“Hiệu ứng mạng” và sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – Phần cuối


Quan tâm đến cộng đồng thành viên eBay

eBay có một hệ thống đào tạo riêng, tổ chức các lớp học trực tuyến dạy về cách bán hàng trên eBay. Hệ thống thanh toán PayPal của họ cho phép người mua thực hiện thanh toán với những người bán không có tài khoản thẻ tín dụng. eBay còn tạo ra một mô hình quản lý mới trong thời đại Internet khi thông qua trang web, các thành viên của eBay có thể truy cập 24h/ngày để tìm hiểu về tất cả các xu hướng, xem xét tất cả các thương vụ và tìm hiểu về mức độ tín nhiệm của những người tham gia “nền kinh tế eBay”. Đây là một hệ thống hoàn toàn rõ ràng, vận hành theo các nguyên tắc rất minh bạch. Do có thể đánh giá lẫn nhau qua mỗi giao dịch thực hiện, cả người mua và người bán đều cố gắng xây dựng danh tiếng và tìm cách duy trì danh tiếng đã tạo dựng. Song song với đó, họ cũng thống nhất các chuẩn mực cư xử trong hoạt động mua bán đấu giá, tuân theo các quy tắc do eBay đề ra. Nguyên tắc hoạt động có quy củ này, đến lượt nó, lại tạo được sức hấp dẫn đối với những người sử dụng mới, thúc đẩy “hiệu ứng mạng” của eBay ngày càng phát triển hơn.

Như vậy, từ một ý tưởng không mới là tạo ra một trang web bán hàng bình thường, người sáng lập eBay Pierre Omidyar đã chuyển sang một hướng đi hoàn toàn mới, trở thành người  đi tiên phong trên thị trường khi tạo ra một chợ ảo đầu tiên trên mạng Internet để người mua và người bán có thể gặp gỡ, trao đổi hàng hóa với nhau. Chiến lược này đã mang lại thành công cho Omidyar, khiến cho eBay trở thành một trong những thương hiệu nổi tiếng nhất toàn cầu với giá trị thương mại lớn.

b/ Kinh nghiệm của Công ty Groupon (www.groupon.com)

Groupon là mạng mua sắm bắt nguồn tại Mỹ, có nền tảng ban đầu là trang web www.thePoint.com do Andrew Mason thành lập. ThePoint hoạt động dựa trên nguyên lý khi có một số lượng đủ lớn người quan tâm đến một sự kiện nào đó thì sự kiện đó sẽ được thực hiện. Ví dụ: xem phim, chơi nhạc, đi du lịch… ThePoint hoạt động được 18 tháng, thu hút được một lượng người sử dụng tương đối lớn, nhưng doanh thu từ quảng cáo vẫn không khả quan. Năm 2008, Andrew Mason đã tìm ra hướng đi mới cho công ty là việc xây dựng một website cho phép các doanh nghiệp quảng bá bán các sản phẩm/dịch vụ cho một nhóm người cùng mua tại một thời điểm với giá thấp hơn giá trên thị trường nhiều lần. Sau đó Andrew Mason đổi tên site thành www.groupon.com để chính thức tập trung hoàn toàn vào hoạt động này. Groupon vốn được ghép từ “Group” (nhóm khách hàng) và “Coupon” (phiếu mua hàng) phục vụ việc mua hàng giá rẻ trên mạng. Khẩu hiệu của công ty là: “Collective buying power” (Sức mạnh của việc cùng mua).

Các mặt hàng trên Groupon được khuyến mãi từ 30% đến 90% giá trị trong một thời gian nhất định. Tuy nhiên, đây là mô hình mua giảm giá theo số đông nên khách hàng chỉ mua được sản phẩm giảm giá khi có một lượng người cùng tham gia. Ví dụ như sản phẩm A giá 100.000 đồng nhưng coupon bán trên mạng chỉ có giá 20.000 đồng. Khách hàng mua trực tuyến coupon này để mua sản phẩm A tại các cửa hàng với giá 20.000 đồng, tiết kiệm được 80.000 đồng với điều kiện phải có 50 người cùng mua coupon này trong khoảng thời gian 24 giờ.

Đây thực chất là mô hình kinh doanh win-win-win, cả ba bên tham gia là doanh nghiệp bán sản phẩm, trang mạng bán hàng trực tuyến và người tiêu dùng đều có lợi. Đầu tiên doanh nghiệp sẽ đưa lên website Groupon các sản phẩm giảm giá. Khi có lượng người mua coupon đủ lớn thì giao dịch này mới có hiệu lực, nếu không website sẽ trả lại tiền cho khách hàng. Lợi ích mà ba bên tham gia thu được như sau:

+ Khách hàng được lợi khi mua hàng, nhiều khi được giảm đến 90% so với mức giá phổ biến trên thị trường.

+ Doanh nghiệp không gặp rủi ro vì không phải trả tiền đăng quảng cáo trên website mà vẫn tiếp cận được trực tiếp với khách hàng mục tiêu của mình. Ngoài ra, Groupon còn đem đến giải pháp hiệu quả đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ngân sách cho quảng cáo và marketing eo hẹp. Nếu một website Groupon có 100.000 thành viên thì thông tin của doanh nghiệp sẽ được gửi miễn phí hàng ngày tới tất cả thành viên này. Tính phí quảng cáo khoảng 100 đồng một người thì mỗi ngày doanh nghiệp đã tiết kiệm được 10 triệu đồng. Hoặc doanh nghiệp có cơ hội giải phóng hàng tồn kho/hàng trong mùa thấp điểm với thời gian ngắn.

+ Còn các website Groupon cũng thu được lợi nhuận từ quảng cáo online, chiết khấu của các công ty bán hàng giảm giá trên mạng. Ví dụ, nếu công ty bán hàng giảm giá đưa ra mức chiết khấu 60% cho khách hàng thông thường, công ty sẽ phải chia sẻ 5% mức chiết khấu này cho website Groupon. Tóm lại Groupon thu số tiền nhỏ trên lượng khách hàng lớn. Số tiền tính trên mỗi khách hàng là nhỏ, nhưng tính trên tổng số khách mua hàng thì sẽ là lớn.

Như vậy, “hiệu ứng mạng” mà Groupon tạo ra trước tiên là cho những người mua hàng. Nếu như điều kiện của nhà cung cấp là coupon chỉ có hiệu lực khi có 200 người mua nhưng thực tế chỉ có 10 người đăng ký mua thì coupon giảm giá tới 90% này sẽ không có hiệu lực. Do đó, càng có nhiều người đăng ký tham gia mua thì việc bảo đảm được mua hàng với cơ hội giảm giá tới 90% của người mua sẽ càng tăng lên. Nói khác đi, cứ thêm một người đăng ký mua thì lợi ích của những người đã ở sẵn trong mạng lưới sẽ lại tăng thêm. Đây là “hiệu ứng mạng” trực tiếp mà Groupon đã tạo ra cho nhóm người mua. Không những thế, Groupon còn tạo ra “hiệu ứng mạng” trực tiếp cho các công ty bán hàng. Cũng như trường hợp của eBay, khi người mua thấy rằng mua hàng trên Groupon mang lại nhiều lợi ích, họ sẽ tích cực tham gia hơn. Điều này thu hút những công ty khác cũng muốn bán hàng trên Groupon. Khi hàng hóa trên Groupon trở nên đa dạng, phong phú, nó sẽ thu hút thêm nhiều người mua khác, khiến cho việc bán hàng và quảng cáo thương hiệu trên Groupon trở nên dễ dang hơn nữa. Khi website có số lượng thành viên hiều và đều đặn, lợi nhuận của webiste cũng tăng lên qua doanh thu quảng cáo và chiết khấu của các công ty bán hàng giảm giá.

Chính vì mô hình win-win-win, cả 3 bên tham gia đều được lợi nên website www.groupon.com đã rất thành công trên thị trường dù mới tồn tại chưa đầy 3 năm. Chỉ sau 7 tháng thành lập, Groupon đã có lãi, thu nhập năm 2009 là 100 triệu USD, thu nhập tiêu thụ năm 2010 là 760 triệu USD. Ngày 19/4/2010, sau khi nhận được 135 triệu USD đầu tư từ DST (Digital Sky Technologies), giá trị của Groupon đã đạt mức kỷ lục 1,35 tỷ USD trong khi các công ty khác như Twitter cần đến 3 năm, Facebook cần đến 2 năm mới có thể đạt được giá trị 1 tỷ USD. Đây là công ty có giá trị 1 tỷ USD nhanh nhất thế giới kể từ khi thành lập. Tháng 12/2010, Groupon đã từ chối lời mời mua lại với giá 6 tỷ USD của tập đoàn Google. Tháng 01/2011, Groupon đã huy động được 950 triệu USD vốn đầu tư từ các nhà đầu tư như T. Rowe Price, Fidelity Investments và Morgan Stanley. Hiện nay, Groupon đang chuẩn bị cho quá trình chào bán cổ phiếu ra công chúng lần đầu (IPO) với giá trị vốn hóa của công ty dự tính khoảng 15 tỷ USD. Từ con số 2 triệu thành viên ban đầu, hiện nay, Groupon đã thu hút được 50 triệu người tham gia trên khắp toàn cầu.

