Những rủi ro nếu xảy ra chiến tranh tiền tệ


Jean-Raphaël Chaponnière

Bị gián đoạn vào tháng 5, các cuộc đàm phán Trung – Mỹ đã được nối lại tại Thượng Hải vào cuối tháng 7. Tuy nhiên, do hai bên không đưa ra bất kỳ đề xuất mới nào, cuộc họp mang tính xây dựng đã kết thúc nhanh chóng với thông báo về phiên họp tiếp theo vào tháng 9 tới tại Mỹ. Liệu cuộc họp này có diễn ra? Vài giờ sau khi phái đoàn Mỹ trở về, Donald Trump đã cáo buộc Trung Quốc không giữ lời hứa về việc mua nông sản và hạn chế doanh số bán chết fentanyl (Trung Quốc là nhà cung cấp lớn nhất chất này, mạnh gấp 50 lần so với heroin). Tổng thống Mỹ đe dọa sẽ tăng thuế lên 10% – thay vì 25% dự kiến trước thỏa thuận tại Osaka (Nhật Bản) – đối với 300 tỷ USD hàng nhập khẩu kể từ ngày 1/9 tới. Việc tăng thuế này sẽ ảnh hưởng đến nhiều hàng hóa tiêu dùng đang được miễn thuế. Dòng tweet của tổng thống Trump và hành động trả đũa của Trung Quốc – như đình chỉ mua các sản phẩm nông nghiệp Mỹ – báo hiệu sự chấm dứt của “thỏa thuận ngừng chiến”. Thị trường chứng khoán giảm và sự trượt giá của đồng tiền Trung Quốc với gần 7 NDT/1 USD, tỷ lệ cao nhất kể từ năm 2008, đã vượt qua ngưỡng này vào ngày 6/8. Bộ Tài chính Mỹ đã phản ứng ngay lập tức bằng cách cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ.

Một tháng sau “thỏa thuận ngừng chiến” ở Osaka, mối đe dọa tăng thuế đã làm tăng gấp đôi nhu cầu đồng USD: các công ty Trung Quốc dự đoán sẽ sụt giảm thu nhập ngoại hối và các công ty đang nợ bằng USD sợ hậu quả của việc đồng NDT bị giảm giá sẽ ảnh hưởng đến món nợ của họ. Thị trường ngoại hối được quản lý. Mỗi ngày, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) xác định tỷ giá trung tâm, gần với mức ngang bằng của ngày hôm trước, xung quanh mức dao động cho phép “cộng hoặc trừ 2%”. Để ngăn tỷ giá hối đoái được thiết lập ngoài mức cho phép này, PBOC đã can thiệp bằng cách mua hoặc bán USD. Tuy nhiên, ngày 6/8, PBOC đã thiết lập tỷ lệ trung tâm thấp hơn dự kiến của thị trường và tín hiệu này đã kích hoạt đồng USD tăng từ 6,9 lên 7,03 NDT/1 USD, vượt mức trần 7 NDT/1 USD trước đây. Các thị trường tài chính đã phản ứng một cách mạnh mẽ vì sợ cuộc chiến thương mịa sẽ biến thành cuộc chiến tiền tệ có thể nhấn chìm châu Á. Vì khu vực này giao dịch nhiều hàng hóa và dịch vụ (du lịch) với Trung Quốc hơn so với Mỹ, nên nhạy cảm hơn với sự biến động của đồng NDT so với đồng USD. Do vậy, ngày 7/8, các ngân hàng trung ương của Ấn Độ và Thái Lan đã cắt giảm lãi suất.

Trung Quốc thao túng tiền tệ?

Tại sao Bộ Tài chính Mỹ bây giờ mới cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ trong khi sự thao túng này rõ ràng đã có từ nhiều năm trước?

Từ năm 2000 đến 2014, tài khoản vãng lai của Trung Quốc bị dư thừa (lên tới 9% GDP) và đồng NDT rất ít được đánh giá cao so với đồng USD (+30% trong 15 năm). Thế nên, PBOC đã mua tiền Mỹ để hạn chế việc định giá lại. Tại Washington, chính quyền đã từ chối tham gia vào cuộc chiến với Trung Quốc vì không giống với Donald Trump, họ cho rằng một cuộc chiến thương mại “sẽ không dễ thắng” nhưng sẽ có hại cho cả hai bên.

Kể từ năm 2014, sự can thiệp của Trung Quốc không còn đáp ứng các tiêu chí thao túng “kinh điển” theo quy định của Bộ Tài chính Mỹ. Thặng dư tài khoản hiện tại của Trung Quốc đã giảm xuống dưới 2% GDP và IMF đang xem xét rằng Trung Quốc còn có thể bị thâm hụt trong thời gian tới. Ngoại trừ việc lựa chọn tỷ giá trung tâm vào ngày 7/8 theo hướng của thị trường, PBOC không còn can thiệp để kiềm chế sự gia tăng của đồng NDT mà còn tìm cách chống sự suy giảm của nó. Từ năm 2015 đến 2016, PBOC đã “hy sinh” 1000 tỷ USD – khoảng 1/4 dự trữ – để hỗ trợ đồng tiền Trung Quốc. Hơn nữa, cáo buộc của Bộ Tài chính Mỹ là không quan trọng vì chính quyền Mỹ đã tăng thuế đối với hàng nhập khẩu của Trung Quốc. Cuối cùng, đồng USD đã tăng giá không chỉ so với đồng NDT (+9% kể từ tháng 1/2018), mà còn so với đồng euro (+9,8%) hoặc bảng Anh (+13%).

Tổng thống Mỹ Donald Trump và các ứng cử viên của đảng Dân chủ sơ cấp đều tố cáo mức tăng cao của đồng USD. Cáo buộc Trung Quốc đang thao túng đồng NDT, ông Trump đã nói về sự can thiệp trực tiếp để hạ giá đồng USD: “Tôi sẽ làm điều đó trong hai giây” và vận động Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), vốn đã giảm nhẹ lãi suất vào cuối tháng 7 vừa qua.

Khi tìm cách áp đặt thuế, Mỹ cũng đang làm suy yếu các khuyến khích hợp tác đặc trưng cho trật tự quốc tế kể từ năm 1945. Vào thời điểm xung đột thương mại với Nhật Bản, các hiệp định Plazza năm 1985 chưa phải là hậu quả đối với Mỹ, nhưng đó là một nỗ lực phối hợp của 5 cường quốc lớn nhất thế giới. Theo Jeffrey Frankel, cựu cố vấn kinh tế của Bill Clinton, người đã cáo buộc Trung Quốc thao túng tiền tệ, thì chính quyền Mỹ cũng chỉ thể hiện ý chí về một sự thù địch, nhưng không có hành động cụ thể nào.

Mối nguy hiểm cho Trung Quốc

Cuộc chiến thương mại ít có tác động đến xuất khẩu của Trung Quốc. Tất nhiên, doanh số bán hàng sang Mỹ đã giảm – thị trường Mỹ hấp thụ trực tiếp 17% hàng xuất khẩu của Trung Quốc. Nhưng sự suy giảm này đã được bù đắp nhờ vào các thị trường còn lại khác trên thế giới của Trung Quốc, với mức tăng trưởng 6% kể từ tháng 1 – 7/2019. Ngoài ra, Trung Quốc đã làm chậm lại việc nhập khẩu của mình.

Trung Quốc có ít lựa chọn hơn. Nước này đã tăng thuế đối với tất cả các sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ, khoảng 150 tỷ USD. Nhưng Trung Quốc đang thiếu “đạn dược” để đối phó với các mối đe dọa mới của Mỹ. Trung Quốc có thể gây khó khăn hơn cho các công ty Mỹ ở Trung Quốc – doanh số của các công ty gấp đôi so với sự xuất khẩu của Mỹ sang thị trường Trung Quốc. Nhưng điều đó có nguy cơ đẩy các công ty Mỹ rời bỏ Trung Quốc nhanh hơn. Vào ngày 7/8, để đối phó với các mối đe dọa của Mỹ, Bắc Kinh đã cố tình “bẻ khóa mức 7 NDT/1 USD” để giúp họ quay vòng tiền tệ và để gửi cảnh báo tới Washington.

Trung Quốc có thể để đồng NDT trượt xuống 7,3 NDT/1 USD để xóa tác động của việc tăng thuế 10% của Mỹ. Nhưng nhìn xa hơn không phải là không có rủi ro cho nước này. Một cuộc chiến tiền tệ sẽ làm tăng giá các sản phẩm nhập khẩu và làm chậm tiêu thụ. Nó cũng sẽ dẫn đến dòng vốn (bất hợp pháp) chảy ra ngoài, lúc đó Trung Quốc sẽ buộc phải thực hiện các biện pháp kiểm soát mạnh mẽ hơn, điều đó sẽ làm giảm uy tín quốc tế đối với đồng NDT.

Nguồn: www.asialyst.com – 13/08/2019

TKNB – 15/08/2019

ASEAN thận trọng giữa tâm bão Mỹ – Trung


Căng thẳng Mỹ – Trung đã bước vào một giai đoạn nguy hiểm mới. Lần đầu tiên sau 25 năm, chính quyền Mỹ đã gọi Trung Quốc là nước “thao túng tiền tệ” sau khi đồng NDT trượt giá xuống dưới ngưỡng 7 NDT/USD. Điều này mở ra một cánh cửa để Mỹ áp đặt các lệnh trừng phạt cũng như những hạn chế thương mại khắc nghiệt hơn đối với Trung Quốc, trong bối cảnh cuộc chiến thương mại và công nghệ toàn cầu đã biến thành một cuộc chiến tiền tệ.

