Tính khoa học của việc xây dựng mô hình kinh tế – Phần III


Hãy xem vấn đề nhập cư, một chủ đề chính sách được quan tâm nhiều ở Mỹ và các nền kinh tế phát triển khác. Chẳng hạn, lượng người nhập cư gia tăng ở Florida ảnh hưởng thế nào tới thị trường lao động trong bang? Trực giác thông thường của chúng ta sẽ dựa trên cung và cầu: cung lao động tăng sẽ làm giảm mức lương. Tác động của hoạt động di cư này có vẻ như đã kết thúc câu chuyện nếu không xuất hiện các hiệu ứng vòng hai hoặc ba.

Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu người lao động địa phương phản ứng bằng cách di chuyển khỏi bang để tìm việc ở những nơi khác của đất nước? Hoặc nếu lượng lao động nhiều hơn dẫn tới sự đầu tư vật chất trong bang tăng lên, do các doanh nghiệp chuyển sang xây dựng các nhà máy? Hay nếu nhiều lao động có kỹ năng kém làm chậm đi quá trình phổ biến công nghệ mới? Hoặc nếu lao động nhập cư là kích cầu với các mặt hàng do người nhập cư sản xuất? Mỗi một khả năng sẽ có xu hướng cân bằng tác động ban đầu của việc nhập cư. Một số thực tế về những chuyện này đã xảy ra vào năm 1980, khi Miami tiếp nhận một lượng lớn người nhập cư từ Cuba – chiếm khoảng 7% lực lượng lao động tại Miami trong cuộc di tản bằng thuyền từ cảng Mariel. Nhà kinh tế David Card của Đại học Berkely, California thấy rằng dòng nhập cư này hầu như không ảnh hưởng gì đến tiền lương hoặc tỉ lệ thất nghiệp ở Miami, kể cả với những lao động có tay nghề thấp, những người trực tiếp bị ảnh hưởng nhiều nhất. Mặc dù nguyên nhân chính xác của việc này vẫn đang được tranh luận. Khả năng là đã có sự kết hợp của một số hiệu ứng cân bằng tổng thể.

Tiếp theo là một ví dụ khác cho thấy tầm quan trọng của việc tư duy theo cân bằng tổng thể. Giả sử bạn là một nhân viên có tay nghề cao – một kỹ sư, một kế toán, hoặc một thợ máy có kinh nghiệm – đang làm việc trong ngành dệt may của Mỹ. Liệu việc mở rộng thương mại với các nước thu nhập thấp như Việt Nam hay Bangladesh ảnh hưởng tốt hay xấu đối với bạn? Nếu bạn chỉ nghĩ về những gì xảy ra trong ngành dệt may (cân bằng từng phần), bạn sẽ kết luận rằng tình hình sẽ tệ đi. Các nước này dường như sẽ là một mối đe dọa cạnh tranh khốc liệt đối với các công ty dệt may của Mỹ. Nhưng bây giờ hãy nhìn ở khía cạnh xuất khẩu. Khi nền kinh tế Mỹ mở rộng xuất khẩu tới các thị trường mới, sẽ xuất hiện cơ hội việc làm mới trong những ngành có định hướng xuất khẩu tăng trưởng. Vì các ngành mở rộng sẽ thiên về kỹ năng, họ sẽ muốn thuê nhiều kỹ sư, kế toán, và các thợ máy có kinh nghiệm. Khi các tương tác đa thị trường này diễn ra trên toàn bộ nền kinh tế, bạn sẽ thấy thu nhập của mình cao hơn trước, bởi cầu với nguồn nhân lực có kỹ năng đã tăng cho dù bạn có nhảy việc hay không.

Các kết quả bất ngờ cũng được sinh ra từ kinh tế học về “tối ưu cấp hai”. Lý thuyết Tổng quát về Tối ưu Cấp hai (the General Theory of Second Best) là một trong những bộ công cụ hữu ích nhất của các nhà kinh tế ứng dụng, và có lẽ ít trực quan nhất với những người ngoài ngành. Nó được phát triển lần đầu tiên bởi James Meade áp dụng với chính sách thương mại, và sau đó được tổng quát hóa bởi Richard Lipsey và Kelvin Lancaster. Điểm cốt lõi của lý thuyết này nói rằng khi nâng cấp một số thị trường, hoặc mở ra những thị trường mới, thì không phải lúc nào cũng có lợi khi các thị trường liên quan khác vẫn còn bị hạn chế.

Ban đầu, lý thuyết này được áp dụng cho các hiệp định thương mại giữa một số nước, như Thị trường chung châu Âu. Trong những hiệp định này, các nước tham gia sẽ tự do hóa thương mại với các thành viên khác, giảm bớt hoặc gỡ bỏ hàng rào thương mại. Trực giác từ Nguyên tắc Lợi thế So sánh cho rằng tất cả các nước sẽ gặt hái lợi ích từ thương mại. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng. Do tính chất ưu đãi của các hàng rào thương mại, Pháp và Đức sẽ giao dịch nhiều hơn với nhau, điều này tốt. Hiện tượng này được gọi là “hiệu ứng tạo lập thương mại”. Nhưng với lý do tương tự, Đức và Pháp lại nhập khẩu ít hơn từ các nguồn có chi phí rẻ hơn ở châu Á hay Mỹ, điều này lại không tốt. Thuật ngữ gọi đây là “hiệu ứng chuyển hướng thương mại”.

Để thấy chuyển hướng thương mại làm tổn hại nền kinh tế như thế nào, hãy tưởng tượng thịt bò do Mỹ bán sang Đức với giá $100. Giả sử Đức áp thuế 20%, làm tăng giá tiêu dùng thịt bò Mỹ ở thị trường Đức lên $120. Trong khi đó, Pháp có thể cung cấp thịt bò với chất lượng tương đương nhưng với giá $119. Trước khi có hiệp định ưu đãi giữa Pháp và Đức, các nhà cung cấp ở Pháp không thể cạnh tranh với nguồn cung từ Mỹ. Bây giờ thử nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra khi Đức gỡ bỏ hàng rào thuế quan nhập khẩu thịt bò từ Pháp nhưng vẫn giữ nguyên thuế đối với Mỹ. Thịt bò Pháp đột nhiên rẻ hơn ở Đức ($119 so với $120) và nhập khẩu từ Mỹ sẽ sụt giảm. Người tiêu dùng Đức sẽ được lợi $1, nhưng chính phủ Đức mất $20 tiền thuế từ thịt bò Mỹ (số tiền có thể được sử dụng để giảm những loại thuế khác ở Đức). Nhìn chung, Đức đang tham gia một hiệp định có hại cho chính mình.

Lập luận “tối ưu cấp hai” áp dụng cho nhiều vấn đề khác nhau. Một trong những trường hợp nổi tiếng nhất là “căn bệnh Hà Lan”, được đặt tên theo những hệ quả khi phát hiện ra khí tự nhiên ở Hà Lan vào cuối thập niên 50. Nhiều nhà quan sát sau đó đã cho rằng các nhà sản xuất Hà Lan đã phải đương đầu với cạnh tranh trong thập niên 60, khi đồng Hà Lan mạnh hơn trước sự tăng trưởng của khí tự nhiên và các nhà máy Hà Lan đánh mất thị phần của mình. Lý thuyết Tổng quát về Tối ưu Cấp hai làm rõ những trường hợp mà sự bùng nổ tài nguyên có thể là tin xấu (về mặt kinh tế). Sự bùng nổ sẽ chèn ép một số hoạt động kinh tế – chẳng hạn như sản xuất – bởi sự tăng giá của đồng tiền. Bản thân điều này không phải là vấn đề: thay đổi cấu trúc là một phần của tiến bộ kinh tế. Nhưng nếu các hoạt động kinh tế bị chèn ép này không được quan tâm từ đầu – có thể bởi vì chính phủ ban hành lệnh cấm hoặc bởi vì chúng là nguồn gốc rò rỉ công nghệ tới những khu vực khác của nền kinh tế – thì lại là việc hoàn toàn khác. Những tổn thất kinh tế do thu hẹp các hoạt động quan trọng thậm chí có thể làm tăng lợi ích trực tiếp từ bùng nổ tài nguyên. Điều này không phải là mối lo lắng thuần lý thuyết. Các chính phủ ở những quốc gia giàu tài nguyên ở khu vực châu Phi cận Sahara đối mặt với vấn đề này hàng ngày, do áp lực tiền lương phát sinh từ các hoạt động khai khoáng đã làm hao hụt năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất.

