Trung Quốc dẫn đầu ngành công nghiệp đóng tàu hải quân toàn cầu


Trong ngành công nghiệp đóng tàu hải quân toàn cầu, dường như Trung Quốc đang là nước dẫn đầu.

Hải quân Mỹ có kế hoạch tăng quy mô hạm đội của họ và Nga cũng đang nỗ lực phục hồi lĩnh vực đóng tàu của nước này sau 25 năm suy giảm. Hải quân Nga và Trung Quốc đang nỗ lực theo cách riêng của mình kể từ khi hai nước được coi là đối thủ có tiềm năng ngang bằng với Mỹ và phương Tây. Cả hai nước đều có công nghệ quân sự tiên tiến và đang nỗ lực đóng mới tàu chiến. Tuy nhiên, nếu so sánh về mặt kinh tế thì Trung Quốc vượt xa nỗ lực xây dựng hải quân của Nga.

Ngân sách của Nga gặp khó khăn do các biện pháp trừng phạt kinh tế và giá dầu thấp. Hơn 2/3 trong số 108 tàu chiến mặt nước của Nga được trang bị từ thời Chiến tranh Lạnh. Kể từ năm 2000, hải quân Nga được trang bị 21 tàu chiến mặt nước mới, trong đó có 17 tàu hộ tống nhỏ. Tàu hộ tống của Nga có xu hướng được trang bị vũ khí phù hợp với kích cỡ và được bố trí hoạt động ở biển Baltic và Caspi. Tuy nhiên, nếu coi đây là thước đo để đánh giá khả năng công nghiệp thì tàu hộ tống nhỏ là không phù hợp.

Nga đã đóng 4 tàu khu trục mới cỡ trung bình (tương đương với kích cỡ của tàu khu trục Anzac của Australia) kể từ năm 2009, chiếc thứ 5 hoàn tất trong năm nay. Đây là những chiếc khu trục lớn nhất của hải quân Nga được trang bị kể từ năm 1999 khi tàu khu trục lớp Udaloy cuối cùng được trang bị.

Nga có thể đóng mới nhiều tàu khu trục hơn song động cơ chạy bằng khí đốt cần để cấp điện cho tàu được sản xuất tại Ukraine. Kiev đã ngừng xuất khẩu đơn đặt hàng trong năm 2014 do cuộc khủng hoảng Crimea, chính điều này đã làm trì hoãn các kế hoạch của Moskva từ 2 – 3 năm qua. Trong tương lai, nhiều khả năng Nga sẽ thúc đẩy các kế hoạch thay thế tàu chiến cỡ lớn hơn, tiếp tục nâng cấp tàu khu trục từ thời Chiến tranh Lạnh và tàu tuần dương với khả năng hiện đại.

Việc đóng tàu ngầm của Nga cũng còn chưa rõ ràng. Các dự án hiện đại cho cả hai loại tàu ngầm tấn công dùng năng lượng hạt nhân (SSN) và dùng điện – diesel (SSK) đều giảm đáng kể. Tuy nhiên, các dự án hiện đại hóa tàu SSK lớp Kilo từ những năm 1980 là phần bổ sung hiệu quả và tàu lớp Kilo là sản phẩm xuất khẩu thành công nhất của Nga. Chiếc SSN lớp Yasen thứ hai sẽ hoàn tất vào năm tới cho dù thiết kế được điều chỉnh khiến cho chiếc tàu ngầm này có giá thành đắt gấp đôi chiếc đầu tiên cùng loại. Nga chắc chắn vẫn là một trong số ít nước có khả năng đóng tàu SSN trong một vài thập kỷ tới.

Trong khi đó, rõ ràng là những tàu lớp cũ ngày càng lỗi thời và Nga đang phải nâng cấp, sửa chữa và hiện đại hóa những tàu chiến cũ để duy trì năng lực hải quân. Tuy nhiên, ngành công nghiệp hải quân của Nga nay chỉ là cái bóng so với ngành này của Xô Viết trước đây.

Trong lĩnh vực đóng tàu hải quân, Trung Quốc lại hoàn toàn khác Nga. Nhờ có được lợi thế từ tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và coi trọng vai trò ngày càng gia tăng của an ninh hàng hải, Trung Quốc đã đóng mới hàng chục tàu chiến lớn, nhỏ khác nhau. Những năm gần đây, các xưởng đóng tàu của Trung Quốc hoạt động không ngừng, duy trì ổn định đóng tàu chiến mặt nước cho hải quân.

Hải quân Trung Quốc được trang bị 15 tàu khu trục có tên lửa dẫn đường loại 052 với nhiều biến thể khác nhau kể từ năm 1994. Khoảng một nửa số này đã đi vào hoạt động kể từ năm 2014 và 8 chiếc khác sẽ được đưa vào hoạt động năm 2020. Hải quân Trung Quốc cũng được trang bị khoảng 25 chiếc tàu khu trục cỡ trung bình loại 054 kể từ năm 2005, trung bình khoảng 2 chiếc/năm và 33 chiếc tàu hộ tống nhỏ loại 056 kể từ năm 2013.

Mặc dù nhịp độ xây dựng hải quân của Trung Quốc chậm, nước này không dừng lại. Những chiếc tàu về sau có khả năng tốt hơn những chiếc trước. Không giống như Nga, Trung Quốc đang trong giai đoạn đóng tàu hải quân mạnh mẽ nhất của mình.

Nguồn: The Australian – 11/07/2017

TKNB – 12/07/2017

Advertisements

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần cuối


Giải pháp cần thiết của cộng đồng quốc tế

Có thể dự đoán Mỹ hiện nay không thể dứt khoát tấn công quân sự đối với Triều Tiên. Nguyên nhân như sau:

Thứ nhất, sự việc chưa đến mức cấp bách như trước khi Liên Xô triển khai tên lửa mang đầu đạn hạt nhân đến Cuba vào năm 1962.

Thứ hai là cha mẹ của Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in từ phía Bắc di cư xuống phía Nam. Họ hàng của ông ở miền Bắc rất đông, có tình cảm thân thiết tự nhiên. Ông ủng hộ chủ trương làm dịu mâu thuẫn Nam – Bắc hiện nay, từ đó quyết sách của Hàn Quốc có thể phủ định tính chính đáng của việc Mỹ và Nhật Bản hiện nay sử dụng vũ lực đối với Triều Tiên.

Thứ ba, quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc đối mặt trực tiếp với quân đội Triều Tiên, “ném chuột sợ vỡ bình”.

Thứ tư, Trump bị cuốn vào cuộc đấu đá nội bộ, công việc rất nhiều, không có thời gian để quan tâm đến vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Tuy nhiên, thời gian còn lại của cộng đồng quốc tế không còn nhiều. Để ứng phó với dự báo của cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên, mọi thứ giờ đây diễn ra đúng như vậy, phải làm như câu tục ngữ “Phòng ngừa sự việc từ trước khi nó xảy ra”, chắc chắn phải thực hiện ba chính sách:

Thượng sách: Nhân cơ hội Washington sốt sắng muốn giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, khi Mỹ gia tăng sức ép quân sự, Bắc Kinh cũng tăng cường trừng phạt kinh tế đối với Triều Tiên, cả hai đều ra tay. Trước sức ép to lớn chưa từng có của quốc tế, Triều Tiên sẽ hiểu rõ thiệt hơn mà liệu đường tiến lui. Trong tình huống được đổi lấy viện trợ kinh tế, họ sẽ phải cam kết một cách thiết thực đối với việc từ bỏ vũ khí hạt nhân.

Vào thời điểm chuyển gia xuân hè năm nay, sau khi Triều Tiên lần lượt phóng thử tên lửa, Mỹ ra sức hối thúc Trung Quốc chấm dứt cung cấp dầu mỏ cho Triều Tiên. Hầu hết dầu mỏ của Triều Tiên phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu của Trung Quốc, nếu như nguồn cung cấp dầu bị gián đoạn, việc điều động lực lượng quân sự, vận chuyển vật tư và nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây có thể là một trong những cách trừng phạt kinh tế nghiêm khắc nhất mà Trung Quốc có thể thực thi.

