Kinh nghiệm trong thời kỳ quá độ của Việt Nam có ích thế nào đối với Triều Tiên? – Phần I


Chuyến thăm gần đây tới Hà Nội của Bộ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Ri Yong Ho và tuyên bố rằng Việt Nam sẽ là nơi tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh lần thứ hai giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un vào ngày 27 – 28/02 tới đã khơi gợi lại mối quan tâm tới việc câu chuyện thành công của Việt Nam có thể liên quan thế nào tới Triều Tiên hiện nay. Vào cuối những năm 1980, cả hai nước đều phải đối mặt với tình trạng nền kinh tế nhà nước hoạt động yếu kém, sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc và cú sốc về kinh tế do sự cắt giảm mạnh viện trợ của Liên Xô và thương mại. Trong khi các cuộc khủng hoảng kinh tế kìm kẹp cả hai nước, thì những lựa chọn chiến lược của họ để ứng phó lại hoàn toàn khác biệt. Việt Nam chọn cách bắt tay vào cải cách kinh tế, rút quân khỏi Campuchia, giảm biên chế quân đội, cải thiện quan hệ với Mỹ và tự mở cửa ra cộng đồng quốc tế để tiếp nhận viện trợ, đầu tư và thương mại. Triều Tiên đã ứng phó bằng cách thực hiện các chính sách kinh tế tự lực theo chủ nghĩa biệt lập, tìm cách cải thiện quan hệ liên Triều, gia tăng căng thẳng quân sự bằng cách theo đuổi một chương trình vũ khí hạt nhân và một chính sách đối đầu với Mỹ, và kêu gọi viện trợ nhân đạo từ cộng đồng quốc tế khi phải đối mặt với sự suy sụp về kinh tế và nạn đói ngày càng tăng.

Quỹ đạo của hai nước kể từ đầu những năm 1990 minh chứng cho những kết quả đáng chú ý của các chiến lược này. Trong những thập kỷ qua, chế độ Triều Tiên đã phải vật lộn với những thách thức trong việc phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, ổn định xã hội và duy trì một hệ thống chính trị cộng sản, điều hẳn khiến người ta đặc biệt quan tâm tới kinh nghiệm của Việt Nam khi Kim Jong-un bắt đầu tiến hành cái gọi là đường lối chiến lược mới, ưu tiên phát triển kinh tế.

Những điểm tương đồng giữa Việt Nam khi đó và Triều Tiên hiện nay

Mặc dù hai nước rất khác nhau về tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế và nhân khẩu học, nhưng một số khía cạnh trong kinh nghiệm thời kỳ đầu quá độ của Việt Nam dường như có liên quan tới Triều Tiên hiện nay, bất chấp sự cách biệt về thời gian. Những khía cạnh này bao gồm:

+ Cam kết cao độ đối với việc cải thiện nền kinh tế;

+ Thử nghiệm cải cách;

+ Tìm hiểu quan điểm của người ngoài cuộc;

+ Thách thức của việc thay đổi chính sách an ninh quốc gia; và

+ Vai trò của những người ở miền Nam trong nền kinh tế.

Cam kết cao độ đối với việc cải thiện nền kinh tế

Năm 1986, sau một thập kỷ kinh tế đình trệ và lo sợ lạm phát cao, ban lãnh đạo Việt Nam tại Đại hội Đảng lần thứ 6 đã đạt được một sự đồng thuận về đường hướng mới cho chính sách cải cách kinh tế được gọi là Đổi Mới. Việc mất đi viện trợ của Liên Xô và thương mại cũng hư những lo sợ về sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc đã góp phần tạo nên những mối quan ngại này ở trong nước và dẫn tới quyết định tìm kiếm một mối quan hệ với Mỹ và mở cửa nền kinh tế Việt Nam với cộng đồng quốc tế nhằm giành được quyền tiếp cận tới tư vấn, viện trợ, đầu tư và thương mại.

Trong bài phát biểu mừng năm mới của mình vào năm 2012, Kim Jong-un đã nhấn mạnh việc cải thiện sinh kế cho toàn bộ người dân Triều Tiên và sau đó đưa ra nhữung thay đổi trong cơ cấu ra quyết định của ban lãnh đạo nhằm thể hiện sự thay đổi này. Tại Đại hội Đảng lần thứ 7 vào năm 2016, Triều Tiên chính thức thực hiện ch1inh sách chú trọng không kém đến an ninh quốc gia, nhấn mạnh các khả năng hạt nhân và tên lửa, và phát triển kinh tế. Năm 2017, căng thẳng quân sự leo thang và các biện pháp trừng phạt ngày càng gay gắt đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về tình trạng đối đầu và khủng hoảng kinh tế. Cuối năm đó – sau vụ thử vũ khí hạt nhân có đương lượng nổ cao và vụ phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) lần thứ ba, nước này tuyên bố đã đạt được khả năng vũ khí hạt nhân đáng tin. Năm 2018, Kim Jong-un tuyên bố chuyển sang ưu tiên phát triển kinh tế trong nước, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động ngoại giao nhằm cải thiện quan hệ với cộng đồng quốc tế và mở rộng sự ủng hộ cho một ỷ nguyên mới về hòa bình và hợp tác kinh tế.

Thử nghiệm cải cách

Ngay cả trước Đại hội Đảng năm 1986, Việt Nam đã thử nghiệm các cải cách kinh tế ở quy mô nhỏ. Trong đó có nhữung cải cách cấp cơ sở trong ngành nông nghiệp theo mô hình tập thể hóa và phong trào “phá rào” ở các doanh nghiệp nhà nước vốn đã dẫn tới việc chấp nhận các nhân tố thị trường trong quy hoạch kinh tế. Việc phân quyền trong quy trình ra quyết định là một nhân tố chủ chốt trong những thử nghiệm này.

Triều Tiên cũng sẵn sàng thử nghiệm những cải cách dưới thời Kim Jong-un, đáng chú ý là ở Đặc khu kinh tế Rason tại khu vực biên giới với Trung Quốc và Nga. Tương tự, vào năm 2014, các cải cách thử nghiệm đã được đưa ra nhằm giảm bớt quy mô nông trại, cho phép một phần sản lượng được sử dụng trong các hộ gia đình và được bán trên các thị trường, và trao cho các nhà quản lý doanh nghiệp sở hữu nhà nước quyền tự quyết lớn hơn. Kể từ năm 2016, những cải cách này được mở rộng và việc phân quyền hơn trong quy trình ra quyết định được chú trọng nhiều hơn. Các thị trường được hợp pháp hóa vào năm 2003, nhưng sự kháng cự mang tính ý thức hệ đối với vai trò của thị trường trong nền kinh tế đã khiến sự phát triển kinh tế trở nên phức tạp. Tuy nhiên, việc chấp nhận mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động dựa trên thị trường đã cho phép tiến hành thử nghiệm kinh tế ở quy mô lớn hơn, làm gia tăng tiêu chuẩn sống của nhiều người Triều Tiên cũng như tầng lớp trung lưu mới nổi.

Tìm hiểu quan điểm của người ngoài cuộc

Việt Nam đã chủ động tìm hiểu quan điểm của người nước ngoài về các lựa chọn chính sách và chiến lược kinh tế, bắt đầu bằng những cuộc tham vấn âm thầm không chính thức vào những năm đầu Đổi Mới. Sau đó, vào những năm 1990 đã diễn ra các cuộc tham vấn cả song phương lẫn đa phương với các chính phủ tài trợ và các nhà đầu tư tư hân. Các cuộc tham vấn này đã cải thiện chất lượng của quy trình ra quyết định và lòng tin của nước ngoài vào quy trình này, và đã thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác với các đối tác kinh tế trong khi ban lãnh đạo Việt Nam vẫn duy trì quyền sở hữu và quyền kiểm soát đối với tiến trình này.

