Sự vươn xa của gen – Phần cuối


Lập luận đang tiến dần về phía ý tưởng của một vòng đời rập khuôn, lặp lại thường xuyên. Mỗi thế hệ không chỉ bắt đầu với một cổ chai đơn bào. Nó còn có một pha sinh trưởng – thời thơ ấu – trong một giai đoạn tương đối cố định. Khoảng thời gian cố định, lặp lại y hệt của pha sinh trưởng khiến nó có thể tạo ra các sự vật cụ thể xuất hiện vào những thời điểm cụ thể trong suốt quá trình phát triển của phôi như thế chúng được điều khiển bởi một lịch làm việc được giám sát chặt chẽ. Trong phạm vi khác nhau ở rất nhiều các loại sinh vật khác nhau, sự phân chia tế bào trong suốt quá trình phát triển xảy ra theo một trình tự nghiêm ngặt, một trình tự được tái diễn trong mỗi lần bắt đầu lại của vòng đời. Mỗi tế bào có vị trí và thời gian xuất hiện riêng trong bảng phân công của sự phân bào. Trong một số trường hợp, một cách tình cờ, điều này chính xác đến nỗi mà các nhà phôi học có thể đặt tên cho mỗi tế bào và người ta có thể biết chính xác rằng một tế bào nào đó trong một cá thể sinh vật sẽ có một bản sao y hệt trong một sinh vật khác.

Như vậy, vòng sinh trưởng rập khuôn đã tạo ra một chiếc đồng hồ, một lịch làm việc với ý nghĩa rằng từ đó các sự kiện phôi thai có thể được hẹn giờ. Hãy nghĩ về việc bản thân chúng ta dễ dàng sử dụng các chu trình vòng quay hàng ngày của Trái đất và vòng quay hằng năm của nó xung quanh Mặt trời để xây dựng và sắp xếp đời sống của chúng ta. Cũng giống như vậy, nhịp sinh trởng lặp lại vô tận được áp đặt bởi vòng đời bị thắt cổ chai sẽ – nó dường như chắc chắn xảy ra – được sử dụng để sắp xếp và xây dựng nên quá trình hình thành phôi. Các gen cụ thể có thể được bật hoặc tắt tại các thời điểm cụ thể bởi vì cổ chai/lịch trình sinh trưởng sẽ đảm bảo rằng có một điều như vậy xảy ra tại một thời điểm cụ thể. Những quy định đã được tôi luyện tốt như vậy trong hoạt động của gen là điều kiện tiên quyết cho sự tiến hóa của các phôi có khả năng xây nên các cơ quan và các mô phức tạp. Sự chính xác và phức tạp của đôi mắt đại bàng hay đôi cánh chim nhạn không thể xảy ra mà không có các luật lệ theo thời gian đều đặn, quy định cái gì sẽ được xây dựng khi nào.

Hệ quả thứ ba của một quá trình sống bị thắt cổ chai là một hệ quả di truyền. Ở đây, ví dụ về rong hình chai và rong vô định hình lại giúp chúng ta một lần nữa. Để đơn giản hóa, một lần nữa ta giả sử rằng cả hai loài đều sinh sản vô tính, hãy nghĩ xem chúng tiến hóa như thế nào. Sự tiến hóa yêu cầu sự thay đổi về di truyền, gọi là sự đột biến. Sự đột biến có thể xảy ra trong mọi quá trình phân bào. Ở rong vô định hình, các dòng tế bào được phát tán rộng ngược lại với dòng bị thắt cổ chai. Mỗi nhánh được tách ra và trôi dạt là những nhánh đa bào. Do đó, rất có thể rằng hai tế bào trong một cá thể con sẽ là họ hàng xa đối với nhau hơn là đối với các tế bào trên cơ thể cây bố mẹ (Dùng từ “họ hàng”, tôi thực sự có ý là các anh hị em họ cháu nội, ngoại và vân vân. Các tế bào có các chuỗi con cháu xác định và những chuỗi tế bào này sẽ phân nhánh vì vậy các từ ngữ như anh em họ ở thế hệ thứ hai có thể được sử dụng cho các tế bào trong cơ thể mà không cần giải thích). Rong hình chai khác biệt rõ ràng so với rong vô định hình ở điểm này. Tất cả các tế bào trong cây con là con cháu của một tế bào bào tử đơn lẻ vì vậy tất cả các tế bào trong một cây bất kỳ là những anh em họ gần hơn (hoặc là gọi là gì cũng được) của nhau chứ không phải là của bất kỳ tế bào nào ở một cây khác.

Sự khác biệt này giữa hai loài có những hệ quả di truyền quan trọng. Hãy nghĩ về số phận của một gen đột biến mới, đầu tiên là ở rong vô định hình, sau đó là trong rong hình chai. Ở rong vô định hình, sự đột biến mới có thể xảy ra ở bất kỳ tế bào nào, tại bất kỳ nhánh nào của cây. Bởi vì các cây con được sinh sản nhờ nảy chồi, con cháu trực tiếp của tế bào đột biến có thể tìm thấy bản thân chúng trong các cây con và các cây cháu với những tế bào không đột biến, những tế bào này là anh em họ tương đối xa với các tế bào đột biến. Mặt khác, ở rong hình chai, tổ tiên chung gần nhất của tất cả các tế bào trong một cây không thể già hơn bào tử đã tạo ra sự bắt đầu đời sống theo phương thức thắt cổ chai của cây đó. Nếu bào tử đó có chứa gen đột biến, tất cả các tế bào của cây mới sẽ có chứa gen đột biến. Nếu bào tử không có gen đột biến, chúng cũng sẽ không có. Các tế bào của cây rong hình chai sẽ đồng nhất hơn về mặt di truyền trong cùng một cây hơn là các tế bào của cây rong vô định hình (đôi khi cũng có sự đột biến ngược). Ở rong hình chai, các cây đơn lẻ sẽ là một đơn vị đồng nhất về mặt di truyền, xứng đáng được gọi là cá thể. Các cây của rong vô định hình có sự đồng nhất di truyền kém hơn, ít được quyền gọi là “cá thể” hơn những nhóm đối ngược với chúng ở rong hình chai.

Đây không chỉ là vấn đề về thuật ngữ. Cùng với sự đột biến luôn xảy ra, các tế bào trong cùng một cây ở rong vô định hình sẽ không có tất cả các lợi ích di truyền giống nhau. Một gen trong một tế bào rong vô định hình sẽ tìm kiếm lợi ích từ việc thúc đẩy sự sinh sản của tế bào của chính nó. Nó không cần thiết phải tìm kiếm lợi ích qua việc thúc đẩy sự sinh sản của “cá thể” cây của nó. Sự đột biến sẽ làm cho các tế bào trong cùng một cây không giống hệt nhau về mặt di truyền vì vậy chúng sẽ không hợp tác vô tư với một tế bào khác trong việc xây dựng nên các cơ quan và các cây mới. Chọn lọc tự nhiên sẽ lựa chọn giữa các tế bào thay vì “các cây”. Mặt khác, ở rong hình chai, tất cả các tế bào trong cùng một cây rất có khả năng có cùng các gen giống nhau bởi vì chỉ những đột biến vừa mới xảy ra mới có thể phân tách chúng. Vì vậy, chúng sẽ vui vẻ hợp tác trong việc xây dựng các cỗ máy sống một cách hiệu quả. Các tế bào trong các cây khác nhau rất có khả năng có các gen khác nhau. Sau cùng, các tế bào mà đã vượt qua các cổ chai khác nhau có thể được phân biệt nhờ tất cả các tế bào trừ những đột biến vừa mới xảy ra – và điều này có nghĩa nghiêng về. Vì thế, sự chọn lọc sẽ trừng phạt các cây đối thủ, không phải là các tế bào đối thủ như ở rong vô định hình. Vì thế chúng ta có thể kỳ vọng thấy được sự tiến hóa của các cơ quan và các bộ phận mới phục vụ cho toàn bộ cây.

Nhân tiện, đặc biệt cho những ai quan tâm đến khía cạnh chuyên môn, ở đây có một sự tương đồng với lập luận về chọn lọc nhóm. Chúng ta có thể coi cá thể sinh vật như là một “nhóm” các tế bào. Một dạng của sự chọn lọc nhóm có thể dùng được, miễn là có một số cách thức có thể khiến cho tỉ lệ của biến thể giữa-các-nhóm với biến thể trong-nhóm tăng lên Tập tính sinh sản của rong hình chai hoàn toàn có tác động để gia tăng tỉ lệ này; tập tính của rong vô định hình chỉ có tác động ngược lại. Giữa “sự thắt cổ chai” và hai ý tưởng khác chiếm ưu thế trong bài này cũng có sự giống nhau, sự giống nhau này có thể được tìm ra nhưng tôi sẽ không khám phá điều đó. Trước tiên, ý tưởng các vật ký sinh sẽ hợp tác với các vật chủ đến một mức độ mà các gen của chúng được truyền qua thế hệ tiếp theo trong cùng các tế bào sinh sản như các gen của vật chủ – được ép qua cùng một cổ chai. Và thứ hai là ý tưởng các tế bào của các cơ thể sinh sản hữu tính hợp tác với nhau chỉ vì sự giảm phân là công bằng không thiên vị.

Tổng kết lại, chúng ta đã xem xét ba lý do tại sao một quá trình sống bị thắt cổ chai lại có xu hướng thúc đẩy sự tiến hóa của các sinh vật như một phương tiện thống nhất và riêng biệt. Ba lý do này có thể được đặt tên lần lượt là “làm lại từ đầu”, “vòng thời gian có thứ tự” và “sự đồng nhất tế bào”. Điều gì xảy ra trước, sự thắt cổ chai của vòng đời hay sinh vật riêng biệt? Tôi cho rằng chúng tiến hóa cùng nhau. Thực tế, tôi nghi ngờ đặc điểm cơ bản, rõ ràng của một cá thể sinh vật ở chỗ nó là một đơn vị được bắt đầu và kết thúc với một cổ chai đơn bào. Nếu các vòng đời bị thắt cổ chai, các vật liệu sống dường như bị giới hạn để bị đóng hộp thành các cá thể đồng nhất và riêng biệt. Và các vật liệu sống càng bị đóng hộp nhiều thành các cỗ máy sống riêng biệt, các tế bào của các cỗ máy sống sẽ càng tập trung những nỗ lực của chúng vào lớp tế bào đặc biệt, lớp tế bào dành để vận chuyển những gen chung của chúng qua cổ chai để đi đến thế hệ tiếp theo. Hai hiện tượng này, các vòng đời bị thắt cổ chai và các sinh vật riêng biệt, đi cùng với nhau. Khi một trong số chúng tiến hóa, nó hỗ trợ cho kẻ còn lại. Cả hai cùng được nâng cấp, giống như tình cảm khăng khít của một người phụ nữ và một người đàn ông trong quá trình yêu đương.

