Lý do Mỹ thua trong cuộc chiến với Huawei


Thất bại lớn về tình báo đã khiến chính sách vốn đã dao động của Lầu Năm Góc trở nên tồi tệ hơn và khiến cho nhiều đồng minh chủ chốt của Mỹ không còn lưu tâm đến lời khẩn cầu của Trump về việc tránh xa hệ thống 5G của gã khổng lồ công nghệ Huawei.

Bĩ bẽ mặt sau khi Anh từ chối loại trừ Huawei khỏi mạng băng thông rộng 5G của nước này, Chính quyền Trump đã tăng cường các nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc, với rất ít triển vọng thành công.

Cách đối phó của Mỹ bao gồm truy tố Huawei theo đạo luật của Tổ chức chống tham nhũng và ảnh hưởng của xã hội đen (RICO), được soạn thảo nhằm chống tội phạm có tổ chức. Ngoài ra Mỹ còn đề xuất các quy chế về việc ngừng bán linh kiện Mỹ cho Huawei và công ty viễn thông lớn thứ 2 Trung Quốc ZTE nếu 10% sản phẩm của họ có áp dụng công nghệ Mỹ.

Một lệnh cấm khác được đề xuất là cấm bán động cơ phản lực cho số máy bay dân sự mà tập đoàn General Electric của Mỹ và Safran của Pháp bán cho Trung Quốc kể từ năm 2014 – một biện pháp chiến tranh kinh tế không liên quan tới lý do an ninh quốc gia.

Trong số tất cả các sự kiện của Mỹ, chưa từng có sự kiện nào nhận được nhiều sự chú ý đến thế nhưng lại cho ít kết quả đến thế.

Trong khi đó, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien đã nói với tờ Wall Street Journal ào ngày 12/2 rằng Mỹ đã phát hiện ra một “cửa hậu” bí mật trong các thiết bị của Huawei cho phép công ty Trung Quốc này theo dõi mạng lưới thông tin liên lạc của phương Tây. Huawei bác bỏ cáo buộc này, yêu cầu Mỹ công khai các dữ liệu.

Cáo buộc của Mỹ bị cộng đồng quốc tế chế nhạo, Giám đốc điều hành (CEO) của tập đoàn Orange, Stephane Richard nói vào hôm 14/2: “Tôi rất muốn xem bằng chứng. Nó gợi tôi nhớ đến những vũ khí hủy diệt hàng loạt trong Chiến tranh Iraq”. Tờ Der Spiegel của Đức giật tít: “Cánh cửa hậu chỉ Mỹ mới có thể nhìn thấy”.

Tại hội nghị an ninh thường niên ở Munich (Đức) ngày 14/2, các quan chức Mỹ trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Mike Esper và Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi đã cảnh báo các nước châu Âu phải tránh xa Huawei. Esper nói: “Việc phụ thuộc vào các công ty cung cấp 5G của Trung Quốc có thể khiến các hệ thống quan trọng của các đối tác của chúng ta dễ bị phá vỡ, thao túng và do thám. Làm vậy cũng có thể gây nguy hiểm cho thông tin liên lạc và các năng lực chia sẻ thông tin tình báo của chúng ta và liên minh của Mỹ nói chung”. Nhưng hãng tin Politico của Mỹ lại đăng bài viết có tiêu đề: “Châu Âu phớt lờ cảnh báo của Mỹ về mạng 5G của Trung Quốc”.

Hậu quả tiềm tàng ngoài dự tính

Hậu quả ngoài dự tính đối với uy tín của Mỹ và rủi ro đối với các công ty Mỹ là rất lớn. Nếu Mỹ lợi dụng mối đe dọa thường được đồn đoán này để ngừng vận chuyển động cơ phản lực cho Trung Quốc, cản trở chương trình của Trung Quốc nhằm phát triển một máy bay dân sự lắp ráp trong nước sử dụng động cơ của General Electric hoặc Safran, thì cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung sẽ có đặc thù hoàn toàn khác. Công ty Safran của Pháp là một tài sản an ninh quốc gia và việc cản trở họ sẽ đẩy Paris về phía Bắc Kinh.Các công ty hàng đầu của Mỹ, trong đó có Boeing – với 1/4 số máy bay của họ được bán cho Trung Quốc, cũng như các hãng thiết kế vi mạch hàng đầu của Mỹ có thể sẽ phải chịu tổn thất nặng nề trong thời gian tới.

Mỹ chưa từng thực hiện biện pháp nào trong số này kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Chúng bắt nguồn từ sự thất vọng ở Washington sau khi gần như toàn bộ đồng minh của Mỹ – trừ Israel, Nhật Bản và Australia – phớt lờ những yêu cầu đanh thép của Mỹ về việc loại trừ Huawei khỏi tiến trình khai thác mạng băng thông rộng 5G cho điện thoại di động.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã công khai phản đối quyết định của Thủ tướng Anh Boris Johnson về việc cho phép Huawei xây dựng một phần các mạng lưới 5G của Anh, và Tổng thống Trump đã đích thân can thiệp với Thủ tướng Anh nhưng vô hiệu. Ngày 6/2, tờ Financial Times đưa tin rằng Tổng thống Trump đã “bừng bừng tức giận” trong một cuộc điện đàm với Boris Johnson. Ngày 14/2, Boris Johnson đã hoãn một chuyến thăm Nhà Trắng như dự kiến để đáp trả.

Trong khi đó, Chính phủ Đức đã gạt bỏ sự phản đối của một nhóm các thành viên thuộc đảng cầm quyền tại Quốc hội Đức về việc Huawei can dự vào quá trình triển khai mạng 5G của nước này.

Vẫn chưa rõ đạo luật RICO có thể ngăn cản các hoạt động của Huawei bằng cách nào ngoài việc khiến các nhân viên của công ty Trung Quốc này phải chịu các hình phạt pháp lý cực đoan. Việc kiểm soát xuất khẩu các linh kiện của Mỹ cho Huawei có hiệu lực từ tháng 5/2019 đã không thể cản trở Huawei cung cấp thiết bị và điện thoại di động 5G, khi gã khổng lồ Trung Quốc này quay sang các nhà cung cấp Nhật Bản, Đài Loan và các nước khác. Huawei hiện sản xuất cả các trạm phát sóng thông tin mặt đất và điện thoại thông minh 5G mà không cần linh kiện của Mỹ.

Cuối tháng 1/2020, Bộ Quốc phòng Mỹ bỏ phiếu phủ quyết một đề xuất của Bộ Thương mại nhằm áp đặt quy tắc bán linh kiện của Mỹ cho Huawei và ZTE với điều kiện số hàng hóa đó được sử dụng tối đa 10% nguồn lực của Mỹ trong quá trình sản xuất, nhằm ngăn các công ty nước ngoài sử dụng công nghệ của Mỹ từ việc bán hàng cho các công ty của Trung Quốc. Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng Larry Kudlow nói với tờ Wall Street Journal vào ngày 4/2 rằng ông ủng hộ các lập luận phản đối của Lầu Năm Góc, vì “chúng tôi không muốn đẩy các doanh nghiệp lớn của mình đến tình trạng đóng băng kinh doanh”. Tuy nhiên, ngày 12/2, truyền thông Mỹ lại đưa tin rằng Lầu Năm Góc đã đổi ý và hiện ủng hộ lệnh cấm nghiêm ngặt hơn đối với việc xuất khẩu linh kiện cho Huawei – rõ ràng là để đáp ứng sự thay đổi ý kiến ở Nhà Trắng.

Các công ty sẽ chuyển sản phẩm của họ đi nơi khác

Một số công ty Mỹ sẽ không đóng băng, nhưng họ sẽ rời khỏi Mỹ. Ngày 16/2, tờ New York Times đưa tin rằng Quỹ RISC-V, một tổ chức phi lợi nhuận lập ra tiêu chuẩn phần mềm nguồn mở cho các loại vi mạch sử dụng trong điện thoại di động và các thiết bị điện tử khác, trong những tháng gần đây đã thừa nhận rằng họ quyết định rời trụ sở từ Delaware sang Thụy Sĩ vì các thành viên của tổ chức lo ngại về những quy định nghiêm ngặt hơn ở Mỹ. Cũng theo tờ New York Times, Scott Jones, một nhà nghiên cứu hợp tác với Trung tâm Stimson, cho biết thếm: “Nếu chính quyền tiếp tục đi theo quỹ đạo hiện nay, chúng ta sẽ chứng kiến sự ra đi của nhiều công ty và nhiều nhà khoa học hơn. Họ sẽ đưa sản phẩm của họ đi nơi khác, và các nền kinh tế khác sẽ hưởng lợi từ điều đó”.

Phần lớn doanh thu của Qualcomm, Nvidia và các công ty sản xuất chất bán dẫn khác của Mỹ là từ châu Á. Nếu họ không được phép bán hàng cho Trung Quốc, họ sẽ mất một phần lớn hoạt động kinh doanh. Thậm chí tệ hơn, Huawei hiện đang sản xuất bộ vi mạch xử lý cho điện thoại thông minh, chẳng hạn như dòng Kirin cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Qualcomm, và bộ xử lý Ascend cho các máy chủ, cạnh tranh với Nvidia.

