Quy tắc Porter


Ngăn chặn hoàn toàn cạnh tranh là một trong những con đường hữu ích nhất, tức là phải ngăn chặn chiến tranh phát sinh ngay từ đầu, phải làm được điểm này thì tất sẽ có sự định vị đặc biệt cho sản phẩm của mình. Khi mà kiểu định vị này bao gồm luôn quyết sách chiến lược, thì khả năng cũng có sức mạnh lâu bền. Trên phần chiến lược, quyết sách sẽ giống như lối rẽ, bạn chọn lựa một con đường, điều đó có nghĩa là bạn không thể đồng thời chọn một con đường khác. Công ty Enterprise Rent-A-Car (chuyên cho thuê xe ô tô) của Mỹ đã cung cấp một thí dụ đơn giản về việc họ đã làm việc như thế nào. Đi vào bất kỳ một khu vực để xe cho thuê có quy mô tương đối lớn của Mỹ, chắc rằng bạn có thể trông thấy quầy để xe cho thuê của công ty Eves, công ty Her, cũng có thể trông thấy rất nhiều quầy cho thuê xe của các công ty nhỏ khác. Thế nhưng bạn lại không nhìn thấy quầy xe của công ty Enterprise Rent-A-Car, công ty này luôn có các đối thủ cạnh tranh danh tiếng hơn, nhưng họ vẫn đạt được lợi nhuận cao hơn, cho dù tiền thuê xe của họ thấp hơn của đối thủ khoảng 30%. Làm thế nào để giải thích sự bất đồng này? Tại sao công ty Eves, công ty Her không làm như Enterprise Rent-A-Car? Nếu dùng một câu để trả lời, thì đó là quyết sách của họ không giống.

So với sự định vị của Eves và Her là khách của họ là khách du lịch, thì sự khác biệt của Enterprise là đối tượng của họ là những người chưa mua ô tô riêng. Đối với những khách hàng như thế, nếu cần phải tự chi tiền thuê thì giá cả là một nhân tố quan trọng phải suy tính, hơn nữa họ chắc chắn còn phải suy xét đến việc công ty bảo hiểm có xử lý bồi thường cho không. Vì thế, Enterprise đã có ý thức cắt giảm các loại giá thành có khả năng tăng thêm và những khoản mà khách hàng không muốn chi phí. Giả dụ, hỏ mở các quầy hàng của họ ở các khu ngoại ô vì giá cho thuê rẻ, mà không mở ở các khu để xe có giá cho thuê đắt tiền. Họ còn kéo dài thời hạn dịch vụ cho thuê hơn các đối thủ cạnh tranh, cũng rất ít khi làm quảng cáo, bởi vì khách hàng của họ phần lớn là do các nhân viên ở công ty bảo hiểm và các cửa hàng sửa chữa ô tô giới thiệu đến.

Những biểu hiện không hề tầm thường của công ty Enterprise là kết quả của sự trải qua nhiều lựa chọn khác nhau. Cho dù khách hàng của họ trả tiền thấp hơn, nhưng những khoản chi phí tiết kiệm của họ nhiều hơn gấp nhiều lần sự thiệt thòi của việc thu phí thấp. Eves và Her tuy trên lý thuyết có thể bắt chước cách làm của Enterprise, thế nhưng, họ làm như vậy sẽ rất có thể ảnh hưởng đến việc tạo ra giá cả vì mục tiêu của khách hàng.

Công ty máy tính Dell lại cung cấp một ví dụ khác rất hay, đó là định ra những quyết sách khiến các đối thủ cạnh tranh rất khó bắt chước. Các quyết sách định vị của công ty máy tính Dell trong gần 10 năm biểu hiện bất phàm, dù vào lúc các công ty máy tính khác đang xuất hiện sự tổn hại, họ vẫn có thể kiếm tiền. Mô hình bán máy trực tiếp của công ty máy tính Dell cuối cùng cũng mở rộng khắp trong lĩnh vực máy tính, thế nhưng, tại sao đối thủ cạnh tranh của công ty máy tính Dell lại không có phản ứng nhanh hơn? Tại sao các hãng chế tạo máy tính khác lại có thể để cho công ty Dell chiếm cứ thị phần, thị trường nhiều đến như vậy trong một thời gian dài?

Câu trả lời đơn giản cho những gì thuật lại ở trên đó là đối thủ cạnh tranh của Dell bị những chiến lược của bản thân mình trói buộc lấy chân tay. Nếu như họ giống như Dell sử dụng mô hình bán trực tiếp như thế, thì sẽ tự phá hủy con đường tiêu thụ sẵn có của mình, xa lánh những cửa hàng đại lý bán hàng mà họ đã dựa dẫm bao lâu nay. Vì thế, nhiều năm trở lại đây, đối thủ cạnh tranh của Dell liên tục rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan là có nên học phương thức bán hàng trực tiếp của Dell hay không. Nếu bán hàng truyền thống, quản lý kiểu hệ thống hỗn tạp này độ khó khăn có thể còn lớn hơn, giá thành cũng có thể cao hơn. Tình hình thực tế cũng như vậy, họ đã cố thử dùng cả hai cách đó, kết quả cuối cùng đạt được lại là thêm nhiều hàng tồn kho, và giá thành còn cao hơn.

Một trong các quy tắc cơ bản của chiến lược cạnh tranh là: nếu có quyết sách thực sự, thì không thể đồng thời lựa chọn hai con đường. Năm 1989, công ty máy tính Dell đã lĩnh hội được điểm này. Khi đó họ cảm thấy mô hình bán trực tiếp phát triển chưa đủ nhanh, đã thử thông qua cửa hàng đại lý để bán hàng. Thế nhưng, khi họ phát hiện kiểu thay đổi này đem đến cho công ty sự tổn hại, đã lập tức hủy bỏ. Vấn đề là ở chỗ, nếu như bạn đồng thời lựa chọn hai con đường, người khác cũng sẽ làm như vậy. Do vậy, bạn phải chọn một con đường mà mình nắm vững nhất và có phương thức định vị độc đáo kiên trì làm tiếp. Như thế con đường đã được biến đổi khác biệt đi của bạn sẽ có một sức mạnh lâu bền, khiến đối thủ không cách nào đánh bại được bạn. Ngược lại, bạn chỉ có thể làm được rất tầm thường.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Nguyễn Đức Lân (bs) – 99 nguyên tắc giản đơn quyết định trong cuộc sống – NXB TN 2008.

Lý luận, chiến lược và tác động của việc Mỹ và Liên minh châu Âu đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc – Phần cuối


Những năm gần đây, do khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công ở châu Âu khiến cho cán cân sức mạnh giữa Trung Quốc và EU nảy sinh những thay đổi mới, nội bộ EU một lần nữa lại xuất hiện những tranh luận về việc làm thế nào để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Một bên tranh luận cho rằng chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc trước kia của EU là thất bại, không đem lại lợi ích kinh tế cho EU, sự thay đổi của nội bộ Trung Quốc không đúng như mong muốn của EU. Họ đưa ra hai ý kiến phê phán: Một là, giữa chính sách cụ thể của các nước thành viên với chiến lược vĩ mô của EU tồn tại mâu thuẫn, hoặc có thể nói rằng chiến lược chính sách của cả hai bên đều thiếu sự điều phối có hiệu quả đầy đủ. Về mặt lợi ích thương mại trong chiến lược đối với Trung Quốc, giữa các nước thành viên cũng tồn tại sự cạnh tranh, đem đến khó khăn cho việc EU thực thi chiến lược vĩ mô; về các dự án hợp tác giữa Trung Quốc và EU thì giữa EU và các nước thành viên thiếu sự trao đổi qua lại, nên không thể khiến cho các dự án hợp tác đạt được hiệu quả và tác dụng tốt nhất. Hai là, chiến lược hiện nay của EU đối với Trung Quốc dựa trên những nhận thức sau, tức là Trung Quốc vẫn là một nước lớn đang phát triển, sự phát triển và quá độ của trong nước Trung Quốc vẫn cần có sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước phương Tây; và trên thực tế khi bước vào thế kỷ 21 đến nay, thực lực chính trị và kinh tế của Trung Quốc không ngừng tăng lên, đã là quốc gia có ảnh hưởng lớn trong nền kinh tế và chính trị thế giới, Trung Quốc cũng chuyển đổi từ bên tiếp nhận viện trợ phát triển sang bên cung cấp viện trợ phát triển. Vì vậy, EU phải thay đổi chiến lược tiếp xúc vô điều kiện đối với Trung Quốc, chuyển sang tiếp xúc cùng có lợi, gây sức ép để thúc đẩy Trung Quốc mở cửa thị trường hơn nữa đối với EU, hối thúc Trung Quốc trong các vấn đề trong nước, khu vực và toàn cầu giữ lập trường gần gũi với EU, đồng thời đảm nhận trách nhiệm quốc tế nhiều hơn nữa… Quan điểm trên được tập trung phản ánh trong báo cáo chính sách với tiêu đề “Kiểm tra đối với quyền lực của quan hệ EU – Trung Quốc” do Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu (ECFR) công bố tháng 4/2009. Tháng 6/2010, một trong những tác giả của báo cáo này là François Godement công bố báo cáo “Chính sách toàn cầu đối với Trung Quốc”, nêu rõ EU phải thay đổi chính sách “tiếp xúc vô điều kiện” đối với Trung Quốc, tăng cường điều tiết đồng nhất đối với Trung Quốc: “EU phải điều tiết có hiệu quả hơn nữa các chính sách của mình, và hợp tác với các nước khác để tăng cường ảnh hưởng có giới hạn của mình đối với Trung Quốc”. Còn có học giả châu Âu cho rằng trong vấn đề Sudan, Trung Quốc thực hiện chính sách của mình, đồng thời khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc bỏ phiếu, Trung Quốc lại phản đối trừng phạt Sudan và Zimbabwe, trái ngược hoàn toàn với chính sách của EU, nảy sinh ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đối với quan hệ EU – Trung Quốc.

Trước xu thế phát triển của Trung Quốc mạnh lên còn EU yếu đi và sự hoài nghi của một số học giả đối với chính sách của EU, thái độ của EU đối với Trung Quốc bắt đầu trở nên phức tạp, thái độ mang tính hai mặt có phần tăng lên. Một mặt, EU đang ở hoàn cảnh khó khăn hy vọng dựa vào sự phát triển của Trung Quốc, tăng cường hợp tác với Trung Quốc, điều này đóng vai trò thúc đẩy mạnh mẽ đối với quan hệ Trung Quốc – EU. Mặt khác, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đã ảnh hưởng đến sự tự tin của EU, cộng thêm sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và EU ngày càng gay gắt, cuộc đọ sức xoay quanh ưu thế cạnh tranh về sức mạnh tổng hợp quốc gia với mức độ cao hơn, khiến cho sự hoài nghi chiến lược của EU đối với Trung Quốc tăng lên, nảy sinh chuyển biến xấu cho cán cân lực lượng giữa Trung Quốc và EU, việc EU kiềm chế và phòng ngừa Trung Quốc phát triển đang tăng lên rõ rệt. Bên cạnh việc toàn lực thúc đẩy Hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) gặt hái được thành công, EU đang đẩy nhanh quá trình thực thi chiến lược mới về thương mại tự do “châu Âu toàn cầu hóa”, đẩy nhanh tiến độ đàm phán thương mại tự do song phương với các nước xung quanh Trung Quốc, tìm cách thông qua việc xây dựng “vòng vây thỏa thuận thương mại tự do đối với Trung Quốc” để gây sức ép với Trung Quốc. Ngoài ra, trong một số vấn đề chính trị, EU cũng bắt đầu cứng rắn đối với Trung Quốc.

