Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới


Rajaram Panda

Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu như toàn bộ không gian Biển Đông và thậm chí đã bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế ở La Hay (Hà Lan) vào tháng 7/2016, trong đó khẳng định các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh không có bất cứ cơ sở pháp lý lịch sử nào. Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, cùng với Tây Tạng và Đài Loan. Trong những năm qua, Trung Quốc gia tăng các hoạt động như xây dựng đảo, tạo ra khu vực đánh bắt cá mới ở Biển Đông nhằm kiểm soát không gian đại dương này và loại bỏ các bên yêu sách khác.

Trung Quốc đã tức giận khi Tòa Trọng tài quốc tế bác bỏ hầu hết các tuyên bố chủ quyền của nước này ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, người nhậm chức một tháng trước khi có phán quyết, đã hạ thấp phán quyết của tòa trọng tài nhằm cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Bất chấp những nỗ lực của ông Duterte để xoa dịu mối quan hệ với Bắc Kinh, Trung Quốc đã phản đối khi các nhà lãnh đạo quân đội Philippines viếng thăm một hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Chính phủ Philippines cho rằng họ sở hữu lãnh thổ nơi mà quân đội và người dân Philippines đã sống trong nhiều thập kỷ.

Để đạt được các mục tiêu của mình, Trung Quốc đã cố gắng tạo ra sự mất đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN. Mặt khác, Trung Quốc đã sử dụng ngoại giao kinh tế để có được một số quốc gia thành viên nhất định của ASEAN vào nhóm của Trung Quốc. Chẳng hạn như, Trung Quốc đã tận dụng tối đa lợi thế của Philippines khi Tổng thống Duterte lên nắm quyền và cố gắng tiếp cận Bắc Kinh. Theo một báo cáo gần đây, Trung Quốc thậm chí đã lắp đặt các thiết bị phóng tên lửa trên Đá Chữ Thập ở Biển Đông, mặc dù Bắc Kinh tuyên bố các cơ sở này sẽ bị giới hạn trong các yêu cầu quốc phòng.

Hành động quân sự hóa của Trung Quốc

Giải quyết các tranh chấp về yêu sách chủ quyền lãnh thổ của một số quốc gia đối với Biển Đông là vô cùng quan trọng vì lợi ích của việc đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực. Nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục đơn phương quân sự hóa vùng lãnh thổ đang tranh chấp mà không để ý đến sự nhạy cảm của các quốc gia nhỏ hơn có những yêu sách chính đáng của họ. Có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã hoàn thành gần hết các công trình nhằm mục đích trang bị các hệ thống tên lửa đất đối không trên 3 tiền đồn lớn nhất của mình trong các khu vực tranh chấp ở Biển Đông như là một phần của mô hình quân sự hóa ổn định. Các cấu trúc như vậy đã xuất hiện ở các đảo đá nhân tạo được nạo vét bởi Trung Quốc như Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Xu Bi và nơi đây cũng đã có các sân bay quân sự. Trung Quốc bắt đầu xây dựng những cấu trúc này vào tháng 9/2016 và đến nay đã xây dựng 8 công trình trên 3 tiền đồn của mình.

Các hành động của Trung Quốc có phải là để đối phó với những nỗ lực của Mỹ trong việc kiềm chế các hành động quyết đoán của Bắc Kinh ở Biển Đông hay không là điều không quan trọng. Vấn đề đáng quan tâm hơn là các hành động trên là một phần chiến lược quân sự hóa có hệ thống được xác định rõ ràng bởi Trung Quốc để tăng cường vị thế vững chắc của nó trong không gian đại dương này. Trung Quốc đã đưa tên lửa HQ-9 SAM với tầm bắt lên đến 200km tới tiền đồn trên quần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Việc triển khai các tên lửa là nhằm mở rộng khả năng phòng thủ của Trung Quốc trong cái gọi là tuyên bố “đường 9 đoạn”. Năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết không “quân sự hóa” các đảo, nhưng Bắc Kinh đã đi trước một bước để bổ sung các hệ thống tên lửa phòng không trên các hòn đảo nhân tạo. Bắc Kinh tuyên bố những biện pháp này là phù hợp với yêu cầu an ninh quốc gia và là quyền hợp pháp của một quốc gia có chủ quyền.

Như dự đoán, các hoạt động của Trung Quốc gây ra sự báo động ở các thủ đô khác ở châu Á, những nước này có tuyên bố tương tự trên các vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Trong khi không có bên tuyên bố yêu sách nào ở trong tình trạng đối đầu quân sự của Trung Quốc, họ lại nhìn Washington và các bên khác không liên quan trực tiếp đến tranh chấp, nhưng tôn trọng các nguyên tắc toàn cầu để đối phó với cách tiếp cận hung hăng của Bắc Kinh. Trong bất kỳ trường hợp nào, không thể có thay thế nào tốt hơn bằng việc theo đuổi các cuộc đối thoại và được coi là lựa chọn duy nhất để giải quyết vấn đề. Cho dù vậy, sự sẵn sàng của quân đội để đối đầu với Trung Quốc cũng không thể bỏ qua Một Bộ quy tắc ứng xử (COC) phải là chìa khóa để giải quyết tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế.

Mỹ phản ứng bằng việc tiến hành các hoạt động quân sự của mình để gửi thông điệp rõ ràng tới Trung Quốc. Mỹ đã cử nhóm tàu chiến gồm tàu sân bay lớp Nimitz USS Carl Vinson tới Biển Đông tham gia “hoạt động thường lệ” trên biển đầu tiên dưới thời chính quyền Tổng thống D. Trump. Mặc dù không đề cập đến hoạt động tuần tra “tự do hàng hải” ở Biển Đông nhưng việc cử các tàu chiến tới khu vực là minh chứng cho ý định của Mỹ nhằm hạn chế các tuyên bố chủ quyền biển quá mức của Bắc Kinh. Bắc Kinh cho thấy động thái của Mỹ là mối đe dọa quân sự lớn hơn đối với hòa bình trên biển. Trung Quốc nhận thức việc triển khai của Mỹ như một mối đe dọa quân sự trực tiếp.

Trong khi Washington nhận thức được rằng cần phải thể hiện cam kết của mình với các đồng minh trong những tình huống nguy kịch. Bắc Kinh luôn hoang tưởng với sự hiện của quân sự của Mỹ và cho rằng các hành động đó chỉ làm gia tăng căng thẳng khu vực. Chính quyền của Tổng thống Trump dường như không thể nới lỏng sự quản lý của nó khi Trung Quốc tiếp tục xây dựng các khu phức hợp quân sự lớn ở giữa Biển Đông. Đáng chú ý, trong động thái mới nhất hồi tháng 5 vừa qua, 2 máy bay chiến đấu J-10 của Trung Quốc đã ngăn chặn hoạt động của một máy bay P-3 của hải quân Mỹ trong khu vực không phận quốc tế ở Biển Đông. Tình huống tương tự đã xảy ra với một tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động tự do hàng hải đầu tiên dưới thời Tổng thống D. Trump ở khu vực Biển Đông, gần đảo nhân tạo được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Lập trường của Việt Nam

Việt Nam không muốn chiến tranh với Trung Quốc và ủng hộ một giải pháp hòa bình cho giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng sẽ không ngần ngại phản công nếu Bắc Kinh áp dụng các biện pháp đơn phương nhằm chống lại các lợi ích an ninh quốc gia của Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam đã đứng vững và đánh bại người Pháp à sau đó là Mỹ. Nhưng Việt Nam không muốn bị ảnh hưởng bởi cái bóng của lịch sử vì họ muốn hòa bình, đó là lý do tại sao chính quyền Obama quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam đã được thực hiện trong một thời gian dài. Việt Nam phản đối khi Bắc Kinh tìm cách thay đổi hiện trạng ở Biển Đông.

