Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần cuối


+ Tháng Sáu năm 1996, Lầu Năm góc đã đồng ý cung cấp cho Cục Phòng vệ Nhật Bản các dữ liệu cảnh báo đầu tiên từ các vệ tinh do thám, đó là lời cảnh báo đầu tiên về một cuộc tấn công bằng tên lửa điều khiển từ xa.

+ Tháng Bảy năm 1996, Sách trắng quốc phòng hàng năm của Nhật Bản đã công bố những nhận định về các mối đe dọa chiến lược đối với Nhật Bản. Mặc dù lời lẽ mang tính ngoại giao đối với nước ngoài, nhưng những lời đề cập đến Trugn Quốc lại là cứng rắn nhất: “Sự thúc đẩy liên tục (của Trung Quốc) việc hiện đại hóa các lực lượng không quân, hải quân và vũ khí hạt nhân, mở rộng… các hoạt động hải quân; và tình trạng căng thẳng gây ra do các cuộc tập trận quân sự xung quanh Đài Loan, tất cả làm cho chúng tôi thấy cần phải chú ý cẩn thận tới… cách ứng xử của Bắc Kinh”.

+ Tháng Tám năm 1996 các hiệp hội công nghiệp quốc phòng ở Nhật Bản và Mỹ đã đồng ý thành lập một cơ quan phối hợp nhằm thúc đẩy phát triển chung về thiết bị quân sự kỹ thuật cao.

Xu hướng có ý nghĩa nhất nổi lên từ các sự kiện này là có những động lực ngày càng tăng ủng hộ cho việc xây dựng thống phòng thủ tên lửa điều khiển từ xa cho Nhật Bản. THAAD tạo thành một tấm lá chắn chống tên lửa đạn đạo xung quanh Nhật Bản và Hàn Quốc, sẽ được xây dựng vào năm 2005. Hiện nó vẫn đang ở giai đoạn triển khai ở Mỹ, và người ta vẫn chưa quyết định được vấn đề quan trọng là Nhật bản sẽ chịu phần chi phí phát triển như thế nào trong công trình này. Tuy nhiên, nếu THAAD được chấp nhận thì đó sẽ là một bước tiến quan trọng nữa tới một liên minh chiến lược Mỹ – Nhật khăng khít hơn nhằm chủ yếu là vào Trung Quốc. Một lần nữa Bắc Kinh lại nhận ra một thách thức trước sự việ này, và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đã tấn công mạnh mẽ cả Mỹ và Nhật Bản, thậm chí cả việc xem xét đến một hệ thống phòng thủ tên lửa. David Lampton, chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Quan hệ Mỹ – Trung, đã nói: “Người Trung Quốc thì lo ngại vì THAAD sẽ vô hiệu hóa sự hiện đại hóa các hệ thống tên lửa và vũ khí hạt nhân của chính họ”.

Ít ra là Trung Quốc cũng không hài lòng, về xu hướng này, và có thể hy vọng tăng cường sức ép của họ đối với Nhật Bản. Chẳng hạn, một quan chức Trung Quốc đã thông báo hồi tháng Sáu năm 1996 rằng các lý do chính trị sẽ có ảnh hưởng đến sự lựa chọn cuối cùng các nhà thầu cho Dự án Ba Thung Lũng khổng lồ của Trung Quốc, một loạt các đập nước và trạm thủy định dự định xây trên sông Trường Giang. Tờ Trung Hoa Nhật báo của Bắc Kinh trích lời ông Qin Zhongyi, phó chủ tịch công ty phát triển Ba Thung Lũng Trường Giang của Trung Quốc, rằng cơ hội cho các tập đoàn Nhật Bản (Tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi, công ty điện tử Mitsubishi, Toshiba và Hitachi) để thắng thầu các hợp đồng trị giá 4 tỷ USD “có vẻ không chắc chắn, vì người ta không dễ dàng quên được mối liên kết gần gũi của Nhật bản với các chính sách khó chịu của Mỹ”. Qin, người phụ trách cuộc đấu thầu quốc tế cho dự án, đã nói rằng một tập đoàn Đức – Canada đang là người dẫn đầu vì “các mối quan hệ tốt đẹp giữa đất nước họ và Trung Quốc”.

Thật khó nói cán cân lực lượng ở châu Á trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác Nhật – Mỹ tới mức độ nào. Như một nhà bình luận người Nhật Bản đã dẫn lời Thomas L. Friedman của tờ New York Times, “một mình Nhật Bản không thể bắt tay Trung Quốc, một mình Nhật Bản không thể bắt tay một Triều Tiên thống nhất, và một mình Nhật Bản không thể bảo vệ đường biển của chính nó – vì tất cả những lý do này, chúng ta cần liên minh với Mỹ”. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là Nhật Bản sẽ liên minh vững chắc với Mỹ. Nhiều yếu tố quyền lợi của các quan chức và các công ty Nhật Bản hẳn sẽ chống lại một liên minh hồi sinh rõ ràng là nhằm làm đối trọng với Trung Quốc, vì liên minh đó đe dọa những khoản lợi nhuận mà Nhật Bản có thể giành được ở Trung Quốc.

Công chúng rộng rãi cũng chống lại, vì họ cũng lo sợ các thảm họa mà chủ nghĩa quân phiệt không bị kiềm chế sẽ mang lại cho Nhật Bản. Sau nửa thế kỷ có thái độ hòa bình, sự tự nhận thức của Nhật Bản có lẽ không đơn giản cho phép đất nước chấp nhận vai trò một cường quốc thật sự, thậm chí chỉ ở khu vực của mình. Như Friedman đã diễn tả, vấn đề là “chính phủ Nhật Bản không muốn nói về từ C hay từ K”.

Nhiều lần trong thế kỷ này, sự suy yếu của Trung Quốc và sức mạnh của Nhật Bản đã phá hủy bất cứ khả năng nào về cán cân lực lượng châu Á ổn định. Do đó, từ Thế chiến II, đã có tiền đề cho rằng một Nhật Bản được tái vũ trang sẽ đe dọa hòa bình và ổn định ở châu Á. Nhưng nếu một lần nữa điều đó là sự thật, thì nay không còn là sự thật nữa. Trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, chính sự yếu kém của Nhật Bản đe dọa hòa bình và ổn định do chỗ tạo ra một khoảng trống quyền lực mà Mỹ không thể lấp đầy, nhưng Trung Quốc lại có thể. Một Nhật Bản hợp tác chân thành với Mỹ là điều thiết yếu cho một cán cân lực lượng mới ở châu Á. Một Nhật Bản yếu chỉ có lợi cho Trung Quốc, bằng chứng hiển nhiên chỉ ra rằng Trung Quốc không hướng tới một cán cân lực lượng mới mà nhắm tới bá quyền của Trung Quốc, và trong đó, Nhật Bản, nếu chịu nhường bước cho định mệnh đó, thì sẽ phục vụ như là một nước chư hầu hữu ích nhất và giàu có nhất của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Advertisements

Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần cuối


Hủy hoại nhà nước – quốc gia

Nhà nghiên cứu chính trị Igor Collazos từng chỉ ra nhiều cách thức để hủy hoại một nhà nước – quốc gia: từ chiến thuật cắm chốt đến can thiệp, chia cắt, kích động chủ nghĩa địa phương, truyền bá tư tưởng thần phục, thâm nhập và làm tha hóa nội bộ, phân hóa kinh tế và kích động xung đột.

Cắm chốt là chiếm giữ và củng cố những điểm chiến lược, nhỏ bé về quy mô nhưng có vị trí then chốt trong việc kiểm soát, đặc biệt là đối với các mạng lưới truyền thông và giao thông; can thiệp là hành động quân sự chống lại một hoặc nhiều nhà nước – quốc gia; chia cắt là ly khai một hay nhiều phần lãnh thổ quốc gia; kích động chủ nghĩa địa phương là tuyên truyền những bản sắc, nhiều khi là giả tạo nhằm đào sâu cách biệt và rạn nứt với những nguyên nhân trên danh nghĩa thuộc về văn hóa.

Thâm nhập và làm tha hóa là gia tăng không kiểm soát các điểm “cắt chốt” bên trong bộ máy nhà nước của một quốc gia; truyền bá tư tưởng thần phục là tập trung hỗ trợ một địa phương cụ thể nhằm tăng cường ảnh hưởng và sự phụ thuộc một phần của đia phương đó vào cường quốc bên ngoài; phân hóa kinh tế là thúc đẩy sự phát triển quá mức của một hoạt động kinh tế chuyên môn hóa cao và riêng lẻ tại một địa phương hoặc thậm chí của cả một quốc gia để làm gia tăng sự phụ thuộc và làm suy yếu khả năng thương lượng của địa phương hay quốc gia đó, chiến lược hiện đang được áp dụng trong các hệ thống toàn cầu; và kích động xung đột là ủng hộ, cả về vật chất lẫn tinh thần, các cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhằm làm sâu sắc thêm các xu hướng ly khai và tạo ra các vết thương không thể hàn gắn.

