Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần cuối


Nghiên cứu về tư bản hiện đại không phải là điều dễ dàng vì nó đòi hỏi người ta phải biết vượt qua những quan niệm cũ, những suy nghĩ cũ. Để phát triển các loại tư bản mới, không thể sa đà vào những điều nhỏ lẻ mà phải có sự tập trung cao độ và điều phối linh hoạt. Các nước đang phát triển với tư cách là đối tượng tác động của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô ở các nước khác, biến nước mình trở thành nơi biến các loại tiền ảo thành tiền thật của các nước khác, biến tiền ảo thành tư bản. Sự phối hợp các tư bản lại với nhau trên quy mô quốc gia, mà biên giới quốc gia thời đế quốc chủ nghĩa mở rộng ra các nước thuộc địa là yếu tố hàng đầu để hiểu được sự thiết lập các kết hợp vĩ mô với những nguồn tài nguyên cần thiết cho các hoạt động kinh tế có thể chủ động được, và do đó tạo nên được mối quan hệ khiến cho kinh tế vĩ mô hoạt động được. Nhưng thời đại mới, kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải có những biện pháp khác để giành được sự chủ động, trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Kinh tế học siêu vĩ mô nghiên cứu về cách điều hành kinh tế liên quốc gia, khi có những tạo phẩm phi vật thể tác động vượt qua giới hạn biên giới quốc gia và thời gian cụ thể. Nền kinh tế phải phát triển các quan hệ qua lại đến mức nào đó thì kinh tế vĩ mô mới hoạt động được. Việc tạo ra các kết hợp vĩ mô, các mối quan hệ gián tiếp vượt qua không gian và thời gian cụ thể, vai trò của các tạo phẩm phi vật thể như chính sách tiền tệ, chính sách tài chính được khẳng định, tạo nên các kết hợp xã hội hoàn toàn mới. Nền kinh tế đạt được trình độ thị trường nhất định thì kinh tế siêu vĩ mô mới hoạt động được.

Những vấn đề kinh tế siêu vĩ mô cần phải được nhìn nhận khi nó tham gia vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo và thực hiện nhiều mục tiêu xã hội khác nhau. Thực ra nó không dẫm chân lên những lý thuyết vĩ mô hiện hành. Kinh tế học siêu vĩ mô chỉ ra cách gia tăng sức mạnh kinh tế nội tại và tận dụng được sức mạnh bên ngoài, nhất là sức mạnh kinh tế toàn cầu trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay.

Nếu như kinh tế vĩ mô có khái cạnh phủ định kinh tế thị trường, điều tiết kinh tế thị trường, thì kinh tế siêu vĩ mô phủ định kinh tế vĩ mô, đưa kinh tế thị trường lên trình động mới, trình độ phát triển các kết hợp có tầm vóc xã hội hóa cao hơn. Đó là sự phủ định của phủ định. Một khi phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì có các hình thái cổ phần hóa mới, diễn biến nhanh chóng hơn. Uy tín là tạo phẩm phi vật thể rất quan trọng đối với doanh nghiệp khiến cho doanh nghiệp buộc phải tìm cách giữ. Nếu doanh nghiệp bị công chúng trừng phạt thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có biện pháp trừng phạt riêng. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô có cách làm cho các doanh nghiệp trở nên năng động hơn, những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả sẽ xuống dốc không phanh giá trị cổ phiếu và ban lãnh đạo dễ bị thay thế, còn doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ được hỗ trợ để có sự phát triển phi thường. Với sự ban thưởng và trừng phạt tức khắc, khi giá cổ phiếu tăng vọt hay suy giảm rất nhanh chóng, kinh tế siêu vĩ mô đưa xã hội hoạt động sống động. Một điều đáng lưu ý là các nước thực hiện điều hành kinh tế siêu vĩ mô phát triển nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích cho sự phát triển kinh tế vượt bậc của họ, như mô hình “đàn sếu bay” của Kaname Akamatsu ở Nhật Bản, thuyết “các giá trị châu Á” của Singapore, và có những học giả còn viện dẫn nhiều thứ trong lịch sử như những giá trị của đạo Khổng trong sự phát triển thần kỳ của châu Á. Những lý lẽ, tư tưởng này được tuyên truyền để che đậy thực chất hoạt động kinh tế hiện hành ở các tầng mức khác nhau, và người ta cố gắng tìm những luận giải trong kinh tế vĩ mô để giải thích các tiến triển kinh tế hiện đại.

Phát hiện ra các sức mạnh kinh tế mới và tìm cách thức khai thác các sức mạnh đó là nhiệm vụ của kinh tế học siêu vĩ mô, và các điều đó không theo lối mòn cũ. Khi người ta ở đỉnh cao, có những quan niệm mới, người ta có cách xử lý nhanh chóng thông tin, phân loại chúng theo các tầm vóc nào đó. Những điều đó đem lại khả năng nâng lên trình độ mới cho các chi tiết nào đó. Phát triển con người là khâu yếu nhất mà kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô không giải quyết được, vì đó là những đầu tư không sinh lợi trong ngắn hạn. Lao động của con người sản xuất ra các thặng dư kết hợp có ý nghĩa xã hội. Điều cần thiết là mở ra môi trường mới cung ứng các nguồn lực cho sự phát triển.

Sức mạnh siêu vĩ mô làm được những gì? Với chủ nghĩa tư bản, người dân bình thường không cảm nhận sức mạnh siêu vĩ mô thì càng tốt.

Nước giầu mạnh có nhiều hành vi có ý nghĩa khác với nước yếu. Mỹ nhập siêu là để tiêu tiền USD ảo. Nước khác xuất siêu là biến tiền ảo thành USD. Nước Mỹ giảm thuế cho người giầu để lấy tiền đầu tư là lý do để mở đường cho việc bơm ra một lượng tiền ảo khổng lồ cho toàn thế giới, và đẩy xã hội Mỹ giàu lên cách biệt với thế giới.

Con đường để giành được sự thống trị của tư bản trước khi tìm ra được cách thức văn minh hơn là con đường của bạo lực tàn bạo, và chiến tranh thế giới là biểu hiện tột cùng của sự tranh giành giàu có. Những thành quả của sự phát triển đòi hỏi phải có cách bảo vệ thích hợp. Có những phát minh khiến người ta luôn luôn sẵn lòng công bố như những phát minh khoa học cơ bản. Nhưng những phát minh về cách thức mới để nô dịch người khác lại bị người ta giấu nhẹm đi. Trong cuộc chiến tranh kinh tế này người ta sử dụng các phương tiện tác động có tầm siêu vĩ mô.

Chúng ta thấy những lập luận triết chung kiểu như “Ai là chủ của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Những người cấp tiến cánh tả đã miêu tả một thế giới trong đó một nhóm người cực kỳ giàu có tích trự hết các cổ phiếu giống như một ông vua trong phòng kế toán của mình. Ở bên kia là huyền thoại về “chủ nghĩa tư bản nhân dân” do thị trường chứng khoán New York đưa ra, trong thế giới mộng tưởng này, mọi người đều có cổ phần và sẽ bỏ phiếu để bảo vệ tư hữu tài sản và lợi ích tư bản. Thực tế nằm ở một điểm nào đó giữa hai thái cực trên”. Nhưng miêu tả này hiện nay không đúng. Các trùm tư bản tạo ra tiền ảo. Việc nắm giữ cổ phiếu là ở trình độ quá thấp so với chủ nghĩa tư bản hiện đại. Khi sản xuất được tiền ảo thì muốn nắm giữ bao nhiêu cổ phiếu mà chẳng được, vì thế không nhất thiết phải giữ cổ phiếu để làm gì.

Kinh tế học siêu vĩ mô đem lại cách giải thích mới cho những vấn đề cũ như là tham nhũng chẳng hạn. Người ta không mất những gì người ta không có. Cái mà thất thoát đối với kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô thì đối với kinh tế siêu vĩ mô lại không mất đi đâu cả. Cái thất thoát đó tìm được sự hiện hữu. Vai trò của tiền ảo là tạo ra nạn tham nhũng của các nước trên thế giới đang phát triển, và đó là sự chia rẽ xã hội, không tạo nên được sự nhất trí trong xã hội đó và làm hạn chế tốc độ phát triển. Tham nhũng là công cụ chia để trị của tư bản đối với một xã hội, không để cho xã hội đó phát triển việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô nhằm phục vụ sự phát triển của mình đuổi kịp các nước phát triển, và xã hội đó muốn phải triển phải phục vụ lợi ích của tư bản của các nước phát triển hơn. Làm giầu trong thời đại ngày nay không phải là một tiến trình tự phát mà là tiến trình có sự chỉ đạo của chủ thể điều hành siêu vĩ mô.

Chừng nào một xã hội không phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô, thì xã hội đó không tự mình quyết định được tương lai của mình. Những nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có nhiều đảng phái khác nhau thường xuyên có sự thay đổi chính phủ vì chính phủ bất tài, không giải quyết được những vấn đề kinh tế gai góc đang hiện diện chứ không nói đến việc phát triển đuổi kịp các nước phát triển.

Nghiên cứu về các khủng hoảng, nghiên cứu về việc sử dụng kinh tế học siêu vĩ mô cho sự sử dụng vào các mục đích xã hội là các chủ đề quan trọng. Vấn đề tốc độ phát triển là một chủ đề đáng quan tâm.

