Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần IV


Nhìn từ bên trong, con người là chủ thể phát triển, là động lực và mục tiêu của phát triển. Hạt nhân và thực chất của cải thiện dân sinh là lấy dân làm gốc, mục đích là thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người. Đồng chí Hồ Cẩm Đào chỉ rõ: “Kiên trì lấy dân làm gốc chính là cần lấy mục tiêu thực hiện phát triển toàn diện con người, xuất phát từ lợi ích cơ bản của nhân dân để tìm cách phát triển, thúc đẩy phát triển, không ngừng thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng tăng của quần chúng nhân dân, thiết thực đảm bảo quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa cho quần chúng nhân dân, để thành quả phát triển có thể tới với toàn thể nhân dân”. Xuất phát từ sự biến đổi sâu sắc của đất nước, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cụ thể hóa, hiện thực hóa thêm một bước lý luận thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người của chủ nghĩa Marx, lấy quan niệm phát triển khoa học chân chính và hiện thực “yếu nghĩa thứ nhất là phát triển, hạt nhân là lấy dân làm gốc, yêu cầu cơ bản là tính toàn diện lâu dài nhịp nhàng, phương pháp căn bản là thống nhất trù hoạch, chăm lo toàn diện” làm điều kiện và lộ trình thực hiện phát triển toàn diện con người. Đảng Cộng sản Trung Quốc còn chỉ rõ nhiệm vụ và yêu cầu của xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, chỉ rõ xã hội đó “phải là xã hội pháp trị dân chủ, chính nghĩa công bằng, thành tín hữu ái, sung mãn sức lực, an định trật tự, con người chung sống hài hòa với tự nhiên”. Kiên trì lấy dân làm gốc chính là cần kiên trì quan tâm tới lợi ích, nhu cầu của từng người trên cơ sở sự thống nhất với lợi ích cơ bản của toàn dân, thể hiện xã hội chính nghĩa, nhân đạo chủ nghĩa và quan tâm nhân văn, thỏa mãn nhu cầu đa dạng và nguyện vọng phát triển của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ nhân quyền. Đó chính là sự quan tâm đến các giá trị người, quan tâm đến chất lượng sống, tiềm năng sống, tiềm năng phát triển và chỉ số hạnh phúc, nhằm thực hiện sự phát triển toàn diện con người.

Lịch sử cận đại Trung Quốc từ chiến tranh nha phiến trở lại đây là lịch sử đấu tranh của dân tộc Trung Hoa giành độc lập dân tộc và giải phóng nhân dân, đồng thời là lịch sử của nhân dân Trung Quốc giành lấy cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc. Từ năm 1840 tới khi nước Trung Quốc mới được thành lập tròn 100 năm, Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử độc lập dân tộc và giải phóng nhân dân, tiền đề tất yếu để thực hiện quốc gia phồn vinh, phú cường và nhân dân cùng sáng tạo giàu có, mở ra một viễn cảnh tốt đẹp. Từ mở cửa cải cách tới cuối thế kỷ trước, theo tư tưởng chiến lược “ba bước đi” của Đặng Tiểu Bình, tới năm 1990, Trung Quốc thực hiện bước đầu tiên là giải quyết vấn đề ăn no mặc ấm cho nhân dân; tới năm 2000 thực hiện bước thứ hai là đưa đời sống nhân dân đạt tới mức tiểu khang. Trước mắt, Trung Quốc đang hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thứ ba. Đó là, từ năm 2010 tới năm 2020, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập tròn 100 năm, xây dựng một xã hội tiểu khang ở mức độ cao hơn nữa cho hơn 1 tỷ người; tới năm 2050, tức giữa thế kỷ XXI, khi Trung Quốc mới thành lập tròn 100 năm, GDP bình quân đầu người đạt mức ngang bằng các quốc gia phát triển, hoàn thành cơ bản việc hiện đại hóa, xây dựng thành công quốc gia xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh. Tới khi đó, trải qua sự phấn đấu trọn 200 năm, dân tộc Trung Hoa sẽ thực hiện sự phục hưng vĩ đại, nhân dân Trung Quốc sẽ thực sự có được cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc.

3/ Những vấn đề dân sinh còn tồn tại và một số đối sách trong giai đoạn hiện nay

Trong 30 năm cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc tạo lập nên kỳ tích phát triển nhanh chóng làm thế giới kinh ngạc. Năm 2008, tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc vươn từ thứ 6 lên đứng thứ 4 thế giới. Kết quả trực tiếp của sự phát triển kinh tế mạnh mẽ đó là sự gia tăng nhanh chóng của tiến bộ xã hội và mức sống của nhân dân. Dù phương Tây ra sức tăng cường sức ép Tây hóa và chiến lược phân hóa đối với Trung Quốc, tuyên truyền “luận thuyết Trung Quốc uy hiếp”, hoặc lợi dụng vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để công kích, song Trung Quốc luôn kiên trì bảo vệ cục diện chính trị ổn định đoàn kết, đồng thời ngày càng nhận được nhiều sự hiểu biết và tôn trọng của thế giới. Có được điều đó, một trong những nguyên nhân quan trọng chính là sự nâng cao có lợi rõ rệt cho đời sống nhân dân và sự cải thiện không ngừng môi trường sinh thái.

Đồng thời, Trung Quốc cần tỉnh táo nhận thấy rằng, trong đời sống hiện thực của đất nước vẫn tồn tại nhiều nhân tố bất ổn, đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, có những vấn đề dân sinh chưa được giải quyết hiệu quả và kịp thời. Biểu hiện nổi trội nhất là sự chênh lệch thu nhập do phân phối bất hợp lý giữa cư dân thành thị và nông thôn, khoảng cách thu nhập khu vực và thu nhập ngành nghề ngày càng lớn, các giai tầng xã hội khác nhau xuất hiện sự phân hóa giàu nghèo; tình hình thiếu việc làm ở thành thị và nông thôn, một bộ phận người dân thiếu cơ hội được tham dự công bằng vào phát triển kinh tế; sự xuất hiện thường xuyên các sự kiện công cộng đột xuất, lo lắng về sự an toàn và ổn định xã hội tăng cao, một số địa phương phát sinh sự cố an toàn sản xuất và an toàn thực phẩm gây tổn thất nghiêm trọng đối với sinh mạng và tài sản của nhân dân; mâu thuẫn nổi trội giữa bất bình đẳng chi phí công cộng, mất công bằng về cơ hội giáo dục, đặc biệt là vấn đề những người nghèo khó ở nông thôn khó có cơ hội học tập, khám bệnh,… phạm vi vươn tới của hệ thống an sinh xã hội hạn hẹp, mức bảo đảm thấp, pháp luật chưa kiện toàn, gây ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển xã hội và sức khỏe của dân chúng;… Những mâu thuẫn và vấn đề trên phản ánh mâu thuẫn ở tầng sâu được tích tụ trong một thời gian dài, đa số đều liên quan tới vấn đề dân sinh, tới lợi ích của quần chúng. Nếu những vấn đề này được xử lý không tốt, sẽ làm tăng thêm mâu thuẫn giai tầng, hình thành một tập hợp sự kiện làm mất đi sự hài hòa, gây bất ổn xã hội, và thế cục bất ổn; sẽ khiến Đảng bị mất đi sự ủng hộ và giúp đỡ của dân chúng, tổn hại tới cơ sở của chế độ xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng tới trị an lâu dài của quốc gia. Với điều này, cần phải có ý thức cảnh giác và trách nhiệm cao độ, đưa quan điểm phát triển khoa học quán triệt vào các lĩnh vực và các công việc xây dựng hiện đại hóa, khiến cho quá trình phát triển khoa học trở thành quá trình không ngừng tạo phúc dân sinh.

