Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần cuối


Sự đồng thuận giữa Mỹ và châu Âu cũng rất quan trọng. Trong vài chục năm qua, các nước châu Âu thỉnh thoảng vẫn theo đuổi đối thoại với Iran và đưa ra các gói hỗ trợ kinh tế với hy vọng điều tiết chính sách của Tehran trong 4 vấn đề: nhân quyền, vũ khí hạt nhân, khủng bố và hòa bình Trung Đông. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đến nay vẫn chưa tạo ra kết quả nào đáng kể trong các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Iran. Trái lại, Iran còn đe dọa sử dụng chính sách khu vực để làm phức tạp thêm cuộc khủng hoảng di cư tại châu Âu, đồng thời tiếp tục bắt giữ công dân châu Âu làm con tin, thậm chí còn hành quyết một công dân Pháp trong năm 2020. Điều này phần nào khiến người dân châu Âu cũng có thái độ tiêu cực về Iran giống như người Mỹ.

Có thể nói lần duy nhất chính sách của châu Âu tác động tích cực tới hành vi của Iran là vào năm 2012, khi Liên minh châu Âu hợp tác với chính quyền Obama quyết định ngừng nhập khẩu dầu thô từ Iran, mở đường cho sự ra đời của Thỏa thuận hạt nhân 2015. Chính phủ Iran sẽ không nhượng bộ các yêu cầu của Mỹ nếu cảm thấy châu Âu đứng về phía mình, như trường hợp năm 2018, khi Tổng thống Mỹ Trump đơn phương rút khỏi thỏa thuận hạt nhân.

Mặc dù vậy, Mỹ còn cần phải tìm kiếm sự hợp tác ngoài châu Âu. Theo một số ước tính, xấut khẩu dầu thô của Iran sang Trung Quốc đã tăng gấp 4 lần chỉ trong năm qua, khiến Tehran không còn cảm thấy nhất thiết phải quay lại thỏa thuận hạt nhân. Mọi nỗ lực nhằm thay đổi toan tính của Iran đều phải được Trung Quốc chấp thuận. Mặc dù quan điểm về Iran giữa Washington và Bắc Kinh có sự khác biệt, nhưng hai bên vẫn có điểm chung là không muốn Iran sở hữu bom hạt nhân và không muốn xung đột với Iran. Hơn nữa, Trung Quốc muốn Trung Đông ổn định để bảo đảm nguồn cung dầu dồi dào từ khu vực này. Các vụ Iran bắt giữ tàu chở dầu hoặc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào Saudi Arabia và UAE – hai đối tác mà giá trị thương mại của họ với Trung Quốc đều cao hơn với Iran – ảnh hưởng tới lợi ích của Bắc Kinh nhiều hơn lợi ích của Mỹ, do gần đây xuất khẩu năng lượng của Washington đã nhiều hơn nhập khẩu.

Cuối cùng, Mỹ cần phải giúp củng cố các quốc gia Arab đang bị Iran thao túng và nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết giữa họ. Các quốc gia này bị Iran lợi dụng do có chính quyền yếu kém, bất ổn hoặc xã hội chia rẽ. Trong thế kỷ 20, chủ nghĩa dân tộc là nhân tố quyết định để các nước thuộc địa chống lại các đế quốc phương Tây và Xô Viết. Tương tự, chủ nghĩa dân tộc ở các nước như Iraq, Liban, Syria và Yemen – hoặc một tinh thần dân tộc chung của khối Arab – sẽ là yếu tố không thể thiếu để chống lại sức ảnh hưởng của Iran và khôi phục chủ quyền của các quốc gia này. Tinh thần đoàn kết nội bộ trong khối Arab cũng vô cùng quan trọng. Mối bất hòa giữa các thành viên Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) dẫn đến việc Saudi Arabia và UAE cấm vận Qatar từ năm 2017 đến đầu năm 2021 đã làm suy yếu đáng kể tiếng nói của GCC về các mối quan ngại chung liên quan đến chương trình hạt nhân và các chính sách khu vực khác của Iran. Mặc dù Mỹ, châu Âu và Trung Quốc có các lợi ích khác nhau liên quan đến Iran, nhưng không bên nào muốn gây chiến với Tehran hoặc chứng kiến họ sở hữu vũ khí hạt nhân. Mỹ từng đóng vai trò liên kết các cường quốc này trong vòng đàm phán dẫn đến sự ra đời của Thỏa thuận hạt nhân năm 2015, và hiện nên một lần nữa đứng ra nhận trách nhiệm này trong các cuộc thảo luận mới về an ninh Trung Đông. Không một quốc gia nào có lợi (có lẽ ngoại trừ Nga) nếu Trung Đông không tôn trọng pháp quyền, chủ quyền, quyền tự do cung cấp năng lượng, hoặc bị các lực lượng khủng bố hoành hành. Mỹ cần phải nỗ lực thuyết phục các đối tác về sự thật này, kêu gọi các bên cùng chống lại các hành vi ác ý của Iran và hạn chế cũng như chống lại các năng lực của nước này.

Vua bãi rác

Quyền lực của Iran ở Trung Đông đang lên, nhưng có thể sẽ sớm chấm dứt. Người Arab từng đối đầu với các thế lực bá quyền Thổ Nhĩ Kỳ và phương Tây trong nhiều thế kỷ sẽ không dễ dàng khuất phục trước ảnh hưởng của Iran. Ngay cả những người Arab được coi là có thiện cảm với Iran, chẳng hạn như cựu Thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki, người từng sống lưu vong nhiều năm ở Tehran trước khi bước chân vào chính trường, cũng oán hận Iran. Maliki từng nói với Đại sứ Mỹ ở Baghdad: “Ngài chưa hiểu thế nào là đau khổ, trừ phi ngài là một người Arab buộc phải sống chung với người Ba Tư”.

Đại chiến lược của Iran làm nước này kiệt quệ về nguồn lực và sa sút về uy tín như một cây nến cháy cả hai đầu. Nó mang sang các nước khác sự đàn áp chính trị, bức bối xã hội và khó khăn kinh tế mà người dân Iran trong nước từ lâu đã phải gánh chịu. Có thể Iran sẽ tiếp tục là “vua bãi rác” trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ nữa. Rất ít quốc gia trong khu vực hoặc thế giới mong muốn hoặc có đủ khả năng thách thức sự vượt trội của Iran tại Iraq, Liban, Syria và Yemen. Sau hai thập kỷ chiến tranh ở Afghanistan và Iraq, chắc chắn Mỹ không điều quân đến Trung Đông nộp mạng. Vì vậy, giống như một tòa nhà cao tầng với nền móng đang xuống cấp, Iran dù lung lay dễ đổ nhưng sẽ tiếp tục phủ bóng đen lên một số nước Trung Đông trong tương lai.

Cũng có thể tòa nhà cao tầng này sẽ sụp đổ. Mỹ không thể thay đổi quyết tâm chống Mỹ và tiêu diệt Israel của Iran, nhưng với sự giúp đỡ của các nước khác, Mỹ có thể kiềm chế Tehran cho đến khi quốc gia này có một chính phủ mới với mong muốn làm những điều tốt cho Iran, thay vì hành động chỉ để chống phá các đối thủ về ý thức hệ. Rốt cuộc, đại chiến lược của Iran sẽ bị đánh bại, không phải bởi Mỹ hay Israel, mà bởi chính người dân Iran, những người đã phải trả cái giá đắt nhất cho chính sách này.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Mối đe dọa hạt nhân từ Nga – Phần cuối


Kho vũ khí hạt nhân của Nga như thế nào?

Theo số liệu của tạp chí khoa học hạt nhân của Mỹ, Bulletin of the Atomic Sciences (PDF), Nga có kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, với hơn 500 vũ khí chiến lược có thể mang tổng cộng hơn 2500 đầu đạn hạt nhân, hơn 1900 vũ khí hạt nhân chiến thuật.

Một số vũ khí nói trên là tên lửa có thể được phóng từ hầm, một số khác có thể được phóng từ bệ phóng di động, tàu ngầm hoặc máy bay. Ông Héloïse Fayet cho biết: “Nga đã đầu tư rất nhiều để hiện đại hóa kho vũ khí này, đôi khi gây ảnh hưởng đến ngân sách còn lại của quân đội”. Trong khi chờ đợi các tên lửa Sarmat được triển khai, Nga đã có tên lửa chiến lược có khả năng tấn công ở khoảng cách 16000 km nếu được phóng từ mặt đất và hơn 9000 km nếu được phóng từ tàu ngầm, với sức công phá vài trăm kiloton (bom A mà Mỹ thả xuống Hiroshima, Nhật Bản có sức công phá 15 kiloton).

Vũ khí chiến thuật có tầm bắn kém hơn, nhưng theo Nga, tên lửa Iskander có thể tấn công từ khoảng cách 500 km và tên lửa Kinjal mới, 2000 km. Đa phần những loại vũ khí này có thể được sử dụng với đầu đạn thường hoặc với đầu đạn hạt nhân và sức công phá có thể điều chỉnh được, chẳng hạn từ 10 lên thành 100 kiloton đối với tên lửa Iskander.

Nước nào dễ thành mục tiêu của Nga nhất?

Giới quan sát thường hình dung Nga sử dụng vũ khí chiến thuật nhiều hơn là vũ khí chiến lược. Về mặt kỹ thuật, những vũ khí này vẫn có thể có tầm bắn đến tận các thành phố như Berlin, nhưng đối với ông Héloïse Fayet, “điều này không có nghĩa lý gì”, bởi các cuộc tấn công chiến thuật là nhằm giúp quân đội giành thắng lợi trên chiến trường.

Điện Kremlin chưa bao giờ tiết lộ các mục tiêu mà họ nhắm tới, nhưng nhà nghiên cứu của IFRI nêu lên 3 kịch bản dễ xảy ra hơn so với việc phá hủy thủ đô của một nước phương Tây: “Một cuộc tấn công nhằm vào đoàn vận chuyển vũ khí hạng nặng của NATO tại Ukraine; cuộc tấn công nhằm vào một mục tiêu dân sự ở Ukraine để làm cư dân hoảng sợ, hoặc tấn công vào địa điểm ảnh hưởng tới hiệu quả răn đe của NATO tại một quốc gia thành viên”. Đây chỉ là những kịch bản “mang tính giả định cực kỳ cao” và mang lại nhiều rủi ro cho Moskva nếu xảy ra.

Đâu là những thiệt hại và hậu quả của một cuộc tấn công như vậy?