Các cuộc khủng hoảng là sự xuất hiện của các loại tư bản mới, chèn ép các loại tư bản cũ, khẳng định vị thế chi phối, thống trị của chúng. Kinh tế học siêu vĩ mô tạo nên cơ chế hữu hiệu chống lại sự rủi ro bằng cách tìm ra những cách thức bù đắp lại sự rủi ro.

Đối với những nước đang phát triển chịu sự chi phối của các học thuyết kinh tế hiện nay, trong khi loay hoay tư bản vi mô bóc lột hay không bóc lột thì người ta để sổng luôn tư bản siêu vĩ mô và thặng dư kèm theo nó rơi vào tay tư bản nước ngoài. Cần phải có cách phân tích kinh tế để đưa những gì người ta vẫn quan niệm về kinh tế đến những giới hạn để thấy được rất nhiều sự vô căn cứ trong các quan niệm kinh tế đương thời, như quan niệm về hiệu quả kinh tế, về số lượng tiền cần thiết cho một xã hội, về cách chủ thể nào đó tạo nên được tiền mới…

Kinh tế học siêu vĩ mô xuất phát từ nên kinh tế thị trường hiện đại khi có rất nhiều thứ vật thể, phi vật thể, nhiều nguồn sản xuất ra các loại vật thể và phi vật thể tham gia vào quá trình trao đổi. Chính vì không thấy được nhiều loại hàng hóa hoàn toàn mới trên thị trường, nên nhiều nhà kinh tế đã bị hụt hơi trước sự phát triển của thực tiễn. Các nhà tư bản sẽ nói với các nhà kinh tế đó rằng: “Chúng tôi hoan nghênh tất cả những quan điểm mà đem lại sự bảo vệ quyền lợi và thống trị của chúng tôi. Các anh có lý thuyết dẫn đường để bảo vệ quyền lợi của các anh trong cuộc đấu tranh với chúng tôi, nếu các anh muốn nói như vậy, nhưng thực chất chúng lại bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của chúng tôi vì cái mà các anh muốn giành được từ chúng tôi thì lại là cái ảo, mà lúc nào chúng tôi cũng có sẵn không mất mấy công sức để tạo ra, còn các anh phải lao tâm khổ tứ, cố gắng giành giật, huy động hết sức người, sức của của các anh. Các anh càng tiết kiệm những gì các anh phải mua từ chúng tôi, phải mua từ bên ngoài và ra sức phát huy nội lực, sử dụng tài nguyên của các anh để đạt được tiền ảo thì càng tốt cho chúng tôi, càng đúng với ý đồ của chúng tôi. Hãy lao động chăm chỉ, sử dụng hết sức mình, sử dụng các thành quả của mình, chúng tôi mong đợi và hoan nghênh các anh”. “Chùng nào các anh không hiểu được tiền ảo, thự chất tiền ảo mà phải tự mình tổ chức lấy việc sản xuất ra tiền ảo, đưa tiền ảo đó thâm nhập được vào phía chúng tôi, dùng những biện pháp đó để giải quyết những vấn đề với chúng tôi thì chừng đó các anh là những nô lệ tự nguyện cho chúng tôi”.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Advertisements

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần X


Kinh tế học siêu vĩ mô đem lại bức tranh hoàn toàn khác về nền kinh tế thế giới, trong đó những thế lực hùng mạnh chi phối nền kinh tế thế giới lại nằm trong bóng tối và thiết lập các luật chơi mới cho toàn thế giới. Những luật lệ này dần dần được nhận thức từng mảng một. Hiệu quả đối với kinh tế siêu vĩ mô không phải khả năng đem lại tiền bạc, vì cần bao nhiêu tiền thì kinh tế siêu vĩ mô có thể sản xuất ra nhanh chóng và tức khắc. Kinh tế siêu vĩ mô có thể sản xuất ngay tức khắc một lượng tiền ảo khổng lồ, đơn giản như việc sửa một con số bé thành một con số to trên tờ ngân phiếu, hay thêm một số không vào cuối dãy số trên tờ ngân phiếu. Hiệu quả là ở chỗ không phải đem lại được các kết hợp mới, càng mới về nguyên tắc càng tốt, vì đó là những lĩnh vực có nhiều rủi ro mà kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô không thể chịu được.

Phân tích đúng bản chất của tiền tệ hiện đại thì sẽ tìm ra được các giải pháp hiện đại cho vấn đề đang được mở ra. Điều dễ hiểu là khi nhiều loại tạo phẩm phi vật thể tham gia vào quá trình trao đổi và đóng vai trò trọng yếu đối với nền kinh tế thì không một hàng hóa vật thể nào có đủ tư cách là vật ngang giá chung nữa. Vàng rực rỡ và chói lọi đã mất vai trò là hàng hóa tiền. Và tiền hiện nguyên hình là một loại tạo phẩm phi vật thể xã hội đặc biệt mà người ta cần phải có nhận thức mới. Trong kinh tế vi mô, tiền tùy thuộc vào các hàng hóa khác. Trong kinh tế vĩ mô, tiền chi phối các hàng hóa khác. Sự phân tích kỹ các loại tạo phẩm vĩ mô và siêu vĩ mô sẽ đem lại những kiến giải mới về nền kinh tế, đem lại những kiến thức mới về tiền tệ, về điều hành kinh tế ở nhiều tầng mức khác nhau. Kinh tế học vĩ mô đem lại thuộc tính mới cho đồng tiền. Điều hành kinh tế vĩ mô thống nhất tiền tệ, đảm bảo giá trị tiền tệ. Kinh tế học siêu vĩ mô đưa lại cách phân loại mới về nền kinh tế, về các ngành nghề của nền kinh tế. Trong kinh tế siêu vĩ mô, tiền mở đường cho sự ra đời của những loại hàng hóa hoàn toàn mới, chưa từng được biết đến, tạo nên được các kết hợp xuyên quốc gia. Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải có những lý luận mới nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn, từ việc thiết lập các chủ thể mới ở tầm tương xứng đến việc sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, sản xuất ra các loại tư bản ở tầm đó.

Tiền tệ là sức mạnh kết hợp của xã hội. Vì vậy một khi có những sức mạnh kết hợp mới của xã hội thì tiền sẽ có sự gia tăng về lượng. Khi có các tạo phẩm phi vật thể vĩ mô tác động, tiền có sức mạnh gắn kết mới, tác động đến sản lượng và làm được nhiều điều khác. Tiền là sức mạnh xã hội dùng để điều hành sản lượng quốc gia. Người ta đã tạo ra cho tiền sức mạnh đó. Mỗi thời đại người ta gán cho tiền chức năng mới và có sức mạnh mới. Những đồng tiền mạnh trên thế giới tạo nên được các gắn kết siêu vĩ mô.

Tiền là phương tiện lưu thông phải được bơm vào và rút ra như thế nào đó để sự phát triển kinh tế gặp thuận lợi. Tiền là thước đo xã hội. Tiền là một tạo phẩm có ý nghĩa xã hội, có sức mạnh xã hội. Một khi một thế lực nào đó có sức mạnh xã hội, chi phối được tiến trình sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể xã hội thì thế lực đó sản xuất ra được tiền. Sức mạnh của tiền tùy thuộc vào các chủ thể sử dụng tiền. Chủ thể vi mô không sử dụng tiền ở mọi cấp độ của tiền được, chủ thể vĩ mô sử dụng tiền để liên quan tới các tổ chức, các tạo phẩm vật thể và phi vật thể có quy mô vĩ mô. Chủ thể siêu vĩ mô có thể dùng được mọi loại tiền ở các tầng cấp liên quan tới các tổ chức lớn, đa quốc gia. Trong việc tiền tệ hóa các tạo phẩm phi vật thể, tiền tệ hiện đại có chức năng mới, ngoài chức năng thước đo giá trị, chức năng thanh toán, là chức năng mở rộng giá trị, khuếch đại giá trị, lan tỏa giá trị. Khi giá cả của tạo phẩm phi vật thể không phải là thứ mua đứt bán đoạn, chẳng hạn một bài hát vẫn được trả tác quyền khi có ca sĩ sử dụng, khiến cho không thể xem xét nó như một hàng hóa vật thể có giá cụ thể nào đó. Bởi vì các tạo phẩm phi vật thể đã đóng vai trò thiết yếu trong đời sống kinh tế xã hội nên những học thuyết cũ đã không còn đúng nữa.

Sự có mặt của các tạo phẩm vĩ mô và siêu vĩ mô làm cho tiền tệ bộc lộ ra những thuộc tính hoàn toàn mới. Những tạo phẩm này không thể nhìn nhận theo cách thức của những tạo phẩm vi mô là những thứ người ta có thể nắm lấy và lôi đi. Việc gia tăng lượng tiền để sản xuất ra những tạo phẩm loại này và tác động ngược lại của chúng đối với nền kinh tế là những điều chưa được nghiên cứu, chưa được làm sáng tỏ, nhưng một điều chắc chắn rằng tầm nhìn vĩ mô và vi mô không đem lại một cái nhìn thực chất về những điều đó.

Cùng một đồng tiền thì tùy thuộc vào chủ thể sở hữu đồng tiền đó mà có đẳng cấp khác nhau. Kinh tế siêu vĩ mô có cách thức bơm tiền vào và rút tiền ra đặc thù, thông qua nhiều biện pháp và nhiều thị trường, như thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán.