Vậy, tại sao Groupon có thể thành công như vậy? Groupon đã áp dụng “hiệu ứng mạng” rất thành công qua chiến lược “Giảm giá lớn” và “Xây dựng mạng lưới riêng”. Cụ thể như sau:

Bán hàng siêu giảm giá, giảm từ 50% – 90% giá trị

Việc bán hàng với mức chiết khấu rất lớn như ở Groupon chưa từng được áp dụng ở nơi nào khác. Kinh tế thế giới đang lâm vào khủng hoảng, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng năm 2008 – 2009, thu nhập của người tiêu dùng bị thu hẹp lại, chi tiêu bị cắt giảm, do đó, giá cả hiện là mối quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng. Theo luật cầu trong lý thuyết kinh tế học của Alfred Marshall thì giá giảm, cầu sẽ tăng, muốn người tiêu dùng tăng tiêu dùng, phương pháp hiệu quả nhất là giảm giá.

Không những thế, Group đã biết chọn lựa mặt hàng, chỉ đưa ra các mặt hàng phù hợp nhu cầu và nhà cung cấp ở gần người mua. Nói khác đi, Groupon không bán những mặt hàng quá xa xỉ mà tập trung vào những mặt hàng có giá trị sử dụng cao, thiết thực trong đời sống hàng ngày như đồ dùng gia đình, dịch vụ nhà hàng, du lịch, giải trí cấp trung. Tuy vậy, tất cả những mặt hàng này đều được bảo đảm có chất lượng tốt, đúng như quảng cáo.

Hiểu tâm lý người tiêu dùng

Groupon đã rất thấu hiểu tâm lý người tiêu dùng trong việc bán hàng siêu giảm giá hay còn gọi là siêu khuyến mãi. Người tiêu dùng không chỉ mua những hàng hóa thiết yếu với họ, không chỉ mua những hàng hóa họ cần mua mà trong nhiều trường hợp, họ quyết định mua vì sự mời chào hấp dẫn từ phía người bán hàng. Đây được gọi là tâm lý thích khuyến mãi: rất nhiều người mua khi có khuyến mãi, ngay cả khi họ không có nhu cầu thực sự với mặt hàng đó và mua xong cũng không sử dụng. Ngoài ra, người tiêu dùng còn có tâm lý đám đông, nếu như có nhiều người đã mua hàng trước mình thì mình có thể yên tâm vê hàng hóa đó và mình sẽ mua hàng hóa đó, hùa theo đám đông. Tâm lý đám đông là nhân tố vô cùng thuận tiện cho sự xuất hiện của “hiệu ứng mạng”.

Tạo ra sự hấp dẫn

Chất lượng hàng tốt, giá thấp chưa hẳn đã bảo đảm hãng sẽ thu hút được nhiều khách hàng. Sự thành công của Groupon có sự đóng góp của một nhân tố rất quan trọng là sự hấp dẫn trong từng mặt hàng được chào báo trên website. Trước tiên, để thu hút người tiêu dùng, người sử dụng Internet, Groupon rất quan tâm tới nội dung của lời quảng cáo. Hãng có tới 70 người có nhiệm vụ chuyên viết ra những nội dung hấp dẫn để thu hút người mua.

Không những thế, việc tham gia mua từng món hàng cũng có những sự hấp dẫn riêng khi Groupon chủ động tạo ra thời gian mua rất ngắn, thông thường là 2 – 3 ngày, nhưng với nhiều mặt hàng đang được quan tâm trên thị trường, thời gian tham gia thường ít hơn 24 giờ. Thời gian ngắn buộc người tiêu dùng phải quyết định nhanh để tên mình được vào trong nhóm giới hạn số lượng mua, nếu không sẽ không mua được hàng.

Tóm lại, sự thành công của eBay, Groupon hay Microsoft, Apple, Matsushita… khi áp dụng “hiệu ứng mạng” đều bắt nguồn từ những điểm chung như: sự thuận lợi của môi trường kinh doanh, chiến lược phát triển cảu doanh nghiệp, đặc biệt là chiến lược đầu tư cho nghiên cứu và phát triển mới (R&D), tầm nhìn của người lãnh đạo, trình độ của nhân viên và sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Đây là những kinh nghiệm quý báu cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc lựa chọn chiến lược này nhằm tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh quốc tế gay gắt như hiện nay.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

“Hiệu ứng mạng” và sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – Phần XII


Đối với các doanh nghiệp, đạt được “hiệu ứng mạng” có nghĩa là đã thu được những khoản lợi nhuận lớn hơn rất nhiều lần so với lợi nhuận của các chiến lược kinh doanh khác. “Hiệu ứng mạng” mang lại cho doanh nghiệp doanh số bán hàng tăng theo cấp số nhân. Như ví dụ đã phân tích ở phần đầu của bài, khi doanh nghiệp đã có một mạng lưới khách hàng, việc thu hút những người mới gia nhập thị trường sẽ rất dễ dàng và mỗi cá nhân trong mạng lưới sẽ có nỗ lực, bằng cách này hay cách khác, để thu hút những người tiêu dùng khác nhằm làm tăng lợi ích của mình trong mạng lưới. Doanh số bán hàng tăng liên tục theo cấp số nhân trong khi giá bán ra không đổi sẽ dẫn đến những khoản lợi nhuận tăng dần theo cấp số nhân chứ không còn cấp số cộng như thông thường. Đây chính là lý do mà doanh nghiệp nào cũng muốn đạt được “hiệu ứng mạng” trên thị trường.

Trong một môi trường mà yếu tố cạnh tranh đang ngày càng trở nên gay gắt, các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau không chỉ bằng giá cả và chất lượng mà còn tính đến các nhân tố phương thức thnah toán, phương thức giao hàng, mẫu mã, bao bì…; khi các hình thức cạnh tranh cũng ngày càng phong phú hơn thì doanh nghiệp càng khó khăn hơn bao giờ hết để có thể tồn tại. Trong điều kiện này, “hiệu ứng mạng” được coi là một giải pháp hiệu quả, không những giúp cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường mà còn duy trì được chiến thắng lâu dài nếu biết áp dụng các chiến lược phù hợp.

Nói tóm lại, trong điều kiện cạnh tranh quốc tế hiện nay, khi ý tưởng, thiết kế và công nghệ được đánh giá là yếu tố quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp thì “hiệu ứng mạng” với lợi nhuận tăng dần là một gợi ý tốt giúp cho các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có liên quan đến lĩnh vực công nghệ cao thành công trên thị trường và ngược lại, cạnh tranh quốc tế cũng là môi trường lý tưởng, là động lực để “hiệu ứng mạng” phát triển trong các doanh nghiệp.

3/ Kinh nghiệm áp dụng thành công “hiệu ứng mạng” của một số doanh nghiệp trên thế giới

a/ Kinh nghiệp của Tập đoàn eBay

Tập đoàn eBay được thành lập năm 1995 tại thành phố San Jose, California (Mỹ) bởi một lập trình viên người Mỹ gốc Pháp là Pierre Omidyar. Đầu tiên, Omidyar có định xây dựng một website nhỏ để bán các máy in laser đã qua sử dụng. Nhưng một người có nhu cầu đã đặt mua một lúc 15 chiếc máy ngay trên website và Omydiar đã biết www.ebay.com thành một trang buôn bán, đấu giá chuyên nghiệp. Xuất phát điểm chỉ là một chỗ hẹn mua/bán các đồ vật mới hoặc cũ trên mạng Internet, eBay đã phát triển với một quy mô lớn hơn ban đầu rất nhiều. Những gì diễn ra cho thấy, eBay đã tạo ra một cách thức kinh doanh hoàn toàn đặc thù, chưa từng tồn tại trước đó.