Triều Tiên đã do dự trong việc tham gia đối thoại chính sách kinh tế cấp cao với các bên tham gia nước ngoài và thay vào đó theo đuổi một chính sách “quản lý theo cách riêng của chúng ta”. Căng thẳng chính trị và các biện pháp trừng phạt cũng đã cản trở các cuộc thảo luận này. Mặc dù vậy, trong những năm qua, các quan chức cấp thấp hơn và các học giả đã chủ động học hỏi kiến thức liên quan đến lĩnh vực kinh tế, thông qua các hình thức như tham gia các khóa bồi dưỡng và các buổi hội thảo trong nước, các chuyến học tập ở nước ngoài, các chương trình đào tạo đại học ở một số nước, và tích cực sử dụng mạng Internet để học hỏi kinh nghiệm của quốc tế và đào sâu hiểu biết về nền kinh tế thị trường. Những kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc và các mối quan hệ xuyên biên giới đã là một nguồn đặc biệt quan trọng cho các quan chức Triều Tiên học hỏi. Điều đã và đang bị bỏ qua là vai trò trong các thể chế tài chính quốc tế, mặc dù vào tháng 7/2014, Triều Tiên đã được thừa nhận là quan sát viên của Nhóm châu Á – Thái Bình Dương về chống rửa tiền thuộc Lực lượng đặc nhiệm tài chính thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

(còn tiếp) 

Nguồn: www.38north.org – 07/02/2019

TLTKĐB – 14/02/2019

Advertisements

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần III


Quan hệ cạnh tranh – hợp tác trong thời kỳ mới dẫn đến sự chuyển hướng trọng tâm được chú ý

Những năm 1990, đóng góp của MỸ đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 29,1%, tổng lượng của các nền kinh tế phát triển phương Tây với G7 làm đại diện là 76%, khi so sánh, đóng góp cảu Trung Quốc là 9% và của những nền kinh tế mới nổi và phát triển là 36,3%. Từ năm 2008 đến 2016, đóng góp của Mỹ và các nước phát triển đối với kinh tế thế giới giảm xuống mức 7,4% và 23,9%, còn đóng góp của Trung Quốc là 35,6% và các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển là 77,7%, thể hiện rõ xu thế phương Đông tiến lên, phương Tây thụt lùi. Năm 2005, tổng lượng GDP của Trung Quốc đã vượt qua Anh, năm 2007 vượt qua Đức, năm 2010 đã thay thế Nhạt Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2012, tổng lượng kinh tế Trung Quốc đạt đến một nửa của Mỹ, năm 2017 đã lên tới mức 2/3 tổng lượng kinh tế của Mỹ. Ngay từ năm 2011, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố một dự báo tính toán GDP trên cơ sở thuyết sức mua tương đương (PPP) cho rằng GDP của Trung Quốc có thể ngang bằng, thậm chí vượt qua Mỹ sau năm 2020. Báo cáo mới nhất của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và thế giới thuộc Đại học Thanh Hoa dự báo Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới sau năm 2025.

Tuy xem xét về mặt mức thu nhập bình quân đầu người của một nước, giữa Trung Quốc và Mỹ còn có khoảng cách khá lớn, tổng lượng kinh tế giữa hai nước xích lại gần nhau, sự phát triển công nghệ của Trung Quốc đang trong quá trình rượt đuổi Mỹ và ảnh hưởng của Trung Quốc không ngừng gia tăng trên vũ đài quốc tế đều có dấu ấn cạnh tranh quyết liệt về tâm lý của giới tinh hoa, dân chúng Mỹ và quan hệ Trung – Mỹ. Chắc chắn, Trung Quốc đã bị Mỹ coi là đối thủ cạnh tranh chủ yếu, từ “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” công bố vào ngày 18/12/2017, “Báo cáo chiến lược quốc phòng” được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố vào ngày 19/1/2018 đến “Chương trình chính sách thương mại năm 2918 và Báo cáo hàng năm năm 2017” do Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ công bố tháng 2/2018 đều nâng vấn đề thương mại với Trung Quốc lên tầm cao của an ninh quốc gia Mỹ. Trong báo cáo điều tra liên quan đến Mục 301 của Đạo luật thương mại Mỹ năm 1974 dài 184 trang, từ “nhập siêu” chỉ xuất hiện một lần, mục tiêu liên quan đến Mục 301 mà Đại diện thương mại Mỹ công khai tuyên bố chính là chĩa mũi nhọn vào chiến lược “Made in China 2025”. Ngày 8/11/2017, Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã lần lượt đề xuất một dự thảo “Luật hiện đại hóa đánh giá rủi ro từ đầu tư của nước ngoài”, một trong những người khởi xướng đạo luật này là hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Robert Pittenger cho biết bộ luật sẽ đảm bảo khoa học công nghệ Mỹ duy trì vị trí đứng đầu.

Thái độ của Chính phủ Mỹ đối với chiến tranh thương mại thể hiện rất đa dạng

Nghị sỹ hai đảng của Mỹ đưa ra tiếng nói phản đối tại Quốc hội

Ngày 11/7/2018, với 88 phiếu thuận/11 phiếu chống, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết hạn chế quyền áp thuế của Tổng thống Donald Trump. Đây là lần hiếm hoi hai đảng thể hiện lập trường đồng nhất. Tuy là nghị quyết không mang tính ràng buộc, nhưng việc hai đảng có tư tưởng thống nhất và cùng hành động trong cơ chế lập pháp chung lần này, đã truyền đi tín hiệu rằng thể chế chính trị của Mỹ bắt đầu quan ngại đối với chính sách thương mại cấp tiến của Chính quyền Donald Trump. Ngày 18/7/2018, tiếp tục có 140 nghị sĩ cùng lên tiếng phản đối việc chính phủ áp thuế ô tô, cho rằng việc áp thuế đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, thực hiện hạn ngạch thương mại hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khác sẽ làm tổn hại sự phát triển của ngành ô tô Mỹ. Việc Donald Trump gây sức ép với Trung Quốc là có cơ sở quần chúng, ví dụ như cuộc thăm dò dư luận do Trung tâm nghiên cứu Pew công bố ngày 19/7 cho thấy 49% người Mỹ được hỏi cho rằng việc áp thuế đối với các đối tác thương mại không có lợi cho Mỹ, trái lại 40% số người được hỏi cho rằng hành động này có lợi cho Mỹ, chỉ có 11% số người được hỏi không biết Mỹ sẽ phải chịu những ảnh hưởng nào. Nếu sự ủng hộ đối với chính sách thương mại của Donald Trump được duy trì ổn định, thì vì sao người của đảng Cộng hòa lại không đoàn kết xung quanh Donald Trump, trái lại còn gây khó khăn cho tổng thống?

