Kinh nghiệm trong thời kỳ quá độ của Việt Nam có ích thế nào đối với Triều Tiên? – Phần I


Chuyến thăm gần đây tới Hà Nội của Bộ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Ri Yong Ho và tuyên bố rằng Việt Nam sẽ là nơi tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh lần thứ hai giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un vào ngày 27 – 28/02 tới đã khơi gợi lại mối quan tâm tới việc câu chuyện thành công của Việt Nam có thể liên quan thế nào tới Triều Tiên hiện nay. Vào cuối những năm 1980, cả hai nước đều phải đối mặt với tình trạng nền kinh tế nhà nước hoạt động yếu kém, sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc và cú sốc về kinh tế do sự cắt giảm mạnh viện trợ của Liên Xô và thương mại. Trong khi các cuộc khủng hoảng kinh tế kìm kẹp cả hai nước, thì những lựa chọn chiến lược của họ để ứng phó lại hoàn toàn khác biệt. Việt Nam chọn cách bắt tay vào cải cách kinh tế, rút quân khỏi Campuchia, giảm biên chế quân đội, cải thiện quan hệ với Mỹ và tự mở cửa ra cộng đồng quốc tế để tiếp nhận viện trợ, đầu tư và thương mại. Triều Tiên đã ứng phó bằng cách thực hiện các chính sách kinh tế tự lực theo chủ nghĩa biệt lập, tìm cách cải thiện quan hệ liên Triều, gia tăng căng thẳng quân sự bằng cách theo đuổi một chương trình vũ khí hạt nhân và một chính sách đối đầu với Mỹ, và kêu gọi viện trợ nhân đạo từ cộng đồng quốc tế khi phải đối mặt với sự suy sụp về kinh tế và nạn đói ngày càng tăng.

Quỹ đạo của hai nước kể từ đầu những năm 1990 minh chứng cho những kết quả đáng chú ý của các chiến lược này. Trong những thập kỷ qua, chế độ Triều Tiên đã phải vật lộn với những thách thức trong việc phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, ổn định xã hội và duy trì một hệ thống chính trị cộng sản, điều hẳn khiến người ta đặc biệt quan tâm tới kinh nghiệm của Việt Nam khi Kim Jong-un bắt đầu tiến hành cái gọi là đường lối chiến lược mới, ưu tiên phát triển kinh tế.

Những điểm tương đồng giữa Việt Nam khi đó và Triều Tiên hiện nay

Mặc dù hai nước rất khác nhau về tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế và nhân khẩu học, nhưng một số khía cạnh trong kinh nghiệm thời kỳ đầu quá độ của Việt Nam dường như có liên quan tới Triều Tiên hiện nay, bất chấp sự cách biệt về thời gian. Những khía cạnh này bao gồm:

+ Cam kết cao độ đối với việc cải thiện nền kinh tế;

+ Thử nghiệm cải cách;

+ Tìm hiểu quan điểm của người ngoài cuộc;

+ Thách thức của việc thay đổi chính sách an ninh quốc gia; và

+ Vai trò của những người ở miền Nam trong nền kinh tế.

Cam kết cao độ đối với việc cải thiện nền kinh tế

Năm 1986, sau một thập kỷ kinh tế đình trệ và lo sợ lạm phát cao, ban lãnh đạo Việt Nam tại Đại hội Đảng lần thứ 6 đã đạt được một sự đồng thuận về đường hướng mới cho chính sách cải cách kinh tế được gọi là Đổi Mới. Việc mất đi viện trợ của Liên Xô và thương mại cũng hư những lo sợ về sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc đã góp phần tạo nên những mối quan ngại này ở trong nước và dẫn tới quyết định tìm kiếm một mối quan hệ với Mỹ và mở cửa nền kinh tế Việt Nam với cộng đồng quốc tế nhằm giành được quyền tiếp cận tới tư vấn, viện trợ, đầu tư và thương mại.

Trong bài phát biểu mừng năm mới của mình vào năm 2012, Kim Jong-un đã nhấn mạnh việc cải thiện sinh kế cho toàn bộ người dân Triều Tiên và sau đó đưa ra nhữung thay đổi trong cơ cấu ra quyết định của ban lãnh đạo nhằm thể hiện sự thay đổi này. Tại Đại hội Đảng lần thứ 7 vào năm 2016, Triều Tiên chính thức thực hiện ch1inh sách chú trọng không kém đến an ninh quốc gia, nhấn mạnh các khả năng hạt nhân và tên lửa, và phát triển kinh tế. Năm 2017, căng thẳng quân sự leo thang và các biện pháp trừng phạt ngày càng gay gắt đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về tình trạng đối đầu và khủng hoảng kinh tế. Cuối năm đó – sau vụ thử vũ khí hạt nhân có đương lượng nổ cao và vụ phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) lần thứ ba, nước này tuyên bố đã đạt được khả năng vũ khí hạt nhân đáng tin. Năm 2018, Kim Jong-un tuyên bố chuyển sang ưu tiên phát triển kinh tế trong nước, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động ngoại giao nhằm cải thiện quan hệ với cộng đồng quốc tế và mở rộng sự ủng hộ cho một ỷ nguyên mới về hòa bình và hợp tác kinh tế.

Thử nghiệm cải cách

Ngay cả trước Đại hội Đảng năm 1986, Việt Nam đã thử nghiệm các cải cách kinh tế ở quy mô nhỏ. Trong đó có nhữung cải cách cấp cơ sở trong ngành nông nghiệp theo mô hình tập thể hóa và phong trào “phá rào” ở các doanh nghiệp nhà nước vốn đã dẫn tới việc chấp nhận các nhân tố thị trường trong quy hoạch kinh tế. Việc phân quyền trong quy trình ra quyết định là một nhân tố chủ chốt trong những thử nghiệm này.

Triều Tiên cũng sẵn sàng thử nghiệm những cải cách dưới thời Kim Jong-un, đáng chú ý là ở Đặc khu kinh tế Rason tại khu vực biên giới với Trung Quốc và Nga. Tương tự, vào năm 2014, các cải cách thử nghiệm đã được đưa ra nhằm giảm bớt quy mô nông trại, cho phép một phần sản lượng được sử dụng trong các hộ gia đình và được bán trên các thị trường, và trao cho các nhà quản lý doanh nghiệp sở hữu nhà nước quyền tự quyết lớn hơn. Kể từ năm 2016, những cải cách này được mở rộng và việc phân quyền hơn trong quy trình ra quyết định được chú trọng nhiều hơn. Các thị trường được hợp pháp hóa vào năm 2003, nhưng sự kháng cự mang tính ý thức hệ đối với vai trò của thị trường trong nền kinh tế đã khiến sự phát triển kinh tế trở nên phức tạp. Tuy nhiên, việc chấp nhận mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động dựa trên thị trường đã cho phép tiến hành thử nghiệm kinh tế ở quy mô lớn hơn, làm gia tăng tiêu chuẩn sống của nhiều người Triều Tiên cũng như tầng lớp trung lưu mới nổi.

