Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần III


Quan hệ cạnh tranh – hợp tác trong thời kỳ mới dẫn đến sự chuyển hướng trọng tâm được chú ý

Những năm 1990, đóng góp của MỸ đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 29,1%, tổng lượng của các nền kinh tế phát triển phương Tây với G7 làm đại diện là 76%, khi so sánh, đóng góp cảu Trung Quốc là 9% và của những nền kinh tế mới nổi và phát triển là 36,3%. Từ năm 2008 đến 2016, đóng góp của Mỹ và các nước phát triển đối với kinh tế thế giới giảm xuống mức 7,4% và 23,9%, còn đóng góp của Trung Quốc là 35,6% và các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển là 77,7%, thể hiện rõ xu thế phương Đông tiến lên, phương Tây thụt lùi. Năm 2005, tổng lượng GDP của Trung Quốc đã vượt qua Anh, năm 2007 vượt qua Đức, năm 2010 đã thay thế Nhạt Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2012, tổng lượng kinh tế Trung Quốc đạt đến một nửa của Mỹ, năm 2017 đã lên tới mức 2/3 tổng lượng kinh tế của Mỹ. Ngay từ năm 2011, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố một dự báo tính toán GDP trên cơ sở thuyết sức mua tương đương (PPP) cho rằng GDP của Trung Quốc có thể ngang bằng, thậm chí vượt qua Mỹ sau năm 2020. Báo cáo mới nhất của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và thế giới thuộc Đại học Thanh Hoa dự báo Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới sau năm 2025.

Tuy xem xét về mặt mức thu nhập bình quân đầu người của một nước, giữa Trung Quốc và Mỹ còn có khoảng cách khá lớn, tổng lượng kinh tế giữa hai nước xích lại gần nhau, sự phát triển công nghệ của Trung Quốc đang trong quá trình rượt đuổi Mỹ và ảnh hưởng của Trung Quốc không ngừng gia tăng trên vũ đài quốc tế đều có dấu ấn cạnh tranh quyết liệt về tâm lý của giới tinh hoa, dân chúng Mỹ và quan hệ Trung – Mỹ. Chắc chắn, Trung Quốc đã bị Mỹ coi là đối thủ cạnh tranh chủ yếu, từ “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” công bố vào ngày 18/12/2017, “Báo cáo chiến lược quốc phòng” được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố vào ngày 19/1/2018 đến “Chương trình chính sách thương mại năm 2918 và Báo cáo hàng năm năm 2017” do Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ công bố tháng 2/2018 đều nâng vấn đề thương mại với Trung Quốc lên tầm cao của an ninh quốc gia Mỹ. Trong báo cáo điều tra liên quan đến Mục 301 của Đạo luật thương mại Mỹ năm 1974 dài 184 trang, từ “nhập siêu” chỉ xuất hiện một lần, mục tiêu liên quan đến Mục 301 mà Đại diện thương mại Mỹ công khai tuyên bố chính là chĩa mũi nhọn vào chiến lược “Made in China 2025”. Ngày 8/11/2017, Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã lần lượt đề xuất một dự thảo “Luật hiện đại hóa đánh giá rủi ro từ đầu tư của nước ngoài”, một trong những người khởi xướng đạo luật này là hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Robert Pittenger cho biết bộ luật sẽ đảm bảo khoa học công nghệ Mỹ duy trì vị trí đứng đầu.

Thái độ của Chính phủ Mỹ đối với chiến tranh thương mại thể hiện rất đa dạng

Nghị sỹ hai đảng của Mỹ đưa ra tiếng nói phản đối tại Quốc hội

Ngày 11/7/2018, với 88 phiếu thuận/11 phiếu chống, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết hạn chế quyền áp thuế của Tổng thống Donald Trump. Đây là lần hiếm hoi hai đảng thể hiện lập trường đồng nhất. Tuy là nghị quyết không mang tính ràng buộc, nhưng việc hai đảng có tư tưởng thống nhất và cùng hành động trong cơ chế lập pháp chung lần này, đã truyền đi tín hiệu rằng thể chế chính trị của Mỹ bắt đầu quan ngại đối với chính sách thương mại cấp tiến của Chính quyền Donald Trump. Ngày 18/7/2018, tiếp tục có 140 nghị sĩ cùng lên tiếng phản đối việc chính phủ áp thuế ô tô, cho rằng việc áp thuế đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, thực hiện hạn ngạch thương mại hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khác sẽ làm tổn hại sự phát triển của ngành ô tô Mỹ. Việc Donald Trump gây sức ép với Trung Quốc là có cơ sở quần chúng, ví dụ như cuộc thăm dò dư luận do Trung tâm nghiên cứu Pew công bố ngày 19/7 cho thấy 49% người Mỹ được hỏi cho rằng việc áp thuế đối với các đối tác thương mại không có lợi cho Mỹ, trái lại 40% số người được hỏi cho rằng hành động này có lợi cho Mỹ, chỉ có 11% số người được hỏi không biết Mỹ sẽ phải chịu những ảnh hưởng nào. Nếu sự ủng hộ đối với chính sách thương mại của Donald Trump được duy trì ổn định, thì vì sao người của đảng Cộng hòa lại không đoàn kết xung quanh Donald Trump, trái lại còn gây khó khăn cho tổng thống?

Nội bộ đội ngũ của Donald Trump cũng có bất đồng

Đầu tháng 5/2018, Nhà Trắng cử phái đoàn thương mại Mỹ gồm 7 người đến Bắc Kinh đàm phán. Học giả của Đại học Phúc Đán Trung Quốc phân tích, từ góc độ thực dụng cho thấy đội ngũ đàm phán là “tổ hợp của phe diều hâu và phe bồ câu”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross được xem là người của phe bồ câu, vì ông – một người am hiểu tình hình Trung Quốc – từng đầu tư xưởng lắp ráp linh kiện ô tô ở Quảng Đông vào những năm 1990, năm 2005 tập đoàn may mặc quốc tế của ông đầu tư 100 triệu USD vào thành phố Gia Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông cũng là nạn nhân trong cuộc chiến thương mại gang thép của Mỹ, nhưng vì những kinh nghiệm nàyên ông từng bị Donald Trump công khai phê phán là mềm yếu trong chính sách đối với Trung Quốc, sau này thái độ của ông đối với Trung Quốc cũng dần trở nên cứng rắn. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Terry Branstad được coi là người thuộc phe bồ câu thân Trung Quốc chủ yếu là vì ông đến từ bang xuất khẩu nông nghiệp sang Trung Quốc luôn có quan hệ hữu nghị với giới kinh doanh và giới chính trị Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin từng làm việc cho ngân hàng Goldman Sachs là người ủng hộ dự luật cải cách thuế và kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, từng phản đối việc đưa Trung Quốc vào danh sách các nước thao túng tỷ giá hối đoái, đượ ccho là người thuộc phe trung gian. Điều thú vị là trong tuyên bố được đưa ra sau đàm phán, Nhà Trắng đã nhấn mạnh chủ trương của Mỹ là nhận thức chung của đội ngũ đàm phán, điều này đã làm cho bên ngoài suy đoán về những bất đồng trong đàm phán. Theo quan sát của học giả Derek Scissors thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), sở dĩ hiện nay Donald Trump chưa có chiến lược trong chính sách thương mại đối với Trung Quốc là vì nội bộ chính phủ có những ý kiến khác nhau.

Các giới kinh tế, ngành nghề của Mỹ đưa ra lời cảnh báo

Trước khi cuộc chiến thương mại diễn ra, có phương tiện truyền thông đưa tin 1140 nhà kinh tế học của Mỹ, trong đó có 14 người từng đoạt giải Nobel, cùng gửi thư cho Donald Trump, khẩn cầu tổng thống không nên phạm sai lầm dẫn tới cuộc đại suy thoái của Mỹ. Không lâu trước đó, 25 nhà bán lẻ nổi tiếng của Mỹ gồm Walmart, Macy’s, Best Buy… cùng gửi thư cho Donald Trump, kêu gọi Chính phủ Mỹ không nên áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc để tránh làm tổn hại người tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của người làm công ăn lương, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. 45 hiệp hội ngành nghề đại diện cho lợi ích của ngành bán lẻ, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp và hàng tiêu dùng khác cũng bày tỏ áp thuế sẽ làm cho chi phí của ngành sản xuất Mỹ tăng lên, làm rối loạn chuỗi cung ứng hiện có, và làm giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến việc làm của Mỹ. Tháng 5/2018, khi Bộ Thương mại Mỹ khởi động cuộc điều tra theo điều 232 của Luật Thương mại Mỹ đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, có phương tiện truyền thông cho rằng “những người chỉ trích đang xếp hàng” để kêu gọi chính phủ từ bỏ áp thuế tại phiên điều trần. Hàng nghìn công nhân Mỹ được các nhà sản xuất ô tô nước ngoài thuê cũng biểu tình ở Capitol Hill, khoảng 150 nghị sĩ của hai đảng cũng lên tiếng phản đối việc áp thuế ô tô, phiên điều trần đã trở thành “cuộc bao vây tấn công” để các bên cùng lên tiếng phê phán. Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung Quốc (USCBC) đưa ra công văn cho rằng USCBC đồng ý với Chính quyền Donald Trump – hiện trạng chuyển giao công nghệ của Trung Quốc và sự bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ quả thực cần được chú trọng, nhưng doanh nghiệp Mỹ vẫn hy vọng nhìn thấy phương án giải quyết những vấn đề này, chứ không chỉ là đơn phương áp thuế trừng phạt cuối cùng có thể gây ra tổn thất lớn hơn. Chủ tịch Hiệp hội thương mại Mỹ tại Trung Quốc William Zarit cho biết các đoàn thể thương mại tỏ ra rất quan ngại trước sự đáp trả do các biện pháp áp thuế của Chính quyền Donald Trump và hạn chế Trung Quốc đầu tư ở Mỹ có thể gây ra cũng như những tổn thương có thể gây ra đối với kinh tế Mỹ và thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Advertisements

