FDI Trung Quốc tại Việt Nam: Xu hướng, hiện trạng và thách thức – Phần II


Các doanh nghiệp nước ngoài cũng giúp thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam. Hiện tại, các doanh nghiệp nước ngoài chiếm 70% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Đồng thời, các doanh nghiệp này cũng tạo ra sức ép tích cực buộc các cơ quan, bộ ngành khác nhau thuộc Chính phủ Việt Nam phải cải thiện môi trường pháp lý và hành chính để trở nên thân thiện hơn với doanh nghiệp và phù hợp với các thông lệ quốc tế.

Hơn nữa, với một thị trường tiềm năng hơn 100 triệu người có nhu cầu tiêu dùng cao, thương mại điện tử ở Việt Nam là ngành thu hút nhiều FDI. Trong những năm 2016 – 2018, 2 trang thương mại điện tử phát triển nhất ở Việt Nam, Lazada và Tiki, đều nhận được các khoản đầu tư lớn từ các doanh nghiệp Trung Quốc. Năm 2016 và 2017, Tập đoàn Alibaba của Trung Quốc đã đầu tư 2 tỷ USD vào Lazada. Đầu năm 2018, Tập đoàn Alibaba nói rằng họ sẽ tăng gấp đôi vốn đầu tư vào Lazada để tài trợ cho việc mở rộng khu vực của họ ở Đông Nam Á. Tháng 1/2018, tập đoàn thương mại điện tử lớn thứ 2 ở Trung Quốc, JD.com, đã xác nhận khoản đầu tư 44 triệu USD vào trang bán lẻ trên mạng của Việt Nam là Tiki.vn để cạnh tranh với Lazada. Những hoạt động đầu tư này phần nào được thúc đẩy nhờ triển vọng thu hút dân số đang tăng trưởng và tương đối trả của Việt Nam và tiềm năng hầu như vẫn như chưa được khai thác để phát triển hoạt động bán lẻ trên mạng.

Các doanh nghiệp Trung Quốc đã và đang lựa chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư của họ như một phần trong chiến lược dài hạn của Chính phủ Trung Quốc là theo đuổi sự hội nhập kinh tế với thế giới và các nước láng giềng. Trên thực tế, trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã tích cực theo đuổi mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi nước này gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2001. Cho đến nay, Chính phủ Trung Quốc đã ký hơn 100 thỏa thuận thương mại và đầu tư song phương hoặc đa phương với các nước khác. Trong những năm đầu, những thỏa thuận như vậy đã tạo cơ sở để Trung Quốc thu hút FDI. Giờ đây, những thỏa thuận này mở đường cho Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm các nguồn tăng trưởng mới.

Về mặt này, Việt Nam là một điểm đến khả thi đối với các doanh nghiệp Trung Quốc nhờ những lợi thế vốn có dưới đây. Thứ nhất, Trung Quốc hiện là một trong 10 nhà đầu tư lớn nhất thế giới. Thứ hai, trong những năm gần đây, năng suất và năng lực của các doanh nghiệp Trung Quốc đã tăng lên đáng kể. Thứ ba, các doanh nghiệp Trung Quốc mạo hiểm đầu tư ra nước ngoài để đạt được mục tiêu mở rộng thị trường bên ngoài, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và khai thác các nguồn lực bên ngoài. Hơn nữa, việc tăng trưởng trong nước giảm tốc đang thúc đẩy ngành công nghiệp chế tạo của Trung Quốc tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài.

Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam cũng phù hợp với Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) đầy tham vọng của Trung Quốc. Trong số các dự án nằm khuôn khổ BRI ở Việt Nam có cả dự án xây dựng tuyến đường cao tốc kết nối cac tỉnh phía Nam Trung Quốc với Hà Nội và các cảng phía Bắc Việt Nam và dự án nâng cấp hoặc xây dựng các cảng mới trong khu vực này.

Các tác động của FDI Trung Quốc

Tác động tích cực

FDI đã góp phần đáng kể vào việc tạo công ăn việc làm, tái cơ cấu lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam cho thấy số lượng việc làm trực tiếp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài đã tăng từ 330.000 năm 1995 lên 3,6 triệu năm 2017, đồng thời cũng tạo việc làm gián tiếp cho khoảng 5 – 6 triệu lao động. Mặc dù không có số liệu chi tiết về số lượng việc làm do đầu tư của Trung Quốc tạo ra, nhưng vai trò to lớn của FDI Trung Quốc cho thấy nó đã làm tăng đáng kể cơ hội việc làm.

Hơn nữa, việc Trung Quốc ngày càng đóng vai trò là nguồn FDI then chốt vào Việt Nam đặc biệt giúp Việt Nam nâng cấp và công nghiệp hóa nền kinh tế của mình. Đặc biệt trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Việt Nam rất cần vốn để khôi phục sau cuộc khủng hoảng và theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững. Trong dài hạn mặc dù vốn trong nước đóng vai trò quyết định, nhưng vốn nước ngoài (bao gồm vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA, vốn FDI và vốn đầu tư gián tiếp) vẫn là một nguồn rất quan trọng đối với công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Việt Nam. Hơn nữa, khi các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam, vốn nước ngoài cũng sẽ đóng vai trò là chất xúc tác trong việc thu hút đầu tư từ các nước khác vào Việt Nam.

Trong những năm gần đây, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đã chuyển từ ngành công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng sang xây dựng và chế tạo. Ngoài các thành phố và địa phương then chốt được đề cập ở trên, FDI Trung Quốc cũng nhắm mục tiêu vào một số tỉnh biên giới Việt Nam thường bị các nhà đầu tư nước ngoài bỏ qua do cơ sở hạ tầng nghèo nàn và trình độ phát triển kinh tế còn thấp. Những tỉnh này bao gồm Lào Cai (27 dự án), Lạng Sơn (20 dự án), Cao Bằng (7 dự án) và Lai Châu (2 dự án). Dòng vốn chảy vào những khu vực này đã giúp đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và hiện đại hóa vùng sâu vùng xa, thu hẹp khoảng cách giữa các tỉnh kém phát triển ở phía Bắc và các khu vực khác của Việt Nam.

