“Vòng ngọc bích” đối phó với “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc – Phần đầu


P.R. Shanka

Với việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Mamallapuram để tham dự cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức với Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, đã đến lúc phải có cái nhìn thực tế về mối quan hệ Trung – Ấn. Đã xuất hiện rất nhiều bài báo về cách thức thúc đẩy quan hệ song phương Trung – Ấn. Không có vấn đề gì với tất cả những nguyên tắc cơ bản và mối quan hệ tuyệt vời giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Narendra Modi. Mặc dù những hoạt động nhằm tạo ra sự hòa hợp này nên tiếp diễn, nhưng Ấn Độ vẫn cần phải có cái nhìn thấu đáo vào thực tế để tăng cường chiến lược dài hạn nhằm đối phó với Trung Quốc. Thực tế quan hệ Trung – Ấn sau sự cố Doklam, cho dù có bỏ qua những tranh cãi và sự thù địch trong quá khứ, vẫn khá ảm đạm. Trung Quốc tiếp tục ngăn cản Ấn Độ gia nhập Nhóm các nước cung cấp hạt nhân (NSG). “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc ngày một lớn mạnh. Tình trạng mất cân bằng thương mại lan rộng. Trung Quốc đang hỗ trợ Pakistan trong tất cả các hoạt động của nước này. Pakistan là con rối bị Trung Quốc giật dây để chống lại Ấn Độ. Hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan (CPEC) tiếp tục phát triển, bất chấp những quan ngại về chủ quyền của Ấn Độ. Trung Quốc đã nhiều  lần cản trở Liên hợp quốc tuyên bố Masood Azhar là phần tử khủng bố. Họ đã chuyển hướng dòng chảy của sông Brahmaputra với thái độ hoàn toàn thiếu tôn trọng các nước khác. Tuyên bố chung Trung Quốc – Pakistan được đưa ra ngay trước khi cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tập Cận Bình và Narendra Modi diễn ra cũng không giúp thúc đẩy lòng tin giữa hai nước. Tất cả những điều này củng cố tuyên bố của Shri George Fernandes: Trung Quốc là kẻ thù số một của Ấn Độ.

Chiến lược “Vòng ngọc bích”

Phần lớn các chuyên gia đều phân tích Trung Quốc từ quan điểm lấy Ấn Độ làm trung tâm. Nếu nhìn nhận Trung Quốc một cách khách quan, thì sẽ thấy một số tùy chọn thú vị đã xuất hiện. Một phương án hấp dẫn là đáp trả “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương bằng một “Vòng ngọc bích” gồm nhiều tuyến. Theo quan điểm của tác giả, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Macau, Việt Nam, Tây Tạng, Gilgit-Baltistan, Tân Cương và Mông Cổ hình thành nên tuyến đầu tiên của “Vòng ngọc bích”. Tuyến thứ hai là tôn giáo và dân chủ. Tuyến thứ ba là quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – Ấn và Bộ Tứ Tuyến thứ tư là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các quốc đảo Thái Bình Dương. Tuyến thứ năm là sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) và chính sách “Một Trung Quốc”. Và chiếc hộp chứa đựng chiếc “Vòng ngọc bích” này là chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ. Hãy cùng tìm hiểu một số thành tố trong các tuyến này.

Tuyến đầu tiên – tuyến chính

Nhật Bản

Trong lịch sử, quan hệ Trung – Nhật vốn mang tính đối kháng. Trước đó, hai nước là kẻ thù của nhau, nhưng hiện quan hệ song phương đã hòa dịu hơn. Ở cấp chính phủ, hai nước có quan hệ thương mại phát triển nhanh chóng bất chấp các tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Đông. Ở cấp nhân dân, giữa hai nước tiềm ẩn mối bất hòa, căm ghét hoặc thù địch lẫn nhau. Nhìn chung, Nhật Bản vẫn cảnh giác trước các ý đồ của Trung Quốc, giống như các nước còn lại trên thế giới. Mặt khác, mối quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cả hai nước đều có lợi ích chung trong việc chống lại sự tấn công dữ dội của Trung Quốc. Đây không phải là một bí mật hay một sự giác ngộ. Nhật Bản là yếu tố chủ chốt trong chiến lược “Vòng ngọc bích”.

Việt Nam

Quan hệ Trung – Việt luôn biến động. Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc trong cuộc đấu tranh giành độc lập từ tay Pháp và Mỹ. Cả hai nước đều có chung ý thức hệ cộng sản và tự do trao đổi thương mại với nhau. Tuy nhiên, hai nước có các tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Việt Nam coi Ấn Độ là hàng rào ngăn cách tự nhiên với Trung Quốc và cần Ấn Độ vì nhiều thứ. Việt Nam tin tưởng Ấn Độ và đã trao cho Ấn Độ một bãi đá ở biển Nam Trung Hoa. Quan hệ Việt – Ấn đang phát triển. Mối quan hệ này rất cần phải được nâng cấp lên thành quan hệ đối tác hợp tác và chiến lược. Việt Nam và Nhật Bản là bàn đạp thúc đẩy mọi hoạt động của Ấn Độ ở biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa.

Đài Loan

Đài Loan là trở ngại trước ngưỡng cửa của Trung Quốc và là khu vực rắc rối số một của Trung Quốc. Đài Loan đã chống lại mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm nuốt trọn quần đảo này theo chính sách “Một nước, hai chế độ” đang được áp dụng ở Hong Kong. Cơn ác mộng tồi tệ nhất của Trung Quốc là Đài Loan tuyên bố độc lập. Quan hệ thương mại mạnh mẽ nhưng tất cả các mối quan hệ còn lại đều yếu ớt và mang tính thù địch. Đài Loan cũng là bàn đạp đầu tiên mà Trung Quốc phải nắm giữ được, cho dù là khó, để vượt ra ngoài chuỗi đảo thứ nhất của mình nhằm thống trị biển Nam Trung Hoa. Quần đảo Trường Sa bị tranh chấp không tạo điều kiện dễ dàng cho Trung Quốc. Cho dù có tăng cường sức mạnh cho Đài Loan thì Trung Quốc vẫn bị kiềm chế. Khi phân tích trong bối cảnh rộng hơn, có thể thấy Trung Quốc phải đối mặt với một vấn đề hóc búa. Nếu họ vượt qua kênh đào này để chiếm lấy Đài Loan, thì cửa sau của họ là Tây Tạng sẽ bị bỏ ngỏ. Nếu họ băng qua dãy Himalaya, thì cửa trước của họ là Đài Loan sẽ bị hở. Theo đánh giá của tác giả, Trung Quốc không thể làm cả hai việc này. Do đó, điều Ấn Độ cần phải làm là nâng cấp quan hệ Ấn Độ – Đài Loan. Điều này đang diễn ra.

Hàn Quốc

Quan hệ Trung – Hàn đi theo quỹ đạo quen thuộc là tăng cường thương mại nhưng lại thiếu lòng tin. Hàn Quốc là một trong những nước cuối cùng công nhận Trung Quốc. Vấn đề của họ là Trung Quốc đang hỗ trợ Triều Tiên. Hai nước có tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Đông. Quan hệ Ấn Độ – Hàn Quốc đã và đang phát triển trên nhiều phương diện và quy mô khác nhau. Mối quan hệ này cần được nâng lên cấp chiến lược để mang lại giá trị tốt hơn. Một thực tế khác là Ấn Độ là một trong số ít các quốc gia có quan hệ ngoại giao với Triều Tiên. Trong một kịch bản có thay đổi. Ấn Độ sẽ đóng một vai trò lớn nếu hai miền Triều Tiên thống nhất trong tương lai gần.

Hong Kong – Macau

Hong Kong và Macau là các đảo thuộc chủ quyền của Trung Quốc, và từng là thuộc địa của Anh và Bồ Đào Nha. Hai đặc khu này hoạt động theo mô hình “Một nước, hai chế độ”. Nỗ lực của Trung Quốc trong việc hợp nhất hoàn toàn các vùng lãnh thổ này theo chính sách “Một Trung Quốc” đang vấp phải sự phản kháng chưa từng có ở Hong Kong. Trung Quốc rất cảnh giác với các đặc khu này kể từ khi cả hai có được trải nghiệm về nền dân chủ. Tất cả những gì Ấn Độ phải làm là giúp đỡ các “nền dân chủ” này bằng bất cứ cách nào dù chỉ là trên danh nghĩa.

