Vì sao Samsung chọn Việt Nam để đặt công ty lớn nhất?


Samsung giữ vị trí quan trọng tại Việt Nam. Cho đến nay, Samsung đã đầu tư vào Việt Nam tổng cộng 17 tỷ USD, với những nhà máy sản xuất gần 1/3 lượng sản phẩm mà tập đoàn Hàn Quốc sản xuất ra trên toàn thế giới.

Chi nhánh Việt Nam của Samsung đã trở nên tối quan trọng đối với Việt Nam vì thu hút hơn 100.000 nhân viên làm việc, đạt được doanh số 58 tỷ USD vào năm ngoái, vượt tập đoàn dầu khí Petro Vietnam để trở thành tập đoàn lớn nhất Việt Nam, giúp Việt Nam chiếm vị trí nước xuất khẩu điện thoại thông minh thứ nhì của thế giới, với trị giá lên tới 214 tỷ USD.

Nhà máy chính của Samsung ở Thái Nguyên (miền Bắc Việt Nam) sử dụng hơn 60.000 người.  Đây là nhà máy có sản lượng điện thoại di động lớn hơn bất kỳ cơ sở sản xuất nào trên thế giới.

Samsung đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế Việt Nam. Nhờ tập đoàn này, Thái Nguyên và tỉnh Bắc Ninh lân cận đã trở thành hai trong số những địa phương giàu nhất nước. Nhà hàng, cửa hàng và khách sạn mọc lên như nấm quanh các khu công nghiệp Samsung. Số các công ty Việt Nam được liệt kê là nhà cung cấp quan trọng cho Samsung đã tăng gấp 7 lần trong 3 năm qua.

Samsung đã trở thành nhà đầu tư Hàn Quốc lớn nhất tại Việt Nam. Trong số 108 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mà Việt Nam đã nhận được kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, 1/3 là của Hàn Quốc.

Ngoài Samsung, còn có LG, một “chàng khổng lồ” khác của Hàn Quốc, sản xuất màn hình máy thu hình trong nhà máy trị giá 1,5 tỷ USD tại cảng Hải Phòng; hay là Lotte, chủ nhân một chuỗi siêu thị.

Đối với Samsung, Việt Nam là một lựa chọn hấp dẫn, thế chỗ cho Trung Quốc. Trước hết, Việt Nam có một lực lượng lao động trẻ, đông đảo và giá rẻ. Đó từng là lợi thế của Trung Quốc, nhưng ngày nay, công nhân Trung Quốc bình quân đã già hơn 7 tuổi so với công nhân Việt Nam, torng khi chi phí thuê nhân công lại đắt hơn gấp 2 lần so với Việt Nam.

Lao động giá rẻ giúp Sumsung hạ thấp chi phí sản xuất, tạo cho nhà sản xuất điện thoại thông minh Hàn Quốc một lợi thế cạnh tranh so với Apple. Trong khi nhiều nước khác trong khu vực có xu hướng xuất khẩu nguyên liệu hoặc linh kiện sang Trung Quốc, để được lắp ráp thành thành phẩm, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu thành phẩm hoàn chỉnh.

Việt Nam cũng là một hàng rào có giá trị, giúp tránh được cách hành xử thất thường của chính quyền Trung Quốc. Năm ngoái, chính phủ Trung Quốc tổ chức tẩy chay các công ty và sản phẩm của Hàn Quốc để trừng phạt chính quyền Seoul vì đã triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ của Mỹ trên lãnh thổ Hàn Quốc.

Mặc dù hệ thống này nhằm mục đích bảo vệ, chống lại một cuộc tấn công từ Triều Tiên, nhưng Bắc Kinh cho rằng nó có thể được dùng để làm suy yếu hệ thống phòng thủ của Trung Quốc. Cuộc tẩy chay dù đã kết thúc, nhưng đã làm cho các nhà đầu tư Hàn Quốc lo ngại.

Trái lại, Việt Nam đang tự do hóa nền kinh tế để đón chào giới công nghiệp nước ngoài. Năm 2015, Việt Nam đã mở cửa 50 ngành công nghiệp cho nước ngoài và giảm nhẹ ràng buộc trong hàng trăm ngành khác.

Việt Nam đã bán phần lớn cổ phần của Sabeco, tập đoàn sản xuất bia quốc doanh lớn nhất cho một công ty nước ngoài vào năm ngoái.

Sự nhiệt tình của Việt Nam đối với các hiệp định thương mại tự do đã khiến cho Việt Nam trở nên đặc biệt hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

Việt Nam cũng là một thành viên sáng lập của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việt Nam cũng sắp ký hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EU). Thỏa thuận đã ký với Hàn Quốc năm 2015 đã giúp Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của Hàn Quốc.

Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đã thăm Việt Nam hồi tháng 3 vừa qua cùng với các đại diện của Samsung và nhiều công ty khác. Đây là chuyến đi thứ hai của ông tới Việt Nam trong vòng chưa đầy 1 năm cầm quyền. Các cố vấn của Tổng thống Hàn Quốc cho rằng Hàn Quốc không nên tự thỏa mãn với việc trở thành “con tôm giữa bầy cá voi” như Trung Quốc và Nhật Bản, mà trái lại, phải trở thành một cường quốc khu vực bằng cách kết minh với các đồng minh nhỏ hơn. Điều đó, theo họ sẽ giúp Hàn Quốc trở thành một “con cá heo”, làm chủ được vận mệnh của chính mình. Ít ra là tại Việt Nam, kế hoạch của Hàn Quốc đã như “cá gặp nước”.

Nguồn: The Economist – 16/04/2018

TKNB – 17/04/2018

Advertisements

Kinh tế chính trị của tái cấu trúc kinh tế Việt Nam – Phần cuối


Ba khó khăn chính của Việt Nam

Những thách thức cấp bách nhất đi liền với nhu cầu là duy trì một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao của nước này. Việt Nam đã trải qua 3 khó khăn trong việc tái cơ cấu nền kinh tế: giải quyết các khoản nợ xấu trong ngành ngân hàng, hợp lý hóa khu vực nhà nước, và cải thiện chất lượng đầu tư công. Ba vấn đề này liên quan chặt chẽ với nhau.

Nợ xấu: Việc giải quyết khoản nợ tồn đọng này vẫn còn rất khó khăn. Chính phủ đã ban hành một lộ trình tái cơ cấu ngành ngân hàng vào năm 2012. Một số ít ngân hàng yếu kém được sáp nhập, và vào năm 2013 Công ty quản lý tài sản Việt Nam (VAMC) đã được thành lập. VAMC đã hoán đổi các khoản nợ xấu có ảnh hưởng tới ngân hàng để đổi lấy các “trái phiếu đặc biệt” do VAMC phát hành làm thế chấp để vay tiền từ ngân hàng trung ương. Tháng 6/2015, các khoản nợ xấu chính thức giảm từ hơn 17% tổng tài sản ngân hàng xuống còn dưới 4%. Chiến lược này đã thành công vì nó ngăn chặn được nợ xấu và cho phép hầu hết các ngân hàng tiếp tục hoạt động thành công vì nó ngăn chặn được nợ xấu và cho phép hầu hết các ngân hàng tiếp tục hoạt động trong khi tránh một cuộc khủng hoảng đang phát triển mạnh. Tuy nhiên, quy mô của các khoản nợ – có khả năng lên tới 20 tỷ USD (hay 10 – 15% GDP) – khiến nền kinh tế rất khó phát triển vượt bậc ngay cả khi đang tăng trưởng mạnh. Thiếu vắng một thị trường thứ cấp cho nợ xấu, nhiều ngân hàng cho rằng nợ xấu cuối cùng sẽ quay trở lại bảng cân đối kế toán của họ.

