Những thách thức an ninh tại Biển Đông – Phần IV


Từ khi Donald Trump đắc cử, quan điểm của Mỹ đối với châu Á – Thái Bình Dương hiện vẫn không thay đổi. Đối phó với cuộc khủng hoảng Triều Tiên, lực lượng cảu Mỹ được tăng cường tại Đông Bắc Á, và các tàu chiến của Mỹ tiếp tục hoạt động tại phía Nam. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte cho rằng người Mỹ không có vai trò tại Biển Đông, và do dự giữa phản ứng hoặc im lặng trước những yêu sách của Trung Quốc. Trong một cuộc họp báo tại Indonesia vào cuối tháng 4/2017, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đã tuyên bố rằng Mỹ sẽ tiếp tục đảm bảo tự do hàng hải trong khu vực.

Thách thức chính nằm ở sự không ổn định của các tuyến đường biển, vì vậy mỗi chủ thể quốc gia, khu vực hoặc quốc tế cần tiếp tục chú ý tới các biện pháp do Trung Quốc thực hiện, cũng như tính khí bất thường của các Tổng thống Philippines và Mỹ. ASEAN và Liên hợp quốc cho thấy hạn chế của họ, ngay cả ở vai trò trung gian hòa giải. Nếu như việc thực hiện luật quốc tế vấp phải quan điểm của Trung Quốc về quyền chủ quyền, thì ASEAN và Liên hợp quốc cần cùng nhau suy nghĩ về một Bộ quy tắc ứng xử mới tại Biển Đông, với sự tập hợp tất cả các tác nhân (trong đó có Mỹ và Nhật Bản), chứ không chỉ bằng một cuộc đối thoại Trung Quốc – ASEAN.

Không gian quân sự là trọng tâm của các chiến lược gây ảnh hưởng

Các thách thức an ninh của thế kỷ XXI tại Biển Đông không giới hạn ở riêng mặt biển. Thực tế, cần phải xem xét tổng thể không gian nơi đây, các không gian khác nhau: không gian trên biển, không gian biển và không gian dưới biển. Lăng kính theo khía cạnh quân sự của những không gian này cho thấy rõ các khía cạnh gây ảnh hưởng chiến lược mà mỗi nước trong khu vực tiến hành. Việc quân sự hóa những không gian khác nhau này khiến cộng đồng quốc tế lo ngại khi 80% các thương lộ của thế giới nằm trên biển.

Không gian trên biển

Năm 2013, Trung Quốc đã tuyên bố một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên một vùng rộng lớn của biển Hoa Đông, xung quanh quần đảo Điếu ngư/Senkaku, gây ra những căng thẳng nghiêm trọng với Nhật bản và khiến Mỹ bất bình. Như vậy, Trung Quốc đã cho truyền thông phương Tây cơ hội bày tỏ sự lo lắng của họ trước “Sự trỗi dậy về sức mạnh của Trung Quốc” theo cách nói thông thường. Ngay lập tức, Mỹ đã điều hai máy bay ném bom B52 tới ADIZ của Trung Quốc để chứng tỏ không tôn trọng biện pháp của Trung Quốc và thực hiện một sự khiêu khích quân sự.

Sau phán quyết của Tòa trọng tài thường trực ngày 12/7/2016, Bắc Kinh đã thông báo chuẩn bị thiết lập một ADIZ thứ hai trên Biển Đông trong trường hợp có sự khiêu khích và tranh chấp chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực. Ngày 25/3/2017, một máy bay ném bom B-1B của không quân Mỹ, khi đang bay diễn tập với quân đội Hàn Quốc và Nhật Bản, đã bị yêu cầu rời khỏi “không phận” của Trung Quốc trong khi máy bay này cách đảo Jeju 130 km về phía Tây Nam, cách Thượng Hải 440 km, giới hạn phía dưới của ADIZ Trung Quốc. Ngày 08/02/2017, phía trên bãi cạn Scarborough, nơi tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Philippines, một máy bay tuần tra biển của Trung Quốc KJ-200 đã bay sát máy bay tuần thám P3-C Orion của Mỹ, chỉ cách 300 m. Để tạo thuận lợi cho sự thao túng trên không phận Biển Đông, ngày 26/4/2017, Trung Quốc đã hạ thủy tàu sân bay thứ hai. Một tàu sân bay khác cùng chủng loại đang được đóng và cả hai tàu này sẽ phối hợp với tàu Liêu Ninh đang có mặt trong khu vực.

Là nước đầu tiên tuyên bố về một ADIZ vào năm 1950 nhằm làm giảm bớt các nguy cơ của một cuộc tấn công bất ngờ từ Liên Xô, Mỹ hoan nghênh các ADIZ khi chúng được thiết lập trong sự tuân thủ luật pháp quốc tế: không xâm phạm các đường biên giới, không can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia. Chính quyền mới của Mỹ muốn tăng cường sự hiện diện quân sự của mình (tuyên bố của John Mattis) và không công nhận ADIZ của Trung Quốc. Hải quân Mỹ và Bộ chỉ huy Thái Bình Dương đã yêu cầu Chính quyền Trump cho phép tiến hành các Chiến dịch tuần tra bảo vệ quyền tự do hàng hải (FONOP) tại Biển Đông.

Để khẳng định sự kiên quyết của mình trước điều Mỹ coi là những khiêu khích của Trung QUốc, bản thân Washington cũng tiến hành những khiêu khích. Tháng 12/2016, Trung Quốc đã thu giữ một tàu ngầm điều khiển từ xa của hải quân Mỹ, ngay sau khi Trump đe dọa chấm dứt việc công nhận một “Trung Quốc duy nhất” bằng cách xích lại gần Đài Loan. Sự can dự ngày càng tăng của Washington có thể là một yếu tố bổ sung gây bất ổn tại Biển Đông.

Đài Loan giữ một lập trường cứng rắn và không chấp nhận ADIZ mà Trung Quốc, đồng thời muốn giữ quyền kiểm soát cũng như tiếp tục bảo vệ không phận của mình. Họ đã triển khai hệ thống phòng không trên các đảo Đông Sa và Ba Bình để tăng cường sự phòng vệ này.

Các nước khác trong khu vực dường như chấp thuận các ADIZ hiện có và ủng hộ sự tuân thủ luật quốc tế theo hướng này. Chỉ riêng Trung Quốc có tham vọng tuyên bố một ADIZ trên Biển Đông mà không có sự tán thành của các nước khác trong khu vực, kể cả Mỹ. Là nguồn gốc của những căng thẳng, không phận là một không gian mà những can thiệp có thể diễn ra nhanh và có những hậu quả lớn về mặt ngoại giao, như một sự leo thang về hành động đáp trả của quốc gia.

Không gian biển

Không gian biển là nơi trưng bày sức mạnh hải quân của mỗi nước. Cũng như đối với không phận, Trung Quốc khao khát thống trị không gian biển bằng cách tuyên bố đó là không gian lãnh thổ của họ. Tuy nhiên, điều này ảnh hưởng đến sự tự do đi lại ở đây.

Việc chiếm đóng các khu vực là nguyên nhân của những căng thẳng thực sự. Việt Nam và Trung Quốc cũng đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã chiếm đóng quần đảo này sau một đợt tấn công quân sự năm 1974. Đối với Scarborough, bãi cạn này là nguyên nhân căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines, với một bầu không khí đầy căng thẳng. Tình hình tại Quần đảo Trường Sa diễn ra phức tạp, khi Trung Quốc mưu toan bồi đắp để tạo ra các đảo nhân tạo kể từ mùa Xuân 2015, với sự hiện diện quân sự. Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. Tuy nhiên, hai nước này cuối cùng không thực hiện chiếm đóng quân sự.

