Báo cáo công tác Chính phủ Trung Quốc năm 2019 – Phần IV


Chính sách tiền tệ thận trọng cần phải được nới lỏng và thắt chặt vừa phải. Mức tăng chỉ số M2 và quy mô huy động vốn xã hội phải đồng bộ với mức tăng GDP để đáp ứng tốt hơn yêu cầu duy trì kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý. Trong thực hiện thực tế cần phải nắm chặt van điều tiết cung ứng tiền tệ, không tiến hành cái gọi là “nước nhiều tưới chậm”, nhưng phải vận dụng linh hoạt nhiều công cụ chính sách tiền tệ, khơi thông kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ, duy trì tính thanh khoản hợp lý và dồi dào, làm dịu hiệu quả vấn đề huy động vốn khó và huy động vốn đắt của nền kinh tế thực, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, phòng ngừa và hóa giải rủi ro tài chính. Thúc đẩy cuộc cải cách thị trường hóa về lãi suất, hạ thấp mức lãi suất thực tế. Hoàn thiện cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái, duy trì tỷ giá hối đoái của đồng NDT cơ bản ổn định ở mức cân bằng và hợp lý.

Thúc đẩy toàn diện chính sách ưu tiên tạo việc làm. Việc làm là gốc của dân sinh, ngọn nguồn của cải. Năm nay lần đầu tiên đặt chính sách ưu tiên việc làm lên cấp độ chính sách vĩ mô, nhằm tăng cường định hướng cho các mặt chú trọng tạo việc làm, ủng hộ tạo việc làm. Trước mắt và trong trung hạn, sức ép về tổng lượng việc làm của Trung Quốc sẽ không giảm, mâu thuẫn mang tính kết cấu nổi cộm, sự tác động của các nhân tố mới tiếp tục gia tăng, cần phải đặt công tác tạo việc làm lên vị trí nổi bật hơn. Ổn định tăng trưởng trước hết phải bảo đảm cho tạo việc làm. Việc tạo thêm việc làm mới ở thành thị năm nay phải phấn đấu đạt quy mô thực tế của mấy năm gần đây trên cơ sở thực hiện mục tiêu dự báo, tức vừa phải bảo đảm việc làm cho lao động ở thành thị, cũng phải dành ra không gian việc làm cho lao động dôi dư chuyển dịch từ nông nghiệp. Miễn là việc làm ổn định, thu nhập tăng, chúng ta sẽ càng tự tin hơn.

Cần phải dốc sức thực hiện theo 8 chữ là “củng cố, tăng cường, nâng cấp, thông suốt” trong khi tiếp tục kiên trì lấy cải cách cơ cấu theo hướng trọng cung làm sợi chỉ xuyên suốt. Áp dụng nhiều biện pháp cải cách hơn, vận dụng biện pháp thị trường và pháp trị nhiều hơn, củng cố thành quả “ba loại bỏ, một giảm, một trợ cấp” (giải quyết ổn thỏa tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp hạ giá thành, giảm lượng tồn đọng bất động sản, tháo gỡ đòn bẩy tài chính, bù đắp thiếu hụt để nâng cao hiệu quả đầu tư), tăng cường sức sống của các chủ thể vi mô, nâng cấp trình độ của chuỗi ngành nghề, làm thông suốt vòng tuần hoàn kinh tế quốc dân, thúc đẩy kinh tế phát triển chất lượng cao.

Cần phải tiếp tục thực hiện tốt ba “cuộc chiến” lớn, đột phá chính xác, chú trọng hiệu quả thực tế. Muốn phòng ngừa và hóa giải rủi ro quan trọng cần phải tăng cường tư duy về giới hạn đỏ, kiên trì loại bỏ đòn bẩy mang tính kết cấu, đề phòng thị trường tài chính xuất hiện bấp bênh bất thường, xử lý thỏa đáng rủi ro nợ công của chính quyền đại phương, phòng chống rủi ro từ bên ngoài lan truyền vào. Thoát nghèo chính xác cần phải kiên trì tiêu chuẩn hiện hành, tập trung vào khu vực rất nghèo và nhóm người nghèo đặc thù, tăng thêm cường độ giải quyết, nâng cao chất lượng thoát nghèo. Việc phòng chống ô nhiễm cần phải tập trung và các nhiệm vụ trọng điểm như bảo vệ được bầu trời trong xanh, quy hoạch tổng thể, trị cả gốc lẫn ngọn, cải thiện một cách bền vững chất lượng môi trường sinh thái.

Muốn làm tốt công tác chính phủ năm nay cần phải chú trọng nắm bắt tốt các mối quan hệ dưới đây.

Một là, phải tính toán một cách ổn thỏa mối quan hệ giữa trong nước với quốc tế, tập trung tinh thần và sức lực làm tốt công việc của mình. Trung Quốc đã và sẽ tiếp tục ở trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội, vẫn là nước đang phát triển lớn nhất trên thế giới. Phát triển là nền tảng và mấu chốt cho việc giải quyết mọi vấn đề của Trung Quốc, cần phải nắm chắc trọng tâm xây dựng kinh tế, kiên trì tư tưởng chiến lược phát triển là chân lý, đó là phát triển một cách khoa học và phát triển chất lượng cao, không ngừng giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội. Trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp, khó lường, chúng ta phải duy trì động lực phát triển, thúc đẩy các công việc theo mục tiêu và quy hoạch đã định, tận dụng tốt hai thị trường và hai nguồn lực trong nước, quốc tế, dám đương đầu với thách thức, giỏi chuyển hóa nguy cơ thành cơ hội, nắm chắc quyền chủ động phát triển.

Hai là, phải cân bằng tốt mối quan hệ giữa ổn định tăng trưởng với phòng ngừa rủi ro, bảo đảm kinh tế phát triển lành mạnh và bền vững. Cần phải hóa giải các hiểm họa rủi ro tích tụ lâu nay, nhưng phải tuân thủ quy luật, chú trọng cách thức và phương pháp, từng bước hóa giải trong phát triển theo yêu cầu kiên định, có thể kiểm soát, có trật tự và vừa phải, kiên quyết tránh xảy ra rủi ro mang tính hệ thống và khu vực. Trong tình hình sức ép kinh tế đi xuống hiện nay, việc ban hành các chính sách và biện pháp công tác cần phải có lợi cho ổn định dự báo, ổn định tăng trưởng, điều chỉnh kết cấu, việc phòng ngừa rủi ro cần phải nắm bắt tốt nhịp độ và cường độ, phòng ngừ hiệu ứng thiểu phát chồng chéo và mở rộng, quyết không để vận hành kinh tế đi chệch khỏi phạm vi hợp lý. Bên cạnh đó cũng không được chỉ chú trọng trước mắt, áp dụng chính sách kích thích ngắn hạn gây tổn hại sự phát triển lâu dài, làm nảy sinh các rủi ro và hiểm họa mới.

Ba là, phải xử lý tốt mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường, khơi dậy sức sống thị trường dựa trên cải cách và mở cửa. Chỉ cần chủ thể thị trường có sức sống sẽ có thể tăng cường động lực phát triển nội tại, trụ vững trước sức ép kinh tế đi xuống. Cần ra sức thúc đẩy cải cách và mở cửa, đẩy nhanh xây dựng hệ thống thị trường hiện đại cởi mở, cạnh tranh có trật tự, nới lỏng cho phép thâm nhập thị trường, tăng cường giám sát và quản lý công bằng, tạo dựng môi trường kinh doanh pháp trị hóa, quốc tế hóa, thuận lợi hóa, để các chủ thể thị trường càng thêm năng động. Xét về căn bản, sức sống thị trường và sức sáng tạo xã hội bắt nguồn từ việc phát huy tính tích cực của quần chúng nhân dân. Cần phải kiên trì tư tưởng phát triển lấy nhân dân làm trung tâm, làm theo khả năng, lượng sức mà làm, bảo đảm thiết thực vấn đề dân sinh cơ bản, thúc đẩy giải quyết các vấn đề dân sinh trọng điểm, thúc đẩy công bằng, chính nghĩa xã hội, để nhân dân có cuộc sống tốt hơn. Nhân dân Trung Quốc cần cù và thông minh, có tiềm năng sáng tạo đổi mới vô hạn, miễn là được giải phóng đầy đủ, sự phát triển của Trung Quốc nhất định sẽ có không gian rộng mở hơn.

