Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần XI


Theo Schultz, mỗi con người nhờ giáo dục mà có được kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, gọi là “vốn trí tuệ”, từ đó mà có được thu nhập tiền lương và địa vị xã hội. Nền kinh tế của mỗi quốc gia tồn tại và phát triển là nhờ vốn vật chất (tài nguyên, đất đai) và vốn con người (tư bản nhân lực). Vốn con người nhờ giáo dục đào tạo nên, thể hiện trình độ lành nghề của nguồn nhân lực (đội ngũ lao động). Như vậy, chất lượng vốn con người tùy thuộc đáng kể vào sự đầu tư cho giáo dục. Schultz và Becker cho rằng, sai lầm nghiêm trọng của các lý thuyết phát triển trước kia là coi các chi phí cho giáo dục là sự phí tổn và chi tiêu cho học tập cũng được quan niệm như chi phí đối với một loại hàng hóa hay dịch vụ tiêu dùng tương tự các loại hàng hóa tiêu dùng khác. Hoặc quan niệm sai lầm khi coi chi tiêu công cộng cho giáo dục là những khoản chi tiêu “phúc lợi” mang tính hỗ trợ, giúp đỡ, dẫn đến tìm cách “tiết kiệm”, giảm thiểu chi phí cho giáo dục. Từ đó, Schultz và Becker đưa ra quan điểm phải coi giáo dục là hàng hóa công đặc biệt, do đó, chi tiêu cho việc bảo vệ, chăm sóc y tế, giáo dục và nâng cao sức khỏe không phải là chi phí mà là sự đầu tư để phát triển kinh tế – xã hội, biến nguồn tư bản thông thường dần dần trở thành tư bản nhân lực, thành vốn con người, tư bản nhân lực sẽ sinh ra thu nhập tăng dần, làm cho tăng trưởng kinh tế trở nên lâu dài, liên tục. Lý thuyết về đầu tư phát triển giáo dục nói riêng và đầu tư phát triển vốn con người nói chung đã được kiểm chứng qua mô hình phát triển ở nhiều nước khác nhau. Thực tế đã khẳng định những nước đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục và phát triển vốn con người cũng đồng thời là những nước thuộc loại phát triển nhanh và bền vững. Do đó, Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững cũng phải thực sự quan tâm đầu tư phát triển giáo dục đúng với nghĩa là “quốc sách hàng đầu” như đường lối của Đảng đã khẳng định.

d/ Lý thuyết về vốn xã hội

Vốn xã hội là một khái niệm mới được sử dụng phổ biến trong khoảng vài ba thập nhiên gần đây, trở thành một trong những khái niệm cốt lõi trong các lĩnh vực kinh tế học, xã hội học, tâm lý học, chính trị học, khoa học tổ chức… nhưng cho đến nay vẫn chưa một định nghĩa rõ ràng, thống nhất về khái niệm này. Có ý kiến cho rằng, nhà kinh tế học Mỹ Glen Loury là người đầu tiên vào năm 1977 sử dụng khái niệm “vốn xã hội” (Social capital) để chỉ những nguồn lực vốn có trong những quan hệ gia đình và cách tổ chức xã hội của cộng đồng mà những quan hệ này có lợi cho sự phát triển trí tuệ và phát triển xã hội của thế hệ trẻ. Như vậy, khái niệm vốn xã hội được sử dụng để nhấn mạnh vai trò của quan hệ xã hội và cấu trúc xã hội như là những nguồn lực xã hội để giảm bớt chi phí giao dịch kinh tế và phát triển vốn con người.

Khi đề cập đến lý thuyết về vốn xã hội, người ta thường kể đến ba tác giả tiêu biểu là Pierre Bourdieu, Coleman và Robert Putnam.

Pierre Bourdieu (1930 – 2002) là nhà xã hội học Pháp, đại diện tiêu biểu của thuyết cấu trúc về vốn xã hội. Trong công trình Các hình thức của vốn (Forms of Capital) xuất bản năm 1983, khi tìm cách giải thích tình trạng bất bình đẳng xã hội và quá trình tái sản xuất tình trạng đó, Bourdieu đã du nhập khái niệm “vốn” hay “tư bản” (Capital) của lĩnh vực kinh tế vào lĩnh vực xã hội học để phân tích quá trình lưu thông của các loại tài sản khác nhau trong không gian xã hội. Ngoài vốn kinh tế (Capital économique), Bourdieu còn phân biệt ba loại vốn nữa là vốn văn hóa (Capital culture), vốn xã hội (Capital social) và vốn biểu tượng (Capital symbolique) với tư cách là những hình thức biểu hiện và chuyển hóa của vốn xã hội. Bourdieu định nghĩa: “Vốn xã hội là tập hợp những nguồn lực thực tế hoặc tiềm tàng gắn liền với việc nắm giữ một mạng lưới bền vững gồm các mối quan hệ quen biết và thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa”. Theo Bourdieu, vốn tồn tại dưới hình thức vật chất là vốn kinh tế được đo bằng tiền và tài sản. Vốn tồn tại dưới hình thức phi vật chất là vốn văn hóa được đo bằng vốn con người và vốn xã hội được đo bằng các mối quan hệ ràng buộc và các chức danh. Các loại vốn có thể chuyển đổi lẫn nhau. Vốn xã hội là một loại vốn phi kinh tế (vốn văn hóa, vốn con người, vốn biểu tượng) và có thể dẫn tới vốn kinh tế và ngược lại thông qua những nỗ lực biến đổi nhất định. Chẳng hạn, để chuyển đổi vốn kinh tế sang vốn xã hội cần phải đầu tư thời gian và những nỗ lực thể hiện ở sự quan tâm, chăm sóc, biểu lộ tình cảm thông qua trao đổi tiền bạc, tặng quà, thiết lập các mối quan hệ. Lợi ích kinh tế thu được từ sự chuyển hóa này có thể là những cái hữu hình như tiền bạc, hiện vật, hàng hóa, hợp đồng làm ăn; những cái khó nhìn thấy như lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau hay sự nâng cao năng lực, kỹ năng, tức là vốn người, nhờ đó mà có được vị trí nhất định trong tổ chức, tức là vốn xã hội. Theo Bourdieu, vốn xã hội được xây dựng và tái hoạt động với sự đóng góp của ba dạng: vốn kinh tế có được từ thu nhập, nắm giữ và lưu thông kinh tế, tài chính; vốn văn hóa với việc xây dựng và tạo dựng các giá trị, các biểu trưng, các di sản và vốn xã hội là toàn bộ các nguồn, các tiềm năng liên quan đến các quan hệ bền vững của một thực thể xã hội, tạo nên niềm tin, sự cảm thông, sự gắn kết, hợp tác và những hành động mang tính tập thể. Vốn xã hội này nằm ngoài tài sản, vốn tư bản, nhưng nằm trong các quan hệ của con người, của các chủ tài sản, nó ẩn giấu trong các mối quan hệ giữa các chủ tài sản. Nó thể hiện ra ngoài bằng: 1 – Niềm tin, sự tin cậy lẫn nhau; 2 – Sự tương hỗ có đi có lại; 3 – Các quy tắc, các hành vi mẫu mực, các chế tài; 4 – Sự kết hợp với nhau thành mạng lưới. Quy mô của vốn xã hội phụ thuộc vào quy mô của mạng lưới quan hệ xã hội và quy mô của mỗi loại vốn kinh tế hay vốn văn hóa hoặc vốn biểu tượng mà mỗi người nắm giữ khi quan hệ với nhau. Qua đó có thể thấy, vốn kinh tế xét cho cùng là nguồn gốc của tất cả các loại vốn phi kinh tế và sự chuyển hóa của chúng là cơ chế tái sản xuất ra các loại vốn.

