều có chung thông tin, nên nhiều khả năng chúng cũng đưa ra những ý kiến giống nhau về những cá thể đực tốt nhất. Do đó, một số cá thể đực may mắn này sẽ thực hiện phần lớn các cuộc giao phối. Chúng hoàn toàn có khả năng làm điều này vì tất cả những gì mà chúng phải trao cho mỗi cá thể cái chỉ là một vài tinh trùng rẻ rung. Đây cũng là sự giả định những điều đã xảy ra trong các quần thể hải cẩu voi và chim thiên đường. Các cá thể cái chỉ cho phép một vài cá thể đực trốn đi cùng với chiến lược khai thác vị kỷ lý tưởng này, chiến lược mà tất cả các cá thể đực khao khát thực hiện, nhưng các cá thể cái sẽ đảm bảo rằng chỉ những cá thể đực tốt nhất được hưởng sự xa hoa đó.

Theo quan điểm của một cá thể cái đang cố gắng chọn ra các gen tốt để cùng đồng hành với các gen của nó, thì nó sẽ tìm kiếm điều gì? Một điều mà nó muốn sẽ là bằng chứng về khả năng sống sót. Rõ ràng, bất kỳ cá thể đực tiềm năng nào, kẻ đang ve vãn cá thể cái, cũng đã chứng tỏ khả năng sống sót của nó ít ra là cho đến lúc trưởng thành, nhưng cá thể đực không cần phải chứng tỏ rằng nó có thể sống lâu hơn. Một chính sách tương đối tốt cho cá thể cái có thể là đi tìm những cá thể đực già. Cho dù khuyết điểm của cá thể già này là gì đi nữa thì ít ra chúng đã chứng tỏ rằng chúng có thể sống sót, và cá thể cái có thể để gen của nó đồng hành với các gen quy định sự trường thọ. Tuy nhiên, nếu những đứa con của cá thể cái này không thể sinh ra nhiều cháu cho nó thì cũng không có gì đảm bảo rằng chúng sẽ sống lâu. Sự trường thọ không phải là bằng chứng bề ngoài cho khả năng sinh sản của cá thể đực. Thực vậy, một cá thể đực sống lâu được có thể bởi vì nó không phải mạo hiểm để sinh sản. Một cá thể cái chọn một cá thể đực già sẽ không hoàn toàn chắc chắn sẽ có nhiều con cháu hơn một cá thể cái đối thủ, kẻ sẽ chọn một bạn tình trẻ hơn và có một vài bằng chứng khác của các gen tốt.

Vậy thì những bằng chứng khác là gì? Có rất nhiều khả năng, có thể là cơ bắp khỏe mạnh, bằng chứng cho khả năng bắt mồi, có thể là chân dài, bằng chứng cho khả năng chạy trốn kẻ săn mồi. Một cá thể cái có thể thu lợi cho gen của nó bằng cách để gen của mình đồng hành với các đặc tính như vậy, bởi vì chúng có thể là những phẩm chất hữu ích cho các con của nó, bất kể đực cái. Vậy thì để bắt đầu, chúng ta phải hình dung các cá thể cái đang lựa chọn cá thể đực dựa trên các biểu hiện thực sự hoàn hảo hoặc các dự báo có khuynh hướng trở thành bằng chứng cho các gen tốt. Nhưng bây giờ chúng ta sẽ thấy một điểm rất thú vị mà Darwin đã nhận ra và cũng được Fisher đề cập đến rất rõ. Ở một xã hội cá thể đực cạnh tranh với nhau để được cá thể cái chọn là anh ta-người được chọn, một trong những điều tốt nhất mà cá thể cái có thể làm cho gen của nó là tạo ra đứa con trai sẽ trở thành một cá thể anh ta-người được lựa chọn hấp dẫn. Nếu cá thể cái có thể đảm bảo rằng con trai của nó là một trong vài cá thể đực may mắn, kẻ chiến thắng phần lớn trong các cuộc tranh chấp để được giao phối trong xã hội mà nó trưởng thành, cá thể cái sẽ có một lượng lớn các cháu ngoại. Kết quả là, một trong các phẩm chất mong muốn nhất mà một cá thể đực có thể có trong mắt của một cá thể cái sẽ là sự hấp dẫn giới tính. Một cá thể cái cặp đôi với một cá thể anh ta-người được lựa chọn siêu hấp dẫn có thể có nhiều con trai hấp dẫn đối với các cá thể cái của thế hệ tiếp theo, và chúng sẽ sinh ra rất nhiều con cháu cho nó. Vậy thì ban đầu, chúng ta có thể xem như cá thể cái có khả năng lựa chọn cá thể đực trên cơ sở các phẩm chất hữu ích rõ ràng như cơ bắp to. Nhưng một khi những phẩm chất này được chấp nhận là lôi cuốn đông đảo các cá thể cái trong cùng loài, chọn lọc tự nhiên sẽ tiếp tục ưu ái chung, đơn giản là vì chúng hấp dẫn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần V


Nếu những con sở khanh tăng nhanh chóng đến mức chúng trở thành nhóm cá thể đực chính trong quần thể, thì những cá thể cái dễ dãi sẽ rơi vào tình huống vô cùng khó khăn. Bất kì cá thể rụt rè nào cũng sẽ có lợi thế rất lớn. Nếu một cá thể cái rụt rè bắt gặp một cá thể đực sở khanh thì sẽ không có điều gì xảy ra. Cá thể cái sẽ tiếp tục duy trì giai đoạn ve vãn kéo dài, cá thể đực sẽ từ chối và bỏ đi nhằm tìm kiếm cá thể cái khác. Sẽ không có cá thể nào phải trả giá cho chi phí lãng phí thời gian. Và cũng không có cá thể nào thu được điều gì cả bởi vì không có con non ra đời. Điều này sẽ dẫn đến việc một cá thể cái rụt rè trong quần thể toàn cá thể đực là sở khanh nhận được 0 đơn vị. Con số này có vẻ như là không nhiều, nhưng vẫn tốt hơn là -5 đơn vị, số đơn vị trung bình dành cho cá thể cái dễ dãi. Mặc dù một cá thể cái dễ dãi quyết định bỏ mặc con non của nó sau khi bị cá thể đực sở khanh bỏ rơi, nó vẫn sẽ phải trả một chi phí đáng kể cho cái trứng. Vì vậy, các gen rụt rè lại bắt đầu phát tán khắp quần thể.