III/ Nhiệm vụ cônh tác của chính phủ năm 2019

Sự phát triển kinh tế – xã hội năm nay có nhiệm vụ nặng nề, thách thức nhiều và yêu cầu cao. Chúng ta cần nêu bật trọng điểm, nắm vững nhiệm vụ then chốt và làm tốt công tác.

1/ Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện sự điều tiết vĩ mô, đảm bảo kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý. Kiên trì giải quyết các vấn đề nan giải trong phát triển bằng tư duy và biện pháp cải cách thị trường hóa, phát huy tốt vai trò điều tiết ngược chu kỳ của chính sách vĩ mô, làm phong phú và vận dụng linh hoạt các công cụ chính sách tài chính, tiền tệ và tạo việc làm, tăng cường tính đi trước đón đầu, tính đối tượng và tính hiệu quả của công tác điều tiết, tạo điều kiện cho kinh tế vận hành bình ổn.

Thực hiện cắt giảm thuế quy mô lớn hơn. Áp dụng song song biện pháp giảm thuế mang lại ưu đãi cho toàn xã hội và mang tính kết cấu, trọng điểm là giảm gánh nặng thuế cho ngành sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Đi sâu cải cách thuế giá trị gia tăng, sẽ giảm thuế của ngành sản xuất từ 16% hiện nay xuống 13%, giảm thuế của ngành giao thông – vận tải, xây dựng… từ 10% hiện nay xuống 9%, bảo đảm giảm đáng kể gánh nặng thuế của các ngành nghề trọng yếu; duy trì không thay đổi mức thuế suất bậc 1 là 6%, song thông qua áp dụng các biện pháp đồng bộ như tăng khấu trừ thuế cho các ngành sản xuất dịch vụ đời sống để đảm bảo mức thuế của tất cả các ngành chỉ giảm chứ không tăng, tiếp tục hướng tới thúc đẩy hợp nhất ba bậc thuế thành hai bậc, đơn giản hóa cơ chế thuế. Làm tốt việc thực hiện các chính sách giảm thuế mang tính ưu đãi phổ quát dành cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ đã ban hành đầu năm nay. Việc giảm thuế lần này là biện pháp quan trọng để giảm gánh nặng cho doanh nghiệp, khơi dậy sức sống thị trường, theo đó tập trung “dẫn nước nuôi cá”, tăng cường nội lực phát triển và cân nhắc tới tài chính bền vững, là cuộc cải cách quan trọng nhằm hoàn thiện chế độ thuế, tối ưu hóa bố cục phân phối thu nhập, đồng thời cũng là lựa chọn quan trọng của chính sách vĩ mô nhằm hỗ trợ tăng trưởng ổn định, bảo đảm việc làm và điều chỉnh cơ cấu.

(còn tiếp)

Nguồn: Mạng Tân Hoa (TQ) – 05/03/2019

TLTKĐB – 07, 08 & 09/03/2019

Advertisements

Khuôn khổ thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần II


Nước ký kết hiệp định không được lập ra hoặc duy trì hạn chế số lượng ở trong nước buộc việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng loại sản phẩm nào đó phải phù hợp với số lượng cụ thể hoặc tỷ lệ nào đó, trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi việc cung cấp hàng phải là hàng trong nước với số lượng hoặc tỷ lệ đã quy định trong điều lệ. Khi áp dụng điều lệ hạn chế số lượng trong nước yêu cầu việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng sản phẩm phải phù hợp với số lượng cụ thể hoặc tỷ lệ quy định thì không được phân chia số lượng hoặc tỷ lệ ấy cho các nguồn hàng nhập của nước ngoài.

Nhưng điều này không áp dụng với các pháp lệnh, điều lệ hoặc quy định quản lý các vật phẩm chính phủ mua để sử dụng, vật phẩm tiêu thụ phi thương nghiệp hoặc không dùng để sản xuất rồi cung cấp cho một thương nghiệp tiêu thụ. Đồng thời, điều này cũng không ngăn cản trợ cấp đặc biệt cho người sản xuất trong nước, gồm cả trợ cấp cho ngươi sản xuất trong nước trích từ thu nhập thuế trong nước và bằng biện pháp chính phủ mua sản phẩm trong nước.

Điều 4 là điều quy định riêng về điện ảnh.

Điều 5 nói về tự do quá cảnh. Điều này quy định rằng, hàng hóa (kể cả hành lý), tàu bè và các công cụ vận tải khác đi qua lãnh thổ của một nước thành viên nào đó, dù có chuyển tàu hay không, có kho chứa hay không, có xếp dỡ hàng hay không hoặc có thay đổi phương thức vận chuyển hay không, chỉ cần đoạn đường mà chúng đi qua là một bộ phận của toàn bộ vận trình, mà điểm khởi hành và điểm kết thúc của cả vận trình ấy nằm ngoài lãnh thổ của nước có hàng hóa đi qua ấy, thì được gọi là quá cảnh lãnh thổ của nước thành viên ấy; vận tại như vậy được gọi là “vận tải quá cảnh”.

Vận tải quá cảnh từ nước thành viên khác tới, hoặc đi tới nước thành viên khác theo lộ trình quá cảnh quốc tế tiện lợi nhất đi qua lãnh thổ của các nước thành viên là vận tải quá cảnh tự do. Sự khác nhau của tàu bề về quốc tịch, nơi đến, nơi xuất phát, bến nhập cảng, bến xuất cảng hoặc cảng tới đích, mọi tình hình về quyền sở hữu hàng hóa, tàu bè hoặc các công cụ vận tải khác, không được dùng làm cớ để đãi ngộ khác nhau.

Các nước thành viên có thể yêu cầu việc vận tải quá cảnh qua lãnh thổ của mình làm báo cáo hải quả tích hợp. Trừ trường hợp không tuân thủ pháp lệnh hải quan, còn thì không được gây ra những cậm trễ hoặc hạn chế không cần thiết đối với vận tải quá cảnh, không đánh thuế hải quan, thuế quá cảnh hoặc các phụ phí khác về quá cảnh, nhưng việc thu chi phí vận tải, chi phí hành chính có liên quan tới quá cảnh và chi phí dịch vụ không nằm trong điều cấm này. Những đãi ngộ mà nước thành viên này dành cho vận tải quá cảnh từ các nước thành viên khác tới hoặc đi tới các nước thành viên khác về các mặt chi phí quá cảnh, điều lệ và thủ tục quá cảnh không được ít hơn đã ngộ dành cho vận tải quá cảnh từ bất kỳ nước thứ ba nào tới hoặc đi tới bất kỳ nước thứ ba nào. Đãi ngộ dành cho những sản phẩm quá cảnh ra lãnh thổ nước thành viên khác không ít hơn đãi ngộ dành cho những sản phẩm ấy khi chúng được chuyển thẳng từ nơi sản xuất tới điểm đích mà không quá cảnh lãnh thổ một nước thành viên khác.

Quy định này không áp dụng đối với công cụ hàng không, nhưng vẫn áp dụng đối với hàng hóa (kể cả hành lý) quá cảnh đường không.

Điều 6 là điều về chống bán phá giá và chống trợ cấp. Nó quy định rằng, nếu dùng thủ đoạn bán phá giá để đưa sản phẩm có giá trị thấp hơn bình thường xâm nhập vào thị trường nước khác khiến ngành công nghiệp nào đó đã có sẵn trên lãnh thổ nước thành viên này thật sự bị tổn thất hoặc bị đe dọa thật sự, hoặc gây khó khăn thật sự cho ngành công nghiệp mới của họ, thì việc bán phá giá đó phải bị chỉ trích. Điều này định nghĩa bán phá giá là “giá cả của sản phẩm của nước này xuất khẩu sang nước khác: a) thấp hơn giá sản phẩm cùng loại tiêu dùng trong nước xuất khẩu; hoặc b) Nếu không có giá trong nước, thì thấp hơn giá cao nhất của sản phẩm cùng loại xuất khẩu sang nước thứ ba trong tình hình thương mại bình thường”. Để triệt tiêu hoặc phòng ngừa việc bán phá giá với mức thuế không vượt quá mức phá giá. Về kim ngạch, thuế chống trợ cấp không được vượt quá lượng tiền mà sản phẩm ấy trực tiếp hoặc gián tiếp được thưởng hoặc trợ cấp khi chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu. Thuế chống trợ cấp được định nghĩa là “một loại thuế nhằm triệt tiêu mọi khoản thưởng hoặc trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho hàng hóa khi chúng được sản xuất, chế tạo hoặc xuất khẩu”.