Các doanh nghiệp nhà nước (DNNN): DNNN chịu trách nhiệm cho phần lớn các khoản nợ xấu của Việt Nam và là chất xúc tác cho các khó khăn trong khu vực ngân hàng. Việt Nam vẫn duy trì đa số cổ phần trong hơn 3000 DNNN. Mặc dù các doanh nghiệp này chiếm khoảng 30% GDP và khoảng 40% tổng đầu tư, nhưng đóng góp của họ trong hoạt động kinh tế vẫn không thay đổi kể từ năm 1990. Họ cũng cung cấp chưa đến 5% tổng số việc làm; ước tính 92% số việc làm đến từ các công ty tư nhân nhỏ. Các DNNN luôn tăng trưởng chậm hơn và sử dụng vốn kém hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp khác, chiếm các nguồn lực và cản trở sự phát triển của khu vực tư nhân trong quá trình này. Việc giải quyết sự lấn át của DNNN sẽ giúp tăng cường các ngân hàng.

Cải thiện đầu tư công: Chính phủ Việt Nam cũng thiếu không gian tài chính để giảm bớt các khoản nợ xấu này hay bảo lãnh DNNN. Với mức thâm hụt ngân sách vượt quá 6% GDP mỗi năm trong suốt 5 năm qua, Việt Nam đã đạt được mức trần nợ công/GDP 65% tự đặt ra cho giai đoạn 2016 – 2018. Trên thực tế, sự kiềm chế tài chính này dường như đã dẫn đến sự tiến bộ nào đó trong việc tái cơ cấu DNNN, với việc bán cổ phần chiến lược và thậm chí việc chào bán công khai ban đầu cho các DNNN lớn được công bố vào năm 2017. Các nguồn doanh thu khác vẫn thay đổi bất chấp sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, với tổng doanh thu từ thuế dưới 20% GDP và phần đóng góp từ thuế thu nhập và thuế lợi nhuận chỉ chiếm mức 35% ít ỏi trong tổng số thuế. Có lẽ mối quan tâm lớn hơn cả kiềm chế tài chính đối với trần nợ là chất lượng thấp của chi tiêu công hiện nay, phần lớn diễn ra ở dưới cấp quốc gia.

Ba ưu tiên tái cơ cấu của Việt Nam – nợ xấu trong khu vực ngân hàng, cải cách các DNNN và đầu tư công – tất cả đều liên quan tới thách thức về tình trạng thiếu các doanh nghiệp cỡ vừa. Bất chấp thành công của Việt Nam trong việc thúc đẩy đầu tư và xuất khẩu, việc phát triển khu vực tư nhân trong nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Kết luận

Những kết quả của 3 thập kỷ chuyển đổi kinh tế của Việt Nam đều rất ấn tượng. Một loạt yếu tố đã giúp Việt Nam thu hút đầu tư và tăng cường xuất khẩu bao gồm: một cơ chế đầu tư cạnh tranh; tự do hóa thương mại; việc tham gia hệ thống kinh tế quốc tế; sự ổn định chính trị và chi phí lao động thấp. Con đường tái cơ cấu nền kinh tế là thực tiễn và đa dạng. Các nhà hoạch định kinh tế của Việt Nam đã tránh các cuộc tranh luận về chủ nghĩa tư bản và thay vào đó đưa ra lý do cho việc xác định thị trường là một cách để khuyến khích sản xuất và thương mại hơn nữa.

Tuy nhiên, trong khi thương mại và đầu tư nước ngoài là những thành tố không thể thiếu trong thành công kinh tế của Việt Nam, chúng vẫn không tự động biến thành sự thành lập của một khu vực tư nhân sôi động và cạnh tranh. Việc thúc đẩy khu vực tư nhân của Việt Nam đã bị chìm lấp do sự lấn át của nhiều DNNN mà trong bối cảnh chính sách hiện nay vẫn tiếp tục chiếm ưu thế trong quyền tiếp cận thị trường, tín dụng và đầu tư, và kiểm soát các tài sản vật chất. Đầu tư nước ngoài theo định hướng xuất khẩu được thu hút bởi một cơ chế thương mại cởi mở và khuôn khổ đầu tư ổn định, nhưng điều này cũng hạn chế những khích lệ để xây dựng liên kết với các nhà cung cấp địa phương và các nhà cung cấp dịch vụ. Do vậy, thị phần xuất khẩu ấn tượng của Việt Nam và một số thặng dư thương mại lớn vẫn thấp hơn dự kiến. Năng suất và tỷ trọng giá trị trong nước của các doanh nghiệp Việt Nam đã thực sự giảm sút khi nước này hội nhập kinh tế hơn nữa. Việc giải quyết vấn đề này hiện là thách thức kinh tế chính đối với các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam.

Kinh nghiệm của Việt Nam cũng nhấn mạh điểm yếu tiềm tàng của việc tự do hóa thương mại và đầu tư mà không có nỗ lực đồng thời nhằm xử lý các thể chế và tiêu chuẩn trong nước. Nước này phải nỗ lực để đảm bảo các bên tham gia trong nước cũng nắm được một phần lợi nhuận. Việt Nam có lịch sử sử dụng sự tham gia hệ thống kinh tế quốc tế – bao gồm việc gia nhập WTO và ký kết các FTA lớn – để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu khó khăn trong nước. Đây giống như một cái cớ hơn là một động lực thúc đẩy; nhiều người ở Việt Nam sẽ lưu ý rằng số bộ luật và các quy định được thông qua nhiều hơn rất nhiều so với những gì cần thiết về cơ bản đáp ứng các cam kết WTO.

Điều quan trọng nhất là tại thời điểm mà chủ nghĩa bảo hộ toàn cầu đang gia tăng, Việt Nam vẫn tiếp tục hướng ra bên ngoài theo một cách độc đáo. Thỏa thuận CPTPP, mặc dù chưa hoàn thành, vẫn là tích cực đối với lợi ích của cả Việt Nam lẫn Australia. Tuy nhiên, ngay cả khi không có kết quả như mong muốn trong số 11 bên ký kết TPP còn lại, hệ thống của Việt Nam vẫn có xu hướng thúc đẩy ngày càng nhiều các cách thức sáng tạo để tiếp nhận và củng cố sự thay đổi. Việt Nam thường gây ấn tượng với sự tháo vát của mình trên trường quốc tế – được minh họa bằng chuyến thăm thành công của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới Washington, nhà lãnh đạo Đông Nam Á đầu tiên tớ thăm Tổng thống Trump. Đôi khi, Việt Nam phải trả giá cho sự can dự vào nền kinh tế thế giới, nhưng gần như không có ai ở Việt Nam sẽ ủng hộ một con đường khác.

