Việt Nam trước rủi ro về “cú sốc kinh tế” sau khi FED tăng mạnh lãi suất?


Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) ngày 15/6 công bố tăng lãi suát thêm 0,75%, mức tăng cao nhất trong gần 30 năm qua để kiềm chế lạm phát. Đài BBC dẫn ý kiến chuyên gia kinh tế cho rằng lạm phát đã trở thành một vấn đề cấp bách tại Mỹ, tác động tới bức tranh chính trị, khi tâm lý của không ít người dân kém đi vì giá xăng và thực phẩm gia tăng. Nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, đây sẽ là một cú sốc lớn đối với kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Lo ngại lạm phát ở Mỹ

Tỷ lệ lạm phát ở Mỹ trong tháng 5 vừa qua là 8,6%, cao nhất trong khoảng bốn thập niên trở lại đây. Chủ tịch FED, ông Jerome Powell cho rằng “điều cần thiết là giảm tỷ lệ lạm phát”. Ông cũng thừa nhận mức tăng 0,75% là “cao bất thường”. Dự kiến, có thể có những đợt tăng tiếp theo trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang phải đối mặt với nhiều bất ổn.

Các dự báo được công bố sau cuộc họp của FED ngày 15/6 cho thấy lãi suất cho vay tại Mỹ có thể tăng lên mức 3,4% vào cuối năm nay. Khi lãi suất cho vay cao hơn sẽ khiến đồng USD đắt giá hơn. Tính từ đầu năm đến nay, giá USD đã tăng 10% khiến các quốc gia khác, đặc biệt là các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, hiện đang gánh nhiều khoản nợ tính bằng USD, chịu nhiều áp lực.

Bất lợi cho Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế và tài chính ngân hàng cho rằng có sự lo ngại về khả năng trong những năm tới, nền kinh tế Mỹ sẽ rơi vào trạng thái vừa lạm phát, vừa phát triển chậm lại.

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, nhiều người đang rất lo sợ việc tăng lãi suất này sẽ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ, thậm chí có thể khiến nền kinh tế Mỹ suy thoái. Đây sẽ là cú sốc không những cho Mỹ mà toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Giá trị đồng USD tăng khiến tỷ giá hối đoái giữa USD và VND cũng tăng, giá trị VND giảm. Về mặt xuất khẩu thì có lợi cho Việt Nam nhưng sẽ rất bất lợi cho nhập khẩu.

Đặc biệt, cách đây vài ngày, Bộ Tài chính Mỹ cũng đưa Việt Nam vào danh sách giám sát tiền tệ, dù chưa phải là quốc gia thao túng tiền tệ. Việt Nam phải cẩn trọng vì trong thời gian, khi tỷ giá USD-VND tăng thì Mỹ có thể dựa vào đó để tăng cường theo dõi tiền tệ. Và nếu bị rơi vào danh sách các quốc gia thao túng tiền tệ, điều này sẽ rất bất lợi cho Việt Nam vì Mỹ có thể có các biện pháp trừng phạt kinh tế sau đó”.

Khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái tại thời điểm này ít nhất là 60% – một tỷ lệ rất cao. Nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái và lạm phát cao, Việt Nam sẽ bị tác động rất mạnh. Vì Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, do đó, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ giảm. Lạm phát tại Mỹ tăng khiến giá cả hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ sẽ tăng lên, giá cả trong nước cũng sẽ tăng, dẫn đến lạm phát tăng, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm.

Việc FED tăng lãi suất rất mạnh tay có thể nói là gây bất lợi nhiều hơn là có lợi cho Việt Nam. Chính phủ và các nhà kinh tế tại Việt Nam phải có những biện pháp chống đỡ nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái”.

Dự kiến, các nước ở châu Âu sẽ tăng lãi suất sau Mỹ, đồng thời áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, và khi đó, Việt Nam sẽ đối mặt thêm nhiều khó khăn. Trước mắt, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ bị tác động. Đây là dấu hiệu khủng hoảng trước mắt, một kịch bản xấu cho Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh: “Ngay từ bây giờ, Việt Nam nên có kế hoạch đối phó. Thị trường chứng khoán ở Việt Nam trước mắt có thể bị tác động như việc trái phiếu Mỹ tăng giá trị sẽ khiến nhà đầu tư nước ngoài rút tièn khỏi thị trường Việt Nam và đầu tư vào Mỹ”.

Nguồn: TKNB – 20/06/2022

Việt Nam – mối lo đối với Trung Quốc về thị phần sản xuất?


Theo trang PingWest  của Trung Quốc ngày 30/5, VIệt Nam gần đây đã “gây sốc” với con số đáng kinh ngạc: Trong tháng 3/2022, xuất khẩu của Việt Nam đạt 34,7 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2021, trong khi xuất khẩu của Thâm Quyến (thành phố xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc) chỉ đạt 18,9 tỷ USD, giảm 14%. Sự tăng trưởng “bùng nổ” của Việt Nam khiến những người chứng kiến quá trình cải cách và mở cửa của Trung Quốc phải bất ngờ. Liệu vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu có phải mối lo đối với Trung Quốc?

Các sản phẩm “Made in China” phổ biến trên thị trường toàn cầu đếu mức Trung Quốc được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”. Tuy nhiên, những gì xảy ra do tác động của đại dịch COVID-19 càng khiến nhiều quốc gia nhận ra mối nguy từ việc phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.

Ví dụ, không chỉ đối với thiết bị y tế và dược phẩm, mà đối với ngành công nghiệp ô tô, Pháp cũng như Mỹ đã phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Cải cách chuỗi cung ứng là một chủ đề “nóng” ở Nhật Bản. Trong bài phát biểu tại Đại học Việt – Nhật, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga cho biết “Nhật Bản sẽ hợp tác hơn nữa với ASEAN để tăng khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng và hỗ trợ các nền kinh tế ở châu Á chống chọi với khủng hoảng”.

Các tập đoàn lớn đang muốn mở rộng sản xuất ra bên ngoài Trung Quốc. Mới đây, tờ Wall Street Journal đưa tin các nhà thầu Trung Quốc sản xuất cho hãng Apple đang tìm đến Việt Nam, vốn là trung tâm sản xuất điện thoại thông minh cho tập đoàn Samsung.

Các yếu tố chủ yếu khác chi phối xu thế đa dạng hóa chuỗi cung ứng là việc Trung Quốc siết chặt phong tỏa chống COVID-19 thời gian gần đây và xung đột leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc cả về thương mại, công nghệ và địa chính trị. Rajiv Biswas, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại IHS Markit, tin rằng VIệt Nam đang nổi lên như một trong những trung tâm sản xuất mới của thế giới khi quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng tiến triển nhanh chóng.

Tuy nhiên, dù Việt Nam có nhiều khả năng trở thành một phần bổ sung cho chuỗi cung ứng của Trung Quốc hơn là một đối thủ cạnh tranh, nhưng Trung Quốc phải tăng cường chuẩn bị cho một tương lai cạnh tranh hơn.

Các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam cũng đang nỗ lực biến Việt Nam trở thành lựa chọn đầu tư an toàn, hấp dẫn và tiềm năng cao cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong quý I/2022, cả nước nhận được 4,42 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng 7,8% so với quý trước.

Những thành tựu này là “bàn đạp” để Việt Nam hướng tới cạnh tranh với các nước trong khu vực về các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao. Chính phủ đã thực hiện một số kế hoạch, gồm chiến lược giáo dục và đào tạo nghề 2021 – 2030 và Quyết định 17 về hỗ trợ đào tạo nghề, nhằm đào tạo thêm lao động có tay nghề và nhân tài công nghệ thông tin cho các ngành công nghiệp cao cấp hơn.