Ai sẽ là nạn nhân tiếp theo sau Venezuela?

Washington rõ ràng đã triển khai chiến lược “Balkan hóa” tại Venezuela. Đầu tiên, họ âm mưu tạo ra một “vùng giải phóng” tại biên giới phía Nam thuộc bang Táchira, tiếp giáp bang Bắc Santander của Colombia, với hành động vận chuyển “viện trợ nhân đạo” do Mỹ cố tình thực hiện chứ không phải theo yêu cầu của Venezuela, một hình thức ngụy trang cho một cuộc xâm lược cục bộ mà trong đó, những người Colombia đóng vai trò then chốt.

Hiện tại, họ đang tạo dư luận và những “điều kiện khách quan” để biến bang Zulia thành một địa phương không có chính quyền, một vùng đất không có luật pháp và “không của ai cả”, từ đó tạo cớ cho một cuộc can thiệp quân sự đa quốc gia “vì mục đích nhân đạo”, để một khi giành được quyền kiểm soát Zulia sẽ tạo ra một nhà nước Venezuela tự do và lập ra một chính phủ bù nhìn thân Mỹ.

Những ai chỉ đạo mô hình chiến tranh đa hình thái và đa chiều chống lại Venezuela hiện tại từ Washington hẳn phải cho rằng việc chiếm đóng quân sự và chuyển “hàng viện trợ” cho riêng bang Zulia sẽ khả thi hơn nhiều so với việc thực hiện trên toàn lãnh thổ quốc gia Nam Mỹ này. Zulia là một vùng có trữ lượng dầu khí lớn, đồng thời có hoạt động chăn nuôi và tiếp giáp với Colombia, những điều kiện khiến địa phương này mang tính chiến lược về mặt địa chính trị.

Giờ đây Mỹ đang cố gắng chia tách 2 bang biên giới là Táchira và/hoặc Zulia khỏi Venezuela để lập ra một “nền cộng hòa” bù nhìn mới. Tại Mỹ Latinh, người ta không thể quên được việc Panama cũng từng là một phần lãnh thổ Colombia trước khi bị Mỹ chia tách vào năm 1903. Luận thuyết “Balkan hóa”, cho dù dưới bất kỳ danh nghĩa nào, đã, đang và sẽ luôn nằm trong tâm trí của những kẻ thống trị ở Mỹ.

Những tuyên bố vừa qua của Tổng thống Mỹ Donald Trump, về danh nghĩa nhằm vào người đồng cấp Colombia Iván Duque, có thể hiểu là một sự bảo đảm về việc đưa Colombia trở lại thời kỳ nội chiến, tại thời điểm tỷ lệ ủng hộ chính phủ bảo thủ cực đoan đang rơi tự do với những xung đột nội bộ liên miên một cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội ngày càng lan rộng, tình trạng mất niềm tin của dân chúng vào giới cầm quyền và thất bại nặng nề của Nghị viện trong nỗ lực thúc đẩy những nội dung thiết yếu nhất của thỏa thuận hòa bình với nhóm du kích Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia (FARC, hiện đang giải giáp và trở thành chính đảng Lực lượng lựa chọn thay thế cách mạng của chung) – đặc biệt là về cơ chế pháp lý trong giai đoạn chuyển giao quyền lực.

Ông Trump “chỉ trích” người đồng nghiệp Colombia về việc không ngăn chặn được dòng ma túy vào Mỹ từ quốc gia Nam Mỹ này khi nói rằng “thật không may là hoạt động buôn bán ma túy đã tăng 50% kể từ khi ông Duque lên cầm quyền”, và lên án Colombia cùng với Guatemala, El Salvador và Honduras là những nước Mỹ Latinh đã gửi những tên tội phạm và băng đẳng” tới Mỹ. Lời đáp trả của Duque khá yếu ớt: “Những nước có tỷ lệ tiêu thụ ma túy cao cần phải đối mặt với hiện tượng đó; trong khi đó chúng tôi đang làm những việc cần thiết tại Colombia để đấu tranh chống lại các băng đảng và nạn trồng cây coca trái phép. Trong khi chúng tôi thực hiện nhiệm vụ này, các nước khác cũng cần phải đối phó với nạn buôn bán các tiền chất”.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng đây là một sự công kích của Trump nhằm vào đồng minh Duque. Trái lại, những tuyên bố này tạo ra công cụ để vị tổng thống hữu khuynh của Colombia gây áp lực lên công luận, các tổ chức chính trị và thể chế trong nước, đặc biệt Tòa án Hiến pháp, tái sử dụng các biện pháp mạnh tay chống lại người nông dân và bác bỏ thỏa thuận hòa bình, vì nếu không có các biện pháp cực đoan này thì Kế hoạch Colombia mà Washington tài trợ cho Bogota không có lý do để tồn tại.

Đó là một kế hoạch nhằm vào hai mục tiêu: một mặt để quốc gia Nam Mỹ này không phải từ bỏ hoạt động khai khoáng cùng kiệt, độc canh cây cọ châu Phi và thậm chí là chính hoạt động trồng cây coca; mặt khác để tiếp tục thu lợi từ chiến tranh, và rõ ràng là tiếp tục “Balkan hóa” hay tạo ra tình trạng vô chính phủ ở nhiều vùng rộng lớn của quốc gia Nam Mỹ này. Mỹ rõ ràng không muốn Colombia thoát khỏi vai trò là nguồn cung cấp cocaine và ma túy tổng hợp rẻ mạt cho tầng lớp thượng lưu, trung lưu và các khu ổ chuột tại các đô thị của Mỹ, vì đây vẫn là một công cụ kiểm soát xã hội hữu hiệu.

Hiện có 2 mô hình đang cạnh tranh nhau trong giới cầm quyền tại Colombia: Một bên là một bộ phận giới tư sản, do cựu Tổng thống Juan Manuel Santos cầm đầu, theo đuổi dự án ổn định kinh tế và đa dạng hóa sản xuất: một bên là phái Uribe, do cựu Tổng thống cực hữu Álvaro Uribe sáng lập, đặt cược vào việc quay trở lại tình trạng nội chiến, từng mang lại cho họ nhiều lợi lộc trong suốt 6 thập kỷ qua.

Phái Uribe, hiện do Duque thừa kế, tìm cách khơi lại xung đột xã hội và tình trạng chiến tranh: Vượt qua được cuộc xung đột nghĩa là xóa bỏ được tình trạng phân cực chính trị – xã hội ở nước này, dẫn tới việc chấm dứt sự tồn tại của phái Uribe luôn theo đuổi tư tưởng hữu khuynh, cực đoan, cũng như những ưu đãi và sự bảo hộ của họ đối với những kẻ buôn lậu ma túy, sĩ quan quân đội tha hóa biến chất và những nhóm bán quân sự cực hữu.

Duque muốn sử dụng trở lại thuốc diệt cỏ glyphosate phun từ máy bay để diệt trừ các cánh đồng coca, cùng các biện pháp cưỡng chế khác, để bỏ qua các sáng kiến đã thỏa thuận với giới nông dân và các dân tộc thiểu số bản địa.

Cựu Tổng thống Juan Manuel Santos từng chỉ ra rằng Colombia đã mất 40 năm cố gắng vô ích trong việc xóa bỏ cây coca “bởi chúng ta chưa bao giờ tiếp cận được với người nông dân để trao cho họ những lựa chọn khả thi khác. Ngày nay với nền hòa bình, chúng ta có thể làm được điều đó, và do vậy tôi hi vọng rằng cách tiếp cận này không bị điều chỉnh”. Ông nói thêm: “Phải trao cho những người dân trồng coca những lựa chọn hợp pháp và khả thi chứ không thể đầu độc (bằng việc sử dụng glyphosate) hay tống họ vào tù”.

Tại Brazil – quốc gia rộng lớn và đông dân nhất Mỹ Latinh, tình trạng cũng đáng buồn không kém với những tuyên bố giật gân và cực đoan của Tổng thống Jair Bolsonaro, người mới đây đã đưa ra giả thuyết về một cuộc xâm lược vào Venezuela, trong đó Brazilia và Washington sẽ làm việc cùng nhau để chia rẽ và gây rạn nứt trong Quân đội Venezuela nhằm lật đổ Chính quyền Nicolás Maduro. Vị tổng thống này phát biểu rằng: “Brazil có thể làm gì? Chúng ta hãy giả sử rằng có một cuộc xâm lược quân sự của Mỹ vào Venezuela… Chúngta sẽ phải lôi kéo Quân đội Venezuela, không còn con đường nào khác, bởi người quyết định liệu đất nước sống trong một nền dân chủ hay một nền độc tài chính là các lực lượng vũ trang… Quyết định đó sẽ là của tôi, nhưng tôi sẽ lắng nghe Hội đồng Quốc phòng và sau đó là Nghị viện Brazil trước khi đưa ra quyết định”. Thế nhưng ngay cả khi giới tướng lĩnh trong chính nội các của ông ngăn cản việc “giao nộp” căn cứ không gian chiến lược Alcántara cho Mỹ, thì vị nguyên thủ cực hữu này vẫn đưa ra cam kết trên trong chuyến công du Washington, chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của ông trên cương vị tổng thống, và sắp tới rất có thể tới lượt các tập đoàn nhà nước và khu rừng Amazon khổng lồ cũng sẽ rơi vào vòng kiểm soát bằng lợi ích của Mỹ.

