Con sông – Phần VI


Một cách khác để giảm tần suất và quy mô của bong bóng tài chính là hạn chế số lượng tiền sẵn có bơm vào bong bóng. Nguồn tiền từ nước ngoài đã góp phần vào khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990 và bong bóng nhà ở Mỹ, nên cùng với chính sách kiểm soát ngành tài chính, đã có những đề xuất hạn chế dòng vốn di chuyển xuyên biên giới ở cấp độ quốc gia. Kiểm soát dòng vốn là biện pháp quen thuộc hồi kỷ nguyên hội nhập kinh tế thế giới thứ hai từ năm 1945 đến 1990, thời vốn bị coi là một loại thuốc cần kê đơn: với liều lượng phù hợp nó có thể cứu mạng người, nhưng nếu dùng quá liều thì sẽ hết sức nguy hiểm. Mặc dù sau năm 1990 có sức ép đòi giải phóng nguồn vốn, nhưng nhiều nước không thuộc bộ ba phương Tây vẫn duy trì quy định kiểm soát.

Khác với rào cản thương mại, kiểm soát dòng vốn không bị các nhà kinh tế học đồng loạt phản đối. Nguyên tắc lợi thế cạnh tranh của David Ricardo, với hàm ý can thiệp chính trị vào thương mại sẽ làm giảm tổng phúc lợi của các bên, lại không phù hợp với dòng vốn quốc tế. Vì quá nhiều tiền có thể phá hủy nền kinh tế, các can thiệp chính trị cản trở dòng vốn có khi lại làm các nước giàu mạnh hơn bằng cách tránh để chúng rơi vào tình trạng xấu.

Chính sách kiểm soát dòng vốn đóng vai trò ngăn không cho bong bóng tài chính hủy diệt hình thành lần nữa, nhưng cũng như các quy định kiểm soát ngành tài chính, nó cũng có nhược điểm. Nếu một số nước áp dụng biện pháp chặt hơn thì dòng vốn lớn nguy hiểm đơn giản là sẽ bị đẩy chệch sang các nước khác, những nơi có chính sách theo hướng lạc quan chứ không phải ngăn chặn. Ở đây, một lần nữa, việc thiếu vắng những quy định ở quy mô toàn cầu đã gây ra sự khác biệt.

Hơn nữa, kiểm soát vốn còn làm giảm tăng trưởng kinh tế. Có bằng chứng thuyết phục cho thấy ở trạng thái cân bằng thì nước nào nhận được nhiều vốn hơn sẽ thịnh vượng hơn. Vì vậy, cho dù có nguy cơ đe dọa nhưng trong tương lai, các quốc gia sẽ tiếp tục cạnh tranh để thu hút vốn nước ngoài như trước kia, thay vì cản trở nó; tương tự như việc họ vẫn luôn cạnh tranh để thu hút thêm nhiều công ty tài chính đến hoạt động trong nước mình.

Thêm nữa, giống như hạn chế nhập khẩu dịch vụ từ nước ngoài, thực thi kiểm soát dòng vốn cũng không dễ. Trong thời đại giao tiếp toàn cầu tức thời này, tiền tồn tại dưới cả dạng điện tử, có thể gửi vòng quanh thế giới chỉ bằng một cú kích chuột máy tính thì hạn chế dòng lưu thông vốn, nếu có thể, là việc cũng không dễ dàng.

Bong bóng có thể hình thành ở bất cứ đâu, nhưng lý do chính khiến bong bóng bất động sản khổng lồ xuất hiện ở Mỹ là vì Mỹ nhận được dòng vốn nước ngoài khổng lồ do mất cân đối tài chính quốc tế. Mỹ có thâm hụt tài khoản vãng lai rất lớn, tiết kiệm ít hơn đầu tư, tiêu dùng nhiều hơn sản xuất. Các nước khác lại có thặng dư lớn, và họ sử dụng một phần số thặng dư để bù đắp cho thâm hụt của Mỹ. Cứ thế cho đến khi Mỹ nhận được 70% phần thặng dư mà thế giới tiết kiệm được. Một phần số tiền này đi vào bong bóng nhà ở, gián tiếp thông qua việc giữ cho lãi suất của Mỹ luôn ở mức thấp, hoặc trực tiếp thông qua đầu tư vào các tài sản có liên quan đến bất động sản,

Nếu không tái cân đối lại thặng dư và thâm hụt của các nước, thế giới không chỉ đối mặt với rủi ro sẽ có nhiều bong bóng hơn mà còn có thể gặp phải một cú sốc kinh tế rất lớn nếu người cho vay hoảng sợ trước tình trạng thâm hụt quá lớn thường xuyên của Mỹ và từ chối tiếp tục bù đắp, hoặc nếu chính phủ Mỹ giải quyết số nợ khổng lồ bằng cách in tiền bừa bãi. Nhưng nếu ngược lại, Mỹ giảm vay nợ, nhưng các nước khác không tăng chi tiêu thì nền kinh tế thế giới sẽ bị thiếu cầu và tăng trưởng chậm lại, hoặc thậm chí không tăng trưởng nữa. Tái cân đối thặng dư và thâm hụt toàn cầu, trong đó các nước thâm hụt (quan trọng nhất là Mỹ) tiêu dùng ít đi, còn các nước thặng dư tiêu dùng nhiều hơn là việc cần thiết để chống lại những cú sốc tài chính nghiêm trọng. Một lần nữa, có thể thấy nói cho cùng đây là nhiệm vụ chính trị, và nó không hề dễ dàng.

Với Mỹ, con nợ lớn nhất thế giới thì việc quan trọng là phải giảm phụ thuộc vào đầu nhập khẩu và cắt giảm thâm hụt ngân sách. Hầu hết mọi người đều hiểu sự cấp thiết về mặt kinh tế của hai nhiệm vụ này, nhưng hệ thống chính trị Mỹ khó mà thực hiện được chúng vì một lý do rất đơn giản: cả hai đều làm nền kinh tế đau đớn. Khi giảm phụ thuộc vào đầu nhập khẩu, người tiêu dùng phải trả nhiều tiền hơn; còn khi cắt giảm thâm hụt ngân sách, những người được hưởng trợ cấp từ các chương trình cảu chính phủ sẽ nhận được ít hơn. Cả hai nhóm người – và tất nhiên đa phần người dân Mỹ là thuộc một trong hai nhóm – đều không thích các giải pháp nói trên, nên trong suốt thập niên đầu thế kỷ 21, giới chính trị gia không thể và trong bất cứ tình huống nào cũng sẽ không thắng cử được với đề xuất – chứ chưa nói đến hiện thực – những chính sách khiến người dân mất nhiều tiền hơn và được hưởng ít phúc lợi hơn. (Tăng sản xuất năng lượng trong nước – kết quả của tiến bộ công nghệ khai thác dầu và khí tự nhiên – có vẻ là giải pháp hứa hẹn giảm được sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu). Các nước thặng dư giải quyết tình trạng mất cân bằng có vẻ dễ dàng hơn vì chỉ cần người dân nước họ làm nhiều hơn cái việc mà người Mỹ đang quá tích cực, cũng là mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh tế, đó là tiêu dùng. Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, chính phủ Mỹ phải đóng vai trò lão hà tiện, còn chính phủ các nước có thặng dư thương mại phải làm như mình là ông già Noel phát quà khắp nơi. Nhưng giảm thặng dư thương mại hóa ra cũng khó không kém gì cắt giảm thâm hụt, vì nó không chỉ đơn giản là tiêu tiền. Nó đòi hỉo phải xem xét nhiều chính sách trong dài hạn, thay đổi thái độ vốn đã có gốc văn hóa và lịch sử lâu đời của mỗi nước, và vượt qua được những sức ép chính trị nặng nề.

Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế năm 2008, ba quốc gia có thặng dư thương mại lớn nhất không phải từ xuất khẩu dầu là Nhật Bản, Đức và Trung Quốc đã có hàng chục năm theo đuổi chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Họ có các ngành công nghiệp, hệ thống tài chính, chính sách kinh tế, thói quen, trình độ của người lao động và giới chủ phù hợp với việc sản xuất hàng hóa để bán ra nước ngoài. Không thể nhanh chóng, dễ dàng thay đổi tất cả những thứ đó theo hướng khuyến khích nhập khẩu, tiêu dùng trong nước nhiều hơn. Hơn nữa, ở cả ba nước, ý chí thay đổi của giới chính trị còn yếu, vì chiến lược kinh tế hướng đến xuất khẩu đã từng đem lại mức tăng trưởng ấn tượng nên các quốc gia cũng như người dân trong nước chỉ muốn thay đổi cái dở chứ không ai muốn bỏ đi cái hay.

Cả ba nước thặng dư thương mại nói trên đều có lý do – chủ yếu bắt nguồn từ chính trị – để tiếp tục con đường từng đem lại thặng dư. Xã hội Nhật Bản đang già hóa. Với mức sinh thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu lao động và chính sách an sinh xã hội không rộng rãi như châu Âu, người Nhật tự nhận thấy phải tiết kiệm, bất kể tình hình thế giới như thế nào. Xã hội Đức cũng già hóa, và người Đức thì có kiểu dè dặt khác trước yêu cầu giảm tiết kiệm, tăng chi tiêu: cả hai hành động này đều đi ngược lại giá trị lâu đời của họ. Truyền thống Đức là tiết kiệm, còn hơn cả Nhật. Từ bỏ tính tiết kiệm, chăm chỉ đã ăn sâu vào mỗi người để chuyển sang tiêu dùng, hưởng thụ rõ ràng không phải là thói quen của người Đức.

