Tư bản hậu công nghiệp và kinh tế học siêu vĩ mô – Phần I


Nguyễn Bình Giang

Khi nghiên cứu kinh tế trong thời đại của mình, Marx, Engels, Lenin đã chỉ ra được những đặc trưng của loại tư bản chiếm ưu thế trong mỗi thời đại mà các ông sống. Chúng ta hãy xem xét những nhà sáng lập chủ nghĩa Marx – Lenin nghiên cứu các loại tư bản trong thời đại của mình như thế nào, đặc biệt sự phát triển của Lenin đối với chủ nghĩa Marx trong thời đại của ông và qua đó thấy được những gợi ý về phương pháp trong việc vận dụng chủ nghĩa Marx – Lenin để nghiên cứu về các loại tư bản thời đại ngày nay. Khi nghiên cứu về nền kinh tế hiện đại và những vấn đề nổi lên trong đó, việc tìm hiểu những vấn đề nổi lên trong các thời đại trước và các giải quyết có một vai trò quan trọng để thấy được những vấn đề được đặt ra với thời đại hiện nay và cách thức giải quyết.

I/ Thời đại của Marx và thời đại của Lenin

Trong thời đại của Marx, khi nghiên cứu về quá trình sản xuất hàng hóa, mà hàng hóa là vật thể, Marx đã thấy rằng tạo phẩm phi vật thể là giá trị thặng dư chi phối toàn bộ hành động của các nhà tư bản, chi phối sự vận động của xã hội tư bản. Người ta đã tạo ra được giá trị thặng dư thông qua việc sản xuất ra hàng hóa. Giá trị thặng dư có nhiều hình thái cụ thể khác nhau: lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuận thương nghiệp, lợi nhuận ngân hàng, lợi tức cho vay, địa tô tư bản chủ nghĩa.

Động thái vận động của tư bản theo tỷ suất lợi nhuận, từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Marx giả định rằng chủ nghĩa tư bản phát triển theo hình mẫu của nước Anh. Vì tư bản không biên giới nên theo sự phát triển của tư bản, tư bản sẽ chuyển sang các nước khác thông qua thương mại, nên hình mẫu của nước Anh sẽ trở nên phổ biến. Nhưng Marx đã dự đoán cạnh tranh tự do sẽ dẫn đến độc quyền, nhưng trong thời của ông, hiện tượng độc quyền mới lác đác xảy ra và có quy mô không đáng kể nên Marx không thể có cơ sở thực tiễn để nghiên cứu đầy đủ.

Bằng việc phát hiện ra giá trị thặng dư, Marx đã chứng minh rằng trong thời đại của ông, tư bản công nghiệp chiếm vai trò chi phối, thống trị tư bản nông nghiệp và tư bản thương mại. Logic của tư bản là gì? Tư bản không hề phát minh ra giá trị thặng dư, nhưng tư bản đã biến việc sản xuất ra giá trị thặng dư trở thành tư bản phổ biến trong xã hội, và một khi dạng phi vật thể giá trị thặng dư vận hành thì nó biến đổi xã hội về mặt vật thể lẫn các mối quan hệ xã hội với tốc độ nhanh chóng, cuốn tất cả các quốc gia và dân tộc vào vòng xoáy của nó. Logic của tư bản là sự phát triển của dạng phi vật thể là giá trị thặng dư dẫn tới sự ra đời và phát triển của đại công nghiệp mà sản xuất các vật thể thiên nhiên không hề có ở mức đại quy mô, với đủ loại vật thể, dẫn tới sự hình thành các mối quan hệ xã hội mới. Khi theo đuổi giá trị thặng dư trở thành sức mạnh buộc xã hội phải tham gia vào, buộc mỗi thế hệ mới lớn lên và thế hệ kế tiếp phải chấp nhận luật chơi, chấp nhận sức mạnh do nó áp đặt, tạo nên luật chơi của xã hội, thu hút tất cả các nguồn lực của xã hội và làm cho xã hội đạt đến những trạng thái mới, đẩy đến những mâu thuẫn đòi hỏi phải hủy bỏ chính việc chạy theo giá trị thặng dư đó một cách vô tổ chức mà dẫn đến các hình thức xã hội hóa việc sản xuất vật thể ở mức độ nào đó, nhưng nó lại làm cho xuất hiện những hình thái hoàn toàn mới để có thể tạo nên các dạng phi vật thể khác mà đem lại giá trị thặng dư, một giá trị thặng dư của các tạo phẩm phi vật thể. Thặng dư này luôn sống, luôn sinh ra và được tái tạo khi nó được hoàn thành, vẫn tiếp tục tạo ra thặng dưt iếp khi có người nào đó khai thác.

Lenin đã thấy rằng mỗi thời kỳ có loại tư bản nào đó chiếm ưu thế, chi phối, thậm chí thống trị các loại tư bản khác. Ông đã thấy rõ rằng vai trò của công nghiệp nặng ở việc khẳng định địa vị của nó.

“…ngành công nghiệp bắt tất cả các ngành công nghiệp khác phải cống nộp cho mình”.

Khi sức sản xuất trở nên rất hùng hậu, sự tập trung trở nên cao độ, tư bản “thừa” trở nên phổ biến, hàng rào bảo hộ giữa các nước trở nên mạnh mẽ, quan hệ giữa các nước đã có thể bảo đảm cho việc vay vốn và hoàn trả, thì việc xuất khẩu tư bản trở nên phổ biến. Lenin thấy rằng thời đại của mình, chủ nghĩa tư bản đã bước sang giai đoạn mới, giai đoạn độc quyền, khi mà có thêm những tạo phẩm phi vật thể khác có sức mạnh thống trị tư bản công nghiệp. Ông thấy được vai trò của tư bản tài chính và đó là sự vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Marx trong tình hình mới. Trong thời đại tập trung sản xuất dẫn đến độc quyền, Lenin đã thấy rằng tư bản tài chính hình thành và thống trị tư bản công nghiệp.

“Như vậy là thế kỷ XX đánh dấu một bước ngoặt từ chủ nghĩa tư bản cũ sang chủ nghĩa tư bản mới, từ sự thống trị của tư bản nói chung sang sự thống trị của tư bản tài chính”.

Hoạt động xuất khẩu tư bản thừa, là một hiện tượng kinh tế mang tính tất yếu khách quan, khi quá trình tích tụ và tập trung sản xuất đã đạt đến một mức độ rất cao, khi sức sản xuất đã phát triển đến độ vượt ra khỏi khuôn khổ chật hẹp của một quốc gia, hình thành nên quy mô sản xuất trên phạm vi quốc tế. Lenin chỉ ra rằng vấn đề xuất khẩu tư bản là một thuộc tính của chủ nghĩa tư bản độc quyền, mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các tư bản độc quyền, mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa các tư bản độc quyền đã có những bước phát triển để đạt được các thỏa ước có giá trị bắt buộc với các bên tham dự, để xuất khẩu tư bản có thể thực hiện được và trở thành sự cần thiết của chủ nghĩa tư bản. Và tính chất độc quyền, bạo lực, xâm lược là gắn liền với nhau trong giai đoạn này, nơi mà cuộc đấu tranh phân chia lại thế giới trở nên gay gắt và người ta đã dùng đến những thủ đoạn không phải là thủ đoạn hòa bình. Mâu thuẫn được giải quyết bằng vũ lực. Chính Lenin chỉ ra rằng trong thời đại đó, người ta có rất nhiều phương tiện để tác động đến nền kinh tế.

“Tổ chức độc quyền một khi đã hình thành và thao túng hàng tỷ, thì tuyệt đối cần thiết là nó phải xâm nhập vào hết thảy các lĩnh vực trong đời sống xã hội bất kể chế độ chính trị và mọi “chi tiết” khác”.

Vì sự tích tụ của tư bản tìa chính với những nghiệp vụ đặc biệt của nó khiến cho nó có một sự gia tăng phải được nhìn nhận theo quan điểm mới, trong quá trình phát triển đã xuất hiện cái gọi là “tư bản thừa”. Lenin cho rằng: “Sở dĩ cần phải xuất khẩu tư bản là vì torng một số ít nước, chủ nghĩa tư bản đã “quá chín”, và tư bản thiếu địa bàn đầu tư “có lợi” (trong điều kiện nông nghiệp lạc hậu, quần chúng nghèo khổ)”.

Xuất phát từ tính chất tập trung sản xuất dẫn tới độc quyền, ông chỉ ra điều kiện độc quyền của sản xuất chi phối xã hội và làm nổi bật lên vai trò của sự gắn kết của tư bản công nghiệp và tư bản tài chính trở thành giới đầu sỏ.

Trong thời đại của mình, Lenin thấy rằng: “Điểm tiêu biểu của chủ nghĩa đế quốc chính lại không phải là tư bản công nghiệp, mà là tư bản tài chính”.

Giai đoạn sau Lenin, nền kinh tế trên nền tảng tư bản công nghiệp và tư bản tài chính đã dẫn đến những hậu quả là bản thân các nước tư bản chủ nghĩa cũng thấy cần phải quốc hữu hóa nhiều doanh nghiệp, hình thành phổ biến tư bản nhà nước. Sự xuất hiện của kinh tế vĩ mô và những nhận thức mới về các sức mạnh xã hội là biểu hiện rằng có những sức mạnh mới có thể chi phối nền kinh tế, làm được việc chi phối nền kinh tế.

(còn tiếp )

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2007.