Gilgit-Baltistan

Gilgit-Baltistan là một con dao hai lưỡi. Nếu đụng vào nó thì cả Pakistan và Trung Quốc đều sẽ bị tổn hại. Chỉ cần bộc lộ ý định rõ ràng về việc chiếm lại khu vực này là sẽ gây sức ép đối với việc trao trả bất hợp pháp thung lũng Skaksgam cho Trung Quốc và CPEC. Một số bước đi ngoại giao và việc triển khai sức mạnh mềm sẽ mang lại các kết quả to lớn, trong đó việc làm chuyển hướng sự chú ý khỏi Điều 370. Các động thái của Ấn Độ nhằm bãi bỏ Điều 370 và tuyên bố chủ quyền đối với vùng Kashmir do Pakistan chiếm đóng đã được các nhà phân tích chiến lược quốc tế coi là các yếu tố làm thay đổi cuộc chơi.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.sniwire.com – 12/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019

Những bí mật chiến lược của Bắc Kinh – Phần cuối


Thặng dư thương mại gia tăng cũng cho phép Trung Quốc xây dựng cho một chính sách ngoại giao tích cực. Thông qua sáng kiến “Vành đai và Con đường”, Trung Quốc thực hiện các dự án tài trợ xây dựng cơ sở hạ tầng ở nước ngoài – vốn được Trung Quốc xem như là một khoản đầu tư để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa Chính phủ Trung Quốc và chính phủ các nước tiếp nhận. Bằng cách cung cấp những khoản vay, Trung Quốc đã có được lợi ích ngoại giao bởi họ sẽ thắt chặt mối quan hệ với quốc gia cụ thể. Đó là điều mà Trung Quốc đã đạt được. Có thể thấy rằng nhờ sáng kiến này, Trung Quốc đã có ảnh hưởng đáng kể đối với nhiều nước châu Âu (như Hy Lạp, Italy, Bồ Đào Nha và các nước Đông Âu), cũng như các nước Trung Á (như Kazakhstan, Pakistan). Nhưng Bắc Kinh không dừng lại ở đó. Từ nay, sáng kiến “Vành đai và Con đường” đã vươn tới các nước Nam Á, các nước châu Phi và các nước Mỹ Latinh.

Thặng dư thương mại gia tăng cũng cho phép Trung Quốc phát triển các chương trình phát triển vũ khí và chương trình vũ trụ rất tham vọng.

Cuộc chiến thương mại do Donald Trump khởi xướng chống lại Bắc Kinh thực sự là một cuộc chiến liên quan tới an ninh quốc gia của Mỹ. Các nước lớn khác cũng nên quan tâm. Trung Quốc có thặng dư thương mại 500 tỷ USD đồng nghĩa với việc nước này không chỉ có khả năng lật đổ Mỹ, mà cả những nước lớn khác, biến họ trở thành những nước phải lệ thuộc và phục tùng sự thống trị của Trung Quốc.

Liên quan đến vấn đề trên, trang mạng lesakerfrancophone.fr nêu ý kiến cho rằng Trung Quốc nhượng bộ các yêu cầu của Donald Trump trong các cuộc đàm phán thương mại năm ngoái, với các cuộc gặp mặt trực tiếp của các quan chức cấp cao nhất của hai bên, là hoàn toàn sai lầm.

Những yêu sách của Mỹ đã chạm tới trọng tâm quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mỹ mong muốn những đạo luật mà họ đưa ra chắc chắn đến những biện pháp trừng phạt đối với bất kỳ sự đi chệch hướng nào từ phía Trung Quốc.

Trung Quốc đã tách ra hỏi hệ thống quốc tế vốn bị Donald Trump biến thành một hệ thống dựa trên các luật lệ mà Washington áp đặt cho toàn bộ thế giới. Trump thiết lập mọi quy tắc và luôn giành phần thắng. Tuy nhiên, việc đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại sẽ trở thành điều phi lý nếu Mỹ đứng ở vị trí đỉnh cao quyền lực, còn tất cả các nước khác chỉ là những con tốt.

Mới đây, Trung Quốc đã công bố Sách Trắng, trong đó miêu tả những nỗ lực của họ trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và những gì đã xảy ra trong năm 2018 liên quan đến chiến thuật của Donald Trump. Trong suốt các cuộc đàm phán, Mỹ đã có “những cuộc tấn công tên lửa” dưới hình thức trừng phạt và thuế quan, cũng như những hành động pháp lý chống lại 2 tập đoàn công nghệ Huawei và ZTE Song song với các cuộc tấn công này, Mỹ đã tìm cách tách Đài Loan ra khỏi Trung Quốc, xây dựng khung pháp lý để tăng cường quan hệ Mỹ – Đài Loan, thực hiện các hợp đồng mua bán vũ khí giá trị lớn với Đài Loan vượt ra ngoài các giới hạn đỏ mà Bắc Kinh thiết lập, xây dựng một bộ máy truyền thông nhằm đưa tin về một Trung Quốc nằm dưới sự cai trị của những nhà lãnh đạo vi phạm nhân quyền đã nhốt hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ trong các trại tập trung, kiểm soát Tây Tạng và đe dọa thương mại hàng hải bằng cách bồi đắp, cải tạo các cấu trúc địa lý ở Biển Đông, cướp bóc khí đốt, dầu mỏ của các quốc gia khác, khai thác cạn kiệt nguồn hải sản. Chỉ có một người láng giềng tốt, đó là “Chú Sam”, có thể cứu giúp cuộc sống của những người dân nghèo châu Á. Do vậy, các tàu chiến của Hải quân Mỹ đã thường xuyên xuất hiện ở khu vực 12 hải lý quanh các đảo mà Trung Quốc đang kiểm soát ở Biển Đông, gây ra sự trả đũa của các tàu thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), hay sự va chạm giữa tàu đánh cá Trung Quốc với các tàu của Hải quân Mỹ.

Đó là bối cảnh địa chính trị diễn ra các cuộc đàm phán thương mại hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc. Hiện tại, Trung Quốc đã thiết lập những quy tắc cần thiết để trả đũa Mỹ. Donald Trump hẳn không thích điều này. Về phần mình, cố vấn thương mại Nhà Trắng, những nhân vật diều hâu và những nhân vật chống Trung Quốc sẽ sử dụng hàng loạt những công cụ gây mất ổn định cho Trung Quốc và thực hiện nỗ lực cuối cùng để phá hoại sự tăng trưởng và gây bất ổn cho nền kinh tế nước này, phá vỡ đà phát triển của Con đường tơ lụa trên biển và trên đất liền.

Tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore từ ngày 31/5-2/6/2019 – thảo luận về những vấn đề quân sự và quốc phòng chung của các nước ASEAN và Trung Quốc, và sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an ninh, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa đã có bài phát biểu về vị trí của Trung Quốc ở Biển Đông, và tuyên bố trước Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan những quy tắc ứng xử rõ ràng của Trung Quốc nếu tàu chiến của Mỹ xâm nhập các vùng biển thuộc Biển Đông, eo biển Đài Loan và biển Hoa Đông. Ông Ngụy Phương Hòa cũng đề nghị quân đội hai nước cần tiếp xúc và liên lạc thường xuyên hơn nữa để xoa dịu căng thẳng. Patrick Shanahan đã trả đũa bằng việc cáo buộc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông và lên án Trung Quốc là một nước láng giềng xấu bụng luôn nhăm nhe xâm chiếm lãnh thổ của các quốc gia khác.

Hiện tại, Bộ Tư pháp Mỹ đã lập một danh sách đen các công ty và cá nhân Mỹ đang hoạt động kinh doanh tại Trung Quốc. Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung bất đầu, với mục tiêu của Mỹ là loại bỏ Trung Quốc, và mục tiêu của Trung Quốc là thoát ra khỏi cái bóng của Mỹ. Trung Quốc đặt ra nhiệm vụ to lớn, đó là tìm kiếm ít nhất 350 tỷ USD ở các thị trường mới, nắm giữ chuỗi cung ứng ở các quốc gia khác như Việt Nam, nơi có sự hiện diện của nhiều công ty có nguồn vốn Trung Quốc.

Bộ Chính trị Trung Quốc đã thể hiện quan điểm rõ ràng rằng chiến tranh sẽ là một lựa chọn nếu Đài Loan cố tách ra khỏi Trung Quốc. Cho dù Thượng viện Mỹ và quân đội Mỹ làm gì với Đài Loan, Trung Quốc cũng sẽ chiến đấu và kiểm soát Đài Loan.

