Vụ Sabeco lộ ra nhiều nguy cơ


Các chuyên gia kinh tế bày tỏ lo ngại về việc hơn 50% cổ phần của Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) rơi vào tay một nhà đầu tư nước ngoài. Họ cho rằng không nên vì cần tiền trả nợ mà làm lợi cho tư nhân nước ngoài, phá hỏng thương hiệu Việt.

Từ thành phố New York, Tiến sĩ kinh tế Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên hợp quốc, nói với VOA rằng việc bán cổ phần Sabeco cho nhà đầu tư nước ngoài đi ngược lại chính sách phát triển kinh tế tư nhân mà Việt Nam từng hô hào:

Chiến lược đi bán cho nước ngoài không phải là chiến lược phát triển tư nhân trong nước mà là phát triển kinh tế tư nhân nước ngoài. Bây giờ hướng họ giải quyết là ngược lại. Họ bán những công ty này cho nước ngoài. Sabeco là công ty có nhiều người trong nước biết và có lợi nhuận rất cao.

Tôi nhìn lại thống kê của Việt Nam và thấy rằng nền kinh tế tư nhân trong nước có chiều hướng giảm. Năm 2005 GDP của khu vực tư nhân là 8,5%, đến năm 2016 chỉ còn 8,26%. Trong khi đó, kinh tế của khu vực nước ngoài (FDI) tăng từ 15 – 18%. Vấn đề đặt ra là chính phủ Việt Nam muốn gì?”

Tiến sĩ Vũ Quang Việt nhận định, nếu Việt Nam muốn ưu tiên phát triển kinh tế trong nước thì nên bán các doanh nghiệp làm ăn sinh lãi như Sabeco cho các nhà đầu tư ở trong nước. Ông nêu ra một số nghi vấn về động cơ bán cổ phần Sabeco cho nước ngoài: “Sabeco đang có lãi trong khi rất nhiều công ty quốc doanh khác thua lỗ, tại sao không tìm cách bán những công ty không có lãi cao? Không cải cách những công ty lãi ít? Tại sao lại bán đi những công ty đang đóng góp lợi nhuận cho ngân sách quốc gia? Nếu phân chia cổ phần và bán trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì có rất nhiều người Việt Nam mua”.

Ngày 22/12, ThaiBev công bố thông tin về thương vụ mua cổ phần Sabeco lên Sở Giao dịch chứng khoán Singapore.

ThaiBev nói Sabeco là doanh nghiệp có chất lượng cao với lịch sử hơn 140 năm và có thương hiệu nổi tiếng như bia Sài Gòn và Bia 333. Sabeco có thị phần lớn nhất trong ngành bia Việt Nam, tình hình tài chính và kinh doanh tăng trưởng tốt. ThaiBev cho rằng thị trường bia Việt Nam rất hấp dẫn với vị trí lớn nhất ASEAN và đứng thứ 3 châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản.

Sabeco hiện chiếm hơn 40% thị phần Việt Nam và đạt lợi nhuận trước thuế hơn 5700 tỉ đồng trong năm 2016.

Báo Dân trí trích lời chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói:

Tôi đau nhất vẫn là không chỉ Sabeco mà nhiều doanh nghiệp nhà nước sau bao năm nuôi dưỡng, phải bán cho đối tác ngoại… Các doanh nghiệp trong nước vẫn đủ điều kiện để mua và có thể mua được. Tôi nghĩ xu hướng sính ngoại không chỉ trách người dân Việt Nam mà chính ngay từ chính sách chúng ta”.

Trong quá trình mua bán – sáp nhập (M&A), nhiều doanh nghiệp tầm trung tại Việt Nam đã bị “thôn tính”, nhưng những thương hiệu lớn như Sabeco và trước đó là Vinamilk, cũng lần lượt rơi vào tay nước ngoài là một làn sóng “rất đáng lo”.

Từ Hà Nội, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói rằng ngay từ đầu, các nhà đầu tư Việt Nam có tham gia mua cổ phần Sabeco, nhưng họ phải chấp nhận thua cuộc vì phía nước ngoài “đẩy giá quá cao”:

Chúng ta cần phải thấy là các nhà đầu tư Thái Lan đã nâng giá lên rất cao, vì vậy, nhà đầu tư Việt Nam rất cân nhắc. Lúc đầu, cũng có nhà đầu tư Việt Nam tham gia, nhưng khi đẩy giá lên cao thì các nhà đầu tư Việt Nam rời khỏi cuộc đua đó. Đó là sự tính toán chuyên nghiệp, hoàn toàn là phương thức đầu cơ để nhà đầu tư Thái ôm trọn cổ phiếu bán ra”.

Tiến sĩ Doanh cảnh báo rằng Sabeco, “con gà đẻ trứng vàng của Việt Nam”, khi được chuyển sang nhà đầu tư nước ngoài thì lợi nhuận mà công ty này thu được, phần hơn sẽ thuộc về nhà đầu tư nước ngoài.

Trả lời báo Straight Times, ông Phạm Phú Ngọc Trai, cựu Tổng giám đốc Pepsico Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch GIBC cũng nhìn nhận các nhà đầu tư Thái có nhiều lợi thế hơn các đối thủ khác.

Bà Vũ Kim Hạnh, cụu Tổng Biên tập báo Sài Gòn tiếp thị, một trong những người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (SBA), công khai bày tỏ sự lo âu với báo chí: “Sau 7 năm vận động ưu tiên dùng hàng Việt, nay lại muốn đem bán hết những thương hiệu Việt mạnh nhất”.

Báo Người Lao động cảnh báo về nguy cơ “thiếu vắng tinh thần dân tộc” trong vụ Sabeco. Tờ báo này nói Thái Lan là đối thủ của Việt Nam về hàng tiêu dùng, khi lĩnh vực này bị thống trị bởi tỉ phú người Thái gốc Hoa thì hàng Thái và hàng Trung Quốc càng dễ đánh bật hàng Việt ngay trên “sân nhà” Việt Nam.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt lý giải rằng có thể vì Việt Nam cần tiền trả nợ nước ngoài nên đành phải bán nững doanh nghiệp “ăn nên làm ra” như Sabeco:

Cả một thời gian dài vừa rồi, Việt Nam mượn vốn nước ngoài để phát triển doanh nghiệp quốc gia và hầu hết là lỗ và gây nợ rất lớn. Sắp tới phải trả khảon nợ chiếm 20% ngân sách quốc gia. Muốn tiếp tục có vốn cho các doanh nghiệp này thì họ nghĩ ngay đến việc bán công ty Việt Nam cho nước ngoài. Nhưng vốn này chưa chắc giúp nền kinh tế phát triển mà chỉ tiếp tay cho tham nhũng, tiêu hoang giống như từ trước đến nay”.

Ngay sau vụ Sabeco bị “thôn tín”, ông Trương Thanh Hoài, Cục trưởng Cục Công nghiệp Bộ Công Thương khẳng định với báo chí rằng Sabeco vẫn là doanh nghiệp Việt Nam, và “thương hiệu bia Việt Nam vẫn được giữ gìn và phát triển”.

Nguồn: TKNB – 28/12/2017

Advertisements

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần III


Các nhà khoa học có ý kiến ngược lại cho rằng lý luận, chế độ và các hệ thống đều là nhằm chống chủ nghĩa Marx – Lenin, không đáp ứng các yêu cầu của chủ nghĩa xã hội khoa học, không theo kịp thời đại. « Dù chúng ta đi sâu bàn về khía cạnh nào chăng nữa thì chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc cũng là sự phủ định hoàn toàn mô hình Stalin. Điều này đã được chứng minh bằng lịch sử cải cách và mở cửa Trung Quốc ». Theo ý kiến của phái theo quan điểm này, quá trình cải cách và mở cửa ở Trung Quốc chính là quá trình từ bỏ hoàn toàn của mô hình Xô Viết. Một số nhà khoa học sau khi phân tích toàn diện những khác biệt căn bản giữa hai mô hình đã chỉ ra rằng mô hình Trung Quốc và mô hình Xô viết là hai mô hình hoàn toàn khác nhau của chủ nghĩa xã hội.