Theo một chuyên gia phân tích người Trung Quốc, Huawei có thể giảm 30% giá thành các bộ vi xử lý của mình trong cuộc cạnh tranh về giá với Mỹ, đẩy các công ty Mỹ ra khỏi toàn bộ thị trường châu Á. Chuyên gia phân tích này cho biết trong trường hợp đó, Nvidia sẽ hết sạch tiền mặt trong 18 tháng và Qualcomm sẽ hết sau 24 tháng, buộc họ phải ngừng hoạt động nghiên cứu và phát triển. Điều đó sẽ đặt dấu chấm hết cho tầm quan trọng của Mỹ trong ngành sản xuất chất bán dẫn do chính Mỹ tạo ra.

Được biết lệnh cấm gây nhiều tranh cãi về việc bán động cơ phản lực cho Trung Quốc sẽ được thảo luận tại một cuộc họp nội các vào ngày 28/2 ở Washington. General Electric và các công ty khác của Mỹ đang ráo riết vận động hành lang để phản đối đề xuất này vì nó không có mục đích rõ ràng về an ninh quốc gia. Một số quan chức Mỹ đề nghị Trung Quốc có thể cải tạo các động cơ do Pháp và Mỹ đồng sản xuất, nhưng General Electric nhận thấy Trung Quốc vẫn mua các động cơ này kể từ năm 2014, và không cần thay bằng bất kỳ động cơ nào mới.

Đề xuất này được đưa ra như một nỗ lực nhằm ngăn Trung Quốc phát triển một công nghệ thông thường. Kết quả là Trung Quốc có thể sẽ đặt mua máy bay từ hãng Airbus của châu Âu thay vì hãng Boeing khi hãng này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn tài chính sau sự đổ vỡ của chương trình Max 737.

Thất bại thê thảm về mặt tình báo

Chính quyền Trump đã đưa ra những tín hiệu mâu thuẫn về ý định của họ đối với Huawei, khi Lầu Năm Góc liên tục đổi ý về những giới hạn được đề xuất cho việc bán linh kiện sử dụng công nghệ và bằng sáng chế của Mỹ. Nhà Trắng tin rằng họ có thể thuyết phục Chính phủ Anh loại trừ Huawei, và không thể nhận ra những gì đã xảy ra ngay cả sau khi London quyết định. Điều này nhấn mạnh một thất bại về tình báo mà phần lớn trách nhiệm thuộc về phía Mỹ.

Huawei không chỉ bán thiết bị viễn thông chất lượng cao với giá cả phải chăng cho các nhà cung cấp điện thoại di động của Anh, mà còn trở thành một phần trong cấu trúc viễn thông của Anh kể từ năm 2011, khi công ty này thuê Giám đốc an ninh thông tin của Chính phủ Anh John Suffolk làm người đứng đầu phụ trách hoạt động kinh doanh của công ty ở Anh. Một giám đốc điều hành cấp cao của Huawei cho biết trong số các nước phương Tây, Anh là quốc gia có quan hệ tốt nhất với công ty này. Cơ quan thông tin chính phủ Anh (GCHQ) – đóng vai trò như cơ quan an ninh quốc gia – đã dành nhiều năm để chỉ trích bộ mã của Huawei, thường đặt ra những đòi hỏi cải tiến mà công ty Trung Quốc này luôn nhanh chóng thực hiện.

Năm 2012, trước sự tán thưởng của Thủ tướng Anh khi đó là David Cameron, Huawei tuyên bố đầu tư 1,3 tỷ bảng vào Anh. Một báo cáo của Huawei lưu ý rằng trong năm 2018, họ đã đầu tư 112 triệu bảng vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, tuyển dụng hơn 300 nhà nghiên cứu ở Anh. Báo cáo cũng cho biết Huawei đã hợp tác với 35 trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn quốc.

Huawei tuyển dụng 50.000 người nước ngoài, phần lớn là các nhà nghiên cứu, tại 20 trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới và trợ cấp cho hàng nghìn người khác. Đây là công ty Trung Quốc đầu tiên kết nối với giới tinh hoa kỹ thuật và khoa học của phương Tây và chiếm được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ với sự giúp đỡ của họ.

Không ai nghi ngờ việc Anh sẽ tiếp tục hợp tác với Huawei, minh họa cho câu ngạn ngữ của Tôn Tử: “Sự chuẩn bị quyết định cuộc chiến thành hay bại”. Huawei đã xây dựng mối quan hệ với Anh một cách cởi mở và trở thành một phần trong cơ sở kỹ thuật của Anh với các dự án đầu tư chiến lược và sự phục tùng có tính toán trước các cơ quan an ninh của Anh.

Mỹ không nhận thấy điều đó cũng như không cơ quan nào của Mỹ cân nhắc khả năng Trân Châu Cảng có thể là một mục tiêu của Nhật Bản vào tháng 12/1941, hay cũng như quân đội Anh không cân nhắc khả năng Nhật Bản tấn công Singapore năm 1942. Đơn giản là các cơ quan tình báo Mỹ không nhận ra rằng Trung Quốc có khả năng thâu tóm toàn bộ thị trường thế giới bằng một công nghệ thay đổi cục diện. Washington cũng không nhận ra rằng Trung Quốc đã phát triển đủ năng lược trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn để tạo ra các vi mạch cao cấp của riêng mình và phớt lờ lệnh cấm nhập khẩu của Mỹ.

Rõ ràng Donald Trump đang tiếp nhận thông tin từ chính những cơ quan tình báo đã phớt lờ thách thức từ Trung Quốc cho đến khi quá muộn – và không muốn gì hơn ngoài việc đổ lỗi cho người khác về những thất bại của chính mình. Kết quả là một nỗi ô nhục và nguy cơ gián đoạn kinh tế nghiêm trọng của Mỹ.

Nguồn: Asia Times – 17/02/2020

TLTKĐB – 21/02/2020

Hậu quả của làn sóng rút khỏi Trung Quốc


Katsuji Nakazawa

Sau khi dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 bùng phát, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã kêu gọi xây dựng một nền kinh tế ít phụ thuộc hơn vào một quốc gia, cụ thể là Trung Quốc, để nước này có thể tránh được sự đứt gãy trong các chuỗi cung ứng. Lời kêu gọi này đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận đang nóng lên trong chính giới Trung Quốc.

Một nguồn tin kinh tế của Trung Quốc cho biết tại Trung Nam Hải (một khu vực nằm ở trung tâm thủ đô Bắc Kinh nơi có văn phòng của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc), đã xuất hiện những mối quan ngại về việc các công ty nước ngoài đang rút khỏi Trung Quốc. Nguồn tin này cho biết: “Điều được đề cập tới nhiều khi nói về vấn đề này là điều khoản  “khuyến khích (và tài trợ) cho việc tái thiết lập các chuỗi cung ứng” trong gói kích thích kinh tế của Nhật Bản”.

Nếu dịch bệnh không bùng phát, thì chuyến thăm cấp nhà nước tới Nhật Bản của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình giờ đây đã kết thúc với việc Tập Cận Bình tự hào tuyên bố “một kỷ nguyên mới” trong quan hệ Trung – Nhật. Ông hẳn sẽ chúc mừng Thủ tướng Shinzo Abe trong bối cảnh Nhật Bản chuẩn bị đăng cai sự kiện thể thao quan trọng là Thế vận hội 2020. Giờ đây, thay vào đó, cả chuyến công du Nhật bản của Tập Cận Bình lẫn Olympic Tokyo 2020 đều đã bị hoãn lại, và quan hệ Trung – Nhật đang đứng trước ngã rẽ.

Các dấu hiệu về một chính sách mới của Thủ tướng Abe đã trở nên rõ ràng vào ngày 5/3. Cuối cùng, Nhật Bản đã có thể chấm dứt cuộc khủng hoảng liên quan tới du thuyền Diamond Princess, nhưng nước này vẫn phải đối mặt với thách thức trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19.

Trong ngày 5/3, ngày quyết định hoãn chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch Tập Cận Bình được công bố, Chính phủ Nhật Bản đã tổ chức một cuộc họp của Hội đồng đầu tư cho tương lai. Thủ tướng Abe, Chủ tịch Hội đồng này cho biết ông muốn đưa các dây chuyền sản xuất có giá trị gia tăng cao trở lại Nhật Bản.

Tham dự cuộc họp nói trên có các nhà lãnh đạo kinh doanh có ảnh hưởng như ông Hiroaki Nakanishi, Chủ tịch Liên đoàn kinh tế Nhật Bản – tổ chức vận động hành lang lớn nhất nước này và thường được biết đến với tên gọi Keidanren. Tại cuộc họp, Thủ tướng Abe phát biểu: “Do dịch COVID-19, ngày càng có ít sản phẩm từ Trung Quốc vận chuyển tới Nhật Bản. Đã có nhiều lo ngại về các chuỗi cung ứng của chúng ta”. Ông Abe nhấn mạnh trong số các sản phẩm của Nhật Bản mà hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào một quốc gia, “cần cố gắng di dời các sản phẩm có giá trị gia tăng cao về Nhật Bản”. Đối với các sản phẩm khác, Abe cho rằng Nhật Bản “cần phải đa dạng hóa (sản xuất) sang các nước khác, chẳng hạn như các nước ASEAN”.

Ông Abe đã có những phát biểu rất rõ ràng trong bối cảnh sự gián đoạn của các chuỗi cung ứng đang tác động tiêu cực tới việc nhập khẩu linh kiện ô tô và các sản phẩm khác mà Nhật Bản vốn phụ thuộc vào Trung Quốc, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của các doanh nghiệp nước này. Điều được Thủ tướng Abe đề cập tới khác hẳn so với quan niệm truyền thống “Trung Quốc+1”, trong đó các công ty sẽ xây dựng thêm một cơ sở ở ngoài Trung Quốc để đa dạng hóa sản xuất. Trên thực tế, ông Abe đã hình thành chính sách “rời bỏ Trung Quốc”.