Những kế hoạch và chiến lược theo luận thuyết “Balkan hóa” luôn nằm trong số các lựa chọn của chính sách chiến tranh đa hình thái và đa chiều đang được Mỹ thúc đẩy tại Mỹ Latinh, nhằm biến khu vực này trở lại thành “sân sau” của mình. Trong bối cảnh đó, các cuộc tổng tuyển cử sắp tới tại Uruguay, Argentina và Bolivia có vai trò then chốt không chỉ đối với mỗi quốc gia này, mà còn cả với hướng đi của toàn bộ khu vực.

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần đầu


Aram Aharonian

Chiến lược không đổi của các chính phủ kế tiếp nhau tại Mỹ là chia cắt vĩnh viễn lãnh thổ Mỹ Latinh-Caribe, bao gồm trong đó những nỗ lực hiện đang khá thành công của họ trong việc phá hoại các tiến trình hội nhập tự chủ của khu vực như Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur), Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (Unasur) và Cộng đồng các nước Mỹ Latinh và Caribe (Celac).

Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh là một đặc trưng của cuộc tranh giành địa chính trị hiện tại và ngày càng dễ nhận ra tại tất cả các không gian hội nhập. Washington đang tìm cách làm thay đổi logic liên kết khu vực nhằm tạo ra một trật tự địa chính trị mới tại Mỹ Latinh, một bước xoay trục mang tính quyết định trong vài năm tới khi người ta thấy rõ hơn những chuyển biến của khu vực này không chỉ trong nội tại mà còn cả trong quan hệ đối ngoại. Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh thể hiện ở việc Mỹ đang sử dụng mọi loại “vũ khí” của hình thái chiến tranh đa hình thái và đa chiều (còn được gọi là chiến tranh thế hệ thứ 5), từ đe dọa can thiệp vũ trang, hay chiến tranh tâm lý thường trực qua các phương tiện thông tin đại chúng đa quốc gia và các mạng xã hội, đến gây sức và đặt điều kiện đối với việc vay mượn tín dụng của các tổ chức đa phương, luôn theo sát những mong muốn chính trị của Washington như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới hay Ngân hàng phát triển liên Mỹ.

Một ví dụ điển hình cho xu hướng này là việc cựu Ngoại trưởng Ecuador Eduardo Patiño mới đây tố cáo rằng đương kim Tổng thống nước này Lenín Moreno đã cam kết tuân thủ các điều kiện mà Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đặt ra: thứ nhất, đứng vào hàng ngũ các nước tấn công Venezuela; thứ hai, đoạn tuyệt với các chương trình hội nhập nội khối Mỹ Latinh; và thứ ba, giao nộp nhà sáng lập Wikileaks Julian Assange. Tất cả chỉ để “đổi lấy một khoản tín dụng nghèo nàn của IMF”; trong khi đó, bước đi tiếp theo rất có thể là việc tái kích hoạt căn cứ quân sự cũ của Mỹ tại Manta.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý trong trường hợp của Venezuela hướng tới việc tạo ra những sắc thái chính trị không chỉ đối lập và phân cực cao độ, mà còn loại trừ lẫn nhau, xét từ cả khía cạnh chính trị lẫn khía cạnh xã hội. Đây cũng là thông lệ đang diễn ra tại một số nước trong khu vực.

Những kế hoạch “Balkan hóa” trong quá khứ

Trong thế kỷ trước, giới phân tích theo thuyết âm mưu từng đề cập nhiều tới kế hoạch Andinia, nhằm chia cắt vùng Patagonia (vùng đất cực Nam châu Mỹ) của Chile và Argentina để lập ra một nhà nước Do Thái. Kế hoạch này bao gồm cả việc bạo hành và quấy rối liên tục cộng đồng thổ dân bản địa Mapuche từ cả 2 phía biên giới, cũng như việc chia cắt Brazil thành nhiều nước để xóa sổ siêu cường duy nhất trong khu vực, trong khi đó Colombia, Venezuela, Ecuador và Bolivia cũng sẽ mất một phần lãnh thổ của mình hoặc bị chia cắt thành những nước nhỏ.

Một số nhà phân tích chỉ ra rằng Mỹ không quan tâm lắm tới dầu thô của Venezuela, và nguồn tài nguyên khổng lồ này chỉ là một trong những phương tiện để Washington đạt được mục tiêu thực sự của mình là chia cắt thế giới thành 2 khối lớn: Một bên là tập hợp của các quốc gia toàn vẹn, trật tự và ngăn nắp, và một bên là thế giới “vô pháp vô thiên” với những quốc gia “què cụt”, nơi các vụ xung đột và tình trạng hỗn loạn diễn ra hàng ngày. Để đạt được điều đó, Mỹ phải phá hủy các thể chế nhà nước – quốc gia và các phong trào vận động củng cố tính tự chủ của các bộ máy này.

Chiến lược chính là “Balkan hóa”, hay chia tách có hệ thống một nhà nước – quốc gia thành những quốc gia nhỏ hơn thù địch lẫn nhau, khái niệm bắt nguồn từ những cuộc chiến tranh trên bán đảo Balkan, nhất là từ cuộc tàn phá hủy diệt Liên bang Nam Tư, kèm theo những cuộc thảm sát kinh hoàng, trong những năm 1990 dưới bàn tay của Mỹ và Liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ý tưởng chủ đạo của chiến lược này là “tô đậm những khác biệt ở những nơi đã có chúng và tạo ra những khác biệt ở những nơi chưa có”. Rõ ràng, chỉ có thể khuyến khích tư tưởng ly khai khi có sự can thiệp của các lực lượng ngoại bang, sự đồng lõa của giới cầm quyền mại bản và những thế lực cơ hội gặp thời tại các khu vực này.

Lịch sử đã chứng minh rằng từ những năm 1860, khi Tổng thống Bolivia lúc đó Mariano Malgarejo trục xuất đại sứ Anh, Nữ hoàng Victoria đã ra sắc lệnh “Bolivia không tồn tại” và cho xuất bản bản đồ Nam Mỹ mà trong đó, lãnh thổ Bolivia bị chia cắt và sáp nhập vào các nước láng giềng. Đây không chỉ là một hành động biểu trưng nhất thời vì quốc gia Nam Mỹ này sau đó đã phải gánh chịu tới 3 cuộc chiến tranh và mất tới hơn 50% lãnh thổ của mình vào tay Brazil, Paraguay và Chile.

Việc xóa sổ Bolivia được chính phủ nhắc lại một lần nữa trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Hernán Siles Suazo, khi tạp chí Time của Mỹ đề xuất việc “Ba Lan hóa” hay phân chia lãnh thổ Bolivia cho các nước láng giềng, với lời biện hộ rằng quốc gia này thường xuyên ở trong tình trạng hỗn loạn và nền kinh tế đã bị sụp đổ do việc cải cách nông nghiệp và quốc hữu hóa các mỏ khoáng sản, buộc phải nhận viện trợ quốc tế để tồn tại, và do đó không nên duy trì nước này như một quốc gia độc lập khi điều này “gây nguy hại cho chính người dân Bolivia”.

Luận điểm tương tự cũng từng được nhà độc tài quân sự Chile Augusto Pinochet sử dụng khi khẳng định Bolivia thiếu khả năng để trở thành một quốc gia và giải pháp tốt nhất là phân chia lãnh thổ của họ được Chile, Peru, Brazil, Argentina, giống như Hiệp ước Hitler – Stalin phân chia Ba Lan cho Đức và Liên Xô năm 1940.

Những kế hoạch này được lập lại trong những tình thế khác nhau bởi các chính trị gia theo tư tưởng tự do mới như Tổng thống diệt chủng Gonzalo Sánchez de Lozada, người cũng từng khẳng định Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại. Trong những năm chủ nghĩa tự do mới chiếm thế thượng phong và tình trạng chảy máu tài nguyên diễn ra thường nhật, luận điểm dối trá này được các chính trị gia lặp lại nhiều lần tới mức người ta tin rằng việc Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại là sự thật.

