Bước đại nhảy vọt lùi của Trung Quốc – Phần đầu


Jonathan Tepperman

Trong suốt hàng thập kỷ, Trung Quốc đã tìm cách tránh khỏi hầu hết các vấn đề mà những chế độ độc tài gặp phải. Giờ đây, cuộc chơi quyền lực cá nhân của Tập Cận Bình có nguy cơ làm suy yếu tất cả những gì từng giúp Trung Quốc trở thành một trường hợp ngoại lệ.

Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã tích lũy được một danh sách dài những thành tựu nổi bật của mình. Trong giai đoạn 1978 – 2013, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình là 10%/năm, khiến thu nhập trung bình của người trưởng thành tăng gấp 10 lần. Sự tăng trưởng như vậy đã giúp khoảng 800 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói; đồng thời, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh của Trung Quốc cũng giảm 85% và tuổi thọ trung bình của nước này tăng thêm 11 năm.

Điều khiến cho tất cả những thành tựu này trở nên nổi bật hơn là việc Chính phủ Trung Quốc đã đạt được chúng trong khi vẫn duy trì nền chính trị đàn áp – điều được cho là rất khó xét theo tiền lệ lịch sử và lý thuyết chính trị. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi học giả về Trung Quốc Orville Schell mô tả bảng thành tích này là “một trong những phép lạ gây sửng sốt nhất về phát triển kinh tế trong lịch sử thế giới”.

Sự phi thường trong những thành tựu của Trung Quốc khiến cho những gì đang diễn ra ở đất nước này hiện nay đặc biệt bi thảm và đáng báo động. Với vỏ bọc chống tham nhũng, Chủ tịch Tập Cận Bình đang xóa bỏ một cách có hệ thống gần như mọi cải cách đã giúp Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục như vậy trong 4 thập kỷ qua. Nhằm thay thế một hệ thống còn thiếu sót nhưng rất thành công, ông đang gây dựng sự sùng bái cá nhân với quy mô rất lớn chỉ xoay quanh mình ông, tập trung trong tay quyền lực nhiều hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Mao Trạch Đông.

Trong ngắn hạn, những nỗ lực của Tập Cận Bình có thể khiến Trung Quốc dường như bớt tham nhũng và trở nên ổn định hơn. Nhưng bằng việc phá hủy nhiều cơ chế từng khiến phép màu Trung Quốc có thể trở thành hiện thực, Tập Cận Bình có nguy cơ đảo ngược những thành quả đó và biến Trung Quốc thành một nhà nước khác theo “chế độ dùi cui” (hãy nghĩ tới một Triều Tiên phiên bản lớn và cởi mở hơn): yếu kém, thiếu hiệu quả, dễ vỡ và hiếu chiến. Và điều đó không chỉ khiến 1,4 tỷ công dân Trung Quốc mà còn cả những người khác phải lo ngại.

Để hiểu được điều gì khiến cho chiến dịch xây dựng đế chế cá nhân của Tập Cận Bình trở nên nguy hiểm đến thế, trước hết nên hiểu điều gì đã khiến cho Trung Quốc trở thành một trường hợp ngoại lệ trong thời gian dài đến vậy. Trong suốt lịch sử hiện đại, hầu hết các nhà độc tài và các nước độc đảng đều có chung một vài đặc điểm cơ bản. Quyền lực do một số rất nhỏ các cá nhân nắm giữ. Để duy trì quyền lực của mình, những cá nhân này đàn áp sự bất đồng quan điểm và cai trị bằng sự đe dọa. Vì cả quan chức lẫn người dân đều sống trong sợ hãi, nên họ cạnh tranh lẫn nhau để tâng bốc ông chủ của mình. Không ai nói ra sự thật, đặc biệt khi điều đó có thể làm xấu đi hình ảnh của họ hoặc các nhà lãnh đạo của họ. Kết quả là những bạo chúa ẩn dật – cái tôi của họ được những lời khen ngợi xum xoe không ngớt thổi phồng – nhận thấy mình ngày càng rời xa thực tế và phần còn lại của thế giới (hãy nghĩ tới Kim Jong-un, Bashar al-Assad hay Robert Mugabe) và cuối cùng cai trị bằng ý nghĩ nhất thời và bản năng, mà hầu như không có chút cảm giác nào về những gì đang thực sự diễn ra ở đất nước họ. Sự thiếu hiểu biết này có tác động tai hại đối với chính sách đối nội và đối ngoại.

Trong khoảng 35 năm – từ khi Mao Trạch Đông qua đời và Đặng Tiểu Bình phát động các cải cách của mình vào cuối những năm 1970 cho tới khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012 – Trung Quốc đã tránh khỏi rất nhiều cạm bẫy trong số này và thách thức quy luật về tính trung bình trong chính trị bằng cách xây dựng cái mà các học giả gọi là chế độ “chuyên quyền thích ứng”. Trong khi vẫn đi theo chủ nghĩa cộng sản trên danh nghĩa, quốc gia này đã đón nhận chủ nghĩa tư bản thị trường dưới nhiều hình thức và một số cải cách tự do hóa khác. Đương nhiên, hệ thống cũ vẫn rất hà khắc (hãy nhớ đến quảng trường Thiên An Môn) và còn lâu mới đạt đến sự hoàn hảo trên nhiều phương diện khác. Tuy nhiên, nó quả thực đã cho phép Chính phủ Trung Quốc hoạt động hiệu quả khác thường và tránh khỏi nhiều biểu hiện lệch lạc thường thấy ở các chế độ chuyên chế. Chẳng hạn, quyền kiểm duyệt chưa bao giờ biến mất, nhưng các đảng viên có thể không đồng tình và tranh luận về các ý tưởng, và những báo cáo nội bộ có thể thẳng thắn đến mức đáng ngạc nhiên.

Điều đó giờ đây không còn nữa. Ngày nay, Tập Cận Bình đang làm suy yếu một cách có hệ thống hầu hết những đặc tính từng khiến Trung Quốc trở nên khác biệt và từng giúp nước này vận hành tốt đến như vậy trong quá khứ. Những nỗ lực của ông có thể thúc đẩy quyền lực và uy tín của chính ông trong ngắn hạn và giảm bớt tình trạng tham nhũng dưới một số hình thức. Tuy nhiên, nhìn chung, chiến dịch của Tập Cận Bình sẽ gây ra những hậu quả tai hại về lâu dài đối với đất nước của ông và với thế giới.

Có lẽ đặc tính khác thường nhất của hệ thống do Đặng Tiểu Bình tạo dựng là cách nó phân bổ quyền lực giữa các nhà lãnh đạo khác nhau. Thay vì để cho một người thực thi quyền lực tối cao giống như hầu hết các chế độ độc tài, Đặng Tiểu Bình phân chia quyền lực cho Tổng bí thư Đảng Cộng sản (người đồng thời giữ chức Chủ tịch nước), Thủ tướng và Bộ Chính trị.

Đặng Tiểu Bình hy vọng hệ thống này sẽ bảo đảm rằng không một cá nhân nào có thể một lần nữa thực thi quyền kiểm soát theo kiểu Mao Trạch Đông – vì quyền lực không được kiểm soát của ông đã dẫn tới những sự lạm dụng và những sai lầm lớn, chẳng hạn như Đại nhảy vọt (ước tính đã có 45 triệu người thiệt mạng trong giai đoạn này) và Cách mạng Văn hóa (trong giai đoạn này, chính Đặng Tiểu Bình cũng bị thanh trừng và con trai ông bị tra tấn nặng nề dẫn tới tàn tật). Theo cách lý giải của Bùi Mẫn Hân, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Đại học Claremont McKenna, mô hình lãnh đạo tập thể mà Đặng Tiểu Bình đã thiết kế giúp loại bỏ những ý tưởng tồi tệ và thúc đẩy những ý tưởng tốt bằng cách nhấn mạnh sự suy tính thận trọng và ngăn chặn sự mạo hiểm.

