Căng thẳng Trung – Mỹ bước vào giai đoạn mới: Đình chiến hay leo thang? – Phần cuối


Cuộc dẫn độ khác thường

Khi tác giả ngồi cùng với phát thanh viên Elaine Reyes của kênh CGTN để thảo luận về vụ bắt giam bà Mạnh Vãn Châu, cô đã hỏi liệu Trump có biết việc CFO của Huawei bị bắt khi ông đang dùng bữa tối cùng chủ tịch Trung Quốc hay không. Tác giả muốn tin lời của Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ John Bolton rằng tổng thống không được thông báo; tuy nhiên, thực tế cho thấy rõ hơn là Bolton phải thừa nhận là biết trước việc đó. Sẽ là một sai lầm khi tin rằng các quan chức hàng đầu trong Chính phủ Mỹ không biết gì về một yêu cầu dẫn độ đối với một công dân Trung Quốc nổi tiếng – nhân vật thế lực trong ban điều hành của một trong những công ty viễn thông lớn nhất thế giới – đặc biệt xét tới những phí tổn tiềm tàng đối với quan hệ ngoại giao Mỹ – Trung hiện nay.

Như tác giả đã lưu ý trên tạp chí Yale Journal of Regulation, ngay từ ngày đầu cầm quyền, Trump đã thi hành các biện pháp mới lạ và quyết liệt nhằm thu hẹp cả dấu ấn lẫn ảnh hưởng của các cơ quan hành pháp liên bang. Tuy vậy ngay cả khi ông tuyên bố cuộc chiến với cái gọi là Nhà nước ngầm, vị tổng thống này đã dựa vào nhóm tinh hoa nội bộ của Washington và những nhân vật kỳ cựu từ chính phủ liên bang như Bolton và Lighthizer, những người hiểu được cái cần có để thúc đẩy các đòn bẩy của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của họ.

Trong bối cảnh đó, cái lẽ ra là một yêu cầu hành pháp thông thường từ phía Mỹ đối với đối tác dẫn độ chính của họ là Canada lại có ý nghĩa lớn hơn. Dẫn độ là một hành động mà theo đó cơ quan hành pháp của một quốc gia, nước nhận được yêu cầu, sẽ giao nộp một nhân vật trong lãnh thổ của họ cho một quốc gia khác, nước đưa ra yêu cầu, để đối mặt với các thủ tục tố tụng hình sự tại nước đưa ra yêu cầu. Canada đã xử lý xấp xỉ 100 yêu cầu dẫn độ mỗi năm, phần lớn trong số đó đến từ phía bên kia biên giới của họ là Mỹ. Hiệp ước dẫn độ song phương Mỹ – Canada năm 1971 và Đạo luật dẫn độ năm 1999 của Canada là những nguyên tắc chỉ đạo chính cho quy trình này.

Dẫn độ ở Canada trên thực tế được tiến hành theo hai giai đoạn: Đầu tiên là một phiên điều trần của ủy ban tư pháp, và thứ hai là các thủ tụ giao nộp do bộ trưởng tư pháp giám sát. Cả 2 giai đoạn đều có thời hạn và khung thời gian để xem xét. Chẳng hạn, trong vòng 60 ngày kể từ khi bà Mạnh bị bắt giữ, Mỹ phải cung cấp một gói dẫn độ bao gồm lệnh bắt giữ cơ bản, bằng chứng biện minh cho việc bắt giữ, nhận dạng người bị tạm giữ, và giấy chứng nhận được cấp bởi một cơ quan tư pháp hoặc công tố viên chứng thực rằng bằng chứng đó sẵn sàng để đưa ra trước tòa và đủ để chứng minh cho việc truy tốt. Cải cách năm 1999 đối với luật dẫn độ của Canada – được ban hành lần đầu vào năm 1877 và phỏng theo luật của Anh – đã làm giảm bớt gánh nặng về bằng chứng để hỗ trợ các yêu cầu dẫn độ. Hơn nữa, quyền xem xét tư pháp đối với bản án hình sự chống lại bị cáo bị hạn chế, vì luật pháp tôn trọng các thủ tục tố tụng hình sự và quy trình xét xử của nước đưa ra yêu cầu. Thay mặt cho nhánh hành pháp, bộ trưởng tư pháp nắm quyền tùy biến lớn hơn.

Tiến sĩ Gary Botting, một luật sư hình sự chuyên về các vấn đề dẫn độ, đã chỉ trích quy trình dẫn độ của Canada là không xem xét các cáo buộc của nước ngoài một cách có ý nghĩa: “Trong những trường hợp hiếm hoi, các tòa phúc thẩm sẽ gửi vấn đề này trở lại cho thẩm phán xử lý dẫn độ hoặc bộ trưởng tư pháp để xem xét lại theo quy định của pháp luật”. Quy trình đánh giá này không phải là không có thiếu sót. Ví dụ như trường hợp gây tranh cãi của Hassan Diab, một công dân Canada và cũng là giáo sư Đại học Ottawa, người bị bắt giữ và sau đó dẫn độ sang Pháp dựa trên những bằng chứng yếu đến mức cuối cùng giới chức Pháp đã xóa bỏ mọi cáo buộc – nhưng chỉ sau gần một thập kỷ tố tụng và nhiều năm Diab bị giam giữ tại Pháp. Theo Botting, trong giai đoạn 15 năm sau cải cách luật 1999, Canada chỉ từ chối 5 yêu cầu dẫn độ. Sự lỏng lẻo trong cơ chế dẫn độ của Canada có thể không thoát khỏi sự chú ý của các công tố viên Mỹ thuộc Bộ Tư pháp của Trump.

Cho dù việc dẫn độ từ Canada sang Mỹ là một quy trình chóng vánh điển hình, vụ bắt giữ Mạnh Vãn Châu đã làm dấy lên khả năng phải có những cân nhắc khác thường. Phiên tòa tại ngoại gần đây tại Vancouver tiết lộ rằng bà Mạnh bị cáo buộc vi phạm các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran. Huawei được cho là đã sử dụng công ty Skycom Tech của Hong Kong để thực hiện các giao dịch bất hợp pháp tại Iran và làm ăn với các công ty viễn thông tại đó. Bà Mạnh bị cáo buộc trực tiếp lừa đảo các “nạn nhân” là các ngân hàng Mỹ, vốn đã xóa sạch giao dịch tài chính với Huawei và do đó vô tình giao dịch với Skycom.

Thông qua hiệp ước và bộ luật về dẫn độ, để thực hiện cuộc dẫn độ, Chính quyền Canada phải xác định liệu những cáo buộc của Mỹ đối với bà Mạnh có đáp ứng quy tắc “phạm tội kép” hay không, cụ thể là liệu bà Mạnh có phạm tội hình sự xét theo cả hệ thống luật pháp của Mỹ và Canada hay không. Quy tắc “phạm tội kép” được lập ra để bảo vệ quyền tự do của bị cáo khi những hành vi phạm tội không bị nước nhận được yêu cầu coi là “phạm tội”.

Liệu đây có phải một yêu cầu tìm kiếm theo luật Canada trong vụ việc của bà Mạnh hay không thì vẫn cần phải xem xét, nhưng luật trừng phạt kinh tế của Mỹ cực kỳ chuyên biệt và có thể cho là độc nhất. Trong vụ McVey (1992), Tòa án tối cao Canada đã cân nhắc một vấn đề tương tự liên quan đến những cáo buộc về âm mưu xuất khẩu công nghệ cao (máy tính và thiết bị vệ tinh nhạy cảm) sang Liên Xô và việc đưa ra những tuyên bố sai lầm có liên quan đối với Chính phủ Mỹ. Tòa án tối cao cho rằng hiệp ước này phần lớn là để xác định rằng một “hành vi phạm tội có thể dẫn độ” tồn tại vì theo luật pháp Canada, hành vi cáo buộc có thể thuộc tôi lên ý đồ và giả mạo.

Yêu cầu của Mỹ về việc dẫn độ Mạnh Vãn Châu phức tạp vì nhiều yếu tố khác. Theo hiệp ước về luật dẫn độ, Canada có thể từ chối dẫn độ khi đối tượng dẫn độ là một “nhân vật chính trị” hoặc nếu không cũng là “bị trừng phạt” vì một hành vi phạm tội về chính trị. Nói cách khác, những hành vi hoặc động cơ phạm tội về chính trị không phải là cơ sở để dẫn độ. Theo Đạo luật dẫn độ năm 1999, bộ trưởng tư pháp có quyền và toàn quyền từ chối giao nộp một người dựa trên cơ sở này. Việc Trung Quốc bắt giữ một số nhân vật ưu tú của Canada cho thấy Bắc Kinh hiểu sự kiện này chính là trả đũa chính trị. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland đã phản ứng gay gắt khi Trump đe dọa can thiệp vào quy trình dẫn độ vì các mục tiêu an ninh quốc gia hoặc là một phần của một thỏa thuận thương mại lớn hơn với Trung Quốc. Quả thực, bằng cách ám chỉ rằng vụ dẫn độ Mạnh Vãn Châu bị tác động bởi sự can thiệp chính trị và tính biến động của cuộc chiến thương mại của mình, Trump hẳn đã vô tình trang bị những căn cứ pháp lý ới để thách thức bản chất của yêu cầu dẫn độ của Mỹ. Đó cũng là một lời nhắc nhở khác rằng một khi đã bắt đầu lăn bánh, các bánh xe của chính phủ sẽ không dễ dàng chậm lại.

