Việt Nam có đủ tiềm lực để thực hiện kế hoạch phát triển đô thị ứng phó biến đổi khí hậu 2021 – 2030?


Theo đài RFA, phát triển đô thị để ứng phó với biến đổi khí hậu cho Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 là đề án cuối cùng của ông Nguyễn Xuân Phúc trước khi rời cương vị Thủ tướng chính phủ. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ban hành Quyết định số 438/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030”.

Theo GS.TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030 là kịp thời, phù hợp với yêu cầu hiện nay.

Ông Đặng Hùng Võ cho rằng có 4 lý do dẫn đến việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt đề án với mục tiêu Việt Nam trở thành nước công nghiệp với tỷ lệ đô thị hóa từ 42% hiện nay lên 65% vào năm 2030: “Thứ nhất là thể hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị toàn cầu về biến đổi khí hậu ở Paris, thường gọi là COP-21.

Thứ hai, năm 2020, trong tình trạng cả nước phải dồn vào việc kiểm soát COVID-19 thì gần 15 cơn bão đã tràn vào tàn phá các tỉnh miền Trung. Tình trạng các khu dân cư ven biển bị tàn phá do ngập lụt lâu ngày, núi lở, đất sụt gây chết chóc và mất tích rất nhiều người. Chính phủ Việt Nam ý thức được rằng không thể phát triển các đô thị như hiện nay trong khi nhiệm vụ đô thị hóa như một trọng tâm 10 năm tới.

Thứ ba, trong thời gian miền Trung bị bão lũ, Ngân hàng thế giới (WB) đã hoàn thành báo cáo “Tăng cường khả năng chống chịu khu vực ven biển: Phát triển khu vực ven biển Việt Nam – Cơ hội và rủi ro thiên tai”. Báo cáo chỉ ra rằng: “dù có tiến bộ đáng kể nhưng các biện pháp quản lý rủi ro thiên tai hiện tại của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu”. Đếm lại con số 11,8 triệu cư dân ven biển đang gặp rủi ro cao do lũ lớn, 35% khu dân cư ven biển thuộc vùng hay bị sạt lở. Mỗi năm, kinh tế thiệt hại 852 triệu USD, tương đương 0,5% giá trị GDP, thiệt hại 316 nghìn việc làm do lũ sông và lũ ven biển.

Thứ tư, 2021 là năm đầu của kỳ quy hoạch cho thời kỳ 2021 – 2030 với tầm nhìn 2050. Đó là năm chuẩn bị quy hoạch cả nước, các vùng địa lý kinh tế, các tỉnh. Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu cần được đặt như một trọng tâm, đặc biệt phải đặt điểm nhấn vào quy hoạch phát triển đô thị trong quá trình đẩy mạnh đô thị hóa”.

Đối với chuyên gia về biến đổi khí hậu, PGS.TS Lê Tuấn Anh – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ), quyết định của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giúp tìm giải pháp để các đô thị phục hồi tốt hơn sau khi thiên tai, đồng thời có sự chuẩn bị nhằm giảm nhẹ tác hại khi thiên tai xảy ra: “Bởi vì, hiện nay các đô thị của Việt Nam đều ít nhiều chịu tác động của biến đổi khí hậu. Khi thiên tai xảy ra thì tất cả các hoạt động đều ngưng trệ hoặc chậm lại, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế cũng như xã hội của các đô thị”.

Theo GS.TS Đặng Hùng Võ, thành quả cần đạt được trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 6 điểm quan trọng:

Một là hình thành cơ sở dữ liệu cảnh báo rủi ro đô thị, Atlas đô thị và khí hậu tại các địa phương.

Hai là ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến quy hoạch và phát triển đô thị, thực hiện lồng ghép các hướng dẫn và nội dung quản lý rủi ro trong phát triển đô thị.

Ba là các định hướng, quy hoạch, chương trình phát triển đô thị đã được điều chỉnh, bổ sung nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu và có giải pháp kiểm soát phát triển đô thị.

Bốn là chỉ tiêu xác định các khu vực ưu tiên đầu tư xây dựng, nâng cấp cải tạo tại các đô thị ứng phó với biến đổi khi hậu làm cơ sở đầu tư xây dựng hiệu quả.

Năm là bổ sung hệ thống các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về xây dựng và phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thông minh, hệ sinh thái bền vững; ban hành các tài liệu đào tạo nâng cao năng lực quản lý rủi ro, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Sáu là hợp tác quốc tế nghiên cứu, thực hiện thí điểm một số chương trình, dự án ứng dụng công nghệ, vật liệu mới nhằm phát triển đô thị đảm bảo sức chống chịu với biến đổi khí hậu.

Chuyên gia biến đổi khí hậu Lê Anh Tuấn giải thích bổ sung: “Ví dụ, mỗi thành phố phải có kế hoạch dự báo, cảnh báo khi thiên tai sắp xảy ra. Và khi thiên tai đã xảy ra thì phải có biện pháp giảm nhẹ hoặc biện pháp cứu trợ nạn nhân thiên tai. Sau đó là những chương trình tái thiết, đồng thời chương trình chuẩn bị cho những thiên tai khác trong tương lai.

Đây là cách mà tất cả những thành phố lớn trên thế giới phải làm theo. Có nghĩa là chúng ta phải chuẩn bị trước, trong và sau khi có thiên tai”.

Tuy nhiên, vẫn theo lời nhà nghiên cứu Lê Anh Tuấn, trong điều kiện của Việt Nam thì có thể có một số điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của một quốc gia chưa phát triển cao như các nước Âu – Mỹ: “Việt Nam có phương châm “cứu người tại chỗ”, có nghĩa là cộng đồng có thể chỉ huy được phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ, ví dụ các nhóm thanh niên, các nhóm tình nguyện viên để giúp người khó khăn. Địa phương cũng phải có những kho chứa lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, thuốc men, lều, trại cả những kế hoạch tập huấn cứu hộ cứu nạn trong những tình huống khác nhau. Đó là cách Việt Nam làm bên cạnh những tiêu chuẩn mà quốc tế đã làm”.

Kế hoạch phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030, do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt trước khi rời nhiệm sở, được chia làm 3 thời kỳ:

+ Giai đoạn từ 2021 – 2025: các tỉnh được quan tâm cải tạo gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương, 7 tỉnh vùng ven biển, 7 tỉnh vùng núi.

+ Giai đoạn hai từ 2025 – 2030: kế hoạch được mở rộng ra các tỉnh khác và bị tác động của biến đổi khí hậu.

+ Giai đoạn ba sau 2030 xem xét tất cả các đô thị trên phạm vi toàn quốc.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường Đặng Hùng Võ nhận định tính hợp lý rất cao trong quyết định của Thủ tướng, quan trọng Việt Nam có làm được hay không: “Tôi chỉ nói rằng nó hợp lý và nội dung như vậy là đủ. Thế nhưng bằng cách nào và điều gì quan trọng nhất thì tôi cho rằng là vấn đề ngân sách. Việt Nam có tiền để làm hay không? Với số lượng lớn các tỉnh, trước kia phát triển có phần lộn xộn, thì có đủ tiền cải tạo hay không? Đây là câu hỏi chỉ những người trong hệ thống lãnh đạo hiện nay mới có thể trả lời đc”.

Khó khăn cần đến là trí tuệ, ông Đặng Hùng Võ nhấn mạnh: “Khi đã cần hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, kể cả cơ sở dữ liệu, thì cảnh báo như thế nào từ những cơ sở dữ liệu đó cũng cần sáng kiến gọi là chắt lọc về mặt trí tuệ, về mặt chất xám”. Thực tế lâu nay cho thấy có nhiều kế hoạch đề ra được đánh giá là hoành tráng, nhưng khi áp dụng thì không thể vượt qua những trở ngại do chính đội ngũ thực thi gây ra.

Nguồn: TKNB – 09/04/2021.

Điều khác biệt của chuỗi cung ứng của Việt Nam so với các nước


Trang Vietnam Breifing của hãng Dezan Shirea & Associates ngày 30/03 đăng bài cho rằng, để tìm hiểu về sự hội nhập của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, cần làm rõ sự khác biệt của chuỗi cung ứng của Việt Nam so với các nước khác. Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về lĩnh vực điện tử của Việt Nam, vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu với trọng tâm là lĩnh vực điện tử, cũng như thế mạnh và thách thức của lĩnh vực này.

Từ nước nông nghiệp thành trung tâm sản xuất hàng điện tử

Với việc chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam đã từng bước trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu hàng điện tử nổi bật, đứng thứ 12 trên thế giới và thứ 3 trong ASEAN về xuất khẩu hàng điện tử vào năm 2019.

Nhiều yếu tố góp phần giúp Việt Nam chuyển đổi thành công từ một nước nông nghiệp thành một địa điểm quan trọng cho sản xuất điện tử ở Đông Nam Á như có vị trí gần Trung Quốc, chi phí cạnh tranh, lực lượng lao động đầy đủ, giá nhân công thấp và một số ưu đãi về thuế. Tuy nhiên, vì Việt Nam đặt mục tiêu cao hơn là trở thành điểm đến chi phí thấp cho lắp ráp hàng điện tử, cải tiến trong các lĩnh vực như công nghiệp hỗ trợ, năng suất và công nghệ là rất quan trọng để Việt Nam tiến lên trong chuỗi giá trị.

Lĩnh vực điện tử của Việt Nam và sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu

Ngành công nghiệp điện tử có thể được hệ thống thành 3 nhóm: 3C (máy tính, truyền thông và điện tử tiêu dùng), các cụm lắp ráp con và các thành phần bao gồm các thành phần điện tử. Năm 2019, tổng giá trị xuất khẩu đạt 2,5 nghìn tỷ USD.

