Việt Nam chú trọng lợi ích thực tế của Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương


Theo mạng tin Thediplomat ngày 13/6, việc tham gia Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF), sáng kiến mới của Mỹ, có thể thúc đẩy khát vọng đạt được lợi ích kinh tế và vị thế vững chắc của Việt Nam trong cấu trúc kinh tế khu vực, nhưng Hà Nội khó tham gia chính thức.

Việc Việt Nam tham gia hiệp định kinh tế do Mỹ dẫn đầu không có gì đáng ngạc nhiên. Việt Nam với tư cách là thàn viên IPEF, có thể đóng vai trò quan trọng trong các chương trình nghị sự chính trị và kinh tế của IPEF, vì sáng kiến kinh tế này sẽ được dẫn dắt bởi các cuộc đối thoại chính giữa các đối tác liên quan.

Việc đảm bảo sự ổn định của các chuỗi cung ứng chủ chốt là mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam, vào thời điểm mà tình trạng tắc nghẽn chuỗi cung ứng đã ám ảnh các nền kinh tế Đông Nam Á. Tháng 12/2001, việc Bắc Kinh thắt chặt biên giới trên bộ do dịch COVID-19 bùng phát đã ảnh hưởng đến các nhà sản xuất nông nghiệp của Việt Nam. Tệ hơn nữa, xung đột Nga – Ukraine đã ảnh hưởng đến các thị trường xuất – nhập khẩu của Việt Nam, chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản do các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Moskva. Hai trường hợp trên đã bộc lộ tính dễ bị tổn thương của nền kinh tế Việt nam trước các cú sốc địa chính trị và gián đoạn thương mại. Do đó, đa dạng hóa chuỗi cung ứng với các đối tác IPEF có thể giúp Việt Nam tăng cường khả năng chống đỡ kinh tế, vào thời điểm mà các hành động của Moskva và Bắc Kinh tiếp tục tạo ra những thách thức cho chuỗi cung ứng toàn cầu.

Việc tham gia IPEF có thể giúp củng cố các lợi ích địa kinh tế và địa chính trị của Việt Nam, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế Mỹ – Trung và các nước đang tìm cách chuyển dịch kinh tế hay chiến lược “Trung Quốc+1”. Việt Nam mong nhận được hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ, năng lượng và bảo vệ môi trường. Chuyến thăm các tập đoàn công nghệ khổng lồ Intel, Apple và Google gần đây của Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã mở ra cơ hội để Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng công nghệ và hệ sinh thái kỹ thuật số của Mỹ, do các doanh nghiệp công nghệ cao này mong muốn đa dạng hóa chuỗi cung ứng của chính họ.

Chính phủ Việt Nam cũng ngày càng quan tâm đến năng lượng sạch và biến đổi khí hậu. Gần đây, Việt Nam đã nhấn mạnh nỗ lực hợp tác với Mỹ về các biện pháp cụ thể để giải quyết tình trạng khẩn cấp về môi trường, đồng thời tìm kiếm sự hỗ trợ thiết thực của Washington để trở thành “một nhà lãnh đạo ASEAN về năng lượng tái tạo”. Ngoài ra, do Mỹ đã duy trì quan hệ đối tác năng lượng sạch và tìm cách tăng cường hợp tác song phương với New Zealand, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ và Hàn Quốc. Việt Nam có khả năng sẽ tiếp tục theo đuổi cam kết đa phương với các quốc gia này về quá trình trung hòa carbon và chuyển đổi năng lượng tái tạo, với vai trò ngày càng quan trọng của Hà Nội trong mắt các cường quốc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Chuyển đổi kỹ thuật số, động lực quan trọng hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao và đạt mức phát thải ròng bằng 0, là những gì Việt Nam có thể học hỏi từ Mỹ và các cường quốc tầm trung khác, dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của họ trong lĩnh vực này. Năm ngoái, Việt Nam đã công bố Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, nhằm giải quyết khoảng cách về kỹ năng số và mở đường hướng tới nền kinh tế số. Các thành viên của IPEF có thể chia sẻ kinh nghiệm và giải pháp bền vững với Việt Nam, từ đó thúc đẩy năng lực và sự tự tin của Việt Nam trong việc phấn đấu vì một xã hội số bền vững.

Tuy nhiên, vẫn phải xem liệu Việt Nam có sẵn sàng tham gia trụ cột “kinh tế công bằng” của IPEF, nhằm thực thi “các chế độ thuế, chống rửa tiền và chống hối lộ hiệu quả hay không”. Cuộc chiến chống tham nhũng đã đáp ứng mong muốn chống hối lộ và tham nhũng từ lâu của người dân Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam có thể coi một số chủ đề phụ của “nền kinh tế công bằng” là quá nhạy cảm.

Với sự nổi bật của chủ nghĩa đa phương và “hợp tác lấy người dân làm trung tâm” với các cường quốc cùng chí hướng tham gia IPEF, Việt Nam có thể sẽ lựa chọn các cơ chế linh hoạt và khả thi, thay vì bó buộc mình vào bất kỳ lộ trình hoạt động cố địn nào. Để nâng cao vị thế của mình với các nước liên quan đến IPEF, Hà Nội cần giải quyết những tồn tại của mình, chẳng hạn như năng suất lao động tương đối thấp, sự đổi mới khiêm tốn và các quy định thiếu chặt chẽ trong công nghệ tài chính, và ít xuất khẩu được hàng hóa công nghệ cao sang các nước phát triển. Hơn nữa, việc gắn kết cả mối quan tâm và lợi ích giữa Việt Nam và các đối tác thông qua các cuộc đối thoại bình đẳng và tham vấn thường xuyên cần được tạo điều kiện để thúc đẩy IPEF hướng tới “một quy trình toàn diện, cởi mở và linh hoạt”, như Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh tại cuộc họp trực tuyến về việc khởi động hiệp định kinh tế này.

Nguồn: TKNB – 15/06/2022

Dẫn luận cho Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – Phần I


Cuốn sách này nỗ lực đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu. Chúng ta sống trong một nền kinh tế toàn cầu, nhưng tổ chức chính trị của xã hội toàn cầu chúng ta, buồn thay, lại không đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng gìn giữ hòa bình và hành động đáp lại những thái quá của các thị trường tài chính. Nếu không có những sự kiểm soát này, nền kinh tế toàn cầu có thể sụp đổ.

Nền kinh tế toàn cầu có đặc điểm không chỉ ở tự do buôn bán hàng hóa và dịch vụ, mà thậm chí hơn thế nữa, ở sự vận động tự do của vốn. Lãi suất, tỉ giá hối đoái, và giá chứng khoán ở các nước khác nhau có liên quan qua lại mật thiết, và các thị trường tài chính toàn cầu có ảnh hưởng cực lớn tới các điều kiện kinh tế. Nếu xét vai trò quyết định mà tư bản toàn cầu quốc tế đang đóng trong vận may rủi của các nước riêng lẻ, thì không phải là không thích hợp nếu nói đến một hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu.

Tư bản tài chính được hưởng một địa vị đặc quyền. Vốn cơ động hơn các nhân tố khác của sản xuất, và tư bản tài chính thậm chí còn cơ động hơn cả đầu tư trực tiếp. Tư bản tài chính lưu chuyển tới nơi nào nó được bồi hoàn tốt nhất: vì nó là dấu hiệu báo trước sự thịnh vượng, các nước cạnh tranh nhau để thu hút nó. Do những ưu thế này, vốn ngày càng được tích lũy nhiều hơn ở các thiết chế tài chính và các công ty công chúng đa quốc gia: quá trình này diễn ra thông qua sự trung gian của các thị trường tài chính.

Sự phát triển của các nền kinh tế toàn cầu không được đi kèm bởi sự phát triển song hành của một xã hội toàn cầu. Đơn vị cơ bản của đời sống chính trị và xã hội vẫn là nhà nước – dân tộc. Luật quốc tế và các thể quốc tế dù có, vẫn không đủ mạnh để ngăn ngừa chiến tranh hay vi phạm quyền con người trên quy mô lớn ở các nước riêng lẻ. Các đe dọa về sinh thái không được giải quyết đầy đủ. Các thị trường tài chính toàn cầu phần lớn ở ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách quốc gia hay quốc tế.

Tôi cho rằng tình trạng hiện nay là không lành mạnh và không thể tiếp tục. Các thị trường tài chính mang tính không ổn định cố hữu, và có những nhu cầu xã hội không thể được đáp ứng bằng cách để cho các lực lượng thị trường tự do hoành hành. Thật không may, những thiếu sót này lại không được thừa nhận. Thay vào đó, có một niềm tin rộng rãi rằng các thị trường mang khả năng tự sửa chữa, và một nền kinh tế toàn cầu có thể nảy nở mà không cần một xã hội toàn cầu. Người ta tuyên bố rằng lợi ích chung sẽ được phục vụ tốt nhất bằng cách cho phép mọi người chăm lo cho lợi ích riêng của chính anh ta hay chị ta, và rằng những nỗ lực bảo vệ lợi ích chung bằng việc ra quyết định tập thể sẽ làm méo mó cơ chế thị trường. Ý tưởng này được gọi là tự do kinh doanh (“laissez faire”) ở thế kỷ XIX nhưng nó có thể không phải là một cái tên hay ngày nay, vì nó là một từ Pháp và hầu hết những người tin ở phép màu của thị trường không nói tiếng Pháp. Tôi đã tìm ra một cái tên hay hơn cho nó: thuyết nguyên giáo thị trường (market fundamentalism).

Chính thuyết nguyên giáo thị trường đã khiến cho hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu không lành mạnh và không thể tiếp tục được. Đây là một tình cảnh tương đối mới đây. Vào cuối thế chiến thứ hai, sự lưu động quốc tế của vốn còn hạn chế và các thiết chế Bretton Woods được thành lập để tạo điều kiện dễ dàng cho thương mại khi sự lưu động vốn còn chưa có. Các hạn định đã được gỡ bỏ dần dần, và chỉ khi Margaret Thatcher và Ronald Reagan lên cầm quyền khoảng năm 1980 chủ nghĩa nguyên giáo thị trường mới trở thành một hệ tư tưởng thống trị. Chính thuyết nguyên giáo thị trường đã đặt tư bản tài chính vào địa vị cầm lái.