Các đảo nhỏ, đảo san hô vòng, bãi cạn ít có thể sinh sống và nguồn tài nguyên cạn kiệt (phốt phát) từ một thế kỷ nay, điều thách thức là buộc mọi người thừa nhận ưu thế của mình trên các quần đảo này và mở rộng đáng kể vùng đặc quyền kinh tế. Độc quyền khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngoài khơi trở thành một mục tiêu.

Vì vậy, dự hiện diện quân sự trên biển là cách thức chủ yếu cảu các quốc gia để hỗ trợ quyết tâm bảo vệ chủ quyền khu vực của họ. Các đường ranh giới có thể không rõ ràng nên sự hiện diện quân sự và bán quân sự gây ảo tưởng về tính hợp pháp của khu vực. Về điểm này Trung Quốc đang gây căng thẳng với hầu như toàn bộ các quốc gia trong khu vực như Philippines, Nhật Bản, Việt Nam, và cùng còn cả với Mỹ. Vì vậy, ngày 11/5/2016, tàu khu trục USS William P. Lawrence đã tiến sát bãi đá Chữ Thập nơi Trung Quốc xây dựng một đường băng cho máy bay. 3 máy bay tiêm kích và 3 tàu Trung Quốc đã xua đuổi tàu khu trục Mỹ ra khỏi khu vực. Trung Quốc đảm bảo sự hiện diện của mình tại Biển Đông bằng lực lược hải quân cùng với 5 đơn vị bán quân sự bảo vệ bờ biển. Ngoài ra, các tàu cá Trung Quốc, tạo thành một hạm đội gần 200.000 tàu được vũ trang, cũng góp phần duy trì sự hiện diện của Trung Quốc.

Mặc dù không ký kết Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, hải quân Mỹ hành động dựa trên luật lệ theo tập quán, bằng việc đảm bảo tự do hàng hải cho các tàu dân sự và quân sự trong khu vực. Trung Quốc cũng tán thành tự do hàng hải, nhưng phân biệt quyền tự do của các tàu thương mại với quyền tự do của các tàu quân sự. Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, các tàu quân sự nước ngoài được tự do tiến hành các hoạt động thông thường, kể cả giám sát và diễn tập trong Vùng đặc quyền kinh tế, nhưng bị hạn chế hơn trong vùng lãnh hải của một quốc gia ven biển.

Mỹ không muốn xác định lập trường của mình về các vấn đề chủ quyền và chỉ muốn làm rõ các quyền dànhh cho tất cả các nước căn cứ theo luật pháp quốc tế, bằng cách phản đối những yêu sách thái quá. Mỹ không phân biệt giữa đồng minh, đối tác và đối thủ khi khẳng định quyền tự do hàng hải căn cứ theo luật quốc tế.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược (Pháp)

CVĐQT – số 4/2018

Advertisements

Những thách thức an ninh tại Biển Đông – Phần III


Cuộc chiến bản đồ: Các nguồn lịch sử và khảo cổ học được nhiều tác nhân khác nhau sử dụng để chứng minh đường biên giới của họ.

Để chứng minh những yêu sách lãnh thổ và vùng biển của mình, các nước liên quan (Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia và Brunei) đã sử dụng những nghiên cứu khoa học trên và trong khu vực.

Được đưa ra tại Liên hợp quốc năm 2009 như một đòi hỏi về chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông và biển Hoa Đông, “đường 9 đoạn” là một chứng cứ dối trá do Trung Quốc đơn phương tạo ra và không có giá trị pháp lý. Đặc biệt, “đường 9 đoạn” này đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Brunei. Vì vậy, nó bị tất cả các quốc gia liên quan phản đối và là nguồn gốc chính của những bất đồng và căng thẳng.

Đáp lại, các quốc gia này (ngoại trừ Brunei) dùng các bản đồ để hỗ tcho sự phản đối của họ đối với “đường 9 đoạn” của Trung Quốc. Các bản đồ địa lý và hải dương học của Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh và Pháp rất phong phú nói về sự phát triển các đường biên giới biển trong khu vực này, đã trở thành các bằng chứng phục vụ tuyên truyền. Các tài liệu của thực dân Anh là bằng chứng pháp lý của Singapore buộc Malaysia thừa nhận chủ quyền của nước này đối với Petra Branca. Hơn nữa, Chính phủ Philippines sử dụng các tài liệu lưu trữ của Tây Ban Nha và Mỹ làm bằng chứng nhận cho việc họ đã có trách nhiệm lịch sử bảo đảm an ninh cho bãi cạn Scarborough.

Bắc Kinh, Hà Nội và Manila cũng đã tìm cách chứng minh sự hiện diện trước đó của dân tộc bằng các hiện vật khảo cổ học được khai quật xung quanh các đảo nhỏ đang tranh chấp. Chính phủ Việt Nam khẳng định ngư dân Việt Nam thường hoạt động tại vùng lãnh hải của các đảo nhỏ nơi đây từ thế kỷ XVI. Vào cuối tháng 3/2017, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lê Hải Bình, đã đặc biệt tuyê bố rằng Việt Nam có đầy đủ các bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuối cùng, đối chọi với Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc thường dẫn công hàm ngoại giao ngày 14/9/1958, theo đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thừa nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh hải của Trung Quốc. Vốn do người Pháp chiếm đóng trong thời kỳ thực dân, người Việt Nam đã mất đi quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa sau trận chiến năm 1974 chống lại Trung Quốc.

Vì vậy, việc xác minh lịch sử của khu vực này diễn ra bằng một cuộc tranh đua về bản đồ và khảo cổ học, dường như không có hồi kết. Giai đoạn hai của việc xác minh này nằm ở cấp độ pháp lý. Nếu như nhận thức quốc tế về luật pháp đa số được các tác nhân bảo vệ, thì ngược lại nó bị suy yếu bởi nhận thức có sức nặng của Trung Quốc, luôn phải đối nó.

Vấn đề luật quốc tế trước di sản của đạo Khổng

Đối với Chính phủ Trung Quốc, các quyền lịch sử của Trung Quốc tồn tại một cách độc lập với Công ước về luật biển. Không gian biển mang tên của nước họ sẽ thuộc về họ một cách hợp pháp. Với việc không đưa những đòi hỏi chủ quyền của họ vào trong Công ước về luật biển, Bắc Kinh tự đặt mình đứng ngoài luật quốc tế. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã ký và phê chuẩn Công ước này, nhưng Vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc được vẽ ra bao gồm một phần hải phận quốc tế và lấn vào các vùng biển của các nước láng giềng. Nguy hiểm là ở chỗ Trung Quốc tiếp tục triển khai sức mạnh tại Biển Đông và biển Hoa Đông.

Hơn nữa, một cách nhìn như vậy kéo theo sự leo thang những phản ứng tương tự của những quốc gia khác: chẳng hạn, Indonesia khẳng định chủ quyền của mình tại quần đảo Natuna bằng cách đặt tên một phần Biển Đông là “biển Natuna”.

Luật pháp quốc tế cho phép những đòi hỏi chủ quyền của “những quốc gia nhỏ bé ở châu Á” được thừa nhận bất chấp các hành động của Trung Quốc. Trường hợp của Đài Loan là cá biệt, vì hòn đảo này không được thừa nhận trên trường quốc tế, nên khó đạt được sự đồng thuận liên quan tới đảo Ba Bình (điều này không cản được Chính phủ Đài Loan tiếp tục lấn biển). Luật pháp quốc tế đã không có hiệu lực đối với Trung Quốc về bãi cạn Scarborough vào tháng 7/2016: Mặc dù Tòa Trọng tài thường trực lên án sự hiện diện của Trung Quốc tại Vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, nhưng Trung Quốc không tôn trọng quyết định này và tiếp tục hợp pháp hóa quyền của mình. Philippines và Việt Nam luôn chủ trương tuân thủ luật pháp quốc tế, tuy nhiên việc Trung Quốc không tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài có thể khiến họ không còn thụ động.

