Mối quan hệ biện chứng giữa một số lợi ích chủ yếu với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội – Phần III


Cá nhân bao giờ cũng là thành viên của một cộng đồng hay một nhóm xã hội cụ thể. Bản thân các cộng đồng tồn tại là bởi sự tồn tại của các cá nhân cùng các quan hệ qua lại giữa họ và các cá nhân cùng bị quy định bởi cộng đồng của mình.

Mối quan hệ cá nhân và cộng đồng là hết sức đa dạng. Do đó, mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung cũng rất đa dạng. Đối với mỗi con người, lợi ích riêng của bản thân bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định trực tiếp thôi thúc anh ta hành động. Đối với con người, khi người ta làm một cái gì đó thì thường là cái đó gắn liền với một nhu cầu hay lợi ích cụ thể nào đó của họ.

Con người nói chung là sống thực tế. Đối với con người hiện đại, tính thực tế cập nhật càng đậm nét hơn. Xã hội càng biến động, càng phức tạp, càng bất thường bao nhiêu thì tính hiệu quả trực tiếp nơi hành vi con người càng được đề cao bấy nhiêu. Do vậy, các quan hệ lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế ngày càng trở nên gay gắt, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay.

Trong các loại lợi ích, như đã nói trên, lợi ích kinh tế có tác dụng cuốn hút rất mãnh liệt. Vì vậy, các chủ trương phát triển kinh tế hộ gia đình, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, dân chủ hóa đời sống xã hội, trong mấy năm qua đã tạo nên một diện mạo mới của sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Sở dĩ như thế là vì, nó đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vọng của đông đảo nhân dân – cái tâm tư nguyện vọng luôn luôn hiện diện như là lực lượng tinh thần, là động cơ tư tưởng chi phối mọi hành vi của con người. Động cơ ấy không phải là cái gì khác mà chính là sự phản ánh những lợi ích thiết thân và cấp bách của họ.

Con người hoạt động trước hết vì lợi ích của bản thân, của gia đình và người thân của mình, sau đó mới là vì cộng đồng, vì tập thể gần gũi với anh ta, rồi mới đến các cộng đồng, các tập thể lớn hơn, “xa” hơn (xã hội, khu vực, nhân loại…).

Nhưng nếu nhìn từ góc độ chung hơn ta lại thấy, một cá nhân không là gì cả, hơn thế, anh ta sẽ không thể tồn tại được chứ đừng nói là phát triển được nếu không có cộng đồng. Cá nhân bao giờ cũng gắn bó với một cộng đồng nhất định, một mặt, anh ta góp phần tạo nên sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, nhưng mặt khác, đời sống của anh ta cũng bị quy định hết sức chặt chẽ bởi sự tồn tại và phát triển của cộng đồng ấy. Điều này cũng có nghĩa là, việc thực hiện các lợi ích riêng của cá nhân hay lợi ích chung của cộng đồng cũng đều có tác động ảnh hưởng đến nhau.

Dĩ nhiên, lợi ích riêng bao giờ cũng là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất thôi thúc cá nhân hoạt động. Và, nó cũng là nhân tố quyết định trước hết. Vì thế có thể nói, nó là cơ sở để thực hiện lợi ích chung, ngược lại, lợi ích chung với ý nghĩa là những lợi ích hướng vào thỏa mãn những nhu cầu chung của nhiều thành viên hợp thành cộng đồng nên nó lại là điều kiện và đóng vai trò định hướng cho việc thực hiện lợi ích riêng.

Vì những lý do trên nên chỉ khi nào tạo lập được mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng thì mới có thể tạo nên được sự phát triển không những của các cá nhân, mà của cả cộng đồng. Từ đó một yêu cầu được đặt ra là cần tạo lập một cơ chế kích thích sao cho mỗi cá nhân riêng lẻ, mỗi cộng đồng riêng lẻ khi hoạt động thực hiện các lợi ích riêng của mình, nhất là những lợi ích riêng được phản ánh trong các lợi ích chung của xã hội, cũng sẽ đồng thời tạo nên một xu hướng vận động chung của cả cộng đồng theo hướng chúng ta mong muốn. Khi ấy hoạt động của từng cá nhân riêng lẻ nhằm thực hiện các lợi ích riêng của mình cũng đồng thời góp phần thúc đẩy xã hội vận động theo hướng chung.

Để tạo ra sự kết hợp thống nhất và hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng của xã hội ta giai đoạn hiện nay thì cần phải nhận thức được hệ thống các nhu cầu và lợi ích cấp bách mà các cá nhân cũng như các cộng đồng đang theo đuổi thực hiện, trong đó phải đặc biệt làm rõ những lợi ích nào đang là những lợi ích cấp bách nhất.

Chẳng hạn trong giai đạon hiện nay, lợi ích kinh tế đang là lợi ích quan trọng nhất đối với đa số nhân dân ta, bởi vì nó hướng vào thỏa mãn những nhu cầu vật chất tồn tại tối thiểu của mỗi gia đình và cá nhân. Do vậy, lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất cũng đang là lợi ích chung của cả xã hội. Từ chỗ xác định được lợi ích cấp bách của các cá nhân, các gia đình riêng lẻ ta có thể thấy được lợi ích cấp bách của các nhóm xã hội. Và, tương tự thế, từ chỗ xác định được lợi ích cấp bách của các nhóm xã hội riêng lẻ khác nhau ta có thể vạch ra lợi ích cấp bách của cả một xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

Ở đây cần lưu ý rằng, lợi ích chung của cộng đồng xã hội không phải là sự phản ánh đơn thuần trực tiếp các lợi ích cấp bách của từng cá nhân như là một tập hợp rời rạc, mà nó là sự phản ánh một cách tổng thể những lợi ích đặc trưng của các nhóm xã hội như là một số thành .

Nhưng khi vạch ra hệ thống lợi ích cấp bách của cá nhân hay của một nhóm xã hội ta cần phải khảo sát nội dung và tính chất của chúng. Đối với hệ thống lợi ích riêng cần phân biệt lợi ích nào mang tính chất riêng tư cá biệt chỉ của một cá nhân hay một nhóm xã hội riêng và lợi ích nào mang tính chất chung của nhiều thành viên hay của cả một cộng đồng, nhiều cộng đồng. Từ sự khảo sát và phân loại này ta mới có thể chỉ ra được những lợi ích nào sẽ trực tiếp tham gia vào việc thúc đẩy sự phát triển chung của cả cộng đồng và xã hội.

Xem xét mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung ta xem xét một trong các mối quan hệ căn bản của một cá nhân (hay một nhóm xã hội) với cả cộng đồng xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ con người, xã hộ vừa tồn tại như một cơ thể tự nhiên tự điều chỉnh, vừa tồn tại trên cơ sở được tổ chức và điều hành bởi hệ thống các nguyên tắc được thiết lập bởi sự thỏa thuận hay áp đặt giữa các thành viên. Các nguyên tắc đó được thể hiện dưới hình thức các bộ luật, các lệ, khế ước xã hội hay bằng các hương ước cụ thể.

Trong hệ thống các quan hệ xã hội, ta thấy, quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của cá nhân và cộng đồng (hay của cộng đồng nhỏ với cộng đồng lớn) là quan hệ phản ánh mối tương quan giữa lợi ích riêng và lợi ích chung.

Quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và cộng đồng như thế nào phụ thuộc vào tính chất của chế độ xã hội. Và, quan hệ này chỉ xuất hiện một cách thực sự ở các xã hội dân chủ – người dân là người chủ xã hội. Đối với những xã hội chuyên chế hay độc tài sẽ không tồn tại quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ. Điều này cũng có nghĩa là, về thực chất cũng sẽ không tồn tại tương quan giữa lợi ích riêng và lợi ích chung.

Mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ không nên quan niệm một cách đơn thuần trong từng quan hệ riêng lẻ. Đành rằng, lợi ích riêng là tối thượng đối với mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội cụ thể, mỗi cộng đồng xã hội cụ thể. Nhưng, như ta vẫn thấy, các lợi ích tối thượng ấy trong rất nhiều trường hợp hoặc không thực hiện được, hoặc nếu có thực hiện được thì cũng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nữa nếu các lợi ích chung không được tôn trọng và sự không tôn trọng lợi ích chung đó dẫn đến phá hủy cộng đồng.