Tìm hiểu quan điểm của người ngoài cuộc

Việt Nam đã chủ động tìm hiểu quan điểm của người nước ngoài về các lựa chọn chính sách và chiến lược kinh tế, bắt đầu bằng những cuộc tham vấn âm thầm không chính thức vào những năm đầu Đổi Mới. Sau đó, vào những năm 1990 đã diễn ra các cuộc tham vấn cả song phương lẫn đa phương với các chính phủ tài trợ và các nhà đầu tư tư hân. Các cuộc tham vấn này đã cải thiện chất lượng của quy trình ra quyết định và lòng tin của nước ngoài vào quy trình này, và đã thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác với các đối tác kinh tế trong khi ban lãnh đạo Việt Nam vẫn duy trì quyền sở hữu và quyền kiểm soát đối với tiến trình này.

Triều Tiên đã do dự trong việc tham gia đối thoại chính sách kinh tế cấp cao với các bên tham gia nước ngoài và thay vào đó theo đuổi một chính sách “quản lý theo cách riêng của chúng ta”. Căng thẳng chính trị và các biện pháp trừng phạt cũng đã cản trở các cuộc thảo luận này. Mặc dù vậy, trong những năm qua, các quan chức cấp thấp hơn và các học giả đã chủ động học hỏi kiến thức liên quan đến lĩnh vực kinh tế, thông qua các hình thức như tham gia các khóa bồi dưỡng và các buổi hội thảo trong nước, các chuyến học tập ở nước ngoài, các chương trình đào tạo đại học ở một số nước, và tích cực sử dụng mạng Internet để học hỏi kinh nghiệm của quốc tế và đào sâu hiểu biết về nền kinh tế thị trường. Những kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc và các mối quan hệ xuyên biên giới đã là một nguồn đặc biệt quan trọng cho các quan chức Triều Tiên học hỏi. Điều đã và đang bị bỏ qua là vai trò trong các thể chế tài chính quốc tế, mặc dù vào tháng 7/2014, Triều Tiên đã được thừa nhận là quan sát viên của Nhóm châu Á – Thái Bình Dương về chống rửa tiền thuộc Lực lượng đặc nhiệm tài chính thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

(còn tiếp) 

Nguồn: www.38north.org – 07/02/2019

TLTKĐB – 14/02/2019

Advertisements

Việc nới lỏng kiểm tra phế liệu nhập và hệ lụy


Theo đài RFA, vào những ngày sát Tết, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường bãi bỏ một số nội dung liên quan đến quy trình kiểm tra chất lượng phế liệu nhập khẩu. Liệu việc này có tạo cơ hội cho phế liệu, rác thải công nghệ tràn ngập Việt Nam?

Thời gian qua, các cảng lớn của Việt Nam như Hải Phòng, Cát Lái, Thị Vải, Cái Mép tồn đọng hàng nghìn container phế liệu nhập khẩu, gây khó khăn và thiệt hại cho doanh nghiệp. Khi trả lời báo chí, đại diện một số doanh nghiệp cho rằng, việc hàng nghìn container phế liệu bị chậm thông quan là do doanh nghiệp bị quá nhiều phía “hành”. Ngoài một phần trách nhiệm nhỏ của Cảng vụ, thì trách nhiệm chính thuộc về Tổng cục Hải quan và Bộ Tài nguyên – Môi trường. Tuy nhiên, hai cơ quan này cứ đùn đẩy trách nhiệm và đổ lỗi cho nhau. Phó giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, nguyên Viện phó Viện Nghiên cứu thị trường và giá cả, nhìn nhận tình trạng gây phiền hà nhũng nhiễu để trục lợi.

Ngoài ra, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, số lượng phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam năm 2018 là 9.254.300 tấn, tăng hơn 1.308.100 tấn so với năm 2017. Nguyên nhân lượng phê liệu nhựa nhập khẩu vào Việt Nam gia tăng đột biến trong 6 tháng đầu năm 2018, được các chuyên gia cho rằng, là do Trung Quốc có chủ trương cấm nhập khẩu phế liệu. Cụ thể, bắt đầu từ 01/01/2019, Trung Quốc bổ sung thêm 8 loại phế liệu không được phép nhập khẩu, tăng từ 24 lên 32 loại. Ngoài ra, Malaysia gần như cắt giảm hầu hết danh mục phế liệu được phép nhập khẩu vào quốc gia này.

GS.TS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường, nhận xét về tình trạng này: “Đấy là một quá trình cũng có thay đổi chính sách nhất định, cũng có những lúc Việt Nam yêu cầu không được nhập phế thải, tức là những phê thải có thể được sử dụng cho một khâu nào đó, một ngành nào đó, nhưng cũng có lúc lại xả ra, lại chấp nhận. Đấy là trong quá trình lịch sử dài. Nhưng chúng ta cũng thấy rằng, cái gì là được, cái gì là không được mới là quan trọng. Về việc mà tồn đọng ở các cảng, tôi cho rằng cũng do các cái thay đổi chính sách trogn cả quá trình lịch sử vừa rồi cũng có thể gây ra”.

Việt Nam hiện đang đứng trong top đầu về xả thải rác ra đại dương, chưa kể việc tồn đọng rác xảy ra khắp nơi, vì vậy, nhà báo Mai Quốc Ẩn cho rằng chắc chắn Việt Nam không hề thiếu nguyên liệu tái chế. Theo ông, là do việc phân loại rác từ nguồn đã không được làm tốt. Đặc biệt tình trạng độc quyền xử lý rác bằng công nghệ chôn lấp lạc hậu gây ô nhiễm bị thao túng nghiêm trọng.

Theo nhà báo Mai Quốc Ẩn, nhập khẩu phế liệu cũng đồng nghĩa với nhập khẩu thêm ô nhiễm, thêm bệnh tật, thêm cả áp lực an sinh xã hội sau đó. Ông cũng cho rằng nhập khẩu rác cũng chính là đi ngược lại với thông điệp không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Hiện có hơn 24000 container phế liệu chưa được thông quan tại các cảng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, nếu bỏ bớt một số nội dung liên quan đến quy trình kiểm tra chất lượng phế liệu nhập khẩu để giải tỏa ách tắc, thì sẽ có bao nhiêu phế liệu kém chuẩn tràn vào Việt Nam? Ngoài phê liệu làm nguyên liệu sản xuất, còn có thể có tình trạng nhiều loại công nghệ lạc hậu theo đó tràn vào Việt Nam.