Nhận định Bắc Kinh phải thực hiện gia tăng mức độ trừng phạt kinh tế, làm đến cùng, nếu không, Bình Nhưỡng còn chưa cảm thấy đau đớn, lại càng nung nấu căm thù, Bắc Kinh sẽ không tránh khỏi làm kẻ tiểu nhân, lại đi theo vết xe đổ như cách đối xử với Albania, Việt Nam. Điểm khác nhau là, Albania ở xa xôi tận Đông Âu, Việt Nam cách Bắc Kinh gần 3000 km lại không có tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, còn Triều Tiên lại có tên lửa hạt nhân trong tay, cách Bắc Kinh không đầy 700 km, ngày nay có thể phóng tên lửa qua biên giới, tình hình đã khác trước.

Ngoài ra, có định hướng tổ chức lại đàm pháp cấp cao; trong viện trợ kinh tế của thế giới, Trung Quốc cần gánh vác trách nhiệm nhiều hơn, không nên có tầm nhìn thiển cận, tính toán lấy gì bỏ gì cần phải đặt trong bối cảnh từ thập niên 1960, 1970 đến nay Trung Quốc đã viện trợ không biết bao nhiêu cho Triều Tiên cũng như việc Trung Quốc trỗi dậy luôn hết sức cần đến duy trì ổn định bán đảo.

Trung sách: Cộng đồng quốc tế cùng nhau trừng phạt nặng nề đối với Triều Tiên, khi đó xuất hiện chính quyết Bình Nhưỡng có xu thế bị chao đảo nghiêm trọng, Turng Quốc huy động quân đội tiến xuống phía Nam vào sâu trong lãnh thổ Triều Tiên 60 – 70 km, đồng thời tuyên bố trước thế giới, mục đích của hành động đó là thiết lập trại tị nạn, giải quyết việc ăn ở cho dân tị nạn, cung cấp viện trợ nhân đạo, khi đó tình hình dân tị nạn ổn định sẽ rút hết quân đội về phía Bắc. Cho dù khi đó quốc tế có rộ lên tiếng nói phản đối, nhưng so với hậu quả dân tị nạn bùng nổ trong lãnh thổ Trung Quốc gây chuyện đòi độc lập thì tai họa còn nguy hiểm hơn nhiều. Như vậy, vấn đề dân tị nạn tai hại sẽ để cho Hàn Quốc ứng phó sau khi thống nhất.

Hạ sách: Theo chính sách đã từng thực hiện như thông lệ trước đây, vừa đi vừa quan sát. Nhìn lại chặng đường dài đã qua, kết cục không những không tránh khỏi cục diện bán đảo “nảy sinh hỗn loạn và chiến tranh”, các bên liên quan đều oán ghét Trung Quốc, hơn nữa rất có thể buộc Trung Quốc bị lôi cuốn trực tiếp can dự vào cuộc chiến tranh khốc liệt trong bối cảnh đối đầu hạt nhân. Với hạ sách đó, nếu Trung Quốc không tùy cơ ứng biến, xác định sách lược đối phó kiên định và linh hoạt, có thể xuất hiện cục diện Triều Tiên kiên quyết chống lại Trung Quốc, từ đó dẫn đến Trung Quốc bị sa vào tiêu điểm tranh chấp quốc tế ở Đông Bắc Á, cục diện đó rất đáng lo ngại, nhất định phải tránh.

Kết cục có nhiều khả năng nhất trong cuộc đọ sức quốc tế

Nếu trong đầu thế kỷ này Bắc Kinh lựa chọn đối sách xử lý vấn đề hạt nhân của Triều Tiên như hiện nay, Triều Tiên sẽ không có khả năng đột phá hạn chế kỹ thuật trong nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân, lại càng không thể sở hữu tên lựa mang đầu đạn hạt nhân. Trước đây tính toán không kỹ, dẫn đến bế tắc khó giải quyết như hiện nay.

Bình Nhưỡng thực hiện sách lược tiến 2 bước lùi 1 bước, mỗi lẫn đều thành công tránh được sự trừng phạt nặng nề của cộng đồng quốc tế, lần này Bình Nhưỡng hiển nhiên còn muốn diễn lại chiêu thức cũ, hơn nữa Mỹ ném chuột sợ vỡ bình, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in phần nhiều muốn thực hiện chính sách thân Bình Nhưỡng. Cuộc đọ sức quốc tế này diễn ra trong điều kiện ngặt nghèo, cuối cùng Bình Nhưỡng vẫn có thể thoát thân.

Một kết cục khác của cuộc đọ sức quốc tế cũng cần phải thấy rõ. Nếu Triều Tiên đưa ra cam kết nghiêm túc với Mỹ, việc từ bỏ vũ khí hạt nhân được tiến hành theo hai bước, trước hết không nâng cấp chuyên hệ vũ khí hạt nhân, hạn chế số đầu đạn hạt nhân, đồng thời hạn chế phương tiện mang đầu đạn hạt nhân là tên lửa tầm gần và tầm trung, sau đó sẽ từ bỏ hoàn toàn trong thời gian phù hợp.

Như vậy, Mỹ có thể đi đến ký kết hiệp định với Triều Tiên. Hơn nữa, Chính quyền Trump cũng mong muốn như vậy, coi đó là thành quả ngoại giao sáng giá nhất giành được kể từ 20 – 30 năm qua.

Triển vọng đó cũng chỉ có thể xuất hiện với điều kiện tiên quyết là cộng đồng quốc tế gây sức ép mạnh mẽ về quân sự, kinh tế chưa từng có đối với Triều Tiên, cũng như đập tan giấc mộng Bình Nhưỡng muốn thống nhất bán đảo bằng vũ lực. Nếu không, Triều Tiên vẫn chứng nào tật ấy, cứ đề cập đến từ bỏ hạt nhân là không đàm phán nữa.

Điều dễ thấy là, cho dù xuất hiện triển vọng như vậy, việc Triều Tiên từ bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân vẫn trở thành thứ bong bóng hão huyền. Vũ khí hạt nhân của Triều Tiên không thể tạo ra mối đe dọa đối với lãnh thổ Mỹ, nhưng về lâu dài trở thành mối đe dọa đối với Đông Bắc Á. Lâu dần, cộng đồng quốc tế sẽ phải chấp nhận vũ khí hạt nhân của Triều Tiên.

Đối với lợi ích quốc gia của Trung Quốc, triển vọng đó vừa có lợi vừa có hại. Điều có lợi là bán đảo không đến mức “xuất hiện hỗn loạn và chiến tranh”, không cản trở tiến trình trỗi dậy của Trung Quốc, Nhật Bản cũng không đến mức đi vào con đường không có ngày về nếu trang bị vũ khí hạt nhân. Điều bất lợi là mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên đã được xác định không đi đến đích. Trong tình huống trung Quốc bỏ lỡ thời cơ kiềm chế Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân, triển vọng đó coi như không đáp ứng mong muốn của kẻ mạnh. Tôi cho rằng, tuy triển vọng đó không được như mong muốn, nhưng lại là kết cục có thể xuất hiện trong cuộc đọ sức quốc tế này. Điều có thể dự báo là hai bên Mỹ và Triều Tiên có khả năng sẽ trực tiếp hội đàm. Nếu không tin, xin hãy chờ xem.

Trong tình hình thích hợp, hội đàm quốc tế nhất định sẽ tiến hành. Nếu như vậy, Mỹ, Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc hình thành hội đàm 4 bên, sẽ thêm nhân tố kiềm chế, ổn thỏa hơn là hội đàm song phương Mỹ – Triều.

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần cuối


4/ Chạy đua vũ trang không có hiệp định hạn chế vũ trang

Tuy vào năm 1976 các nước ASEAN đã ký Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác và Tuyên ngôn Hài hòa ASEAN (Declaration of ASEAN Concord), tuyên bố dùng phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp, nhưng đối với việc xây dựng lực lượng quân sự của các nước thì nó lại giữ thái độ tự do, bởi vì lực lượng quân sự của các nước có sự khác nhau tương đối lớn, hơn nữa các loại vũ khí trang thiết bị hiện đại hóa quan trọng phần lớn lại nhập từ ngoài khu vực quan trọng (Trung Quốc và Nhật Bản) lại không phải là nước thành viên, bởi vậy ít có khả năng ASEAN ký các hiệp định hạn chế vũ trang. Chính vì vậy chạy đua vũ trang của các nước ASEAN là một sự chạy đua nhằm theo đuổi cân bằng lực lượng quân sự, chỉ cần có một nước tăng cường lực lượng quân sự của nó thì sẽ có thể phá vỡ thế cân bằng lực lượng quân sự vốn có. Đặc biệt, quan hệ giữa các nước hạt nhân của ASEAN – Indonesia, Malaysia và Thái Lan -, trong tình hình không có hiệp định hạn chế vũ trang thì chúng chỉ có thể thông qua hợp tác quân sự hai bên để xây dựng tín nhiệm, nhằm ngăn ngừa chạy đua vũ trang vượt ra khỏi phạm vi hợp lý.