Trung Quốc cũng chỉ rõ rằng Mỹ là một nước không thuộc châu Á, xâm nhập bất hợp pháp các vùng biển và vùng đất liền của Đông Nam Á, Đông Á và Đông Bắc Á. Đồng thời, Chính quyền Bắc Kinh cũng đưa ra nhận định rằng Mỹ là một nước xâm lược quân sự, và quyền tự do hàng hải không đồng nghĩa với quyền bá chủ mà Mỹ cho rằng đó là bổn phận của Mỹ đối với châu Á.

Trung Quốc hiện đang xây dựng một quân đội đủ lớn để có thể đối phó với 60% đến 70% các phương tiện quân sự mà Mỹ dành để chống lại Trung Quốc, đồng thời xây dựng lực lượng hải quân để đối phó với các tàu chiến của Mỹ. Trong trường hợp cần thiết, các hòn đảo trên Biển Đông có thể được Trung Quốc sử dụng như những tàu sân bay cố định.

Đầu tháng 5/2019, Hội nghị Đối thoại Văn minh châu Á, một sự kiện văn hóa lớn, đã được tổ chức tại Bắc Kinh. Hội nghị đã chứng tỏ sự kết nối giữa tất cả các nền văn minh và văn hóa trên thế giới là yếu tố mang tính lịch sử thúc đẩy sự phát triển. Con đường tơ lụa gắn liền với các hoạt động trao đổi thương mại và qua đó, những mối liên kết sâu sắc và bền vững đã được thiết lập nhờ sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau.

Cuộc chiến tranh thương mại đã đẩy nhanh cuộc chiến tranh quân sự. Cuộc chiến pha tạp đa hình thái có nguy cơ làm suy yếu các lực lượng nội bộ của các nước bị nhắm tới. Tuy nhiên, từ nay Tập Cận Bình đã đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tìm kiếm các thị trường mới, ngăn chặn cuộc đối đầu quân sự trực tiếp với Mỹ, duy trì sự ổn định xã hội, đấu tranh chống cuộc chiến lai tạp, thiết lập các mối quan hệ tin cậy với các quốc gia đáng lo sợ một bá quyền ở châu Á. Tại Diễn đàn Kinh tế quốc tế lần thứ 23 tại Saint Petersburg, từ ngày 5 – 7/6/2019, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, tham dự với tư cách là khách mời danh dự, đã đề cập tới 30 thỏa thuận thương mại chuẩn bị được ký kết giữa các đối tác thương mại Trung Quốc và Nga, đồng thời nêu lên trách nhiệm của Nga trong việc hỗ trợ Trung Quốc thúc đẩy sự kết nối giữa sáng kiến “Vành đai và Con đường” và Liên minh kinh tế Á – Âu.

Nhân loại hiện đang chứng kiến cú sốc của các nền văn minh, sự suy tàn của một nhà nước thống trị, sự phụ thuộc của các doanh nghiệp vào hoạt động quân sự không có điểm dừng. Ở Washington, nạn tham nhũng đã dẫn đến sự lãng phí hàng chục nghìn tỷ USD, nợ lớn, tăng trưởng giả tạo do các hành vi thao túng tài chính và sự coi thường các giá trị truyền thống từng mang lại cảm hứng cho thế giới. Đối với các nước bên ngoài, Mỹ có cách hành xử tàn nhẫn với toàn bộ thế giới. Bất kể ai cũng có thể trở thành lính đánh thuê của Mỹ, mà nước này không bị hao tổn quá nhiều công sức. Hiện tại, một nước Mỹ đang hấp hối đang kéo theo một châu Âu mục ruỗng. “Cơn đại dịch” này sẽ lây lan tới những nước láng giềng. Đó là một đại bi kịch không có tiền lệ. Các đế chế sẽ chao đảo và sụp đổ như những bức tượng bị kéo đổ trong các cuộc cách mạng. Một quốc gia giữ vị trí thống trị nhưng mắc phải đủ mọi “tệ nạn” sẽ không có tương lai, ngoại trừ có một phép lạ. Đó là những tệ nạn dẫn đến                                                          sự suy tàn như ngạo mạn, xa hoa, tham lam, tức giận, lười biếng… Những tệ nạn này được nhận thấy ở các nhà lãnh đạo, các thể chế và các nhà quản lý phương Tây. Và Mỹ đã trở thành một trường hợp vô phương cứu chữa.

Cho dù xảy ra bất cứ điều gì ở Mỹ, Trung Quốc đã chọn cách tìm cách giải quyết vấn đề cơ bản. Nếu các nhà lãnh đạo Mỹ thoát ra khỏi lối mòn tâm lý của họ, thay đổi các động cơ và nhận thức được rằng họ chỉ là “một phần trong tổng thể” chứ không phải là một thế lực toàn năng, thì họ sẽ gặp Trung Quốc, Nga, lục đại Á – Âu và phần còn lại của nhân loại đã bắt tay nhau vì một thế giới mà ở đó Trung Quốc nắm giữ vai trò lãnh đạo và trợ giúp, trung thành với những giá trị của mình.

Nguồn: www.atlantico.fr – 08/08/2019

TKNB – 15/08/2019

Ảnh hưởng của Nga đối với Việt Nam – Phần cuối


Căn cứ của Nga tại Vịnh Cam Ranh đã bị  bỏ trống vào năm 2002, Việt Nam đã từ chối gia hạn hợp đồng thuê 25 năm vì chính sách “3 không” sau Chiến tranh lạnh: không liên minh, không đặt căn cứ nước ngoài và không đi với nước này để chống lại nước kia. Nga không phản đối quyết định này và rời đi sớm hơn 2 năm so với dự kiến. Tuy nhiên, khi Nga bắt đầu hướng về phía Đông trong bối cảnh bị phương Tây cô lập trở lại vào những năm 2010, Kremlin một lần nữa lại có lý do để ve vãn Việt Nam nhằm giành được chỗ đứng ở Đông Nam Á.

Về các mục tiêu chiến lược, Nga đã nhiều năm ấp ủ hy vọng trở lại Vịnh Cam Ranh. Năm 2014, Bộ trưởng Quốc phòng Serge Shoygu cho biết rằng Nga đã đàm phán với Việt Nam, và các nước khác, về việc thiết lập các căn cứ ở nước ngoài. Năm 2016, Đại sứ Việt Nam tại Nga Nguyễn Thanh Sơn đã đưa ra một lời bình luận được nhiều người trong giới truyền thông Nga diễn giải là một lời mời đầy hứa hẹn. Thứ trưởng Quốc phòng Nikolai Pankov đã nhắc lại ý tưởng này vào cuối năm đó trong bài phát biểu tại Duma Nga. Đây là một phần của ý tưởng rộng lớn hơn về việc tái lập các căn cứ quân sự ở các nước đồng minh thời Liên Xô trên khắp châu Phi, Mỹ Latinh và châu Á để củng cố vị thế của Nga như một cường quốc toàn cầu trong thế kỷ 21.

Ở chừng mực nào đó, Nga đã quay trở lại Vịnh Cam Ranh trong những năm gần đây: Năm 2015, Mỹ yêu cầu Việt Nam không cho phép Nga bố trí các máy bay chở dầu bị cáo buộc là đã tiếp nhiên liệu cho máy bay ném bom hoạt động gần đầu Guam. Các chuyên gia Nga cũng đã được cử đến vịnh Cam Ranh để huấn luyện kỹ năng sử dụng các tầu ngầm mới cho Hải quân Việt Nam.

Bất chấp những nỗ lực này, năm 2016, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam đã kiên quyết bác bỏ quan điểm cho rằng Nga thực sự đã quay trở lại Vịnh Cam Ranh. Theo quan điểm của Việt Nam, đây là một giấc mơ viển vông của Nga. Mặc dù Việt Nam có thể là người bạn tốt nhất của Nga ở châu Á, nhưng tình bạn mang tính kế thừa này không giúp Việt Nam giải quyết những mối quan ngại địa chính trị hiện tại. Chỉ có Mỹ, cùng với các đồng minh khu vực của nước này, mới có thể mang lại sức mạnh cứng cần thiết để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc trong “đường 9 đoạn”.

Nga đã duy trì vị thế của mình là nhà cung cấp vũ khí chính cho Việt Nam. Xét tới lịch sử với Liên Xô, thì không có gì đáng ngạc nhiên khi Việt Nam là khách hàng quan trọng nhất của Nga tại Đông Nam Á trong hoạt động mua bán vũ khí. Theo Dmitry Shugayev, Giám đốc Cơ quan hợp tác kỹ thuật quân sự của Liên bang Nga, chỉ riêng năm 2018, Việt Nam đã đặt hàng các loại vũ khí trị giá hơn 1 tỷ USD. Nga cũng đã cung cấp cho Việt Nam các tàu ngầm tấn công và hệ thống phòng thủ bờ biển đã đề cập ở trên.

