Cuộc luận đàm về thương chiến Mỹ – Trung – Phần III


Ngày 5.10.2018, một ngày sau khi Phó tổng thống Mỹ Mike Pence có bài phát biểu nổi tiếng về Trung Quốc ở Viện Hudson, cựu chiến lược gia trưởng của Nhà Trắng Steve Bannon có một cuộc phỏng vấn ít được chú ý tại một địa điểm bí mật ở bang Texas với người dẫn chương trình và nhà quản lý quỹ đầu tư phòng hộ người Mỹ Kyle Bass.

KB: Và PBOC (Ngân hàng nhân dân Trung Quốc).

SB: PBOC. Những gì họ đã làm để cứu giới tinh hoa là bật các chốt vòi thanh khoản. Vì vậy, nếu anh sở hữu tài sản, bất động sản, cổ phiếu hoặc sở hữu trí tuệ, anh đã có 10 năm hoạt động hoàng kim trong lịch sử. Nếu anh là giai cấp công nhân thấp cổ bé họng, thì khỏi có chuyện tăng lương. Đây là những gì không công bằng và đây là nơi phát xuất cơn giận dữ đang thúc đẩy phong trào dân túy – toàn bộ gánh nặng đè xuống anh chàng thấp cổ bé họng để tài trợ cho những thâm hụt bằng tiền thuế của anh ta.

Và rồi con cái của anh ta được gửi đi khắp nơi trên thế giới (tham chiến) để bảo vệ chuyện này. Đó là những gì phải chấm dứt. Anh đã sử dụng từ khinh suất. Thật khinh suất khi phớt lờ những gì giới tinh hoa đã làm lần này. Bởi vì những gì họ đã làm – nhìn xem, hệ thống ngân hàng Mỹ có 19 nghìn tỷ USD tài sản trên đó. Anh thông minh hơn tôi gấp 10 lần về chuyện này. Tôi trân trọng nói rằng tất cả những tài sản đó đều không tốt. Ok? Có lẽ 10% hoặc nhiều hơn có thể được xóa trong hôm nay.

Đó là hệ thống ngân hàng của Mỹ. Hệ thống ngân hàng Trung Quốc tôi nghĩ có 49 nghìn tỷ USD tài sản. Hãy chỉnh tôi nếu tôi sai, nhưng tôi nghĩ rằng 45 nghìn tỷ USD đã được đưa vào sổ sách kể từ năm 2008. Điều này hoàn toàn khinh suất. Bây giờ, ơn Chúa, chúng không được kết nối với nhau thông qua hệ thống SWIFT (Society for Worldwide Interbank and Financial Telecommunication – Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế) với phần còn lại của các ngân hàng.

KB : Hoặc thông qua các sản phẩm tài chính phái sinh.

SB : Các sản phẩm tài chính phái sinh. Và nhân tiện, lý do là – và đây là một lý do khác – bởi vì không ai trong số các ngân hàng đầu tư hoặc không ai trong đám đó muốn nói: ồ, chúng ta không thể kết nối với Trung Quốc bởi vì tất cả bọn họ đều tự ngăn cản họ làm việc đó. Tất cả họ đều giới hạn sự tiếp xúc của họ với nó bởi vì họ hiểu khi nó nổ tung, họ không muốn bị hạ gục trong vài phút đầu tiên.

Tuy nhiên, những ngân hàng đó sẽ nổ tung. Không ai có thể đưa những loại tài sản đó vào và có một hệ thống ngân hàng tuyệt vời. Đây là một sự giả mạo toàn diện của các nhà kinh tế, Financial Times of London, mọi tầng lớp tinh hoa, và mọi hội nghị mà họ có. Anh thấy Richard Haas vào sáng nay trên chương trình Morning Joe. Richard Haas đến từ Hội đồng Quan hệ đối ngoại. Và tất cả những gì ông ta làm là đả phá Mike Pence và Donald Trump từ bài phát biểu của Pence.

Anh biết ông ta nói gì không? Ông ta nói: hey, tất cả các đồng nghiệp và bằng hữu Trung Quốc của tôi ở Trung Quốc đang nói với tôi rằng họ không biết Hoa Kỳ muốn gì. Họ đến đây. Họ muốn giải quyết. Và họ muốn trở thành đối tác của chúng ta. Nhưng chúng ta tiếp tục di chuyển các mục tiêu. Ông ta thật khinh suất khi nói điều đó. Ông ta hoàn toàn hiểu được vấn đề là gì. OK?

Và ông ta ngồi đó trên một chương trình tin tức buổi sáng mà các cử tri theo dõi và bắt đầu đưa mớ thông tin này vào trong tâm trí của họ. Thật không thể chấp nhận được! Tôi phải nói với anh, Kyle, đó là lý do tại sao tôi nghĩ những gì anh đang làm ở đây, những gì anh đang làm với công việc của anh, và những thứ khác – có một số người như anh đang ngồi đó cảm thấy điều này không thể tiếp tục. Và có người sẽ phải chịu trách nhiệm vì chuyện này.

Nếu giới tinh hoa nghĩ họ sẽ thoát được vụ này, điều đó sẽ không xảy ra. Lý do Donald Trump trở thành tổng thống, lý do anh nhìn thấy những cuộc nổi dậy dân túy, cho dù đó là ở Italy, Đức, Pháp, trên khắp thế giới, ở Brazil cuối tuần này, ở Argentina, hay ở Pakistan, là cái gã thấp cổ bé họng đã chán ngấy với một nhóm tinh hoa thông thái hơn. Và để chăm lo cho chính họ, họ (giới tinh hoa) sẽ đi đêm với bất cứ ai.

KB : Anh nói đúng. Và khi anh nói về hệ thống ngân hàng Trung Quốc, hãy giả định nó phải tái cơ cấu. Họ rất thông minh!

SB : Hãy nói về điều này. Hãy xem họ thông minh thế nào – khi chúng tôi thực hiện chuyến thăm của Trump, nhớ không, họ đã không thực hiện bất kỳ sự thay đổi nào khác. Họ không để chúng ta làm bất cứ điều gì ngoại trừ việc họ sẽ mở cửa lĩnh vực tài chính.

KB : Mật ngọt chết ruồi.

SB : Chính xác.

KB : Họ đã phá hỏng hệ thống tài chính của họ. Và bây giờ anh có thể đầu tư.

SB : Bây giờ anh có thể đầu tư.

KB : Tại sao thế giới không nhìn thấy điều này, Steve?

SB : Thế giới hoàn toàn thấy điều này.

KB : Họ bắt đầu thấy nó.

SB : Thôi nào, Kyle.

KB : Các nhà kinh tế thế giới chỉ mới bắt đầu thấy điều này.

SB : Không, không, Kyle, Kyle. Kyle, anh quá tử tế. Anh là một người tốt. OK? Anh phải gọi đúng bản chất của nó. Đó là chuyện nhảm nhí. OK? Anh đang nói với tôi những người ở Wall Street Journal, Financial Times of London, và The Economist – những kẻ thông minh và các think-tank đó không biết chính xác những gì đang xảy ra à? Một thằng ngu như tôi cũng có thể nhìn vào bảng cân đối của các ngân hàng và nói, hey, biết gì không? Tôi nghĩ chúng ta có một quả bom hẹn giờ. Họ biết chính xác nó là gì.

KB : Nhưng anh biết họ nói gì không? Nhưng đó là Trung Quốc. Đó là những gì tôi nghe mọi lúc. Tôi đồng ý với anh, nhưng đó là Trung Quốc. Vì vậy, chúng ta sẽ tiếp tục viết những gì chúng ta viết.

SB : Vâng. Chuyện này phải dừng lại. Ok. Chúng ta đạt một thỏa thuận với Trung Quốc vào cuối những năm 90. Hãy nhớ khi đó anh có đám cổ vũ viên cho Trung Quốc, những người theo chủ nghĩa thỏa hiệp lý tính và những người phái diều hâu. Vì vậy, hãy bàn về điều này. Quay trở lại năm 1999, đó là sân chơi của những kẻ nhân nhượng. Mọi người phải hiểu chuyện này (thỏa hiệp với Trung Quốc) là chuyện của cả hai đảng chính trị. Đây không phải là ý thức hệ.

Đây là chuyện của cả đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa. Ok? Khi họ nói về Trung Quốc, họ chỉ đang cố gắng tìm cách nhét nhiều tiền hơn vào túi của mình. Vì vậy, nhân vật cổ vũ viên nói, hey, đó là Trung Quốc. Khi chúng ta cho họ quy chế tối huệ quốc, một khi chúng ta đưa họ vào WTO, họ sẽ trở thành những nhà tư bản tự do. Họ sẽ bỏ phiếu (bầu lãnh đạo).

KB : Tự do hóa nền kinh tế, họ sẽ dân chủ hóa, họ sẽ cho chúng ta đầu tư vào mọi thứ.

SB : Họ sẽ là tầng lớp trung lưu.

KB : Có thể tạo ra sự thượng tôn pháp luật.

SB : Sự thượng tôn pháp luật. Nó sẽ là thế giới cực lạc. OK. Vì vậy, chúng ta biết 17 năm sau – biết gì chưa? Họ là một chế độ độc tài trọng thương. Họ đã có một hệ thống làm việc cho họ, cho giới tinh hoa, cho chế độ của họ. Và nó hoạt động tốt. Bây giờ anh có hai đám. Đám cổ vũ viên đã biến mất. Không còn ai là người cổ vũ.

Anh có người theo chủ nghĩa thỏa hiệp lý tính và anh có những người diều hâu. Thỏa hiệp lý tính có một cái tên mới. Đó là Bẫy Thucydides. Đó là ông bạn Graham Allison của anh và Henry Kissinger. Và đây là khái niệm vĩ đại mà họ có. Khái niệm vĩ đại của họ là Mỹ là một siêu cường trên đà suy thoái. Trung Quốc là một siêu cường mới nổi như Athens là một cường quốc suy thoái, và Sparta là một cường quốc đang lên.

Và anh phải tìm ra cách tránh xung đột toàn cầu, điều này chỉ xảy ra 16 lần trong lịch sử thế giới. Và 12 lần, họ (những cường quốc suy thoái) không đủ khôn ngoan để chấp nhận hiện thực. Để tránh xung đột, những gì phải xảy ra là thế lực suy thoái có thể tìm ra cách liên tục quấy nhiễu thế lực đang lên để có thể hòa nhập và hệ thống của họ. Một khi đã hòa nhập, anh sẽ luôn là đối tác nhỏ hơn của họ, nhưng anh sẽ khiến cho gã to xác phải cộng sinh với anh. Và ai ai cũng sẽ hạnh phúc.

Đây chính là điều nhảm nhí từ chính những người như Allison Graham và Henry Kissinger mà họ từng dẫn dụ Nixon vào cuối những năm 60 về Nga. Hãy quay ngược thời gian. Mọi chuyện y chang. Nga là một cường quốc đang lên. Cường quốc thoái trào là Mỹ. Và những gì chúng ta cần là hòa hoãn. Chúng ta cần một sự hòa giải.

Chúng ta cần để cho họ có phạm vi ảnh hưởng của họ. Khi đó đã nhảm nhí, và bây giờ cũng nhảm nhí. Ronald Reagan xuất hiện và nói: hey, các anh biết gì không? Nền kinh tế của họ lớn như thế nào? Và họ trả lời rằng nền kinh tế của Nga bằng bang California. Ông ấy nói, vậy tại sao mọi người lại sợ họ?

Điều đầu tiên mà Andy Marshall (chiến lược gia đối ngoại, giám đốc Văn phòng Lượng định tình hình thực tế của Bộ Quốc phòng Mỹ từ 1973 đến 2015) tại Văn phòng Lượng định tình hình thực tế ở Lầu Năm Góc và (Giám đốc) Bill Casey tại CIA đã làm là phân tích toàn diện về nền kinh tế Nga. Và họ phát hiện ra nó chỉ bằng một nửa. Xin lỗi, tôi nhớ nhầm. Nó lớn hơn 15%.

KB : Và họ hết sức khan hiếm đô la.

SB : Tuyệt đối kham hiếm đô la. Chuyện này luôn xảy ra với chế độ tập quyền.

KB : Vậy chính xác Trung Quốc ở đâu?

SB : Bởi vì họ đã làm điều tương tự Trung Quốc. Họ đưa nó vào chi tiêu quân sự không hiệu quả. Ở đây chúng ta lại gặp đúng những gã đó. Và những gì họ nói với chúng ta 40-50 năm sau là: hey, Mỹ là một cường quốc suy thoái. Trung Quốc là một quyền lực quật khởi. Và tôi nhìn vào nó, tôi thấy điều tương tự. Họ có một nền kinh tế không có đô la.