Bản chất định hướng xuất khẩu của FDI Trung Quốc vào Việt Nam cũng thúc đẩy ngành xuất khẩu của Việt Nam bằng việc cung cấp một lộ trình thuận tiện để các sản phẩm Made in Vietnam đến được các thị trường nước ngoài. Nhìn chung, hàng hóa Việt Nam chưa được biết đến nhiều ở châu Á và trên thế giới, trong khi đó doanh nghiệp Việt Nam lại thiếu sức cạnh tranh so với các đối tác nước ngoài có uy tín hơn ở những nước có nền tảng kinh tế vững chắc. Vì vậy, đầu tư của Trung Quốc vào khu vực xuất khẩu của  Việt Nam giúp tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa Việt Nam đến được các thị trường khác nhau, trong đó có Trung Quốc và các nước châu Á khác. Điều này cũng mở đường cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận các thị trường quốc tế. Đồng thời, các hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI cũng giúp thúc đẩy sự tăng trưởng của các khu vực khác có liên quan ở Việt Nam như khách sạn, du lịch, trao đổi ngoại tệ và tư vấn.

Tác động tiêu cực

Một trở ngại lớn đối với Việt Nam là xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp nước ngoài (hơn 70%), khiến Việt Nam phải chịu những rủi ro không cần thiết. Nhìn chung, khi sản xuất phụ thuộc vào các dây chuyền cung ứng xuyên quốc gia, các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam thường can dự sâu vào cả hai tiến trình xuất – nhập khẩu, khiến nền kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương trước tình hình kinh tế toàn cầu. Bộ trưởng Công thương Việt Nam Trần Tuấn Anh nói: “Sự phụ thuộc quá mức này là một điểm bất lợi và thiếu bền vững đối với lĩnh vực xuất khẩu của nước ta, vì sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, nên khá nhạy cảm với các biến động thương mại trên thị trường thế giới”.

Một trở ngại khác liên quan đến loại hình và chất lượng ngành công nghiệp và công nghệ được đưa vào Việt Nam. Dòng FDI Trung Quốc thường chảy vào các doanh nghiệp như dệt, giày dép, sợi, năng lượng, nhiệt năng và khai thác mỏ, vốn là các ngành công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm. Vụ ô nhiễm nghiêm trọng liên quan đến Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã làm dấy lên những quan ngại về hậu quả của các dự án FDI Trung Quốc đối với môi trường. Hơn nữa, nhiều dự án FDI Trung Quốc hoặc có hàm lượng công nghệ thấp hoặc sử dụng công nghệ đã lỗi thời. Vì vậy, Việt Nam có nguy cơ trở thành “bãi rác công nghệ” của Trung Quốc do bất cẩn trong việc lựa chọn các dự án FDI Trung Quốc. Ngoài ra, trong một số trường hợp, máy móc và thiết bị được các công ty Trung Quốc mang sang Việt Nam là các loại mà Việt Nam có thể sản xuất được ở trong nước. Việc nhập khẩu hàng loạt hàng tiêu dùng giá rẻ từ Trung Quốc cũng khiến một số ngành công nghiệp trong nước của Việt Nam khó tồn tại.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Sing) – 24/04/2019

TLTKĐB – 07/05/2019

Advertisements

FDI Trung Quốc tại Việt Nam: Xu hướng, hiện trạng và thách thức – Phần I


Tóm tắt

+ Kể từ năm 2011, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc vào Việt Nam tăng trong bảng xếp hạng các quốc gia đầu tư vào Việt Nam, và mở rộng về phạm vi địa lý và lĩnh vực đầu tư.

+ Mặc dù các dự án đầu tư của Trung Quốc mang lại lợi ích cho Việt Nam, nhưng nhiều người phàn nàn rằng những dự án này có hàm lượng công nghệ thấp, sử dụng công nghệ đã lỗi thời, có liên quan đến việc chuyển giá và gây phiền toán vì bị trì hoãn nhiều lần.

+ Việt Nam có khả năng cải thiện môi trường tổng thể cho các nhà đầu tư nước ngoài, kể cả các nhà đầu tư Trung Quốc.

+ Về phần mình, Chính phủ Trung Quốc có thể làm nhiều hơn nữa để giải quyết tình trạng công chúng Việt Nam có suy nghĩ tiêu cực và thiếu lòng tin vào các dự án đầu tư của Trung Quốc.

Tổng quan về FDI Trung Quốc vào Việt Nam

Kể từ năm 2011, FDI Trung Quốc vào Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể về nhiều mặt – vươn lên vị trí cao hơn trong bảng xếp hạng, gia tăng về quy mô, thay đổi về hình thức và lĩnh vực. Đây là những xu hướng then chốt của FDI Trung Quốc vào Việt Nam. Từ năm 2015 đến nay, nhất là kể từ khi Việt Nam ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), sau đổi thành Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Trung Quốc thường đứng trong top 10 nước đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam vì họ đang tìm cách có được chỗ đứng trên thị trường CPTPP béo bở thông qua Việt Nam.

