Việt Nam tìm kiếm mô hình phát triển mới – Phần I


Vào tháng 1/2016, Việt Nam đã trải qua một sự chuyển giao lãnh đạo quan trọng tại Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Nền kinh tế nước này đứng trước một bước ngoặt, sau 30 năm đổi mới biến Việt Nam thành một nước có thu nhập trung bình thấp với một nền kinh tế đang phát triển thịnh vượng dựa vào sản xuất, hướng theo xuất khẩu, nhưng vẫn còn mong muốn nhiều điều. Việt Nam vẫn đứng ở vị trí cuối cùng của chuỗi cung ứng toàn cầu, và vẫn bị kiềm chế với một khu vực nhà nước phần lớn là kém hiệu quả và một khu vực tài chính yếu ớt. Tuy nhiên, Chính phủ muốn hoàn tất công cuộc “hiện đại hóa, công nghiệp hóa và chất lượng cuộc sống tốt hơn” đến năm 2035, khi Việt Nam tròn 60 năm thống nhất.

Trên mặt trận quốc tế, Việt Nam đã tạo dựng được một loạt quan hệ đối tác với các nước khác – bao gồm cả các nước láng giềng lẫn các nước lớn hơn – và tìm cách xác định lại các mối quan hệ của họ với phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Tuy nhiên, nước này phải đối mặt với những thách thức về chính sách đối ngoại phức tạp hơn bao giờ hết bắt nguồn chủ yếu từ thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) – mà ở đó Việt Nam là một nước tích cực đưa ra yêu sách chủ quyền trong những tranh chấp lãnh thổ trên biển – và một trật tự khu vực đang tiến triển. Ban lãnh đạo cũng như dân chúng dường như đang tìm kiếm một bên làm thay đổi cuộc chơi có thể giúp giải quyết loạt thách thức địa chiến lược và kinh tế – xã hội mà Việt Nam đang phải đối mặt. Nếu 30 năm qua là nền móng để Việt Nam lập biểu đồ lịch sử hậu chiến tranh của mình và điều kiện cho các quan hệ của họ với thế giới bên ngoài, thì giai đoạn từ năm 2016 trở đi dự kiến sẽ mở ra một kỷ nguyên mới năng động tại đất nước gần 100 triệu dân này.

Tìm kiếm một mô hình phát triển mới

Việt Nam cần một chiến lược phát triển mới, 30 năm cải cách theo định hướng thị trường đã biến đổi đất nước từng bị chiến tranh tàn phá thành một xã hội của giai cấp tiểu tư sản, một trung tâm sản xuất hàng may mặc và điện tử phát triển thịnh vượng trong khu vực và một điểm đến ngày càng hấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài. Đồng thời, nền kinh tế nước này vẫn chỉ mới hội nhập một cách lỏng lẻo vào chuỗi cung ứng toàn cầu, phụ thuộc chủ yếu vào đầu tư nước ngoài để thúc đẩy sự tăng trưởng của mình hướng theo xuất khẩu, và chịu đựng một khu vực nhà nước rộng lớn kém hiệu quả và một khu vực tư nhân trong nước chậm phát triển. Đồng thời với việc chi phí lao động đều đặn gia tăng đang đặt khu vực sản xuất hàng may mặc của Việt Nam vào thế bất lợi so với các đố thủ cạnh tranh như Bangladesh và Myanmar, 86% trong tổng số hơn 2 triệu việc làm trong ngành công nghiệp may mặc và giày dép có thể gặp rủi ro trong thập kỷ tới do các công nghệ tự động và gây gián đoạn. Nước này đã nổi lên như một trung tâm sản xuất hấp dẫn đối với các công ty công nghệ toàn cầu – cung cấp điện thoại thông minh và các thiết bị và thành phần điện tử – với các mặt hàng xuất khẩu trong ngành điện tử đang nổi lên trong những năm gần đây để trở thành nguồn thu từ xuất khẩu lớn nhất cho Chính phủ. Tuy nhiên, số liệu thống kê cho thấy các nhà cung cấp Việt Nam chỉ chiếm 20% các doanh nghiệp trong các ngành công nghiệp phụ trợ cung ứng cho khu vực sản xuất công nghệ cao đang mở rộng – so với tỷ lệ lên tới 40% ở các nước láng giềng Malaysia và Thái Lan. Những con số này cho thấy rằng nếu không có những đầu tư nghiêm túc nhằm giúp nước này leo lên bậc cao hơn trong chuỗi giá trị, Việt Nam sẽ chỉ thu được những lợi ích có hạn từ mô hình tăng trưởng hiện tại của mình. Các thể chế công, được xây dựng từ lâu cho một nền kinh tế kế hoạch tập trung kiểu Xô Viết, luôn không theo kịp với các nhu cầu của một nền kinh tế mở hơn do thị trường thúc đẩy.

Ban lãnh đạo muốn Việt Nam trở thành một “quốc gia công nghiệp hóa cơ bản” và có sẵn nền tảng cho một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” vào năm 2020, và hiểu rằng việc tái cơ cấu kinh tế toàn diện có ý nghĩa then chốt để Việt Nam duy trì mức tăng trưởng 6% hoặc 7% trong tương lai, do đó duy trì tính hợp pháp của Đảng. Tuy nhiên, các quan chức cũng như các học giả trong lĩnh vực chính trị vẫn lúng túng về ý nghĩa của việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và, kết quả là, việc cần nới lỏng đến mức độ nào sự kiểm soát của Nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Sự lưỡng phân này sẽ là một đường đứt gãy quan trọng trong việc hoạch định chính sách của Việt Nam những năm tới.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, được biết đến là một nhà quản lý đầy tâm huyết, đã khiến các nhà quan sát ngạc nhiên khi ông bắt đầu ủng hộ khái niệm “chính phủ kiến tạo”, một tinh thần mà ông yêu cầu quan chức chính quyền các cấp tiếp nhận hướng đến dân chúng và cộng đồng doanh nghiệp, ngay sau khi nhậm chức hồi tháng 4/2016. Trong các bài phát biểu của mình, ông Phúc chỉ ra rằng Chính phủ quá thường xuyên cản trở, thay vì trợ giúp đời sống doanh nghiệp và nhân dân, một tư duy mà ông nói phải thay đổi. Trong ngữ cảnh phát ngôn chính thức của Việt Nam, ý kiến cho rằng Chính phủ cần được chỉ đạo theo một đặc điểm rõ ràng – trong trường hợp này là sự kiến tạo – khi làm việc với các cử tri của mình chí ít cũng là điều thú vị. Điều này là bởi theo cách nói truyền thống trong hoạt động chính trị của Hà Nội, Đảng, Nhà nước và nhân dân rất thường xuyên là những nhóm nhỏ của cùng một thực thể, hoặc có thể hoán đổi cho nhau. Phát ngôn mới của ông Phúc đã gây nên một cuộc tranh luận sôi nổi trong giới học giả và trên truyền thông xã hội về việc hiểu thế nào cho đúng nhất về “chính phủ kiến tạo”, khái niệm chưa có sẵn thuật ngữ tương đương trong tiếng Anh, và việc nó nói gì về chiều hướng của các mối quan hệ giữa Nhà nước và xã hội ở Việt Nam. Theo một học giả đáng kính của Việt Nam, sự khác biệt cơ bản giữa “chính phủ kiến tạo” và các phương thức quản lý trước đây là trong khi các phương thức quản lý trước đây nhấn mạnh việc quản lý hay cai trị dân chúng và cộng đồng doanh nghiệp, “chính phủ kiến tạo” tập trung tạo ra các cơ hội cho họ. Ngoài ra, kể từ khi nhậm chức, Thủ tướng đã có nhiều chuyến thăm bất ngờ đến các khu chợ và cửa hàng địa phương dưới danh nghĩa kiểm tra an toàn thực phẩm và tương tác với dân thường, theo một cách gần giống với các chính trị gia chẳng hạn như ở đất nước Indonesia được quản lý một cách dân chủ. Tuy nhiên, liệu câu thần chú của ông Phúc có tác động gì đến chế độ quan liêu của Việt Nam hay không thì vẫn cần phải được xem xét.

