Việt Nam cần cải cách gì?


Tờ South China Morning của Hong Kong đăng bài viết cho rằng sau nhiều tháng quan hệ căng thẳng do tranh chấp ở biển Hoa Nam (Biển Đông), các cuộc tiếp xúc gần đây giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang có dấu hiệu gieo niềm lạc quan. Trước thềm Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 11/2017, hai bên đang củng cố mối liên hệ trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Mối quan hệ Trung – Việt ổn định đến mức nào? Trong bài bình luận cho Sputnik, chuyên gia Andrei Karneev, Phó Giám đốc Viện châu Á và châu Phi Đại học Tổng hợp Moskva (MGU), cho rằng trong cuộc đàm phán về biên giới giữa Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc Phạm Trường Long và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, phía Trung Quốc bày tỏ hy vọng, hai bên sẽ củng cố sự tin cậy lẫn nhau và sẽ cải thiện các kênh thông tin liên lạc giữa quân đội hai nước. Nói chung, xét theo những tuyên bố của cả hai bên, cuộc đàm phán mang tính xây dựng và thân thiện.

Có thể nói Hà Nội và Bắc Kinh đã vượt qua và xua tan tình huống căng thẳng đột nhiên xuất hiện trong quan hệ song phương. Khi đó, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Thượng tướng Phạm Trường Long đã đến Việt Nam để hội đàm với một số đại diện lãnh đạo quân sự Việt Nam và theo dõi cuộc tập trận chung. Tuy nhiên, vào thời điểm cuối cùng, kế hoạch tập trận quân sự giữa hai nước đã bị hủy bỏ. Tướng Phạm Trường Long đã cắt ngắn chuyến thăm Việt Nam, như báo chí Trung Quốc viết “vì các l1y do liên quan tới sắp xếp lịch làm việc”.

Theo kế hoạch, tham gia cuộc tập trận chống khủng bố có hàng trăm bộ đội biên phòng của hai nước và quá trình chuẩn bị cho hoạt động này đã được báo chí đưa tin rộng rãi. Vì vậy, đa số cho rằng thông tin về việc bất ngờ hủy bỏ cuộc tập trận mà không giải thích lý do không phải là sự tình cờ.

Các nhà phân tích nhận xét, có khả năng mối quan hệ giữa hai nước trở nên “lạnh nhạt” vì các nhà ngoại giao Việt Nam bắt đầu hoạt động tích cực hơn để củng cố mối liên hệ với Mỹ và Nhật Bản, cũng như do những mâu thuẫn trong vấn đề Biển Đông. Điều đáng chú ý là ngày 18/6 – ngày đầu tiên trong chuyến thăm Việt Nam của Tướng Phạm Trường Long, tờ Global Times đã đăng bài viết chỉ trích gay gắt Việt Nam và những nỗ lực của nước này nhằm tăng cường quan hệ với Mỹ và Nhật Bản.

Lần này, báo chí Trung Quốc phản ánh một cách khách quan, trung thực chuyến thăm Việt Nam của Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Tờ Global Times trích dẫn lời tuyên bố của Tướng Phạm Trường Long nói rằng quân đội Trung Quốc sẵn sàng làm việc với quân đội Việt Nam để kiểm soát sự khác biệt giữa hai bên và đưa năng lượng tích cực vào sự phát triển quan hệ song phương. Sự hiện diện của Tướng Phạm Trường Long tại cuộc đàm phán về biên giới là một dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh coi trọng việc phát triển mối quan hệ với Việt Nam.

Xét theo mọi việc, mối quan hệ song phương được cải thiện nhanh chóng do ban lãnh đạo Trung Quốc đã phân tích kỹ lưỡng các bài học của vụ việc trên cao nguyên Doklam trong khu vực “ngã ba biên giới” giữa Trung Quốc, Ấn Độ và Bhutan. Do cuộc xung đột đó, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi suýt hủy bỏ chuyến thăm Trung Quốc đến dự Hội nghị Thượng đỉnh BRICS tại Hàng Châu. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của các mối liên hệ giữa các bên, trong trường hợp tranh chấp lãnh thổ kéo dài. Rõ ràng là không chỉ trường hợp này mà nói chung, Trung Quốc muốn duy trì những tình huống căng thẳng lâu dài trong quan hệ với Việt Nam, dù có những lý do lịch sử phức tạp đè nặng lên mối quan hệ song phương.

Trung Quốc đang thực hiện dự án “Vành đai và con đường”, vì thế, Bắc Kinh cần đến sự ủng hộ của tất cả các nước châu Á – Thái Bình Dương, bởi dự án được xem xét như phần đóng góp của Trung Quốc vào sự phát triển của khu vực, để đảm bảo hòa bình và ổn định ở đây, bao gồm cả thông qua sự hợp tác phát triển kinh tế. Các chuyên gia đã ghi nhận sự phát triển của mối quan hệ Trung – Việt trong lĩnh vực thương mại và đầu tư. Theo Tân Hoa Xã, gần đây, hai bên đã đạt được thỏa thuận về phát triển thương mại và thành lập các khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới.

Tuy nhiên, theo tờ South China Morning Post, chặng đường từ nay đến việc khôi phục hoàn toàn sự tin cậy lẫn nhau giữa hai nước láng giềng vẫn còn xa. Ví dụ, Bắc Kinh không hài lòng với sự hợp tác ngày càng tăng giữa Việt Nam và Mỹ trong lĩnh vực an ninh. Mặc dù Trung Quốc và Mỹ đang hợp tác với nhau trong vấn đề Triều Tiên, nhưng chính quyền Donald Trump không từ bỏ chính sách kiềm chế Trung Quốc ở châu Á và xem xét Việt Nam, nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, như một trong những đối tác quan trọng nhất. Và ưu thế của Trung Quốc là sức hấp dẫn và các sáng kiến kinh tế quy mô lớn trong khu vực.

Nguồn: Sputnik – 06/10/2017

TKNB – 07/10/2017

Advertisements

Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân, muộn còn hơn không


Chính phủ Việt Nam mới đây thành lập Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính, trong đó có Ban Nghiên cứu Phát triển Kinh tế tư nhân. Một chuyên gia kinh tế kỳ cựu đánh giá động thái này là “đúng hướng” và “muộn còn hơn không”.

Các trang thông tin chính thức của chính phủ cho biết đứng đầu Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng.

Thành viên hội đồng gồm một số nhân vật như ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hiệp hội phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam; ông Don Di Lam, một doanh nhân Việt kiều Canada, người cũng có chân trong Diễn đàn kinh tế thế giới; ông Vũ Văn Tiền, thành viên Ban Cố vấn Diễn đàn kinh tế tư nhân Việt Nam.

Trong hội đồng này có Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân do ông Trương Gia Bình làm Trưởng ban và ông Don Di Lam là Phó Trưởng ban. Thông tin của chính phủ cho biết ban này sẽ nghiên cứu, tư vấn, đề xuất việc cải cách cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân.