Nguyên lý hoạt động cơ bản của eBay là những người cần bán một món hàng sẽ đăng món hàng đó lên eBay, mời chào người mua đấu giá trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ: 1 tuần, 1 tháng…). Người mua được hàng sẽ là người chấp nhận trả giá cao nhất cho món hàng. Như vậy, càng có nhiều người mua tham gia đấu giá thì cuộc đấu giá càng sôi động, người bán càng thu được lợi, hàng bán được với giá cao, đôi khi là cao hơn giá kỳ vọng rất nhiều lần. Việc này sẽ thu hút những người bán khác thấy được lợi ích của việc bán hàng trên eBay và họ sẽ dần dần giới thiệu hàng hóa của họ trên eBay. Khi có nhiều món hàng được rao bán trên eBay, người mua có thể mua bất ỳ món hàng nào họ cần ở trên đó. Việc này thu hút nhiều người mua đến với eBay khiến việc bán hàng trên eBay trở nên dễ dàng hơn. Những người bán khác thấy được lợi ích của việc bán hàng trên eBay như vậy sẽ lần lượt gia nhập vào “gia đình eBay”, tạo ra thêm lợi ích cho chính bản thân họ và những người bán đã tham gia eBay từ trước. Khi càng có nhiều người mua và người bán gia nhập, giá trị của eBay càng tăng thêm lên theo cấp số nhân. eBay đã tạo ra được “hiệu ứng mạng” cho những người bán và “hiệu ứng mạng” ở đây là “hiệu ứng mạng” trực tiếp. Càng nhiều người sử dụng eBay, hệ thống của họ càng mạnh.

Cứ 4 giây lại có một cuốn sách, 30 giây lại có một chiếc máy tính xách tay và 18 phút có một chiếc xe máy được bán trên eBay. Lợi nhuận của eBay trong năm 2010 khoảng 5,6 tỷ USD và hiện tại, công ty có hơn 10000 nhân viên thường xuyên. Tính trung bình, mỗi năm có khoảng 70 triệu người  từ gần 30 quốc gia tham gia mua bán, đấu giá trên eBay theo các quy định, luật lệ riêng của eBay và con số này còn tăng đều đặn hàng năm. Tổng giá trị hàng hóa mua bán trên eBay đạt hàng chục tỷ USD, vượt quá thu nhập quốc dân của nhiều quốc gia (năm 2009, lượng hàng hóa mua bán qua eBay đạt 34 tỷ USD). Hiện có khoảng 200.000 thương gia coi việc kinh doanh, buôn bán trên eBay là công việc làm ăn chính của họ. Những thương gia này bán đủ thứ, từ những đồ chơi rẻ tiền giá 1 USD đến những viên kim cương giá 250.000 USD. Người ta coi eBay không thuần túy là một trang web thương mại điện tử nữa mà như ý kiến của Meg Witman, Giám đốc điều hành eBay cho rằng “eBay là một nền kinh tế tự điều chỉnh”.

Vậy, tại sao eBay có thể thành công? Kinh nghiệm và bí quyề thành công của eBay khi tạo ra “hiệu ứng mạng eBay” là gì? Có thể nói ngắn gọn, thành công của eBay có được là nhờ chiến lược là người đầu tiên tung sản phẩm ra thị trường và định vị sản phẩm.

Vai trò người trung gian

Trong khi hàng loạt công ty thương mại điện tử khác nghiêng ngả, lao đao, thậm chí phải đóng cửa thì eBay vẫn tiếp tục tăng trưởng không ngừng. Vấn đề là các công ty kia đã dựa quá nhiều vào mô hình doanh nghiệp hữu hình, Amazon xét cho cùng cũng chỉ là một đại lý bán lẻ, Expedia giống như một văn phòng du lịch còn Webvan chẳng khác gì một dịch vụ đưa thực phẩm tận nhà. Tất cả đều đã có từ lâu trước khi Internet ra đời. Không giống như các công ty này, mô hình kinh doanh của eBay thực sự phù hợp với mạng Internet, khi toàn bộ khái niệm của đấu giá thực đã được chuyển một cách cực kỳ hoàn hảo lên môi trường mạng Internet. Một lý do khác giúp eBay vượt lên trên các đối thủ của mình chính là ở mức độ tập trung vốn ít hơn. Họ chỉ đóng vai trò người trung gian kết nối người bán với người mua, song không tham gia trực tiếp và một khâu nào cả.

Amazon phải bỏ công xây dựng nhà kho để chứa tất cả các mặt hàng họ bán, rồi lại còn phải gánh chịu phí vận chuyển sản phẩm tới chỗ khách hàng… Trong khi eBay giao lại công việc cất trữ và vận chuyển cho hai bên mua bán tự thỏa thuận. Đáng nói là khoản  chi phí này có thể đội lên tới hơn 1/3 tổng doanh thu của Amazon.

Yếu tố “vui nhộn”

Nhiều người cảm thấy tham gia đấu giá cũng giống như một hoạt động giải trí, giống như khi người ta đến chợ đồ cũ mua sắm vậy. eBay tạo cho họ có cơ hội đi mua hàng một cách vui vẻ. Đó chính xác là một cái chợ trên mạng Internet, nơi người mua có thể tìm thấy một món đồ họ muốn mua, cả mới lẫn cũ.

eBay cũng có thể là một sự lựa chọn tốt cho những khách hàng có ngân sách không nhiều. Những người truy cập vào đây hầu hết đều biết rõ giá cả của một mặt hàng cụ thể được bày bán trong các cửa hàng hữu hình và họ tới eBay để tìm kiếm hợp đồng mua bán. Với những ai đang phải thi hành chính sách thắt lưng buộc bụng thì eBay chính là nơi hoàn hảo nhất.

Tính cộng đồng

Nhưng vui nhộn không phải là đặc điểm riêng của một nơi đấu giá cụ thể nào, phía sau thành công của eBay còn có nhiều điều hơn thế. Sở dĩ eBay nổi trội hơn các sàn đấu giá khác là do đã xây dựng được cả một cộng đồng. Người mua và người bán có thể dễ dàng giao tiếp, liên hệ hoặc trao đổi ý kiến và đánh giá với nhau. Tính cộng đồng đó đã tạo nên “hiệu ứng mạng”. Càng nhiều người sử dụng eBay, hệ thống của họ càng mạnh. Tất cả những người mua đều đến eBay bởi đó là nơi những người bán đang chờ sẵn, và tất cả những người bán cũng đến đó, bởi eBay chính là điểm hẹn cho người mua.

Bảo đảm an toàn

Một chiến lược đúng đắn khác nữa của eBay là thiết kế trang web có giao diện đơn giản và dễ sử dụng. eBay đã sớm nhận ra một điều là những khách hàng khi sử dụng mạng luôn muốn những trang web họ vào thật nhanh, hiệu quả và được sắp xếp một cách khoa học. Về mặt kỹ thuật, eBay chú trọng bảo đảm độ thông của mạng và khả năng kiểm soát lưu lượng truy cập mà không gặp phải bất cứ khó khăn nào, nên rất hiếm khi dịch vụ bị gián đoạn. eBay đã phải mất nhiều công sức mới có thể tạo được ấn tượng tốt đẹp như hiện nay, và đó chính là một môi trường phát triển vững chắc.

Ngoài ra, eBay đã rất chú trọng đến khâu an ninh và độ tin cậy công việc, tạo dựng niềm tin đối với khách hàng. Họ làm việc cật lực để có thể duy trì các tiêu chuẩn do khách hàng đặt ra, để hạn chế việc lạm dụng hệ thống giao dịch cũng như để loại bỏ những khâu không thích hợp. Nếu như các chính phủ trên thế giới thiết lập các quy định, luật lệ cho nền kinh tế của quốc gia họ thì “nền kinh tế eBay” cũng có những quy định, luật lệ riêng của mình để bảo đảm rằng các doanh nhân khi tham gia vào “nền kinh tế eBay” không thể tùy ý làm mọi thứ họ muốn. eBay còn thiết lập riêng bộ phận Trust and Safety Department kiểm tra trên các website để tìm ra đầu mục niêm yết hàng hóa đáng ngờ rồi phối hợp với các cơ quan hành pháp địa phương truy bắt kẻ lừa đảo. eBay cũng xây dựng một phần mềm có thể phát hiện các dấu hiện và hành vi đáng ngờ tương tự các turờng hợp lừa đảo đã xảy ra trước đó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

“Hiệu ứng mạng” và sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – Phần XI


+ Những điều kiện chủ quan từ phía doanh nghiệp

– Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D)

Một trong những tiêu chí để đo năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là tốc độ tăng trưởng bền vững (tốc độ khá cao, duy trì trong khoảng thời gian dài…). Các doanh nghiệp không chỉ dựa trên lợi thế so sánh tương đối để có được vị thế cạnh tranh toàn cầu tốt, vì các lợi thế về nhân công giá rẻ, nguồn tài nguyên… không còn có tính quyết định khi chúng được lưu chuyển ngày càng dễ dàng và chỉ đem lại lợi thế cạnh tranh tĩnh.

