Việt Nam tận dụng xung đột Mỹ – Trung để tái cân bằng quan hệ kinh tế và an ninh


Cả châu Á đều chung tâm trạng “thấp thỏm” khi Trung Quốc và Mỹ chưa chắc liệu sau thời hạn “ngừng chiến” 90 ngày có tháo gỡ được bế tắc liên quan đến cuộc xung đột thương mại hay không. Trong khi đó, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc đang làm thay đổi mối quan hệ của Việt Nam với nước láng giềng phương Bắc và tạo điều kiện để Hà Nội đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế và an ninh.

Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc để thúc đẩy nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng vì đây là đối tác thương mại lớn nhất. Tuy nhiên, có dấu hiệu cho thấy Hà Nội đang tái cân bằng mối quan hệ này.

Người dân đã phản ứng trước dự luật thành lập 3 đặc khu, dẫn đến cuộc biểu tình rầm rộ hồi tháng 6 để phản đối kế hoạch được xem là tạo điều kiện cho Trung Quốc hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam. Quốc hội Việt Nam đã hoản bỏ phiếu vào tháng 10/2018 và lặng lẽ trì hoãn lần nữa việt xem xét dự luật này cho đến tháng 5/2019. Động thái này được coi là dấu hiệu cho thấy Việt Nam cảnh giác hơn với ảnh hưởng của Trung Quốc và đang lợi dụng sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc để tái cân bằng mối quan hệ.

Ông Nguyễn Ngọc Trường, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển quốc tế (CSSD) tại Hà Nội cho rằng về mặt chính trị, việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc rất tốt cho Việt Nam: “Quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ nếu tốt đẹp thì không hẳn là tốt cho Việt Nam, mà xấu đi cũng không phải là điều tệ với Việt Nam. Với những quốc gia nhỏ như Việt Nam, quan hệ tốt đẹp giữa hai cường quốc lại có khía cạnh nguy hiểm hơn. Dưới thời Obama, khi Mỹ và Trung Quốc có quan hệ tốt đẹp, Trung Quốc đã cố gắng làm những việc rất có hại liên quan đến các đảo nhân tạo trên Biển Đông”.

Có ý kiến cho rằng lời lẽ phản đối của Hà Nội đối với Bắc Kinh liên quan đến những tranh chấp trên biển cũng quyết liệt hơn khi Việt Nam có quan hệ với một nước Mỹ quyết đoán hơn.

Chiến lược về thương mại

Trong thương mại, Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội bùng phát cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung để trở thành điểm đến hàng đầu cho các nhà sản xuất muốn tránh đòn thuế quan.

Ông John Rockkeep, giám đốc Phòng Thương mại Mỹ chi nhánh TPHCM, cho biết ông đã chứng kiến sự gia tăng lớn về số lượng các công ty quan tâm đến việc chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc đến Việt Nam. Từ tháng 9/2018, cứ mỗi tuần, có 4 công ty tiếp cận chi nhánh của ông để được tư vấn về việc chuyển đến Việt Nam – gấp 4 lần so với các tháng trước.

Zhang Zhang Diansheng, tổng giám đốc Trung tâm dịch vụ kinh doanh Hàng Sinh, cho biết hiện tượng chuyển dịch sản xuất bắt đầu vào cuối tháng 8/2018, nhưng sự gia tăng cực kỳ rõ ràng. Trong 3 tháng, Zhang nhận được câu hỏi từ hơn 100 công ty, gấp 2 đến 3 lần số vụ so với cùng thời điểm năm ngoái. Ông tin rằng đây mới chỉ là sự khởi đầu, vì thỏa thuận đình chiến giữa Trung Quốc và Mỹ chỉ là tạm thời và xung đột thương mại là không thể ngăn chặn được.

Cuộc chiến thương mại cũng nêu bật tình trạng phụ thuộc kinh tế mang tính lịch sử của Việt Nam vào Trung Quốc và làm tăng rủi ro cho Việt Nam. Lý do là càng nhiều công ty chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam, thì càng nhiều khả năng Washington sẽ từ chối các sản phẩm của Việt Nam.

Vì vậy, cuộc chiến thương mại càng củng cố quyết tâm của Việt Nam đa dạng hóa các rủi ro và thúc đẩy phát triển dựa trên nỗ lực tích cực theo đuổi các hiệp định thương mại với nhiều đối tác.

Ông Max Maxfield Brown, người đứng đầu đơn vị tình báo kinh doanh Dezan Shira Muff phụ trách khu vực ASEAN, cho rằng không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam đã cố gắng phát triển mối quan hệ với các đối tác đầu tư lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan. Từ góc độ đầu tư, Việt Nam đang lấy những đối tác này làm đối trọng với Trung Quốc mà không phải hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam.

Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng ráo riết theo đuổi các hiệp định thương mại lớn cũng như tăng số lượng đối tác. Tháng này, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định thương mại đối tác toàn diện và tiến bộ (CPTPP – không có Trung Quốc và Mỹ) và trong năm nay cũng đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU.

Brown nói: “Đây không phải là cơ hội để Việt Nam trở thành một thế lực thống trị khu vực, vì vẫn còn Trung Quốc ở đây, nhưng Việt Nam có thể chơi bài của mình để trở thành nền kinh tế thực sự phát triển và thành công”.

Quan hệ đối ngoại

Hà Nội đã cố gắng áp dụng chính sách đa dạng hóa-đa phương hóa trong quan hệ ngoại giao. Sách lược này cũng giúp Việt Nam chống lại Trung Quốc.

Zhang Jie, nhà nghiên cứu về Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói: “Thiếu lòng tin chính trị với Bắc Kinh, trong khi an ninh không đủ mạnh, Việt Nam đã nỗ lực tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước khác để lấy làm đối trọng với Trung Quốc”.

Ở Biển Đông, Việt Nam đã thúc đẩy mạnh mẽ một giải pháp đa phương thông qua bộ quy tắc ứng xử trong ASEAN và đã tìm thấy sự ủng hộ từ chính quyền Trump quyết đoán hơn.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã gặp nhau tại Thượng Hải vào tháng 11, cam kết tăng cường quan hệ song phương, nhưng điều đó không ngăn được nhà lãnh đạo Việt Nam nêu ra những vấn đề nhạy cảm như Biển Đông.

Chỉ vài ngày sau đó, Bắc Kinh đã bị cả Washington và Hà Nội đả kích vì những động thái trên quần đảo Trường Sa: Việt Nam yêu cầu Trung Quốc ngừng vận hành các trạm thời tiết mới trên các đảo nhân tạo, nói rằng hành động của Bắc Kinh đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này; Washington lặp lại những lời chỉ trích của Việt Nam trong một động thái chưa từng có, yêu cầu Trung Quốc gỡ bỏ các cơ sở tên lửa khỏi Trường Sa, dù tại Washington vừa diễn ra cuộc họp cấp cao Mỹ – Trung về vấn đề an ninh.

Việt Nam và một Washington ngày càng quyết đoán đang tìm kiếm nhiều hiệp lực hơn trong lĩnh vực an ninh.

Tại hội nghị cấp cao ASEAN ở Singapore vào giữa tháng 11/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gặp Phó tổng thống Mỹ Mike Pence và cảm ơn Mỹ vì ủng hộ quan điểm của ASEAN về vấn đề Biển Đông. Về phía mình, ông Pence cam kết bảo vệ quyền tự do hàng hải trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Theo ông Dereck Grossman, nhà phân tích quốc phòng cao cấp của RAND Corporation, Hà Nội đã tăng cường quan hệ quốc phòng với nhiều cường quốc – bao gồm và đáng kể nhất là với Mỹ – để làm phức tạp mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông trong tương lai.

Collin Koh, chuyên gia nghiên cứu tại Chương trình An ninh Hàng Hải thuộc Đại học Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, bình luận Việt Nam là một trong những tiếng nói lớn nhất ở châu Á trong việc chống lại Bắc Kinh trên biển: “Việt Nam liên tục lên tiếng bất cứ khi nào có vấn đề gì xảy ra ở Biển Đông. Việt Nam đã phản ứng, trong khi các bên liên quan khác chỉ im lặng, và vì thế, Trung Quốc sẽ không muốn làm cho to chuyện thêm nữa”.

Song song với chiến lược đối ngoại đa dạng hóa – đa phương hóa, Việt Nam vẫn tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của mình như chính sách “ba không”: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.

Ngay cả không có Mỹ, Việt Nam cũng vẫn tiếp tục đa dạng hóa các đối tác an ninh – điều này giúp Việt Nam đối phó với những bất đồng trong quan hệ với Trung Quốc.

Trong chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind đế Việt Nam tháng trước, lãnh đạo hai nước đã nhất trí thúc đẩy hợp tác thương mại và tăng cường hợp tác về dầu khí và quốc phòng. Tổng thống Ấn Độ cũng tuyên bố hai nước có tầm nhìn chung về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với cam kết tự do hàng hải và thương mại trên biển.

Cái giá cho Việt Nam

Năm ngoái, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề nghị Việt Nam tăng mua vũ khí để giảm thặng dư thương mại lớn với Mỹ, nhưng chưa có thỏa thuận nào được công bố.

Ông Koh Koh nói: “Chính phủ Việt Nam không thể hiện là quá thân thiết với Mỹ. Ông Trump muốn bán vũ khí, nhưng vấn đề là Việt Nam không có khả năng mua được. Thay vào đó, Việt Nam có thể sẽ tập trung vào các giao dịch mua hàng ở “cấp độ thấp” như các thiết bị điện tử, thay vì các mặt hàng rất đắt đỏ. Việt Nam không muốn quá “chịu ơn” Mỹ, mà hướng đến mục tiêu duy trì một cơ sở đối tác cung cấp vũ khí đa dạng, từ Hàn Quốc đến Ấn Độ và chủ yếu là từ nguồn vũ khí truyền thống là Nga”.

Theo Reuters, Việt Nam đã mua hơn 1 tỷ USD vũ khí Nga vào tháng 9/2018 và cũng đã mua tầu ngầm tấn công, tàu chiến và máy bay chiến đấu phản lực từ Nga.

Zhang Jie thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung, việc tái cân bằng để thoát khỏi Trung Quốc sẽ xảy ra, nhưng các nước nhỏ như Việt Nam lo sợ mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát: “Đối với Việt Nam, sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ thực sự có lợi ở một mức độ nào đó và Hà Nội có thể tận dụng điều đó để chống lại Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không dễ dàng thay đổi mối quan hệ. Trung Quốc sẽ không nhượng bộ Việt Nam về vấn đề Biển Đông chỉ vì sự canh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Dù căng thẳng, Việt Nam và Trung Quốc vẫn dựa vào sự trao đổi giữa hai đảng Cộng sản ở hai nước, cũng như các hình thức hợp tác có giới hạn khác”.

Nguồn: The South China Morning Post – 11/12/2018

TKNB – 13/12/2018

Advertisements

Việt Nam đối phó ra sao trước tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung? – Phần cuối


Cho đến nay, nhóm tác giả vẫn chưa thấy nhiều bằng chứng cho thấy các phương tiện truyền thông trong nước và các chuyên gia kinh tế ở Việt Nam đang chú ý đúng mức tới tình hình này. Nếu cuộc chiến thương mại lan rộng, có khả năng Việt Nam sẽ vấp phải những vấn đề mới phát sinh từ việc bị coi là một “Trung Quốc mới” hay “Trung Quốc thu nhỏ”. Mặc dù các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy Việt Nam luôn theo đuổi một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng Việt Nam đã được 69 quốc gia công nhận là một nền kinh tế thị trường, trong đó có cả các đối tác thương mại quan trọng như các nước ASEAN, các nước EU, Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và New Zealand. Tuy nhiên, Mỹ vẫn cho rằng VIệt Nam là một nền kinh tế phi thị trường.

Nếu Việt Nam không đẩy nhanh tiến trình đàm phán đề được Chính phủ Mỹ công nhận là một nền kinh tế thị trường, thì có khả năng Việt Nam sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khi điều khoản “liều thuốc độc” được kích hoạt và áp dụng cho các nền kinh tế phi thị trường như Việt Nam. Đây là một nguy cơ mà Việt Nam không thể đánh giá thấp.

Việt Nam dường như đang đi đúng hướng để đáp ứng các tiêu chí của một nền kinh tế thị trường theo Điều 19 U.S.C. 1677 của Mỹ bằng cách đặt mục tiêu hoàn toàn xóa bỏ trợ cấp điện, xăng dầu và các dịch vụ y tế. Trong khi đó, nhiều chuyên gia vẫn tán thành chủ trương cho rằng việc giảm giá đồng tiền là vũ khí hữu hiệu nhất để tăng tính cạnh tranh của Việt Nam. Đây thường là một lựa chọn hấp dẫn xét tới sự thiển cận trong việc lập kế hoạch chiến lược ở Việt Nam, phần nào là do sự kết hợp giữa các mốc thời gian của quy hoạch chiến lược với nhiệm kỳ của ĐCSVN và các nhà lãnh đạo chính phủ.

Mặt tiêu cực của chính sách giảm giá đồng tiền hay sự thiếu minh bạch trong cơ chế tỷ giá hối đoái có thể khiến Việt Nam bị xếp loại là một nền kinh tế phi thị trường, và thậm chí bị Mỹ cho là nước thao túng tiền tệ. Do đó, theo quan điểm của nhóm tác giả, chính sách tỷ giá cần phải linh hoạt và minh bạch hơn để Việt Nam có thể tránh bị Chính phủ Mỹ liệt vào một trong những quốc gia thao túng đồng tiền của mình. Để xác định liệu tỷ giá hối đoái có tuân thủ định hướng thị trường như SBV tuyên bố hay không, nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy Việt Nam cần có một cơ chế kiểm soát “sức mạnh đối với tỷ giá hối đoái”.

Lợi ích lâu dài của việc trở thành một nền kinh tế thị trường thực sự đối với Việt Nam không chỉ là việc được Mỹ chính thức công nhận là một nền kinh tế thị trường để tránh tác động của cái gọi là điều khoản “liều thuốc độc”. Lợi ích quan trọng nhất của việc trở thành một nền kinh tế thị trường thực sự đối với Việt Nam là giúp các nhà lãnh đạo hiện tại và tương lai loại bỏ những rào cản tự áp đặt đối với tăng trưởng bền vững.

Một trong những rào cản tự áp đặt này là sự chú trọng của mô hình kinh tế hiện tại và các DNNN, phần lớn trong số đó có năng suất thấp nhất trong nền kinh tế. Việc hướng tới một nền kinh tế thị trường thực sự sẽ đòi hỏi chính phủ ngừng trợ cấp cho các DNNN hoạt động kém hiệu quả, điều sẽ tạo điều kiện cho việc phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn trong nền kinh tế.

Biện pháp đối phó chiến lược số 2: Đầu tư công hiệu quả hơn để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Căng thẳng thương mại là một trong những lý do dẫn tới việc IMF ra quyết định hạ mức dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu cho năm 2018 và 2019. Tăng trưởng của 5 nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, dự kiến sẽ chỉ ở mức 5,3% trong năm nay và 5,2% trong năm tới. Các tác giả tin rằng tác động của căng thẳng thương mại đối với tăng trưởng trong dài hạn là một rủi ro lớn đối với Việt Nam. Do đó, một giải pháp triệt để nhằm đối phó với một cuộc chiến thương mại kéo dài là chính phủ cần phải thực hiện các cải cách nghiêm túc.

Đối với một nền kinh tế đang phát triển phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài như Việt Nam, điều thiết yếu là chính phủ cần phải có khả năng thực hiện các chính sách tài khóa để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã chỉ ra nghịch lý rằng chính phủ đã không thể dành ngân sách dự kiến cho đầu tư công, và đó là một trong những lý do chính khiến đất nước không đạt được tốc độ tăng trưởng dự kiến.

Vấn đề của việc đầu tư công nằm ngoài ngân sách dự kiến là “Bộ Tài Chính đang nắm giữ các nguồn tài chính dư thừa trong khi nền kinh tế khổ sở vì thiếu vốn”. Các nguồn tài chính dư thừa phát sinh từ trái phiếu do Bộ Tài chính hoặc các DNNN đã cổ phần hóa phát hành. Bộ Tài chính đang tích lũy hàng trăm nghìn tỷ đồng trong khi một số dự án cơ sở hạ tầng không thể tiếp cận nguồn vốn đã được phê duyệt.

Một ví dụ cho tình huống này là ngay cả các dự án chiến lược trọng điểm quốc gia như dự án Đường cao tốc Bắc – Nam cũng bị hoãn trong hơn 3 năm vì thiếu vốn, mặc dù trên thực tế chính phủ đã phân bổ kinh phí cho dự án này. Lý do là vì Bộ Giao thông vận tải đã phải làm việc với 112 đoàn thanh tra và kiểm toán. Chính các thủ tục giải ngân và sự gián đoạn do những cuộc thanh tra này gây ra đã làm chậm trễ nghiêm trọng các dự án này và khiến các nhà đầu tư trong và ngoài nước có ấn tượng xấu về những dự án như vậy.

Những hạn chế này là do Luật đầu tư công mới do Quốc hội thông qua vào năm 2015. Ngay dù bộ luật này cũng giúp làm giảm đáng kể việc đầu tư tràn lan và không hiệu quả, nó cũng vô tình tạo ra một hạn chế mới đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong tương lai. Trong một thông báo gần đây, Chính phủ Việt Nam đã chính thức thừa nhận tình trạng “thắt nút cổ chai”.

Chính phủ Việt Nam dự định sửa đổi toàn diện Luật đầu tư công và đệ trình một dự thảo mới để Quốc hội xem xét vào cuối năm nay. Tuy nhiên, một sửa đổi như vậy không được Ủy ban thường vụ Quốc hội tán thành. Phó Chủ tịch Quốc hội đã lập luận rằng không cần thiết phải sửa đổi toàn diện, trong khi Chủ tịch Quốc hội cũng khẳng định rằng “Trong cuộc họp tiếp theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tôi sẽ đưa ra bằng chứng cho thấy tình trạng ‘thắt nút cổ chai’ này là do những vấn đề trong quá trình thực hiện Luật đầu tư công, không phải bởi bản thân bộ luật đó”.

Sự bất đồng giữa Chính phủ và Quốc hội có thể cho thấy sự thiếu đồng thuận giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam về hiệu quả đầu tư công ở trong nước. Chẳng hạn, trong khi thiếu kinh phí cho bệnh viện, trường học và cơ sở hạ tầng, Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã phê duyệt kế hoạch xây dựng một nhà hát tiêu tốn 1500 tỷ VND ở Thủ Thiêm. Quyết định này đã đối mặt với sự phản đối lớn từ người dân và nhiều người cho rằng khoản chi tiêu này là “lãng phí tiền bạc” và “một trường hợp ưu tiên lệch lạc”. Xét cho cùng, thành phố hàng ngày đang phải đối mặt với nạn ngập úng đô thị, ùng tắc giao thông và cơ sở hạ tầng công quá tải.

Những quyết định còn phải bàn cãi này có thể là lý do khiến một số thành viên Quốc hội và công chúng ủng hộ các biện pháp kiểm soát như thanh tra và thủ tục giải ngân quá phức tạp. Tuy nhiên, các biện pháp kiểm soát quá mức này cũng có thể ngăn cản Việt Nam đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng và giáo dục trọng yếu cho tăng trưởng dài hạn.

Để giải quyết tình trạng “nút thắt cổ chai” trong đầu tư công, nhóm tác giả đề xuất sửa đổi Luật đầu tư công để cho phép các quỹ đầu tư công vô cùng cần thiết được chi cho các dự án chiến lược. Cách tiếp cận này cũng cần được bổ trợ bằng một kế hoạch sử dụng các nguồn tài chính chưa sử dụng do Bộ Tài chính nắm giữ để kích thích nền kinh tế thông qua cắt giảm thuế. Các biện pháp này bổ sung lẫn nhau thay vì thay thế cho nhau vì nhiều dự án cơ sở hạ tầng chiến lược quốc gia vẫn cần có đầu tư công.

Kết luận

Phân tích của nhóm tác giả cho thấy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, vốn vẫn chưa được Mỹ công nhận là một nền kinh tế thị trường thực sự, đang ngày càng dễ bị tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài khi căng thẳng thương mại  gia tăng. Các nhà lãnh đạo ĐCSVN và chính phủ dường như tương đối chậm chạp trong việc gỡ bỏ các rào cản đối với tăng trưởng và xao lãng khỏi các cải cách kinh tế. Trong dài hạn, sự thiếu quyết đoán và thiếu cam kết có thể dẫn đến việc Việt Nam bỏ lỡ các lợi ích ngắn hạn và chịu tổn thất nghiêm trọng từ các cú số tiêu cực bên ngoài do tình trạng căng thẳng thương mại gây ra.

Một cải cách kinh tế toàn diện hướng tới một nền kinh tế thị trường thực sự và đầu tư công khôn ngoan hơn sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp nhận các cú sốc bên ngoài trong tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh căng thẳng thương mại toàn cầu kéo dài.

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS – 21/11/2018

TLTKĐB – 28/11/2018

Việt Nam đối phó ra sao trước tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung? – Phần II


Các kịch bản tương tự có thể xảy ra với các mặt hàng nông sản khác của Trung Quốc và Mỹ. Trung Quốc hiện là thị trường lớn cho các mặt hàng nông sản như trái câu, gạo và hải sản từ Việt Nam. Rau quả Trung Quốc với nguồn cung dồi dào và tương đối rẻ, gây nhiều sức ép cho các mặt hàng nông sản của Việt Nam được bán ở cả Trung Quốc lẫn thị trường nội địa Việt Nam. Bên cạnh đó, các nhà xuất khẩu trái cây của Mỹ cũng có thể chú trọng hơn vào thị trường Việt Nam một khi các sản phẩm của họ bị Trung Quốc đánh thuế cao hơn.

Theo ý kiến của nhóm tác giả, trong dài hạn, hậu quả tiêu cực lớn nhất của cuộc chiến thương mại là sự giảm tốc của nền kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế chậm hơn có thể buộc các doanh nghiệp phải cắt giảm chi tiêu vốn khi các điều kiện thị trường tiền tệ ở Mỹ và một số nước phát triển đã thắt chặt. Vì mô hình tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, nên nó đặc biệt nhạy cảm trước sự giảm tốc của nền kinh tế toàn cầu và các điều kiện tài chính chặt chẽ hơn.

Tóm lại, các tác giả cho rằng trong ngắn hạn, tác động của cuộc chiến thương mại đối với Việt Nam sẽ tích cực nhiều hơn là tiêu cực, nhưng về lâu dài, thiệt hại tiềm ẩn do mức thuế cao hơn của Mỹ, các vấn đề môi trường và tỷ lệ tăng trưởng giảm gây ra sẽ gây ảnh hưởng lớn hơn so với các lợi ích trong ngắn hạn.

Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam nhìn nhận ra sao về cuộc chiến thương mại này?

Trước khi cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung nổ ra, vào đầu năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đặt ra nguyên tắc đối phó “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, tức là “vững chắc về nguyên tắc, linh hoạt trong chiến lược và chiến thuật”.

Sau khi cuộc chiến thương mại bắt đầu, và đồng NDT của Trung Quốc rớt giá, nhiều nhà kinh tế Việt Nam đã thúc giục chính phủ nhanh chóng thực hiện các hành động thích hợp. Một trong những đề xuất gây tranh cãi nhất là Ngân hàng nhà nước Việt Nam (SBV) chủ động giảm giá đồng VND để tăng tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam. Trong khi các chuyên gia và công chúng nói chung tranh cãi về đề xuất giảm giá đồng VND. Thủ tướng một lần nữa khẳng định nguyên tắc “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của ông. Ông nhấn mạnh rằng “sẽ không có thay đổi trong các chính sách kinh tế và tài chính trong năm 2018, kể cả thuế xăng dầu”. Ông nói thêm: “Chúng ta không hành động dựa trên những phán đoán về thị trường tài chính quốc tế như nhiều người trước đã đã đề xuất trước khi có bằng chứng cho thấy những tác động rõ ràng”. Ông cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải ổn định biến động tỷ giá giữa đồng USD và đồng VND trong phạm vi khoảng 2% so với tỷ giá cuối năm 2017.

Cách tiếp cận này phù hợp với một số đề xuất đã được đưa ra ở Trung Quốc về cách thức Trung Quốc đối phó với cuộc chiến thương mại. Shen Jianguang, một nhà kinh tế của Công ty chứng khoán châu Á thuộc Ngân hàng Mizuho, tuyên bố rằng trong khi Chính phủ Trung Quốc không nên hoang mang, họ cũng không nên đánh giá thấp tác động của tình trạng căng thẳng thương mại đang đến gần. Trung Quốc cũng nên coi cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung là một động lực để đẩy nhanh các cải cách kinh tế, do đó biến sức ép bên ngoài thành động cơ bên trong để thúc đẩy Trung Quốc hướng đến “gia nhập WTO lần thứ 2”. Đây cũng có thể hiểu là một cách tiếp cận “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Nhận xét này trùng hợp với tin tức gần đây trên tờ South China Morning Post rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang xem xét gia nhập CPTPP như là một phần trong chiến lược đối phó với cuộc chiến thương mại. Xuất hiện gần đây trên Bloomberg, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng điều quan trọng là Việt Nam phải duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng xuất khẩu, đồng thời ổn định mức sống của 96 triệu người dân trong nước. Thủ tướng trước sau đều nhận xét Việt Nam phải “tự lực tự cường” khi đối mặt với các thách thức toàn cầu và sẽ tìm kiếm hợp tác thương mại nhiều hơn với các nước bên ngoài khuôn khổ 12 FTA mà Việt Nam đã ký kết. Thủ tướng nhấn mạnh: “Chúng ta phải dựa vào một nội lực để vượt qua mọi trở ngại và duy trì đà tưởng trưởng”.

Thông qua những phát biểu của Thủ tướng trên Bloomberg, có thể thấy rõ ràng chiến lược cốt lõi của Chính phủ Việt Nam để đối phó với cuộc chiến thương mại là thúc đẩy ổn định vĩ mô, ổn định giá trị đồng VND và theo đuổi nhiều thỏa thuận thương mại hơn nữa nhằm tăng cường xuất khẩu và duy trì đà tăng trưởng.

Mặc dù cải cách kinh tế được nhắc đến một cách ngắn gọn, nhưng đó không phải trọng tâm trong thông điệp của Thủ tướng. Đây là nguyên nhân gây ra mối lo ngại rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam không quan tâm đúng mức tới các cải cách kinh tế trong nước trong chiến lược của họ. Nói cách khác, cuộc chiến thương mại trên thực tế có thể khiến các nhà lãnh đạo xao lãng khỏi mục tiêu tiến tới một nền kinh tế thị trường, mà tập trung quá nhiều vào các giải pháp mang tính chiến thuật để duy trì ổn định vĩ mô, tăng cường xuất khẩu trong ngắn hạn và phớt lờ việc cải cách kinh tế triệt để như một biện pháp khôi phục tăng trưởng trong dài hạn.

Một số diễn biến khác gần đây cho thấy đây là một mối quan ngại chính đáng. Quy trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), một trong 3 trụ cột lớn của công cuộc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã chậm lại đáng kể. Theo kế hoạch của chính phủ cho năm 2018, 85 DNNN phải được cổ phần hóa trong năm nay. Tuy nhiên, tính đến tháng 7/2018, mới chỉ 19 doanh nghiệp trong số đó được cổ phần hóa. Điều đáng lo ngại hơn nữa là bất chấp kế hoạch cổ phần hóa 39 DNNN ở Thành phố Hồ Chí Minh và 11 DNNN ở Hà Nội, các nhà lãnh đạo của 2 trung tâm kinh tế lớn này cho đến nay vẫn chưa tiến hành cổ phần hóa một doanh nghiệp nào.

Việt Nam đối phó ra sao với tình trạng không chắc chắn?

Các biện pháp đối phó mang tính chiến thuật trong ngắn hạn

Trong ngắn hạn, để hạn chế hoạt động chuyển hướng và ngụy trang hàng hóa Trung Quốc thành sản phẩm của Việt Nam, các chính quyền trung ương và địa phương của Việt Nam cần phải áp dụng một chính sách có chọn lọc hơn trong việc thu hút FDI. Các chính quyền địa phương cần kiểm tra kỹ lưỡng và từ chối những dự án đầu tư có dấu hiệu chuyển hướng ngụy trang. Tuy nhiên, các tác giả lo ngại rằng những đề xuất này không thể được thực thi hiệu quả do các rào cản pháp lý và tư duy ngắn hạn của các quan chức địa phương. Hơn nữa, Hà Nội có thể không muốn bị Bắc Kinh chỉ trích vì đặc biệt nhắm mục tiêu vào các nhà đầu tư Trung Quốc.

Cùng lúc đó, Việt Nam có thể và cần phải hành động quyết đoán hơn trước các khoản đầu tư gây ô nhiễm nghiêm trọng bằng cách đặt ra các yêu cầu bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và các biện pháp thực thi. Đây là một vấn đề cấp bách mà chính phủ không nên bỏ qua – những tác động tiêu cực đối với sức khỏe người dân có thể nghiêm trọng và có thể làm trầm trọng thêm thái độ tiêu cực của người dân Việt Nam đói với các nhà đầu tư Trung Quốc.

Để giúp các nhà sản xuất trong nước cạnh tranh với các nhà xuất khẩu thực phẩm và hàng nông sản của Trung Quốc và Mỹ, Chính phủ Việt Nam cần phải chủ động hơn trong việc giúp đỡ các công ty trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiếp cận nguồn vốn và quảng bá các thương hiệu Việt Nam chất lượng cao. Các yêu cầu an toàn thực phẩm nghiêm ngặt và việc quảng bá các mặt hàng nông sản an toàn và chất lượng cao có thể là giải pháp hữu hiệu trong nỗ lực này.

Biện pháp đối phó chiến lược số 1: Hướng tới một nền kinh tế thị trường thực sự.

Nhằm giảm nguy cơ hàng hóa Việt Nam có thể bị áp mức thuế cao do hàng hóa Trung Quốc chuyển hướng đi qua Việt Nam tới Mỹ, Việt Nam phải hướng tới một nền kinh tế thị trường thực sự.

Sau khi đạt được thỏa thuận với Canada và Mexico, Mỹ hiện đang hướng tới các giao dịch thương mại và đầu tư với các đối tác EU và Nhật Bản với một điều khoản “liều thuốc độc” chống lại các nước “phi thị trường”. Trong khi đó, Việt Nam được nhận xét là một “Trung Quốc mới” hoặc “Trung Quốc thu nhỏ”. Chính phủ Việt Nam phải nhận thức được những rủi ro gắn liền với việc bị phân loại là một nền kinh tế phi thị trường và phải chuẩn bị các giải pháp thích hợp để giải quyết những rủi ro này.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS – 21/11/2018

TLTKĐB – 28/11/2018

Việt Nam đối phó ra sao trước tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung? – Phần I


Tóm tắt

+ Trong ngắn hạn, Việt Nam có thể hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung bằng cách thay thế hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường Mỹ bằng hàng Việt Nam và di dời các cơ sở sản xuất đặt ở Trung Quốc về Việt Nam.

+ Chiến lược của Chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết những căng thẳng thương mại bên ngoài này là tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, giảm thiểu biến động tỷ giá và tham gia các thỏa thuận thương mại để duy trì tăng trưởng xuất khẩu.

+ Tuy nhiên về lâu dài, cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đặt ra các thách thức đối với mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và đầu tư nước ngoài của Việt Nam.

+ Việt Nam cần áp dụng các chính sách kinh tế để đạt được một nền kinh tế thực sự dựa vào thị trường và cải thiện đầu tư công để duy trì và củng cố đà tăng trưởng.

Giới thiệu

Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) công bố vào tháng 10/2018 nêu rõ tình trạng căng thẳng thương mại là một trong những nguy cơ lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đang là trung tâm của căng thẳng thương mại toàn cầu, và mặc dù một số nhà phân tích cho rằng Việt Nam là một trong những “bên chiến thắng” trong cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, nhưng một báo cáo nghiên cứu mật của tời Finance Times lập luận rằng nước này trên thực tế là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất do sự phụ thuộc của họ vào xuất khẩu. Hơn nữa, việc đạt được thặng dư thương mại khá lớn với Mỹ sẽ khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách theo dõi của các nhà hoạch định chính sách thương mại Mỹ.

Bài viết này phân tích cả các tác động tích cực lẫn tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đối với Việt Nam. Nó cũng thảo luận về các chiến lược của Chính phủ Việt Nam trong việc đối phó với tình hình này, và kết luận một số điểm quan trọng mà Việt Nam cần lưu ý khi đương đầu với cuộc chiến này.

Tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đối với Việt Nam

Nhóm tác giả tin rằng cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung mang lại cả thách thức lẫn cơ hội cho Việt Nam. Trong ngắn hạn, Việt Nam có thể hưởng lợi từ căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc nhờ một cú huých tạm thời trong xuất khẩu và đầu tư nước ngoài.

Tại một cuộc hội thảo gần đây – “Tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung tới nền kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh” – Tiến sĩ Võ Trí Thành cho rằng khi nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ trở nên đắt đỏ hơn do bị áp thuế cao hơn, các công ty Mỹ sẽ tìm kiếm những lựa chọn nhập khẩu thay thế từ các nước khác, chẳng hạn như hàng dệt may, quần áo và đồ điện tử từ Việt Nam.

Theo Tổng cục thống kê, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt gần 35 tỷ USD vào tháng 9/2018, tăng 12,5% so với năm ngoái. Cụ thể, xuất khẩu điện thoại di động và phụ kiện tăng 46% trong khi xuất khẩu hàng dệt may, đồ da và giày dép tăng hơn 12%.

Việt Nam cũng có thể hưởng lợi từ một sự biến đổi trong chuỗi cung ứng toàn cầu khi các doanh nghiệp chuyển một bộ phận sản xuất đáng kể của họ ra khỏi Trung Quốc. Trong những năm gần đây, các công ty đa quốc gia đã và đang chuyển các hoạt động công nghiệp lợi nhuận cao sang Việt Nam do chi phí và rủi ro đều tăng khi kinh doanh ở Trung Quốc. Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đã đẩy nhanh xu hướng này. Các lợi thế của Hiệp định thương mại song phương Việt – Mỹ (BTA), 12 thỏa thuận thương mại tự do (FTA) được ký kết, và các thỏa thuận quan trọng khác đang chờ được thông qua như FTA của Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU) và Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đã khiến Việt Nam trở nên hấp dẫn đối với các công ty đa quốc gia sau khi căng thẳng thương mại leo thang, và các hãng sản xuất lớn trên toàn cầu như Intel, Foxconn, LG và Samsung đã chuyển nhà máy của họ sang Việt Nam.

Cùng lúc đó, các công ty Trung Quốc cũng đang chuyển các đơn đặt hàng sản xuất các mặt hàng bị ảnh hưởng bởi mức thuế cao sang các đối tác ở Việt Nam. Một số nhà sản xuất Trung Quốc có thể tăng cường đầu tư vào Việt Nam hoặc hợp tác với các công ty ở Việt Nam để thực hiện các đơn đặt hàng cho các đối tác của họ ở thị trường Mỹ. Anna Hồ, Giám đốc điều hành Công ty Silstar Machinery, nhà cung cấp máy móc cho các hãng sản xuất bao bì nhựa, đã nói với tờ Saigon Times Online rằng trong vài tháng qua, bà đã chào đón nhiều nhà sản xuất bao bì nhựa từ Trung Quốc cũng như các bên mua hàng từ Mỹ, những người quan tâm đến các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất mặt hàng này.

Tuy nhiên, cuộc chiến thương mại cũng đã tạo ra nhiều thách thức cho Việt Nam. Trước hết, Việt Nam có thể sớm phải chịu mức thuế cao hơn do Chính phủ Mỹ áp đặt vì các nhà máy Trung Quốc đã chuyển hướng các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc sang Việt Nam và gắn nhãn “sản xuất tại Việt Nam” cho chúng.

Chẳng hạn, ông Đỗ Duy Thái, Chủ tịch tập đoàn Thép Việt, lo ngại rằng sản phẩm thép giá rẻ của Trung Quốc đang trá hình thành sản phẩm của Việt Nam và sau đó được tái xuất khẩu sang Mỹ. Điều tương tự cũng xảy ra với Hiệp hội da giày và túi xách Việt Nam, vốn bày tỏ lo ngại về việc các công ty Trung Quốc đưa hàng hóa thành phẩm của họ sang Việt Nam thông qua hợp tác và liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam và sau đó tái xuất khẩu chúng sang Mỹ dưới nhãn “sản xuất tại Việt Nam”. Những thực tiễn này có thể khiến hàng hóa sản xuất tại Việt Nam bị Mỹ áp mức thuế cao hơn. Việt Nam đã có thặng dư thương mại với Mỹ cao thứ 6 trong năm 2017, sau Trung Quốc, Mexico, Đức, Canada và Nhật Bản; các nước đang bị đội ngũ thương mại của Tổng thống Trump giám sát chặt chẽ. Do đó nguy cơ cao là các nhà hoạch định chính sách của Mỹ sẽ cân nhắc áp thuế cao hơn đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam.

Việc di dời các cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam, mặc dù mang lại sự thúc đẩy trong ngắn hạn đối với xuất khẩu và đầu tư nước ngoài, cũng làm tăng thêm nguy cơ khiến Việt Nam trở thành một “thiên đường ô nhiễm”. Tại cuộc họp báo diễn ra vào ngày 28/9/2018, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê, đã công khai bày tỏ lo ngại rằng “làn sóng” các doanh nghiệp Trung Quốc di dời sang Việt Nam có thể khiến Việt Nam trở thành điểm đến cho các công nghệ công nghiệp lỗi thời, quy mô nhỏ và gây ô nhiễm môi trường từ nước láng giềng khổng lồ của họ.

Một nguy cơ khác đối với Việt Nam là thay vào đó, hàng tiêu dùng và nông sản của Mỹ và Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến thương mại sẽ đổ vào Việt Nam. Một ví dụ là thịt lợn của Mỹ. Với việc Trung Quốc áp mức thuế bổ sung 25%, mức thuế đối với thịt lợn của Mỹ xuất khẩu sang Trung Quốc tăng lên tới 71%. Ở mức cao như vậy, thị lợn của Mỹ rất khó giành được thị phần ở Trung Quốc, và Việt Nam trở thành một lựa chọn thay thế hấp dẫn cho những mặt hàng này. Hiện tại, giá thịt lợn ở Việt Nam vào khoảng 48000 – 50000 VND/kg, nằm trong mức cao nhất thế giới, trong khi giá thịt lợn của Mỹ nhập khẩu vào Việt Nam chỉ hơn 1,5 USD/kg, tương đương với chỉ khoảng 35.000 VND/kg. Do đó thịt lợn của Mỹ có một lợi thế so sánh lớn trên thị trường nội địa Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Ngọc, Phó Chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi Đông Nam Bộ, cho biết thịt của Mỹ nhập khẩu vào Việt Nam đã tăng khoảng gần 50% trong nửa đầu năm 2018.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS – 21/11/2018

TLTKĐB – 28/11/2018

Giải pháp nào cho mục tiêu một triệu doanh nghiệp


Ngô Ngọc Trai

Từ những năm trước, các ban ngành nhà nước đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cả nước sẽ có một triệu doanh nghiệp hoạt động hiệu quả. Tuy nhiên, mục tiêu này đến nay được đánh giá là không thể đạt được. Chỉ còn 2 năm nữa đến mốc thời hạn cuối cùng, nhưng theo số liệu báo cáo của Tổng cục Thống kê mới đây về tình hình doanh nghiệp, tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế tính đến thời điểm 31/12/2017 mới chỉ đạt 561.064 doanh nghiệp.

Trong 9 tháng đầu năm 2018, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 96.611, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 22.897, số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh là 23.053, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể là 50.050, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 11.536. Đến tháng 9/2018, số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế đạt khoảng 595.933 doanh nghiệp.

Vậy làm thế nào để gia tăng số doanh nghiệp hoạt động cho nền kinh tế? Giải pháp nào nếu được thực hiện sẽ giúp gia tăng số doanh nghiệp và nâng cao chất lượng của nền kinh tế?

Không thấy “phá sản”

Trong các số liệu của Tổng cục Thống kê nêu trên được thể hiện trong báo cáo của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tại kỳ họp thứ 6 không thấy có số liệu về doanh nghiệp pháp sản. Trong khi báo cáo có các số liệu cập nhật rất đầy đủ về doanh nghiệp giải thể, doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký và không đăng ký, doanh nghiệp chờ giải thể.

Theo luật hiện nay, giải thể là hình thức chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp trong khi vẫn đủ khả năng trả hết các khoản nợ. Còn phá sản là thủ tục chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp khi đã mất khả năng thanh toán. Nhưv ậy, đối với số doanh nghiệp giải thể có thể lạc quan là vấn đề nợ đọng của doanh nghiệp vẫn được đảm bảo và hy vọng về khả năng quay trở lại của doanh nghiệp vẫn còn. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp phá sản thì sự vắng bóng của số liệu phải chăng do người ta không muốn làm tối màu bức tranh kinh tế?

Vì sao vậy?

Dù không có số liệu về doanh nghiệp phá sản nhưng làm phép loại suy, chúng ta vẫn có thể hình dung ra được con số. Theo số liệu thống kê, số doanh nghiệp ngừng hoạt động có đăng ký đã có, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể đã có, còn lại là số doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc đang chờ giải thể là 50.050 doanh nghiệp.

Do vậy, những doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký mà cũng không làm thủ tục giải thể có thể quy là lâm vào tình trạng mất khả năng trả nợ. Như vậy, có thể nhận định số doanh nghiệp thực chất lâm vào tình trạng phá sản là một phần nào đó nằm trong con số 50.050 doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký hoặc đang chờ giải thể này. Đây mới chỉ là con số của 9 tháng đầu năm 2018, nếu tính cộng số liệu trong nhiều năm thì con số doanh nghiệp thực chất lâm vào tình trạng phá sản sẽ còn cao hơn.

Nếu có cơ chế giúp giải quyết nhanh chóng số doanh nghiệp này, tất toán các khoản công nợ và kết thúc mọi nghĩa vụ cho chủ doanh nghiệp, khi đó, chúng ta sẽ mở ra cơ hội cho sự quay trở lại của một số lượng rất lớn doanh nhân có kinh nghiệm. Đó chính là mấu chốt của vấn đề giúp gia tăng số lượng để đạt đến mục tiêu một triệu doanh nghiệp.

Phá sản giúp giải thoát khỏi nợ nần

Vì sao lâu nay số lượng doanh nghiệp thự chiện thủ tục phá sản lại ít đến nỗi không có số liệu để mà báo cáo? Nguyên nhân một phần là do nhận thức, một phần là do năng lực thực thi.

Về nhận thức, hiện tại nhiều người vẫn chưa hiểu hết về phá sản doanh nghiệp và thường hay đánh đồng phá sản với tội phạm trốn nợ, trong khi chỉ một số nhất định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản do chủ doanh nghiệp làm việc gì đó vi phạm pháp luật.

Còn lại rất nhiều trường hợp tình trạng mất khả năng trả nợ đơn thuần là do vấn đề năng lực quản trị, kế hoạch kinh doanh, nghị lực vươn lên, hoặc những biến động thị trường.

Khi đó, việc mất khả năng trả nợ chỉ đơn thuần là quan hệ pháp luật dân sự. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khi hết tài sản không còn gì nữa thì con nợ cũng được giải thoát khỏi trách nhiệm trả nợ.

Giống như trong rất nhiều bản án dân sự do tòa án tuyên buộc bên này phải trả tiền cho bên kia, nhưng nếu không có tiền để thi hành án thì cũng thôi chứ không làm gì được bên có nghĩa vụ nữa.

Trong các doanh nghiệp như cổ đông góp vốn trong công ty cổ phần hay thành viên góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn thì những người này cũng chỉ chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp của họ. Khi đó, thủ tục phá sản thực ra là quy trình pháp lý giúp tất toán các hợp đồng, kết thúc một chu kỳ quan hệ về quyền lợi nghĩa vụ dân sự.

Sau khi xác định các khoản nợ và mức độ tài sản hiện còn của doanh nghiệp, thủ tục phá sản sẽ được thực hiện. Khối tài sản ít ỏi còn lại sẽ được dùng để chi trả cho các khoản nghĩa vụ lần lượt được xác định. Sẽ có những khoản nợ không được hoàn trả vì tài sản doanh nghiệp đã hết. Và khi đó, chủ nợ cũng đành phải chấp nhận. Lúc đó, thủ tục phá sản chính là cách để giải thoát trách nhiệm cho các doanh nhân khỏi các vướng mắc pháp lý, làm sạch bản thân để từ đó có thể có một khởi đầu mới.

Theo Luật Phá sản năm 2014 đang có hiệu lực thi hành, chế tài cuối cùng mà một chủ doanh nghiệp có thể phải chịu là bị cấm thành lập doanh nghiệp hoặc tham gia quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 3 năm. Tuy nhiên, chế tài đó chỉ áp dụng cho những người đã có hành vi bất hợp tác chống đối trong quá trình xử lý thủ tục phá sản. Còn lại hầu như không có vấn đề gì đối với một chủ doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản.

Lợi ích như vậy mà lâu nay rất ít doanh nghiệp thực hiện cho xong thủ tục phá sản một doanh nghiệp. Và điều đáng buồn là tình trạng này lại một lần nữa làm lộ ra vấn đề năng lực của ngành tư pháp Việt Nam. Bởi lẽ, thủ tục phá sản là một trình tự tư pháp được thực hiện bởi tòa án. Quyết định về phá sản doanh nghiệp có hiệu lực thực thi tương tự bản án. Song những thủ tục tư pháp nhiêu khê và năng lực thực thi yếu kém đang là nguyên nhân khiến cho rất ít doanh nghiệp thực hiện thủ tục phá sản, ít đến nỗi không có cả số liệu thống kê về phá sản.

Hiện nay, để gia tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động trong nền inh tế, các ban ngành cần phải giải quyết cho thông suốt vấn đề doanh nghiệp phá sản.

Nguồn: BBC

TKNB – 20/11/2018

Khi nợ nước ngoài của Việt Nam đến ngưỡng tối đa


Theo đài RFA, nợ nước ngoài của quốc gia sắp chạm trần sẽ làm Việt Nam đối mặt những khó khăn gì, trong khi vẫn đang căng thẳng với tình hình nợ công?

Sẽ ảnh hưởng hàng loạt vấn đề về đầu tư

Ủy ban Tài chính Ngân sách vừa trình Quốc hội “Báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018”, trong đó cho biết tỷ lệ nợ công trên GDP đã giảm nhẹ trong những năm gần đây, tuy nhiên nợ nước ngoài của quốc gia lại đang tăng lên hàng năm đến gần mức trần cho phép là 50% GDP.

Cụ thể, theo Ủy ban Tài chính Ngân sách, nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2017 là 45,2% GDP; năm 2018 là 49,7% GDP và dự kiến năm 2019 là 49,9% GDP.

Theo Luật Quản lý Nợ công, nợ nước ngoài quốc gia gồm nợ nước ngoài chính phủ, các khoản vay nước ngoài được chính phủ bảo lãnh và nợ nước ngoài tự vay, tự trả của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật Quản lý Nợ công cũng quy định Ngân hàng Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm giám sát chặt chẽ mức vay của doanh nghiệp.

Khi  nợ nước ngoài của Việt Nam gần chạm trần cho phép là 50% GDP sẽ dẫn đến hệ quả gì? Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hóa, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cho biết: “Thật ra, nợ nước ngoài sắp chạm trần nên nó cũng có khả năng vượt trần. Đó là điều chúung ta không mong muốn nhưng có thể vẫn xảy ra. Như vậy, nó sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề về đầu tư cũng như những công việc khác của chính phủ”.

Giáo sư Vũ Văn Hóa cho rằng, không một chính phủ nào mong muốn như vậy, nhưng do tình hình tài chính trong nước đang gặp khó khăn, cho nên cần vay của nước ngoài. Việc đó là bất khả kháng của một nền kinh tế đang gặp khó khăn. Ông nói tiếp: “Tất nhiên, chuyện này sẽ ảnh hưởng đến việc cân đối tài chính trong nước, bởi vì tất cả những khoản nợ nước ngoài trước đây cũng đã đến hạn trả có tổng số rất lớn. Cho nên, bây giờ nếu tiếp tục vay nước ngoài nữa thì vấn đề tài chính càng gặp khó khăn hơn. Và nếu không trả nợ nước ngoài đúng hạn còn ảnh hưởng vấn đề uy tín đối với tổ chức tín dụng hoặc các quốc gia cho Việt Nam vay”.

Tuy nhiên, chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn lại không tỏ ra lo ngại về tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam hiện nay: “Tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam theo tôi là nằm trong vòng kiểm soát và không gây áp lực quá nhiều đối với vấn đề thanh toán của Việt Nam. Cho nên, mức trần nợ nước ngoài của Việt Nam là một giới hạn tương đối an toàn”.

Ông Huỳnh Bửu Sơn chỉ lo ngại việc vay nướoc ngoài bằng ngoại tệ đặt ra một nhu cầu cần phải có ngoại tệ để thanh toán. Điều đó tạo ra mọt áp lực khá lớn đối với chính phủ. Theo ông, nếu vay trong nước thì việc thanh toán khoản nợ đó bằng tiền nội tệ tuy cũng là một áp lực nhưng dù sao đây cũng là đồng nội tệ nên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng có thể chủ động để đối phó.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Văn Hóa, nợ trong nước cũng đã có nhiều và đang tăng lên, nên không thể vay thêm nữa hoặc không dám vay thêm vì lo ngại mất cân đối kinh tế trong nước.

Khi trình Quốc hội “Báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018” ông Nguyễn Đức Hải – Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách cho biết, tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam có xu hướng giảm trong những năm gần đây: năm 2017 là 62,6% GDP, năm 2018 có thể giảm còn 61,4% GDP và dự kiến xuống còn 61,3% GDP trong năm 2019.

Tốc độ tăng nợ công hiện vẫn rất cao

Tuy nhiên, theo Phó Giáo sư – Tiến sĩ Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế ở Hà Nội, tốc độ tăng nợ công hiện vẫn rất cao: “Hiện nay, tỷ lệ nợ công cũng như bội chi ngân sách giảm so với trước, nhưng tốc độ tăng hiện vẫn rất cao. Nợ nước ngoài hay trong nước mà cao thì đều ảnh hưởng và rủi ro cả, nhưng tất nhiên nợ nước ngoài nhiều áp lực hơn nợ trong nước”.

Theo số liệu Ủy ban Tài chính Ngân sách công bố vào cuối tháng 10/2018, số nợ công vẫn tiếp tục tăng nợ công năm 2017 là 3,13 triệu tỷ đồng; năm 2018 ước tính khoảng 3,41 triệu tỷ đồng, tăng hơn 280 nghìn tỷ đồng.

Trao đổi về vấn đề này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện quản lý Kinh tế trung ương cho biết: “Tôi đánh giá tình hình nợ công của Việt Nam đang cao và nợ nước ngoài cũng không thể xem thường. Cách chúng ta tính toán và xử lý cho đến nay vẫn ở trong tình trạng rất căng thẳng, chứ chưa có sự cải thiện gì đáng kể. Tôi rất mong chính phủ tiếp tục cải cách ngân sách, tái cơ cấu ngân sách, giảm các khoản chi thường xuyên, giảm bộ máy nhà nước để làm sao có một đề án tái cơ cấu ngân sách một cách hiệu quả hơn, và giảm tỷ lệ nợ công”.

Hiện khả năng huy động vốn trong nước của Việt Nam cũng bị hạn chế, mặc dù huy động vốn trong nước lãi suất cao hơn vay nước ngoài rất nhiều. Theo Tiến sĩ Ngô Trí Long, trong điều kiện lạm phát, bội chi ngân sách và thâm thủng như hiện nay thì lãi suất trong nước sẽ luôn luôn là cao Chính vì vậy, Việt Nam luôn cố gắng huy động, cũng như vay ở nước ngoài nếu có điều kiện cũng như mức lãi suất phù hợp.

Vào ngày 12/11/2018, Quốc hội Việt Nam thông qua nghị quyết điều chỉnh Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020. Cụ thể, Việt Nam sẽ gia tăng vốn ODA nước ngoài thêm 60.000 tỷ VND cho đầu tư công giai đoạn 2016 – 2020 và sẽ giảm nguồn vốn vay quốc nội để bảo đảm an toàn nợ công.

Nhận xét về điều này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết: “Nếu không vay ODA thì vẫn có thể vay thương mại, nhưng vay thương mại lãi suất sẽ cao hơn là vay ODA. Tôi chưa rõ các nguồn vay ODA như thế nào, nhưng Việt Nam hiện nay đạt mức thu nhập trung bình, tức thu nhập khoảng 2400 USD/người. Như vậy, sẽ không được hưởng lãi suất ưu đãi như trước kia”.

Việc Quốc hội quyết định cho vay thêm vốn ODA của nước ngoài và giảm vay trong nước, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng cũng sẽ làm giảm chi ngân sách vào lãi suất. Tuy nhiên, giải pháp cơ bản hơn là phải tái cơ cấu ngân sách, giảm vay nợ và giảm bội chi ngân sách. Theo ông, biện pháp này không dễ dàng và đòi hỏi một quyết tâm rất cao, cũng có thể phải chịu đau, nhưng ông cho rằng thà chịu đau sớm, còn hơn để tình hình tiếp tục căng thẳng hơn thì lúc bấy giờ sẽ còn rất bất lợi.

Nguồn: TKNB – 20/11/2018

CPTPP đòi hỏi Việt Nam thay đổi hệ thống pháp luật


Tuần qua, có nhiều sự kiện quốc tế quan trọng và Việt Nam đã tham gia tích cực vào những sự kiện này. Hội nghị cấp cao APEC đã kết thúc với việc lãnh đạo các nền kinh tế trong khu vực thảo luận về những rủi ro và thách thức đối với nền kinh tế toàn cầu, về chủ nghĩa bảo hộ và nền kinh tế kỹ thuật số.

Đầu tuần qua, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Bà Tatiana Flegontova, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu APEC, Học viện Kinh tế quốc dân và hành chính quốc gia trực thuộc Tổng thống, cho rằng sự tham gia của Việt Nam vào CPTPP sẽ làm tăng thu nhập thực tế của nước này lên 11 tỷ USD vào năm 2030. Nếu Mỹ không rút khỏi thỏa thuận, con số này có thể lên đến 41 tỷ USD. Tuy nhiên, CPTPP cũng mở rộng cửa cho các nước khác trong khu vực, và các quốc gia, vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Đài Loan đang thể hiện sự quan tâm đến nó. Nếu họ cũng tham gia hiệp định, thu nhập thực tế của Việt Nam sẽ lên tới 25 tỷ USD.

Bà Tatiana Flegontova nói: “CPTPP có kiểu cơ cấu tổ chức mới. Đây không chỉ là một khu vực thương mại tự do quy mô lớn. Ở đây, hoạt động của các công cụ thuế quan bị hạn chế, và điều quan trọng nhất là điều hòa các biện pháp phi thuế quan. Mỹ từng đề xuất nhiều biện pháp như vậy. Điều đó đã gây ra sự phản đối và dẫn đến các cuộc tranh luận gay gắt giữa các bên khác tham gia thỏa thuận. Tuy nhiên, các nước đó rất muốn thâm nhập vào thị trường Mỹ đầy hứa hẹn, vì vậy, họ đã chấp nhận các biện pháp không hấp dẫn đối với mình.

Hiện nay, sau khi Mỹ rút khỏi thỏa thuận, nhiều biện pháp bị đóng băng. Các nước tham gia CPTPP không từ bỏ hiệp định vì vẫn hy vọng Mỹ sẽ quay trở lại. Kết quả là nội dung về sở hữu trí tuệ được quy định tại Chương 18 của hiệp định đang bị đóng băng. Đây là lĩnh vực Mỹ đứng hàng đầu và là động cơ của cuộc cải cách đang được thực hiện ở các nước – đối tác thương mại. Các nước này cũng đưa ra những sửa đổi quy tắc đầu tư”.

Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư (ISDS) vẫn giữ nguyên. Công ty nước ngoài có thể khởi kiện Chính phủ lên tổ trọng tài quốc tế, bỏ qua các tòa án quốc gia, khi quốc gia này vi phạm nghĩa vụ của mình và vi phạm đó gây tổn hại đến lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài. Chương riêng về các doanh nghiệp nhà nước do Mỹ đề xuất cũng giữ nguyên. Các điều khoản của chương này gây phức tạp cho các công ty nhà nước để nhận tài trợ và được cấp ưu đãi.

Cuối cùng, thỏa thuận không cho phép các quốc gia thành viên đòi hỏi các công ty phải nội địa hóa dữ liệu và cho phép sử dụng hệ thống máy chủ toàn cầu. Quy định này trái với Luật An ninh mạng của Việt Nam. Tuy nhiên, văn bản Hiệp định CPTPP giải thích rõ thêm rằng, quy tắc này sẽ không được áp dụng tại Việt Nam chừng nào các cơ quan chức năng chưa áp dụng các cơ chế pháp lý để bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Bà Tatiana Flegontova nói: “Việc tham gia CPTPP đòi hỏi Việt Nam phải thực hiện nhiều công việc nghiêm túc liên quan đến Luật lao động. Ở đây nói về việc thành lập các tổ chức công đoàn và cơ chế giải quyết tranh chấp lao động. CPTPP áp đặt tiền phạt nặng nề đối với các vụ vi phạm tiêu chuẩn lao động. Hiện nay, theo CPTPP, Việt Nam phải phê chuẩn tất cả 8 công ước cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế. Đại diện Việt Nam đã yêu cầu đóng băng chương này. Tuy nhiên, theo kết quả các cuộc đàm phán, các bên thông qua quyết định giữ nguyên nó. Việt Nam còn 7 năm để đưa ra những sửa đổi pháp luật cần thiết trước khi các biện pháp trừng phạt thương mại có hiệu lực”.

Điều gì sẽ xảy ra nếu Mỹ quyết định quay trở lại TPP? Sau đó, thỏa thuận phải được sửa đổi một lần nữa, phải khôi phục các chương đang “bị đóng băng”. Xét theo lập trường của Tổng thống Donald Trump, việc khôi phục các chương cũ là không đủ, ông Trump có thể yêu cầu tạo điều kiện đặc biệt cho Mỹ. Vì vậy, Washington có thể gia nhập CPTPP sau khi ông Trump rời ghế tổng thống.

Nguồn: Sputnik

TKNB – 20/11/2018