Từ khi nắm quyền vào năm 2012, Tập Cận Bình đã có những hành động nhằm dỡ bỏ hệ thống lãnh đạo tập thể của Trung Quốc theo nhiều cách. Thứ nhất, trên danh nghĩa chống tham nhũng – một mục tiêu quan trọng mà Trung Quốc rất cần theo đuổi – ông đã thanh trừng với số lượng lớn các quan chức mà tội ác thực sự của họ, theo quan điểm của Tập Cận Bình, là không thể hiện đầy đủ sự trung thành đối với nhà lãnh đạo tối cao. Mạnh Hoành Vĩ, người đứng đầu Interpol bị Trung Quốc đột ngột bắt giữ gần đây, chỉ là trường hợp đáng chú ý diễn ra gần đây nhất: câu chuyện của ông hầu như chẳng có gì khác thường.

Trong 6 năm qua, đã có 1,34 triệu quan chức – một con số đáng kinh ngạc – trở thành mục tiêu của chiến dịch này, và hơn 170 lãnh đạo cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng đã bị cách chức (và phần lớn bị cầm tù). Cảnh ngộ của Mạnh Hoành Vĩ, giống như tình cảnh của Bạc Hy Lai – bí thư thành ủy Trùng Khánh đầy quyền lực bị hạ bệ vào năm 2012 – cho thấy cuộc thanh trừng của Tập Cận Bình không chừa một ai. Quả thật, số lượng ủy viên Ban chấp hành Trung ương đầy quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc bị xử lý kỷ luật từ năm 2012 đến nay còn nhiều hơn trong toàn bộ giai đoạn tính từ đó trở về Cách mạng Cộng sản.

Không hài lòng với việc chỉ loại bỏ mọi sự cạnh tranh, Tập Cận Bình còn củng cố quyền lực của mình bằng việc loại bỏ giới hạn về nhiệm kỳ đối với chức vụ của ông và từ chối chỉ định người kế nhiệm như những người tiền nhiệm đã làm vào giữa nhiệm kỳ của họ. Ông cũng đã đưa “Tư tưởng Tập Cận Bình” vào Hiến pháp Trung Quốc (một vinh dự mà ngoài ông ra chỉ có Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình có được); nắm quyền kiểm soát trực tiếp các lực lượng vũ trang; và biến mình thành “chủ tịch của mọi thứ” bằng cách thành lập nhiều nhóm công tác về các chính sách từ tài chính, vấn đề Đài Loan cho tới an ninh mạng – tất cả đều chịu trách nhiệm trực tiếp trước ông.

Đặc tính quan trọng thứ hai của hệ thống cũ là các quan chức ở mọi cấp đều có thể trông đợi được tưởng thưởng nếu đạt thành tích tốt. Đây không hẳn là chế độ nhân tài, và trong hệ thống này vẫn tồn tại tình trạng tham nhũng và bảo trợ ở mức độ khá lớn. Nhưng cả hai đặc tính này thực sự phục vụ cho điều tốt đẹp chung theo một cách chính: Nếu một quan chức đạt thành tích tốt, thì người đó có thể trông đợi nhận được một phần tiền thu được và được đề bạt đều đặn. Trái lại, Tập Cận Bình đã “thay thế hệ thống dựa trên sự khích lệ này bằng hệ thống dựa trên sự sợ hãi, theo cách nói của Bùi Mẫn Hân. Và sự thay đổi này có 2 vấn đề lớn. Thứ nhất, nó bóp méo ưu tiên của các quan chức, từ việc cho thấy thành quả sang việc thể hiện lòng trung thành. Vấn đề thứ hai, theo Alexander Gabuev, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Trung tâm Carnegie Moskva, là “khi chẳng còn gì khác ngoài nỗi sợ hãi, các quan chức sẽ hoảng sợ đến mức không làm bất kỳ việc gì nếu không có chỉ thị rõ ràng từ cấp trên. Vậy là cả bộ máy quan liêu trở nên bị động. Họ chẳng làm được bất ỳ việc gì”.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://foreignpolicy.com/2018/10/15/chinas-great-leap-backward-xi-jinping/

TLTKĐB – 24/10/2018

Advertisements

Chiến lược dùng nạn đói – Phần cuối


Đi đôi với điều đó, phần của giá phân bón trong giá sản phẩm nông nghiệp tăng từ 11 lên 16%. Những hậu quả của chiến lược này không chỉ hạn chế ở tình trạng đất bị nghèo đi, mà sức mua của lân bị giảm sút, mà còn bao gồm việc tăng giá trên thị trường. Ở nước kém phát triển, những hậu quả ấy còn nghiêm trọng hơn và sản xuất nông nghiệp còn giảm sút hơn. Những con số sau đây – có tính tới những sự khác nhau về khí hậu và địa chất – đem lại một ý niệm rõ ràng về sự mất cân bằng do việc dùng những kỹ thuật khác nhau và sự mất cân đối giữa các số lượng phân bón được sử dụng đẻ ra:

Sản lượng (tạ/ha)
Nước Lúa mì Lúa đại mạch Ngô
Pháp 38,88 33,60 41,04
Tây Ban Nha 15,06 15,93 34,91
Bồ Đào Nha 13,10 9,38 13,32

Như vậy, không những các nước nghèo khổ mà cả các nước châu Âu cũng có nguy cơ bị đẩy về phê các nước nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp. Liên Xô, sau Mỹ là nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới phốt-phát nhưng gần đây cũng đã chuyển sang phe các nước nhập khẩu, với 10 triệu tấn năm 1972.

Có lẽ đó là lý do duy nhất đã thúc đẩy chính phủ Pháp cải tổ lại khu vực phân hóa học năm 1977 và quyết định sáp nhập hai công ty Nhà nước, EMC (Doanh nghiệp mỏ và hóa chất) và CDF – Hóa chất. Đồng thời chính phủ Pháp cũng khuyến cáo tập trung khu vực tư nhân vào chuyên ngành này: GESA (Tổng công ty phân bón), chi nhánh của Rhône-Poulenc và của Pechiney – Ugine – Kulmann), phải kiểm soát được SOPAG (Công ty cổ phần Gardinier), đứng đầu trong khu vực này.

Phải đặt “vấn đề nhỏ” về vùng Sahara thuộc Tây Ban Nha cũ trong bối cảnh này. Vùng đất ấy, do sự giàu có về phốt-phát và sự dễ dàng khai thác nó, có thể củng cố sức mạnh của Mỹ về phân bón và… uranium. Vì phốt-phát không phải là sự giàu có duy nhất của Sahara như người ta thường tưởng. Một mỏ sắt khoảng 70 triệu tấn đã được phát hiện trong vùng Rio de Oro. Cũng vậy, mọi cái cho thấy ở đó có cả đồng, uranium, dầu mỏ (và nước nữa!). Về dầu mỏ, làm sao có thể nghĩ rằng các công ty lão luyện như Exxon, Texaco, Mobil Oil, Gulf Oil, Elf Erap lại bỏ mất chừng 500 triệu USD mỗi năm với những hy vọng không chắc chắn được? Còn về uranium, một công ty Mỹ, Gardinier Big River, và một công ty Pháp, CDF-Hóa chất, chi nhánh của Công ty Than đá Pháp, đã bắt đầu khai thác theo một hệ thống cho phép khai thác nó từ… Phốt-phát. Điều này sẽ không thể làm được nếu không điều hòa những lợi ích “vô tư” của một số nước đã cố giữ không can thiệp vào cuộc xung đột Sahara” (Mỹ, Pháp, Anh…).

