Vụ Sabeco lộ ra nhiều nguy cơ


Các chuyên gia kinh tế bày tỏ lo ngại về việc hơn 50% cổ phần của Tổng công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) rơi vào tay một nhà đầu tư nước ngoài. Họ cho rằng không nên vì cần tiền trả nợ mà làm lợi cho tư nhân nước ngoài, phá hỏng thương hiệu Việt.

Từ thành phố New York, Tiến sĩ kinh tế Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia thuộc Cục Thống kê Liên hợp quốc, nói với VOA rằng việc bán cổ phần Sabeco cho nhà đầu tư nước ngoài đi ngược lại chính sách phát triển kinh tế tư nhân mà Việt Nam từng hô hào:

Chiến lược đi bán cho nước ngoài không phải là chiến lược phát triển tư nhân trong nước mà là phát triển kinh tế tư nhân nước ngoài. Bây giờ hướng họ giải quyết là ngược lại. Họ bán những công ty này cho nước ngoài. Sabeco là công ty có nhiều người trong nước biết và có lợi nhuận rất cao.

Tôi nhìn lại thống kê của Việt Nam và thấy rằng nền kinh tế tư nhân trong nước có chiều hướng giảm. Năm 2005 GDP của khu vực tư nhân là 8,5%, đến năm 2016 chỉ còn 8,26%. Trong khi đó, kinh tế của khu vực nước ngoài (FDI) tăng từ 15 – 18%. Vấn đề đặt ra là chính phủ Việt Nam muốn gì?”

Tiến sĩ Vũ Quang Việt nhận định, nếu Việt Nam muốn ưu tiên phát triển kinh tế trong nước thì nên bán các doanh nghiệp làm ăn sinh lãi như Sabeco cho các nhà đầu tư ở trong nước. Ông nêu ra một số nghi vấn về động cơ bán cổ phần Sabeco cho nước ngoài: “Sabeco đang có lãi trong khi rất nhiều công ty quốc doanh khác thua lỗ, tại sao không tìm cách bán những công ty không có lãi cao? Không cải cách những công ty lãi ít? Tại sao lại bán đi những công ty đang đóng góp lợi nhuận cho ngân sách quốc gia? Nếu phân chia cổ phần và bán trên thị trường chứng khoán Việt Nam thì có rất nhiều người Việt Nam mua”.

Ngày 22/12, ThaiBev công bố thông tin về thương vụ mua cổ phần Sabeco lên Sở Giao dịch chứng khoán Singapore.

ThaiBev nói Sabeco là doanh nghiệp có chất lượng cao với lịch sử hơn 140 năm và có thương hiệu nổi tiếng như bia Sài Gòn và Bia 333. Sabeco có thị phần lớn nhất trong ngành bia Việt Nam, tình hình tài chính và kinh doanh tăng trưởng tốt. ThaiBev cho rằng thị trường bia Việt Nam rất hấp dẫn với vị trí lớn nhất ASEAN và đứng thứ 3 châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản.

Sabeco hiện chiếm hơn 40% thị phần Việt Nam và đạt lợi nhuận trước thuế hơn 5700 tỉ đồng trong năm 2016.

Báo Dân trí trích lời chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói:

Tôi đau nhất vẫn là không chỉ Sabeco mà nhiều doanh nghiệp nhà nước sau bao năm nuôi dưỡng, phải bán cho đối tác ngoại… Các doanh nghiệp trong nước vẫn đủ điều kiện để mua và có thể mua được. Tôi nghĩ xu hướng sính ngoại không chỉ trách người dân Việt Nam mà chính ngay từ chính sách chúng ta”.

Trong quá trình mua bán – sáp nhập (M&A), nhiều doanh nghiệp tầm trung tại Việt Nam đã bị “thôn tính”, nhưng những thương hiệu lớn như Sabeco và trước đó là Vinamilk, cũng lần lượt rơi vào tay nước ngoài là một làn sóng “rất đáng lo”.

Từ Hà Nội, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói rằng ngay từ đầu, các nhà đầu tư Việt Nam có tham gia mua cổ phần Sabeco, nhưng họ phải chấp nhận thua cuộc vì phía nước ngoài “đẩy giá quá cao”:

Chúng ta cần phải thấy là các nhà đầu tư Thái Lan đã nâng giá lên rất cao, vì vậy, nhà đầu tư Việt Nam rất cân nhắc. Lúc đầu, cũng có nhà đầu tư Việt Nam tham gia, nhưng khi đẩy giá lên cao thì các nhà đầu tư Việt Nam rời khỏi cuộc đua đó. Đó là sự tính toán chuyên nghiệp, hoàn toàn là phương thức đầu cơ để nhà đầu tư Thái ôm trọn cổ phiếu bán ra”.

Tiến sĩ Doanh cảnh báo rằng Sabeco, “con gà đẻ trứng vàng của Việt Nam”, khi được chuyển sang nhà đầu tư nước ngoài thì lợi nhuận mà công ty này thu được, phần hơn sẽ thuộc về nhà đầu tư nước ngoài.

Trả lời báo Straight Times, ông Phạm Phú Ngọc Trai, cựu Tổng giám đốc Pepsico Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch GIBC cũng nhìn nhận các nhà đầu tư Thái có nhiều lợi thế hơn các đối thủ khác.

Bà Vũ Kim Hạnh, cụu Tổng Biên tập báo Sài Gòn tiếp thị, một trong những người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (SBA), công khai bày tỏ sự lo âu với báo chí: “Sau 7 năm vận động ưu tiên dùng hàng Việt, nay lại muốn đem bán hết những thương hiệu Việt mạnh nhất”.

Báo Người Lao động cảnh báo về nguy cơ “thiếu vắng tinh thần dân tộc” trong vụ Sabeco. Tờ báo này nói Thái Lan là đối thủ của Việt Nam về hàng tiêu dùng, khi lĩnh vực này bị thống trị bởi tỉ phú người Thái gốc Hoa thì hàng Thái và hàng Trung Quốc càng dễ đánh bật hàng Việt ngay trên “sân nhà” Việt Nam.

Tiến sĩ Vũ Quang Việt lý giải rằng có thể vì Việt Nam cần tiền trả nợ nước ngoài nên đành phải bán nững doanh nghiệp “ăn nên làm ra” như Sabeco:

Cả một thời gian dài vừa rồi, Việt Nam mượn vốn nước ngoài để phát triển doanh nghiệp quốc gia và hầu hết là lỗ và gây nợ rất lớn. Sắp tới phải trả khảon nợ chiếm 20% ngân sách quốc gia. Muốn tiếp tục có vốn cho các doanh nghiệp này thì họ nghĩ ngay đến việc bán công ty Việt Nam cho nước ngoài. Nhưng vốn này chưa chắc giúp nền kinh tế phát triển mà chỉ tiếp tay cho tham nhũng, tiêu hoang giống như từ trước đến nay”.

Ngay sau vụ Sabeco bị “thôn tín”, ông Trương Thanh Hoài, Cục trưởng Cục Công nghiệp Bộ Công Thương khẳng định với báo chí rằng Sabeco vẫn là doanh nghiệp Việt Nam, và “thương hiệu bia Việt Nam vẫn được giữ gìn và phát triển”.

Nguồn: TKNB – 28/12/2017

Advertisements

Vấn đề sử dụng vai trò động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam – Phần cuối


Vấn đề là trên cơ sở những thành quả hết sức đáng khích lệ do nền kinh tế thị trường mang lại, ta cần sớm tập trung vào giải quyết những vấn đề thuộc về chính sách xã hội. Có thể khẳng định đây là những vấn đề luôn đặt ra của mọi xã hội, nhưng riêng đối với nước ta có những nét rất đặc biệt.

