Việt Nam trước rủi ro về “cú sốc kinh tế” sau khi FED tăng mạnh lãi suất?


Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) ngày 15/6 công bố tăng lãi suát thêm 0,75%, mức tăng cao nhất trong gần 30 năm qua để kiềm chế lạm phát. Đài BBC dẫn ý kiến chuyên gia kinh tế cho rằng lạm phát đã trở thành một vấn đề cấp bách tại Mỹ, tác động tới bức tranh chính trị, khi tâm lý của không ít người dân kém đi vì giá xăng và thực phẩm gia tăng. Nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, đây sẽ là một cú sốc lớn đối với kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Lo ngại lạm phát ở Mỹ

Tỷ lệ lạm phát ở Mỹ trong tháng 5 vừa qua là 8,6%, cao nhất trong khoảng bốn thập niên trở lại đây. Chủ tịch FED, ông Jerome Powell cho rằng “điều cần thiết là giảm tỷ lệ lạm phát”. Ông cũng thừa nhận mức tăng 0,75% là “cao bất thường”. Dự kiến, có thể có những đợt tăng tiếp theo trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang phải đối mặt với nhiều bất ổn.

Các dự báo được công bố sau cuộc họp của FED ngày 15/6 cho thấy lãi suất cho vay tại Mỹ có thể tăng lên mức 3,4% vào cuối năm nay. Khi lãi suất cho vay cao hơn sẽ khiến đồng USD đắt giá hơn. Tính từ đầu năm đến nay, giá USD đã tăng 10% khiến các quốc gia khác, đặc biệt là các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, hiện đang gánh nhiều khoản nợ tính bằng USD, chịu nhiều áp lực.

Bất lợi cho Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế và tài chính ngân hàng cho rằng có sự lo ngại về khả năng trong những năm tới, nền kinh tế Mỹ sẽ rơi vào trạng thái vừa lạm phát, vừa phát triển chậm lại.

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, nhiều người đang rất lo sợ việc tăng lãi suất này sẽ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ, thậm chí có thể khiến nền kinh tế Mỹ suy thoái. Đây sẽ là cú sốc không những cho Mỹ mà toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Giá trị đồng USD tăng khiến tỷ giá hối đoái giữa USD và VND cũng tăng, giá trị VND giảm. Về mặt xuất khẩu thì có lợi cho Việt Nam nhưng sẽ rất bất lợi cho nhập khẩu.

Đặc biệt, cách đây vài ngày, Bộ Tài chính Mỹ cũng đưa Việt Nam vào danh sách giám sát tiền tệ, dù chưa phải là quốc gia thao túng tiền tệ. Việt Nam phải cẩn trọng vì trong thời gian, khi tỷ giá USD-VND tăng thì Mỹ có thể dựa vào đó để tăng cường theo dõi tiền tệ. Và nếu bị rơi vào danh sách các quốc gia thao túng tiền tệ, điều này sẽ rất bất lợi cho Việt Nam vì Mỹ có thể có các biện pháp trừng phạt kinh tế sau đó”.

Khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái tại thời điểm này ít nhất là 60% – một tỷ lệ rất cao. Nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái và lạm phát cao, Việt Nam sẽ bị tác động rất mạnh. Vì Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, do đó, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ giảm. Lạm phát tại Mỹ tăng khiến giá cả hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ sẽ tăng lên, giá cả trong nước cũng sẽ tăng, dẫn đến lạm phát tăng, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm.

Việc FED tăng lãi suất rất mạnh tay có thể nói là gây bất lợi nhiều hơn là có lợi cho Việt Nam. Chính phủ và các nhà kinh tế tại Việt Nam phải có những biện pháp chống đỡ nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái”.

Dự kiến, các nước ở châu Âu sẽ tăng lãi suất sau Mỹ, đồng thời áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, và khi đó, Việt Nam sẽ đối mặt thêm nhiều khó khăn. Trước mắt, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ bị tác động. Đây là dấu hiệu khủng hoảng trước mắt, một kịch bản xấu cho Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh: “Ngay từ bây giờ, Việt Nam nên có kế hoạch đối phó. Thị trường chứng khoán ở Việt Nam trước mắt có thể bị tác động như việc trái phiếu Mỹ tăng giá trị sẽ khiến nhà đầu tư nước ngoài rút tièn khỏi thị trường Việt Nam và đầu tư vào Mỹ”.

Nguồn: TKNB – 20/06/2022

Giới thiệu “Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu” của George Soros – Phần đầu


Mục đích trước sau của tôi khi viết cuốn sách này là làm rõ cái triết lý đã chỉ đạo tôi suốt đời. Tôi đã được người ta biết đến với tư cách một người quản lý tiền tệ thành công, và sau đó với tư cách một nhà từ thiện. Đôi khi tôi cam thấy giống như một con đường tiêu hóa khổng lồ: thu nhận tiền vào ở một đầu và đẩy nó ra ở đầu khác, nhưng thực ra một lượng suy tư to lớn đã gắn hai đầu với nhau. Một khung khái niệm mà tôi đã hình thành những ngày tôi là sinh viên, rất lâu trước khi tôi bắt đầu tham gia vào các thị trường tài chính, đã chỉ đạo cả việc kiếm tiền của tôi và các hoạt động từ thiện của tôi.

Tôi bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Karl Popper (1902 – 1994), nhà triết học khoa học, người viết cuốn sách “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” để tìm hiểu các chế độ tôi trực tiếp trải nghiệm khi còn là một người vị thành niên ở Hungary. Các chế độ này có một nét chung: Họ tuyên cáo nắm được chân lý cuối cùng và áp đặt quan điểm của họ cho cả thế giới bằng cách dùng sức mạnh. Popper đã đề xướng một hình thái khác của tổ chức xã hội, một hình thái thừa nhận rằng không một ai tới được chân lý cuối cùng. Sự hiểu biết của chúng ta về thế giới nơi chúng ta sống vốn không hoàn hảo, và một xã hội hoàn hảo là không thể đạt được. Chúng ta phải tự bằng lòng với hàng tối ưu thứ hai: một xã hội không hoàn hảo nhưng có khả năng cải thiện không cùng. Ông gọi đó là xã hội mở, và các chế độ cực quyền là những kẻ thù của nó.

Tôi đã hấp thụ những ý tưởng của Popper về suy tư phê phán và phương pháp khoa học. Tôi làm việc đó có phê phán và tôi đã đi đến chỗ khác với ông ở một điểm quan trọng. Popper tuyên bố rằng cả khoa học tự nhiên lẫn các khoa học xã hội đều áp dụng cùng một số phương pháp và tiêu chuẩn. Tôi nhận thấy một sự khác biệt quan trọng: Trong các khoa học xã hội, suy nghĩ tạo thành một bộ phận của đối tượng nghiên cứu, trong khi các khoa học tự nhiên đề cập đến những hiện tượng xảy ra độc lập với những điều mà bất kỳ ai suy nghĩ. Điều này khiến cho các hiện tượng tự nhiên, chứ không phải các hiện tượng xã hội dễ hợp với mô hình và phương pháp khoa học của Popper.

Tôi đã phát triển khái niệm “tính phản xạ” (reflecxivity, cũng có thể gọi là “phản hồi”): một cơ chế liên hệ ngược hai chiều giữa tư duy và hiện thực. Thời ấy tôi đang nghiên cứu kinh tế học, và “tính phản xạ” không hợp với lý thuyết kinh tế học vốn đang hoạt động với một khái niệm vay mượn từ vật lý học Newton, cụ thể là khái niệm cân bằng (equilibrium).

Khái niệm “tính phản xạ” đã trở nên rất bổ ích đối với tôi khi tôi bắt đầu bước vào quản lý tiền tệ. Năm 1979, khi tôi đã kiếm nhiều tiền hơn là tôi đã chi dùng, tôi lập một quỹ gọi là Quỹ Xã hội Mở (Open Society Fund). Tôi xác định mục tiêu của nó là giúp các xã hội đóng được mở ra, giúp các xã hội mở trở nên thành công hơn, và khuyến khích một phương thức tư duy mang tinh thần phê phán. Thông qua quỹ này, tôi đã trở nên liên quan sâu sắc đến sự tan rã của hệ thống Xô Viết.

Phần nào do kết quả của kinh nghiệm đó và phần nào trên cơ sở kinh nghiệm của tôi về hệ thống tư bản chủ nghĩa, tôi đã đi đến kết luận rằng cái khung khái niệm mà bấy lâu tôi dùng để làm việc đã không còn giá trị nữa. Tôi đã nỗ lực để xây dựng lại khái niệm xã hội mở. Trong cách trình bày của Popper, nó tương phản với các xã hội đóng dựa trên cơ sở các hệ thống tư tưởng cực quyền, nhưng kinh nghiệm mới đây đã dạy tôi rằng nó cũng còn có thể bị đe dọa từ một hướng đối lập: từ sự không cố kết xã hội và không có sự quản lý điều hành.

Tôi đã bày tỏ quan điểm của mình ở một bài báo nhan đề “Mối đe dọa tư bản chủ nghĩa” công bố trên tờ “Nguyệt san Đại Tây Dương” (The Atlantic Monthly) số ra tháng 2/1997. Cuốn sách này tôi bắt đầu viết một thời gian ngắn sau đó, với dự định sẽ có một sự phát triển kỹ lưỡng hơn các ý tưởng đó. Ở các cuốn sách trước của tôi, tôi đã đẩy khung khái niệm của tôi vào một phần phụ lục hay giấu kín nó trong những hồi ức riêng tư. Bây giờ tôi luôn thấy rằng nó đáng được phát biểu trực tiếp. Tôi luôn quan tâm sâu sắc về tình cảm đến việc tìm hiểu thế giới nơi tôi đang sống. Dù đúng hay sai, tôi thấy tôi đã có một số tiến bộ, và tôi muốn chia sẻ nó.