Dựa vào chức năng luận, nhà xã hội học Mỹ James Coleman (1926 – 1995) định nghĩa vốn xã hội là các nguồn lực cấu trúc – xã hội mà cá nhân c1o thể sử dụng như là nguồn vốn tài sản. Vốn xã hội có hai yếu tố chung: – Là một chiều cạnh của cấu trúc xã hội, – Tạo điều kiện, hỗ trợ cho hành động nhất định của cá nhân trong phạm vi cấu trúc đó. Vốn xã hội không tồn tại trong cá nhân mà ở trong cấu trúc của các mối quan hệ giữa người này với người khác. Coleman phân biệt ba loại vốn: vốn vật thể là kết quả của những biến đổi vật thể tạo thành công cụ sản xuất; vốn con người là kết quả của những biến đổi vật thể tạo thành công cụ sản xuất; vốn con người là kết quả của những biến đổi trong con người cấu thành tài nghệ và khả năng thao tác; vốn xã hội. Vốn xã hội có ba đặc tính là mức độ tin cậy nhau, giá trị của các quan hệ xã hội, thói quen xã hội. Có vốn xã hội trong gia đình và vốn xã hội trong cộng đồng. Vốn xã hội trong gia đình là mức độ quan tâm, thời gian mà cha mẹ dành cho con cái trong những sinh hoạt trí tuệ. Vốn xã hội trong cộng đồng là mối quan hệ giữa cá nhân với các thành viên của cộng đồng xã hội. Như vậy, theo quan điểm của Coleman, vốn xã hội mà các cá nhân, gia đình, tổ chức và cộng đồng xã hội tạo nên và dựa vào là một trong những nguồn lực quan trọng và cần thiết cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nói chung. Phương pháp tiếp cận chức năng luận của Coleman đòi hỏi phải phân tích chức năng và phi chức năng của vốn xã hội. Chức năng của vốn xã hội thường nói lên mặt tích cực của nó, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Trong cấu trúc của vốn xã hội cũng hàm chứa những mặt trái, những khía cạnh tiêu cực hay phi chức năng mà ta cần lưu ý khi đề cập đến vốn xã hội. Chẳng hạn, vốn xã hội tạo nên các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội là những cái giúp cho các thành viên gắn bó, cố kết, có thể hành động chung với nhau một cách hiệu quả, nhằm đạt tới những mục tiêu chung, đó là khía cạnh tích cực, là giá trị cần phát huy. Tuy nhiên, vốn xã hội cũng có thể tạo ra sự ràng buộc bên trong nhóm, tạo ra và nuôi dưỡng tính cục bộ, khép kín. Điều đó có thể hạn chế quan hệ của các thành viên trong nhóm với những người ngoài nhóm, ngăn cản các sáng kiến, làm giảm tính chủ động, sáng tạo của các thành viên, tạo thành sức ì tập thể. Vốn xã hội khép kín trong một nhóm, một cộng đồng có nguy cơ là giảm sự tự do, sự riêng tư của cá nhân, tạo nên tâm lý bình quân chủ nghĩa. Đây là mặt tối, mặt tiêu cực cần điều chỉnh, cân nhắc khi sử dụng vốn xã hội.

Cũng giống như Coleman, Putnam xem vốn xã hội gồm các yếu tố của một tổ chức xã hội, chẳng hạn như sự tin cậy, các chuẩn mực và các mạng lưới mà có thể cải thiện năng lực của xã hội bằng việc tạo điều kiện cho những hành động hợp tác. Như vậy, trong khi Bourdieu nhấn mạnh tới vốn xã hội như là một thứ tài sản mà mỗi cá nhân có thể có được, thì Coleman và Putnam lại hiểu vốn xã hội như là một thứ tài sản chung của một cộng đồng hay một xã hội nhất định. Cách hiểu của Coleman và Putnam nêu trên cũng phần nào tương tự như cách hiểu của Ngân hàng Thế giới hiện nay về vốn xã hội: “Vốn xã hội là một khái niệm có liên quan tới những chuẩn mực và những mạng lưới xã hội dẫn đến hành động tập thể. Ngày càng có nhiều sự kiện minh chứng rằng, sự gắn kết xã hội – vốn xã hội – đóng vai trò trọng yếu đối với việc giảm nghèo và sự phát triển con người và kinh tế một cách bền vững”.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Advertisements

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần III


Chính sách của các “nhà cải cách”, theo khẩu hiệu của chiến tranh tâm lý (quan hệ thị trường, noi gương các “nước văn minh”…), đang đưa đất nước đến lệ thuộc toàn diện vào phương Tây và đói khổ, trên thực tế hoàn toàn khác với những gì các nước phát triển đang làm:

Tại Đức, chính sách nông nghiệp được tuyên bố là bộ phận quan trọng nhất của chính sách kinh tế quốc dân, mục tiêu nông nghiệp được coi là ưu tiên. Do nông nghiệp có lợi nhuận bao giờ cũng thấp hơn các ngành khác (đây là đặc điểm cơ bản của nông nghiệp), ngay từ năm 1955 Đức đã ra luật “Về sản xuất nông nghiệp Đức” nhằm cân bằng tình trạng bất cân giữa nông nghiệp và công nghiệp. Luật nêu rõ “Nhà nước có trách nhiệm coi việc đảm bảo cung cấp lương thực cho nhân dân là vấn đề chiến lược, lập quỹ lương thực khi cần thiết và áp dụng tổng thể mọi biện pháp nhằm khuyến khích và trợ giúp để không đặt vấn đề lương thực phụ thuộc vào nước thứ ba”.

Một trong những luận điểm của phương tiện thông tin đại chúng không ngừng nhồi sọ dân chúng là cần thủ tiêu nông trường, nông trang tập thể dù họ ngụy trang dưới chiêu bài thủ tiêu hậu quả chế độ cực quyền. Người cứu nước Nga phải là các chủ trang trại. Trên thực tế, tại Mỹ gần 80% sản lượng lương thực do các xí nghiệp nông nghiệp lớn làm ra. Phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền cho sự phá sản toàn bộ nền nông nghiệp Nga nhằm chiếm đất của nông dân.

Vấn đề cơ bản của nông nghiệp mà phương tiện thông tin đại chúng (và các ông chủ thực sự của nó) lờ đi là sự thay đổi môi trường bởi hậu quả nóng lên toàn cầu do hiệu ứng nhà kính. Trong Nạn đói đang chờ nước Nga của P.T. Burducốp – Sự thật năm, số 22, 14 – 21 tháng 6 năm 1996, nói về vấn đề này như sau:

Sự nóng lên đồng nghĩa với sự dịch chuyển biên giới chúng ta xuống phía Nam và mở rộng diện tích canh tác ở miền Bắc. Mặt khác, khí hậu thay đổi dứt khoát làm cho đất đai Mỹ giảm độ phì nhiêu 1,5 – 2 lần. Có nghĩa là chỉ sau vài thập kỷ, Nga đủ sức trở thành nước xuất khẩu nông nghiệp lớn nhất thế giới.

Phương Tây hiểu điều đó. Bởi vậy, họ mới quan tâm mua đất nông nghiệp, họ ép Nga, tìm cách chia nhỏ Nga. Bởi vậy, cuộc tranh cãi về thị trường đất đai và an ninh lương thực mới căng thẳng và kịch liệt. Hơn thế nữa, có một số giới chức phương Tây ấp ủ một ảo không chỉ biến Nga và các nước cộng hòa Xô Viết cũ thành nguồn cung cấp nguyên liệu, mà phải quét sạch dân bản địa, tình trạng an ninh lương thực hiện nay của Nga cho phép thực hiện được các kế hoạch dạng đó”.

Thời xưa, các thủ lĩnh da đỏ ở Mỹ bán đất như cho không, chỉ đổi được mấy đồ trang sức thủy tinh vớ vẩn (phần lớn các vụ đổi chác đó được luật pháp Mỹ đảm bảo). Rồi họ bị tiêu diệt vì đã chiếm đất đai của chính mình “bất hợp pháp”, ai sống sót bị tống vào rừng sâu. Lịch sử đang lặp lại. Nhân dân bản địa sống trên lãnh thổ Nga (người Nga) đang ở giai đoạn đầu của quá trình đó. Đội quân thứ năm của Mỹ đang gây sức ép tàn bạo nhất nhằm tổ chức bán tháo đất Nga, ban đầu qua trung gian, sau đó sẽ chính họ mua. Trị giá đất được người Mỹ tính qua việc in tiền USD, tức người da đỏ Mỹ bán đất với giá cao hơn trị giá thực tế.

Đặt cược vào sự thay đổi khí hậu, Mỹ sẽ không từ bất kỳ thủ đoạn nào. Ban đầu là mua đất, rồi “thanh trừ hàng loạt” dân chúng nhằm bảo vệ tài sản thiêng liêng để rồi tống dân Nga bản địa vào rừng sâu.

Tiêu diệt tiềm lực quốc phòng Nga

Mười năm trước, Nga – Mỹ nằm trong thế cân bằng quân sự. Các nhà cải cách lên cầm quyền, tiềm lực quốc phòng bắt đầu bị thủ tiêu có hệ thống. Vũ khí, trang bị bị thủ tiêu hàng loạt, xe tăng, tàu chiến, tàu ngầm, tên lửa bị bán làm sắt vụn ở quy mô đáng kinh ngạc. Lực lượng tàu ngầm hùng hậu gần như tuyệt diệt. Bài của Kh. Kharlamov nêu quy mô thủ tiêu vũ khí, trang bị kỹ thuật Không quân Nga:

Căn cứ hủy bỏ vũ khí, trang bị ăng-ten ở ngoại ô Xaratov làm công tác tháo gỡ trang bị kỹ thuật quân sự. Không quân chuẩn bị “thịt” các máy bay vận tải quân sự Nga. Bị thịt sẽ là các máy bay IL-18 cũ kỹ lẫn TU-134 đang bay tốt. Các chuyên gia quân sự còn dự đoán, có thể cả IL-62, TU-154, “Antey” cũng bị tống vào lò mổ. Lý do “tàn sát” chúng thật cay đắng và đơn giản: Bộ Quốc phòng không đủ chi phí duy trì, bảo dưỡng các máy bay này. Dự kiến đến đầu thế kỷ tới khoảng 200 máy bay sẽ bị hủy, gồm cả 70 máy bay ném bom chiến lược TU-22 và TU-95, niềm tự hào của Nga. Thế mà Không quân Nga chỉ có thể mua được một vài máy bay mới trong một năm. Các chuyên gia quân sự NATO cho rằng, chỉ vài thập niên nữa, Nga sẽ đánh mất khoảng trời. Điều đặc trưng nữa là trang thiết bị dùng hủy máy bay Nga lại do Mỹ và Anh cung cấp”.