Do đó, trong các quan hệ lợi ích, mặc dù chủ thể nào cũng chịu sự dày vò của câu hỏi: ta được cái gì hay mất cái gì trong quan hệ với cộng đồng, nhưng đến một lúc nào đó, nhiều khi cũng xuất phát từ những toan tính riêng tư, họ sẽ nhận ra rằng mình phải có trách nhiệm và nghĩa vụ như thế nào đối với sự tồn tại và phát triển chung của cộng đồng trên cơ sở các nguyên tắc bảo đảm đã được thỏa thuận bởi vì nếu không thế thì bản thân họ cũng không thể tồn tại và phát triển được. Vậy là, không chỉ các quan hệ xã hội khách quan, mà ngay cả những tính toán riêng tư đã buộc họ phải tự giác nhận thức và thực hiện các trách nhiệm và nghĩa vụ nhất định đối với cộng đồng mà anh ta là thành viên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Advertisements

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần IV


Truman và các học giả theo trường phái đa nguyên khác cũng nhấn mạnh rằng hệ thống chính trị Mỹ là đặc biệt có ích đối với nền chính trị đa nguyên. Cơ cấu phi tập trung hóa của nó mang lại vô số điểm tiếp cận – các đảng phái chính trị, các ủy ban và tiểu ban của quốc hội và tòa án, vô số các cơ quan chính quyền của liên bang, bang và địa phương – tại đó các nhóm có thể cạnh tranh để có được chính sách có lợi. Nó cũng tạo ra một tập hợp các tác nhân chính trị – những quan chức được bầu – mà mục tiêu của họ có thể được đáp ứng bởi những liên minh được xây dựng vững chắc trên diện rộng và những giá trị chung được bảo vệ rộng rãi. Trong khái niệm lý tưởng này, nền chính trị đa nguyên tạo ra một sự cân bằng chính sách phản ánh cả sự phân phối lợi ích trong xã hội và cường độ mạnh mẽ của việc theo đuổi lợi ích. Những lợi ích chung rộng rãi có sức nặng bởi các cuộc bầu cử khiến cho số đông trở thành vấn đề quan trọng; cường độ là yếu tố cần tính tới bởi những người quan tâm tới vấn đề nhất chính là những người có khả năng tham gia vào tổ chức và hành động nhất.

Như vậy, rõ ràng là quan điểm này của chủ nghĩa đa nguyên Mỹ không bao hàm sự khinh miệt đối với “các nhóm lợi ích cụ thể” hoặc “các nhóm gây áp lực” theo như quan niệm thông thường. Thay vào đó, các nhóm lợi ích được xem là những người tham gia rất quan trọng và quý báu trong nền chính trị dân chủ của xã hội công nghiệp hiện đại. Nếu không có sự tham gia của chúng, chính sách có thể được tạo ra mà không hề quan tâm tới những mong muốn thực tế của công dân đối với chính phủ.

Với ý nghĩa là sự mô tả thực tế, khái niệm chủ nghĩa đa nguyên tích cực hiển nhiên đã bị một số người chỉ trích. Không ai nghi ngờ rằng các nhóm có tổ chức thường là những người chơi rất quan trọng trong lĩnh vực chính trị; điều này không phải là vấn đề. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các nhóm hoạt động nổi bật nhất trong nền chính trị không đại diện một cách cân bằng cho các nhóm lợi ích kinh tế và xã hội. Một số nhóm lợi ích, ví dụ như nhóm của các tập đoàn công nghiệp lớn, dường như chiếm tỷ lệ đại diện quá lớn; trong khi các nhóm khác, chẳng hạn nhóm lao động nhập cư và người thất nghiệp, không hề được đại diện. Như nhà khoa học chính trị E.E. Schattschneider đã nói: “Khiếm khuyết trong thiên đường của những người đa nguyên chủ nghĩa là ở chỗ dàn đồng ca của thiên đường hát lên với âm giọng chi phối của tầng lớp trên”. Lời giải thích rõ ràng nhất cho sự lệch này là các nguồn lực của tổ chức – tiền bạc, thông tin, tiếp cận quyền lực, kỹ năng, khả năng thương lượng – được phân phối rất bất bình đẳng giữa các nhóm lợi ích chính trị. Do vậy, khi các tổ chức đầu tư vào chính trị, kết quả sẽ bị thiên lệch theo hướng có lợi cho các nhóm được sự ủng hộ của những người giàu có, có nhiều thông tin và quyền lực.

Vấn đề của hành động tập thể

Một cách giải thích tế nhị hơn nhưng cũng không kém phần quan trọng cho sự thiên lệch rõ rệt trong tỷ lệ đại diện của các nhóm xuất phát từ sự khác biệt trong động cơ của hành động tập thể và những trở ngại đối với tổ chức giữa các loại nhóm khác nhau. Lời giải thích này, được nhà kinh tế học Mancur Olson đưa ra trong cuốn Logic của hành động tập thể (The Logic of Collective Action) (1965), bắt đầu bằng việc chỉ ra rằng những nhà đa nguyên chủ nghĩa kinh điển như Truman đã sai lầm khi cho rằng mọi người sẽ hình thành các nhóm lợi ích một cách tự phát để thúc đẩy hoặc bảo vệ những lợi ích chung. Một số người buộc phải đảm nhiệm việc tổ chức nhóm và tìm kiếm các nguồn lực để duy trì chúng. Và để thành công, những nhà tổ chức phải vượt qua một vấn đề kinh điển của hành động tập thể: đa số các nhóm lợi ích chính trị đều theo đuổi những lợi ích tập thể mà các thành viên của nhóm được hưởng lợi từ đó, bất chấp việc họ có giúp đạt được chúng hay không. Tính tư lợi có lý trí dẫn tới tình trạng ngồi không hưởng lợi rất phổ biến, làm suy yếu tổ chức và các nỗ lực của nó trừ phi nó tìm ra một cách thức nào đó cho vấn đề khó khăn này.

Một số nhóm giải quyết vấn đề này dễ dàng hơn nhiều so với các nhóm khác. Các nhóm nhỏ dễ tổ chức hơn các nhóm lớn bởi chi phí giao dịch thấp hơn và tình trạng ngồi không hưởng lợi ít nghiêm trọng hơn, do những kẻ ngồi không hưởng lợi dễ bị phát hiện hơn, dễ bị khinh miệt và trừng phạt về mặt xã hội hơn. Thêm vào đó, các nhóm có quyền lợi bị ảnh hưởng nhiều hơn trong một lĩnh vực chính sách sẽ sẵn sàng hành động hơn so với những người không bị ảnh hưởng (xem hộp “Quy tắc thiểu số”). Khi chi phí hoặc lợi ích tiềm năng là lớn, động cơ để đầu tư vào hành động chính trị cũng sẽ lớn.

Quy tắc thiểu số

“Các nhóm lợi ích đặc biệt” mang tai tiếng không thể cứu vãn trong nền chính trị Mỹ ngay từ những ngày đầu của nền Cộng hòa, khi James Madison cảnh báo về “bạo lực của bè phái” trong bài Người liên bang số 10. Theo quan điểm phổ biến, khi các lợi ích đặc biệt ảnh hưởng tới chính sách công, thì nền dân chủ sẽ bị thiệt hại. Điều này không nhất thiết đúng như vậy. Ngay cả khi các chính trị gia tập trung vào việc tối đa hóa số phiếu bầu của mình trong cuộc bầu cử kế tiếp và do vậy sẵn sàng đáp ứng quy tắc đa số, các nhóm lợi ích đặc biệt vẫn có rất nhiều cơ hội thành công trong việc vận động cho những chính sách mang lại lợi ích cho họ.

Để hiểu tại sao lại như vậy, chúng ta đơn giản chỉ cần thừa nhận rằng thông tin là rất đắt đỏ. Các cử tri sẽ giám sát hành động của những người đại diện cho mình trên những vấn đề quan trọng đối với họ và chỉ khi nào các thông tin như vậy có thể thay đổi sự ủng hộ của họ đối với ứng cử viên A hoặc ứng cử viên B trong cuộc bầu cử kế tiếp. Một đạo luật trợ cấp cho sản phẩm sữa đang được xem xét tại Quốc hội, nếu được thông qua, sẽ làm tăng thêm một hoặc hai xu đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên, đa số các cử tri sẽ bỏ qua vấn đề này bởi chi phí để biết về việc này và nghiên cứu cách thức bỏ phiếu của những người đại diện cho họ sẽ vượt qua những lợi ích có được từ việc biết được thông tin này.

Mặc dù phần lớn cử tri sẽ bỏ qua các đạo luật trợ cấp sản phẩm sữa, song những người nông dân cung cấp sữ chắc chắn không làm như vậy. Một khoản phụ thu nhỏ từ sản phẩm sữa có thể giúp cải thiện đáng kể thu nhập của họ. Bởi vậy, những người nông dân này sẽ trả chi phí cao hơn để biết từng chi tiết của chính sách cũng như theo dõi hành động của các đại diện của mình. Thường thường, chi phí này sẽ bao gồm cả chi phí thuê các nhà vận động hành lang.

Giống với việc sử dụng thông tin, việc truyền bá thông tin cũng rất tốn kém. Hầu như không người tiêu dùng nào tình cơ nghe được thông tin về dự thảo luật trợ cập sữa chịu bỏ công sức để chứng tỏ sự phản đối của họ, trong khi những người nông dân cung cấp sữa sẽ dành đáng kể thời gian và tiền bạc để tuyên truyền về sự ủng hộ của họ.