Còn về nước, người ta đã phát hiện được một tầng nước ngầm 60.000 km2 mà nếu được khai thác, sẽ làm hoàn toàn thay đổi sự cằn cỗi của vùng này và, do đó, những triển vọng kinh tế và nông nghiệp của nó.

Mỏ Fos Bucraa là gì? Đó là mỏ phốt-phát lộ thiên rộng 268 km2. Công ty Fos Bucraa, về mặt chính thức, là một chi nhánh của Viện công nghiệp quốc gia (Tây Ban Nha) mặc dầu vốn của nó cũng đến từ những khu vực khác ít chính thức hơn: Ngân hàng Paris và Hà Lan, Ngân hàng Rothschild, Eximbank, Wisconsin National Bank…

Năm 1969, các công trình được khởi đầu ở Fos Bucraa, dưới dấu hiệu “hợp tác quốc tế”.

+ Cảng mỏ, có thể nhận những chiếc tàu 100.000 tấn, được xây dựng bởi C&T (Tây Ban Nha), Hersent (Pháp), Straban (Đức) và De Long and Co (Mỹ). Chi phí cho các công trình này: 25 triệu USD.

+ Nhà máy nghiền và rửa quặng có trị giá 12 triệu USD, do Centauro (Tây Ban Nha) và Klockn, Humboldt và Deutz (Đức) thực hiện.

+ Những thảm quay chuyển quặng mỏ ra cảng (100 km, với năng lực vận tải 2000 tấn mỗi giờ, tốc độ 16km/h) và những trạm tương ứng của chúng, với giá thành trên 100 triệu USD, do Krupp (Đức) thực hiện.

+ Những nhà máy điện do General Electric ký hợp đồng, những máy xúc do Bucyrus, những xe tải do Wabco.

Tóm lại, một sự thông đồng quốc tế tuyệt vời!

Kiểu khai thác lộ thiên này và giá nhân công thấp cho phép bán mỗi tấn phốt-phát ở Fos Bucraa (một trong những thứ phốt-phát có hàm lượng giàu nhất thế giới: theo chỉ số BLP, hàm lượng này là từ 65 đến 80%), với giá 10 USD FOB.

Việc buôn bán và xử lý thứ phốt-phát này (để biết nó thành axit phosphoric được dùng trong nông nghiệp) được thực hiện qua trung gian một công ty khác của Tây Ban Nha (trong đó thấy có những quyền lợi nếu không phải của người Marocco thì ít ra cũng của các nhân vật Marocco). Công ty này đã xử lý và buôn bán phốt-phát Marocco từ các mỏ Yusufia và Kuribia… Xin chú ý rằng việc thanh toán về xử lý phốt-phát Marocco này được người Marocco thực hiện theo giá biểu nguyên liệu 12 USD mỗi tấn đã xử lý. Marocco còn bảo đảm cho Tây Ban Nha một giá biểu ưu tiên về việc mua phốt-phát của mình bằng 40% thời giá thế giới.

Khi việc khai thác và xử lý phốt-phát Bucraa vừa bắt đầu, người ta liền thấy rõ sự sáng suốt của những khoản đầu tư này: tiền lãi ròng năm 1974 là 15 triệu USD; năm 1975, với sản lượng 2,8 triệu tấn, tiền lãi ròng 25 triệu USD, trong đó 15 triệu dành để trả các khoản vay và 10 triệu trả cho các “cổ đông”.

Năng lực sản xuất của những cơ sở hiện có là 12 triệu tấn mỗi năm. Tức là một nửa mức tiêu dùng thế giới.

Thế còn dự trữ của Fos Bucraa là bao nhiêu? Nó được ước lượng khoảng 8000 đến 10000 triệu tấn. 10.000 triệu tấn dự trữ cho một năng lực sản xuất 12 triệu: thật là một công cụ đẹp đẽ trong chiến lược nạn đói, và công cụ này, từ khi Tây Ban Nha nhường Sahara lại cho Marocco, đã nằm trong tay Mỹ và các công ty đa quốc gia.

Uranium, phốt-phát, sắt: ba lý do thật sự của nhiều cuộc thông đồng, liên minh, “tránh né” trong cuộc xung đột ở Sahara, trong đó cả phía này lẫn phía kia đã không đếm xỉa tới quyền lợi của những người chủ sở hữu tự nhiên và chính đáng của lãnh thổ này, như từ bao giờ vẫn thế.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Vụ Huawei tạo cơ hội cho Tập Cận Bình củng cố quyền lực?


Tờ Bình quả, nhật báo có quan điểm chống Đảng Cộng sản Trung Quốc của Hong Kong, ngày 11/12 cho rằng vụ Giám đốc Tài chính Công ty Huawei Mạnh Vãn Chu (Meng Wanzhou) bị bắt tại Canada tiếp tục trở thành tiêu điểm báo chí của ngoại giao Trung Quốc. Trên thực tế, trước khi diễn ra cuộc gặp Tập – Trump bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Argentina hôm 1/12 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã sớm biết được thông tin Mạnh Vãn Chu bị bắt, nhưng tại cuộc gặp, Tập Cận Bình đã không đưa ra bất kỳ ý kiến liên quan nào.

Giới phân tích chính trị Trung Quốc cho rằng, sở dĩ Tập Cận Bình làm như vậy là để tránh vụ việc này ảnh hưởng đến đàm phán thương mại Trung – Mỹ, nhưng cũng cho thấy Trung Quốc có thể tiếp tục nhượng bộ để nhanh chóng kết thúc chiến tranh thương mại Trung – Mỹ. Cho nên, ngay cả khi Mỹ vừa đám vừa “đâm dao” phía sau lưng, Trung Quốc vẫn tạm thời nén giận. Đương nhiên, một loạt vấn đề như đàm phán Trung – Mỹ trong thời gian 3 tháng tới liệu sẽ có được tiến triển như thế nào, Mạnh Vãn Chu liệu có bị dẫn độ sang Mỹ và còn những tư liệu nào được công khai,… vẫn tồn tại rất nhiều biến số.

Theo giới phân tích Trung Quốc, vụ Mạnh Vãn Chu bị bắt liệu có gắn với đàm phán thương mại Trung – Mỹ, giữa hai vấn đề liệu có ảnh hưởng lẫn nhau, hiện nay đưa ra phán đoán vẫn còn quá sớm. Nhưng một điều có thể xác định là vụ Mạnh Vãn Chu bị bắt đã đem đến cho Tập Cận Bình cơ hội dựa vào cổ súy chủ nghĩa dân tộc, dân túy để củng cố quyền lực. Tập Cận Bình tất nhiên sẽ không bỏ lỡ cơ hội này để chuyển hướng dư luận trong nước Trung Quốc vốn đang tập trung vào hàng loạt quyết sách sai lầm của Tập Cận Bình và kinh tế Trung Quốc xuất hiện nguy cơ suy thoái hiện nay.