Dựa trên đòi hỏi đảm bảo và cải thiện dân sinh của quan điểm phát triển khoa học, thì cần phải trước sau kiên trì lấy việc xây dựng kinh tế làm trung tâm, thực hiện phát triển khoa học, phát triển hài hòa, phát triển hòa bình. Việc kiên trì lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm được quyết định bởi tình hình cơ bản của Trung Quốc trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, ở Trung Quốc, về tổng thể không có biến đổi nhân khẩu nhiều, nền tảng yếu, kinh tế và văn hóa phát triển không cân bằng, sức sản xuất không phát triển; do vậy, chỉ có không ngừng giải phóng và phát triển sức sản xuất, gia tăng sự giàu có xã hội lên cực đại mới có thể kiến tạo một nền tảng hùng hậu để cải thiện dân sinh. Phải quán triệt quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, không được dao động, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội, không ngừng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, thúc đẩy sự chuyển biến từ mô hình tăng trưởng bề ngoài, số lượng thành sự phát triển hiện đại, sâu sắc và chất lượng, sửa chữa quan điểm thành tích không đúng đắn của một số cán bộ lãnh đạo Đảng coi tăng trưởng GDP là trung tâm, nỗ lực nâng cao chất lượng và hiệu ích phát triển, thực hiện sự phát triển kinh tế vừa tốt vừa nhanh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Advertisements

Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần III


Giai đoạn thứ hai: Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, việc xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc thực hiện bước 2 của mục tiêu phát triển chiến lược, với tập thể lãnh đạo Đảng thế hệ thứ ba do đồng chí Giang Trạch Dân chủ xướng, đề ra tư tưởng dân sinh trong thực tiễn lãnh đạo toàn thể nhân dân cả nước thực hiện tổng thể mục tiêu đời sống tiểu khang.

Đầu tiên, Giang Trạch Dân coi cải thiện dân sinh như một tôn chỉ phục vụ nhân dân và sự thể hiện cuối cùng cho tư tưởng “ba đại diện” của Đảng Cộng sản Trung Quốc là đỉnh cao của sự kết hợp cải cách, phát triển và ổn định. Cụ thể là, thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn phải kiên trì tính thống nhất phấn đấu vì lý tưởng cao cả và mưu cầu lợi ích cho quảng đại nhân dân, kiên trì thực hiện sự thống nhất giữa các công việc của Đảng với việc thực hiện lợi ích của nhân dân. “Điểm xuất phát và cơ sở cho hành động chúng ta là sự giải quyết mọi công việc bất luận trước sau đều phải suy nghĩ tới lợi ích cơ bản của quần chúng nhân dân”. Mà lợi ích cơ bản của quần chúng nhân dân, xét đến cùng, thể hiện ở sự cải thiện không ngừng mức sống của dân chúng. Thứ hai, “ba đại diện” là một chỉnh thể thống nhất liên hệ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Phát triển không ngừng sức sản xuất tiên tiến và văn hóa tiên tiến, rốt cuộc là nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất, văn hóa ngày càng tăng của quần chúng nhân dân; thực hiện lợi ích căn bản nhất của đông đảo quần chúng nhân dân, mà biểu hiện cuối cùng của nó là ở sự cải thiện đời sống của nhân dân. Thứ ba, kết hợp một cách thích ứng sức mạnh cải cách, tốc độ phát triển và mức độ ổn định, luôn là vấn đề trọng đại, có ảnh hưởng tới toàn cục mà Đảng Cộng sản Trung Quốc phải quan tâm. Tâm điểm của sự kết hợp trên chính là ở việc không ngừng cải thiện đời sống nhân dân.

Tiếp đó, Giang Trạch Dân đưa ra suy đoán khoa học về “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang”. Khi bàn về “xã hội tiểu khang”, Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh tới phát triển kinh tế, chủ yếu dùng chỉ tiêu kinh tế để đánh giá “xã hội tiểu khang”; Giang Trạch Dân đã cụ thể hóa “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang” thành “khiến cho kinh tế càng thêm phát triển, dân chủ càng thêm kiện toàn, khoa học – giáo dục càng thêm tiến bộ, văn hóa càng thêm phồn vinh, xã hội càng thêm hài hòa, đời sống nhân dân càng thêm giàu có”. Điều này đòi hỏi sự phát triển hài hòa ở trình độ cao hơn nữa văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần của chủ nghĩa xã hội, đồng thời tác động tích cực tới hơn 1 tỷ người trong cả nước. Từ mục tiêu phấn đấu “xã hội tiểu khang” do Đặng Tiểu Bình đề ra tới những giải thích mới của Giang Trạch Dân về “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang” đã thể hiện sự mở rộng và làm sâu sắc thêm trong việc nhận thức nội hàm xã hội tiểu khang và dân sinh.

Thứ nữa, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của người đi trước về sự phát triển toàn diện của con người, trong điều kiện thời đại mới, Giang Trạch Dân đã chỉ rõ nhu cầu và nhiệm vụ phải bắt đầu xúc tiến sự phát triển toàn diện con người trong giai đoạn hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội ngày nay. Ông khẳng định: “Sự nghiệp mà chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, tất cả những việc chúng ta tiến hành vừa phải để mắt tới nhu cầu đời sống vật chất, văn hóa hiện thực của nhân dân, vừa cần hướng tới sự đề cao việc thúc đẩy tố chất dân chúng, cũng chính là cần nỗ lực xúc tiến sự phát triển toàn diện con người. Đây là đòi hỏi bản chất trong việc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Marx”. “Phát triển toàn diện con người” là sự thống nhất giữa phát triển đời sống vật chất và phát triển đời sống tinh thần, vừa “cần nhanh ch1ong khiến cho nhân dân cả nước đều có đời sống tiểu khang sung túc, đồng thời không ngừng tiên lên tầm cao mới”, vừa “phải nỗ lực nâng cao tố chất đạo đức tưt ưởng và tố chất văn hóa khoa học của toàn dân tộc, thực hiện sự phát triển toàn diện đời sống tư tưởng và itnh thần của con người”. Ông còn phân tích thấu đáo mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển toàn diện con người với sự phát triển xã hội, cải thiện dân sinh. Ông chỉ rõ: “Thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là tiền đề và cơ sở của nhau. Con người càng phát triển toàn diện, sự giàu có vật chất và tinh thần của xã hội càng được sáng tạo nhiều, đời sống nhân dân càng được cải thiện và điều kiện vật chất tinh thần đầy đủ thì càng có thể thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người. Mức độ phát triển sức sản xuất xã hội và kinh tế, văn hóa là quá trình lịch sử dần được nâng cao không ngừng, trình độ phát triển toàn diện con người cũng là quá trình lịch sử dần được nâng cao không ngừng. Hai quá trình lịch sử này kết hợp với nhau, thúc đẩy lẫn nhau tiến về phía trước”.

Giai đoạn thứ ba: Sau khi Đại hội Đảng lần thứ XVI, việc xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc thực thi mục tiêu chiến lược bước ba, với đồng chí Hồ Cẩm Đào là Tổng Bí thư Trung ương Đảng, đưa ra tư tưởng dân sinh trong thực tiễn dẫn dắt nhân dân cả nước xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang.

Những người cộng sản Trung Quốc bước vào giai đoạn mới của thế kỷ mới, đối mặt với thế giới đang có nhiều biến đổi và điều chỉnh lớn, vận mệnh Trung Quốc ngày càng gắn chặt với thế giới; đứng trước một Trung Quốc đang sinh ra những biến đổi rộng lớn và sâu sắc, một số mâu thuẫn và vấn đề tích lũy lâu dài trong phát triển dần bộc lộ rõ. Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổng kết sâu sắc thực tiễn phát triển đất nước, rút ra bài học kinh nghiệm phát triển của nước ngoài, đi sâu phân tích đặc trưng mang tính giai đoạn của sự phát triển ở Trung Quốc, kịp thời và sáng tạo trong việc xây dựng lý luận quan trọng theo quan điểm phát triển khoa học về các vấn đề thành thị, nông thôn, khu vực, kinh tế, xã hội về sự phát triển không cân bằng, không nhịp nhàng giữa con người và tự nhiên trong giai đoạn mới của thế kỷ mới; đồng thời, dựa trên lý luận đó, đưa ra một loạt tư tưởng chiến lược quan trọng về dân sinh. Chủ yếu biểu hiện ở những mặt dưới đây:

Nhìn theo chiều ngang, kết cấu tổng thể của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc phát triển từ lưỡng vị nhất thể sang tứ vị nhất thể, vị trí dân sinh ngày càng nổi trội. Báo cáo tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XII chỉ rõ: cùng với việc xây dựng nền văn minh vật chất trình độ cao, nhất định phải nỗ lự xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trình độ cao. Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định lấy giàu mạnh, dân chủ, văn minh làm mục tiêu phấn đấu hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội Đảng XIV, XV, một lần nữa, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh sự phát triển hài hòa giữa văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Bắt đầu từ Đại hội lần thứ XVI, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh xây dựng toàn diện văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa. Đại hội XVI còn tiến thêm một bước, đề ra nhiệm vụ trọng đại xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự phát triển nhịp nhàng giữa xây dựng xã hội với xây dựng kinh tế, xây dựng chính trị, xây dựng văn hóa, khiến cho mục tiêu xây dựng hiện đại hóa Trung Quốc vốn từ tam vị nhất thể mở rộng thành tứ vị nhất thể. Đại hội Đảng lần thứ XVII đã lần đầu tiên chính thức đưa ra khái niệm “văn minh sinh thái”, khiến cho chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc hình thành một hệ thống văn minh hoàn chỉnh và toàn diện phát triển nhịp nhàng, ảnh hưởng lẫn nhau, chế ước lẫn nhau. Trong đó, văn minh sinh thái là tiền đề, văn minh vật chất là cơ sở, văn minh chính trị là bảo đảm, văn minh tinh thần là linh hồn, văn minh xã hội là mục đích. Bất luận kết cấu tổng thể là tứ vị nhất thể hay sự phát triển nhịp nhàng của năm loại văn minh, dân sinh đều chiếm địa vị quan trọng. Nói cách khác, giải quyết vấn đề dân sinh trở thành trọng điểm xây dựng xã hội. Mở rộng nghề nghiệp, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, quan hệ phân phối phù hợp, tăng nhanh phát triển sự nghiệp xã hội trở thành bốn nội dung trọng tâm cần dốc sức thực hiện trong xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt những vấn đề lợi ích mà quần chúng quan tâm nhất.

Nhìn theo chiều dọc, gắn kết việc phát triển bền vững với dân sinh bền vững.Từ chỗ coi “phát triển mới là đạo lý cứng rắn”, “hai tay bắt, hai tay đều phải cứng”, Đảng Cộng sản Trung Quốc đề xuất “phát triển là nhiệm vụ đầu tiên của việc chấp chính hưng quốc”, “phát triển là sự phát triển toàn diện văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần” xã hội chủ nghĩa, đồng thời xác định “phát triển lấy dân làm gốc, toàn diện, nhịp nhàng, lâu dài”, “phát triển vừa tốt vừa nhanh”, Đảng tiến hành tìm hiểu và trả lời một loạt vấn đề trọng đại phát triển cái gì, phát triển ra sao, phát triển cho ai, phát triển dựa vào ai, thành quả phát triển do ai hưởng thụ?… Từ đó, có thể nhận thấy rõ quỹ đạo nhận thức của Đảng về vấn đề phát triển bước vào giai đoạn mới của thế kỷ mới, ngoài những tiềm lực to lớn và không gian rộng rãi, sự phát triển còn chịu sức ép nặng nề từ vấn đề nhân khẩu, môi trường… cũng như các vấn đề phát triển xã hội theo sau phát triển kinh tế, phát triển kinh tế không cân bằng, mất cân đối trong quan hệ giữa người và tự nhiên, quan hệ lợi ích xã hội không điều hòa,… ngày càng trầm trọng. Căn cứ vào tình hình mới và vấn đề mới của giai đoạn mới trong thế kỷ mới, Đảng Cộng sản Trung Quốc không ngừng làm sâu sắc thêm nhận thức về phát triển, xác định phát triển không chỉ đơn thuần là theo đuổi tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự phát triển toàn diện nhịp nhàng giữa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, là sự phát triển bền vững hài hòa giữa con người với tự nhiên; là sự phát triển mà chữ tốt được đặt lên hàng đầu, vừa tốt vừa nhanh, mục đích của nó là mức sống con người không ngừng được nâng cao. Phát triển bền vững thực chất là dân sinh bền vững. Bởi, con người vừa là một thực thể xã hội, vừa là một thực thể tự nhiên. Con người chỉ có trong quan hệ với tự nhiên, quan hệ với người khác, với xã hội mới đạt tới trạng thái nhịp nhàng hòa hợp, mới có thể có sự phát triển sung mãn của chính mình. Đúng như đồng chí Hồ Cẩm Đào đã nó: “Một cách thẳng thắn, chúng ta không hy vọng cũng không theo đuổi tốc độ quá cao, chúng ta coi trọng hiệu ích và chất lượng của phát triển, càng coi trọng việc chuyển đổi phương thức tăng trưởng, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, càng xem trọng hơn nữa việc cải thiện dân sinh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần II


Tư tưởng dân sinh khoa học chân chính là quan niệm dân sinh của chủ nghĩa Marx. Tư tưởng của chủ nghĩa Marx về vấn đề dân sinh lấy quan niệm duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận, lấy học thuyết về bản chất con người, về nhu cầu và phát triển con người làm căn cứ trực tiếp. Nội dung cơ bản của nó bao gồm những điểm sau: Thứ nhất, tính chủ thể lịch sử của con người. K. Marx cho rằng, bản chất người nằm ở tính xã hội của nó. Bản chất con người không phải là thứ trừu tượng cố hữu của con người cá nhân mà trong tính hiện thực của mình, nó là sự tổng hòa của tất cả các quan hệ xã hội. Ông viết: “Con người vốn sinh ra đã là động vật xã hội, vậy thì chỉ có trong xã hội nó mới có thể phát triển hết năng lực bẩm sinh chân chính của nó, mà phán đoán về sức mạnh bẩm sinh của nó cũng không thể lấy tiêu chuẩn của sức mạnh cá nhân đơn nhất, mà phải lấy tiêu chuẩn sức mạnh của toàn bộ xã hội”. Quần chúng nhân dân, đặc biệt là quảng đại quần chúng nhân dân lao động là chủ thể của lịch sử xã hội, là người sáng tạo ra sự giàu có vật chất và tinh thần của xã hội, là lực lượng quyết định thúc đẩy sự phát triển và biến đổi xã hội. Thứ hai, con người là con người hiện thực, hoạt động thực tiễn, là con người nằm trong quan hệ sản xuất; trong xã hội có giai cấp, đó là người bị lệ thuộc vào giai cấp khác. K. Marx cho rằng, con người xuất phát từ nhu cầu sản xuất thực tiễn xã hội của mình, đồng thời dựa vào nhu cầu mà tiến hành hoạt động thực tiễn; để sáng tạo ra lịch sử, con người buộc phải sinh sống, cho nên hoạt động sản xuất ra tư liệu sản xuất vật chất để thỏa mãn nhu cầu con người là hoạt động lịch sử đầu tiên của loài người. Trong quá trình sản xuất, con người hình thành nên các quan hệ giữa người và người, tức quan hệ sản xuất; trên nền tảng quan hệ sản xuất, hình thành và phát triển các loại quan hệ xã hội và hiện tượng xã hội; từ khi có giai cấp, người ta lệ thuộc vào một giai cấp nhất định, thuộc về một kiểu quan hệ giai cấp nhất định. Thứ ba, nhu cầu con người và phát triển con nguòi. Học thuyết Marx về nhu cầu con người cho rằng, nhu cầu là động lực nội tại trực tiếp của hoạt động thực tiễn của loài người, chính trong quá trình sản xuất, con người đã hình thành nên các nhu cầu, các nhu cầu đó không ngừng gia tăng và biến đổi, khiến cho đời sống xã hội không ngừng được điều chỉnh và tiến bộ. Cùng với những vận động mâu thuẫn trong sản xuất, những nhu cầu đó thúc đẩy xã hội loài người phát triển từ thấp tới cao. Mức độ phát triển và trình độ phong phú của nhu cầu con người là tiêu chí quan trọng thể hiện mức độ phát triển người. Học thuyết phát triển con người của K. Marx cho rằng, sự phát triển toàn diện năng lực con người là nội dung trung tâm của phát triển toàn diện người, nội dung hạt nhân mang tính bản chất của nó chính là sự phát triển toàn diện và cao độ của năng lực sản xuất, năng lực tinh thần và năng lực thẩm mỹ của con người. Thứ tư, con người làm thế nào để thực hiện sự giải phóng và phát triển của mình? Quan niệm duy vật lịch sử cho rằng, xét đến cùng, việc thực hiện sự giải phóng triệt để và phát triển toàn diện con người cần phải có hai điều kiện: giai cấp công nhân thông qua lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa giành được sự giải phóng triệt để bản thân mình và toàn bộ loài người chính là tiền đề xã hội; sự phát triển cao của sức sản xuất xã hội là cơ sở vật chất; sự xác lập chủ nghĩa cộng sản là đảm bảo chế độ; thời gian tự do phong phú là điều kiện cơ bản. Việc thực hiện những điều kiện lịch sử xã hội nói trên là một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và khúc khuỷu.