Hồi cuối tháng 7, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình lên Thủ tướng đề án về phát triển kinh tế tư nhân, bảo vệ sản xuất trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Đề án của bộ đặt mục tiêu đến năm 2020, tỷ trọng đóng góp của kinh tế tư nhân trong GDP đạt khoảng 50% và năm 2035 đặt khoảng 60 – 65%.

Số liệu thống kê năm 2015 cho thấy kinh tế tư nhân đóng góp hơn 39,21% so với gần 29% của khu vực kinh tế Nhà nước và hơn 18% của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Việc lập hội đồng và ban kể trên diễn ra trong bối cảnh từ nhiều năm nay, ngày càng có những lời kêu gọi mạnh mẽ hơn muốn nhà nước giảm thủ tục hành chính và “cởi trói” cho doanh nghiệp tư nhân, trong khi nhiều tập đoàn nhà nước thua lỗ nặng hoặc hoạt động hiệu quả thấp do quản lý kém hoặc tham nhũng. Không có con số thống kê đầy đủ nhưng tại phiên họp Quốc hội Việt Nam hồi cuối tháng 5, một Phó Thủ tướng xác nhận có ít nhất 12 dự án của nhà nước bị thua lỗ lớn. Các dự án này có tổng mức đầu tư là 63 nghìn 600 tỷ đồng, trong khi tổng nợ phải trả là 55 nghìn tỷ đồng.

Trước đó, Bộ Tài chính cho biết, tính đến cuối năm 2015, tổng tài sản của các doanh nghiệp nhà nước là hơn 3 triệu tỷ đồng, nhưng tổng doanh thu của các doanh nghiệp đó chỉ đạt gần 1,6 triệu tỷ đồng. Hồi đầu tháng 5, Bộ Tài chính cảnh báo rằng trong năm nay, mức hụt thu ngân sách do doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ có thể lên tới 12 – 14 nghìn tỷ đồng.

Nhiều nhà phân tích, đánh giá rằng thực tế hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước cho thấy họ chưa đóng được vai trò là nòng cốt của nền kinh tế đất nước, vì vậy, cần trao cho doanh nghiệp tư nhân các điều kiện tốt hơn để họ đóng vai trò lớn hơn. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh nhận xét về quyết định hôm 6/10 của chính phủ: “Muộn còn hơn không, Việt Nam được Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp thứ 55 về năng lực cạnh tranh toàn cầu nhưng xếp rất thấp về mặt thể chế bộ máy, về chi phí ngoài pháp luật. Cho nên, việc Chính phủ nhận thức và thúc đẩy việc này, theo tôi là điều đúng đắn, và dấy lên niềm hy vọng cho các doanh nghiệp”.

Việt Nam đã phát triển chậm lại kể từ năm 2011, vừa do những vấn đề nội tại của nền kinh tế, vừa do tác động đáng kể từ suy thoái kinh tế toàn cầu. Tính chung trong giai đoạn 2011 – 2015, tăng trưởng bình quân toàn nền kinh tế đạt hơn 5,9%, thấp hơn so với mức 6,32% của 5 năm trước đó.

Kể từ khi nhậm chức hồi tháng 4/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhiều lần tuyên bố mạnh mẽ rằng chính phủ của ông đặt trọng tâm vào việc kiến tạo phát triển, trong đó có nỗ lực xóa bỏ mọi rào cản đối với doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, giới quan sát đánh giá các chuyển biến còn chậm. Chuyên gia Lê Đăng Doanh khẳng định cải cách hành chính và thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân phát triển giờ đây là những vấn đề cấp bách để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Ông nêu ra kỳ vọng về Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính và Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân: “Tôi rất mong 2 ban này sẽ làm việc một cách công khai minh bạch, sẽ tham khảo ý kiến rộng rãi các chuyên gia trong xã hội, và sẽ nêu lên các kiến nghị cụ thể và sát cánh để giúp đỡ chính phủ thực  thi trong thực tế. Tôi lại một lần nữa nhấn mạnh là phải công khai, minh bạch, hợp tác rộng rãi để tránh, khắc phục những biểu hiện lợi ích nhóm”.

Các con số không thống nhất của hai Bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư cho thấy tính đến giữa năm nay, Việt Nam có trên 535.000 doanh nghiệp tư nhân. Trong khi đó, số doanh nghiệp nhà nước đã giảm mạnh từ 6000 vào năm 2001 còn 718 ở thời điểm tháng 12/2016.

Theo đề án phát triển kinh tế tư nhân của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Việt Nam nhắm mục tiêu đến giữa năm 2020 có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp hoạt động, năm 2025 là 1,5 triệu và đến năm 2030 có khoảng 2 triệu doanh nghiệp.

Để đạt mục tiêu, đề án kiến nghị chính phủ thực hiện việc quan trọng hàng đầu là sửa đổi các quy định bất hợp lý đang làm gia tăng thủ tục hành chính và chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp.

Nguồn: VOA

TKNB – 12/10/2017

Việt Nam đối mặt với thách thức nợ công


Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam thất bại trong việc kìm giữ thâm hụt ngân sách do chính phủ quản lý kém hiệu quả và lãng phí.

Tháng trước, Bộ Tài chính đề xuất kế hoạch tăng nhiều loại thuế khác nhau để kìm hãm thâm hụt ngân sách và nợ công. Tuy nhiên, hiện chưa rõ liệu kế hoạch này có đem lại hiệu quả hay không.

Theo số liệu thống kế của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), thâm hụt ngân sách chính phủ đã tăng từ 22,1 nghìn tỷ đồng (13 tỷ USD), tương đương 6,5% GDP vào năm 2016. Theo kế hoạch tài chính trung hạn, chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2020 giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 3,5% GDP.

Từ năm 2000, chính phủ liên tục chi tiêu ngân sách quá mức. Dự báo, thâm hụt ngân sách cho năm 2017 – 2018 là khoảng 5,8% GDP/năm. Trong 15 năm qua, ngân sách chính phủ tăng một phần nhờ mức tăng trưởng kinh tế trung bình trên 6%. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này không thể theo kịp các khoản chi tiêu của chính phủ.

Chi tiêu thường xuyên, bao gồm chi phí quản lý, tiền lương, an sinh xã hội, lương hưu, an ninh quốc phòng là nguyên nhân chính gây thâm hụt ngân sách. Theo thống kê của Bộ Tài chính, năm 2016, chi thường xuyên chiếm 66,3% tổng chi của chính phủ trong khi khoản thanh toán tiền lãi và đầu tư công lần lượt ở mức 18,7% và 15%.

Kế hoạch tăng thuế của chính phủ vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của người dân. Đầu năm 2016, phát biểu tại buổi làm việc chính thức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội khi đó là ông Nguyễn Sinh Hùng cho biết chính quyền các địa phương cần cải thiện việc thu thuế và đó không phải là thời điểm thích hợp để tăng thuế, nhưng ông không cho biết chi tiết cụ thể.