Thứ nhất, xã hội ta vừa trải qua hai cuộc kháng chiến, sự mất mát đối với một bộ phận dân cư là vô cùng to lớn, không gì có thể bù đắp nổi. Chúng ta phải có những chính sách hậu chiến như thế nào để tương xứng với công trạng và những hy sinh của họ. Đây là những khía cạnh hết sức nhạy cảm – và nó càng nhạy cảm hơn, do sự phân hóa giàu nghèo ngày càng diễn ra mạnh mẽ trong xã hội ta hiện nay. Giải quyết đúng đắn vấn đề này là những hành động thực tiễn khẳng định lý tưởng cao đẹp của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ hai, xã hội ta mấy chục năm qua đã thực hiện cơ chế quản lý mang tính bao cấp. Những hạn chế của nó thì không ai có thể bào chữa được, nhưng những ưu điểm của nó thì chắc chắn không ai có thể phủ nhận được. Trong những ưu điểm thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta có những vấn đề thuộc về chính sách xã hội, trong đó đặc biệt là các khía cạnh phúc lợi xã hội và bảo đảm xã hội.

Hiện nay chế độ bao cấp bình quân không còn nữa, sự phân hóa giầu nghèo trong xã hội ngày càng mạnh mẽ thì các khả năng và cơ hội của người dân cũng ngày càng cách biệt nhau. Sự bất bình đẳng về kinh tế sẽ dẫn đến bất bình đẳng về xã hội. Thói quen, nếp nghĩ và lối sống của thời bao cấp khi va đập với cơ chế thị trường đã tạo nên những “cú sốc” khá nặng nề về tâm lý đối với không ít người.

Vậy làm thế nào để thực hiện được những phúc lợi xã hội chung nhằm tạo ra các cơ hội bình đẳng cho mọi người dân, nghĩa là tạo ra điều kiện thuận lợi cho mọi người để họ có chung một nền tảng, một điểm xuất phát, cùng hòa nhập, cùng phát triển? Làm thế nào để hạn chế và ngăn chặn xu hướng phát triển chủ nghĩa cá nhân cực đoan và phát huy được tinh thần tập thể, cộng đồng vốn sẵn có trong truyền thống văn hóa dân tộc?

Cố nhiên, nền kinh tế không phát triển, nếu dân không giàu, nước không mạnh thì chắc chắn cũng không thể thực hiện được các vấn đề thuộc về chính sách xã hội ở một mức độ nào đó. Thế nhưng, sự tăng trưởng kinh tế của đất nước trong giai đoạn vừa qua đã bước đầu tạo ra một cơ sở nhất định để thúc đẩy việc thực hiện các vấn đề thuộc về chính sách xã hội như phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội và bảo trợ xã hội.

Mặc dù xã hội nào cũng có những vấn đề chính sách xã hội, nhưng do những điều kiện đặc biệt của xã hội ta mà trong tình hình hiện nay chúng ta cần hết sức quan tâm giải quyết. Đây là vấn đề lớn của đời sống kinh tế – xã hội và chính nó cho thấy tính ưu việt của một chế độ xã hội. Vì vậy, việc giải quyết vấn đề này một cách đúng đắn, kịp thời sẽ góp phần khẳng định sự định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển của xã hội tạ giai đoạn hiện nay.

3/ Lợi ích kinh tế và vấn đề môi trường sống

Trong nhiều năm qua chúng ta rất ít quan tâm đến vấn đề môi trường sống – cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Vì vấn đề này trong suốt gần nửa thế kỷ qua có thể nói chưa khi nào đặt ra một cách gay gắt, đòi hỏi xã hội phải đầu tư giải quyết như hiện nay.

Thực vậy, có thể nói việc quản lý và điều khiển cộng đồng theo mô hình hành chính thống nhất trước đây đã tạo ra một môi trường xã hội thực sự ổn định và thuần nhất. Những chuẩn mực xã hội, những giá trị đạo đức, những đặc trưng cơ bản của con người mới được đề cao, tạo nên những khuôn đúc sẵn về các thế hệ con người. Khi ấy, nếu có một người nào đó hay có những biểu hiện nào đó khác với khuôn mẫu này sẽ bị toàn cộng đồng, toàn xã hội lên án, ngăn chặn và cô lập.

Bây giờ nhìn lại, ta có thể phê phán những hạn chế của cách quản lý và điều khiển xã hội theo mô hình ấy. Nhưng rõ ràng, môi trường xã hội ngày đó thực sự trong sạch và lành mạnh. Những tệ nạn xã hội như tình trạng phạm pháp, mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, buôn lậu… gần như bị loại khỏi đời sống trong nhiều chục năm.

Đối với môi trường tự nhiên cũng thế. Có lẽ đó là do trước đây dân cư còn thưa thớt, nhu cầu con người còn đơn giản và được quản lý tập trung thống nhất, hơn thế, chúng ta lại được điều kiện tự nhiên ưu đãi, đồng thời cả xã hội ta còn đang dồn sức vào sự nghiệp thống nhất đất nước. Ở một chừng mực nhất định, có thể nói trong hàng chục năm chúng ta không phải bận tâm đến nạn phá rừng, ô nhiễm môi trường, hay chất thải công nghiệp..

Nhưng trong khoảng hơn mười năm trở lại đây, nhất là mấy năm qua, vấn đề môi trường sinh sống của xã hội ta nổi lên hết sức gay gắt.

Trước hết là vấn đề môi trường xã hội: Thực hiện kinh tế thị trường, mở cửa và dân chủ hóa đời sống xã hội đã làm thay đổi căn bản diện mạo của xã hội ta. Nét đặc biệt dễ nhận thấy là cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của con người là sự thay đổi các chuẩn mực xã hội và lối sống. Đáng lo ngại là sự xuất hiện tràn lan những tệ nạn xã hội có nguy cơ không kiểm soát nổi. Đó là những băng nhóm tội phạm có thể chức và có vũ trang đe dọa tài sản, tính mạng của người dân; đó là nạn mại dâm và ma túy phát triển tràn lan tàn phá những tế bào cuối cùng của xã hội và thách thức giống nòi trước nạn dịch thế kỷ; đó là nạn buôn lậu, lừa đảo và tham nhũng… Những tệ nạn xã hội này dường như đã gặp được môi trường thuận lợi để sinh sôi nảy nở.

Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội này, xét đến cùng thì nguyên nhân kinh tế đóng vai trò cơ bản. Vì những lợi ích kinh tế của cá nhân mình mà những đối tượng này bất chấp tất cả và không trừ một thủ đoạn nào, kể cả giết người. Sự phát triển cực đoan của lối sống cá nhân, lối sống tiêu dùng, sự say mê đời sống vật chất một cách bệnh hoạn đã làm cho không ít người mất nhân tính. Đó thực sự là một nguy cơ đe dọa sự phát triển lành mạnh và ổn định của xã hội ta trong điều kiện hiện nay.

Thứ hai là vấn đề môi trường tự nhiên. Không phải chỉ có môi trường xã hội đang đứng trước nguy cơ và thách thức nan giải mà môi trường tự nhiên cũng đang đặt ra những vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Cùng với sự tàn phá môi trường tự nhiên, sự cân bằng sinh thái mang tính tổng thể quốc gia, quá trình hủy hoại sự cân bằng sinh thái cũng rất phổ biến ở tầm vi mô. Chính việc sử dụng một cách vô tội vạ, kém hiểu biết phân hóa học và thuốc trừ sâu với nồng độ cao mà môi trường sống nông thôn nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của mọi người.

Vấn đề ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng đối với các đô thị lớn của chúng ta trong giai đoạn hiện nay. Hầu như các thành phố đều quá tải, mật độ dân cư quá lớn mà các hạ tầng cơ sở lại thấp kém. Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng không tuân thủ quy hoạch tổng thể đã phá vỡ môi trường sinh thái và môi trường thẩm mỹ. Các chất thải đô thị và chất thải công nghiệp không được xử lý đã đặc biệt làm ô nhiễm không khí và nguồn nước sinh hoạt… Tất cả những vấn đề gay gắt này đang thách thức sự phát triển các đô thị của chúng ta.

Như thế, trong giai đoạn hiện nay những vấn đề môi trường sinh sống của con người – cả tự nhiên và xã hội – đang đặt ra hết sức gay gắt đối với sự phát triển xã hội ta. Kinh tế sẽ không thể tăng trưởng với tốc độ cao, xã hội sẽ không phát triển nếu các tệ nạn xã hội làm cho đời sống xã hội trở nên rối loạn, bất ổn, không kiểm soát nổi, nếu môi trường tự nhiên bị ô nhiễm và sự cân bằng sinh thái ở tầm vĩ mô và vi mô bị phá vỡ.