Năm 2008, một kế hoạch theo định hướng “Balkan hóa” đã dẫn tới cuộc đối đầu giữa chính phủ quốc gia với chủ trương bảo vệ các dân tộc bản địa yếm thế rất được lòng dân của Tổng thống Evo Morales và các nhà cầm quyền thủ cựu tại các địa phương giàu có trong khu vực địa lý được gọi là Trăng Khuyết (gồm các bang Santa Cruz, Tarija, Beni và Pando, cùng một phần Chuquisaca), giữa khu vực rừng núi Andes giàu khoáng sản ở miền Tây và các khu vực miền Đông, nơi tập trung giới địa chủ, doanh nhân lớn và tư sản thủ cựu, nắm giữ phần lớn các mỏ khí đốt và sản lượng nông nghiệp của đất nước. Tuy nhiên, kế hoạch chia rẽ này sau đó đã thất bại.

Trong trường hợp của Colombia, từng có âm mưu lập ra một “liên bang Antioquia”, hay nói nôm na là tách một trong những bang giàu có nhất ra thành một nhà nước tự chủ, độc lập, với Chính quyền Bogota. Nhưng định hướng “Balkan hóa” thực tế đã bắt đầu từ thế kỷ XIX, với việc tách Đại Colombia thành 2 quốc gia kình địch là Colombia và Venezuela, và sau đó vào năm 1903, Mỹ chia cắt Panama khỏi Colombia để nắm giữ kênh đào huyết mạch nối liền Thái Bình Dương với biển Caribe (thuộc Đại Tây Dương).

Về phần mình, Ecuador cũng chiếm mất phần lớn các tỉnh ven biển và Guayaquil – bang giàu có nhất của “đất nước xích đạo” – cũng hơn một lần suýt bị tách thành một quốc gia riêng.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần V


Những gì làm cho Nhật Bản cũng như các quốc gia Đông Nam Á phải lo lắng là sự cố tình lừa dối của Trung Quốc (những thông báo của Giang Trạch Dân chỉ là những bảo đảm có thẩm quyền nhất và mới nhất cho ý đồ hòa bình) và dường như quyết tâm của Trung Quốc nắm quyền kiểm soát Biển Nam Trung Hoa bất chấp dư luận trong khu vực không hề thay đổi. Mặc dù các tham vọng của Trung Quốc tập trung vào các đảo nhỏ và các bãi đá ngầm, họ cũng đòi hỏi quyền – mà cho tới bây giờ, họ vẫn nói là họ sẽ không áp dụng – “điều chỉnh” hoạt động của tàu bè qua lại trên vùng biển đó. Tất nhiên, đối với Nhật Bản, việc Trung Quốc áp dụng “quyền” đó buộc Nhật Bản phải có sự điều chỉnh các con đường buôn bán quan trọng nhất của mình. Nhưng viễn cảnh biển Nam Trung Hoa bị biến thành ao nhà của Trung Quốc đã có những ý nghĩa nghiêm trọng đối với đầu tư của Nhật Bản. Một lượng tài sản khổng lồ của Nhật Bản được đầu tư ở các quốc gia Đông Nam Á ở giáp ranh con đường hàng hải mà chẳng bao lâu nữa có thể sẽ bị Trung Quốc kiểm soát. Ngược lại, Nhật Bản thậm chí không có quyền hợp hiến để cử tàu chiến tới Biển Nam Trung Hoa bảo vệ cho đầu tư của họ tại đó. Thay cho điều đó, họ phải phụ thuộc vào ý muốn giúp đỡ của Mỹ, cử các lực lượng quân đội Mỹ tới bảo vệ cho các công ty Sony và NEC. Như một quan sát viên đã nhận xét, trước đây, chưa bao giờ có một quốc gia mạnh và quan trọng nào lại cho phép những lượng tài sản lớn của mình lưu thông ở nước ngoài mà không có khả năng bảo vệ.

Cũng trong năm 1995, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đẩy mạnh các cuộc tập trận ở Triều Tiên, nơi họ đã thể hiện thái độ chống Nhật rất rõ ràng. Trong khi tình cảm chống Nhật đang biến mất khỏi Đông Nam Á, thì nó vẫn dữ dội trong người Triều Tiên. Cảm nhận của họ về cuộc xâm chiếm tàn bạo và kéo dài của Nhật Bản trên đất nước họ, từ 1895 tới 1945, vẫn còn sâu đậm, thậm chí ở cả những người được sinh ra sau Thế chiến II. Trong một cuộc viếng thăm cấp nhà nước có tính lịch sử tới Hàn Quốc tháng 11 năm 1995, cứ có cơ hội là Giang Trạch Dân lại kêu gọi thái độ thù địch của người dân Triều Tiên đối với Nhật Bản. Gợi lại ký ức về chế độ thuộc địa Nhật Bản ở Triều Tiên, Giang Trạch Dân đã cùng Tổng thống Hàn Quốc lên án lịch sử cuộc xâm lược của Nhật Bản, và Giang Trạch Dân còn gợi ý thêm rằng bọn “quân phiệt” Nhật Bản vẫn là một mối đe dọa cho sự tồn tại của cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên.

Đối với phương Tây, thái độ của Giang Trạch Dân ở Triều Tiên dường như là biểu hiện lành mạnh thiện ý của Trung Quốc nhằm mở rộng phạm vi các mối quan hệ tốt đẹp của mình. Tuy nhiên, thực ra, thái độ của Trung Quốc ở Triều Tiên, vốn dựa trên giả thiết rằng cuối cùng chế độ Bình Nhưỡng sẽ sụp đổ dần, lại kích thích cơn ác mộng của Nhật Bản: một nước Triều Tiên tái thống nhất, được trang bị vũ khí hạt nhân, nghiêng về Trung Quốc và chống lại Nhật Bản. “Địa chính trị học Nhật Bản đã không thay đổi qua nhiều thế kỷ”, Hisahiko Okazaki, một nhà phân tích chiến lược Nhật Bản, đã nói: “Tầm quan trọng chiến lược của Bán đảo Triều Tiên vẫn tồn tại như nó đã luôn luôn tồn tại”. Nếu Trung Quốc có ảnh hưởng quyết định ở một nước Triều Tiên tái thống nhất và được trang bị vũ khí hạt nhân, nó sẽ có tác động to lớn đối với Nhật Bản, trên thực tế là buộc Nhật Bản phải tìm kiếm sự bảo vệ của Trung Quốc để chống lại Triều Tiên.

Phương án giải quyết của Mỹ cho vấn đề này là đề nghị các cuộc đàm phán bốn bên giữa hai nước Triều Tiên cũng như Mỹ và Trung Quốc. Cho đến nay lời đề nghị này chưa được thực hiện ở bất cứ đâu. Trong lúc này, có những báo cáo liên tục về việc Trung Quốc đang bí mật tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc giữa Bắc và Nam Triều Tiên, xúc tiến chương trình nghị sự của mình với tư cách là một đấu thủ bên ngoài nhưng có tính quyết định đối với bán đảo. Bất chấp các tài sản quân sự của mình trên bán đảo, dường như Mỹ không có đối sách nào, và điều này đã làm Nhật Bản càng lo ngại hơn bao giờ hết.

Đồng thời, theo nhận định của bất cứ nhà chiến lược nào, mối quan hệ thân thiết đang tăng lên giữa Trung Quốc với Nga (trong khi mối quan hệ đó không nhằm vào Nhật Bản một cách rõ rệt), lại đi ngược lại các lợi ích của Nhật Bản. Nó làm lệch thêm cán cân lực lượng ở Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc và chống lại các lợi ích của Nhật Bản và Mỹ. Mặc dù phần nào do sự trùng hợp ngẫu nhiên, và không phải do quan hệ nhân quả, mối giao kết thân thiện Nga – Trung dường như đang đi song song gần gũi với mối giao kết thân thiết Nhật – Mỹ. Quả vậy, năm 1996, Tổng thống Nga Boris Yeltsin và Giang Trạch Dân đã tuyên bố một hiệp ước chiến lược Nga – Trung và trong cùng tháng Tư đó, Clinton và Hashimoto đã công bố tuyên bố chung của họ ở Tokyo.

Đối với Nhật Bản, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan được xem như đi ngược lại bối cảnh này, Đài Loan có tầm quan trọng quyết định đối với an ninh Nhật Bản. Thực ra nó đã góp phần bảo vệ sườn phía Nam của Nhật Bản. Từ cuộc chiến tranh Triều Tiên, các mối quan hệ khăng khít với Mỹ và các chính sách ủng hộ buôn bán, ủng hộ phương Tây đã đưa lại cho Đài Loan một chỗ đứng đáng khích lệ. Một điều hầu như bao giờ cũng bị bỏ quên hoàn toàn là Đài Loan còn bảo vệ các cửa ngõ phía Đông và Biển Nam Trung Hoa – Đài Loan chia sẻ với Trung Quốc eo biển Đài Loan, và chia sẻ với Philippines đường lạch Bashi của eo biển Luzon. Sự quan tâm ít ỏi đối với thực tế chiến lược quan trọng này là do cam kết của Đài Loan về thương mại và tự do đi lại trên đường biển – điều đó có nghĩa là sẽ không bao giờ có chuyện Đài Loan phong tỏa các tuyến đường hàng hải đó. Nhưng viễn cảnh về quyền kiểm soát này của Trung Quốc đối với Đài Loan, một viễn cảnh mà chắc chắn người ta phải nghĩ tới do cuộc đụng độ trên eo biển Đài Loan vào năm 1996, đã buộc các nhà chiến lược Nhật Bản phải đánh giá lại từ đầu tầm quan trọng chiến lược vô cùng to lớn của Đài Loan đối với Nhật Bản.