Việt Nam có mức tăng trưởng mạnh mẽ, khoảng 20%, đối với các sản phẩm điện tử hoàn thiện, vượt Thái Lan và chỉ đứng sau Hàn Quốc về các mặt hàng lắp ráp xuất khẩu trong năm 2019. Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu vào cuối những năm 2000 và được coi là nhà cung cấp thứ 2 trên thế giới cho các sản phẩm 3C. Nếu xem xét chuỗi cung ứng theo các quốc gia, các sản phẩm điện tử xuất khẩu hàng đầu trong năm 2019 là Trung Quốc, tiếp theo là Việt Nam. Các quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng điện tử hàng đầu là Trung Quốc, Mỹ, tiếp theo là Hong Kong. Đối với đồ điện tử, các thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam là Mỹ và Trung Quốc, tiếp theo là Hàn Quốc và Nhật Bản. Việt Nam phụ thuộc vào xuất khẩu, với điện thoại lại nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất. Samsung chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu.

Nhóm thành phẩm 3C thống trị ngành công nghiệp điện tử Việt Nam, với thiết bị truyền thông và điện tử tiêu dùng dẫn đầu. Trong khi 3C thống trị lĩnh vực điện tử của Việt Nam, thì vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị điện tử toàn cầu chỉ giới hạn ở vai trò là nhà tích hợp các thành phần. Chuỗi cung ứng có thể được chia nhỏ hơn nữa thành 3 thành phần, các hoạt động thượng nguồn, trung nguồn và hạ nguồn. Việt Nam chủ yếu hội nhập ở phần trung nguồn với giá trị gia tăng thấp hơn, gồm các cụm lắp ráp con, chẳng hạn như màn hình và các bộ phận đặc biệt, các sản phẩm hoàn chỉnh như điện tử tiêu dùng, truyền thông và máy tính. Việt Nam cũng tham gia các hoạt động thượng nguồn, nhưng chủ yếu ở các sản phẩm giá trị gia tăng thấp như nhựa, thủy tinh và bao bì. Sự tham gia của các công ty Việt Nam vẫn còn thấp.

Hơn nữa, Việt Nam nhập khẩu nhiều linh kiện và cụm phụ, trong đó linh kiện điện tử chiếm 65% kim ngạch nhập khẩu trong năm 2019.

Động lực cho ngành công nghiệp điện tử và xuất khẩu của Việt Nam?

Ngành công nghiệp điện tử và xuất khẩu của Việt Nam được thúc đẩy bởi các nhà đầu tư nước ngoài. Từ năm 2008 đến năm 2019, xuất khẩu tăng 90%. Các công ty điện tử nước ngoài và trong nước của Việt Nam có thể được nhóm lại thành 4 loại. Các danh mục đầu tiên bao gồm các tập đoàn đa quốc gia như Samsung, LG, Panasonic và Canon. Nhóm thứ hai gồm các nhà sản xuất theo hợp đồng cung cấp cho một số MNC như Foxconn. Nhóm thứ ba là các thực thể dẫn đầu về phần mềm và phần cứng như Intel. Nhóm cuối cùng là các nhà sản xuất sản xuất linh kiện cung cấp cho các công ty toàn cầu như Samsung và LG. Trong nhóm cuối cùng có ít doanh nghiệp trong nước, song có hàng trăm doanh nghiệp nước ngoài.

Một số thách thức đối với Việt Nam

Việt Nam vẫn cần phải làm nhiều hơn nữa để hội nhập vào các chuỗi giá trị toàn cầu và phải đối mặt với một số thách thức về giao vận và cơ sở hạ tầng. Giữa nguyên liệu thô và thành phẩm có sự chênh lệch lớn. Ngành giao vận cực kỳ manh mún với hơn 3000 công ty giao vận. Các công ty này gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cung cấp các dịch vụ giá trị thấp. Hàng hóa ở Việt Nam phải qua nhiều khâu trung gian từ khâu nguyên liệu thô đến khâu giao hàng, làm tăng chi phí giao dịch. Ngoài ra, các phương thức vận tải có sự kết nối kém.

Việt Nam cũng thiếu quy mô sản xuất và hạ tầng nhân sự, vì vậy, khiến việc tăng hạng trong chuỗi giá trị trở nên khó khăn. So với các nước khác như Singapore, Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ, Việt Nam là một trong những nước có chi phí giao vận cao nhất và chiếm 25% GDP. Lực lượng lao động của Việt Nam cũng là một thách thức nữa. Dù đúng là Việt Nam có lực lượng lao động trẻ và khỏe, nhưng lại có quy mô nhỏ hơn nhiều với 57,8 triệu lao động so với con số 778 triệu của Trung Quốc và 500 triệu của Ấn Độ. Do đó, điều này cản trở việc huy động lượng lớn lao động trong ngành điện tử. Lao động có trình độ cũng là một thách thức, khiến các nhà sản xuất khó thuê được lao động hơn để làm các quy trình phức tạp. Việc tìm được lao động phù hợp mà có thể đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cũng là một việc khó khăn.

Tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam ở mức 36%, thấp hơn Trung Quốc và Ấn Độ, cộng với ngành công nghiệp hỗ trợ yếu kém với tỷ lệ mua sắm linh kiện trong nước thấp. Việc sản xuất linh kiện vẫn chưa phát triển. Hiện tại, năng lực sản xuất các linh kiện công nghệ cao như chất bán dẫn của Việt Nam còn hạn chế.

Thế mạnh của Việt Nam

Thứ nhất, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao và ổn định, ở mức từ 6 – 7% trong thập kỷ qua. Thương mại quốc tế và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ngày càng tăng và Việt Nam đã vượt xa các nước trong khu vực về mặt này. Việt Nam gần như mở cửa hết cho đầu tư trên khắp các lĩnh vực. Bất chấp đại dịch COVID-19, Việt Nam là một trong số ít nước ghi nhận mức tăng trưởng GDP dương, 2,91% trong năm 2020.

Thứ hai, Việt Nam là thành viên của một số hiệp định thương mại tự do (FTA). Đây là nhân tố thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc phê chuẩn FTA EU-Việt Nam và FTA Anh-Việt Nam. Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) sẽ giúp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng GDP.

Cuối cùng, chính phủ Việt Nam đã đưa ra một số ưu đãi thu hút đầu tư và khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam trở thành một phần của chuỗi giá trị toàn cầu. Ví dụ, linh kiện điện tử được hưởng thuế nhập khẩu %, trong khi được thêm ưu đãi về thuế thu thập đối với các dự án công nghệ cao và đầu tư vào khu công nghiệp. Chính phủ cũng áp dụng các ưu đãi bổ sung trong các chính sách lao động và công nghệ.

Chính phủ cũng hỗ trợ công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) và phát triển các hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) tiên tiến cũng như sản xuất các sản phẩm ICT. Đây sẽ là một trong tâm chính khi Việt Nam tham gia sâu hơn vào công nghệ Internet vạn vật (IoT) và truyền thông 5G. Nguồn:

TKNB – 02/04/2021.

Việt Nam hợp tác với “ông lớn” Internet Hàn Quốc, hiện thực hóa tham vọng AI


Trang Nikkei của Nhật Bản ngày 7/4 đưa tin, Việt Nam đã hợp tác với công ty Internet lớn nhất Hàn Quốc (Naver) như một phần của chiến lược quốc gia nhằm biến Việt Nam trở thành nhân tố toàn cầu về trí tuệ nhân tạo vào đầu thập kỷ tới.

Naver Group đã hợp tác cùng Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST) triển khai trung tâm nghiên cứu AI đầu tiên của Việt Nam.

Cơ sở đặt tại Hà Nội dự kiến sẽ đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch phát triển lĩnh vực công nghệ cao của Việt Nam và giúp Việt Nam đi đầu trong cuộc đua nghiên cứu cũng như phát triển AI của thế giới vào năm 2030.

Hôm 26/01, ông Nguyên Xuân Phúc – nguyên Thủ tướng Chính phủ và hiện là Chủ tịch nước, đã ký thông qua một chiến lược AI. Trong đó, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng 10 trung tâm nghiên cứu AI tại thủ đô cũng như 3 trung tâm quốc gia về điện toán hiệu suất cao và lưu trữ dữ liệu lớn (Big Data).

Đối với Naver, thỏa thuận hợp tác với HUST là một phần quan trọng trong mạng lưới nghiên cứu và phát triển (R&D) về AI của “ông lớn” công nghệ Hàn Quốc. Năm 2019, Naver đã khởi động Sáng kiến vành đai R&D AI toàn cầu nhằm kết nối kỹ sư phần mềm với các cơ sở nghiên cứu tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU) và Việt Nam.

Tháng 8/2020, Naver chính thức ký kết quan hệ hợp tác với Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn thông trên các lĩnh vực đầu tư, phát triển và đào tạo AI ở Việt Nam. Ông Hồ Tú Bảo – Giám đốc trung tâm, cho biết: “Trung tâm R&D mới ở Hà Nội được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những cơ sở quan trọng của ngành AI tại Việt Nam, giúp đóng góp cho sự phát triển của đất nước”.

Ông Bảo đang là giáo sư danh dự tại Viện Khoa học và công nghệ tiên tiến Nhật Bản từng tư vấn chiến lược AI cho chính phủ Việt Nam. Ông khẳng định: “Naver sẽ tạo đà cho trung tâm AI mới đi vào guồng. Các giáo sư và kỹ sư trở về từ Hàn Quốc, Nhật Bản và châu Âu cũng sẽ tham gia giúp sức”.