Nhưng EU không từ bỏ nội dung trọng tâm – tiếp xúc mang tính xây dựng trong chiến lược đối với Trung Quốc, các bên tranh luận bất luận là bên giữ thái độ phê phán hay là bên giữ thái độ ủng hộ đối với chiến lược hiện nay của EU, đều cho rằng EU phải tiếp tục tăng cường tiếp xúc và trao đổi với Trung Quốc. Cùng với việc địa vị của Trung Quốc trong toàn cầu ngày càng nổi lên và sự dựa vào của EU đối với Trung Quốc tăng lên, các chính trị gia của châu Âu ngày càng hiểu rõ ý nghĩa chiến lược của hợp tác Trung Quốc – EU. Đại diện cấp cao phụ trách về an inh và đối ngoại của EU Catherine Ashton nhấn mạnh tính chiến lược và tính dựa vào nhau của quan hệ EU – Trung Quốc, cho rằng quan hệ EU – Trung Quốc rất quan trọng đối với an ninh, ổn định của EU trong tương lai, nếu Trung Quốc và EU muốn duy trì sự phồn vinh thì không thể tách khỏi đối phương, chủ trương sẽ xây dựng quan hệ Trung Quốc – EU trở thành quan hệ đối tác có ý nghĩa quyết định trong thế kỷ 21.

Mỹ và EU được coi là bên sáng lập và giám hộ của hệ thống quốc tế hiện nay, lợi ích căn bản về việc bảo vệ tính hiệu quả của hệ thống này và đưa Trung Quốc hội nhập một cách hòa bình vào hệ thống này là đồng nhất. Từ phân tích trên có thể thấy mục tiêu trong chiến lược vĩ mô đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc của Mỹ và EU về cơ bản là giống nhau, tức là đều hy vọng mở rộng mức độ tham gia của Trung Quốc trong hệ thống toàn cầu, hy vọng Trung Quốc là quốc gia duy trì hiện trạng, và cho rằng Trung Quốc gia nhập tổ chức quốc tế sẽ dần dần chấp nhận các quy phạm quốc tế, có lợi cho việc thực hiện mục tiêu này. Cả Mỹ và EU đều khuyến khích Trung Quốc cải thiện nhân quyền và pháp trị, thúc đẩy dân chủ, duy trì hệ thống kinh tế mở cửa. Trong cuốn “Mối quan hệ giữa Mỹ và EU với Trung Quốc: Thúc đẩy chương trình nghị sự chung”, học giả người Mỹ David Shambaugh và học giả người Đức Gudrun Wacker đã liệt kê những điểm chung trong chiến lược vĩ mô của Mỹ và EU: thúc đẩy cải cách trong nước Trung Quốc và xây dựng năng lực của nhà nước Trung Quốc và kết cấu xã hội; thúc đẩy Trung Quốc phát huy vai trò tích cực, mang tính xây dựng hơn trên vũ đài thế giới, và thúc đẩy Trung Quốc tham gia quản lý toàn cầu; Mỹ và EU đều duy trì sự mở cửa đối với các học giả của Trung Quốc, đặc biệt là học sinh, học giả, quan chức chính quyền trung ương và địa phương, nhà khoa học, giáo viên, nhân viên báo chí, quan chức quân đội… của Trung Quốc; cùng Trung Quốc duy trì hệ thống thương mại và tiền tệ toàn cầu mang tính mở cửa.

Nhưng về phương diện đối phó chiến lược, giữa Mỹ và EU lại tồn tại sự khác biệt rất lớn. Đúng như Giám đốc Hội đồng chính sách đối ngoại Đức Eberhard Sandschneider từng chỉ ra rằng tuy quan niệm giá trị xuyên Đại Tây Dương tương đối giống nhau, khiến cho hai bên về lý luận có thể có ý tưởng giống nhau, nhưng trong chiến lược và chính sách cụ thể liên quan đến lợi ích quốc gia hoặc khu vực cụ thể, Mỹ và EU vẫn rất khó đạt được ý kiến đồng nhất. Nguyên nhân chủ yếu gây ra bất đồng là sự hiểu biết khác nhau, sự khác biệt giữa các nước và sự khác biệt về khả năng của hai bên đối với trật tự thế giới. Xuất phát từ địa vị của bản thân với tư cách là một lực lượng mang tính quy phạm và lực lượng dân sự, EU hy vọng tìm được điểm chung với Trung Quốc về sáng kiến chủ nghĩa đa phương và đa cực hóa, đồng thời trong các vấn đề khu vực và quốc tế tìm cách hợp tác với Trung Quốc. Cũng giống như EU, Mỹ hy vọng có thể đưa Trung Quốc hội nhập vào trật tự quốc tế hiện nay, nhưng Mỹ lại không muốn mất đi ảnh hưởng với tư cách là siêu cường duy nhất trên thế giới, không chấp nhận việc Trung Quốc trở thành đối thủ ngang tài ngang sức của Mỹ. Đúng như học giả người Mỹ Bates Gill từng cho rằng Mỹ coi sự trỗi dậy của Trung Quốc là mối đe dọa phô trương sức mạnh truyền thống, còn EU thì lo ngại các vấn đề do sự quản lý không tốt trong nội bộ Trung Quốc gây ra, ví dụ như hoạt động kinh tế, di dân bất hợp pháp, môi trường xấu đi, không thể kiềm chế hoạt động phạm tội… Mỹ vả EU đều hy vọng duy trì một Đông Á hòa bình, ổn định và phồn vinh, nhưng điều mà EU chủ yếu xem xét là kinh tế và thương mại, sự lo ngại đối với an ninh cũng xuất phát từ sự lo ngại về ảnh hưởng của an ninh đối với kinh tế; và ngoài lợi ích kinh tế thương mại, Mỹ còn có lợi ích chiến lược bao gồm cả vấn đề Đài Loan, vấn đề hạt nhân Triều Tiên và ưu thế quân sự của Mỹ của châu Á – Thái Bình Dương…, đặc biệt là lo ngại thực lực cứng của Trung Quốc tăng lên sẽ gây nguy hiểm cho lợi ích an ninh của Mỹ ở Đông Á. Điều đáng được đề cập là tuy các học giả của Mỹ và EU đều cho rằng điểm chung trong chiến lược của Mỹ và EU đối với Trung Quốc nhiều hơn sự khác biệt, nhưng người Mỹ nhấn mạnh điểm chung nhiều hơn, còn người châu Âu thì nhấn mạnh sự khác biệt nhiều hơn. Eberhard Sandschneider cho rằng sự khác biệt trong chiến lược của Mỹ và EU đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc từ sau năm 2008 vẫn là thách thức rất lớn.

3/ Sự tác động qua lại của việc Mỹ và EU đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự hạn chế của tác động này

Do chiến lược của Mỹ và EU đối với Trung Quốc có những điểm tương đồng, lại cộng thêm quan hệ đồng minh chiến lược của hai bên, nên chiến lược của Mỹ và EU đối với Trung Quốc tất nhiên sẽ có sự điều hòa phối hợp. Có học giả kiến nghị, trong một loạt vấn đề an ninh quốc tế như không phổ biến vũ khí hạt nhân, vấn đề hạt nhân Iran, khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên…, Mỹ và EU kết hợp để thúc giục Trung Quốc hợp tác; trên lĩnh vực an ninh, Mỹ và EU nên tiến hành điều tiết chính sách đối thoại tích cực, có lợi cho việc thúc đẩy Trung Quốc trỗi dậy hòa bình thực sự và chuyển biến thành quốc gia dân chủ kiểu phương Tây. Đối với sự hợp tác giữa Mỹ và EU, cũng như vai trò mà EU có thể phát huy trong việc đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc, Mỹ có ba quan điểm: Một là, EU tiếp tục hợp tác kinh tế với Trung Quốc, nhằm thỏa mãn với việc giành lấy lợi ích kinh tế từ thương mại Trung Quốc – EU và đầu tư ở Trung Quốc, và không muốn tìm cách kiềm chế Trung Quốc về mặt quy phạm quốc tế; hai là, xét thấy khoảng cách sức mạnh quân sự của hai bên là quá lớn, Mỹ và EU thông qua việc đạt được sự nhất trí hoặc thông qua thực tiễn để hình thành sự phân chia công việc là điều tất yếu; ba là, hai bên có thể tìm được hình thức hợp tác có giới hạn, để trên các lĩnh vực cụ thể áp dụng sách lược và chiến lược nhất trí hoặc bổ sung cho nhau đối với Trung Quốc. Và muốn xác định tính khả thi hoặc tính giới hạn của hợp tác song phương, thì phải hiểu rõ lợi ích, mục tiêu và chiến lược… của Mỹ và EU trên toàn cầu và ở Trung Quốc.

Nguồn: Tạp chí Triển vọng quốc tế (TQ) – số 3/2014

CVĐQT số 9/2014

Lý luận, chiến lược và tác động của việc Mỹ và Liên minh châu Âu đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc – Phần III


Sau khi báo cáo này được công bố, “kiềm chế và tiếp xúc Trung Quốc” dần dần trở thành đại danh từ trong chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc của Mỹ, cho dù sau này vẫn có học giả đưa ra sáng kiến được kiềm chế và cân bằng hoặc chiến lược tiếp xúc đơn thuần. Nhưng trên thực tế, từ Chính quyền Bush (con) đến Chính quyền Obama, chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc của Mỹ luôn là sự kết hợp của các yếu tố lý luận. Ý kiến của các nhà quyết sách thường nằm giữa phe kiềm chế và phe tiếp xúc, tức là tiến hành đồng bộ, cùng tiếp xúc và kiềm chế. Việc đưa ra lựa chọn này không chỉ là vì quan điểm của hai phe bất phân thắng bại, mà còn vì trong tình hình Mỹ vẫn không thể xác định ý đồ chiến lược sau khi Trung Quốc trỗi dậy, chiến lược này phù hợp hơn nữa với lợi ích của Mỹ. Đương nhiên, Chính phủ Mỹ sẽ căn cứ theo sự thay đổi của tình hình quốc tế hoặc ý đồ của các nhà quyết sách để điều chỉnh chính sách đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Trong bối cảnh những năm gần đây, tình hình quốc tế nảy sinh những thay đổi quan trọng, nhân tố kiềm chế và cân bằng về an ninh trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc tăng lên một cách rõ rệt. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ năm 2008, kinh tế Trung Quốc tiếp tục phát triển nhanh chóng, tình hình căng thẳng ở quần đảo Điếu Ngư/Senkaku và Biển Đông đang leo thang, khiến cho trong nước Mỹ lại một lần nữa xuất hiện những tranh luận về việc đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Không ít người yêu cầu Mỹ tăng cường bố trí quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, xử sự cứng rắn hơn với Trung Quốc. Trong tác phẩm “Cạnh tranh bá quyền: Trung Quốc, Mỹ và cạnh tranh quyền kiểm soát châu Á” của mình, Giáo sư chính trị và quan hệ quốc tế thuộc Đại học Princeton, Aaron Friedberg tuyên bố Trung Quốc và Mỹ sẽ tạo nên sự cạnh tranh về quyền chủ đạo ở châu Á. Aaron Friedberg cho rằng tiếp xúc nhiều không có lợi cho việc thúc đẩy Trung Quốc cải cách chính trị, Mỹ phải gây áp lực lớnhơn với Trung Quốc, chính sách cũng phải cứng rắn hơn; đồng thời Mỹ phải bảo đảm ưu thế quân sự của Mỹ sẽ không suy yếu, và tỏ rõ quyết tâm hiện diện lâu dài ở châu á với các nước đồng minh truyền thống của Mỹ. Tóm lại, trọng tâm kiến nghị chiến lược của Aaron Friedberg là “cứng rắn” và áp đặt “sự kiềm chế và cân bằng tốt hơn” đối với Trung Quốc.

Những sự phê phán đối với chiến lược quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương của Obama cũng tương đối nhiều, rất nhiều người cho rằng phải tăng cường tiếp xúc với Trung Quốc, tránh để cho sự trỗi dậy xảy ra bi kịch xung đột quốc tế. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, chuyên gia nghiên cứu về Trung Quốc của Viện Brookings Kenneth Lieberthal, chuyên gia về các vấn đề Trung Quốc của Quỹ Hòa bình quốc tế Carnegie Micheal Swaine… đều kêu gọi tăng cường tiếp xúc với Trung Quốc. Trong cuốn “Thách thức của Mỹ: Tiếp xúc với Trung Quốc trỗi dậy trong thế kỷ 21”. Micheal Swaine cho rằng cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, địa vị của Trung Quốc trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng ngày càng quan trọng, vì vậy Mỹ phải tăng cường tiếp xúc Trung Quốc, quản lý và kiểm soát tốt hơn mối quan hệ với Trung Quốc, để cùng hợp tác đối phó với các vấn đề nóng khu vực và toàn cầu; đồng thời phải giảm bớt sự hoài nghi chiến lược và tình hình đối địch của hai bên.