Advertisements

Một hệ thống cai trị mới: Hối lộ


Đầu tháng Hai, một tin tức được tung ra từ các máy điện báo trên toàn thế giới: một ủy ban điều tra của Thượng viện Mỹ (ủy ban Church) nắm được những tài liệu chứng minh rằng các nhân vật cấp cao của hơn ba mươi nước đã “chấp nhận” những khoản tiền thưởng do một số công ty đa quốc gia đề nghị nhằm “tạo thuận lợi” cho những cuộc mặc cả của chúng. Tầm quan trọng của những số tiền bị phát hiện – hơn 100 triệu USD – cũng như của các nhân vật có liên quan đã làm cho cả thế giới kinh hoàng.

Danh sách các công ty hối lộ rất dài, nhưng danh sách những kẻ được hối lộ cũng không kém… Thế nhưng cả hai danh sách này đều nhanh chóng bị giấu biến và không có một lời giải thích. Tại sao?

Tại sao người ta chôn hồ sơ đi khi công ty Up John (dược phẩm) thừa nhận là đã rót những khoảng tiền lên tới 2,7 triệu USD choc ác viên chức của 22 nước.

Tại sao người ta đã chôn hồ sơ đi khi Colgate-Palmolive thừa nhận là đã trả tiền “hoa hồng” với con số 710.000 USD cho viên chức 6 nước?

Tại sao người ta đã chôn đi, khi công ty Control Data thừa nhận là đã rót 2,27 triệu USD tiền “hoa hồng” cho viên chức nhiều nước?

Tại sao không một biện pháp nào được nhận diện và tố cáo những nhân vật ấy. Khi Tennéco (dầu mỏ, khí đốt) đã phân phát những khoản “tiền thưởng” với tổng số tiền 12 triệu USD cho các nhân vật của 24 nước (chưa kể 600.000 USD được rót cho những nhân vật chính trị ở Mỹ trong chiến dịch bầu cử 1971 – 1972)?

Tại sao, khu Gulf Oil (nhóm Rockefeller) thừa nhận là đã phân phát những khoản “trợ cấp” với tổng số tiền 13 triệu USD, một phần trong số đó là cho những nhân vật Mỹ và phần còn lại cho những nhân vật chính trị Italy, Canada và những nước khác, mà chỉ việc từ chức của ông Dorsey chủ tịch Tổng giám đốc của nó, đủ để khép hồ sơ lại?

Tại sao, khi Northrop dính vào nhiều vụ “áp phe” về tài trợ ít ra cũng đáng ngờ, trong đó có sự tài trợ cho êkip “thợ đặt ống” ở Watergate, và thậm chí còn đi tới chỗ rót 45 triệu USD với danh nghĩa “hoa hồng” cho việc bán một loạt máy bay quân sự F-5, mà hồ sơ của vụ này đã bị xếp lại khi chủ tịch – tổng giám đốc của nó ông Jones, từ chức một cách đơn giản?

Tại sao, khi United Brands Corporation (công ty United Fruit cũ mà trong trí nhớ đáng buồn của châu Mỹ Latin là “con bạch tuộc” mà mỗi cái vòi của nó bóp nghẹt một nước “cộng hòa chuối”) buộc phải thừa nhận là đã “trợ cấp cho những nhân vật của Cộng hòa Honduras với tổng số tiền 2,5 triệu USD nhằm giành được việc chính phủ nước này giảm thuế xuất khẩu (một trong những nhân vật này không phải là ai khác ngoài tổng thống nước Cộng hòa, tướng Osvaldo Lopez-Arellano, kẻ đã nhận trước một “tài khoản trả dần” 1,2 triệu USD), trong khi cũng chính United Brands ấy thừa nhận đã “thưởng” cho một số nhân vật chính trị châu Âu (với 800.000 USD) để tỏ lòng biết ơn về sự “thông cảm” của họ, khiến cho công ty này chở chuối “Chiquita” tới các thị trường châu Âu dễ dàng hơn, bất chấp những quy định nhằm hạn chế kiểu nhập khẩu này và dành ưu tiên cho những thứ quả đến từ các nước “liên kết” với Thị trường châu Âu, tại sao hồ sơ này đã bị xếp lại không có những sự tiếp tục điều tra quan trọng, sau khi chủ tịch tổng giám đốc của nó, ông Black, tự tử một cách may mắn.

Tại sao, hi Westinghouse Electric Corporation thừa nhận đã “thưởng” cho nhiều nhân vật nước ngoài với tổng số tiền gần 1 triệu USD, nhưng tên tuổi những nhân vật và những nước có liên quan cho đến nay vẫn không được công bố?

Tại sao, khi Askand Oil đã bị công khai lên án là “tài trợ” cho những chiến dịch bầu cử của Nixon, và Humphrey với tổng số tiền 700.000 USD, đã “tặng” 240.000 USD cho một “thái tử Saudi” nào đó, 150.000 cho tổng thống Gabon, ông Bongo, vì đã “tiếp sức” cho CIA ở Gabon, Libya, Nigeria và các nước châu Phi khác, tại sao hồ sơ đã mở ra về chuyện này lại không được tiếp tục điều tra?

Tại sao những hồ sơ có liên quan tới ITT, GM, Exxon (từng phân phát khoảng 36 triệu USD) đã được chôn vùi một cách thành kính như thế?

Tại sao, mặc dầu đã có một danh sách rất dài (không hạn chế) trong đó có Gulf Oil (13 triệu), Standard Oil (1 triệu, A. Cyanamid (1,25 triệu), A. Home Product (6,424 triệu), Baxter Labbs (1,99 triệu), Broughs (2,2 triệu), Champion (2,41 triệu), Firestone (1,5 triệu), Goodyear (1,4 triệu), GT an E (13,2 triệu), Honeywell (1,8 triệu), Rand C. (2,5 triệu), MC Donell (2,5 triệu), R.J. Reynolds (24,5 triệu), Schering (1,1 triệu), Squibb (1,9 triệu), United Brands (5 triệu) W. Lambert (2,25 triệu),… nhưng vẫn không có một cuộc điều tra thật sự nào, không có một sự buộc tội nào sau việc tố cáo ấy?

Tại sao không có một cuộc điều tra tiếp theo nào, khi General Tire and Rubber thừa nhận đã “thưởng” cho những nhân vật thuộc nhiều nước và đã bị chính phủ Algeria buộc tội là đã phân phát 10 triệu USD, nhằm đạt được bản hợp đồng xây dựng nhà máy hóa lỏng khí ở Arzew?

Tại sao người ta chỉ công bố một số yếu tố có liên quan tới những thủ đoạn hối lộ của Lockheed, với tổng số tiền hơn 30 triệu USD, và cũng chỉ công bố theo lối có chọn lọc và đáng ngờ?

Công luận có quyền hỏi về những động cơ của những thái độ đó, về những lý do tố cáo bộ phận như thế, nhất là khi người ta biết rằng phần lớn những trường hợp được nhắc tới đã được biết từ năm 1972, sau những cuộc điều tra đầu tiên về sự “tài trợ” cho chiến dịch bầu cử của Nixon… Tại sao phải đợi đến năm 1976 mới tố cáo những vụ việc đã được biết tới rõ hơn? Và tại sao lại khép hồ sơ sớm như thế sau đó?

Làm sao có thể tin vào những luận cứ dối trá mà người ta cố bắt chúng ta nuốt bằng cách nhắc tới “cuộc khủng hoảng đạo đức” mà nước Mỹ – trải qua, một cuộc khủng hoảng được coi là “bằng chứng về sức sống của dân chủ ở nước này” và đủ để giải thích những gì xảy ra trước đó?

Một hệ thống được thừa nhận rất chính thức.

Tại sao lại công phẫn về những vụ hối lộ chính trị – thương mại ấy, khi một nhân vật hàng đầu như ông Hoening (người có trách nhiệm cao tại Bộ Quốc phòng Mỹ) đã tuyên bố công khai vào tháng Bảy 1974, trong một bài diễn văn đọc trước những cán bộ của các doanh nghiệp điện tử được phái đi kinh doanh rằng: “Điều cốt yếu là phải giành cho được sự đồng lõa của những nhân vật có thế lực (…). Nếu cần, thì cứ rót những số tiền lớn theo tỉ lệ của thị trường tiềm tàng cho những nhân vật gần gũi với chính phủ và có khả năgn làm những sự can thiệp quyết định…”.

Các nước châu Âu, ở phương Đông cũng như ở phương Tây, thường thích thú với tập quán “hoa hồng”; trong phần lớn các trường hợp, đây là một tập quán đã được thể chế hóa, thậm chí hợp pháp nữa. Một ví dụ ở nước Pháp: những mâu khai của COFACE (Công ty Pháp về bảo hiểm ngoại thương), một tổ chức nhà nước chịu trách nhiệm bảo vệ các công ty Pháp khỏi những rủi ro chính trị và kinh tế gặp phải khi xuất khẩu, có một ô dành riêng cho những khoản “hoa hồng” phải nộp ở nước ngoài”…

Những khoản hoa hồng “hợp pháp” này thường chiếm từ 15 đến 20% tổng giá trị bán ra, sẽ “bị lạc” vào mê cung của các ngân hàng Thụy Sĩ, Panama hay Luxembourg; những người được hưởng là những người “có thế lực” và đôi khi… chính là người bán, và bằng cách đó anh ta chiếm lại được ở nước ngoài kết quả những hy sinh của mình!