Thương vụ của Naver với HUST còn báo hiệu làn sóng đầu tư tiếp theo của các công ty Hàn Quốc vào Việt Nam, lần này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực AI. Đợt rót vốn đầu tiên do Samsung Electronics dẫn dắt đã biến Việt Nam thành một cơ sở lắp ráp điện thoại thông minh quan trọng. Hiện Samsung vận hành hai nhà máy sản xuất điện thoại thông minh khổng lồ tại Bắc Ninh và Thái Nguyên. Hai cơ sở này chịu trách nhiệm lắp ráp một nửa sản lượng điện thoại mà Samsung tung ra thị trường toàn cầu mỗi năm. Theo Bộ Công thương, “ông lớn” công nghệ Hàn Quốc đã đầu tư tổng cộng hơn 17,3 tỷ USD vào Việt Nam.

Nhờ vào sức hấp dẫn của chiến lược AI do chính phủ đề ra mà số lượng dự án công nghệ có sự tham gia của các công ty nước ngoài ngày càng tăng. Trước đó, FPT Group đã ký một biên bản ghi nh1o7 với tập đoàn Hancom của Hàn Quốc để hợp tác phát triển AI.

Dự án VinAI Research của tập đoàn Vingroup cũng thông báo đã triển khai một trong những hệ thống AI tiên tiến nhất thế giới, Nvidia DGX A100. Vingroup dự kiến sẽ tăng cường quan hệ hợp tác với hãng chip Nvidia của Mỹ trong các dự án AI mới. Chiến lược AI là trọng tâm trong các mục tiêu kinh tế năm 2030 của Việt Nam. Chính phủ hy vọng có thể xây dựng các thương hiệu hoặc dịch vụ AI uy tín vào năm 2030. Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình cao, có nền công nghiệp hiện đại vào năm 2030, thời điểm kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các nền kinh tế có thu nhập trên trung bình có GDP trên đầu người từ 4046 đến 12535 USD. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), thu nhập GDP bình quân đầu người của Việt Nam ở mức 2590 USD vào năm 2019. Các nền kinh tế Đông Nam Á có thu nhập trên trung bình bao gồm Indonesia ở mức 4050 USD, Thái Lan 7260 USD và Malaysia là 11230 USD.

Nguồn: TKNB – 09/04/2021

Kinh tế phát triển quá “nóng”: Tình thế “khó xử” kỳ lạ của Việt Nam


Trang mạng tạp chí Forbes của Mỹ ngày 31/3 đăng bài thể hiện một góc nhìn mới với nhận định, khi phần lớn thế giới vật lộn để tránh suy thoái do đại dịch COVID-19, Việt Nam phải đối mặt với một tình thế khó xử hoàn toàn khác: phát triển quá “nóng”.

Theo bài viết, mức tăng trưởng 6,5% mà chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu cho năm 2021 song hành với cảnh báo lạm phát về rắc rối lớn sắp xảy ra.

Nếu Nhật Bản “dạy” cho thế giới rằng việc ngăn chặn lạm phát dễ hơn là thoát khỏi vòng xoáy giảm phát, thì Việt Nam là trường hợp hiếm hoi nhất trong số các quốc gia mới nổi “kiểm soát” chiến tranh thương mại một cách thành thạo, hạn chế tối thiểu số ca tử vong do COVID-19 và trở thành một trong những nền kinh tế tiên phong đưa thảm họa đại dịch lùi vào dĩ vãng.

Điều này khiến các chuyên gia kinh tế hối hả tập hợp “những điều thế giới có thể học hỏi từ Hà Nội”. Tuy nhiên, điều thú vị hơn là: Liệu chính phủ Việt Nam có thực sự rút ra được những bài học từ 20 năm qua hay không?

Xét cho cùng, Tokyo vẫn chưa chú tâm đến các bài học về “Nhật Bản hóa”. Thay vì điều chỉnh các động cơ tăng trưởng, Nhật Bản lại liên tục “bơm” các gói kích thích vào một nền kinh tế già cỗi, thiếu sức cạnh tranh. Mỹ thì luôn “đinh ninh” rằng, giải pháp cho mọi vấn đề là cắt giảm thuế nhiều hơn. Nếu ngay cả các nền kinh tế giàu nhất, phát triển nhất còn không thể tìm ra phương hướng mới thì Việt Nam, với thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 3000 USD, có hy vọng gì? Thực ra, cơ hội rất nhiều, miễn là chính phủ Việt Nam tận dụng tối đa giai đoạn phục hồi hậu COVID-19.

Một trong những bài học rõ ràng nhất mà Việt Nam có thể đúc rút từ quá trình phát triển kinh tế 2 thập kỷ qua là giải quyết vấn đề “kinh tế học con lắc”.

Mọi nhà đầu tư đều nhận thấy thị trường toàn cầu có xu hướng phản ứng cực kỳ tích cực hoặc cực kỳ tiêu cực với Việt Nam. Hiếm khi có điểm trung bình nào. Do vậy, những chu kỳ bùng nổ và suy thoái đã tạo nên dấu ấn của nền kinh Việt Nam kể từ cuối những năm 1990.

Nếu tính xa hơn về trước, kể từ năm 1986 – thời điểm Hà Nội bắt đầu công cuộc “Đổi mới” – cho đến thành công của kỷ nguyên COVID-19 ngày nay, bất ổn tài chính luôn là đặc điểm nhất quán của Việt Nam.

Giờ đây, có vẻ chính phủ đang cố gắng điều chỉnh biên độ của những “thăng trầm” kinh tế.

Một trong những lý do căn bản dẫn đến sự thay đổi đó là mối bận tâm “không lành mạnh” của Hà Nội về tỷ giá hối đoái. Trong nhiều năm qua, sự can thiệp thái quá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tiền đồng đã vô tình gây ra những thay đổi đột ngột trong tâm lý nhà đầu tư. Nỗ lực giữ tiền đồng ở mức quá thấp cũng có thể khiến Hà Nội gặp rắc rối với Washington, điển hình là việc chính quyền Tổng thống Donald Trump xác định Việt Nam là nước “thao túng tiền tệ” vào cuối năm 2020. Chưa dừng lại ở đó, cựu Tổng thống Trump cũng “đau đầu” trước xu hướng các công ty “tháo chạy” hỏi Trung Quốc để đô xô đến Việt Nam, thay vì sang Mỹ.

Tuy nhiên, đồng tiền được định giá thấp có thể dẫn đến nền kinh tế phát triển quá “nóng”, khiến “con lắc” của Việt Nam dao động rộng hơn. Vì vậy, một chính sách “thả lỏng” hơn đối với tiền đồng sẽ là phù hợp.

Chính phủ Việt Nam cũng phải tận dụng cơ hội này để quyết tâm thu hẹp khu vực nhà nước. Các yếu tố như mô hình tăng trưởng tập trung vào sản xuất, nền chính trị cộng sản, quy mô dân số đông, chi phí lao động và đất đai thấp, tăng trưởng nhanh và vị trí địa lý gần Trung Quốc khiến Việt Nam trở thành một “Trung Quốc thu nhỏ”. Điều này mang lại cho Việt Nam lợi thế “có một không hai” ở Đông Nam Á, khi thuế quan và lệnh trừng phạt của Trump đối với các công ty gây ra sự thay đổi trong chu kỳ sản xuất.

Tương tự Trung Quốc, Việt Nam cũng có vấn đề với các doanh nghiệp nhà nước (SOE). SOE đang là rào cản đối với sự tiến bộ. Họ sử dụng mối quan hệ chính trị sâu sắc của mình để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang một mô hình tăng trưởng sáng tạo, hiệu quả và thân thiện với khởi nghiệp, tạo ra hàng triệu công việc văn phòng và sự giàu có mới mẻ. Việc thay đổi quyền lực kinh tế ở Việt Nam từ trên xuống đòi hỏi ý chí chính trị to lớn từ người đứng đầu chính phủ. Biện pháp là giảm trợ cấp và ưu đãi đối với khu vực nhà nước kém hiệu quả và đẩy nạn tham nhũng, song song với đó là tạo tiền đề cho sự bùng nổ của khu vực tư nhân.

Với việc Việt Nam đang có mức tăng trưởng giống như Trung Quốc trong năm 2021, đây là thời điểm thuận lợi hơn bao giờ hết để thay đổi cách thức quản lý và ưu đãi thuế có lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hoạt động sản xuất là rất quan trọng. Tuy nhiên, trong một thế giới bùng nổ “kỳ lân” như hiện nay, việc tạo ra nhiều năng lượng kinh tế hơn ngay từ những bước nền móng sẽ có tác động rất lớn.

Mục tiêu chính là đa dạng hóa động cơ tăng trưởng từ xuất khẩu giá rẻ sang dịch vụ, đổi mới và các công ty khởi nghiệp công nghệ phát triển thành những “kỳ lân” được định giá hơn 1 tỷ USD. Trong thời gian qua, Việt Nam phát triển mạnh trong lĩnh vực sản xuất đồ gia dụng điện tử, đồ nội thất, hàng may mặc, giày dép, máy công cụ và điện thoại thông minh cho phương Tây. Giờ đây, bí quyết là xoay chuyển các ưu tiên chính sách theo hướng cải cách quy định và cải thiện khâu giáo dục-đào tạo, đồng thời có biện pháp khuyến khích việc chấp nhận rủi ro theo cách chuyển quyền lực từ trên xuống dưới.

Chu kỳ bùng nổ và suy thoái trong 20 năm qua chủ yếu là hệ quả của một chính phủ không thích rủi ro. Tuy nhiên, tại sao không biến những thành công của những năm gần đây thành động lực?

Việt Nam là bên hưởng lợi nhất trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung và “tỏa sáng” trong bối cảnh bất ổn do COVID-19. Những điều này cho thấy Hà Nội ít nhiều gặt hái được thành công trên con đường của mình. Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thậm chí còn xoay xở để tránh “bẫy” ngoại giao vaccine của Trung Quốc khi Bắc Kinh tìm cách ép các quốc gia nhỏ hơn mua vaccine chống COVID do họ sản xuất. Có nhiều để học hỏi từ cách làm của Việt Nam. Có lý do để hy vọng rằng Việt Nam sẽ đúc rút được các bài học trong quá khứ và biến “con lắc kinh tế” trở thành dấu ấn của quá khứ. Đã đến lúc Hà Nội biến hy vọng này thành hiện thực.