Các mô hình như NukeMap và Outrider, được các chuyên gia coi là nghiêm túc, giúp chúng ta có thể hình dung các hiệu ứng. Tại một thành phố lớn, vũ khí chiến lược mạnh nhất có thể làm cho hàng triệu người thiệt mạng, còn vũ khí chiến thuật có thể giết chết hàng trăm nghìn người.

Emmanuelle Galichet, phụ trách giảng dạy ngành kỹ thuật hạt nhân tại Cnam, cho biết, vụ nổ vũ khí hạt nhân trước hết gây ra một quả cầu lửa, sau đó là một làn sóng áp lực mạnh. Xung quanh điểm bom nổ, sức nóng có thể lên tới hơn 5000 oC “và gây cháy khắp nơi”. Bụi phóng xạ nguy hiểm nhưng không phải là nguyên nhân chính gây tử vong. Chuyên gia Nicolas Foray cũng nói nguy cơ nhiễm phóng xạ không cao như khi xảy ra tai nạn trong một nhà máy điện hạt nhân, nơi chứa nhiều nhiên liệu hơn. Cả hai nhà khoa học đều đồng ý rằng cuộc tấn công hạt nhân sát thương cao của Nga vào một nơi nào đó sẽ không khiến nơi này trở thành khu vực không thể sinh sống được trong thời gian dài và sẽ không gây ra nhiều nguy cơ lớn đối với sức khỏe người dân ở những nơi còn lại của châu Âu.

Các nước phương Tây sẽ phản ứng ra sao?

Theo nhà nghiên cứu Héloïse Fayet, tất cả đều sẽ phụ thuộc vào mục tiêu bị Nga tấn công vì Ukraine không phải là thành viên của NATO, nếu nước này bị tấn công hạt nhân, Liên minh Bắc Đại Tây Dương sẽ không có “lý do chính thức để đáp trả”. Tuy nhiên, nếu bom hạt nhân của Nga bắn vào một quốc gia thành viên, khối NATO có thể viện dẫn điều 5 của Hiệp ước Liên minh. Mỗi thành viên của NATO sau đó có nghĩa vụ tham gia đáp trả.

Nhà nghiên cứu của IFRI giải thích: “Không có cơ chế đáp trả tự động nào” quyết định phản ứng của NATO, không nhất thiết là Liên minh tấn công hạt nhân đáp trả. Trên tạp chí Bulletin of the Atomic Sciences, chuyên gia Jeffrey Emonds của Mỹ thậm chí còn coi lựa chọn này là không tưởng: tấn công quân Nga ở Ukraine sẽ gây nguy hiểm cho lãnh thổ mà quân Nga đang tìm cách chiếm giữ, còn tấn công vào lãnh thổ Nga sẽ gây ra xung đột hạt nhân với Moskva. Theo Jeffrey Emonds, một cuộc tấn công đáp trả Nga bằng vũ khí thông thường dễ làm giảm nguy cơ leo thang hơn, nhưng loại trừ hoàn toàn được nguy cơ này.

Phương Tây có lẽ sẽ không phải là những nước duy nhất đáp trả. Chuyên gia Mỹ Max Bergmann, cố vấn của cựu Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, khi trả lời phỏng vấn L’Express, cho rằng “Nga lập tức sẽ trở thành một Triều Tiên thứ hai, một nước bị toàn thế giới lên án, kể cả một số đồng minh”, đặc biệt là Trung Quốc, nước mà theo giải thích của Heather Williams, nhà nghiên cứu tại King’s College London “học thuyết hạt nhân trước hết là không sử dụng”.

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

Mối đe dọa hạt nhân từ Nga – Phần đầu


Theo đài RFI, những phát biểu mang tính đe dọa hạt nhân của Moskva có lẽ vừa là tuyên truyền, vừa nhằm làm phương Tây e sợ, ngăn cản châu Âu và Mỹ hậu thuẫn quá nhiều cho Ukraine. Tuy nhiên, giả thuyết về một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân chiến thuật, có sức công phá nhỏ hơn, không phải là hoàn toàn không thể xảy ra và gây ra hậu quả nghiêm trọng. “Bóng ma” hạt nhân của Nga vẫn bao phủ.

Trang France Info ngày 24/5 giải thích về nguồn lực nguyên tử của Nga, nguy cơ và hậu quả nếu Putin cho sử dụng vũ khí hạt nhân.

Những phát biểu của Nga về vũ khí hạt nhân?

Moskva không đợi đến khi xâm lược Ukraine mới khoe kho vũ khí hạt nhân. Ngày 7/2, sau cuộc gặp với người đồng nhiệm Pháp Macron tại Điện Kremlin, Tổng thống Nga Putin cho rằng: “Không thể so sánh sức mạnh của NATO và Nga nhưng Nga có vũ khí hạt nhân”. Chủ đề vũ khí hạt nhân lại được nhắc lại ngày 27/2, 3 ngày sau khi Moskva bắt đầu cuộc chiến xâm lược Ukraine: Putin yêu cầu đặt các lực lượng răn đe của Nga trong tình trạng báo động, trong đó có kho vũ khí hạt nhân. Vài tuần sau, quân đội Nga lần đầu tiên sử dụng tên lửa siêu thanh Kinjal, rồi thử nghiệm tên lửa liên lục địa Sarmat, hai loại tên lửa có thể mang đầu đạn hạt nhân.

Kể từ đó, Nga thường chọn lối nói không rõ ràng. Ngày 24/5, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov tuyên bố “nguy cơ là có thật”, vừa cảnh báo, vừa bảo đảm Nga muốn tránh viễn cảnh chiến tranh hạt nhân. Cựu Tổng thống Dmitry Medvedev trên mạng Telegram ngày 12/5 khẳng định, sự trợ giúp của phương Tây đối với Ukraine “làm tăng khả năng xảy ra xung đột trực tiếp và mở giữa NATO và Nga”, rằng một cuộc xung đột như vậy “luôn có nguy cơ biến thành một cuộc chiến tranh hạt nhân” và đó sẽ là “một kịch bản thảm khốc cho tất cả mọi người”.

Có lý do gì để tin rằng Nga có thể sử dụng vũ khí hạt nhân?

Việc Moskva nhắc nhở về kho vũ khí hạt nhân của Nga không khiến nhà nghiên cứu Héloïse Fayet lo ngại. Điều phối viên chương trình Răn đe và Phổ biến, tại Viện quan hệ quốc tế Pháp (IFRI), giải thích với France Info: “Giả thuyết về việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến lược chỉ là con số 0 hoặc gần như bằng 0” bởi “Nga sẽ phải đối diện với sự tự hủy diệt” nếu cuộc chiến tranh hạt nhân đó nổ ra. Ngay cả khi cuộc xâm lược Ukraine cho thấy Vladimir Putin có thể gây bất ngờ, nhà nghiên cứu Héloïse Fayet cũng không tin rằng ông ta đã hoàn toàn mất minh mẫn, sáng suốt và Putin không thể tự quyết một hành động nghiêm trọng như vậy mà sẽ phải thảo luận với tổng tư lệnh quân đội và Bộ trưởng Quốc phòng.

Giống như các cường quốc hạt nhân khác, nước Nga cũng có học thuyết hạt nhân, văn bản nêu rõ các trường hợp Nga có thể sử dụng kho vũ khí hạt nhân. Theo giải thích của chuyên gia Héloïse Fayet, chúng ta có thể dựa vào học thuyết này, bởi vì một trong những nguyên tắc chính của việc răn đe hạt nhân là xác định rõ ràng những lằn ranh đỏ để giảm nguy cơ hiểu lầm dẫn đến xung đột. Phiên bản mới nhất của học thuyết răn đe hạt nhân của Nga, có từ năm 2020, quy định việc sử dụng vũ khí hạt nhân chỉ được sử dụng khi Nga thành mục tiêu nhắm bắn trong một vụ tấn công hạt nhân bằng tên lửa đạn đạo hoặc một địa điểm hạt nhân của Liên bang Nga”. Trường hợp cuối cùng kể trên là rất mơ hồ và mơ hồ cũng là một phần của sự răn đe, nhưng dường như cũng không liên quan tới khả năng quân Nga thất bại ở Ukraine.

Tuy nhiên, sĩ quan dự bị hải quân Jean-Sylvestre Mongrenier trong một diễn đàn của Viện Thomas-More… đã nêu câu hỏi: “Các văn bản học thuyết được Nga công bố có nói hết về học thuyết hạt nhân không?”. Sĩ quan này nhắc lại cuộc tranh lậun giữa các chuyên gia về khả năng Nga đang xem xét một “biện pháp giảm leo thang căng thẳng bằng cách gây leo thang căng thẳng”: Chủ động tấn công hạt nhân để đối phó với nguy cơ thất bại trên chiến trường. Lãnh đạo CIA Mỹ, William Burns, ngày 14/4, kêu gọi “không xem nhẹ” kịch bản này nếu Vladimir Putin “chìm trong nỗi tuyệt vọng” về thất bại của quân đội Nga.

Thế nhưng, Jean-Sylvestre Mongrenier vẫn nghĩ rằng nếu xảy ra, cuộc tấn công này cũng chỉ liên quan đến vũ khí hạt nhân chiến thuật hoặc năng lượng hạt nhân được giải phóng thấp. Trên thực tế, có hai loại vũ khí. Vũ khí chiến lược có thể tấn công phần lớn địa cầu nên là hữu ích nhất để răn đe. Vũ khí chiến thuật có tầm bắn ngắn hơn và uy lực kém hơn. Nhà nghiên cứu Héloïse Fayet giải thích: “Những vũ khí này thường được thiết kế để giành chiến thắng trong một trận chiến hoặc tạo ra hiệu ứng chiến thuật”. Ngoài sức mạnh hủy diệt đáng kể, “chúng còn có tác dụng báo hiệu, cho thấy đã sẵn sàng để tiến xa chừng đó”. Đối với nhà nghiên cứu của IFRI, nguy cơ Nga vượt ngưỡng này vẫn chỉ ở mức “cực kỳ thấp, nhưng không phải là không có”.

Nga đe dọa nhằm mục đích gì?

Nhìn lại lịch sử, một nước dùng răn đe hạt nhân ngăn chặn cuộc tấn công vào lãnh thổ của mình, bởi nguy cơ tấn công đáp trả mang tính tàn phá nặng nề. Tuy nhiên, ở Ukraine, chính Nga mới là nước đang tấn công và dùng mối đe dọa hạt nhân để ngăn cản phần còn lại của thế giới trợ giúp Kiev. Jean-Sylvestre Mongrenier tóm tắt: “Vũ khí hạt nhân được sử dụng như một công cụ trấn áp, thậm chí là cưỡng ép”.

