George Soros và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu


George Soros sinh năm 1930 ở Budapest, Hungary, di cư sang Anh năm 1947, sang Mỹ năm 1956, hiện sống ở New York. Ông là một huyền thoại trong thế giới tài chính. Quỹ Quantum của ông được xem là “quỹ đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử, đã góp phần nhào nặn lại thế giới sau chiến tranh lạnh”.

Một số ít người coi G. Soros như “một nhà đầu cơ thị trường nổi tiếng nhất thế giới”, kẻ can dự vào cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á và trên thế giới hiện nay.

Nhiều người gọi G. Soros là “một trong những nhà từ thiện lớn nhất hiện còn sống”. Ông tài trợ một mạng lưới các quỹ dành để ủng hộ các xã hội mở, đang hoạt động 31 nước trên khắp thế giới từ Đông Âu và Liên Xô (cũ) đến Nam Phi, Haiti, Guatemala, Mông Cổ và Mỹ. Các quỹ trong mạng lưới này đã chi phí một số tiền mỗi năm trên dưới 400 triệu USD (cụ thể là năm 1994 – 300 triệu, 1995 – 350 triệu, 1996 – 362 triệu, 1997 – 428 triệu và năm 1998 cũng duy trì ở mức đó).

Tuy nhiên, còn rất ít người biết đến G. Soros như một người có nhiều ý tưởng khoa học mới mẻ và sâu sắc, đã nhận được các bằng tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học trên thế giới như Trường Nghiên cứu Xã hội mới (the New School for Social Research), trường Đại học Oxford (Anh), Đại học Yale (Mỹ), Đại học kinh tế Budapest (Hungary, quê hương ông). Năm 1995 trường Đại học tổng hợp Bologna (Italy) tặng G. Soros danh hiệu cao nhất của nó – danh hiệu Laurea Honoris Causa để ghi nhận những nỗ lực của ông đề xướng các xã hội mở trên toàn thế giới. G. Soros là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về những biến đổi chính trị và kinh tế ở Đông Âu và Liên Xô, tác giả của nhiều cuốn sách bán rất chạy như cuốn “Giả thuật kim tài chính” (The Alchemy of Finance), “Mở cửa hệ thống Xô Viết” (Opening the Soviet System), “Bảo đảm nền dân chủ” (Underwriting Democracy) và “Soros nói về Soros: Ở lại đằng trước đường cong” (Soros on Soros: Staying Ahead of the Curve).

Trong Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, ông đã vận dụng tất cả sự thông thái, tri thức uyên bác và tầm nhìn sáng suốt của ông để giải thích những gì đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu đang sụp đổ.

Các nền kinh tế (bối cảnh cuối thập kỷ 90) một thời thịnh vượng của Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sụp đổ; nền kinh tế Nga đã và đang suy tàn, dẫn tới lạm phát và khó khăn kinh tế nghiêm trọng; nhiều ngân hàng Nhật Bản rơi vào tình trạng tan rã; Brazil và phần còn lại của châu Mỹ Latinh đã bắt đầu dần dà tiến đến bờ vực suy sụp; ngay cả ở châu Âu và Mỹ, các thị trường cũng chao đảo dữ dội, cứ mỗi tuần qua đi lại mất lợi nhuận. Giờ đây một số nước đã bước ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất. Nhưng không một ai có thể nói rằng những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng đã được loại trừ.

G. Soros đã mổ xẻ tình trạng thời điểm đó của nền kinh tế toàn cầu và chỉ rõ các giả thuyết lý luận đã kết hợp với hành vi con người như thế nào để dẫn tới những tai họa này. Ông nêu rõ niềm tin vào các lực lượng thị trường đã làm chúng ta đui mù như thế nào về những sự bất ổ định cơ bản, và những sự bất ổn định này đã phản ứng dây chuyền ra sao để gây ra tình huống nguy kịch mà chúng ta đang lâm vào hôm nay – một tình huống có tiềm năng trở nên xấu hơn rất nhiều.

Song, như G. Soros viết: “Tình thế hoàn toàn không phải là tuyệt vọng… Có thể tránh được một thảm họa nếu chúng ta thừa nhận những thiếu sót của hệ thống chúng ta và sửa chữa chúng kịp thời… Tôi lập luận rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của một xã hội mở, và những thái quá của nó có thể sửa chữa, nếu những nguyên tắc của xã hội mở được hiểu rõ hơn và được ủng hộ rộng rãi hơn.

Thuật ngữ “Xã hội mở” (Open society) được nhà triết học về khoa học Karl Popper nêu lên trong cuốn sách của ông “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” (xuất bản năm 1944). G. Soros chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng triết học Karl Popper, mặc dù ông có khác với Karl Popper ở một vài điểm quan trọng. Ông hấp thụ những ý tưởng của Karl Popper về tư duy phê phán và phương pháp khoa học, nỗ lực xây dựng lại khái niệm xã hội mở. Trong cuốn sách mới này của ông có phụ đề là “Xã hội mở hiểm nguy”, G. Soros đã “nỗ lực đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu”. Ông viết: “Chúng ta sống trong một nền kinh tế toàn cầu, nhưng tổ chức chính trị của xã hội toàn cuẩ của chúng ta, buồn thay, lại không đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng giữ gìn hòa bình và hành động đáp lại những thái quá của các thị trường tài chính. Nếu không có những sự kiểm soát này, nền kinh tế toàn cầu có thể sụp đổ”. Chính vì vậy “để ổn định và điều tiết một nền kinh tế thực sự toàn cầu, cần một hệ thống toàn cầu về việc ra quyết định chính trị. Nói gọn lại, chúng ta cần một xã hội toàn cầu để hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu của chúng ta… Cần phải cố gắng tạo nên một liên minh với các dân tộc có cùng suy nghĩ để thiết lập các luật và các thiết chế cần thiết cho việc giữ gìn hòa bình, tự do, thịnh vượng và ổn định. Các luật và thiết chế này là gì, điều đó không thể quyết định một lần là xong với mọi người; điều chúng ta cần là đưa vào hoạt động một quá trình hợp tác, lặp đi lặp lại – quá trình sẽ xác định lý tưởng xã hội mở – một quá trình trong đó chúng ta công khai thừa nhận những sự không hoàn hảo của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cố gắng học từ những sai lầm của chúng ta”.

Để đặt nền móng cho xã hội mở toàn cầu phải bắt đầu từ lý luận cơ bản. Trong khung khái niệm (conceptual framework), G. Soros nêu ra ba khái niệm then chốt, ba từ khóa: tính có thể sai (fallibility), tính phản xạ (reflexivity) và xã hội mở (open society). Ông tiến hành phê phán khoa học xã hội nói chung và kinh tế học nói riêng đối với thị trường tài chính, diễn giải thị trường này dưới góc độ tính phản xạ hơn là dưới độ lý luận cân bằng của kinh tế học cổ điển. Ông vạch rõ tính chất sai lầm và nguy hiểm của thuyết nguyên giáo thị trường (market fundamentalism). Chính nó đã đặt chủ nghĩa tư bản tài chính vào địa vị cầm lái, làm méo mó cơ chế thị trường, đẩy xã hội mở vào tình trạng hiểm nguy.

Trong phần “Thời điểm quan trọng của lịch sử” (the present moment in history), tác giả áp dụng cái khuôn khổ quan niệm đã nêu trên để phân tích sâu những đặc điểm chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối thập kỷ 90. Ông đề cập đến sự khác biệt, độ chênh giữa nền kinh tế toàn cầu và tổ chức chính trị, xã hội mà về cơ bản vẫn còn mang quy mô quốc gia. Ông khảo sát tỉ mỉ quan hệ không bình đẳng giữa trung tâm và ngoại vi, sự đối xử không bình đẳng giữa kẻ cho vay và người vay nợ, cũng như việc đưa một cách sai lầm các giá trị tiền tệ thay cho các giá trị nhân bản, các giá trị con người. Ông đề xuất những giải pháp thực tiễn để có thể ngăn ngừa sự tan rã về tài chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu như thế nào, nêu lên những triển vọng cho một hình thức xã hội mở ít méo mó hơn và đầy đủ hơn. Ông bàn về bối cảnh quốc tế và vạch ra một số bước đi thực tiễn để có thể đạt tới xã hội mở toàn cầu, thực hiện triết lý mà ông đã nêu lên.

Để kết luận, G. Soros khẳng định rằng xã hội mở toàn cầu phải được đặt thành “một chương trình nghị sự quốc tế”. Nó không thể được đưa vào cuộc sống bởi nhân dân hoặc các tổ chức phi chính phủ hành động riêng rẽ. Các Nhà nước có chủ quyền cần phải hợp tác về chính trị. Công luận và xã hội dân sự có vai trò quan trọng, bởi vì trong nền dân chủ, các chính khách phải đáp ứng những đòi hỏi của đông đảo dân chúng. “Ở các chính thể dân chủ vận hành tốt, các chính khách thậm chí còn đóng vai trò thủ lĩnh trong việc động viên công luận. Chúng ta cần đến vai trò thủ lĩnh như thế để hình thành một khối liên kết gồm những quốc gia cùng chung khuynh hướng và quyết tâm tạo dựng một xã hội mở toàn cầu”.

Cuốn sách Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu của G. Soros không phải là một cuốn sách kinh tế đơn thuần. Nó cho ta một cái nhìn tổng quát về thế giới hiện đại và xu hướng phát triển của nó. Ở đó thể hiện những suy tư triết học sâu sắc của G. Soros với tính cách một nhà tài chính, đồng thời là một nhà từ thiện, nhà hoạt động xã hội. Mở đầu cuốn sách ông viết: “Mục đích trước sau của tôi khi viết cuốn sách này là làm rõ cái triết lý đã chỉ đạo tôi suốt đời. Tôi được người ta biết đến với tư cách một nhà quản lý tiền tệ thành công và sau đó là một nhà từ thiện. Đôi khi tôi cảm thấy giống như một con đường tiêu hóa khổng lồ: thu nhận tiền vào ở một đầu và đẩy nó ra ở đầu khác, nhưng thực ra một lượng suy tư to lớn đã gắn kết hai đầu với nhau. Một khung khái niệm mà tôi đã hình thành những ngày tôi là sinh viên, rất lâu trước khi tôi bắt đầu tham gia  vào các thị trường tài chính, đã chỉ đạo cả việc kiếm tiền của tôi và các hoạt động từ thiện của tôi”.

