Kinh tế thị trường kiểu Việt Nam có giúp phát triển “ngoạn mục”?


Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, kiêm Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trương Minh Tuấn vừa có bài viết đăng trên báo Thanh niên hôm 6/6 nói rằng kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã tạo ra những phát triển ngoạn mục cho đất nước. Giới quan sát nghĩ gì về nhận định này?

Phát triển là nhờ KTTT định hướng XHCN?

Trong bài viết, Bộ trưởng Trương Minh Tuấn nhận định: “Thực tế cho thấy hơn 30 năm vận hành của KTTT định hướng XHCN đã tạo ra sự phát triển ngoạn mục của đất nước. Công cuộc Đổi mới nhanh chóng đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, duy trì tốc độ tăng trưởng vào hàng cao trên thế giới”.

Bộ trưởng TTTT còn đưa ra số liệu cho thấy GDP Việt Nam tăng 37 lần, từ 5,5 tỷ USD năm 1988 lên 205,32 tỷ USD năm 2016. Cũng theo ông, từ năm 1993 đến năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% xuống chỉ còn 8,3%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Philippines, Ấn Độ và thấp hơn cả Thái Lan, Indonesia.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) đã giải thể, công nhận rằng nền kinh tế Việt Nam trong 30 năm qua đạt được một số bước phát triển mà ông đánh giá là khá. Nhưng ông không cho rằng đó là công lao của nền KTTT định hướng XHCN. Ông nói: “Toàn bộ cái gọi là công cuộc Đổi mới trong thời gian vừa qua thực chất không có gì là đổi mới cả. Đảng Cộng sản Việt Nam đã buộc phải trả lại cho người dân một số quyền về kinh tế của họ, nhưng không phải là tất cả. Đấy là động lực chính cho sự phát triển kinh tế trong thời gian 30 năm qua ở Việt Nam. Hay nói cách khác là tiềm năng, lòng hăng say của người Việt Nam đã bị tước đoạt một thời gian dài. Đến khi họ nhận thấy rằng nếu tiếp tục như vậy thì bản thân họ không còn đường mà sống nên họ trả lại cho người dân những quyền làm kinh tế, từ nông nghiệp cho đến quyền làm kinh doanh”.

Trong bài viết của mình, ông Trương Minh Tuấn nói rằng yếu tố quan trọng nhất của định hướng XHCN trong KTTT là vai trò lãnh đạo của Đảng. Theo ông Đảng đại diện cho lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân và không có lợi ích riêng mình. Tuy nhiên, trong một bài viết có tựa “Cần hiểu đúng để không làm sai” đăng trên VietnamNet hô 5/5, Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó ban Tuyên giáo Trung ương, nói: “Sự lãnh đạo và quản lý chưa thể là một đặc điểm của nền kinh tế sẽ hình thành trong thực tế một cách khách quan, nó không phải là sự lãnh đạo và quản lý của ai, mà là kết quả của sự lãnh đạo và quản lý ấy thế nào”.

Ông nói rõ vai trò của Nhà nước trong nền KTTT không phải là để kinh doanh, cũng như không để các cơ quan hành chính tham gia kinh doanh. Mà theo ông, nhiệm vụ của Nhà nước là “tạo điều kiện cho mọi chủ thể trong xã hội được kinh doanh thuận lợi, bình đẳng thật sự, không bị thị trường ngầm, không có buôn gian bán lận, càng không để cho cán bộ nhà nước và các “nhóm lợi ích” tham gia hoạt động”.

“Tốt khoe, xấu che”?

Ông Trương Minh Tuấn đánh giá cao vai trò kinh doanh của nhà nước mà đại diện là khối doanh nghiệp nhà nước. Ông nói: “Để đảm bảo định hướng XHCN đạt tới mục tiêu, trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Cũng trong bài viết này, ông Trương Minh Tuấn chỉ nói chung chung rằng KTTT định hướng XHCN của Việt Nam còn nhiều vấn đề cần hoàn thiệ mà không nêu rõ đó là những vấn đề gì hay hoàn thiện bằng cách nào. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một trong những “vấn đề” lớn nhất của KTTT định hướng XHCN chính là việc các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) làm chủ đạo là một đường lối sai lầm của Việt Nam.

Ông Nguyễn Quang A nêu rõ : DNNN đã gây ra những hậu quả tai hại cho đất nước này. Không biết bao nhiêu cái gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước đã thật sự phá sản. Chuyện Vinashin, Vinaline giờ đã vào quên lãng nhưng còn hàng chục tập đoàn với hàng chục dự án mười mấy nghìn tỷ do Nhà nước làm chủ, đều đang sắp phá sản.

Khu vực quốc doanh này chỉ tạo ra khoảng 25 – 26% GDP, nhưng rất đáng tiếc là DNNN lại sử dụng đến khoảng một nửa nguồn lực của đất nước. Đó là những tài nguyên thiên nhiên như hầm mỏ, đất đai… và chèn ép các doanh nghiệp tư nhân mà đáng lẽ phải đóng vai trò chủ đạo”.

Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước lần thứ nhất diễn ra sáng 26/4, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình cho biết, hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo việc làm cho trên 85% lao động đang làm việc của nền kinh tế. Tỷ trọng đóng góp GDP của kinh tế tư nhân luôn lớn hơn so với các thành phần kinh tế khác và duy trì ổn định ở mức 39 – 40% từ năm 2003 – 2015. Như vậy, tỷ trọng đóng góp GDP của kinh tế nhà nước hiện tại đã đứng sau kinh tế tư nhân mặc dù nhiều năm qua, DNNN được đánh giá là nòng cốt của nền kinh tế.

Nguồn: TKNB – 09/06/2017

Đánh giá về tình hình nợ xấu và cách xử lý của Việt Nam – Phần cuối


Dự thảo nghị quyết xử lý nợ xấu và hệ lụy

Dự thảo nghị quyết xử lý nợ xấu đang được phân tích, mổ xẻ tại Quốc hội, ở đây xin chỉ đưa ra những điểm quan trọng và đánh giá hiệu ứng thật sự của nghị quyết đối với hệ thống ngân hàng.

Như đã nói ở trên, cái khó khăn hiện tại của VAMC là không bán được những khoản nợ xấu đã được các ngân hàng giao vì thiếu cơ sở pháp lý, vì cơ chế không cho phép và điểm ch1inh là nợ xấu đã được giao cho VAMC với giá sổ sách của khoản nợ, nay muốn bán ra thị trường với cái giá này thì gần như không tưởng. Theo thông lệ quốc tế của những công ty quản lý nợ thì bình thường bán đấu giá và thu về khoản tiền trị giá 50% giá nợ xấu ghi trên sổ sách đã là thành công. Dự thảo cũng có cân nhắc thông lệ này và đề xuất VAMC sẽ bán theo giá thị trường và có thể dưới giá sổ sách của món nợ, hơn thế nữa đối với những khoản nợ đã giao cho VAMC với giá sổ sách, VAMC có quyền định lại giá, theo thẩm định của một cơ quan thứ ba, ngoài ra, chênh lệch giá ghi sổ và giá bán, ngân hàng có thể phân bổ vào kết quả hoạt động kinh doanh trên 5 năm.