Giới phân tích Trung Quốc nêu rõ, bất kể nhân vật nào hay đảng nào nắm quyền cũng đều có những lý do để giải thích với người dân về tính chính đáng nắm quyền chấp chính của mình, chế độ dân chủ hay chuyên chế cũng đều như vậy. Khi ĐCSTQ mới thành lập, lấy chủ nghĩa cộng sản, quốc gia bình đẳng làm lý tưởng. Thời kỳ nội chiến, ĐCSTQ lấy việc đánh đổ Quốc Dân Đảng, thực hiện một đảng chuyên chế làm khẩu hiệu. Nhu cầu bình đẳng và dân chủ của người dân đã đưa ĐCSTQ lên địa vị nắm quyền chấp chính, nhưng trong tình trạng không có quyền lực cân bằgn đã rất nhanh chóng khiến những chí sỹ cách mạng hủ bại. Trung Quốc đã thử nghiệm mô hình Stalin suốt 30 năm, kết quả là không thể thực hiện bình đẳng, càng không thể thực hiện dân chủ, đất nước suy yếu, tính chính đáng nắm quyền chấp chính của ĐCSTQ bị nghi ngờ. Đến khi Đặng Tiểu Bình thúc đẩy cải cách mở cửa, vứt bỏ lý tưởng chủ nghĩa cộng sản trống rỗng, chuyển sang lấy phát triển kinh tế làm mục tiêu nắm quyền chấp chính duy nhất của ĐCSTQ. Trải qua 40 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc với hơn một tỷ dân đã thóa khỏi nghèo đói, kinh tế phồn vinh. Chính điều này đã trở thành tính chính đáng nắm quyền chấp chính của ĐCSTQ, thậm chí trở thành lý do để ĐCSTQ từ chối cải cách chính trị.

Đương nhiên trong bối cảnh kinh tế phồn vinh không thể bảo đảm lâu dài, lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ hiểu rất rõ cần phải tìm kiếm tính chính đáng nắm quyền chấp chính khác để bổ sung. Vậy là từ thời kỳ Hồ Cẩm Đào vào Ôn Gia Bảo nắm quyền, tiếng nói “nước lớn trỗi dậy” và “cường quốc” xuất hiện mọi lúc mọi nơi, từ tổ chức Thế vận hội (Olympic 2008) đến công trình thám hiểm không gian vũ trụ, đều được ĐCSTQ gắn mác “nước lớn trỗi dậy” và “cường quốc”. Điều này đã khiến ĐCSTQ tiếp tục nắm quyền chấp chính được hợp lý hóa. Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền càng thúc đẩy “giấc mộng cường quốc” và “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” mạnh mẽ hơn, biểu hiện cụ thể là “Vành đai và con đường”, được triển khai ở khắp mọi nơi, “giấc mộng cường quốc” và “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” trở thành tính chính đáng chủ yếu của ĐCSTQ trong nắm quyền chấp chính. Theo đó, át chủ bài phát triển kinh tế của Đặng Tiểu Bình do không hợp với tư duy cánh Tả của Tập Cận Bình nên được xếp vào vị trí thứ yếu, thậm chí Tập Cận Bình còn muốn thay thế bằng tư tưởng Mao Trạch Đông.

Từ sau khi lên nắm quyền, Tập Cận Bình tìm mọi cách tạo dựng bản thân mình trở thành “Hoàng đế phục hưng Trung Quốc”, nhưng tác phong chuyên quyền và hành xử kiêu ngạo của Tập Cận Bình đã dẫn đến việc Mỹ dùng chiến tranh thương mại để chèn ép Trung Quốc. Hệ quả là nền kinh tế Trung Quốc vốn đã tồn tại nhiều ẩn họa, dưới sự tác động của chiến tranh thương mại càng trở nên mờ mịt hơn, theo đó, kế hoạch phục dụng Chủ nghĩa Mao Trạch Đông, quốc tiến dân lui của Tập Cận Bình buộc phải gác lại. Hiện nay trong ĐCSTQ, thế lực ủng hộ đường lối của Đặng Tiểu Bình bày tỏ bất bình trước việc Tập Cận Bình đi ngược thời đại khiến Mỹ bao vây, còn dân chúng trong nước do một loạt quyết sách sai lầm của Tập Cận Bình như nhấn mạnh chuyên chế, vung tiền khắp nơi dẫn đến kinh tế suy thoái, tham nhũng tràn lan… đã không còn ủng hộ Tập Cận Bình chống tham nhũng như hồi mới lên nắm quyền. Tình trạng này với Tập Cận Bình có thể nói là trong ngoài khó khăn, thậm chí dẫn đến xuất hiện thông tin quyền lực của Tập Cận Bình đã bị lung lay.

Trong lúc này, Tập Cận Bình củng cố quyền lực, củng cố tính hợp lý nắm quyền chấp chính của mình, bất kể là quay trở lại tư tưởng Mao Trạch Đông khi xưa, hay tiếp tục đường lối của Đặng Tiểu Bình là lấy phát triển kinh tế làm át chủ bài đều đã không còn tác dụng. Hiện nay, “giấc mộng cường quốc” mà Tập Cận Bình ra sức tuyên truyền đã liên tiếp vấp phải sự tấn công của Mỹ, buộc phải chững lại. Câu hỏi đặt ra là Tập Cận Bình còn lại “quân bài” gì trong tay? Giữa sáng tạo công nghệ của Trung Quốc, bị bắt, đã vô tình tạo cơ hội cho Tập Cận Bình khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy để ngưng tụ sự ủng hộ của dân chúng. Thực tế cho thấy, sau khi Mạnh Vãn Chu bị bắt, Bộ Ngoại giao, truyền thông chính thống của Trung Quốc đồng loạt lên tiếng, yêu cầu thả người vô điều kiện. Rõ ràng là đơn giản mà trực tiếp, không cần phải động não, Tập Cận Bình đã có thể đổ hết tội lỗi lên đầu thế lực bên ngoài chống Trung Quốc, muốn Trung Quốc diệt vong. Như vậy, Tập Cận Bình đã có thể che đậy được những sai lầm trong các quyết sách nắm quyền chấp chính của mình. Vấn đề là ở chỗ chủ nghĩa dân tộc, dân túy có thể chuyển hướng dư luận, nhưng cũng khiến Tập Cận Bình rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Một khi Tập Cận Bình không có được công trạng gì nổi bật, thì sẽ càng bộc lộ sự bất tài của mình, và theo đó tính chính đáng nắm quyền chấp chính của Tập Cận Bình cũng như của ĐCSTQ sẽ không còn chỗ dựa.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Chiến lược dùng nạn đói – Phần III


Cả một chương trình được dành cho 800 triệu người, trên thế giới đang bị suy dinh dưỡng và đói; năm 1977, Mỹ quyết định giảm bớt những diện tích dành cho việc trồng ngũ cốc! Tuy rằng UNEO (United Nations for Emergency Operation) vừa công bố danh sách những nước cần được giúp đỡ khẩn cấp: Cameroon, Bờ Biển Ngà, Dahomey, Ethiopia, Ghana, Guinea, Thượng Volta, Kenya, Lesotho, Madagascar, Mali, Moritania, Niger, Cộng hòa Trung Phi, Ruanda, Senegal, Sierra Leon, Sudan, Somalia, Tanzania, Tchad, Bangladesh, Ấn Độ, Lào, Pakistan, Yemen, Sri Lanka, Salvador, Guyan, Haiti, Honduras… cách đây ít lâu, các tổ chức chính thức đã báo động cho các chính phủ “giàu”” rằng nhiều nước Sahel cấp thiết yêu cầu những số lượng ngũ cốc quan trọng để bù lại những hậu quả của nạn hạn hán: Cap-Vert (30.000 tấn), Gambia (25.000 tấn), Moritania (50.000 tấn), Senegal (180.000 tấn), Mali (150.000 tấn), Thượng Volta (135.000 tấn), Niger (85.000 tấn), Tchad (55.000 tấn), Guinea (70.000 tấn), Bissu (80.000 tấn)… Nạn hạn hán ấy năm 1973 – 1974, đã làm chết hơn 100.000 người và làm mất hơn 3 triệu gia súc. Về phía mình, CMA (Hội nghị quốc tế về lương thực) đã đề nghị đưa sự giúp đỡ lương thực năm 1976 lên 10 triệu tấn.