Chống lại quan điểm của Trung Quốc, các cường quốc bên ngoài là Mỹ và Nhật Bản khẳng định ưu thế của luật biển quốc tế. Mặc dù không ký kết Công ước Montego Bay, nhưng Mỹ khuyến khích việc tôn trọng luật biển và tự do hàng hải. Mỹ được xem như một lực lượng đảm bảo sự ổn định đối với khu vực. Do những căng thẳng với Trung Quốc tại biển Hoa Đông, Chính phủ Nhật Bản ủng hộ việc tuân thủ luật quốc tế tại Biển Đông. Nước này coi Công ước Liên hợp quốc về luật biển là một công cụ cần thiết để phán xử và giải quyết các cuộc khủng hoảng tại các vùng biển.

Quyền lực quốc gia, khu vực hay quốc tế nào có thể quyết định các đường biên giới?

Trung Quốc là quốc gia duy nhất tự tuyên bố chủ quyền của họ về các ranh giới ở Biển Đông. Tuy nhiên, Bắc Kinh chấp nhận thảo luận song phương và đa phương với các tác nhân trong khu vực, mà không chịu ảnh hưởng từ các quốc gia bên ngoài (đặc biệt là Mỹ). Các quốc gia ven biển trong khối ASEAN và các cường quốc bên ngoài đòi hỏi có sự trung gian hòa giải quốc tế của Liên hợp quốc, hoặc khu vực thông qua ASEAN.

Các quốc gia tiếp tục cầu viện Liên hợp quốc: Singapore và Malaysia đã thông qua Tòa án công lý quốc tế để giải quyết tranh chấp của họ về các bãi đá ngầm South Ledge và Middle Rocks. Tháng 5/2018, Tòa án công lý quốc tế đã khẳng định rằng Middle Rocks thuộc chủ quyền của Malaysia và Petra Branca thuộc chủ quyền của Singapore. Liên quan tới South Ledge, Singapore và Malaysia cần phải đàm phán song phương qua một Ủy ban kỹ thuật chung. Tới cuối năm 2016, việc giải mật các tài liệu lưu trữ của Anh cuối cùng đã đẩy Chính phủ Malaysia tới chỗ kêu gọi sự phán quyết của Tòa án công lý quốc tế năm 2008. Indonesia cũng đã đệ đơn khiếu nạu lên cơ quan pháp lý của Liên hợp quốc về đường 9 đoạn.

Những tranh cãi không được giải quyết này và việc không tuân thủ luật biển khiến người ta nghi vấn về vai trò của ASEAN. Trong năm 2002, Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, đưa tới các cuộc thảo luận về Bộ quy tắc ứng xử. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không chấp nhận nó có tính bắt buộc. Ý định tốt là chưa đủ. Bực tức trước những yêu sách của các nước láng giềng và những cáo buộc quân sự hóa, dường như Trung Quốc tỏ ra sẵn sàng hơn đối với việc thảo luận các biện pháp bắt buộc. Tháng 5/2017, Tập Cận Bình và ASEAN phải thảo luận một thỏa thuận sơ bộ về một bộ quy tắc ứng xử.

Hơn nữa, ASEAN không thể đi tới một chính sách ngoại giao chung trước những thăng thẳng tại Biển Đông, điều này thúc đẩy các quốc gia giải quyết những tranh chấp của họ qua Liên hợp quốc hoặc song phương. Thật vậy, tổ chức này thực hiện một chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không giải quyết mọi tranh cãi trong khu vực, mà lựa chọn từng trường hợp. Trong trường hợp tranh chấp lãnh thổ, ASEAN thường để mỗi nước thảo luận song phương. Một mặt, Singapore và Malaysia đã thành công trong việc thảo luận về Petra Branca qua tòa án quốc tế hơn là qua ASEAN. Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN đã không cho phép việc hòa giải này. Mặt khác, Chính phủ Brunei đã giải quyết song phương các vụ tranh chấp về bãi đá ngầm Louisa với Malaysia bằng cách dựa vào luật quốc tế (theo điều 76 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, bãi đã ngầm thuộc thềm lục địa của Brunei).

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược (Pháp)

CVĐQT – số 4/2018

Những thách thức an ninh tại Biển Đông – Phần II


Mỹ xây dựng chiến lược của họ đối lập với chiến lược của Trung Quốc nhằm kiểm soát không gian biển này. Ngay từ năm 2010, Bộ Quốc phòng Mỹ đã chỉ ra sự cần thiết trang bị cho quân đội các phương tiện để chống lại những khả năng từ “Cấm tiếp cận”, như đã được nêu trong báo cáo quốc phòng 4 năm một lần của Mỹ. Đặc biệt, khái niệm này đã được ông Jan Van Tol cựu chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương, cựu thành viên của Trung tâm đánh giá chiến lược và ngân sách và Trung tâm nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Mỹ, mô tả và nêu chi tiết. Trong một bài viết của mình, Van Tol chỉ rõ mục đích của khái niệm đó là vô hiệu hóa các khả năng thù địch, ngăn cấm việc đi vào vùng biển và vùng trời trên đó.

Sự hiện diện truyền thống của Mỹ trong khu vực đi kèm với một tác nhân truyền thống khác cũng muốn gia tăng ảnh hưởng tại đây: đó là Nhật Bản. Thật vậy, nội các Thủ tướng Shinzo Abe đã coi trọng các vấn đề quốc phòng ngang với các vấn đề về kinh tế. Bước chuyển từ một chính sách thụ động sang một chính sách cam kết hơn và tập trung vào vấn đề an ninh đã có tác động trực tiếp tới Biển Đông. Tokyo ngày càng hiện diện hơn và tiến hành một chiến dịch hợp tác phòng thủ với các nước thành viên ASEAN kể từ khi ông được bầu làm thủ tướng. Theo đó, Nhật Bản dựa vào 3 tác nhân lớn trong khu vực, là Việt Nam, Indonesia và Philippines thông qua việc cugn cấp cho họ các trang thiết bị bảo vệ bờ biển hoặc trực tiếp là các tàu tuần tra hay các máy bay hải giám.

Bên cạnh 3 tác nhân lớn này, bản thân các quốc gia ven Biển Đông cũng tham gia vào sự leo thang căng thẳng tại đây, đặc biệt vì họ lo ngại rằng nước láng giềng Trung Quốc thao túng trong lãnh thổ đương nhiên thuộc về họ. Hầu hết các nước lao vào hiện đại hóa hải quân và không quân nhằm tăng cường khả năng kiểm soát không gian biển của mình. Chẳng hạn, Việt Nam vừa trang bị một hạm đội tàu ngầm, mua từ Nga.

Nhận thức về chiến tranh

Một cuộc xung đột công khai cũng có thể nổ ra do tinh thần chiến binh của một số dân tộc. Đó là trường hợp của Việt Nam và Indonesia, người dân những nước này có ý chí chống Trung Quốc mạnh mẽ. Vả lại, các cuộc bạo động tại Việt Nam năm 2014 đã kết thúc bi thảm với cái chết của nhiều người nước ngoài. Cũng vậy, tại Philippines, dân chúng phần lớn gắn bó với Washington do những nguyên nhân thuộc về lịch sử. Ngoài ra, theo một cuộc điều tra năm 2004 của Rémi Scoccimarro, 64% người Trung Quốc được hỏi khẳng định họ không thích Nhật Bản. Ngược lại, 60% người Nhật Bản không thích Trung Quốc. Vì vậy nhận định về một cuộc xung đột hoặc những căng thẳng giữa các dân tộc khác nhau bên bờ Biển Đông là có thực và bám rễ vào ý thức của họ.

