Không thể dựa vào liên kết quyền lực mà vi phạm pháp luật


Bình luận trên đài BBC, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), cho rằng những lãnh đạo ngân hàng hiện nay đã rút ra được bài học rằng kh6ong thể chỉ dựa vào liên kết với cán bộ cao cấp trong bộ máy quyền lực mà vi phạm pháp luật.

Bình luận về thực trạng của một số vụ án trong ngành ngân hàng, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói: “Hệ thống ngân hàng Việt Nam là một hệ thống phát triển rất nhanh trong thời gian vừa qua. Để có thể hoạt động tốt, một số lãnh đạo ngân hàng đã liên kết với các cán bộ cấp rất cao trong bộ máy quyền lực. Họ nghĩ là với những liên kết như vậy, họ có thể bước lên trên các quy định pháp luật để phục vụ lợi ích nhóm. Điều đó có thể thực hiện được khi nhân vật đó còn nắm quyền lực trong tay, nhưng khi người đó không còn làm việc hay nghỉ hưu, có thể phải đối mặt với những cáo trạng về pháp luật. Đó là thực trạng của một số vụ án chúng ta thấy như hiện nay”.

Bài học cho lãnh đạo ngân hàng

Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, những sai phạm của hệ thống ngân hàng gần đây được đưa ra khá rầm rộ. Ông nói: “Có tới hơn 100 vụ được khởi tố với hàng trăm nhân vật trong hệ thống ngân hàng đã và sẽ bị điều tra hay bị bắt. Đến một lúc nào đó, người ta sẽ đặt câu hỏi trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước như thế nào. Trách nhiệm đó gồm trách nhiệm tinh thần, hành chính, tài chính và hình sự. Trong thời gian sắp tới, sớm hay muộn, vấn đề (quy trách nhiệm) này sẽ được quyết định”.

Về bài học mà các lãnh đạo ngân hàng hiện nay có thể rút ra sau những sai phạm trong ngành ngân hàng, Tiến sĩ Doanh nói: “Những người lãnh đạo ngân hàng hiện nay đã học được những bài học kinh nghiệm là không thể chỉ dựa vào mối quan hệ quen biết với một số người có quyền lực mà có thể hành động vi phạm pháp luật. Vì việc đó có thể sẽ bị trả giá rất đắt. Chẳng hạn, ngân hàng nhà nước trước đây đã mua lại một số ngân hàng với giá 0 đồng, hay nỗ lực sáp  nhập ngân hàng, hay kiểm tra và đặt một số ngân hàng dưới sự giám sát đặc biệt. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mới được bổ nhiệm đã có những chính sách rất thận trọng trong việc xử lý tỷ giá, lãi suất tín dụng. Tôi hy vọng tình hình ngân hàng trong thời gian tới sẽ được ổn định hơn”.

Ở Việt Nam, lãnh đạo ngân hàng dễ bị khép tội

Một luật sư tại TPHCM bình luận rằng các lãnh đạo ngân hàng thường “có quan hệ thân hữu với giới lãnh đạo cấp cao nên xem nhẹ việc tuân thủ quy định” và “rất dễ bị khép tội”. Sau gần 6 tháng trả hồ sơ, dự kiến ngày 28/8, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội sẽ mở lại phiên sơ thẩm vụ Hà Văn Thắm và 50 đồng phạm. Phiên tòa đại án kinh tế xảy ra tại Ngân hàng Đại Dương (Oceanbank) dự kiến kéo dài 20 ngày.

Trong một diễn biến khác, báo Zing ngày 9/8 cho hay ông Trần Bắc Hà, cựu Chủ tịch Hội đồng Quản trị ngân hàng BIDV “từ chối bình luận về mối liên quan của mình với các sai phạm của ông Trầm Bê và Phạm Công Danh trong đại án làm thất thoát hơn 6000 tỷ đồng”.

Hồi đầu tháng này, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng (C46) ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam 4 tháng đối với ông Trầm Bê, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm chủ tịch Hội đồng tín dụng Sacombank.

Ngày 9/8, Luật sư Phùng Thanh Sơn, Giám đốc công ty Luật Thế giới Luật pháp nói: “Các sếp ngân hàng dễ bị khép tội. Dễ bị khép tội ở đây không đồng nghĩa với việc nhà nước buộc tội họ một cách vô tội vạ mà là vì quá nhiều quy định khắt khe trong lĩnh vực ngân hàng cần phải được tuân thủ. Hệ thống Ngân hàng được ví như là “huyết mạch” của nền kinh tế. Nếu hệ thống ngân hàng bị đổ vỡ thì ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của đất nước. do đó, có nhiều quy định nghiêm ngặt để bảo vệ “huyết mạch” ấy. Tuy nhiên, lãnh đạo ngân hàng thường là giới đại gia và có quan hệ thân hữu với lãnh đạo cấp cao trong chính phủ.

Có thể vì vậy mà họ có khuynh hướng xem nhẹ việc tuân thủ các quy định nghiêm ngặt của ngành ngân hàng hơn. Đến khi thiệt hại phát sinh, họ rất dễ bị khép vào các tội như: Vi phạm các quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, hoặc Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.

Theo luật sư Phùng Thanh Sơn, cần nhìn nhận một thực tế là không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới, các tập đoàn kinh tế lớn thường có mối liên hệ chính trị nhất định với chính phủ, đảng cầm quyền. Bê bố của tập đoàn Samsung ở Hàn Quốc là một ví dụ. Mà một khi có mối liên hệ chính trị, việc xử lý sai phạm của những người lãnh đạo trong các tập đoàn đó ít nhiều sẽ bị cản trở, nhất là trong bối cảnh hệ thống chính trị của Việt Nam không theo thiết chế tam quyền phân lập. Và khi mối quan hệ chính trị không còn hoặc không đủ mạnh, tất yếu các sai phạm của lãnh đạo tập đoàn đó phải được xử lý Không thể để cái sai tồn tại mãi được.

Do đó, theo tôi, việc bắt ông Trầm Bê mới đây cũng như các lãnh đạo ngân hàng ACB, Đông Á, Xây dựng, Đại Dương trước đó là quy luật tất yếu. Chỉ khi nào các lãnh đạo ngân hàng này không có sai phạm mà chính quyền với đội ngũ lãnh đạo mới cố tình xử lý hình sự họ để đưa người có mối quan hệ thân hữu lên thay thì đó mới có thể xem là chuyện đấu đá nội bộ. Nếu các sai phạm của các ngân hàng này diễn ra trong một thời gian dài mà Ngân hàng Nhà nước không có động thái xử lý hoặc xử lý không thích đáng thì tổ chức này không thể vô can được.

Về vai trò của luật sư trong những phiên tòa xét xử lãnh đạo vừa qua, ông Phùng Thanh Sơn cho rằng trong quá trình điều tra, không loại trừ khả năng các bị cáo có những lời khai “nhạy cảm” về các lãnh đạo của Việt Nam có liên quan hoặc có những thông tin ảnh hưởng đến vấn đề an ninh tiền tệ. Do đó, luạt sư trong các “đại án” ngân hàng sẽ không được thoải mái như những vụ án hình sự thông thường khác.

Theo ông Phùng Thanh Sơn, chắc chắn phía có mối liên hệ giữa các vị lãnh đạo ngân hàng vướng vòng lao lý và nợ xấu vì để có thể truy tố các lãnh đạo ngân hàng theo các tội danh trên thì đòi hỏi phải có hậu quả (tức nợ xấu) xảy ra. Nợ xấu vượt mức cho phép là biểu hiện rõ nhất của các sai phạm trong quản lý và điều hành hoạt động của ngân hàng. Nếu hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tuân thủ đúng quy định pháp luật thì chắc chắn sẽ không có xảy ra tình trạng tỷ lệ nợ xấu vượt ngưỡng cho phép.

Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rõ là không phải mọi khoản nợ xấu của ngân hàng đều xuất phát từ hành vi sai trái của lãnh đạo, cán bộ ngân hàng. Chỉ những khoản nợ xấu nào phát sinh từ các khoản cho vay không đúng quy định pháp luật dẫn đến không thu hồi được nợ thì mới được xem là thiệt hại.

Về trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước trong các vụ đại án này, luật sư Phùng Thanh Sơn cho rằng một trong những chức năng của Ngân hàng Nhà nước là quản lý và giám sát hoạt động của ngân hàng thương mại. Do đó, nếu các sai phạm của các ngân hàng này diễn ra trong một thời gian dài mà Ngân hàng Nhà nước không có động thái xử lý hoặc xử lý không thích đáng thì tổ chức này không thể vô can được.

Chí ít các cán bộ ngân hàng nhà nước liên quan cũng có dấu hiệu của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ là một cơ quan ngang bộ trực thuộc chính phủ. Do đó, tính độc lập của tổ chức này là thấp và chịu sự can thiệp hành chính toàn diện từ chính phủ.

Trong khi đó, ngoài chức năng quản lý, giám sát các hoạt động các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn thực hiện chức năng của một ngân hàng trung ương. Do đó, sự can thiệp của chính phủ thông qua Ngân hàng Nhà nước sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại. Vì vậy, để hệ thống ngân hàng tại Việt Nam nói chung và Ngân hàng Nhà nước nói riêng hoạt động hiệu quả thì về lâu dài, cần phải tách Ngân hàng Nhà nước ra khỏi chính phủ. Có như vậy, Ngân hàng Nhà nước mới thực hiện được chức năng của một ngân hàng trung ương đúng nghĩa.

Nguồn: BBC

TKNB – 11/08/2017

Advertisements

Bàn về vấn đề kinh tế chính trị học của tham nhũng


Cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng đang bị điều tra tại Việt Nam cho thấy trách nhiệm nghiêm trọng của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, có lẽ vấn đề còn sâu xa hơn. Trả lời phỏng vấn đài RFA chuyên gia kinh tế Nguyễn xuân Nghĩa nói về vấn đề này như sau:

Chu kỳ thăng giáng kinh tế

Dư luận Việt Nam đang xôn xao về việc cả chục viên chức ngân hàng bị điều tra vì sai phạm trong nghiệp vụ làm thất thoát hàng trăm nghìn tỷ đồng, với nạn nhân sau cùng là người dân, ông Nguyễn Xuân Nghĩa nói rằng người ta ưa chú ý đến chu kỳ thăng giáng kinh tế. Khoảng 10 năm, Việt Nam lại có một chu kỳ khủng hoảng trong hệ thống tài chính ngân hàng.

Ông cho biết chỉ vì năm sau khi đổi mới kinh tế, Việt Nam có các hợp tác xã tín dụng bị khủng hoảng vào đầu thập niên 1990. Đến cuối thập niên thì xảy ra vụ Minh Phụng – Epco với sự sai phạm của nhiều cán bộ ngân hàng. Năm 2008, có nạn bẻ bóng đầu cơ bất động sản làm nhiều ngân hàng phá sản, nối tiếp là vụ “Bầu Kiên” và Huyền Như với nhiều cán bộ ngân hàng lãnh án tù. Bây giờ có vụ Trầm Bê và Phạm Công Danh… Theo chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa, cần chú ý đến từ “cán bộ” và số tiền sai phạm ngày càng cao, nay đã lên tới cả ngàn tỷ.

Một số nhà nghiên cứu nói đến trách nhiệm nặng nề của Ngân hàng Nhà nước vì luật lệ thiếu phân minh, người khác chú ý tới phương thức gọi vốn kinh doanh qua ngân hàng thay vì qua thị trường cổ phiếu. Có lẽ vấn đề đó sâu xa hơn vậy, đây là cơ hội tìm hiểu về kinh tế chính trị học của tham nhũng.

Theo chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa, tham nhũng là hiện tượng xảy ra trong vùng tiếp cận giữa kinh tế và chính trị: dùng đặc quyền chính trị để kiếm đặc lợi kinh tế, đó là tham nhũng.

Đặc tính của mọi chính quyền là khả năng hay thẩm quyền làm luật nhằm chi phối người khác. Khi ấy, từng bước ta nên hỏi làm luật để làm gì, có lợi cho những ai? Mọi chính quyền, dù dân chủ hay độc tài, đều có hướng ban hành luật lệ nhằm bảo vệ quyền lợi cho một thành phần xã hội hay dân chúng có khả năng ủng hộ chính quyền. Các doanh nghiệp cũng thế, họ lấy quyết định kinh doanh có lợi cho thành phần cổ đông chiếm đa số và chịu sự phán xét của thị trường qua giá cả. Khi thành phần cốt cán đó đông, đa số tương đối có lợi, là trường hợp của các xã hội dân chủ, mặc dù sai phạm hay tham nhũng vẫn xảy ra sau khi bị báo chí tố giác. Khi đa số tham gia vào tiến trình quyết định, hiện tượng bất công hay bất lương thường khó xảy ra.

Chế độ dân chủ – chế độ độc tài

Trong xã hội độc tài, ta gặp hiện tượng kinh tế học gọi là “quả đầu” hay “oligarchy” là sự tập trung quyền lực trong tay một nhóm thiểu số. Nếu nhóm thiểu số ấy có quyền ban hành luật lệ và quy định về ngân hàng, thậm chí Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lại là Ủy viên Bộ Chính trị của một đảng độc quyền, hệ thống ngân hàng sẽ trở thành trung tâm thu hút tài nguyên cho các đại gia và dẫn tới đại án lâu lâu lại bùng nổ, là điều đang xảy ra. Trường hợp Trung Quốc cũng tương tự. Ta chẳng ngạc nhiện nếu chiến dịch diệt trừ tham nhũng thường xuất hiện một cách định kỳ trong xã hội độc tài, rồi đâu lại vào đấy: nhà tù mở ra cho một số cán bộ ngân hàng bị tội sai phạm, nhưng cơ hội cũng mở ra cho nhiều đại gia mới, bỗng dưng trở thành tỷ phú rất nhanh.

Điều mỉa mai, các chính quyền tự xưng “xã hội chủ nghĩa” hoặc đề cao công bằng xã hội cũng là nơi tham nhũng lên tới thượng tầng chính trị như ta đã thấy từ mấy chục năm tại Cuba và ngay nay tại một nơi đang bị khủng hoảng trầm trọng là Venezuela. Gần đây hơn là trường hợp của Brazil, khi Tổng thống Dilma Rousseff bị bãi nhiệm vì sai phạm về tiền bạc, người tiền nhiệm đã dìu dắt bà ta là cựu Tổng thống Luiz Inácio Lula da Silva vừa bị án tù 9 năm rưỡi về tội tham nhũng.

Việt Nam cũng nằm trên con dốc đó khi báo chí nói đến khoản nợ xấu, khó đòi và sẽ mất đã lên tới 600.000 tỷ đồng, cao hơn 17% tổng số tín dụng của các ngân hàng, trong đó, 90% là tiền của dân. Xã hội chủ nghĩa chính là nơi mà hệ thống cai trị bắt đa số phải trả tiền cho các quyết định vô trách nhiệm của thiểu số.

Việt Nam là nơi chính quyền tránh nói đến tư nhân mà dùng từ “xã hội”. Người ta xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa doanh nghiệp hay cổ phần hóa doanh nghiệp chứ chẳng ai nói đến việc tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Sau vụ khủng hoảng các hợp tác xã tín dụng, vốn là khái niệm cũng mang tính chất tập thể hay xã hội, người ta cho thành lập các ngân hàng cổ phần, tiếng là của tư nhân mà thực chất vẫn là của thiểu số có quan hệ mật thiết với đảng viên hay cán bộ nhà nước. Chẳng ngạc nhiên khi xã hội chủ nghĩa là nơi xuất hiện các đại gia có dinh cơ nguy nga đồ sộ còn hơn chế độ phong kiến ngày xưa. Đấy là nơi thiểu số có thể làm luật và sửa luật mà đa số không có quyền phàn nàn nếu không muốn vào tù!