Thái độ tương tự không tồn tại ở Trung Quốc, nơi có hằng trăm triệu người tiêu dùng tiềm năng khiến đất nước có khả năng tiêu dùng hơn nhiều. Tình trạng nghèo đói còn phổ biến ở đây đã góp phần đáng kể vào thặng dư thương mại vì người nghèo không mua hàng nhập khẩu. Thặng dư của Trung Quốc tiếp tục tăng là do họ tiêu dùng một phần khá nhỏ trong tổng sản phẩm họ làm ra và đầu tư rất lớn. Và người Trung Quốc cũng rất tiết kiệm vì an sinh xã hội của họ rất hạn chế. Hệ thống an sinh xã hội ra đời từ thời Mao Trạch Đông gặp rất nhiều vấn đề và cần thời gian để thay mới.

Hệ thống chính trị Trung Quốc cũng đóng vai trò đáng kể . Doanh nghiệp thuộc các ngành xuất khẩu đã gây ảnh hưởng lên chính phủ để theo đuổi những chính sách có lợi cho họ, bao gồm (không chỉ) duy trì tỷ giá thấp. Vì vậy, nền chính trị Trung Quốc, giống như dân số Nhật Bản và truyền thống Đức, đang gây khó khăn cho việc tái cân đối nền kinh tế thế giới để giảm nguy cơ khủng hoảng tài chính sâu sắc hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Advertisements

Đã đến lúc cho Trump một bài học – Phần đầu


Ngày 5/5/2019, hai dòng tweet của Trump đã bao phủ một màu đen lên vòng đàm phán thương mại Trung – Mỹ lần thứ 11. Trump viết trên Twitter rằng từ ngày 10/5/2019, Mỹ sẽ tăng thuế đối với gói hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD, ngoài ra một lượng hàng hóa Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 324 tỷ USD khác hiện chưa bị đánh thuế, nhưng sắp tới sẽ phải chịu thuế 25%.

Vào thời điểm quan trọng của cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ, Trump viện cớ Trung Quốc thay đổi ý kiến để khiến tình hình xấu đi một cách đột ngột, động cơ thực sự của Trump là gì? Trung Quốc nên đối phó như thế nào với việc có thể bước vào một chu kỳ lâu dài “vừa chiến tranh vừa đàm phán” trong tương lai?

Động cơ thứ nhất của Trump: Tăng ngân khố quốc gia

Kể từ khi Trump lên nắm quyền, logic ngoại giao của ông rất rõ ràng, và một trong số đó đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia, đó là: phải tìm cách thu được tiền. Từ phàn nàn về việc không được trả thêm phí bảo hộ cho quân đội Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc mang lại chiếc ô bảo vệ cho nước này đến vì sao các nước khác trong NATO trả ít tiền như vậy, điều Trump coi trọng là các nước khác có thể trả thêm nhiều tiền hơn cho Mỹ.

Biểu hiện của những logic này trong thương mại chính là chính phủ phải tăng thuế nhập khẩu, cho dù đó là áp thuế thép và nhôm đối với các đồng minh hay xung đột thương mại với Trung Quốc. Các nhà kinh tế nên nói với các nhà hoạch định chính sách rằng tác động từ việc tăng thuế sẽ có hai mặt, có người được hưởng lợi và có người chịu tổn thất. Các ngành được bảo hộ thì được hưởng lợi, nhà nước được hưởng lợi từ việc áp thuế bổ sung (thuế đặc biệt), trong khi người mua các sản phẩm liên quan (người tiêu dùng) thì chịu thiệt hại. Đối với một quốc gia, lợi ích mà nhà nước và các ngành thu được từ việc tăng thuế luôn nhỏ hơn tổn thất mà người dân phải chịu. Nhưng “nhà nước” của Trump rõ ràng không có “nhân dân”, chỉ cần kho bạc nhà nước tăng thu, còn những thứ khác thì không quan tâm. Vì vậy, logic của Trump là: Tại sao phải sớm kết thúc xung đột thương mại để làm gián đoạn nguồn thu cho kho bạc nhà nước này? Vẫn có thể tiếp tục thu tiền, thì phải tiếp tục thu tiền!

Động cơ thứ hai: Tạo ra tiền bạc

Kể từ khi lên nắm quyền, Trump luôn “nghĩ ra chuyện” vào những thời điểm quan trọng để tìm cách “kiếm tiền”. Trong mắt ông, một yếu tố quan trọng của cuộc đàm phán là tạo ra cơ hội thu lợi, như vậy khi bạn trở về thời điểm ban đầu, đối phương sẽ cảm thấy rằng bạn đã nhượng bộ, nhưng thực tế là bạn không làm gì cả.

Trước chuyến thăm Trung Quốc tháng 11/2017, Trump từng có những phát ngôn hung hăng nhằm vào Triều Tiên và vấn đề thương mại, trước cuộc gặp thượng đỉnh Kim – Trump cũng vậy. Trong các vấn đề nội bộ, Trump còn liên tục áp dụng cách làm này. Do đó, trước thời điểm quan trọng của cuộc đàm phán, Trump đương nhiên sẽ không bỏ lỡ cơ hội “kiếm tiền” này. Các cuộc đàm phán vẫn chưa kết thúc, động cơ này của Trump càng được thể hiện rõ hơn.

Động cơ thứ ba: Chuyển hướng mối quan tâm khỏi cuộc “can thiệp tư pháp”

Cuộc điều tra của Công tố viên đặc biệt Mueller đã kết thúc, nhưng vì cách trình bày và giải thích về kết quả điều tra của các bên trong nước Mỹ rất khác nhau, bản tổng kết 4 trang mà Bộ trưởng Tư pháp chuyển đến công chúng trước khi bản báo cáo điều tra hoàn chỉnh được đưa ra rõ ràng có ý đồ ủng hộ Trump, khiến người ta cảm thấy một sự che đậy lộ liễu. Theo cuộc thăm dò mới nhất của NBC/Wall Street Journal, sua khi báo cáo điều tra của Mueller được công bố, 49% số người được hỏi cho rằng Quốc hội cần phải ngay lập tức khởi động phiên điều trần luận tội, 32% cho rằng nên tiếp tục điều tra cho đến khi có đầy đủ bằng chứng mới khởi động phiên điều trần luận tội Trump. Trong vài tuần tới, có thể sẽ có nhiều cuộc thảo luận về vấn đề liệu Trump có can thiệp vào tư pháp hay không.

Một cao thủ như Trump đương nhiên không thể để vấn đề này tiếp tục âm ỉ, do đó việc chuyển hướng mối quan tâm của truyền thông và dân chúng vào cuộc đàm phán thương mại Turng – Mỹ được ông xem như là một lựa chọn tốt. Nhưng ngay cả sau khi ông cố gắng chuyển sự chú ý đó, New York Times và các phương tiện truyền thông lớn khác vẫn không chịu lép vế, tuyên bố tình hình nộp thuế của Trump trong 10 năm (từ 1985 – 1994), trong đó có những thông tin cho thấy ông không những không giàu có như tuyên bố, mà còn không phải là một doanh nhân thành công.

Ba động cơ nói trên không loại trừ nhau, mà bổ trợ cho nhau. Với hai dòng tweet, hướng nhìn của dư luận đã thực sự chuyển hướng phần nào, và dù tờ New York Times công bố tình hình thuế 10 năm qua của Trump, nhưng cùng với việc thị trường chứng khoán Mỹ liên tục giảm mạnh trong vài ngày nay, mối quan tâm của công chúng Mỹ trong những ngày này vẫn là cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ.

Về việc tạo cơ hội “kiếm tiền” liệu có thành công, Trump hoàn toàn không lo lắng, bởi vì ngya cả khi không thành công, ít nhất ông vẫn có thể tiếp tục (theo logic lệch lạc của ông) thu thuế cho kho bạc nhà nước.

Tất nhiên, với sự tùy tiện làm liều của Trump, chính sách áp thuế mới đã có hiệu lực vào 12 giờ trưa ngày 10/5 (giờ Bắc Kinh), và cho đến sáng ngày 11/5, cuộc đàm phán cấp cao thương mại Trung – Mỹ vòng thứ 11 đã kết thúc sau khi vượt qua sóng gió tăng thuế này.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn các phóng viên ở Washington, Phó Thủ tướng Lưu Hạc, cũng là lãnh đạo Trung Quốc tại cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ đã tiết lộ nhiều thông tin quan trọng, như hai bên có bất đồng và cũng có đồng thuận, nhưng đều nhất trí cho rằng cần phải tiếp tục xu thế tốt đẹp cảu cuộc đàm phán dù tạm thời còn tồn tại trở ngại, và sẽ tiếp tục thúc đẩy vòng đàm phán tiếp theo tại Bắc Kinh.

Còn tại sao bất đồng, Lưu Hạc thẳng thắn nói rằng nó liên quan đến các nguyên tắc quan trọng của quốc gia, bất kỳ quốc gia nào cũng có nguyên tắc, Trung Quốc không thể nhượng bộ về các nguyên tắc quan trọng.

Dù thế nào, đàm phán thương mại Trung – Mỹ cuối cùng cũng không bị tan vỡ như thế giới bên ngoài lo lắng. Tại vòng đàm phán này, hai bên đã làm rõ được lập trường về nhiều vấn đề, thảo luận về nội dung của vòng đàm phán tiếp theo, giải thích những phức tạp rối rắm khó tránh khỏi trong đàm phán. Ngay sau khi Mỹ áp thuế bổ sung, đoàn đại biểu Trung Quốc vẫn muốn đàm phán với Mỹ bằng thái độ tích cực, hoanh nghênh các cuộc đàm phán trong tương lại tổ chức tại Bắc Kinh, cùng tìm cách giải quyết vấn đề, tránh việc dân chúng hai nước Trung Quốc và Mỹ chịu tổn thất về lợi ích.

