Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần III


Thương vụ mua lại của Buffett có thể hiểu là cách thoát khỏi tiền giấy và đầu tư vào tài sản hữu hình, đồng thời bảo vệ những tài sản đó khỏi mọi tác động của việc đóng cửa thị trường cổ phiếu. Nó có thể là một “cuộc đặt cược vào đất nước” – nhưng nó cũng là một rào chắn chống lại lạm phát và khủng hoảng tài chính. Nhà đầu tư nhỏ không thể mua lại toàn bộ tuyến đường sắt có thể đặt cược tương tự bằng cách mua vàng. Buffett nổi tiếng là coi thường vàng, nhưng ông là vua đầu tư tài sản hữu hình, và khi nói đến giới siêu giàu, tốt hơn là nên nhìn vào việc họ làm thay vì lời họ nói. Tiền giấy là một hợp đồng được thế chấp bằng vàng, mà vàng là một tài sản hữu hình không gì so sánh được.

Nợ, thâm hụt ngân sách, và sự bền vững

Cục Dự trữ Liên bang không phải là con nợ duy nhất có liên hệ với Chính phủ trong hệ thống tiền của Hoa Kỳ. Trên thực tế, quy mô con nợ lớn hơn rất nhiều. Kho bạc Hoa Kỳ đã phát hành hơn 17.000 tỷ USD nợ dưới hình thức trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, so với khoảng 4 nghìn tỷ USD giấy nợ dưới dạng tiền mà FED phát hành.

Không giống như giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang, tín phiếu Kho bạc không phải là tiền, mặc dù những công cụ thanh khoản nhất thường được gọi là “tương đương tiền mặt” trên bản cân đối kế toán doanh nghiệp. Một điểm khác biệt nữa giữa giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang và tín phiếu Kho bạc là tín phiếu Kho bạc có kỳ hạn và có trả lãi. Giấy nợ của FED có thể được phát hành với số lượng vô hạn và có giá trị lưu hành mãi mãi, nhưng tín phiếu Kho bạc phải tuân thủ kỷ luật của thị trường trái phiếu, nơi các nhà đầu tư giao dịch hơn 500 tỷ USD chứng khoán Kho bạc mỗi ngày.

Kỷ luật thị trường bao gồm việc các nhà đầu tư liên tục đánh giá xem liệu gánh nặng nợ của Kho bạc có bền vững hay không. Sự đánh giá này đặt ra câu hỏi liệu Kho bạc có thể thanh toán các khoản nợ tồn đọng theo thỏa thuận hay không. Nếu câu trả lời là có, thị trường sẽ vui vẻ chấp nhận thêm nợ Kho bạc với nợ lãi suất hợp lý. Nếu câu trả lời là không, thị trường sẽ từ chối khoản nợ Kho bạc, và lãi suất sẽ tăng vọt. Trong trường hợp cực kỳ không chắc chắn do thiếu vốn hoặc không sẵn sàng trả nợ, nợ Chính phủ có thể trở nên gần như vô giá trị, như việc đã xảy ra ở Hoa Kỳ sau cách mạng và rất nhiều lần ở các nước khác từ trước đến nay.

Việc phân tích nợ Chính phủ nhiều thách thức hơn cả khi câu trả lời không phải là có hay không, mà là có thể. Chính tại những điểm bùng phát này (mà những người ủng hộ lý thuyết về sự phức hợp gọi là giai đoạn chuyển tiếp), thị trường trái phiếu đứng giữa sự tự tin và cơn hoảng loạn, và có vẻ như khả năng vỡ nợ rất cao. Các thị trường trái phiếu nhà nước ở châu Âu đến rất gần điểm này vào cuối năm 2011 và vẫn mấp mé bờ vực cho tới tháng 9 năm 2012, khi Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu – ông Mario Draghi đưa ra tuyên bố nổi tiếng:”làm bất cứ điều gì cần thiết”. Ý của Mario là ECB sẽ thay thế khoản nợ tiền của mình bằng nợ nhà nước với số lượng cần thiết để trấn an các chủ nợ nhà nước. Biện pháp trấn an này đã có hiệu quả, và các thị trường nợ nhà nước châu Âu được kéo xa khỏi mép vực.

Trong những năm gần đây, các vụ mua chứng khoán Chính phủ bằng tiền do Cục Dự trữ Liên bang in ra chiếm một tỷ lệ cao trong nợ ròng mới do Kho bạc phát hành. FED nhấn mạnh rằng, việc mua chứng khoán của họ là một công cụ chính sách nhằm nới lỏng các điều kiện tiền tệ, chứ không nhằm mục đích kiếm tiền từ nợ quốc gia. Cùng lúc đó, Kho bạc lại khẳng định rằng họ là con nợ tốt nhất thế giới và hoàn toàn không gặp khó khăn gì trong việc đáp ứng những yêu cầu tài trợ cho Chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một người quan sát bình thường có lý do để tin rằng FED đang kiếm tiền từ khoản nợ bằng cách làm giảm giá trị của tiền – một bước đi hướng đến kết cục sụp đổ cho các hệ thống chính trị và kinh tế mà người ta đã thấy rất nhiều trong lịch sử, từ Rome cổ đại đến Argentina ngày nay. Trò chơi vĩ đại của FED là hoán đổi các giấy nợ không lãi suất của mình lấy giấy nợ có lãi suất của Kho bạc, sau đó trả lãi ít hơn cho Kho bạc. Thách thức đối với thị trường trái phiếu, và với nhà đầu tư nói chung, là phải quyết định xem Kho bạc phát hành bao nhiêu tín phiếu thì bền vững và thay thế tín phiếu Kho bạc bằng bao nhiêu giấy nợ FED thì chấp nhận được, trước khi giai đoạn chuyển tiếp xuất hiện và sự sụp đổ bắt đầu.

Động năng của nợ Chính phủ và thâm hụt ngân sách phức tạp hơn nhiều so với quan điểm thông thường. Tranh cãi xảy ra xung quanh vấn đề nợ nần và thâm hụt ngân sách thường xuyên thoái trào thành những lựa chọn “nhị phân”: Nợ vay tốt hay xấu cho nền kinh tế? Thâm hụt ngân sách của Mỹ quá cao hay chấp nhận được? Phe bảo thủ ở Đảng Trà (Tea Party) cho rằng về bản chất thì việc chi tiêu thâm hụt ngân sách gây ra tác động tiêu cực, rằng một ngân sách cân bằng là khao khát của chính họ, và rằng Hoa Kỳ đang trên con đường trở thành một Hy Lạp thứ hai. Những người theo chủ nghĩa tự do kiểu Krugman lại cho rằng nợ là yếu tố cần thiết để tài trợ những chương trình “trong mơ” nhất định, và rằng trước đây, Hoa Kỳ đã ở vào tình trạng này nếu xét về tỷ lệ nợ/GDP. Sau Thế chiến II, tỷ lệ nợ/GDP của Hoa Kỳ là 100% – xấp xỉ mức hiện nay. Trong suốt thập niên 1950 và 1960, Hoa Kỳ dần gảim tỷ lệ này xuống, và phe tự do nói rằng Mỹ có thể tái hiện thành tích đó bằng việc tăng thuế đôi chút.

Quan điểm của cả hai bên đều có những điểm hợp lý, nhưng cũng có thể dễ dàng bị bác bỏ. Vấn đề chính sách ở đây là một cuộc tranh luận được đóng khung theo cách này tạo ra những sự lưỡng phân giả tạo, chỉ lo cho hùng biện chứ không giúp tìm ra giải pháp. Về bản chất, nợ không tích cực cũng không tiêu cực. Tính hữu dụng của nợ được quyết định bởi việc người đi vay làm gì với số tiền vay được. Các mức nợ tự nó không quá cao hoặc quá thấp, điều quan trọng đối với chủ nợ là xu hướng hướng đến sự bền vững.

Nợ có thể tiêu cực nếu nó được sử dụng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách tài chính mà không hề có kế hoạch trả nợ nào khác ngoài cách đi vay thêm. Nợ có thể tích cực nếu nó tài trợ cho những dự án đem lại hiệu quả cao hơn chi phí bỏ ra, và tự nó có thể trả hết nợ qua thời gian. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối thấp nhưng vẫn gây phiền hà nếu chúng đang ngày một tăng lên. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối cao nhưng không đáng lo ngại nếu chúng đang  ngày một giảm xuống.

Tranh cãi về nợ

Việc đóng khung các cuộc tranh cãi về nợ và thâm hụt ngân sách trong những điều kiện này làm dấy lên nhiều câu hỏi khác. Đâu là hướng dẫn thỏa đáng để xác định xem nợ có đang được sử dụng đúng mục đích mong muốn hay không, và xu hướng của tỷ lệ nợ/GDP có đang đi đúng hướng? May thay, cả hai câu hỏi đều có thể được trả lời một cách chính xác và không phản ánh sự chia rẽ trong ý thức hệ chính trị mà không cần nhờ đến tài hùng biện của phe bảo thủ hay phe tự do.

Nó được sử dụng để tài trợ chi tiêu Chính phủ có thể chấp nhận được khi nó đáp ứng ba điều kiện: lợi ích của việc chi tiêu phải lớn hơn chi phí, chi tiêu của Chính phủ phải hướng vào các dự án mà khu vực tư nhân không thể thực hiện, và mức tổng nợ phải bền vững. Những bài kiểm tra này phải được áp dụng độc lập, cả ba điều kiện đều phải được thỏa mãn. Ngay cả khi chỉ tiêu của Chính phủ có thể chứng minh được lợi ích ròng, thì nó vẫn không hợp lý nếu khu vực tư nhân có thể làm tốt hơn. Khi chi tiêu Chính phủ tạo ra chi phí ròng, nó sẽ hủy hoại khối tài sản trong xã hội và không bao giờ có thể chấp nhận được trừ khi xảy ra một cuộc khủng hoảng hiện sinh như chiến tranh.

Khó khăn nảy sinh khi chi phí và lợi ích không được định nghĩa rõ ràng, và khi ý thức hệ thay thế cho kết quả phân tích trong quá trình ra quyết định. Hai trường hợp minh họa những vấn đề này là Internet và gói kích thích của Obama năm 2009.