Tương tác tối ưu cấp hai không phải lúc nào cũng đi ngược lại các kết luận tiêu chuẩn; đôi khi còn tạo ra những kết quả mạnh hơn trong trường hợp tự do hóa thị trường. Trong ví dụ về “căn bệnh Hà Lan”, ảnh hưởng bất lợi đối với sản xuất sẽ là tin tốt nếu các ngành công nghiệp “bẩn” gây thiệt hại cho môi trường suy giảm. Nhưng ảnh hưởng này thường làm đảo lộn các trực giác thông thường, với động thái dường như giúp chúng ta tới đúng mục tiêu hơn là rời xa chúng. Hai cái sai có thể tạo ra một cái đúng. Vì thị trường không bao giờ hoàn hảo như trong các cuốn giáo trình, nên các vấn đề tối ưu cấp hai rất phổ biến trong cuộc sống thường ngày. Như nhà kinh tế thuộc Đại học Princeton Avinash Dixit đã nói: “Thế giới cùng lắm chỉ có thể đạt tới trạng thái tối ưu thứ hai”. Điều này có nghĩa là chúng ta phải cảnh giác với các mô hình chuẩn của các nhà kinh tế, thường giả định các thị trường hoạt động rất tốt. Thường thì, chúng sẽ cần được điều chỉnh bằng cách chỉ ra một số khiếm khuyết thị trường nổi bật. Lựa chọn mô hình thích hợp để áp dụng mới là mấu chốt của vấn đề.

Các tương tác và hành vi chiến lược là một nguồn thứ ba tạo nên các kết quả phản trực giác. Chúng ta đã thấy một ví dụ về điều này với thế lưỡng nan của người tù. Hành vi cơ hội trong trường hợp này sẽ dẫn đến một kết quả mà mỗi người chơi sẽ muốn từ chối. Suy rộng ra, như Thomas Schelling đã quan sát cách đây rất lâu, nhận thức được sự hiện diện của các tương tác chiến lược – điều tôi làm sẽ ảnh hưởng tới điều bạn làm, và ngược lại – có thể tạo ra các hành động dường như khó hiểu. Lời đe dọa đánh bom nếu bạn không đáp ứng yêu cầu của tôi không hề đáng tin, chừng nào bạn còn khả năng trả thù; vì thế lời đe dọa này không có tác dụng. Nhưng nếu tôi hành động “điên rồ”, gieo rắc nghi hoặc trong đầu bạn rằng tôi có ý định từ những giây phút đầu tiên thì sao?

Những nước đi chiến lược, được thiết kế để biến những tương tác thành một lợi thế nhất định, diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau. Để thuyết phục bạn rằng tôi sẽ không thương lượng để giảm giá trước thời hạn nhằm đạt được thỏa thuận, tôi có thể tự động cắt liên lạc – một chiến thuật “đốt cầu”. Để ngăn cản bạn cạnh tranh với tôi, tôi có thể hành xử như sau, khi bạn tham gia vào ngành của tôi, tôi sẽ có động lực để tích cực giảm giá và cuối cùng khiến cả hai bị phá sản. Để tăng độ tin cậy với tư các là người đi vay, tôi có thể ký hợp đồng với một bên thứ ba (một băng nhóm xã hội đen chẳng hạn?) để rồi phải trả một khoản phí lớn (tự đánh vào chân mình?) khi tôi không thể trả lại số tiền bạn cho mượn. Trong tất cả các trường hợp này, những hành động vô nghĩa không thuộc bối cảnh chiến lược bỗng trở nên hợp lý với mục tiêu thay đổi cách tính toán chi phí – lợi ích của đối thủ cạnh tranh hoặc đối tác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dani Rodrik – Các quy tắc trong kinh tế học – NXB ĐHQGHN 2019.

Tính khoa học của việc xây dựng mô hình kinh tế – Phần II


Định lý cơ bản đầu tiên mô tả một thế giới giả định hoàn toàn: không giống với bất cứ thị trường thực tế nào. Để áp dụng định lý này vào thế giới thực đòi hỏi nhiều suy luận và chứng cứ, cũng như các lý thuyết sâu hơn nữa. Cách một người giải thích sự liên quan của định lý này với chính sách kinh tế cũng tương tự như trắc nghiệm Rorschach. Với các nhà kinh tế tự do và những người bảo thủ chính trị, định lý thiết lập ưu thế của một xã hội dựa trên thị trường. Với những người thuộc cánh tả, danh sách dài các giả định đã cho thấy tính phi thực tế của nó. Bản thân định lý không hướng tới những tranh luận chính sách trong thế giới thực. Nhưng không ai có thể chối bỏ rằng, nhờ nó và các tài liệu liên quan, chúng ta có thể hiểu hơn nhiều về những trường hợp mà Thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith hoạt động và không hoạt động.

Bây giờ hãy chuyển sang một ví dụ quan trọng khác về việc xây dựng các mô hình kinh tế giúp làm rõ các lập luận có phần phản trực giác. Vào năm 1938, Paul Samuelson, khi ấy còn rất trẻ, bị thách thức bởi nhà toán học người Mỹ gốc Ba Lan, Stanislaw Ulan, đã đưa ra một tuyên bố về khoa học xã hội vừa chính xác vừa đặc biệt. Câu trả lời của Samuelson là Nguyên tắc Lợi thế So sánh của David Ricardo: “Sử dụng bốn con số, như thể bằng phép thuật, chúng cho thấy thực sự có một bữa trưa miễn phí – đến từ thương mại quốc tế”. Chứng minh của Ricardo vào năm 1817 rằng sự chuyên môn hóa dựa theo lợi thế so sánh tạo ra lợi ích kinh tế cho tất cả các quốc gia bằng cách rất đơn giản và hiệu quả. Bản chất đặc biệt của nguyên tắc này là hiển nhiên bởi nó rất hay bị hiểu sai, ngay cả đối với các nhà bình luận tinh tế. Quan điểm bài thương mại của Abraham Lincoln – “khi chúng ta mua hàng hóa sản xuất ở nước ngoài, chúng ta có hàng hóa và ngoại quốc có tiền; khi chúng ta mua hàng hóa sản xuất trong nước, chúng ta có hàng hóa mà vẫn giữ lại số tiền ấy” – có thể đáng ngờ, nhưng không nhiều người dễ dàng nhìn ra được sự phi logic của nó.

Việc nhập khẩu giá rẻ từ quốc gia khác từ lâu trước thời của Ricardo đã được hiểu như là một cách cho các quốc gia sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước như lao động và vốn để dùng vào các mục đích khác. Nhưng cách mà thương mại có thể tạo ra lợi ích cho cả hai bên vẫn còn chưa rõ ràng. Đặc biệt, nếu một quốc gia có hiệu quả hơn về nhiều lĩnh vực, sản xuất tất cả các mặt hàng trong khi sử dụng ít tài nguyên hơn các quốc gia khác, thì có thực sự có lợi khi tham gia vào thương mại hay không? Ricardo trả lời câu hỏi này đầy quả quyết. Ông đưa ra ví dụ với những con số, về một trong những trường hợp sử dụng mô hình đầu tiên (và thành công nhất) trong kinh tế học. Đó là thứ mà các nhà kinh tế gọi là mô hình thương mại 2×2: hai quốc gia (Anh và Bồ Đào Nha) và hai mặt hàng (vải và rượu).

Ricardo giả sử rằng phải mất 80 lao động để sản xuất một lượng rượu nhất định và 90 lao động để sản xuất một lượng vải nhất định ở Bồ Đào Nha. Ở Anh, lần lượt là 120 và 100 lao động, để sản xuất cùng số lượng của hai hàng hóa. Lưu ý rằng Bồ Đào Nha sản xuất hiệu quả hơn Anh cả vải và rượu. Tuy nhiên, Ricardo cho thấy Bồ Đào Nha vẫn có thể “có nhiều vải từ Anh hơn so với tự mình sản xuất bằng cách chuyển một phần lao động từ trồng nho sang sản xuất vải”. Thứ tạo ra lợi ích thương mại là lợi thế so sánh, chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Một quốc gia được lợi bằng cách xuất khẩu những gì nó sản xuất tương đối tốt hơn và nhập khẩu những gì nó sản xuất tương đối kém hơn.

Nếu vẫn còn chưa hiểu, bạn hãy nhớ đến lời của Samuelson: nguyên tắc này không hề hiển nhiên. Bạn cần phải suy nghĩ và thực hiện một vài phép tính trước khi hiểu rõ nó.

Mô hình đơn giản của Ricardo đã cho thấy những yếu tố không ảnh hưởng tới lợi ích có được từ thương mại. Một quốc gia không cần sản xuất hiệu quả hơn đối tác thương mại mới có thể xuất khẩu thành công. Quốc gia đó cũng không cần phải sản xuất kém hơn mới được lợi khi nhập khẩu. Sự hoàn thiện sau này của mô hình bởi nhiều thế hệ các nhà lý thuyết đã làm rõ những yếu tố khác mà nguyên tắc này không chịu ảnh hưởng. Không quan trọng là có bao nhiêu hàng hóa, hoặc bao nhiêu quốc gia tham gia vào thương mại; hoặc có những hàng hóa và dịch vụ không được trao đổi bên cạnh những hành hóa được phép giao dịch khác; hoặc liệu thương mại có cân bằng trong bất kỳ thời điểm nào hay không; hay liệu vốn (hoặc các nguồn lực khác) có dễ dàng chuyển từ một ngành công nghiệp này sang ngành công nghiệp khác không. Kết quả cho thấy rằng không điều nào trong số trên là quan trọng cả, miễn là chúng ta quan tâm đến Nguyên tắc Lợi thế So sánh và lợi ích từ thương mại.