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tổng vốn đăng ký của Trung Quốc (kể cả Đài Loan) ở Việt Nam năm 2011 là 700 triệu USD. Năm 2017, vốn đăng ký của Trung Quốc đã đạt trên 1,4 tỷ USD, tăng gấp đôi nhờ tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt khoảng 18%. Chiếm 12% tổng FDI đăng ký năm 2017, Trung Quốc xếp vị trí thứ 8 trong số các nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, đứng sau Nhật Bản (vị trí thứ nhất với tổng đầu tư chiếm 30%), Hàn Quốc (vị trí thứ 2, 28%) và Singapore (vị trí thứ 3, 19%). Đây là bước nhảy vọt ấn tượng của FDI Trung Quốc vào Việt Nam vì năm 2011, Trung Quốc chỉ xếp thứ 14 trong số 94 nước đầu tư vào Việt Nam.

Trong giai đoạn 1991 – 200, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực công nghiệp nhẹ và tiêu dùng. Trong những năm gần đây, FDI Trung Quốc vào Việt Nam đã dịch chuyển mạnh mẽ sang xây dựng, chế tạo, chế biến và năng lượng. Ngành công nghiệp chế biến và chế tạo hiện chiếm 61,4% tổng vốn đầu tư, theo sau là ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước, điều hòa không khí (18,2%) và bất động sản (5,6%). Năm 2018, Trung Quốc dành trung bình 6,3 triệu USD cho mỗi dự án, với nhiều dự án có giá trị từ 1 – 10 triệu USD.

Các dự án của Trung Quốc trải khắp lãnh thổ Việt Nam. Ở miền Bắc, một số dự án quy mô lớn của Trung Quốc bao gồm:

+ dự án khai thác mỏ và luyện kim Việt – Trung ở tỉnh Lào Cai (337,5 triệu USD);

+ dự án nhà máy sợi ở tỉnh Quảng Ninh (300 triệu USD) thuộc Tập đoàn Texhong;

+ dự án nhà máy chế biến cao su ở tỉnh Lào Cai (337,5 triệu USD);

+ dự án mở rộng nhà máy sắt thép ở tỉnh Thái Nguyên (340 triệu USD);

+ dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông (với đầu tư ban đầu của Trung Quốc là 419 triệu USD);

+ dự án đường ống dẫn nước sông Đà (450 triệu USD);

+ dự án nhà máy luyện và cuộn thép ở tỉnh Thái Bình (33 triệu USD);

+ dự án khu đô thị Nam Thành Đông 1, trong đó có một nhà máy sản xuất thực phẩm cho những người theo đạo Hồi (20 triệu USD) tại Hải Dương;

Ở miền Trung, các dự án lớn là:

+ dự án nhà máy sản xuất đồ nhựa (420 triệu USD);

+ dự án nhà máy sản xuất thiết bị điện tử ở Đà Nẵng (18 triệu USD);

Ở miền Nam, các dự án then chốt của Trung Quốc bao gồm:

+ dự án bất động sản ở tỉnh Tiền Giang (100 triệu USD);

+ dự án nhà máy giày ở tỉnh Đồng Nai (60 triệu USD);

+ dự án nhà máy sản xuất gỗ dán MDF ở tỉnh Long An (10 triệu USD);

+ dự án Công ty Hải Thái cung cấp dịch vụ in phun, đồ họa và quảng cáo ở TPHCM (10 triệu USD)

+ dự án nhà máy điện Vĩnh Tân 1 ở tỉnh Bình Thuận (1,76 tỷ USD);

+ dự án Công ty TNHH lốp xe Việt Luân ở tỉnh Tây Ninh (400 triệu USD);

+ dự á n nhà máy dệt thuộc Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa tại KCN Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (gần 1 tỷ USD);

Những dự án này phản ánh sự mở rộng về quy mô của các dự án đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam trong những năm gần đây.

Mặc dù có thể thấy các dự án đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, nhưng những dự án này tập trung chủ yếu ở các thành phố đông dân có kết nối cơ sở hạ tầng tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho viẹc đi lại giữa Trung Quốc và Việt Nam, chú trọng vào xuất – nhập khẩu hàng hóa và nguồn lao động sẵn có. Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 4/2017, các dự án đầu tư của Trung Quốc đã có mặt ở 54/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Tỉnh Bình Thuận thu hút nhiều vốn đầu tư của Trung Quốc nhất, 2,03 tỷ USD (chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư đăng ký của Trung Quốc ở Việt Nam) cho 7 dự án, Tây Ninh đứng ở vị trí thứ 2 với 46 dự án và tổng vốn đầu tư là 1,65 tỷ USD (chiến 14,8% tổng vốn đầu tư đăng ký của Trung Quốc ở Việt Nam). Tỉnh Bắc Giang xếp thứ 3 với 61 dự án và vốn đầu tư là 957,56 triệu USD (chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư đăng ký của Trung Quốc ở Việt Nam).

Lý do Trung Quốc tăng FDI vào Việt Nam

Chính phủ Việt Nam từ lâu đã coi nguồn lao động tương đối rẻ là một lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, kể cả đầu tư từ Trung Quốc. Điều này đặc biệt có liên quan tại thời điểm giá lao động ở Trung Quốc đang tăng lên. Hiện tại, giá lao động bình quân một tháng ở Việt Nam nằm trong khoảng từ 300 – 350 USD, bằng một nửa giá lao động ở Trung Quốc.

Việt Nam cũng khuyến khích các công ty nước ngoài đến đây để giới thiệu các công nghệ mới và tiên tiến hơn cũng như các mô hình quản lý mới nhất. Đây là cơ hội tốt để cá doanh nghiệp địa phương học hỏi và nâng cao kỹ năng quản lý và năng suất của mình. Các doanh nghiệp Trung Quốc ở Việt Nam có đóng góp đáng kể trong lĩnh vực này.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Sing) – 24/04/2019

TLTKĐB – 07/05/2019

Lý do các ngân hàng Hàn Quốc ồ ạt đổ vào Việt Nam


Các ngân hàng Hàn Quốc đang tăng cường sự hiện diện tại Việt Nam vì tin tưởng tiềm năng tăng trưởng của thị trường trong nước cũng như dự định của ngân hàng trung ương nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài.

