Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần II


Giá trị đích thực của các xí nghiệp này theo thời giá thị trường không dưới một nghìn tỷ USD. Thế mà các liệu pháp sốc chỉ bán với 7,2 tỷ USD, rẻ hơn 150 lần.

Các tay anh chị địa phương cũng kiếm khá. Xí nghiệp chế bịt Ostankino mua một dây chuyền hiện đại vào năm 91 – 92 với giá 35 triệu USD, được chúng bán lại với giá 3,1 triệu USD.

Nga bị cướp giữa ban ngày, nhưng chỉ mới khởi đầu. Chỉ mấy năm sau cải tổ, cải cách, tư hữu hóa, nền kinh tế Nga từ chỗ đứng thứ 2 thế giới rơi xuống hàng các nước chậm phát triển.

GDP năm 96 kém 3 lần so vớ 85, sản lượng công nghiệp tụt giảm 5,5 lần, nông nghiệp giảm 4 lần, lương thực giảm 5,5 lần, nhập khẩu giảm 2,8 lần, xuất khẩu giảm 1,5 lần, sản lượng Nga trên trường quốc tế giảm 3 lần. Nhưng Nga giành kỷ lục về lạm phát – 1700 lần và về mức sống – giảm hơn 2 lần. Mọi lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đều bị phá hủy.

Chính IMF, cơq uan kiểm soát và chỉ đạo mọi quá trình kinh tế của Nga, là kẻ tòng phạm phá hủy nền kinh tế Nga. Hình 1 nêu biểu đồ hiệu quả kinh tế Nga (đầu tư, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp) lấy từ nghiên cứu. Nó thể hiện rõ thảm họa. Nga bị đẩy lùi về quá khứ 40 năm tính từ thời điểm này. Lịch sử đương đại chưa từng có chuyện đó. Xin dẫn thêm một số số liệu:

Nếu lấy hiệu quả sản xuất làm chỉ số cải cách thị trường thì sản xuất công nghiệp bị giảm sút chưa từng thấy. Tổng sản lượng năm 1995 chỉ đạt 50% năm 1990. Các nhà cải cách đổ lỗi cho kinh tế cạnh tranh kém. Phần nào đúng như vậy, nếu nói về công nghiệp nhẹ, nhưng tổng quát lại, sản xuất giảm ở các ngành có lợi nhuận cao.

Thời kỳ 90 – 95 khai thác dầu giảm 41%, khí đốt giảm 7%, than (cho nhu cầu nội địa) giảm 33%, điện giảm 23%, – tức tất cả các ngành thu ngoại tệ. Xí nghiệp thua lỗ trong công nghiệp chế biến dầu tăng 4,6 lần, khí tăng 2,3 lần, luyện kim tăng 2,1 lần.

Năm 1995 so với năm 1990 sản xuất hàng hóa cạnh tranh đạt (%): – luyện kim và chế máy: thép cán giảm 71%, dây chuyền chế tạo máy giảm 9%, máy đột dập giảm 11%…

Cả những ngành sản xuất được gọi là con gà đẻ trứng vàng như khai thác kim cương, một ngành trước kia mang lại siêu lợi nhuận cho Nga, sau 3 năm cải cách, nó rơi vào nợ nần vô vọng (Báo Tin tức ngày 2 tháng 8 năm 1996). Khai thác vàng cũng bị lỗ.

Sản xuất bia rượu cũng giảm. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 96 đã giảm 45%. Chính mặt hàng này có thời chiếm đến 1/3 số lượng ngân sách Nhà nước thu được”.

Nếu nói đến bức tranh toàn cảnh hoạt động của các “nhà cải cách”, có thể gọi đó là hệ thống phá hủy tổng thể nền kinh tế họ dùng khẩu hiệu cần loại bỏ Nhà nước khỏi quản lý kinh tế quốc dân. Kết quả là kinh tế trở nên hỗn loạn và mất cân đối nghiêm trọng giữa trị giá sản phẩm công nghiệp và giá cả. Sự thua lỗ nhiều ngành tạo ra phản ứng dây chuyền lạm phát và mất khả năng chi trả. Không có đổi mới trang thiết bị. Đầu tư cơ bản chỉ đạt 1/4 so với năm 1991 và đừng nói gì đến hiện đại hóa, ngay cả đảm bảo sản xuất cũng khó.

Nơi bị các nhà “cải cách” đánh tàn tệ nhất là việc sản xuất công nghệ và thiết bị hiện đại nhất, là các cán bộ trình độ giỏi nhất. Phần lớn các tập thể Công nghiệp Quốc phòng giỏi nhất bị giải tán. Thị trường hàng tiêu dùng lệ thuộc nhiều vào phương Tây. Công nghiệp nhẹ và dệt sút giảm hơn 80%. Nhiều nhà máy chế tạo vật liệu chiến lược bị bán thẳng cho phương Tây. Họ hướng tới các ngành khai thác nguyên liệu vốn ít bị sút giảm nhất.

Những năm gần đây, hệ thống giá cả thế giới, trên thực tế là cơ chế thương mại quốc tế nhằm mang lại lợi nhuận một chiều cho phương Tây, ngày càng bành trướng. Khác với giá cả thị trường nội bộ một quốc gia, giá quốc tế nảy sinh không ngẫu nhiên và không liên quan đến chi phí lao động trung bình, mà do các nhà chính trị và áp đặt có chủ định bằng vũ lực. Trong điều kiện đó, tăng trưởng thương mại quốc tế chỉ có lợi cho những nước đủ sức áp đặt giá cả. Như vậy, giá nguyên, nhiên liệu sẽ giảm liên tục, giá lương thực, thực phẩm tăng. Nguyên liệu Nga do nhu cầu trong nước giảm phải bán ra nước ngoài và giá sẽ giảm, mất lợi nhuận. Giá nguyên liệu sẽ xuống gần trị giá và Nga trở thành kẻ lao động nô lệ. Lao động chỉ để nhận được mỗi khoản tiền công. Tất cả điều đó được che giấu bằng các khẩu hiệu “hội nhập kinh tế thế giới”, “buôn bán cùng có lợi”, “thị trường quốc tế tự do”, “toàn cầu hóa kinh tế”.

Thủ tiêu nông nghiệp

Đến thời điểm này, nông nghiệp bị phá tận gốc. Trước 1991, do khô hạn, trình độ cơ giới hóa cao và một vài yếu tố khác, nông nghiệp Liên Xô dù thua kém một số nước về năng suất nhưng hoan toàn không thua kém bất kỳ nước phương Tây nào về hiệu quả nhờ tận dụng tiềm năng đất đai – khí hậu tới 70 – 80%. Bằng hàng loạt biện pháp, các nhà cải cách đã làm cho nông nghiệp phá sản. Có thể coi đó là nạn diệt chủng kinh tế. Bắt đầu từ năm 1992, sản lượng nông nghiệp giảm đều đặn 15 – 20%/năm. Ngũ cốc giảm trong 4 năm từ 130 xuống 63,5 triệu tấn. Máy móc kỹ thuật nông nghiệp thời kỳ 1990 – 1994 giảm: máy kéo 85%, ô tô 91%, gặt đập liên hợp 76%…

Sản xuất tập thể đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm cho đất nước bị phá vỡ. Trước nạn diệt chủng, nông nghiệp Liên Xô đứng thứ hai thế giới, và đứng đầu châu Âu. Liên Xô đứng đầu thế giới về sản lượng lúa mì, củ cải đường, khoai tây, sữa. Theo số liệu của Liên hợp quốc, các nông trường, nông trang Liên Xô đủ sức nuôi 800 triệu người. Giá bánh mình Liên Xô rẻ nhất thế giới. Quá trình tiêu diệt nền nông nghiệp của các nhà cải tổ vẫn còn tiếp tục. Đất tiếp tục thoái hóa do không được bón phân. Thủy lợi bị phá bỏ. Máy móc nông nghiệp hư hỏng dần không có thay thế, sản xuất nông nghiệp giảm sút vì thiếu máy móc và xăng dầu. Đầu tư giảm 7 lần.

An ninh lương thực bị đe dọa nghiêm trọng:

Chúng ta hiểu an ninh lương thực là khả năng nhà nước bảo đảm đầy đủ và ổn định lương thực cho nhân dân không phụ thuộc vào tác động của các ảnh hưởng và đe dọa bên trong và bên ngoài. Khả năng đó là một trong những yếu tố cần thiết của chủ quyền quốc gia và bảo đảm các quyền công dân cơ bản”.