Bản chất của tiền là biểu hiện của một dạng phi vật thể mà cho phép con người tạo nên được các kết hợp giữa người với người, giữa người với vật, và giữa các vật với nhau. Tiền đóng vai trò mở rộng tầm hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế hiện đại. Tầng mức siêu vĩ mô đem lại cho tiền một chức năng mới, chức năng tạo nên những kết hợp siêu vĩ mô, bảo tồn và sao chuyển giá trị.

Mối quan hệ giữa tiền ảo và tiền thật tùy thuộc vào trình độ phát triển của các xã hội. Tùy từng đối tượng tạo ra tiền ảo mà tỷ giá trao đổi của tiền ảo và tiền thật khác nhau. Trong mọi trường hợp, tiền ảo luôn luôn được định giá thấp hơn. Tùy từng giai đoạn, tùy từng xã hội mà có quan hệ tỷ giá khác nhau. Động thái biến chuyển của tỷ giá hối đoái là điều không định trước được. Các nhân tố trong lạm phát phải tính đến sự đánh giá thấp của tiền ảo.

Tiền ảo không ngừng mở rộng công dụng của nó. Tiền là tạo phẩm xã hội thiết tạo nên các tạo phẩm vi mô, vĩ mô, siêu vĩ mô. Đó là công dụng mới của tiền. Tiền ảo là công cụ để khai thác các nguồn lực tiềm ẩn, là công cụ được sử dụng để duy trì, nuôi dưỡng các loại thị trường.

Tiền ảo là thước đo thặng dư kết hợp, thước đó sự lan tỏa, phát tán, của các kết hợp trong xã hội. Mở ra hoạt động điều hành kinh tế siêu vĩ mô tức là mở ra các hoạt động mới mà vượt trước các loại kết hợp mới trong xã hội. Vì thế cần phải làm gia tăng lượng tiền ảo trong xã hội.

Tiền có vai trò rất khác nhau trong các tầng mức siêu vĩ mô, vĩ mô và vi mô. Đồng tiền của chủ thể siêu vĩ mô làm được những việc rộng hơn đồng tiền của chủ thể vĩ mô, đồng tiền của chủ thể vĩ mô làm được những việc rộng hơn đồng tiền của chủ thể vi mô. Sự khác nhau về tầm tác dụng của những đồng tiền này là điều mà khoa kinh tế trước đây không đề cập đến. Các đồng tiền do các chủ thể kiếm được hay sản xuất ra tạo ra được các kết hợp tương ứng với tầm của mình. Đồng tiền của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có thể mua bán, sáp nhập các đại công ty, có thể thực hiện việc chuyển nhượng các bí quyết công nghệ trình độ cao.

Khi gia tăng lượng tiền vào các tạo phẩm siêu vĩ mô và vĩ mô một cách kín đáo thì sẽ làm hoạt động vĩ mô thay đổi về quy mô và chủng loại, và có biện pháp kìm giữ các loại mặt bằng giá ở mức thấp. Công việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô, và điều hành kinh tế vĩ mô chính là việc giữ cho cái gì đó ở tầm kiểm soát được. Cách thức bơm tiền vào nền kinh tế của hoạt động siêu vĩ mô khác với cách thức bơm tiền vào nền kinh tế của hoạt động vĩ mô và vi mô. Cách thức đó là bơm tiền vào các cổ phiếu.

Chỉ số giá tiêu dùng liên quan tới những mặt hàng nhất định hầu như thuộc các lĩnh vực vi mô. Khi một lượng lớn tiền ảo bơm vào nền kinh tế, bơm vào các tạo phẩm vĩ mô và siêu vĩ mô, thì có kích chỉ số tiêu dùng vi mô lên hay không, hay là chuyển sang chất lượng mới của các thứ vi mô. Đây là vấn đề thực chất để phản bác lại các quan điểm của những nhà kinh tế vĩ mô và vi mô lo ngại sự bơm tiền vào nền kinh tế.

Dưới góc độ kinh tế vĩ mô và vi mô, không thấy mối tương quan nào giữa việc bơm tiền vào nền kinh tế của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, nhưng dưới góc độ siêu vĩ mô thì thấy có tương quan, còn tương quan như thế nào thì tùy vào mức độ hoạt động thực tiễn, tùy vào sự điều hành cụ thể của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô mà có những tương quan nào đó, trong không gian nào đó.

Đồng tiền phải đi kèm với tư bản đại diện cho nó sống động, mà phát huy tác động có khả năng sinh sôi và phát triển chứ không phải bị tiêu hủy và mất đi, thì mới bảo đảm được giá trị của nó. Trong một xã hội mà sự phân rã, phá hủy, chiếm ưu thế, như trong chiến tranh, khủng hoảng, hay sai lầm của các chính sách, đồng tiền mất giá nghiêm trọng vì số lượng tài sản bị tiêu hao, hoặc tư bản để sản xuất ra các tài sản không cần thiết cho thời bình như bom đạn, xe tăng, máy bay, trở nên quá thừa, vì thế đồng tiền cần có sự hạn chế về lượng. Trong một xã hội mà kết hợp chiếm ưu thế, đang mở ra những triển vọng mới thì đồng tiền gia tăng sức mạnh của nó, cần thiết phải có sự tăng trưởng về lượng. Khi lượng tiền có quá nhiều và các tài sản đã bị phá hủy và không được dùng đến, trở nên vô dụng, không có hiệu quả, chẳng hạn do tình huống chiến tranh hay do đầu tư sai lầm thì nảy sinh ra hiện tượng đồng tiền mất giá.

Nếu tốc độ lạm phát tăng chậm hơn tốc độ tăng thu nhập thì xã hội không có những biến động. Hơn nữa, phân tích về lạm phát không tính đến những tạo phẩm phi vật thể mới được tạo ra trong các hàng hóa và dịch vụ làm cơ sở để tính chỉ số giá cả. Nếu tính đến những tạo phẩm phi vật thể này thì lạm phát thấp hơn là những tính toán đã đưa ra. Để phòng chống lạm phát, kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải phát triển được các loại tư bản mới có đẳng cấp cao hơn. Giá dầu tăng hiện nay không ảnh hưởng nhiều đến các nước phát triển vì họ có nhiều có thể được chỉ ra khi có lý do chính đáng và họ có những tư bản đẳng cấp cao hơn để làm phao an toàn cho các lượng tiền đó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần IX


4/ Đối tượng và phương pháp của kinh tế học siêu vĩ mô

Trong thời đại của mình, Marx đã làm được việc là phân tích nền sản xuất của xã hội đương đại, và đó là một mẫu mực để thấy rằng muốn hiểu được một xã hội thì cần phải làm như thế nào. Vì sau Marx không ai làm được những gì tương tự như Marx đã làm với nền kinh tế hiện nay, nên có rất nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ khi nghiên cứu nền kinh tế đương đại. Trong thời của Marx, nền kinh tế chỉ có một tầng mức vĩ mô nên nó đòi hỏi cách nghiên cứu riêng, cần phải đi sâu vào chi tiết các hoạt động đó, xây dựng những yếu tố của chúng. Sang thời đại khác thì có những vấn đề mới.

Thực tế bao giờ cũng có sức mạnh đanh thép buộc gười ta phải hành động theo nó.

Sự phát triển chính sách kinh tế mới ở nước Nga Xô viết là do nhận thức mới về thị trường, sức mạnh và vai trò của nó đối với lịch sử nhân loại.

Khi chuyển sang cơ chế thị trường thì nhiều vấn đề nan giải dưới thời bao cấp thì lại được giải quyết nhanh chóng, đồng thời mở ra một loạt nhu cầu mới cho xã hội, làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của xã hội. Khi mở ra bình diện hoạt động kinh tế siêu vĩ mô cũng vậy. Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô tạo ra những gắn kết mới với cộng đồng, xã hội và doanh nghiệp. Một khi bình diện hoạt động mới được mở ra xã hội trở nên năng động hơn. Xã hội có những cách thức kết hợp mới, và những cái đó là cơ sở để tăng thêm giá trị tư bản trong xã hội, để tăng thêm lượng tiền trong xã hội phục vụ cho nhu cầu giải phóng nội lực của xã hội. Khi là một tổ chức thống nhất và sản xuất được tiền ảo, sản xuất được tư bản mới thì đó là một quyền lực siêu nhà nước. Khi xây dựng lên các cách thức kết hợp để hình thành nên các đại công ty, để hình thành nên một xã hội hiện đại, thì số tiền ảo có thể tạo ra được là một con số khổng lồ. Điều này đòi hỏi phải có những nghiên cứu mới về đối tượng đặc biệt này, từ sự hình thành, phát triển và các hành vi của chúng phù hợp với từng xã hội và sự phát triển chung của xã hội đó tương quan với các xã hội khác. Đối với những đối tượng mà người ta hết sức giữ bí mật thì cần phải có cách thức nhận dạng đối tượng và phải có phương pháp nghiên cứu hữu hiệu.