Những suy tư, những nhận định của G. Soros trong sách, đương nhiên, không thể không có những khác biệt so với những gì mà lâu nay nhiều người trong chúng ta thường quan niệm. Sự khác nhau đó là chuyện bình thường. Điều đáng quan tâm ở đây chính là việc G. Soros đã phân tích sâu sắc cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và đề ra những giải pháp không phải là không có cơ sở để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách mà cộng đồng quốc tế mong đợi.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

“Cánh cửa mới” cho giao thương Trung Quốc – ASEAN


Theo giới chuyên gia, việc Trung Quốc đang xúc tiến xây dựng cảng thương mại tự do ở tỉnh đảo Hải Nam, cực Nam Trung Quốc, sẽ mở ra những cánh cửa giao thương mới giữa “gã khổng lồ châu Á” này với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, thành công sẽ đòi hỏi một bước nhảy vọt lớn về sự tin cậy và tinh thần tiên phong.

Theo kế hoạch, Bắc Kinh sẽ biến tỉnh đảo có diện tích 35.000 km2 này thành cảng thương mại tự do lớn nhất thế giới vào năm 2035, thu hút các nhà đầu tư, doanh nghiệp và doanh nhân thông qua mức thuế suất thấp hơn, đồng thời thu hút khách du lịch và tài năng nước ngoài thông qua biện pháp đơn giản hóa thủ tục cấp thị thực nhập cảnh. Hệ thống hải quan độc lập cho tỉnh đảo này cũng sẽ được triển khai vào năm 2025.

Nằm ở cực Nam của Trung Quốc, cảng thương mại tự do Hải Nam có vị trí thuận lợi trong việc tăng cường quan hệ thương mại với các nước ASEAN vốn đã vượt qua Liên minh châu Âu (EU) để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong năm 2020. Các công ty của ASEAN sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi để đầu tư vào Hải Nam, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ, nhờ việc nới lỏng những rào cản và giảm thuế. Đây là tuyên bố của Phó tỉnh trưởng Hải Nam Shen Danyang tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao diễn ra hồi tuần trước. Đánh giá về tiềm năng du lịch, ông Shen cho rằng tỉnh đảo Hải Nam trong tương lai cũng sẽ trở thành một phần của lịch trình du lịch cho du khách quốc tế, mà trước hết là du khách đến từ khu vực Đông Nam Á, khi Hải Nam đang được quy hoạch trở thành một đảo du lịch quốc tế và một trung tâm thương mại miễn thuế. Các công ty lữ hành của nước ngoài sẽ có thể thiết lập văn phòng đại diện tại tỉnh đảo – điều vốn không được phép đối với Đại lục. Quan chức tỉnh đảo lập luận: “Khách du lịch có thể đến Hải Nam trước khi đến thăm các nước như Việt Nam, Campuchia, Indonesia và Singapore. Họ cũng có thể mua sắm hàng hóa miễn thuế và có thể được mang xách tay về nước, với tổng giá trị mặt hàng lên đến khoảng hơn 15.000 USD mỗi người”. Bên cạnh đó, Hải Nam cũng sẽ là địa điểm thăm quan đầu tiên của du khách Đông Nam Á trước khi đặt chân lên Đại lục. Nhấn mạnh về những tiềm năng ngầm ẩn, ông Shen cho biết: “Tiềm năng du lịch sẽ mở rộng quy mô hoạt động du lịch qua lại giữa dư khách của Trung Quốc và du khách của Đông Nam Á đồng thời tạo cơ hội cho hợp tác giáo dục và lao động”. Tỉnh đảo cũng sẽ sớm có các chính sách cho phép người lao động nước ngoài có kỹ năng nhập cảnh để làm việc ở Hải Nam tùy thuộc vào những nhu cầu của thị trường.

Trong năm 2019, lượng khách du lịch đi lại giữa Trung Quốc và các nước ASEAN đã lên đến 65 triệu lượt với gần 4500 chuyến bay, tăng so với 57 triệu lượt và 4000 chuyến bay trong năm 2018. Theo ông Shen, giới đầu tư ở Trung Quốc Đại lục cũng được khuyến khích đăng ký đầu tư ở Hải Nam và khi đó các khoản chi tiêu ở nước ngoài của họ sẽ được hưởng miễn thuế thu thập.

Trong chuyến thăm Hải Nam hồi đầu tháng 4 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh tỉnh đảo này cần trở thành một cảng thương mại tự do có tầm ảnh hưởng trên phạm vi quốc tế song vẫn mang những đặc trưng của Trung Quốc. Tuy nhiên, vẫn còn những quan ngại về việc cảng Hải Nam sẽ hoạt động như thế nào trong tương la khi các hệ thống hải quan, thuế quan và tài chính độc lập với các hệ thống của Đại lục. Tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, ông We Xiaoqiu – nguyên Phó Hiệu trưởng trường Đại học Nhân dân Trung Quốc hiện là Viện trưởng Viện nghiên cứu Thị trường Vốn Trung Quốc – cho rằng “chính quyền Bắc Kinh cần có một kế hoạch cụ thể về những đặc điểm của một hải cảng thương mại tự do hiện đại trong thế kỷ 21, những chính sách về pháp lý, thu hút tài năng, thu hút vốn cũng như những chính sách và chiến lược khác không nằm trong hệ thống chính sách của Đại lục”.

Kế hoạch chuyển đổi Hải Nam thành cảng thương mại tự do quốc tế cũng phù hợp với chiến lược “tuần hoàn kép” của Bắc Kinh vốn nhằm thúc đẩy cả tiêu dùng trong nước và tăng cường khả năng độc lập về kinh tế với các nước bên ngoài nhằm ngăn chặn những tác động do tình trạng bất ổn bên ngoài gây ra đối với hoạt động kinh tế của Trung Quốc.

Ngoài ra, kế hoạch xây dựng cảng thương mại tự do cũng là một phần kế hoạch của Tập Cận Bình nhằm duy trì dòng chảy thương mại dịch vụ và thương mại toàn cầu khi Mỹ đang dọa “phân tách” với Trung Quốc và vai trò của Hong Kong là một trung tâm tài chính quốc tế cũng đang phải đối mặt với những thách thức khó lường sau khi Đại lục triển khai luật an ninh quốc gia gây tranh cãi tại đặc khu hành chính này.

Quá trình chuyển đổi Hải Nam thành cảng thương mại quốc tế thường được so sánh với quá trình chuyển đổi Thâm Quyến thành đặc khu kinh tế trong những năm 1980. Từng là nơi mà người dân sinh sống bằng nghề đánh cá, Thâm Quyến giờ đây đã trở thành một đặc khu kinh tế phát triển mạnh mẽ, thu hút đầu tư và thương mại nước ngoài. Tuy nhiên, theo đánh giá của ông Wu, thành công của Thâm Quyến đã cần đến rất nhiều tinh thần tiên phong và chấp nhận vấp váp để “hái quả ngọt”. Ông Wu nói: “Hải Nam cần có đủ tinh thần kiên cường để gánh vác những trọng trách, không thể biết chắc được rằng đâu sẽ là con đường đi đúng đắn trong giai đoạn tìm tòi hướng đi hiện nay. Có thể có những con đường vòng (để thành công) song chúng ta vẫn phải kiên định đi theo con đường đã chọn hiện nay”.

Theo ông Bert Hofman, Giám đốc Viện nghiên cứu Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore, Hải Nam cũng cần “có chỗ đứng” trong Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) vốn là một thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện nay. RCEP bao gồm 15 thành viên và chiếm gần 1/3 dân số và khoảng 30% GDP toàn cầu. Cũng tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao, ông Hofman cho rằng Hải Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Singapore khi xây dựng cảng thương mại tự do song cần lưu ý một điểm khác biệt là Singapore là mọt quốc gia còn Hải Nam chỉ là một tỉnh đảo. Do đó, ông Hofman cho rằng Hải Nam vẫn cần gắn kết với chính quyền trung ương để vẫn tồn tại như một “mắt xích” trong hệ thống chung của Trung Quốc và đây chính là điều cốt lõi.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Mỹ Latinh nhìn về phương Đông – Phần cuối


Một vài người sẽ không để mắt tới những ý tưởng này, thậm chí tỏ vẻ coi thường vì chúng được các nhà hoạt động cánh tả chiếm thiểu số đề xuất, những người không bỏ qua cơ hội nào để bêu xấu Mỹ. Nhưng khi tạp chí chính trị lâu đời chuyên về châu Mỹ Americas Quarterly mới đây đặt hàng một loạt bài viết từ những tiếng nói có trọng lượng trong khu vực xung quanh câu hỏi các nước Mỹ Latinh cần ứng phó với mối quan hệ tương tác Trung Quốc và Mỹ ra sao, thay vì một cuộc tranh luận nóng bỏng như thường lệ thì những câu trả lời thu về đều là những cách diễn đạt khác nhau của cùng một ý tưởng: khu vực này nên tránh việc chọn bên. Bolsonaro, người trong vai trò ứng viên năm 2018 đã thường xuyên công kích Trung Quốc và thậm chí còn thăm Đài Loan, đã hầu như tránh đối đầu với Bắc Kinh trên cương vị tổng thống và còn bỏ qua những lời khẩn cầu của Chính phủ Joe Biden về việc loại bỏ hoàn toàn tập đoàn Huawei khỏi vai trò nhà cung cấp mạng 5G cho Brazil. Tổng thống trung hữu của Uruguay Luis Lacalle Pou tuyên bố hồi tháng 9/2021 rằng ông sẵn sàng nói chuyện cởi mở với Bắc Kinh về một thỏa thuận thương mại tự do mới, trong đó quốc gia Nam Mỹ tương đối nhỏ bé này có thể đóng vai trò cửa ngõ hội nhập kinh tế của Trung Quốc với phần còn lại của khu vực. Nhiều quan chức Colombia, đồng minh truyền thống và thân cận nhất của Mỹ tại tiểu lục địa Nam Mỹ, đã bóng gió về khả năng gia nhập Sáng kiến “Vành đai và Con đường” trước khi đương kim Tổng thống Duque, một người theo tư tưởng bảo thủ, mãn nhiệm vào tháng 8 tới. Mexico theo cách nào đó là người đứng ngoài xu hướng chung này của khu vực, do tính chất đặc biệt gần gũi về thương mại của quốc gia này với Mỹ. Nhưng ngay cả vậy, sau cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc vào năm 2021, Ngoại trưởng Mexico đã thông báo về những kế hoạch để “mở rộng quan hệ đối tác chiến lược giữa 2 nước”. Hồi đầu tháng 2 vừa qua, Chính phủ Argentina đã ký biên bản ghi nhớ với một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc về việc xây dựng một nhà máy điện hạt nhân với trị giá 8 tỷ USD, khiến cho các thành viên đảng Cộng hòa trong Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ phải đưa ra lời cảnh báo và hối thúc Buenos Aires đảo ngược tiến trình này.