Các chính trị gia sẽ nhận thấy rằng đa số công dân không quan tâm nhiều lắm tới việc trợ cấp và ít khả năng họ sẽ bỏ phiếu dựa trên vấn đề này. Đồng thời, họ cũng nhận ra rằng một số ít người khác – những nông dân cung cấp sữa – hết sức quan tâm tới vấn đề và có thể dành lá phiếu của họ cũng như các khoản đóng góp cho chiến dịch vận động tranh cử trên cơ sở hành động của các đại diện của họ trên vấn đề này. Bởi vậy, ngay cả các chính trị gia luôn cố gắng đạt được càng nhiều phiếu càng tốt đôi khi cũng sẽ đặt những ưu tiên của một nhóm lợi ích đặc biệt lên trên lợi ích của đông đảo các công dân bình thường khác.

 

Quy mô của nhóm và phần đóng góp của các thành viên thường có quan hệ tỷ lệ nghịch, khiến cho tình trạng thiên lệch càng tồi tệ thêm. Đối với một số ít nhóm may mắn, một thành viên riêng rẽ có thể có lợi ích đủ mạnh để sẵn sàng chi trả toàn bộ chi phí cho việc theo đuổi lợi ích chung của cả nhóm. Chẳng hạn như Exxon có thể nhận thấy nó vẫn có lợi khi đầu tư vào việc vận động nhằm bãi bỏ việc kiểm soát giá xăng dầu ngay cả khi nó phải chi trả toàn bộ chi phí để tạo ra một lợi ích mà toàn bộ các nhà sản xuất xăng dầu sẽ cùng được hưởng. Ngược lại, có rất nhiều lợi ích tập thể phổ biến, được chia sẻ bởi quá nhiều người sẽ có tỷ lệ đại diện rất kém nếu những người chia sẻ chúng hành động một cách lý trí và duy trì vị thế người ngồi không hưởng lợi.

Phân tích này có thể giải thích tại sao các nhóm vận động hành lang đại diện cho những lợi ích kinh tế hạn hẹp có xu hướng chi phối tại Washington, nhưng nó cũng đặt ra một câu hỏi mới: tại sao vẫn có rất nhiều nhóm vận động hành lang mạnh lên tiếng đề đạt nguyện vọng cho các lợi ích phổ biến và rộng rãi? Thực tế, một trong những thay đổi đáng kinh ngạc nhất đố với các nhóm lợi ích trong ba thập niên vừa qua chính là sự phổ biến của các tổ chức tuyên bố đại diện cho hàng triệu công dân tập trung vào một số loại hình lợi ích công. Sự phổ biến này bắt nguồn một phần từ thực tế rằng rất nhiều người sẵn sàng góp sức cho các nhóm ủng hộ những vấn đề họ quan tâm mà không hề lo lắng về việc liệu những đóng góp của họ có tạo nên sự khác biệt đáng kể này hay không. Những động cơ đạo đức, sự hài lòng của cá nhân về việc được chứng tỏ bản thân, đã thắng thế khái niệm về sự suy xét lý trí của các nhà kinh tế học trong trường hợp của vô số công dân quan tâm – những người đã gửi tiền đóng góp cho các nhóm vận động, cho việc bảo vệ môi trường, cải cách chính trị, cấm nạo phá thai, quyền của động vật, và hàng loạt vấn đề xã hội khác. Những nhóm này không ra đời một cách tự phát thông qua hành động của những công dân quan tâm; phần lớn được hình thành bởi những nhà hoạt động mạnh dạn được hỗ trợ bởi các tổ chức từ thiện, những cá nhân giàu có hoặc bản thân chính quyền. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều nhóm được duy trì nhờ phí hội viên và các khoản đóng góp nhỏ của đông đảo công dân.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Mối quan hệ biện chứng giữa một số lợi ích chủ yếu với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội – Phần II


Trong hoàn ảnh của nước ta hiện nay, mặc dù công cuộc đổi mới đã làm tăng mức sống của hầu hết các gia đình, nhưng với thực trạng chỉ có 10 – 15% số hộ gia đình khá giả, rõ ràng, đa số nhân dân ta mới ở mức sống nghèo đói và tạm đủ ăn. Đủ ăn nghĩa là, đời sống kinh tế của các gia đình ấy còn hết sức bấp bênh, chưa có tích lũy bảo đảm, chỉ cần một sự rủi ro nhỏ các gia đình đủ ăn này sẽ dễ dàng rơi xuống nghèo đói. Vì thế, các lợi ích vật chất đang là mối qua tâm trước hết, đang đóng vai trò quan trọng nhất, bởi lẽ, các nhu cầu tồn tại tối thiểu đang là những nhu cầu cấp bách nhất của đa số nhân dân ta hiện nay.

Như vậy, lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế của các cá nhân, gia đình, cũng như của xã hội đang trở thành động lực mạnh mẽ nhất thôi thúc mọi người hành động. Sự hoạt động của mỗi cá nhân, mỗi gia đình vì mục đích hết sức cụ thể là để làm sao nhanh chóng thoát khỏi được sự nghèo khổ của bản thân mình, thế nhưng nó cũng sẽ tạo nên những xu hướng vận động nhất định của xã hội. Rõ ràng, trong giai đoạn hiện nay, mục đích của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, các nhóm xã hội về cơ bản là phù hợp với mục đích chung của đất nước. Nghĩa là, các hoạt động này có thể là không tự giác nhưng đều tập trung hướng vào đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu hiện tại, đều hướng vào một mục đích chung là dân giầu nước mạnh.

Thực tế cuộc sống cho thấy, các lợi ích kinh tế, các lợi ích vật chất đang chi phối hết sức mạnh mẽ cả nhận thức và hành động của các cá nhân và cộng đồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với hoạt động căn bản của xã hội ta trong giai đoạn hiện nay là lao động sản xuất và kinh doanh. Sự thay đổi nhu cầu và lợi ích đã dẫn đến sự thay đổi hoạt động và ngược lại.

Thế nhưng, mục đích của chúng ta không phải chỉ là dân giàu nước mạnh, chúng ta mong muốn xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa hiện thực. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và gia đình hạnh phúc. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, mặc dù tính tất yếu kinh tế đang chi phối mạnh mẽ nhận thức và hành động của các cá nhân cũng như toàn xã hội nhưng Đảng và Chính phủ ta chủ trương không chỉ tập trung phát triển kinh tế một cách phiến diện, mà đang chủ động tập trung đầu tư phát triển văn hóa – xã hội.

Quan điểm này rất phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Khác với con người của một số xã hội phương Tây, nơi chủ nghĩa cá nhân được đề cao, nơi các lợi ích vật chất của các cá nhân luôn là tối tượng, ở con người Việt Nam, bên cạnh niềm khao khát có một cuộc sống vật chất đầy đủ là lòng mong mỏi có một quan hệ gia đình đầm ấm, anh em và cộng đồng hòa thuận, thân ái. Nhân tố tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng chi phối hết sức mạnh mẽ các ham muốn cũng như các hành vi ứng xử của con người Việt Nam.

Qua tình hình thực tế ở các nước tư bản đã phát triển ta có thể thấy ở đó mặc dù đời sống vật chất của con người đã đạt tới một mức độ cao, nhưng nhìn chung, các vấn đề văn hóa – xã hội ở không ít nước, chẳng hạn, các vấn đề hôn nhân và gia đình, vấn đề người già, tình trạng mại dâm, tội phạm, các vấn đề môi trường… đang hết sức nhức nhối. Có thể nói, lĩnh vực văn hóa – xã hội ở đó đang ở trong tình trạng khủng hoảng hết sức gay gắt. Điều đó chứng tỏ, không phải cứ có đời sống vật chất dư thừa thì con người sẽ hạnh phúc, xã hội sẽ tốt đẹp. Nhiều khi lại ngược lại, sự ham mê đời sống vật chất, đời sống tiêu dùng sẽ dẫn đến những lệch lạc, những dị tật trong quan hệ giữa con người và con người.

Trong giai đoạn hiện nay, ở nước ta, cơ chế thị trường và chính sách mở cửa đang tác động hết sức mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Về mặt kinh tế, đường lối đổi mới đang từng ngày từng giờ nâng cao mức sống của mỗi gia đình, tạo ra một sự tăng trưởng kinh tế rất đáng phấn khởi trong toàn xã hội (Mức độ tăng trưởng kinh tế trong mấy năm qua là: 1991: 6%; 1992: 8,6%; 1993: 8,4%; 1994: 8,8%; 1995: 9,5%; 1996: 9,34% và 1997: 9%).