Giáo sư Đặng Hùng Võ đề ra giải pháp: “Song song với quá trình kiểm soát nhập phế thải thì nhập công nghệ cũng cần phải được kiểm soát chặt chẽ. Tôi cho rằng, Việt Nam hiện nay cũng trên con đường đưa được các bước kiểm soát việc nhập công nghệ rất là chặt và đều có kiểm tra của bên Bộ khoa học công nghệ. Hy vọng, việc thực thi pháp luật vốn được coi là chưa tốt ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ tốt hơn, và hiệu quả thực thi pháp luật sẽ cao hơn”.

Trước đây, từng xảy ra tình trạng rác thải được nhập ồ ạt vào Việt Nam, khi đó việc ngăn chặn hành động này để bảo vệ môi trường cũng ảnh hưởng luôn đến việc nhập khẩu phế liệu của một số ngành sản xuất. Nay lại tháo gỡ một số quy định để thông quan nguyên liệu phế thải, thì lại phát sinh lo ngại rác thải có thể được nhập ồ ạt vào Việt Nam. Đây là câu hỏi khó trả lời dành cho các nhà quản lý chính sách của Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, Giáo sư Đặng Hùng Võ cho biết: “Tôi cho rằng, cuối cùng, chúng ta phải giữ những khâu nào được gọi là kiểm soát chặt, và cũng cần thiết đơn giản hóa thủ tục hành chính. Miễn là chúng ta có thể đánh giá được cái nào (tiêu chuẩn kiểm tra) là cái phải loại bỏ, tức là không được đưa vào và cái nào nên đưa vào. Những điều theo ý tưởng của các nhà quản lý, tôi cho rằng nếu chúng ta làm tốt những khâu như kiểm soát chặt, đồng thời đơn giản hóa hay loại bỏ những khâu mang tính thủ tục, mà không có hiệu quả quản lý, thì tôi cho rằng tư duy ấy cũng là tốt”.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Vấn đề thoát nghèo của Việt Nam


Theo đài RFA, theo một số thông tin được công bố thì mức thu nhập trung bình đầu người của Việt Nam vào năm 2008 đạt xấp xỉ 1000 USD. Đây được xem là mức thu nhập trung bình, và bắt đầu từ lúc đó, nhiều nhà quan sát kinh tế chính trị cảnh báo rằng Việt Nam sẽ bị rơi vào bẫy thu nhập trung bình, trong đó, nền kinh tế chủ yếu dựa vào việc khai thác sức lao động rẻ và giản đơn.

Đầu 2019, một viên chức cao cấp của Việt Nam là ông Nguyễn Chí Dũng, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư lặp lại lời cảnh báo đó với tình trạng Việt Nam hiện nay nằm trong bốn cái bẫy: chi phí lao động thấp, sản xuất có giá trị thấp, có công nghệ thấp, và thu nhập trung bình.

Thực ra, trong bốn điều vừa nêu thì điều thứ tư bao gồm ba điều còn lại gắn chặt với nhau, vì với lao động rẻ, giản đơn, chỉ có thể thao tác máy móc công nghệ thấp, hoặc không có máy móc, và vì thế tạo ra những sản phẩm không có giá trị cao.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội, nhận xét về tình trạng thu nhập trung bình của Việt Nam hiện nay: “Chúng ta đã đạt được mức trung bình trong một thời gian khá dài rồi. (Năm nay) là xấp xỉ 2500 USD/người, nhưng để đạt mức 12.000 USD/người, lại là một quá trình rất dài và khó khăn”.

Mức 12.000 USD/người một năm được xem như thu nhập của một quốc gia đã trở nên giàu có.

Theo một chuyên gia kinh tế khác là Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ, từ Na Uy, để cho một quốc gia thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình, không còn nghèo nữa thì cần ba điều sau đây: “Thứ nhất là trình độ khoa học kỹ thuật của dân chúng phải cao, thứ hai là các công ty phải có sự sáng tạo, và thứ ba là thể chế của nhà nước phải tạo điều kiện cho sự sáng tạo đó”.

Ông dẫn ví dụ là Malaysia, một quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, láng giềng với Việt Nam đang được dự báo là sẽ thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình để trở thành một nước giàu có sắp tới đây.

Khi được hỏi là nếu so sánh với Malaysia, Việt Nam có dân số quá đông đúc cần phải giải quyết việc làm ngay lập tức cho số lao động giản đơn, thì liệu chuyện thoát bẫy trung bình đó có khó khăn hơn hay không, ông Nguyễn Huy Vũ cho rằng trong bất cứ quốc gia nào cũng có hai lĩnh vực công nghiệp song song, một lĩnh vực chiếm dụng công lao động nhiều, một lĩnh vực khác cần kỹ thuật và kiến thức nhiều hơn. Theo ông Vũ, sự đầu tư vào lĩnh vực thứ hai sẽ làm cho nền kinh tế từ từ dịch chuyển ra khỏi khu vực chỉ sử dụng sức lao động giản đơn.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng đề cập đến việc phải thay đổi thể chế để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Ông nhấn mạnh rằng trong tình hình Việt Nam hiện nay sự hình thành các nhóm lợi ích có quyền lực chính trị kinh tế lớn sẽ ngăn cản sự thay đổi thể chế đó: “Các nước bị mắc bẫy thu nhập trung bình thì có nhiều lý do, trong đó có thể chế với các nhóm tư lợi, tham nhũng. Ví dụ như những nhóm này khống chế việc khai thác tài nguyên, xuất nhập khẩu, họ không cần quan tâm gì cả đến việc đầu tư phát triển công nghệ để đưa đất nước đi lên”.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói thêm là sự thay đổi chính sách, thể chế có thể khuyến khích sự đầu tư tư nhân, tạo nên một chuỗi sản xuất thoát khỏi tình trạng một sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam nhưng có rất ít giá trị là được tạo ra tại Việt Nam. Ông lấy ví dụ như ngành công nghiệp dệt may tại Việt Nam hiện nay, giá trị của một chiếc áo có khi chỉ có 50% là được tạo ra tại Việt Nam.

Một số ngành thoạt nhìn thì có thể nghĩ là có nhiều giá trị được tạo ra thay vì chỉ là lao động giản đơn, như sản xuất điện thoại thông minh tại Việt Nam, nhưng theo ông Nguyễn Huy Vũ, thực tế có thể không phải như vậy.

Hiện nay, Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất điện thoại thông minh Samsung lớn nhất thế giới, và xuất khẩu điện thoại của hãng này chiếm đến 1/4 xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2018. Tuy nhiên, ông Vũ cho rằng những công ty như Samsung có cơ sở nghiên cứu, thiết kế ở các quốc gia phát triển như châu Âu, Bắc Mỹ, còn tại Việt Nam là nơi được đầu tư để sử dụng sức lao động lắp ráp giá rẻ mà thôi.