Những cuộc bầu cử sắp tới dường như sẽ còn đẩy khu vực tiến xa hơn theo chiều hướng này, bắt đầu với nền kinh tế lớn nhất Mỹ Latin. Luiz Inácio Lula da Silva, cựu tổng thống Brazil giai đoạn 2003 – 2010 và hiện đang chiếm ưu thế để đánh bại Bolsonaro vào tháng 10 tới và trở lại nắm quyền, từng làm dậy sóng hồi tháng 12 vừa qua với tuyên bố rằng các nước Nam Mỹ cần hình thành một khối với Liên minh châu Âu để “đối mặt với 2 người khổng lồ là Mỹ và Trung Quốc”. Amorim, nhân vật mà nhiều người tin sẽ trở lại ghế Ngoại trưởng Brazil nếu Lula đắc cử, mới đây nói rằng một mối quan hệ khăng khít hơn với Trung Quốc là điều không thể tránh khỏi, tuy nhiên ông cũng bổ sung thêm rằng Brazil không nên lựa chọn Trung Quốc thay cho Mỹ. Tất cả các ứng viên dẫn đầu trong cuộc chạy đua bầu cử tổng thống tại Colombia, sự kiện sẽ diễn ra vào tháng 5 tới, đều có xu hướng ít cam kết với Mỹ hơn Tổng thống Iván Duque hiện tại, đặc biệt là ứng viên trung tả Gustavo Petro, người đang dẫn đầu cuộc đua. Gabriel Boric, tân Tổng thống Chile và cựu lãnh đạo phong phản kháng của sinh viên, từng tuyên bố sẽ không phê chuẩn hiệp ước thương mại thay thế cho TPP, vốn được nhìn nhận như một liên minh kinh tế chống Trung Quốc.

Những tín hiệu cảnh báo

Người ta có thể lập luận rằng các chính trị gia Mỹ Latinh đang để cảm xúc về Washington làm lóa mắt trước những “thành tích bất hảo” của Bắc Kinh về việc đối xử tệ bạc với các đồng minh tại châu Phi và những nơi khác trên thế giới, và cho rằng cả thời điểm lẫn bản chất của lập trường mới nổi này là sai lầm. Nhiều lãnh đạo khác trên thế giới, như tại Australia, Đông Á và một phần của châu Âu, đang trở nên hoài nghi hơn về Trung Quốc, nhất là khi Chủ tịch Tập Cận Bình ngày càng trở nên độc đoán và những hành vi hiếu chiến hơn của Bắc Kinh tại biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) hay các bước đi trấn áp tại Hong Kong và Tân Cương. Trở lại với khu vực này, những khoản cho vay của Trung Quốc là sự hỗ trợ mang tính sống còn cho chế độ độc tài của Nicolás Maduro tại Venezuela, dẫn tới khủng hoảng nhân đạo tại quốc gia Nam Mỹ này và làm dấy lên những câu hỏi rộng mở hơn về tính minh bạch của các nguồn vốn Trung Quốc tại khu vực. Có người cảnh báo rằng với việc cố gắng “đi dây” và né tránh cả Mỹ và Trung Quốc, Mỹ Latinh cuối cùng có thể đánh mất cơ hội từ cả hai nước và bị “cho ra rìa” trong chuỗi cung ứng toàn cầu và các khoản đầu tư mang tính quan trọng sống còn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sau đại dịch. Nhưng cũng có một thực tế khác là những lời khuyên nhủ của Mỹ về Trung Quốc hầu như đều bị phớt lờ tại Mỹ Latinh, khi bị nhìn nhận không khác gì so với phản đối đầy vị kỷ của một thế lực bá quyền đang suy yếu.

Một nhóm nhỏ các nhà hoạch định chính sách của Mỹ về Mỹ Latinh ý thức được thách thức này, và những lời cảnh báo về sự nổi lên của Bắc Kinh trong khu vực giờ đây cũng trở nên nhàm chán như những lời than phiền về “con đường tơ lụa” mới. Hội nghị Thượng đỉnh châu Mỹ sắp tới, dự kiến diễn ra vào đầu tháng 6 tại Los Angeles có thể là diễn đàn nơi Washington chí ít có thể tái tập hợp một phần lực lượng. Nhưng để tạo đột phá thực sự, Mỹ cần phải đặt thêm nhiều tham vọng vào các quân bài của mình. Ví dụ, Mỹ có thể khôi phục cuộc thảo luận về khối tự do thương mại Tây bán cầu vốn đã bị quên lãng bấy lâu nay – nhưng đây rõ ràng là điều bất khả thi với cả Biden và Đảng Cộng hòa của Trump. Washington cũng có thể lôi kéo một số nước bằng việc mở rộng tương đối các chương trình lưu trú cho người lao động nước ngoài, nhưng lựa chọn này sẽ làm gia tăng cảm giác chống người nhập cư vốn đã căng thẳng trong một bộ phận khá lớn cử tri Mỹ. Điều rất tích cực mà Mỹ có thể làm để cạnh tranh với Trung Quốc là ổn định lại trật tự ngay tại trong nước và khôi phục lòng tin về các nguyên tắc và giá trị dân chủ mà đa số người Mỹ Latinh chia sẻ. Còn từ nay tới lúc đó, người ta có thể được nghe ngày càng nhiều trong những cuộc trao đổi và tranh luận tại khu vực này rằng rốt cuộc cũng chẳng có nhiều khác biệt trong thực hành giữa Washington và Bắc Kinh.

Rõ ràng, các nước Mỹ Latinh có quyền theo đuổi một chính sách đối ngoại độc lập phù hợp với các lợi ích chủ quyền của mình. Nhưng trong quá trình này, các nước trong khu vực xoay chuyển những kỳ vọng dài hạn về hành xử của họ trong các liên kết về chính trị, kinh tế và quân sự trong những năm tới. Khó có thể tránh khỏi cảm giác về việc bản đồ địa chính trị đang được vẽ lại, và giờ đây lòng trung thành và sự ủng hộ của khu vực Mỹ Latinh cần phải được thêm vào danh sách ngày càng dài các ưu thế mà Mỹ không còn nghiễm nhiên được thụ hưởng.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/reviews/review-essay/2022-02-24/latin-america-looks-east

TLTKĐB – 16/04/2022

Mỹ Latinh nhìn về phương Đông – Phần đầu


Brian Winter

Ngày nay, Mỹ Latinh cũng phân cực như phần còn lại của phương Tây, khi bị chia rẽ bởi những cuộc tranh luận gay gắt và những “cuộc chiến Twitter” vì đủ loại đề tài, từ “tư tưởng giới tính” cho tới cách thức tái kích hoạt các nền kinh tế bị đại dịch COVID-19 tàn phá. Tuy nhiên, nhiều chính trị gia Mỹ Latinh từ cả phe tả lẫn phe hữu ngày càng càng đồng thuận với nhau rằng trong cuộc đối đầu toàn cầu ngày càng gay gắt giữa Trung Quốc và Mỹ, các nước trong khu vực nên thực sự theo đuổi một con đường độc lập và không liên kết với bên nào. Lập trường này, vốn dường như sẽ được củng cố thêm sau các cuộc bầu cử trong năm nay tại 2 quốc gia quan trọng trong khu vực là Brazil và Colombia, rất có thể là diễn biến chính sách đối ngoại quan trọng nhất của khu vực kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.

Quá trình dịch chuyển sang đường lối trung lập giữa Bắc Kinh và Washington bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ, khá lâu trước cả khi Trung Quốc giành được ảnh hưởng sâu rộng tại khu vực như ngày nay. Ngay khi quá trình liên kết lâu dài với Washington và kèm theo đó là quá trình chuyển hướng sang dân chủ và các thị trường mở bắt đầu giảm tốc, Trung Quốc đã bắt đầu quá trình thâm nhập phi thường của mình vào khu vực này. Giá trị thương mại của Trung Quốc với Mỹ Latinh và Caribe tăng vọt từ mức 18 tỷ USD năm 2002 lên mức 450 tỷ USD năm 2021, với động lực chính là nhu cầu của Trung Quốc về các sản phẩm nguyên liệu như đậu tương, quặng sắt và dầu thô. Trong những năm gần đây, kể cả những lãnh đạo hữu khuynh thân Mỹ, như Tổng thống Jair Bolsonaro của Brazil, Tổng thống Sebastián Piñera của Chile hay Tổng thống Iván Duque của Colombia, đều “nhún vai” phớt lờ cảnh báo của Washington về những rủi ro của mối ràng buộc kinh tế với Trung Quốc và của dòng vốn đầu tư cùng công nghệ từ quốc gia đông dân nhất thế giới này, bao gồm cả các mạng 5G tại một số nước, các mỏ khai thác lithium tại Chile, và công trình xây dựng một tuyến tàu điện ngầm mới tại thủ đô Bogota của Colombia. Ngày nay, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ hai của khu vực Mỹ Latinh và là bạn hàng lớn nhất của Brazil, Chile, Peru và Uruguay. Chỉ trong tháng 2/2022, Tổng thống Ecuador và Tổng thống Argentina đã thăm Bắc Kinh với mục tiêu thương lượng một thỏa thuận thương mại mới (Ecuador) hay trở thành điểm thu hút chính đầu tư của Trung Quốc vào cơ sở hạ tầng thông qua việc tham gia sáng kiến “Vành đai và Con đường” (Argentina).

