Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần IV


2.2/ Lấy “ngoại giao thầm lặng” và hợp tác tài nguyên để xoa dịu tranh chấp giữa Trung Quốc và Malaysia tại Nam Hải

Việc khai thác tài nguyên dầu mỏ của Malaysia tại Nam Hải cần một môi trường ngoại giao hòa bình, mặc dù Malaysia đã thực hiện chương trình khai thác chung với các quốc gia ASEAN liên quan, song vẫn chưa giải quyết được tranh chấp với Trung Quốc, điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình khai thác tài nguyên dầu mỏ của nước này ở Nam Hải. Về vấn đề này, chính sách ngoại giao mà Malaysia kiên trì thực hiện là thông qua biện pháp “ngoại giao thầm lặng” để xoa dịu quan hệ Trung Quốc – Malaysia, là giảm xung đột lợi ích giữa hai bên, tích cực thúc đẩy hợp tác tài nguyên song phương. Biện pháp “ngoại giao thầm lặng” là bộ phận cấu thành quan trọng để hình thành chính sách ngoại giao thực dụng của Malaysia. Ngoại giao thầm lặng có nghĩa là hoạt động ngoại giao thông qua gặp gỡ hậu trường để giải quyết vấn đề bằng phương pháp hòa bình. Biện pháp này thiên về sử dụng các sáng kiến chính sách rủi ro thấp, nhưng cốt lõi là sử dụng chiến lược phi xung đột, phi quân sự. Malaysia cố gắng duy trì mức độ khai thác vừa phải khi hợp tác với các nước khác khai thác tài nguyên dầu mỏ, cố gắng không kích động Trung Quốc, đồng thời cũng duy trì mức độ thấp trong tranh chấp ở Nam Hải, tránh xảy ra xung đột trực diện với Trung Quốc. Học giả người Mỹ Prashanth Parameswaran cho rằng Malaysia tiếp tục thực hiện đường lối “trò chơi an toàn” đối với vấn đề Nam Hải, tìm cách kết hợp các sáng kiến về ngoại giao, luật pháp, quân sự và an ninh, có thể đảm bảo lợi ích của mình với tư cách là quốc gia yêu sách chủ quyền, đồng thời tránh ảnh hưởng đến quan hệ với Trung Quốc.

“Ngoại giao thầm lặng” của Malaysia đối với Trung Quốc nhằm tạo môi trường hòa bình tương đối để khai thác tài nguyên ở Nam Hải. Trước tiên, quan hệ hữu hảo giữa Trung Quốc và Malaysia về cơ bản không bị tổn hại, quan hệ mật thiết song phương trên lĩnh vực kinh tế-thương mại không ngừng tăng cường, từ góc độ nhà nước đến nhân dân đều không có vấn đề tinh thần dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ chống lại quan hệ hữu hảo giữa hai nước. Với cách thức “ngoại giao thầm lặng”, Malaysia kiểm soát vấn đề Nam Hải ở mức vừa phải, điều này cũng khiến Malaysia tin chắc rằng đàm phán song phương để giải quyết vấn đề Nam Hải là phương án giải quyết tốt nhất. Do đó, Malaysia phản đối quốc tế hóa vấn đề Nam Hải, giữ thái độ tương đối thận trọng đối với vấn đề này, cơ bản đồng tình với phương án giải quyết của Trung Quốc, đồng ý với cách thức giải quyết trực tiếp giữa các bên. Điều này cũng thể hiện nguyên tắc “vừa phải” mà dân tộc Malaysia luôn nhấn mạnh khi đối diện với các vấn đề phức tạp hoặc trong những trường hợp khó xử, thể hiện trí tuệ chủ nghĩa thực dụng của dân tộc Malaysia trong xử lý quan hệ quốc tế.

Ngoài ra, xây dựng quan hệ hợp tác tài nguyên dầu mỏ, tăng cường sự phụ thuộc lợi ích cũng là lựa chọn chiến lược của Malaysia. Hợp tác năng lượng song phương giữa Trung Quốc và Malaysia khởi đầu từ Tuyên bố chung của hai lãnh đạo hai nước năm 1999, trong Thông cáo chung năm 2004, hai bên đề xuất tăng cường hơn nữa hợp tác năng lượng. Sau đó, hợp tác năng lượng song phương không ngừng được triển khai thực hiện, hàng năm Trung Quốc nhập khẩu một lượng lớn dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng từ Malaysia. Tháng 7/2016, Trung Quốc đã ký với Malaysia hợp đồng khí tự nhiên hóa lỏng trị giá 25 tỷ USD, Tổng công ty dầu khí ngoài khơi Trung Quốc hàng năm nhập khẩu 3 triệu tấn khí tự nhiên hóa lỏng từ công ty dầu khí quốc gia Malaysia, hợp tác có thời hạn lên đến 25 năm và bắt đầu cung cấp khí từ năm 2009. Tuy nhiên, việc khai thác khí tự nhiên của Malaysia chủ yếu từ các mỏ ở Bintulu, gần Sarawak nằm trong “đường chữ U của Trung Quốc”, là vùng biển chồng lấn của hai nước. Trong bối cảnh không bên nào chịu từ bỏ yêu sách chủ quyền biển, có thể đạt được thỏa thuận như vậy là không dễ dàng. Tháng 11/2018, Tập đoàn dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc và ngành dầu khí Malaysia lại tiếp tục ký kết thỏa thuận mua tài nguyên khí tự nhiên hóa lỏng trung hạn, theo đó từ năm 2019 sẽ bắt đầu cung cấp khí, kỳ hạn 5 – 10 năm. Điều này cho thấy Trung Quốc và Malaysia đều sẵn sàng có những thỏa hiệp trong trường hợp xảy ra xung đột về năng lượng và chủ quyền, có cân nhắc đến giao lưu hữu hảo và lợi ích thực tế giữa hai nước.

Malaysia sẽ duy trì tranh chấp ở Nam Hải trong trạng thái có thể kiểm soát và có lập trường ôn hòa trong đối ngoại, tương tác tích cực với các bên, cách làm này thực sự đã đạt được hiệu quả tương đối tốt. Trung Quốc và các quốc gia có tranh chấp tại Nam Hải về cơ bản duy trì sự bất đồng tương đối ít đối với hoạt động khai thác tài nguyên dầu mỏ của Malaysia, như vậy Malaysia đã tạo ra môi trường ổn định để khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải, đảm bảo quá trình khai thác tài nguyên dầu mỏ của mình không bị quấy nhiễu.

2.3/ Định hình “Cộng đồng chung lợi ích quốc tế” trong khai thác dầu mỏ ngoài khơi

Malaysia còn tồn tại một số yếu tố hạn chế về mặt khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi: Một là, công nghệ khai thác dầu mỏ chủ yếu phụ thuộc vào các công ty dầu khí quốc tế; hai là, có sự thiếu hụt nhất định nguồn vốn nhà nước đầu tư vào ngành dầu khí; ba là, tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Nam Hải ở mức độ nào đó hạn chế tốc độ và quyết tâm khai thác tài nguyên dầu mỏ của Malaysia. Cân nhắc đến những yếu tố này, biện pháp chủ yếu của Malaysia là thu hút công nghệ và vốn nước ngoài để nâng cao năng lực khai thác tài nguyên dầu mỏ của quốc gia, định hình Cộng đồng chung lợi ích quốc tế về tài nguyên dầu mỏ và lấy đó để cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc đối với việc Malaysia khai thác tài nguyên dầu mỏ ở vùng biển tranh chấp tại Nam Hải.

Malaysia thu hút lực lượng quốc tế tham gia khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi, chủ yếu bắt đầu từ những năm 1960. Năm 1966, Malaysia và Công ty dầu khí Royal Dutch Shell đã tiến hành hợp tác thăm dò tài nguyên dầu mỏ. Năm 1968, đã thuê các công ty dầu khí nước ngoài thăm dò khai thác trong hơn 80.000 km2 tại vùng biển Nam Sa (Trường Sa). Hợp đồng đầu tiên và thứ hai sau khi Công ty dầu khí quốc gia Malaysia thành lập đều ký kết với Tập đoàn Shell, hợp đồng thứ ba ký với Tập đoàn ExxonMobil, họ là những đối tác chủ yếu của Malaysia trong khai thác dầu mỏ. Hiện các công ty hợp tác với Malaysia tiến hành khai thác dầu mỏ chủ yếu đến từ châu Âu, gồm Tập đoàn ExxonMobil, Tập đoàn Murphy Oil của Mỹ, Công ty dầu khí Royal Dutch Shell, Công ty Lundin Oil của Thụy Điển, công ty Talisman Energy độc lập tại Canada, Công ty dầu khí Staoil của Na Uy. Với việc tham gia khai thác của lực lượng quốc tế không chỉ hỗ trợ về vốn và công nghệ cho Malaysia mà quan trọng hơn là xây dựng một loại cộng đồng lợi ích. Trong vấn đề khai thác dầu mỏ ỏ vùng biển tranh chấp tại Nam Hải, sự tham gia của các lực lượng quốc tế vào việc phân chia lợi ích trong khai thác dầu mỏ đã gián tiếp trở thành một lực lượng để cân bằng giữa Malaysia và Trung Quốc.

Trong khai thác tài nguyên dàu mỏ ngoài khơi, ngoài việc cùng với các công ty dầu khí quốc tế xây dựng cộng đồng chung lợi ích, đồng thời Malaysia cũng nỗ lực xây dựng cộng đồng chung lợi ích quốc tế với hệ thống đồng bộ tài nguyên dầu mỏ. Trong phát triển các ngành nghề liên quan đến tài nguyên dầu mỏ, một chiến lược quan trọng của Malaysia là thu hút các doanh nghiệp quốc tế thuộc các ngành dịch vụ và thiết bị liên quan đến tài nguyên dầu mỏ vào Malaysia như khoan, chế tạo công trình, lắp đặt ngoài khơi và duy trì vận hành, khuyến khích các công ty nước ngoài hoạt động khai thác thông qua hình thức liên doanh. Chính sách này cũng đạt được hiệu quả tương đối tốt, năm 2019, Malaysia có tổng cộng hơn 3500 công ty dầu khí quốc tế và các công ty dịch vụ và chế tạo liên quan, trong đó rất nhiều máy móc và thiết bị khai thác dầu mỏ trên toàn cầu được sản xuất tại các cơ sở thành lập tại Malaysia, chúng đã tạo thành một hệ thống dịch vụ khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi, hỗ trợ nhu cầu của chuỗi giá trị dầu khí tại Malaysia và khu vực ASEAN.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần III


Thương vụ mua lại của Buffett có thể hiểu là cách thoát khỏi tiền giấy và đầu tư vào tài sản hữu hình, đồng thời bảo vệ những tài sản đó khỏi mọi tác động của việc đóng cửa thị trường cổ phiếu. Nó có thể là một “cuộc đặt cược vào đất nước” – nhưng nó cũng là một rào chắn chống lại lạm phát và khủng hoảng tài chính. Nhà đầu tư nhỏ không thể mua lại toàn bộ tuyến đường sắt có thể đặt cược tương tự bằng cách mua vàng. Buffett nổi tiếng là coi thường vàng, nhưng ông là vua đầu tư tài sản hữu hình, và khi nói đến giới siêu giàu, tốt hơn là nên nhìn vào việc họ làm thay vì lời họ nói. Tiền giấy là một hợp đồng được thế chấp bằng vàng, mà vàng là một tài sản hữu hình không gì so sánh được.

Nợ, thâm hụt ngân sách, và sự bền vững

Cục Dự trữ Liên bang không phải là con nợ duy nhất có liên hệ với Chính phủ trong hệ thống tiền của Hoa Kỳ. Trên thực tế, quy mô con nợ lớn hơn rất nhiều. Kho bạc Hoa Kỳ đã phát hành hơn 17.000 tỷ USD nợ dưới hình thức trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, so với khoảng 4 nghìn tỷ USD giấy nợ dưới dạng tiền mà FED phát hành.

Không giống như giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang, tín phiếu Kho bạc không phải là tiền, mặc dù những công cụ thanh khoản nhất thường được gọi là “tương đương tiền mặt” trên bản cân đối kế toán doanh nghiệp. Một điểm khác biệt nữa giữa giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang và tín phiếu Kho bạc là tín phiếu Kho bạc có kỳ hạn và có trả lãi. Giấy nợ của FED có thể được phát hành với số lượng vô hạn và có giá trị lưu hành mãi mãi, nhưng tín phiếu Kho bạc phải tuân thủ kỷ luật của thị trường trái phiếu, nơi các nhà đầu tư giao dịch hơn 500 tỷ USD chứng khoán Kho bạc mỗi ngày.

Kỷ luật thị trường bao gồm việc các nhà đầu tư liên tục đánh giá xem liệu gánh nặng nợ của Kho bạc có bền vững hay không. Sự đánh giá này đặt ra câu hỏi liệu Kho bạc có thể thanh toán các khoản nợ tồn đọng theo thỏa thuận hay không. Nếu câu trả lời là có, thị trường sẽ vui vẻ chấp nhận thêm nợ Kho bạc với nợ lãi suất hợp lý. Nếu câu trả lời là không, thị trường sẽ từ chối khoản nợ Kho bạc, và lãi suất sẽ tăng vọt. Trong trường hợp cực kỳ không chắc chắn do thiếu vốn hoặc không sẵn sàng trả nợ, nợ Chính phủ có thể trở nên gần như vô giá trị, như việc đã xảy ra ở Hoa Kỳ sau cách mạng và rất nhiều lần ở các nước khác từ trước đến nay.

Việc phân tích nợ Chính phủ nhiều thách thức hơn cả khi câu trả lời không phải là có hay không, mà là có thể. Chính tại những điểm bùng phát này (mà những người ủng hộ lý thuyết về sự phức hợp gọi là giai đoạn chuyển tiếp), thị trường trái phiếu đứng giữa sự tự tin và cơn hoảng loạn, và có vẻ như khả năng vỡ nợ rất cao. Các thị trường trái phiếu nhà nước ở châu Âu đến rất gần điểm này vào cuối năm 2011 và vẫn mấp mé bờ vực cho tới tháng 9 năm 2012, khi Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu – ông Mario Draghi đưa ra tuyên bố nổi tiếng:”làm bất cứ điều gì cần thiết”. Ý của Mario là ECB sẽ thay thế khoản nợ tiền của mình bằng nợ nhà nước với số lượng cần thiết để trấn an các chủ nợ nhà nước. Biện pháp trấn an này đã có hiệu quả, và các thị trường nợ nhà nước châu Âu được kéo xa khỏi mép vực.

Trong những năm gần đây, các vụ mua chứng khoán Chính phủ bằng tiền do Cục Dự trữ Liên bang in ra chiếm một tỷ lệ cao trong nợ ròng mới do Kho bạc phát hành. FED nhấn mạnh rằng, việc mua chứng khoán của họ là một công cụ chính sách nhằm nới lỏng các điều kiện tiền tệ, chứ không nhằm mục đích kiếm tiền từ nợ quốc gia. Cùng lúc đó, Kho bạc lại khẳng định rằng họ là con nợ tốt nhất thế giới và hoàn toàn không gặp khó khăn gì trong việc đáp ứng những yêu cầu tài trợ cho Chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một người quan sát bình thường có lý do để tin rằng FED đang kiếm tiền từ khoản nợ bằng cách làm giảm giá trị của tiền – một bước đi hướng đến kết cục sụp đổ cho các hệ thống chính trị và kinh tế mà người ta đã thấy rất nhiều trong lịch sử, từ Rome cổ đại đến Argentina ngày nay. Trò chơi vĩ đại của FED là hoán đổi các giấy nợ không lãi suất của mình lấy giấy nợ có lãi suất của Kho bạc, sau đó trả lãi ít hơn cho Kho bạc. Thách thức đối với thị trường trái phiếu, và với nhà đầu tư nói chung, là phải quyết định xem Kho bạc phát hành bao nhiêu tín phiếu thì bền vững và thay thế tín phiếu Kho bạc bằng bao nhiêu giấy nợ FED thì chấp nhận được, trước khi giai đoạn chuyển tiếp xuất hiện và sự sụp đổ bắt đầu.

Động năng của nợ Chính phủ và thâm hụt ngân sách phức tạp hơn nhiều so với quan điểm thông thường. Tranh cãi xảy ra xung quanh vấn đề nợ nần và thâm hụt ngân sách thường xuyên thoái trào thành những lựa chọn “nhị phân”: Nợ vay tốt hay xấu cho nền kinh tế? Thâm hụt ngân sách của Mỹ quá cao hay chấp nhận được? Phe bảo thủ ở Đảng Trà (Tea Party) cho rằng về bản chất thì việc chi tiêu thâm hụt ngân sách gây ra tác động tiêu cực, rằng một ngân sách cân bằng là khao khát của chính họ, và rằng Hoa Kỳ đang trên con đường trở thành một Hy Lạp thứ hai. Những người theo chủ nghĩa tự do kiểu Krugman lại cho rằng nợ là yếu tố cần thiết để tài trợ những chương trình “trong mơ” nhất định, và rằng trước đây, Hoa Kỳ đã ở vào tình trạng này nếu xét về tỷ lệ nợ/GDP. Sau Thế chiến II, tỷ lệ nợ/GDP của Hoa Kỳ là 100% – xấp xỉ mức hiện nay. Trong suốt thập niên 1950 và 1960, Hoa Kỳ dần gảim tỷ lệ này xuống, và phe tự do nói rằng Mỹ có thể tái hiện thành tích đó bằng việc tăng thuế đôi chút.

Quan điểm của cả hai bên đều có những điểm hợp lý, nhưng cũng có thể dễ dàng bị bác bỏ. Vấn đề chính sách ở đây là một cuộc tranh luận được đóng khung theo cách này tạo ra những sự lưỡng phân giả tạo, chỉ lo cho hùng biện chứ không giúp tìm ra giải pháp. Về bản chất, nợ không tích cực cũng không tiêu cực. Tính hữu dụng của nợ được quyết định bởi việc người đi vay làm gì với số tiền vay được. Các mức nợ tự nó không quá cao hoặc quá thấp, điều quan trọng đối với chủ nợ là xu hướng hướng đến sự bền vững.

Nợ có thể tiêu cực nếu nó được sử dụng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách tài chính mà không hề có kế hoạch trả nợ nào khác ngoài cách đi vay thêm. Nợ có thể tích cực nếu nó tài trợ cho những dự án đem lại hiệu quả cao hơn chi phí bỏ ra, và tự nó có thể trả hết nợ qua thời gian. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối thấp nhưng vẫn gây phiền hà nếu chúng đang ngày một tăng lên. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối cao nhưng không đáng lo ngại nếu chúng đang  ngày một giảm xuống.

Tranh cãi về nợ

Việc đóng khung các cuộc tranh cãi về nợ và thâm hụt ngân sách trong những điều kiện này làm dấy lên nhiều câu hỏi khác. Đâu là hướng dẫn thỏa đáng để xác định xem nợ có đang được sử dụng đúng mục đích mong muốn hay không, và xu hướng của tỷ lệ nợ/GDP có đang đi đúng hướng? May thay, cả hai câu hỏi đều có thể được trả lời một cách chính xác và không phản ánh sự chia rẽ trong ý thức hệ chính trị mà không cần nhờ đến tài hùng biện của phe bảo thủ hay phe tự do.

Nó được sử dụng để tài trợ chi tiêu Chính phủ có thể chấp nhận được khi nó đáp ứng ba điều kiện: lợi ích của việc chi tiêu phải lớn hơn chi phí, chi tiêu của Chính phủ phải hướng vào các dự án mà khu vực tư nhân không thể thực hiện, và mức tổng nợ phải bền vững. Những bài kiểm tra này phải được áp dụng độc lập, cả ba điều kiện đều phải được thỏa mãn. Ngay cả khi chỉ tiêu của Chính phủ có thể chứng minh được lợi ích ròng, thì nó vẫn không hợp lý nếu khu vực tư nhân có thể làm tốt hơn. Khi chi tiêu Chính phủ tạo ra chi phí ròng, nó sẽ hủy hoại khối tài sản trong xã hội và không bao giờ có thể chấp nhận được trừ khi xảy ra một cuộc khủng hoảng hiện sinh như chiến tranh.

Khó khăn nảy sinh khi chi phí và lợi ích không được định nghĩa rõ ràng, và khi ý thức hệ thay thế cho kết quả phân tích trong quá trình ra quyết định. Hai trường hợp minh họa những vấn đề này là Internet và gói kích thích của Obama năm 2009.

Những người ủng hộ chi tiêu Chính phủ chỉ ra rằng, Chính phủ đã tài trợ cho sự phát triển ban đầu của Internet. Quả thực, Chính phủ đã tài trợ cho ARPANET, một hệ thống lưu lượng tin nhắn cực mạnh trong số các máy tính Đại học quy mô lớn được thiết kế để tạo điều kiện cho hoạt động hợp tác nghiên cứu suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, sự phát triển của ARPANET thành Internet ngày nay được thúc đẩy bởi khu vực tư nhân thông qua việc phát minh ra World Wide Web, trình duyệt web và nhiều dự án cách tân khác. Lịch sử này cho thấy rằng, một số khoản chi tiêu của Chính phủ có thể mang lại lợi ích cao khi nó kích thích năng lực sáng tạo, cách tân của khu vực tư nhân. ARPANET có tham vọng khá khiêm tốn nếu xét theo các tiêu chuẩn hiện nay, và nó đã thành công. Không phải lúc nào Chính phủ cũng đóng băng ARPANET. Thay vào đó, họ đã tạo ra những giao thức có sẵn cho các nhà phát triển tư nhân rồi tránh đường để khối tư nhân làm việc. Internet là một ví dụ của việc Chính phủ giao lại công việc cho khu vực tư nhân.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Hiểm họa đồng USD và tầm quan trọng của vàng – Phần II


Một đặc trưng của hệ thống dự trữ vàng cục bộ chính là sự mơ hồ về giới hạn của hai loại sản phẩm và dịch vụ ngân hàng. Các nhà ngân hàng tiến hành “tiêu chuẩn hóa” thiết kế tín phiếu ngân hàng, khiến người bình thường rất khó phân biệt sự khác nhau về bản chất của hai loại chứng chỉ ngân hàng này. Vì vậy, hàng trăm năm nay, các ngân hàng Anglo-Saxon bị liên đới trong nhiều vụ kiện tụng. Trong khi khách hàng phẫn nộ phản đối các nhà ngân hàng lại tuyên bố rằng, họ có quyền sử dụng số tiền của khách hàng mà không cần phải giải thích cho khách hàng biết mục đích sử dụng, miễn sao khi rút tiền, hách hàng không phải than phiền gì. Một trong những vụ án nổi tiếng nhất chính là vụ Foley kiện Ngân hàng Hill mà quan tòa đã phán quyết: “Khi gửi vào ngân hàng thì tiền không còn thuộc về khách hàng nữa. Lúc này, tiền đã thuộc về ngân hàng. Ngân hàng có nghĩa vụ hoàn trả tiền cho khách hàng khi có yêu cầu. Và như vậy, ngân hàng có toàn quyền sử dụng số tiền đó mà không có nghĩa vụ phải trả lời khách hàng về việc số tiền này có nguy cơ gì không, có bị dùng vào việc đầu cơ gây hại hay không. Ngân hàng chỉ có nghĩa vụ bảo quản nguyên vẹn số tiền của khách hàng theo sự ràng buộc của hợp đồng”.

Theo pháp luật, phán quyết này của quan tòa nước Anh như một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tiền tệ. Theo đó, tiền bạc của khách hàng gửi vào ngân hàng không còn được luật pháp bảo hộ. Điều này xâm phạm quyền tài sản của công dân một cách nghiêm trọng. Sau vụ việc, ngân hàng Anglo-Saxon hoàn toàn từ chối thừa nhận tính hợp pháp của dịch vụ “ủy thác quản lý tiền gửi”, và việc dự trữ toàn ngạch đã mất đi tính hợp pháp, mọi khoản tiền gửi của dân chúng đều có thể bị ngân hàng sử dụng vào việc đầu tư mạo hiểm.

Trong chiến dịch Waterloo năm 1815, vì nắm được kết cục bại trận sớm hơn 24 giờ so với cơ quan tình báo Anh nên gia tộc Rothschild đã kiểm soát  được thị trường công trái Anh quốc, kiểm soát luôn quyền phát hành tiền tệ củ Đế quốc Anh. Sau đó không lâu, gia tộc này lại tiếp tục khống chế việc phát hành tiền tệ của các quốc gia khác như Pháp, Áo, Phổ, Italy để từ đó nắm giữ quyền định giá thị trường vàng thế giới trong suốt gần 200 năm. Mạng lưới ngân hàng do Rothschild, Schiff Warburg và các nhà ngân hàng Do Thái xây dựng tại các quốc gia trên thực tế đã tạo nên hệ thống tiền tệ quốc tế và trung tâm thanh toán thế giới sớm nhất trong lịch sử. Chỉ bằng cách gia nhập vào mạng lưới thanh toán của họ thì các ngân hàng khác mới có thể lưu hành ngân phiếu xuyên quốc gia. Từng bước một, các nhà tài phiệt ngân hàng đã hình thành nên một cartel (tập đoàn lũng đoạn) trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Các nguyên tắc do họ đặt ra đã trở thành “thông lệ quốc tế” của ngành tài chính thế giới hiện nay.

Cartel là lực lượng thúc đẩy quan trọng nhất của hệ thống dự trữ cục bộ, đồng thời cũng là đơn vị đượchưởng lợi nhiều nhất. Trong khi đạt đến một quy mô tương đối, lực lượng này tất yếu phải ủng hộ, thậm chí là trực tiếp thiết lập nên những quy tắc chính trị cũng như quy tắc luật pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của mình.

Năm 1913, một phiên bản của hệ thống dự trữ cục bộ đã được tạo dựng thành công tại Mỹ – Cục Dự trữ Liên bang (FED). Nhu vậy, đồng tiền của hệ thống dự trữ toàn ngạch dần dần bị “tiền xấu” (không được bảo đảm bằng vàng) chi phối và loại bỏ ra khỏi cuộc cạnh tranh. Tiền giấy bạc và tiền giấy vàng do Chính phủ Mỹ phát hành thời đó được xem là thứ may mắn còn tồn tại của hệ thống dự trữ toàn ngạch do Chính phủ đảm bảo bằng vàng bạc thật. Một ounce vàng bạc có giá trị tương đương với số tiền giấy đối ứng. Chi dù mọi khoản nợ vốn có của hệ thống ngân hàng có bị hoàn trả hết thì trên thị trường vẫn lưu thông đồng USD vàng bạc, và kinh tế vẫn có thể phát triển bình thường giống như trước khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thành lập năm 1913.

Từ năm 1913 đến nay, đồng USD “xấu” trên thị trường của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ dần dần loại bỏ đồng USD “tốt” (được đảm bảo bằng vàng) của hệ thống dự trữ toàn ngạch. Vì muốn tạo ra chế độ dự trữ cục bộ nhằm lũng đoạn thế giới tài chính hiện hành, đồng thời hất cẳng Chính phủ ra khỏi lĩnh vực phát hành tiền tệ, các nhà ngân hàng quốc tế đã huy động mọi kỹ năng có thể, để rồi cuối cùng loại bỏ thành công đồng USD bạc vào thập niên 1960 của thế kỷ XX, đồng thời cắt đứt mối liên hệ cuối cùng giữa và và đồng USD năm 1971. Từ đây, chế độ dự trữ cục bộ đã hoàn thành sứ mệnh lũng đoạn của mình.

Đồng USD vay mượn được “biến hóa” như thế nào?

Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York miêu tả đồng USD như thế này: “Đồng USD không thể hoán đổi thành vàng hay bất cứ tài sản nào khác của Bộ Tài chính. Nó không mang ý nghĩa thực tế mà chỉ có tác dụng ghi nợ… Ngân hàng chỉ tạo ra tiền tệ khi người đi vay cam kết hoàn trả các khoản vay của ngân hàng. Ngân hàng thông qua “tiền tệ hóa”các khoản nợ thương mại và tư nhân để tạo ra tiền tệ”.

Sự giải thích của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Chicago là: “Ở Mỹ, bất luận tiền giấy hay là tài khoản ngân hàng đều không có đủ giá trị nội tại như một loại hàng hóa. Đồng USD chẳng qua chỉ là một tờ giấy. Còn tài khoản ngân hàng cũng chỉ là những con số ước lượng ghi trên giấy. Tiền kim loại tuy có một giá trị nội tại nhất định, nhưng lại thường thấp hơn nhiều so với mệnh giá của chúng”.

Vậy rốt cuộc, điều gì khiến cho những công cụ tiền tệ như ngân phiếu, tiền giấy, tiền đúc kim loại được người ta tiếp nhận theo đúng mệnh giá của chúng trong việc hoàn nợ cũng như các công dụng thanh toán khác? Câu trả lời là lòng tin của con người. Người ta tin rằng bất cứ lúc nào, họ có thể dùng những loại tiền tệ này để hoán đổi thành tài sản khác. Một phần nguyên do trong vấn đề này là Chính phủ đã sử dụng pháp luật để ban hành các quy định nên các loại tiền pháp định bắt buộc phải được tiếp nhận.

Nói cách khác, việc tiền tệ hóa dịch vụ cho vay tạo ra đồng USD, còn mệnh giá của đồng USD lại do một ngoại lực tác động cưỡng chế. Vậy làm thế nào dịch vụ cho vay nợ lại biến thành đồng USD được? Nếu muốn hiểu rõ quá trình này, chúng ta cần dùng đến “kính hiển vi” để quan sát tỉ mỉ cơ chế vận hành hệ thống tiền tệ của Mỹ.

Các độc giả không có chuyên môn về tài chính có lẽ cần phải đọc kỹ nội dung dưới đây mới có thể hiểu quy trình tạo ra tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hệ thống ngân hàng. Đây là một bí mật thương mại quan trọng nhất của ngành tài chính phương Tây.

Do Chính phủ Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ mà chỉ có quyền phát hành công trái, sau đó đem công trái nộp cho Cục Dự trữ Liên bang làm vật thế chấp để phát hành tiền tệ thông qua Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hệ thống ngân hàng thương mại mà ngọn nguồn của đồng USD nằm ở công trái.

Bước thứ nhất, Quốc hội phê chuẩn quy mô phát hành công trái, Bộ Tài chính sẽ thiết kế công trái thành nhiều loại khác nhau, trong đó loại có kỳ hạn 1 năm thì gọi là T-Bills (Treasury Bill), loại có kỳ hạn từ 2 – 10 năm thì gọi là T-Notes, còn loại có kỳ hạn 30 năm gọi là T-Bonds. Những công trái này có mức lãi suất khác nhau và thời hạn khác nhau, được tiến hành phát mãi công khai trên thị trường. Cuối cùng, Bộ Tài chính sẽ đem toàn bộ số công trái không phát mãi được trong giao dịch chuyển qua Cục Dự trữ Liên bang. Trên sổ sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, những công trái này sẽ được ghi vào mục “Tài sản chứng khoán” (Securities Asset).

Do Chính phủ Mỹ dùng tiền thu thế trong tương lai làm thế chấp nên công trái của nước này được coi là “tài sản đáng tin cậy nhất” trên thế giới. Ngay sau khi thu được khoản tài sản này, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể sử dụng nó để tạo ra một dạng tiền nợ (Liability) gọi là “Chi phiếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ”.

Đây là bước đi quan trọng trong quá trình “biến không thành có”. Tuy nhiên, loại chi phiếu Cục Dự trữ Liên bang này chẳng có bất cứ loại tiền nào có thể đảm bảo. Một bước thiết kế hết sức tinh vi dưới sự ngụy trang khéo léo. Sự tồn tại của loại chi phiếu này khiến Chính phủ càng dễ khống chế cán cân cung cầu khi phát mãi công trái. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thu lãi từ khoản tiền cho Chính phủ vay, còn Chính phủ thì nhận tiền một cách hợp pháp mà không để lộ ra dấu vết trong việc ấn hành một lượng lớn tiền giấy. Rõ ràng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tay không mà bắt được giặc, mọi con số trong sổ sách kế toán hoàn toàn cân đối, tài sản công trái bằng với số nợ. Cả hệ thống ngân hàng được bao bọc khéo léo trong lớp vỏ ngụy trang này.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Song Hong Binh – Chiến tranh tiền tệ – Phần I – NXB LĐ 2020.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần IV


Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường của các ngành công nghiệp cơ bản, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng một số biện pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, thực hiện sản xuất sạch hơn. Theo nguyên tắc “3R” (sửa chữa, tái sử dụng, tái chế) của nền kinh tế tuần hoàn mà Chính phủ Nhật Bản tuân thủ thì tiết kiệm tài nguyên là quy tắc ưu tiên hàng đầu. Do đó, việc thực hiện sản xuất sạch hơn, giảm tiêu dùng lãng phí tài nguyên thiên nhiên là nhiệm vụ chính đặt ra đối với các ngành công nghiệp cơ bản tại Nhật Bản. Nhiệm vụ này bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng thông thường, phát triển các nguồn năng lượng mới, tái sử dụng chất thải, giảm các bước quy trình sản xuất không cần thiết, tiêu chuẩn hóa sản xuất và thiết kế bao bì xanh.

Thứ hai, làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất. Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế của Nhật Bản, chỉ rõ doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động tái chế và tái sử dụng nguyên vật liệu và sản phẩm cũ trong phạm vi chịu trách nhiệm của mình. Cụ thể là nhà sản xuất cần phải chịu trách nhiệm về các tác động môi trường trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất và thậm chí có nghĩa vụ tái sử dụng các sản phẩm tái chế. Ví dụ như nhiều doanh nghiệp sản xuất thiết bị gia dụng lớn và chế tạo ô tô phải tuân thủ yêu cầu xây dựng các trung tâm xử lý rác thải và tái chế sản phẩm.

Thứ ba, kiến tạo những khu công nghiệp sinh thái. Trong mô hình kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, đi đôi với với xây dựng doanh nghiệp sạch, Nhật Bản cũng chú trọng xây dựng một hệ thống sản xuất tuần hoàn giữa các ngành công nghiệp cơ bản thông qua việc thiết lập những khu công nghiệp sinh thái. Việc liên kết các quy trình sản xuất và chia sẻ tài nguyên giữa các doanh nghiệp trong khu công nghê sinh thái có thể gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực, giảm bớt lượng chất xả thải và thực hiện tái chế tối đa nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất.

Tại Nhật Bản, hầu hết các ngành công nghiệp cơ bản hàng đầu đều có ngành công nghiệp hỗ trợ đi kèm. Ví dụ ngành công nghiệp tái chế thiết bị gia dụng được phát triển dựa trên ngành công nghiệp sản xuất điều hòa không khí, tủ lạnh, tivi và máy giặt. Nhật Bản đã xây dựng 26 khu công nghiệp sinh thái cho các ngành công nghiệp hỗ trợ. Những khu công nghiệp sinh thái này không chỉ ưu tiên phục vụ chiến lược xây dựng kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, mà còn đóng một vai trò quan trọng trong phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong khu vực. Có thể nói, đi đôi với các ngành công nghiệp cơ bản thì Chính phủ Nhật Bản cũng ban hành các quy luật và quy định nhằm phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và đặc biệt là hoạt động của các khu công nghiệp sinh thái được xây dựng giành riêng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ này. Cụ thể như sau:

Một là, thiết lập một hệ thống tái chế chất thải và năng lượng. Chính phủ Nhật Bản căn cứ vào đặc điểm của các ngành công nghiệp địa phương, các hình thức và số lượng chất thải để xây dựng các khu công nghiệp sinh thái tái chế tương ứng. Nguyên tắc chung đối với hoạt động của các khu công nghiệp này là toàn bộ quá trình tái chế đều do các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thực hiện với mục tiêu thực hiện hoạt động tái chế trên quy mô lớn.

Hai là, tập hợp các tổ chức nghiên cứu để tiến hành hợp tác nghiên cứu chuyên sâu. Cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ cũng như nhu cầu cấp bách cảu thị trường, các tổ chức nghiên cứu của Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt các nghiên cứu cơ bản về nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất nhằm giảm bớt chất thải công nghiệp, phát triển công nghiệp tái chế tài nguyên, công nghệ tái chế chất thải và các công nghệ khác làm cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản.

Ba là, thực hiện tuyên truyền và giáo dục thường xuyên. Hoạt động này do nhiều cấp chính quyền và các tổ chức đoàn thể có liên quan thực hiện cho nhiều đối tượng khác nhau. Ví dụ thành phố Kitakyushu có thể coi như một ví dụ tiêu biểu về hoạt động giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường cho người dân. Chính quyền thành phố thường xuyên tổ chức các bài giảng về môi trường, tuyên truyền và các công nghệ và sản phẩm tái chế và là địa phương đầu tiên trong khu vực áp dụng chu trình tái chế rác thải tuần hoàn thực sự.

c/ Hợp tác chặt chẽ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất

Trong nền kinh tế tuần hoàn, sự hợp tác toàn diện giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất có ý nghĩa quan trọng. Người tiêu dùng hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế tuần hoàn thông qua các hoạt động cụ thể như tự động phân chia rác thải hay sản phẩm cũ theo đúng quy định về tái chế hay trả phí tái chế trực tiếp khi mua và sử dụng sản phẩm. Các nhà sản xuất thể hiện vai trò của mình thông qua việc gia tăng vòng đời sản phẩm, sử dụng vật liệu tái chế nhiều hơn, hoặc sản xuất những sản phẩm có thể dễ dàng sửa chữa tái sử dụng và tái chế. Mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất thể hiện qua một số hình thức cụ thể như sau:

+ Xây dựng hệ thống thu gom sản phẩm tái chế tiện dụng: Tại Nhật Bản hệ thống thu gom các thiết bị cũ để tái chế rất toàn diện và dễ sử dụng cho nên phần lớn người tiêu dùng Nhật Bản thường xuyên áp dụng. Các thiết bị cũ được các nhà bán lẻ thu nhận lại tại cửa hàng hoặc khi cung cấp thiết bị mới. Đối với thiết bị CNTT cũ thì tùy theo quy định của chính quyền địa phương mà khách hàng có thể yêu cầu nhà sản xuất tới nhà để thu lại hoặc gửi trả qua bưu điện. Hệ thống này phổ biến và được sử dụng rộng rãi trên khắp đất nước Nhật Bản.

+ Người tiêu dùng trả phí trước: Đối với một số sản phẩm gia dụng như thiết bị điện tử, chi phí vận chuyển và thu hồi sản phẩm cũ đã được người tiêu dùng thanh toán tại thời điểm mua hàng, hờ vậy, đã giảm bớt sự miễn cưỡng của khác hàng khi thực hiện các quy định về thu gom sản phẩm cũ. Thêm vào đó là mức xử phạt cao cho việc không tuân thủ các quy định về xả rác cũng làm cho người tiêu dùng có động cơ thực hiện đúng các quy trình về thu gom và xử lý sản phẩm cũ.

+ Cơ sở hạ tầng tái chế là đồng sở hữu: Tại Nhật Bản, luật pháp quy định rõ các doanh nghiệp sản xấut lớn, đồng thời phải đầu tư dài hạn để xây dựng các nhà máy tái chế, đảm bảo họ có thể được hưởng lợi trực tiếp từ việc thu hồi các nguyên liệu hay các bộ phận trong các sản phẩm cũ. Khi doanh nghiệp đồng thời sở hữu cả nhà máy sản xuất và nhà máy tái chế sẽ khiến cho họ hiểu rõ những khó khăn khi phải tháo gỡ để tái chế các sản phẩm có thiết kế kém. Do đó, khi thiết kể sản phẩm mới, một số công ty thậm chí còn đưa hàng mẫu tới nhà máy tái chế để kiểm tra nhằm đảm bảo những sản phẩm này có thể dễ dàng tháo gỡ và tái chế.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần III


Chính sách biển quốc gia là một cách gọi chung để chỉ các quy hoạch chính sách kế hoạch vĩ mô hoặc cụ thể của nhà nước và chính phủ trong giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực biển, nó thường thể hiện trong các văn bản chính sách cụ thể. Trên cơ sở nhu cầu của chiến lược phát triển quốc gia, cùng với các vấn đề và thách thức đối với phát triển kinh tế biển của Malaysia, điều đặc biệt quan trọng là việc xác định chiến lược phát triển biển và thực hiện các cơ chế cụ thể của các chiến lược liên quan thông qua việc quy hoạch chính sách hợp lý. Với sự hỗ trợ của Kế hoạch chuyển đổi kinh tế, Tầm nhìn quốc gia 2030 và Chương trình quốc gia 2020, chiến lược phát triển kinh tế biển của Malaysia đặt trọng điểm vào 3 ngành nghề trụ cột của kinh tế biển là thúc đẩy khai thác tài nguyên dầu mỏ, vận tải biển và du lịch biển. Cụ thể, trong lĩnh vực khai thác tài nguyên dầu mỏ, thông qua ngoại giao thực dụng để xây dựng môi trường hòa bình, hóa giải những tranh chấp tài nguyên, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ quốc gia. Trong phát triển kinh tế vận tải biển, cải thiện hệ thống hỗ trợ dịch vụ trong nước, tăng cường kết nối với sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc, phát triển quan hệ đối tác quốc tế và khu vực, cải thiện hiệu quả môi trường trong và ngoài nước để phát triển kinh tế vận tải biển. Trong kinh tế du lịch biển, trên cơ sở tăng cường quy hoạch, cần chú trọng cả tuyên truyền quảng bá và bảo vệ tài nguyên để xây dựng nền tảng phát triển kinh tế du lịch biển.

2/ Khai thác tài nguyên dầu mỏ ở khu vực biển tranh chấp

Nguồn tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi là một trong những nền tảng quan trọng nhất trong phát triển kinh tế biển của Malaysia, cũng là một nguồn quan trọng đối với doanh thu tài chính quốc gia Malaysia. Chiến lược quốc gia của Malaysia về khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi chủ yếu dựa vào Đạo luật phát triển dầu khí ban hành năm 1974 và Chính sách năng lượng quốc gia năm 1979. Hai văn kiện này đã xác định việc khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ là nội dung chính trong chính sách năng lượng đa dạng, bền vững của Malaysia. Hiện nguồn năng lượng dầu mỏ của Malaysia chủ yếu là ở ngoài khơi. Malaysia đã phát hiện tổng cộng 45 mỏ dầu và 47 mỏ khí chủ yếu ở lưu vực Mã Lai, Sarawak, Sabah. Trong đó, khu vực Sarawak và Sabah đều nằm trong vùng biển Nam Hải, có thể nói Nam Hải là nơi sản xuất dầu mỏ chủ chốt của Malaysia. Trữ lượng dầu mỏ của Malaysia tại khu vực Nam Hải lớn nhất khoảng 5 tỷ thùng, đứng đầu trong số các quốc gia ven biển ở Nam Hải. Những năm 1990, 70% lượng dầu mỏ xuất khẩu của Malaysia là từ khu vực Nam Hải. Năm 2017, do bị tác động bởi khó khăn về tài chính, Malaysia tuyên bố đầu tư 2 tỷ USD để thành lập công ty thăm dò dầu mỏ và khí tự nhiên ngoài khơi tại Sarawak và hợp tác với Công ty dầu khí quốc gia được thành lập trước đó tiến hành hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở Nam Hải. Có thể thấy, mức độ khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải có tác động tương đối lớn đến tình hình tài chính quốc gia của Malaysia, liên quan đến tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Tầm quan trọng của kinh tế biển với trọng điểm khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải cũng quyết định đến việc Malaysia cần phải định ra chính sách Nam Hải hợp lý, đặc biệt là chính sách ở những vùng biển tranh chấp, điều này gắn với việc xây dựng môi trường hòa bình để khai thác dầu mỏ của Malaysia. Một khi xảy ra xung đột giữa Malaysia với các nước xung quanh tại Nam Hải, việc khai thác tài nguyên dầu mỏ tất yếu sẽ bị ảnh hưởng. Kể từ những năm 1980 trở lại đây, một trong những nội dung quan trọng trong chính sách Nam Hải của Malaysia là thúc đẩy hòa bình và ổn định ở Nam Hải. Năm 2018, cựu Thủ tướng Mahathir đã chỉ ra tốt nhất là Malaysia không có tàu quân sự hoạt động ở vùng nội thủy Nam Hải và eo biển Malacca, ông mong muốn Nam Hải là vùng biển hòa bình, giao thương và thương mại. Không khó để nhận ra, mặc dù vùng biển Nam Hải tồn tại tranh chấp, nhưng việc duy trì và tạo ra những lợi ích của Malaysia tại Nam Hải mới là mục tiêu hàng đầu cảu Chính phủ Malaysia, chính sách chủ yếu là thông qua ngoại giao thực dụng để xây dựng môi trường hòa bình, giải quyết các tranh chấp tài nguyên, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ ngoài khơi quốc gia.

2.1/ Xây dựng môi trường xung quanh hòa bình để Malaysia khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải

Môi trường hòa bình xung quanh là vấn đề then chốt đối với Malaysia trong khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Tranh chấp biên giới giữa các nước xung quanh bắt đầu gia tăng chủ yếu gắn liền với việc phát hiện tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Trong các nước ASEAN, các nước có tranh chấp tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải với Malaysia chủ yếu gồm Thái Lan, Việt Nam, Brunei và Indonesia. Tranh chấp giữa Malaysia với những nước này bắt đầu bùng phát từ cuối những năm 1960. Năm 1968, Ủy ban điều phối thăm dò chung nguồn tài nguyên khoáng sản ở vùng biển ngoài châu Á thuộc Ủy ban kinh tế Liên hợp quốc về châu Á và Viễn Đông công bố báo cáo điều tra thực địa đã cho thấy ở khu vực Nam Hải có nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú, đã kích thích sự ham muốn mở rộng lãnh thổ của các nước xung quanh Nam Hải. Từ đó về sau, các nước xung quanh Nam Hải đua nhau hướng sự tập trung vào thăm dò và khai thác dầu mỏ ở Nam Hải, Malaysia cũng từng bước tham gia vào đó, việc duy trì lợi ích kinh tế với trọng tâm là khai thác năng lượng ở Nam Hải trở thành những tính toán quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia của Malaysia và Malaysia cũng trở thành một trong những quốc gia ASEAN sớm nhất phát triển kinh tế thông qua khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải.

Để xoa dịu mâu thuẫn với các nước liên quan, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ, chính sách mà Malaysia lựa chọn là thông qua khai thác chung, thực hiện hợp tác năng lượng, tích cực xây dựng môi trường hòa bình khu vực khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Malaysia áp dụng mô hình khai thác chung nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải, nội dung cốt lõi của mô hình này là Malaysia và các nước láng giềng thiết lập khu vực quản lý chung theo tỷ lệ mỗi bên là 50%, thực hiện cùng nhau chia sẻ tài nguyên. Malaysia đã thực hiện hợp tác khai thác dầu mỏ ở Nam Hải đầu tiên với Thái Lan. Xung đột chủ yếu giữa Malaysia và Thái Lan là vấn đề phân định thềm lục địa. Năm 1979, hai bên đã ký Bản ghi nhớ, cùng khai thác chung tài nguyên biển ở khu vực tranh chấp và đã thành lập cơ chế đàm phán gồm các ngành như ngoại giao, năng lượng, tài chính, hải quân, trải qua 11 năm, cuối cùng đã đạt được thỏa thuận vào năm 1990. Năm 1992, tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia, hai nước đã thành lập cơ chế khai thác chung Malaysia – Thái Lan. Năm 1994, hai bên đã ký thỏa thuận khai thác chung trong thời hạn 50 năm và thành lập Cơ quan quản lý chung Malaysia – Thái Lan để điều phối những mâu thuẫn lợi ích ở Nam Hải. Biện pháp này đã làm cho chính sách xây dựng môi trường khai thác tài nguyên hòa bình của Malaysia bắt đầu có hiệu quả rõ rệt. Malaysia và Việt Nam cũng tồn tại những tranh chấp tương tự. Năm 1992, hai bên đã ký Bản ghi nhớ để giải quyết vấn đề này, cũng quyết định cùng khai thác chung nguồn tài nguyên biển ở vùng biển tranh chấp. Tiếp đó, hai bên phân định khu vực khai thác chung, ký thỏa thuận thương mại khai thác chung, thành lập Ủy ban điều phối chịu trách nhiệm sắp xếp tổng thể công việc khai thác cụ thể. Brunei và Malaysia tồn tại xung đột trên biển tương đối lớn. Năm 2009, cuối cùng hai bên đã ký thỏa thuận, giải quyết tranh chấp phân định biên giới lâu dài. Năm 2010, Malaysia và Brunei đồng ý khai thác chung tại hai khu vực gần đảo Borneo, ký kết thỏa thuận khai thác chung có hiệu lực 40 năm, tháng 9/2011, tuyên bố bắt đầu khoan thăm dò. Tiếp đó, Malaysia giải quyết tranh chấp biên giới với quốc gia láng giềng Indonesia và cuối năm 2011 hai bên đã đạt được thỏa thuận cùng nhau khai thác tài nguyên dầu mỏ ở phía Tây đảo Borneo trong khu vực tranh chấp giữa hai nước. Đến thời điểm đó, ngoại giao kinh tế biển với các nước xung quanh của Malaysia đã có những tiến triển rất quan trọng, thực hiện được khai thác chung tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi với gần như toàn bộ các quốc gia láng giềng, cơ bản tạo được môi trường hòa bình với các nước xung quanh trong khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi.

Ngoài ra, ngày 6/6/2011, tại Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á – Shangri-La, Thủ tướng Malaysia khi đó là Najib đã đề xuất thành lập cơ quan chuyên môn, tập hợp tất cả các nước lên tiếng có chủ quyền tại khu vực này, bỏ qua thành kiến chủ quyền, hợp tác khai thác tài nguyên ở Nam Hải, đặc biệt là tài nguyên dầu mỏ. Có thể thấy, tư duy của Malaysia vẫn là hợp tác khai thác là chính, xây dựng môi trường khai thác hòa bình. Cần phải nói rằng, trong hợp tác khảo sát và khoan thăm dò, các bên tranh chấp đã ngầm đạt được thỏa thuận, có thể thiết lập nguyên tắc hợp tác và quy tắc hành động mang tính tạm thời, từ đó tạo môi trường khai thác tài nguyên ổn định để các công ty tài nguyên giải quyết xung đột. Chính sách hợp tác khai thác chung năng lượng, trong mấy chục năm qua đã xoa dịu mâu thuẫn của Malaysia với các quốc gia ASEAN láng giềng. Malaysia tích cực xây dựng môi trường hòa bình khai thác tài nguyên dầu mỏ tại Nam Hải, xây dựng nền tảng khu vực tốt đẹp để giành được lợi nhuận của mình.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Hiểm họa đồng USD và tầm quan trọng của vàng – Phần I


Nếu mọi khoản nợ ngân hàng đều được hoàn trả thì tiết kiệm ngân hàng sẽ không tồn tại nữa và toàn bộ dòng tiền sẽ cạn kiệt. Một ý nghĩ thật là khủng khiếp. Chúng ta (Cục Dự trữ Liên bang Mỹ) hoàn toàn dựa vào ngân hàng thương mại. Mỗi đồng USD cảu chúng ta lưu thông, bất luận là tiền mặt hay tín dụng, đều cần phải có người vay mới có thể tạo ra lưu thông. Nếu như ngân hàng thương mại có đủ nguồn tiền tệ thì nền kinh tế của chúng ta sẽ trở nên phồn vinh, nếu ngược lại, chúng ta sẽ rơi vào thời kỳ suy thoái. Chúng ta tuyệt đối không có một hệ thống tiền tệ mang tính vĩnh viễn. Khi nắm được mấu chốt cùa toàn bộ vấn đề – sự hoang đường của hệ thống tiền tệ cũng như sự giúp đỡ vô tư đến khó tin của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ – chúng ta sẽ thấy rằng tiền tệ là vấn đề cần phải điều tra và suy nghĩ, và tầm quan trọng của nó nằm ở chỗ: trừ khi người dân hiểu sâu sắc hệ thống tiền tệ này và áp dụng các biện pháp nhằm đối phó với nó, nếu không, sự văn minh hiện tại của chúng ta cũng sẽ tiêu vong.

Robert S. Parker

Giám đốc Ngân hàng Dự trữ Liên bang Atlanta

Nếu căn cứ theo bản chất thì tiền tệ có thể chia ra thành hai loại cơ bản là tiền vay mượn và phi vay mượn. Tiền vay mượn chính là hệ thống tiền tệ pháp định đang lưu thông chủ yếu ở các quốc gia phát triển hiện nay, thành phần chủ yếu của nó bao gồm các khoản vay mượn “tiền tệ hóa” của Chính phủ, các công ty cũng như tư nhân.

Đồng USD chính là một trường hợp điển hình nhất trong số các đồng tiền vay mượn. Nó được tạo ra cùng lúc với quá trình sinh ra nợ nhưng cũng đồng thời bị triệt tiêu khi nợ được hoàn trả. Mỗi đồng USD trong lưu thông đều có giá trị như một hóa đơn ghi nợ, mà mỗi hóa đơn ghi nợ đều sinh ra lãi hàng ngày và không ngừng tăng lên theo kiểu lãi mẹ đẻ lãi con. Vậy những khoản doanh thu từ lãi suất lên đến con số khổng lồ này thuộc về ai? Câu trả lời là hệ thống ngân hàng tạo ra đồng USD. Lợi tức của đồng USD vay mượn là % ngoài tổng lượng tiền tệ vốn có, và tất nhiên, nguồn lợi tức này đòi hỏi đồng USD vay mượn mới phải được tạo ra bên cạnh tổng lượng tiền tệ hiện có, hay nói cách khác, người dân vay tiền càng nhiều thì nguồn tiền cho vay sẽ càng tăng. Việc vay mượn và tiền bạc gắn chặt với nhau mà kết quả tất yếu là tiền cho vay mãi mãi tăng lên, đến khi áp lực lãi suất vượt quá sự phát triển của nền kinh tế và dẫn đến sự sụp đổ của toàn hệ thống. Tiền tệ hóa dịch vụ vay mượn là một trong những nhân tố gây bất ổn nghiêm trọng nhất trong nền kinh tế hiện đại và nó thông qua dự chi tương lai để thỏa mãn nhu cầu hiện tại. Câu nói của người Trung Quốc xưa đại loại “thu không bù chi” chính là muốn đề cập đến ý này.

Một loại tiền tệ khác, đó chính là tiền tệ phi vay nợ mà vàng bạc là đại diện. Loại tiền tệ này không cần đến sự hứa hẹn của bất cứ người nào, không phải là món nợ của bất cứ ai và thứ mà nó đại diện chính là thành quả lao động đã hoàn thành của loài người, là thứ có được từ sự tiến hóa tự nhiên trong thực tiễn xã hội kéo dài hàng mấy nghìn năm. Nó không cần đến sự cưỡng chế của bất cứ thế lực nào, có thể vượt qua mọi thời đại và ranh giới quốc gia và là phương pháp thanh toán cuối cùng nhất trong hệ thống tiền tệ.

Trong tất cả các loại tiền tệ, vàng bạc đồng nghĩa với việc “sở hữu thực tế”, còn tiền pháp định lại đại diện cho “phiếu nợ + sự hứa hẹn”. Và hàm lượng vàng của hai loại tiền này c1o sự khác nhau về bản chất.

Đồng NDT của Trung Quốc nằm giữa ranh giới hai loại tiền này. Mặc dù trước mắt, trong hệ thống đồng NDT vẫn đang tồn tại yếu tố “dịch vụ vay mượn hóa tiền tệ”, nhưng nếu căn cứ vào chủ thể của đồng NDT thì nó vẫn thể hiện đủ chất và lượng của sản phẩm và dịch vụ đã hoàn thành trong quá khứ. Việc phát hành đồng NDT không hoàn toàn giống như phát hành đồng USD (đồng USD dùng nợ quốc gia – công trái làm thế chấp). Do ngân hàng trung ương công hữu phát hành cho nên đồng NDT tránh được khả năng các khoản chi trả lợi tức khổng lồ rơi vào túi tư nhân. Nhìn từ góc độ này, thuộc tính của đồng NDT có vẻ gần hơn với vàng bạc. Đồng thời, vì không có vàng bạc làm chỗ dựa nhưng lại có thuộc tính cơ bản của đồng tiền pháp định, đồng NDT phải dựa vào sức cưỡng chế của Chính phủ mới có thể đảm bảo giá trị tiền tệ.

Sự hiểu biết về chế độ tiền tệ pháp định của phương Tây, đặc biệt là bản chất của đồng USD, là tiền đề cần thiết cho sự cải cách tương lai của đồng NDT.

Hệ thống dự trữ cục bộ – nơi khởi nguồn của lạm phát tiền tệ

Ngân hàng (hiện đại) vốn dĩ là không công bằng và chứa đựng nhiều tội ác. Các nhà tài phiệt ngân hàng có cả Trái Đất. Họ tước đoạt tất cả mọi thứ của con người, chỉ để lại cho họ quyền tích lũy và lưu giữ tiền tệ. Nhưng, nếu như quyền tích lũy và lưu giữ tiền tệ cũng bị tước đoạt nốt thì mọi vận may của sự giàu có đều không tồn tại. Nếu không có những quyền này, thế giới hạnh phúc và tốt đẹp hơn. Nhưng nếu vẫn cam tâm tiếp tục làm nô lệ cho các nhà ngân hàng và chấp nhận chi trả những khoản phí nô dịch cho họ thì các bạn cứ việc tích lũy và lưu giữ tiền bạc.

J. Stamp

Ban đầu, ngân hàng chỉ thuần túy cung cấp dịch vụ lưu giữ vàng bạc của người gửi. Khi đem vàng bạcgiao cho ngân hàng, người gửi được phát một biên lai chuẩn gọi là “tín phiếu ngân hàng”. Những tờ tín phiếu này dần dần trở thành công cụ giao dịch trong xã hội và được gọi là tiền tệ.

Theo đó, ngân hàng có thể đem “tín phiếu ngân hàng” đổi thành vàng bất cứ lúc nào. Nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng chính là “phí ủy thác quản lý” do người gửi chi trả.

Dần dần, các nhà ngân hàng “thông minh” nhận ra một điều rằng, thường có rất ít người gửi vàng đem “chứng chỉ ngân hàng” đổi thành vàng, và khi thấy vàng nằm bất động trong kho như vậy, ngân hàng không khỏi cảm thấy ngứa ngáy, và câu hỏi khiến họ băn khoăn là làm thế nào để “đánh thức” nguồn vốn đang ngủ yên này? Thêm vào đó, trong xã hội luôn có một số người cần sử dụng tiền, vậy là các nhà ngân hàng bèn mở dịch vụ cho vay, người vay chỉ cần trả lãi suất cho ngân hàng đúng hạn. Khi người vay tiền đến ngân hàng, các nhà ngân hàng dùng nhiều biện pháp như phát hành thêm hóa đơn hay “tín phiếu ngân hàng” để kiếm lời. Chỉ cần không thêm quá nhiều các loại tín phiếu, ngân hàng sẽ không tạo ra sự hoài nghi của người gửi. Kinh nghiệm của các nhà ngân hàng cho thấy, nếu số “chứng chỉ ngân hàng” được phát hành thêm gấp 10 lần thì ngân hàng sẽ an toàn. Do mức lãi suất từ việc cho vay giống như thứ tiền bất ngờ, tự dưng mà có, càng nhiều càng tốt nên các nhà ngân hàng bắt đầu hiện diện khắp nơi để lôi kéo khách hàng đến gửi tiền. Và để thu hút người gửi, thay vì thu lệ phí gửi vàng như trước đây, họ bắt đầu chi trả lãi suất cho người gửi.

Trên thực tế, khi thực hiện dịch vụ cho vay vàng, các nhà ngân hàng cung cấp cho khách hàng hai loại sản phẩm khác nhau hoàn toàn: loại thứ nhất là dịch vụ “lưu gửi tiền vàng” thuần túy, loại thứ hai là “đầu tư tiết kiệm”. Sự khác biệt về bản chất của hai loại dịch vụ này nằm ở quyền sở hữu tiền vàng. Trong tình huống thứ nhất, khách hàng có quyền sở hữu tuyệt đối với lượng tiền vàng đang lưu gửi, nhà ngân hàng đảm bảo với khách hàng rằng họ có thể cầm biên lai đến rút tiền ra bất cứ lúc nào họ muốn. Còn ở trường hợp thứ hai, khách hàng tạm thời mất quyền sở hữu với lượng vàng đã gửi vào tiết kiệm, và nhà ngân hàng sử dụng khoản tiền này để quay vòng cho vay. Ngay sau khi ngân hàng thu hồi khoản đầu tư từ nguồn vàng này, khách hàng lưu gửi mới có thể khôi phục lại quyền sở hữu vốn có của mình.

Trong loại hình dịch vụ thứ nhất, tín phiếu ngân hàng tương ứng là dự trữ toàn ngạch; còn  trong lại hình dịch vụ thứ hai, tín phiếu ngân hàng tương ứng là “giấy nợ + sự hứa hẹn”. Số lượng tín phiếu ngân hàng phát hành ra nhiều hơn lượng vàng thực tế của ngân hàng và coi đó là một hình thức dự trữ cục bộ. Loại tín phiếu theo kiểu “giấy nợ + sự hứa hẹn” như thế này luôn ẩn chứa nguy cơ rủi ro, đồng thời dễ gây lạm phát tiền tệ. Đặc tính này cho thấy rằng, tín phiếu ngân hàng này hoàn toàn không phù hợp với vai trò giao dịch hàng hóa và dịch vụ trong xã hội, đồng thời không thể hiện được chức năng thước đo cơ bản của hoạt động kinh tế.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Song Hong Binh – Chiến tranh tiền tệ – Phần I – NXB LĐ 2020.

Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần II


Một cách tiếp cận khác là lý thuyết nhà nước tiền tệ (state theory of money), với quan điểm rằng tiền giấy không được bảo lãnh vẫn có giá trị vì nhà nước có thể yêu cầu trả thuế bằng tiền đó. Nhà nước có thể ép buộc người dân đến chết để thu thuế. Do đó, người dân làm việc vì tiền và đánh giá cao đồng tiền vì nó có thể đáp ứng được yêu cầu từ nhà nước. Mối quan hệ giữa tiền và nhà nước này có nghĩa là tiền giấy có giá trị ngoại lai vượt quá giá trị nội tại do quyền lực nhà nước. Loại tiền này được gọi là chartal chartalism (tạm dịch: chủ nghĩa duy chính) là một tên khác của lý thuyết nhà nước tiền tệ. Trong những năm 1920, John Maynard Keynes đã sử dụng chartalism trong những lần ông kêu gọi bãi bỏ bản vị vàng. Những thành viên mới hơn của lý thuyết tiền tệ này từng giữ những vai trò đắc lực trong hệ thống quyền lực nhà nước là Paul McCulley, cựu Giám đốc Điều hành của Quỹ trái phiếu khổng lồ PIMCO và Stephanie Kelton, nhà kinh tế học tại Đại học Missouri, người luôn trung thành với lý thuyết tiền tệ hiện đại.

Một lý thuyết mới gia nhập cuộc chiến lý thuyết tiền tệ là lý thuyết lượng tín dụng (quantity theory of credit). Lý thuyết này được phát triển bởi Richard Duncan, là một biến thể của lý thuyết lượng tiền. Duncan đề xuất rằng việc tạo lập tín dụng đã trở nên phổ biến và tràn lan đến mức ý niệm về tiền bây giờ đã được gộp chung vào ý niệm về tín dụng, và việc tạo lập tín dụng là trọng tâm của hoạt động nghiên cứu và chính sách tiền tệ. Duncan đưa nhiều phân tích thống kê và pháp lý ấn tượng về dữ liệu của Chính phủ vào công trình nghiên cứu sự mở rộng tín dụng. Có thể gọi công trình này của ông là chủ nghĩa tín dụng (creditism), mặc dù thực ra nó là một phiên bản của thế kỷ XXI của Trường phái Ngân hàng Anh quốc (British Banking School) – quan điểm về tiền tệ trong thế kỷ XIX.

Chủ nghĩa tiền tệ, chủ nghĩa duy chính và chủ nghĩa tín dụng đều có chung một ý tưởng: niềm tin vào đồng tiền pháp định (fiat). Từ fiat có nguồn gốc từ tiếng Latin, có nghĩa là “để cho nó được thực hiện”. Khi áp dụng cho tiền tệ, fiat đề cập đến trường hợp trong đó nhà nước ra lệnh rằng một dạng tiền tệ cụ thể sẽ đóng vai trò như tiền tệ và được xem như đồng tiền hợp pháp. Cả ba lý thuyết đều đồng ý rằng tiền không bắt buộc phải có giá trị nội tại, miễn sao nó nắm giữ giá trị bên ngoài mà nhà nước đặt cho. Khi phe phản đối đồng tiền pháp định nói tiền “không được đảm bảo bởi bất cứ thứ gì”, những người ủng hộ ba lý thuyết trên sẽ đáp trả, “Thì sao?” Theo họ, tiền có giá trị vì nhà nước ra lệnh rằng nó có giá trị như vậy, và không có gì khác là cần thiết để cho tiền giá trị của nó.

Một lý thuyết chỉ hữu dụng khi nó hài hòa với hiện tượng trong thế giới thực, đồng thời giúp các nhà quan sát hiểu và dự đoán các sự kiện trong thế giới đó. Các lý thuyết về tiền dựa vào quyền lực của nhà nước rất mong manh vì việc áp dụng quyền lực nhà nước có thể thay đổi. Theo nghĩa đó, có thể nói những lý thuyết cạnh tranh về tiền kể trên còn tùy thuộc vào tình hình thực tiễn.

Trở lại nơi chúng ta bắt đầu, lý thuyết hợp đồng tiền tập trung vào giá trị nội tại của tiền. Tiền có thể là giấy, nhưng giấy có văn bản trên đó, và văn bản này là một hợp đồng hợp pháp. Một công dân có thể xem hợp đồng này là đáng giá vì những lý do riêng, không phụ thuộc vào các sắc lệnh của nhà nước. Anh ta có thể đánh giá hiệu quả thực hiện hợp đồng cao hơn là tính chất pháp định. Lý thuyết này là hữu ích để hiểu không chỉ đồng USD mà cả việc liệu rằng hợp đồng dollar có đang được tôn trọng hay không, cả bây giờ và trong tương lai.

Mặc dù đồng USD là khoản nợ không lãi suất và không kỳ hạn nhưng nó vẫn liên quan đến nghĩa vụ thực hiện của cả FED và Ngân khố, hai bên có tên trong hợp đồng. Việc thực hiện này được thể hiện rõ trong nền kinh tế. Nếu nền kinh tế hoạt động tốt, đồng USD hữu dụng, và hiệu quả thực hiện hợp đồng là thỏa đáng hoặcó giá trị. Nếu nền kinh tế không hiệu quả, người ta có thể nghĩ rằng hiệu quả thực hiện kém đến mức vi phạm vỡ nợ theo quy định của hợp đồng.

Bản vị vàng là một cách để thi hành hợp đồng tiền. Phe ủng hộ vàng khẳng định rằng tất cả tiền giấy đều không có giá trị nội tại, giá trị vốn dĩ chỉ có thể được cung cấp bằng kim loại quý hữu hình dưới dạng vàng, hoặc có thể là bạc. Quan điểm này hiểu sai vai trò của vàng trong một bản vị vàng, nhưng một số ít người khăng khăng rằng tiền đồng hoặc vàng thỏi phải là phương tiện trao đổi duy nhất – một tình trạng hoàn toàn phi thực tiễn. Tất cả các bản vị vàng đều liên quan đến mối quan hệ giữa vàng vật chất và các hình thức đại diện của vàng trên giấy tờ, cho dù những đại diện này được gọi là giấy nợ, cổ phần hay hóa đơn. Một khi mối quan hệ này được chấp nhận, người ta nhanh chóng trở lại với thế giới của hợp đồng.

Theo quan điểm này, vàng là tài sản thế chấp hoặc trái phiếu được niêm yết để đảm bảo việc thực hiện thỏa đáng hợp đồng tiền. Nếu nhà nước in quá nhiều tiền thì người dân có thể tự do tuyên bố kê khai hợp đồng bị vi phạm và đổi tiền lấy vàng theo tỷ giá trao đổi trên thị trường. Trên thực tế, người đó nhận tài sản thế chấp của mình.

Những người ủng hộ vàng cho rằng nên duy trì và ấn định một tỷ giá trao đổi giữa tiền giấy và vàng. Quan điểm này cũng có ý đúng, nhưng một tỷ giá trao đổi cố định không phải là yếu tố thiết yếu đối với vai trò của vàng trong một hệ thống hợp đồng tiền. Chỉ cần người dân được tự do mau hoặc bán vàng bất cứ lúc nào. Mọi công dân đều sẽ có thể sử dụng một bản vị vàng cá nhân bằng cách mua vàng bằng tiền giấy, còn người nào không mua vàng tức là đang tạm thời thoải mái với hợp đồng tiền giấy.

Do đó, giá tiền của vàng là một thước đo hiệu quả thực hiện hợp đồng của FED và Ngân khố. Nếu hiệu quả thỏa đáng, giá vàng sẽ ổn định, vì người dân yên tâm khi giao dịch bằng tiền. Nếu hoạt động yếu kém, giá vàng sẽ tăng, vì người dân chấm dứt hợp đồng nợ-tiền và đòi lại khoản thế chấp của họ thông qua việc mua vàng trên thị trường mở. Giống như bất kỳ con nợ nào, FED muốn các chủ nợ-người dân không biết gì về quyền đòi bồi thường của họ. FED đang đánh cược rằng người dân sẽ không đồng loạt yêu cầu khoản thế chấp bằng vàng. Việc đặt cược này phụ thuộc vào mức độ hài lòng cao của người dân đối với bản chất của hợp đồng tiền, bản chất của vàng, và quyền được đòi lại tài sản thế chấp khi hợp đồng không được thực hiện thỏa đáng.

Đây là một lý do khiến FED và các chuyên gia kinh tế tiền pháp định sử dụng những cụm từ như “di tích man rợ” và “truyền thống” để mô tả vàng và khẳng định rằng vàng không có vai trò gì trong một hệ thống tiền tệ hiện đại. Quan điểm của FED rất vô lý, nó giống như việc nói rằng đất đai và nhà cửa không có vai trò gì trong một hợp đồng thế chấp vậy. Tiền là một khoản nợ bằng giấy lấy vàng làm tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp có thể được đòi lại bằng cách trực tiếp mua hàng.

FED muốn rằng các nhà đầu tư không thiết lập mối liên kết này, nhưng có một nhà đầu tư đã làm, đó là Warren Buffett. Ông không chuyển sang vàng nhưng chuyển sang tài sản hữu hình, và câu chuyện của ông đang được tiết lộ.

Vào tháng 11 năm 2009, không lâu sau khi thị trường bắt đầu bán tống bán tháo vì hệ quả của cuộc Khủng hoảng năm 2008, Buffett đã thông báo mua lại 100% công ty Burlington Northern Santa Fe Railway. Buffett mô tả thương vụ này như một “cuộc đặt cược vào đất nước”.

Có thể. Một tuyến đường sắt là tài sản hữu hình tuyệt đối. Đường sắt bao gồm một số tài sản hữu hình, chẳng hạn như quyền sử dụng tuyến đường, quyền khai thác liền kề, đường ray, công tắc, tín hiệu, sân bãi và xe kéo. Đường sắt kiếm tiền bằng cách vận chuyển các tài sản hữu hình khác như lúa mì, thép, quặng và gia súc. Đường sắt là tài sản hữu hình vận chuyển tài sản hữu hình.

Bằng cách mua lại 100% cổ phiếu, Buffett đã chuyển đổi thành công tuyến đường sắt từ một công ty vốn cổ phần được giao dịch công khai thành một công ty vốn cổ phần tư nhân. Điều này có nghĩa là nếu các thị trường cổ phiếu bị đóng cửa trong một cuộc khủng hoảng tài chính thì cổ phần của Buffett sẽ không bị ảnh hưởng vì ông không tìm kiếm khả năng thanh khoản. Trong khi những người khác có thể bị sốc bởi cổ phần của họ đột ngột mất tính thanh khoản, Buffett chỉ việc án binh bất động.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần III


Đứng trước thực trạng nền kinh tế Nhật Bản rơi vào quá trình giảm phát, Chính phủ Nhật Bản buộc phải tìm kiếm để chuyển đổi sang một mô hình mới là kinh tế tuần hoàn, đặt trọng tâm vào duy trì sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển bền vững hệ thống xã hội và hệ sinh thái tự nhiên Nói cách khác, đối với Nhật Bản thì nền kinh tế tuần hoàn là một giải pháp tích hợp nền kinh tế, công nghệ và xã hội, theo đó phát triển kinh tế là một yếu tố chi phối nhưng không tách rời khỏi sự hỗ trợ và bảo vệ của hệ thống các cơ quan nhà nước, các quy định pháp luật, các tiến bộ kỹ thuật và các yếu tố xã hội khác.

Thứ hai, do đặc điểm địa hình của Nhật Bản.

Nhật Bản có mật độ dân số cao và không gian bãi rác hạn chế, một phần là do địa hình đảo và núi lửa của quốc gia này. Điều này đã buộc Chính phủ Nhật Bản, vào đầu những năm 1950, phải tìm kiếm các giải pháp thay thế việc chôn lấp chất thải vào lòng đất. Tiếp theo vào những năm 1990, Chính phủ Nhật Bản gần như không thực hiện đốt cháy chất thải do những lo ngại về chất dioxin phát sinh có thể gây tác hại cho con người như phá hủy hệ miễn dịch, gây ra các vấn đề sinh sản và bệnh tật. Vậy nên hoạt động tái sử dụng nguyên liệu và sản phẩm cũ thay vì vất bỏ ra môi trường trong nền kinh tế tuần hoàn trở thành một biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề đặc điểm địa hình của Nhật Bản.

Thứ ba, do sự thiếu hụt nguồn tài nguyên thiên nhiên của Nhật Bản.

Nhật Bản là quốc gia sản xuất công nghiệp lớn nhưng có nguồn tài nguyên khoáng sản trong nước rất hạn chế dẫn tới hầu hết các nguồn lực và nguyên liệu công nghiệp phải dựa vào nhập khẩu. Bởi vậy, việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, trong đó, hoạt động tái chế và tái sử dụng được đặc biệt chú trọng trở thành nhu cầu cấp bách của quốc gia này. Việc phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn hỗ trợ cho Nhật Bản vượt qua được những hạn chế về nguồn lực, cải thiện việc sử dụng tài nguyên, giảm chi phí sản xuất để tiếp tục duy trì vị trí và tính cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.

Cuối cùng, do bản thân văn hóa doanh nghiệp của Nhật Bản nhấn mạnh tới sự hợp tác giữa các thực thể trong nền kinh tế và dẫn tới kết quả là sự thống nhất cao trong các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người dân trong việc xây dựng và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn cả về khung pháp lý cũng như các hoạt động cụ thể.

3.2/ Hệ thống pháp lý hỗ trợ chuyển đổi mô hình kinh tế tuần hoàn

Mô hình kinh tế tuần hoàn giảm bớt những vấn đề giữa môi trường và phát triển kinh tế đảm bảo sự thích ứng giữa các yêu cầu sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động kinh tế khác với những yêu cầu về bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế và Bản kế hoạch cơ bản để thúc đẩy một xã hội định hướng tái chế làm cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn. Hai văn bản này và một số luật chuyên ngành quy định rõ các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và công dân,…cần thực hiện vai trò theo trách nhiệm và nghĩa vụ tương ứng của họ, phải hợp tác và thực hiện có hiệu quả các biện pháp khác nhau dựa trên nguyên tắc hợp lý và chia sẻ gánh nặng chi phí một cách công bằng trong chiến lược xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Trách nhiệm của chính quyền trung ương Nhật Bản là hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức và công dân để xây dựng các luật và quy định hoàn chỉnh và áp dụng các biện pháp hiệu quả và toàn diện để thúc đẩy việc thực hiện chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Đi đôi với những hoạt động này thì chính quyền trung ương cũng trực tiếp hỗ trợ các hoạt động để hình thành một xã hội định hướng tái chế và tái sử dụng thông qua tài trợ từ các nguồn quỹ do chính phủ quản lý, cung cấp các dịch vụ hành chính, dẫn đầu thực hiện các khoản mua sắm xanh và các hành động cụ thể khác để khuyến khích sự phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

Các quy định của pháp luật đòi hỏi doanh nghiệp phải đóng một vai trò tích cực và quan trọng để thúc đẩy xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp cần xem xét đầy đủ các yếu tố  môi trường trong khi thiết kế và sản xuất sản phẩm, thực hiện các sáng kiến sinh thái trong quy trình sản xuất, sử dụng vật liệu tái tạo và tái chế, tập trung nỗ lực giảm nguồn gây ô nhiễm và kiểm soát chất gây ô nhiễm để cung cấp cho thị trường những sản phẩm có chất lượng cao và ít gây tác động tiêu cực tới môi trường. Đồng thời, doanh nghiệp cũng tận dụng những lợi thế về năng lực và công nghệ của mình để tái sử dụng tối đa nguồn rác thải công nghiệp nhằm tham gia vào quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Các tổ chức xã hội cũng góp phần không nhỏ thúc đẩy quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn Các tổ chức này thực hiện vai trò cầu nối giữa chính quyền các cấp, doanh nghiệp và công chúng, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tư vấn, hướng dẫn và đào tạo kỹ thuật… Cụ thể như các tổ chức này phối hợp với các doanh nghiệp trong việc phát triển công nghệ tái chế, thực hiện tư vấn thông tin và điều tra cho chính quyền các cấp, tiến hành các khóa đào tạo kỹ thuật cho doanh nghiệp, thực hiện các chiến dịch tuyên truyền công khai về quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn.

Người dân Nhật Bản cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường. Những nỗ lực tuyên truyền, vận động cũng như các chính sách của Chính phủ đã góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong việc nỗ lực tham gia xây dựng một nền kinh tế tuần hoàn.

3.3/ Một số đặc điểm của mô hình kinh tế tuần hoàn tại Nhật Bản

a/ Xây dựng các chỉ số đo lường trong nền kinh tế tuần hoàn

Để đánh giá các nỗ lực của xã hội trong xây dựng và phát triển nền kinh tế tuần hoàn, Nhật Bản xây dựng ba chỉ số đo lường cấp quốc gia cơ bản. Cụ thể là chỉ số về tỷ lệ sử dụng hiệu quả tài nguyên tính trên GDP, chỉ số về tỷ lệ tái sử dụng vật liệu trên tổng số vật liệu được sử dụng trong nền kinh tế, và chỉ số đo lường số lượng rác thải cuối cùng được chôn lấp vào môi trường.

Bên cạnh các chỉ số quốc gia này, Nhật Bản còn bổ sung một loạt các chỉ số cụ thể theo từng ngành và đôi khi theo các mục tiêu cụ thể để sử dụng nhằm đánh giá các hoạt động kinh tế cơ bản trong nền kinh tế tuần hoàn. Ví dụ như các chỉ số về quy mô thị trường cho thuê và số lượng hàng hóa cho thuê, số lượng bao bì tái sử dụng được bán ra trên thị trường, mức phí thu gom rác thải ở các địa phương…

b/ Kết hợp hài hòa hoạt động của các ngành công nghiệp cơ bản và hỗ trợ

Tương tự như ý tưởng của Stahel và Reday-Mulvey (1981), một số học giả Nhật phân chia mô hình kinh tế tuần hoàn của quốc gia này thành hai nhóm ngành chính có tên gọi là “ngành công nghiệp cơ bản” và “ngành công nghiệp hỗ trợ”. Theo đó, nhóm thứ nhất bao gồm các ngành công nghiệp tham gia vào quá trình khai thác nguyên liệu thô để sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm và xả thải ra môi trường. Nhóm hành thứ hai, là nhóm ngành thực hiện thu gom, vận chuyển, phân hủy, tái chế và xử lý an toàn chất thải.

Như vậy, đối với ngành công nghiệp cơ bản thì nhiệm vụ đặt ra là xử lý vấn đề môi trường của ngành, cụ thể là tập trung giảm thiểu việc xả thải chất gây ô nhiễm ra môi trường thông qua phát triển các quy trình sản xuất sạch hơn nhằm cung cấp các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ thì nhiệm vụ trọng tâm là tập trung vào phát triển hoạt động xử lý chất thải và các doanh nghiệp chuyên tái chế và tái sử dụng. Việc kết hợp thực hiện cả hai nhiệm vụ chính của hia nhóm ngành nói trên sẽ tạo thành một giải pháp toàn diện cho Nhật Bản để có thể sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt các vấn đề môi trường là hậu quả trực tiếp của quá trình khai thác, sản xuất, tiêu thụ và xả thải của nền kinh tế Nhật Bản.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Chiến tranh tiền tệ không tuyên mà chiến – Phần cuối


Các quốc gia châu Á xây dựng quỹ riêng để tiện giúp đỡ nhau trong cơn nguy nan – một việc vốn dĩ hết sức tốt đẹp, tuy nhiên, họ lại gặp phải sự phản đối kịch liệt của trục tài chính London – Phố Wall. Nhật Bản vốn là nền kinh tế lớn nhất trong khu vực, nhưng lại bị các nhà ngân hàng khống chế nên thiếu sự quyết đoán và lòng can đảm tối thiểu để giúp các nhà lãnh đạo kinh tế châu Á thoát khỏi khó khăn. Điều này không khỏi khiến cho các nước Đông Nam Á rơi vào cảnh tuyệt vọng cảm thấy càng thất vọng hơn. Nhưng điều khiến người ta khó nghĩ nhất chính là quan điểm của Singapore.Việc cho mình và các nước láng giềng cái quyền quyết định giúp đỡ lẫn nhau trong tình huống khó khăn sao lại có thể gây ra “rủi ro đạo đức” và đó là “đạo đức” của ai?

Thủ tướng Malaysia Mahathir là nhà lãnh đạo châu Á có cái nhìn tương đối thấu suốt đối với bản chất thực của khủng hoảng. Ông cho rằng: “Chúng ta hoàn toàn không biết nguồn gốc tiền bạc của họ, cũng chẳng biết rốt cuộc ai đang tiến hành giao dịch, càng không thể biết sau lưng họ còn có ai? Chúng ta có biết rằng sau khi kiếm được tiền thì họ có đóng thuế hay không? Và những khoản thuế này nộp cho ai? Chúng ta có biết ai là kẻ đang đứng sau lưng họ?” Ông nhận định, với cơ chế giao dịch tiền tệ trước mắt, chẳng ai biết liệu nguồn tiền này có chính đáng hay không, hay là sản phẩm của nạn rửa tiền. “Bởi chẳng có ai dám hỏi, mà cũng chẳng thể kiểm tra được”. Chỉ cần những người này phát động tấn công vào bất cứ quốc gia nào, thì lượng tiền không thể đếm xuể của họ sẽ ào ạt chảy vào quốc gia đó. Bất luận là thị trường tiền tệ, hàng hóa kỳ hạn hay là giao dịch chứng khoán, đều phải tiến hành dưới cơ chế hợp lý, “vì vậy, chúng ta cần kiểm soát giao dịch tiền tệ, khiến nó trở nên minh bạch hơn”. Ngay tức khắc, Mahathir gặp phải búa rìu dư luận phương Tây. Câu hỏi gay gắt của Mahathir có lẽ không phù hợp lắm để phát biểu trong cuộc họp mang tính ngoại giao. Tuy nhiên, ông đã đưa ra câu hỏi một cách đích xác về vấn đề mà mọi người dân châu Á đều nghi hoặc.

Hàn Quốc – một đồng minh thân cận của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh – sau cơn bão tài chính đã chìa tay về phía Mỹ xin viện trợ nhưng không ngờ nước Mỹ dứt khoát từ chối và thay đổi nhanh chóng đến vậy. Trong con mắt của các nhà ngân hàng quốc tế, mối quan hệ thân thiết giữa Mỹ và Hàn Quốc như đống xương tàn sót lại của Chiến tranh Lạnh. Chính phủ Mỹ tranh cãi kịch liệt về vấn đề này, và theo ý kiến của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Madeleine Albright và các cố vấn an ninh quốc gia thì Mỹ phải chìa tay ra cứu vớt người anh em. Trong khi Bộ Tài chính đại diện cho Phố Wall thì cực lực phản đối, thậm chí còn chỉ trích Madeleine Albright chẳng hiểu mô tê gì về kinh tế học. Cuối cùng, Clinton phải tuân theo quan điểm của Bộ Tài chính.

Theo Bộ trưởng Tài chính Rubin, cuộc khủng hoảng này chính là thời cơ tốt nhất để Mỹ đạp toang cánh cửa kinh tế của Hàn Quốc. Ông ta ra lệnh cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế phải thực thi các biện pháp hà khắc hơn so với trước đây để đối đãi đồng minh cũ đang xin viện trợ này. Dưới sức ép của Bộ Tài chính Mỹ, IMF nâng các điều kiện đối với vấn đề “viện trợ”, bao gồm việc Hàn Quốc phải lập tức giải quyết các điều kiện có lợi đối với Mỹ và mọi tranh chấp thương mại với phía Mỹ. Người dân Hàn Quốc phẫn nộ chỉ trích các điều kiện khắt khe này, vì Mỹ và IMF luôn sẵn sàng đưa ra cho Hàn Quốc các điều kiện bất hợp lý.

Nhà kinh tế học Joseph Stiglitz cho rằng, việc Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tài chính bắt đầu từ khi Bộ Tài chính Mỹ thúc bách Hàn Quốc tiến hành mở cửa thị trường tư bản tài chính toàn diện và nhanh chóng. Với vai trò là cố vấn kinh tế hàng đầu của Clinton, Joseph Stiglitz kiên quyết phản đối kiểu hành vi thô lỗ này, ông cho rằng kiểu mở cửa này chẳng đem lại lợi ích an toàn nào cho nước Mỹ mà chỉ có lợi cho các nhà ngân hàng của Phố Wall mà thôi.

Chính phủ Hàn Quốc trong tình thế bức bách phải chấp nhận rất nhiều điều kiện hà khắc của Mỹ, cho phép Mỹ xây dựng các chi nhánh ngân hàng, công ty nước ngoài có thể nắm giữ từ 26% đến 50% cổ phiếu của công ty Hàn Quốc lên sàn, người nước ngoài có thể nắm giữ từ 7% đến 50% cổ phần trong các công ty của nước này. Các công ty Hàn Quốc phải áp dụng nguyên tắc kế toán quốc tế, cơ cấu tài chính cần chấp nhận sự thẩm tra nghiệp vụ kế toán quốc tế, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc phải vận hành độc lập, hối đoán tiền tệ theo công thức tư bản, minh bạch hóa tiến trình cho phép nhập khẩu, giám sát cơ cấu công ty, cải cách thị trường lao động. Các nhà ngân hàng Mỹ “thèm nhỏ dãi” trước các doanh nghiệp Hàn Quốc. Chỉ đợi Hàn Quốc đặt bút ký vào bản thỏa thuận, họ sẵn sàng đạp lên nhau để xâu xét con mồi săn đã đuối sức.

Thế nhưng, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế quá xem nhẹ sự mạnh mẽ và ý thức dân tộc của người Hàn. Một quốc gia có ý thức dân tộc hỗ trợ thì rất khó bị các thế lực bên ngoài thống trị. Người dân Hàn Quốc rơi vào tình cảnh cô lập vô phương bấu víu đã sôi nổi quyên hiến vàng bạc của mình cho quốc gia. Trong tình cảnh nguồn dự trữ ngoại hối cạn kiệt thì vàng bạc nhanh chóng trở thành phương thức hoàn trả nợ được đông đảo chủ nợ nước ngoài vui vẻ chấp nhận. Điều càng khiến các nhà ngân hàng quốc tế kinh ngạc hơn là, tại Hàn Quốc không xuất hiện làn sóng phá sản hàng loạt của các ngân hàng và công ty quy mô lớn theo hình dung của họ. Các công ty phương Tây hầu như không thể thâu tóm bất cứ doanh nghiệp lớn nào của Hàn Quốc. Mùa xuân năm 1998, khi Hàn Quốc vượt qua gian khó, lợi nhuận xuất khẩu của họ tăng nhanh cấp kỳ, Chính phủ Hàn Quốc nhận ra hết mọi ngón đòn của Phố Wall và dứt khoát vứt bỏ ngay những liều thuốc độc của IMF. Chính phủ đình chỉ việc xin phá sản của các doanh nghiệp lớn đồng loạt và quyết định thanh lý các khoản nợ xấu trị giá 70 đến 150 tỷ USD từ hệ thống ngân hàng. Ngay khi Chính phủ nhận được những khoản nợ xấu này, quyền kiểm soát hệ thống ngân hàng lại lọt vào tay Chính phủ. Và như vậy, IMF bị đẩy ra khỏi cuộc chơi.

Điều này không những khiến cho các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế và Bộ Tài chính Mỹ mừng hụt một phen mà còn giúp Hàn Quốc nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của Chính phủ trong việc lãnh đạo nền kinh tế. Mưu đồ thôn tính công ty phần mềm lớn nhất Hàn Quốc tan vỡ, 8 công ty phần mềm bản địa Hàn Quốc đã vận hành suôn sẻ. Kế hoạch thâu tóm Công ty Ô tô KIA của Ford bị gãy gánh. Hành động tiếp quản hai ngân hàng địa phương lớn của ngân hàng nước ngoài bị đình chỉ, Chính phủ Hàn Quốc tạm thời quản lý hai ngân hàng này.

Dưới sự chủ trì của Chính phủ, nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng mạnh mẽ trở lại. Điều khôi hài là Quỹ Tiền tệ Quốc tế hết lời ca ngợi Hàn Quốc như một trường hợp điển hình được họ hỗ trợ.

Năm 2003, Thái Lan hoàn trả số nợ 12 tỷ USD trước thời hạn. Sau khi thoát khỏi nanh vuốt của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Thủ tướng Thái Lan Thaksin tự tin đứng trước quốc kỳ mà thề rằng, nước Thái Lan sẽ “vĩnh viễn không trở lại làm con mồi cho tư bản quốc tế”, quyết sẽ không bao giờ cầu xin sự “viện trợ” của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Thậm chí Chính phủ Thái Lan còn ngầm khuyến khích các doanh nghiệp từ chối hoàn trả các khoản nợ của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế. Và rồi, tháng 9 năm 2006, cuộc đảo chính quân sự nổ ra ở Thái Lan, Thaksin bị lật đổ và chịu kiếp lưu vong ở nước ngoài.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Song Hong Binh – Chiến tranh tiền tệ P1 – NXB LĐ 2020.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần II


Sự chú trọng toàn diện phát triển kinh tế biển của Malaysia chủ yếu khởi đầu từ cuối những năm 1980. Trước hết là tăng cường xây dựng cơ chế phát triển biển quốc gia. Năm 1986, hội nghị nội các Liên bang Malaysia đã quyết định thành lập Ủy ban hàng hải quốc gia, chịu trách nhiệm quy hoạch và điều phối các vấn đề biển. Năm 1999, Cục Hàng hải Malaysia được thành lập, có trách nhiệm thúc đẩy hợp tác chiến lược về lĩnh vực biển giữa Malaysia với quốc tế, phát huy tiềm năng nghiên cứu và phát triển biển, thúc đẩy, tăng cường mục tiêu hợp tác giữa các cơ chế hàng hải trong nước. Mặt khác, xây dựng kế hoạch thống nhất và quy hoạch phát triển ngành hàng hải, tăng cường xây dựng vận tải biển, thương mại và xây dựng cảng biển, làm tốt công tác bảo vệ nguồn tài nguyên biển. Năm 1990, Malaysia thông qua Kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 6 giai đoạn 1990 – 1995, đề xuất tăng cường chú trọng thương mại biển, ngành chế tạo hàng hải trên cơ sở phát triển ngành dầu mỏ ngoài khơi và du lịch biển. Trong một vài kế hoạch phát triển quốc gia sau đó, ngành vận tải biển của Malaysia cũng được chú trọng hơn. Trong nhiều năm qua, các cảng chủ yếu của Malaysia như Port Klang, Tanjung Pelepas, Penang Johor, Kuantan, Kemaman, Bintulu, Malacca… phát triển tương đối nhanh. Năm 2018, lượng hàng hóa xuất nhập qua 8 cảng này chiếm 64% tổng lượng hàng hóa qua các cảng của Malaysia. Theo số liệu của hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển, Malaysia đứng thứ 5 thế giới về phương diện kết nối tuyến đường biển, thậm chí còn vượt cả Hà Lan và Mỹ. Cần phải nói rằng, kinh tế vận tải biển là ngành thúc đẩy chủ chốt của nền kinh tế biển Malaysia với thương mại là chủ đạo.

Tuy nhiên, về tổng thể, hiện Chính phủ Malaysia không có chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, chuyên biệt, ưu thế biển của Malaysia vẫn chưa được phát huy đầy đủ, tiềm lực kinh tế biển cần phải được đẩy mạnh khai thác hơn nữa, đồng thời việc phát triển kinh tế biển cũng đang đối mặt với một loạt các thách thức.

1.3/ Những thách thức đối với phát triển kinh tế biển

Mặc dù, Chính phủ Malaysia ngày càng coi trọng phát triển kinh tế biển, nhưng do sự thay đổi của môi trường địa chính trị, cục diện thương mại biển, kế hoạc phát triển biển quốc gia và cơ chế bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn còn khiếm khuyết, phát triển kinh tế biển Malaysia còn bị động, đối mặt với một số thách thức sau:

Một là, việc khai thác dầu mỏ ngoài khơi ở Nam Hải đang trong bối cảnh tranh chấp. Việc khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên của Malaysia gần như thực hiện toàn bộ trên biển, đặc biệt là khu vực Sabah và Sarawak ở Nam Hải. Hiện nay, Chính phủ Malaysia đã nhận thức được khả năng phòng thủ quân sự của họ còn hạn chế, cho rằng quân đội dựa vào thực lực hiện có của mình phải đối mặt với những thách thức để bảo vệ lợi ích quốc gia trong vùng biển tranh chấp. Do không thể bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ bằng quân sự, nên việc tạo ra một môi trường hòa bình để khai thác tài nguyên là vô cùng quan trọng đối với Malaysia. Trước năm 2010, Malaysia và các nước Thái Lan, Việt Nam, Brunei, Indonesia đã cơ bản giải quyết được vấn đề khai thác dầu mỏ ở vùng biển tranh chấp. Tuy nhiên, vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn với Trung Quốc, tranh chấp ở Nam Hải giữa Trung Quốc và Malaysia cũng luôn xoay quanh vấn đề khai thác tài nguyên dầu mỏ của Malaysia. Chẳng hạn, năm 2013, tàu hải cảnh của Trung Quốc đã thả neo tại cụm bãi cạn Nam Luconia, cách Sarawak của Malaysia chỉ có 84 hải lý và từng gây ra những căng thẳng đối với Malaysia và phải triệu tập phiên điều trần trước quốc hội. Phải nói rằng những tồn tại về tranh chấp ở biển Nam Hải giữa Trung Quốc và Malaysia là một thách thức biển tiềm ẩn đối với Malaysia.

Hai là, ngành vận tải biển gặp phải những trở ngại, không đủ sức cạnh tranh hàng hải trong khu vực. Thời gian gần đây, do thương mại toàn cầu chậm lại và ở vào vị thế yếu hơn trong cạnh tranh hàng hải so với Singapore, ngành vận tải biển của Malaysia càng giảm mạnh, Liên minh hãng tàu mới gồm có cac hãng tàu như CMA, CGM, COSCO, Orient Overseas, Evergreen đã chuyển dịch hoạt động kinh doanh sang Singapore, khiến chỉ riêng cảng Port Kelang của Malaysia đã mất đi hơn 1/3 doanh thu. Trong cạnh tranh với Singapore, mặc dù chi phí lao động cao hơn Malaysia nhưng quãng đường qua eo biển Malacca đến cảng Singapore ngắn hơn 600 km so với đến cảng Port Kelang nên tiết kiệm được chi phí đáng kể. Ngoài ra, cơ sở hậu cần của cảng Singapore hiện đại hơn cảng Port Kelang, hơn nữa Chính phủ Singapore không ngừng đầu tư kinh phí và khám phá những công nghệ mũi nhọn như xe dẫn đường tự động không người lái hoặc máy cảm biến thông minh. Có thể nói rằng, sự sụt giảm năng lực cạnh tranh hàng hải ở tầm khu vực và toàn cầu đã hạn chế sự phát triển của ngành vận tải biển Malaysia.

Ba là, vấn đề phá hoại nguồn tài nguyên trong phát triển kinh tế biển đang ngày càng nghiêm trọng. Cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa và khai thác tài nguyên biển gia tăng, Malaysia cũng đối mặt với rất nhiều thách thức trong việc duy trì lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Chẳng hạn, việc đánh bắt quá mức và mang tính tận diệt, axit hóa đại dương, phá hoại hệ sinh thái ven biển, sự cố tràn dầu và xâm nhập của sinh vật, ngoài ra có những mối đe dọa mới như rác thải đại dương… Sự tồn tại của những vấn đề này gây bất lợi đối với việc bảo vệ hệ sinh thái và tài nguyên biển, cơ bản đã tác động đến cơ sở vật chất trong phát triển kinh tế biển của Malaysia.

Bốn là, Chính sách biển quốc gia thiếu cơ chế điều phối. Từ trước đến nay, Chính phủ Malaysi thiếu cơ chế hàon thiện để điều phối sự phát triển biển quốc gia. Hai kế hoạch phát triển quốc gia của Malaysia giai đoạn 1991 – 2000 đã chỉ ra rằng chính phủ chưa tận dụng hết tiềm lực biển, sự chồng chéo thẩm quyền của Liên bang, các bang, khu vực tư nhân đã dẫn đến các vấn đề như quy hoạch và phát triển cảng biển không nhịp nhàng, chính sách vận tải biển của quốc gia không cụ thể. Báo cáo quốc gia năm 2006 của Malaysia đã chỉ ra do nước này không có chính sách rõ ràng để quản lý và sử dụng tài nguyên ven biển và đại dương nên đã gây ra sự chồng chéo trong quản lý không gia biển của các ngành khác nhau. Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng việc nhà nước thiếu cơ chế điều phối giữa các cảng biển là một trong những nguyên nhân chính khiến hai cảng lớn nhất của Malaysia là cảng Tanjung Palapas và Port Kelang tụt hậu so với Singapore. Có thể thấy việc thiếu cơ chế điều phối là trở ngại chính của sự phát triển kinh tế biển của Malaysia. Việc lựa chọn phương hướng phát triển kinh tế biển của Malaysia được quyết định bởi phương hướng chiến lược kinh tế quốc gia. Từ khi thành lập nước đến nay, Malaysia đã thông qua kế hoạch phát triển và chuyển đổi mô hình quốc gia, công bố tầm nhìn và kế hoạch phát triển quốc gia để xác định mục tiêu và phương hướng phát triển trong tương lai. Một trong những đại diện đó là Kế hoạch 5 năm phát triển quốc gia. Malaysia xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm một lần, tính đến năm 2020 đã đưa ra 11 kế hoạch 5 năm, 2021 – 2025 là thời gian thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của nước này với mục tiêu chủ yếu là tăng cường thực lực kinh tế, môi trường bền vững và tái tạo xã hội. Hai là, tầm nhìn và kế hoạch phát triển quốc gia. Hiện tầm nhìn quốc gia được công bố của Malaysia được chia thành Tầm nhìn quốc gia 2020 và Chương trình quốc gia 2030. Tầm nhìn quốc gia 2020 là phương châm chính trị được cựu Thủ tướng Mahathir đưa ra tại Hội nghị Kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 6, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Malaysia trở thành quốc gia tiên tiến; Chương trình quốc gia 2030 là quy hoạch do cựu Thủ tướng Najib đưa ra năm 2016 với mục tiêu là thực hiện kinh tế phát triển bền vững và chuyển đổi kinh tế. Ngoài ra, ngày 25/10/2010, Malaysia đã khởi động Kế hoạch chuyển đổi kinh tế quốc gia, mục tiêu là nâng thu nhập bình quân đầu người tăng từ 6700 USD năm 2010 lên 15000 USD năm 2020, đưa Malaysia phát triển thành nền kinh tế thu nhập cao.

Trong kế hoạch, tầm nhìn và chương trình phát triển quốc gia gần đây của Malaysia, kinh tế biển đều là một nội dung quan trọng. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của Malaysia (2021 – 2025) đãoci inh tế xanh đại dương, công nghệ xanh và tái sinh nguồn năng lượng đại dương là nội dung quan trọng trong phát triển bền vững. Mục tiêu chính của Chương trình quốc gia 2020 và Tầm nhìn quốc gia 2030 đều bao gồm thúc đẩy phát triển bền vững biển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa biển, mà Kế hoạch chuyển đổi kinh tế năm 2010 của Malaysia nhằm thực hiện các điều chỉnh chiến lược đối với 12 lĩnh vực phát triển trọng điểm quốc gia, 12 lĩnh vực đề cập đến các nội dung như tài nguyên dầu mỏ, du lịch biển, ngành nghề chế tạo biển. Cần phải nói rằng những chiến lược phát triển quốc gia này đã đưa ra sự chỉ dẫn đối với Malaysia trong lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế biển. Mặc dù, Malaysia đã nâng cao mức độ coi trọng kinh tế biển, nhưng đáng tiếc nước này hiện vẫn không có kế hoạch phát triển kinh tế biển quốc gia chuyên biệt, chiến lược phát triển kinh tế biển chủ yếu thể hiện trong kế hoạch và tầm nhìn phát triển kinh tế quốc gia.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.