Tính khí thất thường và khí chất

Chính sách đối ngoại của Chính quyền Trump là một sự pha trộn kỳ lạ giữa sự bốc đồng và tính toán. Điều này có thể dự đoán trước được một cách hợp lý trên tính cách của tổng thống và bản chất của một vài người trong êkip của ông. Tuy nhiên, kết quả lại hoàn toàn ngoài dự đoán, đặc biệt là liên quan đến chính sách của ông đối với Trung Quốc. Với sự từ chức theo nguyên tắc nhưng gây nhiều tranh cãi của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis, chúng ta có thể thấy nhiều biến động hơn nữa.

Theo nhà khoa học chính trị Richard Neustadt, trong nghiên cứu kinh điển “Quyền lực tổng thống” của ông, khí chất là yếu tố phân biệt trong sự lãnh đạo của tổng thống. Neustadt trích lời vị thẩm phán vĩ đại của Tòa án tối cao Oliver Wendell Holmes, người nổi tiếng với nhận định rằng Tổng thống Mỹ Franklin Delano Roosevelt sở hữu “trí tuệ hạng hai, nhưng khí chất hạng nhất”. Ngày nào đó Trump có thể được đánh giá là có khí chất hạng ba nhưng tính khí thất thường vào hạng nhất, ức hiếp các nhà trí thức ngay khi ông làm việc cùng với họ.

Vấn đề đối với Mỹ, Trung Quốc và phần còn lại của cộng đồng quốc tế là tính khó dự đoán hiện nay trong giới lãnh đạo Mỹ có thể dẫn đến tính toán sai lầm và sơ suất. Sự ra đi của Tổng thống Mỹ George H.W. Bush đã khích lệ người dân trân trọng trở lại giá trị của một bàn tay tiết chế nhưng vững vàng trong Nhà Trắng. Các cuộc chuyển giao địa chính trị đầy rẫy những căng thẳng, phản ánh sự bất an của loài người chúng ta trong những tình thế khó khăn. Và sự không chắc chắn có thể có logic riêng của mình. Chậm lại và tạm dừng để đánh giá các mục tiêu và phương tiện của chính sách, trân trọng cách thức cơ chế xung đột diễn ra, duy trì các tuyến liên lạc mở – đây đều là những bước cần thiết để giảm thiểu rủi ro. Từ bờ Tây của Dnieper, Bulgakov giải thích: “Tất nhiên con người là không thể sống mãi, nhưng điều đó chỉ là một nửa của vấn đề. Rắc rối ở chỗ cái chế đến với con người quá đột ngột!”, Và thường thì, vấn đề lại nằm ở những chi tiết nhỏ nhặt.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/12/u-s-china-tensions-enter-a-new-phase/

TLTKĐB – 19/01/2019

Advertisements

Căng thẳng Trung – Mỹ bước vào giai đoạn mới: Đình chiến hay leo thang? – Phần đầu


Roncevert Ganan Almond

Trong kiệt tác “Nghệ nhân và Margarita”, nhà viết kịch người Ukraine Mikhail Bulgakov hình dung một cuộc tranh cãi trên đường phố Moskva giữa Quỷ Satan và hai nhà trí thức, một nhà biên tập và một thi sĩ trẻ, những người đặt câu hỏi về sự tồn tại của Chúa. Giả trang thành một người ngoại quốc, tên quỷ hỏi: “Nếu không có Chúa, người ta tự hỏi ai sẽ cai quản nhân sinh và giữ gìn trật tự thế giới?”. Vị thi sĩ trẻ đáp lời, tất nhiên là loài người tự cai quản. “Xin lỗi cậu”, con quỷ vặn lại với một nụ cười nhếch mép. “Nhưng để cai quản, con người sẽ phải vạch ra một kế hoạch chi tiết cho một khoảng thời gian hợp lý trước mắt”.

Khi cuộc đấu tranh địa chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc bắt đầu định hình, người ta tự hỏi điều gì sẽ giúp giữ gìn trật tự thế giới. Kế hoạch chính xác trong cuộc chiến thương mại của Tổng thống Mỹ Donald J. Trump là gì? Trong một giai đoạn hợp lý trước mắt, chúng ta có thể trông đợi gì hơn nữa? Cuộc xung đột đã bước vào một giai đoạn mới vào ngày 1/12 khi Giám đốc tài chính của Huawei là bà Mạnh Vãn Châu bị Chính quyền Canada bắt giữ theo yêu cầu của Chính phủ Mỹ khi bà đang quá cảnh tại Sân bay quốc tế Vancouver.

Giai đoạn tạm dừng

Bà Mạnh bị bắt cùng ngày Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình – lãnh đạo của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới – dự bữa tối cùng nhau bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Buenos Aires. Trước sự thở phào của những người có lợi ích bất di bất dịch trong nền kinh tế toàn cầu, với việc Washington sẵn sàng tăng thuế từ 10 – 15% đối với hàng hóa Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD và Bắc Kinh chắc chắn sẽ trả đũa. Trump và Tập Cận Bình đã nhất trí đình chiến tạm thời trong vòng 90 ngày cuộc chiến thuế quan đang leo thang.

Giai đoạn đình chiến hiện nay chắc chắn cần nhiều thời gian với những dấu hiệu rõ rệt cho thấy sự suy yếu về kinh tế tại châu Âu và Trung Quốc có nguy cơ làm chậm lại nền kinh tế Mỹ. Khi các thị trường đóng cửa vào thứ Sáu ngày 15/12/2018, Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones đã rơi vào vùng điều chỉnh lần đầu tiên trong vòng 3 năm. Trớ trêu thay, kể từ khi Trump khởi xướng các chính sách thương mại quyết liệt của mình, xuất khẩu của Mỹ đã giảm và thâm hụt thương mại của Mỹ đã gia tăng, điều minh chứng cho thực tế rằng nền kinh tế Mỹ – và mở rộng ra là chiến lược của Nhà Trắng – không tồn tại độc lập. Nếu kéo đổ một cột trụ trong nền móng tầng mái sẽ lung lay.

Những lo ngại ngày càng tăng về “cuộc chia tay” giữa Mỹ và Trung Quốc, một kết quả sát với thực tế hơn so với một năm trước, là do tầm quan trọng của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu và mức độ phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc giữa hai nước – những điểm phân biệt quan trọng với cuộc đối địch Mỹ – Xô trong Chiến tranh Lạnh. Trên trường thế giới, Trung Quốc đứng đầu về quy mô kinh tế xét theo chỉ số ngang giá sức mua (PPP), việc sản xuất giá trị gia tăng, thương mại hàng hóa và dự trữ ngoại hối (tính cả đồng USD). Trung Quốc cũng tuyên bố là đối tác thương mại lớn nhất của hơn 130 quốc gia, một danh sách bao gồm cả Mỹ. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất, thị trường xuất khẩu lớn thứ ba và nguồn nhập khẩu lớn nhất của Mỹ. Các công ty Mỹ, chẳng hạn như các công ty công nghệ hàng đầu như Boeing và Apple, có hoạt động rộng khắp tại Trung Quốc và bán sản phẩm của họ tại thị trường nội địa khổng lồ của Trung Quốc trong khi tận dụng lao động giá rẻ cho sản xuất định hướng xuất khẩu. Như một báo cáo gần đây của Quốc hội đã lưu ý, những hoạt động này đã giúp một số doanh nghiệp Mỹ duy trì khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế và cung cấp cho người tiêu dùng Mỹ một loạt mặt hàng giá rẻ. Nhưng việc Trump áp thuế có nguy cơ phá vỡ mối quan hệ này dựa trên cơ sở là sự “gây hấn về kinh tế” của Trung Quốc – chuyển giao công nghệ ép buộc, đánh cắp sở hữu trí tuệ, tiếp cận thị trường không công bằng và tấn công mạng. Trên thực tế, Tổng thống Mỹ đã đe dọa áp thuế hoặc thực sự áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc tổng trị giá 517 tỷ USD, tương đương với gần như toàn bộ giá trị hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ trong năm 2018.

Sự cần thiết phải tạm dừng trên mặt trận thuế quan cũng làm bộc lộ các cơ chế pháp lý thúc đẩy chính sách của Mỹ. Vào đầu nhiệm kỳ tổng thống của Trump, tại số nhà 1600 Đại lộ Pennysylvania, chính quyền của ông đã bắt đầu tiến hành một số cuộc điều tra liên quan đến thương mại. Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer, hiện được Trump bổ nhiệm làm nhà đàm phán hàng đầu về Trung Quốc, đã khôn ngoan dựa vào các công cụ pháp lý khó hiểu – chẳng hạn như Mục 301 của Đạo luật thương mại năm 1974 – để khởi động cuộc chiến thương mại. Mục 301 cung cấp một phương tiện mà nhờ đó Mỹ có thể thi hành quyền của Mỹ theo các hiệp định thương mại và giải quyết các rào cản “không công bằng” ở bên ngoài đối với hàng xuất khẩu của Mỹ.

Vào những năm 1980, trong khi Donald Trump xuất hiện trong tiêu đề của các tờ báo lá cải ở New York, Lighthizer có được kinh nghiệm từ những dấu ấn trong chính sách thương mại Mỹ khi còn phục vụ trong Chính quyền Reagan. Không phải ngẫu nhiên mà Mục 301 được sử dụng rộng rãi nhất trong thời kỳ của Reagan – 49 trong tổng số 125 cuộc điều tra đã được tiến hành trong giai đoạn này. Đây là thời điểm trước khi Vòng đàm phán thương mại đa phương Uruguay diễn ra.