Nội bộ đội ngũ của Donald Trump cũng có bất đồng

Đầu tháng 5/2018, Nhà Trắng cử phái đoàn thương mại Mỹ gồm 7 người đến Bắc Kinh đàm phán. Học giả của Đại học Phúc Đán Trung Quốc phân tích, từ góc độ thực dụng cho thấy đội ngũ đàm phán là “tổ hợp của phe diều hâu và phe bồ câu”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross được xem là người của phe bồ câu, vì ông – một người am hiểu tình hình Trung Quốc – từng đầu tư xưởng lắp ráp linh kiện ô tô ở Quảng Đông vào những năm 1990, năm 2005 tập đoàn may mặc quốc tế của ông đầu tư 100 triệu USD vào thành phố Gia Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông cũng là nạn nhân trong cuộc chiến thương mại gang thép của Mỹ, nhưng vì những kinh nghiệm nàyên ông từng bị Donald Trump công khai phê phán là mềm yếu trong chính sách đối với Trung Quốc, sau này thái độ của ông đối với Trung Quốc cũng dần trở nên cứng rắn. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Terry Branstad được coi là người thuộc phe bồ câu thân Trung Quốc chủ yếu là vì ông đến từ bang xuất khẩu nông nghiệp sang Trung Quốc luôn có quan hệ hữu nghị với giới kinh doanh và giới chính trị Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin từng làm việc cho ngân hàng Goldman Sachs là người ủng hộ dự luật cải cách thuế và kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, từng phản đối việc đưa Trung Quốc vào danh sách các nước thao túng tỷ giá hối đoái, đượ ccho là người thuộc phe trung gian. Điều thú vị là trong tuyên bố được đưa ra sau đàm phán, Nhà Trắng đã nhấn mạnh chủ trương của Mỹ là nhận thức chung của đội ngũ đàm phán, điều này đã làm cho bên ngoài suy đoán về những bất đồng trong đàm phán. Theo quan sát của học giả Derek Scissors thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), sở dĩ hiện nay Donald Trump chưa có chiến lược trong chính sách thương mại đối với Trung Quốc là vì nội bộ chính phủ có những ý kiến khác nhau.

Các giới kinh tế, ngành nghề của Mỹ đưa ra lời cảnh báo

Trước khi cuộc chiến thương mại diễn ra, có phương tiện truyền thông đưa tin 1140 nhà kinh tế học của Mỹ, trong đó có 14 người từng đoạt giải Nobel, cùng gửi thư cho Donald Trump, khẩn cầu tổng thống không nên phạm sai lầm dẫn tới cuộc đại suy thoái của Mỹ. Không lâu trước đó, 25 nhà bán lẻ nổi tiếng của Mỹ gồm Walmart, Macy’s, Best Buy… cùng gửi thư cho Donald Trump, kêu gọi Chính phủ Mỹ không nên áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc để tránh làm tổn hại người tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của người làm công ăn lương, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. 45 hiệp hội ngành nghề đại diện cho lợi ích của ngành bán lẻ, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp và hàng tiêu dùng khác cũng bày tỏ áp thuế sẽ làm cho chi phí của ngành sản xuất Mỹ tăng lên, làm rối loạn chuỗi cung ứng hiện có, và làm giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến việc làm của Mỹ. Tháng 5/2018, khi Bộ Thương mại Mỹ khởi động cuộc điều tra theo điều 232 của Luật Thương mại Mỹ đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, có phương tiện truyền thông cho rằng “những người chỉ trích đang xếp hàng” để kêu gọi chính phủ từ bỏ áp thuế tại phiên điều trần. Hàng nghìn công nhân Mỹ được các nhà sản xuất ô tô nước ngoài thuê cũng biểu tình ở Capitol Hill, khoảng 150 nghị sĩ của hai đảng cũng lên tiếng phản đối việc áp thuế ô tô, phiên điều trần đã trở thành “cuộc bao vây tấn công” để các bên cùng lên tiếng phê phán. Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung Quốc (USCBC) đưa ra công văn cho rằng USCBC đồng ý với Chính quyền Donald Trump – hiện trạng chuyển giao công nghệ của Trung Quốc và sự bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ quả thực cần được chú trọng, nhưng doanh nghiệp Mỹ vẫn hy vọng nhìn thấy phương án giải quyết những vấn đề này, chứ không chỉ là đơn phương áp thuế trừng phạt cuối cùng có thể gây ra tổn thất lớn hơn. Chủ tịch Hiệp hội thương mại Mỹ tại Trung Quốc William Zarit cho biết các đoàn thể thương mại tỏ ra rất quan ngại trước sự đáp trả do các biện pháp áp thuế của Chính quyền Donald Trump và hạn chế Trung Quốc đầu tư ở Mỹ có thể gây ra cũng như những tổn thương có thể gây ra đối với kinh tế Mỹ và thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Việc nới lỏng kiểm tra phế liệu nhập và hệ lụy


Theo đài RFA, vào những ngày sát Tết, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường bãi bỏ một số nội dung liên quan đến quy trình kiểm tra chất lượng phế liệu nhập khẩu. Liệu việc này có tạo cơ hội cho phế liệu, rác thải công nghệ tràn ngập Việt Nam?

Thời gian qua, các cảng lớn của Việt Nam như Hải Phòng, Cát Lái, Thị Vải, Cái Mép tồn đọng hàng nghìn container phế liệu nhập khẩu, gây khó khăn và thiệt hại cho doanh nghiệp. Khi trả lời báo chí, đại diện một số doanh nghiệp cho rằng, việc hàng nghìn container phế liệu bị chậm thông quan là do doanh nghiệp bị quá nhiều phía “hành”. Ngoài một phần trách nhiệm nhỏ của Cảng vụ, thì trách nhiệm chính thuộc về Tổng cục Hải quan và Bộ Tài nguyên – Môi trường. Tuy nhiên, hai cơ quan này cứ đùn đẩy trách nhiệm và đổ lỗi cho nhau. Phó giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, nguyên Viện phó Viện Nghiên cứu thị trường và giá cả, nhìn nhận tình trạng gây phiền hà nhũng nhiễu để trục lợi.

Ngoài ra, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, số lượng phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam năm 2018 là 9.254.300 tấn, tăng hơn 1.308.100 tấn so với năm 2017. Nguyên nhân lượng phê liệu nhựa nhập khẩu vào Việt Nam gia tăng đột biến trong 6 tháng đầu năm 2018, được các chuyên gia cho rằng, là do Trung Quốc có chủ trương cấm nhập khẩu phế liệu. Cụ thể, bắt đầu từ 01/01/2019, Trung Quốc bổ sung thêm 8 loại phế liệu không được phép nhập khẩu, tăng từ 24 lên 32 loại. Ngoài ra, Malaysia gần như cắt giảm hầu hết danh mục phế liệu được phép nhập khẩu vào quốc gia này.

GS.TS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường, nhận xét về tình trạng này: “Đấy là một quá trình cũng có thay đổi chính sách nhất định, cũng có những lúc Việt Nam yêu cầu không được nhập phế thải, tức là những phê thải có thể được sử dụng cho một khâu nào đó, một ngành nào đó, nhưng cũng có lúc lại xả ra, lại chấp nhận. Đấy là trong quá trình lịch sử dài. Nhưng chúng ta cũng thấy rằng, cái gì là được, cái gì là không được mới là quan trọng. Về việc mà tồn đọng ở các cảng, tôi cho rằng cũng do các cái thay đổi chính sách trogn cả quá trình lịch sử vừa rồi cũng có thể gây ra”.

Việt Nam hiện đang đứng trong top đầu về xả thải rác ra đại dương, chưa kể việc tồn đọng rác xảy ra khắp nơi, vì vậy, nhà báo Mai Quốc Ẩn cho rằng chắc chắn Việt Nam không hề thiếu nguyên liệu tái chế. Theo ông, là do việc phân loại rác từ nguồn đã không được làm tốt. Đặc biệt tình trạng độc quyền xử lý rác bằng công nghệ chôn lấp lạc hậu gây ô nhiễm bị thao túng nghiêm trọng.

Theo nhà báo Mai Quốc Ẩn, nhập khẩu phế liệu cũng đồng nghĩa với nhập khẩu thêm ô nhiễm, thêm bệnh tật, thêm cả áp lực an sinh xã hội sau đó. Ông cũng cho rằng nhập khẩu rác cũng chính là đi ngược lại với thông điệp không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Hiện có hơn 24000 container phế liệu chưa được thông quan tại các cảng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, nếu bỏ bớt một số nội dung liên quan đến quy trình kiểm tra chất lượng phế liệu nhập khẩu để giải tỏa ách tắc, thì sẽ có bao nhiêu phế liệu kém chuẩn tràn vào Việt Nam? Ngoài phê liệu làm nguyên liệu sản xuất, còn có thể có tình trạng nhiều loại công nghệ lạc hậu theo đó tràn vào Việt Nam.