Nếu so sánh chế độ dân chủ với chế độ độc tài, mọi chế độ chính trị đều cần tiền. Chế độ dân chủ là nơi chính quyền do dân bầu lên được lấy quyết định về ngân sách là thu tiền từ đâu và dùng vào việc gì với sự phán xét định kỳ của người dân qua lá phiếu. Trường hợp lạm dụng vẫn có thể xảy ra khi tiền thuế của dân được dùng vào việc mua phiếu mà người ta gọi là tái phân lợi tức. Sự lạm dụng ấy khó kéo dài khi ngân sách bị bội chi, hệ thống tài chính bị khủng hoảng. Trong chế độ độc tài thì quả thật tham nhũng được định chế hóa và bình thường hóa nhờ hệ thống luật lệ.

Nguyên nhân của sự khác biệt ở đây là chế độ dân chủ cho phép người dân than vãn và phản đối chính sách thuế khóa làm nhà nước phải đảm bảo việc sản xuất sản phẩm cho tư nhân theo quy luật thị trường, tức là nâng cao hiệu quả sản xuất của tư doanh để tạo ra một cái bánh to hơn cho mọi người và tranh luận chính trị xảy ra là khi người ta nói đến việc phân chia phần bánh cho những ai.

Chế độ độc tài thì khỏi băn khoăn về việc đó vì thiểu số có toàn quyền làm luật cho tay chân được hưởng. Khi có đại án về tham nhũng hay khủng hoảng về ngân hàng thì đó là lúc nội bộ của thiếu số này tranh đoạt quyền lực để chia nhau quyền lợi cho giai đoạn tới. Vì vậy, không ngạc nhiên, cứ mười năm lại có một vụ khủng hoảng tài chính và ngân hàng. Ngày nay ai cũng thấy mối quan hệ khăng khít giữa ách độc tài và nạn tham nhũng.

Theo danh mục Chỉ số nhận thức về tham nhũng của Tổ chức minh bạch quốc tế (TI), trong 30 nước bị tham nhũng nhiều nhất thế giới thì chẳng có quốc gia nào thuộc loại dân chủ. Theo con số năm 2016, Việt Nam đứng hạng 113, tham nhũng khá nặng trong 176 quốc gia được tổ chức này khảo sát. Chi tiết đáng chú ý, họ còn nêu ra mối liên hệ giữa tham nhũng và hệ thống luật lệ rườm rà. Điều đó cho thấy một nghịch lý, tham nhũng không xảy ra vì thiếu luật mà vì người dân bị ràng buộc bởi quá nhiều luật lệ trong khi thiểu số vẫn thửa khả năng luồn lách để trục lợi.

Theo ông Nguyễn Xuân Nghĩa, vấn đề không nằm ở hệ thống luật lệ mà thuộc về chế độ chính trị có quyền ban hành luật lệ. Khi người dân càng có nhiều quyền tự do, nhà nước càng khó gây ra nạn tham nhũng. Nhà nước càng ban hành nhiều luật lệ rườm ra và thu hẹp sinh hoạt của thị trường thì đa số người dân lại khó làm ăn trong lĩnh vực tư doanh, thiểu số ở trên vẫn có thể trục lợi mà không coi đó là tham nhũng!

Nguồn: RFA

TKNB – 11/08/2017

Vì sao có hiện tượng giới có tiền rời bỏ Việt Nam


Việt Nam thường nêu những thông tin tích cực về nguồn vốn FDI đổ vào trong nước nhưng một tình trạng đối nghịch không được nêu ra là nhiều người thành đạt, có tiền muốn ra nước ngoài mua bất động sản và định cư tại đó.

Môi trường kinh doanh chưa tốt

Rick Nguyễn, một doanh nhân trẻ từng về nước làm việc trong nhiều năm trước khi quyết định về lại Mỹ và trở thành người đồng sáng lập công ty quảng cáo Spot Trender ở Silicon Valley (North California) nói về trường hợp của anh: “Tôi chưa muốn đầu tư vào Việt Nam là do vấn đề chi phí và cơ hội. Hiện nay, cơ hội ở thung lũng Silicon quá tốt, cần gì cũng có, tiền đầu tư, nhân tài, cơ sở hạ tầng cực kỳ đầy đủ, tôi muốn xây dựng một nền tảng bền vững ở đây trước khi mở rộng ra các nước như Việt Nam”.

Giải thích vì sao có nhiều người trong nước muốn ra ngoài để kinh doanh, anh Rick Nguyễn nói: “Tôi quen rất nhiều người ở Việt Nam qua đây, qua thung lũng Silicon để đầu tư. Tôi nghĩ vì 3 lý do chính: Thứ nhất, doanh nhân Việt Nam muốn đa dạng hóa vốn của họ. Ông bà mình có câu “An cư lạc nghiệp”, “Đất lành chim đậu”, doanh nhân Việt Nam họ muốn có một nguồn vốn ở nước ngoài để đảm bảo sự an toàn và tương lai của gia đình; Thứ hai, họ muốn con cháu ra nước ngoài để học hỏi, mở rộng kiến thức và tìm được cơ hội kinh doanh mà Việt Nam không có; Thứ ba, doanh nghiệp Việt Nam muốn cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài nói chung là tương đối khó, họ muốn mở doanh nghiệp ở Mỹ để có cơ sở hạ tầng và điều kiện như tôi đang làm ở thung lũng Silicon”.

Linh Trần là một du học sinh từ TPHCM sang Mỹ, sau khi tốt nghiệp đã về nước cùng kinh doanh với gia đình. Năm 2011, nhận thấy môi trường và điều kiện kinh doanh ở TPHCM không thích hợp, Linh Trần trở qua Mỹ, lập công ty Umba Lux với dịch vụ cho thuê các loại siêu xe như Bentley, Lamborghini. Linh Trần cho biết “Tôi về Việt Nam làm cho ngân hàng quốc tế một thời gian, sau đó quyết định quay lại Mỹ. Tôi quyết định qua đây để thử làm ăn, khi chuyển từ San Francisco qua Los Angeles và Silicon Valley thì mọi thứ phát triển rất là nhanh, càng làm thì càng có nhiều cơ hội và nhiều mối giao dịch. Làm ở Việt Nam các mối giao dịch đôi khi không bền, đôi khi chính sách thay đổi nên có thể mất trắng. Ở Việt Nam thì thực sự rất khó, cũng rất muốn về nhưng ngại chính sách thôi. Đó là lý do vì sao tôi đầu tư ở bên này”.

Theo Tổ chức Di dân Quốc tế (IOM), Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia châu Á – Thái Bình Dương có người di cư nhiều nhất. Từ năm 1990 đến năm 2015, hơn 2,5 triệu người Việt Nam đã đi khỏi đất nước.

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn, giảng viên cao cấp tại Đại học New South Wales (Australia), nói rằng ông nhận được rất nhiều chia sẻ từ giới trí thức và giới trung lưu tại Việt Nam, rằng họ muốn ra nước ngoài định cư để bảo đảm một tương lai tươi sáng hơn cho bản thân cũng như con cháu trong một xã hội văn minh, dân chủ và pháp quyền: “Hầu như những người mà tôi tiếp xúc đều rất quan tâm về sự tụt hậu của đất nước. So sánh với Thái Lan, hàn Quốc, Singapore họ nói hiện Việt Nam đang tụt hậu quá xa. Họ cảm thấy bất lực, cảm thấy không có cách gì đóng góp để làm cho đất nước vươn lên”.