Để hoàn thiện chu trình giả thuyết, khi các cá thể cái rụt rè tăng số lượng quá nhiều đến mức chúng trở thành các cá thể chính, những kẻ đã có một quãng thời gian thoải mái với những cá thể cái dễ dãi như cá thể đực sở khanh, sẽ bắt đầu cảm thấy thiếu thốn. Hết cá thể cái này đến cá thể cái khác kiên quyết phải có thời gian ve vãn dài và gian khổ. Những cá thể đực sở khanh sẽ tán tỉnh từ con này sang con khác, và câu chuyện luôn luôn xảy ra như vậy. Mức lợi ích trung bình cuối cùng cho một cá thể đực sở khanh trong quần thể toàn cá thể cái rụt rè sẽ là 0. Bây giờ nếu một cá thể đực trung thành xuất hiện, nó sẽ là cá thể duy nhất mà các các thể cái rụt rè kết bạn. Mức lợi ích của nó sẽ là +2, tốt hơn so với mức lợi ích của cá thể đực sở khanh. Vì vậy, các gen trung thành sẽ bắt đầu tăng, và chúng ta đã đi hết vòng quay.

Giống như trong trường hợp phân tích tính hiếu chiến, tôi đã kể câu chuyện như thể nó là sự dao động lặp lại không ngừng. Nhưng giống như trong trường hợp tính hiếu chiến, chúng ta có thể thấy rằng sự dao động đó sẽ không xảy ra. Hệ thống sẽ hội tụ ở một trạng thái bền vững. Nếu bạn làm phép tính tổng, bạn sẽ thấy rằng một quần thể trong đó 5/6 số cá thể cái rụt rè, và 5/8 cá thể đực trung thành sẽ bền vững về mặt tiến hóa. Dĩ nhiên, đây là do chúng ta đã sử dụng các con số cụ thể tự đặt lúc ban đầu, nhưng chúng ta cũng dễ dàng tìm ra tỉ lệ bền vững cho bất kỳ một giả định tùy tiện nào khác.

Giống như trong phân tích của Maynard Smith, chúng ta không cần phải nghĩ về việc sẽ phải có hai kiểu cá thể đực khác nhau và hai kiểu cá thể cá thể cái khác nhau. Chiến lược tiến hóa bền vững đều có thể đạt được cân bằng nếu mỗi cá thể đực sử dụng 5/8 thời gian của nó để trở thành kẻ trung thành và số thời gian còn lại là kẻ sở khanh; và mỗi cá thể cái sẽ sử dụng 5/6 thời gian của nó với vai trò là cá thể cái rụt rè và 1/6 thời gian trong vai kẻ dễ dãi. Dù chúng ta có nghĩ về chiến lược tiến hóa bền vững theo cách nào thì điều này luôn có ý nghĩa. Bất kể khuynh hướng nào làm cho các thành viên trong cả hai giới tách khỏi tỉ lệ bền vững thích hợp của chúng sẽ bị loại bỏ bớt bởi sự thay đổi tất yếu về tỉ lệ trong các chiến lược của giới còn lại, điều mà sau đó sẽ gây bất lợi cho cá thể ly khai ban đầu. Do đó, chiến lược tiến hóa bền vững sẽ được bảo tồn.

Chúng ta có thể kết luận rằng một quần thể gồm phần lớn các cá thể cái rụt rè và cá thể đực trung thành chắc chắn có thể tiến hóa. Trong một số hoàn cảnh, chiến lược thuần hóa-hạnh phúc đối với cá thể cái dường như thực sự phù hợp. Chúng ta không phải quan tâm đến phương diện sự thông đồng của các cá thể rụt rè. Tính rụt rè thực sự có thể có ích cho các gen vị kỷ của cá thể cái.

Cá thể cái ũng có thể áp dụng dạng chiến lược này trong thực tế với nhiều cách khác nhau. Tôi đã đề cập rằng một cá thể cái có thể sẽ từ chối giao phối với một cá thể đực, kẻ đã không xây được cho nó một cái tổ, hoặc chí ít là giúp nó xây dựng một cái tổ. Trên thực tế, ở nhiều loài chim có tập tính một vợ một chồng, chúng chỉ giao phối với nhau sau khi tổ của chúng được hoàn thành. Như vậy, ở thời điểm thụ thai, cá thể đực đã đầu tư khá nhiều cho đứa con, nhiều hơn so với sự đầu tư chỉ đơn thuần gồm những tinh trùng của nó.

Yêu cầu người bạn đời tiềm năng phải xây một cái tổ là cách thức hữu hiệu mà cá thể cái dùng để bẫy cá thể đực. Trên lý thuyết chúng ta có thể nghĩ rằng phần lớn những thứ gây tốn kém cho cá thể đực sẽ thành công, mặc dù chi phí đó không được chuyển trực tiếp thành lợi ích cho đứa con sắp sinh. Nếu tất cả cá thể cái của một quần thể buộc cá thể đực thực hiện một vài công việc khó khăn và tốn ém như săn hạ một con rồng hoặc leo lên một ngọn núi trước khi chúng đồng ý giao phối, thì về mặt lý thuyết, chúng thể làm giảm những cám dỗ lôi kéo cá thể đực bỏ đi sau. Bất kỳ cá thể đực nào bị cám dỗ đến mức bỏ rơi bạn tình và cố gắng phân tán các gen của nó nhiều hơn thông qua các cá thể cái khác sẽ bị thoái trí với ý nghĩ rằng nó sẽ phải giết một con rồng khác. Tuy nhiên, trong thực tế, các cá thể cái không hẳn sẽ áp đặt những nhiệm vụ tùy tiện như giống rồng hay đi tìm chiếc cốc thánh đối với những kẻ theo đuổi nó. Bởi vì một cá thể cái đối thủ khác, những kẻ đưa ra một nhiệm vụ không kém phần khó khăn nhưng hữu ích hơn cho nó và con của nó, sẽ có lợi thế hơn nhiều so với những cá thể cái luôn nghĩ đến những điều lãng mạn, yêu cầu sự khổ sai vô ích vì tình yêu. Xây dựng một cái tổ có thể không lãng mạn bằng việc săn hạ một con rồng hoặc bơi qua biển Hele nhưng nó lại hữu ích hơn nhiều.

Một hành động khác cũng hữu ích cho cá thể cái là hành động cung cấp thức ăn trong thời gian tán tỉnh của cá thể đực mà tôi đã đề cập đến trước đây. Ở những loài chim, hành động đó thường được gọi là một loại tập tính trẻ hóa cá thể cái. Cá thể cái cầu xin cá thể đực, sử dụng cùng kiểu điệu bộ như một con chim non sử dụng. Người ta cho rằng cử chỉ này sẽ tự động hấp dẫn cá thể đực, giống như việc một người đàn ông thấy cách nói nhịu hoặc tương tự như cái bĩu môi đầy hấp dẫn ở một người phụ nữ trưởng thành. Con chim cái lúc đó sẽ cần tất cả nguồn thực phẩm mà nó có thể có, bởi vì nó đang tích lũy nguồn dự trữ cho những cố gắng để hình thành những quả trứng khổng lồ của mình. Cung cấp thức ăn cho cá thể cái trong thời kỳ ve vãn có thể đại diện cho sự đầu tư trực tiếp của cá thể đực vào trứng. Do đó, nó có tác dụng làm giảm sự khác biệt giữa hai cá thể bố mẹ trong giai đoạn đầu tư ban đầu cho đứa con.