Cuốn Kiểu hình mở rộng là một cuốn sách dài và các lập luận của nó không dễ dàng được nhồi nhét vào một chương sách. Tôi đã buộc phải áp dụng một phong cách cô đọng, hơi trực giá và thậm chí mang trường phái ấn tượng. Tuy nhiên, tôi hi vọng rằng tôi đã thành công trong việc truyền tải ý tưởng của lập luận này.

Hãy để tôi kết thúc với một bản tuyên ngôn ngắn gọn, một bản tổng kết của toàn bộ quan điểm về gen vị kỷ/kiểu hình mở rộng. Tôi xác nhận rằng nó là một quan điểm có thể ứng dụng cho các sự vật sống ở mọi nơi trong vũ trụ. Đơn vị cơ bản, nhân tố chuyển động hoàn hảo của tất cả sự sống, là thể tự sao. Một thể tự sao là bất cứ sự vật gì trong vũ trụ có các bản sao được tạo ra. Các thể tự sao trở thành sự thực, tại nơi đầu tiên, bởi sự tình cờ, bằng sự va chạm ngẫu nhiên của các hạt nhỏ hơn. Một khi thể tự sao trở thành hiện thực, nó có khả năng sinh ra một tập hợp lớn vô tận các bản sao của bản thân nó. Tuy nhiên, không có quá trình sao chép nào là hoàn hảo và quần thể của các bản sao sẽ bao gồm các biến thể khác nhau. Một số trong những bản sao này hóa ra lại bị mất đi sức mạnh của sự tự sao chép và dạng của chúng ngừng tồn tại khi bản thân chúng không tiếp tục tồn tại. Các dạng khác có thể tiếp tục tự sao, nhưng kém hiệu quả hơn. Tuy nhiên các biến thể khác tình cờ tạo cho bản thân chúng sự sở hữu các mẹo mới: chúng thậm chí trở thành những thể tự sao tốt hơn là các thế hệ trước và những kẻ cùng thời với chúng. Chính con cháu của chúng sẽ thống trị quần thể. Thời gian trôi đi, thế giới được lấp đầy bởi những thể tự sao mạnh mẽ và khéo léo nhất.

Dần dần, những cách thức ngày càng phức tạp hơn để trở thành một thể tự sao tốt đã được tìm ra. Các thể tự sao tồn tại không chỉ bởi đức tính tốt của các đặc điểm nội tại của chúng mà còn bởi đức tính tốt của các hệ quả của chúng trên thế giới. Những hệ quả này có thể hoàn toàn gián tiếp. Tất cả những điều cần thiết là sau đó những hệ quả, cho dù ngoằn nghèo và gián tiếp thế nào, sẽ phản hồi và tác động đến sự thành công của thể tự sao tại thời điểm bản thân nó được sao chép.

Sự thành công mà một thể tự sao đạt được trên thế giới sẽ phụ thuộc vào thể loại của một thế giới đó là gì, các điều kiện sẵn có. Các thể tự sao khác và những hệ quả của chúng sẽ nằm trong số các điều kiện quan trọng nhất. Giống như các tay chèo người Anh và người Đức, các thể tự sao đem lại lợi ích tương hỗ sẽ trở nên phổ biến với sự có mặt của nhau. Tại một điểm nào đó trong quá trình tiến hóa trên Trái Đất của ch1ung ta, sự tập hợp các thể tự sao có sự phù hợp tương hỗ đã bắt đầu chính thức hóa sự hình thành của các phươgn tiện-tế bào-riêng biệt và sau đó, là các cơ thể đa bào. Các phương tiện những kẻ đã tiến hóa nên một vòng đời bị thắt cổ chai, đã trở nên thịnh vượng riêng biệt và giống phương tiện hơn.

Sự đóng gói các vật chất sống thành các phương tiện riêng biệt đã trở thành một đặc điểm rất nổi bật và đáng chú ý, khi các nhà sinh học xuất hiện và bắt đầu đưa ra các câu hỏi về sự sống, các câu hỏi của họ chủ yếu là về các phương tiện – những cá thể sinh vật. Cá thể sinh vật đã xuất hiện đầu tiên trong ý thức của các nhà sinh học, trong khi các thể tự sao – ngày nay được gọi là các gen – đã được coi là một phần của các bộ phận được sử dụng bởi các cá thể sinh vật. Cần phải có một nỗ lực thận trọng về mặt tinh thần để đưa sinh học quay lại đúng đường đi của nó, và nhắc nhở bản thân chúng ta rằng các thể tự sao có trước, về vai trò cũng như về lịch sử.

Một cách để nhắc nhở bản thân chúng ta là phải suy nghĩ rằng, thậm chí ngày nay, không phải tất cả các tác động kiểu hình của một gen đều được giới hạn trong cơ thể đơn lẻ mà nó cư ngụ Chắc chắn về mặt nguyên lý, và cũng là thực tế, các gen đã vươn ra ngoài bức tường của cơ thể đơn lẻ và điều khiển các vật thể trong thế giới bên ngoài, một số chúng là vô tri vô giác, một số chúng là các vật thể sống, một số chúng đã đi xa. Chỉ với một chút tưởng tượng, chúng ta có thể thấy rằng gen là trung tâm của một mạng lưới phân tán sức mạnh kiểu hình mở rộng. Và một vật thể trong thế giới lại là trung tâm của một mạng lưới hội tụ các ảnh hưởng từ nhiều gen có mặt trong nhiều sinh vật. Sự vươn xa của gen được biết là không có ranh giới cụ thể. Toàn bộ thế giới được đan chéo bởi các mũi tên nhân quả kết hợp các gen với các tác động kiểu hình, xa và gần.

Một thực tế khác, cái mà quá quan trong trong thực tế để được cho là có khả năng xảy ra nhưng không đủ cần thiết theo lý thuyết để được cho là chắc chắn xảy ra, đó là những mũi tên nhân quả đó phải tập hợp lại. Các thể tự sao không còn được rải rác tự do trong biển; chúng được đóng gói trong những tập hợp khổng lồ – những cơ thể đơn lẻ. Và các hệ quả kiểu hình, thay vì được phân phối đồng đều trên toàn thế giới, trong nhiều trường hợp cũng được tập hợp vào cùng những cơ thể đó. Nhưng cơ thể đơn lẻ, quá thân thuộc trên hành tinh của chúng ta, đã không phải tồn tại. Một dạng thực thể duy nhất phải tồn tại để cho cuộc sống xuất hiện, bất kỳ nơi nào trong vũ trụ, đó là thể tự sao bất tử.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Sự vươn xa của gen – Phần IX


Những lợi thế của việc thành lập một nhóm các tế bào không chỉ dừng lại ở kích thước. Các tế bào trong nhóm có thể được chuyên biệt hóa, từ đó mỗi tế bào trở nên hiệu quả hơn trong việc thực thi một nhiệm vụ cụ thể của nó. Các tế bào biệt hóa phục vụ các tế bào khác trong nhóm và chúng cũng có được lợi ích từ sự hiệu quả của các tế bào chuyên hóa khác. Nếu có nhiều tế bào, một số có thể chuyên hóa thành các cơ quan cảm giác để phát hiện con mồi, những tế bào khác là các tế bào thần kinh để truyền thông tin, những tế bào khác là các tế bào châm chích để làm tê liệt con mồi, các tế bào tiết để hòa tan nó và cả những tế bào khác để hấp thụ các chất dịch. Chúng ta phải quên đi rằng, ít nhất trong các cơ thể hiện đại như bản thân chúng ta, các tế bào là những bản sao giống nhau. Tất cả đều chứa các gen giống nhau, cho dù các gen khác nhau sẽ được bật lên trong những tế bào chuyên hóa khác nhau. Các gen trong mỗi dạng tế bào tạo lợi ích trực tiếp cho các bản sao của chúng ở trong một số ít các tế bào chuyên biệt hóa cho sự sinh sản, các tế bào cảu các dòng mầm bất tử.

Vậy, đến câu hỏi thứ ba. Tại sao các cơ thể tham gia vào một vòng đời “bị thắt cổ chai”?

Để bắt đầu, tôi có ý gì khi đưa ra khái niệm “bị thắt cổ chai”? Không cần biết có bao nhiêu tế bào trong cơ thể một con voi, con voi bắt đầu cuộc sống như một tế bào đơn lẻ, một quả trứng được thụ tịnh. Quả trứng được thụ tinh là một cổ chai hẹp, cái mà trong suốt sự phát triển của phôi bào sẽ mở rộng ra thành hàng nghìn tỉ tế bào của một con voi trưởng thành. Và không cần biết bao nhiêu tế bào, của bao nhiêu dạng chuyên biệt hóa hợp tác để thực hiện các nhiệm vụ phức tạp không thể tưởng tượng nổi để điều khiển một con voi trưởng thành, những nỗ lực của tất cả các tế bào đều hội tụ vào một mục đích cuối cùng là lại sản xuất ra những tế bào đơn lẻ – các tinh trùng hoặc trứng. Con voi không chỉ bắt đầu từ một tế bào đơn lẻ, một quả trứng được thụ tinh. Điểm kết thúc của nó, có nghĩa là mục tiêu hay sản phẩm cuối cùng của nó, là việc sinh ra các tế bào đơn lẻ, các tế bào trứng được thụ tinh cho các thế hệ sau. Vòng đời của một con voi to lớn đều bắt đầu và kết thúc bằng một cổ chai chật hẹp. Sự thắt cổ chai này là đặc trưng cho vòng đời của tất cả các động vật đa bào và phần lớn các loài thực vật. Tại sao? Điều đặc trưng của nó là gì? Chúng ta không thể trả lời câu hỏi này mà không xem xét đến cuộc sống có thể sẽ thế nào nếu thiếu nó.

