Dịch cúm do virus corona cho thấy sự phụ thuộc của OPEC vào Trung Quốc


Thành phố Vũ Hán đang bị phong tỏa. Hơn 50 triệu người đeo khẩu trang ngay trong chính ngôi nhà của mình. Hiếm khi nào trong lịch sử, nhân loại phải đối mặt với mối đe dọa virus gây hậu quả khủng khiếp như vậy. Những con người bất hạnh ở tỉnh Hồ Bắc có thể biết rằng khoa học cuối cùng sẽ có thể giải cứu họ, nhưng mối đe dọa về bệnh dịch toàn cầu và vết nhơ này có thể sẽ tồn tại mãi mãi.

Ngay sau khi đợt bùng phát virus gây sự chú ý của toàn thế giới, giới chức y tế Anh đã nhanh chóng đề cập đến những thông tin ít ỏi mà các đối tác Trung Quốc chia sẻ. Thông tin về số ca nhiễm mới và số người chết do chủng mới của virus corona gây ra cũng rất mập mờ. Bên cạnh sự che giấu thông tin, rào cản ngôn ngữ cũng ngăn chặn việc tiếp cận các chuyên gia và nguồn lực bên ngoài.

“Virus Vũ Hán” sẽ đánh gục nền kinh tế Trung Quốc, nhưng quan trọng nhất vẫn là những đồn đoán về an ninh quốc tế. Rõ ràng rằng đây là một bệnh dịch kiểu mới.

Nỗi lo sợ về sự giảm tốc kinh tế, bị kích động bởi đợt bùng phát virus corona tại Trung Quốc, đã hướng sự chú ý tới Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), vốn phụ thuộc lớn vào nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này. Phát biểu với AFP, nhóm nghiên cứu JBC Energy cho biết: “Trung Quốc đang ngày một trở nên quan trọng với các nước OPEC trong những năm gần đây”. Hơn 2/3 lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc là từ các nước OPEC và Nga. Sau đợt sụt giảm của giá dầu, OPEC và Nga – nước đồng minh sản xuất dầu chính của tổ chức này – đã tiến hành cuộc họp trong tuần để thảo luận về tình hình hiện nay.

Trong một dấu hiệu cho thấy các khó khăn đang bủa vây, các đại biểu OPEC tham dự cuộc họp ở Vienna cho biết sự kiện này sẽ tiếp tục trong ngày 6/2. Tuy nhiên, đây không phải là cuộc họp chính thức về sản lượng dầu mỏ, như trong cuộc họp hồi tháng 12/2019 khi OPEC và các đồng minh OPEC+ đồng ý gia hạn thỏa thuận hiện hành nhằm hạn chế sản lượng dầu thô để nâng giá dầu.

Saudi Arabia và Nga hiện là các nước cung cấp dầu thô lớn nhất cho Trung Quốc. Tuy nhiên, về tổng thể, OPEC sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự sụt giảm về nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc.

Bất luận việc tăng nhẹ trở lại hôm 5/2, nhìn chung giá dầu đã tụt dốc “thảm hại” trong các tuần qua do lo sợ về sự giảm tốc kinh tế toàn cầu bị kích động bởi Trung Quốc. Giá dầu sụt giảm khiến nhiều người tỏ ra quan ngại về OPEC bởi 13 quốc gia thành viên của tổ chức này sản xuất khoảng 1/3 lượng dầu thô thế giới và hiện đang lo ngại về nguồn thu của họ bởi nhu cầu yếu đi của Trung Quốc.

Yuijao Lei, nhà phân tích tại nhóm nghiên cứu Wood McKenzie, nói: “Trung Quốc là nước tiêu thụ dầu lớn thứ 2 thế giới, chiếm 13% nhu cầu dầu mỏ của thế giới. Hơn 1/3 tăng trưởng trong nhu cầu dầu mỏ thế giới từ Trung Quốc. Bởi không có đủ nguồn cung trong nước, sự phụ thuộc của Trung Quốc ngày một gia tăng, khiến Trungn Quốc trở thành một trong các thị trường quan trọng của OPEC”.

Tuần này, Saudi Arabia nói rằng tác động của virus corona đối với nhu cầu dầu mỏ của thế giới là “vô cùng hạn chế” và “được kích động bởi các yếu tố tâm lý”.

Tuy nhiên, theo JBC Energy, “các nước OPEC/OPEC+ chỉ có một lựa chọn duy nhất, và đó sẽ là tuyên bố cắt giảm nguồn cung hơn nữa, nếu không giá dầu sẽ lại tiếp tục sụt giảm” trong bối cảnh thế giới chưa thể kiềm chế sự lây lan của virus.

Naeem Aslam, nhà phân tích của Avatrade, nói: “Giá dầu đang chịu sức ép lớn kể từ sau đợt bùng phát virus corona bởi các nhà đầu tư đều quan ngại về nhu cầu dầu. Nhiều người dự đoán rằng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc – hiện ở mức gần 11 triệu thùng/ngày trong đầu tháng 2/2020 – sẽ sụt giảm nghiêm trọng. Chúng tôi dự đoán rằng con số đó sẽ giảm xuống 7 triệu thùng/ngày”.

Nguồn: TKNB – 10/02/2020.

Lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay – Phần cuối


2/ Về một số điểm tương đồng giữa lý luận xây dựng xã hội hài hòa và đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Từ mục tiêu xây dựng xã hội hài hòa được Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc xác định, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đi sâu phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản của xã hội hài hòa trên những khía cạnh khác nhau. Một số những nghiên cứu ấy đã được chuyển tải vào Việt Nam thông qua trao đổi sách báo, Hội thảo khoa học và thông tin đại chúng. Từ mục tiêu và những nội dung ấy, chúng ta thấy có những tương đồng đáng ghi nhận giữa lý luận xây dựng xã hội hài hòa với lý luận về đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

Trước hết, về nội hàm của khái niệm hài hòa. Có tác giả cho rằng, hài hòa ở đây là chỉ các sự vật khác nhau, các bộ phận khác nhau của sự vật, các thành phần khác nhau cùng tồn tại cộng sinh bên cạnh nhau một cách hòa bình, nhịp nhàng. Khi phân tích về xã hội hài hòa, tác giả Trung Quốc Dương Quốc học đã viết: ““Hài hòa” trong xã hội hài hòa là sự phát triển kết hợp của nhiều nhân tố xã hội, nó biểu hiện ở kinh tế, chính trị, văn hóa… Xã hội hài hòa là xã hội ổn định có trật tự… Nhưng ổn định ở đây là một loại ổn định tương đối và một loại ổn định không ngừng phát triển”. Như vậy, hài hòa trước hết là sự ổn định, song không phải là sự ổn định chết cứng mà là ổn định để phát triển. Ở Việt Nam, khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam luôn đặc biệt chú ý đến vấn đề ổn định xã hội, lấy ổn định xã hội làm cơ sở cho đổi mới, cho phát triển. Về đổi mới chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn cho rằng đó là nhiệm vụ hết sức cần thiết, tuy nhiên phải tiến hành cẩn trọng và có bước đi chắc chắn cùng với đổi mới kinh tế và các mặt khác của đời sống xã hội. Sự đúng đắn và nhất quán của quan niệm này đã tránh cho Việt Nam những sai lầm không đáng có mà quá trình cải cách, cải tổ ở nhiều nước đã xảy ra. Trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, Việt Nam luôn giữ được sự ổn định – ổn định về chính trị, ổn định về xã hội. Chính sự ổn định ấy là tiền đề cho sự phát triển với nhịp điệu tương đối nhanh và ổn định trong suốt thời gian dài vừa qua. Đường lối đại đoàn kết dân tộc, hòa hợp dân tộc của Việt Nam chính là sự đề cao tinh thần đoàn kết – “hài hòa” giữa các cộng đồng, giới trên lãnh thổ Việt Nam cùng nhau xây dựng và phát triển đất nước.