Việt Nam cần làm gì để giữ chân doanh nhân

Các chuyên gia kinh tế và xã hội học cho rằg Việt Nam cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, ổn định và an toàn cho doanh nhân hay người giỏi, làm sao để người dân an tâm rằng tài sản, cơ nghiệp họ tạo ra được bảo đảm chắc chắn. Theo tiến sĩ Nguyễn Quang A, hơn lúc nào hết Việt Nam cần cải tổ hệ thống tư pháp và đừng tìm cách hình sự hóa các giao dịch kinh tế, giao dịch dân sự: “Khu vực tư nhân là khu vực có thể thu hút nhân tài thật sự, còn bản thân khu vực nhà nước với một chính quyền tham nhũng, bổng lộc là chính như thế này thì không thể thu hút được nhân tài”.

Vẫn theo lời ông Nguyễn Quang A, muốn đất nước là nơi chốn bình yên cho công dân thì môi trường sạch, giáo dục tốt, y tế đảm bảo là những điều kiện tiên quyết.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết: “Tôi nghĩ rằng, trong thời gian tới đây, yêu cầu phát triển kinh tế một cách bền vững, nâng cao hiệu quả và nâng cao năng suất lao động sẽ đòi hỏi nhà nước lẫn doanh nghiệp phải vận dụng khoa học công nghệ nhiều hơn, vận dụng chất xám của các chuyên gia và các nhà trí thức nhiều hơn, do đó sẽ có thể có sự chuyển biến mạnh mẽ nhiều hơn nữa”.

Giáo sư Hà Tôn Vinh, Giám đốc Tổ hợp đào tạo và phát triển nhân lực Stellar Management ở TPHCM, cho rằng đi hay ở đều có khía cạnh tốt, ở đây chỉ nên nói đến điều tích cực: “Việt Nam cũng như các nước đang ở trong thế giới gọi là toàn cầu hóa, những vấn đề giao thương, đầu tư, thương mại đều có thể chuyển snag các nước khác nhau. Cũng nên cho các doanh nghiệp Việt Nam đi ra đầu tư nước ngoài, mua công nghệ để học hỏi kinh nghiệm và phát triển thị trường mới”.

Theo ông Hà Tôn Vinh, vấn đề mà chính phủ cần lưu ý là khi người có tiền cũng như doanh nhân có tiềm năng bỏ đi thì trước mắt là sẽ làm cạn kiệt hoặc làm mất đi nguồn nhân lực cũng như nguồn năng lực tài chính của đất nước.

Nguồn: RFA

TKNB – 31/07/2017

Về khả năng của Mỹ ngừng nhập khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam


Tình hình kinh tế, thương mại Việt – Mỹ 6 tháng cuối năm 2017 nổi lên vấn đề cá tra, cá basa của Việt Nam nhập khẩu vào thị trường Mỹ. Theo kế hoạch, đến tháng 9/2017, Việt Nam phải hoàn tất việc thực thi “Tương đồng về tiêu chuẩn trong hệ thống quản lý sản xuất, chế biến cá da trơn” của Mỹ. Nếu không kịp, phái Mỹ sẽ cho Việt Nam thời gian quá độ thêm 6 tháng. Tuy nhiên, việc này đang rất khó khăn vì theo các tiêu chuẩn do Mỹ đặt ra, Việt Nam rất khó đáp ứng và nguy cơ cá tra, cá basa của Việt Nam bị ngừng nhập khẩu hoàn toàn vào thị trường mỹ từ tháng 3/2018 là rất cao. CQTT tại Washington đã có cuộc trao đổi với Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Mỹ, được biết xung quanh vấn đề này có một số đánh giá sau:

Thứ nhất, những vấn đề nổi cộm khiến mặt hàng cá da trơn gặp nhiều rào cản trong xuất khẩu vào thị trường Mỹ trong thời gian qua nằm ở hệ thống quản lý sản xuất, chế biến cá da trơn của Việt Nam và Mỹ có nhiều khác biệt. Theo đó, bắt đầu từ 1/9 tới, Mỹ sẽ áp dụng quy định tương đồng về tiêu chuẩn trong hệ thống quản lý sản xuất, chế biến cá da trơn giữa các nước nhập khẩu và nước chủ nhà Mỹ. Trong đó bao gồm giám định về chủng loại cá, dư lượng hóa chất có trong các lô hàng, thực tiễn sản xuất tốt (GMP), thực tiễn nông nghiệp tốt (GAP)…

Thứ hai, điểm mấu chốt trong thay đổi quy định của Mỹ mà các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn của Việt Nam cần lưu ý là phía Mỹ không chỉ dừng lại ở kiểm tra hàng hóa tại cửa khẩu, mà tiến tới kiểm tra hàng tận nơi xuất xứ, tức là kiểm soát cả quy trình. Đây thực chất là sự thay đổi về mô hình quản lý của Mỹ. Theo đó, biên giới không còn là hàng rào bảo vệ đầu tiên, mà là điểm kiểm tra cuối cùng trong chuỗi các biện pháp kiểm tra khác. Từ ngày 1/9, 100% các lô hàng cá da trơn đến cảng Mỹ sẽ bị kiểm tra bởi Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), thay vì kiểm tra xác suất như hiện nay. Sau khi được USDA dán nhãn chất lượng thì mặt hàng cá da trơn mới được nhập khẩu vào Mỹ.

Thứ ba, khi chuyển chương trình giám sát cá da trơn từ Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) sang USDA thì rõ ràng phía Mỹ muốn dựng lên một rào cản với mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam. Với quy định của USDA thì đến nay hầu như chưa có nước châu Á nào đáp ứng được. Bởi vì USDA chỉ quản lý các mặt hàng như thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm, trứng và muốn xét một mặt hàng nào vào được thị trường Mỹ thường mất khoảng 7 – 10 năm, thậm chí là không bao giờ được. Cụ thể, chưa có nước ASEAN nào xuất khẩu được thịt vào Mỹ. Ngay cả thịt bò Kobe của Nhật Bản với tiêu chuẩn rất cao cũng chỉ xuất khẩu nhỏ giọt vào thị trường Mỹ. Do vậy, việc chuyển chương trình giám sát cá da trơn sang cho USD         A quản lý thực chất là một rào cản về mặt kỹ thuật và phía Mỹ không muốn cho Việt Nam xuất khẩu cá tra, cá basa vào nước này.

Thứ tư, trong Đề xuất Ngân sách năm 2018 của Tổng thống Donald Trump có nêu kiến nghị chuyển hoạt động giám sát cá da trơn từ USDA trở lại FD, vì chương trình này là “trùng lắp, tốn kém”. Về phía Việt Nam, nhiều người cũng dấy lên hy vọng rằng mọi việc sẽ trở lại như ban đầu. Nhưng qua tìm hiểu được biết, đề xuất của Tổng thống Donald Trump có thực hiện được hay không thì phải biến thành luật và muốn vậy, phải được hai ủy ban chuẩn chi của Quốc hội Mỹ thông qua. Tuy nhiên, Chủ tịch Ủy ban Chuẩn chi Thượng viện là Thượng nghị sĩ That Cochran, đại diện cho bang Mississippi, nơi được coi là “vựa cá da trơn” ở miền Nam nước Mỹ. Ông Cochran là người ủng hộ nhiệt tình việc siết chặt nhập khẩu cá da trơn từ Việt Nam để bảo vệ hoạt động nuôi cá da trơn ở vùng châu thổ sông Mississippi và đi đầu trong việc đưa ra các luật áp thuế chống bán phá giá với mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam. Chắc chắn ông này sẽ không cho thông qua đề xuất trên. Trong khi đó, đứng đầu Ủy ban Chuẩn chi Hạ viện cũng là một Hạ nghị sĩ rất chống Việt Nam là Robert Aderholt, đại diện cho bang Alabama, cũng là một bang có nghề nuôi cá da trơn phát triển. Ông Aderholt rất ủng hộ Chương trình Giám sát cá da trơn được chuyển sang USDA và chắc chắn sẽ phản đối đề xuất trên. Vì vậy, hầu như đề xuất của ông Trump sẽ không có cơ hội biến thành hiện thực và không thể trở thành Luật để thực thi.