Dựa vào những quan điểm duy vật lịch sử cơ bản của chủ nghĩa Marx để giải thích “dân sinh” như trên, tôi cho rằng, “dân” chính là quần chúng nhân dân rộng lớn, “sinh” chính là thực hiện những nhu cầu của đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần ngày càng tăng của quần chúng nhân dân. Thực hiện dân sinh chính là thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện con người. Đây là sự khác biệt bản chất giữa quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx với quan điểm lịch sử dân sinh của chủ nghĩa duy tâm muôn hình muôn vẻ. Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã chỉ rõ: “Tin ai, dựa ai, vì ai, trước sau có đứng trên lập trường của đông đảo nhân dân không, đó chính là phân giới rạch ròi giữa quan điểm duy vật lịch sử với quan điểm duy tâm lịch sử, đồng thời cũng chính là hòn đá thử vàng xét đoán chính đảng chủ nghĩa Marx”.

Một loạt những chủ trương và quan điểm của Đảng Cộng sản về dân sinh lấy cơ sở lý luận là quan niệm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx, đồng thời kế thừa những nhân tố hợp lý trong tư tưởng dân bản truyền thống của Trung Quốc, tiếp thu tinh hoa lý luận của chủ nghĩa nhân bản phương Tây, là bộ phận cấu thành quan trọng của chủ nghĩa Marx được Trung Quốc hóa, là thành quả to lớn giành được trong thực tiễn vĩ đại tiến hành cách mạng, xây dựng và cải cách mà Đảng đã dẫn dắt quảng đại quần chúng nhân dân.

2/ Sự tìm kiếm không mệt mỏi cách giải quyết vấn đề dân sinh của những người cộng sản Trung Quốc

Đảng Cộng sản Trung Quốc với tư cách đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân Trung Quốc và dân tộc Trung Hoa là người đại biểu cho lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân, đồng thời là người lãnh đạo quần chúng nhân dân cùng sáng tạo nên cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp. Trong những thời kỳ lịch sử khác nhau, những người cộng sản Trung Quốc trước sau đều quan tâm tới dân sinh, coi trọng dân sinh, không ngừng làm sâu sắc hóa nhận thức lý luận về dân sinh, không ngừng xúc tiến sự tìm kiếm thực tiễn để giải quyết vấn đề dân sinh.

Trong thời kỳ cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới, tập thể lãnh đạo đầu tiên của Đảng do đồng chí Mao Trạch Đông đứng đầu đã kết hợp chủ nghĩa Marx với thực tế Trung Quốc, lãnh đạo giai cấp công nah6n và quảng đại nhân dân lao động lật đổ “ba ngọn núi lớn”, giành được độc lập dân tộc và giải phóng dân sinh, xây dựng nước Trung Hoa mới xã hội chủ nghĩa, quét sạch chướng ngại thực hiện nhiệm vụ lịch sử là xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chúng ấm no. Trong tiến trình lịch sử đó, Mao Trạch Đông đưa ra tư tưởng mang tính sáng tạo về “nhân dân”, đề xướng quan điểm phải quan tâm và cải thiện đời sống của quần chúng. Những luận điểm đó về sau trở thành cội nguồn và nền tảng tư tưởng quan trọng cho những người cộng sản tìm kiếm lý luận và cơ sở thực tiễn tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên Mao Trạch Đông đưa ra khái niệm “vì dân phục vụ”, yêu cầu tất cả các đảng viên của Đảng phải “toàn tâm toàn ý vì dân phục vụ”, đồng thời coi đó là tôn chỉ của Đảng. Trước sau như một, ông luôn quan tâm đến dân sinh, nhấn mạnh “phải khiến cho nhân dân thấy được lợi ích vật chất”, chỉ rõ: “Vấn đề đời sống thực tế của tất cả quần chúng, đều là những vấn đề mà chúng ta cần chú ý. Nếu chúng ta đã chú ý, đã giải quyết, đã thỏa mãn nhu cầu cho quần chúng, chúng ta sẽ thực sự trở thành những người tổ chức đời sống cho quần chúng, quần chúng sẽ thực sự tập hợp quanh chúng ta, nhiệt liệt ủng hộ chúng ta”. Yêu cầu “tất cả hành động, lời nói của người cộng sản đều buộc phải phù hợp với lợi ích lớn nhất của đông đảo quần chúng nhân dân, tiêu chuẩn cao nhất là những gì mà quần chúng nhân dân ủng hộ”. Ông còn coi sự liên hệ mật thiết với đông đảo quần chúng nhân dân là tiêu chí rõ ràng để phân biệt người cộng sản với những chính đảng khác. Kinh nghiệm lịch sử của cách mạng Trung Quốc đã chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Trung Quốc một lòng một dạ mưu cầu lợi ích cho nhân dân, thiết thực giải quyết vấn đề dân sinh, trnah thủ được sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân, đó là nguyên nhân căn bản của thắng lợi giành được trong cuộc cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới.

Việc xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội sau khi thành lập nước Trung Hoa mới ở vào thời điểm khó khăn của lịch sử, trong đó việc giải quyết vấn đề dân sinh vừa đạt được những thành tựu to lớn do việc phát triển kinh tế mang lại, vừa gặp phải những gian nan do sai lầm nghiêm trọng trong quá trình thực hiện. Trong thời kỳ cải cách mở cửa, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành sự nghiệp vĩ đại – xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Suốt 30 năm qua, dựa trên những gợi ý về “ba bước đi” trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đồng chí Đặng Tiểu Bình, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có những tìm tòi tích cực để giải quyết vấn đề dân sinh. Quá trình đó, về đại thể, phân thành ba giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, mục tiêu chiến lược thực hiện bước đầu tiên xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với tập thể lãnh đạo thế hệ thứ hai của Đảng do đồng chí Đặng Tiểu Bình làm chủ chốt, đưa ra tư tưởng dân sinh trong thực tiễn lãnh đạo dân chúng cả nước thực hiện đời sống ăn no mặc ấm.

