Mỹ xóa bỏ ưu đãi của WTO với nhiều nước, trong đó có Việt Nam


Theo đài RFA, Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) ngày 11/2 thông báo thu hẹp danh sách các nước đang phát triển và kém phát triển, đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ xóa bỏ ưu đãi của WTO với nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Ngày 12/2, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, có bài phân tích về quyết định này sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào?

Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, phía Mỹ sẽ không còn dành các ưu đãi về thuế quan cho những quan hệ thương mại với Việt Nam. Hy vọng rằng, phía Việt Nam sẽ có những nỗ lực tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, trên cơ sở hai bên cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau.

USTR cho biết việc sửa đổi phương pháp xét tiêu chí nước đang phát triển là để điều tra thuế chống bán phá giá. Lâu nay, một số mặt hàng của Việt Nam xuất sang Mỹ từng bị Mỹ điều tra chống bán phá giá, từ đó bị tác động mạnh như biểu thuế tăng; và cũng có trường hợp được bỏ thuế vì phía Mỹ không tìm ra bằng chứng các sản phẩm được trợ giá từ chính phủ. Chuyên gia cho rằng những vụ việc đó cho thấy Việt Nam cần phải kiểm soát rất kỹ càng, bởi vì trong tình hình cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, có nguy cơ một số công ty của Trung Quốc sẽ chuyển công đoạn lắp ráp sang Việt Nam. Thay vì họ dán nhãn mác “Made in China” là sản xuất tại Trung Quốc, họ sẽ gắn mác “Made in Vietnam” để tránh thuế quan. Ông Lê Đăng Doanh nhấn mạnh, đây là điều chính phủ Việt Nam nên tránh và chứng minh được là phía Việt Nam sẽ hợp tác chặt chẽ, cởi mở, chân thành với phía Mỹ, để không có những gian lận thương mại đó

Vấn đề quan trọng của Việt Nam là sẽ phải tiếp tục đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ thương mại, để tránh phụ thuộc vào một cường quốc duy nhất nào đó. Đó là nỗ lực của Việt Nam để bảo đảm sự độc lập và đi đến sự thịnh vượng của nền kinh tế của Việt Nam, mà không phải trả giá về chủ quyền.

Việt Nam đến nay mong muốn Mỹ công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường để tránh những bất cập trong thương mại song phương, tuy nhiên Mỹ vẫn chưa chính thức công nhận. Hiện tại, Việt Nam vẫn giữ việc kiểm soát giá một số mặt hàng như định giá xăng dầu, giá điện và giá các mặt hàng về kết cấu hạ tầng. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục các chính sách của mình hỗ trợ các mặt hàng như việc hỗ trợ về mặt kỹ thuật đối với các mặt hàng sản xuất mà Việt Nam có thế mạnh. Việc này hai bên cần phải tiếp tục trao đổi với nhau để có thể xích lại gần nhau hơn.

Ngày 12/2, Nghị viện châu Âu đã thông qua Hiệp định Thương mại Tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA), đó là một bước tiến, cũng là một gợi ý, cho thấy quá trình hội nhập của Việt Nam ngày càng được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Theo chuyên gia, Việt Nam cho đến nay đã ký kết 16 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng tốt, bởi vì các doanh nghiệp Việt Nam còn quá nhỏ và chưa liên kết được với nhau.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đẩy mạnh quá trình liên kết với nhau thành các doanh nghiệp đủ tầm cỡ, hiện đại. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải mạnh dạn tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, tức là tham gia vào chuỗi giá trị, trở  thành một thành viên trong một công đoạn sản xuất của các tập đoàn nước ngoài. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp Việt Nam có thể đạt được các tiến bộ nhanh hơn, mạnh mẽ hơn về mặt công nghệ, cũng như mặt quản trị và tiếp cận thị trường.

Việt Nam đã có những nỗ lực, nhưng các thị trường khác đề ra các yêu cầu cao và các doanh nghiệp Việt Nam thì chưa đáp ứng được, vì vậy cho nên Việt Nam vẫn tranh thủ cơ hội xuất khẩu sang Trung Quốc và nhập khẩu từ Trung Quốc, bởi các nguyên vật liệu từ Trung Quốc được trợ giá nên rẻ hơn rất nhiều so với giá của các đối tác khác thí dụ như sợi, các nguyên liệu dệt may, da giầy. Đó là những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu rất nhiều từ Trung Quốc.

Việc Cơ quan Đại diện thương mại Mỹ (USTR) quyết định như vậy là việc của phía Mỹ, Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục mối quan hệ trao đổi để có thể cải thiện được sự hiểu biết, thông cam lẫn nhau, và có thể đi đến những quyết định có lợi hơn cho phía Việt Nam. Chuyên gia Lê Đăng Doanh tin tưởng rằng phía Mỹ sẽ hợp tác với phía Việt Nam để đẩy mạnh mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, vì Ngoại trưởng Mỹ đã có tuyên bố rằng, Mỹ rất quan tâm đến một nước Việt Nam độc lập và hùng cường.

Nguồn: TKNB – 14/02/2020.

Xoay trục về Việt Nam: Định hướng lại chuỗi cung ứng của Mỹ


Michael Ryan

Mỹ và Trung Quốc mới đây đạt được thỏa thuận thương mại Giai đoạn 1. Dù vậy, những tác động mang tính cơ cấu của cuộc chiến thương mại sẽ thúc đẩy việc xem xét lại các chiến lược sản xuất thương mại và tiếp cận thị trường trong nhiều năm tới.

Những căng thẳng kinh tế và sự bùng phát nhanh chóng của virus corona cho thấy sự mong manh của việc quá phụ thuộc vào bất kỳ nguồn nào, củng cố nhu cầu phát triển một chuỗi cung ứng đa dạng để bảo đảm hiệu quả hoạt động và khả năng chống chọi với mọi tình huống có thể xảy ra. Kể từ khi Mỹ áp thuế quan Mục 301 đối với Trung Quốc vào tháng 7/2018, đã có sự chuyển dịch nguồn cung đáng chú ý tới khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam.