Mặc dù có sự ngờ vực lẫn nhau, đặc biệt đối với gã khổng lồ Trung Quốc, các nước thành viên ASEAN nhìn chung thực hiện một chính sách mềm dẻo hơn so với vẻ bên ngoài. Chính phủ của các nước ASEAN mắc một chứng tâm thần phân liệt nào đó trước tình hình phức tạp qua phân tích dưới đây. Vụ Benham Rise giữa Philippines và Trung Quốc cho thấy rõ quan điểm này. Thực vậy, tháng 4/2017, Trung Quốc đã đưa một tàu thăm dò vào vùng biển của Philippines, trên thềm lục địa Benham Rise. Manila bị chia rẽ giữa một tổng thống tỏ ra mềm mỏng với Bắc Kinh và người dân nước này phần lớn gắn bó với Washington và nghi ngờ các hành động của Trung Quốc gần đảo quốc này. Đây cũng là trường hợp của Jakarta, vốn dao động giữa một chính sách mềm dẻo đối với Bắc Kinh và một đường lối cứng rắn hơn dựa trên sự hiện đại hóa hải quân và không quân của nước này. Chính sách truyền thống này được biết đến hơn tại Indonesia dưới cái tên bebas-aktif. Như vậy, tất cả các quốc gia trong khu vực không có bất cứ lợi ích gì trong việc phát động một cuộc xung đột công khai, nhưng luôn thận trọng trước một Trung Quốc ngày càng hiện diện hơn trong khu vực.

Hơn nữa, để đối phó với chiến lược của Trung Quốc duy trì một ngưỡng căng thẳng để dấn thêm các quân cờ của mình. Lâm Trung Bân, Giáo sư tại Đại học Quốc phòng Đài Loan, đã vạch trần thủ đoạn của Đặng Tiểu Bình với khái niệm “Đấu tranh mà không tàn phá/hủy diệt”, nhằm dồn đối thủ vào cuối chiến hào tới giới hạn của sự chịu đựng để ngăn chặn ngay xung đột trong khi chờ đợi một cơ hội khác. Chiến lược này ra đời năm 1982, sau khi nước Mỹ dưới thời chính phủ Reagan, đã bán vũ khí cho Đài Loan, và Trung Quốc của Đặng Tiểu BÌnh phản đối mạnh mẽ việc này. Nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó đã xác định một đường lối ứng xử: “Để đấu tranh với Mỹ, chúng ta cần phải không sợ hãi. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhấn mạnh một chiến lược đó là kiên trì các nguyên tắc của chúng ta đồng thời chú ý không để cắt đứt quan hệ với đối phương”.

Tập Cận Bình có chiến lược khác, đó là tập hợp các khả năng mới của Trung Quốc về kinh tế, quân sự và ngoại giao. Vì vậy, chính phủ mới hiện nay thừa nhận quy chế mới của Trung Quốc trong khu vực như là tác nhân chủ chốt cùng với Mỹ. Chiến lược này, được nhận thấy thông qua khái niệm “các quan hệ mới giữa các siêu cường”, đề xuất thêm một hệ thống 2 cực tại châu Á giữa Bắc Kinh và Washington. Quan hệ mới này giữa các siêu cường được thiết lập trên nguyên tắc: “Hợp tác, cạnh tranh nhưng không xung đột”.

Hạ nhiệt những căng thẳng: Cuộc chiến của những con tàu sơn trắng và không gian đối thoại

Tuy nhiên, thực tế của một cuộc xung đột tại Biển Đông cần phải được hạ nhiệt. Thật vậy, toàn bộ các nước sử dụng lực lượng bảo vệ bờ biển khi căng thẳng leo thang hoặc để chặn các tàu cá nước ngoài. Các tác nhân khác nhau, bao gồm cả Trung Quốc, vẫn thận trọng đối với khả năng xung đột và việc triển khai các tàu hải giám có lẽ không thể được cho là một hành động chiến tranh. Khi xảy ra những sự cố, đụng độ hoặc để kiểm soát trên biển, các nước có xu hướng cử các con tàu sơn trắng, tức là các tàu hải giám hơn là các tàu chiến Vả lại, phần lớn các lực lượng bảo vệ bờ biển thuộc các bộ khác nhau chứ không thuộc Bộ Quốc phòng. Như trường hợp của Nhật Bản, các lực lượng này trực thuộc Bộ lãnh thổ. Các quốc gia trong khu vực vẫn cực kỳ thận trọng trước khả năng xảy ra một cuộc xung đột công khai. Vì vậy, cần phải hạ nhiệt những căng thẳng lặp đi lặp lại này dù rằng chúng đang ngày càng nhiều hơn tại Biển Đông.

Chúng ta cũng cần không nên coi sự khó khăn của việc thiết lập đối thoại với Trung Quốc như là nguồn gốc của một cuộc xung đột. Quả thực, Bắc Kinh ưa thích những giải pháp song phương với các quốc gia khác hơn, nhằm duy trì khả năng gây ảnh hưởng của mình tại các diễn đàn khu vực lớn. Tuy nhiên, Trung Quốc còn lâu mới từ chối đối thoại và cho thấy quyết tâm của họ muốn làm dịu những căng thẳng với các nước láng giềng. Chẳng hạn DOC hay còn gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, được thông qua năm 2002, mang lại khả năng giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình tại Biển Đông. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng muốn trấn an cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ, vốn luôn tìm cách giữ quyền bá chủ của mình trong khu vực. Bằng chứng là trong diễn văn tại Hội nghị thượng đỉnh ở Palm Spring năm 2013, ông Tập Cận Bình đã nói một cách hoa mỹ rằng Thái Bình Dương tương đối rộng chỗ cho 2 cường quốc.

Mặc dù căng thẳng gia tăng, với sự hiện đại hóa sức mạnh quân đội của mỗi nước trong khu vực và sự ngờ vực của nước này với nước kia, Biển Đông vẫn chưa phải là hiện trường của một cuộc xung đột công khai. Tuy nhiên, mức độ căng thẳng đang được duy trì bởi một Trung Quốc muốn nắm vai trò lãnh đạo khu vực và kiểm soát không gian kế cận và một nước Mỹ muốn đảm bảo tự do hàng hải trong các vùng biển ngày càng rối ren này. Vì vậy, Biển Đông và biển Hoa Đông là nơi diễn ra những căng thẳng lặp đi lặp lại.

Cuộc chiến các ranh giới trên Biển đông: Những hạn chế của luật pháp quốc tế

Ranh giới hoặc biên giới là đường phân chia 2 chủ quyền. Đây là “yếu tố quyết định quy chế hình thành điều kiện thực thi danh nghĩa lãnh thổ”. Trong luật pháp quốc tế, nó quyết định không gian chủ quyền của một quốc gia. Trung Quốc đang xét lại sự xác định này bằng sự giải thích của riêng họ về các đường ranh giới và các quyền của họ tại Biển Đông. “Biển của Trung Quốc”. Các đường lãnh hải của các quốc gia trong khu vực, cùng chia sẻ vùng biển này, bị sửa đổi đi ngược lại ý chí của họ. Để phản ứng, những quốc gia này kêu gọi áp dụng luật pháp quốc tế và tìm cách lấy lại hoặc áp đặt chủ quyền của họ. Mỹ, Nhật Bản, Liên hợp quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là trọng tài.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược (Pháp)

CVĐQT – số 4/2018

Tấn công không gian mạng – chiến lược tinh vi của Trung Quốc ở Biển Đông


Cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông chưa bao giờ dựa vào các chiến thuật một chiều hoặc quá đơn giản. Thay vào đó, cách tiếp cận của Trung Quốc được đúc rút từ sự tính toán chính trị, kinh tế và chiến lược rất tinh vi. Chiến tranh hay đối đầu quân sự vẫn đang còn là những khả năng, nhưng xem xét kỹ sẽ thấy Trung Quốc đã liên tục sử dụng phương pháp leo thang để đơn phương củng cố sự kiểm soát đối với vùng biển giàu tài nguyên. Cách tiếp cận này bao gồm cả các cuộc tấn công mạng.

Một báo cáo được enSilo công bố gần đây cho thấy, tháng 4/2019, nhóm gián điệp không gian mạng Trung Quốc có tên APT10 đã triển khai hai biến thể phần mềm độc hại nhắm vào chính phủ và các tổ chức tư nhân ở Philippines. Theo điều tra của enSilo, các phần mềm độc hại, các chiến thuật, kỹ thuật, quy trình và mã nguy hiểm đều do APT10 thực hiện.