Trả lời phỏng vấn của tờ L’Express cuối tháng 4, Olivier Schmitt, Giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu cao cấp về quốc phòng, phân tích rằng trên hết, Moskva tìm cách “ngăn chặn việc giao vũ khí, vốn dĩ làm thay đổi đáng kể cán cân lực lượng ngoài mặt trận… Mục tiêu là gây áp lực đối với các nhà lãnh đạo phương Tây thông qua việc làm tăng dư luận về nguy cơ leo thang hạt nhân”. Tuy nhiên, Moskva không mấy thành công dù khiến công chúng lo lắng, nhưng đã không làm suy yếu sự ủng hộ của phương Tây đối với Ukraine, dù phương Tây tránh đi vào xung đột trực tiếp với Nga.

Đối với chuyên gia Héloïse Fayet, những tuyên bố của Nga cũng thừa nhận sự yếu kém: “Vladimir Putin dường như không thể gây ra bất kỳ mối đe dọa nào khác ngoài điều đó, bởi quân đội của Putin không hùng mạnh như ông ta nghĩ”, bằng việc nêu bật sức mạnh của kho vũ khí hạt nhân, Putin muốn “nâng cao tinh thần ở Nga” và đánh lạc hướng dư luận khỏi những khó khăn quân đội gặp phải.

(còn tiếp)

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần III


Thành công dẫn tới tự mãn

Một cuộc cách mạng chống lại tình trạng hủ bại và sự đàn áp dưới thời chế độ quân Mohammad Reza Shah Pahlavi giờ đây đã trở thành một đội quân Hồi giáo nước ngoài lún sâu vào những hành vi đàn áp chính trị còn nghiêm trọng hơn, như tiến hành các vụ ám sát, bắt giữ con tin, tham nhũng và buôn bán ma túy. Tuy nhiên, dù Iran thành công trong việc nuôi dưỡng các nhóm chiến binh trên khắp Trung Đông, có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ đã đi quá xa. Theo các cuộc thăm dò dư luận, gần 2/3 thanh niên Arab trong khu vực coi Iran là kẻ thù; phần lớn người Arab ở mọi lứa tuổi muốn Iran rút khỏi các cuộc xung đột khu vực; và hơn một nửa số người Arab Hồi giáo dòng Shiite có cái nhìn không thiện cảm về Iran. Trong những năm gần đây, người biểu tình Iraq đã tấn công và phóng hỏa các lãnh sự quán Iran ở Najaf và Karbala – hai thành phố linh thiêng của người Shiite và vốn là thành trì lâu đời của Iran ở Iraq – và người Shiite ở Liban đã biểu tình chống lại Hezbollah ở thành phố Nabatiyah, miền Nam Liban.

Mối lo ngại chung về Iran cũng là lý do dẫn đến sự ra đời của Hiệp định Abraham, thỏa thuận năm 2020 nhằm bình thường hóa quan hệ giữa Israel với các nước Arab mang lại cho Israel một chỗ đứng chiến lược cách biên giới Iran vài chục cây số. Lên án hiệp định Abraham là “sự phản bội đối với thế giới Hồi giáo”, Khamenei cho rằng những khó khăn của người Palestine là vấn đề quan trọng nhất trong thế giới Hồi giáo và tiếp tục dành nguồn lực đáng kể để chống lại Israel. Sự ủng hộ của Khamenei dành cho các đội quân ủy nhiệm khu vực trong và ngoài các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng đã tạo ra một “trục đau khổ” trải dài khắp Trung Đông. Syria và Yemen vẫn chìm trong nội chiến. Tại Liban, một cuộc thăm dò gần đây của Gallup cho thấy 85% dân số sống trong nghèo khó, hơn 50% không đủ tiền mua thực phẩm và 63% muốn rời khỏi đất nước vĩnh viễn.

Các chính sách khu vực của Iran có thể khiến người Arab xa lánh, nhưng nhiều khả năng sẽ không thể khiến Mỹ đưa ra phản ứng đáng kể. Không giống các nhóm cực đoan tiến hành tấn công trực diện vào lãnh thổ Mỹ, chẳng hạn như al-Qaeda và ISIS, các nhà lãnh đạo thần quyền của Iran – những người điều hành một đất nước dồi dào tài nguyên và do đó có nhiều điều để mất – nhắm vào các lợi ích của Mỹ ở Trung Đông thông qua các lực lượng ủy nhiệm và máy bay không người lái, tạo ra thêm một tầng ngăn cách giữa hai bên. Hơn nữa, mục tiêu của Iran là khuếch trương ảnh hưởng ở Trung Đông mà không phải gánh trách nhiệm điều hành công vụ hàng ngày. Không có quyết định an ninh quốc gia quan trọng nào có thể được đưa ra ở Iraq hoặc Liban mà không có ự ủng hộ của các dân quân Shiite do Iran điều khiển. Nhưng các lực lượng dân quân này không phải chịu trách nhiệm giải quyết tình trạng thất nghiệp hoặc tham nhũng, hay những việc như thu gom rác thải. Lực lượng dân quân của Iran có sức mạnh; chính phủ chịu trách nhiệm giải trình.

Quê nhà sẽ là nơi chiến lược lớn của chế độ Iran đe dọa sự tồn vong của chính họ. Khi nền kinh tế trong nước suy thoái, người dân Iran chắc chắn sẽ chất vấn các chính sách của chính phủ bao gồm chính sách thù địch với Mỹ và chủ nghĩa phiêu lưu nước ngoài. Trong các cuộc biểu tình ở Iran, người dân thường hô các khẩu hiệu như “Quên Syria đi; hãy nghĩ về chúng tôi” và “Họ nói dối rằng kẻ thù của chúng ta là Mỹ; kẻ thù của chúng ta đang ở ngay đây”. Tuy nhiên, thường có hai điều kiện tiên quyết dẫn đến sự sụp đổ của một chế độ độc tài: áp lực từ bên dưới và sự chia rẽ ở cấp trên. Mặc dù bất ổn trong dân chúng Iran ngày càng gia tăng, nhưng chí ít thì khi nhìn từ bên ngoài, lực lượng an ninh Iran hiện vẫn đoàn kết và sẵn sàng xuống tay thực hiện các vụ sát hại, trong khi quần chúng bất mãn vẫn bị chia rẽ và thiếu sự dẫn dắt.

Sự ổ định trong ngắn hạn cho thấy chiến lược lớn của Iran sẽ không thay đổi chừng nào Khamenei còn là nhà lãnh đạo tối cao, và có thể sẽ còn được duy trì sau khi ông ra đi, nhờ thành công mà Iran nhận thấy từ nó. Sau khi Mỹ rút khỏi Afghanistan, Iran càng có thêm động lực để ép Washington phải từ bỏ Iraq và các căn cứ quân sự ở vùng Vịnh. Với các chính sách của mình trong khu vực, Iran chỉ phải trả những cái giá tương đối nhẹ nhàng, nhất là nếu so với những thiệt hại khổng lồ mà Tehran đã phải gánh chịu khi bị phương Tây trừng phạt mỗi khi vi phạm cam kết hạt nhân. Vì vậy, không có lý do gì để Tehran ngừng sự hỗ trợ cho các lực lượng dân quân ở Trung Đông.

Mặt trận thống nhất

Trải qua 4 thập kỷ thù địch Mỹ – Iran, đã có vô số giải pháp đơn giản được đề xuất nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh này. Tại sao Mỹ không theo đuổi chính sách ngoại giao, bắt tay với nước Cộng hòa Hồi giáo, hoặc ủng hộ người dân Iran lật đổ chế độ? Tuy nhiên, vấn đề cơ bản nhất lại không tìm được câu trả lời dễ dàng: Mỹ phải làm gì trước một đối thủ luôn tránh đối thoại trực tiếp, coi sự thù địch với Mỹ là nền tảng cho bản sắc, đồng thời có cả nguồn lực lẫn quyết tâm gieo rắc sự hỗn loạn khắp Trung Đông và sẵn sàng sát hại hàng nghìn công dân của chính mình để bảo toàn quyền lực?

Nhận thức của Mỹ về Iran bị ảnh hưởng bởi sự ghẻ lạnh và tự kiêu chiến lược trong 4 thập kỷ qua. Các nhà hoạch định chính sách ở Washington tin rằng tư tưởng cách mạng của Iran có thể được uốn nắn bằng cách can dự hoặc bị triệt tiêu bởi các biện pháp cứng rắn. Phe cấp tiến cho rằng sự cứng đầu của Tehran chỉ là sự phản ứng trước các chính sách thù địch của Mỹ, trong khi phe bảo thủ tin rằng kinh tế cùng quẫn sẽ buộc Tehran phải lựa chọn giữa lý tưởng và sự tồn vong của chế đọ. Tuy nhiên, với Khamenei, duy trì lý tưởng cách mạng Iran vừa là mục đích vừa là phương tiện để đảm bảo sự tồn tại của chế độ.

Giống như Nga, Iran luôn tìm kiếm an ninh trong sự bất an của kẻ khác. Nhà nước Cộng hòa Hồi giáo luôn lợi dụng sự chia rẽ về ý thức hệ, bè phái và tôn giáo để có được sức ảnh hưởng tại các quốc gia nhỏ, đồng thời cũng rất giỏi trong việc lợi dụng sự cạnh tranh giữa các nước lớn. Do Mỹ không có nhiều công cụ để gây sức ép với Iran, bởi hầu hết thương mại của Tehran là với các nước khác, nên việc xây dựng một chiến lược hiệu quả để kiềm chế và chống lại Iran không chỉ cần tới sự lãnh đạo của Mỹ mà còn đòi hỏi phải xây dựng một sự đồng thuận quốc tế.

Bước đi đầu tiên hướng tới chiến lược này là xây dựng sự đồng thuận chính trị trong nước Mỹ. Trước khi thỏa thuận hạt nhân năm 2015 được ký kết, đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa đã có sự nhất trí cao về bản chất của chế độ Iran và các mối đe dọa của nó đối với an ninh khu vực. Nhưng thỏa thuận năm 2015, theo đó các lệnh trừng phạt của Mỹ và quốc tế được dỡ bỏ để đổi lấy sự nhượng bộ hạt nhân của Iran, lại khiến cuộc tranh luận chính sách rẽ theo hai hướng khác nhau, thể hiện rõ chủ trương của mỗi đảng: Phe Cộng hòa chỉ trích Chính quyền Obama quá mềm mỏng và phe Dân chủ chỉ trích đảng Cộng hòa thích gây chiến.