Về mục tiêu chung. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã xác định xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Từ mục tiêu chiến lược đó, Việt Nam đã từng bước cụ thể hóa trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội qua từng bước đi của mình. Trong quá trình ấy, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng những định hướng cơ bản để thực hiện mục tiêu chiến lược trên.

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế – xã hội”. Trong định hướng chiến lược trên, “sự phát triển hài hòa” giữa các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, đã được hết sức chú ý, thậm chí trong sự hài hòa này, các mặt tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội gắn liền thành một chỉnh thể hữu cơ. Với mục tiêu lâu dài và cụ thể trên, chúng ta thấy có một sự tương đồng rất rõ với nội dung của lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc.

Nội dung xây dựng xã hội hài hòa (đã nhắc ở trên) của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bộc lộ một cách rõ ràng sự phát triển hài hòa giữa các mặt của đời sống xã hội “kiên trì lấy con người làm gốc, chỉnh đốn toàn diện, điều chỉnh thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người và kinh tế xã hội”. Nhiều nhà khoa học Trung Quốc đã đi sâu phân tích, làm rõ mục tiêu, nội dung cơ bản của lý luận xây dựng xã hội hài hòa: “Nội hàm của xã hội hài hòa rất phong phú, không chỉ là sự tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm sự tiến bộ của khao học, giáo dục, thiết lập pháp chế, xã hội dân chủ và nhân văn,… tạo thuận lợi cho sự giàu có của toàn xã hội, con người và tự nhiên cùng phát triển cộng sinh”.

Trong lĩnh vực kinh tế, cùng với công cuộc cải cách, đổi mới, Trung Quốc đã xác định rõ phải xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đại học lần thứ XV của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ rõ: “Kiên trì và hoàn thiện chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, duy trì nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần sở hữu cùng phát triển, kiên trì và hoàn thiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Có thể nói, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là mô thức cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc. Nó cũng là phương tiện cơ bản để xây dựng xã hội hài hòa, trong đó “các thành phần kinh tế cùng phát triển”.

Ở Việt Nam, cùng với công cuộc đổi mới, chúng ta đã tiến hành chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Về cơ sở lý luận. Lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và lý luận đổi mới của Việt Nam đều dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Marx – Lenin, lấy lý luận phát triển làm nền tảng. Trong quá trình cải cách, đổi mới và xây dựng lý luận xã hội hài hòa ở Trung Quốc, cũng như trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, hai nước luôn kiên trì các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Marx – Lenin về sự vận động của lịch sử, dựa trên quan điểm phát triển khoa học của chủ nghĩa Marx – Lenin, xem đó như nền tảng lý luận để xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách của mỗi nước. Đây là điểm tương đồng lớn nhất.

Công cuộc cải cách, đổi mới ở Trung Quốc và Việt Nam đã thu được những thành tựu hết sức to lớn. Để tiếp tục con đường phát triển đã đặt ra, thiết nghĩ, một mặt, chúng ta cần tăng cường sự hợp tác cả về lý luận và thực tiễn. Trong công tác lý luận, việc tìm hiểu lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc cũng như đường lối đổi mới của Việt Nam sẽ hết sức bổ ích cho cả hai nước. Mặt khác, có thể thấy, từ lý luận phát triển của chủ nghĩa Marx mà hạt nhân là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, chúng ta cần phải có cái nhìn thực tế, phải xuất phát từ thực tế khách quan để xây dựng lý luận đổi mới và phát triển của mỗi nước cho phù hợp với thực tiễn cách mạng trong mỗi giai đoạn cụ thể. Trong điều kiện hiện nay, phải chăng cần nhấn mạnh khía cạnh thống nhất – sự hài hòa giữa các mặt đối lập – để xây dựng một xã hội phát triển hài hòa và bền vững.

Thấm nhuần tinh thần “lấy dân làm gốc”, “hòa hợp dân tộc” và sự chọn lựa con đường phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Tuy chưa có lý luận về xây dựng xã hội hài hòa song với tinh thần trên, công cuộc đổi mới ở Việt Nam chắc chắn sẽ tiến tới xây dựng và phát triển trên thực tế một xã hội hài hòa giữa các mặt của đời sống xã hội: hài hòa giữa giàu có về vật chất và giàu có về tinh thần, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, hài hòa giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên, hài hòa giữa các bộ phận, tầng lớp dân cư trong xã hội… Trong bối cảnh như vậy, lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc chắc chắn sẽ có giá trị gợi mở nhất định đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay.

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Trung Quốc và hậu quả địa chính trị của nCoV


Nạn dịch corona xảy ra vào lúc kinh tế Trung Quốc đang chậm lại, nợ công tăng lên, tiêu thụ nội địa chững lại, và chính sách thuế quan của Mỹ đè nặng. Tỉ lệ tăng trưởng 6,1% GDP của năm 2019 thuộc loại thấp nhất từ trước đến nay, và đã giảm mạnh so với 6,6% của năm trước. Tờ The Diplomat đặt vấn đề, nếu kịch bản tệ hại nhất trở thành sự thật, các biện pháp đối phó của cộng đồng quốc tế và Trung Quốc không ngăn chặn nổi dịch bệnh thì sao? Đỉnh điểm của nạn dịch vào tháng 2/2020, và như vậy cần suy nghĩ về các hậu quả địa chính trị cũng như kinh tế.

Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc, là trái tim của kỹ nghệ Trung Quốc. Có thể so sánh Vũ Hán với California hay cụ thể hơn với Thung lũng Silicon, và hình dung tác hại với kinh tế quốc gia và thế giới nếu bị đóng cửa trong nhiều tuần lễ.

Trong một kịch bản ít bi đát hơn, nếu Bắc Kinh sớm chiến thắng được con virus thiệt hại có thể giảm đi. Tuy nhiên, theo Andrew Milligan, phụ trách chiến lược toàn cầu của Aberdeen Standard Investments, ngay cả khi giả định là chính quyền chặn được nạn dịch, vẫn có cú sốc kinh tế trong ngắn hạn. Nhiều chuyên gia tài chính cho rằng các nhà đầu tư ngắn hạn có thể bị tác động tiêu cực về chính trị và kinh tế từ virus corona (nCoV).