Đối với các nước phát triển, giới hạn nhập lương thực không được vượt quá 25 – 30%. Nga ngay năm 1995 đã phải nhập hơn 40% lương thực. Nga đánh mất an ninh lương thực với đường lối hiện nay sẽ bị lệ thuộc nước ngoài. Quá trình thủ tiêu nông nghiệp vẫn tiếp diễn. Burdukov viết về cơ chế thủ tiêu chăn nuôi như sau:

Chỉ sau 3 năm, nhập khẩu thịt tăng 600%, gia cầm tăng 800%, bơ 320%. Khuynh hướng đó đang tiếp tục tăng. Nông nghiệp chỉ đóng góp ngân sách 3% so với 19% trước kia, tức giảm 6 lần! Té ra, khủng hoảng bơ là nhân tạo. Hàng ngàn tấn bơ do ta sản xuất nằm chết gí trong kho từ năm 1994, không được tiêu thụ. Giá bơ bị thổi phồng, gia súc bị giết mổ. Giờ đây cứ thử nhìn xem, trong các cửa hàng thịt không tìm đâu ra hộp thịt lợn, trong khi thịt bò chất đống. Vì sao? Không có thức ăn, lợn bị bỏ đói, bò bị giết”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Advertisements

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô – Phần VI


Nhu cầu về các loại tư bản thuộc những đẳng cấp cũ không phải là vô hạn mà là có giới hạn. Khi số lượng các đồng tiền này đạt tới những giới hạn nhất định thì lạm phát bùng nổ, dẫn tới sự đổ vỡ của các loại tư bản cũ. Sự đổ vỡ của tư bản cũ kéo theo những hậu quả xã hội trầm trọng như nạn thất nghiệp, giá cả leo thang, mà lúc đó rất nhiều người có ý thức về sự thiệt thòi của mình sẽ dẫn đến những xáo động xã hội. Cách thức duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là phải duy trì được mức phát triển tư bản sang những đẳng cấp mới.

Vì tư bản xuất phát từ tiền ảo là tư bản ứng trước, vậy nó có thời gian tính, nếu sự phát triển chậm hơn những gì đã ứng trước thì có sự dồn tích tư bản, gây ra những vấn đề dẫn tới khủng hoảng. Trong tiến trình khủng hoảng, việc tạo ra tiền lại bị giới hạn thì có những ngân hàng sẽ không có đủ khả năng giải quyết khó khăn của mình, dẫn đến tình trạng phá sản hàng loạt.

Các nước lớn tìm cách hạn chế việc tạo tiền ảo của nhau, hạn chế việc biến các loại tiền ảo đó thành tư bản hậu công nghiệp có đẳng cấp cao. Tiền ảo không dễ mua được các cổ phiếu khi đã phát hành đợt đầu của các công ty cổ phần của các nước khác. Việc các nước mua trái phiếu của chính phủ Mỹ bằng USD, mua tài sản của nước Mỹ là để ép Mỹ có biện pháp hạn chế bớt việc tạo ra tiền ảo và biến ảo thành thật. Nó làm cho tư bản Mỹ phải tính tới các yếu tố có khả năng gây ra khủng hoảng cho chính nước Mỹ.

Các nước tư bản phát triển các biện pháp chống rửa tiền tạo thành tiền của họ từ các nước khác, từ các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước khác, đặc biệt ngăn cản các đồng tiền ảo có thể tiếp cận được các nguồn tài sản thực như các công nghệ cao, các nhà máy, hay các tài sản mà cần có một số lượng tiền lớn mới mua bán được như các trang thiết bị lớn. Tư bản từ đồng tiền ảo sử dụng các nguồn lực của các nước nhận đầu tư, hầu như không sử dụng gì đến các tư bản đẳng cấp cao như công nghệ cao, công nghệ đầu nguồn của các loại tư bản ở đảng cấp cao, như xây dựng khách sạn, đầu tư vào bất động sản và các loại hình kinh doanh khai thác thị trường của các nước sở tại. Xét đến đầu tư của các trung tâm tài chính hải ngoại thì Mỹ là nước có đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm vị trí thứ ba ở Việt Nam chứ không phải là nước đứng hàng thứ mười một như thống kê hiện nay.

Việc tạo ra tiền có những giới hạn của nó. Trước hết tổng lượng các đồng tiền đó phụ thuộc vào đẳng cấp tư bản của nước có đồng tiền đó. Các đồng tiền này chỉ biến thành các loại tư bản mà nước đó đã đạt được, không lan tỏa ra các đẳng cấp khác được. Việc tạo ra tiền luôn luôn làm cho thế giới ở trong nguy cơ thừa tiền. Điều khó khăn là không để xã hội mất niềm tin về chuyện thừa tiền, vì như thế làm mất luôn giá trị chung của đồng tiền. Các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của mỗi nước cạnh tranh với nhau, và sử dụng những biện pháp tổng hợp để triệt hạ nhau, song cũng thỏa thuận phân chia thế giới theo từng đẳng cấp tư bản khác nhau. Các chủ thể này có những biện pháp ngăn ngừa việc tạo ra tiền ảo của nước mình do các chủ thể khác tạo ra chỉ hoạt động giới hạn ở những đẳng cấp tư bản nhất định. Vì thế những khoản thanh toán lớn phải chịu sự kiểm soát thông qua yêu cầu phải nhận được sự bảo lãnh nào đó thì mới có thể thực hiện được. Ngoài ra, chu trình tạo ra tiền ảo của các nước khác phụ thuộc vào đẳng cấp tư bản, vào các khả năng thâm nhập vào các vùng địa lý và lãnh thổ của các doanh nhân khi đầu tư trực tiếp.

Khi kinh tế đất nước phát triển, người ta cần rất nhiều chuyên môn mới, cần rất nhiều người tài thì người ta dùng tiền ảo đầu tư cho giáo dục để nâng mặt bằng dân trí lên, nhưng để đạt tới đỉnh cao trong các chuyên môn nhất định thì người ta cần phải tạo nên một môi trường mới đòi hỏi những người có tài phải nỗ lực nâng mình lên để đáp ứng nhu cầu đó, không phải là cứ có tiền mà làm được.

Việc tạo ra tiền ảo gây ra những vấn đề xã hội mà nếu không xử lý thích đáng thì sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng. Về góc độ xã hội thì xuất hiện hiện tượng mới của tham nhũng. Do lượng tiền ảo ngày càng nhiều đổ vào các nước đang phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, nên đã tạo cơ sở cho hiện tượng tham nhũng phát triển tràn lan. Trong kinh tế siêu vĩ mô có quan niệm mới về sự thất thoát các nguồn lực. Tham nhũng đồng tiền thuế của dân và tham nhũng đồng tiền ảo là hai việc khác hẳn nhau, song chúng đều làm rộng ra các khoảng cách bất bình đẳng xã hội. Điều này đòi hỏi chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải có cái nhìn toàn diện về các vấn đề kinh tế xã hội khi tạo ra tiền ảo và biến chúng thành tư bản.

Để phát triển kinh tế bền vững, vượt qua được các giới hạn mà điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại, vượt qua được những ảo thuật về tài chính tiền tệ của nền kinh tế hiện đại thì cần phải đạt được những gì thực chất, tức là phải đạt được trình độ cao trong việc sản xuất các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, đạt được đẳng cấp cao hơn của tư bản hậu công nghiệp.

Nhật Bản và Trung Quốc có các đồng USD không dùng đến vì có cách sản xuất ra các đồng USD ảo dùng ở các nơi khác, nên các nước này gửi đồng USD thật vào Mỹ. Số lượng đồng USD của Trung Quốc tiêu được trên đất Mỹ là một lượng nhất định, không vượt quá được lượng nhất định đó.

Vấn đề là làm thế nào để tiêu hóa được tiền ảo. Quy mô xã hội tiêu hóa tiền ảo là gì? Khủng hoảng ở Argentina năm 2001 là do nước này đã không tạo ra được những đẳng cấp tư bản cần thiết tương ứng với số tiền ảo đã được tạo ra và được đưa vào từ nhiều nguồn khác nhau. Một khi đã tạo ra được tiền ảo thì vấn đề đặt ra là phải giữ được giá trị tiền ảo để kiểm soát được sự lạm phát, và phải làm cho quảng đại quần chúng thấy rằng kiếm tiền là việc khó khăn và thường xuyên nâng ngưỡng giàu của xã hội lên để cho người dân có động lực phấn đấu. Vấn đề đặt ra là một xã hội chấp nhận được lượng tiền bao nhiêu, mà vượt số đó sẽ dẫn tới khủng hoảng. Do số lượng tiền ảo khổng lồ đã và đang được tạo ra và tương quan của số lượng đó với tài sản của những doanh nghiệp hoạt động bình thường trong các nền kinh tế không thể là quá lớn và nhanh chóng tích tụ trong thời gian ngắn nên các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải thành lập rất nhiều doanh nghiệp, rất nhiều tổ chức mới để phân tán lượng tiền ảo khổng lồ đó.

Vì sản xuất ra được tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản nên kiếm tiền không phải là mục đích của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Mục đích của chủ nghĩa tư bản hiện đại là tìm mọi cách để việc gia tăng lượng tiền thuộc các chủng loại khác nhau của nó được các xã hội nào đó chấp nhận, do đó cần phải áp đặt các giá trị của mình cho xã hội, biến những thứ ảo thành thật, biến tiền ảo thành tư bản, qua đó không những bóc lột giai cấp vô sản ở chính quốc, mà đã mở rộng ra những giai tầng xã hội mới, và bóc lột các dân tộc khác với quy mô chưa từng có. Việc áp đặt này theo những con đường rất khác nhau, mà chủ yếu làm cho việc kiếm tiền của các nước phát triển kém hơn trở nên rất khó khăn, vì thế không lấy gì làm lạ là mặc dù nhiều nước mở rộng cửa đón nhận đầu tư nước ngoài mà các đầu tư đó không vào.

Các nước phát triển dùng đạo luật chống bán phá giá để ngăn chặn việc biến tiền ảo của các nước khác thành tiền của nước mình.