Song song với việc thay đổi thể chế, để nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của dân chúng, còn một điều quan trọng nữa để thoát bẫy thu nhập trung bình, ông Nguyễn Huy Vũ nhấn mạnh, là việc phải có tự do dân chủ hơn: “Cuối cùng phải cải cách về dân chủ, vì khi người dân có được suy nghĩ dân chủ khác biệt, thì họ mới có sức sáng tạo, đổi mới được”.

Đối với giáo sư Ngô Vĩnh Long, từ Đại học Maine, vấn đề giáo dục là vấn đề sẽ cản trở Việt Nam phát triển: “Vấn đề là có chính sách tốt hay không. Có chính sách tốt thì không lọt vào cái bẫy thu nhập trung bình đó. Mà chính sách tốt là vấn đề giáo dục. Việt Nam không có giáo dục tốt nên không thể đầu tư cái gì cả. Thành ra chỉ có thể làm công cho Samsung thôi, chứ còn hơn nữa thì không đủ trình độ cũng như kỹ năng để theo kịp”.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho biết, từ những năm 1980, ông đề nghị các giới chức Việt Nam chú ý đến việc giáo dục, nhất là các cấp tiểu học và trung học, nhưng không được lắng nghe, vì VIệt Nam mong muốn có cái gọi là đi tắt đón đầu, chú ý vào việc phát triển đại học. Ông đưa ra ví dụ về Hàn Quốc, ngay cả dưới thời chế độ độc tài trước đây, họ đã bắt đầu chú ý đến giáo dục, bắt đầu trước tiên ở những cấp thấp nhất. Hàn Quốc là quốc gia được xem là đã tăng tốc thành công vượt qua khỏi tình trạng thu nhập trung bình để trở thành một nước công nghiệp phát triển giàu có, nơi sản sinh ra tập đoàn Samsung hùng mạnh đầu tư vào Việt Nam để sử dụng sức lao động rẻ tại đây.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Trung Quốc mạnh lên và Việt Nam phải chuẩn bị cho điều đó


Báo Đất Việt bình luận, muốn chơi với một nước lớn thì Việt Nam phải thay đổi cách chơi, phải lớn dần lên, TS Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Chính sách công nghiệp thuộc Bộ Công Thương cũng đồng tình với nhận định của GS.TS. Vũ Minh Khương, Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Singapore) khi cho rằng Trung Quốc đang mạnh lên và Việt Nam phải chuẩn bị cho điều đó.

Theo ông, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và quốc gia này cũng cho thấy họ sẽ không dừng lại mà thậm chí còn tiến xa hơn nữa để trở thành nền kinh tế số 1 thế giới, thay thế Mỹ. Đây là điều Mỹ không hề mong muốn, nhất la sau thời gian dài quốc gia này để Trung Quốc phát triển tự do. Tới thời điểm này, Mỹ đã giật mình nhận ra khả năng phát triển rất nhanh của Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Vì thế, Mỹ phải nhanh chóng đưa ra biện pháp nhằm kìm hãm tốc độ bùng nổ của Trung Quốc.

TS Dương Đình Giám cho rằng Trung Quốc chưa thể so sánh được với Mỹ về cả đẳng cấp chính trị, kinh tế cũng như trình độ khoa học công nghệ. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn c1o được những gì mình muốn nhờ vào những chiêu trò, hoặc các chiêu thức xâm phạm bản quyền sở hữu trí tuệ của các công ty Mỹ để tạo ra các sản phẩm khoa học cho mình.

Với cách đi như vậy, cuộc chiến tranh thương mại chưa thể dừng lại nhưng cũng không đi theo hướng sát phạt nhau mà thực chất là cả hai quốc gia đều đang thăm dò, tìm kiếm lợi ích từ nhau. Cuộc chiến có thể sẽ dừng lại khi cả hai bên thống nhất đi tới một số thỏa thuận nhất định. Vì thế, TS Dương Đình Giám cũng đồng ý với nhận định của GS.TS Vũ Minh Khương khi cho rằng Trung Quốc là quốc gia có khả năng ứng đáp chiến lược rất tốt. Chắc chắn sau khi cuộc chiến thương mại dừng lại, trật tự thế giới sẽ tiến tới một nấc thang mới mà trong đó Trung Quốc cũng sẽ nắm giữ vị trí rất quan trọng. Ông cho biết, Trung Quốc là quốc gia có sức ảnh hưởng rất lớn về thương mại, giao thương với các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới. Do đó, khi vị thế của Trung Quốc thay đổi, mối quan hệ giao thương giữa các nước với Trung Quốc cũng sẽ có nhiều thay đổi.

Việt Nam cần làm gì?

Việt Nam là quốc gia đứng cạnh Trung Quốc, chắc chắn sẽ chịu rất nhiều tác động cả tiêu cực lẫn tích cực từ sự thay đổi của quốc gia này. Đặc biệt, trong bối cảnh mối quan hệ kinh tế hai chiều gắn kết, chặt chẽ nhưng phía bị phụ thuộc là Việt Nam, khả năng tìm kiếm lợi ích của Việt Nam sẽ ngày càng khó khăn hơn. Dù vậy, TS Dương Đình Giám vẫn cho rằng, còn có nhiều cách Việt Nam có thể tận dụng, khai thác được từ người láng giềng khổng lồ để giúp cho nền kinh tế trong nước phát triển, quan trọng nhất là vẫn phải thay đổi “cách chơi”. Việt Nam không thể chơi với Trung Quốc theo cách như đang chơi, mà cần phải chuẩn bị một tâm thế lớn khi chơi với một nước lớn. Do đó, việc Việt Nam phải làm là:

Thứ nhất, cần tận dụng lợi thế của mình, khai thác tốt thị trường đông dân, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cao và đa dạng ở nhiều cấp chất lượng của Trung Quốc để bán hàng. Đối với Việt Nam, Trung Quốc vẫn được coi là thị trường xuất khẩu rất tiềm năng, nhưng thực tế, chúng ta vẫn chưa tận dụng được lợi thế này. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện mới chỉ nhìn nhận thị trường Trung Quốc theo tầm nhìn ngắn hạn, “có lợi là làm, dễ làm khó bỏ”; chứ chưa xác định được chiến lược một cách bài bản để từng bước chinh phục thị trường này, chí ít là các thị trường ngách, các địa phương ở Tây và Nam Trung Quốc. TS Dương Đình Giám nói: “Vấn đề chính của chúng ta là làm sao vươn lên được để có thể tận dụng, khai thác được lợi thế từ thị trường xuất khẩu vào nước này chứ không chỉ tìm cách bán hàng theo con đường tiểu ngạch vừa rủi ro, vừa thiệt thòi”.