Những người ủng hộ chi tiêu Chính phủ chỉ ra rằng, Chính phủ đã tài trợ cho sự phát triển ban đầu của Internet. Quả thực, Chính phủ đã tài trợ cho ARPANET, một hệ thống lưu lượng tin nhắn cực mạnh trong số các máy tính Đại học quy mô lớn được thiết kế để tạo điều kiện cho hoạt động hợp tác nghiên cứu suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, sự phát triển của ARPANET thành Internet ngày nay được thúc đẩy bởi khu vực tư nhân thông qua việc phát minh ra World Wide Web, trình duyệt web và nhiều dự án cách tân khác. Lịch sử này cho thấy rằng, một số khoản chi tiêu của Chính phủ có thể mang lại lợi ích cao khi nó kích thích năng lực sáng tạo, cách tân của khu vực tư nhân. ARPANET có tham vọng khá khiêm tốn nếu xét theo các tiêu chuẩn hiện nay, và nó đã thành công. Không phải lúc nào Chính phủ cũng đóng băng ARPANET. Thay vào đó, họ đã tạo ra những giao thức có sẵn cho các nhà phát triển tư nhân rồi tránh đường để khối tư nhân làm việc. Internet là một ví dụ của việc Chính phủ giao lại công việc cho khu vực tư nhân.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Hiểm họa đồng USD và tầm quan trọng của vàng – Phần II


Một đặc trưng của hệ thống dự trữ vàng cục bộ chính là sự mơ hồ về giới hạn của hai loại sản phẩm và dịch vụ ngân hàng. Các nhà ngân hàng tiến hành “tiêu chuẩn hóa” thiết kế tín phiếu ngân hàng, khiến người bình thường rất khó phân biệt sự khác nhau về bản chất của hai loại chứng chỉ ngân hàng này. Vì vậy, hàng trăm năm nay, các ngân hàng Anglo-Saxon bị liên đới trong nhiều vụ kiện tụng. Trong khi khách hàng phẫn nộ phản đối các nhà ngân hàng lại tuyên bố rằng, họ có quyền sử dụng số tiền của khách hàng mà không cần phải giải thích cho khách hàng biết mục đích sử dụng, miễn sao khi rút tiền, hách hàng không phải than phiền gì. Một trong những vụ án nổi tiếng nhất chính là vụ Foley kiện Ngân hàng Hill mà quan tòa đã phán quyết: “Khi gửi vào ngân hàng thì tiền không còn thuộc về khách hàng nữa. Lúc này, tiền đã thuộc về ngân hàng. Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả tiền cho khách hàng khi có yêu cầu. Và như vậy, ngân hàng có toàn quyền sử dụng số tiền đó mà không có nghĩa vụ phải trả lời khách hàng về việc số tiền này có nguy cơ gì không, có bị dùng vào việc đầu cơ gây hại hay không. Ngân hàng chỉ có nghĩa vụ bảo quản nguyên vẹn số tiền của khách hàng theo sự ràng buộc của hợp đồng”.

Theo pháp luật, phán quyết này của quan tòa nước Anh như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tiền tệ. Theo đó, tiền bạc của khách hàng gửi vào ngân hàng không còn được luật pháp bảo hộ. Điều này xâm phạm quyền tài sản của công dân một cách nghiêm trọng. Sau vụ việc, ngân hàng Anglo-Saxon hoàn toàn từ chối thừa nhận tính hợp pháp của dịch vụ “ủy thác quản lý tiền gửi”, và việc dự trữ toàn ngạch đã mất đi tính hợp pháp, mọi khoản tiền gửi của dân chúng đều có thể bị ngân hàng sử dụng vào việc đầu tư mạo hiểm.

Trong chiến dịch Waterloo năm 1815, vì nắm được kết cục bại trận sớm hơn 24 giờ so với cơ quan tình báo Anh nên gia tộc Rothschild đã kiểm soát  được thị trường công trái Anh quốc, kiểm soát luôn quyền phát hành tiền tệ củ Đế quốc Anh. Sau đó không lâu, gia tộc này lại tiếp tục khống chế việc phát hành tiền tệ của các quốc gia khác như Pháp, Áo, Phổ, Italy để từ đó nắm giữ quyền định giá thị trường vàng thế giới trong suốt gần 200 năm. Mạng lưới ngân hàng do Rothschild, Schiff Warburg và các nhà ngân hàng Do Thái xây dựng tại các quốc gia trên thực tế đã tạo nên hệ thống tiền tệ quốc tế và trung tâm thanh toán thế giới sớm nhất trong lịch sử. Chỉ bằng cách gia nhập vào mạng lưới thanh toán của họ thì các ngân hàng khác mới có thể lưu hành ngân phiếu xuyên quốc gia. Từng bước một, các nhà tài phiệt ngân hàng đã hình thành nên một cartel (tập đoàn lũng đoạn) trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Các nguyên tắc do họ đặt ra đã trở thành “thông lệ quốc tế” của ngành tài chính thế giới hiện nay.

Cartel là lực lượng thúc đẩy quan trọng nhất của hệ thống dự trữ cục bộ, đồng thời cũng là đơn vị đượchưởng lợi nhiều nhất. Trong khi đạt đến một quy mô tương đối, lực lượng này tất yếu phải ủng hộ, thậm chí là trực tiếp thiết lập nên những quy tắc chính trị cũng như quy tắc luật pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của mình.

Năm 1913, một phiên bản của hệ thống dự trữ cục bộ đã được tạo dựng thành công tại Mỹ – Cục Dự trữ Liên bang (FED). Nhu vậy, đồng tiền của hệ thống dự trữ toàn ngạch dần dần bị “tiền xấu” (không được bảo đảm bằng vàng) chi phối và loại bỏ ra khỏi cuộc cạnh tranh. Tiền giấy bạc và tiền giấy vàng do Chính phủ Mỹ phát hành thời đó được xem là thứ may mắn còn tồn tại của hệ thống dự trữ toàn ngạch do Chính phủ đảm bảo bằng vàng bạc thật. Một ounce vàng bạc có giá trị tương đương với số tiền giấy đối ứng. Chi dù mọi khoản nợ vốn có của hệ thống ngân hàng có bị hoàn trả hết thì trên thị trường vẫn lưu thông đồng USD vàng bạc, và kinh tế vẫn có thể phát triển bình thường giống như trước khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thành lập năm 1913.

Từ năm 1913 đến nay, đồng USD “xấu” trên thị trường của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ dần dần loại bỏ đồng USD “tốt” (được đảm bảo bằng vàng) của hệ thống dự trữ toàn ngạch. Vì muốn tạo ra chế độ dự trữ cục bộ nhằm lũng đoạn thế giới tài chính hiện hành, đồng thời hất cẳng Chính phủ ra khỏi lĩnh vực phát hành tiền tệ, các nhà ngân hàng quốc tế đã huy động mọi kỹ năng có thể, để rồi cuối cùng loại bỏ thành công đồng USD bạc vào thập niên 1960 của thế kỷ XX, đồng thời cắt đứt mối liên hệ cuối cùng giữa và và đồng USD năm 1971. Từ đây, chế độ dự trữ cục bộ đã hoàn thành sứ mệnh lũng đoạn của mình.

Đồng USD vay mượn được “biến hóa” như thế nào?

Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York miêu tả đồng USD như thế này: “Đồng USD không thể hoán đổi thành vàng hay bất cứ tài sản nào khác của Bộ Tài chính. Nó không mang ý nghĩa thực tế mà chỉ có tác dụng ghi nợ… Ngân hàng chỉ tạo ra tiền tệ khi người đi vay cam kết hoàn trả các khoản vay của ngân hàng. Ngân hàng thông qua “tiền tệ hóa”các khoản nợ thương mại và tư nhân để tạo ra tiền tệ”.

Sự giải thích của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Chicago là: “Ở Mỹ, bất luận tiền giấy hay là tài khoản ngân hàng đều không có đủ giá trị nội tại như một loại hàng hóa. Đồng USD chẳng qua chỉ là một tờ giấy. Còn tài khoản ngân hàng cũng chỉ là những con số ước lượng ghi trên giấy. Tiền kim loại tuy có một giá trị nội tại nhất định, nhưng lại thường thấp hơn nhiều so với mệnh giá của chúng”.

Vậy rốt cuộc, điều gì khiến cho những công cụ tiền tệ như ngân phiếu, tiền giấy, tiền đúc kim loại được người ta tiếp nhận theo đúng mệnh giá của chúng trong việc hoàn nợ cũng như các công dụng thanh toán khác? Câu trả lời là lòng tin của con người. Người ta tin rằng bất cứ lúc nào, họ có thể dùng những loại tiền tệ này để hoán đổi thành tài sản khác. Một phần nguyên do trong vấn đề này là Chính phủ đã sử dụng pháp luật để ban hành các quy định nên các loại tiền pháp định bắt buộc phải được tiếp nhận.

Nói cách khác, việc tiền tệ hóa dịch vụ cho vay tạo ra đồng USD, còn mệnh giá của đồng USD lại do một ngoại lực tác động cưỡng chế. Vậy làm thế nào dịch vụ cho vay nợ lại biến thành đồng USD được? Nếu muốn hiểu rõ quá trình này, chúng ta cần dùng đến “kính hiển vi” để quan sát tỉ mỉ cơ chế vận hành hệ thống tiền tệ của Mỹ.

Các độc giả không có chuyên môn về tài chính có lẽ cần phải đọc kỹ nội dung dưới đây mới có thể hiểu quy trình tạo ra tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hệ thống ngân hàng. Đây là một bí mật thương mại quan trọng nhất của ngành tài chính phương Tây.

Do Chính phủ Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ mà chỉ có quyền phát hành công trái, sau đó đem công trái nộp cho Cục Dự trữ Liên bang làm vật thế chấp để phát hành tiền tệ thông qua Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hệ thống ngân hàng thương mại mà ngọn nguồn của đồng USD nằm ở công trái.

Bước thứ nhất, Quốc hội phê chuẩn quy mô phát hành công trái, Bộ Tài chính sẽ thiết kế công trái thành nhiều loại khác nhau, trong đó loại có kỳ hạn 1 năm thì gọi là T-Bills (Treasury Bill), loại có kỳ hạn từ 2 – 10 năm thì gọi là T-Notes, còn loại có kỳ hạn 30 năm gọi là T-Bonds. Những công trái này có mức lãi suất khác nhau và thời hạn khác nhau, được tiến hành phát mãi công khai trên thị trường. Cuối cùng, Bộ Tài chính sẽ đem toàn bộ số công trái không phát mãi được trong giao dịch chuyển qua Cục Dự trữ Liên bang. Trên sổ sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, những công trái này sẽ được ghi vào mục “Tài sản chứng khoán” (Securities Asset).

Do Chính phủ Mỹ dùng tiền thu thế trong tương lai làm thế chấp nên công trái của nước này được coi là “tài sản đáng tin cậy nhất” trên thế giới. Ngay sau khi thu được khoản tài sản này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể sử dụng nó để tạo ra một dạng tiền nợ (Liability) gọi là “Chi phiếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ”.

Đây là bước đi quan trọng trong quá trình “biến không thành có”. Tuy nhiên, loại chi phiếu Cục Dự trữ Liên bang này chẳng có bất cứ loại tiền nào có thể đảm bảo. Một bước thiết kế hết sức tinh vi dưới sự ngụy trang khéo léo. Sự tồn tại của loại chi phiếu này khiến Chính phủ càng dễ khống chế cán cân cung cầu khi phát mãi công trái. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thu lãi từ khoản tiền cho Chính phủ vay, còn Chính phủ thì nhận tiền một cách hợp pháp mà không để lộ ra dấu vết trong việc ấn hành một lượng lớn tiền giấy. Rõ ràng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tay không mà bắt được giặc, mọi con số trong sổ sách kế toán hoàn toàn cân đối, tài sản công trái bằng với số nợ. Cả hệ thống ngân hàng được bao bọc khéo léo trong lớp vỏ ngụy trang này.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Song Hong Binh – Chiến tranh tiền tệ – Phần I – NXB LĐ 2020.

Việt Nam có đủ tiềm lực để thực hiện kế hoạch phát triển đô thị ứng phó biến đổi khí hậu 2021 – 2030?


Theo đài RFA, phát triển đô thị để ứng phó với biến đổi khí hậu cho Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 là đề án cuối cùng của ông Nguyễn Xuân Phúc trước khi rời cương vị Thủ tướng chính phủ. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ban hành Quyết định số 438/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030”.

Theo GS.TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030 là kịp thời, phù hợp với yêu cầu hiện nay.

Ông Đặng Hùng Võ cho rằng có 4 lý do dẫn đến việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt đề án với mục tiêu Việt Nam trở thành nước công nghiệp với tỷ lệ đô thị hóa từ 42% hiện nay lên 65% vào năm 2030: “Thứ nhất là thể hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị toàn cầu về biến đổi khí hậu ở Paris, thường gọi là COP-21.