Một loài vài nhện và côn trùng cũng bộc lộ hiện tượng cung cấp thức ăn ở giai đoạn tán tỉnh. Ở đây, đôi khi sự giải thích khác đi lại rất rõ ràng. Bởi vì, như trong trường hợp những con bọ ngựa, cá thể đực có thể ở trong tình trạng có nguy cơ bị cá thể cái lớn hơn ăn thịt, nên bất cứ điều gì mà cá thể đực làm để giảm khẩu vị của cá thể cái đều có thể mang đến lợi ích cho nó. Trong một số hoàn cảnh tàn khốc, con bọ ngựa đực bất hạnh có thể được coi là đã đầu tư cho những đứa con của nó. Cá thể đực được sử dụng như một nguồn thức ăn để giúp tạo nên những quả trứng mà sau đó sẽ được thụ tinh bởi các tinh trùng dự trữ của chính cá thể đực đã chết.

Một cá thể cái thực hiện chiến lược thuần hóa-hạnh phúc bằng cách quan sát những cá thể đực và cố gắng nhận diện trước những phẩm chất trung thành sẽ đặt nó vào tình trạng dễ bị lừa dối. Bất kỳ cá thể đực nào lừa dối chính mình qua việc thể hiện đặc điểm dễ thuần hóa và trung thành nhưng thực tế nó đang che đậy khuynh hướng bỏ rơi và không trung thành, có thể thu được nhiều lợi nhuận. Chừng nào mà người vợ cũ bị bỏ rơi còn có chút khả năng nuôi nấng thành công một vài đứa con của nó, thì kẻ sở khanh chắc chắn sẽ để lại được nhiều gen hơn so với một cá thể đực đối thủ, kẻ đóng vai trò một người chồng và người cha trung thực. Các gen quy định sự lừa dối hữu hiệu của các cá thể đực sẽ có khuynh hướng được phát tán trong vốn gen.

Ngược lại, chọn lọc tự nhiên sẽ có khuynh hướng ưu ái những cá thể cái giỏi trong việc nhận diện sự dối trá như vậy. Cá thể cái có thể sử dụng một cách là “làm cao: khi cá thể đực mới tán tỉnh chúng, nhưng vào mùa sinh sản kế tiếp chúng lại sẵn sàng nhanh chóng chấp nhận sự tiến tới của bạn tình mùa trước. Cách thức này sẽ tự động loại bỏ những cá thể đực trẻ tham gia vào mùa sinh sản đầu tiên của chúng, bất kể những cá thể đực này có thực sự là kẻ lừa dối hay không. Một nhóm cá thể cái ngây thơ lần đầu bước vào mùa sinh sản sẽ có khuynh hướng mang một tỉ lệ tương đối cao các gen của các cá thể đực không trung thành, nhưng những cá thể đực trung thành sẽ có lợi thế ở năm thứ hai và những năm tiếp theo trong mùa sinh sản của một cá thể cái bởi vì chúng không phải trải qua nghi thức ve vãn kéo dài tốn thời gian và lãng phí năng lượng như trước. Nếu đa số cá thể trong quần thể là con của các cá thể cái có kinh nghiệm hơn chứ không phải là ngây thơ, thì với một giả định hợp lý ở bất kỳ một loài sống lâu nào, các gen quy định tính cách người cha tốt, trung thực sẽ trở thành phổ biến trong vốn gen.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần IV


Chúng ta vừa mới xem xét một số điều mà cá thể cái có thể làm nếu nó bị bạn tình bỏ rơi. Nhưng tất cả các ví dụ đó đều tạo ra những điều tốt nhất có thể trong một hoàn cảnh xấu. Liệu có một điều gì khác mà cá thể cái có thể làm để làm giảm mức độ bị bạn tình của nó lợi dụng ngay từ ban đầu? Cá thể cái đang có một quân bài mạnh trong tay. Nó có thể từ chối giao phối. Cá thể cái là “cầu” trong một thị trường của những kẻ “cung”. Đó là bởi vì cá thể cái có của hồi môn là một quả trứng lớn và giàu dinh dưỡng. Một cá thể đực giao phối thành công với một cá thể cái sẽ thu được lượng thức ăn giá trị cho con cháu của nó. Có thể nó đang ở vị trí dàn xếp được mọi thỏa thuận có lợi nhất cho nó trước khi đồng ý giao phối. Một khi cá thể cái đã giao phối nghĩa là nó đã sử dụng con át chủ bài của mình và trứng của nó đã thuộc về cá thể đực. “Ép buộc kẻ khác nhất trí với lợi ích của mình” có vẻ là chiến lược tốt, nhưng chúng ta biết rất rõ rằng trên thực tế nó không giống như vậy. Trên thực tế, liệu có cách nào để một chiến lược nào đó tương đương với sự thỏa thuận nghiêm ngặt có thể tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên? Tôi sẽ cân nhắc hai khả năng chính được gọi là chiến lược thuần hóa – hạnh phúc, và chiến lược anh ta – người được lựa chọn.

Phiên bản đơn giản nhất của chiến lược thuần hóa – hạnh phúc như sau. Cá thể cái quan sát những cá thể đực, cố gắng tìm ra những dấu hiệu của sự trung thành và dễ thuần hóa trước tiên. Chắc chắn sẽ có những biến thể trong quần thể các cá thể đực về khuynh hướng trở thành bạn tình chung thủy. Nếu cá thể cái nhận diện được những phẩm chất đó trước, chúng có thể sẽ có lợi khi chọn những cá thể đực đó. Cá thể cái cũng có thể làm được điều này bằng cách “làm cao” trong một khoảng thời gian dài hay giữ vẻ e thẹn rụt rè. Bất kỳ cá thể đực nào không đủ kiên nhẫn để chờ đợi cho đến khi cá thể cái đó chấp nhận cùng giao phối có lẽ không chắc đã là người bạn tình chung thủy. Bằng cách kiên trì với giai đoạn tán tỉnh lâu dài, cá thể cái sẽ sàng lọc những kẻ tán tỉnh qua đường, và cuối cùng chỉ giao phối với một cá thể đực, kẻ đã chứng minh được phẩm chất trung thực và kiên định trước đó. Trên thực tế, sự rụt rè e lệ nữ tính rất phổ biến ở các loài động vật, và thời gian ve vãn hoặc giai đoạn tán tỉnh kéo dài cũng vậy. Như chúng ta đã thấy, sự tán tỉnh lâu dài cũng có thể mang lại lợi ích cho cá thể đực nhất là khi nó có nguy cơ bị lừa phải chăm sóc đứa con của cá thể đực khác.