Tuy nhiên, đôi khi không tránh khỏi việc “mọi thứ xong xuôi chỉ thiếu một điều kiện quan trọng” và tương lai vẫn nên lạc quan. Như chuyên gia về các vấn đề Trung – Mỹ tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ, Scott Kennedy nói trong một cuộc phỏng vấn với Washington Post vào 6/5, “nét mực chưa khô thì chưa có gì là chắc chắn”. Hơn nữa, đối với Trump, ngay cả khi mực khô, là ngày hôm sau vẫn có thể đảo lộn.

Hiện tại, Chính quyền Trump đã áp mức thuế 25%, và Trung Quốc cảm thấy không hợp lý và đáng kinh ngạc. Hai năm trước, Trump từng nhiều lần nói rằng ông muốn tăng thuế nhập khẩu từ Trung Quốc lên 45%. Vì vậy, đừng hy vọng cứ đạt được thỏa thuận trọn gói là có thể tuyên bố chiến thắng, mà cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đấu với nhiều biến động trong trung hạn và dài hạn. Xét theo góc độ cuộc xung đột thương mại Trung – Mỹ có thể diễn ra trong dài hạn, Trung Quốc nên đối phó như thế nào?

(còn tiếp)

Nguồn: Người quan sát (TQ) – 11/05/2019

TLTKĐB – 15/05/2019

Tư bản hậu công nghiệp và kinh tế học siêu vĩ mô – Phần XIV


Chúng ta phân tích các động thái của tư bản hậu công nghiệp mà có thể thấy được động thái phát triển của FDI.

Có những tư bản hậu công nghiệp ở những tầng mức khác nhau mà không thể thâm nhập vào nhau. Việc phân tích cac số hạng pk và các động thái của chúng trong những xã hội khác nhau với những giai đoạn khác nhau là công việc rất lý thú, vì các pk thể hiện môi trường mà các loại tư bản có thể hoạt động được hay hông và có thể gia tăng sức mạnh của chúung như thế nào. Không thể có tư bản hậu công nghiệp nếu không có luật về bảo vệ bản quyền, không thể có biện pháp chống lại hàng nhái, hàng giả.

Trong công thức

C = C1 + V1 + M1 + C2 + V2 + M2 + P

Các C1, C2, V1, V2, P có các động thái sơ bộ sau.

Trong thời đại hậu công nghiệp, có những C1 có thể tiếp nhận một C1 mới, chẳng hạn các máy tính có thể tiếp nhận modem để có thể thực hiện liên lạc viễn thông  hoặc tiếp nhận các thanh bộ nhớ mới, hoặc là một chiếc máy có thể tiếp nhận thêm một công đoạn mới. Có những C1 không thể tiếp nhận C2. Có những C1 có thể tiếp nhận C2, thậm chí có thể tiếp nhận nhiều loại C2 khác nhau. Chẳng hạn một máy tính có thể tiếp nhận rất nhiều loại phần mềm khác nhau, rất nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau. Với mỗi loại C2 thâm nhập vào C1 có những bước đột phá để tạo nên được một tạo phẩm mới làm được rất nhiều việc hoàn toàn mới, làm được rất nhiều việc mà trước đấy tạo phẩm cũ không làm được. Nhưng không chỉ có vậy. Thời đại hậu công nghiệp tạo nên được những kết hợp vượt giới hạn không gian và thời gian nên việc một C1 tiếp nhận được một C2 nào đó không có nghĩa là C2 luôn luôn phải thường trú trong C1, mà còn có trường hợp ở ngoài nhưng làm được công việc phối thuộc vào nhau vào những lúc cần thiết. Chẳng hạn những khoản tiền lớn được đổ vào quảng cáo gắn liền với những sản phẩm do C1 tạo nên.

V1 và V2 cũng có những bước phát triển mới. Nếu như V1 ngày càng trở nên đơn giản, thì V2 lại đòi hỏi một quá trình đào tạo, nghiên cứu đặc biệt để hình thành khả năng sáng tạo và phát huy tác dụng. Không phải lúc nào V2 cũng hoạt động có hiệu quả được. Phải có những điều kiện nhất định thì V2 mới hoạt động có hiệu quả được. Phải có những điều kiện nhất định thì V2 mới hoạt động có hiệu quả được.

Sự thống trị của C2 với C1 thể hiện ở chỗ C2 có thể dễ dàng chuyển sang C1 song C1 không phải lúc nào cũng chuyển sang được C2.

Các pk được hình thành do nhiều con đường khác nhau, khi thì do luật pháp, khi thì là uy tín của doanh nghiệp đạt được do nỗ lực không mệt mỏi của doanh nghiệp từ ngày này sang ngày khác, khi thì do những biến đổi đột biến của xã hội, nhiều khi là một thành quả chung của nền văn minh nhân loại, chẳng hạn như ý thức ăn sạch, ở sạch của con người sẽ đòi hỏi các vật phẩm có những dạng phi vật thể mới. Động cơ được làm nguội bằng không khí thay vì bằng nước do Soichiro Honda, ông tổ của hãng Honda bỏ ra rất nhiều công sức và tiền của để thiết kế hầu như không thể có giá trị thương mại vì quá đắt, nhưng khi luật Môi trường mới của Mỹ ban hành thì loại động cơ này bán được số lượng lớn ở Mỹ.

Tất cả những pk này tham gia vào quá trình tạo nên một bộ phận có giá trị đặc biệt trong tư bản hậu công nghiệp. Đây là điểm đặc biệt khác của tư bản hậu công nghiệp so với tư bản công nghiệp và những loại tư bản trước đó. Trong các pk đó, có những giá trị pk vô hiệu hóa hoạt động của các loại C1, C2 nào đó, có những giá trị pk khiến cho loại V1, V2 nào đó không hoạt động được. Có những loại pk là hàm của các C1, C2, V1, V2 hàm này có thể tác động làm tăng trưởng hay làm thu hẹp. Có những loại pk có vai trò độc lập. Để thấy được những yếu tố này, chúng ta xem xét đạo luật chống bán phá giá, mà đã đem lại cho các doanh nghiệp Mỹ những gì.

Khi doanh nghiệp Mỹ tiến hành FDI ở nước ngoài, hàng hóa chất lượng tương đương với hàng hóa sản xuất ở nước Mỹ được chuyển vào Mỹ và được bán với giá bằng với giá ở thị trường Mỹ. Hàng hóa nước ngoài cũng được bán với giá như vậy. Như thế khả năng cạnh tranh bằng giá cả là không được thực hiện. Tình hình gì sẽ xảy ra? Đối với doanh nghiệp Mỹ, khi mà rất thông thạo trong việc tạo ra những dạng phi vật thể liên quan tới hàng hóa, “Cái giá trị mà công ty Nike chẳng hạn đang tạo ra, không phải là nguyên liệu làm ra những đôi giày của nó mà là cái nền văn hóa gắn liền với nó” (Danny T Quah, 1998), người ta mua hàng là mua những thứ phi vật thể liên quan tới hàng hóa có giá thành rẻ lại được bán giá cao, cho nên uy tín và thương hiệu được đảm bảo nếu vẫn được người tiêu dùng chấp nhận tiêu thụ. Hàng hóa của nước khác muốn bán được ở Mỹ mà bán với giá như hàng hóa cùng loại của Mỹ thì không thể bán được hàng, lại phải liên kết với một tên tuổi nào đó ở Mỹ từ ngay chính nước bản địa của mình thì mới bán lại được giá như vậy, còn bán với giá rẻ hơn vào Mỹ thì bị kiện ngay. Như vậy hãng nước ngoài buộc phải chịu phụ thuộc vào Mỹ ngay từ bên sân nhà mình, chịu sự chi phối của tên tuổi của Mỹ. Đạo luật đó đã tạo nên được sự kết hợp các hãng nước ngoài với các hãng của Mỹ và chịu sự chi phối củ các hãng Mỹ. Đạo luật đó hút những tinh hoa FDI của nước ngoài trong việc tạo nên các tạo phẩm vật thể và phi vật thể vào Mỹ, vì Mỹ là nơi tập trung tinh hoa của mọi tinh hoa. Đạo luật đã tạo ra một ưu thế của các công ty ở Mỹ đối với các công ty nước khác. Dòng FDI vào Mỹ bao giờ cũng lớn nhất trên thế giới.

Vì tiến trình phát triển đem lại sự thống trị của nền kinh tế hậu công nghiệp, nên các pk làm gia tăng sự thống trị của các C2, V2 mở đường cho chúng phát huy tác dụng. Pk này ở tầng mức quốc gia có một độ đo là “sự hấp dẫn”.

Nếu như các pk gây cản trở cho sự phát triển của tư bản hậu công nghiệp thì việc tháo gỡ các rào cản là việc phải thực hiện nếu nền kinh tế không muốn bị sụp đổ, nên mọi chính phủ đều mong muốn loại bỏ các rào cản đó, nên chúng ta tập trung khảo sát trường hợp những rào cản đã được giảm xuống để các C2, V2 có thể vận động được. Trong đó ta xem xét các pk theo khả năng làm gia tăng hay làm thu hẹp các sự phát triển của tư bản hậu công nghiệp. Có rất nhiều yếu tố tham gia vào pk, trong đó có dân số, khả năng thanh toán, mức sống có những vai trò nhất định.

Chúng ta khảo sát một số tình huống vận động của tư bản trong một lĩnh vực kinh tế song hành cả tư bản công nghiệp lẫn tư bản hậu công nghiệp trong một nước như sau:

a/ C1 ít, C2 ít

Có những C1 không thể tiếp nhận được C2. Trong trường hợp này chỉ có V1 hoạt động được, còn V2 không hoạt động. Như vậy V2 sẽ được chuyển tới những nơi có thể dùng đến nó, đây là trường hợp đầu tư từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển.