Khi sản phẩm từ lãnh thổ của một nước thành viên này nhập khẩu vào lãnh thổ nước thành viên khác, không được vì chúng được miễn những sắc thuế mà sản phẩm cùng loại tiêu dùng tại nước sản xuất hoặc tại nước xuất khẩu phải nộp, hoặc do sắc thuế đó đã bị bãi bỏ mà đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp. Đồng thời, không được vì để triệt tiêu bán phá giá hoặc trợ cấp xuất khẩu mà vừa đánh thuế chống bán phá giá vừa đánh thuế chống trợ cấp.

Khi sản phẩm của nước thành viên này nhập khẩu vào lãnh thổ của nước thành viên khác, nước nhập khẩu không được đánh thuế chống bán phá giá hoặc thuế chống trợ cấp, ngoại trừ đoán định rằng hậu quả của việc bán phá giá hoặc trợ cấp sẽ gây ra tổn thất thật sự hoặc đe dọa thật sự đối với ngành công nghiệp nào đó đã có sẵn, hoặc sẽ gây khó khăn thật sự cho việc xây dựng mới ngành công nghiệp nào đó của mình.

Điều 7 nói về tính giá hải quan. Điều này quy định rằng, “tính giá hải quan hàng nhập khẩu phải tính theo giá thực tế của hàng nhập khẩu hoặc của hàng cùng loại chứ không được lấy giá hàng trong nước mình, hoặc giá vũ đoán, hoặc giá hư cấu để làm căn cứ tính thuế. Giá cả thực tế là giá bán của hàng hóa nào đó hoặc của hàng hóa cùng loại trong điều kiện thương mại bình thường có cạnh tranh tại thời gian và địa điểm nào đó mà luật pháp của nước nhập khẩu đã quy định”. Tính giá hải quan đối với sản phẩm nhập khẩu không được tính cả mọi sắc thuế mà nước sản xuất hoặc nước xuất khẩu áp dụng đối với sản phẩm sản xuất trong nước nhưng miễn trừ đối với sản phẩm nhập khẩu, hoặc sắc thuế đã được bãi bỏ hoặc sẽ bãi bỏ.

Khi tính giá hải quan mà phải quy giá đồng tiền nước khác thành đồng tiền nước mình thì hối suất quy đổi phù hợp với quy định trong hiệp định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, hoặc căn cứ vào hối suất mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế thừa nhận, hoặc dựa vào quy định trong hiệp định ngoại hội. Nếu không có hối suất đã quy định hoặc được chấp nhận đó thì hối suất quy đổi phải phản ánh đúng giá trị hiện hành của đồng tiền ấy trong giao dịch thương mại.

Nếu lấy giá trị hàng hóa làm căn cứ thu thuế và thu các phụ phí khác hoặc thực hiện hạn chế thì căn cứ vào phương pháp xác định giá trị sản phẩm phải ổn định, và phải công bố rộng rãi để các hãng buôn biết chính xác ước giá tính giá hải quan.

Điều 8 nói về các lệ phí và thủ tục xuất nhập khẩu, trong đó quy định rằng, các nước thành viên không được dùng bất kỳ loại lệ phí, và phụ phí nào ngoài thuế xuất nhập khẩu và có liên quan đến nhập khẩu cũng như thuế nội địa, làm phương tiện bảo hộ gián tiếp, không được biến chúng thành một loại thuế nhập khẩu hoặc thuế xuất khẩu và được thu nhằm mục đích tài chính. Phải giảm lượng và loại lệ phí, phụ phí, phải hạn chế tới mức thấp nhất chi phí và sự phức tạp về thủ tục xuất nhập khẩu; giảm và đơn giản hóa biên lai chứng từ xuất nhập khẩu.

Không phạt quá nặng những vụ việc vi phạm nhẹ quy chế và thủ tục hải quan. Đặc biệt là đối với những chứng từ hải quan có chỗ dễ sửa và không có ý đồ lừa bịp, hoặc có chỗ sai sót, ghi nhầm lớn, không nên khép tội là đã vượt quá mức độ để rồi xử phạt.

Điều quy định này áp dụng với cả các lệ phí, phụ phí, thủ tục và quy định do các nhà đương cục các chính phủ thực hiện có liên quan tới xuất nhập khẩu, bao gồm các công việc: về lãnh sự; hạn chế số lượng; giấy phép; kiểm soát ngoại hối; công việc thống kê; các văn kiện, chứng từ và chứng nhận; phân tích, kiểm tra và kiểm dịch, vệ sinh và tiêu khử độc hại.

Điều 9 nói về nhãn hàng nơi sản xuất. Điều này quy định rằng những đãi ngộ về nhãn hàng mà nước thành viên này dành cho sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của nước thành viên khác không được ít hơn sản phẩm cùng loại của nước thứ ba. Khi áp dụng pháp lệnh và điều lệ về nhãn hàng của nước sản xuất không được gây khó khăn cho thương nghiệp và công nghiệp của nước xuất khẩu. Nhưng phải chú ý đề phòng nhãn giả hoặc dễ gây ra hiểu lầm để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Vụ Lockheed – Phần VIII


“Tính hợp thời” của vụ bê bối ở Italy đã hoàn toàn trùng hợp với chiến lược trung lập hóa hoặc loại trừ “đường lối Bilderberg”, tức là của cánh hữu, cực kỳ bảo thủ và thân châu Âu của Đảng dân chủ Cơ đốc giáo. Bạn đọc sẽ thấy tại sao vụ này sẽ không bao giờ được kết thúc và các nhân vật phải bị “loại trừ” sẽ thoát nạn, hoặc bằng cách nhanh chóng chuyển sang theo các lý thuyết của Ba bên, hoặc bị đẩy ra ria một cách kín đáo và êm thấm mặc dầu những yếu tố bằng chứng do ủy ban điều tra của Nghị viện Italy nắm được đã quá đủ.

Nhân vật được bàn cãi nhiều nhất – tuy lúc đầu không bị những sự buộc tội nhằm vào – là thủ tướng Andreotti, người đã vượt lên mọi trở lực để xây dựng những “thỏa hiệp lịch sử” nhỏ, có lợi cho các cuộc bầu cử. Có lẽ vì lý do này mà, rất nhanh chóng, người ta thấy xuất hiện nhiều tài liệu (không thuyết phục lắm) trình bày ông ta như “người hưởng lợi” về những sự rộng rãi của Lockheed. Đó là một cách kín đáo để nhắc nhở về tính dễ tổn thương của ông ta cũng như về những rủi ro của một sự mở ra về phía tả mà ủy ban Ba bên không kiểm soát được.

Nạn nhân đầu tiên của vụ này chắc chắn là cựu chủ tịch Hội đồng Mariano Rumor, thủ lĩnh trào lưu đa số của Đảng dân chủ Cơ đốc giáo, người nắm giữ nhiều bí mật của Cộng hòa Italy, nhất là tất cả những gì có liên quan tới những tội trạng của Mafia Italy (cũng như tới sự thông đồng của nó với giai cấp chính trị Italy) và tới “chiến lược gây căng thẳng”. Ta hãy nhớ rằng Rumor là kẻ khởi xướng ra chiến thuật cát bồi (ensablement), phân tán các hồ sơ tư pháp, các quỹ đen,…

Đây là những yếu tố được các tài liệu của Church đưa ra:

Thứ nhất là tài liệu đề ngày 28 tháng Ba 1969 tại Grand Hote ở Rome. Đó là một bức thư gửi cho ông Valentine, người lãnh đạo Lockheed, do đại diện doanh nghiệp này ở châu Âu (đóng trụ sở tại Paris) viết. Người đại diện này, ông Roger Bixby Smith, vừa có một cuộc họp với anh em Lefebvre, những trung giang Lefebvre, những trung gian của Lockheed ở Italy, và đã trình bày những kết quả đàm phán cho ban lãnh đạo công ty này.