Những nghiên cứu sâu hơn cũng đã chỉ ra những hạn chế của nguyên tắc này. Ví dụ, một số điều kiện không nằm trong Định lý Cơ bản Đầu tiên có thể dẫn tới tổn thất khi tham gia thương mại. Ví dụ một số quốc gia đã thua lỗ khi tham gia thương mại do xuất hiện các yếu tố ngoại sinh hoặc lợi ích kinh tế theo quy mô. Các quốc gia đang phát triển trong thập niên 50 và 60 đã quan ngại về điều này và phản ứng lại bằng cách dựng nên hàng rào nhập khẩu với hi vọng phát triển các ngành công nghiệp trong nước. Ngay cả khi có lợi ích tham gia thương mại, thì cũng không có ý nghĩa rằng tất cả mọi người đều được lợi từ nó. Trên thực tế, hầu hết các mô hình hiện hành đều kết luận rằng tình trạng của một số nhóm lại đi xuống – nhân viên của các ngành công nghiệp cạnh tranh với nhập khẩu, hoặc người lao động không có kỹ năng trong một quốc gia có lượng nhân công lành nghề tương đối dồi dào. Một số người ủng hộ tự do thương mại bởi nó sẽ làm lợi cho mọi người có lẽ cũng không thực sự hiểu cách thức hoạt động của nguyên tắc lợi thế so sánh.

Nguyên tắc Lợi thế So sánh và Định lý Cơ bản Đầu tiên của Kinh tế học Phúc lợi là hai ví dụ rõ ràng và quan trọng nhất cho thấy các mô hình đã làm rõ bản chất của các giả thuyết kinh tế – chính xác thì chúng truyền đạt điều gì, tại sao chúng lại vận hành như vậy, và những trường hợp chúng ta có thể áp dụng chúng. Nhưng chúng chỉ đại diện cho một kiểu câu hỏi chung chung. Đầu cơ tài chính là tốt hay xấu trong việc ổn định nền kinh tế Chúng ta nên giúp các gia đình khó khăn bằng trợ cấp tiền bạc hay giáo dục? Chính sách tiền tệ nên tùy ý hay tuân thủ các quy tắc chặt chẽ? Cách tiếp cận của các nhà kinh tế trong mỗi trường hợp là lấy ra một mô hình và kiểm tra xem điều kiện nào dẫn tới những kết quả lý tưởng hơn.

Chứng cứ trực tiếp hiếm khi thay thế được tư duy chặt chẽ của cách tiếp cận này. Lấy một trường hợp đặc biệt và giả sử chúng ta có chứng cứ quyết định để giải quyết một trong các câu hỏi này. Bằng chứng như vậy thay đổi tùy theo bối cảnh địa lý và thời đại cụ thể: đầu cơ tài chính đã ổn định được thị trường ngô của Ủy ban Thương mại Chicago vào giai đoạn 1995 và 2014, hoặc trợ cấp trực tiếp bằng tiền mặt đã hiệu quả hơn so với hỗ trợ giáo dục tiểu học ở Tanzania trong khoảng 2010 và 2012. Những bằng chứng hữu ích này cho thấy chúng ta cần phải đặt các mô hình kinh tế vào nhiều hoàn cảnh trước khi có thể diễn giải một cách phù hợp. Ví dụ, liệu các khoản trợ cấp tiền mặt có hiệu quả hơn các hình thức hỗ trợ khác bởi chúng cung cấp động cơ tốt hơn hay bởi vì chúng giảm khối lượng công việc của các quan chức quản lý chương trình? Việc dùng phép ngoại suy những bằng chứng này vào các hệ thống (hoặc viễn cảnh) khác đòi hỏi phải có các mô hình. Liệu đầu cơ tài chính trên thị trường ngô có ổn định được thị trường trong vòng 2 năm tới không? Để trả lời các câu hỏi này cần có các mô hình – mà chúng thì thường mơ hồ và đầy ẩn ý. Các mô hình càng rõ ràng, thì các giả định càng minh bạch, từ đó giúp chúng ta diễn giải và ngoại suy các bằng chứng.

Khi trực giác khiến chúng ta sai lầm

Một trong nhiều lời bông đùa về chính bản thân các nhà kinh tế là “nhà kinh tế là người thấy một thứ hoạt động trong thực tế, và thắc mắc nó có vậy trong lý thuyết không”. Điều này có vẻ vô lý, cho đến khi chúng ta nhận ra trực giác có thể dễ dàng khiến chúng ta lạc lối và đôi khi cuộc sống lại mang tới những kết quả đầy bất ngờ. Các mô hình kinh tế có thể rèn luyện trực giác của ta với những khả năng bất ngờ như vậy. Những bất ngờ này diễn ra dưới nhiều vỏ bọc khác nhau.

Đầu tiên có thể kể tới là “tương tác cân bằng tổng thể”. Để phân biệt với “cân bằng từng phần” hoặc phân tích thị trường đơn, thuật ngữ này là một cách diễn tả màu mè về việc chúng ta theo dõi phản hồi ở các thị trường khác nhau. Chẳng hạn như diễn biến ở thị trường lao động ảnh hưởng tới thị trường hàng hóa, sẽ lần lượt ảnh hưởng tới thị trường vốn, và nhiều thị trường khác. Chuỗi phản ứng này thường là đủ – đôi khi không đủ – để đưa ra kết luận về các mô hình cung – cầu đơn giản trong một thị trường tại một thời điểm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dani Rodrik – Các quy tắc trong kinh tế học – NXB ĐHQGHN 2019.

Tính khoa học của việc xây dựng mô hình kinh tế – Phần I


Các mô hình là thứ khiến kinh tế học trở thành một môn khoa học. Khi nói như vậy, tôi không ám chỉ các môn khoa học như vật lý hay hóa học, những ngành tìm cách khám phá các định luật cơ bản của tự nhiên. Kinh tế học là một môn khoa học xã hội, và xã hội không có các quy tắc cơ bản – hay chí ít, không hoàn toàn giống với tự nhiên. Không giống như một tảng đá hay một hành tinh, loài người có khả năng lựa chọn. Hành động của con người có thể tạo ra gần như vô hạn các khả năng. Vì vậy, chúng ta chỉ có thể nói về các xu hướng, những luật lệ cụ thể theo từng trường hợp, và các kết quả có khả năng xảy ra mà thôi. Tôi cũng không hề có ý nhắc tới toán học, ngành học đưa ra các tuyên bố chính xác, ngay cả với các thực thể trừu tượng, cũng có thể được xác định đúng hoặc sai. Kinh tế học liên quan tới thế giới thực và phức tạp hơn nhiều. Các nhà kinh tế thường đi sai đường bởi vì họ thích nghĩ mình như một nhà vật lý hay một chuyên gia toán học.

Ở một đối cực khác, các nhà phê bình chế giễu tính tự phụ của các nhà kinh tế – trách móc họ vì đã tạo ra thứ khoa học dựa trên niềm tin. Keynes, và không chỉ mình ông, có một khát vọng nhỏ bé với kinh tế học, như ông đã viết vào năm 1930: “Nếu các nhà kinh tế có thể tự thấy mình là những con người tài năng vừa phải, giống như các nha sĩ, thì sẽ thật tuyệt vời!”. Nhưng có lẽ nha khoa cũng là một mục tiêu quá cao vời, trong vô vàn triệu chứng khiến con người khổ sở. Sự khiêm tốn không chỉ nằm ở chỗ các nhà kinh tế biết bao nhiêu, mà còn ở chỗ họ có thể học được bao nhiêu.

Với những cảnh báo đó, chúng ta có thể kiểm tra lại xem điều gì làm cho các mô hình có tính khoa học. Thứ nhất, như tôi đã giải thích, các mô hình làm sáng tỏ bản chất của các giả thuyết, làm rõ tính logic và những yếu tố chúng phụ thuộc và không phụ thuộc. Đây thường là vấn đề về điều chỉnh trực giác, chú ý vào những chi tiết nhỏ thực sự quan trọng. Nhưng thường thì đóng góp lớn hơn của các mô hình là giúp chúng ta nhìn thấu các kết quả ngược lại với trực giác và đầy bất ngờ. Thứ hai, các mô hình là công cụ để tích lũy tri thức, bằng cách mở rộng tập hợp của những lời giải hợp lý, và vốn hiểu biết của chúng ta về nhiều loại hiện tượng xã hội. Bằng cách này, những tiến bộ trong kinh tế học sẽ phát triển như kiểu một thư viện được mở rộng: bằng cách thêm vào bộ sưu tập của nó. Thứ ba, các mô hình bao hàm một phương pháp thực nghiệm. Chúng đưa ra phương thức để áp dụng các giả thuyết và những lời giải cụ thể, ít nhất là trên nguyên tắc vào những hệ thống thực tế. Chúng cho phép các lập luận có thể đúng hoặc sai. Và kể cả khi chứng cứ không đủ mạnh để phân biệt nhau, các mô hình sẽ cung cấp một phương pháp để loại ra những mâu thuẫn. Cuối cùng, các mô hình tạo ra tri thức trên nền tảng các tiêu chuẩn chuyên nghiệp được chia sẻ rộng rãi chứ không hề phân chia theo xếp hạng, mạng lưới cá nhân, hay ý thức hệ. Vị thế của một nhà kinh tế phụ thuộc phần lớn vào chất lượng, chứ không phải là danh tính của họ.