Nguồn: TKNB – 02/04/2021.

Ngành điện than Việt Nam trước áp lực của chống biến đổi khí hậu


Theo đài RFI, trong chiều hướng thế giới đẩy mạnh cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, nhiều tập đoàn quốc tế đang phải rút ra khỏi các dự án nhà máy điện than, bị xem là gây nhiều ô nhiễm và làm gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính. Ngành điện than Việt Nam cũng đang gặp tình trạng như vậy.

Để sản xuất đủ điện nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, Việt Nam hiện vẫn dựa nhiều vào các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Tuy nhiên, theo hãng tin Reuters và báo Nikkei Asia ngày 26/2, tập đoàn Nhật Mitsubishi đã quyết định rút khỏi dự án nhà máy điện than Vĩnh Tân 3 ở tỉnh Bình Thuận, một dự án có tổng đầu tư khoảng 2 tỷ USD,dự kiến đi vào hoạt động năm 2024. Theo báo chí Việt Nam, lãnh đạo Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) đã xác nhận thông tin nói trên. Cũng theo lãnh đạo cơ quan này, cơ cấu cổ phần Nhà máy nhiệt điện than Vĩnh Tân 3 có 29% là của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), còn lại là cổ phần của OneEnergy, liên doanh giữa Mitsubishi với Tập đoàn CLP của Hong Kong.

Áp lực của các cổ đông

Quyết định của Mitsubishi cho thấy các công ty năng lượng và các công ty tài chính quốc tế, trong đó có các công ty của Nhật Bản, nay không còn ủng hộ mạnh mẽ các dự án điện than, dưới áp lực của các cổ đông và các nhà hoạt động bảo vệ môi trường. Theo Nikkei Asia, đây là lần đầu tiên Mitsubishi rút khỏi một dự án điện than và tập đoàn này cũng sẽ không xây dựng bất kỳ nhà máy điện than nào mới sau dự án Vũng Áng 2 mà tập đoàn này có tham gia. Thay vào đó, Mitsubishi có kế hoạch góp phần phát triển các dự án năng lượng ít gây hại cho môi trường bao gồm khí tự nhiên hóa lỏng và năng lượng tái tạo, như năng lượng gió và mặt trời.

Trả lời RFI tiếng Việt ngày 8/3, Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nhận định về quyết định của Mitsubishi: “Theo thiết kế nhà máy này có công suất lên tới 2000 MW, một đơn vị phát điện chiếm một phần khá lớn trong tổng công suất điện than của Việt Nam hiện nay. Mitsubishi rútra khỏi dự án này. Ngoài ra, còn có thông tin những ngân hàng như Standard Chatered đang rút lại tiền tài trợ cho dự án thứ hai là Vũng Áng 2 với công suất 1200 MW, nhưng Mitsubishi và chính phủ Nhật nói là họ vẫn ở lại dự án này.

Tại sao họ rút khỏi Vĩnh Tân 3? Điều này cũng dễ hiểu vì đó là những tập đoàn lớn và họ đã cam kết góp phần vào việc chống biến đổi khí hậu, mà điện than thì phát ra khí CO2 nhiều. Nhiều công ty khác của các nước lớn cũng đi theo hướng đó. Thành ra chuyện đó mình cũng đã lường trước”.

Áp lực trong nước

Không chỉ bị áp lực bên ngoài, ngành điện than Việt Nam còn bị áp lực của dư luận trong nước, một phần là do các nhà máy điện than có thể gây ô nhiễm không khí. Giáo sư Phạm Duy Hiển nói: “Ở Việt Nam nói chung, công chúng phản đối các nhà máy điện than, một phần vì nó làm tăng lượng khí CO2 gây biến đổi khí hậu, nhưng mặt khác nó có thể gây ô nhiễm không khí. Nhưng tôi có hỏi những người bạn ở EVN, họ nói các nhà máy điện than mới có quy trình công nghệ tương đối tốt. Thêm nữa, họ luôn luôn có các bộ cảm biến (sensor) đặt ở những nơi phát thải. Những sensor đó truyền luôn các tín hiệu về Sở Tài nguyên và Môi trường ở địa phương. Do đó, không có nhiều nguy cơ các nhà máy này thải ra nhiều khí, bụi”.

Theo Giáo sư Phạm Duy Hiển, trước mắt, có thể EVN sẽ tìm những đối tác mới để làm nhà máy điện than Vĩnh Tân 3, bởi vì những nhà máy đó rất lớn, không thể dừng lại được. Thật ra, ngay cả Việt Nam cũng đang đi theo hướng từ bỏ dần dần điện than để gia tăng đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, ở đây có một vấn đề, đó là việc tiếp tục thực hiện các dự án điện than sẽ gây khó khăn cho việc tuân thủ các cam kết mà Việt Nam đã đưa ra về chống biến đổi khí hậu.

Tiết kiệm năng lượng

Thật ra, trong chiến lược phát triển điệnnăng, có một hướng khác mà Việt Nam có thể làm, đó là tiết kiệm năng lượng. Giáo sư Phạm Duy Hiển nhắc lại điều mà ông vẫn nhấn mạnh từ lâu nay, đó là hiệu quả tiêu thụ điện năng của Việt Nam vẫn còn rất kém so với nhiều nước. Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam, cho rằng thúc đẩy tiết kiệm năng lượng là giải pháp tốt có chi phí thấp nhất để đạt được nhiều mục tiêu cùng một lúc: Đáp ứng nhu cầu năng lượng, chống ô nhiễm và giảm phát thải khí nhà kính đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Nguồn: TKNB – 17/03/2021.

Dư luận về sở hữu đất đai toàn dân


Theo đài RFA, cổng thông tin điện tử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mới đây đăng bài cho rằng, những ý kiến kêu gọi nên thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai hoặc thừa nhận chế độ đa sở hữu đất đai giống như nhiều nước là “sai lầm”.

Trong khi một số chuyên giaphe6 phán chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là “mù mờ về mặt pháp lý” vì không xác định được ai là chủ sở hữu trong quan hệ đất đai, nhất là khi xảy ra tranh chấp, cơ quan này cho rằng nếu tư hữu về đất đai sẽ có nhiều điều kiện bất lợi cho Việt Nam ngay cả khi chưa xét đến yêu cầu định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư hữu cũng sẽ làm xáo trộn quan hệ sở hữu, sử dụng đất đai hiện tại mà không đem lại lợi ích cho người sử dụng đất cũng như quốc gia.

Ngày 31/3, TS kinh tế Nguyễn Huy Vũ từ Na Uy bày tỏ không đồng tình với giải thích của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “Về vấn đề sở hữu đất đai và tài sản trên đất, chính quyền nên cho phép đa dạng các hình thức sở hữu. Làm như vậy sẽ giúp dễ dàng thực hiện giao dịch trên thị trường bất động sản, giúp thị trường phát triển dễ dàng. Việc có các sự đa dạng trong sở hữu và nhà nước bảo vệ bằng pháp luật còn giúp các nhà đầu tư yên tâm bỏ tiền phát triển thị trường địa ốc. Sự phát triển của thị trường địa ốc lúc này sẽ có sự tham gia của nhiều nhà đầu tư khác nhau và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế”.

Ngược lại, TS Nguyễn Huy Vũ cho rằng, việc duy trì hình thức sở hữu toàn dân, tức nhà nước nắm quyền sở hữu như hiện nay, đất đai nghiễm nhiên trở thành tài sản của nhà nước. Nhà nước có quyền tiếp tục cấp phép, duy trì quyền sử dụng cho nhiều người đáng lẽ là chủ đất và tải sản trên đất. Điều này chỉ khiến cho giới đầu tư bất an rằng iệc đầu tư vào đất đai có một rủi ro về mặt hành chính. Khi có rủi ro thì sẽ dẫn đến chi phí để xử lý, bảo hộ khỏi rủi ro và những chi phí đó rơi vào chỗ tham nhũng: “Nhà nước nắm quyền sở hữu đất đai, nhưng nhà nước là một thực thể rất lớn và khi quá lớn thì lại mất kiểm soát. Sự mất kiểm soát dẫn đến quá trình quản lý đất đai trở thành cơ hội kiếm chác của giới quan chức địa phương, từ đó dẫn đến vô số vụ chiếm đất, cưỡng đoạt đất đai, xử lý đất đai không đúng với pháp luật, nhưng người bị hại không thể kêu oan vì họ phải đối chọi lại giới quan chức địa phương.

Nói như vậy để thấy rằng, việc tiếp tục chính sách sở hữu toàn dân chỉ làm thiệt hại cho chính nhà nước và hình ảnh của Đảng. Các cấp dưới ở địa phương họ muốn duy trì, vì đây là cơ hội “kiếm chác” của họ, trong khi chính quyền trung ương trong một thời gian dài ngó lơ vì muốn nhận được sự ủng hộ của địa phương”.

Theo TS Nguyễn Huy Vũ, đã đến lúc chính quyền trung ương phải cải tổ lại chính sách này nếu muốn vực dậy nền kinh tế đem lại nhiều thâm dụng lao động, cung cấp một sức bật cho sự phát triển quốc gia.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho rằng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không phủ nhận quyền sử dụng đất của các pháp nhân, chỉ yêu cầu các pháp nhân này sử dụng đất đúng mục đích được giao, cũng như bảo hộ lợi ích của chủ sử dụng đối với tài sản của họ là quyền sử dụng đất.