Các hình thức ve vãn thường bao gồm sự đầu tư đáng kể của cá thể đực trước giai đoạn giao phối. Cá thể cái có lẽ sẽ từ chối giao phối cho đến khi cá thể đực xây xong tổ cho nó. Hoặc cá thể đực có lẽ phải cung cấp cho cá thể cái nhưng nó cũng thể hiện một phiên bản khác của chiến lược thuần hóa – hạnh phúc. Liệu cá thể cái có thể buộc cá thể đực đầu tư quá nhiều cho đứa con của chúng trước khi nó chấp thuận giao phối đến nỗi cá thể đực sẽ chẳng có lợi gì khi bỏ đi sau đó? Ý tưởng này khá hấp dẫn. Một cá thể đực sẽ phải từ bỏ cơ hội giao phối với những cá thể cái khác và sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian, năng lược cho việc tán tỉnh. Vào thời điểm cá thể đực được phép giao phối với một cá thể cái nào đó, chắc chắn nó đã quá “ràng buộc” với cá thể cái đó. Nếu cá thể đực biết rằng bất cứ một cá thể cái nào mà nó muốn tiếp cận cũng sẽ chần chừ như vậy trước khi thực sự muốn tiến hành giao phối, nó sẽ thấy việc từ bỏ cá thể cái mà nó đã giao phối ít hấp dẫn hơn.

Như tôi đã nêu trong một bài báo, có sự nhầm lẫn trong các lập lậun của Trivers ở đây. Trivers đã nghĩ rằng đầu tư ban đầu vào một cá thể sẽ ràng buộc bản thân nó vào sự đầu tư mới trong tương lai. Đây là nền kinh tế ảo tưởng. Một doanh nhân không nên nói “tôi đã đầu tư quá nhiều vào hãng hàng không Concorde (ví dụ) đến nỗi bây giờ tôi không thể có đủ sức để bỏ rơi nó”. Thay vào đó, anh ta nên hỏi liệu anh ta có được lợi trong tương lai hay không khi cắt lỗ và ngừng dự án hiện tại, cho dù đã đầu tư rất nhiều vào nó. Tương tự như vậy, sẽ chẳng có ích gì khi cá thể cái ép một cá thể đực đầu tư nhiều cho nó với hi vọng rằng sẽ làm cho cá thể đực không bỏ đi sau đó. Phiên bản chiến lược thuần hóa – hạnh phúc này phụ thuộc vào một giả định quan trọng sâu xa hơn, đó chính là đa số cá thể cái có thể được coi là cùng thực hiện một chiến lược giống nhau. Nếu trong quần thể có những cá thể cái thua cuộc, sẵn sàng chào đón những cá thể đực đã bỏ rơi bạn tình của chúng, thì cá thể đực này vẫn luôn có lợi cho dù nó có đầu tư cho con của nó với bạn tình cũ bao nhiêu đi chăng nữa.

Do đó, mức độ nhiều ít như thế nào sẽ phụ thuộc vào hành vi của đa số cá thể cái trong quần thể. Nếu chúng ta được phép nghĩ có sự thông đồng của những cá thể cái, thì sẽ chẳng có vấn đề gì. Nhưng sự thông đồng của những cá thể cái không thể tiến hóa xa hơn của các cá thể bồ câu mà chúng ta đã xem xét. Thay vào đó, chúng ta phải tìm ra chiến lược tiến hóa bền vững. Chúng ta hãy cùng sử dụng phương pháp phân tích các cuộc đấu hiếu chiến của Maynard Smith, và áp dụng nó vào giới tính. Việc áp dụng phương pháp này ở đây có lẽ hơi phức tạp hơn so với trường hợp các chiến lược diều hâubồ câu, bởi vì chúng ta sẽ có hai chiến lược cho các cá thể cái và hai chiến lược cho các cá thể đực.

Giống như ở trong các nghiên cứu của Maynard Smith, từ “chiến lược” ở đây sẽ đề cập đến một chương trình tập tính vô thức mù quáng. Hai chiến lược cho cá thể cái của chúng ta sẽ được gọi là rụt rè dễ dãi, và hai chiến lược dành cho cá thể đực sẽ được gọi là trung thànhsở khanh. Các quy luật tập tính của bốn kiểu chiến lược sẽ như sau. Cá thể cái rụt rè sẽ không giao phối với một cá thể đực cho đến khi cá thể đực trải qua một giai đoạn tán tỉnh lâu dài và tốn kém, kéo dài vài tuần lễ. Cá thể cái dễ dãi sẽ giao phối ngay lập tức với bất cứ cá thể đực nào. Cá thể đực trung thành được xem là tiếp tục tán tỉnh trong khoảng thời gian dài và sau giao phối chúng vẫn ở với cá thể cái và giúp chúng nuôi con. Cá thể đực sở khanh sẽ nhanh chóng mất kiên nhẫn: nếu cá thể cái không giao phối với nó ngay lập tức, nó sẽ bỏ đi và tìm kiếm một cá thể cái khác; sau giao phối, nó cũng không ở lại để đóng vai một người cha tốt mà sẽ bỏ đi để tìm kiếm những cá thể cái mới. Giống như trong trường hợp các cá thể diều hâubồ câu, đây không hẳn là những chiến lược duy nhất có thể, nhưng dù sao đi nữa nó sẽ giúp làm sáng tỏ việc nghiên cứu số phận của các cá thể.

Cũng giống như Maynard Smith, chúng ta sẽ sử dụng một vài giá trị giả thiết bất kỳ cho việc đánh giá những lợi ích và cái giá phải trả khác nhau. Khái quát hơn, chúng ta có thể đánh giá thông qua các ký tự đại số, nhưng các con số giúp chúng ta dễ hiểu hơn nữa. Giả sử rằng mức lợi ích di truyền thu được cho mỗi cá thể bố hoặc mẹ khi một đứa con được nuôi nấng thành công là + 15 đơn vị. Chi phí nuôi nấng một đứa trẻ, thức ăn của nó, thời gian sử dụng để chăm sóc nó, gánh tất cả những nguy hiểm thay cho đứa con, tổng cộng là – 20 đơn vị. Chi phí này mang dấu âm bởi vì bố mẹ phải “bỏ ra”. Đây cũng là chi phí của sự lãng phí thời gian trong giai đoạn tán tỉnh kéo dài. Chúng ta coi chi phí này là -3 đơn vị.

