Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần cuối


Kết luận

Có ba bài học có thể rút ra từ các cuộc luận bàn này của Trung Quốc về Nhật Bản và “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Trước hết, đa số áp đảo các tư liệu học thuật, các phát ngôn chính thống và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đều không đề cập đến Nhật Bản khi xét đến tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Điều này chứng tỏ ý niệm của Trung Quốc dành rất ít không gian cho các quốc gia hàng đầu châu Á như Nhật Bản, và người Trung Quốc xem mối quan hệ Trung – Mỹ là khác biệt so với các mối quan hệ cường quốc khác trong khu vực. Mỹ nên lưu tâm tới thực tế này, cũng nên xem xét tầm nhìn của mình về trật tự châu Á – Thái Bình Dương liệu có phù hợp với ý niệm của Trung Quốc.

Thứ hai, ở tất cả các tài liệu của Trung Quốc có bàn đến Nhật Bản trong bối cảnh “quan hệ cường quốc kiểu mới”, các quan điểm về Nhật Bản đều được hiểu một cách hết sức hẹp hòi Nhật Bản được mô tả lần lượt là một cường quốc đang suy yếu và là điểm tham chiếu tương phản để đánh giá sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia mà bản thân sự trỗi dậy quyền lực kiểu gây hấn của họ là một điểm đối sánh tiêu cực với tương lai trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia có quan hệ song phương không ngang tầm với Mỹ, và vì vậy là một mẫu hình kém thuyết phục cho tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ; cũng là một quốc gia ngày càng quân phiệt và cánh hữu, đang nỗ lực kích động tình trạng bất ổn ở khu vực trong vấn đề tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Thấy rất ít sự tích cực trong những mô tả này về Nhật Bản. Hơn thế, những quan điểm này lại hoàn toàn trái ngược với những gì người Trung Quốc nhận thức về Nhật Bản ở những giai đoạn trước trong lịch sử. Chứng cứ lưu trữ hiện thời của Trung Quốc cho thấy, trong những năm 1950 – 1960, giới chức Trung Quốc đã mô tả Nhật Bản không chỉ là một kẻ xâm lược thời chiến, mà còn là một mẫu hình quốc gia hiện đại, công nghiệp hóa và đầy quyền lực, cũng là một đối tác kinh tế quan trọng đối với Trung Quốc. Mặc dù hai nước không có quan hệ ngoại giao, song các quan chức hàng đầu Trung Quốc như Thủ tướng Chu Ân Lai và Thống đốc Ngân hàng Trung Quốc Nam Hán Thần đã hoan nghênh rất nhiều nhóm các nhà tư bản công nghiệp và doanh nghiệp Nhật Bản đến Trung Quốc hồi những năm 1950, 1960 và 1970 để tư vấn giải pháp cho nền kinh tế thời hậu chiến đang phát triển của Trung Quốc. Cuối những năm 1980, vai trò của Nhật Bản với tính cách là một đối tác kinh tế đã trở nên quan trọng hơn, nhưng Trung Quốc cũng lo ngại về sức mạnh trỗi dậy của Nhật Bản, một mối lo ngại sớm muộn cũng không còn được giảm thiểu bởi bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn, trong đó Trung Quốc và Nhật Bản cùng sát cánh chống lại mối đe dọa Xô Viết. Sự hẹp hòi trong các quan điểm của Trung Quốc về Nhật Bản càng trở nên sâu sắc hơn trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh lạnh, khi các nhà lãnh đạo cộng sản ở Trung Quốc bắt đầu tiến trình “tái ghi nhớ” những hành động tàn bạo của người Nhật trong suốt Thế chiến thứ hai. Đến giữa những năm 1990, nghị trình chính thống đã đặt trọng tâm lớn vào những sai phạm chết người trong lịch sử của Nhật Bản, và chỉ trích cao độ việc tăng cường liên minh Mỹ – Nhật và mối quan hệ Nhật Bản – Đài Loan. Nghị trình này cổ vũ cho tinh thần chống Nhật mạnh mẽ trogn số đông dân chúng, dẫn đến những cuộc biểu tình quy mô lớn hồi đầu những năm 2000 liên quan đến những vấn đề như việc Nhật Bản được đề nghị một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuy nhiên, ngay tại cao trào của những tình huống căng thẳng này, nghị trình của Trung Quốc về Nhật Bản hồi đầu những năm 2000 vẫn hàm chứa rất nhiều quan điểm khác nhau. Minh chứng đáng chú ý nhất ở đây là sự hiện diện của “các nhà tư tưởng mới” – như Shi Yinhong và Ma Licheng – những người thẳng thắn nêu tranh luận cho rằng, Trung Quốc không thể hy vọng Nhật Bản mãi mãi là một quốc gia “phi chuẩn” không có quyền lực quân sự.

Điểm có vẻ khác biệt trong nghị trình hiện thời của Trung Quốc về Nhật Bản chính là sự thiếu vắng của số nhiều các quan điểm. Thay vì thế, ta sẽ nhận ra một sự thu hẹp đáng lo ngại những ý niệm của Trung Quốc về Nhật Bản. Đôi khi vẫn có những tham chiếu đến mối quan hệ kinh tế trọng yếu ràng buộc Trung Quốc và Nhật Bản, như sự kiện hồi tháng 9/2012, ở thời điểm cao trào của những cuộc biểu tình phản kháng và tẩy chay chống Nhật đang lan rộng ở Trung Quốc, tờ Nhân dân Nhật báo đã nhắc nhở độc giả của mình rằng “bất cứ một sự đổ vỡ nghiêm trọng nào trong quan hệ thương mại song phương [giữa Trung Quốc và Nhật Bản] đều có thể gây tổn hại cho cả hai quốc gia”. Song những tham chiếu như vậy đang ngày càng trở nên hiếm hoi. Hiện nay, những nhãn mác đáng chú ý nhất trong nghị trình học thuật và chính thống của Trung Quốc về Nhật Bản là những thuật ngữ kiểu như “quyền lực suy giảm”, “xâm lược lịch sử”, “cánh hữu” và “chủ nghĩa thân tộc”, cùng với những biểu trưng của tiến trình giải trừ quân bị của Nhật Bản từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai như các Phiên tòa Tokyo, Tuyên bố Cairo, và Tuyên bố Potsdam. Những nhãn mác này đã mô tả một hình ảnh hết sức phiến diện về Nhật Bản. Dù là công cụ hay là gì khác nữa, chúng đều tạo thành quan điểm cho rằng Nhật Bản thua kém Trung Quốc, rằng lịch sử xâm lược đã khiến Nhật Bản không đủ tư cách nắm giữ vai trò cường quốc “quy chuẩn”, và hành vi “phi pháp” và “dân tộc chủ nghĩa” của Nhật Bản – chứ không phải là bất cứ hành động nào từ phía Trung Quốc – đang thách thức hiện trạng ở châu Á. Quan trọng không kém, những nhãn mác này cũng giúp giới chức và các nhà khoa học Trung Quốc đặt tương lai của Trung Quốc bên cạnh quá khứ của Nhật Bản; họ cho rằng, bởi lẽ Trung Quốc không quân phiệt và dân tộc chủ nghĩa như Nhật Bản, nên thế giới không cần phải e sợ và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Sau cùng, nghị trình này về Nhật Bản đã đặt ra những vấn đề quan trọng sống còn đối với việc trị lý hòa bình tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Như Evelyn Goh mới đây đã nhận định, “bước chuyển tiếp trật tự đang diễn ra đòi hỏi một sự tính toán cho nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản về những điều kiện để Nhật Bản tái hòa nhập với cộng đồng khu vực hiện thời” ở châu Á. Song, như đã thấy rõ từ phân tích này, những quan niệm của Trung Quốc vẫn là những quan điểm nhận thức hẹp hòi về Nhật Bản với tính cách là một thế lực gây hấn, quân phiệt và bất hợp pháp. Mọi sự tính toán cho nhau đều có vẻ như bất khả thi. Điều này có nghĩa Mỹ sẽ tiếp tục là một “nhân tố trung lập” giữa một Trung Quốc đầy năng lực cạnh tranh và Nhật Bản, từ đó dần phong hóa những nỗ lực của Trung Quốc nhằm tạo dựng một trật tự mới ở châu Á, trong đó sức mạnh và uy quyền được chia sẻ ngang bằng hơn giữa Mỹ và Trung Quốc. Tháng 10/2013, ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc đã tổ chức một hội nghị công tác quan trọng về vấn đề ngoại giao khu vực, một hội nghị có vẻ nhằm tìm cách tái thiết và phục hồi các mối quan hệ trong khu vực của Trung Quốc sau một thời kỳ khó khăn kéo dài 3 – 4 năm. Chủ tịch Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc củng cố “mối quan hệ bạn hữu” với các quốc gia láng giềng, nhận định “khu vực châu Á – Thái Bình Dương là đủ lớn để tất cả các quốc gia cùng phát triển”, đồng thời thúc giục Trung Quốc thực hiện những bước tiến tiên phong để tăng cường an ninh khu vực. Nghị trình mới này của Trung Quốc tuy có liên quan đến Nhật Bản song vẫn chưa rõ ràng. Từ trước đến nay, ta vẫn chỉ có chút ít dẫn chứng từ Trung Quốc chứng minh tư duy sáng tạo về vai trò mà một Nhật Bản đầy quyền năng có thể nắm giữ bên cạnh một Trung Quốc đầy quyền năng. Trong khi một số người, như Yuan Peng, đã thừa nhận ý nghĩa quan trọng của việc tăng cường mối quan hệ ba bên Trung – Nhật – Mỹ với tính cách là một “điều kiện tiên quyết” để đạt được “quan hệ cường quốc kiểu mới”, thì cách tư duy kiểu này vẫn là hiếm thấy. Trừ khi Trung Quốc suy xét lại vai trò của Nhật Bản ở châu Á, và việc làm thế nào để quá trình chuyển tiếp quyền lực có thể diễn ra theo cách chấp nhận được cho cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản, bằng không ta sẽ khó có thể chứng kiến thành tựu lớn từ “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc.