Cần lưu ý rằng cả hai bên đều nhất trí về vấn đề công nhận mô hình của Trung Quốc (tức là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc). Cả hai đều giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản và ủng hộ cải cách và cởi mở. Cuộc tranh cãi của họ chỉ đóng khung trong việc nên hiểu về mô hình Xô viết thế nào.

Các nhà khoa học tán đồng loại ý kiến thứ nhất về cơ bản chấp nhận mô hình Xô viết, cho rằng nó tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Với cách tiếp cận này, việc phân tích những mặt khiếm khuyết của mô hình Xô viết và xem xét so sánh hai mô hình – để đi tới kết luận cho rằng các nguyên tắc cơ bản của hai mô hình là giống nhau, và những khác biệt của chúng thể hiện trong các hệ thống cụ thể do điều kiện và thời điểm lịch sử khác nhau. Theo Châu Tân Thành, gốc rễ của sự thay đổi mạnh thái độ của Liên Xô đối với Trung Quốc là do giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đi theo con đường của chủ nghĩa xét lại, phản bội các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Do đó, Trung Quốc cần rút ra bài học và kiên trì quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản. Phủ định mô hình Xô viết có nghĩa là phủ định bốn nguyên tắc cơ bản và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các nhà khoa học khác cho rằng các luận điểm cơ bản của lý luận, nguyên lý của mô hình Xô viết là xa lạ với các luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học, không đáp ứng yêu cầu của tình thế của Liên Xô. Mô hình Xô viết là giáo điều, trì trệ, đầy mâu thuẫn gay gắt, lãnh đạo xa rời dân. Ma Long Sơn lưu ý rằng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô viết, tức là mô hình Stalin, không phải là chủ nghĩa xã hội đích thực, chân chính, vì Stalin đã bóp méo chủ nghĩa Marx – Lenin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhóm các học giả này đã rất chú tâm phân tích những điểm khiếm khuyết của mô hình Xô viết. Các nhà khoa học nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã phạm sai lầm khi khảo cứu mô hình Xô viết. Cải cách và mở cửa torng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trước hết cần chỉ ra những hạn chế của mô hình Xô viết. Trọng tâm của các học giả này là nhấn mạnh cải cách và mở cửa, đề cao vai trò của đổi mới trong các hệ thống. Chỉ bàn suông về bốn nguyên tắc cơ bản, mà không tập trung chú ý vào những thành tựu to lớn đạt được nhờ cải cách và mở cửa, thì không thể hiểu đúng được thực chất của việc phát huy chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Tiếp tục vận dụng mô hình Xô viết ở Trung Quốc thì chắc chắn không tránh khỏi lặp lại những sai lầm của Liên Xô.

Những tranh cãi này hiện vẫn tiếp diễn. Có thể nói mỗi ý kiến đều có điểm hợp lý và khiếm khuyết riêng của nó. Nhưng điểm chính yếu nhất là cần có những đánh giá mang tính khoa học về mô hình Xô viết.

4/ Mô hình Xô viết qua đánh giá của các nhà khoa học Trung Quốc

Nên đánh giá thế nào về mô hình của Liên Xô – đây là một vấn đề có tính nguyên tắc. Lời giải cho câu hỏi này động chạm đến vấn đề Trung Quốc nên đi theo con đường nào. Bởi vì định hướng tương lai phát triển của Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với những bài học cần rút ra từ con đường tiến hóa của Liên Xô.

Giáo sư Châu Tân Thành lưu ý rằng việc đánh giá mô hình Xô viết – đó không chỉ là vấn đề về mặt khoa học, mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng liên quan đến vận mệnh của các đảng cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần đứng trên lập trường giai cấp vô sản, sử dụng phương pháp của chủ nghĩa Marx để đánh giá một cách khoa học và tích cực mô hình này. Mô hình Xô viết là sự kết hợp của các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Marx với hoàn cảnh thực tế. Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, chưa có chút kinh nghiệm nào. Vì vậy, việc tìm kiếm thành công hay không thành công con đường của mình là vốn kinh nghiệm quý báu cho phong trào cộng sản quốc tế và giúp ích nhiều cho các dân tộc và quốc gia bước vào con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Chúng ta nên có thái độ cẩn trọng khi tìm hiểu những sai lầm và thiếu sót trong quá trình tìm kiếm. Chớ nên cười nhạo người đi trước, lại càng không nên công kích. Cũng không nên hoàn toàn phủ nhận nó, vì làm như thế không phải là thái độ marxist khi giải quyết vấn đề. Chính vì vậy, ta không nên dùng chữ « thất bại » như đôi khi vẫn nói.

Ma Long Sơn cho rằng không thể không học hỏi kinh nghiệm của Liên Xô, nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Và cho dù những người đương thời có những ý kiến đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết, vẫn phải thừa nhận rằng nó đã giải quyết được hai vấn đề quan trọng – sự ra đời và phát triển của Liên Xô. Liên Xô không chỉ đã đánh thắng phát xít Đức, mà còn đi theo con đường hiện đại hóa đất nước. Shen Tsung – cộng tác viên khoa học Viện Marx – Lenin trực thuộc Viện HLKHXH Trung Quốc, tác giả cuốn « Suy ngẫm lại về mô hình Stalin dưới ánh sáng thời đại ngày nay » (2004) đã khẳng định vị trí lịch sử và những thành tựu của mô hình Xô viết từ góc nhìn hiệu ứng khách quan. Mô hình Xô viết đã đóng một vai trò rất hiệu quả trong việc thực hiện nhanh chóng của hiện đại hóa, tạo dựng cơ sở nền đại công nghiệp, một nền khoa học và văn hóa tiên tiến, trong việc củng cố cơ sở quốc phòng và các lĩnh vực khác. Từ góc nhìn hiện đại hóa, Liên Xô đã nhận trách nhiệm lớn về nền kinh tế và văn hóa lạc hậu, đồng thời nó vẫn trụ vững trước mối đe dọa của kẻ thù bên trong và bên ngoài. Trong hoàn cảnh như vậy, mô hình Xô viết đã giúp Liên Xô hiện đại hóa với nhịp độ nhanh và thoát khỏi tình huống khó khăn.

Còn theo ý kiến của Zheng Yiping và Gun Hailin, mô hình Xô viết không giúp gì cho việc giải quyết các nhiệm vụ cơ bản của chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền dân chủ và luậ pháp xã hội chủ nghĩa, đoàn kết các dân tộc và phát triển mạnh khoa học và văn hóa, (mô hình này) không phù hợp với những tư tưởng của Lenin về xây dựng chủ nghĩa xã hội và kết quả là đã cản trở nhiệm vụ phát triển nhanh nền kinh tế.

Xiao Feng nhấn mạnh rằng mô hình Xô viết là một mô hình quái dị và cứng nhắc của thực tiễn xã hội chủ nghĩa. Mặc dù mô hình này đã đóng một vai trò rất lớn trong lịch sử đất nước và đã cho phép đạt được những thành tích lớn, nhưng trong điều kiện hiện nay nó phải được cải biến lại hoàn toàn. Theo ý kiến tác giả này, mô hình Xô viết là không nhất thiết đối với các nước khác.

Theo Zhang Guangming và Li Zhongyu, sau một nửa thế kỷ cố gắng tìm cách hiện thực hóa mô hình Xô viết, lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy đây là một mô hình không thành công. Nó khép kín và bảo thủ, không có khả năng tự điều chỉnh, hạn chế tính tích cực của quần chúng và kìm hãm sự phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội. Zuo Fengrun còn cho rằng mô hình Xô viết không có cơ chế sửa sai lỗi, rằng mô hình không đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại.