Vậy, điều gì sẽ đem đến năng lực cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp? Theo nhiều tổ chức và nhà nghiên cứu, đó là lợi thế cạnh tranh động, là khả năng luôn cải tiến và đổi mới không ngừng. Điều này khiến cho năng suất tổng hợp của một doanh nghiệp phát triển không ngừng và theo đó là năng lực cạnh tranh động. Yếu tố đưa năng suất của một doanh nghiệp ngày càng cao chính là công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) trong lĩnh vực khoa học công nghệ, quản trị doanh nghiệp cũng như phát triển con người. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) là vô cùng quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. R&D không chỉ mang lại sức cạnh tranh mạnh mẽ cho doanh nghiệp và nền kinh tế của quốc gia đó mà còn tạo ra sự tăng trưởng bền vững. Năm 2007, Nhật Bản đầu tư cho R&D là 3,4% GDP, Hàn Quốc là 3,3%, Mỹ 2,5%, Đức 2,4%, Singapore 1,1%, Trung Quốc đầu tư vào R&D mới chỉ chiếm 1,54% GDP năm 2008 và phấn đấu tăng lên 2,2% trong 5 năm tiếp theo. Theo báo cáo của UNESCO năm 2007, Trung Quốc có 1.423 triệu nhà nghiên cứu, chiếm 19,7% số nhà nghiên cứu trên thế giới. Về nguồn nhân lực dành cho R&D, Trung Quốc theo sát Mỹ và châu Âu với 1070 nhà nghiên cứu trên 1 triệu dân. Tại các nước phát triển, các tập đoàn tư nhân đi đầu cho R&D, số tiền họ chi ra lớn hơn tiền nhà nước chi với tỷ lệ nhà nước 1 – tư nhân 3. Việc nghiên cứu không chỉ ở tại các phòng thí nghiệm mà diễn ra ở cả các quốc gia mà họ có cơ sở sản xuất.

Đầu tư nhiều hơn cho R&D nhằm duy trì sự tồn tại và lợi thế cạnh tranh động trong dài hạn trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế là việc làm thiết yếu của mỗi doanh nghiệp. Nó không chỉ giúp các doanh nghiệp tồn tại trong cạnh tranh quốc tế mà còn là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của “hiệu ứng mạng”.

Trình độ của nguồn nhân lực

Trong các phương pháp tạo ra năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện cạnh tranh quốc tế, thì lợi thế con người được xem là yếu tố căn bản và có tính quyết định. Nguồn lực từ con người là yếu tố bền vững và khó thay đổi nhất trong mọi tổ chức.

Trình độ nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp được hiểu như là khả năng và trình độ của đội ngũ lãnh đạo và nhân viên trong công ty. Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công của công ty trên các khía cạnh khả năng quản lý, khả năng thích ứng với sự thay đổi môi trường kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo, khả năng đổi mới; kỹ năng trong công việc cụ thể; năng suất của đội ngũ nhân viên… Đây là những yếu tố then chốt mang lại sự thành công của các tổ chức. Tuy vậy, không phải tổ chức nào cũng có thể thành công trên hầu hết các khía cạnh của nguồn nhân lực, vì vậy họ thường chọn các trọng tâm phù hợp với tầm nhìn và chiến lược của công ty. Ví dụ có công ty đề cao các yếu tố về năng suất, kỹ năng có tính chuyên nghiệp, có công ty lại đề cao dịch vụ tốt, chất lượng cao, khả năng đổi mới của đội ngũ nhân viên…

Trình độ của nguồn nhân lực sẽ quyết định sự thành công hay thất bại trong các chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp định triển khai bởi lẽ doanh nghiệp có thể đầu tư rất lớn cho hoạt động R&D, người đứng đầu doanh nghiệp có chiến lược phát triển doanh nghiệp phù hợp… nhưng trình độ của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không cao, không đáp ứng được yêu cầu thì chắc chắn các hoạt động này sẽ không thể triển khai hoặc không thể thành công. “Hiệu ứng mạng” muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh quốc tế thì chất lượng của nguồn nhân lực phải được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh những yếu tố thuận lợi do điều kiện khách quan mang lại và nguồn vốn đầu tư cho R&D lớn, doanh nghiệp phải có nguồn nhân lực chất lượng cao để có thể tạo ra những ý tưởng mới và biến những ý tưởng đó thành hiện thực, khiến cho những ý tưởng đó trở thành một chiến lược kinh doanh “hiệu ứng mạng” cụ thể, mang lại lợi nhuận lớn cho doanh nghiệp.

Chiến lược phát triển kinh doanh và lợi thế của doanh nghiệp

Chiến lược kinh doanh là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất kinh doanh, về tài chính và con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lên tầm cao hơn. Nói cách khác chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát mà doanh nghiệp vạch ra nhằm đạt được các mục tiêu trong một thời kỳ nhất định. Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo phương hướng dài hạn, có tính định hướng; được xây dựng, lựa chọn và thực thi dựa trên cơ sở lợi thế so sánh của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình khi xây dựng chiến lược. Trong thực tế chiến lược kinh doanh trước hết và chủ yếu được xây dựng cho các ngành nghề kinh doanh, các lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hóa, truyền thống, có thế mạnh của doanh nghiệp.

Mỗi doanh nghiệp khác nhau lại có một chiến lược phát triển kinh doanh khác nhau. Có doanh nghiệp đặt mục tiêu phải đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, tham gia vào càng nhiều lĩnh vực càng tốt, thậm chí không cần lĩnh vực mũi nhọn; có doanh nghiệp lại đặt ra mục tiêu phải trở thành doanh nghiệp hàng đầu trên thị trường trong lĩnh vực mà hãng chuyên hóa; có doanh nghiệp chỉ đặt ra mục tiêu tồn tại được trên thị trường như cũng có doanh nghiệp luôn mong muốn gạt bỏ hết các đối thủ cạnh tranh, trở thành người mạnh nhất trên thị trường, thu hút được càng nhiều lợi nhuận càng tốt… Tương ứng với mỗi mục tiêu khác nhau sẽ có chiến lược phát triển kinh doanh khác nhau. Nếu mục tiêu của doanh nghiệp chỉ là tồn tại được, có chỗ đứng trên thị trường và chiếm 1/n thị phần của thị trường, hành động của doanh nghiệp sẽ khác so với khi tầm nhìn của doanh nghiệp là phải xây dựng được “hiệu ứng mạng” cho sản phẩm của mình trong ngắn hạn, qua đó thu được nhiều lợi nhuận trong dài hạn, Ở trường hợp thứ hai, doanh nghiệp sẽ phải có các chiến lược kinh doanh phù hợp để đạt được mục tiêu này và các chiến lược kinh doanh sẽ phức tạp, khó khăn hơn trường hợp thứ nhất rất nhiều. Vì vậy, định hướng phát triển trong dài hạn, chiến lược kinh doanh và lợi thế của doanh nghiệp là những điều kiện không thể thiếu trong việc xây dựng và phát triển “hiệu ứng mạng” trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.

d/ Sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” tại các doanh nghiệp

“Hiệu ứng mạng” mang lại những lợi ích rất lớn cho người tiêu dùng. Mỗi người tiêu dùng mới tham gia vào thị trường sẽ làm tăng lợi ích của những người tiêu dùng đang ở sẵn trên thị trường, càng nhiều người tiêu dùng tham gia sử dụng sản phẩm thì lợi ích của mỗi người tiêu dùng trên thị trường đó lại càng tăng lên. Khi lợi ích của mỗi người tiêu dùng tăng lên, sẽ có ngày càng nhiều người khác muốn tham gia vào thị trường. Điều này lại làm tăng hơn nữa lợi ích của những người đã tham gia từ trước và cả của những người vừa mới tham gia thị trường. Khi số lượng khách hàng tăng lên theo cấp số nhân, lợi nhuận của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên theo cấp số nhân. Bên cạnh phần mềm máy tính, một số lĩnh vực khác cũng áp dụng chiến lược này rất thành công như các công ty trong lĩnh vực dotcom (thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến nhiều người chơi), dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ viễn thông di động…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

“Hiệu ứng mạng” và sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – Phần X