Dữ liệu thương mại cả năm mới được công bố từ Cục Thống kê Mỹ cho thấy nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam tăng 35,6% trong năm 2019, trong khi hàng hóa nhập từ Trung Quốc giảm 16,2%. Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào Mỹ khi Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu hàng đầu – chiếm tới 23,2% xuất khẩu hàng hóa trong năm 2019, so với mức 19,5% vào năm 2018.

Các nhà hoạch định chính sách công của Mỹ cần có cách tiếp cận tích cực hơn trong việc định hình mối quan hệ Việt – Mỹ nhằm thúc đẩy đa dạng hóa chuỗi cung ứng tiếp cận các thị trường đầy hứa hẹn, và tăng cường sự ổn định trong một khu vực địa chiến lược quan trọng.

Quan điểm chung cho rằng Việt Nam là một trung tâm sản xuất kỹ năng thấp đã che lấp bước nhảy vọt của Việt Nam trong chuỗi giá trị trong thập kỷ qua: máy tính và thiết bị điện thoại hiện chiếm tỷ lệ đáng kể trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Điều này phần lớn nhờ vào khoản đầu tư trị giá hơn 17 tỷ USD của Samsung Electronics vào 8 nhà máy và một trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D) kể từ năm 2008, chiếm gần1/4 tổng hàng xuất khẩu của Việt Nam và khoảng 1/3 tổng sản lượng toàn cầu của công ty. Với dân số trẻ gần 100 triệu người và không ngừng tăng, Việt Nam tạo ra nhiều cơ hội lớn cho các doanh nghiệp định hướng dịch vụ và tiêu dùng. GDP danh nghĩa bình quân đầu người tính theo sức mua ở Việt Nam hiện vào khoảng 7.720 USD, thấp hơn 2 lần rưỡi so với Trung Quốc đại lục, và gần ngang với mức năm 2006 của Trung Quốc.

Mặc dù có điểm xuất phát thấp, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập tuyệt đối của Việt Nam nằm trong nhóm cao nhất trên thế giới.

Làm sâu sắc hơn quan hệ với Việt Nam cũng sẽ là bệ đỡ chiến lược có giá trị trong việc đẩy mạnh cấu trúc liên minh của Mỹ với ASEAN, một khối có 10 quốc gia thành viên với 650 triệu người, đang trên đường trở thành một trong những khu vực thương mại ưu việt của thế giới.

Từ góc độ chính sách thương mại, Mỹ nên tìm cách thúc đẩy mối quan hệ hợp tác 25 năm với Việt Nam như một đối tác chiến lược có giá trị. Hiện  mối quan hệ ngoại giao và an ninh song phương được cho là phát triển hơn so với lĩnh vực thương mại, khi hai nước có cùng mối quan tâm và hợp tác chung trong việc bảo vệ các quyền hàng hải ở Biển Đông và thúc đẩy hòa bình trên bán đảo Triều Tiên.

Trong khi chính quyền Trump mong muốn đưa các ngành sản xuất quay trở lại Mỹ hoặc khu vực thương mại Hiệp định Mỹ – Mexico – Canada (USMCA) rộng hơn và điều này đang diễn ra trong một số lĩnh vực nhất định, có một thực tế là nhiều ngành công nghiệp đòi hỏi lực lượng lao động lớn, giá rẻ và linh hoạt để có thể cạnh tranh quốc tế và hạn chế lạm phát tiêu dùng trong nước. Trong bối cảnh này, Việt Nam và các quốc gia khác ở Đông Nam Á cần được coi là đồng minh có giá trị và là một chỗ dựa chiến lược thực tế.

Sự tăng trưởng gần đây trong thương mại Việt – Mỹ cũng cho thấy các khuôn khổ song phương hiện nay đã trở nên lỗi thời, cụ thể là Hiệp định thương mại song phương (BTA) được ký từ tháng 12/2001 và Hiệp định khung thương mại và đầu tư (TIFA) được ký vào tháng 6/2007. Việc cập nhật các hiệp định này sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho cả hai bên.

Trong khi một hiệp định thương mại tự do (FTA) là điều không thể đạt được trong bối cảnh chính trị của năm bầu cử, vẫn còn cơ hội cho một khuôn khổ thương mại sửa đổi giúp giải quyết các tranh chấp đang diễn ra, đồng thời cho phép các công ty Mỹ thu hẹp thâm hụt thương mại song phương thông qua việc tăng xuất khẩu sang Việt Nam các sản phẩm nông nghiệp, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), và các dịch vụ khách sạn, ngân hàng, hậu cần, giáo dục và công nghệ thông tin.

Mỹ là nền kinh tế lớn duy nhất mà Việt Nam chưa có Hiệp định FTA. Một thỏa thuận chính thức sẽ là một thành công đối với Việt Nam. Mặc dù đã xuất hiện nhiều yếu tố cho việc đạt được thỏa thuận, hai thị trường vẫn chưa có sự kết nối kể từ khi Mỹ rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Theo quan điểm của Mỹ, các rào cản lớn trên con đường đi tới sự đồng thuận tập trung vào các vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và nhà đầu tư, yêu cầu nội địa hóa dữ liệu, quyền của người lao động, tiêu chuẩn y tế đối với thực phẩm và nông nghiệp, các rào cản đối với các dịch vụ tài chính, hạn chế sử dụng các hàng rào phi thuế quan, và các cơ chế thực thi.

Đối với Việt Nam, việc Mỹ công nhận nền kinh tế nước này là nền kinh tế thị trường sẽ mang lại lợi ích kinh tế cũng như uy tín quốc gia, có thêm một số biện pháp bảo vệ trong các trường hợp liên quan đến thuế chống bán phá giá và thuế phòng vệ. Một khi các rào cản được giảm bớt, hàng hóa sẽ trở nên cạnh tranh hơn và cải thiện việc làm cho một dân số đang phát triển.

Tuy nhiên, những cơ hội cho cả hai bên không tự nhiên xuất hiện. Các nhà hoạch định chính sách công của Mỹ cần hành động khẩn trương hơn để đảm bảo tốt hơn an ninh chuỗi cung ứng, tạo thuận lợi mở cửa thương mại và thúc đẩy lợi ích quốc gia ở Đông Nam Á. Một sự khởi đầu muộn vẫn có thể đem lại kết quả to lớn.