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Advertisements

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần III


Họ nói thêm rằng, quan hệ kinh tế Trung – Mỹ hiện thời là một mối quan hệ cùng bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, cả Trung Quốc và Mỹ đều không tính đến việc thực thi một sự cạnh tranh kinh tế tương tự vốn đã đẩy Đức và Nhật Bản đến bờ vực chiến tranh. Song điều quan trọng là, các tác giả này và cả các học giả Trung Quốc khác đều không thừa nhận mối quan hệ kinh tế cùng bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng có thể tạo thành nền tảng cho một “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa hai quốc gia này. Thay vì thế, những học giả như Liu Jiangyong chỉ đơn thuần nhấn mạnh, quan hệ kinh tế Trung – Nhật đã phải chịu nhiều tổn thất bởi tình trạng căng thẳng về an ninh và chính trị trong quan hệ song phương.

Theo Yang Lu-hui (Dương Lỗ Tuệ), mối quan hệ của Nhật Bản với Mỹ thời hậu Chiến tranh Lạnh chính là một mẫu hình “tiêu cực” buộc phải ngăn ngừa trong tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. “Quan hệ cường quốc kiểu mới” không thể học theo mối quan hệ đó, vốn được ông mô tả như là một “liên minh quân sự giữa hai cường quốc” “không đối xứng” (buduichen), “không cân sức” (feijunhengxing), và một trong số hai quốc gia này không thỏa mãn với vị thế ngang bằng (buduideng). Vì mối quan hệ không ngang bằng ấy mà Yang Lu-hui kết luận rằng, “kiểu quan hệ cường quốc Nhật – Mỹ rõ ràng không phải là một lựa chọn chiến lược cho quan hệ cường quốc kiểu mới Trung – Mỹ”.

Trật tự thời hậu Thế chiến thứ hai: Chúng ta không thể để Nhật Bản đảo ngược trật tự quốc tế thời hậu chiến

Trong các cuộc luận bàn về “quan hệ cường quốc kiểu mới”, người Trung Quốc cũng thường xuyên tham chiếu đến trật tự quốc tế thời hậu Thế chiến thứ hai (zhanhou guoji zhixu) cùng với vị thế của Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Những tham chiếu này nhằm hai mục đích. Trước hết, chúng cho phép các nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ trích Nhật Bản vì hành vi mà họ xem là nỗ lực lật đổ trật tự thời hậu chiếu: những chuyến viếng thăm của Thủ tướng Shinzo Abe đến Đền Yasukuni, các kế hoạch xét lại Hiến pháp thời hậu chiến, và thái độ không sẵn sàng chính thức thừa nhận sự tồn tại của một cuộc tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Chẳng hạn, ở một trong những bài phát biểu mới đây về “quan hệ cường quốc kiểu mới”, Chủ tịch Tập Cận Bình đã chỉ rõ, Nhật Bản đang đe dọa lật đổ trật tự quốc tế thời hậu chiến được hình thành từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai.

81 năm trước, Nhật Bản đã khiến thế giới sửng sốt với “Biến cố Thẩm Dương”. Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản không chỉ gây ra những đớn đau khôn xiết cho người dân Trung Quốc, mà còn gây ra những tổn thương to lớn cho các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có nước Mỹ. Một số thế lực chính trị ở Nhật Bản hông những không truy vấn lương tâm mà còn làm sâu sắc thêm những thương tích chiến tranh đã gây ra cho các nước láng giềng và các nước châu Á – Thái Bình Dương, và đang lặp lại những sai lầm tương tự, đang diễn hài kịch “mua lại các đảo”, công khai nghi ngờ tính hợp pháp quốc tế của “Tuyên bố Cairo” và “Tuyên bố Potsdam”, làm căng thẳng thêm các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng, và vân vân. Cộng đồng quốc tế không cần tính đến nỗ lực của Nhật Bản nhằm phủ nhận các hệ quả của cuộc Chiến tranh thế giới chống chủ nghĩa phát xít, hay nhằm thách thức trật tự quốc tế thời hậu chiến. Nhật Bản nên dừng lại trước khi quá muộn, nên ngừng lại việc gây tổn hại đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc với những phát ngôn và hành động hoàn toàn sai lầm của mình”.

Tuyên bố này của Chủ tịch Tập Cận Bình cũng như những tuyên bố và văn bản chính thống khác ở Trung Quốc thời gian gần đây đều tham chiếu phổ rộng đến các biểu trưng của trật tự thời hậu chiến, như Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam. Những văn kiện pháp lý mang tầm quốc tế này đã được “ba đồng minh lớn” – Mỹ, Anh và Trung Quốc – vận dụng để soạn thảo các điều kiện đầu hàng của Nhật Bản, để ghi nhận vai trò vô cùng đặc biệt thời hậu chiến của Nhật Bản với tính cách là một quyền lực phi quân sự miễn cưỡng và “phi chuẩn”. Những tuyên bố như phát ngôn của Chủ tịch Tập Cận Bình về hồi chuông cảnh tỉnh từ phía Trung Quốc trước những gì họ xem là lời luận giải tiềm tàng cho một trật tự thời hậu chiến đã đóng vai trò là “nền tảng của các quan hệ quốc tế”. Trật tự quốc tế theo tính toán của Trung Quốc là một trật tự kiềm chế không cho Nhật Bản mở rộng tự do vị thế đặc biệt thời hậu chiến, ngăn giữ Nhật Bản thực thi các bước tiến quân sự chống phá sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc.

Thứ hai, người Trung Quốc coi trọng trật tự thời hậu chiến không chỉ bởi cách thức trật tự này giúp giải trừ quân bị ở Nhật Bản, mà còn bởi cách nó gán cho Trung Quốc (dẫu là Trung Hoa dân quốc) một vị thế đặc biệt với tính cách là một trong những cường quốc dẫn đầu trong hệ thống quốc tế. Viện dẫn những hình tượng và biểu trưng của trật tự quốc tế thời hậu chiến, như các Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam, các nhà lãnh đạo đã khôn khéo nhắc nhở nước Mỹ rằng Trung Quốc nên được nhìn nhận là một cường quốc ngang sức ngang tài và là “một điểm trong quá khứ, chứ không phải là quá khứ lâu dài, khi Trung Quốc đã sát cánh cùng các thế lực cấp tiến chống chủ nghĩa phát xít”. Thay vì nhấn mạnh những điểm khác biệt với nước Mỹ, các tài liệu của Trung Quốc chú trọng lịch sử và những giá trị chung này, như đã ca ngợi những nỗ lực của nước Mỹ hồi tháng 9/2012:

Trong suốt thời kỳ Thế chiến thứ hai, sức mạnh Mỹ là một đóng góp quan trọng để đánh bại Nhật Bản. Đóng góp lịch sử của nước Mỹ đối với người dân châu Á, trong đó có Trung Quốc, cần được đánh giá cao và tôn trọng hết mức. Nước Mỹ từ sau chiến tranh đã mang trọng trách “tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật”.