Bộ Tài chính dự kiến tăng thuế môi trường từ 3000 đồng lên 8000 đồng/lít xăng, dù giá xăng tại Việt Nam vốn đã quá cao so với thu nhập của người tiêu dùng và so với giá bán tại các nước châu Á lân cận.

Theo số liệu công bố trên trang GlobalPetroPrices.com, giá xăng ở Việt Nam ngày 11/9 là 0,83 USD/lít, trong khi cùng thời điểm đó, ở Malaysia giá xăng là 0,52 USD/lít, ở Indonesia là 0,64 USD/lít và ở Philippines là 0,90 USD/lít. Nếu được thông qua, mức thuế mới sẽ đẩy giá xăng lên 1,03 USD/lít trong khi thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam là 6 USD/ngày.

Người dân cáo buộc chính phủ tăng thuế môi trường tăng thuế môi trường bất hợp lý vì cho rằng ý đồ của chính phủ là giảm thâm hụt ngân sách chứ không phải bảo vệ môi trường. Bộ Tài chính cũng muốn tăng thuế giá trị gia tăng (VAT) từ 10% lên 12% vào năm 2019 và có lẽ lên mức 14% trong tương lai gần.

Với 4 triệu đảng viên, Đảng Cộng sản là gánh nặng rất lớn đối với ngân sách quốc gia vì chính phủ phải chi trả đầy đủ cho nhân viên, văn phòng và các hoạt động của họ.

Thực trạng này tạo gánh nặng kép lên người nộp thuế mà họ gọi là “một cổ hai tròng”. Ngoài ra, chính phủ còn phải cấp ngân quỹ cho các tổ chức đoàn thể và các hiệp hội xã hội dân sự được chính phủ cho phép hoạt động như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội cựu chiến binh, Hội Nông dân và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Sáu tổ chức này có quan hệ mật thiết với Đảng và nhận được tổng cộng 1500 tỷ đồng từ ngân sách quốc gia năm 2016.

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) chỉ ra rằng một số biện pháp hiệu quả nhật để giảm thâm hụt ngân sách là cắt giảm chi tiêu thường xuyên, giảm quy mô của chính phủ và sáp nhập các ủy ban trung ương đặc biệt của Đảng vào các bộ tương ứng trong chính phủ.

Các nhà tài trợ quốc tế luôn gây sức ép để chính phủ tách các chức năng của Đảng ra khỏi ngân sách quốc gia.

Tính đến giữa tháng 7/2017, tổng nợ công của Việt Nam là 94,6 tỷ USD, tương đương khoảng 1038 USD/người. Nợ công tăng liên tục trong nhiều năm từ 36% GDP năm 2001 lên khoảng 62,4% năm 2016. Theo dự báo của Bộ Tài chính, trong năm 2017 và 2018, nợ công lần lượt ở mức khoảng 63,3% và 64,3% GDP, trong khi trần nợ công được chính phủ đề ra ở ngưỡng 65% GDP trong năm 2020.

Các nghĩa vụ trả nợ công tăng cũng là một phần trong chỉ tiêu công. Đổi lại, tăng thâm hụt ngân sách sẽ tăng nợ công. Đây là hai mặt của cùng một vấn đề tài chính.

Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng đã chỉ ra rằng “nợ công đang tăng nhanh chóng, chủ yếu vì sự yếu kém trong quản lý và sử dụng vốn vay”.

Thật vậy, hoạt động yếu kém của các doanh nghiệp quốc doanh vẫn là gánh nặng lớn đối với ngân sách chính phủ và nền kinh tế. Giá trị thị trường của các doanh nghiệp quốc doanh Việt Nam hiện khoảng 300 tỷ USD. Trong 2 thập kỷ qua, quá trình tư nhân hóa theo kế hoạch các doanh nghiệp quốc doanh khá trì trệ. Việc này càng kết thúc sớm thì càng tốt cho nền kinh tế. Bán các doanh nghiệp quốc doanh mà chính phủ coi là nguồn thu sẽ giúp bù đắp thâm hụt ngân sách.

Việt Nam bị tai tiếng với các dự án đầu tư công. Nhiều cây cầu bị sập ngay sau khi hoàn thành. Đường sá xây được vài năm đã phải sửa chữa lớn.

Lãng phí nguồn lực lớn xảy ra trong các dự án đầu tư công, nhưng vẫn chưa có ai phải chịu trách nhiệm gây thiệt hại. Nguyên nhân thất bại chính là do tham nhũng tràn lan trong các dự án này.

Theo Ngân hàng Nhà nước, năm 2016, nợ xấu ngân hàng (NPL), bao gồm các khoản nợ xấu do Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam quản lý, lên tới 487 nghìn tỷ đồng (21,3 tỷ USD).

Số nợ xấu này chiếm 8,8% tổng nợ đọng là 5,5 triệu tỷ đồng (hơn 241 tỷ USD), một tỷ lệ khá cao. Ngân hàng Nhà nước cho biết đến năm 2020, sẽ đưa tỷ lệ nợ xấu ngân hàng xuống dưới 3%.

Nợ xấu ngân hàng thường làm giảm các nguồn vốn cho vay, khiến khả năng sinh lời ngân hàng thấp, dẫn đến việc phân bổ vốn không hợp lý và kéo tăng trưởng kinh tế xuống. Theo nghiên cứu gần đây về nợ xấu ngân hàng do Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) thực hiện, các nước có tỷ lệ nợ xấu ngân hàng thấp thường sẽ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn.

Việc tăng thuế không phải là giải pháp cho sự quản lý thiếu hiệu quả và lãng phí của chính phủ. Sử dụng vốn vay và đầu tư một cách khôn ngoan mới là giải pháp tốt nhất để giảm nợ công và thâm hụt ngân sách trong dài hạn. Những biện pháp này rất quan trọng nếu Việt Nam muốn duy trì đà tăng trưởng kinh tế.

Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) vừa thông báo đã tăng cường hợp tác với Việt Nam trong việc giải quyết nợ công thông qua một bản ghi nhớ về hợp tác trong tương lai, sau chuyến đi “vận động” của Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ vào giữa tháng 9/2017.

Trang CafeF nói có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt nợ công ở Việt Nam, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là khái niệm về nợ công của Việt Nam hiện “còn xa lạ với thông lệ quốc tế”.

Tờ báo này cho rằng Việt Nam có khái niệm “riêng” nên số liệu về nợ công ở Việt Nam thường thiếu thống nhất, đồng thời việc đặt ra khái niệm riêng của Việt Nam về nợ công để có chỉ tiêu nợ công/GDP “đẹp” là không hợp lý và không cần thiết.

Hơn nữa, với khái niệm về nợ công “không giống ai” trong công tác quản lý nợ công, Việt Nam sẽ là “một mình một chợ” và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng khi thực trạng về nợ công không được đánh giá đúng.

Nguồn: Asia Times (Australia) – 28/09/2017

TKNB – 29/09/2017

Việt Nam cần làm gì để nhận được các nguồn tài trợ không hoàn lại?


Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa lên tiếng đề nghị Ngân hàng Thế giới (WB) tìm kiếm nguồn vốn tài trợ không hoàn lại cho Việt Nam trong giai đoạn phát triển quốc gia đến năm 2035.

Hỗ trợ nguồn vốn không hoàn lại

Tại cuộc gặp ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia WB chiều 20/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói rằng Việt Nam đang trong bối cảnh dừng nhận các khoản vay ưu đãi từ Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) thuộc WB kể từ đầu tháng 7/2017 và các nguồn vốn vay ưu đãi từ nước ngoài (ODA) đang giảm dần, chỉ còn vốn vay ưu đãi như nguồn Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (IBRD) nên đề nghị WB tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho Việt Nam các khoản không hoàn lại để giảm tối đa chi phí vay vốn, tăng thành tố ưu đãi của các khoản vay trong nước nhằm góp phần giải quyết những nút thắt của thách thức phát triển đến năm 2035.

Trước lời đề nghị vừa nêu của người đứng đầu chính phủ Việt Nam, một số chuyên gia tài chính cho rằng đây được xem là một trong những giải pháp tốt. Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia tài chính – ngân hàng độc lập nhận định:

Trong tình thế nợ công của Việt Nam ngày càng tăng và chính phủ có rất nhiều chi tiêu đầu tư, việc Thủ tướng yêu cầu các tổ chức quốc tế, trong đó WB có những nguồn cho vay kh6ong hoàn lại là điều hợp lý và cần thiết cho Việt Nam”.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh Việt Nam hiện nằm trong nhóm các nước có thu nhập trung bình (tính theo GDP bình quân đầu người khoảng 2000 USD/năm) do đó, các tổ chức tài chính thế giới hạn chế việc cho vay cũng như mức lãi suất có thể cao hơn và các điều kiện cho vay cũng khắt khe hơn.

Ông Nguyễn Trí Hiếu cho rằng điều kiện quan trọng nhất mà các tổ chức tài chính thế giới yêu cầu chính phủ Việt Nam phải đáp ứng để được hưởng những nguồn vốn tài trợ, đặc biệt là các nguồn vốn không hoàn trả, là cam kết sẽ đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa và trao lại việc sản xuất kinh doanh cho tư nhân. Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu giải thích:

Các tổ chức tài chính nước ngoài muốn Việt Nam trở thành nền kinh tế thị trường thực thụ, trong đó, vai trò của các doanh nghiệp có vốn nhà nước chỉ nên tập trung vào các ngành nghề mà tư nhân không thể đảm nhiệm được, chẳng hạn như quốc phòng hay lĩnh vực kinh tế liên quan đến an ninh quốc gia hoặc an sinh xã hội của đại chúng. Chỉ trong những giới hạn như vậy thì các doanh nghiệp có vốn nhà nước nên tồn tại. Phần còn lại, nếu tư nhân có thể đảm nhiệm được thì phải trao trả cho tư nhân”.

Nhanh chóng hoàn tất cổ phần hóa

Các nhà quan sát tình hình Việt Nam ghi nhận chính phủ Hà Nội đang nỗ lực thực hiện quá trình cổ phần hóa tại quốc gia này trong nhiều năm qua và hiện tại đang trong giai đoạn cuối là các doanh nghiệp nhà nước còn lại sẽ thoái vốn và bán cổ phần cho tư nhân.

Tại buổi gặp Giám đốc WB Ousmane Dione, Thủ tướng Việt Nam cũng khẳng định chính phủ sẽ tiếp tục đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn ODA; đồng thời nhấn mạnh những gì tư nhân làm được thì sẽ để cho tư nhân làm.

Trước đó, tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân lần thứ 2, được tổ chức hồi cuối tháng 7, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết chủ trương của chính phủ là phấn đấu nâng tỉ trọng đóng góp của kinh tế tư nhân lên từ 50 – 60% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Thủ tướng Việt Nam còn cho biết đã thành lập Hội đồng tư vấn về cải cách hành chính, giải quyết kịp thời những vướng mắc cấp bách của doanh nghiệp cũng như yêu cầu các ngân hàng thương mại giảm lãi suất tối thiểu 5% và sẽ tiếp tục tìm giải pháp giảm chi cho doanh nghiệp.

Song song với quyết tâm thực hiện chủ trương cổ phần hóa và chú trọng vào kinh tế tư nhân của chính phủ Việt Nam để tăng trưởng kinh tế và phát triển quốc gia là cảnh báo của giới chuyên gia phải gắn liền với cải cách chính trị, sau Hội nghị Trung ương V, diễn ra hồi tháng 5/2017, Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng cho rằng Việt Nam vẫn không thay đổi quan điểm cần cải cách chính trị, thì điều đó có nghĩa là không cắt đuôi “Định hướng xã hội chủ nghĩa” nên không thể có được một nền kinh tế thị trường đầy đủ theo quy chế thị trường.

Ý kiến của một số doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam cho rằng mặc dù chính phủ thực hiện tiến trình cổ phần hóa, nhưng không đạt được hiệu quả vì thực chất các nhóm lợi ích đang thao túng nền kinh tế. Chủ một doanh nghiệp tư nhân nói:

Mỗi nhóm lợi ích có một nhóm thân hữu riêng. Nhóm thân hữu này cạnh tranh với nhóm thân hữu kia, bằng thủ đoạn này hay thủ đoạn khác. Giới doanh nghiệp tư nhân không thể cạnh tranh với các nhóm đó được. Thị trường bị lũng đoạn bởi các nhóm quá mạnh, đến nỗi bây giờ có làm gì cũng không thay đổi được tình hình”.

Ông Ousmane Dione đã gửi báo cáo của WB về Việt Nam, trong đó đề cập đến mâu thuẫn lợi ích và WB đang tính toán các biện pháp để huy động thêm nguồn vốn hỗ trợ hiệu quả cho Việt Nam.

Qua thông tin từ đại diện của WB liên quan đến việc tìm kiếm nguồn vốn hỗ trợ hiệu quả cho Việt Nam, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế tài chính cho rằng một trong những điều kiện tiên quyết để chính phủ Hà Nội có thể tiếp cận nguồn vốn không hoàn lại, theo đề nghị của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với WB, là phải rốt ráo hoàn tất tiến trình cổ phần hóa còn nhiều vướng mắc.

Gặp nhiều trở ngại

Mặc dù chính phủ Hà Nội được cho là rất nỗ lực trong việc tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhiều năm qua, tuy nhiên, quá trình này vẫn bị chậm vì còn nhiều bất cập do chính sách và cơ chế tại Việt Nam.

Theo số liệu báo cáo mới nhất của Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, trong 6 tháng đầu năm 2017, Việt Nam chỉ thực hiện cổ phần hóa đối với 20 doanh nghiệp trong bối cảnh quốc gia có hơn 700 doanh nghiệp nhà nước và nếu tính cả doanh nghiệp có gốp vốn cổ phần của nhà nước thì con số lên đến 2000 doanh nghiệp.