Trường hợp tập đoàn Alibaba là một ví dụ điển hình. Alibaba là biểu tượng cho một Trung Quốc đương đại với tư cách siêu cường, tên của nó đồng nghĩa với sức mạnh kinh tế của Trung Quốc. Thật xui xẻo cho Alibaba, nCoV đang tấn công vào chính bản sắc của tập đoàn này. Tại nhiều nước, người mua chia sẻ sự sợ hãi khi nhận các kiện hàng từ Trung Quốc, trong đó có công ty nổi tiếng nhất là Alibaba. Cổ phiếu của tập đoàn bỗng xuống dốc không phanh.

The Economist Intelligence Unit (EIU) ước tính con “nCoV mới” có thể làm GDP Trung Quốc giảm từ 0,5 đến 1%. Các nạn nhân đầu tiên là các công ty hàng không và du lịch, có thể bị thiệt hại nặng nhất. Tuy nhiên một số lĩnh vực như dược phẩm, thương mại điện tử và tự động hóa có thể hưởng lợi. Theo EIU, nếu dịch corona tương đương với SARS, tốc độ tăng trưởng GDP Trung Quốc có thể còn 4,9%.

Tuy nhiên, có những hậu quả còn lớn hơn cả doanh thu bị mất.

Từ năm 2010, Trung Quốc đã bắt đầu nghĩ đến việc tạo uy tín quốc tế với quyền lực mềm, nhất là trong giáo dục, tìm cách thu hút nhân tài từ khắp nơi trên thế giới. Bắc Kinh nỗ lực thay đổi hình ảnh, mời mọc các sinh viên nước ngoài và chuyên gia tài năng.

Năm 2017 – 2018, chỉ có chưa đến 12.000 sinh viên Mỹ tại Trung Quốc (kể cả 1000 tại Vũ Hán), trong khi có trên 360.000 sinh viên Trung Quốc du học tại Mỹ. Năm 2019 có 21.000 sinh viên Mỹ, 20.000 từ Nga, 10.600 từ Pháp và 14200 sinh viên từ Nhật đến Trung Quốc du học. Theo Bộ Giáo dục Trung Quốc, chỉ riêng tại Hồ Bắc đã có 21.371 sinh viên nước ngoài.

Giờ đây, tất cả thành công của Trung Quốc trong việc thu hút nhân tài từ nước ngoài trong suốt một thập kỷ qua có thể tan thành mây khói với sự lan tràn của con virus giết người. Các nước châu Âu và Bắc Mỹ đã tiến hành đưa công dân rời khỏi Vũ Hán, nơi đang bị cách ly. Nếu virus corona tấn công hàng loạt các tỉnh khác, chúng ta sẽ chứng kiến những chuyến bay di tản rầm rộ với quy mô chưa từng thấy, đặc biệt từ các nước phương Tây. nCoV lan tràn trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và nền kinh tế Trung Quốc đang đi xuống. Để đối phó với thách thức lớn như thế, Trung Quốc cần huy động nguồn lực của toàn quốc và 1,4 tỷ công dân. Nay phải tập trung nguồn lực vào việc chống dịch bệnh, kinh tế Trung Quốc có thể đành phải “”ngủ đông”, thậm chí tạm thời rút khỏi chính trị thế giới nếu cần thiết. Hậu quả về địa chính trị và kinh tế là rất lớn trong tương lai gần, nếu Bắc Kinh xác định rằng với tình hình bi đát như thế, tạm thời ẩn dật có thể là biện pháp tốt nhất. Mỹ sẽ là nước hưởng lợi nhiều nhất. Kinh tế Trung Quốc tiếp tục đi xuống, tác động của cuộc khủng hoảng hiện nay đến cỡ nào vẫn chưa rõ. Tạm thời, cán cân sức mạnh nghiêng về phía Mỹ.

Hiện tại, các nhóm nước có chính sách đối ngoại độc lập vốn thường đối nghịch với quan điểm của Mỹ, đặc biệt là Iran, Trung Quốc, Nga và nay là Thổ Nhĩ Kỳ chắc chắn rằng khi họ tham gia một “trục”, tất cả thành viên phải có khả năng kháng cự lại Mỹ và phương Tây nói chung. Nhưng nếu một nước đứng ra bên ngoài, nhất là từ trục Trung – Nga – Iran, cán cân quyền lực toàn cầu sẽ nghiêng về phương Tây. Như vậy việc Trung Quốc quy ẩn giang hồ sẽ là ác mộng cho Nga và Iran. Tuy vậy, Trung Quốc cũng có thể có được một ít tác động tích cực từ khủng hoảng, vì các cuộc biểu tình đông đảo ở Hong Kong luôn gây khó chịu cho Bắc Kinh từ mùa hè 2019 có thể ngưng lại vì nguy hiểm của virus corona. Dù đã có 10 trường hợp nhiễm bệnh, tất cả đều từ Hoa lục sang, người dân vẫn biểu tình đòi đóng cửa toàn bộ biên giới, và mới đây các nhân viên y tế đã đình công để hỗ trợ. nCoV đã gây ra tình huống bi hài là năm 2019 chính quyền Hong Kong cố gắng cấm mang khẩu trang ở nơi công cộng, còn bây giờ thì phải kêu gọi người dân trang bị để tránh virus lây lan. Các thuyết âm mưu nảy nở. Chẳng hạn chính khách Nga Vladimir Zhhirinovsky cho rằng con virus này do người Mỹ tạo ra để làm hại Trung Quốc. Hồi năm 2013 đại tá không quân Trung Quốc Dai Xu cũng cáo buộc chính phủ Mỹ đã thả con virus cúm gà H7N9 vào Trung Quốc để tiến hành chiến tranh sinh học. Ngược lại, giả thiết virus corona là từ chương trình vũ khí sinh học của Trung Quốc và Viện Vi trùng học Vũ Hán đang được lan truyền rộng rãi trên các mạng xã hội. Cùng lúc đó, ở phần còn lại của thế giới đang nảy sinh tâm lý kỳ thị người Trung Quốc, và thật ra là người châu Á vì nhiều người không phân biệt được các nước châu Á. Hashtag tạm dịch là “Tôi không phải là virus” ra đời vì thế, và nếu trong thời gian ngắn sự lây lan của virus corona không dừng lại thì sự phân biệt đối xử với người Trung Quốc sẽ tăng lên, dẫn đến việc thổi bùng chủ nghĩa dân tộc ở Hoa lục.

Không ai vô sự khi nền kinh tế thứ hai thế giới đi xuống. Ngay cả khi phần còn lại của thế giới thành công trong việc ngăn chặn lại virus corona, kinh tế toàn cầu cũng cùng bị “ho và khó thở” với Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 06/02/2020

Lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay – Phần đầu


Vũ Văn Viên

Thuật ngữ “hài hòa” xuất hiện từ rất sớm trong các hệ thống triết học thời cổ địa, cả ở phương Đông lẫn ở phương Tây. Tuy nhiên, thuật ngữ này chỉ mới được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng và phát triển xã hội trong thời gian ngắn đây. Trong bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi một số suy nghĩ của mình về lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và một số điểm tương đồng của nó với đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

1/ Về tư tưởng hài hòa và lý luận xây dựng xã hội hài hòa

Ngay từ thời cổ đại, cùng với những khái niệm cơ bản của triết học như “biện chứng”, “mâu thuẫn”…, khái niệm “hài hòa” cũng đã xuất hiện dưới các mô thức khác nhau. Chẳng hạn, trong hệ thống triết học của trường phái Pitago, một mặt, hài hòa là quay tắc cơ bản của số; mặt khác, số lại là nguồn gốc của các sự vật trong thế giới. Tương đồng với vế thứ hai của luận điểm này. Platon cho rằng, quy tắc của số là hài hòa, các con số là một bản chất của các sự vật cảm tính. Như vậy, từ chỗ xem hài hòa là thuộc tính (quy tắc) cơ bản của các con số, các trường phái triết học này đã đi đến quan niệm coi mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều là hài hòa.