Vấn đề môi trường sinh sống có tác động trực tiếp tới sinh mệnh của từng con người cụ thể, từng gia đình cụ thể. Thế nhưng để giải quyết được vấn đề này lại đòi hỏi vấn đề phải được chú ý ở tầm vĩ mô. Bởi lẽ, mỗi con người thường chỉ quan tâm tới lợi ích thiết thân của mình. Trong giai đoạn hiện nay, do thúc ép của đời sống thường nhật mà họ thường chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất trước mắt của bản thân và gia đình. Ở đây không thể quy kết đó là sự ích kỷ hay thiên tính của con người mà nên xem là một sự quy định, một tất yếu kinh tế của giai đoạn lịch sử hiện tại buộc các cá nhân phải suy nghĩ và hành động như vậy.

Rõ ràng, trong giai đoạn hiện nay, vấn đề môi trường sống gắn bó hết sức chặt chẽ với khía cạnh lợi ích kinh tế. Trong khi đó, lợi ích kinh tế lại đang là mối quan tâm hàng đầu của từng cá nhân riêng lẻ cũng như của cả xã hội ta. Bài toán đặt ra là, làm thế nào vừa đạt được những lợi ích kinh tế, lại vừa đảm bảo được môi trường sinh sống trong sạch và lành mạnh.

Hẳn là, bài toán trước hết phải được giải quyết ở tầm vĩ mô. Và, dĩ nhiên, không thể chỉ quy giản ở vấn đề lợi ích kinh tế của các cá nhân và các nhóm người, mà cần đặt nó trong các quan hệ rộng lớn hơn. Đó là không chỉ dừng lại ở tầm chiến lược phát triển kinh tế – xã hội mà hơn thế, cần có những cơ chế thực thi và kiểm soát sự thực hiện cụ thể các chiến lược đó như thế nào. Dĩ nhiên, cơ chế đó cần thể hiện một cách trung thành, nhất quán tính thống nhất và đồng bộ của chiến lược, sao cho sự triển khai chiến lược và đường lối tạo lập được sự phát triển hài hòa giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài.

Tóm lại, trong quá trình tăng tốc sự phát triển hiện nay, một vấn đề mang tính nguyên tắc là phải quản lý một cách sát sao và không ngừng điều tiết để tạo lập được các mối quan hệ thống nhất và hài hòa giữa cá nhân và xã hội, giữa con người và tự nhiên.

Có tạo lập được sự kết hợp hài hòa và thống nhất hai mối quan hệ cơ bản nêu trên, chúng ta mới thực sự đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển toàn diện và bền vững. Có như thế chúng ta mới từng bước thực hiện được lý tưởng tốt đẹp của Đảng và nhân dân ta, đó là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Vấn đề sử dụng vai trò động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam – Phần IX


Vấn đề thứ hai (d) đang được đặt ra hết sức gay gắt là: quyền lợi và lợi ích của người lao động Việt Nam trong các tổ chức và công ty liên doanh với nước ngoài hiện nay cần như thế nào?

Trước hết, quan hệ lợi ích giữa chủ và thợ đã được thỏa thuận tự nguyện thông qua hợp đồng kinh tế. Nếu hợp đồng kinh tế được thực hiện nghiêm chỉnh thì chắc chắn không có vấn đề gì. Nhưng mấy năm trở lại đây ở một số nhà máy, công ty liên doanh với nước ngoài tại các tỉnh phía Nam đã diễn ra nhiều cuộc bãi công của công nhân người Việt Nam. Qua báo chí, ta thấy tính chất của cuộc bãi công này không khác mấy tính chất của các cuộc bãi công của công nhân các nước tư bản, nghĩa là nó cũng nhằm mục đích đòi bảo đảm các lợi ích vật chất và tinh thần thiết thân của người lao động.

Tìm hiểu các cuộc đình công, bãi công này ta thấy một nguyên nhân khá phổ biến là hợp đồng lao động giữa chủ và thợ không được thực hiện nghiêm chỉnh. Đó là tình trạng kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động của công nhân mà không tăng lương, đó là vấn đề môi trường làm việc quá ô nhiễm, độc hại, không đảm bảo sức khỏe, đó là việc không bảo đảm đúng chế độ bảo hộ và bảo hiểm lao động… Ngoài những vấn đề thuộc về lao động còn có những nguyên nhân người lao động bị tước quyền dân chủ và bị xúc phạm nhân cách.

Vấn đề đặt ra là, mặc dù trên cơ sở tôn trọng những quy luật khách quan của các quan hệ kinh tế thị trường, tôn trọng các hợp đồng lao động tự do và tự nguyện giữa người lao động Việt Nam và các doanh nhân nước ngoài, nhưng Nhà nước ta cần có những biện pháp thích hợp kiểm soát và quản lý việc thực thi những quy định cũng như luật lao động đã được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của người lao động và công dân của mình.

Rõ ràng, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, các quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa người lao động Việt Nam và các ông chủ ngoại quốc không chỉ dừng lại ở mức độ quan hệ hạn hẹp giữa chủ và thợ, mà hơn thế, nhiều vấn đề cần được xem xét và giải quyết ở tầm quốc gia. Ở đây, vai trò và nhiệm vụ của Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề gay gắt của người lao động Việt Nam làm việc torng các tổ chức và các công ty đầu tư nước ngoài là hết sức lớn.

Đây thực sự là một vấn đề mới mẻ đối với xã hội ta  nhưng vì nó đụng chạm đến quyền lợi thiết thực của người lao động – những công dân của đất nước nên Nhà nước ta không thể không đặt thành vấn đề cần được giải quyết ở tầm quốc gia và quốc tế. Cố nhiên, bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của người lao động Việt Nam phải trên cơ sở tuân thủ các công ước quốc tế về lao động và quyền con người. Việc tuân thủ nghiêm túc các công ước đó không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của người lao động Việt Nam mà đó cũng là cách tốt nhất để bảo vệ các thương nhân và doanh nhân nước ngoài vào làm ăn ở nước ta.

4/ Lợi ích kinh tế và vấn đề phát triển cộng đồng trong giai đoạn hiện nay

Sự say mê làm giàu hiện nay của xã hội ta thực chất là sự say mê các lợi ích kinh tế – lợi ích vật chất. Thế nhưng đời sống con người không phải chỉ có kinh tế, vật chất. Đời sống của một xã hội cũng không phải chỉ có vật chất.

Đành rằng, vào những thời điểm nhất định của tiến trình phát triển xã hội, có thể phương diện này hay phương diện kia của đời sống xã hội được ưu tiên, được tập trung đầu tư nhiều hơn. Thế nhưng, điều ấy không có nghĩa là hạ thấp hay bỏ qua các mặt, các phương diện khác. Sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội là một quá trình liên tục. Do đó, sự gián đoạn hay gãy khúc của mặt này hay mặt kia của đời sống xã hội bao giờ cũng gây ra những tổn thương, những biến động, thậm chí tạo ra những lực lượng phá vỡ hoặc đẩy lùi quá trình phát triển của toàn thể cộng đồng.

Chính vì thế, trong thời gian vừa qua, do bị cuốn hút vào thực hiện các nhu cầu tồn tại tối thiểu – nhu cầu vật chất – mà ta ít có điều kiện quan tâm nhiều đến các phương diện, các khía cạnh khác của đời sống xã hội. Điều đó trong chừng mực nhất định đã dẫn tới việc làm nảy sinh một số vấn đề văn hóa xã hội khác khá bức xúc.