Trong chuyến thăm Mỹ mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã gặp gỡ các công ty công nghệ “nặng ký” ở Thung lũng Silicon như Apple và Intel, cố gắng “lôi kéo” họ thành lập các cơ sở sản xuất tại Việt Nam.

Dù vậy, Trung Quốc không nên quá lo lắng về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian gần đây. Momentum Wokrs, một công ty đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Singapore, nhận định: “Việt Nam nhiều khả năng trở thành một phần mở rộng trong mạng lưới cung ứng của Trung Quốc hơn là một đối thủ. Với dân số và nền kinh tế nhỏ hơn tỉnh Quảng Đông, Việt Nam khó có thể trở thành chuỗi cung ứng toàn diện như Trung Quốc”.

Việc Trung Quốc siết chặt phong tỏa là bằng chứng cho thấy các sản phẩm “Made in Vietnam” gắn bó chặt chẽ với chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Bằng chứng là những nỗ lực kiểm soát dịch COVID-19 nghiêm ngặt tại một số cửa khẩu biên giới Trung – Việt đã dẫn đến tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng và hạn chế dòng chảy của một số sản phẩm.

Trung Quốc là nhà cung cấp hàng đầu của Việt Nam về thép, bảng mạch, máy móc thiết bị và nguyên liệu cho ngành may mặc và da giày. Hãng Bloomberg dẫn lời ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội dệt may thêu đan TPHCM đầu tháng 5 cho biết vấn đề thiếu nguyên liệu đã ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu của tất cả các nhà máy may mặc.

Tuy nhiên, việc tổ chức lại chuỗi cung ứng toàn cầu không phải là quá trình đơn giản và đại dịch COVID-19 chứng minh rằng Trung Quốc và các nền kinh tế lớn trên thế giới liên kết chặt chẽ và khó có thể tách rời như thế nào. Bất kỳ sự chuyển đổi thực sự nào cũng có thể mất nhiều năm.

Sản xuất, đặc biệt là các ngành thâm dụng lao động, chắc chắn sẽ chuyển đến các thị trường mới nổi khác với chi phí lao động thấp hơn. Do đó, Trung Quốc phải giải quyết tình trạng mất việc làm do chuyển giao công nghiệp. Trong khi đó, Việt Nam phải duy trì lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng cấp cao để đảm bảo tăng trưởng dài hạn vì các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam tập trung nhiều hơn vào nâng cấp sản xuất.

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

Việt Nam đang thực hiện một cuộc cách mạng rất khác


Theo trang CDO Trends ngày 30/5, có thời điểm các hoạt động sản xuất phải chuyển đến địa điểm mới, nơi có chi phí vận hành và nhân công rẻ hơn. Đây từng là yếu tố nền tảng thúc đẩy bước tiến đáng kể của Trung Quốc hồi đầu thế kỷ này. Tuy nhiên, những năm gần đây, yếu tố này lại phát huy với Việt Nam, trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh lĩnh vực sản xuất, chế tạo. Dường như có một điểm khác biệt mới: VIệc triển khai các quy trình và công nghệ nhà máy thông minh – một lần nữa, VIệt Nam lại đi đầu.

Đặt nền tảng thông minh

Việt Nam có sân bay quốc tế, cảng biển, cơ sở hạ tầng đường sắt nội bộ, người dân cần cù và có học thức. Năm 2020, lĩnh vực chế biến và chế tạo chiếm 58% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và hiện đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế cũng như mục tiêu tăng trưởng bền vững 7%/năm đến năm 2025.

Việt Nam cũng hiểu rõ tầm quan trọng của kết nối và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số. Năm 2022 được lấy là năm quan trọng để triển khai dịch vụ 5G cho quốc gia này, với nhà cung cấp Ericsson – một công ty công nghệ có tên tuổi ở châu Âu.

Ericsson ước tính rằng hơn 2/3 số nhà sản xuất trên thế giới sẽ chuyển đến châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2025, trong đó Việt Nam là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất. Ericsson dự báo doanh thu 5G trên toàn quốc sẽ đạt 1,54 tỷ USD vào năm 2030, với lĩnh vực chế tạo là đầu tàu: “Đây là cách duy nhất để bảo tồn các nguồn lực trong khi vẫn phát triển kinh doanh một cách hiệu quả”.

Việc triển khai các nhà máy thông minh cũng cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ trong chiến lược xây dựng quốc gia. Chính phủ đã hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận chuyển đổi số. Ngoài ra, các nhà máy thông minh cũng là tâm điểm của diễn đàn công nghiệp 4.0 lần thứ ba được tổ chức tại Việt Nam vào cuối năm ngoái, với chủ đề là “phát triển sản xuất thông minh trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tầm nhìn đến năm 2045”.

Samsung là nhà đầu tư chính

Đầu năm nay, chính phủ đã ký thỏa thuận với tập đoàn điện tử khổng lồ Samsung của Hàn Quốc, xây dựng một dự án nhà máy có tính đổi mới tại tỉnh Vĩnh Phúc để hỗ trợ 14 nhà cung cấp trong nước. Samsung đầu tư thêm 920 triệu USD vào Việt Nam, bổ sung vào 8 cơ sở của hãng tại Việt Nam, bao gồm 6 nhà máy sản xuất, một trung tâm R&D và một cơ sở bán hàng.

Ngoài việc giúp đào tạo 100 chuyên gia Việt Nam, dự án trên còn được coi là “chất xúc tác” giúp 50 doanh nghiệp Việt Nam mở các nhà máy thông minh vào năm 2022 và 2023. Không những thế, dự án “được kỳ vọng sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất”.

Một công ty Hàn Quốc khác đang tham gia các dự án nhà máy thông minh tại Việt Nam là tập đoàn sản xuất Dongwha Enterprise, đã giới thiệu nền tảng nhà máy thông minh tại nhà máy ở TPHCM, và có kế hoạch triển khai ở Hà Nội vào cuối năm nay.

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là “chìa khóa”

Mặc dù các doanh nghiệp toàn cầu lớn có thể giúp thúc đẩy nhà máy thông minh của Việt Nam, nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) của Việt Nam mới cần phải nâng cao kỹ năng và nắm bắt các công nghệ mới để tầm nhìn trở thành hiện thực.

SME là trọng tâm trong Chiến lược quốc gia Việt Nam về cách mạng công nghiệp lần thứ tư, được đề ra trong Nghị quyết số 52 đầy tham vọng, theo đó, đến năm 2025, “Internet băng thông rộng sẽ phủ sóng 100% số xã và đến năm 2030, mạng di động 5G sẽ bao phủ cả nước; mọi công dân sẽ có quyền truy cập Internet băng thông rộng với chi phí thấp”.

Để đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh cũng như một trong những trung tâm khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo hàng đầu ở châu Á, Việt Nam sẽ phải đề ra một số nguyên tắc chỉ đạo, theo đó, trước khi xác định giáo dục, đào tạo và các chương trình nghiên cứu chính về các công nghệ ưu tiên, phải tập trung vào công nghệ thông tin và truyền thông, cơ điện, công nghệ mới trong lĩnh vực năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, điện tử y sinh.