Thứ hai, năm 2020, trong tình trạng cả nước phải dồn vào việc kiểm soát COVID-19 thì gần 15 cơn bão đã tràn vào tàn phá các tỉnh miền Trung. Tình trạng các khu dân cư ven biển bị tàn phá do ngập lụt lâu ngày, núi lở, đất sụt gây chết chóc và mất tích rất nhiều người. Chính phủ Việt Nam ý thức được rằng không thể phát triển các đô thị như hiện nay trong khi nhiệm vụ đô thị hóa như một trọng tâm 10 năm tới.

Thứ ba, trong thời gian miền Trung bị bão lũ, Ngân hàng thế giới (WB) đã hoàn thành báo cáo “Tăng cường khả năng chống chịu khu vực ven biển: Phát triển khu vực ven biển Việt Nam – Cơ hội và rủi ro thiên tai”. Báo cáo chỉ ra rằng: “dù có tiến bộ đáng kể nhưng các biện pháp quản lý rủi ro thiên tai hiện tại của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu”. Đếm lại con số 11,8 triệu cư dân ven biển đang gặp rủi ro cao do lũ lớn, 35% khu dân cư ven biển thuộc vùng hay bị sạt lở. Mỗi năm, kinh tế thiệt hại 852 triệu USD, tương đương 0,5% giá trị GDP, thiệt hại 316 nghìn việc làm do lũ sông và lũ ven biển.

Thứ tư, 2021 là năm đầu của kỳ quy hoạch cho thời kỳ 2021 – 2030 với tầm nhìn 2050. Đó là năm chuẩn bị quy hoạch cả nước, các vùng địa lý kinh tế, các tỉnh. Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu cần được đặt như một trọng tâm, đặc biệt phải đặt điểm nhấn vào quy hoạch phát triển đô thị trong quá trình đẩy mạnh đô thị hóa”.

Đối với chuyên gia về biến đổi khí hậu, PGS.TS Lê Tuấn Anh – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ), quyết định của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giúp tìm giải pháp để các đô thị phục hồi tốt hơn sau khi thiên tai, đồng thời có sự chuẩn bị nhằm giảm nhẹ tác hại khi thiên tai xảy ra: “Bởi vì, hiện nay các đô thị của Việt Nam đều ít nhiều chịu tác động của biến đổi khí hậu. Khi thiên tai xảy ra thì tất cả các hoạt động đều ngưng trệ hoặc chậm lại, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế cũng như xã hội của các đô thị”.

Theo GS.TS Đặng Hùng Võ, thành quả cần đạt được trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 6 điểm quan trọng:

Một là hình thành cơ sở dữ liệu cảnh báo rủi ro đô thị, Atlas đô thị và khí hậu tại các địa phương.

Hai là ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến quy hoạch và phát triển đô thị, thực hiện lồng ghép các hướng dẫn và nội dung quản lý rủi ro trong phát triển đô thị.

Ba là các định hướng, quy hoạch, chương trình phát triển đô thị đã được điều chỉnh, bổ sung nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu và có giải pháp kiểm soát phát triển đô thị.

Bốn là chỉ tiêu xác định các khu vực ưu tiên đầu tư xây dựng, nâng cấp cải tạo tại các đô thị ứng phó với biến đổi khi hậu làm cơ sở đầu tư xây dựng hiệu quả.

Năm là bổ sung hệ thống các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về xây dựng và phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thông minh, hệ sinh thái bền vững; ban hành các tài liệu đào tạo nâng cao năng lực quản lý rủi ro, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Sáu là hợp tác quốc tế nghiên cứu, thực hiện thí điểm một số chương trình, dự án ứng dụng công nghệ, vật liệu mới nhằm phát triển đô thị đảm bảo sức chống chịu với biến đổi khí hậu.

Chuyên gia biến đổi khí hậu Lê Anh Tuấn giải thích bổ sung: “Ví dụ, mỗi thành phố phải có kế hoạch dự báo, cảnh báo khi thiên tai sắp xảy ra. Và khi thiên tai đã xảy ra thì phải có biện pháp giảm nhẹ hoặc biện pháp cứu trợ nạn nhân thiên tai. Sau đó là những chương trình tái thiết, đồng thời chương trình chuẩn bị cho những thiên tai khác trong tương lai.

Đây là cách mà tất cả những thành phố lớn trên thế giới phải làm theo. Có nghĩa là chúng ta phải chuẩn bị trước, trong và sau khi có thiên tai”.

Tuy nhiên, vẫn theo lời nhà nghiên cứu Lê Anh Tuấn, trong điều kiện của Việt Nam thì có thể có một số điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của một quốc gia chưa phát triển cao như các nước Âu – Mỹ: “Việt Nam có phương châm “cứu người tại chỗ”, có nghĩa là cộng đồng có thể chỉ huy được phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ, ví dụ các nhóm thanh niên, các nhóm tình nguyện viên để giúp người khó khăn. Địa phương cũng phải có những kho chứa lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, thuốc men, lều, trại cả những kế hoạch tập huấn cứu hộ cứu nạn trong những tình huống khác nhau. Đó là cách Việt Nam làm bên cạnh những tiêu chuẩn mà quốc tế đã làm”.

Kế hoạch phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030, do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt trước khi rời nhiệm sở, được chia làm 3 thời kỳ:

+ Giai đoạn từ 2021 – 2025: các tỉnh được quan tâm cải tạo gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương, 7 tỉnh vùng ven biển, 7 tỉnh vùng núi.

+ Giai đoạn hai từ 2025 – 2030: kế hoạch được mở rộng ra các tỉnh khác và bị tác động của biến đổi khí hậu.

+ Giai đoạn ba sau 2030 xem xét tất cả các đô thị trên phạm vi toàn quốc.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường Đặng Hùng Võ nhận định tính hợp lý rất cao trong quyết định của Thủ tướng, quan trọng Việt Nam có làm được hay không: “Tôi chỉ nói rằng nó hợp lý và nội dung như vậy là đủ. Thế nhưng bằng cách nào và điều gì quan trọng nhất thì tôi cho rằng là vấn đề ngân sách. Việt Nam có tiền để làm hay không? Với số lượng lớn các tỉnh, trước kia phát triển có phần lộn xộn, thì có đủ tiền cải tạo hay không? Đây là câu hỏi chỉ những người trong hệ thống lãnh đạo hiện nay mới có thể trả lời đc”.

Khó khăn cần đến là trí tuệ, ông Đặng Hùng Võ nhấn mạnh: “Khi đã cần hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, kể cả cơ sở dữ liệu, thì cảnh báo như thế nào từ những cơ sở dữ liệu đó cũng cần sáng kiến gọi là chắt lọc về mặt trí tuệ, về mặt chất xám”. Thực tế lâu nay cho thấy có nhiều kế hoạch đề ra được đánh giá là hoành tráng, nhưng khi áp dụng thì không thể vượt qua những trở ngại do chính đội ngũ thực thi gây ra.

Nguồn: TKNB – 09/04/2021.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần IV


Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường của các ngành công nghiệp cơ bản, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng một số biện pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, thực hiện sản xuất sạch hơn. Theo nguyên tắc “3R” (sửa chữa, tái sử dụng, tái chế) của nền kinh tế tuần hoàn mà Chính phủ Nhật Bản tuân thủ thì tiết kiệm tài nguyên là quy tắc ưu tiên hàng đầu. Do đó, việc thực hiện sản xuất sạch hơn, giảm tiêu dùng lãng phí tài nguyên thiên nhiên là nhiệm vụ chính đặt ra đối với các ngành công nghiệp cơ bản tại Nhật Bản. Nhiệm vụ này bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng thông thường, phát triển các nguồn năng lượng mới, tái sử dụng chất thải, giảm các bước quy trình sản xuất không cần thiết, tiêu chuẩn hóa sản xuất và thiết kế bao bì xanh.

Thứ hai, làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất. Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế của Nhật Bản, chỉ rõ doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động tái chế và tái sử dụng nguyên vật liệu và sản phẩm cũ trong phạm vi chịu trách nhiệm của mình. Cụ thể là nhà sản xuất cần phải chịu trách nhiệm về các tác động môi trường trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất và thậm chí có nghĩa vụ tái sử dụng các sản phẩm tái chế. Ví dụ như nhiều doanh nghiệp sản xuất thiết bị gia dụng lớn và chế tạo ô tô phải tuân thủ yêu cầu xây dựng các trung tâm xử lý rác thải và tái chế sản phẩm.

Thứ ba, kiến tạo những khu công nghiệp sinh thái. Trong mô hình kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, đi đôi với với xây dựng doanh nghiệp sạch, Nhật Bản cũng chú trọng xây dựng một hệ thống sản xuất tuần hoàn giữa các ngành công nghiệp cơ bản thông qua việc thiết lập những khu công nghiệp sinh thái. Việc liên kết các quy trình sản xuất và chia sẻ tài nguyên giữa các doanh nghiệp trong khu công nghê sinh thái có thể gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực, giảm bớt lượng chất xả thải và thực hiện tái chế tối đa nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất.

Tại Nhật Bản, hầu hết các ngành công nghiệp cơ bản hàng đầu đều có ngành công nghiệp hỗ trợ đi kèm. Ví dụ ngành công nghiệp tái chế thiết bị gia dụng được phát triển dựa trên ngành công nghiệp sản xuất điều hòa không khí, tủ lạnh, tivi và máy giặt. Nhật Bản đã xây dựng 26 khu công nghiệp sinh thái cho các ngành công nghiệp hỗ trợ. Những khu công nghiệp sinh thái này không chỉ ưu tiên phục vụ chiến lược xây dựng kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, mà còn đóng một vai trò quan trọng trong phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong khu vực. Có thể nói, đi đôi với các ngành công nghiệp cơ bản thì Chính phủ Nhật Bản cũng ban hành các quy luật và quy định nhằm phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và đặc biệt là hoạt động của các khu công nghiệp sinh thái được xây dựng giành riêng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ này. Cụ thể như sau:

Một là, thiết lập một hệ thống tái chế chất thải và năng lượng. Chính phủ Nhật Bản căn cứ vào đặc điểm của các ngành công nghiệp địa phương, các hình thức và số lượng chất thải để xây dựng các khu công nghiệp sinh thái tái chế tương ứng. Nguyên tắc chung đối với hoạt động của các khu công nghiệp này là toàn bộ quá trình tái chế đều do các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thực hiện với mục tiêu thực hiện hoạt động tái chế trên quy mô lớn.

Hai là, tập hợp các tổ chức nghiên cứu để tiến hành hợp tác nghiên cứu chuyên sâu. Cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ cũng như nhu cầu cấp bách cảu thị trường, các tổ chức nghiên cứu của Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt các nghiên cứu cơ bản về nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất nhằm giảm bớt chất thải công nghiệp, phát triển công nghiệp tái chế tài nguyên, công nghệ tái chế chất thải và các công nghệ khác làm cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản.