Đương nhiên đây không phải lần đầu tiên chúng ta có một hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Những đặc điểm chính của nó lần đầu tiên được nhận dạng khá tiên tri bởi Karl Marx và Friedrich Engels trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản công bố năm 1848. Cái hệ thống thịnh hành ở nửa sau thế kỷ 19 bằng cách nào đấy lại ổn định hơn cái biến thể hiện nay. Thứ nhất, có những cường quốc đế quốc mà Vương quốc Anh là nổi bật trước hết trong đó; các cường quốc này thu được lợi nhuận đủ lớn từ vị trí ở trung tâm của hệ thống để thấy cần giữ gìn nó. Thứ hai, có một đồng tiền quốc tế duy nhất dưới hình thức vàng; ngày nay có ba đồng tiền chủ yếu – đồng USD, đồng Mark Đức mà sớm trở thành đồng tiền chung châu Âu (Euro); và đồng Yen – cả ba đang cọ xát nhau như những vỉa kiến tạo, thường gây nên động đất, xô đẩy làm tan vỡ các đồng tiền thiết yếu trong quá trình đó. Thứ ba và quan trọng nhất là đã từng có những niềm tin và quy chuẩn đạo đức chung, không nhất thiết được thực thi, song được chấp nhận rất phổ biến là đáng mong muốn. Các giá trị này kết hợp một đức tin vào lý trí và một sự kính trọng khoa học với truyền thống đạo đức Do Thái – Cơ Đốc giáo, và nói chung cung cấp một sự chỉ dẫn đáng tin cậy hơn về điều gì đúng và điều gì sai so với những giá trị thịnh hành ngày nay. Các giá trị tiền tệ và thị trường giao dịch không tạo một cơ sở đầy đủ cho sự cố kết xã hội. Mệnh đề này có thể không nhiều ý nghĩa lắm đối với độc giả như nó vốn có, nhưng nó sẽ được nêu rõ ra trong cuốn sách này.

Mặc dù có tính ổn định tương đối của nó, hiện thân thế kỷ 19 của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu đã bị phá hủy bởi cuộc Thế chiến thứ nhất. Sau cuộc chiến tranh, đã có một nỗ lực yếu ớt nhằm tái dựng nó, nhưng nỗ lực đó đã đi đến một kết thúc tồi tệ trong cuộc sụp đổ năm 1929 và cuộc Đại suy thoái tiếp theo. Nếu xét rằng những yếu tố của tính ổn định đã từng có ở thế kỷ 19 mà nay lại không có, thì sẽ có khả năng tới đâu là biến thể hiện nay của chủ nghĩa tư bản toàn cầu cũng đi đến một kết thúc tồi tệ?

Tuy vậy có thể tránh được một thảm họa nếu chúng ta thừa nhận những thiếu sót của hệ thống chúng ta và sửa chữa chúng kịp thời. Những thiếu sót này xuất hiện như thế nào và làm thế nào có thể sửa chữa chúng? Đây là những câu hỏi mà tôi đề xướng để xem xét. Tôi lập luận rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của một xã hội mở, và những thái quá của nó có thể sửa chữa nếu những nguyên tắc của xã hội mở được hiểu rõ hơn và được ủng hộ rộng rãi hơn.

Thuật ngữ “xã hội mở” được lưu hành bởi Karl Popper trong cuốn sách của ông Xã hội mở và những kẻ thù của nó. Vào thời điểm cuốn sách được công bố năm 1944, xã hội mở bị đe dọa bởi các chế độ cực quyền là những chế độ dùng quyền lực của nhà nước để áp đặt ý chí của họ lên dân chúng. Khái niệm xã hội mở có thể dễ hiểu hơn nếu tương phản nó với các xã hội đóng mà các hệ tư tưởng cực quyền nuôi dưỡng. Điều này vẫn đúng đến tận khi sụp đổ hệ thống Xô viết năm 1989. Các xã hội mở – thường được nói đến bằng tên chung là phương Tây – đã bộc lộ sự cố kết đáng kể khi đối mặt một kẻ thù chung. Nhưng sau sự sụp đổ của hệ thống Xô viết, xã hội mở với sự nhấn mạnh của nó vào tự do, dân chủ, và sự thống trị của pháp luật, đã mất đi nhiều sức thu hút của nó với tư cách một nguyên tắc tổ chức, và chủ nghĩa tư bản toàn cầu nổi lên toàn thắng. Chủ nghĩa tư bản với việc nó dựa chỉ riêng vào các lực lượng thị trường, cũng đặt ra một nguy cơ loại khác cho xã hội mở. Nội dung trung tâm của cuốn sách này là chủ nghĩa nguyên giáo thị trường ngày nay là một mối đe dọa lớn cho xã hội mở, hơn bất kỳ hệ tư tưởng cực quyền nào.

Lời tuyên bố này hẳn gây choáng khá lớn. Nền kinh tế thị trường là bộ phận hợp thành của xã hội mở. Friedrich Hayek, nhà tư tưởng lớn nhất thế kỷ 20 của kinh tế học “laissez-faire”, là một người vững tin vào khái niệm xã hội mở. Làm thế nào một chủ nghĩa nguyên giáo thị trường có thể đe dọa xã hội mở?

Cho phép tôi tự làm rõ ý kiến của mình. Tôi không nói rằng thuyết nguyên giáo thị trường hoàn toàn đối lập với ý tưởng về xã hội mở theo cách thức mà chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản đã làm. Rất trái ngược với điều đó là đằng khác. Các khái niệm xã hội mở và nền kinh tế thị trường gắn chặt với nhau, và thuyết nguyên giáo thị trường có thể coi như chỉ là một sự bóp méo ý tưởng về xã hội mở. Điều đó không hề làm nó kém nguy hiểm hơn chút nào. Thuyết nguyên giáo thị trường gây nguy hiểm cho xã hội mở một cách không cố ý bằng cách diễn giải sai về cách các thị trường hoạt động và dành cho chúng một vai trò quá lớn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

IPEF và Việt Nam


Trần Hiếu Chân

Nhân chuyến công du Nhật Bản của Tổng thống Mỹ Joe Biden, cuộc “đàm phán marathon” về sáng kiến hợp tác kinh tế liên vùng với tên gọi “Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” (IPEF) đã được khởi động. IPEF gồm 13 nước tham gia là Mỹ, Australia, Brunei, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn QUốc, Malaysia, New Zealand, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Tính chung, các nước này chiếm khoảng 40% GDP toàn thế giới.

Đây là một sáng kiến thương mại mới, khác hẳn các hình thức trước đây như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Mỹ từng rút lui. Điểm khác biệt đầu tiên là IPEF sẽ không đặt ra yêu cầu phải có cam kết của các bên như phải mở cửa thị trường cho các nước thông qua giảm thuế hay tháo gỡ các rào cản thương mại khác. Nhờ vậy IPEF sẽ không đòi hỏi có sự phê duyệt của Quốc hội từng nước, bởi nó không phải là một hiệp định thương mại tự do. Gọi là “khuôn khổ” vì đích nhắm của sáng kiến này là tăng cường sự hợp tác của các nước trong nhiều lĩnh vực như năng lượng, nền kinh tế số, chuỗi cung ứng. Cụ thể, nội dung thảo luận trong thời gian tới sẽ tập trung vào 4 trụ cột: thương mại; chuỗi cung ứng; năng lượng sạch, phi carbon hóa và cơ sở hạ tầng; thuế và chống tham nhũng.

Một ví dụ cụ thể của sự hợp tác này là xây dựng lại chuỗi cung ứng, trong đó các nước đồng ý sẽ sớm phát hiện các trục trặc của một chuỗi cung ứng rồi đưa ra giải pháp. Chẳng hạn, nếu có dịch bệnh COVID-19 bùng phát ở một nước làm các nhà máy của nước này phải đóng cửa, sẽ có ngay một nhà máy của nước khác sẵn sàng thay thể để không làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Như thế, có thể thấy, IPEF trước tiên phục vụ cho mục đích xây dựng chuỗi cung ứng mới không có Trung Quốc nhằm giúp các doanh nghiệp đa quốc gia giảm phụ thuộc vào nước này. Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung mấy năm gần đây, đại dịch COVID-19 và chính sách “Zero-COVID” của Trung Quốc gây ra nhiều khó khăn, đẩy giá hàng hóa lên cao, gây lạm phát ở nhiều nước.

Điểm khác biệt thứ hai là cách thiết kế IPEF giúp tránh các ấn tượng không tốt trong dân chúng và ở Quốc hội Mỹ về các hiệp định thương mại tự do, từng là lý do buộc Mỹ phải rút khỏi TPP. Đó là ấn tượng các hiệp định thương mại trước đây chỉ nhằm thúc đẩy toàn cầu hóa, từ đó chuyển công ăn việc làm từ các nước như Mỹ sang các nước khác như Trung Quốc. Toàn cầu hóa theo kiểu đó làm mức sống của tầng lớp công nhân trung lưu trước đây của Mỹ rơi vào chỗ bế tắc, mất việc làm. Ngược lại, sáng kiến IPEF nhấn mạnh đến sự hợp tác, trong đó có thể có cả việc đưa một số khâu sản xuất trở về Mỹ, miễn sao chúng vẫn là một phần của chuỗi cung ứng mới. Một trong 4 trụ cột chính của IPEF là thương mại, nhưng việc bàn thảo sẽ không còn tập trung vào việc giảm thuế hay tiếp cận thị trường, các nước sẽ bàn về vấn đề như các chuẩn mực cho dòng chảy dữ liệu trong nền kinh tế số, tính riêng tư trên không gian mạng, cách sử dụng trí tuệ nhân tạo hợp đạo đức…

Có thể thấy, IPEF có quy mô nhỏ hơn TPP và nhìn từ phía các nước châu Á, sẽ không giúp họ tăng xuất khẩu vào Mỹ như từng tính toán với TPP trước đây. Thay vào đó, người ta hy vọng khuôn khổ này giúp các nước liên kết chặt chẽ với nhau trong một phương cách hợp tác mới, chứ không đơn thuần là xuất khẩu hàng hóa. Dù sao, đây chỉ mới là giai đoạn khởi động, phải chờ có thêm các chi tiết cụ thể mới đoán định được IPEF sẽ đóng vai trò như thế nào trong mối quan hệ giữa Mỹ và 12 nước đối tác trogn khuôn khổ này. Sau lễ công bố khởi động thảo luận về IPEF, bộ trưởng kinh tế 13 nước sẽ nhóm họp để bàn thảo về kế hoạch triển khai trong thời gian tới, kể cả từng nước quyết định sẽ tham gia lĩnh vực nào trong 4 trụ cột nói trên với thời gian thảo luận dự kiến sẽ kéo dài từ 12 – 18 tháng.