+ Có đủ V1, không có đủ V2

Trong trường hợp này, việc chuyển tiếp nhận các C1 mà tiếp nhận được các C2, ăn nhập được với các C2 là điều không thể thực hiện được. Như vậy có những V1 có thể hoạt động được nên chỉ tiếp nhận được những gì tương xứng với chúng. Trong trường hợp này FDI là một yếu tố quan trọng để phát triển. Việc phát triển V2 là yêu cầu tất yếu để phát triển nền kinh tế hậu công nghiệp.

+ Có đủ V1, có đủ V2

Trong trường hợp này, có thể tiếp nhận được các C1 có khả năng tiếp nhận được C2 theo con đường thương mại hay FDI. Hoặc là V2 có thể chuyển sang những nơi mà có C2 có thể cần đến nó.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Lý thuyết an ninh việc làm – Phần III


4. Các nhân tố tác động đến an ninh việc làm và việc làm bền vững

4.1. Các nhân tố tác động đến an ninh việc làm

Mặc dù các bằng chứng chỉ ra rằng các mối quan ngại về an ninh việc làm có ý nghĩa tiêu cực đối với cá nhân, tổ chức và xã hội, nhưng một số biến số lại có thể làm dịu đi hoặc làm trầm trọng thêm các hậu quả của tình trạng thiếu an ninh việc làm. Các nhân tố điều tiết này gồm có hai loại: i) các nhân tố điều tiết sự khác biệt – cá nhân;và ii) các nhân tố điều tiết cấp độ tổ chức. Các nhân tố điều tiết sự khác biệt – cá nhân quy về các đặc điểm khác nhau giữa người này với người khác, trong khi các nhân tố điều tiết cấp độ tổ chức lại đề cập đến những khác biệt trong một tổ chứchoặc giữa các tổ chức với nhau. Một nhân tố điều tiết khác biệt-cá nhân, các giá trị văn hoá, có thể ảnh hưởng đến mức độ mà người lao động phản ứng tiêu cực đối với việc nhận thức về trình trạng thiếu an ninh việc làm. Các cá nhân có định hướng văn hoá tập thể hoặc xuất thân từ các văn hoá tập thể dường như có nhiều khả năng hơn các đối tác cá nhân chủ nghĩa khác trong việc thể hiện sự suy giảm về mức độ hài lòng đối với công việc, mức độ căng thẳng công việc tăng, ý định thay thế lao động tăng như là một chức năng của tình trạng thiếu an ninh việc làm. Kiểm soát nơi làm việc (tức là khả năng bảo vệ bản thân khỏi các sự kiện tiêu cực trong công việc) cũng có thể là nhân tố điều tiết quan trọng đối với sự căng thẳng liên quan đếntình trạng thiếu an ninh việc làm. Các kết quả nghiên cứu cho thấy những người lao động nào cảm thấy họ ít có quyền kiểm soát nơi làm việc của mình thì thường biểu hiện nhiều triệu chứng thể chất hơn và huyết áp tăng cao hơn để phản ứng lại tình trạng thiếu an ninh việc làm, trong khi đó những người lao động nào cảm thấy mìnhkiểm soát nơi làm việc tốt hơn thì thường không gặp những kết cục này (Probst, T. M. 2002, 2005). Vì vậy, những cá nhân nhận thức được rằng họ có thể tự bảo vệ bản thân khỏi những sự kiện tiêu cực trong công việc có thể ít bị tổn thương trước những ảnh hưởng của tình trạng thiếu an ninh việc làm. Một biến số khác đã được xây dựng thành lý thuyết làm vật đệm cho các ảnh hưởng của tình trạng thiếu an ninh việc làm đối với kết cục của người lao động là trí tuệ cảm xúc. Bởi vì trí tuệ cảm xúc điều chỉnh cách thức mà các cá nhân quản lý cảm xúc, nên người ta cho rằng chỉ số IQ (Intelligence Quotient – Chỉ số thông minh) cảm xúc sẽ làm giảm tác động của tình trạng thiếu an ninh việc làm đối với các phản ứng và hành vi xúc cảm. Cụ thể, những người lao động có trí tuệ cảm xúc cao thường ít có khả năng để xảy ra những phản ứng cảm xúc tiêu cực đối với tình trạng thiếu an ninh việc làm hoặc ít có khả năng sử dụng những chiến lược đối phó tiêu cực hơn so với những người lao động có trí tuệ cảm xúc thấp (De Witte, H. 1999).

4.2. Khái niệm việc làm bền vững

Liên quan đến khái niệm về tính bền vững đối với việc làm cho thấy rằng nhà tuyển dụng lao động cần cố gắng tổ chức công việc nhằm nuôi dưỡng nguồn nhân lực hơn là khai thác nguồn nhân lực, khiến cho các nguồn lực này được triển khai trong tương lai (Docherty, P., Kira, M., and A.B. Shani 2009). Như vậy, việc làm bền vững có thể được coi là kết quả của cách tiếp cận quản lý nguồn nhân lực bền vững. Việc làm bền vững được xác định là mức độ mà người lao động có thể và sẵn sàng duy trì việc làm hiện tại và trong tương lai. Mặc dù việc làm bền vững thường được đề cập đến lực lượng lao động lớn tuổi, nhưng cần lưu ý rằng tính bền vững liên quan đến người lao động ở mọi lứa tuổi (Van Vuuren, T., & Van Dam, K. 2013). Khả năng sử dụng lao động bền vững bằng cách tiếp sinh lực cho người lao động: tầm quan trọng của các cơ hội phát triển và công việc đầy thử thách đối với việc làm bền vững của người lao động. (Van der Heijden, B.I.J.M., Gorgievski, M.J., & De Lange, A.H. 2015).  Để duy trì được lực lượng lao động và trở thành một người lao động nhiều kinh nghiệm, thì điều quan trọng là người lao động phải làm việc với một thái độ lành mạnh, có động cơ và có năng lực, bất kể tuổi tác của họ. Người ta đã xây dựng được một số chỉ báo về việc làm bền vững, đặc biệt là i) khả năng sử dụng lao động (employability); ii) mức độ cam kết với công việc; iii) mức độ cam kết của tổ chức/ công ty đối với người lao động. Đó là những yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo được việc làm bền vững (Ilmarinen, Tuomi, & J. Seitsamo, 2005). Các khía cạnh này liên quan đến sức mạnh, sức khoẻ của con người và năng lực làm việc trong các tổ chức/công ty; và các yếu tố đó được coi là có tính quyết định đối với người lao động nhằm duy trì và thực hiện được việc làm một cách bền vững (Fugate, M., Kinicki, A.J, & Ashforth B.E. 2004). Khả năng sử dụng lao động là một cấu trúc tâm lý-xã hội, các chiều cạnh và việc ứng dụng toàn bộ các chiều cạnh đó trong quản lý nguồn nhân lực. Việc làm bền vững được xác định dựa trên ba đặc điểm được đề xuất: i) chất lượng công việc, ii) cam kết của tổ chức/ công ty, và iii) quan hệ đối tác giữa người lao động và người tuyển dụng lao động.

5. An ninh việc làm và phản ứng với nguy cơ thất nghiệp

Cần phải xem xét những phản ứng của người tham gia thảo luận về an ninh việc làm đối với nguy cơ thất nghiệp, trước hết là liệu rủi ro này có phải là điều mà mọi người nhìn nhận một cách tích cực ở cấp độ hàng ngày; thứ hai, một khi đã nhận ra thì liệu người ta có lên kế hoạch cho rủi ro này không; và cuối cùng, nhưng lại có tính quyết định là cách thức mà người ta giải thích lý do họ có lên kế hoạch hay không, và liệu sự khác biệt có ảnh hưởng đến quá trình này không. (Abbott, David; Quilgars Deborah and Anwen Jones 2006).

5.1. Lập kế hoạch

Những người tham gia được hỏi xem họ có lên kế hoạch cho khả năng mất việc làm cả trong trường hợp dôi dư hoặc trở nên ốm yếu không thể làm việc được (dù tạm thời hoặc lâu dài). Nhìn chung, mọi người nghĩ rằng rất khó để lên kế hoạch trước mặc dù rõ ràng là qua các phản ứng cho thấy hầu hết mọi người đều nghĩ về vấn đề này. Mọi người nghĩ rằng việc lên kế hoạch cho tương lai là một “ý tưởng tốt”,nhưng việc không có đủ tiền để đáp ứng các nhu cầu cạnh tranh đã làm gây khó khăn cho việc tiết kiệm hoặc lên kế hoạch. Mọi người không tập để ý nhiều đến mối quan hệ giữa việc lên kế hoạch cho bản thân và kế hoạch cho tình trạng thất nghiệp. Như những nghiên cứu trước đây đã đề cập (Quilgars, Deborah & Abbott, David 2000), việc lên kế hoạch cho tình trạng thất nghiệp không phải là nguy cơ “hàng đầu” của những người tham gia thảo luận. Thay vào đó, họ đưa ra những khẳng định chung về việc có thể hoặc không thể lên kế hoạch cho một loạt các kịch bản khác nhau – cho tương lai, một tương lai chứa đựng bất kỳ kết quả và lựa chọn tích cực hoặc tiêu cực khả thể nào. Kế hoạch chiến lược được dành cho những thứ khác chứ không phải là tình trạng mất việc làm. Hầu hết mọi người nói rằng nếu mất việc làm thì kế hoạch của họ sẽ là một công việc khác, phù hợp với quan điểm của họ vềmức độ sẵn có của “việc làm” được thảo luận ở trên. Ở hâu hết các nhóm, chỉ có ít người suy nghĩ về những khó khăn mà họ phải đối mặt nếu họ không thể làm việc vì sức khoẻ kém hoặc ngày càng yếu đi; có một giả định ngầm rằng nguy cơ mất việc làm là do thất nghiệp. Tuy nhiên, hoàn toàn ngược lại, sức khoẻ và việc làm lại có mối liên kết rất lớn trong nhóm thảo luận tập trung của người tàn tật. Những người tham gia thảo luận được hỏi về những loại chiến lược nào mà họ đã cân nhắc hoặc thừa nhận. Tiết kiệm, bảo hiểm và lương hưu là những chiến lược xây dựng kế hoạch được thảo luận tự phát và thường xuyên nhất. Ngoài ra, họ còn được hỏi về quan điểm của mình đối với vai trò của các khoản phúc lợi, dựa vào gia đình, bạn bè hoặc nguồn lực cộng đồng (Abbott, David; Quilgars Deborah and Anwen Jones 2006).