Nhà biện chứng Heraclite, từ chỗ quan niệm vận động và đứng im là một sự thống nhất của các mặt đối lập đã đi đến kết luận cho rằng, đấu tranh hài hòa thống nhất với nhau, chúng tồn tại không thể thiếu nhau và chúng được thể hiện ra thông qua nhau. Ông khẳng định dòng sông luôn chảy, đồng thời nhấn mạnh rằng không có gì ổn định và bất biến hơn dòng sông luôn chảy; nói cach khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đúng im của nó và tính xác định của dòng sông không loại trừ sự vận động của nó. Ông còn khẳng định: “Khi biến đổi, nó đứng im”. Rõ ràng, với những quan niệm trên đây, chúng ta có thể thấy Heraclite đã đề cập đến cái hài hòa trong đấu tranh, thống nhất trong phân đôi, đồng nhất trong khác biệt. Trong lý luận về logos, ông khẳng định logos là sự thống nhất của mọi hiện hữu. Như vậy, sự thống nhất ở đây là sự đồng nhất của những cái đa dạng, là sự hài hòa giữa các mặt đối lập. Ông cho rằng, ngày và đêm, thiện và ác không phải là một, nhưng chúng là những đối lập nối tiếp nhau tạo ra tính chu kỳ, tính lặp lại. Bản thân tính chu kỳ và sự lặp lại đó được quy định bởi sự thống nhất, sự hài hòa giữa các mặt đối lập. Từ những phân tích trên đây có thể thấy, ở phương Tây, khái niệm “hài hòa” ra đời từ rất sớm và nó đã thực sự là một khái niệm quan trọng trong tư tưởng triết học phương Tây cổ đại.

Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, các nhà tư tưởng Trung Quốc cũng có những quan niệm khá đặc sắc về “hài hòa”. Tư tưởng “thiên nhân hợp nhất” thể hiện đậm nét quan niệm về sự hài hòa giữa con người và tự nhiên. Quan niệm này nhấn mạnh con người phải hòa nhập với thiên nhiên, tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên, phải sống hài hòa với tự nhiên. Quan niệm này tồn tại và phát triển xuyên suốt lịhc sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại.

Bên cạnh quan niệm về sự hài hòa giữa con người và tự nhiên, các nhà tư tưởng Trung Quốc cũng rất quan tâm đến sự hài hòa giữa con người và con người, giữa con người và xã hội. Họ đã đưa ra nhiều tư tưởng về duy trì sự đoàn kết và sự ổn định xã hội, đó là các tư tưởng về “xã hội đại đồng”, “thái bình thịnh trị”; về tình bằng hữu “bốn biển đều là anh em”,… Nhìn chung, theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, khái niệm hài hòa là một trong những khái niệm quan trọng trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ, trung đại và nó ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của đất nước Trung Quốc. Trong di sản của các nhà tư tưởng cổ đại Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy tư tưởng biện chứng của Lão Tử có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với lý luận xây ựng xã hội hài hòa. Tư tưởng biện chứng của ông xem trọng tính thống nhất (hài hòa) giữa các mặt đối lập, coi trọng mối quan hệ tương tác, tương sinh mà không bàn đến mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn (đấu tranh và đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn). Ông coi quy luật bình quân là cơ sở cho sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng nói chung, của xã hội nói riêng. Chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, trong lịch sử Trung Quốc, một xã hội “thái bình, thịnh trị” chính là biểu hiện sơ khai của một xã hội hài hòa.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, quan niệm hài hòa cũng đã được đề cập đến. Chẳng hạn, trong lịch sử, cũng có thời kỳ người Việt Nam lấy Phật giáo, hoặc Nho giáo làm tư tưởng chủ đạo, song trên tổng thể xã hội mà nói, tam giáo dung hòa luôn là xu hướng được chú ý. Chính vì lẽ đó đã hình thành tư tưởng “tam giáo đồng nguyên”. Thậm chí, xu hướng này còn đậm nét hơn cả ở Trung Quốc. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, tư tưởng hòa hợp luôn được người Việt Nam đề cao. Chẳng hạn, các tư tưởng như “hòa hợp”, “đồng tâm hiệp lực”, “trên dưới đồng lòng”, “hòa hợp dân tộc”, “đại đoàn kết dân tộc”… Có thể nói, sự hài hòa cũng là một nhân tố tạo nên sức mạnh truyền thống của người Việt Nam.

Chủ nghĩa Marx ra đời khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển khá mạnh ở các nước phương Tây, đưa phương Tây trở thành trung tâm của văn minh nhân loại. Tuy nhiên, cùng với những tiến bộ đạt được, chủ nghĩa tư bản cũng để lại nhiều hậu quả về xã hội, đặc biệt là tạo ra nhiều mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội. Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm xây dựng một xã hội mới ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng. Chủ nghĩa Marx nói chung, triết học Marx nói riêng trở thành vũ khí tinh thần, cơ sở lý luận cho công cuộc cải tạo xã hội ấy.

Triết học Marx xem lý luận phát triển là trọng tâm và học thuyết mâu thuẫn – đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập – là hạt nhân của nó. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập phản ánh một cách sâu sắc logic nội tại của sự tồn tại và phát triển xã hội loài người. Chúng tôi thiết nghĩ, ý nghĩa thực tiễn sâu xa của quy luật này phải chăng là: tùy điều kiện thực tế mà vận dụng hoặc đề cao sự thống nhất – hài hòa giữa các mặt đối lập, trong đó phải tính đến sự phát triển trong sự hài hòa giữa các mặt đối lập. Trong bối cảnh hiện tại, khi xã hội hướng tới sự ổn định để phát triển thì việc đề cao sự phát triển trong sự hài hòa giữa các mặt đối lập là cần thiết. Và đó chính là cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng xã hội hài hòa. Đây thực sự là một vấn đề lớn cần được đi sâu nghiên cứu để có những kiến giải cụ thể hơn.

Kế thừa các tư tưởng về hài hòa trong lịch sử, vận dụng sáng tạo lý luận phát triển của chủ nghĩa Marx, trong quá trình cải cách và mở cửa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã dần dần xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc mà đỉnh cao là lý luận “xây dựng xã hội hài hòa”. Ngày 19/9/2004, tại Hội nghị trung ương lần thứ 4, khóa XVI, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chính thức đề ra mục tiêu chiến lược: “xây dựng xã hội hài hòa”. Nội dung cơ bản của lý luận xã hội hài hòa là dân chủ pháp trị, công bằng chính nghĩa, trật tự ổn định, thành tín hữu ái, tràn đầy sức sống, con người và tự nhiên có mối quan hệ hài hòa.

Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tập trung mọi nỗ lực lãnh đạo nhân dân xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, cũng diễn ra nhiều cuộc thảo luận góp phần làm rõ nhiều nội dung của lý luận xây dựng xã hội hài hòa. Nói một cách khái quát nhất, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, xét từ khía cạnh triết học, xã hội hài hòa là xã hội ở trạng thái tồn tại và phát triển cân đối, điều hòa giữa các mặt của đời sống xã hội, giữa các cộng đồng dân cư, giữa con người với tự nhiên, là giai đoạn lý tưởng và hình thức hoàn mỹ của sự phát triển trong sự thống nhất của các mặt đối lập. Thực tiễn công tác lý luận những năm qua ở Trung Quốc đã chứng tỏ sức sống của lý luận này và chúng ta hoàn toàn có thể xem xây dựng xã hội hài hòa chính là mục tiêu nhất quán của Trung Quốc trong thời gian tới.

Ở Việt Nam, dư âm của lý luận xây dựng xã hội hài hòa cũng không nhỏ. Gần đây, nhiều nhà lý luận, nhiều nhà khoa học rất chú ý tới lý luận này và cố gắng liên hệ nó với thực tiễn phát triển của xã hội Việ Nam. Từ quan điểm cá nhân, chúng tôi nghĩ rằng, xét trên khía cạnh văn hóa truyền thống cũng như con đường phát triển hiện nay, hai nước chúng ta có những điểm tương đồng sâu sắc. Vì vậy, việc tham khảo những thành quả lý luận và thực tiễn của mỗi nước là việc làm cần thiết. Tất nhiên, sức sống của một lý luận – xây dựng xã hội hài hòa – rồi đây sẽ được thực tiễn kiểm nghiệm, song việc tìm hiểu và thảo luận về nó luôn là cần thiết. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam cũng đang từng bước xây dựng lý thuyết phát triển của riêng mình. Dưới đây, chúng tôi xin đề cập đến những nét tương đồng giữa lý luận xây dựng xã hội hài hòa  ở Trung Quốc với những mục tiêu cơ bản mà công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang đặt ra.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Tác động về kinh tế của dịch viêm đường hô cấp nCoV tại Trung Quốc đến các nước


Tầm ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc

Tờ New York Times ngày 3/2 đăng bài nhận định gần 20 năm kể từ dịch Viêm đường hô hấp (SARS), tầm quan trọng của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu đã tăng theo cấp số nhân. Do vậy, virus chết người corona đang lây lan nhanh chóng khắp thế giới càng trở thành mối đe dọa lớn hơn đối với nền kinh tế quốc gia. Nguy cơ như vậy cũng tác động đến xu hướng dịch chuyển sản xấut từ Trung Quốc sang Việt Nam, vốn đã trở thành “hiện tượng” từ khi bùng nổ xung đột thương mại Mỹ – Trung.

Theo tờ báo, các hãng Apple, Starbuck và Ikea đã tạm thời đóng cửa các cửa hàng tại Trung Quốc. Các trung tâm mua sắm bị “bỏ hoang” đe dọa doanh số bán giày thể thao Nike, quần áo Under Armour và hamburger McDonald. Các nhà máy sản xuất ô tô cho General Motors và Toyota đang trì hoãn sản xuất khi chờ công nhân trở lại làm việc sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Các hãng hàng không quốc tế như American Arilines, Delta, United, Lufthansa và British Airways đã hủy các chuyến bay đến Trung Quốc.

Theo dự báo thận trọng từ Oxford economy do tác động của virus corona, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong năm nay dự kiến giảm xuống còn 5,6% so với mức 6,1% của năm 2019. Điều đó sẽ khiến kinh tế toàn cầu trong năm 2020 giảm 0,2% xuống còn 2,3% – mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu một thập kỷ trước. Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung khiến các nhà sản xuất ở Trung Quốc “né” thuế quan của Mỹ bằng cách chuyển sản xuất sang các nước khác – đặc biệt là Việt Nam. Dịch virus corona có thể đẩy nhanh xu hướng này, ít nhất là trong một thời gian.

Trong nỗ lực ngăn chặn sự lây lan virus, chính phủ Trung Quốc đã kéo dài kỳ nghỉ Tết Nguyên đán đến ngày 31/1 vừa qua, tức là thêm 3 ngày. Tuy nhiên, nỗi sợ virus lan rộng lớn đến mức nhiều công nhân có thể sẽ rời bỏ các thị trấn nhà máy trong tuần này. Những lo lắng tương tự cũng xuất hiện khi SARS bùng phát vào năm 2002 và 2003, khi virus này xuất hiện ở tỉnh Quảng Đông trước khi lan rộng khắp Trung Quốc và trên thế giới, cướp đi sinh mạng gần 800 người tại ít nhất 17 quốc gia.

Không ai biết sự bùng phát của virus corona sẽ kéo dài bao lâu, nó sẽ lan rộng bao xa và cướp đi bao nhiêu sinh mạng. Không thể tính toán được mức độ đại dịch này tác động đến nền kinh tế Trung Quốc. Tuy nhiên, tầm vóc “ghê gớm” của Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới có nghĩa là tác động của đợt bùng phát dịch hiện nay có khả năng vượt xa so với SARS. Sau SARS, Trung Quốc đã phải chịu nhiều tháng kinh tế bị thu hẹp và sau đó hồi phục mạnh mẽ. Điều đó có thể tái diễn sau đại dịch virus corona. Điều chắc chắn duy nhất hiện nay là: Mọi thứ xảy ra ở Trung Quốc đều có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn.

IMF đánh giá tác động của nCov đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu

Hãng tin Nikkei đăng tải bài phân tích đánh giá của IMF về tác động của dịch virus Corona đối với nền kinh tế toàn cầu và đưa ra một số khuyến nghị quan trọng đối với các nền kinh tế, nội dung như sau:

Giám đốc điều hành Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) Kristalina Georgieva vừa đưa ra đánh giá rằng sự bùng phát trên diện rộng của virus Corona chủng mới (2019-nCoV) được cho là sẽ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu, ít nhất là trong ngắn hạn. Tác động của dịch bệnh trên, trong ngắn hạn, nhiều khả năng sẽ dẫn đến một giai đoạn chậm lại của của nền kinh tế thế giới. Trong dài hạn, hiệu ứng của dịch viêm đường hô hấp cấp vẫn chưa được đánh giá vì thiếu dữ liệu và thời gian theo dõi mô hình lây lan. Thế giới cần phải đánh giá được tốc độ hành động cần thiết để kiểm soát sự lây lan của nCoV, cũng như hiệu quả thực sự của các biện pháp được đưa ra.

