Liệu ngành may mặc Việt Nam có nâng tỷ lệ nội địa hóa kịp theo quy định của EVFTA?


Theo đài RFA, thống kê mới nhất cho thấy Trung Quốc là nguồn cung cấp vải lớn nhất của Việt Nam, chiếm 60% tổng lượng vải nhập vào thị trường may mặc trong nước. Sau Trung Quốc là Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản.

Tỷ lệ vải nhập lớon như vậy khiến ngành may mặc Việt Nam khó được hưởng mức thuế ưu đãi, được cam kết cắt giảm rất sâu, trong Hiệp định thương mại tự do mà Hà Nội ký kết với Liên minh châu Âu (EVFTA) vào cuối tháng 6 vừa qua. Lý do là không bảo đảm tiêu chuẩn xuất xứ của nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất.

Số liệu gây tranh cãi!

Ông Nguyễn Đình Trường, thành viên Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cho rằng 60% nguồn vải Trung Quốc vào thị trường may mặc Việt Nam là số liệu đúng:

Lý do là Việt Nam kh6ong đầu tư sản xuất nguyên liệu vải nên phải nhập nhiều của Trung Quốc, Đài Loan và một số nước khác. Mỗi năm, trong nước chỉ sản xuất 1 tỷ mét vải, còn phải nhập rất nhiều nên con số thông báo nhập khẩu vải đến 60 – 70% là chính xác”.

Trong khi đó, ông Diệp Thành Kiệt, nguyên Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thêu Đan, chuyên gia ngành dệt may và da giày Việt Nam, giải thích đây là vấn đề nội địa hóa nguyên vật liệu trong ngành may mặc xuất khẩu của Việt Nam: “Tỷ lệ nội địa hóa phải cao, phải sản xuất trong nước để chính người dân của mình được thu hưởng điều này. Cho nên, vấn đề còn lại là phải làm sao đạt tỷ lệ đó. Theo một số báo cáo tôi có dịp đọc thì tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam đã cao rồi, do đó, tôi tin rằng Việt Nam hiện nay nhập ít hơn số 60% vải của nước ngoài”.

Dù thừa nhận hay không, tỷ lệ nguồn nhập vải từ Trung Quốc vào Việt Nam vẫn cao, điều quan trọng là nếu không tự chủ được nguồn nguyên vật liệu thì ngành may mặc Việt Nam ít có hy vọng được miễn giảm thuế quan thông qua Hiệp định EVFTA. Ông Nguyễn Đình Trường nói: “Không ai tuyên bố là hạn chế mua hàng Trung Quốc mà chỉ nói mình chủ động được bao nhiêu sản xuất trong nước để được hưởng thuế quan, được hưởng cái gọi là “chuỗi giá trị kép” như ông Vũ Đức Giang (Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam) nói. Chúng ta phải độc lập tự chủ bằng nội lực của mình, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp trong nước liên kết với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để tạo thị trường vải cho ngành may mặc Việt Nam, bớt phụ thuộc vào nước ngoài”.

Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt

Ông Nguyễn Thành Sang, nguyên Tổng Giám đốc Công ty Dệt may Phước Thịnh, cho biết: “Riêng đối với ngành dệt, hiện nay, Trung Quốc là nước đứng đầu về đầu tư trong ngành nguyên liệu và nhuộm tại Việt Nam. Sản lượng rất lớn, còn Việt Nam bị hạn chế nhiều vì không thể cạnh tranh nổi. Vì vậy, doanh nghiệp phải biết tính toán để đầu tư cho đúng”.

Ông Nguyễn Đình Trường nói tiếp, thực tế từ 2 – 3 năm nay, nhiều nhà máy Trung Quốc và Đài Loan đã đầu tư hoạt động sản xuất vải trong nội địa Việt Nam.

Ông Nguyễn Đình Trường nói: “Hiện còn chờ Quốc hội châu Âu phê duyệt, ít nhất là một năm nữa. Trong thời gian đó, các nước chưa áp dụng quy tắc xuất xứ vì hiệp định chưa có hiệu lực thì Việt Nam vẫn còn cơ hội. Chính vì vậy, chính phủ nên khuyến cáo các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài hợp tác với nhau để cung cấp vải xuất của Việt Nam”.

Tăng tốc phát triển

Cũng tại Diễn đàn Thương mại Việt Nam – EU cuối tháng 7 vừa qua, Bộ Công thương Việt Nam cho rằng để có thể tận dụng mọi cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do thì chính phủ và các địa phương của Việt Nam cần hoạch định chiến lược phát triển các khu công nghiệp nhằm bù đắp cho phần cung bị thiếu hụt.

Về chiến lược phát triển ngành may mặc xuất khẩu, trong vòng 3 năm nay, một số dự án dệt nhuộm công nghệ cao từ châu Âu và Mỹ đã vào Việt Nam. Đức đã đầu tư vào nhà máy kéo sợi len lông cừu tại Đà Lạt, Israel và Mỹ có nhà máy dệt tại Bình Định, nhà máy nhuộm ở Nam Định.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Vũ Đức Giang, đây là những yếu tố giúp doanh nghiệp trong nước chủ động hơn về mặt nguyên liệu đầu vào. Tuy nhiên, ông Vũ Đức Giang phân tích thêm một thách thức gay go cho ngành dệt may nội địa là các địa phương không mặn mà, thậm chí từ chối những dự án dệt nhuộm vì e ngại ô nhiễm môi trường.

Chuyên gia ngành dệt may và da giày Việt Nam, ông Diệp Thành Kiệt cho biết: “Thực ra, Bộ Công thương đã có kế hoạch phát triển cho ngành dệt may và ngành da giày, trong đó đã quy hoạch một số nơi để làm các khu công nghiệp. Đương nhiên, địa phương nào nằm trong phạm vi cho phép thì người ta làm, còn những địa phương mà người ta không cho phép hoặc địa phương nằm gần nguồn nước cung cấp thì người ta không dám làm và việc đó không nên trách các địa phương. Vấn đề trở ngại có thể phân tích được là các địa phương quy hoạch các vị trí của khu công nghiệp dành cho nhuộm và thu6o5c da đôi lúc không thuận lợi cho việc vận chuyển”.

Đó là điểm mâu thuẫn mà các doanh nghiệp trong ngành dệt may và da giày đang kiến nghị và Bộ Công thương đang xem xét. Ông Diệp Thành Kiệt cho biết:

Nếu triệt để bảo vệ môi trường thì người ta đưa những khu này ra những nơi không ảnh hưởng đến nguồn nước của người dân. Không ảnh hưởng tức là phải xa khu dân cư, như vậy lại bất lợi trong việc vận chuyển.