Hiệu ứng thực sự của nghị quyết này là khi ngân hàng giao 100 đồng nợ xấu cho VAMC thì sau khi bán đấu giá, ngân hàng sẽ nhận được 50 đồng, trừ đi phí quản lý và phí tổ chức bán đấu giá. 50 đồng này là tiền thật, nhưng cũng không được dùng hết vì sẽ còn phải thanh toán cho NHNN số tiền mà NHNN đã ứng cho, dưới hình thức trái phiếu đặc biệt, khi trao nợ xấu cho VAMC. Cuối cùng số tiền tươi lấy lại được từ nợ xấu, cũng chẳng còn bao nhiêu.

Câu hỏi đặt ra là nghị quyết này có giải quyết được những khó khăn do nợ xấu của ngân hàng hay không? Theo kinh nghiệm quản lý ngân hàng trên thế giới, nếu tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng ở mức 5,7% thì ngân hàng có thể tự giải quyết, chẳng cần đến VAMC, đến nghị quyết xử lý nợ xấu. Nhưng khi tỷ lệ nợ xấu ở 2 con số trở lên thì nhất thiết phải tái cấp vốn bằng tiền thật thì ngân hàng mới có thể tiếp tục hoạt động. Thực sự thì ngân hàng yếu kém Việt Nam không thể mong chờ gì nhiều ở nghị quyết xử lý nợ xấu này. Có lẽ nghĩ quyết này chỉ giúp giải quyết bế tắc hiện tại của VAMC.

Hậu quả của hai dự thảo và nguy cơ Bank-run đối với hệ thống ngân hàng

Hai dự thảo nói trên, nếu lấy một cách riêng rẽ trong thời điểm khác nhau thì sẽ không thắc mắc, đặt vấn đề, nhưng khi thấy hai dự thảo này được tung ra cùng một lúc, nhiều người có thể nghĩ là Nhà nước đang tháo gỡ “cục máu đông” trong hệ thống ngân hàng qua 2 bước. Bước một giải quyết nợ xấu ngân hàng qua Quy định xử lý nợ xấu, và nếu sau đó ngân hàng vẫn chưa khôi phục được thì sẽ rút giấy phép hoạt động, nói một cách khác, sẽ bị phá sản và lúc đó người gửi tiền, theo dự thảo nói trên chỉ có thể trông cậy vào bảo hiểm tiền gửi.

Nguy cơ nói trên rất có thể xảy ra. Cụ thể, lấy thí dụ đối với ngân hàng Sacombank, một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất nước ta. Hiện Sacombank cho vay khách hàng 200.000 tỷ đồng và có vốn chủ sở hữu là 19.000 tỷ, hiện tại nợ xấu trên bản cân đối của ngân hàng này là 13.000 tỷ cộng vào đó 37.300 tỷ đã được bán cho VAMC. Như vậy là tổng nợ xấu là 50.000 tỷ (25% tổng dư nợ) đó là chưa kể 21.000 tỷ dự thu từ trước 2015 vẫn chưa được trả và 9.000 tỷ cấn trừ nợ còn nằm đó, như vậy tổng khoản tiền khó đòi là 80.000 tỷ (40% tổng dự nợ). Nếu ta so 80.000 tỷ nợ khó đòi với 19.000 tỷ vốn chủ sở hữu, thì ngân hàng này đã âm vốn từ lâu và theo luật ngân hàng hiện hành thì không còn quyền hoạt động. Nhưng luật lại căn cứ trên sổ sách và trên sổ sách của Sacombank chỉ có 13.000 tỷ nợ xấu (50.000 tỷ dự thu và cấn trừ nợ, được NHNN cho phép khoanh lại). Như vậy vẫn còn chút vốn (phải tính thêm tỷ lệ vốn tự có cho những khoản tài sản có khác) và tiếp tục hoạt động được.

Tuy nhiên, khi áp dụng Nghị quyết xử lý nợ xấu, thu lại 50% nợ xấu trao cho VAMC thì chính thức sẽ không còn vốn nữa và lúc đó NHNN sẽ bắt buộc áp dụng Quy định thu hồi giấy phép, khi đó sẽ thanh lý tài sản và sau khi trả nợ Nhà nước và người lao động, sẽ trả người gửi tiền ngân hàng. Hiện tại Sacombank nhận 290.000 tỷ tiền gửi, khi thanh lý tài sản, trên tiền mặt, tài sản hữu hình… không có quá 200.000 tỷ. Cuối cùng người mất tiền nhiều nhất chính là người dân gửi tiền.

Với lý luận trên, người gửi tiền sẽ đến Sacombank rút hết tiền đi gửi chỗ khác, tin đồn sẽ phát ra rất nhanh chóng và cuối cùng người dân sẽ xếp hàng ở mọi chi nhánh ngân hàng để rút tiền, đó là hiện tượng Đột biến rút tiền gửi (Bank-run). Hậu quả là ngân hàng này sẽ không có tiền để trả lại cho khách hàng và bắt buộc phải đóng cửa giải thể.

Khi hiện tượng này xảy ra thì lập tức sẽ lan tràn ra cả hệ thống ngân hàng theo hiệu ứng domino. Ở Việt Nam hiệu ứng này sẽ còn nhậy hơn vì hiện tượng sở hữu chéo, sân trong sân ngoài giữa ngân hàng. Qua nhiều vụ việc đã từng xảy ra ở Việt Nam, hiệu ứng “tin đồn” cũng đi rất nhanh và lan tỏa rất mạnh và có thể cả hệ thống ngân hàng có thể bị tê liệt. Nếu hệ thống ngân hàng ngừng hoạt động thì nền kinh tế quốc gia sẽ bị tổn hại nghiêm trọng.

Nguy cơ bank-run có thể xảy ra bất cứ lúc nào, chỉ cần một nhóm người ý thứ được là có thể mất hết tiền gửi, mặc dù không cố ý, nhưng tin đồn sẽ được tạo ra và cái vòng xoáy bank-run bắt đầu. Do vậy, nhà nước phải cấp bách trấn an dư luận và chính thức cam kết không để người dân mất một đồng tiền gửi ngân hàng. Cam kết như vậy cũng gần như đồng nghĩa với không phá sản ngân hàng và nếu có phá sản cũng phải có pương án trả người dân toàn bộ tiền gửi.

Giải pháp cho TCTD

Để thoát khỏi khủng hoảng nợ xấu của ngân hàng Việt Nam, có hai điều kiện nên tôn trọng.