Tuy nhiên, nhìn bao quát, rõ ràng cả hai đảng đều có chung quan điểm chiến lược về Iran. Đảng Cộng hòa có thể kịch liệt phản đối chế độ Iran và thỏa thuận hạt nhân, nhưng cũng nhận ra rằng các đảng viên đều không muốn Mỹ dính líu vào một cuộc xung đột nữa ở Trung Đông. Về phần mình, các đảng viên Dân chủ có thể ủng hộ biện pháp can dự với Tehran và quay lại thỏa thuận hạt nhân, nhưng các cuộc thăm dò của Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy 70% cử tri Dân chủ có cái nhìn không thiện cảm về Iran. Nói cách khác, giữa hai đảng đã có đủ cơ sở để xây dựng sự đồng thuận trong đánh giá khách quan về bản chất về chế độ Iran, không cường điệu hóa và cũng không coi nhẹ mối đe dọa mà Tehran đang tạo ra với Mỹ, cũng như với lợi ích và các đối tác của Washington tại Trung Đông.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Khủng hoảng Ukraine: Vỏ bọc cho Trung Quốc ở Biển Đông?


Theo các trang mạng asiatimes.com, ndtv.com ngày 22/3, trong khi cộng đồng quốc tế đổ dồn sự quan tâm vào cuộc xung đột quân sự ở Ukraine, Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn 3 hòn đảo mà họ chiếm đóng ở Biển Đông. Bài viết trên trang mạng Asia Times cho rằng chiến sự ở Ukraine có thể đã cung cấp một vỏ bọc chiến lược cho hành động này của Bắc Kinh. Trong khi đó, báo chí Ấn Độ gần đây cho biết New Delhi và Canberra vẫn chú tâm đến “điểm nóng” này.

Đô đốc John C. Aquillino, Tư lệnh Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, hôm 20/3 nói rằng Mỹ đã quân sự hóa hoàn toàn ít nhất 3 đảo mà nước này cải tạo ở Biển Đông gồm đá Vành Khăn, đá Su Bi và đá Chữ Thập tại quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp ở Biển Đông. Thông tin này được đưa ra khi vị đô đốc này thực hiện hoạt động tuần tra ở Biển Đông bằng máy bay P-8A Poseidon của Hải quân Mỹ. Đô đốc Aquillino nói rằng Trung Quốc đã trang bị cho các thực thể này hệ thống tên lửa chống hạm và hệ thống tên lửa phòng không, thiết bị laser và gây nhiễu cùng các máy bay tiêm kích trong một động thái ngày càng gây hấn và quyết đoán hơn nhằm đe dọa tất cả các quốc gia hoạt động gần đó.

Mặc dù Bắc Kinh khăng khăng nói rằng hoạt động mở rộng quân sự của họ ở Biển Đông chủ yếu mang tính phòng thủ và nhằm bảo vệ chủ quyền mà Bắc Kinh tự đặt ra đối với các thực thể ở vùng biển tranh chấp này, song hoạt động quân sự hóa gần đây trái ngược hoàn toàn với những khẳng định mà Chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra trước đó rằng Trung Quốc sẽ không biến những thực thể mà nước này chiếm đóng thành những căn cứ quân sự. Mục tiêu của Trung Quốc ở Biển Đông có thể được gói gọn thành 3 điểm chính:

Thứ nhất, Bắc Kinh muốn biến Biển Đông thành một “bãi đáp” cho đội tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân của nước này. Trung Quốc muốn đội tàu ngầm này hoạt động ở Tây Thái Bình Dương để đảm bảo khả năng răn đe và ngăn chặn hạt nhân đối với Mỹ.

Thứ hai, Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành một vùng đệm giữa nước này và Mỹ trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột vũ trang ở Eo biển Đài Loan. Lâu nay, Bắc Kinh vẫn coi sự tồn tại của Đài Loan không nằm dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một mối đe dọa trực tiếp nhất đối với những lợi ích cốt lõi của Đại lục. Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh mà cuối cùng sẽ được tái thống nhất với Đại lục.

Thứ ba, Trung Quốc muốn kiểm soát nguồn tài nguyên ở vùng biển tranh chấp này, gồm dầu mỏ, khí đốt, nguồn lợi thủy sản cũng như muốn kiểm soát những tuyến hải lộ mà nước này sử dụng ở Biển Đông.

Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành hoạt động quân sự hóa các thực thể mà nước này chiếm đóng ở Biển Đông cách đây 20 năm, gây quan ngại cho Mỹ và các đồng minh Thái Bình Dương của Mỹ cùng với các nước Đông Nam Á có tranh chấp ở Vùng biển này. Mặc dù Mỹ và các nước đồng minh vẫn thường xuyên tiến hành các hoạt động tự do hàng hải ở vùng biển này, song các nước Đông Nam Á vẫn chưa có được đồng thuận và tiếng nói chung trong việc đưa ra những phản ứng trước những hành động của Bắc Kinh, trong đó Brunei và Malaysia thường có quan điểm và giọng điệu mềm mỏng hơn, chủ trương tiến hành chính sách ngoại giao “im lặng” đối với những tuyên bố chủ quyền rộng lớn của Trung Quốc. Mặc dù Indonesia không phải là một bên trong tranh chấp ở Biển Đông, song những hoạt động của Bắc Kinh xâm phạm lãnh hải thuộc quần đảo Natuna của Indonesia vốn nằm ở cực Nam của cái gọi là “đường 9 đoạn” (mà Trung Quốc đơn phương vẽ ra) đã buộc Jakarta thể hiện lập trường cứng rắn đối với những hoạt động đánh bắt cá phi pháp của Trung Quốc ở khu vực. Đồng thời, Indonesia cũng tăng cường công cuộc hiện đại hóa quân sự của mình và tăng cường những năng lực hoạt động ở biển xa. Trong khi đó, Philippines chủ yếu dựa vào “ô an ninh” của Mỹ thông qua hiệp ước phòng thủ lẫn nhau mà hai nước ký hồi năm 1951 cũng như dựa vào luật lệ quốc tế để khẳng định chủ quyền lãnh hải của mình và để thách thức những yêu sách của Bắc Kinh.

Trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông tiếp tục gia tăng do những hoạt động quân sự hóa các thực thể nói trên của Trung Quốc, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Thủ tướng Australia Scott Morrison đã kêu gọi hoàn thành Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) mang tính hiệu quả và hoàn toàn phù hợp với luật lệ quốc tế. Lời kêu gọi này được đưa ra tại hội nghị thượng đỉnh trực tuyến giữa hai nhà lãnh đạo của Ấn Độ và Australia hôm 21/03. Thông cáo chung của Bộ Ngoại giao Ấn Độ có đoạn: “Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có thể thực hiện các quyền và tự do ở tất cả các vùng biển và đại dương của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) bao gồm quyền tự do hàng hải và hàng không. Họ đã kêu gọi thiết lập một COC hiệu quả, thực chất và hoàn toàn phù hợp với luật lệ quốc tế…”.

Tuy nhiên, hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh rằng những tranh chấp lãnh hải chỉ có thể được giải quyết thông qua các biện pháp hòa bình và rằng các nước cần tự kiềm chế trong việc tiến hành những hoạt động có thể làm phức tạp tình hình hoặc làm leo thang căng thẳng, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định khu vực. Hai thủ tướng bày tỏ cam kết chung đối với một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở và dựa trên luật lệ, ủng hộ một cấu trúc khu vực mạnh mẽ, trong đó ASEAN đóng vai trò trung tâm. Thủ tướng Modi và người đồng cấp Australia cũng tái cam kết đối với một khu vực thịnh vượng và bao trùm trong đó chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các nước cần được tôn trọng và các nước không bị o ép về mặt quân sự, kinh tế và chính trị. Ngoài ra, hai thủ tướng nhấn mạnh cam kết hợp tác trong khuôn khổ nhóm Bộ tứ cùng với Mỹ và Nhật Bản để thúc đẩy hơn nữa quá trình triển khai chương trình nghị sự đầy tham vọng của nhóm vì sự thịnh vượng và ổn định trong khu vực.

Nguồn: TKNB – 25/03/2022

Thổ Nhĩ Kỳ là trọng tâm địa chiến lược mới của thế giới?


Theo thehill.com, Mỹ và Trung Quốc hiện là hai nền kinh tế lớn nhất nhì thế giới, trong khi Mỹ và Nga là siêu cường hạt nhân duy nhất trên toàn cầu. Thế nhưng, Thổ Nhĩ Kỳ, vối vị trí địa lý của mình cùng cú hat-trick gồm 3 quyết định vô cùng thảm họa của Tổng thống Nga Vladimir Putin, có thể còn có sức ảnh hưởng hơn cả ba nước kia tại thời điểm này.

Cuộc tấn công của Putin vào Ukraine đã phơi bày sự yếu kém của quân đội Nga; kéo theo điều có thể coi là một sự mở rộng của NATO – điều mà Putin không muốn nhất; và đẩy nhanh một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu cho khoảng 1 tỷ dân. Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỳ cần phải chấp nhận để Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO, điều kiện cần thiết theo quy định về sự đồng thuận tuyệt đối trong Hiệp ước Washington. Tuy nhiên, cho đến nay, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đưa ra những phản đối mạnh mẽ đối với cả hai nước này với lý do Phần Lan, Thụy Điển bị cho là ủng hộ hoặc công nhận Đảng Công nhân người Kurd (PKK) – vốn bị Thổ Nhĩ Kỳ ấn định là một tổ chức khủng bố.

Công ước Montreux 1936 quy định hạn chế các tàu không thuộc các nhà nước nằm ở xung quanh Biển Đen tiếp cận vùng biển này về cả mặt thời gian, trọng tải và vũ trang. Nếu một chuyến tàu nhân đạo thông qua Eo biển Dardanelles được lập ra để vận chuyển các nông sản thiết yếu tại Odessa để phân phối ra toàn cầu, qua đó dập tắt nạn đói tiềm tàng và đòi hỏi sự hỗ trợ của tàu hộ tống hải quân, thì Thổ Nhĩ Kỳ là nước duy nhất có thể cho phép hoặc từ chối các tàu chiến quá cảnh.

Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan là người rất nóng tính và sự thất bại trong việc nhất trí kết nạp thêm các thành viên mới sẽ là một đòn giáng mạnh vào NATO, còn hơn cả việc Pháp không tham gia khía cạnh quân sự của liên minh này vào năm 1966 dưới thời Charles de Gaulle. Putin hẳn nhận thức rõ được tình huống này. Chắc chắn là ông sẽ làm mọi thứ để có thể thuyết phục Erdogan từ chối sự kết nạp này.