Qua bước tiến ngoạn mục này, nhiều nước khu vực giờ đây chào đón Trung Quốc như những “vị khách sộp” mới, một lựa chọn xứng đáng thay thế cho Mỹ, nước có lối hành xử trịnh thượng kiểu đế quốc tại khu vực này hơn 200 năm. Nhưng cho tới gần đây, vẫn có niềm tin khá vững chắc tại đa phần các nước Mỹ Latinh, và ngay cả tại Mỹ, rằng nếu bị đẩy tới lựa chọn sống còn khi thế giới bị phân cực trắng đen rõ ràng – giả sử như trong trường hợp Bắc Kinh tấn công xâm lược Đài Loan – thì đa phần các nước trong khu vực cuối cùng cũng đứng về phía Mỹ, như đại đa số họ đã từng làm trong Chiến tranh Lạnh. Nói cho cùng, Mỹ Latinh vẫn được coi là một phần của thế giới phương Tây. Họ đã quá quen thuộc với nếp nghĩ theo kiểu dân chủ và có những quan hệ kinh doanh và văn hóa thâm căn cố đế với Mỹ – nơi mà không phải ngẫu nhiêu khi một lượng đáng kể bộ phận dân chúng Mỹ Latinh sinh sống. Nhưng một số diễn biến gần đây dường như đang làm thay đổi tính toán đó. Những hành xử không đúng mực với các đồng minh truyền thống của Mỹ, kể cả Mexico, trong nhiệm kỳ của cựu Tổng thống Donald Trump, và tiếp đến là những hình ảnh gây sốc của cuộc bạo loạn tháng 01/2021 tại Đồi Capitol ở Washington, đã khiến nhiều lãnh đạo Mỹ Latinh phải nghiêm túc đặt ra nghi vấn về tính khả tín dài hạn của Washington trong vai trò một đối tác chiến lược. Việc cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đều ngừng ủng hộ định hướng tự do thương mại càng làm rõ cảm nhận rằng Trung Quốc có thể là cứu cánh duy nhất cho “cơn đói khát” các thị trường xuất khẩu mới và các nguồn vốn đầu tư để tăng trưởng kinh tế sau đại dịch COVID-19, vốn gây ra tác động đặc biệt nặng nề tại Mỹ Latinh. Mặc dù cũng có những tiếng nói lập luận rằng đây là lối tư duy thiển cận và bỏ qua những khiếm khuyết của chính Trung Quốc trong vai trò đối tác chiến lược, nhưng không dễ bỏ qua cảm giác được “giã đúng chỗ ngứa” và rằng luận điểm mặc định bấy lâu nay về cái gọi là khu vực ảnh hưởng của Mỹ tại Tây bán cầu giờ đây vẫn cần được rà soát lại.

Vận mệnh hiển nhiên

Một cuốn sách quan trọng mới xuất bản mang tên “Chủ động không liên kết và Mỹ Latinh: học thuyết cho thế kỷ mới”, với sự đóng góp của một vài nhân vật lãnh đạo chính sách nổi bật trong khu vực như Bộ trưởng Quốc phòng Argentina Jorge Taiana, và các cựu Ngoại trưởng Jorge Castañeda của Mexico và Celso Amorim của Brazil, có thể giúp lý giải phần nào lối tư duy trong khu vực. Bên cạnh cảm giác ngày càng bất an về sức mạnh của các thể chế dân chủ Mỹ, các tác giả còn chỉ ra quyết định của Mỹ năm 2017 khi từ bỏ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong đó Chile, Mexico và Peru là các nước ký kết, như một bước ngoặt cho vị thế của Washington tại khu vực. Quyết định này, cùng với việc Chính quyền Trump không ngừng đe dọa đưa ra các trừng phạt bằng biểu giá thuế như một công cụ chính trị, đã khiến nhiều nhà hoạch định chính sách trên khắp Mỹ Latinh đi tới kết luận rằng họ phải đa dạng hóa quan hệ thương mại để giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ. Những cuộc tranh cãi về chính sách của Tổng thống Joe Biden vừa qua cùng khả năng Trump trở lại Nhà Trắng năm 2024 càng xóa bỏ những hi vọng của họ rằng bước thụt lùi trong những năm vừa qua chỉ là hiện tượng nhất thời.

Nhưng cả những sự kiện nội bộ trong các nước cũng đang dẫn tới thay đổi. Những năm 2010 là một thập kỷ trì trệ về kinh tế, bất ổn về xã hội và xói mòn về dân chủ tại Mỹ Latin. Đây cũng là khu vực chịu tác động nặng nề nhất từ COVID-19, khi chiếm tới 30% số nạn nhân tử vong của đại dịch, bất chấp chỉ chiếm 8% dân số toàn cầu. Nền kinh tế khu vực sụt giảm bình quân 7% trong năm 2020 và chỉ có mức độ tàn phá kinh tế tại khu vực đồng euro mới có thể so sánh được. Cho dù có rất nhiều nguyên nhân cho những khó khăn của Mỹ Latinh, từ tình trạng bất bình đẳng cao độ tới việc các hệ thống y tế thiếu hụt ngân sách, một số nhà chiến lược đã kết luận rằng khu vực có vị thế yếu kém xem xét từ góc độ liên kết quốc tế, và lưu ý rằng Mỹ ban đầu đã giữ lại vaccine cho nhu cầu nội bộ thay vì cung cấp cho các đồng minh phía Nam. “Đã tới lúc phải chấm dứt vị thế ngày càng thứ yếu của khu vực”, các tác giả cuốn sách đã viết ngay trong lời giới thiệu, và bổ sung: “điều này gắn liền với việc nắm lấy vận mệnh của chính mình, không để rơi vào tay người khác”.

Trên thực tế, khái niệm “không liên kết” được nêu trong tiêu đề của cuốn sách này không hẳn là một sự gợi nhớ lại phong trào quốc tế được cố Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru sáng lập vào những năm 1960, phong trào tự quảng bá là một lựa chọn khác so với hai thái cực của Chiến tranh Lạnh nhưng trên thực tế lại thường hoạt động như một diễn đàn chống Mỹ một cách khéo léo. Khái niệm hiện đại đang ngày càng trở nên hấp dẫn tại Mỹ Latinh, được học giả Argentina Juan Gabriel Tokatlian nêu trong cuốn sách dưới thuật ngữ trên, hàm ý nói về một chính sách đối ngoại “cân bằng” giữa Washington và Bắc Kinh, không phụ họa và cũng không thù địch với bất kỳ bên nào. Những người đóng góp ý kiến khác trong tác phẩm này thì nhấn mạnh tới sự cần thiết của hội nhập kinh tế sâu rộng hơn, kể cả bên trong khu vực Mỹ Latinh, cũng như trong quan hệ với các nước châu Phi và châu Á, mở rộng các mối quan hệ “Nam-Nam”, vốn từng là trào lưu thời thượng vào hồi đầu thế kỷ. Một số chiến lược gia khác lại chú trọng việc hướng tới coi các nước châu Âu là đối tác để tránh bị phụ thuộc quá nhiều vào cả Washington lẫn Bắc Kinh.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/reviews/review-essay/2022-02-24/latin-america-looks-east

TLTKĐB – 16/04/2022

Thị trường nguyên liệu: Thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã – Phần cuối


Sự biến động quá lớn ảnh hưởng nặng nề đến những khách hàng có nhu cầu tiêu thụ thực sự cũng như người sản xuất. Xavier Gravelat, Chủ tịch Hiệp hội các nhà xuất khẩu khoáng sản New Caledonia, cho rằng các hiện tượng như trên là “hoàn toàn sai trái, thậm chí đáng ghê tởm”. New Caledonia chiếm từ 6 – 7% nguồn cung nikel của thế giới.

Nguyên nhân xuất phát từ Trung Quốc. Xiang Guangda là tỷ phú sở hữu Tsingshan Holding Group, tập đoàn số một thế giới trong lĩnh vực kinh doanh nikel và thép không gỉ. Trong giới kinh doanh, ông có biệt danh là “Big Shot” và nổi tiếng với những phe đặt cược nhiều rủi ro. Trước chiến tranh Ukraine, Xiang Guangda đã đánh cược giá nikel sẽ giảm. Theo một cuộc điều tra của hãng thông tấn Bloomberg, riêng Xiang Guangda đã nắm trong tay 12% tổng số các hợp đồng mua bán nikel tại LME. Khi giá nikel bắt đầu tăng do chiến tranh và nguồn cung từ Nga bị ảnh hưởng mạnh, Xiang Guangda bắt đầu hoảng sợ. Ông tìm cách mua lại nikel và đẩy giá tăng vọt. Điều đó làm cho vấn đề của ông càng trầm trọng.

Trong bối cảnh đó, sự can thiệp của LME vào phiên giao dịch ngày 8/3 gây nghi ngờ lớn. Với việc ra lệnh hủy khẩn cấp các giao dịch, lãnh đạo thị trường trên thực tế đã hỗ trợ cho Big Shot, quẳng cho ông một chiếc phao cứu sinh đúng lúc. Cơ quan quản lý tài chính Anh phản ứng ra sao? Họ hầu như không có phản ứng gì. Từ trước đến nay, cơ quan này chịu trách nhiệm giám sát các ngân hàng và thị trường chứng khoán vẫn có truyền thống để LME tự hành động. Điều đáng chú ý là từ năm LME rơi vào tay Thị trường chứng khoán Hong Kong, cổ đông lớn nhất của tập đoàn lại là Chính quyền Hong Kong. Liệu có mối liên hệ nào giữa sự cố của Xiang Guangda và điều này hay không?

Giá nguyên liệu từng bị kiểm soát chặt chẽ

Giáo sư Chalmin cho biết: “Trong thập kỷ 1960, mọi người có thể ngủ ngon vì biết chắc ngày mai giá USD, dầu lửa, đồng và lúa mì sẽ không thay đổi. Còn ngày nay thì ia cũng tin rằng tất cả sẽ biến động”. Tương tự như các loại ngoại tệ trước khi xuất hiện hệ thống Bretton Woods năm 1971, giá nguyên liệu được điều tiết chặt chẽ. Dầu lửa là ví dụ điển hình. Cho đến tận những năm 1960, sản xuất vàng đen gần như chịu sự chi phối hoàn toàn của 7 tập đoàn dầu lửa khổng lồ của Mỹ và Anh – tiền thân của BP, Shell và Exxon ngày nay. Họ tiến hành hút dầu thô ở nước ngoài, chủ yếu là ở vùng Vịnh, sau đó tự lọc dầu tại các nhà máy của chính mình và bán ra cũng ở các cây xăng do họ kiểm soát. Hiếm khi các chuyến hàng lớn được giao dịch bên ngoài hệ thống. Ngành công nghiệp dầu mỏ được tổ chức chặt chẽ theo chiều dọc. Không có thị trường, giá dầu được quyết định chủ yếu dựa trên giá thành. Việc Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) giành lại quyền điều hành trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã làm thay đổi cán cân sức mạnh, nhưng không làm thay đổi cơ cấu giá. Sau đó, một số nước đã tiến hành quốc hữu hóa và kiểm soát trữ lượng dầu khí, nhưng giá cả vẫn do các tập đoàn ấn định.