Một đoạn trong bức thư ấy cho Lefebvre yêu cầu trả “Cumshaw” một số tiền 120.000 USD cho mỗi máy bay được bán (tất cả 14 chiếc) “một con số tuy cao nhưng thích hợp với tầm quan trọng của vụ mua bán này: không được quên rằng chúng ta đang muốn chiến thắng những kẻ cạnh tranh Pháp và Đức đang dùng những chiến thuật tương tự (…). Tuy Lefebvre không thể tham gia các cuộc thương lượng chính thức, nhưng ông ta nhờ có Antelope Cobbler (anh hãy dùng cuốn sách đen nhỏ của anh đi, cuốn của tôi đề ngày 15 tháng Mười 1965) đã biết rõ những đòi hỏi kinh tế của những người bảo hộ chúng ta (…). Ngoài Cobbler và Pun ra, còn nhiều nhân vật rất quan trọng khác mà con số và tên tuổi của họ sẽ được trực tiếp cung cấp cho người phụ trách nào của công ty có thể đến Italy được để thu thập những tin tức này, với điều kiện không chuyển chúng qua đường bưu điện”…

Bức thư ấy kết thúc bằng một lời yêu cầu giữ kín hoàn toàn, “nhất là về những khoản tiền thưởng cho những người thứ ba. Đó chính là thuốc nổ đấy! Vụ này có những ảnh hưởng và hệ quả đáng buốn ở những nơi khác nữa”…

Tài liệu tiếp theo, đề tháng Tư 1970, được ban lãnh đạo Lockheed gửi cho công ty Tezorefo, đóng ở Panama và thuộc về Lefebvre. Tài liệu này thông báo cho Lefebvre rằng Lockheed đã đưa Tezorefo “tham dự những cuộc thương lượng của nó với chính phủ Italy”, tham dự những cuộc thương lượng của nó với chính phủ rõ ràng các khoản tiền trả – mỗi chiếc 140.000 USD – phải được thực hiện như sau:

1/ Khi nhận được thư bày tỏ ý định của Bộ Quốc phòng… 500.000 USD.

2/ Khi ký hợp đồng dứt khoát với Bộ Quốc phòng… 500.000 USD.

3/ Khi Tòa án về các tài khoản chấp thuận… 456.000 USD.

Tổng cộng… 1.456.000 USD

“Yêu cầu trả lại cho chúng tôi một bản hợp đồng đã ký hợp thức…”.

Tài liệu thứ ba (số 093007086, “Italian C-130, Contracts problems) là một thông báo nội bộ của Lockheed, do đại diện của nó ở châu Âu ký, trong đó nói về những khó khăn gặp phải trong việc tài trợ cho hợp đồng đã ký giữa công ty và chính phủ Italy (việc tài trợ này phải được Eximbank Mỹ và IMI Italy tán thành), và đó là nguyên nhân của việc – chậm trả tiền cho đợt thù lao và tiền thưởng thứ hai như đã được dự tính trong hợp đồng”.

Tài liệu này cũng nhắc lại rằng người ta vừa mới đi tới một thỏa thuận sửa đổi về những chi phí “chào hàng” và những chi phí này phải được trả thành hai đợt, đợt thứ nhất khi nhận được thư bày tỏ ý định, đợt thứ hai khi ký hợp đồng dứt khoát. Còn về các khoản thanh toán “đặc biệt”, tài liệu nói rõ ràng “số tiền 78.000 trả thêm sẽ được dùng để đền bù cho bộ trưởng (Quốc phòng – ghi chú của tác giả) trước đây cũng như cho một số người trong văn phòng ông ta”. Một khoản tiền thưởng riêng 50.000 USD “phải được đưa cho bộ trưởng để cảm ơn hành động của ông ta vì đã tăng thêm giá may bay vừa mới thỏa thuận”.

Tóm lại, sơ đồ thanh toán là như sau:

Chi phí chào hàng: 1.680.000 USD

Chi phí cộng thêm: 128.000 USD

Thù lao cho Lefebvre: 210.000 USD

Cộng thêm 85% số tiền này cho đảng chính trị của bộ trưởng hiện nay và của tổng thống (sic)”.

Tức là, theo tài liệu này, 128.000 USD được dành cho bộ trưởng là đã ký hợp đồng và đã “giúp tăng thêm giá máy bay” và đại bộ phận số tiền 1.680.000 USD được trả cho các đảng của bộ trưởng trước đây và bộ trưởng hiện thời, tức là Đảng Dân chủ Cơ đốc giáo và Đảng Xã hội – Dân chủ, các đảng của các ông Gui và Tanasi.

Theo tài liệu này, “bộ trưởng đã than phiền về sự chậm trả tiền đợt hai, ông ta tưởng rằng chúng ta đang chờ đợi một cuộc đảo chính để khỏi phải trả số tiền đó”.

Tài liệu kết thúc bằng sự cam đoan rằng, sau khi thanh toán đợt hai, những thể thức khác cũng sẽ được thực hiện nhanh chóng, “phù hợp theo lịch trình sau đây”:

“Bộ trưởng sẽ ký hợp đồng và gửi nó kèm theo ý kiến tán thành cho Bộ trưởng Ngân khố ngày 22 tháng Ba.

“Bộ trưởng Ngân khố sẽ phê chuẩn và gửi nó cho Tòa án về các tài khảon ngày 29 tháng Ba.

“Cuối cùng, việc đăng ký chính thức bản hợp đồng sẽ được thực hiện ngày 30 tháng Tư…”

(Hãy chú ý tới tầm quan trọng của những sự thông đồng chính thức để có thể định ra một lịch cụ thể cho những hành vi thuộc về các cơ quan chính thức khác nhau như thế.

Cuối cùng, tài liệu thúc ép ban lãnh đạo Lockheed giảm bớt thời hạn trả tiền đợt hai, “do tính bất ổn của chính phủ Italy…”.

Tài liệu thứ tư là một bức thư do Chủ tịch công ty Ikaria (đóng ở Vaduz, Liechtenstein). Ông Melka, tửi cho ông Lefebvre và chính phủ Italy khi thương lượng với Lockheed. Tài liệu này chỉ rõ rằng “780.000 USD tiền hoa hồng phải được trả cho tài khoản số 5052 thuộc Ngân hàng thương mại Israel – Thụy Sĩ ở Geneva”. Như vậy, theo tài liệu số 3, 78.000 USD “dành cho bộ trưởng” lẽ ra được trả trực tiếp thì lại được đưa vào vào một hợp đồng phụ ký với một công ty đóng tại thiên đường thuế khóa, và phải được gửi vào một ngân hàng nước ngoài…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần cuối


Những đồng minh này đang dần rời xa Mỹ cũng là điều chắc chắn. Ngày 6/11/2018, Tổng thống Pháp Macron hô hào trên Đài phát thanh Europe 1 rằng châu Âu nên xây dựng một quân đội riêng của mình để giảm bớt phụ thuộc quốc phòng vào Mỹ. Trump ngay sau đó lập tức công kích Macron trên Twitter: “Tổng thống Pháp vừa kiến nghị châu Âu xây dựng quân đội riêng để đề phòng Mỹ, Trung Quốc và Nga. Thật xúc phạm! Nhưng có lẽ châu Âu trước hết nên chi trả thỏa đáng phần chi phí quân sự của NATO, Mỹ đã bù vào đó khá nhiều rồi”. Có thể thấy quan hệ giữa châu Âu với Mỹ ngày một sứt mẻ, trong khi quan hệ với Nga và Trung Quốc ngày càng gần gũi hơn, lệnh trừng phạt Iran lần này sẽ một lần nữa làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ và châu Âu. Mỹ và châu Âu sẽ ngày càng xa rời.

Thứ ba, chia rẽ giữa Mỹ và châu Âu có thể là xu thế dài hạn. Kể từ khi Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu ngày càng xấu đi. Tuy nhiên hầu hết người dân đều thiếu nhận thức về điều này, thường cho rằng đó chỉ là cạnh tranh anh em giữa các nước Âu – Mỹ, về đối ngoại vẫn phải đoàn kết để đối phó với Nga và Trung Quốc. Hoặc cho rằng đây chỉ là phong cách cầm quyền của Trump, chỉ là hành vi nhất thời.

Nhưng tình hình hiện tại dường như không hoàn toàn như vậy. Một mặt, giá trị quan giữa Mỹ và châu Âu là nhất quán, chắc chắn vẫn mang nhiều lợi ích chung, không gian hợp tác tương đối lớn; nhưng mặt khác, nếu đúng như Trump coi EU là kẻ địch lớn hơn cả Nga và Trung Quốc thì châu Âu cũng ngày càng coi Mỹ là mối đe dọa lớn hơn, và kêu gọi Nga, Trung Quốc liên kết để chống lại sức ép từ Mỹ.