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần II


Doanh nghiệp Mỹ đã giành được phần lớn lợi nhuận trong thương mại Trung – Mỹ

Báo cáo của Bộ Thương mại Trung Quốc nêu rõ 59% xuất siêu của Trung Quốc năm 2017 đến từ thương mại gia công, 57% đến từ doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp ở Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ có thể nói chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2010 cho biết trong số các hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc như dệt may, da giày…, lợi nhuận mà thương nhân nhập khẩu và thương nhân bán lẻ ở Mỹ được hưởng chiếm tới 90% tổng lợi nhuận. Doanh nghiệp xuất khẩu nhiều nhất của Trung Quốc năm 2017 là Công ty Foxconn Trịnh Châu đã sản xuất điện thoại cho Công ty Apple của Mỹ với số tiền là 104 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH], dường như đã chiếm một nửa lượng tiêu thụ điện thoại của Apple trên toàn thế giới, kim ngạch lên tới 28,1 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH]. Điện thoại iPhone được thiết kế, nghiên cứu và phát triển ở Mỹ, nhưng trên 80% linh kiện lắp ráp được sản xuất tại Trung Quốc. Một bài viết trên tờ Foreign Affairs ước tính khi bán một chiếc điện thoại iPhoneX với giá 999 USD, chi phí chế tạo ở Trung Quốc chỉ từ 3 đến 6% tổng chi phí 370 USD, công ty Apple đã giành được phần lớn lợi nhuận. Công ty Apple có tài sản bao gồm tiền mặt và cổ phiếu lên tới 250 tỷ USD ở nước ngoài, sau khi quốc hội Mỹ thông qua dự thảo luật cải cách thuế, công ty này tuyên bố sẽ thanh toán một lần khoản thuế đánh vào lợi nhuận ở nước ngoài với số tiền là 38 tỷ USD, rút số tiền 245,1 tỷ USD ở nước ngoài về Mỹ, đồng thời có kế hoạch đầu tư hơn 350 tỷ USD tại Mỹ trong 5 năm tới, tăng thêm 20.000 việc làm, điều này tương đương với việc đem số tiền kiếm được ở Trung Quốc trở về Mỹ. Tập đoàn Foxconn sản xuất điện thoại iPhone cho Apple đã quyết định xây dựng nhà máy ở Mỹ, tổng đầu tư lên tới 10 tỷ USD, sẽ cung cấp 13000 việc làm tại bang Wisconsin. Có thể nói, trong chuỗi giá trị toàn cầu, xuất siêu phản ánh ở Trung Quốc, nhưng xuất siêu lợi ích lại phản ánh ở Mỹ.

Tốc độ tăng trưởng xuất siêu thương mại dịch vụ nhanh chóng với kim ngạch rất to lớn

Cách tính toán của Mỹ lấy kim ngạch nhập khẩu trừ đi kim ngạch xuất khẩu thấy tình trạng nhập siêu đã không xem xét đến tăng trưởng thương mại dịch Mỹ – Trung. Trong 10 năm qua, tăng trưởng xuất khẩu của ngành dịch vụ Mỹ sang Trung Quốc đã tăng gấp 5 lần. Năm 2017, kim ngạch thương mại dịch vụ giữa Trung Quốc và Mỹ là 118,2 tỷ USD, trong đó giá trị dịch vụ của Mỹ được Trung Quốc mua lên tới 90 tỷ USD, mà kim ngạch 90 tỷ USD đó không được thể hiện trong tính toán thương mại Trung – Mỹ. Hội đồng thương mại Mỹ – Trung nêu rõ Trung Quốc là điểm lớn thứ hai của ngành xuất khẩu dịch vụ của Mỹ, tổng số tiền xuất siêu dịch vụ của Mỹ sang Trung Quốc là 53 tỷ USD (Trung Quốc thống kê là 54,7 tỷ USD). Phần xuất sei6u dịch vụ sang Trung Quốc của Mỹ đã bị bỏ qua mà không tính đến.

Thay đổi môi trường kinh tế chính trị trong nước và quốc tế là nhân tố quan trọng gây ra va chạm thương mại

Sự thay đổi môi trường chính trị bên trong nước Mỹ là động lực quan trọng

Va chạm thương mại có liên quan đến nền tảng chính trị của quan hệ thương mại Trung – Mỹ có sự thay đổi. Chuyên gia nổi tiếng về kinh tế chính trị học của Đại học Harvard (Mỹ) Dani Rodrik cho rằng chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến việc tái phân phối trong chính sách đối nội của một quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế đã tạo ra kẻ thắng và người thua ở Mỹ, sự chia rẽ giữa giới tinh hoa của Mỹ và giới bảo thủ truyền thống ở Mỹ do tích tụ vấn đề trong nhiều năm đã giúp Trump đắc cử tổng thống, do đó hiện tượng Trump là sự phản ánh ở mức độ nhất định nguyện vọng của nhân dân.

Có học giả Mỹ cho rằng: “Trump thiếu kiên nhẫn hơn các tổng thống tiền nhiệm, nguyên nhân là sự mỏng yếu của ông về chính trị, 2018 cũng là năm diễn ra cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, Trump phải giành được thắng lợi to lớn về ngoại giao để sánh ngang với những việc làm vĩ đại của Nixon năm 1972”. Để làm hài lòng cư tri thuộc tầng lớp hạ lưu bị tác động ở những bang có nền công nghiệp “sắt gỉ” (ngành công nghiệp cũ bị suy thoái) trong tiến trình xóa bỏ công nghiệp hóa ở Mỹ, Trump mong muốn thông qua phương thức chiến tranh thương mại quyết liệt để thể hiện mình là người thực hiện cam kết khi tranh cử, là người anh hùng giúp người Mỹ nguôi giận, gia tăng khả năng chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử quốc hội lần này, động cơ rõ ràng đó đã được sự đồng thuận của đông đảo mọi người. Ngoài ra, nội bộ Nhà Trắng từ hơn một năm rưỡi cầm quyền của Trump có sự biến động liên tục về nhân sự, sau hàng loạt hành động “tẩy rửa biển hiệu”, bao gồm hàng loạt người thuộc phái ôn hoa như Gary Cohn đến từ Wall Street bị sa thải, hạt nhân của nhóm giúp việc cho Trump về kinh tế hiện nay thể hiện sự cứng rắn rõ ràng đối với Trung Quốc, những người đại diện tiêu biểu nhất là Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer và Cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro (Cuốn sách “Chết bởi Trung Quốc” của Navarro trở thành cương lĩnh để Mỹ tấn công thương mại đối với Trung Quốc). Tháng 3/2018, Trump cũng đã bổ nhiệm John Bolton làm Cố vấn an ninh quốc gia, Mike Pompeo làm ngoại trưởng, tạo thành một nội cách mà phe diều hâu mạnh nhất trong lịch sử Mỹ.

Sự thúc đẩy trực tiếp từ chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Trung Quốc và Mỹ

Cải cách mở cửa được 40 năm, thành công trong phát triển kinh tế Trung Quốc đã thể hiện sự chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Mô hình phát triển tăng trưởng cao dựa vào lực lượng lao động đông đảo và định hướng xuất khẩu được các chuyên gia kinh tế gọi là mô hình phát triển công xưởng của thế giới, làm cho kinh tế Trung Quốc nhanh chóng vươn lên, nhảy vọt trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, mô hình phát triển công xưởng của thế giới dựa vào tiêu hao tài nguyên nhiều, lợi thế dân số, trả giá về môi trường và bán nhiều lãi ít đã đi đến hồi kết. Xem xét từ cấp độ vĩ mô, có thể xuất siêu lớn mà xuất khẩu giành được có nhân tố nhất định từ tình trạng quá dư thừa tính lưu động, xem xét về vi mô, có thể thấy sự thay đổi cơ cấu lao động làm cho ưu thế về giá thành trong ngành chế tạo tập trung nhiều lao động không còn nữa, ngành chế tạo với công nghệ lạc hậu đã mất khả năng cạnh tranh trên thế giới. Trung Quốc cũng như cộng đồng quốc tế không thể tiếp tục thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều rộng như tiêu hao nhiều tài nguyên, lượng khí thải cao, môi trường ô nhiễm nặng… Kinh tế Trung Quốc đang trải qua sự chuyển đổi mô hình sâu sắc, mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực chuyển sang lấy tiêu dùng làm động lực cần thông qua không ngừng ưu việt hóa cơ cấu sản xuất, thông qua đổi mới công nghệ để thực hiện nâng cấp ngành sản xuất, nâng lên vị trí cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là nội dung cốt lõi của kinh tế Trung Quốc từ tăng trưởng với tốc độ cao chuyển sang giai đoạn phát triển chất lượng cao trong bối cảnh thời đại mới.

Nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương, cũng đang gặp rắc rối khi kinh tế suy thoái, từ số liệu thống kê của Cơ quan phân tích kinh tế M4y (BEA), có thể thấy sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên được gọi là “thời kỳ 4%”, thời kỳ đó là giai đoạn tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 1950 đến 1960 là 4,2%; giai đoạn từ năm 1970 đến 1990 tăng trưởng chậm lại xuống còn 3,3%, giai đoạn hai gọi là “thời kỳ 3%”; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 thuộc “thời kỳ 2%”, tốc độ tăng bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 là 2,7% từ năm 2007 đến 2017 đã giảm xuống còn 2,3%. Giáo sư Lư Phong ở Đại học Bắc Kinh phân tích rằng xu thế kinh tế tăng trưởng chậm lại đã tạo ra tình trạng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào chính sách kích thích nới lỏng tiền tệ. Với mô hình phân công quốc tế toàn cầu hóa, ngành công nghiệp Mỹ đã xuất hiện xu hướng lưỡng cực hóa – một cực là ngành sản xuất chất lượng cao tập trung nhiều tri thức và công nghệ, một cực khác là nông nghiệp, kết quả là làm suy yếu ngành chế tạo của Mỹ. Cựu chủ tịch Ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Alan Greenspan cho rằng ảnh hưởng dự trữ ngoại tệ của Mỹ đối với đầu tư trước năm 1980 rất rõ ràng, tăng trưởng kinh tế sau năm 1980 đã tìm được một động lực khác là tín dụng, các khoản vay của Mỹ trên toàn thế giới đã nhanh chóng tăng lên 8000 tỷ USD, nhanh chóng chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội tiêu dùng. Do đó, theo quan điểm của nhiều người, vấn đề mà Trump khởi xướng không phù hợp với “chấn hưng ngành chế tạo”  theo đặc trưng kinh tế Mỹ, là một điều chỉnh mà ông cho rằng do toàn cầu hóa trước đây đã đưa lộ trình phát triển kinh tế Mỹ vào con đường sai lầm. Đối với việc tấn công về thuế nhằm vào Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Canada, Mexico…, kết hợp với nhóm biện pháp kinh tế giảm thuế với quy mô lớn và hạn chế tăng lãi suất, theo quan điểm của nhóm giúp việc cho Trump, sẽ đẩy nhanh sự lưu động của đầu tư toàn cầu về Mỹ, thúc đẩy ngành chế tạo “trở về” Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần I


Căn cứ vào số liệu thống kê thương mại mới nhất do Bộ Thương mại Mỹ công bố, nhập siêu của Mỹ năm 2017 cao kỷ lục trong 9 năm gần đây, lên tới 566 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017 giữa Mỹ và Trung Quốc là 635,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc của Mỹ chỉ là 130,3 tỷ USD. Mỹ đã nhập khẩu 505,6 tỷ USD từ Trung Quốc, nhập siêu là 375,2 tỷ USD. Nhập siêu lớn mà Mỹ tính toán có phải do thương mại bất bình đẳng với Trung Quốc hay không? Xem xét từ nguyên lý thương mại và thực tế của quan hệ thương mại Trung – Mỹ, sự mất cân bằng thương mại song phương được hình thành từ những phương diện sau:

Vấn đề mang tính cơ cấu do sự phát triển kinh tế thế giới nhanh chóng

Nhập siêu là kết quả tất yếu từ vị thế vượt trội của đồng USD trong hệ thống tiền tệ quốc tế

Về nguyên lý kinh tế, mất cân bằng thương mại của Mỹ trước hết là do dự trữ tiền tiết kiệm quốc dân của nước này. Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế nổi tiếng Martin Feldstein cho thấy: Xuất khẩu ròng = (dự trữ cá nhân – đầu tư) + (thuế thu được – chi ngân sách chính phủ). Quan điểm chung là sự mất cân bằng thương mại của một quốc gia về căn bản không phải chứng tỏ quốc gia đó căn cứ vào số liệu về nguồn thu để xác định nguyên tắc chi ngân sách, mà là trạng thái thu không bù được chi. Nếu kim ngạch đầu tư của Mỹ vượt trên số lương dự trữ của cả đất nước thì phải thu hút nguồn tiền từ các khu vực khác trên thế giới để bù đắp vào sự thiếu hụt giữa hai bên, cũng đã tạo ra nhập siêu hiện nay. Ngoài ra, sử dụng hệ thống dự trữ tiền tệ quốc tế với trụ cột là nguồn vay cảu chính phủ Mỹ, một mặt in nhiều đồng USD mà Mỹ không sợ lạm phát để duy trì mức độ tiêu dùng vượt quá năng lực sản xuất của họ, mặt khác sự lưu động của đồng USD trở thành sản phẩm công cộng của hệ thống thương mại quốc tế. Chuyên gia kinh tế nổi tiếng Triffin Dilemma cho rằng một khi đồng tiền của một quốc gia trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế có tầm ảnh hưởng thế giới, nhất định sẽ nhập siêu về thương mại, đồng thời nếu Mỹ không duy trì nhập siêu, tính lưu động của đồng USD sẽ giảm đi, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại toàn cầu.

Tiết kiệm của hộ gia đình liên tục giảm đi và trái phiếu của Mỹ tăng vọt làm gia tăng sự chênh lệch về thương mại

Gần 20 năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình tại Mỹ liên tục giảm, tỷ lệ này đã giảm từ 8% vào những năm 1990 xuống còn 1,75% năm 2006, giảm xuống mức âm vào 6 tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ nợ của Mỹ giảm từ 49% năm 1994, xuống còn 34% năm 2000, nhưng lại tăng lên 70% vào năm 2006. Tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình năm 2017 giảm xuống mức 3,6% mà tỷ lệ nợ của nhà nước đã lên tới hơn 100%.

Hệ thống phân công quốc tế hiện tại đã quyết định cục diện thương mại Trung – Mỹ

Lợi thế so sánh tương đối của Mỹ là ngành tập trung nhiều vốn, lợi thế so sánh cảu Trung Quốc là ngành sản xuất tập trung nhiều lao động. Tỷ lệ ngành sản xuất sơ cấp chiếm 8% trong GDP của Trung Quốc, tỷ lệ này chỉ chiếm 1% ở Mỹ; tỷ lệ ngành sản xuất công nghiệp (ngành sản xuất thứ hai) chiếm 20% GDP của Trung Quốc, chỉ chiếm 12% GDP của Mỹ; 53% GDP của Trung Quốc đến từ ngành dịch vụ (ngành sản xuất thứ ba) cò tỷ lệ này chiếm 79% ở Mỹ, cơ cấu kinh tế của Trung Quốc có vai trò chủ đạo của nông nghiệp cơ sở và ngành chế tạo, cơ cấu kinh tế của Mỹ là ngành dịch vụ nắm vai trò chủ đạo. Xuất siêu ngành dịch vụ của Mỹ năm 2016 lên tới 249,4 tỷ USD, mà nhập siêu ngành dịch vụ của Trung Quốc cùng giai đoạn đó là 240,9 tỷ USD. Thương mại song phương giữa Trung Quốc và Mỹ có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước về lợi thế so sánh và cơ cấu kinh tế. Trong thương mại hàng hóa, Mỹ nhập siêu, trong thương mại dịch vụ, Trung Quốc nhập siêu. Từ năm 2006 đến 2014, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ của Mỹ đối với Trung Quốc hàng năm là 16,7%, lên tới 33 tỷ USD vào năm 2015, trong đó bao gồm du lịch và giáo dục (57,2%), tiền thuế bản quyền (12,3%), giao thông (10,1%), dịch vụ thương mại (7,7%) và dịch vụ tài chính (6,3%).

