John Kenneth Galbraith, người phê phán mạnh mẽ các nhà kinh tế học và kinh tế học


Gilles Dostaler

Là người bài báng truyền thống, người khiêu khích và là nhà báo viết nhiều, John Kenneth Galbraith công kích kịch liệt những huyền thoại của chủ nghĩa tư bản và nghiên cứu những thực tế của các nền kinh tế hiện đại. Phân tích của ông đã cập nhật quyền lực của các cấu trúc kĩ trị và biến Nhà nước thành một công cụ bảo vệ cần thiết.

Đối với John Kenneth Galbraith, kinh tế học chính thống không được trang bị để hiểu được chủ nghĩa tư bản hiện đại.

John Kenneth Galbraith được Paul Samuelson, một người bạn và là một người phản biện ông, mệnh danh là “nhà kinh tế học của những người ngoài ngành“. Ngoại trừ Paul Samuelson, tác giả của một cuốn sách giáo khoa đã được bán hàng triệu bản trên toàn thế giới, các đồng nghiệp tân cổ điển của Galbraith có lẽ phải ghen tị với những thành công văn học của tác giả viết nhiều này, mà hầu hết các cuốn sách của ông đều có một phong cách hành văn gọn gàng và dễ đọc thường thiếu trong kinh tế học. Do hạn chế về không gian, trong thư mục về tiểu sử (xem mục John Kenneth Galbraith qua vài năm tháng), chúng tôi chỉ ghi lại khoảng một chục trong số ba mươi cuốn sách của ông đã được xuất bản, cuốn sau cùng lúc ông đã hơn 95 tuổi. Galbraith viết thoải mái trong mọi thể loại, kể cả tiểu thuyết, tự truyện hay phê bình nghệ thuật. Ông cũng là tác giả của nhiều bài viết trên các tờ báo và tạp chí, và thường sử dụng rộng rãi đài phát thanh và truyền hình để truyền bá ý tưởng của mình. Ông không chỉ nói về kinh tế và chính trị, mà còn nói về nhiều vấn đề xã hội khác, trong đó có vấn đề thân phận phụ nữ, các quyền dân sự, quy hoạch đô thị, các vấn đề về môi trường.

Người bài báng truyền thống và khiêu khích

Bị giới kinh tế học chính thống phê bình hay phớt lờ và cố ý coi thường ông, Galbraith còn là mục tiêu công kích của các nhà kinh tế học cấp tiến hay mác-xít, những người xem ông như là một người bảo vệ đặc biệt tinh tế, nếu không muốn nói là ngoan cố, cho chủ nghĩa tư bản. Danh tiếng của ông cũng không kém danh tiếng của Keynes, một nhà kinh tế học mà ông tự xem là môn đồ. Là những người bài báng truyền thống và khiêu khích, hai tác giả này hoan hỉ với việc làm dậy sóng lúc thì ở cánh hữu và lúc thì ở cánh tả.

Trên vũ đài chính trị Mỹ, Galbraith là người theo trường phái “tự do” (“liberal”) theo nghĩa của Mỹ, có nghĩa là một người theo cánh tả. Sau khi làm cố vấn và là người soạn thảo diễn văn cho ứng cử viên Adlai Stevenson của Đảng Dân chủ vào năm 1952 và 1956, ông cũng làm nhiệm vụ tương tự với John F. Kennedy, một người bạn của ông và là người đã bổ nhiệm ông làm đại sứ tại Ấn Độ. Ông khuyên John F. Kennedy không tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam, mà ông là một trong những người chống đối quyết liệt nhất. Ông ủng hộ chiến dịch đề cử ứng cử viên Eugene McCathy của đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1968 và tham gia chiến dịch tranh cử của George McGovern năm 1972. Các quan điểm của ông càng triệt để hơn với sự nổi lên của chủ nghĩa tân tự do, giống như những người theo trường phái keynesian ôn hòa hơn. Galbraith và Samuelson gặp lại nhau trong cuộc chiến chống lại Milton Friedman và bạn bè của tác giả này. Năm 1960, Galbraith cũng đã gợi ý tổng thống Kennedy bổ nhiệm Samuelson làm Chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế, một đề nghị mà tổng thống đã từ chối.

Huyền thoại và thực tế của chủ nghĩa tư bản

Galbraith nhìn nhận ông có ba người truyền cảm hứng: Thorstein Veblen, người sáng lập thuyết thể chế của Mỹ, Keynes và Marx. Ông chia sẻ, với những người đàn anh của mình, niềm tin rằng kinh tế học chính thống không được trang bị để hiểu được bản chất và sự vận hành của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Những lý thuyết được giảng dạy trong các sách giáo khoa, ngày càng được hình thức hóa và toán hóa, mô tả một thế giới mê hoặc và phi thực tế, khi chúng không đơn giản là những lời biện hộ cho thuyết tự do kinh doanh.

Trong số những huyền thoại trên, một trong những huyền thoại gây ấn tượng mạnh nhất cho rằng giá cả được xác lập bởi sự gặp nhau giữa cung và cầu trên thị trường cạnh tranh. Người tiêu dùng, có chủ quyền, duy lý, có những thị hiếu và sở thích được cho là ngoại sinh, độc lập với sự vận hành của hệ thống kinh tế. Từ những bài viết đầu tiên, lấy cảm hứng từ Veblen và từ các tác phẩm của Edward Chamberlin vàJoan Robinson về sự cạnh tranh không hoàn hảo, Galbraith đưa ra ý tưởng cho rằng có hai khu vực trong các nền kinh tế hiện đại. Trong khu vực thứ nhất, bao gồm các ngành nghề được hình thành từ số đông các doanh nghiệp nhỏ, giá cả được xác định một cách hiệu quả theo cách nhích lại gần với điều được giảng dạy trong các sách giáo khoa. Đó là khu vực cạnh tranh, mà ông còn gọi là khu vực thị trường.

Nhưng điều đó không đúng ở khu vực thứ hai, từ lâu là khu vực quan trọng nhất trong các nền kinh tế hiện đại, về mặt sản xuất, thu nhập, việc làm và hiệu ứng lôi cuốn. Trong khu vực này, chính những doanh nghiệp lớn và rất lớn nắm quyền. Và họ có đủ khả năng để thiết lập giá cả của họ. Đó là những mức giá được quản lý. Hơn nữa, họ có thể trả mức lương cao hơn cho nhân viên của họ, bởi vì mức lương đó sẽ được phản ánh lại trong các mức giá của họ, để rồi cuối cùng chính những người tiêu dùng là những người phải thanh toán hóa đơn. Và người tiêu dùng phải thanh toán hóa đơn, chính xác mà nói là bởi vì chủ quyền của họ là một huyền thoại. Họ không có thị hiếu và sở thích bẩm sinh. Chính doanh nghiệp là những người hình thành nên sở thích của người mua, bằng sự thổi phồng quảng cáo. Cầu không hề độc lập với cung. Sản xuất tạo ra nhu cầu hơn là thỏa mãn nhu cầu.

Theo một huyền thoại khác của kinh tế học tân cổ điển, cùng với cách thức mà người tiêu dùng tối đa hóa một cách duy lý sự hài lòng của họ, thì nhà sản xuất cũng tối đa hóa lợi nhuận của họ. Nhà sản xuất được mô tả trong sách giáo khoa là nhà doanh nghiệp nhỏ giao dịch trong một thị trường cạnh tranh. Từ nay các doanh nghiệp lớn được điều hành bởi một đội ngũ các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý và các chuyên gia mà Galbraith gọi là “cấu trúc kĩ trị“. Cấu trúc kĩ trị này quan tâm đến sự tồn tại và tái sản sinh bản thân họ, đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp, đến sự giảm thiểu rủi ro và đến sự hài lòng của các cổ đông, hơn là sự tối đa hóa tỷ suất lợi nhuận. Cấu trúc kĩ trị hoạch định các hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy Galbraith còn gọi khu vực thứ hai này là “khu vực được hoạch định“.

Phân tích vừa được trình bày chủ yếu được phát triển trong bốn tác phẩm chính của ông:American Capitalism (Chủ nghĩa tư bản Mỹ),The Affluent Society (Kỷ nguyên của sự giàu có), The New Industrial State (Nhà nước công nghiệp mới), và Economics and the Public Purpose (Khoa học kinh tế và mục tiêu công). Người ta ghi nhận, từ giữa năm 1952 đến 1967 và cả sau đó nữa, cho đến cuốn sách cuối cùng của ông, một sự bi quan lớn dần về khả năng cải cách một hệ thống mà các khuyết tật và sự trục trặc vận hành đã trầm trọng thêm.

Phân giới cấu trúc kĩ trị

Galbraith thừa nhận rằng hệ thống hiện đại của các doanh nghiệp lớn hoạt động rất hiệu quả trong việc sản xuất ra hàng hóa. Nhưng những hàng hóa này rất thường là những hàng hóa không cần thiết. Và, bên cạnh một nền sản xuất tư nhân đại trà này, là một tình trạng xuống cấp trong lãnh vực công cộng: trường học, bệnh viện, hệ thống giao thông. Năm 1958, trong cuốn The Affluent Society (Kỷ nguyên của sự giàu có), Galbraith đã thu hút sự chú ý đến tình trạng suy thoái môi trường đi kèm với sự tăng trưởng giàu có và, với sự gia tăng bất bình đẳng và sự nhân bội các cuộc xung đột vũ trang, tạo nên một trong những mối đe dọa lớn nhất cho tương lai của nhân loại.

Ông không đề xuất loại bỏ các doanh nghiệp lớn và khôi phục lại sự cạnh tranh. Sự tăng trưởng không thể tránh khỏi của chúng là một tất yếu công nghệ. Ông viết rằng, khi người ta muốn khách nước ngoài tham quan các doanh nghiệp thành đạt nhất, thìngười ta dẫn họ tham quan chính những nơi tương tự với những nơi bị các thanh tra của luật chống độc quyền giám sát chặt chẽ. Phải bãi bỏ pháp chế lỗi thời này. Về điểm này, Galbraith nối lại các ý tưởng ​​của Joseph Schumpeter, một đồng nghiệp của ông ở Đại học Harvard.

Nhưng không phải vì thế mà để cấu trúc kĩ trị tự do hành động. Đối lại với khu vực quy hoạch của nền kinh tế phải là những thế lực mà Galbraith gọi là các “thế lực bù trừ“. Bên cạnh thế lực của nghiệp đoàn, chính Nhà nước là thế lực tốt nhất có thể đối kháng với quyền lực của các doanh nghiệp lớn. Ngoài các chính sách tài khóa và tiền tệ theo kiểu keynesian, ngoài việc kiểm soát giá cả và tiền lương để kiềm chế lạm phát, Galbraith chủ trương một sự can thiệp tích cực hơn nữa của Nhà nước trong nền kinh tế. Sự can thiệp đó có thể đi đến việc quốc hữu hóa, ví dụ như trong ngành giao thông, nhà ở hay chăm sóc y tế. Ông cũng đề xuất việc quốc hữu hóa ngành công nghiệp quân sự.

Trong cuốn Economics and the Public Purpose (Khoa học kinh tế và mục tiêu công), ông sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa xã hội để mô tả đề xuất cải cách của ông về các mối liên kết giữa Nhà nước, khu vực thị trường và khu vực các doanh nghiệp lớn. Chủ nghĩa xã hội này cho phép trả một mức lương tối thiểu cao hơn, một sự phân phối lại thu nhập từ người giàu cho người nghèo, một sự kiểm soát tốt hơn về môi trường và một sự bảo vệ công dân tốt hơn trước mọi rủi ro, rủi ro kinh tế và các rủi ro khác. Để nói một cách nhẹ nhàng, Hoa Kỳ của năm 2012 còn xa mới đạt mong ước trên. Trong cuốn sách cuối cùng của ông, được xuất bản năm 2004, hai năm trước khi ông qua đời, Galbraith chỉ có thể lưu ý rằng quyền lực của các doanh nghiệp lớn và của các nhà lãnh đạo của họ càng lớn hơn bao giờ hết, trong khi các nhà kinh tế học tiếp tục lan truyền huyền thoại của họ, điều mà ông gọi là “sự gian lận ngây ngô“.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: “John Kenneth Galbraith, pourfendeur des économistes et de l’économie” của G. Dostaler trong Alternatives Economiques Poche no.057, tháng 10 năm 2012

Advertisements

Sự vô dụng đáng tiếc của phần lớn các công trình “mũi nhọn” hiện nay trong kinh tế học tiền tệ hàn lâm – Phần cuối


Willem Buiter

….

Chúng ta có thể nói gì về hành vi tới hạn của các kỳ vọng về giá tài sản? Các công cụ và kỹ thuật toán học tối ưu hóa động hàm ý rằng khi một lập trình viên toán học tính toán một chương trình tối ưu để giải quyết một vấn đề tối ưu hóa động trong điều kiện có ràng buộc mà họ đang cố gắng giải quyết, yêu cầu của sự tối ưu là tương lai xa bất tận không có tác động gì đến hàm tiêu chuẩn hiện tại của lập trình viên đó.

Và rồi một phép màu nhỏ xuất hiện. Một tiêu chuẩn tối ưu từ phương pháp toán học tối ưu hóa động được cấy ghép toàn bộ vào hành vi về những kỳ vọng giá cả trong dài hạn trong nền kinh tế thị trường phi tập trung. Trong thao tác về qui hoạch toán học, người ta biết rõ điều kiện tới hạn cuối cùng đến từ đâu. Điều kiện tới hạn cuối cùng, tương lai xa vô tận không có ảnh hưởng lên giá tài sản hôm nay, là “điều kiện hoành” vốn là một phần của các điều kiện cần và đủ của một tình trạng tối ưu. Nhưng trong một nền kinh tế thị trường phi tập trung, không có một lập trình viên toán học nào áp đặt các điều kiện tới hạn cuối cùng để đảm bảo rằng mọi việc diễn ra thuận lợi.

Việc người ta thường giải quyết mô hình cân bằng tổng thể động trong nền kinh tế thị trường (thường là cạnh canh) bằng cách giải quyết bài toán quy hoạch có liên quan, tức là bài toán tối ưu hóa, là bằng chứng cho sự nhầm lẫn chết người của hầu hết giới kinh tế học giữa giá ẩn và giá thị trường, giữa các điều kiện hoành vốn là một phần không thể thiếu của phép giải bài toán tối ưu và các kỳ vọng dài hạn đặc trưng cho sự vận hành của các thị trường tài sản phi tập trung. Giả thuyết thị trường hiệu quả giả định rằng sẽ xuất hiện một người xướng giá thân thiện như một ông Bụt lúc tàn cuộc để ngăn chặn những điều không thuận lợi xảy ra đối với các kỳ vọng trong dài hạn về mức giá hoặc đối với giá trị hiện tại hóa của chứng khoán tài sản hay tài sản tài chính cuối cùng (trong mô hình thị trường đầy đủ).

Không lạ lẫm gì khi điều này chứng tỏ rằng các mô hình về nền kinh tế có lồng ghép giả thuyết EMH – giả thuyết này bao gồm cả điểm cốt lõi của lý thuyết kinh tế học vĩ mô về các thị trường đầy đủ của trường phái Tân Cổ Điển và trường phái Tân Keynesian – không phải là mô hình mô phỏng các nền kinh tế thị trường phi tập trung, mà lại là mô hình về nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung.

Người xướng giá thân thiện xuất hiện lúc tàn cuộc, người đảm bảo các điều kiện đúng đắn về giới hạn cuối cùng được thực thi như cơ chế phòng ngừa những hiện tượng như bong bóng đầu cơ duy lý, không ai khác chính là nhà hoạch định chính sách tập trung toàn trí, toàn năng và giàu từ tâm. Không có gì lạ khi kinh tế học vĩ mô hiện đại lại có diện mạo khó coi như vậy. Giả thuyết EMH rõ ràng là nguyên nhân trầm trọng mang tính thực nghiệm đáng chú ý nhất của cuộc khủng hoảng tài chính. Điều này ngụ ý rằng, lý thuyết kinh tế học vĩ mô về thị trường đầy đủ của Lucas, Woodford và các cộng sự là một sai lầm về mặt lý thuyết tai hại nhất. Tương lai chắc chắn sẽ phụ thuộc vào các phương pháp tiếp cận hành vi dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm về cách thức mà các bên tham gia thị trường tiếp nhận thông tin, hình thành quan điểm về tương lai và sự thay đổi của các quan điểm đó nhằm thích ứng với những thay đổi về môi trường quanh họ cũng như là những tác động của nhóm tác nhân đồng đẳng v.v.. Việc nhầm lẫn trạng thái cân bằng của nền kinh tế thị trường phi tập trung, hay nền kinh tế cạnh tranh, với kết quả của một quy hoạch toán học không còn được chấp nhận nữa.

Vì vậy, không có Oikomenia, không có hủ vàng ở cuối cầu vồng, và không có ông Bụt xuất hiện lúc tàn cuộc.

Tuyến tính hóa và tầm thường hóa

Nếu ai đó có ý định bịt mũi mình và chấp thuận sử dụng các công cụ của hệ thống thị trường đầy đủ do trường phái Tân Cổ Điển và trường phái Tân Keynesian cung cấp, người đó sẽ nhanh chóng nhận ra rằng mô hình có khả năng có liên quan đến chính sách thường là phi tuyến, sự tương tác giữa các đặc tính phi tuyến đó với sự bất trắc là nguyên nhân của những vấn đề trầm trọng về mặt khái niệm và kỹ thuật. Các nhà kinh tế vĩ mô là những người can đảm nhưng không thực sự như vậy. Cho nên họ đã đưa các mô hình cân bằng tổng thể động ngẫu nhiên phi tuyến xuống tầng hầm và nện chúng bằng một cái ống cao su cho đến khi nào chúng chịu nghe lời mới thôi. Họ làm được điều này bằng cách tước đi hoàn toàn đặc điểm phi tuyến của mô hình và hóa thể các tính chập phức tạp của các biến ngẫu nhiên và các ánh xạ phi tuyến thành những nhiễu trắng ngẫu nhiên khả tổng dễ chịu.

Những ai trong chúng ta đã từng lấy làm lạ trước các vòng lặp hồi tiếp giữa giá tài sản trong thị trường có tính thanh khoản yếu và tình trạng thanh khoản vốn yếu của các thể chế tài chính chịu tác động của giá tài sản thông qua cách hạch toán theo giá thị trường (Mark To Market – MTM), số tiền ký quỹ yêu cầu, yêu cầu thế chấp bổ sung, v.v. sẽ đánh giá cao những yếu tố bị lược bỏ trong các mô hình kinh tế vĩ mô. Tác động ngưỡng, khối lượng tới hạn, điểm tới hạn, sự gia tốc phi tuyến đều bị các mô hình đó bỏ qua. Những ai trong chúng ta quan ngại về tính bất trắc nội sinh xuất hiện từ tương tác giữa các bên tham gia thị trường có đặc tính duy lý hạn chế không thể làm gì khác ngoài việc vò đầu bứt tóc khi các mô hình dòng chính cứ khăng khăng cho rằng tất cả các yếu tố bất trắc đều có tính ngoại sinh và khả tổng.

Về mặt kỹ thuật, các mô hình động ngẫu nhiên phi tuyến được tuyến tính hóa (thường ở dạng log) ở một trạng thái dừng tất định (phi ngẫu nhiên). Chẳng những thế, việc phân tích còn bị giới hạn khi chỉ xét đến các dạng thức của tính ngẫu nhiên vốn sẽ trở nên không quan trọng ở lân cận của trạng thái dừng. Chúng ta hầu như có thể đối phó với các mô hình tuyến tính có các cú sốc khả tổng!

Tuy nhiên, ngay cả khả năng này cũng không đủ khiến chúng ta tiến xa hơn. Như đã đề cập ở phần trước, các mô hình có sử dụng các kỳ vọng (duy lý) về giá tài sản trong tương lai sẽ không chỉ bị chi phối bởi các quá trình động truyền thống mang tính kỹ thuật, theo đó quá khứ dẫn dắt hiện tại và tương lai, mà còn bị tác động một phần bởi những dự báo trong quá khứ và hiện tại về tương lai. Khi bạn tuyến tính hóa một mô hình, và kích thích chúng bằng các nhiễu trắng ngẫu nhiên khả tổng, thì tác dụng phụ không mong đợi chính là mô hình được tuyến tính hóa sẽ hoạt động theo một khuôn khổ vô cùng ổn định hoặc theo cách thức bùng nổ ngoài tầm kiểm soát. Không hề tồn tại “sự bất ổn có giới hạn” trong các mô hình như vậy. Nhóm học giả theo đuổi sự cân bằng tổng thể động ngẫu nhiên (DSGE) đã nhận ra rằng trong quá khứ nền kinh tế đã không nổ tung mà không có sự ràng buộc, và từ đó kết luận rằng trong các mô hình tuyến tính hóa, việc loại bỏ các quỹ đạo bùng nổ là có lý do. Điều còn sót lại trong các mô hình, ngoài các nhiễu trắng ngẫu nhiên ngoại sinh, là thứ mà có thể quay trở về trạng thái dừng tất định một cách hết sức khôn ngoan. Không hề có kịch bản suy thoái có dạng chữ L. Không hề có các quá trình tích tụ nguyên nhân và ràng buộc mà chỉ có sự thu hẹp hay mở rộng liên tục. Chỉ có kịch bản suy thoái dạng chữ V xinh xắn.

Thực ra là có các phương pháp tiếp cận kinh tế học chú trọng đến vấn đề phi tuyến một cách nghiêm túc. Đa phần các nghiên cứu thuộc nhóm này ở dạng số – hiếm có các kết quả phân tích mà về bản chất có liên quan đến chính sách – nhưng ít ra cũng cố gắng giải quyết vấn đề đúng như bản chất của các vấn đề, thay vì theo cái cách mà chúng ta mong muốn để bản thân chúng ta khỏi phải mạo hiểm vượt ra ngoài các vấn đề mà chúng ta có thể giải quyết được bằng những công cụ hiện hữu.

Thực hành loại trừ tất cả các đặc điểm phi tuyến và hầu hết các khía cạnh thú vị của tính bất trắc ra khỏi các mô hình để rồi sau đó bị lạc hướng trong các phân tích định lượng chính sách thực tế, thực sự là một bước lùi đáng kể. Tôi tin rằng điều này hiện đã được vứt vào sọt rác lịch sử trong các ngân hàng trung ương có tầm cỡ.

Kết luận

Charles Goodhart, người có đủ may mắn để không phải chạm trán kinh tế học vĩ mô về các thị trường đầy đủ và kinh tế học tiền tệ trong suốt những năm đầu sự nghiệp ấn tượng của ông ta, nhưng chỉ sau khi ông có được sự miễn nhiễm trí tuệ, ông đã một lần phát biểu về cách tiếp cận Cân Bằng Tổng Thể Động Ngẫu Nhiên vốn đã từng là điểm trọng yếu trong mô hình nội bộ của các ngân hàng trung ương: “Nó loại trừ mọi thứ mà tôi quan tâm”. Ông ta đã nói đúng. Nó loại trừ mọi thứ xác đáng cho việc theo đuổi tính bền vững tài chính.

Trong năm 2007, Ngân Hàng Trung Ương Anh đã đối mặt với sự tấn công của cuộc khủng hoảng tín dụng với quá nhiều mô hình của Robert Lucas, Michael Woodford và Robert Merton được xếp trên tủ. Một quá trình tái đào tạo quyết liệt nhưng hỗn độn đã diễn ra và đang tiếp tục.

Tôi tin rằng Ngân Hàng Trung Ương Anh nay đã vứt bỏ những tin tưởng phổ biến của chương trình đào tạo kinh tế học vĩ mô tiêu biểu của vài thập kỷ trước. Thay vào đó, nay là nồi lẩu thập cẩm các sự thật áp đặt, các lý thuyết cục bộ, các quy tắc thực nghiệm thiếu cơ sở lý thuyết vững chắc, linh cảm, trực giác và hiểu biết nửa vời. Không cường điệu hóa nhưng chúng ta biết rằng vô tri chính là khởi điểm của sự khôn ngoan.

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “The unfortunate uselessness of most ‘state of the art’ academic monetary economics”, blogs.ft.com, March 3, 2009.

Sự vô dụng đáng tiếc của phần lớn các công trình “mũi nhọn” hiện nay trong kinh tế học tiền tệ hàn lâm – Phần đầu


Willem Buiter

Ủy Ban Chính Sách Tiền Tệ của Ngân Hàng Trung Ương Anh, nơi tôi được vinh dự làm thành viên “sáng lập” không thuộc định chế này trong suốt những năm 1997-2000, là nơi hội tụ hùng hậu của các kinh tế gia hàn lâm và các kinh tế gia chuyên nghiệp có nền tảng kiến thức và quá trình đạo tạo về mặt kỹ thuật rất đáng gờm, như một thông lệ được lưu truyền của Ủy Ban này về các thành viên bên ngoài và các thành viên điều hành định chế này. Điều này hóa ra là một bất lợi nghiêm trọng khi ngân hàng trung ương đã phải sang số và chuyển hướng từ một ngân hàng trung ương theo đuổi mục tiêu lạm phát trong các điều kiện về các thị trường tài chính có trật tự sang một ngân hàng trung ương theo đuổi mục tiêu ổn định tài chính trong các điều kiện về tính thiếu thanh khoản thị trường và tính thiếu thanh khoản vốn đang lan rộng. Trong thực tế, chương trình đào tạo điển hình về kinh tế học vĩ mô và kinh tế học tiền tệ bậc đại học được giảng dạy tại các trường đại học Bắc Mỹ trong suốt khoảng 30 năm qua, có thể bị tụt hậu hàng thập kỷ xét trên phương diện nghiên cứu hành vi kinh tế tổng thể và tìm hiểu các chính sách kinh tế liên quan. Việc này đã làm hao tổn thời gian và nguồn lực của cá nhân và của xã hội.

Hầu hết các phát kiến về lý thuyết kinh tế học vĩ mô dòng chính kể từ những năm 1970 (cuộc cách mạng về kỳ vọng duy lý Tân Cổ Điển gắn liền với những cái tên như Robert E. Lucas Jr., Edward Prescott, Thomas Sargent, Robert Barro, v.v., và lý thuyết Tân Keynesian của Michael Woodford và các học giả khác) hóa ra chỉ là những trò tự tham chiếu, hướng nội làm người ta xao lãng và rối trí không hơn không kém. Hoạt động nghiên cứu có vẻ là được khuyến khích bởi logic bên trong, bởi vốn trí năng chìm và bởi những vấn đề nan giải hoa mỹ của các chương trình nghiên cứu đã được định sẵn hơn là bởi khao khát mãnh liệt muốn tìm hiểu mô thức vận hành của nền kinh tế – chứ chưa nói đến mô thức vận hành của nền kinh tế trong giai đoạn căng thẳng và bất ổn về tài chính. Vì vậy, chuyên ngành kinh tế học bị bắt quả tang chưa chuẩn bị sẵn sàng khi cuộc khủng hoảng tấn công.

Các thị trường đầy đủ

Hầu hết các lý thuyết gia có sức ảnh hưởng thuộc trường phái Tân Cổ Điển và Tân Keynesian đều đã nghiên cứu trong khuôn khổ mà các kinh tế gia gọi là “hệ chuẩn các thị trường đầy đủ”. Trong một thế giới tồn tại thị trường cho các tài sản tài chính có giá trị phụ thuộc bao gồm tất cả các trạng thái của tự nhiên có thể có (tất cả những ngẫu nhiên và kết cục khả dĩ), và trong các thị trường đó ràng buộc về ngân sách liên thời gian luôn luôn được thỏa mãn theo giả định, thì mặc nhiên hiện tượng phá sản và vỡ nợ là không thể xảy ra. Kết quả là, tình trạng thanh khoản kém – của cả vốn lẫn của thị trường – cũng không thể xảy ra, trừ khi lý thuyết gia kinh tế tội lỗi áp đặt một số ma sát gượng ép (trong điều kiện cho trước cấu trúc các mô hình mà kinh tế gia đang nghiên cứu) và tùy tiện gán cho thứ được gọi là “tiền” tính thanh khoản cao hơn bất cứ phương tiện nào khác, mà không vì lý do hợp lý nào. Trong chuyên ngành kinh tế học, người ta đã không còn chỉ trích việc mô hình hóa tính thanh khoản bằng cách gán cho tiền là điều kiện ràng buộc của giao dịch.

Các lý thuyết vĩ mô về thị trường đầy đủ của cả trường phái Tân Cổ Điển và trường phái Tân Keynesian đều không cho phép người ta thắc mắc về tình trạng vỡ nợ và tính thanh khoản kém. Các lý thuyết này đã không cho phép người ta đặt ra những vấn đề như vậy.

Rõ ràng là khi đang tìm kiếm một sự giản tiện hóa thích hợp để giải quyết tình trạng hỗn mang nan giải của các nền kinh tế thị trường hiện đại, thì việc chọn nền kinh tế “phi thị trường” làm xuất phát điểm, tức là tự cung tự cấp và không có giao thương, là tốt hơn nhiều so với việc xuất phát từ “các thị trường đầy đủ”. Hàng hóa và dịch vụ có tiềm năng được trao đổi mua bán phụ thuộc vào thời gian, nơi chốn và trạng thái của tự nhiên hoặc trạng thái của thế giới. Thời gian là một biến liên tục, nghĩa là khi xét các thị trường đầy đủ theo thời gian, ắt hẳn tồn tại nhiều thị trường giao sau (vô số trong bất cứ khoảng thời gian nào cho dù khoảng thời gian đó ngắn đến mức nào) mà bạn không thể chỉ ra bằng hết được. Tương tự, nơi chốn cũng là một biến liên tục trong không gian ba chiều. Và cũng tồn tại nhiều thị trường. Và khi bổ sung tính bất trắc (các trạng thái của tự nhiên hoặc tình trạng xã hội), không tính đến thông tin riêng tư hay thông tin bất cân xứng, thì tôi nghĩ ngay đến câu “tồn tại quá nhiều thị trường tiềm năng”, xin thứ lỗi nếu tôi làm hỏng câu nói tuyệt vời được gán cho Hoàng đế Joseph II trong tác phẩm điện ảnh Amadeus. Nếu một thị trường nào đó cần sử dụng một nguồn lực nhất định để vận hành (dù cho nguồn lực đó nhỏ đến mức nào), thì các thị trường đầy đủ sẽ làm cạn kiệt các nguồn lực của nhân loại.

Ngoài vấn đề đơn giản về sự “bất khả của các thị trường đầy đủ” này ra, giả thiết về thị trường đầy đủ trong hầu hết các mô hình kinh tế vĩ mô của trường phái Tân Cổ Điển và trường phái Tân Keynesian luôn tránh né vấn đề thực thi hợp đồng. Vấn đề này hết sức nhạy cảm trong hoạt động thương mại liên thời gian, khi giá trị ròng có được từ việc thực thi các điều khoản trong hợp đồng của mỗi bên tham gia hợp đồng có thể thay đổi từ dương sang âm và ngược lại. Trong một thế giới có mặt các chủ thể vị kỷ, duy lý và cơ hội, cùng khả năng và sự sẵn lòng gian dối và lừa gạt, thì chỉ một bộ phận rất nhỏ các giao dịch tự nguyện sẽ được giám sát, so với toàn bộ các giao dịch tiềm năng khả dĩ.

Nhóm thứ nhất các giao dịch căn cứ vào trao đổi tự nguyện mà chúng ta có thể gặp là các hợp đồng tự thực thi – dựa trên các mối quan hệ lâu năm, các tương tác lặp lại và sự tín nhiệm. Có một số giao dịch như vậy nhưng không nhiều. Nhóm thứ hai là những hợp đồng tự nguyện tham gia không trên cơ sở tự thực thi (vì các bên tham gia hợp đồng không thường xuyên giao dịch với nhau và các bên tham gia thị trường có một mức độ nặc danh nào đó khiến cho người ta không thể sử dụng uy tín như một cơ chế tự thực thi) nhưng được giám sát thực thi bởi bên thứ ba, thường là chính quyền, đôi khi là băng đảng tội phạm Mafia (đôi lúc khó phân biệt được chính quyền với Mafia). Việc giám sát thực thi hợp đồng của bên thứ ba lại thường rắc rối và tốn kém, đó cũng chính là lý do tại sao người ta ít sử dụng bên thứ ba để giám sát thực thi hợp đồng. Cơ chế này đòi hỏi bên thứ ba phải giám sát và kiểm tra được các điều khoản trong hợp đồng và các ngẫu nhiên phát sinh. Một lần nữa, chỉ một số lượng hạn chế các giao dịch được thực thi theo cơ chế này.

Tóm lại, theo các bạn, có phải giao dịch tự nguyện là một ngoại lệ thay vì là một nguyên tắc và có phải các thị trường vốn tuyệt nhiên và tuyệt vọng thay vì là không đầy đủ. Chúng ta chấp nhận và xuất phát từ thực tế đó. Điểm tham chiếu là phi mậu dịch – thời kỳ tự cung tự cấp tiền Friday Robinson Crusoe. Đối với mỗi hàng hóa, dịch vụ hay công cụ tài chính có chức năng trong “mô hình về thế giới” của bạn, bạn nên giải thích lý do tại sao tồn tại thị trường trao đổi hàng hóa, dịch vụ, công cụ đó – tại sao chúng được trao đổi mua bán hết. Có lẽ lần này chúng ta sẽ tìm ra điều gì đó.