Qua những sự cố môi trường lớn trước đó như đối với Vedan, Formosa hay một số trường hợp khác thì hầu hết các địa phương Việt Nam hiện nay đều rất ngại trong việc cho phép đầu tư vào những lĩnh vực có nước thải lớn như nhuộm, thuộc da, xi mạ. Mặt trái của nó là khi đầu tư thì hứa hẹn sẽ bảo vệ thế này thế kia, nhưng khi chi phí đưa nước thải thành nước sạch quá cao nên người ta né tránh không làm”.

Từ tháng 1 đến tháng 6 vừa qua, tổng lượng vải may mặc mà Việt Nam mua vào trị giá hơn 6,5 tỷ USD, chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa cả nước.

Theo Bộ Công thương, giảm được sự phụ thuộc vào nguồn cung vải lớn nhất từ Trung Quốc thì ngành may mặc sẽ thu lợi và mang về cho Việt Nam thêm hàng tỷ USD mỗi năm. Đây cũng là tình trạng chung của nhiều ngành sản xuất tại Việt Nam khi lệ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Thực tế này khiến lợi nhuận thu được trên sản phẩm làm ra rất thấp, vì thực ra, lợi nhuận chủ yếu đến từ sức lao động của người công nhân.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Advertisements

Sự thay đổi trong quan hệ Mỹ – EU: Nguyên nhân và triển vọng – Phần đầu


Sau khi Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ, giới học thuật quốc tế đổ lỗi sự xấu đi của quan hệ Mỹ – Liên minh châu Âu (EU) cho chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên” mà ông thực hiện. Tuy quan điểm này là chính xác, nhưng cũng không hoàn toàn như vậy. Vì sau khi trở thành nước lớn có thực lực hùng mạnh nhất và bị tổn thất ít nhất trên thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ luôn tìm cách bảo vệ địa vị số một toàn cầu của mình. Cho dù đến thời Tổng thống Barack Obama, khi phát biểu tại Học viện Quân sự Mỹ tại West Point tháng 5/2014, ông còn nhấn mạnh: “Tôi không thể chấp nhận việc Mỹ trở thành nước đứng thứ hai thế giới, Mỹ là quốc gia không thể thiếu, đây là điểm giới hạn của chúng ta, Mỹ phải luôn đứng ở vị trí lãnh đạo, nếu chúng ta không lãnh đạo, thì không có ai có thể lãnh đạo. Trong 100 năm tới, Mỹ vẫn phải là nước đứng đầu thế giới”. Trên thực tế, việc quan hệ Mỹ – EU liên tục thay đổi trong hơn 70 năm sau chiến tranh phụ thuộc vào cán cân sức mạnh giữa hai bên.

Quan hệ đồng minh giữa Mỹ và EU hiện nay được bắt nguồn từ liên quan các nước như Mỹ, Anh… để đối phó với cuộc xâm lược vũ trang của phát xít Đức, Italy trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với việc Pháp khôi phục đất nước và được xác định là một trong năm nước chiến thắng, cũng như việc Pháp khởi xướng khởi động tiến trình nhất thể hóa châu Âu bao gồm cả các nước thua trận như Đức, Italy…, để cùng vươn lên, bảo vệ nền hòa bình của châu Âu sau chiến tranh, trong tình hình cùng đối diện với mối đe dọa từ Liên Xô, quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – EU dần được hình thành.

Trong thời kỳ diễn ra Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô, quan hệ đồng minh Mỹ – EU do Mỹ đứng đầu trở thành chỗ dựa chủ yếu để Mỹ tranh giành quyền chủ đạo thế giới với Liên Xô, tìm cách chủ đạo trật tự kinh tế – chính trị thế giới. Các nước trng lục địa châu Âu như Pháp, Đức, Italy… đều bị tổn thất nặng nề do chiến tranh, để nhanh chóng khôi phục, buộc phải nhờ đến sự giúp đỡ của Mỹ về kinh tế, sự bảo vệ của Mỹ về an ninh, hình thành quan hệ song phương “Mỹ chủ đạo, EU làm theo”. Do luôn kề vai sát cánh cùng Mỹ tác chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nên Anh có công lao rất lớn, và Vương quốc Anh ngăn cách biển với lục địa châu Âu, tuy cùng chịu nhiều tổn thất, nhưng về tổng thể vẫn tương đối nhỏ. Thủ tướng Anh khi đó Winston Churchill tuyên bố: “Tuy Anh ở cùng với châu Âu, nhưng không thuộc châu Âu”. Điều này không những trở thành “chuẩn mực” của các nhiệm kỳ Chính phủ Anh sau này trong chính sách đối với châu Âu, mà còn là cơ sở để Mỹ và Anh xây dựng quan hệ đối tác đặc biệt.

Đầu những năm 1990, cùng với việc Liên Xô tan rã, tình hình khu vực Trung – Đông Âu thay đổi đột ngột, quan hệ Mỹ – EU cũng bắt đầu xuất hiện thay đổi do cán cân sức mạnh tạo ra. Với tư cách là siêu cường duy nhất, trong nhiệm kỳ Bush (cha), Chính phủ Mỹ đã thúc đẩy chiến lược toàn cầu để cố gắng ngăn chặn việc lại xuất hiện các quốc gia hay tập đoàn các nước giống như Liên Xô trước đây, có thể tạo thành thách thức hoặc mối đe dọa đối với địa vị lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, với mục đích là độc chiếm thế giới, kéo dài cho đến ngày nay. Cái gọi là “tập đoàn các nước” thực chất là chỉ EU. Tháng 9/2001, khi thực hiện Kế hoạch thế kỷ mới do Chính quyền Bush (con) vạch ra, các phần tử có tư tưởng chủ nghĩa bảo thủ mới của Mỹ đã tuyên bố một cách trắng trợn rằng: “Mỹ nên khuyên ngăn tất cả các nước phát triển không nên thừa nhận địa vị lãnh đạo của Mỹ, cũng đừng hy vọng phát huy vai trò quan trọng ở khu vực”.

Bên cạnh đó, cùng với tiến trình thúc đẩy nhất thể hóa châu Âu và sự thống nhất của nước Đức, sức mạnh của EU tăng lên, trở thành khối có sức mạnh tổng hợp lớn nhất, mức độ nhất thể hóa cao nhất trên thế giới, phát huy vai trò ngày càng lớn trong các công việc của thế giới. Tổng lượng kinh tế của EU đã đuổi kịp Mỹ, về chính trị, tổ chức này cũng không cam chịu địa vị “Mỹ chủ đạo, EU làm theo”, tìm kiếm địa vị ngang bằng với Mỹ. Cho dù Mỹ xâm lược Iraq hay mở rộng chức năng của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Mỹ cổ xúy thế giới không có hạt nhân hay rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, EU do Đức đứng đầu đều có quan điểm trái ngược với Mỹ.