Về mặt văn hóa – tinh thần cũng đang diễn ra một sự chuyển đổi không chỉ phương thức sinh hoạt mà cả nội dung sinh hoạt văn hóa – tinh thần mang tính tự phát. Đó trước hết là sự thay đổi phương thức sinh hoạt văn hóa – tinh thần từ mô hình hành chính bao cấp sang phương thức sinh hoạt mang tính hộ gia đình, tầng lớp xã hội (giàu – nghèo, nông thôn – thành thị, lao động chân tay – lao động trí óc…) và mang tính cộng đồng quần cư. Sở dĩ có sự thay đổi này là do mô hình sinh hoạt văn hóa – tinht hần theo cơ chế hành chính bao cấp trước đây đã tan rã và đang có sự phục hồi các sinh hoạt theo mô hình cộng đồng làng – xã truyền thống cũng như đang có sự phát triển mạnh mẽ các phương tiện nghe nhìn hiện đại.

Tuy nhiên, cùng với những chuyển biến tích cực trên đây, trong xã hội hình như cũng đang diễn ra một sự khủng hoảng giá trị nào đó, nhất là đối với lớp trẻ. Điều này được biểu hiện rõ rệt ở sự xuất hiện nhiều hiện tượng thuộc về tệ nạn xã hội mà nhiều chục năm qua trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa ta đã khắc phục được như: trẻ em lang thang, mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, tội phạm, buôn lậu, tham nhũng… Những hiện tượng này có chiều hướng ngày càng gia tăng và đang làm vẩn đục, ô nhiễm đời sống xã hội ta.

Hiện trạng đó đang đặt chúng ta trước một yêu cầu cấp bách: cùng với các chính sách kinh tế mới cần sớm có những chính sách cụ thể, sát hợp cũng như có những biện pháp kịp thời trong giám sát và thực thi pháp luật nhằm quản lý và thúc đẩy sự phát triển văn hóa – xã hội theo hướng lành mạnh, tiến bộ. Chúng ta không thể dừng lại ở các chiến lược phát triển văn hóa – xã hội mang tính chất định hướng, mà cần cụ thể hóa chiến lược đó cho từng nơi, từng lúc nhằm tổ chức lại, điều chỉnh và hạn chế những lệch lạc và tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa – xã hội mà cơ chế thị trường làm nảy sinh. Ở đây thiết nghĩ, luật pháp sẽ đóng vai trò quan trọng nhất. Giáo dục, hướng dẫn, điều chỉnh và kiểm soát mọi người sống và làm việc theo đúng pháp luật hiện hành chắc chắn sẽ là biện pháp thích hợp nhất trong giai đoạn hiện nay.

II/ Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích chung và lợi ích riêng

Trong các quan hệ xã hội, lợi ích đóng vai trò là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất thúc đẩy con người hoạt động. Thế nhưng, mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội khác nhau lại theo đuổi những lợi ích riêng của mình, từ đó mà lôi kéo xã hội vận động theo những xu hướng khác nhau. Vậy làm thế nào để tạo lập nên một xu hướng vận động chung của toàn xã hội theo hướng chúng ta mong muốn? Giải quyết chúng một cách đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng sẽ góp phần trả lời cho câu hỏi này.

Lợi ích chỉ tồn tại trong đời sống xã hội và luôn gắn liền với các chủ thể nhất định. Các chủ thể này có thể là các cá nhân riêng lẻ cũng có thể là các nhóm xã hội hay cả một cộng đồng xã hội. So với từng cá nhân riêng lẻ thì nhóm là một tập thể, một “cái chung”, trong đó mỗi cá nhân riêng lẻ chỉ là một “cái riêng”, một bộ phận hợp thành của nó. Tuy nhiên, nếu so với cả cộng đồng xã hội thì nhóm lại là một “cái riêng”, một bộ phận của “cái chung” lớn hơn là cả cộng đồng xã hội. Vì vậy, sự phân biệt chung hay riêng ở đây chỉ mang tính tương đối và chúng chỉ có nghĩa là chung hay riêng trong một tương quan rất cụ thể với nhau.

Nếu ký hiệu một cộng đồng xã hội nhất định (cộng đồng đó có thể là một nhóm, một tập thể, một giai cấp, một dân tộc,… hay toàn xã hội) là A và các bộ phận hợp thành của nó (bộ phận hợp thành ấy có thể là một cá nhân trong một nhóm nhất định, một nhóm trong một tập thể gồm nhiều nhóm,…) là A1 thì lợi ích riêng là lợi ích gắn liền với từng chủ thể A1 và hướng vào thỏa mãn nhu cầu riêng của chính A1đó, còn lợi ích chung là lợi ích gắn liền với chủ thể A và hướng vào thỏa mãn các nhu cầu chung của tất cả các A1 hợp thành A.

Có thể diễn đạt theo cách khác là, lợi ích riêng là những lợi ích gắn liền với từng chủ thể cụ thể và dùng để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư cụ thể của chủ thể đó, còn lợi ích chung là những lợi ích của một nhóm chủ thể hay của cả một cộng đồng xã hội nhất định và dùng để thảo mãn những nhu cầu chung hay cả một hệ thống nhu cầu của các chủ thể.

Để thuận tiện, ở đây chúng tôi chỉ xem xét mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích riêng và lợi ích chung khi các lợi ích này có cùng một tính chất, một bản chất, hay nói chung hơn, là nằm trên cùng một tuyến, mặt khác, sẽ chỉ xem xét một trường hợp đại diện rất điển hình của mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích riêng của cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng mà cá nhân đó là thành viên. Trong trường hợp đó, cơ sở để xem xét mối quan hệ giữa lợi ích chung (của cộng đồng) và lợi ích riêng (của cá nhân) là sự tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố và hệ thống trong cấu trúc hệ thống của cơ thể xã hội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần III


Nhưng mẹ của họ vẫn yêu họ

1841. Sử gia James Silk Buckingham định nghĩa những người vận động hành lang là “các đại diện, được lựa chọn bởi kỹ năng của họ trong nghệ thuật lừa dối, thuyết phục và hối lộ các thành viên của cơ quan lập pháp”.

1856. Nhà thơ Walt Whitman đã miêu tả “những kẻ vận động hành lang” như “những con người nham hiểm khiến người ta sởn gai ốc, những kẻ buôn bán tự do bẩm sinh và tệ hại trên trái đất”.

1873. Một phóng viên của tờ The Nation đã mô tả những người vận động hành lang chuyên nghiệp “là người mà ai cũng ngờ vực; người mà nhìn chung trong nửa năm không có một phương kế sinh nhai lương thiện; và là người mà nghề nghiệp của họ chỉ được những người có các dự luật đưa ra trước cơ quan lập pháp viện đến như một biện pháp cần thiết dễ gây bất đồng”.

1875. Tiểu thuyết gia John William de Forest trong cuốn tiểu thuyết của ông nhan đề Honest John Vane (John Vane trung thực) đã mô tả tất cả những điều sau: “Những người có làn da nhợt nhạt, trang phục bóng mượt, tính cách tàn bạo, đầu óc bẩn thỉu, và các nói chuyện khiến người ta phát ốm; những người sặc sụa mùi thuốc lá henbane và rượu wisky cockatrine tới mức một người hút thuốc và uống rượu ở mức điều độ phải tránh xa họ như tránh xa hầm tiêu; những người mà lời lẽ khoe khoang xuẩn ngốc và vô sỉ về các hành động hối lộ của họ đủ để tất cả mọi người phải tránh xa, chỉ trừ đoàn quân của quỷ Satan và… các chính khách đồi bại, những người mà hiện giờ trên thực tế chẳng khác gì những tử thi đang thối rữa, đang bốc mùi chướng khí và sản sinh ra các loại giòi bọ”.

1888. Everit Brown và Albert Strauss, trong cuốn Dictionary of American Politics (Từ điển chính trị Mỹ), đã nêu định nghĩa như sau: “Vận động hành lang là một thuật ngữ được áp dụng chung cho những người tiến hành việc gây ảnh hưởng tới các nhà lập pháp bằng những biện pháp sai trái. Người làm việc này được gọi là người vận động hành lang. Họ thường đạt tới các mục tiêu của mình thông qua việc trả tiền cho các thành viên cơ quan lập pháp, tuy nhiên bất kỳ biện pháp khả thi nào khác cũng có thể được áp dụng”.

Các công dân phẫn nộ trước sự mục nát chính trị đã hình thành những tổ chức mới để thúc đẩy cải cách. Theo thời gian, những nhóm này đã thành công trong việc viết lại các quy tắc của nền chính trị đảng phái và bầu cử, cũng như việc tái tổ chức chính quyền ở mọi cấp. Những thay đổi này là một bộ phận của tập hợp những sáng kiến rộng lớn hơn – luật về lao động trẻ em và mức lương và giờ làm việc, quy định đối với ngành đường sắt và các doanh nghiệp quy mô lớn khác, quyền bỏ phiếu của phụ nữ, thuế thu nhập – được thông qua vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thời kỳ mà các sử gia hiện nay gọi là kỷ nguyên tiến bộ. Động lực thúc đẩy những sáng tạo này, cũng như phần lớn sự phản kháng đối với chúng, đến từ những nhóm lợi ích thuộc đủ loại. Một trong những thành công đáng lưu ý nhất, tính tới hiện nay, là của Hiệp hội chống bán rượu (Anti-Saloon League), kiến trúc sư của Tu chính án thứ mười tám. Tu chính án này cấm bán đồ uống có cồn tại Hoa Kỳ từ năm 1919 tới 1933, khi nó bị bãi bỏ (xem hộp “Trừng phạt những kẻ say xỉn tại hòm phiếu: Hiệp hội chống bán rượu”).