Nếu những năm 1976 – 1977 con số “viện trợ” được ước lượng tới 9,2 triệu tấn, thì xin đừng nghĩ rằng “tình hình đang khá lên”, ngược lại. Con số 10 triệu tấn chỉ là một giai đoạn nhằm khôi phục mức 12 triệu tấn của những năm 60, mà đến năm 1972 đã rơi xuống 5 triệu!

Theo CMA, trong việc tham gia đấu tranh chống nạn đói, năm 1965 Mỹ bao tới 94% tổng số quà tặng, thì năm 1974 chỉ còn bao 48%.

Người ta nói tới nào “quà tặng”, nào “viện trợ”. Phải chăng điều đó có nghĩa là “nỗ lực quốc tế” là cho không và vô tư? Không! Trong phần lớn các trường hợp, sự viện trợ này phải tuân theo những điều kiện chính trị không thể coi thường. Hơn nữa, những “quà tặng” này nói chung đẻ ra nhiều lệ thuộc. Về vấn đề này, thượng nghị sĩ Mỹ MacGovern đã tuyên bố năm 1964 rằng “những học trò Nhật Bản nào đã từng nếm vị bánh mì và sữa được phục vụ tại các trường học do Mỹ tài trợ về sau đã góp phần làm cho Nhật Bản trở thành khách hàng tốt nhất của Mỹ trong lĩnh vực sản phẩm nông nghiệp”. Cũng vậy, lúa mì được đưa vào một nước không có nó hoặc tiêu dùng nó rất ít có thể trở thành cần thiết và, do đó, đẻ ra những nhu cầu mới. Ở một nước không sản xuất đậu tương, gia súc sẽ tạo ra sự cần thiết phải nhập khẩu nó.

Trong những hoàn cảnh khác, “sự viện trợ và quà tặng” che đậy những thủ đoạn khác nhau. Chẳng hạn, đó là trường hợp công ty đa quốc gia Thụy Sỹ Nestlé cung cấp một khoản viện trợ “với điều kiện lập ra doanh nghiệp sẽ sản xuất ra hàng viện trợ ấy để đánh đổi”. Việc lập ra doanh nghiệp này chắc chắn được hưởng những ưu đãi của chính phủ và nhân công địa phương rẻ, sẽ tỏ ra có ích trong tương lai…

Như vậy, vũ khí nạn đói là có thật. Và sự thâm nhập của các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực này làm tăng thêm nhiều nguy cơ. Giải pháp để chống lại điều đó, mà không phải mất nhiều năm, là xem xét lại những kỹ thuật được dùng ở tất cả các nước và từ bỏ một vài “chính sách kỹ thuật” được dùng ở tất cả các nước và từ bỏ một vài “chính sách nông nghiệp”… Nhưng, theo giả thuyết này, Mỹ và công ty đa quốc gia sẽ có thể tiếp tục thực hiện sự thống trị của mình bằng nạn đói như thế nào đây? Làm thế nào để đến một ngày nào đó, chính phủ của tất cả các nước có liên quan quyết định được việc hợp lý hóa các cây trồng của mình đây?

Câu trả lời cho câu hỏi đó đã được đưa ra ở Madrid tháng Mười một 1975, khi chính phủ ở đó “nhường lại lãnh thổ của Tây Ban Nha ở Sahara…”.

Giữa sự kiện ấy và chiến lược dùng nạn đói có mối liên hệ như thế nào? Giữa chính sách của Mỹ và các công ty đa quốc gia về nông nghiệp hiện đại và một lãnh thổ hoang mạc, cằn cỗi như Sahara thuộc Tây Ban Nha, có mối liên hệ gì? Chẳng phải đây chỉ là việc “thu hồi” một lãnh thổ bị Tây Ban Nha chiếm làm thuộc địa ư? Chẳng phải đây là một “vụ việc nhơ bẩn” giữa bọn Franco và vua Hassan II ư? Những yêu sách của Polissario chẳng phải là kết quả của một sự “điều khiển” của ông Bumerdien “đỏ” và của chủ nghĩa cộng sản quốc tế ư?

Mọi việc không phải đơn giản như người ta làm cho chúng ta lầm tưởng. Những lợi ích tranh chấp trong vụ này đã vượt quá khuôn khổ một vùng sa mạc nhiều.

Vì để “công nghiệp hóa nông nghiệp” (ý muốn của Mỹ) và để hợp lý hóa chính sách nông nghiệp (ý muốn của tất cả các nước), thì trước hết phải có phân bón. Mà Sahara, đó là Fos Bucraa, và Fos Bucraa có nghĩa là phân lân.

Nếu người nông dân không trả lại cho đất đai những khoáng chất bị anh ta làm mất đi, đến một lúc nào đó đất đai sẽ bị kiệt màu đến mức không sản xuất được nữa. Hiện nay, người ta ước lượng rằng mỗi năm nông nghiệp thế giới làm cho đất đai mất đi 450 triệu tấn lân mà chỉ trả lại được 23 triệu tấn.

Nếu không muốn làm cho đất đai kiệt màu, thì phải nhân gấp 20 lần số lượng lân được nông dân sử dụng. Số lượng này còn phải lớn hơn nữa trong trường hợp khai thác quá mức hoặc có những thay đổi về chính sách nông nghiệp. Ngoài ra, những nhận định này chỉ có giá trị khi tất cả các nước trên thế giới đều có những đặc trưng giống nhau: sự phong phú của đất đai, việc trả lại chất lân có hệ thống… Nhưng những thực tế lại khác nhau và những con số sau đây nói lên rõ tính nghiêm trọng của vấn đề: năm 1975, khi một nước phát triển sử dụng mức trung bình đầu người là 60 kg phân bón, thì thế giới thứ ba chỉ sử dụng 7kg. Khi một người Đan Mạch sử dụng tới 140 kg phân bón thì một người dân Ethiopia chỉ sử dụng có 800 gram.

Phải mất bao nhiêu năm nữa để cho khoảng cách giữa các con số này thu hẹp lại? Các nước đang phát triển phải chịu ách “bá quyền của các nước “lớn” trong bao nhiêu năm nữa, khi các nước này vẫn còn là những kẻ nắm giữ chủ yếu về sản phẩm phân bón?

Trước tầm quan trọng hiển nhiên của những sản phẩm này đối với cuộc chiến tranh nạn đói, các nhà chiến lược của cuộc chiến tranh ấy muốn chiếm giữ bằng mọi giá việc sản xuất phân lân ở Fos Bucraa để bổ sung vào kho vũ khí của họ. Qua trung gian của Phosrock và chi nhánh của nó Phoschem (International Minerals Corporation), Mỹ đang kiểm soát 1/3 sản lượng thế giới về phân lân. Sự thống trị này đã cho phép Mỹ năm 1974 – 1975, đẩy giá mỗi tấn từ 12 lên 68 USD.