Những tranh luận này tuy chưa khiến cho chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc xuất hiện sự điều chỉnh quan trọng, nhưng lại xuất hiện sự thay đổi về sách lược, “sách lược mới là ‘kiệt tác ngoại giao’ trong quan hệ với Trung Quốc, sách lược mới tiếp tục duy trì sự kết hợp khéo léo giữa răn đe, chèn ép, tạo cảm giác mất anninh và thận trọng”. Sự thay đổi này chuyếu bao gồm: Một là, lợi dụng sự tranh chấp lãnh thổ tồn tại giữa các nước châu Á tạo ra sự kiềm chế và cân bằng lực lượng khu vực có lợi cho Mỹ; hai là, coi việc Mỹ quay trở lại Đông Nam Á là trọng điểm của chiến lược quay trở lại châu Á, đồng thời áp dụng một loạt biện pháp có ý đồ can sự sâu sắc; ba là, tập trung chiến lược “tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương” vào Trung Quốc, tăng cường gây sức ép bao vây đối với Trung Quốc, tìm cách xây dựng vòn vây toàn diện từ Đông Bắc Á, Đông Nam Á đến Nam Á; bốn là, thông qua việc vận dụng sức mạnh thông minh, duy trì ưu thế ảnh hưởng đối với các nước châu Á trong quá trình cạnh tranh với Trung Quốc, năm là, thúc đẩy xây dựng và tìm kiếm cơ chế đa phương chủ đạo khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tất cả những điều này cho thấy trọng tâm phòng ngừa và kiềm chế của Mỹ đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc đang tăng lên. Báo cáo quân sự “Duy trì địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ: Nhiệm vụ ưu tiên của quốc phòng trong thế kỷ 21” được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố tháng 1/2012 nêu rõ: “Với tư cách là cường quốc khu vực đang trỗi dậy, ở rất nhiều mặt Trung Quốc có thể ảnh hưởng kinh tế và an ninh của Mỹ”. Vì vậy, Mỹ sẽ đẩy mạnh mức độ, “bảo đảm có thể tự do thực hiện trách nhiệm hiệp ước ở khu vực Đông Á”.

Phần lớn các thành viên của EU đều là nước sáng lập và nước bảo hộ hệ thống quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, vì vậy nhận thức và chiến lược của EU đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc chắc chắn sẽ có những điểm tương đồng với Mỹ. Trong nhận thức đó đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, nội bộ EU cũng tồn tại hai quan điểm khác nhau: Một quan điểm cho rằng trong quá trình cải cách và phát triển, Trung Quốc ưu tiên thúc đẩy các quyền lợi như tạo ra của cải, thúc đẩy kinh tế xã hội và văn hóa… khiến cho hàng chục triệu người dân Trung Quốc thoát khỏi cảnh nghèo đói, và đã thúc đấy cải cách pháp luật và chế độ quan trọng. Trung Quốc có quyền thông qua sự trỗi dậy hòa bình để tìm kiếm vị trí của mình trong cách công việc thế giới, châu Âu phải giữa thái độ hoan nghênh đối với sự trỗi dậy hòa bình này. Một quan điểm khác thì cho rằng Trung Quốc là “Trung Quốc phẫn nộ”, là quốc gia có tính khiêu khích, đe dọa hòa bình của Đài Loan và thế giới. Đồng thời, Trung Quốc còn tồn tại các vấn đề như xâm phạm nhân quyền, đàn áp dân chủ với quy mô lớn… Giống với phe kiềm chế và phe tiếp xúc của Mỹ, hai quan điểm khác nhau này cũng không ngừng tranh luận, cùng ảnh hưởng đến việc EU xây dựng chính sách và chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Nhưng dựa vào kinh nghiệm lịch sử từng trải qua thảm họa chiến tranh và quá trình nhất thể hóa của châu Âu, quan điểm của EU đối với hệ thống trật tự quốc tế cũng có những điểm không giống với Mỹ. Đúng như “Báo cáo chiến lược an ninh của EU” từng đưa ra chiến lược an ninh của EU nghiêng về “chủ nghĩa đa phương có hiệu quả”, ủng hộ hơn nữa các tổ chức và cơ chế quốc tế đa phương. Điều này rõ ràng không giống với xu thế đơn phương và xu thế vũ lực trong chính sách ngoại giao của Mỹ. Đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhận thức và chiến lược đối phó của EU tự nhiên cũng có điểm không giống với Mỹ. Do địa vị của EU trong hệ thống toàn cầu không phải là nước bá quyền giống như Mỹ, ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng không có đồng minh quân sự, EU coi sự trỗi dậy của Trung Quốc là cơ hội, nhấn mạnh vào những thách thức chủ yếu bao gồm đến từ sự cạnh tranh kinh tế, di dân bất hợp pháp của Trung Quốc, công tác quản lý của nội bộ Trung Quốc không tốt, hoặc những khó khăn có thể tạo nên khi tiếp xúc với các nước phát triển, chứ không phải là mối đe dọa quân sự. Vì vậy, chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc của EU chủ yếu là tiếp xúc mang tính xây dựng. Lời mở đầu của “Văn kiện chính sách lâu dài của quan hệ EU – Trung Quốc” được EU đưa ra năm 1995 cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc là một sự trải nghiệm quốc gia chưa từng có từ Chiến tranh thế giới thứ Hai đến nay. Sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ đem đến cơ hội và thách thức to lớn đối với hệ thống quốc tế, việc Trung Quốc căn cứ theo các quy phạm quốc tế để tiến hành cải cách chính trị, kinh tế và xã hội sẽ là con đường tốt nhất bảo đảm sự ổn định của Trung Quốc. Sau này, EU lại liên tục công bố các văn kiện chính sách, chiến lược đối với Trung Quốc, các văn kiện này đều coi sự trỗi dậy của Trung Quốc là tiền đề, có thể coi là văn kiện chiến lược để EU đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Từ những văn kiện này có thể cho thấy EU giữ thái độ hoan nghênh đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, chiến lược đối phó với của EU có hai mục tiêu: Một là, thông qua tiếp xúc để giành lấy lợi ích kinh tế từ sự trỗi dậy của Trung Quốc; hai là thông qua tiếp xúc kinh tế thương mại và xây dựng một loạt khả năng, thúc đẩy nội bộ Trung Quốc cải cách, khiến cho xã hội và chế độ của Trung Quốc trở nên phù hợp với mong muốn của phương Tây, tức là trở nên dân chủ và mở cửa hơn nữa. Điều đáng được đề cập đến là mục tiêu thứ hai vừa có thể thúc đẩy lợi ích kinh tế của EU ở Trung Quốc, đồng thời vừa phù hợp mục đích của chủ nghĩa tự do đối với việc “nước khác” căn cứ theo hình tượng của mình để tiến hành cải cách.

Rất nhiều học giả cho rằng từ năm 1995 – 2005 là thời kỳ trăng mật của quan hệ Trung Quốc – EU. Từ sau năm 2005, nhận thức của EU đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc nảy sinh những thay đổi tế nhị. Từ năm 2004 – 2005, những nỗ lực tìm cách xóa bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sang Trung Quốc của EU đã gây nên sự tranh luận trong nội bộ EU và giữa Mỹ với EU đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. EU nhận thức được rằng tuy phần lớn các nước EU đều thu lợi từ sự trỗi dậy về kinh tế  của Trung Quốc, nhưng tỷ lệ nhập siêu thương mại giữa Trung Quốc và EU dần dần tăng lên. Trung Quốc viện trợ phát triển cho các nước khác mà không kèm theo điều kiện, điều này đã hình thành sự cạnh tranh với sự viện trợ đối ngoại kèm theo điều kiện chính trị của Mỹ và EU, ở mức độ nào đó cũng là sự cạnh tranh đối với mô hình quản lý do phương Tây thúc đẩy. Ngoài ra, việc Mỹ phản đối EU xóa bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sang Trung Quốc cũng khiến EU đối diện với sức ép. Những nhân tố này khiến cho EU phải xem xét lại chính sách đối với Trung Quốc. Năm 2006, EU công bố văn kiện chiến lược đối với Trung Quốc mới với tiêu đề “EU – Trung Quốc: Đối tác gắn bó hơn, trách nhiệm mở rộng”, đã nhấn mạnh hơn nữa tính tương hỗ của quan hệ Trung Quốc – EU và trách nhiệm quốc tế mà Trung Quốc phải đảm nhận. Sự chuyển biến được thể hiện trong văn kiện là kết quả được các nước EU tiến hành điều chỉnh sau khi tranh luận về chính sách đối với Trung Quốc. Khi giải thích bối cảnh công bố văn kiện, Ủy viên phụ trách các mối quan hệ đối ngoại của EU Benita Ferrero-Waldner cho rằng mục đích của văn kiện này là để đối phó với sự tái trỗi dậy của Trung Quốc với tư cách là nước lớn về kinh tế và chính trị quốc tế, từ đó có thể dễ dàng nhận ra ý nghĩa của “Thuyết về trách nhiệm của Trung Quốc”.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Triển vọng quốc tế (TQ) – số 3/2014

CVĐQT số 9/2014

Lý luận, chiến lược và tác động của việc Mỹ và Liên minh châu Âu đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc – Phần II


Tư tưởng của chủ nghĩa kiến tạo chủ yếu được thể hiện trong chủ nghĩa kiến tạo ôn hòa với Giáo sư Alexander Wendt thuộc Đại học công lập Ohio (Mỹ) làm đại diện. Khái niệm trọng tâm của chủ nghĩa kiến tạo là vị thế, văn hóa và quy phạm hệ thống, quan điểm chủ yếu là kết cấu hệ thống của chính trị quốc tế không chỉ ảnh hưởng hành vi các nước, điều quan trọng hơn nữa là xây dựng vị thế và lợi ích cho các nước, tức là vị thế quyết định lợi ích, lợi ích quyết định hành vi, và trạng thái vô chính phủ của chính trị quốc tế là do các nước tạo nên. Trong chủ nghĩa kiến tạo của Alexander Wendt, kết cấu hệ thống không giống với kết cấu hệ thống của chủ nghĩa hiện thực mới, kết cấu của chủ nghĩa hiện thực mới là nói về sức mạnh mang tính vật chất của các nước, và kết cấu hệ thống của chủ nghĩa kiến tạo chỉ sự phân phối của quan niệm, tức là văn hóa mang tính hệ thống. Alexander Wendt chia văn hóa trong hệ thống quốc tế thành 3 loại: văn hóa của Thomas Hobbes (nhà triết học nổi tiếng người Anh) coi nhau là địch; văn hóa của John Locke (nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh) coi nhau là đối thủ cạnh tranh; văn hóa của Immanuent Kant (nhà triết học nổi tiếng người Đức) coi nhau là bạn bè. Alexander Wendt cho rằng văn hóa mang tính chủ đạo trong hệ thống quốc tế hiện nay là văn hóa John Locke coi nhau là đối thủ cạnh tranh, tức là vị thế qua lại giữa các nước là đối thủ cạnh tranh, các nước này thừa nhận chủ quyền của nhau, tuân theo nguyên tắc “sinh tồn và cho phép các nước khác sinh tồn”. Đối thủ cạnh tranh có thể sẽ sử dụng bạo lực để giải quyết tranh chấp, nhưng việc họ sử dụng bạo lực là có giới hạn. Vị thế của đối thủ cạnh tranh khiến cho lợi ích cơ bản của quốc gia trở thành theo đuổi quyền lực và chinh phục. Quan điểm của lý luận chủ nghĩa kiến tạo đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc tương đối lạc quan, cho rằng trong sự tác động qua lại với hệ thống quốc tế, Trung Quốc sẽ dần dần nội hóa quy phạm quốc tế, từ đó vị thế của Trung Quốc được tạo dựng, cũng sẽ dần dựa theo quy phạm quốc tế thông dụng để hoạch định ranh giới lợi ích và hành vi bản thân, sẽ không thách thức hệ thống quốc tế do các quy phạm quốc tế hiện nay tạo dựng. Từ ba phương diện là mức độ tham gia của Trung Quốc trong các cơ chế quốc tế, mức độ tuân thủ của Trung Quốc đối với 5 quy phạm quốc tế chủ yếu (chủ quyền, thương mại tự do, không phổ biến vũ khí hạt nhân và kiểm soát vũ khí, tự quyết dân tộc và nhân quyền) và hành vi mà Trung Quốc áp dụng đối với quy tắc trò chơi trong hệ thống quốc tế, nhà phân tích của Đại học Harvard Alastair Jain Johnston đã trình bày sự tuân theo và mức độ công nhận của Trung Quốc đối với các quy phạm quốc tế trong hệ thống quốc tế, đồng thời rút ra kết luận: Không có chứng cứ cho thấy Trung Quốc tách khỏi hệ thống quốc tế hoặc cố gắng sửa đổi hệ thống quốc tế hiện nay, trái lại đang ngày càng hội nhập hệ thống quốc tế, ngoại giao của Trung Quốc cũng thể hiện rõ đặc trưng hợp tác. Dựa theo lôgích của chủ nghĩa kiến tạo, Mỹ và EU nên khuyến khích Trung Quốc tiếp xúc với thế giới phương Tây, trong tiếp xúc thay đổi vị thế của Trung Quốc và hoạch định rõ ràng lợi ích của Trung Quốc đối với mình.