Trong bất cứ trường hợp nào, các bài phát biểu và các sự kiện khác nhau này, diễn ra trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, đã dẫn tới một số cam kết Nhật – Mỹ. Đặt cạnh nhau, các cam kết đó thể hiện một sự gia tăng đáng quan tâm về hợp tác quân sự giữa hai nước:

+ Tháng Hai năm 1996, Mỹ và Nhật Bản đã ký kết một biên bản ghi nhớ liên quan đến việc chia sẻ các thông tin chi tiết về phòng phủ bằng tên lửa điều khiển từ xa. Tháng Tư năm 1995, Cục phòng vệ Nhật Bản đã thành lập Cơ quan nghiên cứu phòng vệ bằng tên lửa đạn đạo, nhiệm vụ của nó là quyết định có triển khai hay không triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD.

+ Tháng Tư năm 1996 đã có tuyên bố an ninh chung.

+ Tháng Năm năm 1996 chính phủ Nhật Bản đã xem xét việc xây dựng các đường lối chỉ đạo mới cho Nhật Bản “để hành động phối hợp với Washington trong việc giải quyết tất cả các trường hợp khẩn cấp… xảy ra ở trong khu vực xung quanh”. Đây là một bước phát triển của tuyên bố tháng Tư. Một tờ báo đã đưa tin rằng Nhật Bản đang tìm cách nói thích hợp để tìm lý do chính đáng cho việc Nhật Bản đảm nhận vai trò quân sự tích cực hơn nữa bên cạnh Mỹ nếu chiến tranh xảy ra.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần IV


Một hiệp ước như vậy sẽ ủng hộ mạnh mẽ cho ưu thế của Trung Quốc ở châu Á. Quân đội Mỹ đóng tại Nhật Bản sẽ chỉ nhằm ngăn ngừa việc tái vũ trang của Nhật Bản, không phải để sử dụng Nhật Bản như một căn cứ của các hoạt động tấn công. Về quân sự Nga sẽ vẫn còn quá yếu để thách thức ưu thế của Trung Quốc. Thậm chí nhiều người Nhật sẽ bị quyến rũ bởi ý đồ của Trung Quốc, vì nó hứa hẹn một nền quốc phòng ít tốn kém. Mỹ cũng sẽ có quan điểm vững chắc ủng hộ điều đó, đặc biệt nếu Mỹ, sau khi mất đi các căn cứ của mình ở Philippines, cũng sẽ sẵn sàng rời khỏi Triều Tiên. Người Mỹ sẽ có một cách thức để cắt giảm chi phí quân sự, chấm dứt vai trò sen đầm quốc tế của Mỹ, một vai trò dù sao cũng làm cho nhiều người Mỹ cảm thấy bất tiện. Rất có thể sẽ có “các chiến dịch tấn công hòa bình” của Trung Quốc khá giống với “phong trào hòa bình” của Liên Xô trong những năm 1970 và 1980. Nhưng sự thật là nếu một ngày nào đó Bắc Kinh đề cập đến một thỏa thuận như vậy với Mỹ, thì tức là họ yêu cầu Mỹ chấp nhận ưu thế ở châu Á của Trung Quốc và đặt Nhật Bản trong phạm vi bá quyền của Trung Quốc như một chuyện đã rồi.

Trong khi Trung Quốc từ lâu đã coi Nhật Bản là kẻ thù chiến lược thì Nhật Bản cho đến gần đây vẫn tương đối lơi là về Trung Quốc. Cuối năm 1993, một cuốn sách quan trọng về các vấn đề an ninh của Nhật Bản hầu như đã không đề cập đến Trung Quốc. Vài năm trước đó, thường thường những người Nhật vốn bi quan cũng đã bắt đầu tin những thông cáo báo chí của họ coi Nhật Bản là quốc gia số một (Number 1) (tiêu đề một cuốn sách của một học giả người Mỹ trở thành cuốn sách best seller ở Nhật Bản). Người Nhật ngày càng thêm tin rằng đối với Nhật Bản, tầm quan trọng của Mỹ đang giảm đi và Nhật Bản nên dốc toàn lực để trở thành nước lãnh đạo châu Á.

Vào đầu những năm 1990, bất chấp những dấu hiệu cảnh báo như là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và bất động sản ở Nhật Bản, sức mạnh của Nhật Bản dường như vẫn là nỗi ám ảnh kinh hoàng trên khắp châu Á. Người ta cho là sắp tới sẽ ra đời khối đồng Yen, một hiệp hội kinh tế dưới sự lãnh đạo kinh tế vững chắc của Nhật Bản. Ở Tokyo, người ta nghe một ẩn dụ dành cho các nền kinh tế châu Á là “một đàn sếu bay”. Trong khi các nước châu Á đang ở các giai đoạn phát triển kinh tế và kỹ thuật khác nhau, thì tất cả đang bay theo kế hoạch bay và theo sự dẫn đường của Nhật Bản. Nhật Bản ở đầu đội hình chữ V. Ngay sau nó là Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore, các nhà máy của các nước này đã chế tạo những sản phẩm mà Nhật Bản chỉ sản xuất sớm hơn một thập kỷ. Rồi đến Malaysia và Indonesia, cùng với các nước như Myanmar và Việt Nam ở sau.

Lúc đầu, người Nhật đã coi Trung Quốc là một con sếu rất lớn nhưng chậm chạp. Tuy nhiên, thật đáng khen là các nhà lãnh đạo chính trị và kinh doanh Nhật Bản đã nhận ra rằng ở thời kỳ sau cuộc khủng hoảng Thiên An Môn, Trung Quốc đang xuất hiện với tư cách là một cường quốc kinh tế và quân sự cần phải lưu tâm đến. Trong thời gian đó, người Nhật hầu như đơn độc, canh bạc Trung Quốc ở Mỹ và các nước phương Tây khác đang đầu cơ trên sự suy sụp của chế độ. Nhưng Nhật Bản đã bắt đầu một nỗ lực quan trọng vào đầu những năm 1990 nhằm cải thiện các mối quan hệ với Trung Quốc. Trong khi khu vực kinh tế tư nhân của Nhật Bản tiếp tục chuyển chậm chạp sang các lĩnh vực đầu tư và buôn bán, thì chính phủ Nhật Bản đã đẩy mạnh chương trình viện trợ nước ngoài và giúp đỡ kinh tế cho Trung Quốc. Vào giữa những năm 1990, viện trợ trọn gói của Nhật Bản cho Trung Quốc đã đạt tổng trị giá gần 5,5 tỷ USD dưới hình thức các khoản vay mềm và các khảon trợ cấp không hoàn lại. Chính phủ Nhật Bản đã cử Hoàng đế và Hoàng hậu của mình tới Trung Quốc trong một chuyến viếng thăm cấp Hoàng gia, một biểu tượng hùng hồn cho sự tôn trọng của Nhật Bản. Tokyo cũng lên tiếng tại các diễn đàn quốc tế nhằm tìm ra phương pháp hòa giải với Bắc Kinh trong nỗ lực chung nhằm làm cho Trung Quốc hội nhập hơn nữa với cộng đồng thế giới. Cuối cùng, các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã đưa ra lời xin lỗi Trung Quốc và các quốc gia khác vì những hành động của Nhật Bản trong thế chiến II.

Nhưng chúng ta đã thấy, những nỗ lực của Nhật Bản nhằm lập lại mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc đã không thành công. Trung Quốc chấp nhận viện trợ và đầu tư của Nhật Bản, nhưng đã khuyến khích tình cảm chống Nhật của nhân dân trong và ngoài nước. Đồng thời, việc Chính phủ Nhật Bản tác động lên các lực lượng thị trường và điều chỉnh quá mức thị trường trong nước đã dồn gánh nặng lên nền kinh tế Nhật Bản vốn đã gặp những vấn đề có tính cơ cấu rất cơ bản và nghiêm trọng. Năm 1996, rất nhiều các nhà kinh tế học của cả Nhật Bản và nước ngoài đã đồng ý rằng các vấn đề về kinh tế của Nhật Bản là lâu dài và có tính kinh niên. Theo các tiêu chuẩn đánh giá của thế giới, Nhật Bản vẫn còn mạnh và phồn vinh, nhưng tỷ lệ tăng trưởng – dẫn đến bước nhảy vọt kỳ diệu của Nhật Bản từ một nền kinh tế đổ nát năm 1945 tới một nước cạnh tranh giành vị trị nền kinh tế số một của thế giới – đã thuộc về lịch sử. Quả vậy, chắc chắn rằng trong một vài năm tới, Trung Quốc sẽ vượt Nhật Bản về tổng sản lượng kinh tế, đẩy Nhật Bản xuống vị trí thứ ba trên thế giới.