Tuy nhiên kế hoạch ban đầu cho cuốn sách này bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu ở Thái Lan tháng 7/1997. Khi ấy tôi đang khảo sát những khiếm khuyết của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu, nhưng tôi đang làm việc đó theo kiểu một hành động thư nhàn. Tôi hoàn toàn có ý thức về cuộc khủng hoảng châu Á – thực tế công ty quản lý ngân quỹ của tôi đã dự đoán nó 6 tháng trước khi nó xảy ra – nhưng tôi không hề có ý niệm rằng nó hóa ra sẽ có ảnh hưởng sâu rộng tới mức nào. Lúc đó tôi đang lý giải vì sao hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu không lành mạnh và không có khả năng duy trì lâu, nhưng cho đến cuộc suy tàn của nền kinh tế Nga tháng 8/1998, tôi đã không nhận ra rằng thực tế nó đang tan rã. Bỗng nhiên cuốn sách của tôi có một ý nghĩa khẩn cấp mới. Ở đây tôi đã có một khung khái niệm sẵn có để từ đó có thể hiểu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang tiến hóa mau chóng. Tôi đã quyết định phải vắt chân lên cổ để in sách. Quan điểm của tôi về tình hình hiện nay được đúc kết trong lời giải trình tôi đưa ra trước Quốc hội ngày 15/9/1998, trong đó phần nào tôi nói như sau:

Hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu vốn chịu đáp ứng được sự thịnh vượng nổi bật của đất nước này thập kỷ vừa qua đang đứt rời ở những chỗ nối. Sự suy giảm hiện nay trên thị trường chứng khoán Mỹ chỉ là một triệu chứng, và một triệu chứng quá muộn, của những vấn đề sâu sắc hơn đang tác động nền kinh tế thế giới. Một số thị trường chứng khoán châu Á suy sụp một cách tồi tệ hơn là cuộc suy giảm phố Wall năm 1929, và thêm vào đó, các đồng tiền của họ cũng tụt xuống tới cái phần nhỏ so với giá trị của chúng khi chúng bắt đầu gắn với đồng USD. Cuộc sụp đổ tài chính châu Á đi liền theo bởi một cuộc sụp đổ về kinh tế. Ví dụ ở Indonesia, hầu hết những thành tựu trong mức sống tích lũy suốt hơn 30 năm của chế độ Suharto đã tan biến. Các tòa nhà hiện đại, công xưởng và hạ tầng cơ sở vẫn còn đó, nhưng cũng còn đó một cư dân đã bị đứt rễ với nguồn gốc nông thôn của mình. Hiện nay nước Nga đã và đang trải qua một cuộc suy tàn toàn bộ về tài chính. Đó là một cảnh tượng hãi hùng và nó sẽ có những hậu quả chính trị và con người khôn lường. Tác hại của nó bây giờ cũng lan sang cả châu Mỹ Latinh.

Sẽ thật đáng tiếc nếu chúng vẫn tự bằng lòng chỉ vì hầu hết rắc rối xảy ra bên ngoài biên giới chúng ta. Tất cả chúng ta đều là bộ phận của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu vốn mang đặc điểm không chỉ là tự do thương mại mà đặc biệt hơn còn là tự do vận động của vốn. Hệ thống rất thuận lợi cho tư bản tài chính, một thứ tư bản tự do lọc lựa nơi để vận động, và nó đã dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của các thị trường tài chính toàn cầu. Nó có thể được hình dung như một hệ thống lưu thông khổng lồ, hút vốn vào các thị trường và thể chế tài chính ở trung tâm và rồi bơm nó ra vùng ngoại vi hoặc trực tiếp dưới hình thức tín dụng và đầu tư theo danh mục, hoặc gián tiếp thông qua các công ty đa quốc gia.

Cho đến cuộc khủng hoảng của Thái Lan tháng 7/1997, trung tâm vừa hút tiền vào vừa bơm ra một cách mạnh mẽ, các thị trường tài chính đang lớn lên về quy mô và tầm quan trọng, và các nước ở ngoại vi có thể nhận được sự cung cấp thừa mứa vốn bằng cách mở rộng các thị trường vốn của họ. Đã có một sự phát đạt toàn cầu trong đó các thị trường đang nổi lên đã thành công xuất sắc. Ở một thời điểm trong năm 1994 hơn một nửa tổng lưu lượng vào các quỹ tương hỗ của Mỹ đã chảy vào các quỹ thị trường đang nổi lên.

Cuộc khủng hoảng châu Á đã đảo ngược hướng dòng chảy. Vốn đã bắt đầu tháo chạy khỏi vùng ngoại vi. Thoạt đầu sự đổi hướng mang lại lợi ích cho các thị trường tài chính ở trung tâm. Nền kinh tế Mỹ đang ở đúng gần điểm quá nóng và Cục Dự trữ Liên bang đang dự định nâng tỷ lệ chiết khấu. Cuộc khủng hoảng châu Á đã khiến bước đi như vậy đã không cần thiết nữa, và thị trường chứng khoán lấy được sức mạnh. Nền kinh tế được hưởng những gì tốt đẹp nhất trong số tất cả mọi quy chuẩn vật chất có thể có, với nhập khẩu rẻ để giữ sức ép lạm phát nội địa trong tầm kiểm soát, và thị trường chứng khoán đạt những điểm cao mới. Sự hồi phục ở trung tâm dấy lên những niềm hy vọng rằng vùng ngoại vi cũng có thể phục hồi, và từ tháng Hai đến tháng Tư năm nay hầu hết các thị trường châu Á phục hồi khoảng một nửa những mất mát trước đây tính theo các đồng tiền địa phương. Đó là một cuộc phục hồi “thị trường giảm giá” cổ điển.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Việt Nam – mối lo đối với Trung Quốc về thị phần sản xuất?


Theo trang PingWest  của Trung Quốc ngày 30/5, VIệt Nam gần đây đã “gây sốc” với con số đáng kinh ngạc: Trong tháng 3/2022, xuất khẩu của Việt Nam đạt 34,7 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2021, trong khi xuất khẩu của Thâm Quyến (thành phố xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc) chỉ đạt 18,9 tỷ USD, giảm 14%. Sự tăng trưởng “bùng nổ” của Việt Nam khiến những người chứng kiến quá trình cải cách và mở cửa của Trung Quốc phải bất ngờ. Liệu vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu có phải mối lo đối với Trung Quốc?

Các sản phẩm “Made in China” phổ biến trên thị trường toàn cầu đếu mức Trung Quốc được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”. Tuy nhiên, những gì xảy ra do tác động của đại dịch COVID-19 càng khiến nhiều quốc gia nhận ra mối nguy từ việc phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.

Ví dụ, không chỉ đối với thiết bị y tế và dược phẩm, mà đối với ngành công nghiệp ô tô, Pháp cũng như Mỹ đã phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Cải cách chuỗi cung ứng là một chủ đề “nóng” ở Nhật Bản. Trong bài phát biểu tại Đại học Việt – Nhật, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga cho biết “Nhật Bản sẽ hợp tác hơn nữa với ASEAN để tăng khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng và hỗ trợ các nền kinh tế ở châu Á chống chọi với khủng hoảng”.

Các tập đoàn lớn đang muốn mở rộng sản xuất ra bên ngoài Trung Quốc. Mới đây, tờ Wall Street Journal đưa tin các nhà thầu Trung Quốc sản xuất cho hãng Apple đang tìm đến Việt Nam, vốn là trung tâm sản xuất điện thoại thông minh cho tập đoàn Samsung.

Các yếu tố chủ yếu khác chi phối xu thế đa dạng hóa chuỗi cung ứng là việc Trung Quốc siết chặt phong tỏa chống COVID-19 thời gian gần đây và xung đột leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc cả về thương mại, công nghệ và địa chính trị. Rajiv Biswas, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại IHS Markit, tin rằng VIệt Nam đang nổi lên như một trong những trung tâm sản xuất mới của thế giới khi quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng tiến triển nhanh chóng.

Tuy nhiên, dù Việt Nam có nhiều khả năng trở thành một phần bổ sung cho chuỗi cung ứng của Trung Quốc hơn là một đối thủ cạnh tranh, nhưng Trung Quốc phải tăng cường chuẩn bị cho một tương lai cạnh tranh hơn.

Các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam cũng đang nỗ lực biến Việt Nam trở thành lựa chọn đầu tư an toàn, hấp dẫn và tiềm năng cao cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong quý I/2022, cả nước nhận được 4,42 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng 7,8% so với quý trước.

Những thành tựu này là “bàn đạp” để Việt Nam hướng tới cạnh tranh với các nước trong khu vực về các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao. Chính phủ đã thực hiện một số kế hoạch, gồm chiến lược giáo dục và đào tạo nghề 2021 – 2030 và Quyết định 17 về hỗ trợ đào tạo nghề, nhằm đào tạo thêm lao động có tay nghề và nhân tài công nghệ thông tin cho các ngành công nghiệp cao cấp hơn.

Trong chuyến thăm Mỹ mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã gặp gỡ các công ty công nghệ “nặng ký” ở Thung lũng Silicon như Apple và Intel, cố gắng “lôi kéo” họ thành lập các cơ sở sản xuất tại Việt Nam.