Nguồn: https://www.lowyinstitute.org/publications/missing-middle-political-economy-economic-restructuring-vietnam

TKNB – 26/02/2018

Kinh tế chính trị của tái cấu trúc kinh tế Việt Nam – Phần đầu


Matthew Busch

Việc Việt Nam áp dụng thận trọng và theo trình tự các thể chế thị trường đã mang lại hơn 2 thập kỷ với thành tích kinh tế đầy ấn tượng, trong khi hầu như không làm thay đổi nền kinh tế chính trị cơ bản của nước này. Đáng chú ý là Việt Nam đã tích cực hội nhập hơn nữa vào hệ thống kinh tế quốc tế, bao gồm việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007 và ký kết một loạt hiệp định thương mại tự do như là một biện pháp để củng cố sự thay đổi trong nước.

Tuy  nhiên, những nỗ lực như vậy vẫn chưa giải quyết được tình trạng “missing middle” (thiếu vắng các doanh nghiệp cỡ vừa) của Việt Nam, hay sự tan vỡ của một khu vực tư nhân hiệu quả trong nước và sự tiếp tục thống trị của khu vực sở hữu nhà nước. Kết quả là mức độ xuất khẩu và đầu tư đầy ấn tượng vẫn chưa mang lại các lợi ích đồng thời cho giá trị gia tăng trong nước hoặc mang lại sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước. Khi những thách thức này thể hiện các nguy cơ nghiêm trọng đối với tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam trong tương lai, quan trọng là phải tìm ra các phương pháp mới để củng cố các thể chế và giảm bớt vai trò của các bên tham gia có liên quan tới nhà nước. Tầm quan trọng lịch sử của các hiệp định thương mại quốc tế trong hệ thống của Việt Nam đồng nghĩa với việc các sáng kiến chẳng hạn như Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được đổi tên đã mang lại một cơ hội khác thường – vừa hỗ trợ tái cơ cấu nền kinh tế hiện nay của Việt Nam, vừa tạo ra một khuôn khổ để mở rộng hơn nữa thương mại và đầu tư với các đối tác kinh tế quan trọng khác.

Trong thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã nổi lên như là câu chuyện kinh tế hấp dẫn nhất ở Đông Nam Á. Không phải vì đấy là nền kinh tế lớn nhất trong khu vực (một danh hiệu thuộc về Indonesia) hay có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất (một vị trí xê dịch giữa Myanmar, Campuchia và Lào) mà đó là vì công cuộc tái cơ cấu kinh tế đã mang lại nhiều thành tựu ấn tượng về của cải, thương mại và đầu tư – trong khi gần như không làm thay đổi cơ cấu quyền lực căn bản của nước này.

Việt Nam ở vũ đài trung tâm

Giữa tháng 11/2017, sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách và các phân tích kinh tế thế giới đã tập trung vào vị trí ít người nghĩ tới là Đà Nẵng, một thành phố ven biểu ở miền Trung Việt Nam, nơi tổ chức hội nghị cấp cao Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC). Mặ dù các cuộc gặp gỡ của Tổng thống Donald Trump với các nhà lãnh đạo thế giới như Tập Cận Bình và Vladimir Putin đã thu hút nhiều sự chú ý nhất, song quan trọng hơn cả là một loạt cuộc gặp gỡ bên lề hội nghị.

11 trong số 12 nước ký kết TPP (hay còn gọi là “TPP-11”) đã họp để tìm kiếm một hướng đi cho thỏa thuận thương mại “chất lượng cao” này, mà tương lai của nó đã bị đảo lộn sau khi Donald Trump giữ lời hứa trong chiến dịch tranh cử và rút Mỹ khỏi TPP vào tháng 1/2017. Về phía mình, Việt Nam ban đầu tuyên bố sẽ rời khỏi thỏa thuận nhưng tiếp tục thực hiện các cải cách mà họ đã nhất trí từ trước. Tuy nhiên sau đó, vì đã đầu tư quá nhiều cho việc chỉ đạo nhiều thỏa thuận thông qua hệ thống chính trị của mình, Việt Nam đã quay lại thỏa thuận này như một phần của TPP-11. Tại Đà Nẵng, Việt Nam đã ra tín hiệu cho thấy sự ủng hộ của mình đối với thỏa thuận này cho tới khi được phép linh hoạt hơn trong việc thực hiện các cam kết về bảo vệ lao động.

Là thành viên có thu nhập thấp nhất trong TPP, và là một đất nước phụ thuộc nặng nề vào thương mại, Việt Nam là một trường hợp nghiên cứu quan trọng đối với việc tự do hóa thương mại đa phương trong tương lai. Sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã mang lại cho Việt Nam những lợi ích đầy ấn tượng về của cải, thương mại và đầu tư, nhưng cũng mang lại nhiều thách thức mới, bao gồm sự thiếu tiến bộ trong việc giải quyết quyền sở hữu nhà nước về kinh tế, tăng năng suất, và phát triển một khu vực tư nhân có sức cạnh tranh. Kết quả là nền kinh tế nước này phải gánh chịu tình trạng thiếu khu vực tư nhân hiệu quả.

Trọng tâm của sức hấp dẫn ban đầu của TPP – ngoài quyền tiếp cận mới tới thị trường Mỹ cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam – còn là một cách để biện minh cho việc giải quyết các thách thức này. Trong bối cảnh lịch sử kinh tế của Việt Nam, các thỏa thuận từ bên ngoài như vậy đã được dùng để hỗ trợ thực hiện thay đổi khó khăn ở trong nước. Kết quả là, thông tin sau hội nghị cấp cao APEC rằng TPP-11 đã nhất trí về nguyên tắc các khía cạnh cốt lõi của một thỏa thuận – đổi tên thành CPTPP – đã là một bước đi tích cực đối với Việt Nam.

Mặc dù các lợi ích mà Việt Nam có thể mong đợi trong khuôn khổ hiệp định 11 nước này không to lớn như khi Mỹ cùng tham gia, nhưng họ vẫn sẽ hưởng lợi từ các cơ hội thương mại mở rộng, nhiều nguồn đầu tư hơn và quân trang cũng được bổ sung để giải quyết một số thách thức gai góc trong nền kinh tế trong nước. Có lẽ quan trọng nhất là Việt Nam sẽ là một phần trong cái có khả năng trở thành mảnh ghép chính trong cấu trúc tự do hóa thương mại đa phương trong tương lai ở khu vực. Mặc dù không phải liều thuốc chữa bách bệnh, nhưng một khuôn khổ như CPTPP dựa trên các thể chế và tiêu chuẩn về chất lượng trong nước sẽ giúp Việt Nam đối phó với các thách thức kinh tế cấp bách nhất của mình.