Tập đoàn sản xuất nội thất Xuân Hòa JSC gần đây đã được giới thiệu trên một ấn phẩm của chính phủ, với việc công ty đang thúc đẩy quá trình chuyển đổi kỹ thuật số. Người phát ngôn của công ty cho biết: “Chúng tôi sẽ dần dần số hóa quy trình của mình để hướng tới xây dựng một nhà máy thông minh với nhiều loại sản phẩm. Đây là cách duy nhất để chúng tôi bảo tồn các nguồn lực trong khi vẫn phát triển hiệu quả hoạt động kinh doanh”.

Vì vậy, có thể nói, nếu như trong thế kỷ 20, Việt Nam được biết đến nhiều nhất với cuộc cách mạng dân tộc chống lại sự thống trị của thực dân Pháp, thì trong thế kỷ 21, Việt Nam đang thực hiện một cuộc cách mạng rất khác, hòa bình hơn, nhưng cũng có tham vọng cao, đó là xây dựng sự giàu có và an sinh cho người dân.

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

Sau COP26, Việt Nam có thể vực dậy năng lượng sạch?


Trang South China Morning Post của Hong Kong ngày 8/5 đăng bài cho rằng ngành năng lượng mặt trời của Việt Nam tăng trưởng mạnh, song chính sách chậm trễ đang khiến các nhà đầu tư lo lắng. Kinh nghiệm của Trung Quốc có thể mang lại bài học kinh nghiệm, song Hà Nội vẫn cảnh giác với việc để nhà đầu tư Trung Quốc tham gia các dự án được coi là quan trọng đối với an ninh quốc gia.

5 năm kể từ khi Hà Nội triển khai các chính sách khuyến khích sản xuất năng lượng mặt trời và năng lượng gió – đóng góp khoảng 1/10 tổng sản lượng điện vào cuối năm 2021, ngành công nghiệp này hiện đang đi vào bế tắc. Việt Nam chủ yếu dựa vào thủy điện, than và khí đốt tự nhiên để sản xuất điện. Việt Nam nhập khẩu than và từ năm nay sẽ nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Việt Nam cũng nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc.

Zhou Xizhou, chuyên gia lĩnh vực năng lượng đang làm việc tại S&P Gobal, cho biết nhu cầu điện của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong thời kỳ hậu đại dịch và ước tính mức tăng trung b2inh sẽ là 5% mỗi năm cho đến năm 2030.

Tình trạng lấp lửng

Tháng 01/2022, Bộ Công Thương đề xuất tạm dừng phê duyệt đầu tư đối với các dự án điện mặt trời và điện gió chưa được thực hiện. Các nhà phát triển năng lượng mặt trời và năng lượng gió cho rằng họ bị nhà nước “bỏ rơi” với tương lai không rõ ràng về các kế hoạch mua điện và băn khoăn liệu họ có nên tiếp tục kinh doanh hay không.

Giám đốc một công ty Đài Loan đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo ở châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ cho biết việc thiếu khả năng dự đoán gây khó khăn cho các nhà đầu tư: “Giữa các lần thông báo về chính sách mới, có khoảng trống chính sách kéo dài hàng tháng hoặc hơn một năm”. Ví dụ, biểu giá điện hỗ trợ (FIT) cho các dự án năng lượng mặt trời quy mô lớn chỉ vừa mới được công bố vào tháng 4/2020 – 10 thág sau khi các mức giá trước đó hết hạn. FIT cho các nhà phát triển thời hạn chỉ 8 tháng để hoàn thành các dự án trong bối cảnh chuỗi cung ứng bị gián đoạn do đại dịch COVID-19. Không rõ điều gì sẽ xảy ra nếu họ bỏ lỡ thời hạn.

Bài học, đầu tư từ Trung Quốc?

Liu Huan, Tổng giám đốc công ty con tại Việt Nam của Sungrow Power Supply,  một công ty năng lượng tái tạo niêm yết tại Thâm Quyến, cho biết tình hình hiện tại – với nhiều dự án cơ sở hạ tầng hỗ trợ – là điều dễ hiểu: “Chính quyền trung ương và địa phương phê duyệt nhiều đề xuất hơn mức lưới điện có thể hỗ trợ vì họ không thể biết dự án nào cuối cùng sẽ được xây dựng”.

Ông tin rằng điều này sẽ được cải thiện khi các cơ quan chức năng của Việt Nam có thêm kinh nghiệm trong việc xử lý các dự án năng lượng tái tạo. Ông Liu Huan lấy ví dụ về bài học từ Trung Quốc – quốc gia đã thúc đẩy đáng kể việc sản xuất điện gió và mặt trời thông qua FiTs từ năm 2009: “Qua nhiều năm phát triển năng lượng tái tạo, nhà chức trách nhận thức được mức độ tin cậy của từng doanh nghiệp địa phương và thị trường đã dần loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ hơn và có vấn đề”.

Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng Xanh (CEGR) – tổ chức nghiên cứu và tư vấn phi lợi nhuận có trụ sở tại Hà Nội, cho biết Bộ Công thương hiện đang xây dựng quy hoạch phát triển điện mới gọi là Quy hoạch điện 8 (QHĐ 8), theo đó, vạch ra kế hoạch phát triển điện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo ông: “Bộ đang giới thiệu các công cụ mô hình hiện đại để phát triển QHĐ 8”. QHĐ 8 sẽ phân tích kỹ lưỡng việc tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo như gió và mặt trời vào lưới điện quốc gia. Tuy nhiên, ông Sơn chỉ ra rằng: “Việt Nam chưa có phòng thí nghiệm quốc gia nào có thể thực hiện những nghiên cứu phức tạp như Phòng thí nghiệm năng lược tái tạo quốc gia (NREL) hay Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley ở Mỹ. NREL có siêu máy tính của riêng mình và do đó có thể tiến hành mô phỏng hệ thống điện quốc gia trong vòng vài ngày. Nếu không có năng lực như vậy, chính phủ VIệt Nam cần tới tuần hoặc vài tháng để hoàn thành công việc đó. Do đó, nhà quy hoạch điện của Việt Nam cần tạm thời cắt bỏ việc phê duyệt dự án để tiến hành phân tích tình huống cơ sở”.

Bà Vũ Chi Mai, Trưởng bộ phận năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng tại Cơ quan hợp tác quốc tế Đức, cho biết Tập đoàn điện lực Việt Nam và chính phủ đã chủ động giải quyết vấn đề bằng cách đề xuất các thay đổi pháp lý để cho phép các nhà phát triển tư nhân đầu tư vào mạng lưới truyền tải điện. Những người trong ngành cho biết Chính phủ Việt Nam có thể sẽ thận trọng với các nhà đầu tư Trung Quốc do những cẳng thẳng về lãnh thổ và lịch sử giữa hia bên.

Một nhà quản lý của công ty Trung Quốc tham gia lĩnh vực năng lượng mặt trời và năng lượng gió của Việt Nam cho biết việc thúc đẩy các dự án điện gần bờ biển hoặc biên giới quốc gia rất “rắc rối” hoặc thậm chí là các dự án quy mô lớn vì tính nhạy cảm song phương. Ông cho biết nếu căng thẳng leo thang, những điều này có thể ảnh hưởng đến các quy trình xoay quanh dòng tiền và đầu tư xuyên biên giới.

Giám đốc CEGR Hà Đăng Sơn cho biết với bản chất của quá trình chuyển đổi năng lượng sạch, việc trì hoàn có thể là cần thiết để đưa ra các quyết định chính sách sáng suốt hơn: “Chúng ta phải kiên nhẫn. Quá trình chuyển đổi năng lượng đi kèm với rất nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là với năng lực của các nhà lập kế hoạch và sự phối hợp của chính phủ”.