Vai trò của ngân hàng không còn như trước nữa, hoạt động của ngân hàng không còn tài trợ cho các đại công ty nữa, mà chủ yếu phục vụ cho các công ty vừa và nhỏ, và các cá nhân và hộ gia đình.

Thời của Lenin là mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản với nhau. Có những mâu thuẫn lớn hơn là mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ một nước, khi cả một nước là đối tượng nô dịch mới của các trùm tư bản nước ngoài, nơi mà tiêu thụ tiền ảo.

Nếu như trước đây, các thế lực trùm tư bản phân chia của ăn cướp bao giờ cũng là việc khó khăn thì hiện nay với sự sản xuất ra tiền ảo, tính chất của ăn cướp cũng khác đi, người ta phân chia những thứ mình không có, nhưng lại có thể biến thành có trong tương lai. Sự phân phối cũng phải quan niệm khác đi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Cần thừa nhận vai trò của Trung Quốc trong quản trị toàn cầu


Javier Solana

Rõ ràng biến động địa chiến lược nổi bật nhất trong hai thập niên vừa qua là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy vậy, phương Tây lại không thể chấp nhận việc Trung Quốc có một tầm ảnh hưởng tương xứng với sức mạnh của nước này trong hệ thống quản trị toàn cầu ngày nay, chưa nói đến các nền kinh tế lớn mới nổi khác. Nhưng điều này có khả năng sẽ phải thay đổi.

Hiện nay, Trung Quốc dựa vào các dàn xếp song phương để tăng cường can dự vào các quốc gia khắp châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Được hậu thuẫn bởi lượng dự trữ ngoại hối 3,8 nghìn tỉ USD, Trung Quốc đã cung cấp các khoản đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng để đổi lấy hàng hóa, qua đó biến mình trở thành nước cung cấp tài chính lớn nhất cho các nước đang phát triển, với việc Ngân hàng Phát triển Trung Quốc hiện đã cho vay nhiều hơn cả Ngân hàng Thế giới.

Tuy vậy, do được thực hiện bởi các tập đoàn nhà nước, những thỏa thuận nói trên vẫn thường không tuân thủ các quy chuẩn quốc tế chung. Phương Tây vì thế đã thúc giục Trung Quốc hướng tới các tiến trình đa phương vốn đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời mở rộng cung cấp hàng hóa công toàn cầu. Tổng thống Mỹ Barack Obama thậm chí đã gọi Trung Quốc là “kẻ ngồi không hưởng lợi” vì nước này không màng đến trách nhiệm được kỳ vọng đối với một cường quốc toàn cầu.

Thế nhưng, nếu những sáng kiến chính sách ngoại giao gần đây của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ám chỉ điều gì đó, thì có lẽ đó là thay đổi trong tương lai gần. Tháng Bảy năm 2014, Trung Quốc khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới của năm nước khối BRICS (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, và Nam Phi) và đóng góp một khoản đáng kể vào số vốn 100 tỉ USD của ngân hàng này.

Tương tự, tại cuộc họp gần nhất của Diễn đàn hợp tác Á-Âu tại Bắc Kinh, Trung Quốc lại khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB). Nước này đã thiết lập một Quỹ Con đường Tơ lụa trị giá 40 tỉ USD, nhằm phục vụ tham vọng tái tạo lại con đường nối liền châu Á với châu Âu cả trên đất liền và trên biển.

Để theo đuổi chiến lược với tên gọi “Một vành đai, Một con đường”, Trung Quốc sẽ tiếp tục các khoản đầu tư có ảnh hưởng tới khoảng 60 nước, bao gồm cả khu vực Trung Á, nơi Trung Quốc đã rút hầu bao ra chi tới hơn 50 tỉ USD cho các dự án ở đây. Tuyến đường trên biển sẽ bao gồm cả Ấn Độ Dương, biển Đông (biển Nam Trung Hoa), và biển Địa Trung Hải. Khi hợp thành một thể, đây sẽ không đơn thuần là một con đường, mà là một mạng lưới xúc tiến trao đổi cả hàng hóa và sáng kiến giữa hai châu lục.

Trong sáng kiến này, châu Âu đã có vai trò quan trọng hơn khi Cảng Piraeus – Hy Lạp, nơi có sự tham gia vận hành của Công ty Vận tải biển Trung Quốc COSCO, được xác định là một điểm dừng trong tuyến đường tơ lụa trên biển. Những cơ sở hạ tầng được Trung Quốc đầu tư xây dựng tại Balkans và Hungary sẽ giúp nối liền Cảng Piraeus với các khu vực khác của châu Âu, củng cố thêm vai trò của Trung Quốc như một đối tác thương mại chính của EU.

Sáng kiến Con đường Tơ lụa Mới tái khẳng định tham vọng của Trung Quốc trong việc biến mình thành một cường quốc ở lục địa Á Âu. Con đường ấy sẽ không chỉ kết nối các nền kinh tế năng động tại Đông Á với Tây Âu, mà còn vươn tới các quốc gia Trung Á – nơi mà tầm ảnh hưởng của Nga đang trên đà sụt giảm. Sáng kiến này cũng có thể giúp xoa dịu các căng thẳng về tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng của mình.

Cho đến nay, những nỗ lực tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc dường như đang phát huy hiệu quả, không chỉ trong khối các nước đang phát triển. Gần đây Vương quốc Anh đã tuyên bố ý định tham gia với tư cách là một thành viên sáng lập AIIB, khuấy động một trào lưu xin gia nhập  từ nhiều nước như Úc, Braxin, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, nước Mỹ lại coi những bước đi ấy là trở ngại về mặt địa chính trị cho mình. Quan điểm này về cơ bản là một sai lầm. Xét đến cùng, chính việc các nước phát triển từ chối trao cho Trung Quốc vai trò tương xứng với sức mạnh kinh tế của nước này đã đẩy Trung Quốc tới quyết định bỏ qua các định chế tài chính quốc tế ra đời sau Thế chiến II.

Lấy ví dụ như trong trường hợp Ngân hàng Phát triển châu Á, Nhật Bản và Mỹ mỗi bên luôn nắm giữ 13% số phiếu biểu quyết, trong khi con số này của Trung Quốc chỉ là chưa đầy 6%, chưa kể đến việc chủ tịch Ngân hàng luôn là người Nhật Bản. Tương tự, người nắm quyền cao nhất ở Ngân hàng Thế giới luôn là người Mỹ, và Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế luôn là người châu Âu. Kể cả khi khối G-20 có một bước đi nhỏ đúng hướng là đồng ý tăng tỉ lệ phiếu bầu của Trung Quốc từ 3,65% lên 6,19% vào năm 2010, Quốc hội Mỹ lại từ chối phê chuẩn thỏa thuận này, chặn đứng việc tiến hành những cải cách đó.

Sự thật ở đây là sáng kiến mới của Trung Quốc không mang tính xét lại, mà là phản kháng. Nếu các cường quốc mới không được tiếp cận các kiến trúc quản trị toàn cầu đang tồn tại, họ sẽ tự tạo ra các hệ thống khác cho riêng mình. Điều này cũng có nghĩa là các nước phát triển có khả năng ngăn chặn việc trật tự thế giới bị vỡ vụn thành nhiều khối tư tưởng và kinh tế – nhưng chỉ khi họ có thể vượt qua sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc.

Theo đó, sự tham gia của các nước châu Âu vào AIIB là một bước đi tích cực, vì nó giúp đảm bảo rằng ngân hàng mới này sẽ hỗ trợ chứ không cạnh tranh với các thể chế tài chính hiện hành. (Thực tế, ảnh hưởng của châu Âu sẽ còn lớn hơn nữa nếu bản thân liên minh này, chứ không phải các nước thành viên đơn lẻ, có được sự hiện diện ở AIIB, như đã có ở G-20 và Tổ chức Thương mại Thế giới.)

Phương Tây phải làm nhiều điều, không chỉ là chào mừng Trung Quốc tham gia vào hệ thống quản trị toàn cầu, mà còn phải thừa nhận và hợp tác với các định chế mà Trung Quốc đang kiến tạo nên. Chỉ có thể bằng thái độ cởi mở, phương Tây mới có thể đảm bảo rằng những thể chế do Trung Quốc dẫn dắt sẽ áp dụng các quy chuẩn về đa phương hóa và trách nhiệm giải trình, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và môi trường.

Hiện tại là thời điểm lý tưởng để bắt đầu những công việc đó. Vì nếu châu Âu, Mỹ, và Trung Quốc có thể dung hòa các ý định của mình sao cho phù hợp với các lợi ích chung trong năm nay thì họ sẽ ở tư thế sẵn sàng để tận dụng tối đa Hội nghị thượng đỉnh G-20 tại Trung Quốc vào năm 2016.

Việc Trung quốc tham gia vào các tiến trình đa phương là một tín hiệu tích cực đối với thế giới. Châu Âu – và đặc biệt là nước Mỹ – phải vượt qua được sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc. Để tối đa hóa việc chia sẻ lợi ích, họ không được phép phung phí cơ hội tham gia vào và định hình các tiến trình này.