Về các hình thức vận tải trên biển để chở lúa mì và các sản phẩm nông nghiệp khác từ Odessa, nhưng trở ngại là rất lớn. Nga sẽ chỉ đồng ý với một điều kiện thuận lợi cho họ, chẳng hạn như dỡ bỏ các lệnh trừng phạt. Các phương pháp tiếp cận Odessa đang được khai thác. Ukraine sẽ phải đồng ý đảm bảo một tuyến đường an toàn ra vào cảng. Và một nghị quyết của Liên hợp quốc nhất thiết phải đến từ Đại hội đồng vì Nga sẽ phủ quyết mọi đề xuất tại Hội đồng Bảo an.

Các bên khác thì lập luận rằng tàu chiến của NATO là cần thiết nếu như buộc phải đi vào vùng biển này. Tuy nhiên, các tàu đó có thể sẽ phải đối đầu với các lực lượng hải quân, không quân và tên lửa của Nga và có thể dẫn đến một sự leo thang căng thẳng, thậm chí là một cuộc chiến tranh trên biển. Hầu hết hạm đội trên Biển Đen của Nga đều đã già nua. Tuy nhiên, các tàu ngầm chạy bằng diesel lớp Kilo của nước này vẫn rất dữ dội. Với tính chất ồn ào của Biển Đen, việc phát hiện các lực lượng này là rất khó. Và tên lửa Kalibr cùng các loại tên lửa khác của Nga cũng đã được chứng tỏ là rất hiệu quả. NATO cũng cần sự hỗ trợ mạnh mẽ ở trên không.

Nếu Thổ Nhĩ Kỳ vẫn duy trì lập trường cứng rắn đối với sự gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển và việc cho phép các tàu chiến của NATO hay các bên thứ ba đi vào Biển Đen, sẽ còn rất ít lựa chọn tích cực. Vậy liệu một phiếu trắng, cũng có tác dụng như một phiếu chống, đối với sự mở rộng của NATO, có thể được tận dụng để cho phép một tỷ lệ bỏ phiếu 29-0 đủ được coi là nhất trí hay không? Khả năng là không, bởi Thổ Nhĩ Kỳ vẫn phải thông qua các thay đổi theo quy định trong công ước.

Công ước Montreux là một công ước mang tính lịch sử lâu đời. Điều thú vị là trong số 4 nước đầu tiên ký kết công ước, gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Romania và Liên Xô, thì Liên Xô hiện đã không còn tồn tại. Và các thành viên mới hơn như Gruzia và Ukraine theo đó cũng không tồn tại nữa. Tuy nhiên, công ước này vẫn có hiệu lực. Việc thay thế nó dường như là bất khả thi bởi Thổ Nhĩ Kỳ có một vai trò chủ đạo nhờ vị trí địa lý của mình và có các Eo biển Bosporus và Dardanelles nằm giữa đất nước.

Về vấn đề thiếu lương thực, đây là một công cụ ngoại giao mạnh mẽ có thể được sử dụng để chống lại Nga. Việc cản trở chuyển hàng cứu trợ cho hàng trăm triệu người đang bị thiếu ăn thực sự là một tội ác chiến tranh. Tuy nhiên, Nga sẽ đổi lỗi cho Ukraine và phương Tây đã gây ra tình trạng thiếu lương thực này và thoái thác mọi trách nhiệm. Mặc dù vậy, vẫn còn phải chờ xem lời cáo buộc dù có hơi thái quá nói trên có được chấp nhận bởi những khu vực và cộng đồng người dân bị ảnh hưởng hay không. Nhìn chung, chính sách ngoại giao và các thông điệp truyền tải của Mỹ và NATO sẽ là cần thiết để gây sức ép buộc Nga chấm dứt chiến tranh.

Một kết luận quan trọng khác có lẽ đã bị bỏ quên. Thế giới vẫn là một tổng thể phụ thuộc lẫn nhau, không thể tách rời và vì vậy rất dễ bị tổn thương trước những cuộc tấn công ồ ạt mới gây rối loạn trên toàn cầu. Trớ trêu thay, chiến tranh tại Ukraine càng làm trầm trọng thêm tính chất dễ bị tổn thương này.

Ngoài những thiệt hại không thể bù đắp về người, sự tàn phá đất nước và hàng nghìn sinh mạng mà cuộc chiến Ukraine gây ra, sự đoàn kết của NATO cũng đang lâm nguy. Tồi tệ hơn, nạn đói có thể bao trùm một phần lớn dân số thế giới. Những kịch bản này không phải là mới. Điều mới ở đây là số lượng chúng nhiều hơn và mang tính tàn phá hơn trong kỷ nguyên này. Và với đại dịch COVID-19 đang hoành hành hiện nay mà thế giới chưa kịp chuẩn bị trước, mọi thứ còn tồi tệ hơn nữa.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Các biện pháp của Nga chống lại sự mở rộng NATO


Tờ Thời báo Hoàn Cầu ngày 01/06 đăng bải viết của nhà nghiên cứu Vương Hiến Cử (Wang Xianju) – Phó Giám đốc Trung Tâm Nga học, Đại học Nhân dân Trung Quốc cho biết, Tổng thư ký NATO Stoltenberg mới đây thông báo nếu Phần Lan và Thụy Điển không thể đáp ứng được yêu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ, họ khó có thể trở thành ứng cử viên gia nhập NATO tại Hội nghị thượng đỉnh NATO diễn ra vào ngày 28/6 tới. Một số người cho rằng lá phiếu quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ có thể cản trở vòng mở rộng mới của NATO. Tuy nhiên, xét cho cùng, việc Moskva đặt cược toàn bộ vào “quyền phủ quyết” của Thổ Nhĩ Kỳ là điều không thể, vậy Nga còn có những biện pháp nào để đối phó?

Theo dõi các động thái gần đây, có thể thấy rằng Moskva đang thông qua các hành động song phương và đa phương chống lại vòng mở rộng thứ sáu của NATO.

Thứ nhất, cảnh báo nghiêm khắc về hậu quả nghiêm trọng từ vòng mở rộng mới của NATO. Một mặt, Moskva nhắc nhở Phần Lan và Thụy Điển không được đánh giá sai tình hình, chỉ ra rằng “quyết định sai lầm” lần này sẽ làm gia tăng căng thẳng khu vực và an ninh của hai nước và sẽ không vì gia nhập NATO mà được củng cố; mặt khác, nhấn mạnh rằng sự mở rộng cơ sở hạ tầng của NATO trên lãnh thổ hai nước này chắc chắn sẽ dẫn đến một phản ứng từ Nga. Nga sẽ buộc phải tăng cường sức mạnh hải – lục – không quân ở khu vực Biển Baltic, và “tình trạng phi hạt nhân hóa của khu vực Biển Baltic sẽ không được bàn nữa”.

Thứ hai, tăng cường hơn nữa vai trò của Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (CSTO). Vào giữa tháng 4, CSTO do Nga đứng đầu đã tổ chức một cuộc họp của ủy ban quân sự để “trao đổi quan điểm về tình hình quân sự và chính trị và đã đồng ý phối hợp các hành động chung để loại bỏ các mối đe dọa quân sự”. Cuộc họp đã quyết định tổ chức các cuộc tập trận chung CSTO tại Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tajikistan vào mùa Thu năm nay. Ngày 16/5, các nhà lãnh đạo của 6 quốc gia thành viên CSTO đã tổ chức cuộc họp tại Điện Kremlin để thảo luận các vấn đề như củng cố hợp tác giữa các quốc gia thành viên và hoàn thiện hệ thống an ninh tập thể. Hơn nữa, phía Nga cũng đưa ra một thông điệp quan trọng rằng “CSTO cần tăng cường hợp tác với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và các đối tác tự nhiên của SNG (các quốc gia độc lập thuộc Liên Xô cũ) hiện nay”, đồng thời đề xuất cung cấp cho SNG tư cách quan sát viên của CSTO.

Thứ ba, quan tâm hơn đến hợp tác với SCO. Khi Nga đảm nhận chức vụ chủ tịch luân phiên của SCO năm 2020, nước này đã chủ trương tổ chức cuộc họp chung giữa các bộ trưởng quốc phòng của các quốc gia thành viên SCO, SNG và CSTO. Tháng 9/2020, 3 tổ chức lần đầu tiên tiến hành cuộc tập trận chống khủng bố chung “Caucasus-2020”. Sau khi Mỹ và lực lượng NATO rút hoàn toàn khỏi Afghanistan, ngày 17/9/2021, người đứng đầu các quốc gia thành viên SCO và CSTO lần đầu tiên tổ chức cuộc họp chung để trao đổi về tình hình Afghanistan. Mới đây, Tổng thư ký CSTO Zass đã gặp Tổng thư ký Trương Minh (Zhang Ming) của SCO và bàn về “tầm quan trọng của việc xây dựng một không gian an ninh thống nhất”. Một số nhà phân tích cho rằng trong bối cảnh xung đột giữa Nga với Mỹ và châu Âu ngày càng gia tăng và sự mở rộng hơn nữa của NATO, CSTO có thể sẽ hợp tác với SCO trên nhiều lĩnh vực hơn trong tương lai.

Thứ tư, làm sâu sắc thêm Liên minh kinh tế Á – Âu. Trước các lệnh trừng phạt kinh tế và tài chính chưa từng có từ các nước phương Tây. Nga càng coi trọng vai trò của Liên minh Kinh tế Á – Âu. Ngày 25/2, Thủ tướng các nước thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu đã họp bàn về tình hình kinh tế và tăng cường hợp tác, đồng thời đưa ra một loạt biện pháp nhằm ổn định thị trường nội khối. Cuộc họp của Hội đồng tối cao của Ủy ban kinh tế Á – Âu, cơ quan quyền lực cao nhất của Liên minh kinh tế Á – Âu, được tổ chức ngày 27/5, đã ra thông điệp “Liên minh kinh tế Á – Âu nên tận dụng lợi thế về vị trí địa kinh tế của mình”.

Tất nhiên, trong khi tận dụng tối đa các biện pháp đối phó này, Moskva cũng phải đối mặt với những hạn chế.

Thứ nhất, Mỹ đang cố gắng hết sức lôi kéo các nước Trung Á. Ngay sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt chống lại Ukraine, hôm 01/3, Mỹ đã tổ chức cuộc họp trực tuyến cấp ngoại trưởng “C5+1” với 5 nước Trung Á. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh, nhất là trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, năng lượng, khoa học và công nghệ. Ngoại trưởng Mỹ Blinken thậm chí còn đưa ra khả năng thiết lập các căn cứ quân sự của Mỹ ở Trung Á, nhưng không nhận được phản hồi. Bên cạnh những tương tác thường xuyên trong lĩnh vực ngoại giao, Mỹ và các nước Trung Á đã tăng cường hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực kinh tế. Uzbekistan và Mỹ có quan hệ hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, hiện đại hóa nông nghiệp và y tế, hai bên gần đây quan tâm đến việc cùng xây dựng tuyến đường sắt “Mazar-e Sharif-Kabul-Peshawar”. Năm 2021, đầu tư của Mỹ vào Kazakhstan đã tăng 45% và hơn 700 công ty Mỹ hiện đang hoạt động tại Kazakhstan.