Cùng với đó, ông cũng cho rằng, Việt Nam phải đang phải đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ trên mọi lĩnh vực, không ngừng nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế để tránh nguy cơ lệ thuộc hoàn toàn vào một thị trường, mà cụ thể ở đây là Trung Quốc.

Thứ hai, về nhập khẩu, ông cũng nhắc nhở doanh nghiệp trong nước phải thay đổi tư duy, tâm lý ham rẻ, mua bán dễ dàng (nhập khẩu qua đường tiểu ngạch) để nhập hàng hóa, nguyên vật liệu chất lượng thấp từ thị trường Trung Quốc làm tổn hại đến ngườit iêu dùng cũng như bóp chết sản xấut trong nước.

Bản thân các doanh nghiệp trong nước phải xác định lại thị trường mục tiêu của mình theo cấp độ tăng dần… Tuy nhiên, để mở rộng sang các thị trường khó tính (cả xuất khẩu và nhập khẩu), đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư khoa học công nghệ để nâng cao phẩm cấp của hàng xuất khẩu; đồng thời nâng cao năng lực quản trị để tiết giảm chi phí, bù lại chi phí vận chuyển xa hơn đối với các thị trường này (so với xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc), thì mới mong giảm được sự phụ thuộc và tránh được những rủi ro từ thị trường Trung Quốc.

Theo TS. Dương Đình Giám, ngay cả khi xác định Trung Quốc là thị trường mục tiêu, Việt Nam cũng phải xác định làm sao để nâng cao được năng lực sản xuất, tận dụng được các lợi thế mà thị trường Trung Quốc mang lại, từ đó củng cố vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trên thương trường quốc tế. Sự thay đổi này là bắt buộc vì Trung Quốc mạnh lên cũng đồng nghĩa với những yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật hàng hóa cũng cao hơn, khắt khe hơn. Khi đó, hàng hóa Việt Nam muốn vào được thị trường Trung Quốc cũng đòi hỏi phải đạt tới một trình độ, chất lượng nhất định, ngược lại với tình trạng tại thị trường nội địa, hàng hóa Trung Quốc sẽ tràn ngập. Nếu hàng hóa trong nước không bảo đảm sẽ không thể cạnh tranh được.

Với sự thay đổi tới đây, ông cho rằng cuộc cạnh tranh giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa Trung Quốc không chỉ dừng lại ở những chiêu trò như đội lốt hàng Việt, hàng nhái, hàng giả nữa mà sẽ là cuộc cạnh tranh công khai, rất khốc liệt. Do đó, nếu doanh nghiệp không thay đổi thì chỉ có thất bại và nhận thua.

Từ nhìn nhận trên, ông Dương Đình Giám cho rằng, nếu Việt Nam muốn tiến nhanh và có thể hưởng lợi được từ nước láng giềng thì cần phải thực hiện cải cách, thay đổi một cách toàn diện. Đặc biệt về khung khổ chính sách, phương thức phát triển, hỗ trợ nhằm giúp doanh nghiệp trong nước có được điều kiện phát triển tốt nhất.

Tuy nhiên, hơn ai hết, bản thân các doanh nghiệp mới là người quyết định. Vấn đề thay đổi tư duy, tầm nhìn, tự thay đổi để trưởng thành lên. Tóm lại, nếu Việt Nam muốn giảm sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thì phải có sự thay đổi đồng bộ từ cả hai phía Nhà nước và doanh nghiệp. Quan trọng nhất, Việt Nam vẫn phải đẩy mạnh, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, trong tương lai, đây chính là nền tảng thúc đẩy nền kinh tế nước nhà phát triển.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Hệ lụy tự chủ hóa trong lĩnh vực y tế công tại Việt Nam


Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng coi lĩnh vực y tế công cộng là một gánh nặng tài chính và đang loại bỏ dần các khoản trợ cấp khỏi hệ thống chăm sóc y tế. Theo Báo cáo đánh giá chi tiêu công của Việt Nam mới đây, mỗi năm, có khoảng 2,5% số hộ gia đình tại Việt Nam (khoảng 2 triệu người) rơi vào nghèo đói vì chi phí y tế. Nguyên nhân gốc rễ của tình hình trên là quyết định của chính phủ cho các bệnh viện công được quyền tự chủ.

Cơ chế “tự chủ” của Việt Nam buộc các bệnh viện công phải tạo ra nguồn thu nhập “bên ngoài” để thay thế nguồn ngân sách bị thiếu hụt. Những bệnh viện có cơ chế tự chủ sẽ độc lập hơn trong các lĩnh vực tạo ra doanh thu, bao gồm việc linh hoạt hơn trong huy động vốn, sử dụng doanh thu cho các hoạt động liên quan tới dịch vụ và phân bổ doanh thu thuần. Do ngân sách quốc gia liên tục thâm hụt, Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu coi dịch vụ chăm sóc y tế là gánh nặng xã hội và kinh tế, hơn là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế. Giới tinh hoa lãnh đạo xem tự chủ là chiến lược để giảm – và loại bỏ dần – trợ cấp của nhà nước dành cho dịch vụ chăm sóc y tế.

Khác với những sáng kiến tương tự tại hầu hết các quốc gia khác, cải cách y tế tại Việt Nam chủ yếu là thương mại hóa và kiếm tiền từ chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Cơ sở của chính sách này là sự thiếu hụt nguồn lực liên miên mà chủ yếu do tỷ lệ nợ công cao của Việt Nam kể từ năm 2008.

Cấu trúc xã hội chủ nghĩa sai lầm của nền kinh tế chính là nguyên nhân gây ra các vấn đề nghiêm trọng của nền kinh tế. Chính phủ dành ưu tiên cho khu vực kinh tế nhà nước với cái giá phải trả là khu vực tư nhân kém phát triển. Mô hình phát triển kinh tế này đã dẫn đến việc quản lý rất kém, lãng phí và tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế nhà nước, khiến một số doanh nghiệp nhà nước bị thua lỗ lớn trong thời gian gần đây.