Nguồn: Industry Week – 11/02/2020

TKNB – 14/02/2020.

Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam lâm nguy vì nhu cầu thế giới lao dốc


Theo tờ Nikkei Asia Review, ngành dệt may Việt Nam đang gặp khó khăn do bất ngờ mất đi các đơn hàng. Vinatex – tập đoàn dệt may hàng đầu của Việt Nam – đang cân nhắc khả năng cho khoảng  50.000 lao động nghỉ việc.

Nếu tác động của dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 tiếp tục kéo dài, nhiều doanh nghiệp có thể sẽ phá sản, và điều này không chỉ đe dọa nền kinh tế Việt Nam mà còn chuỗi cung ứng toàn cầu cho các hãng thời trang như Zara và H&M.

Tổng Giám đốc Vinatex Lê Tiến Trường nói: “Nếu mọi thứ không thay  đổi, có khoảng 30% đến 50% người lao động bị mất việc trong thời gian từ nay đến tháng 5/2020”. Vinatex hiện có khoảng 200 nhà máy ở Việt Nam, tạo việc làm cho hơn 100.000 lao động.

Dịch COVID-19 đã bắt đầu tác động tới ngành dệt may của Việt Nam vào tháng 2 khi nhập khẩu vải từ Trung Quốc tạm ngưng. Khi mọi thứ chỉ bắt đầu quay trở lại bình thường vào tháng 3, đợt bùng phát dịch bệnh thứ 2 đã nhấn chìm ngành dệt may Việt Nam.

Nhu cầu quần áo ở Mỹ và châu Âu đang giảm mạnh khi người tiêu dùng phải ở nhà. Các cửa hàng quần áo đã hủy các đơn đặt hàng cũ và ngừng ký kết các đơn đặt hàng mới.

Tại Việt Nam, các thành phố như Hà Nội đã hạn chế người dân không ra đường nếu không cần thiết. Các nhà máy vẫn được phép mở cửa, nhưng lại không có đơn hàng. Một số nhà máy đã bắt đầu sản xuất khẩu trang cho dù hoạt động này chỉ mang lại nguồn thu rất nhỏ so với các thiệt hại về doanh thu mà dịch COVID-19 gây ra.

Các cổ đông lớn của Vinatex – tập đoàn đang chiếm gần 10% thị phần ở Việt Nam – gồm: Chính phủ Việt Nam và tập đoàn thương mại Itochu của Nhật Bản (đang nắm giữ 15% cổ phần của Vinatex). Vinatex là nhà cung cấp cho các hãng bán lẻ thời trang Zara và H&M.

Bộ Công thương Việt Nam dự báo, trong tháng 4 và 5/2020, tổng giá trị đơn hàng quần áo và giầy dép có thể sẽ giảm khoảng 70% so với cùng kỳ năm trước. Vinatex có thể sẽ thiệt hại 1000 tỷ đồng (42,4 triệu USD) cho dù nếu dịch bệnh được kiểm soát trước thời điểm cuối tháng 5. Con số này cao gần gấp đôi so với lợi nhuận ròng của tập đoàn này trong năm 2019 (510 tỷ đồng). Nếu hoạt động kinh tế vẫn bị hạn chế trong thời gian dài, Vinatex có thể sẽ bị thua lỗ và điều này sẽ đe dọa sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ngay cả khi Việt Nam nỗ lực hiện đại hóa ngành công nghiệp bằng cách thu hút các tập đoàn quốc gia lớn như Samsung Electronics thì ngành dệt may vẫn có vị trí quan trọng khi chiếm tới khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu của nước này trong năm 2019.

Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đã khiến nhiều doanh nghiệp di chuyển cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam và làm gia tăng hình ảnh “kế tiếp Trung Quốc” của quốc gia Đông Nam Á này. Tuy nhiên, dịch bệnh đang đe dọa triển vọng đó.

Đa số lao động trong ngành dệt may đang được trả lương gần với mức lương tối thiểu. Mức lương nào vào khoảng 3 triệu đồng/tháng ở các khu vực có chi phí nhân công thấp nhất. Lo ngại về khả năng tình trạng thất nghiệp gia tăng có thể dẫn tới bất ổn xã hội, Chính phủ Việt Nam đã tung ra gói cứu trợ 62.000 tỷ đồng để hỗ trợ các lao động thất nghiệp và doanh nghiệp đang gặp khó khăn.

Việc đóng cửa các nhà máy dệt may ở Việt Nam đang đe dọa chuỗi cung ứng toàn cầu. Các công ty như Zara, H&M và Fast Retailing – tập đoàn sở hữu thương hiệu Uniqlo – sẽ gặp vấn đề về nguồn cung. Châu Á có vai trò rất quan trọng trong ngành công nghiệp dệt may vốn đang toàn cầu hóa với tốc độ cao trong thập kỷ qua.

Ngày 9/4, các đại diện của ngành dệt may ở 6 quốc gia châu Á đã ra tuyên bố chung kêu gọi các thương hiệu quần áo đền bù đầy đủ cho các nhà cung ứng khi hủy hợp đồng. Theo một tập đoàn dệt may Bangladesh, các khách hàng, trong đó có H&M, vẫn đang duy trì hợp đồng đối với các bán thành phẩm đã bước vào công đoạn sản xuất, nhưng nhiều công ty dệt may vẫn yêu cầu họ phải thanh toán cho các hợp đồng đã hoàn tất.

Ngành dệt may ở các nền kinh tế đang phát triển đang chuyển dịch theo hướng không sử dụng lao động trẻ em, một phần nhờ các khoản đầu tư có trách nhiệm về mặt xã hội. Việc tôn trọng các hợp đồng đã ký kết đang nổi lên trở thành một vấn đề khác thu hút sự chú ý. Trong ngành điện tử, khách hàng thường phải thanh toán trước cho các nhà cung ứng đang gặp khó khăn để hỗ trợ thanh khoản. Dịch COVID-19 sẽ là phép thử cho các quan hệ đối tác như vậy trong ngành dệt may.

Nguồn: TKNB – 22/04/2020.