Lá chắn chiến lược tên lửa – hạt nhân, người bảo vệ vững chắc cho nước Nga trước các cuộc tấn công từ bên ngoài (mà hiểm họa này đáng tiếc đã trở nên hiện thực) cũng đang bị phá hủy vội vàng. Nền tảng của an ninh chiến lược nước Nga là các tên lửa đạn đạo liên lục địa (IBM) đặt trên mặt đất hiện đại, có trang bị các đầu đạn tách rời với hệ dẫn đường riêng. Để có được ưu thế quyết định, Mỹ ép nước Nga vào Hiệp ước START-2, Ovchinikov kể về những sự kiện liên quan tới hiệp ước này:

Về Hiệp ước START-2, do tổng thống Elcin và G. Bush ký ngày 3 tháng 1 năm 1993 đã được nói tới nhiều rồi. Thực chất của văn kiện này cũng đã rõ. Nó tước mất phương tiện kiềm chế hạt nhân hữu hiệu nhất của chúng ta – các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (IBM) với nhiều đầu đạn. Nhưng mặt khác, có người nói trong khi Duma quốc gia chưa phê chuẩn thì nó chưa được thực hiện. Có đúng vậy không? Hoàn toàn không! Hiệp ước START-2 thực tế đã được thực hiện bởi chính quyền hai nước, sau lưng người dân Nga.

Chỉ một tháng sau khi ký kết hiệp ước, tức là vào tháng 2 năm 1993 đã có sắc lệnh của Tổng thống Nga. Theo điều kiện của hiệp ước, thì những IBM nhiều răng (tới mười đầu đạn) của chúng ta được htay bằng các tên lửa một răng. Sắc lệnh này quy định thứ tự và thời hạn thử nghiệm, đưa vào trang bị những tên lửa kém chức năng ấy. Đây chính là phương hướng thực hiện hiệp ước một cách gấp rút. Mà nó vẫn chưa được phê chuẩn.

Giai đoạn 1994 – 1995 cho thấy  nhiều nhượng bộ tiếp theo đối với Washington. Trước hết là trong quan hệ Nga – Mỹ đã áp dụng bất hợp pháp quy tắc cắt giảm “không thể đảo ngược” các vũ khí hạt nhân – tên lửa, như được ghi trong Hiệp ước START-2, trước khi làm rõ quan điểm của Duma. Các bước đầu tiên hình thành cơ chế không đảo ngược được thỏa thuận giữa Kremlin và Nhà Trắng vào tháng 1, sau đó là vào tháng 9 năm 1994.

Tháng 5 năm 1995, trong thời gian Tổng thống Mỹ Clinton tới Moskva dự lễ 50 năm Ngày Chiến thắng, một văn kiện mới về việc này đã được ký kết. Theo đó, “các vật liệu phân rã lấy từ vũ khí nguyên tử bị hủy (theo Hiệp ước START-2) sẽ được để trong “hầm chứa vật liệu phân rã tại mục tiêu “Maiak”. Điều này có nghĩa là:

a/ Một số lượng nhất định các đầu nổ hạt nhân của Nga cần phải được tháo dỡ.

b/ Các vật liệu phân rã lấy ra buộc phải bảo quản tại một nơi.

c/ Các vật liệu ấy trở thành chất vô hại đối với người Mỹ, họ sẽ thực hiện theo dõi chúng.

Nói cách khác, các đầu đạn “thừa” của Nga theo Hiệp ước START-2 nằm dưới sự kiểm soát thực tế của Mỹ, mặc dù tới thời điểm này chưa phía nào phê chuẩn Hiệp ước cả. Tức là, không phụ thuộc vào việc Duma có thể có quan điểm chống lại, Hiệp ước đã được tích cực thực hiện”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô – Phần VII


2/ Sản xuất và vận hành các thiết chế của kinh tế siêu vĩ mô

Làm thế nào để xã hội tiêu hóa được tiền ảo và biến tiền đó thành tư bản? Kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải có những thiết chế xã hội tương ứng. Xã hội cần có những hệ thống ổn định thì mới có cơ sở xây dựng được những thiết chế mới. Tiến trình phát triển kinh tế siêu vĩ mô phá vỡ những chuẩn mực cũ và xác lập lại các giá trị cũ, thiết lập những giá trị mới.

a/ Phát triển các thiết chế thị trường hiện đại

Thị trường là một tổng thể các dạng phi vật thể xã hội tạo nên môi trường để cho các tiến trình trao đổi tạo phẩm vật thể, trao đổi tạo phẩm phi vật thể và trao đổi các nguồn tạo nên chúng vận hành được. Thị trường là tạo phẩm phi vật thể phổ quát tạo ra được các tạo phẩm phi vật thể mới cho xã hội, kích hoạt, dẫn hướng các dạng phi vật thể khác, đưa chúng vào vận hành tự động, thu hút, tập trung các nguồn lực để duy trì, đóng gói, sao lưu, phát tán, các dạng phi vật thể khác, chuyển hóa các trạng thái của các dạng phi vật thể khác trong toàn xã hội, dẫn hướng các dạng vật thể và phi vật thể của xã hội. Thị trường có thể tạo ra được và phân phối được các luồng vật phẩm vật thể và phi vật thể khác nhau. Thị trường là một dạng phi vật thể xã hội khiến cho tiến trình trao đổi sản phẩm, tiến trình chuyển trạng thái trong việc sản xuất và trao đổi diễn ra một cách tự động. Chung quy lại, cần phải có nghiên cứu mang tính đột phá về thị trường với tư cách là môi trường để sự trao đổi chất của xã hội diễn ra tự động, tự kích hoạt và tự điều chỉnh. Trong tiến trình này, xã hội tạo ra một tạo phẩm xã hội là tiền để làm trung gian, làm chất xúc tác để cho tiến trình trao đổi có thể diễn ra tự động.

Tiền có hình thái vật thể và phi vật thể. Trong quá trình tiến hóa, tiền tiếp nhận nhiều dạng phi vật thể xã hội khác vào nó, mở rộng tầm tác động trong xã hội, tạo nên được các kết hợp xã hội giữa các vật thể với nhau, giữa các vật thể với các dạng phi vật thể. Tạo phẩm phi vật thể tiền này đem lại cho các vật thể hay các phi vật thể giá trị nào đó, và làm cho các giá trị này có thể so sánh được với nhau. Tiền có sức mạnh làm cho một người từ bỏ quyền sở hữu một cái gì đó và nhận lấy tiền. Tiền có thể điều vận người ta hành động tác động tới các dạng vật thể, tác động tới các dạng phi vật thể, làm ra được các kết hợp mới đối với vật thể, đối với các tạo phẩm phi vật thể, đối với xã hội. Tiền có nhiều loại và có các đẳng cấp khác nhau tùy theo tầm tác động của mỗi loại.

Trong thời đại ngày nay, cần phải chỉ rõ ra thị trường đã tạo ra các nguồn lực của nó như thế nào và làm cách nào để tiến trình mà các thành viên của xã hội thu hút và sử dụng các nguồn lực đó có hiệu quả. Thị trường là thành quả của nền văn minh nhân loại mà người ta có thể khai thác theo nhiều khía cạnh khác nhau. Khi các chủ thể trên thị trường phân tán thì người ta khai thác theo kiểu tự nhiên, mạnh ai nấy làm. Khi các chủ thể liên hiệp được với nhau thành một chủ thể mới thì người ta có thể định hướng thị trường theo mục tiêu nào đó, chẳng hạn dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thị trường là môi trường tạo nên những quyền lực xã hội, đưa những quyền lực xã hội nào đó nổi lên chiếm ưu thế, và quyết định những mối quan hệ xã hội. Môi trường này tương tác với các môi trường khác của xã hội như các quyền lực nhà nước. Thị trường là môi trường để một loại tạo phẩm phi vật thể xã hội là tư bản phát sinh phát triển và chuyển hóa lên những trình độ mới. Vấn đề là phải phát triển cách thức đào thải các cá nhân, các tổ chức không đủ năng lực hành vi hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Đó là sự sinh tồn của một nền kinh tế lành mạnh khi biết cách ly và loại bỏ những nhân tố gây yếu kém mà đe dọa sự sóng còn của cả nền kinh tế, cũng như phải loại bỏ những loại ung thư ra khỏi cơ thể người. Tiến trình tạo nên cơ chế loại bỏ các yếu kém này là điều mà xã hội nào cũng thấy cần thiết mà cơ chế thị trường là thành quả văn minh của con người đã tạo ra.