Trong cùng tháng đó, Hiệp hội Phân tích Philippines (AAP) có trụ sở tại Philippines đã phát hiện các tập lệnh liên quan đến Trung Quốc được chèn vào mã nguồn của nhiều website chính phủ như malacanang.gov.ph, dict.gov.ph, comelec.gov.ph, pnp.gov.ph, navy.mil.ph và laguna.gov.ph.

AAP cho rằng các tập lệnh được triển khai nhằm mục đích chặn các hệ thống khác nhau và thu thập thông tin từ người dùng mục tiêu.

Những vụ việc này không phải là mới. Trung Quốc đã nhiều lần triển khai các cuộc tấn công mạng liên quan đến vấn đề Biển Đông. Trong thời gian đối đầu tại bãi cạn Scarborough và quần đảo Trường Sa năm 2012, Philippines và Trung Quốc đã liên tục xung đột không gian mạng. Tuy nhiên, việc một lần nữa nổi lên các cuộc tấn công mạng bị nghi có liên quan đến Trung Quốc là điều bất thường – trái ngược hoàn toàn với sự bảo đảm của chính phủ Duterte cho rằng mục tiêu của Trung Quốc trong lĩnh vực không gian mạng không hề có tính nguy hiểm.

Khi các cuộc tấn công mạng của Trung Quốc xuất hiện trở lại, điều quan trọng là phải chú ý đặc biệt đến mức độ phát tán mang tính chính trị và chiến lược của các cuộc tấn công độc hại đó. Thời điểm và mục tiêu của các cuộc tấn công mạng là lời giải đáp. Các cuộc tấn công được ghi nhận gần đây vào tháng 4/2019 trùng khớp với những chuyển biến lớn về môi trường chiến lược và an ninh của Philippines bắt nguồn từ các vấn đề đối nội và đối ngoại. Những diễn biến này đều có liên quan rất lớn đến Biển Đông.

Hơn nữa, tháng 4/2019 cũng là tháng “áp chót” trước khi hoàn tất đàm phán 20 năm giữa Philippines và Indonesia về hiệp ước biên giới trên biển dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Thỏa thuận này nhằm giải quyết tình trạng chồng chéo vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của hai quốc gia.

Việc Trung Quốc gia tăng các cuộc tấn công mạng trong giai đoạn này có thể là để phản ứng với những diễn biến trên. Các tin tặc được nhà nước bảo trợ có thể đang tìm cách truy cập thông tin có giá trị để theo dõi liệu các tuyên bố của Duterte có thể biến thành các chính sách thực tế nhằm đẩy lùi chiến thuật vùng xám của Trung Quốc, đặc biệt là trong bối cảnh có sự hỗ trợ mạnh mẽ của Washington đối với Manila. Có được dữ liệu liên lạc quan trọng để thu thập thông tin tình báo sẽ cung cấp cho Trung Quốc những căn cứ để điều chỉnh chiến lược vùng xám mà Bắc Kinh đang áp dụng, đặc biệt là khi Philippines bắt đầu khai thác các chiến lược mới để tăng cường sự iểm soát tại các đảo mà Manila nắm giữ.

Trong khi đó, thỏa thuận hàng hải giữa Philippines và Indonesia cũng đem đến triển vọng cho các quốc gia thành viên khác cải thiện cách thức giải quyết một cách hòa bình các vấn đề của họ, đó là sử dụng phán quyết trọng tài như một cơ sở tham khảo chính – mà Trung Quốc kịch liệt bác bỏ.

Các cuộc tấn công mạng gần đây cũng gợi nhớ đến các hoạt động gián điệp không gian mạng của Trung Quốc theo chương trình “Trojan NaHaisHu” hoặc chương trình “Trojan tiếp cận từ xa Biển Hoa Nam” hồi tháng 8/2016. Chương trình này cho phép các tin tặc trích xuất thông tin bí mật từ Bộ Tư pháp Philippines và công ty luật quốc tế lớn đại diện cho Philippines tại La Hague.

Sự xuất hiện trở lại của các tin tắc do nhà nước Trung Quốc tài trợ như APT10 năm 2018 lại đặt ra câu hỏi về mức độ Trung Quốc nắm trong tay các hạ tầng quan trọng. Bất chấp sự bảo đảm từ chính phủ Duterte, vụ việc hiện tại gợi lại lập luận cho rằng Trung Quốc có khả năng tận dụng công nghệ 5G và hệ thống không dây của họ để thu thập thông tin tình báo ở nước ngoài nhằm gây ảnh hưởng chính trường của Philippines nói riêng cũng như địa chính trị quốc tế nói chung.

Cuộc tấn công mạng của Trung Quốc cũng có thể là một chiến lược phủ đầu trong cuộc thảo luận đang diễn ra về Dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử (COC) của ASEAN. Với tư cách điều phối viên chính của COC, Philippines đã bày tỏ sự cấp thiết cần nhanh chóng hoàn thiện văn kiện này trong bối cảnh xảy ra vụ va chạm hàng hải gần đây. Những diễn biến như trên sẽ định hình các cơ chế trong COC để ngăn chặn hoặc đối đầu với hành động bành trướng ngày càng gia tăng của Trung Quốc, vì vậy mở ra khả năng cho những điều chỉnh mới.

Trung Quốc có hồ sơ theo dõi tiến trình việc thực hiện các cuộc tấn công mạng để giành lợi thế trong đàm phán. Theo báo cáo của FireEye, các tin tặc của Trung Quốc đã liên tục nhắm mục tiêu vào các tổ chức quân sự và chính phủ Đông Nam Á bằng cách sử dụng email lừa đảo để có được thông tin tình báo liên quan đến tranh chấp trên biển. Thông qua hoạt động xâm nhập, Trung Quốc có được lợi thế tiếp cận được thông tin quan trọng liên quan đến lợi ích chiến lược quốc gia trước khi đàm phán. Trung Quốc có thể sử dụng một chiến lược tương tự để làm cho các cuộc đàm phán COC đang diễn ra có lợi cho mình bằng cách đưa ra các chiến thuật truyền thông khác như truyền bá tin giả, thông tin sai lệch hoặc thậm chí xâm phạm thông tin cá nhân của các nhà ngoại giao Đông Nam Á liên quan đến vấn đề này.

Hiện vẫn chưa rõ liệu hoạt động gần đây của tin tặc Trung Quốc sẽ diễn ra trong thời gian ngắn hay là một phần trong kế hoạch phối hợp hoàn toàn mới để thực thi quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc. Xác nhận thủ phạm vẫn là một thách thức cơ bản; đặc biệt khó xác định liệu các cuộc tấn công như vậy được chỉ đạo bởi nhóm tin tặc do nhà nước Trung Quốc tài trợ hay là hành động của những tin tặc chuyên tấn công các chính phủ. Tuy nhiên, bằng chứng thu được từ kết quả điều tra là duy nhất. Đó là các tin tặc Trung Quốc như APT10 đứng đằng sau các cuộc tấn công mạng trong quá khứ và hiện tại nhằm thu thập các th6ong tin quan trọng phục vụ cho hoạt động chính trị, ngoại giao và chiến lược của Trung Quốc hoặc (trong trường hợp xấu nhất) cho việc phát động chiến tranh nhằm làm tê liệt các hạ tầng quan trọng. Vấn đề ở đây là việc sử dụng các cuộc tấn công mạng vẫn tiếp tục là một công cụ quan trọng trong việc thúc đẩy các lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông.