Một trong những yếu tố cản trở, làm chậm tiến trình cổ phần hóa được giới chuyên gia nêu lên là do quy định về định giá tài sản của doanh nghiệp nhà nước chưa rõ ràng, trong đó vẫn còn những “kẽ hở” về việc xử lý đất đai và xác định giá trị quyền sử dụng đất trong giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cho rằng vì mô hình “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của Việt Nam nên sẽ rất khó khăn trong việc định giá tài sản của doanh nghiệp nhà nước. Ông Nguyễn Trí Hiếu nói nếu như nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường hoàn hảo thì việc định giá tài sản, bao gồm cả hữu hình (như máy móc nhà xưởng, bất động sản) lẫn vô hình (như thương hiệu, chất lượng nguồn nhân lực) sẽ rất dễ dàng trong việc đánh giá giá trị theo quy luật cung – cầu của thị trường.

Liên quan tài sản đất đai của doanh nghiệp nhà nước, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng CIEM và hiện là thành viên của Ủy ban Chính sách Phát triển Liên hợp quốc nói rằng nhà nước cần phải tách rõ đất của doanh nghiệp nhà nước không phải là tài sản của doanh nghiệp nhà nước. Nếu không có sự tách bạch như thế thì khi cổ phần hóa, các nhà đầu tư mua lại cổ phần của những doanh nghiệp có nhiều đất đai để trục lợi trong chính sách ưu đãi đối với việc cho doanh nghiệp thuê đất dài hạn từ chính phủ. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhấn mạnh:

Vấn đề phải thu hút được các nhà đầu tư chiến lược có chất lượng chứ không phải những nhà đầu tư chiến lược “giả hiệu”, là chỉ tìm đến đất rồi xây dựng trên miếng đất đó một ít công trình và ăn chênh lệch giá đất. Điều ấy sẽ không mang lại lợi ích gì cho quá trình cổ phần hóa”.

Một số chuyên gia nêu thêm, một nguyên nhân khác khiến cho quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam bị chậm là nguồn vốn của nhà đầu tư mua lại cổ phần của những doanh nghiệp nhà nước rất eo hẹp. Theo các chuyên gia, để thu hút được các nhà đầu tư chiến lược có thực lực, không phải “giả hiệu” như tiến sĩ Lê Đăng Doanh đề cập, cũng là một thách thức cho chính phủ vì hiện tại, chính sách đầu tư vẫn còn những hạn chế đối với nhà đầu tư nước ngoài, chẳng hạn trong nhiều trường hợp, chính phủ không cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua 100% cổ phần của doanh nghiệp. Và một khi phạm vi đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài bị bó hẹp, họ không thể có vai trò điều hành chủ đạo, thì điều đó có nghĩa Việt Nam mất cơ hội thu hút đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài với nhiều tiềm năng về vốn lẫn công nghệ.

Ảnh hưởng bởi tham nhũng?

Ngoài những vướng mắc nêu trên, theo Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam còn gặp khó khăn do chủ ý của giới lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước không muốn cổ phần hóa. Ông lập luận:

Ban lãnh đạo biết rằng khi doanh nghiệp của họ bị cổ phần hóa, họ có thể không còn ở trong vị trí lãnh đạo nữa. Khi doanh nghiệp cổ phần hóa thì có hội đồng quản trị và hội đồng quản trị đóng vai trò tuyển dụng ban lãnh đạo, ban quản lý. Nhưng người quản lý trước có thể sẽ được lại hợp tác trong một thời gian rồi sau đó bị thay thế bằng ban quản lý mới. Thành ra, bản thân lãnh đạo của một số công ty có vốn nhà nước thường chống lại việc cổ phần hóa vì việc này ảnh hưởng đến quyền lợi riêng của họ”.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cho rằng trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cuộc chiến chống tham nhũng thì ít nhiều sẽ góp phần tạo thuận lợi cho tiến trình cổ phần hóa tại Việt Nam.

Cũng đồng quan điểm với ông Nguyễn Trí Hiếu, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng mặc dù rất nhiều doanh nghiệp nhà nước muốn cổ phần hóa trong bối cảnh chống tham nhũng hiện nay, nhưng “họ đang rất cân nhắc, rất e ngại rằng ngày hôm nay là anh hùng và ngày mai họ có thể vào tù”.

WB không thể có một chính sách đặc biệt đối với Việt Nam trong thờ gian tới vì Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhận định “Nếu WB có chính sách đặc biệt đối với Việt Nam thì sẽ phải có nhiều chính sách đặc biệt với nhiều nước khác còn nghèo hơn Việt Nam và như vậy thì WB sẽ không thể giải quyết được”.

Nguồn: RFA

TKNB – 29/09/2017

Những khó khăn về năng lượng của Việt Nam đe dọa tăng trưởng kinh tế


Kể từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã tiến hành khai thác các mỏ dầu phong phú ở Biển Đông. Hơn 31 năm trôi qua và việc này không vấp phải bất cứ vấn đề gì cho đến khi Trung Quốc bắt đầu đưa ra các yếu sách chủ quyền đối với hơn 80% diện tích ở Biển Đông. Do Trung Quốc đang khai thác cạn kiệt các mỏ dầu hiện tại, nên Bắc Kinh có thể áp dụng một lập trường mạnh mẽ hơn nhằm bảo đảm các nguồn năng lượng vốn hữu hạn cho chính nước này. Một động thái như vậy có thể khiến các quốc gia nhỏ hơn như Việt Nam bị cạn khô, không có đủ nguồn năng lượng để phát triển.

Các cuộc tranh chấp ở Biển Đông cản trở việc thăm dò khai thác năng lượng

Vào tháng 6/2017, Việt Nam đã bắt tay thực hiện dự án trị giá nhiều triệu USD tại lô 136/3 của mình (còn phía Trung Quốc thì gọi là lô Wanan Bei-21) với các công ty Respol của Tây Ba Nha và Mubadala Development Co. của UAE. Trong vòng 2 tháng, căng thẳng trong quan hệ Trung – Việt đã lên đến mức giống như trong vụ giàn khoan Hải Dương – 981 vào năm 2014.

Khi Respol xác nhận sự tồn tại của một mỏ khí đốt lớn tại lô 136/3 và lên kế hoạch tiến hành khoan, Trung Quốc tỏ ra không hài lòng. Ngay sau đó, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Tướng Phạm Trường Long đã quyết định cắt ngắn chuyến thăm chính thức Việt Nam và hủy bỏ cuộc giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt – Trung thường niên.