5/ Chạy đua vũ trang nhằm hiện đại hóa quốc phòng

Chạy đua vũ trang của ASEAN cũng nhằm hiện đại hóa nền quốc phòng vốn quá phụ thuộc vào sự bảo hộ an ninh của Mỹ, thậm chí nâng cấp nền công nghiệp quốc phòng vốn có của nó. Đặc biệt là Indonesia, Malaysia và Singapore, lợi dụng việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự, đòi nước cung ứng đồng thời tiến hành chuyển giao (trao quyền) kỹ thuật hoặc mua linh kiện vũ khí trang thiết bị quân sự của nước ấy, lấy đó là điều kiện giao dịch (trade-off). Điều quan trọng hơn là không phải các nước này chủ yếu dùng vũ khí và trang thiết bị quân sự của Mỹ, họ còn mở rộng ra các nước phương Tây khác, cho tới các nước thuộc nhóm cộng sản Liên Xô cũ. Việc Malaysia mua máy bay chiến đấu của Nga chính là bước đi tiên phong mở đường, làm cho các nguồn quân bị của ASEAN đa nguyên hóa, nắm quyền chủ đạo, lựa chọn các nước cung ứng có lợi để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng.

6/ Chạy đua vũ trang có xung đột ở cường độ thấp

Chạy đua vũ trang của ASEAN là chạy đua về vũ khí truyền thống (conventional weapons) chứ không phải về vũ khí hạt nhân, do đó tính phá hoại và tính hủy diệt của nó không đến mức quá lớn, mà hạn chế ở phạm vi “xung đột cường độ thấp” (Low intensity conflict). Hơn nữa ASEAN lại có kinh nghiệm thành công trong hợp tác về kinh tế, chính trị và ngoại giao, như Tuyên ngôn về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (Zone of Peace, Freedom and Newtrality) và Khu vực Phi Hạt nhân Đông Nam Á (Southeast Asia Nuclear weapons Free Zone) và các chiến lược an ninh khác, do đó chạy đua vũ trang giữa các nước thành viên ASEAN không đến mức gây ra xung đột quân sự nghiêm trọng. Mặt khác các nước ASEAN đều tương đối nhạy cảm với các công việc quân sự trong khu vực. Gần đây tập trận hai bên giữa các nước có tăng lên. Đó là tập trận có góp phần vào việc xây dựng các giá trị tín nhiệm. Do vậy chạy đua vũ trang tuy có thể gây ra căng thẳng trong quan hệ, nhưng không đến mức phá hoại đoàn kết của ASEAN. Trong thời gian trung và ngắn hạn, không có nhiều khả năng diễn ra đụng độ quân sự trong khu vực này.

Tính chất của chạy đua vũ trang của ASEAN không đến mức làm cho trật tự trị an ninh khu vực Đông Nam Á phải chịu tác động to lớn. Bởi vì trong khi duy trì an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ASEAN đóng vai trò hai tầng: tham gia đồng đều vào quyền lực khu vực và thúc đẩy cơ chế an ninh nhiều bên, và nó đã có đóng góp quan trọng; hơn nữa xét kỷ lục lịch sử là nó đã tồn tại gần 30 năm thì việc duy trì an ninh khu vực cũng là thành tựu cực kỳ nổi bật của nó. Quan trọng hơn là nó vẫn tiếp tục thuận theo thời kỳ sau chiến tranh lạnh mà từng bước thúc đẩy cơ chế an ninh nhiều bên, tăng cường phối hợp và giúp đỡ sự phát triển kinh tế của các nước vốn là mối đe dọa tiềm tàng trong khu vực (như Việt Nam, Campuchia), mở rộng hơn nữa đồng minh, làm cho chúng trở thành đối tác, cùng giữ gìn an ninh khu vực. Đặc biệt là kế hoạch mở rộng sáu nước ASEAN thành mười nước ASEAN trong khu vực và xây dựng các loại cơ chế phi quân sự và phi quan phương nhiều bên ngoài khu vực, thu hút các nước hữu quan khác nhằm xây dựng ý thức tin cậy và nương tựa lẫn nhau, làm cho những xung đột mà ASEAN phải đương đầu có thể được hóa giải bằng phương thức đàm phán hòa bình. Hơn nữa ASEAN còn ra sức đẩy mạh đa phương hóa việc hợp tác quân sự, đưa ra đề nghị liên hợp mua vũ khí và trang thiết bị quân sự, cùng hợp tác sản xuất một phần linh kiện vũ khí và tiêu chuẩn hóa vũ khí. Trên cơ sở hợp tác quân sự hai bên đã có, dần dần tiến hành hợp tác quân sự nhiều bên. Chẳng hạn, tập trận chung giữa Mỹ và Thái Lan, vì cân nhắc đến ngân sách của Mỹ, đã kết hợp tập trận luôn với Singapore. Tương tự, tập trận giữa Mỹ và các nước ASEAN khác cũng có thể được gộp lại. Với sự giúp đỡ của Mỹ, ASEAN cũng có thể dần xây dựng quan hệ hợp tác quân sự nhiều bên. Bởi vì trong báo cáo chiến lược của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương có chỉ ra rằng: “Chiến lược của chúng ta (tức của Mỹ – BT) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trận chủ động hai bên và nhiều bên giữa quân đội Mỹ và quân đội các nước hữu nghị và các nước đồng minh”. Đương nhiên muốn làm cho ASEAN trở thành một “cộng đồng quốc phòng” đơn nhất, triển khai lực lượng quân sự tập thể thì vẫn cần một lộ trình và những thử thách cần khắc phục, cũng cần phải quan sát xem Trung Quốc có xử lý vấn đề Nam Hải bằng vũ lực quân sự hay không.

IV/ Kết luận

Thời kỳ sau chiến tranh lạnh bắt đầu, ASEAN có cảm giác không xác định và không an toàn ngày càng tăng do Mỹ rút giảm lực lượng quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương. Nó có nhận thức mới về mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và việc nó nâng cấp lực lượng quân sự của mình cũng là biện pháp tự vệ đương nhiên. Đặc biệt, cảm giác về mối đe dọa Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quốc phòng những năm gần đây, sự suy giảm trong hoạt động phiến loạn của Hồi giáo và Cộng sản ở trong nước làm cho ASEAN cần phải nâng cấp việc hiện đại hóa quân sự quốc phòng. Hơn nữa kinh tế của các nước ASEAN cũng đang từng bước tăng trưởng nhanh chóng, các tổ hợp quân sự – công nghiệp của các nước ASEAN lại có sức ảnh hưởng và địa vị nhất định trong nền chính trị trong nước. Kinh tế tăng trưởng nhanh, lại có các nguồn của cải đầy đủ để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng. Hơn nữa thời kỳ chiến tranh lạnh đã kết thúc, thị trường vũ khí trang thiết bị quân sự thế giới cung lớn hơn cầu, là thị trường người mua. Những điều đó làm cho ASEAN đứng trước sự thách đố là các nước thành viên của nó tích cực tiến hành chạy đua vũ trang. Nhưng do việc chạy đua vũ trang của các nước ASEAN là dựa trên thể chất của bản thân ASEAN nên có các tính chất là: không thể tránh khỏi, không có kẻ thù rõ ràng, mua vũ khí và trang thiết bị của nước ngoài, hiện đại hóa quốc phòng, xung đột cường độ thấp và không có hiệp định hạn chế vũ trang. Những tính chất đó làm cho bên cạnh xung đột vũ trang, giữa chúng cũng có quan hệ hợp tác quân sự. Đặc biệt là Mỹ vẫn có lợi ích và sức ảnh hưởng ở khu vực này. Có thể trên cơ sở kinh nghiệm thành công trước đây của ASEAN trong việc giữ gìn an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, giúp ASEAN để trong khi đương đầu với chạy đua vũ trang, nó vận dụng thành công các tổ chức an ninh nhiều bên, từ đó loại bỏ khả năng xảy ra xung đột quân sự hoặc chiến trnah, phá hoại trật tự an toàn khu vực.