Những khó khăn thực sự của Việt Nam trong năm 2020


Theo chuyên mục bình luận của trang Tin tức Hong Kong, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam năm 2019 có liên quan rất lớn đến những “cơ hội chiến lược” hiếm có như “cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ”. Sau khi cuộc chiến thương mại nổ ra vào năm 2018, cùng với việc Mỹ áp thuế cao đối với hàng hóa do Trung Quốc sản xuất, buộc một số ngành sản xuất phải rời khỏi Trung Quốc và Việt Nam đã tiếp nhận một số nhà máy gia công đoạn thấp lại trở thành một điểm nóng trong làn sóng chuyển dịch ngành nghề này.

Tuy nhiên, cơ cấu kinh tế của Việt Nam vẫn còn nhiều không gian để tối ưu hóa, cơ sở hạ tầng vẫn còn tương đối lạc hậu, cơ sở công nghiệp và chuỗi ngành nghề chưa hoàn thiện đang cản trở tiến trình hiện đại hóa, ngành dịch vụ phát triển nhanh chóng ẩn chứa một cuộc khủng hoảng bong bóng. Đối với các nhà phân tích đã theo dõi Việt Nam trong một thời gian dài, nước này muốn hoàn thành sự chuyển đổi mô hình trong giai đoạn cơ hội này sẽ gặp không ít trở ngại.

Những rắc rối thực sự của Việt Nam năm 2020

Năm 2019, Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ để trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực châu Á. Nhưng mặt khác, Việt Nam cũng đã xuất hiện hiện tượng “bong bóng vỡ” rõ rệt trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến 2019. Trong các lĩnh vực bất động sản, thương mại điện tử… mà tiền nóng từng rót vào cũng đôi khi xảy ra hiện tượng vi phạm thỏa thuận, rút vốn…

Xét từ tình hình hiện nay, tiền nóng đổ vào Việt Nam có thể nói là “hoa hồng có gai”. Khi ngành chế tạo của Việt Nam được củng cố, các ngành bất động sản, bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô và xe máy đang bị đóng băng, sức hút đầu tư nước ngoài đã giảm lần lượt 60,8% và 36,6%, điều này cũng khiến ngành bất động sản và thương mại điện tử của Việt Nam từng nhất thời rực rỡ năm 2018 bắt đầu đối mặt với thời kỳ ảm đạm.

Lấy ngành bất động sản làm ví dụ, nhu cầu nội địa của Việt Nam đối với các sản phẩm bất động sản khác nhau vẫn còn rất cao, dòng vốn đổ vào đã thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển mạnh mẽ; việc thắt chặt chính sách cho vay nhà ở của Việt Nam có lợi cho việc tối ưu hóa thị trường và giảm tỷ lệ nợ xấu. Do thiếu nhà ở và đất xây dựng, giá nhà đất tại Hà Nội và TPHCM đã bắt đầu tăng lên. Khi khái niệm “mô hình bất động sản khu đô thị phức hợp, bất động sản thông minh và bất động sản xanh” bắt đầu được thúc đẩy tại Việt Nam, cùng với sự hình thành các dự án tàu điện ngầm, đường sắt đô thị Hà Nội và TPHCM, triển vọng của ngành bất động sản trong năm 2020 này có thể sẽ rất khác.

Tuy nhiên, theo quan điểm của dư luận bên ngoài, mặc dù Việt Nam khuyến khích các nguồn khác như vốn tư nhân, vốn nước ngoài, chứng khoán bất động sản… đổ vào thị trường bất động sản, tiến tới thúc đẩy “thị trường bất động sản nghỉ dưỡng”, nhưng lĩnh vực này đã xuất hiện lỗ hổng đầu tư lớn nhất của Việt Nam trong những năm gần đây. Trong số đó, tác động nổi bật nhất chính là “Condotel” (Căn hộ khách sạn) thu hút đầu tư vốn xã hội. Mặc dù các nhà đầu tư bất động sản Việt Nam hứa sẽ trả 8% đến 12% lợi nhuận hàng năm, nhưng đến tháng 11/2019, cùng với vụ việc dự án Cocobay tại Đà Nẵng vi phạm hợp đồng, không thể trả lợi nhuận hàng năm là 12% thì cơn  bão này đã bắt đầu nổ ra.

So với lĩnh vực bất động sản, bong bóng trong lĩnh vực thương mại điện tử của Việt Nam cũng nổi bật hơn. Mặc dù Việt Nam có khảong 30 triệu người tham gia vào ngành nghề có giá trị giao dịch hơn 8 tỷ USD này, nhưng các “ông trùm” thương mại điện tử đứng trong top đầu của đất nước này đều bị thua lỗ. Bốn doanh nghiệp thương mại điện tử hàng đầu là Shopee, Lazada, Tiki và Sendo đều lỗ từ hàng chục triệu USD đến hàng trăm triệu USD, điều này đã khiến cho làn sóng thương mại điện tử tại thị trường Việt Nam bắt đầu thoái trào. Quyết định của Tập đoàn Lotte Hàn Quốc và Tập đoàn Vingroup Việt Nam về việc đóng cửa mảng thương mại điện tử của họ vào giữa tháng 12/2019 càng khiến dư luận bên ngoài phát hiện ra rằng lĩnh vực thương mại điện tử Việt Nam dường như “tăng trưởng tốc độ cao” cũng đang trở thành “vật hy sinh”.

Có thể thấy rằng dòng tiền nóng đổ vào Việt Nam có thể giúp ngành chế tạo nước này phát triển thậm chí nâng cấp ngành nghề, nhưng mặt khác cũng có thể tạo ra bong bóng mà nền kinh tế nước này khó có thể xử lý. Đồng thời, trước tình hình chuyển đổi mô hình xã hội hiện nay, Việt Nam sẽ gặp nhiều vấn đề xã hội hơn. Việt Nam đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập đô thị – nông thôn. Đến ngày 13/3/2019, nước này cuối cùng đã thành lập một nền tảng chính phủ điện tử bao gồm dân số, bảo hiểm, tài chính, đăng ký thương mại, đất đai quốc gia và thông tin hộ tịch điện tử. Tuy nhiên, chính sách tạo điều kiện cho sự di chuyển dân cư này đã khiến cho dân cư địa phương tại Việt Nam ra đi, trong đó các vị trí công chức ở địa phương như cảnh sát, giáo viên bị thiếu trầm trọng.