Mặc dù các nhà khoa học đã đưa ra những đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết – cả tích cực lẫn tiêu cực – tất cả đều đã đi tới một ý kiến thống nhất : để đưa ra được những đánh giá khoa học hơn, cần phải kiên định lập trường của chủ nghĩa Marx, sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phân tích một cách công minh và đánh giá công bằng sẽ giúp chúng ta rút ra được những bài học của quá khứ lịch sử và có thêm kinh nghiệm. Và hiển nhiên là tất cả những cái đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Sự sụp đổ của Liên Xô là một bài học tốt cho chúng tôi : chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải đáp ứng mệnh lệnh của thời đại và phải được kết hợp với thực tế mỗi nước, không thể sao chép lịch sử, sao chép mô hình của các nước khác, mà phải tự tìm ra mô hình của mình, phù hợp với thực tế và đặc thù của đất nước mình.

(còn tiếp)

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Hồi kết cho toàn cầu hóa?


Daniel Gros

Trung Quốc vừa công bố rằng năm ngoái, lần đầu tiên kể từ khi nước này bắt đầu mở cửa kinh tế với thế giới từ cuối những năm 1970, xuất khẩu của nước này đã giảm so với năm trước. Và đó chưa phải là tất cả; xét trên khía cạnh giá trị, thương mại toàn cầu đã suy giảm trong năm 2015. Hiển nhiên, câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao?

Dù thương mại toàn cầu cũng từng suy giảm vào năm 2009, nhưng lý giải cho việc đó lại rất rõ ràng: thế giới đã trải qua sự sụt giảm mạnh về GDP vào thời điểm đó. Tuy nhiên, vào năm ngoái kinh tế thế giới đã tăng trưởng đáng kể, đạt mức 3%. Hơn nữa, các rào cản thương mại đã không gia tăng rõ rệt ở nơi nào cả, cộng thêm chi phí vận chuyển giảm xuống do sự sụt giảm mạnh của giá dầu.

Đáng chú ý là chỉ số nổi tiếng Baltic Dry Index, dùng để đo lường chi phí thuê những con tàu lớn vốn vận chuyển phần lớn hàng hóa đường dài, đã tụt xuống mức thấp nhất từ trước tới nay. Điều này cho thấy các thị trường không kỳ vọng vào một sự phục hồi, đồng nghĩa với việc các dữ liệu của năm 2015 có thể dự báo trước một thời kỳ thương mại chững lại mới. Một kết luận rõ ràng là những lực đẩy từng không thể cưỡng lại được của toàn cầu hóa đang giảm bớt sức nóng.

Tình hình hiện tại ở Trung Quốc đã nói lên tất cả. Trong những thập niên gần đây, từ khi trở thành nền kinh tế có trao đổi thương mại hàng đầu của thế giới, Trung Quốc đã làm biến đổi hệ thống thương mại toàn cầu. Vào thời điểm này giá trị của cả nhập khẩu và xuất khẩu (của Trung Quốc) đều tụt giảm, mặc dù nhập khẩu giảm nhiều hơn, chủ yếu là do sự sụt giảm của giá cả hàng hoá cơ bản trên thế giới.

Trên thực tế, giá cả hàng hóa cơ bản là chìa khóa để thấu hiểu những khuynh hướng thương mại trong vài thập niên qua. Khi giá cả cao, chúng thúc đẩy thương mại gia tăng – tới mức đẩy tỉ lệ thương mại trong GDP tăng lên – điều dẫn tới quan điểm cường điệu về những tiến bộ tất yếu của toàn cầu hóa. Nhưng trong năm 2012, giá cả hàng hóa cơ bản bắt đầu tuột dốc, nhanh chóng kéo thương mại xuống theo.

Giả sử rằng cần một tấn thép và mười thùng dầu để sản xuất ra một chiếc ô tô. Trong giai đoạn 2002- 2003, toàn bộ số nguyên liệu thô trên trị giá khoảng 800 đô la, tức khoảng 5% giá trị của một chiếc ô tô có giá 16.000 đô la. Điều này hàm ý rằng, trong giai đoạn đầu những năm 2000, các nước công nghiệp phải xuất khẩu năm chiếc ô tô để đạt được giá trị tương ứng với một trăm lần số nguyên liệu như trên mà họ đã nhập về.

Đến giai đoạn 2012-2013, giá trị của các nguyên liệu thô cần thiết để sản xuất một chiếc ô tô đã tăng lên tới gần 2.000 đô la, tức khoảng 10% chi phí của cùng một chiếc ô tô như trên (giá ô tô có tăng nhưng với một mức độ thấp hơn).

Kết quả là các nước công nghiệp đã phải xuất khẩu gấp đôi, tức là mười chiếc ô tô mới tương ứng với cùng một lượng nguyên liệu thô được nhập khẩu như trên.

Rõ ràng, có một mối liên hệ trực tiếp giữa các khuynh hướng trong thương mại và giá cả hàng hóa cơ bản (xem hình). Do mối liên quan này ảnh hưởng đến tất cả các loại hàng hóa chế tạo đòi hỏi đầu vào là nguyên liệu thô, cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi giá cả hàng hóa cơ bản sụt giảm thì thương mại toàn cầu cũng sẽ sụt giảm theo.

Người ta có thể lập luận rằng ví dụ trên chỉ quan tâm tới giá trị của thương mại, và rằng trong những thập niên gần đây, tăng trưởng thương mại tính theo khối lượng cũng đã vượt trội so với tăng trưởng GDP thực tế. Tuy nhiên, giá cả hàng hóa cơ bản cũng tác động đến khối lượng thương mại, vì giá cả hàng hóa cơ bản cao buộc các nước công nghiệp phải gia tăng khối lượng xuất khẩu của họ (mười chiếc xe thay vì năm, như trong ví dụ đã đưa ra), để trang trải chi phí cho cùng một khối lượng nguyên liệu thô được nhập khẩu.

Do thực phẩm, nhiên liệu và nguyên liệu cấu thành khoảng một phần tư tổng thương mại toàn cầu, khi giá cả của chúng biến động – nhất là nếu mạnh mẽ như trong những thập niên gần đây – thì các số liệu về tổng thương mại rõ ràng cũng chịu ảnh hưởng. Chỉ riêng sự sụt giảm mạnh của giá cả hàng hóa cơ bản trong giai đoạn gần đây đã đủ để lý giải cho sự trì trệ trong tăng trưởng thương mại.

Điều này không có nghĩa rằng toàn cầu hóa và thương mại là một. Toàn cầu hóa đòi hỏi nhiều đặc tính khác, bao gồm cả sự tăng vọt trong các giao dịch tài chính xuyên quốc gia và du lịch, trao đổi dữ liệu, và các hoạt động kinh tế khác. Trên thực tế, những mối liên kết này có tác động trở lại thương mại khi chúng kích hoạt cho sự xuất hiện của các chuỗi giá trị toàn cầu, theo đó các công đoạn khác nhau trong một quá trình sản xuất được tiến hành tại nhiều quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên hiện tượng này đã được đánh giá quá cao. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, giá trị gia tăng từ yếu tố nước ngoài chỉ chiếm khoảng 15% giá trị xuất khẩu đối với hầu hết các nền kinh tế lớn, như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Nói cách khác, các chuỗi giá trị toàn cầu chỉ có tác động rất nhỏ tới những nền kinh tế có quy mô giao thương lớn.

Trung Quốc là ngoại lệ duy nhất. Với vị trí như một trạm lắp ráp các sản phẩm trên toàn thế giới, điều này có nghĩa là Trung Quốc đã nhập khẩu hầu hết các phần có giá trị gia tăng cao nhất của các hàng hoá đó. Nhưng khi cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc chín muồi hơn – những chiếc iPhone được lắp ráp tại đây hiện nay chứa nhiều bộ phận được sản xuất tại chính đất nước này hơn so với thời điểm chỉ vài năm trước – Trung Quốc sẽ bám đuổi Mỹ và EU sát hơn xét trên phương diện giá trị gia tăng, chứ không phải theo hướng ngược lại. Đây là một nguyên nhân nữa có thể sẽ làm giảm bớt tầm quan trọng của thương mại.

