Các cuộc tấn công nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia có tác động mạnh đến nền kinh tế Mỹ?


Theo bài viết đăng trên Wall Street Journal ngày 15/9, các chuyên gia kinh tế nhận định các cuộc tấn công mới nhất nhằm vào các cơ sở sản xuất dầu của Saudi Arabia không có tác động trực tiếp nhiều tới nền kinh tế Mỹ, song có thể khiến giá xăng tăng cao hơn và gia tăng áp lực tới tăng trưởng toàn cầu.

Trong khi vẫn chưa biết rõ tác động tổng thể của các vụ tấn công trên, song các nhà phân tích khẳng định nền kinh tế Mỹ sẽ không rơi vào suy thoái khi giá dầu tăng mạnh giống như những năm 1970, bởi hiện nay những cú sốc về giá dầu không còn gây ra tác động tương tự đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, các cuộc tấn công trên sẽ là một yếu tố mới để lãnh đạo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tính đến khi họ xem xét một loạt nguy cơ địa chính trị có thể gây ảnh hưởng tới tương lai của nền kinh tế. Các yếu tố khác có thể kể đến như cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, bất ổn ở Hong Kong (Trung Quốc) và việc Anh sắp rời Liên minh châu Âu (EU).

Nguy cơ giảm đầu tư kinh doanh và sự chững lại của tăng trưởng toàn cầu chính là lý do chính khiến FED quyết định giảm lãi suất trong tháng Bảy vừa qua và có khả năng sẽ tiếp tục xu hướng này trong cuộc họp sắp tới. Lãnh đạo FED cũng sẽ theo dõi giá dầu trong những tuần tới để xác định ảnh hưởng tới lạm phát.

Tháng trước, Chủ tịch FED Jerome Powell cho biết, các quan chức trong ủy ban thiết lập lãi suất của ngân hàng trung ương nên đưa ra chính sách một cách thận trọng. Vì những tác động quan trọng nhất của chính sách tiền tệ được cảm nhận với mức độ bất ổn trong một năm hoặc hơn, nên ủy ban này của FED cần cố gắng xem xét những diễn biến đã xảy ra và tập trung vào yếu tố có khả năng sẽ tác động tới triển vọng kinh tế.

Các chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Bank of America cho biết, hiện nay năng lượng chiếm khoảng 2,5% tiêu dùng hộ gia đình, giảm từ 8% trong những năm 1970. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), kể từ đầu những năm 2000, các công ty năng lượng của Mỹ đã đẩy mạnh sản xuất bằng cách sử dụng các kỹ thuật khoan mới, chẳng hạn như công nghệ thủy lực. Sản lượng dầu đã tăng gấp đôi trong 10 năm qua, từ năm 2008 – 2018 và Mỹ hiện là nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới và đứng thứ hai là Saudi Arabia.

Một mặt, giá dầu cao hơn sẽ gây tổn hại cho người tiêu dùng và gây áp lực cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lượng để sản xuất hoặc vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, mặt khác, những tổn thất đó sẽ được bù đắp bằng lợi nhuận mà ngành công nghiệp dầu mỏ Mỹ kiếm được từ giá dầu cao. Ngành công nghiệp này của Mỹ gần đây đang gặp khó khăn khi sản xuất năng lượng tăng trong khi nhu cầu giảm đã khiến giá cả đi xuống. Kết thúc phiên giao dịch ngày 6/9, giá dầu thô kỳ hạn ở mức 54,82 USD/thùng, thấp hơn đáng kể so với mức 76,41 USD/thùng ngày 3/10/2018. Các cuộc cạnh tranh trong ngành công nghiệp này làm giảm đầu tư kinh doanh. Đầu tư cố định phi chính phủ đã giảm với tỷ lệ hàng năm được điều chỉnh theo mùa là 0,6% trong quý II/2019, điều này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong quý này.

Giá dầu tăng liên tục có thể thúc đẩy đầu tư nhiều hơn vào hoạt động thăm dò và khoan dầu, nhưng cũng có thể làm giảm đầu tư cố định vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều năng lượng. Các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng, như Trung Quốc và Nhật Bản, các nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới sau Mỹ sẽ bị tác động nhiều. Theo EIA, Trung Quốc sản xuất khoảng 4,8 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhưng tiêu thụ khoảng 12,8 triệu thùng, khiến nước này phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu. Nền kinh tế Trung Quốc đã chịu áp lực từ cuộc chiến thương mại với Mỹ và sự suy giảm tăng trưởng toàn cầu trên diện rộng. Giá dầu cao hơn có thể khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại hơn nữa, qua đó sẽ làm giảm nhu cầu của Trung Quốc  đối với hàng xuất khẩu của Mỹ.

Tháng Bảy vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho biết sự giảm tốc mạnh mẽ của thương mại khiến nền kinh tế chững lại. Dự báo, tăng trưởng toàn cầu, được điều chỉnh theo lạm phát, sẽ giảm xuống 3,2% trong năm nay, từ mức 3,6% của năm ngoái và 3,8% trong năm 2017. Nếu các cuộc tấn công vào các cơ sở sản xuất dầu của Saudi Arabia vào ngày 14/8 vừa qua khiến giá năng lượng tiếp tục cao, điều này có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Cho tới nay, Mỹ vẫn tránh được những hậu quả nghiêm trọng của sự suy giảm toàn cầu. Nền kinh tế trong nước tăng trưởng với tốc độ hàng năm được điều chỉnh theo mùa là 2% trong quý II/2019. Công ty dự báo kinh tế Macroeconomic Advisers dự đoán tăng trưởng kinh tế sẽ giảm nhẹ xuống mức 1,9% trong quý III/2019.

Trong một diễn biến khác, một nguồn thạo tin cho hay hoạt động xuất khẩu dầu của Saudi Arabia sẽ trở lại bình thường trong tuần này, khi Riyadh sử dụng nguồn dầu từ các cơ sở dự trữ lớn. Các vụ tấn công nhằm vào 2 nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia hôm 14/9 đã làm giảm hơn một nửa sản lượng dầu của nước này, tương đương hơn 5% nguồn cung toàn cầu. Nguồn tin trên cho hay hiện vẫn chưa rõ việc ngừng sản xuất dầu của Saudi Arabia sẽ kéo dài bao lâu, vì tổn thất đối với cơ sở hạ tầng do các vụ tấn công này là khá lớn và không thể khôi phục một sớm một chiều.

Trước đó, lực lượng Houthi tại Yemen thừa nhận thực hiện vụ tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào 2 nhà máy của Aramco ở thành phố Abqaia và Khurais của Saudi Arabia. Kênh truyền hình vệ tinh Al-Masirah của Houthi cho biết, lực lượng này đã mở một chiến dịch quy mô lớn gồm 10 máy bay không người lái nhằm vào 2 cơ sở dầu mỏ này.

Cùng ngày, Iran đã lên tiếng bác bỏ tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cáo buộc Tehran tấn công vào các nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia, coi đây là những cáo buộc vô nghĩa khi Washington đang cố viện lý do để trả đũa nước Cộng hòa Hồi giáo này. Trong một tuyên bố, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Abbas Mousavi nêu rõ: “Những cáo buộc mù quáng và vô ích như vậy là khó hiểu và vô nghĩa. Những cáo buộc này được cho là chứng minh cho các hành động (của Mỹ) chống Iran”.

Bộ Ngoại giao Iran đưa ra tuyên bố trên sau khi Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo trước đó cùng ngày trên mạng xã hội Twitter, cho biết: “Giữa lúc tất cả (các nước) kêu gọi giảm căng thẳng, thì Iran đã phát động một cuộc tấn công không thể chấp nhận được vào nguồn cung năng lượng của thế giới”. Hiện Bộ Ngoại giao Mỹ chưa cung cấp bất kỳ bằng chứng nào chứng minh cho cáo buộc của ông Pompeo.

Nguồn: TKTTK – 17/09/2019

Advertisements

Tương lai Con đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc


Chuyển giao công nghệ cho phép các nền kinh tế mới nổi nhảy vọt qua các giai đoạn phát triển nhưng có thể không đảm bảo lợi thế cạnh tranh. Trong bối cảnh cạnh tranh thương mại Mỹ – Trung tiếp tục căng thẳng, Mỹ tiếp tục triển khai các biện pháp hạn chế Tập đoàn viễn thông Huawei, hãng công nghệ hàng đầu của Trung Quốc. Một Con đường tơ lụa kỹ thuật số được các công ty công nghệ Trung Quốc khởi xướng đang được xây dựng kéo dài từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương đến vùng Vịnh và châu Phi. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu Con đường tơ lụa kỹ thuật số này có mang lại lợi thế cạnh tranh lâu dài cho các nền kinh tế mới nổi cũng tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Quốc hay không?

Con đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc về cơ bản là sự kết hợp của các chương trình thuộc chính phủ nhằm thúc đẩy nhu cầu trong nước với hoạt động xuất khẩu các công nghệ của nước này cùng với một chương trình nghị sự rộng lớn hơn để kết nối các mạng công nghệ của Trung Quốc và các quốc gia khác. Từ sau năm 1994 khi Trung Quốc chính thức triển khai quyền truy cập mạng Internet, lượng truy cập toàn cầu qua các điểm trung chuyển ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu liên tục tăng mạnh từ đầu những năm 2000. Với sự bùng nổ phát triển của công nghệ cao hiện nay, “nút thắt cổ chai” này được coi là một trở ngại đối với ngành công nghiệp công nghệ Trung Quốc trong quá trình hội nhập với các nước khác trên thế giới. Do đó, các công ty công nghệ Trung Quốc đã tìm cách mở rộng và tích hợp với một số thị trường mới nổi thông qua xuất khẩu dịch vụ của họ. Cơ hội được mở rộng thêm từ sau khi Bắc Kinh ra mắt BRI hồi năm 2013.