5.2. Tiết kiệm

Mặc dù tiết kiệm đã được thảo luận như là một chiến lược khả thể, nhưng chỉ có một số ít người tham gia cố tiết kiệm một cách thường xuyên. Những người có concái cảm thấy khó có thể tiết kiệm và tưởng tượng rằng những người độc thân nhưngcó con sẽ dễ dàng tiết kiệm hơn. Tuy nhiên, những người đơn thân không có con cáicũng cho biết họ khó có thể tiết kiệm được, vì họ không có đủ thu nhập sau khithanh toán các khoản chi tiêu thiết yếu, hoặc vì họ thích “sống gấp” như một cách làm trái ngược với tiết kiệm cho tương lai. Các ví dụ về nhóm tiết kiệm thì nói rằng họ thường xuyên tiết kiệm, bao gồm việc sử dụng các đơn đặt hàng thường trực để chuyển một khoản tiền đặt cọc vào tài khoản tiết kiệm mỗi tháng. Một số người trong các nhóm thảo luận rất quan tâm đến những kết quả này ngay cả khi họ không thể tự cứu mình. Nhìn chung, những người có thể tiết kiệm thường có khuynhhướng dành dụm một khoản tiền khá nhỏ, họ tham gia vào kế hoạch tiết kiệm với bạn bè nhờ đó hàng tuần hoặc hàng tháng mỗi người trong nhóm đặt một khoản tiền vào một cái bình rồi lầm lượt lấy ra để dành dụm (Sandler, Ron 2002).

5.3. Bảo hiểm

Các nhóm thảo luận tập trung đề cập đến bảo hiểm khá thường xuyên, nhưng hiếm khi liên hệ đến khoản bảo hiểm để trang trải thu nhập trong trường hợp mất việc làm hoặc bị đau ốm. Các phương thức đảm hiểm cuộc sống thường phổ biến hơn.Họ nói về việc phải có bảo hiểm để giữ được thu nhập trong trường hợp không thể làm việc. Đáng chú ý là trong khi người ta thường không nghĩ rằng họ sẽ trở nên bất ổn, thì tất cả các cách trên lại đều bảo vệ được những người ốm đau bệnh tật chứ không phải là người thất nghiệp. Nhìn chung, vẫn có sự hoài nghi về giá trị của bảo hiểm trong tất cả các nhóm, với một vài người có một số cách thức bảo đảm cuộc sống thông qua một kế hoạch ba hướng, để đối phó với bệnh tật, sự cố và một điềukhác – tàn tật. Đôi khi họ còn trông ngóng vào số phận, vào Chúa nên không cần phải yêu cầu bồi thường bảo hiểm khi gặp sự cố. Những người khuyết tật giải thích rằng họ không thể tiếp cận bảo hiểm để trang trải thu nhập của họ trong trường hợp tàn tật nặng không thể làm việc. Họ đều có ý nghĩ là sức khoẻ ngày càng xấu đi thì rất khó lên kế hoạch cho tương lai. Họ cho rằng nếu trông vào bảo hiểm, hoặc ngay cả bảo hiểm ốm đau bệnh tật, thì làm thế nào có thể đặt kế hoạch được. Nếu đến lúcbệnh tật đang lơ lửng trên đầu mình, thì người ta có thể bỏ việc, vì công sức bỏ ra cũng chỉ để trả cho đau yếu trong một thời gian dài (Bunton, Robin, Nettleton, Sarah & Burrows, Roger 1995).

(còn tiếp) 

Nguồn: http://kattigara-echo.blogspot.com

Con sông – Phần V


Từ năm 2008 trở về sau, các chính phủ trên thế giới đi theo cả hai. Những nước có hệ thống ngân hàng bị kiểm soát chặt chẽ thì đều nới lỏng chính sách tiền tệ để đối phó với khủng hoảng tín dụng. Ngoài ra, hầu hết các nước đều giảm thuế, vay tiền và chi tiêu để đạt mục tiêu tăng cầu. Đầu năm 2009, Quốc hội Mỹ phê chuẩn gói kích thích trị giá 780 tỷ USD (trong đó một phần ba là cắt giảm thuế). Chính sách tương tự ở châu Âu không bằng Mỹ nếu xét về tỷ lệ so với tổng sản phẩm nền kinh tế; nhưng hầu hết các nước châu Âu đều làm như vậy, và tổng chi tiêu của họ còn tăng lên vì khủng hoảng làm các chương trình an sinh xã hội vốn rất rộng rãi ở đây càng tốn thêm tiền. (Kết quả là châu Âu và Anh đều phải chọn những chính sách khắc khổ hơn Mỹ, một phần vì số nợ lũy kế từ an sinh xã hội).

Các nước châu Á đa phần không bị khủng hoảng tài chính bao vây nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế toàn cầu. Nên họ tập trung vào các giải pháp chống khủng hoảng và nhìn chung cũng chi tiêu nhiều hơn với tỷ trọng so với tổng sản phẩm nền kinh tế còn lớn hơn cả các nước châu Âu. Trung Quốc hành động từ rất sớm và thực hiện kích thích nền kinh tế rất mạnh với tổng chi tiêu ước tính 585 tỷ USD.

Việc chính phủ quyết đdịnh không nên làm gì cũng quan trọng không kém việc chính phủ nên làm gì để chống lại căn bệnh cúm kinh tế. Giống như những năm 1930, các chính phủ không dựng nên các rào cản thuế quan hoặc đơn phương giảm mạnh giá trị đồng nội tệ. Dòng hàng hóa, tiền tệ và lao động di chuyển xuyên biên giới có giảm từ cuối năm 2008, nhưng đó là vì hoạt động kinh tế nhìn chung bị suy giảm chứ không phải do tác động của chính sách. Trong suốt thời kỳ suy thoái, thương mại, đầu tư và di cư trong nội bộ các quốc gia đều giảm, vì vậy giữa các quốc gia cũng giảm theo.

Khi các nước dần dần phục hồi sau cú sốc tài chính nghiêm trọng năm 2008 và áp ụng các biện pháp với hy vọng thúc đẩy nhanh quá trình này thì các chính phủ lại phải đối mặt với một nhiệm vụ khác mà về dài hạn thì không kém phần quan trọng. Đó là ngăn chặn những cú sốc tiếp theo.

Phòng bệnh [hơn chữa bệnh]

Với thảm họa mà bong bóng nhà ở Mỹ gây ra thì việc ngăn chặn một thảm họa tương tự trở thành cấp thiết. Hơn nữa, hậu quả của cuộc khủng hoảng năm 2008 là bất kỳ hiện tượng giá trị tài sản phình lên nào cũng trở nên nguy hiểm đối với nền kinh tế toàn cầu. Ở Mỹ và các nước khác thuộc bộ ba phương Tây, khi các ngân hàng nhỏ ngã xuống bên vệ đường thì toàn ngành tài chính sẽ củng cố lại bản thân. Sẽ chỉ còn một số ít các tổ chức tài chính rất lớn kết nối với nhau và khi chúng phá sản thì hậu quả sẽ gần như cú sốc năm 2008: cả hệ thống sụp đổ.

Những tổ chức tài chính lớn được coi là “quá lớn, không thể đổ vỡ”, có nghĩa là chính phủ không cho phép họ phá sản, đồng nghĩa với việc khuyến khích họ có những hành vi tìm kiếm lợi nhuận cao đi kèm rủi ro rất lớn. Có một thuật ngữ để chỉ những tình huống dễ sinh ra khủng hoảng tài chính kiểu như vậy: “rủi ro đạo đức. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 cũng như phản ứng của chính phủ đã làm tăng rủi ro loại này.

Rủi ro đạo đức xảy ra khi lợi ích thu được từ hoạt động kinh tế là thuộc về cá nhân, nhưng thiệt hại nếu có lại do xã hội gánh chịu. Tức là một cá nhân hoặc một công ty kiếm được tiền thì họ giữ, còn nếu họ lỗ thì chính phủ lại bỏ tiền ra đền bù. Khi không gặp rủi ro, họ lãi rất lớn; còn nếu rủi ro xảy ra, họ lại chẳng mất gì. Nói cách khác, rủi ro đạo đức đã khiến hoạt động kinh tế của họ không còn rủi ro nữa. Chủ nghĩa tư bản mà không có phá sản thì không khác gì Cơ đốc giáo không có địa ngục. Rủi ro đạo đức khuyến khích các hành vi tệ hại vì nó giúp hành vi tệ hại không phải trả giá.

Trong những năm trước khi xảy ra bong bóng nhà ở, chính phủ Mỹ đã có những bước tạo điều kiện cho rủi ro đạo đức. Khi xảy ra một loạt các sự kiện tệ hại của ngành tài chính – như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, quỹ đầu cơ khổng lồ Quản lý vốn dài hạn của Mỹ sụp đổ năm 1998, giá cổ phiếu công nghệ cao giảm mạnh năm 2000 và 2001 – thì ban giám đốc Cục dự trữ Liên bang Mỹ, dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Alan Greenspan đã giảm lãi suất để giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực lên giới đầu tư. Chính sách này được gọi là “quyền chọn bán Greenspan” (Greenspan put) – cụm từ thể hiện niềm tin rằng Cục Dự trữ Liên bang dưới thời Greenspan sẽ bảo vệ nhà đầu tư khi thị trường xuống dốc. Chính niềm tin này đã góp phần khiến bong bóng nhà ở càng phình to.