Nhưng trong lôgích của chủ nghĩa kiến tạo, cũng có người giữ thái độ tiêu cực đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, với lý do là: kết cấu tín ngưỡng của một xã hội rất khó thay đổi, sự tác động giữa Trung Quốc và cộng đồng quốc tế có thể sẽ tăng thêm nhân tố tiêu cực trong nhận thức qua lại và vị thế. Trung Quốc cho rằng Mỹ và EU là bên sáng lập và bên được lợi trong hệ thống quốc tế hiện nay, và mình là bên bị thiệt thòi. Đặc biệt nếu Mỹ tiếp tục giữ vai trò chủ đạo của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời can dự vào một số tranh chấp về chủ quyền của Trung Quốc, thì sự tác động qua lại giữa Trung Quốc và Mỹ trái lại có thể củng cố vị thế hiện có của Trung Quốc. Nói cách khác, phương Tây cho rằng Trung Quốc vẫn không phải là một quốc gia có trách nhiệm hội nhập đầy đủ vào hệ thống quốc tế hiện nay, cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, Trung Quốc có thể theo đuổi việc thay đổi quy tắc và quy phạm trong hệ thống quốc tế hiện nay.

Ba lý luận chủ yếu nêu trên tuy phần lớn đều do các học giả Mỹ đưa ra, nhưng cũng rất phổ biến ở châu Âu. Nhưng châu Âu còn có trường phái Anh, với nhân vật đại diện là GIáo sư Barry Buzan đã vận dụng tổng hợp khái niệm cộng đồng quốc tế của trường phái này và khái niệm chính trị quyền lực của chủ nghĩa hiện thực, cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc tuy có thể xảy ra, nhưng sau 30 năm nữa sẽ tồn tại nhiều tính không xác định. Barry Buzan cho rằng có 4 nhân tố mang tính hệ thống có thể sẽ đem đến những ảnh hưởng phức tạp: Địa vị của Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế đã trở nên vô cùng quan trọng; khủng hoảng kinh tế thế giới; vấn đề môi trường rất có thể trở thành vấn đề cấp bách mà toàn cầu đang phải đối diện; sự suy yếu của địa vị lãnh đạo hoặc địa vị bá quyền Mỹ, bao gồm sự tan vỡ về nhận thức chung Washington. Nhưng từ góc độ triết học cho thấy Barry Buzan đồng ý quan điểm của học giả Trung Quốc Tần Á Thanh, cho rằng quá trình Trung Quốc trỗi dậy sẽ là quá trình tác động qua lại giữa Trung Quốc và cộng đồng quốc tế đặc biệt là Mỹ và EU, có thể khiến cho hai bên cuối cùng hình thành sự đồng thuận đối với các vấn đề. Cũng có nghĩa là sự tác động qua lại giữa Trung Quốc và cộng đồng quốc tế là quá trình ảnh hưởng qua lại và tạo dựng với nhau, Trung Quốc có thể thực hiện trỗi dậy hòa bình. Nhưng điều mà Barry Buzan lo ngại là làm thế nào để quản lý quá trình tác động qua lại biện chứng này, nếu quan niệm chủ nghĩa hiện thực trong đó đã chủ đạo quá trình này, vậy thì rất nhiều sự dự đoán của chủ nghĩa hiện thực sẽ trở thành hiện thực, tức là sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ không thể tránh khỏi việc gây ra xung đột. Còn lôgích của chủ nghĩa tự do thì coi việc chuyển hóa đối phương giống với mình chính là sự thắng lợi, yêu cầu đối phương và mình phải thực thi chế độ giống nhau, tức là dân chủ và kinh tế thị trường, chủ nghĩa hiện thực cho rằng chỉ có như vậy sự trỗi dậy hòa bình mới có thể thực hiện. Barry Buzan cũng cho rằng sự tồn tại của lôgích chủ nghĩa tự do này là hiện thực quan trọng trong cộng đồng quốc tế hiện nay, cũng là một trong những thách thức của việc Trung Quốc thực hiện trỗi dậy hòa bình. Nhưng điều được chấp nhận rộng khắp trên chính trường quốc tế hiện nay là chính phủ, thị trường và xã hội phát huy vai trò tổng hợp, và để thực hiện tổng hợp phải dựa theo tình hình thực tế của nước sở tại và sự đồng thuận về văn hóa. Vì vậy, chỉ cần lôgích của chủ nghĩa hiện thực không chủ đạo quyền phát ngôn chính trị của Trung Quốc và Mỹ, thì Trung Quốc trỗi dậy sẽ không nguy hiểm như vậy. Buzan cho rằng con đường tốt nhất để phân tích sự trỗi dậy của Trung Quốc là từ góc độ cộng đồng quốc tế của trường phái Anh: Cho dù mỗi một quốc gia đều đang nỗ lực bảo vệ và bồi dưỡng thể chế văn hóa và chính trị riêng biệt của mình, nhưng cộng đồng quốc tế vẫn có thể duy trì trật tự quốc tế nào đó. Dựa vào lôgích này, Mỹ và EU giữ thái độ bao dung trong việc đối phó với thể chế chính trị của Trung Quốc; trong chiến lược đối phó và tác động qua lại với Trung Quốc, Mỹ và EU cần từ bỏ những định kiến về ý thức hệ, tôn trọng lợi ích và mô hình phát triển của nhau, đồng thời hai bên tuân theo các quy phạm và quy tắc quốc tế, như vậy Trung Quốc sẽ có thể trỗi dậy hòa bình.

Điều cần chỉ ra là, những tranh luận nêu trên thường bám vào những hạn chế của phạm trù lý luận, chỉ tập trung vào một số yếu tố nào đó, cho dù ngắn gọn đi sâu nhưng lại không phù hợp với tính phức tạp của chính trị quốc tế. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng liên quan đến việc Trung Quốc liệu có thể thực hiện trỗi dậy hòa bình hay không, ngoài các yếu tố do nhiều trường phái lý luận đưa ra, chính sách ngoại giao và ý đồ chiến lược của Trung Quốc, sự đối phó của Mỹ và EU đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng như sự tác động qua lại đối với Trung Quốc cũng tương đối quan trọng. Cho dù như vậy, tranh cãi về lý luận vẫn đưa tới sự tham khảo cho việc hoạch định chính sách của các nhà quyết sách, ở mức độ nào đó đã ảnh hưởng đến việc Mỹ và EU xây dựng chiến lược để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

2/ Mỹ và EU xây dựng chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc

Trên thực tế, chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc của Mỹ và EU thường là sự kết hợp của các yếu tố lý luận, các nhân tố như quyền lực, cơ chế, văn hóa, cộng đồng quốc tế… đều dược thể hiện trong các chiến lược cụ thể của Mỹ và EU. Nhưng với tư cách là các nước có tính chất khác nhau, dựa vào quan niệm giá rị, thực lực cứng và thực lực mềm của mình, sự kết hợp của nhiều yếu tố lý luận được thể hiện trong chiến lược của Mỹ và EU lại không giống nhau.

Sau Chiến tranh Lạnh, trong nước Mỹ đã xuất hiện hai quan điểm về vấn đề làm thế nào để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc: phe kiềm chế và phe tiếp xúc. Những người theo thuyết tiếp xúc tin tưởng quan điểm của chủ nghĩa tự do, hy vọng thông qua tiếp xúc song phương và đa phương, một mặt tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc với bên ngoài, đồng thời thúc đẩy Trung Quốc cải cách, trở thành quốc gia dân chủ mà phương Tây có thể chấp nhận. Những người theo thuyết kiềm chế của chủ nghĩa hiện thực thì lại nhằm vào ảnh hưởng bên ngoài của Trung Quốc trỗi dậy, coi trọng phòng ngừa hoặc ngăn chặn sự lan tỏa của ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhưng hai quan điểm này đều dựa vào giả thuyết sau: Nếu Trung Quốc trỗi dậy trong bối cảnh không trở thành quốc gia dân chủ kiểu phương Tây, thì sẽ phá vỡ trật tự quốc tế hiện nay, gây ra xung đột.

Năm 1998, tổ chức tư vấn RAND (Mỹ) đã công bố báo cáo chính sách với tiêu đề “Kiềm chế và tiếp xúc với Trung Quốc”, đã nảy sinh ảnh hưởng quan trọng đối với việc Mỹ xây dựng chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Báo cáo cho rằng thập niên 90 của thế kỷ 20, chính sách tiếp xúc mà Chính quyền Bush (cha) và Chính quyền Bill Clinton áp dụng đối với Trung Quốc là sự thất bại, sự tiếp xúc đơn thuần hoặc phòng ngừa và kiềm chế đều không thể đạt được mục tiêu trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Bên cạnh việc thúc đẩy lợi ích kinh tế của Mỹ, thúc giục Trung Quốc thay đổi, chính sách tiếp xúc cũng đang giúp kinh tế và quân sự của Trung Quốc phát triển, điều này có thể khiến cho trong tương lai, Trung Quốc trở thành một kẻ thù có khả năng đe dọa hơn; còn chính sách kiềm chế đã loại bỏ khả năng Trung Quốc có thể sẽ trở thành quốc gia dân chủ và hợp tác với Mỹ. Vì vậy, chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc phải chuyển sang kết hợp giữa tiếp xúc và kiềm chế mang tính phòng ngừa. Tiếp xúc bao gồm 3 yếu tố: Một là, phát triển quan hệ kinh tế thương mại, thúc giục Trung Quốc mở cửa thị trường đối với hàng hóa của Mỹ; hai là, tiến hành tiếp xúc về chính trị, duy trì xung đột ở mức độ thấp nhất có thể, đồng thời thúc giục Trung Quốc gia nhập các cơ chế kiểm soát vũ khí đa phương nhằm vào các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, gia nhập các cơ chế quốc tế về nhân quyền; thứ ba, thúc đẩy giao lưu quân sự, tăng cường lòng tin, tránh hiểu lầm. Trung Quốc tham gia và hội nhập hệ thống quốc tế, điều này có nghĩa là lãnh đạo Trung Quốc có thể chấp nhận các quy phạm quốc tế hiện nay, tăng thêm lợi ích và rủi ro của Trung Quốc trong hệ thống hiện nay. Kiềm chế mang tính phòng ngừa cũng bao gồm 3 yếu tố: Một là, tránh bất kỳ hành vi nào trực tiếp giúp đỡ Trung Quốc phát triển thực lực quân sự; hai là, thuyết phục đồng minh không nên giúp đỡ Trung Quốc phát triển thực lực quân sự, điều này đòi hỏi Mỹ và các nước đồng minh tăng cường kiểm soát xuất khẩu sang Trung Quốc; ba là, Mỹ phải tăng cường thực lực bản thân, và tăng thêm năng lực của các đồng minh Đông Á, hình thành sự răn đe đối với hành vi xâm lược có thể gây ra của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là phải tăng thêm đồng minh của Mỹ ở Đông Á, thậm chí Mỹ có thể phải chuẩn bị cho các liên minh chính thức mới được hình thành trong tương lai, và khic ần thiết phải xây dựng các căn cứ quân sự mới.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Triển vọng quốc tế (TQ) – số 3/2014