Đây là một vấn đề mà tôi đặt ra cho họ – chuyện này thì thế nào. Nếu chúng ta không làm cường quốc suy thoái nữa thì sao? Đó không phải là một định luật vật lý. Một quá trình quản lý việc chúng ta thoái trào không phải là một quá trình mà tôi chấp nhận. Tôi đang tìm kiếm một nhà lãnh đạo bước lên và làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại. Và đó là sân chơi căn bản của Trump. Và đoán xem? Trong hai năm, ông đã chứng minh người Trung Quốc chỉ là một con hổ giấy.

KB : Khi anh nghĩ về đại chiến lược của họ, sự phản kích của chúng ta, và vị trí của chúng ta trên thế giới ngày nay, anh nghĩ bước tiếp theo của Trung Quốc là gì? Nếu anh đã dự đoán bước tiếp theo của họ sẽ là gì, xét đến lập trường kiên định của chúng ta khi tiến lên trên phương diện kinh tế và tung ra một số thuế quan, và bắt đầu tái khẳng định chính mình, anh nghĩ họ sẽ làm gì?

SB : Số một, họ muốn thay đổi chính quyền ở Hoa Kỳ. Họ tin họ có 80% cơ hội tóm được Trump – chiếm được Hạ viện và làm bất cứ điều gì họ cần làm bằng chiến tranh tâm lý, bằng tiền, bằng bất cứ điều gì họ phải làm để cơ bản cản trở Trump và khống chế Hạ viện và chứng kiến ông ấy bị luận tội trong năm nay.

Và có xác suất 100% họ muốn đánh bại ông ấy ở (cuộc bầu cử tổng thống) năm 2020. Số một là loại bỏ Donald Trump làm Tổng thống Hoa Kỳ. Bởi vì họ nói: đó là ga đầu mối của tất cả những gì xấu xa đã xảy ra với chúng ta, chúng ta phải có một người theo chủ nghĩa toàn cầu ở đó (Nhà Trắng).

KB : Trò của họ chỉ là chờ ông ấy rời chức.

SB : Không chỉ chờ ông ta rời chức, mà còn có các biện pháp chủ động. Hôm qua Pence cho biết – và trang Axios và những người khác cũng tường thuật – có thông tin mật cho thấy sự dính líu của Trung Quốc và sự can thiệp thực sự. Đó không phải là một số gã người Nga trên Facebook. Đây là canh bạc tất tay. Đó là số một.

Số hai, những người Ý nói hôm nay rằng, Trung Quốc sẽ là hảo bằng hữu của chúng tôi. Tôi nghĩ anh sẽ chứng kiến việc tăng gấp đôi và gấp ba “Nhất đới nhất lộ”. Tôi nghĩ anh sẽ chứng kiến việc tăng gấp đôi và gấp ba “Trung Quốc sản xuất 2025”. Tôi nghĩ anh sẽ chứng kiến Dự án Đông Ấn ở vùng Hạ Sahara châu Phi, vùng biển Caribbean, ở Venezuela và châu Mỹ La-tinh tăng gấp đôi và gấp ba lần. Họ đã có rất nhiều RMB để chi tiêu, phải không? Và nếu một anh chàng có thể lấy RMB –

KB : Nhưng không ai sẽ lấy RMB.

SB : Ồ, đây sẽ là câu hỏi tuyệt vời mà chúng ta sẽ có trước mặt.

KB : Đó là chìa khóa.

SB : Bây giờ họ đang ở vùng Vịnh. Họ ở khắp UAE. Họ ở khắp Ả Rập Saudi. Họ ở khắp Qatar. Họ ở khắp tất cả khu vực tài nguyên trên thế giới từ Argentina đến châu Phi Hạ Sahara, đến Nam Phi. Và họ sẽ cố gắng nhìn thấy nó –

Và số ba, hãy nhớ đến cuốn sách giáo khoa tuyệt vời mà họ xuất bản và về cơ bản được in bằng tiếng Anh vào cuối những năm 90, được viết bởi hai vị đại tá kiệt xuất trong Học viện quân sự Trung Quốc được gọi là Chiến tranh Bất quy ước. Chiến tranh Bất quy ước.

KB : Đô đốc La? (Ở đây Bass và Bannon nhớ nhầm, tên cuốn sách là Chiến tranh không giới hạn – Unrestricted Warfare – tác giả là hai đại tá Kiều Lương và Vương Tương Tuệ).

SB : Vâng. Đó là một cuốn sách nên được mọi người đọc bởi vì nó vạch ra chiến lược của Trung Quốc. Họ nói có ba loại chiến tranh. Có chiến tranh thông tin. Có chiến tranh kinh tế. Và có sát thương hoặc hỏa lực. Và những gì họ muốn làm là tránh chiến tranh hỏa lực bởi vì có một điều mà Mỹ có thể làm được là đá mông của bạn, đúng không? Vì vậy, họ muốn tránh điều đó. Ok?

Và vì vậy hãy tập trung vào chiến tranh thông tin và kinh tế. Và họ đã thắng tuyệt đối. Đó là sách giáo khoa. Nếu đọc nó, bạn sẽ thấy họ đã làm chính xác những gì họ nói họ sẽ làm. Tôi nghĩ và tôi tin rằng dựa vào thực tế là Trump đang hội tụ mọi lực lượng của chính quyền vào chiến tranh kinh tế và đang lấy lại thế chủ động, và chế độ (Trung Quốc) đang chịu áp lực rất lớn, bởi vì tôi tin rằng phái Đặng Tiểu Bình và những người khác, ngay cả ở cấp cao nhất vốn tin vào sự lãnh đạo tập thể, đã nói, này, những gì chúng ta có ở đây là một sự sùng bái cá nhân.

(còn tiếp) 

Advertisements

Xung đột kinh tế Mỹ – Trung: Tạm ngừng gây chiến, khởi động đàm phán – Phần VII


Những tham vọng của Trung Quốc trong sản xuất công nghệ tiên tiến gây khó khăn cho các đối thủ cạnh tranh của họ

Kế hoạch “Trung Quốc 2025”

Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng tập trung vào một khía cạnh đặc biệt trong quá trình chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc: các tham vọng của họ đối với ngành sản xuất.

Ngành sản xuất chiếm một thị phần ngày càng nhỏ trong sản lượng của Trung Quốc, nhưng nước này vẫn là nền kinh tế sản xuất lớn nhất thế giới. Xuất phát từ một nước xuất khẩu quần áo và hàng dệt may cách đây 40 năm, Trung Quốc đã chuyển sang thiết bị nghe-nhìn, máy tính, thiết bị vận tải và máy móc vào khoảng thời điểm nước này gia nhập WTO vào năm 2001. Mặc dù chủ yếu là nơi sử dụng lao động giá rẻ để lắp ráp những linh kiện được sản xuất ở nơi khác, nhưng trong những năm gần đây, ngày càng nhiều linh kiện được sản xuất tại Trung Quốc và sản phẩm đã trở nên tiên tiến hơn.

Sản lượng hàng hóa sản xuất của Trung Quốc tính bằng đồng USD hiện đã dễ dàng vượt qua cả Mỹ và Nhật Bản cộng lại. Ngay cả hiện nay, ngành sản xuất vẫn chiếm 1/3 sản phẩm kinh tế của Trung Quốc. Hơn 9/10 lượng hàng xuất khẩu của nước là trong ngành sản xuất.

Tuy nhiên, như ban lãnh đạo Trung Quốc từ lâu đã nhận ra, thành công của họ với tư cách là một nước sản xuất vẫn bị đe dọa. Khi tiền lương tại Trung Quốc tăng lên, ngành sản xuất thâm dụng lao động như ngành dệt may và lắp ráp đã chuyển sang các nước khác. Tiền lương trong ngành sản xuất ở Trung Quốc đã cao hơn các nước Nam Mỹ, trừ Chile, và đang tăng lên mức như ở các nước Đông Âu. Trong 6 năm trước năm 2016, sản lượng sản xuất đã tăng gấp đôi ở Việt Nam và Bangladesh, tái hiện các cuộc bùng nổ sản lượng sản xuất trước đó ở Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan. Khi Trung Quốc thành công trong việc tăng lương và thu nhập, ngành sản xuất thâm dụng lao động sẽ chuyển đi nơi khác.

Cùng lúc đó, các nhà sản xuất ở Đức, Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc đã phản ứng trước lợi thế chi phí nhân công thấp của Trung Quốc bằng cách không ngừng đổi mới công nghệ, đặc biệt là trong phát triển phần mềm, robot lập trình và trí tuệ nhân tạo.

Nhận thấy mối đe dọa của việc đánh mất lợi thế sản xuất lao động giá rẻ trong khi không thể cạnh tranh về công nghệ tiên tiến, ban lãnh đạo Trung Quốc đã thông qua một kế hoạch kinh tế trung và dài hạn vào năm 2005 để bắt kịp và có thể vượt qua các nền kinh tế sản xuất tiên tiến khác trong một số ngành công nghiệp chủ chốt. Kế hoạch “Made in China 2025” là một phiên bản lặp lại gần đây hơn của kế hoạch này. Các ngành công nghiệp được nhắm tới bao gồm công nghệ thông tin, các công cụ máy móc và robot tự động, ngành hàng không vũ trụ, vận chuyển công nghệ cao, vận tải đường sắt, xe điện, các nguyên vật liệu mới và sản phẩm y tế. Trong nhiều lĩnh vực trong số này, Trung Quốc vốn đã rất phát triển.

Căng thẳng về sản xuất công nghệ cao, tài sản trí tuệ và trợ cấp

Như tờ The New York Times đưa tin vào đầu năm 2018, một cuộc cạnh tranh về việc nước nào “đóng vai trò đi đầu trong các ngành công nghiệp công nghệ cao” đang là trọng tâm của tranh chấp thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ.

Trung Quốc vốn là nhà sản xuất hàng hóa công nghệ cao lớn. Theo số liệu của Mỹ, Mỹ đã chiếm 29% tổng lượng xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao trên thế giới, Trung Quốc chiếm 27%. Mặc dù có thể so sánh về số lượng, chúng không so sánh được về mức độ tinh xảo về kỹ thuật. Các sản phẩm cũ hơn như TV và máy tính chiếm tỷ trọng lớn hơn trong xuất khẩu hàng công nghệ tiên tiến của Trung Quốc, và nhiều linh kiện được sản xuất ở nơi khác.

Xung đột trong những tham vọng của Trung Quốc trở thành nhà xuất khẩu chủ lực cho hàng hóa công nghệ cao diễn ra dưới hai hình thức. Cả hai đều là một phần trong các cuộc đàm phán thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Một là về việc Trung Quốc mua lại công nghệ tiên tiến của các tập đoàn kinh tế phát triển. Và hình thức thứ hai là về sử dụng trợ cấp của các cơ quan chính phủ Trung Quốc nhằm khuyến khích sản xuất hàng hóa công nghệ cao.

Những lời phàn nàn được lập luận chặt chẽ nhất và có nhiều dẫn chứng nhất mà Chính quyền Trump đã đưa ra về các thực tiễn và chính sách kinh tế của Trung Quốc là bản báo cáo vào tháng 3/2018 của USTR về Trung Quốc và quyền sở hữu trí tuệ. Báo cáo này nêu chi tiết các chính sách của Trung Quốc nhằm khuyến khích công nghệ tiên tiến bản địa bằng cách phát minh ứng dụng và “đổi mới”. Báo cáo cũng mô tả các kế hoạch của Trung Quốc nhằm thiết lập ngành sản xuất công nghệ cao tại Trung Quốc, thay vì lắp ráp sản phẩm công nghệ cao từ vật liệu chế tạo ở nơi khác. Báo cáo kết luận rằng nhiều thông lệ của Trung Quốc đảm bảo hành động theo các điều khoản của luật thương mại Mỹ nhằm chống lại các chính sách và thông lệ không công bằng ở nước ngoài. Nó đặc biệt nhắm đến việc “chuyển giao công nghệ ép buộc” hoặc sức ép buộc các doanh nghiệp Mỹ phải chia sẻ công nghệ với các đối tác liên doanh của Trung Quốc nếu họ muốn bán hàng tại thị trường Trung Quốc.