Cuộc giải cứu các tổ chức tài chính sau khi bong bóng nổ tung cũng mang thông điệp tương tự. Sự thực là những biện pháp đặc biệt mà chính phủ áp dụng để ngăn chặn cơn hoảng loạn trong ngành ngân hàng đã không hề giúp hàng triệu người tránh được thiệt hại. Chúng cũng không giúp gì cho các cổ đông của tổ chức tài chính lớn hay thậm chí chính bản thân các tổ chức tài chính – một số trong đó đã phải ngừng hoạt động mà Lehman là ví dụ tiêu biểu nhất nhưng không phải duy nhất. Nhưng với sự sụp đổ của Lehman, khi chính phủ quyết định giải cứu những tổ chức tài chính lớn nhất còn sống sót, họ đã đặt ra một tiền lệ có thể khiến chính những hành vi sai trái khiến họ buộc phải ra tay lại diễn ra lần nữa. Một di sản lớn của những sự kiện năm 2008 là sự cần thiết phải cải tổ hệ thống tài chính thế giới nhằm giảm tối đa cơ hội lặp lại những hành vi sai trái.

Chính phủ Mỹ và các nước châu Âu chuyển sang tái cấu trúc hệ thống tài chính nhằm bảo đảm bong bóng không hình thành. Họ đề xuất một chuỗi các hành động cải cách: tăng dự trữ bắt buộc của các công ty tài chính; đưa tất cả các tổ chức gần giống ngân hàng vào khuôn khổ quản lý của nhà nước, hạn chế quy mô của các tổ chức này; đưa ra quy định pháp lý điều chỉnh các công cụ tài chính mới từng góp phần tạo ra bong bóng bất động sản; thành lập các cơ quan quản lý mới để giám sát hoạt động tài chính và xử lý hậu quả sụp đổ của các tổ chức tài chính quan trọng với cả hệ thống; ngăn chặn bất cứ tổ chức tài chính nào thực hiện cả hai nghiệp vụ: nhận tiền gửi như ngân hàng thương mại và giao dịch chứng khoán như ngân hàng đầu tư.

Tất cả những đề xuất này đều nhạy cảm, nhưng rõ ràng chúng đều gặp phải sự phản đối từ ngành tài chính, những người cho rằng hạn chế hoạt động của họ tức là ngăn cản tăng trưởng kinh tế nói chúng – và cũng có thể họ đúng. Ngành tài chính nghĩ rằng cải tổ sẽ làm giảm lợi nhuận của họ, một điều hiển nhiên. Mặc dù bị phản đối, nhưng một số biện pháp cải cách vẫn được thực hiện. Tuy nhiên, vì là rào cản ngăn không cho bong bóng hình thành và phình to, chúng cũng có một nhược điểm phổ biến vốn xuất phát từ sự khác biệt quen thuộc giữa kinh tế và chính trị.

Vì bộ máy chính trị thực sự có quyền lực chỉ tồn tại ở cấp quốc gia chứ không phải cấp quốc tế nên chỉ có thể tiến hành cải cách tài chính chung trên cơ sở chính sách của từng nước, và các nước khác nhau có chính sách cải tổ rất khác nhau. Nhờ vậy, các công ty tài chính lớn nhất vốn hoạt động theo rất nhiều quy định khác nhau của các nước trên cả thế giới có cơ hội “lợi dụng kẽ hở pháp luật” – tập trung hoạt động kinh doanh ở những nơi có quy định pháp luật “thoáng” nhất và họ có thể chấp nhận rủi ro tối đa để thu được lợi nhuận lớn nhất.

Do các nước phải cạnh tranh với nhau để thu hút hoạt động trong ngành tài chính là cái đem lại việc làm và doanh thu thuế cho một nước, các chính phủ có lý do để xây dựng cơ chế sao cho hấp dẫn nhất. Các công ty có xu hướng bị hấp dẫn bởi những nơi có chính sách lạc quan hơn là chính sách “tối ưu” trong việc ngăn chặn khủng hoảng tài chính. Để hạn chế tình trạng này thì các nước cần áp dụng chung một loạt các chính sách cũng như cần một bộ máy để thực hiện. Các quy định phải có hiệu lực trên toàn cầu thì mới đạt hiệu quả tối đa, tức là cần phải có một chính phủ quốc tế. Nhưng ngay cả vào những thời điểm khó khăn nhất về kinh tế tính từ thời Đại Khủng hoảng, các quốc gia độc lập cũng không đặt ra vấn đề này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Lý thuyết an ninh việc làm – Phần II


Hà Hữu Nga

….

3. Khái niệm thiếu an ninh việc làm

3.1. Định nghĩa tình trạng thiếu an ninh việc làm:

Tình trạng thiếu an ninh việc làm hoặc “mối đe dọa thất nghiệp” được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau trong các công trình nghiên cứu. Greenhalgh và Rosenblatt (1984, trang 438) xác định tình trạng thiếu an ninh việc làm là “tình trạng thiếu khả năng nhận thức để duy trì tính liên tục mong muốn trong tình huống việc làm bị đe dọa”. Heany, Israel và House (1994, trang 1431) coi đó là “việc nhận thức về mối đe dọa tiềm ẩn đối với tính liên tục của công việc hiện tại”, còn Sverke, Hellgren và Näswall (2002, tr. 243) gọi đó là “dự kiến đã trải nghiệm một cách chủ quan về một sự kiện cơ bản và không tự nguyện liên quan đến tình trạng mất việc làm”. Đối với De Witte thì, tình trạng thiếu an ninh việc làm được định nghĩa là “việc nhận thức về mối đe dọa mất việc làm và những lo lắng liên quan đến mối đe dọa đó” (xem De Witte, 1999, trang 156, Sverke, Hellgren, Näswall, Chirumbolo, De Witte & Goslinga, 2004, trang 39). Định nghĩa này liên quan chặt chẽ đến mẫu số chung của hầu hết các định nghĩa về lĩnh vực này: mối quan tâm liên quan đến tính liên tục trong tương lai của công việc hiện tại (Sverke & Hellgren, 2002; van Vuuren, 1990). Hầu hết các tác giả cũng đồng ý về một số khía cạnh bổ sung. Trước hết, thiếu an ninh việc làm là một nhận thức chủ quan. Tình huống khách quan giống nhau (ví dụ tình trạng suy giảm các thứ bậc của tổ chức/ công ty) có thể được những người lao động khác nhau giải thích bằng nhiều cách khác nhau. Nó có thể gây nên các cảm giác thiếu an ninh cho một số người, trong khi công việc liên tục của họ (nói một cách khách quan) lại không hề bị đe dọa. Ngược lại, những người khác có thể cảm thấy đặc biệt an toàn về công việc của họ, mặc dù họ sẽ sớm bị đuổi việc. Sau đó, điển hình cho cách thức khái niệm hoá tình trạng mất an ninh việc làm lại chính là việc người ta quan tâm đến tình trạng bấp bênh về tương lai: những người lao động thiếu an ninh việc làm thường không chắc chắn về việc liệu họ có giữ được hay đánh mất việc làm hiện tại. Họ đang “mò mẫm trong bóng tối” chừng nào tương lai của họ vẫn thuộc về tổ chức hoặc công ty có liên quan. Nhận thức này tương phản với sự chắc chắn của việc sa thải. Thông tin đã được thông báo cho phép người lao động có những hành động cụ thể để đối phó với tình hình (Hellgren, Sverke & Isaksson, 1999). Những người lao động cảm thấy bất chắc có thể không tự chuẩn bị đầy đủ cho tương lai của mình, vì không rõ họ có nên thực hiện các hành động để đối phó với tình huống đó hay không (Borg, Ingwer & Dov Elizur 1992). Nhiều định nghĩa cũng đề cập đến tính chất không tự nguyện của tình trạng thiếu an ninh việc làm (Greenhalgh & Rosenblatt, 1984, Sverke & Hellgren, 2002). Nghiên cứu về tình trạng thiếu an ninh việc làm không tập trung vào những người lao động cố ý chọn vị thế việc làm không chắc chắn (ví dụ: họ thích làm việc với hình thức hợp đồng tạm thời hơn vì nó phù hợp với tình hình hiện tại của mình).Thay vào đó, người lao động thiếu an ninh việc làm lại trải nghiệm sự khác biệt giữa mức độ an ninh được ưu tiên và mức độ an ninh được nhận thức bởi người sử dụng lao động đưa ra. Cảm giác bất lực cũng được nhấn mạnh trong nhiều định nghĩa (Greenhalgh & Rosenblatt, 1984). Tình trạng thiếu an ninh việc làm chủ yếu bao hàm cảm giác bất lực trong việc giữ được việc làm liên tục như mong muốn (De Witte H. 2005).

