Australia lên tiếng về vi phạm trong xuất khẩu gia súc sống sang Việt Nam


Ngày 25/6, Đài Truyền hình quốc gia Australia dẫn báo cáo của Bộ Nông nghiệp Australia, cho biết hơn 1500 con bò và 99 con trâu nhập khẩu từ Australia đã biến mất khỏi các trang trại hoặc lò mổ được chấp thuận tại Việt Nam trong 13 tháng qua.

Sau lệnh cấm xuất khẩu gia súc sống và năm 2011, ngành công nghiệp xuất khẩu gia súc sống Australia đã đăng ký Hệ thống đảm bảo chất lượng chuỗi cung ứng xuất khẩu (ESCAS), một hệ thống được thiết lập để đảm bảo phúc lợi động vật cho gia súc xuất khẩu của Australia.

Trong báo cáo mới nhất về việc thực hiện ESCAS, Bộ Nông nghiệp Australia đã chỉ ra hai vi phạm: Vi phạm thứ nhất, được cho là rất nghiêm trọng, đó là việc công ty Purcell Bros, công ty xuất khẩu gia súc lần đầu tiên sang Việt Nam, đã không thể xác minh được 644 con bò và 99 con trâu đang ở đâu sau khi tới Việt Nam.

Vào tháng 11/2018, trâu và bò đã được chuyển từ một trang trại được công ty chấp thuận tới các địa điểm không xác định sau khi công nhân trang trại đã can thiệp vào các camera theo dõi lắp đặt tại trang trại. Tuy nhiên, chủ sở hữu trang trại khẳng định không có gia súc nào bị mất tích, nhưng lại không thể cung cấp bất kỳ bằng chứng nào khi công ty Purcell tiến hành xác minh xem chúng đang ở đâu.

Theo báo cáo trên, chủ sở hữu trang trại dường như hàon toàn không quan tâm đến các yêu cầu của ESCAS. Báo cáo còn lưu ý rằng công ty Purcell không thể cung cấp thông itn nào để phục vụ cho việc truy xuất hoặc tìm hiểu về phúc lợi của gia súc.

Tuy nhiên, Bộ Nông nghiệp Australia kết luận thông tin mà công ty Purcell cung cấp là chưa đủ và sẽ lưu ý tới vụ vi phạm trên trong quá trình xem xét đơn xin nhập khẩu nào từ nhà nhập khẩu hoặc trang trại trên.

Vi phạm thứ hai liên quan đến việc công ty Dịch vụ vận chuyển gia súc (LSS) không thể xác định được “gần 1000 động vật” mà công ty đã vận chuyển đến Việt Nam và không báo cáo cho Bộ Nông nghiệp Australia trong thời hạn theo quy định của ESCAS.

Tuy nhiên, cuối cùng LSS cũng đã xác minh được rằng trong số 872 gia súc, 471 con đã được chuyển đến các lò mổ được chấp thuận và 401 bị chế hoặc bị giết bằng hệ thống gây mê tại các trang trại.

Theo Bộ Nông nghiệp Australia, LSS đã có biện pháp khắc phục vi phạm và đã triển khai các hệ thống để giải quyết các vấn đề có thể phát sinh trong tương lai.

Để xử lý các vụ vi phạm trên, Hội đồng xuất khẩu chăn nuôi Australia (ALEC) đã thuê một công ty độc lập thực hiện “đánh giá thị trường” để báo cáo về chuỗi cung ứng tại Việt Nam.

Giám đốc điều hành ALEC, ông Mark Harvey-Sutton cho rằng gia súc Australia thông thường không bị lọt ra ngoài chuỗi cung ứng tại Việt Nam và khẳng định những trường hợp vi phạm trên không phải là phổ biến. Ông cho biết, ưu tiên cao nhất của ALEC là các nhà xuất khẩu Australia phải duy trì truy xuất gia súc xuất khẩu ở mức cao nhất để đảm bảo phúc lợi động vật, và điều quan trọng là cần có những biện pháp khắc phục các vi phạm bất thường ở các thị trường như Việt Nam. Ngoài ra, ông Harley-Sutton cũng khẳng định rằng sau khi có báo cáo đánh giá của công ty kiểm toán viên độc lập vào tháng 8/2019, ALEC sẽ có những hành đ6ọng cần thiết theo các khuyến nghị mà báo cáo đưa ra.

Được biết, Hiệp hội Phòng chống tàn ác đối với động vật Australia (RSPCA) là một tổ chức luôn phản đối việc xuất khẩu động vật sống để giết mổ. Kể từ năm 2015, RSPCA đã kêu gọi đánh giá độc lập về việc tuân thủ ESCAS ở thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi có báo cáo nói trên của Bộ Nông nghiệp Australia, RSPCA lại lên tiếng yêu cầu Chính phủ và ngành công nghiệp xuất khẩu gia súc của Australia cần xử lý nghiêm khắc các vi phạm.

Người phát ngôn của RSPCA, Jed Goodfellow đưa ra đề xuất cần xem xét áp dụng biện pháp đình chỉ chuỗi cung ứng trong thời gian tiến hành cuộc đánh giá toàn diện và độc lập về các thỏa thuận ESCAS tại Việt Nam. Ông Goodfellow cho rằng những vi phạm nêu trên nằm trong một “chuỗi dài” các sự cố liên quan đến gia súc Australia xuất khẩu sang Việt Nam.

Ông Goodfellow cho biết thêm các báo cáo còn chỉ ra tình trạng các công nhân lò mổ và trang trại gia súc đã nhiều lần can thiệp vào hệ thống camera quan sát và có thái độ thù địch với các nhân viên của công ty xuất khẩu khi họ cố gắng duy trì chuỗi cung ứng. Ông nói: “Trước đây, chúng tôi đã từng thấy việc đưa gia súc ra khỏi chuỗi cung ứng, thậm chí ngay cả khi có sự hiện diện của các nhân viên của công ty xuất khẩu. Thực tế này cho thấy có một “văn hóa” chống đối hệ thống ESCAS ở Việt Nam, đặc biệt ở một vài chuỗi cung ứng tại Việt Nam. Do vậy, cần xem xét một cách có hệ thống đối với toàn bộ thị trường này”.

Theo ông Goodfellow, mặc dù thị trường Việt Nam chỉ bằng 1/3 thị trường Indonesia, nhưng số lượng các vụ vi phạm ở đây cao gấp ba lần trong vài năm qua. Chính phủ Australia cần phải quan tâm nghiêm túc đến tình trạng này.

Trong năm 2013, đã xảy ra việc dùng búa tạ để giết bò Australia tại VIệt Nam, và vào năm 2015 và 2016, các vụ việc này đã được chiếu lên truyền hình quốc gia ở Australia, khiến dư luận rất quan tâm.

Ngoài ra, từ lâu đã xuất hiện những cáo buộc về việc buôn bán gia súc không được kiểm soát giữa Việt Nam và các nước láng giềng như Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 27/06/2019

Advertisements

EVFTA: Lợi ích, thách thức và hệ quả cảnh báo với Việt Nam – Phần cuối


Thách thức trước mắt

Trang shilfa.com trích lời Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh khẳng định Việt Nam chắc chắn sẽ phải đối mặt với những thách thức khi EVFTA có hiệu lực. Ông nói: “Đó là sự cạnh tranh trong khi mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ tại các quốc gia trong bối cảnh các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu chỉ ở quy mô vừa và nhỏ. Hơn nữa, một khi EVFTA được thông qua, môi trường đầu tư, trước hết là cho các doanh nghiệp châu Âu, sẽ được cải thiện rất nhiều. Cơ chế giải quyết tranh chấp và bảo vệ doanh nghiệp sẽ được tổ chức theo luật pháp châu Âu, luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam. Các doanh nghiệp sẽ có điều kiện để bảo vệ lợi ích của họ”.

Theo trang just-style.com, có những quan ngại về năng lực và lao động Việt Nam trong ngành thời trang và may mắc một khi EVFTA và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực. Việt Nam đang nỗ lực nâng cao năng suất vải sợi để các nhà sản xuất hàng may mặc trong nước có thể thu được lợi nhuận nhờ các thỏa thuận thương mại.

Sau khi EU và Việt Nam ký kết, hiệp định còn phải đệ trình lên Nghị viện châu Âu chuẩn thuận. Nếu Nghị viện châu Âu phê chuẩn, hiệp định thương mại sẽ được Hội đồng châu Âu duyệt lần chót để chính thức có hiệu lực. Phần còn lại của Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA) còn chờ từng nước trong EU thông qua.

Việt Nam gần đây đã phê chuẩn Công ước của ILO về Quyền Tổ chức và Thương lượng tập thể và đã thông báo với EU ý định phê chuẩn hai công ước căn bản còn lại của ILO muộn nhất vào thời điểm năm 2023. Thêm vào đó, hiệp định tự do thương mại có một kết nối về mặt pháp lý và thể chế với Hiệp định Khung về Hợp tác và Đối tác Toàn diện Việt Nam – EU (PCA), cho phép có những hành động phù hợp trong trường hợp các quyền con người bị vi phạm.