Dù vậy, Việt Nam vẫn tìm cách để vượt qua các giới hạn do Trung Quốc đặt ra và tiếp tục các hoạt động khoan dầu. Cuối cùng, khi Trung Quốc đe dọa tấn công các căn cứ quân sự của Việt Nam, chỉ có Rspol là ra tuyên bố đình chỉ các hoạt động khoan tại khu vực tranh chấp. Việt Nam không đưa ra một tuyên bố chính thức nào và tiếp tục khẳng định quyền của mình trong việc thăm dò khai thác năng lượng. Với các khoản tiền đã đầu tư, cùng với nhu cầu dầu mỏ và khí đốt ngày càng tăng của Việt Nam, việc này có thể chỉ bị dừng tạm thời cho đến khi Hà Nội tìm thấy các điểm khoan mới để tiếp tục dự án hợp tác. Nền kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nếu các công ty dầu mỏ nước ngoài đánh giá triển vọng của kinh tế Việt Nam là có rủi ro cao và rút lại các khoản đầu tư.

Gác lại những khó khăn trong việc tìm kiếm các mỏ dầu vốn khan hiếm sang một bên, Việt Nam giờ đây phải xử lý những phản ứng của Trung Quốc. Các kế hoạch năng lượng của Việt Nam bao gồm cả việc phát triển mỏ khí Cá Voi Xanh ở ngoài khơi bờ biển miền Trung trên Biển Đông. Trung Quốc đã không đưa ra những bình luận cụ thể, nhưng các công ty nước ngoài đã bị cảnh báo phải tránh xa Biển Đông.

Vì lợi ích tương lai của đất nước, Việt Nam vẫn đang đấu tranh bằng cách huy động sự ủng hộ nhân các chuyến thăm chính thức của lãnh đạo tới những quốc gia có cùng tình huống, hoàn cảnh tương tự. Nếu may mắn, tình hình có thể cải thiện nhờ việc các bên đã thông qua dự thảo khung về Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) sau 15 năm cân nhắc, hoặc nhờ sự giúp đỡ của Mỹ nhằm đối trọng với sự thống trị của Trung Quốc.

Các nguồn năng lượng của Việt Nam đang bị đe dọa

Kế hoạch phát triển điện quốc gia mới nhất của Việt Nam đặt ra phương hướng cho giai đoạn 2011 – 2020 và bao gồm tầm nhìn dài hạn đến năm 2030. Với 600 triệu tấn dầu thô, Việt Nam nắm giữ trữ lượng dầu mỏ lớn thứ hai ở Đông Á, sau Trung Quốc. Đứng ở mức 34,4%, than đá là nguồn năng lượng chính của Việt Nam trong năm 2015. Than đá tương đối rẻ hơn, và Chính phủ Việt Nam có kế hoạch nâng tỷ trọng lên 42,6%.

Việt Nam là nước xuất khẩu ròng dầu thô và là nước nhập khẩu ròng các sản phẩm dầu mỏ. Ngành dầu khi vẫn là ngành đóng góp hàng đầu cho Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Nhưng sản lượng dầu mỏ đã bị sụt giảm kể từ năm 2000. Mỏ dầu lớn nhất của Việt Nam – mỏ Bạch Hổ – đạt mức sản lượng cao nhất vào năm 2004, và sản lượng ở mỏ này đã giảm xuống còn 16,7 triệu tấn vào năm 2013. Do tình trạng cạn kiệt của các mỏ dầu được phát hiện trước đây, Việt Nam nay cần phải nắm bắt mọi cơ hội để khám phá thêm nhiều mỏ dầu khác ở Biển Đông.

Tiêu thụ điện bình quân đầu người ở Việt Nam đã tăng từ 156 KWh trong năm 1995 lên 1.415 KWh vào năm 2014. Nhu cầu năng lượng trung bình dự kiến tăng khoảng 10,5% mỗi năm trong giai đoạn 2016 – 2020. Dự báo, nhu cầu tiếp theo sẽ tăng ở mức ít hơn, chỉ 8% mỗi năm trong giai đoạn 2021 – 2030, nếu như chính phủ đạt được mục tiêu về cung cấp sự tiếp cận phổ biến nguồn điện cho người dân. Hiện tại, một số cộng đồng ở vùng nông thôn, miền núi xa xôi vẫn chưa được kết nối với lưới điện.

Tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế

Kế hoạch phát triển điện quốc gia mới nhất của Việt Nam cho thấy một sự phụ thuộc ngày càng tăng vào than đá thông qua việc xây dựng nhiều nhà máy điện chạy bằng than. Kế hoạch này hoàn toàn mâu thuẫn với cam kết cắt giảm 25% lượng khí thải nhà kính trong cùng giai đoạn. Xét việc Việt Nam từng không đáp ứng được các mục tiêu của Ngân hàng Phát triển châu Á cũng như việc chính phủ chấp nhận tình trạng môi trường bị hủy hoại bởi các công ty nước ngoài phạm luật để đổi lấy tăng trưởng kinh tế, sẽ không phải là điều bất ngờ nếu Việt Nam không thực hiện được các mục tiêu cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính như đã cam kết.

GreenID, một tổ chức phi chính phủ ủng hộ việc phát triển năng lượng tái tạo, nhận thấy rằng, “chỉ số bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội cao hơn 5 lần so với mức trung bình hàng năm của Tổ chức Y tế Thế giới”. Mức ô nhiễm không khí này gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tim và phổi. Trước khi quá muộn, Việt Nam cần phải có thêm các nguồn năng lượng bền vững. Ngày nay, Việt Nam có các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh khối. Đa số nguồn năng lượng tái tạo này sẽ được sản xuất từ các nhà máy thủy điện nhỏ và nhà máy phong điện. Việt nam cũng dự kiến bắt đầu nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng vào năm 2023. Trong số khoảng 50 dự án phong điện, chỉ có 4 dự án đang hoạt động với tổng công suất 160 MW. Tiềm năng chưa khai thác của các nguồn năng lượng này hiện cũng đang bị phủ bóng đen do chi phí cao và cần phải có bí quyết công nghệ.

Bà Phạm Cẩm Nhung, Quản lý Dự án năng lượng bền vững WWF – Việt Nam, đã tỏ ý hy vọng rằng thời điểm năm 2050 có thể đem lại các cơ hội tốt hơn để Việt Nam thành công trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Bà Nhung nói: “Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành quốc gia tiên phong phát triển ngành năng lượng sạch và tái tạo. Năng lượng mặt trời có thể cung cấp ít nhất 35% trong khi năng lượng gió có thể cung cấp ít nhất 13% nhu cầu điện của Việt Nam vào năm 2050. Năng lượng tái tạo đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển một tương lai bền vững cho Việt Nam”.

Đầu tư vào công nghệ xanh bị giới hạn bởi nguồn vốn và năng lực

Năm ngoái, Việt Nam, vốn đang nợ đầm đìa, đã từ bỏ các kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân, viện dẫn các lý do như dự báo nhu cầu thấp, chi phí tăng và các quan mối quan ngại về an toàn. Nguồn kinh phí dự trù ban đầu cho 2 nhà máy điện hạt nhân là 18 tỷ USD, chiếm 9% GDP củ Việt Nam. Các công ty được chính phủ hỗ trợ không có khả năng đáp ứng được nhu cầu năng lượng cơ bản của Việt Nam, dẫn đến tình trạng thiếu điện. Với một hệ thống giá mơ hồ và bộ máy cồng kềnh, không hiệu quả, Điện lực Việt Nam (EVN) cùng hai doanh nghiệp năng lượng nhà nước khác không có khả năng tận dụng được những tiến bộ công nghệ.