Cách mạng khoa học và công nghệ bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, mở đầu tại nước Mỹ, khi quốc gia này muốn khôi phục vị trí bá chủ thế giới của mình không phải qua công nghiệp mà qua công nghệ cao. Mỹ đã sẵn sàng cho cuộc cách mạng khoa học công nghệ; nền kinh tế thế giới chuyển từ thời kỳ tự động hóa sang thời kỳ công nghệ cao. Đây chính là thời điểm hình thành và phát triển các ngành mũi nhọn như: công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ…

Trong đó, ngành chiếm vị trí đặc biệt quan trọng đóng vai trò cốt lõi của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại là công nghệ cao, công nghệ thông tin, phản ánh giai đoạn mới về chất của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ là thành phần chủ yếu trong sản phẩm. Trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, máy móc có thể thay thế một phần trí tuệ con người, làm cho tốc độ tư duy và năng lực tư duy phức tạp mở rộng. Công nghệ thông tin bao gồm cả phần cứng như chế tạo các vi mạch điện tử, máy vi tính, mạng máy tính… và các phần mềm hệ thống, phần mềm ứng dụng. Ngoài ra, phải kể đến các loại thiết bị viễn thông, điện tử công nghiệp, điện tử tiêu dùng, điện tử y tế, điện tử quốc phòng… đều là những bộ phận quan trọng của công nghệ thông tin. Nền kinh tế mới được trang bị lại chủ yếu nhờ áp dụng công nghệ thông tin, tạo ra các bộ não – thần kinh để tích hợp ngày càng rộng hơn trong toàn bộ nền kinh tế.

Sự phát triển của cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc xây dựng và phát triển “hiệu ứng mạng” của doanh nghiệp. Về mặt lý thuyết, cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, thông tin liên lạc và hệ thống thủy lợi. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu về “hiệu ứng mạng”, cơ sở hạ tầng sẽ chỉ được hiểu là hệ thống thông tin liên lạc. “Hiệu ứng mạng” được áp dụng tốt nhất trong những ngành có ứng dụng công nghệ cao như viễn thông, thương mại điện tử (e-commerce), ngân hàng điện tử (e-bangking)… Ở những ngành này, các tiện ích được ứng dụng phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống thông tin liên lạc như điện thoại, Internet, fax, các phần mềm giao tiếp chuyên môn… Nếu không có hệ thống thông tin liên lạc, những tiện ích trong các ngành này sẽ không thể phát huy giá trị sử dụng, do đó không thể xây dựng “hiệu ứng mạng” được. Vì vậy, hệ thống thông tin liên lạc có mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của “hiệu ứng mạng” trong các ngành công nghệ cao. Việc đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng qua hệ thống thông tin liên lạc là việc làm tất yếu để xây dựng và phát triển “hiệu ứng mạng”.

Thu nhập bình quân đầu người

Đây cũng là một trong những điều kiện hết sức quan trọng cho sự hình thành và phát triển của “hiệu ứng mạng”. “Hiệu ứng mạng” trước hết phát sinh từ người tiêu dùng. Theo Alfred Marshall, “cầu” (demand) là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ người tiêu dùng có khả năng và mong muốn mua tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định với giả định các nhân tố khác không đổi. Như vậy, để người tiêu dùng mua được hàng hóa trên thị trường thì một trong hai nhân tố không thể thiếu được là người tiêu dùng phải “có khả năng mua”, tức có đủ tiền để mua hàng hóa đó. Yếu tố “có khả năng mua” này được lượng hóa bằng chỉ số thu nhập bình quân đầu người (GDP/người hoặc GNI/người).

Thu nhập bình quân đầu người của thế giới đã tăng lên đáng kể qua các năm. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới, GDP/người và GNI/người của thế giới đã tăng lên nhiều lần qua các năm.

 

Hình 1.7

 

Xu hướng chung của cả hai đồ thị là sự tăng dần đều và tăng với tốc độ lớn. Duy nhất có năm 2008, đà tăng này bị chặn lại do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009, nhưng sau đó đà tăng lại được thiết lập lại với tốc độ tăng trưởng cao. GDP bình quân đầu người của thế giới từ năm 1960 đến năm 2010 tăng xấp xỉ 18 lần, trong khi đó GNI bình quân đầu người từ năm 1980 đến năm 2010 cũng tăng xấp xỉ 5 lần. Khi thu nhập tăng, người tiêu dùng trở nên “giàu” hơn, nhân tố “khả năng mua” sẽ được đáp ứng, bảo đảm cho người tiêu dùng mua được hàng hóa và dịch vụ mà anh ta muốn mua, nhờ doanh nghiệp bảo đảm được thành công của chiến lược “hiệu ứng mạng”. Đây cũng là lý do mà các doanh nghiệp thường thích đầu tư vào các thị trường có thu nhập bình quân đầu người cao, đồng nghĩa với sự sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng cao hơn, hơn là đầu tư vào các thị trường có mức thu nhập bình quân đầu người thấp.

Sự phát triển của đầu tư mạo hiểm (Venture Investment)

Để biến một ý tưởng kinh doanh thành hiện thực, một trong những điều kiện quan trọng nhất cần phải có là nền tảng tài chính hay còn gọi là vốn. Với các doanh nghiệp lớn, việc huy động vốn để triển khai một ý tưởng có thể được thực hiện bằng nhiều cách như: vốn của bản thân doanh nghiệp, vốn huy động từ hoạt động phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc vốn vay được từ các tổ chức trung gian tài chính… Tuy nhiên, với các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp mới hình thành, những phương pháp huy động vốn ở trên không khả thi. Vì mới thành lập, các doanh nghiệp này không thể phát hành cổ phiếu hay trái phiếu ra công chúng, cũng không thể vay từ các trung gian tài chính vì chưa tạo được niềm tin cho các tổ chức này. Vốn của bản thân doanh nghiệp, nếu có, cũng chỉ là một phần nhỏ so với số tiền cần thiết để triển khai ý tưởng. Vậy, đâu là cơ hội huy động vốn cho những doanh nghiệp chỉ có thế mạnh là một ý tưởng tiềm năng mang lại lợi nhuận cao nhưng không có vốn để triển khai? Tương tác cung cầu trên thị trường vốn giữa bên có ý tưởng nhưng thiếu vốn và bên có sẵn vốn đang tìm nơi đầu tư đã dần hình thành nên một kênh huy động vốn đặc biệt, đó là huy động vốn thông qua hoạt động đầu tư mạo hiểm.

Trên thế giới, khái niệm đầu tư mạo hiểm đã ra đời từ lâu và hoạt động này có đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của kinh tế nói chung và sự phát triển của các doanh nghiệp mới nói riêng. Xuất hiện đầu tiên tại Mỹ năm 1946, đến nay, hoạt động đầu tư mạo hiểm đã phổ biến ở nhiều quốc gia và có rất nhiều công ty danh tiếng trên thế giới như Microsoft, Apple, Yahoo… lớn mạnh nhờ sự đầu tư ban đầu của vốn mạo hiểm. Tuy chỉ chiếm một tỉ trọng không lớn trong GDP của các quốc gia nhưng nguồn vốn đầu tư mạo hiểm đang ngày càng chứng minh tầm quan trọng của nó bằng cách tạo ra hàng triệu việc làm, giúp hình thành và phát triển hàng loạt doanh nghiệp mới, đặc biệt là các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ và công nghệ cao, góp phần phát triển nền khoa học công nghệ của quốc gia đó, đẩy mạnh sự phát triển của thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng…

“Hiệu ứng mạng” chủ yếu xuất hiện ở các ngành, lĩnh vực ứng dụng công nghệ cao. Trong những ngành này, ý tưởng xếp vị trí quan trọng hàng đầu nhưng muốn ý tưởng đó được thương mại hóa, mang lại lợi nhuận thì cần đến sự hỗ trợ của tài chính. Khi đó, đầu tư mạo hiểm sẽ phát huy và chứng tỏ được vai trò của mình khi rót tiền đầu tư vào những ý tưởng công nghệ để biến những ý tưởng đó thành sản phẩm phục vụ đời sống. Đầu tư mạo hiểm chính là một điều kiện, một cơ sở quan trọng để “hiệu ứng mạng” được hình thành và phát triển, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh quốc tế như hiện nay, doanh nghiệp nào sở hữu được nguồn vốn đầu tư mạo hiểm sẽ nắm được cơ hội thành công cao hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