Cơ chế được sử dụng thật đơn giản: do việc tăng giá thế giới đã được ban hành (nhân thể xin nói, chỉ bằng một quyết định “đơn phương” của Sở phốt-phát Marroco, do Mỹ khuyên bảo), Phosrock liền quyết định “đóng” những dự trữ của nó, không cho bán ra nước ngoài. Trong khi đó, trên thị trường trong nước, công ty này vẫn tiếp tục bán cho các đại lý với giá 15 USD/tấn. Chiến thuật này tất nhiên đã mang lại những vấn đề to lớn về nông nghiệp và kinh tế ở những nước thiếu phân bón nhất, kể cả một số nước phát triển. Chỉ riêng ở Pháp, sự tăng giá ghê gớm về các loại phân bón (trong đó có axit photphoric P2O5, chế từ phốt-phát) đã đưa tới một sự giảm bớt 21% số phân bón được sử dụng; tức là thụt lùi mất 5 năm đối với nông nghiệp Pháp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Chính trị – pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội là những động lực chính – Phần cuối


Số hóa và xu hướng văn hóa – xã hội mới

Châu Á có nhiều loại hình di sản văn hóa khác nhau của nhiều quốc gia, xã hội và các nhóm dân tộc trong khu vực. Về mặt địa lý, châu Á không phải là một lục địa riêng biệt, và về mặt văn há, có rất ít sự thống nhất hay lịch sử chung giữa nhiều nền văn hóa và dân tộc Á châu. Vùng này thường được chia thành các tiểu vùng địa lý và văn hóa, bao gồm Trung Á, Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á và Tây Á.

Đông Á bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Hàn Quốc. Các đặc điểm chính của khu vực này gồm có chữ viết bắt nguồn từ Hán tự, cũng như những tôn giáo chung như Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo. Ở Nam Á, bốn tiểu bang Nam Ấn và các vùng khác ảnh hưởng di sản của người Indo-Aryan (nền văn minh Vệ Đà). Văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á cũng đa dạng không kém, từ văn hóa bộ tộc đến các nền văn minh đã tạo nên những kỳ quan kiến trúc như Quần thể đền Angkor của Campuchia và Đền Borobudur của Indonesia. Ngoài ra, nghệ thuật và văn học của Đông Nam Á rất đặc biệt vì một số đã bị ảnh hưởng bởi văn học Hồi giáo, Ấn Độ, Hindu, Trung Quốc và Phật giáo.

Mặc dù châu Á có nền văn hóa khá đa dạng nhưng chúng tôi tin rằng có ba tiểu văn hóa mới đang đóng vai trò quan trọng trong khu vực này, đó là tiểu văn hóa thanh niên (để phân biệt với cao niên), nữ giới (để phân biệt với nam giới), và cư dân mạng (để phân biệt với công dân bình thường) (xem hình 2.1).

Tiểu văn hóa đầu tiên là thanh niên giới trẻ. Cộng động này đang ngày càng thách thức sự ảnh hưởng của người cao niên, những người trước đây là baby boomers (những người sinh ra vào Thời kỳ bùng nổ trẻ sơ sinh sau Thế chiến thứ hai) nhưng giờ đang suy giảm số lượng trên khắp thế giới. Thanh niên đóng một vai trò quan trọng trong việc “dẫn dắt tâm trí”. Và họ có thể làm như vậy bởi vì họ quen “nhận biết và phản ứng” hơn là “chỉ huy và kiểm soát” như thế hệ người lớn tuổi. Sự phát triển của công nghệ thông tin (ICT) thực sự đòi hỏi khả năng nhận biết tốt hơn những thay đổi chóng mặt và phản ứng nhanh nhạy hơn một cách hợp lý. Nếu không, đối thủ có phản ứng nhanh hơn sẽ đánh bại chúng ta. Một đặc điểm khác của thanh niên là sự năng động; họ nhanh chóng thích ứng với những thay đổi trong môi trường bên ngoài ngày càng khó dự đoán và kiểm soát. Chính giới trẻ sẽ dẫn dắt sự thay đổi ở châu Á trong tương lai. Hong Kong vào năm 2014 là một ví dụ điển hình. Một loạt các cuộc phản đối trên đường phố – được gọi là Umbrella Revolution (Cách mạng Dù) – diễn ra từ ngày 26/9 đến ngày 15/12 chủ yếu là do lực lượng sinh viên trẻ dẫn dắt.

Phụ nữ là nhóm tiểu văn hóa thứ hai. Các tiến bộ văn hóa và xã hội đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng lớn của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Trong gia đình, phụ nữ ngày càng có quyền chi phối việc ra quyết định, đặc biệt là khi mua hàng hóa và dịch vụ. Một báo cáo của EIU (Cơ quan nghiên cứu kinh tế toàn cầu) về “Người tiêu dùng nữ châu Á năm 2014” cho thấy sự gia tăng tính độc lập của phụ nữ trong việc xử lý tài chính. Hơn hai phần ba số người cho biết họ có tài khoản ngân hàng riêng của mình (ở mức cao đến 76% ở Trung Quốc hay thấp khoảng 47% ở Ma Cao) và 48% có thẻ tín dụng riêng. Hầu hết phụ nữ cho biết họ phụ trách các quyết định ngân sách về hàng tạp hóa, quần áo, phụ kiện và sản phẩm dành cho trẻ em và ít nhất là đồng quyết định trong hầu hết các loại sản phẩm khác như điện tử và dịch vụ du lịch.

Ngoài xã hội, sự ảnh hưởng của phụ nữ tăng lên là do họ có thể đưa ra ý kiến rộng rãi nhờ thông tin truyền miệng, bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của họ trong việc chia sẻ thông tin với bạn bè và người quen. Khi mà việc quảng cáo truyền miệng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của người tiêu dùng thì vai trò của phụ nữ vì vậy cũng ngày càng trở nên quan trọng. Thật không sai khi nói rằng phụ nữ đóng vai trò “quản lý thị trường”.

Tiểu văn hóa thứ ba là của cư dân mạng. Cộng đồng mạng đang làm biến đổi đáng kể vai trò của công dân trong thế giới thực. Xét về sự thâm nhập của Internet và điện thoại di động ở các nước châu Á, ý kiến dư luận không còn bị dẫn dắt bởi các phương tiện truyền thông chính thống nữa mà bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các phương tiện truyền thông xã hội và sự tham gia tích cực của cư dân mạng. Công nghệ Internet cho phép cư dân mạng xử lý thông tin “sâu và rộng”. Bằng cách đó, họ có thể truyền bá những ý kiến có thể tác động đến hàng triệu người. Điều đó đủ để nói rằng cư dân mạng đóng một vai trò trong việc “hình thành tâm lý” đám đông.

Sự nổi lên của bộ phận tiểu văn hóa thứ ba cần sự chú ý mạnh mẽ từ các nhà tiếp thị ở châu Á. Họ nên thiết kế những chiến lược và các chương trình tiếp thị nào có thể thu hút cư dân mạng tích cực tham gia. Sự phát triển của công nghệ số ngày càng giúp công ty và tiêu văn hóa cư dân mạng hợp tác với nhau dễ dàng hơn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Philip Kotler, Hermawan Kartajaya, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Chiến lược dùng nạn đói – Phần II


Năm 1976, Mỹ đã xuất khẩu 36 triệu tấn ngũ cốc, 45 triệu tấn ngũ cốc làm thức ăn gia súc và 15 triệu tấn hạt có dầu. Xuất khẩu nông nghiệp chiếm 25% tổng số xuất khẩu của Mỹ.