Sau khi số lượng công chức ở địa phương bị thiếu còn ở các thành phố lớn tăng vọt đã gây mất cân bằng trật tự địa phương, các hiện tượng “xã hội ngầm” Việt Nam và các văn hóa liên quan cũng theo đó xuất hiện. Trong một thời gian, những thách thức khác nhau trong thời kỳ chuyển đổi mô hình xã hội của Việt Nam như buôn lậu, tham nhũng và xã hội đen… đều khiến các nhà quan sát Trung Quốc cảm thấy như “quay trở lại những năm 1990 của Trung Quốc”. Khi các lĩnh vực bất động sản, thương mại điện tử… xuất hiện trong thời đại mới đã khiến dư luận bên ngoài có cảm giác như vậy.

Suy cho cùng, Hà Nội cũng biết rằng cần phải tận dụng cơ hội hiện tại để đẩy nhanh việc tối ưu hóa cơ cấu kinh tế. Lệnh của Chính phủ được ban hành sau ngày 2/1/2019, yêu cầu tăng tốc chuyển gia công nghệ, nhanh chóng thực hiện tiến trình “Công nghiệp 4.0””, tiến tới thực hiện mục tiêu “năm 2020 phải sớm đặt nền móng cho Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Về mặt chính trị, việc tiến hành tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu quả, tăng cường cải cách hệ thống quyền lực trung ương cũng đã đạt được một số kết quả nhất định. Từ quan điểm này cho thấy tiềm lực phát triển to lớn của Việt Nam dường như làm cho mục tiêu năm 2045 trở nên đầy hứa hẹn, nhưng điều này còn phụ thuộc vào việc kiểm soát hiệu quả và cải cách mạnh mẽ của chính phủ.

Nguồn: TKNB – 14/02/2020.

Khả năng Việt Nam đảm nhận một phần chuỗi sản xuất của Trung Quốc – Phần cuối


Lộ trình phát triển của Việt Nam

Việt Nam không cần dập khuôn mô hình của Trung Quốc trong việc nghiên cứu và phát triển, mà nên kiên trì con đường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển giống như Thái Lan.

Nếu Việt Nam đạt được mức GDP thu nhập bình quân đầu người khoảng 6000 USD của Thái Lan vào năm 2015, thì có thể nói rằng “giới hạn dưới” của Việt Nam đã đạt được. Nếu Việt Nam có thể duy trì tốc độ tăng trưởng 7%, dự báo đến năm 2030 có thể thực hiện mức thu nhập bình quân 6000 USD; tiếp tục lấy đó là khởi điểm, việc đạt mục tiêu “thu nhập cao” 12.000 USD vào năm 2045 là khả thi. Mục tiêu năm 2045 mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đặt ra đã dựa trên tham khảo mức phát triển của các nước trong khu vực.

Trên thực tế, những năm gần đây, các nước Đông Nam Á nhìn chung phát triển tốt do có các yếu tố địa chính trị thuận lợi. Các nước Đông Nam Á đã thành lập hiệp hội ASEAN với dân số 600 triệu người, có trình độ phát triển nhất định, là thị trường khu vực tương đối quan trọng. Các nước như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… đều đang lôi kéo Đông Nam Á, ra sức tranh thủ khai thác thế mạnh của ASEAN.

Kim ngạch thương mại của Trung Quốc đối với ASEAN đã vượt Mỹ. Năm 2018, kim ngạch thương mại Trung Quốc – ASEAN đạt 587,87 tỷ USD, tăng 14,1% s với năm trước. Ba quý đầu năm 2019, kim ngạch thương mại của Trung Quốc với ASEAN là 3.140 tỷ NDT, tăng 11,5% đủ để bù đắp mức sụt giảm 10% trong trao đổi thương mại với Mỹ. Sự tăng trưởng nhanh của ASEAN đóng vai trò rất quan trọng đối với ngoại thương của Trung Quốc.

Các quốc gia đang phát triển không cần tham gia nghiên cứu và phát triển cũng có thể có sự tăng trưởng kinh tế tương đối mạnh. Chỉ cần chính trị ổn định, người dân mong muốn làm việc, có quy mô dân số nhất định, hợp tác với các quốc gia có công nghệ công nghiệp tiên tiến, thì các nước này có thể có cơ hội phát triển lý tưởng.

Ví dụ, Việt Nam đã nhập khẩu giống lúa lai cao sản từ Trung Quốc từ năm 1992. Trong những năm gần đây, mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu từ 12.000 – 16.000 tấn hạt giống lúa lai từ Trung Quốc, chiếm 3/4 giống lúa nhập khẩu. So với các giống lúa thông thường, sản lượng của lúa lai có thể tăng 40%. Sự hợp tác này có lợi cho Việt Nam, và có thể được xem như là sự xuất khẩu năng lực công nghệ nông nghiệp của Trung Quốc. Hơn nữa Trung Quốc là quốc gia có công nghệ sản xuất tiên tiến, có thể giúp Việt Nam giải quyết vấn đề sản xuất lương thực, điều này cũng có lợi cho sự phát triển của hòa bình thế giới.

Ví dụ khác, phần trên đã đề cập Việt Nam là nước lớn sản xuất xi măng, song công nghệ sản xuất xi măng của Việt Nam lạc hậu, 90% thiết bị sản xuất phải nhập khẩu, chủ yếu từ Trung Quốc, Nhật Bản… Thông qua việc đổi mới công nghệ thiết bị đồng bộ sản xuất, Trung Quốc có thể sản xuất 55% xi măng của thế giới với hiệu quả cao. Việt Nam nhập khẩu thiết bị sản xuất xi măng tiên tiến từ Trung Quốc là một sự hợp tác rất tốt.

Các nước trên thế giới, bao gồm Trung Quốc, không có ý kiến về sự phát triển kinh tế của ASEAN hoặc Việt Nam. Các nước ASEAN phát triển tốt thì các nước xung quanh càng có nhiều cơ hội. Do đó, các nước Đông Á sẵn sàng xuất khẩu năng lực công nghệ sang các nước ASEAN, từ cơ sở hạ tầng cho đến việc dịch chuyển chuỗi sản xấut của ngành chế tạo. Hơn nữa, các nước ASEAN không có năng lực tham gia nghiên cứu và phát triển, không tạo thành mối đe dọa đối với các nước tiên tiến, nên hợp tác là phương án tương đối yên tâm.