Ba là, thực hiện tuyên truyền và giáo dục thường xuyên. Hoạt động này do nhiều cấp chính quyền và các tổ chức đoàn thể có liên quan thực hiện cho nhiều đối tượng khác nhau. Ví dụ thành phố Kitakyushu có thể coi như một ví dụ tiêu biểu về hoạt động giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường cho người dân. Chính quyền thành phố thường xuyên tổ chức các bài giảng về môi trường, tuyên truyền và các công nghệ và sản phẩm tái chế và là địa phương đầu tiên trong khu vực áp dụng chu trình tái chế rác thải tuần hoàn thực sự.

c/ Hợp tác chặt chẽ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất

Trong nền kinh tế tuần hoàn, sự hợp tác toàn diện giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất có ý nghĩa quan trọng. Người tiêu dùng hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế tuần hoàn thông qua các hoạt động cụ thể như tự động phân chia rác thải hay sản phẩm cũ theo đúng quy định về tái chế hay trả phí tái chế trực tiếp khi mua và sử dụng sản phẩm. Các nhà sản xuất thể hiện vai trò của mình thông qua việc gia tăng vòng đời sản phẩm, sử dụng vật liệu tái chế nhiều hơn, hoặc sản xuất những sản phẩm có thể dễ dàng sửa chữa tái sử dụng và tái chế. Mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất thể hiện qua một số hình thức cụ thể như sau:

+ Xây dựng hệ thống thu gom sản phẩm tái chế tiện dụng: Tại Nhật Bản hệ thống thu gom các thiết bị cũ để tái chế rất toàn diện và dễ sử dụng cho nên phần lớn người tiêu dùng Nhật Bản thường xuyên áp dụng. Các thiết bị cũ được các nhà bán lẻ thu nhận lại tại cửa hàng hoặc khi cung cấp thiết bị mới. Đối với thiết bị CNTT cũ thì tùy theo quy định của chính quyền địa phương mà khách hàng có thể yêu cầu nhà sản xuất tới nhà để thu lại hoặc gửi trả qua bưu điện. Hệ thống này phổ biến và được sử dụng rộng rãi trên khắp đất nước Nhật Bản.

+ Người tiêu dùng trả phí trước: Đối với một số sản phẩm gia dụng như thiết bị điện tử, chi phí vận chuyển và thu hồi sản phẩm cũ đã được người tiêu dùng thanh toán tại thời điểm mua hàng, hờ vậy, đã giảm bớt sự miễn cưỡng của khác hàng khi thực hiện các quy định về thu gom sản phẩm cũ. Thêm vào đó là mức xử phạt cao cho việc không tuân thủ các quy định về xả rác cũng làm cho người tiêu dùng có động cơ thực hiện đúng các quy trình về thu gom và xử lý sản phẩm cũ.

+ Cơ sở hạ tầng tái chế là đồng sở hữu: Tại Nhật Bản, luật pháp quy định rõ các doanh nghiệp sản xấut lớn, đồng thời phải đầu tư dài hạn để xây dựng các nhà máy tái chế, đảm bảo họ có thể được hưởng lợi trực tiếp từ việc thu hồi các nguyên liệu hay các bộ phận trong các sản phẩm cũ. Khi doanh nghiệp đồng thời sở hữu cả nhà máy sản xuất và nhà máy tái chế sẽ khiến cho họ hiểu rõ những khó khăn khi phải tháo gỡ để tái chế các sản phẩm có thiết kế kém. Do đó, khi thiết kể sản phẩm mới, một số công ty thậm chí còn đưa hàng mẫu tới nhà máy tái chế để kiểm tra nhằm đảm bảo những sản phẩm này có thể dễ dàng tháo gỡ và tái chế.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Điều khác biệt của chuỗi cung ứng của Việt Nam so với các nước


Trang Vietnam Breifing của hãng Dezan Shirea & Associates ngày 30/03 đăng bài cho rằng, để tìm hiểu về sự hội nhập của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, cần làm rõ sự khác biệt của chuỗi cung ứng của Việt Nam so với các nước khác. Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về lĩnh vực điện tử của Việt Nam, vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu với trọng tâm là lĩnh vực điện tử, cũng như thế mạnh và thách thức của lĩnh vực này.

Từ nước nông nghiệp thành trung tâm sản xuất hàng điện tử

Với việc chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam đã từng bước trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu hàng điện tử nổi bật, đứng thứ 12 trên thế giới và thứ 3 trong ASEAN về xuất khẩu hàng điện tử vào năm 2019.

Nhiều yếu tố góp phần giúp Việt Nam chuyển đổi thành công từ một nước nông nghiệp thành một địa điểm quan trọng cho sản xuất điện tử ở Đông Nam Á như có vị trí gần Trung Quốc, chi phí cạnh tranh, lực lượng lao động đầy đủ, giá nhân công thấp và một số ưu đãi về thuế. Tuy nhiên, vì Việt Nam đặt mục tiêu cao hơn là trở thành điểm đến chi phí thấp cho lắp ráp hàng điện tử, cải tiến trong các lĩnh vực như công nghiệp hỗ trợ, năng suất và công nghệ là rất quan trọng để Việt Nam tiến lên trong chuỗi giá trị.

Lĩnh vực điện tử của Việt Nam và sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Ngành công nghiệp điện tử có thể được hệ thống thành 3 nhóm: 3C (máy tính, truyền thông và điện tử tiêu dùng), các cụm lắp ráp con và các thành phần bao gồm các thành phần điện tử. Năm 2019, tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,5 nghìn tỷ USD.

Việt Nam có mức tăng trưởng mạnh mẽ, khoảng 20%, đối với các sản phẩm điện tử hoàn thiện, vượt Thái Lan và chỉ đứng sau Hàn Quốc về các mặt hàng lắp ráp xuất khẩu trong năm 2019. Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu vào cuối những năm 2000 và được coi là nhà cung cấp thứ 2 trên thế giới cho các sản phẩm 3C. Nếu xem xét chuỗi cung ứng theo các quốc gia, các sản phẩm điện tử xuất khẩu hàng đầu trong năm 2019 là Trung Quốc, tiếp theo là Việt Nam. Các quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng điện tử hàng đầu là Trung Quốc, Mỹ, tiếp theo là Hong Kong. Đối với đồ điện tử, các thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam là Mỹ và Trung Quốc, tiếp theo là Hàn Quốc và Nhật Bản. Việt Nam phụ thuộc vào xuất khẩu, với điện thoại lại nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất. Samsung chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu.

Nhóm thành phẩm 3C thống trị ngành công nghiệp điện tử Việt Nam, với thiết bị truyền thông và điện tử tiêu dùng dẫn đầu. Trong khi 3C thống trị lĩnh vực điện tử của Việt Nam, thì vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị điện tử toàn cầu chỉ giới hạn ở vai trò là nhà tích hợp các thành phần. Chuỗi cung ứng có thể được chia nhỏ hơn nữa thành 3 thành phần, các hoạt động thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn. Việt Nam chủ yếu hội nhập ở phần trung nguồn với giá trị gia tăng thấp hơn, gồm các cụm lắp ráp con, chẳng hạn như màn hình và các bộ phận đặc biệt, các sản phẩm hoàn chỉnh như điện tử tiêu dùng, truyền thông và máy tính. Việt Nam cũng tham gia các hoạt động thượng nguồn, nhưng chủ yếu ở các sản phẩm giá trị gia tăng thấp như nhựa, thủy tinh và bao bì. Sự tham gia của các công ty Việt Nam vẫn còn thấp.

Hơn nữa, Việt Nam nhập khẩu nhiều linh kiện và cụm phụ, trong đó linh kiện điện tử chiếm 65% kim ngạch nhập khẩu trong năm 2019.

Động lực cho ngành công nghiệp điện tử và xuất khẩu của Việt Nam?

Ngành công nghiệp điện tử và xuất khẩu của Việt Nam được thúc đẩy bởi các nhà đầu tư nước ngoài. Từ năm 2008 đến năm 2019, xuất khẩu tăng 90%. Các công ty điện tử nước ngoài và trong nước của Việt Nam có thể được nhóm lại thành 4 loại. Các danh mục đầu tiên bao gồm các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, LG, Panasonic và Canon. Nhóm thứ hai gồm các nhà sản xuất theo hợp đồng cung cấp cho một số MNC như Foxconn. Nhóm thứ ba là các thực thể dẫn đầu về phần mềm và phần cứng như Intel. Nhóm cuối cùng là các nhà sản xuất sản xuất linh kiện cung cấp cho các công ty toàn cầu như Samsung và LG. Trong nhóm cuối cùng có ít doanh nghiệp trong nước, song có hàng trăm doanh nghiệp nước ngoài.

Một số thách thức đối với Việt Nam

Việt Nam vẫn cần phải làm nhiều hơn nữa để hội nhập vào các chuỗi giá trị toàn cầu và phải đối mặt với một số thách thức về giao vận và cơ sở hạ tầng. Giữa nguyên liệu thô và thành phẩm có sự chênh lệch lớn. Ngành giao vận cực kỳ manh mún với hơn 3000 công ty giao vận. Các công ty này gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cung cấp các dịch vụ giá trị thấp. Hàng hóa ở Việt Nam phải qua nhiều khâu trung gian từ khâu nguyên liệu thô đến khâu giao hàng, làm tăng chi phí giao dịch. Ngoài ra, các phương thức vận tải có sự kết nối kém.

Việt Nam cũng thiếu quy mô sản xuất và hạ tầng nhân sự, vì vậy, khiến việc tăng hạng trong chuỗi giá trị trở nên khó khăn. So với các nước khác như Singapore, Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ, Việt Nam là một trong những nước có chi phí giao vận cao nhất và chiếm 25% GDP. Lực lượng lao động của Việt Nam cũng là một thách thức nữa. Dù đúng là Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và khỏe, nhưng lại có quy mô nhỏ hơn nhiều với 57,8 triệu lao động so với con số 778 triệu của Trung Quốc và 500 triệu của Ấn Độ. Do đó, điều này cản trở việc huy động lượng lớn lao động trong ngành điện tử. Lao động có trình độ cũng là một thách thức, khiến các nhà sản xuất khó thuê được lao động hơn để làm các quy trình phức tạp. Việc tìm được lao động phù hợp mà có thể đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cũng là một việc khó khăn.

Tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam ở mức 36%, thấp hơn Trung Quốc và Ấn Độ, cộng với ngành công nghiệp hỗ trợ yếu kém với tỷ lệ mua sắm linh kiện trong nước thấp. Việc sản xuất linh kiện vẫn chưa phát triển. Hiện tại, năng lực sản xuất các linh kiện công nghệ cao như chất bán dẫn của Việt Nam còn hạn chế.

Thế mạnh của Việt Nam

Thứ nhất, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao và ổn định, ở mức từ 6 – 7% trong thập kỷ qua. Thương mại quốc tế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng tăng và Việt Nam đã vượt xa các nước trong khu vực về mặt này. Việt Nam gần như mở cửa hết cho đầu tư trên khắp các lĩnh vực. Bất chấp đại dịch COVID-19, Việt Nam là một trong số ít nước ghi nhận mức tăng trưởng GDP dương, 2,91% trong năm 2020.

Thứ hai, Việt Nam là thành viên của một số hiệp định thương mại tự do (FTA). Đây là nhân tố thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc phê chuẩn FTA EU-Việt Nam và FTA Anh-Việt Nam. Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) sẽ giúp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng GDP.

Cuối cùng, chính phủ Việt Nam đã đưa ra một số ưu đãi thu hút đầu tư và khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam trở thành một phần của chuỗi giá trị toàn cầu. Ví dụ, linh kiện điện tử được hưởng thuế nhập khẩu %, trong khi được thêm ưu đãi về thuế thu thập đối với các dự án công nghệ cao và đầu tư vào khu công nghiệp. Chính phủ cũng áp dụng các ưu đãi bổ sung trong các chính sách lao động và công nghệ.

