Nghịch lý của sự lựa chọn – Phải làm gì với lựa chọn – Phần cuối


7/ Hãy ít hối tiếc hơn

Sự day dứt khi hối tiếc (dù hối tiếc đó là có thật hay chỉ là tiềm năng) thì cũng tác động tiêu cực đến nhiều quyết định, và đôi khi còn khiến chúng ta không dám ra quyết định. Mặc dù hối tiếc là thường mang tính tích cực và đem lại bài học cho chúng ta, nhưng một khi chúng trở thành một điều ám ảnh thì nó có thể đầu độc, thậm chí khiến chúng ta không dám quyết định. Chúng ta nên cố gắng để giảm thiểu nó bằng những cách sau đây:

  1. Theo những tiêu chuẩn của một người biết thỏa mãn chứ không phải một người cầu toàn.
  2. Hãy giảm bớt các lựa chọn trước khi chúng ta ra quyết định.
  3. Thực hành lòng biết ơn/sự hài lòng đối với những mặt tích cực hơn là cứ chăm chăm thất vọng về những mặt không tốt.

Cũng có lợi khi chúng ta luôn nhớ rằng cuộc sống phức tạp như thế nào và nhận ra rất hiếm khi có một quyết định nào đó có khả năng thay đổi cuộc sống. Tôi có một người bạn, người này luôn cảm thấy mình phải đạt được nhiều thành tích trong cuộc sống và anh ta đã bỏ ra hàng đống thời gian trong 30 năm qua để hối tiếc về một cơ hội mà anh ta đã bỏ lỡ để được đi học trường Cao đẳng Ivy nào đó. Anh ta thường càu nhàu rằng: “Mọi việc chắc chắn đã khác nếu hồi đó tôi theo học trường đó”, Thực ra anh ta nếu đi học trường đó thì có thể trên đường đi học anh ta bị xe buýt tông, Thực ra nếu anh ta có theo học trường đó thì anh ta cũng có thể bị đuổi học vì thi trượt, hoặc gặp một thất bại nào đó hoặc không theo kịp và trở nên ghét việc học ở đó. Nhưng tôi đã luôn muốn chỉ cho anh ta thấy được rằng khi anh ta đưa ra quyết định đó vì nhiều lý do, và những lý do này gắn với lúc còn trẻ anh ta như thế nào. Thay đổi một quyết định – ở đây là có quyết định theo học ở một trường danh tiếng hơn hay không – không làm thay đổi được tính cách cơ bản của anh ta hoặc xóa bỏ được những vấn đề mà anh ta phải trải qua. Vì thế cho dù anh ta có đi học ở trường đó hay không thì không có gì chắc chắn rằng cuộc sống hay nghề nghiệp của anh ta có thể tốt hơn. Nhưng có một điều tôi chắc chắn nếu ta bớt hối tiếc đi thì có lẽ anh ta đã hạnh phúc hơn.

8/ Đoán trước quá trình thích nghi

Chúng ta thích nghi với hầu hết mọi thứ trong cuộc sống với bất kỳ quy tắc nào/cho dù trải nghiệm đó có xảy ra thường xuyên hay không. Khi cuộc sống khó khăn, khả năng thích nghi giúp chúng ta tránh được cảm giác gánh nặng khi đối diện với nó. Nhưng khi cuộc sống suôn sẻ, khả năng thích nghi lại đặt chúng ta vào một vòng luẩn quẩn đi tìm hứng thú, lấy mất của chúng ta cảm giác thỏa mãn hoàn toàn khi chúng ta có được một điều gì đó tốt đẹp. Chúng ta không thể tránh được quá trình thích nghi. Những gì chúng ta có thể làm đó là chỉ nên kỳ vọng một cách thực tế về việc trải nghiệm thay đổi như thế nào theo thời gian. Thử thách là ở chỗ chúng ta phải luôn nhớ rằng dàn âm thanh nổi, chiếc xe hơi sang trọng và ngôi nhà rộng hàng ngàn mét vuông không thể lúc nào cũng mang lại cho chúng ta cảm giác hứng thú như khi chúng ta sử dụng chúng lần đầu. Học cách hài lòng khi sự hào hứng bỗng trở thành cảm giác dễ chịu sẽ giúp chúng ta ít thất vọng hơn với quá trình thích nghi khi nó diễn ra. Chúng ta cũng có thể giảm nỗi thất vọng về quá trình thích nghi theo cách của người biết thỏa mãn, đó là bỏ ít thời gian và công sức nghiên cứu khi đưa ra quyết định.

Ngoài việc ý thức được cái vòng luẩn quẩn của hứng thú, chúng ta cũng cần phải ý thức được cái vòng luẩn quẩn của sự thỏa mãn. Đây chính là “tác động kép” của quá trình thích nghi. Chúng ta không chỉ thích nghi với một trải nghiệm nào đó và cảm thấy càng ngày nó càng bớt hay hơn trước, mà chúng ta còn có thể thích nghi với một mức độ này không còn làm chúng ta thấy hứng thú nữa. Ở đây thì thói quen biết ơn có thể cũng có tác dụng. Khi chúng ta tưởng tượng về những điều khiến chúng ta cảm thấy tệ hơn thì điều này khiến chúng ta không xem cảm giác hứng thú mình đang có sẽ tồn tại mãi/hiển nhiên như thế.

Vì vậy nên chuẩn bị cho quá trình thích nghi và ít bị thất vọng bằng cách:

  1. Khi bạn mua mới một chiếc xe, hãy tin rằng niềm hứng khởi mà bạn có lúc đó sẽ không giống như vậy sau hai tháng nữa.
  2. Dành ít thời gian hơn cho việc tìm kiếm thứ hoàn hảo, đừng cầu toàn, nhờ đó bạn sẽ không phải trả một cái giá khổng lồ cho việc tìm kiếm, mà cái giá này bạn sẽ phải trả dần bằng sự thỏa mãn mà bạn có từ chọn lựa của mình.
  3. Tự nhắc mình những điểm tốt của những thứ mình có thay vì cứ chú tâm vào những điểm đã xâu hơn so với ban đầu.

9/ Kiểm soát kỳ vọng

Cách đánh giá trải nghiệm của chúng ta bị ảnh hưởng nhiều bởi chúng ta thường so sánh trải nghiệm với kỳ vọng của mình. Vì vậy cách dễ nhất để tăng sự thỏa mãn của mình đối với kết quả của quyết định của chúng ta, đó là hãy đừng kỳ vọng quá nhiều vào những kết quả đó. Điều này nói dễ hơn làm, đặc biệt trong trong một thế giới khuyến khích của con người kỳ vọng và có quá nhiều lựa chọn đến nỗi khiến người ta tin rằng chắc chắn phải có một lựa chọn hoàn hảo đâu đó. Vì vậy để làm cho việc kỳ vọng ít hơn trở nên dễ dàng chúng ta cần:

  1. Giảm bớt số lựa chọn mà bạn sẽ cân nhắc.
  2. Hãy là một người biết thỏa mãn chứ đừng là một người cầu toàn.
  3. Tính đến khả năng may mắn.

Bạn có thường gặp tình huống này không: bạn bước vào một nơi nghỉ dưỡng mà bạn đã trông đợi từ lâu và sau đó lại có cảm giác không hề thấy ấn tượng/hứng thú? Niềm hứng thú bất ngờ mà chúng ta có được có thể làm cho một bữa ăn nhỏ hoặc một quá trọ ở miền quê trở nên thú vị hơn rất nhiều so với một bữa ăn trong một nhà hàng Pháp tao nhã hoặc trong một khách sạn 4 sao.

10/ Giảm so sánh xã hội

Chúng ta đánh giá chất lượng trải nghiệm của mình bằng cách so sánh trải nghiệm của mình với người khác. Mặc dù so sánh xã hội có thể cung cấp nhiều thông tin hữu ích, nhưng nó lại làm giảm cảm giác hài lòng của chúng ta. Vì vậy nếu chúng ta ít so sánh hơn thì chúng ta sẽ càng thấy hài lòng hơn. Thật dễ đưa ra lời khuyên rằng “đừng quá chú ý đến những người xung quanh đang làm”, nhưng lại khó làm theo lời khuyên này. Bởi thông tin về việc người khác đang làm gì hiện diện khắp nơi và bởi hầu hết chúng ta dường như quan tâm rất nhiều về địa vị. Và cuối cùng là bởi vì những thứ quan trọng nhất trong cuộc sống (ví dụ như những trường đại học tốt nhất, những công việc tốt nhất, những ngôi nhà đẹp nhất trong những khu vực sống tốt nhất) chỉ được dành cho những đối tượng nào đó mà hơn hẳn người đồng trang lứa với họ. Tuy nhiên, so sánh xã hội dường như lại hủy hoại cảm giác hạnh phúc của chúng ta. Vì thế chúng ta phải luôn nhắc nhở mình hãy ít so sánh đi. Bởi những người biết thỏa mãn thường dễ tránh được so sánh xã hội hơn so với người cầu toàn, đối với họ việc ý thức được mức độ “vừa phải” là thích hợp nên họ sẽ tự động ít quan tâm hơn tới những việc người khác đang làm.

Vì vậy:

  1. Hãy nhớ rằng suy nghĩ “ai mà khi chết có nhiều của cải nhất là người thắng cuộc” là một cái gai kìm hãm chứ không phải là sự khôn ngoan.
  2. Chú trọng vào những gì làm bạn hạnh phúc và những gì làm cho cuộc sống của bạn ý nghĩa.

11/ Học cách yêu lấy các giới hạn

Khi ngày càng chúng ta càng có nhiều sự lựa chọn, thì tự do lựa chọn rốt cuộc lại hóa thành nô lệ cho lựa chọn. Những quyết định thường ngày chiếm của chúng ta quá nhiều thời gian và tập trung đến nỗi chúng ta cảm thấy vượt qua một ngày thật khó khăn. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta nên học cách giới hạn các tùy chọn, đây là một sự giải phóng chứ không phải giam cầm. Xã hội đặt cho chúng ta những luật lệ, tiêu chuẩn và quy tắc thông thường cho việc lựa chọn, và chính trải nghiệm của từng cá nhân sẽ tạo nên thói quen của họ. Khi chúng ta quyết định theo một nguyên tắc nào đó (ví dụ như phải luôn cài dây an toàn, không bao giờ uống quá hai ly rượu vào buổi tối), chúng ta tránh được việc phải cân nhắc để quyết định tùy hứng hết lần này đến lần khác. Dạng quy tắc này giúp chúng ta tránh được việc phải cân nhắc để quyết định tùy hứng hết lần này đến lần khác. Dạng quy tắc này giúp chúng ta dành được nhiều thời gian và chú ý hơn cho những lựa chọn và quyết định quan trọng, mà hững quy tắc này không thể áp dụng được cho những quyết định đó.

Trong thời gian đầu, việc suy nghĩ về những quyết định thứ cấp/hạng hai – tức những quyết định về việc khi nào chúng ta sẽ suy nghĩ và sẽ theo những con đường đã được vạch ra – có thể làm cho cuộc sống có thêm một tầng phức tạp. Nhưng về lâu dài thì nhiều rắc rối hàng ngày sẽ biến mất, và chúng ta sẽ thấy mình có thêm thời gian, sức lực và sự chú tâm cho những quyết định quan trọng mà chúng ta đã chọn để xem xét.

Trong một bức biếm họa về con cá bố cận thị và con cá con trong một bể cá. Con cá bố cận thị nói với con cá con của mình rằng “Con có thể trở thành bất cứ thứ gì con muốn – không có giới hạn” mà không nhận ra rằng không gian của cái bể cá hạn chế như thế nào. Nhưng liệu con cá bố này có thực sự là cận thị? Việc sống trong thế giới bể cá bị giới hạn nhưng được bảo vệ giúp cho cá con có thể khám phá, thử nghiệm, tạo ra và cả viết nên cuộc đời của nó mà không phải lo lắng việc bị chết đói hay bị ăn thịt. Không có cái bể cá thỉ mới đúng là không có giới hạn. Nhưng lúc đó thì con cá sẽ phải luôn đấu tranh để tồn tại. Lựa chọn trong giới hạn, tự do trong giới hạn, chính là điều giúp cho con cá nhỏ hình dung ra được rất nhiều điều tuyệt vời khác.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008.

Nghịch lý của sự lựa chọn – Phải làm gì với lựa chọn – Phần II


4/ Suy nghĩ về giá của cơ hội

Khi đưa ra quyết định, thường là tốt khi chúng ta xem xét về những lựa chọn/khả năng mà ta sẽ bỏ qua khi chọn được cái ưng ý nhất. Việc bỏ qua những cái “giá của cơ hội” này có thể khiến chúng ta trở nên đánh giá quá cao về cái gọi là lựa chọn tốt nhất. Mặt khác, chúng ta càng suy nghĩ về “giá của cơ hội” thì chúng ta lại càng trở nên bất mãn với những gì chúng ta đã chọn. Vì vậy hãy cố gắng hạn chế suy nghĩ về những khả năng/những sự lựa chọn mà chúng ta đã bỏ qua.

Nếu cứ suy nghĩ về sự hấp dẫn của những lựa chọn mà chúng ta đã bỏ qua, thì chúng ta càng không hài lòng với cái mà ta đã chọn. Nhưng nếu chúng ta quên hết về giá của cơ hội thì điều đó là rất khó, hoặc không thể đánh giá một lựa chọn là tốt nếu không có mối liên hệ với những lựa chọn khác. Ví dụ như định nghĩa một sự đầu tư hiệu quả là thế nào phải dựa vào mức độ lãi mà nó mang lại so sánh với lãi của những vụ đầu tư khác. Không có một tiêu chuẩn tuyệt đối nào mà chúng ta có thể dựa vào, vì vậy cũng cần phải xem xét những giá của cơ hội khác, nhưng đừng xem xét nhiều quá.

Lập ra những quyết định dự phòng có thể có tác dụng. Khi chúng ta quyết định bỏ qua những lựa chọn về một vấn đề nào đó trong cuộc sống thì chúng ta không phải nghĩ nhiều về giá của cơ hội nữa. Làm một người biết thỏa mãn cũng có tác dụng. Do người biết thỏa mãn có những tiêu chuẩn riêng của họ về mức độ “vừa phải” nên họ cũng ít phụ thuộc hơn những người cầu toàn vào những so sánh về những lựa chọn khác. Đối với một người biết thỏa mãn, một vụ đầu tư hiệu quả là vụ đầu tư mang lại lãi cao hơn mức lạm phát. Chuyện này đã qua rồi. Không cần phải lo lắng về các lựa chọn khác. Không cần phải giảm mức độ hài lòng khi phải cân nhắc việc tiền bạc của mình có thể đã được đầu tư tốt hơn chăng. Liệu có phải những người biết thỏa mãn thì kiếm được ít hơn so với người cầu toàn khi đầu tư? Có lẽ. Liệu người này có bất mãn với kết quả đạt được không? Có lẽ không. Liệu người này sẽ có nhiều thời gian để suy nghĩ về những quyết định thực sự quan trọng với mình? Chắc chắn rồi.

Có một số phương pháp mà bạn có thể sử dụng để tránh bị thất vọng khi nghĩ về những lựa chọn mình đã không chọn:

  1. Nếu bạn không thực sự thấy mình bất mãn thì hãy dùng thứ mình luôn dùng.
  2. Đừng bị cám dỗ bởi những thứ “mới mẽ và cải tiến”.
  3. Đừng “gãi” nếu không bị “ngứa”.
  4. Và đừng lo lắng nếu bạn làm điều này thì bạn sẽ bỏ lỡ mất những thứ mới mẻ hay ho khác trong cuộc sống.