Thứ năm, nếu Việt Nam bị ngừng hoàn toàn việc xuất khẩu cá tra, cá basa vào Mỹ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn về mặt kinh tế (khoảng 370 – 380 triệu USD mỗi năm). Tuy nhiên, tổn thất lớn nhất là về mặt ổn định chính trị, an ninh, xã hội khi hàng triệu người nông dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị mất việc làm do Mỹ không tiêu thụ cá tra, cá basa của Việt Nam, gây nên bất ổn xã hội rất lớn.

Theo Tham tán Thương mại Việt Nam tại Mỹ, ông Đào Trần Nhân, cần tránh “ảo tưởng” vào Đề xuất Ngân sách của Tổng thống Trump mà ta sẽ tiếp tục phải đấu tranh với phía Mỹ về chương trình giám sát cá da trơn.

Thứ nhất, hiện đoàn công tác của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đang có mặt tại Mỹ để đàm phán về vấn đề này. Trong khi đó, các nhóm công tác về mặt kỹ thuật của hai bên tiếp tục làm việc để hoàn thiện các nội dung chuẩn bị. Phía Mỹ, có giúp Việt Nam, trong đó có hỗ trợ bằng tiền để nâng cao năng lực, đáp ứng các tiêu chuẩn tương đồng do Mỹ đặt ra.

Thứ hai, Việt Nam sẽ kiện Mỹ ra WTO về những sai trái trong chương trình giám sát cá da trơn. Nhà nước Việt Nam sẽ đứng ra kiện, chi phí sẽ do Công ty TNHH Vĩnh Hoàn (Đồng THáp) doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn lớn nhất của Việt Nam, chi trả. Đáng chú ý là ở Việt Nam có một số ý kiến cho rằng quan hệ hai bên đang tốt mà lại kiện Mỹ ra WTO thì có khả năng sẽ ảnh hưởng đến quan hệ song phương. Theo ý kiến của luật sư tư vấn, việc quan hệ tốt nhưng vẫn kiện nhau là chuyện bình thường. Tức là 2 nước có quan hệ tốt nhưng vì những chuyện của doanh nghiệp thì doanh nghiệp vẫn có thể mang ra kiện phía đối tác. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói rằng việc của doanh nghiệp thì phải để cho doanh nghiệp có quyền quyết định, nếu thấy cần kiện thì nhà nước sẽ hỗ trợ, giúp đỡ cho doanh nghiệp để họ làm, không nên cản.

Thứ ba, một số doanh nghiệp nhập khẩu thủy sản của Hoa kiều tại địa bàn đã gợi ý Việt Nam cần hạn chế nhập thịt bò của Mỹ để trả đũa việc Mỹ hạn chế nhập cá da trơn của Việt Nam. Đây là chiến thuật mà Trung Quốc vẫn làm trong quan hệ thương mại với Mỹ và nếu cần thiết sẽ có “chiến tranh thương mại”. Khi doanh nghiệp Mỹ “bị đánh” sẽ cầu cứu các nghị sĩ Quốc hội và họ sẽ gây áp lực buộc Chính phủ Mỹ phải sửa đổi.

Mỹ đang thi hành chính sách bảo hộ không công bằng đối với các mặt hàng nông sản nhập khẩu, trong đó có cá da trơn của Việt Nam khi dựng lên các hàng rào kỹ thuật, “vừa đá bóng, vừa thổi còi” khi đề ra bộ tiêu chuẩn và tự kiểm định luôn. Chắc hắn rằng đề xuất chuyển trách nhiệm giám sát cá da trơn từ USDA về lại cho FDA sẽ không được dự thảo thành luật và sẽ không được thực hiện. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam cần cập nhật, thích ứng với những thay đổi trong chính sách nhập khẩu hàng nông sản của Mỹ. Bên cạnh đó, ngoài việc kiện ra WTO, Việt Nam cần nghiên cứu và sẵn sàng triển khai các biện pháp trả đũa thương mại để đối phó với chính sách bảo hộ không công bằng của Mỹ.

Nguồn: TKNB – 31/07/2017

Kinh tế Việt Nam có thể “dựa lưng” vào giới trung lưu?


Tháng 6 vừa qua Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nói rằng nền kinh tế Việt Nam có thể “dựa lưng” vào tầng lớp trung lưu.

Tài sản vật chất và trí tuệ

Theo báo cáo nghiên cứu “Kết nối Đông Nam Á” công bố năm 2016, Ngân hàng HSBC khẳng định: Tầng lớp trung lưu của Việt Nam có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á, có triển vọng tăng từ 12 triệu người năm 2012 lên 33 triệu người vào năm 2020.

Giải thích về nguyên nhân nền kinh tế Việt Nam có dấu hiệu có thể dựa vào giới trung lưu, Tiến sĩ Nguyễn Đức thành nói rằng: cơ chế thị trường đã giúp người dân giải phóng các tài sản, vật chất lẫn phi vật chất, của cá nhân hoặc của gia đình, để thoát khỏi nghèo đói và trở thành thành viên của tầng lớp trung lưu. Chính cơ chế thị trường đã làm một bộ phận người dân trở nên giàu có hơn và làm xã hội phát triển. Điều này cho thấy một nền kinh tế dựa vào tầng lớp trung lưu đã đủ điều kiện để hình thành ở Việt Nam.

Nhận xét về điều này, chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển của Liên hợp quốc cho rằng theo ông hiểu “dựa vào giới trung lưu” ở đây cũng có nghĩa là một nền kinh tế lấy kinh tế tư nhân làm chủ chốt và bản thân ông đồng tình với quan điểm này: “Tôi nghĩ rằng việc dựa vào kinh tế tư nhân để phát triển là điều đúng đắn và đó là quy luật của tất cả các nước. Bởi vì kinh tế tư nhân sẽ lập ra các doanh nghiệp đại diện cho dân tộc và họ sẽ thúc đẩy việc tạo ra công ăn việc làm, tạo ra thu nhập và đóng góp tiền thuế để nuôi nhà nước. Đặc biệt ở những nơi đầu tư nước ngoài chưa đến được”.

Hội nghị Trung ương 5 Đảng Cộng sản Việt Nam vừa qua cũng cho thấy nhiều dấu hiệu thể hiện lãnh đạo Việt Nam có thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá cao hơn vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế đất nước. Ngay sau Hội nghị, một cuộc gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và 2000 đại biểu thuộc các doanh nghiệp, trong đó có 1500 người thuộc khối doanh nghiệp tư nhân đã diễn ra. Những dấu hiệu này được giới chuyên gia nhận định là dù muộn màng nhưng “có còn hơn không”.

Theo số liệu thống kê, tỷ trọng đóng góp GDP của kinh tế tư nhân luôn lớn nhất so với các thành phần kinh tế khác và duy trì ổn định ở mức 39 – 40% từ năm 2003 – 2015. Như vậy, tỷ trọng đóng góp GDP của kinh tế Nhà nước hiện tại đã đứng sau kinh tế tư nhân mặc dù nhiều năm doanh nghiệp Nhà nước được đánh giá là nòng cốt của nền kinh tế.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, hiện số lượng người dân thuộc tầng lớp trung lưu đang tăng nhanh nhưng một lo ngại được đặt ra là liệu có phải do tiêu chuẩn “trung lưu” của Việt Nam quá thấp. Bởi vì trong Báo cáo 2035: “Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Ngân hàng Thế giới công bố năm 2016, đã đặt ra mục tiêu là năm 2035 trên nửa dân số Việt Nam dự kiến sẽ gia nhập tầng lớp trung lưu toàn cầu. Mục tiêu này được đặt ra trên cơ sở thu nhập bình quân đầu người Việt Nam phải đạt gần 22.200 USD thì một nửa dân số Việt Nam mới được xếp vào hàng trung lưu. Thế nhưng, nếu so sánh thì mức thu nhập bình quân đầu người của tầng lớp trung này lại chỉ bằng mức thu nhập của Hàn Quốc năm 2002 và Malaysia năm 2013.