Hơn nữa, nhìn vào hiện tại, sự lạnh nhạt trong quan hệ giữa Mỹ và châu Âu không chỉ là vấn đề của cá nhân Trump, mà là kết quả tất yếu của sự thay đổi tình hình quốc tế nói chung, thực lực Mỹ tương đối suy giảm cũng như sự thay đổi của lực lượng Âu – Mỹ. Cục diện liên minh Âu – Mỹ hiện nay được xây dựng trên nền tảng là châu Âu bị suy yếu nghiêm trọng do sự tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai và Mỹ trở thành nước lớn độc tài, do đó cùng với việc Mỹ có quyền lãnh đạo châu Âu thì cũng phải gánh vác nghĩa vụ lớn hơn. Nhưng cùng với việc kinh tế châu Âu hồi phục tương đối và kinh tế Mỹ có phần suy thoái thì cục diện này ngày càng khó duy trì.

Ngoài ra, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ mong muốn chi trả nhiều chi phí hơn cho phương Tây để duy trì địa vị lãnh đạo của mình là bởi vì Mỹ cho rằng mình có thể đạt được lợi ích từ địa vị chủ đạo này. Hiện nay có vẻ Mỹ xác định được lợi ích từ địa vị này là không ít, nhưng lợi ích này phân phối không đồng đều ở trong nước.

Người sáng lập kiêm chủ tịch hội đồng quản trị của Quỹ quản lý đầu tư Bridgewater Associates Mỹ, Ray Dalio trong bài phát biểu “The Two Economies: The Top 40% and the Bottom 60%” hồi tháng 10/2017 đã chỉ ra rằng, sự chênh lệch giàu nghèo nghiêm trọng của xã hội Mỹ khó mà duy trì lâu dài. Theo Dalio, của cải của 0,1% dân số tầng lớp cao nhất hiện nay của Mỹ tương đương với của cải của 90% dân số tầng lớp thấp, tương đương với khoảng cách giàu nghèo trong giai đoạn 1935 đến 1940. “Từ năm 1980 đến nay, thu nhập thực tế của các hộ gia đình trung lưu về cơ bản vẫn giữ nguyên, trong khi thu nhập bình quân của 40% hộ gia đình tầng lớp cao đã nhiều gấp 4 lần so với 60% hộ gia đình tầng lớp thấp”. “Tỷ lệ tử vong của 60% dân chúng tầng lớp thấp đang gia tăng, sức khỏe về tinh thần và thể chất đều đang xấu đi”.

Trong hoàn cảnh này, một bộ phận người Mỹ mà đại diện là Donald trump đã không còn muốn duy trì trật tự quốc tế này nữa.

IV/ Kết luận

Lý thuyết quan hệ quốc tế phương Tây cho rằng: không có tình hữu nghị vĩnh viễn giữa các quốc gia, chỉ có lợi ích vĩnh viễn. Không chỉ vậy, mà đôi khi ngay cả lợi ích chung cũng có thể tranh giành. Nếu lợi ích của việc phản bội lớn hơn lợi ích mà các đồng minh có thể có được thì sao không làm?

Quả thực, giữa Mỹ và các đồng minh châu Âu tồn tại nhiều điểm chung, đặc biệt  là sự nhất trí về giá trị quan, nhưng điều này không có nghĩa là họ không trở mặt với nhau. Trong các cuộc Thập Tự Chinh từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, các nước Tây Âu và Đế quốc Byzantine là đồng minh, còn có chung tín ngưỡng, nhưng trong cuộc Thập Tự Chinh thứ tư (1202 – 1204), quân Thập Tự đã quay lại đánh úp và tiêu diệt Byzantine. Trong lịch sử, các nước Trung – Đông Âu thường duy trì sự nhất trí cao độ về ý thức hệ và lợi ích quốc gia, nhưng kể từ khi ký Hòa ước Versailles năm 1919, trải qua Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các nước phương Tây về chính trị đã nhiều lần bán rẻ các nước đồng minh Trung Âu và Đông Âu. Hiện tượng này xảy ra nhiều lần đến mức lịch sử quan hệ quốc tế đã xuất hiện một cụm từ là “sự phản bội của các đồng minh phương Tây”.

Do đó, ngày nay, sự trở mặt giữa Mỹ và các nước Tây Âu cũng phù hợp với tác phong của họ. Ví dụ như khi thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) 2015, các nước Anh, Pháp, Đức nhìn thấy lợi ích to lớn trong đó nên đã làm trái ý Mỹ để tham gia AIIB. Các nước châu Âu cũng đều phản ứng tích cực đối với đề xướng “Vành đai và Con đường” mà Mỹ phản đối.

Ngày nay, vì cả Mỹ và châu Âu đều cho rằng quan hệ đồng minh giữa họ đã làm tổn hại đến lợi ích cơ bản của mỗi bên, nên các liên minh như vậy khó mà tiếp tục duy trì. Trong khi Mỹ đơn phương áp đặt lệnh trừng phạt đối với Iran, vì lợi ích bản thân mà tổn hại các đồng minh châu Âu, lại sẽ từng bước làm trầm trọng thêm quá trình này. Có lẽ trong tương lai không xa, Mỹ và châu Âu sẽ không còn coi nhau là đồng minh thân thiết.

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Australia lên tiếng về vi phạm trong xuất khẩu gia súc sống sang Việt Nam


Ngày 25/6, Đài Truyền hình quốc gia Australia dẫn báo cáo của Bộ Nông nghiệp Australia, cho biết hơn 1500 con bò và 99 con trâu nhập khẩu từ Australia đã biến mất khỏi các trang trại hoặc lò mổ được chấp thuận tại Việt Nam trong 13 tháng qua.

Sau lệnh cấm xuất khẩu gia súc sống và năm 2011, ngành công nghiệp xuất khẩu gia súc sống Australia đã đăng ký Hệ thống đảm bảo chất lượng chuỗi cung ứng xuất khẩu (ESCAS), một hệ thống được thiết lập để đảm bảo phúc lợi động vật cho gia súc xuất khẩu của Australia.

Trong báo cáo mới nhất về việc thực hiện ESCAS, Bộ Nông nghiệp Australia đã chỉ ra hai vi phạm: Vi phạm thứ nhất, được cho là rất nghiêm trọng, đó là việc công ty Purcell Bros, công ty xuất khẩu gia súc lần đầu tiên sang Việt Nam, đã không thể xác minh được 644 con bò và 99 con trâu đang ở đâu sau khi tới Việt Nam.

Vào tháng 11/2018, trâu và bò đã được chuyển từ một trang trại được công ty chấp thuận tới các địa điểm không xác định sau khi công nhân trang trại đã can thiệp vào các camera theo dõi lắp đặt tại trang trại. Tuy nhiên, chủ sở hữu trang trại khẳng định không có gia súc nào bị mất tích, nhưng lại không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng nào khi công ty Purcell tiến hành xác minh xem chúng đang ở đâu.

Theo báo cáo trên, chủ sở hữu trang trại dường như hàon toàn không quan tâm đến các yêu cầu của ESCAS. Báo cáo còn lưu ý rằng công ty Purcell không thể cung cấp thông itn nào để phục vụ cho việc truy xuất hoặc tìm hiểu về phúc lợi của gia súc.

Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp Australia kết luận thông tin mà công ty Purcell cung cấp là chưa đủ và sẽ lưu ý tới vụ vi phạm trên trong quá trình xem xét đơn xin nhập khẩu nào từ nhà nhập khẩu hoặc trang trại trên.

Vi phạm thứ hai liên quan đến việc công ty Dịch vụ vận chuyển gia súc (LSS) không thể xác định được “gần 1000 động vật” mà công ty đã vận chuyển đến Việt Nam và không báo cáo cho Bộ Nông nghiệp Australia trong thời hạn theo quy định của ESCAS.

Tuy nhiên, cuối cùng LSS cũng đã xác minh được rằng trong số 872 gia súc, 471 con đã được chuyển đến các lò mổ được chấp thuận và 401 bị chế hoặc bị giết bằng hệ thống gây mê tại các trang trại.

Theo Bộ Nông nghiệp Australia, LSS đã có biện pháp khắc phục vi phạm và đã triển khai các hệ thống để giải quyết các vấn đề có thể phát sinh trong tương lai.