3.2. Mức độ thịnh hành của tình trạng thiếu an ninh việc làm

Người lao động có cảm giác thiếu an ninh việc làm đến mức độ nào? Vì tình trạng thiếu an ninh việc làm không nhất thiết dẫn đến thất nghiệp nên nhóm dân số thiếu an ninh việc làm có thể lớn hơn nhiều so với số người lao động thực sự mất việc làm. Các ước tính về số người lao động thiếu an ninh việc làm thay đổi theo từng quốc gia. Năm 1996, không ít hơn 38%  số người lao động của một trong 30 quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) nhận thấy rằng tổ chức/công ty của họ đem đến cho họ ít công ăn việc làm hơn bất kỳ tổ chức/ công ty nào khác trong cùng ngành (OECD 1997, tr. 134-135). Ở các nước châu Âu, tỷ lệ này dao động từ 23 đến 46%, với trung bình là 38%. Khi câu hỏi được giới hạn vàotừng công việc, thì tỷ lệ phần trăm cũng giảm theo quy luật. Trong một nghiên cứu gần đây của châu Âu cho thấy 9,4% số người trả lời phỏng vấn cho biết họ nhận thấy khả năng thất nghiệp “rất” hoặc “khá” lớn trong tương lai gần. Khoảng 75% ước tính tình thế trở thành thất nghiệp là “khá” nhỏ hay “rất” nhỏ (De Weerdt, De Witte, Catellani và Milesi, 2004). Tỷ lệ này dao động giữa các nước tham gia, với 5,1% lao động thiếu an ninh việc làm ở Bỉ và 14,5% ở Hungary. Những con số này cho thấy tình trạng thiếu an ninh việc làm chỉ là một phần nhỏ của số lao động được tuyển dụng. Tuy nhiên, với các số lượng tuyệt đối, một số lớn người lao động lại quan ngại. Khoảng 9% lao động thiếu an ninh việc làm ở châu Âu tính ra là hàng triệu người lao động. Nhận thức về thiếu an ninh việc làm cũng tăng ở hầu hết các nước châu Âu trong năm năm qua (De Weerdt và cộng sự, 2004). Kết hợp với nhau, các phát hiện này cho thấy tình trạng thiếu an ninh việc làm liên quan đến một thiểu số quan trọng của dân số lao động (De Witte H. 2005).

3.3. Các tiền đề của tình trạng thiếu an ninh việc làm

Ở đây, tình trạng thiếu an ninh việc được mô tả như một nhận thức chủ quan. Việc khái niệm hóa tình trạng thiếu an ninh việc này khởi đầu cho một truyền thống nghiên cứu về nguyên nhân hoặc các tiền đề của (việc nhận thức) tình trạng thiếu an ninh việc làm (Ashford, Lee & Bobko, 1989; Hartley và cộng sự, 1991). Các tiền đề này thường được chia thành ba cấp độ: Các biến số ở cấp độ vĩ mô, chẳng hạn như vùng hoặc tổ chức (ví dụ mức độ thất nghiệp ở cấp quốc gia hoặc cấp vùng vànhững thay đổi về cấu trúc tổ chức), các đặc điểm nền tảng cá nhân xác định vị trí của người lao động trong công ty (các biến số “vị trí”, chẳng hạn như độ tuổi, chiều dài của dịch vụ và cấp độ nghề nghiệp), và các đặc điểm nhân cách. Các nhà tâm lý học thường bị thu hút vào việc phân tích tác động của các đặc điểm nhân cách như  là tiền đề của tình trạng thiếu an ninh việc làm, vì các biến số này phù hợp với quan điểm kỷ luật và chuyên môn của họ. Việc phân tích các đặc điểm nhân cách như là tiền đề của tình trạng thiếu an ninh việc làm cũng phù hợp với định nghĩa về tình trạng thiếu an ninh việc làm với tư cách là một hiện tượng chủ quan, bởi vì một nhận thức như vậy có thể bị ảnh hưởng bởi tính cách của cá nhân. Các nghiên cứu đã thực sự cho thấy rằng đặc biệt là các đặc tính của quỹ đạo kiểm soát và cảm xúctiêu cực luôn gắn liền với việc nhận thức về tình trạng thiếu an ninh việc làm (Hartley và cộng sự, 1991, Sverke, Hellgren, Näswall, Chirumbolo, De Witte & Goslinga, 2004). Các cá nhân có một quỹ đạo kiểm soát kinh nghiệm nội tại luôn kiểm soát được cuộc sống của họ, và làm giảm đi nhận thức của họ về tình trạng thiếu an ninh việc làm. Cảm xúc tiêu cực cũng luôn gắn liền với tình trạng thiếu an ninh việc làm. Các cá nhân có đặc tính này thường có khuynh hướng nhìn nhận bản thân và môi trường của chúng từ quan điểm tiêu cực. Thái độ này tràn vào đời sống công việc của họ, và do đó, họ thường cảm thấy thiếu an ninh (De Witte H. 2005).

Tuy nhiên, sẽ sai lầm khi mong muốn quy giản tình trạng thiếu an ninh việc làm vào loại nhận thức cho rằng tình trạng đó xảy ra chỉ bởi tính cách cá nhân. Thiếu an ninh việc làm không chỉ là một cái gì đó tồn tại “trong đầu ta”. Nhận thức này phần lớn nảy sinh từ các điều kiện “khách quan” trong đó mọi người làm việc. Các nghiên cứu đều khẳng định tiền đề quan trọng nhất là các biến số vĩ mô và các biến số vị trí (Ashford và cộng sự, 1989, Hartley và cộng sự, 1991). Một phân tích gần đây về các ngân hàng dữ liệu khác nhau của Phần Lan trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2003 cho thấy mối tương quan rõ ràng giữa nhận thức chủ quan về tình trạng thiếu an ninh việc làm và tỉ lệ thất nghiệp ở một thời điểm nhất định (Nätti, Happonen, Kinnunen & Mauno, 2005). Các nghiên cứu so sánh giữa các nước châu Âu về tình trạng thiếu an ninh việc làm đã được tiến hành nhằm phản ánh mức thất nghiệp và tình hình kinh tế của quốc gia (De Weerdt và cộng sự, 2004).  Hơn nữa, các nghiên cứu còn cho thấy tình trạng thiếu an ninh việc làm có các tương quan với những đặc điểm nền cụ thể (hoặc các biến “vị trí”) cho thấy vị trí thị trường lao động dễ bị tổn thương. Các nghiên cứu (Näswall & De Witte, 2003) đã chỉ ra rằng những người lao động cổ xanh, những người có tay nghề thấp, những người lao động trong khu vực công nghiệp và những người có hợp đồng lao động tạm thời thường cảm thấy họ luôn trong tình trạng thiếu an ninh việc làm. Những mối liên kết này không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Các nhóm người lao động này thực sự có khả năng bị sa thải cao hơn. Điều này cho thấy tình trạng thiếu an ninh việc làm là một sự phản ánh rõ ràng về các cơ hội và vị trí thực (hoặc ‘khách quan’) của một cá nhân trên thị trường lao động, mặc dù thực chất chủ quan chủ quan của tình trạng đó (De Witte H. 2005).

3.4. Các hậu quả về sức khỏe và trạng thái hạnh phúc của tình trạng thiếu an ninh việc làm

Tình trạng thiếu an ninh việc làm là một hiện tượng tác động đến một thiểu số đáng kể những người lao động. Nó có ảnh hưởng tiêu cực đến phúc lợi cá nhân, đến thái độ và hành vi của tổ chức. Tình trạng thiếu an ninh việc làm là kết quả của những thay đổi kinh tế triệt để. Sự chuyển đổi cơ bản của nền kinh tế trong hầu hết các xã hội hiện đại sẽ không biến mất trong tương lai gần. Kết quả là, người lao động sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu an ninh việc làm và hậu quả của nó trong một thời gian dài. Điều này thúc giục các nhà tâm lý học phát triển các can thiệp để đối phó với vấn đề này cũng như hậu quả của nó và tăng cường các nỗ lực nghiên cứu để hiểu được hiện tượng này và các quy trình cơ bản của nó. Đến nay, việc nghiên cứu về hậu quả của tình trạng thiếu an ninh việc làm đã tập trung đặc biệt vào phúc lợi và sức khoẻ của cá nhân những người lao động, bên cạnh đó các nghiên cứu cũngchú ý đến hậu quả đối với các tổ chức sử dụng lao động. Việc rà soát lĩnh vực này cho thấy cần phải mở rộng trọng tâm của các nghiên cứu trong tương lai. Trước hết, cần khảo sát hậu quả của tình trạng thiếu an ninh việc làm đối với gia đình của người lao động: Ảnh hưởng của tình trạng thiếu an ninh việc làm đối với vợ chồng, con cái họ là gì? Những ảnh hưởng của tình trạng thiếu an ninh việc làm đối với các mạng xã hội rộng lớn hơn, chẳng hạn như những người hàng xóm, bạn bè và sự tham gia vào các hoạt động thiện nguyện là gì? Ngoài ra, ảnh hưởng của tình trạngthiếu an ninh việc làm đối với sự tham gia và cam kết với nghiệp đoàn của người lao động đã gợi hứng đáng kể cho một số nghiên cứu ít ỏi (De Witte, 2005, Sverke và cộng sự, 2004). Điều này là khá rõ ràng vì phong trào công đoàn chiếm một vị trí quan trọng trong hầu hết các hệ thống kinh tế của các quốc gia và có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng thiếu an ninh việc làm và các hậu quả của nó. Cuối cùng, còn cần phải phân tích các hậu quả xã hội do thiếu an ninh việc làm. Nghiên cứu ở Flanders (Bỉ) cho thấy sự không hài lòng do thiếu an ninh việc làm có thể làm tăng thái độ bất khoan dung xã hội, từ đó có thể dẫn tới sự ưa thích các hành động chính trị cực đoan (De Witte, Hooge, Vandoorne & Glorieux,2001). Việc mở rộng trọng tâm cũng có nghĩa là người ta nên đầu tư nhiều hơn vàocác nghiên cứu so sánh quốc tế về các tiền đề và hậu quả của tình trạng thiếu an ninh việc làm. Trong Liên minh châu Âu, các quốc gia rất khác nhau về mặt cấu trúc và văn hoá. Việc bổ sung thêm các nước từ các châu lục khác vào những so sánh này, thậm chí sẽ làm tăng khả năng phân tích vấn đề. Các nhà nghiên cứu cũng có thể tập trung kỹ hơn vào những khác biệt vùng trong cùng một quốc gia. Tất cả những so sánh này đều quan trọng cho sự phát triển của khoa học trong lĩnh vực này vì chúng cho phép kiểm tra các lý thuyết trong các ngữ cảnh khác nhau. Điều này có hai lợi thế quan trọng, trước hết nó cho phép xác định mức độ khái quát hóa các tri ​​thức thực tế khoa học trong lĩnh vực này. Thứ hai, các giải thích cụ thể (theo vùng và quốc gia) có thể giúp mở rộng các khuôn khổ lý thuyết hiện có (De Witte H.2005).