Tuy có lẽ chủ yếu vẫn dựa vào hệ thống vũ khí của Nga trong tương lai gần, nhưng Việt Nam cũng đã bắt đầu đa dạng hóa kho vũ khí của mình. Năm 2015, Việt Nam đã mua hệ thống phòng không Spyder từ Israel. Trong nhiều năm qua, đã có tin đồn cho rằng Việt Nam đang xem xét mua tên lửa hành trình BrahMos, do Ấn Độ và Nga cùng phát triển, từ New Delhi. Việt Nam cũng đã tìm hiểu các vũ khí của Mỹ kể từ khi Tổng thống Barack Obama dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí vào năm 2016. Cho đến nay, Việt Nam đã mua tàu tuần tra, máy bay do thám không người lái và tàu tuần duyên USCGC Morgenthau của Mỹ. Trong khi Việt Nam đang muốn mua thêm vũ khí của Mỹ, thì Mỹ lại đang duy trì số lượng bán ra nhỏ giọt nhưng ổn định đối với các loại vũ khí ngày càng có ý nghĩa quan trọng.

Việc mua vũ khí từ Nga cũng là một nguy cơ đối với Việt Nam khi xét tới các lệnh trừng phạt gần đây của Mỹ đối với các nước mua vũ khí của Nga. Cho đến nay, Việt Nam vẫn được phép làm điều này sau khi cựu Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis ủng hộ việc xóa bỏ lệnh trừng phạt đối với Việt Nam trước khi ông từ chức; lời khuyên của ông dường như vẫn có giá trị. Bất kỳ lập trường nào khác của Mỹ cũng sẽ tạo áp lực lớn đối với Việt Nam khi xét tới chi phí thay thế các hệ thống vũ khí. Tuy nhiên, Việt Nam lo sợ sẽ kích động Mỹ khi mua quá nhiều vũ khí mới có giá trị lớn từ Nga. Nỗi lo sợ này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến việc Hà Nội đưa ra quyết định chừng nào mối quan hệ giữa Moskva và Washington vẫn còn đóng băng. Chẳng hạn, mặc dù Nga đã trang bị hệ thống phòng không S-400 mới cho Việt Nam, nhưng Hà Nội vẫn chưa công khai bày tỏ sự quan tâm.

Ngoài lĩnh vực dầu khí và vũ khí, Nga muốn mở rộng xuất khẩu sang Việt Nam và lợi dụng Việt Nam để giành được một chỗ đứng kinh tế ở khu vực Đông Nam Á. Nếu kết hợp lại với nhau thì các nước thành viên thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ là nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới. Các thị trường mới nổi như Indonesia hoặc Malaysia lớn tới mức không thể phớt lờ, trong khi đó các thị trường biên giới ở Campuchia, Myanmar và Lào mang đến cơ hội cho các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro. Xét tới mối quan hệ lịch sử giữa Điện Kremlin và Bộ Chính trị ở Hà Nội, Việt Nam đương nhiên là nơi để bắt đầu, nhưng Nga chỉ đạt được thành công hạn chế.

Năm 2015, Việt Nam là nước đầu tiên ngoài không gian hậu Xô Viết ký hiệp định thương mại tự do với Liên minh kinh tế Á – Âu (EAEU). Mặc dù thương mại song phương tăng lên sau khi ký kết, nhưng thỏa thuận này đã mang lại lợi ích cho Việt Nam nhiều hơn là cho Nga. Giống như trường hợp của Mỹ và các nền kinh tế tương đối tiên tiến khác, Việt Nam có được thặng dư thương mại với Nga, với kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 3,6 tỷ USD và kim ngạch nhập khẩu đạt 2,5 tỷ USD trong năm 2018. Tuy nhiên, số vốn của Việt Nam ở Nga lớn hơn số vốn của Nga ở Việt Nam (khoảng 3 tỷ USD so với 932 triệu USD). Năm 2018, Nga chỉ là nhà đầu tư lớn thứ 24 ở Việt Nam.

Trong tương lai gần

Chưa đầy 50 năm sau khi người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam, cựu thù đã trở thành đối tác chiến lược quan trọng. Mặc dù sự linh hoạt trong chính sách đối ngoại của Việt Nam có lợi cho các lợi ích của Mỹ ở khu vực này, nhưng nó cũng đã làm thay đổi mối quan hệ hữu nghị mang tính kế thừa giữa Việt Nam và Nga. Theo quan điểm của Việt Nam, trong một kỷ nguyên mà Hà Nội chào đón các cuộc tuần tra của Hải quân Mỹ ở biển Nam Trung Hoa để răn đe Bắc Kinh trong khi Moskva và Bắc Kinh lại gắn kết với nhau do có chun vị thế là những cường quốc xét lại có quan điểm chống phương Tây, thì Nga là một bên tham gia đáng trọng nhưng vụng về trong khu vực. Chừng nào Nga còn giữ khoảng cách với Việt Nam trong việc phản đối “đường 9 đoạn”, thì Nga hầu như không làm được gì để đáp ứng nhu cầu an ninh của Việt Nam ngoài việc bán vũ khí và thành lập các liên doanh dầu khí có lợi cho cả hai bên.

Việc Moskva và Washington lập lại mối quan hệ hữu nghị sẽ là điều được chào đón nhất đối với Hà Nội, vốn cảm thấy bị kẹp trong một cuộc chiến giữa hai nước đều là bạn. Mặc dù rõ ràng là Mỹ có thể đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu của Việt Nam so với Nga, nhưng bất kỳ sự trợ giúp nào từ phía Nga cũng sẽ được chào đón hơn nếu điều đó là khả thi về mặt chính trị. Tuy nhiên, điều Việt Nam cần ngay lúc này là những người bạn sẵn sàng đứng về phía mình chống lại Trung Quốc, trong khi đó Nga cần bạn bè đứng về phía họ chống lại Mỹ. Hai lợi ích không thể dung hòa này sẽ hạn chế cơ hội cho các mối quan hệ song phương này trong tương lai gần.

Nguồn: www.fpri.org – 14/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019

Những bí mật chiến lược của Bắc Kinh – Phần đầu


Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung hiện nay đang ở giai đoạn đỉnh điểm. Ngày 8/8 vừa qua, Mỹ đã cáo buộc Trung Quốc lần đầu tiên kể từ năm 1994, phá giá đồng NDT. Đồng tiền Trung Quốc vượt qua ngưỡng thấp nhất kể từ 11 năm qua, song người đứng đầu Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (PBOC) đã bác bỏ cáo buộc của Mỹ. Liệu cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc này có tiếp tục leo thang và tạo ra một cuộc chiến mới hay không? Trung Quốc có những chiến lược bí mật nào để đối phó với Mỹ? Bài trả lời phỏng vấn dưới đây của chuyên gia phân tích David Dollar thuộc Viện Brookings (Mỹ) và nhà kinh tế học người Pháp Antoine Brunet, sẽ cho chúng ta cái nhìn rõ nét về vấn đề này.

Atlantico đưa ra câu hỏi nếu người ta dễ dàng xác định được chiến lược của Washington trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, thì chiến lược của Băc Kinh lại rất mơ hồ. Trung Quốc đã sử dụng những vũ khí nào trong cuộc chiến thương mại với Trung Quốc? Chuyên gia phân tích Antoine Brunet cho rằng, trước tiên chúng ta phải hiểu điều này: Donald Trump và Cố vấn thương mại của ông, Peter Navarro, đã nhận ra rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc là kết quả của chiến lược trọng thương mà Trung Quốc đã thực hiện thành công để đạt được thặng dư thương mại lớn. Chiến lược này được bắt đầu từ những năm 1990, trở nên rõ rệt vào năm 2001 khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), và đã “ghi điểm” rất lớn vào năm 2008 khi Trung Quốc gián tiếp gây ra cuộc đại suy thoái ở các nước phương Tây.

Với việc phát động cuộc chiến thương mại với Trung Quốc kể từ tháng 3/2018, Donald Trump không nhằm mục đích gì hơn là ngăn chặn chiến lược trọng thương của Trung Quốc. Kể từ đó, người ta chứng kiến hai thế đối đầu nhau: Washington muốn giảm thặng dư thương mại của Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh chống lại điều này và muốn duy trì mức thặng dư khổng lồ. Washington áp đặt thuế quan đối với các sản phẩm của Trung Quốc, thì Bắc Kinh cũng áp đặt thuế quan đối với các sản phẩm sản xuất tại Mỹ để trả đũa.