Giáo sư Đặng Hùng Võ đề ra giải pháp: “Song song với quá trình kiểm soát nhập phế thải thì nhập công nghệ cũng cần phải được kiểm soát chặt chẽ. Tôi cho rằng, Việt Nam hiện nay cũng trên con đường đưa được các bước kiểm soát việc nhập công nghệ rất là chặt và đều có kiểm tra của bên Bộ khoa học công nghệ. Hy vọng, việc thực thi pháp luật vốn được coi là chưa tốt ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ tốt hơn, và hiệu quả thực thi pháp luật sẽ cao hơn”.

Trước đây, từng xảy ra tình trạng rác thải được nhập ồ ạt vào Việt Nam, khi đó việc ngăn chặn hành động này để bảo vệ môi trường cũng ảnh hưởng luôn đến việc nhập khẩu phế liệu của một số ngành sản xuất. Nay lại tháo gỡ một số quy định để thông quan nguyên liệu phế thải, thì lại phát sinh lo ngại rác thải có thể được nhập ồ ạt vào Việt Nam. Đây là câu hỏi khó trả lời dành cho các nhà quản lý chính sách của Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, Giáo sư Đặng Hùng Võ cho biết: “Tôi cho rằng, cuối cùng, chúng ta phải giữ những khâu nào được gọi là kiểm soát chặt, và cũng cần thiết đơn giản hóa thủ tục hành chính. Miễn là chúng ta có thể đánh giá được cái nào (tiêu chuẩn kiểm tra) là cái phải loại bỏ, tức là không được đưa vào và cái nào nên đưa vào. Những điều theo ý tưởng của các nhà quản lý, tôi cho rằng nếu chúng ta làm tốt những khâu như kiểm soát chặt, đồng thời đơn giản hóa hay loại bỏ những khâu mang tính thủ tục, mà không có hiệu quả quản lý, thì tôi cho rằng tư duy ấy cũng là tốt”.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần II


Doanh nghiệp Mỹ đã giành được phần lớn lợi nhuận trong thương mại Trung – Mỹ

Báo cáo của Bộ Thương mại Trung Quốc nêu rõ 59% xuất siêu của Trung Quốc năm 2017 đến từ thương mại gia công, 57% đến từ doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp ở Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ có thể nói chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2010 cho biết trong số các hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc như dệt may, da giày…, lợi nhuận mà thương nhân nhập khẩu và thương nhân bán lẻ ở Mỹ được hưởng chiếm tới 90% tổng lợi nhuận. Doanh nghiệp xuất khẩu nhiều nhất của Trung Quốc năm 2017 là Công ty Foxconn Trịnh Châu đã sản xuất điện thoại cho Công ty Apple của Mỹ với số tiền là 104 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH], dường như đã chiếm một nửa lượng tiêu thụ điện thoại của Apple trên toàn thế giới, kim ngạch lên tới 28,1 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH]. Điện thoại iPhone được thiết kế, nghiên cứu và phát triển ở Mỹ, nhưng trên 80% linh kiện lắp ráp được sản xuất tại Trung Quốc. Một bài viết trên tờ Foreign Affairs ước tính khi bán một chiếc điện thoại iPhoneX với giá 999 USD, chi phí chế tạo ở Trung Quốc chỉ từ 3 đến 6% tổng chi phí 370 USD, công ty Apple đã giành được phần lớn lợi nhuận. Công ty Apple có tài sản bao gồm tiền mặt và cổ phiếu lên tới 250 tỷ USD ở nước ngoài, sau khi quốc hội Mỹ thông qua dự thảo luật cải cách thuế, công ty này tuyên bố sẽ thanh toán một lần khoản thuế đánh vào lợi nhuận ở nước ngoài với số tiền là 38 tỷ USD, rút số tiền 245,1 tỷ USD ở nước ngoài về Mỹ, đồng thời có kế hoạch đầu tư hơn 350 tỷ USD tại Mỹ trong 5 năm tới, tăng thêm 20.000 việc làm, điều này tương đương với việc đem số tiền kiếm được ở Trung Quốc trở về Mỹ. Tập đoàn Foxconn sản xuất điện thoại iPhone cho Apple đã quyết định xây dựng nhà máy ở Mỹ, tổng đầu tư lên tới 10 tỷ USD, sẽ cung cấp 13000 việc làm tại bang Wisconsin. Có thể nói, trong chuỗi giá trị toàn cầu, xuất siêu phản ánh ở Trung Quốc, nhưng xuất siêu lợi ích lại phản ánh ở Mỹ.

Tốc độ tăng trưởng xuất siêu thương mại dịch vụ nhanh chóng với kim ngạch rất to lớn

Cách tính toán của Mỹ lấy kim ngạch nhập khẩu trừ đi kim ngạch xuất khẩu thấy tình trạng nhập siêu đã không xem xét đến tăng trưởng thương mại dịch Mỹ – Trung. Trong 10 năm qua, tăng trưởng xuất khẩu của ngành dịch vụ Mỹ sang Trung Quốc đã tăng gấp 5 lần. Năm 2017, kim ngạch thương mại dịch vụ giữa Trung Quốc và Mỹ là 118,2 tỷ USD, trong đó giá trị dịch vụ của Mỹ được Trung Quốc mua lên tới 90 tỷ USD, mà kim ngạch 90 tỷ USD đó không được thể hiện trong tính toán thương mại Trung – Mỹ. Hội đồng thương mại Mỹ – Trung nêu rõ Trung Quốc là điểm lớn thứ hai của ngành xuất khẩu dịch vụ của Mỹ, tổng số tiền xuất siêu dịch vụ của Mỹ sang Trung Quốc là 53 tỷ USD (Trung Quốc thống kê là 54,7 tỷ USD). Phần xuất sei6u dịch vụ sang Trung Quốc của Mỹ đã bị bỏ qua mà không tính đến.

Thay đổi môi trường kinh tế chính trị trong nước và quốc tế là nhân tố quan trọng gây ra va chạm thương mại

Sự thay đổi môi trường chính trị bên trong nước Mỹ là động lực quan trọng

Va chạm thương mại có liên quan đến nền tảng chính trị của quan hệ thương mại Trung – Mỹ có sự thay đổi. Chuyên gia nổi tiếng về kinh tế chính trị học của Đại học Harvard (Mỹ) Dani Rodrik cho rằng chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến việc tái phân phối trong chính sách đối nội của một quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế đã tạo ra kẻ thắng và người thua ở Mỹ, sự chia rẽ giữa giới tinh hoa của Mỹ và giới bảo thủ truyền thống ở Mỹ do tích tụ vấn đề trong nhiều năm đã giúp Trump đắc cử tổng thống, do đó hiện tượng Trump là sự phản ánh ở mức độ nhất định nguyện vọng của nhân dân.