Hành trình kinh tế của Việt Nam

Việt Nam là mọt trong những nước có thành tích kinh tế nổi bật ở Đông Nam Á. Nước này có nền tảng căn bản mạnh mẽ với nhân khẩu học thuận lợi, phân phối thu nhập tốt và nguồn nhân lực hấp dẫn so với các nước tương tự. Với dân số hơn 90 triệu người và một tầng lớp trung lưu đang gia tăng, Việt Nam đang ngày càng trở thành một thị trường hấp dẫn bằng thực lực của mình.

Tất cả điều này được phản ánh trong thành tích kinh tế ấn tượng của Việt Nam. Nước này được quảng bá một cách chính đáng như là bằng chứng về những lợi ích tiềm năng dành cho những nước đang phát triển lựa chọn mở cửa và thương mại. Trong những năm 2000, GDP bình quân đầu người của Việt Nam tăng trung bình 7,9%/năm. Từ năm 2010, tỷ lệ tăng trưởng hành năm đạt mức trung bình 6,5%/năm và năm 2016 đạt 6,4%. Sau khi gia nhập WTO, tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đã tăng hơn gấp 3 lần từ 45 tỷ USD năm 2006 lên đến 190 tỷ USD vào năm 2016. Cùng kỳ, thương mại hàng hóa như một phần của GDP đã tăng từ 127% năm 2006 lên đến 173% năm 2017.

Sự phụ thuộc vào thương mại của Việt Nam không đứng quá xa đằng sau nền kinh tế Singapore (206% GDP) và vượt xa các nước trong khu vực như Malaysia (120%), Thái Lan (100%) và Indonesia (30%).

Một loạt 16 thỏa thuận thương mại tự do (FTA) đã giúp Việt Nam gắn kết sâu sắc trong chuỗi giá trị toàn cầu. Sự ổn định chính trị của Việt Nam, chi phí nhân công thấp, các điều kiện ưu đãi về thuế và đầu tư cùng với các FTA đã khiến nước này nổi lên như là một nước xuất khẩu hấp dẫn đối với các thị trường phát triển hơn. Việt Nam đã thu hút được lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bao gồm kỷ lục 15,8 tỷ USD trong năm 2016, tăng 9% so với năm 2015. Các công ty đa quốc gia về công nghệ như Intel và Samsung, lắp ráp gần 1/3 số điện thoại thông minh ở Việt Nam, là những nhà đầu tư lớn ở nước này. Điện thoại di động và các phụ tùng có liên quan hiện chiếm tới 20% hàng xuất khẩu của Việt Nam. Nước này cũng là nhà cung cấp hàng may mặc lớn thứ 2 cho Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Sự lớn mạnh của các cơ chế về gái và thị trường này không phải là sản phẩm của một giai đoạn “cải cách” duy nhất. Thay vào đó, đây là sự tích lũy thay đổi dần dần trong vòng 3 thập kỷ. Các nhà hoạch định chính sách đã áp dụng một cách tiếp cận thực tế để đưa vào các tính năng thị trường và nới lỏng sự kiểm soát của việc kế hoạch hóa tập trung. 3 đặc điểm nổi bật là: tạo điều kiện cho thương mại và chuỗi giá trị toàn cầu để thúc đẩy xuất khẩu; triển khai các cam kết bên ngoài để ổn định các cải cách đã được nhất trí trong nước; và tái cơ cấu nền kinh tế chính trị hiện thời trong khi không làm ảnh hưởng đến các cấu trúc quyền lực chi phối khác.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.lowyinstitute.org/publications/missing-middle-political-economy-economic-restructuring-vietnam

TKNB – 26/02/2018

Văn bản TTP cuối cùng – thách thức đối với Việt Nam và hy vọng chiếc vé thứ 12 từ Mỹ


Theo đài RFA, văn bản chi tiết cuối cùng của Hiệp định thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), giờ gọi là Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã được New Zealand công bố vào ngày 21/2.

Với TPP mới, Việt Nam sẽ đối mặt với những cơ hội và thách thức gì? Và liệu có hy vọng Mỹ sẽ quay trở lại TPP hay không?

Bản quyền, thách thức cho Việt Nam

Cuối cùng thì các quốc gia thành viên của TPP đã có thể thở phào nhẹ nhõm khi ông David Parker, Bộ trưởng Thương mại New Zealand cho biết TPP-11 sẽ được chính thức ký vào ngày 8/3 tới tại Santiago (Chile).

Ngày 21/2, AFP dẫn lời ông David Parker cho biết trong phiên bản công bố cùng ngày có hơn 20 điều khoản trong TPP cũ bị đình chỉ hoặc thay đổi, bao gồm cả các quy định xoay quanh việc sở hữu trí tuệ và trợ cấp của người đóng thuế.

Tiến sĩ Kinh tế Ngô Trí Long cho rằng so với bản thỏa thuận TPP cũ thì nội dung cuối cùng của TPP-11 không thay đổi nhiều, đặc biệt đối với Việt Nam: “Trong điều kiện hội nhập, đó là một xu thế không thể cưỡng lại được. Hiệp định này khi được thực thi, so với hiệp định cũ có mở ộng thêm là “Toàn diện và tiến bộ”, còn tất cả những điều kiện, so với khi có Mỹ thì chắc chắn thay đổi nhiều, chủ yếu trong phạm vi hẹp hơn khi Mỹ không tham gia. Những điều này Việt Nam cũng đã cân nhắc rất nhiều”.

Tiến sĩ kinh tế Lê Đăng Doanh, hiện là thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển Liên hợp quốc, nói rằng trong 20 điểm bảo lưu đó, chủ yếu là các vấn đề về sở hữu trí tuệ, tức là bảo đảm tôn trọng các quyền phát minh, thương hiệu, nhãn mác của các nước: “Trong 20 điểm còn lại và bảo lưu để tiếp tục thảo luận chủ yếu là những vấn đề sở hữu trí tuệ, tức là bảo đảm tôn trọng các phát minh, nhãn hiệu của các nước”.

Nói thêm về vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ, Tiến sĩ Ngô Trí Long cho biết: “Vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ từ trước đến nay vốn là một thách thức và khó khăn đối với Việt Nam. Tuy nhiên, một khi Việt Nam đã cam kết trong nội dung TPP cũ thì những trở ngại đó đã được lường trước và có khả năng thực thi, không phải là trở ngại quá lớn”.

Theo nội dung ghi trong bản thỏa thuận TPP, vấn đề sở hữu bản quyền được đề cập chi tiết về vi phạm và chế tài, cụ thể ở Điều 18.7, là điều khoản về “Trình tự, thủ tục và biện pháp dân sự và hành chính”. Mỗi bên phải quy định các cơ quan tư pháp sẽ có thẩm quyền áp dụng các biện pháp chế tài theo quy định tại Điều 44 của Hiệp định TRIPS, là Điều ước quốc tế đa phương về sở hữu trí tuệ, thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được ký kết vào ngày 15/12/1993, có hiệu lực từ ngày 1/1/1995, một trong các hiệp định cơ bản của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Rất nhiều biện pháp chế tài được đề ra trong Điều khoản này, chẳng hạn quy định cụ thể về số tiền đảm bảo đủ thanh toán thiệt hại gây ra bởi hành vi xâm phạm đó cho bên nắm giữ quyền và nhằm mục đích ngăn ngừa các hành vi xâm phạm khác diễn ra trong tương lai.

Hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ diễn ra thường xuyên và là một vấn đề phức tạp ở Việt Nam trong nhiều năm qua. Giữa năm 2016, tin trong nước cho biết lực lượng chức năng liên ngành đã phạt tiền gần 97 tỷ đồng, khởi tố hơn 380 vụ vi phạm sở hữu trí tuệ xảy ra ở Việt Nam.

Hy vọng chiếc vé thứ 12 từ Mỹ

Reuters và các hãng thông tấn nước ngoài khác như AP đều ghi nhận rằng văn bản cuối cùng của TPP-11 như một đánh dấu thúc đẩy đáng kể Mỹ tái gia nhập TPP.

Ngày 10/11/2017, tại Đà Nẵng, Tổng thống Mỹ Donald Trump có bài phát biểu trước các lãnh đạo và doanh nhân tham dự APEC. Ông nhấn mạnh rằng: “Nước Mỹ sẽ không tiếp tục dung thứ cho hành vi lấy cắp quyền sở hữu trí tuệ một cách trắng trợn. Nước Mỹ sẽ đối đầu với những thủ đoạn ép buộc các doanh nghiệp trao công nghệ cho nhà nước và buộc họ phải tham gia vào các liên doanh để đổi lấy quyền thị trường”. Trong một bài phát biểu ở Davos (Thụy Sĩ) nhân chuyến công du 2 ngày đến quốc gia này, Tổng thống Trump có nhắc đến vấn đề TPP. Ông nói: “Chúng tôi đã có các thỏa thuận với một số nước trong TPP. Nước Mỹ sẽ đàm phán với những quốc gia còn lại, từng nước một hoặc một nhóm nước, miễn là lợi ích chia đều cho tất cả”.

Tờ Washington Post ngày 20/2 cho biết có 25 Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đã gửi thư cho Tổng thống Trump thúc giục suy nghĩ lại về TPP, kêu gọi những động thái cải cách tích cực cho phép Mỹ tham gia hiệp định. Bức thư nêu rõ: “Tăng cường hợp tác kinh tế với 11 quốc gia gia nhập TPP sẽ là tiềm năng cải thiện đáng kể khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Mỹ, hỗ trợ hàng triệu việc làm cho người Mỹ, tăng năng suất xuất khẩu của Mỹ và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng”.

Tuy nhiên, chưa có thông tin về phản hồi của Tổng thống Trump. Chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn cũng khẳng định những nỗ lực của 11 quốc gia thành viên còn tại của TPP là mong muốn Mỹ tái gia nhập: “11 nước thành viên TPP còn lại khi đồng thuận để thông qua và triển khai TPP mới đều có một kỳ vọng chung là nước Mỹ sẽ có một thời điểm nào đó hồi tâm trở lại và tái gia nhập TPP”.

Theo ông, nếu điều đó xảy ra, nghĩa là nếu Mỹ quay lại, thì TPP sẽ sống động hơn và sẽ tạo động lực cũng như những điều kiện thương mại thuận lợi hơn. Tuy nhiên, sự đồng thuận đó, theo ông, phải phụ thuộc vào điều kiện nội bộ chính trị của mỗi nước.

Tiến sĩ Ngô Trí Long cho rằng Mỹ là nền kinh tế đầu tàu, nắm giữ vai trò quan trọng nhất trong 12 nước thành viên TPP. GDP của Mỹ chiếm 60% GDP của TPP.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cũng có quan điểm tương đồng. Ông cho biết những điều quy định lại của CPTPP hoàn toàn giữ nguyên tinh thần đã đạt được trong cuộc đàm phán trước đây: “11 nước đều thầm lặng hy vọng rằng sẽ có một ngày nào đó, Mỹ sẽ trở lại hiệp định này vì hiệp định cũng có lợi cho Mỹ”.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Ngô Trí Long không nghĩ rằng Tổng thống Trump sẽ trao cho TPP chiếc vé thứ 12. Ông nói tư tưởng “Nước Mỹ vĩ đại” của ông D. Trump sẽ không thể phù hợp với xu thế hội nhập.

Nguồn: TKNB – 26/02/2018

Lo ngại Trung Quốc tiếp tục dấn sâu vào cơ sở hạ tầng Việt Nam


Báo chí Mỹ vào đầu tháng 2 cho biết, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã rút đơn xin vay vốn tài trợ từ Ngân hàng xuất khẩu Mỹ US Ex-Im Bank, cho dự án nhà máy điện chạy bằng than Long Phú 1 ở tỉnh Sóc Trăng.

Theo thông tin từ Bộ Công thương Việt Nam, dự án này đang rất thiếu vốn và tiến độ thi công đang chậm so với dự tính là 400 ngày.

Mối lo ngại Trung Quốc

Thông tin về việc Tập đoàn Dầu khí rút lại đơn vay tiền từ US Ex-Im Bank làm dấy lên sự lo ngại từ một số chuyên gia và nhà quan sát quan tâm đến vấn đề môi trường, họ lo rằng Trung Quốc sẽ “nhảy” vào thay thế.

Kỹ sư PHạm Phan Long, một trong những người sáng lập tổ chức Viet Ecology tại Mỹ, quan tâm về vấn đề môi trường, nói với chúng tôi rằng: “Vấn đề bế tắc về tài chính đối với ngân hàng Mỹ có thể đưa đến một tình trạng xấu hơn cho nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long, lý do là Ngân hàng đầu tư phát triển hạ tầng châu Á (AIIB) của Trung Quốc có rất nhiều tiền, có rất nhiều lý do để Trung Quốc vào thế chỗ tài trợ cho dự án này”.

Ông Long cho rằng với một số vốn lớn tài trợ cho dự án, Trung Quốc sẽ nhân cơ hội đó đem vào các máy móc cũ ký gây tai hại cho môi trường, cũng như sẽ đem công nhân dư thừa của họ sang Việt Nam làm việc.

Chia sẻ lo ngại này với Kỹ sư Phạm Phan Long, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Đại học Cần Thơ, nói: “Tôi cũng đang lo như vậy, vì đây là một bài học từ Duyên Hải, Trà Vinh. Trung Quốc vào xây dựng, ngoài chuyện công nghệ lạc hậu, họ còn đưa công nhân Trung Quốc qua, làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội ở đó”.

Trung tâm nhiệt điện chạy bằng than Duyên Hải được xây dựng ở tỉnh Trà Vinh, do Trung Quốc cung cấp đến 85% vốn đầu tư. Vào năm 2014, dự án này được báo mạng VNexpress liệt kê là 1 trong 10 dự án lớn nhất của Trung Quốc ở Việt Nam. Sau khi nhà máy đi vào hoạt động vào năm 2016 cho đến nay, nông dân và ngư dân xung quanh liên tục phàn nàn về khói bụi và xỉ than của nhà máy đã gây hư hại cho hoa màu và hải sản của họ.