Có rất nhiều loại thị trường, và trong mỗi thị trường lại phân thành các tầng mức khác nhau. Mỗi thị trường lại còn được phân thành chia theo độ hoạt động của nó, thông suốt hay là bị phân cắt. Ngoài việc phát triển các thị trường, phát triển các công cụ khai thác thị trường, làm gia tăng nhanh chóng dung lượng của các loại thị trường, người ta còn làm phát triển các đẳng cấp thị trường.

Người ta có thể nghiên cứu, xem xét thị trường theo các loại hình thị trường, hoặc là theo các chủ thể tham gia thị trường. Đối tượng mua bán hiện nay không chỉ là các loại hàng hóa và dịch vụ mà là cả các nguồn tạo ra hàng hóa và dịch vụ, tức là các doanh nghiệp, các tổ chức, các hội đoàn. Người ta mua bán các tạo phẩm vật thể, người ta mua bán các tạo phẩm phi vật thể, người ta mua bán các nguồn sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, tức là người ta mua bán cả các doanh nghiệp, từ các xí nghiệp nhỏ cho tới các đại công ty đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các hội đoàn. Người ta mua bán các loại giấy tờ có giá như các cổ phiếu, các trái phiếu… Các tổ chức từ thiện cũng sở hữu tư bản từ những người hiến tặng và có cách làm ra tiền chứ không chỉ là tiêu tiền không thôi. Các tổ chức phi chính phủ cũng có cách thu hút tiền từ những nguồn khác nhau, và những tạo phẩm phi vật thể do chúng tạo ra cũng là nguồn tạo ra các tư bản mới.

Trong nền kinh tế hiện đại, tạo phẩm phi vật thể có hình thức mua bán đặc thù, thông qua tài trợ, đặc biệt là các tạo phẩm phi vật thể xã hội. Người ta phải thiết lập cơ chế chuyển tiền cho các tổ chức tạo ra các tạo phẩm phi vật thể cho xã hội, và xã hội nào làm tốt được công việc này thì sẽ có những bước tiến nhanh chóng bước vào nền kinh tế mới. Người ta có thể mua bán quyền sở hữu, mua bán quyền sử dụng, không những có loại hình mua bán quyền nào đó vô thời hạn mà có loại hình mua bán quyền nào đó có thời hạn. Người ta không những mua bán cái hiện tại mà còn mua bán cả cái tương lai, mua bán cả những thứ mà hiện giờ chưa hiện diện. Người ta không chỉ mua toàn bộ một doanh nghiệp, mà người ta mua một phần, không chỉ mua bán doanh nghiệp trong nước mà còn mua bán doanh nghiệp ở nước ngoài, mua bán doanh nghiệp ở nhiều nước khác nhau. Có những thứ ai có tiền cũng mua được như những đồ gia dụng, nhưn có những thứ không phải ai có tiền cũng mua được, như các loại hàng hóa đặc chủng có công nghệ đặc biệt cao, công nghệ nguồn, công nghệ cao. Những loại hàng hóa được mua bán trên thị trường có những đặc tính vật thể và phi vật thể mới hết sức khác nhau, nên nếu bê nguyên xi góc độ xem xét nhìn nhận tư bản như những năm cuối thế kỷ 19 và những năm đầu thế kỷ 20, mà không phát triển lên trình độ mới, là điều không còn phù hợp nữa.

Khi các vụ mua bán các đại công ty được sắp xếp để cứu tư bản nào đó, chuyển các loại tư bản đẳng cấp thấp lên các loại tư bản đẳng cấp cao hơn thì phải có cái nhìn mới về thị trường. Nghịch lý về giá cổ phiếu là chứng tỏ thị trường có một thế lực hùng mạnh chi phối. Khi làm sụt giá một cổ phiếu, những người sở hữu cổ phiếu nhỏ sẽ bán tống bán tháo các cổ phiếu đó đi, và các nhà đại tư bản mua lại các cổ phiếu hạ giá đó, rồi có biện pháp vực lại giá cổ phiếu, thậm chí còn đẩy được giá cổ phiếu đó lên cao hơn nữa. Mọi việc được phối hợp chặt chẽ và diễn ra tự nhiên. Có một chủ thể mua và bán đặc biệt hoàn toàn mới là chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô. Chủ thể này quyết định bán những tổ chức nào và những tổ chức nào liên kết với nhau để thực hiện các hành vi mua. Khi xuất hiện nhân vật chính mới trong thị trường thì tính chất của thị trường khác đi. Chủ thể can thiệp tích cực vào thị trường trong những vụ mua bán lớn, và làm thay đổi tính chất của buôn bán nhỏ khi hoạt động buôn bán này bị chi phối đến mức không thể tùy tiện nâng giá hàng hóa khi xã hội có khó khăn về nguồn cung cấp nào đó. Chủ thể có thể chế mới kiểm soát và điều tiết tư bản. Một loại tư bản nào đó có thể chết dần, nhưng toàn bộ tư bản thì không nếu biết cách tạo ra các loại tư bản mới. Một khi tư bản mới được tạo ra, chúng đem lại sự tăng trưởng mới trong GDP, người ta phải tìm cách hãm bớt đà tăng trưởng của tư bản mới bằng cách tạo ra những dạng phi vật thể mới thay thế dạng phi vật thể mà đang đại diện cho tư bản đó. Điều đó dẫn đến một xã hội nô dịch các xã hội khác, có mức sống cao hơn mức sống mà mình đáng được hưởng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần X


Như vậy, vấn đề đặt ra là khi xem xét, đánh giá sự phát triển của một quốc gia không thể chỉ căn cứ vào một yếu tố riêng biệt, cụ thể nào. Những yếu tố nào đó có thể có ý nghĩa đối với quốc gia này, nhưng lại không có ý nghĩa đối với quốc gia khác. Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ trong “thế giới phẳng” hiện nay, nhất là đứng trên quan điểm phát triển bền vững, thì vai trò của những yếu tố trên đối với sự phát triển chỉ có ý nghĩa tương đối. Chẳng hạn, trước đây trong mô hình phát triển không bền vững, người ta lầm tưởng rằng tài nguyên thiên nhiên là vô tận, việc sản xuất và tiêu dùng có thể phát triển tùy theo nhu cầu con người. Khoa học và công nghệ có thể giải quyết được tất cả những vấn đề đặt ra trên bước đường phát triển của con người và xã hội, kể cả vấn đề chất thải, gia tăng dân số hoặc sinh thái… Trái lại, với quan niệm mới hiện nay trong mô hình phát triển bền vững và hài hòa, tài nguyên được xem là có hạn; sản xuất và tiêu dùng phải tiết kiệm tài nguyên, không thể tự do phát triển và tiêu dùng bên ngoài giới hạn mà hệ sinh thái tạo ra và cho phép. Khoa học và công nghệ cũng có những giới hạn xác định và không phải lúc nào, ở bất cứ đâu, chúng cũng có thể ngay lập tức và tự động giải quyết được mọi vấn đề của nhân loại đặt ra.

6/ Các lý thuyết phát triển xã hội dựa trên việc phát huy yếu tố con người, xã hội và văn hóa

Sự phát triển xã hội phụ thuộc không chỉ vào các yếu tố kinh tế mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Vì vậy, các lý thuyết phát triển xã hội không chỉ đề cập đến những yếu tố kinh tế mà còn quan tâm đến những yếu tố phi kinh tế, trong đó có yếu tố con người, xã hội và văn hóa. Dưới đây trình bày khái quát tư tưởng chính của một số trong những lý thuyết đó.

a/ Lý thuyết phát triển con người

Con người là chủ thể phát triển xã hội. Vì vậy, để phát triển xã hội phải quan tâm đến việc phát triển con người, phát huy nhân tố con người. Vấn đề này đã được đặt ra từ lâu, nhưng vào thời hiện đại, gắn với sự bùng nổ của các lý thuyết phát triển đã hình thành nên lý thuyết phát triển con người. Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết phát triển con người là Mahbub ul Haq và Amartya Sen.

Mahbub ul Haq (1934 – 1998) là nhà kinh tế mà sự nổi tiếng gắn liền với lý thuyết phát triển con người. Ông tốt nghiệp cử nhân tại Kings College, Đại học Cambridge, Anh; bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Yale, Mỹ. Bên cạnh thành công về lĩnh vực nghiên cứu kinh tế, trong sự nghiệp, ông còn đảm nhận nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước Pakistan và các tổ chức quốc tế lớn. Ông làm Bộ trưởng Tài chính Pakistan (1982 – 1988), Giám đốc Ủy ban lập chính sách của Ngân hàng Thế giới (1970 – 1982); Cố vấn đặc biệt của Ban Lãnh đạo UNDP (1989 – 1995).