Trả lời BBC, Tiến sĩ Nguyễn Văn Phú, chuyên gia kinh tế từ Đại học Strasbourg (Pháp) nói: “Việc EVFTA sẽ được đưa ra Nghị viện châu Âu phê chuẩn vào cuối tháng 6 là tin tốt, sau nhiều tháng trì hoãn. Tuy nhiên, quá trình thảo luận ở Nghị viện châu Âu cũng khó đoán trước được vì đây là các nghị sĩ EU khóa mới (được bầu vào tháng 5/2019), mà hình như xu hướng dân tộc chủ nghĩa và bảo hộ mậu dịch trong khóa này có vẻ cao hơn trước đây. Chẳng hạn, ở Pháp, số nghĩ sĩ EU của đảng Cực hữu của bà Le Pen và đảng của Tổng thống Macron bằng nhau.

Nếu như Nghị viện châu Âu thông qua EVFTA thì rất tốt vì hàng hóa Việt Nam có khả năng vào châu Âu tăng cao hơn trước đây. Tuy vậy, cũng cần lưu ý rằng hàng hóa Việt Nam cần phải theo chất lượng châu Âu nghiêm ngặt. Điều này cũng tốt cho cách làm ăn kinh tế của các doanh nghiệp Việt Nam”.

Ông Phú cũng bình luận thêm: “Theo dõi tin tức về EVFTA, tôi thấy báo chí Việt Nam ít đưa tin về các nội dung thảo luận liên quan đến yếu tố chính trị. Đến nay, nhiều nghị sĩ và tổ chức của EU đã lên tiếng về việc cần đưa vấn đề nhân quyền vào việc thảo luận EVFTA với Việt Nam. Theo quan sát cá nhân, tôi thấy trong quá khứ, Nghị viện châu Âu ít có tác động chính trị tới các nước ngoài châu Âu về các vấn đề chính trị nhân quyền. Điển hình là trường hợp Iran, ta thấy trong các nước dân chủ thì chỉ có Mỹ mới có ảnh hưởng thực sự. Do đó, theo tôi, các mong đợi về thay đổi chính trị kèm theo EVVFTA rất khó đoán trước được.

Một số hãng tin châu Âu, trong đó có france24.com, vẫn lưu ý những lo ngại của Brussels về hồ sơ nhân quyền của Việt Nam.

Cảnh báo những hệ quả

Trang euobserver.com ngày 25/6 đăng bài nhận định rằng đằng sau những nụ cười và những cái bắt tay, việc ký kết EVFTA có thể dẫn tới những hệ quả nghiêm trọng đối với môi trường và y tế.

Theo bài viết, việc đưa điều khoản “Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và quốc gia” (ISDS) vào các thỏa thuận thương mại và đầu tư sẽ đe dọa ngân sách công và gây nguy hại cho các biện pháp bảo vệ môi trường và xã hội. (ISDS là điều khoản cho phép một nhà đầu tư nước ngoài chống lại luật quốc gia chủ nhà và kiện chính phủ quốc gia chủ nhà qua một hội đồng trọng tài quốc tế xét xử theoo quy định của một hiệp ước đã có).

Với EVFTA, EU đang đưa hình thức hội đồng trọng tài vào Việt Nam – một quốc gia nơi công dân ít có quyền “quý giá” sơ khai như quyền có một công đoàn độc lập. Trong khi đó, quyền tự do ngôn luận gần như không có. Việt Nam xếp thứ 5 trên thế giới về Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Triều Tiên, Turkmenistan và Eritrea.

Kinh nghiệm của người Việt Nam với các thỏa thuận đầu tư và hệ thống ISDS cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng EVFTA để kiện chính phủ Việt Nam và “thổi bay” ngân sách công.

ISDS từng được hai hãng dầu mỏ quốc tế lớn sử dụng như công cụ để kiện chính phủ Việt Nam nhằm tránh phải trả thuế.

ConocoPhilipis đã kiếm được 896 triệu USD trong thương vụ bán ConocoPhilips Vietnam cho Parenco, nhưng lại từ chối trả thuế cho khoản lợi nhuận này.

Mô hình này cũng được nhân rộng ở những nơi khác trên thế giới, nơi các hội đồng trọng tài quốc tế được lập ra để chà đạp lên nền dân chủ và hút tiền công của quốc gia đầu tư vào tài khoản cá nhân.

Một trong những vấn đề cơ bản nhất của ISDS là điều khoản này chỉ mang tính một chiều, tức là chỉ đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư chứ không hỗ trợ lợi ích cộng đồng. Các cộng đồng bị ảnh hưởng không thể sử dụng ISDS để kiện các công ty vi phạm nhân quyền cũng như gây thiệt hại tài chính hoặc các thiệt hại khác, đồng thời họ cũng không có được tiếng nói trong các  vụ kiện chống lại chính phủ.

Những bất công nghiêm trọng này không thay đổi cách EU tiếp cận đặc quyền của nhà đầu tư trong các thỏa thuận thương mại. Mặc dù công luận trên khắp châu Âu phản đối ISDS (hơn nửa triệu người đã ký một bản kiến nghị đòi chấm dứt ISDS trong các thỏa thuận thương mại của EU), gần như không có mấy thay đổi kể từ khi EU sửa đổi cách tiếp cận với điều khoản này năm 2016.

Hệ thống Tòa án Đầu tư (ICS), phiên bản mới của ISDS, vẫn là một hệ thống tư pháp song song dành cho các cá nhân và tập đoàn giàu có để “phá vỡ” hệ thống tư pháp của các quốc gia, đồng thời đòi một khoản tiền bồi thường lớn từ chính phủ quốc gia đầu tư.

Ngoài ra, không có điều khoản nào ràng buộc các tập đoàn EU tại Việt Nam tôn trọng nhân quyền.

Các quan chức EU có thể khẳng định mục đích của họ là thúc đẩy sự phát triển bền vững ở Việt Nam, nhưng thực tế họ lại “bảo trợ” lòng tham của các tập đoàn đầu tư.

Do vậy, trong khi các nhà lãnh đạo tự chúc mừng nhau về việc hoàn tất một thỏa thuận thương mại, người dân châu Âu và Việt Nam nên “tỉnh táo” nhận ra bên thực sự chiến thắng trong thỏa thuận đầu tư này: đó là các doanh nghiệp lớn và các cá nhân giàu có được EU “bảo trợ” để tước đoạt công lý và dân chủ vì lợi nhuận.

Nguồn: TKNB – 27/06/2019

EVFTA: Lợi ích, thách thức và hệ quả cảnh báo với Việt Nam – Phần đầu


Bộ trưởng các nước Liên minh châu Âu (EU) ngày 25/6 đã thông qua quyết định ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) tại Hà Nội vào ngày 30/6, ba năm rưỡi sau khi các cuộc đàm phán kết thúc. Một loạt hãng tin châu Âu và quốc tế quan tâm đến động thái này.

Phản ứng từ châu Âu

Trang tin euobserver.com ngày 25/6 cho biết EU đã xác nhận Ủy viên Thương mại EU Cecilia Malmstrom và Bộ trưởng Kinh doanh Romania Stefan-Radu Oprea sẽ bay sang Hà Nội ký vào ngày 30/6. EU nói các thỏa thuận sẽ đem lại “lợi ích chưa từng có” cho hai phía, đồng thời “thúc đẩy quyền lao động, bảo vệ môi trường và chống  biến đổi khí hậu”.

Ông Jean-Claude Juncker, chủ tịch Ủy ban châu Âu, nói: “Tôi hoan nghênh quyết định của các thành viên EU. Sau khi ký hiệp định với Singapore, hiệp định ký với việt Nam là thỏa hiệp thứ hai tượng trưng những bước nền tảng cho sự giao tiếp giữa EU và kkhu vực. Đây cũng là một tuyên bố chính trị giữa hai đối tác và bằng hữu cùng đứng chung để giao thương tự do, công bằng dựa trên luật lệ”.

EU đã có các thỏa thuận thương mại với Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore và đã tiến hành đàm phán với các thành viên ASEAN khác là Indonesia, Malaysia, Philippines và Thái Lan. FTA giữa EU và Singapore dự kiến có hiệu lực trong năm nay.

Tờ Wall Street Journal ngày 25/6 gọi việc quyết định ký FTA với Việt Nam là động thái cho thấy EU đang xây dựng một liên minh thương mại tự do và của sự đồng lòng.

Năm 2018, EU bị “tấn công” trực tiếp vì quyết định của Mỹ áp thuế đối với thép và nhôm của khối này. EU tiếp tục phải đối mặt với mối đe dọa thuế áp lên ô tô trong bối cảnh thỏa thuận ngừng chiến thương mại đang lung lay. Cuộc thương chiến Mỹ – Trung cũng góp phần làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế châu Âu. Sau Singapore, việc EU đưa Việt Nam vào quỹ đạo thương mại sẽ giúp khối mở rộng dấu ấn ở Đông Nam Á và sẽ đóng vai trò là bước đệm cho thỏa thuận khu vực.