Thứ nhất, muốn xóa nợ xấu, phải đổ tiền thật vào ngân hàng, tất cả những phương án khác, chỉ có tính cách tạm thời, có thể làm đẹp bảng cân đối, thống kê nhưng không có tác động cụ thể trong quản lý tài chính.

Thứ hai, là tránh xa những phương án dẫn đến phá sản ngân hàng, hậu quả không lường được và rất khó cứu vãn. Chỉ nhìn trong năm 2008, chính phủ Mỹ đã đồng ý để ngân hàng Lehman Brothers phá sản, hậu quả là cả hệ thống ngân hàng, Mỹ, rồi châu Âu và thế giới bị khủng hoảng kéo theo sau đó khủng hoảng tài chính thế giới và khủng hoảng kinh tế, tới nay vẫn chưa dứt. Gần đây nhất, ngân hàng lớn thứ tư của Italy, Monte dei Paschi, ngụp lặn trong nợ xấu, chính phủ Italy mặc dù đang gặp những khó khăn kinh tế tài chính nghiêm trọng, cuối cùng, đầu tháng 6 vừa qua cũng phải đổ tiền vào cứu ngân hàng, không để phá sản.

Do vậy, dự thảo quy định thu hồi giấy phép hoạt động TCTD khônng nên triển khai, nếu quy định này nhất thiết phải có về phương diện hành chính thì nên phê duyệt nhưng sau đó, cố gắng không bao giờ áp dụng.

Về nghị quyết xử lý nợ xấu, ta đã đi theo con đường VAMC và hiện nay bị bế tắc, không thể lùi lại, dự thảo nghị quyết này sau khi hoàn thiện sẽ khai thông con đường VAMC và ta nên tiếp tục. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, phương án VAMC không giải quyết dứt điểm và lâu dài khủng hoảng nợ xấu của ngân hàng. Vì vậy, phải có những biện pháp khác kèm theo.

Thứ nhất, vì có sự chênh lệch âm giữa giá bán đấu giá và giá ghi sổ sách của nợ xấu, ngân hàng sẽ khó lấy lại vốn đã mất, do đó, phần thâm hụt này có thể gây khó khăn cho ngân hàng tái tạo nguồn vốn cũng như có vốn để tiếp tục kinh doanh. Để tài trợ chênh lệch giá nói trên, VAMC có thể đứng ra, gom những khoản chênh lệch rồi phát hành trái phiếu quốc tế, dưới sự bảo lãnh của chính phủ, rồi cho ngân hàng vay lại. Tất nhiên ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm trả nợ gốc và lãi trái phiếu. Nếu có được sự trợ giúp của một tổ chức quốc tế như WB, IMF hay ADB tì nhiệm vụ tài trợ này sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều. Tất nhiên, vấn đề chính ở đây là sự bảo lãnh của chính pủ, sẽ làm tăng lên sổ nợ công quốc gia, nhưng với cách làm này, ta sẽ không đụng đến một đồng của ngân sách.

Thứ hai là căn nguyên nợ xấu của ngân hàng Việt Nam, không phải chỉ là sự quản lý thiếu chuyên nghiệp, gốc rễ của nó nằm ở sở hữu chéo, ở các thương vụ sân sau, ở sự thâu tóm ngân hàng với mục đích chính là để dùng ngân hàng tài trợ kinh doanh cho con nợ. Tháo gỡ những sự ràng buộc lợi ích giữa những nhóm lợi ích không phải là chuyện dễ. Con đường tắt để xử lý vấn đề này là, dưới sự giám sát của Ngân hàng nhà nước, hợp nhất những ngân hàng này lại. Để hợp nhất, tất cả những liên hệ bất bình thường sẽ lộ diện và sau đó, mô hình tổ chức, phân quyền tín dụng và chọn lựa lãnh đạo chuyên nghiệp, hoàn toàn độc lập với con nợ, mặc dù là chủ của ngân hàng sẽ do NHNN phê duyệt.

Nguồn: TKNB – 19/06/2017

Đánh giá về tình hình nợ xấu và cách xử lý của Việt Nam – Phần đầu


Bức tranh nợ xấu và các giải pháp Việt Nam đã triển khai

Hiện tượng nợ xấu bùng nổ tại những ngân hàng Việt Nam xuất phát từ những năm 2006, khi nền kinh tế sôi động vì lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu cơ trên chứng khoán, vàng, USD và nhất là bất động sản, dẫn đến mức tăng trưởng tín dụng bình quân hơn 60%/năm. Mức tăng trưởng này hiển nhiên kéo theo rủi ro tín dụng rất cao và hơn thế nữa những liên kết, thâu tóm, sân sau giữa ngân hàng và giới đầu cơ (bất động sản) đã sinh ra những khoản nợ khó và không thể đòi được. Mức nợ xấu đã đạt mức 17,2% vào năm 2012.

Với mức nợ xấu này Nhà nước đã quyết định, cơ bản sẽ phải tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và cụ thể hơn là thiết lập công ty quản lý tài sản – VAMC (năm 2013). Ý định đầu tiên là hoạt động giống như mô hình công ty quản lý nợ ở các nước khác: lấy tiền chính phủ mua nợ xấu ngân hàng, trả tiền thật cho ngân hàng rồi sau đó bán lại nợ xấu trên thị trường. Nhưng sau đó Chính phủ đã tuyên bố không dùng tiền ngân sách để mua nợ xấu, do đó phương án cuối cùng được áp dụng là ngân hàng trao cho VAMC nợ xấu với giá sổ sách, nhờ bán hộ. Sau đó, VAMC trả bằng phiếu ghi nhận và các ngân hàng có nợ xấu có thể mang phiếu này đến NHNN mượn tiền để tiếp tục kinh doanh.

Khi đã trao cho VAMC nợ xấu, khoản nợ này được xóa trên bảng cân đối ngân hàng và không được coi là nợ xấu trong những quy định quản lý ngân hàng. Tuy nhiên, ngân hàng vẫn phải trích lập dự phòng vì nếu trong 5 năm, VAMC không bán được thì sẽ trả lại ngân hàng và món nợ xấu sẽ vẫn còn.

Trong 4 năm qua VAMC đã mua lại 280.000 tỷ đồng nợ xấu, nhưng chỉ bán lại được 50.000 tỷ đồng, chỗ còn lại hoàn toàn không bán được vì vấn đề pháp lý, cơ chế. Do vậy, có thể thấy thực chất, VAMC chỉ là cái kho giữ hộ nợ xấu cho ngân hàng để NHNN đưa ra những thống kê rất không đúng là nợ xấu ngân hàng Việt Nam chỉ ở mức 2,56%. Nợ xấu ngân hàng trong khối EU, hiện là 5,1%. Việt Nam với 2,56% nợ xấu, vậy về mặt thống kê không đáng phải lo lắng? Nhưng thực chất không phải như vậy.