Các nước phương Đông cũng hành động theo khuôn mẫu phương Tây: công ty Mercuria (Omnipol cũ) ở Praha đã đưa vào những mẫu khai của nó câu sau đây: “Việc thanh toán sẽ được thực hiện bằng thư tín dụng không thể hủy bỏ, được xác nhận và có thể phân chia…”. Có thể phân chia, nghĩa là có thể cắt nhỏ ra, để trả những khoản hoa hồng và những khoản “chia lãi”.

Giáo hội Gia tô (vâng, chính là Giáo hội!) cũng thích thú với tập quán hoa hồng này. Năm 1973, Pháp muốn bán 6 máy bay lên thẳng “Puma” cho chính phủ Liban. Italy Augusta Bell lại được chọn hoa hồng được trả. Nhờ sự can thiệp của sứ thần tòa thánh Tổn giám mục Bruneira, cuối cùng công ty Italia Augusta Bell lại được chọn hoa hồng được trả cách hợp pháp nhất đời cho một tài khoản của Vatican…

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Các kiến nghị chính sách liên quan để tháo gỡ mâu thuẫn thương mại Trung – Mỹ – Phần cuối


Sự phát triển nhanh chóng của thị trường thương mại điện tử, hơn nữa sự phát triển này mới chỉ bắt đầu, có tiềm năng rất lớn. Trong 10 năm qua, thị trường thương mại điện tử thế giới đã tăng trưởng 20%, từ logistics đến tiêu thụ hàng hóa đều đã thay đổi hoàn toàn thị trường. Hiện nay, toàn bộ ngành thương mại điện tử được đầu tư lượng lớn nguồn vốn, điều này chắc chắn sẽ đem đến rất nhiều cơ hội lập nghiệp và việc làm. Trung Quốc có 400 triệu người tiêu dùng thuộc tầng lớn trung lưu, mức tiêu thụ hàng hóa trong thời gian diễn ra sự kiện mua sắm trên mạng vào ngày 11/11/2017 đạt 253,9 tỷ NDT (40,5 tỷ USD), từ đó có thể thấy sức mua của người tiêu dùng Trung Quốc là rất lớn. Thông qua việc kết nối kênh mua sắm trên mạng giữa Trung Quốc và Mỹ, làm cho người tiêu dùng Trung Quốc có thể dễ dàng trực tiếp mua hàng hóa của Mỹ trên mạng, làm giảm nhập siêu thương mại Trung Quốc và Mỹ. Trung Quốc và Mỹ có thể thông qua việc đạt được thỏa thuận hợp tác đối với tiêu chuẩn và quy tắc thương mại điện tử giữa hai chính phủ, tạo điều kiện có lợi cung cấp bố trí thuận tiện nhanh chóng để thương mại điện tử hai nước được thông qua, như vậy không những có thể tăng thêm rất nhiều cơ hội việc làm, mở ra cục diện hai bên cùng thắng, mà còn có thể giảm bớt áp lực về việc làm của người dân, giảm mâu thuẫn chính trị cho chính phủ hai nước.

Tăng cường hiệu ứng “hòn đá tảng” của kinh tế thương mại Trung – Mỹ, thúc đẩy nhận thức chung của các nhóm lợi ích như công ty đa quốc gia của Mỹ

Các công ty đa quốc gia của Mỹ có ảnh hưởng rất lớn trên thế giới. Tính đến cuối năm 2017, Mỹ đã đầu tư 82,5 tỷ USD vào Trung Quốc, thành lập 68.000 doanh nghiệp. Thị trường Trung Quốc đã trở thành điểm tăng trưởng và trung tâm lợi nhuận của doanh nghiệp Mỹ. Trong tương lai, Trung Quốc có thể tối ưu hóa hơn nữa môi trường đầu tư thương mại nước ngoài, tiếp tục thu hút các công ty đa quốc gia của Mỹ đầu tư vào Trung Quốc, củng cố đặc điểm “trong bạn có tôi, trong tôi có bạn”, tăng cường hiệu ứng “hòn đá tảng”.

Thông qua các công ty đa quốc gia cỡ lớn của Mỹ, các đoàn thể như hiệp hội doanh nghiệp, nhóm cố vấn, tổ chức xã hội để tăng cường trao đổi với giới chính trị Mỹ. Trung Quốc có thể tăng cường trao đổi với các công ty đa quốc gia của Mỹ bị tổn thất trong cuộc chiến thương mại. Tìm hiểu tình hình tổn thất của họ, hình thành nhận thức chung, phản ánh đến tầng lớp quyết sách của Mỹ, hóa giải quan hệ kinh tế thương mại Trung – Mỹ đang bế tắc, tiếp đến trở về quỹ đạo hiệp thương đối ngoại.

Tăng cường hợp tác giữa tỉnh/bang của Trung Quốc và Mỹ trên nhiều lĩnh vực, thành lập quỹ xây dựng cơ sở hạ tầng hợp tác giữa các tỉnh/bang của Trung Quốc và Mỹ

Các bang, thành phố của Mỹ có quyền quyết sách rất cao đối với các công việc kinh tế của mình, hơn nữa có sự trao đổi qua lại kinh tế mật thiết với Trung Quốc, điều này hỗ trợ mạnh mẽ cho sự trao đổi qua lại lành mạnh của quan hệ song phương Trung – Mỹ. Trung Quốc có thể khuyến khích các địa phương tăng cường hợp tác với chính quyền các bang, thành phố của Mỹ, tổ chức hội nghị thống đốc bang/tỉnh trưởng Trung – Mỹ hàng năm, xây dựng diễn đàn và cơ chế hợp tác, thành lập quỹ xây dựng cơ sở hạ tầng hợp tác giữa chính quyền tỉnh/bang Trung – Mỹ.

Tháng 6/2017, Trung Quốc và bang California của Mỹ đã ký thỏa thuận khí hậu và công nghệ sạch, thành phố Chicago đã Ký kế hoạch hợp tác ngành nghề trọng điểm trong 5 năm từ năm 2018 đến năm 2023 với 8 thành phố của Trung Quốc, xây dựng diễn đàn xúc tiến đầu tư hai chiều với các ngành nghề chủ yếu như y tế, sản xuất tiên tiến, đổi mới công nghệ.

Tiến hành khiếu nại và hợp tác hiệp thương trong khuôn khổ WTO

Do cả Trung Quốc và Mỹ đều là thành viên WTO, nên hai nước có không gian và cơ sở để đàm phán trong khuôn khổ WTO. Trung Quốc vừa có thể tiến hành khiếu nại đối với Mỹ, vừa có thể đàm phán, tăng cường không gian đàm phán và hợp tác trong khuôn khổ WTO. Trung Quốc có thể tận dụng quy tắc thương mại của WTO, cùng với các nước chủ yếu khác như EU, Nhật Bản… tiến hành khiếu nại đối với các hành vi điều tra chống tự do hóa thương mại, biện pháp trừng phạt của Mỹ trong khuôn khổ WTO.

Mỹ cũng phải nới lỏng xuất khẩu, đặc biệt là nới lỏng xuất khẩu sang Trung Quốc trong đó có các công ty công nghệ cao, thực hiện hai bên cùng thắng

Từ lâu nay, Mỹ đã áp dụng chính sách bảo thủ trong xuất khẩu sang Trung Quốc, đặc biệt là xuất khẩu một số sản phẩm và công ty công nghệ cao, làm cho một số sản phẩm của Mỹ không thể xuất khẩu sang Trung Quốc. Hành động này làm cho các công ty của Mỹ tổn thất lợi ích rất lớn ở thị trường Trung Quốc. Nới lỏng hạn chế xuất khẩu sang Trung Quốc không những có thể làm cho hàng hóa của Mỹ mở rộng tiêu thụ ở Trung Quốc, mà còn có thể có lợi cho thương mại Trung – Mỹ.

Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng nhập khẩu một phần hàng hóa của Mỹ, Trung Quốc cũng nên tích cực tìm cách để Mỹ nới lỏng hạn chế xuất khẩu các sản phẩm công nghệ cao sang Trung Quốc, nêu rõ sự hạn chế này gây ra tổn thất nghiêm trọng cho Mỹ, cũng như mang đến kết cục hai bên đều thua ở mức độ nhất định.

Thúc đẩy hiệp định đầu tư song phương (BIT) Trung – Mỹ hoặc đàm phán hiệp định thương mại Trung – Mỹ mới

Nếu quan hệ đầu tư Trung – Mỹ tiến vào giai đoạn mới, thì tình hình đầu tư song phương Trung – Mỹ tốt hơn nhiều so với thâm hụt trên lĩnh vực thương mại. Tuy nhiên, đầu tư qua lại Trung – Mỹ hiện nay cũng chịu hạn chế bởi môi trường kinh tế quốc tế, quan hệ Trung – Mỹ và chính sách trong nước.

BIT Trung – Mỹ sẽ đem đến lợi ích thực tế cho hai nước: Một mặt có lợi cho việc thúc đẩy sự đầu tư của doanh nghiệp Mỹ vào Trung Quốc, cùng hướng lợi ích cải cách mở cửa của Trung Quốc. Mặt khác, cũng có lợi cho việc doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng đầu tư sang Mỹ, truyền sức sống cho kinh tế Mỹ phục hồi. BIT Trung – Mỹ là cơ sở cơ chế quan trọng bảo vệ quan hệ đầu tư và quan hệ kinh tế thương mại Trung – Mỹ.