Có học giả Mỹ cho rằng: “Trump thiếu kiên nhẫn hơn các tổng thống tiền nhiệm, nguyên nhân là sự mỏng yếu của ông về chính trị, 2018 cũng là năm diễn ra cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, Trump phải giành được thắng lợi to lớn về ngoại giao để sánh ngang với những việc làm vĩ đại của Nixon năm 1972”. Để làm hài lòng cư tri thuộc tầng lớp hạ lưu bị tác động ở những bang có nền công nghiệp “sắt gỉ” (ngành công nghiệp cũ bị suy thoái) trong tiến trình xóa bỏ công nghiệp hóa ở Mỹ, Trump mong muốn thông qua phương thức chiến tranh thương mại quyết liệt để thể hiện mình là người thực hiện cam kết khi tranh cử, là người anh hùng giúp người Mỹ nguôi giận, gia tăng khả năng chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử quốc hội lần này, động cơ rõ ràng đó đã được sự đồng thuận của đông đảo mọi người. Ngoài ra, nội bộ Nhà Trắng từ hơn một năm rưỡi cầm quyền của Trump có sự biến động liên tục về nhân sự, sau hàng loạt hành động “tẩy rửa biển hiệu”, bao gồm hàng loạt người thuộc phái ôn hoa như Gary Cohn đến từ Wall Street bị sa thải, hạt nhân của nhóm giúp việc cho Trump về kinh tế hiện nay thể hiện sự cứng rắn rõ ràng đối với Trung Quốc, những người đại diện tiêu biểu nhất là Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer và Cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro (Cuốn sách “Chết bởi Trung Quốc” của Navarro trở thành cương lĩnh để Mỹ tấn công thương mại đối với Trung Quốc). Tháng 3/2018, Trump cũng đã bổ nhiệm John Bolton làm Cố vấn an ninh quốc gia, Mike Pompeo làm ngoại trưởng, tạo thành một nội cách mà phe diều hâu mạnh nhất trong lịch sử Mỹ.

Sự thúc đẩy trực tiếp từ chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Trung Quốc và Mỹ

Cải cách mở cửa được 40 năm, thành công trong phát triển kinh tế Trung Quốc đã thể hiện sự chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Mô hình phát triển tăng trưởng cao dựa vào lực lượng lao động đông đảo và định hướng xuất khẩu được các chuyên gia kinh tế gọi là mô hình phát triển công xưởng của thế giới, làm cho kinh tế Trung Quốc nhanh chóng vươn lên, nhảy vọt trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, mô hình phát triển công xưởng của thế giới dựa vào tiêu hao tài nguyên nhiều, lợi thế dân số, trả giá về môi trường và bán nhiều lãi ít đã đi đến hồi kết. Xem xét từ cấp độ vĩ mô, có thể xuất siêu lớn mà xuất khẩu giành được có nhân tố nhất định từ tình trạng quá dư thừa tính lưu động, xem xét về vi mô, có thể thấy sự thay đổi cơ cấu lao động làm cho ưu thế về giá thành trong ngành chế tạo tập trung nhiều lao động không còn nữa, ngành chế tạo với công nghệ lạc hậu đã mất khả năng cạnh tranh trên thế giới. Trung Quốc cũng như cộng đồng quốc tế không thể tiếp tục thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều rộng như tiêu hao nhiều tài nguyên, lượng khí thải cao, môi trường ô nhiễm nặng… Kinh tế Trung Quốc đang trải qua sự chuyển đổi mô hình sâu sắc, mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực chuyển sang lấy tiêu dùng làm động lực cần thông qua không ngừng ưu việt hóa cơ cấu sản xuất, thông qua đổi mới công nghệ để thực hiện nâng cấp ngành sản xuất, nâng lên vị trí cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là nội dung cốt lõi của kinh tế Trung Quốc từ tăng trưởng với tốc độ cao chuyển sang giai đoạn phát triển chất lượng cao trong bối cảnh thời đại mới.

Nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương, cũng đang gặp rắc rối khi kinh tế suy thoái, từ số liệu thống kê của Cơ quan phân tích kinh tế M4y (BEA), có thể thấy sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên được gọi là “thời kỳ 4%”, thời kỳ đó là giai đoạn tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 1950 đến 1960 là 4,2%; giai đoạn từ năm 1970 đến 1990 tăng trưởng chậm lại xuống còn 3,3%, giai đoạn hai gọi là “thời kỳ 3%”; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 thuộc “thời kỳ 2%”, tốc độ tăng bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 là 2,7% từ năm 2007 đến 2017 đã giảm xuống còn 2,3%. Giáo sư Lư Phong ở Đại học Bắc Kinh phân tích rằng xu thế kinh tế tăng trưởng chậm lại đã tạo ra tình trạng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào chính sách kích thích nới lỏng tiền tệ. Với mô hình phân công quốc tế toàn cầu hóa, ngành công nghiệp Mỹ đã xuất hiện xu hướng lưỡng cực hóa – một cực là ngành sản xuất chất lượng cao tập trung nhiều tri thức và công nghệ, một cực khác là nông nghiệp, kết quả là làm suy yếu ngành chế tạo của Mỹ. Cựu chủ tịch Ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Alan Greenspan cho rằng ảnh hưởng dự trữ ngoại tệ của Mỹ đối với đầu tư trước năm 1980 rất rõ ràng, tăng trưởng kinh tế sau năm 1980 đã tìm được một động lực khác là tín dụng, các khoản vay của Mỹ trên toàn thế giới đã nhanh chóng tăng lên 8000 tỷ USD, nhanh chóng chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội tiêu dùng. Do đó, theo quan điểm của nhiều người, vấn đề mà Trump khởi xướng không phù hợp với “chấn hưng ngành chế tạo”  theo đặc trưng kinh tế Mỹ, là một điều chỉnh mà ông cho rằng do toàn cầu hóa trước đây đã đưa lộ trình phát triển kinh tế Mỹ vào con đường sai lầm. Đối với việc tấn công về thuế nhằm vào Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Canada, Mexico…, kết hợp với nhóm biện pháp kinh tế giảm thuế với quy mô lớn và hạn chế tăng lãi suất, theo quan điểm của nhóm giúp việc cho Trump, sẽ đẩy nhanh sự lưu động của đầu tư toàn cầu về Mỹ, thúc đẩy ngành chế tạo “trở về” Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần I


Căn cứ vào số liệu thống kê thương mại mới nhất do Bộ Thương mại Mỹ công bố, nhập siêu của Mỹ năm 2017 cao kỷ lục trong 9 năm gần đây, lên tới 566 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017 giữa Mỹ và Trung Quốc là 635,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc của Mỹ chỉ là 130,3 tỷ USD. Mỹ đã nhập khẩu 505,6 tỷ USD từ Trung Quốc, nhập siêu là 375,2 tỷ USD. Nhập siêu lớn mà Mỹ tính toán có phải do thương mại bất bình đẳng với Trung Quốc hay không? Xem xét từ nguyên lý thương mại và thực tế của quan hệ thương mại Trung – Mỹ, sự mất cân bằng thương mại song phương được hình thành từ những phương diện sau:

Vấn đề mang tính cơ cấu do sự phát triển kinh tế thế giới nhanh chóng

Nhập siêu là kết quả tất yếu từ vị thế vượt trội của đồng USD trong hệ thống tiền tệ quốc tế

Về nguyên lý kinh tế, mất cân bằng thương mại của Mỹ trước hết là do dự trữ tiền tiết kiệm quốc dân của nước này. Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế nổi tiếng Martin Feldstein cho thấy: Xuất khẩu ròng = (dự trữ cá nhân – đầu tư) + (thuế thu được – chi ngân sách chính phủ). Quan điểm chung là sự mất cân bằng thương mại của một quốc gia về căn bản không phải chứng tỏ quốc gia đó căn cứ vào số liệu về nguồn thu để xác định nguyên tắc chi ngân sách, mà là trạng thái thu không bù được chi. Nếu kim ngạch đầu tư của Mỹ vượt trên số lương dự trữ của cả đất nước thì phải thu hút nguồn tiền từ các khu vực khác trên thế giới để bù đắp vào sự thiếu hụt giữa hai bên, cũng đã tạo ra nhập siêu hiện nay. Ngoài ra, sử dụng hệ thống dự trữ tiền tệ quốc tế với trụ cột là nguồn vay cảu chính phủ Mỹ, một mặt in nhiều đồng USD mà Mỹ không sợ lạm phát để duy trì mức độ tiêu dùng vượt quá năng lực sản xuất của họ, mặt khác sự lưu động của đồng USD trở thành sản phẩm công cộng của hệ thống thương mại quốc tế. Chuyên gia kinh tế nổi tiếng Triffin Dilemma cho rằng một khi đồng tiền của một quốc gia trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế có tầm ảnh hưởng thế giới, nhất định sẽ nhập siêu về thương mại, đồng thời nếu Mỹ không duy trì nhập siêu, tính lưu động của đồng USD sẽ giảm đi, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại toàn cầu.