Con  đường phía trước của Việt Nam đầy rẫy những thách thức, và các tranh chấp trên Biển Đông đang được bổ sung vào danh sách những thách thức này. Nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế và giấc mơ tạo được sự tiếp cận điện năng trên phạm vi toàn quốc, Việt Nam phải tìm được sự cân bằng mong manh giữa cung, cầu, tăng trưởng và môi trường sống bền vững.

Nguồn: http://www.aseantoday.com/2017/09/vietnams-energy-woes-threaten-to-cripple-her-growth/

TKNB – 19/09/2017

Việt Nam – đối tác sẵn sàng của Canada


Nhân tham dự Hội nghị cấp bộ trưởng APEC về doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Stewart Beck, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Quỹ châu Á – Thái Bình Dương của Canada, đã có bài viết về mối quan hệ giữa Canada và Việt Nam:

Ký ức về cuộc Chiến tranh Việt Nam vẫn còn in đâm trong tâm trí nhiều người thuộc thế hệ của tôi và sẽ sớm được hồi sinh trong cuốn phim tài liệu cùng tên của Ken Burns. Trong cuộc chiến này, Canada – cùng với Ấn Độ và Ba Lan – giữ một vai trò quan trọng với tư cách là thành viên của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Sau khi chiến tranh kết thúc, Canada đã tiếp nhận 60.000 người tị nạn Việt Nam trong giai đoạn 1979 – 1980, mở Đại sứ quán tại Hà Nội năm 1994 và Tổng lãnh sự ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 1997.

Kinh nghiệm đầu tiên của tôi với Việt Nam là vào năm 1994, khi tôi thường xuyên sang Việt Nam để giúp thành lập Đại sứ quán và mở Văn phòng thương mại của Canada ở Thành phố Hồ Chí Minh (hay còn được gọi là Sài Gòn), nơi vẫn chịu ảnh hưởng của Mỹ. Tại thời điểm đó, Việt Nam đang trong tiến trình Đổi Mới, giống như mô hình cải cách kinh tế của Trung Quốc để tạo ra một “nền kin tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Kể từ thời điểm đó, Việt Nam đã trở thành quốc gia lớn thứ 11 của Canada về lượng du học sinh quốc tế (năm 2011) và quan hệ thương mại song phương hàng năm đã tăng lên tới 5,5 tỷ CND (năm 2016). Với sự tăng trưởng kinh tế phi thường, nền kinh tế ngày càng tự do hóa, cam kết tham gia và hội nhập toàn cầu, và là một thành viên trong cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie) Việt Nam đang và sẽ tiếp tục là một đối tác hợp tác quan trọng trong ASEAN và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC).

Năm ngoái, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP 6,2%, cao gấp 4 lần Canada. Việt Nam có 43,7 triệu công dân kết nối Internet và đạt được sự cân bằng kinh tế – xã hội lớn trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Tầng lớp trung lưu ở Việt Nam cũng đang phát triển rất mạnh. So với khu vực, Việt Nam có hệ sinh thái phát triển tốt cho các vườn ươm và các doanh nghiệp lớn. Trên thực tế, sự phát triển thành công vượt bậc của cộng đồng khởi nghiệp ở Việt Nam đã tạo ra “sức hấp dẫn đối với các trí thức”, thu hút các doanh nhân trẻ từ nước ngoài trở về để thành lập hoặc làm việc tại các công ty mới khởi nghiệp, mang lại những tri thức và kỹ năng mới giúp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển trong nhiều năm tiếp theo.

Với sự không chắc chắn của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP) sau khi Mỹ rút lui và sự nổi lên của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, giờ là thời điểm để Canada tham gia sâu hơn vào Việt Nam thông qua việc mở rộng vai trò đối tác của mình trong APEC và ASEAN. Cũng như nhiều nước khác, Canada coi các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SME) là động lực thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới trong khu vực APEC.

Việt Nam hiện có khoảng 600.000 MSME đăng ký hoạt động và con số này không ngừng tăng lên ở mức trên 100.000 MSME mỗi năm. Chỉ trong 2 tháng đầu năm nay, đã có khoảng 14.500 MSME mới được thành lập với tổng số vốn đăng ký khoảng 8,2 tỷ USD. Vì thế, Canada có cơ hội vận dụng những kinh nghiệm về đổi mới công nghệ, kinh doanh và phát triển xanh trong việc thúc đẩy sự phát triển của các MSME ở Việt Nam cũng như khu vực APEC rộng lớn hơn. Dự án Thúc đẩy Đối tác Kinh doanh Canada – APEC là một minh chứng cho cam kết của Canada trong việc tham gia vào không gian MSME. Dự án kéo dài 4 năm với mục tiêu xây dựng và phát triển cộng đồng MSME trong khu vực APEC. Dự án do Bộ các vấn đề toàn cầu (Bộ Ngoại giao) Canada tài trợ và do Quỹ châu Á – Thái Bình Dương phối hợp với Ban thư ký APEC quản lý. Hiện dự án đã gần kết thúc năm hoạt động đầu tiên với trọng tâm được đặt ở Việt Nam.

Ngoài ra, Canada cũng có cơ hội kết nối các doanh nghiệp của mình với những đối tác tương đồng ở các nền kinh tế thành viên APEC như Việt Nam, nơi họ sẽ có cơ hội phát triển trong những lĩnh vực như nông nghiệp, giáo dục – đào tạo, công nghệ thông tin truyền thông, công nghệ sạch, tài chính và một số ngành dịch vụ khác. Canada có danh tiếng tốt ở Việt Nam và sẽ ngày càng tốt hơn với thực tế toàn cầu hiện nay. Giúp Việt Nam xây dựng và phát triển các MSME sẽ mang lại những lợi thế chiến lược cho Canada và nếu đủ khôn ngoan, chúng ta sẽ tham gia ngay từ đầu vào quá trình hình thành cộng đồng khởi nghiệp của Việt Nam, đưa ra những tư vấn và trợ giúp kỹ thuật. Chúng ta cũng nên cộng tác trong phát triển thương mại điện tử và giáo dục – đào tạo không chỉ vì lợi ích của Việt Nam mà còn cho chính chúng ta.

Đối với thế hệ của tôi, đôi khi rất khó để gạt bỏ ký ức về chiến tranh, về những chiếc trực thăng, binh lính Mỹ và đội quân Việt cộng. Nhưng Việt Nam đã mạnh mẽ vượt qua sự tàn phá của chiến tranh, trở thành một đối tác sẵn sàng và mong muốn hợp tác với Canada.

Nguồn: TKNB – 19/09/2017

Nhận thức về môi trường có dẫn đến phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam?


Ngày 25/7, tại Trung tâm nghiên cứu Stimson ở Washington DC. (Mỹ) diễn ra buổi hội thảo nhân dịp công bố báo cáo nghiên cứu về việc phát triển năng lượng tại tạo tại khu vực tiểu vùng Mekong, bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam Trung Quốc.