“Hiệu ứng mạng” và sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – Phần IX


b/ Một số đặc điểm của cạnh tranh quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng đã cuốn hầu hết các quốc gia trên thế giới vào tiến trình phát triển của nó bằng việc gia nhập và ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế song phương hay đa phương, ở cấp độ khu vực hay quốc tế. Do sự giao lưu, buôn bán dễ dàng hơn giữa các nước trong khu vực và trên thế giới nên mức độ cạnh tranh quốc tế giữa các doanh nghiệp nói riêng và giữa các nền kinh tế nói chung đã tăng lên mạnh mẽ. Cạnh tranh quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, cạnh tranh quốc tế đang ngày trở nên gay gắt và quyết liệt hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa, khu vực hóa đã mở đường cho đầu tư trực tiếp nước ngoài, khiến cơ hội đầu tư quốc tế của các doanh nghiệp trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Điều này đã thúc đẩy sự tham gia của hàng ngàn doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau với hàng triệu sản phẩm chất lượng cao tham gia vào cuộc cạnh tranh để giành thị trường và thị phần. Người tiêu dùng ngày càng khó tính với các nhu cầu phong phú, đa dạng đi kèm với những đòi hỏi rất chặt chẽ về tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm. Chỉ có doanh nghiệp nào đáp ứng được những yêu cầu này mới có cơ hội tồn tại trên thị trường. Vì vậy, tất cả các doanh nghiệp khi đã tham gia vào cạnh tranh quốc tế đều phải nỗ lực không ngừng để đáp ứng được tối đa nhu cầu của người tiêu dùng, qua đó tạo dựng uy tín và vị trí của doanh nghiệp trên thị turờng. Cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt còn do nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm, tỷ suất lợi nhuận ngày càng giảm. Các doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh với nhau trên thị trường đầu ra mà còn cạnh tranh ngay cả trên thị trường đầu vào để có thể sở hữu được nguồn tài nguyên khan hiếm với chi phí hợp lý nhất.

Thứ hai, các phương thức sử dụng trong cạnh tranh quốc tế ngày càng phong phú, đa dạng hơn. Các doanh nghiệp khi tham gia vào cạnh tranh quốc tế không chỉ cạnh tranh về chất chất lượng, giá cả mà còn ở mẫu mã, bao bì, kiểu dáng, phương thức giao hàng, điều kiện thanh toán, dịch vụ hậu mãi và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp trong một chiến lược cạnh tranh thống nhất.

Thứ ba, cạnh tranh quốc tế ngày nay được diễn ra dưới niều hình thức phong phú như cạnh tranh giữa các sản phẩm, thương hiệu, giữa các công ty; ở cấp độ cao hơn là sự cạnh tranh giữa các quốc gia, thậm chí giữa các liên kết kinh tế quốc tế với nhau. Do sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên toàn thế giới nên để có thể tốn tại được, các doanh nghiệp cùng chí hướng buộc phải liên kết với nhau để làm tăng sức cạnh tranh của mình. Đây là hình thức mà các tập đoàn tài chính, các công ty đa quốc gia cũng tiến hành để nâng cao khả năng cạnh tranh và tiết kiệm chi phí.

Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa hiện nay khiến cho cạnh tranh quốc tế diễn ra vừa gay gắt, vừa tinh tế, thể hiện trong mối quan hệ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh. Xu thế mới nhất trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới và cũng là xu thế cơ bản của cạnh tranh quốc tế ngày nay là tất cả các doanh nghiệp đều phải gia tăng thực lực kinh tế của mình và lấy đó làm điểm tựa chính để mở rộng khả năng tham gia vào cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt trên phạm vi toàn cầu. Vậy, làm thế nào để doanh nghiệp vẫn duy trì được sự phát triển, bảo đảm lợi nhuận của doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh quốc tế gay gắt như hiện nay?

c/ Điều kiện áp dụng “hiệu ứng mạng” thành công tại các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh quốc tế

Để xây dựng được “hiệu ứng mạng” thành công cho một sản phẩm cần hội tụ rất nhiều yếu tố và mỗi sản phẩm lại có đặc trưng riêng đòi hỏi những điều kiện khác nhau. Tuy nhiên, một số điều kiện chung có thể ứng dụng trong mọi trường hợp:

+ Những điều kiện khách quan

Sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh nền kinh tế còn rất nhiều biến động như hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan, tất yếu và thu hút ngày càng nhiều nước tham gia. Trong xu thế đó, ở các mức độ khác nhau, các nước không thể không tham gia hội nhập. Tuy nhiên nếu không có sự chuẩn bị, không chủ động phát huy nội lực thì không thể hội nhập thành công. Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có tác động hai mặt đối với nền kinh tế của mọi quốc gia. Những nước và nhóm xã hội yếu thế thường bị thua thiệt do tác động từ những mặt trái của toàn cầu hóa và luôn phản đối nó hoặc trong tâm thế bị động. Trong khi đó, những nước và những người có sức mạnh chi phối toàn cầu hóa lại coi đó là cơ hội mang lại sự tiến bộ cho mình và ra sức tận dụng những mặt tích cực của nó. Cho dù vậy, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế vẫn đã và sẽ diễn ra, chi phối dưới hình thức này hay khác, với các mức độ khác nhau đối với tất cả các lĩnh vực kinh tế và xã hội của hầu hết các quốc gia.

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như việc các quốc gia tham gia vào các hiệp định thương mại song phương và đa phương, cắt giảm thuế quan, sự di chuyển của các luồng vốn trong đầu tư quốc tế… trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được coi là một trong những biểu hiện rõ ràng nhất của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. FDI sẽ di chuyển từ nơi dư thừa vốn đến nơi cần vốn, qua đó nâng cao hiệu suất sử dụng vốn. Sự xuất hiện của FDI đã tạo ra một môi trường cạnh tranh quốc tế lành mạnh bởi lẽ FDI đi cùng với sự xuất hiện của các nhà đầu tư nước ngoài, với năng lực quản lý, kinh nghiệm thương trường và công nghệ ưu việt… Các doanh nghiệp nội địa khi tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế với các doanh nghiệp nước ngoài này chỉ có hai khả năng, hoặc là tiếp tục tồn tại và phát triển, hoặc yếu thế hơn và phải rút lui khỏi thị trường, chấp nhận thua ngay trên chính “sân nhà”. Để tồn tại và phát triển được trên thị trường trong cuộc cạnh quốc tế gay gắt, để có thể đứng ngang hàng với các doanh nghiệp nước ngoài là điều không đơn giản, các doanh nghiệp nội địa đều ý thức được điều này trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Có thể nói, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội tốt nhất để thanh lọc các doanh nghiệp, để những doanh nghiệp yếu kém phải rút lui khỏi thị trường, nhường lại thị trường cho các doanh nghiệp đủ mạnh, đủ khả năng tồn tại trong cuộc cạnh tranh quyết liệt.

Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật – công nghệ

Như đã phân tích, “hiệu ứng mạng” chủ yếu được áp dụng trong những ngành ứng dụng công nghệ cao như viễn thông, ngân hàng điện tử, thương mại điện tử, trò chơi trực tuyến… Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin, là điều kiện khách quan không thể thiếu cho sự hình thành và phát triển của “hiệu ứng mạng” trong các doanh nghiệp.

Nhân loại đã trải qua hai cuộc cách mạng lớn là cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học và công nghệ. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất bắt đầu từ năm 1770 tại nước Anh khi con người lần đầu tiên đưa ra những ứng dụng của khoa học vào trong đời sống qua những cải tiến công cụ sản xuất. Nhờ ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này, nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất đã tăng nhanh hơn rất nhiều so với thời phong kiến và đến cuối thế kỷ XIX, số phát minh khoa học đã tăng lên đáng kể. Theo tính toán của nhiều nhà khoa học, toàn bộ lượng thông tin, tri thức trong thời kỳ này nhiều hơn cả tổng tri thức mà loài người tích lũy được trong suốt 19 thế kỷ trước.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai bắt đầu từ năm 1935 kết thúc vào năm 1982 diễn ra chủ yếu ở nước Mỹ. Cuộc cách mạng này đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp tới xu hướng và tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất. Mỗi năm thế giới có khoảng 1.000.000 phát minh mới, làm xuất hiện 30 vạn mặt hàng mới. Những phát minh này đã chuyển nền kinh tế thế giới từ thời kỳ cơ khí hóa sang thời kỳ tự động hóa. Kết quả thu được là sự xuất hiện của một loạt các ngành công nghiệp mới như điện tử, vi điện tử, công nghiệp hóa học, công nghệp vũ trụ… Đây là những ngành có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao, vốn đầu tư lớn nhưng lợi nhuận thu về cũng lớn hơn rất nhiều lần. Lần đầu tiên người ta ý thức được sâu sắc lợi ích của việc đầu tư vào khoa học kỹ thuật, coi đây là một lĩnh vực đầu tư mới tiềm năng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