Tiết kiệm của hộ gia đình liên tục giảm đi và trái phiếu của Mỹ tăng vọt làm gia tăng sự chênh lệch về thương mại

Gần 20 năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình tại Mỹ liên tục giảm, tỷ lệ này đã giảm từ 8% vào những năm 1990 xuống còn 1,75% năm 2006, giảm xuống mức âm vào 6 tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ nợ của Mỹ giảm từ 49% năm 1994, xuống còn 34% năm 2000, nhưng lại tăng lên 70% vào năm 2006. Tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình năm 2017 giảm xuống mức 3,6% mà tỷ lệ nợ của nhà nước đã lên tới hơn 100%.

Hệ thống phân công quốc tế hiện tại đã quyết định cục diện thương mại Trung – Mỹ

Lợi thế so sánh tương đối của Mỹ là ngành tập trung nhiều vốn, lợi thế so sánh cảu Trung Quốc là ngành sản xuất tập trung nhiều lao động. Tỷ lệ ngành sản xuất sơ cấp chiếm 8% trong GDP của Trung Quốc, tỷ lệ này chỉ chiếm 1% ở Mỹ; tỷ lệ ngành sản xuất công nghiệp (ngành sản xuất thứ hai) chiếm 20% GDP của Trung Quốc, chỉ chiếm 12% GDP của Mỹ; 53% GDP của Trung Quốc đến từ ngành dịch vụ (ngành sản xuất thứ ba) cò tỷ lệ này chiếm 79% ở Mỹ, cơ cấu kinh tế của Trung Quốc có vai trò chủ đạo của nông nghiệp cơ sở và ngành chế tạo, cơ cấu kinh tế của Mỹ là ngành dịch vụ nắm vai trò chủ đạo. Xuất siêu ngành dịch vụ của Mỹ năm 2016 lên tới 249,4 tỷ USD, mà nhập siêu ngành dịch vụ của Trung Quốc cùng giai đoạn đó là 240,9 tỷ USD. Thương mại song phương giữa Trung Quốc và Mỹ có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước về lợi thế so sánh và cơ cấu kinh tế. Trong thương mại hàng hóa, Mỹ nhập siêu, trong thương mại dịch vụ, Trung Quốc nhập siêu. Từ năm 2006 đến 2014, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ của Mỹ đối với Trung Quốc hàng năm là 16,7%, lên tới 33 tỷ USD vào năm 2015, trong đó bao gồm du lịch và giáo dục (57,2%), tiền thuế bản quyền (12,3%), giao thông (10,1%), dịch vụ thương mại (7,7%) và dịch vụ tài chính (6,3%).

Việc quản lý xuất khẩu của Mỹ làm gia tăng chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước

Có thể nói, một nguyên nhân gây mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ hoàn toàn do việc Mỹ hạn chế xuất khẩu công nghệ cao sang Trung Quốc, luôn không thay đổi màu sắc của Chiến tranh Lạnh. Năm 2001, tỷ trọng sản phẩm công nghệ của Mỹ trong tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc là 16,7%, tỷ lệ này gảim xuống còn 8,2% năm 2016. Việc làm này không tương xứng với địa vị cường quốc công nghệ của Mỹ và hiện trạng của đối tác quan trọng thuơng mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo báo cáo của Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie được công bố vào tháng 4/2017, nếu mức độ hạn chế xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc giảm xuống bằng mức mà Mỹ dành cho Brazil, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc có thể giảm tối đa ở mức 24%; nếu Mỹ giảm bằng mức hạn chế đối với Pháp, nhập siêu có thể giảm tối đa 34%.

Phương pháp thống kê truyền thống có sự đánh giá sai lầm nghiêm trọng về chênh lệch cán cân thương mại Trung – Mỹ

Đã hình thành cục diện đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu

Theo báo cáo nghiên cứu công bố vào tháng 3/2018 của quốc hội Mỹ, trong chuỗi giá trị toàn cầu, sản phẩm giữa Trung Quốc và Mỹ dường như đã đạt đến bước đi “có linh kiện Mỹ trong sản phẩm của Trung Quốc, có linh kiện Trung Quốc trong sản phẩm Mỹ”. Ví dụ như sản phẩm điện tử, cả thế giới có hơn 900 nhà máy nhận thầu chế tạo vỏ ngoài cho các sản phẩm của công ty Apple, trong đó, số nhà máy ở Trung Quốc là 358. Trong số 10 nhà máy sản xuất chip của Intel của Apple, có 3 nhà máy đặt ở Mỹ, 2 nhà máy đặt ở Trung Quốc. Trung Quốc và Mỹ triển khai hợp tác thương mại là kết quả tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, phân công sản xuất quốc tế, sắp đặt ưu hóa nguồn lực. Mỹ đứng ở vị trí cao và trung bình trong chuỗi giá trị toàn cầu, Trung Quốc ở vị trí trung bình thấp. Cùng với sự điều chỉnh trong chuỗi sản xuất và sự phát triển xuyên quốc gia của chuỗi cung ứng, việc thiết kế và hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm giá trị gia tăng cao có quan hệ ngày càng chặt chẽ với sản xuất và khâu lắp ráp chi phí thấp, doanh nghiệp Mỹ đã nắm chắc được các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế sản phẩm, chế tạo linh kiện cốt lõi, vận chuyển lưu kho và kinh doanh tiêu thụ…, từ đó giành được phần lớn lợi nhuận. Xem xét từ góc độ giá trị gia tăng, căn cứ vào báo cáo “Giá trị thương mại gia tăng” do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố năm 2011, giá trị gia tăng trong nước của hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ chỉ chiếm 46%. Số liệu thống kê năm 2016 cho thấy 77% xuất khẩu giá trị gia tăng cao của Trung Quốc là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất. Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs của Mỹ ước tính chỉ có 30% xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ là hàng hóa xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, còn 46% là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất.

Phương pháp thống kê của Mỹ quá đơn giản và xa rời tình hình thực tế

Chính quyền Trump lâu nay lấy tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ là 375,2 tỷ USD làm lý do chính đáng để phát động chiến tranh thương mại, thực tế cho thấy đó là điều cần phải xem xét lại. Thứ nhất, cách tính chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước có sự khác biệt, chênh lệch giữa các con số lại khá lớn. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc về thương mại Trung – Mỹ năm 2017, chênh lệch cán cân thương mại là 275,8 tỷ USD, trong đó số liệu vênh nhau là 99,4 tỷ USD. Thứ hai căn cứ theo “nguyên tắc xuất xứ hàng hóa” của Mỹ thì Mỹ xuất siêu vào Hong Kong lên tới 32 tỷ USD và xuất siêu gián tiếp sang Đại lục, Trung Quốc với hình thức tái xuất từ Hong Kong, Ma Cao lên tới 100 tỷ USD, đều không được tính vào kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo quan điểm của giáo sư Kim Xán Vinh của Đại học nhân dân Turng Quốc, chênh lệch thực sự về thương mại giữa hai nước chỉ là 220 tỷ USD. Cuối cùng, tính toán theo giá trị gia tăng, xuất siêu của Trung Quốc đã thu hẹp đi nhiều. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Oxford nêu rõ có 44% sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ là “sản phẩm trung gian”, nếu cắt giảm phần giá trị này đi, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc sẽ giảm 50% cũng là mức nhập siêu của Mỹ từ Liên minh châu Âu (EU). Căn cứ vào tính toán của Ngân hàng Deutch, nếu xem xét nhân tố giá trị gia tăng, với giả thiết là cơ cấu xuất khẩu hông có sự thay đổi rõ rệt, nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ trên thực tế năm 2017 chỉ khoảng 31 tỷ USD.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Vấn đề thoát nghèo của Việt Nam


Theo đài RFA, theo một số thông tin được công bố thì mức thu nhập trung bình đầu người của Việt Nam vào năm 2008 đạt xấp xỉ 1000 USD. Đây được xem là mức thu nhập trung bình, và bắt đầu từ lúc đó, nhiều nhà quan sát kinh tế chính trị cảnh báo rằng Việt Nam sẽ bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình, trong đó, nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc khai thác sức lao động rẻ và giản đơn.