Tuyên bố những thiệt hại đáng kể là do Trung Quốc có được tài sản trí tuệ nhưng không bồi thường, Chính quyền Trump đã áp thuế quan đối với Trung Quốc với gái trị tương ứng với những tổn thất đã tuyên bố. Trung Quốc đáp trả bằng cách áp mức thuế tương tự, Mỹ lại áp thêm thuế, và cứ tiếp diễn như vậy.

Gần như chắc chắn rằng các cá nhân và doanh nghiệp Trung Quốc đã đánh cắp một số bí mật thương mại từ các tập đoàn, và hầu như không có nghi ngờ rằng trong một số lĩnh vực, chính sách của Trung Quốc đã khuyến khích chuyển giao công nghệ vào các dự án liên doanh với các doanh nghiệp Trung Quốc như là cái giá phải trả cho việc tạo điều kiện gia nhập thị trường Trung Quốc. Giới chức Trung Quốc tuyên bố rằng không có yêu cầu chuyển giao công nghệ nào như vậy, nhưng rõ ràng có một ranh giới mong manh giữa việc yêu cầu phải có chuyển giao công nghệ như là một điều kiện thành lập kinh doanh ở Trung Quốc, và việc ưu tiên theo nhiều cách cho những doanh nghiệp chấp nhận một cấu trúc như vậy.

Tuy nhiên, chắc chắn rằng thành tích của Trung Quốc về sở hữu trí tuệ đã được cải thiện – và họ ngày càng quan tâm đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhất là vì các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ sở hữu ngày càng nhiều tài sản trí tuệ.

Chẳng hạn, Trung Quốc đã trả 29 tỷ USD phí cho tài sản trí tuệ nước ngoài trong năm 2017, gấp đôi số tiền mà Trung Quốc phải trả trong năm 2011. Khoản phí này ít hơn khoản phí mà MỸ phải trả nhưng cao hơn bất kỳ nước nào khác sử dụng tài sản trí tuệ trong biên giới quốc gia của Trung Quốc. Và trong khi báo cáo USTR năm 2018 đều là về Trung Quốc, các báo cáo thông thường từ cùng một văn phòng về quyền sở hữu trí tuệ cũng chỉ trích Ấn Độ, Indonesia và một số quốc gia khác.

Các cuộc đàm phán thương mại hiện nay rất có thể sẽ chứng kiến Trung Quốc đưa ra đề xuất nghiêm túc về sở hữu trí tuệ. Cụ thể, có khả năng Trung Quốc sẽ tiến tới “chuyển giao tài sản trí tuệ bắt buộc” với các rủi ro cao.

Trong các cuộc đàm phán này, có khả năng Trung Quốc sẽ chứng tỏ rằng họ tuân thủ các yêu cầu của Mỹ nhằm khuyến khích lợi ích kinh tế của Mỹ ở Trung Quốc. Một tiền đề thích đáng dù không được nói ra trong báo cáo của USTR về quyền sở hữu trí tuệ là việc các doanh nghiệp Mỹ muốn tham gia thị trường Trung Quốc. Mỹ phàn nàn rằng nếu doanh nghiệp Mỹ không tham gia thị trường Trung Quốc, việc “chuyển giao công nghệ bắt buộc” sẽ là vô nghĩa – họ có thể đơn giản là tránh sản xuất tại Trung Quốc. Tương tự, báo cáo lập luận rằng bằng cách từ chối cấp phép cho các dịch vụ dịch thuật toán đám mây của Mỹ tại Trung Quốc, các nhà cung cấp Mỹ đang gặp bất lợi trong cạnh tranh vì các khách hàng của họ yêu cầu truy cập đám mây trên toàn thế giới. Những luận điểm này cho thấy nghị trình thực sự, ít nhất là của văn phòng USTR, là không tách rời khỏi Trung Quốc mà tiếp tục hội nhập kinh tế với nước này – dù theo các điều kiện thỏa đáng hơn.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

CVĐQT số 3/2019

Cuộc luận đàm về thương chiến Mỹ – Trung – Phần II


Ngày 5.10.2018, một ngày sau khi Phó tổng thống Mỹ Mike Pence có bài phát biểu nổi tiếng về Trung Quốc ở Viện Hudson, cựu chiến lược gia trưởng của Nhà Trắng Steve Bannon có một cuộc phỏng vấn ít được chú ý tại một địa điểm bí mật ở bang Texas với người dẫn chương trình và nhà quản lý quỹ đầu tư phòng hộ người Mỹ Kyle Bass.

…..

KB : Quay trở lại chuyện tạo ảnh hưởng thông qua các tập đoàn, chúng tôi biết có một số công ty – có một số ít các tập đoàn, mỗi tập đoàn có hơn 1 tỷ đô la vốn mà họ đang cố gắng thu lại từ Trung Quốc. Và họ đã không thể kiếm được một xu nào từ Trung Quốc kể từ tháng 11 năm 2016 khi Trung Quốc đóng tài khoản vốn hoàn toàn. Khi còn ở trong chính quyền, anh có giao tiếp với bất kỳ công ty nào trong số những công ty đang trải qua rất nhiều rắc rối với tệ quan liêu nhằm cố gắng lấy tiền của họ ra khỏi Trung Quốc. Họ có đến nhờ đỡ anh không?

SB : Có. Tôi nghĩ đây sẽ là một cú sốc lớn đối với mọi người. Hãy nhớ rằng, khi Trump thắng một cách hoàn toàn thần sầu mà không ai lường trước, và đặc biệt, anh có một trật tự hậu chiến, tự do, dân chủ dựa trên luật pháp. OK? Người Trung Quốc đã không làm gì khác ngoài việc đánh lừa hệ thống này ngay từ ngày đầu tiên, với mọi bộ quy tắc. Họ quyết định quy tắc thế nào thì nó thế ấy. OK? Và không ai chỉ mặt họ về chuyện này bởi vì mọi người nghĩ rằng họ quá yếu.

KB : Các công ty có sợ chỉ mặt họ không?

SB : Tuyệt đối. 100%.

KB : Bởi vì họ biết nếu họ nói chúng tôi không thể lấy tiền của chúng tôi về thì hoạt động kinh doanh của họ sẽ tiêu đời.

SB : Họ sẽ tiêu.

KB : Có một điều kiện đổi chác?

SB : Đóng cửa. Họ hãi nhất chuyện này. Nhân tiện, về toàn bộ tình hình thuế quan – và thuế quan không chỉ là về thuế quan, không chỉ là về bảo hộ. Đó là lý do tại sao Trump thực hiện nó ở quy mô như vậy. Hãy nhớ rằng, trước khi Trump đi đến giai đoạn này, mọi người chỉ đang nói về 25 – 30 tỷ đô la thuế quan, nó giống như, ôi, trời ơi, lớn quá. Chương trình của Trump là nửa nghìn tỷ đô la hàng hóa bị đánh thuế vì ông ấy biết người Trung Quốc không thể đáp trả.

Và đây là lý do tại sao họ không thể đáp trả – mọi người ở Hoa Kỳ phải hiểu một điều. Người Trung Quốc nhìn chúng ta như một nước chư hầu của họ. Hãy để tôi giải thích điều đó. Trung Quốc đã tồn tại khoảng 4.000 năm, phải không? Họ có lúc thịnh lúc suy. OK? Nhưng họ có một bí kíp và lý do họ vẫn được tổ chức như một quốc gia qua hơn 4.000 năm là họ có biết cách đối đãi với các đồng minh. Và họ biết cách xử lý kẻ chống đối. OK?

Những gì họ đã làm là họ có hệ thống này, được gọi là quản lý man di. Và họ biết cách quản lý những kẻ man di. Cách họ quản lý man di là họ đến với các nhà lãnh đạo của những kẻ man di, và họ cung cấp cho họ một cuộc sống nhất phẩm hảo hạng. Và anh sẽ trở thành một thứ đặc biệt. Anh sẽ nhận được một thỏa thuận đặc biệt. Bây giờ những gì xảy ra ở đất nước chư hầu là vấn đề của anh. OK?

Tại Hoa Kỳ, những gì họ đã làm trong 25 và 30 năm qua là sử dụng phương thức như với một quốc gia man di. Đó là quản lý man di. OK? Họ khuyến khích giới tinh hoa của chúng ta. Và giới tinh hoa của chúng ta phi công nghiệp hóa, đặc biệt là vùng Trung Tây thượng lưu của đất nước này. Đó là lý do Donald Trump trở thành tổng thống.

Khán thính giả nên hiểu một điều quan trọng là (James David) JD Vance, anh chàng vĩ đại của Yale, người viết “Khúc bi ca miền hoang vu” (Hillbilly Elegy – cuốn sách mô tả cuộc sống của những người nghèo ở Mỹ, góp phần lý giải chiến thắng của Trump) – đó là nghiên cứu xã hội học tốt nhất về cử tri của Trump. Chính JD Vance đã nói với tôi rằng những nghiên cứu ra lò từ MIT và Harvard cho thấy có mối tương quan trực tiếp giữa các nhà máy dời sang Trung Quốc, những công việc rời đi cùng với chúng và cuộc khủng hoảng thuốc phiện. Bởi vậy, đây không phải là về thuế quan.

KB : Nó thực sự logic.

SB : Nó không phải là về thuế quan. Chuyện này là về phẩm giá con người và danh dự. Những nhà máy đó đã rời đi. Phố Wall kiếm tiền. Các công ty được hưởng lợi từ nó với chi phí thấp hơn. Còn “sống chết mặc bay” đám công nhân.

Và đây là những gì Trump hoàn toàn đảo nghịch lúc này. Những gì Trung Quốc nhìn thấy là chúng ta là một nước chư hầu. Chúng ta gửi cho họ tài nguyên thiên nhiên, đậu nành, thịt bò, gia súc, sản phẩm của Boeing và Apple.

Ồ tôi nhầm. Chúng ta không gửi sản phẩm của Boeing và Apple. Anh biết tại sao không? Bởi vì họ buộc Boeing phải liên doanh. Và họ buộc Apple phải sản xuất sản phẩm của họ ở đó. Vì vậy, chúng ta đang là Jamestown với Đế quốc Đại Anh của họ (Jamestown là khu định cư đầu tiên của người Anh ở Bắc Mỹ, ý chỉ thuộc địa). Đó là lý do tại sao với thuế quan ở quy mô mà Trump nâng lên, họ không thể phản ứng. OK?

KB : Nhưng điều thú vị là giả sử chúng ta áp mức 25% vào 520 tỷ đô la. Chúng ta đang nói về hơn 100 USD tỷ một chút. Và tôi biết đó là rất nhiều tiền. Nhưng nền kinh tế của chúng ta là 19 nghìn tỷ USD. Nó vẫn không có ý nghĩa về mặt tác dụng đối với chúng ta, theo tôi. Nhưng tôi nghĩ rằng đó là việc tạo ra sân chơi bình đẳng như anh nói. Họ đã chiến đấu một cuộc chiến thương mại với chúng ta từ năm 2001. Và chúng ta đã không phản kích.

SB : OK. Mức tăng trưởng trung bình của Hoa Kỳ từ năm 1946, sau khi kết thúc Đệ nhị Thế chiến, đến năm 2000 là 3,5%. OK? Đó là lý do chúng ta trở thành siêu cường. Động cơ kinh tế đó đã được mở khóa và tăng trưởng trung bình hằng năm ở mức 3,5% và gia giảm 0,5 điểm phần trăm ở các thời điểm tốt xấu – khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, khi họ có quy chế tối huệ quốc, tăng trưởng của Hoa Kỳ là 1,9%.

Có rất nhiều yếu tố. Nhưng trung tâm của nó là Trung Quốc, bởi vì chúng ta phi công nghiệp hóa. Chúng ta đã chuyển sản xuất của chúng ta qua đó. Vâng, bản thân thuế quan, trên con số danh nghĩa và số tuyệt đối, không phải là rất lớn. Nhưng chúng ta nhìn vào sự hội tụ của mọi thứ. Những gì Trump đã làm là nói: hey, chúng ta đang ở trong cuộc chiến kinh tế. Và chúng ta sẽ quay trở lại với các điều 301 ngăn chặn việc chuyển giao công nghệ bắt buộc.

Chúng ta sẽ đưa những mức thuế này lên quy mô mà họ chưa bao giờ thấy trước đây. Nếu muốn, chúng ta sẽ có khả năng đóng cửa các công ty như ZTE, về cơ bản cắt nguồn linh kiện của họ ở phương Tây. Họ sẽ không thể hoạt động trong vòng 90 ngày. Ngoài ra là những điều luật mới về những hạn chế đầu tư…

KB : Cải cách CFIUS (Cải cách Ủy ban đầu tư nước ngoài tại Hoa Kỳ).