Một con đường tơ lụa về thông tin đã chính thức được đề cập trong một tuyên bố chung năm 2015 giữa Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc, Bộ Ngoại giao và Bộ Thương mại. Mục đích đặt ra là xây dựng và củng cố cơ sở hạ tầng Internet của Trung Quốc, tăng cường hợp tác trong không gian và phát triển các tiêu chuẩn công nghệ chung giữa các nước thành viên BRI.

Một sự phát triển đáng kể nằm trong BRI là hệ thống đường dây cáp nối Đông Phi – Pakistan, kết nối Pakistan với Kenya thông qua Djibouti, được Huawei Marine, một nhánh của Tập đoàn Huawei, thực hiện và được Trung tâm Khoa học Nhiệt đới của Hong Kong tài trợ năm 2017. Sự tham gia của Trung Quốc vào các tuyến cáp quang dưới biển khác cũng được thể hiện rõ như một tuyến cáp quang dài 4800 km nối thành phố cổ Kashgar, Tân Cương, Trung Quốc với Faizabad ở Afghanistan, qua Hành lang Wakhan; dự án cáp quang SEA-ME-WE 5 trên Vịnh Bengal nối Đông Nam Á – Trung Đông – Tây Âu có sự tham gia của công ty China Mobile International và China Mobile; tuyến AAE-1 nối châu Á – châu Phi – châu Âu dài 25.000 km có sự tham gia của công ty China Unicom; dự án Bay of Bengal Gateway (BBG) có sự góp mặt của China Mobile. Các dự án này được coi là nỗ lực nhằm mang lại lợi ích cho năng lực lưu lượng truy cập mạng Internet toàn cầu của Trung Quốc và thiết lập sự hiện diện thương mại nước ngoài.

Trong lĩnh vực phát triển không gian, Trung Quốc cũng đang trở thành trụ cột đối với nhiều quốc gia tham gia BRI. Tại Nam Á, Tập đoàn Công nghiệp Great Wall của Trung Quốc đã đồng ý tham gia cùng phóng vệ tinh PakSat Multi Mission với Pakistan, trong khi vệ tinh sắp tới của Afghanistan-Sat-2, cũng sẽ dựa vào sự hỗ trợ từ Bắc Kinh để có thể đi vào hoạt động. Hiện tại, Trung Quốc cũng đang lãnh đạo Tổ chức Hợp tác vũ trụ châu Á – Thái Bình Dương (APSCO), một nền tảng đa phương cho phép Bắc Kinh chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm của họ cho các nền kinh tế mới nổi khác.

Bên cạnh đó, Bắc Kinh cũng có kế hoạch tuyên truyền các tiêu chuẩn công nghệ của họ hơn nữa, chủ yếu tập trung ở các quốc gia thành viên BRI. Kế hoạch hành động chung về xây dựng các cơ sở hạ tầng do công ty China Unicom thực hiện dựa trên BRI (2018 – 2020) do Cơ quan Tiêu chuẩn hóa Trung Quốc (SAC) đưa ra nhằm kêu gọi các tiêu chuẩn thống nhất trên các công nghệ cao gồm 5G, trí tuệ nhân tạo và hệ thống định vị vệ tinh. Nền tảng thanh toán điện tử trong nước của Trung Quốc, Alipay, cũng đã bắt đầu thiết lập sự hiện diện trực tiếp hoặc hoạt động thông qua khách hàng địa phương tại hơn 40 quốc gia trên khắp châu Âu và châu Á, trong đó có Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ.

Bước nhảy vọt trong thập kỷ qua từ việc thiếu cơ sở hạ tầng mạng cơ bản sang có mạng thương mại và nền tảng công nghệ 4G là cơ sở để có thể hỗ trợ nhiều nền kinh tế mới nổi trong BRI có thể vượt qua các nền kinh tế phát triển chậm khác, ít nhất là về công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là liệu các quốc gia có thể phát huy tối đa lợi ích như thế nào khi phải dựa vào công nghệ của Trung Quốc trong dài hạn.

Thứ nhất, Con đường tơ lụa kỹ thuật số về cơ bản là một dự án dựa vào nguồn cung. Việc cung cấp cơ sở hạ tầng công nghệ là cơ sở để thúc đẩy các ngành thứ cấp và cao cấp của các nền kinh tế mới nổi, nhưng nó không đảm bảo mức độ áp dụng ngang bằng với các dịch vụ công nghệ trên thế giới.

Thứ hai, chuyển giao công nghệ Trung Quốc trên các nền kinh tế khác nhau sẽ được triển khai theo các cách khác nhau. Ví dụ, các thành phố châu Âu khó có thể nhanh chóng chấp nhận các công nghệ 5G của Trung Quốc như các thành phố ở Nam Á. Các nền kinh tế Nam Á có thể muốn ưu tiên nhiều hơn về phần cứng như vệ tinh và cáp quang, trong khi các nền kinh tế Đông Nam Á lại hướng đến các công nghệ mềm hơn, như trong lĩnh vực hợp tác trí tuệ nhân tạo và thương mại điện tử. Làm thế nào để những sự khác biệt này có thể bổ sung hoặc thay thế nhau với một lợi thế cạnh tranh vẫn là một điều không chắc chắn.

Thứ ba, do phải phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ Trung Quốc nên các công nghệ được triển khai cho các nước BRI có thể chỉ là thứ cấp so với các công nghệ được triển khai trên khắp các thành phố của Trung Quốc. Điều này có thể dẫn tới một hiệu ứng tụt hậu trong xuất khẩu công nghệ, nơi mà các công nghệ mới phải có được chỗ đứng nhất định tại thị trường Trung Quốc trước khi chúng có thể được triển khai ở nơi khác. Ngược lại, các quốc gia BRI này có thể trở thành các cơ sở thử nghiệm trước khi các sản phẩm và dịch vụ công nghệ tốt hơn, hiệu quả hơn được triển khai tại Trung Quốc.

Các quốc gia dọc theo Con đường tơ lụa kỹ thuật số sẽ khó có thể chống lại sự phụ thuộc vào dòng chảy công nghệ Trung Quốc, nhưgn các nước vẫn sẽ phải đánh giá thận trọng nhu cầu trong nước, khả năng áp dụng công nghệ và tốc độ đổi mới nếu họ có thể đạt được lợi thế cạnh tranh trong dài hạn.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

TKNB – 23/08/2019

20 năm phá hoại CCCP – Phần cuối


Krotov: Thêm nữa, bước đi đầu tiên (cải tổ) đã thực hiện dưới thời Andropov. Tôi được những người rất thân cận với ông ta kể. Đầu tiên, sau Hội nghị tháng 10 1982, ông ta cho gọi Bộ trưởng lãnh đạo kinh tế đến và chỉ đạo: Hãy nghĩ ra bất cứ sự thay đổi nào để cải tổ kinh tế. Cho đến khi đó quyết định đơn giản (cả bây giờ cũng thế) là thiết lập các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Avtobank, nhìn chung là được lập ra trên cơ sở của bộ về công nghiệp ô tô đã có khi đó, bước đi đầu tiên đã được tiến hành. Còn ở Krasnodar là thử nghiệm dạng đầu tiên tựa như ngân hàng trên cơ sở tín dụng phi lợi nhuận của tổ hợp nông nghiệp lớn, để nó hoạt động không còn qua cấu trúc ngân hàng nhà nước, và qua đó nó cũng bỏ qua tất cả hệ thống tài chính. Thử nghiệm như thế đã thực sự diễn ra.

Fursov: Nói cách khác, chóp bu Xô viết đến cuối 60 và càng về sau càng không tin tưởng vào hệ thống Xô viết mà họ lẽ ra phải bảo vệ và phát triển. Về nguyên tắc, họ đã ngầm từ bỏ hệ thống này. Còn nói như Tacitus là đã thua ngay khi cúi nhìn xuống. Trong mối liên hệ, Hội nghị tháng 6 1987 là sự hoàn thành 1 cách logic với cách mà các quan chức đã tham dự Hội nghị tháng 6 năm 1967.

Ở đây có sự ngạc nhiên trên quan điểm đồng điệu, 1 thực tế là dường như thập kỷ 70, chúng ta đạt đến sự đồng đẳng chiến lược, quân sự-chính trị với Mỹ, chúng ta tham gia tích cực (ngân hàng quốc gia Moskva) vào việc lập ra đồng eurodollars, có vẻ như là Lenin đọc ra từ sách thánh cho Sen đầm: “Bức tường đã mục ruỗng, hãy đập đi và nó sẽ sụp đổ”. Tất cả điều này theo nguyên tắc thông thường là nói về Xô viết chống CNTB. Liệu có vận hội nào năm 1967 để có thể lao qua nút thắt và tiến đến chỗ mà Strugatsky gọi là “Đứng bóng” của thế kỷ XXII?

Krotov: Không thực sự có vận hội nào như thế khi đó, hãy chú ý là ngoài Egorychev, không thực sự là tầng lớp trên chóp bu dạng này, để mà có thể bảo vệ.

Fursov: Giới chóp bu – là những kẻ tư lợi?

Krotov: Theo mức độ nào đó – đúng.

Fursov: Vẫn còn 1 điều quan trọng – những kẻ có tầm nhìn hạn hẹp. Như cậu bé gỗ Buratino nói trong “Chiếc chìa khóa vàng” là gần với nghĩa của cậu. Tôi bị thuyết phục hoàn toàn rằng, không cả Brezhnev, không cả Andropov, không cả Kosygin, tất cả bọn họ không muốn hủy hoại CNXH. Chỉ có điều họ tưởng, họ sẽ vẫn ngồi ghế mãi mãi.