Những ý niệm về sự ngang bằng, vị thế cường quốc và đóng góp chung cho trật tự quốc tế – xuất phát từ trải nghiệm và hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai – đã giúp Trung Quốc vững tin kêu gọi một “quan hệ cường quốc kiểu mới” với nước Mỹ.

Song vấn đề là ở chỗ giới chức Trung Quốc chỉ muốn duy trì một số khía cạnh nhất định của trật tự quốc tế thời hậu chiến: vị thế cường quốc của Trung Quốc và sự giải trừ quân bị hoàn toàn ở Nhật Bản. Còn những khía cạnh khác của trật tự thời hậu chiến – nhất là liên minh Mỹ – Nhật – thì lại là vấn đề xa vời đối với Bắc Kinh. Các tư liệu và phát ngôn chính thống của Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” đã để lộ thái độ lo ngại về cách thức liên minh Mỹ – Nhật cho phép Mỹ “chuyển giao trái phép” chủ quyền ở quần đảo Điếu Ngư cho Nhật Bản hồi những năm 1970, về kế hoạch tái vũ trang của Nhật Bản trong nội bộ liên minh Mỹ – Nhật, và về cách thức hiện trở thành một nguyên tắc quan trọng cốt yếu của liên minh này trong kế hoạch “tái cân bằng” sức mạnh quân sự Mỹ ở châu Á. Đây là thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc: cơ chế thời hậu chiến cho phép giải trừ quân bị hoàn toàn ở Nhật Bản – liên minh Mỹ – Nhật – hiện đang tạo điều kiện cho kế hoạch tái vũ trang của Nhật Bản và có thể được khai thác để chống phá sự trỗi dậy của Trung Quốc. Mặc dù mong muốn duy trì trật tự quốc tế thời hậu chiến, nhưng nghị trình Trung Quốc về trật tự này lại không thừa nhận bất cứ một động thái nào trong liên minh Mỹ – Nhật. Người Trung Quốc muốn liên minh Mỹ – Nhật duy trì nguyên trạng, chỉ để khóa chốt Nhật Bản vào vị thế “phi chuẩn” thời hậu chiến. Đây là một yêu cầu quan trọng, thậm chí đã trở nên quan trọng hơn bởi thực tế là bản thân sự trỗi dậy của Trung Quốc đang làm biến đổi trật tự chiến lược ở châu Á, chắc hẳn đang thôi thúc những cường quốc như Mỹ và Nhật Bản phải đáp lời.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Vấn đề Biển Đông đặt liên minh Philippines – Mỹ vào thế khó


Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tuyên bố “chia tay Mỹ” trong chuyến thăm đầu tiên của ông đến Trung Quốc. Hai năm sau đó, Philippines đã chính thức kêu gọi đánh giá lại mối quan hệ đồng minh lâu đời với Mỹ.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana – cựu tùy viên quốc phòng tại Washington – đã nhấn mạnh rằng Manila không loại trừ khả năng hủy bỏ Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines năm 1951. Trong khi việc đánh giá này có thể giúp điều chỉnh quan hệ đồng minh Mỹ – Philippines, vốn bị trục trặc bởi những bất đồng và những vấn đề về cam kết trong những năm gần đây, nhưng nó chẳng khác nào là “con dao hai lưỡi”.

Rút cục, những người đề xuất mối quan hệ nồng ấm hơn với Bắc Kinh có thể vận động hành lang để hạ thấp quan hệ liên minh Philippines – Mỹ nhằm ủng hộ sự trung lập về chiến lược, đặc biệt nếu hai bên không nhất trí các nâng cấp cần thiết.

Lời kêu gọi đánh giá lại mối quan hệ Mỹ – Philippines đã gây sốc và hoài nghi cho nhiều nhà quan sát, họ kỳ vọng một sự cởi mở tức thì và duy trì quan hệ song phương sau khi Washington trả lại Bộ chuông Balangiga nổi tiếng cho Philippines. Ông Duterte đã hoan nghênh việc trả lại các vật phẩm lịch sử, vốn bị quân đội Mỹ lấy đi từ một nhà thờ Philippines trong thời kỳ thuộc địa và coi đó là kết thúc một chương đen tối trong lịch sử chung của hai nước. Thậm chí, người ta hi vọng rằng ông Duterte, người đã có 3 chuyến thăm chính thức đến Trung Quốc, cuối cùng sẽ nhận lời mời thăm Mỹ từ lâu của Nhà Trắng.

Tuy nhiên, ngay cả việc thiết lập phòng thủ chung, vốn là nền tảng trong quan hệ đồng minh song phương, Philippines dường như cũng đang thể hiện sự thất vọng ngày càng lớn trước sự mâu thuẫn chiến lược của Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines đã công khai than vãn về lập trường “mâu thuẫn” của Washington trong việc thực hiện các cam kết với Philippines, đặc biệt trong tranh chấp ở biển Hoa Nam (Biển Đông). Ông đặt câu hỏi liệu Hiệp ước phòng thủ chung có “còn liên quan đến an ninh của Philippines” hay chỉ phục vụ “lợi ích của các quốc gia khác”, cụ thể là Mỹ.

Vấn đề đầu tiên với liên minh chính là văn bản của hiệp ước. Theo Chương V của Hiệp ước phòng thủ chung, “một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào một trong hai bên được coi bao gồm một cuộc tấn công vũ trang vào lãnh thổ đô thị của một trong hai bên, hoặc các vùng đảo thuộc thẩm quyền của mình ở Thái Bình Dương hoặc vào các lực lượng vũ trang, tàu hay máy bay của mình ở Thái Bình Dương”.

Tuy nhiên, Washington đã nói lập lờ, chưa xác định rõ về phần “đô thị” và “các vùng lãnh hải dưới thẩm quyền của mình của Philippines là gì. Do đó, đồng minh của Mỹ chỉ biết đứng nhìn khi Trung Quốc năm 1994 chiếm đóng Đá Vành Khăn mà Philippines tuyên bố chủ quyền, cũng như trong cuộc đối đầu hải quân Philippines – Trung Quốc kéo dài nhiều tháng ở Bãi cạn Scarborough hồi năm 2012.

Mỹ đã liên tục từ chối làm rõ liệu các cam kết của hiệp ước có áp dụng tại Biển Đông hay không, nơi Philippines đang mâu thuẫn với một số quốc gia có tuyên bố chủ quyền khác.

Hơn nữa, có những hoài nghi liệu hiệp ước có cung cấp sự giúp đỡ quân sự thích hợp trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Philippines với bất kỳ bên thù địch thứ ba nào hay không. Theo Chương IV của hiệp ước, mỗi bên “sẽ hành động để đối phó các mối đe dọa chung (trong thẩm quyền khu vực của họ) phù hợp với các quy trình hiến pháp của nó”.

Điều này có nghĩa Quốc hội Mỹ, và rộng hơn là dư luận Mỹ, có thể trì hoãn và từ chối các nỗ lực can thiệp quân sự khẩn cấp bởi bất kỳ chính quyền Mỹ nào dưới danh nghĩa đồng minh Philippines.

Thậm chí tệ hơn, ví dụ Washington đã làm rõ Hiệp ước An ninh Mỹ – Nhật 1951 áp dụng cho tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku tại Biển Hoa Đông. Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Nhật cũng quy định rằng quân đội Mỹ đóng tại Nhật Bản có thể được sử dụng để đóng góp… cho an ninh của Nhật Bản nhằm chống lại tấn công vũ trang từ bên ngoài”.

Vấn đề lớn khác nằm ở cách giải thích  hạn hẹp của Mỹ về hiệp ước phòng thủ chung. Khởi đầu với chính quyền Nixon vào những năm 1970 của thế kỷ trước, Washington đã tới hạn các cam kết của mình đối với bất kỳ “cuộc tấn công nào của các lực lượng (Philippines) được triển khai nhằm vào nước thứ ba”, nhưng không phải trong các tình huống “nơi việc triển khia nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ Philippines”.

Mỹ chính thức duy trì “sự trung lập” đối với hiện trạng chủ quyền của các đảo tranh chấp tại Biển Đông, nơi Philippines chiếm đóng 9 thực thể.

Manila lo lắng liệu họ có thể trông cậy vào sự hỗ trợ quân đội của Mỹ hay không nếu Trung Quốc các quốc gia đối thủ có tuyên bố chủ quyền khác trực tiếp đe dọa các tuyến đường cung ứng và quân đồn trú của mình tại khu vực này.