Tất cả chỉ thay đổi sau khi Ronald Reagan lên làm tổng thống Mỹ. Vốn là người ủng hộ tuyệt đối việc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước, nhà lãnh đạonày không chấp nhận việc Chính phủ Mỹ tùy tiện định giá dầu ở mức thấp, thấp hơn nhiều so với mức giá của OPEC, để hỗ trợ người tiêu dùng. Ngày 28/01/1981, Reagan cho phép thả nổi thị trường dầu. Các tập đoàn dầu lửa Mỹ đã lợi dụng cơ hội này để tăng sản lượng, khiến cho giá thị trường sụp đổ. OPEC mất khả năng can thiệp và mất dần thị phần do sản lượng dầu ở Biển Bắc tăng quá nhanh. Sau vài năm, tổ chức này cũng phải bỏ ý định và chấp nhận quy luật cung cầu. Từ đó, OPEC chỉ giới hạn hành động ở việc tăng giảm lượng khai thác để tác động đến xu hướng giá.

Nông nghiệp lại là lĩnh vực khác. Có hàng nghìn nhà sản xuất và họ phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Từ năm 1848, Sàn giao dịch Chicago đã thiết lập những hợp đồng tương lai đầu tiên về việc niêm yết trên thị trường chứng khoán. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, châu Âu định đưa biến động giá cả thị trường vào khuôn khổ. Năm 1957, Chính sách nông nghiệp chung của châu Âu đã ấn định giá cả ở mức cao nhằm khuyến khích các nhà đầu tư và cải thiện năng suất. Tuy nhiên, hệ thống nhanh chóng bộc lộ những bất cập. Đầu năm 1990, giá ngũ công châu Âu tăng gần gấp đôi so với giá bên ngoài. Do đó, ngành chăn nuôi châu Âu ngày càng tiêu thụ ít ngũ cốc do châu Âu sản xuất. Để trợ giá, các chính phủ đã dành một phần lớn ngân sách và kho bãi để tích trữ và kích thích xuất khẩu. Dần dần, chính sách quản lý giá bị bãi bỏ và biến mất hoàn toàn vào năm 2006. Từ đó đến nay, giá cả hoàn toàn do thị trường thế giới quyết định. Theo giáo sư Chalmin, điều này khiến cho kẻ mạnh càng mạnh thêm và kẻ yếu càng yếu đi.

Các trung tâm giao dịch chiếm ưu thế

Với việc tự do hóa giá nguyên liệu, một nghề mới đột nhiên thịnh hành: trung gian môi giới. Rất nhiều nhân tố mới bắt đầu tham gia mua bán khối lượng lớn dầu mỏ, lúa mì và khoáng sản. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ cuối năm 1989, mở toang cánh cửa dẫn tới các nguồn nguyên liệu lớn được đổ vào thị trường thế giới, xu hướng này lại càng tăng, đặc biệt là sau sự bùng nổ của kinh tế Trung Quốc. Hàng loạt tên tuổi mới lộ diện như Glencore, Vitol, Trafigura, Cargill và Louis-Dreyfus. Năm 2019, 4 tập đoàn đứng đầu sàn giao dịch nguyên liệu  đã có doanh số lên đến 725 tỷ USD. Trong ngành nông nghiệp, 7 công ty kiểm soát một nửa thương mại toàn cầu. Các công ty này chủ yếu đặt trụ sở tại Thụy Sỹ, ít khi xuất hiện trên truyền thông và thích đứng trong bóng tối. Theo Blas, họ không ngại đùa giỡn với cái đói của hàng triệu người trên thế giới.

Giữa năm 2010, một vụ hạn hán lớn đã khiến sản lượng lúa mì của Nga giảm mạnh. Nhiều người thắc mắc liệu Moskva có dừng xuất khẩu hay không. Ngày 3/8, Yury Ognev, trung gian cho các giao dịch ngũ cốc của Glencore tại Nga, đã lên truyền hình kêu gọi Moskva phong tỏa xuất khẩu. Ông nói: “Theo quan điểm cá nhân của tôi, chính phủ có mọi lý do để ngừng xuất khẩu”. Để chắc chắn thông điệp được truyền tải, Yury Ognev đã gửi thêm một thông cáo báo chí cho các phóng viên. Hai ngày sau, Nga thông báo ngừng xuất khẩu, khiến giá lúa mì thế giới tăng vọt.

Điều mà Yury Ognev không nói ra là Glencore đã âm thầm mua rất nhiều hợp đồng tương lai tại Sàn chứng khoán Chicago và đánh cược rằng giá lúa mì sẽ tăng mạnh. Tuyên bố của Yury Ognev đã giúp Glencore vớ bẫm. Năm 2010, bộ phận giao dịch nông sản của Glencore đã thu về khoản lợi nhuận 659 triệu USD. Cùng năm, giá lương thực nhảy múa đã góp phần làm bùng phát phong trào Mùa xuân Arab. Theo Blas, các hãng trung gian đã trở thành những “tay buôn quyền lực”.

Thiên nhiên – hàng hóa mới của giao dịch tài chính

Trong khi giá cả đang nhảy múa, một loại nguyên liệu mất giá nhanh chóng: Đó là CO2. Giá CO2 theo Giấy phép ô nhiễm của EU có lúc giảm từ 90 euro/tấn xuống còn 58 euro/tấn, trước khi trở lại mức 80 euro/tấn. Thông thường dầu càng đắt, thì quyền phát thải khí gây ô nhiễm càng tăng giá.

Tại sao lại có xu hướng ngược như vậy? Nhiều nhà phân tích cho rằng đó là bằng chứng của hiện tượng giao dịch theo mô hình thị trường tài chính: Trước cơn bão tài chính, các nhà đầu tư cần tiền và do đó quyết định bán quyền phát thải mà họ nắm giữ. Theo nhận định của Frédéric Hache, nhà hoạt động của Tổ chức quan sát tài chính xanh, thị trường phát thải CO2 đang thay đổi về quy mô. Tương tự như thị trường nguyên liệu đầu những năm 2000, một dòng vốn đầu tư bên ngoài bắt đầu đổ vào “tài sản môi trường”.

Vấn đề là rất nhiều sản phẩm tài chính như vậy có hại cho hành tinh. Đã xuất hiện thêm nhiều dự án bù đắp cho lượng phát thải carbon, chủ yếu là dự án trồng cây theo mô hình độc canh. Những dự án như vậy lấy đi rất nhiều đất đai lẽ ra dành cho nông nghiệp và do đó có nguy cơ đẩy giá lương thực lên cao.

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

Thị trường nguyên liệu: Thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã – Phần đầu


Theo báo Le Monde (Pháp), bão giá hàng hóa nguyên liệu gần đây bắt nguồn chủ yếu từ cuộc chiến tranh Ukraine, đồng thời là hậu quả của việc giao dịch nguyên liệu giống như trên thị trường tài chính và việc buông lỏng quản lý, hiện tượng bắt đầu cách đây 40 năm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trung gian “làm mưa làm gió”.

Trong 3 năm qua, giá dầu tăng 4 lần, giá khí đốt tăng 10 lần và giá lúa mì tăng 2,5 lần. Sau khi Nga phát động cuộc chiến tranh Ukraine ngày 24/2, giá các loại nguyên liệu đã tăng với tốc độ kỷ lục và thế giới bước vào thời kỳ giá cả dao động mạnh. Khủng hoảng giá cả diễn ra đối với nhiều mặt hàng, bắt đầu từ điện và khí đốt. Dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm ít nhất 1% và thế giới có nguy cơ bước vào thời kỳ suy thoái vào năm 2023.

Đó là hậu quả khó tránh khỏi của quy luật thị trường hay dấu hiệu của sự vận hành có vấn đề của nền kinh tế? Thị trường nguyên liệu chưa bao giờ vận hành một cách hỗn loạn như hiện nay. Javier Blas, đồng tác giả cuốn sách được đánh giá cao có nhan đề “Bán cả thế giới” nhận xét: “Điều khó tin nhất liên quan đến hiện tượng này là các chính phủ đã mất khả năng kiểm soát thị trường nguyên liệu từ cách đây 40 năm”. Giáo sư lịch sử kinh tế Philippe Chalmin thuộc Đại học Dauphine (Pháp) cũng có đánh giá tương tự: “Trong 40 năm qua, nguyên liệu đã trở thành hàng hóa giao dịch giống như bất kỳ sản phẩm nào khác”.

Đã qua cái thời mà giá nguyên liệu được điều tiết chặt chẽ. Sự buông lỏng quản lý cùng với xu hướng giao dịch thái quá và thiếu minh bạch giống như trên thị trường tài chính đã tạo ra một thế giới mới chịu sự chi phối của một nhóm nhỏ gồm các công ty có ảnh hưởng lớn. Như lời của Blas, thị trường nguyên liệu là “thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

Giao dịch tài chính thái quá trên thị trường nguyên liệu

Ngày 20/4/2020, trong khi thế giới vẫn đang chìm trong đại dịch COVID-19, một hiện tượng chưa từng có đã xuất hiện và gây sửng sốt cho tất cả các nhà giao dịch dầu mỏ. Trên thị trường thương mại New York, giá dầu đã rơi xuống mức -37,63 USD/thùng. Vì mỗi hợp đồng dầu mỏ phải có số lượng ít nhất 1000 thùng, nên điều đó đồng nghĩa với việc người bán chấp nhận trả cho người mua ít nhất 37.630 USD để thoát nợ. Nguyên nhân của hiện tượng này là sự giao thoa giữa đầu cơ tài chính và hàng hóa thực tế.

Trở lại năm 1983 tại Mỹ, lần đầu tiên dầu mỏ trở thành một loại hàng hóa trong giao dịch tài chính. Hợp đồng dầu tương lai đầu tiên đã được West Texas Intermediate (WTI), hệ thống tiêu chuẩn Mỹ về chất lượng dầu thô, thiết lập. Đối với mỗi hợp đồng, người bán cam kết giao dầu thô tại một thời điểm định trước với mức giá định trước. Nhưng đây không phải là một hợp đồng trừu tượng, mà nó gắn liền với thực tế: Đến kỳ hạn, dầu sẽ được chuyển đến Cushing, bang Oklahoma, nơi đặt nhiều nhà máy lọc dầu của Mỹ.

Đối với các doanh nghiệp phụ thuộc vào dầu lửa, hợp đồng tương lai là điều đáng quý. Nhờ đó, một công ty hàng không có thể đàm phán mua trước nhiên liệu với mức giá phù hợp. Nhưng để cả hệ thống hoạt động, cần phải có sự tham gia của các nhà đầu cơ chấp nhận mua và bán sản phẩm này, đồng thời đóng vai trò trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu thụ.