Chính phủ cũng hỗ trợ công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) và phát triển các hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) tiên tiến cũng như sản xuất các sản phẩm ICT. Đây sẽ là một trong tâm chính khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào công nghệ Internet vạn vật (IoT) và truyền thông 5G. Nguồn:

TKNB – 02/04/2021.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần III


Chính sách biển quốc gia là một cách gọi chung để chỉ các quy hoạch chính sách kế hoạch vĩ mô hoặc cụ thể của nhà nước và chính phủ trong giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực biển, nó thường thể hiện trong các văn bản chính sách cụ thể. Trên cơ sở nhu cầu của chiến lược phát triển quốc gia, cùng với các vấn đề và thách thức đối với phát triển kinh tế biển của Malaysia, điều đặc biệt quan trọng là việc xác định chiến lược phát triển biển và thực hiện các cơ chế cụ thể của các chiến lược liên quan thông qua việc quy hoạch chính sách hợp lý. Với sự hỗ trợ của Kế hoạch chuyển đổi kinh tế, Tầm nhìn quốc gia 2030 và Chương trình quốc gia 2020, chiến lược phát triển kinh tế biển của Malaysia đặt trọng điểm vào 3 ngành nghề trụ cột của kinh tế biển là thúc đẩy khai thác tài nguyên dầu mỏ, vận tải biển và du lịch biển. Cụ thể, trong lĩnh vực khai thác tài nguyên dầu mỏ, thông qua ngoại giao thực dụng để xây dựng môi trường hòa bình, hóa giải những tranh chấp tài nguyên, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ quốc gia. Trong phát triển kinh tế vận tải biển, cải thiện hệ thống hỗ trợ dịch vụ trong nước, tăng cường kết nối với sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc, phát triển quan hệ đối tác quốc tế và khu vực, cải thiện hiệu quả môi trường trong và ngoài nước để phát triển kinh tế vận tải biển. Trong kinh tế du lịch biển, trên cơ sở tăng cường quy hoạch, cần chú trọng cả tuyên truyền quảng bá và bảo vệ tài nguyên để xây dựng nền tảng phát triển kinh tế du lịch biển.

2/ Khai thác tài nguyên dầu mỏ ở khu vực biển tranh chấp

Nguồn tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi là một trong những nền tảng quan trọng nhất trong phát triển kinh tế biển của Malaysia, cũng là một nguồn quan trọng đối với doanh thu tài chính quốc gia Malaysia. Chiến lược quốc gia của Malaysia về khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi chủ yếu dựa vào Đạo luật phát triển dầu khí ban hành năm 1974 và Chính sách năng lượng quốc gia năm 1979. Hai văn kiện này đã xác định việc khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ là nội dung chính trong chính sách năng lượng đa dạng, bền vững của Malaysia. Hiện nguồn năng lượng dầu mỏ của Malaysia chủ yếu là ở ngoài khơi. Malaysia đã phát hiện tổng cộng 45 mỏ dầu và 47 mỏ khí chủ yếu ở lưu vực Mã Lai, Sarawak, Sabah. Trong đó, khu vực Sarawak và Sabah đều nằm trong vùng biển Nam Hải, có thể nói Nam Hải là nơi sản xuất dầu mỏ chủ chốt của Malaysia. Trữ lượng dầu mỏ của Malaysia tại khu vực Nam Hải lớn nhất khoảng 5 tỷ thùng, đứng đầu trong số các quốc gia ven biển ở Nam Hải. Những năm 1990, 70% lượng dầu mỏ xuất khẩu của Malaysia là từ khu vực Nam Hải. Năm 2017, do bị tác động bởi khó khăn về tài chính, Malaysia tuyên bố đầu tư 2 tỷ USD để thành lập công ty thăm dò dầu mỏ và khí tự nhiên ngoài khơi tại Sarawak và hợp tác với Công ty dầu khí quốc gia được thành lập trước đó tiến hành hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở Nam Hải. Có thể thấy, mức độ khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải có tác động tương đối lớn đến tình hình tài chính quốc gia của Malaysia, liên quan đến tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Tầm quan trọng của kinh tế biển với trọng điểm khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải cũng quyết định đến việc Malaysia cần phải định ra chính sách Nam Hải hợp lý, đặc biệt là chính sách ở những vùng biển tranh chấp, điều này gắn với việc xây dựng môi trường hòa bình để khai thác dầu mỏ của Malaysia. Một khi xảy ra xung đột giữa Malaysia với các nước xung quanh tại Nam Hải, việc khai thác tài nguyên dầu mỏ tất yếu sẽ bị ảnh hưởng. Kể từ những năm 1980 trở lại đây, một trong những nội dung quan trọng trong chính sách Nam Hải của Malaysia là thúc đẩy hòa bình và ổn định ở Nam Hải. Năm 2018, cựu Thủ tướng Mahathir đã chỉ ra tốt nhất là Malaysia không có tàu quân sự hoạt động ở vùng nội thủy Nam Hải và eo biển Malacca, ông mong muốn Nam Hải là vùng biển hòa bình, giao thương và thương mại. Không khó để nhận ra, mặc dù vùng biển Nam Hải tồn tại tranh chấp, nhưng việc duy trì và tạo ra những lợi ích của Malaysia tại Nam Hải mới là mục tiêu hàng đầu cảu Chính phủ Malaysia, chính sách chủ yếu là thông qua ngoại giao thực dụng để xây dựng môi trường hòa bình, giải quyết các tranh chấp tài nguyên, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ ngoài khơi quốc gia.

2.1/ Xây dựng môi trường xung quanh hòa bình để Malaysia khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải

Môi trường hòa bình xung quanh là vấn đề then chốt đối với Malaysia trong khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Tranh chấp biên giới giữa các nước xung quanh bắt đầu gia tăng chủ yếu gắn liền với việc phát hiện tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Trong các nước ASEAN, các nước có tranh chấp tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải với Malaysia chủ yếu gồm Thái Lan, Việt Nam, Brunei và Indonesia. Tranh chấp giữa Malaysia với những nước này bắt đầu bùng phát từ cuối những năm 1960. Năm 1968, Ủy ban điều phối thăm dò chung nguồn tài nguyên khoáng sản ở vùng biển ngoài châu Á thuộc Ủy ban kinh tế Liên hợp quốc về châu Á và Viễn Đông công bố báo cáo điều tra thực địa đã cho thấy ở khu vực Nam Hải có nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú, đã kích thích sự ham muốn mở rộng lãnh thổ của các nước xung quanh Nam Hải. Từ đó về sau, các nước xung quanh Nam Hải đua nhau hướng sự tập trung vào thăm dò và khai thác dầu mỏ ở Nam Hải, Malaysia cũng từng bước tham gia vào đó, việc duy trì lợi ích kinh tế với trọng tâm là khai thác năng lượng ở Nam Hải trở thành những tính toán quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia của Malaysia và Malaysia cũng trở thành một trong những quốc gia ASEAN sớm nhất phát triển kinh tế thông qua khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải.

Để xoa dịu mâu thuẫn với các nước liên quan, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ, chính sách mà Malaysia lựa chọn là thông qua khai thác chung, thực hiện hợp tác năng lượng, tích cực xây dựng môi trường hòa bình khu vực khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Malaysia áp dụng mô hình khai thác chung nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải, nội dung cốt lõi của mô hình này là Malaysia và các nước láng giềng thiết lập khu vực quản lý chung theo tỷ lệ mỗi bên là 50%, thực hiện cùng nhau chia sẻ tài nguyên. Malaysia đã thực hiện hợp tác khai thác dầu mỏ ở Nam Hải đầu tiên với Thái Lan. Xung đột chủ yếu giữa Malaysia và Thái Lan là vấn đề phân định thềm lục địa. Năm 1979, hai bên đã ký Bản ghi nhớ, cùng khai thác chung tài nguyên biển ở khu vực tranh chấp và đã thành lập cơ chế đàm phán gồm các ngành như ngoại giao, năng lượng, tài chính, hải quân, trải qua 11 năm, cuối cùng đã đạt được thỏa thuận vào năm 1990. Năm 1992, tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia, hai nước đã thành lập cơ chế khai thác chung Malaysia – Thái Lan. Năm 1994, hai bên đã ký thỏa thuận khai thác chung trong thời hạn 50 năm và thành lập Cơ quan quản lý chung Malaysia – Thái Lan để điều phối những mâu thuẫn lợi ích ở Nam Hải. Biện pháp này đã làm cho chính sách xây dựng môi trường khai thác tài nguyên hòa bình của Malaysia bắt đầu có hiệu quả rõ rệt. Malaysia và Việt Nam cũng tồn tại những tranh chấp tương tự. Năm 1992, hai bên đã ký Bản ghi nhớ để giải quyết vấn đề này, cũng quyết định cùng khai thác chung nguồn tài nguyên biển ở vùng biển tranh chấp. Tiếp đó, hai bên phân định khu vực khai thác chung, ký thỏa thuận thương mại khai thác chung, thành lập Ủy ban điều phối chịu trách nhiệm sắp xếp tổng thể công việc khai thác cụ thể. Brunei và Malaysia tồn tại xung đột trên biển tương đối lớn. Năm 2009, cuối cùng hai bên đã ký thỏa thuận, giải quyết tranh chấp phân định biên giới lâu dài. Năm 2010, Malaysia và Brunei đồng ý khai thác chung tại hai khu vực gần đảo Borneo, ký kết thỏa thuận khai thác chung có hiệu lực 40 năm, tháng 9/2011, tuyên bố bắt đầu khoan thăm dò. Tiếp đó, Malaysia giải quyết tranh chấp biên giới với quốc gia láng giềng Indonesia và cuối năm 2011 hai bên đã đạt được thỏa thuận cùng nhau khai thác tài nguyên dầu mỏ ở phía Tây đảo Borneo trong khu vực tranh chấp giữa hai nước. Đến thời điểm đó, ngoại giao kinh tế biển với các nước xung quanh của Malaysia đã có những tiến triển rất quan trọng, thực hiện được khai thác chung tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi với gần như toàn bộ các quốc gia láng giềng, cơ bản tạo được môi trường hòa bình với các nước xung quanh trong khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi.

Ngoài ra, ngày 6/6/2011, tại Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á – Shangri-La, Thủ tướng Malaysia khi đó là Najib đã đề xuất thành lập cơ quan chuyên môn, tập hợp tất cả các nước lên tiếng có chủ quyền tại khu vực này, bỏ qua thành kiến chủ quyền, hợp tác khai thác tài nguyên ở Nam Hải, đặc biệt là tài nguyên dầu mỏ. Có thể thấy, tư duy của Malaysia vẫn là hợp tác khai thác là chính, xây dựng môi trường khai thác hòa bình. Cần phải nói rằng, trong hợp tác khảo sát và khoan thăm dò, các bên tranh chấp đã ngầm đạt được thỏa thuận, có thể thiết lập nguyên tắc hợp tác và quy tắc hành động mang tính tạm thời, từ đó tạo môi trường khai thác tài nguyên ổn định để các công ty tài nguyên giải quyết xung đột. Chính sách hợp tác khai thác chung năng lượng, trong mấy chục năm qua đã xoa dịu mâu thuẫn của Malaysia với các quốc gia ASEAN láng giềng. Malaysia tích cực xây dựng môi trường hòa bình khai thác tài nguyên dầu mỏ tại Nam Hải, xây dựng nền tảng khu vực tốt đẹp để giành được lợi nhuận của mình.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Việt Nam hợp tác với “ông lớn” Internet Hàn Quốc, hiện thực hóa tham vọng AI


Trang Nikkei của Nhật Bản ngày 7/4 đưa tin, Việt Nam đã hợp tác với công ty Internet lớn nhất Hàn Quốc (Naver) như một phần của chiến lược quốc gia nhằm biến Việt Nam trở thành nhân tố toàn cầu về trí tuệ nhân tạo vào đầu thập kỷ tới.

Naver Group đã hợp tác cùng Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST) triển khai trung tâm nghiên cứu AI đầu tiên của Việt Nam.