Với việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 1994, Mỹ ít viện dẫn đến biện pháp pháp lý này hơn. Viện Kinh tế quốc tế Peterson báo cáo rằng kể từ năm 2001 chỉ có một cuộc điều tra mới dựa theo Mục 301. Bắt đầu từ năm 2010, dưới thời Chính quyền Obama, Mỹ đã đưa tất cả các tranh chấp thương mại liên quan đến các nước thành viên WTO trực tiếp ra WTO để giải quyết tranh chấp. Ngược lại, Lighthizer hiện đang tìm cách xóa bỏ một cách hiệu quả quy trình phân xử của WTO bằng cách ngăn chặn việc bổ nhiệm các thẩm phán mới vào cơ quan phúc thẩm của tổ chức này. Mục 301 cung cấp một phương tiện mà nhờ đó Mỹ có thể thi hành quyền của Mỹ theo các hiệp định thương mại và giải quyết các rào cản “không công bằng” ở bên ngoài đối với hàng xuất khẩu của Mỹ. Do đó, thay vì sử dụng WTO để giải quyết tranh chấp, Chính quyền Trump đã sử dụng Mục 301 như một cách để thoát khỏi thông lệ của Mỹ trong quá khứ, nhưng nhất quán với nền tảng pháp luật và triết lý của Lighthizer. Điều quan trọng là các hành động theo Mục 301 bao gồm các quy trình cụ thể và khung thời gian có thể thi hành, chẳng hạn như thời gian biểu từ 12 – 18 tháng để tìm kiếm một giải pháp qua đàm phán với nước mục tiêu. Khi Trump quyết định ngừng tăng thuế, ông đang “hãm lại” bộ máy quan liêu đang trên đà tiến về phía trước. Điều này đưa chúng ta trở lại vụ bắt giữ bà Mạnh Vãn Châu.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/12/u-s-china-tensions-enter-a-new-phase/

TLTKĐB – 19/01/2019

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần cuối


Đối với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, Trung Quốc cần ứng phó thận trọng, nhưng không cần phải đánh giá cao mối đe dọa mà chiến lược này gây ra. Liên minh 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia được coi là hòn đá tảng của chiến lược này cho dù không phải là “đồng sàng dị mộng”, cũng không phải là đồng tâm nhất trí, không thể có việc 4 quốc gia này đều có thể nhất trí trong mỗi vấn đề liên quan đến Nam Hải, càng không thể liên kết với nhau để “bóp nghẹt” Trung Quốc. Từ sự kiện va chạm Doklam vào năm 2017 đến nay, quan hệ Trung – Ấn xuống mức thấp nhất đang dần ấm lên. Năm 2018, Ấn Độ lần đầu tiên tham gia hội nghị thượng đỉnh của Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), quan hệ với Trung Quốc ngày càng chặt chẽ. Mặc dù quan hệ Trung – Nhật còn bị hạn chế bởi rất nhiều nhân tố phức tạp, nhưng giai đoạn hiện nay về tổng thể ổn định tốt hơn, hai nước đều căm giận cuộc tranh chấp thương mại mà Trump dấy lên. Cho dù Australia là nước tích cực nhất khởi xướng chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thường xuyên cao giọng muốn đóng vai trò tiên phong, nhưng cũng lại có giấc mộng cường quốc trung bình của mình, có nhu cầu cùng với Trung Quốc phát triển quan hệ mạnh mẽ và mang tính xây dựng. Xét cho cùng, Trung Quốc luôn là đối tác thương mại lớn nhất của Australia kể từ năm 2010 đến nay. Ngoài ra trong 10 nước thành viên của ASEAN, chỉ có Việt Nam và Indonesia thể hiện sự ủng hộ rõ ràng đối với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, các nước khác thì thể hiện thái độ thận trọng, không muốn lựa chọn “đứng về một bên” làm mất lòng Trung Quốc.

Quan hệ hợp tác quân sự và phòng vệ giữa Mỹ và Việt Nam thường xuyên được tăng cường. Cùng với sự thay đổi không ngừng của môi trường địa chiến lược Nam Hải và sự thường xuyên điều chỉnh chính sách của Việt Nam, Mỹ và Việt Nam đã hoàn toàn thoát ra khỏi bóng đen của cuộc chiến tranh Việt Nam, quan hệ hợp tác quốc phòng và an ninh không ngừng gia tăng, quan hệ Mỹ – Việt trở thành một tổ hợp mới mang tính tiêu biểu nhất trong thời kỳ tái cân bằng sức mạnh Đông Á. Năm 2011, Mỹ và Việt Nam đã ký bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng song phương. Năm 2015, Mỹ và Việt Nam ký “Tuyên bố chung triển vọng quan hệ hợp tác quốc phòng”. Năm 2016, hai nước đã ký “Kế hoạch hành động hợp tác quốc phòng giai đoạn 2018 đến 2020”. Tháng 5/2016, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đi thăm Việt Nam, tuyên bó xóa bỏ toàn bộ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam, Việt Nam trở thành quốc gia châu Á cuối cùng mà Obama đi thăm trước khi hết nhiệm kỳ. Tháng 5/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi thăm Mỹ, trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên trong khối ASEAN được Tổng thống Trump tiếp đón sau khi lên nắm quyền. Đầu tháng 3/2018, tàu sân bay Mỹ Carl Vinson và 2 tàu hộ vệ, 1 tàu tuần tra, 1 tàu khu trục tổ chức đã đến Đà Nẵng trong chuyến thăm 4 ngày. Đây là sự kiện mang tính cột mốc của hợp tác quân sự Mỹ – Việt, cũng là lần đầu tiên tàu sân bay Mỹ trở lại Việt Nam kể từ khi kết thúc chiến tranh Việt Nam năm 1975. Việt Nam mở cửa Đà Nẵng đối với tàu sân bay của Mỹ, nước đã xâm lược Việt Nam trong quá khứ. 43 năm sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, họ lại vẫy cờ chào đón tàu sân bay Mỹ. Việt Nam có thể ngả hoàn toàn sang Mỹ hay không? Mỹ và Việt Nam có thể thiết lập đồng minh quân sự mới hay không? Các cuộc thảo luận về chủ đề này rất sôi nổi. Nhưng các quốc gia ASEAN như Việt Nam ít nhất sẽ vẫn thực hiện ngoại giao cân bằng nước lớn và tăng cường vị trí trung tâm của ASEAN, chứ không phải là ngả sang Mỹ. Chính phủ Indonesia cũng hoan nghênh chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhưng đề xuất phải xây dựng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cởi mở, hòa bình và bao dung. Các quốc gia Đông Nam Á vừa không muốn thấy sự đối đầu chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, vừa kỳ vọng Trung Quốc và Mỹ sẽ đối trọng với nhau, ràng buộc lẫn nhau nhằm thúc đẩy nhu cầu lợi ích của mỗi nước ASEAN. Lựa chọn chiến lược quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ của những quốc gia Đông Nam Á trên thực tế cũng làm gia tăng tính phức tạp của cuộc đọ sức Nam Hải giữa Trung Quốc và Mỹ.

Kết luận

Những năm gần đây, tuy Mỹ đã tăng cường can dự ngoại giao, quân sự và chiến lược ở Nam Hải, song chính sách Nam Hải của Chính quyền Trump chưa hoàn toàn định hình, đang ở vào thời kỳ không ngừng quan sát và điều chỉnh. Tuy nhiên “hoạt động tự do hàng hải” ở Nam Hải không ngừng mở rộng, hoạt động trinh sát bầu trời và dưới biển có tần suất cao, việc định kỳ tập trận chung Mỹ – Nhật và việc đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều chứng tỏ chính sách Nam Hải của Mỹ ngày càng ngả sang hướng chiến lược như phô trươong sức mạnh quân sự, tăng cường hiện diện quân sự và răn đe quân sự đối với Trung Quốc… Cuộc đọ sức chiến lược ở Nam Hải giữa Trung Quốc và Mỹ không có xu hướng yếu đi vì hoạt động duy trì ổn định Nam Hải chung giữa Trung Quốc và ASEAN. Ngược lại, cùng với hoài nghi chiến lược của Mỹ đối với việc xây dựng đảo nhân tạo và sự hùng mạnh của lực lượng hải quân, không quân Trung Quốc không ngừng gia tăng, Trung Quốc cần duy trì sự cảnh giác cao và quan tâm nhiều đến xu hướng chính sách Nam Hải của Chính quyền Trump. Tình hình Nam Hải có thể xuất hiện cục diện căng thẳng về chính trị, quân sự và chiến lược mới trong vài năm tới. Thế đọ sức ở Nam Hải hình thành giữa Trung Quốc và Mỹ cũng trở thành nhân tố khó lường lớn nhất thách thức xu hướng quan hệ quân sự và chiến lược song phương.