Hãy tưởng tượng chúng ta có một quần thể bao gồm toàn thể cá thể cái rụt rè, và tất cả cá thể đực đều là những kẻ trung thành. Đó chính à một xã hội một vợ một chồng lý tưởng. Ở mỗi cặp, cá thể đực và cá thể cái đều nhận được mức lợi ích trung bình như nhau. Chúng nhận được +15 đơn vị khi nuôi một đứa con; chúng cùng chia sẻ chi phí nuôi dưỡng (-20 đơn vị) ngay nhau, như vậy trung bình mỗi cá thể sẽ trả -10 đơn vị. Chúng cũng phải bỏ ra -3 đơn vị vì lãng phí thời gian cho sự ve vãn kéo dài. Mức lợi ích trung bình của mỗi cá thể do đó sẽ là +15 – 10 – 3 = 2.

Bây giờ giả sử rằng một cá thể cái dễ dãi đơn độc xâm nhập vào quần thể đó. Cá thể cái này sẽ làm rất tốt. Nó không phải trả chi phí cho việc chậm trễ, bởi nó không thích thú với sự ve vãn kéo dài. Do tất cả những cá thể đực trong quần thể là trung thành, nên nó có thể tin cậy vào việc tìm thấy một người cha tốt cho con của nó, kẻ đó có thể là bất cứ cá thể đực nào mà nó giao phối. Mức lợi ích trung bình của nó cho mỗi đứa trẻ sẽ là +15 – 10 = +5. Như vậy, nó có nhiều hơn 3 đơn vị so với đối thủ rụt rè. Từ đó, các gen dễ dãi sẽ bắt đầu phát tán trong quần thể.

Nếu sự thành công của các cá thể cái dễ dãi là quá lớn đến mức chúng trở thành thống trị trong quần thể, thì phía những cá thể đực cũng sẽ có điều gì đó bắt đầu thay đổi. Cho đến lúc này, các cá thể đực trung thành vẫn có sự độc quyền. Nhưng bây giờ nếu một cá thể đực sở khanh xuất hiện trong quần thể, nó sẽ bắt đầu thu được lợi hơn so với những đối thủ trung thành của mình. Trong một quần thể mà toàn bộ cá thể cái là những kẻ dễ dãi, những lợi nhuận thực tế dành cho kẻ sở khanh là rất nhiều. Nó sẽ có được +15 đơn vị nếu một con non được nuôi dưỡng trưởng thành, và nó sẽ không phải trả một chi phí nào cả. Điều thực sự có ý nghĩa đối với kẻ sở khanh khi không phải trả một chi phí nào là nó sẽ được tự do bỏ đi và giao phối với những cá thể cái mới. Một bà vợ không may của nó sẽ phải vật lộn một mình với đứa con, phải trả toàn bộ chi phí -20 đơn vị, mặc dù những bà vợ đó không phải trả bất cứ chi phí nào cho việc lãng phí thời gian trong lúc tán tỉnh. Mức lợi ích trung bình cuối cùng cho một cái thể cái dễ dãi khi nó gặp một cá thể đực sở khanh sẽ là +15 – 20 = -5; và lợi ích trung bình của kẻ sở khanh sẽ là +15. Trong một quần thể mà tất cả cá thể cái đều dễ dãi, các gen của kẻ sở khanh sẽ lan rất nhanh.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần III


Hãy cùng xem lại cặp bạn tình mà chúng ta đã bắt đầu ở đầu bài này. Cả hai đối tác, những cỗ máy vị kỷ, đều “muốn” có con trai và con gái với số lượng như nhau. Chúng đều đồng ý trong phạm vi đó. Điểm mà chúng không nhất trí là ai sẽ chịu mang gánh nặng về chi phí nuôi dạy từng đứa con trong số này. Mỗi cá thể đều muốn có càng nhiều con sống sót càng tốt. Cá thể đực hoặc cá thể cái càng có ít bổn phận đầu tư cho bất kỳ đứa trẻ nào trong số con của chúng thì nó càng có thể có nhiều con hơn. Một cách dễ dàng để có được trạng thái mong muốn đó là khuyến khích đối tác của bạn đầu tư nhiều hơn phần tài nguyên của nó cho mỗi đứa trẻ, và bạn có thể tự do có những đứa trẻ khác với những bạn tình khác. Đây sẽ là chiến lược mong muốn của mỗi giới, nhưng cá thể cái khó có thể có được điều đó. Bởi vì cá thể cái bắt đầu bằng việc đầu tư nhiều hơn cá thể đực. Dưới dạng trứng to và giàu dinh dưỡng, một cá thể mẹ ở thời điểm mang thai đã “bị ràng buộc” sâu sắc hơn so với người cha. Cá thể mẹ sẽ chịu mất mát nhiều hơn cá thể cha nếu đứa con chết đi. Thêm vào đó, nó sẽ phải đầu tư nhiều hơn để nuôi nấng đứa con mới đến mức trưởng thành như đứa con cũ. Nếu cá thể mẹ dùng thủ đoạn bỏ mặc cá thể cha nuôi nấng con cái khi nó bỏ đi với cá thể đực khác, cá thể cha có thể cũng sẽ trả đũa bằng cách rời bỏ đứa con vì nó chỉ mất một chi phí tương đối nhỏ khi thực hiện điều này. Do đó, ít ra là ở những giai đoạn đầu trong sự phát triển của đứa con, nếu có bất cứ một sự bỏ rơi nào xảy ra, có lẽ cá thể cha sẽ là kẻ bỏ rơi cá thể mẹ chứ không có chuyện ngược lại. Tương tự, cá thể cái có thể được trông đợi đầu tư nhiều hơn vào đứa con so với cá thể đực, không chỉ ở giai đoạn bắt đầu mà còn xuyên suốt quá trình phát triển. Vậy thì, lấy động vật có vú làm ví dụ, cá thể cái là kẻ mang phôi thai trong cơ thể của chính nó, cá thể cái là kẻ tạo ra sữa để nuôi đứa con khi nó được sinh ra, đồng thời cũng là cá thể mang gánh nặng nuôi dạy đứa con trưởng thành và che chở cho nó. Giới tính “cái” đã bị khai thác, và cơ sở tiến hóa cơ bản cho sự khai thác này là sự kiện trứng lớn hơn tinh trùng.