Tuy nhiên, một chuyên gia về ngân hàng hiện đang làm việc ở Việt Nam là ông Nguyễn Trí Hiếu không bi quan lắm với khả năng AIIB mà Trung Quốc nắm cổ phần chính, sẽ tài trợ dự án Long Phú 1: “Đây là một định chế tài chính liên quốc gia, chứ không phải là một định chế tài chính thương mại, nên hy vọng rằng họ cũng sẽ có những tiêu chí khắt khe, chặt chẽ trong việc xét đơn của bất cứ chính phủ nào, trong đó có Chính phủ Việt Nam, cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho quốc gia đó”.

Dù vậy, ông cũng đồng ý rằng, cũng giống như các định chế tài chính Mỹ và châu Âu, khi tài trợ cho dự án phát triển nào ở nước ngoài cũng sẽ quy định rằng dự án đó phải mua một số lượng tối thiểu nào đó các máy móc của Mỹ và châu Âu. Do vậy, ông Hiếu nói rằng nếu AIIB tài trợ dự án Long Phú 1 thì khả năng bắt buộc phải mua máy móc của Trung Quốc là rất cao.

AIIB được Trung Quốc thành lập vào năm 2014 tại Bắc Kinh, hiện có 57 quốc gia thành viên, được cho là được Bắc Kinh thành lập để cạnh tranh với các định chế tài chính của Mỹ và Nhật Bản như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Hiện chưa có thông tin về những dự án tại Việt Nam do ngân hàng này tài trợ nhưng ngân hàng này đã tài trợ cho các dự án tại Indonesia, Bangladesh, Pakistan.

Thoe một bản tin đăng trên Tạp chí Năng lượng Việt Nam vào năm 2013, mức độ tối thiểu phải mua máy móc do Trung Quốc sản xuất trong các dự án do họ tài trợ là 60%.

Lý do của việc rút đơn xin tài trợ từ US Ex-Im Bank

Tại sao chủ đầu tư của dự án Long Phú 1 là Tập đoàn dầu khí Việt Nam lại rút đơn vay vốn? Kỹ sư Phạm Phan Long, có thể có những lý do như sau: “Theo nhận xét của tôi thì Chính phủ Trump chưa tổ chức ban lãnh đạo ngân hàng Eximbank để nó hoạt động bình thường. Nếu tôi không lầm thì đến giờ này vẫn có những vị trí chưa được bổ nhiệm, nên họ đang có những vấn đề trì trệ, không cứu xét hồ sơ một cách nhanh chóng. Điều thứ hai là ngân hàng này có những điều kiện về ô nhiễm, về rủi ro, và khả năng của bên đối tác, cho nên những điều kiện đó cũng bất tiện và khó khăn, khiến cho phí Việt Nam phải rút ra”.

Ông Long có gửi thư đến ngân hàng US Ex-Im Bank để hỏi về việc phía Việt Nam rút đơn thì được ngân hàng xác nhận, nhưng không cho biết lý do.

Theo thông tin từ báo chí Mỹ, ngay khi Việt Nam nộp đơn xin vay vốn, ngân hàng US Ex-Im Bank đã nói rằng họ sẽ quan tâm đến nhưng lo ngại về vấn đề quản lý yếu kém gây ra một đại án tham nhũng ở Tập đoàn dầu khí Việt Nam, trong đó người cựu chủ tịch là ông Đinh La Thăng.

Trước đó, báo chí Việt Nam cũng đưa tin một quan chức của ngành dầu khí là ông Nguyễn Quốc Khánh đã có sai phạm nghiêm trọng liên quan đến việc chỉ định thầu cho dự án Long Phú 1 nhưng không nêu rõ chi tiết.

Những quan ngại về môi trường chưa chấm dứt

Dự án Long Phú 1 có công suất đến 1200 MW, nằm trong một cụm năng lượng gọi là Long Phú với 3 nhà máy, và những nhà máy này nằm trong tổng số 14 nhà máy điện chạy bằng than đá, đang và sẽ được xây dựng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Theo thông tin từ ngành điện Việt Nam, vào năm 2030, lượng điện do các nhà máy chạy bằng than cung cấp sẽ chiếm đến 55% tổng sản lượng điện Việt Nam.

Các dự án này gây nên nhiều chỉ trích từ những nhà khoa học và các chuyên gia về môi trường trước nguy cơ gây ô nhiễm quá lớn của chúng, đặc biệt mạnh mẽ là từ hai tổ chức Liên minh năng lượng Việt Nam và Turng tâm sáng tạo xanh, lo ngại về lượng khí thải và bụi than của các nhà máy này.

Trước khi nộp đơn xin US Ex-Im Bank tài trợ, theo báo chí Mỹ, Tập đoàn dầu khí Việt Nam cũng đã nộp đơn xin một ngân hàng ở Anh tài trợ nhưng bị từ chối vì dự án này dùng nhiên liệu than, gây ô nhiễm môi trường. Cũng trong tháng 2/2018, một tổ chức dân sự tại Việt Nam là CHANGE cũng đã vận động các ngân hàng tại Singapore không tài trợ cho các dự án điện than tại Việt Nam.

Mặc dù vậy, theo Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, các quyết định của chính phủ Việt Nam cho đến nay vẫn nghiêng về xây dựng các nhà máy điện chạy than hơn là các trung tâm năng lượng tái tạo không gây ô nhiễm: “Những người tôi tiếp xúc ở Bộ Công thương hay Viện Năng lượng là những người đã lớn tuổi và ngày xưa họ học bên Nga là nhiều. Họ vẫn nghĩ rằng năng lượng tái tạo là đắt tiền, đầu tư trên 1 KWh điện sẽ cao hơn là điện than. Họ cũng nói rằng bây giờ có những kỹ thuật mới, chẳng hạn như siêu tới hạn để bớt ô nhiễm, và có thể sử dụng tro xỉ để làm gạch”.

Ông Tuấn nói tiếp là những lý do mà những nhà quyết định chính sách đưa ra để biện minh cho việc xây nhà máy điện chạy than là không đứng vững, vì loại kỹ thuật gọi là siêu tới hạn khi đốt than là rất đắt tiền, và nhất là họ khôn tính tới những chi phí môi trường phát sinh sau đó khi các nhà máy điện than đi vào hoạt động, như trường hợp ở Vĩnh Tân, tỉnh Bình Thuận và Duyên Hải ở tỉnh Trà Vinh.

Nguồn: RFA

TKNB – 26/02/2018

Việt Nam đẩy nhanh cổ phần hóa các tập đoàn nhà nước


Xu hướng rõ rệt nhất của tình hình kinh tế Việt Nam năm 2018 có lẽ là tiến trình thoái vốn các tập đoàn Nhà nước sẽ được đẩy nhanh, trong nỗ lực của chính phủ nhằm mở cửa hơn nữa nền kinh tế và bù đắp ngân sách Nhà nước do nợ công đang tăng cao một cách đáng ngại.