Khi một điều gì đó được cường điệu hóa một cách rộng rãi, hầu như luôn có một lý do thực sự đằng sau nó. Hầu hết các nền kinh tế hiện nay đã mở cửa hơn nếu so với thế hệ trước. Nhưng hiện tại rõ ràng là việc xem toàn cầu hóa như một lực lượng áp đảo và không thể lay chuyển được đã phản ánh rất rõ những tác dụng phụ từ sự bùng nổ giá cả hàng hóa cơ bản trong thập niên trước. Nếu giá cả vẫn duy trì ở mức thấp, như chiều hướng gần đây cho thấy, thương mại toàn cầu trong thập niên tới có thể vẫn tiếp tục trì trệ, trong khi mô hình thương mại sẽ “tái cân bằng”, nghiêng từ các nền kinh tế mới nổi sang các cường quốc công nghiệp lâu đời.

Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Daniel Gros, “The End of Globalizaton?”, Project Syndicate, 08/03/2016.

Daniel Gros là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách châu Âu tại Brussels. Ông từng làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và đóng vai trò cố vấn kinh tế cho Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu cũng như Thủ tướng và Bộ trưởng Tài chính Pháp. Ông là  biên tập viên của tờ Economie Internationale và tạp chí International Finance.

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần II


2/ Những khác biệt giữa hai mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc

Mô hình của Liên Xô là mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới. Nó đã được tuyên bố là một mô hình duy nhất, chung cho tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc về cơ bản là sao chép mô hình của Liên Xô. Nhờ đó, Trung Quốc đã thành công trong việc tuân theo đúng các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa cơ bản: Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vượt qua nhiều khó khăn để bước vào con đường công nghiệp hóa. Nhưng qua thời gian, những biểu hiện lạm dụng hệ thống kinh tế kế hoạch sao chép từ mô hình Liên Xô, đã dẫn đến những khó khăn trên đường hiện đại hóa của Trung Quốc. Không cải cách thì không thể phát triển. Tiến hành chính sách cải cách và mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc – đó là một kết quả tìm tòi và nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc, cho phép nó đi theo con đường phát triển riêng của mình, chứng minh tính đúng đắn của nó trong suốt 30 năm qua.

Mối tương quan giữa hai mô hình của Trung Quốc và của Liên Xô đang được xem xét như thế nào? Các nhà khoa học Trung Quốc hầu như không ai có ý kiến tranh cãi về các nét khác biệt giữa chúng.

Thứ nhất, mô hình của Trung Quốc (chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc) là một hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô là dựa trên nền kinh tế kế hoạch, hoàn toàn loại trừ, phủ nhận thị trường. Mô hình kiểu Xô Viết giữ lập trường sở hữu công về phương tiện sản xuất, là cái được phát triển dựa trên cơ sở nền kinh tế kế hoạch tập trung thái quá quyền lực (bao cấp) và phủ nhận vai trò điều tiết của thị trường. Hoạt động kinh tế ở Liên Xô được xác định hoàn toàn bởi kế hoạch pháp lệnh chỉ đạo. Còn mô hình của Trung Quốc thì không thế, bởi vì nền kinh tế kế hoạch – đó chưa hẳn đã là chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường cũng không hẳn là chủ nghĩa tư bản. Trung Quốc đã đi theo conđường sử dụng hệ thống kinh tế thị trường. Đúng như Đặng Tiểu Bình đã nói: “Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản”, “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng, miễn là sát chuột”.

Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc tuân theo luận điểm về vị trí chủ đạo của sở hữu công cộng. Nhưng đồng thời vẫn phát triển các khu vực kinh tế khác, tạo thành một cấu trúc tầng bậc mới mà đặc trưng là sự cạnh tranh công bằng về mặt kinh tế và phát huy đồng thời mọi hình thức sở hữu. Nguyên tắc phân phối theo lao động vẫn là hình thức phân phối chủ yếu, đồng thời cho phép các hình thức phân phối bổ sung. Còn đặc trưng của cái chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết là lực lượng sản xuất vẫn ở trình độ thấp, chủ yếu định hướng vào sở hữu công cộng hạ thấp vai trò và ý nghĩa của các hình thức sở hữu khác, và tập trung cao độ chú ý vào tính kế hoạch của nền kinh tế và chế độ tập trung bao cấp nên đúng là thực tế đã vô hiệu hóa vai trò của điều tiết thị trường. Do đó, hoạt động kinh tế hoàn toàn được quyết định bởi các kế hoạch pháp lệnh.

Thứ ba, mô hình Trung Quốc theo chính sách cải cách và mở cửa, trong khi mô hình của Liên Xô là đóng cửa và đã bộc lộ rõ những dấu hiệu trì trệ. Kết quả là, tình trạng trì trệ và khép kín tất yếu đã đi đến mâu thuẫn với xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển nhanh chóng, và kết quả là nhịp độ phát triển kinh tế chậm lại, mối liên hệ khoa học – kỹ thuật và văn hóa giữa phương Đông và phương Tây suy yếu, khoảng cách về trình độ  phát triển giữa hai bên ngày càng xa. Hệ quan niệm mới của Đặng Tiểu Bình đã xác định phương hướng phát triển của Trung Quốc. Chính sách cải cách và mở cửa đáp ứng được yêu cầu của thời đại và đặc điểm quốc tộc. Ra sức thu hút vốn của các nước tư bản chủ nghĩa, làm chủ công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý của họ đã và đang góp phần kích thích phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường sức mạnh của đất nước. Trong ba thập kỷ qua, Trung Quốc đã đạt được những kết quả nổi bật nhờ chính sách cải cách và mở cửa.

Thứ tư, các nguyên lý chủ yếu của mô hình Trung Quốc là sự phát triển các lực lượng sản xuất, thủ tiêu bóc lột, phân hóa giai cấp, và cuối cùng là đạt tới một mức sống cao hơn. Phúc lợi phổ biến, sự phồn vinh của đất nước đã trở thành tiêu chí đánh giá công sức của cả người lao động lẫn ban lãnh đạo đất nước. Mô hình của Liên Xô rõ ràng là đã đi chệch theo hướng quân sự hóa nền kinh tế. Tuy không tuyên bố một cách trực tiếp tư tưởng “cách mạng thế giới”, Liên Xô vẫn hướng tới chiếm giữ vai trò lãnh đạo trong các vấn đề thế giới. Trong nước, Liên Xô tập trung phát triển ngành công nghiệp quân sự, và điều này đã cản trở việc cải thiện mức sống của người dân. Trên vũ đài thế giới thì chạy đua vũ trang, trong thế giới thứ ba thì đấu tranh gay gắt, nguồn lực con người, vật chất, tài chính đều đã cạn. Một mô hình phát triển như thế ắt ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của đất nước.

Thứ năm, sự khác biệt giữa hai mô hình còn thể hiện cả ở nền tảng lý luận, chiến lược phát triển, các hệ thống chính trị và văn hóa. Nền kinh tế kế hoạch thống nhất của Liên Xô loại trừ kinh tế trường. Liên Xô đã vội vã trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện bước quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Còn trong mô hình Trung Quốc thì nhấn mạnh rằng Trung Quốc vẫn còn ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ cơ bản đặt ra cho Trung Quốc là xây dựng một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, còn Liên Xô thì lại nhằm mục tiêu đuổi kịp và vượt các nước TBCN phát triển về kinh tế trong một thời gian ngắn. Mô hình Trung Quốc đề ra chiến lược “ba bước”, nhấn mạnh sự phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững. Mô hình Xô viết có đặc điểm là tập trung cao độ quyền lực hệ tư tưởng toàn trị. Còn mô hình của Trung Quốc thì theo chế độ tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo.

Nói tóm lại, mô hình của Liên Xô và của Trung Quốc có những điểm khác biệt rất rõ, nhưng những điểm chung, giống cũng là hiển nhiên, chẳng hạn, cả hai đều theo chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của chủ nghĩa Marx và đảng Cộng sản, duy trì chuyên chính vô sản, hệ thống sở hữu công cộng và nguyên tắc phân phối theo lao động. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ hơn những tương đồng này thì lại có thể thấy nhiều điểm khác biệt cụ thể.

3/ Kế thừa, phát triển sáng tạo hay phủ định hoàn toàn?