Krotov: Tôi nghĩ, Gorbachev ban đầu cũng tưởng thế…

Fursov: Ban đầu – đúng. Nhưng Gorbachev, tôi nghĩ, ông ta chỉ quan tâm đến quyền lực và không có gì hơn.

Krotov: Nếu ông ta định thực hiện nó trong một hệ thống khác…

Fursov: Tôi nhớ ai đó trong hồi ức, trong số các nhà báo lớn của chúng ta thời Xô viết, viết rằng Nikolai Podgorny hởi lòng hởi dạ bởi giá cả phi đại năm 1973-1974. Ông ta nói với Kosygin đó là Domino của Podgorny (bởi ông ta rất thích trò chơi, và cho đó là đẳng cấp trí tuệ của ông ta). Ông ta nói giờ nhìn chung chúng ta chẳng cần cải tổ nào cả. Như nhân vật Emelya trong truyện cổ tích chui vào bếp lò và rõ là những kẻ như thế không thể nào giành phần thắng trong thế giới cạnh tranh này. Tôi không có ý lý tưởng hóa và đánh giá quá cao mức độ trí tuệ và bản lĩnh chính trị của những kẻ như (diều hâu) Kissinger và (giáo chủ áo xám) Brzezinski, nhưng nếu ít nhất phải đặt Kissinger và Brzezinski vào bàn cờ, còn phía kia là những kẻ đứng cùng “Hợp tác xã” Lenin, khi Vysotsky cất lên “như học sinh đánh nhau với đám lêu lổng hư hỏng”. Đám lêu lổng hư hỏng thắng. Nhưng quan trọng nhất, là dù ai thắng, ai muốn cũng đều biến thành kẻ khác, chỉ có điều họ nghĩ, họ thắng và sẽ như lãnh đạo Xô viết chơi trò chơi trong thế công bằng, như họ ngồi quanh 1 cái bàn. Ở đây, không thể nào gọi đó là sự nhầm lẫn 1 cách lạ lùng về thế giới và trong vấn đề này, lãnh đạo Xô viết dù có muộn màng hơn cũng không thể không biết những kẻ dốt nát theo nghĩa La tinh Hy lạp “idiot” chính là kẻ sống như thể thế giới xung quanh chẳng hề tồn tại. Hai nghị quyết 1967 và 1987, 2 biểu tượng vô nghĩa kỳ lạ của giới chóp bu Liên xô đã dìm chết, giết chết cuộc thử nghiệm xã hội tạo ra xã hội XHCN đúng đắn gây chấn động. Vấn đề là họ muốn, có 1 số thứ phải được “đúng đắn” hơn thứ khác trong xã hội này.

Vấn đề là Hội nghị 1987 – như chiến dịch có tính lịch sử mạnh. Nó không chỉ là kinh tế. Hơn nữa, A. Yakovlev trước khi chết thú nhận điều này. Ông ta kể rằng, CHÚNG TÔI CẢI TỔ KHÔNG CHỈ ĐẬP VỠ LIÊN XÔ, CHÚNG TÔI ĐẬP VỠ MÔ HÌNH LỊCH SỬ NGA NGÀN NĂM. Về điều này Yakovlev (Do thái) là kẻ hiểu rõ các kế hoạch nếu được thực hiện sẽ gây ra rắc rối, rắc rối rất nghiêm trọng. Vấn đề còn lại, theo cách cực đoan, là người đứng đầu kế hoạch, tôi nghĩ, người ta sử dụng kẻ đen tối. Dĩ nhiên, ngoài Yakovlev còn có kẻ thứ 2, thứ 3, đã xếp chỗ đầy đủ từ lâu.

Krotov: Shevarnadze, Cũng như Vadim Medvedev…

Fursov: Nhưng đây là những kẻ rất nhỏ mọn.

Krotov: Gvishiani …

Fursov: Gvishiani là kẻ nguy hiểm hơn. Shevarnadze và Vadim Medvedev thậm chí không phải con tốt, đó là đội chó chiến. Như Solonevich kể chế độ Nga Liên xô: là cái xác đã thối rữa. mà khi thối rữa, nó bỏ lại tất cả khoảng trống cho những tên trộm cướp đổ xô đến trong thập kỷ 90.

Krotov: Chú ý là số phận của những kẻ đã tổ chức tất cả điều này, Yakovlev và Gorbachev. Chúng đã bị đẩy đi, khi không còn cần đến nữa.

  1. Fursov, tháng 7 2016

Nguồn: FB Trần Vinh

Đường đứt gãy – Phần cuối


Mối quan hệ chính trị của Mỹ với Ấn Độ, một đồng minh dân chủ, không mong manh như với Trung Quốc. Nhưng phong trào chính trị phản đối thương mại với Ấn Độ có thể lại lớn hơn nhiều. Lý do là mặc dù Mỹ đã mất rất nhiều việc làm vào tay người dân cả hai nước, nhưng việc làm rơi vào Trung Quốc chủ yếu là công nhân cổ xanh trong các nhà máy, còn Ấn Độ thì chiếm việc làm công nhân cổ trắng ở văn phòng vốn có tỷ trọng cao trong tổng số việc làm của Mỹ. Thực tế thì số việc làm từ Mỹ đi sang bờ kia Thái Bình Dương là không nhiều và tương lai chắc cũng chỉ như vậy. Nhưng nếu con số này tăng lên đáng kể thì khả năng sẽ gây ra một vụ động đất chính trị ở Mỹ cũng như các nước bị ảnh hưởng tương tự. Nếu hàng chục triệu công dân các nước giàu cảm thấy bị tổn hại thì họ sẽ hành động để bảo vệ nguồn thu nhập của mình, và hành động của họ có thể sẽ gây chấn động nghiêm trọng nền kinh tế toàn cầu.

Với nền kinh tế thế giới, hai đường đứt gãy địa tầng nói trên đã bớt nguy hiểm đi nhiều so với trước tính từ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trước năm 1945, thế giới thường xuyên có các cuộc chiến tranh lớn, chủ nghĩa bảo hộ thương mại lại rất phổ biến, gây tổn thất cho nền kinh tế thế giới nhiều hơn so với về sau. Ngược lại, loại động đất kinh tế thứ ba xuất phát từ lĩnh vực tài chính lại thường xuyên xuất hiện trong những năm gần đây.

Các cú sốc tài chính hình thành do sự kết hợp của hai tâm lý tiêu cực nhất của con người – lòng tham và sự sợ hãi – với thiết kế cơ bản của nền kinh tế thị trường tự do. Có nghĩa là khó mà loại bỏ được nguy cơ hình thành nó. Thị trường càng lớn, chính sách chống khủng hoảng tài chính càng ít thì khủng hoảng càng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng. Vào kỷ nguyên thứ ba của toàn cầu hóa, thị trường đã mở rộng hơn, còn các biện pháp chống khủng hoảng lại bị thu hẹp.

Trước cú sốc tài chính tàn phá nặng nề năm 2008, các chính phủ bắt đầu phục hồi một vài biện pháp chống khủng hoảng như: quy định về vốn và giới hạn về quy mô của các tổ chức tài chính, hạn chế dòng vốn xuyên biên giới, các quy định khác nhằm quản lý ngành tài chính. Nhưng ở đâu chúng cũng gặp phải rào cản chính trị mạnh mẽ, chủ yếu từ ngành tài chính – những người bị thiệt hại nếu chúng có hiệu lực. Hơn nữa, để hạn chế được tần suất xảy ra khủng hoảng và tác động của chúng thì cần phải có một thứ mà rất khó đạt được về mặt chính trị, đó là hợp tác quốc tế về chính sách tài chính. Tất cả các nước cần cùng áp dụng những biện pháp phù hợp để cú sốc do hệ thống lỏng lẻo của nước này gây ra không lan sang nước khác.

Để nền kinh tế thế giới không còn bị ảnh hưởng bởi một cuộc khủng hoảng tài chính lớn khác trong kỷ nguyên toàn cầu hóa thứ ba – khủng hoảng liên quan đến đồng euro – thì cần hợp tác chính trị quốc tế ở mức độ cao hơn. Cuộc khủng hoảng này có nguyên nhân là sự khác biệt về đặc điểm kinh tế – với nguồn gốc sâu xa là chính trị và văn hóa – giữa các nước phía bắc và phía nam châu Âu. Triệu chứng chính là các nước phía nam gặp khó khăn trong việc vay tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách. Giải pháp là phải có sự hội nhập chính trị sâu sắc hơn nữa giữa các nước, tức là phải có thể chế quản lý có thực quyền trên toàn bộ khu vực đồng euro. Nhưng giải pháp này sẽ buộc các nước phải từ bỏ một phần quan trọng mà nước nào cũng coi là có giá trị chính trị nhất: chủ quyền quốc gia. Chủ quyền là cái không ai có thể từ bỏ trừ khi bị thua trong một cuộc đấu tranh chính trị căng thẳng. Vì vậy, đường đứt gãy thứ ba của nền kinh tế thế giới chính là tinh hình chính trị của các cường quốc kinh tế và của các thành viên đồng tiền chung châu Âu. Đường đứt gãy cuối cùng là các vấn đề nội bộ của một nhóm nước khác. Các nước BRIC – gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc – là những thành viên quan trọng nhất trong nhóm các quốc gia thị trường mới nổi. Họ có tiềm năng tăng trưởng nhanh nhất trong những thập niên tới. Cả bốn nước đều đã lựa chọn mô hình kinh tế theo hướng thị trường tự do và tham gia vào hoạt động thương mại, đầu tư xuyên biên giới. Quy mô đóng góp của mỗi nước vào nền kinh tế thế giới sau này sẽ phụ thuộc vào việc họ áp dụng các chính sách khuyến khích tăng trưởng đến đâu. Nói theo ngôn ngữ của ngành máy tính thì tất cả bốn nước đều đã cài đặt hệ điều hành phục vụ toàn cầu hóa, giờ họ chỉ còn việc chạy chương trình nào cho phù hợp nhất thôi.