Các hành động của Mỹ rất độc đoán và đã làm rung chuyển các thị trường tài chính toàn cầu. Báo cáo “Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” gần đây cho thấy các thành viên thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang ngày càng cảnh giác hơn với cách tiếp cận của Mỹ trong khu vực. Họ có quyền lo lắng. Việc Mỹ gọi Trung Quốc là nước thao túng tiền tệ không mang lại nhiều ý nghĩa, cả về kinh tế lẫn thể chế.

Về mặt kinh tế, một đồng tiền NDT suy yếu là điều có thể xảy ra trong tình hình kinh tế hiện tại. Nền kinh tế Trung Quốc đã chậm lại trong khi Mỹ vẫn tiếp tục trong giai đoạn bùng nổ kinh tế lâu nhất trong lịch sử. Xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ đang phải chịu nhiều sức ép, trong khi đó, rủi ro toàn cầu leo thang đã chứng kiến nhu cầu phải tìm kiếm một nơi an toàn cho các tài sản tài chính của Mỹ ngày càng gia tăng. Tất cả các biến số này cho thấy một đồng NDT suy yếu so với đồng USD. Marc Chandler, Trưởng bộ phận chiến lược thị trường của công ty thương mại thị trường Bannockburn Global Forex, cho rằng: “Họ không hạ giá đồng tiền tệ xuống mà chỉ đang chấp nhận các tác nhân thị trường”.

Về mặt thể chế, các hành động của Trung Quốc không phù hợp với định nghĩa riêng của Bộ Tài chính Mỹ về một nước thao túng tiền tệ. Mark Sobek, một nhân viên kỳ cựu của Bộ Tài chính Mỹ nói: “Theo tiêu chí báo cáo trao đổi ngoại hối của Kho bạc Mỹ, Trung Quốc thậm chí còn không đạt gần đến mức có thể đáp ứng các điều khoản để được gọi là nước thao túng tiền tệ”. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng đưa ra đánh giá tương tự, cho rằng tỷ giá hối đoái của Trung Quốc năm 2018, cũng như trong ít nhất 5 năm qua, hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Kho bạc Mỹ.

Một cuộc chiến tiền tệ đang âm ỉ?

Nhiều khả năng chính quyền Mỹ sẽ không thể thực hiện được mong muốn của Tổng thống Mỹ Donald Trump trong việc làm suy yếu đồng USD. Ông Trump có thể sử dụng Quỹ bình ổn hối đoái của Bộ Tài chính Mỹ để bắt đầu bán đồng USD. Tuy nhiên chỉ với 100 tỷ USD trong quỹ, và lượng tiền bằng đồng USD chỉ chiếm 23 tỷ, khả năng để đạt được bất kỳ sự giảm giá bền vững nào đối với đồng USD là điều không thể. Điều này có nghĩa là bất kỳ sự hạ giá bền vững nào đối với đồng USD đều cần đến sự can thiệp của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), vốn cho đến nay vẫn giữ lập trường của mình.

Mặc dù các tổ chức ở Mỹ sẽ làm chậm quá trình bùng nổ một cuộc chiến tiền tệ, song Tổng thống Trump có quyền áp đặt các hạn chế thương mại và các biện pháp trừng phạt nhiều hơn nữa đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, như IMF đã chỉ ra, những chi phí này sẽ ảnh hưởng đến người tiêu dùng Mỹ, cho thấy một sự suy thoái kinh tế của Mỹ có thể là con đường khả dĩ nhất để Tổng thống Mỹ giảm giá đồng USD, đặc biệt là khi đường cong lợi suất Mỹ đảo ngược đáng kể trong tuần qua – một dự báo đáng tin cậy về sự suy thoái của Mỹ.

Tuần trước, những căng thẳng tiền tệ cũng cho thấy một điều đó quan trọng về Trung Quốc. Bằng cách hạ giá đồng NDT xuống dưới 7 NDT/USD, Trung Quốc có lẽ đang thể hiện sự tự tin và độc lập về kinh tế mới hình thành. Mức 7 NDT/USD được nhiều người coi là một ngưỡng tâm lý quan trọng. Việc cho phép đồng NDT giảm xuống  dưới mức đó báo hiệu một tâm thế sẵn sàng ngày càng cao của chính quyền Trung Quốc trong việc hành xử độc lập hơn so với những gì phần còn lại của thế giới đang làm.

Liệu sự độc lập tài chính mới này có dẫn đến bất kỳ thay đổi cơ cấu nào trong chính sách tiền tệ và khung tỷ giá hối đoái của Trung Quốc hay vẫn là điều chưa rõ ràng. Điều rõ ràng cho đến nay mới chỉ là chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Trung Quốc đã bước vào một giai đoạn mới. Một năm trước, sự lo ngại (của thế giới) tập trung vào cuộc chiến thương mại. Sau đó, các mối quan tâm chuyển sang công nghệ và các công ty, và giờ đây lại chuyển sang lĩnh vực tiền tệ và thị trường tài chính.

Các nước Đông Nam Á đang theo dõi tình hình căng thẳng Mỹ – Trung với tâm trạng đầy lo lắng.

Nguồn: www.eastasiaforum.org

TKNB – 15/08/2019

Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần cuối


Kết luận

Nếu chế độ dân chủ đã chiến thắng ở một phần nào đó của thế giới, thì đó là ở các nước của Ba bên, trong 25 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. – Chiến thắng này một phần lớn là nhờ ở chính sách nhìn xa trông rộng do những người lãnh đạo của họ và nhờ ở sự lãnh đạo của Mỹ đối với toàn bộ các quốc gia dân chủ (…).

Ở châu Âu, chính các đảng cộng sản Pháp và Italy đã chấp nhận trò chơi dân chủ và sẽ tiếp tục áp dụng các quy tắc của nó ít ra như họ khẳng định – nếu họ lên cầm quyền, ở các nước thành viên của Ba bên, không một nhóm xã hội hay chính trị có một sức nặng nào đó trù tính một cách nghiêm chỉnh tới việc thay thế các thể chế dân chủ bằng một chế độ độc tài dân tộc chủ nghĩa, một nhà nước phường hội, hay thậm chí một nền chuyên chính vô sản cả.

Các thủ lĩnh công đoàn, những người hiện có uy quyền thực sự đối với các đoàn viên công đoàn, không đặt mình, thành những đối thủ của các nhà lãnh đạo chính trị, mà đúng hơn, chỉ tự coi mình là những người đối thoại cần thiết cho việc thực hiện uy quyền của chính phủ. Khi các công đoàn bị tan rã, khi các đoàn viên trở thành vô kỷ luật và các yêu sách được đưa lên quá mức, khi các cuộc bãi công hoang dã tăng lên, thì không thể đưa ra và thực hiện một chính sách tiền lương ở cấp quốc gia được. Trái lại, sự suy đồi của các đảng chính trị trong thế giới công nghiệp hóa đang đưa chúng ta tới chỗ đặt ra một câu hỏi: một chính phủ dân chủ không thuộc đảng nào, hay có sự tham gia của các đảng đang suy tàn, liệu có thể có sức sống không?

Mối đe dọa của một cuộc xâm lược quân sự, về nguyên tắc, đang mờ nhạt đi. Vì thế, ở tất cả các nước Ba bên, an ninh không còn nằm ở trung tâm cảu những mối lo toan nữa. Thiếu một nguy cơ thực tế và cụ thể, các chế độ dân chủ đang phải chật vật giành sự đồng tình cần thiết cho việc duy trì những biện pháp an ninh. Ở châu Âu, cũng như ở Mỹ và Canada, nghĩa vụ quân sự bị giảm bớt nếu chưa bị xóa bỏ; ngân sách quốc phòng bị giảm bớt về mặt tuyệt đối cũng như về tỉ lệ trong toàn bộ ngân sách quốc gia; thái độ chống chủ nghĩa quân phiệt đang trở thành mốt ở những người trí thức của Ba bên vì những vấn đề nó đang phải đương đầu. Nó cần có những đầu tư dài hạn khá nhanh, vì những nguồn lực riêng của nó không cho phép vượt qua các vấn đề của nó. Ngoài ra, lại phải chế ngự những khó khăn trước mắt và những khó khăn sẽ xuất hiện trong ngắn hạn, nếu nó muốn đứng vững trước cuộc khủng hoảng bên trong cũng như bên ngoài.

Những mảnh đất hành động

Nếu có thể khen ngợi hành động của các chính phủ dân chủ thuộc Ba bên về nhiều điểm, thì cũng đang có những vùng yếu ớt, những nguyên nhân của sự tan vỡ có thể có. Những mâu thuẫn gây ra vấn đề này được thể hiện rõ trong từ ngữ “tính có thể cai quản của dân chủ” (goovernabilité de la démocratie). Các từ “tính có thể cai quản” và dân chủ, ở một mức độ nào đó, là những từ đối kháng nhau. Một chế độ dân chủ quá lớn bao hàm tình trạng không thể cai quản được, còn một “tính có thể cai quản” quá dễ dàng lại cho thấy trước một chế độ dân chủ suy yếu. Trong lịch sử các chế độ dân chủ, quả lắc đồng hồ đã dao động từ cực này sang cực khác.