Cùng theo đà tăng trưởng của kinh tế thị trường hiện đại, sức mạnh của đại tư bản tăng trưởng mạnh mẽ. Phương pháp nghiên cứu kinh tế học siêu vĩ mô dựa trên thành quả nghiên cứu về thế giới phi vật thể, trong đó lý luận nhận thức của chủ nghĩa Marx là công cụ đặc biệt có hiệu quả, khi lý luận đó mở rộng sang đối tượng mới là đối tượng phi vật thể tổng quát, mà phương pháp nghiên cứu Bộ Tư bản của Marx đã để lại. “Marx không để lại cho chúng ta “Logic học” (với chữ L viết hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta logic của “Tư bản”, và cần phải tận dụng đầy đủ nhất logic đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu. Trong “Tư bản”, Marx áp dụng logich, phép biện chứng và lý luận nhận thức [không cần ba từ: đó là cùng một cái duy nhất] của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất; mà chủ nghĩa duy vật đã lấy ở Hegel tất cả cái gì có giá trị và phát triển thêm lên”. Muốn vận dụng được cách nghiên cứu của Marx thì trước hết phải trả lời trực diện câu hỏi: sản xuất ra cái gì? Thời đại mới không những sản xuất, tái sản xuất mà còn phải bảo trì, phải chỉnh sửa để bảo đảm sự tương thích của các dạng phi vật thể với nhau, và phải làm được nhiều việc vượt qua giới hạn không gian và thời gian. Chúng tôi nói rõ hơn về phương pháp này sau.

Nghiên cứu về kinh tế học siêu vĩ mô trước hết là nghiên cứu về những hoạt động trong nền kinh tế đó. Cùng một vấn đề, cùng một sự kiện, nhưng dưới nhãn quan của kinh tế học siêu vĩ mô thì có một hình thái hoàn toàn khác, thậm chí ngược với những nhìn nhận dưới các nhãn quan khác. Với những hoạt động của các chủ thể mới trong nền kinh tế, nền kinh tế diễn ra rất khác nền kinh tế vĩ mô và vi mô. Với những phương tiện mới được tạo ra, kinh tế học siêu vĩ mô đưa ra những giải pháp hoàn toàn mới đối với các vấn đề nảy sinh, mà những lộ trình tác động đang cần được khám phá. Chẳng hạn trong thời đại mới, vấn đề làm gia tăng tư bản không phải là đạt được giá cả độc quyền, mà là giá trị thương hiệu được bơm phồng lên bằng nhiều cách khác nhau.

Chúng ta cần phải nêu ra được điều cần phải là một đối tượng mới trong kinh tế học. Đối tượng này cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng vì nó giải phóng ra những sức mạnh còn tiềm ẩn, và quan trọng hơn là sáng tạo ra những kết hợp mới, từ đó sáng tạo ra những cái mới. Khi hàng loạt những vấn đề đang đòi hỏi phải nhận thức lại như Bản chất của tiền tệ và hàng loạt vấn đề mới, chưa từng có nảy sinh như Cách thức hoạt động và điều hành của các chủ thể trong nền kinh tế hiện đại và sự tương tác giữa chúng. Các công cụ tác động mới đến nền kinh tế là gì? Xây dựng các thiết chế của kinh tế thị trường hiện đại như thế nào? Xây dựng tư bản mới ra sao, đòi hỏi phải phát triển khoa học mới. Kinh tế học siêu vĩ mô đã đảm nhận vai trò đó. Khoa kinh tế học siêu vĩ mô nghiên cứu về việc sản xuất các tạo phẩm phi vật thể đẳng cấp cao, các quy luật của nó, nghiên cứu về tư bản, nghiên cứu về việc sản xuất các loại tiền ảo của nước mình.

Một nhánh lớn của kinh tế học siêu vĩ mô là nghiên cứu về các quyền lực của kinh tế siêu vĩ mô tác động đến xã hội. Trong thời đại mới, người ta thấy rằng quyền lực phát triển từ quyền lực vi mô tới quyền lực vĩ mô, và hiện nay đã phát triển quyền lực siêu vĩ mô mà thể hiện ra là quyền lực của cá nhân, quyền lực của đảng phái, quyền lực của tổ chức, quyền lực của quốc gia, và quyền lực của thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Quyền lực nhà nước đem lại tiền ảo của nhà nước và chi tiêu vào việc sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể vĩ mô, như đường giao thông, các chương trình xã hội, xây dựng các đạo luật… Quyền lực chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô đem lại tiền ảo của chủ thể và chi tiêu vào việc sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể siêu vĩ mô, như đường giao thông quốc tế, xây dựng các hiệp ước, hiệp định, công ước, xây dựng các đại tập đoàn đa quốc gia, thiết tạo nên được các loại thị trường mới mà có tầm hoạt động quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế…

Những đặc điểm mới của nền kinh tế hiện đại đòi hỏi phải nghiên cứu về nó với những nhãn quan mới, từ đó thấy được sức mạnh tiềm ẩn của nó, từ đó vạch ra được cách thức vận dụng sức mạnh đó vào những hoàn cảnh thực tiễn. Khi xem xét một vấn đề không ở tầng mức thích hợp với nó thì sẽ vấp phải những mâu thuẫn không thể điều hòa được. Tầm nhìn của một người khiến cho người đó phản đối những cái mới do tầm nhìn khác đem lại. Tầm nhìn vĩ mô và vi mô thì không hiểu được thực chất những gì đang diễn ra trên thế giới, do đó không có gì lạ cả khi họ phản đối những gì mà tầm nhìn siêu vĩ mô đem lại. Vấn đề là tầm nhìn siêu vĩ mô phải thể hiện mình bằng cách lý giải được những mâu thuẫn, nghịch lý không thể hiểu được dưới tầm nhìn vi mô và vĩ mô.

Trong thời đại toàn cầu hóa, dù muốn hay không xã hội nào cũng phải tham gia vào các hoạt động kinh tế siêu vĩ mô. Nhưng vấn đề đặt ra là người ta có thể điều hành hoạt động kinh tế siêu vĩ mô của mình hay không hay là để cho các hoạt động đó diễn ra tự phát. Nếu muốn điều hành hoạt động kinh tế siêu vĩ mô thì cần phải thiết tạo chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô và vạch ra được các công việc chính mà chủ thể đó phải đảm đương. Một bài toán được đặt ra và có người giải rồi thì việc tìm ra lời giải không phải là điều quá khó vì cách thức giải bài toán đó, dù có được che đậy đến đâu, cũng phải thể hiện vào lúc này, lúc nọ, ở nơi này, nơi nọ khía cạnh nào đó giúp cho người ta phục dựng lời giải đó và sáng tạo ra lời giải mới. Bài toán sản xuất tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản tương tự như vậy. Nhưng với bài toán chưa có cách phát biểu tường minh, mà chưa có lời giải thì việc tìm ra lời giải là điều vô cùng khó khăn. Đây là trường hợp sản xuất ra tư bản đảng cấp cao.

Kinh tế học siêu vĩ mô nghiên cứu về sự sản xuất các tạo phẩm siêu vĩ mô và trao đổi chúng, sử dụng chúng. Sự sản xuất ra tiền ảo của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô làm cho sự trao đổi thay đổi hoàn toàn, do đó làm kinh tế học thay đổi hàon toàn, động thái của nền kinh tế cũng khác đi. Các lĩnh vực nghiên cứu của kinh tế học siêu vĩ mô trải dài từ những vấn đề lý thuyết chung như bản chất tiền tệ, thực chất của sự phát triển… tới việc tổ chức các hoạt động thực tiễn như lan tỏa tư bản, sáng tạo ra tư bản mới… Dưới sự chỉ đạo của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, các hội đoàn nghề nghiệp có bước phát triển mới đạt được trình độ hiện đại và tham gia tích cực vào đời sống kinh tế xã hội. Đầu tư nước ngoài là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của kinh tế học siêu vĩ mô, với các luồng đầu tư công nghiệp và hậu công nghiệp. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô chỉ đạo hoạt động đầu tư nước ngoài, cả trực tiếp lẫn gián tiếp của các doanh nghiệp chịu sự chi phối của mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần VIII


3/ Chủ thể mới của nền kinh tế hiện đại

Sản xuất ra tiền ảo và phân phối tiền ảo là một công việc ban đầu mà chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải làm được. Công việc phân phối tiền ảo và các tạo phẩm vật thể và phi vật thể siêu vĩ mô như thế nào khác hẳn với sự phân bổ ngân sách và tài sản của nhà nước. Sự phân công phân nhiệm trong việc sản xuất ra tiền ảo của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô và chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô như nhau: sản xuất ra tiền ảo chỉ để chi tiêu cho những gì trước mắt, những gì đập ngay vào mắt là công việc của thể điều hành kinh tế vĩ mô mà nguy cơ là nhanh chóng gây ra lạm phát. Sản xuất ra tiền ảo để biến thành tư bản, để làm ăn có lãi, và đồng tiền đó có khả năng gia tăng là công việc của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô.

Các chủ thể vĩ mô tồn tại do các chức năng xã hội của nó, nên không có biện pháp chế tài nào cả, chỉ có những người đứng đầu là thay đổi, nhưng với chủ thể kinh tế siêu vĩ mô thì lại khác, chủ thể đó có thể xóa bỏ nhanh chóng một doanh nghiệp nào đó khi thấy cần thiết. Việc chia nhỏ, sắp xếp lại, bố trí lại các chủ thể vĩ mô diễn ra chậm chạp.

Sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh tế siêu vĩ mô rất gay gắt, các biện pháp chia nhỏ, sáp nhập… diễn ra nhanh chóng. Chủ thể kinh tế siêu vĩ mô chấp nhận các thất thoát tài sản cực lớn, như cổ phiếu của một đại công ty mất giá nghiêm trọng.

Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô xóa đi nhiều dạng phi vật thể phân cách giữa các nước, thiết lập các dạng phi vật thể để đồng bộ hóa hoạt động của các nước thực hiện sự thâm nhập tiền ảo quy mô lớn vào các nước.

Khi đã tìm ra được cách thức mới bảo vệ quyền lợi và duy trì địa vị thống trị hiệu quả hơn, kín đáo hơn các cách thức truyền thống, mà luôn luôn chứa đựng nguy cơ gây căng thẳng xã hội, thì người ta cố nắm lấy và sử dụng thành thạo các cách thức mới đó hay không hay là vẫn duy trì các cách thức cũ? Trong thời đại mới, người ta phải hiểu rằng giai cấp tư sản đã có những phương tiện mới, biện pháp mới, thủ đoạn mới để bảo vệ quyền lợi, quyền lực của mình, vượt ra khỏi các biện pháp truyền thống. Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã phát minh ra phương tiện mới để bảo vệ quyền lợi và duy trì địa vị thống trị hiệu quả hơn.

Điều bí mật lớn lao nhất của nền kinh tế hiện đại lại là điều đơn giản nhất: chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Đơn giản đến bất ngờ vì người ta không thể ngờ rằng đó là sự thật.

Việc sản xuất ra tiền ảo là động lực lớn nhất buộc các trùm tư bản thống nhất lại với nhau thành một khối duy nhất, thành chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Chủ thể điều hành siêu vĩ mô đã tập trung được tư bản một cách cao độ là đạt được sự thống nhất tư bản. Sự thống nhất này đã đem lại cho tư bản một sức mạnh đặc biệt khi được giải phóng ra giống như khi đạt được khối lượng tới hạn, thì bom nguyên tử giải phóng ra khối lượng năng lượng khổng lồ. Trên phương diện toàn cầu có một chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là tổ chức thống nhất duy nhất các trùm tư bản Mỹ. Bằng việc sản xuất ra tiền ảo, biến tiền ảo thành tư bản và sản xuất ra các loại tư bản mới, chủ thể điều hành siêu vĩ mô nắm giữ quyền chi phối số lượng khổng lồ tiền và tư bản. Do nắm trong tay việc sản xuất tiền ảo nên các trùm tư bản luôn luôn duy trì được vị thế thống trị thượng phong của mình, và dùng tiền đó để nâng cao mức sống chung của xã hội, nhưng vẫn tạo được khảong cách để những người bình thường không có khả năng chi phối đối với tư bản.

Với sự tập trung tư bản cao độ, và một nhà nước mạh, đầu thế kỷ hai mươi, nước Đức đã vươn lên trở thành một nước có nền kinh tế đứng hàng đầu thế giới khi đó. Với sự tập trung tư bản cao độ, và một chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô mạnh, từ giữa thế kỷ hai mươi nước Mỹ đã vươn lên trở thành một nước giữ địa vị thống trị nền kinh tế thế giới.

Quyền lực của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô vượt khỏi giới hạn quốc gia và vươn lên tầm quốc tế.

Trong các tầng mức siêu vĩ mô, vĩ mô, vi mô, thì các chủ thể điều hành kinh tế ở các tầng mức đó có vai trò quan trọng đặc biệt. Để thực hiện điều hành siêu vĩ mô, chủ thể điều hành phải có những thủ thuật đặc biệt trong việc chuyển tiền ngân sách vào các tổ chức kinh tế nào đó chịu sự chi phối của mình. Các chủ thể mới có những hành vi mới. Điều mà không làm được công khai thì người ta lại hoàn toàn tiến hành trong bí mật, và người ta biết cách tiến hành mà không bị trừng phạt. Sản xuất ra tiền ảo, quyết định mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất và việc bơm vào hay rút ra tiền ảo chính là việc đồng thời tiến hành các chính sách tài chính và tiền tệ của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Để bảo vệ quyền lợi và địa vị của mình, các trùm tư bản Mỹ đã hoạt động điều hành bí mật thì không có lý do gì các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô khác lại không làm như vậy. Có như vậy mới giải quyết được nhiều vấn đề như sự căng thẳng về cách biệt giầu nghèo, như những thứ khác nữa về bảo toàn và duy trì sức mạnh của mình để giành được thắng lợi trước các đối thủ cạnh tranh từ các nước khác.

Mỗi nhà nước phải tìm cách ngăn chặn sự sản xuất tiền ảo của nước mình từ các chủ thể điều hành siêu vĩ mô của nước khác hay từ các nhóm tội phạm có tổ chức ở nước mình. Quyền lợi ích kỷ của các trùm tư bản luôn luôn cần đến nhiều công cụ để bảo vệ, từ nhà nước cho tới các tổ chức phi nhà nước, thậm chí là các tổ chức tội phạm. Các đại công ty là những nơi tiêu thụ tiền ảo chủ yếu. Chỉ khi tìm được cách điều hành kinh tế siêu vĩ mô một cách hiệu quả thì các trùm tư bản mới ra tay mạnh với các tổ chức tội phạm trong xã hội.

Để tiến hành các bước điều hành kinh tế siêu vĩ mô, đầu tiên chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô phải tiến hành cải tổ các doanh nghiệp hiện có, đưa chúng vào vùng ảnh hưởng của mình, từ đó thành lập các tập đoàn kinh doanh. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô làm tăng vòng quay của ngân sách nhà nước, làm thay đổi cục diện phát triển của đất nước, và từng bước dùng tiền ảo dựa trên nền ngân sách nhà nước để đem lại tính chính đáng nào đó. Dưới sự điều hành của chủ thể thì xuất hiện các thặng dư kết hợp xã hội mới. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có khả năng hành động rất nhanh chóng trong nền kinh tế thị trường hiện đại, không phải chịu các thủ tục hành chính nặng nề. Sự phản ứng của nhà nước trước các tình trạng khẩn cấp thường là chậm chạp.

Chủ thể vĩ mô có những nhu cầu đặc thù khiến cho nó phải tìm cách thỏa mãn và tự nó tạo cho mình khả năng thanh toán cho các khoản nhu cầu đó bằng cách tạo ra tiền ảo và tiến trình biến tiền ảo thành tiền thật được làm bằng nhiều cách. Nhu cầu vĩ mô luôn luôn được mở rộng, cả về mặt vật thể lẫn phi vật thể, bao trùm lên mọi mặt của đời sống xã hội. Chủ thể siêu vĩ mô cũng làm được như vậy.

Sự mở cửa, đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp, đem lại cái mới. Vì sao một nước cần phải mở cửa về kinh tế là câu trả lời từ hai phía, nước đầu tư muốn sản xuất tiền ảo, và nước nhận đầu tư muốn phát triển. Một đằng muốn biến ảo thành tiền thật, thành tư bản thật, một đằng có khả năng biến ảo thành thật để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân nước mình.

Việc tạo ra tiền cho ngân sách nhà nước thì cần phải có sự tham gia của cả xã hội, trong đó có các doanh nghiệp, các cơ quan của chính phủ và những kết quả này đòi hỏi không ít nhân lực. Việc sản xuất ra tiền ảo cũng đòi hỏi những nguồn lực lớn, từ nhân lực cho tới các phương tiện tài chính, vật chất.

Việc sản xuất ra tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản đòi hỏi người ta phải quan niệm khác đi về nền kinh tế thế giới, về những gì đang thực sự diễn ra đối với nền kinh tế thế giới. Tốc độ luân chuyển tài chính gấp nhiều lần thương mại hàng hóa và dịch vụ. Khi một xã hội có niềm tin rằng có những việc doanh nghiệp nhà nước chấp nhận chịu lỗ mà vẫn làm, còn doanh nghiệp tư nhân thì phải có lãi mới làm thì xã hội đó dễ dàng chấp nhận việc bơm tiền ảo để phát triển tư bản của các khối doanh nghiệp khác. Điều không lấy gì làm ngạc nhiên là đối với các đại công ty ở các nước phát triển thì hiệu quả của hoạt động kinh doanh không quan trọng bằng thị giá cổ phiếu. Sự xuất hiện và phát triển của tiến trình sản xuất ra tiền ảo giải thích được tại sao có những nước lại từ bỏ chính sách tiền tệ torng điều hành kinh tế vĩ mô như Nhật Bản.

Tính chất mới của sở hữu làm người ta phải quan niệm mới về hiện tượng tham nhũng. Tham nhũng làm được việc chuyển hóa sở hữu siêu vĩ mô, vĩ mô thành sở hữu vi mô, vì thế tham nhũng là một trong những công cụ để chuyển được tiền ảo thành tiền thật và tư bản thật, chỉ có điều ở các nước phát triển nhất, tham nhũng diễn ra bí mật, bị che đậy bởi sự cao giá bất thường của những cổ phiếu nhất định, còn ở những nước đang phát triển, tham nhũng ở hình thức công khai, trắng trợn hơn mà thôi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần VII


c/ Vài nét về công thức tổng quát của tư bản hiện đại

Trong công trình “Tư bản hậu công nghiệp và kinh tế học siêu vĩ mô”, từ công thức của Marx, phát biểu lại theo ngôn ngữ tạo phẩm phi vật thể, tác giả đã thấy được sự mở rộng của Lenin, và từ đó tác giả đã đưa ra công thức chung của tư bản hiện đại.