Sẽ rất hữu ích khi tưởng tượng về hai loài giả thiết về rong biển có tên là rong hình chai và rong trương. Rong trương mọc thành những tập hợp rời rạc trong nước biển, các nhánh không có hình dạng cụ thể. Mỗi nhánh hiện tại và sau này đều tách rời nhau và trôi dạt xa xa. Sự chia tách này có thể xảy ra ở mọi nơi trên cơ thể loài rong này và các mảnh có thể là lớn hoặc bé. Giống như những cành giâm trong một khu vườn, chúng có khả năng mọc lại thành những cơ thể ban đầu. Sự chia tách các phần cơ thể là phương pháp sinh sản của loài này. Như bạn sẽ thấy, nó không hoàn toàn khác biệt với phương thức sinh trưởng trừ một điều là các phần sinh trưởng trở nên tách rời nhau ra.

Rong hình chai trông cũng giống như vậy và sinh trưởng theo cách rời rạc tương tự. Tuy nhiên, có một điều hoàn toàn khác. Nó sinh sản bằng cách phóng ra các bào tử đơn bào, những bào tử này sẽ trôi dạt trong nước biển và mọc thành các cá thể mới. Những bào tử này chỉ là các tế bào của cây rong như các tế bào khác. Như trong trường hợp của rong vô định hình, giới tính không có liên quan gì. Những cây con của một cây rong bao gồm các tế bào nhân bản cùng thời với các tế bào trên cây rong bố mẹ. Sự khác nhau duy nhất giữa hai loài là rong vô định hình sinh sản bằng cách chia tách các đoạn của chính nó, bao gồm một số tế bào, trong khi rong hình chai sinh sản bằng cách chia tách các đoạn của nó và những đoạn này luôn luôn chỉ là những tế bào đơn lẻ.

Bằng cách tưởng tượng ra hai loại thực vật này, chúng ta phải tập trung vào sự khác biệt rõ ràng giữa một vòng đời “bị thắt cổ chai” và một vòng đời “không bị thắt cổ chai”. Rong hình chai sinh sản bằng cách vắt ép bản thân nó, trong mọi thế hệ, qua một cổ chai đơn bào. Rong vô định hình chỉ sinh trưởng và tách ra làm hai. Khó có thể nói rằng nó hoàn toàn có “các thế hệ” riêng biệt, hoặc bao gồm các “sinh vật” riêng biệt. Còn rong hình chai thì sao? Tôi sẽ đưa câu trả lời ngay, nhưng chúng ta có thể mơ hồ thấy được câu trả lời. Chẳng phải rong hình chai dường như đã có một sự riêng biệt hơn, một cảm giác “mang tính sinh vật” hơn sao?

Như chúng ta thấy, rong vô định hình sinh sản theo cùng quá trình như khi nó sinh trưởng. Thực tế nó chẳng sinh sản tí nào. Mặt khác, rong hình chai tạo sự tách biệt rõ ràng giữa sinh sản và sinh trưởng. Chúng ta có thể tập trung vào sự khác biệt nhưng như vậy thì sao? Điều đặc trưng ở đây là gì? Tại sao nó lại là vấn đề? Tôi đã nghĩ về điều này rất lâu và tôi nghĩ rằng tôi biết câu trả lời. (Nhân tiện, tôi muốn nói để tìm ra một câu hỏi khó hơn nhiều là nghĩ ra câu trả lời!). Câu trả lời có thể được chia thành ba phần, hai phần đầu tiên trong số đó có liên quan đến mối quan hệ giữa tiến hóa và sự phát triển phôi.

Đầu tiên, hãy nghĩ về vấn đề trong việc tiến hóa của một cơ quan phức tạp từ một cơ quan đơn giản hơn. Chúng ta không cần phải gắn với các loài thực vật và trong giai đoạn lập luận này có thể tốt hơn nếu chuyển qua các loài động vật bởi chúng có các cơ quan phức tạp hơn một cách rõ ràng. Một lần nữa, không cần thiết phải nghĩ về các thuật ngữ giới tính; sinh sản hữu tính và vô tính không có liên quan gì ở đây. Chúng ta có thể tưởng tượng các loài động vật của chúng ta sinh sản bằng các gửi đi các bào tử vô tính, những tế bào đơn lẻ hoàn toàn giống nhau, trừ các thể đột biến và giống các tế bào khác trong cơ thể về mặt di truyền.

Các cơ quan phức tạp của một động vật bậc cao như con người hoặc một con rệp gỗ đã tiến hóa dần dần qua các cấp độ từ các cơ quan đơn giản hơn của các tổ tiên. Nhưng các cơ quan của các tổ tiên không thực sự thay đổi bản thân chúng để trở thành các cơ quan của con cháu như những lưỡi gươm được đánh thành những lưỡi cày. Không hẳn là chúng không thể. Điểm mà tôi muốn nói ở đây là trong hầu hết trường hợp chúng không thể làm như vậy. Chỉ có một số lượng giới hạn sự thay đổi có thể đạt được thông qua việc chuyển đổi trực tiếp theo kiểu “lưỡi gươm thành lưỡi cày”. Những thay đổi thực sự triệt để chỉ có thể đạt được bằng cách làm lại từ đầu, quẳng tất cả các bản thiết kế cũ đi và làm lại từ đầu. Khi các kỹ sư quay trở lại bản vẽ và vẽ ra một bản thiết kế mới, họ không nhất thiết phải vứt bỏ những ý tưởng từ bản thiết kế cũ. Nhưng họ không thực sự cố gắng thay đổi về mặt vật lý của một vật thể cũ để biến thành một vật thể mới. Vật thể cũ có sức ì quá lớn vì sự hỗn loạn của lịch sử. Có lẽ bạn có thể đánh một lưỡi gươm thành một lưỡi cày nhưng thử “đánh” một động cơ chân vịt thành một động cơ phản lượng xem! Bạn không thể làm như vậy. Bạn phải vứt bỏ động cơ chân vịt đi và thiết kế lại từ đầu.

Tất nhiên, những sự vật sống chưa bao giờ được thiết kế trên các bản vẽ. Nhưng chúng thực sự có thể bắt đầu lại từ đầu. Chúng tạo ra một sự khởi đầu mới mẻ trong mỗi thế hệ. Bất kỳ sinh vật mới nào cũng đều được bắt đầu từ một tế bào và phát triển mới hoàn toàn. Nó thừa kế những ý tưởng trong bản thiết kế của tổ tiên dưới dạng chương trình ADN, nhưng nó không thừa hưởng các cơ quan cơ thể của tổ tiên nó. Cơ thể mới không thừa hưởng trái tim của cha mẹ nó và đắp lại thành một trái tim mới (và có thể đã cải tiến). Nó bắt đầu từ vạch xuất phát, dưới dạng một số tế bào đơn lẻ, phát triển thành một trái tim mới sử dụng chương trình thiết kế giống với chương trình thiết kế ra trái tim của cha mẹ nó và từ đó có thể thêm vào những cải tiến. Bạn đang thấy sự kết luận mà tôi đang dẫn tới. Một điều quan trọng về một vòng đời “bị thắt cổ chai” là nó tạo ra khả năng tương đồng của việc bắt đầu lại từ đầu.

Sự thắt cổ chai của vòng đời có một hệ quả liên quan thứ hai. Nó cung cấp một “lịch làm việc” có thể được sử dụng để điều hòa các quá trình cảu sự hình thành phôi. Trong một vòng đời bị thắt cổ chai, các thế hệ mới sẽ bước đều qua một cuộc diễu hành tương đối giống nhau của các sự kiện. Sinh vật bắt đầu bằng một tế bào đơn lẻ. Nó sinh trưởng bằng cách phân bào. Và nó sinh sản bằng cách phân phát các tế bào con ra ngoài. Giả sử rằng sau đó nó sẽ chết nhưng điều này ít quan trọng hơn việc nó dường như là vật chết đối với chúng ta; chừng nào chúng ta còn đang thảo luận về việc này thì vòng đời của sinh vật hiện tại sẽ kết thúc khi nó sinh sản và một vòng đời của thế hệ mới bắt đầu. Cho dù trên lý thuyết, sinh vật có thể sinh sản bất kỳ lúc nào trong suốt chu trình sinh trưởng của nó, chúng ta có thể lường trước được rằng sẽ có một thời gian tối ưu cho sự sinh sản xảy ra. Những sinh vật nào thả các bào tử khi chúng còn quá non hoặc đã quá già sẽ kết thúc với việc có ít con cháu hơn những đối thủ khác, những kẻ đã củng cố sức mạnh của chúng và thả một lượng lớn bào tử trong giai đoạn chính của cuộc đời.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Sự vươn xa của gen – Phần VIII


Những cá thể sinh vật “đơn lẻ” như bản thân chúng ta là hiện thân cơ bản của rất nhiều sự liên kết như vậy. Nhóm các sinh vật – đàn chim, bầy sói – không liên kết với nhau thành một phương tiện đơn lẻ, chính xác là do các gen trong đàn hoặc bầy không chia sẻ một phương pháp chung để rời bỏ phương tiện hiện tại. Một cách chắc chắn, các bầy có thể chia nhỏ thành các bầy con cháu. Nhưng các gen trong bầy cha mẹ không truyền qua các bầy con cháu trong một chuyến tàu đơn lẻ, chuyến tàu mà ở đó tất cả các gen đều có một phần đồng đều. Các gen trong bầy sói không có cùng một tập hợp các sự kiện chung trong tương lai. Một gen có thể thúc đẩy sự thịnh vượng của nó thông qua việc ưu tiên cá thể sói của chính nó với sự thiệt hại của các cá thể sói khác. Vì vậy, một cá thể sói là một phương tiện đáng để đặt tên nhưng một bầy sói thì không. Nói theo khía cạnh di truyền học, lý do để sự việc diễn ra như vậy là tất cả các tế bào, trừ các tế bào sinh dục, trong một cơ thể sói đều có các gen giống nhau; trong khi đó, ở các tế bào sinh dục, tất cả các gen có một cơ hội công bằng để có mặt ở trong số các tế bào đó. Nhưng các tế bào trong một bầy sói không có chung các gen, chúng cũng không có cùng cơ hội để có mặt trong các tế bào của các bầy nhỏ được tách ra. Chúng có thể có mọi thứ bằng cách đấu tranh chống lại các đối thủ trong các cơ thể sói khác (mặc dù thực tế là một bầy sói như một nhóm họ hàng sẽ loại bỏ sự tranh đấu này).