Tại một quốc gia vẫn đang tập trung vào những tin tức về dịch COVID-19 như Nhật Bản, kế hoạch của ông Abe không thu hút được nhiều sự chú ý. Tuy nhiên, Trung Quốc đang theo dõi một cách cẩn trọng, có lẽ đang cân nhắc xem liệu nước này có sắp phải đối mặt với một làn sóng tháo chạy mới giống như Nhật Bản đã từng trải qua hay không. Một làn sóng như vậy sẽ làm rung chuyển nền tảng mô hình tăng trưởng lâu nay của Trung Quốc.

Trong gói kích thích kinh tế khẩn cấp được thông qua hôm 7/4, Chính phủ Nhật Bản đã kêu gọi tái thiết các chuỗi cung ứng đang phải chịu thiệt hại do sự lây lan của virus SARS-CoV-2. Chính phủ Nhật Bản dự định sẽ phân bổ hơn 240 tỷ Yen (2,2 tỷ USD) trong kế hoạch ngân sách bổ sung cho năm tài khóa 2020 để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước di dời các cơ sở sản xuất về nước hoặc tìm đến Đông Nam Á để đa dạng hóa hoạt động sản xuất.

Một ngày sau đó, hôm 8/4, Ban Thường vụ Bộ Chính trị, cơ quan ra quyết định cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã nhóm họp tại Bắc Kinh. Phát biểu tại cuộc họp, Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhận định: “Trong bối cảnh dịch COVID-19 tiếp tục lây lan khắp toàn cầu, nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái gia tăng. Các nhân tố bất ổn và không chắc chắn đang gia tăng đáng kể”.

Bên cạnh đó, Tập Cận Bình cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải gắn với cách tư duy lấy kết quả làm trung tâm – tức là lường trước những kết quả tồi tệ nhất – và kêu gọi “sẵn sàng trong suy nghĩ và hành động để đối phó với những thay đổi kéo dài của môi trường bên ngoài”.

Không chỉ ở Nhật Bản, tại Mỹ cũng đã bắt đầu xuất hiện các cuộc thảo luận về sự phụ thuộc vào Trung Quốc. Larry Kudlow, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia của Nhà Trắng, đã bày tỏ ý định xem xét khả năng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước này chi phí di dời các cơ sở sản xuất từ Trung Quốc về Mỹ. Ý tưởng này phù hợp với chương trình nghị sự “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Nếu Mỹ và Nhật Bản – nền kinh tế lớn nhất và lớn thứ ba thế giới – di dời hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, thì nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ phải chịu tác động vô cùng to lớn.

Một chủ đề thảo luận khác cũng đang được giới tri thức Trung Quốc thảo luận. Theo biểu đồ tử vi của Trung Quốc, 2020 là năm Tý. Người ta cho rằng cứ mỗi khi đến năm Canh Tý, một sự kiện chấn động lịch sử sẽ xảy ra. Năm 1840, dưới thời triều đại nhà Thanh, Chiến tranh Nha phiến đã nổ ra, dẫn tới sự trì trệ của Trung Quốc trong hơn một thập kỷ. 60 năm sau đó, vào năm 1900, vào cuối triều đại nhà Thanh, lực lượng đồng minh 8 nước, gồm Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Italy, Nga, Nhật Bản và Áo – Hung, đã di chuyển từ Thiên Tân tới Bắc Kinh – một hành động được châm ngòi do cuộc nổi loạn của Nghĩa Hòa Đoàn bắt đầu vào năm 1899. Bộ phim Mỹ “55 ngày tại Bắc Kinh” với sự góp mặt của ngôi sao Charlton Heston, đã mô tả việc các thành viên Nghĩa Hòa Đoàn vây hãm các tòa công sứ nước ngoài ở Bắc Kinh trong cuộc nổi loạn đó.

Năm Canh Tý 1960 đã xảy ra nạn đói do cuộc “Đại nhảy vọt” dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, người sáng lập “một Trung Hoa mới” (hay nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa). Dương Kế Thằng, cựu phóng viên của Tân Hoa xã đã viết cuốn sách với tiêu đề “Bia mộ” mô tả chi tiết về thảm kịch này. Dựa trên cơ sở các phỏng vấn và thu thập thông tin tại hiện trường, Dương Kế Thằng tiết lộ khoảng 36 triệu người đã chết trong nạn đói do cuộc “Đại nhảy vọt”, cao hơn rất nhiều so với số liệu do Trung Quốc công bố.

Vậy điều không may mắn nào sẽ xảy ra ở Trung Quốc trong năm Canh Tý 2020?

Trung Quốc đã vượt qua đỉnh dịch COVID-19. Tuy nhiên, Trương Văn Hoành, người đứng đầu nhóm chuyên gia y tế lâm sàng về SARS-CoV-2, cảnh báo đợt lây nhiễm thứ hai sẽ xảy ra vào tháng 11/2020 hoặc sau đó.

Trong đại dịch cúm Tây Ban Nha giai đoạn 1918 – 1920, đợt lây nhiễm thứ hai nghiêm trọng hơn so với đợt thứ nhất. Kể từ đó đến nay, chưa có đại dịch nào lấy đi nhiều sinh mạng hơn so với đại dịch cúm này. Ước tính vào thời điểm đó có 500 triệu người, chiếm khoảng 1/3 dân số trên hành tinh, đã bị nhiễm bệnh, trong đó có 50 triệu người đã thiệt mạng.

Chung Nam Sơn, một bác sỹ 83 tuổi, đã nổi lên từ năm 2003 khi ông đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống lại hội chứng hô hấp cấp tính (SARS). Bác sỹ này cảnh báo rằng virus SARS-CoV-2 đã biến đổi, và tỷ lệ tử vong do virus này gây ra đã tăng gấp 20 lần so với virus cúm.

SARS-CoV-2 khởi phát từ Trung Quốc vào cuối năm 2019, sau đó lây lan khắp toàn cầu. Việc Trung Quốc kiểm soát thông tin và mạng xã hội liên quan tới dịch bệnh này cho đến giữa tháng 1/2020 và phản ứng chậm chạp của Bắc Kinh trước cuộc khủng hoảng y tế công cộng này trong giai đoạn đầu đã dẫn tới thảm họa và châm ngòi cho sự phản đối của quốc tế. Tổng thống Trump từng nhiều lần gọi SARS-CoV-2 là “virus Trung Quốc”.

Dư luận thế giới sẽ có ảnh hưởng tới việc thiết lập lại trật tự thế giới sau dịch COVID-19. Dựa trên tình hình hiện tại, những nước đưa ra sáng kiến sẽ là Mỹ và Trung Quốc.

Ở Trung Quốc cổ đại, những thẻ tre là phương tiện chủ yếu để lưu trữ văn bản trước khi giấy xuất hiện. Nhờ có thẻ tre, các văn bản chính thức được lưu giữ cho hậu thế, và việc khắc lên các thẻ tre này có ý nghĩa quan trọng đối với một vị hoàng đế. Nếu đại dịch COVID-19 làm thay đổi triệt để trật tự thế giới trong thế kỷ 21, thì các thẻ tre đó sẽ khắc tên Mỹ hay Trung Quốc? Trung Quốc không được phép thua cuộc.

Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào việc Mỹ và Trung Quốc sẽ tái thiết nền kinh tế của mình như thế nào sau đại dịch. Nếu các công ty lớn của nước ngoài rút khỏi Trung Quốc, thì đ1o sẽ là một trở ngại không nhỏ đối với sự phục hồi kinh tế của nước này.

Nguồn: Nikkei Asia Review – 16/04/2020

TLTKĐB –  21/04/2020

Mỹ xóa bỏ ưu đãi của WTO với nhiều nước, trong đó có Việt Nam


Theo đài RFA, Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) ngày 11/2 thông báo thu hẹp danh sách các nước đang phát triển và kém phát triển, đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ xóa bỏ ưu đãi của WTO với nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Ngày 12/2, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, có bài phân tích về quyết định này sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào?

Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, phía Mỹ sẽ không còn dành các ưu đãi về thuế quan cho những quan hệ thương mại với Việt Nam. Hy vọng rằng, phía Việt Nam sẽ có những nỗ lực tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, trên cơ sở hai bên cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau.

USTR cho biết việc sửa đổi phương pháp xét tiêu chí nước đang phát triển là để điều tra thuế chống bán phá giá. Lâu nay, một số mặt hàng của Việt Nam xuất sang Mỹ từng bị Mỹ điều tra chống bán phá giá, từ đó bị tác động mạnh như biểu thuế tăng; và cũng có trường hợp được bỏ thuế vì phía Mỹ không tìm ra bằng chứng các sản phẩm được trợ giá từ chính phủ. Chuyên gia cho rằng những vụ việc đó cho thấy Việt Nam cần phải kiểm soát rất kỹ càng, bởi vì trong tình hình cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, có nguy cơ một số công ty của Trung Quốc sẽ chuyển công đoạn lắp ráp sang Việt Nam. Thay vì họ dán nhãn mác “Made in China” là sản xuất tại Trung Quốc, họ sẽ gắn mác “Made in Vietnam” để tránh thuế quan. Ông Lê Đăng Doanh nhấn mạnh, đây là điều chính phủ Việt Nam nên tránh và chứng minh được là phía Việt Nam sẽ hợp tác chặt chẽ, cởi mở, chân thành với phía Mỹ, để không có những gian lận thương mại đó

Vấn đề quan trọng của Việt Nam là sẽ phải tiếp tục đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ thương mại, để tránh phụ thuộc vào một cường quốc duy nhất nào đó. Đó là nỗ lực của Việt Nam để bảo đảm sự độc lập và đi đến sự thịnh vượng của nền kinh tế của Việt Nam, mà không phải trả giá về chủ quyền.