Biên dịch: Nguyễn Thị Thanh Xuân | Hiệu đính: Phạm Trang Nhung

Nguồn: Javier Solana, “China and Global Governance”, Project Syndicate, 30/3/2015

Javier Solana nguyên là Đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu phụ trách chính sách Đối ngoại và An ninh, Tổng thư ký NATO, và nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần IX


h/ Lý thuyết về mô hình phát triển ở các nước châu Á gió mùa

Lý thuyết này do nhà kinh tế học Nhật Bản Harry Toshima trình bày trong cuốn Tăng trưởng kinh tế ở châu Á – gió mùa. Theo H. Toshima, lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên của A. Lewis cho rằng, việc tăng trưởng kinh tế do chuyển lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp mà không làm giảm sản lượng nông nghiệp là không đúng đối với các nước nông nghiệp châu Á – gió mùa. Khác với phương Tây, ở các nước châu Á – gió mùa có hiện tượng thiếu lao động nông nghiệp trong thời vụ đỉnh cao, nhưng lại thừa lúc nông nhàn. Vì vậy, để phát triển, các nước này phải giải quyết các vấn đề theo một trình tự nhất định. Đó là: một mặt, giữ nguyên lao động trong nông nghiệp, tạo thêm việc làm trong thời kỳ nhàn rồi để tăng sức cầu cho nông nghiệp bằng các hoạt động đầu tư của nhà nước như thủy lợi, giao thông, phát triển công nghiệp địa phương… Mặt khác, đa dạng hóa sản xuất để ổn định và tăng thu nhập cho nông dân do tính thời vụ và tính phức tạp của thời tiết, qua đó mở rộng thị trường cho nông nghiệp. Nhờ cả hai hoạt động trên với các hình thức, bước đi thích hợp, lao động trong nông nghiệp, nông thôn được phân bố lại, tăng lao động trong tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành khác. Khi thị trường lao động nông nghiệp bị thu hẹp, tiền lương thực tế sẽ tăng lên, các nông trại, xí nghiệp chuyển sang cơ giới hóa, làm cho năng suất lao động tăng nhanh, GNP và GDP/người cũng tăng lên khi sử dụng hết lao động nông nghiệp. Từ sự phân tích trên, Harry Toshima cho rằng, “nông nghiệp hóa” là con đường tốt nhất để phát triển của các nước châu Á – gió mùa, tiến tới xã hội có cơ cấu nông nghiệp – dịch vụ hiện đại.

i/ Lý thuyết hiện đại hóa

Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết hiện đại hóa là W. Rostow, A.F.K. Organski; S. Huntington; T. Parsons; D.S. Landes…

Đây là lý thuyết phát triển nhìn nhận sự phát triển hay kém phát triển như là hậu quả của những điều kiện nội tại của từng nền kinh tế (vai trò của chủ thể phát triển, yếu tố động lực, điều kiện vật chất – kỹ thuật, phương thức tiến hành,…). Tiếp cận hiện đại hóa là luận giải sự phát triển thông qua tiếp thu, kế thừa kinh nghiệm hay mô hình, nhận sự hỗ trợ phát triển từ các nước phát triển hiện nay. Chẳng hạn, W.W. Rostow đã khái quát các giai đoạn phát triển, được vận dụng cho tất cả các nước. S. Huntington nhìn nhận sự phát triển theo đường tuyến tính mà mỗi nước buộc phải trải qua. Nhà nước đóng vai trò chủ thể trung tâm trong việc hiện đại hóa các xã hội lạc hậu và kém phát triển. Để đuổi kịp các xã hội phát triển, các nước đang phát triển phải dựa vào những trợ giúp từ các nước tiên tiến nhằm tạo ra sự đột phá tăng trưởng kinh tế từ các yếu tố như giáo dục, đào tạo, công nghệ, kỹ năng…

k/ Lý thuyết phụ thuộc

Đại diện tiêu biểu: các nhà marxist mới (neo-marxists). Vào những năm 1940, bắt đầu làn sóng mới trong việc tiếp tục những tiếp cận lý luận và tư tưởng kinh tế của Marx ở các nước phương Tây phát triển như Mỹ, Anh… với các học giả như: Maurice H. Dobb, Joan Robinson, Paul Sweezy, Paul Baran, Ernst Mandel và Oskar Lange, Ronald Meek, Francis Seton, Andras Bródy, Paul A. Samuelson, William J. Baumol, Domenico Nuti, Anwar Shaikh, Gerard Dumenil, Duncan Foley, Michio Morishima và Shigeto Tsuru, Kozo Uno, Nubuo Okishio và Makoto Itoh… Tu tưởng chính của lý thuyết phụ thuộc là nhìn nhận sự phát triển trong tương quan của nhiều yếu tố giữa các quốc gia, trình độ phát triển và văn minh. Thế giới được phân chia thành các nh1om nước trung tâm giàu có và các nhóm nước ngoại vi nghèo đói. Trung tâm thâu tóm và chi phối ngoại vi trong quá trình tận dụng các yếu tố, cơ hội phát triển như nhân công dồi dào và rẻ mạt, nguồn nguyên liệu thô phong phú. Tương quan lợi ích thiên lệch cho các nước giàu có dẫn tới sự bất bình đẳng và chênh lệch về trình độ phát triển. Nước giàu ngày càng giàu thêm, hiện đại hơn, nước nghèo ngày càng nghèo hơn và nguồn lực cạn kiệt hơn vì sức hút từ trung tâm. Nói về mô hình phát triển này, trong tác phẩm Giới thiệu về lý thuyết phát triển P.W. Preston đã nhận xét: “Các nước kém phát triển cung cấp những nguyên liệu thô và những sản phẩm chế biến với công nghệ thấp sang các nước phát triển để nhập về những hàng hóa chất lượng công nghệ cao. Sự phụ thuộc mang tính kinh tế này phản ánh một sự phụ thuộc sâu rộng hơn về chính trị và văn hóa. Hậu quả là sự kém phát triển sẽ mãi mãi tồn tại trong những điều kiện phụ thuộc mang tính hệ thống”. Điều này có nghĩa là sự phát triển và kém phát triển là kết quả của mối quan hệ bất bình đẳng giữa các nước giàu với các nước nghèo, giữa các khu vực trung tâm với ngoại vi cũng như giữa chính quốc với thuộc địa.

Như vậy, nếu như lý thuyết phát triển hiện đại hóa nhấn mạnh vào sự phát triển của từng quốc gia thì lý thuyết phát triển phụ thuộc lại nhấn mạnh đến sự phát triển ở cấp độ liên quốc gia, liên quan đến chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc mới, đến chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới. Xuất phát từ thực trạng đó, các học giả lý thuyết phụ thuộc đề xuất ý tưởng rằng, các nước kém phát triển cần đoạn tuyệt với các nước phát triển và xây dựng cho mình năng lực tự chủ cho tăng trưởng. Một trong những can thiệp này là chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu vào những năm 1950.

l/ Lý thuyết hệ thống thế giới

Đại diện cho lý thuyết này là nhà xã hội học Mỹ Immanuel Wallerstein. Lý thuyết hệ thống thế giới xuất hiện vào những năm 1970, nguồn gốc của nó xuất phát từ xã hội học nhưng được phát triển thành lĩnh vực liên ngành với tiếp cận vĩ mô, bao hàm từ lịch sử thế giới tới sự thay đổi xã hội. Lý thuyết hệ thống thế giới được coi là lý thuyết thay thế lý thuyết hiện đại hóa. Theo quan điểm của Wallerstein, phân công lao động quốc tế là căn cứ cơ bản trong việc xác định hệ thống trên thế giới. Theo đó, thế giới được phân chia thành ba loại hệ thống chính là hệ thống các nước trung tâm, bán ngoại vi và ngoại vi. Các nước trung tâm tập trung vào kỹ năng cao hơn, sản xuất hàm chứa nhiều vốn, phần còn lại của thế giới tập trung vào kỹ năng thấp hơn, sản xuất hàm chứa nhiều lao động và khai thác nguyên vật liệu thô. Wallerstein khái quát hệ thống thế giới như tập hợp các cơ chế cho phép phân bổ lại nguồn lực từ ngoại vi (hệ thống kém phát triển) tới trung tâm (hệ thống phát triển, công nghiệp hóa) thông qua cơ chế thị trường. Hiện nay, hệ thống thế giới hiện đại là hệ thống các nền kinh tế thế giới chủ nghĩa tư bản đầy đủ trên toàn cầu. Chủ nghĩa tư bản là hệ thống dựa vào cạnh tranh tự do giữa các nhà sản xuất trên thị trường.