Trong giới khoa học Trung Quốc có hai luồng ý kiến đối lập về mối liên hệ giữa mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc. Ý kiến thứ nhất: hai mô hình xét về bản chất và các nguyên tắc cơ bản thì như nhau, mô hình Trung Quốc – đó là sự kế thừa và phát triển sáng tạo mô hình Xô viết, những khác biệt chủ yếu giữa chúng được phản ánh qua những hình thức và hệ thống cụ thể của chúng. Ý kiến này là của Zhou Sinchen, Liu Shulin… Một luồng ý kiến khác: hai mô hình là hoàn toàn khác nhau, mô hình Trung Quốc là một bước đột phát hay nói cách khác, phủ định hoàn toàn mô hình Xô viết, mô hình của Liên Xô là một sự bế tắc. Những nhà khoa học ủng hộ quan điểm này là Liêu Thụ Lâm, Ma Lunshan, Chu Tân Thành và những người khác.

Theo Chu Tân Thành, Liêu Thụ Lâm và những người khác, trong hai mô hình của Liên Xô và của Trung Quốc cần tách ra hai mảng : mảng cơ bản – bản chất và chế độ, và mảng kia là các hệ thống cụ thể. Xét về bản chất và chế độ cơ bản thì hai mô hình giống nhau, cùng kiểu.

Mô hình Trung Quốc là sự kế thừa mô hình Stalin. Trong trường hợp này, không thể nói mô hình Trung Quốc là một phủ định hoàn toàn mô hình Stalin. Còn các hệ thống cụ thể của mô hình Xô viết thì có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của nó. Do đó ta không thể phủ nhận hoàn toàn mô hình Stalin mà cần có sự suy nghiệm khoa học về nó. Có thể nói rằng trong các hệ thống cụ thể, mô hình Trung Quốc đã phát triển có sáng tạo mô hình Xô viết, và mô hình của Trung Quốc là một mô hình khác của chủ nghĩa xã hội.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Vấn đề sử dụng vai trò động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam – Phần cuối


Vấn đề là trên cơ sở những thành quả hết sức đáng khích lệ do nền kinh tế thị trường mang lại, ta cần sớm tập trung vào giải quyết những vấn đề thuộc về chính sách xã hội. Có thể khẳng định đây là những vấn đề luôn đặt ra của mọi xã hội, nhưng riêng đối với nước ta có những nét rất đặc biệt.

Thứ nhất, xã hội ta vừa trải qua hai cuộc kháng chiến, sự mất mát đối với một bộ phận dân cư là vô cùng to lớn, không gì có thể bù đắp nổi. Chúng ta phải có những chính sách hậu chiến như thế nào để tương xứng với công trạng và những hy sinh của họ. Đây là những khía cạnh hết sức nhạy cảm – và nó càng nhạy cảm hơn, do sự phân hóa giàu nghèo ngày càng diễn ra mạnh mẽ trong xã hội ta hiện nay. Giải quyết đúng đắn vấn đề này là những hành động thực tiễn khẳng định lý tưởng cao đẹp của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ hai, xã hội ta mấy chục năm qua đã thực hiện cơ chế quản lý mang tính bao cấp. Những hạn chế của nó thì không ai có thể bào chữa được, nhưng những ưu điểm của nó thì chắc chắn không ai có thể phủ nhận được. Trong những ưu điểm thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta có những vấn đề thuộc về chính sách xã hội, trong đó đặc biệt là các khía cạnh phúc lợi xã hội và bảo đảm xã hội.

Hiện nay chế độ bao cấp bình quân không còn nữa, sự phân hóa giầu nghèo trong xã hội ngày càng mạnh mẽ thì các khả năng và cơ hội của người dân cũng ngày càng cách biệt nhau. Sự bất bình đẳng về kinh tế sẽ dẫn đến bất bình đẳng về xã hội. Thói quen, nếp nghĩ và lối sống của thời bao cấp khi va đập với cơ chế thị trường đã tạo nên những “cú sốc” khá nặng nề về tâm lý đối với không ít người.

Vậy làm thế nào để thực hiện được những phúc lợi xã hội chung nhằm tạo ra các cơ hội bình đẳng cho mọi người dân, nghĩa là tạo ra điều kiện thuận lợi cho mọi người để họ có chung một nền tảng, một điểm xuất phát, cùng hòa nhập, cùng phát triển? Làm thế nào để hạn chế và ngăn chặn xu hướng phát triển chủ nghĩa cá nhân cực đoan và phát huy được tinh thần tập thể, cộng đồng vốn sẵn có trong truyền thống văn hóa dân tộc?

Cố nhiên, nền kinh tế không phát triển, nếu dân không giàu, nước không mạnh thì chắc chắn cũng không thể thực hiện được các vấn đề thuộc về chính sách xã hội ở một mức độ nào đó. Thế nhưng, sự tăng trưởng kinh tế của đất nước trong giai đoạn vừa qua đã bước đầu tạo ra một cơ sở nhất định để thúc đẩy việc thực hiện các vấn đề thuộc về chính sách xã hội như phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội và bảo trợ xã hội.

Mặc dù xã hội nào cũng có những vấn đề chính sách xã hội, nhưng do những điều kiện đặc biệt của xã hội ta mà trong tình hình hiện nay chúng ta cần hết sức quan tâm giải quyết. Đây là vấn đề lớn của đời sống kinh tế – xã hội và chính nó cho thấy tính ưu việt của một chế độ xã hội. Vì vậy, việc giải quyết vấn đề này một cách đúng đắn, kịp thời sẽ góp phần khẳng định sự định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển của xã hội tạ giai đoạn hiện nay.

3/ Lợi ích kinh tế và vấn đề môi trường sống

Trong nhiều năm qua chúng ta rất ít quan tâm đến vấn đề môi trường sống – cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Vì vấn đề này trong suốt gần nửa thế kỷ qua có thể nói chưa khi nào đặt ra một cách gay gắt, đòi hỏi xã hội phải đầu tư giải quyết như hiện nay.

Thực vậy, có thể nói việc quản lý và điều khiển cộng đồng theo mô hình hành chính thống nhất trước đây đã tạo ra một môi trường xã hội thực sự ổn định và thuần nhất. Những chuẩn mực xã hội, những giá trị đạo đức, những đặc trưng cơ bản của con người mới được đề cao, tạo nên những khuôn đúc sẵn về các thế hệ con người. Khi ấy, nếu có một người nào đó hay có những biểu hiện nào đó khác với khuôn mẫu này sẽ bị toàn cộng đồng, toàn xã hội lên án, ngăn chặn và cô lập.

Bây giờ nhìn lại, ta có thể phê phán những hạn chế của cách quản lý và điều khiển xã hội theo mô hình ấy. Nhưng rõ ràng, môi trường xã hội ngày đó thực sự trong sạch và lành mạnh. Những tệ nạn xã hội như tình trạng phạm pháp, mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, buôn lậu… gần như bị loại khỏi đời sống trong nhiều chục năm.

Đối với môi trường tự nhiên cũng thế. Có lẽ đó là do trước đây dân cư còn thưa thớt, nhu cầu con người còn đơn giản và được quản lý tập trung thống nhất, hơn thế, chúng ta lại được điều kiện tự nhiên ưu đãi, đồng thời cả xã hội ta còn đang dồn sức vào sự nghiệp thống nhất đất nước. Ở một chừng mực nhất định, có thể nói trong hàng chục năm chúng ta không phải bận tâm đến nạn phá rừng, ô nhiễm môi trường, hay chất thải công nghiệp..

Nhưng trong khoảng hơn mười năm trở lại đây, nhất là mấy năm qua, vấn đề môi trường sinh sống của xã hội ta nổi lên hết sức gay gắt.