Ngày 31/3, GS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho rằng cần phải quy định rõ hơn về vấn đề này: “Sở hữu đất đai là đặc biệt, không bao giờ tư nhân hay công hữu một cách đầy đủ nhằm phát triển… đó là nói trong hoàn cảnh chấp nhận kinh tế thị trường và có đầu tư phát triển, như Triều Tiên thì không bàn tới. Đối với những nước có nhu cầu phát triển, ngay cả những nước chấp nhận sở hữu tư nhân thì người nắm giữ đất cũng không có quyền toàn bộ. Hiện nay, Việt Nam cứ loay hoay với việc nên chấp nhận chế độ sở hữu nào, dưới góc độ sở hữu đồ vật cụ thể. Chính vì vậy, nó cứ quẩn quanh chuyện này”.

Theo GS Đặng Hùng Võ, chấp nhận chế độ sở hữu đất đai toàn dân hay cho tư nhân sở hữu đất đai cũng đều được, vì đó chỉ là một thuật ngữ. Tuy nhiên: “Điều quan trọng là luật phải quy định rõ, Nhà nước quyền đến đâu, được làm gì, người giữ đất được có những quyền nào và được làm gì. Câu chuyện nằm ở đó. Đó là sở hữu đất đai đích thực phù hợp với cơ chế thị trường. Việt Nam có thể đi từ chế độ công hữu mở rộng đi lại từ bên phải… hoặc chấp nhận chế độ sở hữu tư nhân hạn chế đi từ bên trái. Còn thuật ngữ sở hữu gì chỉ mang tính biểu tượng, không phải là nội dung cụ thể. Luật đất đai lần này phải làm rõ được nhà nước quyền đến đâu, tư nhân quyền đến đâu… trong tất cả các trường hợp khác nhau về người sử dụng, người nắm giữ, cũng như thể loại đất. Đừng lấy cái lý sở hữu đồ vật để nói về sở hữu đất đai”.

Không chỉ phê phán ý kiến nên thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam còn cho rằng sở hữu tư nhân về đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường là điều bất lợi, vì sẽ dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo, khiến có người sở hữu quá nhiều đất, trong khi có người không có tấc đấc cắm dùi, nhất là tình trạng đầu cơ đất nông nghiệp của người giàu.

Theo GS Đặng Hùng Võ: “Muốn hay không muốn thì đất đai có yếu tố được thụ hưởng toàn dân. Vậy thì nó nằm ở sắc thuế như thế nào để toàn bộ người dân được thụ hưởng về đất đai. Tôi cho rằng người càng có nhiều đất mà sử dụng hiệu quả thì càng nên khuyến khích. Đừng nhìn vào đó để tị nạnh, có những người không có đất nông nghiệp thì sao? Phải có hệ thống kiểm soát hiệu quả sử dụng đất như thế nào? Sử dụng tốt có thể động viên nhận chuyển nhượng thêm, có thêm đất để phát triển. Nếu sắc thuế phù hợp thì người sử dụng đất không hiệu quả sẽ tự tìm cách chuyển nhượng đi”.

Luật Đất đai nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định rõ đất đai là sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, người dân thực chất không có quyền sở hữu, mà khi mua đất hay đất do ông bà cha mẹ để lại thì sẽ được nhà nước cấp cho giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Khắc Mai cho rằng, Luật Đất đai phải sửa để công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Nếu xử lý vấn đề này một cách có văn hóa, có đạo lý thì xã hội sẽ ổn định và sẽ không có những vụ việc tranh chấp đất đai giữa chính quyền và người dân như Đồng Tâm, Thủ Thiêm hay Lộc Hưng, gieo rắc nỗi đau đớn cho con người. Vì vậy, Quốc hội mới tại Việt Nam cần nghiên cứu để có những bước tiến mới nhằm xử lý tốt vấn đề đất đai.

Nguồn: TKNB – 02/04/2021.

Việt Nam và bài toán về du lịch biển bền vững


Trang Mekong Eye, do Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (Sida) tài trợ, ngày 19/03 đăng bài cho rằng Việt Nam cần ít khách du lịch hơn, chứ không phải là nhiều hơn bởi các chính sách thiếu cân nhắc kỹ trong lĩnh vực du lịch sẽ làm suy yếu tính bền vững trong quan hệ kinh tế – xã hội của Việt Nam với biển và làm nảy sinh nguy cơ đe dọa những khả năng thương mại có thể mang lại lợi ích phát triển của đất nước dành cho các thế hệ tương lai.

Năm 2019, du lịch Việt Nam không thể khả quan hơn với mức kỷ lục 18 triệu lượt khách quốc tế và 85 triệu lượt khách nội địa. Tuy nhiên, giống như những nơi khác trên toàn cầu, đại dịch COVID-19 đã khiến những con số này giảm mạnh. Suy thoái kinh tế đặc biệt rõ ràng dọc theo 3200 km bờ biển của Việt Nam, nơi những bãi biển đầy cát  trắng trải dài đóng góp 70% tổng thu nhập của khách du lịch vào năm 2017.

Câu hỏi về tính bền vững

Sự mở rộng nahnh chóng và ngẫu nhiên của ngành du lịch đã làm lộ ra những rạn nứt trong các chính sách bảo vệ môi trường, trong khi các ưu tiên phát triển đang ảnh hưởng đến tính bền vững của ngành cũng như mối quan hệ kinh tế – xã hội vững chắc một thời của Việt Nam với biển.

Nhiều người đang đặt ra câu hỏi liệu doanh thu du lịch chóng vánh này có thể tiếp tục được bao lâu, bất chấp tham vọng của chính phủ là mỗi năm thu hút 50 triệu du khách quốc tế và 160 triệu du khách trong nước kể từ năm 2030.

Bảo tồn văn hóa – bước cần thiết để phát triển bền vững

Phan Thiết, một thành phố cảng cách TPHCM khoảng 200 km về phía Bắc, đã phát triển thành một trung tâm du lịch ven biển. Vịnh Hàm Tiến kéo dài từ thành phố đến thị trấn Mũi Né, đã trở thành trung tâm nghỉ dưỡng. Mũi Né, vừa được thêm vào mạng lưới các điểm du lịch quốc gia, sẽ sớm tổ chức khai trương khách sạn nghỉ dưỡng lớn nhất Việt Nam, Apec Mandala Wyndham với 2912 phòng.

Ông Võ Đình Vân, Phó Giám đốc Chương trình giáo dục phổ thông tại Đại học Thái Bình Dương, Khánh Hòa, cho biết, ban đầu hầu hết cư dân hào hứng và chào đón các nhà đầu tư – giống như nhiều khu vực ven biển khác: “Họ có thể kiếm tiền dễ dàng từ việc bán nhà, nhưng nhiều người lớn tuổi hối hận khi nhận ra rằng họ đã đánh mất quá khứ và những ngành nghề truyền thống từng rất quan trọng đối với mục đích và cuộc sống của họ”.

Việc người dân địa phương từ bỏ các nghề truyền thống theo sự để mất vốn sống và các giá trị văn hóa đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Theo ông Vân, không chỉ có khách du lịch nước ngoài mà ngay cả khách du lịch trong nước cũng ngày càng ưa chuộng hình thức du lịch trải nghiệm hoặc giáo dục hơn là đơn thuần nghỉ dưỡng ở các resort sang trọng ven biển. Trải nghiệm ở đây có thể là việc học các kỹ năng và kinh nghiệm đánh bắt cá, hoặc các chuyến khám phá và bảo vệ môi trường mang đậm bản sắc và văn hóa ven biển vô giá của Việt Nam.

Trả giá với các khu nghỉ dưỡng ven biển quy hoạch kém

Trong nhiều năm qua, các khu nghỉ dưỡng ở Mũi Né báo cáo thiệt hại mỗi năm lên đến hàng trăm mét bãi biển và hàng chục nghìn USD do tình trạng phá hoại cơ sở hạ tầng và sự quay lưng của những du khách bất mãn vì thiếu bãi biển. Niềm tự hào một thời của Mũi Né là một trong những bãi biển tốt nhất châu Á đã trở nên mờ nhạt.

Các rào chắn tạm bợ để ngăn sóng vẫn còn đây đó dọc theo bãi biển. Những rào chắn này đãmang lại kết quả khả quan, song lại chặn hoàn toàn lối xuống biển của du khách và tạo ra những bậc thang lớn nguy hiểm cho người đi bộ.

Tháng 10/2020, Ngân hàng Thế giới (WB) đánh dấu Phan Thiết là một trong 6 điểm nóng trong báo cáo 230 trang về tình trạng xói mòn nghiêm trọng tại nhiều địa điểm du lịch. Báo cáo có đoạn: “Các trận bão có thể gây sạt lở vài chục mét, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều khu du lịch trên địa bàn phường Hàm Tiến. Hậu quả của sự xói mòn là số lượng du khách giảm 20% trong năm 2018 và đầu tư của các doanh nghiệp cũng giảm”.

Báo cáo ghi nhận tình trạng xói lở ở 28 tỉnh ven biển của Việt Nam “đe dọa nghiêm trọng tăng trưởng trong lĩnh vực du lịch”. Báo cáo cũng lưu ý, 42% khách sạn ven biển gần các bãi biển xói mòn. Chú Hai, một ngư dân địa phương đã sống cạnh bờ biển Mũi Né hơn 45 năm, cho biết “Giờ đây, việc ra biển khó hơn nhiều do lượng cát bị mất đi rất lớn. Hầu hết ngư dân đã rời bỏ khu vực này để trồng trọt các loại cây như dừa và thanh long nhằm có thu nhập chắc chắn hơn. Một số bỏ đi vì sản lượng khai thác cá suy giảm”.