Các nước ASEAN trong đó có Việt Nam cơ bản vẫn là đi theo con đường phát triển hòa bình. Mặc dù Mỹ nhiều lần xúi giục các nước như Philippines gây rắc rối Trung Quốc ở Nam Hải (Biển Đông), song các nước xung quanh Nam Hải cơ bản vẫn giữ xu thế hợp tác với Trung Quốc. Việc một số nước ASEAN thay đổi đảng cầm quyền dẫn đến hợp đồng kinh tế thương mại và xây dựng cơ sở hạ tầng với Trung Quốc bị ảnh hưởng là điều khó tránh khỏi, tuy nhiên kim ngạch thương mại song phương vẫn đang tăng mạnh.

Việt Nam cũng sẽ đối diện với vấn đề “bẫy thu nhập trung bình”. Các nước như Nga, Brazil, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Malaysia… đã dừng lại ở mức GDP thu nhập bình quân đầu người 10.000 USD trong khoảng 10 năm. Trên thực tế, GDP thu nhập bình quân đầu người 10.000 USD là không thấp, trước đó nó được xem là mức của cá nước phát triển. Điều này là do lạm phát của đồng USD, quan trọng hơn là “sự lan tỏa các thành quả khoa học kỹ thuật của xã hội loài người” có thể giúp các nước trên thế giới nâng cao trình độ phát triển.

Cho dù các thành quả khoa học kỹ thuật của xã hội loài người chủ yếu xuất phát từ sự nghiên cứu và phát triển ở Đông Á, châu Âu, Bắc Mỹ, thì chúng cũng sẽ được phổ biến đến các nước đang phát triển thông qua các hoạt động kinh tế.

Dưới sự thúc đẩy của lợi ích kinh tế, các công ty toàn cầu sẽ lan tỏa một số lượng lớn các thành quả khoa học kỹ thuật và sản phẩm công nghiệp, các nước trên thế giới đều có thể có được những thành quả trên mà không gặp nhiều khó khăn. Chẳng hạn như các sản phẩm dịch vụ y tế cơ bản đã nâng cao tuổi thọ bình quân trên toàn cầu; các nước đang phát triển cũng có thể sử dụng một cách bình thường sản phẩm điện tử như ti vi, điện thoại di động… Mọi quốc gia đêu sẽ phát triển, khởi điểm thấp vẫn có thể tăng trưởng tốc độ cao, toàn cầu hóa đã góp phần đẩy nhanh tiến trình này.

Chừng nào Việt Nam vẫn ổn định chờ đợi “các thành quả khoa học kỹ thuật lan tỏa tự nhiên” đến nước mình thì sẽ có cơ hội phát triển tương đối tốt.

Tình hình chính trị Việt Nam tương đối ổn định, vấn đề dân tộc và tôn giáo không phức tạp, mong muốn phát triển hòa bình. Người Việt Nam mong muốn làm việc, phấn đấu để có cuộc sống hạnh phúc. Từ góc độ toàn cầu, với tiềm lực của mình Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện được mục tiêu nói trên. Mặc dù không triển khai được những nghiên cứu và phát triển phức tạp, song đỉnh phát triển của “bẫy thu nhập trung bình” phải ở mức GDP bình quân đầu người 10.000 USD, phù hợp với mục tiêu “thu nhập cao” mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc xác định.

Do Việt Nam bị tổn thương bởi chiến tranh, từ Chiến tranh thế giới thứ hai đến Chiến tranh Việt Nam, nên có trình độ phát triển tương đối thấp trong một giai đoạn. Việt Nam đang có cơ hội phát triển hòa bình. Sau 30 năm tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, Việt Nam đã bước vào thời kỳ phát triển tốt nhất lịch sử, triển vọng tương lai tương sáng, đồng thời cũng có lộ trình phát triển rõ ràng. Tuy nhiên, không nên ảo tưởng cho rằng Việt Nam có thể thách thức chuỗi sản xuất của ngành chế tạo Trung Quốc, không nên đặt hai nước ở thế đối lập nhau.

Việc Trung Quốc xuất khẩu công nghệ công nghiệp và thành quả khoa học kỹ thuật giúp Việt Nam và ASEAN phát triển đã được chứng thực trong quá khứ và sẽ tiếp tục tạo ra thành quả tích cực trong tương lai. Quan hệ hợp tác thân thiện giữa Trung Quốc và ASEAN chắc chắn sẽ trở thành mô hình kiểu mẫu về kiềm chế tranh chấp, phát triển hòa bình và cùng tiến bộ của xã hội loài người.

Nguồn: Mạng Người quan sát (TQ) – 14/03/2020

TLTKĐB – 24 & 25/03/2020

Sau Brexit, Anh nhắm tới Việt Nam để mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam Á


Theo đài RFI, ngày 12/2, Nghị viện châu Âu đã phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) với Việt Nam. Một thành công mà London không được hưởng vì đã chính thức chia tay với EU từ ngày 31/1. Tuy nhiên, trong thời gian đàm phán Brexit, Anh đã từng bước tăng cường mối quan hệ với Việt Nam về chính trị và kinh tế.

Năm 2019, London đưa ra chính sách “All of Asia” (Toàn châu Á) nằm trong khuôn khổ chiến lược “Globa Britain” (tạm dịch: Chiến lược toàn cầu của Anh), mà một trong những trọng tâm là khu vực Đông Nam Á. Anh có thể thông qua Thái Lan, một kênh trao đổi truyền thống giữa Đông Nam Á và phương Tây, hoặc Malaysia và Singapore, hai nước nằm trong Hiệp ước phòng thủ ngũ cường (Five Power Defence Arragements), để tăng cường hợp tác với khối ASEAN. Tuy nhiên, theo phân tích của nhà báo David Hutt trên Asia Times hôm 4/2, có lẽ sẽ khôn ngoan hơn nếu như Anh hướng sang Việt Nam.