Tháng 10/2016, 6 tháng sau khi lên cầm quyền, Chính phủ đã phê chuẩn một kế hoạch tái cơ cấu kinh tế cho giai đoạn 2016 – 2020 được xây dựng trên 3 mục tiêu chỉ đạo. Đó là: (1) dần dần cho phép các cơ chế thị trường giữ vai trò dẫn đầu trong nền kinh tế và phân bổ các nguồn lực; (2) phát triển ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn để dần dần trở thành đầu máy của nền kinh tế, thay thế các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng thấp hiện nay (chẳng hạn như ngành sản xuất hàng may mặc, lắp ráp điện tử); và (3) tích cực thực hiện hội nhập quốc tế (nghĩa là trong thương mại và đầu tư) và cải thiện vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Để thực hiện nghị trình này, Hà Nội đã đặt ra 5 lĩnh vực cải cách chủ yếu cho nhiệm kỳ hiện tại. Một là, Chính phủ đã nhất trí rằng họ cần giúp đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của khu vực tư nhân trong nước và tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hai là, cần có những nỗ lực phối hợp trong cải cách khu vực nhà nước, trong đó có cải cách các doanh nghiệp nhà nước (SOE) và các cơ chế quản lý đầu tư công và chi tiêu công. Ba là, cải cách khu vực tài chính, bao gồm các thể chế tín dụng và phát triển các thị trường vốn, cần được chú trọng hơn. Bốn là, Chính phủ cần hiện đại hóa lối tư duy và quy hoạch kinh tế theo những cách thức mà sẽ giúp thúc đẩy năng suất. Và năm là, ban lãnh đạo cần cho phép các lực lượng thị trường, quyết định các nhân tố quan trọng của sản xuất như việc sử dụng đất đai, lao động, và khoa học và công nghệ. Nỗ lực trong vòng 5 năm này ước tính có chi phí gần 500 tỷ USD, hoặc 10.000.000 tỷ VND, và sẽ bao gồm chi phí giải quyết nợ xấu tại các ngân hàng trong nước tích tụ từ đầu những năm 2000.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Southeast Asia Affairs – 2017

TLTKĐB – 11/07/2017

Một tương lai không chắc chắn – Phần XII


Năm 1989 là năm đặc biệt thành công trong việc đảo ngược xu thế, khi đó mức gia tăng dân số tự nhiên tuyệt đối tăng liên tục (tăng thêm 87,7 triệu người) và năm sau đó, mức tăng bất đầu giảm (tăng thêm 77,3 triệu người trong năm 2007). Cục Dân số Mỹ (US. Census Bureau) dự đoán rằng, đến nửa thập niên tới mức tăg dân số tuyệt đối của trái đất sẽ duy trì ở mức gần bằng hiện nay, tức dao động trong khoảng từ 76 đến 78 triệu mỗi năm, sau đó, sẽ liên tục giảm đến mức 46 triệu người/năm trong nửa thế kỷ này.

Nếu mức trung bình ấy là có lợi dưới góc độ kinh tế – xã hội phân bố theo khu vực, thì đấy là cơ sở để chúng ta hài lòng. Song lại không được như vậy. Có những nơi, số dân tăng nhanh với tốc độ đáng sợ, có những nơi, dân số thụt giảm đáng kể. Xu hướng khác nhau là hàm số của một số biến số, trước hết là tỷ lệ sinh và chết yểu của trẻ sơ sinh và tuổi thọ, mà quá trình dân số lại là hàm số của điều kiện kinh tế trong cuộc sống và những kỳ vọng về những thay đổi của nó trong tương lai. Có một sự phân tán rất lớn liên quan đến tất cả các biến số này. Ngoài ra, tác động tới quá trình này còn có hiệu ứng của hiện tượng di cư. Điều này sẽ tiếp diễn trong tương lai.

Bi kịch là ở chỗ, số trẻ sinh ra nhiều nhất lại ở các nước lạc hậu nhất, nơi mà điều kiện dinh dưỡng, nuôi dạy và giáo dục là vô cùng khó khăn. Đấy là một thực tế đáng buồn. Điều này diễn ra trong những bối cảnh xã hội văn hóa đặc thù. Những hậu quả kinh tế rất đáng lo ngại, bởi vì tình trạng không phát triển biểu hiện bằng mức thu nhập thấp, thiếu thốn lương thực và thiếu những điều kiện chăm sóc sức khỏe cơ bản nhất, một phần các cháu đã chết yểu ngay sau khi sinh ra, một số sống được đến 5 tuổi, số mà tồn tại được thì lại rơi vào tình cảnh cùng cực.

Trong số 10 quốc gia có tỷ lệ sinh cao nhất, thì 4 – Afghanistan, Somalia, Brundi và Cộng hòa Dân chủ Congo – lại thuộc 10 nước nghèo nhất thế giới, với mức thu nhập tính trên đầu người thấp hơn 800 USD (tính theo PSN). Somalia và 3 nước khác trong nhóm 10 nước nghèo nhất – Mali, Niger và Angola – lại nằm trong những vị trí cuối cùng trong 10 nước có tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao nhất. Tỷ lệ tử vong sau khi sinh tại Angola và Sierra Leone lần lượt là 184,4 và 158,3 trên 1000 trẻ sơ sinh. Tại Mali và Niger phụ nữ sinh trung bình 7,4 con, tại Afghanistan và Yemen – là 6,6 và 6,5. Tính trung bình thì cứ một gia đình thì ít nhất lại có ít nhất một cháu chết yểu. Năm trước trong số 10 nước có tỷ lệ sinh con cao nhất cũng là những nước có tốc độ tăng dân số cao nhất (theo ước tính của Liên hợp quốc cho các năm 2005 – 2010) : Brundi – 3,9%, Afghanistan – 3,85%, Niger – 3,49%, Mali – 3,02% và Congo 3 – 3,22%. Gần đây, Liberia nổi lên như một quốc gia có tốc độ tăng dân số cao nhất thế giới – 4,5%. Đứng ở vị trí đỉnh của danh sách này là các nước hay vùng lãnh thổ như Tây Sahara và Đông Timor hay Eryteria và Palestine. Điều đập vào mắt chúng ta là, trong phần lớn các trường hợp thì đó là những nước cho đến gần đây vừa trải qua những xung đột vũ trang, chúng phản ứng ở phần nào về thời kỳ kinh hoàng đó.

Nếu đi du lịch tới các nước này thì có thể cảm nhận được điều đó trong bầu không khí xã hội sở tại. Và cũng dễ dàng nhận thấy rằng, những nước này rơi vào vòng luẩn quẩn – nghèo khó làm gia tăng dân số, sự gia tăng dân số lại càng làm nghèo khó hơn, mà có thể từ đây bùng nổ những xung đột vũ trang, được kích động bởi sự khác biệt sắc tộc – không có cơ hội vượt qua sự đình trệ mang tính cơ cấu để bước vào con đường phát triển. Nếu như Trung Quốc, mới chỉ gần đây thôi còn là một nước nghèo, không cương quyết áp dụng những biện pháp triệt để nhằm kiểm soát việc sinh đẻ (ở đó một phụ nữ sinh trung bình 1,75 con và tốc độ tăng dân số là 0,58%) thì ngay nay có lẽ đã là nước nghèo khổ và đông dân nhất thế giới, chứ không thể tự hào như hiện nay vì thành tích to lớn trong công cuộc phát triển đất nước.

Ở thái cực kia, chúng ta lại có những quốc gia, mà phụ nữ chỉ sinh 1 con và bình quân không nhiều hơn con số 1. Những trường hợp cá biệt, không đem lại ý nghĩa gì đối với số phận thế giới, do quy mô quá nhỏ, đấy là Đài Loan, Singapore, và Hong Kong, ở những nước này, mỗi phụ nữ sinh lần lượt là 1,12 ; 1,07 ; và 0,98 con. Các nước có dân số đáng kể, nhưng nằm gần đáy bảng xếp hạng là Nhật Bản và Ukraine với tỷ lệ lần lượt là 1,23 ; 1,24 hay Nga và Đức – lần lượt là 1,39 ; 1,40. Tóm lại, trong danh sách 222 quốc gia và các vùng lãnh thổ được các tổ chức quốc tế xây dựng, có tới 96 quốc gia có tỷ lệ sinh đẻ thấp hơn (tỷ lệ) 2,1. Tỷ lệ này được coi là tỷ lệ sinh đẻ tái tạo, nhằm bảo đảm duy trì số dân hiện thời (không tính tới tác động của di dân).

Trong danh sách dài lê thê của các quốc gia, điều làm ngạc nhiên là Mỹ có tỷ lệ 2,09, đứng ở vị trí thứ 126. Ba Lan với tỷ lệ 1,26, đứng ở vị trí 206 giữa một bên là các nước như Italy, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và bên kia là Litva, Slovenia, Moldavia, Ukraine, Bosnia và Hercegovina. Có một điều đặc biệt là, trong số 20 quốc gia có nhịp độ tăng dân số âm, thì có tới 16 nước thuộc các nước hậu xã hội chủ nghĩa Châu Âu, kể cả Nga, Gruzia và Armenia. Bốn nước còn lại là Đức và Nhật Bản, có tỷ lệ sinh đẻ rất thấp và đi xuống, thêm vào đó còn có thể kể đến các nước như Dominica cạnh biển Caribean và Guiana tại Nam Mỹ. Như vậy, khi loài người ngày càng đông đảo, thì tại một số nước dân ngày càng nhiều (và quá đông), còn tại một số nước khác lại ngày một ít đi (và quá ít). Sự không đồng đều hiểu nhiên về dân số này sẽ ngày càng sâu sắc và hiện tượng di dân không còn là nhỏ.

Nhận định rằng, đến năm 2050, tỷ lệ sinh đẻ giảm dưới ngưỡng bảo toàn tái tạo dân số sẽ diễn ra ở cả những nước khác nữa. Hiện nay tình trạng này đã hiện hữu ở tất cả 27 nước thuộc Liên minh châu Âu. Nếu như 50 năm trước đây – vào năm 1957, khi nền tảng cho Liên minh hiện nay được thiết lập – ở tất cả các nước đó tỷ lệ sinh đẻ cao hơn 2,1, thì hiện nay cũng ở tất cả các nước, không có ngoại lệ, tỷ lệ này ở mức báo động, dao động quanh mức từ 1,86 tại Ireland đến 1,21 ở Litva. Trong bối cảnh đó, dự báo suy giảm số dân ở Châu Âu từ mức hiện nay là chưa đầy 730 triệu xuống khoảng – vâng, chính thế, khoảng bao nhiêu đây ?