Khả năng phục hồi cao hơn nhờ chất lượng

Alexandra Michat, Giám đốc Bền vững của Du lịch EXO và Giám đốc Quỹ EXO, lo ngại rằng lượng khách hiện tại của Việt Nam sẽ càng làm tăng nguy cơ đối với cơ sở hạ tầng và “phá hủy vẻ đẹp tự nhiên vốn có và cơ duyên đã khiến Việt Nam ngay từ đầu đã trở thành một điểm đến hấp dẫn như vậy”.

Để duy trì ngành du lịch và bảo tồn những tài sản thiên nhiên này, chuyên gia này khuyến nghị: “Việt Nam nên tránh sử dụng mô hình dựa trên kết quả hẹp và sử dụng các biện pháp định tính hơn, tính đến những thứ như sự hài lòng và ý kiến của du khách bên cạnh quan điểm của người dân địa phương”.

Việt Nam đang tập trung thu hút lượng khách ngày càng tăng từ các quốc gia như Trung Quốc và Hàn Quốc. Theo Ngân hàng Thế giới, du khách từ các quốc gia này chiếm gần 50% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2017. Tuy nhiên, khách từ các quốc gia này thường được gọi là du khách có năng suất thấp. Điều này làm giảm thời gian lưu trú trung bình của khách quốc tế tại Việt Nam từ 11,1 ngày trong năm 2013 xuống 10,2 ngày trogn năm 2017 và chi tiêu hàng ngày chỉ ở mức 96 USD/ngày.

Mức tăng tổng lượng khách có thể ấn tượng, song phía sau đó là sự sụt giảm đáng kể trong lợi suất kinh tế tổng thể của Việt Nam từ du lịch, chưa kể đến áp lực gia tăng đối với môi trường và cơ sở hạ tầng.

Ngày càng nhiều quan điểm cho rằng sự chuyển hướng tập trung vào chất lượng thay vì số lượng khách du lịch là chìa khóa để bảo vệ môi trường và tính bền vững. Nhiều phân tích về phát triển du lịch kết luận rằng việc thúc đẩy khách chi tiêu nhiều hơn thường tương đương với thời gian lưu trú dài hơn và sự phân tán rộng hơn trên nhiều điểm đến. Chiến lược này dẫn đến xu hướng xây dựng các nền kinh tế đa dạng và mạnh mẽ hơn, đồng thời giảm các tác động và chi phí tiềm ẩn liên quan đến du lịch đại chúng.

Các quốc gia áp dụng tư duy hướng đến chất lượng hơn số lượng du khách du lịch chứng minh rằng, sự sụt giảm số lượng khách du lịch thường được bù đắp bằng chất lượng tốt hơn. Kết quả là các tiêu chuẩn cao hơn cũng giúp nâng cao tỷ lệ quay lại của du khách, điều mà Việt Nam đang gặp khó khăn – theo báo cáo của Hiệp hội lữ hành châu Á – Thái Bình Dương là 6%.

Theo bà Alexandria, để giúp mang lại những thay đổi tích cực, các cộng đồng địa phương phải được duy trì và sử dụng các kỹ năng – kiến thức của họ để phát triển các hoạt động và dịch vụ thay thế có khả năng thu hút những khách du lịch giàu có và thích trải nghiệm hơn.

Bà gợi ý rằng, với sự khuyến khích và ủng hộ từ các nhà hoạch định, Việt Nam có thể tận dụng suy thoái để thúc đẩy sự tăng trưởng liên tục của du lịch ven biển, song song với cam kết bền vững là duy trì vẻ đẹp tự nhiên và các giá trị văn hóa vô giá của bờ biển.

Nguồn: TKNB – 23/03/2021.

World Bank đánh giá kinh tế vĩ mô của Việt Nam


Ngân hàng Thế giới (WB) vừa công bố báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô của Việt Nam tháng 3/2021, trong đó cho biết:

Về kinh tế, Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại lần đầu tiên kể từ tháng 4/2020 do xuất khẩu giảm nhẹ và nhập khẩu vẫn tăng, song hiện còn quá sớm để kết luận liệu điều này có thể hiện một xu hướng mới trong cán cân thương mại hàng hóa hay không.

Về đối tác thương mại, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ và Trung Quốc tăng, trong khi kim ngạch xuất khẩu sang EU, ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản giảm. Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc trong tháng 2/201 đã tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái.

WB nhận định xu hướng này cho thấy Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong thời gian tới, Việt Nam cần đặc biệt chú ý đến việc triển khai tiêm vaccine phòng COVID-19 vì hoạt động này sẽ tác động đến tốc độ phục hồi kinh tế của Việt Nam. Có thể sẽ cần có thêm các can thiệp về chính sách tài khóa và tiền tệ để hỗ trợ phục hồi nhu cầu của khu vực tư nhân.

Những diễn biến kinh tế gần đây

Thứ nhất, những biện pháp ứng phó kịp thời của Chính phủ đã giúp nhanh chóng kiểm soát đợt bùng phát dịch COVID-19 vào cuối tháng 01/2021. Chỉ số đo lường mức độ nghiêm ngặt của các chính sách giãn cách xã hội tăng vọt vào cuối tháng 1 và duy trì ở mức cao trong nửa đầu tháng 2. Nhờ đó, số lượng ca nhiễm mới có xu hướng giảm và các hạn chế phần nào được nới lỏng trong nửa cuối tháng 3. Cùng lúc, Việt Nam phê duyệt 3 loại vaccine gồm Astra Zeneca (Anh), Moderna (Mỹ) và Generium (Nga). Chính phủ cũng thông qua nghị quyết mua tổng cộng khoảng 150 triệu liều vaccine phòng COVID-19 và nêu rõ các nhóm đối tượng được ưu tiên.

Thứ hai, sản xuất công nghiệp chậm lại do các nhà máy đóng cửa nghỉ Tết Nguyên đán. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 2/2021 giảm 7,2% so với cùng kỳ năm 2020. Sự sụt giảm này chủ yếu phản ánh sự khác biệt giữa hai năm về thời điểm nghỉ Tết, khi các nhà máy ngừng hoạt động trong một tuần. Tính bình quân, trong 2 tháng đầu năm 2021, chỉ số này vẫn ghi nhận mức tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2019. Sản xuất kim loại và sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tiếp tục tăng lần lượt 8,6% và 3,2% trong tháng 2, nhờ nhu cầu cao trên thị trường thế giới.

Thứ ba, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng tốc trở lại trong tháng 2/2021, sau khi tăng trưởng chậm lại vào tháng 1. Mặc dù có đợt bùng phát dịch COVID-19 mới, tổng mức bánle3 hàng hóa và dịch vụ trong tháng 2 vẫn tăng 0,3% so với tháng trước và 8,3% so với cùng kỳ năm trước nhờ nhu cầu tiêu dùng cao hơn trong dịp Tết. Dù vẫn thấp hơn trước khi có dịch COVID-19, tỷ lệ tăng trưởng này cho thấy những biện pháp ứng phó có mục tiêu của Chính phủ với đợt bùng phát đã giảm thiểu việc tác động tiêu cực của những biện pháp phòng chống dịch nghiêm ngặt đối với các hoạt động kinh tế lại lan sang các tỉnh ngoài tâm chấn.

Thứ tư, xuất khẩu giảm nhẹ trong khi nhập khẩu tiếp tục tăng mạnh dẫn đến thâm hụt thương mại lần đầu tiên được ghi nhận trong 10 tháng. Trong tháng 2/2021, xuất khẩu hàng hóa giảm 4,2% trong khi nhập khẩu tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, dẫn đến thâm hụt thương mại lần đầu tiên kể từ tháng 4/2020. Trong khi xuất khẩu hàng dệt may, giày dép và điện thoại giảm, thì máy tính, sản phẩm điện tử và quang học, máy móc, kim loại và sản phẩm kim loại gỗ và đồ nội thất vẫn duy trì mức tăng trưởng mạnh mẽ. Các doanh nghiệp xuất khẩu có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu vực đang thống trị lĩnh vực sản xuất sản phẩm công nghệ cao, tỏ ra năng động hơn kim ngạch xuất khẩu chỉ giảm 1,0% so với mức giảm 15,1% (so với cùng kỳ năm trước) của các doanh nghiệp trong nước.

Theo đối tác thương mại, dữ liệu sơ bộ cho thấy xuất khẩu sang Mỹ và Trung Quốc tăng, trong khi xuất khẩu sang EU, ASEAN, Hàn Quốc và Nhật Bản giảm. Kim ngạch nhập khẩu tăng là do nhập khẩu từ Trung Quốc trong tháng 2/2021 đã tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái, tương tự như xu hướng nhập khẩu tháng 1/2021; nhập khẩu điện thoại, máy tính, điện tử và linh kiện máy móc thiết bị chiếm một nửa tổng kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc và tăng hơn 75% so với cùng kỳ năm trước. Điều này phản ánh sự phụ thuộc nhiều của Việt Nam vào nhập khẩu trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, cũng như việc đa dạng hóa thương mại tiếp tục diễn ra  do căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc vẫn chưa được giải quyết.

Thứ năm, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hồi phục mạnh mẽ vào tháng 2/2021 sau hai tháng chững lại. Sau khi giảm vào tháng 1/2021, Việt Nam đã thu hút được 3,4 tỷ USD vốn FDI vào tháng 2/2021, cao hơn 70,4% so với tháng trước và tăng gấp ba lần giá trị vốn FDI ghi nhận vào tháng 2/2020. FDI tăng chủ yếu nhờ hoạt động đăng ý cấp mới (tăng 265,7% so với cùng kỳ năm trước). Các dự án lớn bao gồm Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (trị giá 1,31 tỷ USD tại Cần Thơ) và Nhà máy sản xuất module tấm nền OLED (trị giá 750 triệu USD tại Hải Phòng).