Dù sao đi nữa thi bạn sẽ luôn phải đối mặt với những thứ mới lạ. Bạn bè và đồng nghiệp của bạn sẽ nói cho bạn nghe về các sản phẩm mà họ mua trong kỳ nghỉ của họ chẳng hạn. Vì vậy bạn sẽ thay đổi những lựa chọn theo thói quen của bạn mặc dù bạn không tìm kiếm điều đó. Nếu bạn chỉ ngồi yên và đợi những điều “mới mẻ, tiến bộ” tìm đến bạn, thì bạn sẽ mất ít thời gian hơn cho việc chọn lựa và sẽ thấy ít bực mình hơn nếu bạn không tìm được thứ thay thế mà đáp ứng mọi yêu cầu của bạn.

5/ Hãy làm cho lựa chọn của mình không thể hủy bỏ được

Hầu hết mọi người đều muốn mua hàng ở một cửa hàng cho đổi hơn là mua ở cửa hàng không cho đổi. Chúng ta không nhạn ra một điều rằng chính việc cho phép chúng ta thay đổi ý định dường như càng khiến chúng ta dễ thay đổi quyết định. Khi chúng ta có thể thay đổi quyết định của mình về một vấn đề nào đó thì chúng ta càng ít thỏa mãn với quyết định của mình. Khi quyết định cuối cùng được đưa ra, chúng ta sẽ vướng vào những quá trình tâm lý có thể tăng cảm giác của chúng ta về lựa chọn của mình so với những lựa chọn khác. Nếu một lựa chọn là không thể thay đổi thì chúng ta sẽ không mắc vào quá trình này nhiều như trước nữa.

Tôi nghĩ rằng sức mạnh của những quyết định không thể thay đổi sẽ xuất hiện rõ nhất khi chúng ta suy nghĩ về những lựa chọn quan trọng nhất. Một người bạn từng bảo tôi rằng một mục sư đã từng gây sốc cho một giáo đoàn khi ông thuyết giảng một bài về hôn nhân, trong đó ông thẳng thừng nói rằng thảm cỏ phía bên kia đồi lúc nào cũng xanh hơn (tức đặc tính “đứng núi này trông núi nọ” của con người). Ông ta có ý rằng bạn sẽ không thể tránh khỏi việc gặp gỡ những người trẻ hơn, đẹp hơn, vui tính hơn, thông minh hơn, hoặc có vẻ biết thấu hiểu và thông cảm hơn so với bạn đời của chúng ta. Nhưng vấn đề tìm kiếm bạn đời không giống như việc so sánh lựa chọn khi đi chợ hay mua sắm. Cách duy nhất để cảm thấy hạnh phúc và bình ổn trước những lựa chọn có vẻ hấp dẫn và thu hút hơn đó là nói rằng “tôi không định thay đổi đây. Tôi đã lựa chọn bạn đời của mình, nên cho dù người kia có biết thông cảm hay xinh đẹp như thế nào cũng không có ý nghĩa gì với tôi. Tôi không phải đang đi chợ – câu chuyện chấm dứt ở đây”. Cứ mải trăn trở không biết tình yêu của mình có phải thực sự không, mối quan hệ tình cảm của mình liệu đã đạt yêu cầu chưa, và tự hỏi liệu có phải mình đã có thể làm tốt hơn không – tất cả những điều này là đơn thuốc cho sự đau khổ. Khi bạn biết mình vừa ra một quyết định không thể thay đổi khiến bạn dồn công sức để cải thiện mối quan hệ bạn đang có hơn là cứ mải nghi ngờ/đứng núi này trông núi nọ.

6/ Thực hành thái độ sống biết ơn

Cách đánh giá các lựa chọn bị tác động sâu sắc bởi việc cho ta so sánh các lựa chọn đó với cái gì, bao gồm cả việc so sánh với điều chỉ có trong trí tưởng tượng của chúng ta. Cùng một trải nghiệm nhưng chúng có thể chứa đựng cả khía cạnh gây thú vị lẫn gây thất vọng. Việc chúng ta chú trọng vào khía cạnh nào có thể quyết định việc chúng ta đánh giá trải nghiệm của mình là đáng hài lòng hay không. Khi chúng ta tưởng tượng ra những phương án tốt hơn thì phương án mà chúng ta chọn bỗng trở nên không tốt bằng. Khi chúng ta tưởng tượng ra những phương án tệ hơn, thì cái chúng ta chọn lại trở nên tốt hơn.

Chúng ta có thể cải thiện đáng kể cảm nhận chủ quan của mình bằng cách cố gắng biết ơn/hài lòng một cách có ý thức đối với những khía cạnh tốt của một trải nghiệm hay chọn lựa nào đó, và hãy bớt thất vọng với những khía cạnh không tốt.

Tài liệu nghiên cứu cho thấy thái độ biết ơn không phải lúc nào cũng tự nhiên đến với chúng ta. Thông thường chúng ta nghĩ đến những phương án khác là do chúng ta cảm thấy bất mãn với những gì chúng ta đã chọn. Khi cuộc sống không được suôn sẻ, chúng ta nghĩ nhiều về việc làm thế nào để nó tốt hơn. Khi cuộc sống đang tốt đẹp thì chúng ta có khuynh hướng không suy nghĩ về việc nó sẽ xấu đi như thế nào. Nhưng nhờ luyện tập chúng ta có thể học được cách nhìn được những khía cạnh tốt của mọi việc, điều này ngược lại cũng sẽ giúp cải thiện cuộc sống của chúng ta.

Dường như không được cao quý lắm khi chấp nhận quan điểm rằng lòng biết ơn cần phải được thực hành. Vậy thì tại sao bạn không tự bảo mình rằng “bắt đầu tư ngày mai, tôi sẽ chú ý nhiều hơn đến những khía cạnh tốt trong cuộc sống” và thực hành nó? Câu trả lời là vì thói quen của tư duy rất khó thay đổi. Chắc chắn rằng khi bạn tự đưa ra một “chỉ thị” chung chung như thế thì bạn sẽ chẳng thực sự làm theo đâu. Thay vào đó bạn hãy cân nhắc tập luyện thói quen đơn giản sau đây:

  1. Giữ một tập giấy bên giường ngủ
  2. Mỗi sáng thức dậy hoặc mỗi tối trước khi đi ngủ, bạn hãy sử dụng tập giấy trên liệt kê ra 5 việc xảy ra trong ngày hôm đó mà bạn cảm thấy hài lòng/biết ơn. Những việc khiến bạn biết ơn này đôi khi là những việc lớn (ví dụ được thăng chức to, cuộc hẹn hò đầu tiên thật tuyệt), nhưng đa phần thì đó là những việc nhỏ (ánh mặt trời chiếu xiên qua phòng ngủ, nhận được những lời nói tốt đẹp từ một người bạn, một món cá kiếm được nấu theo cách bạn thích, một bài báo nhiều thông tin trên tạp chí).
  3. Khi bạn mới bắt đầu thì bạn có thể thấy việc này có gì đó hơi ngớ ngẩn, thậm chí khiến bạn cảm thấy ngượng ngập. Nhưng nếu bạn cứ tiếp tục thì bạn sẽ thấy rằng nó sẽ càng ngày càng dễ và ngày càng tự nhiên. Bạn cũng sẽ tự mình khám phá ra nhiều thứ mà mình có thể biết ơn dù trong những ngày bình thường nhất. Cuối cùng, bạn sẽ cảm thấy tốt hơn và thấy cuộc sống đẹp hơn, ít bị lôi cuốn vào cuộc tìm kiếm những thứ “mới lạ và hiện đại” thì mới cảm thấy tốt hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008.

Nghịch lý của sự lựa chọn – Phải làm gì với lựa chọn – Phần I


Những thông tin tôi đã trình bày thật u ám. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà khả năng của con người đang ở đỉnh điểm, bị choáng ngợp bởi sự dư thừa vật chất. Xét về khía cạnh xã hội, những gì chúng ta đã đạt được chắc hẳn là những thứ mà tổ tiên chúng ta từng mơ ước, nhưng chúng ta cũng phải trả giá đắt cho những thành tựu đó. CHúng ta có được những thứ mà chúng ta muốn, rồi sau đó khám phá ra rằng những gì chúng ta muốn đó không đủ để thỏa mãn chúng ta như chúng ta mong đợi. Quanh chúng ta là những thiết bị hiện đại, tiết kiệm thời gian, nhưng dường như chúng ta vẫn không có đủ thời gian. Chúng ta được tự do làm tác giả của kịch bản cuộc đời mình, nhưng chúng ta lại không biết chính xác mình muốn “viết” nên loại cuộc đời nào.

“Thành tựu” của cuộc sống hiện đại lại hóa ra cay đắng và mọi nơi chúng ta nhìn dường như đều có những yếu tố góp phần làm cho càng ngày càng có nhiều lựa chọn. Có quá nhiều lựa chọn tạo ra sự mệt mỏi về tâm lý, đặc biệt là khi sự mệt mỏi đó được kết hợp với sự nuối tiếc, lo âu về địa vị, về quá trình thích nghi, so sánh xã hội và có lẽ quan trọng nhất chính là ước muốn có được mọi thứ tốt nhất – sự cầu toàn.

Tôi tin rằng có nhiều cách để làm giảm, thậm chí làm biến mất những mệt mỏi này, nhưng thực hiện chúng không hề dễ dàng. Các biện pháp này đòi hỏi chúng ta phải luyện tập, kỷ luật và có lẽ còn phải có một kiểu tư duy mới. Mặt khác, mỗi cách sau đây đều có những giá trị/hiệu quả của nó.

1/ Chỉ lựa chọn khi cần lựa chọn

Như chúng ta đã thấy, có cơ hội được chọn lựa là một yếu tố quan trọng của hạnh phúc, nhưng chọn lựa cũng có những mặt tiêu cực của nó. Và những mặt tiêu cực này cũng tăng khi số lượng lựa chọn tăng. Lợi ích của việc có nhiều lựa chọn là dễ thấy khi chúng ta phải quyết định một điều gì đó, nhưng cái giá phải trả thì lại khó thấy và tích tụ dần dần. Nói cách khác, không phải lựa chọn này hay lựa chọn kia tạo ra vấn đề, mà tất cả các lựa chọn đó tạo ra vấn đề khi hợp lại với nhau.

Thật không dễ để từ chối cơ hội được chọn lựa. Mặc dù vậy, điểm mấu chốt cần phải quan tâm đó là điều gì quan trọng nhất đối với chúng ta hầu như lúc nào cũng là kết quả khách quan của quyết định chứ không phải kết quả chủ quan. Nếu khả năng chọn lựa giúp bạn kiếm được xe hơi, nhà cửa, công việc hoặc máy pha cà phê xịn hơn, nhưng quá trình chọn lựa lại làm bạn cảm thấy không hài lòng về những gì bạn chọn, thì thực sự bạn chẳng đạt được gì từ cơ hội được chọn lựa đó. Và trong phần lớn thời gian, kết quả khách quan tốt nhưng kết quả chủ quan lại tệ chính là những gì mà việc có quá nhiều chọn lựa mang lại cho chúng ta.

Để giải quyết được vấn đề của việc có quá nhiều lựa chọn, chúng ta phải quyết định xem lựa chọn nào thực sự quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta và tập trung thời gian sức lực vào lựa chọn đó, hãy bỏ qua những cơ hội khác đi. Nhờ vào việc hạn chế bớt các chọn lựa, chúng ta có thể có ít thứ để chọn hơn nhưng lại cảm thấy tốt hơn.

Hãy thử những cách sau:

  1. Xem lại những quyết định gần đây của bạn, cả quyết định quan trọng lẫn không quan trọng (ví dụ như việc mua quần áo, mua đồ dùng nhà bếp, đi nghỉ ở đâu, dành lương hưu vào việc gì, việc châm sóc sức khỏe hoặc thay đổi chỗ làm hoặc một mối quan hệ nào đó).
  2. Liệt kê chi tiết từng bước, thời gian, nghiên cứu và cả lo lắng trước khi ra những quyết định đó.
  3. Tự nhắc mình bạn cảm thấy thế nào khi làm như vậy.
  4. Tự hỏi mình kết quả bạn nhận được từ quyết định đó có xứng với công sức bạn bỏ ra không.

Bài tập trên giúp bạn biết đánh giá tốt hơn cái giá bạn phải trả liên quan đến những quyết định bạn đưa ra, điều này có thể giúp bạn bỏ bớt một số quyết định cùng lúc, hoặc ít nhất cũng lập ra được những quy tắc ngón tay cái (tức phương pháp thực hành để tính toán hoặc làm gì đó dựa trên những kinh nghiệm quá khứ) cho chính mình về việc cần xem xét lựa chọn nào, hoặc cần bỏ ra bao nhiêu thời gian và nỗ lực cho việc chọn lựa. Ví dụ, bạn có thể đặt ra cho mình quy tắc chỉ đến xem không quá hai cửa hàng khi mua quần áo hoặc xem xét không quá hai địa điểm mà mình sẽ chọn để đi nghỉ.

Tự giới hạn mình theo cách này có thể vừa khó vừa có tính độc đoán, nhưng thực sự đây lại là nguyên tắc mà chúng ta phải thực hành trong những khía cạnh khác của cuộc sống. Bạn có thể có một nguyên tắc rằng không bao giờ uống quá hai ly rượu trong một buổi họp. Rượu ngon làm bạn cảm thấy sảng khoái và cơ hội uống thêm một ly nữa nằm trong tầm tay bạn, nhưng bạn dừng lại. Và đối với nhiều người, việc dừng lại này không quá khó. Tại sao vậy?

Một lý do đó là bạn luôn được nghe những chỉ dẫn về tác hại của rượu khi uống quá nhiều rượu. Lý do thứ hai đó là bạn đã từng có kinh nghiệm về việc uống quá nhiều rượu và khám phá ra rằng việc đó không dễ chịu chút nào. Không có gì đảm bảo rằng việc uống ly thứ ba có thể làm bạn không thể kiểm soát, nhưng tại sao lại phải liều mạng chứ? Không may là xã hội chúng ta không có nhiều hướng dẫn về tác hại của việc mua sắm nhiều. Hoặc có thể chính bạn cũng không nhận thức rõ việc có quá nhiều lựa chọn cũng gây ra những kết quả khó chịu. Cho đến lúc này, nếu bạn đã bị thuyết phục bởi những lý luận và dẫn chứng cảu cuốn sách này, thì bạn đã nhận thức được lựa chọn cũng có mặt trái của nó. Nhận thức này làm bạn thấy dễ chấp nhận và sống với nguyên tắc “chỉ có hai lựa chọn” hơn. rất đáng để thử đấy.

2/ Hãy là một người biết lựa chọn chứ không phải chọn đại

Người biết lựa chọn là người có khả năng xác định được liệu quyết định đó có quan trọng không hay cũng có thể không có lựa chọn nào xem xét được, hoặc cũng có thể tạo ra một lựa chọn mới. Họ biết được một lựa chọn nào đó có khả năng cho biết điều gì đó về chính bản thân người đó. Chính người biết chọn lựa là người tạo ra những cơ hội mới cho chính họ và cho cả người khác. Nhưng khi phải đối mặt với chọn lựa thì chúng ta buộc phải trở thành người chọn đại. Có nghĩa là chúng ta trở thành những người lựa chọn tương đối bị động với những gì bày ra trước mắt. Làm một người biết lựa chọn hiển nhiên là tốt hơn, nhưng để có thời gian trở nên biết lựa chọn hơn và ít chọn đại đi, thì chúng ta phải sẵn sàng phụ thuộc vào các thói quen, tập quán, những nguyên tắc và quy chuẩn thông thường để làm cho một số quyết định về một số việc gì đó trở nên tự động đối với chúng ta.