Cùng ngày 25/6, trang tin agriland.ie đăng bài nhận định những lợi ích mà EVFTA mang lại cho các nước EU, trong đó có Ailen.

Cụ thể, bài viết dẫn lời Bộ trưởng Kinh doanh, Doanh nghiệp và Đổi mới Ailen Heather Humphreys khẳng định EVFTA sẽ tạo cơ hội cho ngành thực phẩm nông nghiệp Ailen. Giống như các hiệp định thương mại khác của EU, EVFTA sẽ giúp các nhà xuất khẩu Ailen mở rộng sang một thị trường mới. Điều này rất quan trọng đối với sự thịnh vượng cũng như hỗ trợ cho chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu toàn cầu của Ailen.

Trong khi đó, Bộ trưởng Thương mại, Việc làm và Kinh doanh Ailen Pat Breen TD lập luận EVFTA sẽ thúc đẩy dòng chảy thương mại và dịch vụ hàng hóa giữa EU và Việt Nam vì sẽ loại bỏ gần như tất cả thuế quan đối với thương mại giữa hai bên. Cùng với việc loại bỏ các rào cản, thỏa thuận thương mại sẽ bao gồm các điều khoản về thương mại và phát triển bền vững, và cũng sẽ kiểm chứng những cam kết của Việt Nam phê chuẩn các công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO).

Ý nghĩa và lợi ích của Việt Nam

Theo Reuters, đây là hiệp định thương mại tự do mang tính bước ngoặt với Việt Nam. Hiệp định này sẽ là bước đệm cho một thỏa thuận thương mại EU – Đông Nam Á rộng lớn hơn, kéo theo đó là các khoản đầu tư.

AFP dẫn lời Cao ủy châu Âu phụ trách thương mại Cecila Malmstrom cho rằng Việt Nam là một quốc gia sinh động với 95 triệu dân sẽ được hưởng lợi nhiều hơn nhờ quan hệ thương mại gia tăng. Bên cạnh đó, hiệp định cũng nhằm bảo vệ nhân quyền, bảo vệ môi trường và quyền của người lao động.

Việt Nam hiện đang được hưởng lợi từ việc tiếp cận ưu đãi các thị trường EU theo chương trình của khối này dành cho các nước đang phát triển. Việt Nam sẽ có được hạn ngạch cho các sản phẩm nông nghiệp, như gạo, tỏi và đường.

Đối với hàng xuất khẩu của EU, hiệp định cuối cùng sẽ loại bỏ thuế nhập khẩu rất cao của Việt Nam, như 78% đối với ô tô và 50% đối với rượu vang. Hiệp định cũng sẽ khai mở lĩnh vực mua sắm công và các thị trường dịch vụ, như lĩnh vực bưu chính, ngân hàng và hàng hải.

Ủy ban châu Âu ước tính hiệp định sẽ tăng xuất khẩu của EU sang Việt Nam thêm 29% và xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu tăng 18%.

Theo trang consilium.europa.eu, bên cạnh việc thúc đẩy tôn trọng thỏa hiệp chống biến đổi khí hậu từng được các nước ký ở Paris, Ủy ban thương mại EU – Việt Nam nhấn mạnh hai bên cam kết áp dụng các nguyên tắc của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) để bảo vệ quyền của người lao động.

Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ hai của EU ở khu vực ASEAN, sau Singapore, với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2017 đạt 49,3 tỷ euro hàng hóa và 6 tỷ euro dịch vụ. Những loại hàng chính yếu của Việt Nam xuất sang các nước EU gồm thiết bị viễn thông, quần áo, giày dép, bàn ghế và nông phẩm. Phần lớn hàng EU bán sang Việt Nam gồm máy móc, ô tô, hóa chất, các loại thực phẩm và đồ uống.

Giữa năm 2018, Việt Nam và EU đã thống nhất tách EVFTA thành 2 hiệp định với phần chính hiệp định cũ là EVFTA và phần còn lại là Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA). IPA bao gồm các quy định hiện đại về bảo hộ đầu tư cho phép việc thực thi và triển khai thông qua Hệ thống mới tòa án về đầu tư, đồng thời vẫn đảm bảo các chính phủ cả hai phía có quyền điều tiết các lợi ích của công dân.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 27/06/2019

“Kẻ thù” của tự do kinh tế ở Việt Nam


Phạm Quý Thọ

Trong truyền thuyết Việt Nam có câu chuyện về Mỵ Châu nổi tiếng với một điển tích gọi là “Rải lông ngỗng”. Tự do kinh tế được ví như “nỏ thần” thịnh vượng cho các quốc gia. Trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, Việt Nam dường như dần nhận thấy như vậy. Tuy nhiên, các rào cản được dựng lên bởi “kẻ thù” núp bóng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa giáo điều đang hạn chế công dụng của “nỏ thần”. Góp phần cảnh báo về sự nguy hiểm của “kẻ thù này” là mục đích của bài viết này.

Chính sách “đột phá”

Chính sách tự do kinh tế là công cụ giúp đất nước hướng tới tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng. Nhận diện đúng “kẻ thù” của tự do kinh tế khiến cho chính sách được thực thi thuận lợi và có hiệu quả hơn trước mắt cũng như lâu dài.

Chúng ta có thể chỉ ra không ít những thất bại chính sách kinh tế trong quá khứ ở Việt Nam, như cải cách ruộng đất, cải tạo công thương, “giá lương tiền” trước đây cho đến “quả đấm thép” từ các tập đoàn kinh tế nhà nước gần đây. “Bắn súng lục vào quá khứ” không tức thì tạo thay đổi thực trạng, nhưng chỉ ra “kẻ thù” của tự do kinh tế là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho cải cách trong bối cảnh hiện nay.

Chính sách kinh tế rất rộng, bao gồm nhiều bộ phận, nhiều nội dung tùy theo cách tiếp cận, góc nhìn. Đố với Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, được xem là chính sách hướng đến tự do kinh tế, trong đó thúc đẩy “tự do kinh doanh” là một lựa chọn thực thi.

Đối với người dân bình thường, “tự do kinh doanh”  là quyền cốt yếu đảm bảo cho họ mưu cầu hạnh phúc. Những điều tưởng như bình thường, tự nhiên, nhưng “tự do kinh doanh” được ghi nhận trong một Nghị quyết, như một chính sách cảu chế độ toàn trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản phải được coi là “đột phá”. Hơn thế, cách tiếp cận hiện thời đối với cải cách là “tiệm tiến”, thì giải pháp “đột phá” được chấp nhận một cách khó khăn, và luôn gặp chống đối trong quá trình thực thi.

Các nghị quyết và hành động của Chính phủ, đặc biệt Nghị quyết 19/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế là những nỗ lực triển khai phù hợp. Hiệu quả là tăng trưởng kinh tế có thể thấy trong ngắn hoặc trung hạn, nhưng để đảm bảo tính bền vững trong dài hạn còn rất nhiều việc phải làm.

“Đột phá” tạo ra chống đối

Những ai nghiên cứu về “tự do kinh doanh” (laisser-faire) chắc hẳn còn nhớ câu chuyện về lời thỉnh cầu vua nước Pháp lúc bấy giờ là Louis XVI của thương nhân Le Gendre “Xin cứ để cho chúng tôi làm”.

Trên quan điểm thực tiễn, tự do kinh doanh là phản ứng của những doanh nhân năng động bị nền kinh tế chỉ huy đè nén. Mọi cản trở tự do kinh doanh, mọi giới hạn hoạt động kinh tế là một sự vi phạm đến quyền cơ bản của con người, đồng thời là một sự đe dọa cho trật tự kinh tế tự nhiên.

Hơn ba thế kỷ từ đó đến nay, triết lý kinh tế tự do kinh doanh được một số quốc gia, trong đó có nước Cộng hòa Pháp, nâng lên thành chủ thuyết, và nhờ đó họ phát triển lên trình độ cao về kinh tế xã hội như ngày nay. Chủ thuyết này hoạt động dựa trên các nguyên tắc của thị trường, và thể chế dân chủ với tam quyền phân lập và xã hội dân sự đồng hành như một sự tất yếu.

Hơn một triết lý kinh tế, hệ tư tưởng này đã và đang tạo nên thịnh vượng cho nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ về vật chất, kinh tế mà còn về tinh thần, giá trị xã hội của con người.

Ý thức hệ giáo điều là “kẻ thù”

“Thể chế do con người tạo ra, do đó họ có thể thay đổi nó”. Tuy nhiên, thể chế bất kỳ nào cũng dựa trên một hệ tư tưởng nhất định. Chúng ta không thể “oán trách” những nhà sáng lập của hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, nhưng có thể phản biện về sự giáo điều của những người vận dụng nó trong thực tế.

Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa giáo điều chính là kẻ thù của tự do kinh tế. Venezuela là bài học điển hình. Thế giới đang chứng kiến sự sụp đổ của nền kinh tế XHCN của nước này.