Việc quản lý xuất khẩu của Mỹ làm gia tăng chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước

Có thể nói, một nguyên nhân gây mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ hoàn toàn do việc Mỹ hạn chế xuất khẩu công nghệ cao sang Trung Quốc, luôn không thay đổi màu sắc của Chiến tranh Lạnh. Năm 2001, tỷ trọng sản phẩm công nghệ của Mỹ trong tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc là 16,7%, tỷ lệ này gảim xuống còn 8,2% năm 2016. Việc làm này không tương xứng với địa vị cường quốc công nghệ của Mỹ và hiện trạng của đối tác quan trọng thuơng mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo báo cáo của Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie được công bố vào tháng 4/2017, nếu mức độ hạn chế xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc giảm xuống bằng mức mà Mỹ dành cho Brazil, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc có thể giảm tối đa ở mức 24%; nếu Mỹ giảm bằng mức hạn chế đối với Pháp, nhập siêu có thể giảm tối đa 34%.

Phương pháp thống kê truyền thống có sự đánh giá sai lầm nghiêm trọng về chênh lệch cán cân thương mại Trung – Mỹ

Đã hình thành cục diện đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu

Theo báo cáo nghiên cứu công bố vào tháng 3/2018 của quốc hội Mỹ, trong chuỗi giá trị toàn cầu, sản phẩm giữa Trung Quốc và Mỹ dường như đã đạt đến bước đi “có linh kiện Mỹ trong sản phẩm của Trung Quốc, có linh kiện Trung Quốc trong sản phẩm Mỹ”. Ví dụ như sản phẩm điện tử, cả thế giới có hơn 900 nhà máy nhận thầu chế tạo vỏ ngoài cho các sản phẩm của công ty Apple, trong đó, số nhà máy ở Trung Quốc là 358. Trong số 10 nhà máy sản xuất chip của Intel của Apple, có 3 nhà máy đặt ở Mỹ, 2 nhà máy đặt ở Trung Quốc. Trung Quốc và Mỹ triển khai hợp tác thương mại là kết quả tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, phân công sản xuất quốc tế, sắp đặt ưu hóa nguồn lực. Mỹ đứng ở vị trí cao và trung bình trong chuỗi giá trị toàn cầu, Trung Quốc ở vị trí trung bình thấp. Cùng với sự điều chỉnh trong chuỗi sản xuất và sự phát triển xuyên quốc gia của chuỗi cung ứng, việc thiết kế và hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm giá trị gia tăng cao có quan hệ ngày càng chặt chẽ với sản xuất và khâu lắp ráp chi phí thấp, doanh nghiệp Mỹ đã nắm chắc được các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế sản phẩm, chế tạo linh kiện cốt lõi, vận chuyển lưu kho và kinh doanh tiêu thụ…, từ đó giành được phần lớn lợi nhuận. Xem xét từ góc độ giá trị gia tăng, căn cứ vào báo cáo “Giá trị thương mại gia tăng” do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố năm 2011, giá trị gia tăng trong nước của hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ chỉ chiếm 46%. Số liệu thống kê năm 2016 cho thấy 77% xuất khẩu giá trị gia tăng cao của Trung Quốc là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất. Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs của Mỹ ước tính chỉ có 30% xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ là hàng hóa xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, còn 46% là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất.

Phương pháp thống kê của Mỹ quá đơn giản và xa rời tình hình thực tế

Chính quyền Trump lâu nay lấy tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ là 375,2 tỷ USD làm lý do chính đáng để phát động chiến tranh thương mại, thực tế cho thấy đó là điều cần phải xem xét lại. Thứ nhất, cách tính chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước có sự khác biệt, chênh lệch giữa các con số lại khá lớn. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc về thương mại Trung – Mỹ năm 2017, chênh lệch cán cân thương mại là 275,8 tỷ USD, trong đó số liệu vênh nhau là 99,4 tỷ USD. Thứ hai căn cứ theo “nguyên tắc xuất xứ hàng hóa” của Mỹ thì Mỹ xuất siêu vào Hong Kong lên tới 32 tỷ USD và xuất siêu gián tiếp sang Đại lục, Trung Quốc với hình thức tái xuất từ Hong Kong, Ma Cao lên tới 100 tỷ USD, đều không được tính vào kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo quan điểm của giáo sư Kim Xán Vinh của Đại học nhân dân Turng Quốc, chênh lệch thực sự về thương mại giữa hai nước chỉ là 220 tỷ USD. Cuối cùng, tính toán theo giá trị gia tăng, xuất siêu của Trung Quốc đã thu hẹp đi nhiều. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Oxford nêu rõ có 44% sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ là “sản phẩm trung gian”, nếu cắt giảm phần giá trị này đi, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc sẽ giảm 50% cũng là mức nhập siêu của Mỹ từ Liên minh châu Âu (EU). Căn cứ vào tính toán của Ngân hàng Deutch, nếu xem xét nhân tố giá trị gia tăng, với giả thiết là cơ cấu xuất khẩu hông có sự thay đổi rõ rệt, nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ trên thực tế năm 2017 chỉ khoảng 31 tỷ USD.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Trung Quốc: Phải chăng cải cách mở cửa là sự đảm bảo cho nền kinh tế sáng tạo trỗi dậy? – Phần cuối


Chẳng hạn như, 5 năm qua, những hạng mục xét duyệt hành chính của các bộ thuộc Quốc vụ viện giảm 44%, việc xét duyệt giấy phép phi hành chính được chấm dứt hoàn toàn, các dự án đầu tư của doanh nghiệp do cấp chính quyền trung ương thẩm định giảm 90%, những hạng mục về dịch vụ môi giới xét duyệt hành chính giảm 74%.

Thông qua việc cải cách thị trường các yếu tố sản xuất, đã giải phóng sức sống thị trường, biểu hiện ở việc phát triển ngành nghề, nổi bật nhất chính là sự trỗi dậy của ngành Internet trong nước, khiến cho “Trung Quốc Juntuan” trở thành một mô hình mới của ngành Internet toàn cầu. Trong bảng xếp hạng những công ty hàng đầu thế giới mới nhất do tạp chí Fortune (Fortune Global 500) công bố tháng 7/2017, 3 công ty của Trung Quốc là Alibaba, Tencent, JD đã lọt vào bảng xếp hạng. Cũng có nghĩa là, trong 6 công ty lớn về dịch vụ mạng Internet trên toàn cầu, Trung Quốc và Mỹ mỗi nước chiếm một nửa, 3 công ty Mỹ lần lượt là Amazon, Alphabet – công ty mẹ của Google và Facebook.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là một nước đang phát triển. Ngoài ra, vẫn tồn tại vấn đề phát triển không đồng đều trong khu vực. Những tình hình khách quan này khiến cho “bàn tay hữu hình”, tức là sự dẫn dắt của chính phủ vẫn sẽ phải phát huy vai trò nhất định trong quá trình phát triển kinh tế. Chẳng hạn như, tuy ngành Internet của Trung Quốc đã trở thành một một mô hình mới, nhưng không thể phủ nhận, ngành Internet của Trung Quốc ở chừng mực rất lớn chỉ tiến hành sáng tạo mô hình thương mại dựa vào thị trường nội địa rộng lớn. Phần cứng nền tảng cốt lõi của ngành IT – lĩnh vực vi mạch vẫn chưa xứng với vị thế của Trung Quốc – nước mạnh về Internet. Vi mạch thuộc về sức cạnh tranh cốt lõi của quốc gia, nó còn liên quan đến an ninh quốc phòng ở rất nhiều lĩnh vực.

Một số liệu cho thấy vi mạch nhập khẩu mỗi năm của Trung Quốc (bao gồm cả thiết bị đầu cuối như máy tính, điện thoại di động…) lên đến 210 tỷ USD, vượt qua tổng kim ngạch nhập khẩu dầu mỏ. Năm 2014, chính phủ đã đưa ra “Đề cương thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp vi mạch quốc gia”, đề xuất rõ ràng việc bù đắp thiếu hụt này, ủng hộ sự phát triển của ngành công nghiệp vi mạch trong nước.

Vi mạch là một trong những ngành có mức độ tập trung vốn cao nhất trong lịch sử công nghiệp nhân loại, chỉ dựa vào các doanh nghiệp tư nhân thì rất khó gánh được những khoản đầu tư lớn như vậy, cần phải phát huy sức mạnh quốc gia. Hiện nay, các địa phương lần lượt thành lập quỹ chính phủ về vi mạch, dẫn đầu chủ yếu đều là chính quyền cấp tỉnh trở lên.

Ngoài việc phải phát huy thích hợp vai trò của chính phủ trong phát triển ngành nghề theo loại hình tập trung vốn, vai trò của chính phủ vẫn không thể thiếu trong phát triển hài hòa ở khu vực, thành thị và nông thôn. Đúng như trong “Báo cáo công tác chính phủ” chỉ rõ Trung Quốc vẫn là nước đang phát triển lớn nhất trên thế giới, một số vấn đề nổi bật như phát triển không đồng đều, không đầy đủ vẫn chưa được giải quyết. Các vấn đề như sức ép kinh tế sụt giảm ở một số khu vực tương đối lớn, nhiệm vụ chiến đấu thoát nghèo vẫn khó khăn, nền tảng nông nghiệp yếu, khoảng cách giữa phân phối thu nhập và phát triển ở khu vực nông thôn và thành thị tương đối lớn…, vẫn tồn tại. Trong thời gian tới, phương hướng cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc cũng được xác định rõ: đó là thúc đẩy cải cách kinh tế theo hướng trọng cung, phát huy vai trò mang tính quyết định của thị trường trong việc phân phối tài nguyên. Nhưng bên cạnh đó, trên cơ sở cung cấp các dịch vụ công cộng, chính phủ vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, dẫn dắt ngành nghề, điều phối khu vực.