Nhưng muốn làm cho ASEAN trở thành một “cộng đồng quốc phòng” đơn nhất, triển khai lực lượng quân sự tập thể, thì vẫn phải có một lộ trình và những thử thách cần khắc phục. Bởi vì khác biệt giữa các nước thành viên bên trong ASEAN là rất lớn. Cũng cần quan sát vai trò lực lượng quân sự của Trung Quốc trong khu vực này. Đặc biệt là trong việc xử lý các vấn đề ở Nam Hải, đương nhiên vấn đề Đài Loan cũng là một giác độ tốt để ASEAN quan sát lực lượng quân sự của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Nga – Trung: Một liên minh bề nổi?


Liên minh giữa Nga và Trung Quốc dường như vững chắc đến mức có thể kết nạp được hai nước láng giềng thù địch Ấn Độ và Pakistan cùng làm thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Như vậy, khoảng 40% dân số thế giới nằm trong một tổ chức quốc tế không do phương Tây quản lý.

Hình ảnh liên minh Nga – Trung mang tính biểu tượng lớn, theo đánh giá trên trang The Conversation (26/6) của giảng viên đại học Cyrille Bret, trường Khoa học Chính trị Sciences-Po nổi tiếng của Pháp. Tuy nhiên, ông cũng đặt câu hỏi: Liên minh này gắn bó đến mức nào? Liệu liên minh này có bị tan vỡ ở Trung Á? Vì tại chính khu vực này, nằm trong tầm ảnh hưởng của Nga, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình muốn xây dựng một “con đường tơ lụa mới”. Chẳng lẽ liên minh này lại không vấp phải sự bất cân bằng về kinh tế và dân số giữa các nước đối tác? Tác giả bài viết cho rằng đằng sau liên minh bề nổi, xuất hiện nhiều vết rạn nứt.

Quan điểm chung về đối ngoại

Sau những lần căng thẳng và xích lại gần nahu trong thời kỳ Sa Hoàng và cộng sản, quan hệ Nga – Trung nhanh chóng được bình thường hóa. Năm 1996, hai nước ký kết thỏa thuận đối tác chiến lược và năm 2001 cùng ký một hiệp định hữu nghị thể hiện quan điểm chung về đối ngoại: Chặt chẽ trong việc tôn trọng chủ quyền quốc gia, áp dụng đúng từng từ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và mỗi nước có quyền thảo ra mô hình phát triển của riêng mình. Cuối cùng, vào năm 2004, hai nước giải quyết dứt điểm mọi tranh chấp lãnh thổ.

Sự đồng nhất về chính trị của hai nước được thể hiện rõ trong việc chống lại quyền bá chủ của Mỹ. Vì thế, việc Mỹ can thiệp vào Kosovo (1999) và Iraq (2003) đồng loạt bị Bắc Kinh và Moskva lên án là hành động xâm phạm chủ quyền của những nước đó.

Đối với Moskva và Bắc Kinh, cần phải cảnh cáo mọi ý định can thiệp ở Đài Loan, Triều Tiên, Kavkaz hay Ukraine. Tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Nga có thể thường xuyên dựa vào Trung Quốc vì từ năm 2007, Bắc Kinh đã 7 lần sử dụng quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo an và luôn phủ quyết cùng với Nga.

Tương tự, cả Nga và Trung Quốc khẳng định quan điểm gần giống nhau về vấn đề hạt nhân Iran, cuộc nội chiến Syria và chủ nghãi khủng bố Hồi giáo quốc tế.

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải – mối liên kết an ninh

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), được thành lập năm 2001, nhằm hình thành một liên minh về an ninh. Nga và Trung Quốc liên kết quanh mình các nước thuộc liên bang Xô Viết trước đây ở Trung Á và hiện trở thành các chủ chốt của châu Á. Các đối tác trong khối muốn căn trở các cuộc cách mạng ở Trung Á; họ muốn kiềm chế sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, tại Afghanistan và ở Trung Đông với thành công là đóng cửa các căn cứ không quân của Mỹ tại Uzbekistan và Kyrgyzstan, sau thượng đỉnh SCO tại Astana (thủ đô của Kazakhstan) năm 2005.

Quan hệ hợp tác Nga – Trung được thúc đẩy nhất trong lĩnh vực quân sự. Vào các năm 2005, 2007, 2009, 2010 và mùa Hè 2017, Trung Quốc và Nga cùng tiến hành các cuộc tập trận hàng hải và trên bộ có quy mô lớn trong vùng biển Baltic với tên gọi “Sứ mệnh Hòa bình” dưới sự bảo trợ của SCO. Quan hệ hợp tác song phương đặc biệt mạnh mẽ trong lĩnh vực vũ khí đạn đạo. Sau năm 1989, do liên tiếp bị trường phạt vì vụ thảm sát Thiên An Môn, Trung Quốc chuyển sang nhập vũ khí của Nga. Vì vậy, trong những năm 1990, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ của 50% lượng vũ khí xuất khẩu của Nga.

Năm 2005, sau cuộc tập trận chung “Sứ mệnh Hòa bình 2005”, Trung Quốc đã đặt mua rất nhiều máy bay chiến đấu và máy bay vận tải của Nga. Trong lĩnh vực tên lửa cũng vậy, Trung Quốc thường xuyên đặt mua từ ngành công nghiệp Nga, dù mới đây, Ấn Độ đã vượt Trung Quốc để trở thành quốc gia hàng đầu nhập khẩu vũ khí của Nga.

Hợp tác kinh tế mới được chú trọng

Từ lâu, trao đổi kinh tế là điểm yếu trong mối quan hệ Nga – Trung. Tuy nhiên, từ đầu những năm 2010, Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế hàng đầu của Nga, với mục tiêu được hai nước đề ra là nâng trao đổi thương mại từ 90 tỷ USD lên thành 200 tỷ USD mỗi năm.

Mặt hàng trao đổi bên phía Nga lại không đa dạng: chỉ riêng dầu mỏ đã chiếm đến 80% lượng xuất khẩu của Nga sang Trung Quốc, nhưng vì vẫn bất đồng về giá bán và thái độ dè chừng từ phía Moskva nên việc xây dựng hệ thống ống dẫn khí và ống dẫn dầu bị chậm trễ nghiêm trọng.

Phải đến năm 2010, Nga mới mở đường ống dẫn dầu đầu tiên sang Trung Quốc và đến năm 2014, dự án đường ống dẫn khí “Sức mạnh Siberia” mới hình thành. Nhờ đó Bắc Kinh và Moskva đã ký một thỏa thuận cung cấp 38 tỷ m3 khí đốt mỗi năm kể từ năm 2018 với tổng trị giá được thẩm định là 400 tỷ USD và thời hạn hợp đồng kéo dài 30 năm.

Trong lĩnh vực tài chính, thông qua tổ chức BRICS (Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Nam Phi), Trung Quốc và Nga tìm cách phát triển một hệ thống ngân hàng và tài chính song song với thị trường tài chính của các nước phương Tây. Tuy nhiên trên thực tế, liên minh kinh tế lại khập khiễng vì tình trạng chênh lệch kinh tế giữa các nước đối tác.

Một liên minh bị hạn chế vì các chủ đề căng thẳng về cơ cấu

Liệu liên minh Nga – Trung có thể đối chọi được sức mạnh phối hợp của Mỹ và châu Âu không? Không có gì là chắc chắn vì quan hệ đối tác vấp phải nhiều trở ngại về cơ cấu. Quan điểm địa chính trị của hai cường quốc không hẳn liên kết với nhau. Hiện Nga đi theo chiến lược việc đã rồi, với mục đích thay đổi thế cân bằng tại châu Âu và Trung Đông. Trong khi đó, Trung Quốc lại tỏ ra bảo thủ hơn và chú ý đến việc đối xử khéo léo với một Mỹ hung hăng hơn của Donald Trump.