Hiện nay, người ta có cảm tưởng rằng sự cân bằng đã bị phá vỡ theo một hướng bất lợi cho các chính phủ phương Tây; vấn đề này không được đặt ra một cách gay gắt như vậy ở Nhật Bản, ít ra là lúc này. Mỹ và Tây Âu thì lại cần phải khôi phục những liên hệ hài hòa giữa uy quyền của chính phủ và sự kiểm soát của nhân dân. Còn ở Nhật Bản, nó có thể tự chuẩn bị để đương đầu với vấn đề này trong một tương lai tương đối gần. Những khó khăn ngày càng tăng, mà các chính phủ vấp phải trong việc sử dụng những liên hệ của mình với một xã hội phức hợp, đang đòi hỏi một sự gia tăng những nguồn lực vật chất và uy quyền chính trị. Ngay cả ở Nhật Bản, những yếu tố này không bao lâu nữa cũng sẽ thiếu (…) (ở Mỹ), quyền lực tổng thống đang biến mất nhanh chóng, do lịch sử cuốn đi; tất nhiên, không cần thiết phải khôi phục lại nó. Nhưng cũng không được để cho quả lắc đồng hồ đi quá xa theo hướng ngược lại. Những hạn chế do ngành lập pháp đề xướng phải được xem xét theo những tiêu chuẩn sau đây: nếu tổng thống không còn quyền lực như thế nữa, thì ai sẽ nắm nó? Nếu Quốc hội có năng lực thực hiện quyền lực này một cách có hiệu quả, thì Quốc hội có những lý do để hạn chế vai trò của tổng thống. Nhưng những hạn chế này không nhất thiết có lợi cho Quốc hội. Chúng cũng có thể tăng thêm quyền lực của bộ máy quan liêu hoặc của các nhóm lợi ích riêng (…).

Tình hình châu Âu rất khác nhau. Ở Pháp, quyền lực tổng thống rất mạnh, mạnh hơn ở Mỹ nhiều và sẽ tiếp tục như vậy. Ở nước này, vấn đề chủ yếu sẽ là ở trình độ duy trì hoạt động kiểm soát dân chủ. Đó là một vấn đề phức tạp vì, theo truyền thống có một khoảng cách lớn giữa quyền lực hành pháp – với những sự kiểm soát bị thu hẹp – và quyền lực của Nghị viện – tức là một chế độ Quốc hội – khá bất lực. Chính phủ Italy nằm trong hoàn cảnh ngược lại. Quyền quyết định của nó trên thực tế đã bị phân giải, và giải pháp phải là khôi phục những điều kiện cần thiết cho sự phát triển một ngành hành pháp mạnh hơn, vững chắc hơn, tích cực hơn và được gia tầng chính trị chấp nhận.

Hoạt động thực sự của các chính phủ dân chủ không được bị đặt thành nghi vấn. Những yêu cầu ngày càng tăng của dân cư và những sức ép, một mặt, đối với các chính phủ, và mặt khác các chính phủ ấy thiếu phương tiện và cuộc khủng hoảng về uy quyền công cộng sẽ làm cho một sự cộng tác cụ thể hơn trở nên cần thiết (…), thể hiện ở việc lập ra một cơ quan được giao trách nhiệm củng cố các thể chế dân chủ. Mục đích của cơ quan này sẽ là khởi xuống việc nghiên cứu những vấn đề chung có liên quan tới hoạt động của chế độ dân chủ ở các nước Ba bên, tạo ra một sự hợp tác có hiệu quả giữa các thể chế và các nhóm có những quan tâm giống nhau, thúc đẩy các quốc gia thành viên sử dụng những kinh nghiệm để cho mỗi quốc gia hoàn thiện sự vận hành của xã hội. Sự trao đổi có lợi ấy đã có ở bình diện kinh tế và quân sự. Thực hiện sự trao đổi ấy cả về mặt chính trị sẽ là một điều tốt. Cơ quan ấy cũng có thể thu hút sự chú ý vào những vấn đề cấp bách nhất, chẳng hạn như nội dung phê phán đối với các vấn đề mà chế độ dân chủ ở châu Âu đang đương đầu.

Những nhận xét của Ralph Dahrendorf về việc nghiên cứu đã được thực hiện về tính có thể cai quản

Đối với một chính phủ dân chủ, thật khó duy trì những quan hệ cân bằng với các thể chế ngoài nghị viện (…), các thể chế này thường biến quyền lực thành trò khôi hài. Khi nói tới những thể chế ngoài nghị viện, tôi muốn đặc biệt nói tới hai tổ chức kinh tế hùng mạnh: các công ty lớn và các công đoàn lớn.

Tôi cho rằng cần phải xem xét vai trò tích cực mà một kiểu hợp đồng xã hội thực tế có thể có, theo kiểu hành động phối hợp hoặc Hội đồng kinh tế và xã hội, trong hoạt động của các thể chế chính trị của những chế độ dân chủ tiên tiến. Tôi không tin rằng những cuộc thương lượng tập thể không có quy chế là cần thiết trong một xã hội tự do và dân chủ. Trái lại, cần phải chấp nhận cho mọi người tổ chức thành các công đoàn, cho các công ty khổng lồ tồn tại, cho những lợi ích kinh tế phải được thảo luận ở đâu đó, cho những đường hướng lớn của hệ thống kinh tế chúng ta và sự vận hành của nó phải trở thành đối tượng của một sự thương lượng (…). Tất nhiên, đây không phải là để biến các nước chúng ta thành những quốc gia phường hội, mà là để chú trọng một cách dân chủ tới những hiện tượng mới mẻ có hại cho hiệu quả kinh tế trong những năm gần đây (…).

(…) Chúng ta phải trước hết chăm lo sao cho các thể chế dân chủ giữ được tất cả sự mềm dẻo của chúng, vì có thể nói đó là ưu điểm chủ yếu của chúng. Sự mềm dẻo ấy có nghĩa là: năng lực thực hiện và tiến hành đến cùng những biến đổi thực sự mà không có cách mạng; năng lực biến đổi những tư tưởng truyền thống; năng lực phản ứng theo lối mới trước những vấn đề mới; năng lực phát triển các thể chế hiện có thay vì cứ thay đổi chúng thường xuyên; năng lực thúc đẩy những giao tiếp giữa những người lãnh đạo và những người bị lãnh đạo; năng lực chú trọng tới cá nhân trước hết.

Tôi thuộc vào những những người nghĩ rằng các xã hội Bắc Mỹ đã thành công hơn các xã hội khác về sự duy trì tính mềm dẻo ấy để có thể hình dung tương lai cảu dân chủ với niềm tin tưởng.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần IV


Vả chăng, họ cũng đã cho thấy những bằng chứng về năng lực của họ. Họ tỏ ra có một hiệu quả xuất sắc trong việc quản lý địa phương, ở Pháp cũng như ở Italy. Họ đã góp phần khôi phục lại trật tự trong các trường đại học Pháp, Italy và Đức. Khắp nơi, ngay cả ở Anh, họ đã biết gây ảnh hưởng tới các công đoàn mạnh nhất bằng cách dùng những phương pháp kiểm soát của thiểu số. Sức mạnh của họ về mặt này như vậy là lớn hơn sức mạnh của cách mạng và các cuộc bầu cử. Chính nhờ có sức mạnh này mà họ lôi cuốn được một số chuyên gia, có giá trị và nâng cao được năng lực kỹ thuật của những chuyên gia ấy.

Tuy vậy, những người cộng sản cũng có những vấn đề của họ. Vấn đề gay go nhất là nguy cơ bị nhiễm phải môi trường chung của các xã hội trong đó họ đang sống, tức là trở nên bất lực khi muốn tránh khỏi sự tan rã của mô hình uy quyền của họ. Chính vì thế họ chăm nom rất kỹ tới căn tính cách mạng của họ. Cho đến nay, họ được bảo vệ bởi qui chế thiểu số của họ để tách mình ra và chừng nào hoàn cảnh này còn kéo dài thì chừng đó những đảng viên tích cực nhất còn phải nắm chắc cách hoạt động cho đến nay vẫn thành công, nhằm chống lại sức ép của môi trường. Tuy có những điều vừa nói, những người cộng sản phương Tây đang đứng trước một hoạt dộng thật khó thực hiện. Họ phải tham gia đầy đủ vào các cuộc tranh luận quan trọng, trong khi lại phải tự tách ra một cách đầy đủ để giữ được những năng lực tổ chức của họ. Chỗ yếu của họ về căn bản là ở sự khó khăn khi phải tôn trọng nguyên tắc “tự do của” và phải chấp nhận chủ nghĩa nhị nguyên. Liệu họ có thể cai quản và kiểm soát được các xã hội mà những nguyên tắc chính trị của chúng là xa lạ đối với họ không? Điều đó liệu có gây ra một phản ứng cực kỳ quyết liệt không? Thật khó trả lời. Thật vậy, lúc này các xã hội đang chìm vào một cơn xoáy lốc của những biến đổi văn hóa sâu sắc, đụng chạm tới cả những nền tảng của tính hợp lý cũng như những cơ sở của chiến lược chính trị.