Duy trì mở cửa

Cải cách trong nước và mở cửa với nước ngoài vẫn là hai phương hướng đã định trong cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc. Trong đó, mức độ mở cửa với nước ngoài trong thời gian tới sẽ chỉ lớn hơn, tuyệt đối sẽ không đi thụt lùi. Từ ngày 27/2 đến 3/3/2018, nhận lời mời của Chính phủ Mỹ, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ nhiệm Văn phòng Tiểu ban lãnh đạo tài chính kinh tế Trung ương, trưởng đoàn đại biểu Trung Quốc trong Đối thoại kinh tế toàn diện Trung – Mỹ Lưu Hạc đã có chuyến thăm Mỹ. Theo quan điểm của dư luận bên ngoài, nội dung cốt lõi trong chuyến thăm của Lưu Hạc là kinh tế – thương mại. Sự coi trọng của Chính phủ Trung Quốc đối với thương mại Trung – Mỹ đã cho thấy đầy đủ sự thiết thực của Trung Quốc về mặt chính sách kinh tế đối ngoại.

Tại sao thương mại Trung – Mỹ lại được dư luận bên ngoài quan tâm như vậy?

Trước tiên, kể từ khi cải cách mở cửa đến nay, bộ phận có thể tiến hành thương mại (ngành sản xuất, sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản…) luôn là nền móng quan trọng trong quản lý đất nước thậm chí hệ thống kinh tế của Trung Quốc, ít nhất biểu hiện trên 3 phương diện: thứ nhất, điều mà bộ phận thương mại cung cấp chính là việc làm, đây là nền tảng quan trọng để ổn định xã hội. Thứ hai, đối với chiến lược sáng tạo của Trung Quốc, tầm quan trọng của thương mại vẫn không giảm, thậm chí trong thời gian tới càng quan trọng hơn. Bởi chiều rộng và chiều sâu mà bộ phận thương mại có thể tham gia cạnh tranh quốc tế, doanh nghiệp nhà nước hoàn toàn không thể so sánh được, điều này chắc chắn khiến cho việc sáng tạo công nghệ phần nhiều sẽ phát sinh ở bộ phận có thể tiến hành thương mại.

Ngoài ra, bộ phận có thể tiến hành thương mại ở chừng mực nhất định cũng là nền móng của hệ thống tài chính ở Trung Quốc. Có quan điểm chỉ rõ từ xưa đến nay, ngoại tệ mà Trung Quốc tạo ra thông qua ngành thương mại ở chừng nhất định đã trở thành cơ sở tín dụng để phát hành động NDT, liên quan đến sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Những năm gần đây, việc ngoại tệ chảy ra nước ngoài đã thu hút sự coi trọng cao độ của cấp giám sát quản lý, việc mua bán sáp nhập ở nước ngoài của một số tập đoàn tài chính tư nhân không ngừng bị “công kích nặng nề”chính vì nguyên nhân này.

Thứ mà thương mại quốc tế coi trọng là cùng có lợi cùng thắng. Hiện nay, Trung Quốc đã đẩy nhanh bước mở cửa mạnh dạn hơn trên các phương diện như tiếp cận thị trường tài chính vốn nước ngoài, tỷ lệ nắm giữ cổ phần trong các tổ chức tài chính vốn nước ngoài… Tháng 7/2017, chương trình kết nối trái phiếu (Bond Connect) giữa thị trường chứng khoán Hong Kong và Đại Lục chính thức được phê chuẩn. Những cải cách này đều đã cho thấy Trung Quốc gia tăng sự mở cửa đối ngoại trong lĩnh vực tài chính, đẩy nhanh quyết tâm kết nối với thị trường vốn quốc tế.

Thực tiễn cải cách mở cửa 40 năm qua cho thấy việc cải cách thể chế kinh tế không thể tách rời với việc mở cửa lĩnh vực kinh tế thương mại, tài chính. Kiên trì cải cách trong nước, mở cửa với nước ngoài, đây là con đường tất yếu để nâng cấp chuyển đổi mô hình kinh tế và cũng là yêu cầu nội tại của hiện đại hóa quản lý nhà nước về kinh tế ở Trung Quốc.

Nguồn: Tạp chí South Reviews (TQ) – số 6/2018

TLTKĐB – 05/05/2018

Sau chủ nghĩa xã hội: Một số tính quy luật của thời kỳ quá độ – Phần cuối


Như chúng ta đã biết, nước Nga dân chủ có chủ quyền cũng ra đời từ những mâu thuẫn, xung đột, đụng độ gay gắt rất gần với nội chiến. Trong những năm qua, chúng ta đã trải qua hai giai đoạn của cuộc cách mạng dân chủ. Ở giai đoạn đầu đã gạt bỏ phe Cộng sản khỏi chính quyền, trong giai đoạn thứ hai – xóa bỏ các Xô viết, nói như V.I. Lenin, là cơ quan của chuyên chính vô sản. Việc G. Zjuganov thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống mùa hè năm 1996 được nhiều nhà phân tích đánh giá là giai đoạn thứ ba và là cuối cùng của cuộc cách mạng dân chủ, chống CNCS. Nói cách khác, đã rút ra kết luận là phe Cộng sản sẽ không bao giờ có thể trở lại cầm quyền ở nước Nga nữa.

Thế nhưng, tôi thì chắc là đã không nói một cách khẳng định như thế về tương lai của những người Cộng sản. Một mặt, điều đó có lẽ không chỉ phụ thuộc vào những người cộng sản, mà chủ yếu là tùy thuộc vào những người đối lập với họ đang cầm quyền. Phụ thuộc vào trình độ quản lý đất nước của họ, việc giải quyết những vấn đề xã hội đang khiến quần chúng bất bình, những cái tạo điều kiện để ảnh hưởng của phe Cộng sản được tăng thêm. Mặt khác, tôi nghĩ rằng không nên chỉ bó hẹp vấn đề ở phe Cộng sản. Nếu không khí bất mãn trước tình trạng hiện nay vẫn duy trì trong đông đảo các tầng lớp nhân dân, vẫn mất ổn định thì lên nắm chính quyền có thể sẽ không phải là phe cộng sản, mà là một lực lượng nào đó khác, tạm cho là “một đảng của trật tự”, với “bàn tay sắt” nó sẽ lập lại trật tự mà không cần lưu ý mấy cả đến những chuẩn mực dân chủ lẫn các quyền và tự do dân sự. Song chúng ta thử đặt câu hỏi: cái gì gây nên tình trạng bất ổn định ở nước Nga? Tôi xin chia câu trả lời ra thành hai phần: Một là những nguyên nhân ai cũng đã thấy rõ, bởi chúng đã đập ngay vào mắt tất cả chúng ta và chủ yếu mang tính chất tình huống và hai là những nguyên nhân sâu xa hơn và có tác động lâu dài hơn. Nhóm nguyên nhân thứ nhất gồm:

+ chính quyền không biết cách thu thuế và kịp thời trả lương tháng, lương hưu trí, trợ cấp quân nhân…

+ không biết cách kịp thời điều chỉnh đường lối cải cách nếu như trong điều kiệm cụ thể của nước Nga, tình hình diễn ra không giống như mong muốn, hoặc không giống như nó diễn biến ở Czech, Hungary, Slovenia là những nước no đủ hơn, có tổ chức và văn minh hơn;

+ không biết thường xuyên đối thoại với nhân dân, đồng thời giải thích nững nguyên nhân và hậu quả của bước đi (biện pháp) này hay khác;

+ không biết kịp thời phế bỏ những thành viên yếu kém rõ rệt hoặc đã mất uy tín trong êkip chính phủ;

+ đã chần chừ quá lâu trong việc nói cho dân biết về lý tưởng xã hội mới, tư tưởng dân tộc mới…

Còn những nguyên nhân thuộc nhóm thứ hai, theo tôi, gồm:

Một là, trong những năm Chính quyền Xô viết đã xây dựng được một nền kinh tế khá hùng mạnh và phát triển, nhưng than ôi, chủ yếu lại là nhằm phục vụ cho những nhu cầu chiến tranh. Còn nền kinh tế dân sự thì yếu kém, không có khả năng cạnh tranh. Trong điều kiện đóng cửa, cách ly với thế giới, nó vẫn hoạt động được một cách tàm tạm, nhưng khi mở cửa, cạnh tranh thì sản phẩm của nhiều doanh nghiệp trong nước không tìm được người tiêu dùng. Không thể cho phép tình trạng từ phát tàn phá nền kinh tế của chúng ta mà phải bằng cách nào đó chuyển hóa nó. Tạm thời thì chưa thấy có tâm và lực gì nhiều để làm việc này. Nhưng cũng không thể đóng cửa nền kinh tế, nếu không muốn đẩy đất nước ngày càng tụt hậu và cuối cùng – là thoái hóa hoàn toàn. Một thực tế hiển nhiên là ở thời điểm giao thừa thiên niên kỷ mới đã không còn chỗ cho những nền kinh tế đóng cửa.