Xuất phát từ công thức của Marx là:

C = c + v + m (1)

Trong đó

c: là tư bản cố định

v : là tư bản khả biến

m : là giá trị thặng dư

Diễn giải công thức (1) dưới ngôn ngữ của tạo phẩm phi vật thể : để sản xuất ra một tạo phẩm phi vật thể là giá trị thặng dư công nghiệp, cần có tư bản công nghiệp là c chịu sự tác động của một tạo phẩm phi vật thể là lao động công nghiệp v. Như vậy, khi có thêm một loại tư bản mới thì hoàn toàn có thể mở rộng công thức để bao trùm được loại tư bản mới đó. Công thức của Marx có thể mở rộng ra nhiều loại tư bản và nhiều loại lao động tham gia vào quá trình tạo nên giá trị thặng dư mới, vấn đề là mỗi thời đại phải đưa vào công thức những loại tư bản nào, những loại lao động nào thích ứng với thời đại của mình.

Khảo sát sự phát triển của Lenin đối với học thuyết của Marx trong trường hợp nghiên cứu chủ nghĩa đế quốc, có thể thấy rằng công thức (1) có dạng :

C = C1 + C tài chính + V1 + V tài chính + M1 + M tài chính + d (2)

d thể hiện lợi nhuận do độc quyền đem lại, thể hiện những giá trị thặng dư do tư bản tài chính đạt mức độc quyền đem lại.

Và trong thời kỳ nhà nước Xô Viết được thành lập và thực thi chính sách kinh tế mới, công thức của Marx lúc đó có thể được viết là

C = C1 + C tài chính + V1 + V tài chính + M1 + M tài chính + s (3)

Trong đó s là giá trị do quyền lực của nhà nước công nông đem lại, và được nhà nước công nông thu về, còn M, và M tài chính là của nhà tư bản, họ có thể mang về nước của họ một phần thỏa đáng. Thực chất của chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nhà nước Xô Viết là như vậy, và nhà nước công nông sử dụng tư bản, cả công nghiệp lẫn tài chính, để phục vụ cho mục đích của mình. Với những những số hạng được thêm vào để phản ánh các tạo phẩm phi vật thể có những sức mạnh ảnh hưởng đến kinh tế như thể chế nhà nước, tình trạng các thị trường thương mại, tài chính, trình độ tạo nên các tạo phẩm phi vật thể trong khoa học công nghệ, ý thức bảo vệ thiên nhiên môi trường của xã hội, giáo dục, hạ tầng cơ sở, an sinh xã hội… công thức này phản ánh được tình trạng phát triển của tư bản với từng xã hội, với từng giai đoạn. Đặc biệt, công thức có thể chỉ ra khi định được hướng phát triển theo kiểu gì thì có diễn biến như thế nào. Vì thế có thể mở rộng công thức này để diễn giải những nhân tố hợp lý trong nhiều học thuyết kinh tế vĩ mô phát triển về sau này của nhiều tác giả khác nhau. Người ta có thể đưa vào công thức của Marx những giả định làm nền tảng cho các học thuyết về sau của các nhà kinh tế học, như của John Maynard Keynes, Paul Anthony Samuelson, Milton Friedman… nhưng điều khác biệt quan trọng là kinh tế học Marx – Lenin không tuyệt đối hóa những giả định đó, mà các điều kiện luôn luôn vận động biến đổi.

Trong nền kinh tế hiện đại, khi việc sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể trở nên phổ biến trong mọi mặt của đời sống xã hội, như thế công thức của Marx hoàn toàn có thể áp dụng được trong tình hình hiện nay khi mà nền kinh tế hậu công nghiệp có rất nhiều tạo phẩm phi vật thể, trong đó có tài chính, tham gia vào quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, và có công thức chung của tư bản như sau :

C = C1 + V1 + M1 + C2 + V2 + M2 + P (4)

trong đó

C1 là các loại tư bản công nghiệp = ƩC1i

V1 là giá trị các loại tư liệu lao động công nghiệp = ƩV1i

M1 là các loại giá trị thặng dư do V1 tạo nên = ƩM1i

C2 là các loại tư bản hậu công nghiệp = ƩʃC2i(t)dt

V2 là giá trị các loại tư liệu lao động hậu công nghiệp = ƩʃV2i(t)dt

M2 là các loại giá trị thặng dư do V2 tạo nên = ƩʃM2i(t)dt

P là giá trị các tạo phẩm phi vật thể trong môi trường kinh tế xã hội đem lại – ƩʃPk(t)dt = ƩPk

Giá trị ƩPk này có thể thấy được như những tạo phẩm phi vật thể mà thường trực tác động đến những yếu tố của đời sống xã hội. Giá trị ƩPk còn có thể phân chia nhỏ hơn nữa theo các đẳng cấp khác nhau, và đẳng cấp vi mô, đẳng cấp vĩ mô, đẳng cấp siêu vĩ mô. Số hạng Pk đó đã giải thích vì sao có tiền ảo ở tầng mức vĩ mô, siêu vĩ mô. Đó là công thức chỉ ra được kinh tế siêu vĩ mô có những đặc tính khác với các kinh tế học được biết trước đó.

Chính số hạng Pk này cho thấy rằng một nước kém phát triển hơn có thể vượt lên như thế nào khi có được một thiết chế tạo nên được các kết hợp mới có khả năng điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Khi thiết lập được điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì hoàn toàn tăng giá trị của tư bản đến mức vượt ra khỏi các quan niệm thông thường của kinh tế học vi mô và vĩ mô.

Số hạng P trong công thức có thể phân tích thành:

P = P1 + P2 + P3

trong đó

P1 là giá trị do các tạo phẩm phi vật thể trong môi trường kinh tế xã hội ở tầng mức vi mô đem lại.

P2 là giá trị do các tạo phẩm phi vật thể trong môi trường kinh tế xã hội ở tầng mức vĩ mô đem lại.

P3 là giá trị do các tạo phẩm phi vật thể trong môi trường kinh tế xã hội ở tầng mức siêu vĩ mô đem lại.

Như vậy, một khi xã hội mở ra được bình diện hoạt động mới thì làm gia tăng ngay được giá trị tư bản của đất nước lên, thể hiện được tầm lan tỏa qua không gian và thời gian. Công thức (4) đã chỉ ra rằng tư bản hiện đại có bước phát triển mới, có giá trị lớn hơ những gì mà tầm mức vĩ mô và vi mô vẫn quan niệm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần VI


Tư bản có cách tập trung sức mạnh đặc thù. Tư bản có sự tập trung hình thành công cụ mới. Tư bản có cách thức gia tăng nội bộ của nó, theo các hình thái của nó khi tư bản chuyển hóa thành tiền thì nó có những bước phát triển đột biến trong lượng tiền. Vì thế nếu chỉ nhìn nhận tư bản theo giá trị tiền tệ hiện thời của nó thì không bao giờ đánh giá được hết tư bản. Tư bản buộc người ta phải tạo ra được những mối liên kết mới chặt chẽ hơn nữa, sâu hơn nữa. Tư bản làm được rất nhiều việc mà các giai cấp khác nhau sử dụng nó để phục vụ mục đích của mình. Tư bản là dạng phi vật thể buộc người ta phải nhanh chóng sản xuất được lượng tạo phẩm vật thể nào đó khi xã hội có nhu cầu.

Tư bản là nguồn để sản xuất các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, nhưng còn đi xa hơn thế, là nâng tầm các sản phẩm vật thể và phi vật thể lên một trình độ mới khi đem lại cho chúng một thặng dư kết hợp nào đó vượt qua được các giới hạn không gian và thời gian cụ thể, do đó làm tăng thêm giá trị của chúng, đạt được trình độ mới của tư bản. Tư bản là một tạo phẩm xã hội có khả năng làm nâng cao đẳng cấp của mình. Tư bản là tạo phẩm xã hội có khả năng tổ chức xã hội để làm được những cái mới. Tư bản đóng vai trò thiết tạo nên các tạo phẩm kinh tế vĩ mô, xóa bỏ sự cát cứ, tự cung tự cấp của xã hội phong kiến. Tư bản hiện đại đóng vai trò thiết tạo nên các tạo phẩm kinh tế siêu vĩ mô, vượt qua các giới hạn biên giới quốc gia. Tư bản là một thành quả vĩ đại của nhân loại, mà làm gia tăng tiến trình tạo ra những cái mới, vấn đề là tư bản chịu sự sở hữu nào mà thôi.

Tư bản có rất nhiều nhánh mà mỗi nhánh có những đẳng cấp riêng. Trong các loại tư bản còn có tri thức và kinh nghiệm mà một nước đang phát triển không có. Qua thực tiễn và phải trả học phí không rẻ thì mới có được kinh nghiệm.

Quyền lực là tạo phẩm phi vật thể xã hội tạo ra những gắn kết xã hội, vượt qua những khác biệt về truyền thống, văn hóa, chủng tộc, tôn giáo. Con người phát minh ra quyền lực để tạo nên sự liên kết giữa người với người, con người phát sinh ra tư bản để tạo nên sự liên kết giữa người với vật, giữa vật với vật bổ sung cho các quyền lực mới mà quyền lực khác không với tới được và tạo ra được những vật thể hoàn toàn mới. Tư bản cần được nghiên cứu như là một dạng phi vật thể tiến hóa, một thứ quyền lực xã hội chi phối các quyền lực khác trong xã hội như quyền lực chính trị, và nó có sự tiến hóa theo các giai đoạn. Khi sự phát triển xã hội tăng lên thì sự phức tạp của xã hội tăng lên. Các tư bản mới có tác động ngày càng lớn, dẫn tới những khủng hoảng của xã hội để làm con người thay đổi suy nghĩ đánh giá lại các loại tư bản cũ và mở đường cho sự phát triển của tư bản mới.