Amartya Sen sinh năm 1933 trong một gia đình có truyền thống học vấn Hindu thuộc giới thượng lưu tại West Bengal, Ấn Độ. Trong giai đoạn học phổ thông và cử nhân, ông luôn đạt danh hiệu học sinh xuất sắc và tham gia vào nhiều hoạt động nghiên cứu và xã hội ở Ấn Độ và Anh. Vào năm 1958, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ kinh tế tại Cambridge. Bốn năm tiếp theo, ông được học bổng Fellow, cho phép ông tự do nghiên cứu cái gì ông muốn. Chính thời gian này, ông quan tâm tới triết học – kiến thức đã giúp ông thành công hơn nữa trong sự nghiệp sau này cùng với kinh tế học. Giai đoạn 1963 – 1971, ông làm giáo sư tại Đại học Dehli, sau đó tại London School of Economics (1971 – 1977), Oxford (1977 – 1988). Hiện tại, ông là giáo sư kinh tế và triết học tại Đại học Harvard. Vào năm 1998, ông được vinh dự nhận giải thưởng Nobel về kinh tế vì những cống hiến của ông cho phát triển kinh tế học phúc lợi, lý thuyết lựa chọn xã hội và nghiên cứu về nghèo đói trong các nước đang phát triển.

Lý thuyết phát triển con người thực chất là sự tập hợp các ý tưởng và cách tiếp cận từ nhiều nhà nghiên cứu và môn khoa học xã hội nhằm phát triển con người như kinh tế phúc lợi, môi trường sinh thái, tương tác xã hội, phát triển bền vững… Phát triển con người cần phải nhìn nhận tổng hợp từ nhiều phương diện, bao gồm sinh thái – kinh tế – xã hội. Dưới góc độ sinh thái nhân văn, cần quan tâm tới sức khỏe, khả năng tự nhận thức, tài năng… Dưới góc độ kinh tế, con người phải biết hoạt động tốt, dài hạn (stress, ưu tiên, quản lý thời gian…). Về phương diện xã hội, cần quan tâm phát huy năng lực con người trong việc duy trì quan hệ và phát triển quan hệ xã hội (gia đình, đồng nghiệp, khách hàng, các bên liên quan…); tiếp cận phát triển từ việc tạo dựng và phát huy các nguồn lực như vốn xã hội và vốn con người…

b/ Lý thuyết học tập xã hội

Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết học tập xã hội là Albert Bandura. Ông sinh năm 1925 tại Mondare, tốt nghiệp cử nhân xã hội học vào năm 1949 tại Đại học Bristish Columbia, nhận bằng thạc sĩ năm 1951 và năm 1952 nhận bằng tiến sĩ tại Đại học Iowa. Từ năm 1953, ông làm giảng viên tại Đại học Stanford cho tới nay. Ông có nhiều cống hiến khoa học cho lý thuyết học tập xã hội, lý thuyết nhận thức xã hội và nhiều đóng góp cho xã hội học.

Tư tưởng chính của lý thuyết này là nghiên cứu trải nghiệm môi trường của từng cá nhân trong quá trình phát triển mặc dù vẫn thừa nhận giới hạn nhất định về nguồn gốc sinh học và vai trò của các cơ chế điều hòa thần kinh. Quá trình học chủ yếu dựa vào sự chia sẻ trong quan sát và bắt chước mô hình. Xét trong quá trình tồn tại và phát triển, con người luôn luôn tích lũy và thể hiện hành vi thông qua các mô hình được trải nghiệm quan sát thực tế. Như vậy, hành vi xã hội là kết quả của lịch sử học tập xã hội, cơ chế bắt chước và duy trì của mỗi con người trong quá trình phát triển xã hội. Bốn quá trình quán xuyến sự học tập xã hội là: 1 – Sự chú ý bảo đảm sự khám phá và nhận thức; 2 – Trí nhớ thông qua đó để lưu giữ sự kiện quan sát được nhằm hưỡng dẫn hành vi trong tương lai; 3 – Tạo dựng mô hình – những hành vi mới được hình thành từ sự kết hợp các hành động với các sự kiện được quan sát; 4 – Động lực và khuyến khích điều tiết quá trình phản ứng kết quả học hỏi được. Phát triển bao hàm sự trưởng thành về sinh học trong các quá trình này cũng như khả năng lưu trữ phức tạp các kết quả quan sát và hồi tưởng trong trí nhớ.

c/ Lý thuyết vốn con người

Vốn con người là một khái niệm dùng để chỉ nguồn trữ lượng kỹ năng sản xuất và tri thức kỹ thuật hàm chứa trong lao động. Nhiều lý thuyết kinh tế trước đây coi vốn con người đơn giản chỉ là lao động – một trong ba yếu tố của sản xuất, coi đó là một nguồn có thể thay thế được, một loại nguồn đồng nhất và dễ dàng hoán đổi mà không ảnh hưởng gì đến phong cách và kết quả hoạt động. Khái niệm “vốn con người” hay “tư bản nhân lực” được Adam Smith đặt nền móng từ thế kỷ XVIII trong tác phẩm Của cải của các dân tộc (1776). A. Smith xác định bốn loại vốn cố định, mỗi loại được đặc trưng bởi khả năng bảo đảm một loại thu nhập hoặc lợi tức mà không có vấn đề luân chuyển hoặc thay đổi. Bốn loại vốn đó bao gồm: 1 – Các loại máy móc, thiết bị thương mại; 2 – Các công trình xây dựng là phương tiện kiếm được thu nhập; 3 – Những phương pháp cải thiện đất đai; 4 – Vốn con người. Tuy nhiên, cũng giống như K. Marx, Smith chưa dùng khái niệm vốn con người mà vẫn dùng khái niệm sức lao động, nhưng cách định nghĩa của ông đã vượt khỏi nội hàm khái niệm sức lao động, tiếp cận khái niệm vốn con người với những phẩm chất và năng lực tồn tại trong mỗi cá nhân. Theo A. Smith, vốn con người là những năng lực hữu ích mà cư dân hoặc các thành viên của một xã hội có được nhờ việc cá nhân đã đầu tư vào học tập và được thụ hưởng từ nền giáo dục, đào tạo, học nghề. Tất cả những đầu tư như vậy có thể tính toán được dưới dạng các chi phí. Do đó, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh phải tính đến cả những chi phí đó. Như vậy, vốn con người hay “những năng lực hữu ích” được hiểu là tập hợp các kỹ năng, tay nghề và khả năng xét đoán. Ngày nay, trong các tài liệu nghiên cứu người ta thường coi J. Mincer là người đi tiên phong trong việc sử dụng khái niệm vốn con người. Đặc biệt, khái niệm vốn con người được phát triển vào những năm 60 của thế kỷ XX gắn với sự ra đời của lý thuyết vốn con người do Theodore Schultz và Sir Arthur Lewis, hai nhà kinh tế học người Mỹ và Anh được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1979 khởi xướng và sau này được Gaary S. Becker (người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1992) hoàn chỉnh. T. Schultz đã vận dụng khái niệm tư bản của kinh tế học cổ điển, chia tư bản thành hai hình thức: tư bản thông thường và tư bản nhân lực. Ông cho rằng, không phải đất đai mà chính con người mới là yếu tố quan trọng nhất trong vấn đề nghèo đói và phát triển. Do vậy, “đầu tư vào cải thiện chất lượng dân cư có thể tăng cường đáng kể triển vọng kinh tế và phúc lợi cho người nghèo”, mà chi phí giáo dục chính là một hình thức đầu tư. Schultz và Gary S. Becker đã nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt quan trọng của việc đầu tư vào vốn con người thông qua đầu tư cho phát triển y tế, giáo dục để nâng cao kỹ thuật, chất lượng người lao động.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần II


Giá trị đích thực của các xí nghiệp này theo thời giá thị trường không dưới một nghìn tỷ USD. Thế mà các liệu pháp sốc chỉ bán với 7,2 tỷ USD, rẻ hơn 150 lần.

Các tay anh chị địa phương cũng kiếm khá. Xí nghiệp chế bịt Ostankino mua một dây chuyền hiện đại vào năm 91 – 92 với giá 35 triệu USD, được chúng bán lại với giá 3,1 triệu USD.

Nga bị cướp giữa ban ngày, nhưng chỉ mới khởi đầu. Chỉ mấy năm sau cải tổ, cải cách, tư hữu hóa, nền kinh tế Nga từ chỗ đứng thứ 2 thế giới rơi xuống hàng các nước chậm phát triển.

GDP năm 96 kém 3 lần so vớ 85, sản lượng công nghiệp tụt giảm 5,5 lần, nông nghiệp giảm 4 lần, lương thực giảm 5,5 lần, nhập khẩu giảm 2,8 lần, xuất khẩu giảm 1,5 lần, sản lượng Nga trên trường quốc tế giảm 3 lần. Nhưng Nga giành kỷ lục về lạm phát – 1700 lần và về mức sống – giảm hơn 2 lần. Mọi lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đều bị phá hủy.