Những người trung gian này giữ vai trò ngày càng quan trọng. Theo một nghiên cứu của hai giáo sư Michel Robe và John Roberts thuộc Đại học Illinois, lực lượng đầu cơ thuần túy chiếm 50 – 70% khối lượng giao dịch trên thị trường nông sản Mỹ. Đối với lúa mì, chỉ khoảng 24 – 39% giao dịch thuộc về các doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ thực sự, số còn lại thuộc về các nhà đầu tư.

Khi khủng hoảng COVID-19 bùng phát, giá dầu rơi xuống mức thấp nhất. Giới đầu cơ thấp thỏm khi các hợp đồng phải được thực hiện đúng ngày 21/4 nhưng không có người mua nào quan tâm. Họ đứng trước nguy cơ phải ôm rất nhiều dầu sẽ được giao mà không có cách xử lý thỏa đáng. Không thể lập tức mua kho chứa vì tất cả đều đầy trong khi mức tiêu thụ dầu trên thế giới giảm đến một phần tư. Đến ngày 17/4, nỗi hoảng loạn lan rộng khắp thị trường. Cần phải nhanh chóng giải quyết một lượng dầu lớn trong bối cảnh các doanh nghiệp nắm giữ các kho chứa có ưu thế trong đàm phán và do đó có thể mua vào với giá rẻ mạt.

Liệu đây có phải bằng chứng cho thấy thị trường nguyên liệu nằm ngoài vòng kiểm soát? Giáo sư Joĕlle Miffre thuộc Trường kinh doanh Audencia (Pháp) đã theo dõi rất sát thời kỳ giá dầu rơi xuống mức âm như vậy. Bà thừa nhận việc giá dầu từ -37 USD/thùng leo lên 139 USD/thùng trong vòng 2 năm là hiện tượng lạ thường, nhưng cho rằng thị trường có khả năng tự điều tiết và các ngân hàng đầu tư tạo điều kiện cho việc thanh khoản và hình thành giá cả. Các cú sốc năm 1973 và 1979 đã diễn ra trước giai đoạn tài chính hóa thị trường dầu mỏ, khi các hợp đồng tương lai vẫn chưa xuất hiện. Mặt khác, nhiều loại nguyên liệu không được giao dịch dưới hình thức hợp đồng tương lai cũng rơi vào tình trạng bấp bênh. Ví dụ như thị trường lithium, không có các hợp đồng kỳ hạn, nhưng trong vòng một năm, giá cả đã tăng đến 8 lần. Giáo sư Robe cho rằng hiện chưa có dấu hiệu rõ ràng về việc thao túng. Ông cho rằng cuộc chiến Ukraine đã làm thay đổi tình thế và giá cả là sự phản ánh chính xác tình hình thực tế.

Từ năm 2000, các ngân hàng đầu tư đã tạo ra những bộ phận mới để phụ trách thị trường nguyên liệu. Giới đầu tư đánh cược vào biến động giá cả mà không quan tâm tới ảnh hưởng của nó đến đời sống thực. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNECE) đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng này. Trước năm 2000, những diễn biến về giá nguyên liệu độc lập với thị trường tài chính. Nhưng từ năm 2000 trở đi, hai yếu tố này có liên quan đến nhau.

Nikel – một trường hợp kỳ lạ

Sàn giao dịch kim loại London (LME), nằm ở trung tâm thành phố, có bề dày lịch sử đáng tự hào. Nó được thành lập vào năm 1877, sở hữu một mạng lưới kho chứa rộng lớn và vẫn duy trì giao dịch bằng cách hô giá như ở thời điểm cách đây cả trăm năm. Trong tất cả các ngày, một vài nhà giao dịch sẽ tề tựu xung quanh những chiếc bàn đỏ để trao đổi hợp đồng bằng cách hét giá thật to, một cảnh tượng rất lạ với những người không am hiểu.

Thực tế từ rất lâu, giao dịch đã được thực hiện chủ yếu qua máy tính. Đêm 7/3 rạng sáng 8/3 vừa qua là thời điểm đặc biệt. Giá nikel, kim loại quan trọng được sử dụng trong chế tạo ắc quy xe điện và thép không gỉ, bất ngờ vọt lên đến 100.000 USD/tấn, tăng hơn 4 lần so với thời điểm hai ngày trước đó. Đến 8h15’, ban lãnh đạo LME đã đưa ra một quyết định chưa từng có: không chỉ dừng niêm yết, một động thái bình thường khi thị trường hỗn loạn, mà còn hủy một số giao dịch đã được thực hiện trong đêm.

Điều này làm mất lòng tin vào thị trường. Michael Marlowe, Giám đốc Công ty tư vấn kim loại Hythe Bay Metals, cho rằng LME muốn kiếm tiền dễ dàng bằng cách thu hút các giao dịch được thực hiện với tần suất cực ngắn, chỉ vài phần nghìn giây dựa trên thuật toán số học. Ông cho rằng không thể tư vấn chính xác cho khách hàng về những giao dịch vô lý như thế.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

Khả năng Iran trở thành đối tác năng lượng mới của châu Âu


Báo Die Welt (Thế giới) của Đức ngày 6/4 có bài bình luận về khả năng thiết lập đối tác năng lượng mới giữa Liên minh châu Âu (EU) và Iran, nội dung chính như sau:

Iran có trữ lượng khí đốt khổng lồ. Một thỏa thuận hạt nhân mới giữa Iran và phương Tây có thể sắp được ký kết, qua đó giúp Tehran quay trở lại thành một đối tác thương mại và nhà cung cấp năng lượng hợp pháp. Tuy nhiên, phương Tây có nguy cơ lặp lại một sai lầm với quốc gia này.

Trong bối cảnh xung đột Nga – Ukraine, chủ đề cấm vận năng lượng đối với Nga ngày càng được tranh luận sôi nổi, cùng với đó là việc tìm kiếm các nhà cung cấp năng lượng thay thế. Đối với Đức – nền kinh tế đầu tàu châu Âu và là quốc gia phụ thuộc rất lớn và khí đốt và dầu mỏ từ Nga, Berlin vẫn chưa rõ quốc gia nào có thể là cung cấp năng lượng thay thế Nga. Câu trả lời ngắn gọn là không có nhà cung cấp nào. Do đó, Đức vẫn đang phải cố gắng đa dạng hóa nguồn cung với nhiều nhà cung cấp mới.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế Đức Robert Habeck đã tới Qatar với mục đích đó. Quốc gia nhỏ bé này có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn, được lưu trữ trong các mỏ khí dưới đáy biển ngoài khơi bờ biển Qatar. Tuy nhiên, khả năng để Qatar có thể đáp ứng ngay tất cả nhu cầu của Đức là không dễ dàng.

Iran cũng nhiều lần được nhắc đến như một nhà cung cấp năng lượng tiềm năng, nhất là khi tiến trình đàm phán một thỏa thuận hạt nhân mới giữa các nước phương Tây và nước này có tiến triển tốt. Theo thông báo chính thức từ cả hai bên, một thỏa thuận hạt nhân mới sắp hoàn thành. Iran cam kết giảm hoạt động làm giàu uranium và phương Tây sẽ dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với quốc gia Hồi giáo này.

Iran có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai và là nhà sản xuất dầu lớn thứ tư trên thế giới. Nếu thỏa thuận hạt nhân mới được ký kết, Tehran một lần nữa sẽ trở thành đối tác thương mại hợp pháp và nhà cung cấp năng lượng tiềm năng. Điều này sẽ rất đáng chú ý, đặc biệt là trên thị trường dầu mỏ. Chuyên gia kinh tế Ali Vaez từ tổ chức International Crisis Group cho rằng việc công bố một thỏa thuận hạt nhân mới sẽ có tác động ngay lập tức đến tâm lý thị trường dầu mỏ.

Hiện giá dầu trên thị trường thế giới đang ở mức hơn 100 USD/thùng, mức rất cao trong vòng 10 năm qua, Iran có thể giúp tăng nguồn cung và do đó làm giảm giá dầu. Một khi các lệnh trừng phạt thương mại được dỡ bỏ, Tehran ngay lập tức có thể xuất xưởng hàng trăm nghìn tấn dầu mỗi ngày. Trong vòng vài tháng, Iran có thể tăng sản lượng từ 1 triệu lên đến 1,5 triệu tấn mỗi ngày. Mặc dù khối lượng đó vẫn không thể thay thế năng lực giao hàng khoảng 7 triệu tấn mỗi ngày của Nga, nhưng đó sẽ là một bước khởi đầu mới.

Bộ trưởng Dầu mỏ Iran Javad Owji cũng nhấn mạnh rằng Tehran có “năng lực cần thiết” để cung cấp cả khí đốt cho các nước láng giềng và thậm chí cả châu Âu. Với khối lượng khí đốt tự nhiên ước tính vào khoảng 34.000 tỷ mét khối, Iran là quốc gia có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, hầu hết trữ lượng đó chưa được khai thác. Iran xuất khẩu tối đa 25 tỷ mét khối mỗi năm. Để so sánh, lượng khí đốt xuất khẩu của Nga lên tới khoảng 180 tỷ mét khối/năm.

Chuyên gia kinh tế Ali Vaez cho rằng mặc dù Tehran có thể đáp ứng nhu cầu khí đốt của chính mình và cung cấp lượng khí dư thừa cho các nước láng giềng gần kề, nhưng hiện quốc iga này không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của châu Âu. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc vận chuyển khí đốt từ Iran tới châu Âu như các đường ống hoặc các cảng khí lỏng cũng không tồn tại.

Trước đây, đã có một số nỗ lực đưa khí đốt từ Iran đến châu Âu như nỗ lực của Thổ Nhĩ Kỳ – Iran đưa khí đốt từ Iran qua đường ống Nabucco (dự án đã thất bại) qua Thổ Nhĩ Kỳ tới châu Âu. Dự án này nhằm giảm sự phụ thuộc của châu Âu vào khí đốt từ Nga. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Mỹ và EU đã lên tiếng phản đối sự tham gia của Iran. Những tranh cãi về vấn đề hạt nhân với Iran và các lệnh trừng phạt của Mỹ khi đó đã ngăn cản Tehran trở thành một nhà cung cấp khí đốt quan trọng của thế giới. Hiện Iran không đủ tiềm lực đầu tư vào lĩnh vực khai thác khí đốt. Theo các số liệu chính thức, cần tới 160 tỷ USD để có thể biến Iran thành một nhà cung cấp dầu và khí đốt hàng đầu thế giới.

Với khoản đầu tư cần thiết, chuyên gia Ali Vaez cho rằng Iran có thể thay thế Nga trở thành nhà cung cấp khí đốt trong vòng 5 đến 7 năm. Thế nhưng, phương Tây đã rút ra bài học từ cuộc khủng hoảng Ukraine rằng việc tự rằng buộc với một nhà cung cấp năng lượng không chia sẻ các giá trị chung với phương Tây là rất rủi ro. Châu Âu không sẵn sàng phạm sai lầm tương tự tại Iran.