Bằng việc kêu gọi đánh giá lại quan hệ, việc thiết lập phòng thủ với Philippines có thể hy vọng hối thúc Mỹ xem xét lại nội dung và cách giải thích của Hiệp ước phòng thủ chung theo cách khiến hai bên thỏa mãn. Đổi lại, Manila có thể sẽ cho phép quân đội Mỹ mở rộng tiếp cận các cơ sở quân sự của họ, cụ thể là căn cứ không quân Bautista và Basa ở Biển Đông.

Dù vậy, quá trình đánh giá này cũng mở ra khoảng trống cho những chỉ trích cũng như những đề nghị cho các mối quan hệ nồng ấm hơn với Trung Quốc nhằm kêu gọi Philippines chính thức chấp nhận một chính sách trung lập về chiến lược và, theo đó, hạ thấp quan hệ liên minh song phương Philippines – Mỹ.

Điều này nhiều khả năng sẽ xảy ra nếu Washington vẫn giữ chính sách mơ hồ về chiến lược trước các cam kết của mình với Philippines tại Biển Đông. Ba năm trong nhiệm kỳ của Tổng thống Duterte, quan hệ đồng minh Philippines – Mỹ đang tạo ra một bước ngoặt lịch sử.

Nguồn: www.scmp.com

TKNB – 12/02/2019

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần II


Các bài viết của Trung Quốc sau đó đều đề cập chi tiết thêm về ảnh hưởng của cuộc tranh chấp biển đảo đến “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Các bài xã luận trên tờ Nhân dân Nhật báo hồi cuối năm 2012 đầu năm 2013 đều nêu ra một lập luận rõ ràng rằng kiểu quan hệ này sẽ không thể đạt được nếu phía Mỹ không tôn trọng “các lợi ích cốt lõi” (hexin liyi) của Trung Quốc. Một bài xã luận còn cho rằng, việc “tôn trọng các lợi ích cốt lõi” chính là “mấu chốt” của “quan hệ cường quốc kiểu mới” đang được chung sức tạo dựng, và rằng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ chính là vấn đề mang tính căn bản đối với các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Một bài xã luận đăng hồi tháng 12/2012 thậm chí đã bày tỏ thái độ thẳng thắn hơn:

Lập trường của Mỹ liên quan đến việc ‘hoan nghênh một Trung Quốc cường lực, thịnh vượng và hòa bình’ cùng với quan niệm của Trung Quốc về ‘quan hệ cường quốc kiểu mới’ xứng đáng được xác nhận. Tuy nhiên, việc tạo thành một quan hệ cường quốc Trung – Mỹ kiểu mới sẽ không hiệu quả nếu các nước này chỉ nói mà không làm. Mỹ cần học cách tôn trọng các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, và hạn chế những việc làm thiếu khôn ngoan… Vấn đề quần đảo Điếu Ngư có liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc và Mỹ nên hiểu rõ tính nhạy cảm cao độ của vấn đề này; xuất phát từ triển vọng hòa bình và ổn định ở khu vực, Mỹ phải thận trọng, không nên can thiệp vào vấn đề chủ quyền ở quần đảo Điếu Ngư, và không [nên] có bất cứ hành động nào có thể làm sâu sắc thêm mâu thuẫn và khiến cho tình hình trở nên phức tạp hơn”.

Như Ren Xiao đã chỉ rõ, khái niệm về một “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc thừa nhận, con đường duy nhất để Mỹ và Trung Quốc phòng tránh tương lai đối đầu chính là việc tìm ra những cách thức thỏa hiệp trước những “vấn đề nhạy cảm” như các cuộc tranh chấp lãnh thổ. Tuy nhiên, khi tiến hành khảo cứu sâu hơn câu hỏi Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong mối quan hệ này, chúng tôi tìm thấy được rất ít bằng chứng chứng minh Trung Quốc sẵn sàng thỏa hiệp trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản. Tháng 1/2013, một bài xã luận trên tờ Nhân dân Nhật báo đã lên tiếng cảnh báo nước Mỹ, rằng Trung Quốc đơn giản là không thể “nhượng bộ” (tuirang) trong các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, và đã “không từ một thủ đoạn nào” (meiyou renhe huixuan kongjiani), trong vấn đề Điếu Ngư/Senkaku. Theo đó chỉ rõ Mỹ phải học cách “phát ngôn và hành động một cách thận trọng” (jinyan shenxing) trong cuộc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, nhưng Mỹ đã không làm như vậy khi chỉ trích động thái của Trung Quốc ở biển Hoa Đông, chứ không chỉ trích hành động của Nhật Bản.

Các nguồn tin từ Trung Quốc thừa nhận, tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku chỉ là một trong số hàng loạt các cuộc tranh chấp chủ quyền, cùng với vấn đề Đài Loan và vấn đề Biển Đông, tất cả đều ẩn chứa tiềm năng làm trật bánh mối quan hệ Trung – Mỹ. Nhưng chính cuộc tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản mới là vấn đề nhận được sự chú tâm nhiều nhất trong nghị trình Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” trong hơn 18 tháng qua. Một bài viết của Ruan Zongze – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quốc tế của Trung Quốc (CIIS) đã nêu bật ý nghĩa quan trọng của vấn đề này thông qua việc đề nghị Trung Quốc nên xem “các tuyên bố và hành động của Mỹ về các vấn đề liên quan đến Nhật Bản như một phép thử giấy quỳ sự ngay thật của Washington đối với Trung Quốc”. Tương tự, Yuan Peng (Viên Bằng) – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Các quan hệ quốc tế đương đại Trung Quốc (CICIR) cho rằng, tranh chấp biển đảo đã ảnh hưởng đến “ván cờ” (boyi) giữa Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản, và rằng sự “can thiệp” (ganyu) của Mỹ vào cuộc tranh chấp đã làm tăng rủi ro hiện hữu một cuộc đụng độ quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc.

Thời kỳ chuyển giao quyền lực: đánh giá sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách tham chiếu đến Nhật Bản

Lý do thứ hai để Nhật Bản được quan tâm đặc biệt trong các cuộc luận bàn của Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” chính bởi Nhật Bản là điểm tham chiếu tương phản để đánh giá sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc. Trong lúc khái niệm này được định hình để gán cho tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ, thì một số người đã xem việc Trung Quốc đang vượt hơn Nhật Bản chính là giải pháp chính yếu để Trung Quốc đạt được vị thế cường quốc của mình. Trong một bài viết có tiếng vang, Yuan Peng đã lập biểu đồ sự trỗi dậy của Trung Quốc thông qua việc đánh giá cán cân quyền lực đang thay đổi giữa Trung Quốc và Nhật Bản, tập trung vào tiến trình chuyển giao quyền lực diễn ra hồi năm 2010 khi Trung Quốc thế chỗ Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Theo Yuan Peng, sự chuyển giao quyền lực về kinh tế này giữa Nhật Bản và Trung Quốc là “sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử châu Á kể từ [khi Nhật Bản chịu thua trận Trung Quốc trong] Cuộc chiến Trung – Nhật lần thứ nhất, và là sự kiện biểu trưng cho hiện thực trỗi dậy của Trung Quốc. Ông gắn kết sự kiện của những năm 2000 này với cuộc chiến giai đoạn 1894 – 1895 khi Trung Quốc chiếm giữ “vị thế dẫn đầu không thể bàn cãi” ở Đông Á thông qua chế độ triều cống của mình. Yuan Peng nhận định, bằng cách vượt qua nền kinh tế Nhật Bản, Trung Quốc đã hóa giải một “mâu thuẫn lớn” trong trật tự cấu trúc châu Á, vốn xem Trung Quốc là thế lực yếu hơn so với Nhật Bản.

Yuan Peng cũng chỉ ra việc đăng cai thành công Đại hội thể thao Olympic Bắc Kinh 2008, đại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hồi năm 2009, và Hội chợ Thương mại quốc tế năm 2010 với tính cách là những biểu trưng quyền lực và vị thế mới nổi của Trung Quốc. Trái lại, ông cho rằng sự suy yếu của Nhật Bản được biểu trưng bởi “hàng loạt những hiểm họa liên tiếp” mà quốc gia này phải gánh chịu hồi năm 2011; nhất là động đất, sóng thần và vụ rò rỉ hạt nhân ở Fukushima. Yuan Peng kết luận, do tiến trình chuyển giao quyền lực này giữa Trung Quốc và Nhật Bản, “trong khoảng 10 – 20 năm sau năm 2010, hai đối thủ cạnh tranh sẽ là Mỹ và Trung Quốc”.