Nhân dân Trung Quốc có đời sống no đủ là mục đích cuối cùng và nguyên tắc tối cao trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Đặng Tiểu Bình. Ông coi “chế độ công hữu giữ vai trò chủ thể” và “cùng giàu có” là nguyên tắc cơ bản bắt buộc nhằm kiên trì chủ nghĩa xã hội; coi “giải phóng sức sản xuất, phát triển sức sản xuất, tiêu diệt sự bóc lột, trù bỏ sự phân hóa hai cực, cuối cùng đạt tới sự giàu có chung” là bản chất của chủ nghĩa xã hội; đem “sự cùng giàu có của nhân dân cả nước, kh6ong phân chia hai cực” và “phát triển sức sản xuất, dần nâng cao mức sống vật chất và văn hóa của nhân dân” khái quát thành mục tiêu và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội; coi “cùng nhau giàu có, không gây ra sự phân hóa hai cực, giàu có cho đất nước và nhân dân, không sinh ra giai cấp tư sản mới” là điểm phân biệt chủ yếu giữa chủ nghĩa xa hội với chủ nghĩa tư bản. Về sau, Đặng Tiểu Bình lại đem tiêu chuẩn phán đoán “tư bản” và “xã hội” quy nạp thành “ba cái có lợi”, tức “cần phải xem có lợi cho sự phát triển sức sản xuất xã hội xã hội chủ nghĩa không, có lợi cho việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của một đất nước xã hội chủ nghĩa không, có lợi cho việc nâng cao mức sống nhân dân không”; xác định nhiệm vụ cơ bản của xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa là nhằm “làm cho nhân dân các dân tộc ở Trung Quốc trở thành những người có lý tưởng, hiểu đạo lý, có văn hóa và giữ kỷ luật”. Ông còn đưa ra khái niệm mới, “xã hội tiểu khang”, coi nó là giai đoạn phát triển hiện đại hóa Trung Quốc. Nhằm thực hiện mục tiêu nhân dân cùng giàu có, Đặng Tiểu Bình còn thiết kế một lộ trình hiện thực là để cho một số vùng, một số người giàu lên trước. Từ những phân tích trên có thể thấy, Đặng Tiểu Bình đã hướng tới lợi ích của nhân dân, hướng tới sự cùng giàu có của toàn dân, đồng thời đề cao tố chất chỉnh thể của nhân dân. Ông đặt dân sinh cùng giàu có, dân sinh phát triển toàn diện trong sự liên hệ mật thiết với bản chất, mục đích, nguyên tắc, tính ưu việt lớn nhất và nhiệm vụ chủ yếu của chủ nghĩa xã hội, thống nhất trong tiến trình vĩ đại của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Vì sao Samsung chọn Việt Nam để đặt công ty lớn nhất?


Samsung giữ vị trí quan trọng tại Việt Nam. Cho đến nay, Samsung đã đầu tư vào Việt Nam tổng cộng 17 tỷ USD, với những nhà máy sản xuất gần 1/3 lượng sản phẩm mà tập đoàn Hàn Quốc sản xuất ra trên toàn thế giới.

Chi nhánh Việt Nam của Samsung đã trở nên tối quan trọng đối với Việt Nam vì thu hút hơn 100.000 nhân viên làm việc, đạt được doanh số 58 tỷ USD vào năm ngoái, vượt tập đoàn dầu khí Petro Vietnam để trở thành tập đoàn lớn nhất Việt Nam, giúp Việt Nam chiếm vị trí nước xuất khẩu điện thoại thông minh thứ nhì của thế giới, với trị giá lên tới 214 tỷ USD.

Nhà máy chính của Samsung ở Thái Nguyên (miền Bắc Việt Nam) sử dụng hơn 60.000 người.  Đây là nhà máy có sản lượng điện thoại di động lớn hơn bất kỳ cơ sở sản xuất nào trên thế giới.

Samsung đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Nhờ tập đoàn này, Thái Nguyên và tỉnh Bắc Ninh lân cận đã trở thành hai trong số những địa phương giàu nhất nước. Nhà hàng, cửa hàng và khách sạn mọc lên như nấm quanh các khu công nghiệp Samsung. Số các công ty Việt Nam được liệt kê là nhà cung cấp quan trọng cho Samsung đã tăng gấp 7 lần trong 3 năm qua.

Samsung đã trở thành nhà đầu tư Hàn Quốc lớn nhất tại Việt Nam. Trong số 108 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà Việt Nam đã nhận được kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, 1/3 là của Hàn Quốc.

Ngoài Samsung, còn có LG, một “chàng khổng lồ” khác của Hàn Quốc, sản xuất màn hình máy thu hình trong nhà máy trị giá 1,5 tỷ USD tại cảng Hải Phòng; hay là Lotte, chủ nhân một chuỗi siêu thị.

Đối với Samsung, Việt Nam là một lựa chọn hấp dẫn, thế chỗ cho Trung Quốc. Trước hết, Việt Nam có một lực lượng lao động trẻ, đông đảo và giá rẻ. Đó từng là lợi thế của Trung Quốc, nhưng ngày nay, công nhân Trung Quốc bình quân đã già hơn 7 tuổi so với công nhân Việt Nam, torng khi chi phí thuê nhân công lại đắt hơn gấp 2 lần so với Việt Nam.

Lao động giá rẻ giúp Sumsung hạ thấp chi phí sản xuất, tạo cho nhà sản xuất điện thoại thông minh Hàn Quốc một lợi thế cạnh tranh so với Apple. Trong khi nhiều nước khác trong khu vực có xu hướng xuất khẩu nguyên liệu hoặc linh kiện sang Trung Quốc, để được lắp ráp thành thành phẩm, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu thành phẩm hoàn chỉnh.

Việt Nam cũng là một hàng rào có giá trị, giúp tránh được cách hành xử thất thường của chính quyền Trung Quốc. Năm ngoái, chính phủ Trung Quốc tổ chức tẩy chay các công ty và sản phẩm của Hàn Quốc để trừng phạt chính quyền Seoul vì đã triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ của Mỹ trên lãnh thổ Hàn Quốc.

Mặc dù hệ thống này nhằm mục đích bảo vệ, chống lại một cuộc tấn công từ Triều Tiên, nhưng Bắc Kinh cho rằng nó có thể được dùng để làm suy yếu hệ thống phòng thủ của Trung Quốc. Cuộc tẩy chay dù đã kết thúc, nhưng đã làm cho các nhà đầu tư Hàn Quốc lo ngại.

Trái lại, Việt Nam đang tự do hóa nền kinh tế để đón chào giới công nghiệp nước ngoài. Năm 2015, Việt Nam đã mở cửa 50 ngành công nghiệp cho nước ngoài và giảm nhẹ ràng buộc trong hàng trăm ngành khác.

Việt Nam đã bán phần lớn cổ phần của Sabeco, tập đoàn sản xuất bia quốc doanh lớn nhất cho một công ty nước ngoài vào năm ngoái.

Sự nhiệt tình của Việt Nam đối với các hiệp định thương mại tự do đã khiến cho Việt Nam trở nên đặc biệt hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Việt Nam cũng là một thành viên sáng lập của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việt Nam cũng sắp ký hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EU). Thỏa thuận đã ký với Hàn Quốc năm 2015 đã giúp Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của Hàn Quốc.

Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã thăm Việt Nam hồi tháng 3 vừa qua cùng với các đại diện của Samsung và nhiều công ty khác. Đây là chuyến đi thứ hai của ông tới Việt Nam trong vòng chưa đầy 1 năm cầm quyền. Các cố vấn của Tổng thống Hàn Quốc cho rằng Hàn Quốc không nên tự thỏa mãn với việc trở thành “con tôm giữa bầy cá voi” như Trung Quốc và Nhật Bản, mà trái lại, phải trở thành một cường quốc khu vực bằng cách kết minh với các đồng minh nhỏ hơn. Điều đó, theo họ sẽ giúp Hàn Quốc trở thành một “con cá heo”, làm chủ được vận mệnh của chính mình. Ít ra là tại Việt Nam, kế hoạch của Hàn Quốc đã như “cá gặp nước”.

Nguồn: The Economist – 16/04/2018

TKNB – 17/04/2018

Vụ Matesa – Phần cuối


+ Estrelle Roja (Sao đỏ). Công ty này được ông Bender lập ra ở Peru trước tiên, rồi ở Chile ít lâu sau đó, ông ta dường như đã dính líu với CIA và các giới chống Castro của Cuba trong những hành động chống lại các chính phủ Mỹ Latinh và những phần tử đối lập lưu vong. Ông Raulf (cựu đại tác quốc xã, người thành lập nhiều công ty thương mại cho những phần tử lưu vong Đức trên thế giới, và là một trong những kẻ tổ chức ra « đường dây » đào thoát cho bọn quốc xã mang tên « Gai nhọn ») cũng là người cùng với Bender thành lập ra nó. Khi CIA và ITT chuẩn bị chống chính phủ Allende, Estrelle Roja được dùng làm dây dẫn để cung cấp vũ khí và tiền. Hiện nay, Raulf, cư trú tại Chile và làm « cố vấn » chính trị cho Pinochet.