Xin nói rằng nếu những người cộng sản đột nhiên lên cầm quyền, thì chắc sẽ có một phản ứng chống cộng. Trái lại, nếu việc giành chính quyền được thực hiện từ từ, nhờ một hoạt động mạnh mẽ nhưng theo chiều sâu, thì thành công của họ sẽ khó lòng tranh cãi.

Kết luận: tính dễ thương tổn của châu Âu

(…) Những vấn đề của châu Âu thật khó giải quyết nhưng không phải không thể giải quyết. Châu Âu phương Tây, mặc dầu có những chỗ yếu của nó, vẫn còn nắm được một số chủ bài. Mới đây nó tỏ ra có một sự mềm dẻo nổi bật và những khả năng thích nghi, điều chỉnh và sáng tạo lớn. Ngay cả lúc này, nó vẫn tiếp tục đấu tranh để duy trì tính vững chắc của dân chủ trong những hoàn cảnh khó khăn. Trong hai mươi năm gần đây, nó đã tiến hành tốt những biến đổi gây ấn tượng mà ít có những người quan sát nào tin rằng nó có thể làm được. Nếu nó thoát được những sức ép bên ngoài; thì mọi cái cho phép hy vọng rằng nó sẽ thực hiện được những biến đổi khác từ nay thật cần thiết.

Do đó, điều làm chúng ta quan tâm không phải là quy mô to lớn của những vấn đề nó phải đương đầu, cũng không phải là sự bất lực của nó khi phải giải quyết những vấn đề đó, mà chính là tính dễ tổn thương của nó. Tất cả các nước châu Âu đang ở trong một tình huống giống nhau: phải chấp nhận sự biến đổi triệt để về mô hình cai quản và những phương tiện kiểm soát xã hội của mình, trong khi phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng bên trong và bên ngoài.

Mỗi nước có một tiềm năng khác nhau và, thoạt nhìn, những cơ may thành công dường như không ngang nhau. Dù sao, cũng không một nước nào có được những nguồn lực như của Mỹ và những khả năng của các nước châu Âu là một nhân tố tích cực trong chừng mực nó thúc đẩy sự thi đua và sự giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng đó cũng là một điều bất lợi vì nó đã làm cho chúng dễ phụ thuộc vào tính dễ thương tổn của nước yếu nhất trong các nước đó.

Cuộc khủng hoảng bên trong về căn bản là do tính không vững chắc về kinh tế và xã hội. Tỉ lệ lạm phát làm tăng thêm những căng thẳng cho đến nay vẫn được làm dịu bớt. Tất cả mọi đảo lộn xã hội đang phá vỡ những cơ sở của các cấu trúc xã hội. Tính đáng tin cậy đã biến mất; không thể nào xây dựng những kế hoạch dài hạn được. Ngay cả một chính sách giảm phát quá triệt để cũng sẽ đưa tới một sự phân phối của cải mới và một sự tăng thêm thất nghiệp, mà cả điều này lẫn điều kia đều không thể chấp nhận được. Các nước châu Âu đang nằm trong một vòng luẩn quẩn mà nó khó lòng thoát nếu không phải là tạo nên một sự suy thoái còn sâu sắc hơn và nguy hiểm hơn do tính mong manh của các cấu trúc xã hội.

Để kiểm soát được cuộc khủng hoảng, cần phải đặt lên hàng đầu những sự cân nhắc ngắn hạn, mà điều đó lại không thể đi đôi với sự biến đổi cần thiết về những phương tiện kiểm soát của xã hội.

Cộng thêm vào những khó khăn ấy là những hậu quả của cuộc khủng hoảng bên ngoài. Đó không chỉ là cuộc khủng hoảng năng lượng hay cuộc khủng hoảng về cán cân thanh toán, mà còn là sự yếu ớt tương đối của các quốc gia châu Âu. Sự sung túc của các quốc gia này, lần đầu tiên trong lịch sử của chúng, phụ thuộc vào những sức ép của các cường quốc không thuộc về thế giới phương Tây. Chừng nào các nước mạnh nhất còn giúp đỡ các nước yếu nhất để vượt qua những khó khăn của chúng, chừng đó sự cân bằng vẫn có thể được duy trì ở châu Âu. Nhưng nếu một nước như nước Pháp sụp đổ, thì toàn bộ hệ thống châu Âu sẽ tan rã.

Do tình hình này, chủ nghĩa xã hội Nhà nước có thể hiện ra như một giải pháp đáng mong muốn đối với một số nước, nhất là các nước Latin, vì nó sẽ đem lại những bảo đảm cho giai cấp công nhân và giúp chống lại nạn thất nghiệp. Khả năng này – cần được xem xét rất nghiêm túc – nếu được thực hiện sẽ đưa tới một sự hỗn loạn xã hội thật sự. Các đảng cộng sản lúc đó sẽ đóng một vai trò quyết định vì họ là những kẻ duy nhất có thể khôi phục trật tự và tính hiệu quả. Giả thuyết này không đụng tới toàn bộ châu Âu, nhưng đụng tới Pháp, Italy và Tây Ban Nha. Trong trường hợp đó, Đức sẽ chịu những sức ép to lớn, và khi đó, quá trình Phần Lan hóa sẽ xuất hiện như một điều ít tệ hại nhất.

Triển vọng bi thảm ấy không phải là không thể tránh khỏi, thậm chí cũng rất ít có khả năng xảy ra. Tuy vậy, chỉ một việc phải tính đến triển vọng này đủ cho thấy rõ tính dễ thương tổn của châu Âu rồi. Để tự bảo vệ, các nước châu Âu phải vượt qua những giới hạn hiện nay và chấp nhận thách thức của tương lai. Các nước này phải từ bỏ càng nhanh càng tốt những mô hình cũ dựa trên sự ngăn cách, sự phân tầng, sự bí mật và sự xa cách – những mô hình đã từng tạo ra một cân bằng có thể chấp nhận được giữa các quá trình dân chủ, uy quyền quan liêu và một phần truyền thống quý tộc – để lao mình vào việc thử nghiệm những mô hình mới mềm dẻo hơn, cho phép tăng thêm sự kiểm soát của xã hội, đồng thời giảm bớt những sự bó buộc. Những ý định ấy phải chiến thắng về lâu dài. Trong hoàn cảnh hiện nay, những ý định ấy có vẻ nguy hiểm. Nhưng đó là điều rất bình thường, vì chúng ta không thể dứt khoát từ bỏ những phương pháp cũ chừng nào chúng ta chưa tin chắc vào phẩm chất của những phương pháp mới. Tuy vậy, sự đổi mới dường như thật cần thiết, một sự đổi mới thận trọng, hiển nhiên là thế nhưng đó là sự đáp ứng duy nhất có thể có đối với sự lựa chọn của châu Âu.

Châu Âu cũng phải thay đổi phương hướng tăng trưởng kinh tế của mình. Việc duy trì sự tăng trưởng này là tuyệt đối cần thiết nếu người ta muốn đấu tranh chống thất nghiệp và chống những xung đột xã hội đang ngày càng trầm trọng. Nhưng nó phải khác với sự tăng trưởng trong những năm trước đây, một sự tăng trưởng từng gây ra những đảo lộn ngày càng tốn kém và một phần của nạn lạm phát. Có thể nhấn mạnh tới chất lượng, những đầu tư tập thể, việc sử dụng không gian; đặt ưu  tiên vào những mục tiêu mới nhằm chuẩn bị cho tương lai: hiện đại hóa hệ thống giáo dục, cải tiến việc đưa ra các quyết định ở trình độ cộng đồng và địa phương, biến đổi triệt để những điều kiện lao động, phục hồi phẩm giá của lao động chân tay, phát triển các chương trình nhằm duy trì mức tiền công, tăng thêm trách nhiệm của những sự phục vụ công cộng cho các công dân và những phục vụ riêng cho người tiêu dùng.

Bối cảnh và lịch sử của mỗi quốc gia châu Âu là một tiềm năng kinh nghiệm và tài năng to lớn. Phải coi đó là một chủ bài để tiến hành thật tốt những nhiệm vụ đang rơi vào các quốc gia châu Âu. Sự phụ thuộc lẫn nhau buộc chúng phải đương đầu vấn đề khó khăn là sự thống nhất. Lý tưởng một châu Âu thống nhất từ lâu đã góp phần làm sống dậy ước muốn vượt qua những hình thức cai quản cũ đang có hiệu lực trong các quốc gia. Khốn thay, những người chủ trương thống nhất đang nhìn thấy những hy vọng của họ bị tan vỡ trước trở ngại quyền lực trung ương của mỗi quốc gia, chính quyền lực này đang làm tăng thêm cuộc khủng hoảng hiện thời. Ước mơ của họ dường như không thể nào thực hiện được trong ngắn hạn. Nhưng chúng ta phải tin vào châu Âu, vào mỗi nước ở đó và chúc họ vượt qua được những giới hạn của mình. Liệu có thể làm được điều đó, bất chấp những sức ép hiện thời, không? Thật khó trả lời. Nhưng châu Âu đang được thực sự thông hiểu rộng lớn nhất từ hai thành viên khác của ủy ban Ba bên, Mỹ và Nhật Bản, những nước này hoàn toàn hiểu rõ những khó khăn cũng như mong muốn vượt qua những khó khăn ấy của đồng minh của mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần III


Lạm phát

Lạm phát là hậu quả trực tiếp của những khó khăn gặp phải trong việc cai quản của các chế độ dân chủ phương Tây. Khi một xã hội không còn có những phương tiện để vượt lên những căng thẳng do sự phát triển tạo ra nữa, thì có xu hướng chấp nhận lạm phát, vì lúc đó lạm phát có vẻ như giải pháp ít nặng nề nhất. Nhưng lạm phát tự bản thân nó là nguồn gốc của những rối loạn làm cho các xung đột trở thành gay gắt và giảm bớt những khả năng hành động của các nhóm và các xã hội. Vì thế, chúng tôi sẽ phân tích nó một cách ngắn gọn như một biến số phụ thuộc, một nguyên nhân bổ sung của những đảo lộn xã hội (…).