Đối với Việt Nam, chủ trương đổi mới đất nước, lúc ban đầu là xóa bỏ chế độ bao cấp của nền kinh tế tập trung, chỉ huy, là giải phóng các nguồn lực của đất nước, sức lao động và tài nguyên, để thoát nghèo. Dù manh nha, nhưng đó là thị trường, là “cứu cánh” cho chế độ lúc bấy giờ.

Gần đây, khái niệm thị trường được gắn đuôi xã hội chủ nghĩa mà không thể làm rõ được nội hàm, thì liệu có thể cụ thể hóa bằng chính sách khả thi và luật pháp hóa nó trong thực tế.

Chính sách kinh tế “thực dụng” ẩn chứa tính “cơ hội chủ nghĩa” được xây dựng trên cơ sở lý thuyết mâu thuẫn giữa thị trường và xã hội chủ nghĩa không thể đảm bảo hiệu quả và tính bền vững của chính sách.

“Tự do kinh doanh” có vai trò như “nỏ thần”, nhưng đang chịu sự ràng buộc bởi ý thức hệ giáo điều, nên chỉ được coi là phương tiện “cứu cánh” cho chế độ trước những thách thức thời cuộc.

“Hiệu ứng ngược” và hậu quả

Ý thức hệ giáo điều không chỉ là nơi “trú ẩn” mà còn nuôi dưỡng cho một bộ máy hành chính, cồng kềnh, đặc quyền đặc lợi, “con ông cháu cha”, sự tha hóa quyền lực, thoái hóa biến chất, tham nhũng của cán bộ, đảng viên.

Áp dụng chính sách tự do kinh tế trong điều kiện hệ thống chính trị như vậy có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng đồng thời sẽ gây ra những “hiệu ứng ngược”, những tác động ngoài ý muốn với những hậu quả nặng nề.

Một ví dụ điển hình: lợi dụng “sự khiếm khuyết” của thể chế hiện hành, như sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước về đất đai, rất nhiều doanh nghiệp Việt tích lũy “nguyên thủy” tư bản để phát triển. Trong khi tự do kinh doanh thực chất phải dựa trên nền tảng của sở hữu tư nhân. Đó là một trong những nguyên tắc vận hành cơ bản của kinh tế thị trường.

Tự do kinh doanh một khi “thoát khỏi” sự ràng buộc bởi các nguyên tắc này, hơn thế nó được thể chế hóa bởi chính quyền, vốn tồn tại dựa vào ý thức hệ xã hội chủ nghĩa giáo điều, buộc phải “quỵ lụy” các mối quan hệ với người có chức có quyền, và khi bị “ép duyên” với quyền lực tha hóa, sẽ có sức tàn phá khủng khiếp.

Chính sách tự do kinh doanh, một mặt, khuyến khích doanh nhân năng động, nỗ lực vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Mặt khác, nó cám dỗ bản tính tham lam, vụ lợi khiến họ “sẵn sàng chui đầu vào thòng lọng”. Không ít doanh nhân giàu xổi và thực dụng, sử dụng tiền bạc dưới nhiều thủ đoạn tinh vi để làm tha hóa quyền lực cán bộ lãnh đạo, đảng viên, công chức.

Chúng cấu kết với nhau để tạo ra các doanh nghiệp sân sau, các nhóm lợi ích, mua chuộc, hối lộ… Chúng lũng đoạn thị trường, cạnh tranh bất bình đẳng, chèn ép, “cá lớn nuối cá bé”, gian lận thương mại, lừa dối người tiêu dùng. Chúng làm kiệt quệ tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Chúng gây nên phân hóa giàu nghèo, bất công xã hội.

Chúng ta đang chứng kiến rất nhiều hiện tượng, hành động tiêu cực trong xã hội do bất cập của thể chế hiện hành.

Trong nửa đầu tháng 6 năm 2019 tiếp tục xảy ra 2 vụ việc khiến dư luận rất bất bình: Vụ án “sản xuất và mua bán hàng giả” liên quan đến việc khám xét kho nhiên liệu của ông Trịnh Sướng đã bị khởi tố ngày 4/6 và vụ Đoàn thanh tra Bộ Xây dựng “vòi tiền” hối lộ “bị tạm giữ, lập biên bản” ngày 12/6.

Những câu hỏi đang được đặt ra như tại sao những kẻ vi phạm luật pháp nghiêm trọng có thể “qua mặt” chính quyền trong một thời gian dài? Tại sao các cán bộ chống tham nhũng lại tham nhũng? Chúng đáng bị xử lý về luật pháp, đáng trách về đạo đức, nhưng cũng đồng thời là hậu quả, “nạn nhân” của thể chế đang suy thoái. Nhiều đại án trước đây xử “quá khứ”, hai vụ việc này là “hiện tại”.

“Kẻ thù” đang ngăn Chính phủ có một chương trình cải cách thể chế mà khởi điềm là tự do kinh doanh như một nỗ lực có ý thức để thay đổi vị trí của quyền lực và định hình lại cuộc sống người dân cho đến khi tự do kinh tế có thể được công nhận ở Việt Nam như một hệ tư tưởng.

Nguồn: BBC

TKNB – 20/06/2019

Sự trỗi dậy đầy nghi vấn của một đế chế kinh tế của Việt Nam – Phần cuối


Quyền lực

Một chiều nọ ở Hà Nội, tôi gặp Nguyễn Anh Tuấn, một nhà hoạt động thuộc cộng đồng bất đồng chính kiến tuy nhỏ nhưng rất có tiếng nói tại Việt Nam.

Tuấn đã có nhiều bài viết sắc sảo trên Facebook về các thương vụ đất đai lớn có dính líu tới các đại doanh nghiệp tư nhân và giới quan chức chính phủ. Trong một loạt bài bắt đầu từ cuối năm 2016, Tuấn chất vấn cách mà Vingroup đã dùng để có thể giành được một mảnh đất đắt đỏ nằm ở trung tâm Hà Nội vốn có liên quan đến việc cổ phần hóa một doanh nghiệp nhà nước chuyên kinh doanh dịch vụ triển lãm.

Tuấn đặt câu hỏi về giá tiền mà Vingroup đã trả, về quy trình mà Vingroup dùng để lấy được đất, và về một quyết định của Ủy ban Nhân dân TP. Hà Nội cho phép Vingroup xây dựng các tòa nhà chọc trời trên khu đất đó. Việc xây dựng này bất chấp các quy định nghiêm ngặt về kiểm soát độ cao công trình vốn được áp dụng bên trong khu vực nội đô mang tính lịch sử của thủ đô Hà Nội. (Vingroup nói rằng họ đã xin được giấy phép cho việc xây dựng công trình đến 50 tầng tại khu đất đó.)

Tuấn kể rằng vào tháng 5/2018, anh đã bị giữ lại tại sân bay TP. Hồ Chí Minh khi vừa đi nước ngoài về. Tuấn đã bị giữ 15 tiếng đồng hồ bởi các sĩ quan đến từ Phòng A67, đơn vị chống khủng bố của Bộ Công an đầy quyền lực tại Việt Nam. Chính Bộ Công an này đã chủ trì việc soạn thảo luật an ninh mạng của Việt Nam. Tuấn kể rằng một viên chức đã nói với anh: “Anh phải xóa bài về Vingroup và cách họ chiếm khu đất kia.”

Không sợ hãi, Tuấn viết tiếp một bài khác kể lại cả vụ việc bị tạm giữ này. Anh viết: “Nếu các ông muốn tôi xóa bài về đảng hay về chính quyền thì tôi còn hiểu. Nhưng tại sao các ông lại muốn tôi xóa bài về Vingroup?”. Tuấn vẫn để các bài đó trên trang Facebook của mình.

Tuấn không phải là người duy nhất đã đặt câu hỏi về các thương vụ đất đai của Vingroup, Thủ tướng Nguyễn  Xuân Phúc đã công khai hỏi rằng ai cho phép xây dựng công trình cao tầng trong nội đô Hà Nội. (Các tài liệu đã được công khai cho thấy rằng Vingroup mua lại đến 90% cổ phần của công ty triển lãm, dựa trên đề xuất của công ty đó, trong một vụ mua bán cổ phần mà Vingroup là bên duy nhất đi mua.)

“Tôi tin tưởng một cách mạnh mẽ rằng người Việt Nam xứng đáng có một đất nước tốt đẹp hơn”, Tuấn nói với tôi. “Nhưng để đạt được mục tiêu đó, chúng tôi cần một nền báo chí tự do, chúng tôi cần tự do hiệp hội, và chúng tôi cần tự do hội họp để người dân có thể được lắng nghe”.

Sơn Đặng, một kiến trúc sư ngụ tại Nha Trang, nói rằng anh để ý đến khu công viên hoang dã trên đảo Phú Quốc của Vingroup sau khi nhìn thấy hình ảnh khu công viên này trên bản đồ Google Earth. Sơn nhận thấy  công viên này được xây dựng trên đất thuộc quy hoạch rừng quốc gia của Việt Nam.