Người biết lựa chọn có thời gian để điều chỉnh mục tiêu của mình; còn người chọn đại thì không. Người biết lựa chọn có thời gian để tránh đi theo số đông; còn người chọn đại thì không. Những quyết định đúng đắn luôn tốn thời gian và sự chú ý, và cách duy nhất để chúng ta có được thời gian và sự chú ý cần thiết chính là biết nên tập trung vào những điểm nào.

Sau khi bạn đã thực hành bài tập xem lại những quyết định gần đây của mình, bạn sẽ không chỉ ý thức hơn về cái giá phải trả mà bạn còn khám phá ra có những thứ bạn thực sự quan tâm và những thứ bạn không quan tâm. Điều này sẽ giúp bạn:

  1. Rút ngắn hoặc bỏ bớt những cân nhắc không cần thiết về những quyết định không quan trọng với bạn.
  2. Sử dụng thời gian rảnh mà bạn vừa có được để tự hỏi mình bạn thực sự muốn điều gì trong những quyết định về những khía cạnh của cuộc sống quan trọng với bạn.
  3. Nếu bạn khám phá ra không có lựa chọn nào trong những khía cạnh đó đáp ứng yếu cầu của bạn, thì hãy suy nghĩ và tạo ra những lựa chọn mới.

3/ Biết thỏa mãn nhiều hơn và cầu toàn ít đi

Chính những người cầu toàn là những người gánh chịu nhiều nhất trong một xã hội có quá nhiều lựa chọn. Chính những người cầu toàn là những người có kỳ vọng không thể đáp ứng được. Chính những người cầu toàn là những người phải lo lắng nhiều nhất về sự hối tiếc, về những cơ hội bị bỏ lỡ, và về so sánh xã hội. Họ là những người bị thất vọng nhiều nhất khi kết quả đạt được từ quyết định của họ không được như mong muốn.

Học được cách chấp nhận mức độ “vừa phải” sẽ giúp đơn giản hóa quá trình đưa ra quyết định và tăng sự hài lòng. Mặc dù những người biết thỏa mãn thường không làm tốt được như người cầu toàn dựa trên một số tiêu chuẩn khách quan nào đó, tuy nhiên nhờ biết cách chấp nhận sự “vừa phải” ngay cả khi cái tốt nhất đang quanh quẩn đâu đây, người biết thỏa mãn thường cảm thấy hài lòng với những quyết định của mình hơn.

Cũng phải thừa nhận rằng đôi khi có những lúc thật khó chấp nhận mức độ “vừa phải”. Khi thấy rằng rõ ràng mình có thể đã làm tốt hơn cũng là một cảm giác khó chịu. Ngoài ra còn có đầy rẫy những nhân viên tiếp thị luôn cố gắng thuyết phục bạn rằng “vừa phải” là chưa đủ khi có những cái mới mẻ và xịn hơn xung quanh. Tuy nhiên, mọi người đều có sự thỏa mạn về ít nhất một khía cạnh nào đó trong cuộc sống của mình. Cho dù đối với những người khó tính nhất thì không thể lúc nào cũng cầu toàn được. Bí quyết ở đây là hãy học cách nuôi dưỡng và đánh giá cao sự hài lòng, và hãy sử dụng nó trong nhiều khía cạnh của cuộc sống hơn nữa, hơn là chỉ cố gắng/miễn cưỡng hài lòng. Một khi bạn là một người biết tự hài lòng một cách có ý thức thì bạn không còn quá quan tâm đến việc so sánh với người khác như thế nào nữa. Điều này có thể giúp ta bớt hối tiếc đi. Trong một thế giới phức tạp bị bão hòa bởi những lựa chọn mà chúng ta đang sống thì điều này giúp chúng ta bình yên hơn trong tâm hồn.

Tuy nhiên, để trở thành một người biết tự bằng lòng đòi hỏi bạn phải suy nghĩ kỹ càng về các mục tiêu và mơ ước của bạn. Bạn cũng phải tự đặt cho mình những tiêu chuẩn chặt chẽ cho mức độ “vừa phải” bất cứ khi nào bạn phải quyết định. Để biết được điều gì là “vừa phải” đòi hỏi bạn phải hiểu mình và những gì mình quan tâm. Vì vậy:

  1. Hãy suy nghĩ về những dịp/khía cạnh/lúc/vấn đề trong cuộc sống mà bạn cảm thấy thoải mái chấp nhận sự “vừa phải”.
  2. Nghiên cứu kỹ bạn sẽ chọn như thế nào trong những khía cạnh đó.
  3. Sau đó áp dụng chiến thuật/nguyên tắc này một cách rộng rãi hơn.

Tôi còn nhớ rất rõ mình đã trải qua quá trình này như thế nào vài năm trước đây khi dịch vụ điện thoại đường dài mới ra đời. Bởi tôi thường phải gọi rất nhiều cuộc gọi đường dài và lúc đó tôi cũng bị choáng ngợp bởi rất nhiều quảng cáo mời gọi của nhiều công ty, tôi thấy mình không thể cưỡng lại mong muốn phải tìm cho ra công ty tốt nhất và tìm được gói dịch vụ tốt nhất. So sánh đủ để tìm ra cái tốt nhất thực sự rất khó khăn, tốn thời gian và nhức đầu bởi các công ty khác nhau thì thiết kế dịch vụ và cước phí theo những cách khác nhau. Hơn nữa, khi tôi cố gắng để tìm cho được cái tốt nhất thì các công ty mới cứ tiếp tục đến mời chào. Tôi biết bản thân mình không muốn phải bỏ ra tất cả chỉ để giải quyết vấn đề lựa chọn dịch vụ điện thoại, nhưng thực sự nó giống như một chỗ ngứa mà tôi không thể không gãi. Sau đó thì một ngày nọ tôi đi mua một cái lò nướng khác, tôi chỉ vào một cửa hàng, xem hai hiệu, hai mẫu, và chọn xong. Khi tôi về nhà, tôi bỗng nhận ra rằng, nếu tôi muốn, tôi có thể chọn dịch vụ điện thoại cho mình theo cách đó. Tôi thở phào nhẹ nhõm và tôi đã làm như thế. Và tôi không phải lo lắng nghĩ ngợi gì nhiều về dịch điện thoại kể từ đó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008.

Nghịch lý của sự lựa chọn – Nguyên nhân do đâu? Lựa chọn, thất vọng và chán nản – Phần cuối


Tính chủ nghĩa cá nhân tăng cao và tự trách

Cùng với sự gia tăng kỳ vọng ở mọi nơi, nền văn hóa Mỹ cũng đã trở nên mang tính cá nhân nhiều hơn so với trước đây, có lẽ đây là một sản phẩm phụ của mong muốn được kiểm soát mọi mặt trong cuộc sống. Giảm tính cá nhân đi – đồng nghĩa với việc tự trói buộc mình vào các mối quan hệ gia đình, bạn bè và cộng đồng – ở một mức độ nào đó là phải làm bởi sự thân thiết của gia đình, bạn bè và cộng đồng trong cuộc sống của mỗi người. Nếu mỗi liên hệ của chúng ta với những người khác là bền chặt thì chúng ta không thể cứ làm bất cứ điều gì mình muốn. Tôi nghĩ rằng sự thỏa hiệp khó khăn nhất đối với những thanh niên Mỹ lập gia đình ngày nay, đó là họ cùng bạn đời phải quyết định đâu là giới hạn của quyền tự chủ, cùng với những bổ phận và nghĩa vụ trong hôn nhân mà mỗi người phải đảm nhiệm.

Chủ nghĩa cá nhân tăng cao có nghĩa là chúng ta không chỉ mong muốn sự hoàn hảo trong mọi việc mà chúng ta còn muốn tự chúng ta tạo ra sự hoàn hảo đó. Khi chúng ta (không thể tránh khỏi) thất bại, thì nền văn hóa của chủ nghĩa cá nhân hướng chúng ta về những cách giải thích nguyên nhân chú trọng theo những yếu tố cá nhân hơn là những yếu tố phổ biến. Có nghĩa là nền văn hóa đã tạo ra một kiểu giải thích nguyên nhân được chấp nhận rộng rãi và đó là cách giải thích khiến cho người ta có khuynh hướng tự trách mình khi gặp thất bại. Và đây cũng chính là cách giải thích nguyên nhân dễ tạo ra tâm trạng chán nản khi chúng ta đối mặt với thất bại.

Và hệ quả tất yếu là việc nhấn mạnh quyền tự chủ và tự quyết cá nhân có thể làm mất tác dụng của một loại vắc xin quan trọng giúp chống lại trạng thái chán nản đó là: con người phải có mối liên kết chặt chẽ và thuộc về các nhóm hoặc tổ chức xã hội nào đó – gia đình, các hiệp hội công dân, cộng đồng tín ngưỡng và những thứ tương tự như vậy. Sẽ có một sự căng thẳng/đấu tranh giữa việc được là chính mình, hoặc được quyết định cái tôi của mình, và mối quan hệ mang nhiều ý nghĩa với các nhóm xã hội. Mối quan hệ xã hội quan trọng đòi hỏi chúng ta phải hạn chế cái tôi của mình. Vì vậy nếu chúng ta càng quan trọng bản thân mình thì mối quan hệ giữa chúng ta với những người khác càng lỏng lẻo. Trong cuốn sách Chơi bowling (lăn bóng) một mình, nhà khoa học chính trị Robert Putnam đã chú ý đến việc liên kết xã hội ngày càng lỏng dần trong cuộc sống hiện nay. Và trong bối cảnh này, có một sự kiện liên quan đó là hội chứng chán nản ở những người Amish sống ở hạt Lancaster, bang Pennsylvania, có tỉ lệ thấp hơn so với tỉ lệ quốc 20%. Cộng đồng người Amish là một cộng đồng nhỏ gắn kết chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ xã hội trong cộng đồng này cực kỳ mạnh và quyền được lựa chọn trong cuộc sống cũng ít hơn. Liệu có phải người Amish có ít quyền kiểm soát cuộc sống của mình hơn chúng ta? Chắc chắn là có. Liệu họ có ít quyền kiểm soát những gì mình mong muốn hơn chúng ta? Tôi không cho là vậy. Và họ phải chịu đựng như thế nào về mặt tâm lý đối với những giới hạn mà cộng đồng đặt ra và những nghĩa vụ họ phải thực hiện? Tôi cho rằng họ phải chịu đựng khá ít. Khi quan sát từ trong cộng đồng người Amish thì thấy rằng cộng đồng không áp đặt nhiều đối với hy sinh cá nhân. Trong xã hội này, kỳ vọng về quyền tự chủ và tự quyết rất khác so với xã hội Mỹ nói chung. Đối với người Amish, họ hầu như chẳng cảm thấy gì đối với việc mà hầu hết chúng ta cho là không thoải mái khi phải sống dưới sự ràng buộc cộng đồng. Mọi việc đúng là như thế. Bằng cách làm tăng kỳ vọng của mỗi người về quyền tự chủ và tự quyết, gần như cả xã hội Mỹ đã khiến cho mối quan hệ cộng đồng phải trả giá nhiều hơn so với thực chất.

Sự ám ảnh của người Mỹ về vẻ bề ngoài chính là biểu hiện rõ nhất của những méo mó về khát khao được quyền tự chủ, tự quyết và sự hoàn hảo. Dẫn chứng khá thuyết phục đó là về lâu về dài hầu như chúng ta không thể làm gì đối với hình dạng và trọng lượng cơ thể của chúng ta. Sự kết hợp của gien và việc tập luyện đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định khi trưởng thành chúng ta sẽ trông ra như thế nào, và rõ ràng rằng tất cả các chế độ kiêng khem thường chỉ cho kết quả tạm thời. Những sự thật này về trọng lượng cơ thể dường như trái ngược với những gì nền văn hóa dạy cho chúng ta mỗi ngày. Sức ép của truyền thông và bạn bè đồng trang lứa nói rằng bệnh béo phì hoàn toàn là một vấn đề thuộc về lựa chọn, về quyền kiểm soát và trách nhiệm cá nhân, và rằng chúng ta phải phấn đấu để trở nên hoàn hảo, nếu không chúng ta sẽ chỉ có tự trách mình mà thôi. Theo nền văn hóa này, nếu chúng ta có kỷ luật và tự chủ, chúng ta có thể kết hợp thói quen ăn uống và tập thể dục điều độ, và tất cả chúng ta đều có thể trở thành ngôi sao điện ảnh. Trung bình trong một năm người Mỹ mua hết 50 triệu cuốn sách về dinh dưỡng và bỏ ra hơn 50 tỉ đôla cho việc ăn uống cho thấy rằng, họ đã chấp nhận quan điểm rằng việc họ trông thế nào là tùy thuộc vào họ.

Ảo tưởng rằng ai cũng có thể có được thân hình mình mong muốn là đặc biệt gây đau khổ cho phụ nữ, nhất là trong các xã họi, như xã hội của chúng ta chẳng hạn, thân hình lý tưởng có nghĩa là một thân hình siêu mỏng. Những nền văn hóa khuyến khích phụ nữ nên có thân hình siêu mỏng (như Thụy Điển, Anh, Slovakia và người Mỹ da trắng) thì thường có tỉ lệ rối loạn dinh dưỡng (như chứng cuồng ăn và chứng chán ăn) cao hơn so với những nền văn hóa ngược lại. Điểm quan trọng hơn nữa đó là trong những nền văn hóa khuyến khích thân hình mảnh mai thì tỉ lệ phụ nữ mắc hội chứng chán nản cao gấp đôi so với nam giới. Trong những nền văn hóa chấp nhận những thân hình lý tưởng hợp lý hơn thì sự khác biệt về giới tính đối với việc mắc phải bệnh chán nản là nhỏ hơn.

Mối lên hệ (dựa trên sự suy đoán) giữa thân hình gầy còm và chứng chán nản đó là: trọng lượng cơ thể là điều gì đó mà con người có thể kiểm soát được và mảnh mai mới là vẻ ngoài hoàn hảo. Khi nỗ lực để có thân hình gầy thất bại thì con người không chỉ hàng ngày phải đối diện với nỗi thất vọng khi nhìn vào gương, mà còn phải đối diện với cách giải thích nguyên nhân rằng họ không gầy được là lỗi của họ.

Chán nản khi chỉ những người giỏi nhất làm được

Những kỳ vọng không thể đạt được, cộng với khuynh hướng tự nhận trách nhiệm về mình khi thất bại đã tạo nên một sự kết hợp chết người. Và. Như chúng ta đã chứng minh được, vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng đối với những người cầu toàn. Đối với những cơ hội bị bỏ lỡ, nuối tiếc, quá trình thích nghi và so sánh xã hội, những người cầu toàn sẽ phải chịu nhiều hơn vì họ có kỳ vọng và tính tự trách cao hơn so với những người biết thỏa mãn. Người cầu toàn thường đắn do suy nghĩ nhiều nhất trước khi đưa ra quyết định và có kỳ vọng cao nhất về kết quả mà họ sẽ đạt được, vì thế họ cũng là người dễ bị thất vọng nhất.