Về phương án tái cấu trúc ngân hàng, trong thời kỳ đầu khủng hoảng hệ thống ngân hàng, có những ngân hàng nhỏ lẻ và yếu, không còn đứng vững đã được sáp nhập, hợp nhất. Những vụ thâu tóm, sáp nhập diễn ra sau đó đều chịu sự chi phối của những tính toán riêng của các nhóm lợi ích.

Diễn biến nợ xấu từ sau khi thành lập VAMC

Trong những năm 2013 – 2014, kinh tế suy thoái, Nhà nước khóa van tín dụng địa ốc, mức tăng trưởng tín dụng khựng lại. Nhờ đó, nợ xấu mới cũng giảm đi. Tuy nhiên, nợ cũ, vì kinh tế suy thoái lại trở nên xấu hơn và cái kho nợ xấu vẫn tăng đều. Cho tới khi, để kích cầu, Nhà nước, mở lại van tín dụng, thúc đẩy cho vay, ngân hàng mặc dù vẫn chưa xử lý được khối nợ xấu cũ đã thúc mức tăng trưởng tín dụng đạt mức 18,7%. Để có mức tăng trưởng này, ngân hàng nhảy vào những thị trường mới, mặc dù mức rủi ro rất cao, như thị trường tín dụng tiêu dùng và nhất là dưới hình thức tín chấp. Do đó từ đầu năm 2017, nợ xấu mới tăng trở lại và khả năng nếu không dừng lại, nợ xấu sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới.

Trong những năm vừa qua, một số ngân hàng quá yếu kém, mất hết vốn từ lâu, không còn có thể đứng vững, lâm vào thế phá sản, nhưng tại Việt Nam, hiện chưa có luật phá sản ngân hàng. Vả lại, chính phủ đã cam kết, bảo đảm tiền gửi của người dân, việc phá bỏ cam kết này sẽ gây ra sự bất ổn. Phương án sáp nhập với một ngân hàng quốc doanh có lẽ cũng được nghiên cứu kỹ lưỡng nhưng không nhiều ngân hàng quốc doanh chịu nhận trách nhiệm này. Cuối cùng, NHNN nhận mua lại những ngân hàng với giá 0 đồng. Tuy nhiên, thực chất đây chỉ là một cách nói tránh, vì nói là mua với giá 0 đồng, người nhận tin sẽ nghĩ ngay là như vậy không đụng đến tiền của dân và vẫn giữ cam kết không dùng ngân sách để xử lý nợ xấu. trên thực tế, những ngân hàng này đã hết vốn liếng từ lâu, muốn ngân hàng tiếp tục hoạt động thì phải bơm vốn, ít nhất vốn quy định để theo đúng luật mà NHNN đã đặt ra, lấp vào những khoản vốn đã mất và trợ cấp vốn để có thể hoạt động trở lại. Tiền này chính là lấy ở túi người dân.

Tóm lại, tình hình nợ xấu ngân hàng đến nay đã rất căng thẳng. Năm 2018 là thời hạn gửi nợ xấu ở VAMC được 5 năm, sẽ hết và sẽ trả về cho ngân hàng, và nợ xấu sẽ chính thức ăn hết vốn ngân hàng bắt buộc họ phải ngừng hoạt động. Không đợi đến thời điểm đó, hiện đã có một số không phải nhỏ ngân hàng đang kiệt quệ và cần phải được hỗ trợ gấp.

Đánh giá về giải pháp mới của chính phủ Việt Nam

Về phương diện kinh tế vĩ mô, hệ thống ngân hàng là kênh duy nhất để huy động tiết kiệm quốc gia và đưa thành đầu tư quốc gia, động cơ của phát triển kinh tế (kênh chứng khoán Việt Nam còn quá yếu và quá đặc trưng để đảm đương trách nhiệm này). Muốn GDP tăng trưởng phải cứu ngân hàng.

Với mục tiêu đó, tháng 5 vừa qua, Chính phủ đã đưa ra 2 dự thảo, một về quy định thu hồi giấy phép hoạt động các tổ chức tín dụng (TCTD) và hai là nghị quyết xử lý nợ xấu, hiện đang được thảo luận trước Quốc hội.

Dự thảo quy định thu hồi giấy phép hoạt động TCTD và hệ lụy

Có hai điểm nên lưu ý trong dự thảo quy định thu hồi giấy phép hoạt động TCTD.

Thứ nhất, người có thẩm quyền thu hồi giấy phép hoạt động của ngân hàng (thực chất là phá sản) là Thống đốc NHNN, người bên hành pháp, chứ không phải bên tư pháp (nếu ta muốn so sánh việc thu hồi giấy phép với việc phá sản doanh nghiệp).

Thứ hai, giống như phá sản, thi hành quyết định thu hồi giấy phép là thanh lý rồi phân chia tài sản của ngân hàng, theo thứ tự ưu tiên, trả nợ nhà nước (phí thanh lý, thuế), nợ người lao động rồi sau đó mới trả lại tiền người gửi, trước tiên thông qua bảo hiểm tiền gửi, rồi sau đó những khoản gửi còn lại.

Nhìn chung, quy định thu hồi giấy phép hoạt động, ngoài thẩm quyền thu hồi thuộc bên hành pháp, thì không thấy sự khác biệt với phá sản. Vậy đây có phải là một cách để phá sản ngân hàng mà không thông qua một đạo luật?

Nguy cơ gây bất ổn xã hội: Cũng nên lưu ý là khi thanh lý tài sản của ngân hàng bị rút giấy phép, sẽ ưu tiên trang trải các món nợ và sau đó, nếu còn tiền mới trả cho người gửi tiền. Và nếu không còn tiền thì người gửi sẽ chỉ nhận được tiền bồi thường của Bảo hiểm tiền gửi (tối đa 50 triệu/người). Cam kết bảo vệ quyền lợi của người dân gửi tiền sẽ không còn giá trị.

Nguy cơ gây phá sản với doanh nghiệp: Đối với khách hàng vay tiền ngân hàng, khi ngân hàng chấm dứt hoạt động thì khi thanh lý các hợp đồng cho vay sẽ chấm dứt trước hạn kỳ và khoản vay sẽ phải hoàn lại theo đúng những điều khoản của hợp đồng tín dụng. Như vậy, những doanh nghiệp sống và kinh doanh nhờ sự tài trợ của ngân hàng sẽ đứng trước những khó khăn khó vượt qua và rất có thể sẽ phải ngừng hoạt động.