Nguồn: TKNB – 11/05/2022

Tương lai tươi sáng cho công nghiệp chuỗi khối tại Việt Nam


Trang Globe Newswire, có trụ sở tại Mỹ, ngày 30/3 đăng bài nhận định công nghệ chuỗi khối (blockchain) đang bùng nổ tại Việt Nam, đồng thời đánh giá tiềm năng của ngành công nghệ này trong 5 đến 10 năm tới.

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tham dự Vietnam Blockchain Expoverse, tổ chức tại Dubai (Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất – UAE) ngày 27/03/2022. Sự kiện này là cơ hội cho những người đam mê blockchain và các công ty chia sẻ kinh nghiệm cũng như quan điểm về tầm nhìn, tiềm năng, thách thức và các ứng dụng công nghệ của blockchain.

Blockchain đang bùng nổ ở Việt Nam

Bà Gwendolyn Regina, Giám đốc đầu tư của quỹ BNB Chain, cho biết Binance Chain có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng trong năm 2021. Công nghệ chuỗi khối đã được áp dụng rộng rãi, đặc biệt là đối với Defi (tài chính phi tập trung – hình thức tài chính dựa trên blockchain).

Ông James Wo, Giám đốc điều hành của Tập đoàn DFG, đồng quan điểm rằng cấu trúc của mạng Layer 1 sẽ còn vững chắc hơn nữa.

Bà Nicole Zhang, Giám đốc Binance Labs, chia sẻ rằng các dự án Web2 sẽ chuyển trọng tâm sang Web3.

Ông Trần Dinh, một nhà đầu tư và nghiên cứu blockchain giàu kinh nghiệm, kiêm CEO của AlphaTrue – công ty Việt Nam chuyên về các sản phẩm blockchain, khẳng định: “Việt Nam có nguồn nhân lực và công nghệ dồi dào và một cộng đồng blockchain lớn”. Theo ông Trần Dinh, hai lợi thế khiến Việt Nam trở thành mảnh đất tiềm năng cho các dự án blockchain gồm:

+ Sự lựa chọn đa dạng và chi phí thấp. Chi phí thuê nhân tài và quản lý dự án ở Việt Nam là khả năng cạnh tranh và có nhiều sự lựa chọn.

+ Khả năng mở rộng: Theo dữ liệu từ Stalin, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có nhiều tiền điện tử nhất. Điều quan trọng là phát triển các dự án tại Việt Nam để có được sự tin tưởng và chấp nhận từ cộng đồng.

Tiềm năng của chuỗi khối trong 5 – 10 năm tới

Cũng theo ông Trần Dinh, tương lai của Web3 và blockchain sẽ chiếm ưu thế: mã hóa và phân quyền dữ liệu, công nghệ blockchain và quyền lực trong tay người dùng. Nó sẽ tập trung hơn vào bảo mật trực tuyến, sở hữu trí tuệ và cá nhân của người dùng.

Hơn nữa, bà Gwendolyn Regina chia sẻ rằng sự giao thoa của Defi, GameFi, và NFT sẽ xuất hiện trong 5 năm tới. Token sẽ là tài sản dài hạn có giá trị trong tương lai thay vì chỉ là tiền tệ hoặc phương tiện giao dịch.

James Wo dự báo công nghệ blockchain sẽ còn phổ biến hơn nữa, với thị trường mở rộng gấp 10 lần. Số lượng người dùng sẽ nhiều như số lượng người sử dụng Internet.

Bà Lynn Hoàng, Giám đốc Binance Đông Nam Á, đánh giá: “Việt Nam sẽ sớm trở thành nước tiên phong trong ngành blockchain toàn cầu. Việt Nam nằm trong top 10 trên Binance về các dự án và sản phẩm blockchain đầy tham vọng thu hút sự chú ý từ cộng đồng thế giới”.

Tuy nhiên, ông Trần Dinh khuyến cáo chặng đường phía trước còn nhiều thử thách, rất cần sự giúp đỡ, hỗ trợ của Chính phủ và các tập đoàn lớn. Theo ông, ba thách thức chính ở Việt Nam gồm:

+ Nguồn nhân lực: Không có nhiều chuyên gia về blockchain ở Việt Nam. Hầu hết các chuyên gia hiện nay đều xuất phát từ nền tảng phát triển trò chơi và ứng dụng.

+ Cơ sở hạ tầng: Tại Việt Nam, các tập đoàn đang tập trung nhiều hơn vào phát triển ứng dụng, đồng nghĩa với việc hạn chế về cơ sở hạ tầng để phát triển các dự án blockchain.

+ Chính sách: Nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa tiếp cận được nhiều chính sách mới liên quan đến blockchain.

Binance cũng đang nỗ lực thúc đẩy sự phát triển của blockchain tại Việt Nam. Bà Lynn Hoàng chia sẻ: “Chúng tôi quan tâm đến việc tận dụng kiến thức của cộng đồng về blockchain. Chúng tôi khoanh vùng ít nhất 300 bài học miễn phí, từ cấp độ cơ bản đến nâng cao về chủ đề này cho tất cả mọi người”. Chuyên gia này lạc quan rằng nhiều tài năng blockchain đang trở lại Việt Nam và hy vọng Việt Nam sẽ được biết đến với hệ sinh thái blockchain bền vững trong tương lai.

Nguồn: TKNB – 01/04/2022

Việt Nam có phải là “điểm sáng” về rừng trên thế giới?


Theo đài RFA, nhân ngày Quốc tế về rừng 21/3, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Phạm Văn Điển cho rằng Việt Nam là “điểm sáng” kh thế giới nói về rừng.

Theo Phó Tổng cục trưởng Phạm Văn Điển, các hoạt động của Việt Nam như “gỗ bền vững vì con người và hành tinh”, “rừng vì sự bình và thịnh vượng”, “rừng sinh kế bền vững”… đang được triển khai cùng các đối tác quốc tế, có triển vọng mang lại tác động tích cực, được địa phương và cộng đồng quốc tế ủng hộ và coi Việt Nam là một trong những điểm sáng khi thế giới nói về rừng.

Ông Nguyễn Huỳnh Thuật, thạc sĩ lâm nghiệp Đại học quốc gia TPHCM, thạc sĩ môi trường quốc tế và phát triển cộng đồng Đại học Nông nghiệp và Công nghệ Tokyo (Nhật Bản) cho biết: “Khi đi họp ở Khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Trung Quốc, tôi có chia sẻ và các chuyên gia cũng đồng ý, trong thư gửi Chủ tịch nước về việc không những rừng Việt Nam mà bao gồm các giá trị văn hóa bản địa như cộng đồng địa phương bảo vệ rừng như thế nào, Việt Nam chưa có những người tâm huyết cũng như chính sách để khuyến khích những người dân sống ở vùng rừng, mà chúng ta lại tách họ ra khỏi rừng. Ví dụ rừng quốc gia Cát Tiên có những dự án tốn rất nhiều tiền của chính phủ Hà Lan, nhưng lại không vận dụng được để người dân ở trong rừng cùng mình bảo vệ rừng”.

Theo ông Nguyễn Huỳnh Thuật, người dân là một nhân tố bảo vệ rừng, nhưng chính phủ lại đẩy ra khỏi rừng, đó là một chính sách thất bại. Về hiện trạng phá rừng ở Việt Nam, ông Nguyễn Huỳnh Thuật cho rằng: “Tỷ lệ phá rừng ở Việt Nam, đặc biệt là những năm gần đây, vừa do chính sách thay đổi từ rừng tự nhiên sang rừng cao su, vừa do phá rừng để làm thủy điện… quan trọng nhất là do dân trí và quan trí. Khi nào dân trí và quan trí được nâng tầm, coi rừng với thiên nhiên là cuộc sống của mình và không còn tách biệt, khi đó chúng ta mới biết cách bảo vệ rừng. Bây giờ, thủy điện mọc tràn lan, ngoài thủy điện thì còn hy sinh rừng để làm đường sá và các công trình khác. Chúng ta vừa mất rừng bằng chính sách và vừa mất rừng vì người dân, nhưng mất rừng bằng chính sách nguy hiểm hơn”.