Chứng minh các giả thuyết

Định lý cơ bản đầu tiên của Kinh tế học Phúc lợi có lẽ là viên ngọc quý của kinh tế học. Các nghiên cứu sinh năm nhất thường dành học kỳ đầu tiên để xây dựng bằng chứng cho định lý này, sử dụng một chút toán (phân tích thực và địa hình học) theo cách mà hầu như sẽ không bao giờ dùng lại. Định lý này không có gì ngoài một tuyên bố dưới dạng toán về một hàm ý quan trọng gọi là “mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo”. Nói một cách ngắn gọn thì một nền kinh tế thị trường cạnh tranh thường hiệu quả. Nói chính xác hơn thì, theo các giả định của định lý này, nền kinh tế thị trường có thể mang lại kết quả kinh tế như bất cứ hệ thống nào khác. Không cách nào có thể cải thiện kết quả này, theo nghĩa không có sự thay đổi nguồn lực nào có thể khiến một người tốt hơn mà không làm cho người khác xấu đi. Cần lưu ý rằng định nghĩa về tính hiệu quả này – hiệu quả Pareto, được đặt tên theo nhà kinh tế người Ý Vilfredo Pareto – kh6ong hề chú ý tới bình đẳng hoặc các giá trị xã hội khác: một kết quả thị trường trong đó một cá nhân thâu tóm 99% tổng thu nhập sẽ vẫn “hiệu quả” miễn là tổn thất của cá nhân đó dù điều chỉnh thế nào vẫn cao hơn thu nhập của phần còn lại của xã hội.

Nếu đặt tính phức tạp của hoạt động phân phối sang một bên, thì đây là một kết quả có sức ảnh hưởng – mặc dù không quá hiển nhiên. Nếu ngày nay chúng ta dễ dàng gán thị trường với tính hiệu quả – thẳng thắn mà nói thì – đó là do hơn hai thế kỷ truyền bá về lợi ích của thị trường và chủ nghĩa tư bản. Rất khó để chứng minh rằng hàng triệu người tiêu dùng, người lao động, công ty, người tiết kiệm, nhà đầu tư và những nhà đầu cơ, mỗi người trong số họ đều theo đuổi lợi ích cá nhân của mình, và cuối cùng sẽ đạt được điều gì khác ngoài những hỗn loạn về kinh tế. Tuy nhiên, mô hình trên lại cho rằng đầu ra của nó là sự hiệu quả.

Định lý cơ bản đầu tiên của Kinh tế học Phúc lợi được các nhà kinh tế công nhận một cách không chính thức là Thuyết Bàn tây Vô hình. Adam Smith, được cho là cha đẻ của kinh tế học, là người đầu tiên tuyên bố lý thuyết này theo nghĩa rộng. Mặc dù ông không sử dụng thuật ngữ “bàn tay vô hình” trong bối cảnh này nhưng, Smith cho rằng quyết định phi tập trung của người tiêu dùng cá nhân và các nhà sản xuất trong một thị trường sẽ mang lại lợi ích tập thể. Ông viết: “Không phải vì lòng nhân từ của người bán thịt, người ủ bia, hay thợ làm bánh, mà chúng ta có bữa tối, mà nó bắt nguồn từ sự quan tâm tới lợi ích của chính họ”.

Smith chỉ ra rằng động cơ về giá biến thị trường thành một cỗ máy điều phối tự động hiệu quả đến kinh ngạc được Milton Friedman ủng hộ mạnh mẽ trên chương trình truyền hình nổi tiếng của ông – Free to Choose (Tự do lựa chọn) – vào năm 1980, vào đêm trước làn sóng cải cách thị trường của chính phủ Reagan và Thatcher. Cầm một cây bút chì trong tay, Friedman ngạc nhiên trước kỳ công mà thị trường tự do đạt được: mất hàng ngàn người trên thế giới để làm cây bút chì này để khai thác than chì, cắt gỗ, lắp ráp các phần và đưa ra thị trường sản phẩm cuối cùng. Tuy nhiên hệ thống giá chứ không phải là bất kỳ cơ quan trung ương nào đã điều phối hành động của họ để chiếc bút chì này đến tay người tiêu dùng.

So với những phát hiện của Adam Smith và Milton Friedman, Định lý cơ bản đầu tiên của Kinh tế học Phúc lợi có một lối tư duy rất trừu tượng và vô cùng chặt chẽ. Công thức của nó được công bố đầy đủ lần đầu tiên vào đầu thập niên 50 bởi Kenneth Arrow và Gerard Debreu bằng phương pháp toán mà thời bấy giờ chưa hề quen thuộc với hầu hết các nhà kinh tế. Câu đầu tiên trong bài báo của Debreu vào năm 1951 đã cho thấy bản chất của định lý: “Hoạt động của hệ thống kinh tế mà chúng ta nghiên cứu có thể được xem như là sự biến đổi của n đơn vị sản xuất và tiêu thụ của m đơn vị với l hàng hóa (số lượng có thể không chia hết hoàn toàn)”. Mặc dù các nghiên cứu của Arrow và Debreu đều rất cơ bản, nhưng nó đã mang về cho mỗi người một giải Nobel, người ta hiếm khi đọc chúng. (Thú thật là tôi cũng chỉ xem chúng khi tôi viết những dòng này). Thay vào đó các nhà kinh tế lại nghiên cứu chúng từ các giáo trình hoặc những cách gián tiếp khác.

Định lý cơ bản đầu tiên vô cùng quant rọng bởi nó thực sự chứng minh Giả thuyết bàn tay vô hình. Nó cho thấy trong một số giả định cụ thể, hiệu quả của nền kinh tế thị trường không chỉ là sự phỏng đoán hay một khả năng, mà được đưar a một cách có cơ sở. Lợi ích từ việc sử dụng toán giúp chúng ta có được một tuyên bố chính xác. Mô hình cho chúng ta biết chính xác kết quả được tạo ra như thế nào. Đặc biệt, nó cho thấy rõ các giả định mà chúng ta cần có để đảm bảo sự hiệu quả đó.

Trong thực tế, danh sách các giả định này khá dài. Người tiêu dùng và nhà sản xuất cần phải duy lý và chỉ tập trung vào việc tối đa hóa lợi ích kinh tế của họ. Chúng ta phải có các thị trường cho mọi loại hàng hóa, bao gồm một tập hợp đầy đủ các thị trường tương lai cho tất cả các tình huống có thể xảy ra. Thông tin phải hoàn hảo – nghĩa là, ví dụ, người tiêu dùng biết tất cả tính năng của một sản phẩm ngay cả trước khi mua và trải nghiệm nó. Chúng ta cần loại bỏ hành vi độc quyền từ phía nhà sản xuất, gia tăng lợi nhuận theo quy mô và “các yếu tố ngoại ứng” (chẳng hạn như ô nhiễm hoặc rò rỉ thông tin từ hoạt động nghiên cứu và phát triển). Các nhà kinh tế kể từ Adam Smith biết rằng những rắc rối này hiển nhiên có thể gây trở ngại cho bàn tay vô hình. Nhưng Arrow và Debreu đã tập hợp chúng lại và biểu diễn một cách rõ ràng và chính xác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dani Rodrik – Các quy tắc trong kinh tế học – NXB ĐHQGHN 2019.

Chủ nghĩa tự do và các học thuyết lớn về đạo đức học – Phần cuối


3/ Thứ ba, từ “đạo đức” chỉ suy tưởng về bản chất hay tinh túy của cái tốt và cái xấu (mà người Anh gọi là rightwrong).

Theo nghĩa thứ ba này, đạo đức chỉ ra điều phải làđiều ta phải làm, trong lúc theo nghĩa thứ nhất và nghĩa thứ hai thì từ này chỉ một bộ môn bàn về điều “này” là gì. Từ “đạo đức” chỉ một nhánh của suy tưởng về cái tốt tối thượng và về tiêu chí nên chọn để đánh giá xem một ứng xử là tốt hay xấu, để biết là các đánh giá và tình cảm đạo đức của chúng ta được định hướng đúng đắn hay không (với mục đích hoặc là điều chỉnh hoặc là xác nhận chúng).

Chính kiểu suy tưởng này được Adam Smith gọi là “Đạo đức học theo nghĩa chính của nó (the science which is properly called Ethics)… thường có thể giúp chúng ta hoặc là chỉnh sửa hoặc là xác nhận tình cảm tự nhiên của chúng ta”.

Cũng chính nghĩa này đã được John Stuart Mill dùng với từ luân lý trong tác phẩm Chủ nghĩa công lợi: “Mục đích của đạo đức là cho ta biết đâu là nghĩa vụ của chúng ta hay chỉ chi ta tiêu chí nhờ đó ta có thể nhận ra các nghĩa vụ này”. Và Moore, trong tác phẩm Principia Ethica viết: “Tôi có ý định dùng từ “đạo đức” để chỉ sự… tra vấn tổng quát về điều thiện […]. Thế nào là điều tốt? Thế nào là điều xấu? Chính việc bàn luận về điều này (hay về những vấn đề này) mà tôi gọi là “Đạo đức học” (Ethics)”.