Thứ nhất, năm 2020 có lẽ là thời điểm thuận lợi. Việt Nam giữ chức Chủ tịch luân phiên của ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Như vậy, Việt Nam có thể giành nhiều thời gian trao đổi với Anh hơn. Ngoài ra, năm 2020 cũng đánh dấu kỷ niệm 10 năm đối tác chiến ược giữa 2 nước Anh – Việt Nam. Chính vì vậy, trong chuyến công u Hà Nội từ 15 – 17/1, bà Heather Wheeler, Thứ trưởng Ngoại giao Anh phụ trách châu Á – Thái Bình Dương, khẳng định: “Chúng tôi quyết tâm duy trì và tăng cường mối quan hệ với ASEAN, đặc biệt là với Việt Nam”.

Thứ hai, trên lĩnh vực thương mại, Anh và Việt Nam có thể sẽ dễ dàng ký được thỏa thuận tự do trao đổi mậu dịch, dựa trên nền tảng những điều kiện được xác định trong thỏa thuận ký giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU). Cả Hà Nội và London đều được lợi khi mở cửa thị trường cho nhau. Nền kinh tế Việt Nam dựa vào xuất khẩu, vì vậy, mở rộng sang thị trường Anh là một ưu tiên của Hà Nội sau khi Anh không còn là thành viên của EU. Về phía London, sau Brexit, cần phải đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường thông qua một loạt các hiệp định song phương, trong lúc quá trình đàm phán một thỏa thuận thương mại mới với Brussels được cho là khó khăn và phức tạp hơn.

Thứ ba, Việt Nam trở thành một đối tác quan trọng về mặt địa chính trị đối với Anh trong khu vực Đông Nam Á và rộng hơn là ở vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong vài năm gần đây, sau Pháp, Anh đóng vai trò năng động trong việc bảo vệ tự do lưu thông hàng hải ở Biển Đông, khu vực mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền hơn 80% diện tích. Năm 2018, chiến hạm HMS Albion của Anh từng tham gia chiến dịch “tự do hàng hải” gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép. Vấn đề an ninh tại Biển Đông tiếp tục được Thứ trưởng Ngoại giao Anh Heather Wheeler nhấn mạnh khi trả lời báo chí tại Hà Nội hôm 17/1, là “phải được giải quyết dựa trên luật lệ và việc có lực lượng hoạt động có hiệu quả trên biển là điều quan trọng”.

Việc Hà Nội hướng theo chính sách “thêm bạn bớt thù”, đa dạng hóa và giữ cân bằng giữa các đối tác quân sự cũng là một lợi thế cho Anh. Việt Nam là nước Đông Nam Á đầu tiên ký một thỏa thuận khung về hợp tác an ninh với EU. Bên cạnh đó, Nga vẫn luôn là nguồn cung cấp vũ khí chính cho Hà Nội. Anh, với tư cách là một thành viên của EU, từng hợp tác với quân đội Việt Nam để đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình và tham gia các nhiệm vụ của Liên hợp quốc ở Nam Sudan. Nếu như London muốn tăng cường hiện diện tại Đông Nam Á, Việt Nam có lẽ sẽ quan tâm đến một nước đối tác mới có thể giúp Hà Nội giữa cân bằng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Theo nhà báo David Hutt, có lẽ London nên khôn khéo tập trung nhiều hơn vào quan hệ an ninh với Việt Nam, ví dụ một liên minh chặt chẽ hơn với Hà Nội có thể sẽ giúp Anh nhanh chóng can thiệp vào vấn đề nóng nhất hiện nay trong khu vực, đó là tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Đây là một cơ hội để London chứng minh “chiến lược toàn cầu” của mình thông qua sức mạnh hàng hải trong việc duy trì an toàn cho tuyến đường biển huyết mạch của thương mại thế giới.

Nguồn: TKNB – 18/02/2020.

Khả năng Việt Nam đảm nhận một phần chuỗi sản xuất của Trung Quốc – Phần IV


Thái Lan có 69 triệu dân, ít hơn Việt Nam. Năm 2019, kim ngạch xuất nhập khẩu của Thái Lan tương đương với Việt Nam, đều trên 500 tỷ USD. Kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân đầu người của Thái Lan cao hơn Việt Nam 35%, gấp 2 lần Trung Quốc. Mô hình kinh tế của Việt Nam và Thái Lan có điểm giống nhau, dường như Việt Nam đang phát triển hướng đến mức giới hạn dưới của Thái Lan. Những năm gần đây, tình hình phát triển của Thái Lan tương đối tốt, GDP thu nhập bình quân đầu người năm 2018 lần đầu tiên vượt ngưỡng 7000 USD, lên 7270 USD.

Tại sao ít người nói rằng Thái Lan sẽ tạo thành mối đe dọa đối với chuỗi sản xuất của ngành chế tạo Trung Quốc? Thái Lan cũng đẩy mạnh xuất khẩu, và chỉ có xuất khẩu sản phẩm công nghiệp thì kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người mới có thể cao như vậy. Điều này là do Trung Quốc và Thái Lan có mối quan hệ đuổi kịp và vượt. Trước đây, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ bằng 1/5 so với Thái Lan, sau đó bắt kịp, trình độ sản xuất cũng cao hơn, trong trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và Thái Lan, Thái Lan sẽ không phải là mối đe dọa với Trung Quốc. Trong khi đó Việt Nam luôn ở phía sau Trung Quốc, dường như phát triển rất tốt, chuỗi sản xuất của ngành chế tạo tiến bộ nhanh.

Trên thực tế, trực giác này là sai. Trình độ chuỗi sản xuất của Thái Lan cao hơn Việt Nam, GDP bình quân đầu người gấp 2,5 lần Việt Nam. Trình độ phát triển của Thái Lan và Việt Nam khác nhau, điều này không phụ thuộc vào kim ngạch xuất khẩu gạo thơm và Japonica, mà là ở các hàng hóa phức tạp như ô tô.