Trong một thời gian nhất định, nạn lạm phát to lớn mà chúng ta từng biết đã chấp nhận, bất chấp những hậu quả đáng lo ngại của nó đối với những điều kiện xã hội – kinh tế của dân cư. Những sự vận hành dửng dưng của nó ngăn cản những lời ta thán được biểu hiện cụ thể. Hơn nữa, các nhóm ta thán nhiều nhất nói chung cũng là những nhóm rút được món lợi lớn nhất từ tình huống này (…). Các chính phủ dường như bất lực trong việc thuyết phục những nhóm chiếm giữ những vị trí chiến lược chấp nhận một số hy sinh nào đó. Sự thống nhất châu Âu cũng không phải là một sự cứu thoát lớn, vì một chính phủ dể dàng đổ và cho thế giới bên ngoài phải chịu trách nhiệm về những chỗ yếu riêng của nó. Nói chung, chính sách kinh tế đối ngoại của các nước châu Âu đang thiếu sự phối hợp và có vẻ khá hỗn loạn (…).

Xét đến cùng, lạm phát và chị em sinh đôi của nó là suy thoái, do làm trầm trọng thêm những vấn đề quản trị, đang buộc mỗi nước phải giải quyết chúng. Như vậy, vấn đề được đặt ra là thế này: các nước châu Âu liệu có sẵn sàng đáp lại thách thức do hoàn cảnh mới đưa ra không, và vào lúc khủng khoảng, liệu có tìm ra được những phương tiện thể chế mà họ đã không thể tạo ra vào thời kỳ phồn thịnh không? (…)

Ảnh hưởng của những biến đổi xã hội, kinh tế và văn hóa đối với những nền tảng của tính hợp lý và những tín niệm chính trị căn bản

(…) Trước kia, các quá trình dân chủ dựa vào những chia tách của các nhóm và các giai cấp, vào tình trạng Uy quyền đã được tôn trọng. Người ta coi uy quyền là cần thiết để duy trì trật tự, nhưng đồng thời người ta bác bỏ nó vì nó đe dọa tự do. Mô hình ấy đã không trụ được trong cuộc chiến đấu để có những biến đổi của các cấu trúc mà trước đây thường phá bỏ những chướng ngại đi. Lúc đó người ta lao vào một cuộc đua nhau vượt quá những giới hạn truyền thống và xóa bỏ những khoảng cách từng bảo vệ cho uy quyền đã thiết lập. Do đó mà có một mâu thuẫn sâu sắc. Các cá nhân muốn thí nghiệm những cách làm khác nhau hoặc buộc phải làm như vậy, nhưng họ không thể chịu nổi những căng thẳng do các các làm đó tạo nên. Vì họ không thể chịu đựng hơn nữa uy quyền đã từng là nhân tố điều tiết và áp đặt trật tự, nên họ bị mắc vào vòng luẩn quẩn. Quá trình này không dạy cho người ta gì nhiều. Còn uy quyền thì lại nấp sau những liên hệ công cộng và tính phức hợp, nhưng nó không trở nên dễ tổn thương hơn vì nó không mạo hiểm đòi thực hiện các quyền của nó. Tính dễ tổn thương của nó càng lớn, thì sự đe dọa của các nhóm sức ép càng tăng lên. Những khả năng hành động tìm thấy lại tính hợp thức của nó.

Cần phải xây dựng nhữung hệ thống mới dựa vào sự dung hòa và điều chỉnh lẫn nhau. Trên thực tế, người ta đang học cách đương đầu với những căng thẳng và những đảo lộn do chúng gây ra, khốn thay, điều đó chỉ xảy tới khi người ta không còn trông cậy vào lạm phát được nữa. Trái lại, chẳng có gì xảy ra trên bình diện các giá trị và niềm tin căn bản. Ta hãy tỏ ra lạc quan và hy vọng rằng hành động sẽ làm nảy sinh những niềm tin mới, tức là hãy để cho mọi người học những kinh nghiệm riêng của mình thay vì bắt họ tuân theo những động cơ đã có. Kiểu học này có thể đi đôi với hệ thống những niềm tin căn bản, dù rằng nó đòi hỏi phải định hướng lại khái niệm tự do, “tự do của” phải trở thành “tự do vì” cũng như phải mở rộng những giới hạn chật hẹp của chủ nghĩa bình quân truyền thống. Nếu không học được điều đó một cách nhanh chóng, thì khủng hoảng và suy thoái sẽ đe dọa chúng ta.

Những nguy cơ của sự suy thoái xã hội và kinh tế

Châu Âu phương Tây đã từng trải qua thời kỳ suy thoái bi thảm, khi thế giới lộn xộn và sôi sục sau Chiến tranh thế giới thứ nhất không thể vượt qua những căng thẳng của nó, nhất là sự suy thoái, nên đã muốn thỏa mãn nhu cầu cần có trật tự của nó bằng cách phó mặc cho chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã. Người ta có thể coi chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã như một sự quay trở lại về với những hình thức độc tài trước đây nhằm khôi phục hoặc áp đặt một trật tự cần thiết. Điều đó là do một biến đổi đột ngột của những ứng xử, để cho những gì gần nhất của quá khứ sống lại.

Mỗi thử thách thuộc loại đó liệu có đe dọa châu Âu một lần nữa không? Có lẽ không. Ít ra cũng không phải theo lối đó hoặc theo hướng đó. Trong số những niềm tin cơ sở hiện thời, chẳng có niềm tin nào có thể bảo vệ được một hệ tư tưởng như vậy nữa. Sự quyết tâm, ý thức về sứ mệnh phải thực hiện sự hy sinh bản thân để phục hồi một trật tự đạo đức đã biến mất, cũng như mong muốn đấu tranh cho chủ nghĩa tư bản và kinh doanh tự do, tất cả những điều đó đều không có. Do đó, thật vô ích vì sợ một hành động bạo lực của phái hữu phản động. Như sự suy thoái lại có thể đến từ phái tả, và như vậy vì hai lý do bác bỏ nhau. Trước hết, các đảng cộng sản đang ngày càng tỏ ra là những đảng của trật tự, mà chỉ có những lãnh tụ của họ mới có thể đưa người ta vào cuộc. Sau nữa, từ lâu rồi vẫn có một xu hướng mạnh mẽ nhằm phát triển chủ nghĩa xã hội Nhà nước và sự quản lý, một giải pháp tạo thuận lợi cho việc cai quản cái không thể kiểm soát được. Những sự khẳng định ấy có vẻ nghịch lý. Nói chung, các đảng cộng sản đã mất đi cùng một lúc mảnh đất cũng như tính gây hấn của họ phần nào ở khắp Tây Âu. Sự trình bày về hệ tư tưởng của họ đã khác đi nhiều: nó giống nhiều hơn với sự trình bày của một Giáo hội rơi vào thói thủ cựu, mà sự hấp dẫn của nó đã mất đi, ít ra một phần.

Làm sa những đảng hiền lành như vậy, ôn hòa như vậy lại có thể đe dọa chế độ dân chủ đúng vào lúc họ bắt đầu tôn trọng những nguyên tắc cốt yếu của nó kia chứ?

Sức mạnh của các đảng cộng sản châu Âu hiện không nằm ở sự hấp dẫn cách mạng hoặc ở những khả năng tranh cử của họ, tuy rằng những yếu tố này không thể bị coi nhẹ. Tính ưu việt của họ chỉ là tính ưu việt về tổ chức. Đó là những thể chế duy nhất ở châu Âu phương Tây chưa nghi ngờ đối với uy quyền, trong đó việc truyền các mệnh lệnh – tuy thô sơ nhưng có hiệu quả – còn cho phép điều khiển một lực lượng cộng tác ngoan ngoãn, lại vừa có khả năng đưa ra những quyết định phức tạp và nhanh chóng thích nghi với thực tế. Trong các đảng cộng sản, “hàng hóa có thể được giao kịp thời”. Trong trường hợp chậm trễ, người ta sẽ biết ngay và sẽ tính đến điều đó.