Đây là tiêu chí cần thiết cho một thực thể trở thành một phương tiện gen hữu hiệu. Nó phải có một lối ra công bằng để đi đến tương lai cho tất cả các gen bên trong nó. Điều này đúng với một cá thể sói. Lối ra này là một dòng nhỏ các tinh trùng hoặc trứng, được hình thành  nên nhờ quá trình giảm phân. Điều này không đúng với một bầy sói. Các gen thu được lợi ích từ việc thấy đẩy một cách vị kỷ sự thịnh vượng của các cơ thể đơn lẻ của chúng với sự thiệt hại của các gen khác trong bầy sói. Một tổ ong, khi nó tách tổ, có vẻ sinh sản bằng cách phân chia nhiều cá thể như một bầy sói. Nhưng nếu chúng ta quan sát cẩn thận hơn, đến tận mức độ liên quan đến các gen, chúng ta sẽ thấy rằng số mệnh của chúng vẫn được chia sẻ một cách rộng rãi. Tương lai của các gen trong một đàn ong tách tổ, ít nhất là ở một diện rộng, được đặt trong các buồng trứng của một con chúa. Điều này giải thích tại sao – đây chỉ là một cách diễn giải khác cảu thông điệp từ các bài trước – một tổ ong lại trông và hoạt động  giống như một phương tiện đơn lẻ thực sự thống nhất.

Trên thực tế, chúng ta thấy rằng cuộc sống ở khắp mọi nơi đều được bao bọc riêng rẽ trong những phương tiện có mục đích đơn lẻ như những con sói hay một tổ ong. Nhưng học thuyết về kiểu hình mở rộng đã cho chúng ta thấy rằng nó không nhất thiết phải là như vậy. Về cơ bản, tất cả những gì mà chúng ta có quyền mong đợi là một chiến trường của các thể tự sao, giành giật, lừa phỉnh và chiến đấu cho một tương lai di truyền sau này. Những vũ khí trong cuộc chiến này là các tác động kiểu hình, ban đầu là những tác động hóa học trực tiếp trong các tế bào nhưng cuối cùng là các đặc điểm ngoại hình (lông và nanh) và thậm chí là các tác động gián tiếp hơn nữa. Điều tình cờ không thể phủ nhận là những tác động kiểu hình này phần lớn được gói ghém vào trong những phương tiện riêng biệt, mỗi phương tiện với các gen của nó được tôi luyện và sắp xếp bởi hình ảnh tượng trưng của một cổ chai hẹp dùng chung cho tinh trùng và trứng, rót chúng vào tương lai. Nhưng đây không phải là thực tế được công nhận. Nó là một thực tế bị đặt dấu hỏi và có quyền bị nghi ngờ. Tại sao các gen lại tập hợp cùng nhau trong các phương tiện lớn, mỗi phương tiện có một lối ra di truyền riêng lẻ? Tại sao các gen lại lựa chọn việc tụ tập lại và tạo ra các cơ thể lớn để bản thân chúng có thể cư ngụ trong đó? Trong cuốn Kiểu hình mở rộng, tôi cố gắng tìm cách giải đáp cho vấn đề khó khăn này. Tôi chỉ phác họa ở đây một phần của câu trả lời – cho dù, có thể mong đợi rằng sau bảy năm, tôi cũng có thể đưa nó đi xa hơn một chút.

Tôi sẽ chia câu hỏi ra làm ba phần. Tại sao các gen lại tụ tập trong các tế bào? Tại sao các tế bào lại tụ tập trong các cơ thể đa bào? Và tại sao các cơ thể áp dụng cái mà tôi gọi là một vòng đời “bị thắt cổ chai”?

Đầu tiên, tại sao các gen lại tụ tập trong các tế bào? Tại sao những thể tự sao cổ xưa lại từ bỏ cuộc sống kị sĩ tự do trong dung dịch nguyên thủy và tập hợp thành đàn trong những chiếc tổ khổng lồ? Tại sao chúng lại hợp tác? Chúng ta có thể thấy một phần câu trả lời bằng cách xem xét việc các phân tử ADN hợp tác với nhau như thế nào trong các nhà máy hóa chất, các tế bào sống. Các phân tử ADN tạo ra protein. Protein hoạt động như những enzym (men) xúc tác cho các phản ứng hóa học cụ thể. Thông thường một phản ứng hóa học đơn lẻ không đủ để tổng hợp nên một sản phẩm cuối cùng hữu ích. Trong nhà máy dược phẩm của con người, việc tổng hợp nên một hóa chất hữu ích cần có một chuỗi các sản phẩm. Hóa chất ban đầu không thể chuyển đổi trực tiếp thành các sản phẩm cuối cùng như mong muốn. Một chuỗi các sản phẩm trung gian phải được tổng hợp theo một trình tự nghiêm ngặt. Rất nhiều các nghiên cứu của các nhà hóa học tài ba tập trung vào việc tìm ra những cơ chế hình thành các chất trung gian giữa các chất ban đầu và các sản phẩm mong muốn cuối cùng. Cũng như vậy, một enzym đơn lẻ trong tế bào sống thường không thể tự nó tổng hợp được một sản phẩm cuối cùng hữu ích từ một cơ chất ban đầu nào đó. Cần có cả một tập hợp các enzym, một enzym xúc tác cho sự chuyển hóa của cơ chất thô thành chất trung gian đầu tiên, một enzym khác để xúc tác cho sự chuyển hóa chất trung gian đầu tiên thành chất trung gian thứ hai, và cứ thế như vậy.

Mỗi enzym này được tạo ra từ một gen. Nếu một cơ chế tổng hợp cụ thể nào đó cần một trình tự có sáu enzym, tất cả sáu gen để tạo ra chúng phải cùng có mặt. Lúc này, nó hoàn toàn có thể có hai cơ chế để lựa chọn việc đi đến cùng một sản phẩm cuối cùng, mỗi cơ chế cần 6 enzym khác nhau và không có gì khác để lựa chọn ngoài hai cơ chế này. Đây là điều xảy ra trong các nhà máy hóa chất. Cơ chế nào được chọn có thể là do biến cố lịch sử hoặc nó có thể là vấn đề được nhà hóa học đưa ra trong các kế hoạch có chủ ý. Tất nhiên, trong hóa học tự nhiên, sự lựa chọn không bao giờ có chủ ý. Thay vào đó, nó sẽ đến thông qua chọn lọc tự nhiên. Nhưng làm thế nào mà chọn lọc tự nhiên có thể thấy rằng hai cơ chế này không trộn lẫn với nhau và các nhóm hợp tác trong các gen tương thích sẽ hiện ra? Cũng hoàn toàn tương tự với cách mà tôi đã gợi ý qua sự tương đồng của các tay chèo người Anh và người Đức. Điều quan trọng là gen quy định một giai đoạn của cơ chế thứ nhất sẽ phát triển thịnh vượng trong sự hiện diện của các gen quy định các giai đoạn khác nhau của cơ chế thứ nhất chứ không phải là sự hiện diện của các gen quy định cơ chế thứ hai. Nếu quần thể đã tình cờ bị thống trị bởi các gen quy định cơ chế thứ nhất, chọn lọc sẽ ưu tiên các gen cho cơ chế thứ nhất và trừng phạt các gen quy định cơ chế thứ hai. Và ngược lại. Điều thú vị là việc nói rằng các gen quy định sáu enzym của cơ chế thứ hai được chọn lọc “như một nhóm” là hoàn toàn sai. Mỗi gen được chọn lọc như một gen vị kỷ riêng biệt nhưng nó chỉ có thể thịnh vượng trong sự có mặt của tập hợp các gen phù hợp khác.

Ngày nay, sự hợp tác giữa các gen tiếp tục phát triển trong các tế bào. Nó chắc hẳn đã bắt đầu giống như sự hợp tác thô sơ giữa các phân tử tự tái bản trong dung dịch nguyên thủy (hoặc bất kỳ môi trường nguyên thủy thời đó). Các thành tế bào có lẽ đã phát sinh như một dụng cụ để giữ các hóa chất hữu ích cùng nhau và ngăn chặn việc chúng bị chảy đi nơi khác. Rất nhiều các phản ứng hóa học bên trong tế bào thực tế đã xảy ra trên bề mặt các màng; mỗi màng hoạt động như một dải phối hợp các băng chuyền và ống nghiệm. Nhưng sự phối hợp của các gen không chỉ giới hạn trong hệ hóa sinh của tế bào. Các tế bào gắn với nhau (hoặc không thể tách rời sau khi phân bào) để hình thành nên các cơ thể đa bào.