Vì vậy, trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, để phát triển cộng đồng một cách toàn diện và bền vững cần sớm tạo lập một cơ chế kết hợp hài hòa một số quan hệ sau:

1/ Quan hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích văn hóa – xã hội

Đây là một quan hệ cơ bản, bao trùm và chi phối hầu như toàn bộ đời sống xã hội. Thế nhưng nó không hề trừu tượng mà hết sức cụ thể trong mỗi cộng đồng. Sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các quan hệ kinh tế thời gian qua cũng gây nên sự thay đổi hết sức căn bản các vấn đề văn hóa – xã hội. Có thể nói, sự chuyển đổi trong lĩnh vực văn hóa – xã hội chủ yếu mang tính tự phát và có rất nhiều biểu hiện lúng túng.

Những hoạt động văn hóa – xã hội cộng đồng này trước đây vừa được Nhà nước bao cấp vừa được các hợp tác xã hay các các cấp chính quyền địa phương hỗ trợ về kinh phí. Hiện nay, các nguồn kinh phí bao cấp chính không còn nữa. Do vậy, các hoạt động mang tính cộng đồng này hầu như bị bỏ rơi. Ở nhiều nơi, nhiều lúc các hoạt động văn hóa tinh thần của cộng đồng cơ sở hoặc bị lôi cuốn theo hướng này, hướng khác, hoặc bị xuống cấp, tan rã, mất phương hướng, rối loạn.

Như vậy, trong điều kiện chuyển đổi cơ chế hiện nay, lợi ích kinh tế của cá nhân và xã hội ngày càng được thực hiện, nhưng các lợi ích văn hóa – xã hội hướng vào sự phát triển cộng đồng và nhân tính hầu như chưa được quan tâm một cách đúng mức. Nghĩa là, hiện đang có sự vận động ngược hướng nhau giữa kinh tế và văn hóa – tinh thần trong một cộng đồng xã hội. Vì thế một số vấn đề văn hóa – xã hội của nhiều cộng đồng cơ sở khi cộng đồng đó càng hòa nhập vào đời sống kinh tế thị trường thì càng trở nên phức tạp hơn.

Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để tạo lập được một cơ chế linh hoạt: Có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế đồng thời cũng thúc đẩy sự phát triển phong phú và đa dạng các lĩnh vực văn hóa – xã hội. Nghĩa là, tạo lập được một sự phát triển đồng hành tổng thể của một cộng đồng xã hội.

Đó là một cơ chế được thiết lập và chế định thống nhất từ Trung ương đến địa phương, được quản lý, điều tiết và tài trợ tài chính theo các cấp chính quyền của Nhà nước. Dĩ nhiên, đây là một cơ chế mở để có thể thu hút và huy động được các nguồn tài chính và tài trợ trong nhân dân. Chỉ có như thế mới tạo cho xã hội phát triển một cách thực sự bền vững.

2/ Lợi ích kinh tế và các vấn đề chính sách xã hội

Trong giai đoạn kinh tế thị trường mở cửa hiện nay, sự đề cao lợi ích kinh tế của các chủ thể hoạt động bị quy định bởi tính tất yếu khách quan chứ không phải do ý muốn chủ quan của bất cứ cá nhân nào. Đó chẳng qua chỉ là sự tuân thủ các quy luật khách quan đang chi phối đời sống kinh tế – xã hội đất nước.

Thế nhưng các quy luật khách quan khi xuất hiện và hoạt động thường ít bị chi phối bởi các ý muốn chủ quan của các chủ thể mà thường mang tính “tự nó”. Do vậy, nó không tính đến khía cạnh tình cảm và nhân văn của đời sống con người, cũng như không tính đến các duyên nợ quá khứ của các chủ thể hoạt động. Vì lẽ đó, trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ về kinh tế, nhiều vấn đề thuộc về chính sách xã hội đang được đặt ra hết sức cấp bách.

Đó là do, xã hội ta vừa bước ra khỏi những cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt. Xương máu của hàng triệu người đã đổ, tài sản của hàng triệu người đã được huy động góp vào cuộc đấu tranh vì nền độc lập tự do của dân tộc. Rõ ràng, khi đi vào xây dựng lại đất nước trong điều kiện hòa bình, trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới, ta không thể quay lưng lại với quá khứ của các thế hệ cha anh, không thể để mặc cho những quy luật kinh tế thị trường lạnh lùng chi phối và dẫn dắt xã hội ta.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Chính phủ chú trọng phát triển mạnh khối doanh nghiệp tư nhân


Phát biểu tại Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) năm 2017 diễn ra vào sáng 13/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh một trong số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu hàng đầu là Chính phủ phải nỗ lực tạo lập môi trường cạnh tranh toàn diện, bao gồm phát triển đồng bộ các loại thị trường, tăng quy mô và mức độ cạnh tranh thị trường, đồng thời đảm bảo cạnh tranh công bằng và bình đẳng.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói chính phủ chú trọng tiếp tục phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân trở tành một động lực quan trọng của nền kinh tế, trong đó, khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo của người dân và doanh nghiệp; đặc biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ.

Chủ trương về “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký quyết định ban hành trong Nghị quyết 10 Hội nghị Trung ương 5 hồi đầu tháng 6 vừa qua. Và tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân lần thứ 2 được tổ chức vào cuối tháng 7 vớ sự tham dự của khoảng 1000 doanh nghiệp tư nhân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định đưa kinh tế tư nhân trở thành ngành mũi nhọn và là động lực để phát triển kinh tế, sẽ phấn đấu nâng tỉ trọng đóng góp của khối doanh nghiệp này lên từ 50 đến 60% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng đây là một quyết định đúng đắn và cần thiết so với nhu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, thành viên Ủy ban Chính sách phát triển của Liên hợp quốc nhận định nếu kinh tế tư nhân phát triển thì nguồn thu ngân sách có thể tăng lên, sẽ đóng góp làm giảm bớt bội chi ngân sách nhà nước và nợ công. Theo đề nghị của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, một trong những giải pháp có hiệu quả và cần thiết là nhà nước nên thoái vốn để tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực thuần túy thương mại.

Đồng quan điểm với Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, Tiến sĩ Vũ Ngọc Xuân, Phó Khoa Kinh tế Đại học Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội đánh giá tình hình hoạt động kinh tế tư nhân trong vài năm qua: “Trong 1 – 2 năm trở lại đây, gần như tất cả những công trình lớn đếu được chính phủ ưu tiên cho các tập đoàn tư nhân lớn. Bây giờ, với tình hình hiện nay, một số tập đoàn tư nhân lớn cũng phát triển rất nhanh, tạo được uy tín trên thị trường. Thí dụ, trong ngành thực phẩm như tập đoàn Massan hay Vinamilk thì cũng từ nhà nước được tư nhân hóa. Thủy sản thì có rất nhiều tập đoàn làm việc rất bài bản”.

Tuy nhiên, bên cạnh những đánh giá tích cực của giới chuyên gia kinh tế về chủ trương của chính phủ Việt Nam chú trọng vào phát triển kinh tế tư nhân, vẫn có không ít ý kiến cho rằng giữa chính sách và thực thi là vấn đề cần phải đặc biệt quan tâm. Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, một nhà quan sát chính trị Việt Nam đang làm việc tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, ở Singapore, cho biết ghi nhận của ông về thực trạng khác biệt giữa khối doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại Việt Nam: “Vấn đề phát triển kinh tế tư nhân, về mặt lý thuyết, Đảng coi kinh tế tư nhân là thành phần bình đẳng và khuyến khích phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế chúng ta thấy Đảng vẫn có những ưu đãi cho DNNN, chẳng hạn như dành nguồn lực đất đai, việc tiếp cận các nguồn vốn. Thành phần kinh tế tư nhân vẫn bị lép vế. Bây giờ, chỉ có thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là phát triển mạnh, thành phần tư nhân vẫn có nhiều trở ngại”.

Doanh nghiệp tư nhân đối mặt nhiều trở ngại

Một số các doanh nghiệp tư nhân chia sẻ công việc kinh doanh thực tế vẫn gặp nhiều trở ngại trong vấn đề thủ tục hành chính, chi phí cạnh tranh cao do lãi suất vay ngân hàng không ưu đãi… và rất khó cạnh tranh nổi với các nhóm lợi ích. Một giám đốc doanh nghiệp tư nhân tại khu công nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu cho biết: “Thị trường bị lũng đoạn bởi các nhóm mạnh quá, đến nỗi bây giờ có làm gì đi nữa cũng không thay đổi được tình hình. Tạm gọi đó là nhóm lợi ích, nhóm thân hữu. Nhóm thân hữu cạnh tranh với nhóm thân hữu khác, bằng thủ đoạn này hay thủ đoạn khác. Giới doanh nghiệp tư nhân làm sao mà cạnh tranh với các nhóm đó được”.