Mỹ không nên coi thường quyết tâm bảo vệ chủ quyền hải đảo và quyền lợi biển của Trung Quốc, đối với Trung Quốc, hàm nghĩa chiến lược của vấn đề Nam Hải có thể ngày càng vượt qua phạm trù đơn giản của việc bảo vệ chủ quyền và ổn định ở Nam Hải. Cùng với công tác quản lý Nam Hải, việc bảo vệ chủ quyền và ổn định một cách hiệu quả ở Nam Hải cũng là nhu cầu thực tế của Trung Quốc khi thúc đẩy “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21”. Nhưng mục tiêu xây dựng chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc chỉ có thể thông qua phương thức hòa bình để thực hiện, cũng có thể thông qua phương thức hợp tác với các cường quốc biển của thế giới như Mỹ, Nhật Bản… để thực hiện. Trong tương lai lâu dài, Trung Quốc không thể thực hiện phương thức thách thức địa vị thực lực siêu cường và ưu thế đại chiến lược trên biển và trên không của Mỹ ở châu Á – Thái BÌnh Dương để hiện thực hóa giấc mơ cường quốc biển. Giới chiến lược Mỹ cần có lòng tin đối với lựa chọn chiến lược mà Trung Quốc đã có và đang thể hiện. Trung Quốc và Mỹ đều mong muốn duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Nam Hải, mong muốn tuyến đường Nam Hải có thể thông suốt và không bị cản trở.

Điều đáng tiếc là Trung Quốc và Mỹ vốn đi cùng một hướng, hợp tác cùng tiến lên, hiện nay lại dần xa rời nhau. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là cùng với việc duy trì sự kiềm chế và kiên nhẫn chiến lược với nước còn lại, nhanh chóng khởi động lại đàm phán chiến lược cấp cao giữa quân đội hai nước, đi sâu vào tiến trình xây dựng biện pháp tăng cường lòng tin ở khu vực Nam Hải giữa hai quốc gia, nắm chắc những giải pháp kiểm soát khủng hoảng, tránh xung đột quân sự mang tính sự cố, nhanh chóng nâng cấp quy tắc an ninh trên biển nhằm giảm thiểu và tránh để xung đột xuất hiện và nâng cấp. Đồng thời từng bước xây dựng cơ chế cùng giữ gìn ổn định và an ninh Nam Hải giữa hai nước. Tuy nhiên, tính phức tạp của quan hệ quốc tế là ở chiến lược và chính sách của các nước, không phải xem đối phương nói gì, mà hãy xem đối phương làm gì. Giảm bớt tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ ở Nam Hải, không phải là bày tỏ nguyện vọng, mà là ở hành động hướng về nhau. Trung Quốc và Mỹ cần nhận thức đầy đủ sức mạnh động viên của vấn đề Nam Hải trong hệ thống phát ngôn của riêng mình, duy trì kết nối chiến lược chặt chẽ và kiềm chế chiến lược, đây là điều then chốt để tránh tình hình an ninh Nam Hải tiếp tục leo thang.

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần cuối


Trong khi Điện Kremlin dường như không muốn cung cấp cho Venezuela các khoản vay mới – một dấu hiệu cho thấy tia hi vọng của nước này về sự phục hồi kinh tế đã tắt ngấm – thi khía cạnh địa chính trị trong mối quan hệ này đã trở nên có lợi hơn cho cả hai bên, ngay cả khi những lợi ích này vẫn tương đối hạn chế. Caracas rất cần có đồng minh. Chế độ Maduro đã quan trọng hóa sự hỗ trợ của Moskva khi khiến cho những tuyên bố của nước này về các khoản đầu tư mới và những sự cải thiện về kinh tế – xã hội trở nên đáng tin. Đối với Điện Kremlin, mối quan hệ này phù hợp với câu chuyện kể của họ về việc chống lại bá quyền của Mỹ. Nó cũng cho phép Nga thể hiện mình như một cường quốc quân sự toàn cầu sẵn sàng bảo vệ các đồng minh chống lại các mối đe dọa của Mỹ, cả thực tế và tưởng tượng – mặc dù trong trường hợp của Caracas, rất có thể đây là những mối đe dọa có thực.

Một ví dụ rõ nét cho những dấu hiệu này là chuyến thăm vào tháng 12/2018 của 2 chiếc máy bay ném bom siêu thanh Tupolev-160 của Nga, thu hút các tiêu đề báo trên toàn thế giới. Tuy nhiên, so sánh với các khoản vay mới, động thái này thể hiện một tín hiệu ủng hộ ít tốn kém hơn và mờ nhạt hơn. Đây không phải lần đầu tiên Nga cho thấy những dấu hiệu như vậy. Tháng 9/2008, hai chiếc máy bay cùng loại đã tới Venezuela chỉ một tháng sau khi cuộc chiến tranh Nga – Gruzia làm suy yếu quan hệ Mỹ – Nga. Vào thời điểm đó, những sự thể hiện ít tốn kém nhưng mang ý nghãi biểu tượng cho sức mạnh vĩ đại của Nga rất phổ biến ở Điện Kremlin. Việc Bộ Quốc phòng Nga công bố đoạn băng ghi hình của chuyến bay gần đây nhất tới Venezuela cho thấy họ không chỉ lường trước, mà có lẽ còn muốn được đưa tin như vậy trên khắp toàn cầu.

Quả thực, những tin tức đầy khoa trương và hời hợt mà giới truyền thông phương Tây nói về mối quan hệ Nga – Venezuela là một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của nó. Ngày 17/12/2018, tờ báo lá cải lớn nhất của Anh, tờ Daily Mail, đã chạy tiêu đề: “Nga công bố kế hoạch thành lập căn cứ quân sự đầu tiên tại Caribean – sự hiện diện lớn nhất của nước này trong khu vực kể từ Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962”. Moskva không hề làm điều đó. Ngày hôm sau, quan chức cấp cao của Venezuela là Diosdado Cabello đã bác bỏ tin này, mặc dù tờ Daily Mail không rút lại hay cập nhật. Lời bác bỏ của Cabello gần như không nhận được sự chú ý. Về bề ngoài, mối quan hệ Nga với Venezuela đã phục vụ tốt cho lợi ích của Điện Kremlin.

Mối quan hệ này không hoàn toàn giới hạn ở bề ngoài, cho dù nó có tác động rất ít tới địa chính trị Mỹ Latinh. Vào giữa những năm 2000, sự hỗ trợ của Nga đối với Venezuela đã mở ra cơ hội cho khu vực Mỹ Latinh khi chính phủ cánh tả ủng hộ nhà nước Bolivar lên nắm quyền, nhưng trong những năm gần đây, phần lớn các nhà lãnh đạo này đã mất đi quyền lực.

Tuy nhiên, Sechin đã mở ra một cách cửa mới trong năm 2017 khi ông mua số cổ phần lớn của nhà máy lọc dầu Essar của Ấn Độ, sau đó đổi tên thành Nayara. Nayara là một trong những bên lớn nhất mua dầu thô của Venezuela, cũng như bên mua dầu đáng kể của Iran. Thỏa thuận này chủ yếu nhằm bảo vệ các lợi ích của Rosneft tại Venezuela, nhưng nó có một khía cạnh địa chính trị. Thương vụ của Sechin đã mang lại cho Rosneft tầm ảnh hưởng đối với nguồn cung dầu của Ấn Độ, và do đó ảnh hưởng tới sự sẵn sàng của nước này trong việc chống lại các biện pháp trừng phạt của Mỹ.

Quyền lưu giữ đối với Citgo mang lại cho Rosneft cổ phần của nhà máy lọc dầu này của Mỹ trong tương lai, ngay cả khi các chính trị gia hàng đầu của Mỹ thề sẽ ngăn Rosneft nắm giữ số cổ phần đó. Hiện Nga có vị thế để thảo luận về bất kỳ hành động nào nhằm tái cơ cấu các khoản nợ của Venezuela, ngay cả nếu chính phủ Bolivar cuối cùng cũng sụp đổ. Khả năng của Rosneft gây thêm nhiều rắc rối cho Citgo sẽ giúp họ bảo đảm các tài sản năng lượng mà họ đã nhận được từ chế độ của Chávez và Maduro. Washington chắc chắn sẽ ưu tiên tương lai của Citgo hơn là lợi ích của Rosneft tại Venezuela.

Khía cạnh địa chính trị cuối cùng trong mối quan hệ của Nga với Venezuela là việc song trùng lợi ích với Trung Quốc. Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, tam giác địa chính trị này có thể suy yếu khi Caracas tiếp tục đi xuống và những nghi ngờ nổi lên về việc liệu họ có thể tiếp tục trả nợ cho cả Moskva và Bắc Kinh hay không. Trái ngược với chuyến thăm vô ích của Maduro tới Moskva vào tháng 12/2018, Tổng thống Venezuela đã giành được khoản vay 5 tỷ USD từ Bắc Kinh sau chuyến thăm của ông vào tháng 9/2018. Trong khi giới truyền thông phương Tây ít đưa tin một cách cường điệu hóa về mối quan hệ Venezuela – Trung Quốc, Bắc Kinh – trước đây vốn đã giảm mức rủi ro tín dụng của họ đối với Caracas – dường như đã sẵn sàng tiếp tục cho vay hơn so với Moskva. Số phận của nhà nước Venezuela và ngành dầu mỏ của họ do đó có thể là một bài kiểm tra sớm đối với Nga và liên minh thực tế gần đây với Trung Quốc.

Một tương lai u ám

Sức ép ngày càng tăng xung quanh mối quan hệ giữa Nga và Venezuela tạo ra ảo tưởng về một liên minh thịnh vượng. Trong khi gần đây đã có nhiều diễn tiến, nhưng đây là kết quả của những nỗ lực mang tính cứu vãn. Đó là, cùng với Trung Quốc và các bên nắm giữ trái phiếu năm 2020 của PDVSA, Nga là một trong số ít chủ nợ mà chế độ Venezuela đã cố gắng duy trì tới nay. Nhưng rõ ràng là mối quan hệ này đang phải đối mặt với các thách thức – từ những thỏa thuận mua bán vũ khí bị tham nhũng gây tổn hại và các kho bạc bị phá sản của Caracas cho đến sự cộng tác thất bại của Evrofinance Mosnarbank và nguy cơ Rosneft sẽ không nhận được số dầu được cam kết đúng hạn. Những thách thức này không mới, nhưng chúng cho thấy các nỗ lực của Nga nhằm duy trì hoạt động kinh doanh sinh lời ở Venezuela đã không thể đạt được các mục tiêu của chúng.