Tóm lại, quy định thu hồi giấy phép hoạt động TCTD khi được đưa vào áp dụng cụ thể sẽ có những hiệu ứng rất tiêu cực trên nền kinh tế vĩ mô, trên xã hội và trực tiếp trên doanh nghiệp và người gửi tiền.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 19/06/2017

Nhà thầu Trung Quốc “bao vây” các công trình ở Việt Nam


Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 26/5 thừa nhận việc rất nhiều nhà thầu Trung Quốc trúng thầu các dự án lớn và quan trọng ở Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế cho thấy những dự án do Trung Quốc trúng thầu sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụng một thời gian ngắn không đảm bảo chất lượng, mau xuống cấp.

Thực trạng của vay vốn

Một trong những nguyên nhân đầu tiên và chủ yếu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra là Việt Nam phải sử dụng vốn vay của Trung Quốc. Theo cách giải thích, để vay vốn của Trung Quốc, Việt Nam phải chấp nhận nhà thầu Trung Quốc thực hiện gói thầu như một điều kiện vay.

Bình luận về điều này, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia về ngân hàng hiện đang làm việc tại Việt Nam cho biết ông nhìn nhận đấy là “một thực trạng”. Để nói về sự hợp lý hay không trong nguyên nhân do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra, ông nhắc đến những gói tài trợ giúp chính phủ Việt Nam phát triển gọi là ODA: “Những gói và chương trình ODA như thế thường đi kèm với lợi ích của quốc gia đó. Chẳng hạn, những nhà thầu Nhật bản có những gói tài trợ cho những công trình về hạ tầng cơ sở, cầu cống, họ cũng đặt điều kiện là chúng ta phải tuyển dụng, dùng kỹ sư của họ hoặc dùng những nguyên vật liệu mà họ đề nghị. Chúng ta không thể loại trừ lợi ích quốc gia của các nước cung cấp ODA và các nước đầu tư trong chương trình hỗ trợ Việt Nam”.

Ông nói rằng nguyên tắc này cũng đúng với Trung Quốc khi họ đưa ra những gói hỗ trợ Việt Nam ở hạ tầng cơ sở cũng như những lĩnh vực kinh tế khác: “Họ kèm theo điều kiện, chẳng hạn như phải cho họ trúng thầu, phải tuyển dụng lao động của họ, phải mua nguyên vật liệu của họ. Đây là điều xảy ra thông thường. Vấn đề là chúng ta chấp nhận được đến đâu”.

Một chi tiết đáng chú ý trong nhận định của Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu là vấn đề mua nguyên vật liệu. Vào đầu tháng 5 vừa qua, báo trong nước dẫn lời Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế chính sách (Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội – VEPR) cho biết số vốn đầu tư của Trung Quốc nằm trong kế hoạch chuyển giao công nghệ, kỹ thuật và máy móc cũ sang các nước nhận đầu tư. Một trong những nước đó là Việt Nam.

Riêng về vấn đề đấu thầu, chính Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng khẳng định trong thông tin mới nhất rằng Việt Nam nên tự chủ về vốn, tránh việc vay vốn Trung Quốc quá nhiều: “Trong một nền kinh tế quốc gia, chính phủ phải đưa ra những tiêu chí để phân bổ đầu tư và làm sao tránh được tập trung quá nhiều vào một nhà cung cấp hoặc một nhà tài trợ. Có lẽ Trung Quốc là một thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam”.

Theo Trang thông tin điện tử Đầu tư nước ngoài, trong quý I/2017, có 71 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, Trung Quốc đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 823,6 triệu USD, chiếm 10,68% tổng vốn đầu tư.

Với những thống kê trên, cùng với báo cáo do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhận định rằng sự lệ thuộc của Việt Nam vào vốn Trung Quốc trong những lĩnh vực tài chính, đầu tư, thương mại mậu dịch ngày càng cao.

Mặc dù không phủ nhận rằng Việt Nam cần nhiều nguồn đầu tư từ nước ngoài trong lúc này, nhưng Tiến sĩ Vũ Quang Việt, kinh tế gia của Liên hợp quốc nhấn mạnh: “Có thể Việt Nam vẫn cần nhưng cần là cần cái tốt chứ không phải cái xấu”.

Quy trình và chất lượng

Ba yếu tố khác được Bộ Kế hoạch và Đầu tư nêu là nguyên nhân dẫn đến lý do vì sao nhà thầu Trung Quốc trúng nhiều công nhiều công trình dự án quan trọng có giá trị, đó là chất lượng lập, phê duyệt dự án chưa chính xác, thứ ba là phê duyệt tổng mức đầu tư thấp; và cuối cùng là chất lượng công tác lập hồ sơ mời thầu còn yếu kém, chưa đưa ra được rào cản về kỹ thuật để có thể chọn những nhà thầu khác ngoài Trung Quốc.

Liên quan đến việc lựa chọn các nhà thầu nước ngoài cho các công trình dự án trong nước, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu phân tích dựa trên 2 yếu tố mà ông cho là tối cần thiết, đó là yếu tố minh bạch và yếu tố công bằng: “Tất cả những nhà thầu thông thường đều phải qua tiến trình đấu thầu. Nguyên tắc của đấu thầu là phải đấu thầu minh bạch, tức là những tiêu chí, yêu cầu, điều kiện trúng thầu phải đưa ra rất rõ ràng cho tất cả các bên. Rồi ngày mở thầu, mở tất cả những gói thầu và chủ đầu tư, trong trường hợp này là chính phủ Việt Nam sẽ lựa chọn nhà thầu nào thích hợp nhất với tiêu chí mình đưa ra với giá hợp lý nhất”.

Về chất lượng, theo ông, đây là một vấn đề rất quan trọng trong những công trình, đặc biệt là hạ tầng cơ sở, vốn là những công trình đòi hỏi chất lượng cao. Theo quan điểm của ông, điều này là trách nhiệm của Chính phủ.

Nói về Luật Đấu thầu, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Luật Đấu thầu không quy định chọn thầu theo giá rẻ mà chỉ quy định những nhà thầu đã được đánh giá đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật mới được xem xét, xác định giá, đề nghị trúng thầu. Thế nhưng, cũng theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện các nhà thầu Trung Quốc trúng thầu các dự án trọng điểm nhưng triển khai chậm, thi công kém chất lượng như dự án sân vận động quốc gia Mỹ Đình, đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông.

Như đề cập, dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà đông được khởi công tháng 10/2011 với tổng mức đầu tư trên 18000 tỷ đồng, sử dụng vốn vay của Trung Quốc. Tuyến đường dài gần 13 km, gồm 12 nhà ga đi toàn bộ trên cao. Theo kế hoạch, tháng 10/2017 dự án sẽ chạy thử liên động toàn hệ thống và dự kiến quý 2/2018 sẽ đưa vào khai thác thương mại.

Theo báo Dân trí, ngày 23/5, nhà ga La Khê thuộc dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông có những hiện tượng kính cường lực bị nứt, kẽ ga quá rộng, thiếu bu lông, đinh ốc. Những hình ảnh này gây tâm lý e ngại cho người dân về sự an toàn của công trình.