Để xử lý các vụ vi phạm trên, Hội đồng xuất khẩu chăn nuôi Australia (ALEC) đã thuê một công ty độc lập thực hiện “đánh giá thị trường” để báo cáo về chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Giám đốc điều hành ALEC, ông Mark Harvey-Sutton cho rằng gia súc Australia thông thường không bị lọt ra ngoài chuỗi cung ứng tại Việt Nam và khẳng định những trường hợp vi phạm trên không phải là phổ biến. Ông cho biết, ưu tiên cao nhất của ALEC là các nhà xuất khẩu Australia phải duy trì truy xuất gia súc xuất khẩu ở mức cao nhất để đảm bảo phúc lợi động vật, và điều quan trọng là cần có những biện pháp khắc phục các vi phạm bất thường ở các thị trường như Việt Nam. Ngoài ra, ông Harley-Sutton cũng khẳng định rằng sau khi có báo cáo đánh giá của công ty kiểm toán viên độc lập vào tháng 8/2019, ALEC sẽ có những hành đ6ọng cần thiết theo các khuyến nghị mà báo cáo đưa ra.

Được biết, Hiệp hội Phòng chống tàn ác đối với động vật Australia (RSPCA) là một tổ chức luôn phản đối việc xuất khẩu động vật sống để giết mổ. Kể từ năm 2015, RSPCA đã kêu gọi đánh giá độc lập về việc tuân thủ ESCAS ở thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi có báo cáo nói trên của Bộ Nông nghiệp Australia, RSPCA lại lên tiếng yêu cầu Chính phủ và ngành công nghiệp xuất khẩu gia súc của Australia cần xử lý nghiêm khắc các vi phạm.

Người phát ngôn của RSPCA, Jed Goodfellow đưa ra đề xuất cần xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ chuỗi cung ứng trong thời gian tiến hành cuộc đánh giá toàn diện và độc lập về các thỏa thuận ESCAS tại Việt Nam. Ông Goodfellow cho rằng những vi phạm nêu trên nằm trong một “chuỗi dài” các sự cố liên quan đến gia súc Australia xuất khẩu sang Việt Nam.

Ông Goodfellow cho biết thêm các báo cáo còn chỉ ra tình trạng các công nhân lò mổ và trang trại gia súc đã nhiều lần can thiệp vào hệ thống camera quan sát và có thái độ thù địch với các nhân viên của công ty xuất khẩu khi họ cố gắng duy trì chuỗi cung ứng. Ông nói: “Trước đây, chúng tôi đã từng thấy việc đưa gia súc ra khỏi chuỗi cung ứng, thậm chí ngay cả khi có sự hiện diện của các nhân viên của công ty xuất khẩu. Thực tế này cho thấy có một “văn hóa” chống đối hệ thống ESCAS ở Việt Nam, đặc biệt ở một vài chuỗi cung ứng tại Việt Nam. Do vậy, cần xem xét một cách có hệ thống đối với toàn bộ thị trường này”.

Theo ông Goodfellow, mặc dù thị trường Việt Nam chỉ bằng 1/3 thị trường Indonesia, nhưng số lượng các vụ vi phạm ở đây cao gấp ba lần trong vài năm qua. Chính phủ Australia cần phải quan tâm nghiêm túc đến tình trạng này.

Trong năm 2013, đã xảy ra việc dùng búa tạ để giết bò Australia tại VIệt Nam, và vào năm 2015 và 2016, các vụ việc này đã được chiếu lên truyền hình quốc gia ở Australia, khiến dư luận rất quan tâm.

Ngoài ra, từ lâu đã xuất hiện những cáo buộc về việc buôn bán gia súc không được kiểm soát giữa Việt Nam và các nước láng giềng như Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 27/06/2019

Báo cáo công tác Chính phủ Trung Quốc năm 2019 – Phần III


Nghiêm chỉnh quán triệt sự bố trí chiến lược quản lý của Đảng nghiêm minh toàn diện của Trung ương Đảng, tăng cường xây dựng tác phong Đảng và là trong sạch bộ máy chính trị. Thúc đẩy việc bình thường hóa và cơ chế hóa việc học tập và giáo dục “Hai học, một làm”. Nghiêm khắc thực hiện 8 quy định của Trung ương cũng như tinh thần hướng dẫn thực thi, kiên định uốn nắn “”4 tác phong”. Điều tra xử lý nghiêm hành vi phạm pháp, phạm tội các loại, trừng trị các phần tử tham nhũng, cuộc đấu tranh chống tham nhũng giành được thắng lợi mang tính áp đảo.

Trong một năm qua, nền ngoại giao nước lớn đặc sắc Trung Quốc đã đạt được những thành tựu mới. Trung Quốc đã tổ chức thành công các hoạt động ngoại giao quan trọng của nước chủ nhà như Hội nghị thường niên Diễn đàn châu Á Bác Ngao, Hội nghị Thượng đỉnh Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) tại Thanh Đảo, Hội nghị Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Trung Quốc – châu Phi ở Bắc Kinh… Chủ tịch Tập Cận Bình và các nhà lãnh đạo quốc gia đã đi thăm nhiều nước, tham dự các hoạt động quan trọng như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hội nghị cấp cao Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), Hội nghị thượng đỉnh Nhóm BRICS, Hội nghị cấp cao Á – Âu, Hội nghị cấp cao Đông Á và các hội nghị liên quan. Quan hệ với các nước lớn chủ yếu nhìn chung ổn định, quan hệ với các nước láng giềng phát triển toàn diện, hợp tác với các nước đang phát triển ngày càng được củng cố. Thúc đẩy xây dựng quan hệ quốc tế kiểu mới, thúc đẩy xây dựng cộng đồng chung vận mệnh của nhân loại. Kiên định bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển quốc gia. Ngoại giao kinh tế, giao lưu nhân dân thu được thành quả phong phú. Trung Quốc dốc sức thúc đẩy hòa bình và phát triển của thế giới, đã có đóng góp quan trọng được thế giới ghi nhận.

Thưa các quý vị đại biểu!

Những thành tích giành được trong một năm qua là kết quả của sự lãnh đạo kiên cường của Trung ương Đảng với đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân, là kết quả từ sự dẫn dắt khoa học của Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới, là kết quả đoàn kết, phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân và nhân dân các dân tộc trong cả nước. Tôi xin thay mặt Quốc vụ viện, xin gửi tới nhân dân các dân tộc trong cả nước, các đảng phái dân chủ, các đoàn thể nhân dân và nhân sĩ các giới lời cảm ơn chân thành! Xin gửi tới đồng bào Đặc khu Hành chính Hong Kong, Macau, đồng bào Đài Loan và kiều bào ở nước ngoài lời cám ơn chân thành. Xin gửi tới chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và bạn bè các nước quan tâm và ủng hộ công cuộc xây dựng hiện đại hóa của Trung Quốc lời cảm ơn chân thành.

“Phòng xa mới có thể an cư”. Trong khi khẳng định đầy đủ những thành tích, cũng cần phải tỉnh táo nhận thấy những vấn đề và thách thức đặt ra cho sự phát triển của nước ta. Mức tăng trưởng kinh tế thế giới chậm lại, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa đơn phương gia tăng, giá cả của các mặt hàng chủ lực quốc tế có nhiều bấp bênh, các nhân tố không ổn định, không xác định gia tăng rõ rệt, rủi ro truyền từ bên ngoài vào ngày càng gia tăng. Sức ép kinh tế đi xuống trong nước giă tăng, mức tăng tiêu dùng chậm lại, hiệu quả tăng trưởng từ đầu tư đã yếu. Kinh tế thực gặp khá nhiều khó khăn, vấn đề huy động vốn khó và đắt của các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vẫn chưa giảm, môi trường kinh doanh vẫn còn khoảng cách so với mong đợi của các chủ thể thị trường. Năng lực sáng tạo tự chủ không mạnh, mảng yếu về công nghệ then chốt nổi cộm. Mâu thuẫn về thu chi tài chính của một số địa phương khá lớn. Vẫn còn không ít hiểm họa rủi ro trong các lĩnh vực như tài chính. Cuộc chiến thoát nghèo của các khu vực nghèo khó gặp khá nhiều khó khăn. Nhiệm vụ bảo vệ môi trường sinh thái và phòng chống ô nhiễm vẫn rất nặng nề. Quần chúng còn nhiều chỗ không hài lòng trong các mặt giáo dục, y tế, dưỡng lão, nhà ở, an toàn vệ sinh thực phẩm và dược phẩm, phân phối thu nhập… Năm ngoái, còn xảy ra nhiều vụ việc an toàn công cộng và sự cố an toàn lao động nghiêm trọng, cần rút ra nhiều bài học cực kỳ sâu sắc. Công tác của chính phủ còn khiếm khuyết, một số biện pháp cải cách, phát triển không được thực hiện đến nơi đến chốn, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa quan liêu vẫn nổi cộm, công tác giám sát, đôn đốc và sát hạch quá nhiều, tần suất quá cao, coi trọng khiếm khuyết, coi nhẹ thành tích, đã tăng thêm gánh nặng cho cơ sở. Không ít cán bộ biếng nhác, lơ là công việc. Vấn đề tham nhũng trong một số lĩnh vực vẫn thường xuyên xảy ra. Chúng ta nhất định cần phải nhìn thẳng vào vấn đề và thách thức, dám gánh vác, tuân thủ nghiêm khắc, dốc hết sức mình làm tốt công tác, quyết không phụ lòng mong đợi của nhân dân.