Tâm trạng bấp bênh ám ảnh đất nước Nhật vào giữa những năm 90 đã được phản ánh rất đúng qua kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến do tờ báo Asahi Shimbun  tiến hành vào tháng Tám năm 1994. Với câu hỏi quốc gia nào sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đối với châu Á trong thế kỷ 21 thì có 54% người Nhật đã trả lời là Trung Quốc, 30% là Mỹ, và chỉ có 16% trả lời là Nhật Bản.

Tâm trạng bi quan và lo âu này, không nghi ngờ gì nữa, đã góp phần vào quyết định nhằm tìm kiếm các mối quan hệ chiến lược thân thiết hơn với Mỹ. Một yếu tố khác là Trung Quốc vẫn tiếp tục một loạt chiến dịch tuyên truyền chống Nhật Bản. Nhưng cuối cùng điều đã làm Nhật Bản tin rằng cần phải nghiêng về phía Mỹ là một loạt hành động quân sự và chính trị hiếu chiến của Trung Quốc đã diễn ra trong hơn một năm và đe dọa những lợi ích an ninh cơ bản của Nhật Bản.

Nhật Bản đặc biệt lo lắng vì các hành động hiếu chiến của Trung Quốc ở vùng biển Đông và Nam Trung Hoa đe dọa các con đường kinh tế huyết mạch của Nhật Bản. Hầu hết các nguyên liệu và năng lượng của Nhật Bản là chuyển qua Biển Nam Trung Hoa, mà ở đó trong những năm 1970, Trung Quốc bắt đầu xâm chiếm các hòn đảo thuộc về một nước Việt Nam yếu hơn nhiều. Những đòi hỏi khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ biển Nam Trung Hoa cũng đã báo động cho các nhà nước Đông Nam Á như Philippines và Malaysia là những nước cũng đã đòi hỏi và chiếm giữ một vài hòn đảo nhỏ từ lâu. Những nước khác, đặc biệt là Indonesia và Singapore, đã không có các cuộc tranh chấp công khai nào với Trung Quốc và biển Nam Trung Hoa nhưng đã có sự quan tâm cấp thiết đến việc ngăn chặn một cuộc xung đột.

Tháng 11 năm 1994, Giang Trạch Dân đã thăm một vài nước Đông Nam Á để chứng tỏ ý đồ hòa bình của Trung Quốc. Đề cập tới quần đảo Trường Sa (Spratly) một quần đảo gần với Việt Nam, Malaysia và Philippines hơn nhiều so với Trung Quốc, ông ta đã nói tại ột cuộc họp báo ở Singapore rằng: “của Trung Quốc là rõ ràng và không thay đổi. Chúng tôi ủng hộ cách giải quyết các cuộc tranh chấp có liên quan thông qua các cuộc đàm phán song phương. Tất cả những lời phát biểu xuất phát từ định đề “Trung Quốc sẽ tạo ra một mối đe dọa” là không có cơ sở”.

Tuy nhiên, gần như đúng vào khi Giang Trạch Dân tuyên bố cam kết của Trung Quốc giải quyết một cách hòa bình cuộc tranh chấp về các bãi đá ngầm và ác đảo nhỏ trên biển, thì hải quân Trung Quốc chuẩn bị xâm chiếm một trong số các đảo này. Philippines đã được coi như là “chủ nhân” của đảo Mischief, cách phía Tây đảo Palawan của Philippines khoảng 135 dặm, nhưng các lực lượng vũ trang được trang bị thô sơ và ít ỏi của họ đã không bao giờ làm được việc tuần tra đầy đủ lãnh thổ Philippines (Mỹ đã từ bỏ công việc này khi các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippines đã bị đóng cửa). Người Trung Quốc đã xây dựng xong một cơ sở trên đảo Mischief khi một ngư dân Philippines tình cờ khám phá ra rằng người Trung Quốc đã ở đó vào tháng Giêng năm 1995. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố rằng những người chiếm giữ trên đảo chỉ là những ngư dân, nhưng chẳng ai tin điều đó cả. Những gì mà Bắc Kinh gọi là “các cơ sở đơn giản của ngư dân” tin điều đó cả. Những gì mà Bắc Kinh gọi là “các cơ sở đơn giản của ngư dân” gồm có các kho nhiên liệu, đĩa vệ tinh và thiết bị radar. Mọi người dễ dàng hiểu rằng việc Trung Quốc chiếm giữ đảo Mischief là một hoạt động quân sự trên biển.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Cách đúng đắn để chấm dứt mối đe dọa Triều Tiên – Phần cuối


Tuy nhiên, logic này là sai lầm. Nếu Kim Jong-un không thể bị ngăn cản khi ông có vũ khí hạt nhân có khả năng vươn tới lục địa Mỹ, thì tại sao một cuộc tấn công quân sự có giới hạn lại ngăn cản ông đáp trả bằng hành động tương tự? Và nếu Kim Jong-un thực sự phản ứng bằng quân sự, thì làm sao Mỹ có thể ngăn chặn cuộc khủng hoảng này leo thang vì Kim Jong-un hẳn sẽ chứng tỏ ông không có sự hiểu biết rõ ràng và hợp lý về các tín hiệu và sự răn đe?

Một số người Mỹ lập luận rằng những rủi ro này là đáng quan tâm vì mọi người thà chết “ở đó” còn hơn là ở nhà. Đó cũng là một tư tưởng sai lệch. Vào một ngày nào đó, có 230.000 người Mỹ sống ở Hàn Quốc và 90.000 người nữa sống ở Nhật Bản. Việc di tản họ sẽ gần như là bất khả thi. Cuộc di tản người Mỹ lớn nhất trong lịch sử là khoảng 60.000 người từ Sài Gòn vào năm 1975. Việc sơ tán khỏi Hàn Quốc nhất định sẽ khó khăn hơn. Ngay cả khi Bộ Ngoại giao tăng gấp 3 lần số lượng viên chức lãnh sự ở Hàn Quốc, thì quá trình này cũng có thể mất hàng tháng. Hơn nữa, việc sử dụng các điểm di tản thông thường ở phía Nam và phía Đông bán đảo Triều Tiên, điều đó có nghĩa là đường thoát duy nhất là đi qua Trung Quốc. Nhưng trong một cuộc khủng hoảng, các tuyến đường thủy quanh bán đảo sẽ bị tắc nghẽn với một triệu người Trung Quốc cũng tìm cách rời đi.

Dưới cơn mưa đạn pháo của Triều Tiên, các công dân Mỹ ở khu vực nhiều khả năng phải kiên trì chờ đợi cho đến khi cuộc chiến tranh kết thúc. Mặc dù người Mỹ ở Nhật Bản có thể được hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ bảo vệ, nhưng những người dân Mỹ ở Hàn Quốc sẽ không được may mắn như vậy. Điều rõ ràng là bằng cách tiến hành một cuộc tiến công phòng ngừa, tổng thống sẽ đặt một số lượng lớn người Mỹ tương đương với dân số của thành phố Cicinnati hay Pittsburgh vào cảnh nguy hiểm, chưa kể đến hàng triệu người Hàn Quốc và Nhật Bản, tất cả dựa trên giả định chưa được chứng minh rằng một nhà độc tài không thể ngăn cản và không thể đoán trước được sẽ bị sợ hãi tới mức chịu khuất phục trước một cuộc biểu dương sức mạnh của Mỹ.

Một số người lập luận rằng thương vong của Mỹ và thậm chí là một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn trên bán đảo Triều Tiên là điều đáng để mạo hiểm nếu một cuộc tấn công phòng ngừa có thể duy trì trật tự khu vực và quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai trong dài hạn. Nhưng đề xuất này còn phải bàn nhiều. Một cuộc tấn công quân sự chỉ trì hoãn, chứ không ngừng được, các chương trình tên lửa và hạt nhân của Kim Jong-un. Washington không biết vị trí tất cả các căn cứ hạt nhân của Triều Tiên và thậm chí nếu họ có biết thì nhiều căn cứ ẩn sâu dưới lòng đất và ở sườn núi, vượt ra ngoài tầm bắn của ngay cả các vũ khí có chứa “bom đánh bật hầm” cỡ lớn. Hơn nữa, một cuộc tấn công có giới hạn sẽ không ngăn được mối đe dọa phổ biến vũ khí hạt nhân. Trên thực tế, nó sẽ chỉ làm cho mối đe dọa trầm trọng thêm, biến điều mà có thể là một nỗ lực có lợi cho chế độ Kim Jong-un thành một nỗ lực mang tính trả thù trang bị cho các bên tham gia dàn trận chống lại Mỹ.