Đưa ra ý kiến về chất lượng của những dự án đấu thầu, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cho biết, cần phải có những quy trình tuyển chọn nhà thầu rất chặt chẽ, mà trong đó, Chính phủ Việt Nam có trách nhiệm rất lớn: “Nếu hiểu rằng đây là những công trình mang tầm mức quan trọng không những cho thế hệ này mà còn cho những thế hệ sau, góp phần rất lớn vào phát triển quốc gia. Vì vậy, cần đưa ra những gói thầu với tiêu chí rất chặt chẽ, chọn lựa những nhà thầu đáp ứng được những tiêu chí đó. Đây là vấn đề của chính phủ”.

Bên cạnh bức xúc của người dân ngày càng tăng đối với các công trình, dự án của nhà thầu Trung Quốc là câu hỏi của một bài báo cho rằng phải chăng 12 dự án thua lỗ, yếu kém đầu do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận?

Đó cũng là ý kiến của Tiến sĩ  Nguyễn Trí Hiếu khi ví von rằng “Hãy tránh tình trạng bỏ quá nhiều trứng vào một rổ”.

Nguồn: RFA

TKNB – 02/06/2017

Liệu Việt Nam có thể duy trì thành công kinh tế?


Để duy trì các thành quả quan trọng, Việt Nam cần đấu tranh chống nạn tham nhũng tràn lan.

Sự thịnh vượng của Hà Nội phản ánh sự “thay da đổi thịt” mạnh mẽ của Việt Nam trong 3 thập kỷ qua. Từ năm 1990 – thời điểm Việt Nam bị xem là một trong những nước nghèo nhất thế giới – kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng trung bình 6%/năm và hiện được Ngân hàng Thế giới (WB) xếp vào nhóm các nước có thu nhập trung bình. Bước tiếp theo là phải đáp ứng điều kiện thị trường mới nổi được ấn định bởi các chỉ số như MSCI và S&P Dow Jones, một bước gia tăng nhanh chóng đầu tư nước ngoài và đưa các cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán vào các khoản cho vay thương mại lớn.

Kinh tế Việt Nam phát triển thành công phần nào phản ánh tình hình trong nước. Việc Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vậ Việt Nam năm 1994 và nối lại quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1995 là những sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng đối với Việt Nam. Hiện Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Vị trí địa lý ngay cạnh Trung Quốc cũng là một điểm quan trọng. Việt Nam bắt đầu được coi là công xưởng sản xuất chi phí rẻ, thay thế cho nước láng giềng Trung Quốc và việc dễ dàng tham gia vào chuỗi cung ứng hiện có ở phía Nam Trung Quốc càng củng cố điều này.

Tuy nhiên, tập trung vào những lợi thế địa lý của Việt Nam sẽ là hạ thấp cam kết của Đảng đầu tư cho người dân với sự hỗ trợ của các tổ chức phát triển quốc tế. Từ những năm 1990, Việt Nam vay hơn 14 tỷ USD để cách mạng hóa cơ sở hạ tầng quốc gia, tạo điều kiện phát triển kinh tế mạnh mẽ và bền vững. Cuộc cách mạng này bao gồm chương trình điện khí hóa nông thông nhằm đảm bảo hơn 97% hộ dân nông thôn có điện lưới – tăng so với con số chưa đến 50% năm 1998 – và phát triển mạng lưới đường giao thông. Những đổi mới này hỗ trợ rất lớn cho phát triển công nghiệp, vốn được tạo động lực bởi những công nhân được hưởng lợi lớn từ việc chính phủ đầu tư vào giáo dục. Trong kỳ thi toán và khoa học theo chuẩn quốc tế, học sinh Việt Nam thể hiện tốt hơn học sinh ở Mỹ và Anh.

Đồng thời, chính phủ cũng tìm cách mở cửa đất nước để thúc đẩy thương mại và thu hút đầu tư. Chính phủ dỡ bỏ các rào cản, cho phép người nước ngoài sở hữu nhà ở Việt Nam và khuyến khích 63 tỉnh thành cạnh tranh thu hút đầu tư. Chiến lược này đã gặt hái thành công – năm 2016, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam cao kỷ lục ở mức 24,4 tỷ USD, tiếp sau kỷ lục năm 2015. Dù có thất vọng trước quyết định của Tổng thống Donald Trump rút Mỹ khỏi hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), theo đó Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận thị trường Mỹ và khu vực, Việt Nam tiếp tục phá vỡ các hàng rào xuất khẩu đối với hàng hóa của mình. Gần đây, Việt Nam hoàn tất hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc, một trong những nhà đầu tư nước ngoài quan trọng nhất, và đang đàm phán hiệp định với Liên minh châu Âu. Mối quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ vẫn chặt chẽ. Mỹ là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam và là nguồn đầu tư nước ngoài chính của Việt Nam.

Thách thức đặt ra co Việt Nam là phải duy trì đà tăng trưởng này trong khi giải quyết một số hạn chế về mặt cơ cấu đầy khó khăn, một nhiệm vụ trở nên nan giải hơn vì Việt Nam không còn được hưởng một số quỹ hỗ trợ phát triển dành cho các nước nghèo. Vấn đề trước tiên chính là tham nhũng, vẫn được đánh giá là thách thức lớn đối với các công ty làm ăn kinh doanh ở Việt Nam. Theo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2016 (một khảo sát về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thông báo 49% số công ty được hỏi thừa nhận có hối lộ trong năm vừa qua – nhiều công ty từ chối trả lời câu hỏi. Việc này cũng được khẳng định trong Chỉ số Nhận thức Tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tổ chức này luôn xếp Việt nam trong danh sách các nước kém nhất.

Một thực tế đáng tiếc là các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng nhất – trả tiền cho cán bộ địa phương nhằm đảm bảo việc cung cấp kịp thời các dịch vụ hành chính cơ bản, tư nhân hóa bất hợp pháp tài sản nhà nước và phân bổ sai các nguồn lực nhà nước – xuất hiện ở ranh giới giữa lĩnh vực của chính phủ và tư nhân. Ngoài ra, còn có sự khác biệt rất lớn về mức độ phổ biến các hành vi tham nhũng ở từng khu vực – một sản phẩm phái sinh của việc phân quyền của chính phủ.