Đầu 2019, một viên chức cao cấp của Việt Nam là ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư lặp lại lời cảnh báo đó với tình trạng Việt Nam hiện nay nằm trong bốn cái bẫy: chi phí lao động thấp, sản xuất có giá trị thấp, có công nghệ thấp, và thu nhập trung bình.

Thực ra, trong bốn điều vừa nêu thì điều thứ tư bao gồm ba điều còn lại gắn chặt với nhau, vì với lao động rẻ, giản đơn, chỉ có thể thao tác máy móc công nghệ thấp, hoặc không có máy móc, và vì thế tạo ra những sản phẩm không có giá trị cao.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội, nhận xét về tình trạng thu nhập trung bình của Việt Nam hiện nay: “Chúng ta đã đạt được mức trung bình trong một thời gian khá dài rồi. (Năm nay) là xấp xỉ 2500 USD/người, nhưng để đạt mức 12.000 USD/người, lại là một quá trình rất dài và khó khăn”.

Mức 12.000 USD/người một năm được xem như thu nhập của một quốc gia đã trở nên giàu có.

Theo một chuyên gia kinh tế khác là Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ, từ Na Uy, để cho một quốc gia thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình, không còn nghèo nữa thì cần ba điều sau đây: “Thứ nhất là trình độ khoa học kỹ thuật của dân chúng phải cao, thứ hai là các công ty phải có sự sáng tạo, và thứ ba là thể chế của nhà nước phải tạo điều kiện cho sự sáng tạo đó”.

Ông dẫn ví dụ là Malaysia, một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, láng giềng với Việt Nam đang được dự báo là sẽ thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình để trở thành một nước giàu có sắp tới đây.

Khi được hỏi là nếu so sánh với Malaysia, Việt Nam có dân số quá đông đúc cần phải giải quyết việc làm ngay lập tức cho số lao động giản đơn, thì liệu chuyện thoát bẫy trung bình đó có khó khăn hơn hay không, ông Nguyễn Huy Vũ cho rằng trong bất cứ quốc gia nào cũng có hai lĩnh vực công nghiệp song song, một lĩnh vực chiếm dụng công lao động nhiều, một lĩnh vực khác cần kỹ thuật và kiến thức nhiều hơn. Theo ông Vũ, sự đầu tư vào lĩnh vực thứ hai sẽ làm cho nền kinh tế từ từ dịch chuyển ra khỏi khu vực chỉ sử dụng sức lao động giản đơn.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng đề cập đến việc phải thay đổi thể chế để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Ông nhấn mạnh rằng trong tình hình Việt Nam hiện nay sự hình thành các nhóm lợi ích có quyền lực chính trị kinh tế lớn sẽ ngăn cản sự thay đổi thể chế đó: “Các nước bị mắc bẫy thu nhập trung bình thì có nhiều lý do, trong đó có thể chế với các nhóm tư lợi, tham nhũng. Ví dụ như những nhóm này khống chế việc khai thác tài nguyên, xuất nhập khẩu, họ không cần quan tâm gì cả đến việc đầu tư phát triển công nghệ để đưa đất nước đi lên”.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói thêm là sự thay đổi chính sách, thể chế có thể khuyến khích sự đầu tư tư nhân, tạo nên một chuỗi sản xuất thoát khỏi tình trạng một sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam nhưng có rất ít giá trị là được tạo ra tại Việt Nam. Ông lấy ví dụ như ngành công nghiệp dệt may tại Việt Nam hiện nay, giá trị của một chiếc áo có khi chỉ có 50% là được tạo ra tại Việt Nam.

Một số ngành thoạt nhìn thì có thể nghĩ là có nhiều giá trị được tạo ra thay vì chỉ là lao động giản đơn, như sản xuất điện thoại thông minh tại Việt Nam, nhưng theo ông Nguyễn Huy Vũ, thực tế có thể không phải như vậy.

Hiện nay, Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất điện thoại thông minh Samsung lớn nhất thế giới, và xuất khẩu điện thoại của hãng này chiếm đến 1/4 xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2018. Tuy nhiên, ông Vũ cho rằng những công ty như Samsung có cơ sở nghiên cứu, thiết kế ở các quốc gia phát triển như châu Âu, Bắc Mỹ, còn tại Việt Nam là nơi được đầu tư để sử dụng sức lao động lắp ráp giá rẻ mà thôi.

Song song với việc thay đổi thể chế, để nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của dân chúng, còn một điều quan trọng nữa để thoát bẫy thu nhập trung bình, ông Nguyễn Huy Vũ nhấn mạnh, là việc phải có tự do dân chủ hơn: “Cuối cùng phải cải cách về dân chủ, vì khi người dân có được suy nghĩ dân chủ khác biệt, thì họ mới có sức sáng tạo, đổi mới được”.

Đối với giáo sư Ngô Vĩnh Long, từ Đại học Maine, vấn đề giáo dục là vấn đề sẽ cản trở Việt Nam phát triển: “Vấn đề là có chính sách tốt hay không. Có chính sách tốt thì không lọt vào cái bẫy thu nhập trung bình đó. Mà chính sách tốt là vấn đề giáo dục. Việt Nam không có giáo dục tốt nên không thể đầu tư cái gì cả. Thành ra chỉ có thể làm công cho Samsung thôi, chứ còn hơn nữa thì không đủ trình độ cũng như kỹ năng để theo kịp”.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho biết, từ những năm 1980, ông đề nghị các giới chức Việt Nam chú ý đến việc giáo dục, nhất là các cấp tiểu học và trung học, nhưng không được lắng nghe, vì VIệt Nam mong muốn có cái gọi là đi tắt đón đầu, chú ý vào việc phát triển đại học. Ông đưa ra ví dụ về Hàn Quốc, ngay cả dưới thời chế độ độc tài trước đây, họ đã bắt đầu chú ý đến giáo dục, bắt đầu trước tiên ở những cấp thấp nhất. Hàn Quốc là quốc gia được xem là đã tăng tốc thành công vượt qua khỏi tình trạng thu nhập trung bình để trở thành một nước công nghiệp phát triển giàu có, nơi sản sinh ra tập đoàn Samsung hùng mạnh đầu tư vào Việt Nam để sử dụng sức lao động rẻ tại đây.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Trung Quốc mạnh lên và Việt Nam phải chuẩn bị cho điều đó


Báo Đất Việt bình luận, muốn chơi với một nước lớn thì Việt Nam phải thay đổi cách chơi, phải lớn dần lên, TS Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách công nghiệp thuộc Bộ Công Thương cũng đồng tình với nhận định của GS.TS. Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore) khi cho rằng Trung Quốc đang mạnh lên và Việt Nam phải chuẩn bị cho điều đó.