Nguồn: The Diplomat – 05/08/2019

TKNB – 08/08/2019

Những thách thức an ninh tại Biển Đông – Phần I


Biển Đông theo cách gọi của người Việt Nam, là vùng biển bên rìa Thái Bình Dương, còn được Trung Quốc và Nhật Bản gọi là biển Nam Trung Hoa, có diện tích khoảng 3.500.000 km2 với hàng trăm đảo nhỏ hợp thành các quần đảo. Những đảo nhỏ này là mục tiêu đòi hỏi chủ quyền của các quốc gia lân cận và là nguồn gốc của những căng thẳng. Việc có nhiều tên gọi được sử dụng đối với các đảo nhỏ và với chính vùng biển này là một sự phản ánh tối thiểu những yêu sách xung quanh khu vực này.

Các tác nhân chủ chốt tại Biển Đông chủ yếu là những quốc gia ven bờ gồm Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, nhưng cũng còn cả Mỹ và Nhật Bản do sự hiện diện và ảnh hưởng chiến lược của họ. Nghiên cứu này nhằm vào toàn bộ những quốc gia đó, ngoại trừ Malaysia.

Đối với các quốc gia ven biển, Biển Đông có nguồn thủy hải sản rất dồi dào: 8% sản lượng cá thương mại trên thế giới có xuất xứ từ đây và nó nuôi sống một phần lớn dân số Trung Quốc. Ngoài nguồn thực phẩm này, vị trí địa chiến lược của khu vực này còn là một vùng biển trọng yếu đối với thương mại quốc tế. Tuy nhiên, các thách thức không chỉ ở lĩnh vực thương mại. Hai khu vực nhạy cảm nhất là 2 chuỗi đảo lớn Spratleys (Trường Sa) và Paracels (Hoàng Sa), rất ít người sinh sống và có tầm quan trọng về diện tích và tài nguyên. Đổi lại, những yêu sách về lãnh thổ này cho phép mở rộng lãnh thổ quốc gia qua Vùng đặc quyền kinh tế cũng như chủ quyền đối với các khu vực kiểm soát mở rộng xa hơn rất nhiều khu vực mà các đường bờ biển hiện nay có thể cho phép. Việc xây dựng các đảo nhân tạo có thể ở được cũng cho phép thiết lập các điểm mốc chiến lược trên biển và tìm được một lối thoát về pháp lý ngay trong định nghĩa của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS).

Như câu chuyện của Đô đốc Trịnh Hòa (1371 – 1433) nhắc nhở cho chúng ta, sức mạnh của Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với khả năng làm chủ các vùng biển xung quanh nước này. Thực vậy, “Trung Hoa” từ lâu đã thực hiện ảnh hưởng của mình trên toàn bộ vùng biển mà nước này đòi hỏi chủ quyền hiện nay, từ Đài Loan tới eo Malacca. Trái lại, sự chia cắt Trung Quốc vào thế kỷ XIX bởi các nước phương Tây và Nhật Bản, phản ánh sự thua kém hải quân nước này, chót lỡ bước trong cuộc cách mạng công nghiệp của thế giới. Tiếp đó, Hiệp ước San Francisco năm 1951 sau thất bại của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đã dẫn tới tình thế không rõ ràng: Nhật Bản đầu hàng, từ bỏ các quyền của họ đối với các đảo trên Biển Đông, để lại một khoảng trống pháp lý. Từ năm 1947, Trung Quốc yêu sách “đường 9 đoạn”, một sự phân định riêng bao quanh 1500 km đường bờ biển phía Nam Trung Quốc và bao quanh gồm toàn bộ Biển Đông.

Thế kỷ XXI cũng đánh dấu sự trở lại tư tưởng của Trung Quốc xâm lăng Biển Đông. Tuy nhiên, toàn cầu hóa đã thiết lập những tương quan sức mạnh mới trong khu vực, thể hiện qua sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng của các nền kinh tế.

Trước sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc, các tác nhân khác phối hợp và triển khai các chiến lược thích hợp để đảm bảo các lợi ích riêng. Mỹ dựa trên sức mạnh hải quân để khẳng định sự hiện diện trên biển mạnh mẽ trong khu vực: Họ đã triển khai hạm đội 7 trong vùng biển Thái Bình Dương gần Nhật Bản, Hàn Quốc và sau đó là Philippines. Về phần mình, Việt Nam đã có yêu sách lãnh thổ kể từ năm 1954 bằng việc dựa vào dữ liệu lịch sử là những ghi chép lịch sử của thời kỳ thực dân Pháp. Những nước khác đòi hỏi lãnh thổ dựa vào sự hiện diện và khai thác các đảo hoặc đơn giản sử dụng quyền lực và ảnh hưởng của họ. Chẳng hạn Brunei chỉ vận dụng khuôn khổ pháp lý đối với khu vực biển khơi của mình. Do không có khả năng quân sự, nên đối với nước này, luật pháp là vũ khí tốt nhất.

Bốn vấn đề lớn về an ninh được xác định ở đây:

1/ Giữa những căng thẳng lặp đi lặp lại và những xung đột công khai, đâu là giới hạn của sự xác định (về cái gì?) mà mỗi quốc gia có thể làm?

2/ Cuộc chiến nào về đường ranh giới đang được các tác nhân khác nhau trong khu vực tiến hành? Các quốc gia dựa trên những nguồn lực nào để bảo vệ những yêu sách của mình?

3/ Vì sức mạnh quân sự là trọng tâm của chiến lược gây ảnh hưởng, vậy bằng cách nào những yêu sách chủ quyền có thể làm dịu bớt sự gia tăng sức mạnh quân sự trong khu vực.

4/ Thương mại có phải là một nguồn gây căng thẳng hay có thể tạo ra những cơ hội hợp tác?

Biển Đông: Nhận thức hay thực tế của một cuộc xung đột?

Và đầu thế kỷ XXI này, Biển Đông và biển Hoa Đông là nơi diễn ra những căng thẳng gia tăng giữa các tác nhân khác nhau. Trung Quốc giữ vị trí trung tâm tại đây nhờ sự phát triển về kinh tế, mở rộng về ngoài giao và hiện đại hóa lực lượng quân đội của họ. Do đó, có một thực tế khó giải quyết mang tính truyền thống về an ninh đó là sự gia tăng sức mạnh của một tác nhân đương nhiên sẽ kéo theo sự gia tăng những căng thẳng và đôi khi dẫn tới sự bùng nổ một cuộc xung đột. Trước sự gia tăng khốc liệt những căng thẳng, liệu Biển Đông có trở thành nơi xung đột công khai giữa các quốc gia bao quanh nó?

Kể từ trận chiến giữa Trung Quốc và Việt Na xung quanh các đảo ở Hoàng Sa năm 1974, các căng thẳng ngày càng gia tăng giữa một Trung Quốc muốn nắm quyền lãnh đạo khu vực và các nước láng giềng nhìn kế hoạch của nước này bằng con mắt đầy nghi ngại. Do đó, một cuộc chạy đua đã diễn ra tại các đảo san hô và bãi đá ngầm, để kiểm soát từng mảnh đất, đá, và cát nhằm đảm bảo quyền kiểm soát các vùng nước xung quanh, nhân danh luật biển được xây dựng năm 1982 theo công ước Montego Bay. Tuy nhiên, những đảo nhỏ này chỉ là một phần của vấn đề dường như thu hút sự chú ý của truyền thông từ vài năm trở lại đây. Thật vậy, do có nhiều tác nhân liên quan và nhiều thách thức nảy sinh từ đó, khu vực này vẫn phức tạp và là môi trường thuận lợi cho những căng thẳng. Những căng thẳng này lại gia tăng hơn nữa khi Trung Quốc lao vào một dự án dài hạn nhằm xây dựng lực lượng hải quân hiện đại, cho phép họ vươn xa ngoài lãnh thổ. Một trong những biểu tượng mang tính tượng trưng nhất của chương trình hiện đại hóa hải quân Trung Quốc là việc họ đã hạ thủy tàu sân bay thứ 2 vào cuối tháng 4/2017.