Điều này đưa chúng ta đến với câu hỏi thứ hai trong số ba câu hỏi của tôi. Tại sao các tế bào lại tụ tập với nhau; tại sao lại là những con robot chậm chạp? Đây là một câu hỏi khác về sự cộng tác. Nhưng chủ thể đã dịch chuyển từ thế giới của các phân tử đến một phạm vi rộng hơn. Các cơ thể đa bào lớn hơn kích thước hiển vi. Chúng thậm chí có thể trở thành những con voi và cá voi. Là một cá thể to lớn không nhất thiết phải là một điều tốt: hầu hết các sinh vật là vi khuẩn và chỉ một số ít là các con voi. Nhưng khi các cách thức để tạo nên một sự sống ở mức độ sinh vật nhỏ bé đã bị lấp đầy, vẫn còn những cách sống phồn thịnh khác được tạo ra bởi các sinh vật lớn hơn. Ví dụ, các sinh vật lớn có thể ăn các sinh vật nhỏ hơn và có thể tránh khỏi bị ăn thịt bởi các sinh vật nhỏ đó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Sự vươn xa của gen – Phần VII


Nhưng việc cưa đứt đầu chỉ là việc nhỏ. Vật ký sinh không quen với việc sử dụng sức mình nếu chúng có thể ép buộc một kẻ đóng thế. Nhân vật ưa thích của tôi trong tác phẩm Các xã hội côn trùng của Wilson đó là Monomorium santschii. Theo thời gian tiến hóa, loại này đã mất hẳn lớp kiến thợ của nó. Kiến thợ vật chủ làm mọi thứ cho vật ký sinh thậm chí cả những nhiệm vụ kinh khủng nhất trong tất cả các nhiệm vụ. Dưới mệnh lệnh của kiến chúa ký sinh xâm lăng, chúng thực sự thực hiện hành vi giết chết mẹ của chúng. Kẻ cướp ngôi không cần sử dụng hàm của nó. Nó sử dụng quyền kiểm soát trí não. Cách nó thực hiện điều này là một bí mật; có lẽ nó sử dụng một loại hóa chất, vì hệ thần kinh của kiến thông thường rất quen thuộc với chúng. Nếu vũ khí của kẻ cướp ngôi thực sự là hóa chất thì nó cũng sẽ là một loại thuốc phiện âm thầm như bất kỳ loại thuốc nào mà khoa học đã biết. Vì vậy hãy nghĩ đến điều mà nó đã thực hiện. Nó tràn ngập bộ não của những con kiến thợ, giành lấy quyền kiểm soát các cơ của kiến thợ, nài nỉ kiến thợ từ bỏ những nghĩa vụ đã ăn sâu vào tiềm thức và khiến kiến thợ chống lại chính mẹ của nó. Đối với kiến, tội giết mẹ là một hành động điên khùng di truyền đặc biệt và là điều thực sự ghê gớm mà phải có một liều thuốc khiến chúng làm điều đó. Trong thế giới kiểu hình mở rộng, bạn không nên hỏi làm thế nào tập tính của một động vật lại có lợi cho gen của nó mà thay vào đó nên hỏi tập tính đó đang làm lợi cho các gen của động vật nào.

Chúng ta hầu như không ngạc nhiên khi thấy kiến bị các vật ký sinh khai thác, không chỉ bởi những con kiến khác mà còn cả một bầy các chuyên gia theo đóm ăn tàn khác. Kiến thợ quét dòng thức ăn giàu có từ khu vực dẫn nước rộng vào một kho dự trữ trung tâm, nơi là mục tiêu trú ngụ của những kẻ ăn bám. Kiến cũng là các tác nhân bảo vệ tốt: chúng được trang bị tốt và có số lượng đông đảo Những con rệp có thể được xem như đang trả công bằng mật để thuê lính bảo vệ chuyên nghiệp. Một vài loài bướm sống ở trạng thái sâu bướm bên trong tổ kiến. Một vài loài sâu bướm là những kẻ phá hoại thực sự. Một vài loài khác lại trả công gì đấy cho kiến để được bảo vệ. Thông thường, theo nghĩa đen, chúng sở hữu một lượng lớn các phương tiện để điều khiển những ẻ bảo vệ chúng. Con sâu bướm của một loài bướm có tên là Thisbe irenea có một cơ quan tạo âm thanh ở phần đầu của nó để triệu tập những con kiến và một cặp ống máng lồng vào nhau gần phía cuối cơ thể để tiết ra giọt mật đầy hấp dẫn. Trên hai vai của nó có một cặp vòi khác, những cặp vòi này dùng để đưa ra những bùa mê tinh tế hơn. Chất tiết của chúng dường như không phải là thức ăn mà là một chất độc dễ bay hơn có một sự ảnh hưởng mạnh mẽ lên tập tính của những con kiến. Một con kiến đi ngang qua những cái rãnh có chất độc tiếp xúc với không khí. Những chiếc hàm của nó mở rộng và nó trở nên hung hãn, giận dữ hơn lúc tấn công bình thường rất nhiều, nó cắn và đốt bất kể vật thể chuyển động nào. Nhưng rõ ràng là nó không tấn công con sâu bướm đã đầu độc nó. Hơn nữa, một con kiến rơi vào trạng thái bị thống trị bởi một con sâu bướm đã rải chất lỏng thậm chí còn rơi vào trạng thái được gọi là “mù quáng”, trạng thái mà ở đó, nó trở thành không thể tách rời khỏi con sâu bướm của nó trong một quãng thời gian nhiều ngày. Như vậy, cũng giống như một con rệp cây, con sâu bướm cũng thuê những con kiến làm vệ sĩ nhưng nó làm tốt hơn con rệp cây. Trong khi những con rệp cây dựa vào sự hung hãn thông thường của những con kiến để chống lại những kẻ săn mồi thì con sâu bướm lại cung cấp một loại thuốc kích thích sự hung hãn và dường như nó cũng kéo những con kiến vào việc nghiện ngập mù quáng.

Tôi đã chọn những ví dụ có phần thái quá. Nhưng theo những cách thông dụng hơn, tự nhiên cũng chứa đầy những loài động, thực vật có thể điều khiển những cá thể khác của cùng một loài hoặc khác loài. Trong tất cả các trường hợp này, chọn lọc tự nhiên đã ưu tiên các gen quy định việc điều khiển v à cũng hợp lý khi nói rằng những gne này có các tác động (kiểu hình mở rộng) lên cơ thể của sinh vật bị điều khiển. Việc gen ở trong cơ thể nào không phải là vấn đề. Mục tiêu điều khiển của nó có thể là cùng một cơ thể hoặc là một cơ thể khác. Chọn lọc tự nhiên ưu đãi những gen điều khiển thế giới để đảm bảo cho sự phát tán của bản thân chúng. Điều này dẫn đến cái mà tôi gọi là Thuyết trung tâm của Kiểu hình mở rộng: “Một tập tính của động vật có xu hướng tối đa hóa sự sống sót của các gen “quy định” tập tính đó cho dù những gen này có tình cờ ở trong cơ thể của một động vật cụ thể nào đó để thể hiện tập tính đó hay không”. Tôi đang viết trong bối cảnh của tập tính động vật nhưng tất nhiên là học thuyết có thể được áp dụng cho màu sắc, kích thước, hình dạng – cho bất kỳ cái gì.

Cuối cùng cũng đã đến lúc trở lại với vấn đề mà chúng ta đã đưa ra, trở lại với sự mâu thuẫn giữa cá thể sinh vật và gen như những đối thủ cạnh tranh cho vai trò trung tâm của chọn lọc tự nhiên. Trong những bài trước, tôi đã đưa ra giả thuyết rằng điều này không có vấn đề gì vì sự sinh sản ở mức độ cá thể tương đương với sự sống sót của gen. Tôi giả sử rằng bạn có thể nói “sinh vật làm việc để nhân giống tất cả các gen của nó” hoặc “các gen hoạt động để ép một chuỗi các sinh vật nhân giống chúng”. Những điều này dường như là hai cách tương đương để nói về cùng một sự việc và việc bạn chọn dạng câu chữ nào dường như chỉ là vấn đề sở thích. Nhưng dù sao thì sự mâu thuẫn vẫn tồn tại.

Một cách để giải quyết toàn bộ vấn đề này là sử dụng các thuật ngữ “thể tự sao” và “phương tiện”. Những đơn vị cơ bản của chọn lọc tự nhiên, những sự vật cơ bản tồn tại hoặc không thể tồn tại, chúng tạo thành những dòng các bản sao giống hệt nhau với sự đột biến đôi khi xảy ra một cách ngẫu nhiên được gọi là các thể tự sao. Các phân tử ADN là các thể tự sao. Thông thường, chúng tụ tập với nhau trong những cỗ máy sống chung to lớn vì những lý do mà chúng ta sẽ đề cập sau này, được gọi là “những phương tiện”. Những phương tiện mà chúng ta biết rõ nhất là những cơ thể riêng lẻ như chính chúng ta. Vì vậy, một cơ thể không phải là một thể tự sao; nó là một phương tiện. Tôi phải nhấn mạnh điều này vì điều này đã và đang bị hiểu sai. Các phương tiện không tự sao chép bản thân chúng; chúng hoạt động để nhân giống các thể  tự sao của chúng. Các thể tự sao không hành động, không nhận thức được thế giới, không bắt mồi và chạy trốn khỏi vật ăn thịt; chúng tạo ra các phương tiện để làm tất cả những việc này. Vì nhiều mục đích, các nhà sinh học thấy thuận tiện hơn cho họ trong việc tập trung vào mức độ phương tiện. Vì những mục đích khác, họ cũng thấy thuận tiện hơn nếu tập trung vào mức độ thể tự sao. Gen và các cá thể sinh vật không phải là những đối thủ cạnh tranh cho cùng một vai chính trong vở kịch của Darwin. Chúng được phân các vai khác nhau, các vai bổ sung và trong nhiều khía cạnh, có mức độ quan trọng tương đương nhau, đó là vai của thể tự sao và vai của phương tiện.

Thuật ngữ thể tự sao/phương tiện sẽ có ích trong nhiều phương diện khác nhau. Ví dụ nó loại bỏ sự tranh cãi mệt mỏi về vấn đề chọn lọc tự nhiên hoạt động ở mức độ nào. Nhìn bề  ngoài, dường như có vẻ logic khi đặt “chọn lọc cá thể” vào một nấc thang của các mức độ chọn lọc, nằm giữa “chọn lọc gen” được ủng hộ và “chọn lọc nhóm” bị chỉ trích. “Chọn lọc cá thể” dường như hơi mơ hồ khi đứng giữa hai sự chọn lọc trên và nhiều nhà sinh học và triết học đã và đang bị quyến rũ vào con đường dễ dàng này và coi nó như vậy. Nhưng giờ đây, chúng ta sẽ thấy rằng nó không hoàn toàn như vậy. Chúng ta có thể thấy rằng sinh vật và nhóm các sinh vật là những đối thủ thực sự cho vai phương tiện trong câu chuyện kể trên nhưng không kẻ nào trong số chúng được coi là ứng viên cho vai thể tự sao. Sự tranh cãi giữa “chọn lọc cá thể” và “chọn lọc nhóm” thực sự là một sự tranh cãi giữa các phương tiện khác nhau. Sự tranh cãi giữa chọn lọc cá thể và chọn lọc gen không hoàn toàn là một sự tranh cãi, vì gen và cá thể là những ứng viên cho các vai khác nhau, bổ sung cho nhau trong kịch bản, chúng là thể tự sao và phương tiện.