CVĐQT số 9/2014

Lý luận, chiến lược và tác động của việc Mỹ và Liên minh châu Âu đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc – Phần I


Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, cùng với việc kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng, những tranh luận về sự trỗi dậy của Trung Quốc trong giới chính trị và giới học giả của Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) cũng bắt đầu nổi lên. Tranh luận ban đầu từng có không ít người hoài nghi về cách nói sự trỗi dậy của Trung Quốc, ví dụ như học giả người Anh Geral Segal vào năm 1999 từng phát hành cuốn “Trung Quốc có quan trọng hay không”, từ ba mặt kinh tế, quân sự, chính trị nói rõ Trung Quốc không xứng đáng được gọi là nước lớn, mà là một quốc gia trung bình. Sau khi bước vào thế kỷ 21, sự trỗi dậy liên tục của Trung Quốc đã trở thành sự thực không thể bàn cãi trong chính trị quốc tế, sự hoài nghi nêu trên dần dần bị xóa bỏ. Barry Buzan và Rosemary Foot năm 2004 đã xuất bản cuốn “Trung Quốc có quan trọng hay không? – Đánh giá mới”, nói rõ sự tăng lên của thực lực và ảnh hưởng của Trung Quốc, phủ định quan điểm Trung Quốc là quốc gia trung bình của Geral Segal. Đến lúc này, giới lý luận của Mỹ và EU mới đạt được nhận thức chung cơ bản về sự trỗi dậy của Trung Quốc, trọng điểm tranh luận sau đó tập trung vào những ảnh hưởng mà sự trỗi dậy của Trung Quốc có thể gây ra đối với Đông Á, Mỹ và hệ thống quốc tế do phương Tây chủ đạo. Giáo sư Avery Goldstein của Đại học Pennsylvania (Mỹ) cho rằng sau Chiến tranh Lạnh, những tranh luận về an ninh quốc tế có hai chủ đề: Một là sự kết hợp của vũ khí hủy diệt hàng loạt, với quốc gia “lưu manh” và chủ nghĩa khủng bố quốc tế; Hai là, những tác động do sự trỗi dậy của Trung Quốc có thể gây ra đối với cộng đồng quốc tế. Những năm gần đây, trong bối cảnh cán cân sức mạnh giữa Trung Quốc và phương Tây nẩy sinh những thay đổi mới, sự tranh luận về việc Mỹ và EU đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc lại nổi lên, sự cảnh giác chiến lược đối với Trung Quốc cũng tăng lên.

Những nghiên cứu của giới học thuật trong và ngoài nước đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó tuy không ngừng tăng, nhưng vẫn tồn tại nhiều điểm chưa thỏa đáng. Từ những nghiên cứu về nhận thức và chiến lược đối phó của Mỹ và EU đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, việc tách ra để tiến hành nghiên cứu là tương đối nhiều, còn việc nghiên cứu so sánh thì tương đối ít, đặc biệt là thiếu những nghiên cứu đối với sự tác động qua lại giữa hai bên. Bài viết dựa vào góc độ so sánh để tìm tòi nhận thức và chiến lược đối phó của EU và Mỹ đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, với mục đích phát hiện sự khác biệt về nhận thức và chiến lược của hai bên, đồng thời phân tích sự tác động qua lại trong chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc của Mỹ và EU và tính hạn chế của sự tác động qua lại này. Điều cần phải nêu là việc thông qua đặc trưng của phạm trù lý thuyết để phân tích quá trình Mỹ và EU xây dựng chiến lược đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc, sẽ có lợi cho việc tìm ra sự khác biệt về chiến lược và nhận thức của hai bên, vì vậy việc bắt đầu phân tích từ lý luận là khởi điểm hợp lý để tiến hành nghiên cứu.

1/ Những tranh luận của giới lý luận của Mỹ và EU về việc liệu Trung Quốc có thể thực hiện trỗi dậy hòa bình hay không

Ba trường phái chủ yếu là chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo trong lý luận quan hệ quốc tế phương Tây và các nhóm học giả của Anh đều từng có sự tìm tòi đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc, và cũng không ngừng tranh luận đối với việc Trung Quốc liệu có thể thực hiện trỗi dậy hòa bình hay không.

Trong lý luận của chủ nghĩa hiện thực, căn cứ vào sự xác định về mặt lý luận đối với sự lựa chọn của một quốc gia là theo đuổi an ninh hay là quyền lực để có thể chia thành chủ nghĩa hiện thực phòng ngự và chủ nghĩa hiện thực tấn công. Chủ nghĩa hiện thực mang tính tấn công giả định quốc gia theo đuổi tối đa hóa quyền lực, cho rằng chỉ cần là nước lớn sẽ có khả năng bá quyền, bất luận là nước lớn đó liệu có mong muốn bá quyền hay không. John J. Mearsheimer, người đại diện của lý luận này đã cảnh báo Chính phủ Mỹ về mối nguy hiểm của sự trỗi dậy của Trung Quốc, cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc hoặc sự trỗi dậy của bất kỳ nước lớn nào đều gây nên xung đột. Năm 2010, John J. Mearsheimer phát hành cuốn “Bão táp tích tụ: Thách thức của Trung Quốc đối với quyền lực của Mỹ ở châu Á”, cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ khiến cho sự cạnh tranh an ninh giữa Trung Quốc và Mỹ ngày càng quyết liệt, và các nước láng giềng của Trung Quốc – bao gồm Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Nga, Việt Nam, Australia…, phần lớn sẽ liên kết với Mỹ để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, vì vậy sự trỗi dậy của Trung Quốc không thể là sự trỗi dậy hòa bình, chắc chắn sẽ nảy sinh xung đột. Trong quá trình này, có thể Mỹ cũng áp dụng các hành động cứng rắn, điều này đã làm tăng thêm rủi ro bùng nổ xung đột ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Chủ nghĩa hiện thực phòng ngự với Kenneth Neal Waltz làm đại diện thì cho rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc chưa chắc thậm chí sẽ không gây ra xung đột, vì: Một là, thực lực của Trung Quốc kém xa Mỹ, cái giá phải trả để thách thức Mỹ là quá cao; hai là, sau khi Trung Quốc cải cách mở cửa sẽ không nhấn mạnh xuất khẩu cách mạng, cơ bản thể hiện thái độ chủ nghĩa xét lại thỏa mãn hoặc ôn hòa đối với hệ thống quốc tế hiện nay; ba là, Đông Á không có nhiều khó khăn về an ninh. Về bản chất, Đông Á đang hình thành cục diện hai cực Trung – Mỹ, căn cứ theo lý luận của Kenneth Neal Waltz, cục diện này cho dù căng thẳng nhưng lại rất ổn định. Trung Quốc và Mỹ đều sở hữu vũ khí hạt nhân, có thể đe dọa lẫn nhau; cộng thêm sự xa cách về địa lý, khả năng hai nước xảy ra xung đột trực tiếp là rất nhỏ. Giáo sư chính trị học thuộc Đại học George Washington Charles Glaser cho rằng sức mạnh của kết cấu hệ thống thúc đẩy Trung Quốc và Mỹ đi đến xung đột không lớn, do sự tồn tại của sức mạnh kiềm chế hạt nhân và sự xa cách về vị trí địa lý, Trung Quốc không thể tạo thành mối đe dọa đối với Mỹ; đồng thời Trung Quốc cũng đang tăng cường xây dựng lực lượng răn đe, khả năng Mỹ tấn công Trung Quốc rất nhỏ. Vì vậy, sự trỗi dậy của Trung Quốc liệu có phải là sự trỗi dậy hào bình hay không, không được quyết định bởi sức ép của hệ thống, mà được quyết định bởi việc Trung Quốc và Mỹ liệu có nắm bắt ổn thỏa tình hình, xử lý chính xác mối quan hệ giữa hai bên. Nếu Mỹ có thể điều chỉnh phù hợp với môi trường quốc tế mới, đưa ra một số sự nhượng bộ, không nên thổi phồng nguyhiểm, thì xung đột giữa Trung Quốc và Mỹ có thể tránh khỏi.

Trong lý luận của chủ nghĩa tự do có chủ nghĩa tự do thương mại coi trọng thương mại tự do, chủ nghĩa tự do chính trị coi trọng dân chủ chính trị, cũng như chủ nghĩa cơ chế tự do mới coi trọng vai trò kiềm chế và điều tiết của các cơ chế quốc tế đối với xung đột giữa các nước. Trong những lý luận này, có nhiều quan điểm cho rằng Trung Quốc có thể thực hiện trỗi dậy hòa bình, căn cứ chủ yếu nằm ở sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa, sự hạn chế của các cơ chế quốc tế và tiến trình mở cửa dần dần về chính trị, kinh tế của Trung Quốc. Chủ nghĩa tự do thương mại cho rằng cải cách mở cửa khiến cho sự phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc và bên ngoài ngày càng sâu sắc, sự phụ thuộc của Trung Quốc đối với thị trường bên ngoài chiếm địa vị rất quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, vì vậy Trung Quốc có thể trỗi dậy hòa bình. Nhận thức của những người theo chủ nghĩa tự do chính trị đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc thường có liên quan với sự phán đoán của họ đối với tình hình trong nước Trung Quốc. Những người giữ thái độ lạc quan đối với quá trình chính trị trong tiến trình cải cách mở cửa Trung Quốc, cho rằng cùng với sự cải cách về kinh tế của Trung Quốc, dân chủ hóa chính trị sẽ là xu thế tất yếu, vì vậy sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng sẽ là sự trỗi dậy hòa bình, có lợi cho Mỹ hoặc thế giới phương Tây. Có thể nhận thấy, màu sắc ý thức hệ của chủ nghĩa tự do chính trị tương đối nặng nề, cho rằng Trung Quốc phải thực hiện dân chủ kiểu phương Tây, chỉ có như vậy, sự trỗi dậy hòa bình mới có thể thực hiện; nếu không sau khi Trung Quốc trỗi dậy, mô hình của nước này sẽ là thách thức lớn đối với hệ thống quốc tế, Trung Quốc là quốc gia không dân chủ nhưng có năng lực mạnh mẽ, hành vi đối ngoại của Trung Quốc sẽ có tính không xác định rất lớn, có thể phát động chiến tranh.