Dù vậy, Trung Quốc không nên quá lo lắng về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian gần đây. Momentum Wokrs, một công ty đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Singapore, nhận định: “Việt Nam nhiều khả năng trở thành một phần mở rộng trong mạng lưới cung ứng của Trung Quốc hơn là một đối thủ. Với dân số và nền kinh tế nhỏ hơn tỉnh Quảng Đông, Việt Nam khó có thể trở thành chuỗi cung ứng toàn diện như Trung Quốc”.

Việc Trung Quốc siết chặt phong tỏa là bằng chứng cho thấy các sản phẩm “Made in Vietnam” gắn bó chặt chẽ với chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Bằng chứng là những nỗ lực kiểm soát dịch COVID-19 nghiêm ngặt tại một số cửa khẩu biên giới Trung – Việt đã dẫn đến tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng và hạn chế dòng chảy của một số sản phẩm.

Trung Quốc là nhà cung cấp hàng đầu của Việt Nam về thép, bảng mạch, máy móc thiết bị và nguyên liệu cho ngành may mặc và da giày. Hãng Bloomberg dẫn lời ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội dệt may thêu đan TPHCM đầu tháng 5 cho biết vấn đề thiếu nguyên liệu đã ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu của tất cả các nhà máy may mặc.

Tuy nhiên, việc tổ chức lại chuỗi cung ứng toàn cầu không phải là quá trình đơn giản và đại dịch COVID-19 chứng minh rằng Trung Quốc và các nền kinh tế lớn trên thế giới liên kết chặt chẽ và khó có thể tách rời như thế nào. Bất kỳ sự chuyển đổi thực sự nào cũng có thể mất nhiều năm.

Sản xuất, đặc biệt là các ngành thâm dụng lao động, chắc chắn sẽ chuyển đến các thị trường mới nổi khác với chi phí lao động thấp hơn. Do đó, Trung Quốc phải giải quyết tình trạng mất việc làm do chuyển giao công nghiệp. Trong khi đó, Việt Nam phải duy trì lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng cấp cao để đảm bảo tăng trưởng dài hạn vì các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam tập trung nhiều hơn vào nâng cấp sản xuất.

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

George Soros và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu


George Soros sinh năm 1930 ở Budapest, Hungary, di cư sang Anh năm 1947, sang Mỹ năm 1956, hiện sống ở New York. Ông là một huyền thoại trong thế giới tài chính. Quỹ Quantum của ông được xem là “quỹ đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử, đã góp phần nhào nặn lại thế giới sau chiến tranh lạnh”.

Một số ít người coi G. Soros như “một nhà đầu cơ thị trường nổi tiếng nhất thế giới”, kẻ can dự vào cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á và trên thế giới hiện nay.

Nhiều người gọi G. Soros là “một trong những nhà từ thiện lớn nhất hiện còn sống”. Ông tài trợ một mạng lưới các quỹ dành để ủng hộ các xã hội mở, đang hoạt động 31 nước trên khắp thế giới từ Đông Âu và Liên Xô (cũ) đến Nam Phi, Haiti, Guatemala, Mông Cổ và Mỹ. Các quỹ trong mạng lưới này đã chi phí một số tiền mỗi năm trên dưới 400 triệu USD (cụ thể là năm 1994 – 300 triệu, 1995 – 350 triệu, 1996 – 362 triệu, 1997 – 428 triệu và năm 1998 cũng duy trì ở mức đó).

Tuy nhiên, còn rất ít người biết đến G. Soros như một người có nhiều ý tưởng khoa học mới mẻ và sâu sắc, đã nhận được các bằng tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học trên thế giới như Trường Nghiên cứu Xã hội mới (the New School for Social Research), trường Đại học Oxford (Anh), Đại học Yale (Mỹ), Đại học kinh tế Budapest (Hungary, quê hương ông). Năm 1995 trường Đại học tổng hợp Bologna (Italy) tặng G. Soros danh hiệu cao nhất của nó – danh hiệu Laurea Honoris Causa để ghi nhận những nỗ lực của ông đề xướng các xã hội mở trên toàn thế giới. G. Soros là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về những biến đổi chính trị và kinh tế ở Đông Âu và Liên Xô, tác giả của nhiều cuốn sách bán rất chạy như cuốn “Giả thuật kim tài chính” (The Alchemy of Finance), “Mở cửa hệ thống Xô Viết” (Opening the Soviet System), “Bảo đảm nền dân chủ” (Underwriting Democracy) và “Soros nói về Soros: Ở lại đằng trước đường cong” (Soros on Soros: Staying Ahead of the Curve).

Trong Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, ông đã vận dụng tất cả sự thông thái, tri thức uyên bác và tầm nhìn sáng suốt của ông để giải thích những gì đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu đang sụp đổ.

Các nền kinh tế (bối cảnh cuối thập kỷ 90) một thời thịnh vượng của Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sụp đổ; nền kinh tế Nga đã và đang suy tàn, dẫn tới lạm phát và khó khăn kinh tế nghiêm trọng; nhiều ngân hàng Nhật Bản rơi vào tình trạng tan rã; Brazil và phần còn lại của châu Mỹ Latinh đã bắt đầu dần dà tiến đến bờ vực suy sụp; ngay cả ở châu Âu và Mỹ, các thị trường cũng chao đảo dữ dội, cứ mỗi tuần qua đi lại mất lợi nhuận. Giờ đây một số nước đã bước ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất. Nhưng không một ai có thể nói rằng những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng đã được loại trừ.

G. Soros đã mổ xẻ tình trạng thời điểm đó của nền kinh tế toàn cầu và chỉ rõ các giả thuyết lý luận đã kết hợp với hành vi con người như thế nào để dẫn tới những tai họa này. Ông nêu rõ niềm tin vào các lực lượng thị trường đã làm chúng ta đui mù như thế nào về những sự bất ổ định cơ bản, và những sự bất ổn định này đã phản ứng dây chuyền ra sao để gây ra tình huống nguy kịch mà chúng ta đang lâm vào hôm nay – một tình huống có tiềm năng trở nên xấu hơn rất nhiều.

Song, như G. Soros viết: “Tình thế hoàn toàn không phải là tuyệt vọng… Có thể tránh được một thảm họa nếu chúng ta thừa nhận những thiếu sót của hệ thống chúng ta và sửa chữa chúng kịp thời… Tôi lập luận rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của một xã hội mở, và những thái quá của nó có thể sửa chữa, nếu những nguyên tắc của xã hội mở được hiểu rõ hơn và được ủng hộ rộng rãi hơn.

Thuật ngữ “Xã hội mở” (Open society) được nhà triết học về khoa học Karl Popper nêu lên trong cuốn sách của ông “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” (xuất bản năm 1944). G. Soros chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng triết học Karl Popper, mặc dù ông có khác với Karl Popper ở một vài điểm quan trọng. Ông hấp thụ những ý tưởng của Karl Popper về tư duy phê phán và phương pháp khoa học, nỗ lực xây dựng lại khái niệm xã hội mở. Trong cuốn sách mới này của ông có phụ đề là “Xã hội mở hiểm nguy”, G. Soros đã “nỗ lực đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu”. Ông viết: “Chúng ta sống trong một nền kinh tế toàn cầu, nhưng tổ chức chính trị của xã hội toàn cuẩ của chúng ta, buồn thay, lại không đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng giữ gìn hòa bình và hành động đáp lại những thái quá của các thị trường tài chính. Nếu không có những sự kiểm soát này, nền kinh tế toàn cầu có thể sụp đổ”. Chính vì vậy “để ổn định và điều tiết một nền kinh tế thực sự toàn cầu, cần một hệ thống toàn cầu về việc ra quyết định chính trị. Nói gọn lại, chúng ta cần một xã hội toàn cầu để hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu của chúng ta… Cần phải cố gắng tạo nên một liên minh với các dân tộc có cùng suy nghĩ để thiết lập các luật và các thiết chế cần thiết cho việc giữ gìn hòa bình, tự do, thịnh vượng và ổn định. Các luật và thiết chế này là gì, điều đó không thể quyết định một lần là xong với mọi người; điều chúng ta cần là đưa vào hoạt động một quá trình hợp tác, lặp đi lặp lại – quá trình sẽ xác định lý tưởng xã hội mở – một quá trình trong đó chúng ta công khai thừa nhận những sự không hoàn hảo của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cố gắng học từ những sai lầm của chúng ta”.

Để đặt nền móng cho xã hội mở toàn cầu phải bắt đầu từ lý luận cơ bản. Trong khung khái niệm (conceptual framework), G. Soros nêu ra ba khái niệm then chốt, ba từ khóa: tính có thể sai (fallibility), tính phản xạ (reflexivity) và xã hội mở (open society). Ông tiến hành phê phán khoa học xã hội nói chung và kinh tế học nói riêng đối với thị trường tài chính, diễn giải thị trường này dưới góc độ tính phản xạ hơn là dưới độ lý luận cân bằng của kinh tế học cổ điển. Ông vạch rõ tính chất sai lầm và nguy hiểm của thuyết nguyên giáo thị trường (market fundamentalism). Chính nó đã đặt chủ nghĩa tư bản tài chính vào địa vị cầm lái, làm méo mó cơ chế thị trường, đẩy xã hội mở vào tình trạng hiểm nguy.