SB : Cải cách CFIUS mà mọi người đang nói đến – anh tập hợp tất cả các lực lượng của chính phủ và ngăn chặn (đánh cắp) tài sản trí tuệ. Và đây là lý do tại sao (Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ) NAFTA rất quan trọng. Mọi người chế nhạo và cười cợt Trump. Có một cuốn sách tên “Fear” trong đó kể chuyện (Giám đốc Hội đồng kinh tế quốc gia) Gary Cohn, chủ tịch của Goldman Sachs – Goldman Sachs vĩ đại mà tôi từng làm việc, lấy tài liệu ra khỏi bàn của tổng thống.

Cuốn sách khởi đầu từ chuyện anh ta cứu NAFTA và thỏa thuận với Hàn Quốc, anh ta thực sự lấy chúng ra khỏi bàn bởi vì trong phán xét của anh ta, tổng thống không đủ thông minh để hiểu ông ấy đang làm gì. Vâng, đây là những gì Trump đã làm – thỏa thuận NAFTA mới mà ông ấy tạo ra về cơ bản là thiết lập một cơ sở sản xuất địa chiến lược để đối trọng Đông Á. Và Nhật Bản sẽ sớm trở thành một phần của điều đó.

Đó là một thỏa thuận song phương, chứ không phải là TPP mà chúng ta chỉ là một trong số rất nhiều nước. Đây là một thỏa thuận song phương trực tiếp với Nhật Bản như một đối tác. Chúng ta đã có một cái với Hàn Quốc mà chúng ta đang cập nhật. Và ở EU, (Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude) Juncker đã nói chuyện với Trump và đánh tiếng họ cũng sẽ là một phần của điều này. Những gì Donald Trump đã làm trong chưa đầy hai năm là chống lại định luật thứ hai về nhiệt động lực học – luật bất biến về sự trỗi dậy của Trung Quốc – điều ông ấy làm là định hướng lại toàn bộ chuỗi cung ứng của thế giới tách khỏi Trung Quốc.

Và điều này sẽ khiến cơ hội tăng trưởng kinh tế trở nên đáng kinh ngạc. Và ông ấy đã đơn thương độc mã đánh trả đám thuyết khách đại công ty, đánh trả bộ phận quan hệ nhà đầu tư Phố Wall, vân vân. Thế nên, đó là lý do tại sao tôi nghĩ rằng chuyện này thực sự anh hùng.

KB : Thời cơ thật thú vị. Nếu anh thấy là kinh tế của Trung Quốc đã bị chậm lại trước khi chúng ta quyết định chiến đấu trở lại. Cuộc phản kích và thuế quan – ý tưởng cao minh nhất là thuế điều chỉnh biên giới đã ngay lập tức bị giết bởi những người mà tôi và anh đều biết.

SB : Tôi thích vụ đó.

KB : Điều đó hoàn hảo theo thiển ý của tôi.

SB : Nhân tiện, tôi là một người tin tưởng kiên định – (Chủ tịch Hạ viện) Paul Ryan và tôi từng có những khác biệt với nhau, nhưng khi ông ấy giải thích với tôi về nó, tôi đã nói: đó là giải pháp. Đó là giải pháp.

KB : Đó là cách xử lý theo chủ nghĩa bình đẳng.

SB : Tôi nghĩ – và tất cả chúng ta đều biết tại sao nó bị nghiền nát. Tôi nghĩ đó là thứ phải sớm đưa trở lại trong những năm tới.

KB : Chúng ta có thể loại bỏ thuế quan nếu chúng ta áp dụng thuế điều chỉnh biên giới.

SB : À, nhân tiện, hãy nói một chút về thuế quan. Tổng thống Trump – anh có nhớ hội nghị G7 khi ông được lên lớp bởi những người thông thái hơn – (Thủ tướng Đức Angela) Merkel và (Tổng thống Pháp Emmanuel) Macron về toàn bộ những vấn đề thuế quan trong ngày đầu tiên. Ông ấy quay lại vào sáng hôm sau. Và những gì Trump nói với nhóm G7, ông ấy nói, OK, tôi đã nghĩ về nó tối qua. Còn cái này thì sao? Không có thuế.

Hoàn toàn không có thuế quan. Nhưng không có trợ cấp. Mọi người phải nhận ra rằng Nhà Trắng đã đưa ra tài liệu này hơn hai tháng trước. Đó là 50 điều mà Trung Quốc đang làm trong cuộc chiến kinh tế với chúng ta. Đó là những gì Hoa Kỳ muốn Trung Quốc dừng lại. Đó là thỏa thuận. Anh dừng lại, tất cả chúng ta đều tốt. Khi anh nhìn vào đó, nó không chỉ là thuế quan. Đó là đầu tư vào các ngành công nghiệp quốc doanh.

KB : Đất miễn phí. Điện miễn phí.

SB : Đất miễn phí. Nhìn vào những gì họ đã làm với thép và nhôm trên toàn thế giới. Nhìn vào những gì họ đã làm với ngành đóng tàu. Anh có thể phát triển mọi ngành công nghiệp nặng. Họ đã móc ruột Tây Âu. Và họ đã móc ruột Hoa Kỳ. Và họ tiếp tục làm điều đó.

KB : Cố tình.

SB : Cố tình. Và nhân tiện, ZTE đã cho anh thấy điều này. Họ phải tạo ra khoảng 11 triệu việc làm mỗi năm. Họ đang chịu áp lực kinh tế, áp lực đối nội to lớn là phải tạo ra những công việc đó. Họ không thể kham nổi chuyện 150.000 việc làm giá trị gia tăng cao tại ZTE mất đi. Tương tự với thép. Giờ họ kiểu như vào thế trên lưng cọp rồi.

Họ là người đầu tiên thừa nhận họ phải tiếp tục bổ sung số lượng công việc bởi vì họ phải giữ những người này làm việc. Tôi nghĩ đó là lý do tại sao mô thức Trung Quốc, và tất cả những lời nói vui vẻ đến từ phương Tây về mô thức Trung Quốc, khi anh thực sự nhìn vào nó – và tôi biết anh là một trong số ít các chuyên gia trên thế giới – tôi nghĩ phải nhìn vào các con số vì chúng thực sự không phải như những gì mọi người hy vọng, số thực chứ không phải cách chúng được Trung Quốc chế biến. Bởi vì mọi con số xuất phát từ Trung Quốc, đối với tôi, phải được đặt câu hỏi, xác minh – tin cậy, nhưng phải được xác minh.

Nó phải được đặt câu hỏi, xác minh và sau đó xác minh lại lần nữa. Bạn phải cẩn trọng. Và đó là lý do tại sao tôi nghĩ rằng chúng ta có thể lao vào một cuộc khủng hoảng tài chính khác do mô hình tài chính Trung Quốc này không thể tự mình đứng vững.

KB : Đúng vậy. Vâng, tin tốt về chuyện đó là nếu chúng ta đúng về Trung Quốc, và chúng ta đúng về xây dựng tín dụng khinh suất của họ, cùng với thực tế nền kinh tế của họ chậm lại, cùng với quy mô của hệ thống ngân hàng và GDP – nếu chúng ta đúng về tất cả những điều đó, tin tốt là các ngân hàng của họ không liên kết mật thiết với chúng ta theo cách mà chúng ta liên kết với châu Âu và châu Á trong cuộc khủng hoảng tài chính của chúng ta.

SB : Chúng không như thế. Nhưng bạn sử dụng từ họ khinh suất. Đây là điều làm tôi khó chịu vì thiếu sự quy trách nhiệm và trách nhiệm của giới tinh hoa trên thế giới. Chúng ta vừa trải qua cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất trong lịch sử. Không một CEO nào bị giam. Và không ai có ý định từ bỏ bất kỳ vốn chủ sở hữu nào. OK?

Mọi người phải nhớ rằng vào ngày 18 tháng 9 năm 2008, khi (Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Ben) Bernanke và (Bộ trưởng Tài chính Henry) Paulson bước vào Phòng Bầu dục với (Tổng thống George W.) Bush (để bàn kế hoạch cứu trợ tài chính), và ông ấy phái họ đến Capitol Hill, bảng cân đối của Cục Dự trữ Liên bang là 880 tỷ USD.

Vào ngày mà Donald Trump tuyên thệ nhậm chức vào ngày 20 tháng 1 năm 2017, nó là 4,5 nghìn tỷ đô la. Tất cả những gì chúng ta làm tại Ngân hàng Anh, ECB, Ngân hàng Nhật Bản – cũng như vậy.

(còn tiếp) 

Xung đột kinh tế Mỹ – Trung: Tạm ngừng gây chiến, khởi động đàm phán – Phần VI


Nước Mỹ không phải đang suy yếu

Mặc dù Trung Quốc chắc chắn là một cường quốc đang trỗi dậy, họ không cho rằng Mỹ là một cường quốc đang suy yếu. So sánh với các nền kinh tế tiên tiến lớn khác, Mỹ đang phát triển tốt. Ngay cả khi hồi sinh sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Mỹ đã tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với Nhật Bản, Đức, Pháp hay Anh trong thập kỷ vừa qua. Nước này đã cho thấy khả năng đáng chú ý trong việc tạo ra các sản phẩm mới, nhu cầu mới, các nguồn lợi nhuận mới và công ăn việc làm. Trái ngược với lực lượng lao động của Trung Quốc, lực lượng lao động Mỹ dự kiến sẽ gia tăng một cách tương đối vững chắc trong những thập kỷ tới. Từ năm 2015 đến năm 2040, lực lượng lao động Mỹ sẽ tăng 7%.

Trong vòng 1 – 2 thập kỷ, cả Trung Quốc và Mỹ là những nền kinh tế lớn hơn đáng kể so với hiện tại, với sản lượng trên mỗi lao động và thu nhập trên đầu người cao hơn rõ rệt. Họ sẽ vẫn như hiện nay, là 2 nền kinh tế quốc gia lớn nhất thế giới. Trong thời gian đó, có khả năng Brazil, Indonesia, Nigeria và Ấn Độ sẽ tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với Trung Quốc hay Mỹ. Trong khoảng một thập kỷ hoặc lâu hơn, cả hai gã khổng lồ hiện nay rất có thể sẽ phàn nàn về mối đe dọa đối với trật tự kinh tế toàn cầu gây ra bởi những gì họ dường như cho là hành vi không thỏa đáng của Ấn Độ, Nigeria, Brazil và Indonesia. Cả hai nước sẽ gặp khó khăn bởi hành vi trộm cắp sở hữu trí tuệ của các nước khác, cả hai sẽ thúc giục hạ thấp các rào cản thuế quan tại các nước cạnh tranh mới nổi, và cả hai sẽ tìm kiếm sự bảo vệ tốt hơn đối với đầu tư trực tiếp của kiều dân của họ tại các nền kinh tế khác. Để bảo về các quy tắc này, Trung Quốc và Mỹ thường sẽ kết làm đồng minh.

Một điều khó có thể thay đổi nhiều trong vài thập kỷ tới là sức mạnh quân sự. Vì Mỹ chi tiêu quân sự nhiều hơn gấp 3 lần so với Trung Quốc và ngang với 11 quốc gia tiếp theo (kể cả Trung Quốc) cộng lại, Mỹ sẽ vẫn là một cường quốc quân sự mạnh hơn nhiều so với Trung Quốc hay bất kỳ quốc gia nào khác.

Nền kinh tế Trung Quốc đang thay đổi theo những cách giúp làm giảm những căng thẳng cũ nhưng lại tạo ra các căng thẳng mới

Như chúng ta đã thấy, nhiều phàn nàn của Mỹ về nền kinh tế Trung Quốc đều là vấn đề di sản. Trong khi đó, Trung Quốc phải đối mặt với nhiều vấn đề nảy sinh do lực lượng lao động giảm và tăng trưởng năng suất suy giảm. Để đối phó, họ đang thay đổi cách thức hoạt động của nền kinh tế – và trong quá trình đó, họ tạo ra những căng thẳng mới với Mỹ. Những căng thẳng này là chủ đề thực sự của các cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung.