Chính IMF, cơq uan kiểm soát và chỉ đạo mọi quá trình kinh tế của Nga, là kẻ tòng phạm phá hủy nền kinh tế Nga. Hình 1 nêu biểu đồ hiệu quả kinh tế Nga (đầu tư, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp) lấy từ nghiên cứu. Nó thể hiện rõ thảm họa. Nga bị đẩy lùi về quá khứ 40 năm tính từ thời điểm này. Lịch sử đương đại chưa từng có chuyện đó. Xin dẫn thêm một số số liệu:

Nếu lấy hiệu quả sản xuất làm chỉ số cải cách thị trường thì sản xuất công nghiệp bị giảm sút chưa từng thấy. Tổng sản lượng năm 1995 chỉ đạt 50% năm 1990. Các nhà cải cách đổ lỗi cho kinh tế cạnh tranh kém. Phần nào đúng như vậy, nếu nói về công nghiệp nhẹ, nhưng tổng quát lại, sản xuất giảm ở các ngành có lợi nhuận cao.

Thời kỳ 90 – 95 khai thác dầu giảm 41%, khí đốt giảm 7%, than (cho nhu cầu nội địa) giảm 33%, điện giảm 23%, – tức tất cả các ngành thu ngoại tệ. Xí nghiệp thua lỗ trong công nghiệp chế biến dầu tăng 4,6 lần, khí tăng 2,3 lần, luyện kim tăng 2,1 lần.

Năm 1995 so với năm 1990 sản xuất hàng hóa cạnh tranh đạt (%): – luyện kim và chế máy: thép cán giảm 71%, dây chuyền chế tạo máy giảm 9%, máy đột dập giảm 11%…

Cả những ngành sản xuất được gọi là con gà đẻ trứng vàng như khai thác kim cương, một ngành trước kia mang lại siêu lợi nhuận cho Nga, sau 3 năm cải cách, nó rơi vào nợ nần vô vọng (Báo Tin tức ngày 2 tháng 8 năm 1996). Khai thác vàng cũng bị lỗ.

Sản xuất bia rượu cũng giảm. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 96 đã giảm 45%. Chính mặt hàng này có thời chiếm đến 1/3 số lượng ngân sách Nhà nước thu được”.

Nếu nói đến bức tranh toàn cảnh hoạt động của các “nhà cải cách”, có thể gọi đó là hệ thống phá hủy tổng thể nền kinh tế họ dùng khẩu hiệu cần loại bỏ Nhà nước khỏi quản lý kinh tế quốc dân. Kết quả là kinh tế trở nên hỗn loạn và mất cân đối nghiêm trọng giữa trị giá sản phẩm công nghiệp và giá cả. Sự thua lỗ nhiều ngành tạo ra phản ứng dây chuyền lạm phát và mất khả năng chi trả. Không có đổi mới trang thiết bị. Đầu tư cơ bản chỉ đạt 1/4 so với năm 1991 và đừng nói gì đến hiện đại hóa, ngay cả đảm bảo sản xuất cũng khó.

Nơi bị các nhà “cải cách” đánh tàn tệ nhất là việc sản xuất công nghệ và thiết bị hiện đại nhất, là các cán bộ trình độ giỏi nhất. Phần lớn các tập thể Công nghiệp Quốc phòng giỏi nhất bị giải tán. Thị trường hàng tiêu dùng lệ thuộc nhiều vào phương Tây. Công nghiệp nhẹ và dệt sút giảm hơn 80%. Nhiều nhà máy chế tạo vật liệu chiến lược bị bán thẳng cho phương Tây. Họ hướng tới các ngành khai thác nguyên liệu vốn ít bị sút giảm nhất.

Những năm gần đây, hệ thống giá cả thế giới, trên thực tế là cơ chế thương mại quốc tế nhằm mang lại lợi nhuận một chiều cho phương Tây, ngày càng bành trướng. Khác với giá cả thị trường nội bộ một quốc gia, giá quốc tế nảy sinh không ngẫu nhiên và không liên quan đến chi phí lao động trung bình, mà do các nhà chính trị và áp đặt có chủ định bằng vũ lực. Trong điều kiện đó, tăng trưởng thương mại quốc tế chỉ có lợi cho những nước đủ sức áp đặt giá cả. Như vậy, giá nguyên, nhiên liệu sẽ giảm liên tục, giá lương thực, thực phẩm tăng. Nguyên liệu Nga do nhu cầu trong nước giảm phải bán ra nước ngoài và giá sẽ giảm, mất lợi nhuận. Giá nguyên liệu sẽ xuống gần trị giá và Nga trở thành kẻ lao động nô lệ. Lao động chỉ để nhận được mỗi khoản tiền công. Tất cả điều đó được che giấu bằng các khẩu hiệu “hội nhập kinh tế thế giới”, “buôn bán cùng có lợi”, “thị trường quốc tế tự do”, “toàn cầu hóa kinh tế”.

Thủ tiêu nông nghiệp

Đến thời điểm này, nông nghiệp bị phá tận gốc. Trước 1991, do khô hạn, trình độ cơ giới hóa cao và một vài yếu tố khác, nông nghiệp Liên Xô dù thua kém một số nước về năng suất nhưng hoan toàn không thua kém bất kỳ nước phương Tây nào về hiệu quả nhờ tận dụng tiềm năng đất đai – khí hậu tới 70 – 80%. Bằng hàng loạt biện pháp, các nhà cải cách đã làm cho nông nghiệp phá sản. Có thể coi đó là nạn diệt chủng kinh tế. Bắt đầu từ năm 1992, sản lượng nông nghiệp giảm đều đặn 15 – 20%/năm. Ngũ cốc giảm trong 4 năm từ 130 xuống 63,5 triệu tấn. Máy móc kỹ thuật nông nghiệp thời kỳ 1990 – 1994 giảm: máy kéo 85%, ô tô 91%, gặt đập liên hợp 76%…

Sản xuất tập thể đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm cho đất nước bị phá vỡ. Trước nạn diệt chủng, nông nghiệp Liên Xô đứng thứ hai thế giới, và đứng đầu châu Âu. Liên Xô đứng đầu thế giới về sản lượng lúa mì, củ cải đường, khoai tây, sữa. Theo số liệu của Liên hợp quốc, các nông trường, nông trang Liên Xô đủ sức nuôi 800 triệu người. Giá bánh mình Liên Xô rẻ nhất thế giới. Quá trình tiêu diệt nền nông nghiệp của các nhà cải tổ vẫn còn tiếp tục. Đất tiếp tục thoái hóa do không được bón phân. Thủy lợi bị phá bỏ. Máy móc nông nghiệp hư hỏng dần không có thay thế, sản xuất nông nghiệp giảm sút vì thiếu máy móc và xăng dầu. Đầu tư giảm 7 lần.

An ninh lương thực bị đe dọa nghiêm trọng:

Chúng ta hiểu an ninh lương thực là khả năng nhà nước bảo đảm đầy đủ và ổn định lương thực cho nhân dân không phụ thuộc vào tác động của các ảnh hưởng và đe dọa bên trong và bên ngoài. Khả năng đó là một trong những yếu tố cần thiết của chủ quyền quốc gia và bảo đảm các quyền công dân cơ bản”.

Đối với các nước phát triển, giới hạn nhập lương thực không được vượt quá 25 – 30%. Nga ngay năm 1995 đã phải nhập hơn 40% lương thực. Nga đánh mất an ninh lương thực với đường lối hiện nay sẽ bị lệ thuộc nước ngoài. Quá trình thủ tiêu nông nghiệp vẫn tiếp diễn. Burdukov viết về cơ chế thủ tiêu chăn nuôi như sau:

Chỉ sau 3 năm, nhập khẩu thịt tăng 600%, gia cầm tăng 800%, bơ 320%. Khuynh hướng đó đang tiếp tục tăng. Nông nghiệp chỉ đóng góp ngân sách 3% so với 19% trước kia, tức giảm 6 lần! Té ra, khủng hoảng bơ là nhân tạo. Hàng ngàn tấn bơ do ta sản xuất nằm chết gí trong kho từ năm 1994, không được tiêu thụ. Giá bơ bị thổi phồng, gia súc bị giết mổ. Giờ đây cứ thử nhìn xem, trong các cửa hàng thịt không tìm đâu ra hộp thịt lợn, trong khi thịt bò chất đống. Vì sao? Không có thức ăn, lợn bị bỏ đói, bò bị giết”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô – Phần VI


Nhu cầu về các loại tư bản thuộc những đẳng cấp cũ không phải là vô hạn mà là có giới hạn. Khi số lượng các đồng tiền này đạt tới những giới hạn nhất định thì lạm phát bùng nổ, dẫn tới sự đổ vỡ của các loại tư bản cũ. Sự đổ vỡ của tư bản cũ kéo theo những hậu quả xã hội trầm trọng như nạn thất nghiệp, giá cả leo thang, mà lúc đó rất nhiều người có ý thức về sự thiệt thòi của mình sẽ dẫn đến những xáo động xã hội. Cách thức duy nhất để thoát khỏi tình trạng này là phải duy trì được mức phát triển tư bản sang những đẳng cấp mới.