Năm 2018, sản lượng ô tô của Thái Lan tăng 9% lên 2,17 triệu chiếc, tiêu thụ trong nước tăng 19,2% so với cùng kỳ lên 1,04 triệu chiếc, doanh số xuất khẩu duy trì mức 1,14 triệu chiếc so với năm trước. Lượng tiêu thụ ô tô/10.000 dân Thái Lan là 150 chiếc, không chênh lệch nhiều so với mức 200 chiếc ở Trung Quốc. Xuất khẩu ô tô của Thái Lan thậm chí còn mạnh hơn Trung Quốc, hơn 1/2 ô tô được xuất khẩu khắp thế giới, trong khi tình hình xuất khẩu ô tô của Trung Quốc không được tốt, chủ yếu là tiêu thụ trong nước. Năm 2019, xuất khẩu ô tô của Trung Quốc cũng vượt mức 1 triệu chiếc, tương đương với Thái Lan, song lại không đạt được những tiến triển lớn trong nhiều năm.

Năm 2019, lượng tiêu thụ ô tô của Việt Nam khoảng 380.000 chiếc, số lượng tiêu thụ ô tô/10.0000 người là 39 chiếc. Con số nói không thể nói là kém. Tuy nhiên, so với Thái Lan và Trung Quốc thì rõ ràng vẫn thuộc giai đoạn khởi đầu. Phương tiện gioa thông lưu hành phổ biến của Việt Nam là xe máy. Năm 2019, lượng tiêu thụ ô tô của Ấn Độ khoảng 3 triệu chiếc, giảm 10% so với năm trước, số lượng tiêu thụ ô tô/10.000 người là 22 chiếc, thấp hơn Việt Nam. Từ góc độ lượng tiêu thụ ô tô thì GDP thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam và Ấn Độ dưới 3000 USD cũng là hợp lý.

Ô tô là sản phẩm công nghiệp rất quan trọng. Mặc dù lượng tiêu thụ ô tô của Ấn Độ không cao, song nó đã chiếm 1/2 sản lượng của ngành chế tạo, là một phần kinh tế rất quan trọng. Nếu Việt Nam cũng có thể nâng cao sản lượng tiêu thụ ô tô như Thái Lan, thì GDP bình quân đầu người sẽ tăng gấp đôi. Thực tế là định hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam không phải là cạnh tranh với chuỗi sản xuất của ngành chế tạo Trung Quốc. Việc mở rộng các thị trường tiêu dùng quan trọng như ô tô là phương hướng phát triển vừa khả thi vừa thiết thực, GDP bình quân đầu người của Việt Nam từng  bước tăng lên và cũng sẽ đi đến giai đoạn “tiêu dùng trung lưu”.

Về cơ bản, Thái Lan không nghĩ đến việc cạnh tranh với Trung Quốc. Vào đầu những năm 1990, quan điểm phổ biến lúc đó là Thái Lan không thể đọ sức với nguồn nhân lực giá rẻ của Trung Quốc, song có thể phát triển nghiên cứu khoa học và giáo dục, thông qua “nền kinh tế tri thức” để duy trì ưu thế cạnh tranh với Trung Quốc. Có quan sát cho rằng nguyên nhân quan trọng dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á năm 1998 chính là do Trung Quốc tham gia chuỗi sản xuất toàn cầu, tác động mạnh đến sức cạnh tranh toàn cầu của các “con hổ Đông Nam Á”.

Trên thực tế, các nước Đông Nam Á vẫn có thể cạnh tranh với nguồn nhân lực giá rẻ của Trung Quốc, nỗ lực và quyết tâm để phát triển nền kinh tế tri thức giáo dục nghiên cứu khoa học. Đây là khác biệt lớn nhất giữa các nước đang phát triển và các nước tiên tiến. Biểu hiện về mặt số liệu chính là tỷ lệ kinh phí chi cho hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển)/GDP, hiện Trung Quốc là 2,1% và đã theo kịp một số nước phát triển, trong khi đó ở các nước đang phát triển thường có mức chưa đến 1%.

Nhìn từ góc độ mục tiêu phát triển, Trung Quốc đang thận trọng đi theo bước của các nước tiên tiến. Để phát triển công nghệ trong mấy chục năm qua, Trung Quốc cho rằng trong bối cảnh khủng hoảng “lạc hậu sẽ chịu đòn”.

Ngành ô tô của Thái Lan được xem là mô hình thực hiện tốt nhất trong số các quốc gia đang phát triển, ngoại trừ Trung Quốc. Ngành ô tô của Thái Lan mạnh hơn nhiều so với ngành điện thoại di động của Việt Nam, ngay cả linh phụ kiện đều được sản xuất ở Thái Lan, và xuất khẩu số lượng lớn khắp toàn cầu. Tuy nhiên, ngành ô tô của Thái Lan vẫn phụ thuộc và năng lực của ngành ô tô Nhật Bản.

Những năm 1960, Honda và Mitsubishi đã bắt đầu hoạt động ở Thái Lan. Thái Lan cũng trở thành trung tâm sản xuất ô tô của khu vực. Không giống với hoạt động lắp ráp đơn giản của các nước đang phát triển thông thường, ngành ô tô của Thái Lan từng bước tiến xa hơn đến ngành công nghiệp phụ tùng. Bằng cách áp mức thuế 80% đối với ô tô nhập khẩu và tăng thuế với phụ tùng, Chính phủ Thái Lan đã hỗ trợ mạnh mẽ sự phát triển của ngành sản xuất ô tô. Hiện nay, Thái Lan có 1500 nhà cung ứng phụ tùng, hầu như không cần nhập khẩu. Năm 2017, tổng giá trị xuất khẩu phụ tùng ô tô của Thái Lan đạt 19,8 tỷ USD, tăng 15,5%.

Toàn bộ hệ thống công nghiệp là cấu trúc rất phức tạp. Để làm được điều này đòi hỏi phải có chiến lược, lộ trình nghiên cứu và phát triển được đầu tư căn bản. Đối với vấn đề này, ngoài Trung Quốc, các nước đang phát triển khác rất khó thực hiện được. Việt Nam cũng có thể học hỏi Trung Quốc, song độ khó rất lớn, và khó đánh giá được tỷ lệ thành công.

(còn tiếp) 

Nguồn: Mạng Người quan sát (TQ) – 14/03/2020

TLTKĐB – 24 & 25/03/2020