Cơ sở đặt tại Hà Nội dự kiến sẽ đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch phát triển lĩnh vực công nghệ cao của Việt Nam và giúp Việt Nam đi đầu trong cuộc đua nghiên cứu cũng như phát triển AI của thế giới vào năm 2030.

Hôm 26/01, ông Nguyên Xuân Phúc – nguyên Thủ tướng Chính phủ và hiện là Chủ tịch nước, đã ký thông qua một chiến lược AI. Trong đó, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng 10 trung tâm nghiên cứu AI tại thủ đô cũng như 3 trung tâm quốc gia về điện toán hiệu suất cao và lưu trữ dữ liệu lớn (Big Data).

Đối với Naver, thỏa thuận hợp tác với HUST là một phần quan trọng trong mạng lưới nghiên cứu và phát triển (R&D) về AI của “ông lớn” công nghệ Hàn Quốc. Năm 2019, Naver đã khởi động Sáng kiến vành đai R&D AI toàn cầu nhằm kết nối kỹ sư phần mềm với các cơ sở nghiên cứu tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam.

Tháng 8/2020, Naver chính thức ký kết quan hệ hợp tác với Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn thông trên các lĩnh vực đầu tư, phát triển và đào tạo AI ở Việt Nam. Ông Hồ Tú Bảo – Giám đốc trung tâm, cho biết: “Trung tâm R&D mới ở Hà Nội được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những cơ sở quan trọng của ngành AI tại Việt Nam, giúp đóng góp cho sự phát triển của đất nước”.

Ông Bảo đang là giáo sư danh dự tại Viện Khoa học và công nghệ tiên tiến Nhật Bản từng tư vấn chiến lược AI cho chính phủ Việt Nam. Ông khẳng định: “Naver sẽ tạo đà cho trung tâm AI mới đi vào guồng. Các giáo sư và kỹ sư trở về từ Hàn Quốc, Nhật Bản và châu Âu cũng sẽ tham gia giúp sức”.

Thương vụ của Naver với HUST còn báo hiệu làn sóng đầu tư tiếp theo của các công ty Hàn Quốc vào Việt Nam, lần này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực AI. Đợt rót vốn đầu tiên do Samsung Electronics dẫn dắt đã biến Việt Nam thành một cơ sở lắp ráp điện thoại thông minh quan trọng. Hiện Samsung vận hành hai nhà máy sản xuất điện thoại thông minh khổng lồ tại Bắc Ninh và Thái Nguyên. Hai cơ sở này chịu trách nhiệm lắp ráp một nửa sản lượng điện thoại mà Samsung tung ra thị trường toàn cầu mỗi năm. Theo Bộ Công thương, “ông lớn” công nghệ Hàn Quốc đã đầu tư tổng cộng hơn 17,3 tỷ USD vào Việt Nam.

Nhờ vào sức hấp dẫn của chiến lược AI do chính phủ đề ra mà số lượng dự án công nghệ có sự tham gia của các công ty nước ngoài ngày càng tăng. Trước đó, FPT Group đã ký một biên bản ghi nh1o7 với tập đoàn Hancom của Hàn Quốc để hợp tác phát triển AI.

Dự án VinAI Research của tập đoàn Vingroup cũng thông báo đã triển khai một trong những hệ thống AI tiên tiến nhất thế giới, Nvidia DGX A100. Vingroup dự kiến sẽ tăng cường quan hệ hợp tác với hãng chip Nvidia của Mỹ trong các dự án AI mới. Chiến lược AI là trọng tâm trong các mục tiêu kinh tế năm 2030 của Việt Nam. Chính phủ hy vọng có thể xây dựng các thương hiệu hoặc dịch vụ AI uy tín vào năm 2030. Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao, có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030, thời điểm kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các nền kinh tế có thu nhập trên trung bình có GDP trên đầu người từ 4046 đến 12535 USD. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam ở mức 2590 USD vào năm 2019. Các nền kinh tế Đông Nam Á có thu nhập trên trung bình bao gồm Indonesia ở mức 4050 USD, Thái Lan 7260 USD và Malaysia là 11230 USD.

Nguồn: TKNB – 09/04/2021

Hiểm họa đồng USD và tầm quan trọng của vàng – Phần I


Nếu mọi khoản nợ ngân hàng đều được hoàn trả thì tiết kiệm ngân hàng sẽ không tồn tại nữa và toàn bộ dòng tiền sẽ cạn kiệt. Một ý nghĩ thật là khủng khiếp. Chúng ta (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) hoàn toàn dựa vào ngân hàng thương mại. Mỗi đồng USD cảu chúng ta lưu thông, bất luận là tiền mặt hay tín dụng, đều cần phải có người vay mới có thể tạo ra lưu thông. Nếu như ngân hàng thương mại có đủ nguồn tiền tệ thì nền kinh tế của chúng ta sẽ trở nên phồn vinh, nếu ngược lại, chúng ta sẽ rơi vào thời kỳ suy thoái. Chúng ta tuyệt đối không có một hệ thống tiền tệ mang tính vĩnh viễn. Khi nắm được mấu chốt cùa toàn bộ vấn đề – sự hoang đường của hệ thống tiền tệ cũng như sự giúp đỡ vô tư đến khó tin của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ – chúng ta sẽ thấy rằng tiền tệ là vấn đề cần phải điều tra và suy nghĩ, và tầm quan trọng của nó nằm ở chỗ: trừ khi người dân hiểu sâu sắc hệ thống tiền tệ này và áp dụng các biện pháp nhằm đối phó với nó, nếu không, sự văn minh hiện tại của chúng ta cũng sẽ tiêu vong.

Robert S. Parker

Giám đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang Atlanta

Nếu căn cứ theo bản chất thì tiền tệ có thể chia ra thành hai loại cơ bản là tiền vay mượn và phi vay mượn. Tiền vay mượn chính là hệ thống tiền tệ pháp định đang lưu thông chủ yếu ở các quốc gia phát triển hiện nay, thành phần chủ yếu của nó bao gồm các khoản vay mượn “tiền tệ hóa” của Chính phủ, các công ty cũng như tư nhân.

Đồng USD chính là một trường hợp điển hình nhất trong số các đồng tiền vay mượn. Nó được tạo ra cùng lúc với quá trình sinh ra nợ nhưng cũng đồng thời bị triệt tiêu khi nợ được hoàn trả. Mỗi đồng USD trong lưu thông đều có giá trị như một hóa đơn ghi nợ, mà mỗi hóa đơn ghi nợ đều sinh ra lãi hàng ngày và không ngừng tăng lên theo kiểu lãi mẹ đẻ lãi con. Vậy những khoản doanh thu từ lãi suất lên đến con số khổng lồ này thuộc về ai? Câu trả lời là hệ thống ngân hàng tạo ra đồng USD. Lợi tức của đồng USD vay mượn là % ngoài tổng lượng tiền tệ vốn có, và tất nhiên, nguồn lợi tức này đòi hỏi đồng USD vay mượn mới phải được tạo ra bên cạnh tổng lượng tiền tệ hiện có, hay nói cách khác, người dân vay tiền càng nhiều thì nguồn tiền cho vay sẽ càng tăng. Việc vay mượn và tiền bạc gắn chặt với nhau mà kết quả tất yếu là tiền cho vay mãi mãi tăng lên, đến khi áp lực lãi suất vượt quá sự phát triển của nền kinh tế và dẫn đến sự sụp đổ của toàn hệ thống. Tiền tệ hóa dịch vụ vay mượn là một trong những nhân tố gây bất ổn nghiêm trọng nhất trong nền kinh tế hiện đại và nó thông qua dự chi tương lai để thỏa mãn nhu cầu hiện tại. Câu nói của người Trung Quốc xưa đại loại “thu không bù chi” chính là muốn đề cập đến ý này.

Một loại tiền tệ khác, đó chính là tiền tệ phi vay nợ mà vàng bạc là đại diện. Loại tiền tệ này không cần đến sự hứa hẹn của bất cứ người nào, không phải là món nợ của bất cứ ai và thứ mà nó đại diện chính là thành quả lao động đã hoàn thành của loài người, là thứ có được từ sự tiến hóa tự nhiên trong thực tiễn xã hội kéo dài hàng mấy nghìn năm. Nó không cần đến sự cưỡng chế của bất cứ thế lực nào, có thể vượt qua mọi thời đại và ranh giới quốc gia và là phương pháp thanh toán cuối cùng nhất trong hệ thống tiền tệ.

Trong tất cả các loại tiền tệ, vàng bạc đồng nghĩa với việc “sở hữu thực tế”, còn tiền pháp định lại đại diện cho “phiếu nợ + sự hứa hẹn”. Và hàm lượng vàng của hai loại tiền này c1o sự khác nhau về bản chất.

Đồng NDT của Trung Quốc nằm giữa ranh giới hai loại tiền này. Mặc dù trước mắt, trong hệ thống đồng NDT vẫn đang tồn tại yếu tố “dịch vụ vay mượn hóa tiền tệ”, nhưng nếu căn cứ vào chủ thể của đồng NDT thì nó vẫn thể hiện đủ chất và lượng của sản phẩm và dịch vụ đã hoàn thành trong quá khứ. Việc phát hành đồng NDT không hoàn toàn giống như phát hành đồng USD (đồng USD dùng nợ quốc gia – công trái làm thế chấp). Do ngân hàng trung ương công hữu phát hành cho nên đồng NDT tránh được khả năng các khoản chi trả lợi tức khổng lồ rơi vào túi tư nhân. Nhìn từ góc độ này, thuộc tính của đồng NDT có vẻ gần hơn với vàng bạc. Đồng thời, vì không có vàng bạc làm chỗ dựa nhưng lại có thuộc tính cơ bản của đồng tiền pháp định, đồng NDT phải dựa vào sức cưỡng chế của Chính phủ mới có thể đảm bảo giá trị tiền tệ.

Sự hiểu biết về chế độ tiền tệ pháp định của phương Tây, đặc biệt là bản chất của đồng USD, là tiền đề cần thiết cho sự cải cách tương lai của đồng NDT.

Hệ thống dự trữ cục bộ – nơi khởi nguồn của lạm phát tiền tệ

Ngân hàng (hiện đại) vốn dĩ là không công bằng và chứa đựng nhiều tội ác. Các nhà tài phiệt ngân hàng có cả Trái Đất. Họ tước đoạt tất cả mọi thứ của con người, chỉ để lại cho họ quyền tích lũy và lưu giữ tiền tệ. Nhưng, nếu như quyền tích lũy và lưu giữ tiền tệ cũng bị tước đoạt nốt thì mọi vận may của sự giàu có đều không tồn tại. Nếu không có những quyền này, thế giới hạnh phúc và tốt đẹp hơn. Nhưng nếu vẫn cam tâm tiếp tục làm nô lệ cho các nhà ngân hàng và chấp nhận chi trả những khoản phí nô dịch cho họ thì các bạn cứ việc tích lũy và lưu giữ tiền bạc.

J. Stamp

Ban đầu, ngân hàng chỉ thuần túy cung cấp dịch vụ lưu giữ vàng bạc của người gửi. Khi đem vàng bạcgiao cho ngân hàng, người gửi được phát một biên lai chuẩn gọi là “tín phiếu ngân hàng”. Những tờ tín phiếu này dần dần trở thành công cụ giao dịch trong xã hội và được gọi là tiền tệ.

Theo đó, ngân hàng có thể đem “tín phiếu ngân hàng” đổi thành vàng bất cứ lúc nào. Nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng chính là “phí ủy thác quản lý” do người gửi chi trả.