5/ Các lý thuyết phát triển xã hội dựa trên một yếu tố chủ đạo

Ngoài yếu tố kinh tế ra, trong quá trình tìm kiếm mô hình phát triển đã có nhiều học giả và nhiều nhà quản lý đưa ra những lý thuyết phát triển khác nhau, trong đó tìm cách cắt nghĩa sự phát triển của các quốc gia dựa vào một yếu tố chủ đạo, mang tính quyết định nào đó. Chẳng hạn, có lý thuyết cắt nghĩa sự phát triển của một quốc gia căn cứ vào mức độ giàu có và phong phú của nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, không phải quốc gia nào giàu tài nguyên thiên nhiên cũng là những quốc gia phát triển. Trái lại, nhiều quốc gia phát triển lại rất nghèo tài nguyên thiên nhiên. Có lý thuyết cho rằng, sự phát triển phụ thuộc vào vị trí địa lý. Nhà kinh tế Jeffrey Sachs (Đại học Columbia) và một số người có ý kiến rằng, vị trí nhiệt đới, không có bờ biển và sự tùy thuộc vào “hàng hóa” (nhất là tài nguyên thô, thay vì dịch vụ) là những yếu tố trực tiếp cản trở phát triển. Không phải tình cờ mà hầu hết các nước chậm phát triển đều ở vùng nhiệt đới. Những nước nghèo nhất thế giới, có thu nhập tính theo đầu người không bằng 1/20 mức của Mỹ, đều nằm sát đường xích đạo với những đặc trưng là khí hậu rất nóng, mưa dữ dội và nhiều bệnh dịch nhiệt đới. Địa lý là yếu tố quyết định của tình trạng khí hậu, tài nguyên thiên nhiên và nhiều thứ bệnh tật, phí tổn giao thông, vận chuyển. Địa lý cũng là yếu tố ngăn cản sự lan truyền kiến thức, phát minh từ những vùng tiến bộ đến những vùng kém và chậm phát triển, qua đó có ảnh hưởng lớn đến năng suất nông nghiệp và “chất lượng của tài nguyên con người”. Thực tiễn cho thấy những lập luận trên chưa có sức thuyết phục về mặt khoa học. Yếu tố địa lý có tác động nhất định, nhưng không thể có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của một quốc gia hay vùng lãnh thổ. Các quốc gia có trình độ phát triển cao hiện hữu ở các châu lục, cả ở phương Tây và phương Đông, cả ở Bắc bán cầu và Nam bán cầu, không phải quốc gia phát triển nào cũng có vị trí địa lý thuận lợi. Có những quốc gia phát triển nhanh nhờ biết phát huy vị trí địa lý thuận lợi, biến nó thành lợi thế cạnh tranh và thu hút đầu tư, trong khi các quốc gia khác lại không làm được như vậy. Có lý thuyết cho rằng, sự phát triển phụ thuộc vào quy mô và dân số của một quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn khẳng định quy mô và dân số của một quốc gia cũng không phải là yếu tố quyết định. Trong số các quốc gia phát triển có quốc gia lớn, quốc gia nhỏ cả về diện tích và dân số. Có lý thuyết hoặc lập luận cho rằng, sự phát triển của một quốc gia chủ yếu phụ thuộc vào tiến bộ về kỹ thuật công nghệ và những phát minh khoa học. Đương nhiên, một quốc gia được coi là phát triển không thể là một quốc gia lạc hậu, yếu kém về khoa học, công nghệ, không có những phát minh. Tuy nhiên, có những quốc gia sở hữu nhiều phát minh khoa học, đạt những thành tựu lớn về nghiên cứu cơ bản, nhưng do không tạo dựng được cơ chế và điều kiện phù hợp để sử dụng và phát huy chúng cho sự phát triển của mình, nên cũng không nằm trong số những quốc gia phát triển nhất.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Trung Quốc dè chừng các ông trùm mới – Phần cuối


Ông Guo, người đang chạy trốn các cáo buộc tham nhũng ở Trung Quốc, đã hứa hẹn sẽ tiết lộ nhiều thông tin hơn – như ông đã nói trên YouTube, được chứa trong “91 thư mục và 18 đoạn băng ghi hình” mà ông đã mang ra khỏi Trung Quốc khi ông rời đi vào năm 2015. Tháng 10, Facebook đã chặn hồ sơ trực tuyến của ông, nói rằng nó chứa thông tin cá nhân của người khác mà không được họ cho phép. Khi đó Viện nghiên cứu Hudson, một tổ chức tư vấn ở Washington, đã hoãn một sự kiện có ông Guo tham gia, ông nói rằng ông nghi ngờ đó là do sức ép từ Chính phủ Trung Quốc. (Một phát ngôn viên của Viện nghiên cứu Hudson cho biết đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ đà phàn nàn về sự kiện có ông Guo tham gia nhưng nói rằng nó đã bị hủy bỏ do viện này “lên kế hoạch chưa chu đáo”).

Hiện giờ, ông Guo là một người ngoài cuộc. Không mấy ai trong số các nhà lãnh đạo doanh nghiệp lớn của Trung Quốc – từ những kẻ cướp trong lốt ông trùm cho đến những người nhìn xa trông rộng thực sự – dám thách thức trực tiếp ban lãnh đạo đảng. Đối với nhiều người, tư cách đảng viên và các mối quan hệ của họ đã trở thành những con đường dẫn đến các khoản vay ngân hàng giá rẻ, sự thăng tiến và giàu có.

Theo Barry Naughton, một chuyên gia về kinh tế Trung Quốc thuộc Đại học California, San Diego, “Các công ty tư nhân được trao một sự lựa chọn rất rõ ràng: Anh có thể kiếm tiền, nhưng anh phải thừa nhận uy thế của Đảng Cộng sản”.

ĐCSTQ đã mất một thời gian dài để tuyên bố sự quan tâm của mình dành cho giới kinh doanh. Đầu những năm 1980, một vài năm sau khi Đặng Tiểu Bình phát động các cải cách thị trường mang tính chuyển đổi của mình. Điều lệ đảng vẫn khoe khoang về “ưu thế vượt trội không gì sánh được của chủ nghĩa xã hội so với hệ thống tư bản chủ nghĩa”. Các quan chức địa phương, lo lắng về việc phát hiện ra các doanh nghiệp tư nhân đang phát triển mạnh mẽ giữa họ, đã thường tham vấn Đặng Tiểu Bình trước khi cho phép các doanh nghiệp này tiếp tục kinh doanh.

Đảng đã không vượt quá giới hạn về ý thức hệ cho đến đầu thế kỷ 21, khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận ra rằng họ rất cần giới doanh nghiệp tư nhân để tạo thêm nhiều việc làm hơn khi khu vực nhà nước bị thu hẹp. Giang Trạch Dân, nhà lãnh đạo đảng từ năm 1989 đến 2002, đã đưa ra những sửa đổi trong các văn kiện của đảng để đưa giới doanh nghiệp tư nhân lên một nền tảng chính trị vững chắc hơn. Giang Trạch Dân tuyên bố: “Các doanh nhân đều là những nhà kiến tạo chủ nghĩa xã hội đặc sắc của Trung Quốc”.

Dù vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn thận trọng về chủ nghĩa tư bản không bị ràng buộc. Trong thập kỷ qua, các quan chức Trung Quốc ở mọi cấp bậc đã bị buộc phải tham dự các buổi nghiên cứu về sự sụp đổ của Liên Xô và hậu quả của nó, cùng với sự trỗi dậy của một tầng lớp đầu sỏ chính trị mới của Nga trở nên giàu có nhờ thực sự đánh cắp của cải nhà nước.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã theo dõi trong nỗi kinh hoàng khi Liên Xô tan rã và các tài sản của Liên Xô bị tư hữu hóa. Chứng kiến giới kinh doanh đe dọa tiếp quản nhà nước ở Nga, các quan chức ở Trung Quốc đã quyết định làm điều ngược lại. Trong 2 thập kỷ vừa qua, Bắc Kinh đã cố gắng “thực dân hóa” khu vực tư nhân để đảm bảo các doanh nhân nằm dưới sự kiểm soát.

Theo Jude Blanchette đến từ Trung tâm Kinh tế và Kinh doanh Trung Quốc thuộc tổ chức nghiên cứu kinh tế Conference Board, “đảng đang cố gắng tính toán xem sợ dây kiểm soát nên dài bao nhiêu. Nếu quá ngắn, anh sẽ đè nén tăng trưởng. Nếu quá dài, anh sẽ mất quyền kiểm soát”.

Các doanh nhân được khuyến khích gia nhập đảng, vốn từ lâu đã tự coi mình là mái nhà cho công nhân, binh lính và nông dân. Theo số liệu riêng của họ, năm 2016, khi số lượng đảng viên là doanh nhân tăng vọt, nam và nữ doanh nhân chiếm hơn 8% trong tổng số 89,5 triệu đảng viên. Một nghiên cứu vào năm 2015 của Curtis Milhaupt đến từ Trường Luật Columbia và Wentong Zheng đến từ Trường Luật thuộc Đại học Florida cho thấy 95 người trong số các nhà sáng lập hay người kiểm soát thực tế 100 doanh nghiệp tư nhân hàng đầu và 8 trên 10 lãnh đạo của các công ty Internet hàng đầu của Trung Quốc từng là thành viên của các tổ chức chính trị do đảng lãnh đạo.

Yashung Huang, một chuyên gia về Trung Quốc tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) cho biết đảng “đã tìm ra cách để hợp nhất khu vực tư nhân một cách tương đối hiệu quả”. Ông đã viện dẫn quyền kiểm soát của khu vực nhà nước đối với những lĩnh vực như tài chính, thép và điện lực như một đòn bẩy để áp đặt quyền định giá mạnh mẽ đối với ngành kinh doanh. “Có nhiều công cụ kinh tế mà họ có thể áp dụng đối với khu vực tư nhân”.

Việc đảng nhắm mục tiêu vào các ông trùm không phải chỉ dựa vào các cáo buộc tham nhũng. Với hàng chục tỷ USD chảy ra nước ngoài trong những năm gần đây để tìm kiếm các tài sản nước ngoài, Bắc Kinh lo sợ rằng một sự sụt giảm về dự trữ ngoại hối sẽ gây mất ổn định cho hệ thống tiền tệ Trung Quốc. Các quan chức cấp cao cũng lo ngại rằng cơn sốt giao dịch sẽ kết thúc tương tự như cách mà Nhật bản đã làm vào đầu những năm 1990, với số tiền khổng lồ bị lãng phí vào các tài sản bị đẩy giá.