Nghiên cứu mà tôi cùng đồng nghiệp đã tiến hành cho thấy không ngạc nhiên rằng người cầu toàn chính là những “ứng cử viên sáng giá” cho hội chứng buồn chán. Thông qua nghiên cứu những nhóm người khác nhau về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nơi sinh sống, chủng tộc và địa vị kinh tế xã hội, chúng tôi đã tìm ra một mối liên quan khá chặt chẽ giữa những người cầu toàn và hội chứng chán nản. Trong số những người ghi điểm cao nhất trên thang điểm đo tính cầu toàn, điểm về mức độ chán nản của họ, dựa trên thước đo tiêu chuẩn, mấp mé ở ranh giới mắc chứng chán nản. Chúng ta cũng thấy mối liên hệ tương tự giữa tính cầu toàn và chứng chán nản ở thiếu niên. Kỳ vọng cao và tự trách mình khi không đạt được những kỳ vọng đó có thể xuất hiện khi đưa ra những quyết định về học hành, sự nghiệp, hôn nhân, cũng giống như trong những quyết định sẽ ăn ở đâu chẳng hạn. Quyết định về những việc nhỏ nhặt cũng có mặt trong này. Nếu như cảm giác thất vọng xuất hiện thường xuyên, nếu mọi lựa chọn mà bạn đưa ra không cho kết quả như kỳ vọng và mongmuốn của bạn, và nếu bạn cứ tự trách mình về những thất vọng đó thì những việc nhỏ nhặt cũng hóa ra to tát và cuối cùng là một kết quả bi đát khi bạn nghĩ rằng mình chẳng làm điều gì nên hồn cả.

Tâm lý của tự chủ và môi trường của tự chủ

Thật nghịch lý rằng trong cùng một thời gian và nơi chốn khi những kỳ vọng và mong muốn quá mức đối với việc tự quyết định đều góp phần gây ra hàng loạt người mắc chứng chán nản, thì những người cảm thấy mình có tự chủ dường như có tâm lý tốt hơn so với những người không có.

Để hiểu được điều này, chúng ta cần phải phân biệt cùng lúc điều gì là tốt cho cá nhân và điều gì tốt cho xã hội, giữa tâm lý học của tự chủ cá nhân và môi trường của tự chủ cá nhân. Trong một nghiên cứu tập trung vào hai mươi nước phương Tây phát triển và Nhật Bản, Richard Eckersley cho thấy rằng những yếu tố mà dường như có liên quan đến sự khác biệt giữa các quốc gia về tỉ lệ tự sát ở người trẻ bao gồm cả thái độ văn hóa đối với tự chủ và tự do cá nhân. Những quốc gia có công dân xem trọng tự do và tự chủ cá nhân dường như có tỉ lệ tự sát cao nhất.

Eckersley cũng chỉ ra rằng những giá trị giống nhau có thể giúp các cá nhân trong những nền văn hóa này phát triển đến một mức độ phi thường. Vấn đề là ở chỗ xét ở mức độ môi trường hoặc quốc gia thì những giá trị này mang lại những hậu quả xấu/tồi tệ ở mọi nơi.

Vấn đề này có thể còn trầm trọng hơn do một hiện tượng mà Robert Lane gọi là Nô lệ của hứng thú. Lane nói rằng mọi nền văn hóa đều có khuynh hướng luôn đánh giá những giá trị nào đó khiến nền văn hóa đó nổi bật lâu dài sau khi chúng không còn gây được hứng thú. Ông nói rằng điều này giải thích được nhiều tình trạng bất ổn đang gây xung đột trong các nền dân chủ thị trường. Sự kết hợp của hiện tượng nộ lê cho hứng thú với hỗn hợp của các lợi ích tâm lý và cái giá phải trả về môi trường của một nền văn hóa chú trọng đến tự chủ, đã khiến cho chính xã hội đó rất khó đi theo đúng hướng.

Rõ ràng là khi trải nghiệm chúng ta về lựa chọn là một gánh nặng hơn là một sự ưu tiên, là một hiện tượng không đơn giản. Rất có thể nó là kết quả của những tương tác phức tạp giữa các quá trình tâm lý điển hình/tràn ngập trong nền văn hóa của chúng ta, bao gồm kỳ vọng ngày càng tăng, ý thức được giá phải trả của cơ hội, ghét sự thỏa hiệp, khả năng thích nghi, hối tiếc, tự trách và khuynh hướng bị mắc vào các so sánh xã hội và cầu toàn.

Trong các bài tiếp theo, chúng ta sẽ cùng xem lại và mở rộng các phương pháp mà chúng ta đưa ra trong những bài đã đăng, khám phá những gì con người có thể làm, bất chấp sức ép xã hội để vượt qua được gánh nặng của sự lựa chọn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008.

Nghịch lý của sự lựa chọn – Nguyên nhân do đâu? Lựa chọn, thất vọng và chán nản – Phần II


Bất lực, chán nản và cách đổ lỗi

Lý luận của Seligman về hội chứng chán nản dựa trên sự bất lực không phải là không có vấn đề. Vấn đề lớn nhất trong số đó chính là không phải ai thiếu tự chủ đều trở nên chán nản. Vì thế lý luận này được Seligman và cộng sự của ông sửa đổi vào năm 1978. Lý luận sửa đổi về cảm giác bất lực và tình trạng chán nản đưa ra những bước tâm lý quan trọng xen vào giữa cảm giác bất lực và triệu chứng chán nản. Theo lý luận mới, khi con người nếm trải thất bại, thiếu tự chủ thì họ tự hỏi mình tại sao. “Tại sao người đó lại chấm dứt mối quan hệ với tôi?” “Tại sao tôi không được nhận vào vị trí đó?” “Tại sao tôi không kết thúc được vụ làm ăn đó?” “Tạo sao tôi lại thi rớt?” Nói cách khác, người ta luôn muốn hiểu tại sao họ lại thất bại.

Seligmna và cộng sự của ông cho rằng khi người ta tìm nguyên nhân thất bại, họ thường có khuynh hướng chấp nhận một lý do này hay khác, mà lý do ấy có thể khác xa lý do thực sự của thất bại. Có ba khía cạnh chính của khuynh hướng này, dựa trên việc chúng ta xem những nguyên nhân đó là chung chung hay cụ thể, kinh niên hay chỉ là tạm thời, cá nhân hay phổ biến.

Giả sử bạn nộp đơn xin làm việc trong ngành tiếp thị và quan hệ khách hàng nhưng không được tuyển. Bạn tự hỏi tại sao. Sau đây là một vài phương án trả lời có thể chấp nhận được:

Chung chung: tôi đã không xem kỹ bài thi viết và tôi hồi hộp khi phỏng vấn. Tôi sẽ luôn gặp vấn đề khi xin việc.

Cụ thể: tôi không thực sự biết nhiều về các sản phẩm mà họ bán. Để thành công khi phỏng vấn, tôi cần phải có máu kinh doanh hơn.

Kinh niên: tính cách của tôi không được tránh nhiệm và năng động. Đó không phải là kiểu người của tôi.

Nhất thời: Tôi vừa mới khỏi bệnh và gần đây ngủ không ngon lắm. Lúc đó tôi không ở trong trạng thái tốt nhất.

Cá nhân: Công việc đó tập trung vào doanh thu. Tôi không thể làm tốt công việc đó.

Phổ biến: Họ chắc là đã lựa chọn được một người quen vào vị trí đó rồi; việc tuyển dụng chỉ là để làm cảnh, và không một người ngoài nào có cơ may được nhận.

Sau khi không được nhận và đã tự mình giải thích được nguyên nhân theo cách phổ biến, nhất thời và cụ thể thì bạn mong muốn gì ở lần phỏng vấn xin việc tiếp theo? Nếu bạn tìm việc trong một lĩnh vực mà bạn quen thuộc hơn, nếu bạn đã ngủ ngon, mạnh khỏe và tỉnh táo hơn, nếu việc tuyển dụng đó không phải là để làm cảnh, thì bạn sẽ phỏng vấn tốt thôi. Nói cách khác, việc bạn không được tuyển dụng hầu như không có ngầm ý nào về việc bạn sẽ ra sao trong lần phỏng vấn tiếp theo.

Thay vào đó hãy thử tưởng tượng rằng, nếu bạn có khuynh hướng chỉ ra những nguyên nhân thất bại mang tính cá nhân, kinh niên và chung chung. Nếu sơ yếu lý lịch của bạn không ấn tượng và bạn vấp váp trong cuộc phỏng vấn, nếu bạn là mẫu người bị động và nếu bạn nghĩ rằng công việc đó chỉ dành cho những người “thích hợp” (không phải bạn), thì kỳ vọng của bạn vào tương lai sẽ tương đối ảm đạm. Bạn sẽ không chỉ chẳng được nhận vào công việc bạn vừa phỏng vấn, mà bạn còn gặp vấn đề khi xin bất kỳ công việc nào khác.

Lý luận sửa đổi về cảm giác bất lực và hội chứng chán nản cho rằng, cảm giác bất lực do thất bại hoặc thiếu tự chủ gây ra sẽ dẫn đến chán nản nếu người đó tự lý giải nguyên nhân thất bại của mình theo cách chung chung, kinh niên và cá nhân. Rốt cuộc thì sau đó người ta sẽ có những lý hay ho cho những thất bại tiếp theo và tiếp theo nữa. Liệu việc thức dậy ra khỏi giường, mặc quần áo và cố gắng lần nữa có ý nghĩa gì khi kết quả tồi đã được báo trước?

Việc kiểm tra lý luận sửa đổi này đã cho những kết quả thật ấn tượng. Mọi người thực sự khác nhau về khuynh hướng mà họ suy nghĩ. “Người lạc quan” giải thích thành công của họ bằng các nguyên nhân mang tính cá nhân, chung chung và kinh niên; còn giải thích thất bại bằng các nguyên nhân mang tính phổ biến, cụ thể và nhất thời. “Người bi quan” thì ngược lại. Người lạc quan thì nói theo kiểu “Tôi được điểm A” còn “Cô ta lại cho tôi C”. Người bi quan thì nói “Tôi được điểm C” còn “Cô ấy lại cho tôi A”. Và chính những người bi quan là những người dễ bị hội chứng chán nản hơn. Khi những khuynh hướng này được xem xét ở những người không bị chán nản thì chúng sẽ cho biết trước ai sẽ là người bị hội chứng chán nản khi gặp thất bại. Những người tìm nguyên nhân kinh niên để giải thích cho thất bại thì nghĩ rằng thất bại sẽ lại đến; còn những người tìm nguyên nhân tức thời thì không nghĩ vậy. Người tìm nguyên nhân chung chung để giải thích cho thất bại thì nghĩ rằng thất bại sẽ luôn đeo bám họ trong mọi khía cạnh của cuộc sống; còn người tìm nguyên nhân cụ thể thì không vậy. Người tìm nguyên nhân cá nhân để giải thích cho thất bại thường phải chịu tổn thất lớn vì tính tự kỷ cao; người tìm nguyên nhân phổ biến thì không thế.

Tôi không nói rằng nhận phần khen về mình cho mọi thành công và đổ lỗi cho thế giới bên ngoài khi thất bại là công thức cho một cuộc sống hạnh phúc và thành đạt. Chúng ta sẽ đạt được nhiều thứ nếu giải thích được nguyên nhân một cách chính xác, cho dù tâm lý của chúng ta có bị ảnh hưởng như thế nào. Bởi chỉ những lời giải thích xác đáng mới có thể đem lại cho chúng ta cơ hội tốt nhất để lần sau đạt kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng công bằng mà nói đối với hầu hết mọi người, ở hầu hết mọi lúc, thì tự trách mình quá đáng đều tạo ra những hậu quả tâm lý không tốt. Và như chúng ta sẽ thấy, bạn sẽ dễ tự trách mình hơn khi gặp kết quả gây thất vọng trong một thế giới có vô số lựa chọn so với trong một thế giới có ít lựa chọn hơn.

Sự bất lực, chán nản và cuộc sống hiện đại

Tầng lớp trung lưu Mỹ bây giờ có được sự tự chủ và quyền tự quyết cao hơn bất cứ người nào ở đâu hoặc ở thời đại nào. Hàng triệu người Mỹ có thể sống như họ mong muốn, hầu như không bị giới hạn về mặt vật chất, kinh tế hay văn hóa. Chính họ, chứ không phải cha mẹ họ, có quyền quyết định việc kết hôn với ai và khi nào. Chính họ, chứ không phải là những người đứng đầu giáo phận, có quyền quyết định việc mặc như thế nào. Và chính họ, chứ không phải chính phủ, có quyền quyết định việc họ xem gì trên truyền hình hoặc báo chí. Quyền tự chủ này, cùng với lý luận về hội chứng chán nản do cảm giác bất lực, có thể cho thấy hội chứng chán nản lâm sàng ở Mỹ có thể đang dần biến mất.

Nhưng trong thực tế chúng ta lại thấy căn bệnh này ngày càng bùng nổ. Martin Seligman miêu tả nó như một bệnh dịch. Hơn nữa, hội chứng chán nản dường như tấn công người trẻ tuổi nhiều hơn hiện nay so với những thời đại trước. Ước đoán hiện nay có chừng 7,5% người Mỹ bị hội chứng này trước khi họ 14 tuổi. Tỉ lệ này ở người trẻ cao gấp đôi so với 10 năm trước đây.

Và biểu hiện cực đoan nhất của hội chứng này – tự tử – cũng đang gia tăng và cũng xảy ra ngày càng nhiều ở những đối tượng trẻ tuổi hơn. Tự tử là nguyên nhân dẫn đến tử vong cao thứ hai (sau tai nạn) đối với học sinh trung học và sinh viên đại học ở Mỹ. Trong 35 năm vừa qua, tỉ lệ tự sát của sinh viên đại học và những người trẻ tuổi ở Mỹ đã cao gấp 3. Trong một thế giới phát triển, tỉ lệ tự sát trong thanh thiếu niên Mỹ lại đang tăng đáng kể. Trong một nghiên cứu so sánh tỉ lệ này trong thập niên 90 với trong thập niên 70 và 80, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) thấy rằng hiện tượng tự sát đã tăng gấp 3 ở Pháp, hơn gấp 2 ở Na Uy, gấp 2 ở Úc và tăng khoảng 50% hoặc hơn ở Canađa, Anh và Mỹ. Chỉ có ở Nhật Bản và Tây Đức là tỉ lệ người trẻ tự sát giảm.

Trong một thời đại mà con người có sự tự chủ và quyền kiểm soát cá nhân hơn bao giờ hết thì tại sao lại có tỉ lệ người đau khổ cao đến như vậy?

Kỳ vọng tăng cao

Đầu tiên tôi cho rằng đi kèm với việc gia tăng sự tự chủ chính là gia tăng về kỳ vọng đối với sự tự chủ đó. Chúng ta càng được làm chủ số phận của mình thì chúng ta càng kỳ vọng nhiều hơn về bản thân. Chúng ta có thể tìm được một nền giáo dục mang tính khích lệ và hữu ích; tìm được công việc thú vị và lương cao; tìm được bạn đời gợi cảm, tinh tế, thông minh, biết cách thúc đẩy ta và đồng thời cũng phải chung thủy và dễ chịu. Con cái thì phải đẹp đẽ, thông minh, đáng yêu, biết vâng lời và có tính độc lập. Mọi thứ chúng ta mua đều phải là những thứ xịn nhất. Với tất cả những lựa chọn có sẵn như thế, chúng ta không bao giờ thỏa hiệp để chọn những thứ mà chỉ “vừa phải”. Tôi tin rằng việc chú trọng vào quyền tự do lựa chọn, đi kèm với những khả năng mà cuộc sống hiện đại mang lại ngày càng nhiều, đã góp phần tạo ra những kỳ vọng phi thực tế.