Việt Nam đến nay mong muốn Mỹ công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường để tránh những bất cập trong thương mại song phương, tuy nhiên Mỹ vẫn chưa chính thức công nhận. Hiện tại, Việt Nam vẫn giữ việc kiểm soát giá một số mặt hàng như định giá xăng dầu, giá điện và giá các mặt hàng về kết cấu hạ tầng. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục các chính sách của mình hỗ trợ các mặt hàng như việc hỗ trợ về mặt kỹ thuật đối với các mặt hàng sản xuất mà Việt Nam có thế mạnh. Việc này hai bên cần phải tiếp tục trao đổi với nhau để có thể xích lại gần nhau hơn.

Ngày 12/2, Nghị viện châu Âu đã thông qua Hiệp định Thương mại Tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA), đó là một bước tiến, cũng là một gợi ý, cho thấy quá trình hội nhập của Việt Nam ngày càng được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Theo chuyên gia, Việt Nam cho đến nay đã ký kết 16 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng tốt, bởi vì các doanh nghiệp Việt Nam còn quá nhỏ và chưa liên kết được với nhau.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đẩy mạnh quá trình liên kết với nhau thành các doanh nghiệp đủ tầm cỡ, hiện đại. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải mạnh dạn tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, tức là tham gia vào chuỗi giá trị, trở  thành một thành viên trong một công đoạn sản xuất của các tập đoàn nước ngoài. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp Việt Nam có thể đạt được các tiến bộ nhanh hơn, mạnh mẽ hơn về mặt công nghệ, cũng như mặt quản trị và tiếp cận thị trường.

Việt Nam đã có những nỗ lực, nhưng các thị trường khác đề ra các yêu cầu cao và các doanh nghiệp Việt Nam thì chưa đáp ứng được, vì vậy cho nên Việt Nam vẫn tranh thủ cơ hội xuất khẩu sang Trung Quốc và nhập khẩu từ Trung Quốc, bởi các nguyên vật liệu từ Trung Quốc được trợ giá nên rẻ hơn rất nhiều so với giá của các đối tác khác thí dụ như sợi, các nguyên liệu dệt may, da giầy. Đó là những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu rất nhiều từ Trung Quốc.

Việc Cơ quan Đại diện thương mại Mỹ (USTR) quyết định như vậy là việc của phía Mỹ, Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục mối quan hệ trao đổi để có thể cải thiện được sự hiểu biết, thông cam lẫn nhau, và có thể đi đến những quyết định có lợi hơn cho phía Việt Nam. Chuyên gia Lê Đăng Doanh tin tưởng rằng phía Mỹ sẽ hợp tác với phía Việt Nam để đẩy mạnh mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, vì Ngoại trưởng Mỹ đã có tuyên bố rằng, Mỹ rất quan tâm đến một nước Việt Nam độc lập và hùng cường.

Nguồn: TKNB – 14/02/2020.

Chìa khóa khôi phục kinh tế Mỹ hậu COVID-19


Sven Steinmo & Mark Blyth

Sau nhiều năm rao giảng với thế giới về những mối nguy hiểm của chi tiêu của chính phủ, Chính phủ Mỹ đột ngột đi theo học thuyết kinh tế Keynes. Giờ đây, hỗ trợ dưới dạng chi phiếu cho các hộ gia đình, các đợt bơm thanh khoản trên quy mô lớn của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ, và các gói cứu trợ doanh nghiệp trở thành điều bình thường – cho đến nay tất cả đều đang diễn ra với cấp độ không ngờ và đều được biện hộ là do mối đe dọa bất thường của cuộc khủng hoảng COVID-19 gây ra.

Chính phủ Mỹ thường không chi tiêu tùy tiện. Thay vào đó, họ có xu hướng thích nghi với các cú sốc kinh tế bằng việc chấp nhận tình trạng thất nghiệp và sử dụng chính sách thắt lưng buộc bụng – đặc biệt là ở cấp bang, theo quy định của pháp luật, các thống đốc phải duy trì ngân sách cân đối. Ngay khi dịch COVID-19 hạ nhiệt, những lời kêu gọi cắt giảm chi tiêu và cân đối ngân sách quen thuộc sẽ quay trở lại. Nợ liên bang sẽ tăng lên mức chưa từng thấy kể từ những năm 1940 – và để ứng phó, những người đề xuất chính sách thắt lưng buộc bụng sẽ yêu cầu khởi động lại thị trường tự do bằng cách cắt giảm cả thuế lẫn chi tiêu.

Người Mỹ sẵn sàng bác bỏ những yêu cầu này. Ngay cả những người quan ngại về tình hình nợ cũng không cần phải tìm kiếm một lựa chọn thay thế đâu xa ngoài đường hướng mà các nhà lãnh đạo Mỹ đã lựa chọn trong hia cuộc khủng hoảng lớn vào giữa thế kỷ 20: Đại khủng hoảng và Chiến tranh thế giới thứ hai. Để ứng phó với những cú sốc này, Chính phủ Mỹ đã gạt bỏ chính sách thắt lưng buộc bụng và tăng thuế để cấp vốn cho Đạo luật hỗ trợ quân nhân giải ngũ (G.I) và chương trình cơ sở hạ tầng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Lúc này, Mỹ áp dụng lại chính sách đó, lần này dùng tiền để tái thiết hệ thống y tế quốc gia.

Kế hoạch hành động

Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đắc cử vào năm 1932, lúc đỉnh điểm của cuộc Đại khủng hoảng, một phần vì người Mỹ tìm kiếm một nhà lãnh đạo sẽ gạt bỏ chính sách thắt lưng buộc bụng và mang đến niềm hy vọng. Roosevelt đã làm được điều đó. Trong bài diễn văn nhậm chức đầu tiên của mình ông tuyên bố: “Nhiệm vụ chính lớn nhất của chúng tôi là tạo công ăn việc làm cho người dân. Không có vấn đề này là không thể giải quyết nếu chúng ta đối mặt với chúng một cách khôn ngoan và dũng cảm. Có thể hoàn thành nhiệm vụ này một phần nhờ việc chính phủ trực tiếp tuyển dụng người lao động, xem đây là một nhiệm vụ khẩn cấp như một cuộc chiến tranh, nhưng đồng thời qua việc tuyển dụng này để hoàn thành các dự án hết sức cần thiết nhằm kích thích và tái tổ chức việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên”.

Trong 100 ngày đầu tiên cầm quyền, Roosevelt đã ký 15 đạo luật, mở rộng đáng kể vai trò của chính phủ đối với đời sống của hàng triệu người Mỹ. Cơ quan quản lý tiến độ công trình (WPA) có lẽ là chương trình tiêu biểu nhất trong nhiệm kỳ đầu tiên của Roosevelt, tạo việc làm cho gần 8 triệu lao động trong các công trình xây dựng cầu đường, trường học, bưu điện, bảo tàng, bể bơi, công viên, trung tâm công cộng, sở thú, vườn bách thảo, phòng tập thể hình, trường đại học… Hầu như mọi cộng đồng ở đất nước này đều được hưởng những lợi ích rõ ràng và ngay tức thì từ quyết sách hành động của chính phủ. Năm 1938, Mỹ chi tiêu cho phúc lợi xã hội nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, kể cả Anh hay thậm chí là Thụy Điển. Chính phủ đã trả tiền cho các chương trình này bằng cách nào? Bằng cách tăng thuế và vay tiền. Trở lại  năm 1931, mức thuế cao nhất (đánh vào các mức thu nhập cao hơn 100.000 USD) không cách biệt so với mức 25% hiện nay. Nhưng ngay khi nhậm chức, Roosevelt đã nâng mức thuế đối với người có thu nhập trên 1 triệu USD lên 63%. Năm 1932, ông đã nâng tỷ lệ đó lên 79%.

Khi Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu như không ai ủng hộ việc cắt giảm thuế hoặc hạn chế quyền hạn của chính phủ. Trái lại, số tiền chi tiêu thâm hụt đã tăng vọt, đạt mức đỉnh điểm là hơn 26% GDP vào năm 1943 và nợ công tăng lên hơn 100% GDP. Để tài trợ cho tất cả những chi tiêu này, thuế lại một lần nữa bị tăng lên. M4y đã bắt tay vào chiến dịch nổi tiếng “Thuế đánh bại phe Trục” và giới thiệu hệ thống thuế làm đâu trả đó PAYG (khoản thuế nhà tuyển dụng giữ lại trích từ lương của người lao động). Để giành chiến thắng, tất cả mọi người đều phải đóng góp.