Thứ hai, EU và Nhật Bản cũng đang làm công việc của các nước Trung Á. EU sẽ cung cấp cho Uzbekistan 83 triệu euro viện trợ không hoàn lại trong giai đoạn 2021 – 2024 cho các dự án hợp tác cùng phát triển, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ phát triển xã hội dân sự và nhân quyền. Ngày 15/4, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Hayashi Yoshimasa đã tổ chức cuộc họp trực tuyến với Bộ trưởng Ngoại giao 5 nước Trung Á. Với tư cách là những đồng minh quan trọng của Mỹ, EU và Nhật Bản tăng cường hợp tác với Trung Á vào thời điểm này, mục đích là rõ ràng.

Thứ ba, có sự khác biệt giữa CSTO và các nước Á – Âu về xung đột giữa Nga và Ukraine. Tại cuộc bỏ phiếu ủng hộ dự thảo nghị quyết lên án Nga tại phiên họp đặc biệt khẩn cấp lần thứ 11 của Đại hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 2/3, Gruzia và Moldova bỏ phiếu thuận, Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan bỏ phiếu trắng. Trong khi đó, Kazakhstan và các nước khác phản đối việc CSTO gửi quân đến Ukraine. Phía Kazakhstan nói với báo chí r8a2ng nước này sẽ không tham gia các lệnh trừng phạt cũng như không giúp Nga trốn tránh các lệnh trừng phạt. Với những khác biệt này, Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko đã kêu gọi CSTO “nên đoàn kết”.

Cùng với sự tiếp diễn của xung đột giữa Nga và Ukraine, để siết chặt hơn nữa không gian an ninh chiến lược và phạm vi ảnh hưởng của Nga, Mỹ chắc chắn sẽ tăng cường lôi kéo các nước Trung Á. Các nước Trung Á sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách đối ngoại đa dạng và cân bằng dựa trên lợi ích của chính họ. Tuy nhiên nhìn chung, trong cuộc chơi ở Trung Á, Nga vẫn có những lợi thế rõ ràng và tầm ảnh hưởng của họ vượt xa các cường quốc phương Tây. Điều này được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau như lịch sử, địa chính trị, lợi ích quốc gia, cơ chế khu vực và điều này sẽ khó thay đổi trong thời gian dài trong tương lai.

Nguồn: TKNB – 02/06/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần II


Trục đau khổ

Iran có được thành công là nhờ chủ nghĩa cơ hội và cũng nhờ quyết tâm. Nội chiến ở Liban, cuộc xâm lược Iraq của Mỹ và cuộc nổi dậy ở các nước Arab đã tạo ra những khoảng trống quyền lực để Iran có thế lấp đầy bằng các lực lượng dân quân ở nước ngoài, với tổng quân số hiện có trong khoảng 50.000 đến 200.000 chiến binh. Nói cách khác, câu chuyện ở Trung Đông hiện đại liên quan đến sự yếu kém của các nước Arab nhiều hơn là sức mạnh của Iran: Tình trạng rối ren ở các nước Arab đã tạo điều kiện cho tham vọng của Iran, và tham vọng của Iran làm trầm trọng thêm tình trạng rối ren của các nước Arab.

Tài sản lớn nhất của cuộc cách mạng Iran ở nước ngoài là Hezbollah. Được thành lập năm 1982, sau cuộc xâm lược của Israel vào Liban, đây là nhóm đầu tiên đưa ra chiến lược mà sau này đã được Iran áp dụng đối với các lực lượng ủy nhiệm khác: thực hiện các cuộc tấn công gây thương vong nhằm vào lính Mỹ ở Trung Đông để đánh vào dư luận và làm suy yếu quyết tâm của Washington. Tháng 10/1983, Hezbollah dùng bom xe tấn công một phái đoàn gìn giữ hòa bình đa quốc gia, giết chết hơn 300 người trong khi họ đang ngủ, trong đó có 241 binh sĩ Mỹ. Iran và Hezbollah đã ăn mừng vụ tấn công này nhưng phủ nhận trách nhiệm. Bốn tháng sau, Chính quyền Reagan bắt đầu rút các lực lượng Mỹ khỏi Liban.

Hiện Hezbollah đang là lực lượng mạnh nhất ở Liban. Nhóm này sát hại các đối thủ chính trị và người bất đồng chính kiến mà không phải chịu hậu quả, vận hành nền kinh tế ngầm riêng và được cho là đang sở hữu trên 100.000 quả rocket và tên lửa có khả năng vươn tới Israel. Hezbollah cáo buộc các đối thủ tại Liban là những kẻ phản quốc, nhưng giờ đây thậm chí còn không giấu giếm sự phụ thuộc vào Iran. Thủ lĩnh Hezbollah Hassan Nasrallah cho hay trong một bài phát biểu năm 2016: “Chúng tôi công khai khẳng định rằng ngân sách của Hezbollah, thu nhập, chi phí, mọi thứ từ đồ ăn thức uống, vũ khí và tên lửa, đều đến từ Cộng hòa Hồi giáo Iran. Iran có tiền là chúng tôi có tiền… Chúng tôi nhận được tiền, giống như nhận được tên lửa để đe dọa Israel”.

Iran áp dụng cách tiếp cận tương tự để biến Iraq thành địa ngục đối với Mỹ vì lo ngại Washington sẽ lấy một Iraq dân chủ và thành công làm bàn đạp để lật đổ hoặc đe dọa Iran. Lực lượng dân quân người Shiite do Iran hậu thuẫn đã gây thương vong cho 1000 người Mỹ bằng các thiết bị nổ tự tạo. Trong khi Mỹ còn phải mang gánh nặng tái thiết Iraq, thì Tehran chỉ tìm cách cản trở mọi nỗ lực của Mỹ. Khi bị tra khảo, Qais al-Khazali, một thủ lĩnh lực lượng dân quân Shiite do Iran hậu thuẫn ở Iraq, từng khai với quân đội Mỹ rằng Washington chi “hàng tỷ” cho cuộc chiến tại Iraq, trong khi Iran chi “hàng triệu”, nhưng Iran hiệu quả hơn. Ngày nay, dân quân Shiite do Iran ủy nhiệm là lực lượng chiến đấu mạnh mẽ nhất tại Iraq và là một tổ chức xã hội đen vụ lợi, vừa làm giàu cho bản thân vừa giúp Iran đảm bảo lợi ích của mình ở Iraq.

Iran và các lực lượng dân quân ủy nhiệm cũng đóng vai trò quyết định trong việc giúp chế độ tàn bạo Assad ở Syria không sụp đổ. Chế độ Assad là chính phủ đồng minh duy nhất của Tehran trong khu vực. Mối quan hệ hợp tác mang tính chiến thuật vào những năm 1980 nhằm chống lại Iraq dưới thời Saddam Hussein sau đó đã được duy trì do hai bên cùng có ác cảm với Mỹ và Israel và có chung bản năng sinh tồn. Các quốc gia Arab đã thúc đẩy nỗ lực lôi kéo Assad tránh xa Tehran nhưng không thành công, bởi hai chính phủ giờ đây rất phụ thuộc lẫn nhau: Assad cần tiền và vũ khí của Iran, còn Tehran cần lãnh thổ Syria làm cầu nối với Hezbollah và làm tiền đồn chống Israel. Năm 2017, BBC đưa tin Iran đang xây dựng một “căn cứ quân sự thường trực” ở Syria để bổ sung mặt trận mới chống lại nhà nước Do Thái.

Mặc dù Iran khẳng định các nguyên tắc đạo đức của một nhà nước thần quyền, nhưng các lực lượng ủy nhiệm của nước này khi gặp phải khó khăn kinh tế lại tìm đến các hoạt động bất chính để kiếm tiền. Mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất đối với Chính phủ Syria túng thiếu hiện nay là Captagon, một loại amphetamine bất hợp pháp được Hezbollah vận chuyển đi khắp thế giới với sự hỗ trợ ngầm của Tehran. Chính phủ Iran đã hành quyết hàng nghìn công dân của mình vì các tội liên quan đến ma túy, nhưng lại trở thành trụ cột của một trong những mạng lưới buôn lậu ma túy lớn nhất thế giới.

Gần đây, Yemen được bổ sung vào danh sách các quốc gia nơi Tehran có ảnh hưởng đáng kể thông qua các lực lượng dân quân ủy nhiệm. Iran cung cấp vũ khí và các hình thức hỗ trợ khác cho Houthi, lực lượng nắm quyền ở Sanaa kể từ năm 2014, bằng khoản ngân sách mà phần nào được cho là đến từ buôn bán ma túy. Tiếp tay cho Houthi là một biện pháp hiệu quả và tiết kiệm để Iran gây thiệt hại lớn về tài chính và uy tín cho Saudi Arabia, quốc gia ước tính đã chi hơn 100 tỷ USD để can thiệp vào Yemen và được coi là nguyên nhân gây ra thảm họa nhân đạo khủng khiếp trong cuộc xung đột này. Quy tắc không khoan nhượng và các khẩu hiệu của Houthi – tiêu diệt Mỹ, Israel, người Do Thái và những người theo tín ngưỡng Bahai – phản ánh tư tưởng của nhà bảo trợ Iran. Houthi tìm cách gây ra cho Saudi Arabia những gì mà Hamas và Hezbollah lâu nay vẫn làm với Israel – chỉ khác ở chỗ họ sử dụng các máy bay không người lái chính xác và công nghệ mới nhất thay vì các tên lửa cũ kỹ và các vụ đánh bom liều chết.

Với tư cách là nhà nước thần quyền duy nhất ở Trung Đông, Iran đã lợi dụng chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo (Sunni cũng như Shiite) thành công hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Một trong những lý do khiến Tehran đánh bại các đối thủ Arab dòng Sunni là hầu hết các nhóm cực đoan dòng Shiite đều sẵn sàng chiến đấu vì Iran, trong khi hầu hết các nhóm cực đoan dòng Sunni, bao gồm cả al-Qaeda và IS, đều chống lại các chính phủ Arab cầm quyền. Iran lấy ý thức hệ, chứ không phải tôn giáo, làm tiêu chí đầu tiên cho các liên minh chiến lược. Bằng chứng là Tehran có quan hệ mật thiết với nhóm cực đoan người Sunni Hamas và các chiến binh thánh chiến Hồi giáo Palestine, với việc họ chi hàng tỷ USD để các nhóm này chống lại Israel. Moussa Abu Marzouk, mọt lãnh đạo Hamaas, nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2021: “Iran là một trong những quốc gia giúp đỡ Hamas nhiều nhất, là quốc gia duy nhất phớt lờ các giới hạn áp đặt đối với Hamas. Họ hỗ trợ quân sự cho chúng tôi về huấn luyện, vũ khí và chuyên môn”.