Dưới góc độ nhân quyền, không có một giải pháp thực sự tốt nào ở Trung Đông để thay thế nguồn cung từ Nga. Tuy nhiên, chuyên gia Ali Vaez cho rằng với phương Tây, các quốc gia vùng Vịnh khác đáng tin cậy hơn Iran vì các quốc gia này hướng về phương Tây.

Saudi Arabia, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) và Israel đều cảnh báo về một khía cạnh quan trọng khác nếu lệnh trừng phạt kinh tế Iran được dỡ bỏ và Tehran có thể xuất khẩu dầu mỏ trở lại: việc Iran kiếm được nhiều tiền hơn từ dầu mỏ cũng đồng nghĩa với việc họ có thể cung cấp nhiều tiền hơn cho các hoạt động khủng bố. Mặc dù Iran không xâm lược các nước láng giềng lân cận, nhưng Tehran lại tài trợ cho các nhóm khủng bố và sử dụng các nhóm này để gây bất ổn cho các quốc gia láng giềng.

Nguồn: TKNB – 08/04/2022

Khả năng CPTPP kết nạp thêm thành viên ở Đông Nam Á


Theo tạp chí The Diplomat ngày 10/03, trong năm 2021, 4 nền kinh tế gồm Vương quốc Anh, Trung Quốc, Đài Loan và Ecuador đã chính thức nộp đơn xin gia nhập Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Hàn Quốc cũng đã gửi những tín hiệu mạnh mẽ rằng Seoul hy vọng sẽ tham gia hiệp định này.

Trong danh sách này không có tên Mỹ, quốc gia đã rút khỏi thỏa thuận tiền thân của CPTPP là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào năm 2017. Mặc dù có một sự công nhận rộng rãi ở Washington rằng động thái rút khỏi TPP là một sai lầm chiến lược, nhưng không có bất kỳ dấu hiệu nào về việc Mỹ sẽ quay trở lại CPTPP trong thời gian tới.

Các quốc gia khác trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cho biết họ sẽ tìm cách theo đuổi tư cách thành viên của thỏa thuận này, bao gồm 3 quốc gia ở Đông Nam Á là Thái Lan, Philippines và Indonesia. 3 quốc gia này đã bày tỏ mức độ quan tâm khác nhau đến việc tham gia CPTPP và đã nghiên cứu một cách không chính thức về những gì cần thiết để chính thức gia nhập hiệp định thương mại này. Việc trở thành thành viên của CPTPP đối với các quốc gia này hiện nay sẽ đặc biệt hấp dẫn, vì được ưu đãi tiếp cận một số thị trường lớn của các nước phát triển và nhu cầu thu hút đầu tư vào bên trong sẽ tạo điều kiện thúc đẩy phục hồi kinh tế sau đại dịch COVID-19.

Đặc biệt, đề nghị gia nhập CPTPP gần đây của Trung Quốc đã khơi dậy sự quan tâm đến những lợi ích tiềm năng của tư cách thành viên. Hơn nữa, do sự bất ổn xung quanh tương lai của Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) của Mỹ, trong đó Thái Lan, Philippines và Indonesia là những nước hưởng lợi lớn, nhu cầu hỗ trợ các lĩnh vực xuất khẩu của họ có thể thúc đẩy động lực chính trị cần thiết để tham gia. Tuy nhiên, các vấn đề theo trình tự, phản đối các bên nội bộ liên quan và các vấn đề khác tiếp tục làm trì hoãn quá trình tuyên bố chính thức ý định tham gia.

Thái Lan từ lâu đã bày tỏ mong muốn tham gia CPTPP. Cán bộ thương mại và tài chính của Thái Lan đã tiến hành các nghiên cứu khả thi riêng biệt từ khi hiệp định này vẫn được gọi là TPP và Mỹ vẫn đang tham gia. Tuy nhiên, chính phủ Thái Lan đã không thể chống lại sự phản đối mạnh mẽ từ các nhóm lợi ích, do lo ngại về khả năng tiếp cận thị trường thuốc lá và mong muốn bảo vệ thị trường nông sản trong nước. Vào tháng 11/2021, Thái Lan đã gây chú ý khi một quan chức chính phủ nước này tuyên bố rằng Thái Lan đặt mục tiêu tham gia các cuộc đàm phán về tư cách thành viên; tuy nhiên, quan chức này lưu ý rằng một số điều khoản sẽ cần được thương lượng nội bộ trước khi chính thức tuyên bố ý định tham gia.

Gần đây, Đại sứ Thái Lan tại Mỹ Manasvi Srisodapol đã nói Phòng Thương mại Mỹ rằng, Thái Lan “nhận thấy những lợi ích tiềm năng từ việc tham gia hiệp định thương mại. Chúng tôi đang trogn quá trình tham vấn với các bên liên quan và đánh giá toàn diện mức độ sẵn sàng của Thái Lan để đảm bảo rằng chúng tôi có thể đáp ứng các tiêu chuẩn cao và mức độ tự do hóa cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới bao trùm”.

Giống như Thái Lan, mối quan tâm của Philippines đối với CPTPP cũng rất rõ ràng, nhưng quá trình tham vấn và phân tích pháp lý về các điều khoản cần thiết để gia nhập đã bị kéo dài. Đầu năm 2021, Bộ trưởng Thương mại Philippines Ramon Lopez đã chỉ đạo các quan chức thương mại nước này tìm hiểu lại các cơ hội gia nhập hiệp định thương mại. Ngày 3/2/2021, ông Lopez đã gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại New Zealand Damien O’Connor, chính thức tìm hiểu về quá trình tham gia. Một năm sau, Philippines tiếp tục thương lượng với các bên liên quan, bao gồm cả các bên ký kết CPTPP và các bên quan tâm khác như Vương quốc Anh.

Trong cuộc trò chuyện với Phòng Thương mại Mỹ, Đại sức Philippines tại Mỹ Jose Manuel Romualdez nói rằng thông tin Trung Quốc quan tâm đến việc gia nhập đã khiến CPTPP trở nên hấp dẫn hơn đối với nước này Philippines đã ký Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), bao gồm 10 quốc gia ASEAN và Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc, mặc dù hiệp định này vẫn chưa được Quốc hội Philippines phê chuẩn. Đại sứ Romualdez lưu ý, lý do ban đầu khiến Philippines quan tâm đến việc tham gia CPTPP là nhằm tiếp cận thị trường ổn định vào Mỹ, quốc gia dẫn đầu thỏa thuận vào thời điểm đó.

Sau khi Mỹ rút khỏi thỏa thuận, Philippines bắt đầu các cuộc đàm phán thăm dò về một hiệp định thương mại tự do song phương tiềm năng với Mỹ, nhưng các cuộc đàm phán này đã không tiến triển do nhiều quan ngại từ phía Mỹ. Theo Bộ trưởng Romualdez, do thiếu một thỏa thuận thương mại ổn định với Mỹ, “thời gian biểu để Philippines tham gia CPTPP sẽ gấp rút nếu Mỹ quyết định tái gia nhập”.

Mặc dù chính phủ Indonesia chắc chắn sẽ xem xét hiệp định chủ yếu qua lăng kính kinh tế, nhưng nhận thức rằng CPTPP được thiết kể để loại trừ Trung Quốc đã làm dấy lên những lo ngại về địa chính trị. Năm 2018, Indonesia cũng kêu gọi các nước ASEAN chưa tham gia TPP đàm phán tập thể về các điều khoản của Hiệp định, nhưng hiện nay chủ nghĩa tập thể đó còn rất ít.

Đại sứ Indonesia tại Mỹ Rosan Roeslani gần đây khi được hỏi về lập trường hiện tại của Indonesia đối với CPTPP, đã để ngỏ cánh cửa, nhưng dường như đồng ý rằng  không có tiến triển cụ thể nào sắp xảy ra.

Năm tới sẽ cung cấp thêm manh mối từ 3 quốc gia về tiềm năng trở thành thành viên của CPTPP và trong khi các cuộc bầu cử trong nước sẽ là một phần của câu chuyện, các yếu tố bên ngoài như sự quan tâm của các nước khác đối với việc tham gia hiệp định và các chi tiết của Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ cùng sự phục hồi kinh tế hậu đại dịch COVID-19 được hy vọng sẽ đóng một vai trò quan trọng.

Nguồn: TKNB – 14/03/2022

Phục hồi tiêu dùng – thách thức lớn đối với nền kinh tế Trung Quốc


Trang mạng dwnews.com(tiếng Trung) đưa tin, giáo sư Diêu Dương, Viện trưởng Viện Phát triển Quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh tế Trung Quốc đã có bài phát biểu cho rằng báo cáo công tác của chính phủ năm nay có rất nhiều điều đáng để xem xét, nhiều điểm mới mà những năm trước hiếm thấy. Trung Quốc phải đối mặt với nhiều thách thức, vấn đề thúc đẩy tiêu dùng vẫn là trọng tâm.

Giáo sư Diêu Dương nhấn mạnh Báo cáo công tác của Chính phủ Trung Quốc năm nay có 3 điểm nổi bật:

Thứ nhất, những nỗ lực của chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm ổn định tăng trưởng rất đáng chú ý. Hội nghị Công tác kinh tế Trung ương năm 2021 của Trung Quốc đề ra mục tiêu chính là “ổn định tăng trưởng”. Thủ tướng Lý Khắc Cường đã nhấn mạnh điều này trong báo cáo công việc của chính phủ năm nay. Cụ thể, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa rất mạnh. Về chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã mở rộng bảng cân đối kế toán hơn 740 tỷ NDT (116 tỷ USD) trong quý I/2022, vượt quá mức của năm ngoái. Chính sách tài khóa quyết liệt hơn. Năm 2022, khoản nợ đặc biệt được sử dụng để kích thích đầu tư của chính quyền địa phương là 3,65 nghìn tỷ NDT (570 tỷ USD) và trên cơ sở này, một khoản giảm thuế 2,5 nghìn tỷ NDT (390 tỷ USD) đã được đề xuất. Đây là một con số rất lớn, bởi tổng thu ngân sách hàng năm của Trung Quốc vào khoảng 20 nghìn tỷ NDT (3,14 nghìn tỷ USD), con số 390 tỷ USD đồng nghĩa với việc mức giảm thuế trong năm nay sẽ lên tới hơn 10%. Điều này cho thấy chính quyền trung ương rất quyết tâm bảo vệ thị trường.