Năm 2017 đã kết thúc với vụ thoái vốn đáng chú ý tại tập đoàn Sabeco (Tổng Công ty Cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn), tập đoàn nổi tiếng với 2 thương hiệu bia 333 và bia Saigon. Bộ Công Thương đã thoái 53,59% vốn Nhà nước tại Sabeco, thu về cho Nhà nước 4,8 tỷ USD. Đây là vụ thoái vốn lớn nhất từ trước đến nay trên thị trường Việt Nam.

Theo nhận định của trang mạng The Diplomat ngày 21/12/2017, việc bán cổ phần ở Sabeco là bước lớn đầu tiên trong kế hoạch thoái vốn Nhà nước từ các tập đoàn nhằm đẩy nhanh tiến trình tự do hóa nền kinh tế Việt Nam. Đây được coi như chính sách “Đổi Mới lần thứ hai”.

Chuyên gia tài chính Huỳnh Bửu Sơn cho rằng, nếu thành công thì kế hoạch thoái vốn Nhà nước từ các tập đoàn sẽ có tác động tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam. Ông Sơn cho biết: “Trước đây, chính phủ nào cũng đều có kế hoạch đẩy mạnh cổ phần hóa. Tuy nhiên, trong nhiều năm, tiến trình cổ phần hóa này hơi chậm. Nguyên nhân đầu tiên là phần lớn chương trình cổ phần hóa muốn đưa những doanh nghiệp Nhà nước lằm ăn không hiệu quả vào cổ phần hóa.

Việc cổ phần hóa những doanh nghiệp không hiệu quả như vậy dĩ nhiên không được sự hoan nghênh của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như nhà đầu tư trong nước. Do đó tiến trình này bị chậm. Còn những công ty Nhà nước làm ăn có lãi thì lại không đặt vấn đề cổ phần hóa. Ngay cả ban giám đốc những công ty đó cũng viện lý do đây là công ty đang làm ăn hiệu quả thì tại sao lại cổ phần hóa. Cho đến gần đây, khi có chính phủ mới, việc đẩy mạnh cổ phần hóa mới rõ nét.

Nguyên nhân thứ hai là trong thời gian trước đây, khi chúng ta phát triển những tập đoàn Nhà nước có vị trí rất quan trọng, thì song song với việc phát triển những tập đoàn đó theo chiều dọc cũng như chiều ngang, các tập đoàn đó cũng đã phải vay một số nợ rất lớn từ nước ngoài, góp phần làm tăng nợ công. Nay tình hình đã trở nên cấp bách, cần phải giải quyết bài toán đó, do đó, dẫn đến việc cổ phần hóa những doanh nghiệp làm ăn hiệu quả như Vinamilk và gần đây là Sabeco.

Việc bán các cổ phiếu của Sabeco là một thành công lớn, được giá rất tốt và nhận được một số tiền cao, hơn 4 tỷ USD. Chuyên gia Huỳnh Bửu Sơn cho rằng cũng sẽ là một sự khởi đầu để chính phủ tiếp tục cổ phần hóa những tập đoàn Nhà nước có vị trí then chốt hơn trong nền kinh tế, mà không phải là những vị trí có tính chất an ninh quốc gia. Theo ông, trong lĩnh vực thương mại hay dịch vụ cũng nên đẩy mạnh cổ phần hóa để thu về ngân sách một số tiền lớn, hỗ trợ cho việc trả nợ nước ngoài, giảm bớt số nợ công quốc gia.

Ông Sơn cho biết thành công của việc thoái vốn tùy thuộc vào việc chọn lựa tập đoàn: hoạt động trong lĩnh vực nào, hiệu quả đến mức nào, cách đánh giá tập đoàn đó như thế nào, chọn người nào để đi thương thảo cho việc thoái vốn. Đây là một kế hoạch phải được nghiên cứu cẩn thận và phải có những người chuyên môn trng lĩnh vực này được hỗ trợ bán được cho đúng đối tượng, với giá phù hợp cũng như tốt cho chính phủ Việt Nam.

Đặc biệt là lựa chọn những tập đoàn nào làm ăn hiệu quả cũng như tính toán tỷ lệ nào để bán ra và các nhà đầu tư chiến lược nào có thể tham gia. Đây là những vấn đề phải nghiên cứu kỹ để bảo đảm thành công cho việc thoái vốn Nhà nước.

Khi muốn mua cổ phần của một tập đoàn, các nhà đầu tư phải xem tập đoàn đó có làm ăn hiệu quả không, cũng như được định giá trị tài sản của tập đoàn đó. Việt Nam vẫn thiếu minh bạch thông tin về vấn đề này. Trước đây, một số tập đoàn lớn khi chưa chuẩn bị để bán cổ phiếu ra thị trường thì đương nhiên họ không có nhu cầu để công bố thông tin. Tuy nhiên, một khi đã có quyết định bán cổ phiếu ra thị trường thì việc công bố thông tin các hoạt động, ít nhất trong 3 năm của tập đoàn là một việc hết sức cần thiết để cho các nhà đầu tư có đủ thông tin khi quyết định.

Đây cũng là một cơ hội. Việc công khai hóa những thông tin chính xác, không chỉ của các tập đoàn lớn, mà của các doanh nghiệp quốc doanh trong chương trình cổ phần hóa, cũng như của các doanh nghiệp tư nhân, để làm rõ ràng hơn, minh bạch hơn nền kinh tế Việt Nam dưới con mắt của các nhà đầu tư nước ngoài. Đây là một điều tốt không những cho doanh nghiệp Việt Nam, mà cả nền kinh tế Việt Nam.

Việc thoái vốn Nhà nước sẽ có tác động rất tích cực. Như kinh nghiệm trước đây của Trung Quốc, đối với doanh nghiệp, họ chú trọng đến “sở tại” hơn “sở hữu”, vì doanh nghiệp đặt ở đâu, ở nước nào, sử dụng lao động, nguồn nguyên liệu ở đâu mang tính chất quyết định tới nền kinh tế của nước đó.

Nếu các doanh nghiệp ở Việt Nam mở rộng được cánh cửa để các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, có thể tiếp nhận không chỉ nguồn vốn, mà cả những kỹ năng quản trị, tiếp thị, công nghệ. Đây là một điều tốt, làm tăng hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam. Nếu các doanh nghiệp đó làm ăn hiệu quả, có nghĩa là sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng lên, góp phần lớn vào phát triển kinh tế và tăng GDP của Việt Nam.

Nguồn: RFI

TKNB – 24/01/2018

Mỹ có thể áp dụng thuế 106% đối với nhôm Trung Quốc xuất khẩu qua Việt Nam


Theo tờ Wall Street Journal, ngày 9/1, Hiệp hội các nhà sản xuất nhôm Mỹ (AEC) đang tìm kiếm các biện pháp bảo hộ nhằm ngăn chặn nhôm xuất khẩu từ Trung Quốc với cáo buộc cho rằng tập đoàn Zhongwang Holdings và các công ty con của Zhongwang để né tránh các loại thuế chống trợ cấp và chống bán phá giá bằng cách chuyển nhôm qua Việt Nam để xuất khẩu sang Mỹ.