Một số dự báo mức giảm khoảng 1%, tức là khoảng 7 triệu người. Một số người khác – trong đó – điều quan trọng – có các chuyên gia của Liên hợp quốc – giảm đến 10% tức là trên 70 triệu người. Trong phương án thứ hai, người Châu Âu không phải như hiện nay, tức chiếm 11% mà khoảng 7% dân số thế giới. Duy chỉ có Bắc Mỹ là duy trì được tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ trung bình của thế giới, tuy nhiên số dân ở riêng nước Mỹ sẽ tăng thêm 100 triệu, từ mức khoảng 302 triệu (không tính một vài chục triệu là dân di cư bất hợp pháp) lên 402 triệu trong nửa thế kỷ này. Tuy nhiên, có thể sẽ khác hơn nếu lưu ý tới cuộc tái chiếm Trung và Nam Mỹ đặc biệt của người Tây Ban Nha và sự gia tăng làn sóng di cư từ Nam Mỹ và Trung Mỹ vào California, New Mexico, Arizona, Nevada, Texas. Một số người nhập cư vẫn còn mang dòng máu của người da đỏ, nhưng giờ đây không thể đuổi họ đi hoặc nhốt họ trong những khu rừng sinh thái được.

Tuy nhiên, tất cả các dự báo dân số học đều khiến chúng ta không khỏi nghi ngờ và e ngại. Những dự báo stricte kinh tế lại càng nhiều hơn. Ai cũng hiểu rằng mỗi dự báo đều dựa trên những giả thuyết nhất định. Và ai cũng hiểu rằng khoảng thời gian dự báo cũng kéo dài, mức độ không chắc chắn càng lớn, mà các dự báo về dân số thực chất là những dự báo dài hạn. Cũng là điều dễ hiểu, rằng trong thời gian đó có thể xuất hiện những bối cảnh mà hiện nay không chỉ không dự đoán được mà còn không thể giả định được. Thì từ những kinh nghiệm trong quá khứ, chúng ta đều biết dự báo là một công việc nhiều rủi ro như thế nào. Trong dự báo dân số, thì dự báo về tỷ lệ sinh và tử vong ở những nước kém phát triển và dự báo về những đợt di dân ồ ạt là hết sức khó khăn.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào dự đoán về sự giảm sút dân số tại Nga từ mức 142 triệu hiện nay xuống còn 104 triệu vào năm 2050, thì chúng ta buộc phải đưa ra câu hỏi, liệu có đúng như vậy không hay chẳng qua vấn đề bị nhìn nhận một cách méo mó. Nếu vấn đề bị nhìn nhận một cách méo mó (là điều rất nên nghi ngờ) thì là do vô tình hay hữu ý ? Không thể ngoại suy từ xu hướng của những năm gần đây – khi nước Nga đang trải qua cuộc khủng hoảng sâu sắc về dân số, mà một phần là hậu quả thứ cấp của những thực nghiệm chuyển đổi thể chế theo hướng tân tự do, một phần là do hậu quả của môi trường bị đầu độc và lối sống thiếu lành mạnh đối với sức khỏe – cho vài chục năm tiếp theo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Điều gì đe dọa tại Hội nghị thượng đỉnh G20? – Phần cuối


Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg: Liệu châu Âu có thể duy trì khuôn khổ?

Steven Blockmans, nghiên cứu viên cao cấp và Daniel Gros, Giám đốc, Trung tâm nghiên cứu chính sách châu Âu (Brussels, Bỉ)

Các nhà lãnh đạo tham gia hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg sẽ cố gắng dựa vào kết quả của hội nghị thượng dỉnh G7 gần đây tại Taormina, Italy, và tìm kiếm sự thống nhất về 3 nhóm vấn đề: các ưu tiên kinh tế, bao gồm tăng trưởng, thương mại, số hóa, việc làm, tài chính, thuế và tham nhũng; các ưu tiên bền vững, bao gồm phát triển, khí hậu, năng lượng, sức khỏe và giới; và các ưu tiên an ninh, bao gồm chống khủng bố, di cư và dòng người tị nạn.

Hội nghị thượng đỉnh G20 có tầm quan trọng đặc biệt đối với Thủ tướng Đức Angela Merkel, người, với tư cách chủ tịch hội nghị, sẽ có một cơ hội cuối cùng để tỏa sáng trên sân khấu quốc tế trước thềm cuộc bầu cử liên bang Đức vào tháng 9. Nhưng một thành công chưa được đảm bảo, nhất là đối với nhóm vấn đề thứ 2, khi xét tới việc Tổng thống Donald J. Trump rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris lịch sử về biến đổi khí hậu. Một tuyên bố của 19 nhà lãnh đạo G20 khác về cam kết kiên định của họ đối với Thỏa thuận Paris dường như là có thể thực hiện được và nên được chào đón. Điều không may là đạt được sự đồng thuận về nhóm vấn đề thứ 1 và thứ 3 cũng sẽ không dễ dàng khi xét tới việc Mỹ rút khỏi cách tiếp cận đa phương mang tính lịch sử đối với thương mại và sự không thỏa hiệp của Nga – và ở mức độ nào đó, của Trung Quốc – về an ninh mạng, tham nhũng và pháp trị.

Hội nghị thượng đỉnh này cũng sẽ đem lại một bài kiểm tra về việc liệu Brexit có mở ra một vai trò mới cho Anh trên sân khấu quốc tế hay không. Nhìn bề ngoài, chủ nghĩa song phương của Mỹ có thể nâng cao vai trò toàn cầu của Anh, do nước này là một đối tác đáng tin cậy của Mỹ. Nhưng chủ nghĩa đơn phương của Mỹ đang khiến các khuôn khổ đa phương như G20 trở nên ít phù hợp hơn để phục vụ các mục tiêu tìm kiếm ảnh hưởng toàn cầu của nước Anh thời Brexit. Hơn nữa, 27 nước thành viên của EU (EU27) sẽ giám sát chặt chẽ mức độ Anh, hiện vẫn là một thành viên, tiếp tục trung thành với các lập trường của EU.

Hội nghị thượng đỉnh Hamburg đem lại một cơ hội cho Merkel và đối tác mới có của bà, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, đặt EU27 vào vị trí điểm tham chiếu cho những nước muốn đầu tư vào chủ nghĩa đa phương hiệu quả. Trong một thế giới dễ thay đổi, sự ổn định và tính có thể dự báo là một phần thưởng mà Thủ tướng Merkel và những nhà lãnh đạo tiên phong của EU dựa trên nguyên tắc có thể đem lại. Sự lãnh đạo của họ có thể đưa hội nghị thượng đỉnh Hamburg trở nên thành công ở mức độ nào đó là một câu hỏi mở mà sẽ định hình không chỉ tương lai của G20, mà cả vai trò của EU và Đức trên thế giới.

Các thách thức và cơ hội phía trước đối với G20

Tom Bernes, nghiên cứu viên danh dự kiêm cựu Giám đốc Trung tâm Đổi mới quản trị quốc tế (Waterloo, Canada)

Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Hamburg, Đức, sẽ phải đối mặt với những thách thức mới khi lần đầu tiên có sự xuất hiện của Tổng thống Mỹ Donald J. Trump. Diễn đàn này, vốn được các nhà lãnh đạo quốc gia thúc đẩy với tư cách nền tảng chủ yếu của họ cho việc hợp tác kinh tế quốc tế, sẽ phải đương đầu với một vị Tổng thống Mỹ mà mục tiêu chính sách “nước Mỹ trước tiên” được ông tuyên bố tương phản trực tiếp với mục tiêu cốt yếu của G20. Khi xem xét lịch sử của hội nghị thượng đỉnh G20, người ta nhận thấy niềm tin của các thành viên của nó, rằng câu trả lời cho các thách thức toàn cầu phải được tìm thấy thông qua sự hợp tác tích cực. Điều này có khả năng sẽ bị thử thách ở Hamburg. Như những gì được chứng kiến ở các hội nghị thượng đỉnh G7 và NATO vào tháng 5, những bất ngờ có khả năng xảy ra.

Kể từ thành công bước đầu của mình trong việc hình thành một phản ứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, G20 đã phải rất vất vả để xác định rõ một chương trình trung hạn tạo được tiếng vang trong cộng đồng toàn cầu. Một số nhà quan sát thậm chí đã đặt câu hỏi liệu G20 có thể tiếp tục đóng vai trò một diễn đàn hữu ích gắn kết các nhà lãnh đạo quan trọng nhất thế giới hay không.

Hai trong số những thành tích lớn nhất của G20 sẽ thu hút sự xem xét kỹ lưỡng ở Hamburg khi mà Mỹ đã trực tiếp thách thức chúng. Thứ nhất là vấn đề biến đổi khí hậu: Dưới sự dẫn dắt của Mỹ và Trung Quốc, G20 đã ủng hộ Hiệp định Paris. Vào tháng 6, Mỹ đã tuyên bố ý định của nước này rút khỏi thỏa thuận. Thứ hai là vấn đề chủ nghĩa bảo hộ, điều mà trong mỗi hội nghị, G20 đều đã cam kết chống lại. Một lần nữa, Mỹ đã bày tỏ thái độ phản đối của nước này đối với một cam kết như vậy và những quyết định sắp được Chính quyền Trump đưa ra đối với ngành thép và ngành nhôm có nguy cơ khơi mào một cuộc chiến tranh thương mại. Một lĩnh vực nữa có tiềm năng gây lo ngại là những cải cách mà G20 tiếp nhận nhằm đảm bảo sự ổn định lớn hơn cho tài chính toàn cầu. Quyết định của Mỹ rút lại phần lớn các quy định trong đạo luật Dodd-Frank vốn được thiết lập sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đẩy những thành tựu đã đạt được kể từ khi cuộc khủng hoảng gây chấn động nền kinh tế thế giới này vào chỗ nguy hiểm

Các nhà lãnh đạo sẽ phản ứng ra sao ở Hamburg trước những vấn đề này? Một sự bác bỏ mạnh mẽ những lập trường của Mỹ của các thành viên khác trong G20 có thể đem lại sức mạnh mới cho những nỗ lực của họ nhằm thúc đẩy một nền kinh tế toàn cầu có sức chống đỡ, bền vững và công bằng hơn. Nhưng nó cũng sẽ dẫn tới những căng thẳng gia tăng với Mỹ. G20 sẽ có được động lực mới thông qua cảm giác về mục đích được khôi phục để phản ứng (và phản đối) trước thái độ của Mỹ, hay sẽ chứng kiến một sự sụt giảm tính thích đáng bằng việc cố gắng lấp liếm những khác biệt cơ bản này?