Chiến lược này cũng có nguy cơ làm rạn nứt liên minh ấn tượng mà Chính quyền Trump đã tập hợp cho chiến dịch gây áp lực tối đa. Một cuộc tấn công quân sự đơn phương sẽ cắt đứt những gì cho đến nay là một nỗ lực thành công làm tiêu hao dự trữ tiền tệ mà Triều Tiên sử dụng để xây dựng các chương trình của mình. Cuối cùng, một cuộc tấn công có thể gây phương hại cho các liên minh then chốt của Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đòi hỏi rằng họ phải được tham vấn trước khi Mỹ cân nhắc tiến một cuộc tân công. Việc đơn phương hành động luôn là một lựa chọn, nhưng làm như vậy có thể làm rạn nứt, nếu không muốn nói là kết thúc, chính những liên minh mà Chính quyền Trump đang tuyên bố là đang tìm cách tăng cường khi đối mặt với một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Cuối cùng, Trump không thể giải quyết vấn đề một nước Triều Tiên có vũ khí hạt nhân bằng một cuộc tấn công quân sự phòng ngừa. Đánh giá này được chia sẻ rộng rãi bởi các cựu thành viên của cộng đồng tình báo, Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Ngoại giao, và Bộ Quốc phòng, những người đã phục vụ trong cả chính quyền của đảng Dân chủ lẫn chính quyền của đảng Cộng hòa. Theo Steve Bannon, cựu chiến lược gia trưởng của Trump, đã đề cập đến điều đó trong một cuộc phỏng vấn: “Cho đến khi ai đó giải quyết được một vấn đề của phương trình mà cho tôi thấy rằng 10 triệu người ở Seoul không chết trong 30 phút đầu tiên… thì không có giải pháp quân sự nào ở đây, họ hiểu chúng tôi”.

Lựa chọn tốt nhất trong số các lựa chọn tồi tệ

Trong tương lai, Washington nên dựa vào chiến dịch gây áp lực lớn nhất, đưa các cuộc đàm phán vào một chiến lược khu vực rộng lớn hơn và từ bỏ một cuộc tấn công quân sự để ủng hộ những nỗ lực mới nhằm tăng cường sự răn đe và chống phổ biến vũ khí hạt nhân trong khu vực thông qua việc hợp tác chặt chẽ với các đồng minh của Mỹ. Một chiến lược như vậy có thể đem lại những lợi ích tiềm năng tương tự như một cuộc tấn công có giới hạn mà không phải chịu phí tổn. Và nếu cuộc gặp thượng đỉnh giữa Kim Jong-un và Trump thất bại, thì nó cũng có thể ngăn cản hai quốc gia này tức khắc tiến hành chiến tranh.

Trung Quốc và Nga sẽ không thích cách tiếp cận này, nhưng theo quan điểm của họ thì nó tốt hơn là một cuộc tấn công quân sự, mà có thể dẫn đến một cuộc trao đổi hạt nhân giữa Mỹ và Triều Tiên ở khu vực lân cận với họ. Hơn nữa, rất ít quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc, cảm thấy thoải mái với nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân do một nước Triều Tiên có vũ khí hạt nhân gây ra. Trên thực tế, theo chiến lược này, Trung Quốc và Nga có thể quyết định tham gia các nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân hoặc thậm chí là tham gia một thể chế an ninh đa phương lâu dài.

Một số người trong cộng đồng toàn cầu lo ngại rằng Trung Quốc và Triều Tiên có thể coi những hành động nhất định, như một lệnh cấm vận để ngăn cản sự phổ biến vũ khí hạt nhân, như một hành động chiến tranh. Để chống lại điều này, trong chừng mực có thể, Mỹ và các đồng minh của mình nên tìm kiếm thẩm quyền hợp pháp cho các hành động của họ thông qua các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhằm đối phó với loạt hành động khiêu khích kế tiếp hoặc với việc phổ biến vũ khí hạt nhân của Triều Tiên.

Những người yêu hòa bình có thể lập luận rằng chiến lược này sẽ gây ra tình trạng mất an ninh ở Bình Nhưỡng, điều sẽ biện minh hơn nữa cho hành động theo đuổi vũ khí của chế độ này. Họ có thể nghĩ rằng một lựa chọn thay thế tốt hơn sẽ là thực hiện một nỗ lực ngoại giao cuối cùng – như Trump cũng có thể làm – như tuyên bố hòa bình trên bán đảo Triều Tiên và rút quân Mỹ ra khỏi Hàn Quốc. Trong dài hạn, có thể có một hiệp ước hòa bình, nhưng trước hết, những thực tế trên thực địa phải được thay đổi. Ý định của chế độ này là theo đuổi các ICBM mang đầu đạn hạt nhân đặt ra những đe dọa mới nghiêm trọng đối với nước Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở khu vực này mà cần phải giải quyết. Phải duy trì áp lực của những biện pháp trừng phạt, nhưng điều đó không có nghĩa là không có chỗ cho sự khéo léo trong những nỗ lực định hình cách hành xử của Triều Tiên. Chiến dịch trừng phạt, nếu được xử lý cẩn thận, có thể được thiết kế nhằm mục tiêu vào chế độ này trong khi vẫn để lại không gian cho việc phát triển thị trường, truyền bá thông tin và hỗ trợ nhân đạo cho người dân thường. Tuy nhiên, một nỗ lực cuối cùng mà không có những hành động cụ thể của Triều Tiên hướng tới phi hạt nhân hóa có thể là tốt cho xếp hạng trên truyền hình, nhưng nó cũng sẽ mang lại cho Kim Jong-un những gì ông muốn (sự công nhận là cường quốc hạt nhân) trong khi đó lại chẳng mang lại cho Mỹ thứ gì ngoài những lời hứa hão.

Cuối cùng, những người chỉ trích có thể lập luận rằng một chiến lược ép buộc toàn diện sẽ chỉ đơn giản là mất quá nhiều thời gian, và thời gian chỉ đứng về phía Triều Tiên khi nước này tiếp tục chạy nước rút để có được vũ khí hạt nhân. Sự chỉ trích này không phải là không có lý do chính đáng; trong những thập kỷ gần đây, các vấn đề lịch sử và trong nước nhạy cảm đã cản trở sự hợp tác quân sự giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, điều có thể cản trở việc lập kế hoạch phòng thủ giữa các đồng minh của Mỹ. Tuy nhiên, trong quá khứ, các cuộc khủng hoảng liên quan đến Triều Tiên đã dẫn đến sự hợp tác an ninh giữa Nhật Bản và Hàn Quốc một cách kịp thời và nhanh chóng. Ngoài ra, mặc dù sự thúc đẩy một cuộc gặp thượng đỉnh giữa Kim Jong-un và Trump là đầy kịch tính, nhưng nó có thể đã biến vở kịch này thành một trò chơi kéo dài hơn, vì những tuyên bố táo bạo của các nhà lãnh đạo vốn thích sự nhanh nhạy và kịch tính sẽ phải được các nhà hoạch định chính sách dưới quyền chuyển thành hành động một cách rất chi tiết trong nhiều tuần và nhiều tháng, nếu không phải là nhiều năm. Mỹ nên sử dụng thời gian này để đầu tư vào các liên minh và tăng cường vị thế của mình trong khu vực.

Việc phối hợp và phát triển các năng lực cần thiết cho sự hợp tác an ninh với Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ mất thời gian, nhưng nó sẽ đặt Mỹ vào vị thế tốt hơn trong dài hạn. Điều quan trọng là phải phân biệt giữa chiến lược và chiến thuật. Các phản ứng mang tính chiến thuật luôn có thể xảy ra trong thời gian gần, nhưng chiến thuật mà không có chiến lược có thể xảy ra trong thời gian gần, nhưng chiến thuật mà không có chiến lược có thể đẩy người ta vào con đường không mong muốn. Như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ John Hamre đã lập luận, những tuyên bố gần đây của Mỹ rằng “đã hết thời gian”, vốn được đưa ra để gây áp lực cho người Triều Tiên, chỉ dồn Washington vào một góc, dưới sức ép phải thực hiện một cuộc tấn công quân sự không mong muốn, và họ đã không làm gì để thúc đẩy một chiến lược phác thảo những gì Mỹ nên làm trước, trong và sau khi diễn ra bất cứ cuộc đàm phán nào.