Trước hết là vấn đề môi trường xã hội: Thực hiện kinh tế thị trường, mở cửa và dân chủ hóa đời sống xã hội đã làm thay đổi căn bản diện mạo của xã hội ta. Nét đặc biệt dễ nhận thấy là cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của con người là sự thay đổi các chuẩn mực xã hội và lối sống. Đáng lo ngại là sự xuất hiện tràn lan những tệ nạn xã hội có nguy cơ không kiểm soát nổi. Đó là những băng nhóm tội phạm có thể chức và có vũ trang đe dọa tài sản, tính mạng của người dân; đó là nạn mại dâm và ma túy phát triển tràn lan tàn phá những tế bào cuối cùng của xã hội và thách thức giống nòi trước nạn dịch thế kỷ; đó là nạn buôn lậu, lừa đảo và tham nhũng… Những tệ nạn xã hội này dường như đã gặp được môi trường thuận lợi để sinh sôi nảy nở.

Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội này, xét đến cùng thì nguyên nhân kinh tế đóng vai trò cơ bản. Vì những lợi ích kinh tế của cá nhân mình mà những đối tượng này bất chấp tất cả và không trừ một thủ đoạn nào, kể cả giết người. Sự phát triển cực đoan của lối sống cá nhân, lối sống tiêu dùng, sự say mê đời sống vật chất một cách bệnh hoạn đã làm cho không ít người mất nhân tính. Đó thực sự là một nguy cơ đe dọa sự phát triển lành mạnh và ổn định của xã hội ta trong điều kiện hiện nay.

Thứ hai là vấn đề môi trường tự nhiên. Không phải chỉ có môi trường xã hội đang đứng trước nguy cơ và thách thức nan giải mà môi trường tự nhiên cũng đang đặt ra những vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Cùng với sự tàn phá môi trường tự nhiên, sự cân bằng sinh thái mang tính tổng thể quốc gia, quá trình hủy hoại sự cân bằng sinh thái cũng rất phổ biến ở tầm vi mô. Chính việc sử dụng một cách vô tội vạ, kém hiểu biết phân hóa học và thuốc trừ sâu với nồng độ cao mà môi trường sống nông thôn nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của mọi người.

Vấn đề ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng đối với các đô thị lớn của chúng ta trong giai đoạn hiện nay. Hầu như các thành phố đều quá tải, mật độ dân cư quá lớn mà các hạ tầng cơ sở lại thấp kém. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng không tuân thủ quy hoạch tổng thể đã phá vỡ môi trường sinh thái và môi trường thẩm mỹ. Các chất thải đô thị và chất thải công nghiệp không được xử lý đã đặc biệt làm ô nhiễm không khí và nguồn nước sinh hoạt… Tất cả những vấn đề gay gắt này đang thách thức sự phát triển các đô thị của chúng ta.

Như thế, trong giai đoạn hiện nay những vấn đề môi trường sinh sống của con người – cả tự nhiên và xã hội – đang đặt ra hết sức gay gắt đối với sự phát triển xã hội ta. Kinh tế sẽ không thể tăng trưởng với tốc độ cao, xã hội sẽ không phát triển nếu các tệ nạn xã hội làm cho đời sống xã hội trở nên rối loạn, bất ổn, không kiểm soát nổi, nếu môi trường tự nhiên bị ô nhiễm và sự cân bằng sinh thái ở tầm vĩ mô và vi mô bị phá vỡ.

Vấn đề môi trường sinh sống có tác động trực tiếp tới sinh mệnh của từng con người cụ thể, từng gia đình cụ thể. Thế nhưng để giải quyết được vấn đề này lại đòi hỏi vấn đề phải được chú ý ở tầm vĩ mô. Bởi lẽ, mỗi con người thường chỉ quan tâm tới lợi ích thiết thân của mình. Trong giai đoạn hiện nay, do thúc ép của đời sống thường nhật mà họ thường chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất trước mắt của bản thân và gia đình. Ở đây không thể quy kết đó là sự ích kỷ hay thiên tính của con người mà nên xem là một sự quy định, một tất yếu kinh tế của giai đoạn lịch sử hiện tại buộc các cá nhân phải suy nghĩ và hành động như vậy.

Rõ ràng, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề môi trường sống gắn bó hết sức chặt chẽ với khía cạnh lợi ích kinh tế. Trong khi đó, lợi ích kinh tế lại đang là mối quan tâm hàng đầu của từng cá nhân riêng lẻ cũng như của cả xã hội ta. Bài toán đặt ra là, làm thế nào vừa đạt được những lợi ích kinh tế, lại vừa đảm bảo được môi trường sinh sống trong sạch và lành mạnh.

Hẳn là, bài toán trước hết phải được giải quyết ở tầm vĩ mô. Và, dĩ nhiên, không thể chỉ quy giản ở vấn đề lợi ích kinh tế của các cá nhân và các nhóm người, mà cần đặt nó trong các quan hệ rộng lớn hơn. Đó là không chỉ dừng lại ở tầm chiến lược phát triển kinh tế – xã hội mà hơn thế, cần có những cơ chế thực thi và kiểm soát sự thực hiện cụ thể các chiến lược đó như thế nào. Dĩ nhiên, cơ chế đó cần thể hiện một cách trung thành, nhất quán tính thống nhất và đồng bộ của chiến lược, sao cho sự triển khai chiến lược và đường lối tạo lập được sự phát triển hài hòa giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.

Tóm lại, trong quá trình tăng tốc sự phát triển hiện nay, một vấn đề mang tính nguyên tắc là phải quản lý một cách sát sao và không ngừng điều tiết để tạo lập được các mối quan hệ thống nhất và hài hòa giữa cá nhân và xã hội, giữa con người và tự nhiên.

Có tạo lập được sự kết hợp hài hòa và thống nhất hai mối quan hệ cơ bản nêu trên, chúng ta mới thực sự đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển toàn diện và bền vững. Có như thế chúng ta mới từng bước thực hiện được lý tưởng tốt đẹp của Đảng và nhân dân ta, đó là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần I


Yan Zhao

Toát yếu

Bài viết phân tích so sánh hai mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và Trung Quốc trên cơ sở các công trình nghiên cứu của giới học giả Trung Quốc. Tác giả đi tới kết luận rằng con đường chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là con đường chủ nghĩa xã hội khoa học, tương hợp với các điều kiện quốc gia dân tộc và thực tế phát triển và tiến bộ ở Trung Quốc đương đại.

Những năm gần đây, đã diễn ra (và đến nay vẫn chưa kết thúc) một chiến dịch bàn luận về vấn đề mối tương quan giữa hai mô hình CNXH của Liên Xô và của Trung Quốc trong giới học giả Trung Quốc. Một số người cho rằng mô hình của Trung Quốc là sự phủ định hoàn toàn mô hình đã đi vào chỗ bế tắc của Liên Xô. Còn theo ý kiến của những người khác thì hai mô hình này về bản chất và các nguyên lý cơ bản là như nhau: mô hình Trung Quốc là sự kế thừa và phát triển mô hình Xô Viết. Như một đồng tiền có hai mặt của nó, mỗi quan điểm đều chứa đựng một phần chân lý.

Làm thế nào để nhận thức đúng đắn các nét đặc điểm chung và khác biệt của hai mô hình, làm sao để đánh giá một cách khoa học mô hình của Liên Xô, và đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét hai mô hình này, bởi vì nói cho cùng, ở đây chúng ta đang nói về khuynh hướng phát triển tiến bộ của xã hội loài người, xem xét viễn cảnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Vì vậy, cố gắng phân tích tìm hiểu rõ mối liên hệ giữa hai mô hình của Trung Quốc và của Liên Xô và việc làm có tầm ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.

“Mô hình của Liên Xô và mô hình của Trung Quốc không chỉ mối quan hệ mật thiết, nhưng cũng có những điểm khác biệt hiển nhiên. Đó là hai mô hình chủ nghĩa xã hội hiện đại. Tức là một chủ nghĩa xã hội, hai mô hình. Khó mà đánh giá mô hình này mà không xét đến mô hình kia”. Chúng tôi sẽ cố gắng phân tích kỹ hai mô hình này và mối liên hệ giữa chúng trên cơ sở nghiên cứu của các học giả Trung Quốc.

1/ Về khái niệm hai mô hình

Về mô hình Xô Viết

Như ta đã biết, “mô hình Xô Viết là gì?” là câu hỏi không có câu trả lời nhất trí trong giới khoa học Trung Quốc và hiện vẫn tồn tại một số qua điểm khác nhau.