Mục tiêu chiến lược của Mỹ và EU – một bên muốn độc chiếm thế giới, bá quyền bền vững; một bên muốn thể hiện năng lực, mở rộng thế lực – là khác nhau, làm cho mâu thuẫn và xung đột giữa lợi và hại của hai bên ngày càng gay gắt. Tuy “đồng minh” tồn tại trên danh nghĩa, nhưng hai bên đã chuyển hóa từ đồng minh thành đối thủ cạnh tranh, đều đặt lợi ích của mình lên trên quan hệ đồng minh. Hai bên vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau trong quá trình liên kết để chủ đạo trật tự quốc tế.

Việc quan hệ Mỹ – EU xuất hiện cục diện mâu thuẫn gay gắt, bất đồng nổi rõ, chỉ trích lẫn nhau, đối lập công khai sau khi Donald Trump lên làm tổng thống là do ân oán tích lũy trong nhiều năm qua tạo thành. Từ ý nghĩa nhất định, cũng là ảnh hưởng còn sót lại của việc Anh rời khỏi EU và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Xuất phát từ lợi ích cá nhân, trước tiên Chính quyền Obama cùng các nước EU do Đức, Pháp giữ vai trò chủ đạo, tích cực can dự vào cuộc trưng cầu ý dân của Anh, ngăn cản nước này rời khỏi EU; sau khi không thành công, lại cùng với các nước EU ủng hộ ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ Hillary Clinton. Khi Donald Trump thắng cử, Obama đích thân thuyết phục Angela Merkel tiếp tục tranh cử nhiệm kỳ thủ tướng Đức tiếp theo, còn nói rằng thế giới tự do của phương Tây cần có bà, ông không thể tìm được đối tác nào ổn định hơn và đáng tin cậy hơn Merkel. Nhiều năm qua, Donald Trump luôn nhận định các nước đồng minh như Đức đã lợi dụng Mỹ, và trong bài phát biểu nhậm chức có nói sẽ quyết tâm lấy lại tất cả, điều này đang càng thúc đẩy Donald Trump quyết định đi con đường phản đối Obama. Khi vừa lên cầm quyền, ông đã ủng hộ Anh rời khỏi EU, tập trung công kích Đức, mỉa mai chính sách của EU đối với châu Âu.

Việc quan hệ đồng minh Mỹ – EU liên tục căng thẳng, sắp đi đến rạn nứt có những yếu tố chính sau:

1/ Mối đe dọa an ninh chung tan biến, làm cho cơ sở tồn tại của liên minh quân sự Mỹ – EU bị tác động

Ngày 13/11/2016, trước khi Donald Trump đắc cử và trở thành tổng thống, cựu Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger từng nói với phóng viên của tờ Sankei Shimbun (Nhật Bản) rằng: “Rất nhiều quan hệ đồng minh được tạo ra trong thời Liên Xô được coi là mối đe dọa rất lớn. Hiện nay đã tiến vào thời đại mới, nội dung của mối đe dọa đã khác. Chỉ từ điểm này có thể thấy cần phải xem xét lại tất cả các quan hệ đồng minh”. Ông đặt lợi ích thực tế của Mỹ lên trên quan hệ đồng minh có cùng quan niệm giá trị, xem xét quan hệ Mỹ – EU dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá. Từ trước đến nay, Mỹ luôn áp dụng sách lược “chia để trị” đối với EU, khi vừa lên cầm quyền Donald Trump đã chĩa mũi dùi công kích vào Đức, phê phán Merkel đã phạm phải sai lầm rất lớn trong vấn đề người nhập cư. EU đã trở thành công cụ của Đức, Đức không tăng ngân sách quốc phòng nhưng lại đầu tư vào đường ống khí đốt Dòng chảy Phương Bắc 2 của Nga… Mục đích của những hành động này là muốn lôi kéo một số nước ở Trung-Đông-Âu, thậm chí là Nam Âu vốn bất mãn với Đức trong các công việc của châu Âu, cơ bản là không hài lòng đối với công việc quan trọng của EU do Đức chủ đạo. Mục tiêu chiến lược của Mỹ là cố gắng kiềm chế tình hình Đức tái trỗi dậy, một lần nữa trở thành nước đứng đầu châu Âu. Trong bài phát biểu gần đây của mình, Thủ tướng Merkel cho rằng “Thời gian để chúng ta có thể hoàn toàn dựa vào người khác đã kết thúc ở mức độ nào đó, người châu Âu phải nắm lấy vận mệnh của mình”. Đây không phải là điều ngẫu nhiên, nó cho thấy sự biến mất của mối đe dọa chung, quan hệ đồng minh cũng khó có thể tiếp tục.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.cfisnet.com – 14/05/2019

TLTKĐB – 05/06/2019

Sự vận hành của thể chế thương mại quốc tế nhiều bên – Phần cuối


II/ Phương thức quyết sách và phương thức sửa đổi hiệp định chung

1/ Phương thức quyết sách có quy định:

a/ Phương thức quyết sách thông thường.

Ngoại trừ trường hợp có quy định riêng ra, còn mọi quan hệ của Toàn thể các nước ký hiệp định phải được thông qua với đa số phiếu biểu quyết. Theo quy định của “Quy tắc trình tự đại hội Toàn thể các nước ký kết hiệp định” đa số giản đơn của Toàn bộ các nước ký hiệp định là đa số pháp định.

b/ Phương thức quyết sách đặc thù. Đó là phương thức quyết sách ngoại lệ quy định tại khoản 5 điều 25. Theo đó, Toàn thể các nước ký hiệp định miễn trừ nghãi vụ cho một nước nào đó phải được 2 phần 3 số phiếu biểu quyết tán thành, hơn nữa, đa số này phải chiếm quá bán toàn bộ các nước ký hiệp định. Điều 33 quy định, việc gia nhập hiệp định của mỗi thành viên mới phải được 2 phần 3 Toàn bộ các nước ký hiệp định tán thành.

c/ Toàn thể nhất trí tán thành. Hiệp định chung còn quy định những quyết định phải được Toàn bộ các nước ký hiệp định nhất trí tán thành. Việc sửa đổi quy chế tối huệ quốc tại điều 1 và quy tắc biểu thuế ở điều 2 phần thứ nhất Hiệp định chung, việc sửa đổi quy tắc sửa đổi điều 30 tại phần thứ ba, đều phải được Toàn thể nhất trí thông qua.