Hai là, xã hội nghèo. Nó đã nghèo cả trong những năm chính quyền Xô viết, nhưng lúc đó nó còn có lý do biện hộ che dấu. Phần lớn dân chúng nghèo, còn cuộc sống xã hoa của tầng lớp quan chức cốt cán thì được bưng bít nên không đập vào mắt phần lớn các công dân. Giờ đây, sự tương phản giàu nghèo trong xã hội đúng là làm gai mắt người ta, còn bọn “người Nga mới” thì xử sự còn hơn cả những thương gia Nga giàu sụ ngày xưa mà sách báo đã tả. Mà xã hội thì chỉ ổn định được một khi con số người nghèo và giàu đại thể bằng nhau (tỷ lệ mỗi loại khoảng 10%), số dân còn lại thì no đủ, gọi là giai cấp trung lưu. Nhưng muốn hình thành được tỷ lệ đó phải mất nhiều chục năm, quá trình này không thể đẩy nhanh chừng nào nền kinh tế chưa tăng trưởng nhanh. Ở đây, kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy rằng khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh thì thực sự chỉ mất 20 năm đã diễn ra một cuộc cách mạng sâu sắc về cơ cấu xã hội chính là theo hướng mở rộng giai cấp trung lưu.

Ba là, ở nước Nga, không giống bất kỳ nước nào khác trên thế giới, vẫn còn tình trạng ý thức dân tộc bị phân hóa. Hai phái “sính phương Tây” và “chuộng Slav” đó là hiện thực của hôm nay, chẳng khác gì thời giữa thế kỷ trước. Song, dường như có một sự thôi thúc ta phải dùng một cách gọi khác nữa – “giả sính tây” và “giả chuộng Slav”. Nhưng dù thế nào thì chúng ta cũng đang tốn quá nhiều tâm sức vào cuộc đấu tranh với chính bản thân mình. Cũng chính vì nguyên nhân này, rất khó để ra được một triết lý dân tộc mới cho nước Nga hiện nay, một nước Nga mới, dân chủ, chó sức nặng hiện thực và chỗ đứng của nó trong cộng đồng thế giới. Chúng ta vẫn cứ bị cám dỗ, ám ảnh bởi “tính đặc biệt”, “tính độc đáo”, bởi tham vọng giải quyết những nhiệm vụ có tính toàn cầu, bởi sứ mạng cứu thế, và chúng ta thường vẫn tư duy bằng những phạm trù của một siêu cường đã chết, và điều đó thật nguy hiểm. Bởi chúng ta càng nhanh chóng ý thức được rằng sức mạnh của một dân tộc không phải là ở số lượng xe tăng và tên lửa, mà cũng không phải ở chỗ người ta phải sợ nó, mà là ở nền kinh tế có hiệu quả, ở các công nghệ mới, ở một nền giáo dục y tế tốt đẹp hơn, ở mức tuổi thọ cao, đời sống tinh thần cao và điều dễ hiểu là ở chỗ các công dân được hưởng cuộc sống dư dật (và, “để phòng xa”, ở chỗ nó có “cái ô hạt nhân” như là một nước) thì sự hồi sinh của chúng ta càng chóng tới bấy nhiêu.

Bốn là, sự ổn định trong xã hội rõ ràng là còn chịu ảnh hưởng của tính chất đa dân tộc của xã hội Nga, cả tính chất dang dở của quá trình tạo sự hài hòa cho các quan hệ giữa trung tâm và các khu vực. Nhiều nhà chính trị và nhà phân tích đã từng hù dọa xã hội là nước Nga có thể sẽ tan rã. Chuyện đó chỉ chấm dứt sau khi xóa bỏ được tình trạng hai chính quyền song song tồn tại vào năm 1993.

Nhưng nói chung thì bước quá độ của nước Nga từ hình thái xã hội này sang hình thức xã hội khác, cũng như từ chế độ nhà nước cũ sang một chế độ nhà nước mới, mặc dù có di sản của đế chế – Bolsevich, đang diễn ra hoàn toàn không phải theo một kịch bản tồi tệ nhất đại loại như trường hợp của Nam Tư. Song, như người ta thường nói, cuộc thí nghiệm còn chưa kết thúc, và hiện thời chỉ có thể nói tới một cách chung nhất những tính quy luật của thời kỳ quá độ từ CNXH hiện thực sang những hình thức tồn tại mới. Lịch sử vẫn còn đang viết tiếp.

Nguồn: TĐB 97 – 15 & 16

Trung Quốc: Phải chăng cải cách mở cửa là sự đảm bảo cho nền kinh tế sáng tạo trỗi dậy? – Phần đầu


Thực tiễn cải cách mở cửa 40 năm qua ở Trung Quốc cho thấy việc cải cách thể chế kinh tế và mở cửa trong lĩnh vực kinh tế thương mại, tài chính là không thể tách rời. Kiên trì cải cách trong nước, kiên trì mở cửa với nước ngoài, đây là con đường tất yếu để nâng cấp sự chuyển đổi mô hình kinh tế của Trung Quốc.

Ngày 28/2/2018, Tổng cục thống kê quốc gia công bố báo cáo thống kê về tình hình phát triển kinh tế – xã hội quốc gia năm 2017, theo tính toán sơ bộ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc đạt 82.712 tỷ NDT (tương đương 12.860 tỷ USD), tăng 6,9% so với năm 2016. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bất ổn, nhu cầu bên ngoài sụt giảm, cải cách mang tính cơ cấu trong nước đi vào chiều sâu và giảm bớt tình trạng dư thừa năng lực sản xuất, Trung Quốc đã đạt được bảng thành tích kinh tế không dễ dàng có được trong 1 năm qua. Trong thời gian diễn ra Lưỡng hội toàn quốc (Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân và Đại hội đại biểu nhân dân tàon quốc) năm 2018, các đại biểu, ủy viên lần lượt bày tỏ niềm tin vào nền kinh tế Trung Quốc và đề xuất nhiều ý kiến. Trong thời gian gần đây, tổng hợp từ nhiều dấu hiệu và số liệu cho thấy tình hình kinh tế Trung Quốc ổn định đã rõ ràng. Trong giai đoạn hiện nay, hóa giải rủi ro tài chính, thúc đẩy cải cách thị trường các yếu tố sản xuất, gia tăng mức độ cải cách mở cửa với nước ngoài sẽ là chủ đề của cải cách kinh tế.

Cùng với việc cải cách và mở cửa trong lĩnh vực kinh tế, tình hình sáng tạo thúc đẩy kinh tế phát triển ở Trung Quốc được mô tả sinh động. Bên cạnh đó, việc quản lý nhà nước về kinh tế cũng sẽ bước vào giai đoạn mới mang tính lịch sử.

Hóa giải rủi ro

Ngày 23/2/2018, Ủy ban giám sát bảo hiểm Trung Quốc (CIRC) công bố thông tin cho biết Ngô Tiểu Huy – nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Bảo hiểm Anbang, một trong những tập đoàn bảo hiểm lớn nhất Trung Quốc, đã chính thức bị khởi tố sau thời gian điều tra do phạm tội liên quan đến lĩnh vực kinh tế. Ngoài ra, CIRC còn quyết định sẽ tiếp quản điều hành Tập đoàn bảo hiểm Anbang trong thời gian 1 năm. Vài năm trước, Tập đoàn bảo hiểm Anbang bắt đầu tấn công vào thị trường vốn trong nước, đồng thời mua lại các tổ chức tài chính hàng đầu như Ngân hàng Dân sinh. Dư luận bên ngoài giải thích rằng sở dĩ tập đoàn này có thể thoải mái kiểm soát thị trường vốn rất chặt chẽ này ở chừng mực rất lớn là do mối quan hệ sâu rộng của Tập đoàn Anbang và bản thân Ngô Tiểu Huy. Nhưng thông báo này của CRIC đã hoàn toàn làm thay đổi những đồn đoán của dư luận bên ngoài, điều này chứng tỏ quyết tâm của lãnh đạo cấp cao đối với việc phòng ngừa và kiểm soát rủi ro tài chính. Trong thời gian Lưỡng hội toàn quốc năm 2018, đối với câu hỏi của truyền thông báo chí về việc CRIC tiếp quản Tập đoàn bảo hiểu Anbang, Ủy viên Chính hiệp toàn quốc, Chủ tịch Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc Hồ Hiểu Luyện đã đưa ra câu trả lời. Bà cho biết sở dĩ tiến hành tiếp quản đối với một số tổ chức tài chính là có một số nguyên nhân sau: Thứ nhất là tỷ lệ đòn bẩy tài chính của những tổ chức này rất cao, vay tiền với số lượng lớn; hai là né tránh việc giám sát, kinh donah có dấu hiệu khác biệt, có nơi biến công ty bảo hiểm thành công ty đầu tư, biến công nghiệp thành tài chính; ba là, cơ cấu quản lý pháp nhân công ty không kiện toàn, dù là cổ đông hay giám đốc đều tồn tại một số vấn đề, bảng cân đối kế toán kém, tồn tại ẩn họa rủi ro tiềm tàng. Hồ Hiểu Luyện từng giữ chức Phó thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc, là một quan chức giám sát giàu kinh nghiệm nên quan điểm của bà cũng được dư luận bên ngoài cho là có tính quyền uy khá cao.