Những bài học lịch sử: tương lai của Trung Quốc sẽ không phải là quá khứ của Nhật Bản

Khía cạnh nổi bật thứ ba trong nghị trình Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” là quá khứ của Nhật Bản được dùng làm một điểm tương phản để luận bàn về tương lai của Trung Quốc. Một số học giả đã định hình một cách chuẩn xác khái niệm này bằng việc chỉ rõ sự đối lập giữa tương lai của Trung Quốc và quá khứ của Nhật Bản trong sự trỗi dậy về quyền lực. Theo Zun Zhe (Tôn Triết), “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa Mỹ và Trung Quốc được kiến tạo để tránh bị lạc vào “cựu lộ” mà những cường quốc mới nổi như Nhật Bản (và Đức) đã tạo ra hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ý niệm này rất giống với cách diễn ngôn của Zheng Bijian (Trịnh Tất Kiên) – tác giả của khái niệm “sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc”. Năm 2005, Zheng Bijian viết:

Trung Quốc sẽ không theo bước đường hướng của Đức để thắng thế trong Thế chiến thứ nhất hay đường hướng của Đức và Nhật Bản để thắng thế trong Thế chiến thứ hai, khi những nước này dùng bạo lực để cưỡng đoạt tài nguyên và theo đuổi bá quyền. Trung Quốc cũng sẽ không theo bước lộ trình của những cường quốc ganh đua nhau giành quyền thống trị toàn cầu trong Chiến tranh lạnh”.

Những quan điểm tương tự cũng được Xue Litai (Tiết Lý Thái) và Feng Zheng (Phong Chính) lặp lại, những người đã lên tiếng cảnh báo rằng, do những thay đổi mạnh mẽ về bản chất các quan hệ kinh tế, quyền lực quân sự, ngoại giao, công nghệ và chính trị nội bộ, sẽ là thiếu khôn ngoan nếu “máy móc” chỉ ra những dẫn chứng và khái niệm xưa cũ trong lịch sử để lý giải tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Họ cho rằng, những khía cạnh “bản sắc dân tộc” (minzu xinge) Trung Hoa hàm nghĩa sự trỗi dậy của họ sẽ vô cùng khác biệt so với sự trỗi dậy của Nhật Bản, và lưu ý rằng Trung Quốc không chia sẻ “tham vọng ngông cuồng” (juda yexin) để mở rộng lãnh thổ mà Nhật Bản đã biểu lộ trong suốt những năm 1930 và 1940. Các tác giả này nhận định, sự gắn kết giữa “chủ nghĩa dân tộc cực đoan”, hành động kiểm soát quân sự của chính phủ Nhật Bản, với các nguồn lực đất đai và tự nhiên khan hiếm đã khiến nước Nhật phải theo đuổi chính sách bành trướng thuộc địa ở Bắc Á và Đông Nam Á để trở thành “bá chủ khu vực” (diqu baquan). Hơn thế, họ thừa nhận các tác nhân kinh tế đã khiến Nhật Bản và Đức theo đuổi các chính sách gây hấn trong suốt những năm 1920 và 1930. Đối với cả hai nước, quyền tiếp cận các nguyên liệu thô cấp thiết như dầu lửa, cao su, quặng sắt, và các nguyên liệu thực phẩm – cùng với tình trạng bất lực trong việc tiếp cận các nguyên liệu này trên thị trường thế giới – chính là chất xúc tác cho những quyết sách xâm lấn và thuộc địa hóa các quốc gia của Đức và Nhật bản. Theo các tác giả này, khác với Nhật Bản, Trung Quốc không có truyền thống bành trướng ra bên ngoài và đó chính là “nền văn minh hướng nội của Trung Quốc” (neixiangxing de Zhonghua wenming).

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Vì sao Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần 2 không đạt được thỏa thuận? – Phần cuối


Về vấn đề phi hạt nhân hóa, Triều Tiên cam kết từ bỏ chương trình hạt nhân, nhưng muốn phân chia giai đoạn để thực hiện, cũng như muốn có sự tương tác của Mỹ, áp dụng biện pháp tương ứng, chẳng hạn như nới lỏng các lệnh trừng phạt. Trong khi đó Mỹ lại kiên trì yêu cầu trước hết Triều Tiên phải hoàn thành tiến trình phi hạt nhân hoàn toàn, có thể kiểm chứng, không thể đảo ngược, đồng thời báo cáo danh sách hạt nhân, thậm chí thời gian biểu từ bỏ chương trình hạt nhân, nếu không sẽ không bàn đến các vấn đề khác.

Về hòa bình của bán đảo, Triều Tiên muốn Mỹ đưa ra tuyên bố kết thúc chiến tranh, nhưng Mỹ vẫn kiên quyết trước hết phải từ bỏ chương trình hạt nhân, đương nhiên đằng sau vấn đề này có thể Mỹ đang có toan tính riêng không muốn rút quân đồn trú khỏi Hàn Quốc.

Tóm lại, Mỹ đang ép Triều Tiên trước hết phải từ bỏ chương trình hạt nhân, “không có mục tiêu rõ ràng thì sẽ không thể áp dụng hành động thiết thực”, trong khi đó, Triều Tiên lại giữ vững điểm giới hạn cuối cùng, “anh tôn trọng tôi thì tôi tôn trọng anh”.

Hai bên giằng co không ngừng nghỉ, sau hội nghị thượng đỉnh ở Singapore, đàm phán Mỹ – Triều có thời điểm rơi vào đình trệ. Sau đó dưới sự nỗ lực của nhiều phía, đàm phán Mỹ – Triều mới phục hồi, hội nghị thượng đỉnh ở Hà Nội được khởi động. Tuy nhiên trước khi diễn ra hội nghị, phía Mỹ đã hạ thấp kỳ vọng, tìm kiếm đạt được đồng thuận hạn chế.

Theo Dương Hy Vũ, nguyên nhân sâu xa khiến Mỹ và Triều Tiên không đạt được thỏa thuận vẫn là tồn tại sự hoài nghi chiến lược lẫn nhau, Triều Tiên lo lắng nếu mình bước đi quá dài thì sẽ giẫm vào vết xe đổ của Iraq và Libya, ngược lại Mỹ lại lo ngại nếu mình bước đi quá nhanh, Triều Tiên bước đi quá nhỏ, tiến trình phi hạt nhân hóa sẽ đảo ngược.

Cánh cửa đàm phán vẫn đang mở

Liệu hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều ở Hà Nội kết thúc mà không đạt được thỏa thuận có nghĩa là triển vọng của các cuộc đàm phán về vấn đề hạt nhân Triều Tiên đang trở nên phức tạp hơn? Mối quan hệ Mỹ – Triều và tình hình trên bán đảo cũng sẽ trắc trở? Từ sự bày tỏ thái độ của Mỹ sau cuộc gặp Trump – Kim cho thấy tình hình không quá nghiêm trọng.

Nhà Trắng không phủ nhận hoàn toàn ý nghĩa của hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều lần 2. Người phát ngôn Nhà Trắng Sanders cho biết hai nhà lãnh đạo đã có một cuộc gặp mặt tốt đẹp và mang tính xây dựng tại Hà Nội, thảo luận về nhiều cách khác nhau để thúc đẩy phi hạt nhân hóa và kinh tế. Hai phái đoàn có kế hoạch tiếp tục đàm phán trong thời gian tới. Phát biểu trong cuộc họp báo, Tổng thống Trump nói rằng Kim Jong-un hứa sẽ không tiến hành các vụ thử hạt nhân hoặc tên lửa trong tương lai. Ông tin những gì Kim Jong-un nói. Ngày 28/2, trả lời phỏng vấn của giới truyền thông trước cuộc hội đàm, Kim Jong-un đã tái khẳng định sự sẵn sàng phi hạt nhân hóa của Triều Tiên, nói rằng nếu không muốn phi hạt nhân, tôi đã không ở đây”.