Thứ sáu, sau nhiều tháng lạm phát liên tục giảm, giá cả trong nước đã tăng trở lại do kết thúc thời gian hỗ trợ giảm giá điện 10% và ảnh hưởng của nhu cầu trong nước tăng cao trong đợt Tết. Trong tháng 2/2021, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 1,3% so với tháng trước và 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Giá cả đã tăng tốc trở lại sau nhiều tháng giảm tốc. Chỉ số CPI tăng là do kết thúc thời gian hỗ trợ giảm giá điện (10%) và nhu cầu tiêu dùng cao hơn, đặc biệt là đối với lương thực, thực phẩm trong dịp Tết. Trên thực tế, giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống đã cao hơn 0,3% so với tháng trước và cao hơn 1,2% so với tháng 2/2020.

Thứ bảy, tăng trưởng tín dụng chững lại do các hoạt động kinh tế tạm dừng trong những ngày nghỉ Tết. Trong tháng 2/2021, tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức 12,0% so với cùng kỳ năm trước, tương đương tốc độ ghi nhận trong những tháng gần đây. Tỷ lệ tăng trưởng này chỉ thấp hơn 1 – 2 điểm phần trăm so với trước khủng hoảng COVID-19, phản ánh sự phục hồi của nền kinh tế thực và chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước.

Thứ tám, chính sách tài khóa đang được điều chỉnh nhẹ do thu ngân sách được cải thiện trong hai tháng đầu năm 2021, trong khi chi ngân sách giảm do chậm triển khai các dự án đầu tư công. Trong 2 tháng đầu năm 2021, Chính phủ thu ngân sách 286,7 nghìn tỷ đồng, cao hơn 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Đây là lần đầu tiêng tổng thu ngân sách nhà nước tăng kể từ đầu cuộc khủng hoảng COVID-19 một năm trước. Kết quả tích cực này phản ánh sự phục hồi kinh tế đang diễn ra và việc chấm dứt hầu hết các ưu đãi thuế được áp dụng từ tháng 4/2020.

Chính phủ hiện đang thảo luận đề xuất của Bộ Tài chính về việc gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất đợt hai. Tổng quy mô của gói hỗ trợ này ước tính khoảng 115 nghìn tỷ đồng (tương đương 5 tỷ USD). Nếu được thông qua và thực hiện tốt, chính sách này được kỳ vọng sẽ giúp các doanh nghiệp và hộ gia đình duy trì hoạt động kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch vốn vẫn đang gặp nhiều khó khăn.

Diễn biến cần theo dõi

Trong thời gian tới, cần đặc biệt chú ý đến việc triển khai tiêm vaccine COVID-19 vì hoạt động này sẽ tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Có thể sẽ cần có thêm những can thiệp về chính sách tài khóa và tiền tệ để hỗ trợ phục hồi nhu cầu của khu vực tư nhân.

Nguồn: TKNB – 17/03/2021.

Lý do Việt Nam muốn Myanmar ổn định


Theo đài RFI, hơn 200 doanh nghiệp Việt Nam đang đầu tư, kinh doanh tại Myanmar, trong đó có những tập đoàn lớn như Viettel, Vietnam Airlines, Hoàng Anh Gia Lai, Ngân hàng BIDV… với tổng đầu tư đạt hơn 2,2 tỷ USD (theo số liệu năm 2019). Theo phát biểu của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ trong chuyến công du tháng 6/2019, Myanmar là một thị trường mới, đầy tiềm năng, nên các nhà đầu tư cần “bền chí” để gặt hái thành quả trong tương lai. Sự kiện quân đội Myanmar đảo chính ngày 01/02 khiến Việt Nam cũng như thế giới bất ngờ. Như nhiều nước đầu tư vào Myanmar, Việt Nam phản đối việc dùng bạo lực để giải quyết khủng hoảng chính trị vì cần phải bảo vệ hoạt động kinh tế cũng như những dự án đầu tư tại nước này. Nhà nghiên cứu Claire Trần, giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á đương đại (Irasec) tại Bangkok (Thái Lan) phân tích:

Quan hệ giữa doanh nghiệp Việt Nam và tập đoàn quân sự/chính phủ dân sự Myanmar

Cần đặt mối quan hệ của các doanh nghiệp Việt Nam với tập đoàn quân sự và chính phủ dân sự trong khuôn khổ mối quan hệ song phương.

Từ nhiều năm nay, Việt Nam được coi là một mô hình cải cách, phát triển và hội nhập quốc tế đối với Myanmar. Hà Nội đã thúc đẩy mối quan hệ với Naypidaw, nhất là từ chuyến thăm Myanmar của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào tháng 8/2017. Hai bên đã ký kết thỏa thuận Đối tác hợp tác toàn diện nhằm tăng cường trao đổi thương mại và đầu tư. Hai năm sau, vào tháng 4/2019, bà Aung San Suu Kyi đã có chuyến thăm chính thức đầu tiên đến Việt Nam.

Một ví dụ cho thấy mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và tập đoàn quân sự đó là trường hợp tổng công ty viễn thông Viettel – một nhà đầu tư lớn vào Myanmar, kiểm soát 49% cổ phần của Mytel. Đây là công ty liên doanh giữa quân đội Myanmar và quân đội Việt Nam. Mytel là nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động được thành lập gần đây nhất là vào năm 2017 và hiện có 10 triệu thuê bao tại quốc gia có 54 triệu dân này. Điều này cho thấy tầm quan trọng của mối quan hệ giữa quân đội hai nước.

Ngoài ra, Viettel được cho là cung cấp cho quân đội Myanmar nhiều nguồn tài chính ngoài ngân sách, nên bị tố cáo tham nhũng. Trước đây, đã từng có nhiều chiến dịch tẩy chay Mytel. Nhà cung cấp viễn thông này còn bị cáo buộc chuyển thông tin và dữ liệu cá nhân của khách hàng cho quân đội Myanmar.

Tóm lại, mối quan hệ diễn ra tốt đẹp, thậm chí còn là rất tốt đối với một số công ty. Có thể nói, Việt Nam tỏ ra thận trọng về cuộc đảo chính ở Myanmar, nhưng sẽ thử mọi cách để nội bộ ASEAN không cô lập tập đoàn quân sự, cũng như để có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh và tránh để Myanmar ngả thêm về phía Trung Quốc.

Thị phần của các doanh nghiệp Việt Nam tại Myanmar

Năm 2019, trao đổi thương mại giữa Myanmar và Việt Nam đạt 943 triệu USD, trong khi năm 2020, tổng đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam là 2,2 tỷ USD. Việt Nam tự nhận là nhà đầu tư lớn thứ 7 vào Myanmar, nhưng theo nhiều nguồn khác ở Myanmar, Việt Nam là nhà đầu tư thứ 10, ngang với Ấn Độ. Ngoài Việt Nam, các nước ASEAN đầu tư vào Myanmar còn có Singapore, Thái Lan, Malaysia, Brunei. Có thể thấy, Myanmar là nước nhận được rất nhiều đầu tư từ các nước ASEAN.

Ngoài ra, vai trò quan trọng của Myanmar đối với Việt Nam, đặc biệt là trong dự án Hành lang Kinh tế Đông – Tây, góp phần thúc đẩy trao đổi giữa hai nước. Mục tiêu của dự án Hành lang Kinh tế Đông – Tây là xây dựng một trục đường quan trọng dài 1700 km nối Việt Nam với Myanmar đi qua Lào và Thái Lan để tiếp cận thị trường Ấn Độ. Hành lang dự kiến xuất phát từ Đà Nẵng đến Mawlamyine (bang Môn) và kéo dài thêm đến Yangun. Con đường thương mại này còn có mục đích giúp khu vực giảm bớt phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, gia tăng trao đổi thương mại giữa các nước ASEAN.

Tác động đến Việt Nam nếu phương Tây trừng phạt tập đoàn quân sự Myanmar?

Tất nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ bị tác động trực tiếp vì cuộc đảo chính và do tình hình sẽ rất khó khăn trong năm 2021 sau khi vừa trải qua một năm lao đao với cuộc khủng hoảng COVID-19. Vì thế, các nhà đầu tư sẽ phải hết sức chú ý và có nguy cơ mất niềm tin. Nếu tình hình căng thẳng tiếp diễn, nhiều khả năng, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ rời Myanmar sang nơi khác.

Cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch đã nhấn mạnh những rủi ro này. Fitch đã giảm dự báo tăng trưởng của Myanmar xuống còn 2% cho năm tài khóa 2020 – 2021 và 2021 – 2022, so với mức thẩm định trước đó là 5,6% và 6%. Nếu phương Tây trừng phạt Myanmar, các dự án cơ sở hạ tầng và đầu tư trực tiếp của nước ngoài có nguy cơ bị hoãn hoặc bị hủy.

Cần lưu ý tầm quan trọng của nền kinh tế kỹ thuật số trong sự bùng nổ kinh tế của Myanmar. Các biện pháp trấn áp bằng cách cắt Internet và điện thoại di động đe dọa đến nền kinh tế kỹ thuật số. Do đó, Viettel sẽ bi tác động trực tiếp vì biện pháp này.

Về những biện pháp trừng phạt nói chung, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đã ban hành những biện pháp trừng phạt đầu tiên, nhưng mới chỉ hạn chế ở giới tướng lĩnh. Thực ra, chính quyền Biden hiểu rõ nguy cơ tập đoàn quân sự Myanmar ngả về phía Bắc Kinh nếu áp dụng trừng phạt trong khi nền kinh tế Myanmar đã phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Năm 2019, trao đổi thương mại với Trung Quốc chiếm đến 30% tổng trao đổi của Myanmar. Do đó, có lẽ các biện pháp trừng phạt của một số nước phương Tây và Nhật Bản hiện chỉ hạn chế ở giới quân sự về đề xuất một giải pháp thay thế để hạn chế hậu quả nền kinh tế Myanmar chuyển hướng sang Trung Quốc.