Eric Farnsworth, Phó chủ tịch Hội đồng các quốc gia châu Mỹ, gần đây đã nói với tờ Whasington Post rằng “việc thiết lập một tiền đồn chính trị ở Tây bán cầu sẽ mang lại một chiến thắng chiến lược (cho Nga)… nếu họ chỉ mất vài tỷ USD, điều đó có thể vẫn chấp nhận được”. Nhưung về mặt địa chính trị, quan hệ này chỉ dừng lại ở bề ngoài, và Moskva vẫn có nguy cơ thua Bắc Kinh nếu Trung Quốc sẵn sàng cung cấp cho chế độ Venezuela các khoản vay trong khi Mosva đã không còn hào phóng. Moskva đã áp dụng một chiến lược – như được minh chứng trong quyền lưu giữ đối với Citgo – nhằm mục tiêu bảo vệ các lợi ích của Nga ngay cả nếu chế độ Maduro sụp đổ. Điều này không đảm bảo sẽ thành công; Nga có thể sẵn sàng chi vài tỷ USD để bảo đảm một tiền đồn chiến lược, nhưng vẫn còn quá sớm để nói rằng họ đã thành công trong việc này. Chừng nào Caracas vẫn còn vận chuyển dầu và Rosneft vẫn còn quyền kiểm soát đối với các tài sản của họ ở Venezuela, thì mối quan hệ này sẽ mang lại điều tích cực thực sự cho Rosneft – ngay cả nếu các mối quan hệ cộng tác kinh doanh khác không thể mang lại lợi nhuận như dự định. Các lợi ích địa chính trị vẫn sẽ chỉ dừng lại ở bề ngoài trừ phi Moskva tăng cường cam kết của họ đối với Caracas như đã làm với chế độ Syria.

Những tuyên bố rằng Nga sẽ xây dựng một căn cứ tại Venezuela cùng lắm chỉ nên coi là ảo tưởng. Trong khi tin đồn về một căn cứ của Nga có thể lan nhanh khi Washington tăng cường giọng điệu chống Maduro – và đặc biệt là nếu Washington công nhận quốc hội do phe đối lập kiểm soát là chính phủ hợp pháp duy nhất của Venezuela – thì Moskva vẫn gần như không hứng thú với dự án này. Những tin tức ban đầu về một căn cứ tiềm năng không đến từ các uqan chức Nga, mà từ tờ báo cánh tả Nezavisimaya Gazeta. Bài báo lưu ý rằng ý tưởng bắt đầu được lan truyền vào năm 2009 – thời điểm mà quan hệ Nga – Venezuela đang tốt đẹp nhất, các thỏa thuận kinh doanh mới thường xuyên được tiến hành, và quan hệ giữa Nga và phương Tây đã suy yếu sau cuộc chiến tranh của Nga với Gruzia vào tháng 8/2008 – bởi một vị tướng Nga, người mà ngay cả khi đó cũng cho rằng dự án này thiếu quyết tâm chính trị cần thiết.

Sau khi Mỹ công nhận nhà lãnh đạo phe đối lập của Venezuela, Juan Guaido, là tổng thống lâm thời vào ngày 23/1/2019, có thể Điện Kremlin đánh giá  sự ủng hộ quân sự này là phương pháp duy nhất để bảo vệ các khoản đầu tư của Nga tại Venezuela không bị phá hỏng từ bên trong. Hãng tin Reuters nhanh chóng đưa tin rằng một nhóm quân đội bí ẩn của Nga có lẽ đã được triển khai tới Venezuela để bảo vệ chế độ Maduro, mặc dù đại sứ Nga đã bác bỏ thông tin này. Tình trạng tham nhũng, các khoản đầu tư thất bại, và những lợi ích địa chính trị hạn chế đồng nghĩa với việc Điện Kremlin rõ ràng đã không còn sẵn sàng ném tiềm vào nhà nước đang sụp đổ này. Đặc biệt, Sechin có thể đang thúc đẩy một đường hướng lạc quan, nhưng ngay cả Rosneft cũng không sẵn sàng gia hạn mức tín dụng mới cho Maduro, và như đã lưu ý trước đó, ông phải bay tới Venezuela vào tháng 11/2018 để gây sức ép buộc chế độ này phải tăng cường nỗ lực nhằm tôn trọng các cam kết cũ. Một giải pháp tại Venezuela để bảo vệ các khoản đầu tư của Nga, đặc biệt là của Rosneft, có thể hấp dẫn ngay cả nếu Nga phải tiếp tục giữ Caracas làm một đồng minh chính trị; ít nhất một nguồn tin theo phe cực hữu của Nga cũng bóng gió rằng đây có thể là một con đường tiềm năng để tiến về phía trước.

Kết quả của các cuộc phiêu lưu của Nga tại Venezuela có thể tác động tới tương ai của chính Igor Sechin xét tới sự gắn bó mật thiết của ông với nỗ lực này. Cho đến nay, ông đã hành động mà không bị trừng phạt, nhưng chuyến thăm của Storchak và việc chấm dứt các khảon cho vay mới đã làm dấy lên khả năng rằng ngay cả Sechin cũng có thể buộc phải ngừng hoạt động có thể gây thiệt hại cho Nga. Tất nhiên, tác động của chính sách của Nga đối với Venezuela sẽ không chỉ giới hạn trong không gian hoạt động của Điện Kremlin. Nó vốn đã có tác động đáng kể đến ngành dầu mỏ, và các vụ kiện sau đó từ phía các chủ nợ của Venezuela và PDVSA có thể sẽ diễn ra trong sự không chắc chắn về tương lai của Citgo. Cuối cùng, Venezuela sẽ cần phải dàn xếp với các chủ nợ và các đối tác quốc tế khác của họ. Nga sẽ có một vị thế và sẽ ưu tiên bảo vệ các lợi ích kinh tế trong tương lai ngay cả nếu các bên liên quan khác khiến cho Sechin không còn có mong muốn hay đủ khả năng chấp nhận những rủi ro này. Nhưng chắc chắn vẫn còn quá sớm để gọi cuộc phiêu lưu của Điện Kremlin tại Venezuela là một lợi ích địa chính trị. Mà ngược lại, đó là một rủi ro về kinh tế.

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019

Tam giác Mỹ – Trung – Nga đã trở lại? – Phần cuối


Số lượng chính xác những tên lửa này của Trung Quốc hiện chưa rõ, nhưng theo đánh giá khác nhau của giới chuyên gia, trước hết chúng được định hướng nhằm vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương, có thể so sánh với tầm hoạt động của tên lửa bị Nga và Mỹ tiêu hủy theo Hiệp ước INF. Theo đánh giá của giới chuyên gia Nga, trong vòng 1 thập niên trở lại đây, Trung Quốc đã chế tạo hơn 2000 tên lửa tầm ngắn và tầm trung. Như chúng ta đã biết, theo Hiệp ước INF ký năm 1987, Mỹ và Nga đã lần lượt tiêu hủy 846 tên lửa tầm ngắn và 1846 tên lửa tầm trung. Trong số ba quốc gia hạt nhân mạnh nhất, Trung Quốc nổi trội nhất về số lượng và chất lực lượng lực lượng hạt nhân của mình, nhưng số lượng đầu đạn hạt nhân được triển khai là ít nhất so với Nga và Mỹ. Nga, do gần gũi với Trung Quốc về mặt địa lý, cùng với các quốc gia láng giềng khác sẽ được hưởng lợi tối đa theo quan điểm an ninh của họ từ sự cởi mở của Trung Quốc về những vấn đề này.

Bối cảnh chính trị và bầu không khí trong quan hệ giữa Mỹ và Nga khiến đề xuất của Tổng thống Trump lôi kéo Trung Quốc vào các cuộc đàm phán về INF vào thời điểm hiện tại trở nên không thể chấp nhận được. Tuy nhiên, xuất phát từ những lợi ích an ninh của Nga, điều này không có nghĩa là Nga sẽ không bao giờ đặt vấn đề về các cuộc đàm phán và hiệp định về kiểm soát các lực lượng tên lửa hạt nhân của Trung Quốc trong khuôn khổ song phương. Nga không nên loại bỏ những cuộc đàm phán như thế kể cả trong khuôn khổ ba bên, đương nhiên trong trường hợp Trung Quốc và Mỹ cùng nhất trí mời Nga tham gia.