KEB Hana Bank (ngân hàng lớn thứ hai tại Hàn Quốc) đang đàm phán với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) để mua lại 17,65% cổ phần tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Giá trị thương vụ này có thể lên tới 30 tỷ Won (khoảng 26,6 triệu USD).

Ngân hàng Nhà nước hiện đang sở hữu 95,28% cổ phần tại BIDV. NHNN đã “đề nghị bán” cổ phần BIDV cho KEB Hana.

Tháng 1/2018, quan chức hàng đầu Việt Nam đã mời KEB Hana tham gia quá trình cải cách lĩnh vực ngân hàng của Việt Nam. Trong buổi tiếp Chủ tịch Hana Financial Group Kim Jung-tai tại Hà Nội, quan chức này nói Chính phủ Việt Nam xem 2018 là năm đẩy mạnh cải cách ngân hàng, tạo cơ hội cho các định chế tài chính như KEB Hana đầu tư vào lĩnh vực tài chính.

KEB Hana (thuộc tập đoàn Hana Financial Group) từ chối bình luận về vấn đề này.

Các cuộc thảo luận trên diễn ra trong bối cảnh các ngân hàng Hàn Quốc đã có mức độ hiện diện đáng kể tại Việt Nam. Shinhan Bank, ngân hàng thương mại thuộc Tập đoàn tài chính Shinhan có trụ sở tại Seoul, gần đây đã vượt HSBC để trở thành ngân hàng nước ngoài số 1 tại Việt Nam với tài sản 3,3 tỷ USD và 900.000 khách hàng. Việc năm 2017, Shinhan mua lại đơn vị bán lẻ của ngân hàng ANZ tại Việt Nam đã giúp đẩy mạnh vị thế của ngân hàng này, mang lại 95.000 khách hàng thẻ tín dụng từ ANZ.

Giới phân tích cho rằng Việt Nam trở thành thị trường hấp dẫn các ngân hàng Hàn Quốc nhờ tiềm năng tăng trưởng và các kế hoạch của Việt Nam nới lỏng một số quy định về sở hữu nước ngoài.

Nikkei dẫn lời Seo Young-soo, một nhà phân tích của Kiwoom Securities, nhận định: “Việt Nam là thị trường hấp dẫn nhất trong số các thị trường mới nổi… Việt Nam có nền đô thị hóa tiên tiến hơn và thị trường Việt Nam tập trung hơn so với Indonesia. Mô hình phát triển kinh tế do chính phủ đưa ra cũng quen thuộc với các ngân hàng Hàn Quốc, vốn đã phát triển theo chiến lược tương tự”.

Theo Cơ quan Giám sát Tài chính trụ sở tại Seoul, năm 2017, tổng tài sản của các ngân hàng Hàn Quốc tại Việt Nam tăng 18,9%, đạt 5,7 tỷ USD.

Lợi nhuận ròng của các ngân hàng Hàn Quốc tại Việt Nam cũng tăng 28,9% trong năm ngoái, lên 61 triệu USD. Lợi nhuậnt ừ lãi vay tăng vọt 25,6% trong năm 2017 lên 135 triệu USD.

Tuy nhiên, xét về khả năng sinh lời, các ngân hàng Hàn Quốc vẫn thua các ngân hàng châu Âu. Theo số liệu của FSS, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (RoA) của Shinhan Việt Nam là 1,7% trong năm 2017, thấp hơn mức 1,9% trong năm trước. Lợi nhuận của HSBC là 2,0% trong năm 2017, không thay đổi so với năm trước.

Khi Việt Nam dự định nới lỏng quy định về sở hữu nước ngoài tại các ngân hàng nội địa, các tập đoàn tài chính từ Hàn Quốc và các nước khác sẽ có thêm nhiều cơ hội hơn. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết, Việt Nam đang cố gắng nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài để thu hút vốn nước ngoài. Việt Nam hiện giới hạn sở hữu nước ngoài ở mức 30% tại các ngân hàng, trong khi đối với một cá nhân nước ngoài riêng lẻ được giới hạn ở mức 20%.

Chính phủ Việt Nam cũng muốn bán Ngân hàng OceanBank – một trong ba ngân hàng được quốc hữu hóa trong năm 2015 vì những vấn đề tài chính. Việt Nam cũng dự định bán 35% cổ phần tại Agribank thông qua một đợt chào bán cổ phần ra công chúng lần đầu (IPO) vào năm 2020.

Hàn Quốc không phải là quốc gia duy nhất đang tận dụng những cơ hội đó. Mizuho Bank của Nhật Bản sở hữu 15% cổ phần tại Vietcombank. Sumitomo Mitsui Banking Corp. nắm giữ 15% cổ phần tại Eximbank. Ngân hàng Commonwealth Bank của Australia nắm giữ 20% cổ phần tại VIB… Giới phân tích cho rằng, các ngân hàng Hàn Quốc vẫn có lợi thế tốt hơn vì họ có ưu thế hơn trrong các dịch vụ bán lẻ vì cung cấp dịch vụ ngân hàng di động tiện lợi dựa trên công nghệ cao.

Nguồn: Nikkei – 26/11/2018

TKNB – 28/11/2018

Việt Nam sẽ theo “vết xe đổ” ô nhiễm của Trung Quốc?


Trung Quốc đang vật lộn đối phó với tình trạng ô nhiễm khói bụi khi mùa Đông đến và tình trạng này từng khiến mức độ ô nhiễm không khí ở toàn châu Á lên đến mức nguy hiểm. Trong khi thế giới quan tâm đến thất bại của Trung Quốc trong cuộc chiến chống ô nhiễm không khí, tình trạng hỗn loạn tại Việt Nam cũng bị đưa vào tầm ngắm.