Ta nhận xét là Sidgwick, người cũng nhắc lại ba nghĩa khác nhau của từ này, đề nghị giữ lại nghĩa trên: “Theo tôi đạo đức học… khác với các khoa học thực chứng ở mục đích đầu tiên và đặc biệt của bộ môn này là xác định điều phải là (what ought to be) […] tuy hiên, thuật ngữ “khoa học đạo đức” (ethical science) được sử dụng, mà vẫn tôn trọng ngôn ngữ, khi thì để chỉ nhánh của Tâm lý học bàn về… những tình cảm và đánh giá đạo đức, như những hiện tượng thực tế diễn ra trong đầu các cá nhân, khi thì để chỉ nhánh của Xã hội học bàn về cũng những hiện tượng này như chúng được thể hiện trong hành vi của những thành viên bình thường thuộc về các nhóm có tổ chức mà chúng tôi gọi là xã hội, […] tuy nhiên dường như rõ ràng là phương pháp nhằm tìm những quy luật tổng quát hay những tính đều đặn giải thích [Sidgwick viết chữ nghiêng] sự đa dạng của ứng xử con người – cũng như những tình cảm và đánh giá khác nhau của con người về cách ứng xử này – chủ yếu là khác với phương pháp nhằm xác định trong số những ứng xử khác nhau này, ứng xử nào tốt về mặt luân lý [moralement bonne] (which of these varieties of conduct is right) và trong số những đánh giá khác nhau này, đánh giá nào là có giá trị

Trái với lựa chọn của từ điển Lalande, trong sách này, chúng tôi chỉ dùng từ “đạo đức” trong nghĩa thứ ba như trên.

Từ “luân lý” (morale) có đầy đủ cả ba nghĩa trên lại còn thêm nhiều nghĩa khác nữa. Đôi lúc nó được dùng đồng nghĩa với “tinh thần” (mental hay spirituel) như trong thành ngữ “thể xác và tinh thần” (le physique et le moral) rất phổ biến vào thế kỷ XVIII. Như Lévy-Bruhl viết, “từ luân lý” còn có thể hiểu theo ba nghĩa khác nhau… Do đó, có sự lẫn lộn không thể gỡ nổi”.

Từ “moral” trong tiếng Anh

Do các tác giả viết tiếng Anh có một vai trò quan trọng trong các cuộc tranh luận được đề cập trong sách này nên chúng tôi cần lưu ý, đặc biệt là đối với người đọc sử dụng tiếng Pháp, đến một số từ tiếng Anh được dùng trong đạo đức học.

Như có thể thấy trong trích dẫn Sidgwick ở trên, từ Ethics trong tiếng Anh có cả ba nghĩa của các từ “éthique” (đạo đức) và “morale” (luân lý) trong tiếng Pháp. Nhưung có một từ tiếng Anh rất khác, rất thường được dùng là “morals”, và từ này đặt ra một vấn đề đặc biệt. Được sử dụng thường xuyên trong kinh văn, từ này xuất hiện trong tựa của nhiều tác phẩm cơ bản. Chẳng hạn, tiểu luận nổi tiếng của Hume về các vấn đề này có tựa là Enquiry Concerning the Principles o Morals, trong lúc tựa của tác phẩm cơ bản của Bentham là An Introduction to the Principles of Morals and Legislation.

Vấn đề từ này đặt ra là nó có nhiều nghĩa: trong phần lớn các trường hợp (tạm ước tính là 70%) nó chỉ hai nghĩa đầu mà chúng tôi đã nêu của từ đạo đức trong tiếng Pháp. Như vậy, thường nó quy chiếu về việc nghiên cứu “phong hóa và ứng xử” cũng như việc nghiên cứu các “đánh giá luân lý về hành vi” và chỉ trong 30% các trường hợp mới có nghĩa là “luân lý”. Chẳng hạn, từ điển Oxford nêu nghĩa đầu tiên của từ “morals” là “habits, especially sexual conduct”; và theo từ điển Webster là “moral practices… modes of conduct”. Tiếc rằng từ này bao giờ cũng được dịch thành “đạo đức”, một từ mà trong tiếng Pháp thông dụng chỉ việc suy nghĩ chung quanh vấn đề cái tốt và cái xấu. Trong tiếng Pháp đương đại, “la morale” chủ yếu chỉ một suy nghĩ về điều phải là; tiếng Anh “morals” chủ yếu (nhưng không phải bao giờ cũng) chỉ việc nghiên cứu điều đang là.

Đó là một trong những lý do (không phải là lý do duy nhất) khiến bạn đọc sử dụng bản tiếng Pháp các tác phẩm của Hume (và của Smith) có thể bất bình vì các tác giả này luôn lẫn lộn điều đang là với điều phải là. Có cảm tưởng đáng tiếc này là do việc dịch chữ “morals” đáng lý ra đôi lúc phải dịch (trong phần lớn các trường hợp) bằng “phong hóa” (moeurs) và đôi lúc bằng “luân lý” (morale) và đôi lúc bằng “phong hóa và luân lý” (ví dụ trường hợp của tự các tác phẩm của Hume và Bentham).

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Francisco Vergara – Đạo đức trong kinh tế – NXB TT 2010.

Chủ nghĩa tự do và các học thuyết lớn về đạo đức học – Phần V


Học thuyết chống tình trạng nô lệ mà các nhà tự do theo thuyết công lợi sẽ phát triển cũng không kém tinh vi so với học thuyết về tính chất không thể chuyển nhượng về mặt pháp lý của tự do cá nhân đã được các lý thuyết gia về pháp quyền tự nhiên phát triển. Trong khinh tế, luận cứ quan trọng là những công nhân tự do (ví dụ, ở Hà Lan và Anh) có sự sáng tạo và năng suất cao hơn người nô lệ ở các đảo Antilles. Do việc gia tăng năng lực sản xuất của nhân loại là một nhân tố rất thuận lợi cho sự gia tăng của hạnh phúc chung nên sự thoái lui của tình trạng nô lệ hiển nhiên là đáng mong muốn. Chẳng hạn, Adam Smith viết rằng: “hiếm có người nô lệ sáng tạo, và những cách thức có lợi nhất cho công nghiệp, các cách thức tạo điều kiện lao động dễ dàng và rút ngắn thời gian bằng máy móc hay bằng cách sắp xếp và phân phối công việc, đều được những con người tự do sáng tạo”; nếu không nên chờ đợi những chủ trang trại lớn có những cải tiến quan trọng thì lại càng ít hi vọng có được điều này khi họ sử dụng lao động của người nô lệ.

Và trong một chương dành cho trạng thái nô lệ trong tác phẩm Những nguyên lý của kinh tế học chính trị, John Stuart Mill viết: “Ảnh hưởng của thể chế này đến sản xuất được hiểu rõ. Khẳng định rằng lao động dưới sự đe dọa là không hiểu quả và vô bổ là một điều hiển nhiên… và việc thiếu chất lượng lao động không được bù đắp bằng một sự hoàn hảo trong việc hướng dẫn và kiểm tra lao động”.

Qua các trích dẫn trên, bạn đọc chớ có nghĩ rằng trong kho vũ khí công lợi, luận cứ chống trạng thái nô lệ chỉ có tính “kinh tế”, theo nghĩa hẹp của từ này. Các trích dẫn Adam Smith là từ một tác phẩm có chủ đề là Của cải của các dân tộc và các trích dẫn Mill là từ một chuyên luận kinh tế học chính trị. Do đó, việc chế độ nô lệ được xét dưới góc độ của tác động của chế độ này lên của cải là điều bình thường. Xin được nhắc là, đối với các tác giả công lợi, cũng như đối với các trường phái khoái lạc thời cổ đại, hạnh phúc chưa bao giờ được đồng nhất với sự gia tăng tiêu dùng các sản phẩm vật chất. Lý tưởng hoàn hảo của các triết gia này là lý tưởng của một đời dâng hiến cho những hoạt động khoa học, triết học và nghệ thuật và cho sự dấn thân chính trị. Gia tăng của hạnh phúc được chờ đợi từ gia tăng của năng suất chủ yếu phải đến từ sự an toàn và thời gian tự do mà gia tăng của năng suất mang lại để dành cho các hoạt động “tinh thần” chứ không phải là cho việc gia tăng không giới hạn của tiêu dùng. Khi phê phán chế độ nô lệ ở miền nam Hoa Kỳ, các nhà công lợi như James và John Stuart Mill chủ yếu nhấn mạnh đến tác động tai hại đến trạng thái tinh thần và nghị lực đạo đức (của người nô lệ lẫn người chủ của họ) chứ không nhấn mạnh đến hiệu quả thấp về mặt vật chất của hệ thống.

Ở đây, chúng tôi sẽ không dài dòng về những lý do lịch sử sâu sắc giải thích khát vọng mạnh mẽ, vào thời đó, một sự tự do lớn hơn trong nhiều lĩnh vực đến thế. Ta chỉ nhận xét là quả thật đã có một khát vọng như vậy, được thể hiện, trong hai học thuyết lớn về đạo đức (pháp quyền tự nhiên và chủ nghĩa công lợi) và bằng sự xuất hiện của một hệ thống những luận cứ và lập luận nhằm không chỉ kết án chế độ nô lệ, mà cả một loạt rộng lớn những ràng buộc và cấm đoán khác.