Đến năm 1944, ngay cả những người có thu nhập thấp nhất ở Mỹ cũng phải đóng mức thuế 23% và những người có thu nhập cao nhất phải đóng mức thuế đáng kinh ngạc là 94%. Charles Wilson, khi đó là người đứng đầu tập đoàn lớn nhất thế giới General Motors, đã nói một câu rất nổi tiếng: “Nhiều năm qua, tôi đã nghĩ rằng những gì tốt đẹp cho đất nước chúng ta cũng là tốt đẹp đối với General Motors và ngược lại”. Wilson cũng cảm thấy đóng thuế là nghĩa vụ của mình. Năm 1949, Wilson kiếm được 586.100 USD từ tiền lương, tiền thưởng và cổ phiếu. Trong đó, ông đã trả 430.350 USD tiền thuế.

Tư duy kinh tế thời đó là Mỹ sẽ chìm vào một cuộc suy thoái nghiêm trọng khi chiến tranh kết thúc. Nhà kinh tế học Paul Samuelson dự đoán rằng hàng triệu người sẽ phải cạnh tranh để có chỗ đứng trên thị trường lao động. Samuelson cảnh báo nếu không có kế hoạch và sự quản lý kinh tế liên tục của chính phủ, thì Mỹ sẽ rơi vào thời kỳ thất nghiệp và rối loạn công nghiệp lớn nhất mà bất kỳ nền kinh tế nào từng phải đối mặt.

Bốn năm sau, Mỹ đã bầu Tổng thống thuộc đảng Cộng hòa đầu tiên kể từ thời Herbert Hoover, Dwight Eisenhower. Nhiều người Mỹ tin rằng các chương trình mở rộng của chính phủ trong kỷ nguyên Roosevelt và Truman cuối cùng sẽ chấm hết. Tuy nhiên, Eisenhower  không làm điều đó. Ông viết: “Nếu bất kỳ chính đảng nào nỗ lực xóa bỏ chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm  thất nghiệp cùng với các luật lao động và các chương trình nông nghiệp, thì đảng đó sẽ không còn xuất hiện một lần nào nữa trong lịch sử chính trị của chúng ta. Dĩ nhiên, có một nhóm nỏ tin rằng họ có thể làm được điều này… Số này không đáng kể, và họ thật ngu ngốc”. Do đó, thay vì hạn chế sức ảnh hưởng của chính phủ, Eisenhower đã mở rộng chính sách An sinh xã hội, bắt tay vào thực hiện chương trình chi tiêu công thời bình lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ – Chương trình cao tốc liên bang – và từ chối cắt giảm thuế cho người giàu. Thuế ở mức cao nhất là 91% trong suốt 8 năm ông cầm quyền và nền kinh tế Mỹ tiếp tục bùng nổ.

Hậu cuộc chiến COVID-19

Điều trớ trêu là việc giãn cách xã hội giúp mọi người nhận ra họ cần nhau nhiều như thế nào. Trên khắp thế giới, mọi người đang hy sinh vì lợi ích của người khác. Ngay cả ở Mỹ, một quốc gia vốn đề cao chủ nghĩa cá nhân và các thị trường tự do hơn bất kỳ nước nào khác, thì hầu hết mọi người đều hiểu rằng tất cả đều đang cùng nhau đối mặt với nghịch cảnh. Bằng cách nào Mỹ có thể tái tạo cơ hội thoát khỏi cuộc khủng hoảng này?

Giải pháp thứ nhất là tăng thuế. Mỹ không cần quay trở lại áp đặt mức thuế của những năm Eisenhower cầm quyền. Tuy nhiên, kể cả việc quay trở lại mức thuế của những năm 1980 cũng đồng nghĩa với một sự tiến bộ to lớn. Những người chưa phải đóng thuế đủ sẽ lập luận rằng với khoản nợ công ngày càng tăng, quốc gia này không thể tăng thuế mà thay vào đó nên cắt giảm thuế. Tuy nhiên, kể từ năm 1981, Mỹ đã 10 lần cắt giảm thuế thu nhập, và tất cả những lần cắt giảm thuế đó mang lại điều gì? Chúng là nguyên nhân gốc rễ khiến nợ công tăng đáng kể, kéo theo đó là thâm hụt gia tăng. Năm 1980, nợ công ở mức 930 tỷ USD, tương đương 23% GDP. Sau 10 đợt cắt giảm thuế được cho là để cấp vốn cho chính phủ, nợ công đã tăng lên 22.300 tỷ USD, tương đương 106% GDP – đơn giản bởi vì trong 40 năm qua, Mỹ đã thu ít thuế hơn mức chi tiêu mỗi năm ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn từ năm 1998 đến năm 2000.

Tất cả mọi người đều nên đóng nhiều thuế hơn, đặc biệt là người giàu. Mức thuế cao nhất áp dụng đối với các triệu phí giàu có nhất lên tới 94%. Đến năm 1980, mức thuế này giảm còn 70%. Hiện nay, mức thuế trên thực tế mà 400 người giàu nhất nước Mỹ phải đóng chỉ là 23%, trong khi những người có thu nhập trung bình phải đóng hơn 25% tiền thuế. Chỉ cần tăng 5% mức thuế trung bình đối với nhóm người giàu có nhất sẽ tạo ra hơn 140 tỷ USD/năm. Làm tương tự như vậy đối với nhóm những người có thu nhập trung bình (55.000 đến 88.000 USD) sẽ tạo ra hơn 115 tỷ USD. Chỉ cần tăng 5% thuế đối với tất cả các hạng thu nhập sẽ mang lại ít nhất 820 tỷ USD.

Chính phủ có thể làm được rất nhiều điều với số tiền đó. Cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy rõ rằng hệ thống y tế của Mỹ là một thảm họa. Dường như một bệnh nhân tiểu đường 93 tuổi có thể được phẫu thuật thay khớp háng dễ dàng hơn so với việc một nhân viên cửa hàng tạp hóa 23 tuổi được làm xét nghiệm COVID-19. Việc cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cho tất cả mọi người không vượt quá khả năng hay là quá tốn kém đối với một trong những nước giàu nhất thế giới

Viện nghiên cứu Đô thị có khuynh hướng thiên tả đã tính toán rằng một hệ thống y tế một người (chính phủ) chi trả sẽ tiêu tốn 34.000 tỷ USD trong 10 năm. Tuy nhiên, những dự đoán này giả định một hệ thống như vậy sẽ không tạo ra doanh thu mới. Trái lại, chỉ riêng việc loại bỏ khoản khấu trừ bảo hiểm y tế do chủ sử dụng lao động chi trả sẽ tạo ra hơn 2.786 tỷ USD trong 10 năm và chủ sử dụng lao động sẽ được giảm số thuế tương đương đáng kể bằng việc không phải đóng thêm gần 1/3 số tiền lương chi trả cho nhân viên vào quỹ phúc lợi như hiện nay. Do hệ thống y tế của Mỹ quá cồng kềnh với nhiều bên chi trả, nên 30% chi tiêu y tế là dành cho chi phí hành chính. Do đó, trung bình hiện nay một gia đình ở Mỹ chi hơn 5.700 USD/năm chỉ riêng chi phí cho bộ máy hành chính của hệ thống y tế, chưa kể chi phí thêm cho các dịch vụ y tế thực tế. Những chi phí này cộng lại thành một con số đáng kể. Hiện nay, chi phí y tế cho mỗi người mà Mỹ chi trả nhiều hơn gấp đôi so với mức trung bình của các nước thành viên Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) – tuy nhiên, theo hầu hết mọi cách đánh giá, người Mỹ được hưởng dịch vụ y tế với chất lượng kém hơn.

Giờ đây, một hệ thống y tế cho tất cả mọi người là điều khả thi hơn. Chính quyền đương nhiệm đã làm nợ quốc gia tăng thêm 1500 tỷ USD do quyết định cắt giảm thuế vào năm 2017, và nếu Tổng thống Donald Trump tái cử vào tháng 11, ông sẽ cần phải trả lại tiền cho những người ủng hộ mình, vốn nằm trong số những người bị dịch COVID-19 ảnh hưởng nhiều hơn và tình trạng suy thoái kinh tế mà nó gây ra. Giống như việc chỉ có Tổng thống Richard Nixon có thể đến Trung Quốc, có lẽ Trump là người duy nhất có thể đưa ra quyết định không thể thay đổi liên quan đến vấn đề thuế. Ông rất muốn tìm phương án thay thế chương trình Obamacare, và xét tới thiệt hại mà dịch COVID-19 gây ra đối với hệ thống y tế hiện tại, tái thiết tổng thể là điều cần phải làm bất luận ông có thích hay không. Trong khi đó, ứng cử viên đảng Dân chủ, Joe Biden, chỉ có thể giành chiến thắng nếu huy động được nền tảng cử tri của cựu ứng cử viên Thượng nghị sĩ Bernie Sanders – và việc cam kết xây dựng hệ thống y tế quốc gia sẽ chính là cách để giành chiến thắng. Người dân cũng đứng về phía Biden: Đa số người Mỹ đều ủng hộ một kiểu hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia nào đó kể từ khi Truman đưa ra ý tưởng này vào năm 1947. Và ngày nay, 75% người Mỹ cũng ủng hộ việc tăng thuế đối với người giàu.