Sự đối đầu giữa cá thể sinh vật và nhóm sinh vật cho vai phương tiện là một cuộc đối đầu thực sự, có thể được giải quyết. Theo quan điểm của tôi, kết quả là chiến thắng nhất định thuộc về cá thể sinh vật. Nhóm là một thực thể quá yếu ớt. Một đàn hươu, một bầy sư tử hay một bầy sói có một sự kết dính thô sơ và sự đồng nhất về mục đích. Nhưng điều này không đáng kể so với sự kết dính và sự đồng nhất mục đích trong cơ thể của một cá thể sư tử, chó sói hay hươu. Sự thực này hiện nay đã được chấp nhận rộng rãi, nhưng tại sao nó lại đúng? Một lần nữa, các kiểu hình mở rộng và các thể ký sinh có thể giúp chúng ta.

Chúng ta đã thấy rằng khi các gen của một thể ký sinh hoạt động cùng nhau nhưng là để chống lại các gen của vật chủ (những gen cũng hoạt động cùng với nhau), điều này là do hai bộ gen có những phương pháp khác nhau để rời khỏi phương tiện chung, cơ thể của vật chủ. Các gen của ốc rời khỏi phương tiện chung thông qua các tinh trùng và trứng ốc. Bởi vì tất cả các gen ốc có một phần tương đương trong mọi tinh trùng và trứng, bởi vì chúng đều tham gia vào quá trình giảm phân không thiên vị, chúng hoạt động cùng nhau vì một điều tốt chung và do vậy chúng có xu hướng làm cho cơ thể ốc là một phương tiện kết dính có mục đích. Lý do thực sự về việc tại sao một con sán lá lại hoàn toàn tách rời khỏi vật chủ của nó, lý do tại sao nó không hòa nhập mục đích và sự đồng nhất của nó với mục đích và sự đồng nhất của vật chủ là vì gen của sán lá không có cùng phương thức rời bỏ phương tiện chung với các gen của ốc và không chia sẻ sự may rủi trong giảm phân của ốc – chúng có sự may rủi của riêng mình. Vì vậy, đến và chỉ đến mức độ đó, hai phương tiện này luôn tách biệt nhau là một con ốc và một con sán lá hoàn toàn riêng biệt bên trong con ốc đó. Nếu các gen của sán lá được truyền qua các trứng và tinh trùng của ốc, cả hai cơ thể sẽ tiến hóa thành một thân xác. Chúng ta thậm chí có lẽ không phân biệt được rằng đã có hai phương tiện tồn tại.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Chiến tranh và hòa bình – Phần cuối


Lý thuyết trò chơi bắt đầu hình thành và được áp dụng từ những ngày đầu của Thế chiến thứ hai, khi các lực lượng hải quân Anh chơi trò mèo vờn chuột với các tàu chiến ngầm của phát xít Đức và họ muốn nắm rõ hơn về trò chơi để có thể thắng được nhiều hơn. Họ đã khám phá ra rằng những bước đi đúng hóa ra lại không phải là những gì các hoa tiêu và thuyền trưởng vẫn làm dựa vào trực giác của mình. Bằng cách áp dụng những khái niệm mà về sau được biết đến như lý thuyết trò chơi, người Anh đã có thể cải thiện thành tích bắn trúng đích của mình lên đáng kể. Thắng lợi đối với các tàu ngầm của địch đã cho phép họ tiếp tục áp dụng lý thuyết trò chơi vào các hoạt động khác trong chiến tranh. Như vậy, có thể nói lý thuyết trò chơi đã chứng tỏ được mình trong những tình huống sống còn trên thực tế trước khi nó được viết ra giấy và trở thành một lý thuyết mang tính hệ thống.

Cách phát biểu lý thuyết cổ điển ra đời muộn hơn một chút, vào năm 1944, khi nhà toán học thiên tài John von Neumann và nhà kinh tế Oscar Morgenstern xuất bản cuốn sách của họ mang tựa đề Lý thuyết trò chơi và hành vi kinh tế. Công trình khoa học này rất xuất sắc và ngay lập tức được tiên đoán sẽ trở thành một trong những thành tựu khoa học vĩ đại nhất của thế kỷ. Nó dẫn đến một số lượng lớn các công trình kỹ thuật được viết ra trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, chiến lược quân sự, luật, công nghệ thông tin và thậm chí cả sinh học. Trong mỗi lĩnh vực kể trên, lý thuyết trò chơi lại đưa ra những khám phá quan trọng. Ngày nay, lý thuyết trò chơi đã chuyển sang cả lĩnh vực chiến lược kinh doanh.

Lý thuyết trò chơi giúp chúng ta có thể bước ra bên ngoài những ý tưởng giản đơn về cạnh tranh và hợp tác để đạt đến tầm nhìn của cạnh tranh – hợp tác – một tầm nhìn phù hợp hơn với các cơ hội trong thời đại của chúng ta. Đối với nhiều người, đây có thể là điều mới lạ. Hình ảnh mà lý thuyết trò chơi thường gợi ra trước hết chính là kinh doanh như một cuộc chiến. Đó là điều mà người ta suy ngẫm kể từ khi lĩnh vực này ra đời trong Thế chiến thứ hai và lớn mạnh trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh. Tâm lý là phải có người thắng và kẻ bại – trong một trò chơi mà tổng lợi ích bằng 0, thậm chí một xã hội bằng 0. Tuy nhiên, đó mới chỉ là một nửa vấn đề. Lý thuyết trò chơi đương đại còn được áp dụng vào các trò chơi có tổng lợi ích lớn hơn không – hay còn gọi là trò chơi cùng thắng. Giá trị thực của lý thuyết trò chơi đối với kinh doanh sẽ có được khi toàn bộ lý thuyết này được đặt vào trong thực tiễn; khi nó được áp dụng vào trong sự tương tác lẫn nhau giữa cạnh tranh và hợp tác.

Vậy đâu là những đặc tính căn bản, cốt yếu của lý thuyết trò chơi khi áp dụng vào kinh doanh? Đâu là những điểm ưu việt? Lý thuyết trò chơi có gì khác so với phần lớn các công cụ quản lý khác.

Lý thuyết trò chơi mang lại điều gì?

Lý thuyết trò chơi tập trung vào vấn đề gây nhiều áp lực nhất, đó là xây dựng các chiến lược đúng đắn và ra các quyết định đúng đắn. Có rất nhiều cuốn sách giá trị đề cập việc làm thế nào tạo được một môi trường quản lý để có thể đưa ra những quyết định đúng. Cũng có rất nhiều cuốn sách giá trị hướng dẫn cách làm thế nào để xây dựng các tổ chức một cách hiệu quả nhằm thực hiện các quyết định đã đưa ra. Tuy nhiên, vẫn còn cần phải có thêm những chỉ dẫn để nhận biết đâu là chiến lược đúng đắn để bắt đầu. Và đó chính là điều mà lý thuyết trò chơi mang lại. Nó đi thẳng vào điểm mấu chốt của vấn đề, chỉ cho bạn biết những gì cần phải làm trước hết trên quan điểm về chiến lược.

Lý thuyết trò chơi đặc biệt hiệu quả trong trường hợp có nhiều yếu tố liên hệ tương tác qua lại lẫn nhau và không một quyết định nào có thể được đưa ra một cách hoàn toàn độc lập với các quyết định khác. Kinh doanh ngày nay diễn ra trong một thế giới đầy những phức tạp khôn lường. Có những yếu tố mà bạn không hề nghĩ tới thực ra lại có thể quyết định sự thành bại của bạn. Thậm chí ngay cả khi bạn nhận biết được tất cả các yếu tố liên quan thì bất kỳ điều gì làm thay đổi một trong số đó đều có nhiều khả năng gây ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác nữa. Giữa tất cả những hỗn tạp như vậy, lý thuyết trò chơi tách mỗi cuộc chơi ra thành các phần chủ yếu. Nó giúp bạn thấy được điều gì đang xảy ra và cần phải hành động như thế nào vào khi đó.

Lý thuyết trò chơi là một công cụ đặc biệt giá trị để cùng chia sẻ với các đồng nghiệp trong cùng tổ chức của bạn. Các nguyên tắc rõ ràng, minh bạch của lý thuyết trò chơi giúp bạn dễ dàng giải thích các nguyên nhân cho mỗi chiến lược được đề xuất. Nó trao cho bạn và các đồng nghiệp của bạn một tiếng nói chung khi thảo luận về những khả năng thay thế. Bằng cách đặt người khác vào quá trình mà bạn đã sử dụng để đạt đến các quyết định chiến lược, lý thuyết trò chơi giúp tạo dựng và bảo đảm sự nhất trí trong toàn tổ chức.

Các kỹ thuật về chia sẻ tư duy chiến lược ngày càng cần phải có ở mọi tầng bậc trong hoạt động kinh doanh. Việc ra quyết định càng ngày càng trở nên phức tạp và phân tán hơn. Những đổi thay nhanh chóng của thị trường và công nghệ đòi hỏi phải nhanh chóng những thông tin chiến lược phản hồi. Từ đó có thể thấy số người được lợi khi áp dụng lý thuyết trò chơi ngày càng tăng lên theo thời gian.

Lý thuyết trò chơi là cách tiếp cận cần tiếp tục được mở rộng và nâng cao hơn nữa. Nó không phải là một đơn thuốc cụ thể phù hợp cho một thời điểm cụ thể trong quá trình kinh doanh. Nó cũng sẽ không vô hiệu ngay lập tức khi các điều kiện môi trường xung quanh thay đổi. Lý thuyết trò chơi là cách suy nghĩ có thể tồn tại trong tất cả các môi trường kinh doanh đang biến đổi không ngừng.

Trong nhiều trường hợp, lý thuyết trò chơi gợi ra những phương án lựa chọn mà nếu không có lý thuyết đó thì những phương án đó không bao giờ được xem xét đến một cách cẩn thận. Đây là hệ quả của sự tiếp cận có hệ thống trong lý thuyết trò chơi. Bằng cách trình bày một bức tranh hoàn chỉnh hơn cho mỗi bối cảnh kinh doanh, lý thuyết trò chơi giúp nhìn thấy những khía cạnh của tình huống mà cách khác có thể đã bị bỏ qua. Chính trong những khía cạnh dễ bị sao nhãng này mà một số những cơ hội tốt nhất có thể được phát hiện ra.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: A.M. Brandenburger & B.J. Nalebuff – Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh – NXB DT 2015.