+ Ratil. Chi nhánh của Matesa ở Bồ Đào Nha, chuyên về soạn thảo các chương trình hợp lý hóa, hoạt động của các doanh nghiệp. Nó đã giới thiệu OTC, chủ nhân của chiếc thuyền yat Apollo ở Lisbon, dưới đây sẽ nói tới. Cộng tác với các cơ quan mật vụ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, năm 1972 nó dính líu vào một kế hoạch chống chính phủ Sékou Toure ở Guinée. Những người lãnh đạo của nó (hay ít ra một số trong đó) về sau tham gia tuyển mộ và huấn luyện những lính đánh thuê được phái sang Angola (với Unita) hay sang Rhodésie. Mới đây (tháng bảy 1977), họ lãnh đạo một công ty ở Parma de Majorque mà dưới tên gọi : Cơ quan báo chí thế giới (bạn đọc chắc còn nhớ một « cơ quan báo chí » khác, Aginterpress, được lập ra ở Bồ Đào Nha để cho đậy những hoạt động quốc tế của một nhóm thân quốc xã, « Trật tự và Truyền thống », cánh tay vũ trang của cảnh sát chính trị Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha), cơ quan này đã che đậy một cơ quan chuyển tiếp nhằm đảm bảo những « nơi đỗ lại vì lý do kỹ thuật của một cầu hàng không hỗn hợp và rất đáng ngờ, nối châu Âu với châu Phi qua sân bay San Juan ở Parma de Majorque. Những chiếc máy bay này thuộc các công ty Touraine Air Transport (Pháp), Transportes Riplatenses (Argentina), Gabon Air và A-fretair Gabon (Gabon), Flying Tiger Lines (Mỹ), A.A.CH.Zair (Zair), Seabord World Airline (Mỹ)… theo một lệnh do người phụ trách.

Tổng cảnh sát các Cảng và các Biên giới thuộc ban lãnh đạo An ninh Tây Ban Nha, « không được để chịu một sự kiểm soát nào của các chức trách này chỉ được phép theo dõi chặt chẽ các thiết bị bay và các chuyến đỗ lại của những máy bay ấy ». Nghĩa là những máy bay ấy, trong thời gian đỗ lại trên lãnh thổ Tây Ban Nha, không cho phép bất cứ một kiểu kiểm soát nào, mà trái lại phải được bảo trợ « kín đáo và hữu hiệu »…

Ở Pháp cũng vậy, de Borglie và vài « cố vấn » khác của Sodetex đã tham gia vào những công ty khác, mà vào lúc này hay lúc khác của sự tồn tại của chúng (nhiều công ty trong số đó thật ra không « tồn tại », vì chúng không bao giờ được khai báo chính thức, dù tất cả mọi người đều biết những hoạt động của chúng), đã thu hút sự chú ý của các cơ quan mật vụ Pháp và nước ngoài. Chẳng hạn, đó là trường hợp của Sofradec và Seccar (một trong những người lãnh đạo của nó, ông Arendt, đã bị ám sát ở Maroc năm 1973), của Intertrading và Bricom (một trong những người lãnh đạo của nó, ông Rahal, nhà kinh doanh Algeria, mới đây đã được nhắc tới trên báo chí vì đã tham gia những hoạt động bí ẩn và đáng ngờ).

Công ty này (ít ra theo sự khẳng định của ông Rahal) dường như đã cắt cầu từ năm 1973 với hoàng tử de Broglie, nhưng mấy ngày trước vụ ám sát viên bộ trưởng, nó đã trả cho ông ta 2.400.00 francs…

Để kết thúc vụ Matesa và những sự tiếp nối của nó, cuối cùng xin nói rằng một trong những người quản lý của Sodetex, ông Leclerc (chủ các ngân hàng thay nhau tài trợ cho Sodetex : Harpe và Ngân hàng Leclerc) đã trực tiếp gánh chịu những hậu quả của việc ám sát hoàng tử de Broglie vì đã bị phát hiện có một số tiền 395 triệu francs Thụy Sĩ. Hai người thân cận của ông ta đã tự sát : ông Charles Bouchard (cựu giám đốc Ngân hàng Leclerc) và ông Bertrand de Muralt, người hùn vốn với Leclerc. « Cha đỡ đầu » của Odetex sau khi nó thành lập (ông de Ribemotn, một trong những người bị kết tội trong vụ ám sát hoàng tử de Broglie, đã có thể khẳng định trong cuốn sách của mình nhan đề « Thất bại của các hoàng tử » rằng : « Chẳng phải ông ta là người thực sự lập ra Sodetex đó sao ? (…) Chẳng phải ở Thụy Sĩ ông ta đã bị coi là một trong những phụ trách địa phương của Opus Dei đó sao ? ») là bạn thân của hầu hết thành viên Opus Dei mà chúng tôi dẫn ra trên đây. Khốn thay như chúng tôi đã nói, vụ Matesa – Sodetex – de Broglie – Opus Dei đã không có một kết luận hợp pháp nào cả. Con số những « hội viên hùn vốn » tiềm tàng, khối lượng lợi tức chồng chéo trong vụ ấy, sức nặng và quyền lực cảu những lực lượng sử dụng chúng, đã tạo nên tình trạng hiện thời, mà không một ai quan tâm tới việc phát hiện ra sự thật cả.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần I


Ngô Thượng Dân

Từ vấn đề “nghề nghiệp là gốc của dân sinh” được đưa ra trong báo cáo của Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVI, “dân sinh” trở thành một khái niệm quan trọng được các nhà lãnh đạo Đàng và Nhà nước các cấp sử dụng thường xuyên. Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII đã đưa vấn đề dân sinh lên một tầm cao chưa từng có. Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã chỉ rõ rằng, thúc đẩy nhanh việc cải thiện dân sinh là trọng điểm của công cuộc xây dựng xã hội, nỗ lực hình thành cục diện xã hội hài hòa trong đó mọi người đều có trách nhiệm và đều được thụ hưởng. Đây chính là những luận đoán và sắp đặt mới của Đảng được đề ra trước một khởi điểm mới của lịch sử, thích ứng với nhu cầu mới của phát triển và những nguyện vọng mới của nhân dân, cũng như trước mục tiêu và nhiệm vụ thực hiện toàn diện việc xây dựng một xã hội tiểu khang.

Đối với Trung Quốc hiện nay, dân sinh là nhiệm vụ chính trị lớn nhất, vấn đề dân sinh là vấn đề lợi ích mà quần chúng nhân dân quan tâm nhất, trực tiếp nhất và hiện thực nhất. Đảm bảo và cải thiện dân sinh là yêu cầu bản chất của xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc, là hạt nhân và nội dung thực chất của quan điểm phát triển khoa học chân thực toàn diện, là mắt xích trọng yếu của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và xã hội hài hòa. Chính vì vậy, chúng ta cần phải suy tư để làm rõ rằng, dân sinh có quan hệ như thế nào với quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx và tôn chỉ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngừng làm sâu sắc hóa trong quá trình tìm kiếm lý luận và thực tiễn về vấn đề dân sinh ra sao; dân sinh trong giai đoạn hiện nay còn tồn tại những vấn đề gì, cần có những kiến nghị đối sách nào? Bài viết này muốn trả lời những vấn đề nêu trên.

1/ Xây dựng nhận thức khoa học trên cơ sở quan niệm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx

“Dân sinh” là một khái niệm đã có từ lâu ở Trung Quốc. Xã hội hiện đại đã có những giải thích về nội hàm của khái niệm này theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp. Bài viết này bàn về “dân sinh” với hàm nghĩa chỉ sự sinh tồn và phát triển của con người cần phải được thực hiện trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Đồng thời, dân sinh không phải là một khái niệm mang tính cộng đồng, tầng nghĩa sơ cấp hay hình thái sơ giản nhất của dân sinh là sự sinh tồn và phát triển cơ bản hay tối giản của con người, chủ yếu chỉ để nhu cầu sinh tồn và phát triển cơ bản của con người. Tầng thứ cao hay hình thái cao cấp của dân sinh là sự đề cao chất lượng sống cũng như sự phát triển toàn diện, đặc biệt là sự phát triển sức sáng tạo của con người. Thống nhất với sự phát triển xã hội và lịch sử, sự phát triển dân sinh từ hình thái sơ cấp tới hình thái cao cấp thể hiện tính giai cấp và tính tầng bậc, là một quá trình xoáy ốc tiệm tiến, không ngừng vươn lên.