Tương tự, về việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea, Trung Quốc không nhiệt tình ủng hộ Nga vì điều này tác động xấu đến đường hướng chung của hai nước trong việc bảo vệ nguyên tắc không can thiệp. Ngoài ra, Nga cũng nhận thấy Trung Quốc là một đối thủ tại Trung Á, nên viễn cảnh về tương lai của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải có thể trái ngược với nhau. Mở rộng thẩm quyền của SCO sang cả phạm vi kinh tế là ý muốn của Bắc Kinh, nhất là để tăng thêm ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua dự án con đường tơ lụa mới. Đây là điều Moskva dè chừng.

Để giảm bớt trọng lượng của Trung Quốc trong tổ chức, Nga đã ủng hộ hai nước Ấn Độ và Pakistan gia nhập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Như vậy, đằng sau sự nhất quán bề ngoài đó còn ẩn giấu những cạnh tranh đáng ngờ.

Trong lĩnh vực quân sự, Moskva không ngần ngại cung cấp trang thiết bị quốc phòng cho các đối thủ của Trung Quốc trong vùng (Ấn Độ, Việt Nam…). Và Moskva cũng ngày càng thận trọng hơn trong việc chuyển giao công nghệ trọng điểm cho Trung Quốc.

Năm 2004, chính quyền Nga đã ngừng xuất khẩu máy bay chiến đấu Sukhoi SU-35 và máy bay oanh tạc Tupolev Tu-22M cho Trung Quốc vì bất đồng trong việc bảo vệ công nghệ đối với máy bay Sukhoi SU-27SK, được Trung Quốc gọi là Thẩm Dương (Shenyang) J-11. Nói tóm lại, Nga sợ các phiên bản sao chép của Trung Quốc.

Trong lĩnh vực kinh tế, Nga tỏ ra ngập ngừng tham gia chính sách “xoay trục của Trung Quốc”. Thực vậy, chính quyền Moskva giám sát hạn chế các nguồn đầu tư Trung Quốc vào Nga. Như năm 2002, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (China National Petroleum Corporation), được cho là sẽ thắng thầu tập đoàn Slavneft của Nga, cuối cùng lại bị chính quyền Nga loại khỏi thương vụ.

Tóm lại, rất nhiều bất trắc đang đè lên tương lai của liên minh này. Tình đoàn kết giữa Trung Quốc và Nga trước chính quyền của Donald Trump sẽ đi đến đâu? Trong khi nền kinh tế Nga lại không đa dạng lắm, thì liệu hợp tác kinh tế được định hình bời dự án “Sức mạnh Siberia” có đạt đến tầm cao như trong hợp tác quân sự và trong các hình ảnh đầy tính tượng trưng trên truyền thông hay không? Nếu như cơ cấu liên minh Nga – Trung có vẻ vững chắc vẻ bề ngoài, thì lại dễ vỡ khi nhìn từ bên trong.

Nguồn: TKNB – 12/07/2017

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần III


Ngày Nhật Bản trang bị vũ khí hạt nhân còn đầy khó khăn

Một viên tướng của Lực lượng phòng vệ trên không của Nhật Bản từng nói khi Triều Tiên sở hữu tên lửa liên lục địa, lấy đó làm lá bùa hộ mệnh, có thể lấy bang California làm quân bài mặc cả. Mỹ phải bàng quan đối với hành động mạo hiểm của Triều Tiên vì bị bắt làm con tin khiến Nhật Bản không thể tin tưởng mù quáng vào cam kết an ninh của Mỹ đối với Nhật Bản. Vũ khí hạt nhân mà Nhật Bản sở hữu mới là biện pháp đáng tin cậy nhất để bảo vệ an ninh của nước này. Nhận thức của giới hoạch định chiến lược của Nhật Bản đối với giới hạn đỏ của vấn đề hạt nhân Triều Tiên rất rõ ràng. Cho dù Triều Tiên có sở hữu bom khinh khí và tên lửa liên lục đại hay không thì kho vũ khí hạt nhân của nước này cũng đã có từ 40 đến 50 đầu đạn hạt nhân, có thể kích động Nhật Bản chế tạo vũ khí hạt nhân. Nguyên liệu hạt nhân của Nhật Bản cất giữ rất nhiều, cơ sở khoa học kỹ thuật, công nghiệp rất vững mạnh, năng lực tài chính lớn, một khi đã đưa ra quyết định chính trị chế tạo vũ khí hạt nhân, trong vài năm có thể sỡ hữu hàng trăm đầu đạn hạt nhân. Trong các cường quốc hạt nhân được công nhận, Trung Quốc đã ở trong vòng vây hạt nhân từ lâu, tình thế chiến lược rất xấu. Sau khi Nhật Bản sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, không những tình hình chính trị của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong con mắt của Mỹ thay đổi mà môi trường của vành đai hạt nhân xung quanh Trung Quốc ngày càng nguy hiểm hơn.

Nếu tạm coi Nhật Bản chưa trang bị vũ khí hạt nhân thì việc Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân cũng có thể thúc đẩy Hàn Quốc, Đài Loan đi theo. Nhật Bản trước hết có thể mở rộng năng lực răn đe hạt nhân của họ đến vùng biển Đài Loan đang tranh chấp. Đây có thể là điều chắc chắn. Điều tệ hại hơn là lãnh thổ Nhật Bản hỏ hẹp, hơn một nửa dân số và phần lớn của cải xã hội tập trung ở vành đai ba thành phố lớn là Tokyo, Kyoto – Osaka – Kobe và Chukyo. Khi đối phương phát động một đợt tấn công bằng vũ khí hạt nhân đầu tiên, Nhật Bản sẽ đối mặt với mối đe dọa của tiệt chủng mất nước. Có thể thấy, trong một trận chiến bằng vũ khí hạt nhân với cường quốc, Nhật Bản sẽ bị rơi vào tình thế khó xử hoặc phải sử dụng trước hoặc hoàn toàn mất đi giải pháp phản kích bằng vũ khí hạt nhân. Do đó Nhật Bản không thể kiềm chế nổi việc sử dụng vũ khí hạt nhân trước.

Tóm lại, nếu trong tương lai gần, cộng đồng quốc tế vẫn không thể đạt được mục tiêu phi hạt nhân bán đào Triều Tiên, thì Bắc Kinh không thể kỳ vọng bán đảo này không nảy sinh hỗn loạn và chiến tranh, không tránh khỏi phi hạt nhân hóa trở thành ảo tưởng. Còn việc Bắc Kinh kêu gọi Triều Tiên ngừng thử tên lửa và vũ khí hạt nhân để đổi lấy việc Mỹ và Hàn Quốc ngừng tập trận chung một năm một lần cũng chỉ là điều mong muốn. Đó là nguyên vọng của riêng Trung Quốc, Bình Nhưỡng và Washington không hề nghe theo. Ngoài ra, bãi thử hạt nhân của Triều Tiên cách Bình Nhưỡng xa nhất nhưng lại tiếp giáp biên giới với Trung Quốc. Tình hình ngân sách Triều Tiên rất khó khăn, kỹ thuật hạt nhân khá lạc hậu, một khi xảy ra sự cố nghiêm trọng thì chắc chắn sẽ gây ô nhiễm hạt nhân đối với vùng Đông Bắc của Trung Quốc. Ngạn ngữ có câu” Muốn tránh hậu quả lớn do hỏa hoạn, biện pháp trước tiên là phải bỏ bớt củi ở dưới nồi. Sau khi hỏa hoạn xảy ra, dân chúng cố sức chữa cháy cũng “sứt đầu mẻ trán”, đối với hậu quả lớn do hỏa hoạn gây ra thì chỉ tốn công vô ích.

Từ đó có thể thấy, nếu Trung Quốc không loại trừ tại họa từ trước khi xảy ra, thì một trong những giới hạn đỏ của Trung Quốc đối với vấn đề hạt nhân của Triều Tiên là hoạt động hạt nhân của Triều Tiên tuyệt đối không để gây ô nhiễm đối với vùng Đông Bắc Trung Quốc, không thể là lời nói suông.