Sơn bèn viết một bài phê phán Vingroup trên Facebook. Bài viết lan toả nhanh chóng và được trích lại trên trang BBC Việt Ngữ – một nguồn tin không kiểm duyệt của nhiều người dân trong nước.

“Sau khi tôi đăng bài đó, tôi bị chỉ trích gay gắt trên trang của mình. Các chỉ trích đó đều bảo vệ Vingroup”, Sơn kể với tôi. Anh nói rằng anh cũng đã bị sách nhiễu tại chính nhà mình, nhưng anh yêu cầu tôi không viết chi tiết về việc đó để tránh nguy cơ bị trả đũa.

Các hậu quả rõ là nặng tay nói trên dành cho những người chỉ trích Vingroup không chỉ xảy ra cho những người thuộc cộng đồng bất đồng chính kiến nhỏ bé của Việt Nam.

Trong một buổi chuyện trò cà phê sáng tại một khách sạn sang trọng ở Hà Nội, tôi đã gặp một nhóm chuyên gia và doanh nhân giàu có. Họ đều nói rằng họ đã bị công an Việt Nam hỏi thăm vì chỉ trích Vingroup.

Năm người mua căn hộ trong khu đô thị Vinhomes Skylake đã kể với tôi rằng họ đã phải trả những mức giá cao nhất tính trên mét đất cho các căn hộ hạng sang. Nhưng họ vẫn chưa được chuyển vào ở các căn hộ đó. Một con đường dẫn vào khu nhà, cùng với một cái hồ (được nêu trong tên khu đô thị) vốn phải được xây vì là một phần trong dự án “Xây dựng-Chuyển giao” – đến giờ vẫn chưa có.

Những nhà đầu tư địa ốc cáu kỉnh thì ở đâu trên thế giới cũng có cả. Nhưng nhóm năm người này phàn nàn rằng phản ứng của Vingroup đã làm cả bọn họ ngạc nhiên.

Hồi tháng 1/2019, khoảng 250 khách mua căn hộ Skylake đã gặp Vingroup để yêu cầu tập đoàn này giải thích lý do giao nhà chậm trễ. (Các khách mua nhà này kể lại rằng địa điểm diễn ra cuộc gặp đã phải thay đổi hai lần do yêu cầu từ công an.) Cuộc gặp không đưa ra được giải pháp gì. Vingroup chuyển vấn đề cho bên luật sư của họ.

Sau cuộc gặp, một số khách mua nhà tham gia cuộc gặp đã nhận được những tin nhắn điện thoại từ những số lạ. Họ kể với tôi rằng những tin nhắn này đe dọa “an toàn của gia đình” họ.

Họ bèn tổ chức hai cuộc biểu tình vào tháng Ba vừa rồi. Cuộc biểu tình đã có mặt cả công an và “những kẻ nhìn như bọn mafia trong các series phim bạo lực Hollywood”. Họ cho tôi coi hình của một nhóm người đàn ông trẻ, một vài người trong nhóm đó mang khẩu trang và cầm dù (trong một ngày không mưa). Những kẻ đó lườm mắt vào camera chụp hình. Một người trong nhóm các khách mua nhà đã bị trầy xước do xô xát với một kẻ trong nhóm người lạ đó.

Truyền thông nhà nước có đưa tin về tranh chấp tại khu đô thị Skylake. Tuy nhiên, trong vài trường hợp, các bài báo biến mất khỏi mạng internet sau khi được đăng tải.

Sau khi tôi phỏng vấn những vị khách mua nhà nói trên vào tháng Tư vừa rồi, hai người trong số họ đã bị công an gọi điện và đến nhà hỏi thăm. Bên công an cảnh báo họ không được nói chuyện với phóng viên hay đăng bài trên Facebook (một cuộc gọi diễn ra ngay trong lúc tôi đang phỏng vấn một người. Cuộc gọi đó cảnh báo người này không được nói chuyện với người ngoại quốc).

Nhóm khách mua nhà kia gửi email cho tôi sau các cuộc phỏng vấn. Họ yêu cầu tôi không nêu tên họ nhưng thỉnh cầu tôi phải kể câu chuyện của họ ra.

Tuy không thể liên kết trực tiếp Vingroup với bên công an và với nhóm những kẻ đeo khẩu trang, các vị khách mua nhà đầy bất bình của khu Skylake tin rằng có một mối dây liên kết cả ba nhóm đó.

Khi tôi hỏi Vingroup về các cuộc các chạm trán nói trên, Vingroup nói rằng các thông tin này “không chính xác” và “rõ ràng là dựa trên những nguồn không khả tín hay những tin đồn thất thiệt”.

Khi tôi hỏi Vingroup về vụ tranh chấp Skylake, họ xác nhận rằng các công trình công cộng [thuộc dự án Skylake – ND] đang được Ủy ban Nhân dân TP. Hà Nội tiến hành. “Chúng tôi không thể can thiệp [vào các công trình đó]”. Và rằng chi tiết này đã được nêu trong hợp đồng mua bán nhà với các khách hàng, đồng thời đã giải thích cho họ. “Nhưng một số người từ chối không chịu hiểu”.

Một dấu hiệu cho tầm ảnh hưởng khủng khiếp của Vingroup chính là việc một loạt người Việt Nam mà tôi đã phỏng vấn, bao gồm bốn chuyên gia chuyên phân tích tài chính về Vingroup, đều từ chối cho tôi dẫn lời mà có nêu tên họ. Họ sợ Vingroup sẽ không hài lòng.

Chính Vingroup cũng giám sát mạng xã hội. Họ làm một việc mà người Việt Nam gọi là “hóng” (social listening) và trong một số trường hợp, Vingroup tiến hành can thiệp, cho dù là những vấn đề nhỏ.

Đỗ Thanh Huyền, một người làm việc tại Hà Nội, kể với tôi rằng Vingroup đã liên hệ với cô sau khi cô phàn nàn về tập đoàn này trên Facebook. Huyền phản ánh rằng một máy trộn xi măng tại một khu đô thị của Vinhomes đang nằm chắn trên một đoạn lề đường, khiến cho người đi bộ phải đi xuống lòng đường đông đúc xe cộ.

Nhân viên của Vingroup đã liên lạc với Huyền nói rằng họ đang xử lý vấn đề nên yêu cầu Huyền phải gỡ bài trên Facebook xuống. Huyền từ chối. Cô bảo tôi: “Tôi nói với họ ‘Không, đó là những gì tôi thấy. Tôi muốn các anh phải tôn trọng không gian công cộng’”.

Huyền nói tiếp: “Việc này không chỉ là về xe hơi, về xe máy điện, về trí tuệ nhân tạo hay về trường đại học; đây là về cái cách mà họ đang cố gắng kiểm soát xã hội. Chúng tôi cần phải học những bài học từ các chaebol”.

Vingroup xác nhận rằng họ có theo dõi mạng xã hội với mục tiêu “xử lý nhanh” nhằm bảo vệ quyền lợi khách hàng của họ. “Thông thường, những người phàn nàn trên mạng xã hội đều tự nguyện sửa bài hoặc xóa bài”, Vingroup cho tôi biết.

Cái bóng chaebol

Tranh cãi về Vingroup xuất hiện trong một thời điểm quan trọng đối với các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Các chaebol ở Hàn Quốc đã từng là nền tảng cho kỳ tích phát triển kinh tế của nước này. Nhưng các chaebol cũng liên tục làm xáo trộn hệ thống tài chính Hàn Quốc và gặp hàng loạt các bê bối. Một bê bối năm ngoái dẫn đến án tù dành cho cựu tổng thống Park Geun-hye.

Một chuyên gia người Hàn Quốc nói rằng có một rủi ro là các doanh nghiệp mới nổi của Việt Nam, dẫn đầu là Vingroup, có thể trở thành những doanh nghiệp “quá lớn để có thể thất bại” (too big too fail). Việc này mang lại những hậu quả nhất định cho cả nền kinh tế và xã hội Việt Nam.

“Nếu Vingroup hay các doanh nghiệp khác chiếm một phần đáng kể việc sản xuất hay nguồn việc làm của Việt Nam, chính phủ sẽ không có lựa chọn nào ngoài việc phải dựa dẫm vào các doanh nghiệp lớn đó để điều chỉnh chính sách kinh tế”, Woochan Kim, một giáo sư dạy ngành kinh doanh của Đại học Korea, nói với tôi qua điện thoại từ Seoul. “Rất khó để quản lý các doanh nghiệp này, và truyền thông trong nước sẽ phụ thuộc nặng nề vào quảng cáo từ Vingroup và các doanh nghiệp khác. Phụ thuộc tới mức truyền thông sẽ không đưa tin về các bê bối của doanh nghiệp”.

Không thể biết được là giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam có đang thảo luận chuyện này hay không. Công chúng hiếm khi biết đến các tranh luận chính trị trong nội bộ đảng. Nhưng chính sách mang dấu ấn nhất của vị lãnh đạo đảng, ông Nguyễn Phú Trọng, chính là chiến dịch chống tham nhũng vẫn đang tiếp diễn. Chiến dịch này đã khiến một loạt cựu quan chức và doanh nhân vào tù.

Hồi tháng Tư vừa rồi, công an bắt Phạm Nhật Vũ, em trai Phạm Nhật Vượng, với nghi vấn đưa hối lộ trong một vụ bê bối của một doanh nghiệp truyền thông. Vụ bắt giữ này có vẻ không liên quan đến Vingroup, tuy nhiên, nhiều người xem đây là một dấu hiệu cho thấy nhà nước Việt Nam đang ngày càng ít dung túng cho các sai phạm của những kẻ chóp bu.

Trong điều kiện là nền kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng mạnh, cùng với việc kinh doanh địa ốc – nguồn tiền chính cho các ngành kinh doanh mới đầy rủi ro của họ – vẫn đang ăn nên làm ra, Vingroup sẽ tiếp tục chiếm thế thượng phong và ngày càng lớn mạnh.

Nhưng quỹ đạo phát triển của các doanh nghiệp ít khi nào là một đường thẳng, kể cả những doanh nghiệp ở Việt Nam, nơi mà doanh nghiệp lớn nhất trong nước có vẻ, trong một chừng mực nào đó, ít nhất là vẫn đang dựa dẫm vào sự ủng hộ từ giới chóp bu cầm quyền.

“Giờ đây, tôi nghĩ rằng, nếu mọi thứ vẫn tiếp tục như hiện nay, Vingroup sẽ là một trong những doanh nghiệp tư nhân được quản lý tốt nhất tại Việt Nam”, Alexander Vuving nói. Tuy nhiên, ông phân tích thêm: “Vì thành công của một doanh nghiệp tư nhân ở đất nước này tùy thuộc vào mối quan hệ của họ với các chính trị gia, số phận của họ tùy thuộc nhiều vào các dàn xếp chính trị nội bộ bên trong giới tinh hoa cầm quyền”.

Người dịch: Phùng Anh Khương

Nguồn bản tiếng việt: https://www.luatkhoa.org/2019/06/vingroup-va-su-troi-day-day-nghi-van-cua-mot-de-che-kinh-te/

Nguồn bản gốc:  The rise and rise of a Vietnamese corporate empire

Cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực Fintech ở Việt Nam


Thị trường thanh toán số có tốc độ tăng trưởng cao nhưng đang bị phân mảnh do Việt Nam đang đứng trước một làn sóng sáp nhập sau vụ sáp nhập gần đây giữa dịch vụ ví điện tử VIMO và mPOS – một doanh nghiệp khởi nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ POS (point-of-sale, điểm bán hàng). Một chuyên gia phân tích dự báo sẽ có một “cuộc tắm máu” do cuộc cạnh tranh đang nóng dần.

Tuần trước, VIMO và mPOS thông báo hai bên đã sáp nhập và hoạt động dưới một thương hiệu chung là NextPay. Với 1,5 triệu người sử dụng ví điện tử và hơn 35.000 điểm chấp nhận POS trên khắp 45 tỉnh, thành, pháp nhân mới ước tính sẽ xử lý khoảng 1,5 tỷ USD giao dịch thanh toán trong năm nay. Đó là một con số đáng kể trên thị trường thanh toán với tổng giá trị thanh toán ước khoảng 8,5 tỷ USD ở Việt Nam trong năm 2019, tăng 20% so với năm ngoái.

Mặc dù thương vụ sáp nhập này đã được hai doanh nghiệp khởi nghiệp có trụ sở ở Hà Nội lên kế hoạch từ rất lâu vì cả hai đều được thành lập vào năm 2014 bởi NextTech do ông Nguyễn Hòa Bình lãnh đạo, nhưng động thái này vẫn thu hút sự chú ý trên thị trường fintech (tài chính – công nghệ) vốn rất chật chội ở Việt Nam.

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), đến cuối tháng 2/2019, Việt Nam có 29 tổ chức trung gian thanh toán phi ngân hàng được cấp phép, trong đó có khoảng 20 tổ chức cung cấp dịch vụ ví điện tử. Bên cạnh đó, có hơn 40 ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán trên điện thoại di động.

Marc Einstein, chuyên gia phân tích của công ty nghiên cứu và tư vấn công nghệ thông tin ITR có trụ sở ở Nhật Bản, cho rằng các công ty ở Đông Nam Á đang tìm cách noi theo sự thành công của các nhà cung cấp dịch vụ thanh toán số khổng lồ của Trung Quốc như AliPay của Alibaba Group Holding hay WeChat Pay của Tencent Holdings.

Theo Chuyên gia Einstein, đó giống như một cuộc đua tìm vàng nhưng chỉ có một số ít người chơi sẽ thành công ở một quốc gia như Việt Nam. “Đó sẽ là một cuộc tắm máu. Sẽ chỉ có 1 người, hoặc tối đa hai người, thắng cuộc”.

Trong bối cảnh dịch vụ thanh toán số đang trở nên phổ biến, ông Nguyễn Hòa BÌnh, nhà sáng lập VIMO và mPOS và sẽ giữ chức Chủ tịch NextPay, tin rằng doanh nghiệp mới sáp nhập sẽ tiếp tục phát triển.

Theo doanh nhân này, NextPay đang trong quá trình hoàn tất vòng gọi vốn series B để huy động 30 triệu USD. NextPay đặt mục tiêu tăng trưởng ở trong nước và mở rộng hoạt động ra nước ngoài, trong đó có kế hoạch thâm nhập thị trường Indonesia và Malaysia vào năm tới. Mặt khác, NextPay đã hợp tác với doanh nghiệp khởi nghiệp chuyên cung cấp dịch vụ cho vay ngang hàng để thử nghiệm các dịch vụ cho vay đối với người bán hàng và người tiêu dùng trong năm nay.

Ông Nguyễn Hòa Bình tự tin khẳng định NextPay sẽ có lợi nhuận “hàng triệu USD” trong năm 2019 nhưng từ chối tiết lộ thêm thông tin chi tiết. Trả lời phỏng vấn Nikkei Asia Review, ông Bình nói: “Chúng tôi nghĩ rằng đây là thời điểm tốt để sáp nhập và huy động thêm vốn để chiếm lĩnh thị trường Việt Nam trong 3 năm tới, đồng thời mở rộng sang các thị trường chưa được khai thác ở khu vực Nam Á”.

Cũng giống như chuyên gia Einstein, ông Bình cũng tin rằng đang có một cuộc cải tổ lớn trong lĩnh vực này. Ông nói: “Tôi cho rằng trong vòng 2 đến 3 năm nữa, có tới 70% doanh nghiệp thanh toán fintech ở Việt Nam sẽ phải đóng cửa”.

Trong khi đó, ông Huy Pham, giảng viên của Đại học RMIT Vietnam và là một chuyên gia trong lĩnh vực fintech, cho rằng thương vụ sáp nhập mới sẽ mang lại lợi thế cho NextPay, bởi vì, mPOS, vốn chuyên tâm vào việc cung cấp dịch vụ đọc thẻ điện thoại, có hệ thống khách hàng rộng lớn. Ông nói: “Chắc chắn, NextPay sẽ có lợi thế cạnh tranh so với tất cả những người chơi lớn khác trên thị trường như Momo hay Moca của Grab hay Viettel Pay hoặc Zalo Pay”.

Các nhà phân tích cho rằng các công ty thanh toán số sẽ cần phải tập trung vào việc huy động vốn, thu nhập dữ liệu khách hàng, mở rộng mạng lưới cửa hàng chấp nhận dịch vụ và mở rộng hoạt động thông qua hệ sinh thái số để tồn tại.

Vào đầu năm nay, Momo – dịch vụ thanh toán điện tử phổ biến nhất ở Việt Nam – đã huy động 100 triệu USD từ công ty Warburg Pincus của Mỹ sau khi được bơm hàng triệu USD từ Standard Chartered và Goldman Sachs. Trong khi đó, Zalo Pay, vốn được hậu thuẫn bởi VNG Corp., là “kỳ lân” đầu tiên ở Việt Nam. Năm ngoái, Grab của Singapore đã ký thỏa thuận đối tác chiến lược với Moca của Việt Nam để cung cấp các dịch vụ thanh toán số. Air Pay đang nhận được sự hỗ trợ của công ty Internet Sea của Singapore.

Sự cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường thanh toán số ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh Chính phủ nước này đang nỗ lực tăng người sử dụng các dịch vụ thanh toán số nhằm rút ngắn khoảng cách với các nước láng giềng.. Các số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy số lượng giao dịch không dùng tiền mặt ở Việt Nam hiện chỉ là 4,9 giao dịch/người, thấp hơn rất nhiều so với con số 59,7 ở Thái Lan 89 ở Malaysia và 26,1 ở Trung Quốc.

SBV đã chọn ngày 16/6 là ngày “không tiền mặt” quốc gia. Theo các tờ báo ở Việt Nam gần đây, SBV đã thông báo các kế hoạch hủy bỏ hạn mức giao dịch 20 triệu đồng/ngày đối với những người sử dụng ví điện tử.

Hiện tại, các dịch vụ ví điện tử ở Việt Nam sẽ phải kết nối với một tài khoản ngân hàng và điều này đã giúp cho các ngân hàng, vốn đang thúc đẩy các sản phẩm thanh toán số, trở thành một phần quan trọng trên thị trường. Ông Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, cho rằng sự giao thoa giữa các công ty fintech và các ngân hàng đang dẫn tới một sự cạnh tranh và cả sự hợp tác. Ông nói: “Các ngân hàng và công ty fintech đã hợp tác rất tốt, bởi vì, họ đang cố gắng tận dụng thế mạnh của nhau”.

Chuyên gia này cũng dẫn các số liệu để chứng minh rằng Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng để phát triển thành một xã hội không dùng tiền mặt trong thanh toán. Tỷ lệ tiền mặt trong lưu thông/GDP của Việt Nam năm 2016 là 19% trong khi con số này ở Thái Lan chỉ là 12,6%, ở Trung Quốc là 9,2% và Malaysia là 7,7%.

Theo các số liệu thống kê gần đây, chỉ có 59% người trưởng thành ở Việt Nam có tài khoản ngân hàng. Để tăng con số này, năm nay, Chính phủ Việt Nam đã bật đèn xanh cho các công ty viễn thông thử nghiệm các dịch vụ thanh toán điện tử. Ông Binh Nguyen, chuyên gia của RMIT, cho rằng động thái này có thể sẽ giúp thúc đẩy hoạt động thanh toán điện tử ở khu vực nông thôn, nhưng cũng khiến cho sự cạnh tranh trở nên “quyết liệt hơn”. Chuyên gia này nhận định: “Chúng tôi có nhiều hệ thống thanh toán điện tử và nhiều dịch vụ ví điện tử khác nhau nhưng chỉ có một số ít sẽ tồn tại”. Doanh nghiệp tồn tại sẽ là những doanh nghiệp có thể xây dựng một hệ sinh thái thích hợp và để làm được như vậy, họ cần phải có vốn”.

Ông Bình cũng dự báo các công ty viễn thông có thể trở thành một “kẻ thay đổi cuộc chơi”, bởi vì, họ có hạ tầng rộng lớn.

Nguồn: Nikkei Asia Review – 17/06/2019

TKNB – 20/06/2019

Sự trỗi dậy đầy nghi vấn của một đế chế kinh tế của Việt Nam – Phần II


Tỷ phú đầu tiên

Người sáng lập Vingroup, Phạm Nhật Vượng, hay “Vượng Vin” như cái cách nhiều người gọi, là một người khôn lanh và làm việc không ngừng nghỉ.

Người giàu nhất Việt Nam này điều hành tập đoàn của ông ta một cách chặt chẽ. Tôi được bảo là ông Vượng chỉ trả lời phỏng vấn mỗi năm một lần, và tờ Tuổi Trẻ của Việt Nam đã giành được suất phỏng vấn đó từ tháng Hai vừa rồi.

Vượng sinh năm 1968 và lớn lên ở Hà Nội. Cha ông ta phục vụ trong không quân. Khi còn là một thiếu niên trong những năm 1980, Vượng là một trong số những học sinh có được đặc quyền đi du học tại Đông Âu. Khi đó, nền kinh tế hậu chiến của Việt Nam vẫn đang khốn khổ vì cấm vận. Sau khi học tại một viện địa chất ở Moscow, Vượng chuyển về Kharkiv ở Ukraine.

Khi khối Xô Viết tan rã, một loạt các cơ hội kinh doanh đã mở ra cho những ai dám làm dám chịu. Vượng ban đầu cùng phối hợp làm ăn với Lê Viết Lam – một sinh viên Việt Nam khác. Ông Lam sau này cũng sáng lập một tập đoàn đa ngành khác là Sun Group.

Năm 1993, Vượng và Lam thành lập Technocom. Công ty này sử dụng một quy trình công nghệ mang từ Việt Nam sang để tạo ra Mivina – nhãn hiệu mì gói phổ biến nhất tại Ukraine.

Cách đây một thập niên, Vượng bán Technocom cho Nestlé với giá ước lượng khoảng 150 triệu đô-la Mỹ. Ông mang khoản tiền này về Việt Nam. Đó là một quyết định đúng thời điểm. Ông rút tiền khỏi Ukraine đúng lúc cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đang ảnh hưởng đến quốc gia Đông Âu này, để rồi mang tiền về Việt Nam khi các biện pháp cải cách kinh tế theo định hướng thị trường đang đẩy mạnh tăng trưởng ở đây.

Dự án lớn đầu tiên của Vượng chính là khu resort Vinpearl [thành lập năm 2001, khai trương năm 2003 – ND]. Khu này được xây trên một hòn đảo kém phát triển nằm ngoài khơi thành phố biển Nha Trang. Các nhân viên Vingroup mới vào làm thỉnh thoảng hay được kể lại cách mà Vượng đã giải quyết được một thử thách kỹ thuật tưởng chừng như không thể nào giải quyết nổi: xây một cáp treo đi ngang biển từ ngoài đảo vào trong đất liền.

Sau thành công ban đầu đó, Vượng xây khu tổ hợp cao ốc văn phòng đầu tiên của Hà Nội, trung tâm Vincom Bà Triệu [thành lập năm 2002, khai trương năm 2004 – ND], và một loạt các dự án nhà ở khác tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Nhiều dự án đó được xây dựng với hỗ trợ từ các chương trình “Xây dựng-Chuyển giao” (Build-Transfer). Trong các chương trình này, các công ty nhà nước thiếu tiền hay các quan chức giao đất cho các nhà kinh doanh địa ốc để đổi lấy đường xá hay các cơ sở hạ tầng khác.

Năm 2012, Vượng sáp nhập Vinpearl – mảng kinh doanh resort – với Vincom – mảng kinh doanh địa ốc – để tạo thành Vingroup.

Một năm sau đó, tạp chí Forbes tuyên bố Vượng là tỷ phú đầu tiên của Việt Nam. “Câu chuyện của Vượng chính là hiện thân của câu chuyện Việt Nam thời hậu chiến, một thành quả tư bản trên một đất nước vẫn tồn tại trên danh nghĩa là một nước cộng sản”, Forbes bình luận.

Bây giờ, chiến lược kinh doanh của Vượng tiếp tục theo đuổi cái cốt truyện “hiện thân” đó.

Tất cả những gì tôi nghe kể về Vingroup đều cho thấy đấy là một môi trường làm việc khắt khe. Họ có một chuẩn quy tắc ăn mặc nghiêm khắc, những nhân viên vi phạm có thể chịu phạt bằng cách trừ lương (một phát ngôn viên Vingroup cho tôi biết tiền phạt này được góp vào làm từ thiện).

Trong cuộc phỏng vấn với báo Tuổi Trẻ, Vượng nói rằng văn hóa doanh nghiệp của Vingroup được xây dựng xung quanh “ba giá trị: lòng yêu nước, kỷ luật, và văn minh”. Vượng đề xuất cho nhân viên tập đoàn ông đọc cuốn sách dạy kinh doanh “Từ tốt đến vĩ đại: Tại sao một số công ty đạt bước nhảy vọt còn các công ty khác thì không“.

Vingroup càng mở rộng sang các ngành khác thì sản phẩm mới lại càng xuất hiện nhiều hơn. VinFast mới đây xuất xưởng xe máy chạy điện, một dạng ít ô nhiễm hơn so với phương tiện mà phần lớn người Việt Nam dùng để đi lại. Tuy nhiên, VinFast đang đặt cược là vài triệu người trong dân số 100 triệu người Việt Nam sẽ sớm đặt mua những chiếc xe hơi đầu tiên của họ. Quy trình sản xuất những chiếc ô tô mui kín, mẫu đầu tiên trong một nhóm ba mẫu xe, đã được khởi động vào tháng 6 này.

Công luận biết rất ít về các mối quan hệ giữa Vingroup và chính phủ Việt Nam. Nhưng trong khi giới lãnh đạo Việt Nam đang tìm cách đẩy qua bên lề các doanh nghiệp nhà nước cứng nhắc, họ thường phát biểu rằng khối kinh tế tư nhân là động lực hàng đầu cho tăng trưởng của đất nước.

Năm 2017, khi Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng (người mới đây đã trở thành chủ tịch nước), tới thăm nhà máy VinFast, có tin cho biết ông Trọng đã khen ngợi Vingroup là “nhà tiên phong trong sản xuất nhãn hiệu xe quốc gia”.

Gần đây hơn, trong một dịp khai trương sản phẩm hồi đầu tháng 6/2019, Vượng đã lái một chiếc xe điện tại nhà máy Hải Phòng của VinFast. Ngồi cùng xe với Vượng là khuôn mặt tươi cười của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, người đang khuyến khích người dân nước mình “ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Năm ngoái, chính phủ Việt Nam đưa ra một số biện pháp để kiểm soát lượng xe hơi nhập khẩu. Động thái này có lợi cho VinFast và cả Thaco, nhà sản xuất xe hơi còn lại của Việt Nam. Nhiều người Việt Nam tin rằng động thái đó là một nỗ lực bảo hộ nhãn hiệu xe hơi non trẻ của VinFast.