Thậm chí đôi khi Iran còn hợp tác cả với các nhóm Sunni theo chủ nghĩa chính thống như al-Qaeda và Taliban, bất chấp việc các nhóm này thường xuyên tấn công bằng hữu dòng Shiite của Iran mà họ coi là dị giáo. Thay vì ưu tiên lợi ích quốc gia, chính quyền Iran xây dựng chiến lược dựa trên hệ thống phân cấp kẻ thù: Bất kỳ kẻ thù nào của Mỹ và Israel đều có thể là đối tác của Tehran. Năm 2021, Đại giáo chủ Khamenei từng tuyên bố: “Chúng tôi sẽ hỗ trợ và giúp đỡ bất kỳ quốc gia hoặc bất kỳ nhóm nào ở bất kỳ đâu phản đối và chống lại Nhà nước Do Thái, và chúng tôi không ngần ngại nói lên điều này”.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần I


Karim Sadjadpour

Ít có quốc gia nào duy trì được khát vọng kiên định và rõ ràng trong suốt 4 thập niên qua như Cộng hòa Hồi giáo Iran. Kể từ năm 1979, khi các cuộc cách mạng Hồi giáo biến đổi đất nước từ một vương triều thân Mỹ sang một chế độ thần quyền chống Mỹ gay gắt, Iran luôn tìm cách hất cẳng Mỹ khỏi Trung Đông, thay thế Israel bằng Palestine và tái thiết khu vực theo cách mình mong muốn. Không giống như chiến lược của Mỹ đối với Iran nói riêng và Trung Đông nói chung, với những thay đổi đáng kể dưới thời mỗi chính quyền, chiến lược của Iran với Mỹ và khu vực thể hiện sự nhất quán đáng chú ý. Tehran chưa hiện thực hóa được tham vọng đáng kể nào, nhưng liên tục có bước tiến, và những thành công gần đây càng khiến quốc gia này thêm tự tin.

Trong hai thập kỷ qua, Iran đã gây dựng được vị thế vượt trội ở Iraq, Liban, Syria và Yemen, 4 quốc gia yếu kém hình thành “trục kháng chiến” theo cách gọi của các quan chức Iran. Kết quả này có được sau khi Iran gây dựng thành công các lực lượng dân quân tại chỗ, như Hezbollah ở Liban và Houthi ở Yemen, và bằng cách khai thác khoảng trống do Mỹ để lại sau cuộc xâm lược Iraq năm 2003 và các cuộc nổi dậy ở các nước Arab trong các năm 2010 – 2011. Cả Mỹ lẫn các đối thủ của Iran trong khu vực đều không có ý định hoặc khả năng thách thức vị thế của Tehran tại 4 quốc gia này.

Iran cũng là nhân tố làm phức tạp thêm các thách thức an ninh quốc gia của Mỹ, bao gồm vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân, an ninh mạng, khủng bố, bất ổn năng lượng, các cuộc xung đột tại Afghanistan, Iraq, Syria và Yemen cũng như xung đột Israel – Palestine. Mặc dù từ năm 1979 đến nay, Iran và Mỹ đã đối mặt với một vài thách thức chung – bao gồm Liên Xô, Iraq dưới thời Saddam Hussein, al-Qaeda, Taliban và tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS), nhưng Washington vẫn không thể khiến Iran thay đổi đường lối sau nhiều lần tìm cách thuyết phục hoặc gây sức ép. Tehran cứng nhắc và tàn nhẫn đến mức không thể khuất phục.

Tuy nhiên, giống như một vận động viên thể hình bị suy đa tạng, Iran biểu hiện ra bên ngoài sức sống mãnh liệt nhưng lại ẩn giấu bên trong những căn bệnh khó bề cứu chữa. Sử gia John Lewis Gaddis định nghĩa chiến lược của Iran là “sự kết hợp của những khát vọng có thể là vô hạn, với năng lực chắc chắn là hữu hạn”. Iran đã vận dụng khả năng có hạn của mình nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, bao gồm cả Trung Quốc và Nga, để phục vụ khát vọng thay đổi trật tự thế giới do Mỹ dẫn đầu. Hơn nữa, khoảng cách rất lớn giữa khát vọng và khả năng đồng nghĩa với việc Iran sẽ tiếp tục chấp nhận chảy máu nguồn lực quốc gia để tài trợ cho các đội quân trong khu vực và các cuộc xung đột bên ngoài, làm trầm trọng thêm nỗi thất vọng của người dân về hiện trạng kinh tế, chính trị và xã hội, và khiến cho việc gia tăng đàn áp trở nên cần thiết.

Bất chấp nhiều lần vỡ mộng, khao khát cách mạng của Iran vẫn chưa nguôi ngoai theo thời gian. Đại giáo chủ Ali Khamenei, 82 tuổi, lãnh tụ tối cao của đất nước, là một trong những nhà độc tài tại vị lâu nhất và giáo điều nhất trên thế giới. Kể từ khi nắm quyền vào năm 1989, cũng là lần gần nhất ông ra nước ngoài, Khamenei đã khôn khéo đánh bại 4 tổng thống Iran, dùng vũ lực dập tắt một số cuộc nổi dậy lớn, mở rộng quyền lực của Iran trên khắp Trung Đông và làm thất bại các nỗ lực của 6 tổng thống Mỹ nhằm hất cẳng, can dự với ông hoặc dọa nạt ông. Khamenei chưa từng gặp mặt trực tiếp quan chức Mỹ nào. Ông cấm các nhà ngoại giao Iran nói chuyện với đối tác Mỹ trong các cuộc đàm phán hạt nhân đang diễn ra. Ông lựa chọn cẩn thận những người theo đường lối cứng rắn, trung thành với nguyên lý cách mạng để điều hành các thể chế quyền lực nhất của chế độ.

Sự kiên định của Khamenei với các nguyên lý của cách mạng Iran được thôi thúc bởi mong muốn tự bảo vệ. Giống như nhiều chế độ độc tài khác, nhà nước Cộng hòa Hồi giáo đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan trong cải cách: phải mở cửa và thay đổi để tồn tại, nhưng làm vật sẽ tự hủy hoại mình. Trái ngược với một số nhân vật cải cách thực dụng hơn của Iran, như các cựu tổng thống Akbar Hashemi Rafsanjani và Hassan Rouhani – những người muốn đi theo con đường mở cửa nền kinh tế giống như Trung Quốc và hàn gắn quan hệ với Mỹ – Khamenei từ lâu đã đi đến kết luận rằng việc từ bỏ các nguyên lý cách mạng, bao gồm chống lại Mỹ và Israel, không khác gì lấy đá tự ghè chân. Ông cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô là do những cải cách theo hướng mở cửa của Mikhail Gorbachev, vì vậy ông càng tin vào lời cảnh báo của nhà triết học Alexis de Tocqueville rằng: “thời khắc nguy hiểm nhất của chính phủ yếu kém là lúc họ cố gắng cải cách”.

Mặc dù việc chấm dứt 4 thập kỷ chiến tranh lạnh có thể mang lại lợi ích cho cả Iran lẫn Mỹ nhưng Washington sẽ khó lòng đạt được một dàn xếp hòa bình với một chế độ lấy việc chống Mỹ làm nền tảng cho bản sắc của mình, và người đứng đầu chế độ cho rằng việc giảm bớt thái độ chống đối sẽ khiến ông mất tất cả. Cũng không có bất kỳ giải pháp dễ dàng nào, dù là Mỹ can dự nhiều hơn hay gây áp lực lớn hơn, có thể nhanh chóng thay đổi bản chất của mối quan hệ  Mỹ – Iran hoặc thay đổi chế độ ở Iran. Vì vậy, Washington phải đối phó với Tehran như mọi đối thủ khác: thông tin liên lạc để tránh xung đột, hợp tác khi có thể, đối đầu khi cần thiết và phối hợp kiềm chế với các đối tác.

Ý thức hệ đặt trên dân tộc

Giống như nhiều nền văn minh trước đây đã trải qua cả những chiến thắng vĩ đại lẫn những nỗi nhục lớn, Iran vừa tự tin vừa vô cùng bất an. Đế chế Ba Tư cổ xưa được cho là siêu cường đầu tiên trên thế giới. Nhưng trong nhiều thế kỷ trước năm 1979, các cường quốc bên ngoài đã xâm chiếm lãnh thổ Iran, vi phạm chủ quyền của nước này. Từ năm 1813 đến năm 1828, đế quốc Nga dùng vũ lực chiếm đóng các vùng lãnh thổ rộng lớn ở Kavkaz từ tay Đế chế Ba Tư dưới triều đại Qajar. Năm 1946, các lực lượng Liên Xô chiếm đóng và tìm cách sáp nhập tỉnh Azerbaijan ở phía Tây Bắc Iran, nhưng sau đó bị hất cẳng nhờ sự can thiệp của Tổng thống Mỹ Harry Truman. 7 năm sau, vào năm 1953, Vương quốc Anh và Mỹ giật dây một cuộc đảo chính và lật đổ Thủ tướng Iran khi đó là Mohammad Mosaddeq.

Với bối cảnh lịch sử đó, nhiều người Iran, dù có quan điểm chính trị như thế nào, vẫn tin rằng các cường quốc chỉ muốn ngăn cản đất nước họ trên con đường tìm kiếm thịnh vượng và độc lập. Cũng giống như nhiều chế độ độc tài khác, Cộng hòa Hồi giáo Iran lợi dụng quá khứ để biện minh cho các cuộc đàn áp bên trong và tham vọng bên ngoài của mình. Những người biểu tình ôn hòa, các nhà hoạt động dân quyền và các nhà báo luôn bị coi là đặc vụ nước ngoài, bị đánh đập và bỏ tù. Iran cho rằng việc phát triển vũ khí hạt nhân và xây dựng lực lượng dân quan trong khu vực – vi phạm rõ ràng chủ quyền của các nước Arab láng giềng – vừa là quyền bất khả xâm phạm vừa là một biện pháp chống lại chủ nghĩa đế quốc nước ngoài.