Trong phần “Thời điểm quan trọng của lịch sử” (the present moment in history), tác giả áp dụng cái khuôn khổ quan niệm đã nêu trên để phân tích sâu những đặc điểm chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối thập kỷ 90. Ông đề cập đến sự khác biệt, độ chênh giữa nền kinh tế toàn cầu và tổ chức chính trị, xã hội mà về cơ bản vẫn còn mang quy mô quốc gia. Ông khảo sát tỉ mỉ quan hệ không bình đẳng giữa trung tâm và ngoại vi, sự đối xử không bình đẳng giữa kẻ cho vay và người vay nợ, cũng như việc đưa một cách sai lầm các giá trị tiền tệ thay cho các giá trị nhân bản, các giá trị con người. Ông đề xuất những giải pháp thực tiễn để có thể ngăn ngừa sự tan rã về tài chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu như thế nào, nêu lên những triển vọng cho một hình thức xã hội mở ít méo mó hơn và đầy đủ hơn. Ông bàn về bối cảnh quốc tế và vạch ra một số bước đi thực tiễn để có thể đạt tới xã hội mở toàn cầu, thực hiện triết lý mà ông đã nêu lên.

Để kết luận, G. Soros khẳng định rằng xã hội mở toàn cầu phải được đặt thành “một chương trình nghị sự quốc tế”. Nó không thể được đưa vào cuộc sống bởi nhân dân hoặc các tổ chức phi chính phủ hành động riêng rẽ. Các Nhà nước có chủ quyền cần phải hợp tác về chính trị. Công luận và xã hội dân sự có vai trò quan trọng, bởi vì trong nền dân chủ, các chính khách phải đáp ứng những đòi hỏi của đông đảo dân chúng. “Ở các chính thể dân chủ vận hành tốt, các chính khách thậm chí còn đóng vai trò thủ lĩnh trong việc động viên công luận. Chúng ta cần đến vai trò thủ lĩnh như thế để hình thành một khối liên kết gồm những quốc gia cùng chung khuynh hướng và quyết tâm tạo dựng một xã hội mở toàn cầu”.

Cuốn sách Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu của G. Soros không phải là một cuốn sách kinh tế đơn thuần. Nó cho ta một cái nhìn tổng quát về thế giới hiện đại và xu hướng phát triển của nó. Ở đó thể hiện những suy tư triết học sâu sắc của G. Soros với tính cách một nhà tài chính, đồng thời là một nhà từ thiện, nhà hoạt động xã hội. Mở đầu cuốn sách ông viết: “Mục đích trước sau của tôi khi viết cuốn sách này là làm rõ cái triết lý đã chỉ đạo tôi suốt đời. Tôi được người ta biết đến với tư cách một nhà quản lý tiền tệ thành công và sau đó là một nhà từ thiện. Đôi khi tôi cảm thấy giống như một con đường tiêu hóa khổng lồ: thu nhận tiền vào ở một đầu và đẩy nó ra ở đầu khác, nhưng thực ra một lượng suy tư to lớn đã gắn kết hai đầu với nhau. Một khung khái niệm mà tôi đã hình thành những ngày tôi là sinh viên, rất lâu trước khi tôi bắt đầu tham gia  vào các thị trường tài chính, đã chỉ đạo cả việc kiếm tiền của tôi và các hoạt động từ thiện của tôi”.

Những suy tư, những nhận định của G. Soros trong sách, đương nhiên, không thể không có những khác biệt so với những gì mà lâu nay nhiều người trong chúng ta thường quan niệm. Sự khác nhau đó là chuyện bình thường. Điều đáng quan tâm ở đây chính là việc G. Soros đã phân tích sâu sắc cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và đề ra những giải pháp không phải là không có cơ sở để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách mà cộng đồng quốc tế mong đợi.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Việt Nam đang thực hiện một cuộc cách mạng rất khác


Theo trang CDO Trends ngày 30/5, có thời điểm các hoạt động sản xuất phải chuyển đến địa điểm mới, nơi có chi phí vận hành và nhân công rẻ hơn. Đây từng là yếu tố nền tảng thúc đẩy bước tiến đáng kể của Trung Quốc hồi đầu thế kỷ này. Tuy nhiên, những năm gần đây, yếu tố này lại phát huy với Việt Nam, trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh lĩnh vực sản xuất, chế tạo. Dường như có một điểm khác biệt mới: VIệc triển khai các quy trình và công nghệ nhà máy thông minh – một lần nữa, VIệt Nam lại đi đầu.

Đặt nền tảng thông minh

Việt Nam có sân bay quốc tế, cảng biển, cơ sở hạ tầng đường sắt nội bộ, người dân cần cù và có học thức. Năm 2020, lĩnh vực chế biến và chế tạo chiếm 58% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hiện đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế cũng như mục tiêu tăng trưởng bền vững 7%/năm đến năm 2025.

Việt Nam cũng hiểu rõ tầm quan trọng của kết nối và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số. Năm 2022 được lấy là năm quan trọng để triển khai dịch vụ 5G cho quốc gia này, với nhà cung cấp Ericsson – một công ty công nghệ có tên tuổi ở châu Âu.

Ericsson ước tính rằng hơn 2/3 số nhà sản xuất trên thế giới sẽ chuyển đến châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2025, trong đó Việt Nam là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất. Ericsson dự báo doanh thu 5G trên toàn quốc sẽ đạt 1,54 tỷ USD vào năm 2030, với lĩnh vực chế tạo là đầu tàu: “Đây là cách duy nhất để bảo tồn các nguồn lực trong khi vẫn phát triển kinh doanh một cách hiệu quả”.

Việc triển khai các nhà máy thông minh cũng cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ trong chiến lược xây dựng quốc gia. Chính phủ đã hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận chuyển đổi số. Ngoài ra, các nhà máy thông minh cũng là tâm điểm của diễn đàn công nghiệp 4.0 lần thứ ba được tổ chức tại Việt Nam vào cuối năm ngoái, với chủ đề là “phát triển sản xuất thông minh trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tầm nhìn đến năm 2045”.

Samsung là nhà đầu tư chính

Đầu năm nay, chính phủ đã ký thỏa thuận với tập đoàn điện tử khổng lồ Samsung của Hàn Quốc, xây dựng một dự án nhà máy có tính đổi mới tại tỉnh Vĩnh Phúc để hỗ trợ 14 nhà cung cấp trong nước. Samsung đầu tư thêm 920 triệu USD vào Việt Nam, bổ sung vào 8 cơ sở của hãng tại Việt Nam, bao gồm 6 nhà máy sản xuất, một trung tâm R&D và một cơ sở bán hàng.

Ngoài việc giúp đào tạo 100 chuyên gia Việt Nam, dự án trên còn được coi là “chất xúc tác” giúp 50 doanh nghiệp Việt Nam mở các nhà máy thông minh vào năm 2022 và 2023. Không những thế, dự án “được kỳ vọng sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất”.

Một công ty Hàn Quốc khác đang tham gia các dự án nhà máy thông minh tại Việt Nam là tập đoàn sản xuất Dongwha Enterprise, đã giới thiệu nền tảng nhà máy thông minh tại nhà máy ở TPHCM, và có kế hoạch triển khai ở Hà Nội vào cuối năm nay.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là “chìa khóa”

Mặc dù các doanh nghiệp toàn cầu lớn có thể giúp thúc đẩy nhà máy thông minh của Việt Nam, nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) của Việt Nam mới cần phải nâng cao kỹ năng và nắm bắt các công nghệ mới để tầm nhìn trở thành hiện thực.

SME là trọng tâm trong Chiến lược quốc gia Việt Nam về cách mạng công nghiệp lần thứ tư, được đề ra trong Nghị quyết số 52 đầy tham vọng, theo đó, đến năm 2025, “Internet băng thông rộng sẽ phủ sóng 100% số xã và đến năm 2030, mạng di động 5G sẽ bao phủ cả nước; mọi công dân sẽ có quyền truy cập Internet băng thông rộng với chi phí thấp”.

Để đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh cũng như một trong những trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo hàng đầu ở châu Á, Việt Nam sẽ phải đề ra một số nguyên tắc chỉ đạo, theo đó, trước khi xác định giáo dục, đào tạo và các chương trình nghiên cứu chính về các công nghệ ưu tiên, phải tập trung vào công nghệ thông tin và truyền thông, cơ điện, công nghệ mới trong lĩnh vực năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, điện tử y sinh.

Tập đoàn sản xuất nội thất Xuân Hòa JSC gần đây đã được giới thiệu trên một ấn phẩm của chính phủ, với việc công ty đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi kỹ thuật số. Người phát ngôn của công ty cho biết: “Chúng tôi sẽ dần dần số hóa quy trình của mình để hướng tới xây dựng một nhà máy thông minh với nhiều loại sản phẩm. Đây là cách duy nhất để chúng tôi bảo tồn các nguồn lực trong khi vẫn phát triển hiệu quả hoạt động kinh doanh”.

Vì vậy, có thể nói, nếu như trong thế kỷ 20, Việt Nam được biết đến nhiều nhất với cuộc cách mạng dân tộc chống lại sự thống trị của thực dân Pháp, thì trong thế kỷ 21, Việt Nam đang thực hiện một cuộc cách mạng rất khác, hòa bình hơn, nhưng cũng có tham vọng cao, đó là xây dựng sự giàu có và an sinh cho người dân.

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

“Cánh cửa mới” cho giao thương Trung Quốc – ASEAN


Theo giới chuyên gia, việc Trung Quốc đang xúc tiến xây dựng cảng thương mại tự do ở tỉnh đảo Hải Nam, cực Nam Trung Quốc, sẽ mở ra những cánh cửa giao thương mới giữa “gã khổng lồ châu Á” này với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, thành công sẽ đòi hỏi một bước nhảy vọt lớn về sự tin cậy và tinh thần tiên phong.