Cùng thời kỳ này, các nước khác đã xuất khẩu và hay nhập khẩu những số lượng dưới đây (tính theo triệu tấn) về ngũ cốc (lúa mì, ngô, đậu tương):

  Xuất khẩu Nhập khẩu
Liên Xô 5,03 9,40
Cộng đồng châu Âu 8,22 20,82
Canada 14,3  
Australia 7,48  
Argentina 8,90  

Tuy Liên Xô cũng như Cộng đồng châu Âu là những nơi xuất khẩu do các hiệp ước họ đã ký và do các đặc điểm thị trường của họ – nhưng họ cũng là nơi nhập khẩu và, điều thật có ý nghĩa là họ bị phụ thuộc vào những số lượng nhập khẩu cao hơn những khả năng xuất khẩu của họ nhiều. Năm 1977, Trung Quốc đến lượt mình bước vào sự phụ thuộc ấy khi yêu cầu nhập khẩu khoảng 9 triệu tấn lương thực hàng năm.

Cuối cùng, xin nhấn mạnh rằng sản lượng thế giới về đậu tương được dành cho sự tiêu dùng bên trong của các nước sản xuất, trừ Mỹ ra, và hiện nay Mỹ xuất khẩu tới 70% sản lượng hạt có dầu của mình.

Như vậy, nếu tính đến những điều kiện đặc biệt và những kỹ thuật nông nghiệp của các nước khác nhau, thì vũ khí lương thực là có thật. Nó nằm trong tay của Mỹ…

Xin nói thêm rằng Mỹ thường xuyên từ chối ký vào một kiểu hiệp định quốc tế nào đó nhằm điều tiết thị trường ngũ cốc, ngay cả khi nó đồng ý một sự lưu thông rộng rãi hơn của những thông tin về các thứ hàng hóa này, cũng như đồng ý cung cấp theo giá hạ một số lượng nào đó cho những nước cần mua. Những món “quà tặng” có điều kiện và lựa chọn này năm 1975 lên tới 1,3 tỷ USD. Nhưng giá trị trội ra do nạn thiếu ngũ cốc năm 1973 – 1974 và 1975 đẻ ra đã đem lại cho Mỹ số lợi nhuận lên tới 6 tỷ USD!

Những yếu tố ấy cho phép nhận định rằng, do ưu thế của nó trên thị trường ngũ cốc thế giới, nếu muốn, Mỹ có thể tạo ra một cách giả tạo (mà không cần dùng tới một tác động trực tiếp nào tới khí hậu, một kế hoạch khác của CIA!) một tình trạng thiếu hụt lương thực của thế giới, đưa tới không chỉ những biến đổi chính trị ở nhiều nước, mà còn là cái chết của hàng triệu đàn ông, đàn bà và trẻ em.

Một yếu tố khác của sự thiếu hụt có thể là những số lượng khổng lồ mà Liên Xô phải mua ở nước ngoài những số mua này nếu là do một “ý đồ xấu” nào đó gây ra, thì sẽ có thể cao hơn những nhu cầu thực tế và cho phép lập ra những dự trữ “gây sức ép”.

Một yếu tố khác của cuộc chiến tranh này: từ năm 1973, Bộ Nông nghiệp Mỹ yêu cầu NASA cộng tác để “ước lượng vào bất cứ lúc nào những diện tích, những kiểu trồng, sự tiến triển của những thứ đó”, cho phép biết chính xác những số ngũ cốc hiện có của mỗi nước, nhờ vào các vệ tinh Landsat.

Mới đây, một chương trình mới – “Earth Resources Technology Satellite” – cho phép (bằng cách dùng một hệ thống giống như của các việc thăm dò dư luận, tức là bằng cách chọn một “mẫu” đa quốc gia đại diện cho tất cả các diện tích dành cho nông nghiệp khắp thế giới) thu được những thông tin bổ sung về trạng thái đất đai, số lượng đất đai dành cho nông nghiệp, tình trạng thủy văn, các bệnh của cây trồng, số lượng gia súc tiêu dùng ngũ cốc… Điều đó cho phép Mỹ có những dự đoán cho mười năm sắp tới.

Năm 1975, những kết quả của chương trình “Large Area Crop Inventory Experiment (LACIE) đã được thông báo cho các tổ chức không chính thức. Khách hàng của LACIE là như sau: Chính phủ Mỹ và các cơ quan chính thức 25%, các công ty đa quốc gia 35%, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu 17%, cuối cùng các chính phủ của nước ngoài 12%.

Các công ty đa quốc gia là những khách hàng tốt nhất của chương trình LACIE ư? Đúng thế.

Theo những nghiên cứu mới đây, Mỹ có thể tăng thêm sản lượng ngũ cốc của mình 15% từ nay đến năm 1980, tức là bằng khả năng sản xuất hiện nay của Argentina… Nhà “tương lai học” Mỹ Carr, trong tài liệu của ông Maximum Efficiency Future (Tương lai có hiệu quả tối đa), soạn cho Quốc hội Mỹ, đã nêu rõ rằng nhờ có những kế hoạch tài trợ mới và công nghệ mới, có thể đạt được 15% ấy nhanh hơn.

Nhưng điều mà bản báo cáo này không chỉ rõ là công nghệ ấy đòi hỏi phải loại bỏ tất cả các yếu tố “yếu” khỏi khu vực nông nghiệp Mỹ, tức là những diện tích trồng trọt gia đình nhỏ hay có diện tích rất nhỏ không sinh lợi nhưng lại chiếm những đất đai cần thiết dành cho kế hoạch tối đa này.

Tuy nhiên, nếu Mỹ có ý định “sản xuất để đối phó với nạn thiếu hụt của thế giới” thật, thì đó sẽ là một xấu ít tệ hại hơn. Nhưng ý đồ của nó hoàn toàn khác: “Mỹ phải đi trước mức cầu của thế giới bằng cách thiết lập một hệ thống. Như vậy, Mỹ sẽ đứng ở vị trí thống trị thị trường thế giới, đương đầu được với những bất trắc về một vụ thu hoạch xảy ra trong nước hoặc những ý định cạnh tranh của nước ngoài”.

Đó là lẽ tại sao trong khu vực này lại có các công ty đa quốc gia, mà chỉ có chúng mới có thể cung cấp những tư bản cần thiết cho một chương trình vừa đầy tham vọng vừa nguy hiểm như vậy. Và nếu những công ty đa quốc gia tham gia vào chiến lược này, thì phải đề phòng điều tệ hại nhất có thể xảy ra: không có ai bảo đảm rằng những công ty ấy tự chúng sẽ không gây ra cuộc chiến tranh nạn đói.

Những triệu chứng đầu tiên của nguy cơ này đã xuất hiện: ITT – với những sự can thiệp của nó ở nhiều nước đã biết rõ – bắt đầu “chế tạo” gà tây theo lối công nghiệp; Dow Chemical (rất quan tâm tới vấn đề Sahara) đang sản xuất rau trên quy mô công nghiệp; Boeing – khoai tây; Fetty Oil – hạnh nhân; Unilever có những đồn điền nông nghiệp lớn ở Cameroon, Congo, Gabon, các đảo Salomon, ở Nigeria, ở Borneo, ngoài hơn 50 doanh nghiệp đã được lập ở nhiều nước khác nhau trên thế giới.