2/ Phương thức quyết sách theo thông lệ. Ngoại trừ các trường hợp có quy định rõ ràng, còn Toàn thể các nước ký hiệp định rất ít khi tiến hành bỏ phiếu biểu quyết. Các quyết định của Toàn thể các nước ký hiệp định và của Hội đồng đại biểu đều do các ủy ban và tổ công tác chuẩn bị từ trước, chúng được đưa ra khi thời cơ đã chín muồn, có thể được nhất trí đồng ý thông qua. Các quyết định của Hội đồng đại biểu đều được đưa vào báo cáo công việc hàng năm, trình đại hội Toàn thể các nước ký hiệp định phê chuẩn. Thực tế đó là thủ tục pháp lý được Toàn thể các nước ký Hiệp định chung thừa nhận để hợp pháp hóa những việc đã rồi.

III/ Sự vận hành thực tế của Hiệp định chung

Quá trình vận hành và thao tác thực tế của Hiệp định chung bao giờ cũng theo con đường thống nhất giữa pháp lý và hiện thực, do vậy, có sự ăn khớp tuyệt diệu giữa các quy định pháp lý với lợi ích thương mại của các nước. Xét theo khung pháp lý của hệ thống thương mại quốc tế nhiều bên. Hiệp định chung có các đặc trưng như: 1) Chủ nghĩa đơn phương. Sự cam kết nghĩa vụ đơn phương của các nước phát triển đối với các nước đang phát triển là dẫn chứng điển hình của đặc trưng này; 2) Chủ nghĩa song phương. Điều khoản về việc không áp dụng Hiệp định chung với nhau quy định tại điều 35 là đầu bên này của đặc trưng ấy; sự ưu đãi nhiều hơn giữa hai nước như sự ưu đãi trong thương mại biên giới là đầu kia của đặc trưng ấy; 3) Chủ nghĩa khu vực. Liên minh thuế quan và Khu mậu dịch tự do trong khuôn khổ Hiệp định chung là dẫn chứng điển hình của cái chủ nghĩa này; 4) Chủ nghĩa đa phương. Đây là tinh thần chủ đạo được Hiệp định chung đề xướng và thực hiện.

Do những đặc điểm trên mà hệ thống pháp lý trong Hiệp định chung mang đặc trưng thực dụng chủ nghĩa.

1/ Chủ nghĩa thực dụng

Chủ nghĩa thực dụng trong Hiệp định chung biểu hiện dưới các hình thức khác nhau. Cụ thể là:

a/ Hiệp định chung đã quy định các quy tắc giảm thuế cụ thể (tại điều 2), nhưng đồng thời lại quy định trình tự linh hoạt (điều 28) cho phép đàm phán lại khi cần thiết.

b/ Hiệp định chung đã quy định chung về việc bãi bỏ các hạn chế số lượng (điều 11), nhưng đồng thời lại có quy định ngoại lệ rộng rãi cho phép áp dụng biện pháp này (điều 12 và điều 18).

c/ Theo quy định về các biện pháp khẩn cấp đối với việc nhập khẩu loại sản phẩm nào đó (tại điều 19), thì nếu là do phải thực hiện nghĩa vụ ghi trong hiệp định mà lượng nhập khẩu của loại sản phẩm nào đó tăng mạnh, khiến người sản xuất trong nước bị thiệt hại, nước thành viên ấy có thể tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ này.

d/ Toàn thể các nước ký hiệp định có thể căn cứ vào nhu cầu thực tế để ra quyết định áp dụng các trình tự khác.

e/ Sự khoan dung của Toàn thể các nước ký hiệp định đối với những trường hợp đi chệch khỏi quy định trong Hiệp định chung.

2/ Sự ràng buộc về pháp lý của Hiệp định chung.

Chủ nghĩa thực dụng mở đường giải quyết vấn đề, còn pháp luật thì quy định nghĩa vụ pháp lý có tính chất ràng buộc. Đó là đặc điểm quan trọng trong phương thức xử lý vấn đề của Hiệp định chung. Sự ràng buộc pháp lý của Hiệp định chung biểu hiện ở chỗ:

a/ Kết quả của các vòng đàm phán nhiều bên trong khuôn khổ Hiệp định chung đều được đưa vào hệ thống luật của Hiệp định chung.

b/ Các quyết định chính thức của Toàn thể các nước ký hiệp định, việc kết nạp nước thành viên mới theo phương thức ký nghị định thư, trình tự giải quyết tranh chấp, công tác thẩm tra các vụ việc được thụ lý do tổ chuyên gia thực hiện, đều chịu sự ràng buộc pháp lý của hiệp định.

c/ Hiệp định chung ràng buộc các nước không được tùy tiện sử dụng các biện pháp thương mại bất hợp pháp. Vì những biện pháp này chẳng những bị lên án nghiêm khắc trên diễn đàn quốc tế, mà còn bị chính phủ các nước khác trả đũa.

Đặc điểm chủ yếu phân biệt Hiệp định chung với các tổ chức quốc tế khác là Hiệp định chung quy định rõ ràng quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các nước ký kết hiệp định này. Nếu nước nào vi phạm thì ắt sẽ bị tổn thất về lợi ích kinh tế và thương mại.

3/ Sự cân bằng giữa chủ nghĩa thực dụng và sự ràng buộc pháp lý

Nhiệm vụ của người lập ra và quản lý Hiệp định chung là bắc chiếc cầu nối giữa việc đi theo con đường tư pháp để thực hiện nguyên tắc cơ bản của Hiệp định chung và việc dùng quan điểm thực dụng để xử lý các vấn đề chính trị hiện thực. Thực tế cho thấy, trong quá trình vận hành và thao tác, Hiệp định chung cũng đã làm như thế để xử lý các vấn đề mới trong quan hệ thương mại. Trong thực tế, việc thực thi Hiệp định chung là một quá trình không ngừng tìm tòi để đạt tới sự cân bằng động. Một mặt, có linh hoạt với mức độ nhất định để thực hiện mục tiêu với thái độ hiện thực, khiến những vấn đề mấu chốt, phức tạp được giải quyết tốt, phù hợp với thực tế. Mặt khác, ghi lại phải khống chế những việc đi chệch các quy định pháp lý của Hiệp định chung và việc áp dụng linh hoạt các quy tắc trong Hiệp định chung, không để cho những việc đi chệch Hiệp định chung làm suy yếu quy phạm pháp lý của Hiệp định chung.

Trong sự cân bằng động giữa chủ nghĩa thực dụng và sự ràng buộc pháp lý, hai cái bổ sung cho nhau, không cái nào thay thế cái nào. Đàm phán và đưa kết quả đàm phán vào hệ thống Hiệp định chung là chiếc cầu nối giữa chúng với nhau.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Thương chiến Mỹ – Trung và ảnh hưởng đối với Việt Nam


Việt Nam nằm trong nhóm bị ảnh hưởng nặng nề

Tờ Business Times ngày 6/8 đăng bài cho rằng các nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu của châu Á như Việt Nam, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc và Malaysia sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi nhu cầu đối với các sản phẩm của Trung Quốc suy giảm và hiện tượng gián đoạn chuỗi cung ứng do thương chiến Mỹ – Trung leo thang.