Trong các cuộc tranh cãi về lý luận của Mỹ trong những năm gần đây, chủ nghĩa cơ chế tự do mới dường như trở thành đại diện của chủ nghĩa tự do. Giáo sư John Ikenberry thuộc Đại học Princeton (Mỹ) nhấn mạnh cơ chế và quy tắc quốc tế có thể thúc đẩy sự hợp tác và phát triển, cho rằng việc Trung Quốc gia nhập cộng đồng quốc tế sẽ nảy sinh hiệu ứng câu lạc bộ. Trật tự quốc tế giống như một xã hội hỗ trợ lẫn nhau, gia nhập hệ thống quốc tế tức là có thể giành lấy cơ hội thương mại, cơ chế giải quyết tranh chấp, khuôn khổ hành động tập thể, giám sát và quản lý hiệp ước, liên minh bảo hộ an ninh, tài nguyên và sự hỗ trợ trong khủng hoảng. Hiện nay, Trung Quốc dựa vào hệ thống kinh tế thế giới mở cửa để tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng thu lợi từ các quy tắc và cơ chế hợp tác đa phương, ví dụ như lợi dụng các quy tắc để phản đối chủ nghĩa bảo hộ thương mại và các hành vi mang tính kỳ thị. Ngoài ra, quy tắc chủ quyền của hệ thống Westphalia hàm chứa trong trật tự quốc tế hiện nay cũng phù hợp với mục tiêu chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Và nếu Trung Quốc không tôn trọng quy tắc và quy phạm quốc tế, thì sẽ phải đối diện với rất nhiều sự kiềm chế: Một mặt, nếu Trung Quốc tạo nên thách thức địa chính trị toàn diện đối với hệ thống quốc tế hiện nay, có thể sẽ khiến cho các nước xung quanh liên kết để đối kháng với Trung Quốc, hình thành cái gọi là tự bao vây mình. Vì vậy, có lý do để tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ thông qua việc tham gia nhiều hơn nữa các cơ chế khu vực và toàn cầu để khiến cho các nước láng giềng Trung Quốc tin tưởng Trung Quốc quả thực đang theo đuổi trỗi dậy hòa bình. Mặt khác, Trung Quốc chưa tìm được mô hình thay thế trật tự quốc tế hiện nay, cho dù có tìm được thì cũng không thể thúc đẩy, vì trong thời đại vũ khí hạt nhân, chiến tranh giữa các nước lớn đã không còn khả thi. Dựa vào điều này John Ikenberry rút ra kết luận: khuyến khích và tạo cơ hội thúc đẩy Trung Quốc tiếp xúc và hội nhập trật tự quốc tế hiện nay, chính là để bảo vệ lợi ích của nước này. Vì vậy, sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ không thách thức trật tự quốc tế hiện nay, sẽ là sự trỗi dậy hòa bình. Đương nhiên, dựa vào sự khác nhau về kết cấu chính trị và cơ chế động lực phát triển trong nước của Trung Quốc và Mỹ, một số nhà lý luận của chủ nghĩa tự do cũng lo ngại sự trỗi dậy của Trung Quốc; họ cho rằng cùng với việc Trung Quốc hội nhập hệ thống quốc tế và ngày càng mở cửa, trong quá trình hướng tới dân chủ và mở cửa, Trung Quốc có thể gây ra sự mất ổn định trong hệ thống quốc tế.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Triển vọng quốc tế (TQ) – số 3/2014

CVĐQT số 9/2014

Lịch sử phát triển tư duy chiến lược của Mỹ – Phần cuối


Lưu Minh Phúc

….

Về cái gọi là “nguyên tắc hệ thống châu Mỹ”, bản thông điệp chỉ rõ: “Về mặt này, chế độ chính trị của các nước thuộc Liên minh (chỉ Liên minh thần thánh) rất khác với chế độ chính trị của châu Mỹ. …… Chúng tôi sẽ cho rằng ý đồ muốn khai triển chế độ của họ sang bất kỳ bộ phận nào trên bán cầu chúng tôi đều sẽ gây nguy hại đối với hoà bình và an toàn của chúng tôi.” Thông điệp viết tiếp: “Bởi vậy,  chúng tôi cũng không thể ngồi yên mà nhìn sự can thiệp ấy dưới bất kỳ phương thức nào.” Thông điệp ca ngợi chủ nghĩa cộng hoà của châu Mỹ, dứt khoát chia tách châu Mỹ coi như một hệ thống hoàn toàn khác với châu Âu của chủ nghĩa quân chủ chuyên chế. Đây là nguyên tắc “hệ thống châu Mỹ” tách rời châu Mỹ với châu Âu. Hàm nghĩa của “hệ thống châu Mỹ” là ngăn chặn và tiến một bước tới việc bài xích ảnh hưởng chính trị của các cường quốc châu Âu tại Tây bán cầu, làm cho châu Mỹ và châu Âu “thoát ly tiếp xúc”, dọn đường cho Mỹ bành trướng tại Tây bán cầu.

Bản thông điệp nói trên đại diện cho chính sách của chính phủ Mỹ đối với châu Mỹ La Tinh; trước đó Mỹ chưa hề bàn bạc gì với các nước Mỹ La Tinh mà đã phát đi bản thông điệp này với tư cách người bảo hộ của các nước đó. Chủ nghĩa Monroe là sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích bành trướng hiện có và trong tương lai sẽ có của giai cấp tư sản Mỹ trong tình hình quốc tế phức tạp: tồn tại thực tế ý đồ của Liên minh thần thánh các thế lực phản động quốc tế muốn can thiệp vũ trang vào châu Mỹ La Tinh, giai cấp tư sản Anh và Mỹ tranh giành gay gắt châu Mỹ La Tinh, hai nước Nga và Mỹ đang có xung đột sâu sắc.

Chủ nghĩa Monroe trở thành một nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Nó tuyên truyền tư tưởng dân chủ cộng hoà của giai cấp tư sản chống lại chế độ chuyên chế quân chủ phong kiến của châu Âu; về khách quan, nó ủng hộ sự độc lập của các nước Mỹ La Tinh, ngăn cản dã tâm của các cường quốc Anh, Pháp, Nga muốn bành trướng thế lực chính trị, kinh tế và lập thuộc địa mới tại châu Mỹ, tuyên ngôn này có ý nghĩa tiến bộ nhất định. Thế nhưng Tuyên ngôn Monroe dùng chiêu bài “châu Mỹ là của người châu Mỹ”, trên thực tế nó là tuyên ngôn của nước Mỹ muốn lập sự thống trị của mình tại khu vực châu Mỹ và tranh bá với các cường quốc châu Âu. Cùng với sự phát triển của lịch sử nước Mỹ, Tuyên ngôn Monro từng có tác dụng tiến bộ đã trở thành công cụ để Mỹ tiến hành xâm lược bành trướng, phục vụ việc thực hiện “châu Mỹ là của người Mỹ”.

Dưới ngọn cờ chủ nghĩa Monroe, nước Mỹ tiến hành bành trướng lãnh thổ điên cuồng tại đại lục châu Mỹ. Những năm 30 – 40 thế kỷ 19, nước Mỹ cướp được Texas từ Mexico; thời gian 1842 – 1844 Mỹ đẩy Anh ra khỏi Oregon; những năm 1846 – 1848, Tổng thống Mỹ Polk phát động chiến tranh xâm lược Mexico, cướp đoạt hơn một nửa toàn bộ lãnh thổ Mexico. Thời gian 1819-1853, qua những phương thức cướp đoạt, thôn tính, mua rẻ tiến hành trên đại lục Bắc Mỹ, nước Mỹ đã mở rộng lãnh thổ thêm 1,3 triệu dặm vuông Anh, tương đương khoảng 80% tổng diện tích lãnh thổ nước Mỹ trước năm 1819, bao gồm vùng đất rộng lớn của 6 bang California, Nevada, Utah, Colorado, Arizona, New Mexico. Tới trước giữa thế kỷ 19, lãnh thổ Mỹ đã từ dải đất hẹp và dài của 13 bang dọc bờ biển Đại Tây Dương mở rộng đến tận bờ biển Thái Bình Dương.

Mahan sáng lập “Thuyết sức mạnh biển”: đại chiến lược Mỹ đi ra ngoài nước

Giai đoạn thứ ba và hình thái thứ ba của đại chiến lược Mỹ được đánh dấu bằng việc Mahan sáng lập “Thuyết sức mạnh biển”; thuyết này làm cho đại chiến lược Mỹ từ chiến lược bá quyền châu Mỹ mở rộng thành chiến lược biển nhằm xây dựng “đế quốc Thái Bình Dương” vừa vặn đúng vào lúc lãnh thổ nước Mỹ mở rộng về phía Tây đến bờ biển Thái Bình Dương. Do đất đai miền Tây đã khai thác hết, thị trường trong nước phân chia đã xong, mâu thuẫn giai cấp ngày một gay gắt, các nhà tư bản độc quyền Mỹ bèn chĩa mũi nhọn xâm lược ra ngoài biển. Nhưng vào lúc ấy lãnh thổ thế giới đã bị các đế quốc già xâu xé xong xuôi, còn lại ba nước nửa độc lập là Trung Quốc, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ. Ba nước này ngày ấy thuộc diện ba bệnh nhân ốm yếu của thế giới, là đối tượng để các cường quốc đấu đá kịch liệt. Nước Mỹ yêu cầu phân chia lại thế giới.

Vào thời đó nước Mỹ xuất hiện một lớp người theo chủ nghĩa bành trướng như Mahan, Theodore Roosevelt, Henry Cabot Lodge, và hình thành một thế lực chính trị xã hội. Tuy số người này không nhiều song họ có địa vị cao, năng lực hoạt động mạnh. Theodore Roosevelt mới đầu là Trợ lý Bộ trưởng Bộ Hải quân, sau làm phó Tổng thống rồi Tổng thống Mỹ. Henry Cabot Lodge từng nhiều năm làm Thượng nghị sĩ, Chủ tịch Uỷ ban Đối ngoại Thượng viện. Họ cổ suý cho cái gọi là “Thuyết đế quốc Thái Bình Dương”, tập trung phản ánh tham vọng mạnh mẽ của tập đoàn tài chính phố Wall muốn bành trướng ra ngoài. Những người này đã có ảnh hưởng lớn đối với việc ấn định và thực thi chính sách ngoại giao Mỹ. Họ tự cho mình là kẻ thành tâm tin phục thuyết sức mạnh biển và “Thuyết đế quốc Thái Bình Dương” do Mahan tuyên truyền; họ là những người làm ra “chính sách lớn”. Bọn họ cực lực chủ trương tăng cường hải quân, cướp đoạt các căn cứ địa, xưng bá trên biển. Cái gọi là “chính sách lớn” chủ yếu là nói chiếm Cuba, các căn cứ trên biển Ca-ri-bê, đào kênh Panama, chiếm các đảo Hawaii, Philippines giữa Thái Bình Dương, xây dựng đế quốc Thái Bình Dương. Cuối thế kỷ 19, để quán triệt chính sách này, Mỹ đã tiến hành một loạt hoạt động xâm lược. Việc phát động chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha, đẩy mạnh chính sách mở cửa các nước là những thách thức mà Mỹ dành cho các đế quốc thực dân châu Âu già cỗi, nhằm giành lấy và mở rộng ảnh hưởng quốc tế của mình.

Bản thiết kế “chủ nghĩa thế giới” của Roosevelt: đỉnh cao của đại chiến lược Mỹ

Lý tưởng và bản thiết kế “chủ nghĩa thế giới” của Roosevelt[3] trước ngày kết thúc Thế chiến II là giai đoạn 4 và hình thái thứ tư của đại chiến lược Mỹ.

Sau Thế chiến I, chiến lược đi ra thế giới của Wilson gặp trắc trở. Nhưng nỗ lực của Wilson rốt cuộc là một thử nghiệm của nước Mỹ. Tiến trình Thế chiến II đem lại cơ hội rất tốt cho việc Mỹ xây dựng bá quyền thế giới. Sau năm 1943, Roosevelt tỏ ý rõ ràng là “quyền lực mà nước Mỹ đã giành được – quyền lực đạo nghĩa, chính trị, kinh tế và quân sự” “đem lại cho nước Mỹ trách nhiệm lãnh đạo cộng đồng quốc tế và theo đó cơ hội cũng đến”. Trước khi Thế chiến II kết thúc, tập đoàn lãnh đạo Mỹ với đại diện là Roosevelt và Hull[4] từng đưa ra một số ý tưởng và biện pháp sau này được sử gia Arthur Meier Schlesinger Jr. gọi là “chủ nghĩa thế giới”. Họ cho rằng chiến tranh đã làm cho cơ cấu thế quân bình truyền thống của châu Âu bị phá hoại nặng, cần phải dựa vào Mỹ, Liên Xô và Anh Quốc để duy trì trật tự thế giới. Mỹ nên và có thể ở trong thế giới này, thông qua tổ chức Liên Hợp Quốc để giữ gìn kết cục an ninh tập thể thay cho thế quân bình và pham vi thế lực của các nước lớn, bảo đảm địa vị lãnh đạo thế giới của Mỹ. Thời kỳ đầu sau chiến tranh, hoài bão “chủ nghĩa thế giới” của Roosevelt và sắc thái mê hồn của “chủ nghĩa lý tưởng” của ông vẫn là nguyên tắc cơ bản trong chính sách ngoại giao Mỹ. Tới đầu năm 1946, ý kiến về tính chất thế giới sau chiến tranh và phương châm của Mỹ đối với Liên Xô đã dần dần hình thành. Luồng ý kiến chủ yếu ở Mỹ cho rằng Liên Xô đã từ bạn đồng minh trong chiến tranh trở thành đối thủ tranh giành bá quyền thế giới, Liên Xô đã không còn là bạn hợp tác mà là đối tượng cần ngăn chặn.