Với khái niệm “quản lý rừng bền vững”, ông Phạm Văn Điển cho rằng Việt Nam đang nỗ lực hiện thực hóa ý tưởng đa dạng hóa nguồn thu từ rừng. Từ nguồn thu ban đầu là gỗ, củi do khai thác rừng tự nhiên, đã chuyển sang đóng cửa rừng tự nhiên. Sau đó, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ rừng trồng và gỗ nhập khẩu đã đạt 15,87 tỷ USD vào năm 2021.

Sau hơn 3 năm chính phủ ra lệnh đóng cửa rừng tự nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn báo cáo tình trạng mất rừng có giảm, nhưng các vụ vi phạm vẫn diễn ra. Cụ thể, tình trạng phá rừng, chế biến, kinh doanh lâm sản trái phép vẫn diễn ra ở một số địa phương.

Theo một bài viết ngày 2/2/2022 trên trang Mongabay, chuyên đưa tin trong lĩnh vực bảo tồn và môi trường trên thế giới, số lượng lớn gỗ cứng nhiệt đới từ các điểm nóng về phá rừng trên thế giới như Campuchia, Lào, Cameroon, Gabon, Papua New Guinea… vẫn tiếp tục được tuồn vào các cửa khẩu Việt Nam, bất chấp quy định mới mà Hà Nội đã ký với EU năm 2018 và được đưa vào áp dụng năm 2020.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu tại Đại học Cần Thơ ngày 22/3 cho rằng, dù mật độ phủ rừng ở Việt Nam có tăng, nhưng rừng tự nhiên lại suy giảm nghiêm trọng: “Rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh của Việt Nam đang trong tình trạng suy giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, cũng được bù lại bằng rừng trồng và rừng sản xuất, nhưng nó không bù lại được những giá trị như rừng tự nhiên. Vì vậy, về vấn đề bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam, những người quản lý môi trường sinh thái phải lưu ý chuyện này. Chính phủ có một số chiến lược khôi phục lại rừng, nhưng kết quả rất hạn chế”.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn giải thích về việc khôi phục rừng không đạt kết quả như mong muốn: “Rừng trồng không thể nào có giá trị như rừng tự nhiên, vì rừng trồng sau này sẽ khai thác. Đối với rừng trồng, bộ rễ không thể phát triển như rừng tự nhiên và giá trị đa dạng sinh học cũng không có. Rừng tự nhiên có rất nhiều loại cây, nhiều tầm phát triển khác nhau, bộ rễ đi rất sâu, có tác dụng rất lớn trong việc điều tiết lũ và kiểm soát tình trạng sạt lở. Do đó, rừng tự nhiên có giá trị rất lớn, ngoài giá trị kinh tế còn giá trị khác như du lịch, giáo dục… và còn giúp bảo vệ đất, nguồn nước, cũng như điều hòa khí hậu”.

Tại Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) diễn ra ở Glasgow, Scotland (Vương quốc Anh) ngày 2/11/2021, Việt Nam cùng với hơn 100 quốc gia đã cam kết chấm dứt nạn phá rừng vào năm 2030. Các quốc gia tham gia cam kết đại diện cho hơn 85% rừng toàn cầu, nhấn mạnh vai trò quan trọng và phụ thuộc lẫn nhau của các loại rừng, đa dạng sinh học và sử dụng đất bền vững trong việc giúp thế giới đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đi kèm những cam kết của chính phủ Việt Nam rất được thế giới ủng hộ, từ trung ương đến địa phương phải đưa ra một chương trình cụ thể để thực hiện cam kết. Việt Nam có nhiều cam kết rất tiến bộ, nhưng giải pháp đi kèm thường không cụ thể và thiếu tính mạnh mẽ trong thực thi, không có giải pháp cụ thể để thể hiện việc thực hiện cam kết với thế giới.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), phá rừng ở Việt Nam hiện vẫn là một trong những vấn nạn. Nguyên nhân mất rừng đến từ sự yếu kém và tham nhũng trong công tác bảo vệ rừng, sự thông đồng của các giới chứu hữu quan cũng như lực lượng kiểm lâm đã tiếp tay cho lâm tặc chặt phá rừng.

Nguồn: TKNB – 25/03/2022

Đã đến lúc Việt Nam xây dựng nền kinh tế xanh bền vững


Trang Asia Times (trụ sở tại Hong Kong) ngày 10/05 đăng bài của bà Kauujnni Wignaraja, Trợ lý Tổng thư ký Liên hợp quốc, và bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), chỉ ra tầm quan trọng của việc Việt Nam lập kế hoạch phát triển bền vững nền kinh tế xanh, đảm bảo các lợi ích mà đại dương mang lại cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.

Theo bài viết, ở Việt Nam, kinh tế biển và các tỉnh, thành phố ven biển chiếm gần một nửa GDP. Bao phủ hơn 3/4 hành tinh, các đại dương hấp thụ tới 30% lượng khí carbon do con người tạo ra – một vùng đệm lớn trước tác động của hiện tượng ấm lên toàn cầu.

Vai trò của đại dương và nền kinh tế xanh

Giống như không khí sạch và nước ngọt, đại dương là lợi ích công cộng toàn cầu. Không gì sánh được với đại dương với vai trò là một hệ sinh thái quan trọng và lớn nhất trên hành tinh. Hơn 3 tỷ người phụ thuộc vào các hệ sinh thái biển, ven biển và đa dạng sinh học để kiếm sống.

Nền kinh tế xanh toàn cầu – gồm dầu và khí đốt, nghề cá, du lịch biển và ven biển, vận tải biển, cảng, năng lượng tái tạo và các hệ sinh thái biển và ven biển – đóng góp khoảng 3000 tỷ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP của thế giới. Với bờ biển dài hơn 3000 km, kinh tế biển và các tỉnh, thành phố ven biển chiếm gần một nửa GDP của Việt Nam.

Tuy nhiên, các đại dương đang phải đối mặt với những mối đe dọa nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, mất oxy và nóng lên. Nếu không được kiểm soát, điều đó sẽ tác động tàn phá đối với cả cuộc sống dưới biển và cuộc sống trên đất liền, cuối cùng là sự tồn tại của con người và hành tinh của chúng ta.

Các đánh giá gần đây cho thấy mực nước biển dâng 1m sẽ ảnh hưởng đến 11% dân số Việt Nam và 7% diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của mực nước biển dâng, biến đổi khí hậu cuối cùng có thể khiến 38 – 46% dân số Việt Nam phải hứng chịu lũ lụt.

Ngoài ra, ô nhiễm đại dương, đặc biệt là rác thải nhựa, đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và sinh vật biển. Tại Việt Nam, ước tính khoảng 3,7 triệu tấn chất thải nhựa được tạo ra hàng năm, trong đó chỉ 10 – 15% được tái chế. Khoảng 2000 tấn rác thải nhựa từ trong nước rò rỉ ra đại dương mỗi ngày.

Là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu, Việt Nam quyết tâm đóng góp một phần vào công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu trên toàn cầu.