Những tác động ban đầu đã được thể hiện rõ trong những ngày qua. Theo Giám đốc IMF, thế giới chứng kiến những hệ quả trực tiếp đang dần hình thành ở lĩnh vực sản xuất, các chuỗi giá trị đang bị ảnh hưởng từ sự gián đoạn do dịch bệnh trên tạo ra. Những lĩnh vực như vận tải hành khách và du lịch cũng đã trực tiếp bị thiệt hại trong tuần qua. Tuy nhiên, theo đánh giá trên, dịch bệnh do nCoV cuối cùng cũng chỉ có tác động “tương đối nhỏ” đến tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Trước đây, WHO báo cáo dịch SARS lla6y lan đến 29 quốc gia và vùng lãnh thổ, gây ra cái chết cho 774 người trong 7 tháng kéo dài từ năm 2002 đến 2003. Bà Georgieva đánh giá tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu đã giảm nhẹ trong và ngay sau khi đại dịch SARS được kiểm soát thành công, nhưng sau đó, nền kinh tế thế giới sẽ lấy lại đà tăng trưởng, dẫn đến kết quả là tốc độ tăng trưởng cả năm chị bị giảm 0,1%. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc có vai trò quan trọng hơn rất nhiều trong nền kinh tế quốc tế so với 17 năm trước. Nền kinh tế Trung Quốc tại thời điểm diễn ra dịch SARS chiếm tỷ lệ nhỏ hơn trong nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế nước này chỉ chiếm 4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu trong năm 2003, nhưng hiện nay đã đóng góp lên đến 18% tổng GDP toàn cầu. Theo đó, Trung Quốc đóng vai trò quan trọng hơn trên bình diện quốc tế.

IMF dự đoán nền kinh tế thế giới sẽ tăng trưởng 3,3% vào năm nay, nhưng vẫn ở tình trạng trì trệ và các nguy cơ vẫn còn đó… Quỹ tiền tệ này đã có kế hoạch đưa ra đánh giá tác động kinh tế của dịch nCoV sớm nhất là trong tháng này. Những mối quan ngại về dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp đã gây thiệt hại cho giá cổ phiếu, trong đó chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones mất 603 điểm vào thứ sáu tuần trước.

Về chính sách tiền tệ, Giám đốc điều hành IMF đưa ra khuyến nghị mạnh mẽ với các ngân hàng trung ương các nước về sự cần thiết của việc duy trì lập trường chính sách tiền tệ thích ứng (accommodative stance) trong năm 2020. Trong năm 2019, 49 ngân hàng trung ương đã cắt giảm tỷ lệ lãi suất, nâng tốc độ tăng trưởng kinh tế lên thêm nửa điểm phần trăm. Nếu các nước không có chính sách tiền tệ đồng bộ như thế, tăng trưởng kinh tế có lẽ đã rơi vào vùng nguy cơ suy thoái theo đánh giá của IMF. Tuy nhiên, chính sách nới lỏng thái quá đã làm cho nợ vượt mức trước khủng hoảng nợ. Trong cơn khát lợi nhuận, các thực thể kinh tế trở nên cởi mở hơn trong việc chấp nhận nhiều rủi ro hơn, do đó sự tăng lên của rủi ro tăng lên cần phải đặt vào tâm điểm theo dõi. Các ngân hàng trung ương của Nhật Bản và châu Âu đang tiến hành một nghiên cứu chung về việc phát hành các đồng tiền điện tử. Theo bà Georgieva, IMF nhận thấy những lợi ích đáng kể từ việc chuyển sang các đồng tiền điện tử, trong đó có yếu tố giảm chi phí. Đồng thời, các đồng tiền điện tử do ngân hàng trung ương phát hành phải đối mặt với các nguy cơ như tấn công mạng, cũng như các hậu quả không mong muốn trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia. Theo đó, IMF khuyến nghị các nước cần có cách tiếp cận hết sức cẩn trọng khi quyết định chuyển sang đồng tiền điện tử.

Mỹ và Trung Quốc đã ký thỏa thuận thương mại “giai đoạn một” vào tháng 1 vừa qua. Vào tháng 11 năm ngoái, IMF ước tính những căng thẳng thương mại sẽ cuốn đi 0,8% tốc độ tăng trưởng GPD toàn cầu trong năm 2020. Thế giới cần nhận thức rằng trong 0,8% trên, chỉ có 0,3% nguyên nhân từ các loại thuế được áp dụng, 0,5% còn lại bắt nguồn từ sự sụt giảm đầu tư do những yếu tố không chắc chắn. Theo đó, tăng trưởng kinh tế toàn cầu cao hơn sẽ không diễn ra khi chúng ta không giải quyết được các yếu tố không rõ ràng trong nền kinh tế.

Nguồn: TKNB – 05/02/2020.

Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh hơn Trung Quốc


Trang voanews.com vừa đăng bài phân tích về mục tiêu tăng trưởng kinh tế Việt Nam đặt ra cho năm 2020.

Việt Nam đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 7% trong năm nay, cao hơn Trung Quốc, nước được mệnh danh là công xưởng của thế giới. Việc đặt mục tiêu đầy tham vọng này là dựa trên đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, ít xung đột thương mại và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu.

Công ty phân tích chứng khoán SSI Research tại Hà Nội ngày 3/1 cho biết Chính phủ Việt Nam đã chính thức quyết định đặt mục tiêu tăng trưởng GDP trong năm 2020 từ 6,8% đến 7%. Sản xuất sẽ là mũi nhọn tăng trưởng và tiếp ngay sau sẽ là ngành dịch vụ.

Theo dữ liệu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), việc ấn định tốc độ tăng trưởng 7% sẽ đưa Việt Nam vào danh sách 10 nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất châu Á vào năm 2020 vượt qua cả Trung Quốc. ADB dự báo GDP của Trung Quốc chỉ đạt mức tăng 6%.

Song Seng Wun, một nhà kinh tế của ngân hàng tư nhân CIMB tại Singapore cho biết, đầu tư cho các nhà máy, văn phòng và cảng biển chiếm phần lớn trong số đầu tư vào Việt Nam. Hoạt động tiêu thụ hiện đang trở nên rõ ràng hơn.

Nhà máy, du lịch, giáo dục

Các nhà phân tích quốc gia nhận định ngành sản xuất có vốn đầu tư nước ngoài dự kiến sẽ dẫn dắt nền kinh tế Việt Nam trong năm 2020. Chuyên gia Song cho rằng “sự ổn định chính trị” khiến cho Việt Nam trở thành một địa điểm đầu tư hấp dẫn với nước ngoài.

Các nhà đầu tư thường chủ yếu đến từ Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan. Các nhà máy của họ tại Việt Nam sản xuất hàng may mặc, phụ tùng ô tô và hàng điện tử tiêu dùng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết trong nửa đầu năm 2019, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã được giải ngân 9,1 tỷ USD, tăng gần 8% so với cùng kỳ năm 2018.

Ngoài sản xuất, các nhà phân tích chỉ ra sự tăng trưởng trong du lịch và giáo dục đại học.

Từ năm 2010 đến năm 2018, số lượng khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam đã tăng từ 5 triệu lên hơn 15 triệu lượt người, phần lớn do lượng khách Trung Quốc tăng.

Về giáo dục, ông Murray Hiebert, cộng tác viên cao cấp của Chương trình Đông Nam Á tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và nghiên cứu quốc tế tại Washington D.C, nhận định giáo dục ngày càng trở thành vấn đề quan trọng vì các nhà đầu tư muốn người lao động có kỹ năng tốt hơn vì họ đang tìm kiếm lao động kỹ thuật cũng như lao động quản lý văn phòng.