Thực hiện các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là việc khó vì nó đòi hỏi mỗi nước phải xóa bỏ, giảm thiểu hoặc chống lại những truyền thống, thể chế từng được ưa chuộng trước đây, nhưng hiện tại lại cản trở tăng trưởng. Để có thành tựu kinh tế tốt nhất thì cũng như với ba đường đứt gãy nói trên, các nước sẽ không tránh khỏi xung đột chính trị. Ở Brazil là chống lại chủ nghĩa dân túy; ở Nga là tránh những tác động tiêu cực của dự trữ tài nguyên; ở Ấn Độ là chỉnh sửa những khiếm khuyết của nền dân chủ; và ở Trung Quốc là dân chủ hóa cơ chế độc tài hiện tại.

Thế giới kỳ vọng cả bốn nước sẽ thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu thông qua tăng trưởng nhanh hơn bộ ba phương Tây trong vài thập niên tới. Tốc độ tăng trưởng của BRIC phụ thuộc vào những gì đạt được từ các cuộc đấu tranh chính trị ở mỗi nước. Từ đây xuất hiện một câu hỏi: các cuộc đấu tranh chính trị ở các nước BRIC cũng như ở Mỹ, Trung Quốc và châu Âu làm thay đổi tương lai kinh tế thế giới sẽ có kết quả như thế nào? Câu hỏi này khiến chúng ta phải quay lại nghiên cứu về động đất và điểm tương tự giữa nó với nghiên cứu kinh tế toàn cầu.

Với tất cả những thành tựu đã đạt được, vẫn không ai trong chúng ta đưa ra được dự đoán chính xác. Lý do là trong cả hai lĩnh vực động đất và kinh tế, chúng ta không có cơ hội để thử. Phần thưởng lớn nhất cho giới địa chấn học là dự báo được động đất, nhưng cho dù họ đã có nhiều tiến bộ trong ngành thì việc dự báo vẫn nằm ngoài khả năgn. Dự báo chính xác tương lai kinh tế quan trọng đến mức ngành này giờ đây có trị giá hàng triệu dollar. Mặc dù những người làm nghề dự báo kinh tế được trả thù lao đôi khi rất tốt, nhưng dự đoán của họ rất ít khi đúng với thực tế.

Nhược điểm của ngành địa chấn học xuất phát từ việc thiếu thông tin chi tiết. Mặc dù các nhà khoa học hiểu rõ quá trình địa – vật lý dẫn đến động đất, nhưng chúng lại diễn ra sâu dưới lòng đất cách bề mặt trái đất hơn 16km, không thể quan sát và đo đạc được. Với nền kinh tế thị trường hiện đại, con người có thể quan sát, đo đạc nhiều nhân tố khác nhau cấu thành nên nó. Nhưng có đến hàng triệu nhân tố, và chúng lại tương tác với nhau theo rất nhiều cách phức tạp. Vì vậy, khó mà dự báo được kết quả tổng hợp của những tương tác ấy sẽ thế nào. Cái khiến cho dự báo kinh tế lúc nào cũng khó khăn hơn – thực chất là không thể – là kinh tế không thể tránh khỏi liên quan đến chính trị.

Không ai dự báo được chính trị, vì nó dựa trên hành vi của con người. Con người thì không và cũng chưa bao giờ hành động theo một cách thức chuẩn mực, cố định. Các mảng địa tầng gây ra động đất không thể thay đổi ý định di chuyển, nhưng con người thì có. Vì vậy, dự báo về tương lai kinh tế thế giới chính xác như các ngành khoa học tự nhiên mong muốn và đã làm được là bất khả thi. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn mù mờ về tương lai. Dựa trên những điểm tương tự với quá khứ và hiểu biết về các đường đứt gãy chính trị lớn, tức là các chương trước, con người có thể tự tin dự báo được một vài đặc điểm của tương lai.

Tiến bộ công nghệ liên tục trong lĩnh vực giao thông vận tải và đặc biệt là thông tin sẽ làm tiềm năng tăng trưởng của kinh tế thế giới tăng lên nhiều lần khi ngày càng có nhiều người có thể tham gia hơn. Nó cũng sẽ thúc đẩy cả số lượng lẫn giá trị hàng hóa, tiền tệ và con người di chuyển xuyên biên giới. Thị trường tự do luôn có xu hướng mở rộng, nhờ vậy, ít nhất thế giới sẽ tận dụng được một vài tiềm năng của mình. Toàn cầu hóa sẽ vẫn mang lại động lực công nghệ và kinh tế mạnh mẽ ở thế kỷ 21, giống như đã từng diễn ra hầu như suốt thế kỷ 19 và 20.

Động lực chính trị cũng sẽ vẫn tồn tại vì hai lý do. Thứ nhất, thương mại, đầu tư và di cư xuyên biên giới ngày càng mở rộng nhìn chung sẽ còn đem lại tăng trưởng kinh tế, và phần lớn người dân cũng như các chính phủ sẽ tiếp tục coi tăng trưởng kinh tế là ưu tiên hàng đầu trong chương trình hành động của cá nhân, của quốc gia mình. Thứ hai, ở trong nội bộ mỗi nước, không có lựa chọn nào tốt hơn nền kinh tế thị trường, còn với quan hệ quốc tế thì chỉ có cách hội nhập kinh tế toàn cầu. Hai phương thức khác từng được áp dụng phổ biến ở thế kỷ trước là cơ chế kế hoạch hóa tập trung và thay thế nhập khẩu – vốn không giúp các nước đi theo chúng tham gia đầy đủ vào nền kinh tế quốc tế – đã không thể đem lại tốc độ tăng trưởng cao như toàn cầu hóa. Các nước không còn lựa chọn nào khác.

Đồng thời, nền kinh tế toàn cầu sẽ phải trải qua những cú sốc do bốn đường đứt gãy gây ra. Không thể chống sốc được hoàn toàn. Tương tự như với động đất, một vài cú sốc sẽ nghiêm trọng hơn, nhưng giống như lịch sử chỉ có vài trận động đất mạnh như trận động đất ở Lisbon năm 1755, các cú sốc kinh tế trong những thập niên tới chỉ có tác động vừa phải lên dòng di chuyển hàng hóa, tiền tệ và con người xuyên biên giới. Tổn thất kinh tế mà chúng gây ra sẽ ít nghiêm trọng hơn nhiều so với hai cuộc chiến tranh thế giới hồi nừa đầu thế kỷ 20. Đại Khủng hoảng 1930 hay thậm chí khủng hoảng tài chính 2008.

Kết hợp những điểm gần-như-chắc-chắn này với nhau sẽ cho ta kết quả quan sát cuối cùng. Nền kinh tế thế giới thế kỷ 21, nếu so với phiên bản nguyên thủy thời xóa bỏ Luật Ngũ cốc năm 1846, sẽ giống như so chiếc ô tô hiện đại với phiên bản đầu tiên được sản xuất hồi đầu thế kỷ 20. Nền kinh tế phiên bản hiện tại lớn hơn, phức tạp hơn, mạnh mẽ hơn, bất ổn hơn, và chứa đựng trong nó nhiều người hơn: Bằng cách này hay cách khác, ngày nay nền kinh tế hội nhập quốc tế đang vận chuyển gần 7 tỷ người trên hành tinh. Trong những năm tới, phương tiện vận chuyển hiện đại này sẽ không dừng lại, không trượt khỏi đường đi, không có những cú va chạm chết người. Toàn cầu hóa chắc chắn sẽ tiếp tục con đường đi lên của nó, nhưng với hàng tỷ người đang ngồi trong xe, chuyến đi này hẳn là còn lắm gập ghềnh.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

20 năm phá hoại CCCP – Phần III


Fursov: Án tử hình bị bãi bỏ khoảng giữa Hội nghị đảng XIX vào tháng 6 1987 như 1 kết quả logic với những gì xảy ra vào năm 1967. Tình trạng là như thế này, một trong những yếu đuối của hệ thống Xô viết là phủ nhận CNTB ở mức độ quan hệ sản xuất, tức là chống CNTB, nhưng hệ thống Xô viết ở mức quan hệ sản xuất là hệ thống công nghiệp tương tự như của phương Tây, chỉ có điều yếu hơn. Có khu vực công nghiệp quân sự là mạnh, tất cả còn lại là yếu hơn. Còn chuyển đổi thực sự từ chống tư bản sang hậu tư bản – như ngôn ngữ tư tưởng đảng trình bày là sang CNCS, mô hình có mức độ phát triển lực lượng sản xuất cao hơn, có hệ thống sản xuất khác hơn. Cần cái gì để biến mục tiêu này thành hiện thực? Đó là cần thiết lập nền tảng khác cho hệ thống quản lý và sản xuất. Đầu tiên là quản trị, với ưu tiên là thông tin, cái mà hiện nay được gọi 1 cách tuyệt đối đúng là xã hội thông tin. Đột phá trong lĩnh vực năng lượng cần là loại bỏ phụ thuộc dầu mỏ! Cũng cần có sự bảo đảm không bị giới tư bản tấn công trong thời kỳ này, do đó, nền công nghiệp quân sự hùng mạnh, chất lượng, hiệu quả là cần thiết. Xô viết đã có tất cả những điều này trong nửa đầu thập kỷ 60 hay chưa? Dĩ nhiên đã có.

Cái lõi của hệ thống quản lý mới trên thực tế đã được Viện sĩ Glushkov thiết kế, nó được gọi là ОГАС (Hệ thống tự động hóa chung nhà nước – Обще Государственная Автоматизированная Система) (***)

*** Thực tế là OGAS đã không được Liên xô áp dụng, giới cầm quyền CS không thích điều này bởi nó hạn chế, giám sát quyền lực – quyền lợi của họ. Liên xô tan rã còn OGAS đã được các nước phương Tây như Nhật, Mỹ, Đức, Phần Lan, Thụy điển sao chép thành hệ thống tương tự và sử dụng ở mức độ nào đó. Ví dụ như thu thuế ở các nước tư bản –trốn thuế họ biết ngay lập tức và công lực đến đập cho vỡ mặt (trừ khi có quyền lực mạnh để trốn). Hay có 1 ví dụ rất thời sự: thu phí tự động các trạm BOT, mặc dù đã có quyết định từ chính phủ, nhưng họ cố trì hoãn bởi hàng chục trạm BOT là hàng trăm tỷ doanh thu mỗi ngày rất khó kiểm soát, là chia chác, là cổ phần cổ phèo với đám quan lại CS thối nát đang ngồi mát ở đâu đó. Đừng bảo tôi thù ghét CS, thù bọ CS giả đấy chứ, nói chung thù ghét bọn cặn bã thối nát là bản năng của kẻ làm người!

Krotov: Ở đây vẫn có Anatoly Ivanovich Kitov làm lãnh đạo Trung tâm máy tính BQP…

Fursov: OGAS là cái gì? Đó là 1 kiểu mô hình xã hội thông tin. Nó làm minh bạch tuyệt đối toàn bộ hệ thống. Quản trị trở thành rõ ràng như soi dưới kính lúp: anh không thể gian lận được nữa. Đó là đột phá trong xã hội thông tin.

Krotov: Đó là đột phá thì tương lai. Tôi sợ máy tính không đủ mạnh để thực hiện tất cả những điều này.

Fursov: Vấn đề là ở chỗ, về máy tính thập kỷ 60, chúng ta đã vượt Mỹ ở nhiều phương diện. Sau đó thì có quyết định ở cấp cao nhất đưa ra trong các năm 1968-1973, chúng ta dừng các công trình này lại. Logic là như thế này: Tất cả, cái gì cần thì chúng ta đi ăn cắp, do đó không phí tiền làm gì. Đó là đột phá tương lai, nhưng người ta rất sợ hãi, còn phía khác là người Mỹ. Từ thời Lyndon Johnson thậm chí họ còn lập nhóm để ngăn chặn Glushkov và công bố rút lui nếu Liên xô hiện thực hóa xong chương trình này, nói vậy nhưng đến 1970 nhóm này đã hoạt động hoàn toàn độc lập. Nhưng có phe thứ 2 lại có lợi ích ở chỗ làm sao để Glushkov không thành công, đó là giới quan chức Liên xô. Trước tiên, là giới quản trị kinh tế, những kẻ như Kosygin. Ngoài ra, quan điểm tư tưởng (thịnh hành) của CPSU với hệ thống như OGAS là không ủng hộ vì nó sẽ dẫn đến sự nổi lên của cái mà họ gọi là kỹ trị (technocrat) làm mất đi quyền lực đảng. Nói cách khác là ngoài quản trị và đảng trị, còn có cả kỹ trị, đó là 1 xu thế.

Về lĩnh vực năng lượng, Ivan Stepanovich Filimonenko đã thiết lập ra nền tảng nguyên lý mới về tổng hợp hạt nhân lạnh. Ban đầu, Ủy ban công nghiệp-quân sự CPSU ghi nhận nó như tiến hộ năng lượng và y tế, tuy nhiên sau đó, Filimonenko bị sa thải và tống cổ vào trại tâm thần.

Cuối cùng, thiên tài thiết kế hàng không Vladimir Chelomey, người phát triển động cơ phản lực đầu tiên của Liên xô, tên lửa hành trình chống tàu và ICBM, ví như “Bashmak” của ông hay còn gọi là “Zakat” như nay xuất hiện cả trong game máy tính của Mỹ, chỉ có điều ông bị Khrushchev không ưa (vì gã con hoang Do thái này thích dừng ICBM để đổi lấy hòa hoãn với Mỹ).

Nói cách khác, hiện thực hóa những điều này, 3 dự án lớn sẽ đưa Liên xô đến hậu CNTB. Chỉ có điều tất cả đã bị hủy hoại bởi đám quan lại thoái hóa biến chất. OGAS bị từ bỏ. Nhà vật lý hạt nhân, viện sĩ và cựu chiến binh WW-2 nhiều chiến công Filimonenko bị sa thải, bị thu giữ căn hộ và tống vào trại tâm thần, ông chỉ sống sót được nhờ mảnh vườn ở quê và tận năm 1994 mới được khôi phục danh dự khi đã là 1 lão già tàn tạ. Filimonenko chết 2013, còn các công trình nghiên cứu của ông thì đã mất tích khỏi mọi lưu trữ. Một ứng dụng nho nhỏ từ nghiên cứu của Filimonenko vẫn đang sử dụng: phun nước vào động cơ phản lực làm tăng công suất của nó lên 10-15%. Sau này, cả Kosygin và Brezhnev đều không ủng hộ các dự án nghiên cứu kiểu như vậy, phát triển khoa học-kỹ thuật Liên xô đã dừng lại, hoang vu, xơ xác, tụt hậu xa phương Tây.

Năm 1967, Hội nghị đảng đặt dấu chấm hết cho cơ hội đưa Liên xô từ quốc gia chống CNTB thành hậu TB. Điều này thật ngạc nhiên, khi ngay cả Trotsky cũng đã từng nói trước về sự thoái hóa biến chất của giới quan chức đảng Xô viết (mặc dù ông ta đổ lỗi này cho Stalin), ông ta viết rằng tính giai cấp (vô sản ban đầu) của họ đã biến chất và chỉ còn lại giai cấp vì chính họ. Còn Stalin thì viết rất nhiều, thí dụ, trong luận văn “Theo mức độ tiến gần đến CNXH, đấu tranh giai cấp sẽ gia tăng”. Stalin rất thường nói về đạo đức, tinh thần của cán bộ, thậm chí đặt nó lên hàng đầu và “cán bộ quyết định tất cả”. Nhưng dường như không có ai lắng nghe, hư hỏng đã xảy ra ngay khi Stalin chết, còn đến thời Gorbachev thì nó đã phô trương giữa ban ngày, chẳng còn phải vụng trộm hay giấu diếm.

Giữa 1967 và 1987 là 20 năm. Quãng thời gian này ý chí hệ thống vẫn còn thắng cái chết. Năm 1967, lãnh đạo Liên xô đã chọn từ bỏ con đường đến hậu CNTB (hay CNCS như họ vẫn khoa trương, tuyên truyền tận sau này). Một lẽ tự nhiên quãng thời gian đó đủ dài để người ta nhận ra, chỉ có những kẻ vẫn còn mơ mộng thời “Hợp tác xã Lenin” mới không thấy được đâu là hiện thực, nhưng họ lại hiểu rõ đâu là quyền lợi ích kỷ của họ, quyền lợi đó là động cơ để họ bảo toàn thực tại ảo của họ, họ không cần 1 hệ thống như OGAS của Glushkov nào cả, đơn giản là OGAS sẽ tước bỏ quyền lực độc tôn của họ. Vì nó, họ có thể mất vị trí và biểu tượng giai cấp vô sản giả của mình. Họ đã ngăn chặn Glushkov hay bất cứ sự tiến bộ xã hội-khoa học kỹ thuật nào bằng mọi cách, kể cả tống người ta vào trại tâm thần (còn người Mỹ đã học Glushkov). Không cần phải quá thông minh hay hiểu biết để nhận ra, ngay cả như là Trotsky, chỉ cần không dính dáng quyền lợi.

Cỗ máy Stalin đã tạo ra vẫn chạy sau khi ông chết, nó chạy bằng quán tính, chậm dần. Liên xô đã đạt được nhiều thành tựu ngay cả phương Tây thù địch cũng phải công nhận: chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, chiến thắng phát xít, năng lượng nguyên tử, bay vào vũ trụ, hay phá các kỷ lục thế giới. Nhưng sau tất cả, tình trạng này giống như 1 quả bom đã được hẹn giờ và chắc chắn sẽ nổ tung làm sụp đổ tất cả, còn trong khi nó chưa phát nổ, thế hệ Xô viết mới ra đời, không còn là tiên phong khám phá, phát minh khoa học kỹ thuật, hay đi đầu tiến bộ xã hội – họ chỉ còn là những chủ tiệm nhỏ mọn không tinh thần và ý chí.

Krotov: Tôi từng viết một số hồi ký cho con cháu các nhân vật nổi tiếng. Rõ ràng người ta giáo dục họ theo 1 dạng nào đó, không phải là giáo dục Xô viết gì hết. Đó là giáo dục hoàn toàn đặc biệt.

Fursov: Đó là con cái quan chức Xô viết?

Krotov: Đúng. Còn những gì hoàn toàn truyền thống thì đã biến thành trò hề. Có nghệ sĩ Anastas Mikoyan cháu của Mikoyan được biết nhiều hơn với cái tên Stas Namin, ngay khi Liên xô sụp đổ đã bắt đầu nói về việc đem xác Lenin ra khỏi lăng, anh ta đề nghị kinh doanh cái xác, cho anh ta 3 năm trưng bày ở châu Âu sẽ kiếm được 3 tỷ USD.

Fursov: Về việc này, thì những đứa trẻ thời Stalin cũng có chuyện năm 1941 khi miệt thị “đẳng cấp bẩn”. Chúng kể điều này trong hoàn cảnh nào. Khi 1 phần chính phủ Liên xô sơ tán về thành phố Kuibyshev (giờ là Samara), đã có xung đột bởi vì cha mẹ giới quan chức không muốn con cái họ đến trường học cùng con cái những người lao công ở thành phố Kuibyshev. Stalin biết được, ông lên cơn giận và lệnh cấm được nói “đẳng cấp bẩn”. Nhưng cha mẹ các quan chức vẫn lén lút nói thế rồi cho con cái họ học riêng. Nhưng cần nhắc cậu là năm 1939-1940 đã xuất hiện trường học đặc biệt đầu tiên, quá trình như thế tiếp tục thì không có gì ngạc nhiên khi con cháu quan chức phản bội lại sự nghiệp của cha ông họ.

Năm 1967, hệ thống đã từ chối đột phá đến tương lai… Ngoài ra, cũng là từ chối đột phá được ghi nhận rất chính xác trên tạp chí “Kỹ thuật-Tuổi trẻ”, từ chối cả điều kỳ diệu của chúng ta, nửa sau thập kỷ 60 cũng đã trở thành rất trì trệ. Nói thẳng theo lối lạc quan nửa đầu 60. Điều kỳ diệu của chúng ta đã biến điệu. Nói thật những thứ trước kia gọi là của Strugatsky: “Sự trở lại”, “Đứng bóng”, “Con người thế kỷ XXII” và cả Strugatsky sau này cũng đã hoàn toàn khác. Efremov viết “Tinh vân Andromedy”, còn nửa sau thập kỷ 60 ông viết “Một giờ của bò đực”, thì cuốn sách bắt đầu bị rút bỏ khỏi các thư viện. Theo lẽ tự nhiên, khi từ bỏ hướng đến tương lai thì ý tướng cải tổ XHCN Perestroika làm “hài hòa đồng điệu” với CNTB sẽ đến. Nhưng trước tiên là cải cách Liberman-Kosygin. Chỉ có điều rõ ràng, điều kiện kinh tế Liên xô XHCN không thích hợp với cái giá của TB, nó sớm thất bại để rồi cuối cùng Gorbachev xuất hiện và cải tổ 1 lần nữa cho đến sụp đổ hẳn. Liberman-Kosygin đã làm 2 việc, một là tạo ra tầng lớp lắm tiền là giới chủ tiệm (nhắc đến ở trên), và hai là, phô trương ra 1 điều rất đơn giản rằng, CNXH có thể đi trên đường ray TBCN. Chương trình của Glushkov là thiết lập CNXH ở mức độ cao hơn còn những kẻ ủng hộ cải tổ lại ưa thích CNTB hơn. Rất nhiều trong số đó đã đến phương Tây, Birman chẳng hạn, ông ta nói chúng ta chẳng cần kinh tế có kế hoạch, ở đó phương Tây kế hoạch không hoạt động và kế hoạch thực sự có “50 năm” cũng không kết quả. Từ bỏ kế hoạch hóa (aka từ bỏ kinh tế Stalin) phép màu Xô viết kết thúc. Cần tiến lên trong tương lai – là đề nghị của Glushkov. Cái khác phải chọn là cải tổ thị trường, thứ đem đến cái gì chúng ta đang đề cập bây giờ.

(còn tiếp)

A. Fursov, tháng 7 2016

Nguồn: FB Trần Vinh

Đường đứt gãy – Phần đầu


Ngày 1/11/1755, ngày lễ Chư Thánh, một vụ động đất mạnh đã xảy ra ở Lisbon, thủ đô Bồ Đào Nha. Nó gây ra thiệt hại trên diện rộng. Có đến 50.000 người thiệt mạng. Ước tính khoảng 85% nhà cửa trong thành phố bị sập. Ở tận Phần Lan người ta cũng cảm nhận được chấn động. Thảm họa đã khiến người châu Âu thay đổi cách nhìn về thế giới và bản thân. Cả giới tu hành lẫn thế tục đều suy ngẫm về nó. Voltaire và Rousseau, hai trí thức đỉnh cao của thế kỷ 18 đều viết về ý nghĩa của nó.

Vụ động đất cũng tạo cảm hứng để một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất thế kỷ 18 khác là Immanuel Kant đưa ra học thuyết về nguyên nhân của động đất. Thủ tướng Bồ Đào Nha lúc đó, Sebastiӓo de Melo đã đặt hàng tất cả những thông tin có thể có về vụ động đất và ảnh hưởng. Phản ứng của tất cả mọi người trước thảm họa đã đánh dấu thời kỳ bắt đầu nghiên cứu về động đất một cách có hệ thống, nay được gọi là ngành địa chấn học; giống như cuốn sách chuyên khảo Của cải của các quốc gia của Adam Smith ra đời 20 năm sau ở Edinburg đã đánh dấu sự khởi đầu của việc nghiên cứu hệ thống kinh tế học nói chung và kinh tế quốc tế nói riêng. Hai sự kiện đều có những điểm chung quan trọng.

Trong suốt một thế kỷ rưỡi từ khi địa chấn học và kinh tế học ra đời, con người đã học được rất nhiều về các vụ động đất, về các nền kinh tế. Sinh viên mỗi ngành đều hiểu chi tiết động đất và kinh tế diễn ra như thế nào. Nguyên nhân của động đất là sự dịch chuyển của các mảng địa tầng, gồm hai tầng đất cứng dưới bề mặt Trái Đất. Cần lưu ý là lý thuyết này mãi đến những năm 1960 mới được các nhà khoa học đồng thuận, rất lâu sau khi Adam Smith đặt nền móng cho lý thuyết về kinh tế thị trường.

Động đất là giai đoạn bất ổn của bề mặt Trái Đất. Nền kinh tế toàn cầu cũng có vẻ bất ổn, nhưng theo một cách khác. Nhưng trong cả hai lĩnh vực, con người đều có thể biết nguồn gốc của bất ổn nằm ở chỗ nào. Động đất diễn ra dọc theo các đường đứt gãy trên bề mặt Trái Đất. Các cú sốc kinh tế toàn cầu cũng xuất phát từ đường đứt gãy theo nghĩa của riêng nó: các mảng địa tầng di chuyển gây ra động đất trong kinh tế chính là nền chính trị của các nước lớn. Chính trị chi phối kinh tế. Adam Smith hiểu rõ điều này khi gọi ngành nghiên cứu của ông là “kinh tế chính trị”. Chính trị, đặc biệt là kết quả của các cuộc xung đột chính trị là yếu tố gây ra biến động kinh tế. Vì vậy, nền chính trị của các quốc gia sẽ quyết định tương lai của nền kinh tế thế giới.

Các nhà địa chất học đã tìm ra những điểm đứt gãy chính trên bề mặt Trái Đất. Tương tự, dựa vào lịch sử 150 năm toàn cầu hóa, cũng có thể xác định bốn đường đứt gãy lớn của kinh tế toàn cầu và vấn đề chính trị ẩn sau chúng.

Đầu tiên là bối cảnh quốc tế, gồm những dịch vụ được gọi là “hàng hóa công cộng toàn cầu” mà mọi nền kinh tế đều cần để hoạt động trôi chảy. Dịch vụ an ninh hoặc sẽ phải do Mỹ cung cấp cho cả thế giới, hoặc sẽ hoàn toàn không có. Mỹ phải kiềm chế hai quốc gia hiếu chiến ở hai vùng Đông Á và Trung Đông – Bắc Triều Tiên và Iran – để đảm bảo sự ổn định cho các hoạt động kinh tế diễn ra hiệu quả. Mỹ cũng có trách nhiệm không để cho Trung Quốc theo đuổi kế hoạch chiếm đóng Đài Loan và vùng biển ngoài lãnh hải Trung Quốc – những hành động làm tê liệt thương mại, đầu tư, sản xuất ở Đông Á. Nếu Mỹ không làm thì cũng không một quốc gia hay một nhóm quốc gia nào khác có thể thực hiện được. Thực tế là sau cuộc chiến mệt mỏi kéo dài ở Afghanistan và Iraq, nợ quốc gia nặng nề và ngày càng tăng, lại phải đối mặt với mất khả năng chi trả phúc lợi cho người già trong những năm tới, có thể Mỹ sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ. Nếu như vậy thì thế giới sẽ bất ổn hơn, kém thịnh vượng hơn.

Việc Mỹ có tiếp tục kiểm soát được tình hình ở Đông Á và Trung Đông hay không và đến mức nào sẽ phụ thuộc vào bối cảnh chính trị nội bộ của Mỹ. Khả năng Mỹ cung cấp dịch vụ kinh tế quan trọng cho cả nền kinh tế toàn cầu, cụ thể là thị trường cho hàng xuất khẩu, sở hữu đồng tiền mà các nước dự trữ cũng phụ thuộc tương tự. Những vai trò này không nhất thiết phải thuộc về một mình Mỹ. Nhưng các nước khác, gồm Đức, Nhật, Trung Quốc có đóng góp được gì hay không thông qua tiêu dùng nhiều hơn (và tiết kiệm ít hơn), đồng euro và đồng NDT có trở thành đồng tiền mà nhà nước nào cũng muốn nắm giữ bên cạnh đồng USD hay không cũng phụ thuộc vào tình hình chính trị các nước đó. Mà chính trị các nước này sẽ phức tạp vì trong mọi trường hợp, các chính sách ủng hộ kinh tế toàn cầu đều ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhóm lợi ích trong nước vốn được giữ rất chặt và được bảo vệ quyết liệt.

Xung đột lợi ích liên quan đến cả đường đứt gãy thứ hai của nền kinh tế toàn cầu: đó là va chạm thường xuyên, không thể tránh khỏigiữa người được và kẻ mất từ dòng di chuyển tiền tệ, con người và hàng hóa xuyên biên giới. Trong phần lớn thế kỷ 20, dòng vốn di chuyển trên toàn cầu không được ưa chuộng. Đầu tư nước ngoài vào đất đai, nhà xưởng hoặc cổ phần trong các doanh nghiệp thường bị phản đối dữ dội. Đến thế kỷ 21, tình hình không như vậy nữa. Vốn nước ngoài từng bị tẩy chay vì bị coi là công cụ xâm lược. Nhưng hiện tại, nó được chào đón nhất ở những nước từng phản đối nó, ví dụ Trung Quốc, vì nó tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế.

Dòng di chuyển con người, tức là nhập cư, thì có tiềm năng tạo ra cú sốc tích cực lớn nhất cho nền kinh tế toàn cầu. Khi các nước giàu mở rộng cửa với người lao động từ các nước nghèo thì sản ượng trên toàn cầu sẽ tăng vọt. Nhưng chuyện ấy sẽ không xảy ra, vì cho dù nhập cư có tác động tích cực về mặt kinh tế thế nào đi nữa thì nhiều người dân trong nước vẫn thấy nhiều khía cạnh quan trọng hơn tiền bạc trong cuộc sống của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng: phong tục, giá trị và nét đặc trưng.

Có hai nơi mà nhập cư gây tranh cãi nhiều nhất, và tư tưởng chính trị của hai nơi cũng rất khác biệt. Ở Mỹ, với lịch sử 200 năm chào đón người nhập cư, thái độ phản đối sẽ suy yếu dần cho dù không mất đi hẳn. Dòng người nhập cư vào Mỹ sẽ tạo ra sức mạnh kinh tế cho Mỹ trong tương lai, giống như đã từng diễn ra trong quá khứ.

Ngược lại, ở châu Âu, nơi không có truyền thống nhập cư như Mỹ, gần đây đã thất bại rõ ràng trong việc đưa người nhập cư hòa đồng với xã hội thì vấn đề nhập cư và cả người nhập cư sẽ gặp phải thái độ tức giận, phản đối ngày càng tăng. Nhưng phong trào chính trị phản đối nhập cư sẽ không nghiêm trọng đến mức dẫn đến xung đột sắc tộc, quốc gia và tôn giáo như đã từng diễn ra ở bán đảo Balkan những năm 1990 và ở Trung Đông ngày nay; đồng thời cũng sẽ không ảnh hưởng đáng kể lên hoạt động kinh tế toàn cầu. Ảnh hưởng kinh tế lớn nhất là làm mất đi lợi ích: Nếu có nhập cư thì tăng trưởng kinh tế ở châu Âu và do đó ở cả thế giới sẽ tăng.

Dòng di chuyển xuyên biên giới thứ ba là hàng hóa và dịch vụ là thứ không nên tranh cãi nhất. Nhờ nguyên tắc lợi thế cạnh tranh, thương mại luôn đem lại lợi ích ròng dương cho tất cả những nước tham gia. Nhưng chưa bao giờ thương mại được hoàn toàn tự do. Hiện tại, tự do thương mại đang ở đỉnh cao nhất trong lịch sử, nhưng vẫn có nguy cơ bị gián đoạn đáng kể giữa Mỹ và châu Âu phạm vi hẹp, cũng như giữa Trung Quốc và Ấn Độ.

Thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia, nhưng lại dễ bị ảnh hưởng bởi phong trào chính trị ở Mỹ vì ba lý do: Thứ nhất, mặc dù không phải nguyên nhân duy nhất, nhưng nó cũng làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng ở Mỹ. Thứ hai, nhiều người Mỹ cho rằng Trung Quốc đang vi phạm nguyên tắc thương mại, chẳng hạn chủ động duy trì giá trị đồng nội tệ ở mức thấp. Thứ ba, hai nước mâu thuẫn với nhau về vấn đề Đông Á, đến mức nếu họ thể hiện quan điểm mạnh hơn,  nhất là tỏ thái độ thù địch hơn thì thương mại hai bên sẽ bị gián đoạn. Cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho toàn cầu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

20 năm phá hoại CCCP – Phần II


Fursov: Tại sao khi đó ông ta cắp nách cuốn sách Lenin?

Krotov: Để chứng tỏ lòng trung thành của ông ta, mặt khác cũng là để bổ xung thêm giá trị mỗi lời của ông ta. Thời đó người ta rất thường hay dùng trích dẫn Lenin trong mọi trường hợp. Gennady Melikyan kể cho tôi năm 1990, ông ta là Bộ trưởng lao động khi đó và viết luật về cổ phần, còn trong BCT và bộ, họ báo cáo ông ta đã đạt được gì. Luật là ngắn và đơn giản. Khi đó chẳng ai trong chúng ta đưa ra cổ phần như thế. Và bỗng nhiên thư ký Biryukova đến hỏi: Tại sao các vị đưa vào luật của mình cổ phần có đặc quyền? Mikhail Gorbachev luôn luôn tỏ ý chống lại đặc quyền, vậy thì ai cho phép các vị? Giải thích nó, cổ phần đặc quyền là không thể trong thực tế thông thường ở phương Tây.

Fursov: Đó là theo nguyên tắc: cánh cửa là vật đệm vì nó được đặt vào đó.

Krotov: Hãy quay lại Hội nghị. Hội nghị đã làm 1 số thứ, Đầu tiên, sau Hội nghị theo qui định luôn luôn phải thông qua Hội đồng Xô viết tối cao, đó là theo luật về Hoạt động nhà nước phải phê chuẩn quyết định của Hội nghị, sau 1 thời gian, đã có 11 nghị quyết được thông qua, trong đó có 1 số là cực kỳ quan trọng. Đó là Nghị quyết về cải tổ Ủy ban kế hoạch nhà nước. Nhìn chung ý tưởng là nghiêm trọng, nó đề nghị loại bỏ kế hoạch hóa có tính chỉ đạo ra khỏi hệ thống và đưa vào 1 số chỉ tiêu kiểm soát có tính chất chìa khóa, cần thiết để thi hành. Hơn nữa, Nghị quyết này trên thực tế đề nghị bãi bỏ Ủy ban phân phối vật tư-kỹ thuật nhà nước và chuyển sang hệ thống giao dịch hàng hóa. Khi không có Ủy ban phân phối, việc cung ứng khi đó thực tế được chuyển cho Ủy ban kế hoạch nhà nước, đây là bước tiếp theo 1 cách tự nhiên. Vấn đề quan trọng là sự thay đổi trong lĩnh vực cải cách Bộ tài chính.

Trước thời Ryzhkov làm lãnh đạo và Hội nghị tháng 6 thì hệ thống tài chính được xây dựng theo cách để doanh nghiệp bất kỳ nào cũng nằm ngoài sự phụ thuộc vào các chỉ số kinh tế và số thuế qui định phải thu cũng như ngay cả vốn lưu động. Do đó, ngân sách luôn luôn là cố định. Thời Ryzhkov sau Hội nghị, thì hệ thống trở thành phụ thuộc vào các chỉ số kinh tế. Sau đó thì vấn đề làm đầy ngân sách xuất hiện. Sự thay đổi nghiêm trọng đã bị Gvishiani đẩy đến trong mối liên quan với Ủy ban khoa học kỹ thuật. Quyền hành của nó bị phóng đại, rồi thay đổi rất nghiêm trọng xảy ra trong cải tổ hệ thống ngân hàng. Quyết định thành lập 6 ngân hàng đặc biệt được đưa ra: Ngân hàng tiết kiệm (Gostrudsberkassy) bị chuyển cho Sberbank, Vnesheconombank thành lập trên cơ sở của Vneshtorgbank, Promstroibank lập trên cơ sở của Stroybank, Zhilsotsbank và Rosagrobank ra đời. Hệ thống cấu trúc bên trong thay đổi hoàn toàn.

Cho đến trước khi bị thay đổi thì hệ thống ngân hàng như thế nào? Đó là Ngân hàng nhà nước thống nhất với 5500 chi nhánh và hệ thống MFO duy nhất (quan hệ với tài chính quốc tế), hệ thống luân chuyển phân nhánh. Trong hệ thống này có cái tủ lớn toàn liên bang. Chẳng có gì có thể biến mất từ đó. Hàng năm mỗi chi nhánh tiến hành xử lý số liệu thu chi. Hệ thống hoạt động theo cách để nếu như ai đó cần tiền, thì họ có thể cầm tiền từ cái tủ này, và sau đó trả lại. Khi không có ngân hàng đặc biệt, thì họ có tài chính riêng. Ngân hàng đưa ra chế độ hạch toán. Và kết quả là, quanh cái tủ này cộng đồng trở thành một gia đình. Thế rồi bắt đầu có những kẻ chui vào cái tủ này, chúng làm trung gian quan hệ. Còn nếu như kể đến, thì theo luật “Về hợp tác xã”, ngân hàng thương mại đầu tiên đã được lập ra tháng 8 1988, rồi cuối cùng hệ thống ngân hàng đã bị xới tung lên.

Nhưng tất cả 3 luật lớn mà theo quan điểm của tôi, đã hủy diệt hệ thống của chúng ta nhiều hơn cả, là như sau:

1.Luật về doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp đã không còn lập kế hoạch, để định hướng tất cả các chỉ tiêu như trước kia, họ chọn 1 số chỉ tiêu, trong đó có đơn đặt hàng nhà nước. Tự nó là kế hoạch cho tất cả những gì còn lại. Vấn đề quan trọng thứ 2. là hạch toán đầy đủ và tự chủ tài chính hoàn toàn. Vorotnikov đã rất phẫn nộ, nhưng họ chẳng nghe ông ta. Ông là Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng RSFSR, hiểu rõ vị trí thật của nhiều doanh nghiệp, ông hiểu rằng, nếu đem các doanh nghiệp thua lỗ vào hạch toán, thì sẽ dẫn đến hoặc phá sản, hoặc tăng giá dữ dội, vì thể mà đẩy doanh nghiệp này ra tự chủ tài chính. Thứ 3. là tự chủ CNXH. Nó ngụ ý là, bắt đầu từ doanh nghiệp và kết thúc ở tổ đội, họ bắt đầu đưa vào nền dân chủ sản xuất. Đó là lựa chọn của các giám đốc, etc. Ở đó có khả năng các tổ chức cao hơn dừng lại, nhưng sợ dùng điều này. Quan hệ với tổ chức cao hơn là như sau: quan hệ chiều đứng mất đi, quản trị chiều đứng sụp đổ, hỗn loạn bắt đầu. Sau đó, sự cung ứng là theo quan hệ trực tiếp và cả một chuỗi những thứ khác.

Fursov: Nikolay Ivanovich, thế là cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu ra thế giới…

Krotov: Khi đó vẫn chưa. Quan hệ kinh tế với nước ngoài chỉ dành cho các doanh nghiệp rất lớn. Họ có thể xuất khẩu theo sự cho phép, độc quyền (nhà nước) vẫn chưa bị phá bỏ. Lỗ hổng ở dạng doanh nghiệp liên doanh đã được tạo ra.

Fursov: Vào thời điểm nào đó, trong năm 1989 thực sự đã bắt đầu có sự xuất khẩu của doanh nghiệp ra thị trường thế giới, đô la quay về thay cho đồng rub và 1 số lớn rub chẳng mua được cái gì, còn dân chúng mua những thứ có thể tồn trữ lâu dài để tránh mất giá: muối, bột giặt, xà phòng, thâm hụt bắt đầu giết chết thị trường tiêu dùng.

Krotov: Thâm hụt đã bắt đầu năm 1988. Điều này trước tiên liên quan đến luật doanh nghiệp. Điều này đã xảy ra sau khi áp dụng luật này và luật sau đó về hợp tác xã tháng 5 1988. Người ta đã đặt các hợp tác xã vào trong điều kiện rất kỳ lạ. Đó là các doanh nghiệp không phải nhà nước và họ có thể không chú ý đến các chỉ đạo, đến tình hình hạn chế mà doanh nghiệp nhà nước cần phải tuân thủ. Họ không có trách nhiệm báo cáo, hay giữ giá cả. Do đó khi tất cả doanh nghiệp được lập ra, như đã đề cập hiện nay, các doanh nghiệp con, mà bấy giờ là hợp tác xã. Lãnh đạo doanh nghiệp lập ra cả loạt hợp tác xã, qua đó họ bán những đơn hàng quan trọng nhất, tốt nhất. Sau điều này, giá cả tăng vọt cộng thêm 1 điều là các hợp tác xã bắt đầu rút hàng hóa ra khỏi việc trao đổi với nhà nước, họ chế biến và làm hàng riêng, sau đó, thâm hụt nổi tiếng xuất hiện giữa năm 1988. Còn nếu chúng ta xét đến cuộc đấu tranh vì sự lành mạnh vẫn tiếp tục và sự sụt giảm giá dầu, nó gần như đã hoàn thành cấu trúc.

Vẫn còn 1 vấn đề quan trọng cần chú ý là luật về cho thuê được thông qua. Nó trông như vô hại. Cho đến lúc đó chúng ta có doanh nghiệp cho thuê, một loạt doanh nghiệp cho thuê cho đến 1987. Đặc điểm phá hoại nằm ở đâu? Abalkin bị coi là 1 trong những tác giả chính của luật này. Yasin: “Chúng ta trong những năm cải tổ cần điều khác. Cần giữ khuân phép XHCN, đó là sở hữu công nhà nước về phương tiện sản xuất để tăng cường động lực cho những người sử dụng nó, cho tập thể lao động. Trao nó cho doanh nghiệp trên thực tế là việc làm bất hợp pháp. Bởi vì doanh nghiệp được xác định như phức hợp tài sản (sau đó đã xảy ra không ít đau khổ), khi đó sự toàn vẹn của nó có thể bị đem cho thuê. Làm xuất hiện khái niệm doanh nghiệp cho thuê.” Đó là thời kỳ thay đổi, trên thế giới không ở đâu có điều này, đem cho thuê doanh nghiệp, khi đó 1 công ty có thể bị đem cho 1 công ty khác. Vì thế người ta đã nghĩ ra các tổ hợp quản lý tài sản. Đồng thời viết luật rằng, các đại diện pháp nhân có quyền cho thuê. Thế là các doanh nghiệp vận dụng, khi đó họ tính giá trị còn lại chỉ vài copek và cho các pháp nhân mới thuê. Đó là trong thời Xô viết. Nhờ điều này mà tư nhân hóa đã thực sự diễn ra. Tư nhân hóa thực sự. Một số lượng lớn các doanh nghiệp như thế, khoảng vài nghìn, có hàng triệu lao động làm việc ở đó. Cho thuê tạo ra khả năng lý tưởng mà không bị rắc rối để nắm lấy cái mỏ tuyệt vời mà để thực hiện nó, theo nguyên tắc là cần có kế hoạch.

Fursov: Có luật về Hợp tác xã, luật cho thuê và luật về xí nghiệp nhà nước. Theo quan điểm của cậu, bộ 3 luật này đã bẻ gãy xương sống nền kinh tế Xô viết cùng đời sống xã hội, kinh tế Xô viết. Tôi nghĩ rằng, không Gorbachev, cũng chẳng Ryzhkov hiểu được hậu quả hành động của họ.

Krotov: Có lẽ người ta đã giải thích cho Gorbachev điều này nghĩa là gì. Bởi vì nhớ rằng mùa thu tháng 10 (người ta đã tạo ra cái gì đó và sau đó đi đến các vùng để quan sát), Gorbachev đến Leningrad, ở đó ông ta nói rằng, chúng ta đang đợi một thời kỳ khó khăn và chúng ta như người bảo vệ cần trải qua nhiều điều, cần chịu đựng. Ngay sau đó là Hội nghị XIX vào năm sau, nó đã giết chết mọi ý tưởng…

Fursov: Và tổ chức đảng, thực tế thì cho đến khi bỏ điều 6 (**), đã tước đoạt của CPSU rất nhiều chức năng.

** Điều 6 Hiến pháp 1976 qui định đảng CPSU là lực lượng lãnh đạo, dẫn dắt Xô viết…

Krotov: Đúng. Ở đây có khẩu hiệu đẹp đẽ: “Tất cả chính quyền thuộc về Xô viết”, Xô viết đã được tạo ra…

Fursov: Và vẫn, nếu cậu nhớ, có chủ đề như thế này: tại Hội nghị, người ta khuyến nghị Bí thư thứ nhất làm Chủ tịch Xô viết. Mánh khóe gì ở đây? Đầu tiên người ta chọn cậu làm chủ tịch vùng, hay hội đồng thành phố, nhưng cậu được chọn không chỉ trong đảng, mà cả ngoài đảng. Đảng nắm từ trên xuống dưới.

Krotov: Anh nhớ câu nổi tiếng thời đó, khi Gorbachev diễn thuyết ở Novosibirsk: “Tất cả những điều tồi tệ đang xảy ra, xảy ra trên tầm trung của đảng, các bạn gây áp lực với nó từ bên dưới, còn chúng tôi sẽ thúc ép từ bên trên”. Sự phá hoại trên thực tế là có cấp bậc. Tại Hội nghị là Đại hội, như hoạt động thường lệ. Ở đó có các bầu chọn trên cơ sở thay thế, đề cử các ứng cử viên vào các tổ chức xã hội. Thực sự là chúng ta chọn tất cả, nhưng lại làm mình thành cái bậc thềm cửa hậu nào đó. Nhóm quốc tế được chấp nhận vào các tổ chức xã hội. Cộng thêm việc bỏ phiếu thuận bí mật cho chức vụ Chủ tịch Xô viết tối cao. Ông ta không quyết định tổ chức bầu cử trực tiếp. Đó là bầu Xô viết tối cao, nhưng sẽ diễn ra sớm. Năm 1987 và đầu 1988 là năm chìa khóa.

Fursov: Đó là lúc mà đất nước đi qua điểm không thể quay lại.

Krotov: Đó là trạng thái tê liệt gì đó. Cả 1 đội ngũ lớn đã được lập ra, những kẻ này không cho phép quay lại. Cơ sở xã hội cũng đã được tạo ra. Đầu tiên là các ngân hàng, một số lượng lớn các doanh nghiệp, НТТМ (ban Khoa học kỹ thuật đoàn viên Komsomol) được rót 1 lượng lớn tiền mặt – thực sự là cỗ máy rửa tiền cỡ lớn. Giới bề trên kinh tế trong tương lai cũng đã được tạo ra trong thời gian này. Smolensky xuất thân từ doanh nghiệp xây dựng, Khodorkovsky nhuộm quần jeans, Prokhorov và Khloponin có doanh nghiệp hóa chất lớn cho thuê và thuê các sinh viên trường tài chính. Thực sự tất cả đều bắt đầu như thế và là những tư sản đầu tiên khi đó, còn thuế thì rất dễ chịu chỉ có 3%, trong khi có vô số kinh doanh ngầm để kiếm tiền và rửa tiền. Họ bỏ vốn kiếm lời, trả 3% và tiền được rửa sạch sẽ.

(còn tiếp)

A. Fursov, tháng 7 2016

Nguồn: FB Trần Vinh