Lưu Minh cho biết: “Trump hiện nay không nôn nóng trong việc khiến Triều Tiên đáp ứng ngay các yêu cầu của Mỹ. Đối với ông, dù kết quả của các cuộc đàm phán ra sao, điều quan trọng là phải duy trì mối quan hệ hiện có giữa Mỹ và Triều Tiên vì tình hình trên bán đảo đã có hu hướng hòa dịu kể từ năm 2018 và cần duy trì hiện trạng. Chỉ cần Triều Tiên tiếp tục dừng thử hạt nhân và tên lửa, mối quan hệ Mỹ – Triều vẫn được duy trì, hai bên có thể tiếp tục duy trì các cuộc tiếp xúc và trao đổi”. Tuy nhiên, giờ đây khi quả bóng được đá về phía Triều Tiên, Triều Tiên trong thời gian tới đây sẽ phải chịu những áp lực tương đối lớn hơn. Nếu muốn sớm được dỡ bỏ các lệnh trừng phạt, thì Triều Tiên phải có sự nhượng bộ đáng kể trong vấn đề hạt nhân, nhưng khả năng này là không lớn. Do đó, quan hệ Mỹ – Triều rất có khả năng trở lại trạng thái bế tắc như giữa hồi tháng 8 và tháng 10/2018 và sẽ duy trì trong một thời gian tương đối dài, ít nhất là nửa năm. Tuy nhiên, hai bên vẫn sẽ duy trì tiếp xúc để bàn về công việc, nhưng việc thu hẹp khoảng cách giữa hai bên không phải là một nhiệm vụ dễ dàng.

Theo quan điểm của Dương Hy Vũ, mặc dù hội nghị thượng đỉnh ở Hà Nội không thành công, nhưng điều đáng chú ý là cánh cửa đàm phán vẫn mở, điều đó có nghĩa là mọi chuyện vẫn đang tiếp diễn. Ông nói: “Kết quả của hội nghị thượng đỉnh nằm ngoài dự đoán của mọi người, kể cả hai nhà lãnh đạo của Mỹ và Triều Tiên, nhưng hai nước vẫn hy vọng thu hẹp sự khác biệt thông qua đàm phán, để lại hy vọng và nền tảng cho bước tiếp theo”.

Ngày 28/2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Kháng cũng cho biết những diễn biến và khúc ngoặt ở bán đảo Triều Tiên trong vài thập kỷ qua cho chúng tôi thấy rằng kiên trì đối thoại và tham vấn là lối thoát duy nhất, và việc cùng hướng về nhau có thể khiến mối quan hệ càng ổn định và vươn xa hơn.

Liệu vẫn sẽ có cuộc gặp Trump – Kim lần 3?

Trong cuộc gặp với Donald Trump lần này, Kim Jong-un đã nói một câu rất hài hước: Đối với những người hoài nghi thì hội nghị thượng đỉnh giống như một bộ phim khoa học viễn tưởng. Bầu không khí bị đảo ngược, cuộc họp bị kết thúc sớm và không có thỏa thuận nào, những thay đổi của hội nghị thượng đỉnh ở Hà Nội thực sự là rất ma thuật.

Tuy nhiên, đối với dư luận nói chung, điểm đáng chú ý của cuộc gặp Trump – Kim có lẽ không chỉ đơn thuần là một cuộc nói chuyện về vấn đề hạt nhân. Những sự tương tác giữa một nhà lãnh đạo trẻ tuổi sinh sau những năm 1980 và một vị tổng thống sinh sau những năm 1940 cũng là điều được nhiều người quan tâm, người thì chế giễu đối phương là “cậu bé tên lửa”, người thì mắng đối phương là “hồ đồ”. Nhưng tình hình cuối cùng đã đảo ngược một cách kịch tính hơn dự kiến, tất cả những điều trên, như lời của Kim Jong-un, tương tự cũng mang đầy sắc thái ma thuật.

Mặc dù cuộc đàm phán lần này không đạt được kết quả như mong đợi, nhưng mối quan hệ giữa nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên không vì vậy mà tan vỡ. Trong cuộc họp báo, ông Trump nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa ông với Kim Jong-un rất hài hòa. Trước đó, có một số bình luận cho rằng nhà lãnh đạo Mỹ và Triều Tiên hy vọng sẽ phá vỡ sự bế tắc trong vấn đề hạt nhân bằng cách thiết lập quan hệ cá nhân tốt đẹp và chấm dứt mối quan hệ thù địch giữa Mỹ và Triều Tiên trong hơn 70 năm.

Về vấn đề này, Lưu Minh có quan điểm khác. Ông cho rằng mối quan hệ cá nhân giữa hai nguyên thủ quốc gia có rất ít tác động tới các cuộc đàm phán hạt nhân Triều Tiên cũng như quan hệ Mỹ – Triều Tiên bởi mục tiêu trong lợi ích cơ bản của hai bên có sự khác nhau. Mỹ muốn Triều Tiên từ bỏ hoàn toàn chương trình hạt nhân của mình. Trump đang phải đối mặt với áp lực trong nước và không thể nới lỏng các lệnh trừng phạt trước khi Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân. Triều Tiên cũng khó nới lỏng lập trường của mình để hoàn toàn làm theo ý của Mỹ vì Kim Jong-un cũng đang phải đối mặt với các vấn đề trong nước, như áp lực của phía quân đội. Sự từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên được chia thành hai cấp độ cơ chế và chiến lược: từ bỏ về mặt cơ chế có nghĩa là đóng cửa một số địa điểm thử hạt nhân, loại bỏ một số trang thiết bị vũ khí nhất định, và phải thực hiện theo từng giai đoạn; việc từ bỏ hạt nhân về mặt chiến lược mất nhiều thời gian và Triều Tiên chưa sẵn sàng cho điều này. Ông nói: “Sự khác biệt về mục tiêu và lợi ích giữa hai bên là rất lớn và mối quan hệ cá nhân dù có gắn bó đến mức nào cũng không từ bỏ mục tiêu lợi ích quốc gia vì lợi ích quốc gia liên quan đến chính trị trong nước, Triều Tiên vẫn cần giữ sự ổn định của chính quyền”.

Dương Hy Vũ nhận định thêm: “Ngoại giao nguyên thủ quả thực có thể đóng vai trò dẫn dắt và gõ nhịp quan trọng, nhưng rốt cuộc vẫn cần phải giải quyết một núi vấn đề giữa hai nước”. Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều ở Hà Nội thực sự đã đạt được nhiều thành quả, nhưng lại không đạt được kết quả trong những vấn đề nhạy cảm nhất và khó khăn nhất, dẫn đến những tài liệu kết quả được chuẩn bị đã không được ký kết. Điều này cho thấy ngoại giao nguyên thủ rất quan trọng, nhưng nó không thể giải quyết mọi thứ, quan trọng hơn là cả hai bên cần có lập trường thực tế hơn và kiên trì giải quyết vấn đề thông qua đàm phán.

Ngoại trưởng Mỹ Pompeo trước đó từng cho biết “một hội nghị thượng đỉnh có thể là vẫn không đủ”. Vậy, trong tương lai, Donald Trump và Kim Jong-un sẽ còn gặp nhau? Về vấn đề này, Trump nói tại cuộc họp báo rằng chưa có kế hoạch cho hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều lần 3.

Lưu Minh dự đoán trong thời gian ngắn sắp tới sẽ không diễn ra cuộc gặp Trump – Kim lần 3, ông nói: “Trên thực tế, ngay khi hội nghị thượng đỉnh ở Hà Nội chưa được khai mạc, ở Mỹ đã có người phản đối, cho rằng quá vội vã sẽ không thể có được bước đột phá. Cho đến nay, kết quả của hội nghị thượng đỉnh thứ 2 đã tái khẳng định điều này, vì vậy họ sẽ không sớm tổ chức hội nghị lần 3, điều này cũng không có lợi cho Trump, mà còn gây hậu quả tai hại về chính trị. Trừ khi hai bên tìm thấy một bước đột phá lớn trong vấn đề phi hạt nhân hóa, cuộc gặp Trump – Kim lần 3 mới có thể diễn ra”.

Nguồn: Mạng “Quan sát Thượng Hải” (TQ) – 28/02/2019

TLTKĐB – 02/03/2019

Tầm quan trọng của vũ khí Nga đối với Việt Nam


Bản tin ngày 7/2 của tạp chí kinh tế Nikkei (Nhật Bản) cho biết trong chuyến thăm nước Nga vào tháng 9/2018 của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Hà Nội đã đạt được thỏa thuận mua một gói vũ khí Nga lên đến 1 tỷ USD.