Theo ông, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và quốc gia này cũng cho thấy họ sẽ không dừng lại mà thậm chí còn tiến xa hơn nữa để trở thành nền kinh tế số 1 thế giới, thay thế Mỹ. Đây là điều Mỹ không hề mong muốn, nhất la sau thời gian dài quốc gia này để Trung Quốc phát triển tự do. Tới thời điểm này, Mỹ đã giật mình nhận ra khả năng phát triển rất nhanh của Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Vì thế, Mỹ phải nhanh chóng đưa ra biện pháp nhằm kìm hãm tốc độ bùng nổ của Trung Quốc.

TS Dương Đình Giám cho rằng Trung Quốc chưa thể so sánh được với Mỹ về cả đẳng cấp chính trị, kinh tế cũng như trình độ khoa học công nghệ. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn c1o được những gì mình muốn nhờ vào những chiêu trò, hoặc các chiêu thức xâm phạm bản quyền sở hữu trí tuệ của các công ty Mỹ để tạo ra các sản phẩm khoa học cho mình.

Với cách đi như vậy, cuộc chiến tranh thương mại chưa thể dừng lại nhưng cũng không đi theo hướng sát phạt nhau mà thực chất là cả hai quốc gia đều đang thăm dò, tìm kiếm lợi ích từ nhau. Cuộc chiến có thể sẽ dừng lại khi cả hai bên thống nhất đi tới một số thỏa thuận nhất định. Vì thế, TS Dương Đình Giám cũng đồng ý với nhận định của GS.TS Vũ Minh Khương khi cho rằng Trung Quốc là quốc gia có khả năng ứng đáp chiến lược rất tốt. Chắc chắn sau khi cuộc chiến thương mại dừng lại, trật tự thế giới sẽ tiến tới một nấc thang mới mà trong đó Trung Quốc cũng sẽ nắm giữ vị trí rất quan trọng. Ông cho biết, Trung Quốc là quốc gia có sức ảnh hưởng rất lớn về thương mại, giao thương với các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới. Do đó, khi vị thế của Trung Quốc thay đổi, mối quan hệ giao thương giữa các nước với Trung Quốc cũng sẽ có nhiều thay đổi.

Việt Nam cần làm gì?

Việt Nam là quốc gia đứng cạnh Trung Quốc, chắc chắn sẽ chịu rất nhiều tác động cả tiêu cực lẫn tích cực từ sự thay đổi của quốc gia này. Đặc biệt, trong bối cảnh mối quan hệ kinh tế hai chiều gắn kết, chặt chẽ nhưng phía bị phụ thuộc là Việt Nam, khả năng tìm kiếm lợi ích của Việt Nam sẽ ngày càng khó khăn hơn. Dù vậy, TS Dương Đình Giám vẫn cho rằng, còn có nhiều cách Việt Nam có thể tận dụng, khai thác được từ người láng giềng khổng lồ để giúp cho nền kinh tế trong nước phát triển, quan trọng nhất là vẫn phải thay đổi “cách chơi”. Việt Nam không thể chơi với Trung Quốc theo cách như đang chơi, mà cần phải chuẩn bị một tâm thế lớn khi chơi với một nước lớn. Do đó, việc Việt Nam phải làm là:

Thứ nhất, cần tận dụng lợi thế của mình, khai thác tốt thị trường đông dân, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cao và đa dạng ở nhiều cấp chất lượng của Trung Quốc để bán hàng. Đối với Việt Nam, Trung Quốc vẫn được coi là thị trường xuất khẩu rất tiềm năng, nhưng thực tế, chúng ta vẫn chưa tận dụng được lợi thế này. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện mới chỉ nhìn nhận thị trường Trung Quốc theo tầm nhìn ngắn hạn, “có lợi là làm, dễ làm khó bỏ”; chứ chưa xác định được chiến lược một cách bài bản để từng bước chinh phục thị trường này, chí ít là các thị trường ngách, các địa phương ở Tây và Nam Trung Quốc. TS Dương Đình Giám nói: “Vấn đề chính của chúng ta là làm sao vươn lên được để có thể tận dụng, khai thác được lợi thế từ thị trường xuất khẩu vào nước này chứ không chỉ tìm cách bán hàng theo con đường tiểu ngạch vừa rủi ro, vừa thiệt thòi”.

Cùng với đó, ông cũng cho rằng, Việt Nam phải đang phải đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ trên mọi lĩnh vực, không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế để tránh nguy cơ lệ thuộc hoàn toàn vào một thị trường, mà cụ thể ở đây là Trung Quốc.

Thứ hai, về nhập khẩu, ông cũng nhắc nhở doanh nghiệp trong nước phải thay đổi tư duy, tâm lý ham rẻ, mua bán dễ dàng (nhập khẩu qua đường tiểu ngạch) để nhập hàng hóa, nguyên vật liệu chất lượng thấp từ thị trường Trung Quốc làm tổn hại đến ngườit iêu dùng cũng như bóp chết sản xấut trong nước.

Bản thân các doanh nghiệp trong nước phải xác định lại thị trường mục tiêu của mình theo cấp độ tăng dần… Tuy nhiên, để mở rộng sang các thị trường khó tính (cả xuất khẩu và nhập khẩu), đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư khoa học công nghệ để nâng cao phẩm cấp của hàng xuất khẩu; đồng thời nâng cao năng lực quản trị để tiết giảm chi phí, bù lại chi phí vận chuyển xa hơn đối với các thị trường này (so với xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc), thì mới mong giảm được sự phụ thuộc và tránh được những rủi ro từ thị trường Trung Quốc.

Theo TS. Dương Đình Giám, ngay cả khi xác định Trung Quốc là thị trường mục tiêu, Việt Nam cũng phải xác định làm sao để nâng cao được năng lực sản xuất, tận dụng được các lợi thế mà thị trường Trung Quốc mang lại, từ đó củng cố vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên thương trường quốc tế. Sự thay đổi này là bắt buộc vì Trung Quốc mạnh lên cũng đồng nghĩa với những yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật hàng hóa cũng cao hơn, khắt khe hơn. Khi đó, hàng hóa Việt Nam muốn vào được thị trường Trung Quốc cũng đòi hỏi phải đạt tới một trình độ, chất lượng nhất định, ngược lại với tình trạng tại thị trường nội địa, hàng hóa Trung Quốc sẽ tràn ngập. Nếu hàng hóa trong nước không bảo đảm sẽ không thể cạnh tranh được.

Với sự thay đổi tới đây, ông cho rằng cuộc cạnh tranh giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa Trung Quốc không chỉ dừng lại ở những chiêu trò như đội lốt hàng Việt, hàng nhái, hàng giả nữa mà sẽ là cuộc cạnh tranh công khai, rất khốc liệt. Do đó, nếu doanh nghiệp không thay đổi thì chỉ có thất bại và nhận thua.

Từ nhìn nhận trên, ông Dương Đình Giám cho rằng, nếu Việt Nam muốn tiến nhanh và có thể hưởng lợi được từ nước láng giềng thì cần phải thực hiện cải cách, thay đổi một cách toàn diện. Đặc biệt về khung khổ chính sách, phương thức phát triển, hỗ trợ nhằm giúp doanh nghiệp trong nước có được điều kiện phát triển tốt nhất.

Tuy nhiên, hơn ai hết, bản thân các doanh nghiệp mới là người quyết định. Vấn đề thay đổi tư duy, tầm nhìn, tự thay đổi để trưởng thành lên. Tóm lại, nếu Việt Nam muốn giảm sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thì phải có sự thay đổi đồng bộ từ cả hai phía Nhà nước và doanh nghiệp. Quan trọng nhất, Việt Nam vẫn phải đẩy mạnh, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, trong tương lai, đây chính là nền tảng thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019