Dĩ nhiên, ở nhiều loài, kẻ làm cha sẽ phải làm việc vất và trung thành trong lúc chăm sóc con nhỏ. Nhưng cho dù thế đi nữa, chúng ta phải lường trước được rằng thông thường sẽ có một vài áp lực tiến hóa tác động lên cá thể đực làm nó đầu tư ít hơn một chút vào mỗi đứa con và để cố có nhiều con hơn với các bà vợ khác. Thông qua điều này, tôi đơn giản chỉ muốn nói là sẽ có một xu hướng xuất hiện các gen tuyên bố rằng “Cơ thể, nếu ngươi là cá thể đực, hãy rời bỏ bạn tình của mình sớm hơn một chút so với các alen cạnh tranh của ta, những alen sẽ khiến ngươi làm điều đó, và hãy tìm bạn tình khác”. Những gen này có thể thành công trong vốn gen. Trên thực tế, phạm vi chiếm lĩnh của áp lực tiến hóa này lại thay đổi rất lớn từ loài này sang loài khác. Ở nhiều loài, ví dụ ở các loài chim thiên đường, cá thể cái không nhận được sự trợ giúp nào từ cá thể đực, nó sẽ tự chăm sóc con của mình. Những loài khác ví dụ như mòng biển Xira lại hình thành một cặp đực cái rất chung thủy, cả hai cùng hợp tác trong công việc nuôi nấng con cái. Ở đây, chúng ta phải giả định rằng sẽ phải có một áp lực đối lập mang tính tiến hóa đang tác động vào: phải có sự trừng phạt cũng như lợi ích gắn liền với chiến lược khai thác bạn tình một cách vị kỷ, và ở những con mòng biển Xira sự trừng phạt có nhiều ảnh hưởng hơn so với lợi ích. Nói chung, trong bất kỳ trường hợp nào, cá thể đực chỉ có lợi khi bỏ rơi cá thể cái và con non của nó nếu cá thể cái có đủ khả năng nuôi dạy chúng.

Trivers đã cân nhắc đến các hướng hành động có thể của một cá thể cái đã bị bạn tình bỏ rơi. Cách tốt nhất đối với nó là cố gắng lừa một cá thể đực khác nhận nuôi con của mình và làm cho cá thể đực đó “nghĩ” đứa con này là của nó. Điều này có lẽ sẽ không quá khó nếu đứa con vẫn chỉ ở dạng phôi thai, chưa được sinh ra. Dĩ nhiên, trong khi đứa trẻ mang nửa số gen của mẹ, nó lại không mang một gen nào của ông bố dượng cả tin. Chọn lọc tự nhiên sẽ trừng trị một cách khắc nghiệt sự cả tin mù quáng như vậy ở cá thể đực, và trên thực tế chọn lọc tự nhiễn sẽ ưu ái những cá thể đực đã chủ động giết chết bất kỳ đứa con riêng nào ngay sau khi chúng cặp đôi với cá thể cái mới. Đây có lẽ là lời giải thích cho hiện tượng được gọi là hiệu ứng Bruce: chuột đực tiết một loại hóa chất làm cho chuột cái đang có thai sẽ sẩy thai khi ngửi phải. Chuột cái bị sẩy thai nếu mùi hóa chất đó khác với mùi hóa chất của bạn tình cũ của nó. Theo cách này, một con chuột đực sẽ phá hủy những đứa con riêng có thể có và làm cho bạn tình mới của nó thụ thai nhờ giao phối với chính nó. Tình cờ Ardey xem hiệu ứng Bruce là cơ chế kiểm soát quần thể! Một ví dụ tương tự là hành động của những con sư tử đực khi mới nhập đàn, đôi khi chúng sẽ giết những con sư tử non trong đàn có lẽ là vì những con non đó không phải là con của chúng.

Một cá thể đực có thể thu được cùng kết quả như vậy mà không cần phải giết chết những đứa con ghẻ. Nó có thể củng cố giai đoạn ve vãn kéo dài trước khi nó giao phối với một cá thể cái, do đó xua đuổi tất cả những các thể đực khác đến gần cá thể cái của nó và ngăn không cho cá thể cái thoát đi. Nhờ cách này, cá thể đực có thể chờ xem liệu có phải cá thể cái đang mang trong mình một đứa con riêng hay không, và sẽ bỏ rơi cá thể cái nếu như đó là sự thật. Chúng ta sẽ thấy dưới đây lý do tại sao một cá thể cái có thể muốn có một khoảng thời gian “đi lại” trức khi giao phối. Ở đây, chúng ta cũng có lời giải thích cho việc vì sao cá thể đực cũng muốn điều đó. Miễn là nó có thể tách cá thể cái ra khỏi mọi tiếp xúc với các cá thể đực khác, nó sẽ không phải trở thành kẻ làm việc thiện bất đắc dĩ cho những đứa con của kẻ khác.

Hãy giả sử rằng một cá thể cái bị bỏ rơi không thể lừa được cá thể đực mới nào giúp nó nuôi con của mình, vậy thì cá thể cái đó có thể làm được gì nữa? Điều này phụ thuộc nhiều vào độ tuổi đứa con của nó. Nếu con non chỉ vừa được thụ thai thì chắc chắn là cá thể cái đã đầu tư toàn bộ trứng cho con non và có lẽ nhiều hơn thế, nhưng nó cũng vẫn có lợi khi bỏ cái thai và tìm một bạn tình mới càng nhanh càng tốt. Trong những hoàn cảnh như vậy, việc cá thể cái bỏ cái thai sẽ là vì lợi ích của cả hai, cá thể cái và bạn tình mới của nó, bởi vì chúng ta đang giả định rằng cá thể cái không có hi vọng lừa được bạn tình mới nuôi dạy con riêng của nó. Điều này có thể giải thích vì sao nhìn từ quan điểm của cá thể cái, hiệu ứng Bruce là đúng.

Một khả năng khác dành cho cá thể cái bị bỏ rơi là tiếp tục giữ đứa con và cố gắng tự nuôi dạy nó. Điều này đặc biệt có ích cho cá thể cái nếu đứa con khá lớn bởi càng lớn thì mức độ đã đầu tư vào nó càng nhiều và cá thể cái chỉ phải bỏ ít công sức hơn để hoàn thiện công việc nuôi dạy đứa trẻ. Cho dù là đứa trẻ vẫn còn tương đối nhỏ nhưng cá thể cái vẫn có thể có lợi khi cố gắng vớt vát điều gì đó từ sự đầu tư ban đầu của mình, mặc dù điều đó có nghĩa là nó phải làm việc chăm chỉ gấp đôi để kiếm thức ăn cho đứa con trong lúc cá thể đực đã bỏ đi. Cá thể cái sẽ cảm thấy khó chịu khi con của nó cũng có một nửa số gen thuộc về cá thể đực và vì thế nó có thể trả thù cá thể đực bằng cách bỏ rơi đứa con. Nó không ghi được điểm nào trong việc trả thù này cho bản thân mình. Đứa con mang một nửa số gen là từ cá thể cái, và tình thế lưỡng nan lúc này chỉ là tình thế của một mình nó mà thôi.