Nước Nga hiện nay và tiền thân là Liên bang Xô viết là nhà cugn cấp vũ khí liên tục cho Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua. Chỉ trong thời gian 10 năm trở lại đây, báo chí trong và ngoài nước mới bắt đầu nói đến những nguồn cung cấp vũ khí khác cho Việt Nam, rất đa dạng, có thể kể ra là Pháp, Israel, Hà Lan, Canada, Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ. Bình luận về việc này với đài RFA, Thạc sĩ Hoàng Việt, một chuyên gia nghiên cứu Biển Đông cho biết: “Tại sao Việt Nam cần vũ khí của Nga? Vì Nga là nhà cung cấp truyền thống lâu rồi. Mặc dù vũ khí Nga có thể không hiện đại bằng Mỹ, nhưng cũng rất tốt, và lại rẻ hơn. Nhưng nếu chỉ lệ thuộc vào một nhà cung cấp thì không hay, cho nên Việt Nam cũng phải đa dạng hóa nguồn cung cấp của mình”.

Ông Hoàng Việt nói rằng việc đa dạng nhà cung cấp vũ khí như vậy có lợi là tìm được giá tốt, có nhiều loại vũ khí có tính năng khác nhau, nhưng cũng có khả năng bất lợi là sự tương thích các loại vũ khí đó với nhau. Dù là bạn hàng lớn cùa Nga về vũ khí nhưng Việt Nam vẫn mong muốn có được những vũ khí hiện đại của Mỹ, đặc biệt là các radar đã tỏ ra hơn hẳn những hệ thống của Nga trong cuộc chiến tranh đang diễn ra tại Syria. Vấn đề Việt Nam chưa mua nhiều vũ khí Mỹ, mặc dù có thể bỏ ra từ 1 – 2 tỷ USD hàng năm cho vũ khí, là vì Mỹ chưa bán cho Việt Nam. Việc Mỹ cung cấp vũ khí cho Việt Nam sau khi lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam được Tổng thống Obama dỡ bỏ, có nhiều chi tiết kỹ thuật chứ không đơn giản.

Trong năm 2018, có hai sự kiện liên quan đến khả năng Mỹ cung cấp vũ khí cho Việt Nam. Thứ nhất là tiết lộ từ Bộ Quốc phòng Mỹ về hợp đồng trị giá 100 triệu USD dành cho Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam khi đó không bình luận gì về việc này. Thứ hai là Mỹ đưa Việt Nam vào diện đặc biệt, không bị ràng buộc bởi lệnh cấm vận vũ khí Nga. Từ Đại học Maine (Mỹ), Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia về quan hệ quốc tế cho biết chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã điều trần trước Quốc hội Mỹ về việc này. Ông Mattis nêu vấn đề Việt Nam không thể ngay lập tức chuyển sang dùng vũ khí Mỹ trong khi đã dùng vũ khí Nga hơn nửa thế kỷ nay để chống lại với lý lẽ muốn cấm vận mà Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng xuất phát từ các công ty sản xuất vũ khí Mỹ, hoặc các tiểu bang có các công ty này hoạt động.

Như vậy, có thể nói, trong một khoảng thời gian vài chục năm trước mắt, nền tảng cơ bản của quân đội Việt Nam vẫn là vũ khí Nga. Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, chuyên gia độc lập từ Singapore cho biết có đến 80% vũ khí, khí tài của Việt Nam đang sử dụng xuất phát từ Nga.

Song song với những điều kiện kỹ thuật, với việc sử dụng quen thuộc loại vũ khí này, còn có lòng tin trong sự cung cấp tín dụng nữa. Cách đây vài năm, với nỗ lực phát triển ảnh hưởng sang Đông Nam Á, Chính phủ Ấn Độ đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 500 triệu USD để mua các tên lửa phòng thủ bờ biển mà nước này hợp tác sản xuất với Nga. Tuy nhiên, cho đến nay, khoản tín dụng này đã không được sử dụng tới.

Theo một chuyên gia trong nước thạo tin quân sự của Việt Nam, Việt Nam vẫn chỉ sử dụng tín dụng của Nga để mua vũ khí. Tín dụng của Nhật Bản trong gần đây đã được dùng để mua vũ khí nhưng còn rất ít.

Đầu năm 2019, tờ Đất Việt của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam đã đưa tin khá chi tiết về những loại vũ khí dành cho không quân như máy bay Su-35, tên lửa phòng không S-400, được Việt Nam mua từ Nga. Ngoài ra, báo cáo này còn cho biết Việt Nam đang thực hiện việc sản xuất một số tàu chiến được Nga thiết kế.

Trước đây, báo chí trong và ngoài nước cũng nói đến lô hàng lớn nhất trong việc Việt Nam mua vũ khí Nga từ trước đến nay là 6 chiếc tàu ngầm loại Kilo trị giá hàng tỉ USD. Những chiếc tàu ngầm đã lần lượt được chuyển giao cho Việt Nam. Tuy nhiên, Thạc sĩ Hoàng Việt cùng một số nhà quan sát khác cũng lo ngại rằng nước Nga cung cấp vũ khí cho Việt Nam nhưng đồng thời cung cấp vũ khí cho Trung Quốc: “Những vũ khí này này Nga vừa bán cho Việt Nam vừa bán cho Trung Quốc, thậm chí Trung Quốc nhiều tiền hơn, mua loại hiện đại hơn. Mà Trung Quốc cũng nổi tiếng bắt chước. Thành ra, nếu xung đột thực sự xảy ra, Trung Quốc có thể vô hiệu hóa các loại vũ khí (Nga) của Việt Nam”.

Tuy nhiên, vị chuyên gia giấu tên am tường về vũ khí của quân đội Việt Nam lại cho rằng điều đó không đáng ngại, vì hai lẽ: “Thứ nhất, Trung Quốc có thể bỏ nhiều tiền hơn để mua vũ khí nhưng phải dàn trải ra trên khắp tuyến biên giới rất dài của mình. Thứ hai, theo truyền thống hợp tác từ trước đến nay, Liên Xô ngày trước và Nga hiện nay khi bán vũ khí cho Việt Nam, cũng đồng thời cung cấp những chiến lược, chiến thuật sử dụng vũ khí đó, trong khi họ không làm như vậy với Trung Quốc”.

Những thông tin gần đây cho thấy Việt Nam không chỉ mua vũ khí sản xuất từ Nga, mà bắt đầu sản xuất những loại vũ khí đó tại Việt Nam như tên lửa và tàu chiến. Hơn nữa, Việt Nam cũng đang cố gắng tích hợp những nguồn vũ khí khác nhau lại để sử dụng, ngay từ khâu sản xuất.

Tờ Đất Việt nêu lên khả năng Việt Nam sử dụng những tàu chiến của Hà Lan sản xuất, nhưng gắn thêm những loại vũ khí của Mỹ và Nga trên đó. Giới chuyên gia cho rằng hiện nay và một thời gian nữa, Việt Nam có nền sản xuất quốc phòng căn bản vẫn dựa trên vũ khí Nga là chính.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần I


Amy King

Trong những năm gần đây, khái niệm “quan hệ cường quốc kiểu mới” (new type of great power relations, xingxing daguo guanxi) đã xuất hiện như một luận đề chủ điểm trong nghị trình quan hệ quốc tế của Trung Quốc. Khái niệm này lần đầu tiên được ủy viên Hội đồng nhà nước Đới Bỉnh Quốc nêu ra trong cuộc Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Trung – Mỹ năm 2010, và đã trở nên đặc biệt nổi trội sau chuyến thăm nước Mỹ của ông Tập Cận Bình hồi năm 2012 với tư các Phó Chủ tịch và sau đó là Chủ tịch Trung Quốc năm 2013. Tại Hội nghị thượng đỉnh Sunnylands với Tổng thống Barack Obam hồi tháng 6/2013, Chủ tịch Tập Cận Bình đã giải nghĩa nền tảng của “quan hệ cường quốc kiểu mới” trên cơ sở các nguyên tắc “không đối đầu hoặc xung đột”, “tôn trọng lẫn nhau” và “hợp tác cùng thắng”. Song tất cả những ngôn từ quả quyết về sự hợp tác và lợi ích chung này đều không thể che giấu sự thật là Mỹ và Trung Quốc đều đang phải đối mặt với không ít những thách thức chính trị, kinh tế và an ninh có khả năng lôi kéo họ vào tình trạng xung đột hơn là hợp tác. Một trong số những thách thức cấp bách nhất chính là mối quan hệ của Trung Quốc với Nhật Bản.