“Hành động chặt đầu” Triều Tiên dường như không khả thi

Dư luận thế giới về việc Mỹ sẽ thực hiện “hành động chặt đầu” đối với Triều Tiên trong gần hai năm qua khá ầm ĩ. “Chặt đầu” là một thuật ngữ quân sự chỉ việc sử dụng tên lửa hành trình và tên lửa điều khiển chính xác cao tấn công đối với kẻ địch, thông qua sự tấn công chính xác, trước hết sẽ tiêu diệt người đứng đầu và cơ quan đầu não của đối phương, đập tan hoàn toàn ý chí chống trả của đối phương.

Nhân tố quan trọng của “hành động chặt đầu” là nhanh chóng, chính xác và có nội ứng. Tư duy này phù hợp với câu tục ngữ “Đánh rắn phải đánh dập đầu” của Trung Quốc. Tuy nhiên, mức độ khó khăn của việc Mỹ thực hiện “hành động chặt đầu” Triều Tiên rất lớn.

Trước hết phải phá vỡ rào cản của tư duy chiến lược. Từ khi vũ khí hạt nhân xuất hiện đến nay, khả năng hủy diệt với quy mô lớn của nó đã hạn chế tính chất của hành động quân sự. Đây chính là nguyên nhân khiến cho giữa hai quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân chưa từng bùng nổ chiến tranh, xung đột biên giới với quy mô lớn cũng chưa hề xảy ra. Đối với việc một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân khi sử dụng cũng chỉ để xóa bỏ mối đe dọa hạt nhân thực tế hoặc tiềm ẩn, nhưng đến nay chưa từng có tiền lệ nào như vậy trên thế giới. Đối với việc Triều Tiên đã sở hữu vũ khí hạt nhân, Mỹ thực sự cảm thấy bế tắc, muốn “hành động chặt đầu” trước hết phải phá bỏ rào cản tâm lý này.

Thứ hai là cân nhắc về cấp độ kỹ thuật. Mỹ thật sự muốn hành động tập kích Kim Jong-un, phá hủy cơ sở hạt nhân và vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, đều cần kế hoạch tỉ mỉ và chi tiết khi bày binh bố trận. Đặc biệt, Mỹ phải rất thận trọng trong thời điểm then chốt vừa không thể quá chậm trễ, trước khi Kim Jong-un hạ quyết tâm cuối cùng, tránh Bình Nhưỡng ấn nút hạt nhân trước; vừa không thể quá sớm nhằm tránh mất đi cơ hội thông qua con đường ngoại giao để giải quyết vấn đề nan giải còn tồn tại. Ngoài ra, khi thực hiện “hành động chặt đầu”, Mỹ có hủy diệt cùng một lúc vũ khí hạt nah6n và cơ sở hạt nhân của Triều Tiên hay không? Làm thế nào mới có thể tránh hậu quả nghiêm trọng như vụ nổ hạt nhân và ô nhiễm hạt nhân?

Cuối cùng, về lý luận chiến lược hạt nhân có một quan điểm đó là một nước lớn hạt nhân sử dụng vũ lực đối với một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân nhỏ hơn nhiều thì chưa chắc đã tiêu diệt được lãnh đạo cao nhất hoạch định chính sách của nước đó. Nguyên nhân là ở chỗ những người hoạch định chính sách ở nước đó cuối cùng có thể ra lệnh cho quân đội ngừng mọi hoạt động đối đầu và công khai lộ diện đàm phán với kẻ địch. Nếu họ không làm như vậy quân đội nước đó có thể sử dụng biện pháp cực đoan, do đó không có lợi cho việc kết thúc sớm chiến trah. Tính toán này có thể phù hợp với quan điểm hoạch định chính sách của Mỹ khi xử lý vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Lực lượng tấn công bằng vũ khí hạt nhân của Triều Tiên hiện nay vẫn nằm trong sự kiểm soát đầy sức mạnh của Kim Jong-un. Một khi ông gặp tai họa bất ngờ, lực lượng này có thể mất kiểm soát và có hành động khó lường. Tình hình tiếp sau đó như thế nào thì không ai có thể dự đoán được.

Tóm lại, “hành động chặt đầu” dường như bất khả thi. Cho dù Mỹ sử dụng vũ lực đối với Triều Tiên, “hành động chặt đầu” cũng chỉ là một bộ phận của tấn công quân sự về tổng thể. Khả năng Mỹ đơn thuần thực hiện “hành động chặt đầu” đối với cơ quan đầu não của Triều Tiên mà không liên quan đến hành động quân sự quan trọng khác là rất nhỏ.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần IV


7/ Tăng trưởng kinh tế liên tục

Nhân tố chủ yếu nhất làm cho các nước ASEAN tích cực tiến hành mau vũ khí và trang thiết bị quân sự không có gì hơn là sự tăng trưởng kinh tế nhanh của các nước đó trong những năm gần đây. Ngoài Philippines, năm nước khác đều duy trì mức tăng trưởng kinh tế tương đối cao, có tương đối nhiều vốn để mua vũ khí và trang thiết bị quân sự. Khoản chi cho quốc phòng và ngân sách quốc phòng tăng lên, việc mua vũ khí trang thiết bị quân sự của nước ngoài cũng tăng lên. Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh nên tỉ lệ chi phí quốc phòng và ngân sách quốc phòng trong tổ sản phẩm quốc dân giảm xuống, nhưng tổng kim ngạch ngân sách quốc phòng vẫn khá lớn. Các nhà khoa học đã phân tích và chỉ ra rằng giữa mức tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN và chi phí uốc phòng của các nước đó có quan hệ tỉ lệ thuận với nhau. Theo thống kê tư liệu của Viện Nghiên cứu chiến lược Quốc tế ở London (Anh) thì tổng sản phẩm trong nước (GDP), tỉ lệ tăng trưởng kinh tế (Rate of Economic Growth, EG), ngân sách quốc phòng (Defense Budget, BG) và chi quốc phòng (Defense Expending, EP) những năm gần đây của các nước ASEAN là như Biểu 3.

Nhờ kinh tế tăng trưởng, ASEAN tích lũy được của cải, trong khi đó thị trường bán vũ khí quốc tế lại tiêu điều. Là thị trường người mua, sẵn có kinh phí, lợi dụng thời cơ, ASEAN đã tiến hành mua vũ khí, trang thiết bị quân sự và xây dựng quân sự. Nhưng các nước ASEAN cũng không muốn ngân sách xây dựng quân sự ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của mình. Họ cũng từng bước tiến hành cắt giảm ngân sách quốc phòng và tái giảm quân bị, nhưng chỉ với tiền đề là lực lượng quân sự của các nước đó đã dần dần hiện đại hóa.

III/ Tính chất và tác động của chạy đua vũ trang

Biểu 3: Thống kê tổng sản phẩm trong nước, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, ngân sách quốc phòng và chi phí quốc phòng những năm gần đây của các nước ASEAN

Nước Năm GDP (100 triệu USD) EG BG (100 triệu USD) BE (100 triệu USD)
Brunei 1993 50,0 4,0%   2,12
1994 53,0 4,0%   2,39
1995     0,48  
Malaysia 1993 644,0 8,3%   26,4
1994 699,0 8,5% 20,5  
1995     24,1  
Indonesia 1993 1447,0 6,5%   20,3
1994 1548,0 7,0% 23,2  
1995     25,7  
Singapore 1993 543,9 2,1%   7,49
1994 638,8 4,3% 8,75  
1995     10,04  
Thái Lan 1993 1220,0 7,8%   31,2
  1994 1324,0 8,5% 36,2  
  1995     40,0  

Nguồn: The International Institute for Strategic Studies, the Military Balance 1995 – 1996 (London: Oxford University Press, 1995), pp 174-195.