Một nghị trình G20 tập trung vào châu Phi

Elizabeth Sidiropoulos, Giám đốc điều hành Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế Nam Phi

Năm nay, Đức đã đưa châu Phi vào trọng tâm nhiệm kỳ chủ tịch G20 của nước này. Sáng kiến mấu chốt của nước này là “Hợp nhất với châu Phi” với mục đích tập hợp các thể chế tài chính quốc tế, các đối tác song phương và các quốc gia châu Phi nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho đầu tư tư nhân. Đã có 7 quốc gia châu Phi tham gia: Côte d’Ivoire, Ethiopia, Ghana, Maroc, Rwanda, Senegal và Tunisia. Được thúc đẩy bởi Bộ Tài chính Đức, sáng kiến này đã nhận được sự ủng hộ về chính trị của các bộ trưởng tài chính G20 ở Baden-Baden vào tháng 3 năm nay.

Trong khi cam kết này của G20 đối với châu Phi nên được nhìn nhận dưới góc độ tích cực, ở châu Phi đã dấy lên những mối quan ngại về mức độ mà nó có thể cạnh tranh với, thay vì bổ sung cho, các sáng kiến châu lục của chính châu Phi. Ngoài ra, các quy định về chính sách của nó có thể bị chỉ trích vì chúng chú trọng các cách tiếp cận chính thống đối với sự phát triển kinh tế, điều không phải lúc nào cũng đạt được những kết quả mong muốn. Nó cũng được coi là đang chuyển trách nhiệm hỗ trợ phát triển từ khu vực công sang khu vực tư nhân. Tuy nhiên, nếu sự ủng hộ về chính trị của G20 có thể tạo lực đòn bẩy đầu tư tư nhân ở các quốc gia đã quyết định tham gia, đây sẽ là một bước đi quan trọng theo hướng tạo ra các nền kinh tế năng suất có khả năng đem lại sinh kế thỏa đáng cho công dân các nước này.

Nhưng các vấn đề G20 không đặc trưng cho châu Phi cũng có tầm quan trong không kém đối với các châu lục này. Một cam kết rõ ràng đối với thương mại cởi mở, mặc dù đã có sự quay trở lại các biện pháp theo chủ nghĩa bảo hộ trong một vài năm, sẽ là then chốt đối với châu Phi, đặc biệt khi châu lục này cố gắng tăng cường khả năng chế tạo của mình. Không thể đạt được sự tăng trưởng mang tính dung nạp với các nền kinh tế khép kín.

Đức cũng đã tập trung vào nhu cầu về một khuôn khổ các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cho nền kinh tế kỹ thuật số và thương mại điện tử. Tuy nhiên, điều này có thể có hậu quả không dự đoán được là đặt gánh nặng lớn hơn lên các nước châu Phi, khiến họ càng gặp nhiều khó khăn trong việc vượt qua khoảng cách kỹ thuật số. Các giải pháp thường phản ánh nhiều hơn những điều kiện của thế giới công nghiệp hóa và không xem xét thích đáng những hậu quả không dự đoán được ở các quốc gia đang phát triển. Đây là thách thức đối với các quốc gia đang phát triển trong G20 khi động lực giữa các nước G7 thay đổi. G20 về bản chất không mang tính dung nạp: tuy nhiên, nó có thể xây dựng tính hợp pháp, với điều kiện sự lãnh đạo của nó trong việc đặt ra các nghị trình và chỉ tiêu phải phản ánh những thực tế không chỉ ở các quốc gia công nghiệp hóa mà còn ở các nền kinh tế đang nổi lên và đang phát triển.

Điều chỉnh trật tự quốc tế tại G20

Carlos Ivan Simonsen Leal, Chủ tịch Quỹ Getulio Vargas

“Định hình một thế giới kết nối” là khẩu hiệu thích hợp cho hội nghị thượng đỉnh G20 ở Hamburg. Nó nêu bật thách thức của thời đại chúng ta: Làm thế nào để tạo ra sự hợp tác giữa các nước có chủ quyền nhằm giải quyết các vấn đề chung xuyên quốc gia. Việc hội nghị diễn ra ở Đức là rất thích hợp trong những năm gần đây, nước này đã thúc đẩy nhằm hòa giải những căng thẳng cố hữu giữa một bên là các nhà nước – dân tộc đang tìm kiếm an ninh và sự thịnh vượng của mình và bên kia là những thách thức bất chấp biên giới quốc gia.

G20 nhóm họp vào thời điểm mà ở đó có một cảm giác kiệt sức trên toàn cầu đối với trật tự quốc tế trong 70 năm qua. Các thể chế và thủ tục đã đưa chúng ta đến nơi ta đang đứng không thể phản ứng trước những cuộc vật lộn về kinh tế, chính trị và xã hội mà thế hệ hiện nay phải đối mặt.

Việc điều chỉnh trật tự quốc tế để đương đầu với những cuộc vật lộn này sẽ là một nhiệm vụ không tầm thường. Không có sự đồng thuận về điều cần làm, và các nguồn lực vẫn khan hiếm. Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách vốn dĩ có khuynh hướng níu giữ những mô hình cũ. Việc điều chỉnh lại thái độ chung của chúng ta đối với các nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn và an ninh của các nước sẽ cần tới sự lãnh đạo và rất nhiều hoạt động khôn khéo.

G20 có thể đóng một vai trò trung tâm trong tiến trình này, và hội nghị thượng đỉnh Hamburg là một cơ hội có một không hai để làm điều đó. Những thách thức của việc quản trị toàn cầu sẽ không được giải quyết bởi bất kỳ nỗ lực nào nhằm quay trở lại thế giới trước toàn cầu hóa. Chỉ thông qua hành động phối hợp, G20 mới có thể tiến triển hướng tới tăng trưởng kinh tế cân bằng, bền vững và mang tính dung nạp mà giảm bớt những sự không chắc chắn về kinh tế, xã hội và chính trị ngày nay. Trong việc hoàn thành nhiệm vụ này, G20 sẽ củng cố sự ổn định và khả năng phục hồi của nền kinh tế toàn cầu và gia tăng an ninh cho tất cả.

Nguồn: Council on foreign relations – 05/07/2017

TLTKĐB – 08/07/2017

Kinh tế thị trường kiểu Việt Nam có giúp phát triển “ngoạn mục”?


Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, kiêm Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trương Minh Tuấn vừa có bài viết đăng trên báo Thanh niên hôm 6/6 nói rằng kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã tạo ra những phát triển ngoạn mục cho đất nước. Giới quan sát nghĩ gì về nhận định này?

Phát triển là nhờ KTTT định hướng XHCN?

Trong bài viết, Bộ trưởng Trương Minh Tuấn nhận định: “Thực tế cho thấy hơn 30 năm vận hành của KTTT định hướng XHCN đã tạo ra sự phát triển ngoạn mục của đất nước. Công cuộc Đổi mới nhanh chóng đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, duy trì tốc độ tăng trưởng vào hàng cao trên thế giới”.

Bộ trưởng TTTT còn đưa ra số liệu cho thấy GDP Việt Nam tăng 37 lần, từ 5,5 tỷ USD năm 1988 lên 205,32 tỷ USD năm 2016. Cũng theo ông, từ năm 1993 đến năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% xuống chỉ còn 8,3%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Philippines, Ấn Độ và thấp hơn cả Thái Lan, Indonesia.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) đã giải thể, công nhận rằng nền kinh tế Việt Nam trong 30 năm qua đạt được một số bước phát triển mà ông đánh giá là khá. Nhưng ông không cho rằng đó là công lao của nền KTTT định hướng XHCN. Ông nói: “Toàn bộ cái gọi là công cuộc Đổi mới trong thời gian vừa qua thực chất không có gì là đổi mới cả. Đảng Cộng sản Việt Nam đã buộc phải trả lại cho người dân một số quyền về kinh tế của họ, nhưng không phải là tất cả. Đấy là động lực chính cho sự phát triển kinh tế trong thời gian 30 năm qua ở Việt Nam. Hay nói cách khác là tiềm năng, lòng hăng say của người Việt Nam đã bị tước đoạt một thời gian dài. Đến khi họ nhận thấy rằng nếu tiếp tục như vậy thì bản thân họ không còn đường mà sống nên họ trả lại cho người dân những quyền làm kinh tế, từ nông nghiệp cho đến quyền làm kinh doanh”.

Trong bài viết của mình, ông Trương Minh Tuấn nói rằng yếu tố quan trọng nhất của định hướng XHCN trong KTTT là vai trò lãnh đạo của Đảng. Theo ông Đảng đại diện cho lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân và không có lợi ích riêng mình. Tuy nhiên, trong một bài viết có tựa “Cần hiểu đúng để không làm sai” đăng trên VietnamNet hô 5/5, Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó ban Tuyên giáo Trung ương, nói: “Sự lãnh đạo và quản lý chưa thể là một đặc điểm của nền kinh tế sẽ hình thành trong thực tế một cách khách quan, nó không phải là sự lãnh đạo và quản lý của ai, mà là kết quả của sự lãnh đạo và quản lý ấy thế nào”.