Có thể có một chủ nghĩa độc tài đang chi phối trong các đảng này, và môi trường khép rất kín để giữ đảng viên của họ trong đó đã làm hại cho sự mở rộng của họ. Nhưng, với cái giá này, cỗ máy vẫn giữ được một hiệu quả đặc biệt và tính ưu việt của nó không ngừng tăng lên, trong khi các thể chế khác ở châu Âu dần dần tan rã. Hiện nay, không có những thể chế nào khác, cũng không có một chức năng công cộng nào có thể so sánh được với các đảng cộng sản về mặt này. Đúng là chừng nào vấn đề trật tự chưa được đặt ra như một vấn đề then chốt, thì các đảng cộng sản vẫn còn đứng ngoài cuộc chơi. Nhưng nếu như tiếp theo một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng hơn như chúng ta đang trải qua, lại có một thời kỳ hỗn loạn kéo dài, thì liệu họ có thể đem lại một giải pháp quyết định không? Theo truyền thống, phần lớn các nước châu Âu thường bù lại chỗ yếu trong hệ thống chính trị của chúng bằng việc tăng cường kiểm soát của Nhà nước và bộ máy quan liêu. Tuy rằng, theo những cuộc thăm dò và điều tra, bộ máy quan liêu bị đa số những người được phỏng vấn phỉ nhổ, nhưng bộ máy này vẫn là một giải pháp tự nhiên thường được sử dụng để giải quyết tất cả các vấn đề. Điều đó là đặc biệt đúng ở Pháp và Anh, nhưng cũng đúng cả với những nước nhỏ và ở Đức. Đúng là nước Đức đã giữ được những khoảng cách với chủ nghĩa xã hội Nhà nước, nhưng nó vẫn có một sự tôn trọng rõ ràng đối với truyền thống này. Ở một số nước châu Âu, ý tưởng về quốc hữu hóa đã lấy lại sức sống của nó sau nhiều năm bị mất lòng tin và quên lãng. Trong thời kỳ hỗn loạn chính trị và suy thoái kinh tế, nó có thể lại xuất hiện như một phương sách cứu vãn cuối cùng, cho phép duy trì việc làm và phân phối những hy sinh một cách công bằng. Chắc chắn những người cộng sản là những người được chuẩn bị tốt nhất cho việc quản trị tình huống lộn xộn do việc quốc hữu hóa tạo ra và thiết lập lại trật tự trong những tổ chức không có sự lãnh đạo. Như vậy, các đảng này sẽ thắng nhưng là trong trường hợp không thể khác hơn được, vì họ sẽ là những người duy nhất có thể lấp khoảng trống.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần II


Những thể chế khác cũng bị đụng tới, dù ở một mức độ ít hơn, bởi sự sụp đổ của uy quyền đạo đức. Quân đội chẳng hạn, trước kia là một trường học kỷ luật, cũng như từng là biểu tượng và hiện thân của những giá trị yêu nước, đã mất đi sự hấp dẫn đạo đức và tâm lý cũ. Đúng là người ta đang phải trao nền quốc phòng cho một quân đội nhà nghề, còn một quân đội quốc gia dựa vào nghĩa vụ quân sự, nơi đào tạo đối với công dân và mô hình uy quyền, thì đang dần mất đi. Nó chẳng có gì để đề xướng nữa và đang bị đẩy lùi xa khỏi dòng chảy lớn của những liên hệ con người. Thế là một thành trì đạo đức khác của xã hội phương Tây đang từ từ tan rã (…).

Sự yếu ớt của các thể chế dẫn tới những hậu quả quan trọng. Một mặt, việc đưa giai cấp công nhân vào trò chơi xã hội chỉ mang tính chất cục bộ, nhất là ở các nước Mỹ Latin và ở Pháp. Mặt khác, các tổ chức và những người thừa hành có gốc gác từ giai cấp trung lưu đang là một sức mạnh bảo thủ có tác dụng làm tê liệt người ta.

Tình trạng không hội nhập của giai cấp công nhân đang gây trở ngại cho những cuộc thương lượng trực tiếp và cho sự thông cảm lẫn nhau giữa các đối tác xã hội, khiến cho doanh nghiệp châu Âu dễ bị tổn thương hơn. Nguồn gốc của tình trạng không hội nhập ấy là việc từ chối thực hiện những nhiệm vụ thấp hèn và được trả công ít, mà người ta thấy phổ biến ở lớp trẻ. Để giải quyết vấn đề sức lao động, các doanh nghiệp phải trông cậy vào sự di cư lao động từ Nam Âu và Bắc Phi. Nhưng chính sách này, tuy đã thành công lớn và cho phép công nghiệp châu Âu phát triển trong những năm bùng nổ, đã tạo ra những khó khăn mới trong đời sống cộng đồng của các công dân. Và dần dần, hiện lên một nhân tố bất ổn khác, do những người lao động nước ngoài đặt lại vấn đề về vị trí của họ trong hệ thống kinh tế và xã hội, cũng như về phạm vi những khả năng mở ra cho họ (…).

Khủng hoảng của giới trí thức

Giới trí thức cũng là một nguồn quan trọng đưa tới những đảo lộn cho các xã hội phương Tây. Daniel Bell đã nhấn mạnh đúng đắn tới vai trò căn bản của văn hóa vào cuối buổi bình minh của các xã hội hậu công nghiệp. Tri thức có xu hướng trở thành của cải chủ yếu đối với loài người. Những người trí thức, với tư cách một nhóm xã hội, đang tiến lên tuyến đầu của những cuộc chiến đấu xã hội – chính trị, và những liên hệ của họ với xã hội đang biến đổi căn bản (…).

Thành tố đầu tiên của cuộc khủng hoảng này trước hết là một vấn đề về số lượng. Sự ra đời của xã hội hậu công nghiệp đòi hỏi một sự tăng thêm nhiều con số những trí thức, những trí thức tương lai và những người “cận trí thức” (para intellectuels). Không những các nghề nghiệp trí thức hiện có đang phát triển, mà nhiều nghề nghiệp mới cũng như nhiều hoạt động vốn không phải là trí thức nhưgn đang trở thành trí thức cũng được tạo ra. Tuy nhiên, con số trí thức càng tăng lên, thì uy tín xã hội của họ càng giảm đi. Chúng ta đang đứng trước nghịch lý này: một nghề nghiệp càng có vẻ cần thiết một cách căn bản, thì uy tín và ảnh hưởng của người nào không thuộc về nó một cách thật hiển nhiên – với tư cách cá nhân – càng nhỏ. Vấn đề này chắc sẽ không được đặt ra nếu sự xã hội hóa và các cơ chế truyền thụ ăn khớp với trạng thái mới của sự vật. Nhưng giáo dục lại vẫn tiếp tục nằm trong khuôn khổ đạo đức quý tộc truyền thống dựa trên uy tín, và mọi người lầm tưởng rằng cá nhân mình đang tham gia một tập hợp hoạt động và liên hệ với thế giới bên ngoài không còn tồn tại nữa. Ngoài ra, những hành vi ngày càng thủ cựu của mỗi người nhằm thăng tiến và hiện đại hóa vai trò của mình đang đưa tới những hiệu quả kết hợp gần bằng không (…).

Những phương tiện truyền thông đại chúng

Tính dễ tổn thương của thế giới văn hóa và tầm quan trọng của nó đối với toàn bộ xã hội là do vị trí trung tâm mà nó chiếm giữ được trong hai hệ thống nhỏ cốt yếu trong thời đại chúng ta: giáo dục và những phương tiện truyền thông.

Giáo dục cho thấy vài ví dụ về những mâu thuẫn mà thế giới hiện thời đang gánh chịu. Uy tín của giáo viên và giáo sư thì giảm đi, nhưng con số của họ lại tăng lên nhiều, còn những hy vọng của họ vẫn mang màu sắc truyền thống tự do. Chính họ, hơn những người trí thức khác, đang phải đương đầu trực tiếp với cuộc cách mạng, sẽ làm đảo lộn những liên hệ con người, đồng thời làm suy yếu những phương tiện kiểm soát truyền thống của họ. Song song với điều đó, những thay đổi về mặt văn hóa đã làm biến mất sự hướng dẫn đạo đức có tác dụng kích thích mà xã hội cần có. Vì vậy, sự truyền thụ những chuẩn mực xã hội, chính trị và văn hóa đã bị rối loạn sâu sắc và sự rối loạn ấy đã mở rộng ra toàn bộ xã hội. Các nghiên cứu cho thấy rõ quy mô của những rạn nứt và sự lạc hướng đang chiếm ưu thế trong nhiều khu vực dân cư. Đúng là ứng xử của các cá nhân không bị ảnh hưởng, nhưng họ không thể phó thác cho một sự hợp lý hóa chặt chẽ của bối cảnh trong đó họ đang sống, và họ cảm thấy bị lạc đường khi họ muốn dấn mình vào xã hội. Cuộc cách mạng vô chính phủ, tình trạng bị đẩy ra lề và bị tha hóa đang tăng lên một cách nguy hiểm là do sự trống rỗng thí thức này mà có.

Đúng là cuộc khủng hoảng của những phương tiện truyền thông đại chúng không sâu sắc bằng cuộc khủng hoảng của giáo dục. Nhưng nó đang tồn tại, do sự bùng nổ và phổ biến thông tin cũng như do việc áp dụng những giá trị mới do trí thức đề xướng. Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với chính trị và đối với các chính phủ là trực tiếp hơn ảnh hưởng của giáo dục nhiều. Chúng tham gia một cách quyết định vào những biến đổi hiện thời bằng cách làm cho các chướng ngại cấm đoán thông tin bị hạ xuống dễ dàng hơn.