Bắc Kinh đã nỗ lực đặc biệt để giữ những gã khổng lồ trong ngành công nghiệp Internet của Trung Quốc trong tầm kiểm soát, bao gồm Robin Li của Baidu và đặc biệt là Jack Ma của Alibaba và Pony Ma của Tencent. 3 công ty này – lần lượt là công cụ tìm kiếm, nền tảng thương mại điện tử và dịch vụ gửi tin nhắn và truyền thông xã hội chủ đạo của Trung Quốc – thường được gọi chung ở Trung Quốc bằng tên viết tắt là BAT. Chỉ trong vài năm, nhờ có công cụ tìm kiếm trực tuyến và thanh toán điện tử, các công ty này đã trở thành một kho lưu trữ dữ liệu hiệu quả theo thời gian thực mà bộ máy an ninh nhà nước rộng khắp của Trung Quốc hẳn là chỉ có thể mơ ước được sở hữu.

Các gã khổng lồ công nghệ của Trung Quốc là những nhà lãnh đạo thế giới trong lĩnh vực thanh toán qua điện thoại di động, và họ cũng làm việc với chính phủ về trí tuệ nhân tạo, trao cho nhà nước Trung Quốc nhiều công cụ giám sát hơn, bao gồm cả các công cụ nhận diện khuôn mặt. Các công ty Trung Quốc đang sử dụng trí tuệ nhân tạo để cố gắng lên kế hoạch và dự đoán hành vi của người tiêu dùng; chính phủ muốn sử dụng các công cụ tương tự để đoán trước sự bất đồng chính kiến và ngăn chặn nó. Việc xóa bỏ tiền mặt khiến chính phủ dễ dàng theo dõi các hoạt động thanh toán và người dân của họ hơn.

Cả Baidu và Tencent đều cảm nhận được cơn thịnh nộ của chính phủ gần đây. Năm 2016, Baidu bị điều tra vì bán thứ hạng trên công cụ tìm kiếm của họ; Tencent bị buộc phải đặt giới hạn thời gian cho trò chơi trên điện thoại di động có doanh thu cao nhất của họ sau những chỉ trích của truyền thông nhà nước rằng nó gây nghiện theo hướng có hại. Cả 2 công ty đều bị điều tra vì cáo buộc vi phạm an ninh mạng.

Jack Ma, người thẳng thắn và nổi tiếng nhất trong số những nhà lãnh đạo cao nhất của các công ty công nghệ, hầu như đã tránh xa rắc rối với chính quyền. Người sáng lập Alibaba muốn nói rằng ở Trung Quốc, các doanh nghiệp cần tránh làm ăn với các quan chức chính phủ. Ông nói: “Hãy yêu họ, nhưng đừng kết hôn với họ”.

Chưa thỏa mãn với việc đe dọa các công ty công nghệ, chính phủ hiện đang hối thúc những công ty như Alibaba và Tencent bán cổ phần trong những công ty này và dành một ghế trên bàn đàm phán cho Bắc Kinh khi đưa ra các quyết định kinh doanh. Chính phủ có lẽ cũng sẽ nhận được dòng lợi tức ổn định từ phần vốn của mình.

Bất chấp những lo ngại của Tập Cận Bình về các ông trùm, sự nghiệp của ông hẳn đã giúp ông biết trân trọng vai trò mà giới kinh doanh có thể nắm giữ trong việc làm cho Trung Quốc – và đảng – trở nên vĩ đại một lần nữa. Từ năm 1985 đến năm 2007, ông đã được bổ nhiệm làm việc ở tỉnh Phúc Kiến và Chiết Giang, hai tỉnh ven biển phía Nam Thượng Hải, và là một trong số những nhà lãnh đạo có tinh thần doanh nhân cao nhất ở Trung Quốc. Theo Nicholas Lardy thuộc Viện kinh tế quốc tế Peterson, một cơ quan cố vấn của Washington: “Tôi nghĩ rằng dựa vào những nơi ông từng phục vụ, ông ấy được cho là có một ý tưởng rất tốt về cách thức hoạt động của khu vực tư nhân và tầm quan trọng của nó, nhưng rất khó để thấy điều đó”.

Tầm nhìn của Tập Cận Bình dường như không phải tầm nhìn về hoạt động kinh doanh tự do. Phát biểu gần đây về khu vực tư nhân của Trung Quốc, ông tuyên bố rằng các doanh nhân nợ đất nước của họ một nghĩa vụ chính trị. Ông nói rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần “tăng cường việc tự học hỏi, tự rèn luyện và tự cải thiện”.

Tập Cận Bình nói thêm: “Họ không nên cảm thấy không thoải mái với yêu cầu này. Đảng Cộng sản có những yêu cầu tương tự và nghiêm khắc hơn đối với các nhà lãnh đạo của họ”.

Nguồn: The Wall Street Journal – 13/10/2017

TLTKĐB – 25/10/2017

Việt Nam: Mục tiêu quan trọng trong chính sách “Hướng nam mới” của Đài Loan – Phần cuối


Không gian nỗ lực của “chính sách hướng Nam mới” ở Việt Nam

Mặc dù các doanh nghiệp Đài Loan kinh doanh ở Việt Nam nhiều năm, đầu tư vào Việt Nam vẫn có không gian tăng trưởng nhất định, nhưng cùng với sự thay đổi môi trường kinh doanh của Việt Nam, các doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào Việt Nam sẽ đối mặt với trở ngại nhiều hơn. Tập đoàn Formosa Đài Loan đầu tư vào Việt Nam gặp thất bại bị Chính phủ Việt Nam phạt nặng, cho thấy các loại trở ngại ẩn giấu mà doanh nghiệp Đài Loan phải đối mặt khi đầu tư ở Việt Nam đã hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp Đài Loan một cách nghiêm trọng. Ngay cả đầu tư của doanh nghiệp lớn như tập đoàn Formosa Đài Loan cũng gặp trắc trở, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đài Loan nếu muốn đầu tư ở Việt Nam thì mức độ khó khăn lớn như thế nào có thể tưởng tượng được. Ngoài phương diện đầu tư, mục tiêu mà nhà lãnh đạo Thái Anh Văn có ý đồ dựa vào “chính sách hướng Nam mới” để tăng cường quan hệ thực chất với Việt Nam cũng khó có thể thực hiện được.

Tuy những năm gần đây Trung Quốc và Việt Nam tồn tại tranh chấp trong vấn đề Nam Hải (Biển Đông), nhưng xét về tổng thể phát triển tương đối ổn định. Trung – Việt đã đạt được tiến triển quan trọng trong việc hợp tác “Vành đai và Con đường”. Đầu năm nay hai bên đã ký kết “Thông cáo chung Trung Quốc – Việt Nam”, “Việt Nam khẳng định kiên trì chính sách một nước Trung Quốc; ủng hộ quan hệ hai bờ phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc; kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất kỳ quan hệ chính thức nào với Đài Loan”. Thái độ bày tỏ rõ ràng của Chính phủ Việt Nam đã ngăn chặn khả năng nhà lãnh đạo Thái Anh Văn muốn dựa vào chính sách “hướng Nam mới” để thực hiện sự “đột phá chính trị”. Nhưng xét về xu thế tương lai, “chính sách hướng Nam mới” của nhà cầm quyền Thái Anh Văn vẫn có thể tập trung ở những lĩnh vực sau:

Một là xóa bỏ dần trong tư tưởng của người dân Việt Nam về kết cấu “Một nước Trung Quốc” của Trung Quốc Đại lục. Chuyến thăm Việt Nam lần này, tác giả bài viết đã cảm nhận được rằng Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa truyền thống Trung Quốc rất sâu sắc. Tác giả bài viết đã nói chuyện với một số doanh nhân Đài Loan, họ nói rằng trong sách giáo khoa lịch sử Việt Nam đã ghi chép rõ ràng rằng Đại lục và Đài Loan cùng thuộc một nước Trung Quốc, khiến cho kết cấu “Một nước Trung Quốc” đặt nền tảng khá vững chắc trong tư tưởng người dân Việt Nam. Tháng 5/2014, khi Việt Nam xảy ra làn sóng bạo động chống Trung Quốc, nhiều người Việt Nam cũng có hành động phá phách cướp bóc đối với các doanh nghiệp Đài Loan, khiến cho các doanh nghiệp Đài Loan bị tổn thất nghiêm trọng. Nhà lãnh đạo Quốc dân đảng Đài Loan xuất phát từ suy nghĩ tự bảo vệ mình, đã đưa ra khẩu hiệu và biểu ngữ không vẻ vang như “doanh nghiệp Đài Loan không phải là doanh nghiệp Trung Quốc”, “Đài Loan và Trung Quốc là hai nước khác nhau”… Theo giới thiệu của người nhà doanh nghiệp Đài Loan ở địa phương, kể từ sau sự kiện đó, ngày càng nhiều người Việt Nam “phân biệt rõ ràng 2 bờ eo biển Đài Loan”, nền tảng dư luận “2 bờ eo biển cùng thuộc về một nước Trung Quốc” ở trong nước Việt Nam có sự dao động. Điều có thể thấy trước là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn biết rõ rằng dường như không thể thách thức chính sách “Một nước Trung Quốc” của Chính phủ Việt Nam trong tương lai, rất có thể sẽ tuân theo mô hình này, trên nhiều lĩnh vực xóa bỏ dần nhận thức “Một nước Trung Quốc” của người dân Việt Nam.