Ông nói rõ vai trò của Nhà nước trong nền KTTT không phải là để kinh doanh, cũng như không để các cơ quan hành chính tham gia kinh doanh. Mà theo ông, nhiệm vụ của Nhà nước là “tạo điều kiện cho mọi chủ thể trong xã hội được kinh doanh thuận lợi, bình đẳng thật sự, không bị thị trường ngầm, không có buôn gian bán lận, càng không để cho cán bộ nhà nước và các “nhóm lợi ích” tham gia hoạt động”.

“Tốt khoe, xấu che”?

Ông Trương Minh Tuấn đánh giá cao vai trò kinh doanh của nhà nước mà đại diện là khối doanh nghiệp nhà nước. Ông nói: “Để đảm bảo định hướng XHCN đạt tới mục tiêu, trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Cũng trong bài viết này, ông Trương Minh Tuấn chỉ nói chung chung rằng KTTT định hướng XHCN của Việt Nam còn nhiều vấn đề cần hoàn thiệ mà không nêu rõ đó là những vấn đề gì hay hoàn thiện bằng cách nào. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một trong những “vấn đề” lớn nhất của KTTT định hướng XHCN chính là việc các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) làm chủ đạo là một đường lối sai lầm của Việt Nam.

Ông Nguyễn Quang A nêu rõ : DNNN đã gây ra những hậu quả tai hại cho đất nước này. Không biết bao nhiêu cái gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước đã thật sự phá sản. Chuyện Vinashin, Vinaline giờ đã vào quên lãng nhưng còn hàng chục tập đoàn với hàng chục dự án mười mấy nghìn tỷ do Nhà nước làm chủ, đều đang sắp phá sản.

Khu vực quốc doanh này chỉ tạo ra khoảng 25 – 26% GDP, nhưng rất đáng tiếc là DNNN lại sử dụng đến khoảng một nửa nguồn lực của đất nước. Đó là những tài nguyên thiên nhiên như hầm mỏ, đất đai… và chèn ép các doanh nghiệp tư nhân mà đáng lẽ phải đóng vai trò chủ đạo”.

Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước lần thứ nhất diễn ra sáng 26/4, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình cho biết, hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo việc làm cho trên 85% lao động đang làm việc của nền kinh tế. Tỷ trọng đóng góp GDP của kinh tế tư nhân luôn lớn hơn so với các thành phần kinh tế khác và duy trì ổn định ở mức 39 – 40% từ năm 2003 – 2015. Như vậy, tỷ trọng đóng góp GDP của kinh tế nhà nước hiện tại đã đứng sau kinh tế tư nhân mặc dù nhiều năm qua, DNNN được đánh giá là nòng cốt của nền kinh tế.

Nguồn: TKNB – 09/06/2017

Điều gì đe dọa tại Hội nghị thượng đỉnh G20? – Phần II


G20 đứng giữa ngã tư đường

Sunjoy Joshi, Giám đốc, và Samir Saran, Phó Chủ tịch, Quỹ nghiên cứu người quan sát (New Delhi, Ấn Độ)

Bất chấp những thay đổi địa chính trị rõ ràng trên khắp thế giới và tình trạng rối loạn chính trị trong số các nước thành viên, G20 vẫn là một trong số các tổ chức quan trọng trong cấu trúc quản trị toàn cầu. Các tiến triển toàn cầu gần đây đem lại cả cơ hội lẫn thách thức đối với G20 nếu tổ chức này vẫn muốn duy trì ảnh hưởng của mình.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của G20 là đảm bảo rằng tổ chức này tiếp tục trung thành với sự ủy nhiệm cốt lõi của nó, đó là duy trì sự ổn định tài chính toàn cầu và quản lý các cải cách cơ cấu trong một thế giới được hội nhập chặt chẽ. G20 dựa trên nền tảng và được thúc đẩy bởi nhận thức rằng cách tiếp cận “một quốc gia, một lá phiếu” của Liên hợp quốc không phải cách thức hữu hiệu nhất để đối phó với các vấn đề then chốt mà đòi hỏi những phản ứng thời gian thực. Cuộc khủng hoảng tín dụng 2007 – 2008 cho thấy một số thách thức quốc tế nhất định cần được giải quyết một cách hiệu quả và nhanh chóng, mà trên thực tế đã làm chất xúc tác cho tính vượt trội về mặt thể chế của G20.

Vào một thời điểm khi mà nhiều thành viên G20 thấy bản thân đang bị mắc kẹt bởi các áp lực trong nước mà đang buộc các nước này phải xem xét lại sự ủy nhiệm cốt lõi của G20, người ta cần phải kháng cự lại sức cám dỗ của G20 duy trì tính thích đáng của mình bằng cách bám chặt vào một nghị trình khác.

Nền kinh tế toàn cầu hầu như chưa thoát khỏi khó khăn. G20 là một diễn đàn chính sách có mục tiêu đặc biệt được thành lập để đối phó với các vấn đề thảm họa toàn cầu bởi các quốc gia có năng lực và nguồn lực. Đây hoàn toàn không phải là lúc G20 mở rộng số thành viên của mình bằng cách kêu gọi có các quan hệ đối tác mới, chẳng hạn với các quốc gia châu Phi. Mở rộng các quan hệ đối tác của nhóm vào thời điểm này sẽ chỉ tạo ra một G77 khác – và cho mục đích gì?

Cũng đã đến lúc phải thừa nhận rằng một vài trong số các thách thức cơ bản về cơ cấu mà G20 đang nỗ lực giải quyết không thể được xử lý thỏa đáng trừ phi các vấn đề nhỏ hơn nhiều cũng được giải quyết. Các vấn đề nhỏ hơn này, chẳng hạn như sự biến đổi đang diễn ra trong các hệ thống năng lượng toàn cầu, sự ổn định của không gian mạng trong các cấu trúc tài chính, và tác động của công nghệ đối với công ăn việc làm, trong số các vấn đề khác, cần xuất hiện trên bàn hội nghị, nhưng người ta phải kháng cự lại sức hút của việc biến mọi vấn đề mà thế giới quan ngại trở thành một phần trong nghị trình của G20. Việc này sẽ chỉ làm giảm khả năng của G20 phục vụ mục tiêu khi thành lập của tổ chức này. Các vấn đề tốt nhất nên được đưa ra tại Đại hội đồng Liên hợp quốc và tại các thể chế đa phương khác không nên nằm trong phạm vi ảnh hưởng của G20.

Thay vào đó, G20 nên thu hẹp phạm vi của mình xuống những lĩnh vực tác động tới các hệ thống thương mại và tài chính toàn cầu, và ngoài ra chỉ tập trung vào các vấn đề có liên quan tới những xu hướng gây gián đoạn về chính trị trên toàn cầu.

G20 đang đứng giữa ngã tư đường. Nhóm này nên chọn con đường mà sẽ cho phép nó tiếp tục trung thành với mục tiêu cốt lõi, mục tiêu đã khiến các nước thành viên trước hết tập hợp lại.

Các kỳ vọng của Trung Quốc đối với G20

Ye Yu, Trợ lý giám đốc, Viện nghiên cứu kinh tế thế giới tại Thượng Hải thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế (Thượng Hải, Trung Quốc)

Kể từ khi Trung Quốc lần đầu tiên tham gia hội nghị thượng đỉnh G20 vào năm 2008, các mối quan tâm của nước này về diễn đàn và quản trị toàn cầu đã mở rộng từ các vấn đề mang tính thủ tục sang các vấn đề thực chất hơn: thúc đẩy sự bình đẳng giữa các nước thành viên, tái phân bổ quyền lực bỏ phiếu trong các thể chế tài chính quốc tế, và các thách thức toàn diện mà toàn cầu hóa phải đối mặt, chẳng hạn như biến đổi khí hậu và chủ nghĩa cực đoan.

Trung Quốc muốn thấy các nước G20 làm việc với nhau để kiềm chế tình cảm chống toàn cầu hóa. Một liên minh toàn cầu chống Mỹ không phải là lựa chọn tốt nhất. Thay vào đó, Trung Quốc kỳ vọng G20 sẽ kéo Mỹ quay trở lại tìm kiếm một lợi ích cho bản thân được khai sáng, hơn là theo đuổi một lập trường “Nước Mỹ trước hết” với thiệt hại dành cho tất cả các nước còn lại. Như tạp chí Economist đã lưu ý, các chính sách kinh tế của Trump là thiển cận, lỗi thời, coi “thương mại công bằng” đồng nghĩa với việc giảm thâm hụt ngành chế tạo là điều đương nhiên, và phớt lờ những thách thức tàn phá mà thế giới sẽ phải đối mặt khi công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển. G20 nên truyền tải một thông điệp toàn diện hơn về những xu hướng của toàn cầu hóa và định hình sự luận bàn của công chúng về những hạn chế của các biện pháp bảo hộ thương mại.