Tại cuộc gặp gỡ với Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB), ông Ousmane Dione vào hạ tuần tháng 9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói việc gì tư nhân làm được thì chính phủ để cho tư nhân làm. Bên cạnh đó, các nhà quan sát tình hình Việt Nam ghi nhận chính phủ Hà Nội đang nỗ lực thực hiện quá trình cổ phần hóa tại quốc gia này trong nhiều năm qua và hiện tại đang trong giai đoạn cuối cùng là các DNNN còn lại sẽ thoái vốn và bán cổ phần cho tư nhân.

Diễn tiến mới nhất liên quan, vào ngày 18/12, Bộ Công thương mở phiên đấu thầu chào bán xấp xỉ 344 triệu cổ phần, tương đương 54% vốn của Tổnng Công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco), là công ty chiếm thị phần lớn nhất ngành bia Việt Nam. Qua phiên đấu thầu này, Công ty trách nhiệm hữu hạn Vietnam Beverage, trong đó ThaiBev có chủ sở hữu 49% mua trọn lô thầu, tương đương 4,8 tỷ USD và đã đặt cọc 10% cùng với một nhà đầu tư cá nhân là ông Ngô Vinh Hiển ở Hà Nội mua 20 nghìn cổ phần. Mặc dù Bộ Công thương Việt Nam cho biết phiên đấu thầu Công ty Sabeco được thực hiện đúng lộ trình và theo nguyên tắc công khai minh bạch, tuân thủ đúng luật thị trường, thế nhưng các nhà phân tích cho rằng việc đánh giá và thời gian chuẩn bị của phiên đấu thầu Sabeco quá ngắn, không đủ cho các nhà đầu tư tiềm năng.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng giữa chính sách và thực thi tại Việt Nam là một khoảng cách rất xa; do đó, các chuyên gia kinh tế đề xuất chính phủ cần phải làm việc chặt chẽ với khối doanh nghiệp tư nhân để tháo gỡ các vướng mắc và trở ngại mà khó này đang đối mặt, cũng như phải tìm các giải pháp hỗ trợ một cách hiệu quả, chẳng hạn như cần có chính sách tiền tệ thích hợp để doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận được nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý.

Trong khi đưa ra các đề xuất nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân tại Việt Nam, các chuyên gia kinh tế lưu ý điểm mấu chốt nếu chính phủ Hà Nội, qua Nghị quyết 10 của Trung ương vẫn khẳng định theo đuổi quan điểm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mà trong đó doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt, thì nền kinh tế Việt Nam không có dấu hiệu phát triển lạc quan trong thời gian tới, như Tiến sĩ Ngô Trí Long từng nhận định: “Trên thế giới, không có một đất nước nào dựa vào nền kinh tế doanh nghiệp nhà nước mà phát triển một cách có hiệu quả cả. Nếu vẫn còn tư tưởng, suy nghĩ như vậy thì tôi nghĩ khó có thể để cho nền kinh tế phát triển hiệu quả và khả năng tụt hậu là chuyện hiện hữu rồi”.

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), hồi cuối tháng 9 đưa ra báo cáo cho thấy Việt Nam xếp hạng 60/138 nền kinh tế, so với vị trí 56/140 của năm 2015, tụt 4 hạng trên Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2016 – 2017.

Nguồn: RFA

TKNB – 20/12/2017

Vấn đề sử dụng vai trò động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam – Phần VIII


Sự ham mê các lợi ích trước mắt, lợi ích kinh tế của các cá nhân trong cơ chế thị trường hiện nay rất dễ đưa đến nguy cơ tạo ra trong lòng xã hội ta những lối sống tiêu dùng, thực dụng cùng những thói quen, nếp sống trái với các quan hệ đạo đức truyền thống, những đạo lý nhân bản của dân tộc ta.

Vì vậy, vấn đề đặt ra là để xã hội ta thật sự phát triển phồn thịnh và lành mạnh, một mặt, chúng ta cần có những chính sách kinh tế – xã hội đáp ứng đúng tâm tư và nguyện vọng của đông đảo nhân dân lao động, kích thích được tính tích cực của họ, mặt khác, cần hướng được tính tích cực ấy vào đúng quỹ đạo của luật pháp, khiến mọi người sống và làm việc theo pháp luật, và thông qua pháp luật mà định hướng, điều chỉnh và thúc đẩy sự phát triển cộng đồng một cách hài hòa, toàn diện và bền vững.

Để đạt mục tiêu này, cần thường xuyên điều chỉnh sự kết hợp các mối quan hệ lợi ích cơ bản: Lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; lợi ích chung và lợi ích riêng; lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài… Chỉ có tạo lập được những mối quan hệ hài hòa và thống nhất giữa các lợi ích căn bản này mới có thể tạo lập được mối quan hệ hài hòa giữa các cá nhân và xã hội, trên cơ sở đó mới có thể thiết lập được sự ổn định của đời sống xã hội trong quá trình phát triển.

Cố nhiên, tùy từng hoàn cảnh cụ thể, tùy điều kiện lịch sử cụ thể và tùy thuộc vào những đòi hỏi khách quan của cuộc sống mà ta có thể đề cao, ưu tiên lợi ích này hay lợi ích khác. Nhưng đó chỉ là những giải pháp mang tính cục bộ nhất thời. Sự biến thiên không ngừng thay đổi, khi đề cao hay ưu tiên các lợi ích này khi lại đề cao hay ưu tiên các lợi ích khác phù hợp với những đòi hỏi khách quan của cuộc sống. Đây có lẽ là một nguyên tắc của sự quản lý và điều khiển xã hội. Còn vấn đề căn bản vẫn là ở chỗ làm sao tạo lập được một quan hệ thông nhất và hài hòa giữa các lợi ích chủ yếu của đời sống xã hội, nghĩa là tạo ra một cơ chế kích thích sao cho các cá nhân, các gia đình, các nhóm xã hội… hoạt động nhằm thực hiện các lợi ích riêng tư của mình đồng thời cũng tạo nên xu hướng vận động và phát triển chung lành mạnh, theo hướng tiến bộ của toàn xã hội. Và ngược lại, sự phát triển chung ấy của toàn xã hội cũng mở ra những cơ hội thuận lợi để các cá nhân, các gia đình và các nhóm xã hội… phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện.

Như vậy, để xã hội và con người phát triển vừa mạnh mẽ vừa hài hòa và lành mạnh, vấn đề không phải ở chỗ tìm kiếm các khả năng đề cao hay ưu tiên một lợi ích cụ thể nào mà căn bản là phải tạo lập được những mối quan hệ hài hòa và thống nhất giữa cá nhân và xã hội. Sự hài hòa và thống nhất ấy được thể hiện một cách cụ thể trong các mối quan hệ hài hòa giữa các lợi ích chủ yếu của họ. Nhưng sự hài hòa đó lại luôn luôn thay đổi tùy theo sự thay đổi của hoàn cảnh chứ không phải là những cái bất di bất dịch. Tình hình đó đòi hỏi các “kiến trúc sư” của xã hội phải hết sức nhạy cảm, năng động trong công tác quản lý, điều khiển xã hội. Thiếu sự nhạy cảm, năng động đó, chắc chắn sẽ không thể điều khiển sự vận động của xã hội một cách có hiệu quả.