Về phần mình, Nga cũng có quyền nêu ra sáng kiến tổ chức các cuộc đàm phán như thế trong khuôn khổ ba bên, nếu coi những thỏa thuận này là hài hòa và có lợi cho họ. Năm 2014, khi nghiên cứu vấn đề đưa Trung Quốc tham gia vào các cuộc đàm phán về vũ khí tên lửa hạt nhân trong bối cảnh căng thẳng quan hệ Nga – Mỹ sau cuộc khủng hoảng Crimea, chuyên gia người Nga A. Arbatov đã viết: “Nếu cuộc khủng hoảng chính trị trong quan hệ Nga – Mỹ cuối cùng được giải quyết bằng các phương tiện ngoại giao và cuộc đối thoại về kiểm soát vũ khí hạt nhân được khôi phục, việc lôi kéo Trung Quốc vào tiến trình này sẽ hoàn toàn phù hợp với mong muốn chính thức của Moskva tiến hành giải giáp vũ khí hạt nhân trong khuôn khổ từ song phương thành đa phương. Trong bất cứ trường hợp nào, Nga  cũng cần phải chuẩn bị đối phó với khả năng đối thoại chiến lược với nội dung phong phú giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng thời lập kế hoạch đường lối của mình trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí hạt nhân”. Vấn đề về tính hợp lý của khuôn khổ đàm phán song phương và ba bên INF cũng nhưu về những thành tố khác thuộc tiềm năng hạt nhân chiến lược của Trung Quốc trong tương lai theo quan điểm lợi ích của Nga đang gây tranh cãi. Mỗi phương án có những mặt mạnh và mặt yếu.

Những cuộc đàm phán như thế có thể diễn ra với sắc thải ổn định tích cực nhất định trong khuôn khổ song phương cũng như trong khuôn khổ tam giác.

Cần phải lưu ý rằng với sự gia tăng nhất định tiềm lực hạt nhân – tên lửa của Trung Quốc, cho dù đó là tên lửa tầm ngắn, tầm trung hay liên lục địa, trên thực tế không gì có thể thay thế các cuộc đàm phán ba bên hoặc đa phương. Việc kiểm soát song phương và những hạn chế về mặt logic là điều không thể khi khả năng về sự hiện diện của bên thứ ba không được đưa vào các thỏa thuận. Nói cách khác, khi có một hoặc một số nước đứng ngoài cuộc thì toàn bộ ý nghĩa và khả năng kiểm soát toàn cầu đối với vũ khí, cho dù lớp vũ khí nào đi nữa, đều không còn.

Phản ứng chính thức của Trung Quốc về khả năng Mỹ rút khỏi INF được dự đoán là tiêu cực. Tại cuộc họp báo về vấn đề này, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tuyên bố rằng “việc đơn phương rút khỏi INF sẽ có nhiều hiệu ứng tiêu cực”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn nói thêm rằng việc coi Trung Quốc là nguyên nhân để Mỹ rút khỏi INF là “hoàn toàn không có cơ sở”. Bên cạnh đó, theo giới chuyên gia Trung Quốc, việc đưa Trung Quốc vào tiến trình đàm phán về tên lửa tầm trung như là giải pháp thay thế hoàn toàn mang tính thực tế. Rõ ràng là với việc không có bất kỳ cơ chế hạn chế nào, Mỹ đã triển khai hợp pháp các tên lửa tầm trung mặt đất, trong đó có cả phiên bản di động, làm tăng đáng kể nguy cơ thiệt hại đối với Trung Quốc. Việc vô hiệu hóa khả năng bị tấn công là luận chứng ủng hộ việc đưa Trung Quốc vào tiến trình đàm phán này. Hơn nữa, từ nhiều quan điểm, các cuộc đàm phán trong khuôn khổ ba bên có lợi cho Bắc Kinh, bởi vì trong khuôn khổ song phương, các cuộc đà phán trở nên thực tế hơn, khả năng triển khai các loại tên lửa như thế thấp hơn, đương nhiên kể cả đối với Mỹ.

Trong bài báo của chuyên gia phân tích Luo Xi, công bố trên cổng thông tin chính thức của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) ngày 1/8/2018, ngày thành lập PLA, có câu như sau: “Trung Quốc buộc phải ký các hiệp định mới về kiểm soát vũ khí với Moskva và Washington”. Theo tác giả bài báo, “Mỹ sẽ triển khai tên lửa tầm trung tại Tây Thái Bình Dương, bao gồm cả đảo Guam, đe dọa an ninh Trung Quốc”. Để đối phó với tình huống này, Luo Xi cho rằng Trung Quốc cần phải chuẩn bị “các nhà đàm phán giỏi trong lĩnh vực kiểm soát vũ khí” để hiệp ước mới khi được ký kết với sự tham gia của Trung Quốc không vi phạm lợi ích quốc gia của Bắc Kinh. Hiện tại, các tên lửa tầm trung là nòng cốt của lực lượng hạt nhân Trung Quốc và nước này không thể từ bỏ chúng.

Tóm lại, có thể nói rằng trong vấn đề kiểm soát vũ khí tam giác Mỹ – Trung – Nga một sự cân bằng mới và thực tế mới trong quan hệ chiến lược ba bên đang nhanh chóng được hình thành.

Xét theo quan điểm lợi ích quốc gia, trước thực tế này, Nga cần phải xem xét một cách thận trọng và đầy lý tính, toàn bộ các mối đe dọa và nguy cơ mà họ đang có thể sẽ phải đối mặt trong một tương lai không xa.

Nguồn: Tạp chí Đời sống quốc tế (Nga)

CVĐQT số 3 – 2019

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần VII


Trên thực tế, Trung Quốc và Mỹ có lợi ích an ninh và chiến lược chung ở Nam Hải, Mỹ cần giảm bớt tần suất của “hoạt động tự do hàng hải”, nhanh chóng ngừng “hoạt động tự do hàng hải” mang tính khiêu khích. Đối với việc xây đảo nhân tạo của Trung Quốc, Mỹ cần có thái độ tích cực hơn, không nên đơn thuần nhận định rằng cơ sở phòng ngự cần thiết và hạn chế của Trung Quốc trên đảo nhân tạo chứng tỏ Trung Quốc muốn chèn ép Mỹ, độc chiếm Nam Hải. Về tranh chấp chủ quyền Nam Hải, Mỹ cũng phải có lòng tin đối với việc đàm phán và hoạt động duy trì ổn định giữa Trung Quốc và ASEAN. Hoạt động duy trì tự do qua lại trên biển vừa có lợi cho Mỹ, vừa có lợi cho Trung Quốc, vấn đề hiện nay là Trung Quốc và Mỹ có thể đầu tư nhiều nguồn lực chính trị hơn cho hợp tác và đối thoại của quân đội hai nước hay không, dùng phương thức hợp tác để bảo vệ sự lưu thông và an ninh trên biển ở Nam hải, khu vực châu Á – Thái Bình Dương và phạm vi toàn cầu. Trong vấn đề an ninh biển của Nam Hải, cũng như trong các vấn đề như tấn công cướp biển và khủng bố, bảo vệ sự thông suốt và lưu thông của tuyến đường…, Trung Quốc và Mỹ còn có không gian hợp tác, bởi vì mục tiêu của hai nước trong những lĩnh vực là hoàn toàn giống nhau. Trong vấn đề tự do qua lại trên biển Nam Hải, Mỹ luôn lôi kéo các nước lớn bên ngoài khu vực như Anh, Pháp, Australia… tham gia “hoạt động tự do hàng hải”, liên kết với hệ thống đồng minh của mình để gây sức ép với Trung Quốc ở Nam Hải, đây là nguyên nhân quan trọng nhất khiến Nam Hải hiện nay xuất hiện tình hình quân sự hóa. Năm 2018, Anh tuyên bố thiết lập 3 lãnh sự quán mới ở khu vực Thái Bình Dương. Tháng 1/2018, hải quân hoàng gia Anh đã điều động 3 tàu chiến vào Nam Hải lần đầu tiên sau 5 năm. Ngày 6/9/2018, một tàu vận tải của hải quân Anh đã công khai thực hiện “hoạt động tự do hàng hải” ở vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, thách thức chủ quyền và an ninh của Trung Quốc, gây tác động đến quan hệ Trung – Anh. Về vấn đề Đài Loan, Mỹ coi thường 3 tuyên bố chung Trung – Mỹ, không ngừng thách thức giới hạn đỏ của Trung Quốc, cố tình tạo ra bầu không khí căng thẳng ở eo biển Đài Loan. Năm 2018, cuộc tập trận “”Vành đai Thái Bình Dương” do Mỹ tổ chức đã diễn ra ở Hawaii, việc làm hoàn toàn trái ngược với lời nói, nhằm chia rẽ quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN, làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc. Hành động này chắc chắn trái ngược với mục tiêu duy trì và bảo vệ hòa bình, ổn định khu vực Nam Hải. Trong vấn đề biển, Trung Quốc và Mỹ ít nhất cũng sẽ tiếp tục đối đầu nhau trong tương lai gần.