Chuyên gia kinh tế, Tiến sĩ Ngô Trí Long cho rằng nền kinh tế có thể dựa vào tầng lớp trung lưu hay không, không chỉ phụ thuộc vào tài sản hữu hình là vật chất mà giới trung lưu có, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào tài sản vô hình là trí tuệ của họ: “Nếu tài sản đó mà toàn là do tham nhũng, bất chính mà ra thì cũng chỉ là những thể loại làm hại đất nước. Nhưng nếu giới trung lưu đó mà có trí tuệ thì đất nước hoàn toàn có thể dựa vào. Trong điều kiện hiện nay, một tư tưởng chuyển biến mới nhất là Đảng và Nhà nước đã nhìn ra và coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng”.

Hiện tại, vấn nạn tham nhũng là một trong những bất cập được dư luận quan tâm nhất trong xã hội Việt Nam. Những dự án thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng mà ẩn sau là chia chác, tham ô hay những dinh cơ đồ sộ của quan chức đua nhau mọc lên trong khi cuộc sống của người dân còn nghèo khổ đã khiến nhiều người mất niềm tin vào một bộ phận giới lãnh đạo, mà theo quan điểm của Tiến sĩ Ngô Trí Long, chính là một phần của giới trung lưu. Tổ chức Minh bạch Quốc tế đầu năm nay cũng xếp Việt Nam đứng thứ 2 ở châu Á về tham nhũng, chỉ sau Ấn Độ. Đây cũng là quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành khi ông nêu ra một thực tế là tầng lớp trung lưu của Việt Nam mới chỉ tăng về lượng chứ chưa đảm bảo về chất. Theo chuyên gia kinh tế này, thu nhập tăng lên chưa chuyển hóa thành giáo dục, kỹ năng nghề nghiệp, lao động…

Để giới trung lưu đóng góp cho kinh tế

Đáp lại câu hỏi “Giải pháp nào để nhà nước cần thực hiện cho giới trung lưu của Việt Nam có thể trở thành điểm tựa thực sự cho nền kinh tế?”, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng mấu chốt là những chính sách của nhà nước một khi “đã nói” là “phải làm”. Ông Lê Đăng Doanh nói: “Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đề ra là xây dựng một nhà nước kiến tạo, một chính phủ liêm chính, trong sạch và trọng dụng nhân tài, bổ nhiệm người tài chứ không bổ nhiệm người nhà. Tuy nhiên, những điều đó có thể được thực hiện đến đâu thì cho đến nay người ta thấy rằng vẫn chưa đi vào cuộc sống được nhiều. Trong cuộc gặp với giới doanh nhân vừa qua, họ đều nói rằng hoan nghênh ý kiến của Thủ tướng nhưng họ cũng nói rằng cần phải đẩy mạnh việc thực hiện những điều đó”.

Tiến sĩ Ngô Trí Long nêu bật vai trò của các chính sách đảm bảo sự minh bạch, công bằng, bình đẳng: “Trong giới trung lưu đó, với từng loại đối tượng, nhà nước phải khai thác, phải có cơ chế làm sao để phát huy được tiềm năng, trí tuệ của họ, trong từng lĩnh vực như thế nào. Về lý thuyết thì rất dễ nói như vậy, nhưng khi làm, điều quan trọng nhất là phải tránh được lợi ích nhóm, sân sau, thiếu minh bạch, không công bằng, thiếu bình đẳng”.

Ngoài việc tạo môi trường kinh doanh lành mạnh để tầng lớp trung lưu phát triển, ông Ngô Trí Long cho rằng Việt Nam cần có những chính sách nuôi dưỡng tầng lớp trung lưu từ việc cải thiện chăm sóc y tế, đến nâng cấp cơ sở hạ tầng, giáo dục, xử lý chênh lệch thu nhập và phải tạo cơ hội cho họ có tiếng nói trong xã hội.

Nguồn: TKNB – 12/07/2017

Các góc nhìn “Quân đội Việt Nam trong kinh doanh”


Truyền thông Việt Nam đã và đang có nhiều bài về chủ đề được bàn thảo trên mạng và đưa ra các hội thảo chính thức về vai trò của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong việc làm kinh tế.

BBC tiếng Việt giới thiệu các bài nổi bật cùng những quan điểm đa chiều về chủ đề này vốn bùng nổ trở lại sau vụ tranh chấp đất ở Đồng tâm và chuyện sân golf cạnh sân bay Tân Sơn Nhất.

Hoạt động đa ngành

Trang VnExpress điểm ra các lĩnh vực kinh tế mà Quân đội Việt Nam đang hoạt động: “Bộ Quốc phòng hiện là bộ trực tiếp quản lý nhiều tập đoàn, tổng công ty với hơn 20 doanh nghiệp trực thuộc. Do đặc thù hoạt động, các tập đoàn, tổng công ty thuộc Bộ Quốc phòng hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ xây dựng – bất động sản, viễn thông, tài chính, logistics, cơ khí, xăng dầu, cho tới nông nghiệp. Trong đó, nhiều doanh nghiệp hoạt động đang trở thành những doanh nghiệp top đầu trong lĩnh vực kinh doanh của mình như Viettel, Ngân hàng Quân đội (MB), Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Tổng công ty Xăng dầu Quân đội hay Tổng công ty Đông Bắc.

Đứng đầu trong danh sách này là Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel). Dù chỉ là doanh nghiệp duy nhất của Bộ Quốc phòng hoạt động trong lĩnh vực viễn thông, nhưng Viettel lại là đơn vị đang giữ vị thế lớn nhất trên thị trường và tạo sự cách biệt khá lớn với hai nhà mạng đứng sau là VinaPhone và Mobifone.

Năm 2016, Viettel đạt hơn 226.000 tỷ đồng doanh thu, xấp xỉ 10 tỷ USD và hơn 43000 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Tổng doanh thu của Viettel cũng gấp ba lần doanh thu của VinaPhone và Mobifone cộng lại, đồng thời là đơn vị đóng góp vào ngân sách lớn nhất trong số các doanh nghiệp quốc phòng, đạt trên 40000 tỷ đồng”.

Ngày 6/7, báo này đã phỏng vấn Thiếu tướng Võ Hồng Thắng, Cục trưởng Cục kinh tế, Bộ Quốc phòng, và được ông xác nhận: “Ở nhiều vùng biên giới trên bộ có tình trạng trắng bản, trắng dân nên quân đội báo cáo Chính phủ, Thủ tướng quyết định cho đầu tư xây dựng 33 khu kinh tế quốc phòng dọc biên giới quốc gia. Hiện đã triển khai 28 khu, 5 khu đang triển khai”.

Tuy nhiên, ông Võ Hồng Thắng cho rằng cách nói “Quân đội làm kinh tế là không đúng”. Theo ông, cần hiểu rõ rằng đó là việc “quân đội tham gia sản xuất, lao động, xây dựng kinh tế”. Ông cũng thách thức các doanh nghiệp dân sự về giá: “Các doanh nghiệp khác muốn không thua kém các doanh nghiệp quân đội thì phải sản xuất tốt, giá cả hợp lý, bán ra thị trường được dân tin”.

Ngày 9/7, báo chí trong nước có phóng sự video nói “Dù số lượng không nhiều nhưng các doanh  nghiệp quân đội đang giữ vị thế lớn ở nhiều lĩnh vực và lợi nhuận vài trăm đến chục nghìn tỷ đồng”.