“Hiệu ứng mạng” và sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – Phần VIII


Chiến thuật chủ động tạo ra “tin đồn” trên thị trường: Tương tự như chiến thuật công bố trước nhưng chiến thuật tung hỏa mù này có sự khác biệt về bản chất. Đó là, trong khi ở chiến thuật công bố trước, doanh nghiệp chỉ công bố trước về một sản phẩm có thật sẽ được tung ra trong tương lai gần nhằm thu hút sự chú ý của người tiêu dùng thì ở chiến thuật này, doanh nghiệp cũng công bố trước về sản phẩm hoặc tính năng mới của sản phẩm, nhưng có thể những sản phẩm mới hoặc tính năng mới đó là chưa tồn tại và sẽ không xuất hiện trên thị trường. Trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thì chiến thuật này được sử dụng rất phổ biến. Tuy nhiên, trên thị trường mạng lưới, hiệu quả của chiến lược này đạt mức tối ưu nhất. Bằng cách tung ra thông tin có lợi về doanh nghiệp hoặc sản phẩm, doanh nghiệp đã định vị sản phẩm của mình trong tâm lý người tiêu dùng là một sản phẩm tốt hơn của đối thủ cạnh tranh. Đến khi người tiêu dùng phát hiện ra đó chỉ là tin đồn thì cũng đã gia nhập mạng lưới rồi. Mà một trong nhũng đặc điểm của thị trường mạng lưới là bị khóa, chi phí chuyển đổi cao nên khách hàng không còn cách nào khác chấp nhận tham gia mạng lưới của doanh nghiệp. Cũng có thể có một thiểu số nhất định người tiêu dùng rút lui khỏi mạng lưới, nhưng con số này là rất ít.

Tuương tự như vậy, doanh nghiệp có thể công bố, khuếch trương về một liên minh trong tương lai, dù liên minh đó có thực sự tồn tại hay không. Người tiêu dùng, vì tin tưởng vào vị thế, uy tín của các công ty trong liên minh, tin vào sự mở rộng tất yếu của mạng lưới khách hàng của liên minh nên sẽ tham gia vào mạng lưới, dễ dàng bị rơi vào kỳ vọng về sự lớn mạnh của doanh nghiệp, về khả năng và nhu cầu có thể được đáp ứng của mình và cả về những lợi ích có thể thu được trong tương lai. Khi sự kỳ vọng vào một doanh nghiệp và liên minh mà doanh nghiệp ấy tham gia tăng cao thì tất yếu, số người tiêu dùng chọn sản phẩm của doanh nghiệp đó cũng tăng lên, tạo cơ hội dễ dàng cho doanh nghiệp xây dựng được mạng lưới cho sản phẩm của mình.

Chiến thuật thổi phồng: Doanh nghiệp hay thổi phồng các số liệu thực tế nhằm gây ấn tượng cho khách hàng về sức mạnh của doanh nghiệp, tác động vào kỳ vọng của người tiêu dùng, kích thích việc lựa chọn mua hàng của khách hàng. Doanh số bán hàng và thị phần thường bị thổi phồng để gây ấn tượng mạnh với khách hàng về vị trí dẫn đầu của hãng so với các đối thủ.

2/ “Hiệu ứng mạng” tại các doanh nghiệp trong cạnh tranh quốc tế

a/ Khái niệm “cạnh tranh quốc tế”

Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, quan niệm và nhận thức về cạnh tranh, phạm vi và các cấp độ áp dụng cũng khác nhau.

Theo Karl Marx, cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.

Nhà kinh tế học Alfred Marshall cho rằng, cạnh tranh là hiện tượng mà một người này ganh đua với một người khác, đặc biệt là khi bán hoặc mua một thứ gì đó.

Theo nhà nghiên cứu Trần Sửu, cạnh tranh là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học – kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất lao động và hiệu quả nhất.

Từ điển Kinh doanh đưa ra định nghĩa: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình.

Theo Từ điển Thuật ngữ kinh tế học, cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được.

Trong Từ điển Kinh tế thị trường, cạnh tranh được hiểu là một phương thức thích ứng với thị trường của doanh nghiệp mà mục đích là giành được hiệu quả hoạt động của thị trường, nhằm đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thường và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động sản xuất của doanh nghiệp cũng đạt được hiệu suất cao, không có hiện tượng dư thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt đến trình độ hợp lý.

Như vậy, tất cả các định nghĩa trên đều nhấn mạnh đến sự ganh đua, đấu tranh giữa các nhà kinh doanh trên một thị trường nhất định nhằm thu lợi nhuận, lợi thế về phía mình. Nói cách khác, cạnh tranh có thể được hiểu theo một nghĩa chung nhất là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hóa cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị phần để thông qua đó tiêu thụ được nhiều hàng hóa hơn và thu lợi nhuận cao hơn.

Cạnh tranh quốc tế được hiểu là cạnh tranh có chứa đựng yếu tố quốc tế. Trong một hợp đồng kinh tế, các yếu tố cần xác định là: chủ thể tham gia, địa điểm diễn ra giao dịch, tính chất hàng hóa, giá trị hợp đồng, luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp… Trong nhiều bài viết, công trình của các nhà nghiên cứu trước đây cạnh tranh quốc tế thường được hiểu là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp tại một địa điểm/thị trường ở nước ngoài. Ví dụ, hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam cạnh tranh với hàng thủy sản xuất khẩu của Trung Quốc trên thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng, tác động tới hoạt động của tất cả các doanh nghiệp, các quốc gia, khi nền kinh tế thế giới đang ngày càng trở nên “phẳng” hơn, khi ranh giới địa lý trong kinh tế đang ngày càng trở nên mờ hơn, yếu tố “địa điểm” và “địa lý” không còn giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong cạnh tranh quốc tế nữa. Thay vào đó, người ta tìm thấy nhiều nhân tố khác đóng vai trò quan trọng hơn. Yếu tố quốc tế trong thuật ngữ “cạnh tranh quốc tế” được hiểu là chủ thể tham gia. Đó là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của các doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác nhau ngay trên thị trường một nước. Cụ thể, đó là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam với sản phẩm của các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên thị trường Việt Nam.

Như vậy, yếu tố xuyên quốc gia chính là điểm khác biệt giữa cạnh tranh quốc tế và cạnh tranh thông thường. Cạnh tranh quốc tế cũng mang đầy đủ những đặc trưng của cạnh tranh thông thường, nhưng ở tầm cao hơn và với mức độ khốc liệt hơn. Đối tượng tham gia cạnh tranh quốc tế phong phú hơn rất nhiều so với cạnh tranh thông thường. Số lượng các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh với nhau tăng lên nhiều lần, ở nhiều trình độ phát triển khác nhau và trên mọi lĩnh vực kinh tế. Khi cạnh tranh có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp đến từ nhiều quốc gia trên thế giới thì các nguyên tắc, quy định, thông lệ, tập quán… trong hoạt động kinh doanh cũng không còn hạn chế trong phạm vi pháp luật của một quốc gia nữa. Các doanh nghiệp đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc, luật lệ quốc tế chung mà đôi khi còn xa lạ đối với một số doanh nghiệp trong nước thiếu kinh nghiệm, thiếu cơ hội cọ xát với các đối thủ từ bên ngoài. Ngoài ra, cạnh tranh quốc tế còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như chính trị, ngoại giao giữa các quốc gia, bối cảnh kinh tế thế giới và đặc biệt là sự ảnh hưởng, can thiệp của các nước lớn đối với luật chơi chung.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014

“Hiệu ứng mạng” và sự cần thiết áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – Phần VII


Những điểm cần chú ý khi xây dựng mạng lưới liên minh:

Thứ nhất, phải lựa chọn đối tác thích hợp. Sự thích hợp ở đây thể hiện lĩnh vực kinh doanh, năng lực kinh doanh, quy mô doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, triết lý kinh doanh… của đối tác so với doanh nghiệp của mình, trong đó, lĩnh vực kinh doanh được quan tâm đầu tiên. Một công ty tiềm năng thì chắc chắn phải có liên quan nhất định tới hoạt động kinh doanh của công ty trung tâm, và công ty đó cũng phải có những khác biệt nhất định với công ty trung tâm thì mới giúp cho công ty trung tâm có được lợi ích từ việc hợp tác với các đối tác. Điều này đặc biệt đúng trong ngành công nghệ cao, bởi cần phải đánh giá các đối tác tiềm năng căn cứ vào cách tiếp cận kỹ thuật của đối tác ở các bước khởi đầu. Vì vậy, nếu không có những hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực công nghệ liên quan thì sẽ khó có thể đánh giá chính xác. Ngoài sự phù hợp về lĩnh vực kinh doanh, sự phù hợp trong các tiêu chí khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự bền vững của liên minh.