Chiến tranh và hòa bình – Phần đầu


Thương trường là chiến trường” – đó là câu cửa miệng của những người kinh doanh. Trong cạnh tranh cần tỏ ra khôn ngoan hơn đối thủ, giành giật quyết liệt thị phần, khuếch trương thương hiệu hàng hóa, khống chế nhà cung cấp, khóa chặt khách hàng. Theo quan điểm đó, sẽ luôn luôn có người thắng và kẻ bại trong kinh doanh. Cách nhìn về một kết cục thắng – bại được Gore Vidal viết như sau: “Chỉ thành công thôi chưa đủ. Phải làm sao cho kẻ khác thất bại nữa”.

Tuy nhiên, căn cứ theo những gì người ta hay nói về kinh doanh ngày nay, bạn sẽ không thể tiếp tục nghĩ theo kiểu như vậy. Bạn cần phải lắng nghe khách hàng, hợp tác với các nhà cung cấp, lập ra các nhóm mua hàng và xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược (thậm chí cả với các đối thủ cạnh tranh). Và tất cả những điều đó không hề giống như trong một cuộc chiến. Hoặc nếu không, cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành giống như một cuộc chiến. Hậu quả thường thấy sau các cuộc cạnh tranh về giá là sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp nơi. Hãy thử nhìn vào ngành công nghiệp hàng không của Mỹ: Thiệt hại trong những cuộc chiến tranh giá cả các năm 1990 – 1993 còn nặng nề hơn tổng thiệt hại mà ngành này phải gánh chịu trong suốt thời Orville và Wilbur.

Bernard Baruch – nhà tài phiệt ngân hàng tiêu biểu nhất của thế kỷ XX – đã phản đối Gore Vidal bằng những lời như sau: “Không cần phải thổi tắt ánh sáng của người khác để mình được tỏa sáng”. Và mặc dù không nổi danh bằng Gore Vidal, song Baruch đã kiếm được nhiều tiền hơn đáng kể. Vì vậy, chúng ta sẽ thiên về lời khuyên của Baruch nhiều hơn.

Thực tế là hầu hết các doanh nghiệp chỉ thành công khi những người khác thành công. Nhu cầu đối với các mạch vi xử lý (chip) của Intel chỉ tăng lên khi Microsoft tạo ra được những phần mềm mạnh hơn. Ngược lại, các phần mềm của Microsoft trở nên có giá hơn khi Intel sản xuất ra được những vi mạch có khả năng xử lý nhanh hơn. Rõ ràng đó là sự thành công cho cả đôi bên nhiều hơn là sự cạnh tranh để làm hại lẫn nhau. Tình huống này được gọi là cùng thắng. Chiến tranh lạnh đã kết thúc và kết thúc cùng với nó là những giả định cũ về cạnh tranh. Vậy thì: “Liệu có phải kinh doanh bây giờ là hòa bình?”. Điều này trên thực tế cũng không hoàn toàn đúng. Chúng ta vẫn tiếp tục chứng kiến những xung đột với đối thủ kinh doanh để giành thị phần, với nhà cung cấp để giảm chi phí và với khách hàng để tăng giá. Từ ví dụ trên, thành công của Intel (chip) và Microsoft (phần mềm) không hẳn đã giúp cho các hãng máy tính phát triển, như trong trường hợp của Apple Computer. Kinh doanh không phải là chiến tranh và cũng không phải là hòa bình. Vậy thì nó là gì?

Một hệ tư tưởng mới

Kinh doanh là sự hợp tác khi cần tạo ra chiếc bánh nhưng sẽ là cạnh tranh khi đến lúc chia phần chiếc bánh đó. Nói cách khác, kinh doanh là chiến tranh hòa bình. Nhưng đây không phải là tác phẩm của Tolstoy với những vòng xoáy chiến tranh dường như không có điểm kết thúc. Chúng tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng đây đồng thời là cả chiến tranh lẫn hòa bình. Nói như Ray Noorda – người sáng lập Công ty Phần mềm nối kết mạng Novell – “bạn phải cùng một lúc vừa cạnh tranh, vừa hợp tác”. Thực tế, sự kết hợp  của cả hai yếu tố này cho thấy một mối quan hệ năng động hơn hẳn so với nội dung mà mỗi từ cạnh tranhhợp tác riêng rẽ mang lại.

Đâu là những chỉ dẫn cho sự cạnh tranh-hợp tác? Không phải là các bí quyết lãnh đạo của Attila – Vua bộ tộc Hun, cũng không phải của St. Francis hay của Assissi. Chúng ta vẫn có thể cạnh tranh mà không cần giết chết đối thủ của mình. Nếu như việc đánh nhau làm hỏng chiếc bánh thì bạn cũng sẽ chẳng còn gì để chiếm lấy nữa. Đó sẽ là tình huống cùng thua. Cũng như vậy, có thể hợp tác mà không nhất thiết phải quên đi những lợi ích của riêng mình. Dù sao đi nữa, nếu cố tạo ra chiếc bánh mà không chiếm được phần nào trong đó thì đó không phải là giải pháp thông minh. Tình huống này sẽ là thua-thắng.

Mục đích của bạn là luôn mang lại những điều có lợi cho bản thân. Đôi khi đó là sự trả giá của người khác, nhưng có khi không phải như vậy. Ở đây, chúng ta sẽ thảo luận về kinh doanh như một cuộc chơi (nhưng không giống như chơi thể thao, chơi bài hay chơi cờ, khi mà luôn phải có người thắng – kẻ thua); trong kinh doanh, thành công của bạn không nhất thiết đòi hỏi phải có những người thua cuộc. Đây có thể là cuộc chơi với nhiều người cùng thắng. Với tinh thần cạnh tranh, chúng ta sẽ đưa ra một số trường hợp mà trong đó thắng-thua là cách tiếp cận có hiệu quả, còn những trường hợp khác thì cùng thắng mới là cách tiếp cận đúng đắn. Chúng ta sẽ xem xét những tình huống, trong đó để đánh bại đối thủ của mình là giải pháp tốt nhưng cũng sẽ xem xét cả những tình huống mà kế hoạch tốt nhất lại là làm lợi cho tất cả các bên trong cuộc chơi, kể cả đối thủ cạnh tranh.

Đưa cạnh tranh hợp tác vào thực tiễn đòi hỏi phải có sự suy ngẫm kỹ lưỡng. Chỉ cảm nhận được khả năng hợp tác và các chiến lược cùng thắng thôi sẽ chưa đủ. Sẽ còn cần phải có một khuôn khổ để suy xét các hậu quả về mặt tiền bạc của hợp táccạnh tranh nữa.

Lý thuyết trò chơi

Chúng ta quay sang nghiên cứu lý thuyết trò chơi để tìm cách đưa cạnh tranh và hợp tác lại gần nhau hơn. Có thể nói lý thuyết trò chơi có khả năng làm chuyển biến hoàn toàn cách suy nghĩ của mọi người về kinh doanh từ trước tới nay. Đó là do các ý tưởng nền tảng của lý thuyết trò chơi rất vững chắc và cũng bởi vì kinh doanh tạo ra rất nhiều cơ hội để áp dụng chúng vào thực tiễn.

Càng ngày người ta càng công nhận rằng lý thuyết trò chơi là một công cụ tối cần thiết để có thể hiểu được thế giới kinh doanh hiện đại. Năm 1994, ba nhà tiên phong về lý thuyết trò chơi là John Nash, John Harsanyi và Reihart Selten đã được nhận giải Nobel. Đồng thời, Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ cũng đã áp dụng lý thuyết trò chơi để thiết kế một cuộc bán đấu giá hệ thống tần số cho các dịch vụ truyền thông cá nhân với trị giá 7 tỷ USD (đương nhiên là những người tham gia đấu giá cũng sử dụng lý thuyết trò chơi). Thậm chí các công ty tư vấn quản lý hàng đầu cũng đang bắt đầu đưa lý thuyết trò chơi vào thực tiễn chiến lược của mình.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: A.M. Brandenburger & B.J. Nalebuff – Lý thuyết trò chơi trong kinh doanh – NXB DT 2015.

Sự vươn xa của gen – Phần VI


Hành động há chiếc miệng đỏ của con chim cu cu đang rúc mình lôi cuốn đến mức chẳng hiếm cơ hội để các nhà điểu học quan sát thấy một con chim đang bón thức ăn vào miệng của một con cu cu nhỏ trong tổ của con chim khác nào đó! Một chú chim có thể đang bay về nhà, mang theo thức ăn cho con của chính nó. Bỗng nhiên, từ một góc nào đó của mắt mình, nó thấy cái miệng đỏ đang há rất lớn của con chim cu cu non đang nằm trong tổ của một con chim thuộc một loài hoàn toàn khác. Nó chuyển hướng bay tới tổ của kẻ xa lạ, nơi mà nó có thể thả vào cái miệng há hốc của con chim cu cu thức ăn mà nó định dùng để bón cho con non của nó. Lý thuyết “không thể cưỡng lại” phù hợp với những quan sát của các nhà điểu học người Đức trước đây, những người đã đề cập tới việc bố mẹ nuôi đang hành động như “những kẻ nghiện ngập” và xem những chim cu cu non như “tật xấu” của chúng. Sẽ chỉ công bằng khi nói thêm rằng loại ngôn ngữ như thế này sẽ ít được thấy ở một số nhà thực nghiệm hiện đại. Nhưng, chắc chắn là nếu chúng ta thực sự giả định rằng cái há miệng của chim cu cu là chất siêu kích thích giống như liều thuốc phiện có tác động mạnh thì chúng ta sẽ thấy dễ dàng hơn khi giải thích điều đang xảy ra. Chúng ta cũng sẽ cảm thấy dễ dàng thông cảm với tập tính của những con chim bố mẹ nhỏ bé, những kẻ đứng trên lưng những đứa con to lớn dị thường của mình. Chúng không hẳn là ngu ngốc. “Ngốc nghếch” là từ dùng không đúng. Hệ thần kinh của nó đang bị kiểm soát, không thể cưỡng lại được như thể nó sẽ là một con nghiện vô phương cứu chữa hoặc như thể chim cu cu là một nhà khoa học đang cắm các điện cực vào não bộ của nó.