Vì tư bản xuất phát từ tiền ảo là tư bản ứng trước, vậy nó có thời gian tính, nếu sự phát triển chậm hơn những gì đã ứng trước thì có sự dồn tích tư bản, gây ra những vấn đề dẫn tới khủng hoảng. Trong tiến trình khủng hoảng, việc tạo ra tiền lại bị giới hạn thì có những ngân hàng sẽ không có đủ khả năng giải quyết khó khăn của mình, dẫn đến tình trạng phá sản hàng loạt.

Các nước lớn tìm cách hạn chế việc tạo tiền ảo của nhau, hạn chế việc biến các loại tiền ảo đó thành tư bản hậu công nghiệp có đẳng cấp cao. Tiền ảo không dễ mua được các cổ phiếu khi đã phát hành đợt đầu của các công ty cổ phần của các nước khác. Việc các nước mua trái phiếu của chính phủ Mỹ bằng USD, mua tài sản của nước Mỹ là để ép Mỹ có biện pháp hạn chế bớt việc tạo ra tiền ảo và biến ảo thành thật. Nó làm cho tư bản Mỹ phải tính tới các yếu tố có khả năng gây ra khủng hoảng cho chính nước Mỹ.

Các nước tư bản phát triển các biện pháp chống rửa tiền tạo thành tiền của họ từ các nước khác, từ các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của các nước khác, đặc biệt ngăn cản các đồng tiền ảo có thể tiếp cận được các nguồn tài sản thực như các công nghệ cao, các nhà máy, hay các tài sản mà cần có một số lượng tiền lớn mới mua bán được như các trang thiết bị lớn. Tư bản từ đồng tiền ảo sử dụng các nguồn lực của các nước nhận đầu tư, hầu như không sử dụng gì đến các tư bản đẳng cấp cao như công nghệ cao, công nghệ đầu nguồn của các loại tư bản ở đảng cấp cao, như xây dựng khách sạn, đầu tư vào bất động sản và các loại hình kinh doanh khai thác thị trường của các nước sở tại. Xét đến đầu tư của các trung tâm tài chính hải ngoại thì Mỹ là nước có đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm vị trí thứ ba ở Việt Nam chứ không phải là nước đứng hàng thứ mười một như thống kê hiện nay.

Việc tạo ra tiền có những giới hạn của nó. Trước hết tổng lượng các đồng tiền đó phụ thuộc vào đẳng cấp tư bản của nước có đồng tiền đó. Các đồng tiền này chỉ biến thành các loại tư bản mà nước đó đã đạt được, không lan tỏa ra các đẳng cấp khác được. Việc tạo ra tiền luôn luôn làm cho thế giới ở trong nguy cơ thừa tiền. Điều khó khăn là không để xã hội mất niềm tin về chuyện thừa tiền, vì như thế làm mất luôn giá trị chung của đồng tiền. Các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của mỗi nước cạnh tranh với nhau, và sử dụng những biện pháp tổng hợp để triệt hạ nhau, song cũng thỏa thuận phân chia thế giới theo từng đẳng cấp tư bản khác nhau. Các chủ thể này có những biện pháp ngăn ngừa việc tạo ra tiền ảo của nước mình do các chủ thể khác tạo ra chỉ hoạt động giới hạn ở những đẳng cấp tư bản nhất định. Vì thế những khoản thanh toán lớn phải chịu sự kiểm soát thông qua yêu cầu phải nhận được sự bảo lãnh nào đó thì mới có thể thực hiện được. Ngoài ra, chu trình tạo ra tiền ảo của các nước khác phụ thuộc vào đẳng cấp tư bản, vào các khả năng thâm nhập vào các vùng địa lý và lãnh thổ của các doanh nhân khi đầu tư trực tiếp.

Khi kinh tế đất nước phát triển, người ta cần rất nhiều chuyên môn mới, cần rất nhiều người tài thì người ta dùng tiền ảo đầu tư cho giáo dục để nâng mặt bằng dân trí lên, nhưng để đạt tới đỉnh cao trong các chuyên môn nhất định thì người ta cần phải tạo nên một môi trường mới đòi hỏi những người có tài phải nỗ lực nâng mình lên để đáp ứng nhu cầu đó, không phải là cứ có tiền mà làm được.

Việc tạo ra tiền ảo gây ra những vấn đề xã hội mà nếu không xử lý thích đáng thì sẽ dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng. Về góc độ xã hội thì xuất hiện hiện tượng mới của tham nhũng. Do lượng tiền ảo ngày càng nhiều đổ vào các nước đang phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau, nên đã tạo cơ sở cho hiện tượng tham nhũng phát triển tràn lan. Trong kinh tế siêu vĩ mô có quan niệm mới về sự thất thoát các nguồn lực. Tham nhũng đồng tiền thuế của dân và tham nhũng đồng tiền ảo là hai việc khác hẳn nhau, song chúng đều làm rộng ra các khoảng cách bất bình đẳng xã hội. Điều này đòi hỏi chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải có cái nhìn toàn diện về các vấn đề kinh tế xã hội khi tạo ra tiền ảo và biến chúng thành tư bản.

Để phát triển kinh tế bền vững, vượt qua được các giới hạn mà điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại, vượt qua được những ảo thuật về tài chính tiền tệ của nền kinh tế hiện đại thì cần phải đạt được những gì thực chất, tức là phải đạt được trình độ cao trong việc sản xuất các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, đạt được đẳng cấp cao hơn của tư bản hậu công nghiệp.

Nhật Bản và Trung Quốc có các đồng USD không dùng đến vì có cách sản xuất ra các đồng USD ảo dùng ở các nơi khác, nên các nước này gửi đồng USD thật vào Mỹ. Số lượng đồng USD của Trung Quốc tiêu được trên đất Mỹ là một lượng nhất định, không vượt quá được lượng nhất định đó.

Vấn đề là làm thế nào để tiêu hóa được tiền ảo. Quy mô xã hội tiêu hóa tiền ảo là gì? Khủng hoảng ở Argentina năm 2001 là do nước này đã không tạo ra được những đẳng cấp tư bản cần thiết tương ứng với số tiền ảo đã được tạo ra và được đưa vào từ nhiều nguồn khác nhau. Một khi đã tạo ra được tiền ảo thì vấn đề đặt ra là phải giữ được giá trị tiền ảo để kiểm soát được sự lạm phát, và phải làm cho quảng đại quần chúng thấy rằng kiếm tiền là việc khó khăn và thường xuyên nâng ngưỡng giàu của xã hội lên để cho người dân có động lực phấn đấu. Vấn đề đặt ra là một xã hội chấp nhận được lượng tiền bao nhiêu, mà vượt số đó sẽ dẫn tới khủng hoảng. Do số lượng tiền ảo khổng lồ đã và đang được tạo ra và tương quan của số lượng đó với tài sản của những doanh nghiệp hoạt động bình thường trong các nền kinh tế không thể là quá lớn và nhanh chóng tích tụ trong thời gian ngắn nên các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải thành lập rất nhiều doanh nghiệp, rất nhiều tổ chức mới để phân tán lượng tiền ảo khổng lồ đó.

Vì sản xuất ra được tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản nên kiếm tiền không phải là mục đích của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Mục đích của chủ nghĩa tư bản hiện đại là tìm mọi cách để việc gia tăng lượng tiền thuộc các chủng loại khác nhau của nó được các xã hội nào đó chấp nhận, do đó cần phải áp đặt các giá trị của mình cho xã hội, biến những thứ ảo thành thật, biến tiền ảo thành tư bản, qua đó không những bóc lột giai cấp vô sản ở chính quốc, mà đã mở rộng ra những giai tầng xã hội mới, và bóc lột các dân tộc khác với quy mô chưa từng có. Việc áp đặt này theo những con đường rất khác nhau, mà chủ yếu làm cho việc kiếm tiền của các nước phát triển kém hơn trở nên rất khó khăn, vì thế không lấy gì làm lạ là mặc dù nhiều nước mở rộng cửa đón nhận đầu tư nước ngoài mà các đầu tư đó không vào.

Các nước phát triển dùng đạo luật chống bán phá giá để ngăn chặn việc biến tiền ảo của các nước khác thành tiền của nước mình.

Vai trò của ngân hàng không còn như trước nữa, hoạt động của ngân hàng không còn tài trợ cho các đại công ty nữa, mà chủ yếu phục vụ cho các công ty vừa và nhỏ, và các cá nhân và hộ gia đình.

Thời của Lenin là mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản với nhau. Có những mâu thuẫn lớn hơn là mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ một nước, khi cả một nước là đối tượng nô dịch mới của các trùm tư bản nước ngoài, nơi mà tiêu thụ tiền ảo.