Như vậy, pháp quyền tự nhiên viện đến một chuỗi học thuyết như học thuyết chủ trương rằng tự do là “không thể chuyển nhượng” (Turgot, Condorcet, Jefferson, Paine…) trong lúc chủ nghĩa công lợi sản sinh ra một tập rất đầy đủ những luận cứ trình bày lợi ích sâu sắc đối với nhân loại khi làm chủ bản thân, khi có quyền tự do thảo luận, tự do ngôn luận, tự do hội họp và tự do thương mại, tất cả các học thuyết này gắn chặt chẽ với tên tuỏi của Hume, Smith, Bentham…

Từ vựng và các khái niệm cơ bản của đạo đức học

Do mục đích của cuốn sách này nhằm phân loại những trào lưu chính của chủ nghĩa tự do theo học thuyết đạo đức mà đại biểu của các trào lưu này tán thành (theo tiêu chí tốt xấu mà các đại biểu này chấp nhận) nên chúng tôi cần lưu ý đến vài khó khăn liên quan đến từ vựng được sử dụng trong các thảo luận đạo đức và cần làm rõ nghĩa của các từ quan trọng được chúng tôi dùng.

Trái với những gì xảy ra trong hình học, ví dụ, các từ “elip”, “tiếp tuyến”, “cạnh huyền”,… chỉ một cách chính xác cùng một khái niệm đối với tất cả những ai bàn về các vấn đề này, trong đạo đức học, các từ then chốt thường được sử dụng với những nghĩa khác nhau, kể cả bởi những tác giả có thẩm quyền nhất. Chẳng hạn, khi các tác giả này dùng những từ như “luân lý” (morale) và “phong hóa” (moeurs) hay “công lý” (justice) và “nhân đức” (bienfaisance), quyền (droits) và “nghĩa vụ” (devoirs), “thói hư” (vices) và “phẩm hạnh” (vertus), “luật” (lois) và “trừng phạt” (sanctions),… thì không nhất thiết là họ đang bàn đến cùng một điều giống nhau.

Vấn đề mà thực trạng trên đặt ra không phải là không giải quyết được vì, theo lẽ thường, trước khi đề cập đến một chủ đề, các tác giả nghiêm túc đều điểm qua các cách khác nhau mà từ có thể gây vấn đề từng được những tác giả khác nhau sử dụng và báo cho bạn đọc biết nghĩa được họ dùng trong lời bình mà họ sẽ nêu lên sau này. Ta có một ví dụ tốt của phương pháp này ngay ở các trang đầu của tác phẩm Tự nhiên, của John Stuart Mill, trong đó trước khi xem xét giá trị của học thuyết đạo đức theo đó “ta phải thuận theo tự nhiên”. Mill điểm qua những nghĩa khác nhau khi từ “tự nhiên” được sử dụng. Adam Smith cung cấp một ví dụ khác với tác phẩm Lý thuyết những tình cảm đạo đức, trong đó tác giả xác định rất cẩn thận nghĩa ông sẽ gán cho các từ sympathy (đồng cảm), propriety (sở hữu), justice (công bằng)… Trên điểm này, chúng tôi khuyên nên tìm đọc quyển III của Tiểu luận về giác tính của Locke, có tựa chính xác là về các từ”.

Các từ “đạo đức” (éthique), “luân lí” (morale) và “phong hóa” (moeurs)

Khó khăn mà chúng tôi vừa nói đến bắt đầu ngay chính với chữ “đạo đức” (éthique) (cũng như với các chữ “luân lý” và “phong hóa”, vốn thường được dùng như những từ có nghĩa gần nhau). Đúng như từ điển Lalande viết trong mục éthique: “Từ này được dùng lúc thì theo nghĩa này, lúc thì theo nghĩa khác, và thường là theo một cách mơ hồ như từ morale”.

Bạn đọc nào chưa phát hiện các nghĩa khác nhau này đơn giản là không thể hiểu ý kiến của những tác giả như Smith, Hume, Locke, Mill và Sidgwick. Bởi thế, ta thử xem ba nghĩa chính mà từ “đạo đức” truyền tải.

1/ Trước tiên, nó chỉ việc nghiên cứu cái phần của hành vi con người được gọi là “phong hóa hay “ứng xử” theo cách mà hành vi này được thể hiện trong các xã hội khác nhau. Nhánh của suy tưởng này đôi lúc được gọi là “khoa học phong hóa” hay “luân lý mô tả” (để đối lập với “luân lý hướng dẫn”). Trong nghĩa này, từ “đạo đức” chỉ một phần của xã hội học và nhân học.

2/ Nhưng “đạo đức” cũng chỉ việc nghiên cứu các đánh giá giá trị của con người về ứng xử và phong hóa (của bản thân mình và của người khác). Từ điển Lalande đề nghị dành cho từ “đạo đức” ý nghĩa thứ hai này: “Đó là điều chúng tôi đề nghị gọi bằng Đạo đức… Không nghi ngờ gì là các đánh giá giá trị về sự ứng xử là những sự kiện thực tế mà các đặc điểm cần được xác định.. việc nghiên cứu các đánh giá giá trị không thể thay thế việc nghiên cứu trực tiếp các ứng xử do ứng xử của con người không phải bao giờ cũng phù hợp với chính đánh giá của họ về giá trị các hành động.

Theo nghĩa này thì luân lý chỉ là một nhánh của tâm lý học: một nhánh mô tả các đánh giá và tình cảm đồng tình và không đồng tình (tình cảm “bất công”, “hối hận”,…), giải thích sự hình thành các đánh giá và tình cảm này và chỉ ra các nguyên nhân khiến chúng khởi động (Lý thuyết những tình cảm đạo đức của Adam Smith là một trong những lý thuyết nổi tiếng về chủ đề này).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Francisco Vergara – Đạo đức trong kinh tế – NXB TT 2010.

Chủ nghĩa tự do và các học thuyết lớn về đạo đức học – Phần IV


Việc lên án chế độ nô lệ cung cấp một ví dụ tốt cho phép chúng ta hiểu được bằng cách nào sự chuyển đổi sang lý tưởng tự do đã diễn ra.

Chế độ nô lệ trong pháp quyền tự nhiên

Trong pháp quyền tự nhiên, như được các tác giả sáng suốt nhất trình bày vào đêm trước của chủ nghĩa tự do (Grotius, Pufendorf, Hobbes và Locke), những lập luận đạo đức xuất phát từ nguyên lý theo đó con người khi “sinh ra” là đã tự do, nhưng có thể, thông qua những khế ước không vi phạm bất kỳ quyền nào (những khế ước công chính, nghĩa là phù hợp với Lí tính và Tự nhiên), lại rơi vào thân phận nô lệ.

Như vậy, học thuyết này phân biệt một chế độ nô lệ chính đáng (kết quả của những khế ước phù hợp với pháp quyền tự nhiên) với một chế độ nô lệ không chính đáng (kết quả của bạo lực hay gian lận) bằng cách viện đến những ý tưởng pháp lý-triết học như tính “chính nghĩa” hay “không chính nghĩa” của cuộc chiến mà kết cục là người chiến binh bại trận bị biến thành nô lệ, tính “công bằng” của khế ước hay quy ước dẫn đến thân phận nô lệ,… Ví dụ, ăn cắp một đứa trẻ để đem bán là trái với pháp quyền tự nhiên. Ngược lại, buộc một kẻ thù bại trận trong một cuộc chiến tranh “chính nghĩa” (bên phái người thắng trận) làm nô lệ là điều chính đáng. Do người chiến thắng có quyền giết tù binh của mình nên người chiến thắng có thể tha chết, đổi lấy lời hứa của tù binh tuân thủ mình trong suốt cuộc đời còn lại. Như Locke nói: “Nếu một kẻ, bằng cách ứng xử xấu hay bằng tội ác nào đó, đáng bị thiệt mạng thì người bị xúc phạm, trong trường hợp này, trở thành người có quyền sinh sát và có thể, khi thủ phạm nằm trong vòng kiềm tỏa của mình, hoãn việc giết anh ta và có quyền bắt anh ta phục dịch cho riêng mình”.

Khế ước hay quy ước được họ thỏa thuận là phù hợp với công lý vì không có bất kỳ quyền nào của tù binh bị vi phạm: “Người chiến thắng không làm điều gì sai trái cho kẻ chiến bại (he does him no injury) vì, một khi tù binh nhận thấy rằng sự nghiệt ngã của thân phận nô lệ vượt quá giá trị của mạng sống thì anh ta có quyền chọn cái chết… bằng cách cưỡng lại ý chí của chủ nhân”.

Chính từ khế ước hay hứa hẹn này, chứ không phải từ vũ lực thuần túy, mà phát sinh ra quyền điều khiển và nghĩa vụ phục tùng. Nhưng Hobbes giải thích: “Không phải sự thành công bằng vũ khí cho (kẻ chiến thắng) được quyền thống trị kẻ chiến bại mà là quy ước kẻ này chấp nhận mới tạo ra quyền này”.

Cũng chính học thuyết này – theo đó tự do, bằng những khế ước phù hợp với pháp quyền tự nhiên, có thể được chuyển nhượng – được Hugo Grotius và Pufendorf, hai trong số các lý thuyết gia nổi tiếng nhất về pháp quyền tự nhiên bảo vệ, vào đêm trước sự xuất hiện của chủ nghĩa tự do.