Gần 10 năm qua, sự phát triển sức mạnh quân sự của Trung Quốc, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng hải quân Trung Quốc khiến cho Mỹ, Nhật Bản và một số quốc gia ASEAN lo ngại Trung quốc có thể ngày càng có hành động cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền các đảo, cũng ngày càng lo ngại nếu Trung Quốc kiểm soát phần lớn các đảo ở Nam Hải, có thể giúp lực lượng quân sự của Trung Quốc nhanh chóng chuyển dịch xuống hướng Nam, tiến tới kiểm soát toàn bộ khu vực Nam Hải. Nếu hình thành cục diện như vậy thì không những cục diện hạm đội Mỹ vốn bá chủ vùng trời và vùng biển châu Á – Thái Bình Dương trong 74 năm qua kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc bị phá vỡ, mà còn có thể giúp Trung Quốc có năng lực quân sự kiểm soát Nam Hải, khu vực Đông Nam Á có thể bị đặt trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc. Chuyên gia nghiên cứu địa chính trị của Mỹ Robert Kaplan nêu rõ sự bành trướng mang tính chiến lược do sự phát triển sức mạnh Trung Quốc gây ra chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc coi Nam Hải là khu vực có khả năng nhất để sử dụng sức mạnh hải quân của mình. Trung Quốc tranh giành Nam Hải với Mỹ và các quốc gia ASEAN là điều khó tránh khỏi về mặt địa chính trị Đông Á, đây là khâu yếu nhất trong chuỗi lực lượng ưu thế của quân đội Mỹ trên toàn khu vực phía Tây Thái Bình Dương. Cạnh tranh sức mạnh trên biển và phát triển lực lượng quân sự trên biển đã tạo thành tiền đồn mới cho cuộc đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ, có người trong giới hoạch định chiến lược và giới học thuật Mỹ đưa ra quan điểm “Mỹ có thể đã mất Nam Hải”, liên tục có người chủ trương thực hiện hành động cứng rắn hơn, mang tính can hiệp và kiềm chế đối với Trung Quốc, thậm chí là tấn công quân sự.

Cựu tư lệnh Hạm đội 7 của Mỹ Robert Thomas cho rằng từ năm 2009 đến nay, lực lượng quân đội Mỹ đã rút lui ở khu vực biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Nghiên cứu viên cao cấp của Viện Hoover thuộc Đại học Stanford, cựu Tư lệnh Hải quân Mỹ, Gary Roughead cũng cho rằng tại khu vực biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa, Mỹ chỉ triển khai Hạm đội 7 là không đủ, là thiếu thận trọng, không phù hợp với nhu cầu phát triển của thời đại. Khi điều trần tại Quốc hội Mỹ vào ngày 14/2/2018, cựu Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Harry Harris nêu rõ sự gia tăng nhanh chóng lực lượng quân sự Trung Quốc trong tương lai gần có thể cạnh tranh với quân đội Mỹ trong tất cả các lĩnh vực, tiến bộ then chốt của Trung Quốc biểu hiện ở hệ thống tên lửa cải thiện rõ rệt, đã nghiên cứu và chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5, quy mô và thực lực của hải quân không ngừng gia tăng. Trung Quốc đã xây dựng căn cứ quân sự tại nước ngoài đầu tiên ở Djibouti… Harris khẳng định nếu Mỹ không bám sát được Trung Quốc, Bộ chỉ huy Thái Bình Dương sẽ khó cạnh tranh với Trung Quốc trên chiến trường tương lai. Tư lệnh Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Philip Davidson còn phóng đại nhiều hơn về mối đe dọa quân sự từ Trung Quốc, cho rằng nếu Mỹ không tiến hành chiến tranh với Trung Quốc thì Trung Quốc chắc chắn sẽ kiểm soát Nam Hải, muốn ngăn chặn Trung Quốc, chỉ có con đường duy nhất là xung đột vũ trang.

Những năm gần đây, Mỹ đang không ngừng tăng cường hiện diện quân sự và thực hiện hoạt động quân sự mang tính khiêu khích. Ngày 6/6/2018, máy bay ném bom B-52 bay qua vùng biển của Việt Nam, đây là hành động quân sự hiếm có kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay. Hiện nay, quan đội Mỹ triển khai điều chỉnh toàn diện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương theo khái niệm tập hợp linh hoạt “Thời bình phân bổ rộng khắp, thời chiến nhanh chóng tập trung”. Mỹ có kế hoạch sẽ triển khai 60% lực lượng hải quân và không quân của họ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đầu tư 37 tỷ USD để khởi công xây dựng căn cứ có quy mô lớn nhất sau Chiến tranh Lạnh, ra sức xây dựng thế trận khu vực nhiều trung tâm, nhiều điểm đoạn “địa lý phân tán hơn, tác chiến bền bỉ hơn, chính trị bền vững hơn”. Cường độ hoạt động thu thập thông tin tình báo và giám sát đối với các vùng biển của Trung Quốc, đặc biệt là ở Đông Hải (biển Hoa Đông) và Nam Hải đang không ngừng tăng lên, phạm vi và tần suất tuần tra chung và tập trận chung của quân đội Mỹ và đồng minh của Mỹ ở Nam Hải cũng không ngừng gia tăng. Những giải pháp tích cực thiết lập cơ chế bốn bên ở vùng biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có khởi động đối thoại quan chức quốc phòng cấp cao của 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia nhằm xây dựng “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” tạo ra sự chia rẽ và đối đầu địa chính trị mới ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những ý tưởng của “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” chứng tỏ các nước như Mỹ, Nhật Bản… muốn lợi dụng tranh chấp Nam Hải và việc xây dựng lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc để lãnh đạo điều chỉnh lại lực lượng chiến lược ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm hình thành ý tưởng cơ bản của vòng vây chiến lược có mục tiêu chĩa vào Trung Quốc. Ngày 30/5/2018, tại Trân Châu cảng thuộc quần đảo Hawaii, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis chính thức tuyên bố Bộ chỉ huy Thái Bình Dương đổi tên thành Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh đó, ảnh hưởng của vấn đề Nam Hải đối với tương lai quan hệ Trung – Mỹ đang tiếp tục tăng. Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã trở thành nhân tố quan trọng làm gia tăng tình hình căng thẳng quân sự ở Nam Hải, có thể gây chia rẽ thành các phe nhóm mới khác nhau về địa chính trị của khu vực Ấn Độ Dương, cạnh tranh ảnh hưởng trên biển đã trở thành động lực mới trong tổ chức lực lượng địa chiến lược.

Việc đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có thể coi là ví dụ điển hình cho thấy cạnh tranh ảnh hưởng trên biển đã trở thành động lực mới để tổ chức lực lượng địa chiến lược. Căn cứ vào ý tưởng ban đầu, 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia cùng xây dựng “tứ giác an ninh dân chủ”, xây dựng liên minh chiến lược giữa những quốc gia cảm thấy lo ngại sức mạnh hải quân của Trung Quốc ngày càng tăng, bảo vệ vùng biển quốc tế từ Ấn Độ Dương đến phía Tây Thái Bình Dương. Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có thể phối hợp từ xa với kế hoạch “Đại châu Á” của Nhật Bản với ý đồ nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, phối hợp với ý tưởng của Australia “coi trọng trở lại châu Á – Thái Bình Dương về an ninh” và “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ, hình thành thế bao vây đối với Trung Quốc. Đồng thời, việc thực hiện chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ đã tăng thêm mức độ can dự vào Nam Hải của các nước lớn bên ngoài khu vực, thúc đẩy vấn đề Nam Hải phát triển theo hướng đa phương hóa, quốc tế hóa và phức tạp hóa, gây rắc rối lớn đối với việc Trung Quốc và các nước ASEAN cùng gánh vác trách nhiệm duy trì ổn định ở Nam Hải.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần III


Quan hệ Rosneft – PDVSA không phải chỉ trải đầy hoa hồng

Rosneft, như được nhiều người biết đến, cho đến nay đã xoay xở để tránh được những tổn thất khổng lồ có liên quan đến tham nhũng. Vai trò của nó trong nền kinh tế Venezuela và mối liên hệ của nó với PDVSA đơn giản là đã ăn quá sâu dẫn đến những “trò bịp bợm” như đã thấy trong các vụ bê bối của Kalashnikov và Gazprombank. Rosneft sở hữu khoảng 26 – 40% cổ phần trong một số mỏ dầu lớn ở Venezuela. Công ty này cũng nắm giữ 40% cổ phần trong nhà máy nâng cấp dầu thô Petromonagas, cho phép Venezuela pha loãng dầu thô siêu nặng làm tăng lượng sản phẩm xuất khẩu thêm 150.000 thùng/ngày. Cơ chế điều tiết này chính là chìa khóa vì Venezuela chỉ sản xuất 1,46 triệu thùng/ngày vào cuối năm 2018. Rosneft tiếp tục công bố các thỏa thuận mới với PDVSA bất chấp những thách thức của công ty này. Tháng 11/2016, chỉ 1 tháng sau khi PDVSA cơ cấu lại trái phiếu trị giá hàng tỷ USD của họ trong năm 2017 để đổi lấy trái phiếu năm 2020, Rosneft đã cho PDVSA vay 1,5 tỷ USD. Để thế chấp, tập đoàn dầu mỏ lớn của Nga đã nhận 49,9% cổ phần của công ty năng lượng – dầu khí Citgo của Mỹ (Citgo sở hữu 3 nhà máy lọc dầu lớn và một số đường ống dẫn dầu quan trọng). Trái phiếu duy nhất mà Venezuela hiện còn giữ kể từ tái cơ cấu là trái phiếu năm 2020 của PDVSA, mà các trái chủ chỉ đồng ý nhận sau khi được trao quyền lưu giữ hơn 50,1% của Citgo. PDVSA tiếp tục thanh toán cho trái phiếu này vì tầm quan trọng của Citgo vừa là điểm đến cho hàng xuất khẩu vừa là nguồn dầu thô nhẹ hơn để pha trộn với dầu thô nặng của Venezuela. Sự chênh lệch về giá đối với các khoản cho vay được Citog bảo đảm này – Rosneft phải trả 1,5 tỷ USD để có quyền lưu giữ, chỉ hơn một nửa số trái phiếu trị giá 2,8 tỷ USD được tái cơ cấu thành trái phiếu năm 2020 – cho thấy mối quan hệ giữa hai bên sâu sắc đến mức nào.