Lượng hàng hóa xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc thấp hơn 4 lần so với hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ, nên tác động của thuế quan đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc có thể sẽ lớn hơn so với tác động đối với hàng xuất khẩu của Mỹ. Do vậy, Trung Quốc đã áp dụng thêm hai hình thức trả đũa khác đối với Mỹ – đưa ra hạn ngạch nhập khẩu khắt khe đối với các sản phẩm nông nghiệp của Mỹ và phá giá đồng NDT so với đồng USD.

Theo chuyên gia David Dollar, chiến lược tổng thể của Trung Quốc trong cuộc chiến thương mại với Mỹ gồm 3 chiến lược nhỏ. Thứ nhất, Trung Quốc từng bước mở cửa nền kinh tế, một chiến lược vẫn được nước này theo sát và duy trì. Thứ hai, Bắc Kinh vẫn duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Washington trong khía cạnh kinh tế. Do vậy, Trung Quốc sẵn sàng nhượng bộ Mỹ. Thứ ba, Trung Quốc sẽ không tha thứ cho hành động răn đe từ Mỹ hay từ bất kỳ quốc gia nào khác. Nếu Washignton áp đặt các lệnh trừng phạt kinh tế nặng nề với Trung Quốc, Bắc Kinh cũng sẽ làm tương tự với Mỹ.

Dù có ít hành động lộ liễu hơn Donald Trump, tuy nhiên, Tập Cận Bình vẫn có những vũ khí chính trị và kinh tế để đối đầu với Mỹ, đặc biệt là khả năng kiểm soát tiền tệ. Cụ thể, Trung Quốc đã sử dụng những vũ khí đó như thế nào? Theo nhà kinh tế học Antoine Brunet, trước hết, với hành vi gần đây của Bắc Kinh, các nhà kinh tế truyền thống cuối cùng cũng thừa nhận điều mà lâu nay họ đã phủ nhận: Trung Quốc đã định giá thấp đồng NDT trên quy mô lớn kể từ năm 1994, giống như việc nước này đã áp dụng  biện pháp bảo hộ thuế quan. Có thể khẳng định rằng việc Trung Quốc định giá thấp đồng NDT trong suốt 25 năm qua chẳng khác nào biện pháp vững chắc bảo vệ thuế quan mà Bắc Kinh áp dụng để đối phó với hàng hóa sản xuất tại Mỹ hoặc châu Âu.

Trên thực tế, Trung Quốc đã đáp trả thái quá các biện pháp trừng phạt thuế quan của Mỹ bằng việc thao túng tỷ giá đồng NDT. Điều này giải thích tại sao bất chấp việc Donald Trump áp đặt thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc, thặng dư thương mại của nước này không giảm, mà còn tăng trở lại. Trong 6 tháng đầu năm 2019, thặng dư thương mại tính theo năm của Trung Quốc đạt khoảng 500 tỷ USD.

Có thể kết luận rằng Trung Quốc có thể “miễn nhiễm” trước bất kỳ phản ứng nào của Mỹ. Trước việc Trung Quốc đáp trả gấp đôi trước mỗi động thái của Mỹ, Washington đã phải dùng đến vũ khí siêu đẳng – đó là thiết lập hạn ngạch nhập khẩu đối với các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc. Trước sức cạnh tranh mạnh mẽ của hàng hóa Trung Quốc gây bất ổn cho Mỹ (và các quốc gia khác), Mỹ đã đi đến quyết định cấm hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc trên lãnh thổ Mỹ.

Chuyên gia David Dollar đưa ra nhận định: “Theo tôi, Trung Quốc được hưởng lợi trong cuộc chiến thương mại này vì chiến lược của họ rất rõ ràng và Bắc Kinh sẵn sàng chấp nhận những hậu quả của cuộc đối đầu kinh tế Trung Quốc không ngăn cản được Bắc Kinh giữ vững lập trường của họ, cũng như không trở thành vật cản khiến họ không làm điều tương tự với Mỹ”.

Tuy nhiên, việc chấp nhận phá giá đồng NDT không chỉ là một biện pháp phòng thủ đối với Bắc Kinh, mà còn là động thái nhằm gửi một thông điệp rõ ràng tới Donald Trump. Tập Cận Bình tìm cách để Donald Trump hiểu rằng cả chính sách lẫn sức nặng kinh tế của Mỹ đều không làm ông sợ.

Mặt khác, không thể phủ nhận rằng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đang ngày càng trở nên đáng lo ngại và nguy hiểm. Trước tình hình này, Chính quyền Washington phải quyết định: hoặc cần cứng rắn hơn nữa trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, hoặc chấp nhận thảo luận với Bắc Kinh để tìm ra, nếu không phải là một thảo thuận, ít nhất là một thỏa hiệp có thể làm hài lòng cả hai nước.

Thái độ của Bắc Kinh phản ánh một chiến lược vượt ra ngoài khía cạnh kinh tế, và các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ đi xa tới đâu? Chuyên gia David Dollar cho rằng, cách tiếp cận của Trung Quốc trong khía cạnh kinh tế phù hợp với cách thức ứng xử của nước này với Mỹ và phần còn lại của thế giới. Trung Quốc muốn được coi là một trong những cường quốc lớn nhất thế giới và sẵn sàng hợp tác với Mỹ, châu Âu và phần còn lại của thế giới nếu sự hợp tác này diễn ra trong thế bình đẳng. Tuy nhiên, việc công nhận Trung Quốc là một cường quốc thế giới là một việc không dễ dàng đối với các nước phương Tây.

Trong khi đó, Antoine Brunet cho rằng chiến lược thống trị thương mại của Trung Quốc là nền tảng thiết yếu của một chiến lược đa chiều và thực sự rộng lớn hơn nhiều, một chiến lược đế quốc nhằm lật đổ Mỹ để thống trị toàn thế giới. Cụ thể: Nhờ những thặng dư thương mại khổng lồ, Trung Quốc không ngừng tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu công nghệ, phát triển các công nghệ mũi nhọn, thực hiện các cuộc tấn công mạng và các hành vi gián điệp đối với các nước địch thủ.

Những tiến bộ công nghệ đã cho phép Trung Quốc đẩy mạnh công nghiệp hóa gây bất lợi cho các nước đối thủ đang tiến hành phi công nghiệp hóa. Tiến trình công nghiệp hóa được Trung Quốc thực hiện đối với mọi lĩnh vực ngành nghề: thép, truyền hình, thiết bị gia dụng, máy tính, tuabin gió, các tấm pin mặt trời, điện thoại, robot và kỹ thuật số, chất bán dẫn…

Nguồn tài chính khổng lồ mà thặng dư thương mại mang lại cho Trung Quốc cũng cho phép nước này khai thác tất cả các nguồn tài nguyên khan hiếm trên hành tinh. Nhờ khả năng trả giá đấu thầu cao hơn, Trung Quốc đã chiếm hữu nhiều đất nông nghiệp màu mỡ (ở châu Phi, Mỹ Latinh và thậm chí cả Pháp), cũng như nhiều mỏ kim loại và đất hiếm. Trên cơ sở đó, Trung Quốc đã bóp nghẹt các doanh nghiệp phương Tây phụ thuộc vào nguồn cung kim loại và đất hiếm của Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.atlantico.fr – 08/08/2019

TKNB – 15/08/2019

Ảnh hưởng của Nga đối với Việt Nam – Phần III


Những lợi ích then chốt của Việt Nam đối với Nga: dầu mỏ, khí đốt và súng

Điện Kremlin bắt đầu gia nhập ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam vào năm 1981 khi Zarubeznheft, một công ty dầu khí hoạt động ở nước ngoài trực thuộc Bộ Công nghiệp dầu mỏ Liên Xô, thiết lập quan hệ đối tác với PetroVietnam và thành lập liên doanh Vietsopetro. Ưu tiên lợi ích địa chính trị của Liên Xô hơn lợi nhuận, Zarubeznheft hiện vẫn đang hoạt động và là công ty duy nhất tồn tại sau khi Liên Xô tan rã mà không bị gián đoạn. Gazprom gia nhập thị trường Việt Nam vào năm 1997, còn Rosneft gia nhập vào năm 2013.

Mặc dù PetroVietnam liên doanh với nhiều công ty nước ngoài, từ Petronas (Malaysia) đến Exxon Mobil (Mỹ), nhưng chỉ có ba công ty của Nga vẫn hợp tác với tập đoàn này bên trong “đường 9 đoạn” kể từ khi Repsol rút khỏi Việt Nam vào năm 2018. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên; Việt Nam coi công ty Nga là các con đường để tiếp cận một nước lớn có nhiều khả năng giúp đối phó với Trung Quốc hơn một công ty tư nhân có trụ sở tại Madrid.