Kể từ khi ra đời, chế độ cách mạng Iran luôn đặt khát vọng ý thức hệ lên trên sự thịnh vượng và an ninh của người dân. Vì lẽ này, Tehran thường xuyên đưa ra các quyết định gây tổn hại sâu sắc đến lợi ích quốc gia, như kéo dài cuộc chiến tranh tàn khốc 8 năm với Iraq vào những năm 1980 để củng cố quyền lực trong nước, và gần đây là cấm nhập vaccine COVID-19 từ Mỹ dù đại dịch đang tàn phá Iran. Sau hàng nghìn ca tử vong vì COVID-19 mà lẽ ra có thể được cứu chữa, lệnh cấm này đã lặng lẽ được hủy bỏ.

Không một quốc gia nào ở Trung Đông có quy mô địa lý, nguồn nhân lực, lịch sử cổ đại và tài nguyên thiên nhiên dồi dào như Iran. Nhưng thay vì tận dụng những ưu đãi này để trở thành cường quốc kinh tế thế giới hoặc thúc đẩy lợi ích quốc gia, chế độ Iran đã xây dựng chính sách đối ngoại dựa trên hai trụ cột là đối đầu với Mỹ và Israel. Vận dụng 3 hệ tư tưởng khác biệt là chủ nghĩa chống đế quốc, chủ nghĩa phe phái Shiite và chủ nghĩa dân tộc Iran, thể chế này đã gây dựng mạng lưới đối tác đa dạng ở trong và ngoài Trung Đông, sử dụng họ như các lực lượng ủy nhiệm để chống lại kẻ thù.

Theo hình dung lý tưởng của Iran, Trung Đông không có sự hiện diện của Mỹ, nhà nước Israel được thay thế bởi nhà nước Palestine nhờ một cuộc trưng cầu dân ý, và chế độ thần quyền theo chủ nghĩa Khomenei là nguồn cảm hứng cho trái tim và khối óc của người Arab và Hồi giáo. Những điều này vẫn còn cách quá xa hiện thực. Dù đã rút quân khỏi Afghanistan và Iraq, nhưng Mỹ vẫn giữ lại từ 45000 đến 65000 quân ở Vịnh Ba Tư, chủ yếu là để răn đe Iran. Trong khi đó, Israel là một trung tâm công nghệ toàn cầu, hội nhập mạnh mẽ nhất từ trước đến nay với thế giới Arab, đặc biệt là giờ đây khi nước này đã bình thường hóa quan hệ với Bahrain, Maroc và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE). Và hình mẫu mà hầu hết người Arab hướng tới là xã hội tự do, hội nhập toàn cầu và thịnh vượng về kinh tế như UAE, chứ không phải một Iran theo chủ nghĩa Khomeini.

Tuy nhiên, so với cách đây một thập kỷ, Iran đang tiến gần hơn tới mục tiêu hiện thực hóa lý tưởng. Cách đây 10 năm, số quân đồn trú của Mỹ tại Afghanistan và Iraq là gần 200.000, giờ chỉ còn 2500. Tổng thống Syria Bashar al-Assad, người chịu ơn cứu mạng của Iran, đang dần nối lại quan hệ với các chính phủ Arab. Ngoài các lực lượng Hezbollah ở Liban và các tay súng Shiite ở Iraq, Iran còn có thể coi lực lượng Houthi ở Yemen là đồng minh tận tụy, luôn sẵn sàng thực hiện các cuộc tấn công nhằm vào những kẻ thù chung.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

“Cánh cửa mới” cho giao thương Trung Quốc – ASEAN


Theo giới chuyên gia, việc Trung Quốc đang xúc tiến xây dựng cảng thương mại tự do ở tỉnh đảo Hải Nam, cực Nam Trung Quốc, sẽ mở ra những cánh cửa giao thương mới giữa “gã khổng lồ châu Á” này với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, thành công sẽ đòi hỏi một bước nhảy vọt lớn về sự tin cậy và tinh thần tiên phong.

Theo kế hoạch, Bắc Kinh sẽ biến tỉnh đảo có diện tích 35.000 km2 này thành cảng thương mại tự do lớn nhất thế giới vào năm 2035, thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp và doanh nhân thông qua mức thuế suất thấp hơn, đồng thời thu hút khách du lịch và tài năng nước ngoài thông qua biện pháp đơn giản hóa thủ tục cấp thị thực nhập cảnh. Hệ thống hải quan độc lập cho tỉnh đảo này cũng sẽ được triển khai vào năm 2025.

Nằm ở cực Nam của Trung Quốc, cảng thương mại tự do Hải Nam có vị trí thuận lợi trong việc tăng cường quan hệ thương mại với các nước ASEAN vốn đã vượt qua Liên minh châu Âu (EU) để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong năm 2020. Các công ty của ASEAN sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi để đầu tư vào Hải Nam, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ, nhờ việc nới lỏng những rào cản và giảm thuế. Đây là tuyên bố của Phó tỉnh trưởng Hải Nam Shen Danyang tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao diễn ra hồi tuần trước. Đánh giá về tiềm năng du lịch, ông Shen cho rằng tỉnh đảo Hải Nam trong tương lai cũng sẽ trở thành một phần của lịch trình du lịch cho du khách quốc tế, mà trước hết là du khách đến từ khu vực Đông Nam Á, khi Hải Nam đang được quy hoạch trở thành một đảo du lịch quốc tế và một trung tâm thương mại miễn thuế. Các công ty lữ hành của nước ngoài sẽ có thể thiết lập văn phòng đại diện tại tỉnh đảo – điều vốn không được phép đối với Đại lục. Quan chức tỉnh đảo lập luận: “Khách du lịch có thể đến Hải Nam trước khi đến thăm các nước như Việt Nam, Campuchia, Indonesia và Singapore. Họ cũng có thể mua sắm hàng hóa miễn thuế và có thể được mang xách tay về nước, với tổng giá trị mặt hàng lên đến khoảng hơn 15.000 USD mỗi người”. Bên cạnh đó, Hải Nam cũng sẽ là địa điểm thăm quan đầu tiên của du khách Đông Nam Á trước khi đặt chân lên Đại lục. Nhấn mạnh về những tiềm năng ngầm ẩn, ông Shen cho biết: “Tiềm năng du lịch sẽ mở rộng quy mô hoạt động du lịch qua lại giữa dư khách của Trung Quốc và du khách của Đông Nam Á đồng thời tạo cơ hội cho hợp tác giáo dục và lao động”. Tỉnh đảo cũng sẽ sớm có các chính sách cho phép người lao động nước ngoài có kỹ năng nhập cảnh để làm việc ở Hải Nam tùy thuộc vào những nhu cầu của thị trường.

Trong năm 2019, lượng khách du lịch đi lại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đã lên đến 65 triệu lượt với gần 4500 chuyến bay, tăng so với 57 triệu lượt và 4000 chuyến bay trong năm 2018. Theo ông Shen, giới đầu tư ở Trung Quốc Đại lục cũng được khuyến khích đăng ký đầu tư ở Hải Nam và khi đó các khoản chi tiêu ở nước ngoài của họ sẽ được hưởng miễn thuế thu thập.

Trong chuyến thăm Hải Nam hồi đầu tháng 4 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh tỉnh đảo này cần trở thành một cảng thương mại tự do có tầm ảnh hưởng trên phạm vi quốc tế song vẫn mang những đặc trưng của Trung Quốc. Tuy nhiên, vẫn còn những quan ngại về việc cảng Hải Nam sẽ hoạt động như thế nào trong tương la khi các hệ thống hải quan, thuế quan và tài chính độc lập với các hệ thống của Đại lục. Tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, ông We Xiaoqiu – nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Nhân dân Trung Quốc hiện là Viện trưởng Viện nghiên cứu Thị trường Vốn Trung Quốc – cho rằng “chính quyền Bắc Kinh cần có một kế hoạch cụ thể về những đặc điểm của một hải cảng thương mại tự do hiện đại trong thế kỷ 21, những chính sách về pháp lý, thu hút tài năng, thu hút vốn cũng như những chính sách và chiến lược khác không nằm trong hệ thống chính sách của Đại lục”.

Kế hoạch chuyển đổi Hải Nam thành cảng thương mại tự do quốc tế cũng phù hợp với chiến lược “tuần hoàn kép” của Bắc Kinh vốn nhằm thúc đẩy cả tiêu dùng trong nước và tăng cường khả năng độc lập về kinh tế với các nước bên ngoài nhằm ngăn chặn những tác động do tình trạng bất ổn bên ngoài gây ra đối với hoạt động kinh tế của Trung Quốc.

Ngoài ra, kế hoạch xây dựng cảng thương mại tự do cũng là một phần kế hoạch của Tập Cận Bình nhằm duy trì dòng chảy thương mại dịch vụ và thương mại toàn cầu khi Mỹ đang dọa “phân tách” với Trung Quốc và vai trò của Hong Kong là một trung tâm tài chính quốc tế cũng đang phải đối mặt với những thách thức khó lường sau khi Đại lục triển khai luật an ninh quốc gia gây tranh cãi tại đặc khu hành chính này.

Quá trình chuyển đổi Hải Nam thành cảng thương mại quốc tế thường được so sánh với quá trình chuyển đổi Thâm Quyến thành đặc khu kinh tế trong những năm 1980. Từng là nơi mà người dân sinh sống bằng nghề đánh cá, Thâm Quyến giờ đây đã trở thành một đặc khu kinh tế phát triển mạnh mẽ, thu hút đầu tư và thương mại nước ngoài. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Wu, thành công của Thâm Quyến đã cần đến rất nhiều tinh thần tiên phong và chấp nhận vấp váp để “hái quả ngọt”. Ông Wu nói: “Hải Nam cần có đủ tinh thần kiên cường để gánh vác những trọng trách, không thể biết chắc được rằng đâu sẽ là con đường đi đúng đắn trong giai đoạn tìm tòi hướng đi hiện nay. Có thể có những con đường vòng (để thành công) song chúng ta vẫn phải kiên định đi theo con đường đã chọn hiện nay”.

Theo ông Bert Hofman, Giám đốc Viện nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore, Hải Nam cũng cần “có chỗ đứng” trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vốn là một thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện nay. RCEP bao gồm 15 thành viên và chiếm gần 1/3 dân số và khoảng 30% GDP toàn cầu. Cũng tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, ông Hofman cho rằng Hải Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Singapore khi xây dựng cảng thương mại tự do song cần lưu ý một điểm khác biệt là Singapore là mọt quốc gia còn Hải Nam chỉ là một tỉnh đảo. Do đó, ông Hofman cho rằng Hải Nam vẫn cần gắn kết với chính quyền trung ương để vẫn tồn tại như một “mắt xích” trong hệ thống chung của Trung Quốc và đây chính là điều cốt lõi.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022