Dù bằng cách nào, Mỹ cũng chỉ có một sự lựa chọn. Khi đại dịch này kết thúc, họ có thể quay trở về chính trường chia rẽ và chính sách thắt lưng buộc bụng và tuyên bố rằng họ không thể chi trả cho bất cứ điều gì khác, cho dù nếu không thì cũng đã được chứng minh một cách rõ ràng qua cách đối phó với cuộc khủng hoảng COVID-19. Mỹ có thể bước vào những cuộc tranh cãi quen thuộc về việc ai sẽ trả tiền, được che đậy bằng những quan ngại về thâm hụt, và điều này làm suy yếu kết cấu xã hội và các thể chế kinh tế đến mức có thể phá vỡ chúng. Hoặc Mỹ có thể làm tăng thuế và cấp vốn cho hệ thống y tế phục vụ cho tất cả mọi người, điều mà nước này đang rất cần. Tất cả các nền kinh tế phát triển khác đều đã lựa chọn cách thứ hai và giờ đến lượt Mỹ.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/2020-04-22/can-pandemic-defeat-politics-austerity

TLTKĐB – 07/05/2020

Học cách nói dối


Việc xem xét lại lịch sử phát triển kinh tế Đông Á đã cho thấy công thức của thành công đơn giản như sau: nông nghiệp hộ gia đình, sản xuất định hướng xuất khẩu và tài chính được kiểm soát chặt chẽ để hỗ trợ hai hoạt động trước. Công thức này phát huy tác dụng là vì nó cho phép những quốc gia nghèo khai thác được nhiều tiềm năng từ nền kinh tế hơn so với những việc mà người dân với kỹ năng sản xuất thấp có thể làm được ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Các chính phủ thao túng những nền kinh tế, thứ tạo ra tiến bộ nhanh chóng và của cải để trợ cấp cho người dân – những người không thể được chuyển đổi nhanh chóng bằng chính sách của chính phủ – để bắt kịp.

Những chuyên gia kinh tế tân tự do không thích chính phủ can thiệp vào thị trường. Họ tuyên bố rằng thị trường tự thân nó đã hiệu quả. Nhưng lịch sử cho thấy sẽ xuất hiện những thị trường – với những ngoại lệ nguyên thủy được chuyên gia kinh tế thể chế Ronald Coase mô tả là những “cá thể đổi đậu lấy trái sơ ri ở bìa rừng”. Có nghĩa là trong một xã hội đang vận hành, các thị trường được định hình và tái định hình bằng quyền lực chính trị. Nếu không có hành động tịch thu đất đai ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc, sẽ không tồn tại thặng dư nông nghiệp gia tăng để chuẩn bị cho quá trình công nghiệp hóa. Nếu không đặt trọng tâm và sản xuất cho xuất khẩu, sẽ chẳng có cách nào sử dụng hàng chục triệu người trước đó là nông dân vào nền kinh tế hiện đại. Và nếu không có hoạt động kìm chế tài chính, sẽ không đủ tiền để chi trả cho quá trình học tập kinh tế đang tăng tốc. Trong tất cả những tình huống trên, thị trường và sự cạnh tranh đều phải phục vụ phát triển.

Thông điệp mà Đông Á – và thực chất là cái nhìn lịch sử về phát triển trên toàn thế giới – gửi đến các kinh tế gia là không có một mô hình kinh tế học duy nhất nào. Ít nhất cũng có hai mô hình. Mô hình đầu tiên là kinh tế học phát triển, cái gần giống với quá trình đào tạo. Đây là nơi con người – chính xác hơn là tất cả mọi người – hình thành một nền kinh tế thu nhận được những kỹ năng cần thiết để cạnh tranh với những người đồng trang lứa trên toàn thế giới. Kinh tế học phát triển đòi hỏi sự nuôi dưỡng, bảo hộ và cạnh tranh. Sau đó là kinh tế học hiệu quả, ứng dụng vào giai đoạn sau của phát triển. Ngành học này đòi hỏi chính phủ can thiệp ít hơn, bãi bỏ quy định nhiều hơn, các thị trường tự do hơn và những trọng tâm tiến gần hơn đến lợi nhuận ngắn hạn. Vấn đề không phải là liệu có tồn tại hai loại kinh tế học ở những giai đoạn phát triển khác nhau hay không. Vấn đề là liệu hai giai đoạn này có gặp nhau hay không. Đây là chủ đề khó khăn và thú vị để các kinh tế gia có thể áp dụng hiệu quả hơn trong quá trình nghiên cứu của chính bản thân họ.

Không may, sự chuyên chế trí tuệ của những kinh tế gia “hiệu quả” tân tự do – vấn đề tự nhiên của những quốc gia giàu có – đồng nghĩa với việc không thể nào thảo luận trung thực về phát triển kinh tế. Các quốc gia nghèo chỉ có thể thành công bằng cách nói dối. Họ phải công khai đồng ý với các kinh tế gia “thị trường tự do” được những nước giàu giới thiệu trong khi theo đuổi các chính sách mang tính can thiệp, vốn thực sự cần thiết để trở nên giàu có. Khuyến khích nói dối là rất không nên, nhưng trong trường hợp này chúng ta phải làm vậy. Giải pháp chửi bới nhóm quyền lực lãnh đạo đầy trí tuệ của phương Tây và phản kháng công khai lãnh đạo của nó – Hoa Kỳ – như Mao, Sukarno và Mahathir đã làm, là một giải pháp ngu xuẩn. Sẽ tốt hơn nhiều nếu học từ Park Chung Hee hay sách Lịch sử Trung Quốc đương đại: công khai tuyên bố về tầm quan trọng của thị trường tự do và sau đó âm thầm tiếp tục những hoạt động kinh doanh theo phong cách dirgiste.

Tuy nhiên, phải nói là cả hai mặt của lập luận về chính sách phát triển kinh tế phù hợp đều có vấn đề. Ở các quốc gia thành công trong việc kết hợp giữa nông nghiệp hộ gia đình, sản xuất và kìm chế tài chính từ Thế chiến Thứ hai, xuất hiện thái độ không sẵn sàng hay tình trạng không thể nhận ra các giới hạn của mô hình này. Ở những quốc gia giàu có nhất sử dụng cách tiếp cận một, hai, ba sau năm 1945 – Nhật Bản ở Đông Á và Italy ở châu Âu – tồn tại một xu hướng phản đối việc bãi bỏ quy định kinh tế trong một thời gian rất dài sau thời điểm hoạt động này trở nên cần thiết. Ở Hàn Quốc, cần cả một cuộc khủng hoảng châu Á và sự can thiệp đúng thời điểm một cách tình cờ của IMF mới kích hoạt được những cải cách này. Cách tiếp cận một, hai, ba chỉ đưa một nền kinh tế – chứ chưa nói đến một xã hội – đi xa được tới vậy. Nếu các chính sách không thay đổi, sự xơ cứng kinh tế của Nhật Bản hay Italy đươgn đại sẽ vẫy gọi.

Thứ hai, các chính phủ sử dụng cách tiếp cận một, hai, ba để phát triển ở Đông Á thường, và một cách không thành thật, giả vờ rằng phát triển kinh tế là yếu tố duy nhất định hình tiến bộ xã hội. Luận điểm này gắn chặt với những biện luận về giá trị “châu Á” cho rằng những người “châu Á” (họ là ai?) không có cùng nhu cầu với những người dân ở các quốc gia giàu có. Thật nhảm nhí! Phát triển kinh tế chỉ là một phần của phát triển xã hội. Những phần khác, liên quan đến tự do và quyền cá nhân, cũng quan trọng không kém. Ở Trung Quốc ngày nay, chính phủ lại đang tuyên bố về một chủ nghĩa chủng tộc dị thường để biện hộ cho sự tụt hậu thể chế một cách có chủ tâm. Trung Quốc đã bác bỏ sự hình thành của hệ thống pháp luật độc lập và một chính phủ cởi mở và mang tính đại diện hơn rất lâu sau, cho đến khi những thứ này được đảm bảo. Đây không phải là điều người Trung Quốc muốn. Việc bạn mua được một chiếc ô tô nhỏ hay một chiếc xe máy cũng sẽ chẳng quan trọng, nếu người bạn hay người họ hàng của bạn biến mất vào một trong những “nhà tù đen” ngoài pháp luật. Một nhà bếp mới cũng chẳng thể nào mang lại cảm giác thoải mái nếu thức ăn bị nhiễm độc vì thiếu kiểm soát môi trường, hay bởi được làm từ những nguyên liệu giá rẻ nhưng độc hại được các quan chức ngấm ngầm cho phép. Những quốc gia mới nổi có thể tự mình xây dựng một cuộc tranh luận trung thực hơn về phát triển kinh tế, bằng cách thiết lập và đáp ứng được những quy chuẩn chung cho các cấu phần khác của phát triển kinh tế. Trong trường hợp của Trung Quốc, chính thái độ không sẵn sàng tích cực thảo luận về tiến bộ chính trị và xã hội của đất nước này đã khiến các quốc gia giàu có và tự do cảm thấy quá sợ hãi, đến nỗi việc thảo luận hợp lý về các yêu cầu phát triển kinh tế là không còn khả thi.