Sản lượng công nghiệp nặng của Việt Nam đang tăng mạnh. Trong bối cảnh này, Hà Nội nên rút ra bài học từ cuộc khủng hoảng của Trung Quốc và giải quyết các nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm, trước khi mắc kẹt trong ngõ hẹp “chiến lược công nghiệp” với cái giá phải trả cho môi trường và xã hội không thể đảo ngược.

Trung Quốc: Thừa công suất khiến ô nhiễm nghiêm trọng

Ở Trung Quốc, than đá là nguồn gây ô nhiễm chính, đặc biệt là do sử dụng trong ngành công nghiệp nặng. Tuy nhiên, trong khi nền kinh tế Việt Nam mới chỉ bắt đầu cất cánh một cách vững chắc, Trung Quốc đã thừa công suất trong nhiều năm. Tình trạng thừa công suất quy mô lớn trong sản xuất thép và nhôm đã gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng.

Đối mặt với áp lực từ người dân, năm 2016, Bắc Kinh bắt đầu ưu tiên cắt giảm công suất dư thừa. Theo chính sách này, những nhà máy không đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường sẽ bị đóng cửa, trong khi các công ty được khuyến khích nâng cấp hệ thống kiểm soát ô nhiễm cho các nhà máy trực thuộc. Mục tiêu là giảm công suất ngành thép xuống 100 triệu tấn trong 5 năm, và cùng giai đoạn này, công suất than đạt 500 triệu tấn.

Tuy nhiên, tiến trình triển khai chính sách này dường như đã bị đình trệ. Cho đến nay, những nỗ lực cắt giảm sản xuất không mang lại nhiều kết quả ấn tượng.

Việt Nam: Phát triển kinh tế gây xáo trộn các mục tiêu môi trường

Chiến lược của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế cũng như phát triển công nghiệp để đạt được mục tiêu tăng GDP đều học theo mô hình của Trung Quốc, theo đó tập trung vào phát triển sản xuất công nghiệp theo mô hình xoắn ốc. Do các chính sách kinh tế giống nhau, nên rõ ràngg, mô hình phát triển đều là những mô hình gây ô nhiễm.

Tại Trung Quốc, nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm phần lớn là do tình trạng gia tăng phương tiện giao thông không kiểm soát, đẩy mạnh sản xuất thép, nhôm và xi măng – tất cả đều dùng nhiên liệu là than đá.

Tại Việt Nam, kể từ khi khánh thành, nhà máy thép Hà Tĩnh được kỳ vọng trở thành một trong những nhà máy sản xuất thép lớn nhất thế giới, với công suất tiềm năng là 20 triệu tấn/năm.

Từ năm 2015, Việt Nam cũng đã tiến bộ đáng kể trong việc phát triển ngành công nghiệp nhôm trong nước để giảm phụ thuộc vào nhôm Trung Quốc, với công suất tại thời điểm đó là khoảng 1 triệu tấn/năm.

Không có gì ngạc nhiên khi trong năm 2017, Hà Nội chỉ có 38 ngày được hít thở không khí chất lượng tốt – theo kết quả khảo sát của GreenID dựa trên dữ liệu giám sát không khí tại Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội. Số lượng chất gây ô nhiễm tại đây đã vượt tiêu chuẩn do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra.

Mức độ ô nhiễm tại các thành phố của Việt Nam đang gây ra những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng cho người dân, nhưng chính phủ vẫn chưa đưa ra chiến lược tổng thể để đối phó hiệu quả với tình trạng này. Việt Nam vẫn xúc tiến xây dựng thêm những nhà máy nhiệt điện dùng than đá để tăng công suất điện thêm 20% chỉ trong năm 2018. Như vậy, tình trạng ô nhiễm ở Việt Nam sẽ ngày càng nghiêm trọng.

Chưa quá muộn

Trung Quốc đang phải đối phó với các cuộc khủng hoảng về sức khỏe cộng đồng  và môi trường, vì không giải quyết được vấn nạn ô nhiễm một cách hiệu quả. Tuy nhiên, Việt Nam có thể tránh được một tương lai như vậy.

Việt Nam nên có cách tiếp cận chủ động càng sớm càng tốt. Làm như vậy, đòi hỏi hành động cấp bách cả về kinh tế, xã hội cũng như một môi trường. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Hong Kong của Trung Quốc cho rằng ô nhiễm không khí có thể là nguyên nhân khiến hơn 1 triệu người chết sớm mỗi năm, gây tổn thất khoảng 267 tỷ NDT cho nền kinh tế Trung Quốc

Việt Nam đang đi theo “vết xe đổ” của Trung Quốc và hiện là 1 trong 10 nước ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất thế giới.

Tuy nhiên, có chỉ dấu chính trị từ Hà Nội cho thấy chính phủ đã thừa nhận vấn đề này và bắt đầu bắt tay giải quyết. Ví dụ, Cơ quan Phát triển Đức (GIZ) hiện đang tư vấn cho thành phố Hà Nội phát triển kế hoạch vì một môi trường đô thị xanh, trong khi khuyến khích người dân sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Đây là bước đi đúng hướng, mặc dù để giải quyết một cách hiệu quả các nguyên nhân cơ bản của vấn đề, Việt Nam phải thực hiện các thay đổi chính sách mang tính cấu trúc. Cần có chính sách công nghiệp mới để bớt chú trọng vào sản xuất công nghiệp, mà thay vào đó là phát triển một nền kinh tế đa dạng hơn.