Theo ông, “một trong những điểm mạnh quan trọng là đặt giáo dục lên ưu tiên hàng đầu. Một điểm yếu là hệ thống giáo dục Nho giáo dạy học sinh ghi nhớ để có thể vượt qua các kỳ thi, nhưng học sinh không thực sự được học cách suy nghĩ nghiêm túc hoặc học cách giải quyết vấn đề”.

Tập đoàn tư vấn Boston dự báo hơn 1/3 dân số Việt Nam sẽ thuộc tầng lớp trung lưu trở lên trong năm nay. Rất nhiều người đang sống tốt hơn trong bối cảnh xuất khẩu khởi sắc tạo ra việc làm mới. Người tiêu dùng thường có xu hướng chi tiêu cho các thiết bị điện tử, xe máy, du lịch và việc học tập của con em.

Chiến tranh thương mại chuyển hướng

Năm 2018, các nhà đầu tư nước ngoài đã chuẩn bị để rút vốn ra khỏi Trung Quốc, né tránh tranh chấp thương mại Trung – Mỹ. Giới phân tích cho rằng các nhà đầu tư này hiện mang số tiến đó vào Việt Nam. Adam McCarty, nhà kinh tế trưởng của trung tâm Kinh tế Mekong tại Hà Nội cho biết sự chuyển hướng đầu tư từ Trung Quốc chiếm khoảng 1% GDP Việt Nam.

Theo chuyên gia Song, khá dễ dàng để một nền kinh tế tương đối nhỏ thu hút đầu tư trong bối cảnh căng thẳng thương mại leo thang.

Xung đột thương mại Mỹ – Trung nổ ra vào năm 2018 dẫn đến việc Mỹ áp thuế đối với 550 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc xuất sang Mỹ. Ông McCarty cho rằng sự chuyển hướng sang Việt Nam đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về việc hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc được dán nhãn Việt Nam để tái xuất sang Mỹ. Tuy nhiên, ông nhận định: “Bây giờ, các khoản đầu tư thực tế đang được triển khai. Đầu tiên là đưa ra ý tưởng, cân nhắc, sau đó lập kế hoạch và tiếp theo là chuyển nhà máy. Vì vậy, giờ đây, các nhà máy đang được di chuyển sau khoảng một năm xảy ra tranh chấp thương mại”.

Nhanh hơn Trung Quốc

Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế về dự án kinh tế & chính trị Trung Quốc, Scott Kennedy, cho rằng tranh chấp thương mại đã “góp phần” làm chậm tăng trưởng GDP ở Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, GDP của Trung Quốc được dự báo tăng 6,1% trong năm 2019 sau khi tăng 6,6% vào năm 2108, giảm so với tỷ lệ hai chữ số mỗi năm cách đây một thập kỷ. Ông Kenedy nhấn mạnh: “Tranh chấp thương mại đã làm tổn thương lòng tin kinh doanh”.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã thoái vốn ra khỏi Trung Quốc ngay cả trước khi tranh chấp thương mại nổ ra. Trung Quốc vẫn là quốc gia được biết đến là công xưởng của thế giới, nhưng giá nhân công và đất đai bắt đầu tăng. Các quốc gia, hầu hết ở Đông Nam Á, đã trở thành điểm đến của một số nguồn vốn trên.

Nguồn: TKNB – 17/01/2020.

Những tác động kinh tế – chính trị – xã hội của dịch bệnh đối với Trung Quốc


Những bất ổn xã hội

Quốc tế tiếp tục di tản công dân và cấm du khách Trung Quốc. Doanh nghiệp nước ngoài ngừng hoặc giảm hoạt động. Tác hại tới nền kinh tế đã rõ. Ngày 2/2, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc loan báo đầu tư kích hoạt kinh tế 1000 tỷ NDT. Tạp chí kinh tế Caixin đưa tin siêu vi viêm phổ chủng mới corona đã làm cho các ngành dịch vụ từ quán ăn, du lịch hco đến giải trí bị thiệt hại 143 tỷ USD ngay trong tuần nghỉ lễ đầu tiên của Tết Nguyên Đán.

Trong khi đó, thiếu thốn dụng cụ – thiết bị y tế, các hoạt động kinh tế bị đình trệ, Trung Quốc giờ có nguy cơ đối mặt với bùng nổ xã hội. Việc các nhà xưởng phải kéo dài ngày nghỉ buộc chính quyền Bắc Kinh theo dõi sát sao tỷ lệ thất nghiệp do lo ngại bất ổn xã hội. Ông Samuel Franҫois, giảng viên Y khoa, Đại học Vũ Hán nhận định hiện tại, người dân Vũ Hán vẫn còn “giữ nụ cười”, chưa tỏ ra hoảng loạn, bất chấp tình trạng bị cách ly. Tuy nhiên, nếu kéo dài, “tình hình có nguy cơ thay đổi”.

Trong bài “Giám sát tất cả, trừ sức khỏe”, tờ Minh Báo của Hong Kong nhận định virus corona là thất bại của hệ thống giám sát Trung Quốc. Theo tời báo, tuy vụ này bề ngoài không có vẻ gì là chính trị, nhưng đã làm gia tăng sự hoài nghi của các nước láng giềng, chính quyền Trung Quốc đã thua một ván trên trường quốc tế. Câu hỏi đặt ra là tại sao một cuộc khủng hoảng dịch tễ với tầm vóc như vậy lại có thể xảy ra vào lúc Bắc Kinh sở hữu hệ thống giám sát ngày càng hoàn hảo. Chính quyền không ngần ngại tung tiền vào công nghệ thông tin, và đã trở thành một siêu cường về khoa học và công nghệ. An ninh quốc gia được đặt lên trên hết, tự do cá nhân không là gì cả. Lẽ ra, chính quyền có thể nhanh chóng theo dõi trên cả nước.

Cho đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhận ra tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng dịch bệnh và khả năng gây bất ổn đối với Đảng, và đang huy động mọi nguồn lực để giải quyết khủng hoảng. Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực của giới lãnh đạo, người dân Trung Quốc có thể vẫn chỉ trích gay gắt họ trong việc kiểm soát thông tin.

Theo tờ L’Obs của Pháp, quyền lực của Tập Cận Bình đã lung lay. Bắc Kinh nay đã ý thức được dịch corona có nguy cơ làm xấu đi hình ảnh của đảng, và rất có thể, các quan chức địa phương sẽ trở thành vật tế thần. Tuy nhiên, chính sự độc tài cảu Tập Cận Bình đã đóng vai trò quan trọng trong thảm họa. Nhà sử học Chương Lập Phàm (Zhang Lifan) giải thích: “Vì tại Trung Quốc, không có gì được tiến hành nếu không có đèn xanh của Tập Cận Bình? Cán bộ các cấp đều thu mình chờ đợi, chỉ thi hành lệnh trên cho khỏi rắc rối. Tuy nhiên, đôi khi cần phải biết hành động”.

The Economist nhận định: Đối với Tập Cận Bình, cuộc khủng hoảng virus corona lần này là thách thức lớn nhất trong sự nghiệp của ông. Và nếu trở thành đại dịch,các đối thủ đang âm thầm phản đối việc thâu tóm mọi quyền hành của ông Tập, có thể hành động chống lại ông. Trong khi đó, Adam Ni, một nhà nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Macquarie (Australia) cho rằng dù uy tín của Tập Cận Bình có khả năng bị ảnh hưởng, nhưng ông cũng sẽ “tắm trong vinh quang” nếu mọi việc được giải quyết suôn sẻ.