Bài viết này đặt ra một câu hỏi hết sức đơn giản: Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong nghị trình của Trung Quốc về một “quan hệ cường quốc kiểu mới”? Trả lời được câu hỏi này là một bước tiến quan trọng để xác định liệu Trung Quốc và Mỹ có khả năng tạo lập một mối quan hệ không đối đầu trong tương lai. Nhìn nhận gần đây của giới học giả về sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự chuyển hóa quyền lực đang diễn ra ở châu Á đã nhấn mạnh vai trò quan trọng mà Nhật Bản có thể nắm giữ trong việc định hình mối quan hệ Trung – Mỹ trong tương lai. Một học giả cho rằng Nhật Bản sẽ tăng cường khả năng đối đầu và xung đột giữa hai nước này: vị thế trung tâm của Nhật Bản trong quan điểm chiến lược của Mỹ ở châu Á và những lo ngại sợ bị nước Mỹ bỏ rơi của Nhật Bản đang đe dọa quá trình hình thành một “cơ chế” chia sẻ quyền lực Trung – Mỹ thực sự ở châu Á. Số khác dám chắc rằng Nhật Bản đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò trung tâm trong việc kiềm chế sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc ở châu Á: liên minh Mỹ – Nhật là nền tảng cho sự hiện diện quân sự trong tương lai của Mỹ ở khu vực và là cán cân đối trọng với sức mạnh quân sự của Trung Quốc, trong khi sự hợp tác kinh tế với Trung Quốc và sự ủng hộ tích cực cho chủ nghĩa đa phương khu vực của Nhật Bản cũng đồng thời giúp xã hội hóa và nhất thể hóa một Trung Quốc hòa bình hơn vào khu vực. Bất chấp việc nhìn nhận Nhật Bản là nhân tố góp phần hay làm suy yếu mối quan hệ Trung – Mỹ ổn định, vẫn có rất ít người nghi ngờ Nhật bản, và mối quan hệ của Trung Quốc với Nhật Bản sẽ là tâm điểm của mọi mô thức “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa Mỹ và Trung Quốc trong tương lai.

Để tìm hiểu cách thức khớp nối của Nhật Bản với khái niệm mới của Trung Quốc, bài viết này đã khảo sát một loạt các bài báo và tạp chí khoa học của Trung Quốc, hầu hết đều được xuất bản từ năm 2012. Trong số 326 bài tạp chí tiếng Trung có đề cập đến “quan hệ cường quốc kiểu mới”, chỉ có 8 bài liên quan đến Nhật Bản, và chỉ có 5 bài bàn luận chi tiết đến Nhật Bản. Thêm vào đó, một cuộc tìm kiếm nội dung tương tự của tờ Nhân dân Nhật báo – một tờ báo lớn chính thống của Trung Quốc cũng cho biết, trong số hàng ngàn bài viết về vấn đề căn bản này, chỉ có 7 bài luận bàn chi tiết đến Nhật Bản. Việc phân tích nội dung này cho thấy một phát hiện quan trọng căn bản: đa số áp đảo giới khoa học hàn lâm và truyền thông Trung Quốc bao quát thông tin về khái niệm này đều ít hoặc không hề quan tâm đến Nhật Bản. “Quan hệ cường quốc kiểu mới” rõ ràng đã được hình thành trong sự tham chiếu với quan hệ Trung – Mỹ, và số lượng ít ỏi các bài viết đề cập đến Nhật Bản cho thấy có rất ít học giả, quan chức, hoặc nhà báo Trung Quốc xem trọng vai trò của Nhật Bản hay quan hệ Trung – Nhật đối với tương lai của mối quan hệ Trung – Mỹ. Duy nhất có một bài nghiên cứu trực tiếp gắn khái niệm “quan hệ cường quốc kiểu mới” vào bản thân mối quan hệ Trung – Nhật, và tác giả Liu Jiangyong (Lưu Giản Ưng) – một chuyên gia về mối quan hệ này, đã đề cập đến khái niệm chỉ bằng một câu diễn đạt hết sức ngắn gọn:

Trung Quốc và Nhật Bản, với tư cách là những nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới, dù có lâm vào những nghịch cảnh khốn khó hay tiến tới xây dựng một quan hệ cường quốc kiểu mới và quan hệ láng giềng tốt đẹp, đều chịu phụ thuộc chủ yếu vào việc liệu họ có thể nắm bắt cơ hội và nhiệt thành xây dựng các chính sách giúp cải thiện mối quan hệ của mình, đặc biệt đối với vấn đề quần đảo Điếu Ngư”.

Bất chấp việc thiếu một cái nhìn phổ quát chung như vậy, số ít các bài viết khoa học, các ý kiến rời rạc, và việc các phương tiện truyền thông có đưa tin về phát ngôn của giới quan chức Trung Quốc vẫn thể hiện rõ ràng sự lưu tâm đến Nhật Bản khi luận bàn chi tiết đến một “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Có bốn chủ điểm trọng yếu nổi bật sau đây. Trước tiên và có lẽ thông dụng nhất là lập luận cứng rắn cho rằng mọi mối “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa Mỹ và Trung Quốc đều có thể dễ dàng bị phá vỡ do tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Thứ hai, giới quan chức và học giả Trung Quốc đang đánh giá quyền lực trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách tham chiếu đến quyền lực suy giảm của Nhật Bản. Thứ ba, họ đã định hình khái niệm mới này bằng cách chỉ rõ hình ảnh tương phản giữa sự trỗi dậy tương lai của Trung Quốc với sự trỗi dậy lịch sử của Nhật Bản về quyền lực. Sau cùng, giới học giả, báo chí và giới quan chức Trung Quốc đang nhìn nhận “quan hệ cường quốc kiểu mới” là một sự bành trướng cục bộ của trật tự quốc tế hậu Thế chiến thứ hai, trong đó Trung Quốc và Nhật Bản được gán cho những vai trò vô cùng đặc biệt. Trật tự thời hậu chiến theo đó trở thành một điểm tham chiếu quan trọng trong tư duy về tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Dưới đây, tôi sẽ luận bàn về từng chủ điểm nêu trên trước khi xem xét những hàm nghĩa của nghị trình này đối với tương lai “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc.

Tôn trọng các lợi ích cốt lõi: Tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku là một mối đe dọa đối với “quan hệ cường quốc kiểu mới”

Trong số tất cả những chủ điểm được xét đến ở đây, mẫu tham chiếu thường gặp nhất có liên quan đến Nhật Bản là khả năng đạt được một mối quan hệ Trung – Mỹ “kiểu mới” gắn kết hơn có thể được đánh liều bằng cuộc tranh chấp về vấn đề quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Quan hệ Trung – Nhật xấu đi là kết quả của việc chính phủ Nhật Bản quyết định “mua” ba hòn đảo thuộc quần đảo này hồi tháng 9/2012, và cũng bởi những cuộc tấn công trên không và trên biển ngày càng gia tăng của Trung Quốc vào khu vực tranh chấp xung quanh quần đảo. Tình trạng căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản về vấn đề này do vậy ngày càng gia tăng, hoàn toàn đồng thời với việc giới quan chức và chuyên gia Trung Quốc định hình hệ tư tưởng về một “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Đối với nhiều nhà phân tích và giới chức Trung Quốc, những cuộc bàn luận về tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ không thể tách rời những cuộc bàn luận về quần đảo Điếu Ngư/Senkaku.

Sự liên đới giữa các cuộc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku và “quan hệ cường quốc kiểu mới” Trung – Mỹ lần đầu tiên được nhấn mạnh vào ngày 20/9/2012, khi tờ Nhân dân Nhật báo đăng tải toàn văn nội dung cuộc hội đàm chung giữa Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta trong chuyến thăm mới đây tới Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình đã giải nghĩa chi tiết về sự “đồng thuận quan trọng” có thể đạt được thông qua việc hình thành ý niệm “quan hệ cường quốc kiểu mới”, rồi sau đó lập tức trở lại cuộc tranh chấp với Nhật Bản, vốn đã bùng phát vì động thái mua ba hòn đảo thuộc quần đảo trong chuỗi sự kiện ngày 11/9. Phác họa sự liên đới của cuộc tranh chấp với tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ, ông Tập Cận Bình nêu rõ:

Chúng tôi hy vọng nước Mỹ, xuất phát từ quan điểm chú trọng hòa bình và ổn định ở khu vực, sẽ thận trọng, sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư, và sẽ không thực thi bất cứ động thái nào có thể làm sâu sắc thêm mâu thuẫn và khiến cho tình hình trở nên phức tạp hơn”.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44