Tuy nhiên, hải quân Trung Quốc không phải là lực lượng duy nhất hiện diện trên Biển Đông. Thông qua hạm đội 7, Mỹ hiện diện hầu khắp trong khu vực để đảm bảo tự do hàng hải tại một vùng biển được biết đến là một trong những ngã tư lớn nhất của các tuyến đường hàng hải thương mại. Vì vậy có sự xung đột về chiến lược trong khu vực, giữa quyết tâm của Trung Quốc nhằm kiểm soát môi trường gần của họ và quyết tâm của Mỹ bảo đảm tự do hàng hải tại những vùng biển này

Thật vậy, do trọng tâm kinh tế của Trung Quốc nằm ở khu vực duyên hải, nên chiến lược của Trung Quốc dựa trên phòng thủ biển hoặc bảo vệ bờ biển Trung Quốc chống lại mọi sự đe dọa có khả năng xảy ra. Nhu cầu có một khu vực an toàn xung quanh bờ biển Trung Quốc là điều cốt tử. Vì vậy, đô đốc Lưu Thanh Hoa lập ra chiến lược “Chuỗi đảo thứ nhất”, được xem như khu vực an ninh đầu tiên để bảo vệ bờ biển Trung Quốc trước mối đe dọa tiềm tàng. Tiếp đến “Chuỗi đảo thứ 2”, vẫn nằm trong chiến lược của Lưu Hoa Thanh, được coi là phạm vi bảo vệ của Trung Quốc, tuy nhiên, nó không có tính chất sống còn như “Chuỗi đảo thứ nhất”. Do vậy, Bắc Kinh thiết lập một hạm đội cho phép kiểm soát khu vực nằm giữa bờ biển nước này và các chuỗi đảo do Đô đốc Lưu Thanh Hoa vạch ra.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược (Pháp)

CVĐQT – số 4/2018

Việt Nam ngày càng “rắn” ở Biển Đông


Asia Times ngày 06/08/2019 đăng bài viết của nhà báo David Hutt, cây bút chuyên bình luận về các vấn đề Đông Nam Á, nhận định sau khi “hạ mình” trong các vụ đối đầu trước đó, Việt Nam cuối cùng cũng quyết đối diện với chủ nghĩa bành trướng cảu Trung Quốc ở Biển Đông.

Vào tháng 7/2017 và tháng 3/2018, khi Trung Quốc dọa có hành động quân sự nếu Việt Nam không ngừng thăm dò dầu khí ở các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam đã rút tàu. Năm ngoái, Việt Nam ngừng dự án khai thác dầu khí trị giá 200 triệu USD hợp tác với công ty năng lượng khổng lồ Repsol của Tây Ban Nha ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam do áp lực của Trung Quốc. Tuy nhiên, tháng trước, khi một tàu khảo sát và tàu bảo vệ bờ biển của Trung Quốc đi vào khu vực Bãi Tư Chính (Vanguard Bank) trong EEZ phía Đông Nam Việt Nam, Hà Nội đã quyết định phản kháng.

Thay vì đàm phán thông qua kênh “cửa sau” như thường lệ để giảm nhiệt các sự cố trên biển, lần này, Hà Nội quyết định lên tiếng công khai. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm chính thức tới các tổ chức có liên quan của Trung Quốc và kêu gọi quốc tế ủng hộ Việt Nam.

Có một số lý do tại sao lần này Hà nội không “nhún nhường” như trước.

Theo một số nhà phân tích, địa điểm diễn ra cuộc đối đầu ở Bãi Tư Chính gần “nhà” hơn và thực tế là tàu Trung Quốc đã đi vào khu vực chủ quyền của Việt Nam.

Hoạt động khai thác dầu khí gần Bãi Tư Chính “sôi động” hơn so với khu vực mà Trung Quốc đe dọa Việt Nam năm 2018. Sau các vụ việc năm 2017 và 2018, có lẽ Hà Nội cũng nhận ra rằng xoa dịu thực ra lại càng khiến Trung Quốc “được đằng chân lân đằng đầu”. Một lý do khác là so với năm 2018, Hà Nội hiện có nhiều đồng minh quyền lực hơn, bao gồm cả Mỹ. Washington rất muốn củng cố mối quan hệ quân sự gần gũi hơn với Hà Nội, mặc dù Việt Nam vẫn tỏ ra thận trọng để mọi bước đi phải phù hợp với chính sách đối ngoại phi ủy quyền.

Tuy nhiên, nếu như vào năm 2018, Mỹ im lặng và không mấy hậu thuẫn cho Hà Nội trong vụ Trung Quốc thách thức Việt Nam ở Biển Đông, thì năm nay, Washington đã lên tiếng mạnh mẽ hơn trong việc bảo vệ lập trường của Việt Nam.

Ngày 5/8, Việt Nam đã ký một thỏa thuận quốc phòng với Liên minh châu Âu (EU). Đây là lần đầu tiên EU ký thỏa thuận quốc phòng kiểu này với một quốc gia ở Đông Nam Á và là dấu hiệu cho thấy quan hệ giữa Hà Nội với Brussels đang cải thiện.

Tháng 9/2018, Pháp và Việt Nam đã ký kết thỏa thuận thành lập Ủy ban Hợp tác Quốc phòng chung Việt – Pháp. Vài tháng sau, tại Đối thoại Shangri-La 2019 ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly tuyên bố tàu của Pháp sẽ “đi qua Biển Đông 2 lần một năm” và tiếp tục duy trì luật pháp quốc tế theo cách “ổn định, không đối đầu nhưng cương quyết”.

Nga cũng đánh tín hiệu họ có thể ủng hộ lập trường của Hà Nội. Nga đang hợp tác với Việt Nam thăm dò dầu mỏ tại một khu vực ở Biển Đông. Là nhà cung cấp thiết bị quân sự lớn nhất cho Hà Nội, nhưng Moskva vẫn ngần ngại trước các tranh chấp ở Biển Đông, mặc dù Tổng thống Nga Vladimir Putin từng nói ông “đoàn kết và ủng hộ lập trường của Trung Quốc” sau khi Tòa trọng tài quốc tế tại La Hay ra phán quyết bác bỏ yêu sách “đường 9 đoạn” của Trung Quốc vào tháng 7/2016.

Bennett Murray, Trưởng cơ quan thường trú của hãng thông tấn Deutsche Presse-Agentur (Đức) mới đây có bình luận đăng trên Foreign Policy: “Đối với Việt Nam, liên kết ngành công nghiệp dầu mỏ với chính trị cường quốc có lẽ là cơ hội tốt nhất để khai thác tài nguyên trong “đường 9 đoạn””.

Một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ tháng trước nêu rõ: “Bằng các biện pháp cưỡng chế, Trung Quốc đã ngăn các thành viên ASEAN tiếp cận hơn 2,5 nghìn tỷ USD dự trữ năng lượng có thể tái tạo”.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp Việt Nam không thể làm gì khác. Theo ông Nguyễn Khắc Giang, chuyên gia cao cấp tại Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Việt Nam, các “quan chức Việt Nam “không thể lùi lại vì họ đã đến bước đường cùng”. Về phần mình, Bắc Kinh rõ ràng cho rằng chẳng có gì thay đổi cả.

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN ở Bangkok vừa qua, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho rằng đã có “bước tiến lớn” sau khi Trung Quốc và ASEAN tiến hành vòng rà soát đầu tiên về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Bắc Kinh nghĩ rằng COC có thể đạt được vào năm 2021 và rõ ràng thích tuân theo khung thời gian này do Philippines, nước có xu hướng ngả theo Bắc Kinh, có trách nhiệm điều phối đối thoại Trung Quốc – ASEAN cho đến năm 2021. Tuy nhiên, Ngoại trưởng Thái Lan cho rằng có lẽ việc đạt được COC sẽ lâu hơn mốc thời gian 2021. Theo một số nhà phân tích, Bangkok đơn giản là không muốn chịu trách nhiệm về COC, tránh làm phiền lòng Bắc Kinh khi đang đảm nhận ghế Chủ tịch ASEAN. Bangkok muốn trì hoãn COC đến năm sau, khi Việt Nam tiếp nhận ghế Chủ tịch ASEAN.