Trung Quốc cũng sẽ muốn thấy các nước thành viên G20 ủng hộ nhiều hơn sáng kiến của nước này để kích thích sức đẩy của toàn cầu hóa. Được khuyến khích bởi thành công lớn của nước này khi khởi động Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) năm 2013 và tổ chức hội nghị thượng đỉnh G20 năm 2016, Trung Quốc đã tự tin hơn trong quản trị toàn cầu, cho dù không phải bởi bản thân nước này, Trung Quốc đã khởi động sáng kiến “Vành đai và Con đường” năm 2013, cùng với AIIB, để đem lại một cách tiếp cận thay thế cho toàn cầu hóa. Khác với một cách tiếp cận từ trên xuống đối với đàm phán tự do hóa thương mại, sáng kiến “Vành đai và Con đường” đặt trọng tâm được làm mới vào sự kết nối cơ sở hạ tầng trong khu vực và trên toàn cầu. Trung Quốc nhấn mạnh tính cởi mở của sáng kiến và kêu gọi tất cả các nước tham gia tùy theo các chiến lược phát triển của riêng họ. Cơ sở hạ tầng đã là một ưu tiên của G20 trong nhiều năm, nhưng Trung Quốc muốn thấy sự hợp tác cụ thể hơn về các dự án và ít sự ngờ vực hơn về các ý đồ của nước này.

Tìm kiếm tình đoàn kết giữa các nước lớn tại G20

Sook Jong Lee, Chủ tịch, Viện nghiên cứu Đông Á (Seoul, Hàn Quốc)

Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg là một địa điểm đúng lúc cho các nhà lãnh đạo của các nước lớn thể hiện cam kết của họ đối với trật tự quốc tế tự do. Theo sau sự nhiễu loạn toàn cầu do Brexit gây ra, chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Mỹ Donald J. Trump có khả năng làm suy yếu quản trị toàn cầu. Việc Trump khôi phục các biện pháp bảo hộ thương mại, giảm sự sẵn sàng hỗ trợ an ninh tập thể và quyết định rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris về khí hậu đang đe dọa tới trật tự tự do và cởi mở. giờ đã đến lúc các cường quốc khác đóng vai trò lãnh đạo bổ sung để đối phó với nhiều thách thức xuyên quốc gia, bao gồm hòa bình và an ninh, khủng bố, người tị nạn và các vấn đề môi trường.

Trước bối cảnh này, Thủ tướng Đức Angela Merkel cam kết chớp lấy cơ hội bằng việc tổ chức hội nghị thượng đỉnh, với hy vọng củng cố nền kinh tế thế giới và nâng cao sự ổn định và sự chống chịu của nó thông qua hợp tác đa phương. 15 mục trong nghị trình mà nằm dưới các mục tiêu rộng hơn là xây dựng một nền kinh tế có sức chống đỡ, cải thiện tính bền vững và đảm nhận trách nhiệm đối với an ninh vật chất và con người, đều xứng đáng được xem xét nghiêm túc và đòi hỏi nỗ lực tập thể để đạt được tiến bộ có ý nghĩa. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được trông đợi đảm nhận một vai trò lớn hơn bằng việc lấp đầy khoảng trống do hành động rút lui của Mỹ bỏ lại. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron nhiều khả năng sẽ đem đến một tinh thần của chủ nghĩa tiến bộ tự do gắn với mục tiêu hiện nay của G20 là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và mang tính toàn diện. Để hội nghị thượng đỉnh này thành công, điểu then chốt là các nhà lãnh đạo phải thể hiện tình đoàn kết và sự sẵn sàng cùng nhau hành động chống lại các mối đe dọa kinh tế và chính trị xã hội. Đồng thời, các nhà lãnh đạo nên phát triển các khuôn khổ hợp tác có sức chống chịu mà có thể đem lại cho các thành viên sự linh hoạt lớn hơn khi xem xét các lựa chọn chính sách đối nội.

Với 7 quốc gia châu Á trong G20, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản được chờ đợi tăng cường vai trò của họ bằng cách đảm nhận các trách nhiệm phù hợp với các lợi thế tương đối tương ứng của từng nước. Các cường quốc bật trung như Hàn Quốc và Indonesia cũng có thể thúc đẩy các mục tiêu của G20 bằng cách tích hợp chúng vào các sáng kiến đa phương trong khu vực của họ. Các quốc gia châu Á đã và đang được cách ly tương đối khỏi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy cực đoan và tin rằng tương lai của họ nằm ở một thế giới mở và kết nố hơn. Các thành viên châu Á nên đóng góp nhiều hơn cho G20 để củng cố hơn nữa diễn đàn này.

G20 được thành lập để đưa quan trị kinh tế toàn cầu trở nên dân chủ và hiệu quả hơn. Các nước lớn nên đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn trong việc khiến thế giới trở nên an toàn hơn, cũng như toàn diện hơn về kinh tế và hòa hợp hơn về chính trị. Mỗi nước thành viên phải nhớ rằng sức mạnh và vị thế quốc tế mà họ có được không chỉ là do các thành tựu quốc gia, mà còn nhờ vào thế cộng đồng quốc tế. Do không có quốc gia riêng lẻ nào có thể thay thế Mỹ, nước đã đem lại điều tốt đẹp chung trong 25 năm qua, tất cả các thành viên G20 nên đảm nhận phần trách nhiệm của họ để quản lý các thách thức toàn cầu.

(còn tiếp) 

Nguồn: Council on foreign relations – 05/07/2017

TLTKĐB – 08/07/2017

Một tương lai không chắc chắn – Phần XI


Nếu như chỉ cần Mỹ dùng khoản tiền đã chi cho việc chiếm đóng Iraq để chi cho cuộc chiến chống hiệu ứng nhà kính, thì tất cả chúng ta sẽ cảm thấy an toàn hơn. Nếu như các quốc gia khác cắt giảm chi phí cho quốc phòng và duy trì quân đội của mình để chi cho việc mua sắm thiết bị bảo vệ môi trường và tuyển dụng đội ngũ nhân viên lành nghề cho lĩnh vực này, thì không những kinh tế của nước họ phát triển tốt hơn, mà tình hình những cơ sở chế tạo thiết bị bảo vệ môi trường cũng sáng sủa hơn nhiều, còn tình hình khí hậu chung – nói theo nghĩa đen và nghĩa bóng – sẽ (tạo) thuận lợi hơn nhiều cho phát triển kinh tế – xã hội.

Các nhà tư bản cũng rất phấn khởi khi đạt được lợi nhuận từ lĩnh vực kinh doanh, mà được công chúng hoan nghênh – giống như trường hợp chế tạo máy bay Boeing 787 – hơn là cứ rúc đầu trong cát mà nói rằng, chế tạo thiết bị quân sự là phục vụ cho sự nghiệp cao cả. Chỉ cần một điều nhỏ nhoi là làm sao việc chế tạo máy bay Deamliner và những thiết bị khác cùng với các dịch vụ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thu được lợi nhuận không thấp hơn việc các nhà sản xuất khổng lồ, như công ty Northrop Grumman chế tạo những phi cơ ném bom chiến lược B-2 hay làm dịch vụ đẩy thanh niên ra bãi chiến trường.

Tất cả những giải pháp đó còn quá ít, chưa thể đủ. Cần phải tiến hành một cuộc cách mạng. Trong đó có cuộc cách mạng các sắc thuế. Ngoài việc hát mãi bài ca rằng, cần phải áp dụng thuế ưu đãi đối với doanh thu từ các ngành ít gây ô nhiễm môi trường, cần phải có biện pháp cao hơn, như trong giai đoạn cuối thế kỷ XXI, đầu thế kỷ XXII, thuế doanh thu đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình không còn là hàm số của doanh thu (và một phần của tài sản) như hiện nay, mà nó lệ thuộc vào việc tham gia của các chủ thể cụ thể trong việc tiêu thụ năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Những khoản thuế này sẽ được các nước và các nhóm quốc gia hội nhập nộp vào một kho bạc chung. Sẽ phải xây dựng thể chế như là ngân sách môi trường toàn cầu. Tất nhiên chẳng ai muốn nộp khoản thuế này, chỉ muốn nhận từ ngân sách mà thôi. Lúc đó chúng ta có thể nhanh chóng và chính xác nhận mặt chỉ tên những ai và họ gây ô nhiễm như thế nào và dễ dàng áp mức thuế và tiến hành thu thuế. Cùng với những sự thay đổi trong lĩnh vực ý thức toàn xã hội, việc thu thuế môi trường sẽ dẫn tới những sự biến đổi to lớn trong phương thức sản xuất và tiêu dùng và – kết quả đạt được là – tạo những biến đổi cần thiết trong quá trình trao đổi vật chất giữa con người và bà Mẹ Trái Đất.

Gần đây, tinh thần trách nhiệm về hiện trạng môi trường đang có những biến chuyển tích cực, không chỉ do những phong trào rầm rộ mang màu sắc chính trị do các giới ý thức được quy mô của nguy cơ – đứng ra tổ chức, mà còn do các ngành như xuất bản sách văn học và truyền hình đóng góp.  Bằng những tác phẩm của mình dưới dạng tiểu thuyết science fiction (khoa học viễn tưởng), những bộ phim về thảm họa, những bộ phim gay cấn liên quan đến môi trường, nhiều khi đã rất có tác dụng buộc các chính khách hành động hơn là những chứng cứ khoa học khô cứng. Bởi dân chúng có những phản ứng tức thì khi xem những chương trình hay cuốn sách nói về mối đe dọa môi trường, còn với các chính khách – là những lý lẽ để thuyết phục cử tri. Có thể là, mối lo sợ thái quá đem lại kết quả nhiều hơn so với những luận cứ hợp lý chứng minh về hiểm họa do thay đổi khí hậu gây ra. Đúng như thế đấy, trong vòng bốn năm gần đây, số người Mỹ, nhìn nhận thấy được những lý do của « sự lo ngại sâu sắc » đã nhảy từ 28% lên 41%. Điều đáng ngạc nhiên là vẫn còn khoảng một nửa số người theo đảng cộng hòa, bị ảnh hưởng bởi học thuyết kinh tế tự do mới vẫn cho rằng, môi trường đang nằm trong tình trạng tốt. Qua đây cũng đủ thấy rằng, họ xem và đọc những gì khác hẳn so với những người theo đảng dân chủ, mà chỉ chiếm có 9% trong hàng ngũ của mình. Một điều đáng mừng là họ sẽ là người điều hành nước Mỹ trong những năm 2009 – 2017. Nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, thì họ sẽ tiếp tục điều hành sau thời gian kể trên.