Nếu như trước đây, các thế lực trùm tư bản phân chia của ăn cướp bao giờ cũng là việc khó khăn thì hiện nay với sự sản xuất ra tiền ảo, tính chất của ăn cướp cũng khác đi, người ta phân chia những thứ mình không có, nhưng lại có thể biến thành có trong tương lai. Sự phân phối cũng phải quan niệm khác đi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Cần thừa nhận vai trò của Trung Quốc trong quản trị toàn cầu


Javier Solana

Rõ ràng biến động địa chiến lược nổi bật nhất trong hai thập niên vừa qua là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy vậy, phương Tây lại không thể chấp nhận việc Trung Quốc có một tầm ảnh hưởng tương xứng với sức mạnh của nước này trong hệ thống quản trị toàn cầu ngày nay, chưa nói đến các nền kinh tế lớn mới nổi khác. Nhưng điều này có khả năng sẽ phải thay đổi.

Hiện nay, Trung Quốc dựa vào các dàn xếp song phương để tăng cường can dự vào các quốc gia khắp châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Được hậu thuẫn bởi lượng dự trữ ngoại hối 3,8 nghìn tỉ USD, Trung Quốc đã cung cấp các khoản đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng để đổi lấy hàng hóa, qua đó biến mình trở thành nước cung cấp tài chính lớn nhất cho các nước đang phát triển, với việc Ngân hàng Phát triển Trung Quốc hiện đã cho vay nhiều hơn cả Ngân hàng Thế giới.

Tuy vậy, do được thực hiện bởi các tập đoàn nhà nước, những thỏa thuận nói trên vẫn thường không tuân thủ các quy chuẩn quốc tế chung. Phương Tây vì thế đã thúc giục Trung Quốc hướng tới các tiến trình đa phương vốn đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời mở rộng cung cấp hàng hóa công toàn cầu. Tổng thống Mỹ Barack Obama thậm chí đã gọi Trung Quốc là “kẻ ngồi không hưởng lợi” vì nước này không màng đến trách nhiệm được kỳ vọng đối với một cường quốc toàn cầu.

Thế nhưng, nếu những sáng kiến chính sách ngoại giao gần đây của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ám chỉ điều gì đó, thì có lẽ đó là thay đổi trong tương lai gần. Tháng Bảy năm 2014, Trung Quốc khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới của năm nước khối BRICS (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, và Nam Phi) và đóng góp một khoản đáng kể vào số vốn 100 tỉ USD của ngân hàng này.

Tương tự, tại cuộc họp gần nhất của Diễn đàn hợp tác Á-Âu tại Bắc Kinh, Trung Quốc lại khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB). Nước này đã thiết lập một Quỹ Con đường Tơ lụa trị giá 40 tỉ USD, nhằm phục vụ tham vọng tái tạo lại con đường nối liền châu Á với châu Âu cả trên đất liền và trên biển.

Để theo đuổi chiến lược với tên gọi “Một vành đai, Một con đường”, Trung Quốc sẽ tiếp tục các khoản đầu tư có ảnh hưởng tới khoảng 60 nước, bao gồm cả khu vực Trung Á, nơi Trung Quốc đã rút hầu bao ra chi tới hơn 50 tỉ USD cho các dự án ở đây. Tuyến đường trên biển sẽ bao gồm cả Ấn Độ Dương, biển Đông (biển Nam Trung Hoa), và biển Địa Trung Hải. Khi hợp thành một thể, đây sẽ không đơn thuần là một con đường, mà là một mạng lưới xúc tiến trao đổi cả hàng hóa và sáng kiến giữa hai châu lục.

Trong sáng kiến này, châu Âu đã có vai trò quan trọng hơn khi Cảng Piraeus – Hy Lạp, nơi có sự tham gia vận hành của Công ty Vận tải biển Trung Quốc COSCO, được xác định là một điểm dừng trong tuyến đường tơ lụa trên biển. Những cơ sở hạ tầng được Trung Quốc đầu tư xây dựng tại Balkans và Hungary sẽ giúp nối liền Cảng Piraeus với các khu vực khác của châu Âu, củng cố thêm vai trò của Trung Quốc như một đối tác thương mại chính của EU.

Sáng kiến Con đường Tơ lụa Mới tái khẳng định tham vọng của Trung Quốc trong việc biến mình thành một cường quốc ở lục địa Á Âu. Con đường ấy sẽ không chỉ kết nối các nền kinh tế năng động tại Đông Á với Tây Âu, mà còn vươn tới các quốc gia Trung Á – nơi mà tầm ảnh hưởng của Nga đang trên đà sụt giảm. Sáng kiến này cũng có thể giúp xoa dịu các căng thẳng về tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng của mình.

Cho đến nay, những nỗ lực tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc dường như đang phát huy hiệu quả, không chỉ trong khối các nước đang phát triển. Gần đây Vương quốc Anh đã tuyên bố ý định tham gia với tư cách là một thành viên sáng lập AIIB, khuấy động một trào lưu xin gia nhập  từ nhiều nước như Úc, Braxin, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, nước Mỹ lại coi những bước đi ấy là trở ngại về mặt địa chính trị cho mình. Quan điểm này về cơ bản là một sai lầm. Xét đến cùng, chính việc các nước phát triển từ chối trao cho Trung Quốc vai trò tương xứng với sức mạnh kinh tế của nước này đã đẩy Trung Quốc tới quyết định bỏ qua các định chế tài chính quốc tế ra đời sau Thế chiến II.

Lấy ví dụ như trong trường hợp Ngân hàng Phát triển châu Á, Nhật Bản và Mỹ mỗi bên luôn nắm giữ 13% số phiếu biểu quyết, trong khi con số này của Trung Quốc chỉ là chưa đầy 6%, chưa kể đến việc chủ tịch Ngân hàng luôn là người Nhật Bản. Tương tự, người nắm quyền cao nhất ở Ngân hàng Thế giới luôn là người Mỹ, và Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế luôn là người châu Âu. Kể cả khi khối G-20 có một bước đi nhỏ đúng hướng là đồng ý tăng tỉ lệ phiếu bầu của Trung Quốc từ 3,65% lên 6,19% vào năm 2010, Quốc hội Mỹ lại từ chối phê chuẩn thỏa thuận này, chặn đứng việc tiến hành những cải cách đó.

Sự thật ở đây là sáng kiến mới của Trung Quốc không mang tính xét lại, mà là phản kháng. Nếu các cường quốc mới không được tiếp cận các kiến trúc quản trị toàn cầu đang tồn tại, họ sẽ tự tạo ra các hệ thống khác cho riêng mình. Điều này cũng có nghĩa là các nước phát triển có khả năng ngăn chặn việc trật tự thế giới bị vỡ vụn thành nhiều khối tư tưởng và kinh tế – nhưng chỉ khi họ có thể vượt qua sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc.

Theo đó, sự tham gia của các nước châu Âu vào AIIB là một bước đi tích cực, vì nó giúp đảm bảo rằng ngân hàng mới này sẽ hỗ trợ chứ không cạnh tranh với các thể chế tài chính hiện hành. (Thực tế, ảnh hưởng của châu Âu sẽ còn lớn hơn nữa nếu bản thân liên minh này, chứ không phải các nước thành viên đơn lẻ, có được sự hiện diện ở AIIB, như đã có ở G-20 và Tổ chức Thương mại Thế giới.)

Phương Tây phải làm nhiều điều, không chỉ là chào mừng Trung Quốc tham gia vào hệ thống quản trị toàn cầu, mà còn phải thừa nhận và hợp tác với các định chế mà Trung Quốc đang kiến tạo nên. Chỉ có thể bằng thái độ cởi mở, phương Tây mới có thể đảm bảo rằng những thể chế do Trung Quốc dẫn dắt sẽ áp dụng các quy chuẩn về đa phương hóa và trách nhiệm giải trình, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và môi trường.

Hiện tại là thời điểm lý tưởng để bắt đầu những công việc đó. Vì nếu châu Âu, Mỹ, và Trung Quốc có thể dung hòa các ý định của mình sao cho phù hợp với các lợi ích chung trong năm nay thì họ sẽ ở tư thế sẵn sàng để tận dụng tối đa Hội nghị thượng đỉnh G-20 tại Trung Quốc vào năm 2016.

Việc Trung quốc tham gia vào các tiến trình đa phương là một tín hiệu tích cực đối với thế giới. Châu Âu – và đặc biệt là nước Mỹ – phải vượt qua được sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc. Để tối đa hóa việc chia sẻ lợi ích, họ không được phép phung phí cơ hội tham gia vào và định hình các tiến trình này.

Biên dịch: Nguyễn Thị Thanh Xuân | Hiệu đính: Phạm Trang Nhung

Nguồn: Javier Solana, “China and Global Governance”, Project Syndicate, 30/3/2015

Javier Solana nguyên là Đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu phụ trách chính sách Đối ngoại và An ninh, Tổng thư ký NATO, và nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha.