Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần cuối


Mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành chế tạo cấp quốc gia: Mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo này sẽ đóng vai trò là đầu mối hỗ trợ hoạt động R&D đa ngành, đa lĩnh vực giữa các công ty, đơn vị học thuật và chính quyền, ứng dụng các công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư – những công nghệ có khả năng đảm bảo duy trì vị trí quốc gia sản xuất hàng đầu thế giới của Trung Quốc. Mạng lưới này sẽ giúp cải thiện năng lực và hiệu quả đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp sản xuất trong nước, tạo ra các bước đột phá nhảy vọt, ươm mầm nhân tài lãnh đạo toàn cầu trong một số lĩnh vực công nghệ cũng như gia tăng số lượng nghiên cứu có khả năng được thương mại hóa thành công.

Đến năm 2018, Trung Quốc đã thành lập được 5 trung tâm, chủ yếu tập trung vào các công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin như pin (ở Bắc Kinh), chế tạo đắp lớp (ở Tây An), thông tin và quang điện tử (ở Vũ Hán), người máy (ở Thẩm Dương), in ấn và màn hình linh hoạt (ở Quảng Đông). Hai trung tâm đổi mới sáng tạo sản xuất cấp quốc gia trong lĩnh vực vi mạch và cảm ứng thông minh đã được phê duyệt xây dựng ở Thượng Hải vào tháng 5/2018. Sau khi hai trung tâm này đi vào vận hành, Trung Quốc có tổng số 7 trung tâm được thành lập.

Một ví dụ là Viện chế tạo đắp lớp quốc gia, được thành lập năm 2016, đây là trung tâm đổi mới sáng tạo ngành chế tạo đầu tiên được thành lập ở Trung Quốc. Trung tâm này có sự tham gia của 5 trường đại học và 13 doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực của hoạt động gia công bù như linh kiện, nguyên liệu, sản xuất máy móc và phát triển phần mềm. Trung tâm này dành ưu tiên cho hoạt động khám phá các công nghệ chung thiết yếu mang lại lợi ích cho toàn bộ hệ sinh thái – bao gồm phát triển nguyên liệu, phần mềm, thiết bị chính và linh kiện chủ chốt. Các doanh nghiệp phi thành viên và các tập đoàn đổi mới công nghệ công nghiệp cũng tham gia các hoạt động của trung tâm này nhằm tạo động lực cho việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu. Chính quyền Trung Quốc cam kết tài trợ 200 triệu NDT để xây dựng trung tâm này bên cạnh vốn tài trợ của chính quyền tỉnh và doanh nghiệp trong ngành. Chính quyền cũng hỗ trợ cung cấp lực lượng lao động thông qua các gói giải pháp khuyến khích nhân tài (ví dụ kế hoạch “Hàng nghìn nhân tài”).

Một ví dụ khác là Trung tâm đổi mới sáng tạo vi mạch quốc gia được xây dựng tại Khu công nghệ cao Trạm Giang ở khu Phố Đông mới của Thượng Hải. Khu công nghệ này có hơn 200 doanh nghiệp vi mạch nổi tiếng của Trung Quốc và nước ngoài được Đại học Phúc Đán và hai nhà sản xuất vi mạch hàng đầu của Trung Quốc là SMIC và Tập đoàn Huahong xây dựng. Lĩnh vực hoạt động của trung tâm R&D vi mạch có kích thước 5 nanomet hoặc nhỏ hơn, cũng như các công nghệ tiên tiến như in tia cực tím EUV, mô phỏng, kỹ thuật tích hợp tiên tiến, kết nối và tích hợp sự vật để kiểm soát quá trình (OPC). Các tập đoàn vi mạch lớn của Trung Quốc cũng sẽ hợp tác với trung tâm để đóng góp vào hoạt động R&D của ngành, hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp nhân tài, bảo hộ sở hữu trí tuệ, hỗ trợ nâng cấp công nghệ ngành và xây dựng các dây chuyền sản xuất quy mô lớn trong tương lai.

Ngoài các trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, Trung Quốc cũng đang hỗ trợ phát triển 48 trung tâm đổi mới sáng tạo hoạt động sản xuất cấp tỉnh. Các trung tâm cấp quốc gia và cấp tỉnh này đã thiết lập nên hệ thống đổi mới sáng tạo hoạt động sản xuất, trong đó các trung tâm cấp quốc gia giữ vai trò chủ đạo với sự hỗ trợ quan trọng từ các trung tâm cấp tỉnh.

Các trung tâm đổi mới công nghệ cấp quốc gia:

Ngoài các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành chế tạo. Chính phủ Trung Quốc cũng thiết lập hai trung tâm đổi mới công nghệ, trong đó một trung tâm là về phương tiện giao thông sử dụng năng lượng mới (không sử dụng nhiên liệu truyền thống, ví dụ xe chạy bằng điện và kết hợp điện – xăng) và một trung tâm về vận tải đường sắt tốc độ cao.

Trung tâm đổi mới công nghệ phương tiện giao thông sử dụng năng lượng mới quốc gia được Bộ Khoa học và Công nghệ và chính quyền Bắc Kinh thành lập ở Bắc Kinh. Trung tâm này gồm 21 đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất, R&D phương tiện sử dụng năng lượng mới của Trung Quốc, bao gồm Baidu, Đại học Thanh Hoa, Tập đoàn BAIC của Bắc Kinh, Geely, BYD. Vốn tài trợ của bộ và chính quyền trung ương sẽ được cấp cho Trung tâm để thực hiện thử nghiệm, dịch vụ nghiên cứu và ươm mầm công nghệ.

Khu trình diễn các sáng kiến đổi mới sáng tạo độc lập quốc gia:

Khu trình diễn các sáng kiến đổi mới sáng tạo độc lập quốc gia được Chính phủ Trung Quốc thành lập để thực hiện các chương trình thí điểm, thu thập kinh nghiệm và trình diễn hoạt động sáng tạo độc lập và phát triển ngành công nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Từ năm 2014, Chính phủ Trung Quốc đã lập kế hoạch thúc đẩy nhân rộng thực hiện các chính sách thí điểm ở Zhongguancun sang các khu vực khác cũng như đẩy nhanh tiến độ thành lập các khu đổi mới sáng tạo quốc gia. Nhờ đó các khu đổi mới sáng tạo quốc gia đang được thành lập trên các địa phương khắp cả nước. Tới cuối năm 2017, Chính phủ Trung Quốc đã phê duyệt thành lập 17 khu trình diễn như vậy ở các địa phương từ thành phố duyên hải Thâm Quyến đến Thành Đô. Mười bảy khu trình diễn sáng kiến đổi mới sáng tạo cấp quốc gia này được Chính phủ Trung Quốc lựa chọn và được phép áp dụng các chính sách thuận lợi cũng như các cơ chế khuyến khích để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế khu vực trên cơ sở khai thác các điểm mạnh và lợi thế địa lý của mình.

Trong mô hình khu trình diễn sáng kiến đổi mới sáng tạo này, các thành phố/cụm thành phố có thể lựa chọn đối tượng đăng ký tham gia khi thành lập khu trình diễn sao cho đảm bảo điều kiện là khu trình diễn bao gồm các ngành xuất sắc dẫn đầu với nhiều doanh nghiệp sáng tạo, xung quanh là các học viện nghiên cứu và tài năng, áp dụng các chính sách vi mô linh hoạt và có môi trường kinh doanh thuận lợi. Chính phủ cho phép áp dụng các chính sách ưu đãi cho các khu này, nhờ đó các khu trình diễn có thể dẫn dắt đất nước trong các lĩnh vực liên quan đến chuyển giao công nghệ, tài trợ phát triển công nghệ và chia sẻ giải pháp về cơ chế khuyến khích. Với các biện pháp trên, các khu trình diễn này là nơi dẫn đầu cả nước trong việc thực hiện chính sách công nghệ liên quan vốn phụ thuộc vào khả năng thử nghiệm của hệ thống và sáng kiến về chính sách. Các khu trình diễn này được kỳ vọng sẽ đi đầu trong hoạt động phát triển các lĩnh vực cần sáng tạo cũng như cải cách hệ thống khoa học – công nghệ. Đó đồng thời cũng là nơi tập trung các ngành công nghiệp mới. Bằng cách chỉnh sửa cơ chế quản lý đổi mới sáng tạo cho phù hợp với điều kiện của địa phương, các khu trình diễn này đã khám phá ra cách thức phát triển thích hợp. Tất cả các hoạt động này đã giúp các khu trình diễn tránh khỏi tình trạng phát triển giống nhau, tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, cải thiện hiệu quả các chính sách đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo độc lập trong nền kinh tế Trung Quốc.

d/ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Các nhận định sau đây là những điểm quan trọng khi tổng kết sáng kiến của Trung Quốc để quản lý và phối hợp những mục tiêu về khoa học – công nghệ hướng tới phát triển công nghiệp và giúp làm đòn bẩy đổi mới sáng tạo ở Trung Quốc:

(1) Có tầm nhìn xa, nhà nước định hướng và phát triển theo mục tiêu cùng với những chính sách phù hợp, đồng nhất với các chính sách kinh tế và đổi mới sáng tạo;

(2) Cũng giống như Hàn Quốc, sự quan tâm đến chính sách thúc đẩy khoa học – công nghệ cần được chuyển hóa thành hệ thống luật trực tiếp và gián tiếp;

(3) Huy động nguồn lực phù hợp: Cải cách trong khối giáo dục đại học, các tổ chức R&D của nhà nước và củng cố môi trường thuận lợi của đổi mới sáng tạo;

(4) Tổ chức và quản lý R&D và công nghệ: hoạt động thúc đẩy được thực hiện thông qua các tổ chức chuyên nghiệp, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung hoạt động. Mô hình của Trung Quốc nổi bật với các sàn giao dịch công nghệ và sàn giao dịch cổ phiếu công nghệ (ví dụ sàn giao dịch công nghệ Thượng Hải – STTE);

(5) Kinh nghiệm phát triển kinh tế số ở Trung Quốc cho thấy, Việt Nam cần phải tạo lập hệ sinh thái toàn diện cho các doanh nghiệp phát triển, người tiêu dùng được trở thành trung tâm của các sản phẩm, dịch vụ, và đội ngũ lao động được đào tạo để tham gia khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XXI


Về chính sách kinh tế số, “Chiến lược Made in China 2025” (MIC 2025), Thủ tướng Lý Khắc Cường công bố tháng 5/2015 nhằm phát triển toàn diện công nghiệp 4.0 ở Trung Quốc. Mục tiêu tổng quát của chiến lược này là “nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm “made in China”; tạo ra thương hiệu riêng, xây dựng năng lực sản xuất vững mạnh bằng cách nghiên cứu phát triển  các công nghệ tiên tiến, sản xuất nguyên liệu mới, các cấu phần quan trọng của sản phẩm”, để biến nền kinh tế Trung Quốc từ “công xưởng của thế giới” trở thành một “thế lực về công nghệ”. Về khung khổ chính sách, MIC 2025 được hoạch định như một chiến lược công nghiệp 10 năm, bổ sung cho các chiến lược phát triển kinh tế cùng giai đoạn và kế hoạch hàng năm. Về tầm nhìn, MIC 2025 được cho chỉ là giai đoạn 1 của chiến lược dài hơi hơn nữa, bao gồm: 2015 – 2025: trở thành cường quốc chế tạo công nghệ; 2025 – 2035: gia nhập nhóm các cường quốc chế tạo công nghệ toàn cầu hạng trung; 2035 – 2045: cường quốc hàng đầu thế giới về chế tạo công nghệ.

Giai đoạn 2010 – 2020, Trung Quốc đã hoạch định chiến lược đẩy mạnh các ngành công nghiệp đang nổi lên (Strategic emerging industries), nhấn mạnh vào các ngành năng lượng và mối quan tâm đến môi trường, bao gồm: công nghệ tiết kiệm năng lượng thân thiện môi trường, công nghệ thông tin thế hệ mới, công nghệ sinh học, chế tạo thiết bị hiện đại, năng lượng mới, nguyên liệu mới, phương tiện sử dụng năng lượng mới. Chiến lược MIC 2025 nhắm vào 10 lĩnh vực sau: công nghệ thông tin, tự động hóa và máy móc điều khiển số cao cấp, thiết bị hàng không và vũ trụ, thiết bị cơ khí hàng hải và đóng tàu hiện đại, thiết bị đường sắt, phương tiện tiết kiệm năng lượng, thiết bị điện, nguyên – nhiên liệu mới, thiết bị y tế hiện đại và dược phẩm sinh học, thiết bị nông nghiệp. Các nhà hoạch định chính sách hy vọng bằng việc thực hiện chiến lược này, các nhà sản xuất Trung Quốc sẽ tham gia đầy đủ vào chuỗi giá trị toàn cầu, hợp tác hiệu quả với các nền kinh tế phát triển và các lĩnh vực khác như tài chính, y tế, giáo dục đều được hưởng lợi.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Trung Quốc

Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia của Trung Quốc bao gồm: các viện nghiên cứu nhà nước, khu vực giáo dục bậc cao và các doanh nghiệp: trong đó, các viện nghiên cứu nhà nước giữ vai trò chính trong việc hỗ trợ, phát triển công nghệ và nghiên cứu liên quan tới việc dự báo các hàng hóa công cộng.

Khu vực doanh nghiệp đã trở thành một thành phần thực hiện R&D lớn nhất về khía cạnh đầu vào và đầu ra của khoa học – công nghệ, giữ vai trò nổi bật trong quá trình phát triển khoa học và công nghệ của Trung Quốc. Các doanh nghiệp tăng mạnh về chi tiêu R&D bằng nguồn vốn tự có, các doanh nghiệp nước ngoài và liên doanh thực hiện các hoạt động R&D cùng với các công ty của Hong Kong, Macao và Đài Loan trong lĩnh vực công nghiệp và điện tử.

Sự mở rộng của khu vực giáo dục ở cấp đại học có ý nghĩa quan trọng đối với hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) ở Trung Quốc trong chiến lược phát triển kinh tế. Mức tăng tài trợ, chi tiêu R&D cho khu vực giáo dục bậc cao tăng nhanh, thúc đẩy sự tiến bộ của các trường đại học chuyên biệt, có năng lực nghiên cứu mạnh trong một số lĩnh vực chủ chốt về khoa học – tự nhiên và kỹ thuật, nhằm tạo ra một hiệu suất và môi trường nghiên cứu tầm cỡ thế giới. Giáo dục bậc cao được định hướng rõ rệt theo hướng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng, các kết quả đầu ra khoa học – công nghệ dưới dạng các xuất bản phẩm khoa học và các đơn xin cấp bằng sáng chế.

Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, Văn phòng Sở hữu trí tuệ quốc gia Trung Quốc (SIPO) đã nhận được 1,3 triệu đơn xin cấp bằng sáng chế trong năm 2016, nhiều hơn tổng số đơn xin cấp bằng sáng chế trong năm 2016, nhiều hơn tổng số đơn xin cấp bằng ở các nước Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu. Khu vực giáo dục bậc cao giữ một vai trò quan trọng trong việc truyền bá khoa học, tạo liên kết giữa khu vực hàn lâm với khu vực công nghiệp.

Với mục tiêu tăng cường cạnh tranh và thiết lập các trường đại học cấp đầu vào các tổ chức toàn cầu tới năm 2020, Trung Quốc đứng thứ 7 trong bảng xếp hạng các trường đại học đến từ các quốc gia có nền kinh tế mới nổi (Times higher education), đứng vị trí thứ 17 về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu. Mặc dù Trung QUốc có nguồn nhân lực lớn nhất thế giới về khoa học – công nghệ, nhưng nguồn nhân lực mang tính đột phá trong khoa học – công nghệ còn tương đối thiếu, người có trình độ đại học trên tỷ lệ dân số vẫn còn thấp, ít nhà nghiên cứu đạt tầm cỡ thế giới.

Các viện nghiên cứu của nhà nước được tập trung chủ yếu vào lĩnh vực khoa học – tự nhiên và các ngành công nghệ cao. Các viện nghiên cứu công PRI trở thành các tổ chức doanh nghiệp của Trung Quốc và được định hướng mạnh mẽ về R&D thử nghiệm và ứng dụng. Tổng chi của Trung Quốc cho R&D khoảng 279 tỷ USD trong năm 2017, tăng 14% so với năm 2016. Các cơ quan giáo dục bậc cao và doanh nghi65p công nghiệp cũng tham gia vào một loạt các chương trình khoa học – công nghệ quốc gia được chính phủ tài trợ.

Các công viên khoa học – công nghệ của các trường đại học quốc gia đã được thành lập, các khu công nghệ cao và vườn ươm công nghệ tập trung phát triển những công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), người máy (Robot) và dữ liệu lớn (Bigdata). Chương trình đánh giá các trung tâm công nghệ kỹ thuật quốc gia đã được thiết kế bằng cách sử dụng một bộ chỉ số mới, tuy nhiên hầu hết các báo cáo đánh giá chỉ dành cho sử dụng nội bộ và không được công bố công khai. Các hệ thống khoa học và đổi mới sáng tạo của Trung Quốc được liên kết yếu với các mạng toàn cầu, dưới mức trung bình của OECD.

c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Trung Quốc

Các doanh nghiệp Trung Quốc hiện nay lại là những nhà đầu tư R&D cho công nghệ số hàng đầu trên thế giới. Vốn đầu tư cho R&D được triển khai ở cả hai chiều cạnh: nghiên cứu đổi mới công nghệ trong công ty (In-house) và đầu tư tài chính mạo hiểm cho các startup công nghệ. Có hai điểm đáng chú ý: (i) Các ngân hàng thương mại nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn trực tiếp cho hoạt động R&D dưới dạng tín dụng hoặc thông qua các quỹ có quy mô lớn 3 – 21 tỷ USD; (ii) Thị trường tài chính công nghệ, tức là các giải pháp công nghệ mới cho thị trường tài chính (Fintech) cũng rất phát triển. Năm 2016, quy mô vốn đầu tư mạo hiểm cho fintech ở Trung Quốc là hơn 7,1 tỷ USD, vượt Mỹ (5,4 tỷ USD) và các nền kinh tế còn lại. Điều đó chứng tỏ trình độ ứng dụng công nghệ vào những lĩnh vực rất mới và tiên tiến như tín dụng ngang hàng (P2P).

Trung Quốc đã thực hiện rất nhiều chương trình và hoạt động thúc đẩy khoa học – công nghệ như: Chương trình ngọn đuốc (Torch program), các hội chợ thương mại công nghệ, hỗ trợ cho việc thành lập đơn vị dịch vụ trung gian và các hoạt động khác. Các hoạt động này được tổ chức thông qua các tổ chức với các tên gọi cụ thể.

Trung Quốc phát triển các công viên khoa học – công nghệ. Trong năm 2018, tại các công viên khoa học – công nghệ có 375 trường cao đẳng và đại học, 303 trung tâm nghiên cứu công nghệ quốc gia, 406 phòng thí nghiệm mở, 292 cơ sở kiểm soát công nghệ, 118 trung tâm chuyển giao công nghệ, 221 cơ sở công nghiệp đặc thù quốc gia, 35 cơ sở công nghiệp phần mềm.

Trung Quốc thực hiện đa dạng hóa phát triển vườn ươm. Hiện nay, Trung Quốc có vườn ươm trong các trường đại học, vườn ươm khởi nghiệp cho sinh viên, các vườn ươm đặc thù chuyên ngành (phần mềm, dược phẩm sinh học, vật liệu mới, nano, sản xuất tiên tiến, multimedia, bảo vệ môi trường, thiết kế vi mạch); vườn ươm quốc tế, công viên khởi nghiệp tiến sĩ, công viên khởi nghiệp sáng chế.

Trung Quốc hỗ trợ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo bằng cách thiết lập mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành chế tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo công nghệ quốc gia và mạng lưới các khu trình diễn ý tưởng đổi mới sáng tạo.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XX


c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Hàn Quốc

Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP năm 2019 của Hàn Quốc đạt mức 2000 tỷ USD, đứng thứ 12 thế giới, trên cả Australia. Chỉ mới 20 năm trước đây, thuật ngữ “hệ sinh thái khởi nghiệp” rất hiếm khi được đề cập tới thì nay trở thành một thuật ngữ gắn liền với Hàn Quốc. Tiềm năng phát triển của Fintech và IoT tại Hàn Quốc được đánh giá là còn rất lớn, đặc biệt là trong bối cảnh chính phủ nước này tiếp tục coi doanh nghiệp là động lực chính trong tạo việc làm và thúc đẩy phát triển một nền kinh tế mạnh và năng động.

Từ tháng 9/2015, Chính phủ Hàn Quốc đã thiết lập 17 trung tâm xúc tiến ý tưởng sáng tạo kinh tế khu vực (CCEI với 18 văn phòng ở các địa phương) nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin truyền thông và Cách mạng công nghiệp 4.0. Các trung tâm này giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp nói trên kết nối với các tập đoàn của Hàn Quốc cũng như các tập đoàn hoạt động trong khu vực. Sáng kiến này thể hiện quyết tâm thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng đổi mới sáng tạo của Chính phủ Hàn Quốc; đồng thời là minh chứng về hoạt động hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và kiến tạo việc làm của Chính phủ Hàn Quốc nhờ thiết lập các ngàn công nghiệp mới.

Chương trình thúc đẩy hoạt động khuyến khích sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới là hệ thống hỗ trợ một phần chi phí hoàn thiện công nghệ, bằng cách chính phủ chỉ định một tổ chức chuyển giao công nghệ được thương mại hóa và nó được hỗ trợ đến 70% hoặc 50 triệu Won tiền hợp đồng chuyển giao công nghệ trả cho bên cung cấp công nghệ khi công nghệ được chuyển giao từ các trung tâm nghiên cứu, trường đại học, các công ty,… Hệ thống bảo lãnh tín dụng của quỹ bảo lãnh tín dụng công nghệ Hàn Quốc là một hệ thống bảo lãnh do chính phủ tài trợ, bảo lãnh cho công nghệ thuộc sở hữu của công ty dựa trên giá trị công nghệ được phép cho vay. Khi đó, công ty thuộc đối tượng chính phủ bảo lãnh cho phép vay tiền từ ngân hàng mà không cần tài sản thế chấp.

Hàn Quốc có một hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển mạnh mẽ với hơn 30.000 startup, mang lại hơn 100.000 việc làm. Đến năm 2018, Hàn Quốc có trên 120 công ty quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm, phần lớn trong số đó tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các startup. Lý do Chính phủ Hàn Quốc ủng hộ ngành công nghiệp đầu tư mạo hiểm là do họ tin rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các startup sẽ là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế của đất nước trong tương lai. Các “startup kỳ lân” hiện tại ở Hàn Quốc như: Yellow Mobile, Coupang, Viva Republica, Woowa Brothers, Yanolja… là những minh chứng về tốc độ tăng trưởng tốt của hệ sinh thái khởi nghiệp và sức hấp dẫn với nhà đầu tư.

Ngoài ra, nền kinh tế Hàn Quốc được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và bền vững qua các năm. Theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) thì nền kinh tế của Hàn Quốc được dự báo sẽ đạt mức tăng trưởng 3% trong năm 2019. Đây là một con số khá ấn tượng đối với một nền kinh tế lớn như của Hàn Quốc.

d/ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Để phát triển khoa học – công nghệ, Hàn Quốc đã quan tâm đặc biệt đến chính sách thúc đẩy hoạt động khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo bằng việc ban hành hệ thống luật trực tiếp và gián tiếp liên quan, ban hành các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đa dạng.

Các hoạt động thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đổi mới công nghệ được thực hiện thông qua các tổ chức chuyên nghiệp, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung hoạt động, tạo thành một dịch vụ hoàn chỉnh trong một tổ chức.

Để triển khai các hoạt động khuyến khích đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới, các tổ chức này thiết lập một mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức khác nhau (chính phủ – viện, trường – doanh nghiệp – các tổ chức thúc đẩy hoạt động khoa học – công nghệ).

Hoạt động thúc đẩy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Hàn Quốc được đặc trưng bởi hệ thống các quỹ hỗ trợ chuyển giao công nghệ từ đầu tư nghiên cứu đến phát triển công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với công nghệ, giới thiệu công nghệ, kích cầu công nghệ từ nhiều nguồn, nhiều ngành, nhiều tổ chức và cá nhân khác nhau.

6/ Trung Quốc

Một trong những thay đổi quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu ở thế kỷ XXI là sự nổi lên của Trung Quốc như một nền kinh tế lớn. Trung Quốc, từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung điển hình quan niệm cứng nhắc về kế hoạch bộ phận hợp thành với những phân cấp, phân ngành của nền kinh tế theo sơ đồ tái sản xuất của K. Marx, trong đó có kế hoạch hóa khoa học – công nghệ; chỉ sau một vài năm hội nhập vào nền kinh tế thế giới đã nhanh chóng chuyển sang áp dụng tư duy và cách tiếp cận đổi mới trong hoạch định chiến lược phát triển.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Trung Quốc

Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, để đáp ứng các yêu cầu của cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài và thúc đẩy nền khoa học – công nghệ Trung Quốc phát triển; một loạt các văn bản quy phạm pháp luật được Trung Quốc xây dựng và ban hành, từng bước tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển hoạt động khoa học – công nghệ. Các văn bản luật liên quan như: Luật sáng chế, Luật về quyền tác giả, Luật chống cạnh tranh không lành mạnh, Quy tắc bảo vệ phần mềm. Năm 1993, Trung Quốc ban hành Luật tiến bộ khoa học và công nghệ. Và hoạt động thúc đẩy mạnh mẽ khoa học – công nghệ là Luật thúc đẩy chuyển hóa thành tựu khoa học – công nghệ Trung Quốc (1996), quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của chính chủ sở hữu kết quản khoa học – công nghệ, doanh nghiệp, cơ quan trung gian tham gia kinh doanh môi giới và các tổ chức đầu tư tài chính, kết nối với việc thương mại hóa công nghệ.

Về chính sách đổi mới nội sinh, “đổi mới nội sinh” là tư tưởng chỉ đạo cốt lõi trong định hướng phát triển khoa học – công nghệ giai đoạn 2006 – 2020 của Trung Quốc. Có nghĩa là, các nhà nghiên cứu ứng dụng của Trung Quốc được phép dựa trên các công nghệ nhập khẩu từ nước ngoài, kể cả các sáng chế đã được cấp bằng độc quyền sáng chế, “phát triển” chúng thành công nghệ “mới”.

Tư tưởng đổi mới nội sinh cũng thể hiện trong chính sách phát triển kinh tế số của Trung Quốc khi chủ trương tạo ra được một không gian đủ rộng lớn cho các doanh nghiệp công nghệ số khởi nghiệp, cạnh tranh và phát triển. Khi Google và Facebook bị cấm ở Trung Quốc, người ta dễ dàng phế phán Trung Quốc đang quay lưng lại đối với những thành tựu “tiên tiến” của thế giới – Internet và mạng xã hội. Đúng là chính sách trên có thể bắt nguồn từ những li ngại về chính trị, một bằng một cách ngẫu nhiên hay có chủ đích, quyết định đóng cửa này lạ mở ra một không gian xử lý tưởng cho các doanh nghiệp trong nước chiếm lĩnh thị trường công nghệ đầy tiềm năng này. Quyết định bảo hộ thị trường công nghệ số đã tạo cho doanh nghiệp trong nước của Trung Quốc vị thế độc quyền trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

Về chính sách tài chính, Chính phủ hướng dẫn các tổ chức tài chính để đổi mới độc lập và công nghiệp hóa thông qua các quỹ, giảm tỷ lệ lãi suất cho vay, hay sử dụng các tài khoản đảm bảo. Ngân hàng chính sách, ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chíh khác sẽ phát triển quyền sở hữu trí tuệ trong các vườn ươm công nghệ.

Các cơ quan nhà nước, các viện và các tổ chức sử dụng các quỹ tài chính khi thực hiện việc mua hàng phải ưu tiên cho các sản phẩm được hình thành từ các dự án quy hoạch quốc gia và các sản phẩm của các doanh nghiệp theo định hướng đổi mới quốc gia và các doanh nghiệp công nghệ cao.

Hạn chế nhập khẩu các công nghệ quan trọng có khả năng nội địa hóa. Các dự án lớn đã được đầu tư bởi chính quyền trong ương và địa phương, tỷ lệ mua các thiết bị trong nước không được ít hơn 60% tổng giá trị của dự án.

Về chính sách khuyến khích thành lập tổ chức, đối mặt với vấn đề thiếu khả năng đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp, các bộ và ủy ban nhà nước khuyến khích thành lập các tổ chức chuyển giao công nghệ chuyên ngành (TTO), bao gồm các TTO trong các trường đại học trọng điểm, các cơ sở nghiên cứu, TTO trong các khu công nghệ cao quốc gia, các cơ sở công nghiệp chuyên ngành, cụm công nghệp, các TTO quốc tế và cơ sở. Việc thiết lập các TTO nhằm cung cấp dịch vụ công cộng cho sản xuất và kinh doanh. Xúc tiến việc thiết lập các đại lý và các tổ chức chuyên nghiệp về khoa học – công nghệ thông qua việc tăng cường xây dựng các tài năng thúc đẩy khoa học – công nghệ, thực hiện đào tạo kỹ năng và kiến thức cho nguồn nhân lực thúc đẩy khoa học – công nghệ, thiết lập hệ thống chứng nhận cho các chuyên gia liên quan để thúc đẩy khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, khuyến khích đẩy chất lượng đại lý công nghệ tại các khu vực.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XIX


Chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Hàn Quốc đã có những thay đổi đáng kể trong thời gian gần đây, tập trung vào các lĩnh vực nghiên cứu công, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ, các cụm và chuyên môn hóa thông minh.

Về hoạt động quản trị chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, dưới chính quyền mới, một cuộc cải tổ các bộ và những thay đổi lớn trong tổ chức điều phối chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được thực hiện năm 2013. Bộ Khoa học và Công nghệ, Công nghệ thông tin và Quy hoạch tương lai (MSIP) được thành lập để hỗ trợ thực hiện “Sáng kiến kinh tế sáng tạo”, còn Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng ghép các chức năng thương mại theo danh mục R&D, ngành công nghiệp và chính sách năng lượng. Ngoài ra, Hội đồng Khoa học và Công nghệ quốc gia mới trực thuộc Văn phòng Thủ tướng Chính phủ là cơ quan cao nhất hoạch định các vấn đề chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo cho các đơn vị.

Chính sách thúc đẩy chuyển giao và thương mại hóa công nghệ: nghiên cứu công nghệ được thực hiện chủ yếu trong các viện nghiên cứu công có liên kết chặt chẽ với ngành công nghiệp. Các trường đại học và viện nghiên cứu công cũng rất tích cực đăng ký sáng chế cho các kết quả nghiên cứu của họ. Hàn Quốc đặt mục tiêu xây dựng một hệ thống hợp tác mới giữa các viện nghiên cứu công, trường đại học và ngành công nghiệp để đẩy mạnh ứng dụng các kết quả R&D công vì mục đích công nghiệp xã hội. Hệ thống này bao gồm Trung tâm hỗ trợ một cửa giúp các doanh nghiệp nhỏ và ừa tiếp cận với phương tiện và tri thức chuyên môn của các viện nghiên cứu công. MSIP cũng có các chương trình hỗ trợ trao đổi giáo sư và sinh viên giữa các trường đại học và viện nghiên cứu, cũng như lập kế hoạch đến năm 2017 xây dựng 18 trung tâm R&D chung giữa ngành công nghiệp – trường đại học – viện nghiên cứu công.

Ngoài ra, Kế hoạch cơ bản khoa học và công nghệ lần thứ ba cũng khuyến khích tăng cường sử dụng chung hạ tầng khoa học và công nghệ để mở rộng tiếp cận với tri thức và thông tin khoa học – công nghệ. Các viện nghiên cứu công phải dành 15% tổng ngân sách để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa vào năm 2017 (tỷ lệ này năm 2012 là 7%) và 3% cho chuyển giao công nghệ trong doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như hỗ trợ nguồn nhân lực (năm 2012 là 1,76%).

Chính phủ Hàn Quốc khuyến khích và đầu tư cho việc tuyên truyền nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các doanh nghiệp và các tổ chức. Đối với các công nghệ mới, nhà nước không chỉ bảo hộ mà còn thực hiện các biện pháp chứng nhận công nghệ và chứng nhận việc định giá công nghệ đồng thời bảo hành cho các công nghệ đó. Đây là những việc cần thiết để tạo điều kiện pháp lý cho việc thương mại hóa công nghệ, nhất là việc vay các khoản tín dụng ưu đãi.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Hàn Quốc

Ở hầu hết các quốc gia OECD, quản lý công nghệ và đổi mới sáng tạo được tổ chức quanh một ma trận đa tầng các cơ quan cấp bộ, các cơ quan tư vấn và nhiều chủ thể khác, tất cả đều liên quan đến việc ban hành, chỉ đạo và thực hiện chính sách. Hàn Quốc cũng tương tự, trong đó có nhiều bộ máy tổ chức cấp bộ, cơ quan công quyền và các cơ quan liên ngành tham gia vào việc xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Chính sách công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Hàn Quốc được tổ chức thông qua sự tham gia của nhiều bộ trong việc xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách. Tuy nhiên, các bộ chính ở đây là Bộ Khoa học và Công nghệ, Công nghệ thông tin và Quy hoạch tương lai (MSIP) và Bộ Công thương và Năng lượng (MOTIE), hai bộ này chiếm hơn 60% tổng chi tiêu công cho R&D trong năm 2003 (MSIP là 31,9%, MOTIE là 30,4%). Các bộ khác có trách nhiệm chính trong nghiên cứu bao gồm: Cơ quan Chương trình mua sắm quốc phòng (DAPA): Cục Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMBA); Bộ đất đai, Hạ tầng và Giao thông (MOLIT).

Bộ Chiến lược và Tài chính (MOSF) cũng tham gia vào chính sách công nghệ và đổi mới sáng tạo trong việc phân bổ ngân sách. MOSF phân bổ ngân sách phục vụ cho R&D cho các bộ trên cơ sở các chương trình công nghệ và đổi mới của họ, bao gồm hoạt động R&D do họ thực hiện, và cho các viện nghiên cứu của chính phủ theo hình thức vốn chung, sau khi được quốc hội phê chuẩn vào tháng 12 hằng năm.

Bộ Khoa học và Công nghệ, Công nghệ thông tin và Quy hoạch tương lai do Tổng thống Park lập ra là bộ chịu trách nhiệm dẫn dắt nền kinh tế sáng tạo phát triển thông qua khoa học và công nghệ. Được thành lập vào tháng 02/2013, MSIP tích hợp các chức năng khoa học – công nghệ của bộ tiền nhiệm (Bộ Giáo dục, Khoa học và Công nghệ – MEST) với các chức năng công nghệ thông tin rải rác ở nhiều bộ như Bộ Kinh tế tri thức (MKE) trước đây. Cơ cấu tổ chức của MSIP giúp Bộ có hai “cánh”, một tập trung vào khoa học – công nghệ, một tập trung vào công nghệ thông tin, mỗi bộ phận được một thứ trưởng lãnh đạo.

Sự thành lập Viện Nghiên cứu khoa học và công nghệ (KIST) năm 1996 đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ ở Hàn Quốc. Các nghiên cứu của KIST được triển khai theo hướng hợp đồng, để kết quả nghiên cứu có thể ngay lập tức được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh. Các nhà nghiên cứu của KIST đã chủ động đi tìm khách hàng thay vì ngồi chờ doanh nghiệp tìm đến.

KIST được miễn kiểm toán và hoạt động hàng năm của KIST không cần chính phủ phê duyệt. Một dự luật đặc biệt dành cho KIST cũng được thông qua, nhằm bảo đảm cho các nhà nghiên cứu tránh khỏi những rắc rối không cần thiết. Ngân sách của KIST cũng được đảm bảo trực tiếp từ Tổng thống Park Chung-Hee. Hệ thống hành chính được xây dựng theo hướng hỗ trợ mọi mặt cho nghiên cứu, thay vì can thiệp trực tiếp vào nghiên cứu.

Ngày nay, hệ thống xây dựng và đánh giá chính sách khoa học – công nghệ của Hàn Quốc đã phát triển rất nhiều so với thời KIST mới được thành lập. Chẳng hạn, Viện Đánh giá và Quy hoạch khoa học và công nghệ Hàn Quốc (KISTEP) đang  đóng vai trò Think-Tank trong việc xây dựng các chính sách khoa học – công nghệ của Hàn Quốc, đặc biệt trong việc hoạch định, dự báo, đánh giá và điều phối các chính sách.

Đối với các cá nhân hoặc công ty, để thực hiện thương mại hóa công nghệ thành công thì cần thiết phải được tài trợ. Các quỹ hỗ trợ chuyển giao công nghệ bao gồm quỹ chính sách của các bộ thuộc chính phủ, các tổ chức, tài chính, quỹ mạo hiểm và quỹ đầu tư thiên thần.

Những tổ chức công về công nghệ và đổi mới sáng tạo của Hàn Quốc
Viện Đánh giá và Quy hoạch khoa học và công nghệ Hàn Quốc (KISTEP) là cơ quan quy hoạch khoa học và công nghệ chính ở Hàn Quốc, hỗ trợ cho MSIP trong việc điều phối và đánh giá các chương trình R&D quốc gia. Chức năng cụ thể của Viện ban gồm: xây dựng, điều phối và hỗ trợ các chính sách khoa học – công nghệ lớn, bao gồm dự báo xu hướng phát triển khoa học – công nghệ được thực hiện bởi tất cả các bộ của chính phủ đồng thời hỗ trợ điều phối và phân chia ngân sách cho R&D; thực hiện nghiên cứu về hệ thống quy hoạch, đánh giá và quản lý nghiên cứu trong và ngoài nước; phổ biến thong tin và dữ liệu về chính sách R&D.
Quỹ Nghiên cứu quốc gia (NRF) có nhiệm vụ quản lý và đánh giá các dự án R&D cơ bản, chi ngân sách để điều hành các tổ chức nghiên cứu hàn lâm, hỗ trợ trao đổi hàn lâm trong nước/quốc tế, cung cấp cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các hoạt động hàn lâm, cung cấp học bổng hoặc cho vay giáo dục, thực hiện khảo sát, phân tích và đánh giá, thu thập thông tin thống kê về hỗ trợ và quản lý nghiên cứu được thực hiện ở các trường đại học.
Viện Phát triển công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KIAT) hỗ trợ cho chính sách công nghệ công nghiệp của MOTIE (ví dụ thông qua nghiên cứu và phân tích thống kê, phân tích xu hướng và đối thủ cạnh tranh, lập bản đồ công nghệ). Các chức năng chính cũng bao gồm đánh giá và quản lý các dự án hỗ trợ công nghiệp trong vùng; nâng cấp năng lực đổi mới thông qua R&D liên kết và hợp tác quốc tế; thúc đẩy việc chuyển giao và thương mại hóa công nghệ đã phát triển.
Viện Đánh giá công nghệ công nghiệp Hàn Quốc (KEIT) có nhiệm vụ hỗ trợ việc quy hoạch, đánh giá và quản lý các dự án R&D công nghiệp, thực hiện khảo sát nhu cầu công nghệ và dự báo công nghệ trong sản xuất.
Viện Đánh giá và Quy hoạch công nghệ năng lượng (KETEP) hỗ trợ MOTIE trong việc xây dựng chính sách công nghệ công nghiệp (ví dụ thông qua nghiên cứu và phân tích thống kê, xu hướng và lập bản đồ công nghệ). KETEP cũng đánh giá và quản lý các dự án R&D quốc gia trong lĩnh vực năng lượng.
Viện Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệp (STEPI) thực hiện nghiên cứu và phân tích các vấn đề liên quan đến khoa học – công nghệ và đổi mới. STEPI cũng cung cấp cho các cơ quan chính phủ các ý tưởng và đề xuất cho chính sách thúc đẩy đổi mới, đề xuất lựa chọn chiến lược cho phát triển công nghệ của lĩnh vực công và tư nhân, soạn thảo cũng như phổ biến thông tin và dữ liệu về chính sách khoa học – công nghệ.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Thị trường mới nổi chưa từng có: Tại sao các dự báo phát triển kinh tế đều sai – Phần cuối


Tình hình hiện nay

Thật vậy, mặc dù các nhà dự báo không thừa nhận một điều là trong thập kỷ tới không có gì giống như thập kỷ đã qua, các ngôi sao kinh tế của thập kỷ tiếp theo chỉ là thứ bỏ đi của thập kỷ trước. Ví dụ, trước đây Mexico là một nền kinh tế trì trệ, thì hiện nay quốc gia này đã trở thành một trong những nền kinh tế triển vọng nhất ở Mỹ Latinh. Và Philippines, đã từng bị cười nhạo, bây giờ là một trong những nền kinh tế nóng nhất trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng vượt 7%. 5 năm trước đây, trên trang bìa của The Economist, Pakistan được gọi là “nơi nguy hiểm nhất trên thế giới”, hiện nay quốc gia này bất ngờ có dấu hiệu ổn định tài chính. Pakistan là một trong những thị trường chứng khoán có tốc độ tăng trưởng hàng đầu trên thế giới vào năm ngoái, mặc dù vẫn đứng sau Hy Lạp, một quốc gia có tốc độ tăng trưởng đáng ngạc nhiên hơn. Một loạt các số liệu kinh tế gần đây cho thấy Hy Lạp bị hạ bậc từ “thị trường phát triển” xuống thành “thị trường mới nổi”, nhưng quốc gia này đã cắt giảm rất mạnh chi tiêu ngân sách chính phủ, cũng như về giá cả và tiền lương, giúp cho xuất khẩu có sức cạnh tranh lớn.

Những kinh nghiệm của các nước này cho thấy rõ chu kỳ chính trị đóng vai trò quan trọng đối với triển vọng của một quốc gia không kém gì chu kỳ kinh tế. Các cuộc khủng hoảng và suy thoái thường dẫn đến cải cách, có thể dẫn đến sự phục hồi hoặc bùng nổ về kinh tế. Nhưng thành công như vậy thì có thể dẫn đến kiêu ngạo và tự mãn – và tiếp theo là suy thoái. Sự bùng nổ của thập kỷ qua dường như lặp lại kịch bản này, vì gần như tất cả các quốc gia mới nổi tăng trưởng đồng loạt và suy thoái hoàn toàn cùng lúc. Song, khủng hoảng tài chính năm 2008 đã đẩy các nước mới nổi quay trở lại chu kỳ cũ. Các ngôi sao kinh tế trước đây như Brazil, Indoneisa và Nga đang mở dần do quản lý kém hoặc tự mãn. Theo Bộ trưởng Tài chính Indonesia, Muhammad Chatib Basri “thời kỳ tồi tệ làm nảy sinh ra những chính sách tốt, và thời kỳ thuận lợi làm cho chính sách kém hiệu quả”.

Bí quyết để thoát khỏi cái bẫy này là các chính phủ phải duy trì chính sách đúng đắn ngay cả trong lúc thuận lợi – đây là cách duy nhất một thị trường mới nổi chớp lấy cơ hội để bắt kịp với các nước phát triển. Nhưng làm như vậy quả là rất khó khăn. Trong thời kỳ sau chiến tranh, chỉ khoảng một chục quốc gia – một số nước ở nam châu Âu (như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) và Đông Á (như Singapore và Hàn Quốc) – đã đạt được điều này, đó là lý do tại sao chỉ 35 quốc gia trên thế giới được coi là “các nước phát triển”.

Trong khi đó, có rất nhiều khó khăn mà các quốc gia phải đối mặt để gia nhập hàng ngũ những nước phát triển do khó tăng năng suất lao động và đẩy mạnh cải cách. Điều này tương tự như con người trở nên béo phì khi giàu có và nghĩ rằng thời kỳ thịnh vượng mới chỉ bắt đầu. Thường thì sự thành công này chỉ là thoáng qua. Trong thế kỷ trước, các nước Argentina, Hy Lạp và Venezuela đều đạt mức thu nhập như phương Tây nhưng sau đó giảm trở lại.

Hiện nay, cùng với Mexico và Philippines, Peru và Thái Lan cũng đang trên đà phát triển. Bốn quốc gia này đã có chung một đặc điểm của các ngôi sao kinh tế trong thập kỷ gần đây: một nhà lãnh đạo chính trị uy tín, am hiểu về cải cách kinh tế và được đa số ủng hộ. Tuy nhiên, sự phấn khích cần phải được kiềm chế. Giai đoạn cải cách như vậy thường kéo dài từ 3 – 5 năm. Vì vậy, thế kỷ tiếp theo sẽ không phải là của Philippines hay Mexico.

Biện pháp cân bằng

Nếu các nhà dự báo không cần phải tính toán nhiều về thời gian, thì họ vẫn cần phải chú ý tới những vấn đề phức tạp sẽ nảy sinh. Để duy trì tăng trưởng nhanh chóng, các nhà lãnh đạo phải cân bằng một loạt các yếu tố, và tính đến nhiều thay đổi khi đất nước trở nên thịnh vượng hơn. Các dự án đơn giản, chẳng hạn như làm đường, có thể thúc đẩy một nền kinh tế yếu kém hơn là đẩy mạnh sự phát triển công nghệ tiên tiến quá sớm, do việc phát triển cơ sở hạ tầng cơ bản sẽ nhanh chóng mang lại lợi ích.

Hàng loạt các yếu tố này sẽ thay đổi theo điều kiện kinh tế. 5 năm sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bùng nổ tăng trưởng tín dụng vẫn là một vấn đề nan giải, đặc biệt khi nó tăng trưởng nhanh hơn so với GDP.

Trên thực tế, tăng trưởng tín dụng quá mức là gánh nặng cho các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc – quốc gia dựa vào tín dụng để duy trì tăng trưởng kinh tế. Khi được coi là một Trung Quốc tiếp theo, Việt Nam thậm chí còn vượt Trung Quốc trong lĩnh vực này, nhưng kết quả đã không như mong muốn: Việt Nam đã phải chịu suy thoái kinh tế do nợ và bây giờ quốc gia này bắt đầu tái cơ cấu hệ thống tài chính và đóng cửa các ngân hàng yếu kém.

Để giữ cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, các nhà lãnh đạo cần phải đảm bảo tăng trưởng dựa trên sự cân bằng các tài khoản quốc gia (không quá phụ thuộc vào vay nợ), cân bằng lợi ích của các tầng lớp xã hội (không tập trung trong tay một vài tỷ phú), phát triển đồng đều các khu vực địa lý (không tập trung vào thủ đô), các ngành công nghiệp sản xuất (không tập trung vào các ngành công nghiệp dễ tham nhũng như dầu khí).

Và những nước mới nổi phải cân bằng tất cả những yếu tố này trên cơ sở phù hợp với mức thu nhập của nước họ. Ví dụ, Brazil đang chi tiêu quá nhiều để xây dựng một nhà nước phúc lợi quá lớn đối với một quốc gia có thu nhập trung bình là 11.000 USD. Trong khi đó, Hàn Quốc – một đất nước có thu nhập trung bình gấp 2 lần Brazil – lại chi quá ít cho các chương trình phúc lợi xã hội.

Nhiều nhà lãnh đạo coi suy thoái kinh tế là ở thời nào cũng có, và là vấn đề tất yếu của sự phát triển, nhưng trong thực tế, đây là vấn đề cân bằng ngay cả đối với tham nhũng và hối lộ. Bất bình đẳng có xu hướng xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế và sau đó sẽ tăng cao và giảm xuống khi thu nhập đầu người vào khoảng 5000 USD.

Kiến thức địa phương

Không có một lý thuyết nào bao gồm hết kiến thức của địa phương. Người dân địa phương thường biết trước nền kinh tế đi về hướng nào trước khi các dự báo được đưa ra. Ngay cả trước khi nền kinh tế Ấn Độ bắt đầu chậm lại, doanh nhân Ấn Độ đã biết trước sụt giảm tăng trưởng kinh tế do hàng loạt các vụ hối lộ ở nước này. Tăng chi phí hối lộ quan chức chính phủ trogn nước khiến họ phải đầu tư ra nước ngoài, mặc dù các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đổ tiền vào Ấn Độ.

Điều này cho thấy cần phải nghiên cứu kỹ thực tế của từng đại phương. Các nhà phân tích tập coi Trung Quốc như là một trường hợp điển hình về mức đầu tư quá cao vào các thị trường mới nổi, do đầu tư chiếm gần 50% GDP, một mức độ chưa từng có ở bất kỳ quốc gia phát triển nào. Nhưng sự rủi ro chỉ được thấy rõ khi nhà đầu tư tới Trung Quốc và thấy tiền đầu tư được đổ vào các thị trấn không có người dân và các tòa nhà không có người ở.

Nhà kinh tế có xu hướng không nghiên cứu kỹ yếu tố con người và chính trị, những yếu tố này không thể định lượng và đưa vào các mô hình dự báo. Thay vào đó, họ nghiên cứu chính sách thông qua số liệu kinh tế, chẳng hạn như chi tiêu chính phủ hoặc lãi suất. Nhưng, những con số đó không thể nổi lên được sự năng nổ của Tổng thống Mexico, Enrique Pena Nieto, hoặc của Philippines, Benigno Aquino III, khi họ xóa bỏ độc quyền, hối lộ và sa thải các quan chức yếu kém.

Bất kỳ phương pháp tiếp cận thực tế nào để dự báo sự thành công của nền kinh tế mới nổi phản ánh được thực tế này và trạng thái thường xuyên thay đổi của cạnh tranh toàn cầu. Một nhà dự báo tương lai cần phải theo dõi một loạt các yếu tố từ chính trị  tới tín dụng và đầu tư, để đánh giá triển vọng tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia mới nổi trong 3 – 5 năm tới – khung thời gian hợp lý duy nhất cho các nhà lãnh đạo chính trị, doanh nhân, nhà đầu tư.

Đây là một phương pháp dự báo thiết thực về sự thăng trầm của các nền kinh tế trong thời điểm hiện tại và trong tương lai gần: trong thập kỷ này, chứ không phải là thập kỷ tiếp theo hoặc xa hơn nữa. Nó có thể không quá ảm đạm. Nhưng sự suy thoái gần đây cho thấy bức tranh có thể còn ảm đạm hơn nữa.

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Ruchir Sharma – The Ever-Emerging Markets. Why Economic Forecast Fail – Foreign Affairs, January/February 2014

TN 2014  – 72

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XVIII


5/ Hàn Quốc

Khoảng 50 năm về trước, Hàn Quốc có một sự tương đồng khá lớn với Việt Nam, thậm chí nhiều mặt kém Việt Nam. Tuy nhiên, Hàn Quốc đã thực hiện một cuộc cách mạng công nghệ và quản trị để chấn hưng đất nước. Trọng tâm của cuộc cách mạng này là đổi mới sáng tạo ở mọi cấp bậc.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sang tạo tại Hàn Quốc

Năm 2003, Chính phủ đã khởi động chương trình hướng đến đổi mới sang tạo trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và xem các địa phương kém phát triển so với thủ đô là nguồn phát triển mới. Những nỗ lực biến Hàn Quốc trở thành một nền kinh tế được dẫn dắt bởi đổi mới sang tạo đề ra nhiều biện pháp công nghệ và đổi mới sang tạo khác nhau, được điều phối bằng các luật và kế hoạch quốc gia. Ở mức cao nhất có “Tầm nhìn năm 2025”, được thiết lập vào năm 1999. Trong tầm nhìn dài hạn cho phát triển khoa học công nghệ đến năm 2025, đề những hướng phải thực hiện, xây dựng một nền kinh tế tiên tiến và phồn vinh thông qua phát triển khoa học – công nghệ, bằng cách tạo mới, sử dụng và phổ biến tri thức, đề cao hiểu biết khoa học và hình thành hệ thống quản lý tiến bộ của khoa học – công nghệ quốc gia.

Với kế hoạch này, Hàn Quốc đồng thời xác định những định hướng phát triển rõ ràng:

+ Chuyển dần hệ thống đổi mới quốc gia từ “chính phủ dẫn dắt” sang “tư nhân dẫn dắt” ;

+ Nâng cao hiệu quả của đầu tư R&D quốc gia;

+ Làm cho hệ thống khoa học – công nghệ hòa hợp với hệ thống toàn cầu;

+ Ứng phó được với những thách thức và tận dụng được những cơ hội do công nghệ mới đem lại.

Dựa trên “Tầm nhìn năm 2025”, Luật khung về khoa học và công nghệ đã được soạn thảo để thúc đẩy khoa học – công nghệ mang tính hệ thống hơn. Luật khung là cơ sở pháp lý cho các kế hoạch cơ bản 5 năm về khoa học – công nghệ (2003 – 2007 và 2008 – 2012). Các kế hoạch cơ bản là hướng dẫn chung để thực hiện các chính sách về khoa học – công nghệ. Ngoài kế hoạch cơ bản, vào năm 2008, Chính phủ cũng đã ban hành “Sáng kiến 577” bao gồm một số mục tiêu đầy tham vọng: cường độ R&D (tỷ lệ chi R&D/GDP) đạt 5% vào năm 2012; tập trung vào 7 lĩnh R&D trọng yếu và 7 hệ thống hỗ trợ (nguồn nhân lực hàng đầu thế giới, nghiên cứu cơ bản, đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, toàn cầu hóa khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo vùng, hạ tầng cơ sở khoa học – công nghệ, văn hóa khoa học – công nghệ); trở thành một trong bảy cường quốc về khoa học – công nghệ trên thế giới.

Hiện tại, Hàn Quốc đang thực hiện một chiến lược mới gọi là “Nền kinh tế sáng tạo”. Chiến lược này nhằm khắc phục những vấn đề mà nền kinh tế Hàn Quốc đang bắt đầu phải giải quyết bao gồm dân số già hóa nhanh, tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới và sự thiếu vắng các công nghệ mới thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài ra, nền kinh tế Hàn Quốc được xem là đã đạt đến giới hạn của mô hình tăng trưởng định hướng xuất khẩu, đã mang lại thịnh vượng cho quốc gia trong năm thập kỷ.

Hộp: Ba mục tiêu, 6 chiến lược, 22 nhiệm vụ

Kế hoạch hành động của nền kinh tế sáng tạo đưa ra tầm nhìn cho việc “Hiện thực hóa kỷ nguyên hạnh phúc mới cho người dân Hàn Quốc thông qua nền kinh tế sáng tạo” để xây dựng hệ sinh thái kinh tế sáng tạo, với ba mục tiêu, gồm:

1/ Tạo việc làm và xây dựng thị trường mới thông qua đổi mới sáng tạo.
2/ Tăng cường khả năng lãnh đạo toàn cầu của Hàn Quốc thông qua nền kinh tế sáng tạo.
3/ Xây dựng một xã hội, trong đó tính sáng tạo được tôn trọng và thể hiện.

Theo đó, 6 chiến lược đã được đề xuất cùng với 22 nhiệm vụ (mỗi chiến lược gồm 2 – 5 nhiệm vụ) như sau:
1/ Bù đắp thỏa đáng cho sự sáng tạo và xây dựng hệ sinh thái để thúc đẩy sự hình thành của các doanh nghiệp khởi nghiệp.
+ Tạo điều kiện để dễ dàng khởi động các doanh nghiệp mới thông qua đầu tư không cấp tài chính.
+ Cấp sáng chế cho các ý tưởng sáng tạo.
2/ Tăng cường vai trò của doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế sáng tạo, nâng cao khả năng của các loại hình doanh nghiệp này trong việc gia nhập vào thị trường toàn cầu:
+ Chính phủ và các tổ chức công sẽ trở thành khách hàng số 1 để tiên phong hỗ trợ thâm nhập các thị trường mới.
+ Nới lỏng các quy định và tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ để khuyến khích đầu tư.
+ Đề ra mục tiêu phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp bằng cách tiếp cận các thị trường toàn cầu.
+ Xây dựng hệ sinh thái, khuyến khích hợp tác đôi bên cùng có lợi giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với các doanh nghiệp lớn.
+ Xây dựng hệ thống kết nối nhu cầu, giáo dục và tuyển dụng để giải quyết tình trạng thiếu nhân lực.
3/ Tạo động lực tăng trưởng để dẫn đầu các thị trường mới và các ngành công nghiệp mới:
+ Kết hợp khoa học – công nghệ và công nghệ thông tin, truyền thông để tiếp sức cho các ngành công nghiệp hiện có.
+ Xây dựng ngành công nghiệp mới dựa vào phần mềm và Internet.
+ Xây dựng các thị trường mới thông qua đổi mới công nghệ hướng tới con người.
+ Dẫn đầu các thị trường mới bằng cách xác định và thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp triển vọng mới trong tương lai.
+ Thúc đẩy tạo lập thị trường và sự hội tụ của ngành công nghiệp thông qua hợp lý hóa quy định.
4/ Nuôi dưỡng tài năng sáng tạo toàn cầu cần thiết để ứng phó với thách thức và theo đuổi ước mơ:
+ Tăng cường phát triển tài năng sáng tạo hội tụ.
+ Giữ vững tinh thần thử thách và tinh thần kinh doanh.
+ Khuyến khích tài năng sáng tạo trong nước, trau dồi tri thức ở nước ngoài.
5/ Tăng cường năng lực đổi mới khoa học – công nghệ và công nghệ thông tin, truyền thông, tạo nền tảng cho nền kinh tế sáng tạo:
+ Xây dựng môi trường nghiên cứu tự động đầy thách thức và hỗ trợ thương mại hóa nghiên cứu.
+ Đi tiên phong trong các thị trường mới bằng cách tăng năng lực đổi mới công nghệ thông tin, truyền thông.
+ Khuyến khích phát triển kinh tế vùng, tăng cường chức năng thương mại hóa và đổi mới của các trường đại học.
+ Giải quyết các vấn đề xã hội mang tính quốc tế thông qua khoa học – công nghệ và công nghệ thông tin, truyền thông để nâng cao vị thế quốc gia.
6/ Xây dựng nền văn hóa kinh tế sáng tạo cho người dân Hàn Quốc:
+ Xây dựng nền văn hóa sáng tạo để hiện thực hóa tính sáng tạo và trí tưởng tượng.
+ Kết hợp các ý tưởng Hàn Quốc với nguồn lực công thông qua chính phủ 3.0.
+ Đổi mới phương thức làm việc của chính phủ để hiện thực hóa nền kinh tế sáng tạo.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Thị trường mới nổi chưa từng có: Tại sao các dự báo phát triển kinh tế đều sai – Phần đầu


Ruchir Sharma

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình tại các thị trường kinh tế mới nổi đến giữa thập niên vừa qua lần đầu tiên đạt mức hơn 7% năm và các nhà dự báo được dịp phóng đại quá mức về mối tương quan ảnh hưởng của nó. Theo dự báo, Trung Quốc không bao lâu sẽ là cường quốc vượt qua của Mỹ, và Ấn Độ có số dân khổng lồ hoặc Việt Nam sẽ là Trung Quốc tiếp theo trong tương lai. Theo kết quả thăm dò, các chuyên gia tiên đoán rằng Bắc Kinh sẽ sớm dẫn đầu nhóm BRIC – Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc – sẽ trở thành siêu cường duy nhất trong khi vai trò của phương Tây mờ nhạt dần. Điều này dẫn tới sự phổ biến của cụm từ viết tắt CIVET – Colombia, Indonesia, Việt Nam, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi xuất phát từ cụm từ MIST (Mexico, Indonesia, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ).

Năm năm sau khi cuộc khủng hoảng tài chính 2008 nổ ra, phần lớn sự phấn chấn và những cụm từ viết tắt nêu trên đã trở nên lỗi thời. Tốc độ tăng trưởng trung bình của các nền kinh tế mới nổi đã giảm xuống 4% trong năm 2013 lúc BRIC đang tan vỡ. Nước nào cũng có lý do riêng của nó và tuy những cuộc họp thượng đỉnh vẫn diễn ra như thường lệ song chúng chỉ nhằm làm rõ thêm những khó khăn trong việc tạo dựng một khối thật sự có ý nghĩa từ các chính thể chuyên chế và chính thể dân chủ vốn có những lợi ích kinh tế xung đột. Khi dự báo thổi phồng mất dần, các nhà dự báo phải xem xét lại những sai lầm trong dự đoán của mình vào thời điểm đỉnh cao của sự bùng nổ các nước BRIC.

Sai lầm của họ rất nhiều. Các nhà tiên đoán không coi các thị trường mới nổi như những câu chuyện cá nhân, và họ bắt đầu gộp chúng vào một nhóm vô danh với từ viết tắt dễ nhớ nhưng vô nghĩa. Họ quá tin tưởng vào tuyên bố của các lãnh đạo chính trị, những người chịu trách nhiệm về sự bùng nổ và bỏ qua các lực lượng toàn cầu khác, chẳng hạn như gói kích thích kinh tế của Mỹ và châu Âu đã giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các nhà dự báo cũng đưa ra dự đoán dựa trên một yếu tố duy nhất – nhân khẩu học. Trong khi nghiên cứu cho thấy một loạt các yếu tố phức tạp khác cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tóm lại, các nhà dự báo đã mắc lỗi khi thực hiện phương pháp ngoại suy. Họ cho rằng xu hướng gần đây sẽ tiếp tục vô thời hạn và các nền kinh tế nóng sẽ tiếp tục phát triển nóng, bỏ qua bản chất vốn có tính chu kỳ của sự phát triển chính trị và kinh tế. Sự phấn chấn vượt qua tính khả thi – một quá trình làm sai lệch dự báo kinh tế.

Hội chứng đơn tử (Lý thuyết một yếu tố)

Lịch sử cho thấy phương pháp ngoại suy tuyến tính hầu như bao giờ cũng sai. Tuy thế, các chuyên gia bị thu hút bởi ý tưởng mơ mộng và ám ảnh của phương pháp này dường như không thể không áp dụng nó. Trong thập niên 1960, Philippines đã giành quyền đăng cai trụ sở chính của Ngân hàng Phát triển châu Á vì cho rằng sự tăng trưởng nhanh chóng của quốc gia này vào thời điểm đó sẽ đưa Philippines trở thành ngôi sao của khu vực trong nhiều năm tới. Điều đó đã không xảy ra bởi trong thập kỷ tiếp theo, tăng trưởng kinh tế đã bị đình trệ do chính sách sai lầm của nhà độc tài Ferdinand Marcos (nhưng Ngân hàng Phát triển châu Á vẫn giữ nguyên dự báo). Tuy nhiên, phương pháp ngoại suy vẫn tiếp tục tồn tại, và trong những năm 1970, suy nghĩ như vậy đã dẫn các học giả Mỹ và cơ quan tình báo dự đoán tương lai thuộc về Liên Xô, và trong những năm 1980 sẽ thuộc về Nhật Bản. Sau sự bùng nổ thị trường mới nổi của thập kỷ qua, phương pháp ngoại suy ngày càng thêm bất hợp lý. Dự báo cho rằng các sức mạnh kinh tế trong thế kỷ XVII của Trung Quốc và Ấn Độ là bằng chứng cho thấy hai quốc gia này sẽ thống trị trong thập kỷ tới, và thậm chí trong những thế kỷ tới.

Sự bùng nổ cũng cho thấy rõ một lỗi dự báo thường gặp khác: các dự đoán dựa vào các lý thuyết đơn tử. Sự bùng nổ của Trung Quốc một phần nhờ vào lao động giá rẻ của một quốc gia có dân số đang trẻ hóa, các nhà dự báo bắt đầu tìm kiếm các nền kinh tế phát triển nóng tiếp theo ở một quốc gia với đặc điểm dân số tương tự – mà bỏ qua thách thức trong việc phát triển một ngành sản xuất tiên tiến để tạo việc làm cho tất cả mọi người. Đã từng có những người theo trường phái kinh tế tự do cho rằng một nhà nước minh bạch khuyến khích đầu tư là yếu tố quyết định, tuy nhiên dù là chính phủ dân chủ hay độc tài thì tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng không khác gì nhau trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Những người theo trường phái đạo đức kinh doanh cho rằng nợ luôn luôn là xấu (quan niệm này càng được củng cố sau cuộc khủng hoảng tín dụng năm 2008), mặc dù tăng trưởng kinh tế và tín dụng đi đôi với nhau.

Hạn chế của lý thuyết đơn tử là không theo sát các sự kiện đang diễn ra hoặc đánh giá quá cao những yếu tố tạo nên sự khác biệt cho mỗi quốc gia. Một mặt, thể chế nhà nước và đặc điểm về dân số thay đổi quá chậm để có thể dự đoán rõ ràng về hướng đi của nền kinh tế. Mặt khác, những người dự báo – những người cho rằng thay đổi về văn hóa và tăng trưởng kinh tế có cùng tốc độ mà không tính đến tốc độ thay đổi rất nhanh của văn hóa. Lấy Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ làm ví dụ, các nền dân chủ Hồi giáo lớn, nơi kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ đã phản bác lại quan điểm cho rằng Hồi giáo cản trở sự phát triển kinh tế.

Lý thuyết tổng quát thường không dự đoán được những gì sắp xảy ra. Những người theo quan điểm địa lý là yếu tố quan trọng không thể lường trước được sự phát triển mạnh mẽ trong thập kỷ qua của một số quốc gia có vị trí địa lý không thuận lợi, như các quốc gia giáp biển như Armenia, Tajikistan và Uganda. Ở Kazakhstan, giá dầu tăng cao đã giúp cho nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng kinh tế trì trệ kéo dài suốt thời kỳ hậu Xô Viết.

Tính chất rõ ràng mạch lạc của lý thuyết đơn tử đã tạo nên sức hấp dẫn của nó. Nhưng do những thuyết này bỏ qua những thay đổi nhanh chóng của cạnh tranh toàn cầu, tạo ra bức tranh kém thuyết phục để dựa vào đó mà lập kế hoạch cho 5 – 10 năm tới. Sự thật là các chu kỳ kinh tế ngắn, thường chỉ kéo dài 3 – 5 năm từ đỉnh tới đáy. Tình hình cạnh tranh có thể thay đổi hoàn toàn trong thời gian đó, dù thông qua đổi mới công nghệ hay thay đổi chính trị.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Ruchir Sharma – The Ever-Emerging Markets. Why Economic Forecast Fail – Foreign Affairs, January/February 2014

TN 2014  – 72

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XVII


b/ Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thái Lan

Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia của Thái Lan dựa trên 3 chủ thể là các doanh nghiệp tư nhân, chính phủ và các trường đại học. Ở Thái Lan chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia (TNCs) nghiên cứu hay sản xuất cùng một lĩnh vực có công nghệ thấp. Phần lớn các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các nguồn lực công cộng và tư nhân thường hướng đến các trung tâm công nghệ và khoa học định hướng xuất khẩu ở khu vực Bangkok. Doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào máy móc và thiết bị chiếm 83% và hầu hết đầu tư vào các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, Thái Lan lại thiếu các chuyên gia để hiện đại hóa ngành công nghiệp, đặc biệt là trong công nghệ cao. Các doanh nghiệp Thái Lan phải đối mặt với ngưỡng công nghệ như đồng hóa và thích ứng công nghệ, thiết kế và kỹ nghệ.

Với hệ thống trường đại học tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nên năng lực R&D công nghệ đối với các ngành công nghiệp của Thái Lan là khá thấp. Các chính sách và chương trình cụ thể, như: Chính sách phát triển lực lượng lao động và giáo dục STEM, Chương trình giáo dục kép, Chương trình học tập tích hợp công việc, Chương trình phát triển kỹ năng, Chương trình Talent Mobility, được chính phủ đưa ra nhằm cải thiện nguồn nhân lực và kỹ năng tổng thể. Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập Cơ quan Đổi mới Quốc gia (NIA) phát triển các chương trình của Trường Quản lý Đổi mới (IMS) nhằm thúc đẩy văn hóa đổi mới quốc gia, tăng nhận thức về tầm quan trọng của đổi mới trong xã hội Thái Lan. Trong Kế hoạch NESD mới, CHính phủ đã đặt ra các mục tiêu chi tiêu R&D đầy tham vọng, lần lượt là 1% và 1,5% GDP vào năm 2018 và 2021.

Cho đến gần đây, việc quản trị các chính sách khoa học và đổi mới sáng tạo bao gồm vô số cơ quan hành chính chồng chéo và không có sự phân định trách nhiệm rõ ràng (Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia – NRC, Ủy ban Chính sách Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo quốc gia – CISTR, Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ – TISTR, Cục Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia – NSTDA,…). Do vậy, Chính phủ đã tiến hành Chương trình cải tổ quản trị khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo vào năm 2016 với ba mục tiêu chính: 1) Xem xét lại hệ thống quản lý khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, R&D; 2) Đưa khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, R&D vào kế hoạch phát triển quốc gia; 3) Áp dụng hệ thống cấp ngân sách dựa trên lịch trình. Kết quả là Hội đồng Chính sách nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo quốc gia được thành lập tháng 10/2016 như một cơ quan duy nhất đưa ra định hướng chính sách cho nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và việc triển khai chúng. Văn phòng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo và Hội đồng Nghiên cứu quốc gia Thái Lan cùng chia sẻ vai trò thư ký của Hội đồng mới này.

c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thái Lan

Trong hai thập kỷ qua, tổng chi R&D của Thái Lan nằm trong khoảng 0,25 – 0,6% GDP (tăng từ 0,36% GDP năm 2011 lên 0,63% năm 2015). Trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội quốc gia mới, chính phủ đặt ra các mục tiêu tham vọng trong chi R&D lần lượt ở mức 1,0% và 1,5% GDP vào các năm 2018 và 2021.

Đầu tư cho R&D của khu vực doanh nghiệp Thái Lan Tăng 360% trong giai đoạn 2008 – 2014 với trọng tâm hướng vào lĩnh vực chế tạo. Tuy nhiên, tỷ trọng chi R&D doanh nghiệp trong GDP của Thái Lan vẫn còn thấp xa so với các nước phát triển. Ưu đãi thuế và các phiếu (voucher) đổi mới sáng tạo là những công cụ chính sách quan trọng tài trợ cho R&D doanh nghiệp. Cải cách thuế gần đây nâng mức giảm thuế tối đa đối với chi R&D và đổi mới sáng tạo từ 200% lên 300%.

Tương tự, Trung tâm Hỗ trợ R&D doanh nghiệp (CRDC-FC) hướng tới tạo điều kiện thuận lợi trong đầu tư cho R&D của các công ty tư nhân. Trung tâm được thành lập năm 2015 với sự hợp tác của Văn phòng Chính sách khoa học và công nghệ – đổi mới sáng tạo. Các hoạt động chính của Trung tâm bao gồm: i) phát triển nguồn nhân lực; ii) tiếp nhận và chuyển giao công nghệ; iii) quản lý tài sản trí tuệ; iv) khai thác sự hỗ trợ và các sáng kiến của chính phủ; v) cung cấp không gian, công cụ và phương tiện cho R&D để kích thích các công ty đa quốc gia đầu tư cho R&D. Năm 2016, loạt sự kiện “Thái Lan khởi nghiệp 2016” được triển khai để tạo nguồn cảm hứng cho các doanh nhân mới từ các sinh viên đại học, cao đẳng đến các nông dân và những nhà điều hành doanh nghiệp. Chính phủ đã triển khai các quy định cho các startup với các sáng kiến thu hút doanh nhân và các nhà đầu tư trên toàn cầu. Chương trình mua sắm của chính phủ ủng hộ sáng tạo địa phương là một sáng kiến khác để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp địa phương. Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng một hệ thống để đánh giá và thông qua các đề xuất thương mại hóa các sản phẩm địa phương.

Hành lang đổi mới kinh tế phía đông (EECi) là trung tâm đầu tư của các công nghệ thông minh, bao gồm các phòng thí nghiệm, thử nghiệm. Hệ thống quản lý chuỗi cung ứng thông minh đầu cuối được sử dụng để kết nối và tích hợp ngành công nghệ Thái Lan với thị trường thế giới, giúp Thái Lan là nhà sản xuất ô tô lớn thứ 12 thế giới và lớn nhất tại Đông Nam Á.

Cơ quan sáng tạo quốc gia (NIA) của Thái Lan đưa ra chính sách xây dựng 15 khu đổi mới sáng tạo thí điểm. Hưởng ứng chính sách phát triển công nghệ của Chính phủ Thái Lan, Tập đoàn True đã đầu tư xây dựng True Digital Park, nằm trong Punnawithi Innovation Zone của NIA ở Bangkok. True Digital Park là một tổ hợp bao gồm một số tòa nhà cao tầng và 77.000 m2 sàn, tạo không gian làm việc, sáng tạo cho các doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhóm khởi nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà nghiên cứu, trường đại học. Mục tiêu của True Digital Park là tạo ra một hệ sinh thái hoàn chỉnh với sự tham gia của tất cả các thành phần, đặc biệt là các công ty công nghệ lớn trên thế giới. Qua đó, True Digital Park muốn góp phần đưa Thái Lan trở thành một trung tâm toàn cầu cho sáng tạo số (digital innovation). 80% diện tích của True Digital Park đã được các startup và doanh nghiệp đăng ký sử dụng. Đã có 90 startup nhận được tài trợ với số vốn lên đến 280 triệu USD. True Digital Park nhận được sự hợp tác của các đối tác lớn như Google (Google Learning Center).

Trong Chiến lược Thái Lan 4.0, mười lĩnh vực công nghiệp “đặc trưng” (S-Curve) đã được xác định để tạo nên các nền tảng công nghiệp tương lai cho nền kinh tế dựa vào tri thức của Thái Lan. Theo thứ tự ưu tiên, các ngành công nghiệp thâm dụng kỹ năng thay thế cho các ngành thâm dụng lao động trước đó, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của đất nước. Sự tiếp cận công nghiệp đặc trưng bao gồm nâng cấp 5 ngành công nghiệp hiện hữu là ô tô, điện tử thông minh, y học và du lịch, nông nghiệp và công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến thực phẩm. Ngoài ra, 5 lĩnh vực công nghiệp mới sẽ được thúc đẩy để tạo ra “Đặc trưng mới” của Thái Lan gồm: i) người máy; ii) hàng không và hậu cần; iii) nhiên liệu sinh học và hóa sinh; iv) công nghiệp kỹ thuật số; v) y học. Thái Lan đã xây dựng các biện pháp thúc đẩy đầu tư và phát triển nguồn nhân lực để thúc đẩy sự phát triển của 10 lĩnh vực công nghiệp này.

Chính phủ Thái Lan vừa thông qua một khoản ngân sách trị giá 24,6 tỷ Baht (khoảng 810 triệu USD) để hỗ trợ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo nhằm chuyển đổi nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á này thành một xã hội hoàn toàn dựa trên công nghệ. Hội đồng Chính sách nghiên cứu và Đổi mới sáng tạo quốc gia cho biết, khoản ngân quỹ nói trên được trích từ ngân sách sách tài khóa hiện nay, sẽ tài trợ cho các dự án nhằm hiện thực hóa mục tiêu hoàn thành xây dựng một xã hội dựa trên công nghệ. Số tiền này sẽ được đầu tư cho việc phát triển nhân lực và các thể chế, thực hiện nghiên cứu và đổi mới sáng tạo nhằm giải quyết những vấn đề chính của đất nước, đồng thời đưa nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vào việc tăng tính cạnh tranh của đất nước và giảm bất bình đẳng trong xã hội.

d/ Bài kinh nghiệm cho Việt Nam

Mô hình hệ thống đổi mới sáng tạo của Thái Lan có những đặc điểm phù hợp với Việt Nam, như đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nhanh nội địa hóa sản phẩm, phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Chính sách nhằm hạn chế tập trung địa lý về tài chính và nhân lực đã giúp phát huy thế mạnh ở từng vùng, miền.

Qua kinh nghiệm khuyến khích sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới của Thái Lan, Việt Nam cũng rút ra thêm một kinh nghiệm để xây dựng thành công hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia cần dựa trên 4 nền tảng: Coi doanh nghiệp là trung tâm đổi mới sáng tạo; nâng cao năng lực để doanh nghiệp tiếp thu công nghệ; đáp ứng nhu cầu về kỹ năng và kiến thức phù hợp; liên tục cải thiện để đảm bảo chất lượng và kỹ năng phù hợp. Cần xác định phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao là ba đột phá chiến lược cùng với cải cách thể chế và hạ tầng.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XVI


c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Singapore

Theo bình chọn của Tạp chí Forbes năm 2017, trên cơ sở số liệu công bố của Quỹ Tiền tệ quốc tế, Singapore được xem là trung tâm công nghệ, sản xuất và tài chính với thu nhập bình quân đầu người đạt trên 56.700 USD, là quốc gia giàu thứ ba trên thế giới, chỉ sau Qatar (GDP bình quân đầu người đạt 88.000 USD) và Luxembourg (GDP bình quân đầu người đạt 81.000 USD). Các chỉ số xếp hạng của Singapore về đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) và chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) đều ở tốp đầu thế giới. Năm 2017, Singapore xếp thứ 7/127 quốc gia về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (Việt Nam xếp thứ 47/127 quốc gia) và xếp thứ 3/127 quốc gia về chỉ số cạnh tranh toàn cầu (Việt Nam xếp thứ 55/137 quốc gia).

Mục tiêu trở thành nền kinh tế tri thức không phải là của riêng Singapore. Liên minh châu Âu cũng đề ra mục tiêu tương tự trong Chiến lược Lisbon năm 2000. Tuy nhiên, A*STAR với 2.250 nhà khoa học đã tạo ra tiếng vang toàn cầu. Các nhà khoa học nổi tiếng thỉnh thoảng ghé thăm để quan sát khu nghiên cứu và đưa bài giảng. Một trong những chỉ số của sự thành công, số lượng các bài báo khoa học do Viện Sinh học phân tử và tế bào công bố tăng từ 82 vào năm 2000 lên 165 vào năm 2006, theo thống kê của Thomson Scientific. Và tỷ lệ trích dẫn có thể ngang bằng với những cơ sở nghiên cứu có truyền thống lâu hơn.

Singapore đã thành lập khu JTC LaunchPad@one-north và gần đây đã hoàn thành Quận đổi mới sáng tạo TC LaunchPad@Jurong giúp cung cấp không gian công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và vườn ươm có năng lực.

Nằm trên diện tích 6,5 ha, khu JTC LaunchPad@one-north cung cấp cho các doanh nghiệp khởi nghiệp môi trường hiệu quả và hệ sinh thái phát triển thuận lợi. Với vị trí trung tâm của khu vực One-north, các doanh nghiệp khởi nghiệp trong khu JTC LaunchPad@one-north có lợi thế ở gần môi trường R&D đa ngành, bao gồm các doanh nghiệp hoạt động dựa trên tri thức, các tổ chức nghiên cứu, trường cao đẳng/đại học – những tổ chức đầu đàn về hoạt động đổi mới sáng tạo như chương trình MBA kinh doanh INSEAD, khu khoa học, trung tâm khu vực Lucasfilm, Đại học quốc gia Singapore, Trường Đại học bách khoa Singapore. JTC LaunchPad@one-north bao gồm tòa 71, 73 và 79 với nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp và nhiều dịch vụ hỗ trợ đi kèm như dịch vụ tư vấn pháp luật và đầu tư. Điều đáng lưu ý là tòa 71 có khoảng 100 doanh nghiệp khởi nghiệp, bao gồm các quỹ đầu tư mạo hiểm, vườn ươm, doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ, công ty phát triển trò chơi video với vốn đầu tư hơn 670 triệu euro.

Nằm trong Khu Công nghệ sạch ở Quận đổi mới sáng tạo Jurong, khu JTC LaunchPad@JID sẽ tập trung hỗ trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển trong các lĩnh vực như công nghệ sạch, chế tạo tiên tiến. Với vị trí ở gần Trường Đại học công nghệ Nanyang, các viện nghiên cứu và mạng lưới các doanh nghiệp, các startup trong khu JTC LaunchPad@JID có thể hợp tác chặt chẽ với các đơn vị nói trên, tận hưởng sự tăng trưởng chung và thúc đẩy hoạt động thương mại hóa các công nghệ mới. Khu JTC LaunchPad@JID tạo ra môi trường thuận lợi cho phép các công ty thử nghiệm các sáng kiến đổi mới sáng tạo và chia sẻ ý tưởng với nhau thông qua việc sử dụng các trang thiết bị chung như xưởng sản xuất thử.

Ngoài ra, Trung tâm quốc tế ACE – trung tâm một cửa đi vào hoạt động từ tháng 9/2017 ở khu JTC LaunchPad@one-north mang lại cơ hội tiếp cận các nguồn lực, dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và kết nối các doanh nghiệp này tới các thị trường nước ngoài cũng như các doanh nghiệp khởi nghiệp nước ngoài tiếp cận công nghệ, các thông tin về đầu tư và cơ hội của thị trường Singapore.

Chương trình “Go Digital” tạin Singapore đã thành lập Trung tâm công nghệ kỹ thuật số dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp các khoản tài trợ để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đó tiếp cận với các giải pháp công nghệ được chấp thuận trước; hỗ trợ kỹ thuật để áp dụng các công nghệ tiên tiến hơn; và các hội thảo để tăng cường khả năng kỹ thuật số của họ.

d/ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Thứ nhất, thành công của Singapore bắt nguồn từ một triết lý và tư tưởng phát triển đất nước vô cùng sâu sắc của người đứng đầu quốc đảo này – Cố Thủ tướng Lý Quang Diệu. Ông nói: “Để Singapore tồn tại được, chúng ta không thể chỉ là một quốc gia tầm thường. Chúng ta phải nỗ lực phi thường, chúng ta phải trở nên khác biệt”. Đó là vấn đề tư duy chiến lược về phát triển, có được từ tầm nhìn và văn hóa đổi mới sáng tạo mà người đứng đầu đất nước mong muốn trở thành đặc tính dân tộc, được thấm nhuần trong đội ngũ cán bộ đại diện cho quyền lực công cho tới các tầng lớp nhân dân. Văn hóa suy nghĩ khác biệt và tôn trọng sự khác biệt, văn hóa dũng cảm bước ra khỏi vùng an toàn của mình để dám dấn thân sáng tạo, mơ giấc mơ lớn ra ngoài biên giới quốc gia, và nỗ lực phi thường để biến giấc mơ thành hiện thực. Chính giấc mơ lớn muốn đưa đất nước phải vượt lên phát triển cao hơn, khác biệt so với phần còn lại của thế giới đã thôi thúc lãnh đạo và người dân Singapore đồng tâm, hiệp lực thực hiện các mục tiêu vô cùng tham vọng của chính phủ, và họ đã thành công.

Đối với Việt Nam, chính sách của Chính phủ cũng nên tính tới chiến lược dài hạn, giáo dục quan trí và dân trí theo hướng dũng cảm đổi mới tư duy và khuyến khích văn hóa sáng tạo, suy nghĩ khác biệt và tôn trọng sự khác biệt, không sớm thỏa mãn với những gì đã đạt được để luôn nỗ lực hoàn thiện bản thân và đưa đất nước tiến về phía trước. Đối với hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (National Innovation System), chúng ta cũng cần ba nhân tố để đảm bảo thành công, đó là: i) Tự chủ và tự do học thuật; ii) Đội ngũ cán bộ khoa học thực tài; iii) Lòng dũng cảm của các nhà khoa học dám thử, chấp nhận mạo hiểm và thất bại, có hoài bão cống hiến vì một tương lai tốt đẹp hơn cho cộng đồng.

Thứ hai, với cách tiếp cận top-down việc tổ chức bộ máy như vậy, các chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới của Singapore được xây dựng với sự liên kết chặt chẽ và như một phần của chiến lược phát triển kinh tế lớn và tổng quát hơn. Và chính vì thế cho đến nay, Singapore không có một bộ riêng biệt về khoa học – công nghệ mà thay vào đó, việc hoạch định và thực thi chính sách STI được gộp vào chính sách phát triển kinh tế đã được định hướng.

Thứ ba, trong bối cảnh chuyển đổi mô hình kinh tế từ thâm dụng lao động sang nền kinh tế dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, vấn đề có được lực lượng lao động có kỹ năng và trình độ cao càng trở nên quan trọng đối với Việt Nam. Trong lĩnh vực khoa học – công nghệ, cần có chính sách đồng bộ về đào tạo, thu hút, sử dụng và trọng dụng người tài. Đồng thời, kết hợp song song chính sách nuôi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ trong nước với chính sách thu hút nhà khoa học giỏi là người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài về làm việc tại Việt Nam.

Điều quan trọng là các giải pháp cần phải đồng bộ, kết hợp giữa xây dựng hạ tầng cơ sở thuận lợi; môi trường học thuật tiên tiến; hình thành hệ sinh thái đồng sáng tạo tích hợp nhiều tiện ích phục vụ hoạt động nghiên cứu và làm việc, sống và thư giãn đối với nhà khoa học và gia đình họ. Chính sách về tiền lương và thu nhập cần thiết nhưng không phải là quan trọng nhất.

4/ Thái Lan

a/ Cơ chế, chính sách đổi mới sáng tạo và khoa học – công nghệ của Thái Lan

Thái Lan đang thực hiện Kế hoạch cơ quản quốc gia 10 năm về khoa học – công nghệ (2012 – 2021). Kế hoạch này được thiết kế để cung cấp cơ chế làm phong phú thêm hệ thống đổi mới ở tất cả các cấp từ cấp quốc gia, khu vực và địa phương trong cả nước. Kế hoạch tổng thể quốc gia về khoa học – công nghệ và đổi mới giai đoạn 2012 – 2021 nhằm mục tiêu thống nhất các cam kết khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ quan thuộc khu vực công và tăng cường hợp tác với khu vực tư nhân, các viện nghiên cứu và hàn lâm. Kế hoạch được thiết kế để liên kết tri thức từ cấp cộng đồng cơ sở đến hợp tác quốc tế.

Để tạo ra một hệ thống đổi mới sáng tạo phát triển mạnh, các văn phòng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện tại tập trung vào hợp tác giữa các tổ chức và quốc tế dựa trên nguồn nhân lực tri thức, hạ tầng cơ sở khoa học – công nghệ đầy đủ và các yếu tố hỗ trợ khác. Kế hoạch tổng thể tuyên bố rằng nguồn nhân lực tri thức và có kỹ năng cùng với hạ tầng cơ sở khoa học – công nghệ đầy đủ và các yếu tố hỗ trợ rất quan trọng cho việc tạo ra một hệ thống đổi mới phát triển mạnh. Do đó, các chiến lược và biện pháp sau đây được vạch ra để phát triển những yếu tố quan trọng, dẫn đến các chương trình phát triển nguồn nhân lực: (1) Cải thiện giáo dục khoa học thông qua việc học theo vấn đề cần thiết; (2) Cải thiện kỹ năng nghề thông qua việc học kết hợp với làm; (3) Tăng cường hợp tác giữa trường đại học – công nghiệp – viện nghiên cứu thông qua giáo dục hợp tác và nâng cao tính cơ động của các cá nhân đào tạo/nghiên cứu; (4) Chương trình phát triển các yếu tố hạ tầng cơ sở/hỗ trợ như công viên khoa học vùng, hỗ trợ công nghiệp, ưu đãi về thuế và cung cấp tài chính cho đổi mới.

Cục Sáng tạo quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập đã thúc đẩy văn hóa sáng tạo quốc gia và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo ở tất cả các cấp trong xã hội Thái Lan. Cục Sáng tạo quốc gia đã phát triển các chương trình quản lý đổi mới sáng tạo, nhằm phát triển hơn nữa việc quản lý hệ thống đổi mới sáng tạo trong các khu vực giáo dục, công và tư nhân thông qua việc phối hợp với các cơ sở đại học. Ngoài ra, Văn phòng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã phát triển Chương trình đại học kinh doanh để tăng cường các kỹ năng kinh doanh của sinh viên tốt nghiệp với mục đích nâng cao năng lực doanh nghiệp của Thái Lan, tăng số lượng và chất lượng startup. Tháng 9/2016, 30 trường đại h5oc hàng đầu đã tham gia chương trình.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XV


Nội dung của RIE 2015 nêu ra 6 chiến lược then chốt sau:

+ Đầu tư vào khoa học cơ bản và tri thức để tạo ra nguồn “vốn trí tuệ” – là cơ sở cho đổi mới sáng tạo trong tương lai, đặc biệt là phục vụ cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế đổi mới sáng tạo. Các nhà khoa học nhận được sự hỗ trợ và tự chủ để theo đuổi những vấn đề khoa học xuất hiện từ nghiên cứu của họ, với mục đích thúc đẩy sự xuất sắc trong các lĩnh vực có tác động kinh tế và xã hội lâu dài.

+ Tập trung vào việc thu hút và phát triển tài năng khoa học để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức nghiên cứu công nghiệp và khu vực công cộng của Singapore. Kinh phí sẽ được cung cấp cho học bổng và học bổng đào tạo tài năng tại các tổ chức nổi tiếng cả trong nước và nước ngoài, để tạo ra một nguồn nhân lực khoa học trẻ tài năng.

+ Chú trọng hơn vào tài trợ cạnh tranh để thúc đẩy đổi mới và đưa ra những ý tưởng tốt nhất. Một tỷ lệ lớn hơn của tài trợ cho R&D sẽ được cấp trên cơ sở cạnh tranh, trong khi vẫn duy trì một mức độ thích hợp kinh phí đảm bảo cho những nghiên cứu cốt lõi.

+ Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức thực hiện R&D trong khi vực công và với ngành công nghiệp; ưu tiên tài trợ lớn hơn sẽ được trao cho những nỗ lực đa ngành và hợp tác, bao gồm cả với các phòng thí nghiệm R&D của doanh nghiệp.

+ Nâng cao hơn sự đóng góp cua R&D đối với tăng trưởng kinh tế. Điều này có nghĩa là hỗ trợ lớn hơn cho khu vực tư nhân R&D, hợp tác chặt chẽ hơn giữa R&D công và tư, và nhấn mạnh vào thương mại hóa các sản phẩm trí tuệ dẫn đến sản phẩm và dịch vụ mới và tốt hơn. Trong R&D công, Quỹ gắn kết công nghiệp sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu công hợp tác chặt chẽ hơn với các ngành công nghiệp.

+ Cung cấp hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho các nhà khoa học để biến ý tưởng của họ từ nghiên cứu cơ bản đến thương mại hóa, thông qua việc tăng tài trợ  để chuyển giao công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp.

Ngày 09/01/2016, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã công bố RIE 2020 với khoản ngân sách lên tới 19 tỷ SDG (khoảng 13 tỷ USD) nhằm hỗ trợ R&D trong giai đoạn 2016 – 2020. Đây là khoản đầu tư kỷ lục mà Chính phủ Singapore dành cho R&D từ trước tới nay. Singapore đặt mục tiêu chiến lược trở thành “Quốc gia thông minh” (Smart Nation) và RIE 2020 được đưa ra với khẩu hiệu “chiến thắng tương lai thông qua khoa học và công nghệ”.

Để tối đa hóa tác động, kinh phí sẽ được ưu tiên trong 4 lĩnh vực công nghệ chiến lược mà Singapore có lợi thế cạnh tranh và cũng là những nhu cầu quan trọng quốc gia. Bốn ưu tiên là:

(1) Phát triển công nghệ sản xuất và kỹ thuật tiên tiến  (phát triển năng lực công nghệ hỗ trợ tăng trưởng và tính cạnh tranh của các ngành chế tạo và kỹ thuật);

(2) Đẩy mạnh các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y sinh học (đưa Singapore trở thành trung tâm hàng đầu thế giới về chăm sóc sức khỏe, y sinh học; tạo ra các giá trị kinh tế cho đất nước và người dân Singapore thông qua nghiên cứu xuất sắc và ứng dụng);

(3) Dịch vụ và nền kinh tế kỹ thuật số (phát triển, tích hợp và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo kỹ thuật số của Singapore nhằm đáp ứng các ưu tiên quốc gia, nâng cao năng suất và hỗ trợ các dịch vụ then chốt, tạo ra những cơ hội kinh tế bền vững và việc làm chất lượng);

(4) Phát triển các giải pháp đô thị bền vững (phát triển đất nước Singapore bền vững và đáng sống thông qua các giải pháp tích hợp không chỉ cho Singapore mà còn cho cả thế giới).

Ngoài ra, trong RIE 2020, Chính phủ Singapore đầu tư 2,5 tỷ SGD (tăng 900 triệu SGD so với RIE 2015) cho nghiên cứu các lĩnh vực “Không gian Trắng” (các lĩnh vực mới xuất hiện hoặc dự báo có vai trò lớn, như an ninh mạng…).

Chính sách tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học: Các nhà hoạch định chính sách cho rằng, thành công của đảo quốc này cũng nhờ vào chính sách gọi thầu – theo tiêu chuẩn quốc tế cho nghiên cứu khoa học. Trên thực tế, Chính phủ Singapore đã không sáng tạo ra mô hình mới nào, mà chủ yếu dựa trên các hệ thống đã tồn tại sẵn, nhất là mô hình của Anh. Theo đó, chính quyền thực hiện chính sách gọi thầu cho các dự án 3 năm, 5 năm hay 10 năm, theo quan điểm “chuyển giao công nghệ” thông qua hợp tác với các nhà công nghiệp và mua bằng sáng chế nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình từ khám phá đến ứng dụng.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những công nghệ lõi như blockchain, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, robot, in 3D cùng với quá trình chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Cuối năm 2016, Chính phủ Singapore với tham vọng khuyến khích các doanh nghiệp phát triển công nghệ tài chính đã chính thức cho áp dụng Sandbox – cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế – cho phép các công ty công nghệ trong những lĩnh vực chưa có quy định rõ ràng được phép thử nghiệm các giải pháp của họ trên thị trường, dưới sự giám sát của cơ quan quản lý. Theo đó, ngày 16/11/2016, cơ quan quản lý tiền tệ của Singapore (MAS) đã công bố Hướng dẫn về Khung pháp lý thử nghiệm cho ngành tài chính (FinTech Regulatory Sandbox Guidelines) để khuyến khích và cho phép thử nghiệm các giải pháp sử dụng công nghệ một cách sáng tạo để cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính. MAS công bố Hướng dẫn về Khung pháp lý thử nghiệm cho ngành tài chính hướng tới mục tiêu cụ thể là khuyến khích những khởi nghiệp sáng tạo về công nghệ tài chính có thể được thử nghiệm ở thị trường, sau đó được áp dụng tại Singapore và nhiều quốc gia khác. Những thử nghiệm này sẽ được tiến hành trogn một không gian và thời gian được xác định rõ ràng và với các biện pháp bảo vệ thích hợp để bảo vệ cho “hệ thống tài chính” của Singapore.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ  và đổi mới sáng tạo của Singapore

Về cơ cấu tổ chức, Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore là cơ quan chính phụ trách các vấn đề liên quan đến hoạt động khoa học – công nghệ. Cơ quan tham vấn và quản lý các vấn đề khoa học – công nghệ chính của Singapore là Cơ quan Khoa học và Công nghệ và Nghiên cứu (Agency for Science and Technology and Research – A*STAR), được thành lập từ năm 1991. A*STAR do Bộ Thương mại và Công nghiệp tài trợ và đảm nhiệm vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển. A*STAR bao gồm 2 tổ chức nghiên cứu: Hội đồng Nghiên cứu Y Sinh (The Biomedical Research Council – BMRC), Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật (The Science and Engineering Research Council – SERC), mỗi tổ chức bao gồm 7 viện. Bên cạnh đó là hệ thống các viện nghiên cứu và trường đại học với năng lực nghiên cứu xuất sắc.

Hoạt động R&D là một trong những bộ phận quan trọng nhất của hệ thống khoa học – công nghệ Singapore, thu hút đầu tư và sự tham gia của mọi thành phần trong nền kinh tế bao gồm các doanh nghiệp khu vực tư nhân, các trường đại học, chính phủ, viện nghiên cứu công lập.

Hình 1.5

Ngoài ra, Hội đồng Nghiên cứu, Đổi mới và Kinh doanh (RIEC) có chức năng tư vấn cho Chính phủ Singapore về chính sách và chiến lược nghiên cứu, đổi mới quốc gia. Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho Chính phủ Singapore về chính sách, chiến lược nghiên cứu và đổi mới quốc gia nhằm đưa Singapore trở thành một nền kinh tế tri thức, có năng lực mạnh về R&D; dẫn dắt quốc gia thúc đẩy những động lực sáng tạo mới bằng các giải pháp khoa học và công nghệ, và xúc tác cho những tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Cơ quan giúp việc cho RIEC là Tổ chức Nghiên cứu quốc gia (NRF), được thành lập năm 2006, có chức năng điều phối các hoạt động nghiên cứu của các cơ quan và tổ chức trên cả nước theo một định hướng chiến lược tổng thể rõ ràng, xây dựng các chính sách và kế hoạch nhằm thực hiện năm động lực chương trình R&D quốc gia, thực hiện các chiến lược nghiên cứu, đổi mới, kinh doanh do RIEC phê duyệt và phân bổ kinh phí cho  cho các chương trình. NRF là cơ quan đầu mối cấp kinh phí nghiên cứu cho các viện, trường đại học, trường bách khoa công nghệ, các bệnh viện, các phòng thí nghiệm công và tư, các ngành công nghiệp và doanh nghiệp.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021