Thật không may, không có sáng kiến của bất kỳ nước láng giềng nào của Trung Quốc cho đến nay đã thành công trong việc thuyết phục Bắc Kinh thay đổi vấn đề. Điều này khiến Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tăng cường năng lực quốc phòng, thông qua việc thúc đẩy quan hệ quốc phòng với các nước thân thiện như Nhật Bản và Ấn Độ. Trong khi tìm kiếm một giải pháp cho các tranh chấp Biển Đông theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, Việt Nam gắn liền chính sách xây dựng liên minh với các nước nhưng không phải để chống lại bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam đã phải chịu đựng rất nhiều trong cuộc Chiến tranh Lạnh và không muốn lặp lại một điều tương tự. Đó là điều dễ hiểu.

Sự cần thiết của COC

Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có ý nghĩa chiến lược rất lớn đối với nhiều quốc gia. Bên cạnh những khu vực đánh bắt cá phong phú và tiềm năng giàu có về dầu, khí đốt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác dưới đáy đại dương, ước tính khoảng 5 nghìn tỷ USD thương mại toàn cầu hàng năm đi qua Biển Đông. Các vấn đề liên quan đến tranh chấp gồm tự do và an ninh hàng hải, các quy tắc của luật pháp, các tiêu chuẩn toàn cầu về thương mại quốc tế và COC. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã đồng ý một dự thảo khung về COC nhằm tránh xung đột trong các khu vực tranh chấp Biển Đông. 15 năm trước, Trung Quốc và ASEAN đã cam kết soạn thảo COC, nhưng không thể có kết quả vì những khác biệt.

Tuy nhiên, sau khi dự thảo COC được thông qua có những mối quan ngại trong khối ASEAN về việc liệu Trung Quốc có thành thật hay liệu ASEAN có đủ đòn bẩy để buộc Bắc Kinh cam kết với loạt quy tắc hay không. Dự kiến, khuôn khổ dự thảo sẽ được đệ trình lên cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Manila vào tháng 8 tới để xem xét. Philippines tổ chức các cuộc họp của ASEAN vào năm nay và bắt đầu tham vấn lần đầu tiên với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Philippines đã chọn một lập trường chủ động sau khi bắt đầu quan hệ nồng ấm với Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nhà phân tích bày tỏ sự thất vọng khi cho rằng các quốc gia ASEAN đã khá mềm yếu đối với các hoạt động hiếu chiến của Trung Quốc trên biển. Họ lo ngại rằng Bắc Kinh có thể sẽ đẩy mạnh cuộc tấn công vào khu vực và điều này có thể làm suy yếu trung tâm của ASEAN. Việc không đưa ra được tuyên bố chung trong cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc tại Côn Minh tháng 6/2016 được trích dân như là kết quả của một áp lực mà Trung Quốc áp dụng đối với các nhà lãnh đạo ASEAN.

Kể từ thời điểm La Hay ra phán quyết, nhóm ASEAN đã khôi phục lại các cuộc đối thoại và tham vấn với Trung Quốc với sự tự tin, nhưng không phải là “mở ra trang mới” về giải quyết vấn đề Biển Đông. Việc ngư dân Philippines được tiếp cận bãi cạn Scarborough sau nhiều năm bị các tàu Trung Quốc ngăn chặn phần nào đã làm giảm căng thẳng quan hệ song phương. Nhưng sự thiếu tin tưởng đã không biến mất. Phải mất 15 năm để đạt được một dự thảo, tuy nhiên, COC vẫn chưa được hoàn thiện, dẫn đến sự mở rộng những khác biệt khi Trung Quốc cứng rắn hơn. Trong khi đó, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đóng vai trò là một điểm tham chiếu khi xuất hiện vấn đề và căng thẳng và là cơ sở để đàm phán một COC chính thức.

Philippines sẽ tổ chức cuộc họp cấp cao lãnh đạo lần thứ hai vào tháng 11 tới cùng với các đối tác đối thoại ASEAN như Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ. Nó được kỳ vọng sẽ đạt được sự nhất trí và tìm thấy hướng mới cho giải quyết vấn đề Biển Đông. Mặc dù bản dự thảo COC đến nay vẫn được giữ kín, nhưng COC sẽ không hoàn chỉnh nếu không có cơ chế giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, thiếu tính hợp pháp và cam kết của Trung Quốc về phi quân sự hóa các đảo tranh chấp. COC chính thức và có tính ràng buộc nên được thảo luận và hoàn tất khi Manila tổ chức cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN vào tháng 8 tới.

Nguồn: Eurasia Review (Ấn Độ) – 31/5/2017

TKNB – 02/06/2017

Sai lầm lớn của Donald Trump ở Biển Đông


Cho tới tận năm ngoái, Biển Đông vẫn là vấn đề chiến lược quan trọng nhất tại châu Á – Thái Bình Dương và là 1 trong 5 điểm nóng hàng đầu thế giới.

Lý do rất rõ ràng, Trung Quốc không ngừng phô trương sức mạnh ở Biển Đông với tham vọng bá chủ vùng biển đặc biệt quan trọng với thương mại quốc tế này, nơi mỗi năm trung chuyển khối lượng hàng hóa trị giá 5,3 nghìn tỷ USD, và cũng là nơi có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên vô cùng lớn. Điều này khiến căng thẳng trong khu vực không ngừng leo thang. Thực tế sau khi Bắc Kinh “thua” trong phiên tòa quốc tế mà Philippines là nguyên đơn, theo đó mọi tuyên bố về chủ quyền và chủ quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông đều bị Tòa Trọng tài (La Hay) bác bỏ, khu vực đã phải chứng kiến một cuộc đối đầu căng thẳng giữa các cường quốc. ở mức độ chưa từng có từ sau Chiến tranh Lạnh. Một quan chức Lầu Năm Góc thậm chí còn nói rằng “nếu Chiến tranh Thế giới lần thứ ba bùng phát trong thập kỷ tới, Biển Đông chắc chắn sẽ là nơi chứng kiến phát súng đầu tiên”.

Trong gần một năm sau đó, mọi chuyện dường như lại đang đi theo một chiều hướng khác. Điều này có được là nhờ rất nhiều yếu tố, từ sự kiềm chế của Trung Quốc sau phán quyết hồi tháng 7 của Tòa Trọng tài, nỗ lực của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nhằm xích lại gần với Bắc Kinh vì lý do kinh tế, hay sự chuyển giao quyền lực tại Nhà Trắng khiến Biển Đông đã không còn là một trong những ưu tiên chính sách đối ngoại hàng đầu của Washington.

Tuy nhiên, đây lại là một sai lầm rất lớn của Chính quyền Donald Trump. Mặc dù rõ ràng ưu tiên hàng đầu trong vấn đề an ninh của Mỹ phải là Triều Tiên, song Mỹ không nên để Trung Quốc có cơ hội từng bước thao túng tuyến đường biển quan trọng này. Trung Quốc hiện đã xây dựng 7 hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông và triển khai trên đó nhiều hạ tầng cơ sở quân sự hiện đại. Việc quốc gia này đưa hàng loạt tàu chiến, máy bay ném bom và máy bay chiến đấu tới khu vực có lẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Điều đáng tiếc hơn là Chính quyền Trump lại dùng cách cũ mà người tiền nhiệm từng sử dụng để đối phó với điểm nóng này, đó là đưa tàu tới gần các hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc để thách thức các tuyên bố chủ quyền của họ, với mục đích là thực hiện các chiến dịch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải trong khu vực. Mọi chuyện có thể dẫn đến những tính toán sai lầm và trở thành kẽ hở để Trung Quốc tận dụng nhằm phục vụ các mục đích của mình.