Như vậy, chúng góp phần vào việc làm rối loạn các cơ chế kiểm soát. Truyền hình đã đóng góp một vai trò hàng đầu vì nó làm cho không thể duy trì được tình trạng manh mún văn hóa và lối tổ chức đẳng cấp cần thiết cho hoạt động có hiệu quả của những phương tiện kiểm soát cũ. Với một tác động mới mẻ ở châu Âu hơn ở Mỹ và Nhật, nó đang vấp phải nhiều trở ngại hơn; với những khả năng chống cự của các xã hội bị chia nhỏ và bị phân tầng. Việc sử dụng nó cũng khác nhau nhiều tùy theo các tầng lớp hay giai cấp xã hội. Tuy nhiên, nó có một sức hấp dẫn đến mức công chúng và đời sống xã hội bị biến đổi sâu sắc. Cuối cùng, nó đã góp phần vào sự cải tổ báo chí viết. Tất nhiên, sức mạnh cảu những biến đổi là ở tính chất nhìn thấy được của thông tin. Chỉ tin tức nào có thể nhìn thấy mới là tin tức thật. Do đó, các nhà báo – những người canh giữ một chiều kích căn bản của đời sống công cộng – có một sứ mệnh hàng đầu để thực hiện.

Các phương tiện truyền thông đã trở thành một quyền lực tự chủ. Nói tới quyền lực thứ tư, không phải là điều gì mới mẻ. Nhưng từ nay chúng ta chứng kiến một bước ngoặt quyết định: nghề này có xu hướng tự điều tiết và chống lại những sức ép của những lợi ích tài chính và chính phủ. Ngành truyền hình bị đặt dưới quyền kiểm soát của chính phủ của nó đang tăng lên ở nhiều nước, đó là một dấu hiệu tiến bộ quan trọng. Trái lại, các cơ chế điều tiết tự chủ do các phương tiện truyền thông thiết lập dễ đi tới thiếu tính khách quan. Bằng cách tạo ra thông tin, các nhà báo gây một tác động tới đời sống công cộng và xã hội. Hơn nữa, mục đích của họ là tranh thủ công chúng ngày càng rộng lớn càng tốt; do đó họ có xu hướng gây ảnh hưởng tới hoạt động xã hội một cách chủ quan và thiên vị, trong khi những người làm công vụ, thay vì theo đuổi những tiêu hiện thực, lại phải hành động theo công chúng đó. Điều đó bao hàm một số hậu quả. Trước hết, các phương tiện truyền thông đã trở thành một cái hộp cộng hưởng khổng lề khuếch đại tất cả những khó khăn, tất cả những mối căng thẳng xã hội. Các phong trào và các thứ mốt vì thế đã giành được những mức độ rộng lớn hơn nhiều. Hiện nay, ngày càng khó thoát ra khỏi cơn lốc xoáy của những liên hệ công cộng để tập trung vào những vấn đề cốt yếu. Vả chăng, các phương tiện truyền thông đang lấy mất của chính phủ và, ở một mức độ nào đó, của các giới chức trách khác, cả thời gian, cả sự thông hiểu và cả sự tin cậy cần thiết cho sự cách tân và thử nghiệm. Ngoài ra, sức ép của các phương tiện truyền thông không tạo thuận lợi cho việc giải quyết một vấn đề quan trọng của xã hội hiện đại chúng ta, vấn đề được biết dưới cái tên “hiệu ứng phản trực giác” (effect contres-intuitif). Các hệ thống thường hoạt động theo lối kết quả chung của một hành động cá nhân đi ngược với mong muốn của những người thực hiện nó, và cũng đi ngược với trực giác mà họ có thể có trước đó. Vì thế, cần coi trọng những phân tích phương pháp hơn là những quan điểm trực tiếp của cá nhân, vì những quan điểm này là một yếu tố tạo nên tính thiên vị của các phương tiện truyền thông. Hộp cộng hưởng càng khuếch đại phần xúc cảm trong “kinh nghiệm sống” của mỗi người bao nhiêu, thì lại càng dễ đi tới một sự phân tích chủ quan về trò chơi phức tạp của các thủ lĩnh chính trị bấy nhiêu. Cuối cùng, cái lối nhấn mạnh tới những điều hiển nhiên cũng dễ bị uốn nắn và che đậy hệ tư tưởng giống như lối hùng biện. Tính tự chủ của các nhà báo không nhất thiết đưa tới sự thật hay tính minh bạch; nó cũng có thể làm biến dạng việc nhận thức hiện thực.

Vấn đề này có liên quan đặc biệt hơn tới các nhà báo – trí thức, những người này thường gắn bó với một số gái trị. Vì muốn thu hút sự chú ý của công chúng, họ để cho trò chơi này cuốn theo và, do đó, họ chịu trách nhiệm về những biến dổi về mặt văn hóa. Về lâu dài, vấn đề này có thể trở nên nghiêm trọng hơn nhiều so với vấn đề can thiệp của tư bản và chính phủ vào các phương tiện truyền thông, sự can thiệp này hiện nay có xu hướng giảm đi phần nào ở khắp nơi (…).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Lý do Bắc Kinh chưa xử lý biểu tình ở Hong Kong


Việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vừa cảnh báo bất cứ nỗ lực nào nhằm chia rẽ Trung Quốc cũng sẽ bị đập tan một lần nữa làm dấy lên câu hỏi liệu Bắc Kinh có nghiền nát người biểu tình ở Hong Kong hay không. Thật ra chẳng cần Tập Cận Bình phải đe dọa thì câu hỏi này đã luôn lẩn khuất trong tâm chí của cả người biểu tình Hong Kong lẫn giới quan sát.

Cuộc biểu tình kéo dài đã hơn 4 tháng qua từ chỗ phản đối dự luật dẫn độ chuyển sang yêu cầu chính quyền phải thực hiện nguyên tắc phổ thông đầu phiếu ngày càng trở nên bạo lực, cảnh sát Hong Kong cũng ngày càng đàn áp mạnh tay hơn, nhưng không có dấu hiệu cho thấy những người biểu tình sẽ lùi bước. Tình hình dường như bế tắc.

Trước khi đưa ra cảnh báo nghiêm khắc này trong chuyến thăm cấp nhà nước tới Nepal hôm 13/10, Tập Cận Bình chưa hề trực tiếp nhắc đến cuộc biểu tình tại Hong Kong, vì thế lời đe dọa này được xem như một cảnh báo hiếm hoi và mạnh mẽ. Vậy người Hong Kong phản ứng với lời đe dọa này ra sao?

Tiếp tục biểu tình

Trả lời phỏng vấn của BBC News Tiếng Việt hôm 15/10, luật sư Hong Kong Wilson Leung, thành viên Nhóm luật sư tiến bộ, nói: “Tôi không nghĩ rằng cảnh báo của ông Tập Cận Bình sẽ có tác dụng răn đe đối với các cuộc biểu tình. Trong vài tháng qua, Bắc Kinh đã đưa ra nhiều lời đe dọa về việc sử dụng vũ lực, bằng cách phát tán video về các cuộc diễn tập chống bạo động của quân đội Trung Quốc và đưa ra những tuyên bố cứng rắn thông qua văn phòng đại diện tại Hong Kong và Macau. Tuy nhiên, phong trào biểu tình vẫn cứ tiếp tục. Người biểu tình giận dữ đến nỗi dù có thêm nhiều cảnh báo từ Bắc Kinh thì cũng khó có thể dập tắt tình trạng bất ổn”.

Alison Ng, 24 tuổi, một thiếu nữ Hong Kong thường xuyên tham gia biểu tình, chia sẻ tâm tư với BBC News tiếng Việt sáng 16/9: “Phát biểu này cho thế giới thấy rõ tâm địa độc ác của Chủ tịch Tập Cận Bình. Tôi đoán chắc ông ta muốn nghiền nát đàon biểu tình lắm, và nếu bưng bít được thông tin như vụ Thiên An Môn thì có lẽ ông ta đã ra tay lâu rồi”.

Về câu hỏi lời đe dọa của Tập Cận Bình có khiến người biểu tình thoái lui hay không, Alison Ng nói: “Nhiều người đã hỏi liệu cảnh báo của Tập Cận Bình có làm người biểu tình lo sợ hay không. Ai cũng nói là có thể sẽ có một Thiên An Môn thứ hai. Nếu sợ thì chúng tôi đã không biểu tình liên tục từ mấy tháng qua. Chính quyền không những đã không làm gì để đáp ứng yêu cầu chính đáng của chúng tôi mà còn ngày càng mạnh tay đàn áp như đã thấy trên phim ảnh. Cũng may là còn có truyền thông quốc tế và các trang mạng xã hội để thế giới thấy được sự thật. Và không, chúng tôi sẽ không bỏ cuộc. Chúng tôi vẫn cứ biểu tình, nhưng sẽ linh hoạt hơn trước”.

Tại phòng tin tức của người Hong Kong tại đền Quan Công, thời khóa biểu các sự kiện chống dự luật dẫn độ vẫn được cập nhật với lịch sinh hoạt từ giờ cho đến hết tháng 10.

Giới hạn đỏ trong chính trị

Cho dù lời đe dọa của Tập Cận Bình có thể khiến phong trào phản kháng bị suy yếu hay không thì câu hỏi lớn hơn được đặt ra là tại sao Bắc Kinh cho đến giờ vẫn chưa nghiền nát người biểu tình. Giới quan sát đã đưa ra những lý giải khác nhau.