(còn tiếp)

Nguồn: http://kattigara-echo.blogspot.com

Tư bản hậu công nghiệp và kinh tế học siêu vĩ mô – Phần XIII


Các nước phát triển không dễ chuyển giao các công nghệ nguồn, công nghệ cao chuyển sang các nước đang phát triển là những thứ còn có khả năng sinh lợi cao trên đất nước họ. Tư bản hậu công nghiệp chèn ép buộc các tư bản cũ phải tìm nơi đầu tư sinh lợi. Đó là những tư bản không có tầm lan tỏa mà phải sử dụng những điều kiện có chi phí thấp hơn để sinh lợi. Khi đưa hàng hóa do cách doanh nghiệp FDI thực hiện trở lại các thị trường chính quốc thì chúng có khả năng tận dụng được những tạo phẩm phi vật thể mà công ty đầu tư đã tạo dựng ở chính quốc.

Việc thực hiện FDI là giành quyền bảoo đảm các nguồn cung liên tục cho nước phát triển. Vì thế cơ cấu FDI của họ phải tham gia thành thể thống nhất với cơ cấu kinh tế nội tại của nước đó.

Những nước có nền kinh tế hung mạnh họ có thể xét vấn đề cơ cấu kinh tế mang tính toàn cầu vì họ có thể khống chế, bảo đảm sự vận hành của các nền kinh tế khác phụ thuộc họ theo đúng ý đồ của họ, và họ có công cụ mạnh để làm được việc đó. Việc thiết lập luật chơi phục vụ mục đích của họ trên khắp thế giới là điều mang lại lợi ích cho chính những người mang lại lợi ích cho họ. Trình độ phát triển cao của nền kinh tế thị trường đã cho phép họ có nhiều công cụ để làm việc đó một cách gián tiếp hay trực tiếp. Họ đã làm cho việc mời gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành một thứ mà các nước kém phát triển hơn phải giành với nhau, nước nào cũng tìm cách tạo ra những ưu đãi thuận lợi nhất theo những điều kiện kinh tế xã hội của mình có đối chiếu so sánh với các nước khác. Họ có tiềm lực làm cho một nước lớn như Trung Quốc phục vụ cho chính họ nhưng Trung Quốc thấy đó là việc làm mang lợi ích là đẩy nhanh được tiến trình công nghiệp hóa của Trung Quốc.

Điều dễ hiểu là tại sao các nước phát triển cấp viện trợ ODA cho các nước đang phát triển là để bảo đảm dòng hàng hóa được cung cấp từ nước ngoài phục vụ lợi ích của chính họ cũng được nhanh chóng và thuận lợi như chính hàng hóa được sản xuất trong nước. Các nước phát triển đưa tư bản đến gần nguồn nguyên liệu, gần nơi cung ứng lao động với giá rẻ.

Lợi nhuận của việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chuyển về nước ngoài chuyển về nước là một yếu tố làm tăng mức sống của dân chúng ở nước phát triển trong việc tạo ra và hưởng thụ các thành quả phát triển.

Động thái của FDI là ở chỗ đưa những thứ giá trị thấp ra bên ngoài, rồi nhập lại chúng thì thêm vào những giá trị vô hình mới, hoặc là đưa những thứ vô hình ra được bên ngoài. Việc thực hiện FDI là tiền đề để các tạo phẩm phi vật thể của một hãng đặt chân vào nước đang phát triển mà sẽ đem lại những lợi ích to lớn sau này, khi nước đang phát triển đó trở nên giàu có hơn.

d/ Đầu tư trực tiếp nước ngoài từ nước đang phát triển vào nước đang phát triển

Các nước đang phát triển đầu tư vào nhau nhằm mục đích tạo nên những tạo phẩm vật thể đáp ứng những nhu cầu của nước đang phát triển đó mà tên tuổi, nhãn mác không là điều đáng quan tâm. Người ta cần hàng hóa để phục vụ cho những nhu cầu thông thường của xã hội đang phát triển, khi tính vật thể được đề cao. Việc đầu tư mở rộng sản xuất sang nước ngoài là để khắc phục những trở ngại mà thương mại gây ra.

Các nước đang phát triển thâm nhập vào các ngóc ngách của thị trường ở các nước khác nhận đầu tư. Còn những sản phẩm mà chuyển về nước đi đầu tư là do hoàn cảnh tự nhiên và xã hội mà nước đi đầu tư không dễ sản xấut ra loại sản phẩm đó, như không có nguồn nguyên liệu hay không có những điều kiện đầu vào khác.

Việc thực hiện FDI ra nước ngoài để tích cóp thêm tư bản mà từ đó tìm cách đưa tư bản đó lên ngang tầm của mình vươn tới những đẳng cấp cao hơn.

e/ Nhận xét chung

Động thái của FDI thể hiện mối tương quan của các loại tư bản hậu công nghiệp ở các đẳng cấp khác nhau. Từ những phân tích trên đây có thể thấy rằng chiều hướng dòng FDI công nghiệp chuyển từ nơi có một mức tạo phẩm phi vật thể cao sang nơi có mức tạo phẩm phi vật thể thấp hơn, dòng FDI hậu công nghiệp chuyển từ nơi có một mức tạo phẩm phi vật thể thấp sang nơi có mức tạo phẩm phi vật thể cao hơn.

Một dự án FDI chuyển từ nơi này sang nơi khác phải đạt được mức nhất định về những thứ vật thể và phi vật thể nhất định ở mức nào đó ở nước tiếp nhận thì mới có cơ hội tồn tại được. FDI có thể là cho tiến trình công nghiệp hóa ở một nước đang phát triển được rút ngắn, nhưng để nước đó hiện đại hóa thì cần phải có những nỗ lực tự thân vươn lên những lĩnh vực có mức tạo phẩm phi vật thể cao hơn.

Điều này lý giải tại sao các nước đang phát triển mong muốn sự lan tỏa của FDI, nhưng điều đó không xảy ra, vì dòng FDI vào các nước đang phát triển là các loại tư bản cũ, hay các loại tư bản hậu công nghiệp đẳng cấp thấp không có tầm lan tỏa bị các loại tư bản hậu công nghiệp đẳng cấp cao hơn chèn ép phải ra đi.

Đầu tư nước ngoài đóng một ai trò quan trọng trong việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Những thứ doanh nghiệp Việt Nam không thể làm được trong ngắn hạn thì người ta khuyến khích đầu tư, thậm chí với các mức ưu đãi đặc biệt. Thông thường những lĩnh vực này có nhiều rủi ro đối với các doanh nghiệp Việt Nam nếu muốn tự dấn thân vào. Việc lập nên danh mục những lĩnh vực khuyến khích đầu tư cho thấy rằng đó là những lĩnh vực đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn, bí quyết công nghệ hay khả năng nắm được những nguồn nguyên vật liệu mà Việt Nam không thể dễ dàng có được, phụ thuộc bấp bênh vào bên ngoài. Cơ cấu kinh tế ngành của Việt Nam còn thiếu rất nhiều ngành quan trọng, cho nên khó có thể phát triển bền vững, thậm chí ngay cả khi đã tiến hành hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.

Như thế người ta thấy rằng đầu tư nước ngoài là một nguồn bổ sung quan trọng cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế của Việt Nam, làm cho cơ cấu kinh tế của Việt Nam trở nên hoàn chỉnh và có thể đáp ứng được những nhu cầu nội sinh của nền kinh tế.

3/ Mô hình hóa FDI

Các lý thuyết về FDI nặng về tính vật thể của các vật phẩm không giải thích được hai chiều của đầu tư nước ngoài trực tiếp hiện nay. Một mặt lượng đầu tư đổ vào nước đã phát triển rất mạnh, trong đó lượng đổ về các nước đang phát triển ít hơn nhiều, không giải thích được sự bảo hộ thương mại ở các nước phát triển trong những ngành mà các nước đang phát triển chiếm ưu thế như các ngành trong lâm ngư nghiệp. Các lý thuyết này không thấy được thực chất có hai dòng đầu tư: dòng đầu tư nước ngoài của tư bản công nghiệp và dòng đầu tư nước ngoài của tư bản hậu công nghiệp, mà mỗi dòng có những động thái riêng biệt, có những tác động đặc thù đối với nền kinh tế, thậm chí rất khác nhau. Dòng đầu tư trực tiếp của tư bản hậu công nghiệp có những kết quả mà quan niệm về dòng đầu tư nước ngoài của tư bản công nghiệp không thể thấy được.

Chúng ta vận dụng công thức:

C = C1 + V1 + M1 + C2 + V2 + M2 + P

trong việc xem xét FDI.

Đối với trường hợp đầu tư trực tiếp của nước ngoài, công thức này cho phép diễn giải được hai chiều của đầu tư. Với những nhà tư bản nào có khả năng tạo ra được pk thì họ sẽ chuyển đầu tư sang những nơi mà có ∑pk cao, dù rằng ở đấy V1 + V2 có cao. Phân tích kỹ hơn tình hình này, ta thấy rằng nếu những ngành nghề không có pk, hay pk quá thấp thì để có lợi nhuận tư bản phải có sự dịch chuyển sang những nơi mà V1 + V2 thấp. Vì vậy, những doanh nhân nào tạo ra được pk thì họ chuyển tư bản sang những nơi có ∑pk còn nếu không tạo ra được pk thì họ chuyển sang những nơi mà V1 + V2 thấp dù là ở những nước đã phát triển hay đang phát triển. Với C1 + C2 không đổi, nếu V1 + V2 cao thì m sẽ nhỏ đi, nên người ta phải chuyển sang nơi có V1 + V2 thấp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.