Một là trong mô hình Xô Viết, vai trò của người đứng đầu Đảng Cộng sản Liên Xô trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bao gồm cả giai đoạn Chính sách Kinh tế Mới (NEP) và “giai kỳ chủ nghĩa cộng sản thời chiến” dưới thời Lenin. U. Enyuan, cộng tác iên khoa học Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc đã lưu ý rằng xét về nội dung, trong mô hình Xô Viết đã hình thành được các phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Nội hàm của mô hình đó không chỉ có các thành tố kinh tế, chính trị, mà bao gồm cả văn hóa, ngoại giao và…

Theo một phương án khác về mô hình Xô Viết – đó là hệ thống xã hội chủ nghĩa với trình độ tập trung cao chính quyền Xô viết trong kinh tế và chính trị đã hình thành sau Cách mạng Tháng Mười tại nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên bước vào con đường xây dựng CNXH và vẫn nằm trong vòng vây tư bản chủ nghĩa. Có thể nói rằng mô hình này đã bắt đầu hình thành dưới thời V.I Lenin và định hình dưới thời I.V. Stalin.

Hai là, mô hình Xô viết – đó chính là mô hình Stalin. Nhiều nhà khoa học hiện vẫn đang quan niệm như vậy. Chẳng hạn, Wang Shuhuay lưu ý rằng mô hình của Liên Xô, hay cũng là mô hình của Stalin, đã được Stalin xây dựng vào cuối những năm 20 đến đầu những năm 50 thế kỷ XX. Cả trong thời kỳ Stalin lẫn thời hậu Stalin cũng đã có thực hiện một số cải cách, trong đó có thời Khrushchev và Brezhnev lãnh đạo, nhưng bản thân mô hình này về bản chất không có gì thay đổi để rồi cuối cùng dẫn đến trì trệ, xơ cứng. Gu Haylyan trong cuốn “Lịch sử của sự phát triển của chủ nghĩa Marx” của mình đã viết rằng mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết là một phương thức, hay đường hướng, đã được hình thành trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Stalin, đó là một hình thức thực hiện hóa cụ thể chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Theo lời ông, Stalin là tác giả chính của mô hình Xô viết.

Và như lịch sử cho thấy, tất cả những gì được gọi là cải cách mà giới lãnh đạo của Liên Xô cũ tiến hành sau Stalin, chủ yếu là diễn ra theo đường lối mô hình Stalin. Vì vậy, khi nói đến mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết, chúng ta thường muốn ám chỉ mô hình Stalin. Luận điểm này thực tế đã là hiển nhiên đối với giới khoa học Trung Quốc.

Còn về điểm khởi đầu và điểm kết thúc của mô hình Xô viết, thì ở đây cũng không có sự nhất trí ý kiến. Một số người cho rằng mô hình Xô viết bắt đầu có từ năm 1917, tức là khi Lenin mày mò tìm đường hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công. Những người khác lại cho rằng mô hình Xô viết xuất hiện vào thời hậu Lenin, tức là từ năm 1923. Nhưng cho dù mô hình CNXH của Liên Xô hình thành vào thời gian nào chăng nữa, thì nó cũng không bao gồm công cuộc cải cách nhân văn và dân chủ như dưới thời Mikhail Gorbachev.

Về mô hình Trung Quốc

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, vấn đề về con đường phát triển của Trung Quốc bắt đầu thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Khái niệm “mô hình Trung Quốc” đã được nêu ra. Và sau khi bước sang thế kỷ XXI, “mô hình Trung Quốc” đã trở thành tâm điểm chú ý của công luận quốc tế vì Trung Quốc lúc này đã đóng một vai trò to lớn trên trường quốc tế.

Nhưng mô hình Trung Quốc là gì? Các nhà khoa học hiểu thế nào về bản chất của nó?

Trong các công trình của giới khoa học và chính khách nước ngoài, chúng ta thấy khái niệm “mô hình” mang nhiều sắc thái khác nhau. Mô hình được họ hiểu như là “con đường phát triển”, “kinh nghiệm phát triển”, “quan niệm phát triển” và đôi khi còn là những “đường lối và chính sách cụ thể”. Vì vậy, bên cạnh cụm từ “mô hình Trung Quốc” họ đồng thời còn sử dụng các cách nói khác nữa như “kinh nghiệm Trung Quốc”, “đồng thuận Bắc Kinh” (“Beijing Consensus”)… Và những khái niệm này thường được một số nhà khoa học Trung Quốc hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Ma Shanlun so sánh chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, đi đến kết luận rằng mô hình Trung Quốc là mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, rằng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là con đường phát triển được chính người Trung Quốc khám phá ra mà không cần sao chép kinh nghiệm của các nước khác và không vay mượn mô hình phương Tây.

Juan Tszunlyan cho rằng mô hình ở đây được hiểu là các hệ thống chính trị và kinh tế, là các chủ thuyết cơ bản và kinh nghiệm. Nói một cách đơn giản hơn, mô hình Trung Quốc – đó là chủ nghĩa xã hội mang đặc thù của Trung Quốc.

Tần Xuân – Giáo sư Đại học Nhân dân Trung Quốc, một nhà khoa học lớn trong lĩnh vực nghiên cứu chủ nghĩa Marx và các vấn đề Trung Quốc đương đại, cho rằng mô hình Trung Quốc – đó là con đường phát triển của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm thành công mà ĐCSTQ đã đạt được trên con đường phát triển này. Trong bài “Phân tích khái niệm mô hình Trung Quốc”, Tần Xuân đã phân tích rất kỹ khái niệm này và đi đến một số kết luận. Thứ nhất, mô hình Trung Quốc đã hình thành và phát triển ở Trung Quốc, và nó chủ yếu là giải quyết các vấn đề của Trung Quốc. Thứ hai, cái tên gọi “mô hình Trung Quốc” có được là từ kết quả so sánh với các mô hình khác, như mô hình của Mỹ, mô hình của Đức, mô hình của Nhật Bản và… Ba là, điểm khởi đầu hình thành và phát triển của mô hình Trung Quốc là được tính từ sau Hội nghị toàn thể lần thứ ba của ủy ban Trung ương ĐCSTQ khóa 11 năm 1978. Mô hình Trung Quốc đã hình thành và phát triển trong thời kỳ lịch sử mới của cải cách và mở cửa.

Theo đó, có thể rút ra kết luận: mô hình Trung Quốc là một mô hình phát triển xã hội dựa trên các luận điểm lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Nói đơn giản hơn, mô hình Trung Quốc – đó là một mô hình phát triển xã hội có tính đến kinh nghiệm tiến hành chính sách cải cách và mở cửa trong 30 năm.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không thể đơn giản hóa mô hình Trung Quốc như các nước ngoài đang làm khi họ xem mô hình Trung Quốc như là sự kết hợp tự do trong kinh tế và chuyên chế trong chính trị. Và không nên tiếp cận một cách hời hợt nếu muốn hiểu đúng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Vấn đề sử dụng vai trò động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam – Phần IX


Vấn đề thứ hai (d) đang được đặt ra hết sức gay gắt là: quyền lợi và lợi ích của người lao động Việt Nam trong các tổ chức và công ty liên doanh với nước ngoài hiện nay cần như thế nào?

Trước hết, quan hệ lợi ích giữa chủ và thợ đã được thỏa thuận tự nguyện thông qua hợp đồng kinh tế. Nếu hợp đồng kinh tế được thực hiện nghiêm chỉnh thì chắc chắn không có vấn đề gì. Nhưng mấy năm trở lại đây ở một số nhà máy, công ty liên doanh với nước ngoài tại các tỉnh phía Nam đã diễn ra nhiều cuộc bãi công của công nhân người Việt Nam. Qua báo chí, ta thấy tính chất của cuộc bãi công này không khác mấy tính chất của các cuộc bãi công của công nhân các nước tư bản, nghĩa là nó cũng nhằm mục đích đòi bảo đảm các lợi ích vật chất và tinh thần thiết thân của người lao động.