Theo kế hoạch, Bắc Kinh sẽ biến tỉnh đảo có diện tích 35.000 km2 này thành cảng thương mại tự do lớn nhất thế giới vào năm 2035, thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp và doanh nhân thông qua mức thuế suất thấp hơn, đồng thời thu hút khách du lịch và tài năng nước ngoài thông qua biện pháp đơn giản hóa thủ tục cấp thị thực nhập cảnh. Hệ thống hải quan độc lập cho tỉnh đảo này cũng sẽ được triển khai vào năm 2025.

Nằm ở cực Nam của Trung Quốc, cảng thương mại tự do Hải Nam có vị trí thuận lợi trong việc tăng cường quan hệ thương mại với các nước ASEAN vốn đã vượt qua Liên minh châu Âu (EU) để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong năm 2020. Các công ty của ASEAN sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi để đầu tư vào Hải Nam, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ, nhờ việc nới lỏng những rào cản và giảm thuế. Đây là tuyên bố của Phó tỉnh trưởng Hải Nam Shen Danyang tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao diễn ra hồi tuần trước. Đánh giá về tiềm năng du lịch, ông Shen cho rằng tỉnh đảo Hải Nam trong tương lai cũng sẽ trở thành một phần của lịch trình du lịch cho du khách quốc tế, mà trước hết là du khách đến từ khu vực Đông Nam Á, khi Hải Nam đang được quy hoạch trở thành một đảo du lịch quốc tế và một trung tâm thương mại miễn thuế. Các công ty lữ hành của nước ngoài sẽ có thể thiết lập văn phòng đại diện tại tỉnh đảo – điều vốn không được phép đối với Đại lục. Quan chức tỉnh đảo lập luận: “Khách du lịch có thể đến Hải Nam trước khi đến thăm các nước như Việt Nam, Campuchia, Indonesia và Singapore. Họ cũng có thể mua sắm hàng hóa miễn thuế và có thể được mang xách tay về nước, với tổng giá trị mặt hàng lên đến khoảng hơn 15.000 USD mỗi người”. Bên cạnh đó, Hải Nam cũng sẽ là địa điểm thăm quan đầu tiên của du khách Đông Nam Á trước khi đặt chân lên Đại lục. Nhấn mạnh về những tiềm năng ngầm ẩn, ông Shen cho biết: “Tiềm năng du lịch sẽ mở rộng quy mô hoạt động du lịch qua lại giữa dư khách của Trung Quốc và du khách của Đông Nam Á đồng thời tạo cơ hội cho hợp tác giáo dục và lao động”. Tỉnh đảo cũng sẽ sớm có các chính sách cho phép người lao động nước ngoài có kỹ năng nhập cảnh để làm việc ở Hải Nam tùy thuộc vào những nhu cầu của thị trường.

Trong năm 2019, lượng khách du lịch đi lại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đã lên đến 65 triệu lượt với gần 4500 chuyến bay, tăng so với 57 triệu lượt và 4000 chuyến bay trong năm 2018. Theo ông Shen, giới đầu tư ở Trung Quốc Đại lục cũng được khuyến khích đăng ký đầu tư ở Hải Nam và khi đó các khoản chi tiêu ở nước ngoài của họ sẽ được hưởng miễn thuế thu thập.

Trong chuyến thăm Hải Nam hồi đầu tháng 4 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh tỉnh đảo này cần trở thành một cảng thương mại tự do có tầm ảnh hưởng trên phạm vi quốc tế song vẫn mang những đặc trưng của Trung Quốc. Tuy nhiên, vẫn còn những quan ngại về việc cảng Hải Nam sẽ hoạt động như thế nào trong tương la khi các hệ thống hải quan, thuế quan và tài chính độc lập với các hệ thống của Đại lục. Tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, ông We Xiaoqiu – nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Nhân dân Trung Quốc hiện là Viện trưởng Viện nghiên cứu Thị trường Vốn Trung Quốc – cho rằng “chính quyền Bắc Kinh cần có một kế hoạch cụ thể về những đặc điểm của một hải cảng thương mại tự do hiện đại trong thế kỷ 21, những chính sách về pháp lý, thu hút tài năng, thu hút vốn cũng như những chính sách và chiến lược khác không nằm trong hệ thống chính sách của Đại lục”.

Kế hoạch chuyển đổi Hải Nam thành cảng thương mại tự do quốc tế cũng phù hợp với chiến lược “tuần hoàn kép” của Bắc Kinh vốn nhằm thúc đẩy cả tiêu dùng trong nước và tăng cường khả năng độc lập về kinh tế với các nước bên ngoài nhằm ngăn chặn những tác động do tình trạng bất ổn bên ngoài gây ra đối với hoạt động kinh tế của Trung Quốc.

Ngoài ra, kế hoạch xây dựng cảng thương mại tự do cũng là một phần kế hoạch của Tập Cận Bình nhằm duy trì dòng chảy thương mại dịch vụ và thương mại toàn cầu khi Mỹ đang dọa “phân tách” với Trung Quốc và vai trò của Hong Kong là một trung tâm tài chính quốc tế cũng đang phải đối mặt với những thách thức khó lường sau khi Đại lục triển khai luật an ninh quốc gia gây tranh cãi tại đặc khu hành chính này.

Quá trình chuyển đổi Hải Nam thành cảng thương mại quốc tế thường được so sánh với quá trình chuyển đổi Thâm Quyến thành đặc khu kinh tế trong những năm 1980. Từng là nơi mà người dân sinh sống bằng nghề đánh cá, Thâm Quyến giờ đây đã trở thành một đặc khu kinh tế phát triển mạnh mẽ, thu hút đầu tư và thương mại nước ngoài. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Wu, thành công của Thâm Quyến đã cần đến rất nhiều tinh thần tiên phong và chấp nhận vấp váp để “hái quả ngọt”. Ông Wu nói: “Hải Nam cần có đủ tinh thần kiên cường để gánh vác những trọng trách, không thể biết chắc được rằng đâu sẽ là con đường đi đúng đắn trong giai đoạn tìm tòi hướng đi hiện nay. Có thể có những con đường vòng (để thành công) song chúng ta vẫn phải kiên định đi theo con đường đã chọn hiện nay”.

Theo ông Bert Hofman, Giám đốc Viện nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore, Hải Nam cũng cần “có chỗ đứng” trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vốn là một thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện nay. RCEP bao gồm 15 thành viên và chiếm gần 1/3 dân số và khoảng 30% GDP toàn cầu. Cũng tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, ông Hofman cho rằng Hải Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Singapore khi xây dựng cảng thương mại tự do song cần lưu ý một điểm khác biệt là Singapore là mọt quốc gia còn Hải Nam chỉ là một tỉnh đảo. Do đó, ông Hofman cho rằng Hải Nam vẫn cần gắn kết với chính quyền trung ương để vẫn tồn tại như một “mắt xích” trong hệ thống chung của Trung Quốc và đây chính là điều cốt lõi.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Sau COP26, Việt Nam có thể vực dậy năng lượng sạch?


Trang South China Morning Post của Hong Kong ngày 8/5 đăng bài cho rằng ngành năng lượng mặt trời của Việt Nam tăng trưởng mạnh, song chính sách chậm trễ đang khiến các nhà đầu tư lo lắng. Kinh nghiệm của Trung Quốc có thể mang lại bài học kinh nghiệm, song Hà Nội vẫn cảnh giác với việc để nhà đầu tư Trung Quốc tham gia các dự án được coi là quan trọng đối với an ninh quốc gia.

5 năm kể từ khi Hà Nội triển khai các chính sách khuyến khích sản xuất năng lượng mặt trời và năng lượng gió – đóng góp khoảng 1/10 tổng sản lượng điện vào cuối năm 2021, ngành công nghiệp này hiện đang đi vào bế tắc. Việt Nam chủ yếu dựa vào thủy điện, than và khí đốt tự nhiên để sản xuất điện. Việt Nam nhập khẩu than và từ năm nay sẽ nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Việt Nam cũng nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc.

Zhou Xizhou, chuyên gia lĩnh vực năng lượng đang làm việc tại S&P Gobal, cho biết nhu cầu điện của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong thời kỳ hậu đại dịch và ước tính mức tăng trung b2inh sẽ là 5% mỗi năm cho đến năm 2030.

Tình trạng lấp lửng

Tháng 01/2022, Bộ Công Thương đề xuất tạm dừng phê duyệt đầu tư đối với các dự án điện mặt trời và điện gió chưa được thực hiện. Các nhà phát triển năng lượng mặt trời và năng lượng gió cho rằng họ bị nhà nước “bỏ rơi” với tương lai không rõ ràng về các kế hoạch mua điện và băn khoăn liệu họ có nên tiếp tục kinh doanh hay không.

Giám đốc một công ty Đài Loan đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo ở châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ cho biết việc thiếu khả năng dự đoán gây khó khăn cho các nhà đầu tư: “Giữa các lần thông báo về chính sách mới, có khoảng trống chính sách kéo dài hàng tháng hoặc hơn một năm”. Ví dụ, biểu giá điện hỗ trợ (FIT) cho các dự án năng lượng mặt trời quy mô lớn chỉ vừa mới được công bố vào tháng 4/2020 – 10 thág sau khi các mức giá trước đó hết hạn. FIT cho các nhà phát triển thời hạn chỉ 8 tháng để hoàn thành các dự án trong bối cảnh chuỗi cung ứng bị gián đoạn do đại dịch COVID-19. Không rõ điều gì sẽ xảy ra nếu họ bỏ lỡ thời hạn.