Trừng phạt những kẻ say xỉn tại hòm phiếu

Thành công của Hiệp hội chống bán rượu

Hiệp hội chống bán rượu, nhóm vận động hành lang cho một vấn đề riêng rẽ thành công nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, là lực lượng đi đầu trong việc thông qua Tu chính án thứ mười tám cấm việc buôn bán và vận chuyển “chất lỏng gây say xỉn” (bao gồm cả rượu và bia) ở Hoa Kỳ từ năm 1919 cho tới khi nó bị bãi bỏ vào năm 1933.

Trong nhiều thập niên trước khi Hiệp hội chống bán rượu được thành lập năm 1896, rất nhiều nhóm đã vận động cho việc cai rượu và phản đối buôn bán rượu, nhưng tất cả đều đến rồi đi. Ngay cả một đảng chính trị – Đảng Cấm – cũng đang vận động cho việc hạn chế uống rượu, song thành tích chính trị của đảng này hết sức hạn chế cho tới tận thời điểm Hiệp hội chống bán rượu ra đời.

Các nhà lãnh đạo hiệp hội, Purley Baker và Wayne Wheeler, thuộc vào loại những chính trị gia xuất sắc nhất của thời kỳ đó. Họ đã tạo nên một tổ chức do những người chuyên nghiệp được trả lương lãnh đạo, và được hỗ trợ bởi những phí hội viên hàng tháng cùng các khoản biếu tặng lớn từ các nhà hảo tâm giàu có. Làm việc thông qua các tổ chức đã tồn tại từ trước – chủ yếu là nhà thờ, song cũng có cả các nhóm vận động hạn chế rượu ở địa phương – hiệp hội đã vận hành với vai trò người điều phối trung tâm rất nhiều bộ phận của phong trào.

Hiệp hội tập trung một cách chiến lược vào một vấn đề duy nhất – ngừng buôn bán rượu, và không có quan điểm chính trị về bất kỳ vấn đề nào khác. Về mặt chiến thuật, hiệp hội tập trung vào nền chính trị bầu cử với mục tiêu đơn giản là đánh bại “những kẻ say xỉn” và bầu cho “những người không uống rượu”. Tổ chức này giám sát các lá phiếu của cơ quan lập pháp và yêu cầu sự cam kết bằng văn bản của các ứng cử viên khao khát chiến thắng, những người muốn có sự ủng hộ của của hiệp hội và không có vết tích trong quá khứ về vấn đề này. Hiệp hội không quan tâm tới việc bản thân ứng cử viên có uống rượu hay không, mà chỉ quan tâm tới cách thức họ sẽ bỏ phiếu cho đạo luật hạn chế bán rượu mà thôi. Nó xây dựng giá trị của sự ủng hộ của mình bằng cách huy động các cử tri đồng cảm (chủ yếu thông qua nhà thờ Tin Lành) và thuyết phục họ bỏ phiếu hoàn toàn dựa trên vấn đề rượu: những kẻ say xỉn phải bị trừng phạt tại hòm phiếu. Khi phong trào cấm bán rượu lên tới tầm quốc gia, hiệp hội đã tập hợp các nhóm cử tri để gửi thư và kiến nghị tới Quốc hội yêu cầu hành động và thậm chí đã tổ chức một cuộc diễu hành ở Washington, với bốn nghìn người ủng hộ cấm bán rượu tham gia, để vận động cho một tu chính án Hiến pháp hợp thức hóa lệnh cấm.

Tuy nhiên, thành công chính là yếu tố khiến tổ chức diệt vong. Bởi lệnh cấm không được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng ở nhiều nơi, đặc biệt tại những thành phố lớn, nên việc cưỡng chế thực thi chỉ có thể thực hiện với chi phí rất lớn. Song chính việc cưỡng chế mang tính ép buộc khiến cho đạo luật ngày càng trở nên mất lòng dân hơn. Cuối cùng, nó đã phải chào thua trước sự ủng hộ ngày càng yếu ớt của công chúng và cuộc Đại khủng hoảng, yếu tố đang thúc đẩy cầu về việc làm và các khoản thuế mà ngành sản xuất rượu có thể mang lại. Lệnh cấm đã bị bãi bỏ vào ngày 5 tháng Mười hai 1933, đưa những người buôn lậu rượu ra ngoài phạm vi quan tâm.

Những nhóm gây ấn tượng mạnh cho de Tocqueville vào thập niên 1830 chủ yếu là các tổ chức địa phương và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX, một tập hợp đông đảo các tổ chức quy mô lớn, được nuôi dưỡng bởi nền công nghiệp mới nổi, đã xuất hiện tràn lan trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp. Việc mở rộng thị trường quốc gia và quốc tế đã tạo điều kiện cho sự ra đời các tập đoàn lớn, các tờ rớt, các thể chế tài chính phức tạp khác cũng như vô số tổ chức lao động và nông nghiệp. Thành viên của các nhóm này chủ yếu bị thu hút bởi các ngành nghề chuyên biệt và vị thế được tăng cường mà chúng mang lại, nhưng khi đã được tổ chức và sắp xếp nhân viên, với thu nhập ổn định từ phí hội viên, các nhóm này đã hình thành nên cơ sở thiết chế bền vững để tham gia vào những lợi ích chính trị của các thành viên.

Sự biện hộ đa nguyên cho các nhóm lợi ích

Với sự xuất hiện của các hiệp hội chính trị ổn định như những người chơi chủ chốt trong nền chính trị quốc gia, các học giả bắt đầu nghiên cứu nhóm lợi ích. Một kết quả của việc này là sự biện hộ có tính hệ thống đầu tiên về vai trò hợp pháp của các nhóm lợi ích trong nền dân chủ hiện đại. Trường hợp này được minh chứng đầy đủ nhất bởi nhà khoa học chính trị David Truman trong cuốn sách rất có ảnh hưởng của ông nhan đề The governmental Process (Quy trình của chính phủ), xuất bản năm 1951. Truman coi việc phổ biến các nhóm lợi ích chính trị là hậu quả tất nhiên và phần nhiều là vô hại của sự phát triển kinh tế. Những nhóm này được hình thành tự phát bất cứ khi nào lợi ích chung của một nhóm bị đe dọa hoặc có thẻ được thúc đẩy bởi hành động chính trị. Xã hội công nghiệp hiện đại, đặc trưng bởi sự phân công lao động tinh vi hơn, trở nên bị chi phối bởi các lợi ích và bởi vậy cả các nhóm lợi ích. Do xã hội ngày càng trở nên phân mảng và đa dạng hơn, hệ thống các hiệp hội cũng trở nên đa dạng và tách biệt hơn.

Bởi các nhóm được tự do tổ chức và tham gia vào một hệ thống chính trị mở, quy trình chính trị đã cân bằng các nhóm lợi ích cạnh tranh nhau, như James Madison đã hứa hẹn. Nếu các nhóm đã được thiết lập vận động cho các chính sách đe dọa lợi ích của các công dân khác, những người bị đe dọa sẽ tổ chức lại để tự bảo vệ cho mình. Nhu cầu sẽ thúc đẩy nhu cầu đó kháng, do vậy các chính sách bao hàm rất nhiều những thỏa hiệp và nhượng bộ lẫn nhau cần thiết để xây dựng các liên minh thắng lợi ở trong và giữa các thiết chế chính trị. Nhận thức được rằng việc vươn cao quá mức có thể khích động sự phản đối, các nhóm được thiết lập đã thận trọng điều hòa nhu cầu của mình. Như vậy, những nhóm lợi ích chưa được tổ chức đã hạn chế các nhóm tích cực ngay cả khi chúng không được đại diện bởi những nhà vận động hành lang của riêng mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần cuối


Nghiên cứu về tư bản hiện đại không phải là điều dễ dàng vì nó đòi hỏi người ta phải biết vượt qua những quan niệm cũ, những suy nghĩ cũ. Để phát triển các loại tư bản mới, không thể sa đà vào những điều nhỏ lẻ mà phải có sự tập trung cao độ và điều phối linh hoạt. Các nước đang phát triển với tư cách là đối tượng tác động của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô ở các nước khác, biến nước mình trở thành nơi biến các loại tiền ảo thành tiền thật của các nước khác, biến tiền ảo thành tư bản. Sự phối hợp các tư bản lại với nhau trên quy mô quốc gia, mà biên giới quốc gia thời đế quốc chủ nghĩa mở rộng ra các nước thuộc địa là yếu tố hàng đầu để hiểu được sự thiết lập các kết hợp vĩ mô với những nguồn tài nguyên cần thiết cho các hoạt động kinh tế có thể chủ động được, và do đó tạo nên được mối quan hệ khiến cho kinh tế vĩ mô hoạt động được. Nhưng thời đại mới, kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải có những biện pháp khác để giành được sự chủ động, trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Kinh tế học siêu vĩ mô nghiên cứu về cách điều hành kinh tế liên quốc gia, khi có những tạo phẩm phi vật thể tác động vượt qua giới hạn biên giới quốc gia và thời gian cụ thể. Nền kinh tế phải phát triển các quan hệ qua lại đến mức nào đó thì kinh tế vĩ mô mới hoạt động được. Việc tạo ra các kết hợp vĩ mô, các mối quan hệ gián tiếp vượt qua không gian và thời gian cụ thể, vai trò của các tạo phẩm phi vật thể như chính sách tiền tệ, chính sách tài chính được khẳng định, tạo nên các kết hợp xã hội hoàn toàn mới. Nền kinh tế đạt được trình độ thị trường nhất định thì kinh tế siêu vĩ mô mới hoạt động được.