Cách đây không lâu, nền kinh tế Trung Quốc được thúc đẩy nhờ sự gia tăng lớn trong đầu tư, sản lượng công nghiệp và xuất khẩu đã qua sản xuất. Nhưng không còn nữa. Bị IMF và Ngân hàng Thế giới chèn ép, và với việc các quan chức kinh tế của họ vốn nhận thức rất rõ rằng mô hình này không thể tiếp tục vô thời hạn, Trung Quốc đã thay đổi lộ trình để khuyến khích chi tiêu hộ gia đình và tăng trưởng dịch vụ. Làm như vậy, họ đã thay đổi quan hệ của mình với phần còn lại của thế giới.

Chẳng hạn, sự mau chóng và mức độ thay đổi được thể hiện rõ ràng trong Báo cáo cập nhật kinh tế Trung Quốc được Ngân hàng thế giới phát hành vào tháng 5/2018. Báo cáo dự báo rằng 2/3 tăng trưởng GDP toàn cầu trong năm 2018, 2019 và 2020 sẽ là từ tiêu dùng tăng, chỉ có 1/3 là từ đầu tư, và (đến năm 2020) sẽ không có đóng góp từ xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu). Dự báo này là hoàn toàn hợp lý vì mô hình tăng trưởng mà Ngân hàng thế giới dự kiến cho 3 năm này được xây dựng dựa vào mô hình tăng trưởng của 3 năm trước đó.

Đến năm 2017, sản lượng ngành dịch vụ chiếm hơn một nửa GDP Trung Quốc. Trong vòng vài năm, sản lượng dịch vụ tại Trung Quốc sẽ gấp đôi sản lượng sản xuất, nhưng ngay cả hiện nay Trung Quốc có thể được mô tả chính xác hơn là một nền kinh tế dịch vụ chứ không phải nền kinh tế sản xuất.

Sự chuyển đổi của Trung Quốc thành một nền kinh tế được thúc đẩy bởi hộ chi tiêu gia đình và dịch vụ, với một tài khoản ngoài ít nhiều cân đối và với xuất khẩu tương đối ngang bằng nhập khẩu đã diễn ra.

Những thay đổi này trong các mô hình nhu cầu và sản lượng đầu ra được phản ánh trong việc thay đổi các mô hình tuyển dụng. Đa số người lao động Trung Quốc hiện sản xuất dịch vụ, với việc làm trong ngành dịch vụ tăng vọt lên tới 56% tổng lực lượng lao động trong năm 2017.

Phần lớn những chỉ trích ở bên ngoài đối với các thỏa thuận kinh tế của Trung Quốc là về các doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Tuy nhiên, tầm quan trọng của những doanh nghiệp thuộc sở hữu chính phủ này đang giảm xuống. Vào giai đoạn đầu của các cải cách kinh tế của Trung Quốc cách đây 40 năm, các DNNN chiếm tới 4/5 sản lượng công nghiệp của Trung Quốc. Đến năm 2011, các DNNN chiếm 1/4 sản lượng công nghiệp. Theo tính toán của nhà kinh tế học Nicholas Lardy, đến năm 2011, khoảng 2/3 số việc làm trong lực lượng lao động đô thị đều thuộc khu vực tư nhân.

Đóng góp của các DNNN cho xuất khẩu của Trung Quốc đặc biệt đã giảm mạnh. Vào giữa những năm 1990, các DNNN chiếm tới 2/3 lượng hàng xuất khẩu của Trung Quốc, các doanh nghiệp nước ngoài chiếm dưới 1/3 và các doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc chỉ chiếm 1/50. Đến năm 2017, tỷ trọng xuất khẩu của các DNNN giảm xuống chỉ còn 1/10. Phần còn lại đến từ doanh nghiệp tư nhân, chia gần như ngang bằng giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp thuộc sở hữu của Trung Quốc.

Mặc dù Trung Quốc vẫn là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới và vẫn là điểm đến quan trọng cho đầu tư nước ngoài, nhưng hiện họ cũng là một thị trường tiêu dùng lớn và là nhà đầu tư lớn vào các nền kinh tế khác. Đây là thị trường tiêu dùng lớn thứ hai thế giới, và mỗi năm, khoản gia tăng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ ở nước này còn cao hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới – kể cả Mỹ. Hiện là thị trường lớn nhất thế giới cho ô tô, họ có nền tảng tốt để nhanh chóng phát triển và sản xuất xe điện. Đây là thị trường lớn nhất thế giới dành cho điện thoại thông minh. Trung Quốc chiếm 51% doanh số chất bán dẫn của Micron trên toàn cầu, 40% cảu Samsung, và 33% của SK Hynix. Với điện thoại di động và phần mềm giao dịch tài chính, Trung Quốc đã vượt qua Mỹ (và tất cả các nước khác) trong các giao dịch tiêu dùng trực tuyến.

Mỹ là một bên tham gia chính trong thị trường này. Các tập đoàn Mỹ có trụ sở tại Trung Quốc đạt doanh thu 464 tỷ USD trong năm 2016, theo dữ liệu gần đây nhất. Hơn 2/3 số công ty này là của Mỹ. Các công ty này sử dụng 2,1 triệu lao động tại Trung Quốc. Xuất khẩu của Mỹ sang các công ty này trong năm 2016 tổng cộng trị giá 13,2 tỷ USD, nhập khẩu từ các công ty này đạt 10 tỷ USD. Những con số này cho thấy các công ty của Mỹ tại Trung Quốc mua từ Mỹ nhiều hơn là bán cho Mỹ, và thu được 98% doanh số từ các thị trường khác ngoài Mỹ – có lẽ chủ yếu là ở Trung Quốc. Sự bất cân xứng này có liên quan tới việc Mỹ “tách khỏi “Trung Quốc. Theo dữ liệu này, phần lớn chi phí cho nghiên cứu và phát triển được đặt tại Mỹ. Apple, Intel, Qualcomm, Boeing, Micron, Broadcom, Cisco, Texas Instruments và P&G chỉ là một vài trong số hơn 60 tập đoàn của Mỹ có doanh thu hàng tỷ USD tại Trung Quốc.

Các doanh nghiệp toàn cầu trong đó có cả Mỹ, không kinh doanh ở thị trường Trung Quốc thì đều không có lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ kinh doanh ở Trung Quốc. Quyền tự do hoạt động tại thị trường Trung Quốc, và cái giá cho quyền tiếp cận đó, do đó sẽ là những vấn đề thích hợp đối với Mỹ. Các doanh nghiệp Trung Quốc chắc chắn muốn tiến vào thị trường Mỹ. Nhưng nếu nói các doanh nghiệp Mỹ muốn vào thị trường Trung Quốc thì cũng đúng. Nếu mục tiêu của Mỹ là cạnh tranh với Trung Quốc để duy trì vai trò lãnh đạo cả về quy mô kinh tế lẫn các công nghệ mới, thì việc tách Mỹ khỏi thị trường Trung Quốc không phải là hướng đi đúng đắn. Các nhà đàm phán Mỹ từ Văn phòng USTR và Bộ Tài chính chắc chắn đều nhận thức rất rõ về những thực tế này. Các đối tác Trung Quốc của họ cũng vậy.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

CVĐQT số 3/2019

Cuộc luận đàm về thương chiến Mỹ – Trung – Phần I


Lời giới thiệu: Ngày 5.10.2018, một ngày sau khi Phó tổng thống Mỹ Mike Pence có bài phát biểu nổi tiếng về Trung Quốc ở Viện Hudson, cựu chiến lược gia trưởng của Nhà Trắng Steve Bannon có một cuộc phỏng vấn ít được chú ý tại một địa điểm bí mật ở bang Texas với người dẫn chương trình và nhà quản lý quỹ đầu tư phòng hộ người Mỹ Kyle Bass.

Đây là một cuộc đàm luận hết sức thú vị, góp phần lý giải chính sách về Trung Quốc của chính quyền Donald Trump. Nó cũng cho thấy một con người Steve Bannon khác, khác với hình ảnh “phù thủy hắc ám” ở Nhà Trắng được truyền thông Mỹ vẽ nên.

Tuy Bannon đã rời Nhà Trắng nhưng dường như những chiến lược của ông với Trung Quốc vẫn đang được triển khai. Nhân dịp thương chiến Mỹ – Trung tiếp tục leo thang với lời đe dọa của Trump về việc đánh thuế với toàn bộ hơn 500 tỉ USD hàng hóa của Trung Quốc, xin được đăng lại bài chuyển ngữ này. Trong cuộc phỏng vấn từ tháng 10 năm ngoái, Bannon đã nói ông tin Trump sẽ leo thang đánh thuế toàn bộ hàng Trung Quốc và đến nay tình hình đang diễn biến đúng như thế. Bài phỏng vấn này rất dài (gần 14.000 chữ) nhưng rất thú vị. (Toàn bộ chú thích trong ngoặc là của người dịch – Duan Dang).

Texas, 5 tháng 10

Kyle Bass: Anh Bannon, cảm ơn anh đã đến tại địa điểm không được tiết lộ này ở Texas.

Steve Bannon: Thật hào hứng khi đến đây.

KB: Anh đến đây để đàm luận với tôi về một chuyện mà anh và tôi rất chuyên tâm nghiên cứu. Và đó là Trung Quốc. Tôi muốn nhập đề ngay bằng cách hỏi anh nghĩ gì về ý định thực sự của Trung Quốc trong đại chiến lược của họ? Đại chiến lược của họ là gì?

SB : Đại chiến lược của họ rất đơn giản. Đó là xưng bá trên thế giới. Anh có thể nhìn thấy nó thông qua “Nhất đới nhất lộ” (One Belt One Road). Anh có thể nhìn thấy thông qua “Trung Quốc chế tạo 2025” (Made In China 2025). Anh có thể nhìn thấy thông qua mọi thứ họ đang làm như chiến lược của họ nhằm trở thành Công ty Đông Ấn ở vùng Hạ Sahara châu Phi, những gì họ đang làm với vùng biển Caribbean và giờ họ đang làm ở Mỹ La-tinh.

Đó là những gì chúng ta gọi là toàn bộ lực lượng của chính phủ – toàn bộ lĩnh vực của chính phủ tập trung vào cuộc chiến kinh tế chống lại Hoa Kỳ và xây dựng quân đội của họ. Về cơ bản họ đang cố gắng phong tỏa Biển Đông. Đó là chiến lược tham vọng nhất về mặt địa chính trị mà chúng ta từng chứng kiến.

Hãy để tôi giải thích cụ thể. Ba lý thuyết vĩ đại về địa chính trị – anh có lý thuyết của Mackinder ( Halford John Mackinder – chính khách, học giả người Anh, một trong những người khai sinh ngành địa chính trị và địa chiến lược) về châu Á đại lục. Anh có lý thuyết của Mahan (Alfred Thayer Mahan – chiến lược gia nổi tiếng người Mỹ trong Thế kỷ 19) về việc cắt đứt các điểm tắc nghẽn của các đại dương trên thế giới.

Và anh có lý thuyết của Spykman (Nicholas John Spykman – nhà khoa học chính trị người Mỹ, được ca tụng là cha đỡ đầu của học thuyết ngăn chặn) về việc giữ kẻ địch của anh cách xa châu Á đại lục. Trung Quốc là lực lượng duy nhất trong lịch sử thế giới từng cố gắng áp dụng cả ba (lý thuyết) cùng một lúc. Napoleon, Hitler và những người khác cố gắng thực hiện Á-Âu đại lục. Đế chế Anh và hệ thống Mỹ mà chúng ta có ngày nay được xây dựng dựa trên chiến lược hải quân của Mahan. Và sau đó là Spykman từ đầu thế kỷ 20.

Những gì Trung Quốc đang làm với “Nhất đới nhất lộ” là đang cố gắng về cơ bản kết nối Con đường tơ lụa xưa cũ đến tận Italy. Chúng ta đã thấy trong bài báo hôm nay về chính phủ Ý – những người trong (Phong trào) Ngũ Tinh (Five Stars) – (Luigi) Di Maio trở về từ Bắc Kinh. Họ (Trung Quốc) có một kế hoạch lớn kiểu như hey, chúng tôi muốn kết thúc “Nhất đới nhất lộ” ở Italy, nơi Marco Polo về cơ bản đã lên đường. Chúng ta chứng kiến một cuộc bỏ phiếu trong tuần này tại Maldives, quốc gia thực sự cự tuyệt những gì họ (Trung Quốc) đang cố gắng làm trong chiến lược Mahan là chiếm toàn bộ căn cứ hải quân và điểm nghẽn trên toàn thế giới.

Và sau đó là Spykman. Những gì họ đang cố gắng làm là ép Hoa Kỳ, vốn là một cường quốc Thái Bình Dương, ra xa đại lục thông qua những gì họ đang làm ở Biển Đông và những gì họ đang làm ở quanh Đài Loan. Họ muốn đẩy chúng ta trở lại Guam. Người ta đã nói về chuyện này nhiều năm rồi.

Rất nhiều người trong đám Phố Wall, Thành Luân Đôn, và Frankfurt nói đại loại như, ồ, họ không có dã tâm về mặt lãnh thổ. Họ chưa bao giờ là một cường quốc bành trướng. Sự thật họ là một cường quốc bành trướng về địa chính trị. Và những gì họ đang làm đặc biệt phi thường. Và họ đang làm nó cùng một lúc.

KB : Anh có nghĩ rằng sự vĩ đại kinh tế mới của họ hay cảm giác vĩ đại của họ sau cuộc khủng hoảng tài chính – trước 2008 họ luôn tin họ chỉ là một cường quốc đẳng cấp hạng hai về kinh tế. Và thế giới dường như tin rằng họ là động cơ tăng trưởng của thế giới từ năm 2009 đến 2018. Theo anh, có phải tăng trưởng kinh tế tạo thành sự tự tin địa chính trị của họ?

SB : Nghe này, từ xưa đến nay, việc thâm nhập thị trường Trung Quốc, sự bí ẩn của thị trường Trung Quốc, luôn luôn hấp dẫn phương Tây, cho dù đó là người Anh đến đó đầu tiên, hay Công ty Đông Ấn, hay các học giả về Trung Quốc đến từ Hoa Kỳ – Thương mại Trung Quốc, luôn là chuyện này về Trung Quốc. Những gì chúng ta thấy, và tôi tin, là hệ thống kinh tế Trung Quốc được xây dựng trên một ngôi nhà cát.

Và tôi nghĩ điều đó sẽ dẫn chúng ta đến một cuộc khủng hoảng tài chính lớn hơn năm 2008, thủ phạm cũng chính là những kẻ dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 – ngân hàng đầu tư, ngân hàng thương mại, quỹ phòng hộ và các tổ chức chính phủ. Đó chính là giới tinh hoa đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính và được chính phủ cứu trợ. Họ không có trách nhiệm và không bị quy trách nhiệm. Cũng chính họ là những nhân tố đã làm trầm trọng thêm tình hình ở Trung Quốc.

Và như vậy, các thể loại tinh hoa của thế giới – Đảng Davos (cụm từ thường dùng của Bannon chỉ những giới tinh hoa chủ trương toàn cầu hóa, xuất phát từ Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos), người Phố Wall, những gì mà tôi gọi là các phòng ban tuyên truyền của Trung Quốc, là các ngân hàng đầu tư, đặc biệt là Goldman Sachs và một số ngân hàng thương mại, các nhà vận động hành lang cho Trung Quốc, về cơ bản là 25 hoặc 30 tập đoàn lớn nhất đang làm ăn ở Trung Quốc ngày nay – các nhà vận động hành lang của họ ở Washington, DC, những đám cổ phần tư nhân lớn như Schwarzman (Steve Schwarzman – chủ tịch tập đoàn quản lý quỹ đầu tư Blackstone Group, người được cho là có quan hệ mật thiết với giới lãnh đạo Trung Quốc) – những kẻ này đều phải chịu trách nhiệm về những gì đã xảy ra ở Trung Quốc.

Điều mà Trung Quốc đã có thể làm trong sự thông đồng với các thể loại tinh hoa ở phương Tây là phi công nghiệp hóa các nền dân chủ công nghiệp của phương Tây, cả châu Âu và Hoa Kỳ. Đó là lý do tại sao Brexit và (cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ) 2016 liên hệ mật thiết. Đó là việc xuất khẩu năng suất quá mức của Trung Quốc, sự giảm phát của Trung Quốc, và các hàng hóa công nghiệp cơ bản. Và từ quan điểm của Trung Quốc, điều đó rất thông thái.

Về cơ bản, họ đã đưa 350 triệu người từ tầng lớp lao động nghèo thành tầng lớp trung lưu, và 400 triệu người từ nghèo rớt mồng tơi đến lao động nghèo. Đó về cơ bản là 2/3 dân số của họ, bởi vì dân số của họ tôi thực sự nghĩ là gần 1,3 hoặc 1,4 tỷ. Vì vậy, những gì họ đã làm trong 30 năm qua thật sự là kỳ công, xét từ quan điểm chiến lược. Nhưng điều đó đã trở nên trầm trọng hơn bởi giới tinh hoa ở phương Tây, những kẻ về cơ bản kiểu như tài trợ và tăng tốc cho họ.

Thực ra, tôi nghĩ lý do mà Trump rất đặc biệt là vì ông ấy đã nói: hey, đây không phải là cách mà thế giới phải trở nên như thế. Nó có thể rất khác. Về cơ bản chúng ta đã tài trợ cho sự quật khởi của Trung Quốc. Chúng ta đã kiến thiết Trung Quốc. Nhưng tất cả những gì ông ấy nghe trong nhiều năm qua và những gì anh nghe trong nhiều năm qua là: làm gì có chuyện đó. Đây là điều tôi gọi là định luật thứ hai của nhiệt động lực học. Đây là một định luật bất biến của vật lý – sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Và những gì Trump đáp lại là: không, chuyện này là thông qua cơ cấu con người. Đó là các ngân hàng thương mại, các ngân hàng đầu tư, các tập đoàn đã quỳ gối trước chế độ Trung Quốc. Và Kyle, có một điều tôi muốn minh định, tôi bước ra phía trước không phải để chống người dân Trung Quốc. Tôi từng phục vụ như một sĩ quan hải quân ở Trung Quốc, ở Tây Thái Bình Dương trong Đệ thất Hạm đội, trên một khu trục hạm vào giữa những năm 70. Tôi nghĩ năm 76 -77 là lần đầu tiên tôi đến Trung Quốc.

Tôi đã dính líu đến Trung Quốc hầu như trọn cuộc đời. Tôi đã sở hữu các doanh nghiệp ở đó. Tôi đã sống ở Thượng Hải trong một thời gian, ở Tô giới Pháp. Tôi không chỉ khâm phục mà còn có một tình yêu thâm sâu đối với người dân Trung Quốc. Trong thực tế, ở đó họ có một câu gọi là “lão bách tính”, mà về cơ bản là chỉ người bình thường, vì có 100 họ ở Trung Quốc.

“Lão bách tính” về cơ bản là những người bị bỏ rơi. Và “lão bách tính” biểu hiện một thể diện, dũng khí và quyết tâm chung của họ. Những gì họ đã trải qua như một dân tộc thật hào hùng. Vấn đề chúng ta gặp phải là chúng ta có một chế độ độc tài của Đảng Cộng sản Trung Quốc, và thẳng thắn mà nói, giai tầng lãnh đạo tinh hoa của Đảng Cộng sản Trung Quốc thực sự hợp tác với Đảng Davos, vốn là giới tinh hoa khoa học, kỹ thuật, quản lý, tài chính, văn hóa, mà tôi sử dụng phát xuất từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos. Nhưng nó thực sự ở London, New York, Washington, Thung lũng Silicon, vân vân…

KB : Và anh có nghĩ cách họ kết thân với, cứ cho là, “công dân Davos” như thường dùng (chữ dùng của nhà khoa học chính trị Samuel P. Huntington chỉ một siêu giai cấp phi biên giới, phi quốc gia nổi lên từ sự kết nối toàn cầu) – cách mà họ làm được chuyện đó – liệu có phải là thông qua sự ép buộc kinh tế không? Có phải thông qua đầu tư vào các trường đại học, viện nghiên cứu, những người vận động hành lang của chúng ta như anh đã nói, và các công ty của chúng ta, và thậm chí cả những người là công dân Hoa Kỳ tìm cách kiếm lợi nhuận ở Trung Quốc. Có phải đó là cách họ kiểm soát câu chuyện đó. Và họ làm được chuyện đó bằng cách nào?

SB : Hãy quay trở lại một tuần lễ trong tháng 1 năm 2017 khi chúng ta có hai bài phát biểu cột mốc. Chúng ta có bài phát biểu ở Davos của Chủ tịch Tập, đó là sự tán dương cao độ với chủ nghĩa toàn cầu. Và tôi kinh tởm khi thấy truyền thông chủ lưu và đám công dân Davos ngồi đó tin sái cổ, và tán tụng quả là một nhà lãnh đạo vĩ đại, thật là một hiền nhân vĩ đại, ông ấy sẽ dẫn chúng ta vượt qua tình hình thế giới này, với những gì ông ta sẽ làm cho toàn cầu hóa hoặc cho nền kinh tế.

Và sau đó bạn thấy Diễn văn nhậm chức của Donald Trump, tôi nghĩ là ba ngày sau đó, trong đó ông nói: hey, chúng ta đang trở lại với quốc gia dân tộc. Và nước Mỹ sẽ bắt đầu tập trung vào chủ quyền của chúng ta. Và các quốc gia khác nên bắt đầu suy nghĩ về chủ quyền của họ. Nhưng sự toàn cầu hóa này và những gì phát ra từ Davos đã tước đoạt chủ quyền của chúng ta từ tay chúng ta. Và chúng ta sẽ tái khẳng định điều đó. Và hai năm sau, trong tuần này, là bài phát biểu của Mike Pence về chiến lược mới của Hoa Kỳ.

KB : Nó đã xảy ra tối qua.

SB : Nó thực sự đã diễn ra trong một thời gian khá lâu, và giờ đây đã trở thành kiểu giao thiệp với Trung Quốc. Nhưng nó không giống kiểu (cựu Ngoại trưởng Mỹ) Henry Kissinger và không giống kiểu đám đông “Bẫy Thucydides”. Tôi biết bạn từng thực hiện cuộc phỏng vấn như thế này với Graham Allison (nhà khoa học chính trị Mỹ, giáo sư Trường quản lý nhà nước John.F.Kennedy, Đại học Harvard, người khai sinh cụm từ “Bẫy Thucydides”), nhưng nó không như những gì những gã đó muốn, là chúng ta dò dẫm và tỏ ra hợp tác với Trung Quốc.

Đây là một cuộc đối đầu trực tiếp với Trung Quốc, chúng ta sẽ không chấp nhận nó nữa. Các vị đã ở trong cuộc chiến kinh tế với chúng tôi. Và chúng tôi sẽ tái khẳng định chúng tôi.

Câu hỏi của bạn về cách họ kết thân. Họ là những người đã ký những tấm séc lớn nhất. Họ đã viết séc cho các trường đại học. Họ về cơ bản đã mua trọn Thành London, Phố Wall và các tập đoàn. Tôi nói điều này với tâm trạng phẫn nộ. Các ngân hàng đầu tư lớn ở London và New York đã trở thành bộ phận quan hệ nhà đầu tư cho chế độ này. OK?

KB : Để theo đuổi lợi nhuận

SB : Trong quá trình theo đuổi lợi nhuận. Và các công ty trở thành thuyết khách của họ. Khi Lưu Hạc, phó thủ tướng, đến Hoa Kỳ khoảng bốn tuần trước khi họ tham gia vòng đàm phán cuối cùng cố gắng sắp xếp một thỏa thuận thương mại, không có nhiều tiến triển xảy ra. Nhưng ông ta (Tập Cận Bình) đã cử phó tướng của mình (Lưu Hạc) và một đội ngũ nhỏ đến gặp (Bộ trưởng) Steve Mnuchin và những gã ở Bộ Tài chính. Họ đã ghé qua một chỗ ngay trước ngày đến Bộ Tài Chính.

Họ đã có một cuộc họp, tôi nghĩ là với 15 hoặc 20 tập đoàn lớn. Đó là những người đứng đầu các vấn đề về quan hệ chính phủ và tôi nghĩ là các chủ tịch, không phải là các CEO vì các gã này không đủ trình. Và về cơ bản anh ta nói: hey, các con trai, các cậu có chuyện. Và các cậu phải tìm ra cách để giúp chúng tôi khắc phục nó. OK? Một điều nữa là (Phó chủ tịch Trung Quốc) Vương Kỳ Sơn đã thông báo thành lập một kiểu ban bệ tư vấn tài chính.

Cảm thấy bị đe dọa bởi chiến lược của Trump, họ nói: hey, chúng tôi cần một ban tư vấn tài chính để giúp chúng tôi hiểu những gì Hoa Kỳ muốn và những gì Hoa Kỳ cần. Và đó là cựu Bộ trưởng Tài chính Henry) Paulson, Schwarzman và tất cả những loại đó. Và thú vị chưa, khi họ cần ai đó đến và trợ giúp làm trung gian với Hoa Kỳ, họ sẽ tìm đến chính những người đã thủ lợi từ việc này.

Theo tôi biết là mọi người đã trở lại và nói: hey, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đang diễn ra. Đó là mùa hát xướng ở New York. Lịch trình của tôi đã kín. Và Vương Kỳ Sơn nói: hey, con trai, tôi không nghĩ cậu đang biết lắng nghe. Chúng tôi sắp có một cuộc họp. Tôi muốn mọi người phải xuất hiện.

Đây là mệnh lệnh vào vị trí chiến đấu. Tôi nghĩ khi chúng ta ngẫm lại chuyện này, mọi người sẽ hoàn toàn choáng váng khi họ nhìn thấy những giới tinh hoa của các nền dân chủ phương Tây và Hoa Kỳ đã sát cánh với Trung Quốc và làm trầm trọng thêm tình hình như thế nào, khi mà rõ ràng là họ đang trong cuộc chiến tranh kinh tế với chúng ta.

(còn tiếp) 

Viện trợ kinh tế của Mỹ cho Nga: Những vấn đề và khuynh hướng chính – Phần cuối


Nguyên nhân hạn chế quan hệ của các công ty Nga với chương trình tín dụng là do những đòi hỏi ngặt nghèo từ phía Ngân hàng. Trước hết tín dụng của Eximbank là bắt buộc, có nghĩa là không dưới 85% số tiền phải dùng để mua các thiết bị của Mỹ, mà các thiết bị này giá thường cao hơn nhiều so với thiết bị cùng loại của các nước khác và thường thì không phù hợp về mặt kỹ thuật với các thiết bị của Nga. Thứ hai là nguồn trả nợ là doanh thu xuất khẩu của các công ty khai thác dầu của Nga, mà khối lượng doanh thu này luôn biến động mạnh do những thay đổi của tình hình trên thị trường thế giới. Ba là, yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng trả tín dụng cho Eximbank của Mỹ trong khuôn khổ HIệp định về dầu mỏ và khí đốt là những yêu cầu bổ sung của Ngân hàngg về sự đảm bảo trách nhiệm. Ngoài việc gửi ngoại tệ thu được từ xuất khẩu dưới hình thức ký gửi vốn với tổng số không dưới 150% tổng số tiền phải trả theo tín dụng, Ngân hàng còn yêu cầu phải trả thêm cho Ngân hàng số tiền đền bù (khoảng 7,6% tổng số tiền tín dụng) để đảm bảo trong trường hợp rủi ro chính trị.

Năm 1994, Eximbank của Mỹ còn ký giác thư với Công ty Cổ phần “Công nghiệp Khí đốt” của Nga, theo đó Ngân hàng phải giúp cung cấp các thiết bị và dịch vụ Mỹ cho Công ty với số tiền 750 triệu USD để hiện đại hóa ngành công nghiệp khí đốt ở nước này. Song, sau khi Công ty Cổ phần “Công nghiệp Khí đốt” ký Hiệp ước cộng tác với Iran thì Quốc hội Mỹ yêu cầu hủy bỏ cung cấp tín dụng cho công ty này, bởi công ty này cộng tác với một nước mà Mỹ buộc tội ủng hộ khủng bố quốc tế. Washington đe dọa Công ty Công nghiệp Khí đốt phải đền bù thiệt hại và năm 1997, Công ty phải hủy bỏ thỏa thuận với Eximbank Mỹ.

Đồng thời, kinh nghiệm cộng tác với ngành dầu mỏ Nga đã làm thay đổi sự chú ý đặc biệt của Eximbank trong chính sách tín dụng. Nếu những năm 1992 – 1995 lượng tín dụng và tiền bảo đảm chủ yếu của Ngân hàng dành cho việc cung ứng thiết bị cho công nghiệp khai thác ở Nga thì những năm gần đây Ngân hàng lại chuyển hướng sang cung ứng các thiết bị kỹ thuật cao với những điều kiện tài chính ưu đãi. Đầu năm 1997 đã đạt được thỏa thuận về việc Eximbank Mỹ cung cấp tín dụng cho các dự án như: để mua 20 máy bay Mỹ cho hãng Aeroflot (1,5 tỷ USD) thời hạn đến năm 2001; cung cấp tài chính để xây dựng hệ thống tự động kiểm soát thông tin không gian Xirena-3 (90 triệu USD); mua các thiết bị máy tính cho các viện nghiên cứu khoa học đa ngành (65 triệu USD); mua thiết bị điện tử cho xí nghiệp Elma của Nga (50 triệu USD).

Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là đã hủy bỏ cả các chương trình cung cấp tín dụng cho các ngành khai thác: vào thời gian này Eximbank đã chi hoặc đồng ý chi về mặt nguyên tắc khoảng 470 triệu USD dưới dạng cung cấp tín dụng hoặc tiền bảo đảm tín dụng.

Không thể phủ nhận rằng tín dụng của Eximbank đóng vai trò quan trọng tăng cường các quá trình sản xấut trong các ngành kinh tế khác nhau của Nga. Đồng thời cũng rất rõ ràng, phần lớn số tiền chi cho các xí nghiệp của Nga vẫn nằm trong các tài khoản của công ty Mỹ, những công ty cung ứng thiết bị theo tín dụng của Ngân hàng.

Nghiệp đoàn Đầu tư Tư nhân Hải ngoại (Overseas Private Investment Corporation) giúp các nhà đầu tư Mỹ hoạt động ở Nga bằng cách cung ứng tín dụng và các khoản tiền bảo đảm tín dụng trực tiếp; cung ứng cho các nhà đầu tư hàng loạt dịch vụ thông tin và các dịch vụ khác. Nghiệp đoàn đã hoạt động ở Nga từ năm 1992 khi hiệp định cộng tác giữa chính phủ Nga và cơ quan đại diện Liên bang này của Mỹ được ký kết.

Số lượng các dự án của Nghiệp đoàn ở Nga không ngừng tăng lên. Những năm 1992 – 1996, số tiền đầu tư thì Nga là nước nhận lớn nhất trong tổng số vốn của Nghiệp đoàn. Những năm gần đây Nghiệp đoàn có 125 dự án ở Nga với tổng trị giá hơn 3 tỷ USD – từ Saint Petersburg và Cộng hòa Komi ở miền Bắc đến vùng Khabarovski ở miền Đông – với phạm vi thực hiện rất rộng từ khai thác dầu khí đến các thiết bị liên lạc từ xa và sản xuất đồ uống không có cồn. Các dự án được tài trợ của Nghiệp đoàn có ở rất nhiều lĩnh vực thuộc nền kinh tế Nga: dịch vụ tài chính, khai thác tài nguyên, biến đổi công nghiệp quốc phòng… Hướng hoạt động được ưu tiên của Nghiệp đoàn ở Nga là ủng hộ các nhà đầu tư Mỹ trong ngành dầu khí.

Nghiệp đoàn cung ứng bảo hiểm bảo đảm bằng ngoại tệ bất khả hồi (không chuyển đổi) cho các dự án đầu tư của Mỹ ở Nga với số vốn trên 200 triệu USD cho một dự án. Theo chỉ số này, ngày nay Nga có thể cạnh tranh với các nước phương Tây khác.

Nghiệp đoàn tập trung nỗ lực ủng hộ các Công ty Mỹ vừa và nhỏ hoạt động ở Nga trong điều kiện rủi ro cao. Trong số vốn của Nghiệp đoàn ở Nga có cả các dự án lớn. Thí dụ như tiền bảo hiểm bảo đảm của dự án hiện đại hóa động cơ tên lửa của Nga do công ty “Pratt and Withney” và Tổ hợp sản xuất – nghiên cứu khoa học Energomask thực hiện. Theo các tài liệu cuối năm 1997 Nghiệp đoàn đã chi hơn 500 triệu USD cho bảo hiểm và tài trợ các dự án chuyển đổi ở Nga.

Nghiệp đoàn còn cung cấp bảo đảm tín dụng 116 triệu USD để khai thác các mỏ dầu khí ở thềm lục đại đảo Sakhalin. Tiền bảo đảm được chuyển cho công ty “Sakhalin Energy Investment”. Trong xí nghiệp liên doanh này, công ty Mỹ Maraton oil và Mardermott International chiếm 50% cổ phần và được chính phủ Nga trao nhiều quyền hạn khai thác các mỏ ở Sakhalin.

Dự án có lợi cho cả tập đoàn tài chính thế giới lẫn cho Nga là dự án mà ngoài việc có lợi nhuận lâu dài nước Nga còn nhận được tiền đền bù và vài trăm triệu USD cho việc khai thác lòng đất. Việc giảm bớt sự thiếu hụt kinh niên nguồn năng lượng đối với Sakhalin cho phép không phải nhập hàng triệu tấn dầu và sản phẩm dầu mỏ từ các vùng phía Tây đất nước. Tập đoàn tài chính bắt đầu khai thác từ đầu năm 1998.

Năm 1996, Nghiệp đoàn đã cấp số tiền cho vay là 200 triệu USD. Nghiệp đoàn phát triển phương tiên liên lạc từ xa trở thành chi nhánh của công ty điện thoại West Colorado (Mỹ). Công ty này hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khai thác mạng liên lạc tổ hợp ở Nga cùng với các công ty khu vực là các trung tâm điều hành viễn thông. Hiện tại công ty khai thác 7 mạng liên lạc tổ hợp ở các vùng khác nhau của Cộng hòa Liên bang Nga, kể cả Saint Petersburg, Moskva, Ekaterinburg, Valdivostok.

Nghiệp đoàn còn ủng hộ một số quỹ đầu tư chuyên ngành, mà hoạt động của họ là nhằm giúp nước Nga. Các quỹ tư nhân này thực hiện đầu tư bằng cách phát hành cổ phiếu ở Nga với tổng số tiền 1,4 tỷ USD, một phần tiền trong đó dành hỗ trợ các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và giúp doanh nghiệp nhỏ trong các lĩnh vực sản xuất và phi sản xuất. Từ năm 1993, nhân viên của Nghiệp đoàn tham gia vào các hội nghị của Hội đồng cộng tác kinh tế và công nghệ do Thủ tướng Liên bang Nga và Phó Tổng thống Mỹ đồng điều hành. Nghiệp đoàn đệ trình lên hội đồng những mối quan tâm của khu vực tư nhân Mỹ và tác động tới việc cải tổ nền kinh tế Nga.

Nhờ các chương trình viện trợ của mình, Mỹ tăng cường hoạt động của các công ty Mỹ ở thị trường Nga, tài trợ xuất khẩu Mỹ, ủng hộ về tài chính cho các tổ chức tư nhân và nhà nước. Như vậy, ngoài việc giúp đỡ nền doanh nghiệp Mỹ, Washington còn giải quyết được những vấn đề chung hơn củng cố vị trí chiến lược của Mỹ trên thế giới. Đồng thời, viện trợ kinh tế của Mỹ cho Nga trên cơ sở không hoàn lại và trong thời điểm khó khăn nhất trong lịch sử nước Nga không chỉ thúc đẩy tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong các ngành khác nhau thuộc nền kinh tế Nga mà còn tạo tiền đề phát triển lâu dài các quan hệ kinh tế thương mại Mỹ – Nga.

Người dịch: Đỗ Minh

Nguồn: TN 99 – 99 & 100

Nội tình cuộc chiến của Mỹ với Huawei – Phần cuối


Phương Tây thức tỉnh

Đến giữa năm 2018, Australia tiếp tục thông tin đến các quốc gia khác những quan ngại của họ về 5G. Một trong những quan chức cấp cao của Australia cho biết: “Chúng tôi chia sẻ các quan ngại của mình về an ninh với nhiều đồng minh, chứ không chỉ với Mỹ hay các đối tác truyền thống. Chúng tôi đã chia sẻ suy nghĩ của mình với Nhật Bản, Đức, các nước châu Âu khác và Hàn Quốc”.

Tại Washington, chính quyền bắt đầu áp đặt các biện pháp kiềm chế Huawei. Tháng 8/2018, Trump đã ký một dự luật cấm các cơ quan liên bang và các nhà thầu của họ sử dụng trang thiết bị của Huawei và Tập đoàn ZTE, một nhà sản xuất thiết bị viễn thông khác của Trung Quốc. Sau đó, Huawei đã đệ đơn kiện lên tòa án liên bang ở Texas phản đối lệnh cấm này.

Cuối tháng 8, Australia đã đi xa hơn nữa: Nước này cấm các công ty không đáp ứng các yêu cầu của họ về bảo mật, trong đó có Huawei, cung cấp bất kỳ thiết bị nào cho mạng 5G của họ, dù cho chính phủ hay các công ty tư nhân điều hành.

Trong một tuyên bố, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng quyết định của Australia “không có căn cứ thực tế và lạm dụng các tiêu chuẩn về “an ninh quốc gia”. Trung Quốc kêu gọi phía Australia từ bỏ lối suy nghĩ và những định kiến về tư tưởng theo kiểu Chiến tranh Lạnh và đem lại cho các công ty Trung Quốc một môi trường công bằng, minh bạch và không phân biệt đối xử”.

Tháng 11/2018, cơ quan tình báo New Zealand đã chặn yêu cầu đầu tiên ở nước này của một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông về việc sử dụng bộ thiết bị của Huawei cho mạng 5G, với lý do quan ngại về an ninh quốc gia.

Giống như Australia và Mỹ, các quan chức an ninh Anh có những quan ngại về khả năng Trung Quốc sử dụng Huawei như một kênh tiến hành hoạt động gián điệp. Tuy nhiên, lựa chọn là rất hạn chế. Huawei là một trong 3 công ty toàn cầu chủ chốt mà các nhà phân tích cho rằng có khả năng cung cấp một loạt thiết bị mạng di động tiên tiến với quy mô lớn. Hai công ty còn lại là Ericsson và Nokia. Ngoài ra, trong số các nhà khai thác viễn thông, Huawei còn có tiếng là cung cấp kịp thời các thiết bị giá rẻ.

Tuy nhiên, các quan chức an ninh Anh đang ngày càng thất vọng trước cái mà họ coi là thất bại của Huawei trong việc sửa chữa các lỗi phần mềm trong thiết bị, nhất là những sự không nhất quán trong mã nguồn – bộ hướng dẫn cơ bản của các chương trình. Vấn đề này đồng nghĩa với việc phòng thí nghiệm gần Oxford được thành lập nhằm xem xét chặt chẽ thiết bị của Huawei thậm chí không thể chắc chắn rằng bộ mã mà họ đang thử nghiệm có giống hệt với bộ mã mà Huawei triển khai trong các thiết bị của công ty này trên thực tế hay không. Điều này gây khó khăn cho việc đưa ra những đảm bảo về tính an toàn của các thiết bị Huawei.

Các quan chức Anh cho biết Trung Quốc cũng như các bên tham gia có ác ý khác có thể lợi dụng loạt lỗi này. Ian Levy, một quan chức an ninh Anh giám sát việc Anh đánh giá thiết bị Huawei nói với Reuters rằng kỹ thuật phần mềm của công ty này chỉ tương đương với cách đây 20 năm. Ông nói: “Khả năng xuất hiện điểm dễ bị tổn thương với bộ thiết bị Huawei cao hơn nhiều so với các nhà cung cấp khác”.

Công ty này cho biết họ đã cam kết chi ít nhất 2 tỷ USD “trong 5 năm tới” để cải thiện năng lực kỹ thuật phần mềm của mình.

Các bộ trưởng Anh đã nhất trí cho phép Huawei đóng vai trò hạn chế trong việc xây dựng các bộ phận của mạng 5G tại nước này, nhưng chính phủ vẫn chưa công bố quyết định cuối cùng. Liên minh châu Âu đã để cho chính phủ các nước tự quyết về việc cấm bất kỳ công ty nào vì lý do an ninh quốc gia. Một số quan chức an ninh châu Âu nói rằng việc cấm một nhà cung cấp không giải quyết được vấn đề lớn hơn là những mối nguy mà công nghệ Trung Quốc gây ra nói chung.

Huawei phản kích

Khi căng thẳng giữa phương Tây và Huawei gia tăng trong năm 2018, tình hình đột ngột đi theo chiều hướng cá nhân. Trong một thời gian, các quan chức thực thi pháp luật Mỹ đã điều tra những mối liên hệ giữa Huawei và Iran, trong đó có sự dính líu của Mạnh Vãn Chu, giám đốc tài chính của Huawei và là con gái của nhà sáng lập công ty. Cuộc điều tra này diễn ra sau những bài viết của Reuters vào năm 2012 và 2013, tiết lộ những mối liên hệ giữa Huawei, Mạnh Vãn Chu và một công ty khác được cho là đã tìm cách vi phạm các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Iran.

Khi các quan chức Mỹ được biết Mạnh Vãn Chu sẽ đi qua Vancouver vào tháng 12, họ đã bất ngờ ra đòn, yêu cầu Canada bắt giữ bà vì những cáo buộc liên quan đến gian lận tài chính và gian lận bằng phương tiện điện tử. Bà Mạnh vẫn được tại ngoại ở Canada, trong khi Mỹ tìm cách để bà bị dẫn độ. Trong tuyên bố của mình, Huawei cho biết bà Mạnh “vô tội trước những cáo buộc đối với bà” và rằng những cáo buộc này “có động cơ chính trị”.

Cuộc xung đột Huawei không chỉ liên quan tới sự đối đầu giữa hai siêu cường Mỹ – Trung: Các hoạt động của bà Mạnh và Huawei đã bị Chính quyền Mỹ theo dõi sát sao một thời gian dài trước khi Trump bắt đầu cuộc chiến thương mại với Trung Quốc, theo các cuộc phỏng vấn những nhân vật biết rõ các cuộc điều tra này. Nhưng chắc chắn rằng cuộc đối đầu quy mô lớn hơn với Huawei giờ đây đã mang tính địa chính trị cao độ.

Trong những tháng gần đây, Mỹ đã tăng cường các nỗ lực ngoại giao nhằm hối thúc các đồng minh gạt Huawei ra ngoài lề. Theo Gordon Sondland, Đại sứ Mỹ tại Liên minh châu Âu trong cuộc phỏng vấn với Reuters tháng 2/2019, 5G là một “công nghệ tạo ra sự thay đổi toàn diện với những tác động trên khắp các lĩnh vực xã hội từ kinh doanh, chính phủ, quân đội và hơn thế nữa. Đối với tôi, việc không giao chìa khóa của toàn xã hội cho một bên tham gia đã thể hiện hành vi có ác ý là lẽ thường”.

Khi được hỏi về việc có hay không bằng chứng về việc thiết bị của Huawei đã được sử dụng cho hoạt động gián điệp, Sondland nói: “Có những bằng chứng mật”. Ông từ chối nói thêm về bản chất của tài liệu này ngoài việc khẳng định chắc chắn Huawei “có khả năng tấn công một hệ thống” và “có quyền được chính phủ ủy thác để làm như vậy theo yêu cầu”.

Pompeo đã công khai đi xa hơn hầu hết các quan chức Mỹ khi trực tiếp liên hệ công ty này với Bắc Kinh. Ông phát biểu vào tháng 3/2019: “Huawei thuộc sở hữu của nhà nước Trung Quốc và có những mối liên hệ sâu sắc với cơ quan tình báo của nước này. Điều đó hẳn sẽ phát đi tín hiệu cảnh báo tới bất kỳ ai hiểu về những gì mà quân đội và cơ quan tình báo Trung Quốc đang làm”.

Huawei đã nhiều lần phủ nhận việc công ty này thuộc sự kiểm soát của chính phủ, quân đội hay cơ quan tình báo Trung Quốc. Trong một tuyên bố, Huawei cho rằng: “Ngoại trưởng Mỹ Pompeo đã sai”, và nói rằng công ty thuộc quyền sở hữu của các nhân viên của họ.

Mặc dù ban đầu tỏ ra kiềm chế trong các phản ứng công khai, nhưng giờ đây cả Huawei cũng đã trở nên hiếu chiến hơn. Cuối tháng 2/2019, công ty đã đối đầu với Mỹ tại một cuộc họp thường niên lớn của các giám đốc điều hành trong ngành di động ở Barcelona, nơi mà logo màu đỏ của Huawei xuất hiện ở khắp nơi. Các quan chức hàng đầu của Mỹ đã tham dự với ý định cảnh báo đại biểu của các chính phủ và ngành công nghiệp tránh xa Huawei. Nhưng công ty này đã đưa một êkip các giám đốc điều hành cấp cao tới dự nhằm đem lại cho các khách hàng và đại biểu các chính phủ châu Âu sự bảo đảm trước những cáo buộc của Mỹ.

Trong một bài phát biểu chủ đạo, Phó Chủ tịch Quách Bình của Huawei đã nhằm vào các hoạt động gián điệp của chính nước Mỹ. Ông nói: “Gương kia ngự ở trên tường! Trng tất cả, ai mới là người đáng tin cậy nhất?” Quách Bình đã nói tới một hoạt động giám sát nước ngoài quy mô lớn của Mỹ mang tên Prism (Lăng kính – ND), mà Snowden, cựu nhân viên hợp đồng của NSA, đã tiết lộ. Lời châm chọc này đã khiến khán giả bật cười.

Châu Âu cũng đã phản pháo. Trong một phiên họp kín, các đại biểu cấp cao của các công ty khai thác viễn thông châu Âu đã hối thúc một quan chức Mỹ đưa ra bằng chứng cụ thể cho thấy Huawei gây ra nguy cơ về an ninh. Quan chức này kể lại rằng một giám đốc điều hành đã đề nghị được xem “khẩu súng còn đang bốc khói” (bằng chứng thực tế – ND).

Quan chức Mỹ đáp trả: “Nếu có khói súng thì ngài đã bị bắn rồi. Tôi không hiểu tại sao các ngài lại đứng xếp hàng trước một khẩu súng đã lên đạn”.

Mắc kẹt giữa Mỹ và Trung Quốc

Nhiều nước châu Âu có các mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Trung Quốc, và các giám đốc điều hành trong ngành vẫn bị thu hút bởi các sản phẩm giá rẻ của Huawei. Không giống như Mỹ, vốn chỉ chiếm một phần nhỏ trong doanh thu của Huawei, châu Âu đã sử dụng rất nhiều thiết bị của công ty này trong các mạng lưới hiện tại của họ.

Tháng 3/2019, Đức – một trong những thị trường lớn nhất của Huawei ở châu Âu – cho biết họ sẽ không cấm công ty này tham gia mạng 5G của mình, nhưng thay vào đó sẽ thắt chặt các tiêu chí bảo mật đối với Huawei và tất cả các nhà cung cấp khác.

Mỹ cũng đã hối thúc Litva, một quốc gia Baltic là thành viên của NATO. Trong một cuộc họp vào tháng 3/2019, theo một quan chức Litva biết rõ về cuộc họp này, Đại sứ Mỹ đã khuyến khích Thủ tướng Litva có hành động chống lại Huawei, cho rằng thiết bị 5G của công ty này có thể khiến cho quân đội đồng minh dễ bị tổn thương.

Một phát ngôn viên của Đại sứ quán Mỹ tại Litva phát biểu: “Mỹ chủ trương ủng hộ các mạng lưới viễn thông an toàn và các chuỗi cung ứng không có sự tham gia của các nhà cung cấp chịu sự kiểm soát của chính phủ nước ngoài hoặc chịu ảnh hưởng không phù hợp mà gây ra những mối nguy về tiếp cận trái phép và hoạt động mạng độc hại”.

Tuy nhiên, theo một quan chức biết rõ về cuộc họp này, Litva, vốn phụ thuộc vào sự hậu thuẫn về quân sự của Mỹ, lại không muốn cấm Huawei. Họ thích mức giá của Huawei và không muốn khiến Trung Quốc khó chịu. Quan chức này cho biết kết quả là Litva “đang tìm cách cấm Huawei mà không thực sự ban hành lệnh cấm đối với Huawei”.

Trong một bài phát biểu tại London vào tháng 3/2019, cựu Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull cho rằng Mỹ và các đồng minh đã tỏ ra cẩu thả khi không phát triển một nhà cung cấp 5G. Ông nói: “Khi nhìn lại, người ta không thể tin được rằng các quốc gia đi tiên phong về công nghệ không dây – Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản và về wifi là Australia lại rơi vào tình cảnh không có nước nào trong số họ có thể đưa ra cho các mạng viễn thông của chính họ một đơn vị đi đầu về 5G ở nước họ hoặc trong nhóm “5 con mắt””.

Nguồn: Reuters – 21/05/2019

TLTKĐB – 29/05/2019