Người xướng giá lúc tàn cuộc

Phương pháp tiếp cận lý thuyết tiền tệ của cả trường phái Tân Cổ Điển và trường phái Tân Keynesian (và lý thuyết kinh tế vĩ mô tổng gộp nói chung), đều sử dụng phiên bản mạnh nhất của giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH). Giả thuyết này cho rằng giá tài sản phản ánh đầy đủ tất cả những thông tin cơ bản có liên quan và do đó phát ra tín hiệu đúng đắn cho việc phân bổ nguồn lực. Ngay cả trong những năm 1970, 1980, 1990 và 2000 cho đến trước 2007, sự thất bại hiển nhiên của EMH trong nhiều thị trường tài sản trọng yếu hầu như rất rõ ràng đối với những ai mà khả năng nhận thức không bị nhào nặn bởi chương trình đào tạo PhD hiện đại ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên, hầu hết các học giả trong chuyên ngành đã tiếp tục chấp nhận EMH vô điều kiện, mặc dù có những nhân vật có tầm ảnh hưởng luôn ủng hộ hoàn toàn tính duy lý như James Tobin, Robert Shiller, George Akerlof, Hyman MinskyJoseph Stiglitz và các nhà nghiên cứu tài chính theo cách tiếp cận hành vi. Tuy nhiên, ảnh hưởng của các phương pháp tiếp cận phi chính thống trong kinh tế học vĩ mô và trong các lĩnh vực khác của kinh tế học lên kinh tế học vĩ mô dòng chính – các phương pháp tiếp cận của trường phái Tân Cổ Điển và trường phái Tân Keynesian – cũng rất hạn chế.

Trong các thị trường tài chính và các thị trường tài sản, kể cả tài sản thực lẫn tài sản tài chính, nhìn chung, giá tài sản hôm nay phụ thuộc vào cách mà những người tham gia thị trường nhìn nhận về những thay đổi có thể xảy ra đối với giá tài sản trong tương lai. Nếu giá tài sản hôm nay phụ thuộc vào những dự đoán của hôm nay về mức giá ngày mai, và mức giá ngày mai cũng phụ thuộc vào kỳ vọng về mức giá của ngày kia, và cứ lặp lại như thế đến phát ngán, rõ ràng là giá tài sản hôm này phụ thuộc một phần vào dự đoán của hôm nay về giá tài sản trong tương lai xa một cách tùy tiện. Bởi vì không có ngày tận thế cụ thể (một số nhà kinh tế vĩ mô nghiên cứu về vũ trụ học trong thời gian rảnh rỗi của họ), hầu hết các mô hình kinh tế sử dụng giả định định giá tài sản hợp lý hàm ý rằng giá hôm nay phụ thuộc một phần vào dự đoán của hôm nay về giá tài sản trong tương lai xa bất tận.

(còn tiếp)

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “The unfortunate uselessness of most ‘state of the art’ academic monetary economics”, blogs.ft.com, March 3, 2009.

Làm thế nào để thay đổi tư duy và gây ảnh hưởng đến người khác


Tim Harford

Điều tốt nhất về Thaler, những gì thực sự làm cho ông trở nên đặc biệt, đó là việc ông là người lười biếng.” Daniel Kahneman, người được trao giải thưởng về kinh tế học năm 2002 để tưởng nhớ Nobel, đã nói như vậy. Giáo sư Kahneman nói về Richard Thaler, người đã lặp lại thành tích này 15 năm sau đó. Người hướng dẫn luận án của Thaler, nhà kinh tế học Sherwin Rosen, nói điều đó theo cách khác: “Chúng tôi không mong đợi gì nhiều ở ông ấy.”

Câu chuyện về về việc làm thế nào một người ‘lười biếng’ và không nhiều triển vọng đã được trao giải thưởng Nobel cũng quan trọng như việc vì sao ông giành được giải thưởng ấy. Thông báo của ủy ban Nobel đã công nhận Giáo sư Thaler “vì những đóng góp của ông cho kinh tế học hành vi”. Nhưng có một cách khác để mô tả cách thức ông định hình lại kinh tế học: ông thuyết phục một nhóm rộng lớn những người thành công bằng một thế giới quan mạnh mẽ để thay đổi tư duy của họ.

Tư duy đó là gì? Đơn giản hoá một cách thái quá, điều đó có nghĩa rằng tất cả chúng ta đều là những người tối ưu hóa duy lý giống như nhân vật Spock [trong bộ phim truyền hình Star Trek], có khả năng ngay lập tức đánh đổi rủi ro và khen thưởng, cân bằng lại một kế hoạch chi tiêu khi đối mặt với sự thay đổi giá cả, và chống lại những cám dỗ như bánh brownies sô-cô-la hoặc những khoản cho vay nóng.

Tất nhiên, không có nhà kinh tế học nào tin vào điều trên. Nhưng trong nhiều thập kỷ qua, hầu hết các nhà kinh tế học đều tin rằng những sai biệt với thế giới của Spock đủ nhỏ, đủ hiếm và đủ ngẫu nhiên để có thể bỏ qua chúng. Con người không giống như Spock, nhưng khi xây dựng các mô hình kinh tế và trình bày các chính sách kinh tế, chúng ta có thể xử lí con người như thể họ là Spock.

Cách tiếp cận này không ngớ ngẩn như nó có vẻ. Nó có tính linh hoạt, mạnh mẽ và nhất quán. Nó thường đủ gần với thực tế để có thể hữu ích. Giáo sư Thaler đã nói với tôi: “Nếu ông muốn có một lý thuyết thống nhất về hành vi kinh tế, thì ông sẽ làm không tốt hơn mô hình tân cổ điển.”

Tuy nhiên, sức mạnh của cách tiếp cận tân cổ điển khiến thách thức trở nên khó khăn hơn. Giáo sư Thaler không phải là người đoạt giải Nobel đầu tiên nghiên cứu bên ngoài mô thức đó – trong số đó có Maurice Allais, Herb Simon và Thomas Schelling. Tuy nhiên, tất cả những người này, cho dù được ngưỡng mộ, đều không tìm cách làm chệch tư tưởng kinh tế dòng chính vượt ra ngoài kênh tối ưu hóa duy lý cũ rích. Chính Giáo sư Thaler là người đã thay đổi các chuẩn mực về cách thức kinh tế học được thực hành như thế nào, cả trong giới hàn lâm cũng như trong lĩnh vực chính sách.