Vấn đề dân sinh là vấn đề căn bản của xã hội loài người. Lịch sử nhân loại, theo một nghĩa nhất định, chính là lịch sử mà loài người không ngừng cải tiến điều kiện sinh tồn, giải quyết vấn đề dân sinh, thực hiện nhu cầu phát triển tự thân. Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau đều có những vấn đề dân sinh đặc thù cần phải giải quyết, song tình hình dân sinh và trình độ giải quyết luôn quyết định sự ủng hộ hay phản đối của mọi người và sự được mất của chính quyền cùng sự hưng vong của quốc gia. Cho nên, các thánh hiền và triết nhân của các thời kỳ đều xuất phát từ yêu cầu củng cố chính quyền và duy trì sự ổn định mà đề xướng những chủ trương, quan niệm dân sinh và những phương án giải quyết vấn đề dân sinh muôn hình muôn vẻ.

Tư tưởng “lấy dân làm gốc” là quan niệm chính trị của giai cấp thống trị phong kiến Trung Quốc. Khổng Tử chủ trương “Bách tích no đủ, vua còn không đủ với ai? Bách tính không no đủ, vua no đủ với ai?”. Lão Tử cho rằng, “Thánh nhân không có tâm hẳng thường, lấy tâm bách tích làm tâm mình”. Mạnh Tử đề xướng: “Dân là quý, thứ đến xã tắc, vua là thứ đáng coi nhẹ”. Những tư tưởng đó phản ánh sự thể nghiệm quan sát đối với những khổ đau của dân chúng và sự thừa nhận đối với sức mạnh dân chúng của các nhà tư tưởng và các nhà chính trị cổ đại, thể hiện sự hướng tới giá trị “trọng dân” một cách đơn sơ của họ và tư duy chính trị cai trị đất nước kiểu “dân vi bang bản, bản cố bang ninh” (dân là gốc của nước, gốc có bền thì nước mới vững – ND) là tài nguyên tư tưởng trọng yếu trong văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa.

Mặc dù vậy, những thuyết giáo về nhân sinh đó có mối liên kết chặt chẽ với toàn bộ hình thái ý thức phong kiến. Đứng trên lập trường giai cấp thống trị phong kiến để nói về dân bản, yên dân, thì kỳ thực không phải lấy dân làm gốc mà là một thứ “thuật đế vương” “khống chế dân”, “trị dân”, làm tăng thêm sự vững mạnh của nền thống trị chuyên chế quân chủ.

Giai cấp tư sản phương Tây cận đại trong khi phản đối chủ nghĩa phong kiến, thúc đẩy việc giải phóng con người đã đề ra tư tưởng dân sinh nhân bản chủ nghĩa. Những chủ trương và phương án đó đã phê phán hiện tượng xã hội phong kiến, xã hội tư bản đi ngược lại tính nhân đạo, làm tổn hại nghiêm trọng tới dân sinh; đồng thời, chứa đựng những nhân tố tích cực, có ý nghĩa nhất định đối với tiến bộ xã hội và cải thiện dân sinh lúc đó. Tuy nhiên, chủ nghĩa nhân bản đã tách rời khỏi điều kiện lịch sử và tính xã hội người cụ thể, chủ trương dùng thứ nhân tính vĩnh hằng bất biến để giải thích lịch sử xã hội, lý tưởng của nó là để nhân tính có được sự thực hiện toàn vẹn, xây dựng thiên đường nhân gian tự do, bình đẳng, bác ái phù hợp với thiên tính của nhân loại. Quan niệm giá trị này kiên trì lấy cá nhân làm đơn vị, lấy nhu cầu và lợi ích của cá nhân làm điểm xuất phát, mục đích và trung tâm để xử lý vấn đề mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội và với người khác, nhằm thực hiện sự theo đuổi tự ngã là giá trị chủ yếu. Chủ trương dân sinh của chủ nghĩa nhân bản, về thực chất, có lợi cho giai cấp tư sản. Chủ nghĩa tư bản đã mượn danh nghĩa tự do nhân loại và sự nhân đạo thiêng liêng để giải phóng giai cấp công nhân từ gông cùm của chủ nghĩa phong kiến; vì thế, xét đến cùng, nó phục vụ cho giai cấp tư sản giành lấy và bảo vệ địa vị thống trị của mình.

Trong lịch sử cận đại Trung Quốc, nhà cách mạng tiên phong Tôn Trung Sơn đã tiếp thu tư tởng phương Tây, kết hợp với quan niệm dân bản cổ đại để đề xướng “quan niệm lịch sử dân sinh”. Ông nâng “dân sinh” lên tầm chủ nghĩa, song hành cùng “dân tộc, dân quyền”, hình thành nên “chủ nghĩa tam dân” nổi tiếng. Tôn Trung Sơn cho rằng, “dân sinh là trọng tâm của lịch sử”, “là động lực cơ bản của mọi hoạt động trong xã hội”, “điều đầu tiên cần xây dựng là dân sinh”, cách mạng “chính là để trừ bỏ những buồn phiền cho dân chúng, thay nhân dân tìm kiếm hạnh phúc”, đem những yếu nghĩa của dân sinh khái quát thành “người cày có ruộng”, “tiết chế tư bản” và “quyền đất đai bình quân”. Cần phải thấy rằng, đây chính là quan điểm lịch sử của giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc theo hướng tiến bộ, là chủ trương giải quyết vấn đề dân sinh tiên tiến nhất thời đó và trong một trình độ nhất định, nó đại biểu cho lợi ích của quảng đại nhân dân Trung Quốc đương thời. Ông đã kiên cường bất khuất, tận tâm tận lực, cống hiến vô tư cả đời mình cho việc giải quyết vấn đề này. Đặc biệt, khi cách mạng Trung Quốc tiến nhập vào giai đoạn chủ nghĩa dân chủ mới, Tôn Trung Sơn đã tiếp thu sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và giai cấp vô sản quốc tế, xác lập ba chính sách lớn “liên Nga, liên cộng, giúp đỡ công nông”, đem chủ nghĩa tam dân cũ phát triển thành chủ nghĩa tam dân mới. Đáng tiến là ông không thể thực hiện được chủ nghĩa tam dân của mình. Rất rõ ràng là, trong điều kiện chính trị và hoàn cảnh xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến, quân đội hỗn chiến, dân chúng hết đường sống, nếu rời khỏi sự quy thuộc tư liệu sản xuất và đấu tranh giai cấp để bàn tới “dân sinh”, “hỗ trợ con người” một cách phiến diện, trừu tượng thì làm sao có thể chỉ đạo cuộc cách mạng dân chủ phản đế phản phong, làm sao có thể xây dựng hiện đại hóa, mong đất nước mạnh giàu, thực hiện hạnh phúc cho nhân dân được?

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Vụ Matesa – Phần IV


Là người chỉ huy, de Broglie hoạt động qua trung gian một mạng lưới công ty rất lớn, mà trung tâm là chi nhánh được biết tới rộng rãi của Matesa : Sodetex. Là một chi nhánh ở Brelic (mà ngân hàng của nó là Harpe, tài sản của ông Leclerc, một trong những người quản trị của Sodetex) phụ thuộc vào holding Holtex do Matesa lập ra ở Liechtenstein, Sodetex được thiết lập tại Luxembourg không xa với Ngân hàng quốc tế. Những « chủ nhân » chính thức của nó là chủ tịch – tổng giám đốc của ngân hàng nói trên (nắm 9946 cổ phần được nhượng sau đó cho « người quản lý », theo lối cổ điển về loại kinh doanh này) và bốn nhân viên của ông ta. Điều lệ của công ty quy định ở điều 3 :

« Công ty tiến hành tất cả những hành động có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với những sự tham gia – dưới bất cứ hình thức nào – vào tất cả các công ty hay doanh nghiệp ở Luxembourg hay ở nước ngoài, cũng như việc quản trị, quản lý, kiểm soát và thực hiện những sự tham gia ấy. Công ty sẽ quản lý những sự tham gia của mình để làm cho chúng sinh lợi bằng những nghiên cứu của nó và bằng việc kiểm soát các doanh nghiệp mà nó có quyền lợi, cũng như bằng bất cứ cách nào ».