Khác với Mỹ, Nga không phải là nước lớn tiếng ủng hộ chủ quyền hàng hải của Việt Nam trên vũ đài quốc tế. Cũng giống như việc Trung Quốc hỗ trợ Nga về mặt ngoại giao trong vụ Nga sáp nhập Crimea bằng cách duy trì thái độ trung lập nhưng lại phản đối sự chỉ trích của phương Tây, Kremlin bảo vệ Bắc Kinh bằng cách coi cuộc xung đột ở biển Nam Trung Hoa là tranh chấp hoàn toàn mang tính khu vực giữa các nước yêu sách không có lợi ích địa chính trị lớn hơn bị đe dọa. Do đó, các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của Mỹ bị cho là những động thái nhằm thâu tóm quyền lực đáng bị lên án. Ngay sau kkhi Tòa trọng tài tại La Hay đưa ra phán quyết bất lợi cho Trung Quốc vào năm 2016, Tổng thống Putin đã chuyển sang bảo vệ Trung Quốc.

Trong một cuộc họp báo vào tháng 9/2016, ông nói: “Chúng tôi sát cánh và ủng hộ lập trường của Trung Quốc về vấn đề này – không công nhận phán quyết của tòa án”. Điện Kremlin không muốn La Hay quyết định số phận của biển Nam Trung Hoa cũng như không muốn tòa án này quyết định tình trạng cuối cùng của Crimea hay Donbas.

Tuy nhiên, vỏ bọc ngoại giao mà Điện Kremlin tạo ra cho Trung Quốc không phù hợp với các hành động hỗ trợ trên thực địa khi mà Nga âm thầm làm suy yếu “đường 9 đoạn” vì lợi ích của cả Việt Nam lẫn chính họ. Hoạt động khai thác tài nguyên trong những năm gần đây đã trở thành nguyên nhân chính gây căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa. Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc tuần tra vùng biển này, có lúc còn đánh chìm các tàu đánh cá Việt Nam; trong khi đó, sự xuất hiện của các tàu thăm dò dầu khí và các giàn khoan của Trung Quốc gây ra tâm lý bài Trung ở Việt Nam. Các mối quan ngại đã vượt ra ngoài khuôn khổ những lợi ích kinh tế trước mắt khi các giàn khoan và các tàu cá hoạt động như các cột cờ di động để đánh dấu chủ quyền. Bằng việc liên doanh với Petro Vietnam để khai thác dầu trong phạm vi “đường 9 đoạn”, khu vực năng lượng của Nga do nhà nước sở hữu đã có một động thái lớn, cho dù kín đáo, xâm phạm lợi ích của Trung Quốc.

Việc mua bán vũ khí của Nga cũng đã chạm đến mức khiến Trung Quốc cảm thấy không còn thoải mái. Trong khi Bắc Kinh có thể chấp nhận việc mua bán những loại vũ khí cỡ nhỏ và các nhu yếu phẩm khác phục vụ một cuộc chiến tranh trên bộ, thì việc Điện Kremlin bán công nghệ hải quân lại có tác động sát sườn tới họ. Năm 2018, Nga đã chuyển giao chiếc cuối cùng trong số 6 tàu ngầm lớp kilo được đặt hàng năm 2009, mang lại cho Việt Nam khả năng răn đe trước hành động gây hấn của Trung Quốc trên biển. Mặc dù hạm đội tàu ngầm của Việt Nam có quy mô nhỏ hơn và ít tiên tiến hơn so với hạm đội của Trung Quốc, nhưng những tàu ngầm này có thể có lợi thế sân nhà trong một cuộc xung đột bạo lực. Đối với một con tàu bị hỏng ở Trường Sa, việc trở về căn cứ Việt Nam tại vịnh Cam Ranh sẽ dễ dàng hơn so với việc vượt qua cả một quãng đường dài để về đến Trung Quốc đại lục. Cách hệ thống phòng thủ bờ biển của Việt nam cũng được trang bị tổ hợp tên lửa Bastion mua từ Nga đặt trên bờ biển, biến 3.444 km bờ biển của đất nước thành một trường bắn lên tới 150 km. Việt Nam cũng đã chế tạo được phiên bản tên lửa chống hạm Zvezda-Strela 3M24 Uran của chính mình với sự giúp đỡ của Nga, gây khó khăn nữa cho chiến lược của Trung Quốc. Nga và Trung Quốc đều âm thầm phá hoại lợi ích của nhau khi Trung Quốc mở rộng sáng kiến “Vành đai và Con đường” đến trung tâm khu vực lân cận của Nga. Trong khi một số dự án thuộc sáng kiến “Vành đai và Con đường” liên quan đến Nga được coi là có lợi, chẳng hạn như đường cao tốc dự kiến nối liền Kazakhstan với Belarus, thì những dự án khác có tính đe dọa nhiều hơn đối với Điện Kremlin. Trung Quốc đã ràng buộc Ukraine hậu Maidan vào sáng kiến “Vành đai và Con đường” bằng khoản đầu tư khoảng 7 tỷ USD đã hứa trong chuyến thăm của Phó Thủ tướng Mã Khải tới Kiev năm 2017. Được biết, các công ty Trung Quốc cũng đã xem xét nạo vét các cảng tại Mariupol và Berdyansk ven biển Azov, tuy nhiên cuối cùng không có công ty nào bỏ thầu. Xét tới tính chất hết sức nhạy cảm của khu vực này, việc đầu tư cơ sở hạ tầng đáng kể như vậy vào vùng đất do Ukraine nắm giữ dù ở Azov hay ở Donbas hẳn sẽ bị cho là một hành động ác ý.

Tuy nhiên, với việc cả Nga và Trung Quốc đều không lên án hành vi bành trướng của nhau trong khi đồng thời hợp tác với các đối thủ chiến lược nhỏ hơn của nhau, chúng ta có thể cho rằng Moskva sẽ không tham gia cùng phương Tây thách thức “đường 9 đoạn” trong khi vẫn âm thần làm suy yếu nó theo cách riêng của mình. Về phần mình, Trung Quốc cần cẩn thận khi sử dụng các lá bài của mình chống lại Rosneft, Gazprom và Vietsopetro để không gây tổn hại đến lợi ích của mình ở những nơi khác. Sáng kiến “Vành đai và Con đường” không thể bỏ qua Nga, mang lại cho Điện Kremlin ảnh hưởng đòn bẩy nhất định trên bàn đàm phán liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí ở biển Nam Trung Hoa.

Tình trạng bấp bênh

Với việc Đông Nam Á trên thực tế đứng ngoài hoạt động địa chính trị toàn cầu trong những năm 1990, Nga hầu như không có hành động trực tiếp nào để duy trì ảnh hưởng của mình ở Việt Nam ngoài lĩnh vực dầu khí. Một cách lý giải gây tò mò cho dù ngẫu nhiên là vai trò của nền kinh tế hậu Xô viết trong việc hình thành tầng lớp người giàu mới xuất hiện ở Việt Nam hiện nay. Giới tinh hoa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay phần lớn bắt nguồn từ một nhóm sinh viên Việt Nam từng học tập ở Liên Xô. Sau khi Liên Xô tan rã, nhiều người đã lựa chọn không trở về nước mà ở lại Liên bang Nga và đã thử vận may trong môi trường kinh doanh tự do của những năm 1990 ở Nga và Ukraine.

Trong số này có Phạm Nhật Vượng, người sáng lập tập đoàn Vingroup có mặt khắp nơi ở Việt Nam và xếp thứ 239 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes. Sau khi đến Moskva vào cuối những năm 1980 để học ngành khai thác dầu mỏ, ông chuyển đến Kharkiv vào năm 1992 và thành lập một công ty sản xuất mì ăn liền mà cuối cùng được bán cho Nestlé với giá 150 triệu USD. Những người như vậy khá phổ biến trong giới tinh hoa chính trị của Việt Nam, cứ 5 người giàu nhất Việt Nam thì có 4 người là du học sinh khởi nghiệp ở Nga hoặc Ukraine ngay sau khi Liên Xô tan rã.