Những nhà nghiên cứu của Trung tâm Stimson cho rằng việc phát triển các nguồn điện năng tại vùng Hạ Mekong nói chung và Việt Nam nói riêng nên đi theo hướng phối hợp nhiều phương cách khác nhau, bao gồm một cách thức quan trọng là phát triển các nguồn điện năng tái tạo nhưng không phải là thủy điện, là gió và Mặt trời.

Các lý do được giới chuyên gia Trung tâm Stimson đưa ra là công nghệ điện gió và mặt trời ngày càng phát triển, làm cho giá điện của các loại này giảm mạnh. Nguyên nhân thứ hai là các phong trào bảo vệ môi trường đang phát triển mạnh ở các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, ngăn cản sự xây dựng các đập thủy điện lớn, cũng như những trung tâm điện năng chạy bằng than gây ô nhiễm.

Ý thức môi trường đang tăng lên của dân chúng Việt Nam

Công trình nghiên cứu của Trung tâm Stimson có đề cập đến ý thức môi trường của dân chúng Việt Nam đang gia tăng, thể hiện qua những cuộc biểu tình rất lớn sau thảm họa cá biển chết hàng loạt do nhà máy luyện thép Formosa gây ra. Tuy nhiên, công trình này thiếu số liệu về sự phản ứng của người dân Việt Nam đối với những nhà máy điện chạy than.

Có hai cụm nhiệt điện chạy than lớn đang được xây dựng tại miền Nam Việt Nam vì khu vực này không có các trung tâm thủy điện lớn. Đó là cụm 4 nhà máy được xây tại Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận). Thứ hai là Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải tại tỉnh Trà Vinh cũng gốm 4 nhà máy. Năm 2015, một cuộc biểu tình lớn đã xảy ra ở Tuy Phong chống việc nhà máy điện Vĩnh Tân 2 xả khói và xỉ than gây ô nhiễm đến mức dân chúng địa phương không chịu nổi. Cuộc biểu tình quy tụ hàng nghìn người, gây thiệt hại lớn về vật chất, một số người bị thương. Năm 2016, dân chúng và các giới chức tỉnh Trà Vinh lên tiếng than phiền nhà máy điện chạy than Duyên Hải 1 xả khói và xỉ than gây ô nhiễm và làm hại đến hoạt động kinh tế của người dân. Theo số liệu của trang web về môi trường, Trung tâm Sáng tạo Xanh, chỉ riêng nhà máy Duyên Hải 1 đã thải ra một lượng xỉ than là 1,6 triệu tấn 1 năm, và ngay lập tức đã lấp đầy phân nửa diện tích bãi thải rộng 100 ha.

Tháng 7/2017, các nhà máy nhiệt điện chạy than Vĩnh Tân lại gây ra một sự chống đối của dư luận, khi nhà máy số 1 được Bộ Tài nguyên Môi trường cấp giấy phép đổ chất thải nạo vét cảng Vĩnh Tân xuống gần vùng bảo tồn biển Hòn Cau của tỉnh Bình Thuận.

Điều chỉnh kế hoạch phát triển điện năng

Theo số liệu của Trung tâm Stimson, trích nguồn từ chính phủ Việt Nam, trong năm 2014, thủy điện chiếm 46%, điện than chiếm 29% tổng lượng điện sản xuất tại Việt Nam. Theo kế hoạch của chính phủ Việt Nam điện than sẽ chiếm 42,7% vào năm 2030. Con số này đã được điều chỉnh, vì hồi năm 2015, ông Phạm Khánh Toàn, Viện trưởng Viện năng lượng Việt Nam của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, nói rằng đến năm 2030, điện than chiếm 45%.

Theo các nhà quy hoạch chính sách điện năng của Việt Nam, nguồn năng lượng thủy điện bên trong biên giới Việt Nam đã được sử dụng hết. Vì thế trước nhu cầu phát triển kinh tế và mức sống của một dân số đông đúc ngày càng tăng, nhiệt điện chạy than là một chuyện cần thiết hiện nay. Tỉ lệ điện năng sản xuất từ gió và mặt trời, theo Trung tâm Stimson, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam mong muốn sẽ ở mức 21% vào năm 2030. Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Stimson cho rằng con số này là quá thấp.

Một trong những trở ngại cho việc phát triển năng lượng gió và Mặt Trời tại Việt Nam, theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, là giá than đá mà Việt Nam đang nhập khẩu từ Indonesia thấp do các khoản thuế đã được trừ đi theo các thỏa thuận thương mại. Bên cạnh đó, giá điện gió và điện Mặt Trời tại Việt Nam vẫn còn cao hơn so với điện sản xuất từ than.

Ông Lê Đăng Doanh cũng nêu một trở ngại khác là giá bán điện ở Việt Nam thấp, không khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng các trung tâm điện gió và mặt trời. Điều này được các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Stimson gọi là bao cấp giá điện.

Tuy nhiên, theo ông Brian Eyler, Giám đốc dự án Mekong của Trung tâm Stimson thì chính phủ Việt Nam dường như cũng ý thức được phải điều chỉnh kế hoạch phát triển năng lượng của mình. Ông nói tại buổi hội thảo: “Việt Nam là một đất nước quan trọng không chỉ ở khu vực mà còn trên thế giới. Chính phủ Việt Nam biết rằng mình đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp, không thể nằm ngoài việc đầu tư vào lĩnh vực nguồn năng lượng. Vấn đề là nhìn nhận sự chuyển tiếp đó ra sao, nguồn năng lượng nào? Chúng tôi làm việc chặt chẽ với chính phủ Việt Nam để giúp họ việc này. Hồi tháng 5/2017, các viên chức Việt nam đến Washington ký một thỏa thuận trị giá 2 tỷ USD về một nhà máy điện chạy khí, và công ty General Electric đạt được thỏa thuận phát triển một khu điện gió lớn nhất nước nằm ở phía Nam”.

Thỏa thuận mà ông Eyler đề cập là dự án của General Electric về việc xây dựng một khu điện gió tại tỉnh Sóc Trăng có công suất đến 800 MW. Thỏa thuận này được ký nhân chuyến viếng thăm Mỹ của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

Theo các nhà nghiên cứu của Trung tâm Stimson, trong nội bộ các nhà làm chính sách tại Việt Nam đã bắt đầu có sự đồng thuận chú ý đến việc phát triển năng lược tái tạo từ gió và Mặt Trời. Tuy nhiên, Việt Nam cần phải làm rõ hơ các chính sách hỗ trợ cho việc phát triển năng lượng tái tạo, mặc dù nguyên tắc hỗ trợ này cũng như quyết tâm của Việt Nam trong việc cắt giảm khí thải nhà kính, trong đó có sự góp phần lớn của các nhà máy điện chạy than, đã được đưa ra từ sớm.

Nguồn: RFA

TKNB – 01/08/2017