Đầu năm 2012, Công ty tư vấn quản lý quốc tế McKinsey khuyến nghị Việt Nam tăng năng suất lao động và nắm bắt cơ hội trở thành nước đi đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, gia công quy trình kinh doanh và quản lý dữ liệu. Với dân số tương đối trẻ và đông đảo, Việt Nam thực sự có thể tận dụng những lĩnh vực như vậy.

Trong suốt thời gian dài, Việt Nam chọn thúc đẩy GDP bằng công nghiệp nặng và nông nghiệp, nhưng không chắc trong tương lai, Việt Nam muốn duy trì động lực này. Bằng cách thực hiện tốt hơn các chính sách kiểm soát ô nhiễm, Việt Nam có thể tránh được những thách thức về sức khỏe và môi trường – vốn là đặc hữu ở Trung Quốc.

Nguồn: www.asiancorrespondent.com

TKNB – 28/11/2018

Dự án Bauxite Tây Nguyên cần được mở rộng đầu tư?


Theo đài RFA, vào những ngày đầu tháng 04/2019, Bộ Công thương cho biết hai nhà máy sản xuất alumin Tân Rai ở Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông bắt đầu mang lại hiệu quả kinh tế nên sẽ đề nghị Chính phủ và Quốc hội tăng công suất của hai nhà máy này và mở rộng đầu tư khai thác bauxite, ngành công nghiệp nhôm ở Tây Nguyên.

Theo giới chuyên gia, ngay từ đầu, dự án Bauxite Tây Nguyên đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ giới chuyên gia khoa học lẫn kinh tế cùng nhiều nhân sĩ, trí thức cũng như các quan chức cấp cao, đại biểu quốc hội và cả người dân bản địa vị cho rằng không có lợi cho quốc gia về nhiều mặt, nhất là sẽ gây hậu quả nặng nề cho môi trường của Việt Nam.

Sau một thập niên xây dựng và hoạt động, trong buổi trả lời chất vấn tại Quốc hội vào sáng 31/10/2018, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết hai nhà máy alumin Tân Rai và alumin Nhân Cơ sản xuất sản phẩm alumin đầu tiên vào năm 2016 và giữa năm 2017 đã vận hành thương mại. Theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, sản xuất được bao nhiêu là bán bấy nhiêu, không đủ cho nhu cầu thị trường, và theo kế hoạch, trong năm 2018, hai nhà máy này đạt sản lượng 580.000 tấn alumin, còn trong năm 2019 sẽ đạt công suất thiết kế  tối đa là 650.000 tấn alumin.

Thị trường nước ngoài tiêu thụ alumin/hydrat của Việt Nam gồm có các quốc gia ở Trung Đông, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan…

Trong những ngày đầu tháng 4/2019, Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) đơn vị phụ trách hai nhà máy alumin Tân Rai và Nhân Cơ báo cáo với Bộ Công Thương rằng bắt đầu thu lợi nhuận. Cụ thể, Nhà máy alumin Tân Rai có lãi từ năm 2017, sau 3 năm lỗ đúng theo kế hoạch và riêng trong năm 2018 đã đạt lợi nhuận trên 1700 tỷ đồng. Còn Nhà máy Nhân Cơ, trong năm 2018 sản xuất gần 103% kế hoạch năm, tương đương 655.000 tấn alumin, doanh thu đạt trên 6400 tỷ đồng; đặc biệt có lãi ngay năm đầu tiên mà không bị lỗ như dự kiến trong 5 năm đầu hoạt động.

Truyền thông trong nước dẫn lời Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết Bộ Công Thương đang khẩn trương hoàn thành báo cáo để trình Chính phủ và Quốc hội với đề xuất nâng công suất của hai nhà máy và mở rộng đầu tư khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Nêu vấn đề với giới chuyên gia rằng liệu đề xuất này của Bộ Công Thương sẽ khả thi hay không, Tiến sĩ Phùng Chí Sỹ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ – Môi trường ENTCE cho rằng việc mở rộng đầu tư là hợp lý vì giá thành alumin trên thế giới đang có xu hướng tăng cao và việc sản xuất ở Việt Nam đang thu lãi, đồng thời hai nhà máy vận hành cũng bảo đảm điều kiện an toàn.

Trong khi đó từ Na Uy, Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ cho rằng số liệu mà Tập đoàn TKV báo cóa có lãi là không chính xác: “Thông tin chỉ nói về con số lãi của nhà máy Tân Rai mà không nói về mức lãi của nhà máy Nhân Cơ. Nhà máy Tân Rai với tổng mức đầu tư trên 15000 tỷ, sau 3 năm lỗ cho ra mức lời 1700 tỷ trong năm đầu tiên, theo như tường thuật của báo giới, thì thực ra kh6ong có lời nếu tính thêm các chi phí khác.

Thứ nhất, mức lời 1700 tỷ đồng cho trên 15000 tỷ đồng chỉ tương đương mức lợi nhuận 11%/năm. Số tiền này xấp xỉ mức lãi suất trả tiền vay hàng năm. Thứ hai, mức lợi nhuận này còn phải tính đến giá trị của các quặng nhôm, chi phí phát sinh xử lý môi trường, còn chi phí hạ tầng, chi phí đền bù cho người dân… Và nếu tính đủ thêm các chi phí này vào dự án thì thực ra là lỗ chứ không có lời”.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho biết con số báo cáo đạt lợi nhuận của TKV rất đáng ngờ vì ông cho rằng có thể vì mục đích chính trị ẩn phía sau.