Việt Nam cũng đã công bố các kế hoạch giảm sử dụng xe gắn máy gây ô nhiễm trong giao thông tại hai siêu đô thị Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Nhiều người Việt Nam nói với tôi cho rằng động thái này cũng được thiết kế để giúp đỡ cho các xe máy chạy điện của VinFast và cho doanh nghiệp kinh doanh xe buýt chạy điện, VinBus, mà Vingroup mới lập ra vào tháng 5/2019.

Khi tôi hỏi phó chủ tịch Thủy rằng Vingroup có đóng vai trò gì trong chính sách giao thông của chính phủ Việt Nam hay không, bà Thủy gạt bỏ ngay ý tưởng đó: “Chúng tôi không bao giờ vận động hành lang với chính phủ vì bất cứ điều gì cả”, bà nói.

Trình bày chung về tầm nhìn của ông Vượng dành cho Vingroup, bà Thủy nói tập đoàn này có một sứ mạng “rất nặng nề” là phải dẫn dắt nhiều ngành công nghiệp của Việt Nam, với mục tiêu trở thành doanh nghiệp dẫn đầu hay chí ít là đứng thứ nhì trong mọi ngành kinh doanh họ làm. “Chúng tôi đã có may mắn trong các năm qua khi chính phủ hỗ trợ khối kinh tế tư nhân vươn lên hàng đầu”, bà Thủy nói. “Chúng tôi may mắn là đang có mặt đúng thời điểm và đang làm những gì tốt nhất cho đất nước.”

Chiếm lĩnh

Sự thâm nhập của Vingroup vào mọi mặt trong đời sống tại Việt Nam sẽ còn trở nên sâu sắc hơn nữa.

Năm ngoái, Vingroup làm cả thị trường ngạc nhiên bằng tuyên bố khởi động mảng kinh doanh điện thoại thông minh VinSmart, và một đơn vị mới trong tập đoàn chuyên về trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn.

Ông Vượng tuyển người một cách sâu rộng cho các hoạt động mới, săn tìm nhân tài từ giới người Việt sống ở nước ngoài, những người hay được gọi là Việt kiều. Vũ Hà Văn là một giáo sư toán học tại Đại học Yale đã có nhiều năm làm việc ở nước ngoài (ở Mỹ ông được biết đến với tên Van H Vu). Ông đã được chọn làm cố vấn chính cho Vingroup về trí tuệ nhân tạo.

Tôi đến nói chuyện với ông Văn tại khu Times City, một khu đô thị tại Hà Nội do Vingroup xây dựng. Khu này là một minh họa sống động cho tầm nhìn của Vingroup: bên cạnh các căn hộ chung cư cao cấp Vinhomes là bệnh viện quốc tế Vinmec, một ngôi trường Vinschool, một thủy cung Vinpearl, và một khu mua sắm Vincom Mega Mall.

Trong văn phòng Vingroup có đầy các ghế lười hạt xốp và tranh ảnh Bill Gates với Steve Jobs, ông Văn bảo tôi rằng công việc của họ là nghiên cứu các ứng dụng dữ liệu lớn sẽ cho phép Vingroup cung cấp thêm các dịch vụ khác khi tập đoàn này mở rộng các ngành kinh doanh điện thoại, TV thông minh, nhà cửa và xe hơi.

Ví dụ, các cửa hàng siêu thị VinMart có thể sử dụng các “camera thông minh” để lưu lại thông tin về thời gian khách hàng nán lại một gian hàng nào đó trong siêu thị.

Ông Văn cũng nói với tôi rằng đơn vị nghiên cứu trí tuệ nhân tạo của Vingroup đang tiến hành các nghiên cứu với mục đích “trợ giúp cộng đồng khoa học và xã hội nói chung”. Trong số đó có một nghiên cứu làm bản đồ gen người cho Việt Nam.

Qua một chương trình có khả năng giúp ích cho ngành công nghệ cao còn non trẻ của Việt Nam, Vingroup còn đang cấp học bổng cho các sinh viên cao học tài năng, những người này không hề có nghĩa vụ bắt buộc phải làm việc cho Vingroup sau khi tốt nghiệp.

“Chúng tôi cho rằng nếu lực lượng lao động của cả nước lớn mạnh, chúng tôi cũng sẽ hưởng lợi thôi,” ông Văn bảo tôi.

Tuy nhiên, với việc Vingroup và các công ty đang lên khác gia tăng ảnh hưởng và cho ra lò các công nghệ mới đầy quyền năng, giới hoạt động xã hội dân sự nói rằng cần phải có biện pháp kiểm tra, giám sát hiệu quả giới doanh nghiệp lớn.

Các quan điểm phê phán và các báo cáo khắt khe về giới doanh nghiệp lớn rõ ràng là đang thiếu vắng trong môi trường truyền thông bị nhà nước kiểm soát của Việt Nam. Các đơn vị truyền thông Việt Nam không chỉ phải hoạt động dưới bàn tay kiểm duyệt của nhà nước, họ thường vật lộn về mặt tài chính và rất ngại làm phiền lòng các doanh nghiệp mua nhiều quảng cáo.

Mối quan hệ giữa cánh nhà báo và các doanh nghiệp thường khá là nhập nhằng. Giống như tại Trung Quốc, các phóng viên Việt Nam thường được trả lương thấp và họ thỉnh thoảng được các doanh nghiệp cho thêm các khoản tiền mặt nhỏ mỗi lần họ đến dự các buổi họp báo.

Khi tôi đến dự buổi khai trương mẫu điện thoại Vsmart tại TP. Hồ Chí Minh vào tháng 12 năm ngoái, trong bộ tài liệu quảng cáo dành riêng cho báo giới mà bên Vingroup trao cho tôi có kèm một phong bì hai triệu đồng (khoảng 85 đô-la Mỹ). Tôi trả cái phong bì đó lại cho một nhân viên Vingroup.

Bên Vingroup xác nhận rằng tại Việt Nam “theo thông lệ” doanh nghiệp thường mời các phóng viên ăn trưa sau buổi họp báo. Một khoản “tiền tiêu vặt” thường được doanh nghiệp trao cho các phóng viên trong trường hợp doanh nghiệp không thể tổ chức ăn trưa. (Các bữa ăn trưa của tôi ở Hà Nội đều do tòa soạn Financial Times trả, ít khi nhiều hơn 10 đô-la Mỹ.)

Khi tôi mới lần đầu viết bài về VinFast cho Financial Times năm 2018, công ty này đã liên lạc với tôi chỉ vài phút sau khi bài báo được đăng lên mạng. Họ yêu cầu chúng tôi xóa bỏ một câu trong bài nói về mối quan hệ giữa Vingroup với hãng BMW vốn đang hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật cho VinFast. Vingroup không hề nói rằng câu đó sai sự thật. Financial Times từ chối yêu cầu xóa câu đó của họ.

Tuy nhiên, trong cõi mạng Việt Nam, các tin bài với những chi tiết gây tranh cãi thường biến mất sau khi có sức ép từ các doanh nghiệp hay quan chức nhà nước.

Tranh luận về tầm ảnh hưởng đang lớn mạnh của Vingroup thường sống động hơn trên các mạng xã hội. Việt Nam hay được miêu tả là một phiên bản nhỏ của Trung Quốc, nước láng giềng cộng sản của Việt Nam. Tuy nhiên, có một lĩnh vực mà phép so sánh này trật lất: mạng internet. Trung Quốc xây dựng mạng internet riêng của họ phía sau bức “vạn lý tường lửa” để không cho các dịch vụ mạng xã hội từ Mỹ xâm nhập. Việt Nam thì lại vẫn cho phép Facebook, YouTube và Google hoạt động.

Người Việt Nam được tự do nói những gì họ nghĩ hơn người Trung Quốc nhưng thỉnh thoảng họ vẫn phải gánh chịu hậu quả của việc đó.

Sử dụng một luật an ninh mạng khắt khe mới ban hành, chính phủ Việt Nam đang cố gắng kiểm soát các doanh nghiệp công nghệ khổng lồ từ Mỹ cũng như môi trường tự do ngôn luận mà các doanh nghiệp này cung cấp. Chính phủ Việt Nam đang cảnh giác với vai trò của mạng xã hội trong việc tạo điều kiện cho người dân tổ chức các cuộc biểu tình lớn. Những cuộc biểu tình như thế đã diễn ra trong những năm gần đây, ví dụ như cuộc biểu tình năm 2016 liên quan đến việc một nhà máy thép của Đài Loan xả hóa chất độc hại ra bên ngoài.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phùng Anh Khương

Nguồn bản tiếng việt: https://www.luatkhoa.org/2019/06/vingroup-va-su-troi-day-day-nghi-van-cua-mot-de-che-kinh-te/

Nguồn bản gốc:  The rise and rise of a Vietnamese corporate empire