II/ Yêu cầu chung và định hướng chính sách trong phát triển kinh tế – xã hội năm 2019

Năm nay là năm kỷ niệm 70 năm nước Trung Quốc ới thành lập, là năm bản lề hoàn thành xây dựng xã hội khá giả toàn diện, thực hiện mục tiêu phấn đấu “100 năm” thứ nhất. Muốn làm tốt các công tác của chính phủ thì cần phải đặt dưới sự lãnh địao kiên cường của Trung ương Đảng do đồng chí Tập Cận Bình làm hạt nhân, lấy Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới làm chỉ đạo, quán triệt toàn diện tinh thần Đại hội XIX của Đảng, tinh thần Hội nghị Trung ương 2, Trung ương 3 khóa XIX, tính toán tổng thể thúc đẩy bố cụng chung “5 trong 1” (xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và văn minh sinh thái), thúc đẩy nhịp nhàng bố cục chiến lược “Bốn toàn diện (hoàn thành việc xây dựng xã hội khá giả toàn diện, cải cách sâu sắc toàn diện, quản lý đất nước bằng pháp luật toàn diện, quản lý Đảng nghiêm minh toàn diện), kiên trì định hướng chung công tác tiến lên trong ổn định, kiên trì quan điểm phát triển mới, kiên trì thúc đẩy phát triển chất lượng cao, kiên trì lấy cải cách cơ cấu theo hướng trọng cung làm tuyến chính, kiên trì thúc đẩy cải cách thị trường hóa, mở rộng mở cửa ở mức độ cao, đẩy nhanh xây dựng hệ thống kinh tế hiện đại, tiếp tục đẩy mạnh ba cuộc khó khăn, tập trung khơi dậy sức sống của các chủ thể vi mô, sáng tạo và hoàn hiện kiểm soát vĩ mô, tính toán tổng thể thúc đẩy các công tác ổn định tăng trưởng, thúc đẩy cải cách, điều chỉnh cơ cấu, mang lại lợi ích dân sinh, phòng chống rủi ro, bảo đảm kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý, tiếp tục ổn định tạo việc làm, ổn định tài chính, ổn định ngoại thương, ổn định vốn đầu tư nước ngoài, ổn định đầu tư, ổn định dự báo, vực dậy niềm tin thị trường, tăng cường cảm giác được hưởng lợi, hạnh phúc, an toàn của quần chúng nhân dân, duy trì kinh tế tiếp tục phát triển lành mạnh, bền vững và đại cục xã hội ổn định, đặt nền móng mang tính quyết định cho việc hoàn thành xây dựng xã hội khá giả toàn diện, lập thành tích xuất sắc chào mừng 70 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Phân tích tổng hợp tình hình trong và ngoài nước, sự phát triển của Trung Quốc năm nay đối diện với môi trường phức tạp và cam go hơn, rủi ro và thách thức có thể dự đoán và khó dự đoán sẽ nhiều hơn và lớn hơn, cần phải chuẩn bị sẵn sàng và đầy đủ cho cuộc chiến cam go. Không được đánh giá thấp khó khăn, không được dao động lòng tin, không được hời hợt tinh thần hăng hái làm việc. Sự phát triển của Trung Quốc vẫn đang ở trong thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, có đủ độ dẻo dai, có tiềm lực to lớn và có sức sống sáng tạo mãnh liệt, ước muốn có cuộc sống tốt đẹp của quần chúng nhân dân vô cùng mãnh liệt. Chúng ta có ý chí kiên định và năng lực chiến thắng mọi khó khăn và thách thức, do đó xu hướng kinh tế phát triển theo chiều hướng tốt đã và sẽ không thay đổi.

Các mục tiêu chính trong phát triển kinh tế – xã hội năm nay là: GDP tăng 6% – 6,5%; tạo thêm trên 11 triệu việc làm mới ở thành thị, tỷ lệ thất nghiệp khảo sát ở thành thị khoảng 5,5%, tỷ lệ đăng ký thất nghiệp ở thành thị dưới 4,5%; chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 3%; thu chi quốc tế cơ bản cân bằng, nâng cao chất lượng xuất nhập khẩu; tỷ lệ đòn bẩy vĩ mô cơ bản ổn định, rủi ro tài chính – tiền tệ được kiểm soát hiệu quả; giảm thiểu trên 10 triệu dân số nghèo khó ở nông thôn, mức tăng thu nhập của dân cư cơ bản đồng bộ với mức tăng kinh tế, môi trường sinh thái tiếp tục được cải thiện, tiêu thụ năng lượng trên một đơn vị GDP giảm khoảng 3%, lượng phát thải các chất gây ô nhiễm chính tiếp tục giảm. Các mục tiêu dự báo chính nói trên đã thể hiện yêu cầu thúc đẩy phát triển chất lượng cao, phù hợp thực tế phát triển của Trung Quốc, kết nối với mục tiêu hoàn thành xây dựng xã hội khá giả toàn diện là tích cực và ổn thỏa. Việc thực hiện những mục tiêu này đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn.

Cần nắm bắt đúng đắn định hướng chính sách vĩ mô, tiếp tục thực thi chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ vững chắc, thực thi chính sách ưu tiên tạo việc làm, tăng cường điều phối và phối hợp chính sách, đảm bảo kinh tế vận hành trong phạm vi hợp lý, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển lành mạnh, bền vững.

Cần phải đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả của chính sách tài chính tích cực. Năm nay dự định kiểm soát tỷ lệ bội chi ngân sách là 2,8%, cao hơn 0,2% so với năm 2018; mức bội chi ngân sách cụ thể là 2.760 tỷ NDT, trong đó bội chi ngân sách Trung ương là 1830 tỷ NDT, bội chi ngân sách địa phương là 930 tỷ NDT. Việc nâng cao vừa phải tỷ lệ bội chi như vậy dựa trên cơ sở đã xem xét tổng hợp các nhân tố như thu chi ngân sách, phát hành trái phiếu riêng, đồng thời cân nhắc dành ra không gian chính sách cho việc đối phó với rủi ro có thể xuất hiện trong tương lai. Chi ngân năm nay vượt quá 23.000 tỷ NDT, tăng 6,5%. Phân bổ ngân sách mang tính cân bằng của Trung ương đối với địa phương tăng 10,9%. Hoàn thiện cơ chế bảo đảm tiềm lực tài chính cơ bản của cấp huyện, làm dịu sức ép tài chính cơ bản của các khu vực khó khăn, quyết không để xuất hiện vấn đề trong việc bảo đảm an sinh xã hội cơ bản.

(còn tiếp) 

Nguồn: Mạng Tân Hoa (TQ) – 05/03/2019

TLTKĐB – 07, 08 & 09/03/2019

Khuôn khổ thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần I


Từ sau ngày được ký kết vào năm 1947 Hiệp định chung đã được sửa chữa bổ sung nhiều lần. Văn bản hiện nay gồm có lời nói đầu, 38 điều khoản và 9 phụ lục. 38 điều khoản được chia ra làm 4 phần. Phần thứ nhất gồm có điều 1 và điều 2, quy định về quy chế tối huệ quốc vô điều kiện, về thuế và thương mại giữa các nước thành viên, và biểu thuế. Phần thứ hai từ điều 3 đến điều 23, quy định về xóa bỏ hạn chế số lượng, trợ cấp xuất nhập khẩu và việc áp dụng quy chế không phân biệt đối xử trong thương mại cũng như những ngoại lệ của các quy chế ấy. Phần thứ 3 từ điều 24 đến điều 35, quy định việc tiếp nhận hiệp định, hiệu lực của hiệp định, việc đình chỉ hoặc xóa bỏ giảm thuế và các vấn đề gia nhập và rút khỏi hiệp định. Phần thứ tư gồm điều 36, quy định về vấn đề thương mại và phát triển của các nước đang phát triển. Các phụ lục chủ yếu là các quy định ngoại lệ về khu vực ưu đãi thuế quan đặc biệt, về liên minh thuế quan và văn bản giải thích, thuyết minh. Dưới đây giới thiệu bốn vấn đề.