Các nhà phân tích trong khu vực lưu ý rằng một trong những thách thức lớn đối với chính phủ để giải quyết nạn hối lộ là những đối tượng trục lợi trực tiếp là các đảng viên, đôi khi giữ những vị trí cao. Việt Nam đã tiến hành các biện pháp về mặt lập pháp nhằm đấu tranh với các hành vi này, như thi hành luật công khai tài chính đối với công chức và khởi tố liên tiếp các quan chức cấp cao. Tuy nhiên, những nỗ lực này đã thất bại trong việc giải quyết tận gốc vấn đề. Thách thức lớn của Đảng trong đấu tranh chống tham nhũng là phải chứng tỏ được với người dân và cả các nhà đầu tư nước ngoài, khả năng đối phó với tham nhũng mà không làm phật lòng hay ảnh hưởng tới uy tín của các quan chức hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho chế độ đã đem lại sự thành công kinh tế liên tục trong các thập kỷ gần đây. Sau khi khắc phục được nhiều vấn đề, vốn kìm hãm các quốc gia đang phát triển, năng lực của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề này có thể sẽ có tác động sâu rộng đến tốc độ tăng trưởng.

Nguồn: The Diplomat – 01/06/2017

TKNB – 02/06/2017

Vấn nạn hối lộ là trở ngại lớn nhất đối với các doanh nghiệp Nhật Bản khi đầu tư vào Việt Nam


Bên lề Buổi gặp gỡ doanh nghiệp Việt Nam – Nhật Bản tổ chức cuối tháng 5/2017 tại thủ đô Tokyo, phóng viên TTXVN đã phỏng vấn ông Fumiyasu Akegawa, Chủ tịch Hiệp hội hợp tác quốc tế đa ngành nghề của Nhật Bản. Ông cùng quê với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, được xem là người có mối quan hệ gần gũi với Thủ tướng. Hiệp hội do ông Fumiyasu Akegawa đứng đầu là một tổ chức có quyền lực và uy tín trong việc xúc tiến các hoạt động đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài cũng như hoạt động tiếp nhận thực tập sinh kỹ thuật nước ngoài đến Nhật Bản.

Ông Fumiyasu Akegawa cho rằng trước hết, Nhật Bản là quốc gia Phật giáo. Con đường truyền Phật giáo vào Nhật Bản không phải từ Ấn Độ mà là từ Việt Nam. Tuy Việt Nam là Phật giáo Tiểu thừa, còn Nhật Bản là Phật giáo Đại thừa, nhưng triết học của Phật giáo thì giống nhau, màu da giống nhau. Chính vì những điều này mà giữa hai dân tộc không có cảm giác khác biệt. Đó chính là suy nghĩ của người Nhật Bản đối với Việt Nam.

Hiện nay, quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản chưa sâu sắc. Cho đến thời điểm này, Trung Quốc vẫn đang đóng vai trò chính. Tuy nhiên, Với Trung Quốc, Nhật Bản không có điểm chung về quan điểm chính trị và văn hóa. Vì vậy, Nhật Bản phải chuyển địa điểm đầu tư. Trong số các địa điểm mà Nhật Bản chuyển hướng sang đầu tư có Thái Lan và Việt Nam. Đầu tiên là Thái Lan, từ giờ trở đi là Việt Nam. Đó chính là điểm quan trọng. Việt Nam có 93 triệu dân, 67% là nông dân. Tại các khu vực miền núi ở biên giới giáp với Lào và Campuchia, thu nhập bình quân một năm tối thiểu chỉ đạt từ 5 đến 10 triệu đồng. Mức thu nhập này sẽ tăng gấp 10 lần trong vòng 10 năm tới. Một vấn đề khác là các thực tập sinh kỹ thuật của Việt Nam đến Nhật Bản với mục đích có thu nhập cao hơn và khi trở về, họ sẽ đem theo các kiến thức kỹ thuật của Nhật Bản trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi.

Trước đó, ngày 19/4, phía Nhật Bản đã kết hợp với Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức cuộc thảo luận doanh nghiệp. Trong dịp đó, các nhà đầu tư Nhật Bản đã cam kết đầu tư vào Việt Nam tới 100 tỷ Yen (gần 1 tỷ USD) với 16 hợp đồng được ký kết. Vì vậy, trong tương lai, hoạt động đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam sẽ tăng mạnh, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, sữa, chăn nuôi. Đối với cây cacao, nhà đầu tư Nhật Bản dự định sẽ trồng tại Đà Lạt. Nhật Bản đang tiến hành thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp ở Yên Bái và Đà Lạt. Ngoài ra, Nhật Bản cũng đầu tư vào nhiên liệu chất đốt biomas. Tiến trình hợp tác từ nay về sau đã được xác định. Về cây cacao, Nhật Bản học tập kỹ thuật của người Pháp, Nhật Bản có nhà máy chocolate lớn nên đang xúc tiến thảo luận vấn đề này.

Sau khi xác định chủ trương trên, phía Nhật Bản dự kiến sẽ đẩy mạnh tốc độ thành lập các doanh nghiệp tại Việt Nam. Trong vòng khoảng 10 năm tới sẽ có 2000 – 3000 doanh nghiệp. Thực tế hiện nay, các tu nghiệp sinh kỹ thuật Việt Nam sau khi về nước sẽ không có nơi làm việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo. Các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ liên kết với JICA, song song với việc đưa tu nghiệp sinh sang Nhật Bản đào tạo, đồng thời lập doanh nghiệp, xây dựng xí nghiệp và đưa những thực tập sinh được đào tạo tại Nhật Bản làm quản lý các cơ sở tại Việt Nam. Một trong những trở ngại lớn nhất là vấn đề nhân lực đối phó với các vụ tai nạn thảm họa liên quan đến lao động. Nhật Bản sẽ lập hệ thống hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện các chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. Kế hoạch này đang được thảo luận. Ngoài ra, các ngành kinh tế khác như dịch vụ, chế biến thực phẩm, cũng đang được thảo luận. Mặt khác, theo các doanh nghiệp Nhật Bản, tình trạng hối lộ trong chế độ xã hội chủ nghĩa cũng là vấn đề. Vì vậy, rất mong Chính phủ Việt Nam giải quyết dứt điểm vấn đề này. Nhật Bản không hiểu được tình trạng hối lộ này. Nhật Bản là nhà nước pháp trị, mọi người đều làm việc theo luật pháp. Việt Nam nên học tập Nhật Bản trong vấn đề này.

Ông Fumiyasu Akegawa cho rằng hiện tại, nhiều người Việt Nam chưa biết nhưng chế độ thực tập sinh kỹ thuật đã thay đổi từ 3 năm lên 5 năm. Các thực tập sinh Việt Nam rất nghiêm túc, chăm chỉ nhưng cũng có những thực tập sinh rơi vào các nhóm xấu. Chính phủ Nhật bản sẽ phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam để giải quyết vấn đề này. Người Việt Nam rất chăm chỉ, cần cù, người Nhật Bản phải học Việt Nam điều này. Người Việt Nam đang có nhiều điều người Nhật Bản đã đánh mất. Hy vọng rằng trong 10 năm tới, Việt Nam sẽ phát triển vô cùng mạnh mẽ.

Nguồn: TKNB – 02/06/2017

Kê khai tài sản: Chống tham nhũng hay kiểm soát quyền lực?