Tương tự, tờ New York Times (Mỹ) cho rằng dịch bệnh mà thế giới đang gánh chịu hiện nay cho thấy sự nguy hiểm mà mô hình chuyên chế của Tập Cận Bình mang lại cho Trung Quốc và thế giới. Nguyên nhân chính quyền thời gian đầu che giấu dịch bệnh là do Trung Quốc đã chà đạp một cách có hệ thống các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, các tổ chức phi chính phủ, các luật sư và những thể chế khác. Về mặt xã hội dân sự, Tập Cận Bình đã kéo Trung Quốc lùi lại một chặng dài, dập tắt hầu hết mọi hy vọng về tự do và giám sát (đối với chính quyền). Cũng vì lý do này mà một Trung Quốc ngày càng độc đoán của Tập đã tỏ ra lúng túng trong việc đối phó với sự bùng phát của virus Corona, đồng thời không thể xử lý ổn thỏa dịch tả lợn châu Phi bắt đầu từ năm 2018, vốn giết chết gần 1/4 số đàn lợn của toàn thế giới.

Trung Quốc phải hoãn kỳ họp Lưỡng hội vì dịch bệnh?

Kỳ họp lưỡng hội Trung Quốc, bao gồm kỳ họp Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) và Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc (Mặt trận Tổ quốc) mỗi năm một lần thường được tiến hành vào đầu tháng 3 tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, lần này lại đúng vào lúc dịch bệnh viêm đường hô hấp do virus Corona chủng mới xuất hiện, tình hình dịch bệnh lại lan rộng khắp Trung Quốc với tốc độ chóng mặt. Tính đến nay, Lưỡng hội cấp tỉnh của 8 tỉnh như Vân Nam, Thiểm Tây, Sơn Đông… đã tuyên bố lùi ngày họp. Lưỡng hội toàn quốc liệu có thay đổi thời gian hay không đã trở thành đề tài nóng được thảo luận của các đại biểu Đại hội.

Tờ Tín báo (Hong Kong) vừa đăng bài phân tích cho rằng mặc dù tạm thời chưa có bất kỳ công bố chính thức nào, nhưng một số đại biểu Hong Kong dự đoán xác suất Lưỡng hội hoãn ngày họp là rất cao. Có Ủy viên Chính hiệp tin rằng nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục xấu đi, một số Ủy viên Chính hiệp hoặc đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc cao tuổi có thể sẽ xin phép nghỉ.

Mặc dù nhiều đại biểu Đại hội nhân dân toàn quốc và Ủy viên Chính hiệp chưa nghe nói Chính quyền Bắc Kinh dự tính lùi ngày họp Lưỡng hội, chỉ có các đại biểu dự đoán xác suất dời ngày họp Lưỡng hội cao đến 30%, hơn nữa tỉ lệ này không ngừng gia tăng, đặc biệt sau khi hết kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán, dịch bệnh viêm phổi do virus corona xuất hiện làn sóng bùng phát đợt hai, khi đó Bắc Kinh khó tránh khỏi thế khó.

Có Ủy viên Chính hiệp còn cho rằng còn 1 tháng nữa mới đến thời điểm diễn ra kỳ họp Lưỡng hội, tình hình dịch bệnh vẫn còn tồn tại biến số tương đối lớn. Trong giai đoạn hiện nay, tuyên bố dời ngày họp Lưỡng hội dường như là quá sớm, huống hồ, Lưỡng hội là việc đại sự quốc gia, vừa có Thủ tướng đọc “Báo cáo công tác chính phủ” đưa ra mục tiêu GDP, vừa có không ít các chính sách quốc gia được công bố. Nếu như dời ỳ họp sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc và cũng gián tiếp phản ánh sự bất lực trong việc phòng chống dịch bệnh cảu chính quyền Bắc Kinh.

Đối với phe Kiến chế (ủng hộ chính quyền) trong Hội đồng lập pháp Hong Kong, việc dời ngày họp Lưỡng hội không phải là tin xấu, liên quan đến việc hàng năm vào thời gian này đều có rất nhiều nghị sĩ kiêm nhiệm đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy viên Chính hiệp phải lên Bắc Kinh dự kỳ họp Lưỡng hội, khiến các cuộc họp tại Hội đồng lập pháp phải tạm hoãn. Tuy nhiên, hiện nay môi trường chính trị Hong Kong thay đổi nhanh chóng, nhiều nghị sĩ quan trọng thuộc phe “Kiến chế” đi Bắc Kinh dự họp hơn 10 ngày, đến lúc đó tình hình đặc khu e rằng đã có sự chuyển hướng 180 độ. Do vậy, nhiều nghị sĩ phe “Kiến chế” kiêm nhiệm Đại biểu hoặc Ủy viên Chính hiệp đều muốn ở lại Hong Kong để phòng chống dịch bệnh còn hơn là đi Bắc Kinh “khoanh tay đứng nhìn”.

Nguy cơ đối với các dự án ở nước ngoài của Trung quốc

Theo Global Times, bệnh dịch virus corona bùng phát chắc chắn sẽ tác động tiêu cực đến các dự án ở nước ngoài của Trung Quốc trong ngắn hạn và các hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng ồ ạt của Trung Quốc trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) có thể sẽ chịu tác động lớn.

Theo một tờ báo của Pakistan, trên thực tế, một vài dự án trong Hành lang Kinh tế Trung – Pakistan đã bị trì hoãn do dịch bệnh bùng phát, mặc dù chưa có trường hợp nào được xác nhận ở nước này. Với những trường hợp nhiễm virus corona mới được thông báo ở các nước như Nepal, Sri Lanka và Campuchia, những lo ngại về loại virus này là điều dễ hiểu ở các nước láng giềng. Tuy nhiên, bất chấp sự kiện này, việc các công ty tiếp tục thực hiện các dự án BRI là rất cần thiết để cố gắng bảo đảm hoạt động trơn tru của dự án. Tất cả các dự án đều liên quan đến các khoản đầu tư khổng lồ, và bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể dẫn tới rủi ro gia tăng và gây tổn thất lớn về tài chính.

Cần phải nói rõ rằng dịch bệnh này chỉ là một yếu tố ngắn hạn, có thể phá vỡ một số quy trình hoạt động bình thường, nhưng nó sẽ không làm thay đổi bản chất cùng có lợi của các dự án BRI. Và trong những thời điểm khó khăn này, điều cần thiết hơn bao giờ hết đối với Trung Quốc và các nước liên quan là phải tăng cường hợp tác để vượt qua những trở ngại. Trong khi đó, các công ty Trung Quốc cần chuẩn bị những kế hoạch dự phòng để làm thế nào tăng cường liên lạc với các quan chức và doanh nghiệp ở các nước dọc theo tuyến đường BRI để giải quyết mọi vấn đề nhanh nhất có thể. Nếu cần, chính phủ Trung Quốc cũng nên cung cấp một số hỗ trợ để giúp các doanh nghiệp nước này trấn an các đối tác nước ngoài rằng các dự án không bị ảnh hưởng nhiều.

Nguồn: TKNB – 04/02/2020.