I/ Quy chế tối huệ quốc và biểu thuế

Phần thứ nhất có hai điều, điều 1 là quy chế chung về tối huệ quốc, điều 2 là biểu thuế.

Điều 1 quy định nội dung cụ thể của quy chế tối huệ quốc, đó là “những lợi ích, ưu đãi, đặc quyền, miễn giảm về các mặt thuế quan và phụ phí đối với xuất khẩu hay nhập khẩu, có liên quan với xuất khẩu hoặc nhập khẩu và đối chuyển khoản thu chi xuất nhập khẩu hàng hóa, phương pháp thu thuế và chi phí nói trên, thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu và các việc ghi tại khoản 2 và khoản 4 trong điều 3 của hiệp định này, mà nước ký hiệp định dành cho sản phẩm nhập từ nước khác hoặc xuất sang nước khác, phải được áp dụng vô điều kiện không chậm trễ đối với những sản phẩm cùng loại nhập từ các nước thành viên khác hoặc xuất sang các nước thành viên khác”. Đây là điều khoản quy định về quy chế tối huệ quốc nhiều bên, vô điều kiện. Nó là hòn đá tảng của toàn bộ Hiệp định chung.

Các khoản khác trong điều này quy định những ngoại lệ của quy chế chung về tối huệ quốc. Đó là:

1/ Chế độ ưu đãi giữa Liên hiệp Anh và các lãnh thổ phụ thuộc của họ (phụ lục 1); 2) Chế độ ưu đãi giữa Liên hiệp Pháp và các lãnh thổ phụ thuộc của họ (phụ lục 2); 3) Chế độ ưu đãi trong Liên minh thuế quan Bỉ, Luxembourg và Hà Lan (phụ lục 3); 4) Chế độ ưu đãi thuế quan giữa lãnh thổ Mỹ với các lãnh thổ phụ thuộc của họ và với nước Cộng hòa Philippines (phụ lục 4); 5) Chế độ ưu đãi giữa Chile và các nước láng giềng (phụ lục 5); 6) Chế độ ưu đãi giữa Liban, Syria và các nước láng giềng (phụ lục 6).

Điều 2 là biểu thuế, trong đó quy định: “Đãi ngộ của nước thành viên này dành cho thương mại của nước thành viên khác không được ít hơn đãi ngộ mà hiệp định này dành cho nước thành viên ấy được quy định trong biểu thuế”. Nếu sản phẩm của nước thành viên này có danh mục trong phần thứ nhất tại biểu thuế của nước thành viên khác nhập khẩu vào lãnh thổ có áp dụng biểu thuế này thì phải căn cứ vào quy định, điều kiện ghi trong biểu thuế để cho chúng được miễn đánh thuế cao hơn thuế suất ghi trong biểu thuế và miễn thu mọi khoản thuế khác về nhập khẩu hoặc có liên quan đến nhập khẩu.

Nếu sản phẩm tại lãnh thổ nước thành viên này có danh mục tại phần thứ hai trong biểu thuế của nước thành viên khác, khi nhập khẩu vào lãnh thổ có áp dụng biểu thuế ấy mà được hưởng ưu đãi theo điều 1 của hiệp định này, thì được miễn đánh thuế cao hơn mức thuế ghi trong biểu thuế đã miễn thu mọi khoản thuế khác về nhập khẩu hoặc có liên quan đến nhập khẩu.

Song, điều đó không ngăn cản nước thành viên thu các khoản thuế sau đối với mọi sản phẩm nhập khẩu: 1) Phụ phí giống như thuế nội địa đánh vào sản phẩm tương tự ở trong nước hoặc đối với những vật phẩm được chế tạo hoặc sản xuất ra bằng sản phẩm nhập khẩu ấy, theo quy định ở khoản 2 điều 3; 2) Thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp; 3) Chi phí đã quy định hoặc chi phí khác tương đương với giá thành dịch vụ.

Các nước ký hiệp định không được thay đổi giá tính thuế đã được thẩm định hoặc phương pháp quy đổi tiền để gây tổn hại giá trị giảm thuế ghi trong biểu thuế.

Nếu về hình thức hoặc trong thực tế, nước thành viên nào lập ra, duy trì hoặc cho phép độc quyền nhập khẩu loại hàng hóa nào đó có danh mục trong biểu thuế của hiệp định này, thì mức độ bảo hộ bình quân của sự độc quyền đó, ngoại trừ có quy định trong biểu thuế hoặc có thỏa thuận khác ra, không được vượt quá mức bảo hộ ghi trong biểu thuế. Nhưng không hạn chế các nước thành viên dựa vào các quy định khác trong hiệp định này để hỗ trợ cho người sản xuất nước mình dưới bất kỳ hình thức nào khác.

Nếu do quyết định của tòa án hoặc của các nhà đương cục khác của nước mình mà theo luật thuế của nước mình có loại sản phẩm nào đó không thuộc diện được đãi ngộ theo biểu thuế, thì hai nước đương sự kể cả nước thành viên khác có liên quan về quyền lợi, cần hiệp thương ngay để thỏa thuận về biện pháp đền bù.

Nếu nước ký kết Hiệp định chung là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì thuế tính theo số lượng và phụ phí liệt kê trong biểu thuế của họ và mức chênh lệch về ưu đãi thuế tính theo số lượng và phụ phí mà họ thi hành được thể hiện bằng đồng tiền nước ấy tính theo giá mà Quỹ Tiền tệ Quốc tế chấp nhận hoặc tạm thời chấp nhận từ ngày ký kết hiệp định này. Nếu giá này thấp hơn 20% so với quy định trong hiệp định của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì có thể điều chỉnh lại, nhưng phải được tất cả các nước ký kết hiệp định đồng ý, không gây tổn thất giá trị liệt kê trong biểu thuế có liên quan và trong các phần khác; bởi vậy việc điều chỉnh này phải có mọi yếu tố cần thiết và cấp bách. Những nước không phải là thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì sau khi trở thành thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế hoặc sau khi ký kết hiệp định chế độ hối đoái đặc biệt theo điều 15 tại hiệp định này, phải thực hiện quy định nói trên.

II/ Nội dung cụ thể của luật thực thể

Nội dung phần thứ hai của Hiệp định chung tương đối cụ thể.

Điều 1 nói về chế độ ưu đãi chung về thuế nội địa và các quy định nội địa. Điều này quy định: “Các pháp lệnh, điều lệ, quy định về thuế nội địa và phụ phí nội địa khác có ảnh hưởng tới việc tiêu thụ, vận tải, phân phối hoặc sử dụng sản phẩm ở trong nước, những điều lệ hạn chế số lượng trong nước quy định việc lắp ráp, gia công hoặc sử dụng sản phẩm phải phù hợp với yêu cầu cụ thể về số lượng hoặc tỷ lệ, khi áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm trong nước thì không được nhằm bảo hộ sản xuất trong nước”.

Khi sản phẩm của nước này nhập khẩu vào nước khác thì không được đánh thuế trực tiếp hoặc thuế gián thu và các phụ phí khác cao hơn sản phẩm cùng loại trong nước mình. Đồng thời, các nước ký kết hiệp định không được áp dụng các biện pháp trái với nguyên tắc trên để thực thi thuế nội địa hoặc các phụ phí nội địa khác.

Khi sản phẩm của nước này nhập khẩu vào nước khác thì những đãi ngộ mà chúng được hưởng theo các pháp lệnh điều lệ và quy định tiêu thụ, vận tải, phân phối hoặc sử dụng sản phẩm trong nước cùng loại. Nhưng không ngăn cản thu chênh lệch về cước phí vận tải trong nước, nếu việc thu chênh lệch đó chỉ nhằm sử dụng một cách kinh tế các công cụ vận tải chứ không phải vì chúng là sản phẩm của nước ngoài.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.