3/ Vấn đề lợi ích trong quan hệ kinh tế đầu tư nước ngoài vào Việt Nam

Đây là một vấn đề hết sức mới mẻ và nhạy cảm xuất hiện mấy năm qua. Trong nền kinh tế thị trường mở cửa hiện nay, ngày càng có nhiều công ty liên doanh với nước ngoài và nhiều công ty nước ngoài vào làm ăn ở nước ta. Họ tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở khai thác nguồn tài nguyên, nguồn lao động và thị trường tiêu thụ ở Việt Nam. Ở đây không chỉ có vấn đề lợi ích cảu Nhà nước trong các quan hệ kinh tế này mà còn là vấn đề lợi ích vật chất và tinh thần của các doanh nhân trong nước tham gia liên doanh, các doanh nhân không tham gia liên doanh và người lao động Việt Nam làm việc trong các liên doanh và tổ chức quốc tế.

Mặc dù mới nảy sinh, nhưng rõ ràng đây là một vấn đề cần sớm được xem xét một cách kịp thời và nghiêm túc. Bởi vì, mục đích của mọi nhà tư bản đầu tư vào làm ăn ở Việt Nam xét cho cùng là vì các lợi ích của bản thân họ. Do vậy, vấn đề đặt ra cho nước sở tại là làm thế nào để hai bên cùng có lợi trong sự đầu tư liên doanh liên kết kinh tế này.

Vấn đề lợi ích trong quan hệ kinh tế với đầu tư nước ngoài vào nước ta ở phía đối tác Việt Nam được thể hiện rõ nhất trong bốn khía cạnh sau:

a/ Những lợi ích của nước sở tại là như thế nào?

b/ Những lợi ích của các công ty, các doanh nghiệp Việt Nam tham gia liên doanh liên kết là như thế nào?

c/ Những lợi ích của các công ty, các doanh nghiệp Việt Nam không tham gia các liên doanh trong điều kiện mở rộng đầu tư nước ngoài là như thế nào?

d/ Những lợi ích của người lao động Việt Nam trong các công ty nước ngoài, các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam như thế nào?

Trước hết cần phải khẳng định rằng, dù ở bất kỳ danh nghĩa nào, về bản chất, mục đích của các đối tác kinh tế là nhằm đạt được những lợi ích cho bản thân mình. Trong cơ chế thị trường hiện nay vấn đề này ngày càng bộc lộ rõ. Do đó, bốn khía cạnh nêu trên cần được xem xét trong môi trường lạnh lùng mang tính tất yếu của nền kinh tế thị trường.

Trong bốn khía cạnh này, thời gian qua, đặc biệt hai khía cạnh (c) và (d) nổi lên khá gay gắt. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam chủ yếu vẫn theo hướng: vừa và nhỏ, thu lợi nhuận ngay, thu hồi vốn nhanh, trong đó tập trung nhiều vào sản xuất hàng tiêu dùng, khách sạn – du lịch và dịch vụ. Và, không phải bất cứ công ty, doanh nghiệp và doanh nhân trong nước nào cũng gọi được đối tác đầu tư nước ngoài.

Vấn đề thứ nhất (c) là: Sau mấy năm thực hiện chính sách mở cửa và phát triển kinh tế đối ngoại, thực tế cho thấy tình trạng cá lớn nuốt cá bé đã xuất hiện trong một số lĩnh vực sản xuất, dịch vụ – thương mại. Hàng loạt nhà máy xí nghiệp, doanh nghiệp, công ty trách nhiệm hữu hạn của nhà nước và tư nhân bị phá sản. Nguyên nhân phá sản có thể khác nhau, nhưng bên cạnh việc hàng nội bị hàng ngoại nhập lậu hoặc trá hình trốn thuế lấn át, có một nguyên nhân là một số doanh nghiệp, công ty bị phá sản do không cạnh tranh nổi với các công ty, doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Nguyên nhân thứ hai này chắc hẳn ngày càng mang tính phổ biến trong đời sống kinh tế của nước ta giống hệt như ở nhiều nước phát triển theo cơ chế thị trường đã trải qua. Nếu sự “chắc hẳn” này ngày càng trở nên “chắc chắn”, ngày càng trở thành hiện thực thì cần làm thế nào để các doanh nghiệp Nhà nước cũng như các công ty tư nhân không tham gia liên doanh với nước ngoài tránh được nguy cơ bị phá sản? Vấn đề ở đây không chỉ dừng ở phương diện kinh tế, bởi lẽ sự phá sản của hàng loạt doanh nghiệp sẽ dẫn đến chỗ có hàng triệu người lao động sẽ không có việc làm và đời sống của hàng triệu gia đình sẽ bị đe dọa. Một khi nạn thất nghiệp gia tăng sẽ kéo theo sự nảy sinh nhiều vấn đề xã hội hết sức gay gắt.

Trước tình hình như thế, chúng ta cần sớm có những chính sách, những đạo luật nhằm kích thích và bảo trợ sản xuất trong nước, tạo ra những môi trường thuận lợi hơn để các doanh nghiệp Việt Nam huy động được mọi nguồn lực, mọi khả năng để đẩy mạnh sản xuất nội địa, nghĩa là tạo ra một cơ chế giúp họ có nhiều cơ hội thuận lợi ơn nữa trong việc thực hiện các lợi ích kinh tế của mình trong điều kiện kinh tế thị trường và thực thi chính sách mở cửa hiện nay.

Cố nhiên, những chính sách, những đạo luật nêu trên không phải nhằm tạo ra một sự phân biệt đối xử bất bình đẳng giữa các doanh nhân, các thành phần kinh tế, các khu vực kinh tế (chính quy và phi chính quy) mà nhằm vào thiết lập một cơ cấu kinh tế cân đối, toàn diện và tự chủ, điều tiết và định hướng phát triển kinh tế, và cuối cùng là hướng vào phát triển các ngành nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, khai thác nguồn nhân lực dư thừa của nông thôn và nguồn tài chính nhàn rỗi trong nhân dân. Tóm lại, những chính sách, những đạo luật này mang tính chất ngân chặn sự nảy sinh những vấn đề kinh tế – xã hội tiêu cực trong môi trường xã hội mới và mở ra những cơ hội hiện thực để mọi thành viên xã hội cùng tham gia vào quá trình phát triển.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

VN Index bắt đầu lao dốc?


Chi Phạm

Sau cơn hồ hởi của kỳ họp APEC ở Đà Nẵng vào tháng 11/2017, VN Index hi vọng tìm đường đi đến mốc tâm lý quan trọng 1000. Nhưng sau khi đạt mức 970 ngày 4/2, trong ba ngày qua, chỉ số này đã mất 32 điểm hay 3,3%. Ở Hà Nội, chỉ số chứng khoán cũng mất 2,3% riêng ngày 5/12 và chỉ tăng nhẹ trong hai ngày hôm sau. Đây là lúc cơn sốt chứng khoán tạm ngừng hay dấu hiệu của một cơn lao dốc sắp bắt đầu?

VN Index đang được dân đầu tư và đầu cơ mong tái lập kỷ lục cũ 1100 của năm 2007 cũng sau kỳ họp APEC ở Hà Nội vào tháng 11/2006. Lúc đó, thay vì tìm đến đỉnh trời bao la không giới hạn như giới chứng khoán mong mỏi, chỉ số này đã lao xuống nhiều vực thẳm tới mức 250 trước khi tạm dừng vào loay hoay ở mức 300 – 400 trong nhiều nă. Trong cả hai thời kỳ đó, thị trường chứng khoán có phản ánh tình trạng thực của nền kinh tế không và ra sao?

11 năm trước, TTCK còn phản ánh các yếu tố căn bản của nền kinh tế nhiều triển vọng hơn về “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” được tung hô và nền tài chính ngân hàng tương đối ổn định chưa bị phá nát về nợ nần của các xí nghiệp quốc doanh lớn kiểu Vinashin hay Vinalines… Đầu cơ bất động sản đang sôi sục, nhưng nợ xấu ngân hàng còn chịu đựng được. Ngân sách quốc gia thời cựu Thủ tướng Phan Văn Khải còn có kỷ luật tương đối của một nhà điều hành kỹ trị thận trọng.