Hiện nay, BIT Trung – Mỹ đã hoàn thành 34 vòng đàm phán, đồng thời đã trao đổi 3 lần danh sách cấm. Sau khi Donald Trump lên cầm quyền, đàm phán BIT bị gác lại, hiện nay hai bên nên vào thời điểm thích hợp lấy con đường phù hợp để thúc đẩy BIT Trung – Mỹ hoặc đàm phán hiệp định thương mại Trung – Mỹ mới, giảm trở ngại đầu tư song phương, tăng thêm chiều sâu và chiều rộng của mở cửa thị trường bên trong. Trong tương lai, Trung Quốc có thể tích cực dẫn dắt doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Trung Quốc đến Mỹ tiến hành đầu tư mới, để ổn định môi trường cơ chế đầu tư song phương, mang đến mong đợi tốt đẹp cho nhà đầu tư.

Bảo vệ cơ chế đa phương, thúc đẩy thể chế thương mại tự do

Cơ chế đa phương vẫn phát huy vai trò quan trọng trong thời gian tới. Trung Quốc có thể cùng bảo vệ hệ thống thương mại đa phương thế giới các nền kinh tế phát triển như EU, Nhật Bản. Tận dụng tốt các cơ chế đa phương như Liên hợp quốc, IMF, G20…, đưa ra phương án của Trung Quốc, phát đi tiếng nói của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc có thể thể hiện thành quả đã giành được trong vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ với Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), thể hiện hình tượng cường quốc quyền sở hữu trí tuệ, thì có thể làm thay đổi ấn tượng cứng nhắc của cộng đồng quốc tế.

Đồng thời, thúc đẩy cơ chế hợp tác đa phương châu Á – Thái Bình Dương, nhanh chóng xây dựng hệ thống thương mại tự do đa phương khu vực. Thực hiện đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) sớm được hoàn thành. Đồng thời, Trung Quốc có thể xem xét gia nhập TPP mới, trong phạm vi TPP tăng cường hợp tác với các nước như Nhật Bản, lấy lĩnh vực kinh tế thúc đẩy hợp tác trên lĩnh vực khác. Trong tương lai, Trung Quốc còn có thể thúc đẩy sự hợp nhất giữa TPP và RCEP, thúc đẩy sự hình thành của Khu vực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP) bao hàm phạm vi rộng hơn, tỷ trọng kinh tế lớn hơn. Trong tương lai, Trung Quốc có thể tiếp tục tăng cường hợp tác với các nước xung quanh, châu Phi, các nước châu Á – Thái Bình Dương, các nước BRICS…, mở rộng “vòng bạn bè” của Trung Quốc.

Phát huy vai trò của ngoại giao phi chính thức, thúc đẩy sự trao đổi giữa hai bên

Nâng cao mức độ giao lưu đối ngoại, khuyến khích các tổ chức phi chính thức, tổ chức phi chính phủ (NGO) như nhóm cố vấn, hiệp hội thương mại… của hai nước phát huy vai trò của ngoại giao phi chính thức, hình thành con đường trao đổi và cơ chế đối thoại hiệu quả và linh hoạt, có trách nhiệm truyền đạt tiếng nói của hai bên, giúp đỡ tích cực cho hai bên xóa bỏ hiểu nhầm, bất đồng và cuối cùng đưa ra phương án giải quyết. Đồng thời, sự giao lưu văn hóa với nước ngoài của Trung Quốc phải tăng thêm sự minh bạch và công khai, nếu không sẽ bị hoài nghi Trung Quốc đang tiến hành thâm nhập giá trị quan, điều này cũng đòi hỏi các tổ chức phi chính thức như nhóm cố vấn phải tiến hành công tác trao đổi trên trường quốc tế. Việ nghiên cứu Hudson, Quỹ Heritage, Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), Hội đồng quan hệ đối ngoại Mỹ có ảnh hưởng hết sức quan trọng đối với quyết sách của Chính quyền Donald Trump, một số quan chức của Chính quyền Donald Trump đều đến từ những tổ chức tư vấn này. Thông qua tiến trình đối thoại với các tổ chức tư vấn này, tích cực thúc đẩy trao đổi, giao lưu, phát huy vai trò xóa bỏ hàng rào kinh tế và chính trị của chuyên gia trên các lĩnh vực của hai bên. Nếu các tổ chức tư vấn của Trung Quốc và Mỹ thông qua trao đổi đạt được nhận thức chung, thì sẽ có lợi cho chính phủ hai nước đạt được nhận thức chung, điều này cũng đòi hỏi các tổ chức tư vấn của Trung Quốc có tầm nhìn toàn cầu, coi trọng việc tiếp nhận các thành quả và kinh nghiệm của các tổ chức tư vấn nước ngoài, từ đó đem đến sự hỗ trợ mạnh mẽ cho việc hoạch đ5inh và nghiên cứu các chính sách liên quan.

Nguồn: www.ccg.org.cn

CĐQT số 10/2018

Các kiến nghị chính sách liên quan để tháo gỡ mâu thuẫn thương mại Trung – Mỹ – Phần đầu


Năm 2018 là tròn 40 năm Trung Quốc cải cách mở cửa, cũng là năm Trung Quốc và Mỹ sắp chào đón 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1979, tháng 7 cùng năm hai nước đã ký Hiệp định thương mại Trung – Mỹ, Mỹ với tư cách là thị trường lớn nhất thế giới mở cửa với Trung Quốc. 40 năm qua, hợp tác kinh tế thương mại song phương đã đem đến lợi ích thực tế cho chính phủ và người dân hai nước. Hiện nay, Trung Quốc đang ở thời kỳ then chốt của vòng chuyển đổi mô hình và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, mâu thuẫn kinh tế trong nước Trung Quốc ngày càng tăng lên, xảy ra tranh chấp thương mại Trung – Mỹ vào thời điểm này đã làm bùng nổ tranh cãi quyết liệt trong xã hội, các vấn đề như thúc đẩy cải cách đi vào chiều sâu, chính sách ngành nghề, con đường đổi mới… của Trung Quốc khó có thể tránh khỏi bị tác động, cùng cộng hưởng với các mâu thuẫn của sự phát triển chồng chéo trong thời kỳ chuyển đổi mô hình của xã hội Trung Quốc hiện nay. Các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm trong mâu thuẫn kinh tế thương mại Trung – Mỹ như Trung Quốc mở rộng mức độ mở cửa, giảm thuế và quyền sở hữu trí tuệ…, không phải là sự cạnh tranh quyết liệt, cũng không phải là trò chơi được mất ngang nhau, về nguyên tắc là đồng nhất với mục tiêu cải cách mở cửa của Trung Quốc, dựa trên những phân tích này, Trung tâm Trung Quốc và toàn cầu hóa đưa ra những ý kiến và kiến nghị sau:

Trung Quốc cần phải nhanh chóng điều chỉnh kết cấu kinh tế, cải thiện sự mất cân bằng thương mại trên cơ sở tăng thêm lượng

Đối với Trung Quốc, có thể nắm bắt cơ hội của cuộc chiến thương mại, nhanh chóng thúc đẩy cải cách mang tính kết cấu theo kiểu trọng cung, tiếp tục giảm thuế hạ phí, làm giảm chi phí của doanh nghiệp, xây dựng môi trường kinh doanh hữu nghị hơn. Đồng thời, mở rộng hơn nữa cải cách mở cửa, thực hiện cam kết của Tổng Bí thư Tập Cận Bình tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao năm 2018, nới lỏng hơn nữa tiêu chuẩn tiếp cận thị trường, tạo môi trường đầu tư có sức hút hơn, tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chủ động mở rộng nhập khẩu.

Mỹ cũng phải thay đổi quan điểm đối với Trung Quốc trước kia, Mỹ có thể tiếp tục mở rộng xuất khẩu sang Trung Quốc, thay đổi quản lý xuất khẩu đối với Trung Quốc. Đồng thời, thay đổi thái độ trước kia đối với hàng hóa và đầu tư của Trung Quốc, như thay đổi mức độ thẩm tra của Ủy ban đầu tư nước ngoài vào Mỹ (CFIUS) đối với đầu tư của Trung Quốc.

Với tư cách là 2 quốc gia có nền kinh tế thị trường lớn nhất trên thế giới, tính bổ sung kinh tế của Trung Quốc và Mỹ rất mạnh mẽ, nên tìm kiếm điểm chung, gác lại bất đồng, vượt qua sự khác biệt về ý thức hệ, tránh địa chính trị hóa mâu thuẫn thương mại. Trung Quốc và Mỹ phải lấy lợi ích của hai nước và nhân loại làm xuất phát điểm, đổi mới hệ thống quản lý toàn cầu, xây dựng giá trị chung nhân loại, cùng xây dựng cộng đồng chung vận mệnh nhân loại.

Trong tương lai, phải đổi mới phương pháp thống kê thương mại Trung – Mỹ

Thương mại toàn cầu trong thế kỷ 21 phải dùng phương pháp thống kê mới nhất để phản ánh giá trị thương mại thực sự. Số liệu nhập siêu thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ vì sự khác nhau của phương pháp tính toán mà có sự khác biệt. Xuất siêu thương mại của hai nước được quyết định bởi sự phân công của Trung Quốc và Mỹ ở thị trường quốc tế và vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu. Trong chuỗi giá trị toàn cầu hiện nay, quá trình sản xuất của một số sản phẩm được tiến hành ở các quốc gia hoặc khu vực khác nhau, chứ không phải là toàn bộ được tính trên nước xuất khẩu trong phép tính truyền thống.