Thứ hai, các mục tiêu chính sách của năm nay đã nêu rõ mục tiêu “carbon kép” phải thực tế và khả thi. Việc thực hiện mục tiêu “carbon kép” ở một số nơi trong vài năm qua là giảm phát thải theo kiểu phong trào là cần thiết và kịp thời.

Theo “Quy hoạch 5 năm lần thứ 14”, ngay cả khi Trung Quốc giảm lượng khí thải carbon một cách đều đặn thì nước này vẫn có khả năng đạt được mục tiêu “mức cao nhất carbon” vào đầu năm 2030. Với giả định tốc độ tăng trưởng kinh tế trong tương lai là 5,5% (tốc độ tăng trưởng thực tế có thể không đạt được mức này), than của Trung Quốc hiện chiếm 60% năng lượng tiêu thụ và 80% tổng lượng khí thải carbon. Nếu tăng hiệu suất phát thải hàng năm 0,8% – 0,9%, thì về cơ bản có thể tránh được lượng phát thải carbon do tăng trưởng kinh tế 5,5%.

Đề xuất mới về “carbon kép” trong báo cáo công việc của chính phủ năm nay cũng chỉ ra một hướng đi cho ngành than. Tại kỳ họp Lưỡng hội, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã đề cập đến việc lấy than làm nguồn năng lượng chính và than chiếm phần lớn trong tổng mức tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc. Ngay cả khi tỷ trọng giảm 12,5% trong thời kỳ “Quy hoạch 5 năm lần thứ 15”, than vẫn chiếm 37%. Điều này có nghĩa là đến năm 2030, than vẫn duy trì tỷ trọng cao trong tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc.

Thứ ba, bất động sản tăng trưởng âm trong nửa cuối năm ngoái. Nếu ngành bất động sản hoạt động tốt thì ngành vật liệu xây dựng và đồ gia dụng sẽ tốt. Nếu ngành bất động sản tăng trưởng âm thì toàn bộ sức tiêu thụ cũng sẽ giảm. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2021 giảm tốc phần lớn là do ngành bất động sản tăng trưởng âm.

Thủ tướng Lý Khắc Cường đã đề xuất ngành bất động sản nên khuyến khích cho thuê nhà dài hạn. Các chính sách nên được thực hiện trên cơ sở đảm bảo “nhà ở và không đầu cơ”. Kể từ sau đợt bùng phát dịch bệnh vào cuối năm 2021, bất động sản đóng vai trò rất quan trọng trong việc phục hồi kinh tế. Tuy nhiên, do bất động sản nửa đầu năm 2021 phát triển quá nóng nên Trung ương đã ban hành “3 đường lằn ranh đỏ”. Do đó, Trung Quốc vẫn cần thiết lập cơ chế điều tiết bất động sản lâu dài để tránh những chính sách không ổn định như năm ngoái.

Trọng tâm của tốc độ tăng trưởng kinh tế 5,5% của Trung Quốc năm nay là gì? Thực tế tăng trưởng trong 2 năm qua đạt trung bình 5,2%, do đó, việc đạt mục tiêu 5,5% trong năm nay sẽ rất khó khăn. Đánh giá tình hình trong tháng 1 và tháng 2/2022, các chính sách vĩ mô hiện tại của Trung Quốc đã đóng một vai trò quan trọng trong việc ổn định tăng trưởng, nhưng liệu hiệu quả có thể bền vững? Điều này cần xem xét thận trọng.

Đầu tư cơ sở hạ tầng là phần lớn nhất trong hỗ trợ tài chính của chính phủ, nhưng kể từ năm 2018, đóng góp của đầu tư cơ sở hạ tầng vào tăng trưởng kinh tế ngày càng giảm. Trong 2 năm qua, sự hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng của chính phủ vẫn rất mạnh mẽ, nhưng tốc độ tăng trưởng xây dựng cơ sở hạ tầng hàng năm chỉ ở mức 2% – 3%, đây là một con số rất nhỏ nếu tính so với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Chính sách tiền tệ hiện tại của Trung Quốc là có vấn đề với cơ chế vi mô, nguyên nhân sâu xa là do luôn có sự phân biệt đối xử với các doanh nghiệp tư nhân, họ chưa được hưởng lợi nhiều từ việc lãi suất giảm.

Quan điểm chung là muốn đẩy mạnh tiêu dùng thì thu nhập của mọi người phải tăng lên, nếu không thì tiêu dùng sẽ giảm. Tuy nhiên, cách đây 100 năm, nhà kinh tế John Maynard Keynes cho biết cách suy nghĩ về tiêu dùng đó là thúc đẩy “tiêu dùng tự chủ”, tức là phần tiêu dùng không phụ thuộc vào thu nhập. Do đó, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt mức tăng trưởng tiềm năng, cần tiến hành quản lý nhu cầu để kích cầu tiêu dùng, đồng thời có chính sách tập trung nâng cao khả năng tiêu dùng của người dân.

Nguồn: TKNB – 28/03/2022

Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng năm 2022 của Trung Quốc


Theo Thediplomat.com, trong Báo cáo Công tác Chính phủ của Trung Quốc năm nay, mục tiêu tăng trưởng kinh tế kỳ vọng của đất nước này được đặt ra ở mức 5,5%.

Báo cáo nêu rõ rằng việc đặt mục tiêu này là nhằm ổn định việc làm, bảo vệ sinh kế của người dân và ngăn ngừa rủi ro, cũng như cần được gắn với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 2 năm trước đó và các yêu cầu trong Quy hoạch 5 năm lần thứ 14.

Mấu chốt của vấn đề là làm thế nào để đạt được một mục tiêu đầy thách thức như vậy. Một cựu quan chức của Văn phòng Tài chính Trung ương đã khẳng định đây là một mục tiêu đòi hỏi rất nhiều nỗ lực. Điều này ngụ ý rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc không thể chỉ dựa vào động lực nội sinh cảu nền kinh tế mà, còn cần cả sự hỗ trợ ngày càng nhiều từ các chính sách khác nhau.

Trong quý IV/2021, nền kinh tế Trung Quốc chỉ tăng trưởng 4% so với cùng kỳ năm trước và đang phải đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng của thị trường bất động sản, cũng như tác động tiêu cực của chính sách “Zero COVID-19” đối với tiêu dùng. Xung đột giữa Nga – Ukraine có thể khiến tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu còn giảm tốc hơn nữa, đồng thời thặng dư thương mại khổng lồ của Trung Quốc, vốn được dự đoán sẽ thu hẹp khi các nền kinh tế phát triển mở cửa trở lại và xu hướng tiêu thụ quay trở lại trong ngành dịch vụ, hiện đang chịu nhiều áp lực hơn.

Một số phương tiện truyền thông nước ngoài dự đoán rằng khi đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cho năm nay, Trung Quốc đã đánh giá thấp tác động của cuộc xung đột Nga – Ukraine đối với nền kinh tế của mình. Tập đoàn Goldman Sachs ước tính giá dầu tăng 20 USD/thùng sẽ làm giảm 0,3 điểm phần trăm tăng trưởng của Trung Quốc và cuối cùng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ bị tụt xuống nửa điểm phần trăm trong năm nay.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hiện dự kiến tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc sẽ tăng 4,8% trong năm nay, thấp hơn so với dự báo trước đó là 5,7%. Nếu mục tiêu tăng trưởng kinh tế của năm nay chỉ dựa trên sự phát triển kinh tế của năm ngoái thì sự xuất hiện của các rủi ro địa chính trị do cuộc xung đột Nga – Ukraine leo thang thực sự đã làm trầm trọng thêm thách thức “ổn định tăng trưởng” trong nền kinh tế năm nay.

Hiện tại, các bên đều đặt nhiều kỳ vọng vào việc thực hiện chính sách tài khóa, đặc biệt là vai trò của đầu tư cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, trong bối cảnh Trung Quốc đang tìm cách cân bằng giữa “tăng trưởng ổn định” và “phòng ngừa rủi ro”, tác động tích cực của đầu tư cơ sở hạ tầng đối với tăng trưởng kinh tế có thể bị hạn chế. Mặc dù dự báo thâm hụt chính thức đã được điều chỉnh giảm nhẹ và lượng trái phiếu đặc biệt của chính quyền địa phương vẫn ổn định, chi tiêu tài khóa năm nay vẫn sẽ tăng mạnh thông qua điều chỉnh theo chu kỳ và các biện pháp khác, giúp thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng. Tiếp đó, tình trạng suy thoái trong ngành bất động sản hiện nay đặt nhiều áp lực lên doanh thu từ chuyển nhượng đất; các công cụ tài trợ của chính quyền địa phương chủ yếu dựa vào thị trường trái phiếu và lợi tức của thị trường trái phiếu tăng sẽ gây cản trở chi tiêu cho cơ sở hạ tầng.

Do đó, một trong những mối quan tâm về chính sách để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm nay vẫn là thúc đẩy sự phục hồi và cải thiện nhu cầu của người tiêu dùng. Điều này có nghĩa là các chính sách dài hạn thúc đẩy cải thiện cơ cấu kinh tế và các chính sách tổng hợp ngắn hạn ngược chu kỳ cần được kết hợp với nhau. Điều này không chỉ đòi hỏi chính sách tài khóa phải cải thiện cơ cấu kinh tế và đảm bảo hỗ trợ sinh kế của người dân, mà còn đòi hỏi các điều kiện tiền tệ phải được nới lỏng để cải thiện cung và cầu của người tiêu dùng.

Dương Vệ Dân, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính Trung ương, cũng cho rằng nhu cầu giảm chủ yếu là do nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhu cầu đầu tư tăng trưởng yếu. Mặc dù chính sách tài khóa thúc đẩy mở rộng đầu tư cơ sở hạ tầng, song cũng cần có chính sách tiền tệ và các chính sách phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh COVID-19 chính xác hơn để đạt được sự gia tăng hoạt động kinh tế và sự di chuyển của người dân, để duy trì sự phục hồi của tiêu dùng. Tờ Wall Street Journal cho rằng nếu muốn đạt được mức tăng trưởng kinh tế thực 5,5%, chứ không chỉ là tăng trưởng trên giấy tờ, Trung Quốc sẽ cần nhiều chính sách kích thích hơn nữa, đặc biệt là về tiền tệ. Chỉ bằng cách đặt tăng trưởng ổn định ở vị trí ưu tiên hơn, mục tiêu này mới có thể thực sự đạt được.

Nguồn: TKNB – 28/03/2022