Qua một thập niên vận hành tại vùng Tây Nguyên Việt Nam, truyền thông trong nước đưa tin Nhà máy alumin Tân Rai xảy ra sự cố vỡ đê quai hồ chứa thải quặng bauxite vào tháng 10/2014, khiến nhiều khu vực bị ảnh hưởng và mãi 2 năm vẫn còn bỏ hoang vì chưa khắc phục hết ô nhiễm. Bên cạnh đó, Công ty Nhôm Lâm Đồg, trong báo cáo tháng 3/2016, cho biết nguồn nước quanh hồ bùn đỏ bauxite Tân Rai ở huyện Bảo Lâm bị ô nhiễm, gây ảnh hưởng nguồn nước sinh hoạt của hàng trăm hộ dân địa phương và họ phải bỏ tiền hàng triệu đồng để mua máy lọc nước về sử dụng. Vào cuối tháng 7/2016, Nhà máy alumin Nhân Cơ ở Đắk Nông bị xảy ra sự cố tràn hóa chất, dẫn đến cá chết và người dân bị bệnh ngoài da khi tiếp xúc với nước ở suối Đắk Dao.

10 năm sau khi triển khai dự án bauxite Tây Nguyên và trước đề xuất cần mở rộng dự án của Bộ Công Thương, một lần nữa giới chuyên gia cũng khẳng định Chính phủ và Quốc hội cần phải tính toán kỹ lưỡng và sáng suốt để đưa ra quyết định thật đúng đắn trong thời đại công nghiệp 4.0.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A cho rằng không thể tiếp tục những dự án hủy hoại môi trường của Việt Nam, còn Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ kêu gọi Việt Nam thay vì đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp nặng ảnh hưởng mạnh đến môi trường nên dành số tiền đó đầu tư vào những án của các ngành công nghiệp thông minh, cần nhiều chất xám nếu muốn nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp hiện đại.

Nguồn: TKNB 10/04/2019

Lý do hàng nghìn công nhân Việt Nam mất tích tại Đài Loan


Trang mạng tờ South China Morning Post vừa đăng bài phân tích nguyên nhân hàng nghìn lao động Việt Nam tại Đài Loan bỏ trốn. Nhiều người đến hòn đảo này để làm việc hợp pháp, nhưng đã phá vỡ hợp đồng để chạy sang thị trường chợ đen. Ước tính, 25.000 lao động Việt Nam đã bỏ trốn tại Đài Loan, chiếm gần 1/2 số lao động nước ngoài mất tích tại hòn đảo này.

Theo bài báo, lao động Việt Nam bị những kẻ môi giới vô lương tâm dụ dỗ đến Đài Loan với hứa hẹn về mức lương cao và điều kiện sống tốt. Bà Nguyễn Thị Mai Thủy, điều phối viên chương trình quốc gia của Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam, cho biết có rất nhiều lý do khiến người lao động bỏ trốn. Một trong những nguyên nhân chính là họ phải trả các khoản nợ chồng chất do gánh thêm chi phí phát sinh để giữ  việc.

Năm 1992, Đài Loan bắt đầu mở cửa thị trường lao động cho những người nhập cư có tay nghề thấp. Từ năm 2001, lao động Việt Nam trở thành một trong những nguồn lao động nước ngoài chính của Đài Loan, chiếm 1/3 trong số hơn 70.000 lao động trong các ngành công nghiệp sản xuất và phúc lợi xã hội ở hòn đảo này, chỉ sau Indonesia.

Cách hợp pháp duy nhất để người lao động Việt Nam tay nghề thấp có được việc làm ở Đài Loan là thông qua một nhà môi giới địa phương. Việc phải trả phí quá cao khiến một số người tim các con đường khác để kiếm việc, do đó dễ trở thành “con mồi” của những kẻ buôn người. Tháng 12/2018, 152 du khách Việt Nam đã biến mất ngay sau khi đến Đài Loan. Tính đến ngày 21/2 vừa qua, vẫn còn 61 người mất tích. Những người ra tự thú hoặc bị cảnh sát bắt thừa nhận rằng họ đến đây với hy vọng kiếm việc bất hợp pháp tại Đài Loan sau khi phải trả cho những kẻ môi giới bất hợp pháp số tiền lên tới 3000 USD.

Theo Diễn đàn di cư châu Á, ngay cả các nhà môi giới hợp pháp cũng có thể tính phí cho công nhân Việt Nam lên tới 7000 USD để đảm bảo công việc tại nhà máy trong 3 năm. Con số này gấp 1,3 lần số tiền mà lao động Indonesia phải trả và gấp đôi, gấp ba lần số tiền mà người lao động từ Philippines và Thái Lan phải trả.

Một nhà hoạt động vì quyền của người lao động nói: “Những người môi giới chỉ quan tâm đến việc gửi đi càng nhiều lao động càng tốt, mà không quan tâm đến việc đào tạo hay đảm bảo ngoại ngữ phù hợp”. Sau đó, “tâm lý thất vọng với lương thấp và điều kiện làm việc không như quảng cáo khiến hiệu suất công việc giảm, tăng nguy cơ người lao động bị đuổi việc”.

Mục This Week in Asia của South China Morning Post vừa có được bảng giá mà cơ quan tuyển dụng Đài Loan gửi cho đối tác Việt Nam, trong đó ghi rõ mỗi lao động phải trả từ 3500 USD đến 4000 USD để có được chỗ làm trong nhà máy. Vì vậy, sau khi bao thanh toán chi phí tuyển dụng phát sinh, bên môi giới không thể có lợi nhuận nếu tuân theo trần của chính phủ.

Tháng 1/2018, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố kế hoạch tuyển dụng nhà nước, theo đó chỉ tính phí cho công nhân ở mức 565 USD. Tuy nhiên, trong cả năm, Bộ chỉ gửi 33 công nhân đến Đài Loan.