Ngược lại, một chính sách hợp lý đối với cá thể cái đang ở trong tình trạng có nguy cơ bị bỏ rơi có thể sẽ là rời bỏ cá thể đực trước khi cá thể đực rời bỏ nó. Điều này có thể có lợi cho cá thể cái, mặc dù nó đã đầu tư nhiều vào đứa con hơn so với cá thể đực. Sự thực phũ phàng là torng một số hoàn cảnh, lợi thế lại nghiêng về cá thể bỏ đi đầu tiên, không quan trọng đấy là cá thể đực hay cái. Như Trivers đã trình bày, cá thể bị bỏ rơi sẽ nằm trong một tình huống tàn nhẫn. Đây chính là một lập luận tương đối độc ác nhưng rất tinh tế. Chúng ta có thể lường trước rằng cá thể bố hoặc mẹ sẽ bỏ đi, thời điểm mà nó có thể nói: “Đứa trẻ bây giờ đã phát triển đủ lớn, một trong hai chúng ta có thể không cần bận tâm chăm sóc nó nữa. Do đó, tôi bỏ đi bây giờ sẽ có lợi, miễn là tôi có thể chắc chắn rằng bạn tình của tôi sẽ không bỏ đi. Nếu tôi đã bỏ đi, bạn tình của tôi lúc này sẽ làm bất cứ điều gì tốt nhất cho các gen của anh ta/cô ta. Anh ta/cô ta sẽ bị buộc phải thực hiện một quyết định khó khăn hơn điều tôi đang làm bây giờ, bởi vì tôi đã bỏ đi rồi. Bạn tình của tôi sẽ “biết” rằng nếu anh ta/cô ta cũng bỏ đi, đứa con chắc chắn sẽ chết. Do đó, giả sử bạn tình của tôi sẽ thực hiện các quyết định tốt nhất cho các gen vị kỷ của mình, tôi kết luận rằng phương án hành động tốt nhất của bản thân sẽ là bỏ đi trước. Điều này đặc biệt phải như vậy, vì rằng bạn tình của tôi cũng có thể “đang nghĩ” chính xác như tôi nghĩ, và có thể nắm quyền chủ động bất cứ lúc nào bằng cách bỏ rơi tôi!” Như thường lệ, câu độc thoại vừa rồi chỉ được dùng cho mục đích minh họa. Điểm mấu chốt là các gen quy định cho việc bỏ đi đầu tiên có thể được ưu tiên trong chọn lọc đơn giản là vì các gen quy định việc bỏ đi sau sẽ không được ưu tiên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần II


Khi đó, cá thể đực dường như là những người bạn đồng hành đáng yêu nhưng không có giá trị và theo nền tảng của thuyết “cái tốt của loài” giản đơn, chúng ta có thể lường được rằng cá thể đực sẽ có số lượng ít hơn cá thể cái. Bởi trên lý thuyết, một cá thể đực có thể sản sinh một lượng tinh trùng đủ để phục vụ cho cả một hậu cung gồm 100 cá thể cái nên chúng ta có thể giả thiết rằng các cá thể cái có thể vượt các cá thể đực về số lượng trong các quần thể động vật với tỷ lệ 100 trên 1. Chúng ta có thể diễn đạt điều này theo cách khác chẳng hạn như cá thể đực có thể “dễ hi sinh” hơn và cá thể cái “có giá trị” hơn đối với loài. Dĩ nhiên, tiếp cận trên quan điểm tổng thể loài thì điều này hoàn toàn đúng. Ví dụ, trong một nghiên cứu về loài hải cẩu voi, 4% các cá thể đực thực hiện đến 88% tất cả các cuộc giao phối đã quan sát được. Trong trường hợp này, và trong nhiều trường hợp khác, có một lượng dư thừa lớn những cá thể đực độc thân có lẽ chưa bao giờ có cơ hội giao phối trong suốt cuộc đời của chúng. Nhưng mặt khác, những cá thể đực dư thừa này vẫn sống cuộc sống bình thường, và chúng sử dụng nguồn tài nguyên thức ăn của quần thể không ít hơn những cá thể đực trưởng thành khác. Theo quan điểm “cái tốt của loài”, thì điều này là sự lãng phí rất lớn; những cá thể đực dư thừa có thể được xem là những kẻ ký sinh xã hội. Đấy chỉ là một trong nhiều ví dụ về những khó khăn mà lý thuyết chọn lọc nhóm vấp phải. Mặt khác lý thuyết gen vị kỷ không hề gặp khó khăn trong việc giải thích hiện tượng số lượng cá thể đực và cá thể cái có khuynh hướng ngang bằng, thậm chí cả khi các cá thể đực sinh sản một cách thực sự có thể là một phần nhỏ trong tổng số các cá thể R.A. Fisher là người đầu tiên giải thích những điều này.

Vấn đề bao nhiêu cá thể đực và bao nhiêu cá thể cái được sinh ra là một trường hợp đặc biệt trong các vấn đề ở chiến lược làm cha mẹ. Đúng như chúng ta đã thảo luận về kích cỡ gia đình tối ưu cho một cá thể bố mẹ đang cố gắng tối đa hóa lượng gen tồn tại của nó, chúng ta cũng có thể thảo luận về tỉ lệ giới tính tối ưu. Vậy thì giao phó các gen quý của bạn cho con trai hay con gái tốt hơn? Giả sử rằng một cá thể cái đã đầu tư toàn bộ tài nguyên của nó vào những đứa con trai, và do đó không còn gì để đầu tư cho con gái: vậy thì nếu tính trung bình, liệu nó có bổ sung vào vốn gen trong tương lai nhiều hơn một cá thể cái đối thủ đã đầu tư vào con gái? Có phải số lượng các gen quy định tính ưu tiên con trai sẽ trở nên nhiều hơn hay ít hơn các gen quy định ưu tiên con gái? Điều mà Fisher đã chỉ ra là ở các điều kiện thông thường, tỉ lệ giới tính ổn định ở mức 50:50. Để giải thích cho điều này, trước tiên chúng ta phải biết một chút về cơ chế xác định giới tính.

Ở động vật có vú, giới tính được xác định về mặt di truyền như sau. Tất cả các trứng có thể phát triển thành cá thể đực hoặc cá thể cái. Tinh trùng là tế bào mang nhiễm sắc thể xác định giới tính. Một nửa số tinh trùng sinh ra quy định việc hình thành cá thể cái, hay còn gọi là tinh trùng X, và một nửa còn lại sinh ra cá thể đực, hay tinh trùng Y. Cả hai loại tinh trùng này trông giống nhau. Sự khác nhau của chúng chỉ liên quan đến một nhiễm sắc thể. Một gen quy định cá thể bố chỉ có con gái có thể đạt được mục tiêu của nó bằng cách làm cho cá thể bố sản xuất không gì khác ngoài tinh trùng X. Một gen quy định cá thể mẹ không có con nào khác ngoài con gái, có thể hoạt động bằng cách làm cho cá thể mẹ tiết ra một chất diệt tinh trùng chọn lọc, hoặc làm cho cá thể mẹ bị sẩy thai con trai. Điều mà chúng ta tìm kiếm là một điều gì đó tương đương với một chiến lược tiến hóa bền vững (EES), mặc dù ở đây, thậm chí còn hơn cả ở trong bài về tính hiếu chiến, từ chiến lược chỉ là một hình thái tu từ. Một cá thể không thể chọn lọc theo nghĩa đen giới tính của con cái. Nhưng các gen quy định khuynh hướng có con một bề có thể tồn tại. Nếu chúng ta giả sử rằng các gen quy định tỉ lệ giới tính không cân bằng như vậy tồn tại, thì có phải bất cứ gen nào trong số chúng cũng có khả năng trở nên phổ biến trong vốn gen so với các alen cạnh tranh quy định tỉ lệ giới tính cân bằng hay không?