Duy trì an ninh khu vực, về mặt chính trị, ngoại giao và kinh tế, các nước ASEAN đều có thể xúc tiến lợi ích của các nước thành viên, nhưng về mặt quân sự thì lại tiến hành với phương thức chạy đua vũ trang. Điều đó tác động như thế nào tới an ninh khu vực? Tính chất chạy đua vũ trang của ASEAN không giống với của châu Âu, làm cho một số học giả không thừa nhận có hiện tượng chạy đua vũ trang ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tính chất việc chạy đua của ASEAN có thể quy thành mấy đặc điểm sau:

1/ Chạy đua vũ trang không thể tránh khỏi

Vừa mới thành lập, ASEAN đã kiên trì lập trường loại trừ việc trở thành một liên minh quân sự, cũng loại trừ các quan hệ hợp tác quân sự theo liên minh quân sự nhiều bên, nhưng cho phép các thành viên kết thành liên minh quân sự theo phương thức hợp tác quân sự song phương với các nước trong và ngoài khu vực, nhưng duy trì tính co giãn và tính lựa chọn. Thứ quan hệ hợp tác quân sự hai bên như vậy có tác dụng quan trọng đối với chính trị và an ninh của toàn ASEAN, góp phần vào việc tạo ra sự tín nhiệm lẫn nhau. Đặc biệt trong tập trận, chủ yếu là dùng không quân và hải quân, như vậy sẽ tránh được sự nghi kị của đối phương. Nhưng đối với các kiến nghị hợp tác quân sự nhiều bên, nó vẫn giữ thái độ cự tuyệt. Indonesia, Malaysia và Singapore đều có các quan hệ hợp tác quân sự hai bên với nhau, vì vậy kiến nghị thành lập Ủy ban Hợp tác Quân sự ba nước (Three Country Military Cooperation Committee) hoặc Ủy ban Hợp tác Quốc phòng (Defense Cooperation Committee) đã gây ra tranh cãi nên phải chuyển sang tiến hành theo phương thức phi chính thức. Ngay cả mối quan hệ hợp tác quân sự nhiều bên lớn nhất – Hiệp định Hợp tác Quân sự Năm nước (Five power Defense Arrangement) – cũng là sự hợp tác giữa Singapore và Malaysia với các nước ngoài khu vực là Anh, New Zealand và Australia; Indonesia thậm chí coi hiệp định này là nhằm vào mình. Có thể thấy, hình thành một liên minh quân sự đơn nhất bên trong ASEAN là điều không thể được. Đặc biệt, việc tranh chấp lãnh thổ và nghi kị giữa các thành viên bên trong nó đã làm cho các nước ASEAN tiến hành chạy đua vũ trang nhằm tự vệ.

2/ Chạy đua vũ trang không có kẻ thù rõ rệt

Đúng như đã trình bày ở trên, có thể hiểu “kẻ thù” tiềm tàng của ASEAN cũng là “đồng minh” quan trọng (như Mỹ, Nhật Bản Trung Quốc) để nó duy trì an ninh khu vực; còn một số “đồng minh” bên trong của nó lại là “kẻ thù” tiềm tàng của nó (như Malaysia và Singapore, Thái Lan, Philippines và Malaysia). Điều này làm cho việc chạy đua vũ trang của ASEAN không có sự đe dọa của một kẻ thù rõ ràng nhưng khắp nơi lại đều có sự đe dọa của kẻ thù. ASEAN lo ngại vì chiến tranh lạnh kết thúc mà an ninh khu vực, sự cân bằng và ổn định quyền lực vốn có bị phá vỡ, do đó cần phải chuẩn bị chiến tranh trước, đặc biệt là cần phải hiện đại hóa vũ khi và thiết bị quân sự vốn dùng để đối phó với lật đổ bên trong, biến thành vũ khí và thiết bị quân sự (như trang bị hải quân và không quân) dùng để đối phó với chiến tranh xâm phạm lãnh thổ. Hơn nữa, kết thành liên minh quân sự cũng chẳng ích gì cho việc ngăn chặn các mối đe dọa, lại có thể gây ra bạo loạn vì yêu sách dân tộc và sự đối kháng của các cường quốc khác (Trung Quốc và Việt Nma). Do vậy mà có hiện tượng các nước ASEAN tự tiến hành mua vũ khí, thậm chí Malaysia và Singapore còn cạnh tranh lẫn nhau trong việc này. Điều đó nói lên rằng “kẻ thù giả định” trong chạy đua vũ trang của ASEAN vừa là kẻ thù vừa là đồng minh của nó, “kẻ thù” hoàn toàn không rõ ràng.

3/ Chạy đua vũ trang chủ yếu bằng cách mua của nước ngoài

Cùng với tăng trưởng kinh tế từng bước và thuận theo thời cơ của thị trường bán vũ khí quốc tế, ASEAN đã mua ào ạt thiết bị và kỹ thuật quân sự hiện đại để bổ sung vào chỗ thiếu hụt và hạn chế trong năng lực công nghiệp quốc phòng trong nước. Vũ khí trang thiết bị quân sự mà ASEAN mua phần nhiều là vũ khí tiên tiến hiện đại hiện nay (như chiến xa chủ lực T-69 và M60A1; máy bay chiến đấu F-16, Mirage-2000, FXA-18, MiG-29; đạn pháo AIM-9). Đặc biệt là Indonesia với Bộ trưởng Habibie đóng vai trò chủ đạo đã mua hàng loạt vũ khí và kỹ thuật của Nga, Đức, nâng cấp công nghiệp quốc phòng Indonesia. Bởi vậy gia tăng mua từ nước ngoài là con đường ngắn vừa nhanh vừa rẻ để nâng cấp lực lượng quân sự quốc phòng. Ngoài ra lại có thể cải thiện quan hệ ban đầu với các nước Cộng sản (như Nga và Trung Quốc), bởi vì chạy đua vũ trang giữa các nước ASEAN chủ yếu là mua của nước ngoài.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần II


Vì sao Bình Nhưỡng muốn sở hữu tên lửa liên lục địa

Tổng thống Mỹ George W. Bush đưa ra chính sách “thay đổi thể chế” ở những quốc gia thù địch và thập niên 2000, còn Bình Nhưỡng đã khởi động chương trình đầu đạn hạt nhân từ thập niên 1960, 1970, giữa hai sự kiện này căn bản không liên quan với nhau. Xu thế phát triển kinh tế của Triều Tiên vào thời điểm đó mạnh hơn Hàn Quốc, thu nhập bình quân tính theo GDP vượt xa Hàn Quốc. Hơn nữa, Triều Tiên được sự ủng hộ và bảo vệ toàn diện của hai nước lớn thuộc phe xã hội chủ nghĩa là Trung Quốc và Liên Xô, vừa không lo bất ổn chính trị ở trong nước, vừa không ngại sự tấn công quân sự từ Mỹ và Hàn Quốc. Tuy nhiên, Bình Nhưỡng vẫn đưa ra quyết sách quan trọng là khởi động chương trình vũ khí hạt nhân. Điều này chứng tỏ tâm lý “tiểu bá” được tôn sùng, tham vọng ma quỷ của gia tộc nhà họ Kim không từ bỏ.

Thuốc phóng tên lửa Hwasong-12 của Triều Tiên là axit nitric và UDMH. Đây là các chất lỏng có thể cất giữ và được hoàn thiện kỹ thuật. Nếu Triều Tiên quyết định phát động tấn công bằng vũ khí hạt nhân hoặc đáp trả bằng loại vũ khí này trong tình hình khẩn cấp, thì khả năng tấn công của tên lửa Hwasong-12 khá mạnh, đủ khả năng tấn công hạt nhân đối với quân đội Mỹ ở đảo Guam. Còn với việc tấn công hạt nhân vào căn cứ của quân đội Mỹ ở hai nước Nhật Bản và Hàn Quốc, tên lửa tầm ngắn mà Triều Tiên sở hữu đã rất đầy đủ.

Quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc lên tới gần 30000 người, phần lớn triển khai gần vĩ tuyến 38 độ Nam. Nếu Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản phát động tấn công quân sự đối với Triều Tiên sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc chắc chắn phải chịu hậu quả đầu tiên, khó tránh khỏi thương vong lớn. Trong tình hình Triều Tiên đã sở hữu đầu đạn hạt nhân, triển khai quân đội Mỹ đóng tại tiền đồn ở Hàn Quốc có hai tác dụng: Đầu tiên là kiếm chế quân đội Triều Tiên tiến về phía Nam, thứ hai là buộc Mỹ phải kiềm chế chủ động gây chuyện ở phía Bắc vì lo ngại “ném chuột vỡ bình”. Nói cách khác, quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc bị coi là con tin trong tay Bình Nhưỡng cũng không sai.