Liệu chúng ta có được chứng kiến một sự chuyển đổi kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Trung Quốc một lần nữa không? Đáp án nhiều khả năng là không, vì một lý do đơn giản. Nếu không có cải cách đất đai hiệu quả, rất khó tồn tại con số tăng trưởng bền vững 7 – 10% một năm mà không phải trải qua những cuộc khủng hoảng nợ chế người ở những nước nghèo. Và một cuộc cải cách đất đai cấp tiến, kết hợp với những hỗ trợ nông nghiệp và tiếp thị cho công dân, không nằm trong chương trình nghị sự chính trị. Kể từ những năm 1980, Ngân hàng Thế giới, thay vào đó, đã thúc đẩy tài chính vi mô, khuyến khích những người nghèo nông thôn xây dựng những quầy hàng trên đường phố bán các sản phẩm cho nhau, cái mà họ hầu như không có tiền để trả. Đây là chính sách phát triển kiểu băng dính kinh điển. Tổ chức phi chính phủ dẫn đầu trong việc thúc đẩy cải cách đất đai, Landesa của Hoa Kỳ, ngay nay đã quá bi quan về những viễn cảnh tương lai của các cải cách cấp tiến ở những quốc gia nghèo trên thế giới, đến nỗi nó tập trung vào những nỗ lực vận động hành lang để chia đất đai thành những miếng nhỏ chỉ vài mét vuông. Những mảnh đất này hỗ trợ bữa ăn và thu nhập cho nông dân trong các khu vực nông nghiệp chưa được cải cách. Tuy nhiên, câu chuyện thần kỳ về kinh tế không đến từ những can thiệp kinh tế vi mô.

Đông Nam Á (cũng giống Ấn Độ) là một khu vực mà cải cách đất đai nghiêm túc không nằm trong chương trình nghị sự chính trị, thậm chí dù chương trình cải cách Philippines đang diễn ra. Trong bối cảnh này, liệu Philippines, Indonesia, Malaysia và Thái Lan có thể làm bất cứ điều gì khác để cải thiện kết quả kinh tế của chúng không? Dễ thấy nhất là chúng có thể biến ASEAN thành một công cụ chính sách công nghiệp hiệu quả. Chẳng có lý do gì mà bốn nền kinh tế lớn cảu ASEAN (và thực tế có cả Việt Nam) không thể vận hành một chính sách công nghiệp sản xuất non trẻ hiệu quả trong một thị trường có 500 triệu người. Nhưng có vẻ như điều đó đang không xảy ra. Thay vì dựng các rào cản và thúc đẩy xuất khẩu để nuôi dưỡng doanh nghiệp sản xuất địa phương, ASEAN lại ký kết các thỏa thuận thương mại tự do với những quốc gia phát triển hơn về công nghiệp bao gồm Trung Quốc. Có rất ít sự cố kết, hay những buổi đối thoại quan trọng, giữa các lãnh đạo chính trị Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Và tầm ảnh hưởng đáng kể của trung tâm tài chính hải ngoại Singapore ở ASEAN là cực kỳ vô ích về mặt phát triển. Tình huống này chẳng khác gì Thụy Sĩ hay Monaco được trao một ghế trong hội đồng hoạch định chính sách công nghiệp hậu chiến châu Âu vào những năm 1950. Đông Nam Á là kim chỉ nam cho những gì không nên làm nếu bạn muốn chuyển đổi kinh tế thành công. Chấp thuận chế độ điền chủ và nông nghiệp quy mô lớn bất chấp sự tồn tại của rất nhiều nông dân thất nghiệp trong khi những người này thực sự có thể trồng trọt nhiều hơn. Không cần quá lo lắng về việc sản xuất hướng đến xuất khẩu vì hoạt động này có thể được các công ty đa quốc gia vui vẻ đảm nhận. Hãy để các doanh nghiệp tự lo thân mình. Và hãy nhanh chóng bãi bỏ quy định ngân hàng, thị trường chứng khoán và các dòng vốn quốc tế, những “biểu tượng thực” của một quốc gia hiện đại. Đó là cách những chính trị gia dẫn các quốc gia Đông Nam Á đến thất bại.

Thế giới của những quốc gia giàu có sẽ không cứu rỗi những quốc gia nghèo khỏi các chính trị gia xấu xa. Nhưng những người như Mahathir và Suharto cũng không quá khủng khiếp. Sai lầm lớn nhất là các quốc gia giàu có, và những định chế kinh tế mà chúng tạo ra như Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, mang đến những lời khuyên phát triển tệ hại không dựa trên dữ liệu lịch sử cho các nước nghèo. Xin nhắc lại một lần nữa là: Không có một nền kinh tế lớn nào có thể phát triển dựa trên các chính sách thương mại tự do và bãi bỏ quy định từ khi mới khởi đầu. Luôn cần những can thiệp chủ động – hiệu quả nhất là ở khu vực nông nghiệp và sản xuất – để nuôi dưỡng quá trình tích lũy vốn và học tập công nghệ. Việc không sẵn sàng nhìn thẳng vào lịch sử khiến chúng có rất nhiều quốc gia nghèo khổ; và, tương tự như những người bị đàn áp ở các quốc gia Đông Nam Á, cái nghèo nông thôn sinh ra các nhóm khủng bố có thể trực tiếp đe dọa cư dân của những nước giàu. Sẽ không dễ để triển khai các chính sách được thảo luận ở đây, đặc biệt là cải cách ruộng đất. Tuy nhiên, tôi xin lặp lại kết luận của những người khác sau Thế chiến Thứ hai: Từ bỏ những chính sách đó có nghĩa là chúng ta có thể chấp nhận được thực trạng hiện tại của thế giới. Hãy nhìn Nam Á, Trung Đông, châu Phi, và hỏi bản thân mình liệu chúng ta có chấp nhận thực trạng này không.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Joe Studwell – Châu Á vận hành như thế nào? – NXB ĐHKTQD 2017.

Châu Á và các chính sách tiền tệ khác thường thời COVID-19


Do đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 mà các nhà hoạch định chính sách của khu vực châu Á đang có những bước đi vốn trước đó chưa từng được tính đến. Ngân hàng trung ương có thể sẽ có các biện pháp khác xưa.

Cuộc chiến trên mặt trận kinh tế đối với COVID-19 đã đẩy châu Á vào tuyến đầu của sự ứng phó chính sách toàn cầu. Chính sách tiền tệ ở châu Á đã rơi vào tình trạng không chắc chắn mới, vốn thậm chí chưa từng được biết đến trong thời kỳ diễn ra cuộc Đại suy thoái và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á trong những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước. Các biện pháp mà ngân hàng trung ương ở châu Á triển khai là chưa từng có tiền lệ và tác động của các quyết sách mà các thống đốc ngân hàng trung ương đưa ra chưa từng khi nào mang tính chất vĩ mô hơn lúc này. Sự thay đổi này thể hiện theo hai cách thức.

Điều dễ nhận ra trước tiên, giới chức quản lý tiền tệ châu Á đã đưa ra hàng loạt tuyên bố. Chi phí cho vay đã được giảm ở mức thấp nhất. Nếu như ý tưởng về việc các Ngân hàng Trung ương châu Á – trừ Nhật Bản – cần tiến hành chính sách nới lỏng định lượng chỉ mới gần đây được coi là chuyện nực cười thì giờ lại đang xảy ra. Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách đã gạt lo lắng về sự tăng giá cả hàng hóa sang một bên. Vì khi nguồn cầu đổ vỡ ở châu Á cũng giống như hiện tượng xảy ra ở phương Tây thì sẽ không có hiện tượng lạm phát. Việc thể hiện vai trò tăng cường của châu Á trong vấn đề tiền tệ ở đây có phần tinh tế hơn song không kém phần sâu sắc.

Ở khu vực châu Á, không có một quốc gia nào điển hình cho sự sụp đổ kinh tế thế giới như Australia. Khi đại dịch bùng phát, Ngân hàng Dự trữ Australia (Ngân hàng Trung ương) hôm 19/3 đã cắt giảm lãi suất xuống 0% và triển khai chương trình nới lỏng định lượng nhằm duy trì lợi tức trái phiếu thời giạn 3 năm ở mức 0,25%, một biện pháp tương tự như Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện. Dịch bệnh này có thể là “nấm mồ” chôn vùi sự phát triển của Australia, điều khiến nước này có thể thực hiện chính sách tiền tệ thông thường.

Nếu như quốc gia châu Á nào đó thực hiện chính sách tiền tệ ở mức độ khác hẳn so với quá khứ thì phải kể đến Indonesia, Philippines và Hàn Quốc. Vốn có thành tích không mấy vui vẻ gì khi đối phó với các cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế trước đây, Indonesia lần này quyết không phạm phải sai lầm cũ. Mặc dù Ngân hàng Trung ương Indonesia chưa cắt giảm lãi suất xuống 0% từ mức chuẩn 4,5% hiện nay song ngân hàng này đã được phép mua nợ chính phủ từ thị trường sơ cấp. Ngân hàng Trung ương Philippines thì đang mua nợ chính phủ ở thị trường thứ cấp. Các chính sách này nhằm giúp chính phủ hai nước có thêm sức mạnh tài chính để đối phó với dịch bệnh và làm tăng giá trị đồng nội tệ. Hiện cả Indonesia và Philippines đều bị thâm hụt tài khoản vãng lai, khiến họ có nguy cơ đánh mất sự hấp dẫn đối với giới đầu tư nước ngoài. Còn tại Hàn Quốc – nền kinh tế công nghiệp hiện đại hàng đầu thế giới – giới chức nước này đã tiến hành mua trái phiếu chính phủ ngay cả trước khi cắt giảm lãi suất cơ bản về 0%.

Trong tài liệu đánh giá về chính sách của châu Á, giới chuyên gia kinh tế Deutsche Bank AG nhận xét: “Không có gì ngạc nhiên khi chứng kiến chính phủ một số nền kinh tế đang nổi phải tìm cách làm theo cách giải cứu mà Mỹ, châu Âu và Nhật Bản phải thực hiện khi để ngân hàng trung ương phải chấn nhận thực hiện ch1inhs ách này trước khi họ tận dụng triệt để các chính sách truyền thống”.