Trong 10 năm sau (2007 – 2016), nền tài chính đất nước bị tàn phá bởi nhóm lợi ích thân cận (cronies) đã thu vén không nương tay, đưa đến tài nguyên quốc gia bị cạn kiệt, ngân sách ở thế vỡ trận và nợ công ở mức 210% GDP thực sự (thay vì 63,7% như công bố chính thức, vì không kể đến món nợ lớn của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) mà chính phủ phải thực sự gánh trả), nợ xấu ngân hàng trên 15% tổng dư nợ nhưng vẫn được gói gọn dưới mức chính thức công bố là 3%. Các DNNN vẫn không lối thoát vì thiếu quyết tâm giải quyết thực sự. Nhiều chính sách trong thời kỳ này còn đi ngược lại chương trình Đổi mới tương đối thành công của 2 thập niên trước.

Kinh tế đang về đâu?

Kinh tế Việt Nam bây giờ không ai còn nhắc nhở đến khẩu hiệu “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” quen thuộc của 10 năm trước. Thay vào đó, với lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ào ạt và nóng hổi, nhưng không có định hướng chính sách quốc gia, nền kinh tế hướng đến mô hình kinh tế dịch vụ theo mẫu của Philippines.

Sẽ khai thác du lịch thành công, các khu nghỉ dưỡng, khách sạn, nhà hàng giải trí phát triển liên tục để phục vụ khu dịch vụ đó và khu FDI, nhất là khách hàng Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Sẽ có thêm nhiều lao động rẻ gồm trí thức và chuyên gia, mà đa số bị thất nghiệp trong nước vì kinh tế đang thực sự bế tắc, ra nước ngoài kiếm sống và gửi tiền về hỗ trợ gia đình. Số nhỏ trí thức vốn có kỹ thuật cao sẽ tìm được bến đỗ ở các nước tiên tiến mà thiên đường là Mỹ. Còn lại, nền kinh tế nội địa phục vụ giới đầu tư ngoại và giới trung lưu trong nước đang giàu có lên sẽ phát triển mạnh trong vài năm tới.

Giải quyết thâm hụt ngân sách như thế nào? Hy vọng giá dầu quốc tế sẽ tăng lên trên 60 USD/thùng để khai thác thêm tài nguyên dự trữ, nhưng giải pháp chính là bán các công ty nóng như Vinamilk, Sabeco, Vinaconex… Điều kiện là phải hâm nóng thị trường chứng khoán và bất động sản để tăng thu cho ngân sách trong kế hoạch này. Và bước đầu đã thành công, do Ngân hàng Nhà nước đã biết châm tín dụng ào ạt cho hệ thống ngân hàng vào hai khu vực này từ quý III năm nay, nhằm mục đích tăng mức tín dụng lên 20 – 22%, để đẩy tốc độ tăng trưởng GDP lên 6,7% cho cả năm 2017 như mục tiêu chính thức.

Sốt chứng khoán

Bước thứ hai thành công đáng kể và nhờ hình ảnh hấp dẫn của kỳ họp APEC như năm xưa, đầu cơ đã đưa VN Index lên nhanh chóng vượt mức 800 rồi 900 trong thời gian kỷ lục một tháng, như khoảng thời gian từ tháng 11/2006 đến tháng 1/2007 đã vượt mức 1100 trong hồ hởi của thị trường. Ai nói ngược là “thằng điên” như người viết này đã chịu đựng sự châm biếm trêu trọc trong nhiều tháng lúc đó, khi còn là “phân tích gia chiến lược” của một quỹ đầu tư hàng đầu, dù kết quả là quỹ nào đã xuống vài trăm triệu USD trong năm 2007.

Lịch sử có tái diễn? Tất nhiên, nhưng trong khung cảnh nền kinh tế vĩ mô tệ hại hơn nhiều trong dài hạn, dù trong ngắn hạn đang có vẻ hấp dẫn. Thêm vào đó, tuy chứng khoán Việt Nam đang dẫn đầu so với các nước ASEAN và lên vù vù vượt mặt cả chỉ số Dow Jones ở Hoa Kỳ (lên 35% từ ngày 8/11/2016 lúc ông Trump đắc cử tổng thống đến ngày 4/12/2017), nhưng tỷ số quan trọng của thị trường Việt Nam là P/E hiện nay ở mức 17 – 18 cũng không còn rẻ.

Sẽ lao đốc? Và làm gì?

Con đường cho VN Index leo đến 1000 có lẽ còn hé mở trước khi lao xuống. Một thân hữu theo sát tình hình kinh tế và thị trường nhận xét rằng đầu cơ chứng khoán sẽ vẫn còn tiếp “nếu Ngân hàng nhà nước không thay đổi chính sách cho vay thì chẳng ai dừng lại đâu!”.

Karl Marx có câu nói rất hay và hoàn toàn đúng cho máu chuộng bài bạc và đầu cơ ở xứ mình: nhà đâu tư nếu lãi 300% thì chết cũng vẫn làm. Câu này cũng đúng lắm cho toàn nền kinh tế hiện nay. Vì lợi nhuận, người ta chẳng sợ gì hết và không phải chỉ giới hạn ở nhà đầu tư như Marx nhận xét mà là toàn xã hội. Vụ đặc khu kinh tế hiện tượng BOT đang được bàn sôi nổi là các ví dụ khác.

Liệu VN Index thật sự lần này lao xuống, sẽ dừng ở mức nào và bao lâu nữa là câu hỏi khó nhất cho cả các dân chơi và nhà phân tích. Có lẽ may mắn chỉ số có thể tạm dừng ở mức 600, nhờ đầu cơ mới bùng nổ trong nửa năm sau và ngân sách còn cần nguồn thu mới từ bán tài sản hiện có. Bao giờ tới mức đó? Câu trả lời tùy theo sự sáng suốt tỉnh ngộ kịp thời của giới hữu trách, nhất là Ngân hàng nhà nước, nếu muốn có hạ cánh an toàn cho thị trường lần này để tránh thảm kịch xảy ra cho toàn nền kinh tế kéo dài từ 2007 – 2010, khi cả bất động sản và chứng khoán cùng “sập tiệm”, và đe dọa đổ vỡ hệ thống ngân hàng.

Các quỹ đầu tư chứng khoán, nhất là của nước ngoài, đã tạo thành tích lợi nhuận cao trong 6 tháng qua và có thể chịu đựng các mất mát trên giấy tờ của “porfolios” cho 6 tháng tới. Nhưng riêng cho các dân chơi đầu cơ cá nhân, có biết tỉnh ngộ sớm hay không để giữ tiền ăn Tết?

Nguồn: BBC

TKNB – 12/12/2017

Vấn đề sử dụng vai trò động lực của lợi ích trong thực tiễn cách mạng Việt Nam – Phần VII


Tương tự như thế, trong công nghiệp, vấn đề quan hệ giữa các lợi ích (Nhà nước, tập thể và của người lao động) cũng đang đặt ra hết sức gay gắt. Tình trạng sa sút, kém phát triển của đa số các nhà máy, công ty, doanh nghiệp nhà nước hiện nay có nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó có một nguyên nhân hết sức căn bản đó là không có động lực phát triển.

Trong cơ chế thị trường hiện nay, sức lao động cũng là hàng hóa. Do vậy, nguòi lao động chỉ hăng say làm việc khi có thu nhập cao, nghĩa là, cá nhân họ bán được sức lao động của mình với giá cao, ít nhất là với giá hợp lý. Vì thế, nhà máy, công ty, cơ quan trả lương cho họ ở mức độ nào thì họ sẽ bỏ thời gian và sức lực ở mức độ đó. Người lao động rất nhạy bén, họ thường đầu tư sức lực và trí tuệ vào những công việc được trả lương xứng đáng. Họ sẵn sàng bỏ việc ở một cơ quan, một công ty có thu nhập sang nơi lam việc mới có thu nhập cao hơn. Tình trạng chảy máu chất xám của các doanh nghiệp Nhà nước trong thời gian qua là khá phổ biến và hầu như là khó tránh khỏi.

Vậy vấn đề là ở đâu? Rõ ràng, cũng như trong nông nghiệp, đối với công nghiệp, ngoài đổi mới công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý, đào tạo lại lực lượng lao động…, còn một vấn đề hết sức căn bản là thực chất quan hệ giữa người lao động và nhà máy, cơ quan hay doanh nghiệp là gì? Họ là người đồng chủ sở hữu hay là người làm thuê bán sức lao động theo hợp đồng lao động? Bản chất của mối quan hệ này sẽ quy định tính chất mối quan hệ lợi ích giữa họ và doanh nghiệp, nhà máy… Nếu họ chỉ là người làm thuê thì quyền lợi và nghĩa vụ của họ là thế này. Ngược lại, nếu họ là một trong những ông chủ sở hữu thì quyền lợi và nghĩa vụ của họ sẽ khác.

Rõ ràng, một khi không làm rõ được mối quan hệ giữa người lao động và nhà máy, doanh nghiệp (được thể hiện bằng tập thể lãnh đạo) thì chắc chắn rằng cũng không thể phân định được sự phân chia các lợi ích giữa họ có hợp lý hay không hợp lý. Trong tình trạng cấn cái như thế không thể khuyến khích được mọi thành viên của nhà máy, doanh nghiệp hay cơ quan nào đó hăng say làm việc được. Như vậy là ta đã bỏ mất nguồn động lực phát triển từ phía các chủ thể lao động.

Thực chất là ở đây trong cơ chế thị trường hiện nay cần phải thay đổi một cách căn bản vấn đề chủ sở hữu các tư liệu sản xuất, nghĩa là cần xác định một cách đích xác ai là chủ thực sự, chấm dứt tình trạng làm chủ tập thể hay vô chủ cả trong nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp, dịch vụ. Bởi lẽ, bao giờ cũng vậy, vấn đề lợi ích luôn gắn chặt với vấn đề sở hữu. Sự phân chia các sản phẩm lao động mà qua đó thể hiện mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể cùng hoạt động trong xã hội được quyết định bởi mức độ sở hữu của họ. Trong cơ chế hiện nay, vấn đề càng sòng phẳng và lạnh lùng hơn.

Dĩ nhiên, vấn đề bức xúc về quan hệ lợi ích như đã trình bày ở trên có lẽ chỉ nảy sinh và tồn tại trong hệ thống ba lợi ích của các thành phần kinh tế quốc dooanh và một phần ở các thành phần kinh tế tập thể. Còn trong thành phần kinh tế tư bản hay tư nhân thì sự bức xúc của quan hệ lợi ích này lại được thể hiện ở những phương diện khác.

Ở đây quan hệ giữa người lao động và người lãnh đạo là quan hệ chủ và thợ. Hợp đồng lao động được thực hiện trên cơ sở giá cả thị trường Do vậy, những lợi ích của họ đã được xác định trước khi họ tham gia vào một hợp đồng lao động. Điều đó sẽ khiến họ một khi đã chấp nhận hợp đồng lao động thì buộc phải làm việc một cách tự nguyện, tự giác đem lại hiệu quả kinh tế cho cả đôi bên.

Tuy thế, không phải trong các thành phần kinh tế này không nảy sinh những vấn đề quan hệ lợi ích cần sớm được quan tâm. Trước hết, đó là quan hệ lợi ích giữa các nhà tư bản và người công nhân làm thuê – một quan hệ cố hữu thuộc bản chất của quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Chúng ta biết, ngay từ thế kỷ trước trong nhiều tác phẩm quan trọng của mình, nhất là tác phẩm Tư bản, K. Marx đã phanh phui hầu như toàn bộ các mối quan hệ bóc lột phi nhân của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân. Có thể khẳng định, quan hệ lợi ích giữa nhà tư bản và người công nhân làm thuê dẫu có được thể hiện dưới hình thức nào đi nữa thì vẫn không ra ngoài mối quan hệ người bóc lột và người bị bóc lột. Khi ta chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế, trong đó có cả thành phần kinh tế tư bản, nghĩa là ta đã chấp nhận ở một mức độ nào đó sự xuất hiện quan hệ bóc lột trong lòng xã hội.

Vấn đề đặt ra đối với một xã hội đang chủ trương xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa là: các quan hệ bóc lột giữa người và người sẽ được hạn chế ở mức độ nào? Được quản lý và điều tiết ra sao? Cố nhiên, đây là một vấn đề cần được xác định trước hết ở tầm vĩ mô. Những chủ trương, chính sách, những đạo luật của Đảng và Nhà nước sát đúng với tình hình đổi mới của đất nước sẽ góp phần quyết định trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, bảo vệ quyền con người trong cơ chế hiện nay.

Như vậy, trong lòng các hệ thống lợi ích của các thành phần kinh tế đất nước đang đặt ra những vấn đề quan hệ lợi ích hết sức cơ bản và bức xúc . Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải sớm có những chính sách phù hợp nhằm quản lý và điều khiển nền kinh tế thị trường vận động và phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

2/ Vấn đề quan hệ giữa một số lợi ích chủ yếu trong giai đoạn hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, do đời sống của đa số nhân dân ta còn hết sức khó khăn nên mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi nhà máy, thậm chí mỗi ngành, mỗi địa phương… đều quan tâm đến lợi ích thiết thân, lợi ích trước mắt của mình. Lợi ích kinh tế cục bộ của bản thân càng được đề cao. Điều này là hoàn toàn dễ hiểu, vì thực ra đó là sự thể hiện nguyện vọng vô cùng cấp bách và chính đáng của các chủ thể hoạt động trong thời điểm lịch sử hiện nay.

Nhưng thực tế này lại mang tính hai mặt. Một mặt, sự ham mê các lợi ích kinh tế, ham mê tiêu dùng của các chủ thể thường gắn liền với lối sống thực dụng và hưởng thụ. Như thế, chính vì những lợi ích kinh tế thiết thân của mình mà con người ta lao vào hoạt động kinh tế. Khi mọi cá nhân đều say sưa lao vào hoạt động kinh tế, lao vào sản xuất, kinh doanh thì họ làm cho đời sống kinh tế trở nên sôi động. Kết quả là trong mấy năm qua ta đã có được một nhịp độ tăng trưởng kinh tế đáng phấn khởi. Có thể khẳng định, vì tiếng gọi của các lợi ích kinh tế riêng tư của mình mà các cá nhân, các nhóm xã hội, các tập đoàn người… trong thời gian qua đã cùng góp phần thúc đẩy đời sống kinh tế của đất nước bước vào quỹ đạo của sự phát triển.

Với cách tiếp cận kinh tế này, rõ ràng, sự quan tâm đến lợi ích trước mắt, lợi ích kinh tế của các cá nhân, của các nhóm người trong giai đoạn hiện nay thực sự đã tạo nên một động lực mạnh mẽ thúc đẩy đời sống kinh tế của xã hội ta phát triển. Đó là mặt tích cực – một thực tế không thể phủ nhận được.

Nhưng mặt khác, do có sự ham mê lợi ích trước mắt, lợi ích kinh tế của bản thân mà các chủ thể hoạt động có khi bất chấp tất cả. Nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay, vì lợi ích của bản thân mình mà các chủ thể hoạt động dễ lao vào “cuộc chiến tranh của tất cả mọi người chống mọi người, cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”. Hay ở mức độ cực đoan hơn, ta có thể liên tưởng đến một nhận xét hết sức sắc sảo của Đôn Ninh được K. Marx dẫn lại trong “Tư bản” khi ông nói về lợi nhuận và tư bản:

“Lợi nhuận nhuận mà thích đáng thì tư bản trở nên can đảm: lợi nhuận mà bảo đảm được 10%, thì người ta có thể dùng được tư bản ở khắp nơi, bảo đảm được 20% thì nó hăng máu lên, bảo đảm được 50% thì nó táo bạo không biết sợ là gì; bảo đảm được 100% thì nó chà đạp lên tất cả mọi luật lệ của loài người; bảo đảm được 300% thì nó chẳng từ một tội ác nào mà không dám, thậm chí có thể bị treo cổ nó cũng không sợ”.

Những khía cạnh nêu trên là những cái tất yếu nảy sinh trong nền kinh tế thị trường. Thế nhưng đó lại là những cái xa lạ và bất thường đối với các quan hệ và trật tự của xã hội mà chúng ta đã, đang và sẽ tạo lập.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.