Dần dần, các nhà ngân hàng “thông minh” nhận ra một điều rằng, thường có rất ít người gửi vàng đem “chứng chỉ ngân hàng” đổi thành vàng, và khi thấy vàng nằm bất động trong kho như vậy, ngân hàng không khỏi cảm thấy ngứa ngáy, và câu hỏi khiến họ băn khoăn là làm thế nào để “đánh thức” nguồn vốn đang ngủ yên này? Thêm vào đó, trong xã hội luôn có một số người cần sử dụng tiền, vậy là các nhà ngân hàng bèn mở dịch vụ cho vay, người vay chỉ cần trả lãi suất cho ngân hàng đúng hạn. Khi người vay tiền đến ngân hàng, các nhà ngân hàng dùng nhiều biện pháp như phát hành thêm hóa đơn hay “tín phiếu ngân hàng” để kiếm lời. Chỉ cần không thêm quá nhiều các loại tín phiếu, ngân hàng sẽ không tạo ra sự hoài nghi của người gửi. Kinh nghiệm của các nhà ngân hàng cho thấy, nếu số “chứng chỉ ngân hàng” được phát hành thêm gấp 10 lần thì ngân hàng sẽ an toàn. Do mức lãi suất từ việc cho vay giống như thứ tiền bất ngờ, tự dưng mà có, càng nhiều càng tốt nên các nhà ngân hàng bắt đầu hiện diện khắp nơi để lôi kéo khách hàng đến gửi tiền. Và để thu hút người gửi, thay vì thu lệ phí gửi vàng như trước đây, họ bắt đầu chi trả lãi suất cho người gửi.

Trên thực tế, khi thực hiện dịch vụ cho vay vàng, các nhà ngân hàng cung cấp cho khách hàng hai loại sản phẩm khác nhau hoàn toàn: loại thứ nhất là dịch vụ “lưu gửi tiền vàng” thuần túy, loại thứ hai là “đầu tư tiết kiệm”. Sự khác biệt về bản chất của hai loại dịch vụ này nằm ở quyền sở hữu tiền vàng. Trong tình huống thứ nhất, khách hàng có quyền sở hữu tuyệt đối với lượng tiền vàng đang lưu gửi, nhà ngân hàng đảm bảo với khách hàng rằng họ có thể cầm biên lai đến rút tiền ra bất cứ lúc nào họ muốn. Còn ở trường hợp thứ hai, khách hàng tạm thời mất quyền sở hữu với lượng vàng đã gửi vào tiết kiệm, và nhà ngân hàng sử dụng khoản tiền này để quay vòng cho vay. Ngay sau khi ngân hàng thu hồi khoản đầu tư từ nguồn vàng này, khách hàng lưu gửi mới có thể khôi phục lại quyền sở hữu vốn có của mình.

Trong loại hình dịch vụ thứ nhất, tín phiếu ngân hàng tương ứng là dự trữ toàn ngạch; còn  trong lại hình dịch vụ thứ hai, tín phiếu ngân hàng tương ứng là “giấy nợ + sự hứa hẹn”. Số lượng tín phiếu ngân hàng phát hành ra nhiều hơn lượng vàng thực tế của ngân hàng và coi đó là một hình thức dự trữ cục bộ. Loại tín phiếu theo kiểu “giấy nợ + sự hứa hẹn” như thế này luôn ẩn chứa nguy cơ rủi ro, đồng thời dễ gây lạm phát tiền tệ. Đặc tính này cho thấy rằng, tín phiếu ngân hàng này hoàn toàn không phù hợp với vai trò giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong xã hội, đồng thời không thể hiện được chức năng thước đo cơ bản của hoạt động kinh tế.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Song Hong Binh – Chiến tranh tiền tệ – Phần I – NXB LĐ 2020.

Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần II


Một cách tiếp cận khác là lý thuyết nhà nước tiền tệ (state theory of money), với quan điểm rằng tiền giấy không được bảo lãnh vẫn có giá trị vì nhà nước có thể yêu cầu trả thuế bằng tiền đó. Nhà nước có thể ép buộc người dân đến chết để thu thuế. Do đó, người dân làm việc vì tiền và đánh giá cao đồng tiền vì nó có thể đáp ứng được yêu cầu từ nhà nước. Mối quan hệ giữa tiền và nhà nước này có nghĩa là tiền giấy có giá trị ngoại lai vượt quá giá trị nội tại do quyền lực nhà nước. Loại tiền này được gọi là chartal chartalism (tạm dịch: chủ nghĩa duy chính) là một tên khác của lý thuyết nhà nước tiền tệ. Trong những năm 1920, John Maynard Keynes đã sử dụng chartalism trong những lần ông kêu gọi bãi bỏ bản vị vàng. Những thành viên mới hơn của lý thuyết tiền tệ này từng giữ những vai trò đắc lực trong hệ thống quyền lực nhà nước là Paul McCulley, cựu Giám đốc Điều hành của Quỹ trái phiếu khổng lồ PIMCO và Stephanie Kelton, nhà kinh tế học tại Đại học Missouri, người luôn trung thành với lý thuyết tiền tệ hiện đại.

Một lý thuyết mới gia nhập cuộc chiến lý thuyết tiền tệ là lý thuyết lượng tín dụng (quantity theory of credit). Lý thuyết này được phát triển bởi Richard Duncan, là một biến thể của lý thuyết lượng tiền. Duncan đề xuất rằng việc tạo lập tín dụng đã trở nên phổ biến và tràn lan đến mức ý niệm về tiền bây giờ đã được gộp chung vào ý niệm về tín dụng, và việc tạo lập tín dụng là trọng tâm của hoạt động nghiên cứu và chính sách tiền tệ. Duncan đưa nhiều phân tích thống kê và pháp lý ấn tượng về dữ liệu của Chính phủ vào công trình nghiên cứu sự mở rộng tín dụng. Có thể gọi công trình này của ông là chủ nghĩa tín dụng (creditism), mặc dù thực ra nó là một phiên bản của thế kỷ XXI của Trường phái Ngân hàng Anh quốc (British Banking School) – quan điểm về tiền tệ trong thế kỷ XIX.

Chủ nghĩa tiền tệ, chủ nghĩa duy chính và chủ nghĩa tín dụng đều có chung một ý tưởng: niềm tin vào đồng tiền pháp định (fiat). Từ fiat có nguồn gốc từ tiếng Latin, có nghĩa là “để cho nó được thực hiện”. Khi áp dụng cho tiền tệ, fiat đề cập đến trường hợp trong đó nhà nước ra lệnh rằng một dạng tiền tệ cụ thể sẽ đóng vai trò như tiền tệ và được xem như đồng tiền hợp pháp. Cả ba lý thuyết đều đồng ý rằng tiền không bắt buộc phải có giá trị nội tại, miễn sao nó nắm giữ giá trị bên ngoài mà nhà nước đặt cho. Khi phe phản đối đồng tiền pháp định nói tiền “không được đảm bảo bởi bất cứ thứ gì”, những người ủng hộ ba lý thuyết trên sẽ đáp trả, “Thì sao?” Theo họ, tiền có giá trị vì nhà nước ra lệnh rằng nó có giá trị như vậy, và không có gì khác là cần thiết để cho tiền giá trị của nó.

Một lý thuyết chỉ hữu dụng khi nó hài hòa với hiện tượng trong thế giới thực, đồng thời giúp các nhà quan sát hiểu và dự đoán các sự kiện trong thế giới đó. Các lý thuyết về tiền dựa vào quyền lực của nhà nước rất mong manh vì việc áp dụng quyền lực nhà nước có thể thay đổi. Theo nghĩa đó, có thể nói những lý thuyết cạnh tranh về tiền kể trên còn tùy thuộc vào tình hình thực tiễn.

Trở lại nơi chúng ta bắt đầu, lý thuyết hợp đồng tiền tập trung vào giá trị nội tại của tiền. Tiền có thể là giấy, nhưng giấy có văn bản trên đó, và văn bản này là một hợp đồng hợp pháp. Một công dân có thể xem hợp đồng này là đáng giá vì những lý do riêng, không phụ thuộc vào các sắc lệnh của nhà nước. Anh ta có thể đánh giá hiệu quả thực hiện hợp đồng cao hơn là tính chất pháp định. Lý thuyết này là hữu ích để hiểu không chỉ đồng USD mà cả việc liệu rằng hợp đồng dollar có đang được tôn trọng hay không, cả bây giờ và trong tương lai.

Mặc dù đồng USD là khoản nợ không lãi suất và không kỳ hạn nhưng nó vẫn liên quan đến nghĩa vụ thực hiện của cả FED và Ngân khố, hai bên có tên trong hợp đồng. Việc thực hiện này được thể hiện rõ trong nền kinh tế. Nếu nền kinh tế hoạt động tốt, đồng USD hữu dụng, và hiệu quả thực hiện hợp đồng là thỏa đáng hoặcó giá trị. Nếu nền kinh tế không hiệu quả, người ta có thể nghĩ rằng hiệu quả thực hiện kém đến mức vi phạm vỡ nợ theo quy định của hợp đồng.

Bản vị vàng là một cách để thi hành hợp đồng tiền. Phe ủng hộ vàng khẳng định rằng tất cả tiền giấy đều không có giá trị nội tại, giá trị vốn dĩ chỉ có thể được cung cấp bằng kim loại quý hữu hình dưới dạng vàng, hoặc có thể là bạc. Quan điểm này hiểu sai vai trò của vàng trong một bản vị vàng, nhưng một số ít người khăng khăng rằng tiền đồng hoặc vàng thỏi phải là phương tiện trao đổi duy nhất – một tình trạng hoàn toàn phi thực tiễn. Tất cả các bản vị vàng đều liên quan đến mối quan hệ giữa vàng vật chất và các hình thức đại diện của vàng trên giấy tờ, cho dù những đại diện này được gọi là giấy nợ, cổ phần hay hóa đơn. Một khi mối quan hệ này được chấp nhận, người ta nhanh chóng trở lại với thế giới của hợp đồng.

Theo quan điểm này, vàng là tài sản thế chấp hoặc trái phiếu được niêm yết để đảm bảo việc thực hiện thỏa đáng hợp đồng tiền. Nếu nhà nước in quá nhiều tiền thì người dân có thể tự do tuyên bố kê khai hợp đồng bị vi phạm và đổi tiền lấy vàng theo tỷ giá trao đổi trên thị trường. Trên thực tế, người đó nhận tài sản thế chấp của mình.

Những người ủng hộ vàng cho rằng nên duy trì và ấn định một tỷ giá trao đổi giữa tiền giấy và vàng. Quan điểm này cũng có ý đúng, nhưng một tỷ giá trao đổi cố định không phải là yếu tố thiết yếu đối với vai trò của vàng trong một hệ thống hợp đồng tiền. Chỉ cần người dân được tự do mau hoặc bán vàng bất cứ lúc nào. Mọi công dân đều sẽ có thể sử dụng một bản vị vàng cá nhân bằng cách mua vàng bằng tiền giấy, còn người nào không mua vàng tức là đang tạm thời thoải mái với hợp đồng tiền giấy.

Do đó, giá tiền của vàng là một thước đo hiệu quả thực hiện hợp đồng của FED và Ngân khố. Nếu hiệu quả thỏa đáng, giá vàng sẽ ổn định, vì người dân yên tâm khi giao dịch bằng tiền. Nếu hoạt động yếu kém, giá vàng sẽ tăng, vì người dân chấm dứt hợp đồng nợ-tiền và đòi lại khoản thế chấp của họ thông qua việc mua vàng trên thị trường mở. Giống như bất kỳ con nợ nào, FED muốn các chủ nợ-người dân không biết gì về quyền đòi bồi thường của họ. FED đang đánh cược rằng người dân sẽ không đồng loạt yêu cầu khoản thế chấp bằng vàng. Việc đặt cược này phụ thuộc vào mức độ hài lòng cao của người dân đối với bản chất của hợp đồng tiền, bản chất của vàng, và quyền được đòi lại tài sản thế chấp khi hợp đồng không được thực hiện thỏa đáng.