Trong bài vừa rồi, chúng ta thấy rằng mức độ hứng thú và thỏa mãn mà chúng ta có được từ một trải nghiệm nào đó, liên quan rất nhiều đến kỳ vọng của chúng ta về trải nghiệm đó, cũng như với chất lượng của bản thân trải nghiệm đó. Những người ăn kiêng đánh giá trọng lượng giảm đi của họ dựa trên những kỳ vọng của họ vào điều đó. Thật tuyệt nếu bạn giảm đến 10 pao (1 pao = 0,454 kg) khi bạn mong mình giảm được chỉ 5 pao và sẽ chẳng tuyệt nếu bạn mong mình giảm 15 pao. Thật tuyệt nếu bạn được điểm B khi bạn đang nghĩ mình chỉ được điểm C, và chẳng tuyệt nếu bạn đang mong mình phải được điểm A kia. Nếu như tôi nghĩ đúng về vấn đề kỳ vọng của người Mỹ về những trải nghiệm của họ ngày này, thì dường như mọi trải nghiệm mà con người bây giờ có đều có thể được xem là đáng thất vọng, và vì vậy được coi như thất bại – một thất bại có thể được ngăn chặn nếu chúng ta lựa chọn đúng.

Hãy đối chiếu xã hội bây giờ với những xã hội trước đây mà hôn nhân là sắp đặt, con người không có quyền quyết định họ sẽ lấy ai; hay với những xã hội mà các cơ hội giáo dục còn hạn chế, mọi người hầu như không quyết định được việc họ học cái gì. Thực tế là đời sống tâm lý trong một xã hội mà bạn có ít quyền quyết định đối với những lĩnh vực nêu trên đó là bạn cũng có ít kỳ vọng đối với quyền tự chủ đó. Và chính vì điều này, tôi cho rằng việc thiếu quyền tự quyết không phải là điều dẫn đến cảm giác bất lực và trạng thái chán nản.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008.

Nghịch lý của sự lựa chọn – Nguyên nhân do đâu? Lựa chọn, thất vọng và chán nản – Phần I


Như tôi đã nêu, nếu chúng ta có vô số lựa chọn thì chúng ta nhận được kết quả tốt hơn khi quyết định so với nếu chúng ta chỉ có ít lựa chọn, nhưng thực ra chúng ta lại cảm thấy không hài lòng với quyết định của mình hơn so với khi chỉ có ít lựa chọn. Tuy nhiên vấn đề ở đây không chỉ gây ra một chút thất vọng. Tôi cho r8àng quá nhiều lựa chọn có thể dẫn tới sự đau khổ thực sự. Khi kết quả của những quyết định – về những việc vặt vãnh hay những việc quan trọng, về những món đồ cần mua hay về công việc hoặc mối quan hệ nào đó – làm ta thất vọng thì chúng ta sẽ hỏi tại sao. Và khi chúng ta hỏi tại sao, các câu trả lời mà chúng ta nghĩ ra thường khiến chúng ta tự trách mình.

“Chỉ số hạnh phúc” của người Mỹ trong hơn một thế hệ qua đã luôn đi xuống từ từ. Mặc dù người Mỹ có tổng sản phẩm quốc nội – tiêu chí chính để đo sự thịnh vượng – tăng hơn gấp đôi trong hơn 30 năm qua, nhưng tỉ lệ dân số tự cho mình “cực kỳ hạnh phúc” lại giảm đi khoảng 5%. Con số này nghe có vẻ không nhiều nhưng 5% lại tương đương với khoảng 14 triệu người – những người này đã từng nói rằng họ hạnh phúc trong những năm 70, nhưng giờ đây họ không cảm thấy thế nữa. Tình trạng như thế cũng xảy ra đối với những người được hỏi những câu hỏi cụ thể hơn về mức độ hạnh phúc trong hôn nhân, công việc, tình trạng tài chính và nơi ở. Dường như xã hội Mỹ ngày càng giàu có hơn, người Mỹ ngày càng có nhiều tự do theo đuổi và làm những việc mình muốn hơn, và chính họ cũng lại cảm thấy càng ngày mình càng ít hạnh phúc.

Biểu hiện đáng kể nhất của sự sụt giảm mức độ hạnh phúc của xã hội là ở sự phổ biến của tình trạng chán nản bệnh lý, con người nằm ở tận cùng bên kia của “thước đo hạnh phúc”. Một vài phép ước lượng cho thấy tình trạng buồn chán vào năm 2000 đã tăng khoảng gấp 10 lần so với năm 1900.

Những triệu chứng chán nản bao gồm:

+ Mất niềm vui hoặc hứng thú trong những hoạt động thường ngày bao gồm công việc và gia đình.

+ Kiệt sức, buồn chán.

+ Cảm giác vô dụng, tội lỗi và tự trách mình.

+ Do dự.

+ Không có khả năng tập trung hay suy nghĩ thấu đáo.

+ Suy nghĩ thường xuyên về cái chế, có cả ý định tự sát.

+ Mất ngủ.

+ Không có hứng thú về tình dục.

+ Chán ăn.

+ Buồn chán: cảm thấy vô dụng và tuyệt vọng.

+ Đánh giá thấp bản thân.

Ngoài việc rõ ràng rằng nạn nhân của sự chán nản cảm thấy khổ sở, chán nản còn gây thiệt hại đáng kể cho xã hội nói chung. Bạn bè, đồng nghiệp, bạn đời và cả con cái của người bị chứng chán nản cũng bị vạ lây. Con cái ít được chăm sóc hơn, bạn bè thì bị lãng quên hay bị đối xử không tốt, đồng nghiệp phải gánh những gì họ gây ra do làm việc chểnh mảng. Ngoài ra những người bị chán nản cũng hay đau ốm hơn. Những người mắc chứng chán nản nhẹ sẽ làm việc với năng suất thấp hơn những người không bị chứng chán nản 1,5 lần, và những người bị nặng thì thấp hơn đến 5 lần. Những người mắc chứng này chế sớm hơn do nhiều nguyên nhân, trong đó có bệnh tim. Dĩ nhiên, tự sát chính là hậu quả tệ nhất của chứng buồn chán. Những người mắc chứng này có tỉ lệ tự tử cao gấp 25 lần so với người không mắc, và có khoảng 80% những người tự sát là do buồn chán quá mức.

Tình trạng chán nản bệnh lý là một hiện tượng phức tạp có nhiều dạng và chắc chắn có nhiều nguyên nhân. Khi hiểu biết của chúng ta về chứng chán nản tăng, thì chúng ta sẽ nhận ra rằng cái mà chúng ta từng cho rằng chỉ là sự rối loạn mang tính cá nhân, đơn lẻ thì bây giờ là một tập hợp các rối loạn đi kèm nhau với những biểu hiện trùng lặp nhưng có nguyên nhân rõ ràng. Vì vậy bạn cần hiểu rằng việc thảo luận về chứng chán nản sau đây sẽ không chỉ dựa vào trải nghiệm của những người phải hứng chịu mà còn dựa vào một số vấn đề nảy sinh khác, giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về hiện tượng này.

Tình trạng bất lực, tự chủ và chán nản có ý thức

Ở những phần trước chúng ta đã thảo luận khám phá của Seligman và đồng sự của ông về tình trạng “bất lực có ý thức”. Họ đã tiến hành một loạt các thử nghiệm về quá trình học được phản xạ ở mức độ cơ bản trên động vật. Các thử nghiệm này bắt những con vật phải nhảy qua những rào nhỏ để thoát khỏi bị điện giật ở chân. Những con vật này về cơ bản thì học được rất nhanh và khá dễ dàng, nhưng một nhóm các con vật đã từng bị điện giật trước đây thì không học được kỹ năng này. Trong thực tế nhiều con không làm được dù chúng có cố gắng. Chúng chỉ ngồi đợi một cách bị động và chờ bị điện giật, không bao giờ dám thử vượt qua rào. Sự thất bại này được giải thích rằng khi những con vật đã bị sốc điện mà không thể kiểm soát thì chúng biết rằng chúng không thể làm gì khác. Khi đã ý thức được sự bất lực này thì những con vật được chuyển qua một bài học với một tình huống mới mà chúng có thể thực sự kiểm soát được.

Khi công việc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về chứng bất lực có ý thức được tiếp tục, Seligman đã gặp nhiều sự tương đồng giữa những con vật bất lực và những người mắc chứng buồn chán lâm sàng. Đặc biệt bất ngờ là sự tương đồng giữa tính bị động của con vật bất lực và tính bị động của người mắc chứng buồn chán, những người này đôi khi lại thấy những việc nhỏ nhặt như mặc đồ gì vào buổi sáng trở nên thật mệt mỏi. Seligman cho rằng, ít nhất một vài trường hợp chán nản lâm sàng là kết quả của việc những người đó đã từng trải qua một sự mất tự chủ đáng kể nào đó đối với cuộc sống của mình và trở nên tin rằng mình bất lực, và họ có thể nghĩ rằng tình trạng này sẽ luôn đeo bám mình trong tương lai và xuất hiện trong nhiều tình huống khác. Vì thế theo giả thuyết Seligman, tính tự chủ đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với hạnh phúc về tâm lý.

Tầm quan trọng của tính tự chủ đã được nhấn mạnh trong một nghiên cứu trên trẻ sơ sinh 3 tháng tuổi được thực hiện cách đây hơn 30 năm. Những em bé có tự chủ được đưa vào cùng một nhóm. Em bé được đặt nằm ngửa trong những chiếc cũi và đầu nằm lên gối. Một cái dù đung đưa được treo trên chiếc cũi và có nhiều hình thú vật lắc lư bên trong các lò xo. Các em bé không nhìn thấy được các hình thú vật này, nhưng nếu chúng nhổm đầu lên khỏi gối thì sẽ có ánh sáng chiếu vào đằng sau chiếc dù làm cho em bé nhìn thấy hình các con thú nhảy múa trong một lát. Sau đó đèn được tắt đi. Khi em bé thấy hình các con thú nhảy múa. Các em bé tỏ ra rất thích thú và vui vẻ. Chúng nhanh chóng ý thức được rằng cứ nhổm đầu dậy thì sẽ thấy các hình thú nhảy múa và chúng cứ nhổm dậy liên tục. Chúng cũng tỏ ra thích thú trước những hình ảnh chúng nhìn thấy. Còn những em bé khác trong nghiên cứu thì được để tự do. Bất cứ khi nào một em bé “tự chủ” làm bật đèn sau chiếc dù trên cũi của mình thì hành động đó cũng khiến cho đèn sau chiếc dù trên cũi của một em bé khác cũng bật. Vì vậy những em bé được để tự do này cũng được nhìn thấy những hình thú nhảy múa thường xuyên và lâu như những em bé có tự chủ. Ban đầu, những em bé này cũng rất hứng thú với những hình nhảy múa. Nhưng sự hứng thú của các em này nhanh chóng qua đi. Những em bé này đã thích nghi.

Phản ứng khác nhau giữa hai nhóm đã giúp các nhà nghiên cứu kết luận rằng không phải những con vật nhảy múa là niềm hứng thú bất tận của các em bé được chủ động. Các em cười và tỏ ra thích thú với các hình thú bởi dường như chúng ý thức được chính chúng làm cho các con thú nhảy múa – “Con đã làm đấy. Tuyệt không? Và con có thể làm lại bất cứ lúc nào con muốn?” Còn những em bé thuộc nhóm kia chỉ xem buổi trình diễn “miễn phí” và chúng không có được niềm hứng khởi khi được tự chủ này.

Trẻ nhỏ hầu như không điều khiển được điều gì. Chúng không thể di chuyển cơ thể mình đến nơi có thứ chúng muốn hoặc tránh xa nơi mà chúng không muốn. Chúng không điều khiển được tay mình nhuần nhuyễn nên việc nắm và chụp đồ vật không hề dễ dàng. Chúng mò mẫm, đẩy qua đẩy lại, nhặt lên và đặt xuống nhiều lần, không đón trước và giải thíhc được. Thế giới chỉ là những thứ xảy đến với chúng, và số phận của chúng hoàn toàn nằm trong tay người khác. Có lẽ vì lý do này mà khi có những sự kiện xảy ra mà chúng có thể điều khiển thì chúng cảm thấy vô cùng thích thú và quan trọng.

Tầm quan trọng của tự chủ đối với hạnh phúc cũng đã được chứng minh trong một nghiên cứu trong một nhóm người đã gần đất xa trời. Một nhóm người trong viện an dưỡng được hướng dẫn về tầm quan trọng của việc tự chịu trách nhiệm cho chính mình. Nhóm thứ hai được hướng dẫn về việc nhân viên ở đó chăm sóc họ được tốt là quan trọng như thế nào. Nhóm đầu tiên cũng được đưa ra vài chọn lựa cho một số việc làm trong ngày và được giao một cái cây để họ chăm sóc trong phòng. Nhóm thứ hai thì không được giao việc gì cả, còn cây của họ thì được nhân viên chăm sóc. Nhóm những người được giao nhiệm vụ để kiểm soát một phần cuộc sống của họ, tức nhóm đầu tiên, dường như chủ động hơn và tỉnh táo hơn. Họ bảo họ cảm thấy hạnh phúc hơn những người không có sự tự chủ như vậy. Thậm chí còn hơn thế nữa, những người có tự chủ đã sống lâu hơn trung bình vài năm so với những người không có. Vì vậy, từ khi chào đời cho đến lúc chết đi, rõ ràng khả năng kiểm soát cuộc sống thực sự quan trọng.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008.

Nghịch lý của sự lựa chọn – Tại sao mọi thứ đều phải bị so sánh – Phần cuối


So sánh về mặt xã hội: có phải mọi người đều có?

Mặc dù thông tin về so sánh xã hội dường như có mặt khắp nơi, nhưng không phải ai cũng chú ý đến nó, hoặc ít nhất không phải ai cũng bị ảnh hưởng. Nhà tâm lý Sonja Lyubomirsky và đồng nghiệp đã tiến hành một loạt các nghiên cứu để tìm ra sự khác biệt giữa các cá nhân về phản ứng của họ đối với thông tin về so sánh xã hội. Nhóm nghiên cứu này khám phá ra rằng loại thông tin đó ít ảnh hưởng đến những người cảm thấy mình hạnh phúc.

Lyubomirsky bắt đầu bằng việc phát cho mọi người một bảng câu hỏi dùng để đo mức độ hạnh phúc thường xuyên của họ (khác với tâm trạng tức thời của họ vào một lúc nào đó), nhằm phân loại những người này thuộc dạng tương đối hạnh phúc hay không hạnh phúc.

BẢNG ĐO MỨC ĐỘ HẠNH PHÚC CHỦ QUAN

——————–

Đối với mỗi phát biểu và/hoặc câu hỏi sau đây, hãy khoanh tròn thang điểm mà bạn cho rằng thích hợp với mình nhất.

1. Nói chung tôi tự thấy mình:

1  2  3  4  5  6  7

Không hạnh phúc lắm              Rất hạnh phúc

2. Khi so sánh mình với những người đồng trang lức, tôi tự thấy mình

1  2  3  4  5  6  7

Ít hạnh phúc hơn             Hạnh phúc hơn

3. Một số người nói chung rất hạnh phúc. Họ tận hưởng cuộc sống bất kể điều gì đang xảy ra và luôn nhìn mọi việc theo hướng tốt nhất. Tính cách này giống với bạn ở mức độ nào?