Về phần mình, Trung Quốc đã tránh thiết lập một vòng quay tiền tệ mới để đối phó với cuộc khủng hoảng y tế. Thay vào đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã không ngừng điều chỉnh lãi suất xuống mức thấp dần, song lo ngại có thể gây ra tình trạng tích lũy nợ vốn từng là hệ quả của các nỗ lực kích thích kinh tế hồi năm 2008. Bắc Kinh cũng đã cắt giảm các yêu cầu dự trữ đối với các ngân hàng và thông qua hệ thống ngân hàng để tăng cấp vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính sách tài hóa cũng đã được nới lỏng dù không đáng kể như ở Mỹ và Nhật Bản.

Tương lai của châu Á là gì? Các biện pháp tiền tệ khác thường nói trên khó có thể sớm bị gỡ bỏ. Mộ tkhi các chính phủ và những người nắm giữ trái phiếu đã trở nên quen với các chính sách này thì khó có thể bỏ đi được. Các nhà hoạch định chính sách ở Indonesia và Philippines có thể gây ra hiện tượng “taper tantrums” nếu họ thử làm vậy. (Taper tantrums – chỉ sự tụt dốc mạnh của thị trường chứng khoán và giá trị đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi khi nhà đầu tư quốc tế rút vốn khỏi đó hồi năm 2013). Chí ít, một số trợ cấp và công cụ nhà nước được huy động để đối phó với tác động của dịch bệnh sẽ vẫn được duy trì. Điều này đồng nghĩa với việc ngân sách nhà nước cần phải được cấp vốn. Giờ đây khi Australia đã thực hiện chính sách nới lỏng định lượng thì nước này sẽ rút khỏi chính sách này bằng cách nào? Tương tự, Nhật Bản đã khi nào rút bỏ chính sách định lượng hay chưa? E rằng điều này khó có thể xảy ra.

Nguồn: www.bloomberg.com

TKNB – 22/04/2020

Xoay trục về Việt Nam: Định hướng lại chuỗi cung ứng của Mỹ


Michael Ryan

Mỹ và Trung Quốc mới đây đạt được thỏa thuận thương mại Giai đoạn 1. Dù vậy, những tác động mang tính cơ cấu của cuộc chiến thương mại sẽ thúc đẩy việc xem xét lại các chiến lược sản xuất thương mại và tiếp cận thị trường trong nhiều năm tới.

Những căng thẳng kinh tế và sự bùng phát nhanh chóng của virus corona cho thấy sự mong manh của việc quá phụ thuộc vào bất kỳ nguồn nào, củng cố nhu cầu phát triển một chuỗi cung ứng đa dạng để bảo đảm hiệu quả hoạt động và khả năng chống chọi với mọi tình huống có thể xảy ra. Kể từ khi Mỹ áp thuế quan Mục 301 đối với Trung Quốc vào tháng 7/2018, đã có sự chuyển dịch nguồn cung đáng chú ý tới khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.

Dữ liệu thương mại cả năm mới được công bố từ Cục Thống kê Mỹ cho thấy nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam tăng 35,6% trong năm 2019, trong khi hàng hóa nhập từ Trung Quốc giảm 16,2%. Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào Mỹ khi Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu hàng đầu – chiếm tới 23,2% xuất khẩu hàng hóa trong năm 2019, so với mức 19,5% vào năm 2018.

Các nhà hoạch định chính sách công của Mỹ cần có cách tiếp cận tích cực hơn trong việc định hình mối quan hệ Việt – Mỹ nhằm thúc đẩy đa dạng hóa chuỗi cung ứng tiếp cận các thị trường đầy hứa hẹn, và tăng cường sự ổn định trong một khu vực địa chiến lược quan trọng.

Quan điểm chung cho rằng Việt Nam là một trung tâm sản xuất kỹ năng thấp đã che lấp bước nhảy vọt của Việt Nam trong chuỗi giá trị trong thập kỷ qua: máy tính và thiết bị điện thoại hiện chiếm tỷ lệ đáng kể trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Điều này phần lớn nhờ vào khoản đầu tư trị giá hơn 17 tỷ USD của Samsung Electronics vào 8 nhà máy và một trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D) kể từ năm 2008, chiếm gần1/4 tổng hàng xuất khẩu của Việt Nam và khoảng 1/3 tổng sản lượng toàn cầu của công ty. Với dân số trẻ gần 100 triệu người và không ngừng tăng, Việt Nam tạo ra nhiều cơ hội lớn cho các doanh nghiệp định hướng dịch vụ và tiêu dùng. GDP danh nghĩa bình quân đầu người tính theo sức mua ở Việt Nam hiện vào khoảng 7.720 USD, thấp hơn 2 lần rưỡi so với Trung Quốc đại lục, và gần ngang với mức năm 2006 của Trung Quốc.

Mặc dù có điểm xuất phát thấp, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập tuyệt đối của Việt Nam nằm trong nhóm cao nhất trên thế giới.

Làm sâu sắc hơn quan hệ với Việt Nam cũng sẽ là bệ đỡ chiến lược có giá trị trong việc đẩy mạnh cấu trúc liên minh của Mỹ với ASEAN, một khối có 10 quốc gia thành viên với 650 triệu người, đang trên đường trở thành một trong những khu vực thương mại ưu việt của thế giới.

Từ góc độ chính sách thương mại, Mỹ nên tìm cách thúc đẩy mối quan hệ hợp tác 25 năm với Việt Nam như một đối tác chiến lược có giá trị. Hiện  mối quan hệ ngoại giao và an ninh song phương được cho là phát triển hơn so với lĩnh vực thương mại, khi hai nước có cùng mối quan tâm và hợp tác chung trong việc bảo vệ các quyền hàng hải ở Biển Đông và thúc đẩy hòa bình trên bán đảo Triều Tiên.

Trong khi chính quyền Trump mong muốn đưa các ngành sản xuất quay trở lại Mỹ hoặc khu vực thương mại Hiệp định Mỹ – Mexico – Canada (USMCA) rộng hơn và điều này đang diễn ra trong một số lĩnh vực nhất định, có một thực tế là nhiều ngành công nghiệp đòi hỏi lực lượng lao động lớn, giá rẻ và linh hoạt để có thể cạnh tranh quốc tế và hạn chế lạm phát tiêu dùng trong nước. Trong bối cảnh này, Việt Nam và các quốc gia khác ở Đông Nam Á cần được coi là đồng minh có giá trị và là một chỗ dựa chiến lược thực tế.

Sự tăng trưởng gần đây trong thương mại Việt – Mỹ cũng cho thấy các khuôn khổ song phương hiện nay đã trở nên lỗi thời, cụ thể là Hiệp định thương mại song phương (BTA) được ký từ tháng 12/2001 và Hiệp định khung thương mại và đầu tư (TIFA) được ký vào tháng 6/2007. Việc cập nhật các hiệp định này sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho cả hai bên.

Trong khi một hiệp định thương mại tự do (FTA) là điều không thể đạt được trong bối cảnh chính trị của năm bầu cử, vẫn còn cơ hội cho một khuôn khổ thương mại sửa đổi giúp giải quyết các tranh chấp đang diễn ra, đồng thời cho phép các công ty Mỹ thu hẹp thâm hụt thương mại song phương thông qua việc tăng xuất khẩu sang Việt Nam các sản phẩm nông nghiệp, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), và các dịch vụ khách sạn, ngân hàng, hậu cần, giáo dục và công nghệ thông tin.

Mỹ là nền kinh tế lớn duy nhất mà Việt Nam chưa có Hiệp định FTA. Một thỏa thuận chính thức sẽ là một thành công đối với Việt Nam. Mặc dù đã xuất hiện nhiều yếu tố cho việc đạt được thỏa thuận, hai thị trường vẫn chưa có sự kết nối kể từ khi Mỹ rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Theo quan điểm của Mỹ, các rào cản lớn trên con đường đi tới sự đồng thuận tập trung vào các vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và nhà đầu tư, yêu cầu nội địa hóa dữ liệu, quyền của người lao động, tiêu chuẩn y tế đối với thực phẩm và nông nghiệp, các rào cản đối với các dịch vụ tài chính, hạn chế sử dụng các hàng rào phi thuế quan, và các cơ chế thực thi.

Đối với Việt Nam, việc Mỹ công nhận nền kinh tế nước này là nền kinh tế thị trường sẽ mang lại lợi ích kinh tế cũng như uy tín quốc gia, có thêm một số biện pháp bảo vệ trong các trường hợp liên quan đến thuế chống bán phá giá và thuế phòng vệ. Một khi các rào cản được giảm bớt, hàng hóa sẽ trở nên cạnh tranh hơn và cải thiện việc làm cho một dân số đang phát triển.

Tuy nhiên, những cơ hội cho cả hai bên không tự nhiên xuất hiện. Các nhà hoạch định chính sách công của Mỹ cần hành động khẩn trương hơn để đảm bảo tốt hơn an ninh chuỗi cung ứng, tạo thuận lợi mở cửa thương mại và thúc đẩy lợi ích quốc gia ở Đông Nam Á. Một sự khởi đầu muộn vẫn có thể đem lại kết quả to lớn.

Nguồn: Industry Week – 11/02/2020

TKNB – 14/02/2020.