Những vấn đề kinh tế siêu vĩ mô cần phải được nhìn nhận khi nó tham gia vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo và thực hiện nhiều mục tiêu xã hội khác nhau. Thực ra nó không dẫm chân lên những lý thuyết vĩ mô hiện hành. Kinh tế học siêu vĩ mô chỉ ra cách gia tăng sức mạnh kinh tế nội tại và tận dụng được sức mạnh bên ngoài, nhất là sức mạnh kinh tế toàn cầu trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay.

Nếu như kinh tế vĩ mô có khái cạnh phủ định kinh tế thị trường, điều tiết kinh tế thị trường, thì kinh tế siêu vĩ mô phủ định kinh tế vĩ mô, đưa kinh tế thị trường lên trình động mới, trình độ phát triển các kết hợp có tầm vóc xã hội hóa cao hơn. Đó là sự phủ định của phủ định. Một khi phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì có các hình thái cổ phần hóa mới, diễn biến nhanh chóng hơn. Uy tín là tạo phẩm phi vật thể rất quan trọng đối với doanh nghiệp khiến cho doanh nghiệp buộc phải tìm cách giữ. Nếu doanh nghiệp bị công chúng trừng phạt thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có biện pháp trừng phạt riêng. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô có cách làm cho các doanh nghiệp trở nên năng động hơn, những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả sẽ xuống dốc không phanh giá trị cổ phiếu và ban lãnh đạo dễ bị thay thế, còn doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ được hỗ trợ để có sự phát triển phi thường. Với sự ban thưởng và trừng phạt tức khắc, khi giá cổ phiếu tăng vọt hay suy giảm rất nhanh chóng, kinh tế siêu vĩ mô đưa xã hội hoạt động sống động. Một điều đáng lưu ý là các nước thực hiện điều hành kinh tế siêu vĩ mô phát triển nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích cho sự phát triển kinh tế vượt bậc của họ, như mô hình “đàn sếu bay” của Kaname Akamatsu ở Nhật Bản, thuyết “các giá trị châu Á” của Singapore, và có những học giả còn viện dẫn nhiều thứ trong lịch sử như những giá trị của đạo Khổng trong sự phát triển thần kỳ của châu Á. Những lý lẽ, tư tưởng này được tuyên truyền để che đậy thực chất hoạt động kinh tế hiện hành ở các tầng mức khác nhau, và người ta cố gắng tìm những luận giải trong kinh tế vĩ mô để giải thích các tiến triển kinh tế hiện đại.

Phát hiện ra các sức mạnh kinh tế mới và tìm cách thức khai thác các sức mạnh đó là nhiệm vụ của kinh tế học siêu vĩ mô, và các điều đó không theo lối mòn cũ. Khi người ta ở đỉnh cao, có những quan niệm mới, người ta có cách xử lý nhanh chóng thông tin, phân loại chúng theo các tầm vóc nào đó. Những điều đó đem lại khả năng nâng lên trình độ mới cho các chi tiết nào đó. Phát triển con người là khâu yếu nhất mà kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô không giải quyết được, vì đó là những đầu tư không sinh lợi trong ngắn hạn. Lao động của con người sản xuất ra các thặng dư kết hợp có ý nghĩa xã hội. Điều cần thiết là mở ra môi trường mới cung ứng các nguồn lực cho sự phát triển.

Sức mạnh siêu vĩ mô làm được những gì? Với chủ nghĩa tư bản, người dân bình thường không cảm nhận sức mạnh siêu vĩ mô thì càng tốt.

Nước giầu mạnh có nhiều hành vi có ý nghĩa khác với nước yếu. Mỹ nhập siêu là để tiêu tiền USD ảo. Nước khác xuất siêu là biến tiền ảo thành USD. Nước Mỹ giảm thuế cho người giầu để lấy tiền đầu tư là lý do để mở đường cho việc bơm ra một lượng tiền ảo khổng lồ cho toàn thế giới, và đẩy xã hội Mỹ giàu lên cách biệt với thế giới.

Con đường để giành được sự thống trị của tư bản trước khi tìm ra được cách thức văn minh hơn là con đường của bạo lực tàn bạo, và chiến tranh thế giới là biểu hiện tột cùng của sự tranh giành giàu có. Những thành quả của sự phát triển đòi hỏi phải có cách bảo vệ thích hợp. Có những phát minh khiến người ta luôn luôn sẵn lòng công bố như những phát minh khoa học cơ bản. Nhưng những phát minh về cách thức mới để nô dịch người khác lại bị người ta giấu nhẹm đi. Trong cuộc chiến tranh kinh tế này người ta sử dụng các phương tiện tác động có tầm siêu vĩ mô.

Chúng ta thấy những lập luận triết chung kiểu như “Ai là chủ của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Những người cấp tiến cánh tả đã miêu tả một thế giới trong đó một nhóm người cực kỳ giàu có tích trự hết các cổ phiếu giống như một ông vua trong phòng kế toán của mình. Ở bên kia là huyền thoại về “chủ nghĩa tư bản nhân dân” do thị trường chứng khoán New York đưa ra, trong thế giới mộng tưởng này, mọi người đều có cổ phần và sẽ bỏ phiếu để bảo vệ tư hữu tài sản và lợi ích tư bản. Thực tế nằm ở một điểm nào đó giữa hai thái cực trên”. Nhưng miêu tả này hiện nay không đúng. Các trùm tư bản tạo ra tiền ảo. Việc nắm giữ cổ phiếu là ở trình độ quá thấp so với chủ nghĩa tư bản hiện đại. Khi sản xuất được tiền ảo thì muốn nắm giữ bao nhiêu cổ phiếu mà chẳng được, vì thế không nhất thiết phải giữ cổ phiếu để làm gì.

Kinh tế học siêu vĩ mô đem lại cách giải thích mới cho những vấn đề cũ như là tham nhũng chẳng hạn. Người ta không mất những gì người ta không có. Cái mà thất thoát đối với kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô thì đối với kinh tế siêu vĩ mô lại không mất đi đâu cả. Cái thất thoát đó tìm được sự hiện hữu. Vai trò của tiền ảo là tạo ra nạn tham nhũng của các nước trên thế giới đang phát triển, và đó là sự chia rẽ xã hội, không tạo nên được sự nhất trí trong xã hội đó và làm hạn chế tốc độ phát triển. Tham nhũng là công cụ chia để trị của tư bản đối với một xã hội, không để cho xã hội đó phát triển việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô nhằm phục vụ sự phát triển của mình đuổi kịp các nước phát triển, và xã hội đó muốn phải triển phải phục vụ lợi ích của tư bản của các nước phát triển hơn. Làm giầu trong thời đại ngày nay không phải là một tiến trình tự phát mà là tiến trình có sự chỉ đạo của chủ thể điều hành siêu vĩ mô.

Chừng nào một xã hội không phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô, thì xã hội đó không tự mình quyết định được tương lai của mình. Những nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có nhiều đảng phái khác nhau thường xuyên có sự thay đổi chính phủ vì chính phủ bất tài, không giải quyết được những vấn đề kinh tế gai góc đang hiện diện chứ không nói đến việc phát triển đuổi kịp các nước phát triển.

Nghiên cứu về các khủng hoảng, nghiên cứu về việc sử dụng kinh tế học siêu vĩ mô cho sự sử dụng vào các mục đích xã hội là các chủ đề quan trọng. Vấn đề tốc độ phát triển là một chủ đề đáng quan tâm.

Các cuộc khủng hoảng là sự xuất hiện của các loại tư bản mới, chèn ép các loại tư bản cũ, khẳng định vị thế chi phối, thống trị của chúng. Kinh tế học siêu vĩ mô tạo nên cơ chế hữu hiệu chống lại sự rủi ro bằng cách tìm ra những cách thức bù đắp lại sự rủi ro.