Tất nhiên, mối quan hệ này không phải là không có vấn đề. Các biện pháp trừng phạt của Mỹ đã tác động đến cả Rosneft lẫn PDVSA, mặc dù những biện pháp áp đặt cho PDVSA thì hạn chế hơn. Rosneft phải chịu cái gọi là “biện pháp trừng phạt theo ngành”, điều không cho phép công ty này tìm kiếm nguồn tài trợ lớn từ các thị trường phương Tây và cấm Mỹ hỗ trợ cho các kế hoạch ở nước ngoài và kế hoạch khai thác dầu bằng công nghệ thủy lực. Cơ chế trừng phạt của Mỹ đối với Venezuela thì mới hơn, nhưng thậm chí còn nhức nhối hơn. Venezuela không được phép tìm kiếm nguồn vốn ở các thị trường phương Tây và hầu hết giới tinh hoa chính trị và kinh tế nước này đều có tên trong danh sách đen. Trong khi điều này trong một chừng mực nào đó đã đẩy Caracas và Moskva lại gần nhau hơn, nó vẫn không ngừng khiến cả hai nước đau đầu. Chẳng hạn, các kế hoạch sửa chữa nhà máy nâng cấp dầu Petromonagas đã liên tục bị trì hoãn trong suốt năm 2018 khi các lệnh trừng phạt cản trở việc vận chuyển linh kiện thay thế.

Một thách thức còn lớn hơn nhiều đối với mối quan hệ này là sự đổ vỡ của nhà nước Venezuela. Ngành sản xuất dầu mỏ – cụ thể là sản lượng của PDVSA – đã sụp đổ trong những năm gần đây, trong khi các cá nhân cướp bóc và phá hoại các cơ sở của PDVSA. Sau khi phe đối lập giành quyền kiểm soát Quốc hội Venezuela vào tháng 12/2015, Tổng thống Nicolás Maduro đã thay thế cơ quan này bằng một “quốc hội lập hiến” mới và hướng dẫn họ soạn thảo một bộ hiến pháp mới. Động thái này đã đẩy Venezuela rơi vào tình trạng hỗn loạn đang diễn ra. Với tình trạng bất ổn lan rộng và một cuộc khủng hoảng người tị nạn chưa từng có trong lịch sử Nam Mỹ hiện đại, tình hình này có thể sẽ không được cải thiện trong tương lai gần.

Tháng 11/2017, Phó chủ tịch Rosneft Pavel Fedorov tuyên bố công ty này không có kế hoạch cho Venezuela vay thêm nữa. Báo cáo tài chính quý I năm 2018 của Rosneft nêu chi tiết các khoản thanh toán từ PDVSA, một nỗ lực nhằm xoa dịu sự lo ngại của các nhà đầu tư và các chủ nợ về các khoản nợ của chính Rosneft, vốn đã mở rộng đáng kể trong năm 2017.

Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, PDVSA và Rosneft đã kín đáo nhất trí một “kế hoạch khắc phục” để điều chỉnh thỏa thuận “đổi khoản cho vay lấy dầu” sau khi PDVSA không thể duy trì việc vận chuyển dầu thô. Thậm chí thỏa thuận này cũng bị phá vỡ khi thiệt hại đối với cảng xuất khẩu dầu chính của Venezuela, Jose, cũng cản trở việc giao hàng tới Rosneft. Các báo cáo hàng quý của Rosneft do đó phản ảnh các khảon thanh toán từ PDVSA giảm từ 600 triệu USD torng quý I/2018 xuống còn 400 triệu USD trong quý II, trước khi tăng lên 500 triệu USD vào quý III. Những con số này không phản ánh đúng lời khẳng định của Sechin vào tháng 1/2018 rằng “không có rủi ro đáng kể” trong các giao dịch kinh doanh của Rosneft ở Venezuela.

Các diễn biến kể từ khi đó đã cho thấy mối quan ngại về những rủi ro như vậy chắc chắn tồn tại trong giới lãnh đạo Rosneft. Giữa tháng 11/2018, Sechin đã bất ngờ tới thăm Caracas để thảo luận về những lần chậm thanh toán. Có tin cho biết ông đã mang đến những tài liệu cho thấy PDVSA đang trả nợ cho Trung Quốc theo đúng lịch trình, nhưng với Rosneft thì không. Trung Quốc sẵn sàng tham gia các cuộc giao hàng giữa các tàu mạo hiểm hơn để tránh những thách thức tại cảng Venezuela, nhưng sản lượng suy giảm và cuộc khủng hoảng chính trị đang diễn ra tại Venezuela đồng nghĩa với việc nước này sẽ không thể duy trì thanh toán đúng hạn cho cả Trung Quốc và Nga trong những năm sắp tới.

Cuối cùng, đáng lưu ý là một số phe phái ở Điện Kremlin đã bắt đầu phản đối chiến lược của Nga đối với Venezuela. Chẳng hạn. Bộ Tài chính đã nhiều lần bác bỏ tuyên bố của Caracas rằng các dàn xếp giữa hai nước có thể chuyển sang dùng đồng “Petro”, đồng tiền “ảo” được mã hóa của Venezuela. Gần đây nhất, vào tháng 10/2018, Thứ tưởng Bộ Tài chính Nga Sergei Storchak đã tới thăm Venezuela và từ chối yêu cầu của Caracas về việc có một đại diện thường trực của Bộ Tài chính Nga tại thủ đô của Venezuela.

Sự xuất hiện của Storchak ở đây cũng đáng lưu ý. Trong năm 2017 – 2018, Storchak – một đồng minh của cố vấn kinh tế tự do thân cận nhất của Putin, Alexey Kudrin – đã phải ở 11 tháng trong tù vì cáo buộc tham nhũng. Nhiều người đồn đoán rằng Sechin cũng nhúng tay vào vụ bắt giữ Storchak, trong khi Kurdin tán thành việc trả tự do cho Storchak. Căng thẳng giữa các đồng minh của Kudrin và Sechin vẫn tiếp diễn cho tới hiện nay.

Ngay cả nếu chuyến đi của Storchak cho thấy nhiều người khác đang sẵn sàng chống lại chiến lược của Sechin ở Venezuela, thì CEO của Rosneft rõ ràng vẫn có nhiều quyền hành hơn so với hồi năm 2007 – 2008. Trong năm 2016, Bộ trưởng Kinh tế khi đó là Alexei Ulyukayev – một đồng minh khác của Kudrin  bị bắt giữ vì tội tham nhũng, điều mà nhiều người cho là ông bị vu khống. Ulyukayev bị buộc tội đòi hối lộ từ Sechin, bề ngoài là để ủng hộ Rosneft tiếp quản một công ty dầu khí khác mà Ulyukayev đã công khai chỉ trích. Khi Ulyukayev bị kết án 8 năm tù vào tháng 12/2017, Kudrin đã lớn tiếng cho rằng phán quyết này là một “bản án khủng khiếp và vô lý”, cảnh báo rằng “nhiều người hiện đang phải đối mặt với sự bất công như vậy”. Bất chấp những tổn thất do nạn tham nhũng gây ra và sự sụp đổ của ngành công nghiệp Venezuela, vòng kìm kẹp của Sechin đối với chính sách của Nga về Venezuela có khả năng vẫn duy trì vững chắc ngay cả khi nhiều người khác rõ ràng tỏ ra quan ngại.

Địa chính trị hạn chế

Như Sechin vẫn công khai tỏ ra thờ ơ trước nguy cơ của các khoản thanh toán trước của PDVSA, ông khẳng định rằng các hành động của Rosneft không chịu tác động của địa chính trị. Sechin giải thích: “Đó chỉ là kinh doanh, và là một ngành kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận”. Cùng lắm thì điều đó chỉ đúng phần nào. Mối quan hệ này đúng là có một khía cạnh địa chính trị liên quan đến quan hệ của Nga với Ấn Độ, Trung Quốc và Mỹ. Nhưng địa chính trị xuất phát từ quan hệ kinh doanh. Khi cuộc khủng hoảng và tình trạng vỡ nợ của Venezuela đã nêu bật những rủi ro của mối quan hệ với chế độ Maduro, khía cạnh địa chính trị đã giành được nhiều sự quan tâm. Đổi lại, nó làm chệch hướng sự chú ý ra khỏi tình trạng kinh doanh yếu kém.

Kể từ khoản nợ năm 2016 của Rosneft do Citgo bảo đảm, Nga đã ngừng cho Venezuela vay tiền bất chấp những yêu cần khẩn thiết từ Caracas. Tháng 12/2018, Maduro đã tới Moskva và khoe khoang về các khoản đầu tư mới trị giá 6 tỷ USD vào lĩnh vực dầu mỏ và khai khoáng của Venezuela. Ông cũng đề xuất với Nga một thỏa thuận cung cấp cho Venezuela 600.000 tấn ngũ cốc trong năm 2019. Tuy nhiên, sau đó không có tuyên bố nào như vậy từ phía Nga, và các quan chức Nga giấu tên đã bày tỏ nghi ngờ về tuyên bố của Maduro trên tờ Financial Times ngay sau đó. Đại sứ Nga tại Venezuela là Vladimir Zaemsky sau đó tuyên bố Nga vốn đã chuyển 600.000 tấn ngũ cốc cho Venezuela trong năm 2018. Ông khẳng định các thảo thuận khai thác vàng mới đã được đề xuất, nhưng không được nhất trí thông qua. Vì thế các tuyên bố của Maduro tại Moskva chỉ là một nỗ lực “bình cũ rượu mới”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019