Học thuyết nhanh chóng được phát triển và các nhà bảo vệ pháp quyền tự nhiên sẽ phản bác tính chính đáng của mọi giao ước dẫn đến thân phận nô lệ. Chẳng hạn, họ đưa thêm vào học thuyết một nguyên lý làm rõ rằng không chỉ con người đã là tự do khi sinh ra mà sau đó vẫn tiếp tục là người tự do. Tự do cá nhân thoát ra khỏi loại tự do có thể chuyển nhượng bằng khế ước và trở thành “không thể tước bỏ”. Đó là điều ta có thể đọc, ví dụ, trong đoạn thứ hai của Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, do Thomas Jefferson chấp bút: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy… có quyền tự do”.

Tương tự, ta có thể đọc trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789: “Các đại biểu của nhân dân Pháp, hợp thành Quốc hội… kiên quyết trình bày, trong một tuyên ngôn long trọng, các quyền tự nhiên, không thể tước bỏ và thiêng liêng, của con người… Người ta sinh ra tự do…, và phải luôn luôn được tự do…”.

Để chứng minh tính vô hiệu của những giao ước khác nhau dẫn đến thân phận nô lệ, các lý thuyết gia về pháp quyền tự nhiên sẽ phát triển một kho luận cứ, đặc biệt vận dụng hai loại lập luận: suy diễn từ những nguyên lý tổng quát “hiển nhiên” và loại suy với những trường hợp “tương tự” (những trường hợp được xem là “hiển nhiên” và không thể bác bỏ). Để phản bác các luận cứ suy diễn và loại suy nhằm chứng minh rằng một giao ước (ở đây là giao ước nô lệ) là phù hợp với công lý tự nhiên, cần phải chỉ ra rằng các luận cứ trên hàm chứa một tiền đề ẩn hay một sai lầm trong lập luận và như vậy dẫn đến một mâu thuẫn hay phi lý so với những nguyên lý được phát biểu rõ ràng trước đó.

Một trong những luận cứ bằng suy diễn thường được nêu lên để biện minh cho tình trạng nô lệ của trẻ em ra đời trong tù là khẳng định cho rằng “tương tự như trái cây thuộc về người chủ cây thì đứa trẻ cũng thuộc về người chủ bà mẹ”. Các đối thủ của chế độ nô lệ cho rằng suy diễn này là không xác đáng. Thể theo các nguyên lý, đứa con của người nô lệ là một con người tự do (vì mọi người sinh ra đều có tự do). Đứa trẻ phải được nuôi nấng thể theo quyền mọi người được cứu trợ khi bị nguy hiểm đến tính mạng, một quyền tự nhiên mà mọi người có thể viện đến trong trường hợp tuyệt đối cần thiết. Trường hợp đứa trẻ là tương tự với trường hợp người bị đắm tàu được một tàu thuyền tìm thấy, người bị đắm tàu có quyền tự nhiên được cứu trợ và thuyền trưởng của chiếc tàu có nghĩa vụ tự nhiên cứu trợ tương ứng (thuyền trưởng có thể bị trừng phạt nếu trốn tránh nhiệm vụ). Người bị đắm tằm chịu ơn người cứu sống mình nhưng không vì thế mà trở thành nô lệ của ân nhân.

Thể theo một luận cứ khác, đứa trẻ sinh ra từ cha mẹ nô lệ, từ khi ra đời đã được nuôi dưỡng bằng lương thực của người chủ. Người ta giả định là, bằng một kiểu giao ước ngầm, đứa bé đã nhường quyền tự do của mình đổi lấy thức ăn cho phép nó sống. Đáp trả luận cứ này, người ta nhắc lại những điều kiện hiệu lực của một giao ước thể theo pháp quyền tự nhiên. Thể theo các nguyên lý của pháp quyền tự nhiên, để có hiểu lực thì một giao ước phải xuất phát từ hai ý chí tự do, mỗi ý chí đều có Lý tính: trong trường hợp được xem xét, điều này có nghĩa là đứa trẻ có sử dụng Lý tính ngay khi ra đời, một điều rõ ràng là phi lý. Do đó, ta có thể kết luận rằng giao ước trên là vô hiệu.

Chính bằng cách này (bằng những luận cứ suy diễn và loại suy chứng minh tính vô hiệu về mặt pháp lý của những giao ước khác nhau được xem là dẫn đến việc mất tự do) mà trong Những suy tưởng về tình trạng nô lệ của người Da đen Condorcet đã lần lượt bác bỏ các luận cứ bảo vệ tính chính đáng của thể chế này. Và ông kết luận, chống lại Locke và Pufendorf, rằng “do đó, không có bất kỳ trường hợp nào mà tình trạng nô lệ, ngay cả tự nguyện, lại không trái ngược với Pháp quyền tự nhiên”.

Ý tưởng theo đó, phù hợp với Lý tính, có một số quyền không thể chuyển nhượng bằng bất kỳ giao ước nào thật ra là một ý đã có từ khá xưa trong pháp quyền tự nhiên. Chẳng hạn, đó là trường hợp của quyền tự vệ khi tính mạng bị đe dọa. Trong tình huống này, lời hứa không tự  vệ, bị xem là vô hiệu, vì nó trái ngược với bản chất con người, theo đó một người có đầy đủ năng lực không thể, một cách duy lý, lại muốn hại bản thân. Như Hobbes viết: “Quả thế, trong các cuộc tranh cãi của thế giới, bất công là một điều khá giống với điều được gọi là phi lý trong các cuộc bàn luận của các trường phái… có một số quyền mà không thể quan niệm được rằng có người lại từ bỏ hay chuyển nhượng… một người không thể từ bỏ quyền kháng cự những ai tấn công mình nhằm cướp lấy sinh mạng mình bằng vũ lực; vì ta không thể quan niệm là bằng cách ấy người này nhắm đến một điều gì tốt đẹp cho mình”.

Điểm mới mà chủ nghĩa tự do đưa vào pháp quyền tự nhiên là mở rộng tính không thể chuyển nhượng này đến tự do cá nhân.

Các luận cứ công lợi

Trào lưu công lợi, một trào lưu đã có từ lâu trước khi cụm từ này trở thành thông dụng, cũng cho rằng có một tình trạng nô lệ chính đáng và một tình trạng nô lệ không chính đáng. Một cách tóm tắt, có thể nói rằng, khi tình trạng nô lệ làm tăng hạnh phúc của tất cả những ai có liên quan đến tình trạng này, hơn mọi thể chế khác hình dung được, thì tình trạng ấy là chính đáng.

Cụ thể hơn, trào lưu này xem là hoàn toàn có lợi cho hạnh phúc của xã hội khi khoa học và triết học phát triển; nhưng, để có điều này, cần phải có những mạnh thường quân đặt hàng những tác phẩm nghệ thuật và nuôi dưỡng các nhà bác học để giáo dục con cái các mạnh thường quân và phục vụ cho thú tiêu khiển của họ. Do đó, nếu không có nô lệ, mỗi người phải lao động để thỏa mãnh nhu cầu của bản thân, sẽ không có người giàu và nền văn minh sẽ không phát triển. Sau này, vào thế kỷ XVII, tình trạng nô lệ của người Da đen sẽ được xem là tối cần thiết cho nông nghiệp các thuộc địa nhiệt đới và, thông qua đó, cơ bản là có ích cho sự phồn vinh và hạnh phúc chung của vương quốc.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Francisco Vergara – Đạo đức trong kinh tế – NXB TT 2010.

Chủ nghĩa tự do và các học thuyết lớn về đạo đức học – Phần III


Để hiểu kỹ chủ nghĩa tự do cổ điển, cần phân biệt rõ ràng hai quan điểm thường bị đồng nhất (bởi, chẳng hạn, những nhà bình luận như Émile Halévy và Louis Dumont). Một mặt, có những tác giả – như Hume, Smith và Ricardo – cho rằng một số bộ phận của tự nhiên (và một số hình thức của cơ chế thị trường) có thể được “điều chỉnh một cách tuyệt vời” với nhu cầu và lợi ích của con người, song họ cũng nói thêm là không phải bao giờ cũng thế cả. Các tác giả này viết rõ rằng mục đích của triết gia là nghiên cứu thế giới và xã hội nhằm phát hiện trong trường hợp nào thì có sự hài hòa và trường hợp nào là không. Mặt khác, ta có quan điểm khá khác biệt – do những tác giả như Frédréric Bastiat và Herbet Spencer đề xuất – cho rằng tất cả các cơ chế tự phát đều “hài hòa” (với hệ quả là mọi sự can thiệp của Nhà nước làm cho sự hài hòa này bị rối loạn).