Thứ hai, cần chú y đến phạm vi hợp tác của liên minh. Phạm vi hợp tác trong liên minh rất phong phú, đa dạng, có thể chỉ là cung cấp ý tưởng, đầu tư vốn, cũng có thể là cung cấp sản phẩm, tạo ra cặp sản phẩm bổ sung hoàn hảo trên thị trường (như trường hợp liên minh giữa máy tính IBM với phần mềm Microsoft), hoặc liên minh đến cả khâu phân phối sản phẩm ra thị trường. Tùy từng lĩnh vực, tùy quy mô mà doanh nghiệp quyết định lựa chọn phạm vi hợp tác của liên minh cho phù hợp.

Thứ ba, cần chú ý đến những hoạt động trước đây của các đối tác tiềm năng. Các công ty có nhiều kinh nghiệm về mọi mặt, cả trong sản xuất, kinh doanh lẫn trong xử lý tình huống sẽ dễ dàng trở thành đối tác tốt hơn. Đồng thời, việc các đối tác tiềm năng có một mạng lưới quan hệ rộng cũng là một lợi thế.

Vậy, xây dựng một mạng lưới liên minh sẽ mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được “hiệu ứng mạng” cho sản phẩm của mình như thế nào?

Trước hết, trong khu vực tập trung công nghệ, việc thành lập các mạng lưới liên minh là vấn đề thiết yếu. Bởi thực tế, không có một công ty riêng lẻ nào có thể nắm được tất cả các tiềm năng về công nghệ để cạnh tranh trogn một lĩnh vực đang nổi lên, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp có nhiều khác biệt, nhiều thay đổi về công nghệ dẫn đến sự hội tụ tăng dần giữa các công ty. Khi các công ty liên kết với nhau, trở ngại này sẽ được khắc phục. Điểm mạnh của mỗi công ty sẽ được tận dụng để tạo ra điểm mạnh cho liên minh.

Bên cạnh đó, trong khi các công ty lớn luôn gặp khó khăn trong việc tạo ra những thay đổi tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh do sự kém linh hoạt, trì trệ tự mãn vì sự tồn tại lâu năm trên thị trường thì mạng lưới liên minh lại có thể dễ dàng tránh được trở ngại này. Các công ty nhỏ và vừa khi liên minh với nhau sẽ có được những ưu điểm của các công ty lớn, nhưng linh hoạt hơn nhiều và những điểm yếu của từng công ty sẽ được khắc phục bởi các công ty khác trong liên minh.

Không những thế, khi vấn đề tiêu chuẩn hóa đóng vai trò thiết yếu đối với động lực phát triển ở những ngành công nghiệp như máy tính, phần mềm, viễn thông và trò chơi điện tử thì các liên minh có thể là công cụ chiến lược rất quan trọng. Các liên minh sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới thị trường vì khi một tiêu chuẩn của liên minh đó có thị phần áp đảo so với đối thủ thì nó có xu hướng nhanh chóng gia tăng mạng lưới cho đến khi nào chiếm được thị phần chủ đạo trên thị trường. Đặc biệt là khi có nhiều tổ chức cùng tham gia hợp tác bảo trợ cho một tiêu chuẩn thì họ có sức mạnh để thuyết phục những người tiêu dùng tiềm năng rằng cơ hội chiến thắng trên thị trường của họ hầu như chắc chắn. Điều này sẽ bảo đảm cho sự tồn tại của “hiệu ứng mạng” đối với sản phẩm của doanh nghiệp trong liên minh.

+ Định vị sản phẩm

Định vị sản phẩm là việc xác định vị trí sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Đây là chiến lược hướng tới những kỳ vọng của khách hàng về sản phẩm trong mối tương quan với đối thủ cạnh tranh nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp.

Để định vị được sản phẩm của mình trên thị trường, doanh nghiệp cần xác định được vị trí của các đối thủ cạnh tranh hiện có. Điều này có thể thực hiện được bằng cách điều tra người tiêu dùng, căn cứ vào số liệu thống kê của cơ quan chức năng về doanh số bán hàng, thị phần… Sau khi biết vị trí của các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp có hai sự lựa chọn, hoặc là chọn cho mình một vị trí bên cạnh các đối thủ cạnh tranh hiện có và bắt đầu dần dần chiếm lĩnh thị phần, hoặc là tìm ra lỗ hổng trên thị trường và tìm cách lấp đầy nó.

Trên thị trường, trong nhiều trường hợp, các đối thủ rút khỏi thị trường không chỉ bởi vì họ thấy thị trường đã bị chiếm lĩnh mà bởi vì họ tin là thị trường sẽ bị chiếm lĩnh bởi một ai đó khác. Vì thế, chiến lược mà nhiều công ty áp dụng là công bố trước sản phẩm, khuếch trương về một sản phẩm hoặc một liên minh nào đó, thậm chí cả trong trường hợp sản phẩm hay liên minh này không tồn tại. Điều này sẽ khiến các đối thủ cạnh tranh e ngại, còn người tiêu dùng có thông tin không đầy đủ và dễ đi theo những định hướng có sẵn của doanh nghiệp.

Chiến thuật “đi trước đối thủ cạnh tranh”: là chiến thuật có tác dụng rất lớn trong việc đánh vào tâm lý người tiêu dùng, đánh vào kỳ vọng của họ về chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, nó còn làm người tiêu dùng tiềm năng thấy bất lợi khi gia nhập mạng lưới của đối thủ. Khi người tiêu dùng tiềm năng có ý định mua sản phẩm dịch vụ, họ sẽ phải cân nhắc chọn sản phẩm của nhà sản xuất nào mang lại cho họ nhiều lợi ích nhất trên cơ sở so sánh các sản phẩm với nhau. Một doanh nghiệp mới cung cấp sản phẩm mới ra thị trường tất nhiên có khả năng kích thích kỳ vọng của người tiêu dùng tiềm năng. Trước tình thế này, nhà sản xuất đã tạo được “hiệu ứng mạng” riêng, có thể lợi dụng ảnh hưởng của mạng lưới, loan báo họ sẽ sớm cho ra đời một sản phẩm thậm chí còn tốt hơn sản phẩm mới trên thị trường. Vì “hiệu ứng mạng” của doanh nghiệp đủ lớn nên người tiêu dùng tiềm năng có thể sẽ chờ một thời gian nữa khi sản phẩm mới của doanh nghiệp ra đời để mua sản phẩm vì tính toán chắc chắn lợi ích của sản phẩm thuộc mạng lưới của doanh nghiệp sẽ nhiều hơn so với mạng lưới một doanh nghiệp mới gia nhập thị trường.

Hãng Apple với sản phẩm điện thoại di động nổi tiếng iPhone đã áp dụng rất thành công chiến lược này. Khi lần đầu tiên tung ra sản phẩm iPhone với công nghệ màn hình cảm ứng, Apple đã tạo ra được một thị trường mạng lưới và “hiệu ứng mạng” cho sản phẩm này. Tuy nhiên, ngay sau đó, các nhà sản xuất điện thoại di động khác cũng bộc lộ tham vọng muốn gia nhập vào thị trường điện thoại di động có màn hình cảm ứng. Nhận thấy nguy cơ bị chia sẻ thị phần bởi các đối thủ cạnh tranh, Apple lập tức công bố sắp sửa ra mắt điện thoại iPhone 3, rồi iPhone 3S, iPhone 4, iPhone 4S, iPhone 5, iPhone 5S và sắp tới là iPhone 6… Như vậy, những công bố dồn dập về sản phẩm sắp được ra mắt của Apple với hàm ý rằng sản phẩm mới tốt hơn, có nhiều điểm ưu việt hơn sản phẩm đang lưu hành trên thị trường đã kích thích sự tò mò, sự kỳ vọng của người tiêu dùng, đặc biệt là những người đang ở trong mạng lưới. Cuối cùng, thay vì mua một chiếc điện thoại HTC công nghệ mới nhất, một chiếc Samsung Galaxy có chức năng giống hệt iPhone, những người đang sở hữu iPhone thường có xu hướng chờ thêm một thời gian để mua được sản phẩm cập nhật nhất của dòng điện thoại này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Tường Anh – Áp dụng “hiệu ứng mạng” trong cạnh tranh quốc tế – NXB CTQG 2014