Dù không nói ra, IPEF cũng như TPP trước đó, là những trận đánh nhằm phục vụ chiến trường cũ là bao vây Trung Quốc, không cho nước này thay đổi trật tự, luật chơi thế giới đã hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ hai. IPEF còn hơn TPP vì có cả Ấn Độ, tức bao gồm cả 4 nước thuộc nhóm “Bộ tứ” gồm Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia (QUAD) – nhóm phối hợp hành động được tuyên bố vào năm 2017, khi khu vực Biển Đông đứng trước những hành động leo thang, củng cố quân sự của Trung Quốc, đe dọa tới tự do lưu thông hàng hải. Ngoài ra, còn có 2 quốc gia quan trọng khác không có trong TPP tham gia là Indonesia – nước lớn nhất Đông Nam Á và Hàn Quốc, căn cứ sản xuất chip điện tử hàng đầu thế giới. IPEF là một trận địa tổng lực do người Mỹ giăng ra, tuy có ít sự ràng buộc hơn so với TPP. Sự ít ràng buộc này có thể là vì người Mỹ muốn có một kết quả sớm, chứng tỏ rằng họ đang liên minh với châu Á, rằng họ vẫn không bị cuộc chiến Ukraine làm sao nhãng. Nếu ràng buộc nhiều thì e rằng không thu hút được đông đảo các quốc gia yếu nhất ở Đông Nam Á.

Việt Nam hưởng lợi gì?

Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, Cố vấn cao cấp Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển quan hệ quốc tế (CSSD), IPEF định hướng cho phát triển và hợp tác kinh tế với nền kinh tế chủ chốt ở khu vực, cũng là các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của tương lai, mang tính bền vững và đảm bảo cạnh tranh. Điều này phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Việt Nam thời gian tới. Đơn cử như thương mại mang tính bền vững, công bằng và chuyển đổi số là những điều Việt Nam đang hướng tới. Năng lượng sạch cũng là lĩnh vực Việt Nam hướng tới với những cam kết ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi sang sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo. Việt Nam cũng cần đến công nghệ và sáng tạo, cả những hành lang pháp lý để bảo đảm công nghệ tin cậy, chất lượng cao, bền vững…

Nhìn chung, các trụ cột mà IPEF đưa ra mang tính định hướng là tin cậy, bền vững, xanh, sạch, số… đều phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam. Tham gia vào IPEF thể hiện việc Việt Nam tham gia vào nhiều tầng nấc liên kết, hợp tác kinh tế khu vực và trên thế giới, cùng bổ sung cho nhau tạo động lực phát triển. Sáng kiến IPEF hình thành trong một quá trình trao đổi với rất nhiều bên liên quan, trong đó có Việt Nam. Việt Nam hy vọng đóng góp tiếng nói, định hướng những lĩnh vực hợp tác phù hợp.

Tuy nhiên, đây mới là bước đầu. Thời gian tới, chắc chắn các nước đều phải chuẩn bị tích cực để chủ động nêu ra đề xuất của mình, thể hiện lợi ích quốc gia cũng như khu vực. IPEF nhằm mục đích làm sâu sắc hơn quan hệ thương mại giữa Mỹ và các quốc gia ký kết.

Tuy nhiên, theo giới chuyên gia bên ngoài Việt Nam, trong tình hình hiện nay, ngay cả khi giới chức Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu có thêm nhiều giá trị thặng dư, họ cũng không thể làm được, vì nền giáo dục Việt Nam quá tệ hại, không thể cung cấp được số nhân công đó. Có phần rất chắc chắn rằng nếu IPEF thành công và Việt Nam thành công trong việc gia nhập IPEF, người Việt vẫn là những người làm những công việc đơn giản và rẻ tiền nhất. Đó là mục tiêu cụ thể nhất của IPEF, 3 mục tiêu còn lại càng khó cho Việt Nam.

Với mục tiêu chống tham nhũng, người ta có thể nói rằng chiến dịch “đốt lò” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang làm hài lòng người dân. Mặc dù Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thực sự chống tham nhũng, nhưng với cơ chế chính trị của Việt Nam hiện nay, đây là công việc chống tham nhũng của một người và khi người ấy không còn trên vũ đài chính trị nữa thì “lò cũng sẽ tắt”.

Với mục tiêu năng lượng sạch, đòi hỏi một kinh phí rất lớn, trừ khi Việt Nam được sự hậu thuẫn rất lớn về tài chính, khả năng các nhà máy điện chạy than quay trở lại là chuyện dễ dàng xảy ra. Mục tiêu nền kinh tế số gắn liền với mục tiêu đầu tiên là khả năng của nguồn nhân lực Việt Nam. Bên cạnh đó, hệ thống chính trị, kinh tế-xã hội Việt Nam cho tới nay vẫn không thích công khai minh bạch, không thể đáp ứng cho một nền kinh tế số lành mạnh.

Điều mà tương lai Việt Nam cần, trong 20 năm nữa, lại không nằm trong 4 mục tiêu mà IPEF đưa ra, hay nói đúng hơn là có liên quan nhưng xa, đó là chuyển đổi số phận cho 60% cư dân Việt Nam đang sống lay lắt trong một nền nông nghiệp lạc hậu. Nền nông nghiệp này lệ thuộc một cách “tội nghiệp” vào thị trường Trung Quốc.

Nguồn: RFA

TKNB – 01/06/2022

Kinh tế châu Âu vật lộn với cú sốc năng lượng nghiêm trọng


Theo tờ The Economist ngày 6/6, nền kinh tế châu Âu đang phải vật lộn với cú sốc năng lượng nghiêm trọng, nhưng vẫn chưa rơi vào vòng suy thoái.

Trong khoảng thời gian tốt nhất trước đây, lãi suất chạm đáy dường như là một thực tế của cuộc sống ở khu vực đồng euro – cũng như lạm phát thấp. Giờ đây, giá tiêu dùng đang tăng với tốc độ hàng năm vượt quá 8%, cao hơn nhiều so với mục tiêu 2% của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB). Các thành viên của hội đồng quản trị ngân hàng đã bắt đầu báo hiệu ý định tăng lãi suất sớm, một thông điệp mà họ nhiều khả năng sẽ tái khẳng định tại cuộc họp họp chính sách tiền tệ vào ngày 9/6 tới. Tuy nhiên, ECB lại đang ở một tình thế khó khăn: không chỉ giành giật với giá cả tăng vọt, vốn có thể biện hộ cho việc nâng tỷ lệ lãi suất nhanh chóng mà còn đối mặt với viễn cảnh tăng trưởng ảm đạm hơn.

Nguyên nhân sâu xa của cả hai diễn biến này là một cú sốc giá năng lượng nghiêm trọng. Giá dầu và khí đốt tự nhiên đã tăng trước khi Nga xâm lược Ukraine; và cuộc chiến này đã khiến giá cả vẫn tiếp tục tăng vọt. Giá hàng hóa tăng cao đã đóng vai trò lớn hơn nhiều trong việc đẩy lạm phát giá tiêu dùng ở châu Âu lên cao hơn ở Mỹ, nơi mà các biện pháp kích thích hào phóng cũng là một thủ phạm. Theo Ngân hàng Goldman Sachs, giá năng lượng ở khu vực đồng euro – vốn tăng với tốc độ hàng năm là 39% vào tháng 5 – đang đóng góp khoảng 4 điểm phần trăm vào lạm phát chính, so với 2 điểm ở Mỹ.

Các tác động đang bắt đầu lan sang những giá tiêu dùng khác. Lạm phát “cốt lõi” không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng, đã tăng nhanh hơn trong khu vực đồng euro vào tháng 5 so với dự đoán của các nhà kinh tế. Giá sản xuất của Đức tăng ở mức kỷ lục 33,5% trong tháng 4, so với năm 2021, bắt nguồn không chỉ bởi năng lượng mà còn cả hàng hóa trung gian sử dụng nhiều năng lượng, chẳng hạn như kim loại, xi măng và hóa chất. Kết quả của tất cả những điều này tạo ra một tác động lớn đối với chi phí của các doanh nghiệp và sức mua của các hộ gia đình. Tình trạng này gây nguy hiểm đến mức nào đối với nền kinh tế của khu vực đồng euro?

Hậu quả của cú sốc năng lượng là thu nhập thực tế của các hộ gia đình thấp đi. Tăng trưởng tiền lương tăng khiêm tốn trong toàn khu vực, nhưng vẫn xếp hàng sau lạm phát. Một số người sử dụng lao động đã thanh toán một lần cho người lao động để bù đắp cho họ do giá cả tăng cao. Tuy nhiên, ngay cả khi đó, tăng trưởng lương hàng năm ở Hà Lan chỉ ở mức 2,8% trong tháng 5, bất chấp tâm lý kinh doanh mạnh mẽ và thị trường lao động eo hẹp.

Theo một nghĩa nào đó, đây lại là một tin tốt đối với ECB vì điều này làm giảm nguy cơ xảy ra vòng xoáy giá tiền lương. Tuy nhiên, điều này có nguy cơ dẫn đến mức tiêu dùng thấp hơn, làm suy yếu phần còn lại của nền kinh tế.

Nguồn cung tiếp tục bị gián đoạn do các đợt đóng cửa gần đây của Trung Quốc và giá năng lượng cao đang gây tổn hại cho các doanh nghiệp, trong đó, Đức vào Đông Âu có vẻ dễ bị tổn thương nhất, qua đó dẫn đến suy thoái công nghiệp. Đơn đặt hàng mới cho các nhà sản xuất của khu vực này trong tháng 5 đã giảm lần đầu tiên kể từ tháng 6/2020, qua đó cho thấy nhu cầu yếu hơn. Do đó, các nhà kinh tế nhận định mức tăng trưởng chậm hơn trong những năm còn lại bởi một số bộ phận của nền kinh tế phải đối mặt với cú sốc năng lượng từ vị thế mạnh. Nhiều công ty dịch vụ vẫn đang gặt hái thành quả từ việc mở cửa trở lại và chấm dứt các hoạt động giãn cách liên quan đến biến thể Omicron. Các quốc gia phía Nam đang được hưởng lợi nhiều nhất do phụ thuộc vào du lịch. Ở Tây Ban Nha, những người phương Bắc tìm kiếm ánh năng Mặt Trời gần như đạt đến mức trước đại dịch hồi tháng 4. Nhìn chung, tâm lý kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ vẫn mạnh mẽ, với nhiều công ty báo cáo lượng công việc tồn đọng ngày càng tăng.