Quỹ đạo phát triển đại chiến lược của Mỹ sau ngày lập quốc là một quá trình tiến theo thời gian. Đây là một quá trình đi từ chiến lược độc lập ngoại giao nhà nước đến chiến lược bá quyền khu vực châu Mỹ của chủ nghĩa Monroe, rồi đến chiến lược đế quốc biển xông ra khỏi châu Mỹ tiến ra ngoài nước, cuối cùng vào sau Thế chiến II đạt tới đỉnh cao của mình trong chiến lược “chủ nghĩa thế giới” lấy xưng bá toàn cầu làm mục tiêu. Trong quá trình đó đại chiến lược Mỹ thích ứng với nhu cầu nước Mỹ trỗi dậy, dẫn dắt thực hiện sự trỗi dậy của nước Mỹ. Thành công  trỗi dậy của nước Mỹ cũng là thành công của tư tưởng chiến lược Mỹ.

Văn hoá Mỹ không phải là văn hoá “phi chiến lược”

Ông Nữu Tiên Chung chuyên gia chiến lược học nổi tiếng Trung Quốc viết trong cuốn “Nghiên cứu chiến lược” như sau: Người Mỹ coi trọng kỹ thuật mà không coi trọng tư tưởng, coi trọng quản lý mà không coi trọng chiến lược. Bởi vậy, văn hoá chiến lược Mỹ là một loại văn hoá “phi chiến lược”. Ông còn nêu lên bối cảnh độc đáo của sự hình thành văn hoá chiến lược Mỹ: Một, từ ngày dựng nước tới nay nước Mỹ về địa lý luôn cách ly với thế giới bên ngoài, đây cũng là căn nguyên của chủ nghĩa biệt lập. Hai, trong quá trình khai sơn phá thạch, các vấn đề người Mỹ phải đối mặt đều là vấn đề đời sống hiện thực bức thiết, hình thành tâm trạng ăn xổi ở thì, chỉ cầu lợi trước mắt. Ba, Mỹ là nước không có truyền thống lịch sử lâu đời, cho nên trên dưới cả nước đều phổ biến thiếu ý thức lịch sử. Bốn, xã hội Mỹ là xã hội công nghiệp hoá cao độ, hầu như người Mỹ đều là kỹ sư cả, vì thế đối với bất kỳ vấn đề nào họ đều muốn tìm kiếm giải đáp có tính kỹ thuật. Kiểu nhận thức như vậy không đúng với thực tế quá trình chiến lược Mỹ

Văn hoá chiến lược của một quốc gia trước hết thể hiện trên sự theo đuổi chiến lược của quốc gia đó. Mục tiêu của người Mỹ có tính chiến lược rất mạnh. Những người thực dân Mỹ đầu tiên đến Tân đại lục đều có lý tưởng muốn xây dựng trên mảnh đất mới này một quốc gia mới khác với cựu đại lục truyền thống, mong muốn có thể theo ý chỉ của Thượng Đế xây dựng một thành phố trên đỉnh đồi, trở thành hình mẫu của thế gian. Tri thức mà người Mỹ ban đầu cần tìm kiếm gồm hai mặt: một là hướng lên Thượng Đế theo đuổi tín ngưỡng siêu việt tinh thần; hai là hướng về đời sống thế tục theo đuổi việc tìm kiếm kinh nghiệm và các tri thức lý trí về sự huyền diệu của thế giới vật chất. Một quần thể chiến lược và mục tiêu chiến lược như vậy đã quyết định việc họ tất nhiên phải tôn sùng và sáng tạo nền văn hoá chiến lược.

Văn hoá chiến lược Mỹ sau ngày dựng nước đã có nhiều sáng tạo ảnh hưởng sâu sắc tới thế giới. Thí dụ sáng tạo chiến lược trong cuộc cách mạng độc lập Mỹ, sáng tạo chiến lược trong cuộc chiến tranh thống nhất nước Mỹ, sáng tạo chiến lược “Chính sách Mới” của Roosevelt, thiết kế thế giới sau Thế chiến II của người Mỹ, dù trên mặt nội chính hoặc ngoại giao đều có rất nhiều sáng tạo đi đầu lịch sử, xuất sắc trên thế giới. Dấu vết chiến lược và quỹ đạo đại chiến lược Mỹ đều nói lên Mỹ là một nước lớn chiến lược, cường quốc chiến lược. Văn hoá chiến lược của một quốc gia, tính chiến lược của văn hoá quốc gia chủ yếu thể hiện trên sự thực hiện chiến lược, tư duy chiến lược và việc giải quyết các vấn đề chiến lược lớn của quốc gia đó. Quốc gia nào không xuất sắc về chiến lược thì không thể trỗi dậy thành công. Tuy là nước có lịch sử ngắn nhất trong số các nước lớn trỗi dậy, nhưng quá trình thực hiện chiến lược hưng quốc của Mỹ rất đặc sắc. Tuy tôn sùng kỹ thuật, chú trọng thực dụng nhưng Mỹ cũng là một quốc gia chiến lược phát triển tốt. Cho dù có khuyết điểm chỉ cầu lợi trước mắt nhưng Mỹ cũng có ưu điểm biết suy tính trước sau. Bởi vậy, văn hoá Mỹ không phải là văn hoá “phi chiến lược”.

Biên dịch và chú thích: Nguyễn Hải Hoành

Nguồn:  Trích dịch từ 《中国梦》, 作者: 刘明福, 出版社: 中国友谊出版公司

Lưu Minh Phúc là Đại tá, Giáo sư trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc.

——

[1] Alexis de Tocqueville, 1805-1859, người Pháp, nhà chính trị học và sử gia, nghị sĩ nền Cộng hoà thứ II , uỷ viên ban soạn thảo Hiến pháp, tác giả 2 cuốn sách Nền dân chủ Mỹ , Chế độ cũ và Đại cách mạng. 

[2] Alfred Thayer Mahan, 1840-1914, người Mỹ, nhà chiến lược biển và sử gia biển, sáng lập thuyết Sức mạnh biển (Sea Power Theory), sĩ quan chỉ huy trong cuộc chiến Mỹ- Tây Ban Nha năm 1898. Tổng thống F. Roosevelt ca ngợi ông là một trong những nhân vật vĩ đại nhất, có ảnh hưởng nhất ở nước Mỹ.

[3] Ở đây là Franklin Roosevelt, 1882-1945, Tổng thống Mỹ thứ 32, làm TT 4 nhiệm kỳ liền (1933-1945), được coi là TT tốt nhất nước Mỹ.

[4] Corrdell Hull, 1871-1955, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ 1933-1943, ủng hộ New Deal của Roosevelt.

Lịch sử phát triển tư duy chiến lược của Mỹ – Phần đầu


Lưu Minh Phúc

Trong số tất cả các nước lớn trỗi dậy, kinh nghiệm của Mỹ có ý nghĩa nhất đối với Trung Quốc. Sự trỗi dậy của Mỹ có đặc điểm nhanh, thuận lợi, trả giá nhỏ, hiệu ích cao, là sự trỗi dậy thông minh nhất, trí tuệ nhất, nghệ thuật nhất, ly kỳ nhất. Sự trỗi dậy của nước Mỹ đứng trước tình trạng các đối thủ cạnh tranh vừa nhiều lại vừa hùng mạnh. Đức, Nhật, Liên Xô lần lượt tiến hành cạnh tranh chiến lược và đua tài với Mỹ, nhưng cuối cùng Mỹ thắng.

Kinh nghiệm trỗi dậy của Mỹ chủ yếu thể hiện trên ba mặt: một là Mỹ có kinh nghiệm vượt qua sự ngăn chặn, trỗi dậy thành công; hai là Mỹ có kinh nghiệm ngăn chặn kẻ khác, bảo vệ bá quyền; ba là Mỹ có kinh nghiệm ngăn chặn chia rẽ, giữ gìn sự thống nhất quốc gia. Con đường nước Mỹ đi qua trên ba phương diện này đều là tài sản chiến lược quý giá Trung Quốc có thể tham khảo.

Trung Quốc nghiên cứu kinh nghiệm của Mỹ về mặt ngăn chặn kẻ khác và bảo vệ bá quyền là nhằm thông qua tìm hiểu các thủ đoạn của Mỹ ngăn chặn kẻ khác để xem xét việc ứng phó hữu hiệu với sự ngăn chặn của Mỹ. Trên thế giới ngày nay Mỹ là quốc gia duy nhất có thể ngăn chặn Trung Quốc trỗi dậy. Bởi vậy, Trung Quốc muốn trỗi dậy thành công thì phải học tập Mỹ, nghiên cứu Mỹ, đối phó với Mỹ. Trên vấn đề nước lớn trỗi dậy, Mỹ là người thầy tốt nhất của Trung Quốc.

Mỹ là nước lớn về chiến lược

Có người tiến hành so sánh đối chiếu người Mỹ với người Nhật và cho rằng trên các kế sách mưu tính nhỏ có thể người Mỹ không bằng người Nhật, nhưng trên chiến lược lớn thì sự cao minh của người Mỹ vượt xa người Nhật; Mỹ là “nước nhỏ về toan tính, nước lớn về chiến lược”.

Nước lớn trỗi dậy là lớn về chiến lược. Nước lớn trỗi dậy thành công là thành công của chiến lược lớn. Trong thời gian hơn 200 năm, nước Mỹ từng mắc không ít sai lầm, nhưng rất ít xuất hiện, có thể nói là chưa từng xuất hiện những sai sót về quyết sách chiến lược dẫn đất nước tới chỗ xảy ra sự tụt lùi lớn. Lịch sử trỗi dậy của nước Mỹ chứng tỏ họ là một nước lớn chiến lược thành công, trên chiến lược lớn họ là một tay đại sừng sỏ.

Washington đầu tiên đề xướng “chủ nghĩa biệt lập”:  sự ra đời đại chiến lược “chủ nghĩa độc lập” Mỹ

Có thể nói chủ nghĩa biệt lập là đại chiến lược thứ nhất của nước Mỹ sau ngày lập quốc, là giai đoạn lịch sử thứ nhất và hình thái đầu tiên của đại chiến lược Mỹ

Chủ nghĩa biệt lập có căn nguyên sâu xa ở nước Mỹ, là truyền thống hình thành từ thời đại Washington. Chủ nghĩa này cho rằng “Tân thế giới” (Tây bán cầu) ưu việt hơn thế giới cũ, nó không muốn gắn kết với châu Âu thối nát và lạc hậu, lại càng không muốn cuốn vào cuộc tranh chấp của châu Âu. Hàm nghĩa cơ bản của chủ nghĩa biệt lập là: nước Mỹ không cuốn vào công việc của châu Âu, nước Mỹ thi hành chính sách ngoại giao độc lập không chịu sự kiềm chế của châu Âu. Về thực chất, chủ nghĩa biệt lập thích ứng với nền độc lập quốc gia Mỹ, kiên trì sự độc lập của Mỹ về ngoại giao; cũng là một kiểu chiến lược thủ thành trong tình hình nước Mỹ mới thành lập, lực còn chưa đủ mạnh.