Để nhấn mạnh thông điệp rằng Mỹ sẽ đưa máy bay, tàu biển và “hoạt động ở bất kỳ đâu mà luật pháp quốc tế cho phép” tại Biển Đông. Chính quyền cựu Tổng thống Barack Obama đã thực hiện các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải và hàng không (FONOP) trong khu vực. Mục đích của các chiến dịch này là nhằm thể hiện rằng Mỹ không hề công nhận các quyền phi lý mà Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác tuyên bố. Tuy nhiên, thực tế là chiến lược này trước đây không hiệu quả, và giờ cũng vậy. Mặc dù một cuộc tuần tra FONOP có thể thể hiện rằng Mỹ đang nỗ lực phản đối các tuyên bố bành trướng của Trung Quốc và gây thiện cảm với dư luận trong bối cảnh Chính quyền Trump phải đối mặt với không ít chỉ trích, song hoạt động này không hề có tác dụng trong việc hạn chế tham vọng của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Mọi chuyện thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn. Nhiều nguồn tin cho biết Bắc Kinh đang phát triển mạng lưới radar dưới nước để vô hiệu hóa khả năng do thám của các tàu ngầm Mỹ và các quốc gia khác hoạt động trong khu vực. Điều này có nghĩa, nếu Mỹ cứ chỉ đơn thuần đưa tàu tới tuần tra ở Biển Đông thì Bắc Kinh sẽ càng tìm cách triển khai các khí tài quân sự hiện đại. Các hòn đảo nhân tạo và hạ tầng cơ sở cùng các trang thiết bị mà Trung Quốc lắp đặt trên đó là một sự hiện diện thường trực trong khi các chiến dịch hải quân của Mỹ chỉ là nhất thời.

Điều may mắn là Chính quyền Trump có những lựa chọn khả thi để đối phó với thực tế này và một trong những cơ hội lớn là chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tới Mỹ trong tuần này. Việt Nam là một trong những nước có tuyên bố chủ quyền chồng lấn với Trung Quốc và mạnh mẽ phản đối các hành vi bành trướng của người láng giềng phương Bắc. Sự kiện này sẽ là “cơ hội vàng” để Chính quyền Donald Trump xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp với Hà Nội nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề Biển Đông.

Chính quyền Trump sẽ phải làm rất nhiều việc, từ phát triển một chiến lược toàn diện nhằm đảm bảo rằng Trung Quốc không thể biến Biển Đông thành “ao nhà” – điều mà người tiền nhiệm đã thất bại; cho tới răn đe Bắc Kinh rằng nếu muốn thay đổi hiện trạng khu vực, họ sẽ phải đối mặt với những hệ quả không mong muốn, chẳng hạn như việc Mỹ có thể trao cho Đài Loan gói viện trợ vũ khí lớn mà Đài Bắc từng yêu cầu.

Washington có những lựa chọn để đối phó với các tuyên bố chủ quyền và tham vọng bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, song chỉ đơn thuần đưa tàu biển tới gần các hòn đảo nhân tạo rõ ràng không phải là một biện pháp nên làm.

Nguồn: The Week – 01/06/2017

TKNB – 02/06/2017

Ý nghĩa của thỏa thuận khung COC giữa Trung Quốc – ASEAN


Hiệp định này sẽ chỉ giúp Trung Quốc củng cố nắm giữ những gì họ đã có được, hạn chế tối đa việc bị bên ngoài khối can thiệp và để thể hiện họ là một nước tốt trong khu vực.

Từ lâu, tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước liên quan tại vùng biển Hoa Nam (Biển Đông) là cuộc xung đột lợi ích không thể giải quyết được. Không nước nào muốn xảy ra chiến tranh và cũng không nước nào chịu lùi bước. Để giảm bớt khả năng có thể xảy ra xung đột vũ trang và cũng để tất cả các bên tuyên bố chủ quyền tại vùng biển có nhiều tranh chấp này khỏi việc cảm thấy bị mất mặt, các nước liên quan đã tiến hành đàm phán về các quy định nhằm kiểm soát các hành vi gây căng thẳng ở khu vực trong nhiều thập kỷ qua. Ý tưởng này ban đầu do các nước ASEAN đề xuất vào cuối những năm 90 của thế kỷ 20, tuy nhiên, sau khi Trung Quốc chiếm giữ đảo Vành Khăn vốn thuộc quyền kiểm soát của Philippines năm 1995 đã khiến các cuộc đàm phán liên quan đến quy tắc ứng xử bị ngưng lại. Đến ngày 18/5 vừa qua, các quan chức ngoại giao cấp cao của Trung Quốc và các nước ASEAN đã nhất trí về bộ khung của COC. Dự thảo này sẽ được đệ trình lên cấp ngoại trưởng vào tháng 8 tới, và sẽ hình thành nền tảng cơ sở cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Cả hai bên đều đã chúc mừng lẫn nhau về tiến bộ đạt được này, tuy nhiên ý nghĩa thực sự của tiến bộ đạt được này là gì?

Nếu chiếu theo những gì đã từng xảy ra trong lịch sử thì rất có lý để cảm thấy bi quan. Trong Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký năm 2002, Trung Quốc và các nước ASEAN đã cam kết “hợp tác” và “kiềm chế”, thừa nhận “sự cần thiết để thúc đẩy môi trường hòa thuận, thân thiện và hòa bình”, và nói họ sẽ tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và tiến tới COC. Rồi 9 năm sau đó, hai bên đã nhất trí thông qua một loạt hướng dẫn mơ hồ để thực thi tuyên bố nói trên. Và đến tháng 7/2016, Trung Quốc đã đồng ý thúc đẩy các cuộc đàm phán về COC – một uyết định mà một số nước ngờ rằng sự đồng ý đó xuất phát từ việc ông Rodrigo Duterte được bầu lên làm Tổng thống Philippines thay người tiền nhiệm là ông Benigno Aquino, người đã đệ đơn kiện Trung Quốc về yêu sách “Đường 9 đoạn” trên Biển Đông lên Tòa Trọng tài quốc tế tại La Hay (Hà Lan), cáo buộc trung Quốc vi phạm UNCLOS.

Vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc bắt đầu từ tháng 1/2013, với nội dung nhắm đến các yêu sách về chủ quyền đối với Biển Đông mà Trung Quốc đưa ra, thể hiện rõ ràng nhất trong tấm bản đồ “Đường 9 đoạn” bao trùm tới 80% diện tích Biển Đông. Tháng 10/2015, Tòa Trọng tài tại La Hay ra phán quyết nghiêng về phía Philippines sau khi xem xét các vấn đề mà Manila khởi kiện. Theo đó, Tòa cho rằng vụ kiện của Manila là phù hợp với luật pháp, theo các điều khoản của UNCLOS, và việc Trung Quốc từ chối tham gia không ảnh hưởng tới phán quyết của Tòa. Tuy nhiên, ông Duterte, người có khuynh hướng thiên về Trung Quốc hơn người tiền nhiệm là ông Aquino, đã quyết định “gạt sang bên” phán quyết của Tòa.

Do vậy bộ khung COC đã được tính toán và lựa chọn vào đúng thời điểm này. Nội dung của bộ khung COC hiện chưa được tiết lộ. Theo bản dự thảo đưa ra hồi tháng 3/2017 thì đa phần đề cập đến “thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau”, hay “có nhiệm vụ hợp tác”, và “kiềm chế”. Tuyên bố hồi năm 2002 cũng có những từ tương tự như vậy, nhưng tuyên bố đó đã chẳng có tác dụng giúp các nước “kiềm chế”, nhất là Trung Quốc. Bắc Kinh vẫn xây dựng các đảo nhân tạo và hiện các đảo đã sẵn sàng trở thành căn cứ quân sự trong vùng biển đang có tranh chấp. Giống như DOC hồi năm 2002, bộ khung của COC dường như thiếu các cơ chế tăng cường hiệu lực hay chỉ ra những hậu quả của việc vi phạm các điều khoản của bộ quy tắc này. Điều dường như phù hợp với tất cả các bên, những nước tuyên bố muốn hòa bình và ổn định, nhưng không hạn chế tự do của họ. Bộ khung này cho phép Trung Quốc tìm kiếm sự hợp tác mà không phải kiềm chế các hành vi của mình và giúp giới chức ASEAN cảm giác như tiến trình mà họ đang thực hiện cũng đang đem lại kết quả.