« Công ty có thể đặc biệt dùng các quỹ của mình vào việc thành lập, quản lý, làm sinh lợi và xóa bỏ một cặp giấy phiếu gồm có tất cả các chứng thư, bằng cấp và giấy phép thuộc mọi nguồn gốc, tham gia vào việc thành lập, phát triển và kiểm soát mọi doanh nghiệp, kiếm tất cả các chứng thư và văn bằng bằng cách hùn vốn, quyên góp, mua đứt hay có lựa chọn và bằng mọi cách khác, bán những chứng thư và văn bằng ấy bằng cách bán, nhượng, trao đổi… làm cho chúng sinh lợi bằng bất cứ cách nào, cấp cho các công ty mà nó có quyền lợi tất cả mọi sự giúp đỡ, cho vay, ứng trước, hoặc bảo đảm ».

« Công ty sẽ áp dụng tất cả mọi biện pháp để bảo vệ các quyền của mình và thực hiện tất cả mọi hành động nào gắn với đối tượng của mình hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho nó ». Cùng ngày đó, các cổ đông nhất trí bổ nhiệm ba người quản lý của công ty : ông Jean de Broglie nghiệp chủ cư trú tại Broglie, chủ tịch Paris. Một nhân viên Ngân hàng quốc tế, ông Théo Schartz, được bổ nhiệm làm chủ tài khoản. Đại hội đồng cho phép « hội đồng quản trị ủy thác tất cả mọi quyền hạn của nó về quyền hạn của nó về quản lý hằng ngày cho ông Jean de Broglie, người quản lý – ủy thác ».

Sodetex (những người cộng tác với nó không biết hay có biết ?) bắt đầu mở rộng « đế chế » của nó qua một loạt công ty mà từ khi mới thành lập đã nhúng tay vào những hoạt động mờ ám của các cơ quan mật vụ và buôn lậu đủ mọi loại. Một vài hoạt động đáng được nêu ra :

+ Infico (International Financiera y Comercial) do đô đốc Caereo Blanco lập ra ở Madrid để che đậy và bảo đảm sự tự tài trợ của các công ty mật vụ Tây Ban Nha. Nó được dùng làm trạm chuyển tiếp để bán vũ khí và vật liệu chiến tranh cho các nước hay các phong trào không thể buôn bán hợp pháp. Infico Sodetex bảo đảm cho tới năm 1963 những việc chuyển tiền ra nước ngoài (tư bản lọt ra ngoài) của các cơ quan mật vụ hay của các nhân vật của chế độ. Năm 1963, de Broglie qua Infico can thiệp với chính phủ Algeria để thu hồi nhiều chuyến vũ khí gửi cho FLN, đó là những chuyến vũ khí được cất giấu ở lãnh thổ Tây Ban Nha vào lúc ký hiệp định Ecian.

+ Mundialexport (Italy), một công ty vào lúc đầu của chiến lược gây căng thẳng đã dính vào một loạt những vụ buôn lậu vũ khí cho các nước « bị cấm » như Bồ Đào Nha hay Nam Phi. (Bồ Đào Nha, thành viên của NATO, không thể mua những vũ khí « có thể được dùng vào một cuộc chiến tranh thuộc địa »). Những người chủ hợp pháp của nó là những kẻ rõ ràng có liên hệ với SID (Cơ quan thông tin quân sự, mà những người lãnh đạo của nó đã bị buộc tội « đồng lõa » trong cả một loạt sự kiện của chiến lược gây căng thẳng : những mưu toan đảo chính, các vụ mưu sát,…), họ có liên quan với Aginterpress khét tiếng (cơ quan báo chí được lập ra ở Bồ Đào Nha dưới sự bảo trợ của cảnh sát chính trị thời Salazar, bởi một người Pháp : Gúerin-Serac) và với « cơ quan Paladin » khét tiếng không kém (được lập ra ở Tây Ban Nha với sự đồng ý và bảo vệ của các cơ quan mật vụ bởi cựu đại tá quốc xã von Schubert). Khác với những trung gian khác phát đạt vì bán vũ khí, Mundialexport chủ yếu bán vật liệu mới. Trong những năm 60, nó đã bán 500.000 khẩu Mauser hoàn toàn mới, nhận từ một kho vũ khí chính thức của một nước châu Âu.

+ Merex (Mertens exportations) được cựu đại tá quốc xã Gehard Mertens (cộng tác viên cũ của Otto Skorzeny) lập ra năm 1963. Được bao che bởi Harald Quandt (người lãnh đạo Mauser và kiểm soát khoảng một trăm doanh nghiệp rải rác trên thế giới, trong đó có ba nhà máy sản xuất vũ khí và đạn dược), Mertend đã được Verberg chính thức cho phép làm trung gian giữa chính phủ liên bang và các khách hàng của nó.

Trong những cuộc điều tra về « chiến lược gây căng thẳng » : nó nhiều lần được nhắc tới như « kẻ bảo trợ » cho các giới nòng cốt của phái cực hữu. Nghị viện Đức mở một cuộc điều tra về vấn đề này và mới đây đã dẫn ra Merex trong số những công ty được Nam Phi và một số nước Mỹ Latinh sử dụng để vi phạm những cấm vận quốc tế.

Năm 1966, Merex đã lộ diện khi bán cho Ấn Độ 30 máy bay khu trục ném bom « Sea Hawk », bất chấp việc cấm cung cấp vũ khí « cho những nước hay những khu vực có xung đột ». Để làm điều đó, Merex đã nhờ tới sự thông đồng của công ty Italy Ultramar, mà về mặt chính thức, nó đứng ra làm người mua những máy bay ấy.

+ Technomotor. Công ty này được ông Otto Skorzeny khét tiếng thành lập ở Madrid, nhằm thúc đẩy những việc mua bán ngoài pháp luật của các công ty mật vụ Tây Ban Nha và một số nước Mỹ Latinh. Năm 1963 – 1964, nó được Carreo sử dụng vào một « hành  động » ở Guineé xích đạo, nhằm vũ trang cho một « mặt trận giải phóng » mà, do những hành động của nó, đã biện minh cho sự đàn áp của các giới chức trách Tây Ban Nha.

Sau đó, Technomotor dính líu vào cả một loạt những kế hoạch can thiệp của Mỹ và châu Âu vào châu Phi : ở Cabinda (thuộc địa bàn cũ của Bồ Đào Nha giàu dầu mỏ), ở Bénin (nơi mới xẩy ra những mưu toan đảo chính, mà các giới chức trách địa phương buộc tội – không có bằng chứng, dường như vậy ! – Marocco, Gabon và Pháp đã tham gia vào), ở Angola (cung cấp vũ khí cho du kích Unita và FLNA – thân phương Tây – để đánh nhau với chính phủ hợp pháp)…

+ MGM (Material de Guera de Modena). Trung gian trong việc bán vũ khí cho nhiều nước châu Phi (Ghana, Congo,…) và tài trợ các phong trào khủng bố Italy bằng những tiền lãi lấy được từ những việc mua bán này. Những người lãnh đạo của nó đã bị bỏ tù ở Italy vì bị buộc tội « âm mưu chống lại an ninh quốc gia ». Nhiều máy bay Mirage và xe tăng chiến đấu, đại bác nằm trong những danh mục quảng cáo của nó : chỉ trong năm 1974, nó đã bán được trên 100 triệu USD.

+ Racoin. Chúng tôi đã nhắc tới công ty này khi nói tới Hội tam điểm theo nghi thức Scotland. Được những phần tử cực hữu sử dụng, chúng đã từng tham gia tích cực vào cả một loạt hành vi tội phạm (và thảm hại) ở Italy cũng như ở Tây Ban Nha.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.