Trong thời của Lenin, chủ nghĩa tư bản dựa trên nền tảng sản xuất ra các tạo phẩm vật thể đã phát triển đến giai đoạn tột cùng. Giai đoạn đế quốc chủ nghĩa là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản dựa trên việc sản xuất ra các tạo phẩm vật thể, khi đó những vấn đề bành trướng của tư bản phải giải quyết bằng vũ lực, bằng chiến tranh. Tư bản thời Lenin mang tính quốc gia, từ đó dẫn đến cạnh tranh giữa các quốc gia, dẫn tới sự phân chia lại thế giới. Tư bản lúc đó không còn là chuyện riêng của nhà tư bản nữa, mà là chuyện của quốc gia, có như vậy thì mới có các học thuyết về kinh tế vĩ mô. Khi xã hội đã tạo ra những tạo phẩm phi vật thể mà từ đó tạo ra những vật thể hoàn toàn mới, thì tư bản có những bước phát triển mới, có được hình thái mới, hình thái tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Nhận biết được những đặc tính mới của tư bản hiện đại là chìa khóa để hiểu biết được tư bản hiện đại.

Tư bản điều khiển tiền theo mục đích của nó. Tư bản hiện đại có nhiều đẳng cấp khác nhau, mà muốn phát triển lên mỗi đẳng cấp cao hơn thì đòi hỏi phải có những nền tảng xã hội mới. Việc biến tiền ảo thành tư bản phải là công trình chung của mọi thành viên trong xã hội đòi hỏi phải có nhiều thiết chế đi kèm và hơn nữa phải tìm cách lan tỏa tới toàn xã hội. Chẳng hạn các quỹ lương hưu của xã hội cũng tham gia vào hoạt động sinh lãi. Người ta phải sản xuất ra những tiền ảo từ những đồng tiền có nguồn gốc thật, trong đó có sự tham gia của ngân sách nhà nước, tiền tiết kiệm của các công dân, các nguồn lợi nhuận từ các hoạt động kinh tế. Việc tạo tiền ảo từ những khoản tiền có nguồn gốc thật mới làm cho những số lượng tư bản khổng lồ thâm nhập vào xã hội, và thường xuyên sản xuất ra được lượng tiền mới khi có những phát triển mới trong đời sống kinh tế xã hội trong nước hay ngoài nước. Người ta sẽ sáng tạo ra những lý thuyết mới để giải thích cho công chúng về những vấn đề gì nổi lên, về những hiện tượng mới, và tạo nên những lẽ phải thông thường mới để cho các nhà kinh tế vận dụng.

Cùng một đồng USD nhưng trong tay những người khác nhau thì có khả năng biến thành tư bản có đẳng cấp khác nhau. Khả năng biến thành tư bản đẳng cấp nào của đồng tiền ảo do mỗi chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô thể hiện sức mạnh kinh tế thực sự của chủ thể đó. Ngay chính đồng tiền USD thật do mỗi quốc gia sở hữu cũng chỉ có khả năng biến thành tư bản có đẳng cấp khác nhau. Đồng USD do Trung Quốc sở hữu không có khả năng tiếp cận được các loại tư bản đẳng cấp cao có công nghệ cao, công nghệ nguồn của các nước phát triển phương Tây. Những giới hạn về đẳng cấp tư bản của mỗi chủ thể giới hạn số lượng tiền ảo được tạo ra. Vượt quá số lượng đó sẽ bộc lộ ngay thực chất rửa tiền, làm tiền giả, và sẽ gánh chịu sự mất niềm tin của công chúng trong nước khiến lạm phát gia tăng, thậm chí tăng vọt, khiến cho đất nước rơi vào các cuộc khủng hoảng xấu thật sự, đồng thời, và sẽ chịu sự trừng phạt, tẩy chay của cộng đồng quốc tế. Vượt quá số lượng đó là sự tự sát về chính trị. Phòng chống rửa tiền về thực chất là việc chống lại các hành vi tạo ra tiền ảo của những nước giầu đối với các nước khác nhằm giữ số lượng ở mức có thể kiểm soát được, nhằm ngăn cản việc các đồng tiền đó biến thành tư bản đẳng cấp cao hơn so với khả năng tạo nên các đẳng cấp tư bản của chủ thể tạo ra chúng.

Tư bản xã hội là các loại tư bản không thuộc sở hữu tư nhân. Nó gồm một loạt tư bản có trình độ khác nhau, từ tư bản của một nhóm người, của công ty, của các tổ chức, của nhà nước và hiện giờ là tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Tư bản xã hội có một đẳng cấp mới, cao hơn tư bản nhà nước, đó là tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là tư bản có trình độ xã hội cao hơn trình độ tư bản nhà nước vì nó có tầm vượt ra khỏi quốc gi mà vươn lên tầm quốc tế, thậm chí toàn cầu. Các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có các trình độ khác nhau. Tư bản của thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của mỗi nước có những đẳng cấp khác nhau, có loại tư bản chỉ có tác động cục bộ, song có loại tư bản có tác động toàn cầu như tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô Mỹ.

Lộ trình tư bản vĩ mô khác với lộ trình tư bản vi mô, và lộ trình tư bản siêu vĩ mô khác với lộ trình tư bản vĩ mô, khác với lộ trình tư bản vi mô.

Tư bản vĩ mô do nhà nước và các thiết chế chịu sự chi phối của nhà nước, như các tổ chức, doanh nghiệp có phần nào thuộc sở hữu của nhà nước, tạo nên. Tư bản siêu vĩ mô do chủ thể điều hành siêu vĩ mô, như các tổ chức, doanh nghiệp tạo nên. Tư bản vĩ mô tạo ra được các kết hợp với những doanh nghiệp trong một nước lại với nhau, tư bản siêu vĩ mô tạo ra được các kết hợp với nhiều doanh nghiệp trong nước và ngoài nước lại với nhau.

Thời Marx là thời của xuất khẩu hàng hóa, thời của Lenin là thời của xuất khẩu tư bản, một dạng tạo phẩm phi vật thể. Đặc trưng của tư bản trong thời đại hiện nay là sản xuất ra tiền ảo, xuất khẩu tiền ảo và biến tiền ảo thành tư bản ở nhiều nước khác nhau. Việc biến tiền ảo thành tư bản đẳng cấp cao làm cho quy mô của sản xuất tiền ảo có thể mở rộng mãi.

Quyền lực chính trị của một cá nhân, dù cho cá nhân đó có quyền lực tuyệt đối, bị giới hạn bởi sự sống của cá nhân đó trên trái đất, còn cá nhân đó có cái chết tự nhiên hay phi tự nhiên thì là chuyện khác. Nhưng tư bản thì lại không thế. Tư bản là quyền lực xã hội có thể tích lũy được qua thời gian.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần V


2/ Đặc điểm mới của tư bản

a/ Tiền ảo

Trước tác động của cuộc Đại khủng hoảng cuối những năm 1920, đầu những năm 1930 ở thế kỷ trước trong thế giới tư bản chủ nghĩa, John Maynard Keynes có ý tưởng mang tính cách tân rằng để cứu tư bản, chính phủ cần tiêu số tiền mà mình không có, tức là chính phủ phải tạo ra tiền mới, phải bội chi ngân sách. Ý tưởng của Keynes đã được thực hiện và đem lại thành công to lớn, đặc biệt là ở Mỹ trong những năm Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Lúc đó sức tiêu thụ của nước Mỹ tăng gần gấp đôi, thất nghiệp giảm từ hơn 17% xuống chỉ còn 1%. Những năm sau chiến tranh, kéo dài cho tới những năm 1970, học thuyết của Keynes được áp dụng phổ biến trong thế giới tư bản, thậm chí tổng thống Mỹ Richard Nixon đã nói “Lúc này tất cả chúng ta đều đi theo Keynes”. Nhưng tình hình đã đổi thay. Hiện nay Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đặt ra điều kiện mới đối với các nước thế giới thứ ba như tăng thuế và giảm chi tiêu, các nước tham gia đồng tiền chung châu Âu phải tuân thủ ngân sách khắc khổ, và các tổng thống Mỹ muốn bội thu ngân sách. Tại sao lại như vậy? Chẳng lẽ ý tưởng của Keynes đã hết thời rồi hay sao?

Không, ý tưởng của Keynes đã được phát triển đến một trình độ mới vì các trùm tư bản không chỉ dừng lại ở việc dùng nhà nước để tiến hành các hoạt động tạo ra tiền để cứu tư bản. Từ ý tưởng của Keynes, tổ chức bí mật của các trùm tư bản của một nước, tức chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của nước đó, đã trực tiếp tự tạo cho mình tiền để cứu tư bản, không cần qua trung gian là nhà nước nữa. Biến các thứ ảo thành giá trị thật là điều mà một nhà tư bản đơn lẻ không làm được nhưng tập thể các nhà tư bản lại làm được. Từ đó các trung tâm tài chính hải ngoại được lập nên khắp thế giới, và đóng vai trò trọng yếu trong việc tạo ra tiền của các trùm tư bản, tạo ra tư bản mới của các trùm tư bản, không những tạo ra được tiền của nước mình mà còn tạo ra được tiền của nước khác. Tiền ảo là tiền không có thật nhưng có giá trị như tiền thật trong nhiều mối quan hệ như là dùng để thanh toán.