Bài học, đầu tư từ Trung Quốc?

Liu Huan, Tổng giám đốc công ty con tại Việt Nam của Sungrow Power Supply,  một công ty năng lượng tái tạo niêm yết tại Thâm Quyến, cho biết tình hình hiện tại – với nhiều dự án cơ sở hạ tầng hỗ trợ – là điều dễ hiểu: “Chính quyền trung ương và địa phương phê duyệt nhiều đề xuất hơn mức lưới điện có thể hỗ trợ vì họ không thể biết dự án nào cuối cùng sẽ được xây dựng”.

Ông tin rằng điều này sẽ được cải thiện khi các cơ quan chức năng của Việt Nam có thêm kinh nghiệm trong việc xử lý các dự án năng lượng tái tạo. Ông Liu Huan lấy ví dụ về bài học từ Trung Quốc – quốc gia đã thúc đẩy đáng kể việc sản xuất điện gió và mặt trời thông qua FiTs từ năm 2009: “Qua nhiều năm phát triển năng lượng tái tạo, nhà chức trách nhận thức được mức độ tin cậy của từng doanh nghiệp địa phương và thị trường đã dần loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ hơn và có vấn đề”.

Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng Xanh (CEGR) – tổ chức nghiên cứu và tư vấn phi lợi nhuận có trụ sở tại Hà Nội, cho biết Bộ Công thương hiện đang xây dựng quy hoạch phát triển điện mới gọi là Quy hoạch điện 8 (QHĐ 8), theo đó, vạch ra kế hoạch phát triển điện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo ông: “Bộ đang giới thiệu các công cụ mô hình hiện đại để phát triển QHĐ 8”. QHĐ 8 sẽ phân tích kỹ lưỡng việc tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo như gió và mặt trời vào lưới điện quốc gia. Tuy nhiên, ông Sơn chỉ ra rằng: “Việt Nam chưa có phòng thí nghiệm quốc gia nào có thể thực hiện những nghiên cứu phức tạp như Phòng thí nghiệm năng lược tái tạo quốc gia (NREL) hay Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley ở Mỹ. NREL có siêu máy tính của riêng mình và do đó có thể tiến hành mô phỏng hệ thống điện quốc gia trong vòng vài ngày. Nếu không có năng lực như vậy, chính phủ VIệt Nam cần tới tuần hoặc vài tháng để hoàn thành công việc đó. Do đó, nhà quy hoạch điện của Việt Nam cần tạm thời cắt bỏ việc phê duyệt dự án để tiến hành phân tích tình huống cơ sở”.

Bà Vũ Chi Mai, Trưởng bộ phận năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng tại Cơ quan hợp tác quốc tế Đức, cho biết Tập đoàn điện lực Việt Nam và chính phủ đã chủ động giải quyết vấn đề bằng cách đề xuất các thay đổi pháp lý để cho phép các nhà phát triển tư nhân đầu tư vào mạng lưới truyền tải điện. Những người trong ngành cho biết Chính phủ Việt Nam có thể sẽ thận trọng với các nhà đầu tư Trung Quốc do những cẳng thẳng về lãnh thổ và lịch sử giữa hia bên.

Một nhà quản lý của công ty Trung Quốc tham gia lĩnh vực năng lượng mặt trời và năng lượng gió của Việt Nam cho biết việc thúc đẩy các dự án điện gần bờ biển hoặc biên giới quốc gia rất “rắc rối” hoặc thậm chí là các dự án quy mô lớn vì tính nhạy cảm song phương. Ông cho biết nếu căng thẳng leo thang, những điều này có thể ảnh hưởng đến các quy trình xoay quanh dòng tiền và đầu tư xuyên biên giới.

Giám đốc CEGR Hà Đăng Sơn cho biết với bản chất của quá trình chuyển đổi năng lượng sạch, việc trì hoàn có thể là cần thiết để đưa ra các quyết định chính sách sáng suốt hơn: “Chúng ta phải kiên nhẫn. Quá trình chuyển đổi năng lượng đi kèm với rất nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là với năng lực của các nhà lập kế hoạch và sự phối hợp của chính phủ”.

Nguồn: TKNB – 11/05/2022

Mỹ Latinh nhìn về phương Đông – Phần cuối


Một vài người sẽ không để mắt tới những ý tưởng này, thậm chí tỏ vẻ coi thường vì chúng được các nhà hoạt động cánh tả chiếm thiểu số đề xuất, những người không bỏ qua cơ hội nào để bêu xấu Mỹ. Nhưng khi tạp chí chính trị lâu đời chuyên về châu Mỹ Americas Quarterly mới đây đặt hàng một loạt bài viết từ những tiếng nói có trọng lượng trong khu vực xung quanh câu hỏi các nước Mỹ Latinh cần ứng phó với mối quan hệ tương tác Trung Quốc và Mỹ ra sao, thay vì một cuộc tranh luận nóng bỏng như thường lệ thì những câu trả lời thu về đều là những cách diễn đạt khác nhau của cùng một ý tưởng: khu vực này nên tránh việc chọn bên. Bolsonaro, người trong vai trò ứng viên năm 2018 đã thường xuyên công kích Trung Quốc và thậm chí còn thăm Đài Loan, đã hầu như tránh đối đầu với Bắc Kinh trên cương vị tổng thống và còn bỏ qua những lời khẩn cầu của Chính phủ Joe Biden về việc loại bỏ hoàn toàn tập đoàn Huawei khỏi vai trò nhà cung cấp mạng 5G cho Brazil. Tổng thống trung hữu của Uruguay Luis Lacalle Pou tuyên bố hồi tháng 9/2021 rằng ông sẵn sàng nói chuyện cởi mở với Bắc Kinh về một thỏa thuận thương mại tự do mới, trong đó quốc gia Nam Mỹ tương đối nhỏ bé này có thể đóng vai trò cửa ngõ hội nhập kinh tế của Trung Quốc với phần còn lại của khu vực. Nhiều quan chức Colombia, đồng minh truyền thống và thân cận nhất của Mỹ tại tiểu lục địa Nam Mỹ, đã bóng gió về khả năng gia nhập Sáng kiến “Vành đai và Con đường” trước khi đương kim Tổng thống Duque, một người theo tư tưởng bảo thủ, mãn nhiệm vào tháng 8 tới. Mexico theo cách nào đó là người đứng ngoài xu hướng chung này của khu vực, do tính chất đặc biệt gần gũi về thương mại của quốc gia này với Mỹ. Nhưng ngay cả vậy, sau cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc vào năm 2021, Ngoại trưởng Mexico đã thông báo về những kế hoạch để “mở rộng quan hệ đối tác chiến lược giữa 2 nước”. Hồi đầu tháng 2 vừa qua, Chính phủ Argentina đã ký biên bản ghi nhớ với một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc về việc xây dựng một nhà máy điện hạt nhân với trị giá 8 tỷ USD, khiến cho các thành viên đảng Cộng hòa trong Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ phải đưa ra lời cảnh báo và hối thúc Buenos Aires đảo ngược tiến trình này.

Những cuộc bầu cử sắp tới dường như sẽ còn đẩy khu vực tiến xa hơn theo chiều hướng này, bắt đầu với nền kinh tế lớn nhất Mỹ Latin. Luiz Inácio Lula da Silva, cựu tổng thống Brazil giai đoạn 2003 – 2010 và hiện đang chiếm ưu thế để đánh bại Bolsonaro vào tháng 10 tới và trở lại nắm quyền, từng làm dậy sóng hồi tháng 12 vừa qua với tuyên bố rằng các nước Nam Mỹ cần hình thành một khối với Liên minh châu Âu để “đối mặt với 2 người khổng lồ là Mỹ và Trung Quốc”. Amorim, nhân vật mà nhiều người tin sẽ trở lại ghế Ngoại trưởng Brazil nếu Lula đắc cử, mới đây nói rằng một mối quan hệ khăng khít hơn với Trung Quốc là điều không thể tránh khỏi, tuy nhiên ông cũng bổ sung thêm rằng Brazil không nên lựa chọn Trung Quốc thay cho Mỹ. Tất cả các ứng viên dẫn đầu trong cuộc chạy đua bầu cử tổng thống tại Colombia, sự kiện sẽ diễn ra vào tháng 5 tới, đều có xu hướng ít cam kết với Mỹ hơn Tổng thống Iván Duque hiện tại, đặc biệt là ứng viên trung tả Gustavo Petro, người đang dẫn đầu cuộc đua. Gabriel Boric, tân Tổng thống Chile và cựu lãnh đạo phong phản kháng của sinh viên, từng tuyên bố sẽ không phê chuẩn hiệp ước thương mại thay thế cho TPP, vốn được nhìn nhận như một liên minh kinh tế chống Trung Quốc.