Trong quá trình nghiên cứu với các bệnh viện công ở Việt Nam, tác giả bài viết phát hiện rằng những thay đổi như vậy cũng đã tạo ra một số “cách” tối đa hóa doanh thu phi đạo đức giữa các bệnh viện công nhằm đem lại lợi ích “khủng” dành cho các bệnh nhân chấp nhận chi trả mức phí cao hơn, mời chào các dịch vụ không cần thiết, sử dụng quá mức các thiết bị chẩn đoán công nghệ cao, kê đơn thuốc không phù hợp và kéo dài thời gian nằm viện cũng như thu các khoản phí phi chính thức. Những hành động này là biểu hiện của sự biến tướng và lạm dụng trong lĩnh vực y tế. Một số chuyên gia y tế “độc quyền” đang cố gắng “móc túi” càng nhiều càng tốt từ người bệnh sử dụng dịch vụ. Hệ quả là dịch vụ chăm sóc y tế công tại Việt Nam ngày càng bị thương mại hóa với tốc độ ngày càng tăng, gây ra gánh nặng tài chính đáng kể cho người sử dụng dịch vụ. Thiếu hụt một hệ thống an sinh xã hội hiệu quả đã khiến hàng triệu người Việt Nam bị nghèo hóa do phải chi tiêu “thảm khốc” cho dịch vụ chăm sóc y tế. Điều đó cho thấy cải cách y tế của Việt Nam chỉ là cách nói hoa mỹ cho việc đẩy gánh nặng tài chính về phía xã hội. Sự chuyển đổi này (thường được gắn mác trong các tuyên bố chính sách là tuân thủ các quy tắc thị trường) thể hiện sự thay đổi căn bản trong vai trò của chính phủ xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước sẽ không tiếp tục đảm bảo quyền tiếp cận công bằng và phổ quát với dịch vụ chăm sóc y tế. Thay vào đó, nhà nước quyết tâm đưa các dịch vụ chăm sóc y tế gia nhập sâu hơn vào kinh tế thị trường. Nhà nước cũng hiếm khi từ bỏ quyền kiểm soát với mục đích tối đa hóa hiệu quả thị trường hay theo đuổi tính hợp lý kinh tế. Nhà nước cũng không muốn từ bỏ việc quản lý và chấp nhận phân cấp. Nói chính xác hơn, cách thức này biểu hiện ý định xã hội chủ nghĩa vay mượn sáng kiến tư bản chủ nghĩa cho mục tồn tại chính trị và tài chính. Tưt ưởng tân tự do được biểu hiện một cách mạnh mẽ nhất trong việc chính phủ trao quyền tự chủ cho ngành y tế ở Việt Nam. Hệ quả của tiến trình cải cách này cho thấy tầm quan trọng của việc tăng chi tiêu tài chính nhà nước cho dịch vụ chăm sóc y tế. Các bệnh viện công không thể và không được theo đuổi thương mại hóa thành công.

Việt Nam cần thay đổi tư duy về dịch vụ chăm sóc y tế và những đóng góp của lĩnh vực này cho phát triển kinh tế – đầu tư y tế công cần được coi là đầu tư cho phát triển, chứ không phải là gánh nặng kinh tế. Là một nhà nước phúc lợi rất quan trọng với Việt Nam. Hơn bao giờ hết, Việt Nam cần tiếp tục cấp kinh phí cho lĩnh vực y tế và tập trung nâng cao hiệu quả chăm sóc y tế.

Nguồn: Policyforum (Australia)

TKNB – 30/01/2019

CPTPP sẽ mở đường cho việc thành lập công đoàn độc lập


Ngày 12/11/2018, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Như vậy, Việt Nam là nước thứ 7 thông qua hiệp định này, sau các nước New Zealand, Canada, Australia, Nhật Bản, Mexico và Singapore. CPTPP sẽ có hiệu lực kể từ ngày 30/12/2018.

Không chỉ tác động về mặt kinh tế, CPTPP, một hiệp định tự do thương mại thế hệ mới, còn có những tác động to lớn về mặt xã hội ở Việt Nam, đặc biệt về lao động. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hiệp định này đặt ra những yêu cầu cụ thể về quyền lao động và điều kiện làm việc nhằm đảm bảo tự do thương mại, nói chung là buộc Việt Nam phải hiện đại hóa pháp luật về lao động, giúp người lao động và doanh nghiệp cùng được hưởng lợi ích về kinh tế một cách công bằng.

Theo thống kê, tại Việt Nam đã có hơn 6000 cuộc đình công diễn ra kể từ giữa thập niên 90 và tất cả đều là đình công tự phát, không phải do công đoàn khởi xướng. Trả lời phỏng vấn RFI, luật sư Cao Hoàng Sang, Văn phòng luật sư Hoàng Luật Việt, cũng đưa ra nhận định tương tự:

Hiện tại, ở Việt Nam, đa phần người lao động bị thiệt thòi vì tổ chức công đoàn lại ăn lương của người sử dụng lao động, cho nên, công đoàn này thường hoạt động không hiệu quả và không bảo vệ được người lao động. Chính vì vậy, tất cả tranh chấp, đình công đều mang tính tự phát. Khi mà tự phát như vậy thì họ không biết được đâu là quyền của mình và đâu là nghĩa vụ của mình, cho nên người lao động thường là bị ép hoặc không được đảm bảo quyền lợi.

Một điều nữa là pháp luật Việt Nam hiện nay cũng chưa tham gia những công ước bảo vệ người lao động, cũng như bảo vệ người sử dụng lao động một cách tốt nhất theo luật quốc tế”.

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP yêu cầu tất cả các nước tham gia phải thông qua và duy trì các quyền được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO về Các nguyên tắc và Quyền cơ bản trong lao động trong pháp luật, thể chế và thông lệ của họ. Các quyền này được quy định trong 8 công ước cơ bản của ILO.

Tuy nhiên, theo ILO, cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa phê chuẩn ba công ước cơ bản (Công ước số 87, 98 và 105) liên quan đến quyền tự do hiệp hội, quyền thương lượng tập thể và xóa bỏ lao động cưỡng bức. Luật sư Hoàng Cao Sang cho biết:

Điều quan trọng nhất mà hiệp định này đưa ra, đó là Việt Nam phải cam kết về vấn đề chế độ lao động, cụ thể là trong chương 19 của hiệp định, họ viện dẫn rất nhiều quy định pháp luật, trong đó có Tuyên bố của ILO 1998. Trong tuyên bố đó có 8 công ước, Việt Nam mới ký được 5 công ước, còn 3 công ước nữa chưa ký.

Tôi cho rằng đây là những công ước rất quan trọng đối với việc Việt Nam phải thay đổi cơ chế làm việc của mình trong các doanh nghiệp, đối với người sử dụng lao động cho đến người lao động và pháp luật đối với quan hệ lao động này.

Trong 3 công ước chưa ký đó, tôi cho rằng công ước 87 hơi “nhạy cảm” với cơ chế và pháp luật Việt Nam, đó là quyền tự do hiệp hiệp và việc bảo vệ quyền được tổ chức. Đó là công ước quan trọng nhất đã gây cản trở nhiều nhất trong quá trình đàm phán gia nhập CPTPP. Công ước có quy định là người lao động và người sử dụng lao động được quyền tự tạo một tổ chức và tham gia tổ chức theo sự lựa chọn của mình, chứ không phải như quy định bây giờ phải theo công đoàn chính thức.

Còn công ước 98 về những nguyên tắc quyền tổ chức và thương lượng tập thể đối với người lao động. Công ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức. Điều quan trọng mà họ đưa ra là khi người lao động đình công hoặc bị xử lý kỷ luật thì sẽ không bị cưỡng bức, không bị bắt làm một công việc nào đó mang tính cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử chủng tộc, xã hội, tôn giáo”.

Về lộ trình phê chuẩn 3 công ước cơ bản này, luật sư Hoàng Cao Sang cho biết:

Khi Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn tham gia thì tất nhiên Việt Nam phải sửa đổi pháp luật và những cơ chế đúng với 3 công ước nói trên. Theo lộ trình, Việt Nam sẽ phê chuẩn công ước 98 vào năm 2019, công ước 105 vào năm 2020 và công ước 87 vào năm 2023. Công ước 87 là công ước gây cản trở nhiều nhất, Việt Nam phải có một thời gian nhất định để tham gia ký kết và phê chuẩn công ước ấy”.

Để thực thi những nguyên tắc được đề ra trong các công ước cơ bản, việc sửa đổi Bộ Luật Lao đ6ọng là bước đầu tiên và quan trọng nhất tại Việt Nam. Theo kế hoạch, dự thảo Bộ Luật Lao động sửa đổi sẽ được trình Quốc hội thông qua vào cuối năm 2019.

Về lâu dài, sau khi CPTPP có hiệu lực, người lao động ở Việt Nam trên nguyên tắc sẽ được phép thành lập hay gia nhập các tổ chức do họ tự lựa chọn ở cấp cơ sở, và những tổ chức đó có thể không thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức công đoàn chính thức. Như vậy, CPTPP sẽ mở đường cho việc hình thành công đoàn độc lập ở Việt Nam, một xu thế mà chính quyền đã cố trì hoãn, nhưng cuối cùng buộc phải chấp nhận đi theo. Đối với luật sư Hoàng Cao Sang, CPTPP và tiếp đến là hiệp định tự do mậu dịch với Liên minh châu Âu (EU) là những động lực buộc Việt Nam phải thay đổi.

Nguồn: TKNB – 05/12/2018

Học tập “Mô hình Việt Nam”, liệu Triều Tiên có thể tốt đẹp hơn?


Thẩm Thi Vĩ

Cùng với việc thời gian Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ – Triều Tiên lần 2 ngày càng đến gần, thủ đô Hà Nội của Việt Nam đang thu hút sự quan tâm của cả thế giới.

Bắt đầu từ ngày 12/2, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã có chuyến thăm 3 ngày đến Triều Tiên và những thông tin về việc nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un có thể tiến hành chuyến thăm cấp nhà nước đến Việt Nam khiến cho dự luận các nước bên ngoài về việc Mỹ mong muốn Triều Tiên học tập “Mô hình Việt Nam” tiếp tục nóng lên.

Tôi gần đây đã đi thăm các địa phương ở Triều Tiên, không những cảm nhận được sự thay đổi “đông qua xuân đến”, mà còn xem xét ý đồ của Mỹ phía sau đề xuất “Mô hình Việt Nam” đối với Triều Tiên.

Liệu học tập “Mô hình Việt Nam” có giúp mối quan hệ thù địch Mỹ – Triều thay đổi thành đối tác chăng?

Tháng 7/2018, phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Pompeo trong chuyến thăm Việt Nam đã gây bất ngờ: “Sự phồn vinh của Việt Nam hiện nay và quan hệ đối tác Mỹ – Việt từng có thời khó tưởng tượng nổi, trên cơ sở bài học đó, tôi có một thông tin mong muốn truyền đạt đến Chủ tịch Kim Jong-un: Tổng thống Trump tin tưởng quốc gia của ngài có thể học tập mô hình này”.

Mặc dù cách giải thích của các bên hiện nay đối với “Mô hình Việt Nam” khác nhau, nhưng xem xét từ ý tưởng của Washington, Triều Tiên thực hiện cải cách dân chủ hóa, thị trường hóa kiểu Việt Nam, giống như Việt Nam tích cực xích lại gần Mỹ, xây dựng quan hệ đối tác tương ứng với Mỹ là nội hàm cốt lõi.

Liệu “Mô hình Việt Nam” trong mối quan hệ Việt – Mỹ có thực sự tốt hơn?

Năm 2015, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã đi thăm Mỹ, trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên đến thăm Mỹ. Tôi đã đăng bài với tiêu đề “40 năm quan hệ Việt – Mỹ – kẻ thù trở thành bạn bè?” đề cập đến chủ đề này. Từ cách nói “tôn trọng chế độ chính trị và chủ quyền lãnh thổ của nhau” trong tuyên bố chung lần này và Việt Nam hàng năm yêu cầu Mỹ ngừng tiến hành diễn biến hòa bình, từ bỏ chính sách thù địch đối với họ, có thể thấy sự lo ngại của Hà Nội.

Năm 2013, Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang thực hiện thành công chuyến thăm Mỹ, hai nước tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác hợp tác toàn diện. Nhưng chỉ 5 ngày sau, Hạ viện Mỹ lại thông qua “Dự thảo luật về nhân quyền Việt Nam năm 2013”, chỉ trích gay gắt tình hình nhân quyền của Việt Nam, khiến Việt Nam rất cảnh giác đối với ý đồ chính trị của Mỹ. Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius khi đó đã bày tỏ quan ngại sâu sắc đối với việc Việt Nam bắt giữ “những nhân sĩ bất đồng chính kiến”.

Cựu Ngoại trưởng Mỹ John Kerry từng nhận định về chính sách Việt Nam của Washington: “Tuy Việt Nam hiện nay do một đảng quản lý, vi phạm nhân quyền, không phải là mong muốn của chúng ta, nhưng Mỹ đang thông qua các biện pháp ngoại giao thành công như thành lập Đại học Fulbright hoàn toàn độc lập, thúc đẩy Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), từng bước một… để thay đổi Việt Nam. Dần dần, Việt Nam sẽ chứng minh sự thay đổi đó”.

Từ khi Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 11/07/1995 đến nay, chủ trương của Mỹ thúc đẩy diễn biến hòa bình đối với Việt Nam không hề thay đổi, đã trở thành một trong những trở ngại chủ yếu cho sự phát triển bình thường quan hệ hai nước.

Kinh nghiệm kinh tế theo “Mô hình Việt Nam” liệu có khả thi hay không?

Về việc Việt Nam thông qua cải cách mở cửa để thực hiện phát triển kinh tế nhanh chóng, Triều Tiên thực sự có hứng thú.

Từ ngày 29/11 đến ngày 2/12/2018, Ngoại trưởng Triều Tiên Ri Yong Ho đã đi thăm Việt Nam, không nnnhững lựa chọn sự sắp xếp đặc biệt về mặt thời gian, mà hành trình của ông còn bao gồm đến thăm hai khu công nghiệp hàng đầu của miền Bắc Việt Nam như Khu công nghiệp công nghệ cao Hà Nội…, học tập quá trình và thành quả thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã nêu rõ cách sắp xếp đặc biệt này khi gặp Ri Yong Ho: “Ngày mà ngoại trưởng đến thăm Việt Nam cũng là ngày mà đồng chí Kim Nhật Thành đến thăm Việt Nam, có ý nghĩa đặc biệt”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết mong muốn cảu Việt Nam có thể chia sẻ kinh nghiệm giành được mục tiêu phát triển vững

Nhưng phương thức phát triển kinh tế của Việt Nam hoàn toàn khác về bản chất so với kinh tế Triều Tiên mà người viết quan sát được. Từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10/2016, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã 3 lần nhấn mạnh đặc điểm nền kinh tế hướng ngoại của Việt Nam: “Từ góc độ kinh tế, Việt Nam hiện tại không còn bóng dáng của chủ nghĩa cộng sản”.

Trong nền kinh tế Việt Nam với sự thúc đẩy của đổi mới mở cửa, nguốn vốn tư nhân và nguồn vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Chính phủ cũng thúc đẩy mạnh mẽ cải tổ cơ chế cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và tư hữu hóa doanh nghiệp nhà nước. Tháng 8/2017, căn cứ vào phương án của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, từ năm 2017 đến 2020, Việt Nam sẽ có 436 doanh nghiệp nhà nước thực hiện rút cổ phần nhà nước, tổng số tiền là 64.457 tỷ VND (khoảng 2,84 tỷ USD), trong đó năm 2017 là 161 doanh nghiệp, 2018 là 185 doanh nghiệp, 2019 là 65 doanh nghiệp, 2020 là 25 doanh nghiệp.

Sự điều chỉnh chính sách to lớn của Việt Nam dường như khó có thể thực hiện được đối với Triều Tiên. Người viết đã đến Triều Tiên để tìm hiểu, những năm gần đây thị trường dần dần mở rộng, tiểu thương buôn bán trên đường phố dần tăng lên nhiều, những cơ sở dịch vụ tiêu dùng như quán ăn, cửa hàng… cũng đang không ngừng gia tăng, phản ánh phân cấp về mặt chính sách và quản lý kinh tế của Triều Tiên những năm gần đây đã có hiệu quả.

Hiện nay, Triều Tiên có hai loại giá, một là loại giá do nhà nước quy định, hai là giá lưu thông trên thị trường. Do Triều Tiên miễn phí nhà ở, giáo dục và y tế đối với dân chúng nên phần lớn sản phẩm sinh hoạt như lương thực đều có thể phân phối, cho nên thu nhập bằng tiền khác thông thường được dùng để mua một số đồ dùng hàng ngày và sản phẩm bổ sung.

Những năm gần đây, Triều Tiên thông qua cải tiến cơ chế phân phối, cho phép nông dân khai khẩn mảnh đất cạnh nhà và mảnh ruộng có quy mô nhỏ để tăng thu nhập cá nhân, tăng thêm quyền quản lý tự chủ của doanh nghiệp nhà nước…, sức sống của nền kinh tế có phần tăng lên, hiện tượng các ngoại tệ như đồng NDT, USD, euro… đánh bật đồng nội tệ Won Triều Tiên (KPW) khỏi thị trường vẫn là vấn đề nổi cộm. Tuy nhiên, dưới sự định hướng chính sách xây dựng “nước lớn hùng mạnh xã hội chủ nghĩa kiểu Triều Tiên”, nền kinh tế theo chế độ công hữu về tư liệu sản xuất vẫn là hòn đá tảng để Triều Tiên phấn đấu trong giai đoạn giành thắng lợi chủ nghĩa xã hội hoàn toàn.

Về hợp tác đối ngoại, Triều Tiên rất ưa thích học tập kinh nghiệm của Việt Nam, nhưng không phải là sự thể hiện tiêu biểu cho việc học tập “Mô hình Việt Nam”.

Những năm gần đây, mô hình kinh tế hướng ngoại của Việt Nam giành được không ít thành tựu, nhưng sự hạn chế vì phụ thuộc quá nhiều vào đầu tư nước ngoài và ngoại thương, những bất cập về động lực nội tại của nền kinh tế đã lộ rõ. Với việc khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu và thúc đẩy chính sách thu hút đầu tư, năm 2017, đầu tư nước ngoài đã chiếm khoảng 50% trong tổng đầu tư tại Việt Nam, có tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu theo GDP cao nhất, vượt trên 180%, điều này có nghĩa là bất kỳ biến động nào trong thị trường đầu tư và đơn đặt hàng trên thế giới cũng có thể gây chao đảo khá lớn đối với kinh tế Việt Nam.

Đối với Triều Tiên là nước có nền kinh tế có khả năng chịu đựng bền bỉ, mục tiêu quan trọng nhất hiện nay là phải thông qua đàm phán từ bỏ vũ khí hạt nhân để đem đến môi trường an ninh có lợi cho sự phát triển của họ. Nếu trừng phạt quốc tế được nới lỏng, có thể xuất khẩu các khoáng sản như than để thu ngoại tệ, nhập khẩu tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng cần thiết cấp bách, thì tình hình kinh tế trong nước có thể thay đổi tốt đẹp.

Từ góc độ chuyến thăm thực địa của tôi đến Triều Tiên, sự thảo luận sôi nổi của bên ngoài về “Mô hình Việt Nam” chắc chắn là do chịu ảnh hưởng kép từ thái độ cao giọng của Ngoại trưởng Mỹ Pompeo và nguồn tin không chính thức cho biết nhà lãnh đạo Triều Tiên bày tỏ sự ưa thích đối với “Mô hình Việt Nam”, nhưng không nên coi nhẹ việc nhà lãnh đạo Triều Tiên từng nhiều lần phát biểu học tập con đường cải cách mở cửa của Trung Quốc.

Với việc Triều Tiên là quốc gia có đặc điểm tình hình đất nước đặc biệt, bất kỳ điều chỉnh quan trọng nào về chính sách đều có thể tác động ảnh hưởng to lớn. Triều Tiên có thể học tập nhiều kinh nghiệm của các nước trong đó có Việt Nam về cải thiện kinh tế, nhưng trong một số điều kiện cụ thể, đặc biệt là đóng vai trò một quân cờ để Mỹ đối trọng với nước khác thì “Mô hình Việt Nam” thực sự có rủi ro.

Nguồn: Trang Người quan sát (TQ) – 18/02/2019

TLTKĐB – 24/02/2019