Đây là một lý do khiến FED và các chuyên gia kinh tế tiền pháp định sử dụng những cụm từ như “di tích man rợ” và “truyền thống” để mô tả vàng và khẳng định rằng vàng không có vai trò gì trong một hệ thống tiền tệ hiện đại. Quan điểm của FED rất vô lý, nó giống như việc nói rằng đất đai và nhà cửa không có vai trò gì trong một hợp đồng thế chấp vậy. Tiền là một khoản nợ bằng giấy lấy vàng làm tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp có thể được đòi lại bằng cách trực tiếp mua hàng.

FED muốn rằng các nhà đầu tư không thiết lập mối liên kết này, nhưng có một nhà đầu tư đã làm, đó là Warren Buffett. Ông không chuyển sang vàng nhưng chuyển sang tài sản hữu hình, và câu chuyện của ông đang được tiết lộ.

Vào tháng 11 năm 2009, không lâu sau khi thị trường bắt đầu bán tống bán tháo vì hệ quả của cuộc Khủng hoảng năm 2008, Buffett đã thông báo mua lại 100% công ty Burlington Northern Santa Fe Railway. Buffett mô tả thương vụ này như một “cuộc đặt cược vào đất nước”.

Có thể. Một tuyến đường sắt là tài sản hữu hình tuyệt đối. Đường sắt bao gồm một số tài sản hữu hình, chẳng hạn như quyền sử dụng tuyến đường, quyền khai thác liền kề, đường ray, công tắc, tín hiệu, sân bãi và xe kéo. Đường sắt kiếm tiền bằng cách vận chuyển các tài sản hữu hình khác như lúa mì, thép, quặng và gia súc. Đường sắt là tài sản hữu hình vận chuyển tài sản hữu hình.

Bằng cách mua lại 100% cổ phiếu, Buffett đã chuyển đổi thành công tuyến đường sắt từ một công ty vốn cổ phần được giao dịch công khai thành một công ty vốn cổ phần tư nhân. Điều này có nghĩa là nếu các thị trường cổ phiếu bị đóng cửa trong một cuộc khủng hoảng tài chính thì cổ phần của Buffett sẽ không bị ảnh hưởng vì ông không tìm kiếm khả năng thanh khoản. Trong khi những người khác có thể bị sốc bởi cổ phần của họ đột ngột mất tính thanh khoản, Buffett chỉ việc án binh bất động.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần III


Đứng trước thực trạng nền kinh tế Nhật Bản rơi vào quá trình giảm phát, Chính phủ Nhật Bản buộc phải tìm kiếm để chuyển đổi sang một mô hình mới là kinh tế tuần hoàn, đặt trọng tâm vào duy trì sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển bền vững hệ thống xã hội và hệ sinh thái tự nhiên Nói cách khác, đối với Nhật Bản thì nền kinh tế tuần hoàn là một giải pháp tích hợp nền kinh tế, công nghệ và xã hội, theo đó phát triển kinh tế là một yếu tố chi phối nhưng không tách rời khỏi sự hỗ trợ và bảo vệ của hệ thống các cơ quan nhà nước, các quy định pháp luật, các tiến bộ kỹ thuật và các yếu tố xã hội khác.

Thứ hai, do đặc điểm địa hình của Nhật Bản.

Nhật Bản có mật độ dân số cao và không gian bãi rác hạn chế, một phần là do địa hình đảo và núi lửa của quốc gia này. Điều này đã buộc Chính phủ Nhật Bản, vào đầu những năm 1950, phải tìm kiếm các giải pháp thay thế việc chôn lấp chất thải vào lòng đất. Tiếp theo vào những năm 1990, Chính phủ Nhật Bản gần như không thực hiện đốt cháy chất thải do những lo ngại về chất dioxin phát sinh có thể gây tác hại cho con người như phá hủy hệ miễn dịch, gây ra các vấn đề sinh sản và bệnh tật. Vậy nên hoạt động tái sử dụng nguyên liệu và sản phẩm cũ thay vì vất bỏ ra môi trường trong nền kinh tế tuần hoàn trở thành một biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề đặc điểm địa hình của Nhật Bản.

Thứ ba, do sự thiếu hụt nguồn tài nguyên thiên nhiên của Nhật Bản.

Nhật Bản là quốc gia sản xuất công nghiệp lớn nhưng có nguồn tài nguyên khoáng sản trong nước rất hạn chế dẫn tới hầu hết các nguồn lực và nguyên liệu công nghiệp phải dựa vào nhập khẩu. Bởi vậy, việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, trong đó, hoạt động tái chế và tái sử dụng được đặc biệt chú trọng trở thành nhu cầu cấp bách của quốc gia này. Việc phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn hỗ trợ cho Nhật Bản vượt qua được những hạn chế về nguồn lực, cải thiện việc sử dụng tài nguyên, giảm chi phí sản xuất để tiếp tục duy trì vị trí và tính cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.

Cuối cùng, do bản thân văn hóa doanh nghiệp của Nhật Bản nhấn mạnh tới sự hợp tác giữa các thực thể trong nền kinh tế và dẫn tới kết quả là sự thống nhất cao trong các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người dân trong việc xây dựng và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn cả về khung pháp lý cũng như các hoạt động cụ thể.

3.2/ Hệ thống pháp lý hỗ trợ chuyển đổi mô hình kinh tế tuần hoàn

Mô hình kinh tế tuần hoàn giảm bớt những vấn đề giữa môi trường và phát triển kinh tế đảm bảo sự thích ứng giữa các yêu cầu sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động kinh tế khác với những yêu cầu về bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế và Bản kế hoạch cơ bản để thúc đẩy một xã hội định hướng tái chế làm cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn. Hai văn bản này và một số luật chuyên ngành quy định rõ các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và công dân,…cần thực hiện vai trò theo trách nhiệm và nghĩa vụ tương ứng của họ, phải hợp tác và thực hiện có hiệu quả các biện pháp khác nhau dựa trên nguyên tắc hợp lý và chia sẻ gánh nặng chi phí một cách công bằng trong chiến lược xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Trách nhiệm của chính quyền trung ương Nhật Bản là hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức và công dân để xây dựng các luật và quy định hoàn chỉnh và áp dụng các biện pháp hiệu quả và toàn diện để thúc đẩy việc thực hiện chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Đi đôi với những hoạt động này thì chính quyền trung ương cũng trực tiếp hỗ trợ các hoạt động để hình thành một xã hội định hướng tái chế và tái sử dụng thông qua tài trợ từ các nguồn quỹ do chính phủ quản lý, cung cấp các dịch vụ hành chính, dẫn đầu thực hiện các khoản mua sắm xanh và các hành động cụ thể khác để khuyến khích sự phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

Các quy định của pháp luật đòi hỏi doanh nghiệp phải đóng một vai trò tích cực và quan trọng để thúc đẩy xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp cần xem xét đầy đủ các yếu tố  môi trường trong khi thiết kế và sản xuất sản phẩm, thực hiện các sáng kiến sinh thái trong quy trình sản xuất, sử dụng vật liệu tái tạo và tái chế, tập trung nỗ lực giảm nguồn gây ô nhiễm và kiểm soát chất gây ô nhiễm để cung cấp cho thị trường những sản phẩm có chất lượng cao và ít gây tác động tiêu cực tới môi trường. Đồng thời, doanh nghiệp cũng tận dụng những lợi thế về năng lực và công nghệ của mình để tái sử dụng tối đa nguồn rác thải công nghiệp nhằm tham gia vào quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Các tổ chức xã hội cũng góp phần không nhỏ thúc đẩy quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn Các tổ chức này thực hiện vai trò cầu nối giữa chính quyền các cấp, doanh nghiệp và công chúng, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tư vấn, hướng dẫn và đào tạo kỹ thuật… Cụ thể như các tổ chức này phối hợp với các doanh nghiệp trong việc phát triển công nghệ tái chế, thực hiện tư vấn thông tin và điều tra cho chính quyền các cấp, tiến hành các khóa đào tạo kỹ thuật cho doanh nghiệp, thực hiện các chiến dịch tuyên truyền công khai về quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn.

Người dân Nhật Bản cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường. Những nỗ lực tuyên truyền, vận động cũng như các chính sách của Chính phủ đã góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong việc nỗ lực tham gia xây dựng một nền kinh tế tuần hoàn.

3.3/ Một số đặc điểm của mô hình kinh tế tuần hoàn tại Nhật Bản

a/ Xây dựng các chỉ số đo lường trong nền kinh tế tuần hoàn

Để đánh giá các nỗ lực của xã hội trong xây dựng và phát triển nền kinh tế tuần hoàn, Nhật Bản xây dựng ba chỉ số đo lường cấp quốc gia cơ bản. Cụ thể là chỉ số về tỷ lệ sử dụng hiệu quả tài nguyên tính trên GDP, chỉ số về tỷ lệ tái sử dụng vật liệu trên tổng số vật liệu được sử dụng trong nền kinh tế, và chỉ số đo lường số lượng rác thải cuối cùng được chôn lấp vào môi trường.

Bên cạnh các chỉ số quốc gia này, Nhật Bản còn bổ sung một loạt các chỉ số cụ thể theo từng ngành và đôi khi theo các mục tiêu cụ thể để sử dụng nhằm đánh giá các hoạt động kinh tế cơ bản trong nền kinh tế tuần hoàn. Ví dụ như các chỉ số về quy mô thị trường cho thuê và số lượng hàng hóa cho thuê, số lượng bao bì tái sử dụng được bán ra trên thị trường, mức phí thu gom rác thải ở các địa phương…

b/ Kết hợp hài hòa hoạt động của các ngành công nghiệp cơ bản và hỗ trợ

Tương tự như ý tưởng của Stahel và Reday-Mulvey (1981), một số học giả Nhật phân chia mô hình kinh tế tuần hoàn của quốc gia này thành hai nhóm ngành chính có tên gọi là “ngành công nghiệp cơ bản” và “ngành công nghiệp hỗ trợ”. Theo đó, nhóm thứ nhất bao gồm các ngành công nghiệp tham gia vào quá trình khai thác nguyên liệu thô để sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm và xả thải ra môi trường. Nhóm hành thứ hai, là nhóm ngành thực hiện thu gom, vận chuyển, phân hủy, tái chế và xử lý an toàn chất thải.

Như vậy, đối với ngành công nghiệp cơ bản thì nhiệm vụ đặt ra là xử lý vấn đề môi trường của ngành, cụ thể là tập trung giảm thiểu việc xả thải chất gây ô nhiễm ra môi trường thông qua phát triển các quy trình sản xuất sạch hơn nhằm cung cấp các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ thì nhiệm vụ trọng tâm là tập trung vào phát triển hoạt động xử lý chất thải và các doanh nghiệp chuyên tái chế và tái sử dụng. Việc kết hợp thực hiện cả hai nhiệm vụ chính của hia nhóm ngành nói trên sẽ tạo thành một giải pháp toàn diện cho Nhật Bản để có thể sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt các vấn đề môi trường là hậu quả trực tiếp của quá trình khai thác, sản xuất, tiêu thụ và xả thải của nền kinh tế Nhật Bản.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.