Theo bài viết, nguyên nhân là do nhiều nhà xuất khẩu đã được tích hợp sâu vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Họ chuyên cung cấp thiết bị điện tử, phụ tùng và máy móc cho các nhà máy Trung Quốc, sau đó lắp ráp và tái xuất các sản phẩm điện tử sang Mỹ và các thị trường toàn cầu khác.

Theo báo cáo của Fitch Solutions hôm 6/8, tại châu Á, Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore tiếp xúc nhiều nhất với thị trường Trung Quốc, với tỷ lệ tương ứng 41%, 31% và khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc Đại lục và Hong Kong vào năm 2018. Phần lớn xuất khẩu của các nước này là mặt hàng điện tử và máy móc.

Fitch Solutions khuyến nghị Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á khác như Thái Lan và Malaysia có thể bù đắp sự sụt giảm nhu cầu của Trung Quốc bằng cách chào mời các tập đoàn đa quốc gia đang muốn di dời hoặc mở rộng sản xuất ở bên ngoài Trung Quốc.

Tuy nhiên, quá trình di dời không đơn giản và Việt Nam cũng như các quốc gia Đông Nam Á này có thể phải đối mặt với các hạn chế thương mại của Mỹ. Theo Fitch Solutions, điều đó có nghĩa là rất khó để chứng minh hiệu quả đầu tư cho đến khi chính sách thương mại toàn cầu trở nên rõ ràng hơn.

Việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng cũng là một quá trình phức tạp, có thể mất vài năm và đối diện với nhiều thách thức trong thực tế.

Hơn nữa, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm chạp cũng đang “đè nặng” lên các thị trường xuất khẩu khác, vốn phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc với tư cách là người mua chính nguyên liệu thô và hàng hóa lâu bền như ô tô.

Fitch Solutions cho rằng các nhà xuất khẩu hàng hóa như Chile, Congo, Angola, Brazil và Australia, cũng như các nhà xuất khẩu xe hơi lớn như Đức và Nhật Bản sẽ phải đối diện với sự sụt giảm nhu cầu từ Trung Quốc.

Fitch Solutions lưu ý: Căng thẳng thương mại toàn cầu sẽ vẫn tiếp diễn trong năm nay, gây sức ép đối với nhiều nền kinh tế.

Hơn nữa, nhiều nguy cơ Trung Quốc có thể tiếp tục trì hoãn thỏa thuận với hy vọng có được các điều khoản tốt hơn khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đã gần kề.

Trong năm qua, chính quyền Trung Quốc đã thực hiện các bước đi nhằm nới lỏng chính sách tiền tệ và cắt giảm thuế để giảm bớt áp lực từ việc loại bỏ lĩnh vực tài chính “đen” và suy giảm tăng trưởng giảm do căng thẳng thương mại với Mỹ. Tuy nhiên, Fitch Solutions vẫn dự đoán tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ giảm xuống còn 6,3% trong năm nay, từ mức 6,7% của năm 2018.

Căng thẳng thương mại đã làm trầm trọng thêm sự suy giảm cấu trúc của Trung Quốc, và ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy các biện pháp kích thích nền kinh tế cho đến nay không mấy hiệu quả. Fitch Solutions cho rằng Bắc Kinh sẽ sớm thực hiện các biện pháp kích thích để tăng thu nhập khả dụng. Báo cáo của Fitch nhấn mạnh: “Phần lớn sẽ dựa vào khả năng kích cầu của Trung Quốc để vực dậy các hoạt động kinh tế và giúp bình ổn nhu cầu đối với nguyên liệu thô”.

Làm sao Việt Nam có thể thoát khỏi những hậu quả bất lợi?

Theo đài RFA, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích về bối cảnh chung làm cơ sở suy luận và ước đoán về tương lai:

Thứ nhất, dân Mỹ thường “lạc quan tếu” rồi “hốt hoảng bậy”. Tâm lý đó ảnh hưởng đến sự dao động hàng ngày hàng giờ của thị trường tài chính Mỹ.

Thứ hai, các nước đều lệ thuộc vào việc xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ hơn là Mỹ cần bán hàng ra ngoài nên đều chú ý đến tình hình kinh tế Mỹ mà ít thấy nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn của Trung Quốc.

Thứ ba, ít ai chú ý đến kinh tế Mỹ giao dịch nhiều nhất là với Mexico, sau đó là Canada và Trung Quốc chỉ đứng thứ ba thôi.

Thứ tư, sau giai đoạn lạc quan thái quá về đà tăng giá cổ phiếu, người Mỹ lại sợ kinh tế bị suy trầm vì đã tăng trưởng trong 10 năm liền nên có lúc điều chỉnh. Phản ứng đó giải thích vì sao quyết định hạ lãi suất cơ bản tại Mỹ hôm 31/7 làm thị trường Mỹ không tăng mà sụt giá và gây lo ngại cho thiên hạ, khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ lại có ảnh hưởng toàn cầu.

Sau cùng, chính là nỗi phập phồng đó mới làm thị trường Mỹ sụt giá kỷ lục vào ngày thứ Hai khi tin tức về cuộc chiến thương mại từ ngày 6/8/2018 đã lên tới cao độ.

Do vậy, có lẽ chúng ta nên bình tĩnh hơn!

Mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc đã tích lũy từ lâu và có tính chất đa diện vì bao gồm cả an ninh chính trị, chứ không thu hẹp vào mặt trận kinh tế, thương mại, đầu tư hay ngoại hối nên tình hình còn căng thẳng chứ không giảm. Ngoài ra, Trung Quốc mất ưu thế dân số đông nhân công rẻ nên từ năm qua không còn là “công xưởng toàn cầu” và phải leo lên trình độ sản xuất cao hơn. Đấy là cơ hội cho Việt Nam tiếp nhận đầu tư rút khỏi thị trường Trung Quốc.

Khi mâu thuẫn Mỹ – Trung bùng nổ, Việt Nam tưởng là bãi đáp an toàn cho giới đầu tư tránh khỏi hậu quả bất lợi từ cuộc chiến thương mại. Thật ra, hậu quả bất lợi là số cầu giảm mạnh trên thế giới nên Việt Nam khó xuất khẩu hơn trước. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm nay chỉ tăng hơn 7% so với gần 18% của cùng kỳ năm ngoái.

Chuyện éo le là Việt Nam lại xuất siêu với Mỹ (đứng thứ 6) nên cần suy nghĩ về cán cân ngoại thương với Mỹ và về chính sách tiếp nhận đầu tư của doanh nghiệp Mỹ. Vì vậy, Việt Nam cần nhìn vào bài toán ngắn hạn trong viễn ảnh dài hạn.