Ngoài Tập đoàn bảo hiểm Anbang, thời gian gầy đây còn phát hiện ra đầu mối rủi ro là tập đoàn hàng hải. Đầu tháng 3, một công ty nhiên liệu hàng không đã ra văn bản ngừng cung cấp nhiên liệu đối với công ty hữu hạn cổ phần khống chế hàng không Hải Nam”. Theo văn bản này, kể từ tháng 10/2017 đến nay, Hàng không Hải Nam vẫn chưa thanh toán tiền nhiên liệu theo thỏa thuận hợp đồng, đã vi phạm nghiêm trọng hợp đồng đã ký giữa hai bên. Ngoài ra, có báo chí đưa tin rằng công ty con ở Hong Kong trực thuộc Tập đoàn hàng không đã bán đất trực thuộc công ty với giá 6359 tỷ HKD. Dư luận bên ngoài thống kê trong vòng chưa đầy 1 tháng, Công ty hàng không Hải Nam đã bán 3 mảnh đất với tổng giá trị 22.318 tỷ HKD. Tại sao nguồn vốn của Công ty hàng không Hải Nam lại thiếu hụt như vậy? Phân tích nội bộ cho rằng nguyên nhân chu yếu nhất nằm ở sự thắt chặt các hoạt động tín dụng của các tổ chức tài chính thuộc sở hữu nhà nước. Có thể nhận thấy trong thời gian gần đây việc chỉnh đốn rủi ro tài chính chủ yếu được tiến hành thông qua 2 phương thức: Một là sự chỉnh đốn đối với bản thân cơ cấu, như Tập đoàn bảo hiểm Anbang. Hai là đối với thị trường vốn, đặc biệt là kiểm soát chặt chẽ tín dụng ngân hàng và khoản cho vay, như công ty Hàng không Hải Nam. Trên thực tế, tại thị trường tài chính của Trung Quốc, việc chỉnh đốn các tập đoàn tài chính, các tổ chức lớn mang tính điển hình đó thường có thể phát huy “hiệu ứng cân bằng” trong chỉnh đốn. Tập đoàn bảo hiểm Anbang và công ty Hàng không Hải Nam được coi là 2 cơ cấu và doanh nghiệp lớn đầy bí ẩn, trở thành tiêu điểm trong việc chỉnh đốn tài chính, đằng sau đó ở chừng mực nhất định đã cho thấy rõ ý đồ chính sách của cấp lãnh đạo.

Xét về ý nghĩa nào đó, đây cũng giống như là đưa ra một tín hiệu chính sách. Tóm lại, tất cả những người có “mối quan hệ sâu rộng” đều có thể bị chỉnh đốn, như vậy tự khắc sẽ tăng thêm niềm tin chỉnh đốn và nhiệt tình công tác của các cơ cấu giám sát cơ sở. Chẳng hạn như, phóng viên tạp chí “South Reviews” mới đây đã có bài phỏng vấn cho biết nhiều chính quyền địa phương đã triển khai chỉnh đốn trên diện rộng nhằm vào các công ty tín dụng nhỏ ở cơ sở. Việc chỉnh đốn đã đạt được hiệu quả. Tại kỳ họp lần thứ nhất Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa XIII, trong “Báo cáo công tác chính phủ”, Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường nhấn mạnh việc Trung Quốc thúc đẩy phòng ngừa và hóa giải rủi ro lớn đã đạt được tiến triển rõ rệt. Hiện nay, rủi ro kinh tế tài chính của Trung Quốc về tổng thể có thể được kiểm soát, các đặc tính kinh tế nền tảng tốt, công cụ chính sách nhiều, hoàn toàn có thể giữ được điểm tới hạn không phát sinh rủi ro có tính hệ thống.

Tài chính là đầu mối then chốt của nền kinh tế, bất kỳ cuộc cải cách thể chế kinh tế nào thì điều kiện tiên quyết của nó đều là củng cố hệ thống tài chính. Dưới tiền đề củng cố hệ thống tài chính thì mới có thể xây dựng được thị trường các yếu tố trong nước thống nhất, cân bằng, hiệu quả cao. Từ đó đã phát huy một cách thực sự vai trò mang tính quyết định trong phân bổ nguồn lực, làm cho các yếu tố sản xấut đi theo hướng nền kinh tế thực, đặc biệt là lĩnh vực sáng tạo.

Phân phối yếu tố

Trong “Báo cáo công tác chính phủ”, Lý Khắc Cường chỉ rõ 5 năm qua, thành quả đạt được trong phát triển khởi động sáng tạo rất to lớn. Tăng trưởng bình quân hàng năm cho đầu tư nghiên cứu phát triển toàn xã hội là 11%, quy mô đứng thứ 2 thế giới. Tỷ lệ đóng góp cho tiến bộ khoa học kỹ thuật tăng từ 52,3% lên đến 57,5%. Các thành quả sáng tạo lớn như hàng không vũ trụ, thăm dò biển sâu, viễn tải lượng tử (Quantum Teleportation), máy bay cỡ lớn… liên tục xuất hiện. “Người người khởi nghiệp, muôn người sáng tạo” phát triển mạnh mẽ, mỗi ngày doanh nghiệp thành lập mới tăng từ hơn 5000 lên đến hơn 16000 doanh nghiệp.

“Báo cáo công tác chính phủ” đề cập rõ ràng trong nền kinh tế của Trung Quốc, năng lượng mới trỗi dậy nhanh chóng, đang tạo dựng cục diện tăng trưởng kinh tế, thay đổi sâu sắc phương thức sinh hoạt sản xuất, trở thành tiêu chí mới để “Trung Quốc phát triển sáng tạo”.

Số liệu sáng tạo là một kết quả, nó đến từ việc cải cách thị trường các yếu tố sản xuất, mà cải cách kinh tế theo hướng trọng cung xét về mặt ý nghĩa nào đó có thể coi là một sự cải cách thị trường các yếu tố sản xuất. Nó đòi hỏi phá bỏ trở ngại việc phân phối thị trường các yếu tố sản xuất, hạ thấp giá thành giao dịch mang tính cơ chế.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí South Reviews (TQ) – số 6/2018

TLTKĐB – 05/05/2018

Sau chủ nghĩa xã hội: Một số tính quy luật của thời kỳ quá độ – Phần V


Thứ hai, thực tế là ở tất cả các nước hậu XHCN của châu Âu, phe Xã hội – Dân chủ hiện nay đều là người của phe Cộng sản hôm qua. Điều này cũng đúng cả với những thủ lĩnh của họ. Còn ở Nga thì do hàng loạt nguyên nhân khách quan và chủ quan, sự tiến hóa của Đảng cộng sản lại diễn ra theo một kịch bản khác hẳn: không phải đi theo hướng Xã hội – Dân chủ, mà ngả theo hướng chủ nghĩa dân tộc – bolsevich. Ngôn từ của thủ lĩnh Đảng Cộng sản Liên bang Nga là ngôn từ không chỉ của người cộng sản, mà chủ yếu là của những người theo chủ nghĩa truyền thống, chủ nghĩa nước lớn, chủ nghĩa dân tộc yêu nước. Có thể giả định rằng do tác động của thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống và chịu sức ép của các đồng minh trong Liên minh Nhân dân yêu nước Nga, Đảng Cộng sản Nga và thủ lĩnh của nó rốt cuộc sẽ cũng phải dịch về phía Xã hội – Dân chủ. Thiết nghĩ, nếu như những người Cộng sản vẫn còn có tương lai thì đó chỉ có thể có trên con đường này. Nếu không họ hoặc sẽ bị gạt ra rìa, hoặc sẽ chuyển sang lập trường dân tộc chủ nghĩa công khai. Người Nga đã không còn chấp nhận những tư tưởng của CNCS, và nếu hàng triệu người Nga bỏ phiếu cho Đảng Cộng sản Nga và cho chính cá nhân Zjuganov thì điều đó tuyệt nhiên không phải vì ưu ái gì những tư tưởng của CNCS, mà là vì không ưa cái trật tự hiện nay.

Thứ ba, và có lẽ là cái chủ yếu, là trước khi bước vào giai đoạn lịch sử của con đường phát triển theo hướng Xã hội – Dân chủ, nước Nga phải trải qua giai đoạn lịch sử của con đường phát triển nhà nước – dân chủ. Vấn đề là ở chỗ, khác với các nước hậu XHCN ở châu Âu (và thậm chí là phần lớn các nước cộng hòa khác) nước Nga thực tế chưa có chế độ nhà nước của mình. Trong khuôn khổ Liên Xô, nó vừa là tất cả vừa chẳng là cái gì hết, các cơ quan quyền lực của nó đơn thuần chỉ mang tính chất trang trí. Vì vậy, nước Nga, thực tế là một quốc gia mới, đang đứng trước nhiệm vụ cấp thiết là phải xây dựng một quốc gia dân tộc giống như nhiệm vụ đặt ra cho bất kỳ quốc gia nào mới xuất hiện. Còn có một nhiệm vụ nữa cũng bức xúc không kém là quá trình tự xác định lại chất Nga: những người bolsevich, do sợ rằng dân tộc dẫn đầu ở Liên Xô sẽ ngày càng tự ý thức dân tộc cao hơn, đã cố kiềm chế mọi chất Nga, hòa tan nó trong cái chất “xô viết” vô định hình. Điều đó đã gây tổn hại hết sức to lớn cho nền văn hóa dân tộc, lịch sử dân tộc.

Thứ tư, Việc giải quyết nhiều vấn đề của thời kỳ quá độ ở nước Nga càng gai góc hơn vì cho đến nay vẫn chưa kết thúc giai đoạn đầu của cuộc cách mạng dân chủ. Xét về phương diện này, vượt chúng ta không chỉ có châu Âu, mà thậm chí cả Mông Cổ, là nước mà Đảng Cộng sản cầm quyền trước đây tự xưng là Đảng Nhân dân – Cách mạng Mông Cổ, ngay từ năm 1993 đã từ bỏ chủ nghĩa Marx – Lenin, và trong cuộc bầu cử Quốc hội mùa Hè năm 1996 đã thất bại trước khối các Đảng đối lập theo khuynh hướng Xã hội – Dân chủ và tự do. Ở các nước đó từ lâu đã không còn đặt ra vấn đề các lực lượng của quá khứ có thể trở lại phục thù. Thực tế, mọi thành viên có ít nhiều ảnh hưởng tham gia quá trình chính trị đều ủng hộ nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và hội nhập vào cộng đồng thế giới. Ở đó xã hội đã không còn bị lên cơn sốt mỗi khi có các cuộc bầu cử Quốc hội hay bầu cử Tổng thống. Dù ai thắng cử thì đất nước vẫn sẽ đi theo guồng quay của tiến bộ thế giới.

Còn ở Nga thì khác. Ở đây, đã nhiều năm, lực lượng đối lập cơ bản, có khả năng thay thế cho các lực lượng chính trị cầm quyền hiện thời vẫn là Đảng Cộng sản. Cuộc bầu cử quốc gia nào, về thực chất, cũng biến thành những trận chiến đấu để chọn con đường phát triển xã hội. Tính bất định đó, nói riêng, là một trong những nguyên nhân thất thu thuế, dẫn đến chỗ không trả nổi lương đều đặn cho những đối tượng ăn lương ngân sách, không cấp đủ tiền cho nhiều ngành, giảm vốn đầu tư và tương ứng, dẫn đến chỗ những vấn đề xã hội ngày càng trở nên gay gắt hơn và khiến chon gay cả các công dân nói chung tán thành đường lối cải cách cũng ngày càng bất mãn. Tính bất định đó cũng đang cản trở dòng vốn đầu tư từ bên ngoài vào nước Nga.

Thứ năm. Hầu như các nước hậu CSCN nào cũng đều kinh qua giai đoạn “CNTB hoang dã”. Điều đó thể hiện qua hoạt lực cực kỳ mạnh mẽ của tư bản phi pháp trong nền kinh tế, qua sự phát triển nhanh của hoạt động kinh doanh tiêu cực mà trong điều kiện nước Nga, nó đạt tới 40% toàn bộ doanh thu kinh tế, qua sự xuất hiện “kim tự tháp tài chính” và những hình thức lừa đảo cỡ lớn khác, qua những vụ cạnh tranh vô lương tâm thường gặp và quảng cáo cũng vô lương tâm như thế, qua nạn trốn thuế và nói chung là cách xử sự không văn minh của nhiều nhà doanh nghiệp mới phất lên. Và bên cạnh đó là tình trạng tiêu xài ngày càng xa xỉ hơn.

Trong sự phát triển của mình hầu như nước nào cũng đều trải qua giai đoạn tương tự. Cả nước Nga cũng đã từng có một thời như vậy, nhưng bây giờ chúng ta lại trở lại giai đoạn ấy. Nhưng nếu trước đây, “CNTB hoang dã” đã xuất hiện ở những quy mô khác nhau ở trình độ phát triển thấp kém về kinh tế, ở nhiều nước đã hoàn toàn không còn dấu vết trong ý thức quần chúng nữa thì nay tình hình lại khác hẳn. Đặc biệt là nếu nói về nước Nga với trình độ phát triển kinh tế, quy mô tài nguyên quốc gia của nó, với các quá trình thay đổi chủ sở hữu đang phát triển quá nhanh của nó… Càng chớ nên quên tình trạng suy đồi nhanh chóng về đạo đức trong nước, nơi mà suốt trong 70 năm trước đây đã từng diễn ra cuộc đấu tranh chống tôn giáo với nếp sống nhân dân, tâm linh nhân dân, đã gieo rắc thói quen mật báo, chỉ điểm, phản bội, thói đạo đức lá mặt lá trái. Giáng một đòn vào những lý tưởng đạo đức của người dân còn có sự sụp đổ uy tín của ảo tưởng CSCN cùng với thang giá trị của nó.

“CNTB hoang dã” đã bôi nhọ những hình thức mới của đời sống một cách khách quan. Không thể vì sĩ diện mà nhắm mắt làm ngơ điều đó được. Cần phải giải thích nguyên nhân của hiện tượng đó và có gắng hạn chế nó trong một phạm vi nào đó, đồng thời thực hiện một cách nhất quán chính sách nhằm rút ngắn bớt giai đoạn này trong sự phát triển của đất nước. Song cũng cần nhớ rằng nếu cố tình đẩy nhanh một cách giả tạo cuộc đấu tranh với “CNTB hoang dã” cũng có nghĩa là đồng thời đánh vào sự phát triển của các lực lượng sản xuất mới. Ở đây đòi hỏi phải có một chính sách mềm dẻo, có cân nhắc và một mức độ kiên trì nhất định, dựa trên việc hiểu đúng tính chất nhất thời của hiện tượng này, hay nếu muốn, có thể gọi là của cái ác này, trên cơ sở hiểu rằng “cái gì cũng phải trả giá”, như người ta thường nói. Vì cả những sai lầm của phái bolsevich, vì cả sự phồn vinh tương lai của nền kinh tế nước nhà.

Những vấn đề để đi đến ổn định

Vấn đề đi đến ổn định – chính xác hơn – không ổn định, đang được đưa lên hàng đầu ở nhiều nước hậu XHCN. Con đường từ Chủ nghĩa cực quyền chuyển sang dân chủ đối với nhiều nước nói cho đúng là đầy chông gai chứ không phải là được rải hoa. Có lẽ bi đát nhất là đối với Nam Tư cũ, là nước không chỉ tan rã, mà còn xảy ra nội chiến. Đã tan rã, nhưng trong điều kiện “ly dị văn minh” là trường hợp Chekhoslovakia cũ. Còn đoạn khởi đầu phát triển hậu CSCN của Rumania thì lại xung đột dữ dội. Đã trải qua nội chiến là Gruzia, Azerbajzhan, Moldavia và, ở mức độ nào đó, cả Armenia. Cuộc nội chiến ở Takizkhstan vẫn còn chưa dịu đi. Cũng không thể nói là hài hòa đối với cả sự phát triển của các nước Baltic.

Cơ sở của phần lớn các cuộc chiến tranh và xung đột tại các quốc gia hậu XHCN là mâu thuẫn giữa các dân tộc và các cộng đồng, nhưng không phải chỉ có vậy (minh chứng cho điều đó là thí dụ về tất cả các nước Zakavkaz thuộc Liên Xô cũ). Di sản của chủ nghĩa bolsevich vẫn còn ảnh hưởng mạnh. Nếp nghĩ cực quyền, tâm lý cực quyền, ý muốn giải quyết những vấn đề phức tạp bằng phương pháp “đấu đầu”, phương pháp hiệp thương đã nhiều năm mất ý nghĩa, ngược lại, thái độ không khoan nhượng cả trong hệ tư tưởng lẫn trong chính trị là cái được đề cao.

(còn tiếp) 

Nguồn: TĐB 97 – 15 & 16