Tuy nhiên, mặc dù các ông trùm thế hệ X (sinh ra ở giai đoạn 1950 – 1965) của Việt Nam khởi nghiệp ở Moskva, nhưng hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy họ đang truyền đạt kinh nghiệm của mình ở Nga cho một thế hệ lãnh đạo trẻ gắn bó hơn với Thung lũng Silicon và Phố Wall. Họ cũng không lôi kéo nhiều nhà đầu tư Nga đến Việt Nam. Mặc dù Việt Nam là một trong những nước tạo dấu ấn lớn ở Nga trong lĩnh vực kinh doanh – với khoảng 3 tỷ USD vốn đăng ký ở nước này – nhưng gần như toàn bộ dấu ấn đó đều gắn liền với hoạt động chế biến sữa của công ty TH True Milk có trụ sở tại Vinh.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpri.org – 14/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019

Ảnh hưởng của Nga đối với Việt Nam – Phần II


Việt Nam bắt đầu dựa vào sức mạnh của Mỹ trong khu vực vào này 7/3/1997, khi Trung Quốc đưa giàn khoan Katan III đến vùng biển tranh chấp ngoài khơi Việt Nam. Vào thời điểm đó, Việt Nam đã mời Đô đốc Hải quân Mỹ Joseph Pruecher, sau này là Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương, đến Hà Nội. Đây là cuộc tiếp xúc đầu tiên trong số nhiều cuộc tiếp xúc song phương được nhiều người chú ý giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và quân đội Mỹ khi căng thẳng ở biển Nam Trung Hoa leo thang vào giữa những năm 2000.

Căng thẳng bị đẩy lên cao trong những năm 2010. Năm 2012, Trung Quốc đưa bãi cạn Scarborough, một chuỗi rạn san hô hình tam giác mà Philippines tuyên bố chủ quyền, vào phạm vi “đường 9 đoạn”. Mặc dù sự việc này không ảnh hưởng trực tiếp tới Việt Nam, vốn không tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough, nhưng nhận thấy điều này có thể trở thành tiền lệ, Việt Nam đã lên án hành động của Trung Quốc.

Căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh gia tăng hơn nữa vào năm 2014 khi Trung Quốc triển khai giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 ở vùng biển ngoài khơi Đà Nẵng. Việt Nam đã thắng trong cuộc đấu tranh vào tháng 7/2014, với việc Trung Quốc rút giàn khoa sau khi tuyên bố giàn khoan này đã kết thúc công việc sớm hơn dự kiến – mặc dù việc giành được chiến thắng thực sự trong cuộc chiến này là điều còn xa vời.

Những năm kể từ 2017 là giai đoạn đặc biệt nguy hiểm đối với Việt Nam ở biển Nam Trung Hoa. Năm 2018, Việt Nam đột ngột chấm dứt thỏa thuận với Repsol về việc khai thác dầu khí ở bờ biển phía Nam gần Bãi Tư Chính thuộc quần đảo Trường Sa mà không đưa ra bất kỳ lý do gì. Các hoạt động khai thác đã bị ngừng vào năm 2017 ngay sau khi mỏ dầu ở đó được xác định là có giá trị kinh tế để khai thác.

ĐCSVN lo lắng về Trung Quốc sau hai cuộc bầu cử nước ngoài làm thay đổi cuộc chơi vào năm 2016 mà đã khiến chiến lược an ninh của Việt Nam bị xáo trộn. Đầu tiên là việc Rodrigo Duterte giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Philippines vào tháng 5/2016. Trong khi cựu Thị trưởng thành phố Davao nổi tiếng thế giới vì cuộc chiến chống ma túy đẫm máu, phần lớn là bất hợp pháp khiến hàng nghìn người thiệt mạng, thì ông lại không thể hiện cứng rắn như vậy khi đối xử với Trung Quốc. Chưa đầy hai tuần sau khi Rodrigo Duterte nhậm chức, Tòa Trọng tài thường trực (PCA) tại La Hay đã mang lại cho Philippines một chiến thắng lớn trong vụ kiện do người tiền nhiệm của ông, Tổng thống Benigno Aquino III, khởi xướng chống lại Trung Quốc và các yêu sách của nước này ở biển Nam Trung Hoa. Mặc dù tòa án không đưa ra phán quyết về chủ quyền đối với bất kỳ cấu trúc địa hình cụ thể nào trên biển, nhưng phán quyết rằng “đường 9 đoạn” không có cơ sở pháp lý.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi Bắc Kinh dứt khoát phản đối tính hợp pháp của kết quả vụ kiện – ngay từ đầu Trung Quốc đã từ chối tham gia vụ kiện – nhưng việc chính Rodrigo Duterte gần như phớt lờ chiến thắng của Philippines lại gây sửng sốt. Trong những tháng đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống, Rodrigo Duterte đã bắt đầu áp dụng chính sách xoa dịu Bắc Kinh, hoan nghênh Trung Quốc đầu tư về kinh tế vào Philippines, đồng thời có những lời lẽ chống lại Mỹ. Ông thậm chí còn tuyên bố chia tay Mỹ và ủng hộ các mối quan hệ được cải thiện với Trung Quốc và Nga.

Ngẫm lại có thể thấy cú sốc mà những trò hề của Rodrigo Duterte gây ra ở Washington cuối năm 2016 dường như đã bị thổi phồng quá mức. Liên minh Mỹ – Philippines nhìn chung vẫn không thay đổi nhờ sự gắn bó sâu sắc về thể chế của liên minh này kết hợp với quan điểm được cải thiện của Duterte về quan hệ đối tác song phương sau lễ nhậm chức của Tổng thống Mỹ Donald Trump, người đã đích thân tán dương cuộc chiến chống ma túy của Philippines mà Chính quyền Obama đã lên án. Trong khi Rodrigo Duterte có lập trường thân Trung Quốc hơn so với người tiền nhiệm, thì không có liên minh mới nào với Bắc Kinh hay Moskva được thành lập.

Tuy nhiên, trong khi liên minh Mỹ – Philippines gần như chắc chắn sẽ vẫn tồn tại sau những hành động của Duterte, thì Việt Nam lại cảm thấy bị bỏ rơi trước những cử chỉ hòa giải mới đây của Philippines đối với Trung Quốc. Trước khi Rodrigo Duterte lên nắm quyền, Hà Nội và Manila đã thành lập một mặt trận thống nhất chống lại “đường 9 đoạn”, đồng thời gạt sang một bên các yêu sách chồng chéo của họ đối với Trường Sa (Philippines không có yêu sách đối với tranh chấp song phương giữa Trung Quốc và Philippines ngay cả trong những thời điểm căng thẳng. Sau cuộc gặp giữa Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vào tháng 8/2019 ở Bắc Kinh, truyền thông nhà nước Trung Quốc tuyên bố hai nhà lãnh đạo đã nhất trí xây dựng một bộ quy tắc ứng xử song phương ở biển Nam Trung Hoa vào năm 2021. Khi trở về nước, Duterte tuyên bố rằng Trung Quốc đã đề nghị trao cho Philippines 60% c63 phần trong một công ty liên doanh khai thác dầu khí đầy tiềm năng nếu ông phớt lờ phán quyết La Hay năm 2016. Mặc dù không biết liệu ông có đồng ý với thỏa thuận này hay không, nhưng Duterte nói rằng ông sẽ phớt lờ phán quyết này để có được một hoạt động kinh tế. Lập trường này vấp phải sự phản đối của Việt Nam, vốn duy trì lập trường công khai là không thỏa hiệp trong khi phản đối “đường 9 đoạn”. Theo quan điểm của Việt Nam, Philippines đã bước ra khỏi cuộc chiến.

Sau khi Donald Trump lên cầm quyền, việc ông rút Mỹ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gây lo lắng cho Việt Nam, vốn coi hội nhập thương mại với Mỹ có quan hệ với an ninh. Theo quan điểm của Việt Nam, việc rút khỏi TPP đã khiến cam kết của Mỹ trong khu vực bị hoài nghi. Việt Nam cũng đau đớn nhận ra rằng việc đạt được thặng dư thương mại 37,3 tỷ USD với Mỹ vào năm 2017 (năm gần đây nhất có sẵn dữ liệu) sẽ chẳng có lợi gì đối với Việt Nam khi Tổng thống Mỹ lại là người ủng hộ mạnh mẽ chủ nghĩa bảo hộ.

Việt Nam đã và đang tận dụng các cơ hội để cải thiện tình hình; trong 3 cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và các nhà lãnh đạo Việt Nam (một lần ở Nhà Trắng và hai lần tại Hà Nội), Việt Nam đã thể hiện một cách công khai sự nhất trí về việc mua hàng hóa của Mỹ trị giá hàng tỷ USD. Hà Nội sẵn sàng đăng cai tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un trong năm 2019 cũng phần lớn là do mong muốn thể hiện thiện chí đối với Chính quyền Trump. Mặc dù hầu hết đều tránh được cơn thịnh nộ của Tổng thống Trump, nhưng Việt Nam cũng không chắc chắn về địa vị của mình đối với Nhà Trắng.

Chính vì tình hình khó lường như vậy ở Manila và Washington, mà Hà Nội đã phải nhượng bộ Bắc Kinh vào năm 2017 và 2018. Tuy nhiên, trong một tình huống tương tự tái diễn vào năm 2019, Việt Nam đã phản ứng rất khác. Khoảng đầu tháng 7, Trung Quốc đã triển khai tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 8 cùng nhiều tàu hải cảnh đi theo hộ tống tới khu vực ở gần một lô dầu khí khác của Petro Vietnam gần quần đảo Trường Sa đã đi vào hoạt động từ tháng 5. Trong khi Trung Quốc hầu như không thừa nhận hành động gây hấn của mình, thì Việt Nam công khai bày tỏ lập trường mạnh mẽ yêu cầu tàu Hải Dương Địa chất 8 rời khỏi khu vực này và không có dấu hiệu lùi bước khi cuộc đối đầu tiếp diễn vào tháng 9.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpri.org – 14/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019

Tại sao tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của ASEAN lại quan trọng?


Sau hơn một năm cân nhắc thận trọng, ngày 23/6 vừa qua, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thông qua “Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Sau đó, vấn đề này đã được đề cập trong các cuộc họp của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tại Bangkok. Tài liệu này cung cấp chỉ dẫn cho sự can dự của ASEAN tại các khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, trông giống như một kế hoạch do Indonesia vạch ra.

Ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương như một khái niệm khu vực không phải là mới và đã được thảo luận rộng rãi trong cộng đồng chính sách như là cách để liên kết Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương và công nhận vai trò lớn hơn của Ấn Độ và Indonesia trong bất kỳ công thức chiến lược khu vực nào. Nhưng khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã mang lại sinh khí và ý nghĩa hơn khi chính quyền Trump vận dụng nó.

Là một lãnh đạo ASEAN, Indonesia không thoải mái với cách tiếp cận của Mỹ, coi đây là một phép loại trừ và nhằm mục đích cô lập Trung Quốc. Jakarta coi “Nhóm Bộ tứ” – bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ – như là một liên minh chiến lược tiềm năng của các cường quốc “bên ngoài” mà không có sự tham gia của ASEAN. Đáp lại, Jakarta đã và đang phát triển một chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lấy ASEAN làm trung tâm phù hợp hơn với nguyên tắc của ASEAN (bao gồm cả đối với Trung Quốc), xây dựng một sự đồng thuận và nhấn mạnh vào một cách tiếp cận ngoại giao, chính trị, có tính quy chuẩn – thay vì chiến lược quá thiên về quân sự.

Sự khác biệt thể hiện trong thuật ngữ này được hai nước sử dụng để làm rõ hơn tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của họ. Nói một cách ngắn gọn, Mỹ muốn một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương “tự do và rộng mở”, lập lại cách diễn đạt của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, nhưng với định hướng công khai hơn về chiến lược – quân sự. Trong khi đó, Indonesia tìm kiếm một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương “rộng mở” và “toàn diện”. Mỹ không sử dụng từ “toàn diện”, trong khi Indonesia không sử dụng từ “tự do”.

Ý tưởng của Mỹ về một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương “tự do” xác định sự cởi mở chính trị trong nước và quản trị tốt là những thành phần quan trọng – đặt nó vào thế bất hòa với Trung Quốc – trong khi Jakarta nhấn mạnh từ “toàn diện” với hàm ý rằng chính sách của họ không nhằm cô lập Trung Quốc. Ấn Độ dường như “đứng ở giữa”, kêu gọi một “Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở và toàn diện”.

Tầm nhìn này ủng hộ quan điểm của Jakarta, lợi ích của nước này trong ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được thúc đẩy bởi mục tiêu của Tổng thống Joko Widodo nhằm biến Indonesia thành một “điểm tựa hàng hải”. Sáng kiến sẽ bao gồm cả ý tưởng và các đề xuất, tránh đề cập đến bất kỳ quốc gia hay cường quốc nào, không chỉ Trung Quốc và Mỹ, mà còn cả Nhật Bản, Ấn Độ và Nga. Văn kiện này cũng tránh sử dụng bất kỳ giọng điệu hoặc ngôn ngữ chiến lược nào và khía cạnh quân sự cũng không được đề cập trong tài liệu này.

Thay vào đó, tầm nhìn này phù hợp hơn với cách tiếp cận “an ninh toàn diện” của ASEAN, tập trung vào “thực hiện và khám phá các lĩnh vực hợp tác ưu tiên khác và hiện nay của ASEAN, bao gồm hợp tác hàng hải, kết nối. Các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và các lĩnh vực kinh tế và hợp tác khả thi khác”.

Tầm nhìn nhắc lại mạnh mẽ “Con đường ASEAN” truyền thống, tránh thể chế hóa hợp pháp – nó có nghĩa như một “hướng dẫn”, không phải là một tài liệu pháp lý hay hiệp ước.

Hơn nữa, tầm nhìn này nhấn mạnh sự phụ thuộc vào các quy tắc và cơ chế hiện hành của ASEAN, chẳng hạn như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Văn kiện này “không nhằm mục đích tạo ra các cơ chế mới hoặc thay thế các cơ chế hiện có; thay vào đó, đây là một Tầm nhìn nhằm tăng cường quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời củng cố và tạo động lực mới cho các cơ chế do ASEAN dẫn đầu hiện nay để đối phó tốt hơn với các thách thức và nắm bắt các cơ hội phát sinh từ môi trường khu vực và toàn cầu hiện tại và tương lai”. Điều này phản ánh sự quyết tâm duy trì “tính trung tâm” của ASEAN trong việc phát triển cấu trúc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và chống lại bất kỳ mối liên kết nào của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với cách tiếp cận cân bằng quyền lực.

Một số nhà quan sát phương Tây bác bỏ tầm quan trọng của Tầm nhìn này vì nó không nhắm mục tiêu cụ thể vào Trung Quốc hoặc thực hiện các biện pháp tuân thủ, nhưng lời chỉ trích này đã bỏ qua một điểm: Đây là cách ASEAN hoạt động kể từ khi thành lập. Vai trò chính của ASEAN trong an ninh khu vực là thiết lập quy tắc và xây dựng lòng tin, thay vì thực thi quyền lực cứng hoặc giải quyết xung đột.

Điều đáng thất vọng không phải là nội dung tài liệu này mà là sự khác biệt giữa cách phương Tây đánh giá ASEAN và cách ASEAN nhìn nhận bản thân mình. ASEAN chắc chắn sẽ làm thất vọng hững ai muốn thấy nó hoạt động như một cường quốc.

Trong khi Tầm nhìn được viết bằng “ngôn ngữ ASEAN” điển hình, nhưng văn kiện này không bỏ qua các vấn đề và nguyên tắc quan trọng đang bị đe dọa trong các tranh chấp hàng hải hiện nay ở Biển Đônng. Tài liệu nhấn mạnh “sự hợp tác để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; thúc đẩy an toàn và an ninh hàng hải, và tự do hàng hải và hàng không;…. cướp biển, cướp và cướp có vũ trang nhằm vào tàu thuyền trên biển”.

Tầm nhìn này tránh sử dụng thuật ngữ “tự do”, mà Trung Quốc coi là nhằm trực tiếp chống lại nước này song nhắc đến “quyền tự do hàng hải” mà Washington rất coi trọng. ASEAN đang đóng vai trò hàng đầu trong việc xây dựng đồng thuận khu vực, đây là điều cần thiết vào thời điểm căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng.

Cuối cùng, Tầm nhìn này là một hành động khẳng định chính trị và ngoại giao của ASEAN. ASEAN muốn nói với thế giới rằng tổ chức này có cách của riêng mình để phát triển ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và sẽ không để các cường quốc bên ngoài chi phối. Tầm nhìn cũng hợp pháp hóa vai trò của Indonesia, có thể là quốc gia Đông Nam Á duy nhất có quy mô, địa lý và sức mạnh tiềm tàng để đứng vững trước Trung Quốc và Mỹ, hoặc trước tất cả các cường quốc. Đây là điều quan trọng đối với việc duy trì tính trung tâm của ASEAN.

Nguồn: www.aspistrategist.org.au

TKNB – 15/08/2019