1  2  3  4  5  6  7

Không giống chút nào         Giống nhiều

4. Một số người nói chung không hạnh phúc lắm. Mặc dù họ không chán nản nhưng họ dường như không bao giờ hạnh phúc như cần phải thế. Tính cách này giống với bạn ở mức độ nào?

1  2  3  4  5  6  7

Không giống chút nào         Giống nhiều

(Đã được phép sao chép của nhà xuất bản Kluwer Academic)

Sau đó trong một nghiên cứu, mỗi cá nhân được yêu cầu xếp lại trật tự của những từ bị đảo cùng lúc với một người khác (thực sự người này nằm trong nhóm những người tiến hành nghiên cứu). Đôi khi người này tiến hành công việc tốt hơn người tham gia và đôi khi làm tệ hơn. Lyubomirsky nhận thấy rằng những người hạnh phúc thường chỉ bị ảnh hưởng rất ít bởi việc người cùng làm với mình tốt hơn hay tệ hơn mình. Sau đó họ được yêu cầu tự đánh giá khả năng của mình khi sắp xếp lại các chữ đó và họ cảm thấy như thế nào. Những người hạnh phúc thì đánh giá khả năng của mình cao hơn so với trước khi làm thí nghiệm đó. Họ đánh giá về khả năng và tâm trạng của mình tốt hơn một chút nếu người cùng làm với họ chậm hơn họ so với khi họ làm với người giỏi hơn mình. Nhưng trong cả hai trường hợp thì họ đều tự đánh gái bản thân cao hơn. Ngược lại, những người không hạnh phúc thì lại tự đánh giá mình cao hơn và có tâm trạng tốt hơn nếu người cùng làm kém hơn họ. Và thấy mình kém hơn và tâm trạng xấu hơn nếu họ làm cùng với một người giỏi hơn.

Trong nghiên cứu thứ hai, người tham gia được yêu cầu quay phim một buổi học dành cho trẻ em trước tuổi đi học. Một “chuyên gia” (người này cũng nằm trong nhóm nghiên cứu) đưa cho những người tham gia những nhận xét chi tiết về công việc của họ. Người tham gia sẽ cùng tiến hành với một người khác, cũng được giao nhiệm vụ quay buổi học đó. Điều thú vị ở đây nằm ở chỗ nhận xét sẽ ảnh hưởng đến tâm trạng của người tham gia như thế nào. Tâm trạng của người hạnh phúc được cải thiện khi họ nhận được nhận xét tích cực và chùng xuống khi họ bị nhận xét tiêu cực, nhưng họ không quan tâm đến việc người cùng tiến hành với mình được nhận xét như thế nào. Ngược lại, những người không hạnh phúc lại bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những nhận xét dành cho người cùng làm với mình. Nếu người tham gia này có được nhận xét tốt và người cùng làm với họ lại được nhận xét tốt hơn thì tâm trạng của họ sẽ tệ hơn. Nhưng nếu người tham gia nhận được nhận xét không tốt, và người cùng làm với họ lại bị nhận xét còn tệ hơn họ. Đối với họ việc bị xem là một giáo viên tồi nhưng những người khác còn tồi hơn, thì không tệ bằng họ được xem là giáo viên giỏi nhưng những người khác còn giỏi hơn.

Trong nghiên cứu tiếp theo, Lyubomirsky cố gắng tìm ra những yếu tố nào khiến những người hạnh phúc và không hạnh phúc có phản ứng khác nhau đối với cùng một tình huống. Cô tìm ra ra rằng khi cả hai nhóm người được yêu cầu nghĩ về một điều gì khác sau khi họ bị nhận xét không tốt về việc gì đó, thì điểm khác biệt về phản ứng của họ đối với nhận xét đó biến mất: hai nhóm đếu phản ứng như nhóm người hạnh phúc. Và nếu cả hai nhóm được yêu cầu nghĩ về những nhận xét không tốt thì cũng không có sự khác biệt nào giữa họ: lần này, cả hai nhóm đều phản ứng như nhóm người không hạnh phúc. Điều rút ra ở đây chính là điểm khác biệt của việc bỏ qua và việc cứ trầm ngâm suy nghĩ về một điều gì đó không hay. Những người hạnh phúc có khả năng bỏ qua để tiếp tục tiến lên, trong khi những người không hạnh phúc lại cứ mắc vào việc trầm ngâm suy nghĩ và tự làm cho mình khổ sở hơn.

Trong nghiên cứu này chúng ta không thể nói chắc chắn đâu là nguyên nhân và đâu là hệ quả. Liệu có phải những người không hạnh phúc thường hay nghiền ngẫm hơn những người hạnh phúc về so sánh xã hội, hay là chính việc hay nghiền ngẫm về so sánh xã hội làm cho một ai đó trở nên không hạnh phúc? Tôi e rằng cả hai đều đúng – chính khuynh hướng hay tư lự lại làm cho những người không hạnh phúc bị mắc vào đường xoắn ốc tâm lý đi xuống – đường xoắn ốc này được nuôi dưỡng bởi so sánh xã hội. Dĩ nhiên hoàn toàn có thể nói rằng, dựa trên nghiên cứu có sẵn, so sánh xã hội không cải thiện được sự thỏa mãn của một người nào đó đối với chọn lựa của họ.

Cầu toàn, thỏa mãn và so sánh xã hội

Mức độ hạnh phúc của bạn không phải là yếu tố duy nhất làm sai lệch phản ứng của bạn đối với so sánh xã hội. Một lần nữa, bạn là cầu toàn hay biết thỏa mãn cũng là một yếu tố quan trọng.

Trong nghiên cứu mà tôi đã thảo luận ở một bài trước, chúng tôi đưa cho những tham gia điền vào bảng điểm đánh giá mức độ cầu toàn sau đó đặt họ vào một tình huống tương tự như tình huống mà tôi vừa trình bày. Họ phải sắp xếp lại những chữ cái lộn xộn cùng với một người khác, người này có thể làm nhanh hơn hoặc chậm hơn họ. Chúng tôi thấy rằng người cầu toàn thường bị ảnh hưởng nhiều bởi sự có mặt của người khác hơn so với người biết thỏa mãn. Sắp xếp lại chữ cái lộn xộn với một người nào khác có vẻ làm tốt hơn mình khiến cho người cầu toàn cảm thấy tâm trạng xấu đi và tự đánh giá khả năng của mình thấp hơn. Những thông tin về so sánh xã hội không gây ảnh hưởng như thế cho những người biết thỏa mãn.

Ngoài ra, khi người cầu toàn và người biết thỏa mãn cùng được hỏi về việc họ mua sắm như thế nào thì người cầu toàn trả lời theo cách quan tâm đến so sánh xã hội hơn những người biết thỏa mãn. Người cầu toàn chú ý đến việc người xung quanh mua gì hơn so với người biết thỏa mãn, và họ cũng dễ bị ảnh hưởng trong cách đánh giá về sự thỏa mãn của chính mình bởi sự thỏa mãn của những người khác.

Nếu bạn suy nghĩ về việc cầu toàn đòi hỏi những gì thì kết quả cũng không ngạc nhiên. Những người cầu toàn muốn có cái tốt nhất, nhưng làm thế nào bạn biết được cái gì mình có là cái tốt nhất nếu không nhờ vào so sánh? Và ở mức độ khi chúng ta có nhiều lựa chọn hơn thì việc quyết định cái nào là cái tốt nhất càng trở nên cực kỳ khó khăn. Người cầu toàn làm cho đánh giá của mình trở thành nô lệ cho những trải nghiệm của người khác.

Những người biết thỏa mãn lại không gặp vấn đề này. Người biết thỏa mãn là người luôn mong đạt được kết quả phù hợp và có thể sử dụng trải nghiệm của người khác để quyết định cho mình chính xác thế nào là “phù hợp”, nhưng thường thì họ không làm như vậy. Họ có thể dựa vào sự đánh giá bên trong của mình để tạo ra những tiêu chuẩn riêng. Một mức lương “phù hợp” là một mức lương có thể giúp họ mua được một nơi tươm tất để ở, một số bộ đồ đẹp, thỉnh thoảng đi ăn tối ở ngoài… Họ không quan trọng việc người khác có thể kiếm được nhiều hơn mình. Một dàn âm thanh vừa phải là một dàn âm thanh có thể thỏa mãn được yêu cầu của họ về độ trung thực của âm thanh, về sự tiện lợi, vò ngoài và độ bền.

Và trong hai cách tiếp cận đối lập như trên chúng ta khám phá ra một điều gì đó đối nghịch. Từ “cầu toàn” có ngụ ý một ước mơ luôn muốn cái tốt nhất chot hấy những tiêu chuẩn ở đây mang tính tuyệt đối. Dường như chỉ có một cái là “tốt nhất” cho dù khó mà chọn được cái đó là cái nào. Có thể rằng một người có những tiêu chuẩn tuyệt đối sẽ không quan tâm hay bị ảnh hưởng nhiều bởi việc những người khác đang làm gì. Ngược lại, sự thỏa mãn ngụ ý ước muốn đạt được điều gì đó vừa phải lại cho thấy những tiêu chuẩn tương đối – tương đối so với những trải nghiệm trong quá khứ của họ và những trải nghiệm trong quá khứ của người khác. Tuy nhiên, những gì chúng ta thấy lại là điều ngược lại. Chính những người cầu toàn mới có những tiêu chuẩn tương đối và những người biết thỏa mãn lại có những tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo lý thuyết, cái “tốt nhất” là một lý tưởng tồn tại độc lập với những gì người ta có. Còn trong thực tế, quyết định được cái tốt nhất thật khó đến nỗi con người cứ phải luôn so sánh với những cái khác. “Vừa phải” không phải là một tiêu chuẩn khách quan tồn tại hiển nhiên theo cách ai cũng thấy được. Nó sẽ luôn liên quan đế người đóng vai trò đánh giá. Nhưng nói một cách chặ chẽ hơn, nó sẽ không, hoặc không cần phải liên quan đến những tiêu chuẩn hay thành tựu của những người khác. Vì vậy, một lần nữa, biết thỏa mãn dường như là cách tốt hơn cả để duy trì sự tự chủ của mình trước vô vàn những lựa chọn ngày càng nhiều.

Các lựa chọn và so sánh xã hội

Chúng ta đã thấy được nếu càng có nhiều lựa chọn thì chúng ta càng gặp nhiều khó khăn khi tổng hợp thông tin nhằm đưa ra một quyết định sáng suốt. Thông tin càng khó tổng hợp thì càng có khả năng bạn phải phụ thuộc vào lựa chọn của người khác. Cho dù bạn không có ý định tìm cho ra loại giấy dán tường tốt nhất cho căn bếp của mình khi phải đối mặt với hàng trăm ngàn lựa chọn, việc tìm được loại nào tốt vừa phải có thể phụ thuộc rất lớn vào việc bạn biết được những người khác đã chọn loại nào. Càng nhiều sự lựa chọn thì bạn càng có khuynh hướng nhòm ngó xem những người khác chọn cái gì. Nhưng nếu bạn so sánh xã hội nhiều thì càng có khả năng bạn sẽ bị nó tác động, và những tác động như vậy có khuynh hướng tiêu cực. Vì vậy nếu bạn cứ luôn bắt mình phải xem thử người khác đang làm điều gì trước khi ra quyết định, thì thế giới đầy những lựa chọn này thường sẽ khiến cho chúng ta cảm thấy không hài lòng với quyết định của mình hơn,, so với việc bạn không nhòm ngó những người khác trước khi quyết định. Đây chính là một lý do khác giải thích tại sao chúng ta càng có nhiều tùy chọn thì chúng ta càng cảm thấy ít thỏa mãn với những gì chúng ta chọn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008

Nghịch lý của sự lựa chọn – Tại sao mọi thứ đều phải bị so sánh – Phần III


Địa vị, so sánh xã hội và lựa chọn

Quan tâm về địa vị xã hội là vấn đề không có gì mới. Tuy nhiên, tôi cho rằng vấn đề này ngày nay sâu sắc hơn so với trước đây. Và một lần nữa, vấn đề này lại quay trở lại với việc ngày nay chúng ta có quá nhiều sự chọn lựa. Nếu dựa theo lý luận “lựa chọn cái ao phù hợp” của Frank thì cái ao phù hợp nghĩa là gì? Khi chúng ta buộc phải so sánh xã hội, vậy thì chúng ta sẽ so sánh mình với ai đây? Ở những thời đại trước đây, thì những so sánh như vậy thường có tính địa phương. Chúng ta chỉ nhìn xung quanh hàng xóm của mình và các thành viên trong gia đình. Chúng ta không được tiếp cận thông tin về những người ở bên ngoài phạm vi xã hội của mình. Nhưng với sự bùng nổ về công nghệ truyền thông như ti vi, phim ảnh, Internet thì hầu hết mọi người đều được tiếp cận thông tin về những người khác. Một người sống trong một khu lao động ở thành thị vào 40 năm trước thì có thể hài lòng với mức thu nhập dưới mức trung lưu của mình, bởi cuộc sống của anh ta lúc đó là tương đối tốt so với những người xung quanh. Lúc đó không có điều gì đáng kể để thúc đẩy mong muốn cải thiện địa vị xã hội của anh ta. Nhưng bây giờ thì lại không như thế nữa. Giờ đây anh ta sẽ được nhìn thấy cảnh sống sung sướng của những người giàu có xung quanh mỗi ngày. Dường như ngày nay tất cả chúng ta đều đang bơi trong một cái ao khổng lồ, và cuộc sống của những người khác đều có thể trở thành cuộc sống của chính chúng ta. Tiêu chuẩn so sánh ngày càng cao càng trở nên phổ biến và xa vời, điều này làm giảm đi sự thỏa mãn của chúng ta khi chúng ta chỉ ở mức trung bình hoặc dưới trung bình, cho dù cuộc sống hiện tại của chúng ta thực sự đã cải thiện hơn trước.

Cuộc đua về vị trí

Nếu chúng ta ngừng thảo luận ở đây thì thật dễ đi đến kết luận rằng, việc bất mãn được gây ra bởi so sánh xã hội có thể được giải quyết bằng cách bảo mọi người hãy ít quan tâm đến địa vị đi. Việc thất vọng về địa vị xã hội có thể được hiểu như một vấn đề gây ảnh hưởng đến xã hội thông qua ảnh hưởng đến các cá nhân. Sự thất vọng này có thể được giải quyết bằng cách thay đổi thái độ của từng cá nhân, từng người một.

Nhưng cho dù chúng ta có tuyên truyền mọi người ít quan tâm đến địa vị đi thì họ vẫn sẽ chưa thỏa mãn với những gì mình có, bởi họ có lý do chính đáng để tin rằng dù mình có nhiều cỡ nào thì cũng chưa đủ. Hệ thống kinh tế và xã hội của chúng ta, mà trong đó không phải ai cũng có những thứ cao cấp quý hiếm đáng mơ ước, vốn đã luôn thúc đẩy mọi người sống theo cách không ngừng bất mãn và so sánh, và vì thế những con người không quan tâm đến hệ thống này sẽ không tồn tại.

Trong cuốn sách Các nhân tố xã hội hạn chế phát triển, nhà kinh tế học Fred Hirsch cho rằng trong khi những phát triển về côn nghệ có thể làm tăng số người có thể sống được dựa vào một nông trại rộng một mẫu Anh (0,4 ha) hoặc tăng số trẻ em được chích ngừa bại liệt giá 1000 đôla thì cũng có những hàng hóa mà không có tiến bộ kỹ thuật công nghệ nào có thể làm chúng được phổ biến rộng rãi. Ví dụ không phải ai cũng có khả năng sở hữu được một mẫu đất ven biển. Không phải ai cũng được làm những công việc thú vị nhất. Không phải ai cũng có thể trở thành ông chủ. Không phải ai cũng có thể được học những trường tốt nhất hoặc là thành viên của những câu lạc bộ danh tiếng. Không phải ai cũng được chữa bệnh bởi những bác sĩ giỏi nhất ở những bệnh viện tốt nhất. Hirsch gọi những hàng hóa như thế này là hàng hóa địa vị, bởi vì việc con người có sở hữu được những loại hàng hóa này hay không phụ thuộc vào địa vị của họ. Cho dù một người có nhiều thứ như thế nào, nhưng nếu những người xung quanh cũng có tương tự như họ, thì anh ta có rất ít cơ hội được thưởng thức những loại hàng hóa xã hội này. Không phải ai cũng có tranh Van Gogh để treo trong phòng khách. Nếu càng nhiều người có khả năng sử dụng một mặt hàng nào đó thì giá trị của mặt hàng này lại giảm đi do nó đã xuất hiện hàng loạt và không còn hiếm như trước. Khu vực thành phố New York có vài bãi biển đẹp, đủ sức chứa hàng ngàn người. Nhưng nếu càng có nhiều người đến khu vực này thì chúng càng trở nên chật chội và thiếu chỗ để phơi nắng, sẽ càng trở nên ồn ào và hầu như không thể lắng nghe mình nghĩ gì, những bãi biển này càng bẩn thỉu đến nỗi không còn cảm hứng muốn nhìn và xa lộ dẫn tới những bãi biển này trở thành những bãi đỗ xe. Trước tình trạng như vậy thì cách duy nhất để có thể được tắm biển theo ý bạn muốn đó là phải đi xa hơn ra khỏi thành phố, điều này làm tốn nhiều thời gian hơn, hoặc là thuê riêng cho mình một bãi tắm đắt tiền.

Tất cả chúng ta đều có thể đồng ý rằng mọi người sẽ trở nên thoải mái hơn nếu có ít cạnh tranh về địa vị hơn. Cuộc cạnh tranh này thật căng thẳng, lãng phí và làm cuộc sống con người khổ sở. Các bậc cha mẹ luôn mong muốn con mình có được những thứ tốt nhất thường thúc đẩy con mình học nhiều để nó có thể vào được một trường đại học tốt. Nhưng các bậc cha mẹ khác cũng mong muốn như vậy. Và thế là họ càng thúc con mình nhiều hơn. Nhưng những người khác cũng thúc con mình nhiều như thế. Do đó họ cho con mình theo học những chương trình bồi dưỡng ngoài giờ học và những trại hè mang tính giáo dục. Nhưng những người khác cũng làm như thế. Bây giờ các bậc cha mẹ lại đi mượn tiền để cho con mình vào được trường tư. Một lần nữa, những người khác cũng theo đuôi. Và các bậc cha mẹ lại rầy la con mình để bắt chúng trở thành nhạc sỹ hay vận động viên vĩ đại, hoặc trở thành một người nào đó nổi bật hơn những đứa trẻ khác. Các bậc phụ huynh lại thuê gia sư và thầy dạy riêng cho con mình. Và dĩ nhiên, những ai mà chưa bị phá sản sẽ tiếp tục theo đuổi cho được như vậy. Trong khi đó, những đứa con tội nghiệp đã bị cha mẹ tra tấn quá mức bởi những kỳ vọng của họ, đến nỗi em mất đi hứng thú vào những thứ mà cha mẹ đã bắt em phải học “vì tương lai của con mà”.

Sinh viên học sinh cố gắng để có được điểm cao mặc dù chúng không hứng thú trong việc họ. Mọi người luôn cố gắng tìm sự thăng tiến trong công việc mặc dù họ đang hài lòng với công việc hiện tại của mình. Điều cũng giống như ở trong một sân vận động đông đúc xem một trận thi đấu gay cấn. Những khán giả ở hàng đầu đứng lên để xem được rõ hơn và tiếp theo đó sẽ là phản ứng dây chuyền. Những người khác cũng sẽ nhanh chóng đứng lên, chỉ để được xem rõ như trước đó. Mọi người sẽ đều đứng lên chứ không ngồi, nhưng vị trí xem của họ lúc đó chẳng được cải thiện. Và nếu một ai đó đơn phương và cương quyết không chịu đứng, thì coi như anh ta không tham gia trận đấu đó. Khi mọi người theo đuổi một thứ hàng hóa địa vị nào đó thì không thể để mình lẹt đẹt phía sau được. Chọn cách không tiếp tục tiến lền đồng nghĩa với thua cuộc.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008

Nghịch lý của sự lựa chọn – Tại sao mọi thứ đều phải bị so sánh – Phần II


Lời nguyền rủa của những kỳ vọng

Vào mùa thu năm 1999, tờ Thời báo New York và Tin tức CBS đã yêu cầu một số thiếu niên so sánh trải nghiệm của các em và trải nghiệm của cha mẹ các em lúc họ mới lớn. Kết quả cuối cùng là 43% người tham dự nói rằng họ phải trải qua một thời gian khó khăn hơn so với cha mẹ họ trên tổng số. Nhưng trong số những em sống trong gia đình giàu có thì có tới 50% các em bảo rằng cuộc sống của mình khó khăn hơn. Khi được hỏi, thì những thiếu niên từ những gia đình giàu có kể về những mong muốn cao xa của mình lẫn của cha mẹ. Các em nói về một hiện tượng gọi là “quá nhiều”: quá nhiều hoạt động, quá nhiều lựa chọn về đồ đạc, quá nhiều thứ phải học. Trong khi thiếu niên đến từ những gia đình có kinh tế kém hơn thì kể về việc làm bài tập sẽ dễ dàng hơn như thế nào nếu các em có máy tính và Internet, thì những thiếu niên nhà giàu lại nói về việc cuộc sống bị xáo trộn như thế nào vì máy tính và Internet. Một nhà bình luận giải thích rằng “Sức ép mà trẻ em cảm thấy chính là để chắc chắn rằng chúng không bị tụt hậu. Mọi thứ đều tiến lên phía trước… Bị tụt lại đằng sau chính là cơn ác mộng của người Mỹ”. Cho nên nếu chỗ đứng của bạn càng cao thì càng có nhiều chỗ để tuộc dốc hơn so với nếu chỗ đứng của bạn thấp. Barbara Ehrenreich thì nói rằng “nỗi sợ bị rớt lại phía sau” chính là sự nguyền rủa của kỳ vọng.

Sự nguyền rủa của kỳ vọng hiện diện nhiều trong những khía cạnh của cuộc sống như sức khỏe và chăm sóc sức khỏe. Cho dù có thấy bực mình đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện giờ, thì dù sao sức khỏe của người Mỹ vẫn tốt hơn so với trước kia. Con người không chỉ sống lâu hơn mà họ còn có chất lượng cuộc sống tốt hơn. Tuy nhiên Roy Porter, một nhà lịch sử y học, lại chỉ ra rằng trong một thời đại mà tuổi thọ và việc kiểm soát bệnh tật tốt chưa từng có như thế này, thì cũng xuất hiện những lo âu chưa từng có về sức khỏe. Người Mỹ mong được sống lâu hơn mà không phải giảm bớt công suất làm việc. Vì vậy, tuy những dịch vụ y tế hiện đại giúp chúng ta kéo dài tuổi thọ nhưng con người có vẻ như cũng không thỏa mãn lắm với điều này.

Tôi cho rằng chính số lượng các tùy chọn và quyền tự chủ mà chúng ta có được trong hầu hết mọi mặt của cuộc sống bây giờ, đã góp phần tạo ra kỳ vọng ở một mức cao hơn so với trong quá khứ. Cách đây vài năm, khi tôi đi nghỉ mát ở một thị trấn ven biển nhỏ ở Oregon, tôi bước vào một tiệm tạp hóa để mua vài thứ cho bữa tối. Khi mua rượu vang, họ đem ra cho tôi khoảng một chục loại. Loại mà tôi mua không được ngon lắm, nhưng trước đó tôi đã từng nghĩ rằng mình sẽ chẳng kiếm được thứ gì quá ngon ở đây, vì thế tôi thỏa mãn với những gì tôi mua. Nhưng nếu tôi mua tại một cửa hàng có hàng trăm, thậm chí hàng ngạn loại để lựa chọn thì chắc chắn kỳ vọng của tôi phải cao hơn rất nhiều. Nếu ở cửa hàng lớn đó mà tôi lại chọn một chai rượu có chất lượng như chai ở Oregon thì chắc chắn tôi sẽ cảm thấy rất thất vọng.

Trở lại với ví dụ về việc chọn quần jeans đã từng nói ở bài đầu tiên, trở lại với thời mà đồ jeans chỉ có một vài loại thì tôi sẽ thỏa mãn ngay với cái vừa với tôi, cho dù bộ đồ đó có thể nào. Nhưng bây giờ, khi có biết bao nhiêu thứ, từ cỡ mặc thoải mái, cỡ mặc dễ dàng, cỡ dành cho người mảnh mai, quần ống túm, quần ống rộng, thì có thể đoán được điều gì sẽ xảy ra, đó là tiêu chuẩn của tôi đã cao hơn. Bởi có quá nhiều tùy chọn như thế nên giờ tôi lại muốn mình phải có một chiếc quần jeans vừa với tôi như được đo ni đóng giàu. Sự sinh sôi nảy nở ra nhiều lựa chọn dường như không thể tránh khỏi dẫn đến việc kỳ vọng nhiều hơn. Điều này góp phần làm cho con người có khuynh hướng cầu toàn. Theo định nghĩa thì người cầu toàn có nghĩa là người có tiêu chuẩn cao, nhiều kỳ vọng. Bởi vì điều này và bởi vai trò của kỳ vọng trong việc đánh giá mức độ hứng thú, thì với cùng một trải nghiệm, người biết tự bằng lòng sẽ có thể cảm thấy tích cực, còn người cầu toàn quá mức lại thấy tiêu cực.

Bài học ở đây là kỳ vọng quá cao có thể gây phản tác dụng. Nhờ việc kiểm soát những kỳ vọng của mình, chúng ta có thể cải thiện chất lượng cuộc sống hơn bất cứ phương pháp nào khác. Hạnh phúc của việc chỉ có những kỳ vọng khiêm tốn đó là chúng ta còn chỗ để được ngạc nhiên thú vị, để hứng thú hơn với những trải nghiệm khác. Thử thách ở đây là tìm được phương pháp để giữ cho kỳ vọng ở mức vừa phải, dù những trải nghiệm thực sự có ngày càng tích cực hơn.

Một phương pháp để đạt được mục tiêu này là hãy làm sao để những trải nghiệm tuyệt vời chỉ diễn ra ít thôi. Cho dù bạn có giàu có như thế nào thì cũng hãy để dành loại rượu ngon nhất cho những dịp đặc biệt. Cho dù bạn giàu có thế nào thì cũng hãy để chiếc áo choàng lụa may thật khéo và duyên dáng cho những dịp đặc biệt. Điều này cũng có vẻ giống tập luyện tự từ chối, nhưng tôi không cho rằng như vậy. Ngược lại, đó là cách để chắc chắn được rằng bạn sẽ còn có những trải nghiệm thú vị. Những bữa ăn ngon, những loại rượu ngon và những chiếc áo đẹp có ý nghĩa gì nếu chúng không làm bạn cảm thấy tuyệt diệu?

Lời nguyền của so sánh xã hội

Trong số những tiêu chuẩn mà chúng ta dựa vào để đánh giá trải nghiệm, có lẽ không điều gì quan trọng hơn là so sánh đối với người khác. Câu trả lời cho câu hỏi “mọi việc tôi đang tiến hành như thế nào?” phụ thuộc vào những trải nghiệm, những mong muốn và kỳ vọng trong quá khứ của chúng ta. Và câu hỏi này hoàn toàn không thể hỏi hay trả lời được trong một môi trường xã hội chân không. Câu hỏi “mọi việc tôi đang tiến hành như thế nào?” hầu như luôn luôn chứa ngầm ý “so sánh với những việc khác hoặc với người khác”.

So sánh về mặt xã hội luôn cung cấp thông tin giúp con người đánh giá trải nghiệm của mình. Nhiều trải nghiệm mang tính mơ hồ nên chúng ta không biết đánh giá chúng như thế nào. Liệu điểm B+ có phải là cao trong một kỳ thi nào đó không? Cuộc sống hôn nhân của bạn có tốt không? Có cần phải lo lắng không nếu con trai bạn thích một loại nhạc đinh tai nhức óc? Bạn có được đánh giá đúng mức trong công việc không? Mặc dù chúng ta có thể đưa ra câu trả lời tương đối cho những câu hỏi như thế này mà không cần phải nhìn xung quanh, nhưng những câu trả lời áng chừng thường không hay. Việc nhìn những người xung quanh khiến chúng ta điều chỉnh lại cách đánh giá. Ngược lại, việc điều chỉnh cách đánh giá giúp người ta quyết định xem cần phải làm gì.

Như chúng ta đã thấy, những điều chưa xác thực mà chúng ta tạo ra có thể hướng đến cái cao hơn (tức tưởng tượng một kết quả tốt hơn) hoặc là hướng xuống dưới (tưởng tượng một kết quả tệ hơn), so sánh xã hội cũng vậy. Người ta có thể tự so sánh mình với những người hơn họ (so sánh xã hội cao hơn) hoặc thua họ (so sánh xã hội thấp hơn). Thông thường thì so sánh xã hội thấp hơn thường làm cho con người cảm thấy phấn khởi hơn, và so sánh xã hội cao hơn thường làm cho họ cảm thấy mình thấp kém hơn. Trong thực tế, các nhà tâm lý xã hội đã chỉ ra rằng so sánh xã hội cao hơn tạo ra sự ghen tị, thù địch, tâm trạng tiêu cực, giận dữ, ít tự tin, ít hạnh phúc hơn và các triệu chứng stress. Vì vậy, so sánh với những người thấp hơn sẽ làm tăng lòng tự tin, tăng tâm trạng tích cực và giảm căng thẳng.

Nhưng không nhất thiết phải như vậy. Đôi khi con người so sánh xã hội lại có phản ứng tích cực đối với so sánh cao hơn và tiêu cực đối với so sánh thấp hơn. Khi thấy rằng những người khác ngày càng trở nên tệ hơn có thể làm bạn nghĩ rằng chính bạn cũng có thể trở nên tệ hơn. Nếu bạn tự so sánh mình với những người kém hơn bạn thì có thể bạn sẽ thấy thích thú khi thấy mình thuộc hàng trên, nhưng đồng thời bạn cũng có thể sẽ trải qua cảm giác tội lỗi, bối rối, và cảm thấy cần phải đương đầu với sự đố kị và sự oán giận của người khác, và sợ rằng một lúc nào đó rồi số phận cũng bắt mình bị như họ. Và khi bạn so sánh mình với những người hơn bạn thì bạn có thể cảm thấy chút ghen tức nhưng bạn có thể cảm thấy được thúc đẩy nhanh hơn. Ví dụ trong một nghiên cứu, khi những bệnh nhân ung thư được cho biết những người bệnh khác như mình đang ở trong tình trạng tốt hơn thì điều này có thể cải thiện được tâm trạng, có thể bởi vì điều đó cho họ hy vọng rằng tình trạng của mình cũng có thể khá hơn.