Tất cả – chính sách dân tộc mang tính hiệu quả cao và sự điều phối nhuần nhuyễn trên phạm vi xuyên quốc gia, những thay đổi về văn hóa và đặc biệt là những tiến bộ khoa học – kỹ thuật cùng với cơ chế kinh tế – tài chính ngày càng hoàn thiện và phương thức quản lý hoàn hảo – ít nhất cũng không tạo ra được thêm nguồn dự trữ tài nguyên ở cấp độ có thể đẩy thế giới vào việc tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu ngang bằng với mức của Bắc Mỹ và Tây Âu. Không thể có trong tương lai gần, cũng như sau đó. Chúng ta nhớ rằng, điều đó đòi hỏi thêm một khối lượng dự trữ tương đương với của hai trái đất gộp lại. Tuy nhiên, về lâu dài – tiến bộ thông qua các biện pháp tiết kiệm và các cuộc cách mạng công nghệ, đặc biệt là kỹ thuật nano, công nghệ vật liệu và công nghệ sinh học, có thể tạo ra cho chúng ta trữ lượng như một Trái đất thứ hai. Sức mạnh trí tuệ con người – mặc dù không phải là vô biên – nhưng giới hạn cuối cùng của nó là rất xa và chưa được biết đến.

* * *

Thứ bảy, nếu dự báo dân số mới nhất của Tổ chức Liên Hợp Quốc là chính xác, thì chẳng mấy chốc – vào năm 2050 – sẽ có 9,3 tỷ người chúng ta đi lại trên hành tinh này. Lúc đó, sẽ vẫn còn một số người thuộc thế hệ chúng ta, còn lại đa số là những người được sinh ra trên mặt đất này để rồi suốt cuộc đời sẽ cùng chu du với nó. Điều đó có nghĩa là dân số thế giới nhiều hơn so với một nghìn năm trước đây là 96,7%. Người ta sẽ muốn hét lên « đã đến ngày tận thế ! », song vẫn chưa phải là lúc này và cũng chắc chắn là không phải đối với tất cả mọi người. Khi tôi được 1 tuổi, lúc đó dân số thế giới là 2,5 tỷ người, khi tôi hoàn thành cuốn sách này, thì đã là 6,5 tỷ người. Khi tôi sang thế giới bên kia, sẽ thêm 3 tỷ. Thế giới – cho dù nó có thế nào đi nữa – vẫn cứ tự xoay sở mà không có tôi. Nhưng còn tôi, sẽ xoay sở sao đây khi không có thế giới này ?…

Con số hàng tỷ đồng nghĩa với nhiều lắm. Sự biến động dân số đa chiều là vấn đề lớn của tương lai. Bên cạnh vấn đề của sự gia tăng dân số không ngừng và nhanh chóng của nhân loại, đang đặt ra những vấn đề đặc biệt :

+ Sự gia tăng dân số tự nhiên rất khác nhau về cấp độ,

+ Sự quá tải về dân số ở một số vùng,

+ Già hóa dân số,

+ Di cư ồ ạt.

Hàng năm trên thế giới có thêm khoảng 80 triệu người – gần bằng với dân số của Đức, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Ai Cập – nó diễn ra tại nhiều nơi với những nhịp độ khác nhau. Nhanh nhất tại vùng ngoại vi sa mạc Sahara ở Châu Phi, ở vùng Trung Đông và cùng với Đông Nam Á, chậm hơn ở châu Mỹ Latinh, và chậm nhất là ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Hiện nay có 80% dân số thế giới đang sống ở những nước kém phát triển. Đến giữa thế kỷ này sẽ là 90%.

Những thay đổi mang tính cơ bản. Nếu như trong năm 1900 số dân tại Châu Âu nhiều hơn gấp 3 lần số dân tại Châu Phi (tương ứng là 408 triệu và 133 triệu), thì theo dự báo, vào năm 2050 tình hình sẽ ngược lại. Số dân tại Châu Phi sẽ cao hơn Châu Âu 3 lần (tương ứng 1766 và 628 triệu). Sau một thế kỷ nữa, vào năm 2150 tỷ lệ sẽ là khoảng 5 : 1 (tương ứng 2380 và 517). Mặc dù trong thời gian đó, sẽ có rất nhiều người dân Châu Phi di cư sang Châu Âu hơn là ngược lại. Tỷ lệ dân số thuộc « cựu thế giới » và « tân thế giới » trong tổng dân số toàn thế giới sẽ giảm từ 28,5% (21,7% ở Châu Âu và 6,8% ở Bắc Mỹ) trong năm 1950 xuống còn 9,4% (tương ứng 5,4% và 4,1%) vào năm 2150.

Tổ chức Liên Hợp Quốc dự đoán rằng, dân số vào năm 2013 sẽ là 7 tỷ người. Có nghĩa là để dân số tăng thêm 1 tỷ người chúng ta phải chờ đợi 14 năm (có lẽ không phải là chờ đợi, mà là nỗ lực, vì gia tăng sinh đẻ không lệ thuộc vào sự chờ đợi). Chúng ta đã đạt được mốc 6 tỷ vào năm 1999 và 8 tỷ vào năm 2028. Còn 9 tỷ – lệ thuộc vào từng dự báo – sẽ đạt được vào khoảng năm 2050. Theo một số dự báo, ngay trong năm 2046 dân số sẽ đạt tới mức này, theo dự báo khác, thì mãi tới 2054. Sự vênh nhau không nhiều. Còn sau đó. Sau đó sẽ phải khác hơn.

Số dân trong nửa cuối thế kỷ XXI và cả thế kỷ XXII phải tăng rất chậm, chậm hơn 10 lần so với hiện nay, bởi mức trung bình khoảng 6 – 7 triệu người/năm. Một trạng thái đình trệ. Theo các dự báo, để sinh ra thêm 1 tỷ người cần đến 150 năm. Trong năm 2200 số dân phải là khoảng trên 10 tỷ và ở ổn định ở mức đó. Cũng là dự báo của Liên Hợp Quốc, 15 năm trước đây (trong thời gian đó xảy ra nhiều sự kiện) cho rằng, dân số sẽ ổn định sau năm 2200 ở mức khoảng 11,6 tỷ người. Cho đến thời gian đó sẽ còn xảy ra nhiều sự kiện, trong đó sẽ rất nhiều sự kiện xảy ra cùng lúc. Chúng ta cố sống để chứng kiến…

Như vậy nhịp độ gia tăng dân số trên trái đất sẽ giảm đi. Và đấy là tin tốt lành. Chúng ta ngày càng đông đảo, nhưng tổng dân số của thế giới gia tăng ngày càng chậm. Nhịp độ tăng trung bình hàng năm giảm từ mức rất cao 2,2% vào giữa những năm 60 xuống còn 1,2% trong nửa thập niên này. Thật tuyệt vời, vì với nhịp độ 2,2% thì số dân thế giới cứ sau 32 năm sẽ tăng gấp đôi. Thật là kinh khủng, bởi với nhịp độ 1,2% thì cứ sau 58 năm số dân lại tăng gấp đôi. Trái đất sẽ không chịu thấu ! Cần phải tiếp tục giảm nhịp độ gia tăng này. Phải có ngay giải pháp cơ bản tạo quy mô khác nhau tại nhiều vùng khác nhau. Đấy là thách thức to lớn của thế kỷ XXI và những thế kỷ tiếp theo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Điều gì đe dọa tại Hội nghị thượng đỉnh G20? – Phần I


Các nhà lãnh đạo tập trung tại Hamburg (Đức) tìm kiếm sự đồng thuận đối với các vấn đề kinh tế cấp bách toàn cầu? Các chuyên gia từ nhiều nước thành viên của nhóm này đưa ra những đánh giá về triển vọng.

G20 nằm trong số những diễn đàn toàn cầu quan trọng nhất đối với sự hợp tác và phối hợp kinh tế quốc tế. Năm nay, Đức, nước chủ nhà, đưa ra các vấn đề nguyên tắc tài chính, chống tội phạm xuyên quốc gia và các mối quan hệ với châu Phi làm ưu tiên cho chương trình nghị sự khi có những khả năng về sự bất đồng rộng lớn hơn giữa các quốc gia về thương mại, khí hậu và người tị nạn. Về hội nghị lần này, các chuyên gia từ các nước thành viên G20 có những đánh giá về tính thích đáng của nhóm và những triển vọng cho sự thành công.

Bầu không khí không dễ chịu cho G20

Heribert Dieter, nghiên cứu viên cao cấp, Viện các vấn đề quốc tế và an ninh Đức (Berlin, Đức)

G20 đặt ra những mục tiêu cao cho bản thân nó trong những giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu năm 2008, nhưng bất chấp những tuyên bố lớn lao, nó đã đạt được tương đối ít thành tựu. Những rủi ro trên các thị trường tài chính đã tăng lên chứ không hề giảm đi, và các nước G20 không có chiến lược cố kết. Cho đến nay, Mỹ tiếp tục có cách tiếp cận đơn phương, không tính đến những ưu tiên của các nước G20 khác. Liên minh châu Âu đang theo đuổi chính sách tài chính của riêng mình, không có sự phối hợp với chính sách của các nước G20 khác.