Đánh giá đó cũng phù hợp với quân đội Mỹ đóng ở xung quanh Triều Tiên. Vấn đề an ninh của quân đội Mỹ gần thì đóng tại Hàn Quốc, xa hơn là đảo Guam và Nhật Bản đều là nhân tố đắt giá hạn chế Mỹ thử nghiệm lật đổ Chính quyền Bình Nhưỡng. Washington chỉ cần lật đổ Chính quyền Bình Nhưỡng thì sẽ khiến quân đội Mỹ gặp rủi ro bị tấn công bằng vũ khí hạt nhân, đi ngược lại nhân tố quan trọng về quyết sách, là điều không thể nghĩ đến. Như vậy, đây cũng là việc cấm kỵ mà bất kỳ Tổng thống Mỹ nào cũng không khinh suất.

Như trên đã phân tích, Bình Nhưỡng muốn kiềm chế tác động, cũng như là hành động của Mỹ lật đổ chính quyền hiện tại của Triều Tiên. Bình Nhưỡng đã sở hữu tên lửa Hwasong-12, tại sao họ cố sức đẩy nhanh nghiên cứu và chế tạo tên lửa tầm xa, thậm chí là tên lửa liên lục địa? Trước vấn đề then chốt này, Bắc Kinh và Washington đều chưa có câu trả lời chính xác.

Người viết cho rằng Bình Nhưỡng rất có thể nhận thấy việc xây dựng lực lượng tên lửa hạt nhân và liên lục địa, có thể giải quyết tận gốc vấn đề, khi Bình Nhưỡng muốn sử dụng vũ lực để thống nhất bán đảo Triều Tiên, họ cũng sẽ chấm dứt quyết sách của Washington muốn can thiệp quân sự. Chính quyền nhà họ Kim có thể có kế hoạch này từ lâu chứ không phải đến tận bây giờ.

Cựu Chủ tịch Quốc hội Triều Tiên Hwang Jang-yop (đã trốn sang Hàn Quốc vào năm 1997) nêu rõ khi Kim Nhật Thành thị sát nhà máy của quân đội ở dưới lòng đất vào năm 1958, hấn mạnh có vũ khí hạt nhân, trước hết có thể đè bẹp Hàn Quốc, là biện pháp để ngăn chặn hiệu quả hơn sự can dự của Mỹ. Năm 1958 chỉ là ý tưởng của Kim Nhật Thành, hiện nay khi đã sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, có thể là biện pháp mạnh mẽ để Kim Jong-un tuổi trẻ chí lớn có một ngày thực hiện “ý đồ vĩ đại”.

Khó tránh khỏi xu thế “nảy sinh hỗn loạn và chiến tranh” ở bán đảo Triều Tiên

Từ khi tên lửa mang đầu đạn hạt nhân xuất hiện trên thế giới đến nay, khả năng sát thương rất lớn của nó làm cho ngay cả hai quốc gia liền kề nhau sở hữu vũ khí hạt nhân chưa bao giờ xảy ra xung đột lớn, không dễ xảy ra chiến tranh toàn diện. Ấn Độ và Pakistan đã xảy ra ba cuộc chiến tranh lớn, nhưng sau khi hai nước lần lượt sở hữu vũ khí hạt nhân vào năm 1998, lại chưa từng xảy ra xung đột biên giới quy mô lớn, đó là một ví dụ.

Bình Nhưỡng đã nắm được tên lửa liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân, tự đảm bảo chính quyền của mình không bị thế lực bên ngoài lật đổ, điều đó không còn là vấn đề đối với Triều Tiên. Nhưng Triều Tiên vẫn không buông lơi, dồn toàn lực để tiến lên, mục tiêu đã định là bắn tên lửa liên lục địa phải được thực hiện, thể hiện rõ ý chí của Bình Nhưỡng không nhỏ.

Tên lửa liên lục đại Hwasong-14 đã tuân thủ định hướng kỹ thuật của Trung Quốc từ tên lửa Đông Phong – 3 phát triển đến tên lửa Đông Phong – 4. Nếu Triều Tiên đã giải quyết được vấn đề cơ cấu có liên quan, thì Hwasong-14 đã được cải tiến sẽ có thể tấn công vào trung tâm với đông dân số nằm sâu trong lãnh thổ Mỹ.

Sau khi Triều Tiên sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân liên lục địa, họ chắc chắn tác động rất lớn đến cục diện chính trị Đông Bắc Á, tình trạng căng thẳng có thể lan rộng khắp thế giới. Điều nổi bật từ hành động của họ là:

Thứ nhất, mục tiêu tấn công bằng tên lửa liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân của Triều Tiên đương nhiên là khu vực dân cư đông đúc trong lãnh thổ Mỹ, Mỹ không thể coi nhẹ vấn đề này. Bản thân Trump và nhiều trợ thủ giúp ông hoạch định chính sách đều đã lãnh đạo công ty đa quốc gia lớn, nhiều năm rèn luyện, đã hình thành tâm lý “đánh bạc” rủi ro cao thì lợi nhuận cao đậm nét, đồng thời giỏi đưa ra quyết sách khi ứng phó với khủng hoảng. Từ nay, Washington và Bình Nhưỡng đọ sức chiến lược, đứng vũng trong cục diện thay đổi ở Đông Bắc Á sẽ tạo ra khả năng thực hiện biện pháp quyết liệt mà các chính phủ tiền nhiệm chưa từng làm, không thể loại trừ khả năng đó.

Washington đương nhiên không thể chỉ vì lật đổ Chính quyền Bình Nhưỡng mà đẩy quân đội Mỹ đóng ở xung quanh Triều Tiên rơi vào tình trạng nguy hiểm. Tuy nhiên, trong tình hình khẩn cấp do khu vực đông dân cư nằm trong lãnh thổ Mỹ bị đe dọa từ các vụ tấn công hạt nhân của Triều Tiên, Mỹ phải chọn một tai họa nhỏ hơn trong hai tai họa làm theo ý mình, đánh đòn phủ đầu đối với Triều Tiên, phát động cuộc tấn công quân sự mạnh mẽ. Mỹ đã nhẫn nhịn trong 25 năm đối với vấn đề hạt nhân của Triều Tiên. Theo quy tắc của khoa học hoạch định quyết sách, Mỹ có thể không tấn công quân sự đối với Triều Tiên nhưng nếu phát động tấn công thì ngoài phối hợp rộng rãi với cộng đồng quốc tế nhất định phải thực hiện trước khi tên lửa liên lục địa của Triều Tiên có khả năng chiến đấu thực sự.

Hơn nữa, Mỹ có biện pháp quân sự làm tê liệt sức mạnh hạt nhân của Triều Tiên. Ngoài việc phá hủy bằng áp chế điện tử đối với hệ thống chỉ huy, điều hành thông tin và tình báo của Triều Tiên, Mỹ còn có thể sử dụng máy bay quân sự và máy bay không người lái để giám sát tuyến đường giao thông của Triều Tiên, phát hiện xe chở tên lửa với ba chức năng (vận chuyển, lắp đặt, phóng) để tiêu diệt. Như vậy, tên lửa liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân của Triều Tiên chỉ có thể che giấu trong hang động ở vùng núi, chỉ có thể tự bảo vệ, không đủ khả năng chống trả, không có ích gì trong cục diện chiến tranh.

Thứ hai, sự cứng nhắc trong chính sách ứng phó khủng hoảng quốc tế của Kim Jong-un không bằng tính linh hoạt và tính chu đáo của Kim Jong-il, bố của Kim Jong-un, ngay cả quan hệ hữu nghị với Bắc Kinh, di sản của Kim Jong-il, cũng bị từ bỏ. Nếu một cuộc khủng hoảng quân sự quốc tế cận kề, không gian còn lại cho Kim Jong-un dành cho cộng đồng quốc tế quá nhỏ hẹp. Trước đây, khi viết bài bình luận về xu hướng tương lai của vấn đề hạt nhân Triều Tiên, tôi đã nêu rõ nếu không thay đổi cách thức cầm quyền, tình thế nguy hiểm khó xoay chuyển, khó tránh khỏi dẫn bùng nổ, đúng như câu thành ngữ “Lên núi nhiều cuối cùng sẽ gặp hổ”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017