Trong nhiều khía cạnh, so sánh xã hội cũng tương đương với quá trình suy nhgĩ những điều không xác thực, nhưng có một điểm khác biệt rất quan trọng. Về nguyên tắc cơ bản, chúng ta có thể kiểm soát được khi nào chúng ta sẽ suy nghĩ một cách không xác thực và kiểm soát được nội dung của suy nghĩ đó. Chúng ta chỉ bị giới hạn bởi sự tưởng tượng của chính mình. Nhưng chúng ta ít kiểm soát được so sánh xã hội hơn. Nếu bạn sống trong một thế giới có tính xã hội, như tất cả chúng ta đều thế, thì bạn sẽ luôn phải tiếp xúc với những thông tin về việc người khác đang sống thế nào. Giáo viên thông báo điểm của lớp, bạn được điểm B+, đó là một ngữ cảnh xã hội tương đối. Bạn và bạn đời của mình cãi nhau trên đường đến một bữa tiệc, và sau đó khám phá ra rằng những cặp xung quanh bạn đều cảm thấy vui sướng với sự có mặt của người kia. Bạn vừa không được lên chức và bạn nghe được công việc của chị/em mình đang tiến triển rất tốt. Những thông tin kiểu này không thể tránh khỏi. Điều tốt nhất mà bạn có thể làm chính là đừng để mình suy nghĩ ủ ê về điều đó.

Cuộc chạy đua về địa vị

Con người thường so sánh xã hội phần lớn là vì họ quan tâm đến địa vị, và dĩ nhiên địa vị cũng được tạo nên bởi so sánh xã hội. Sự thỏa mãn về những thành tựu hay vật chất nào đó xuất phát một phần từ ý thức rằng những người khác không thể bằng mình được. Khi những người khác bắt đầu vượt lên thì mong muốn của những người đã đi trước tăng lên, điều này giúp họ duy trì được vị trí ưu thế của mình.

Trong cuốn sách Lựa chọn cái ao phù hợp, nhà kinh tế học Robert Frank đã chỉ ra cuộc sống xã hội được quyết định như thế nào bởi chính mong muốn được làm “con cá lớn” trong cái “ao” của chúng ta. Nếu chỉ có một cái ao duy nhất – nếu mọi người phải so sánh địa vị của mình với địa vị của tất cả những người khác – thì chắc chắn tất cả chúng ta đều sẽ là kẻ thua cuộc. Suy cho cùng, trong một cái ao mà có cá voi, thì cá mập sẽ trở nên nhỏ bé. Vì vậy, thay vì chúng ta tự so sánh mình với hết thảy những người khác thì chúng ta hãy cố gắng khoanh vùng lại thế giới thành một thế giới nhỏ hơn. Trong thế giới đó, khi chúng ta so sánh mình với một nhóm khác thì chúng ta là người thành đạt. Sẽ tốt hơn nếu bạn là một luật sư có lương cao thứ 3 trong một công ty nhỏ và kiếm được 120.000 đôla trong một năm, so với chỉ là một luật sư tầm bậc trung trong một công ty lớn với mức lương 150.000 đôla một năm. Cách để cảm thấy hạnh phúc, cũng là cách để thành công khi theo đuổi địa vị xã hội, đó là hãy tìm ra cái ao thích hợp với chúng ta và ở trong đó.

Người ta quan tâm đến địa vị nhiều như thế nào? Một vài năm trước đây, một nghiên cứu được thực hiện trong đó những người tham gia được cho các cặp tình huống giả định cá nhân và họ được yêu cầu cho biết họ thích cái nào hơn. Ví dụ như mọi người được yêu cầu chọn giữa việc kiếm 50.000 đôla mỗi năm trong khi những người khác chỉ kiếm được 25.000 đôla và kiếm 100.000 đôla mỗi năm trong khi những người khác kiếm được 200.000 đôla. Họ đã được yêu cầu chọn giữa việc đi học 12 năm trong khi những người khác chỉ đi học 8 năm, và việc mình đi học 16 năm trong khi những người xung quanh học đến 20 năm. Họ đã được yêu cầu chọn giữa việc mình có chỉ số thông minh 110 trong khi những người xung quanh chỉ có 90 và có chỉ số thông minh 130 trong khi những người xung quanh tới 150. Trong đa số các tình huống, quá nửa những người tham gia chọn việc mình có một vị trí tốt hơn tương đối so với những người khác. Tức họ muốn được làm con cá lớn trong một cái ao nhỏ, kiếm được 50.000 đôla mỗi năm, hơn là làm một con cá nhỏ, kiếm 100.000 đôla trong một cái ao lớn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008

Nghịch lý của sự lựa chọn – Tại sao mọi thứ đều phải bị so sánh – Phần I


Tôi nghĩ rằng không có gì phải bàn cãi rằng, việc sập cửa vào tay một ai đó là một việc xấu, và yêu thương lẫn nhau là tốt. Nhưng hầu hết trải nghiệm của con người không thể đánh giá dựa vào những điều hiển nhiên như vậy, mà còn phải dựa vào những yếu tố khác.

Khi chúng ta cân nhắc xem liệu mình có thích một bữa ăn, một kỳ nghỉ hoặc một lớp học nào đó, thì hiển nhiên không tránh được việc tự hỏi “[thích hoặc không vì] so sánh sánh với cái gì?” Đối với những quyết định liên quan, đến tương lai, thì câu hỏi “liệu nó tốt hay xấu?” không quan trọng bằng “nó sẽ tốt hay xấu như thế nào?”. Hầu như không có bữa ăn nhà hàng nào thực sự là “tệ” hay nhạt nhẽo đến nỗi chúng ta bỏ luôn bữa ăn và đi khỏi đó. Tuy nhiên, khi chúng ta kể cho bạn bè nghe nhà hàng đó tệ thì họ ngầm hiểu rằng chúng ta đã so sánh nhà hàng đó với một chuẩn nào đó, và cái nhà hàng trong câu chuyện này tệ ở mức âm. Phép so sánh chính là quy chuẩn có ý nghĩa nhất.

Các tình huống trong cuộc sống hiện đại dường như kết lại với nhau để làm cho chúng ta cảm thấy ít hài lòng hơn so với mức độ mà chúng ta cần phải vậy. Và có lẽ là nên như vậy, một phần là bởi chúng ta đang so sánh trải nghiệm của chính chúng ta với một chuẩn nào đó cao hơn. Một lần nữa, như chúng ta sẽ thấy, quá nhiều sự chọn lựa đã góp phần dẫn đến sự bất mãn này.

Hy vọng, kỳ vọng, trải nghiệm trong quá khứ và những điều khác

Khi con người đánh giá một trải nghiệm nào đó, họ sẽ thực hiện một hay nhiều phép so sánh sau đây:

1. So sánh trải nghiệm đó với những gì họ hy vọng nó sẽ như vậy

2. So sánh trải nghiệm đó với những gì họ kỳ vọng về nó

3. So sánh trải nghiệm đó với những trải nghiệm khác họ đã có cách đó không lâu

4. So sánh trải nghiệm đó với những trải nghiệm mà người khác đã có

Mỗi phép so sánh trên đều làm cho sự đánh giá trải nghiệm trở nên tương đối. Điều này có thể giảm bớt hoặc gia tăng sự hài lòng của chúng ta về trải nghiệm đó. Nếu một người đi ăn một bữa tối thịnh soạn, và cô ta vừa đọc qua những dòng giới thiệu hay ho về nhà hàng thì niềm hy vọng hoặc kỳ vọng của cô ta về bữa tối đó sẽ cao. Nếu gần đây cô ta có ăn một bữa ăn ngon ở một nhà hàng khác, thì cô ta sẽ mong đợi nhiều hơn về bữa ăn sắp tới so với bữa ăn trong quá khứ. Nếu ngay trước bữa tối đó cô ta được nghe một người bạn của mình kể chi tiết về một bữa ăn mà người này vừa ăn, thì tiêu chuẩn so sánh của cô ấy sẽ dựa trên mức độ của bữa ăn được kể đó. Tóm lại người đầu bếp trong nhà hàng sẽ chịu thử thách khi phải làm ra một bữa ăn để làm cho nhiệt kế hài lòng cô ấy chỉ ở mức cao. Nếu ngược lại, một người nào đó vội vàng bước vào một nhà hàng đầu tiên mà cô ta thấy chỉ vì cô ta quá đối, nếu nơi đó chỉ khiêm tốn và thực đơn thì đơn giản, nếu cô ta đã có một bữa ăn rất tệ vào ngày hôm trước, nếu bạn cô ta kể cho cô ta về bữa ăn dở tệ mà người ấy ăn phải gần đây, thì rất có khả năng rằng cô ấy sẽ dễ dàng hài lòng với bữa ăn mà cô có. Cùng một bữa ăn, cùng một nhà hàng, có thể được đánh giá tiêu cực dựa trên những so sánh cao hơn, nhưng lại được đánh giá tích cực khi dựa trên những so sánh thấp hơn. Nhin chung thì chúng ta cũng không thể nhận ra rằng các đánh giá của mình giống như một lời bình luận chủ quan về bữa ăn hơn về thực chất của bữa ăn đó.

Tương tự như vậy, việc đạt được điểm B+ trong một kỳ thi khó cũng có thể tạo ra cảm giác tốt hoặc xấu trên thang do hứng thú. Trước đó bạn hy vọng mình được điểm A hay B? Trước đó bạn kỳ vọng bài làm được điểm B hay A? Thường thì bạn hay được điểm A hay điểm B hơn? Và bạn cùng lớp của bạn đạt được điểm gì?

Nhà khoa học về xã hội Alex Michalos, trong một cuộc thảo luận về đặc tính của trải nghiệm được con người nhận thức, cho rằng con người lập các chuẩn về mức độ hài lòng dựa trên đánh giá ba điểm cách biệt sau đây: “Cách biệt giữa những gì mình có và những gì mình muốn, cách biệt giữa những gì mình có và những gì mà những người đồng trang lứa với mình có, và cách biệt giữa những gì mình đang có và điều tốt nhất trong quá khứ mình đã từng có”. Michalos nhận thấy rằng hầu hết sự đa dạng về mức độ thỏa mãn của con người có thể giải thích được dựa trên ba điểm cách biệt ở trên, chứ không phải sự khác biệt giữa chính các trải nghiệm khách quan. Tôi đã thêm vào sự cách biệt thứ tư, đó là cách biệt giữa những gì mình có và những gì mình kỳ vọng.

Khi những điều kiện về xã hội và vật chất được cải thiện thì chuẩn so sánh của chúng ta cũng cao hơn. Khi chúng ta đã tiếp xúc với món đồ có chất lượng cao thì chúng ta bắt đầu phải chịu “lời nguyền của nhận thức”. Những đồ vật có chất lượng kém hơn mà trước đây chúng ta vui vẻ chấp nhận thì giờ đây đã không còn đạt chuẩn nữa. Điểm 0 – điểm mốc của mức độ hứng thú cứ nhích dần lên trên, và những mong muốn lẫn khát vọng cũng lên theo cùng với nó.

Ở vài khía cạnh nào đó, có thể nói tiêu chuẩn cho mức độ tạm chấp nhận được càng cao thì càng thể hiện sự phát triển. Khi con người đòi hỏi nhiều hơn thì thị trường mới đáp ứng nhiều hơn, có cầu thì có cung. Một phần là bởi vì khi các thành viên trong xã hội ngày càng tăng chuẩn khi đánh giá một cái gì đó là tốt, và con người bây giờ có cuộc sống vật chất tốt hơn trước đây rất nhiều, khách quan mà nói.

Nhưng cũng không phải chủ quan khi nói rằng: nếu cách đánh giá hứng thú của bạn xuất phát từ mối quan hệ giữa đặc tính khách quan của một trải nghiệm và mong muốn của bạn, thì khi đó chất lượng được nâng cao của trải nghiệm sẽ đáp ứng được mong muốn của bạn và bạn đang đi đúng hướng. “Máy chạy đua hứng thú” và “máy chạy đua thỏa mãn”, mà tôi đã thảo luận ở bài trước, giải thích ở một mức độ đáng kể về việc thu nhập thực sự có thể bằng hệ số 2 (ở Mỹ) và hệ số 5 (ở Nhật) mà không có ảnh hưởng đáng kể nào về cảm giác hạnh phúc chủ quan của các thành viên trong xã hội đó. Nếu mong muốn theo kịp với nhận thức thì con người có thể được sống tốt hơn về mặt khách quan, nhưng họ sẽ không chắc họ sẽ cảm thấy vui vẻ hơn với cuộc sống đó.

Triển vọng, khuôn mẫu và đánh giá

Chúng ta sẽ thấy một trải nghiệm nào đó là tích cực nếu trải nghiệm đó là một sự tiến bộ so với trước đó và sẽ cảm thấy tiêu cực nếu trải nghiệm đó tệ hơn so với trước đây. Để hiểu được chúng ta đánh giá một trải nghiệm như thế nào thì trước tiên cần phải tìm ra chúng ta có xuất phát điểm hứng thú là từ đâu.

Trong một bài trước, tôi đã nhấn mạnh ở chỗ ngôn ngữ có thể ảnh hưởng đến cảm giác về một trải nghiệm như thế nào, và vì vậy cũng ảnh hưởng việc tạo ra điểm mốc – điểm 0. Một tấm biển tại một trạm xăng nói rằng “giảm giá cho ai trả bằng tiền mặt” đã đạt điểm 0 nằm ở giá phải trả khi thanh toán bằng thẻ tín dụng. Một tấm biển khác nói rằng “tính giá đắt hơn cho ai trả bằng thẻ tín dụng” đã đặt điểm xuất phát nằm ở giá xăng khi trả bằng tiền mặt. Mặc dù số tiền chênh lệch giữa giá trả bằng tiền mặt và giá trả bằng thẻ tín dụng có thể như nhau ở cả hai trạm xăng, nhưng người ta sẽ cảm thấy bực mình nếu bị tính thêm tiền và cảm thấy vui sướng nếu được giảm giá.

Nhưng ngôn ngữ thể hiện không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến việc xác định điểm mốc. Những kỳ vọng của con người cũng có ảnh hưởng. “Tôi mong đợi bữa ăn này (điểm thi, rượu vang, kỳ nghỉ, công việc, mối quan hệ lãng mạn) ngon hoặc tốt như thế nào?”, mọi người thường tự hỏi mình như vậy. Và sau đó họ tự hỏi mình “vậy nó tốt/ngon ở mức độ nào?” Nếu trải nghiệm đó tích cực đúng như họ mong đợi thì người ta sẽ cảm thấy thỏa mãn, nhưng họ sẽ không cảm thấy quá sung sướng. Niềm hứng khởi thực sự chỉ đến khi một trải nghiệm nào đó vượt quá sự mong đợi. Những trải nghiệm trong quá khứ cũng ảnh hưởng đến việc xác định điểm mốc, mà điểm này là mộ tphần của quy luật thích nghi. “Nó (bữa ăn…) có tốt/ngon như lần trước không?”, chúng ta hỏi. Nếu đúng là tốt như thế thì chúng ta lại được thỏa mãn, nhưng chúng ta sẽ không thấy thực sự phấn khích.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Barry Schwartz – Nghịch lý của sự lựa chọn – NXB Trẻ 2008