Bài toán ngắn hạn là tăng nhập khẩu từ Mỹ và kiểm lại tiêu chuẩn xuất xứ theo tỷ lệ đóng góp thực của Việt Nam, tối thiểu là 30% để khỏi “gây họa” là bán hàng Trung Quốc hay của nơi khác vào thị trường Mỹ mà bị vạ. Hà Nội biết bài toán đó.

Còn trong dài hạn, Việt Nam nên nghĩ tới chuỗi cung ứng toàn cầu – là các nước chia nhau từng phần chế biến ra sản phẩm hoàn chỉnh để bán cho nhau, với giá trị gia tăng hay đóng góp của từng nước theo lợi thế tương đối. Việt Nam nên tránh nghĩ tới lợi thế là nhân công nhiều và rẻ (vì như vậy chỉ làm gia công cấp thấp cho nơi khác) mà cần kế hoạch giáo dục và đào tạo dài hạn để nhân công có tay nghề và năng suất nhằm chiếm phần đóng góp cao hơn cho mình. Trước thái độ hung hăng của Bắc Kinh với các doanh nghiệp nước ngoài, Việt Nam cần cho các nước thấy mình có nỗ lực xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất và hạ tầng vô hình là giáo dục cùng hệ thống luật lệ công khai minh bạch để có sân chơi bình đẳng cho mọi nhà đầu tư trong ngoài.

Việt Nam đang nỗ lực hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu khi tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương tự do với EU (EVFTA). Tiêu chuẩn rất cao của CPTPP và EVFTA đòi hỏi Việt Nam thực thi cải cách về môi sinh và quyền lao động để dễ nhận đầu tư từ các nước tiên tiến. EVFTA còn có chương trình Đối tác Công-Tư (PPP về khai thác hạ tầng mà Việt Nam nên sớm thông qua luật lệ để trấn an giới đầu tư nước ngoài và tư doanh nội địa về phần chia sẻ rủi ro. Các định chế viện trợ quốc tế đều cho rằng thủ tục rườm rà của Việt Nam làm chậm đà giải ngân và thực hiện các dự án. Đây là cơ hội cho Hà Nội sớm cải thiện hạ tầng luật lệ của mình.

Riêng với Mỹ, Việt Nam cần nhớ mâu thuẫn Mỹ – Trung trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là Mỹ chưa cho Trung Quốc quy chế “kinh tế thị trường”. Cho tới nay, Việt Nam mới chỉ được 69 nước công nhận quy chế đó. Đây là một ưu tiên cải cách sau CPTPP và EVFTA.

Còn về mối nguy thương chiến với Mỹ sau lời đả kích cực nặng của ông Trump vào đầu tháng trước rằng “Việt Nam là nước lạm dụng nhất” và dọa áp thuế 456% với thép do Việt Nam nhập từ Hàn Quốc và Đài Loan rồi bán sang thị trường Mỹ – đó là chuyện liên quan đến quy chế kinh tế thị trường. Đạo luật Thương mại Mỹ năm 1974 có Khoản 301 cho doanh nghiệp Mỹ khiếu nại khi bị cạnh tranh bất chính bằng bán phá giá. Mỹ dùng khoản đó để trừng phạt Trung Quốc. Nếu Việt Nam cũng bị áp thuế giảm 25% thì xuất khẩu có thể sụt 25% và tổng sản lượng mất 1 điểm, thay vì tăng 6,8% thì chỉ còn 5,8%, vì kinh tế vẫn còn quá lệ thuộc vào xuất khẩu.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Bản đồ du lịch châu Á đang thay đổi vì bất ổn chính trị


Theo tờ Nikkei Asia Review, những bất ổn về chính trị trong mùa Hè này đang tái định hình bản đồ du lịch châu Á, khi nhiều du khách Hàn Quốc và Trung Quốc từ bỏ các điểm đến ưa thích trước đó như Nhật Bản và Hong Kong để tìm đến các quốc gia Đông Nam Á.

Tình trạng căng thẳng đang gia tăng trong mối quan hệ thương mại giữa Tokyo và Seoul, các cuộc biểu tình ở Hong Kong (Trung Quốc) cùng với các chiến dịch quảng bá tích cực của nhiều quốc gia Đông Nam Á chính là nguyên nhân dẫn tới những thay đổi này.

Trong nửa đầu năm 2019, số lượng du khách Hàn Quốc tới Đông Nam Á đã tăng gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Con số này có thể tiếp tục tăng trong các kỳ nghỉ lễ sắp tới. Chỉ tính riêng trong tháng Sáu, số lượng du khách Hàn Quốc tới Malaysia đã tăng mạnh sau khi Kuala Lumpur tích cực quảng bá hình ảnh thông qua các hãng lữ hành và các phương tiện truyền thông, đồng thời mời những người có ảnh hưởng với giới trẻ tới nước này. Các hình ảnh và thông tin do những người có ảnh hưởng đăng tải trên mạng xã hội đã giúp thu hút những du khách trẻ tuổi.

Cùng với Malaysia, cả Việt Nam và Philippines đều chứng kiến tốc độ tăng trưởng 2 con số về số lượng du khách Hàn Quốc đến thăm. Đối với Việt Nam, lý do chủ yếu là khoảng 150.000 người Hàn Quốc đang sống ở nước này, nơi có hai nhà máy lớn của Samsung Electronics – tập đoàn đang chiếm gần 1/4 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Một hãng lữ hành ở Hà Nội cho biết Việt Nam là một quốc gia quen thuộc với người Hàn Quốc.

Bên cạnh đó, khoảng cách gần gũi về địa lý là một nhân tố khác đóng góp vào sự tăng trưởng số lượng du khách Hàn Quốc đến Việt Nam. Chuyến bay từ Seoul đến Đà Nẵng thường mất khoảng 4 tiếng rưỡi vá điều này khiến Đà Nẵng trở nên thuận tiện hơn so với Phuket của Thái Lan hay Bali của Indonesia. Chính phủ Hàn Quốc dự định sẽ mở lãnh sự quán ở Đà Nẵng vào cuối năm nay để phục vụ các du khách tại đây.

Trong nỗ lực thu hút khách du lịch, Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) bắt đầu giảm giá 30% cho các du khách đến từ Đông Á tại các cửa hàng miễn thuế và khu mua sắm lớn. Chiến dịch giảm giá này sẽ kéo dài cho đến cuối tháng 10 năm nay. Các du khách đến từ Đông Á vẫn được biết đến là những người thích mua sắm. Vì vậy, Phó Tổng cục trưởng TAT Chattan Kunjara Na Ayudhya cho biết, ông hy vọng rằng chiến dịch này sẽ giúp nâng doanh thu của ngành du lịch Thái Lan.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của công ty thương mại điện tử Wemakeprice cho thấy Đà Nẵng vẫn là điểm đến được ưa chuộng nhất đối với các du khách Hàn Quốc trong các kỳ nghỉ lễ Chuseok của Hàn Quốc. Tiếp theo là Bangkok và Guam. Vị trí của các điểm đến ở Nhật Bản như Tokyo và Okinawa đã bị rớt trên bảng xếp hạng.

Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7/2019, số lượng du khách Hàn Quốc tới Nhật Bản đã giảm 4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó chỉ riêng trong tháng Bảy, mức giảm đã lên tới 8%. Nhiều du khách Hàn Quốc đã tẩy chay tất cả những gì liên quan đến Nhật Bản, do tình trạng căng thẳng trong quan hệ Nhật – Hàn khởi đầu từ vấn đề lao động cưỡng ép đã lan sang lĩnh vực thương mại.

Tất cả 8 hãng hàng không của Hàn Quốc đều đã cắt giảm số lượng chuyến bay đến và đi từ Nhật Bản trong bối cảnh nhu cầu giảm. Hơn 60 chuyến bay đã bị tạm ngừng hoặc hủy bỏ. Thay vào đó, các hãng này đã tăng số lượng các chuyến bay tới khu vực Đông Nam Á.

Korean Air dự định sẽ tăng thêm 7 chuyến bay giữa Seoul và sân bay quốc tế Clark ở thủ đô Manila của Philippines trong tháng 10 cũng như tăng số lượng chuyến bay tới Đà Nẵng của Việt Nam và Bali của Indonesia. Trong khi đó, các hãng hàng không Asiana Airlines và Air Seoul cũng có kế hoạch tăng gấp đôi số lượng chuyến bay tới Đà Nẵng trong các tháng tới.

Tại Trung Quốc, các cuộc biểu tình ở Hong Kong có vẻ như đã ảnh hưởng rất lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2019, số lượng du khách Trung Quốc tới Đông Nam Á đã tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi số lượng du khách Trung Quốc tới Hong Kong giảm 31% vào đầu tháng Tám. Vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quôc cũng đang mất vị thế trên bản đồ du lịch châu Á do tình trạng căng thẳng đang gia tăng với đại lục. Chính phủ Trung Quốc đã ngừng cấp giấy thông hành cá nhân cho Đài Loan trong tháng 8 như một thông điệp gửi tới nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn, người đang cố gắng tăng cường quan hệ với Mỹ.

Các nhà chức trách Đài Loan dự báo số lượng du khách Trung Quốc tới vùng lãnh thổ này sẽ giảm 400.000 lượt người trong nửa cuối năm nay. CBRE ước tính thiệt hại kinh tế cho Đài Loan sẽ lên tới khoảng 630 triệu USD.

Các số liệu thống kê của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho thấy Hàn Quốc chiếm khoảng 5% số lượng du khách tới khu vực này  và đứng thứ ba trong số các thị trường du lịch ngoài ASEAN, sau Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU).

Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNTWO), các du khách Trung Quốc đã chi 277 tỷ USD cho các chuyến du lịch nước ngoài năm 2018, đứng đầu thế giới. Về số tiền mà du khách chi trả cho các chuyến du lịch nước ngoài, Hàn Quốc đứng thứ 2 ở châu Á và thứ 9 trên toàn thế giới, với tổng số tiền là 32 tỷ USD.

Nguồn: TKT – 17/09/2019

Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của một cuộc chiến tiền tệ


Ngày 6/8, hãng tin Kyodo News đã đăng bài phân tích cảu tác giả Tomoyuki Tachikawa với tiêu đề “Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ”, trong đó bày tỏ quan ngại về khả năng cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ và Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của cuộc chiến tiền tệ này.

Các nhà giao dịch nhận định trong bối cảnh hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ lắng dịu, thị trường ngoại hối toàn cầu chắc chắn sẽ tiếp tục phản ứng trước bất cứ phát biểu hay động thái nào của Mỹ và Trung Quốc trong thời gian tới.

Các nhà phân tích cho rằng Nhật Bản, với đồng Yen được coi là một tài sản an toàn trong thập kỷ qua, sẽ gặp rắc rối với các tranh chấp thương mại và tiền tệ đang gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Ông Masanobu Ishikawa, Tổng Giám đốc Tokyo Forex & Ueda Harlow – một công ty kinh doanh ngoại hối, nói: “Chúng ta không thể dự đoán Tổng thống Trump sẽ làm gì tiếp theo. Điều chúng ta có thể nói bây giờ là sự hỗn loạn trên thị trường tiền tệ có thể sẽ kéo dài trong một thời gian, và Nhật Bản sẽ bị thiệt hại từ sự hỗn loạn này”.

Một đồng NDT yếu hơn thường giúp thúc đẩy xuất khẩu bằng cách giúp cho hàng hóa của các công ty Trung Quốc rẻ hơn khi xuất khẩu sang các nước khác, đồng thời làm tăng doanh thu bằng đồng NDT ở nước ngoài. Chuyên gia kinh tế trưởng Junichi Makino của Công ty Chứng khoán SMBC Nikko, nói: “Nếu Trung Quốc cố gắng giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung bằng cách bằng cách hạ giá đồng bản tệ, cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc kinh tế này có thể sẽ chuyển thành một cuộc chiến tiền tệ”.

Một nhà kinh doanh ngoại hối nói: “Không thể loại trừ khả năng Tổng thống Trump sẽ can thiệp vào thị trường tiền tệ để hạ giá đồng bạc xanh của Mỹ”.

Mỹ vẫn chưa can thiệp vào thị trường tiền tệ kể từ năm 2011, thời điểm khi Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) tiến hành một hành động chung để giúp bình ổn giá của đồng Yen sau trận động đất kinh hoàng tháng 3 năm đó ở Nhật Bản, và tránh các tác động tiềm tàng lên thị trường tài chính toàn cầu.

Ông Ishikawa nhận định Mỹ hầu như không có cơ hội kiểm soát tỷ giá USD vì Washington đang thúc giục Bắc Kinh không làm như vậy. Tuy nhiên, ông nói: “Tôi không thể nói là “tuyệt đối không”. Tổng thống Trump có thể làm bất cứ điều gì mà ông ấy có thể để thách thức Trung Quốc”. Nếu các quan ngại về một cuộc chiến tiền tệ đang lan rộng trên thị trường ngoại hối, Nhật Bản, nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, có thể sẽ trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất”.

Cùng chung nhận định đó, chuyên gia Makino cho rằng đồng Yen của Nhật Bản đang tăng giá khi nhiều nhà giao dịch đã bán các tài sản rủi ro hơn, trong đó có chứng khoán, và đổ xô mua vào các tài sản an toàn hơn trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu đang mờ mịt hơn.