Các học thuyết lớn về đạo đức

Ta cũng còn tìm được, trong thời cổ đại, hai lý thuyết lớn về đạo đức đã nhắc đến trong phần dẫn nhập và tiếp tục chia rẽ các nhà tự do. Một mặt, có học thuyết gọi là “nguyên lý hữu ích” hay “chủ nghĩa công lợi”, theo đó cách hợp lý duy nhất để đánh giá các hành động, đạo luật và định chế của con người là ước tính tác động của các hành động, đạo luật và định chế này trên hạnh phúc của cộng đồng, và học thuyết gọi là “pháp quyền tự nhiên”, theo đó thì tiêu chí đánh giá thật sự là sự phù hợp của các hành động, đạo luật và thể chế với Tự nhiên (hay đúng hơn với ý đồ mà Tự nhiên dường như thể hiện nay với mục đích mà Tự nhiên có vẻ tìm cách đạt đến hay với trật tự hoàn hảo  mà Lý tính có khả năng phán đoán khi nghiên cứu Tự nhiên). Không học thuyết nào được “phát hiện” trong thời hiện đại cả. Như nhận xét của John Stuart Mill về chủ nghĩa công lợi: “Gán một tính mới mẻ nào cho học thuyết theo đó lợi ích chung là cơ sở của đạo đức chứng tỏ sự thiết hiểu biết lịch sử triết học… Vào mọi thời kỳ của triết học, từng có một trường phái công lợi, và điều này không chỉ từ thời Epicure mà còn trước đó nữa”.

Tương tự như thế đối với pháp quyền tự nhiên. Như Heinrich Rommen viết: “Học thuyết pháp quyền tự nhiên cũng cổ xưa như triết học… các nhà ngụy biện có nhiều điểm chung với các nhà cách mạng thế kỷ XVIII… Đó là mục đích các nhà ngụy biện thừa nhận khi họ đối lập các luật tích cực hiện hành với quyền của tự nhiên, hầu làm nổi bật không chỉ một nhu cầu cải cách nhất thời các luật hiện hành mà còn để chỉ ra tính chất sai lầm nghiêm trọng và không hợp thức (substantial wrongess) các luật này”.

Kant nói rõ là ông không có tham vọng độc đáo nào với nguyên lý đạo đức của ông (mệnh lệnh nhất quyết). Chẳng hạn, khi nói đến tác phẩm Fondements de la métaphysique des moeurs của mình, ông viết: “Ở đây không xác lập bất kỳ nguyên lý mới nào cả… ai lại muốn đưa vào một nguyên lý đạo đức mới để trở thành người đầu tiên phát hiện? Như thể là trước đó thế giới chìm trong sự dốt nát”.

Sẽ là quá dài để nhắc lại ở đây tất cả những cuộc tranh luận diễn ra trong thời Cổ đại cũng như trong thời kỳ ra đời của chủ nghĩa tự do. Chỉ xin nói rằng vào thời kỳ đó, người ta cũng bàn luận để biết xem vai trò ngày càng tăng của Nhà nước có là một hiện tượng võ đoán và có hại hay không. Đối với một số tác giả, Nhà nước là một cục bướu độc hút nguồn lực sống của xã hội, một loại khối u làm biết chất thân thể lành mạnh của Thành quốc. Đối với một số tác giả khác, nhà nước là một “cơ quan tự nhiên”, giống như ngôn ngữ, trở thành “một cách tự nhiên” quan trọng và phức tạp hơn với sự phát triển của xã hội (hình ảnh này là của Cicéron).

Tính lâu đời của những biếm họa và bóp méo (trường hợp của chủ nghĩa công lợi)

Bên cạnh những cuộc luận chiến nghiêm túc, đối lập những ý tưởng cơ bản (được chúng tôi nhắc lại trong bài này), ta cũng còn tìm thấy, ngay cả trong thời Cổ đại, tất cả những hiểu lầm biếm họa mà, cho đến nay, được người ta đánh đồng với tư tưởng của những triết gia lớn. Cũng như ngày nay, các nhà công lợi bị kết án là ưa thích những lạc thú “vật chất” hơn là những lạc thú “tinh thần”. Chẳng hạn, một trong những nhân vật của Plutarque, viết rằng đối với các nhà khoái lạc chủ nghĩa (tán thành Épicure): “Lạc thú nằm ở bao tử và trong những cửa vào khác mà da thịt mở ra cho lạc thú”.

Sau đó, những lời vu khống Épicure, đã được lặp lại, để chỉ trích Bentham và các môn đồ của ông. Chẳng hạn, Théodore Jouffroy (người đã đào tạo, qua những bài giảng khoáng đại ở Đại học Sorbonne, nhiều thế hệ giảng viên) viết rằng: “Họ lớn tiếng nói đến một bao tử tốt, và năm giác quan… Họ khinh thường tất cả những năng lực khác, cao cả hơn và tinh tế hơn của con người… Dưới mắt họ, một tuyển tập Lamrtine, một đối thoại của Platon là những điều phù phiếm.. Các bạn ứng dụng những nguyên tắc này vào đạo đức học và các bạn có hệ thống của Bentham”.

Sau mươi lăm năm sau, Élie Halévy lặp lại cùng luận điệu ấy: “Suy cho cùng, những lạc thú duy nhất mà nhà đạo đức công lợi muốn tính đến là những lạc thú không bắt nguồn từ việc thực hành những thói quen tinh thần của chúng ta, mà tà những nguyên nhân bên ngoài… Do đó, hạnh phúc xã hội chủ yếu nằm ở việc thu thập của cải với những lạc thú mà của cái này mang lại được”.

Thế mà, các nhà công lợi đã luôn cố gắng tái lập sự thật, về những phát biểu của họ cũng như của Épicure. Chẳng hạn, Adam Smith, vào thời buổi của chủ nghĩa tự do, viết rằng “thể theo Épicure… hạnh phúc hay bất hạnh của chúng ta chủ yếu phụ thuộc vào tinh thần chúng ta… Điều không mấy quant rọng là thân xác ta bị ảnh hưởng của chuyện này”. Và James Mill viết: “Phải chăng là điều nghiêm túc khi nói rằng các nhà khoái lạc chủ nghĩa như Lucrèce, Horace, Virgile và Jules César, để chỉ nêu các tên tuổi này, coi nhẹ những lạc thú của nhận thức và của nghệ thuật tưởng tượng?” Về phần mình, con ông là John Stuart Mill viết: “Không có bất kỳ lý thuyết khoái lạc chủ nghĩa nào về cuộc đời mà không gán một giá trị cao cho những lạc thú của tinh thần, những cảm xúc tưởng tượng và những tình cảm đạo đức hơn hẳn những lạc thú của cảm giác đơn giản”.

Và họ cũng phải buộc bác bỏ sự vu khống mà chính họ là nạn nhân. Chẳng hạn, vào đầu thế kỷ XIX, James Mill viết: “Khẳng định rằng Mill và Bentham hoàn toàn không lưu ý đến nguồn gốc lạc thú nào khác ngoài những lạc thú thấy được và sờ mó được là một trong những bóp méo hiển nhiên nhất từng được thực hiện… nguyên lý hữu ích tính đến tất cả các thành tố của hạnh phúc con người”.

Và con của ông, John Stuart Mill, than phiền là “bầy đàn tầm thường (the common herd)… chỉ mới nghe đến cụm từ chủ nghĩa công lợi mà không hề biết điều gì khác ngoài âm thanh của nó liền lợi dụng để bác bỏ hay khinh bỉ lạc thú dưới một số hình thức, hình thức của cái đẹp, cái trang sức hay cái vui đùa.

Người ta tranh luận về lợi nhuận thương nghiệp, một số tác giả muốn xem đó là nguồn gốc đầu tiên của chiến tranh và của sự suy tàn của tinh thần công dân, một số khác lại nghĩ rằng việc tìm kiếm lợi nhuận đi kèm, và phục vụ, phúc lợi của xã hội.

Còn những luận cứ được Aristote nêu lên để ủng hộ sở hữu tư nhân là nhiều đến nỗi ta khó tìm ra ở các tác giả của thế kỷ XVIII và XIX, những ý tưởng trên chủ đề này mà Aristote chưa từng ít ra là phác thảo.

Tất nhiên, hoàn toàn không có vấn đề khẳng định là “không có gì mới dưới ánh sáng mặt trời”. Quyển sách này bàn về chủ nghĩa tự do, một dòng tư tưởng mà trong quá khứ không có dòng nào là tương đương. Nhưng để làm nổi bật điều gì là mới trong một trường phái, chắc chắn sẽ là có ích khi nhận diện một cách chính xác điều gì là cũ xưa trong trường phái ấy. Đó là điều chúng tôi vừa làm.

Sự ra đời của chủ nghĩa tự do: ví dụ về chế độ nô lệ

Như ta đã thấy trong phần dẫn nhập, lý tưởng tự do nổi lên gần như cùng một lúc (vào thế kỷ XVIII) trong đầu các nhà tư tưởng tự nhận mình thuộc về một trong hai học thuyết lớn về đạo đức của Tây phương. Nói chung, cho đến lúc bấy giờ, hai học thuyết này đều tán thành các thể chế mà chủ nghĩa tự do sẽ đấu tranh chống lại. Chẳng hạn, vào cuối thế kỷ XVII, cả hai đều thừa nhận tính hợp pháp của những thể chế như chế độ nô lệ và việc sử dụng triệt để sự kiểm duyệt đối với mọi ý kiến được xem là đặc biệt độc hại (như thuyết vô thần).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Francisco Vergara – Đạo đức trong kinh tế – NXB TT 2010.