Hãng tin Reuters (Anh) ngày 10/01 trích dẫn hồ sơ kiện của AEC gửi cho Bộ Thương mại Hoa Kỳ nói rằng các sản phẩm nhôm là của Tập đoàn Zhongwang đã được nhập vào Việt Nam thông qua công ty con là Công ty TNHH nhôm toàn cầu Việt Nam để hợp thức hóa trước khi xuất khẩu sang Mỹ. Hãng tin Reuters trích hồ sơ vụ kiện này nói AEC đã cung cấp bằng chứng cho thấy công ty con của Zhongwang tại Việt Nam đã thay đổi hình dạng các sản phẩm nhôm ép của Trung Quốc một cách không đáng kể, sau đó nói số nhôm này có nguồn gốc từ Việt Nam.

Chủ tịch AEC Jeff Henderson cho biết đây là những hoạt động cố ý nhằm trốn thuế, việc xâm nhập thị trường một cách bất bình đẳng của nhôm Trung Quốc cần phải được ngăn chặn. Vụ kiện chống bán phá giá diễn ra sau khi Mỹ có một loạt động thái nhằm ngăn chặn nhôm nhập khẩu từ Trung Quốc bao gồm áp thuế sơ bộ đối với giấy bạc và điều tra các tấm hợp im nhôm nhập từ Trung Quốc.

Tập đoàn Zhongwang nói với Reuters rằng “các cáo buộc này là không có căn cứ”.

Trong thư gửi Bộ Thương mại Mỹ, các nhà sản xuất nhôm Mỹ cho biết, họ đã đề xuất việc áp thuế đối với các sản phẩm của Công ty nhôm toàn cầu Việt Nam – công ty con của tập đoàn Zhongwang tương tự như mức thuế nhập khẩu Mỹ đã áp dụng đối với nhôm nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo Bộ Thương mại Mỹ, mức thuế hiện tại áp dụng đối với nhôm nhập khẩu từ Trung Quốc là 106%.

Đơn đề nghị được gửi đi sau khi Mỹ đưa ra hàng loạt rào cản nhằm vào nhôm Trung Quốc, trong đó có mức thuế sơ bộ mà Bộ Thương mại áp dụng đối với các phôi nhôm của Trung Quốc và cuộc điều tra hiếm hoi của chính phủ Mỹ nhằm vào các sản phẩm nhôm tấm xuất khẩu từ Trung Quốc. Bộ Thương mại Mỹ dự kiến sẽ gửi khuyến nghị lên Tổng thống Donald Trump vào ngày 22/1, liên quan đến kết quả điều tra theo “mục 232” về các sản phẩm nhôm nhập khẩu từ nước ngoài. Trước đó, ngày 16/1, Bộ Thương mại Mỹ cũng sẽ gửi khuyến nghị lên Tổng thống Trump liên quan đến kết quả điều tra các sản phẩm sắt thép nhập khẩu vào Mỹ. Tổng thống Donald Trump từng cho biết ông đang cân nhắc các biện pháp hạn chế nhập khẩu nhôm với lý do “bảo vệ an ninh quốc gia”. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu các kết quả điều tra trên có được công bố ngay hay không.

Thặng dư trong sản xuất 2 loại sản phẩm trên của Trung Quốc đã gây ra quan ngại lớn cho cả Mỹ và châu Âu, buộc Mỹ và châu Âu phải xem xét các bước đi mới nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp và bảo vệ việc làm trong nước của họ trước các dòng hàng nhập khẩu lớn từ Trung Quốc.

Hồi tháng 6 vừa qua, Bộ Thương mại Mỹ cũng đã đề xuất việc áp các loại thuế trên đối với các tấm nhôm đúc sẵn nhập khẩu từ Trung Quốc sau khi cho rằng các mặt hàng này đã được nhập khẩu vào Mỹ thông qua đường trốn thuế. Bộ Thương mại Mỹ cũng đã áp dụng các loại thuế tương tự nhằm vào các sản phẩm thép nhập khẩu vào Mỹ. Tháng 12/2017, cơ quan này đã áp thuế cao đối với các sản phẩm thép nhập khẩu từ Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Trao đổi với VOA tiếng Việt, chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn nói rằng động thái này chắc chắn sẽ gây thiệt hại cho các công ty Việt Nam. Tuy nhiên, các biện pháp bảo vệ của AEC là rất “hợp lý” do Mỹ nhằm vào đó thủ thương mại Trung Quốc. Ông nói: “Tất cả doanh nghiệp Việt Nam đều hiểu rằng Hoa Kỳ áp thuế này không nhằm mục đích đối phó với hàng xuất khẩu có xuất xứ từ Việt Nam mà là có xuất xứ từ Trung Quốc, nhằm tránh việc các doanh nghiệp Trung Quốc mượn con đường xuất khẩu từ Việt Nam để né thuế nhập khẩu của Mỹ. Tôi thấy việc làm của chính phủ Mỹ như vậy là hợp lý”.

Ông Huỳnh Bửu Sơn nói rằng việc Việt Nam làm rõ xuất xứ nhôm là điều rất quan trọng: “Việc chứng nhận xuất xứ những mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam cần phải xác minh lại, chủ yếu là từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam”.

Trước đó, vào tháng 6/2017, bà Vũ Thị Thu Hà, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chi nhánh Vũng Tàu, xác nhận với báo chí rằng đơn vị này đã dừng cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa đối với sản phẩm nhôm của Công ty nhôm toàn cầu Việt Nam.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh từng nói: “Nếu nhôm Trung Quốc đội lốt nhôm Việt Nam thì đó là một tín hiệu hết sức xấu và nguy hiểm”.

Tháng 5/2017, truyền thông trong nước đăng tin một đoàn kiểm tra của 3 bộ – Công thương, Tài chính và Kế hoạch – Đầu tư đã tiến hành kiểm tra tại Công ty nhôm toàn cầu Việt Nam, có trụ sở tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, nhiệm vụ của đoàn kiểm tra là tìm hiểu việc vận chuyển nhôm có nguồn gốc Trung Quốc vào Việt Nam.

Một phóng sự điều tra của tờ Wall Street Journal vào cuối năm 2016 đã phát hiện một số lượng lớn hàng phôi nhôm được phủ bạt đen, canh giữ bởi nhân viên an ninh tuần tra bằng xe máy, mang theo dùi cui ở một nhà máy trong khu cảng Vũng Tàu. Theo nguồn tin này, hàng loạt động thái bất thường trong xuất nhập khẩu nhôm giữa Trung Quốc, Mỹ, Mexico và Việt Nam có liên quan tới tỷ phú Trung Quốc Liu Zhongtian – người được cho là đang giấu 1 triệu tấn nhôm trị giá 2 tỷ USD để thao túng thị trường.

Theo Dịch vụ thông tin thương mại toàn cầu (GTIS) chuyên theo dõi các hoạt động thương mại trên thế giới, Việt Nam là đích đến của 91% lượng xuất khẩu phôi nhôm.

Nguồn: TKNB – 12/01/2018