Trung Quốc lên tiếng ủng hộ COC không chỉ vì họ muốn tìm kiếm giải pháp cho những bất đồng, mà còn vì phương châm “châu Á của người châu Á” trong chính sách đối ngoại của Bắc Kinh. Ngoại trưởng Vương Nghị nói: “Chúng tôi nghĩ rằng các quốc gia ngoài khu vực không nên cố tình khuếch đại những khác biệt hoặc tranh chấp”.

Việt Nam đang làm điều ngược lại. Trong những tuần gần đây, Hà Nội theo đuổi một hướng đi mới rõ ràng về chủ trương quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Thực tế là Mỹ, EU và Nhật Bản đang ủng hộ Việt Nam kiên quyết hơn trong việc bảo vệ một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ trong khu vực.

Tuy nhiên, cũng như Trung Quốc, Việt Nam cũng phải xem xét tình hình chính trị trong nước. Sự quyết đoán của Trung Quốc một phần khởi phát từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa dân tộc cũng là một yếu tố mà Đảng Cộng sản Việt Nam phải cảnh giác.

Không giống như ở Bắc Kinh, nhà cầm quyền Hà Nội đang “thua” trong cuộc tranh luận về chủ nghĩa dân tộc. Những năm gần đây, ở Việt Nam xảy ra nhiều cuộc biểu tình lớn và ngày càng dữ dội. Những người biểu tình công khai phản đối việc chính phủ xử lý các dự án đầu tư của Trung Quốc.

Hà Nội thường xuyên viện đến tình đoàn kết xã hội chủ nghĩa và tình hữu nghị láng giềng để ngăn chặn chủ nghĩa dân tộc chống Trung Quốc. Đáng lưu ý, nền kinh tế Việt Nam không thể tiếp tục tốc độ tăng trưởng đáng gờm hiện nay mà không có thương mại Trung Quốc. Do đó, Hà Nội muốn tránh biến kinh tế trở thành một nạn nhân của địa chính trị.

Tuy vậy, cũng có những dấu hiệu cho quan điểm của Đảng bắt đầu cứng rắn hơn. Đầu năm nay, một số đại biểu Quốc hội kêu gọi lãnh đạo đảng xem xét hạn chế đầu tư từ Trung Quốc với lý do nhiều dự án đang lấy số lượng thay vì chất lượng làm động lực chính trong nhiều năm. Giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New South Wales (Australia) nhận định tâm lý chống Trung Quốc trong Đảng đang lên cao và vụ đối đầu ở Bãi Tư Chính sẽ củng cố hơn nữa xu hướng này.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Việt Nam đang ở đâu trong cuộc đua công nghệ thông tin?


Theo đài RFA, một cuộc khảo sát của Cable, nhà cung cấp băng thông rộng, truyền hình, điện thoại và điện thoại di động của Anh cho biết, tốc độ Internet ở Việt Nam được xếp hạng 89 trong số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ. Với đánh giá này, Việt Nam cũng vượt được một số nước láng giềng trong khu vực, nhưng lại thua Singapore rất nhiều lần.

Cơ sở hạ tầng chưa ổn định

Bảng xếp hạng dựa trên dữ liệu được thu thập trong 12 tháng kể từ tháng 5/2018, phân tích hơn 267 triệu bài kiểm tra tốc độ trên toàn thế giới.

Với tốc độ tải xuống 7,02 megabyte (Mb)/giây, xếp hạng tốc độ Internet của Việt Nam giảm 14 bậc so với năm 2018. Tốc độ băng thông rộng trung bình của Việt Nam được ghi nhận là chậm hơn 10 lần so với Singapore (70,86 Mb/giây), thấp hơn ba lần so với Malaysia (23,86 Mb/giây) và chậm hơn hai lần so với Thái Lan (18,21 Mb/giây).

Tuy nhiên, theo khảo sát, tốc độ Internet tại Việt Nam nhanh hơn Indonesia, Philippines, Myanmar, Brunei, Campuchia, Lào và Timor Leste.

Một kỹ sư công nghệ thông tin từng làm việc tại chuyên ngành lập trình và phát triển web tại nhiều công ty ở Việt Nam, hiện đang làm việc tại Nhật Bản, cho biết: “Nếu đánh giá chung toàn Việt Nam thì tốc độ Internet khá thấp, nhưng tại thành phố lớn như Hồ Chí Minh, thì Viettel triển khai mạng 4G khá là nhanh, chỉ không bằng Nhật Bản thôi”.

Cũng theo khảo sát của công ty Cable, để tải xuống một bộ phim có chất lượng HD, với kích thước 5GB, sẽ chỉ mất 9 phút nếu thao tác ở Singapore, trong khi đó, cùng với thao tác này sẽ mất hơn 1,5 tiếng đồng hồ tại Việt Nam.

Anh Logan Trần, người có kinh nghiệm làm việc với môi trường Internet, cho biết: “Nếu so sánh về tốc độ Internet giữa Việt Nam và các nước như Thái Lan, Malaysia và Nhật Bản, thì tốc độ Internet của Việt Nam chậm hơn hẳn, và băng thông ở nước ngoài không bị gián đoạn. Băng thông trong nước thường trong một năm có những đợt bị bóp nghẹt đường truyền, không biết do chủ ý hay sự cố”.

Theo anh Logan Trần, nếu đường truyền bị bóp nghẹt thì có thể sẽ hạn chế truy cập Internet, làm tốc độ download, upload chậm đi và người sử dụng rất khó truy cập được Facebook, YouTube…

Từ Sydney (Australia), chuyên gia công nghệ thông tin Hoàng Ngọc Diệu, giải thích: “Thông thường, họ bóp nghẹt băng thông ở chiều ra nước ngoài, chứ họ không bóp nghẹt băng thông trong chính Việt Nam, vì tất cả đều đã bị kiểm soát”. Theo chuyên gia Hoàng Ngọc Diệu, nếu cơ sở hạ tầng dựa trên băng thông chưa tốt thì làm sao chính quyền Việt Nam có thể nghĩ đến việc phát triển công nghệ thông tin.

Tham vọng hay khát vọng?

Tại Hội thảo quốc tế về An ninh mạng 2019 tổ hức hôm 17/4 vừa qua tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định “Việt Nam có thể trở thành cường quốc an ninh mạng” nhờ có nguồn nhân lực an ninh mạng. Theo ông, đó là loại tốt trên thế giới, cộng với khát vọng dân tộc hùng cường và một giấc mơ lớn.

Những điều mà Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói có đủ để đưa Việt Nam thành cường quốc công nghệ thông tin hay không? Chuyên gia Hoàng Ngọc Diệu nhận định: “Cơ sở hạ tầng của Việt Nam không đủ để thực hiện những tham vọng đó”.

Nền tảng 4.0 thì Việt Nam chưa đạt, riêng về chính phủ điện tử chưa triển khai mạnh, chỉ có ở những thành phố lớn, còn đại chúng thì không có. Ở Nhật Bản, muốn tra cứu gì trên mạng đều công khai nên người dân rất dễ sử dụng. Còn ở Việt Nam thì chính phủ cần khắc phục nhiều điều.

Chuyên gia Hoàng Ngọc Diệu nói: “Nếu Việt Nam có tham vọng trở thành một cường quốc mạnh mẽ về công nghệ thông tin thì phải đầu tư đúng mức cho cơ sở hạ tầng, cho chất xám. Phải có những chính sách và chiến lược lâu dài để phát triển và triển khai ý tưởng thành hiện thực”.

Theo khảo sát của Cable, có hơn 64 triệu người Việt Nam, tương đương hơn một nửa dân số sử dụng Internet.

Việt Nam hiện có 6 hệ thống cáp ngầm dưới biển, cộng với kênh 120 Gigabit chạy trên đất liền qua Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 23/08/2019