Đối với những nước đang phát triển chịu sự chi phối của các học thuyết kinh tế hiện nay, trong khi loay hoay tư bản vi mô bóc lột hay không bóc lột thì người ta để sổng luôn tư bản siêu vĩ mô và thặng dư kèm theo nó rơi vào tay tư bản nước ngoài. Cần phải có cách phân tích kinh tế để đưa những gì người ta vẫn quan niệm về kinh tế đến những giới hạn để thấy được rất nhiều sự vô căn cứ trong các quan niệm kinh tế đương thời, như quan niệm về hiệu quả kinh tế, về số lượng tiền cần thiết cho một xã hội, về cách chủ thể nào đó tạo nên được tiền mới…

Kinh tế học siêu vĩ mô xuất phát từ nên kinh tế thị trường hiện đại khi có rất nhiều thứ vật thể, phi vật thể, nhiều nguồn sản xuất ra các loại vật thể và phi vật thể tham gia vào quá trình trao đổi. Chính vì không thấy được nhiều loại hàng hóa hoàn toàn mới trên thị trường, nên nhiều nhà kinh tế đã bị hụt hơi trước sự phát triển của thực tiễn. Các nhà tư bản sẽ nói với các nhà kinh tế đó rằng: “Chúng tôi hoan nghênh tất cả những quan điểm mà đem lại sự bảo vệ quyền lợi và thống trị của chúng tôi. Các anh có lý thuyết dẫn đường để bảo vệ quyền lợi của các anh trong cuộc đấu tranh với chúng tôi, nếu các anh muốn nói như vậy, nhưng thực chất chúng lại bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của chúng tôi vì cái mà các anh muốn giành được từ chúng tôi thì lại là cái ảo, mà lúc nào chúng tôi cũng có sẵn không mất mấy công sức để tạo ra, còn các anh phải lao tâm khổ tứ, cố gắng giành giật, huy động hết sức người, sức của của các anh. Các anh càng tiết kiệm những gì các anh phải mua từ chúng tôi, phải mua từ bên ngoài và ra sức phát huy nội lực, sử dụng tài nguyên của các anh để đạt được tiền ảo thì càng tốt cho chúng tôi, càng đúng với ý đồ của chúng tôi. Hãy lao động chăm chỉ, sử dụng hết sức mình, sử dụng các thành quả của mình, chúng tôi mong đợi và hoan nghênh các anh”. “Chùng nào các anh không hiểu được tiền ảo, thự chất tiền ảo mà phải tự mình tổ chức lấy việc sản xuất ra tiền ảo, đưa tiền ảo đó thâm nhập được vào phía chúng tôi, dùng những biện pháp đó để giải quyết những vấn đề với chúng tôi thì chừng đó các anh là những nô lệ tự nguyện cho chúng tôi”.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Mối quan hệ biện chứng giữa một số lợi ích chủ yếu với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội – Phần I


Lợi ích chỉ xuất hiện và tồn tại trong đời sống xã hội. Nhưng các quan hệ giữa con người và con người vô cùng phong phú và đa dạng. Do vậy, các lợi ích và các mối quan hệ giữa chúng cũng được biểu hiện ra hết sức phong phú và đa dạng. Vì vậy, để khảo sát sự hiện diện của chúng, ta có thể phân loại các lợi ích theo một số cơ sở sau: theo lĩnh vực của đời sống xã hội ta có: lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; theo tính chất của chủ thể ta có: lợi ích của cá nhân và lợi ích của cộng đồng (trong đó có lợi ích tập thể, lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, lợi ích của toàn xã hội…) hay lợi ích riêng và lợi ích chung; theo thời gian tồn tại của lợi ích: lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài; theo tính chất của các biện pháp thực hiện lợi ích: lợi ích chính đáng và lợi ích không chính đáng…

Sự phân loại lợi ích phụ thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau và theo các khía cạnh khác nhau. Ở đây chỉ xin trình bày mối quan hệ qua lại giữa một số loại lợi ích chủ yếu.

I/ Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần

Con người là một sinh vật – xã hội. Do đó, để tồn tại và phát triển con người không những phải thực hiện những nhu cầu vật chất mà cả những nhu cầu tinh thần. Lợi ích với tư cách là các phương thức, phương tiện hướng vào sự thỏa mãn các nhu cầu của con người trong đời sống xã hội. Vì thế, các lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần cũng gắn bó với nhau hết sức chặt chẽ trong sự hình thành và phát triển hai mặt thống nhất của con người.

Lợi ích vật chất là những lợi ích dùng để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển đời sống sinh học của con người. Còn, lợi ích tinh thần là những lợi ích dùng để thỏa mãn các nhu cầu tinh thần, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển đời sống tinh thần của con người. Do sự thống nhất giữa hai mặt sinh học và xã hội nơi bản thân con người mà có thể nói rằng, các lợi ích vật chất có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc bảo đảm sự tồn tại của con người còn lợi ích tinh thần lại có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc phát triển nhân tính và văn hóa của con người và xã hội loài người.

Cũng bởi sự thống nhất giữa hai mặt sinh học và xã hội nơi bản thân con người nên ta không thể khẳng định một cách chung chung rằng giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, cái nào quan trọng hơn cái nào, hay lợi ích nào có ý nghĩa động lực mạnh mẽ hơn lợi ích nào. Để khẳng định những điều đó cần phải xem xét tương quan giữa chúng trong sự tồn tại hiện thực ở những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nói chung, lợi ích nào đang hướng vào thỏa mãn những nhu cầu cấp bách nhất của chủ thể hoạt động thì nó trở thành quan trọng nhất và cũng đóng vai trò động lực mạnh mẽ hơn cả.

Chẳng hạn, trong mấy chục năm qua, mục đích giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước đã lôi cuốn cả dân tộc ta lao vào hành động. Mục đích đó là sự phản ánh nhu cầu và lợi ích cấp bách của cả dân tộc trong suốt giai đoạn lịch sử ấy. Về mặt xã hội, rõ ràng đó là những nhu cầu và lợi ích mang tính chất chính trị và tinh thần. Nhưng, như thực tế lịch sử đã chứngt ỏ chúng là nguồn động lực vô cùng mạnh mẽ, tạo nên một sức mạnh tổng hợp kỳ diệu của cả dân tộc ta. Vào thời kỳ ấy, lẽ sống của mỗi người Việt Nam là “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Sau năm 1975, những nhu cầu và lợi ích cấp bách ấy đã được thỏa mãn. Lịch sử đã thay đổi. Con người đã thay đổi. Và, những lợi ích trước đây ở vị trí thứ yếu, bị lu mờ thì nay lại nổi lên là cấp bách và ở vị trí số một. Đồng thời, những chuẩn mực giá trị của xã hội cũng thay đổi. Nếu trước đây những giá trị đạo đức – tinh thần, những giá trị tập thể và phẩm chất tập thể của con người được tôn vinh và đề cao thì nay, trong cơ chế thị trường, những giá trị vật chất, những phẩm chất cá nhân và tự chủ lại hấp dẫn mọi người.

Thực là, cuộc sống như một dòng sông chảy liên tục, nó diễn ra chẳng theo ý chí của một cá nhân riêng lẻ nào nhưng hầu như lại phú hợp với đa số. Cứ thế, các quan hệ tất yếu quy định  đời sống con người như thể có bàn tay định mệnh dẫu rằng nó chính là kết quả của sự hoạt động của chính mọi người. Trong quá trình sinh sống của xã hội loài người sự chuyển đổi vị trí của các lợi ích của họ có lẽ là một sự biến thiên không ngừng.

Dĩ nhiên, trong tính tổng thể của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người thì, xét đến cùng, lợi ích vật chất bao giờ cũng quan trọng hơn lợi ích tinh thần bởi lẽ nó trực tiếp hướng vào thỏa mãn các nhu cầu mang tính chất quyết định sự tồn tại cái cơ chất mà trên cơ sở đó cái tinh thần nảy nở và phát triển. Đúng như Karl Marx đã từng chỉ rõ, “Con người trước hết cần phải ăn, uống, ở và mặc đã, rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…”.