Tìm hiểu các cuộc đình công, bãi công này ta thấy một nguyên nhân khá phổ biến là hợp đồng lao động giữa chủ và thợ không được thực hiện nghiêm chỉnh. Đó là tình trạng kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động của công nhân mà không tăng lương, đó là vấn đề môi trường làm việc quá ô nhiễm, độc hại, không đảm bảo sức khỏe, đó là việc không bảo đảm đúng chế độ bảo hộ và bảo hiểm lao động… Ngoài những vấn đề thuộc về lao động còn có những nguyên nhân người lao động bị tước quyền dân chủ và bị xúc phạm nhân cách.

Vấn đề đặt ra là, mặc dù trên cơ sở tôn trọng những quy luật khách quan của các quan hệ kinh tế thị trường, tôn trọng các hợp đồng lao động tự do và tự nguyện giữa người lao động Việt Nam và các doanh nhân nước ngoài, nhưng Nhà nước ta cần có những biện pháp thích hợp kiểm soát và quản lý việc thực thi những quy định cũng như luật lao động đã được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của người lao động và công dân của mình.

Rõ ràng, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, các quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa người lao động Việt Nam và các ông chủ ngoại quốc không chỉ dừng lại ở mức độ quan hệ hạn hẹp giữa chủ và thợ, mà hơn thế, nhiều vấn đề cần được xem xét và giải quyết ở tầm quốc gia. Ở đây, vai trò và nhiệm vụ của Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề gay gắt của người lao động Việt Nam làm việc torng các tổ chức và các công ty đầu tư nước ngoài là hết sức lớn.

Đây thực sự là một vấn đề mới mẻ đối với xã hội ta  nhưng vì nó đụng chạm đến quyền lợi thiết thực của người lao động – những công dân của đất nước nên Nhà nước ta không thể không đặt thành vấn đề cần được giải quyết ở tầm quốc gia và quốc tế. Cố nhiên, bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của người lao động Việt Nam phải trên cơ sở tuân thủ các công ước quốc tế về lao động và quyền con người. Việc tuân thủ nghiêm túc các công ước đó không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của người lao động Việt Nam mà đó cũng là cách tốt nhất để bảo vệ các thương nhân và doanh nhân nước ngoài vào làm ăn ở nước ta.

4/ Lợi ích kinh tế và vấn đề phát triển cộng đồng trong giai đoạn hiện nay

Sự say mê làm giàu hiện nay của xã hội ta thực chất là sự say mê các lợi ích kinh tế – lợi ích vật chất. Thế nhưng đời sống con người không phải chỉ có kinh tế, vật chất. Đời sống của một xã hội cũng không phải chỉ có vật chất.

Đành rằng, vào những thời điểm nhất định của tiến trình phát triển xã hội, có thể phương diện này hay phương diện kia của đời sống xã hội được ưu tiên, được tập trung đầu tư nhiều hơn. Thế nhưng, điều ấy không có nghĩa là hạ thấp hay bỏ qua các mặt, các phương diện khác. Sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội là một quá trình liên tục. Do đó, sự gián đoạn hay gãy khúc của mặt này hay mặt kia của đời sống xã hội bao giờ cũng gây ra những tổn thương, những biến động, thậm chí tạo ra những lực lượng phá vỡ hoặc đẩy lùi quá trình phát triển của toàn thể cộng đồng.

Chính vì thế, trong thời gian vừa qua, do bị cuốn hút vào thực hiện các nhu cầu tồn tại tối thiểu – nhu cầu vật chất – mà ta ít có điều kiện quan tâm nhiều đến các phương diện, các khía cạnh khác của đời sống xã hội. Điều đó trong chừng mực nhất định đã dẫn tới việc làm nảy sinh một số vấn đề văn hóa xã hội khác khá bức xúc.

Vì vậy, trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, để phát triển cộng đồng một cách toàn diện và bền vững cần sớm tạo lập một cơ chế kết hợp hài hòa một số quan hệ sau:

1/ Quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích văn hóa – xã hội

Đây là một quan hệ cơ bản, bao trùm và chi phối hầu như toàn bộ đời sống xã hội. Thế nhưng nó không hề trừu tượng mà hết sức cụ thể trong mỗi cộng đồng. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các quan hệ kinh tế thời gian qua cũng gây nên sự thay đổi hết sức căn bản các vấn đề văn hóa – xã hội. Có thể nói, sự chuyển đổi trong lĩnh vực văn hóa – xã hội chủ yếu mang tính tự phát và có rất nhiều biểu hiện lúng túng.

Những hoạt động văn hóa – xã hội cộng đồng này trước đây vừa được Nhà nước bao cấp vừa được các hợp tác xã hay các các cấp chính quyền địa phương hỗ trợ về kinh phí. Hiện nay, các nguồn kinh phí bao cấp chính không còn nữa. Do vậy, các hoạt động mang tính cộng đồng này hầu như bị bỏ rơi. Ở nhiều nơi, nhiều lúc các hoạt động văn hóa tinh thần của cộng đồng cơ sở hoặc bị lôi cuốn theo hướng này, hướng khác, hoặc bị xuống cấp, tan rã, mất phương hướng, rối loạn.

Như vậy, trong điều kiện chuyển đổi cơ chế hiện nay, lợi ích kinh tế của cá nhân và xã hội ngày càng được thực hiện, nhưng các lợi ích văn hóa – xã hội hướng vào sự phát triển cộng đồng và nhân tính hầu như chưa được quan tâm một cách đúng mức. Nghĩa là, hiện đang có sự vận động ngược hướng nhau giữa kinh tế và văn hóa – tinh thần trong một cộng đồng xã hội. Vì thế một số vấn đề văn hóa – xã hội của nhiều cộng đồng cơ sở khi cộng đồng đó càng hòa nhập vào đời sống kinh tế thị trường thì càng trở nên phức tạp hơn.

Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để tạo lập được một cơ chế linh hoạt: Có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế đồng thời cũng thúc đẩy sự phát triển phong phú và đa dạng các lĩnh vực văn hóa – xã hội. Nghĩa là, tạo lập được một sự phát triển đồng hành tổng thể của một cộng đồng xã hội.

Đó là một cơ chế được thiết lập và chế định thống nhất từ Trung ương đến địa phương, được quản lý, điều tiết và tài trợ tài chính theo các cấp chính quyền của Nhà nước. Dĩ nhiên, đây là một cơ chế mở để có thể thu hút và huy động được các nguồn tài chính và tài trợ trong nhân dân. Chỉ có như thế mới tạo cho xã hội phát triển một cách thực sự bền vững.

2/ Lợi ích kinh tế và các vấn đề chính sách xã hội

Trong giai đoạn kinh tế thị trường mở cửa hiện nay, sự đề cao lợi ích kinh tế của các chủ thể hoạt động bị quy định bởi tính tất yếu khách quan chứ không phải do ý muốn chủ quan của bất cứ cá nhân nào. Đó chẳng qua chỉ là sự tuân thủ các quy luật khách quan đang chi phối đời sống kinh tế – xã hội đất nước.

Thế nhưng các quy luật khách quan khi xuất hiện và hoạt động thường ít bị chi phối bởi các ý muốn chủ quan của các chủ thể mà thường mang tính “tự nó”. Do vậy, nó không tính đến khía cạnh tình cảm và nhân văn của đời sống con người, cũng như không tính đến các duyên nợ quá khứ của các chủ thể hoạt động. Vì lẽ đó, trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế, nhiều vấn đề thuộc về chính sách xã hội đang được đặt ra hết sức cấp bách.

Đó là do, xã hội ta vừa bước ra khỏi những cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt. Xương máu của hàng triệu người đã đổ, tài sản của hàng triệu người đã được huy động góp vào cuộc đấu tranh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Rõ ràng, khi đi vào xây dựng lại đất nước trong điều kiện hòa bình, trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới, ta không thể quay lưng lại với quá khứ của các thế hệ cha anh, không thể để mặc cho những quy luật kinh tế thị trường lạnh lùng chi phối và dẫn dắt xã hội ta.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.