Đặc điểm quan trọng nhất của chủ nghĩa tư bản hiện đại là sản xuất ra được tiền ảo, biến tiền ảo thành tư bản và sản xuất ra các hình thái tư bản mới có đẳng cấp cao hơn. Tư bản có nhiều loại, mỗi loại có nhiều nhánh và mỗi nhánh có những đẳng cấp khác nhau. Tư bản hậu công nghiệp có sự lan tỏa theo số nhân, tạo nên phản ứng dây chuyền tư bản.

Việc sản xuất ra tiền ảo của nhà nước, dù là bí mật quốc gia, nhưng không được nhiều, và không thể đổ số tiền đó vào các doanh nghiệp nhiều đến mức làm thay đổi hẳn cục diện phát triển đất nước. Một nước không những sản xuất ra tiền ảo của mình mà còn sản xuất ra tiền ảo của những nước khác. Và rất nhiều nước khác cũng làm vậy nên cuộc chiến tranh tiền tệ ngấm ngầm đang tăng trưởng mạnh mẽ. Cùng với sự suản xất ra tiền ảo là sự bảo vệ giá trị của đồng tiền thật. Điều này làm được bằng việc sản xuất ra những loại tư bản mới cho xã hội.

Vì trong xã hội có số lượng lớn tiền ảo nên ở những phát triển xảy ra trường hợp người lao động không muốn làm những công việc nặng nhọc, bẩn thỉu, lương thấp. Nước Mỹ thừa tiền để khắc phục hậu quả của cả chục cơn bão Katrina năm 2005. Nước Mỹ thừa tiền để tiến hành nhiều cuộc chiến tranh như ở Iraq song không đủ quân để thực hiện mà thôi. Vấn đề là phải có “lý do chính đáng” để tiêu được số tiền ảo được sản xuất ra. Bỏ ra tiền ảo mà thu về được tư bản, thu về được tài sản thì đó là hiệu quả. Các nước đang phát triển là nơi mà việc biến tiền ảo thành tư bản sản xuất ra hàng hóa vật thể trở nên phổ biến nhất.

Việc sử dụng phần tiền ảo mà nhà nước tạo ra, phần bội chi ngân sách, rót vào các doanh nghiệp nhà nước đã đem lại tính không hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước. Vấn đề là cách bơm tiền ảo cho doanh nghiệp như thế nào để đem lại sự sống động cho doanh nghiệp, sự sống động cho nền kinh tế. Khi mở ra cho một xã hội bình diện hoạt động mới thì tạo ra cho xã hội đó hàng loạt nhu cầu mới. Đó là cơ sở cho sự gia tăng về tiền trong xã hội, tạo ra một xung lực mới làm xã hội năng động hơn.

Một khi đã tạo nên được nền tảng hay các quan hệ xã hội mới thì hoàn toàn có khả năng sản xuất ra các loại tiền ảo. Những loại tiền ảo này có số lượng tùy thuộc vào sự lan tỏa. Việc sản xuất ra tiền ảo đã phá vỡ mối quan hệ cổ điển về tiết kiệm và đầu tư. Một nước mà nền thương mại liên tục nhập siêu vẫn phát triển mạnh như nước Mỹ. Một nước không quan tâm tới việc thu hút tiền gửi tiết kiệm như Nhật Bản với lãi suất tiền gửi tiết kiệm bằng 0 lại là nước vươn lên đứng hàng thứ hai về kinh tế trên thế giới. Việc sản xuất ra tiền ảo làm mất tác dụng của các công cụ điều hành kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, mà điển hình là các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ liên tục xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới.

Sản xuất ra tiền ảo làm lan tỏa nhanh chóng các loại tư bản, phát huy năng lực của nguồn nhân lực, tập trung phát triển khả năng sáng tạo của xã hội. Tiền ảo góp phần sáng tạo ra các loại tư bản mới vì nó chấp nhận những rủi ro lớn. Tiền ảo là phương tiện để rút ngắn được sự hình thành các tập đoàn khổng lồ mới, sao chuyển giá trị các loại tư bản “xế chiều” sang các loại tư bản mới. Tiền tệ là thước đó xã hội về giá trị các kết hợp đã được tạo ra, và hiện giờ là sẽ được tạo ra, sẽ được giải phóng. Vì thế sản xuất ra tiền ảo có cơ sở thực tiễn.

Tiền ảo do chủ thể thuộc tầm cấp cao tạo ra thì sản xuất được các tạo phẩm thuộc tầm cấp ấy, cả về mặt vật thể lẫn phi vật thể. Nhà nước chỉ giữ lại những lĩnh vực sản xuất ra các tạo phẩm vĩ mô mà có thể bơm vào tiền ảo do nhà nước tạo ra. Nhưng hiện giờ chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có thể làm được việc đó. Tùy từng xã hội mà thiết lập được cái gì đó cho thích hợp giữa vĩ mô và siêu vĩ mô. Mọi tạo phẩm vĩ mô do nhà nước sản xuất ra đều được trả tiền, đều được thanh toán. Những tạo phẩm siêu vĩ mô do chủ thể sản xuất ra cũng được trả tiền.

b/ Các hình thái mới của tư bản hiện đại

Tư bản của thời đại Marx là tư bản vi mô, sang thời Lenin tư bản đã phát triển lên trình độ mới là tư bản vĩ mô. Thời đại ngày nay, tư bản phát triển lên trình độ mới là tư bản siêu vĩ mô. Vai trò của thời gian trong giá trị thặng dư vĩ mô khác với vai trò của thời gian trong giá trị thặng dư vi mô. Vai trò của thời gian trong giá trị thặng dư siêu vĩ mô khác với vai trò thời gian trong giá trị thặng dư vĩ mô và giá trị thặng dư vi mô.

Động thái của tư bản vĩ mô khác với động thái của tư bản vi mô, động thái của tư bản siêu vĩ mô khác với động thái của tư bản vĩ mô và vi mô. Keynes đã nêu ra động thái của tư bản vĩ mô.

Tư bản là tạo phẩm phi vật thể xã hội tạo nên các kết hợp đa dạng. Tư bản là sự gia tăng về thặng dư kết hợp mới của xã hội ở những tầng mức khác nhau. Những thặng dư kết hợp đặc biệt gia tăng sức mạnh của nó, đưa nó vào vòng ảnh hưởng mới.

Tư bản có nhiều nhánh gắn với các lĩnh vực cụ thể, và trong mỗi nhánh có những đẳng cấp cao thấp khác nhau. Khi sở hữu có bước thay đổi thì tư bản có yếu tố mới là tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, ngoài tư bản của chủ thể điều hành kinh tế vĩ mô, tức là tư bản nhà nước, và tư bản của chủ thể điều hành kinh tế vi mô, tức tư bản của các doanh nghiệp, của các tổ chức và tư bản của cá nhân. Tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô này sử dụng các nguồn nhân lực đặc biệt, các tổ chức đặc biệt, và tạo ra giá trị thặng dư riêng của nó, mang lại điều hành kinh tế siêu vĩ mô. Tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô làm được những việc gì? Chúng chi phối các loại tư bản khác ra sao, và chúng trở thành công cụ trong tay một nhóm người hay là thực sự của xã hội?

Vấn đề đặt ra là khi có những vấn đề tạo ra các tư bản mới, hay thích ứng với những tư bản mới thì có những thiết chế xã hội nào đảm nhận việc đó trong một nước. Công việc đó sẽ được tiến hành như thế nào? Đó là điều không nhà nước nào làm được vì nhà nước chỉ là một công cụ của xã hội chỉ có thể làm được những loại việc nhất định mà thôi.

Tư bản của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô là tư bản xã hội đẳng cấp cao hơn tư bản nhà nước và chèn ép các loại tư bản không thuộc sự điều phối của nó, bắt chúng phụ thuộc vào mình.

Có nhiều loại tư bản ra đời và đang trong quá trình khẳng định mình trong tương lai vì thế hoàn toàn có chuyện là ứng trước các giá trị của tư bản đó. Bằng cách nào? Bằng các trung tâm tài chính hải ngoại liên kết với mạng lưới các doanh nghiệp trong nước, dưới sự điều phối chung.

Tư bản là một tảo phẩm phi vật thể xã hội đem lại sức mạnh để tập hợp người ta, tạo nên được các tạo phẩm phi vật thể mà thiên nhiên không hề có. Tư bản có sức mạnh thúc đẩy sự gia tăng những tạo phẩm vật thể và phi vật thể mà thiên nhiên không hề có, mở ra những hình thái mới để sự gia tăng đó có hiệu quả. Tư bản tạo nên sự gắn kết xã hội mới trên bình diện ngày càng rộng lớn giữa các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức và các thiết chế xã hội với nhau. Nó tạo ra những dạng phi vật thể để thực hiện sự gắn kết đó, duy trì sự gắn kết theo thời gian và tái tạo sự gắn kết đó, tạo nên được những gắn kết mới. Do đồng thời làm được nhiều việc như vậy nên nó cần phải phát triển lên những hình thái mới. Tư bản là loại tạo phẩm phi vật thể gắn được vào các tạo phẩm phi vật thể khác và nắm quyền chi phối, điều khiển các loại tư bản khác thuộc đẳng cấp thấp hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.