Những tín hiệu cảnh báo

Người ta có thể lập luận rằng các chính trị gia Mỹ Latinh đang để cảm xúc về Washington làm lóa mắt trước những “thành tích bất hảo” của Bắc Kinh về việc đối xử tệ bạc với các đồng minh tại châu Phi và những nơi khác trên thế giới, và cho rằng cả thời điểm lẫn bản chất của lập trường mới nổi này là sai lầm. Nhiều lãnh đạo khác trên thế giới, như tại Australia, Đông Á và một phần của châu Âu, đang trở nên hoài nghi hơn về Trung Quốc, nhất là khi Chủ tịch Tập Cận Bình ngày càng trở nên độc đoán và những hành vi hiếu chiến hơn của Bắc Kinh tại biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) hay các bước đi trấn áp tại Hong Kong và Tân Cương. Trở lại với khu vực này, những khoản cho vay của Trung Quốc là sự hỗ trợ mang tính sống còn cho chế độ độc tài của Nicolás Maduro tại Venezuela, dẫn tới khủng hoảng nhân đạo tại quốc gia Nam Mỹ này và làm dấy lên những câu hỏi rộng mở hơn về tính minh bạch của các nguồn vốn Trung Quốc tại khu vực. Có người cảnh báo rằng với việc cố gắng “đi dây” và né tránh cả Mỹ và Trung Quốc, Mỹ Latinh cuối cùng có thể đánh mất cơ hội từ cả hai nước và bị “cho ra rìa” trong chuỗi cung ứng toàn cầu và các khoản đầu tư mang tính quan trọng sống còn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sau đại dịch. Nhưng cũng có một thực tế khác là những lời khuyên nhủ của Mỹ về Trung Quốc hầu như đều bị phớt lờ tại Mỹ Latinh, khi bị nhìn nhận không khác gì so với phản đối đầy vị kỷ của một thế lực bá quyền đang suy yếu.

Một nhóm nhỏ các nhà hoạch định chính sách của Mỹ về Mỹ Latinh ý thức được thách thức này, và những lời cảnh báo về sự nổi lên của Bắc Kinh trong khu vực giờ đây cũng trở nên nhàm chán như những lời than phiền về “con đường tơ lụa” mới. Hội nghị Thượng đỉnh châu Mỹ sắp tới, dự kiến diễn ra vào đầu tháng 6 tại Los Angeles có thể là diễn đàn nơi Washington chí ít có thể tái tập hợp một phần lực lượng. Nhưng để tạo đột phá thực sự, Mỹ cần phải đặt thêm nhiều tham vọng vào các quân bài của mình. Ví dụ, Mỹ có thể khôi phục cuộc thảo luận về khối tự do thương mại Tây bán cầu vốn đã bị quên lãng bấy lâu nay – nhưng đây rõ ràng là điều bất khả thi với cả Biden và Đảng Cộng hòa của Trump. Washington cũng có thể lôi kéo một số nước bằng việc mở rộng tương đối các chương trình lưu trú cho người lao động nước ngoài, nhưng lựa chọn này sẽ làm gia tăng cảm giác chống người nhập cư vốn đã căng thẳng trong một bộ phận khá lớn cử tri Mỹ. Điều rất tích cực mà Mỹ có thể làm để cạnh tranh với Trung Quốc là ổn định lại trật tự ngay tại trong nước và khôi phục lòng tin về các nguyên tắc và giá trị dân chủ mà đa số người Mỹ Latinh chia sẻ. Còn từ nay tới lúc đó, người ta có thể được nghe ngày càng nhiều trong những cuộc trao đổi và tranh luận tại khu vực này rằng rốt cuộc cũng chẳng có nhiều khác biệt trong thực hành giữa Washington và Bắc Kinh.

Rõ ràng, các nước Mỹ Latinh có quyền theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập phù hợp với các lợi ích chủ quyền của mình. Nhưng trong quá trình này, các nước trong khu vực xoay chuyển những kỳ vọng dài hạn về hành xử của họ trong các liên kết về chính trị, kinh tế và quân sự trong những năm tới. Khó có thể tránh khỏi cảm giác về việc bản đồ địa chính trị đang được vẽ lại, và giờ đây lòng trung thành và sự ủng hộ của khu vực Mỹ Latinh cần phải được thêm vào danh sách ngày càng dài các ưu thế mà Mỹ không còn nghiễm nhiên được thụ hưởng.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/reviews/review-essay/2022-02-24/latin-america-looks-east

TLTKĐB – 16/04/2022

Mỹ Latinh nhìn về phương Đông – Phần đầu


Brian Winter

Ngày nay, Mỹ Latinh cũng phân cực như phần còn lại của phương Tây, khi bị chia rẽ bởi những cuộc tranh luận gay gắt và những “cuộc chiến Twitter” vì đủ loại đề tài, từ “tư tưởng giới tính” cho tới cách thức tái kích hoạt các nền kinh tế bị đại dịch COVID-19 tàn phá. Tuy nhiên, nhiều chính trị gia Mỹ Latinh từ cả phe tả lẫn phe hữu ngày càng càng đồng thuận với nhau rằng trong cuộc đối đầu toàn cầu ngày càng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ, các nước trong khu vực nên thực sự theo đuổi một con đường độc lập và không liên kết với bên nào. Lập trường này, vốn dường như sẽ được củng cố thêm sau các cuộc bầu cử trong năm nay tại 2 quốc gia quan trọng trong khu vực là Brazil và Colombia, rất có thể là diễn biến chính sách đối ngoại quan trọng nhất của khu vực kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.

Quá trình dịch chuyển sang đường lối trung lập giữa Bắc Kinh và Washington bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ, khá lâu trước cả khi Trung Quốc giành được ảnh hưởng sâu rộng tại khu vực như ngày nay. Ngay khi quá trình liên kết lâu dài với Washington và kèm theo đó là quá trình chuyển hướng sang dân chủ và các thị trường mở bắt đầu giảm tốc, Trung Quốc đã bắt đầu quá trình thâm nhập phi thường của mình vào khu vực này. Giá trị thương mại của Trung Quốc với Mỹ Latinh và Caribe tăng vọt từ mức 18 tỷ USD năm 2002 lên mức 450 tỷ USD năm 2021, với động lực chính là nhu cầu của Trung Quốc về các sản phẩm nguyên liệu như đậu tương, quặng sắt và dầu thô. Trong những năm gần đây, kể cả những lãnh đạo hữu khuynh thân Mỹ, như Tổng thống Jair Bolsonaro của Brazil, Tổng thống Sebastián Piñera của Chile hay Tổng thống Iván Duque của Colombia, đều “nhún vai” phớt lờ cảnh báo của Washington về những rủi ro của mối ràng buộc kinh tế với Trung Quốc và của dòng vốn đầu tư cùng công nghệ từ quốc gia đông dân nhất thế giới này, bao gồm cả các mạng 5G tại một số nước, các mỏ khai thác lithium tại Chile, và công trình xây dựng một tuyến tàu điện ngầm mới tại thủ đô Bogota của Colombia. Ngày nay, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ hai của khu vực Mỹ Latinh và là bạn hàng lớn nhất của Brazil, Chile, Peru và Uruguay. Chỉ trong tháng 2/2022, Tổng thống Ecuador và Tổng thống Argentina đã thăm Bắc Kinh với mục tiêu thương lượng một thỏa thuận thương mại mới (Ecuador) hay trở thành điểm thu hút chính đầu tư của Trung Quốc vào cơ sở hạ tầng thông qua việc tham gia sáng kiến “Vành đai và Con đường” (Argentina).

Qua bước tiến ngoạn mục này, nhiều nước khu vực giờ đây chào đón Trung Quốc như những “vị khách sộp” mới, một lựa chọn xứng đáng thay thế cho Mỹ, nước có lối hành xử trịnh thượng kiểu đế quốc tại khu vực này hơn 200 năm. Nhưng cho tới gần đây, vẫn có niềm tin khá vững chắc tại đa phần các nước Mỹ Latinh, và ngay cả tại Mỹ, rằng nếu bị đẩy tới lựa chọn sống còn khi thế giới bị phân cực trắng đen rõ ràng – giả sử như trong trường hợp Bắc Kinh tấn công xâm lược Đài Loan – thì đa phần các nước trong khu vực cuối cùng cũng đứng về phía Mỹ, như đại đa số họ đã từng làm trong Chiến tranh Lạnh. Nói cho cùng, Mỹ Latinh vẫn được coi là một phần của thế giới phương Tây. Họ đã quá quen thuộc với nếp nghĩ theo kiểu dân chủ và có những quan hệ kinh doanh và văn hóa thâm căn cố đế với Mỹ – nơi mà không phải ngẫu nhiêu khi một lượng đáng kể bộ phận dân chúng Mỹ Latinh sinh sống. Nhưng một số diễn biến gần đây dường như đang làm thay đổi tính toán đó. Những hành xử không đúng mực với các đồng minh truyền thống của Mỹ, kể cả Mexico, trong nhiệm kỳ của cựu Tổng thống Donald Trump, và tiếp đến là những hình ảnh gây sốc của cuộc bạo loạn tháng 01/2021 tại Đồi Capitol ở Washington, đã khiến nhiều lãnh đạo Mỹ Latinh phải nghiêm túc đặt ra nghi vấn về tính khả tín dài hạn của Washington trong vai trò một đối tác chiến lược. Việc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đều ngừng ủng hộ định hướng tự do thương mại càng làm rõ cảm nhận rằng Trung Quốc có thể là cứu cánh duy nhất cho “cơn đói khát” các thị trường xuất khẩu mới và các nguồn vốn đầu tư để tăng trưởng kinh tế sau đại dịch COVID-19, vốn gây ra tác động đặc biệt nặng nề tại Mỹ Latinh. Mặc dù cũng có những tiếng nói lập luận rằng đây là lối tư duy thiển cận và bỏ qua những khiếm khuyết của chính Trung Quốc trong vai trò đối tác chiến lược, nhưng không dễ bỏ qua cảm giác được “giã đúng chỗ ngứa” và rằng luận điểm mặc định bấy lâu nay về cái gọi là khu vực ảnh hưởng của Mỹ tại Tây bán cầu giờ đây vẫn cần được rà soát lại.