Tại Hội nghị COP26 ở Glasgow (Anh) tháng 11/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính cam kết Việt Nam sẽ đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Việt Nam hướng tới nền kinh tế xanh bền vững

Việt Nam đang xây dựng các kế hoạch mạnh mẽ để phát triển bền vững nền kinh tế xanh, đảm bảo các lợi ích mà đại dương mang lại có thể được bảo vệ, gìn giữ và cải thiện để cung cấp cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.

Đây sẽ là chìa khóa quan trọng nếu Việt Nam đạt được Mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030. Tháng 4 vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI) làm việc với các đối tác để xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho kinh tế biển.

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đang hỗ trợ VASI xác định 6 ngành kinh tế biển và hình dung tiềm năng của nền Kinh tế Xanh của đất nước bằng cách đánh giá sự đóng góp của các ngành này đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Các dự án khác của UNDP trong nước, như quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICM) – kết hợp quản lý các hoạt động của con người với bảo vệ hệ sinh thái quan trọng – hỗ trợ phát triển bền vững, gồm quản lý vùng biển và ven biển, lưu vực sông và các hệ sinh thái liên quan khác.

Trong khi Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng về đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, cũng như phát triển năng lượng tái tạo – đặc biệt là gió ngoài khơi và các dịch vụ hệ sinh thái đa dạng sinh học và du lịch – điều cốt yếu là phải cân bằng sự tăng trưởng của các lĩnh vực liên kết chặt chẽ này, vì sự phát triển của một ngành có thể tác động đến những ngành khác.

Vì lý do này, cần có quy hoạch không gian biển quốc gia mạnh mẽ và toàn diện, gồm cả quy hoạch tổng thể vượt qua ranh giới cấp tỉnh, có thể giúp Việt Nam tập trung ưu tiên đầu tư công và khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào các dự án sử dụng công nghệ xanh phát thải carbon thấp, các lĩnh vực như năng lượng gió và thủy triều ngoài khơi, công nghiệp, giao thông vận tải và du lịch biển.

Việc thúc đẩy các giải pháp dựa vào thiên nhiên vẫn là điều cần thiết, đặc biệt khi biến đổi khí hậu đang diễn ra với tốc độ và quy mô cao hơn dự đoán, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái. Chỉ cần một chút chậm trễ, những kế hoạch và hành động này có thể là quá muộn.

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể và đáng ghi nhận trong việc thiết lập một hệ thống khu bảo tồn toàn diện, cho đến nay là 16 khu vực biển như phá Tam Giang – Cầu Hai ở miền Trung.

Khoảng 12 triệu ha đất ngập nước trên toàn quốc cung cấp nguồn sinh kế chính và thu nhập bổ sung cho khoảng 20 triệu người, đóng vai trò là vùng đệm chống triều cường và bể chứa carbon, đồng thời ngăn chặn xâm nhập mặn.

UNDP đang hỗ trợ phục hồi và tái sinh 4000 ha rừng ngập mặn ven biển để bảo vệ các cộng đồng dễ bị tổn thương và sinh kế.

Điều quan trọng là thúc đẩy bình đẳng giới và tăng cường vai trò của phụ nữ, dân tộc thiểu số cũng như các nhóm dễ bị tổn thương khác trong nền kinh tế xanh, gồm cơ hội trong các hoạt động liên quan đến biển, để hiện thực hóa tiềm năng kinh tế và xã hội của họ, đồng thời cho phép họ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tăng cơ hội cống hiến.

Cần đảm bảo rằng phát triển kinh tế không ảnh hưởng đến đại dương là điều cơ bản để bảo vệ nền kinh tế xanh. Đây là thách thức không chỉ đối với chính phủ và người dân Việt Nam, mà đối với cả thế giới.

(còn tiếp)

Nguồn: TKNB – 12/05/2022

Cơ hội thúc đẩy thương mại Việt – Nga


Truyền thông Nga đưa tin về hoạt động xuất-nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian gần đây, nhấn mạnh cơ hội thúc đẩy giao thương giữa hai nước.

Ngày 27/4, phát biểu tại hội nghị chiến lược “Không phụ thuộc vào nhập khẩu” tại thành phố Novosibirsk (LB Nga), ông Yuri Boyko, Giám đốc phát triển dự án nền tảng kỹ thuật số giáo dục Dnevnik.ru cho biết đang tiến hành các cuộc đàm phán để xuất khẩu phần mềm giáo dục sang Việt Nam: “Chúng tôi đang đàm phán với một số quốc gia để thực hiện quyết định của mình, bao gồm cả các tổ chức giáo dục của những quốc gia này. Các cuộc đàm phán đang được tiến hành với Cộng hòa Dân chủ Congo, với Việt Nam và một số quốc gia. Chúng tôi quan tâm đến việc xuất khẩu năng lực của mình. Nền tảng ban đầu đã sẵn sàng để triển khai ở bất kỳ quốc gia nào, chúng tôi sẵn sàng hiện đại hóa hệ thống của mình để đáp ứng các yêu cầu của hệ thống giáo dục của mỗi nước”.

Lãnh đạo doanh nghiệp Nga không tiết lộ thông tin về đối tác Việt Nam đang tiến hành đàm phán với công ty, nhưng nhấn mạnh tiềm năng của nền tảng giáo dục kỹ thuật số của mình. Theo ông Boiko, chương trình phần mềm ứng dụng Dnevnik.ru được cung cấp cho gần 42.000 trường học ở Liên bang Nga, Kazakhstan và Uzbekistan. Chương trình bao gồm nhật ký và nhật ký kỹ thuật số, hệ thống ghi danh vào các trường học và mẫu giáo, cùng các hệ thống khác.

Dnevnik.ru là một nền tảng giáo dục kỹ thuật số miễn phí dành cho các tổ chức giáo dục sử dụng cho người dùng Nga. Hệ thống cung cấp cho người dùng quyền truy cập suốt ngày đêm vào điểm số, lịch trình và bài tập về nhà. Hầu hết các trường học ở Nga, tất cả các trường học ở Kazakhstan và Uzbekistan, hơn 918.000 giáo viên, 9 triệu học sinh và 5,2 triệu phụ huynh đã đăng ký sử dụng ứng dụng Dnevnik.ru.

Trong một diễn biến khác, cùng ngày 27/4, trang mạng Vetandife.ru dẫn nguồn Cơ quan giám sát và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Nga, cho biết cơ quan chức năng Việt Nam đã mở rộng danh sách các nhà sản xuất Nga và danh sách các sản phẩm thịt cung cấp cho Việt Nam.

Theo thông báo trên, Cục Thú y thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã chấp thuận thêm cho 2 doanh nghiệp Nga sản xuất thị gia cầm để cung cấp cho thị trường trong nước Việt Nam và cho phép thêm một công ty nhập khẩu vào Việt Nam không chỉ thịt lợn được phép sử dụng trước đây, mà còn cả thịt bò.

Hiện có 57 công ty của Nga được quyền cung cấp thịt và nội tạng gia súc cho Việt Nam. Danh sách các doanh nghiệp này có thể được tìm thấy trên trang web chính thức của Cục Thú y.

Đầu tháng 4/2022 vừa qua, Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga Đặng Minh Khôi đã có buổi làm việc với Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Nga Sergei Levin, bàn về biện pháp thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực nông nghiệp.

Tại buổi làm việc, hai bên đã trao đổi về tình hình hợp tác trong lĩnh vực thương mại hàng nông nghiệp giữa hai nước, đánh giá thực trạng quan hệ hợp tác giữa cơ quan chức năng về quản lý xuất-nhập khẩu, xúc tiến thương mại, tìm hiểu thị trường của nhau. Hai bên cho rằng việc mở cửa thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp của nhau, dù đã được cải thiện đáng kể, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tiếp cận thị trường, mong muốn và năng lực của các doanh nghiệp hai nước.