Việt Nam và ASEAN đóng vai trò như thế nào?

Hiện Việt Nam tỏ ra thận trọng nhưng chắc chắn Hà Nội phản đối căng thẳng và ủng hộ đối thoại. Việt Nam sẽ làm hết khả năng có thể trong khối ASEAN để có thể đi theo hướng này.

Ngay sau khi xảy ra đảo chính, ASEAN đã thể hiện sẽ không bảo vệ phe quân đội Myanmar một cách rõ ràng. ASEAN muốn hành động trong vai trò trung gian hòa giải để xử lý nhanh chóng cuộc khủng hoảng này trước khi các cuộc đối đầu giữa người biểu tình và lực lượng an ninh trở nên xấu đi. ASEAN không muốn cô lập tập đoàn quân sự để tránh phe quân đội ngả vào tay Trung Quốc.

Một cuộc họp đặc biệt của ngoại trưởng các nước ASEAN được dự trù vào tuần đầu tiên của tháng 3, do Indonesia khởi xướng, để phác thảo lộ trình đưa Myanmar trở lại tình hình trước đây. Tuy nhiên, người biểu tình Myanmar không chấp nhận lời hứa của tập đoàn quân sự là tổ chức lại bầu cử. Họ yêu cầu tái lập chính phủ hợp pháp của bà Aung San Suu Kyi.

ASEAN không muốn xảy ra bạo lực, mà giải quyết vấn đề một cách ôn hòa thông qua đối thoại và hợp tác. Thậm chí, ASEAN sẵn sàng điều tra những cáo buộc gian lận bầu cử trong đợt tổng tuyển cử tháng 11/2020. Có nghĩa là ASEAN hợp tác với tập đoàn quân sự về vấn đề này. Tóm lại, ASEAN phản đối các biện pháp trừng phạt, vì người dân Myanmar bị tác động đầu tiên.

Theo tờ Nikkei (Nhật Bản), nếu tập đoán quân sự Myanmar vẫn khăng khăng ASEAN có thể sẽ buộc Myanmar tạm rời ASEAN. Hiến chương ASEAN không cho phép loại một thành viên, nhưng đó là một khả năng được nêu lên. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp cuối cùng và sẽ là một sự kiện chưa từng có trong lịch sử ASEAN. Tập đoàn quân sự Myanmar và ASEAN cần nhanh chóng hành động để đạt được một thỏa hiệp và đàm phán để tránh trừng phạt của quốc tế vì biện pháp này có nguy cơ hủy hoại những thành tựu kinh tế của Myanmar trong những năm vừa qua.

Nguồn: TKNB – 03/03/2021.

Chuyên gia Bangladesh lý giải sự “hùng mạnh” của ngành may mặc Việt Nam


Trang The Daily Star của Bangladesh ngày 19/03 đăng bài so sánh sự phát triển của ngành may mặc Việt Nam với Bangladesh, qua đó nêu bật các lợi thế của Việt Nam như: thời gian sản xuất ngắn, chất lượng vải tốt và sự tập trung vào thị trường cao cấp. Nội dung bài viết như sau:

Nếu tình cờ thấy những chiếc áo phông được bày bán ở Mỹ hoặc Liên minh châu Âu (EU), rất có thể những chiếc áo phông của Việt Nam đã vượt qua Bangladesh, đảm bảo giá xuất khẩu cao gấp 2 lần.

Một nghiên cứu của Trung tâm đối thoại chính sách (CPD) tháng 2 vừa qua dẫn một ví dụ tại thị trường EU vào năm 2020, theo đó, Việt Nam thu về 2157,90 USD cho mỗi 100 kg áo phông, trong khi doanh thu tương ứng của Bangladesh chỉ là 1091,50 USD. Điều này không gây ngạc nhiên vì năm 2019, mức doanh thu của mỗi nước lần lượt là 2099,70 USD và 1097,50 USD.

Câu chuyện tương tự cũng lặp lại ở Mỹ, một điểm đến xuất khẩu lớn khác của cả 2 quốc gia.

Một trong những nguyên nhân dễ thấy nhất là chất lượng vải Việt Nam, về cơ bản, tốt hơn đáng kể và một bộ phận người tiêu dùng có sở thích dùng hàng cao cấp. Khondaker Golam Moazzem, giám đốc nghiên cứu của CPD, lý giải: “Việc sử dụng vải chất lượng cao hơn giúp các nhà sản xuất Việt Nam có giá tốt hơn. Thêm vào đó, Việt Nam có nhiều thương hiệu và nhà bán lẻ sản phẩm cao cấp hơn”.

Theo ông Moazzem, điều này có được là nhờ Việt Nam có một vị thế tốt và xếp hạng cao hơn trên bảng Chỉ số môi trường kinh doanh do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố và xu hướng hướng tới việc tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn về nhân quyền và bảo vệ môi trường.

Ông Moazzem cũng cho rằng các công ty may mặc Việt Nam chủ trương tập trung vào thị trường cao cấp, dù quy mô còn hạn chế. Do đó, ông khuyến nghị các nhà sản xuất Bangladesh cần cho ra đời hàng loạt mặt hàng may mặc cao cấp để có giá tốt hơn và xuất khẩu số lượng lớn hơn.

Dù là nước đi sau trong lĩnh vực kinh doanh hàng may mặc toàn cầu, song Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một nhân tố lớn do vị trí địa lý gần Trung Quốc, quốc gia dẫn đầu toàn cầu trong lĩnh vực kinh doanh hàng may mặc.

Ông AK Azad, Giám đốc điều hành Tập đoàn Ha-Meem – một trong những đơn vị xuất khẩu may mặc hàng đầu Bangladesh, cho rằng thành công hiện tại của Việt Nam có được là nhờ sự chuyển hướng đầu tư liên kết từ Trung Quốc. Do đó, Việt Nam có thời gian sản xuất ngắn hơn, cho phép vận chuyển hàng may mặc đến EU chỉ trong 30 ngày, trong khi Bangladesh phải mất tới 90 ngày. Ông nói thêm, Việt Nam cũng có khoảng cách địa lý gần với châu Âu, nơi hàng hóa Việt Nam được các nhà bán lẻ và thương hiệu quốc tế ưu tiên thứ hai sau Trung Quốc. Ngoài ra, theo ông Azad, “Việt Nam sử dụng tốt nguồn nguyên liệu có sẵn với chất lượng hàng đầu”.

Azad nhấn mạnh, các nhà cung cấp hàng may mặc của Bangladesh gặp khó khăn do thiếu cảng biển nước sâu, trong khi cảng biển có thể làm giảm chi phí hoạt động kinh doanh và thời gian giao hàng.

KM Rezaul Hasanat, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Viynticx Group- một nhà xuất khẩu may mặc hàng đầu khác của Bangladesh, nhận định hình ảnh đất nước là yếu tố rất quan trọng khi ấn định giá các mặt hàng may mặc. Hơn nữa theo ông Hasanat, nhiều đơn vị sản xuất hàng may mặc cao cấp của Trung Quốc đã chuyển đến Việt Nam. Đây là nguyên nhân quan trọng trong việc đảm bảo giá cao hơn cho hàng may mặc Việt Nam.

Việt Nam có thế mạnh về sản xuất áo khoác ngoài cho người dân sống ở vùng có khí hậu lạnh, cùng với đó là áo blazer chất lượng cao, áo sơmi dệt công sở và quần tây cho thị trường EU và Mỹ. Trong khi đó thế mạnh của Bangladesh là hàng may mặc cơ bản, dù hiện nước này đang dần chuyển hướng sang các mặt hàng cao cấp có giá trị gia tăng.

Giám đốc một công ty bán lẻ châu Âu tại Bangladesh cho biết, các nhà cung cấp Việt Nam tập trung sản xuất các sản phẩm phức tạp, khó có thể sản xuất hàng loạt, trong khi Bangladesh lại chuyên các mặt cơ bản như áo phông và quần tây. Như vậy, có thể hiểu rất đơn giản tại sao giá các mặt hàng may mặc phức tạp lại cao hơn các mặt hàng cơ bản. Ông lưu ý: “Bangladesh chỉ có 8 nhà máy sản xuất áo blazer, trong khi Việt Nam có vô số”. Việt Nam cũng sản xuất rất nhiều quần áo thể thao mà giá của các sản phẩm này rất cao. Do đó, giá trung bình của các mặt hàng may mặc Việt Nam ở mức cao. Nhà quản lý này nói thêm, hầu hết các thương hiệu và nhà bán lẻ quần áo thể thao nổi tiếng toàn cầu đều tìm nguồn sản phẩm từ Việt Nam.

Giá cao hay thấp còn phụ thuộc thương hiệu mà sản phẩm được gắn mác. Việt Nam xuất khẩu một khối lượng lớn các mặt hàng may mặc cao cấp cho các thương hiệu. Hơn nữa, nhiều thương hiệu nước ngoài có các công ty và nhà máy sản xuất các sản phẩm như vậy tại Việt Nam.

Kazi Iqbal, một nhà nghiên cứu cao cấp tại Viện nghiên cứu phát triển Bangladesh, đồng quan điểm rằng giá của sản phẩm may mặc phụ thuộc nhiều vào chất lượng vải, hình ảnh đất nước và việc giao hàng đúng hạn.

Bài viết kết luận: với chi phí sản xuất ngày càng tăng (tăng 30% trong 5 năm qua), Bangladesh không thể cạnh tranh với Việt Nam, nước xếp thứ 70 trên 190 nền kinh tế được Ngân hàng Thế giới khảo sát về mức độ dễ dàng kinh doanh. Bangladesh xếp thứ 168.

Nguồn: TKNB – 23/03/2021.