Trong tương lai, thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ phải lấy phương thức chuỗi giá trị toàn cầu để tính toán, như vậy không những thể hiện một cách chính xác hơn giá trị thực sự mà hai bên giành được, mà còn công bằng hơn. Đồng thời, hàng hóa của Trung Quốc từ lâu nay ở vị trí thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy Trung Quốc được gọi là “công xưởng của thế giới”, nhưng phần lớn lại là hàng hóa kiểu tập trung lao động và gia công, ngành công nghiệp phụ trợ trong chuỗi giá trị đều do các công ty nước ngoài cung cấp thương hiệu, công nghệ. Trong tương lai các mặt hàng mà Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ, các chi phí như phí bản quyền, thương hiệu của nước thứ 3 cũng phải được tính vào. Trung Quốc nên lấy phương pháp và tiêu chuẩn thống kê đổi mới, điều chỉnh phương pháp thống kê, để tiến hành tuyên truyền tình hình thực tế của thương mại Trung – Mỹ, cuối cùng giành được sự công nhận của chính phủ, các giới trong xã hội Mỹ.

Trung Quốc và Mỹ phải tăng cường quan hệ thương mại dịch vụ trong tương lai, trong đó có các lĩnh vực như du lịch, du học, luân chuyển nhân tài, xây dựng cơ sở hạ tầng, thương mại điện tử…

Một là Mỹ chiếm xuất siêu rất lớn trong thương mại dịch vụ giữa Trung Quốc và Mỹ, xuất siêu của Mỹ trong thương mại dịch vụ như giáo dục, du lịch, quyền sở hữu trí tuệ, giao thông, thương mại, tài chính… đối với Trung Quốc trong năm 2016 đạt 55,7 tỷ USD, chiếm 23,1% tổng mức nhập siêu thương mại dịch vụ của Trung Quốc. Và cùng với năng lực tiêu thụ của Trung Quốc tăng lên và thị trường được mở rộng, xuất siêu mà Mỹ chiếm ưu thế trên lĩnh vực dịch vụ đối với Trung Quốc sẽ ngày càng lớn.

Mỹ có 7 người gốc Hoa từng giành giải Nobel, gần 70 viện sĩ hàn lâm, hơn 300 nhà khoa học làm việc tại Cơ quan hàng không và vũ trụ Mỹ (NASA). Trung Quốc luôn đứng đầu trong số các nước có tỷ lệ sinh viên giành được học vị tiến sĩ chuyên ngành khoa học và công trình ở lại Mỹ từ năm 2006 – 2011. Trong lịch sử, người di cư đã truyền lực đẩy cho khoa học kỹ thuật của Mỹ đổi mới, sự luân chuyển nhân tài giữa Trung Quốc và Mỹ trước đây và hiện nay cũng là lợi ích nhân tài chung của hai nước.

Trung Quốc ngoài việc phải giới thiệu và nói rõ với Mỹ và công chúng nước này, còn phải tích cực tìm cách thay đổi trên những lĩnh vực này. Cải thiện môi trường giáo dục, du lịch và đầu tư lập nghiệp trong nước để thu hút nhiều học sinh, du khách và giới doanh nghiệp Mỹ, đặc biệt là người lập nghiệp đến Trung Quốc nhiều hơn, từ đó từng bước thay đổi và cải thiện địa vị bất lợi trong thương mại dịch vụ.

Hai là Trung Quốc và Mỹ có thể nghiên cứu thảo luận Quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng Trung – Mỹ, thúc đẩy hợp tác Trung – Mỹ trên lĩnh vực xây dựng cơ bản. Dưới chiến lược lớn của Tổng thống Donald Trump – tiến hành cải tạo đối với cơ sở hạ tầng của Mỹ, hợp tác Trung – Mỹ trên lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có triển vọng hợp tác rộng rãi: 10 năm qua, mức đầu tư của Trung Quốc trên lĩnh vực cơ sở hạ tầng đạt 11.000 tỷ USD, con số này gấp gần 11 lần kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng trị giá 1000 tỷ USD của Donald Trump. Vì vậy, nguồn vốn của Trung Quốc chắc chắn sẽ có lợi cho kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng của Chính quyền Donald Trump, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Mỹ.

Sự đầu tư của Trung Quốc và Mỹ trên lĩnh vực xây dựng cơ bản cũng sẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp hai nước như sản xuất thiết bị, xây dựng công trình và công nghệ cao, đồng thời mở ra nhiều thị trường và cơ hội hơn cho mô hình hợp tác công tư (PPP) giữa cơ quan công cộng và đơn vị tư nhân hai bên. Hai bên đẩy mạnh mức độ trên các lĩnh vực như giao lưu doanh nghiệp, hợp tác vốn tài chính, trao đổi chính sách và trao đổi qua lại giữa hai chính phủ, hợp tác với bên thứ ba, hợp tác nhóm cố vấn để tìm ra kế sách…, làm theo kinh nghiệm thành công của châu Âu về thu hút vốn nước ngoài và xây dựng cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp nước ngoài, ưu hóa môi trường làm việc của dự án PPP trong nước Mỹ, lấy các dự án trọng điểm, mang tính cột mốc làm bước đột phá, tạo ra hiệu quả thiết thực và xây dựng môi trường lành mạnh cho hợp tác Trung – Mỹ trong tương lai.

Ba là Trung Quốc và Mỹ có thể tăng cường hợp tác về thương mại điện tử xuyên biên giới. Theo thống kê của hải quan, kim ngạch xuất nhập khẩu thương mại điện tử xuyên biên giới của hải quan Trung Quốc trong 3 năm gần đây tăng trưởng bình quân trên 50%. Đặc biệt là năm 2017, mức hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc thông qua các cổng thương mại điện tử xuyên biên giới là 90,24 tỷ USD, tăng 80,6% so với cùng kỳ năm trước đó. Tận dụng ưu thế của thương mại điện tử, kết nối thị trừng của hai nước. Bên cạnh việc làm tăng thêm kim ngạch thương mại song phương, còn đem đến lợi ích cho các nhà kinh doanh và người tiêu dùng hai nước, cũng có thể tạo ra cơ hội việc làm mới trên các phương diện như vận tải hàng hóa…

(còn tiếp) 

Nguồn: www.ccg.org.cn

CĐQT số 10/2018

Hội nghị Bắc – Nam – Phần cuối


Nhật Bản:

Chính sách của Nhật Bản trên thực tế là phỏng theo chính sách của Mỹ. Sự lệ thuộc của Nhật về nguyên liệu khiến cho nó muốn có những thỏa thuận đưa tới tính đa cực, nhằm bảo đảm tiêu thụ sản phẩm và tư bản của nó vào những năm 80.

CHLB Đức:

Thoạt nhìn, CHLB Đức có hai thái độ khác nhau. Một mặt, do tình trạng rất tốt của nền kinh tế thị trường của mình, người Đức “coi việc thiết lập một trật tự kinh tế mới là không cần thiết”. Do đó, họ không thấy sự cần thiết phải góp phần tài trợ cho những dự trữ điều tiết, hay phải tham gia ký kết những thỏa thuận “về từng sản phẩm”. Giới chủ Đức, kẻ xuất khẩu tư bản, không thể (cũng không muốn) chấp nhận khả năng “quốc hữu hóa” hay hạn chế những đầu tư của họ vào các nước kém phát triển. Cũng như họ không thể thừa nhận một chủ quyền nào đó của các nước kém phát triển về những nguyên tắc tăng thêm viện trợ tài chính cho sự phát triển.

Mặt khác – và thái độ của nó trong Cộng đồng kinh tế châu Âu cho thấy như thế -, Đức coi điều quan trọng hàng đầu là tính tổng số tiền về công nghệ “được nhượng lại” cho các nước kém phát triển vào tổng số tiền viện trợ thế giới. Theo Đức, các nước thuộc thế giới thứ ba không những phải trả tiền cho những sản phẩm bao hàm một sự chuyển dịch về “bí quyết sản xuất”, mà còn phải “cảm ơn” về sự viện trợ “không mất tiền” mà họ nhận được. Đối với Đức, việc xuất khẩu một thiết bị có nghĩa là chuyển dịch những hiểu biết mà nước nhập khẩu được hưởng!

Cuối cùng, Đức sẵn sàng “đặc biệt” thông qua những thỏa thuận “theo từng sản phẩm” trong những trường hợp cụ thể và có giới hạn, miễn là cái giá phải trả cho những thỏa thuận ấy được bù lại bằng những lợi thế tài chính do những thỏa thuận ấy đem lại!

Pháp:

Thái độ của Pháp thật quanh co và có thể có những “thay đổi theo thời tiết” được biện minh phần nào. Pháp tự coi mình là “nạn nhân của ba nước lớn” (Mỹ, Đức, Nhật), mà chỉ riêng ba nước này đã chiếm tới 60% những trao đổi thế giới. Do không muốn trở thành “nạn nhân sự bá quyền của nước Đức ở châu Âu”, Pháp đã cố bằng mọi cách lập ra một “liên minh Địa Trung Hải”…

Mắc vào những mâu thuẫn của mình, Pháp không ngần ngại chấp nhận những thỏa thuận “theo từng sản phẩm” cũng như tham gia tài trợ cho dự trữ điều tiết về kẽm. Trái lại, nó chống lại việc lập ra một quỹ nông nghiệp quốc tế. Vừa tán thành sự ổn định những thu nhập do xuất khẩu mang lại, nó vừa cho rằng việc chỉ số hóa phải được thực hiện một cách thận trọng.

Về vấn đề viện trợ cho sự phát triển, Pháp còn xa mới đạt tới mức 0,7% được quy định thành mục tiêu. Năm 1977, nó chính thức chi cho mục đích này 0,63% GDP của mình. Trong tỷ lệ phần trăm này, nó cũng đưa vào cả những quỹ dành cho “các lãnh thổ và các quận hải ngoại”… Nhưng Mỹ và CHLB Đức cũng chỉ dành cho sự viện trợ này 0,22 và 0,27% GDP tương ứng…

Tổng thống Cộng hòa Pháp (hãy nhớ lại nội dung bài giảng của ông trước học sinh Trường bách khoa) nói tới một hệ thống trong đó người ta sẽ bảo đảm cho các nước sản xuất nguyên liệu một mức thu nhập nào đó từ xuất khẩu. Nhưng, về phần mình, bộ trưởng Tài chính Pháp lại yêu cầu phải ổn định toàn bộ những thu nhập do xuất khẩu, tức là của tất cả những xuất khẩu, kể cả nguyên liệu, và điều đó được thực hiện bằng cách mở rộng hệ thống tài trợ bù đắp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

Đằng sau những lời lẽ tốt đẹp là những thực tế có giá trị chứng thực: Pháp tỏ ra “thực tế” nhưng cũng ích kỷ giống như CHLB Đức là nước đã bị lên án (rất đúng) là muốn bắt các nước châu Âu khác phục tùng mình…

Italy:

Hoàn toàn đồng ý với những nguyên tắc của trật tự kinh tế quốc tế mới, Italy là mục tiêu dễ dàng đối với những nước đàn anh của nó, Đức và Mỹ, mà nó phụ thuộc về mặt kinh tế. Thiếu một chính sách thật sự về thế giới thứ ba, nhưng đồng thời không có một quá khứ thực dân quá nặng nề, nó thích thiết lập những liên hệ với từng quốc gia mỗi khi các thỏa thuận quốc tế (Liên hợp quốc, Thị trường chung, OECD…) và những hiệp ước song phương (với Đức và Mỹ) cho phép. Những điều xấu cố hữu của nền kinh tế nước này “buộc” phải coi mọi dự án “nhân đạo” đối với các nước thế giới thứ ba chỉ thuộc về lĩnh vực những tuyên bố về ý định mà thôi.

Anh:

Nước này vẫn chưa tiêu hóa được việc hội nhập của nó vào Thị trường chung và đang mang theo hai gánh rất nặng: Mỹ và sự liên minh với những nước khác trong “đế quốc” cũ của nó… Quá gắn bó với Mỹ, nó xử sự như một “sứ giả” của các lý thuyết Mỹ ở châu Âu hơn là như một thành viên của Cộng đồng châu Âu. Cho đến nay, sự tham gia của nó vào việc xây dựng trật tự kinh tế quốc tế mới chưa thể hiện bằng một sự kiện cụ thể nào cả.

Về phía mình, Cộng đồng châu Âu có những mâu thuẫn còn rõ rệt hơn. Còn rất xa với cái ngày mà nó sẽ có thể hành động phối hợp và đồng thời, vì những vấn đề và những quan niệm của một hay nhiều nước nào đó không nhất thiết cũng là của những nước khác.

Trong nội bộ của nó, các nước có khả năng xuất khẩu tư bản và công nghệ đòi hỏi phải thông qua một loạt biện pháp nhằm bảo vệ những đầu tư và sự lưu thông tự do về những lợi nhuận thu được… Những nước khác ít quan tâm hơn tới vấn đề này, hoặc có những chế độ có thái độ tốt hơn với thế giới thứ ba (Thụy Điển, Hà Lan), thì cho rằng, song song với sự ổn định các thị trường, cần phải kích thích tăng thêm những thu nhập do xuất khẩu đem lại.

Hà Lan:

Đối với chính phủ nước này, những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện thời chỉ là ở chỗ thiếu sự quan tâm thật sự của các nước phát triển đối với các quan hệ quốc tế trên những cơ sở “bình đẳng và công bằng, cũng như ở chỗ thiếu một thỏa thuận về chính sách tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và năng lực con người…

Theo một bộ trưởng Hà Lan, giải pháp cho những vấn đề hiện thời đòi hỏi phải thông qua ba nguyên tắc hay điều kiện:

1/ Xây dựng một chính sách quốc tế về thương mại, đầu tư quốc tế, cũng như quy định những điều kiện do các nước chủ nhà mở ra cho những người lao động nhập cư. Tin rằng chỉ có sự viện trợ mới có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề là sai lầm thô thiển. Sự viện trợ này chỉ có thể là một yếu tố bổ sung cho những biện pháp khác.

2/ Trái với những gì đã xảy ra cho đến nay, sự viện trợ không được làm lợi cho giới thượng lưu địa phương, cũng như cho chính những nước “cấp viện trợ”…

3/ Mọi chương trình quốc tế nhằm giải quyết một cách hữu hiệu những vấn đề về sự phát triển và sự bất công xã hội chỉ được nằm trong khuôn khổ Liên hợp quốc mà thôi. Cần tránh lối mở những cuộc họp hạn chế và chỉ dành cho giới thượng lưu do các nước như Pháp tổ chức ra (bộ trưởng nêu ra hội nghị Rambouillet làm ví dụ).

Để kết luận, có thể nói rằng trừ Hà Lan và Thụy Điển là những nước có lập trường chân thành quan tâm tới thế giới thứ ba ra, chính sách của các nước phát triển chủ yếu được hưởng – đằng sau những lời lẽ hoa mỹ – vào lợi ích riêng của họ, mà không phải để tìm kiếm một giải pháp thật sự cho các vấn đề về sự phát triển.. Chúng ta sẽ thấy rằng từ 1976 đến 1978, những lập trường này còn tăng thêm, đến mức trật tự kinh tế quốc dân mới chẳng phải là cái gì khác ngoài một ý định cải cách hệ thống cũ.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Trung Quốc và Mỹ có không gian hợp tác tiềm tàng rất lớn


Hợp tác Trung – Mỹ có những đóng góp quan trọng cho cộng đồng chung vận mệnh nhân loại

Tổng lượng GDP toàn cầu trong năm 2017 là 81.000 tỷ USD, trong đó Mỹ chiếm 23,9% với 19.390 tỷ USD, Trung Quốc chiếm 15,12% với 12.250 tỷ USD, trọng lượng kinh tế của hai nước cộng lại gần 40% tổng lượng toàn cầu, tỷ lệ đóng góp đối với tăng trưởng kinh tế thế giới là hơn 40%. Cả Trung Quốc và Mỹ đều là nước được lợi từ toàn cầu hóa, giành được sự phát triển kinh tế trong hệ thống thương mại tự do đa phương, hai nước có ảnh hưởng lớn đối với thế giới, vì vậy càng phải có trách nhiệm đề phòng cuộc chiến thương mại leo thang và lan rộng, xem xét mâu thuẫn thương mại Trung – Mỹ từ phương diện kinh tế là không đủ, mà cần phải đứng trên tầm nhìn toàn cầu và cộng đồng chung vận mệnh nhân loại. Trước tiên Trung Quốc phải tự tin đối với sự phát triển kinh tế của mình. Mức độ phụ thuộc của Trung Quốc đối với thương mại của Mỹ đang giảm dần, năm 2017 ngành dịch vụ của Trung Quốc đã chiếm 51,6% tỷ trọng GDP, tỷ lệ đóng góp đối với tăng trưởng là 58,8%. Cùng với việc kết cấu kinh tế Trung Quốc không ngừng được tối ưu hóa, theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và Thế giới thuộc Đại học Thanh Hoa, tỷ lệ đóng góp bình quân hàng năm của nhu cầu bên trong đối với tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã đạt 105,7%. Tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc trong năm 2017 là 15.330 tỷ NDT, còn tổng mức bán lẻ hàng tiêu dùng đạt 36.620 tỷ NDT, tiêu dùng trở thành động lực phát triển chủ yếu của kinh tế Trung Quốc.

Thương mại Mỹ – Trung có thể thông qua mở rộng tăng lượng để thu nhỏ nhập siêu

Ngoài mở cửa đối ngoại ngành dịch vụ trên lĩnh vực tài chính, Mỹ còn có thể nhận thấy những đóng góp của Trung Quốc trên các phương diện như du lịch, du học… đối với kinh tế Mỹ. Về du lịch, các dự án du lịch chiếm 56% xuất khẩu dịch vụ của Mỹ sang Trung Quốc. Theo số liệu do Bộ Thương mại Mỹ đưa ra tháng 8/2017, số du khách Trung Quốc đến Mỹ trong năm 2016 đạt gần 3 triệu người, tăng 15%, chi tiêu 33 tỷ USD, tăng 9%. Theo dự đoán của các cơ quan như Bộ Thương mại Mỹ…, đến năm 2021, Trung Quốc sẽ trở thành nước cảnh du lịch lớn nhất, số du khách Trung Quốc sẽ tăng hơn 3 triệu người. Về giáo dục, theo Báo cáo Open Doors năm 2016 về trao đổi giáo dục quốc tế do Đại sứ quán Mỹ đưa ra, số người Trung Quốc sang Mỹ du học liên tục 8 năm liền đều là nước có số du học sinh đông nhất, năm 2017 là 350.755 người, chiếm 32,5%, trung bình chi tiêu 45.000 USD/người, mỗi năm đóng góp ít nhất 16 tỷ USD cho kinh tế Mỹ. Theo báo cáo của Viện giáo dục quốc tế của Mỹ (IIE), học sinh Trung Quốc du học ở Mỹ đã chiếm 41% tổng số học sinh quốc tế của Mỹ trong năm 2016. Nếu tính cả chi tiêu gián tiếp của lưu học sinh (như nhà ở, giao thông, vui chơi…), theo dự tính của Trung tâm Trung Quốc và Toàn cầu hóa (CCG), tổng mức chi tiêu lưu học sinh Trung Quốc tại Mỹ có thể đạt 40 tỷ USD. Trái lại, chi tiêu của lưu học sinh Mỹ tại Trung Quốc chỉ có 20.000 USD/người. Về di dân, theo số liệu của Hiệp hội đầu tư vào Mỹ (IIUSA), trong tổng số 12.273 đơn xin theo chương trình đầu tư và định cư ở Mỹ (EB-5) cảu các nước trong năm tài chính 2016, gia đình Trung Quốc có đến 10.948 đơn, chiếm 82,48%, nhà đầu tư của Trung Quốc vẫn là lực lượng chủ yếu xin EB-5.

Năm 2016, Trung Quốc đã nhập khẩu 52 bộ phim của Mỹ, chi hết 1,6 tỷ USD. Quy mô thị trường bán lẻ trên mạng của Trung Quốc. Quy mô thị trường bán lẻ trên mạng của Trung Quốc vào khoảng 40,5 tỷ USD. Năm 2017, quy mô giao dịch của Trung Quốc với nước ngoài đạt 132,4 tỷ NDT, quy mô người tiêu dùng là 43 triệu người, quy mô mua bán với nước ngoài trong cả năm chiếm 40% tổng mức chi tiêu nhập khẩu. Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu kinh tế, thương mại và kinh doanh Nhật Bản (RIETI), chi tiêu bình quân đầu người của Trung Quốc cho hàng nhập khẩu là 36 USD, con số này không chỉ thấp hơn nhiều so với mức 996 USD của Mỹ, thậm chí thấp hơn với mức 198 USD của các nước ASEAN có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn Trung Quốc. Điều này cho thấy với tư cách là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, có 400 triệu người thuộc tầng lớp trung lưu, Trung Quốc có không gian rất lớn để mở rộng nhập khẩu từ Mỹ.

Năm 2017, lượng nhập khẩu ô tô của Trung Quốc đạt 1,21 triệu chiếc, còn sản lượng ô tô của Mỹ là 12,1 triệu chiếc. Theo tính toán trong tình hình các điều kiện khác không thay đổi, nếu lượng nhập khẩu ô tô của Trung Quốc từ Mỹ tăng 3 triệu chiếc, thì có thể làm giảm xuất siêu thương mại gần 100 tỷ USD đối với Mỹ. Cùng với công nghệ khai thác khí đá phiến của Mỹ không ngừng hoàn thiện, nhập khẩu dầu mỏ của Trung Quốc từ Mỹ sẽ tăng mạnh, nhập khẩu dầu thô năm 2017 đã lên đến 3,15 tỷ USD. Hiện nay, hàng năm Trung Quốc tiêu thụ 600 triệu tấn dầu thô, trong đó lượng nhập khẩu dầu thô năm 2017 và 400 triệu tấn, còn sản ượng dầu thô của Mỹ trong năm 2017 là 500 triệu tấn, lượng xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), năm 2018 có thể tăng thêm 100 triệu tấn. Ngoài ra, hiện nay năng suất khí đốt của Mỹ dư thừa, hơn nữa do cơ sở hạ tầng vận chuyển khí đốt ở các bang sản xuất khí đốt chủ yếu rất kém, nên rất khó vận chuyển đến các cảng biển, khiên cho giá khí đốt rất thấp, chỉ tương đương với 1/3 giá cập bến của Trung Quốc. Năm 2017, lượng tiêu thụ khí đốt của Trung Quốc là 237,3 tỷ m3, nhập khẩu chiếm 39%, lượng nhập khẩu từ Mỹ chỉ chiếm 7,6%, vẫn có không gian tăng trưởng tương đối lớn. Như tạp chí Forbes từng nói trong 5 – 10 năm tới, số người thuộc tầng lớp trung lưu Trung Quốc sẽ tăng lên đến 600 triệu người, gấp đôi dân số Mỹ, “Trung Quốc đang trả lại món mà Mỹ từng trao cho họ”.

Môi trường kinh doanh vốn nước ngoài của Trung Quốc được cải thiện hơn nữa

Theo Báo cáo điều tra môi trường thương mại Trung Quốc 2018 do Hiệp hội thương mại Mỹ tại Trung Quốc đưa ra năm 2018 cho thấy 64% doanh nghiệp thành viên đều cho rằng thu nhập của họ tăng lên, 75% doanh nghiệp được hỏi cho biết họ đều có lợi nhuận, đây là lần cao nhất so với 3 năm trước. Báo cáo điều tra lòng tin thương mại 2018 do Hiệp hội thương mại EU tại Trung Quốc cũng cho thấy hơn một nửa doanh nghiệp thành viên dự tính mở rộng quy mô hoạt động tại Trung Quốc. Ngoài ra còn có cuộc thăm dò của Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cho thấy năm 2017 Trung Quốc một lần nữa trở thành khu vực phát triển nghiệp vụ có tiềm năng nhất do các công ty đa quốc gia trong ngành sản xuất Nhật Bản bỏ phiếu bình chọn. Cựu Chủ tịch khu vực châu Á của ngân hàng Morgan Stanley, học giả của Đại học Yale, Stephen Roach từng lấy kinh nghiệm của Morgan Stanley được coi là ngân hàng nước ngoài đầu tiên tiến vào thị trường Trung Quốc để viết bài, cho rằng sự chỉ trích đoối với việc doanh nghiệp nước ngoài bị ép phải chuyển giao công nghệ là không đúng – doanh nghiệp tự có sự cân nhắc trước lợi ích thương mại do thị trường Trung Quốc mang đến. Thành viên của Ủy ban toàn quốc thương mại Mỹ – Trung (USCBC)   gồm các công ty đa quốc gia hàng đầu của hai nước, nhưng cuộc điều tra về môi trường thương mại của USCBC phát hiện, 81% thành viên phản ánh Chính phủ Trung Quốc không yêu cầu họ chuyển công nghệ đến Trung Quốc, còn 19% thành viên phản ánh trong các doanh nghiệp có vấn đề này, thì có đến 2/3 doanh nghiệp cho biết yêu cầu chuyển giao công nghệ đến từ đối tác thương mại chứ không phải là Chính phủ Trung Quốc.

Những năm gần đây, Trung Quốc có cải thiện rất lớn trong vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Theo thống kê, tỷ lệ thắng kiện trong các vụ kiện xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của công ty nước ngoài tại Trung Quốc lên đến 80%. Trung Quốc còn thành lập 3 tòa án quyền sở hữu trí tuệ, trong phương án cải cách cơ cấu Quốc Vụ viện Trung Quốc (chính phủ) được thông qua tại kỳ họp lưỡng hội năm 2018, đã xây dựng lại Cục sở hữu trí tuệ quốc gia. Chi phí sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để chi trả cho nước ngoài trong năm 2017 là 28,6 tỷ USD, tăng hơn 15 lần so với khi Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001. Ngoài ra, từ năm 2017 đến nay, về vấn đề tiếp cận thị trường được doanh nghiệp Mỹ quan tâm, Trung Quốc liên tục đưa ra các biện pháp chính sách. Tháng 1/2017, Chính phủ Trung Quốc ban hành Thông tri về một số biện pháp mở rộng cửa đối ngoại để tích cực tận dụng vốn nước ngoài; tháng 5/2017 trong kế hoạch 100 ngày của hợp tác kinh tế Trung – Mỹ, Trung Quốc cam kết mở cửa với Mỹ trên các lĩnh vực như đánh giá tín dụng, thanh toán điện tử, bao tiêu trái phiếu…; ngày 28/7/2017 thự chiện biện pháp quản lý đặc biệt tiếp cận đầu tư nước ngoài, hỗ trợ vốn nước ngoài tham gia rộng rãi chiến lược “Made in China 2025”; tháng 10/2017, Đại hội XIX đề xuất thực hiện toàn diện cơ chế quản lý đãi ngộ quốc dân trước khi thành lập + danh mục cấm; ngày 9/4/2018, Thống đốc Ngân hàng Turng ương Trung Quốc Dịch Cương đã tuyên bố một số biện pháp mở cửa hơn nữa ngành tài chính; ngày 1/6/2018, Chính phủ Trung Quốc đưa ra Ý kiến phúc đáp về việc đồng ý thúc đẩy thí điểm phát triển đổi mới thương mại dịch vụ đi vào chiều sâu, đưa ra biện pháp tiện lợi mở cửa ở các khu vực thí điểm…

Nguồn: CĐQT số 10/2018.

Hội nghị Bắc – Nam – Phần II


Trong những năm 1960 – 1970, ông Blardone nói tiếp, nhờ vào sự kiểm soát đối với giá cả nguyên liệu và năng lượng, nước phát triển đã có một sự bành trướng kinh tế chưa từng thấy. Ngược lại, các nước này đã tạo ra một sự tăng thêm tình trạng kém phát triển của các nước thuộc thế giới thứ ba không đủ sức tài trợ cho sự công nghiệp hóa của mình. “Hiện tượng” này càng tăng lên do nạn lạm phát mạnh mẽ mà các nước phát triển tạo ra, do kìm hãm giá cả nguyên liệu và cuối cùng, do hai lần phá giá đồng USD (1971 – 1973 = 17,9%) khiến cho nợ nước ngoài của các nước kém phát triển tăng 80 tỷ USD”…

Cuộc “cách mạng” của các nước sản xuất dầu mỏ là biểu hiện đầu tiên của sự bất mãn của thế giới thứ ba. Nó đưa tới một sự tăng giá nguyên liệu do hoàn cảnh của thị trường thế giới gây ra.

Tình trạng này đưa tới việc thông qua bản tuyên bố của Liên hợp quốc được nhắc tới trên đây. Thật ra, những nguyên tắc của nó đã được các nước thuộc thế giới thứ ba áp dụng từ hội nghị Bucarest (tháng Tám 1974) và hội nghị Rome (tháng Mười một 1974). Ông Blardone kết luận công trình nghiên cứu của mình với việc cho rằng thời kỳ thống trị đơn phương dường như đã đi qua và ông tự hỏi: liệu chúng ta có thể thay thế chiến lược thống trị bằng một chiến lược tham gia không? Chính tương lai của thế giới trong hai mươi lăm năm tới đây sẽ phụ thuộc vào đó…

Tháng Mười 1974, Pháp đề nghị triệu tập một cuộc họp quốc tế về “năng lượng” (xin nhấn mạnh rằng đề nghị ấy của Pháp lúc đầu chỉ muốn nói tới năng lượng mà thôi). Sau hai cuộc họp chuẩn bị, tháng Tư và tháng Mười 1974, chương trình nghị sự được mở rộng ra, có sự tham gia ban đầu của nhiều nước (các nước sản xuất dầu mỏ: Saudi Arabia, Iran, Algeria, Venezuela; các nước tiêu dùng công nghiệp hóa: Mỹ, Nhật, CEE; các nước kém phát triển Brazil, Ấn Độ, Zaire). Cuộc họp này được gọi là “Hội nghị hợp tác quốc tế” (CCEI).

Hội nghị này họp lần đầu tại Paris, ở cấp bộ trưởng, từ 16 đến 18 tháng Chạp 1975. Hai mươi bảy nước có “đại diện” ở đó; Algeria, Saudi Arabia, Argentina, Australia, Brazil, Cameroon, Canada, Cộng đồng kinh tế châu Âu (CEE), Tây Ban Nha, Mỹ, Ấn Độ, Iraq, Indonesia, Iran, Jamaica, Nhật Bản, Mexico, Nigeria, Pakistan, Peru, Ai Cập, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Venezuela, Nam Tư, Zaire, Zambia. Các nước này đồng ý lập ra bốn ủy ban: “Năng lượng”, “Nguyên liệu”, “Phát triển”, và “Tài chính”. Các ủy ban này phải đệ trình những báo cáo của mình cho Hội nghị về những vấn đề sau đây:

Ủy ban năng lượng (đồng chủ tịch: Saudi Arabia và Mỹ).

I/ – a/ Trữ lượng, mức cung và việc “khai thác” các tài nguyên.

b/ Dự báo về cung và cầu.

c/ Các vấn đề về sự lệ thuộc của một số nước và những biện pháp nhằm hạn chế khủng hoảng.

d/ Sự gia tăng về dự trữ và khả năng sản xuất.

đ/ Sự bảo quản và hiệu quả của việc sử dụng năng lượng.

e/ Đẩy nhanh sự phát triển và công nghiệp hóa của các nước thuộc thế giới thứ ba.

g/ Khả năng sẵn có và sự phát triển về cấu trúc hạ tầng năng lượng ở các nước phát triển.

II/ – a/ Giá cả năng lượng.

b/ Bảo vệ sức mua của các nước kém phát triển.

III/ – Vai trò của giá cả năng lượng trong tình hình kinh tế hiện thời. Sự hợp tác kỹ thuật, tài chính và khoa học, ủy ban nguyên liệu (đồng chủ tịch: Nhật Bản và Peru).

1/ Cải thiện các cơ cấu thị trường sản phẩm cơ sở.

2/ Cải thiện thu nhập do xuất khẩu đem lại. Sức mua của các nước kém phát triển. Tài trợ đền bù.

3/ Cải thiện thị trường sản phẩm cơ sở. Những điều kiện về cung. Đầu tư. Sự cạnh tranh của những sản phẩm tự nhiên đối với những sản phẩm tổng hợp. Thực phẩm.

Ủy ban về sự phát triển (đồng chủ tịch: Algeria và CEE).

1/ Việc di chuyển các nguồn lực. Những vấn đề về nợ nần của các nước thế giới thứ ba. Viện trợ.

2/ Lương thực và nông nghiệp. Sự gia tăng sản xuất của các nước thế giới thứ ba. Phân bón. Viện trợ lương thực.

3/ Hợp tác về công nghiệp hóa và trao đổi công nghệ. Đầu tư và các công ty xuyên quốc gia. Sự phát triển về công nghiệp hóa của thế giới thứ ba.

4/ Cấu trúc hạ tầng. Cải thiện cấu trúc hạ tầng kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển, đặc biệt về vận tải và giao thông.

5/ Thương mại giữa các nước công nghiệp hóa và các nước khác.

Ủy ban về tài chính (đồng chủ tịch: CEE và Iran)

1/ Nợ của các nước đang phát triển.

2/ Những vấn đề về tài trợ cán cân thanh toán của các nước đang phát triển.

3/ Vấn đề đặt vốn của các nước đang phát triển sản xuất dầu mỏ ở nước ngoài.

4/ Hợp tác giữa các nước đang phát triển.

5/ Những biện pháp chống lạm phát.

Trong cả năm 1976, các ủy ban này đã họp nhưng không có kết quả rõ ràng. Tình hình đó được cuộc họp cấp bộ trưởng tháng Chạp 1976 ghi nhận những “thiện chí” được tuyên bố công khai đã không qua được thử thách của thực tế.

Bây giờ, trước khi chuyển sang những sự kiện năm 1976 cho chúng ta thấy rõ hơn “sự tranh chấp” giữa Bilderberg và Ủy ban Ba bên, tay hãy điểm nhanh xem các quốc gia khác nhau “lý giải” cung cách thực hiện trật tự kinh tế thế giới mới ấy như thế nào:

Mỹ:

Là nước duy nhất đã bỏ phiếu chống lại toàn bộ các nghị quyết của Hội nghị quốc tế về công nghiệp hóa (Lima, tháng Ba 1975), sau đó ít lâu Mỹ thử làm một vài sự nhân nhượng (xem diễn văn của Kissinger tháng Năm và những đề nghị của Mỹ tại Liên hợp quốc tháng Chín) nhằm có thể kiểm soát dễ dàng hơn sự tiến triển của trật tự mới bằng cách ngăn cản việc rời bỏ khuôn khổ của hệ thống hiện có.

Mọi cái thật ra đều cho thấy rằng, mặc dầu có những câu nói đẹp đẽ và những nụ cười, Mỹ vẫn không trù tính từ bỏ bá quyền của nó cũng như bá quyền của các công ty đa quốc gia phục vụ cho nó bằng cách “tự phục vụ”.

Ngoài mâu thuẫn ấy ra, Mỹ còn chấp nhận “đưa vào các cuộc thương lượng những sản phẩm của các nước ôn đới, như bông và len”, nhưng lại nhấn mạnh cũng phải xem xét cả thịt nữa (điều này không được trù tính). Mỹ đặt lên hàng đầu “một cơ chế mới có thể ổn định toàn bộ thu nhập do xuất khẩu đem lại, hơn là những thỏa thuận riêng về từng sản phẩm”. Tuy nhiên, trong con mắt của Mỹ, khả năng này vẫn có thể được chấp nhận hơn là việc lập ra một quỹ chung để tài trợ cho những dự trữ điều tiết (lập trường này hoàn toàn đi ngược lại lập trường của CNUCED). Thay vì “một sự can thiệp vào việc điều chỉnh giá cả”. Mỹ muốn giữ lại những ưu thế do “các cơ chế tự do trao đổi” đem lại… Tất nhiên, chỉ trừ những sản phẩm dầu mỏ mà Mỹ là nước nhập khẩu lớn!

Về vấn đề công nghiệp hóa, tuy nhấn mạnh tới “sự đúng đắn của việc viện trợ cho các nước kém phát triển”, Mỹ vẫn nhấn mạnh rằng một sự viện trợ như vậy phải nằm trong khuôn khổ tối ưu “bằng cách tạo ra một không khí tin cậy có thể kích thích những đầu tư nước ngoài” (đặc biệt là những đầu tư của các công ty đa quốc gia!) vào các nước đang phát triển. Sự gia tăng hoạt động của BIRD do Mỹ hoàn toàn kiểm soát! – sẽ có thể khuyến khích việc sản xuất những sản phẩm cơ sở ở các nước này, mà hiện nay Mỹ không có.

Cuối cùng, Mỹ tỏ ra sẵn sàng thực hiện tất cả mọi “sức ép” nào tỏ ra cần thiết để cho những luận điểm của nó thắng thế. Thái độ của ITT ở Bồ Đào Nha trong những tháng đầu của cuộc “cách mạng” cho thấy rất rõ ý nghĩa của những “sức ép” đã được Kissinger ám chỉ tới.

Tóm lại, Mỹ không sẵn sàng chơi một trò chơi mà Mỹ sẽ không phải là trọng tài duy nhất…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.