Khi các sĩ quan cao cấp làm giám đốc

Trang CafeF.vn nêu ra một loạt “hàng nóng”, tức các công ty quân đội mà theo họ được nhà đầu tư nhắm tới trong quá trình Chính quyền Việt Nam cho cổ phần hóa các công ty quân đội.

Trang báo khẳng định: “Quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp quân đội đã và đang được tiến hành”, và đặt câu hỏi: “Những doanh nghiệp quân đội nào sẽ được các nhà đầu tư quan tâm nhất khi sắp tới chỉ còn 29 doanh nghiệp do Bộ Quốc phòng quản lý?”

Trang báo nêu rằng “Viettel, Tân Cảng Sài Gòn là hai cái tên đứng đầu danh sách”. Đặc biệt bài báo còn nhắc lại một nghị quyết đã có từ năm 2012 để cho rằng con số các doanh nghiệp Bộ Quốc phòng nắm đã giảm nhiều. Bài báo viết: “Quân đội còn sở hữu nhiều doanh nghiệp, nhưng số lượng đã giảm mạnh trong thời gian gần đây. Theo số liệu được báo Quân đội Nhân dân công bố, số doanh nghiệp quân đội đã giảm từ 300 xuống 88 doanh nghiệp. Đây là kết quả của quá trình sắp xếp lại các doanh nghiệp quân đội theo tinh thần Nghị quyết 520-NQ/QUTW ngày 25/9/2012”.

Bài báo cũng nêu hiện tượng “một doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nhạy cảm có tên Quân đội nhưng lại do người ngoài quân đội sở hữu phần lớn là Ngân hàng TMCP Quân đội”. Bài báo viết: “Năm 2016, lợi nhuận sau thuế của MB đạt tới 2884 tỷ đồng, tăng 13% so với năm trước đó. Tại MB, Viettel chiếm tới 15.79% cổ phần và là cổ đông tổ chức lớn nhất. Thượng tướng Lê Hữu Đức, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là chủ tịch HĐQT MB; Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng giám đốc Viettel là Phó Chủ tịch; Thiếu tướng Nguyễn Đăng Nghiêm, Tổng Giám đốc Tân Cảng Sài Gòn, là thành viên HĐQT”.

Một doanh nghiệp quan trọng của Bộ Quốc phòng là Tổng công ty xây dựng 319 cũng được tờ báo nêu tên. Tháng 11/2016, các báo Việt Nam cho biết “Đại tá Phùng Quang Hải đã bàn giao chức Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty 319 cho Đại tá Trần Đăng Tú, Tổng giám đốc công ty trực thuộc Bộ Quốc phòng này”.

Các ý kiến đa chiều

Trong một không khí cởi mở hiếm có, cuộc tranh luận về chuyện Quân đội nên làm kinh tế hay không và nếu làm thì làm gì, được báo chí Việt Nam đăng tải rộng rãi, với quan điểm nhiều chiều, từ cả các tướng lĩnh, cựu lãnh đạo. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan, được trích lời tại Tọa đàm do báo Quân đội Nhân dân tổ chức ngày 7/7 nói rằng quân đội làm kinh tế là chuyện “không còn phải bàn”, nhưng cho rằng: “Trong làm kinh tế của quân đội, yếu tố sản xuất là chính, làm kinh doanh thấp hơn. Đặc biệt, quân đội gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà không ai có thể làm được. Cũng giống như các thành tố trong xã hội, lực lượng làm kinh tế của quân đội không thể không có tiêu cực xảy ra. Công tác đấu tranh để làm trong sạch đội ngũ quân đội không thể không làm, thậm chí phải làm nhiều hơn. Vì, tai tiếng của quân đội sẽ ảnh hưởng đến an nguy quốc gia”.

Vấn đề nhiều ý kiến trên các trang mạng xã hội nêu ra là nghi ngờ về sự ưu tiên về thuế, quyền sử dụng đất của các doanh nghiệp quân đội, tạo vị thế cạnh tranh bất bình đẳng với doanh nghiệp quân sự. Một Nghị định của Chính phủ Việt Nam hồi 15/10/2015, có chữ ký của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong Điều 6 ghi rõ về ưu tiên này: “Được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và thuế sử dụng đất đối với diện tích đất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được giao quản lý và sử dụng phù hợp với quy định tại Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành”.

Tuy nhiên, văn bản này cũng ghi: “Định kỳ 3 năm một lần, Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận lại doanh nghiệp quốc phòng, an ninh”.

Nhận thức khác nhau

Có vẻ như ngay trong quân đội cũng có nhận thức khác nhau về việc Quân đội nên làm kinh tế hay không.

Ngày 7/7, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương được báo Thanh niên dẫn lời nói: “Phấn đấu làm sao có nhiều Viettel nữa. Điều này chứng minh rằng chủ trương xây dựng các doanh nghiệp quân đội của Đảng ta là đúng đắn”.

Ngày 23/6, báo chí Việt Nam trích lời Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Lê Chiêm  phát biểu nói Quân đội Việt Nam “không làm kinh tế nữa”. Trong cuộc họp có mặt Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, ông Lê Chiêm nói nhiệm vụ của Quân đội hiện nay là “tập trung cho xây dựng chính quy hiện đại để bảo vệ Đảng, Nhà nước, và Nhân dân”.

Sau phát biểu của Tướng Lê Chiêm, báo chí Việt Nam trích lời Thiếu tướng Lê Mã Lương cho rằng qua nghiên cứu ông thấy “trong thực tiễn quân đội của nhiều nước trên thế giới đều không tham gia làm kinh tế”. Tướng Lê Mã Lương được trang Đất Việt ngày 27/6 trích lời cho biết: “Trước đây, quân đội Trung Quốc cũng tham gia làm kinh tế. Tuy nhiên, sau khi thấy có nhiều vấn đề bất cập nảy sinh, trong đó có liên quan đến vấn nạn tham nhũng nên nước này đã cho quân đội thôi làm kinh tế. Khi quân đội không làm kinh tế, các chiến sĩ sẽ dành được rất nhiều thời gian để nâng cao thể trạng, thể lực, tri thức quân sự”.

Hiện chưa rõ cuộc thảo luận này sẽ đi đến đâu vì đây không phải là lần đầu tiên quan điểm “quân đội, an ninh thôi tham gia làm kinh tế” được nêu ra.

Tháng 1/2007, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, đã nói về hoàn cảnh lịch sử để “Quân đội cũng như công an cũng phải tham gia làm kinh tế, thương mại” nay đã không còn phù hợp: “Thời điểm từ 1975 đến 1990, việc này là cần thiết. Nhưng nếu cứ kéo dài đến thời điểm này rõ ràng là không còn phù hợp nữa. Vì quân đội hay công an cũng thế thôi, đều có nhiệm vụ chính trị rất rõ ràng là phải tập trung bảo đảm an ninh quốc gia”.

Vào thời điểm đó, ông Lê Khả Phiêu nói “dứt khoát năm 2007 phải làm những khâu cơ bản” trong việc chuyển giao các doanh nghiệp quân đội, công an sang cho Nhà nước. Hơn 10 năm sau khi ông Lê Khả Phiêu phát biểu, vấn đề này không chỉ vẫn còn đó mà còn lớn hơn trước.

Nguồn: BBC

TKNB – 12/07/2017

Việt Nam đối mặt với thách thức buộc quân đội ngừng kinh doanh


Hai Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam mới đây nói quân đội “xem chất dứt làm kinh tế”, giảm còn 1/5 số doanh nghiệp quân đội, chỉ giữ những đơn vị sản xuất phục vụ quốc phòng.

Công luận hoan nghênh các thông điệp này, nhưng một nhà nghiên cứu kỳ cựu cho rằng từ lời nói đến thực tế là khoảng cách lớn, và giới lãnh đạo chính trị đối mặt thách thức lớn trong việc làm cho quân đội ngừng kinh doanh.