Hôm 6/8, đồng Yen đã ngừng tăng giá nhưng đồng tiền này vẫn đứng ở mức cao nhất trong 7 tháng, trên ngưỡng 105 Yen/USD. Việc đồng Yen tăng giá sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu, khiến cho Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thực hiện mục tiêu đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng thiểu phát đã kéo dài nhiều thập kỷ qua và gây khó khăn cho Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) trong việc thực hiện mục tiêu nâng tỷ lệ lạm phát ở nước này lên 2%.

Trong tháng 6/2019, chỉ số giá tiêu dùng lõi của Nhật Bản (không bao gồm sự biến động của giá thực phẩm tươi sống) đã tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, các số liệu thống kê mới nhất của Chính phủ cho thấy đà tăng của chỉ số này vẫn thấp nhất trong gần 2 năm qua do giá dầu giảm. Trong tình hình như vậy, có những đồn đoán về khả năng BOJ sẽ nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ để kích thích nền kinh tế và chặn đà tăng giá của đồng Yen.

Tuy nhiên, Thủ tướng Abe đã cam kết tăng thuế tiêu dùng từ mức 8% hiện nay lên 10% vào đầu tháng 10/2019 để giúp khôi phục sự lành mạnh tài chính của nước này trong bối cảnh nợ công đang ở mức cao nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Điều này làm gia tăng dự đoán rằng chi tiêu và đầu tư của khu vực tư nhân sẽ giảm. Các nhà kinh tế cho rằng nếu nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đối mặt với áp lực suy thoái, giá cổ phiếu sẽ giảm và điều này có thể làm đẩy nhanh nhu cầu tìm đến đồng Yen như một nơi trú ẩn an toàn.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Phá giá tiền tệ – chiến thuật “lợi bất cập hại” của Bắc Kinh


Theo đài RFI, Bắc Kinh vừa mở một mặt trận mới trong cuộc thương chiến với Mỹ. Biện pháp thả nổi đồng NDT của Trung Quốc có thể giới hạn thiệt hại trước đòn tấn công áp thuế của Donald Trump. Tuy nhiên, theo giới phân tích cả quốc tế lẫn Trung Quốc, chiến thuật này là con dao hai lưỡi, lợi ít, nhưng hại nhiều cho kinh tế Hoa Lục. Bắc Kinh sử dụng vũ khí tiền tệ để đương đầu với Mỹ trong cuộc chiến tranh thương mại, nhưng ở thế bị động.

Vài giờ sau khi Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc thả nổi đồng tiền, Donald Trump bắn lên Twitter cáo buộc: “Trung Quốc cho đồng tiền của mình rơi giá đến mức gần như thấp nhất lịch sử. Hành động này gọi là thao túng tiền tệ và sẽ làm cho Trung Quốc suy yếu nghiêm trọng hơn theo thời gian”. Tổng thống Mỹ cũng nhân cơ hội này một lần nữa thúc giục Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất chỉ đạo để cho USD giảm theo.

Cho dù thống đốc Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc Dịch Cương phủ nhận cáo buộc phá giá đồng tiền để trả đũa Mỹ, nhưng trong một bản thông cáo, ngân hàng này xác nhận đang phải “đối phó với những tác động đơn phương, những biện pháp bảo hộ mậu dịch”.

Theo AFP, giới phân tích tin rằng Bắc Kinh đã sẵn sàng sử dụng vũ khí tiền tệ để trả đũa Mỹ trong bối cảnh thương chiến không lối thoát. Bo Zhuang, chuyên gia người Trung Quốc của Trung tâm nghiên cứu TS Lombard, cho rằng sự kiện đồng NDT mất giá đột ngột là hậu quả của một cuộc “can thiệp chủ động” của Ngân hàng Nhà nước để hỗ trợ cho hàng xuất khẩu, cũng như để làm giảm bớt phần nào tác động của biện pháp áp thuế của Mỹ.

Vì sao Bắc Kinh sử dụng vũ khí này và hiệu năng đến đâu?

Tuần trước, Tổng thống Donald Trump lên án Trung Quốc tìm mọi cách kéo dài thời gian đàm phán để chờ một chủ nhân mới tại Nhà Trắng sau năm 2020. Rất có thể vì vậy mà thay vì gây áp lực với Washington bằng cách ngưng mua công trái phiếu của Mỹ, Bắc Kinh thao túng tỷ giá hối đoái của đồng tiền quốc gia để duy trì xuất siêu. Vấn đề là vũ khí này có giới hạn và phản tác dụng.

Trả lời câu hỏi của RFI, Giáo sư Nathalie Janson, Đại học thương mại NEOMA, Paris giải thích: “Đây là dấu hiệu căng thẳng cao độ và trong bối cảnh không có đối thoại thật sự, Trung Quốc chỉ có tiền tệ để làm vũ khí. Nhưng vấn đề là phương tiện này có hiệu quả hay không, bởi vì không phải giảm giá đồng bạc là xuất khẩu gia tăng. Nhiều nước đã học được kinh nghiệm này. Không có gì bảo đảm là Trung Quốc sẽ thành công, nhưng Bắc Kinh chỉ có phương tiện này, trong cuộc chiến tranh thương mại, để hỗ trợ xuất khẩu vào thị trường Mỹ”.

Chiến lược tiền tệ của Trung Quốc còn một số điểm bất cập khác. Chuyên gia Tao Wang của Ngân hàng Thụy Sĩ UBS cảnh báo rằng “cho dù có phá giá đến đâu cũng không đủ bù đắp thiệt hại vì chiến tranh thương mại”. Mặt khác, chính sách phá giá cũng bất lợi cho Trung Quốc bởi vì từ năm 2015, Bắc Kinh cố gắng ổn định đồng tiền để ngăn chặn xu hướng vốn đầu tư chạy ra nước ngoài.

Vòng xoáy đầy bất trắc

Theo nhận định của Mark Sobel, một cựu viên chức của Bộ Tài chính Mỹ, Bắc Kinh có thể sẽ kiểm soát chặt chẽ vốn đầu tư và tránh không để cho đồng NDT lao dốc không phanh.

Nguy cơ này được tạp chí tài chính Caixin (Tài Tân) nêu rõ rằng đồng tiền Trung Quốc có thể rơi vào vòng xoáy không lối thoát. Vì lo sợ vốn liếng tiêu tan, người dân sẽ tống khứ đồng NDT và càng làm cho nội tệ mất giá với những hệ quả tai hại như lạm phát, vật giá leo thang, hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là dầu mỏ đắt đỏ sẽ tác động tiêu cực lên kinh tế Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019