Trong số những lựa chọn tồi tệ, không có kế hoạch nào là lựa chọn hoàn hảo. Nhưng một số kế hoạch rõ ràng tốt hơn những kế hoạch khác. Một chiến lược ép buộc toàn diện cho chính sách ngoại giao phi hạt nhân hóa sẽ làm gia tăng đáng kể áp lực lên Triều Tiên. Nó sẽ củng cố các liên minh của Mỹ ở châu Á chống lại các mối đe dọa không chỉ từ Triều Tiên mà còn từ Trung Quốc và làm gia tăng cái giá mà Bắc Kinh phải trả khi trợ cấp cho chế độ Kim Jong-un. Nó sẽ không mạo hiểm mạng sống của hàng trăm nghìn người Mỹ bằng một cuộc tấn công quân sự phòng ngừa. Và nó sẽ tăng cường sức mạnh của Mỹ tại bàn đàm phán theo một cách mà đã chuẩn bị cho Washington đón nhận thành công cũng như thất bại.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/north-korea/2018-04-01/right-way-coerce-north-korea

TLTKĐB – 05 – 06/05/2018

Sức mạnh của hải quân Trung Quốc


Ngay sau khi đắc cử Tổng bí thư ĐCSTQ năm 2012, Tập Cận Bình đã nói tới khái niệm “Giấc mộng Trung Hoa” nhằm đưa Trung Quốc trở lại đúng với vị thế toàn cầu, vốn đã bị mất sau khi bị các cường quốc phương Tây xâm lược vào thế kỷ 19. Trong dự án này, phát triển lực lượng quân đội hùng mạnh tỏ ra là yếu tố chủ chốt để xây dựng một quốc gia ổn định và thịnh vượng. Vì thế, từ sau Hội nghị trung ương 3 khóa 18 của ĐCSTQ vào tháng 11/2013, công cuộc cải cách Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA), trong đó sự tăng cường năng lực tác chiến, chiếm vị trí quan trọng nhất, trở thành một trong những ưu tiên lớn của Trung Quốc. Trong khuôn khổ đó, sự hiện đại hóa về cơ cấu, phương tiện và học thuyết của PLAN (cần thiết và hoàn toàn nằm trong chiến lược quốc gia theo Lưu Hoa Thanh) đã cho phép Trung Quốc đạt được quyền tự chủ và tăng cường năng lực của họ. Cũng như vậy, một ưu tiên quan trọng hơn là giải quyết các vấn đề trên biển nhằm “xóa bỏ tư duy truyền thống ưu tiên xây dựng lực lượng trên đất liền để chuyển sang củng cố sức mạnh trên biển”. Điều này được thể hiện cụ thể qua mong muốn mua và cải tạo năng lực của các tàu chiến và mong muốn kiểm soát các vùng biển quốc tế.

Quá trình này được chia làm ba giai đoạn lớn. Trong giai đoạn đầu, từ cuối những năm 1980 cho đến đầu những năm 2000, trọng tâm lúc bấy giờ được đặt vào việc đào tạo và thích ứng hóa đội ngũ nhân sự cũng như sự cải tạo và đổi mới các chiến hạm. Mục đích cho phép PLAN chiến đấu hiệu quả hơn và ngăn chặn tất cả các mối đe dọa trong khu vực. Cuộc khủng hoảng thứ ba ở eo biển Đài Loan (1995 – 1996) và việc Washington điều hai tàu sân bay đến bảo vệ Đài Bắc đã làm gia tăng cảm giác dễ bị tổn thương trên biển của Trung Quốc. Sự kiện này làm Trung Quốc đẩy nhanh tốc độ hiện đại hóa PLAN. Dưới sự thúc đẩy của Giang Trạch Dân, hiện đại hóa quân đội trở thành một thành phần cốt yếu trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc, được chỉ rõ trong các lần công bố Sách Trắng của nước này.

Trong giai đoạn thứ hai, từ năm 2001 đến 2020, ưu tiên cho việc cải tạo năng lực tác chiến trong các vùng biển gần, như Biển Đông và Hoa Đông, biển Hoàng Hải (nằm giữa bán đảo Triều Tiên và Trung Quốc, ở phía Bắc Đông Hải, là “chuỗi đảo thứ nhất” nói trên) nhờ vào việc mua tàu sân bay và các tàu hộ vệ, có khả năng tạo thành một nhóm tác chiến không lực hải quân (bao gồm ít nhất một tàu sân bay làm trung tâm, các tàu ngầm tấn công, các máy bay tiêm kích và một máy bay tiếp tế). Mục tiêu đưa Trung Quốc trở thành một cường quốc quân sự trên biển có tầm cỡ khu vực ở phía Đông Thái Bình Dương, cũng như trang bị cho hải quân nước này khả năng hoạt động trên quy mô toàn cầu. Theo mong muốn của Lưu Hoa Thanh, PLAN đã trở thành một lực lượng quân sự hoàn chỉnh và tự chủ, hơn việc chỉ là một công cụ phục vụ cho lục quân, chủ yếu được dùng để gây nhiễu và phá hoại ngầm lực lượng hải quân kẻ thù. Thật vậy, nó thực sự xuất hiện từ một quan điểm mang tính học thuyết, từ nay về sau, PLAN đại diện cho đất nước như một “công cụ quân sự phù hợp nhất cho phép Trung Quốc thực hiện những tham vọng khu vực của họ” trong cuộc chạy đua với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Khái niệm về các chuỗi đảo của Lưu Hoa Thanh dường như cứ càng được cụ thể hóa thì những năng lực hải quân càng được củng cố. Ngày nay Bắc Kinh gần như đã có thể thực hiện được mục tiêu đầu tiêu của chiến lược này, đó là giữ Đài Loan và Nhật Bản ở ngoài “chuỗi đảo thứ nhất” chủ yếu nhờ vào vận hành tàu sân bay thứ hai của họ từ nay cho đến 2020 (mang tên chính thức là Sơn Đông, được hạ thủy ngày 26/4/2017 – ND).

Trong giai đoạn cuối cùng, từ năm 2021 đến 2040, ưu tiên việc đưa Trung Quốc trở thành cường quốc hải quân có khả năng hoạt động ngoài khơi và can thiệp vào các chiến trường xa xôi. Mục tiêu ở đây là có thể bảo vệ và củng cố các tuyến đường giao thương trên biển, duy trì sự kiểm soát và thể hiện khả năng phô diễn toàn cầu để ngăn cản tất cả các mối đe dọa quốc tế. Việc thực hiện chiến lược “Hai đại dương” và “chuỗi đảo thứ hai”, được khởi xướng sớm hơn, dường như xuất hiện trong giai đoạn này. Việc bắt đầu đóng con tàu sân bay thứ ba tại nhà máy đóng tàu ở Thượng Hải, dự kiến hạ thủy vào năm 2022, có thể cho phép Trung Quốc thực hiện những mục tiêu của họ. Ngoài ra, việc xây dựng sức mạnh của Lực lượng pháo binh 2 Trung Quốc (tên gọi khác của Lực lượng tên lửa chiến lược Trung Quốc – ND) thành một lực lượng quân đội hoàn chỉnh, ngang tầm với lục quân, không quân và hải quân, cũng chỉ ra một sự thay đổi quan trọng trong chiến lược ngăn chặn của nước này, cùng lúc bằng cả vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường, và đặc biệt hơn là chiến lược chống tiếp cận/chống ngăn chặn xâm nhập của họ, một lần nữa, được đặt song song với khái niệm các chuỗi đảo. Thật vậy, lực lượng quân đội mới này chịu trách nhiệm về kho đạn, gồm chủ yếu là các tên lửa chống hạm DF21D mà Trung Quốc cải tiến những năm gần đây có thể gìn giữ lãnh thổ của mình ra xa khỏi các lực lượng hải quân nước ngoài, đặc biệt là các tàu sân bay Mỹ.

Cụ thể hơn, Trung Quốc cũng phát triển, từ đầu những năm 2010, một lực lượng hải quân biển khơi, thay thế cho các đơn vị gần bờ lỗi thời bằng những tuần dương hạm hiện đại. Những năng lực mới đạt được sẽ cho Trung Quốc một sức mạnh hải quân toàn cầu có năng lực can thiệp ở những vùng biển xa xôi và bảo vệ lợi ích trọng yếu của họ ở khắp nơi trên thế giới. Phạm vi chiến lược của Trung Quốc không chỉ dừng lại trong khu vực, một tham vọng toàn cầu hơn được phác họa và cụ thể hóa. Việc triển khai sáng kiến “Vành đai và Con đường” xuất hiện như một vector của tham vọng này mà trong đó PLAN đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Thật vậy, sự cải cách sâu rộng về tổ chức của PLAN, suốt trong năm 2016, đã cho PLAN một vị trí quan trọng trong chiến lược phòng thủ của Trung Quốc. Quyết định này của ĐCSTQ dường như được kết hợp một cách hoàn hảo với NRS, cho phép họ bảo đảm an ninh trong các không gian và tuyến đường giao thương mang tầm quan trọng chiến lược. Minh chứng cho tính bổ trợ không thể tách rời này, Sách Trắng Quốc phòng của Trung Quốc công bố năm 2015 đã nhấn mạnh tầm quan trọng của lĩnh vực hàng hải và tính cần thiết phải bảo vệ đồng thời những lợi ích tức thời và những tuyến đường giao thương trên biển, đặc biệt ở Ấn Độ Dương, để đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

Nguồn: www.analysedefense.fr

TKNB – 28/11/2018