Ở Braxilia, nhờ những ưu đãi do chính phủ quân sự nước này cung cấp (tiền mua đất đai chỉ chiếm 3% chi phí chung về lập doanh nghiệp, đầu tư được “kích thích” bằng sự giảm thuế 50%, tiền lãi có thể đưa ra khỏi nước, không bắt buộc phải đầu tư lại…), các công ty đa quốc gia đang “quay về” với khu vực nông nghiệp – lương thực: Wolkswagen, Mitsubishi, Ludwig, Georgia Pacific, Bruynzeel, Tokomenka, Mc Glohn đã chiếm những fincas từ 200 đến 400 nghìn ha… Liquigas (với sự tham gia của Vatican và Montedison) chiếm một doanh nghiệp nông nghiệp rộng 570.000 ha… Banco Nacional, Mercedes Benz, Walters (có sự tham gia của Rockefeller), US Steel, Goodyear cũng đang lập doanh nghiệp ở Braxilia.

Việc thiết lập doanh nghiệp này hiện đang lầm mất đi một triệu cây mỗi ngày, phủ trên một diện tích 30 km2: nếu cứ tiếp tục kiểu này, chưa đầy 10 năm nữa người ta sẽ hoàn toàn phá vỡ sự cân bằng khí hậu ở vùng Amazon.

Ở châu Âu, các nhóm nước ngoài đang tranh nhau nuốt các doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực lương thực, đến mức chỉ vài năm nữa sẽ không còn một doanh nghiệp nào không có sự “tham gia” hay kiểm soát của các công ty đa quốc gia nước ngoài.

Ở Iran, công ty dầu mỏ Shell đang khai thác một vùng đất nông nghiệp rộng 15.000 ha. Nhóm Inter-Agro-Business Corp of Iran (Chase International Bank, Diamont, Mitsui) đang khai thác khoảng 17.000 ha.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Kinh tế Mỹ đang chịu tác động thực sự do chiến tranh thương mại


Tờ Thời báo Hoàn cầu số ra ngày 25/7 cho hay Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố hôm 24/7 rằng Bộ Nông nghiệp nước này sẽ thông qua gói kế hoạch khẩn cấp trị giá 12 tỷ USD để hỗ trợ người nông dân bị ảnh hưởng do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc. Đây được coi là một tín hiệu rõ ràng rằng chiến tranh thương mại đang gây ra tác động thực sự đối với nền kinh tế Mỹ, đồng thời cũng là một sự công khai thừa nhận của Tổng thống Trump về việc triển khai các hàng rào thuế quan làm vũ khí trong chiến tranh thương mại.

Báo trên cho rằng đây là một viễn cảnh nực cười. Hiện nước Mỹ không phải hứng chịu các đợt thiên tai, nên nông dân nước này đáng lẽ phải kiếm tiền để mở rộng thị trường của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, những người nông dân lại đang được trợ giúp. Hiện không ai biết được “đợt thảm họa” kỳ lạ này sẽ kéo dài bao lâu, trong khi nhiều nông dân Mỹ chắc chắn sẽ tỏ ra bối rối và lúng túng về sinh kế tương lai của họ.

Do sự leo thang của chiến tranh thương mại, sẽ có thêm nhiều ngành nghề bị ảnh hưởng. Do đó, sẽ rất khó để quyết định đối tượng nào sẽ nhận trợ cấp và đối tượng nào sẽ không được nhận trợ cấp. Chính quyền Trump đang làm rối loạn logic cơ bản của đời sống kinh tế. Với việc gây rắc rối cho Trung Quốc, EU, Mexico và Canada, chính quyền Trump đang đẩy nền kinh tế nội địa của Mỹ vào tình cảnh hỗn loạn. Trả lời phỏng vấn Thời báo Hoàn cầu, Mã Văn Phong – nhà phân tích cấp cao của Công ty tư vấn kinh doanh nông nghiệp Đông Phương Bắc Kinh – cho rằng nông dân Mỹ không chỉ bị ảnh hưởng bởi thuế quan mà còn bị gián đoạn trong chuỗi cung ứng của họ, và những nỗ lực cứu trợ tạm thời sẽ không khắc phục được tình hình. Ông Mã Văn Phong nhấn mạnh: “Tranh chấp thương mại cũng phá vỡ các thủ tục nhập khẩu và xuất khẩu, theo đó có thể còn gây ra tác động lớn hơn nhiều so với thuế quan. Thật khó để nói rằng nông dân Trung Quốc chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ điều này, nhưng nông dân Mỹ chắc chắn lụn bại”.

Hiện nay, nhiều quốc gia khác, trong đó gồm cả Trung Quốc, chắc chắn sẽ bị buộc phải đối mặt với ảnh hưởng của chiến tranh thương mại. Các nước này cũng sẽ thực thi các hoạt động hỗ trợ đối với ngành nghề và công ty bị ảnh hưởng. Nhà Trắng đang hy vọng rằng Bắc Kinh sẽ đưa ra sự nhượng bộ lớn đối với Washington khi Trung Quốc không còn có thể chịu đựng nổi những thiệt hại ngày càng leo thang.

Tuy nhiên, Thời báo Hoàn cầu nhận định rằng tư duy mơ hồ như vậy là quá ngây thơ. Tổng thống Trump tin rằng xã hội Mỹ có thể chịu đựng sự bi thảm của một cuộc chiến tranh thương mại tạm thời để đổi lấy những lợi ích lâu dài. Vậy tại sao ông ta lại chắc chắn rằng Trung Quốc không thể chịu đựng được một nỗi đau như thế? Trong khi đó, đại đa số người dân Trung Quốc nhận thức rõ rằng nước này đang bị buộc phải đương đầu với Mỹ trong một cuộc chiến thương mại. Bất luận như thế nào, Trung Quốc sẽ phải “tham chiến” bởi hông còn cách nào khác.

Báo trên nhấn mạnh rằng xã hội Mỹ thừa biết rằng cuộc chiến thương mại này là do chính Nhà Trắng phát động và quả bóng đang ở bên phần sân của Chú Sāmkhya, việc dừng cuộc chiến hay tìm ra giải pháp thông minh hơn là hoàn toàn phụ thuộc vào phía Mỹ. Do đó, chính quyền Trump cần phải chứng minh rằng họ đã đúng khi gây ra nỗi thống khổ cho người dân nước này thông qua cuộc chiến tranh thương mại, trong khi các quốc gia khác không cần phải làm bất cứ điều gì khác ngoài việc trả đũa.

Trung Quốc đã trải qua hàng loạt khó khăn và thách thức. Tuy sự phát triển của Trung Quốc trong 20 năm qua diễn ra tương đối suôn sẻ, song cơ chế của nước này hiện vẫn phải đối phó với những trở ngại lớn. Trước đó, Trung Quốc đã từng phải đối mặt với những đợt tinh giảm và sa thải quy mô lớn trong các doanh nghiệp quốc doanh cũng như các biện pháp trừng phạt kinh tế tập thể từ phương Tây. Vậy liệu những khó khăn của một cuộc chiến tranh thương mại là không thể khắc phục được? Washington luôn cáo buộc châu Âu và Trung Quốc về trợ cấp nông nghiệp. Là một vấn đề thực tế, chính phía Mỹ từ lâu đã trợ cấp cho nông dân của nước này, và bây giờ Nhà Trắng đã công bố các khoản trợ cấp tăng cường. Nhiều khả năng, những phát ngôn quốc tế xung quanh các quy định này sẽ được thay đổi.

Cũng theo báo trên, một số người cho rằng Tổng thống Trump sẽ tiếp tục những sai lầm của mình trước cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 tới nhằm duy trì sự ủng hộ. Tuy nhiên, người dân Trung Quốc đang hướng về bên ngoài tháng 11 và họ đang chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu trường kỳ. Có lẽ khi nổ ra một cuộc chiến thương mại lớn như vậy, thì Washington mới có thể suy xét lại giá trị của sự hợp tác Trung – Mỹ.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018