Hai là lợi dụng sự liên kết xã hội giữa Đài Loan và Việt Nam để tăng cường giao lưu với người dân Việt Nam. Trải qua hàng chục cuộc giao lưu, sự liên kết văn hóa xã hội giữa Đài Loan và Việt Nam ngày càng mật thiết, đã hình thành “dân tộc Đài – Việt”  với số lượng khả quan. Chẳng hạn như số lượng công nhân Việt Nam ở Đài Loan đã vượt trên 180.000 người, các cô dâu Việt Nam ở Đài Loan cũng vượt trên 100.000 người, những nhóm này đều sẽ trở thành mục tiêu chủ yếu để nhà lãnh đạo Thái Anh Văn tăng cường “chính sách hướng Nam mới”. Đặc biệt là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn trong thời gian tới chắc chắn sẽ tăng cường tác động tới “thế hệ thứ hai Đài – Việt” (thế hệ tiếp nối của đàn ông Đài Loan với cô dâu Việt Nam), lợi dụng họ thông thuộc hai thứ tiếng, mạng lưới quan hệ xã hội ở 2 nơi Đài Loan – Việt Nam để tăng cường mối liên hệ văn hóa xã hội Đài Loan – Việt Nam… Điều đáng quan tâm là trong bối cảnh tỷ lệ sinh ở xã hội Đài Loan hạ thấp, tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình mà đàn ông Đài Loan kết hôn với các cô dâu Đông Nam Á lấy Việt Nam làm đại diện lại tương đối cao, khiến cho tỷ lệ cái gọi là “thế hệ Đài Loan mới” trong cơ cấu dân số, đặc biệt là khu vực Trung, Nam bộ có xu thế tiếp tục tăng lên, được dư luận bên ngoài cho là “nhóm dân tộc thứ 5” chỉ xếp sau người Mân Nam, người Khánh Gia, người ngoại tỉnh và người bản địa. Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến kết cấu xã hội, môi trường chính trị của Đài Loan trong tương lai.

Ba là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn có thể thúc đẩy ký kết thỏa thuận kinh tế thương mại mang tính chức năng, tính cục bộ với Việt Nam. Trước tình hình ký kết hiệp định thương mại tự do với Việt Nam về cơ bản vô vọng, Chính quyền Thái Anh Văn xuất phát từ suy nghĩ thúc đẩy doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào Việt Nam, đi sâu hợp tác kinh tế song phương…, thúc đẩy có trọng điểm thỏa thuận kinh tế thương mại mang tính chức năng với Việt Nam. Tuy vào thập niên 90 của thế kỷ 20, Đài Loan và Việt Nam đã ký kết một thỏa thuận mang tính chức năng như đảm bảo đầu tư…, nhưng một số thỏa thuận cần thay đổi nâng cấp, năm 2014 sau khi các doanh nghiệp Đài Loan bị ảnh hưởng bởi “cuộc bạo động chống Trung Quốc”, Chính phủ Việt Nam vẫn chưa có sự đền bù hợp lý cần có, dự kiến trong tương lai việc thúc đẩy ký kết các thỏa thuận như đảm bảo đầu tư phiên bản nâng cấp… sẽ trở thành trụ cột để Chính quyền Thái Anh Văn tăng cường hợp tác kinh tế với Việt Nam.

Xây dựng “Vành đai và Con đường” có sức hút khá mạnh đố với các doanh nghiệp Đài Loan ở Việt Nam

Qua chuyến thăm Việt Nam, tác giả bài viết phát hiện ra rằng các doanh nghiệp Đài Loan ở nơi đó, đặc biệt là các doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch từ Trung Quốc Đại lục sang có tình cảm rất sâu sắc đối với Trung Quốc Đại lục, vẫn có mối liên hệ kinh tế khá mạnh với Đại lục. Nhiều doanh nghiệp Đài Loan sau khi sang Việt Nam đầu tư vẫn thuê một số lượng lớn cán bộ quản lý quốc tịch Đại lục, đồng thời đặt các bộ phận cốt lõi như nghiên cứu phát triển, thiết kế, mua sắm… ở Đại lục. Có thể nói những doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch sang Việt Nam này không phải là các doanh nghiệp Đài Loan đơn thuần, ở mức độ nào đó đã trở thành “hiệp hội doanh nghiệp hai bờ eo biển”. Những doanh nghiệp này kỳ vọng rất lớn đối với việc xây dựng “Vành đai và Con đường”, hy vọng dựa vào việ xây dựng “Vành đai và Con đường” để tiến vào khu công nghiệp mà Đại lục thành lập ở Việt Nam, đồng thời mong muốn có thể được sự bảo hộ lãnh sự và ủng hộ chính sách của Đại lục. Nhiều doanh nghiệp Đài Loan cho rằng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc Đại lục ở Việt Nam rất lớn, “chính sách hướng Nam mới” của Chính quyền Thái Anh Văn và việc xây dựng “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc Đại lục hoàn toàn không phải là cùng cấp độ, triển vọng tương lai của các doanh nghiệp Đài Loan đáng lo ngại.

Xét về tổng thể, trong bối cảnh quan hệ Trung – Việt duy trì ổn định và việc xây dựng “Vành đai và Con đường” tăng cường thúc đẩy, Chính quyền Thái Anh Văn ra sức thúc đẩy “chính sách hướng Nam mới” ở Việt Nam khó có thể đạt được hiệu quả thực chất trên phương diện chính trị và “ngoại giao”. Nhưng cùng với nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phát triển nhanh chóng, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam tuy đối mặt với ngày càng nhiều trở ngại, mà khó có thể tái hiện được tình hình phát triển tốc độ cao như trước đây, nhưng vẫn có không gian tăng trưởng khá lớn, quan hệ kinh tế Đài Loan – Việt Nam trong tương lai có hy vọng tiếp tục phát triển sâu sắc. Dựa vào đó, nhà lãnh đạo Thái Anh Văn rất có thể sẽ dựa vào hoạt động của các doanh nghiệp thị trường đầu tư vào Việt Nam để rêu rao thành tích chính trị “chính sách hướng Nam mới” của bà ở Đài Loan nhằm dựa vào đó để đạt được nhiều lợi ích hơn trên các phương diện như bầu cử… Đồng thời, Chính quyền Thái Anh Văn rất có thể dựa vào “chính sách hướng Nam mới” để thúc đẩy hợp tác giao lưu trên một loạt phương diện như văn hóa, giáo dục, y tế…, ở Việt Nam, nhằm từng bước xóa bỏ nhận thức “Một nước Trung Quốc” của người dân Việt Nam. Đối với vấn đề này, phía Đại lục cần phải coi trọng và đề phòng cao độ.

Nguồn: Tạp chí “Tri thức thế giới” (TQ), số 19/2017

TLTKĐB – 04/11/2017

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần I


Chia nhỏ Liên Xô và Nga

Bước ngoặt căn bản trong ý thức xã hội, xảy ra dưới tác động thông tin – tâm lý, đã đè bẹp khả năng con người liên kết với nhau trong hoàn cảnh xảy ra để chống lại nó. Các từ – biểu tượng “dân chủ” – bí danh chương trình hủy hoại Nhà nước, “cải cách” – bí danh chương trình phá hủy kinh tế quốc dân được nhồi nhét và nhận thức người dân. Đó là những từ không mang ý nghĩa thực tế (thực ra chúng vẫn chưa được giải thích) và ai muốn hiểu ra sao cũng được. Kết quả thực hiện các chương trình này về sức tàn phá là độc nhất vô nhị trong lịch sử thế giới.

Trên toàn thế giới đang xảy ra quá trình liên kết, nhưng Liên Xô bị xé nhỏ làm 15 phần và bộ máy kinh tế quốc dân thống nhất bị phá hủy. Nó gây ra thảm họa. Trong bài viết Nước Nga có cần siêu lý tưởng của P. Kosolapop (Sự thật, số 133, 22/12/1996) viết như sau:

Chúng ta, và trước hết là người Nga, bị chia cắt nhân tạo. Nhiều chính khách xoay quanh sự thực này như con mèo chạy quanh bát cháo nóng. Họ khóc lóc Liên Xô, thương hại người tị nạn, chửi rủa bọn chia rẽ, nguyền rủa đám hải ly Belovegiơ (những người ký kết hiệp định Belovegiơ giải tán Liên Xô), nhưng họ vẫn không chịu nhận thức rằng, trong lịch sử chưa từng có sự chia cắt quy mô đến thế. Dấu hiệu dân dã đầu tiên của một dân tộc là tiếng mẹ đẻ, nếp sống và văn hóa. Chúng không khác nhau ở người Belarus, đại Nga và tiểu Nga, cả cộng đồng Kazak. Tiếng Nga vĩ đại có hơn 80% người Belarus sử dụng, là tiếng mẹ đẻ cho 28% người không phải người Nga tại Liên bang Nga, toàn bộ dân trung và đông Ukraine đều dùng tiếng Nga”.