Nhưng cho dù lúc này chúng ta cảm thấy thông cảm hơn đối với những bố mẹ nuôi bị thao túng, chúng ta vẫn có thể đặt câu hỏi tại sao chọn lọc tự nhiên đã cho phép chim cu cu phát triển phương thức này. Tại sao hệ thần kinh của vật chủ không phát triển khả năng kháng lại với liều thuốc há chiếc miệng đỏ đó? Có thể chọn lọc vẫn chưa có đủ thời gian để thực hiện công việc của mình. Có lẽ chim cu cu chỉ mới bắt đầu ký sinh vật chủ hiện tại của chúng trong những thế kỷ gần đây và sẽ bị buộc phải từ bỏ những vật chủ này để đi tìm vật chủ khác trong một vài thế kỷ tới. Có một vài bằng chứng ủng hộ lý thuyết này nhưng tôi không thể không cảm thấy rằng cần phải có nhiều bằng chứng hơn nữa cho dự đoán này.

Trong cuộc “chạy đua vũ trang” mang tính tiến hóa giữa chim cu cu và bất kỳ vật chủ nào, chúng ta thấy sẽ có một kiểu bất công nội tại bắt nguồn từ việc các chi phí của sự thất bại là không giống nhau. Mỗi cá thể chim cu cu non có nguồn gốc từ một dòng chim cu cu tổ tiên xa xôi lâu đời, mỗi một con trong số chúng chắc chắn đã thành công trong việc thao túng bố mẹ nuôi của nó. Nếu bất kỳ con chim cu cu non nào mất quyền kiểm soát, thậm chí chỉ phút giây, đối với vật chủ của nó thì kết quả là nó sẽ chết. Nhưng mỗi cá thể bố mẹ nuôi lại có nguồn gốc từ dòng tổ tiên mà nhiều con trong số chúng chưa từng đối mặt với một con chim cu cu nào trong đời sống của chúng. Những cá thể đã bắt gặp chim cu cu trong tổ của chúng có thể đã thua con chim cu cu đó và vẫn có thể sống để nuôi dạy một lứa chim khác ở mùa sau. Điểm chính ở đây là có sự bất đối xứng trong chi phí của sự thất bại. Các gen quy định sự thất bại trong việc chống lại sự xâm lăng của chim cu cu có thể dễ dàng truyền qua thế hệ sau của những con chim chích bờ giậu hoặc thế hệ sau của chim cổ đỏ. Gen quy định sự thất bại trong việc nô lệ hóa bố mẹ nuôi không thể truyền cho các thế hệ sau của chim cu cu. Đó là điều mà tôi muốn nói về “sự bất công nội tại”, và về “tính bất đối xứng trong chi phí thất bại”. Quan điểm này cũng được tổng kết trong truyện ngụ ngôn của Aesop: “Thỏ chạy nhanh hơn cáo, bởi vì thỏ đang chạy vì mạng sống của mình trong khi cáo chỉ chạy vì bữa tối của nó mà thôi”. Đồng nghiệp của tôi, John Krebs và tôi đã đặt tên cho quan điểm này là “nguyên tắc sự sống/bữa tối”.

Do nguyên tắc sự sống/bữa tối, động vật ở các thời điểm có thể hành động theo những cách không hẳn là vì lợi ích cao nhất của nó mà do bị thao túng bởi một động vật nào đó. Thực tế, theo khía cạnh mà chúng đang tiến hành theo lợi ích cao nhất của chính mình: toàn bộ quan điểm của nguyên tắc sự sống/bữa tối là về mặt lý thuyết, chúng có thể kháng lại sự thao túng nhưng chúng sẽ phải trả giá đắt cho hành động đó. Có lẽ để kháng lại sự thao túng của chim cu cu, bạn cần có những cặp mắt to hơn hoặc một bộ não lớn hơn và điều này đòi hỏi những chi phí quá mức. Những đối thủ cạnh tranh có khuynh hướng di truyền chống lại sự thao túng sẽ thực sự kém thành công hơn trong việc truyền gen, do những thiệt hại kinh tế từ việc chống lại đó.

Nhưng một lần nữa chúng ta đã quay trở lại xem xét sự sống theo qun điểm của cá thể sinh vật chứ không phải các gen của nó. Khi chúng ta nói về sán lá và ốc, bản thân chúng ta đã quen với ý kiến cho rằng các gen của vật ký sinh có tác động kiểu hình đối với cơ thể vật chủ theo cùng một cách với bất kỳ gen động vật nào có tác động kiểu hình lên chính cơ thể của động vật đó. Chúng ta đã chỉ ra rằng ý tưởng một cơ thể “chủ” là một giả định đầy hàm ý. Ở một khía cạnh, tất cả các gen trong một cơ thể đều là các gen “ký sinh” cho dù chúng ta có thích gọi chúng là gen của “chính” cơ thể hay không. Chim cu cu đã xuất hiện trong thảo luận này với vai trò là một ví dụ của các vật ký sinh không sống bên trong cơ thể vật chủ. Chúng thao túng vật chủ của mình theo cùng một cách như các vật ký sinh bên trong thực hiện và sự thao túng, như bây giờ chúng ta đã thấy, có thể là mạnh mẽ và không thể chống lại giống như bất kỳ một lại thuốc hoặc hoóc môn bên trong nào. Cũng như các trường hợp vật ký sinh bên trong, hiện giờ chúng ta nên sửa đổi toàn bộ vấn đề theo các gen và kiểu hình mở rộng.

Trong cuộc chạy đua vũ trang tiến hóa giữa chim cu cu và vật chủ, những tiến bộ ở mỗi bên thể hiện ở dạng các đột biến di truyền phát sinh và được chọn lọc tự nhiên ưu đãi. Bất kể cái há miệng của chim cu cu, hoạt động giống như một liều thuốc phiện đối với hệ thần kinh của vật chủ, là gì đi chăng nữa thì điều đó cũng phải có nguồn gốc từ đột biến di truyền. Đột biến này hoạt động thông qua ảnh hưởng của nó lên, chẳng hạn, màu và hình dạng của cái há miệng ở chim cu cu non. Nhưng thậm chí các ảnh hưởng đấy cũng không phải là các tác động tức thì của nó. Tác động tức thì của nó phụ thuộc vào các quá trình hóa học không nhìn thấy được xảy ra bên trong các tế bào. Bản thân các ảnh hưởng của gen lên màu và hình dạng của sự há miệng là gián tiếp. Và bây giờ mới là vấn đề chính. Tác động của các gen giống nhau ở chim cu cu lên tập tính của vật chủ bị thao túng chỉ là ít gián tiếp hơn một chút. Cũng giống hệt như khi chúng ta có thể nói về các gen của chim cu cu có tác động (kiểu hình) lên màu và hình dạng của cái há miệng, thì chúng ta có thể nói rằng các gen của chim cu cu đang thực hiện tác động (kiểu hình mở rộng) lên tập tính của vật chủ. Các gen ký sinh có thể có ảnh hưởng đối với cơ thể vật chủ không chỉ khi vật ký sinh sống trong vật chủ nơi mà nó có thể thao túng bằng phương pháp tiết hóa chất trực tiếp mà còn ngay cả khi vật ký sinh hoàn toàn tách biệt với vật chủ và điều khiển vật chủ từ khoảng cách xa. Thực tế, như chúng ta sẽ thấy, các ảnh hưởng hóa học thậm chí có thể tác động ở bên ngoài cơ thể.

Chim cu cu là sinh vật đáng chú ý và có nhiều điều cần nghiên cứu. Nhưng hầu hết bất kể một kỳ quan nào trong số động vật có xương sống đều có thể bị côn trùng qua mặt. Côn trùng có lợi thế là chúng rất đông, đồng nghiệp của tôi, Robert May, đã quan sát thấy “ở mức độ ước lượng tương đối chính xác tất cả các loài đều là côn trùng”. Côn trùng “cu cu” không tuân theo bản danh sách này; số lượng của chúng quá lớn và tập tính của chúng thường xuyên được tái khám phá. Một vài ví dụ mà chúng ta sẽ xem xét đã đi quá xa với chủ nghĩa cu cu quen thuộc để hoàn thiện sự kỳ diệu hoang dã nhất, những điều tạo nguồn cảm hứng cho cuốn Kiểu hình mở rộng.

Một con chim cu cu đẻ trứng của nó và biến mất. Một vài con kiến cái cu cu xuất hiện theo phong cách kỳ diệu hơn. Tôi không thường đưa ra các tên Latin của động vật, nhưng loài Bothriomyrmex regicidus B. decapitans sẽ xuất hiện trong câu chuyện này. Hai loài này là hai loài ký sinh trên các loài kiến khác. Tất nhiên, trong mọi loài kiến, những con non thường được nuôi bởi không phải bố mẹ chúng mà là kiến thợ, vì vậy kiến thợ là côn trùng bị lừa dối hoặc thao túng bởi bất kỳ một con côn-trùng-sẽ-là-cu-cu nào. Bước hữu ích đầu tiên là phải loại bỏ mẹ của chính những con kiến thợ, con kiến mẹ có thiên hướng sản sinh ra những giống cạnh tranh. Ở cả hai loài đó, một mình kiến chúa ký sinh lẻ vào trong tổ của loài kiến khác. Nó tìm bằng được kiến chúa vật chủ, lặng lẽ leo lên lưng con kiến chúa đó, tôi muốn trích dẫn những dòng miêu tả rùng rợn đầy nghệ thuật của Edward Wilson “Một hành động mà kiến chúa ký sinh được đặc biệt chuyên hóa: chậm rãi cắt đầu nạn nhân của nó”. Kẻ giết người sau đó được nuôi dưỡng bởi những con kiến thợ mồ côi, chúng chăm sóc trứng và ấu trùng của kẻ giết người mà không nghi ngờ gì. Một vài trứng được nuôi dưỡng trở thành kiến thợ, và những con kiến thợ này dần dần thay thế những loài ban đầu trong tổ. Những trứng khác trở thành kiến chúa, bay đi tìm kiếm những con kiến chúa vật chủ mới chưa bị giết chết.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.