Hai bên cho rằng hợp tác thương mại hàng nông nghiệp Việt – Nga còn rất nhiều tiềm năng để phát triển trong thời gian tới. Liên bang Nga có nhiều mặt hàng có thế mạnh có thể xuất khẩu sang Việt Nam, bao gồm lúa mì, ngô, dầu thực vật, phân bón. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng còn nhiều mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu sang Nga.

Liên quan đến hoạt động thương mại của Việt Nam, trang mạng Rossaprimavera.ru đưa tin, Việt Nam công bố chiến lược xuất khẩu mới cho giai đoạn 2021 – 2030. Theo đó, Việt Nam đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân từ 6% – 7% trong giai đoạn 2021 – 2030. Đặc biệt, cả nước quyết định đạt mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân hàng năm từ 8% – 9%, trong giai đoạn 2021 – 2025 và từ 5% – 6% trong 5 năm tiếp theo.

Trong khi đó, tăng trưởng nhập khẩu hàng năm dự kiến sẽ đạt trung bình từ 5% – 6% trong giai đoạn 2021 – 2030. Trong đó, tăng trưởng trong giai đoạn 2021 – 2025 sẽ từ 7% – 8% và trong 5 năm tiếp theo từ 4% – 5%. Theo chiến lược mới, Việt Nam kỳ vọng đạt cán cân thương mại vào năm 2025 và thặng dư thương mại bền vững vào năm 2030.

Thương vụ Việt Nam tại Liên bang Nga cho biết, kim ngạch xuất-nhập khẩu giữa Việt Nam và Nga trong năm 2021 đạt 7,14 tỷ USD, tăng 25,9% so với năm 2020 và đứng thứ 21 trong số các đối tác thương mại chính của liên bang Nga. Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Nga trong khu vực ASEAN và là đối tác lớn thứ 5 trong các nền kinh tế APEC, sau Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Liên bang Nga sang Việt Nam đạt 2,24 tỷ USD, tăng 38,3%, đứng thứ 39 trong số các đối tác thương mại của Nga; kim ngạch nhập khẩu của Nga từ Việt Nam đạt 4,89 tỷ USD, tăng 20,9% so với năm 2020, đứng thứ 12 trong số các đối tác nhập khẩu chính của Nga. Việt Nam xuất siêu sang Nga 2,65 tỷ USD trong năm 2021.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Những quan ngại về thị trường lao động Việt Nam và giải pháp


Theo Vietnam Briefing ngày 23/3, do những căng thẳng của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung từ năm 2018, một số doanh nghiệp sản xuất đã chọn cách đa dạng hóa sản xuất tại Việt Nam hoặc chuyển toàn bộ cơ sở sản xuất sang Việt Nam.

Xu hướng này có thể sẽ tiếp tục tăng tốc vào năm 2022 do những quan ngại về sự phụ thuộc vào một trung tâm sản xuất duy nhất như Trung Quốc, nước vốn đang theo đuổi chiến lược “Zero COVID”. Ngược lại, chính phủ Việt Nam đã chọn cách sống chung với đại dịch, với hơn 97% dân số được tiêm chủng đầy đủ. Sự kết hợp các yếu tố này tiếp tục đưa Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn.

Trong số những lợi thế khi chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư, sẽ không thể không kể đến lực lượng lao động dồi dào và chi phí lao động cạnh tranh. Tuy nhiên, nhu cầu lao động ngày càng tăng hiện nay của các công ty sản xuất cũng có thể gây lo ngại cho các doanh nghiệp nước ngoài quan tâm đến việc thiết lập các trung tâm sản xuất của họ ở Việt Nam.

Thị trường lao động sau đại dịch

Trong quý 3/2021, thị trường lao động Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng với số lượng người bị mất việc làm cũng như tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ngày càng tăng. Theo Tổng cục Thống kê (GSO), trong số hơn 28,2 triệu người bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19, có 4,7 triệu người mất việc làm, trong khi 14,7 triệu người buộc phải tạm ngừng các hoạt động sản xuất kinh doanh. Khoảng 12 triệu người bị cắt giảm giờ làm việc, bị sa thải hoặc buộc phải làm việc theo ca luân phiên. Khoảng 18,9 triệu người khác bị giảm thu nhập.

Đặc biẹt, do tác động mạnh mẽ của làn sóng dịch thứ tư vào năm 2021, đã có sự chuyển dịch lao động lớn từ thành thị về nông thôn và từ các trung tâm kinh tế lớn đến các tỉnh. Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, khoảng 1,3 triệu người lao động đã rời TPHCM và các tỉnh trọng điểm phía Nam về quê do đại dịch xảy ra từ tháng 7 – 9/2021.

Nhu cầu lao động có thể sẽ tăng hơn nữa vào quý 2/2022 khi các doanh nghiệp trở lại bình thường và hoạt động với công suất cao nhất. Hãng Nike đã tuyên bố rằng các nhà máy của họ tại Việt Nam đang hoạt động hết công suất. Tình trạng thiếu lao động có thể xảy ra, nhưng không đến mức nghiêm trọng. Để chủ động tuyển dụng và giữ nhân viên, các doanh nghiệp nên đưa ra các gói hỗ trợ, quyền lợi và đảm bảo môi trường là việc an toàn.

Việc tuyển dụng dễ dàng

Thông thường, các công ty phải mất 1 – 2 tháng để tuyển dụng lao động phổ thông, trong khi lao động có tay nghề cao phải mất khoảng 2 – 3 tháng. Đối với lĩnh vực sản xuất, các vị trí như kế toán, trợ lý hành chính dễ tuyển dụng hơn, nhưng các vị trí kỹ thuật như vận hành máy tự động hóa, vận hành CNC, kỹ thuật cơ khí hoặc quản lý chất lượng có thể sẽ gặp nhiều thách thức.

Các kênh tuyển dụng lao động hiệu quả nhất là tham gia trao đổi việc làm, liên kết với các công ty nhân sự, hoặc làm việc trực tiếp với các trường dạy nghề. Doanh nghiệp sản xuất có thể xem xét ký kết thỏa thuận với các trường dạy nghề trên địa bàn để tuyển dụng sinh viên thực tập và sinh viên tốt nghiệp vào các vị trí chính thức. Các công ty có thể cung cấp học bổng hoặc trợ cấp thực tập và các chế độ phúc lợi khác như bữa ăn, nhiên liệu hoặc phương tiện đi lại để duy trì tính cạnh tranh.

Doanh thu lao động

Theo Navigos Search, một công ty nhân sự hàng đầu tại Việt Nam, có hai thời điểm trong năm mà nhân viên thường xuyên có thay đổi công việc: Thứ nhất là từ cuối quý 1 đến đầu quý 2 hàng năm, đặc biệt từ tháng 4 đến tháng 5, sau khi nhân viên đã nhận được lương tháng thứ 13, thưởng KPI và dự kiến sẽ được điều chỉnh lương. Thứ hai là mùa thấp điểm từ tháng 6 đến tháng 8, giai đoạn mà các công ty giao hàng cho khác.

Do đó, các doanh nghiệp mới nên tuyển dụng từ tháng 7 đến tháng 8 với các công việc bắt đầu vào tháng 10. Hơn nữa, từ tháng 6 trở đi, sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học và đây là thời điểm thích hợp để tuyển dụng lao động trẻ đang tìm kiếm việc làm.