Giả sử rằng ở những loài hải cẩu voi đã được đề cập ở trên, một gen đột biến đã phát sinh, có khuynh hướng làm các cá thể bố mẹ chủ yếu có con gái. Bởi vì số lượng cá thể đực trong quần thể không hề thiếu, nên cá thể cái sẽ không gặp rắc rối trong việc tìm bạn tình và các gen quy định việc sinh con gái có thể được phát tán. Tỉ lệ giới tính trong quần thể sau đó có thể bắt đầu chuyển sang hướng dư thừa cá thể cái. Trên quan điểm cái tốt của loài, điều này sẽ không có vấn đề gì, bởi vì chỉ một vài cá thể đực cũng có khả năng cung cấp đủ lượng tinh trùng cần cho một lượng rất lớn cá thể cái như chúng ta đã thấy. Do đó, nhìn thoáng qua, chúng ta có thể mong đợi rằng gen quy định việc sinh con gái đó tiếp tục phát tán cho đến khi tỉ lệ giới tính mất cân bằng đến mức số ít cá thể đực còn lại phải làm việc cật lực may ra mới có thể xoay xở được. Nhưng lúc này, hãy nghĩ xem lợi thế về dư thừa di truyền mà một số cá thể bố mẹ có hai con trai sẽ hưởng là gì. Bất cứ cá thể nào đầu tư vào một đứa con trai cũng sẽ có cơ hội rất tốt trở thành ông nội của hàng trăm con hải cẩu. Những con chỉ sinh con gái chắc chắn rằng chỉ có một vài đứa cháu, nhưng điều này không là gì nếu so sánh với những cơ hội di truyền mở ra trước mắt bất cứ con nào chuyên hóa cho việc sinh con trai. Do đó, các gen quy định việc sinh con trai sẽ có khuynh hướng trở nên nhiều hơn, và con lắc sẽ dao động ngược lại.

Để đơn giản hóa, tôi đã bàn về vấn đề này dựa trên dao động con lắc. Trong thực tế, con lắc sẽ chẳng bao giờ được phép dao động đi xa theo chiều hướng thống trị của cá thể cái, bởi vì áp lực có con trai trước đó đã đẩy nó quay trở lại ngay sau khi tỉ lệ giới tính trở nên mất cân đối. Chiến lược sản sinh ra số lượng con trai và con gái bằng nhau là một chiến lược tiến hóa bền vững, theo nghĩa bất kỳ gen nào quy định việc tách khỏi nó sẽ thua cuộc hoàn toàn.

Tôi vừa mới kể câu chuyện dựa trên tương quan số lượng con trai với con gái. Điều này làm cho câu chuyện trở nên đơn giản, nhưng nói một cách nghiêm ngặt thì câu chuyện nên được trình bày ở dạng sự đầu tư của cha mẹ, nghĩa là tất cả thức ăn và các tài nguyên khác mà một cá thể bố hoặc mẹ phải cung cấp. Sự đầu tư này được tính toán dựa trên cách thức đã thảo luận ở bài Cuộc chiến giữa các thế hệ. Bố mẹ nên đầu tư công bằng vào con trai và con gái như nhau. Điều này luôn có nghĩa là chúng nên có số lượng con trai và con gái như nhau. Tuy vậy cũng có những tỉ lệ giới tính không cân bằng nhưng vẫn ổn định về mặt tiến hóa, miễn là số lượng bất cân bằng tương ứng với các tài nguyên cũng được đầu tư vào con trai và con gái một cách không cân bằng. Trong trường hợp những con hải cẩu voi, chính sách có số cá thể cái gấp ba lần số cá thể đực nhưng lại biến mỗi con trai thành một cá thể “siêu đực” bằng cách đầu tư gấp ba lần lượng thức ăn và các tài nguyên khác cho nó, có thể bền vững. Thông qua đầu tư nhiều thức ăn cho con trai và nuôi nó to, khỏe, một cá thể bố hoặc mẹ có thể làm tăng khả năng chiếm hữu phần thưởng một hậu cung cho con của nó. Nhưng đó là trường hợp đặc biệt. Thông thường, số lượng đầu tư vào mỗi con trai sẽ gần bằng với lượng đầu tư vào mỗi con gái, và tỉ lệ giới tính trên phương diện số lượng thường là 1:1.

Do đó, trong chuyến đi dài của nó qua các thế hệ, một gen trung bình sẽ sử dụng xấp xỉ một nửa thời gian của nó nằm trong cơ thể một cá thể đực, và nửa thời gian còn lại là ở cơ thể cá thể cái. Một vài tác động của gen chỉ thể hiện ở các cơ thể của một giới. Các ảnh hưởng này được gọi là tác động của gen bị giới hạn bởi giới tính. Một gen kiểm soát độ dài của dương vật sẽ chỉ biểu hiện tác động đấy ở cơ thể cá thể đực, nhưng nó cũng được mang trong cơ thể cá thể cái và có thể có một số tác động tương đối khác lên cơ thể cá thể cái. Sẽ không có lý do giải thích tại sao một người đàn ông sẽ không được thừa hưởng khuynh hướng phát triển dương vật dài từ mẹ của anh ta.

Cho dù ở trong bất kỳ kiểu cơ thể nào trong hai loại gen, chúng ta đều có thể hi vọng một gen sẽ tận dụng tốt nhất những cơ hội mà cơ thể ấy đã đưa ra. Các cơ hội này có thể khác biệt rõ ràng theo dạng cơ thể là đực hay cái. Một cách gần đúng, chúng ta có thể một lần nữa giả định rằng mỗi cơ thể riêng biệt là một cỗ máy vị kỷ, đang cố gắng làm những điều tốt nhất cho tất cả các gen của nó. Chính sách tốt nhất đối với kiểu cỗ máy vị kỷ này có thể hoàn toàn khác nhau tùy theo cá thể đó là đực hay cái. Một cách ngắn gọn, chúng ta sẽ sử dụng lại những quy ước trong việc nghĩ về các cá thể như thể nó có mục đích, có ý thức. Như trước đây, chúng ta sẽ luôn nhớ rằng đó chỉ là một loại hình thái tu từ. Một cơ thể thực sự là một cỗ máy được lập trình một cách mù quáng bởi các gen vị kỷ của nó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.