Tư tưởng chiến lược của chủ nghĩa biệt lập Mỹ được thể hiện sâu sắc nhất trong bài diễn thuyết từ biệt của khai quốc công thần Washington ngày 17/9/1796. Nhà chính luận Pháp Tocqueville[1] có viết một đoạn bình luận đặc sắc trong danh tác “Nền dân chủ Mỹ” xuất bản năm 1835 như sau:

“Có hai người cho tới nay vẫn có ảnh hưởng đối với việc chỉ đạo chính sách ngoại giao Mỹ, người thứ nhất là Washington, người thứ hai là Jefferson. Washington có một bức thư đáng ca ngợi gửi đồng bào mình, chúng ta có thể coi đó là di chúc chính trị của bậc vĩ nhân này. Bức thư viết:

‘Về mặt chính sách đối ngoại, quy tắc hành xử chủ yếu của chúng ta là: mở rộng thông thương buôn bán với nước ngoài, hết sức cố gắng ít có quan hệ chính trị với nước ngoài. Nói về các hiệp ước chúng ta đã ký kết, chúng ta phải hết sức tôn trọng. Nhưng chúng ta cũng chỉ làm thế mà thôi.’

‘Các nước châu Âu có một bộ lợi ích căn bản liên quan lẫn nhau, những lợi ích ấy nếu không phải là căn bản không có liên quan tới chúng ta thì cũng chỉ có quan hệ cực kỳ xa xôi với chúng ta. Bởi vậy, tất nhiên họ sẽ rơi vào tình trạng thường xuyên không ngừng tranh chấp, nhưng nguồn gốc sự tranh chấp ấy về bản chất là không liên quan tới chúng ta. Cho nên từ nay về sau muốn dùng sợi dây nhân tạo gắn kết chúng ta với các biến động chính trị hàng ngày của châu Âu, hoặc gắn kết chúng ta với sự chia rẽ và hợp nhất của các nước châu Âu lúc thì đối địch nhau, lúc thì làm bạn với nhau – đó là việc rất không khôn ngoan.”

‘Vị trí địa lý của chúng ta một mình một cõi, xa cách các nước khác, đã thúc đẩy và cho phép chúng ta có thể áp dụng đường lối khác mọi người. Giả thử dưới sự quản trị của một chính phủ có hiệu suất, chúng ta tiếp tục tồn tại như một dân tộc, thì trong tương lai không xa chúng ta sẽ có thể không phải chịu các thiệt hại vật chất do sự xâm lược của nước ngoài, có thể áp dụng lập trường giúp chúng ta bất kỳ lúc nào cũng có thể giữ nền trung lập được tôn trọng, có thể làm cho các nước giao chiến vì không kiếm được chút lợi lộc nào từ chúng ta mà không dám nhắm mắt làm bừa khiêu khích chúng ta, có thể căn cứ theo nguyên tắc lợi ích và chính nghĩa của chúng ta mà lựa chọn hoà bình hoặc chiến tranh.’

‘Vì sao lại từ bỏ lợi ích do vị trí địa lý độc đáo đem lại? Vì sao lại rời bỏ căn cứ của mình mà chạy đến căn cứ ở nước ngoài? Vì sao phải gắn liền vận mệnh của chúng ta với vận mệnh của một bộ phận nào đó ở châu Âu, qua đó làm cho nền hoà bình và phồn vinh của chúng ta dính dáng với dã tâm, sự đối kháng, lợi hại, tuỳ tiện của người châu Âu?’

‘Chính sách đúng đắn của chúng ta là tránh mãi mãi liên kết đồng minh với bất cứ nước ngoài nào. Ý tôi muốn nói chúng ta cần hành động không chịu sự ràng buộc như hiện nay; xin chớ hiểu lời tôi là tôi chủ trương không tôn trọng các hiệp ước hiện có. Xưa nay thành thực bao giờ cũng là phương sách tốt nhất; trong công việc nhà nước tôi tuân theo châm ngôn này không kém gì trong việc riêng. Bởi vậy, tôi nhắc lại lần nữa, chúng ta phải tuân thủ các hiệp ước căn cứ theo bản nghĩa của hiệp ước. Nhưng tôi cho rằng việc mở rộng hiệp ước hoặc ký kết hiệp ước mới đều là không cần thiết và không khôn ngoan.’

‘Trước sau như một phải chú ý áp dụng các biện pháp thích đáng nhằm để mình giữ được thế phòng ngự được người khác tôn trọng, trong trường hợp gặp nguy hiếm bất trắc cũng có thể lợi dụng một cách an toàn liên minh tạm thời.’”

“Trước đoạn nói trên, Washington có nói một danh ngôn chí lý đáng khâm phục: ‘Một quốc gia bao giờ cũng quen căm ghét hoặc ưa thích một quốc gia khác, thì quốc gia đó giống như một kẻ nô lệ, tức trở thành kẻ nô lệ của lòng yêu và ghét của mình.’ Hoạt động chính trị của Washington bao giờ cũng tuân theo những châm ngôn đó. Trong khi tất cả các nước khác trên thế giới đều cuốn vào chiến tranh thì ông lại làm cho đất nước mình giữ được hoà bình. Ông cho rằng lợi ích căn bản của người Mỹ là quyết không dính dáng tới sự tranh chấp nội bộ châu Âu, và ông coi điểm này là chuẩn tắc hành động của ông.”

“Jefferson còn đi xa hơn, châm ngôn ông tuân theo về chính sách đối ngoại là: ‘Người Mỹ quyết không đòi hỏi nước ngoài cho mình đặc quyền nào, nhằm tránh để mình bị ép phải nhường đặc quyền cho nước ngoài.’”

“Chính sách đối ngoại của Mỹ là một kiểu chính sách chờ xem mà họ thi hành rất tốt. Chính sách đó yêu cầu không làm điều mình không muốn làm, chứ không phải là việc gì cũng làm.”

Diễn thuyết từ biệt có tính di chúc chính trị của Washington là bản tuyên ngôn của chiến lược Mỹ, được gọi là cương lĩnh nguyên tắc đối ngoại của chủ nghĩa biệt lập Mỹ, giá trị chiến lược của nó không kém gì “Sức mạnh biển” của Mahan.[2] Di chúc chính trị của Washington là kết tinh trí tuệ chiến lược của các bậc khai quốc công thần Mỹ, là sự sáng tạo của trí tuệ chiến lược Mỹ thời đại đó, là tư tưởng chỉ đạo thực tiễn chiến lược Mỹ 100 năm sau đó…. Di chúc này có thể sánh ngang bất kỳ trước tác tư tưởng chiến lược kinh điển nào trên thế giới.

Sự ra đời “chủ nghĩa Monroe”:  sự hình thành đại chiến lược “chủ nghĩa bá quyền khu vực” của Mỹ

Nếu nói rằng trong diễn văn từ biệt của mình, Washington đã ấn định đại chiến lược chủ nghĩa biệt lập cho nước Mỹ và đại chiến lược đó là giai đoạn thứ nhất và hình thái đầu tiên của đại chiến lược Mỹ, thì chủ nghĩa Monroe là giai đoạn hai và hình thái thứ hai của đại chiến lược Mỹ. “Chủ nghĩa biệt lập” trên thực tế là “chủ nghĩa độc lập” của chiến lược ngoại giao Mỹ, tức là sau khi giành được độc lập quốc gia từ sự thống trị thuộc địa của Anh, nước Mỹ về chính sách ngoại giao nhà nước cũng phải độc lập thoát ra khỏi hệ thống châu Âu và sự ràng buộc của châu Âu, không thể rơi vào sự tranh chấp của hệ thống châu Âu, không thể trở thành một quân cờ trên bàn cờ lớn châu Âu. Còn chủ nghĩa Monroe thì lại dựa trên cơ sở độc lập về ngoại giao, nước Mỹ từ chủ nghĩa độc lập quốc gia đi tới chủ nghĩa bá quyền khu vực trong phạm vi châu Mỹ. […] Đây là một giai đoạn chuyển tiếp của Mỹ đi lên bá quyền thế giới, là một giai đoạn trung gian.

Sau khi dựng nước, chính sách ngoại giao của Mỹ tuân theo nguyên tắc chủ nghĩa biệt lập do Washington ấn định, không liên minh với bất kỳ quốc gia nào, không cuốn vào công việc của châu Âu. Nhưng ngay từ đầu thế kỷ 19 Mỹ đã coi châu Mỹ La Tinh là sân sau của mình, không cho người khác xà xẻo. Năm 1823, chính phủ Mỹ đưa ra “chủ nghĩa Monroe” nổi tiếng, không cho phép châu Âu lập thuộc địa tại châu Mỹ. Tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa này là “Châu Mỹ là của người châu Mỹ”, trên thực tế là muốn biến châu Mỹ thành châu Mỹ của người Mỹ. Sự đề xuất chủ nghĩa Monroe là một bước nhảy vọt quan trọng của đại chiến lược Mỹ, từ chủ nghĩa độc lập quốc gia tới chủ nghĩa bá quyền khu vực.

Ngày 2/12/1823, Tổng thống Mỹ Monroe đưa ra Thông điệp do Adams thảo, nội dung chủ yếu về mặt ngoại giao trong Thông điệp này được gọi là “Chủ nghĩa Monroe”, nội dung chính gồm ba nguyên tắc cơ bản: – nguyên tắc “Phản đối các quốc gia châu Âu cướp thuộc địa ở châu Mỹ”; – nguyên tắc “không can thiệp”; – nguyên tắc “hệ thống châu Mỹ”.

Về cái gọi là nguyên tắc “Phản đối các quốc gia châu Âu lại cướp thuộc địa ở châu Mỹ”, trong bản Thông điệp có nói: Đại lục châu Mỹ do đã giành được và giữ được trạng thái tự do và độc lập, từ nay không thể lại bị coi là nơi bất cứ quốc gia châu Âu nào sẽ dùng làm thuộc địa.”

Nguyên tắc này do Mỹ đề ra tuy có bao gồm nguyên tắc chống chủ nghĩa thực dân nhưng ý đồ thực sự là nhằm bảo đảm quyền lợi bành trướng lãnh thổ của Mỹ, hạn chế và ràng buộc các nước châu Âu tiến hành bành trướng mới tại châu Mỹ, chống lại việc bất kỳ quốc gia châu Âu nào lập thuộc địa mới và tiến hành chuyển nhượng thuộc địa tại châu Mỹ. Đây là nguyên tắc ngoại giao dùng để bảo đảm nước Mỹ có thể mở rộng lãnh thổ của mình trong điều kiện sức chưa đủ mạnh,

Cái gọi là “Nguyên tắc không can thiệp” gồm hai tầng nghĩa: một là không cho phép các nước châu Âu can thiệp công việc của châu Mỹ. Bản Thông điệp chỉ rõ: “Các chính phủ đã tuyên bố độc lập và đang duy trì độc lập (qua xem xét thận trọng và căn cứ theo nguyên tắc chính nghĩa, chúng ta đã thừa nhận nền độc lập của họ) nếu bị bất kỳ quốc gia châu Âu nào tiến hành can thiệp nhằm áp bức họ hoặc dùng các phương thức khác khống chế vận mệnh họ thì chúng ta chỉ có thể cho rằng đó là biểu hiện của ý đồ không hữu hảo đối với nước Mỹ.” Hai là nước Mỹ không can thiệp vào châu Âu. Thông điệp vạch ra: “Chúng tôi chưa từng và trong tương lai sẽ không can thiệp vào các thuộc địa hoặc nhượng địa của bất kỳ quốc gia châu Âu nào”. Nguyên tắc không can thiệp ấy gồm hai nguyên tắc “can thiệp” và “không can thiệp”. Nghĩa là Mỹ phản đối bất kỳ quốc gia nào của châu Âu can thiệp vào công việc của châu Mỹ, nhưng Mỹ lại có quyền can thiệp công việc của châu Mỹ; can thiệp công việc châu Mỹ trở thành quyền lợi chỉ nước Mỹ mới có.

(còn tiếp)

Biên dịch và chú thích: Nguyễn Hải Hoành

Nguồn:  Trích dịch từ 《中国梦》, 作者: 刘明福, 出版社: 中国友谊出版公司

Lưu Minh Phúc là Đại tá, Giáo sư trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc.