Điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng xã hội chủ nghĩa – Phần cuối


Đảng Cộng sản nắm được chính quyền thì nhiều vấn đề đã được đặt ra khác với trước đây là đảng có thể xây dựng được nền kinh tế thị trường kiểu khác với kiểu thị trường tư bản chủ nghĩa, là thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với Việt Nam và thị trường xã hội chủ nghĩa với Trung Quốc. Để điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng xã hội chủ nghĩa thì trước hết cần phải có chủ thể để tiến hành công việc đó. Chủ thể này cần có năng lực học hỏi, đúc rút kinh nghiệm từ các sai lầm, tổng kết thực tiễn và đề ra được các lý luận mới để điều hành nền kinh tế siêu vĩ mô.

Do tính chất có nhiều bí mật trong hoạt động của kinh tế siêu vĩ mô nên tiến trình hoạt động thực tiễn là có thể coi như là một công việc chưa có tiền lệ đối với mỗi xã hội, trong đó phải tạo nên được những tạo phẩm phi vật thể chi phối hành động của các nhóm chủ thể ở cả ba tầng mức siêu vĩ mô, vĩ mô, vi mô, mà làm được những việc phối hợp với nhau hành động vì mục đích chung nào đó trong nền kinh tế xã hội.

Những điều không mong muốn diễn ra trong thực tế, nhịp độ phát triển, sự tác động và phân phối các nguồn lực trong xã hội luôn luôn làm nảy sinh những vấn đề mới, và khi phát triển sang trạng thái mới luôn đòi hỏi phải nhanh chóng nhận diện ra và có đối sách phù hợp.

Phải thiết lập được sự điều hành kinh tế siêu vĩ mô, phải nắm được và sử dụng thành thạo các công cụ hiện có của nó, phát minh ra các công cụ mới thì mới có thể điều hành định hướng theo mục đích nào đó. Bằng sự hiểu biết hơn sự vận hành của nền kinh tế hiện đại và tìm được cách đi riêng của mình, trong thời gian tới, sự phát triển kinh tế đất nước sẽ có những bước phát triển bền vững Phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô, Đảng có cách bơm tiền vào để giải quyết những vấn đề xã hội như lập các quỹ hưu trí, các quỹ này có những nguồn tiền từ những nguồn gốc chính đáng mà khi hoạt động thì được bơm tiền vào từ các kênh khác. Một quỹ lương làm ăn có hiệu quả thì việc cải thiện thêm cho người về hưu là đương nhiên. Cần phải tổ chức hoạt động và phát triển via trò điều hành kinh tế siêu vĩ mô của đảng của giai cấp vô sản, quan đó các công cụ mới mạnh mẽ tác động tới kinh tế xã hội, tạo ra được các nguồn lực mới, huy động được các nguồn lực còn tiềm ẩn trong xã hội phục vụ các mục tiêu xã hội. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô là tận dụng được sự phân công lao động quốc tế để làm cho đời sống nhân dân giầu lên. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có trọng trách cảnh báo và bảo vệ xã hội chống lại các cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ, năng lượng… do bên ngoài gây ra.

Do bản chất quốc tế của mình, những người vô sản san xẻ cho nhau kinh nghiệm điều hành kinh tế vĩ mô, và phối hợp hành động để có được sự điều hành chung tốt hơn, vì điều đó đem lại sự ổn định làm tiền đề phát triển kinh tế. Nhưng việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô lại mang đặc thù của mỗi nước, mà lại có những bí mật không dễ gì sản xẻ.

Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể đạt được khi các nhánh của tư bản hậu công nghiệp đã đạt được đến những đỉnh cao, và điều này chỉ có thể đạt được khi chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có tầm hoạt động quốc tế rộng lớn.

Thiếu tiền, thiếu vốn, lúc nào cũng căng thẳng về vốn cho sự phát triển, vậy vốn ở đâu? Chỉ có bình diện điều hành kinh tế siêu vĩ mô mới cho được câu trả lời; hoạt động điều hành kinh tế siêu vĩ mô sẽ đem lại vốn đó, không những cho sự phát triển hiện tại mà còn cho sự phát triển tương lai. Nếu như chủ nghĩa Marx – Lenin đã chỉ cho giai cấp vô sản con đường tự giải phóng mình, thì một xã hội cũng cần phải biết cách tự phát triển mình. Sự phát triển các công cụ kiểm soát, thông tin liên lạc, xử lý dữ liệu đã đem lại khả năng mới cho chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô để mở rộng thêm tầm hoạt động, giải quyết được sự phân cắt về nguồn vốn, về thông tin, về trình độ phát triển.

Trong nền kinh tế thị trường, người giầu hôm nay có thể là người trắng tay ngày mai khi cổ phiếu họ đang nắm giữ bị mất giá. Khi người ta có tài sản, mà những tài sản đó bị mất một cách trắng trợn thì điều đó gây ra những xáo động xã hội vì người dân cho rằng chính phủ đã bất lực để cho họ bị ăn cướp trắng trợn đến như vậy. Khi một xã hội nào đó giàu lên đến mứ nhất định thì xã hội đó là một miếng mồi cho các thế lực điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước khác tính chuyện thôn tính, vì như thế mới bõ công sức của họ. Lúc đó người dân của xã hội đó có những tài sản mà dễ sang tên đổi chủ cho những người khác, có những tài sản dễ bị đánh cướp nhất bằng những thủ đoạn và phương tiện của kinh tế thị trường. Người ta thấy rằng khi một xã hội có thu nhập bình quân đầu người là khoảng 3000 USD/năm thì tình hình dễ có xung đột xã hội. Đó là thời điểm mà các cuộc tấn công kinh tế từ bên ngoài vào một nước được triển khai, vì đó là điều đáng bõ công làm đối với các trùm tư bản.

Đảng phải có cách bảo vệ các tài sản của nhân dân, bảo vệ các giá trị cổ phiếu cho nhân dân, bảo vệ các tài sản quốc gia, sao chuyển các giá trị tài sản từ các khu vực bị suy thoái sang những khu vực mới nhằm cứu vãn giá trị của các doanh nghiệp trước khi bị xế chiều. Những việc làm này của Đảng là vì quyền lợi của nhân dân, vì quyền lợi của quốc gia.

Trong mọi việc, công cuộc giáo dục toàn xã hội về việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua sự phát triển tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là một công việc trung tâm, và cần có những hình thức phù hợp. Vấn đề là phải có bước tiến về bình diện hoạt động mới của xã hội, chiếm được các trận địa đó, rồi lùi lại hoặc thoái lui trên vấn đề cục bộ nào đó mà không sợ bị ảnh hưởng đến toàn cục, vẫn giữ được các thành quả chủ yếu của mình. Sự phát triển lý luận của Lenin đã làm được như vậy kkhi nhà nước của giai cấp vô sản đã đứng vững qua cuộc đấu tranh hết sức ác liệt với thù trong giặc ngoài thì nhà nước đó chủ động phát triển các hình thái của tư bản mà không sợ định hướng xã hội chủ nghĩa bị ảnh hưởng về lâu dài. Việc đảng độc quyền lãnh đạo phát triển chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô cũng vậy.

Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, đảng cách mạng phối hợp các hoạt động bí mật và công khai một cách nhuần nhuyễn, và thậm chí khi cần thiết, hay khi tình thế bắt buộc, sẵn sàng rút toàn bộ hoạt động của mình vào vòng bí mật. Trong cuộc đấu tranh giành thắng lợi về kinh tế, đảng cách mạng cũng phải phối hợp các hoạt động bí mật và công khai một cách nhuần nhuyễn. Không làm như vậy thì không thể thành công được, thậm chí không có phương tiện chống đỡ được các cuộc khủng hoảng do các thế lực thù địch bên ngoài gây ra, không có phương tiện chống đỡ các cuộc tấn công ăn cướp tài sản quốc gia, tài sản của công dân nước mình do các thế lực tư bản gây ra.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Advertisements

Điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng xã hội chủ nghĩa – Phần XVI


Hoạt động điều hành kinh tế siêu vĩ mô có thể được định hướng theo nhiều mục đích khác nhau. Tư bản hậu công nghiệp đem lại cho xã hội cách hành xử mới, buộc các quyền lực xã hội khác phục tùng nó. Tư bản chiếm ưu thế về thời gian. Tư bản hậu công nghiệp và kinh tế học siêu vĩ mô thể hiện vai trò to lớn của lý luận trong việc tạo nên nguồn lực mới trong sự phát triển kinh tế, thể hiện tính mở lối dẫn đường của lý luận đối với các hoạt động thực tiễn. Thực tiễn buộc người ta phải đổi mới tư duy chứ không có chuyện tư duy buộc thực tiễn theo các mô thức của nó. Trong xã hội, người ta phải sống với rất nhiều người có tư duy khác nhau, rất nhiều người có mục đích khác nhau, và có nguồn lực khác nhau để tác động đến những thứ gì đó. Với những sức mạnh đó tác động làm cho một người nào đó, một nước nào đó muốn sống cách ly cũng không được mà phải tích cực hội nhập với thế giới, giải quyết được những vấn đề phát triển kinh tế, phát triển xã hội của mình trong hoàn cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng. Thực tiễn cần được nhìn nhận không phải là những gì đã đạt được mà là theo góc độ nỗ lực tìm ra con đường phát triển của đất nước lên tầm hiện đại. Thực tiễn cần phải được nhìn nhận theo nhiều kiểu, trong khi đó một đối tác nước ngoài có thể quan niệm thực tiễn khác với những người Việt Nam về những gì đất nước đang trải qua. Thực tiễn này có tạo được đà rút ngắn khoảng cách phát triển trong tương lai hay không? Thực tiễn phải được xem xét theo góc độ những tạo phẩm phi vật thể nào đã, đang được hình thành mà sẽ chi phối hoạt động trong tương lai.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là thiết lập cách thức vượt qua sự phân cắt do các loại sở hữu đưa lại bằng cách điều hành kinh tế siêu vĩ mô ở trình độ cao, nhạy bén, đủ sức giải quyết các vấn đề chi tiết trong quan hệ toàn cục, chuyển các sở hữu thành hình thức sở hữu xã hội cao hơn, và có cách khai thác chúng. Định hướng xa hội chủ nghĩa có cách giải quyết những vấn đề sở hữu, duy trì sở hữu ở những điểm có lợi cho phát triển, và ngăn chặn những sự sở hữu tràn lan vô lói, như sở hữu tên riêng. Vấn đề không phải xóa bỏ sở hữu mà là xã hội phát triển các phương tiện buộc các chủ sở hữu phải phục vụ, chịu sự chi phối của xã hội trong những hoàn cảnh lợi ích của chủ sở hữu đó và của xã hội có xung đột. Xã hội chủ nghĩa là xã hội chi phối được các loại sở hữu không để cho các loại sở hữu gây ra các tác động có hiệu quả xấu đối với xã hội. Ngay từ vấn đề sản xuất, chủ nghĩa xã hội phải có những ngành sản xuất không phải nhằm mục đích trao đổi.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là thiết lập được một thiết chế buộc các sở hữu tư nhân phục tùng sự chỉ đạo để tham gia hoạt động nào đó, thậm chí giải quyết các vấn đề xã hội. Việc sản xuất tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản đã cho phép chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô làm được điều gì đó. Định hướng xã hội chủ nghĩa là thiết lập được các loại tư bản đẳng cấp cao mới, và đưa các loại tư bản đó phục vụ cho lợi ích chung của xã hội. Chẳng hạn như thiết lập được những tư bản đẳng cấp cao, từ đó thu hút được lượng tiền lớn của xã hội để giải quyết được một số việc phúc lợi xã hội, từ những việc như tạo nên những ngôi sao ca nhạc, thể thao hay điện ảnh, và bán những kỷ vạt có giá của các ngôi sao đó để gây quỹ từ thiện đến những việc xây dựng các thương hiệu mạnh cho các công ty mà từ đó đem lại khả năng mới cho việc biến tiền ảo thành tư bản và có khả năng thu được lợi nhuận lớn để có tiền tài trợ cho các mục đích xã hội.

Trong nền tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa, các vấn đề sẽ được xem xét toàn diện, có nhiều cái mới, chấp nhận được những sai lầm.

Chủ nghĩa xã hội là làm cho người dân kiếm tiền không quá khó khăn, nhưng để làm giầu được thì đòi hỏi phải có tính kỷ luật. Chủ nghĩa xã hội được xây dựng bởi những người giác ngộ, có kỷ luật tự giác. Kỷ luật tự giác được thúc đẩy và trừng phạt bằng lợi ích.

Chủ nghĩa xã hội của Liên Xô cũ là chủ nghĩa xã hội “cộng sản ấu trĩ”. Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ đã thua tuyệt đối chủ nghĩa tư bản do nó đã không tạo ra được phương tiện để xã hội có khả năng phát triển đột biến. Việc sản xuất ra tiền ảo đem lại khả năng phát triển đột biến cho xã hội, làm gia tăng sự phát triển của xã hội. Vấn đề quyền lực xã hội lại được đặt ra với những khía cạnh mới. Quyền lực siêu vĩ mô có thể phát triển kinh tế, xây dựng các đại doanh nghiệp, nâng mức sống của xã hội hơn mức bình thường, thực hiện sự mở rộng công bằng trong xã hội, nhưng cũng có sức mạnh để gây ra các cuộc khủng hoảng cho xã hội, đánh sập các đại doanh nghiệp. Sự dũng cảm trong quan niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là ở chỗ quyết tâm chính trị của đảng trong việc chinh phục một thế lực ghê gớm vốn quen bắt các sức mạnh xã hội khác phải phục tùng nó, và trong trường hợp bị áp đặt thì nó có biện pháp trả đũa khủng khiếp là gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội. Sự dũng cảm đó có thể ví như cưỡi lên lưng cọp.

Trong thời đại ngày nay, không thiết lập được điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì không thể xây dựng một xã hội phát triển chứ đừng nói đến được điều cao xa hơn là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vấn đề là không phải ngày một ngày hai mà tiến hành được hoạt động bí mật nhằm xây dựng được chủ nghĩa xã hội trên đất nước mình.

Người ta có thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô để phục vụ đại tư bản, nhưng cũng có thể sử dụng kinh tế học siêu vĩ mô phục vụ cho chủ nghĩa xã hội. Cùng một công cụ phục vụ cho sự phát triển của tư bản, đem lại sự giàu có khổng lồ cho các đại tư bản thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thấy được đó là công cụ thể mình giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế xã hội, đem lại sự phồn vinh chung của xã hội, và đem lại tiềm lực mới cho đất nước. Là công cụ để đạt được mục tiêu xã hội chủ nghĩa, điều hành kinh tế siêu vĩ mô có hiệu quả sẽ làm giảm đi xung đột xã hội gay gắt, sẽ chống lại các cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính loại mới. Việc ổn định chính trị được giải quyết bằng việc nắm vững và điều hành có hiệu quả kinh tế siêu vĩ mô. Đảng Cộng sản điều hành kinh tế siêu vĩ mô là điều chưa từng có tiền lệ nên đòi hỏi phải có sự sáng tạo rất lớn.

III/ Điều hành trong thực tiễn

Cần phải biết cách lợi dụng sự cạnh tranh với nhau giữa các chủ thể điều hành siêu vĩ mô của các nước. “Về mặt chính trị, chúng ta phải biết lợi dụng những sự bất đồng giữa những kẻ thù của chúng ta và chỉ những sự bất đồng sâu sắc do các nguyên nhân kinh tế sâu sắc nhất mà ra. Nếu chúng ta định lợi dụng những sự bất đồng nhỏ nhặt, ngẫu nhiên, chúng ta sẽ chỉ là những nhà chính trị tầm thường và những nhà ngoại giao rất tồi. Làm như vậy thì chẳng có tác dụng gì to lớn cả. Nhiều nhà ngoại giao đã hành động như thế, họ hành động như thế trong vài tháng, đạt được địa vị và rút cuộc bị đổ”. Trong thời đại ngày nay, nguyên nhân kinh tế sâu sắc nhất của những bất đồng giữa các nước là sự sản xuất ra tiền ảo của nhau, và trận địa chủ yếu nhất để điều này được thực hiện là ở các nước đang phát triển. Có thể nói các nước đang phát triển là lò luyện để biến tiền ảo thành tư bản.

Các hoạt động kinh tế siêu vĩ mô phục vụ sự phát triển đuổi kịp gồm có mở rộng hết tầm các loại tư bản hiện có và sản xuất ra các loại tư bản mới, phát huy được sự sáng tạo mới trong toàn xã hội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Sự lụi tàn của đồng tiền – Phần cuối


+ Sự sụp đổ của thị trường

Viễn cảnh thị trường sụp đổ phụ thuộc vào rủi ro hệ thống, không phụ thuộc vào chính sách kinh tế nền tảng. Rủi ro thị rường sụp đổ bị phóng đại bởi trình độ quản lý, điều hành kém cỏi và sự tham lam của các ngân hàng. Lý thuyết về độ phức tạp chính là công cụ thích hợp để phân tích rủi ro này.

Trong quá trình phân tích này, bước đầu tiên, chúng ta phải hiểu rằng các thị trường vốn bao gồm cả bốn đặc tính đặc trưng của những hệ thống phức tạp: cơ quan đoàn thể đa dạng, không có tính kết nối, phụ thuộc lẫn nhau và hành vi có tính thích nghi. Việc kết luận rằng thị trường vốn là hệ thống phức tạp có rất nhiều ý nghĩa đối với công tác điều hành và quản trị rủi ro. Ý nghĩa thứ nhất, công cụ thích hợp để đo lường rủi ro là tổng giá trị giả định của chứng khoán phái sinh, không phải giá trị thuần. Tổng quy mô vị thế chứng khoán phái sinh của tất cả các ngân hàng hiện nay là trên 650 nghìn tỷ USD, cao gấp hơn 9 lần GDP toàn cầu.

Ý nghĩa thứ hai, bi kịch lớn nhất có thể xảy ra trong hệ thống phức tạp là hàm số mũ phi tuyến tính của quy mô hệ thống. Điều này nghĩa là, khi quy mô hệ thống mở rộng gấp đôi hoặc gấp ba, rủi ro đứng trước thảm họa sẽ tăng lên theo thừa số của 10 hoặc 100. Đây cũng chính là lý do những bài kiểm tra mức độ căng thẳng dựa trên các sự kiện lịch sử như 9/11 hay 2008 hoàn toàn không có giá trị, vì quy mô hệ thống không đồng nhất sẽ dẫn đến rủi ro hệ thống không đồng nhất.

Giải pháp rủi ro cho hệ thống này thực ra lại đơn giản đến không ngờ. Nhiệm vụ trước mắt là đóng cửa các ngân hàng lớn và cấm các giao dịch phần lớn chứng khoán phái sinh. Các ngân hàng lớn không cần thiết đối với nền tài chính toàn cầu. Khi cần đến những khoản tiền lớn, một ngân hàng chủ trì có thể đứng ra tổ chức nghiệp đoàn ngân hàng, như đã từng làm trong quá khứ đối với các dự án hạ tầng khổng lồ như đường ống Alaska, những đoàn tàu chở dầu cực lớn và những chiếc Boeing 747 đầu tiên. Lợi ích của việc đóng cửa ngân hàng không phải là loại bỏ được nguy cơ ngân hàng làm ăn thất bại, mà là sự thất bại đó sẽ không trở thành mối nguy hiểm nữa. Cái giá phải trả cho nó sẽ nằm trong khả năng kìm hãm được và không thể “di căn” đến mức đe dọa toàn hệ thống. Trường hợp cấm giao dịch phần lớn chứng khoán phái sinh thậm chí còn dễ hiểu hơn nữa. Trên thực tế, chứng khoán phái sinh không có ích lợi gì ngoài việc làm giàu cho các chủ nhà băng nhờ giá cả mù mờ và lừa gạt các nhà đầu tư thông qua hạch toán ngoại bảng.

Bất kể những chiến lược giải tán ngân hàng lớn hay cấm chứng khoán phái sinh có mang lại lợi ích gì chăng nữa thì khả năng để chúng trở thành hiện thực cũng bằng 0, vì các nhà quản lý đang sử dụng những mô hình đã lỗi thời hoặc dựa vào mô hình của chính ngân hàng, bất chấp việc chúng không thể nhận diện được rủi ro hệ thống. Quốc hội sẽ không hành động bởi vì nhìn chung, ông nghị bà nghị nào cũng bị trói buộc bởi những khoản tiền mà các ngân hàng đổ vào hoạt động chính trị.

Rủi ro từ phía ngân hàng và chứng khoán phái sinh sẽ không ngừng tăng lên và lần sụp đổ tiếp theo sẽ diễn ra ở một phạm vi chưa từng có vì quy mô hệ thống đã đạt đến mức lớn nhất từ trước đến nay. Các nguồn lực của Cục Dự trữ Liên bang đã gần như không thể ngăn chặn một đợt sụp đổ toàn diện trong năm 2008, vì vậy chúng ta nên chuẩn bị tinh thần cho một đợt sụp đổ còn lớn hơn thế sẽ chôn vùi bảng cân đối kế toán của FED. Trong một thời kỳ tương đối yên bình mà cơ quan nào đã in tới hơn 3000 tỷ USD thì trong cuộc khủng hoảng tương lai, việc in thêm 3000 tỷ USD nữa hoàn toàn không khả thi về mặt chính trị. Nhiệm vụ giải cứu thế giới sẽ đặt lên vai IMF, vì họ sẽ là định chế chính thức duy nhất sở hữu một bảng cân đối kế toán sạch sẽ. IMF sẽ đối phó bằng một đợt phát hành SDR quy mô cực lớn và thị trường tiền tệ này sẽ đặt dấu chấm hết cho vai trò là tiền tệ dự trữ hàng đầu của đồng USD.

+ Nguy hiểm dồn dập

Những mối đe dọa nói trên đối với đồng USD hiện diện khắp mọi nơi. Từ bên trong là việc in tiền vô tội vạ của FED và nguy cơ lạm phát phi mã. Từ bên ngoài là hoạt động tích trữ vàng của Nga và Trung Quốc báo trước sự chuyển đổi sang một loại tài sản dự trữ mới.

Ngoài ra, còn vô số mối đe dọa liên quan khác. Nếu lạm phát không hình thành thì chỉ có thể do nền kinh tế đã giảm phát vô phương cứu chữa và phản ứng của FED sẽ dọn đường cho sự trỗi dậy của vàng. Nga và Trung Quốc không phải là hai quốc gia duy nhất khao khát thoát khỏi sự chi phối của đồng USD. Iran và Ấn Độ có thể dẫn đầu một cuộc cách mạng chuyển hướng sang sử dụng đồng tiền châu Á làm tiền tệ dự trữ và các thành viên trong Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council) có thể chọn cách xác định giá xuất khẩu dầu mỏ bằng một loại tiền tệ khu vực mới do một ngân hàng trung ương có trụ sở tại Vịnh Ba Tư phát hành. Về mặt địa chính trị, các mối đe dọa đối với đồng USD có thể không giới hạn trong sự cạnh tranh kinh tế, mà có thể mang khuynh hướng thù địch và chuyển thành một cuộc chiến tranh tài chính. Cuối cùng, chính sự phức tạp và hiệu ứng lan tỏa từ bên trong có thể sẽ khiến hệ thống tài chính toàn cầu sụp đổ mà không cần đến một cuộc tấn công trực diện nào.

Cho đến bây giờ, đồng USD và hệ thống tiền tệ quốc tế tuy hai mà một. Nếu đồng USD sụp đổ, hệ thống tiền tệ quốc tế cũng sẽ sụp đổ theo, đó là điều tất yếu. Người dân, người gửi tiền tiết kiệm và người được hưởng trợ cấp, lương hưu sẽ là nạn nhân chính trong những biến động khó lường theo sau cuộc sụp đổ, mặc dù một sự kiện như vậy không có nghĩa là sự chấm hết cho hoạt động thương mại, tài chính hay ngân hàng. Những “tay chơi” lớn trên thị trường tài chính, bất kể đó là các quốc gia, ngân hàng hay các thể chế đa phương, sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn, trong khi các Bộ trưởng Tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương và Nguyên thủ quốc gia liên tục nhóm họp để dàn xếp luật lệ mới của cuộc chơi. Nếu tình hình xã hội trở nên bất ổn trước khi giới tài chính chóp bu kịp cứu vãn hệ thống, các quốc gia sẽ phải chuẩn bị lực lượng cảnh sát có vũ trang, quân đội, phương tiện, cơ chế giám sát và ban hành các mệnh lệnh để đàn áp làn sóng phẫn nộ trong dân chúng.

Hệ thống tiền tệ quốc tế tương lai sẽ không dựa trên đồng USD vì Trung Quốc, Nga, các nước khai thác dầu mỏ và các quốc gia mới nổi khác sẽ đồng tâm hiệp lực chấm dứt sự thống trị của Mỹ về mặt tiền tệ và thiết lập nên một bản vị tiền tệ mới. Việc bản vị mới này sẽ dựa trên vàng, SDR hay một mạng lưới tiền tệ dự trữ của khu vực, chúng ta còn phải chờ xem. Tuy nhiên, sự lựa chọn không có nhiều, và việc nghiên cứu thấu đáo về những khả năng hàng đầu có thể đem lại cho các nhà đầu tư một lợi thế cùng cái nhìn toàn cảnh hợp lý để bảo tồn tài sản trong thế giới này.

Hệ thống tiền tệ quốc tế đang diễn biến ngoài tầm kiểm soát, cục diện nền kinh tế thế giới đã biến đổi, với những đối thủ mới, lòng trung thành đổi chủ, sự vô lý về mặt chính trị và sự thay đổi về mặt công nghệ khiến giới đầu tư cảm thấy rối rắm.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rikards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Sự lụi tàn của đồng tiền – Phần III


+ Lạm phát

Những lời chỉ trích của Richard Cantillon về V.I. Lenin đầu thế kỷ XVIII và của John Maynard Keynes trong thế kỷ XX giống nhau ở chỗ: cả hai đều cho rằng lạm phát là kẻ hủy diệt giấu mặt đối với tiền tiết kiệm, vốn và sự tăng trưởng kinh tế.

Lạm phát thường bắt đầu một cách rất tinh vi và đến khi người ta nhận ra thì nó đã đi được những bước đáng kể rồi. Tình trạng chậm trễ trong việc nắm bắt sự hình thành và tiến triển của lạm phát, vốn hết sức quan trọng đối với các ngân hàng trung ương, được gọi là ảo giác tiền tệ  (money illusion) – cụm từ dùng để chỉ một nhận thức rằng tài sản thực đang được tạo nên, từ đó “tinh thần động vật” mà Keynes đề xuất được đánh thức. Chỉ đến sau này, người ta mới vỡ lẽ ra rằng các ngân hàng và nhà đầu tư tinh ranh đã “ăn” trọn chỗ tài sản đó, còn người dân hàng ngày sẽ bị bỏ lại với chỗ tiền tiết kiệm, lương hưu và bảo hiểm nhân thọ bị mất giá.

Những năm 1960 và 1970 là một ví dụ tốt để minh họa cho khái niệm ảo giác tiền tệ. Từ 1961 đến 1965, tỷ lệ lạm phát bình quân hàng năm của Mỹ là 1,24%. Trong năm 1965, Tổng thống Lyndon Johnson áp dụng chính sách “súng và bơ” – “súng” tượng trưng cho cuộc chiến kéo dài ở Việt Nam, “bơ” tượng trưng cho chương trình phúc lợi Đại xã hội, khởi nguồn cho một đợt chi tiêu tốn kém khủng khiếp và đẩy ngân sách vào tình trạng thâm hụt. Cục Dự trữ Liên bang đổ tiền cho chính sách này cho đến tận khi Tổng thống Nixon tái đắc cử vào năm 1972. Ban đầu, lạm phát nhích từng chút một, tăng lên 2,9% vào năm 1966 và 3,1% vào năm 1967. Sau đó, nó diễn biến phức tạp ngoài tầm kiểm soát, đạt mức 5,7% vào năm 1970 và chạm đỉnh 13,5% vào năm 1980. Đến tận năm 1986, tỷ lệ lạm phát mới quay về mức 1,9% – mức trung bình của những năm đầu thập niên 1960.

Giai đoạn 1960 – 1970 để lại hai bài học có thể áp dụng hoàn hảo cho ngày nay. Bài học thứ nhất là: trước khi người dân kịp nhận ra thì lạm phát có thể đã diễn biến hết sức nghiêm trọng. Phải đến tận năm 1974, chín năm kể từ khi lạm phát bắt đầu, nó mới trở thành một vấn đề có sức nặng về mặt chính trị và là mối quan tâm hàng đầu của chính sáh công. Sự chậm trễ trong hành động và nhận thức này chính là bản chất của ảo giác tiền tệ.

Bài học thứ hai là: một khi nhận thức về lạm phát thay đổi thì sẽ vô cùng khó thiết lập lại. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, phải mất 9 năm để người dân Mỹ bình thường tập trung vào lạm phát, thêm 11 năm nữa để định hình lại những kỳ vọng của họ. Lăn một tảng đá xuống chân đồi bao giờ cũng nhanh hơn nhiều so với khi đẩy nó lên phía đỉnh.

Gần đây hơn, kể từ năm 2008 đến nay, Cục Dự trữ Liên bang đã in hơn 3000 tỷ tiền mới mà  không làm lạm phát ở Mỹ tăng nhiều. Tuy nhiên, FED vẫn định ra mức tỷ lệ lạm phát tối thiểu là 2,5%, hoặc có thể cao hơn và họ sẽ không hạn chế in tiền cho đến khi đạt được mục tiêu đó. Đối với FED, lạm phát là một cách để làm giảm bớt giá trị thực nợ công của Mỹ và tránh được bóng ma giảm phát.

Thế nhưng cách này tiềm ẩn một rủi ro lớn. Chúng ta có thể tìm thấy trong cả lịch sử lẫn tâm lý học hành vi những lý do để tin rằng khi đã đạt được mục tiêu lạm phát và thay đổi được kỳ vọng, một vòng hồi tiếp sẽ hình thành, trong đó, lạm phát cao hơn dẫn đến kỳ vọng về lạm phát cao hơn, dẫn đến lạm phát cao hơn nữa, cứ thế… FED sẽ không thể làm vòng hồi tiếp này ngừng lại, vì sự phát triển của nó không chỉ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ mà cả bản chất con người.

Khi vòng hồi tiếp lạm phát đủ mạnh, lịch sử những năm cuối thập niên 1970 sẽ tái diễn. Tình trạng giá vàng tăng phi mã và đồng USD mất giá – hai mặt của một đồng xu, sẽ nhanh chóng xảy ra. Điểm khác biệt giữa viễn cảnh lạm phát tăng mạnh sắp tới và trường hợp trong quá khứ là Nga, Trung Quốc và IMF sẽ sẵn sàng cung cấp những tài sản dự trữ mới bằng và SDR, chứ không phải USD. Khi đồng USD ngã ngựa vào lần tới, sẽ không có tấm đệm nào đỡ nó nữa.

+ Giảm phát

Từ sau giai đoạn 1927 – 1933, Hoa Kỳ không trải qua đợt giảm phát kéo dài nào nữa, vì thế, người Mỹ hiện nay cũng không nhớ gì nhiều về nó. Đáng lẽ ra, nước Mỹ đã phải đối mặt với đợt giảm phát nghiêm trọng từ 2009 đến 2013 nếu không có lượng tiền in khổng lồ của Cục Dự trữ Liên bang. Bóng ma giảm phát trôi dạt khắp nước Mỹ không hề biến mất. Nó chỉ được che giấu đi mà thôi.

Giảm phát là cơn ác mộng tồi tệ nhất đối với Cục Dự trữ Liên bang vì nhiều lý do. Thu thập thực từ giảm phát rất khó đánh thuế. Nếu một cán bộ quản lý trường học kiếm được 100.000 USD mỗi năm, giá cả không đổi và được tăng lương 5%, thì mức sống thực trước thuế của cô ta sẽ tăng thêm 5000 USD, nhưng Chính phủ chỉ đánh thuế đối với phần tăng thêm và để người quản lý được hưởng toàn bộ phần còn lại. Thế nhưng, nếu thu nhập của người quản lý không đỏi và giá cả giảm 5% thì mức sống của cô ta vẫn tăng thêm 5000 USD mỗi năm nhưng Chính phủ không thể đánh thuế khoản tăng thêm này vì nó xuất hiện dưới hình thức giá cả thấp hơn chứ không phải tiền lương cao hơn.

Giảm phát làm tăng giá trị thực của nợ công, khiến việc trả nợ khó khăn hơn. Nếu giảm phát không đảo chiều thì Hoa Kỳ sẽ vỡ nợ ngay tức khắc, “đau đớn” hơn nhiều so với hệ quả vỡ nợ do lạm phát. Giảm phát cũng làm chậm mức tăng trưởng GDP danh nghĩa, trong khi nợ danh nghĩa lại tăng hàng năm do thâm hụt ngân sách. Điều này có xu hướng làm tăng tỷ lệ nợ/GDP, đẩy nước Mỹ vào vết xe đổ của Hy Lạp và gần hơn đến một cuộc khủng hoảng nợ quốc gia.

Cuối cùng, giảm phát tự nuôi sống chính nó và FED gần như không thể nào dự trữ được. Cục Dự trữ Liên bang vốn rất tự tin về khả năng kiểm soát lạm phát, mặc dù những bài học từ thập niên 1970 cho thấy họ cần có những thước đo thật nghiêm khắc. Tuy nhiên, họ hoàn toàn hiểu rõ khó khăn của việc chấm dứt giảm phát. Khi giá trị của tiền mặt tăng lên từng ngày – đặc điểm nhận diện của giảm phát, người dân và doanh nghiệp sẽ tích trữ tiền mặt chứ không chi tiêu hay đầu tư, khiến tổng cầu và GDP giảm mạnh. Đây chính là lý do tại sao từ 2008 đến nay, FED in thêm hơn ba nghìn tỷ USD – để chặn đứng giảm phát ngay từ trong trứng nước. Con đường khả dĩ nhất của Cục Dự trữ Liên bang trong những năm sắp tới là tiếp tục in thêm thật nhiều tiền để ngăn giảm phát xuất hiện. Giả định mà FED đang áp dụng là bất cứ hệ quả nào của lạm phát cũng có thể được giải quyết ổn thỏa trong một khoảng thời gian hợp lý.

Trong quá trình không ngừng in tiền để ngăn chặn giảm phát, nhiều khả năng FED sẽ chạm tới những giới hạn về mặt chính trị đối với việc in tiền, có lẽ là khi bảng cân đối kế toán của nó vượt quá 5000 tỷ USD, hoặc khi nó bị đánh giá là không có khả năng trả nợ trên cơ sở hạch toán theo giá thị trường. Đến lúc nó, các thống đốc của FED có thể chọn cách thử vận may với giảm phát. Trong kịch bản “khiêu vũ với quỷ Sa-tăng” này, FED sẽ dựa vào chính sách tài khóa để giữ cho tổng cầu ổn định. Hoặc giảm phát có thể vẫn sẽ xuất hiện bất chấp việc in tiền. Kịch bản này xảy ra khi FED đứng từ trên trực thăng vung vãi tiền xuống nhưng người dân không chút đoái hoài vì nhặt tiền lên đồng nghĩa với chấp nhận gánh thêm nợ. Trong cả hai kịch bản, nước Mỹ đều sẽ trở về năm 1930 và đối mặt với nạn giảm phát vượt tầm kiểm soát.

Trước tình hình đó, cách duy nhất để nước Mỹ chặn đứng giảm phát là ban bố sắc luật quy định giá vàng là (ví dụ) 7000 USD/ounce, có thể cao hơn. Cục Dự trữ Liên bang có thể giữ vững mức giá này bằng cách sử dụng vàng ở Fort Knox để thay mặt Ngân khố chỉ đạo hoạt động của thị trường mở. FED có thể mua vàng với giá 6900 USD/ounce và bán ra với giá 7100 USD/ounce để duy trì mức giá 7000 USD/ounce. Mục đích ở đây không phải để làm giàu cho người sở hữu vàng, mà là để tái thiết lập mức giá chung.

Những bước đi như trên có thể không khả thi, nhưng chúng sẽ hiệu quả. Vì mọi thứ đều tác động qua lại lẫn nhau nên việc giá trị đồng USD quy đổi ra vàng bị giảm xuống sẽ nhanh chóng được phản ánh qua việc giá USD quy đổi ra tất cả những thứ khác tăng lên. Việc một ounce vàng giá 7000 USD cũng đồng nghĩa với việc một thùng dầu giá 400 USD và ounce bạc giá 100 USD. Sự quay lại của giảm phát có thể được chặn đứng nếu đồng USD bị giảm giá trị so với vàng, như trường hợp năm 1933 khi Mỹ quy định lại giá trị của vàng, từ 20,67 USD/ounce lên 35 USD/ounce, tức là giá trị đồng USD bị giảm 41%. Nếu Hoa Kỳ lại một lần nữa đối mặt với giảm phát nghiêm trọng thì giảm giá trị đồng USD là phương thuốc duy nhất, bởi vì ngoài nó ra không còn giải pháp nào khác khi cách in tiền đã thất bại.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rikards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng xã hội chủ nghĩa – Phần XV


Mỗi trình độ phát triển kinh tế xã hội thì xã hội đó chấp nhận quan niệm về chủ nghĩa xã hội phù hợp với trình độ đó, và điều đó tạo nên một tạo phẩm phi vật thể đặc thù có sức mạnh xã hội mới trong những giai đoạn cụ thể để có thể giải quyết những vấn đề phát triển xã hội có tầm nhìn lâu dài mà không bị ảnh hưởng bởi những quyết định trước mắt. Mỗi xã hội có những mục tiêu trước mắt và lâu dài cần phải giải quyết mà tiến trình giải quyết cần phải làm thành từng bước, có những biện pháp tạm thời, có những biện pháp lâu dài, cơ bản, trong đó có việc phát triển các công cụ mới, đặc biệt là các công cụ của kinh tế thị trường và có những cách thức áp dụng các công cụ đó vào cuộc sống và phối hợp các biện pháp lại với nhau để đạt được hiệu quả chung. Mỗi xã hội có những vấn đề bức xúc nổi lên mà không dễ dàng tìm được cách giải quyết và phải chấp nhận các biện pháp thử nghiệm theo nhiều phương án rồi mới làm nổi bật được cách thức lâu dài và hiệu quả, như giáo dục bậc cao thì đòi hỏi cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, cơ chế tài chính cho các trường đại học… Những vẫn đề bức xúc phải được giải quyết rõ rệt, nhanh hơn bình thường. Cần phải tìm ra được các cách thức để tự xã hội giải quyết được các vấn đề nảy sinh nội tại.

Trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, giá trị thặng dư vĩ mô và siêu vĩ mô là có thể thực hiện được những vấn đề xã hội một cách chủ động. Còn những giá trị thặng dư vi mô thuộc nhiều chủ sở hữu khác nhau thực hiện được những công việc xã hội tùy theo sự từ thiện của các chủ sở hữu. Mỗi giai đoạn phát triển cần phải phát triển hết tầm những loại tư bản mà xã hội đang có để tạo nên được những giá trị thặng dư đủ lớn để thực hiện được sự phân phối trong xã hội. Người dân không thể tiếp cận được các loại tạo phẩm mà tư bản trong nước không thể cung ứng được với giá cả chấp nhận được. Trước mắt, đối với một nước nghèo, chủ nghĩa xã hội có nghĩa là người dân được hưởng những tiến bộ phúc lợi xã hội mà các nước phát triển phải phát triển rất lâu mới được, mà chỉ có tránh được các mặt tiêu cực của sự chạy theo lợi nhuận của toàn xã hội thì mới làm được như vậy. Việc chạy theo lợi nhuận làm cho người ta bất chấp những gì gọi là đạo đức, những gì gọi là lẽ phải như tình trạng y đức xuống cấp, giáo đức xuống cấp như hiện nay, và hiện tượng tham nhũng tràn lan trong xã hội như hiện nay. Phải có cách thức không để cho việc khai thác theo lối tư bản chủ nghĩa các dịch vụ thiết yếu đối với người dân có đất phát triển.

Người ta luôn luôn có những nhận thức mới về những vấn đề vẫn tồn tại trong xã hội mà xã hội chưa giải quyết được. Những nhu cầu thiết yếu với quảng đại quần chúng trong các xã hội khác nhau là khác nhau, và với những nước mà có trình độ phát triển tư bản còn thấp, người dân cần đáp ứng các nhu cầu như nhà ở, các dịch vụ y tế, giáo dục mà xã hội có thể giải quyết được thông qua các biện pháp tổng hợp như kinh tế, tài chính, hành chính, từ thiện… mà sẽ làm cho việc quan tâm tới những tầng lớp thua thiệt nhất của xã hội và tìm cách giải quyết là một tiến trình tự động. Không giải quyết được những vấn đề với những người bị thua thiệt trong xã hội thì sẽ dẫn đến những bất ổn với xã hội. Công bằng xã hội là cái giá mà xã hội phải trả để tránh cho xã hội có những bất ổn.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là sản xuất ra được một hệ tạo phẩm phi vật thể xã hội mà có khả năng chi phối các hoạt động của nền kinh tế xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội tốt nhất trong những giai đoạn phát triển kinh tế thị trường. Hệ tạo phẩm phi vật thể này hoạt động ở ba tầng mức siêu vĩ mô, vĩ mô và vi mô. Hệ tạo phẩm này có biện pháp điều phối các tài sản của các chủ sở hữu khác nhau phục vụ mục đích xã hội theo từng giai đoạn, tình hình cụ thể.

Định hướng xã hội chủ nghĩa là phải giải quyết được vấn đề phát triển trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại với những cạnh tranh rất gay gắt hiện nay. Những chương trình xã hội như xóa đói giảm nghèo, chống thất nghiệp,… phải trở thành những tiến trình tự động trong xã hội.

Có những bình diện của kinh tế thị trường hiện đại mà không hoạt động thì không có thực tiễn, mà bình diện đó đóng vai trò thiết yếu trong việc phát triển kinh tế và phát triển xã hội hiện nay. Vấn đề hiện nay là cần phải thấy được xã hội tận dụng những bước phát triển mới để đem lại những cái mới cho xã hội, giải quyết được những vấn đề xã hội tốt hơn, đem lại những thứ tốt hơn cho con người, đem lại cơ hội mới cho người dân thoát khỏi đói nghèo, được tiếp cận với những dịch vụ xã hội. Với trình độ phát triển thị trường còn thấp thì chủ nghĩa xã hội còn phải đánh giá trên phương diện vật chất, và cung ứng các dịch vụ cơ bản cho người dân. Nếu trình độ phát triển thị trường cao hơn, chủ nghĩa xã hội đem lại khả năng mới cho quảng đại quần chúng, đem lại cho họ những cơ hội phát triển mới.

Phát triển kinh tế có nhiều giai đoạn, mà định hướng xã hội chủ nghĩa với mỗi giai đoạn lại khác nhau. Quan niệm về chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn xã hội còn thiếu nhiều sản phẩm vật thể sẽ khác với quan niệm về chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn xã hội phát triển. Quan niệm về nguồn lực phát triển kinh tế cũng thay đổi, chẳng hạn hiện nay việc các nước ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO là cách tài trợ tốt nhất cho Việt Nam.

Trong giai đoạn nền kinh tế còn lạc hậu, trình độ khoa học công nghệ còn thấp kém, cần phải giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ là phát triển các công cụ của chủ nghĩa tư bản để hiểu được thực chất các thứ do các công cụ đó làm việc được và làm được những việc gì, thử nghiệm các xu hướng, và xây dựng tính kỷ luật của đội ngũ vô sản với những phong cách làm việc công nghiệp và hậu công nghiệp, hiểu được những vấn đề cần giải quyết với họ, những quan niệm sống của xã hội. Trong các bước phát triển kinh tế thị trường sẽ xuất hiện nhiều phương tiện mới giải quyết những vấn đề của họ. Mỗi bước tiến trên con đường đó không khỏi có sai lầm, có những biện pháp tưởng là tốt lại có hiệu quả xấu không mong muốn làm mất giá trị các bước trước.

Nếu như trong thời đại của Lenin, những người cộng sản phải học tập buôn bán để phát triển kinh tế, thì ngày nay những người cộng sản phải học tập và sử dụng thành thạo các công cụ của tư bản, thậm chí phát minh ra các công cụ tư bản mới, để phát triển kinh tế. Chính sách đổi mới đã mở đường cho sự phát triển lực lượng sản xuất, gia tăng tư bản trong xã hội, thể hiện về mặt pháp luật sự bảo vệ tư bản và tạo hành lang cho sự tăng trưởng tư bản. Luật Doanh nghiệp mở ra hàng loạt doanh nghiệp mới, giải phóng tư bản, các luật khác của nền kinh tế thị trường làm cho vòng quay của tư bản gia tăng mạnh mẽ hơn, tạo nên được những hình thái tư bản mới.

Khi người ta phải hy sinh rất nhiều thứ cho phát triển kinh tế thì cần có những cách nhìn mới. Khi nhìn nhận những vấn đề về con người thì người ta phải nhìn nhận về con người hiện tại và tương lai, có những thứ vì con người hiện tại nhưng lại tước đi các cơ hội của các thế hệ tương lai khi con người hiện tại tiêu dùng những tài nguyên không tái sinh của các thế hệ sau, khi không có những nguồn lực để giải quyết những vấn đề xã hội. Trong hoàn cảnh các nguồn lực khan hiếm, những nguyện vọng đạo đức tốt đẹp nhất cũng không giúp tình hình được cải tiến thêm. Con người cần được nhìn nhận theo nhiều chiều khác nhau. Điều quan trọng là đem lại cho người ta cần câu chứ không phải là đưa cho con cá.

Kinh tế là biện pháp chống lãng phí tài nguyên thiên nhiên, là cách thức sử dụng các nguồn lực khan hiếm sao cho hữu hiệu, nhưng kinh tế thị trường hiện đại lại không ngừng mở rộng việc tiêu tốn tài nguyên hơn nữa để đáp ứng nhu cầu ảo. Nhìn bề ngoài, nền sản xuất hậu công nghiệp sản xuất ra những sản phẩm mà không sử dụng tốn tài nguyên, nhưng trong rất nhiều lĩnh vực chúng lại kích thích sự sử dụng tài nguyên vật chất nhiều gấp bội. Chẳng hạn khi sử dụng máy vi tính, ban đầu người ta hy vọng rằng sẽ làm giảm đi lượng giấy tiêu thụ trong các văn phòng, nhưng thực tế đã ngược lại, lượng giấy dùng trong văn phòng đã tăng vọt hẳn lên. Do sự lo ngại mất mát dữ liệu với nhiều nguyên nhân khác nhau mà người ta phải sao lưu trên “bản sao cứng”, tức là giấy về những dữ liệu quan trọng nhất, của cá nhân, của tổ chức và của những người khác nữa. Còn trong lĩnh vực sản phẩm tiêu dùng, nhất là trong lĩnh vực liên quan tới thời trang thì người ta sẵn sàng loại vứt luôn những sản phẩm khi hết mốt, dù rằng nó còn tốt nguyên, thậm chí chưa được dùng bao giờ, và sẵn sàng mua các thứ mới hợp mốt hơn.

Tiến trình thiết tạo điều hành kinh tế siêu vĩ mô cần phải thực hiện qua nhiều giai đoạn, trong đó có những công việc chủ yếu như tuyên truyền tri thức về kinh tế siêu vĩ mô thâm nhập được vào xã hội, ban lãnh đạo đất nước thông suốt với điều đó, và quyết định bắt tay vào việc xây dựng kế hoạch thiết lập chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, đặt kế hoạch hàng năm thiết lập cơ chế quản lý mới, chuẩn bị những phương án cổ phần hóa các đại doanh nghiệp nhà nước để chúng có thể tiếp nhận các nguồn tiền ảo của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô có nhiều giai đoạn. Giai đoạn sơ khai là sản xuất ra tiền ảo, nhưng ở giai đoạn cao hơn là nâng cao vòng quay của các phương tiện tài chính tiền tệ, bằng việc bắt buộc các loại tài sản tài chính nào đó phải tham gia vào tiến trình trao đổi với những số lượng nhất định vào những thời điểm nào đó. Khi thiếu tiền thì người ta luôn nghĩ là có tiền thì sẽ giải quyết được nhiều vấn đề, nhưng khi thừa tiền, người ta mới thấy rằng có nhiều thứ mà tiền không làm được, như khả năng sáng tạo ra cái mới.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Sự lụi tàn của đồng tiền – Phần II


Sự lụi tàn của đồng tiền sẽ xem xét hai sự kiện trên theo một cách đặc biệt. Nó sẽ nghiên cứu thận trọng những công cụ kinh tế tiêu chuẩn như các mô hình cân bằng, những phép đo mà người ta gọi là giá trị rủi ro (value-at-risk) và các hệ số tương quan giả định. Bạn sẽ thấy rằng những mô hình cân bằng tổng quát đang được sử dụng rộng rãi trở nên vô nghĩa trong tình tạng cân bằng hỗn loạn hoặc cân bằng kép. Nền kinh tế thế giới chưa đạt đến sự “bình thường mới”. Thay vào đó, nó chỉ đang trong hành trình từ cũ đến mới mà không hề có la bàn hay bản đồ định hướng. Giờ đây, sự hỗn loạn mới chính là bình thường.

Mối nguy hiểm đến từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Chúng ta đang tin tưởng một cách sai lầm rằng các ngân hàng trung ương sẽ cứu vãn tình thế. Sự thật là, họ đang phá hoại thị trường của chúng ta. Những mô hình giá trị rủi ro mà Phố Wall và các nhà điều hành sử dụng để đo lường hậu quả của chứng khoán phái sinh thật nực cười. Chúng bao che cho việc lạm dụng phương thức đòn bẩy – tình trạng được lấp liếm một cách không biết ngại ngùng thành những khoản trợ cấp kỳ quặc vốn đang đẩy xã hội của chúng ta lệch khỏi trạng thái cân bằng. Khi các chi phí ẩn “hiện hình” và người nộp thuế một lần nữa loay hoay với đống hóa đơn thì các chủ ngân hàng sẽ thảnh thơi giấu mình trong biệt thự và du thuyền sang trọng của họ. Những gã khổng lồ của nền tài chính sẽ giải thích với đám phóng viên nhẹ dạ cả tin và các chính trị gia đã được đút lót rằng lần sụp đổ mới này là điều mà họ không lường trước được.

Trong khi người Mỹ từ chối việc đối mặt với những sự thật về nợ nần và thâm hụt ngân sách thì rất nhiều quốc gia khác trên toàn cầu đang hàng ngày gia tăng sức ép lên đồng USD. Chúng ta nghĩ rằng bản vị vàng đã lùi vào lịch sử, nhưng ngày nay, vàng đang dần chiếm ưu thế trên khắp thế giới và điều này có thể báo hiệu một sự quay trở lại với chế độ bản vị vàng. Chúng ta đang đánh giá quá thấp về những mối nguy hiểm từ một cuộc tấn công tài chính trên quy mô siêu lớn và những rủi ro của một cuộc chiến tranh tài chính mang tầm quốc tế.

Phân tích hồi quy và các vấn đề tương quan, những công cụ ưa thích của các nhà phân tích định lượng tài chính và các nhà kinh tế học, hoàn toàn không hiệu quả trong việc đối phó với rủi ro phía trước. Những phép phân tích này giả định rằng tương lai giống với quá khứ ở một chừng mực nào đó. Lịch sử là một thầy giáo tuyệt vời nhưng những giả thiết của các chuyên gia phân tích định lượng tài chính lại ẩn chứa những sai lầm chết người. Sai lầm thứ nhất là khi nhìn về quá khứ, tầm nhìn không đủ xa. Hầu hết dữ liệu liên quan đến Phố Wall đều chỉ bao quát 10, 20 hoặc 30 năm về trước. Những nhà phân tích cẩn thận, thấu đáo hơn sẽ sử dụng hàng loạt dữ liệu thu thập được trong 100 năm và tìm kiếm phương pháp thay thế phù hợp cho công cụ đo lường nào không tồn tại trong quá khứ. Tuy nhiên, hai sự sụp đổ của hai nền văn minh lớn nhất trong lịch sử là Thời đại Đồ đồng và Đế chế La Mã diễn ra cách nhau 1600 năm và Đế chế La Mã lại cách thời đại của chúng ta 1600 năm. Nói như vậy không phải để ám chỉ việc nền văn minh của chúng ta lại sắp sụp đổ một lần nữa, mà đơn thuần chúng tôi chỉ muốn đưa ra tầm nhìn cực kỳ hạn chế mà phần lớn các phép phân tích hồi quy đang áp dụng. Sai lầm thứ hai liên quan đến thực tế là các chuyên gia phân tích định lượng tài chính không hiểu rõ các mô hình động lực học đo lường quy mô (scaling dynamics) vốn đang gạt bỏ một số công cụ đo lường rủi ro ra khỏi lịch sử. Vì rủi ro tiềm năng là hàm số mũ của quy mô hệ thống, và vì quy mô của các hệ thống tài chính được đo lường bởi chứng khoán phái sinh không tồn tại, nên rủi ro cũng không tồn tại.

Mặc dù từ “sụp đổ” áp dụng cho đồng USD nghe có vẻ hơi giống trong sách Khải huyền (cuốn sách cuối cùng của Tân Ước) nhưng nó mang một ý nghĩa hết sức thực tế. Sụp đổ đơn giản là việc người dân và các ngân hàng mất niềm tin vào sức mua tương lai của đồng USD. Kết quả là những ai có USD sẽ “tránh xa” nó bằng cách chi tiêu nhanh hơn hoặc mau sắm tài sản hữu hình. Sự thay đổi nhanh chóng trong hành vi này khiến lãi suất cao hơn, lạm phát nghiêm trọng hơn và quá trình tích lũy tư bản tan rã. Kết quả cuối cùng có thể là tình trạng giảm phát (tương tự những năm 1930) hoặc lạm phát (tương tự những năm 1970), hoặc cả hai.

Sự sụp đổ đang diễn ra của đồng USD cũng như của hệ thống tiền tệ quốc tế là điều hoàn toàn có thể thấy trước. Đây không phải một kết luận mang tính khiêu khích. Hệ thống tiền tệ quốc tế đã sụp đổ ba lần trong một thế kỷ qua – vào các năm 1914, 1939 và 1971. Mỗi lần như vậy kéo theo cả một thời kỳ hỗn loạn. Lần sụp đổ năm 1914 là hệ quả của Chiến tranh Thế giới I, theo sau đó là những giai đoạn lạm phát phi mã và suy thoái luân phiên từ 1919 đến 1922 trước khi ổn định trở lại vào giữa thập niên 1920, tuy nhiên, đi kèm với đó là một chế độ bản vị vàng nhiều sai sót – nhân tố đưa thế giới đến lần sụp đổ mới trong thập niên 1930. Chiến tranh Thế giới lần II là nguyên nhân gây ra cuộc sụp đổ 1939 và lại ổn định một lần nữa nhờ hệ thống Bretton Woods được thiết lập năm 1944. Lần sụp đổ năm 1971 xảy ra do lệnh cấm chuyển đổi USD thành vàng của Nixon, mặc dù quyết định này đã được xem xét trong nhiều năm trước đó. Tiếp nối sự kiện này lại là một giai đoạn hỗn loạn khác, gần như đẩy đồng USD đến bờ vực sụp đổ vào năm 1978.

Lần sụp đổ sắp tới, cũng giống những lần trước, có thể liên quan tới chiến tranh, vàng hoặc tình trạng hỗn loạn, hoặc cả ba. Chúng tôi chỉ đề cập đến những mối đe dọa gần nhất đối với đồng USD – những sự kiện nhiều khả năng sẽ xảy ra trong một vài năm tới, đó là chiến tranh tài chính, giảm phát, lạm phát phi mã và sự sụp đổ của thị trường. Chỉ những quốc gia và cá nhân nào chuẩn bị sẵn sàng ngay hôm nay thì mới sống sót được qua cơn cuồng phong đang ập đến.

Sự lụi tàn của đồng tiền không sử dụng những phương pháp đầy tính “mị dân” mặc cho chúng rất phổ biến, mà dựa vào lý thuyết về độ phức hợp (complexity theory) và coi đây là thấu kính tốt nhất để xem xét những rủi ro hiện tại cũng như hệ quả có thể xảy ra trong tương lai. Thị trường vốn là hệ thống phức tạp hơn bất cứ hệ thống nào khác. Lý thuyết về độ phức hợp tương đối mới mẻ trong lịch sử khoa học, nhưng trong 60 năm tồn tại, nó đã được ứng dụng rộng rãi để nghiên cứu thời tiết, động đất, các mạng lưới xã hội và những hệ thống kết nối chằng chịt khác. Lý thuyết này chỉ mới được áp dụng cho thị trường vốn trong thời gian gần đây, nhưng nó đã đem lại nhiều hiểu biết sâu sắc về các phép đo độ rủi ro và sự biến động của giá cả – những nhân tố có khả năng dự báo chính xác hơn so với các phương pháp truyền thống.

Như các bạn sẽ thấy, lần sụp đổ tài chính tiếp theo sẽ là vô tiền khoáng hậu. Nhưng một tầm nhìn sáng suốt hơn về những biến cố đang diễn ra trên thị trường tài chính thế giới có thể giúp các nhà đầu tư suy nghĩ thấu đáo về những chiến lược tối ưu.

Hãy nghĩ đến một cuộc chiến tranh tài chính, chứ không chỉ là những hệ quả mà thị trường phải gánh chịu.

+ Chiến tranh tài chính

Chúng ta có được chuẩn bị để đối phó với một cuộc chiến tranh tài chính không? Sự điều khiển chiến tranh tài chính khác với sự cạnh tranh thông thường về kinh tế giữa các quốc gia, vì nó liên quan đến những hành động hiểm ác một cách có chủ ý thay vì những hành động cạnh tranh đơn thuần. Các bên tham gia cuộc chiến sẽ sử dụng chứng khoán phái sinh và xâm nhập vào các sàn giao dịch để gây tổn thất, kích động khiến mọi người hoang mang và cuối cùng là làm tê liệt nền kinh tế của đối thủ. Chiến tranh tài chính vượt xa hành động gián điệp công nghiệp vốn xuất hiện từ đầu những năm 1800 khi một người Mỹ là Francis Cabot Lowell ghi nhớ bản thiết kế máy dệt của người Anh rồi về nước vẽ lại.

Vũ khí trong cuộc chiến tài chính hiện đại bao gồm các quỹ đầu cơ trá hình và các cuộc tấn công mạng có khả năng gây tổn hại hệ thống nhập lệnh để giả mạo một đợt bán tháo cổ phiếu Apple, Google hay IBM. Những người ủng hộ lý thuyết thị trường hiệu quả nghi ngờ những chiến thuật tinh vi như vậy sẽ nhanh chóng thất bại trong việc nhìn ra điểm yếu này của thị trường. Mục tiêu của chiến tranh tài chính không phải là tối đa hóa sự giàu có, mà là chiến thắng.

Rủi ro xảy ra chiến tranh tài chính trong thời đại đồng USD đang thống trị nghe thật mới mẻ, vì Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chưa bao giờ phải chung sống trong một thế giới nơi các nước khác không phụ thuộc vào Mỹ để đảm bảo an ninh quốc gia của mình. Ngay cả khi đồng USD suy yếu nhất vào năm 1978, Đức, Nhật và những nước xuất khẩu dầu mỏ khác vẫn phải tìm cách chống đỡ cho nó vì họ phụ thuộc rất nhiều vào sự bảo trợ của Mỹ trước mối đe dọa từ Xô viết. Ngày nay, tình hình an ninh của các cường quốc như Nga, Trung Quốc và Iran không cần dựa vào Hoa Kỳ, thậm chí họ còn thấy lợi ích nào đó từ một nước Mỹ bị tổn thương về mặt kinh tế. Các thị trường vốn giờ đây đã trở thành vấn đề chiến lược và cả giới chuyên gia phân tích Phố Wall lẫn các nhà hoạch định chính sách ở Washington đều hiểu một cách hết sức mập mờ về thế giới mới này, trong khi họ chính là những người cần nắm rõ nhất về tác động của sự biến chuyển nói trên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rikards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Điều hành kinh tế siêu vĩ mô định hướng xã hội chủ nghĩa – Phần XIV


Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô đem lại nguồn vốn khổng lồ cho sự phát triển kinh tế xã hội, cho sự đuổi kịp các nước tiên tiến. Bằng việc tạo ra tiền ảo, chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đã có công cụ mạnh mẽ để thực hiện được sự điều hành kinh tế, có công cụ để đưa mọi tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội vào vòng ảnh hưởng của mình. Đó là cơ sở để chủ nghĩa xã hội khoa học hiện đại thể hiện sức sống mãnh liệt của mình. Bằng việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô, đảng của giai cấp vô sản độc quyền lãnh đạo tài trợ cho sự phát triển của các giai cấp khác trong xã hội, buộc các giai cấp đó phục vụ lợi ích của mình. Lenin nói: “Mỗi chế độ xã hội chỉ nảy sinh ra nếu được một giai cấp nhất định nào đó giúp đỡ về tài chính”. Do sản xuất tiền ảo, giai cấp vô sản tài trợ cho chủ nghĩa tư bản ở nước mình, nhưng lại kiểm soát được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nắm điều hành kinh tế siêu vĩ mô, đảng của giai cấp vô sản đưa giai cấp tư sản ở trong nước vào sự chi phối và điều hành của mình. Một khi được giai cấp vô sản ở nước có đảng tiên phong của mình độc quyền lãnh đạo giúp đỡ tài chính, thông qua chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô do đảng tiên phong của mình thiết lập nên, thì giai cấp tư sản ở nước đó phải phục vụ lợi ích của giai cấp vô sản trong khi theo đuổi mục đích lợi nhuận của mình. Lenin đã nói khi làm một cái mới, một sự nghiệp chưa từng có trong lịch sử, thì phải làm đi làm lại hàng trăm lần, như vậy phải có nguồn tài trợ. Vậy nguồn tài trợ đó ở đâu ra? Tiền ảo đã cung cấp cho các trùm tư bản công cụ mới để thống trị thế giới, tiền ảo cũng cung cấp cho giai cấp vô sản ở các nước có Đảng Cộng sản độc quyền lãnh đạo phương tiện để phát triển kinh tế đuổi kịp các nước tiên tiến. Số tiền ảo được tạo ra là hậu phương lớn của các doanh nghiệp của một nước đầu tư ra nước ngoài, thâm nhập thị trường nước ngoài, cạnh tranh với thị trường nước ngoài.

Bằng việc phát triển chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô và có điều kiện nhất để thực hiện quyết liệt sự điều hành kinh tế siêu vĩ mô, các nước do giai cấp vô sản lãnh đạo có rất nhiều thuận lợi để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội, đẩy nhanh tiến trình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. “Cái mấu chốt không phải là chính quyền, mà cái mấu chốt chính là biết lãnh đạo, biết đặt người cho đúng chỗ, biết tránh những cọ xát nhỏ để làm thế nào cho hoạt động kinh tế của nhà nước khỏi bị gián đoạn” (Lenin).

Tính chất phong phú, toàn diện và cập nhật được những thành quả phát triển mới nhất của thực tiễn khoa học công nghệ và đời sống kinh tế xã hội đã thể hiện sức sống bất diệt của chủ nghĩa Marx – Lenin, và niềm tin vào tương lai của xã hội vì con người mà những người cộng sản chủ trương xây dựng.

II/ Định hướng xã hội chủ nghĩa

Khi “Kinh tế thị trường do chính quyền định hướng xã hội chủ nghĩa là không thành công; cả Nhật Bản và Hàn Quốc đã phải trả giá đắt cho điều này. Xu thế không thể đảo ngược của thị trường hóa là sự chuyển đổi từ nền kinh tế do chính quyền dẫn dắt sang nền kinh tế định hướng thị trường” (Chi Fulin, 2004), có nghĩa là việc nhà nước làm việc đó gây ra những mâu thuẫn mới trong xã hội, làm xuất hiện những hiệu ứng phụ gây tai hại cho nền kinh tế, làm cản trở sự phát triển, gây ra sự bất bình đẳng mới trong xã hội. Vấn đề cần phải được nhìn nhận và giải quyết ở tầm mức khác, tầm mức siêu vĩ mô. Một nền kinh tế mà các nguồn nguyên liệu và nhiên liệu dựa vào nước ngoài, không thể dùng điều hành kinh tế vĩ mô mà giải quyết được những vấn đề đang được đặt ra cho sự phát triển kinh tế. Khi giá dầu tăng mà nhà nước duy trì giá xăng dầu thấp sẽ làm cho nhiều người lợi dụng buôn lậu xăng dầu qua biên giới, gây ra những bất công mới cho xã hội, làm trầm trọng nhiều mâu thuẫn. Trong khi đó có thể duy trì giá điện ở mức thấp, vì không thể buôn lậu điện được.

Người ta không thể giải quyết chủ động được những vấn đề kinh tế đối ngoại chỉ bằng việc điều hành vĩ mô.

Sau nội chiến, nước Nga xô viết bị tàn phá, thiếu nguyên vật liệu, thiếu lương thực, nhà máy đóng cửa, giai cấp công nhân thất nghiệp kiếm sống bằng đủ mọi cách, nền kinh tế quay về kinh tế tiểu nông. Lenin đề ra chính sách kinh tế mới, phát triển kinh tế tư bản vì đó là công cụ để xây dựng lại giai cấp công nhân, phát triển kinh tế. Lenin thấy rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua phát triển kinh tế tư bản nhà nước. Thời đại của Lenin, người ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thông qua sự phát triển tư bản nhà nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội qua con đường phát triển tư bản nhà nước. Nền kinh tế siêu vĩ mô đã đặt ra vai trò mới của Đảng Cộng sản đã giành được độc quyền lãnh đạo. Bước xuyên qua tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô dưới sự lãnh đạo của Đảng để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Là một nước đang phát triển kinh tế còn lạc hậu, việc phát triển theo con đường tư bản đối với chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là con đường để hình thành nên đội ngũ giai cấp vô sản, tính kỷ luật của giai cấp vô sản, đồng thời đó là cách thức để phát triển các phương tiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bước quá độ phát triển lên xã hội mới thời Lenin là phát triển kinh tế nhà nước. Bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay là phát triển tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, mà xã hội phải tìm ra được các cách thức phát triển tư bản mới và kiểm soát, định hướng được các loại tư bản cũ. Vậy một xã hội như thế nào mới có thể làm được điều này? Một quốc gia đất không rộng, người lại đông, có trình độ phát triển kinh tế không cao có thể làm được những việc này không?

Những lời dạy của Lenin rất quý giá để hiểu được vì sao Liên Xô sụp đổ:

“Rõ ràng, cái còn thiếu chính là trình độ văn hóa của những người cộng sản lãnh đạo”.

“Người ta đã dạy chúng ta rằng: khi một dân tộc này đi chinh phục một dân tộc khác, thì lúc đó dân tộc chinh phục được là dân tộc thắng trận, còn dân tộc bị chinh phục là dân tộc thua trận. Đó là điều đơn giản và ai cũng có thể hiểu được. Nhưng nền văn hóa của các dân tộc ấy thì sẽ ra sao? Điều đó không phải giản đơn đâu. Nếu dân tộc đi chinh phục có trình độ văn hóa cao hơn dân tộc thua trận, thì nó bắt dân tộc thua trận phải theo văn hóa của nó. Trong trường hợp ngược lại, cũng có khi chính dân tộc thua trận lại buộc dân tộc đi chinh phục phải theo văn hóa của mình”.

“Văn hóa của họ là một thứ văn hóa thấp kém, không đáng kể. Nhưng dù sao, văn hóa đó cũng cao hơn văn hóa của chúng ta. Dù nó thảm hại và thấp kém thế nào đi nữa, nó cũng còn cao hơn trình độ văn hóa của những người cộng sản phụ trách của chúng ta, vì những người cộng sản này không đủ khả năng lãnh đạo. Những người cộng sản đứng đầu các công sở, – đôi khi những kẻ phá hoại ngầm đẩy họ lên địa vị đó một cách khôn khéo có dụng ý, để làm một cái chiêu bài cho chúng ta, – những người cộng sản đó thường bị người ta đánh lừa” (Lenin), và “họ cứ tưởng minh là lãnh đạo người khác, nhưng thật ra, họ có biết chính họ bị người khác lãnh đạo không? Nếu họ hiểu được điều đó, thì chắc chắn họ sẽ học lãnh đạo được, vì có thể học lãnh đạo được. Nhưng muốn thế, phải học tập, mà ở nước ta, người ta lại không chịu học tập” (Lenin).

“Chỉ trông vào bàn tay của những người cộng sản để xây dựng xã hội cộng sản, đó là một tư tưởng hết sức ngây thơ. Những người cộng sản chỉ là một giọt nước trong đại dương, một giọt nước trong đại dương nhân dân. Họ chỉ có thể lãnh đạo nhân dân đi theo con đường của mình với điều kiện là học vạch ra được con đường đó cho đúng, không những chỉ đúng theo hướng đi của lịch sử thế giới mà thôi (…), ở chính nước ta, chúng ta cũng phải vạch con đường đó một cách đúng đắn”. “Chỉ khi nào những người cộng sản biết dùng bàn tay của người khác để xây dựng nền kinh tế ấy, và bản thân mình học tập giai cấp tư sản ấy và hướng giai cấp ấy theo con đường mình muốn, khi đó chúng ta mới có thể lãnh đạo được nền kinh tế”. “Nhưng muốn thoát khỏi cảnh thiếu thốn, bần cùng cực độ, thì phải có suy nghĩ, có văn hóa, phải có nền nếp. Thế mà điều đó họ lại không có”.

Phát triển tư bản là cách thức để phát triển đội ngũ những người vô sản, để cho lối làm ăn lớn, đại công nghiệp và hậu công nghiệp lan tỏa khắp xã hội, và từ đó giai cấp vô sản có tầm ảnh hưởng rất quan trọng về thực chất trong toàn xã hội. Đây là trường học đào tạo giai cấp vô sản về tác phong kỷ luật của nền sản xuất đại công nghiệp hiện đại, của nền sản xuất hậu công nghiệp, là học phí phải trả. Giai cấp vô sản phải nắm được các bí quyết, chuyên môn và nghiệp vụ phát triển kinh tế trong kinh tế thị trường, vì kinh tế thị trường hàng ngày hàng giờ tạo ra tư bản mới. Qua hoạt động phát triển tư bản, đảng của giai cấp vô sản hiểu được những gì đang thực sự diễn ra trong nền kinh tế thị trường, cách khai thác các nguồn lực của chúng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.