Người Nga và các dân tộc khác ở Nga rơi vào tình trạng rất nặng nề. Latvia và Estonia thiết lập chế độ diệt chủng. Dân nói tiếng Nga (họ dùng thuật ngữ này) mất quyền công dân, kể cả quyền bầu cử. Các trường dạy bằng tiếng Nga lần lượt bị đóng cửa. Bằng sự giúp đỡ của phương Tây “người nói tiếng Nga” trên thực tế không được coi là người. Người Nga bị coi khinh cả nhiều nơi khác. Trong bài Những kẻ bị trục xuất “dân chủ” của A. Chichkin (Al Kodx số 7, tháng 3/1994) nêu các số liệu:

Trong số 388 nghìn người nói tiếng Nga số tại Tajighistan trước năm 1989, 200 nghìn người rời đi trong thời gian 89 – 91, 1992 – 75 nghìn, 1993 – 85 nghìn…”. Hãng AF đưa tin 18 tháng 12 năm 1993: “Trên thực tế, tại vùng Trung Á người Nga bị coi là những phần tử không được hoan nghênh. Họ cần phải hoặc theo đạo Hồi, hoặc ra đi”.

“…Đêm đến, người ta đến nhà chúng tôi ở Osa và chửi bới chúng tôi là kẻ ngoại bang, hãy cút về Nga. Chúng bảo: “Ở đó có nhiều loại người như chúng bay”… Sáng hôm sau, họ báo cho chúng tôi biết tàu hàng đã chờ sẵn ngoài ga để đưa chúng tôi về Nga. Chuyện đó xảy ra khắp nơi, không chỉ đối với người Nga, mà cả các dân tộc khác như Ukraine, Belarus…”

Tàu hàng chở chúng tôi đi hàng nghìn cây số trong điều kiện mất vệ sinh như chở súc vật! Còn phương Tây “lịch sự”, “chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho nhân quyền” câm lặng trước sự diệt chủng đó”.

Tai họa đến với mọi dân tộc Liên Xô. Xung đột và căng thẳng sắc tộc được thổi bùng khắp nơi, từ Nagorno-Karabakh đến Nam Osertia, Abkhazia, Pridnextrovie. Quảng đại quần chúng bị phá sản, rơi vào cảnh bần cùng, chết dần mòn. Bước tiếp theo là chia nhỏ nước Nga. Ngay từ đầu cải cách chủ nghĩa ly khai đã được cổ vũ. Các địa phương được khuyến khích giành chủ quyền, càng nhiều càng tốt. Tình hình Bắc Caucasus đặc biệt phức tạp khi cuộc xung đột Cheschnia bùng nổ. Thực chất, cuộc xung đột này được tổ chức tại Moskva, phục vụ cho quyền lợi nhiều nhóm người, từ tranh giành quyền lực đến việc tiêu thụ trang bị vũ khí, thuốc men, quân lương quá hạn. Tình hình Daghestan, Osertia-Ingusetia cũng chẳng kém.

Nhưng những sự kiện chính lại xảy ra tại Siberia và Viễn Đông. Hạ tầng cơ sở tại Bắc Nga bị lần lượt thủ tiêu. Thành phố và làng mạc bị bỏ mặc. Nhu yếu phẩm chỉ được chở đến nhỏ giọt. Dân bỏ nơi sinh sống ra đi cầu thực, chết mòn. Tình hình Viễn Đông thật nặng nề, ngân sách được cấp quá ít so với nơi khác. Đó là sự thực thi chiến dịch giảm dân số Siberia và Viễn Đông, thiết lập sự chiếm đóng (kiểm soát) của Mỹ đối với vùng lãnh thổ mênh mông, không còn dân, nơi tập trung hầu như toàn bộ tài nguyên thiên nhiên phong phú không tưởng tượng nổi.

Quá trình chia vùng lãnh thổ Nga vẫn tiếp tục. Có đến 89 chủ thể được khuyến khích độc lập với hiến pháp riêng, thường đối lập với hiến pháp Nga. Chiến dịch ồn ào của phương tiện thông tin đại chúng hô hào chống Belarus, lá chắn phía Tây cho Nga từ phía NATO, có tính điển hình.

Thủ tiêu nền công nghiệp

Liên Xô là một cường quốc công nghiệp. Các xí nghiệp liên kết với nhau bằng trăm nghìn mối quan hệ và tạo thành một cơ thể sống thống nhất. Có hệ thống năng lượng thống nhất, mạng đường sắt thống nhất, đường không thống nhất, xăng dầu thống nhất. Nhiều xí nghiệp, đặc biệt là Tổ hợp công nghiệp Quốc phòng, rất độc đáo và có trình độ kỹ thuật cao. Hệ thống quản l1y cũng thống nhất – đó là nền kinh tế có kế hoạch.

Nhưng chiến tranh thông tin – tâm lý đã làm cho người dân hiểu sai sự thật. Kinh tế quốc dân được coi là tập hợp các xí nghiệp độc lập như thế kỷ trước. Kinh tế bị đánh tả tơi. Đối với phương Tây, ý thức xã hội của dân Nga như vậy và người dân không còn khả năng đánh giá khách quan tình hình, không còn khả năng chống trả, có nghĩa là Nga trở thành Clondake huyền thoại, cho phép họ xâm chiếm dễ dàng tài nguyên nằm ngay dưới chân: công nghệ hiện đại nhất, thành tựu khoa học cơ bản nhất, các xí nghiệp độc đáo, nguyên, vật liệu chiến lược. Tất cả cái đó là của dân bản xứ – Nga, tựa như người da đỏ thời bị phương Tây cướp bóc, diệt chủng.

Một trong các tác giả của cuốn sách Tư nhân hóa thâm độc (Lixichkin B.A., M.:1997) đã phân tích chi tiết quá trình tiêu diệt nền công nghiệp, cướp bóc tài sản và cơ chế thực hiện các quá trình này. Cái mà phương Tây dùng quá trình tư hữu hóa đã làm ở Nga là độc nhất vô nhị trong lịch sử thế kỷ XX. Xin dẫn một vài số liệu trong quyển sách này:

Tổn thất do quá trình tư hữu hóa lớn hơn hai lần tổn thất do Đại chiến thế giới thứ II (1941 – 1945) gây ra cho Nga và vượt quá mọi sức tưởng tượng.

Phân tích sơ bộ 500 xí nghiệp lớn nhất của Nga bị Chubais cho tư hữu hóa bằng chứng khoán dẫn đến những kết luận kinh hoàng sau đây:

Trong số 500 xí nghiệp lớn nhất của nước Nga thì gần 80% các xí nghiệp đó được bán đấu giá với giá dưới 8 triệu USD mỗi xí nghiệp. 324 nhà máy được bán với giá dưới 4 triệu USD. Uralmas với 34 ngàn công nhân giá 7,3 triệu USD. Nhà máy cơ khí Covrov, nơi sản xuất vũ khí bộ binh cho toàn bộ quân đội, Bộ Nội vụ, các đơn vị đặc chủng với 54,3 nghìn công nhân bán 2,2 triệu USD. Để so sánh, một xưởng bánh mì hạng trung ở châu Âu giá khoảng 2 triệu USD, nhà máy chế biến giò hạng trung của Thụy Sĩ giá 3,5 triệu USD. Bè cũ Chubais đổi nhà máy máy kéo Treliabinsk lấy xưởng bánh mì.

500 xí nghiệp bị bán đổ bán tháo. Bọn đầu cơ, hay còn được gọi là chủ sở hữu chiến lược từ lớp “người Nga mới” hoặc ngoại quốc núp bóng các công ty đã mua hết những xí nghiệp lớn nhất. Nhân vật Timophayev ở Tiumen mua 210 triệu cổ phiếu của Liên hiệp “Gazprom” hết 2,2 tỷ USD, còn tay Cakha Bendukidze người Gruzia mua 51% cổ phiếu “Uralmas” và trở thành ông chủ tuyệt đối của xí nghiệp quốc phòng lớn nhất, toàn quyền quyết định vận mệnh 34 ngàn công nhân. Gói cổ phiếu khống chế của các xí nghiệp sản xuất nhôm Vùng Brarxcơ và Crasnoiaxcơ bị đám anh em nhà Triôrnưi di tản từ Liên Xô sang Israel mua trọn. Tư hữu hóa toàn bộ công nghiệp nhôm trở thành vụ scandal lớn ở Nga.

Giá của các xí nghiệp quốc phòng bị các cố vấn Mỹ của Chubais cố tình dìm xuống. Tay chuyên viên người Mỹ D. Hay là người CIA thông qua hãng “Granic” của Nga đã mua nhà máy thử nghiệm của Viện nghiên cứu “Grafit” và 30% cổ phiếu của nhà máy điện cực Moskva, trở thành ông chủ của Tổ hợp công nghiệp quốc phòng đặc biệt, nơi chuyên sản xuất grafit cho tên lửa. Là ông chủ, Hay bắt các xí nghiệp đó phải từ chối các đơn đặt hàng của Bộ đội tên lửa – vũ trụ Nga, phải nhận các đơn đặt hàng của Mỹ. Quá trình tư hữu hóa của Chubais gây tổn thất vô cùng lớn cho khả năng phòng thủ của Nga.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.