Các quốc gia khác cũng gửi lao động đến Đài Loan đặt trần chi phí thấp hơn nhiều so với Việt Nam và đã nhiều lần đàm phán thành công với phía Đài Loan để bảo đảm an toàn cho công nhân của họ. Năm 1999, Philippines đã ký kế hoạch tuyển dụng trực tiếp với Đài Loan. Indonesia cũng đạt được những bước tiến trong kế hoạch hướng tới không tính phí cho người lao động bằng cách chuyển toàn bộ “gánh nặng” lên người sử dụng lao động.

Bà Nguyễn Thị Mai Thủy cho rằng Việt Nam nên đảm bảo rằng các lao động cử sang Đài Loan được đào tạo và cung cấp đầy đủ thông tin về công việc ở nước ngoài để họ được chuẩn bị tinh thần.

Năm 2016, Việt Nam bắt đầu đàm phán về kế hoạch tuyển dụng lao động trực tiếp với Đài Loan và hiện đang sửa đổi luật xuất khẩu lao động.

Nguồn: TKNB – 10/04/2019

Những vấn đề đặt ra với dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam


Tờ Nikkei ngày 8/4 đăng bài nhận định nhiều khả năng việt Nam sẽ triển khai trước các tuyến đường sắt kết nối các thành phố lớn trong tổng thể dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam.

Theo bài báo, dự án đường sát cao tốc Bắc – Nam được đưa ra đầu những năm 2000, nhưng sau đó bị đình trệ hơn 10 năm do khoản đầu tư quá lớn, lên tới 5,6 nghìn tỷ Yen (khoảng 50 tỷ USD). Dự án này lại một lần nữa được nhắc tới trong thời điểm hiện nay, nhưng vẫn còn khá nhiều trở ngại.

Theo báo cáo nghiên cứu tiền khả thi được gửi lên Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vào cuối tháng 2/2019, Bộ Giao thông Vận tải dự kiến trước năm 2032 sẽ triển khai 2 tuyến đường sắt khởi đầu từ Hà Nội và TPHCM tới các tỉnh lân cận với cự ly mỗi tuyến khoảng vài trăm km. Trước khi trình Quốc hội xem xét và thông qua, Việt Nam đã thành lập Hội đồng thẩm định Nhà nước về dự án này. Nhiều khả năng, Quốc hội sẽ thông qua các dự thảo có liên quan trong kỳ họp mùa Thu năm nay.

Theo báo cáo, giai đoạn 1 sẽ triển khai xây dựng tuyến đường sắt từ thủ đổ Hà Nội tới Vinh, với độ dài 280 km, và từ TPHCM tới Nha Trang với độ dài 360 km. Hai tuyến này dự kiến khởi công vào năm 2020 và hoàn thành trước năm 2032. Giai đoạn 2 sẽ tiếp tục kết nối đoạn còn lại từ Vinh tới Đã Nẵng vào trước năm 2040. Theo kế hoạch, đến năm 2050, toàn tuyến đường sắt cao tốc Bắc – Nam với tổng chiều dài 1560 km sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động.

Rào cản lớn nhất hiện nay là khoản kinh phí khổng lồ ước tính lên tới 6,5 nghìn tỷ Yen (59 tỷ USD), trong đó 80% là tiền ngân sách, 20% còn lại huy động từ nguồn vốn tư nhân. Chỉ riêng chi phí cho giai đoạn 1, lên tới 2,7 nghìn tỷ Yen (24,5 tỷ USD), cũng khiến Việt Nam khó xoay sở nguồn tiền. Do vậy, việc huy động đủ số tiền để chi trả cho toàn bộ dự án là rất khó khăn.

Một vấn đề khác được đặt ra là liệu đường sắt cao tốc Bắc – Nam có phù hợp với nhu cầu của người sử dụng hay không, khi mà với sự xuất hiện của các hãng máy bay giá rẻ, việc bay từ Hà Nội tới TPHCM chỉ mất 2 tiếng với chi phí khoảng 2 triệu đồng. So sánh với đường không, chi phí cho việc di chuyển trên dự án đường sắt cao tốc không rẻ hơn nhiều mà lại mất tới 5 tiếng, do vậy lợi nhuận của dự án sẽ là một vấn đề cần xem xét. Dẫu vậy, nếu được vận hành định kỳ, đường sắt cao tốc có thể mang lại ưu thế lớn trên đoạn từ Hà Nội đến Vinh và từ TPHCM tới Nha Trang vì nếu di chuyển trên hai đoạn này bằng máy bay thì quá gần, trong khi bằng đường bộ lại quá lâu.

Năm 2009, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cân nhắc sử dụng công nghệ tàu cao tốc (shinkansen) của Nhật Bản. Khi đó, công ty đường sắt JR Đông Nhật Bản đã rất tích cực để nhận được thầu dự án này cho tới khi dự án bị Quốc hội Việt Nam phủ quyết năm 2010. Do vậy, các doanh nghiệp Nhật Bản giờ đây khá thờ ơ với dự án đường sát cao tốc Bắc Nam. Theo một doanh nhân Nhật Bản, doanh nghiệp nước này hiện hoài nghi về khả năng hiện thực hóa dự án cao tốc Bắc – Nam của Chính phủ Việt Nam.

Trung Quốc, đối thủ cạnh tranh của Nhật Bản trong các dự án hạ tầng cơ sở, đã đưa ra sáng kiến “Vành đai và con đường”, qua đó tích cực can dự vào các nước xung quanh thông qua các doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp Trung Quốc từng trúng thầu dự án đường sắt cao tốc tại Indonesia, trong khi các doanh nghiệp Nhật Bản bị từ chối trong một dự án tương tự ở Thái Lan. Việt Nam quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc cả về kinh tế lẫn chính trị, do vậy, việc doanh nghiệp Trung Quốc được nhận thầu tại các dự án quy mô lớn ở Việt Nam cũng là khả năng phải tính tới.

Nguồn: TKNB – 10/04/2019