Ngày 23/5, Bộ Chính trị đã ban hành quy định kiểm tra, giám sát kê khai tài sản của khoảng 1000 cán bộ và cơ quan giám sát chính là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Chuyện kê khai tài sản công chức đã được thực hiện nhiều năm nay những đa số ý kiến cho rằng chưa hiệu quả.

Không chỉ là chống tham nhũng

Ngay sau khi quy định kiểm tra, giám sát kê khai tài sản khoảng 1000 cán bộ được Bộ Chính trị đưa ra, một số nhà quan sát nhận thấy chiến dịch năm nay khác với các năm trước ở chỗ không chỉ chú trọng đến chống tham nhũng mà còn là kiểm soát quyền lực.

Nhà báo Phạm Chí dũng ở TPHCM cho rằng những chiến dịch kiểm tra tài sản trước đây được nói là nhằm chống tham nhũng, nhưng chỉ mang tính hình thức vì số vụ bị phanh phui thiếu trung thực rất nhỏ nhoi. Ông phân tích yếu tố kiểm soát quyền lực trong chiến dịch lần này: “Sau Đại hội XII, vấn đề kiểm soát quyền lực được đặt lên gần như hàng đầu và cực kỳ quan trọng. Việc đưa ông Đinh La Thăng khỏi Bộ Chính trị đã cho thấy một bước không nhỏ trong việc kiểm soát quyền lực…”.

Truyền thông trong nước ngày 29/5 trích dẫn lời bà Lê Thị Thủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương nói rằng việc kê khai tài sản cán bộ từ trước đến nay chưa được làm đầy đủ, bài bản. Bà khẳng định quy định mới của Bộ Chính trị sẽ được làm một cách nghiêm túc, không ngoại lệ.

Quy định mới này đưa ra 3 căn cứ để kiểm tra, đó là khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, khi có phản ánh đơn thư tố cáo và khi có dấu hiệu vi phạm quy định về kê khai tài sản.

Ông Phạm Chí Dũng nhận định thêm một số điểm khác biệt trong chiến dịch kiểm tra kê khai tài sản lần này so với những lần trước: “Lần này, chiến dịch kê khai, kiểm tra tài sản cán bộ được tung ra ngay sau khi xử lý kỷ luật ông Đinh La Thăng. Thứ hai là có con số cụ thể. Theo bà Lê Thị Thủy, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, con số đó lên tới khoảng 1000 quan chức. Tôi hiểu con số này bao gồm 200 Ủy viên Trung ương, gồm cả Bộ Chính trị và Ban Bí thư. 800 còn lại là ủy viên thường vụ các tỉnh ủy và thành ủy. Một điểm quan trọng nữa đó là sau khi kiểm tra xong phát hiện sai phạm thì sẽ công khai lên báo, đài. Chuyện này trước đây không có”.

Còn theo quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Quý Thọ, chuyên gia phân tích chính sách của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, những chiến dịch kê khai tài sản lần trước chưa thành công là do các vấn đề về khủng hoảng kinh tế: “Đặc biệt, nhiệm kỳ trước của Chính phủ phải đối phó với những khó khăn như lạm phát, nợ xấu, doanh nghiệp phá sản nên người ta phải tập trung vào làm chuyện đó nhiều hơn. Gần đây, người ta cho rằng kinh tế dần đi vào quỹ đạo. Tuy nhiên, những sai lầm về kinh tế giai đoạn trước để lại hậu quả nghiêm trọng, trong đó có sự suy thoái của nhiều cán bộ. Cho nên việc này là một giải pháp để kiểm tra sự minh bạch tài sản của cán bộ”.

Đồng tình với quan điểm của ông Phạm Chí Dũng, ông Phạm Quý Thọ cũng cho rằng đây là một giải pháp kiểm soát quyền lực đang được dư luận đề xuất là một trong những biện pháp chủ yếu để tiến tới cải cách thể chế thực chất hơn.

Từ nói đến làm…

Việc kê khai tài sản, thu nhập được chính thức thực hiện từ tháng 12/2013 theo Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ, nhưng nhiều ý kiến nói rằng việc thực hiện chưa hiệu quả, dẫn đến những lo ngại về chiến dịch lần này. Tiến sĩ Phạm Quý Thọ nhận định: “Tất nhiên, khi nhìn vào quá khứ, người ta vẫn nghi ngờ tính khả thi của giải pháp này. Tuy nhiên, công chúng vẫn hy vọng rằng nếu thực hiện tốt sẽ mang lại những chuyển biến về thể chế. Thậm chí, người ta cho rằng việc này phải làm và làm từ trên xuống dưới, phải làm từ cấp cao nhất xuống”.

Ông Phạm Chí Dũng nghĩ rằng không ai có thể nói trước là chiến dịch lần này có khả thi hay không. Theo ông, muốn làm được, trước hết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phải huy động được lực lượng lớn người làm công tác nghiệp vụ kiểm tra kê khai, đặc biệt những người trong hệ thống điều tra pháp luật… Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương của Trung Quốc muốn làm được thành công chiến dịch kiểm tra tài sản cán bộ thì ông Tập Cận Bình phải nắm được cả hai Bộ Quốc phòng và Bộ Công an…

Ông Phạm Chí Dũng nêu một thách thức nữa là việc các quan chức liên kết với nhau chống lại chiến dịch này để bảo vệ tài sản của họ. Ông cho rằng đây sẽ là một trở ngại lớn cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vì số cán bộ rất đông.

Ngày 16/3, ông Phạm Trọng Đạt, Cục trưởng Cục chống tham nhũng nói tại Hội nghị tổng kết dự án đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng rằng thời gian qua, nhiều địa phương không phát hiện ra trường hợp nào kê khai tài sản không trung thực và không xử lý trường hợp nào về tham nhũng.

Còn theo báo cáo Chính phủ, năm 2015, số người phải kê khai tài sản thu nhập là trên 1 triệu người, nhưng chỉ có 5 người bị kết luận là không trung thực.

Trong khi đó, báo cáo phòng chống tham nhũng năm 2016 của Chính phủ cho thấy trong số 1 triệu bản kê khai, các cơ quan chức năng xác minh 414 người, nhưng lại chưa phát hiện trường hợp nào vi phạm.

Việt Nam đã bắt đầu thực thi Luật phòng chống tham nhũg từ năm 2006 và Nghị định 78 của Chính phủ về minh bạch, tài sản thu nhập từ năm 2013. Tuy nhiên, Báo cáo của Tổ chức Minh bạch Quốc tế hồi đầu năm nay cho thấy Việt Nam hiện đứng thứ 2 ở châu Á về tỷ lệ tham nhũng, chỉ sau Ấn Độ và đứng thứ 113/176 trên bảng xếp hạng toàn cầu về tham nhũng.

Nguồn: RFA

TKNB – 02/06/2017