Nhà nước, thị trường, và an ninh kinh tế ở Đông Á hậu khủng hoảng – Phần cuối


Tính bền vững của các hình thái an ninh kinh tế Đông Á

Cho đến đây, tôi đã chỉ ra rằng có một số yếu tố cản trở việc phổ biến những cuộc cải cách tự do mới được APEC bảo trợ Đông Á. Quá trình công nghiệp hóa tương đối muộn, sự thành công của các nước phát triển, sự tự mâu thuẫn của việc bành trướng tư bản phương Tây, và sự xuất hiện của diễn thuyết nhằm hợp thức hóa một “cách thức châu Á” trong việc tổ chức các hoạt động chính trị và kinh tế, tất cả đều để duy trì một sự cảnh báo lâu dài đối với phương Tây và giúp ta giải thích tại sao APEC lại chỉ có tác động tương đối nhỏ đối với Đông Á. Hơn thế nữa, sự thể chế hóa dài hạn những mối quan hệ chính trị tương hỗ và cơ cấu kinh tế có nghĩa là đã có nhiều sự phản kháng chống lại những thay đổi có nguy cơ làm suy yếu những liên minh vốn có trong phạm vi khu vực. Ở Đông Á, không chỉ có sự hoài nghi ở khắp nơi về những đặc tính kỹ thuật giả định của mô hình thị trường. Cách tiếp cận dựa trên tình nguyện và nhất trí của APEC đồng nghĩa với việc là chỉ có ít áp lực đè lên các nhà nước bất đồng nhằm tuân theo sự thuyết phục đạo lý và vì thế mà đã ngầm phá hoại một hiện trạng vốn có, ít ra là cho đến gần đây hiện trạng ấy chính là sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.

Tuy nhiên, có một số thế lực đang hoạt động cả trong phạm vi khu vực cũng như trong phạm vi kinh tế – chính trị quốc tế rộng hơn đang làm dấy lên mối nghi ngờ đối với khả năng cách ly hay kiểm soát các hoạt động kinh tế nội địa của các nhà nước Đông Á trong dài hạn. Biểu hiện rõ ràng nhất của những áp lực cải cách mới là các hoạt động của Mỹ và tổ chức tay sai của nhà nước này là IMF. Vì tôi đã từng xem xét cụ thể mối quan hệ này và ảnh hưởng của nó đối với khu vực, nên ở đây ta chỉ quan tâm đến những đặc điểm tổng quát của tiến trình này. Ở đây, cần nhấn mạnh hai khía cạnh của cơ chế hoạt động của chính sách công cộng đáng chú ý này. Thứ nhất, vai trò chủ đạo của Mỹ là dấu hiệu rõ ràng của vị thế thống trị không ngừng của nước này cũng như sự giảm sút tương đối của Đông Á. Đơn giản là Mỹ có thể không còn là “bá chủ” như trước kia, nhưng nước này vẫn còn một khả năng vô song trong việc định hình kinh tế – chính trị quốc tế. Thứ hai, sự nổi trội của IMF là một biểu hiện vai trò quan trọng ngày càng gia tăng của các thể chế liên quốc gia hoặc đa quốc gia.

Theo quan điểm của các nước Đông Á, cả hai hướng phát triển này đều là mối đe dọa đối với các khái niệm an ninh kinh tế được căn cứ trên năng lực kiểm soát không gian kinh tế “nội địa” ngày càng tăng lên của các quốc gia dân tộc. Không chỉ có Mỹ đang lợi dụng bối cảnh lịch sử có một không hai này của cuộc khủng hoảng để đẩy mạnh kế hoạch cải cách theo hướng thị trường, mà chính phủ các quốc gia cũng đang nhận thấy quyền hành của mình đang dần dần “rò rỉ” sang một loạt các tác nhân phi nhà nước. Cuối cùng thì có thể chính hiện tượng thứ hai này mới là mối hiểm họa lớn nhất đối với mô hình tổ chức kinh tế và chính trị Đông Á.

Các nhà nước Đông Á cho rằng họ đang ở trong một cuộc “tấn công gọng kìm” lâu dài có vẻ như không thể chống lại được và là mối đe dọa không thể tranh khỏi làm suy yếu mặt tốt của sự kiểm soát nhà nước đã làm cho khu vực nổi trội cho đến gàn đây. Một mặt, các tác nhân đầy thế lực như Mỹ và một số tổ chức xuyên quốc gia khác như IMF, APEC và Tổ chức Thương mại Thế giới đã gây áp lực mạnh để tự do hóa các hoạt động kinh tế nội địa. Mặt khác, chính những cuộc cải cách mà những sức ép như vậy đã khích lệ một cách có hiệu quả đã tái lập sự cân bằng của các lợi ích trong nước và tạo ra sức ép lớn hơn để tiếp tục tự do hóa hơn nữa. Những tiến trình này là đặc biệt rõ nét ở Nhật Bản, một quốc gia vẫn duy trì vai trò trụ cột trong khu vực Đông Á.

Khi Nhật Bản dần dấn chấp nhận áp lực của Mỹ để tự do hóa nền kinh tế nội địa nước này thì sự kiểm soát của chính phủ tất yếu bị thu hẹp lại. Việc nới lỏng quy chế cho khu vực tài chính đã tước đoạt những công cụ chính sách và đòn bẩy kinh tế then chốt ra khỏi tay chính phủ Nhật Bản và đồng thời mở ra một loạt những sự lựa chọn mới cho các tác nhân kinh tế dựa vào nội địa, những tác nhân có thể tận dụng được một hệ thống kinh tế quốc tế ngày một liên kết hơn. Nói cách khác thì chính ý tưởng về một nền “kinh tế quốc gia” riêng rẽ đang ngày càng trở nên lỗi thời trong một thời đại mà ngay cả một nền kinh tế khét tiếng là đóng cửa như Nhật Bản cũng đang bị thâm nhập bởi các luồng vốn quốc tế (dù vẫn bị coi là thấp) và mức độ sở hữu và kiểm soát của nước ngoài đang tăng lên.

Điều này không có nghĩa là các công ty của Nhật Bản trong khu vực sẽ mất vị thế thống trị và cũng không còn phản ánh được “những quyền lợi của Nhật Bản” trong một tương lai gần. Tuy nhiên, điều mà nó muốn nói là chính các kiểu cơ chế chính sách phối hợp chặt chẽ trong đó nhà nước và tư bản hợp tác vì “quyền lợi quốc gia” – dấu hiệu xác nhận một nhà nước phát triển trong giai đoạn tăng trưởng nhanh của khu vực – có thể khó giữ vững được. Vào thời điểm khi mà mô hình Nhật Bản là đó tượng của một loạt các bài phê bình mạnh mẽ và có sức thuyết phục, và khi mà có một cảm nhận về sự bất an kinh tế đang tăng lên ở Nhật Bản và ở những nước khác đe dọa việc làm sáng tỏ nền tảng xã hội của mô hình trước đây, thì chính cơ sở và lý do căn bản cho khái niệm an ninh kinh tế của Đông Á xem ra ngày càng trở nên yếu ớt hơn.

Tuy nhiên, không phải mức độ chống đối mạnh mẽ cải cách tự do mới, hay là tiềm năng cho những phản ứng mang tính khu vực để duy trì trật tự vốn có, có thể bị đánh giá thấp. Đề xuất thành lập nên một Quỹ Tiền tệ châu Á (AMF) của Nhật Bản ổn định hoạt động kinh tế trong khu vực không chỉ đại diện cho một đối trọng với ảnh hưởng của Mỹ và IMF, mà nó còn có thể làm giảm bớt đáng kể sự ép buộc “có điều kiện”, mà Mỹ và IMF có thể áp đặt, để đổi lấy sự hỗ trợ chúng. Nói cách khác thì phản ứng của châu Á đối với khủng hoảng có thể là đã thừa nhận một quan điểm quá ư dễ dãi về thực tiễn kinh tế và chính trị khu vực. Điều quan trọng là đề xuất về AMF đã không bị chố bỏ và do vậy nó có thể tạo ra cơ sở cho một phản ứng toàn khu vực đói với cuộc khủng hoảng và hậu quả của nó. Một phản ứng khu vực phối hợp có thể cho phép chính phủ các quốc gia đòi lại một phần quyền hành từ tay thị trường và khu vực phi nhà nước mà hiện nay đang là những thách thức dài lâu đối với các thế lực chính trị Đông Á và cuộc tìm kiếm nền an ninh kinh tế.

Kết luận

Nền kinh tế chính trị của Đông Á được định hình bởi sự tương tác lịch sử giữa nhà nước và thị trường trong đó việc duy trì ảnh hưởng chính trị đối với hoạt động kinh tế là một mục tiêu chủ yếu và là trọng tâm của khái niệm an ninh Đông Á. Trong một môi trường như vậy, cũng chẳng khó khăn gì để nhận ra lý do tại sao các kế hoạch chính sách theo hướng thị trường của các thể chế như APEC lại được tiếp nhận một cách cẩn trọng lúc thuận buồm xuôi gió và bị phá hoại ghê gớm khi có sự chẳng lành. Điều này không có nghĩa là chính quyền ở các nước Đông Á là không thể bị tổn thương bởi những áp lực cải cách như vậy. Nhưng tôi thực sự cho rằng những chính phủ đó sẽ không chống nổi các áp lực chỉ khi mà sự cân bằng giữa các thế lực bên trong và bên ngoài tạo ra ít sự lựa chọn hơn cho các giới hoạch định chính sách hiện thời, không còn cách nào khác phải tuân theo. Nói cách khác, ngay cả khi nếu các tư tưởng tự do mới mà APEC cổ xúy là thích hợp nhất cho các tình huống mà khu vực đang đối mặt (dĩ nhiên, sẽ có nhiều cuộc tranh cãi hơn về vấn đề này), thì những tư tưởng đó sẽ không được chấp thuận trừ phi có một sự thay đổi đáng kể tình hình chính trị rối ren ở trên. Nếu không củng cố những liên minh mới cùng lợi ích trong phạm vi các nhà nước Đông Á, và không có sự xuất hiện của một diễn từ hợp lý mới ủng hộ cho các lực lượng thị trường hơn là cho quyền hành của nhà nước thì sự tiến triển của một mô hình chính sách mới trong khu vực chắc chắn vẫn còn nhiều chuyện phải bàn và chỉ là tạm thời.

Tuy  nhiên, chúng ta không thể bỏ khả năng rằng những thế lực chính trị mới có thể xuất hiện – những thế lực là sự phản ánh những sự chuyển đổi căn bản trong cơ cấu hoạt động kinh tế, có khả năng hình thành những khối đồng minh với các thế lực bên ngoài hoặc khai thác ảnh hưởng của chúng. Điều này vừa có thể làm cho nhiệm vụ của APEC trở nên dễ dàng hơn, nhưng nó cũng làm cho nhiệm vụ đó thành hơi thừa. Những thay đổi quan trọng trong khu vực hình như chủ yếu được dẫn dắt bởi những sự chuyển đổi căn bản trong cơ cấu của kinh tế thế giới và việc áp dụng quyền lực chính trị mọt cách cơ hội. Nếu có những thay đổi hơn nữa về cải cách theo hướng thị trường mạnh hơn – và tuyệt nhiên không có một kết luận có thể thấy trước nào trong sự phát triển lịch sử khu vực và sự tồn tại của những quyền lợi chính trị cố hữu và các tập quán kinh tế như vậy – thì nó sẽ được dẫn dắt bởi những sức mạnh to lớn hơn so với sự tồn tại của diễn từ mang tính kỹ trị và sự huấn thị của các cố vấn chính sách được đào tạo về thuyết tân cổ điển.

Chúng ta cũng nên nhớ rằng bất cứ một sự thay đổi nào nếu thực sự xảy ra thì chắc chắn sẽ mang những đặc tính riêng biệt của Đông Á. Trong mối quan hệ biện chứng không ngừng giữa nhà nước và thị trường đã làm nên kinh nghiệm phát triển của Đông Á, thì các thế lực chính trị trong khu vực đã chứng tỏ một khả năng thích ứng và duy trì mức độ kiểm soát đáng chú ý đối với xu hướng tư bản chủ nghĩa đang gia tăng. Rất có khả năng những thế lực này vẫn làm được như vậy trong tương lai.

Người dịch: Trần Minh

Nguồn: Mark Beeson, Viễn cảnh châu Á, Tập 23, số 3, 1999, tr33 – 52.

TN 2000 – 75 & 76

Advertisements

Nhà nước, thị trường, và an ninh kinh tế ở Đông Á hậu khủng hoảng – Phần IV


Trước cuộc khủng hoảng 1997, thật nghịch lý là những tư tưởng như thế này đã tạo ra một mức độ ngạo mạn cho một vài trong số những gương mặt nổi trội trong các đàm luận chính sách châu Á. Ví dụ như Kishore Mahbubani cho rằng những nỗ lực của Mỹ nhằm tạo ra một thứ đại loại là “sân chơi bình đẳng” trọng điểm của kế hoạch cải tổ APEC, là phù phiếm vì các công ty của Nhật Bản có thể không thực hiện chúng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Chỉ đến khi Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung chịu tiếp thu “mặt tốt nhất của các nền văn minh châu Á” thì họ mới không thể cạnh tranh hiệu quả. Rõ ràng là những yêu sách như vậy là hão huyền dưới tác động của cuộc khủng hoảng và nền kinh tế Nhật Bản đang phải đối mặt với những khó khăn chồng chất. Tuy nhiên, ý nghĩa của những tư tưởng như thế này trong cuộc khủng hoảng gần đây không phải là liệu chúng có đại diện cho sự phân tích chính xác các vị thế cạnh tranh của Đông Á hay các hình thái tư bản Anh – Mỹ hay không, cũng không phải liệu các hình thái phát triển kinh tế theo sự chỉ đạo của nhà nước cuối cùng chắc chắn sẽ chứng tỏ đôi chút “thành công so với các hình thái khác hay không. Điểm mấu chốt ở đây là chính những tư tưởng và những triển vọng như vậy là không hề tồn tại.

Khi được xem xét dưới giác độ kinh nghiệm phát triển đầy ngẫu hứng của Đông Á, thì mối quan hệ nhập nhằng và gây tranh cãi của nó với phương Tây, một bản sắc khu vực đang nổi lên tập trung vào các tập quán xã hội, kinh tế và chính trị đặc biệt, sự chống đối “Mỹ hóa” của châu Á và nhu cầu thành lập nên “mặt trận châu Á thống nhất” trở nên dễ hiểu hơn. Mặc dù một số các nền kinh tế nhỏ hơn của Đông Á nói riêng không đủ sức để chống lại sự áp đặt phải cải cách theo hướng thị trường dưới sự bảo trợ của IMF, thì điều này cũng không có nghĩa là công cuộc cải cách sẽ được chấp nhận với sự hồ hởi và cam chịu.

Cải cách hậu khủng hoảng

Người ta có thể cho rằng trong môi trường hậu khủng hoảng tài chính, việc thực thi những cải cách theo hướng thị trường là một bài tập khá dễ dàng. Xét cho cùng, trong con mắt của những nhà quan sát, “mô hình châu Á” không đơn giản đồng nghĩa với “chủ nghĩa tư bản cấu kết” và cộng với sự vô hiệu hoàn toàn, mà chỉ là mô hình đó không bền vững trong thời đại bị chi phối bởi những sức mạnh không gì ngăn cản được của toàn cầu hóa. Thực ra, cũng có thể mong rằng cuối cùng thì APEC cũng đủ sức đạt được những hình thức cải cách mà nó đã từng theo đuổi với đôi chút thành công trong vòng một thập kỷ. APEC vẫn làm người ta chú ý đến bởi sự vắng mặt của nó, trong khi rất nhiều nước trong khu vực tiếp tục biểu lộ sự miễn cưỡng phải đi theo các cuộc cải cách mà IMF và hầu hết các nhà bình luận theo trường phái chính thống cho là không thể thiếu.

Như vậy điều được quan tâm lớn nhất ở đây, dĩ nhiên không phải là các cuộc tranh luận về các nguyên nhân có thể gây ra sự sụp đổ kinh tế Đông Á, mà là một số phản ứng chính sách đã nảy sinh giữa các quốc gia ở Đông Á. Về điểm này, cần phải phân biệt rõ giữa các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng – Thái Lan, Hàn Quốc và đặc biệt là Indonesia – với các nước khác trong khu vực đã có khả năng vượt qua khủng hoảng một cách thành công. Rõ ràng là, những nước phải chịu sự rút vốn khổng lồ và sự sụp đổ “lòng tin của các nhà đầu tư” là những nước ở vị thế cực dễ bị tổn thương và vì vậy khó có khả năng để chống lại mọi sự phê phán của IMF và chương trình cải cách triệt để của tổ chức này. Tuy nhiên, thậm chí trong số các nước châu Á bị ảnh hưởng trầm trọng nhất, thì hành vi của cả giới chính trị cao cấp và phần đông dân chúng rõ ràng là đi chệch khỏi những gì mà học thuyết kinh tế và chính trị phương Tây có thể khiến chúng ta mong đợi. Chẳng hạn như ở Hàn Quốc, phản ứng với sự sụp đổ kinh tế là ý thức về sự nhục nhã của đất nước khiến cho rất nhiều những người dân Hàn Quốc bình thường cũng quyên góp tài sản cá nhân của riêng họ với một nỗ lực nhằm vực dậy nền kinh tế và duy trì một mức độ tự trị quốc gia. Quan trọng hơn là xét về mặt dài hạn, có thể quá trình cải cách tự bản thân nó được xem là miễn cưỡng, với một số cheabol (tập đoàn) đang thực sự nỗ lực làm tăng ảnh hưởng đối với các hoạt động kinh tế nội địa khi mà việc cho vay đã làm hầu hết các công ty phá sản trừ các công ty có danh tiếng nhất.

Sự tìm kiếm quyền tự trị

Hoàn toàn có thể đoán trước được rằng Malaysia là nước đứng mũi chịu sào cho những nỗ lực vừa để chống lại sự công kích có thể nhận thấy đối với những sự cải cách tự do mới và vừa để phát triển một chính sách đối phó cho phép sự tự trị kinh tế nội địa lớn hơn. Phản ứng của Malaysia đối với sự bất ổn định và sức mạnh cưỡng bức chính trị của thị trường tài chính là nhằm áp đặt những sự kiểm soát đối với đồng nội tệ, chủ yếu bằng việc chấm dứt giao dịch thương mại bằng đồng ringgit ở ngoài đất nước Malaysia. Trong khi động thái này được đón nhận bởi thái độ hoài nghi và lên án ở khắp phương Tây, thì trong phạm vi châu Á sức hấp dẫn của sự kiểm soát tiền tệ xem ra thực sự đã tăng lên. Việc động thái của Malaysia được đánh giá một cách tích cực ở châu Á là điều không mấy gây bất ngờ với sự thất bại hoàn toàn của các chương trình cải cách cả gói của IMF nhằm đạt được mục tiêu trước mắt và khôi phục sự ổn định. Phản ứng của Malaysia đã làm người ta chú ý hơn cả cuộc khủng hoảng hiện nay và những thất bại của IMF. Theo quan điểm của chính phủ Malaysia điểm lợi thế chủ chốt của việc nỗ lực cô lập không gian kinh tế quốc gia là ở chỗ nó cho phép nước này kích thích tăng trưởng nội địa, thoát khỏi những cơ chế lãi suất cao mà IMF áp đặt ở những nước khác. Sức hút lớn nữa của phản ứng Malaysia, và lý do mà nước này dành được thiện cảm ở nhiều nơi, là ở chỗ nó có thể cho phép các chính phủ quốc dân chiếm lại hoặc duy trì sự kiểm soát đối với nền kinh tế nước họ.

Trường hợp của Hong Kong, một mức độ tự trị nội địa đáng kể đã được duy trì cho đến trước khủng hoảng nhờ đưa vào hoạt động ủy ban quản lý tiền tệ nhờ vào vị thế kinh tế vững mạnh hơn nhiều của nước này cho phép ủy ban tiến hành thành công bằng một phương pháp mà Indonesia không thể thực hiện được mặc dù rất muốn làm được như vậy. Tuy nhiên, dấu ấn đậm nét nhất trong phản ứng của Hong Kong đối với cuộc khủng hoảng lại là quyết định của nước này nhằm đi ngược lại tư duy thông thường của phương Tây, thậm chí còn đi xa hơn bằng việc can thiệp trực tiếp và chi 15 tỷ USD vào các thị trường chứng khoán và cổ phiếu kỳ hạn với nỗ lực nhằm làm nản lòng mọi tấn công mang tính đầu cơ đối với đồng tiền của nước này.

Xét ở một mức độ nào đó, những sáng kiến về chính sách này có thể được xem như một biện pháp ứng phó đặc biệt đối với những thách thức mới lạ, nảy sinh do toàn cầu hóa nói chung và sự liên kết ngày càng tăng lên của các thị trường tài chính nói riêng. Đơn giản là, gần đây người ta không mấy nhất trí về những cách thức tốt nhất để quản trị nền kinh tế thế giới mới; một trong những sự trớ trêu của toàn bộ cuộc khủng hoảng lại là vị trí của Trung Hoa đại lục, nơi đã nhận được gần như mọi sự tán dương vì đã không đi theo tư tưởng chính thống tự do mới và cho phép đồng tiền của nước này được “thả nổi”. Tuy nhiên, ở một mức độ khác, những phản ứng của những nền kinh tế chủ chốt ở Đông Á phải được xem như một nỗ lực để duy trì sự tự trị kinh tế và chính trị khi phải đối mặt với những áp lực kinh tế bên ngoài. Nói cách khác, an ninh kinh tế được coi là gắn bó mật thiết với việc tiếp tục kiểm soát chính trị.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Minh

Nguồn: Mark Beeson, Viễn cảnh châu Á, Tập 23, số 3, 1999, tr33 – 52.

TN 2000 – 75 & 76

Vì sao chủ nghĩa xã hội thất bại?


Paul R. Gregory

Khi Liên bang Xô viết gần sụp đổ, Francis Fukuyama tuyên bố chế độ dân chủ tự do đã chiến thắng chủ nghĩa xã hội kế hoạch hóa trong bài nhận định năm 1989 của ông, Điểm tận cùng của Lịch sử?. Hơn một phần tư thế kỷ sau đó, Liên Xô quả thực đã tan rã. Phần lãnh thổ Đông Âu của nó bây giờ thuộc về Liên minh Âu châu. Trung Quốc có một nền kinh tế thị trường cho dù đất nước vẫn bị cai trị bởi một đảng duy nhất. Còn các nhà nước “xã hội chủ nghĩa” Bắc Hàn, Cuba và Venezuela đang trong đống đổ nát về kinh tế. Giờ đây, ít ai ủng hộ việc “quay lại Liên Xô”. Nhưng đồng thời, nhiều người vẫn coi chủ nghĩa xã hội là một hệ thống kinh tế hấp dẫn. Hãy xem trường hợp ông Bernie Sanders[1] – một người công khai thừa nhận ủng hộ một nước Mỹ xã hội chủ nghĩa – và rất nhiều người trẻ trưởng thành vào điểm chuyển giao giữa hai thế kỷ ưa thích chủ nghĩa xã hội hơn chủ nghĩa tư bản.

Sự tương đồng về kỵ sĩ và con ngựa giải thích cho sự hấp dẫn kéo dài của chủ nghĩa xã hội. Những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chế độ xã hội chủ nghĩa đã chọn sai kỵ sĩ để cưỡi con ngựa xã hội chủ nghĩa đi tới chiến thắng xứng đáng với nó. Những kỵ sĩ tệ hại như Stalin, Mao, Fidel, Pol Pot và Hugo Chavez đã chọn những chiến thuật và chính sách dẫn con ngựa xã hội chủ nghĩa của họ đi trật đường. Nhưng trên thực tế, một cái nhìn vào cách thức Liên Xô hoạt động lại bộc lộ rằng, chính bản thân con ngựa mới là vấn đề.

Sau khi giành được quyền lực một thế kỷ trước và nắm giữ quyền lực thông qua một cuộc nội chiến, những người cộng sản Liên Xô có ý định xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Sở hữu nhà nước và kế hoạch hóa khoa học sẽ thay thế cho tình trạng vô chính phủ của thị trường. Lợi ích vật chất sẽ dồn về phía giai cấp lao động. Một nền kinh tế công bằng sẽ thay cho sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản và con người mới xã hội chủ nghĩa sẽ nổi lên, những người đặt ưu tiên cho lợi ích của xã hội lên trên lợi ích cá nhân. Chuyên chính vô sản sẽ bảo đảm quyền lợi của giai cấp lao động. Thay vì bóc lột giá trị thặng dư từ người lao động, nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ lấy đồ cống nạp của các nhà tư bản để tài trợ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Những nền tảng căn bản của “con ngựa” Xô-viết đã được thiết lập vào đầu thập niên 1930. Theo hệ thống này, Stalin và bộ chính trị của ông ta đặt ra những ưu tiên chung cho các bộ công nghiệp và ủy ban kế hoạch nhà nước. Các bộ và các nhà kế hoạch làm việc cùng nhau để soạn ra các kế hoạch kinh tế. Cán bộ quản lý của hàng trăm ngàn nhà máy, công xưởng, cửa hàng thực phẩm và ngay đến các nông trại đều bị pháp luật bắt buộc phải hoàn thành kế hoạch mà cấp trên giao cho.

Nhà nước Xô-viết khởi động nền kinh tế kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa của họ khi thế giới tư bản chủ nghĩa chìm sâu vào suy thoái, chiến tranh thương mại và lạm phát phi mã. Chính quyền Xô-viết khoe khoang về mức tăng trưởng chưa từng có trước đây. Các tổ hợp công nghiệp mới mọc lên từ số không. Các tạp chí đăng hình ảnh những công nhân vui sướng nghỉ ngơi trong những khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi. Thông điệp là: Phương Tây đang thất bại và hệ thống kinh tế Xô-viết là con đường đi tới tương lai.

Khi cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội Liên Xô trở nên rõ rệt trong thời Chiến tranh Lạnh, hoạt động nghiên cứu học thuật nghiêm túc về nền kinh tế Xô-viết cũng bắt đầu. Chương trình nghiên cứu bao quát của các học giả phương Tây nhắm vào “kế hoạch hóa khoa học” – những người xã hội chủ nghĩa tin rằng các chuyên gia kỹ trị có thể quản lý nền kinh tế tốt hơn là những lực lượng thị trường tự phát. Suy cho cùng, chẳng phải các chuyên gia thì hiểu biết hơn người mua người bán về chuyện cần sản xuất cái gì, như thế nào và cho ai sử dụng hay sao?

Chính các nhà kinh tế học người Áo F.A. Hayek và Ludwig von Mises là những người chống lại niềm tin này quyết liệt nhất. Trong sự phê phán có tính biểu tượng của họ, được trình bày trong hàng loạt công trình nghiên cứu từ thập niên 1920 đến 1940, họ đi đến kết luận rằng chủ nghĩa xã hội sẽ thất bại. Trong các nền kinh tế hiện đại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp sản xuất ra hàng triệu sản phẩm. Quản lý một số lượng lớn như vậy là việc quá phức tạp mà không một cơ quan hành chính nào có thể phân bổ nguồn lực nổi, cho dù có sự trợ giúp của công nghệ máy tính tinh vi nhất. Kinh tế hiện đại do đó quá phức tạp và không kế hoạch hóa được. Không có thị trường và giá cả, các nhà hoạch định chính sách không biết được mặt hàng nào bị khan hiếm, sản phẩm nào dư thừa. Nếu tài sản thuộc về mọi người, thì những người quản lý tài sản cho xã hội sẽ phải theo những luật lệ nào?

Giải pháp của người Xô-viết cho những vấn đề về tính phức tạp và thông tin là một kế hoạch quốc gia đặt mục tiêu sản xuất cho những khu vực kinh tế lớn chứ không phải cho những giao dịch cụ thể. Nói cách khác, thay vì bắt buộc nhà máy A phải giao cho nhà máy B 10 tấn dây cáp thép, các nhà kế hoạch đặt mục tiêu tổng số tấn dây cáp được sản xuất trong cả nước. Chỉ có một số mặt hàng đặc biệt – chẳng hạn như dầu thô, quặng nhôm, than nâu, điện năng và toa vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt – mới được lập kế hoạch như những giao dịch thật sự. Còn tất cả những mặt hàng khác chỉ được kế hoạch hóa theo số lượng thô, chẳng hạn như đặt mục tiêu dệt ra vài triệu mét vuông vải. Các đặc điểm của sản phẩm, kế hoạch giao hàng và thanh toán tiền chỉ được vạch ra ở những cấp thấp, và thường dẫn tới những kết quả thảm hại.

Kế hoạch hóa khoa học kiểu Xô viết trong thực tế chỉ tác động tới một phần rất nhỏ sản phẩm. Vào đầu thập niên 1950, các cơ quan trung ương lập ra hơn 10.000 chỉ mục kế hoạch trong khi sản phẩm công nghiệp có đến hơn 20 triệu chỉ mục khác nhau. Các cơ quan trung ương lập ra những kế hoạch tổng quát cho các bộ công nghiệp, các bộ này lại đề ra những kế hoạch chi tiết hơn cho các “khu hành chính quan trọng”, nơi sẽ chuẩn bị kế hoạch cho các doanh nghiệp. Không bao giờ có yêu cầu các quan chức hàng đầu phải đưa ra kế hoạch sản xuất các sản phẩm đặc biệt nào đó.

Để làm cho vấn đề thêm phức tạp, gần như tất cả mọi kế hoạch đều chỉ là “dự thảo”, có thể được thay đổi bất cứ lúc nào bởi các quan chức của đảng và chính quyền cấp cao hơn. Sự can thiệp thường xuyên này, gọi là “giám sát”, là một điều phiền toái xảy ra từ ngày đầu tiên tới ngày cuối cùng của hệ thống Xô-viết, nhưng đó cũng là cột trụ cho công cuộc phân bổ nguồn lực.

Các nhà kế hoạch trung ương chuẩn bị những kế hoạch sơ bộ cho một bộ phận nhỏ của nền kinh tế. Những “kế hoạch dự thảo” này lại kích hoạt “những trận chiến giành kế hoạch” to lớn khi các bộ và các doanh nghiệp tìm cách hoàn thành mục tiêu sản xuất của họ và đáp ứng các định mức giao hàng; tất cả những chuyện này đều có thể thay đổi bởi các cán bộ đảng và cán bộ địa phương vào bất cứ lúc nào.

Như bộ trưởng công nghiệp nặng Sergo Ordzhonokidze than phiền vào năm 1930: “Tôi đoán họ nghĩ rằng chúng tôi là một lũ ngốc. Mỗi ngày họ cho chúng tôi từ nghị quyết này đến nghị quyết khác mà không có cơ sở nào cả”. Một nửa thế kỷ sau một nhà thầu quốc phòng ẩn danh cũng đưa ra lời than phiền tương tự: “Họ nhúng mũi vào mọi vấn đề. Chúng tôi bảo họ rằng họ đã sai, nhưng họ vẫn đòi phải làm theo cách của họ”.

Nhiệm vụ của người quản lý được cho là rất đơn giản: Kế hoạch là pháp lệnh, công việc của người quản lý là hoàn thành kế hoạch. Nhưng kế hoạch cứ tiếp tục thay đổi. Hơn thế nữa, nó bao gồm nhiều nhiệm vụ khác nhau, chẳng hạn như giao hàng, sản lượng và phân loại. Xuyên qua toàn bộ lịch sử của Liên Xô, tổng sản lượng gộp (đo bằng tấn, mét hoặc toa hàng/dặm) là các chỉ tiêu kế hoạch quan trọng nhất và cũng dễ thao túng nhất. Các nhà sản xuất đinh chẳng hạn, mà sản lượng được tính theo trọng lượng, chỉ sản xuất các loại đinh to và nặng. Các nhà sản xuất máy kéo, cố gắng hoàn thành định mức máy kéo, bị phát hiện chỉ giao cho khách hàng những chiếc máy kéo không có động cơ; buộc khách hàng phải mua động cơ như mua phụ tùng. Các nhà sản xuất giày mà kế hoạch dựa trên số lượng giày làm ra chỉ sản xuất giày cùng một cỡ, cùng một màu, bất chấp nỗi khổ tâm của khách hàng. Những mục tiêu kế hoạch khác, chẳng hạn như áp dụng công nghệ mới hoặc làm giảm chi phí sản xuất, bị lãng quên vì bị coi là không có tác dụng giúp hoàn thành kế hoạch.

Dưới chế độ kế hoạch hóa khoa học, cung cầu phải gần ngang nhau – và do ác cảm của họ đối với tính lộn xộn của thị trường, các nhà kế hoạch Xô-viết không thể cân đối cung cầu bằng cách nâng giá hoặc hạ giá. Thay vì vậy, họ soạn ra cái gọi là “cân đối vật chất”, sử dụng phép kế toán cổ xưa để so sánh những vật liệu nào đang có sẵn với những vật liệu cần có theo một nghĩa nào đó.

Kế hoạch hóa cân đối-vật chất kiểu Xô-viết có rất nhiều khiếm khuyết. Ví dụ, chỉ có thể soạn ra một số sự cân đối – năm 1938 chỉ có 379 sự cân đối ở trung ương được chuẩn bị cho một thị trường có hàng triệu mặt hàng. Và rồi, những sự cân đối này lại dựa trên những thông tin méo mó. Các nhà sản xuất hàng hóa trong phép cân đối này vận động để được phân bổ những mục tiêu thấp, che giấu năng lực sản xuất thật của họ. Những người sử dụng sản phẩm công nghiệp trong phép cân đối, ngược lại, lại khai vống lên những gì họ cần để bảo đảm việc hoàn thành kế hoạch của riêng họ.

Hình dung ra một sự cân đối thích hợp là một công việc mệt mỏi – và các nhà kế hoạch Xô-viết không phải năm nào cũng sáng tác ra cái mới; thay vì vậy, họ áp dụng cách gọi là “kế hoạch hóa từ mức độ đã hoàn tất”, nghĩa là kế hoạch của mỗi năm là kế hoạch của năm trước đó cộng thêm một số điều chỉnh nhỏ.

Vào đầu thập niên 1930, các cơ quan cung cấp phân phối nguyên vật liệu dựa trên những gì họ đã làm trong năm trước đó. Lướt nhanh đến thập niên 1980, cũng vẫn thấy cung cách làm việc như vậy. Khi một nhà sản xuất vật liệu nghề hàn muốn sử dụng tấm kim loại mỏng hơn thì câu trả lời chính thức là: “Tôi không quan tâm tới công nghệ mới. Cứ làm như cũ để mọi sự vẫn như cũ”. Kế hoạch hóa cân đối vật chất là kẻ thù của sản phẩm mới và công nghệ mới bởi vì chúng đòi hỏi phải làm lại một hệ thống các cân đối vốn đã rất mong manh. Các nhà kinh tế học Mỹ nghiên cứu sản xuất công nghiệp của Liên Xô trong thập niên 1950 hết sức ngạc nhiên khi thấy những cỗ máy đã sản xuất vài thập niên mà không hề được cải tiến gì cả, một chuyện chưa từng nghe thấy ở phương Tây.

Kế hoạch hóa cân đối vật chất là điểm yếu cơ bản nhất của hệ thống Xô-viết. Nó làm cho nền kinh tế Liên Xô bị đông cứng lại. Sản xuất của mỗi năm là bản sao chép năm trước đó. Một cán bộ quản lý Liên Xô năm 1985 sẽ cảm thấy hết sức thoải mái trong cùng doanh nghiệp đó vào năm 1935.

Ngoài kế hoạch hóa cân đối vật chất, ngân sách mềm (soft budgets) cũng tạo thành một khuyết điểm nghiêm trọng khác. Nhà kinh tế học Janos Kornai của trường Đại học Harvard lớn lên ở Hungary dưới thời xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa. Nghiên cứu của ông, dựa trên những trải nghiệm trực tiếp, tập trung vào những thất thoát kinh tế diễn ra cùng với những giới hạn của ngân sách mềm. Theo Kornai, nếu doanh nghiệp không phải đối mặt với nguy cơ phá sản, chúng sẽ không tìm cách cắt giảm chi phí và tìm những chiến lược sinh tồn khác. Từ ngày đầu tiên của hệ thống Xô-viết, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã hiểu rằng họ sẽ được tự động cứu nguy, nếu không nói là cứu ngay.

Nguyên nhân ban đầu của chính sách ngân sách mềm là do hệ thống Xô-viết dựa trên kế hoạch sản lượng. Đầu ra của doanh nghiệp này là đầu vào của doanh nghiệp khác. Nếu kế hoạch sản lượng bị đổ vỡ thì toàn bộ kế hoạch sẽ thất bại. Đưa một doanh nghiệp ra khỏi nền sản xuất do làm ăn kém cỏi không đơn giản là một sự lựa chọn.

Trong thực tế, các doanh nghiệp thua lỗ thường trả các khoản tiền hàng bằng trái phiếu ghi nợ (IOU). Các phiếu ghi nợ không được thanh toán đúng hạn sẽ nhiều lên dần rồi đạt tới quy mô khủng hoảng. Gosbank, tức ngân hàng nhà nước Liên Xô – sẽ vào cuộc và giải quyết các hóa đơn chưa thanh toán bằng cách phát hành thêm tiền và tạo ra cái mà các quan chức ngân hàng Xô-viết gọi là “treo tiền” – đồng tiền chạy theo hàng hóa hơn là có hàng hóa để mua. Trong thực tế, việc kinh doanh chính của Gosbank trong những năm đầu tiên của hệ thống Liên Xô là tổ chức những vụ cứu nguy tài chính. Khi một vụ cứu nguy này hoàn tất cũng là lúc bắt đầu tiến hành vụ cứu nguy kế tiếp.

Vấn đề của chủ nghĩa xã hội không phải là kỵ sĩ tồi mà là chính con ngựa. Hệ thống kinh tế Xô-viết mắc nhiều chứng bệnh cuối cùng sẽ làm nó ngã quỵ. Bắt đầu từ cuối thập niên 1960, kinh tế Liên Xô rơi vào cuộc suy thoái kéo dài, về sau được gọi là “giai đoạn trì trệ”. Mikhail Gorbachev được chọn làm tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô năm 1985 với cam kết rằng ông, một nhà cải cách cấp tiến, sẽ đảo ngược đà suy thoái này.

Gorbachev đã thất bại vì cốt lõi của hệ thống kế hoạch hóa Xô-viết đã mục ruỗng. Bất chấp thiên hướng cải cách của ông, Gorbachev vẫn là một tín đồ của chủ nghĩa xã hội. Ông quyết tâm cứu vãn chủ nghĩa xã hội Xô-viết bằng cách làm cho nó giống với chủ nghĩa tư bản. Khi làm như vậy, ông đã tạo ra một nền kinh tế không phải là kế hoạch hóa, cũng không phải kinh tế thị trường – một cuộc tranh chấp đầy hỗn loạn, mà nhân dân Nga tới hôm nay vẫn buồn rầu gọi đó là “chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

Biên dịch: Hiếu Chân

Nguồn: Paul R. Gregory, “Why Socialism Fails”, Hoover Institution, 10/01/2018.

Paul Roderick Gregory lấy bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Harvard, làm nghiên cứu viên của Viện Hoover, giáo sư khoa kinh tế của Đại học Houston, Texas; giáo sư nghiên cứu tại Học viện Đức về nghiên cứu kinh tế ở Berlin; chủ tịch danh dự Ban Tư vấn quốc tế trường Kinh tế Kiev (Ukraine). Ông cũng đồng thời là giáo sư thỉnh giảng các trường Đại học quốc gia Moscow (Nga), Đại học Viadrina (Nga) và Đại học Tự do Berlin (Đức).

——

[1] Bernie Sanders: Thượng nghị sĩ Dân chủ bang Vermont, Hoa Kỳ, thất bại trong cuộc tranh giành với bà Hillary Clinton tư cách đại diện đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống Mỹ trong cuộc bầu cử tháng 11-2016.

Nhà nước, thị trường, và an ninh kinh tế ở Đông Á hậu khủng hoảng – Phần III


Có hai điểm đáng nhấn mạnh từ quan điểm về an ninh của cường quốc kinh tế trong khu vực này. Một là, các nhà lập kế hoạch Nhật Bản chưa từng bao giờ tỏ ra có nhiệt tình hay lòng tin nào đối với cơ chế thị trường khi an ninh quốc gia bị đe dọa. Nhận thức được tình trạng dễ bị tổn thương về mặt kinh tế của mình, đặc tính mà buộc Nhật Bản không đơn thuần chỉ là đạt được một sự thay đổi về định hướng chính trị hay là làm giảm bớt một số rào cản thương mại hữu hình của nước này, mà cơ bản là để tác động đến những tập quán kih tế cũng như chính trị vốn có. Điều này lại đưa đến vấn đề thứ hai: Khi những chế độ thống trị riêng biệt trở thành yếu tố xã hội không tách rời, chúng có thể sẽ trở thành cái mà Kent Calder gọi là “giới hạn của sự bù đắp lợi ích” hay tập hợp của những quyền lực chính trị tự phục vụ để đẩy mạnh quyền lợi của những thành viên trong giới. Trong hoàn cảnh đó, chúng ta sẽ cảm thấy dễ dàng hơn nhiều khi tìm hiểu tại sao Nhật Bản lại do dự khi tham gia vào lịch trình tự do hóa thương mại của APEC và tại sao quyền đòi đại diện cho quan điểm toàn châu Á của nước này lại quan trọng đến như vậy. Trong một khu vực mà an ninh quốc gia dựa vào nhà nước chứ không phải là thị trường và ở đó các quyền lợi về chính trị và kinh tế gắn kết với nhau một cách mật thiết thì kinh nghiệm của Nhật Bản không phải là không điển hình.

Tại các nhà nước mới hình thành ở Đông Nam Á, mối liên kết giữa lĩnh vực chính trị và kinh tế nói chung mạnh mẽ hơn nhiều – và những mâu thuẫn trái ngược đi kèm cũng vậy. Tuy nhiên, theo quan điểm an ninh quốc gia, hiện tại đã có rất nhiều những vấn đề cụ thể tương đối phổ biến đối với nhiều quốc gia trong khu vực. Ayoob cho rằng trong những nguồn nguyên nhân chính của tình trạng bấp bênh tồn tại “tình trạng thiếu tính hợp pháp vô điều kiện đối với ranh giới, thể chế và chế độ thống trị quốc gia; sự đoàn kết xã hội không tương xứng; và sự thiếu vắng tính đồng thuận trong xã hội đối với những vấn đề tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị cơ bản”. Trong những bối cảnh như vậy, chính khía cạnh an ninh trong nước chứ không phải là những mối quan tâm quốc tế thông thường chi phối phần lớn chính sách và lý thuyết của phương Tây, đây là điều có ý nghĩa quan trọng nhất ở nhiều nhà nước mới thành lập.

Với một toan tính chiến lược mang màu sắc quốc nội như vậy, bản chất nhiều mặt của an ninh trở nên dễ hiểu hơn nhiều. Sự khác biệt căn bản giữa các quốc gia trong khu vực với kinh nghiệm của nhà nước tư bản châu Âu là ở chỗ: trong khu vực này sự hình thành nhà nước thường là một quá trình bị cắt xén và ít có tính kết cấu, phối hợp hơn nhiều. Thay vì dựa trên sự cân bằng giữa các lực lượng xã hội, chính trị và quân sự nổi lên từ quá trình lịch sử phức tạp như đã từng diễn ra ở châu Âu, các hình thái nhà nước lại được dựa vào những ranh giới địa lý mà thường được phân định một cách độc đoán trong khu vực, bóp méo sự phát triển và đem lại một sự ảnh hưởng quá mức cho giới quân sự. Một lần nữa, khi được đặt vào bối cảnh lịch sử cụ thể, thì các kiểu cơ cấu chính trị đã nổi lên ở các quốc gia như Indonesia, nơi mà quân sự có vai trò hết sức nổi bật trong đời sống chính trị và kinh tế của đất nước sẽ trở nên dễ hiểu hơn. Tương tự như vậy, hoàn toàn có thể đánh giá cao sự ưu tiên cao nhất giành cho an ninh nội địa và sự khó khăn khi cố gắng tạo ra một trật tự kinh tế mới lấy thị trường làm trung tâm.

Giá trị châu Á và những tư tưởng kinh tế

Một trong những khía cạnh đáng chú ý của quá trình chuyển đổi kinh tế quan trọng của Đông Á là sự xuất hiện của cái gọi là “những giá trị châu Á”. Mặc dù hiện nay hiện tượng này là phần không nổi bật lắm trong diễn thuyết về chính trị Đông Á so với thời kỳ hoàng kim trước đây của “sự thần kỳ châu Á”, nhưng nó vẫn cho ta một cái nhìn thấu suốt vào những tư tưởng Đông Á đầy ảnh hưởng đói với các vấn đề phát triển và vai trò thích hợp của nhà nước và thị trường. Hơn thế nữa, nó chính là chủ đề tư tưởng xuyên suốt là không thể biến mất và cũng không hoàn toàn bị mất giá trị ở nhiều vùng trong khu vực.

Một số điểm nổi bật hơn trong diễn thuyết về giá trị châu Á đã lạc đề trong một cuộc tranh luận diễn ra ở mức độ phổ biến rất cao đến mức gần giống như sự châm biến. Định nghĩa của Sammuel Huntington về “sự đụng độ của các nền văn minh” có thể là một diễn giải được biết đến nhiều nhất về xu hướng này. Điều quan trọng là phải nhận thức được rằng một số trong những người tán thành mạnh mẽ nhất cho “cách thức châu Á” đặc biệt này cũng đã mô tả sự khác biệt của những tập quán kinh tế và chính trị giữa “phương Tây” và “phương Đông” trong các thuật ngữ về nền văn mih. Những nhà phê bình với các bài diễn thuyết đầy mưu toan như vậy đã để tâm một cách đúng đắn đến sự thiếu vắng của một sự phân loại như trên mà chính nó đã che đậy vô số sự khác biệt về truyền thống và tập quán xã hội trong khu vực. Dường như chúng được tạo ra cho những hình thái đặc biệt hợp lý về luật lệ và sự kiểm soát xã hội bằng việc “tạo ra những hệ tư tưởng chính thống mới dựa trên một khái niệm có tính toán về một hệ thống giá trị và văn hóa toàn châu Á”. Tóm lại, trong số các nhà phê bình về diễn thuyết giá trị châu Á có một quan điểm phổ biến cho rằng đó chẳng qua đó chỉ là lớp vỏ bọc rối rắm rắm có ý định che đậy và hợp thức hóa cho sự chuyên chế hiện hành và để giữ nguyên hiện trạng. Trong khi có rất nhiều điểm có giá trị trong những sự bình phẩm như vậy, thì vẫn có thể có sự sai lầm khi xem xét sự xuất hiện của diễn thuyết về các giá trị châu Á bằng các thuật ngữ – tự phục vụ – dành riêng cho chính trị. Khi đối chiếu với bối cảnh lịch sử của sự phát triển kinh tế khu vực và mối liên hệ với phương Tây, diễn thuyết về các giá trị châu Á có thể được xem như sự biện hộ cho các mô hình quản lý kinh tế châu Á, làm cơ sở cho những hình thái an ninh toàn diện hơn.

Theo quan điểm chính sách và an ninh kinh tế, một trong những chủ đề cơ bản và là một trong những lý lẽ biện hộ cho những biện pháp ứng phó của nhà nước chứ không phải của thị trường đối với sự hội nhập kinh tế thế giới là sự bất lợi nảy sinh do phát triển muộn. Người Đông Á ưa chuộc cho những tư tưởng trọng thương của Friedrich List hơn là lý thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith là điều quá rõ ràng ở Nhật Bản, nhưng các tư tưởng kinh tế xung đột với lý thuyết chính thống của phương Tây lại là một bộ phận không thể tách rời trong tư duy của đa số người châu Á. Đối với phần lớn các nhà lãnh đạo Đông Á như Thủ tướng Malaysia – Mahathir Mohamad – thì lý lẽ bào chữa cơ bản cho việc chính phủ dính líu sâu hơn vào các hoạt động kinh tế (mà Nhật Bản là một ví dụ điển hình) là vì cần phải khắc phục những bất lợi do tiến hành công nghiệp hóa muộn. Trong một nền kinh tế toàn cầu bị chi phối bởi các cường quốc công nghiệp lâu đời thì Mahathir có thể lái mọi sự chỉ trích đối với yếu tố chính trị công khai hơn của diễn thuyết các giá trị châu Á sang hướng khác bằng việc khẳng định rằng những mối lo ngại của phương Tây về vấn đề nhân quyền đơn giản chỉ là âm mưu nhằm hạn chế sự phát triển kinh tế và giảm thiểu lợi thế cạnh tranh của khu vực. Trong khi theo cách lập luận như vậy, thì điều đó rõ ràng là tự phục vụ, chúng ta cần thừa nhận rằng: thứ nhất là các nền kinh tế đang công nghiệp hóa mà có thể xông vào những lĩnh vực sinh lợi nhất của nền sản xuất thế giới, và thứ hai là tất cả các cường quốc công nghiệp đã phát triển được hưởng sự hỗ trợ của nhà nước trong giai đoạn tiền công nghiệp.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Minh

Nguồn: Mark Beeson, Viễn cảnh châu Á, Tập 23, số 3, 1999, tr33 – 52.

TN 2000 – 75 & 76

Nhà nước, thị trường, và an ninh kinh tế ở Đông Á hậu khủng hoảng – Phần II


Di sản lịch sử

Một trong số những nhân tố chủ chốt tạo nên sự tiến triển mang tính lịch sử của khu vực Đông Á trong vài thế kỷ nay gắn liền với sự bành trướng của các cường quốc tư bản chủ nghĩa mà khởi đầu là châu Âu, sau đó là Mỹ. Trên thực tế chính khái niệm về một khu vực Đông Á riêng biệt được hiểu rộng là ranh giới địa lý được xác định một cách độc đoán đối lập với châu Âu hay các nước ngoài khu vực khác. Tuy nhiên, tầm quan trọng cơ bản của mối quan hệ lịch sử giữa Đông Á và “Phương Tây” trong bối cảnh cuộc tranh luận hiện tại là trước hết nó đã giúp thiết lập nên những chuẩn mực quan hệ cụ thể ở cấp độ trong và liên khu vực, thứ đến nó góp phần đắc lực trong việc củng cố các hình thái cụ thể của tập quán thống trị. Ngay từ đầu cần phải nhấn mạnh rằng mô hình quan hệ tương tác giữa Đông Á và các cường quốc Anh – Mỹ hoàn toàn không đơn giả chỉ để rập khuôn những mô hình tổ chức kinh tế hay các hệ thống chính trị phương Tây. Trái lại, nhiều trong số những cơ cấu chính trị cũng như các tập quán kinh tế riêng biệt và lâu bền nhất ở Đông Á đã nổi lên như một phản ứng mang đầy tính cạnh tranh và phòng vệ đối với thách thức xâm lấn từ phương Tây.

Việc nhìn nhận lại những giai đoạn đầu thời kỳ quan hệ kinh tế và chính trị được tăng cường giữa Đông Á và phương Tây để làm bài học không phải đơn thuần vì nó đem đến sự hiểu biết có tính sắc thái riêng về những phát triển đương thời. Chúng ta cũng nên nhớ rằng chưa từng bao giờ có một kiểu mẫu hay phản ứng chính trị riêng của Đông Á đối với những thách thức bành trướng thực dân cũng như về hiện tượng toàn cầu hóa gần đây. Chính những kinh nghiệm lịch sử rất khác nhau của hai cường quốc Đông Á – Trung Quốc và Nhật Bản – đã nhắc nhở một cách rất thẳng thừng rằng cả về khả năng phân biệt tính quốc gia trước những thách thức ở khắp mọi nơi cũng như về tầm quan trọng tiềm tàng của chính sách trong nước. Thành công đáng kể của Nhật Bản trong việc thích nghi với sự bành trướng của một hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa toàn cầu ngày càng lớn mạnh, bắt nguồn từ châu Âu vào thế kỷ thứ XIX là một sự tương phản rõ ràng so với phản kháng của Trung Quốc. Điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là cả hai con đường – sự điều tiết tương đối thành công ở Nhật và sự bất hợp tác đầy gian khổ ở Trung Hoa – đã để lại những giá trị lịch sử quan trọng, nhưng không một con đường nào hoàn toàn dẫn thẳng đến việc thích nghi với trật tự kinh tế tự do mới trong giai đoạn đó.

Cho dù tương lai của Trung Quốc trong thế kỷ mới như thế nào thì cho tới nay, Nhật Bản đã đóng một vai trò then chốt như là đầu máy của sự phát triển Đông Á hiện thời, cũng như đóng vai trò kiểu mẫu cho các nước khác trong khu vực. Với tư cách tiên phong của cái gọi là “nhà nước phát triển”, thì ngoài Bắc Mỹ và châu Âu, Nhật Bản đã trở thành một ví dụ nổi bật nhất cho sự phát triển kinh tế thành công, bền vững, quy mô lớn dựa trên nền tảng công nghiệp. Điều quan trọng là, thậm chí Hàn Quốc dù chưa đủ sức để có thể làm lu mờ các đối thủ châu Âu nhưng cũng đã đi theo con đường phát triển đầy cảm hứng của Nhật Bản vốn rất kỵ với một cơ chế thị trường trên cơ sở quản lý nhà nước và những mối quan hệ cộng tác giữa chính phủ với thành phần kinh doanh. Cho dù cuối cùng người ta có thể chứng minh được những giá trị lâu dài hay sự bền vững của mô hình này là đúng, thì ít nhất cho tới hiện nay khái niệm quốc gia phát triển đã thực sự ăn sâu vào các thể chế và các mối quan hệ xã hội của nhiều nước Đông Á như là một nhân tố chính thống và là thành tố trung tâm của cơ cấu tổ chức kinh tế quốc gia.

Hơn thế nữa, dù rằng những nước như Trung Quốc, hoặc là ban đầu kém thành công hơn khi thích ứng với thách thức của các cường quốc phương Tây đang lớn mạnh, hoặc là sự phát triển kinh tế và chính trị của họ bị biến đổi một cách sâu sắc bởi một quá khứ thuộc địa như ở Đông Nam Á, cũng đã phát triển cơ cấu kinh tế nội địa và các tập quán chính trị ứng phó đầy ngẫu hứng với những thúc bách từ bên trong cũng như bên ngoài. Nói chung, những nước này chẳng có điểm tương đồng nào với các đối tác phương Tây của họ. Một lần nữa, điểm nhấn mạnh ở đây là cho dù đất nước Trung Hoa “xã hội chủ nghĩa” có thể không tránh khỏi việc đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng nó vẫn duy trì một hình thái chủ nghĩa tư bản mang đặc trưng Trung Quốc rõ ràng. Những cơ cấu quyền lực và các nhà lãnh đạo chính trị từng nắm quyền trước giai đoạn hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu hiện nay đã nắm lấy việc quản lý và phổ biến một đặc tính đặc biệt, có sự quản lý của nhà nước để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Tương tự như vậy, ở những nền kinh tế nhỏ hơn ở Đông Nam Á như Indonesia, mức độ tự do hóa thị trường và mức độ quản lý của nhà nước từ trước đến nay thường chỉ mang chức năng là những thúc bách bên ngoài, kiểu như giá dầu mỏ biến động, chứ không phải là bất kỳ lòng nhiệt huyết bẩm sinh nào muốn xóa bỏ quản lý kinh tế hay muốn chuyển đổi sang những giá trị chính thống tân cổ điển theo chế độ kỹ trị.

Nền an ninh toàn diện

Để có thể hiểu được các loại phản ứng đối với khủng hoảng đã xảy ra ở Đông Á và sự cẩn trọng ngày càng gia tăng khi đi theo cuộc cải cách toàn diện theo hướng thị trường, chúng ta cần phải tách bạch giữa những khái niệm về an ninh của Đông Á và phương Tây. Điểm mấu chốt là ở châu Á, an ninh được hiểu rộng hơn là ở phương Tây. Mối bận tâm về ảnh hưởng nhiều hơn, mà chủ yếu là của thuyết duy thực Bắc Mỹ đối với các khía cạnh an ninh quân sự thông thường, hàm ý rằng cách tiếp cận phức tạp hơn và toàn diện hơn đối với an ninh Đông Á thường không được đánh giá và lập luận đúng mức. Điều này không có nghĩa rằng các khía cạnh quân sự của cân bằng an ninh ít được coi trọng hơn so với phương Tây. Ngược lại, một trong những lợi ích lớn của sự bành trướng kinh tế, ít nhất là theo quan điểm của các thế lực đang cầm quyền, là để củng cố vị thế của họ trên trường quốc tế cũng như trong nước thông qua các vụ buôn bán vũ khí mới. Nói theo cách khác, bài toán an ninh của Đông Á được hình thành từ một loạt các biến số phức tạp mà lời giải của nó phụ thuộc rất nhiều vào mức độ ổn định kinh tế.

Do vậy, một trong số những khác biệt căn bản giữa tình hình an ninh của Đông Á với phương Tây lại xoay quanh mối quan hệ giữa quyền lực chính trị và kinh tế. Hai khía cạnh của mối quan hệ qua lại này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Đông Á: quá trình công nghiệp hóa “muộn màng” của khu vực, và sự ra đời tương đối mới mẻ của một loạt quốc gia Đông Á do kết quả của quá trình phi thực dân hóa giành lại độc lập của mỗi quốc gia.Hay nói một cách khác, sự tiếp cận đến những vấn đề an ninh sẽ phản ánh những sức mạnh kinh tế và chính trị tương ứng mà có thể chính chúng lại là nhân tố của thời điểm, sự tiếp nối và là giai đoạn của phát triển kinh tế.

Một lần nữa Nhật Bản lại là quốc gia chủ chốt khi xét tới vấn đề công nghiệp hóa khu vực. Để khắc phục những bất lợi của sự phát triển muộn màng và những khó khăn khi xâm nhập vào nền kinh tế thế giới từng bị thống trị bởi các cường quốc công nghiệp trưởng thành, Nhật Bản đã đi tiên phong trong một loạt các chính sách thương mại và công nghiệp cho phép đất nước này nhanh chóng “bắt kịp” và sau đó là vượt qua phương Tây. Điều quan trọng là kỳ tích đáng ghi nhận này được lập nên bằng cách chế ngự quyền lực chính trị và kinh tế và các quyền lợi quốc gia ưu tiên một cách có tính hệ thống. Những chính sách trọng thương căn bản này được chấp nhận bởi vì Mỹ lúc đó đang phải bận tâm đến những khía cạnh thông thường hơn của nền an ninh chiến tranh lạnh mà trong đó Nhật Bản là một bức tường thành chủ đạo để chống lại khả năng bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Kết quả là Nhật Bản đã có thể phát triển một chính sách “an ninh toàn diện” riêng đảm bảo cho đất nước này tiếp cận tới hay kiểm soát được những nguồn lực quan trọng cho nền công nghiệp hóa nước nhà.

Theo quan điểm này, quyền tự trị kinh tế không chỉ là mục tiêu cốt yếu trong chính sách quốc gia mà còn được hiểu là một nhân tố trung tâm của an ninh quốc gia. Những vết thương của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai và sự thất bại của Khối thịnh vượng chung của Nhật Bản đã bộc lộ cả bản chất dễ tổn thương về nguồn lực của Nhật Bản cũng như những giới hạn của các giải pháp quân phiệt đối với thế tiến thoái lưỡng nan này. Mạng lưới ngoại giao và công ty phức tạp mà Nhật Bản chăng ra trên toàn Đông Á cũng thể hiện rằng có rất nhiều cách thức tinh vi hơn để giành quyền bá chủ kinh tế trong khu vực. Tuy nhiên, dù có vị trí nổi trội trong khi vực nhưng Nhật Bản – cũng giống như các láng giềng có nền kinh tế hướng vào xuất khẩu – vẫn phải phụ thuộc vào những thị trường cực kỳ quan trọng ở khu vực Bắc Mỹ, và do vậy, có nhiều khả năng là nước này rất dễ bị tổn thương bởi một loạt những áp lực về kinh tế và chính trị.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Minh

Nguồn: Mark Beeson, Viễn cảnh châu Á, Tập 23, số 3, 1999, tr33 – 52.

TN 2000 – 75 & 76

Khác biệt Trung – Mỹ về đường lối thương mại


Ngoại giao của Trung Quốc thời gian qua rất sôi động, sau cuộc gặp thượng đỉnh Trung – Mỹ ở Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tham dự Hội nghị cấp cao APEC ở Đà Nẵng và thăm chính thức hai nước Việt Nam, Lào. Trong khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường sang thăm chính thức Philippines và tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Đông Á. Việc hai nhà lãnh đạo cấp cao nhất Trung Quốc cùng lúc công du nước ngoài là điều rất hiếm gặp, cho thấy Trung Quốc rất coi trọng công tác đối ngoại và đã đạt được những thành quả quan trọng.

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị chỉ ra rằng hành động của ông Tập Cận Bình đã đem đến những năng lượng tích cực và tính ổn định cho tình hình quốc tế và khu vực vốn đang phải đối mặt với nhiều thách thức, phát huy vai trò chủ đạo của Trung Quốc trong việc thúc đẩy thành lập Khu vực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương, thiết lập Hiệp định quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và Cộng đồng kinh tế Đông Á.

Tầm quan trọng của Trung Quốc còn nổi bật hơn nhờ Mỹ. Tại Hội nghị APEC vừa qua, Trump lần đầu tiên bày tỏ suy nghĩ của mình về chính sách liên quan chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa biệt lập, với hai điểm chính: Thứ nhất, ông không thể can tâm nhìn Mỹ bị lợi dụng, dẫn đến một sự mất cân bằng nghiêm trọng do thâm hụt thương mại tăng vọt, WTO bị chỉ trích đã tạo ra quy tắc thương mại không công bằng. Thứ hai, Mỹ không tham gia hợp tác kinh tế và thương mại đa phương mà chỉ coi trọng đàm phán song phương. Đây thực sự là phủ nhận APEC, nền tảng giao lưu hợp tác đa phương quan trọng nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trump còn khoe khoang rằng chuyến đi châu Á của mình đã làm thay đổi các quy tắc thương mại, cũng như giành được đơn hàng lớn trị giá 300 tỷ USD và ước tính số tiền sẽ tăng gấp đôi trong thời gian ngắn. Thái độ của Mỹ khiến Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao APEC bị lùi hai ngày mới được công bố, nội dung cũng làm nhạt đi những cam kết về toàn cầu hóa và hợp tác đa phương.

Biểu hiện của Mỹ ngoài việc làm xói mòn nền tảng hợp tác của APEC, còn nhấn mạnh sự khác biệt về đường lối thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Mỹ đã từ bỏ vai trò chủ đạo dẫn dắt kinh tế thương mại thế giới, trong khi Trung Quốc đã sẵn sàng tiếp nhận vai trò này.

Việc Trung Quốc “vùng lên” không chỉ thể hiện ở thái độ mà còn ở những ý tưởng và biện pháp cụ thể. Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN + 3, ông Lý Khắc Cường đã đề xuất lấy việc cùng chung tay xây dựng Cộng đồng Kinh tế Đông Á làm khuôn khổ mới phát triển hơn sau 20 năm thiết lập cơ chế 10 + 3. Khuôn khổ này sẽ được xây dựng dựa trên 3 nền tảng, tức là cơ chế 10 + 3, ba cơ chế 10 + 1 và các cơ chế hợp tác tiểu vùng như khu vực thương mại tự do Trung – Nhật – Hàn, Hợp tác Lan Thương – Mekong và Khu vực tăng trưởng Đông ASEAN… Đối với cơ chế “10 + 1” Trung Quốc – ASEAN, cần thực hiện một số nội dung hợp tác quan trọng sau: Một là, vạch ra quan hệ đối tác chiến lược song phương tầm nhìn đến năm 2030. Hai là, triển khai thực hiện kế hoạch 3 + X về giao lưu an ninh chính trị, kinh tế thương mại, văn hóa và hợp tác đa lĩnh vực. Ba là, đưa Trung Quốc – ASEAN trở thành mô hình của Hợp tác Nam – Nam, nhằm nâng cao ý nghĩa về tính toàn cầu của nó. Bốn là, thúc đẩy kết nối giữa chiến lược “Vành đai con đường” với Kế hoạch tổng thể kết nối ASEAN.

Lào là một nước nhỏ trong ASEAN, nhưng điều này không làm giảm sự coi trọng của Trung Quốc đối với Lào. Chuyến thăm của ông Tập Cận Bình đã mang lại bước đột phá quan trọng cho hợp tác song phương giữa hai nước. Trong việc thúc đẩy kết nối chiến lược “Vành đai, con đường” của Trung Quốc với Kế hoạch “Biến đổi Lào từ một đất nước bị khóa trong đất liền thành một đất nước gắn với đất liền” của Chính phủ Lào, cần phải dựa vào tuyến đường sắt xuyên biên giới để xây dựng Hành lang kinh tế Trung – Lào và xây dựng Con đường tơ lụa kỹ thuật số giữa hai nước, tạo tiền đề cho việc xây dựng Hành lang kinh tế Trung Quốc – Lào – Campuchia trong tương lai, tạo ra một trong những mắt xích quan trọng của Hợp tác Tiểu vùng Lan Thương – Mekong, tăng cường sự liên kết trên bộ giữa Trung Quốc và ASEAN.

Trong khi đó, khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” mà Trump giới thiệu trong chuyến công du châu Á vừa qua lại thiếu đi sự miêu tả cụ thể. Chưa kể đến những tiền đề lớn của Trump về hợp tác đa phương khó có thể mang lại tác dụng thực chất. Mỹ quan tâm nhiều hơn đến việc thiết lập “Liên minh kim cương” Mỹ – Nhật Bản – Australia – Ấn Độ để bao vây Trung Quốc, các quan chức của 4 nước trên từng có các cuộc đàm phán 4 bên ở ASEAN. Nhật Bản cũng tranh thủ dịp APEC vừa qua để đạt được thỏa thuận TPP-11 và đổi tên thành CPTPP. Tuy nhiên, phía Trung Quốc cho rằng, với việc thiếu vắng Mỹ và đóng băng nhiều điều khoản, thỏa thuận trên dường như đã hoàn toàn thay đổi.

Do khác biệt về đường lối thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ, khi Trung Quốc đã tiếp quản vai trò chủ đạo về thương mại tự do, những “tiểu xảo” của Mỹ – Nhật đã không còn nhiều ý nghĩa.

Nguồn: Thương báo (HK) – 22/11/2017

TKNB – 24/11/2017

Nhà nước, thị trường, và an ninh kinh tế ở Đông Á hậu khủng hoảng – Phần I


Mark Beeson

Cuộc khủng hoảng tác động đến Đông Á từ giữa năm 1997 đã làm nảy sinh ra nhiều vấn đề nghiêm túc về hình thái của các tổ chức chính trị và kinh tế chủ đạo trong khu vực. Người ta đã quan tâm rất nhiều đến nhu cầu cải cách đã quá rõ ràng, đặc biệt là theo đường lối lấy thị trường làm trung tâm được APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hậu thuẫn. Bất chấp những khó khăn mà nhiều nền kinh tế ở châu Á đang đối mặt, hiện tại trong phần nhiều các thế lực chính trị trong khu vực vẫn còn tồn tại những phản kháng đang gia tăng đối với vấn đề cải cách này. Bài viết này tìm ra những nguồn gốc phản kháng đó và đưa ra lập luận rằng điều đó nên hiểu là sự bắt nguồn từ mong muốn một nền an ninh kinh tế bền lâu và từ xưa đến nay vẫn là trung tâm của các mô hình chính sách công cộng của Đông Á.

Giới thiệu: Phản ứng của châu Á đối với trật tự tự do mới

Ngay sau khi cuộc khủng hoảng đa phương diện tràn qua toàn Đông Á trong vài năm trước, thoạt nhìn có vẻ như những người ủng hộ cho các lý thuyết “chuyển đổi” phát triển kinh tế và chính trị là đúng. Rõ ràng là nhiều nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á (sau đây gọi là Đông Á) có vẻ như đang thực hiện nhiều cuộc cải tổ cơ cấu mạnh mẽ trong một số các thể chế trong nước quan trọng nhất của mình và hướng tới một trật tự kinh tế hướng vào thị trường hơn. Hơn thế nữa, những mối quan hệ xã hội và chính trị phức tạp mà những thể chế này đang bám rễ – vẫn thường được biếm họa bằng một tiêu đề đầy tính giai cấp tư tưởng của “chủ nghĩa tư bản cấu kết”, có vẻ như là đối tượng của những áp lực cải cách không thể kháng cự được, đặc biệt là từ những thế lực bên ngoài. Nói tóm lại, người ta vội vã cho rằng do ảnh hưởng càng lớn của cuộc khủng hoảng mà các nền kinh tế nhỏ ở Đông Á đặc biệt bị tổn thương trước hàng loạt những thúc ép chính trị và các biện pháp kinh tế khiến cho chúng không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải bám vào “sự đồng thuận Washington” mang sắc thái tự do mới và ngày càng hướng vào thị trường đang hiện diện ở khắp mọi nơi. Tuy nhiên, một cuộc khảo cứu cụ thể hơn về toàn bộ khu vực thời kỳ hậu khủng hoảng đã cho thấy rằng không những tác động của cuộc khủng hoảng đối với mỗi quốc gia khác nhau mà đối sách của từng nước cũng khác nhau.

Mục đích của bài viết này không phải để đánh giá tổng quát một lần nữa về cuộc khủng hoảng và những nguyên do có thể của nó. Những phân tích như vậy đã có rất nhiều. Thay vào đó, mục đích bài viết ở đây là nhằm đặt cuộc khủng hoảng vào một bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn để có thể góp phần giải thích cả tính đa dạng trong những phản ứng chính sách đối với những thách thức kinh tế đã quá rõ ràng ở khắp nơi, lẫn sự phản ứng đang tiếp diễn đối với tư tưởng chính thống tự do mới ở Đông Á. Theo cách này người ta có thể hiểu rõ hơn sự thất bại của những cơ chế đa chính phủ đang tồn tại, ví dụ như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) với mục đích hoặc là thúc đẩy cuộc cải tổ hướng vào thị trường trong khu vực trước thời kỳ khủng hoảng một cách hiệu quả, hoặc là nắm vai trò chủ đạo trong việc điều chỉnh ngay chính trong cuộc khủng hoảng đó. Một lần nữa, ngay từ đầu cần phải nhấn mạnh rằng mục đích của bài viết không để đưa ra một bức tranh chi tiết về các hoạt động của APEC, mà là một lý giải nhằm giúp cho sự phản kháng đối với chương trình cải cách cả trước và sau khủng hoảng trở nên dễ hiểu hơn.

Bài viết này được thực hiện theo cách chỉ ra những truyền thống khác biệt của chính sách công cộng đã làm nên sự phát triển kinh tế đặc trưng ở Đông Á. Tôi cho rằng một quan niệm rất khác về an ninh, quan niệm nhấn mạnh vào khía cạnh kinh tế và sự theo đuổi quyền tự trị dân tộc tương đối, đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc định nghĩa nên các tư tưởng kinh tế và vai trò tương thích của quốc gia trong khu vực.

Hơn thế nữa, mối liên hệ mật thiết – hay nói đúng hơn là sự không thể tách rời – giữa phạm trù chính trị và kinh tế tại nhiều nước Đông Á đồng nghĩa với việc cuộc cải cách đang đặt ra những vấn đề đặc biệt khó khăn cho các thế lực chính trị chủ chốt đương thời và những vai trò trung tâm của chúng từ trước đến nay trong các nền kinh tế quốc nội. Tôi minh họa cuộc đấu tranh này bằng việc xem xét lại một số những đóng góp nổi bật đối với cuộc tranh cãi về vấn đề “những giá trị châu Á”, cái mà có thể không phải là tàn lực như nhiều nhà bình luận đã nghĩ như vậy. Có lẽ bài thuyết giảng này chỉ để tự phục vụ và có chủ ý nên một số những người đề xướng về giá trị châu Á khôn ngoan hơn đã chỉ ra một vấn đề mà có thể sẽ tiếp tục gây ra nhiều cuộc tranh cãi về những vai trò thích hợp của các nhà nước và thị trườg đó là: Chủ nghĩa tự do mới có thể ăn sâu vào các trật tự và hình thái xã hội vốn có, một quan điểm từng là trung tâm của những sự chỉ trích của châu Á về chủ nghĩa tư bản phương Tây trước thời kỳ khủng hoảng. Trong một khu vực mà quyền lập pháp của tầng lớp chính trị thống trị thường gắn chặt với, nếu không nói là phụ thuộc vào, khả năng thực hiện bành trước kinh tế đang tiếp diễn, và trong khu vực đó thường chỉ tồn tại những cơ chế phúc lợi xã hội có tính bồi thường ở mức sơ đẳng thì chủ nghĩa tự do mới thể hiện một nguy cơ lớn và ngày càng khó có khả năng phản kháng.

An ninh kinh tế ở Đông Á

Cốt lõi của sự thiếu nhiệt tình, nếu không phải là sự chống đối thẳng thừng, thì những kiểu cải cách hướng vào thị trường ở Đông Á mà APEC đã bảo vệ trong một thời gian dài chính là những quan niệm khác nhau một cách cơ bản về an ninh kinh tế và vai trò của các nhà nước cần thực hiện trong chính thành quả của nó. Xem xét vấn đề này một cách trực diện hơn, trong khi các quốc gia Anh – Mỹ tạo những điều kiện có chuẩn mực cho một nền kinh tế được quyết định bởi thị trường mà ở đó chính phủ đứng ngoài các nhân tố kinh tế thuộc khu vực tư nhân thì tại châu Á chính phủ lại có thói quen đóng một vai trò can thiệp rộng hơn và sâu hơn vào việc hình thành nên tiến trình phát triển kinh tế. Cần phải nhấn mạnh đến sự căng thẳng ban đầu mà sự mô tả có chút ước lệ này đã làm nổi bật các hình thái tổ chức kinh tế và chính trị Đông Á và Anh – Mỹ, bởi vì nó là trung tâm của những khái niệm đầy cạnh tranh về an ninh kinh tế. Theo Buzan và các đồng nghiệp, thì trong một hệ thống tư bản chủ nghĩa “các nhân tố trong một thị trường được coi không an toàn”, làm cho thành quả của an ninh kinh tế bền vững trở nên luôn đáng phải bàn cãi. Bản chất mâu thuẫn và tính không kiên định của hoạt động kinh tế do tư nhân kiểm soát lại là sự thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách ở mọi quốc gia. Nhưng tại những nơi mà các thế lực chính trị cầm đầu đồng thời có liên quan mật thiết đến, nếu không nói là chủ động dính líu tới hoạt động kiinh tế, ví dụ như ở Đông Á, thì việc điều tiết các đặc tính năng động của tổ chức kinh tế tư bản chủ nghĩa lại tạo ra những vấn đề riêng.

Một trong những thách thức chủ yếu đối với Đông Á – hay một cách chính xác hơn là đối với tầng lớp tinh hoa cầm quyền đang thống trị nhiều quốc gia tạo nên khu vực phức tạp này – là phải tận dụng động lực của trật tự kinh tế tư bản chủ nghĩa theo hướng thị trường nhưng vẫn đồng thời duy trì cấu trúc quyền lực và thống trị nguyên thủy. Trước khi xem xét đến những phản ứng đương thời đối với thử thách này, chúng ta cũng phải tự nhắc nhở bản thân về dấu ấn sâu sắc mà mối quan hệ biện chứng đang ngày càng gia tăng giữa nhà nước và thị trường in đậm ở khu vực này.

(còn tiếp) 

Người dịch: Trần Minh

Nguồn: Mark Beeson, Viễn cảnh châu Á, Tập 23, số 3, 1999, tr33 – 52.

TN 2000 – 75 & 76