Trong một cuộc phỏng vấn được báo Tuổi Trẻ đăng tải ngày 10/7, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh cho hay Bộ Quốc phòng “quyết tâm” giảm từ 88 doanh nghiệp quân đội xuống còn 17 doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước. Tướng Nguyễn Chí Vịnh giải thích rằng quân đội chỉ giữ lại những doanh nghiệp “trực tiếp phục vụ nhiệm vụ quốc phòng”.

Ngày 23/6, tại một cuộc họp giữa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và chính quyền TPHCM, một Thứ trưởng Quốc phòng khác, Thượng tướng Lê Chiêm nói quân đội “xem xét chấm dứt mọi hoạt động kinh tế”. Theo Tướng Chiêm, đó là một chủ trương “mới và đặc biệt quan trọng”. Ông nói thêm rằng “tất cả các doanh nghiệp quân đội” phải cổ phần hóa hoặc thoái vốn, chỉ giữ lại những đơn vị phục vụ quốc phòng. Vị tướng khẳng định với việc ngừng “làm kinh tế”, quân đội sẽ “tập trung cho xây dựng chính quy hiện đại” để bảo vệ đảng, nhà nước, và nhân dân.

Vấn đề quân đội làm kinh tế từ lâu đã gây ra những thắc mắc, thậm chí bất bình, trong người dân và giới kinh doanh. Tuy nhiên, gần đây, vấn đề này đặc biệt “nóng” lên sau nhiều vụ việc bị phơi bày, nói lên sự thiếu minh bạch hay bất bình đẳng trong cạnh tranh khi doanh nghiệp quân đội được hưởng những lợi thế đặc biệt về đất đai, nguồn lực con người, thuế khóa.

Hai vụ gần nhất thu hút sự chú ý của công luận là hu vực đất quốc phòng trong sân bay Tân Sơn Nhất TPHCM bị biến thành sân golf, và một khu đất nông nghiệp Mỹ Đức (Hà Nội) bị trưng dụng thành đất quốc phòng, dự định làm sân bay quân sự, nhưng nay sắp được giao cho một doanh nghiệp quân đội.

Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết Bộ Quốc phòng ý thức được rằng sự việc như sân golf ở Tân Sân Nhất hay một sân golf khác ở sân bay Long Biên (Hà Nội), tạo ra nhiều dư luận “không có lợi” cho quân đội. Vì vậy, theo lời ông, đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng đã chỉ đạo dừng toàn bộ hoạt động xây dựng các khu dịch vụ trong hai sân golf. Tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết thêm nếu chính phủ lấy đất sân golf để mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất, quân đội “sẵn sàng” thu hồi và bàn giao. Cũng về đất sân golf này, trong cuộc họp ngày 23/6 với sự có mặt của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Thứ trưởng Quốc phòng Lê Chiêm khẳng định: “Chúng tôi sẽ chấp hành nghiêm theo quy hoạch của chính phủ”.

Trên bình diện rộng hơn, Tướng Nguyễn Chí Vịnh cho hay thời gian vừa qua, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo “tất cả các đơn vị trong toàn quân” kiểm tra lại việc sử dụng đất quốc phòng. Theo lời ông, kết quả cho thấy về cơ bản đất đai quốc phòng “được quản lý theo đúng pháp luật, sử dụng đúng mục đích huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, sản xuất và trong đó có một phần làm kinh tế”. Tuy nhiên, vị thứ trưởng cũng thừa nhận “có một số khu đất sử dụng không đúng mục đích” và quân đội đã “kiểm tra và xử lý nghiêm”. Ông nhấn mạnh rằng thời gian tới quân đội sẽ “tiếp tục xử lý mạnh mẽ, triệt để, căn cơ vấn đề này”.

So sánh với thế giới, nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc quân đội có doanh nghiệp hoạt động kinh doanh gần như không tồn tại ở các nước khác. Họ nói ngay cả Trung Quốc, nước láng giềng cùng ý thức hệ Cộng sản với Việt Nam, cũng đã cấm quân đội làm kinh tế.

Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách Pháp luật và Phát triển ở Hà Nội, nói rằng quân đội có các hãng  công nghiệp quốc phòng chuyên về đóng tàu, hay nghiên cứu, sản xuất vũ khí, hoạt động phi vụ lợi, là điều chính đáng. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam, theo ông Hoàng Ngọc Giao, nhiều công ty của quân đội hoạt động để kiếm lời và họ gần như không bị kiểm soát do các quy định luật pháp tạo cho quân đội một lãnh địa riêng. Điều này đưa đến chỗ các doanh nghiệp quân đội đã và đang lũng đoạn nền kinh tế. Mặt khác, ông phân tích rằng các lợi lộc kinh tế còn làm cho quân đội chia rẽ thành các nhóm lợi ích đối chọi nhau, “sao nhãng” việc huấn luyện, tăng cường binh lực, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Các lãnh đạo chính trị Việt Nam nhận thức được điều này và có chủ trương tách quân đội khỏi các hoạt động kinh tế. Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao nhận định: “Vấn đề này đã bộc lộ một cách nghiêm trọng tới mức chính quyền Việt Nam nhận thấy rằng không thể không giải quyết. Có lẽ, các nhà lãnh đạo Việt Nam hiện nay đang loay hoay đi tìm lời giải. Động chạm vào nhóm lợi ích quốc phòng, đây là bộ vũ lực, cho nên không phải các nhà lãnh đạo dễ dàng xử lý được, bởi vì nó thách thức những tướng lĩnh, những nhóm lợi ích trong quân đội. Nó sẽ động chạm, sẽ là rất khó khăn”.

Nhìn nhận về những tín hiệu phát đi trong các phát biểu của hai Thứ trưởng Quốc phòng, Tiến sĩ Hoàng Ngọc giao cho rằng tuy điều đó dấy lên một chút hy vọng, nhưng từ lời nói đến thực tế có một khoảng cách xa, một điều đã được chứng minh nhiều lần trong quá khứ ở Việt Nam. Ông Hoàng Ngọc Giao cho rằng công chúng nên căn cứ vào hai chỉ dấu là việc xử lý sân golf ở Tân Sơn Nhất và tranh chấp đất ở xã Đồng Tâm, Mỹ Đức (Hà Nội) để xem nhà nước nghiêm túc đến đâu. Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao nói: “Tôi không lạc quan cho rằng mấy phát biểu đó làm chúng ta có thể yên tâm. Tôi chỉ có thể tin tưởng, yên tâm nếu: sau phát biểu của Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh là dứt điểm không có chuyện nói đi nói lại nữa, thu ngay phần đất đai của Tập đoàn Him Lam ở sân golf để mà mở rộng sân bay, ra quyết định rõ ràng luôn. Hay như vụ đất Đồng Tâm vừa rồi, thanh tra vẫn đưa ra kết luận rằng phần đất đó là đất quốc phòng. Theo tôi, vẫn còn có những hành động như thế thì những lời nói của các vị lãnh đạo có lẽ còn lâu mới đi vào hiện thực. Đó chỉ phản ánh nguyện vọng của ông Nguyễn Chí Vịnh, nguyện vọng của ông Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chứ chưa trở thành quyết tâm của Tổng Bí thư, của Đảng là phải làm quyết liệt hay không”.

Hiện nay, các tập đoàn, tổng công ty thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ xây dựng, bất động sản, viễn thông, tài chính, hậu cần, cơ khí, xăng dầu, cho tới nông nghiệp. Các doanh nghiệp quân đội đình đám nhất là Viettel trong lĩnh vực viễn thông, MB trong lĩnh vực ngân hàng, Mipecorp trong ngành xăng dầu, hay các tổng công ty 36 và 319 trong ngành xây dựng, bất động sản. Tổng doanh thu của các doanh nghiệp này lên đến hàng trăm tỷ đồng.

Nguồn: VOA

TKNB – 12/07/2017