Ngoài ra, người lao động thay đổi công việc vì nhiều lý do như quản lý công ty, quan hệ lao động, môi trường làm việc, tiền lương.. Vì vậy, chính sách tiền lương và các chế độ chính sách khác là yếu tố then chốt để thu hút lao động.

Một số công ty quy mô lớn đã xây dựng các tiện ích như cơ sở thể thao trong khuôn viên, nhà trẻ và các phương tiện giải trí khác ngoài lợi ích công việc. Một số công ty khác, ngoài bảo hiểm bắt buộc của nhà nước, cũng đã cung cấp thêm bảo hiểm tai nạn tư nhân cho nhân viên của họ.

Công đoàn

Các tổ chức công đoàn ở Việt Nam được phép hoạt động, nhưng bắt buộc phải trực thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Theo luật pháp Việt Nam, người lao động có quyền thành lập và tham gia các nghiệp đoàn, cụ thể là Công đoàn và tham gia các hoạt động phối hợp để bảo vệ lợi ích tập thể của họ. Công đoàn không bắt buộc phải thành lập theo luật, tuy nhiên, các doanh nghiệp có từ 10 lao động trở lên được khuyến khích thành lập công đoàn, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất.

Người lao động, thông qua đại diện công đoàn, có thể thương lượng với người sử dụng lao động và tham gia các thỏa thuận thương lượng liên quan đến các điều kiện, điều khoản về việc làm và tố tụng liên quan đến các vụ án lao động, quản lý, phá sản doanh nghiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tập thể lao động và người lao động.

Trong những trường hợp nhất định, người lao động cũng có quyền đình công theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, các công đoàn khó có thể thực hiện quyền lực của mình như đã được viết trong luật. Tại doanh nghiệp, đại diện công đoàn cũng là người lao động của công ty, do công ty thuê và do tập thể người lao động bầu ra, nhưng dưới sự giới thiệu hoặc chỉ định của Hội đồng quản trị công ty.

Thông thường, người đứng đầu công đoàn sẽ là giám đốc tài chính, giám đốc nhân sự hoặc thậm chí là tổng giám đốc. Vì vậy công đoàn chỉ có thể bảo vệ lợi ích của người lao động trong một chừng mực nhất định. Công đoàn có thể được coi là cầu nói giữa người lao động với ban giám đốc công ty, giúp chuyển tải tâm tư, nguyện vọng của người lao động đến lãnh đạo.

Nguồn: TKNB – 25/03/2022

Nghịch lý giữa giá đất tính thuế và giá đền bù


Theo đài RFA, trong quý 1/2022, cứ 5 hồ sơ mua, bán đất thì một hồ sơ bị cơ quan thuế buộc phải nâng giá chuyển nhượng khai lên sát giá thị trường nhằm thu được thuế nhiều hơn.

Việc cơ quan thuế TPHCM trả hồ sơ mua, bán nhà đất vì bị cho là “khai giá quá thấp” đã giúp ngân sách nhà nước thu thêm 147 tỷ đồng tiền thuế trong quý 1/2022. Tuy nhiên, người dân cho rằng biện pháp đó làm cho thời gian làm thủ tục bị kéo dài và việc áp giá tính thuế cũng chưa hợp lý.

Ông Cao Thăng Ca, một người dân ở Thủ Thiêm cho biết:

Kê khai theo giá thấp là do người bán, người mua thông đồng với nhau, họ kê giá thấp để trốn thuế. Đây là chuyện thường xuyên xảy ra. Nếu có móc ngoặc với bên thuế thì thuế chịu, nếu không thì họ bắt khai giá cao để họ thu được nhiều thuế”.

Theo Khoản 1 – 2 Điều 114 Luật Đất đai 2013, trường hợp các bên trong hợp đồng chuyển nhượng đất không ghi giá chuyển nhượng hoặc ghi giá chuyển nhượng thấp hơn giá trong bảng giá đất thì sẽ căn cứ vào bảng giá đất để tính thuế.

Về nguyên tắc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, Điều 74 Luật Đất đai 2013 quy định việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi đất.

Anh Nguyễn Đình Đệ, hiện sống tại TPHCM, cũng từng có đất ở Thủ Thiêm bị chính quyền giải tỏa nhưng đền bù không hợp lý, cho biết:

“…Ở Việt Nam, giữa mức giá mà Nhà nước quy định để lấy thuế dân và giá đền bù thì không giá nào giống giá nào, giá đền bù cho dân bị hạ xuống rẻ mạt”.

Một người chuyên kinh doanh bất động sản ở TPHCM, cho biết mặc dù có khung giá đất, nhưng rất chênh lệch với giá thị trường.

Vì khung giá đất để tính thuế không sát với thị trường, nên quyền định đoạt là do cán bộ thuế. Vỉ vậy, mới có tình trạng móc ngoặc như ông Cao Thăng Ca vừa nêu.

Cán bộ thuế có cơ hội móc ngoặc vì theo Luật Đất đai 2013, ngoài khung giá đất tính thuế do Nhà nước quy định, còn có giá đất thị trường. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 44/2014/NĐ-CP, giá đất phổ biến trên thị trường là mức giá xuất hiện với tần suất nhiều nhất trong các giao dịch đã chuyển nhượng trên thị trường, trúng đấu giá quyền sử dụng đất, giá đất xác định từ chi phí, thu nhập của các thửa đất có cùng mục đích sử dụng tại một khu vực và trong một khoảng thời gian nhất định.

Vào tháng 2/2022, UBND TPHCM đã kiến nghị Thủ tướng chấp thuận cho TPHCM tự xây dựng và ban hành hệ số điều chỉnh giá đất phù hợp với tình hình địa phương. Theo cơ quan chức năng TPHCM, việc thẩm định giá đất hiện nay theo quy định của Nghị định 44 do Chính phủ ban hành và Thông tư 36 của Bộ Tài nguyên và Môi trường có một số bất cập khi áp dụng tại Việt Nam.

Lý do được TPHCM đưa ra là do việc thu thập, kiểm tra thông tin về giá giao dịch thật của bất động sản trên thị trường rất khó khăn, vì giao dịch bất động sản tại  TPHCM dù theo luật, nhưng chưa minh bạch như các nước phát triển trên thế giới.

Giáo sư Đặng Hùng Võ – nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng:

Nếu TPHCM tự quyết định giá đất thì cũng sẽ rất khó khăn vì vẫn phải dựa vào nghị quyết và thông tư đó… Nếu tự làm thì một mặt phù hợp điều kiện TPHCM, nhưng mặt khác có thể tạo ra sự phát triển kinh tế thiếu phù hợp. Ví dụ như tình trạng giá đất ngày càng cao, tức bong bóng thổi ngày càng lớn nhưng bao giờ bị vỡ… Liệu chúng ta xử lý như thế nào với tình trạng đó?

Thị trường hóa đất đai tại Việt Nam có thể coi như nguồn lực tăng trưởng kinh tế… nhưng Đảng cầm quyền lo ngại có thể làm rối loạn chế độ. Do đó, việc sửa đổi Luật Đất đai 2013 là việc Chính phủ Việt Nam muốn làm nhưng làm như thế nào là câu hỏi không dễ trả lời.

Theo Luật Đất đia hiện hành, đất đai thuộc sở hữu toàn dân… nhưng do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và quản lý. Việc chuyển nhượng và kinh doanh đất đai được khuyến khích để đảm bảo nền kinh tế vận hành theo các nguyên tắc thị trường. Tuy nhiên, do quy định không rõ ràng đã dẫn đến nhiều bất cập trong thực tế quản lý.

Nguồn: TKNB – 12/05/2022