Ban đầu, theo sau những tuyên bố kiên quyết của G20 chỉ là những nỗ lực miễn cưỡng nhằm điều tiết thị trường tài chính một cách nghiêm ngặt hơn. Giữa cuộc khủng hoảng, có những sự trông đợi rằng sẽ có một sự giám sát quốc tế phối hợp với các thị trường tài chính. Khái niệm đó vẫn chưa được thực hiện. Hiện nay, các chính phủ G20 không thể nhất trí về các nguyên tắc chung. Những hi vọng cho một cấu trúc tài chính toàn cầu mới đã tan vỡ.

Có nhiều lý do giải thích tại sao G20 đã không thành công trong việc đưa ra một bộ nguyên tắc tài chính chung. Những ưu tiên của các nước G20 là khác nhau; bởi vậy, nhóm này đã không thể hoàn thành sứ mệnh cốt lõi của mình.

Thành tích của G20 trong việc thúc đẩy cơ chế tự do cho thương mại toàn cầu cũng nghèo nàn. Các tuyên bố của các hội nghị thượng đỉnh trước chưa bao giờ đi kèm với một chính sách thương mại tự do giữa các nước thành viên G20. Nhiều nền kinh tế quan trọng đã chứng tỏ sự quan tâm mạnh mẽ về thương mại “công bằng” chứ không phải “tự do”. Tinh thần của chủ nghĩa bảo hộ đã là đặc điểm chính sách thương mại của một số nước G20, và việc Chính quyền Trump bắt đầu rời khỏi một hệ thống thương mại đa phương cởi mở trở nên rõ ràng hơn trước đây. Sự phân biệt đối xử và chủ nghĩa bảo hộ một lần nữa là đặc điểm của các chính sách thương mại của các nước G20.

Hội nghị thượng đỉnh Hamburg sẽ không đem lại kết quả về bất kỳ sự nhất trí lớn nào đối với các chính sách kinh tế chung. Hiện nay, các chính phủ G20 bất đồng về những vấn đề cơ bản của sự cai trị toàn cầu. Cả về tài chính lẫn thương mại, chưa nói gì tới vấn đề biến đổi khí hậu, Hội nghị Hamburg sẽ không đưa ra được bất kỳ sự cải thiện có ý nghĩa nào đối với nguyên trạng. Tồi tệ hơn, có thể xung đột công khai đối với các biện pháp theo xu hướng bảo hộ mà Chính quyền Trump có thể thực hiện.

Đồng thời, vị trí của Đức, nước chủ nhà, đã bị suy yếu nghiêm trọng bởi việc Chính quyền Merkel không thừa nhận những thiệt hại thặng dư tài khoản vãng lãi khổng lồ của Đức gây ra cho các nền kinh tế khác. Sự thiếu thiện chí của Berlin trong việc thực hiện các biện pháp có thể làm giảm thặng dư – chẳng hạn, cắt giảm thuế tạm thời – làm xói mòn uy tín của những lời kêu gọi của nước này đối với sự hợp tác đa phương được khai sáng.

G20 và việc duy trì trật tự quốc tế tự do

Yasushi Kudo, người đứng đầu tổ chức tư vấn chiến lược The Genron NPO (Tokyo, Nhật Bản)

Chính quyền của Tổng thống Donald Trump được cho là sẽ làm hạn chế khả năng của G20 trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu thông qua hợp tác quốc tế. Chính sách “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Trump và ưu tiên của ông đối với các thảo thuận song phương sẽ tiếp tục làm xói mòn lý do tồn tại của G20, nhóm ủng hộ chủ nghĩa đa phương bằng việc chia sẻ gánh nặng lãnh đạo giữa các nước thành viên của nhóm. Hơn nữa, những động thái công khai và bí mật của các siêu cường nhằm tăng cường ảnh hưởng của họ bằng việc lợi dụng môi trường quốc tế mong manh có khả năng làm xói mòn nền tảng của các khuôn khổ đã được thiết lập mà cho đến nay đã duy trì trật tự quốc tế.

Thủ tướng Đức Angela Merkel rõ ràng có ý định đưa “thị trường mở cửa và thương mại tự do, công bằng, bền vững và mang tính bao hàm” là trọng tâm then chốt của hội nghị thượng đỉnh năm nay. Do sự bất ổn định của trật tự quốc tế, có thể không phải vô nghĩa để các nhà lãnh đạo của các nền kinh tế chủ yếu của thế giới cùng nhau đối thoại và gây ấn tượng cho thế giới rằng họ đang có những nỗ lực không ngừng vì sự tốt đẹp chung. Đáng tiếc là, không có ý nghĩa tích cực nào khác được nhận thấy trong tình trạng hiện nay của G20. Như được thể hiện bằng ngôn từ của thông cáo được đưa ra tại Hội nghị G7 ở Italy hồi tháng 5, G20 sẽ là một buổi trình diễn chính trị khác sử dụng giọng điệu tham vọng nhằm che giâu sự bất ổn định và đối đầu tiềm tàng.

Tuy nhiên, diễn đàn G20 vẫn có ý nghĩa quan trọng. Toàn cầu hóa, việc duy trì một trật tự quốc tế tự do và sự hợp tác đa phương có tầm quan trọng sống còn đối với những lợi ích chung của thế giới. Vào thời điểm khi mà việc sửa chữa tình trạng bất bình đẳng và bất ổn định là hết sức cần thiết, vai trò của G20 sẽ lớn hơn rất nhiều so với trước đây. Trong trường hợp này, điều trở nên cần thiết là củng cố sự hợp tác giữa các thành viên G7 và các nước dân chủ khác chia sẻ các giá trị chung nhằm đảm bảo rằng G20 có thể tiếp tục thực hiện vai trò của mình.

Sự hiện diện của G7, mà các thành viên chia sẻ các giá trị phổ quát về tự do, dân chủ và sự hợp tác quốc tế dựa trên chủ nghĩa đa phương, có ý nghĩa sống còn đối với việc củng cố sự cai trị toàn cầu và duy trì một trật tự quốc tế tự do. Hơn nữa, sự quản lý kinh tế toàn cầu và hệ thống tài chính quốc tế do G7 khởi xướng hình thành nên những nền tảng của sự cai trị toàn cầu. Những nỗ lực thống nhất của G7 nhằm đưa ra sáng kiến trong lĩnh vực này về lâu dài có thể nắm giữa chìa khóa để duy trì sự ổn định toàn cầu. Quả thực, ý nghĩa của những nỗ lực phối hợp của các nền dân chủ G7 nhằm tăng cường sự cai trị toàn cầu không nên bị đánh giá thấp.

Không có lý do cho sự lạc quan tại Hội nghị G20 Hamburg

Fyodor Lykyanov, Chủ tịch Hội đồng chính sách đối ngoại và quốc phòng (Moskva, Nga)

Bất chấp những khác biệt chính trị rõ ràng giữa các nước thành viên, G20 có thể gửi đi một thông điệp tích cực về sự hợp tác toàn cầu kể từ khi nhóm này được thiết lập cách đây 20 năm. G20 đã được thành lập sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và được nâng cấp sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, và thực tế rằng 20 nền kinh tế hùng mạnh nhất đã cùng nhau tìm kiếm những giải pháp cho tình trạng bất ổn định có tác động nhất định.

Nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng về bản chất chính trị thuần túy. Năm 2008, người ta lo ngại rằng chủ nghĩa bảo hộ sẽ là phản ứng tự phát của một vài chính phủ; giờ đây nó là chính sách có chủ tâm và chính thức của thành viên hùng mạnh nhất của G20, nước Mỹ. Mặc dù người ta có thể lập luận rằng Chính quyền Trump không nhất quán trong lời nói và hành động, nhưng họ lớn tiếng và nhất quán trong vấn đề kinh tế. Nếu Mỹ tuyên bố “Nước Mỹ trước tiên”, việc phần còn lại của thế giới cũng sẽ quay sang lối tư duy theo xu hướng trọng thương hơn sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Các hội nghị thượng đỉnh G20 luôn luôn bị phủ bóng đen bởi các cuộc khủng hoảng khác nhau, nhưng số lượng các cuộc tranh cãi trong đó các nước thành viên giờ đây có liên quan là đáng kể. Sự leo thang gần đây ở vùng Vịnh đã thêm vào một sắc thái khác cho bức tranh vốn đã ảm đạm này. Đức, nước cam kết sâu sắc với sự cai trị tốt đẹp, chắn chắn sẽ làm hết sức mình để G20 tập trung trở lại với cam kết về sự hợp tác toàn cầu – đặc biệt là Hiệp định Paris – nhưng Thủ tướng Angela Merkel không có cây đũa thần.

Trong khi Nga không phải là nhân vật thúc đẩy lớn nhất của thương mại tự do và sự mở cửa, nước này giờ đây lo ngại bởi chủ nghĩa bảo hỗ đang dần hiện ra và muốn duy trì một hệ thống kinh tế toàn cầu tự do vừa phải. Moskva cũng sẽ sử dụng cơ hội này để trao đổi với nhiều nhà lãnh đạo quốc tế tham dự.

(còn tiếp) 

Nguồn: Council on foreign relations – 05/07/2017

TLTKĐB – 08/07/2017