Vận mệnh hiển nhiên

Một cuốn sách quan trọng mới xuất bản mang tên “Chủ động không liên kết và Mỹ Latinh: học thuyết cho thế kỷ mới”, với sự đóng góp của một vài nhân vật lãnh đạo chính sách nổi bật trong khu vực như Bộ trưởng Quốc phòng Argentina Jorge Taiana, và các cựu Ngoại trưởng Jorge Castañeda của Mexico và Celso Amorim của Brazil, có thể giúp lý giải phần nào lối tư duy trong khu vực. Bên cạnh cảm giác ngày càng bất an về sức mạnh của các thể chế dân chủ Mỹ, các tác giả còn chỉ ra quyết định của Mỹ năm 2017 khi từ bỏ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong đó Chile, Mexico và Peru là các nước ký kết, như một bước ngoặt cho vị thế của Washington tại khu vực. Quyết định này, cùng với việc Chính quyền Trump không ngừng đe dọa đưa ra các trừng phạt bằng biểu giá thuế như một công cụ chính trị, đã khiến nhiều nhà hoạch định chính sách trên khắp Mỹ Latinh đi tới kết luận rằng họ phải đa dạng hóa quan hệ thương mại để giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ. Những cuộc tranh cãi về chính sách của Tổng thống Joe Biden vừa qua cùng khả năng Trump trở lại Nhà Trắng năm 2024 càng xóa bỏ những hi vọng của họ rằng bước thụt lùi trong những năm vừa qua chỉ là hiện tượng nhất thời.

Nhưng cả những sự kiện nội bộ trong các nước cũng đang dẫn tới thay đổi. Những năm 2010 là một thập kỷ trì trệ về kinh tế, bất ổn về xã hội và xói mòn về dân chủ tại Mỹ Latin. Đây cũng là khu vực chịu tác động nặng nề nhất từ COVID-19, khi chiếm tới 30% số nạn nhân tử vong của đại dịch, bất chấp chỉ chiếm 8% dân số toàn cầu. Nền kinh tế khu vực sụt giảm bình quân 7% trong năm 2020 và chỉ có mức độ tàn phá kinh tế tại khu vực đồng euro mới có thể so sánh được. Cho dù có rất nhiều nguyên nhân cho những khó khăn của Mỹ Latinh, từ tình trạng bất bình đẳng cao độ tới việc các hệ thống y tế thiếu hụt ngân sách, một số nhà chiến lược đã kết luận rằng khu vực có vị thế yếu kém xem xét từ góc độ liên kết quốc tế, và lưu ý rằng Mỹ ban đầu đã giữ lại vaccine cho nhu cầu nội bộ thay vì cung cấp cho các đồng minh phía Nam. “Đã tới lúc phải chấm dứt vị thế ngày càng thứ yếu của khu vực”, các tác giả cuốn sách đã viết ngay trong lời giới thiệu, và bổ sung: “điều này gắn liền với việc nắm lấy vận mệnh của chính mình, không để rơi vào tay người khác”.

Trên thực tế, khái niệm “không liên kết” được nêu trong tiêu đề của cuốn sách này không hẳn là một sự gợi nhớ lại phong trào quốc tế được cố Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru sáng lập vào những năm 1960, phong trào tự quảng bá là một lựa chọn khác so với hai thái cực của Chiến tranh Lạnh nhưng trên thực tế lại thường hoạt động như một diễn đàn chống Mỹ một cách khéo léo. Khái niệm hiện đại đang ngày càng trở nên hấp dẫn tại Mỹ Latinh, được học giả Argentina Juan Gabriel Tokatlian nêu trong cuốn sách dưới thuật ngữ trên, hàm ý nói về một chính sách đối ngoại “cân bằng” giữa Washington và Bắc Kinh, không phụ họa và cũng không thù địch với bất kỳ bên nào. Những người đóng góp ý kiến khác trong tác phẩm này thì nhấn mạnh tới sự cần thiết của hội nhập kinh tế sâu rộng hơn, kể cả bên trong khu vực Mỹ Latinh, cũng như trong quan hệ với các nước châu Phi và châu Á, mở rộng các mối quan hệ “Nam-Nam”, vốn từng là trào lưu thời thượng vào hồi đầu thế kỷ. Một số chiến lược gia khác lại chú trọng việc hướng tới coi các nước châu Âu là đối tác để tránh bị phụ thuộc quá nhiều vào cả Washington lẫn Bắc Kinh.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/reviews/review-essay/2022-02-24/latin-america-looks-east

TLTKĐB – 16/04/2022

Tương lai tươi sáng cho công nghiệp chuỗi khối tại Việt Nam


Trang Globe Newswire, có trụ sở tại Mỹ, ngày 30/3 đăng bài nhận định công nghệ chuỗi khối (blockchain) đang bùng nổ tại Việt Nam, đồng thời đánh giá tiềm năng của ngành công nghệ này trong 5 đến 10 năm tới.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tham dự Vietnam Blockchain Expoverse, tổ chức tại Dubai (Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất – UAE) ngày 27/03/2022. Sự kiện này là cơ hội cho những người đam mê blockchain và các công ty chia sẻ kinh nghiệm cũng như quan điểm về tầm nhìn, tiềm năng, thách thức và các ứng dụng công nghệ của blockchain.

Blockchain đang bùng nổ ở Việt Nam

Bà Gwendolyn Regina, Giám đốc đầu tư của quỹ BNB Chain, cho biết Binance Chain có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong năm 2021. Công nghệ chuỗi khối đã được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là đối với Defi (tài chính phi tập trung – hình thức tài chính dựa trên blockchain).

Ông James Wo, Giám đốc điều hành của Tập đoàn DFG, đồng quan điểm rằng cấu trúc của mạng Layer 1 sẽ còn vững chắc hơn nữa.

Bà Nicole Zhang, Giám đốc Binance Labs, chia sẻ rằng các dự án Web2 sẽ chuyển trọng tâm sang Web3.

Ông Trần Dinh, một nhà đầu tư và nghiên cứu blockchain giàu kinh nghiệm, kiêm CEO của AlphaTrue – công ty Việt Nam chuyên về các sản phẩm blockchain, khẳng định: “Việt Nam có nguồn nhân lực và công nghệ dồi dào và một cộng đồng blockchain lớn”. Theo ông Trần Dinh, hai lợi thế khiến Việt Nam trở thành mảnh đất tiềm năng cho các dự án blockchain gồm:

+ Sự lựa chọn đa dạng và chi phí thấp. Chi phí thuê nhân tài và quản lý dự án ở Việt Nam là khả năng cạnh tranh và có nhiều sự lựa chọn.

+ Khả năng mở rộng: Theo dữ liệu từ Stalin, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có nhiều tiền điện tử nhất. Điều quan trọng là phát triển các dự án tại Việt Nam để có được sự tin tưởng và chấp nhận từ cộng đồng.

Tiềm năng của chuỗi khối trong 5 – 10 năm tới

Cũng theo ông Trần Dinh, tương lai của Web3 và blockchain sẽ chiếm ưu thế: mã hóa và phân quyền dữ liệu, công nghệ blockchain và quyền lực trong tay người dùng. Nó sẽ tập trung hơn vào bảo mật trực tuyến, sở hữu trí tuệ và cá nhân của người dùng.

Hơn nữa, bà Gwendolyn Regina chia sẻ rằng sự giao thoa của Defi, GameFi, và NFT sẽ xuất hiện trong 5 năm tới. Token sẽ là tài sản dài hạn có giá trị trong tương lai thay vì chỉ là tiền tệ hoặc phương tiện giao dịch.

James Wo dự báo công nghệ blockchain sẽ còn phổ biến hơn nữa, với thị trường mở rộng gấp 10 lần. Số lượng người dùng sẽ nhiều như số lượng người sử dụng Internet.

Bà Lynn Hoàng, Giám đốc Binance Đông Nam Á, đánh giá: “Việt Nam sẽ sớm trở thành nước tiên phong trong ngành blockchain toàn cầu. Việt Nam nằm trong top 10 trên Binance về các dự án và sản phẩm blockchain đầy tham vọng thu hút sự chú ý từ cộng đồng thế giới”.

Tuy nhiên, ông Trần Dinh khuyến cáo chặng đường phía trước còn nhiều thử thách, rất cần sự giúp đỡ, hỗ trợ của Chính phủ và các tập đoàn lớn. Theo ông, ba thách thức chính ở Việt Nam gồm:

+ Nguồn nhân lực: Không có nhiều chuyên gia về blockchain ở Việt Nam. Hầu hết các chuyên gia hiện nay đều xuất phát từ nền tảng phát triển trò chơi và ứng dụng.

+ Cơ sở hạ tầng: Tại Việt Nam, các tập đoàn đang tập trung nhiều hơn vào phát triển ứng dụng, đồng nghĩa với việc hạn chế về cơ sở hạ tầng để phát triển các dự án blockchain.

+ Chính sách: Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa tiếp cận được nhiều chính sách mới liên quan đến blockchain.

Binance cũng đang nỗ lực thúc đẩy sự phát triển của blockchain tại Việt Nam. Bà Lynn Hoàng chia sẻ: “Chúng tôi quan tâm đến việc tận dụng kiến thức của cộng đồng về blockchain. Chúng tôi khoanh vùng ít nhất 300 bài học miễn phí, từ cấp độ cơ bản đến nâng cao về chủ đề này cho tất cả mọi người”. Chuyên gia này lạc quan rằng nhiều tài năng blockchain đang trở lại Việt Nam và hy vọng Việt Nam sẽ được biết đến với hệ sinh thái blockchain bền vững trong tương lai.

Nguồn: TKNB – 01/04/2022