Lợi ích vật chất do nhằm vào thỏa mãn những nhu cầu tồn tại thiết yếu của con người nên đối với những xã hội mới hoặc đang phát triển nó bao giờ cũng có ý nghĩa động lực mạnh mẽ nhất, có tác động chi phối những hoạt động căn bản của đời sống xã hội. Thế nhưng, một khi cả xã hội đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói, đời sống vật chất của các gia đình và xã hội nhìn chung đã ở mức cao thì lợi ích tinh thần sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn. Đó là do các nhu cầu vật chất đã được thỏa mãn ở một mức độ nhất định rồi nên tính chất cấp bách của nó không còn nữa và khi đó lại nảy sinh những nhu cầu mới – các nhu cầu tinh thần. Và các nhu cầu này lại trở nên là nhu cầu cấp bách hơn. Vì vậy, các lợi ích hướng vào thực hiện các nhu cầu này lại trở nên quan trọng hơn cả và mang ý nghĩa động lực mạnh mẽ hơn cả. Chẳng hạn, ở nước ta iện nay những gia đình có đời sống kinh tế ổn định, đủ ăn và có một chút dư thừa thì thường họ đầu tư cho con cái học hành, cho chăm sóc sức khỏe cũng như mua sắm các phương tiện nghe nhìn (tivi, radio, cassette…) nhằm thỏa mãn đời sống tinh thần của các thành viên gia đình.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, ta có thể thấy, quá trình thực hiện các lợi ích vật chất là từng bước tạo cơ sở và điều kiện để thực hiện các lợi ích tinh thần. Nhưng, như đã nói ở trên, các lợi ích tinh thần có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người. Chính nó tạo nên một môi trường sinh sống lành mạnh, con người được bình yên lao động và hưởng thụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình. Chắc chắn là không ai có thể sống giầu sang phú quý và hạnh phúc trong một môi trường bất ổn, tính mạng luôn bị đe dọa.

Ở một khía cạnh khác, ta sẽ thấy, thỏa mãn những lợi ích tinh thần ở những trình độ nhất định sẽ có tác động đến chủ thể trong việc hạn chế hay tăng cường những ham muốn vật chất theo những chuẩn mực giá trị nhân văn và tiến bộ của xã hội loài người. Nghĩa là, thực hiện các lợi ích tinh thần, nâng cao đời sống văn hóa sẽ tác động một cách tích cực đến quá trình nảy sinh và thực hiện các lợi ích vật chất theo xu hướng tiến bộ và phát triển xã hội văn minh.

Như vậy, trong sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân cũng như của cả xã hội, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau. Có thể nói, các lợi ích vật chất hướng vào thỏa mãn các nhu cầu về cuộc sống đầy đủ và ấm no của con người, còn các lợi ích tinh thần lại hướng vào xây dựng nhân cách, xây dựng một cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc của họ.

Dĩ nhiên, nếu xét đến cùng thì các lợi ích vật chất đóng vai trò quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi ích tinh thần. Và, thực hiện các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới trong sự nảy sinh cũng như làm xuất hiện những phương thức thực hiện các lợi ích vật chất mới.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Liệu chính phủ có thực hiện được đề án huy động vàng trong dân?


Tại phiên họp quý II/2017, ngày 1/7, Hội đồng Tư vấn chính sách tiền tệ, tài chính quốc gia kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành tiếp tục nghiên cứu cơ chế huy động vàng và USD trong dân. Theo ước tính của Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam, hiện người dân giữ khoảng 500 tấn vàng, tương đương 20 tỷ USD. Với số lượng vàng được cho là nguồn vốn nhàn rỗi lớn trong dân, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu đưa ra đề án để huy động vàng trong dân từ tháng 5/2012, kể từ khi Thủ tướng Chính phủ giao cho Ngân hàng Nhà nước chủ trì nghiên cứu đề án này, cho đến nay vẫn chưa tìm ra được một phương án thực thi cụ thể nào.

Vì sao Ngân hàng Nhà nước có quyết định thu hút nguồn vốn bằng cách huy động vàng và USD dự trữ trong dân, đài RFA đăng nhận định của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, cho biết hệ thống Ngân hàng Việt Nam không thiếu nguồn vốn. Ông Bùi Kiến Thành nói: “Hiện nay, hệ thống Ngân hàng Việt Nam không thiếu tiền, ngược lại đang dư tiền và chư tìm được khách hàng để cho vay. Ngân hàng Nhà nước vừa bán trái phiếu để bơm tiền vào, chứ không phải bơm tiền ra. Bây giờ huy động vàng hay huy động USD trong dân để làm gì, để tạo thanh khoản cho các Ngân hàng thương mại có vốn để cho vay hay không? Đó không phải là vấn đề, vì Ngân hàng Việt Nam không thiếu vốn”.

Theo phân tích của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành, một số chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế tài chính cho rằng chính phủ Hà Nội sẽ quyết tâm theo đuổi thực hiện chính sách huy động vàng và USD trong dân bởi tình hình ngày càng khó khăn trong ngành ngân hàng cũng như nợ xấu và nợ công của Việt Nam đang ở mức rất cao, 63,7% GDP vào cuối năm 2016, và dự báo có thể đạt đỉnh trong 2 năm liền sau đó.

Nợ xấu của Việt Nam đang ở mức 900.000 tỷ đồng, trong đó, Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đã mua lại 300.000 tỷ đồng nợ xấu của các Ngân hàng thương mại cổ phần trên phương diện giấy tờ. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang ở giai đoạn đến hạn trả nợ gốc lẫn lãi từ 10 – 12 tỷ USD cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), kể cả Nhật Bản và một số nước khác trong bối cảnh ngân sách nhà nước bị thâm hụt nặng nề.

Báo cáo của Tổng cục Thống kê Việt Nam cho thấy số liệu tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng 7/2017 ước đạt gần 667.000 tỷ đồng, bằng 55% dự toán năm. Theo các chuyên gia kinh tế, dự đoán cuối năm 2017, nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ thiếu hụt khoảng 11%, tương đương 130.000 tỷ đồng, trong khi bội chi ngân sách vẫn chiếm gần 5% GDP, khoảng 250.000 tỷ đồng và Quỹ dự trữ ngoại hối công bố hiện có 42 tỷ USD.

Các chuyên gia kinh tế cũng ghi nhận từ đầu năm 2017 đến nay, Ngân hàng Nhà nước in tiền đồng để thu gom USD, chỉ đạt được khoảng 1 tỷ, đây là con số rất khiêm tốn đối với nhu cầu sử dụng ngoại tệ của Việt Nam. Chuyên gia Kinh tế Bùi Kiến Thành nhấn mạnh Chính phủ cần tìm hiểu rõ nguồn tiền USD trong dân như thế nào thì mới hoạch định được chính sách tương ứng: “Ngân hàng Nhà nước với lãi suất bằng 0 đối với đồng USD gửi trong tài khoản, người ta không gửi USD trong tài khoản nữa mà lại chuyển sang tiền đồng Việt Nam để gửi vào tài khoản với lãi suất 5 – 6%. Như vậy, theo Ngân hàng Nhà nước, không còn bao nhiêu dự trữ USD trong nhân dân để huy động. Cho nên cần làm rõ nhân dân còn có tiền để huy động hay không trước khi có chính sách để huy động”.

Liên quan đến việc huy động 500 tấn vàng trong dân gặp phải sự phản đối của giới chuyên môn vì không khả thi, do thói quen của dân chúng là dành dụm mua vàng và cất giữ bên mình để phòng thân. Một phương án mang tính khả thi được các chuyên gia kinh tế nêu lên để có thể thu hút người dân đem vàng và đồng USD gửi tín dụng là tăng lãi suất. Thế nhưng, từ góc độ khách quan, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hoa Kỳ nhận định phương án tăng lãi suất cũng không mang lại hiệu quả.

Theo ông Nguyễn Xuân Nghĩa, thứ nhất, chính phủ Việt Nam đang xem xét và tiến hành áp dụng giảm lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay; thứ hai, mức độ tin cậy của dân chúng vào hệ thống ngân hàng Việt Nam rất thấp, hay thậm chí không còn tin tưởng do quá nhiều vụ bê bối, như chuyện viện trợ của Australia với đồng polymer và cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình đang bị điều tra.

Trước tình hình kinh tế tài chính hiện tại của Việt Nam mà một số nhà quan sát đánh giá là hoàn toàn bế tắc, ông Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng Chính phủ Hà Nội sẽ không thể đưa ra được bất kỳ phương án khả thi nào khác trong việc huy động vàng hay đồng USD trong dân. Ông nói: “Nếu dùng biện pháp có tính chất hành chính và cưỡng ép để bắt dân phải đem tiết kiệm của họ dưới dạng USD hay vàng, việc đó không những đi ngược lại quy luật kinh tế, còn gây ra những tác động về chính trị và hậu quả sau cùng là người dân càng giấu nhiều hơn và chính quyền càng lộ ra bị hết tiền nên tìm cách lấy tiền của dân. Việc huy động này phản tác dụng”.

Tiến sĩ Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khẳng định việc huy động như thế là không thực tế. Theo ông, người dân sẽ tự đầu tư một khi môi trường đầu tư thuận lợi và chính phủ phải tạo ra môi trường đầu tư thuận lợi đó. Tiến sĩ Võ Trí Thành, nguyên Phó viện trưởng CIEM cho rằng việc huy động vàng trong dân để giúp tạo nguồn lực phát triển kinh tế chỉ có thể thực hiện được một khi Việt Nam thực sự hội nhập và thu hẹp khoảng cách với sự phát triển của thế giới.

Nguồn: TKNB – 11/08/2017