Học giả Lục Cung Huệ, nhà hoạch định chính sách dưới thời Lương Chấn Anh – người tiền nhiệm của Lâm Trịnh Nguyệt Nga – và cũng là tác giả của cuốn sách “Mặt trận ngầm” chứa nhiều thông tin chi tiết về hoạt động của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Hong Kong, cho rằng việc Bắc Kinh có quyết định đàn áp hay không liên quan đến cái mà bà gọi là “giới hạn đỏ trong chính trị”.

Lục Cung Huệ giải thích: “Lằn ranh đỏ, giới hạn đỏ này trong chính trị chính là đừng bao giờ đòi hỏi độc lập. Đừng hỏi bất cứ điều gì liên quan đến độc lập. Tránh xa giới hạn đỏ này, và người Hong Kong có quyền tự chủ rất cao trong những sinh hoạt hàng ngày. Nhưng bây giờ, tình hình có vẻ đang tiến gần đến vực thẳm nguy hiểm đó”. Một vài torng số những người ủng hộ phong trào đấu tranh của người Hong Kong dường như hiểu rất rõ về điều này.

Luật sư Wilson Leung nhấn mạnh rằng yêu cầu của giới biểu tình là dân chủ và quyền tự trị chứ không phải độc lập. Ông nói: “Việc Tập Cận Bình nói về các lực lượng bên ngoài và hành động gây chia rẽ Trung Quốc cho thấy sự thiếu biểu đáng lo ngại của Bắc Kinh về các cuộc biểu tình ở Hong Kong, vốn xuất phát từ địa phương chứ không phải do lực lượng nước ngoài xúi giục và về cơ bản đòi hỏi dân chủ và quyền tự trị chứ không phải độc lập. Sự thiếu hiểu biết này có lẽ giải thích tại sao cho đến nay Bắc Kinh vẫn không thể xử lý các cuộc biểu tình. Do nhận định sai tình huống, nên Bắc Kinh không thể có một phương pháp đối phó thích hợp”.

Lo ngại hay tự tin?

Các nhà quan sát còn nhớ cuộc đàn áp người biểu tình ủng hộ dân chủ tại Quảng trường Thiên An Môn 30 năm trước lập luận rằng sẽ không tái diễn thảm kịch Thiên An Môn vì kích bản này sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Một số người cho rằng sở dĩ Bắc Kinh đang cố kiềm chế là vì lo ngại bị phương Tây lên án nếu dùng vũ lực quá đáng. Một số khác cho rằng Bắc Kinh lo ngại cuộc đàn áp sẽ làm hỏng vai trò của Hong Kong là một trung tâm tài chính của Trung Quốc.

Tác giả Andrew Nathan, trong bài phân tích cái nhìn của Trung Quốc về sự bất ổn của Hong Kong trên trang Foreign Affairs, nói rằng sở dĩ Bắc Kinh không thẳng tay đàn áp người biểu tình là vì họ tự tin chứ không phải vì lo ngại. Trích lời hai học giả Trung Quốc có mối liên hệ với những người trong chế độ, Andrew Nathan giải thích rằng Chính quyền Hong Kong do một nhánh hành pháp chịu sự chi phối của giới tinh hoa ủng hộ Bắc Kinh điều hành.

Theo hai học giả Trung Quốc này, Bắc Kinh tự tin là vì nhiều yếu tố.

Thứ nhất, ĐCSTQ từ lâu đã nuôi dưỡng giới tinh hoa kinh doanh tại Hong Kong bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong hoạt động kinh tế tại Đại lục. ĐCSTQ vẫn để một số cán bộ trung thành từ lâu hoạt động bí mật tại Hong Kong. Trung Quốc cũng đã củng cố mối quan hệ với phong trào lao động Hong Kong cũng như một số tội phạm ngầm.

Thêm vào đó, Bắc Kinh tin rằng người dân Hong Kong bất mãn không phải vì lý do chính trị mà do vấn đề kinh tế, đặc biệt là sự kết hợp giữa mức thu nhập trì trệ và tiền thuê nhà tăng với tốc độ chóng mặt.

Cuối cùng, lãnh đạo Trung Quốc cho rằng việc giới thượng lưu Hong Kong không ủng hộ người biểu tình, trong khi đó những người dân thường ở Hong Kong sợ thay đổi sẽ mệt mỏi vì bất ổn kéo dài sẽ khiến các cuộc biểu tình mất dần đi sự ủng hộ củ công chúng và cuối cùng sẽ chấm dứt. Hai học giả Trung Quốc cho rằng sự tự tin này sẽ khiến Bắc Kinh yên tâm để cho phong trào đấu tranh suy yếu dần, thay vì có những hành đông khiến thế giới lên án.

Tập Cận Bình suy tính gì?

Lời đe dọa sẽ “nghiền thành bột” những ai muốn chia rẽ Trung Quốc mà Tập Cận Bình đưa ra hôm 13/10 có thể đã khiến một số người ngạc nhiên. Theo trang Foreign Affairs, trước đó khoảng một tháng, trong bài diễn văn trước các đảng viên trẻ ưu tú, tại Trường Đảng Trung ương ở Bắc Kinh ông Tập bác bỏ đề nghị của một số quan chức cho rằng Trung Quốc nên tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở Hong Kong và đưa Quân giải phóng nhân dân tới để dẹp loạn. Foreign Affairs trích lời Tập Cận Bình: “Điều đó sẽ đưa chúng ta vào một con đường chính trị không thể quay đầu lại. Chính quyền trung ương sẽ hết sức kiên nhẫn, kiềm chế và để cho chính quyền khu vực và lực lượng cảnh sát địa phương giải quyết cuộc khủng hoảng”.

Trong một lần nói chuyện khác, Tập Cận Bình đã nói: “Phát triển kinh tế là chìa khóa vàng duy nhất để giải quyết tất cả các vấn đề chúng ta phải đối mặt ở Hong Kong hiện nay”.

Kinh tế rõ ràng là lĩnh vực Trung Quốc đang tập trung mọi nỗ lực với hy vọng giải quyết vấn đề nan giải ở Hong Kong.

Diễn văn thường niên của Trưởng đặc khu Hong Kong Lâm Trịnh Nguyệt Nga được phát tán qua video hôm 16/10 sau khi phiên họp của Hội đồng Lập pháp bị đình chỉ tập trung vào tình trạng bất bình đẳng xã hội và kinh tế sâu sắc tại đây, cam kết đưa ra các chính sách phúc lợi tốt hơn và tăng đáng kể số lượng nhà cho thuê với giá rẻ. Lâm Trịnh Nguyệt Nga khẳng định: “Mọi người dân Hong Kong và thân nhân sẽ không còn lo lắng hay bận tâm về vấn đề nhà ở, và họ sẽ có thể có một căn hộ riêng ở Hong Kong, thành phố của tất cả chúng ta”. Đề xuất chính của Lâm Trịnh Nguyệt Nga là tái phát triển khoảng 700 hecta đất tư nhân chưa sử dụng làm nhà ở công cộng tại khu vực phía Bắc của thành phố.

Giá nhà tại Hong Kong tăng gấp ba lần trong thập kỷ qua. Hiện nay, giá trung bình của một căn hộ cao hơn gấp 20 lần so với tổng thu nhập trung bình hàng năm của một hộ gia đình. Giá thuê trung bình đã tăng gần 25% trong 6 năm qua. Có tới 250.000 người đang chờ được cấp nhà ở công cộng. Đồng thời, tăng trưởng thu nhập của nhiều cư dân Hong Kong đã giảm xuống dưới mức tăng chung của chi phí sinh hoạt.

Theo một báo cáo chung của Bank of America và Merrill Lynch, phần lớn các lĩnh vực công nghiệp và bất động sản của Hong Kong chịu sự chi phối của một số tập đoàn kinh doanh của các gia đình đại gia. Những tập đoàn này đã tích lũy được khoảng 9 triệu m2 đất dự trữ, còn lại phần lớn là đất nông nghiệp.

Vào trung tuần tháng 9, sau bài diễn văn của Tập Cận Bình tại Trường Đảng Trung ương, tờ Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ, đã đăng một bài bình luận dài thể hiện sự tán thành đối với đề xuất chiếm dụng đất tư nhân ở Hong Kong cho mục đích xây nhà ở công cộng. Kết quả của bài bình luận là tập đoàn New World Development của Hong Kong tuyên bố rằng họ sẽ tặng khoảng 279.000 m2 đất để xây dựng nhà ở công cộng. Sun Hung Kai Properties, một tập đoàn khác của Hong Kong, cho biết họ sẽ hợp tác với chính quyền trong việc thực hiện các sáng kiến xây dựng nhà ở giá rẻ, nhưng chỉ trên các mảnh đất nông thôn đã được khoanh vùng cho dự án nhà ở được chính quyền trợ cấp.

Bất chấp những lời đe dọa cứng rắn phải chăng hướng đi của Tập Cận Bình là giải quyết những vấn đề kinh tế mà ông cho là đã khiến người dân Hong Kong bất mãn, thay vì thẳng tay đàn áp họ? Người lạc quan có quyền hy vọng. Trong khi đó, các nhà lập pháp và các nhà hoạt động dân chủ nổi tiếng hôm 16/10 nói rằng bài diễn văn của Lâm Trịnh Nguyệt Nga không giải quyết được các vấn đề cơ quản trong yêu cầu của người biểu tình và họ sẽ tiếp tục đấu tranh.

Nguồn: BBC – 18/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019