Cho dù các ngoại trưởng của hai bên dự định thông qua bộ khung này vào tháng 8 tới thì chu trình vòng đàm phán mới đầy chông gai của hai bên sẽ lại bắt đầu. Nhưng lần này, Trung Quốc đã có một người bạn là nhà lãnh đạo Philippines, một trong những nước ASEAN có nhiều tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông với Trung Quốc. Bắc Kinh còn có cả Donald Trump, người có tính cách khó đoán định có thể sẽ làm Trung Quốc lo lắng, nhưng với bản tính của một thương gia, cách tiếp cận luôn là sự đổi trác đối với các vấn đề đối ngoại sẽ rất phù hợp với Trung Quốc hơn là so với nguyên tắc quốc phòng dựa trên nguyên tắc trật tự quốc tế của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama. Trung Quốc cũng biết cách làm vừa lòng các nước đối thủ có tranh chấp ở Biển Đông bằng Sáng kiến “Vành đai và con đường”, thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng, cộng với một nước Mỹ có chính sách thay đổi thất thường như hiện nay. Nói cách khác, thỏa thuận này giúp Trung Quốc củng cố được những gì mình đã có tại Biển Đông, giảm thiểu sự can thiệp từ bên ngoài các nước ASEAN vào vấn đề giữa Trung Quốc – ASEAN và tỏ ra mình là một “công dân tốt trong khu vực”.

Nguồn: The Economist – 30/05/2017

TKNB – 01/06/2017

Đã đến lúc vượt qua Bắc Kinh ở Biển Đông – Phần cuối


Thứ sáu, nhiều doanh nhân và nhà hoạch định chính sách phương Tây mong muốn tránh bất kỳ biện pháp nào có thể làm gián đoạn công việc kinh doanh của họ và các mối quan hệ kinh tế lớn hơn với Trung Quốc. Những mối quan ngại này trở nên rõ ràng nhất trong các đồng minh Tây Thái Bình Dương, cũng như ở Mỹ và các tập đoàn khác đã đầu tư mạnh mẽ vào việc phát triển các quan hệ thân thiết với doanh nghiệp Trung Quốc. Các cơ quan Trung Quốc đã tích cực thúc đẩy những lo lắng này, tuyên truyền những tình thế tiến thoái lưỡng nan giả mạo, và thổi phồng những hậu quả có thể có đối với các nền kinh tế khu vực của bất kỳ hành động nào được thực hiện nhằm đối đầu với sự quyết đoán của Trung Quốc.

Thành công của các hoạt động thông tin của Bắc Kinh ở các nước phương Tây là nhân tố thứ bảy giải thích cho sự rụt rè của các đồng minh phương Tây đối với hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông. Những hoạt động này đã được trợ giúp bởi việc Trung Quốc mua các doanh nghiệp truyền thông ở các nước phương Tây cũng như việc lôi kéo các nhà ra quyết định then chốt, các nhà báo và giới học giả thông qua các chuyến thăm tới Trung Quốc được chi trả hoàn toàn; sự đóng góp các nguồn tài chính đáng kể cho các đảng chính trị; và việc thành lập nhiều kiểu hiệp hội thân Bắc Kinh, bao gồm các Viện Khổng Tử ở các trường đại học; sự lồng ghép thường xuyên những phụ trương của Trung Quốc vào các tờ báo ở thành phố lớn; và việc đại sứ quán, lãnh sự quán và các thực thể thân Bắc Kinh khác định kỳ tổ chức các buổi tuần hành, các buổi hòa nhạc và những sự kiện khác mang tính “yêu nước”. Các hoạt động thông tin mạng và tình báo đã được sử dụng nhằm tăng cường các thông điệp quan trọng, tuyển mộ các nhân viên tình báo Trung Quốc và “các nhân vật có ảnh hưởng”, và hăm dọa, cưỡng ép và ngăn chặn những hành động chống đối của đồng minh.

Nhân tố thứ tám là về văn hóa. Các cử tri phương Tây có vẻ lo sợ về việc châm ngòi đối đầu và sự leo thang tranh cãi nhiều hơn so với các đối tác của họ ở Trung Quốc. Hugh White, một quan sát viên nổi tiếng trong những vấn đề của khu vực, thậm chí từng lập luận rằng Mỹ không nên đối đầu với chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc trừ phi các nhà lãnh đạo của họ sẵn sàng “thuyết phục đa số người Mỹ rằng Mỹ cần và sẽ sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến tranh hạt nhân nhằm duy trì quyền lãnh đạo của Mỹ ở châu Á”. Những tuyên bố như thế này phản ánh những đánh giá thiếu sót về sức mạnh tương đối, những giả định đáng ngờ về sự sẵn sàng của Bắc Kinh sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Mỹ, và việc không xem xét một loạt chiến lược liên minh có khả năng và một danh sách rất dài gồm những lựa chọn phi quân sự sẵn có để các đồng minh kiềm chế chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc. Một trong những vấn đề cốt lõi với cách tiếp cận của các chính phủ Mỹ, Nhật Bản và Australia là tuyên bố sai nghiêm trọng của họ về các lợi ích liên minh. Những đồng minh này chắc chắn có lợi ích mạnh mẽ trong quyền tự do đi lại trên biển và trên không và trong việc chứng kiến các tuyên bố chủ quyền cạnh tranh trong khu vực được giải quyết theo cách hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, những lợi ích mạnh mẽ nhất của các đồng minh thực sự mở rộng vượt ra ngoài các mục tiêu có giới hạn, phần lớn là mang tính chiến thuật này.

Trên thực tế, lợi ích then chốt thứ nhất của các đồng minh là đảm bảo rằng Trung Quốc không chi phối Biển Đông tới chừng mức mà nước này có thể đơn phương quyết định trật tự khu vực và áp đặt mức độ chủ quyền mà các nhà nước ven biển được hưởng. Lợi ích then chốt thứ hai của các đồng minh là hạn chế tiềm năng các hành động chiếm hữu của Trung Quốc ở Biển Đông nhằm đặt ra một tiền lệ cho những hành động bất hợp pháp hơn nữa, hung hăng hơn nữa của Bắc Kinh trong ngắn hoặc dài hạn. Lợi ích liên minh then chốt thứ ba là đảm bảo rằng những sự vi phạm nghiêm trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển của Trung Quốc, việc họ bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài và việc nước này thách thức trực tiếp luật pháp quốc tế không được lặp lại. Khi theo đuổi những lợi ích thực chất hơn này, các nhà lãnh đạo đồng minh cần lựa chọn một khái niệm chiến lược rõ ràng nhằm thúc đẩy một chiến dịch phản đối. Những lựa chọn rõ ràng nhất là lựa chọn một chiến lược ngăn chặn xâm nhập, một chiến lược áp đặt phí tổn, một chiến lược tấn công chiến lược của Trung Quốc, hoặc một chiến lược làm xói mòn vai trò lãnh đạo ở Bắc Kinh. Bất kể khái niệm chiến lược được lựa chọn là gì, thì một nền tảng thiết yếu sẽ là một tư thế quân sự liên minh mạnh mẽ hơn và mang tính thuyết phục hơn ở Tây Thái Bình Dương.

Xét tới những hành động của Bắc Kinh trong suốt 5 năm qua, có sự cấp thiết phải vượt ra ngoài cái gọi là “xoay trục” và “tái cân bằng” tiến tới một sự can dự quân sự toàn diện hơn với khu vực mà có thể được gọi là Chương trình quan hệ đối tác an ninh khu vực. Các mục tiêu hàng đầu của một chương trình như vậy sẽ là thể hiện ưu thế quân sự liên minh tiếp tục trong chiến trường, ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu hơn nữa của Trung Quốc, và củng cố lòng tin của các đồng minh và đối tác khu vực về trách nhiệm của các đối tác phương Tây để họ cảm thấy có khả năng chống lại một cách chắc chắn bất kỳ âm mưu cưỡng ép nào. Chiến lược liên minh hiệu quả nhất sẽ mang tính đổi mới và không cân xứng. Chỉ bởi vì Bắc Kinh đã tập trung những hành động quyết đoán nhất của mình ở Biển Đông và biển Hoa Đông trong những năm gần đây, sử dụng nhiều hình thức khác nhau là quân đội, cảnh sát biển, lực lượng dân quân biển và các phương tiện chiến tranh chính trị, điều đó không có nghĩa rằng các đồng minh cần phản công bằng cách tập trung tất cả nỗ lực của họ vào những chiến trường đó và triển khai những mô hình tương tự đó. Ngược lại, các lựa chọn liên minh hiệu quả nhất có khả năng tập trung vào việc gây một vài kiểu áp lực nhằm vào những yếu kém chủ yếu của sự lãnh đạo của Trung Quốc trong bất kỳ chiến trường nào thích hợp. Những chiến dịch như vậy cần bao gồm một sự pha trộn được xác định một cách cẩn thận các biện pháp có thể được duy trì trong một khoảng thời gian kéo dài. Các biện pháp tiềm năng có khả năng sẽ mở rộng vượt hẳn ra ngoài các lĩnh vực quân sự và ngoại giao tiêu chuẩn nhằm tính tới những sáng kiến về địa chiến lược, thông tin, kinh tế, tài chính, nhập cư, pháp lý, chống quyền lãnh đạo và các sáng kiến. Một vài biện pháp trong số này sẽ bao gồm các chính sách được công bố được thiết kế nhằm ngăn chặn các hành động của Trung Quốc, đem lại niềm tin cho các đồng minh và bạn bè, và định hình môi trường hoạt động tác chiến rộng lớn hơn. Các biện pháp khác sẽ được phân loại và thiết kế một phần nhằm duy trì sự mất cân bằng của Trung Quốc và khuyến khích sự thận trọng lớn hơn ở Bắc Kinh.

Chắc chắn sẽ có những người ở các nước đồng minh thích chính phủ của họ “vờ như không biết”. Tuy nhiên, bản chất và quy mô thách thức của Trung Quốc có nghĩa là một thất bại của Mỹ và các đồng minh trong khu vực nhằm ứng phó bằng một chiến lược đáp trả mạnh mẽ sẽ có những ảnh hưởng căn bản đối với an ninh toàn cầu. Đầu tiên, trên thực tế nó sẽ nhượng lại chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông cho Trung Quốc. Việc đem lại cho Bắc Kinh quyền kiểm soát thực sự đối với sự mở rộng về vận tải và thông tin liên lạc như vậy sẽ có những ảnh hưởng địa chiến lược đáng kể và kéo dài. Nó sẽ tái cơ cấu các phần chính của môi trường an ninh ở Tây Thái Bình Dương và làm phức tạp một cách nghiêm trọng nhiều kiểu hoạt động tác chiến của liên minh trong tương lai.

Hậu quả lớn thứ hai là sự mặc nhận trước những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế của Bắc Kinh. Điều này sẽ gây tổn hại rất lớn tới nỗ lực liên minh kéo dài nhiều thập kỷ nhằm xây dựng các khuôn khổ của luật pháp quốc tế mà chi phối các mối quan hệ quốc tế, thương mại và các tranh chấp quốc tế. Điều đó sẽ phát đi tính hiệu tới cộng đồng toàn cầu rằng các đồng minh phương Tây không sẵn sàng bảo vệ luật pháp quốc tế.

Hệ quả then chốt thứ ba là nguy cơ khuyến khích Trung Quốc tiến hành các hoạt động chiếm hữu khác, có tiềm năng nghiêm trọng hơn trong những năm sắp tới. Bắc Kinh có thể sẽ coi sự rụt rè, rối trí và vô tổ chức của các quốc gia khác là lời mời gọi chiếm giữ các vùng lãnh thổ mang tính chiến lược hơn và thực hiện các hoạt động khác mang tính quyết đoán lớn. Do đó, bằng việc vẫn cứ rụt rè và vụng về, các nhà lãnh đạo liên minh sẽ gánh chịu rủi ro nghiêm trọng của việc thúc đẩy một cuộc xung đột nghiêm trọng hơn nhiều với Trung Quốc trong những năm tới mà sẽ khó tránh hơn nhiều, nếu không nói là không thể.

Hệ quả lớn thứ tư của việc không hành động theo cách thức mạnh mẽ sẽ là việc gây tổn hại tới khả năng răn đe của liên minh. Hành động yếu ớt của phương Tây vào thời điểm này sẽ gửi đi những thông điệp rất không thích hợp không chỉ tới Bắc Kinh, mà còn tới Moskva và Bình Nhưỡng.

Hệ quả thứ năm của việc Mỹ không hành động gì là buộc phải có sự đánh giá lại những giả định về quốc phòng và an ninh quốc gia rộng lớn hơn của gần như tất cả các nhà nước đồng minh và bạn bè ở Tây Thái Bình Dương, và hơn thế nữa. Do những phản ứng thiếu hiệu quả của các nhà lãnh đạo đồng minh trước những hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và các chuẩn mực an ninh toàn cầu, họ cần thực hiện những thay đổi gì đối với việc lập kế hoạch an ninh của chính mình? Một số sẵn sàng thăm dò những mối quan hệ đối tác an ninh mới và có tiềm năng đáng tin cậy hơn. Những nước khác có thể tiến hành các chương trình phòng vệ mới, còn những nước khác có thể từ bỏ các yếu tố then chốt về chủ quyền của họ nhằm đạt được những sự thỏa hiệp với Bắc Kinh hoặc với các chế độ theo chủ nghĩa xét lại khác.

An ninh của Tây Thái Bình Dương vẫn là lợi ích cốt lõi của Mỹ và các đồng minh thân cận của nước này. Có đòi hỏi mạnh mẽ là Chính quyền Trump sắp tới phải biến việc đưa ra công thức về một chiến lược đáp trả hiệu quả sớm thành một ưu tiên.

Nguồn: https://warontherocks.com/2016/12/it-is-high-time-to-outmaneuver-beijing-in-the-south-china-sea/

TLTKĐB – 06/01/2017

Đã đến lúc vượt qua Bắc Kinh ở Biển Đông – Phần đầu


Ross Babbage

Chính sách của Mỹ và các đồng minh thân cận của nước này ở Biển Đông đã thất bại. Những tuyên bố lặp đi lặp lại về lợi ích có giới hạn kèm theo đó là sự qua lại không thường xuyên của các tàu và máy bay đã không ngăn cản được chương trình xây dựng đảo của Bắc Kinh, cũng không có hành động chặn trước đáng kể nào đối với công cuộc của Trung Quốc tìm kiếm sự chi phối quân sự trong khu vực.

Khi tìm cách giảm tới mức thấp nhất nguy cơ đối đầu ở mỗi bước đi, Mỹ và các đồng minh của họ trên thực tế đã từ bỏ quyền kiểm soát một khu vực có tầm chiến lược lớn và thực hiện một tiến trình đầu hàng dần dần. những tiền lệ xấu đã được đặt ra, và các thông điệp về sự kém cỏi được truyền tới cộng đồng toàn cầu. Ở những phần của Tây Thái Bình Dương, các đồng minh có nguy cơ đánh mất vị thế mà họ nắm giữ từ lâu là các đối tác an ninh được ưa thích.

Tại sao Washington và các thủ đô đồng minh khác lại vụng về đến vậy? Tại sao họ lại mất nhiều thời gian đến thế để phát triển một chiến lược đáp trả hiệu quả trước hành động xây dựng đảo và quân sự hóa của Bắc Kinh ở Biển Đông? Mọt phần lý do là cách mà Trung Quốc khẳng định chủ quyền của họ đối với khoảng 80% tuyến đường thủy chiến lược này. Biển Đông là một mạch đường thủy chở hơn một nửa lượng hàng hóa thương mại của thế giới và đóng vai trò như là một tuyến đường chuyển tiếp quan trọng cho các quân đội của Mỹ và nhiều đồng minh và bạn bè của họ. Trong suốt 5 năm qua, dấu chân của Bắc Kinh đã mở rộng rõ rệt với việc nạo vét các đảo mới và xây dựng các cơ sở cho việc giám sát, cho các lực lượng phòng không, chống hạm và tấn công. Chiến dịch của Bắc Kinh được tiến hành một cách thông minh thông qua một loạt bước đi kế tiếp nhau có mức độ tăng dần, mỗi bước đi nằm trong số đó nằm dưới ngưỡng châm ngòi cho một phản ứng mạnh mẽ của phương Tây. Kết quả là, Bắc Kinh giờ đây có những cơ sở quan trọng trên 12 đảo ở Biển Đông và cho đến nay có sự hiện diện của quân đội, cảnh sát biển và lực lượng dân quân trên biển lớn nhất trong khu vực.

Trong số những khả năng quân sự mà Trung Quốc có vẻ sắp thiết lập trên các đảo nhân tạo này có các cơ sở giám sát và thu thập thông tin tình báo, các căn cứ tên lửa chống hạm và chống máy bay tầm xa, và vô số hệ thống phòng thủ tên lửa và súng. Ba trong số các đảo trong nhóm đảo Trường Sa, hướng tới giữa Biển Đông, giờ đây sở hữu các sân bay có chiều dài 10000 feet, thừa sức để xử lý các hoạt động của máy bay Boeing 747. Những bức tường ngăn kiên cố để làm nhà chứa 24 máy bay ném bom chiến đấu sắp hoàn thành trên 3 đảo này cùng với cái có vẻ là các cơ sở rộng lớn để bảo dưỡng và dự trữ nhiên liệu và các nguồn cung khác. Việc vận hành máy bay từ các cơ sở này có thể có tầm hoạt động tới biển Andaman, Bắc Australia, và Guam. Những đảo mới được xây dựng này có vẻ cũng có khả năng cất giữ, cũng như vận hành trong thời gian ngắn, số lượng đáng kẻ các tên lửa hành trình và đạn đạo tầm ngắn và tầm cận trung để tấn công cả các mục tiêu có cơ sở trên đất liền lẫn các thuyền trên biển đến tận biển Sulu ở Philippines và Singapore và Malaysia về phía Nam.

Những cơ sở ở cảng cũng đã được xây dựng trên các đảo này có khả năng tiếp nhiên liệu và bổ sung thêm những số lượng đáng kể các tàu của hải quân, cảnh sát biển và lực lượng dân quân biển. Ngoài ra, các đảo này có vẻ có tiềm năng hỗ trợ một mạng lưới giám sát âm thanh dưới nước trên khắp Biển Đông mà sẽ củng cố đáng kể các khả năng của Trung Quốc theo đuổi những hoạt động nhằm vào tàu ngầm của đồng minh trên chiến trường.

Vì 3 đảo chính này không quá nhỏ, nên có không gian để phân tán hầu hết các tài sản của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) được triển khai trong một cuộc khủng hoảng và làm phức tạp hoạt động nhắm mục tiêu của các lực lượng đồng minh. Đá Chữ Thập giờ đây có quy mô của một căn cứ máy bay chiến đấu trên đất liền. Đá Subi lớn hơn khoảng 50% và gần như có thể so sánh được với Căn cứ Hải quân Trân Châu Cảng về diện tích. Đá Vành Khăn cũng lớn hơn đáng kể và có kích thước vừa vặn bằng Quận Columbia. Kết quả là, Trung Quốc đang tiến tới biến đổi Biển Đông thành cái gì đó gần giống như một tuyến đường thủy nội địa được bảo vệ nghiêm ngặt. Hiện tại, việc qua lại không gây hại, đặc biệt là của các tàu thương mại, đang được tôn trọng. Tuy nhiên, Bắc Kinh nói rõ rằng các điều khoản và điều kiện hoạt động của nước ngoài, kể cả của các nước ven biển khác, sẽ do Trung Quốc quyết định và thực thi. Giới chức trách Trung Quốc có liên quan đã phát đi tín hiệu rằng Bắc Kinh đang xem xét tuyên bố một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) đối với toàn bộ Biển Đông. Giờ đây các cơ sở quân sự gần hoàn thành sẽ cho phép các lực lượng Trung Quốc thực thi bất kỳ tuyên bố nào với việc cho các máy bay chiến đấu áp sát máy bay không tuân thủ. Mặc dù phần lớn giới quan sát quốc tế hầu như chẳng nghi ngờ rằng các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, nhưng phán quyết của Tòa Trọng tài hồi tháng 7/2016 đã làm rõ mức độ vi phạm của Trung Quốc. Tòa nhất trí kết luận rằng không có cơ sở pháp lý nào cho tuyên bố về quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các vùng biển và các đảo nhân tạo nằm bên trong “đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh tuyên bố. Khi đối đầu với sự bành trướng lãnh thổ và quân sự của Trung Quốc ở Biển đông, các nhà lãnh đạo đồng minh gần như luôn phản ứng bằng cách lặp lại một niệm chú mang tính tiêu chuẩn: Chúng ta có lợi ích mạnh mẽ trong việc qua lại tự do trên biển và trên không, chúng ta không có tuyên bố chủ quyền quốc gia đối với các vùng lãnh thổ trong khu vực, và chúng ta kêu gọi tất cả các bên tham gia hành xử kiềm chế và giải quyết các tuyên bố chủ quyền cạnh tranh phù hợp với luật pháp quốc tế. Trong sự ủng hộ mang tính biểu tượng những lợi ích này, các tàu và máy bay của đồng minh quá cảnh định kỳ qua khu vực, mặc dù họ hiếm khi thách thức trực tiếp các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quóc. Phản ứng này rõ ràng đã không ngăn chặn được sự bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh.

Tại sao cách tiếp cận của Mỹ và các đồng minh thân cận của họ lại rụt rè và không đem lại kết quả gì đến vậy? Có một số nhân tố đóng vai trò.

Thứ nhất, nhiều người ở Washington và các thủ đô đồng minh khác coi các vấn đề ở Biển Đông là những điều gây rối trí không mong muốn hầu như chẳng có tầm quan trọng gì mà tốt nhất là nên phớt lờ. Một số nhà hoạch định chính sách và nhà bình luận đã lập luận rằng hầu như chẳng có ý nghĩa gì khi có nguy cơ phải đối đầu với một cường quốc chủ chốt xung quanh “một vài bãi đá rải rác” ở một chiến trường rất xa.

Thứ hai, mức độ quan trọng tương xứng với tương lai chiến lược của Biển Đông có sự khác nhau rất lớn giữa các đồng minh và đối tác. Quan điểm chung ở Washington là Biển Đông quan trọng nhưng không phải là sống còn. Nó chỉ đơn giản là một trong nhiều khu vực rắc rối mà Mỹ phải đối phó. Ở Tokyo, Seoul và Canberra, Biển Đông quan trọng hơn nhiều vì giá trị chiến lược và tầm quan trọng trọng yếu thực chất của nó đối với những đối tác thân cận của họ là các nước thành viên biển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Đối với các nước ven biển ở Biển Đông, cán cân chiến lược và chủ quyền thực sự của khu vực này là trọng yếu đối với an ninh và sự thịnh vượng kinh tế trong tương lai của họ. Những sự khác biệt trong ưu tiên giữa các đồng minh Tây Thái Bình Dương và những nước bạn bè của họ đang đặt áp lực lên các mối quan hệ an ninh lâu dài.

Sự kiềm chế nghiêm trọng thứ ba được đặt ra bởi mô hình liên minh trung tâm và các vệ tinh đã tồn tại ở Tây Thái Bình Dương kể từ những năm 1950. Hợp tác liên minh chéo và việc lập kế hoạch an ninh kết hợp không được phát triển tốt giữa các đồng minh Tây Thái Bình Dương. Trong khi những năm gần đây có một số tiến bộ trong việc tăng cường phối hợp hành động giữa Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc và một số nước đối tác ở Đông Nam Á, thì điều đó vẫn còn hạn chế và phần lớn không thường xuyên. Washington chắc chắn đã khuyến khích hợp tác liên minh chéo thân thiết hơn nhưng còn một chặng đường dài để tiến tới tiếp cận được kiểu lập kế hoạch an ninh kết hợp mà thành thường lệ ở châu Âu. Kết quả là, hợp tác liên minh kịp thời, hiệu quả và thực sự nhằm ứng phó với các hoạt động của Bắc Kinh ở Biển Đông đã không dễ dàng.

Thứ tư, phần lớn công dân, gần như tất cả nhà báo và nhiều đại diện quốc hội và nghị viện được cung cấp thông itn một cách nghèo nàn về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông và, quả thực, hành vi chiến lược rộng hơn của Bắc Kinh trong suốt thập kỷ qua. Phương tiện truyền thông chính thống và các cơ quan của chính phủ phương Tây đã không làm tốt việc cho thấy thực tế của cái đã và đang diễn ra và giải thích những tác động.

Thứ năm, việc phát triển một sự ứng phó hiệu quả trước chủ nghĩa tiệm tiến của Trung Quốc ở Biển Đông về bản chất là khó khăn. Bắc Kinh đã sử dụng một chiến lược rất tinh vi và khái niệm hoạt động tác chiến có thể được thực hiện mà không thách thức các cam kết liên minh của Mỹ hoặc trực tiếp đối đầu với các lực lượng của Mỹ và đồng minh. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo phương Tây phải đối mặt với vô số sự rối loạn về chính trị và bộ máy hành chính quan liêu, và khó có thể duy trì được sự chú ý của họ trên chiến trường này.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://warontherocks.com/2016/12/it-is-high-time-to-outmaneuver-beijing-in-the-south-china-sea/

TLTKĐB – 06/01/2017

Biển Đông – bài trắc nghiệm thực tế với Mỹ


Khi Tòa Trọng tài tại La Hay (Hà Lan) ra phán quyết hồi tháng 7/2016 bác bỏ tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông, chiến lược của Bắc Kinh nhằm thống trị “sân sau” dường như bị đảo lộn. Các chính trị gia ở Washington cố gắng một cách vô ích để che giấu chủ nghĩa Trump của họ.

Theo bài viết mới đây trên trang ft.com, phán quyết của Tòa Trọng tài là cột mốc quan trọng trong cuộc đấu tranh giành quyền thống trị ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển quan trọng trên thế giới, ước tính mỗi năm vận chuyển lượng hàng hóa trị giá khoảng 5 nghìn tỷ USD. Mỹ đã liên tiếp thất bại trong nỗ lực nhằm tập hợp các nước cùng có tuyên bố chủ quyền ở vùng biển này trong bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động quân sự hóa và xây dựng tại các đảo nhân tạo nhằm kiểm soát hiệu quả khu vực tranh chấp. Ngay cả một số quan chức Mỹ cũng thừa nhận Trung Quốc đã thắng trong cuộc chiến giành Biển Đông mà không vấp phải sự chống trả về quân sự. Trong các cuốn sách lịch sử của nước Mỹ, sự kiện này chắc chắn sẽ là “vết nhơ” quá lớn.

Mao Trạch Đông, lãnh đạo Trung Quốc suốt 27 năm, từng mô tả Mỹ là “con hổ giấy” với vẻ ngoài hung dữ nhưng rút cục lại vô hại. Từ năm 2011, Chính quyền cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama đã thừa nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc như một thách thức lớn đối với vị thế lãnh đạo của Mỹ trên thế giới và rõ ràng Bắc Kinh tìm kiếm một vai trò trung tâm từ các cuộc chiến tranh tàn khốc ở Trung Đông cho tới bàn cờ quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương. Điều này càng có ý nghĩa hơn khi cuộc cách mạng dầu đá phiến ở Mỹ giúp nước này giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ của các nước Arab.

Tuy nhiên, khi chiến lược “xoay trục” được lặng lẽ thay thế bằng “tái cân bằng” sau nhiều năm không hoạt động, rõ ràng chính sách này đã trở thành một thảm họa. Không chỉ gây thù địch với Bắc Kinh và khiến Đảng Cộng sản Trung Quốc có cớ để gia tăng các tuyên bố gây hấn về chủ quyền lãnh thổ, chính sách này còn khiến các đồng minh trong khu vực thực sự nghi ngờ khả năng và quyết tâm của Mỹ. Trong bối cảnh đó, Bắc Kinh đã đẩy nhanh việc xây dựng các đảo nhân tạo và quân sự hóa ở Biển Đông. Trong 3 năm qua, Trung Quốc đã cải tạo thêm 3200 hécta đất – gấp 10 lần diện tích của công viên Hyde Park ở London (Anh) – trên 7 rạn san hô và đá, xây dựng các đường băg, cảng, hệ thống radar và vũ khí. Những động thái này được tiến hành cùng với nỗ lực ngoại giao thành công trong năm qua của Trung Quốc nhằm thuyết phục các nước láng giềng tránh xa Washington và đi theo Bắc Kinh. Điểu hình nhất là Philippines, thuộc địa trước kia của Mỹ, khi Tổng thống Rodrigo Duterte tuyên bố “chia tay” Mỹ.

Trừ Đài Loan – vùng lãnh thổ mà Bắc Kinh luôn tuyên bố là một phần không thể tách rời của Trung Quốc, tất cả những yêu sách của các quốc gia trong khu vực như Malaysia và Brunei đã trở nên gần gũi với Bắc Kinh hơn kể từ sau phán quyết của Tòa Trọng tài hồi tháng 7/2016. Tổng thống Trump quá bận tâm với những cuộc tranh cãi và cuộc chiến trên Twitter nên không có thời gian chú ý hoặc nắm bắt được tình hình diễn biến phức tạp ở Biển Đông. Những nhân vật mà ông bổ nhiệm, như Rex Tillerson vào chức vụ Ngoại trưởng Mỹ, chỉ làm trầm trọng thêm thái độ do dự gần đây của Mỹ khi tuyên bố cứng rắn về việc hạn chế chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc.

Việc Mỹ tiếp tục nhấn mạnh muốn đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông là điều không trung thực vì thật ra điều Washington muốn là các tàu và máy bay của Mỹ được tự do thực hiện các hoạt động giám sát dọc theo bờ biển Trung Quốc đại lục. Đó là điều mà Bắc Kinh không bao giờ chấp nhận.

Không thể hy vọng Trung Quốc sẽ phá bỏ các đảo nhân tạo của họ (ở Biển Đông) và trả ại nguyên trạng. Washington cần thừa nhận thực tế về sức mạnh của Trung Quốc trên biển và tìm kiếm một thỏa hiệp, bao gồm tất cả các bên liên quan trong khu vực, tránh để rơi vào một cuộc chiến tranh. Đây chắc chắn sẽ là một chiến thắng về mặt chiến lược cho Trung Quốc, nhưng nó cũng có thể cho phép Mỹ và các nước khác thuyết phục Bắc Kinh rằng những quan điểm về mở rộng lãnh thổ và các mối quan hệ cường quốc ở thế kỷ 19 đã lỗi thời và không chính đáng. Trong khi đưa ra lập luận chống chủ nghĩa đế quốc mới của Trung Quốc, Mỹ có thể nhắc nhở các nhà lãnh đạo Trung Quốc về những tuyên ngôn của Mao như “Chủ nghĩa đế quốc sẽ không tồn tại lâu bởi nó luôn làm những điều xấu xa”, hay “những kẻ theo chủ nghĩa đế quốc sẽ luôn có kết cục giống như ‘những con hổ chết’”.

Nguồn: TKNB – 12/04/2017

Mỹ tấn công quân sự Triều Tiên sẽ đẩy Seoul vào thế nguy hiểm


Triều Tiên sẽ nã hàng nghìn quả đại pháo, hàng trăm tấn chất nổ đánh vào thủ đô Seoul có 25 triệu cư dân của Hàn Quốc. Đồng thời tên lửa của Triều Tiên sẽ bắn đến Nhật bản và tận đảo Guam của Mỹ, sẽ là một số những hậu quả mà các nhà hoạch định kế hoạch quân sự của Mỹ và Hàn Quốc đang phải cân nhắc khi tính đến một cuộc tấn công phủ đầu để ngăn chặn đe dọa hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Bình Nhưỡng.

Chính quyền của Tổng thống Donald Trump nhiều lần lặp lại cảnh cáo rằng chính sách “kiên nhẫn chiến lược” với Triều Tiên của Tổng thống Obama đã chấm dứt, và gợi ý có thể sử dụng đến biện pháp quân sự để ngăn chặn Triều Tiên phát triển tên lửa đạn đạo liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân (ICMB) có thể bắn tới đại lục Hoa Kỳ.

Thêm vào việc “giương oai diễu võ” cùng với lời cảnh cáo đó, Mỹ vừa điều một tàu ngầm, loại có thể trang bị 150 tên lửa điều hướng Tomahawk, đến một hải cảng của Hàn Quốc ngày 25/4. Hạm đội do hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson dẫn đầu của Mỹ cũng đang trên đường hướng đến khu vực và sẽ tiến hành các cuộc thao diễn hải quân chung với Nhật Bản và Hàn Quốc. Cũng trong tuần này, Mỹ đã đưa các bộ phận của Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) đến địa điểm triển khai cách thủ đô Seoul khoảng 250 km về hướng Nam.

Sẽ chìm trong khói lửa

Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng một cuộc tấn công quân sự thật sự của Mỹ sẽ có rủi ro rất cao. Một cuộc tấn công chính xác của Mỹ nhằm vào một hay nhiều địa điểm hạt nhân và tên lửa đạn đạo chắc chắn không đủ để phá hủy toàn bộ hoặc phần lớn kho vũ khí hạt nhân và phi đạn đạo của Triều Tiên, nước mà các báo cáo nói rằng có vô số địa điểm quân sự kiên cố dưới lòng đất ở khắp nơi.

Một cuộc tấn công phủ đầu của Mỹ gần như chắc chắn sẽ khơi mào cho một cuộc trả đũa ngay lập tức của Triều Tiên nhắm vào Hàn Quốc. Ông John Schilling, chuyên gia về công nghệ hỏa tiễn đang làm việc với trang web tên 38 North chuyên quan sát Triều Tiên thuộc khoa Nghiên cứu quốc tế cấp cao của Đại học John Hopkins (SAIS) ở Washington, nhận định:

Triều Tiên có thể nã đại pháo vào Seoul hoặc những nơi khác dọc theo khu phi quân sự (DMZ). Có thể có những cuộc hành quân bí mật, nhưng phải có thêm nhiều mức độ leo thang xung đột nữa trước khi Bình Nhưỡng dùng đến vũ khí hạt nhân hoặc vũ khí hóa học”.

Triều Tiên có hơn 21000 khẩu đại bác, phần lớn được triển khai dọc theo biên giới liên Triều, để có thể luôn sẵn sàng đe dọa tính mạng của 25 triệu dân cư Seoul, thủ đô của Hàn Quốc chỉ cách biên giới liên Triều 56 km.

Một bản đánh giá về khả năng quân sự Triều Tiên do tổ chức phân tích tình báo Strafor ở Texas thực hiện ghi nhận rằng pháo binh Triều Tiên có các hệ thống phóng nhiều rocket 300mm cùng lúc có thể “tưới lửa đạn” lên Seoul và các vùng phụ cận. Bản phân tích của Strafor cho rằng “một đợt phóng rocket” có thể bắn hơn 350 tấn chất nổ bao phủ khắp thủ đô của Hàn Quốc, tương đương với khối lượng bom đạn của khoảng 11 máy bay ném bom B-52 cùng lúc thả xuống.

Tên lửa hạt nhân

Triều Tiên có hơn một nghìn tên lửa đạn đạo có thể bắn đến bất cứ nơi nào ở Hàn Quốc, Nhật Bản và có thể bắn đến tận các căn cứ quân sự của Mỹ ở Guam.

Mặc dù Triều Tiên chưa cho thấy khả năng có thể thu nhỏ đầu đạn hạt nhân để gắn vào tên lửa, các giới chức Mỹ và Hàn Quốc tin là Bình Nhưỡng có một tên lửa hạt nhân Nodong có thể mang theo đầu đạn nặng một tấn đi xa đến 2000km, đủ để bắn đến bất cứ nơi nào ở Hàn Quốc, một số phần của Nhật Bản, Nga và Trung Quốc.

Ông Joel Wit, đồng sáng lập trang web 38 North là chuyên gia kỳ cựu của Viện nghiên cứu Mỹ – Triều Tiên của SAIS, nhận định:

Theo tôi thì đa số mọi người đều tin rằng Triều Tiên có thể gắn một đầu đạn vào tên lửa bắn đến các mục tiêu ở Đông Bắc Á. Nhưng đến khi nào thì Bình Nhưỡng mới có được một phi đạn tầm xa hơn mà họ cần, chẳng hạn như để bắn đến Hoa Kỳ, thì tôi không chắc”.

Ngoài 10 – 20 đầu đạn hạt nhân mà Triều Tiên được cho là đang có trong tay, các tên lửa của Bình Nhưỡng còn có thể mang vũ khí hóa học bị tình nghi đang có sẵn trong kho vũ khí của nước này.

Nodong là tên lửa một tầng dùng nhiên liệu lỏng được sản xuất dựa theo phiên bản tên lửa scud của Liên Xô trước đây. Trong một số vụ thử mới đây nhất, Triều Tiên đã thử nghiệm các tên lửa nhiên liệu rắn Musudan có tầm bắn tối đa ước tính khoảng 3000 km, có khả năng bắn đến các mục tiêu ở Nhật Bản và thậm chí đến các căn cứ quân sự của Mỹ trên đảo Guam. Các nhà phân tích cho rằng nếu để cho Triều Tiên tiếp tục phát triển vũ khí mà không có biện pháp nào kiềm chế thì Bình Nhưỡng đang trên đường tiến đến tên lửa đạn đạo liên lục địa trước năm 2020, để có thể bắn đại lục Hoa Kỳ. Triều Tiên cũng đang phát triển tàu ngầm có khả năng phóng tên lửa đạn đạo.

Lực lượng quân sự Mỹ với hơn 28.000 binh sĩ đang trú đóng tại Nhật Bản và 50.000 binh sĩ ở Hàn Quốc cũng có thể là những mục tiêu tấn công trả đũa của Triều Tiên.

Theo các nhà phân tích, bất cứ một cuộc tấn công trả đũa nào của Triều Tiên cũng sẽ dẫn đến một phản ứng tức thời từ Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản và sẽ dẫn đến tình trạng leo thang xung đột, kéo theo Trung Quốc, dẫn đến một cuộc chiến tranh Triều Tiên thứ hai.

Nguồn: VOA

TKNB – 28/04/2017