Thị trường việc làm vẫn rất dồi dào. Trong toàn khối, cứ 100 việc làm thì có 3 vị trí tuyển dụng trong quý I/2022, một mức cao theo tiêu chuẩn lịch sử. Kỳ vọng tuyển dụng của các doanh nghiệp vẫn vững chắc, mặc dù hơi yếu hơn kể từ khi bắt đầu xung đột tại Ukraine. Theo ước tính, hơn một trong 4 doanh nghiệp ở châu Âu nói rằng việc thiếu nhân viên đang ngăn cản họ sản xuất nhiều hơn.

Việc tích trữ các khoản tiết kiệm được tích lũy trong quá trình phong tỏa do dịch COVID-19 cũng sẽ cung cấp cho người tiêu dùng một số vùng đệm chống lại cú sốc năng lượng. Theo tính toán của The Economist, khoản tiết kiệm “vượt mức” như vậy ở Pháp và Đức lên tới khoảng 1/10 thu nhập định đoạt của các hộ gia đình trong quý đầu tiên của năm 2022. Những vùng đệm này sẽ làm giảm tác động của cú sốc năng lượng, nhưng chúng sẽ không bù đắp hoàn toàn. Đầu tiên, khoản tiết kiệm dư thừa không được phân bổ đồng đều. Chẳng hạn như ở Slovakia, tỷ lệ tiết kiệm chưa bao giờ tăng nhiều trong thời kỳ đại dịch và hiện đang ở mức thấp hơn nhiều so với mức trung bình dài hạn.

Nhiều chính phủ đã đưa ra các chương trình chi tiêu lớn để bảo vệ các hộ gia đình khỏi giá năng lượng cao. Theo tổ chức tư vấn Bruegel, Đức, Pháp, Italy và những nước khác đang chi tiêu từ 1% đến 2% GDP. Tuy nhiên, không phải tất cả những điều đó đều được nhắm mục tiêu tốt. Phần lớn trong số đó sẽ cứu trợ cho các hộ gia đình khá giả không cần đến nó; các biện pháp khác liên quan đến việc can thiệp vào giá cả, với một số lợi ích sẽ thuộc về các nhà cung cấp năng lượng.

Ngay cả khi khu vực đồng euro không bị suy thoái thì cú sốc năng lượng vẫn là lực cản đối với tăng trưởng. ECB phải đối mặt với một tình thế “tiến thoái lưỡng nan” không thể giải quyết. Với việc lạm phát gia tăng do giá thực phẩm và năng lượng, nền kinh tế châu Âu ngày càng suy yếu.

Nguồn: TKNB – 09/06/2022

Về việc Vietnam Airlines bán cổ phần Cambodia Angkor Air cho công ty Trung Quốc


Báo Phnom Penh Post ngày 5/6 dẫn lời Chủ tịch Hiệp hội Lữ hành châu Á – Thái Bình Dương (PATA) chi nhánh Campuchia Thourn Sinan cho biết việc tổ chức lại các cổ đông của Cambodia Angkor Air sẽ cho phép hãng hoạt động với vai trò của một hãng hàng không quốc gia trong việc mở rộng đường bay đến các điểm đến mới trong khu vực và trên thế giới.

Bình luận về việc Hãng hàng không quốc gia Việt Nam Vietnam Airlines bán 35% cổ phần của họ trong Cambodia Angkor Air cho một công ty Trung Quốc thông qua thỏa thuận chuyển nhượng cổ phần trị giá 34 triệu USD ngày 31/5/2022, ông Sinan cho rằng trong quá khứ, Cambodia Angkor Air không hoạt động như một hãng hàng không quốc gia vì hãng hàng không kết nối với các thành phố lớn và các điểm đến khác. Ông cho biết: “Tôi không quan ngại về việc đơn vị nào mua cổ phần, mà điều quan trọng là liệu hãng có quyết định trở thành một hãng hàng không quốc gia hay không. Hãng nên kết nối với các thị trường mới và thị trường lớn để khai phá các điểm đến cho các hãng tư nhân kết nối theo”.

Mạng tin Fresh News  của Cambodia dẫn báo mạng VnExpress của Việt Nam cho biết vụ chuyển nhượng khiến Vietnam Airlines chỉ còn 14% cổ phần trong Cambodia Angkor Air.

Trước đó, trả lời mạng tin Fresh News, Chủ tịch Cambodia Angkor Air Tek Reth Samrech nói rằng Vietnam Airlines đã đàm phán bán cổ phần của họ trong Cambodia Angkor Air từ trước khi bùng dịch COVID-19, song thương vụ này bị trì hoãn tới nay. Việc chuyển nhượng cổ phần của Vietnam Airlines cho một công ty Trung Quốc sẽ giúp Cambodia Angkor Air hoạt động mạnh hơn và sôi động hơn, bởi vì công ty Trung Quốc mua 35% cổ phần của Cambodia Angkor chuyên về hàng không dân dụng và hiện là công ty Trung Quốc có vốn sở hữu quốc doanh lớn thứ ba trong lĩnh vực du lịch. Việc công ty Trung Quốc đồng sở hữu cổ phần trong Cambodia Angkor Air sẽ hỗ trợ hoạt động kinh doanh của hãng, đặc biệt sẵn sàng vận chuyển khách hàng Trung Quốc một khi Trung Quốc kết thúc các biện pháp thắt chặt phòng chống COVID-19 và mở cửa đi lại như trước thời đại dịch.

Cambodia Angkor Air hiện thuộc sở hữu của ba cổ đông khác nhau, bao gồm Chính phủ Campuchia 51%, công ty Trung Quốc 35% và Vietnam Airlines 14%. Hãng đang khai thác các đường bay nội địa, đường bay nối Phnom Penh với Thành phố Hồ Chí Minh và từ Phnom Penh đi Trung Quốc.

Theo Bộ Du lịch Campuchia, trong 4 tháng đầu năm 2022, Campuchia đón 131.864 lượt khách du lịch nước ngoài, tăng 243,9% so với mức 38.346 lượt khách cùng kỳ năm 2021.

Báo cáo của Fresh News cho biết Vietnam Airlines đã nhận 30 triệu USD ngày 03/01/2022 và thêm 4 triệu USD hôm 29/03 vừa qua từ nhà đầu tư mua lại cổ phần của Vietnam Airlines trong Cambodia Angkor Air. Trước đó, năm 2019, Vietnam Airlines đã nhận 1 triệu USD tiền đặt cọc, nâng tổng giá trị chuyển nhượng 35% cổ phần của Vietnam Airlines trong Cambodia Angkor Air lên 35 triệu USD. Cambodia Angkor Air ra đời năm 2009 dưới sự hợp tác chung vốn của Chính phủ Campuchia và Vietnam Airlines. Dựa vào thỏa thuận liên doanh, Chính phủ Campuchia sở hữu 51% cổ phần và Vietnam Airlines sở hữu 49% cổ phần.

Theo VnExpress, Vietnam Airlines sẽ giải quyết nốt 14% cổ phần còn lại của họ trong Cambodia Angkor Air vào cuối năm nay.

Theo báo Vietnam News, năm 2021, hoạt động kinh doanh của Cambodia Angkor Air bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch, khiến hãng thua lỗ 17,7 triệu USD, thua nặng hơn 37,2% so với năm 2020.

Nguồn: TKNB – 09/06/2022

Giới thiệu “Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu” của George Soros – Phần cuối


Rồi đến một điểm khi tai ương ở vùng ngoại vi không thể tốt cho trung tâm nữa. Tôi tin rằng chúng ta đã đến điểm đó với cuộc suy sụp ở nước Nga. Tôi có ba lý do cơ bản để nói như vậy.

Lý do thứ nhất là cuộc suy sụp ở Nga đã phơi bày ra những thiếu sót nhất định trong hệ thống ngân hàng quốc tế mà từ trước đến nay vẫn bị bỏ qua. Thêm vào với việc hướng vào bảng cân đối của chính họ, các ngân hàng còn bước vào những giao dịch hoán đổi, những buôn bán đổi chác đặt trước và buôn bán phái sinh với nhau và các khách hàng của họ. Những giao dịch buôn bán này không được biểu hiện trên các bảng cân đối của các ngân hàng. Chúng thường xuyên được ghi dấu cho thị trường, nghĩa là chúng thường xuyên được định giá lại và bất kỳ khác biệt nào giữa giá chi phí và thị trường đều được bù lại bằng những việc chuyển tiền mặt. Người ta mong đợi rằng điều này sẽ loại bỏ sự rủi ro của bất kỳ sự vỡ nợ nào. Các thị trường hoán đổi, đặt trước và phái sinh rất lớn, và những khoản đặt cọc thì cực kỳ mỏng manh như sợi tóc; nghĩa là giá trị của số tiền nguồn gốc là một bội số nhiều lần của số vốn dùng trong cuộc kinh doanh. Các cuộc giao dịch buôn bán tạo thành chuỗi giao dịch lôi kéo giá với nhiều khâu trung gian, và mỗi khâu trung gian có trách nhiệm với bên đối tác mà không hề biết có ai nữa liên quan. Việc hướng vào các đối tác riêng lẻ bị hạn chế bởi việc tạo lập các giới hạn tín dụng.

Hệ thống phức hợp này đã bị một cú sốc choáng váng khi hệ thống ngân hàng của Nga sụp đổ. Các ngân hàng Nga vỡ nợ, nhưng các ngân hàng phương Tây vẫn ở tình thế khó khăn đối với các khách hàng của họ. Người ta không tìm được cách nào để đền bù khoản nợ của một ngân hàng đối với những khoản nợ của các ngân hàng khác. Nhiều quỹ phòng rủi ro và các tài khoản đầu cơ khác chịu những thua lỗ khá lớn đến mức bị xóa bỏ. Mức chênh lệch bình thường bị gián đoạn, và những người buôn chứng khoán chuyên nghiệp giữa các phái sinh khác nhau, tức là buôn bán phái sinh này đối với phái sinh khác, cũng chịu những thua lỗ lớn. Một tình hình tương tự nảy sinh ngay sau đó khi Malaysia cố tình đóng cửa các thị trường tài chính của họ đối với người nước ngoài, nhưng Nhà chức trách tiền tệ Singapore hợp tác với các ngân hàng trung ương khác đã hành động kịp thời. Các hợp đồng đang thực hiện vẫn có lãi, còn lỗ được chia sẻ. Một thất bại tiềm tàng của hệ thống đã tránh được.

Những sự kiện này dẫn hầu hết những người tham dự thị trường giảm sự hiện diện của họ. Các nhà băng đang cố gắng một cách điên cuồng để hạn chế sự hiện diện của mình, không dùng đòn bẩy kích thích và giảm rủi ro. Các cổ phần nhà băng rơi tự do. Một cuộc rạn nứt tín dụng toàn cầu đang thành hình. Nó đã và đang hạn chế dòng lưu chuyển ngân quỹ tới các vùng ngoại vi, nhưng nó cũng bắt đầu tác động đến mức độ sẵn có của tín dụng trong nền kinh tế nội địa. Ví dụ thị trường trái phiếu cũ đã đóng cửa.

Điều này đưa tôi đến điểm thứ hai. Cơn đau ở vùng ngoại vi đã trở nên dữ liệu đến mức các nước riêng lẻ bắt đầu lựa chọn không tham gia hệ thống tư bản toàn cầu, hay đơn giản trượt vào con đường thất bại rồi từ bỏ. Đầu tiên là Indonesia, rồi nước Nga đang chịu một cuộc suy sụp hoàn toàn, nhưng những gì diễn ra ở Malaysia, và ở một mức độ thấp hơn, ở Hong Kong, bằng cách nào đó thậm chí còn đầy đe dọa hơn. Sự sụp đổ của Indonesia và nước Nga là không trù định trước, nhưng Malaysia cố tình lựa chọn. Nước này đã gây được tổn thất đáng kể cho các nhà đầu tư và đầu cơ nước ngoài, và nó đã đạt được một số giải nguy tạm thời nào đó, nếu không phải cho nền kinh tế, thì ít nhất cho những người lãnh đạo đất nước. Sự giải nguy xuất phát từ khả năng giảm lãi suất và bơm thị trường chứng khoán lên bằng cách cô lập đất nước với thế giới bên ngoài. Sự giải nguy nhất định chỉ là tạm thời vì các đường biên giới có nhiều sơ hở và đồng tiền rời bỏ đất nước này một cách bất hợp pháp; tác động đến nền kinh tế sẽ đầy tai họa, nhưng các nhà tư bản địa phương gắn với chế độ sẽ có đủ khả năng giải cứu công việc kinh doanh của họ trừ khi bản thân chế độ bị lật nhào. Những biện pháp mà Malaysia tiến hành sẽ gây tổn thương cho các nước khác vốn đang cố gắng giữ các thị trường tài chính của họ mở ngỏ, vì nó sẽ khuyến khích vốn rời đi khỏi các nước đó. Về phương diện này, Malaysia đã bắt tay thực hiện chính sách “biến-hàng-xóm-của-anh-thành-kẻ-ăn-mày”. Nếu điều đó khiến Malaysia trông có vẻ tốt hơn so với các láng giềng của nó, thì chính sách dễ có kẻ bắt chước, khiến cho các nước khác thấy khó hơn khi giữ các thị trường của họ mở ngỏ.

Nhân tố cơ bản thứ ba đang hoạt động để làm tan rã hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là các nhà chức trách tiền tệ quốc tế rõ ràng không có khả năng giữ hệ thống đó lại với nhau. Các chương trình của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) có vẻ không hoạt động; thêm vào đó, IMF đang hết tiền. Sự đáp lại của các chính phủ G7 đối với cuộc khủng hoảng nước Nga, thật đáng buồn, là không đầy đủ, và sự mất kiểm soát thật là đáng sợ. Các thị trường tài chính về phương diện này khá kỳ dị: chúng bực bội với bất kỳ loại can thiệp nào của chính phủ, nhưng lại giữ chặt một niềm tin sâu sắc rằng nếu điều kiện thực sự trở nên gay go, các nhà chức trách sẽ nhảy vào. Niềm tin này nay đang rung chuyển.

Ba nhân tố này đang hoạt động cùng nhau để tăng cường dòng chảy đã đổi ngược hướng của vốn từ vùng ngoại vi về trung tâm. Cơn choáng ban đầu do cuộc suy sụp ở nước Nga có khả năng qua đi, nhưng sự căng thẳng ở vùng ngoại vi có khả năng tiếp tục. Sự rời đi của vốn bây giờ lan tỏa sang Brazil, và nếu Brazil suy sụp, Argentina sẽ bị nguy ngập. Những dự báo về sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu đang thu hẹp quy mô lại một cách rõ ràng, và tôi đoán rằng nó sẽ kết thúc ở khoảng giá trị âm. Nếu và khi sự suy thoái lan sang nền kinh tế chúng ta, chúng ta có thể trở nên kém sẵn lòng đón nhận hàng nhập khẩu vốn rất cần thiết để nuôi dưỡng dòng lưu chuyển đổi chiều của vốn, và sự suy sụp trong hệ thống tài chính toàn cầu có thể kèm theo một sự suy sụp trong thương mại tự do quốc tế.

Đường hướng này của các sự kiện chỉ có thể ngăn chặn được bởi sự can thiệp của các nhà chức trách tài chính quốc tế. Triển vọng rất mong manh, vì các chính phủ G7 vừa mới thất bại, không can thiệp được ở nước Nga, nhưng hậu quả của sự thất bại đó có thể làm một tiếng kêu cảnh tỉnh. Có một nhu cầu khẩn cấp cần suy nghĩ lại và cải cách hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Như ví dụ Nga đã cho thấy, các vấn đề sẽ trở nên ngày càng khó giải quyết nếu chúng được cho phép mưng mủ lâu hơn.

Sự suy nghĩ lại phải bắt đầu từ chỗ thừa nhận rằng các thị trường tài chính mang đặc điểm cố hữu là không ổn định. Hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu dựa trên cơ sở một niềm tin rằng nếu để mặc chúng, các thị trường tài chính có xu hướng vươn tới sự cân bằng. Người ta cho rằng chúng vận động như một con lắc: chúng có thể bị các lực bên ngoài, cái gọi là những cơn sốc ngoại sinh đẩy ra khỏi vị trí cũ, nhưng chúng sẽ tìm cách trở lại vị trí cân bằng. Niềm tin này là sai lầm. Các thị trường tài chính bị đẩy vào những sự thái quá, và nếu một chuỗi tiếp nối bùng nổ/đổ vỡ tiến quá một điểm nhất định, nó sẽ không bao giờ quay ngược trở lại xuất phát điểm ban đầu. Thay vì hoạt động như một con lắc, các thị trường tài chính gần đây hoạt động như một quả bóng rơi, đập vào hết nền kinh tế này sang nền kinh tế khác.

Người ta nói rất nhiều về việc áp đặt kỷ luật thị trường, nhưng nếu việc áp đặt kỷ luật thị trường nghĩa là áp đặt sự bất ổn định, thì xã hội có thể chịu đựng bao nhiêu sự bất ổn định? Kỷ luật thị trường cần được bổ sung bằng kỷ luật khác nữa: việc duy trì sự ổn định trên các thị trường tài chính phải là mục tiêu của chính sách công cộng. Đây là một nguyên tắc chung mà tôi muốn đề xướng.

Mặc dù có một niềm tin bao trùm vào các thị trường tự do, nguyên tắc này cũng đã được chấp nhận và thực hiện ở một quy mô quốc gia. Chúng ta có Hệ thống Dự trữ Liên bang và các nhà chức trách tài chính khác – những cơ quan được ủy thác ngăn ngừa một sự sụp đổ trong các thị trường tài chính nội địa của chúng ta và nếu cần thiết sẽ hành động với tư cách người cho vay khi các biện pháp khác thất bại. Tôi tin rằng họ có khả năng thực hiện nhiệm vụ họ được ủy thác. Nhưng buồn thay chúng ta đang thiếu các nhà chức trách thích hợp trên vũ đài quốc tế. Chúng ta có các thiết chế Bretton Woods là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) vẫn đang cố gắng một cách dũng cảm để tự thích ứng với tình thế đang thay đổi nhanh chóng. Phải thừa nhận rằng các chương trình của IMF không thành công trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay; sứ mệnh của nó và các phương pháp hoạt động của nó cần phải được xem xét lại. Tôi tin tưởng rằng có thể cần có những thiết chế bổ sung. Đầu năm nay tôi đã đề xuất việc thành lập một Công ty Bảo hiểm Tín dụng Quốc tế, nhưng hồi đó vẫn chưa rõ ràng dòng chảy đổi ngược của vốn sẽ trở nên một vấn đề nghiêm trọng đến thế, và đề xuất của tôi không gây được tác động gì. Tôi tin rằng giờ đây thời điểm của nó đã đến. Chúng ta cũng phải thành lập một loại giám sát quốc tế nào đó đối với các nhà chức trách giám sát quốc gia. Thêm nữa, chúng ta phải xem xét lại những cách làm việc của hệ thống ngân hàng quốc tế và sự vận hành của các thị trường hoán đổi và phái sinh.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Việt Nam trước rủi ro về “cú sốc kinh tế” sau khi FED tăng mạnh lãi suất?


Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) ngày 15/6 công bố tăng lãi suát thêm 0,75%, mức tăng cao nhất trong gần 30 năm qua để kiềm chế lạm phát. Đài BBC dẫn ý kiến chuyên gia kinh tế cho rằng lạm phát đã trở thành một vấn đề cấp bách tại Mỹ, tác động tới bức tranh chính trị, khi tâm lý của không ít người dân kém đi vì giá xăng và thực phẩm gia tăng. Nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, đây sẽ là một cú sốc lớn đối với kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Lo ngại lạm phát ở Mỹ

Tỷ lệ lạm phát ở Mỹ trong tháng 5 vừa qua là 8,6%, cao nhất trong khoảng bốn thập niên trở lại đây. Chủ tịch FED, ông Jerome Powell cho rằng “điều cần thiết là giảm tỷ lệ lạm phát”. Ông cũng thừa nhận mức tăng 0,75% là “cao bất thường”. Dự kiến, có thể có những đợt tăng tiếp theo trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang phải đối mặt với nhiều bất ổn.

Các dự báo được công bố sau cuộc họp của FED ngày 15/6 cho thấy lãi suất cho vay tại Mỹ có thể tăng lên mức 3,4% vào cuối năm nay. Khi lãi suất cho vay cao hơn sẽ khiến đồng USD đắt giá hơn. Tính từ đầu năm đến nay, giá USD đã tăng 10% khiến các quốc gia khác, đặc biệt là các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, hiện đang gánh nhiều khoản nợ tính bằng USD, chịu nhiều áp lực.

Bất lợi cho Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế và tài chính ngân hàng cho rằng có sự lo ngại về khả năng trong những năm tới, nền kinh tế Mỹ sẽ rơi vào trạng thái vừa lạm phát, vừa phát triển chậm lại.

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, nhiều người đang rất lo sợ việc tăng lãi suất này sẽ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ, thậm chí có thể khiến nền kinh tế Mỹ suy thoái. Đây sẽ là cú sốc không những cho Mỹ mà toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Giá trị đồng USD tăng khiến tỷ giá hối đoái giữa USD và VND cũng tăng, giá trị VND giảm. Về mặt xuất khẩu thì có lợi cho Việt Nam nhưng sẽ rất bất lợi cho nhập khẩu.

Đặc biệt, cách đây vài ngày, Bộ Tài chính Mỹ cũng đưa Việt Nam vào danh sách giám sát tiền tệ, dù chưa phải là quốc gia thao túng tiền tệ. Việt Nam phải cẩn trọng vì trong thời gian, khi tỷ giá USD-VND tăng thì Mỹ có thể dựa vào đó để tăng cường theo dõi tiền tệ. Và nếu bị rơi vào danh sách các quốc gia thao túng tiền tệ, điều này sẽ rất bất lợi cho Việt Nam vì Mỹ có thể có các biện pháp trừng phạt kinh tế sau đó”.

Khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái tại thời điểm này ít nhất là 60% – một tỷ lệ rất cao. Nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái và lạm phát cao, Việt Nam sẽ bị tác động rất mạnh. Vì Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, do đó, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ giảm. Lạm phát tại Mỹ tăng khiến giá cả hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ sẽ tăng lên, giá cả trong nước cũng sẽ tăng, dẫn đến lạm phát tăng, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm.

Việc FED tăng lãi suất rất mạnh tay có thể nói là gây bất lợi nhiều hơn là có lợi cho Việt Nam. Chính phủ và các nhà kinh tế tại Việt Nam phải có những biện pháp chống đỡ nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái”.

Dự kiến, các nước ở châu Âu sẽ tăng lãi suất sau Mỹ, đồng thời áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, và khi đó, Việt Nam sẽ đối mặt thêm nhiều khó khăn. Trước mắt, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ bị tác động. Đây là dấu hiệu khủng hoảng trước mắt, một kịch bản xấu cho Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh: “Ngay từ bây giờ, Việt Nam nên có kế hoạch đối phó. Thị trường chứng khoán ở Việt Nam trước mắt có thể bị tác động như việc trái phiếu Mỹ tăng giá trị sẽ khiến nhà đầu tư nước ngoài rút tièn khỏi thị trường Việt Nam và đầu tư vào Mỹ”.

Nguồn: TKNB – 20/06/2022

Giới thiệu “Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu” của George Soros – Phần đầu


Mục đích trước sau của tôi khi viết cuốn sách này là làm rõ cái triết lý đã chỉ đạo tôi suốt đời. Tôi đã được người ta biết đến với tư cách một người quản lý tiền tệ thành công, và sau đó với tư cách một nhà từ thiện. Đôi khi tôi cam thấy giống như một con đường tiêu hóa khổng lồ: thu nhận tiền vào ở một đầu và đẩy nó ra ở đầu khác, nhưng thực ra một lượng suy tư to lớn đã gắn hai đầu với nhau. Một khung khái niệm mà tôi đã hình thành những ngày tôi là sinh viên, rất lâu trước khi tôi bắt đầu tham gia vào các thị trường tài chính, đã chỉ đạo cả việc kiếm tiền của tôi và các hoạt động từ thiện của tôi.

Tôi bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Karl Popper (1902 – 1994), nhà triết học khoa học, người viết cuốn sách “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” để tìm hiểu các chế độ tôi trực tiếp trải nghiệm khi còn là một người vị thành niên ở Hungary. Các chế độ này có một nét chung: Họ tuyên cáo nắm được chân lý cuối cùng và áp đặt quan điểm của họ cho cả thế giới bằng cách dùng sức mạnh. Popper đã đề xướng một hình thái khác của tổ chức xã hội, một hình thái thừa nhận rằng không một ai tới được chân lý cuối cùng. Sự hiểu biết của chúng ta về thế giới nơi chúng ta sống vốn không hoàn hảo, và một xã hội hoàn hảo là không thể đạt được. Chúng ta phải tự bằng lòng với hàng tối ưu thứ hai: một xã hội không hoàn hảo nhưng có khả năng cải thiện không cùng. Ông gọi đó là xã hội mở, và các chế độ cực quyền là những kẻ thù của nó.

Tôi đã hấp thụ những ý tưởng của Popper về suy tư phê phán và phương pháp khoa học. Tôi làm việc đó có phê phán và tôi đã đi đến chỗ khác với ông ở một điểm quan trọng. Popper tuyên bố rằng cả khoa học tự nhiên lẫn các khoa học xã hội đều áp dụng cùng một số phương pháp và tiêu chuẩn. Tôi nhận thấy một sự khác biệt quan trọng: Trong các khoa học xã hội, suy nghĩ tạo thành một bộ phận của đối tượng nghiên cứu, trong khi các khoa học tự nhiên đề cập đến những hiện tượng xảy ra độc lập với những điều mà bất kỳ ai suy nghĩ. Điều này khiến cho các hiện tượng tự nhiên, chứ không phải các hiện tượng xã hội dễ hợp với mô hình và phương pháp khoa học của Popper.

Tôi đã phát triển khái niệm “tính phản xạ” (reflecxivity, cũng có thể gọi là “phản hồi”): một cơ chế liên hệ ngược hai chiều giữa tư duy và hiện thực. Thời ấy tôi đang nghiên cứu kinh tế học, và “tính phản xạ” không hợp với lý thuyết kinh tế học vốn đang hoạt động với một khái niệm vay mượn từ vật lý học Newton, cụ thể là khái niệm cân bằng (equilibrium).

Khái niệm “tính phản xạ” đã trở nên rất bổ ích đối với tôi khi tôi bắt đầu bước vào quản lý tiền tệ. Năm 1979, khi tôi đã kiếm nhiều tiền hơn là tôi đã chi dùng, tôi lập một quỹ gọi là Quỹ Xã hội Mở (Open Society Fund). Tôi xác định mục tiêu của nó là giúp các xã hội đóng được mở ra, giúp các xã hội mở trở nên thành công hơn, và khuyến khích một phương thức tư duy mang tinh thần phê phán. Thông qua quỹ này, tôi đã trở nên liên quan sâu sắc đến sự tan rã của hệ thống Xô Viết.

Phần nào do kết quả của kinh nghiệm đó và phần nào trên cơ sở kinh nghiệm của tôi về hệ thống tư bản chủ nghĩa, tôi đã đi đến kết luận rằng cái khung khái niệm mà bấy lâu tôi dùng để làm việc đã không còn giá trị nữa. Tôi đã nỗ lực để xây dựng lại khái niệm xã hội mở. Trong cách trình bày của Popper, nó tương phản với các xã hội đóng dựa trên cơ sở các hệ thống tư tưởng cực quyền, nhưng kinh nghiệm mới đây đã dạy tôi rằng nó cũng còn có thể bị đe dọa từ một hướng đối lập: từ sự không cố kết xã hội và không có sự quản lý điều hành.

Tôi đã bày tỏ quan điểm của mình ở một bài báo nhan đề “Mối đe dọa tư bản chủ nghĩa” công bố trên tờ “Nguyệt san Đại Tây Dương” (The Atlantic Monthly) số ra tháng 2/1997. Cuốn sách này tôi bắt đầu viết một thời gian ngắn sau đó, với dự định sẽ có một sự phát triển kỹ lưỡng hơn các ý tưởng đó. Ở các cuốn sách trước của tôi, tôi đã đẩy khung khái niệm của tôi vào một phần phụ lục hay giấu kín nó trong những hồi ức riêng tư. Bây giờ tôi luôn thấy rằng nó đáng được phát biểu trực tiếp. Tôi luôn quan tâm sâu sắc về tình cảm đến việc tìm hiểu thế giới nơi tôi đang sống. Dù đúng hay sai, tôi thấy tôi đã có một số tiến bộ, và tôi muốn chia sẻ nó.

Tuy nhiên kế hoạch ban đầu cho cuốn sách này bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu ở Thái Lan tháng 7/1997. Khi ấy tôi đang khảo sát những khiếm khuyết của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu, nhưng tôi đang làm việc đó theo kiểu một hành động thư nhàn. Tôi hoàn toàn có ý thức về cuộc khủng hoảng châu Á – thực tế công ty quản lý ngân quỹ của tôi đã dự đoán nó 6 tháng trước khi nó xảy ra – nhưng tôi không hề có ý niệm rằng nó hóa ra sẽ có ảnh hưởng sâu rộng tới mức nào. Lúc đó tôi đang lý giải vì sao hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu không lành mạnh và không có khả năng duy trì lâu, nhưng cho đến cuộc suy tàn của nền kinh tế Nga tháng 8/1998, tôi đã không nhận ra rằng thực tế nó đang tan rã. Bỗng nhiên cuốn sách của tôi có một ý nghĩa khẩn cấp mới. Ở đây tôi đã có một khung khái niệm sẵn có để từ đó có thể hiểu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang tiến hóa mau chóng. Tôi đã quyết định phải vắt chân lên cổ để in sách. Quan điểm của tôi về tình hình hiện nay được đúc kết trong lời giải trình tôi đưa ra trước Quốc hội ngày 15/9/1998, trong đó phần nào tôi nói như sau:

Hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu vốn chịu đáp ứng được sự thịnh vượng nổi bật của đất nước này thập kỷ vừa qua đang đứt rời ở những chỗ nối. Sự suy giảm hiện nay trên thị trường chứng khoán Mỹ chỉ là một triệu chứng, và một triệu chứng quá muộn, của những vấn đề sâu sắc hơn đang tác động nền kinh tế thế giới. Một số thị trường chứng khoán châu Á suy sụp một cách tồi tệ hơn là cuộc suy giảm phố Wall năm 1929, và thêm vào đó, các đồng tiền của họ cũng tụt xuống tới cái phần nhỏ so với giá trị của chúng khi chúng bắt đầu gắn với đồng USD. Cuộc sụp đổ tài chính châu Á đi liền theo bởi một cuộc sụp đổ về kinh tế. Ví dụ ở Indonesia, hầu hết những thành tựu trong mức sống tích lũy suốt hơn 30 năm của chế độ Suharto đã tan biến. Các tòa nhà hiện đại, công xưởng và hạ tầng cơ sở vẫn còn đó, nhưng cũng còn đó một cư dân đã bị đứt rễ với nguồn gốc nông thôn của mình. Hiện nay nước Nga đã và đang trải qua một cuộc suy tàn toàn bộ về tài chính. Đó là một cảnh tượng hãi hùng và nó sẽ có những hậu quả chính trị và con người khôn lường. Tác hại của nó bây giờ cũng lan sang cả châu Mỹ Latinh.

Sẽ thật đáng tiếc nếu chúng vẫn tự bằng lòng chỉ vì hầu hết rắc rối xảy ra bên ngoài biên giới chúng ta. Tất cả chúng ta đều là bộ phận của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu vốn mang đặc điểm không chỉ là tự do thương mại mà đặc biệt hơn còn là tự do vận động của vốn. Hệ thống rất thuận lợi cho tư bản tài chính, một thứ tư bản tự do lọc lựa nơi để vận động, và nó đã dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của các thị trường tài chính toàn cầu. Nó có thể được hình dung như một hệ thống lưu thông khổng lồ, hút vốn vào các thị trường và thể chế tài chính ở trung tâm và rồi bơm nó ra vùng ngoại vi hoặc trực tiếp dưới hình thức tín dụng và đầu tư theo danh mục, hoặc gián tiếp thông qua các công ty đa quốc gia.

Cho đến cuộc khủng hoảng của Thái Lan tháng 7/1997, trung tâm vừa hút tiền vào vừa bơm ra một cách mạnh mẽ, các thị trường tài chính đang lớn lên về quy mô và tầm quan trọng, và các nước ở ngoại vi có thể nhận được sự cung cấp thừa mứa vốn bằng cách mở rộng các thị trường vốn của họ. Đã có một sự phát đạt toàn cầu trong đó các thị trường đang nổi lên đã thành công xuất sắc. Ở một thời điểm trong năm 1994 hơn một nửa tổng lưu lượng vào các quỹ tương hỗ của Mỹ đã chảy vào các quỹ thị trường đang nổi lên.

Cuộc khủng hoảng châu Á đã đảo ngược hướng dòng chảy. Vốn đã bắt đầu tháo chạy khỏi vùng ngoại vi. Thoạt đầu sự đổi hướng mang lại lợi ích cho các thị trường tài chính ở trung tâm. Nền kinh tế Mỹ đang ở đúng gần điểm quá nóng và Cục Dự trữ Liên bang đang dự định nâng tỷ lệ chiết khấu. Cuộc khủng hoảng châu Á đã khiến bước đi như vậy đã không cần thiết nữa, và thị trường chứng khoán lấy được sức mạnh. Nền kinh tế được hưởng những gì tốt đẹp nhất trong số tất cả mọi quy chuẩn vật chất có thể có, với nhập khẩu rẻ để giữ sức ép lạm phát nội địa trong tầm kiểm soát, và thị trường chứng khoán đạt những điểm cao mới. Sự hồi phục ở trung tâm dấy lên những niềm hy vọng rằng vùng ngoại vi cũng có thể phục hồi, và từ tháng Hai đến tháng Tư năm nay hầu hết các thị trường châu Á phục hồi khoảng một nửa những mất mát trước đây tính theo các đồng tiền địa phương. Đó là một cuộc phục hồi “thị trường giảm giá” cổ điển.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Việt Nam – mối lo đối với Trung Quốc về thị phần sản xuất?


Theo trang PingWest  của Trung Quốc ngày 30/5, VIệt Nam gần đây đã “gây sốc” với con số đáng kinh ngạc: Trong tháng 3/2022, xuất khẩu của Việt Nam đạt 34,7 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2021, trong khi xuất khẩu của Thâm Quyến (thành phố xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc) chỉ đạt 18,9 tỷ USD, giảm 14%. Sự tăng trưởng “bùng nổ” của Việt Nam khiến những người chứng kiến quá trình cải cách và mở cửa của Trung Quốc phải bất ngờ. Liệu vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu có phải mối lo đối với Trung Quốc?

Các sản phẩm “Made in China” phổ biến trên thị trường toàn cầu đếu mức Trung Quốc được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”. Tuy nhiên, những gì xảy ra do tác động của đại dịch COVID-19 càng khiến nhiều quốc gia nhận ra mối nguy từ việc phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.

Ví dụ, không chỉ đối với thiết bị y tế và dược phẩm, mà đối với ngành công nghiệp ô tô, Pháp cũng như Mỹ đã phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Cải cách chuỗi cung ứng là một chủ đề “nóng” ở Nhật Bản. Trong bài phát biểu tại Đại học Việt – Nhật, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga cho biết “Nhật Bản sẽ hợp tác hơn nữa với ASEAN để tăng khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng và hỗ trợ các nền kinh tế ở châu Á chống chọi với khủng hoảng”.

Các tập đoàn lớn đang muốn mở rộng sản xuất ra bên ngoài Trung Quốc. Mới đây, tờ Wall Street Journal đưa tin các nhà thầu Trung Quốc sản xuất cho hãng Apple đang tìm đến Việt Nam, vốn là trung tâm sản xuất điện thoại thông minh cho tập đoàn Samsung.

Các yếu tố chủ yếu khác chi phối xu thế đa dạng hóa chuỗi cung ứng là việc Trung Quốc siết chặt phong tỏa chống COVID-19 thời gian gần đây và xung đột leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc cả về thương mại, công nghệ và địa chính trị. Rajiv Biswas, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại IHS Markit, tin rằng VIệt Nam đang nổi lên như một trong những trung tâm sản xuất mới của thế giới khi quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng tiến triển nhanh chóng.

Tuy nhiên, dù Việt Nam có nhiều khả năng trở thành một phần bổ sung cho chuỗi cung ứng của Trung Quốc hơn là một đối thủ cạnh tranh, nhưng Trung Quốc phải tăng cường chuẩn bị cho một tương lai cạnh tranh hơn.

Các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam cũng đang nỗ lực biến Việt Nam trở thành lựa chọn đầu tư an toàn, hấp dẫn và tiềm năng cao cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong quý I/2022, cả nước nhận được 4,42 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng 7,8% so với quý trước.

Những thành tựu này là “bàn đạp” để Việt Nam hướng tới cạnh tranh với các nước trong khu vực về các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao. Chính phủ đã thực hiện một số kế hoạch, gồm chiến lược giáo dục và đào tạo nghề 2021 – 2030 và Quyết định 17 về hỗ trợ đào tạo nghề, nhằm đào tạo thêm lao động có tay nghề và nhân tài công nghệ thông tin cho các ngành công nghiệp cao cấp hơn.

Trong chuyến thăm Mỹ mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã gặp gỡ các công ty công nghệ “nặng ký” ở Thung lũng Silicon như Apple và Intel, cố gắng “lôi kéo” họ thành lập các cơ sở sản xuất tại Việt Nam.

Dù vậy, Trung Quốc không nên quá lo lắng về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian gần đây. Momentum Wokrs, một công ty đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Singapore, nhận định: “Việt Nam nhiều khả năng trở thành một phần mở rộng trong mạng lưới cung ứng của Trung Quốc hơn là một đối thủ. Với dân số và nền kinh tế nhỏ hơn tỉnh Quảng Đông, Việt Nam khó có thể trở thành chuỗi cung ứng toàn diện như Trung Quốc”.

Việc Trung Quốc siết chặt phong tỏa là bằng chứng cho thấy các sản phẩm “Made in Vietnam” gắn bó chặt chẽ với chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Bằng chứng là những nỗ lực kiểm soát dịch COVID-19 nghiêm ngặt tại một số cửa khẩu biên giới Trung – Việt đã dẫn đến tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng và hạn chế dòng chảy của một số sản phẩm.

Trung Quốc là nhà cung cấp hàng đầu của Việt Nam về thép, bảng mạch, máy móc thiết bị và nguyên liệu cho ngành may mặc và da giày. Hãng Bloomberg dẫn lời ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội dệt may thêu đan TPHCM đầu tháng 5 cho biết vấn đề thiếu nguyên liệu đã ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu của tất cả các nhà máy may mặc.

Tuy nhiên, việc tổ chức lại chuỗi cung ứng toàn cầu không phải là quá trình đơn giản và đại dịch COVID-19 chứng minh rằng Trung Quốc và các nền kinh tế lớn trên thế giới liên kết chặt chẽ và khó có thể tách rời như thế nào. Bất kỳ sự chuyển đổi thực sự nào cũng có thể mất nhiều năm.

Sản xuất, đặc biệt là các ngành thâm dụng lao động, chắc chắn sẽ chuyển đến các thị trường mới nổi khác với chi phí lao động thấp hơn. Do đó, Trung Quốc phải giải quyết tình trạng mất việc làm do chuyển giao công nghiệp. Trong khi đó, Việt Nam phải duy trì lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng cấp cao để đảm bảo tăng trưởng dài hạn vì các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam tập trung nhiều hơn vào nâng cấp sản xuất.

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

George Soros và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu


George Soros sinh năm 1930 ở Budapest, Hungary, di cư sang Anh năm 1947, sang Mỹ năm 1956, hiện sống ở New York. Ông là một huyền thoại trong thế giới tài chính. Quỹ Quantum của ông được xem là “quỹ đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử, đã góp phần nhào nặn lại thế giới sau chiến tranh lạnh”.

Một số ít người coi G. Soros như “một nhà đầu cơ thị trường nổi tiếng nhất thế giới”, kẻ can dự vào cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á và trên thế giới hiện nay.

Nhiều người gọi G. Soros là “một trong những nhà từ thiện lớn nhất hiện còn sống”. Ông tài trợ một mạng lưới các quỹ dành để ủng hộ các xã hội mở, đang hoạt động 31 nước trên khắp thế giới từ Đông Âu và Liên Xô (cũ) đến Nam Phi, Haiti, Guatemala, Mông Cổ và Mỹ. Các quỹ trong mạng lưới này đã chi phí một số tiền mỗi năm trên dưới 400 triệu USD (cụ thể là năm 1994 – 300 triệu, 1995 – 350 triệu, 1996 – 362 triệu, 1997 – 428 triệu và năm 1998 cũng duy trì ở mức đó).

Tuy nhiên, còn rất ít người biết đến G. Soros như một người có nhiều ý tưởng khoa học mới mẻ và sâu sắc, đã nhận được các bằng tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học trên thế giới như Trường Nghiên cứu Xã hội mới (the New School for Social Research), trường Đại học Oxford (Anh), Đại học Yale (Mỹ), Đại học kinh tế Budapest (Hungary, quê hương ông). Năm 1995 trường Đại học tổng hợp Bologna (Italy) tặng G. Soros danh hiệu cao nhất của nó – danh hiệu Laurea Honoris Causa để ghi nhận những nỗ lực của ông đề xướng các xã hội mở trên toàn thế giới. G. Soros là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về những biến đổi chính trị và kinh tế ở Đông Âu và Liên Xô, tác giả của nhiều cuốn sách bán rất chạy như cuốn “Giả thuật kim tài chính” (The Alchemy of Finance), “Mở cửa hệ thống Xô Viết” (Opening the Soviet System), “Bảo đảm nền dân chủ” (Underwriting Democracy) và “Soros nói về Soros: Ở lại đằng trước đường cong” (Soros on Soros: Staying Ahead of the Curve).

Trong Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, ông đã vận dụng tất cả sự thông thái, tri thức uyên bác và tầm nhìn sáng suốt của ông để giải thích những gì đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu đang sụp đổ.

Các nền kinh tế (bối cảnh cuối thập kỷ 90) một thời thịnh vượng của Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sụp đổ; nền kinh tế Nga đã và đang suy tàn, dẫn tới lạm phát và khó khăn kinh tế nghiêm trọng; nhiều ngân hàng Nhật Bản rơi vào tình trạng tan rã; Brazil và phần còn lại của châu Mỹ Latinh đã bắt đầu dần dà tiến đến bờ vực suy sụp; ngay cả ở châu Âu và Mỹ, các thị trường cũng chao đảo dữ dội, cứ mỗi tuần qua đi lại mất lợi nhuận. Giờ đây một số nước đã bước ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất. Nhưng không một ai có thể nói rằng những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng đã được loại trừ.

G. Soros đã mổ xẻ tình trạng thời điểm đó của nền kinh tế toàn cầu và chỉ rõ các giả thuyết lý luận đã kết hợp với hành vi con người như thế nào để dẫn tới những tai họa này. Ông nêu rõ niềm tin vào các lực lượng thị trường đã làm chúng ta đui mù như thế nào về những sự bất ổ định cơ bản, và những sự bất ổn định này đã phản ứng dây chuyền ra sao để gây ra tình huống nguy kịch mà chúng ta đang lâm vào hôm nay – một tình huống có tiềm năng trở nên xấu hơn rất nhiều.

Song, như G. Soros viết: “Tình thế hoàn toàn không phải là tuyệt vọng… Có thể tránh được một thảm họa nếu chúng ta thừa nhận những thiếu sót của hệ thống chúng ta và sửa chữa chúng kịp thời… Tôi lập luận rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của một xã hội mở, và những thái quá của nó có thể sửa chữa, nếu những nguyên tắc của xã hội mở được hiểu rõ hơn và được ủng hộ rộng rãi hơn.

Thuật ngữ “Xã hội mở” (Open society) được nhà triết học về khoa học Karl Popper nêu lên trong cuốn sách của ông “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” (xuất bản năm 1944). G. Soros chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng triết học Karl Popper, mặc dù ông có khác với Karl Popper ở một vài điểm quan trọng. Ông hấp thụ những ý tưởng của Karl Popper về tư duy phê phán và phương pháp khoa học, nỗ lực xây dựng lại khái niệm xã hội mở. Trong cuốn sách mới này của ông có phụ đề là “Xã hội mở hiểm nguy”, G. Soros đã “nỗ lực đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu”. Ông viết: “Chúng ta sống trong một nền kinh tế toàn cầu, nhưng tổ chức chính trị của xã hội toàn cuẩ của chúng ta, buồn thay, lại không đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng giữ gìn hòa bình và hành động đáp lại những thái quá của các thị trường tài chính. Nếu không có những sự kiểm soát này, nền kinh tế toàn cầu có thể sụp đổ”. Chính vì vậy “để ổn định và điều tiết một nền kinh tế thực sự toàn cầu, cần một hệ thống toàn cầu về việc ra quyết định chính trị. Nói gọn lại, chúng ta cần một xã hội toàn cầu để hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu của chúng ta… Cần phải cố gắng tạo nên một liên minh với các dân tộc có cùng suy nghĩ để thiết lập các luật và các thiết chế cần thiết cho việc giữ gìn hòa bình, tự do, thịnh vượng và ổn định. Các luật và thiết chế này là gì, điều đó không thể quyết định một lần là xong với mọi người; điều chúng ta cần là đưa vào hoạt động một quá trình hợp tác, lặp đi lặp lại – quá trình sẽ xác định lý tưởng xã hội mở – một quá trình trong đó chúng ta công khai thừa nhận những sự không hoàn hảo của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cố gắng học từ những sai lầm của chúng ta”.

Để đặt nền móng cho xã hội mở toàn cầu phải bắt đầu từ lý luận cơ bản. Trong khung khái niệm (conceptual framework), G. Soros nêu ra ba khái niệm then chốt, ba từ khóa: tính có thể sai (fallibility), tính phản xạ (reflexivity) và xã hội mở (open society). Ông tiến hành phê phán khoa học xã hội nói chung và kinh tế học nói riêng đối với thị trường tài chính, diễn giải thị trường này dưới góc độ tính phản xạ hơn là dưới độ lý luận cân bằng của kinh tế học cổ điển. Ông vạch rõ tính chất sai lầm và nguy hiểm của thuyết nguyên giáo thị trường (market fundamentalism). Chính nó đã đặt chủ nghĩa tư bản tài chính vào địa vị cầm lái, làm méo mó cơ chế thị trường, đẩy xã hội mở vào tình trạng hiểm nguy.

Trong phần “Thời điểm quan trọng của lịch sử” (the present moment in history), tác giả áp dụng cái khuôn khổ quan niệm đã nêu trên để phân tích sâu những đặc điểm chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối thập kỷ 90. Ông đề cập đến sự khác biệt, độ chênh giữa nền kinh tế toàn cầu và tổ chức chính trị, xã hội mà về cơ bản vẫn còn mang quy mô quốc gia. Ông khảo sát tỉ mỉ quan hệ không bình đẳng giữa trung tâm và ngoại vi, sự đối xử không bình đẳng giữa kẻ cho vay và người vay nợ, cũng như việc đưa một cách sai lầm các giá trị tiền tệ thay cho các giá trị nhân bản, các giá trị con người. Ông đề xuất những giải pháp thực tiễn để có thể ngăn ngừa sự tan rã về tài chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu như thế nào, nêu lên những triển vọng cho một hình thức xã hội mở ít méo mó hơn và đầy đủ hơn. Ông bàn về bối cảnh quốc tế và vạch ra một số bước đi thực tiễn để có thể đạt tới xã hội mở toàn cầu, thực hiện triết lý mà ông đã nêu lên.

Để kết luận, G. Soros khẳng định rằng xã hội mở toàn cầu phải được đặt thành “một chương trình nghị sự quốc tế”. Nó không thể được đưa vào cuộc sống bởi nhân dân hoặc các tổ chức phi chính phủ hành động riêng rẽ. Các Nhà nước có chủ quyền cần phải hợp tác về chính trị. Công luận và xã hội dân sự có vai trò quan trọng, bởi vì trong nền dân chủ, các chính khách phải đáp ứng những đòi hỏi của đông đảo dân chúng. “Ở các chính thể dân chủ vận hành tốt, các chính khách thậm chí còn đóng vai trò thủ lĩnh trong việc động viên công luận. Chúng ta cần đến vai trò thủ lĩnh như thế để hình thành một khối liên kết gồm những quốc gia cùng chung khuynh hướng và quyết tâm tạo dựng một xã hội mở toàn cầu”.

Cuốn sách Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu của G. Soros không phải là một cuốn sách kinh tế đơn thuần. Nó cho ta một cái nhìn tổng quát về thế giới hiện đại và xu hướng phát triển của nó. Ở đó thể hiện những suy tư triết học sâu sắc của G. Soros với tính cách một nhà tài chính, đồng thời là một nhà từ thiện, nhà hoạt động xã hội. Mở đầu cuốn sách ông viết: “Mục đích trước sau của tôi khi viết cuốn sách này là làm rõ cái triết lý đã chỉ đạo tôi suốt đời. Tôi được người ta biết đến với tư cách một nhà quản lý tiền tệ thành công và sau đó là một nhà từ thiện. Đôi khi tôi cảm thấy giống như một con đường tiêu hóa khổng lồ: thu nhận tiền vào ở một đầu và đẩy nó ra ở đầu khác, nhưng thực ra một lượng suy tư to lớn đã gắn kết hai đầu với nhau. Một khung khái niệm mà tôi đã hình thành những ngày tôi là sinh viên, rất lâu trước khi tôi bắt đầu tham gia  vào các thị trường tài chính, đã chỉ đạo cả việc kiếm tiền của tôi và các hoạt động từ thiện của tôi”.

Những suy tư, những nhận định của G. Soros trong sách, đương nhiên, không thể không có những khác biệt so với những gì mà lâu nay nhiều người trong chúng ta thường quan niệm. Sự khác nhau đó là chuyện bình thường. Điều đáng quan tâm ở đây chính là việc G. Soros đã phân tích sâu sắc cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và đề ra những giải pháp không phải là không có cơ sở để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách mà cộng đồng quốc tế mong đợi.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.