Giờ đây, kinh tế học hành vi được tôn trọng từ chuyên san kinh tế American Economic Reviewđến Ngân hàng Thế giới. Cho dù bạn có cho rằng kinh tế học hành vi có quan trọng hay không, thì đây vẫn là một trường hợp đáng nghiên cứu như là một kì công trong việc thuyết phục con người thay đổi tư duy.

Vậy thì ông ấy đã làm như thế nào? Tất cả chúng ta đều có thể làm với hiểu biết của mình, bởi vì thế giới này đầy rẫy những người có đầu óc ngoan cố, những người cần được thuyết phục để thay đổi quan điểm của họ về những điều quan trọng.

Một phần của câu chuyện đơn giản là sự kiên trì: Bài viết khoa học của Giáo sư Thaler về kinh tế học hành vi đã được xuất bản vào năm 1980; ông đã ủng hộ mạnh mẽ kinh tế học hành vi trong một thời gian dài.

Điều quan trọng hơn là giáo sư Thaler hiểu rõ những gì ông phê phán. Thật quá dễ cho mọi người công kích những người mà mình bất đồng, dựa trên ý tưởng mơ hồ nhất về những gì họ suy nghĩ và lý do vì sao họ suy nghĩ như thế. Nhưng ông nắm bắt được, một cách hoàn hảo, lý do vì sao các đồng nghiệp kinh tế của ông chấp nhận tính duy lý, và những lập luận (tốt và xấu) mà họ đã sử dụng để bảo vệ điều đó. Giáo sư Thaler đã đấu tranh, một cách thẳng thắn và cẩn thận, với kinh tế học dòng chính.

Kỹ thuật thứ ba của ông là nhìn vào sự kiện – không chỉ là những số liệu thống kê tài tình, mà cả những sự kiện hàng ngày về sự tồn tại của con người. Chúng ta thấy khó cưỡng lại với các thức ăn chơi. Chúng ta chia tiền ra thành nhiều tài khoản cảm tính riêng biệt – tiền cho những ngày mưa bão [không đi làm], tiền để vui chơi giải trí, tiền ăn, tiền quần áo. Nếu tìm thấy một chai rượu cũ trong phòng áp mái, chúng ta có thể từ chối bán nó với giá hàng trăm pounds, mặc dù chúng ta không mơ chi ra một số tiền lớn bằng ba con số để mua bất cứ chai rượu nào. An tâm với sự tán thành về những sự kiện này, sau đó ông chuyển sang lập luận rằng chúng có thể có tầm quan trọng nào đó.

Cuối cùng, Giáo sư Thaler quan tâm đến cảm giác tò mò của con người. Loạt bài viết nhiều tập của ông “Anomalies [Những điều bất thường]”, được xuất bản trên chuyên san nghiên cứu học thuật có nhiều độc giả Journal of Economic Perspectives, thường bắt đầu bằng một câu đố – một số hành vi hoặc mô thức trong những dữ liệu mà không hề có ý nghĩa gì từ quan điểm củakinh tế học dòng chính. Sau đó, ông khảo sát câu đố, mở rộng nó, và xem xét giải pháp có thể.

Các nhà kinh tế học sẽ bàn luận về những điều bất thường này trong căng-tin của khoa. Theo lời mời của Giáo sư Thaler, họ sẽ gửi những ý kiến ​​riêng của mình. Thay vì nói với những người phản đối mình rằng họ đã sai, Giáo sư Thaler đã đưa ra một câu hỏi hóc búa và mời mọi người cùng thảo luận. Một trong những người phê phán ông, nhà kinh tế học vĩ đại Merton Miller của Đại học Chicago, đã hạ giọng khi phàn nàn rằng những điều bất thường của Giáo sư Thaler là một sự phân tâm khỏi sự mô hình hóa nghiêm túc, bởi vì chúng đơn giản quá thú vị.

Điều này đưa chúng ta trở lại với tính lười biếng của ông. Giáo sư Kahneman cho rằng tính lười biếng của Giáo sư Thaler đã làm cho ông trở nên “đặc biệt” bởi vì điều đó có nghĩa là ông ta có thể chỉ quan tâm nghiên cứu những vấn đề hấp dẫn nhất mà thôi.

Có lẽ đúng. Nhưng có lẽ sự thật là tính lười biếng đó không có gì đặc biệt cả. Giáo sư Thaler cho rằng hầu hết chúng ta đều lười biếng. Hầu hết chúng ta không muốn suy nghĩ sâu về những niềm tin của mình, hoặc về những thách thức đối với các niềm tin đó. Giải pháp của ông là đảm bảo rằng những thách thức đó đơn giản là quá hấp dẫn để bỏ qua.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnRichard Thaler: how to change minds and influence peopleFinancial Times, 13-10-17.

Các lý thuyết tiền tệ: Mặt trái mặt phải


Một số phân tích khẳng định rằng tiền tệ không gây ảnh hưởng đến sự vận hành thực của nền kinh tế, một số phân tích khác thì nói ngược lại. Nếu có khả năng gây ảnh hưởng nhiều, thì các chính sách tiền tệ cũng có những hạn chế.

Trước tiên chúng ta chỉ thấy có tiền tệ. Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, với trường phái trọng thương, tiền tệ là thực tế của sự giàu có: tiền tệ, đó là vàng hay bạc. Khi cô nàng (tiền tệ) khỏe mạnh, thì giá cả tăng lên. Khi thiết lập một quan hệ nhân quả giữa sự gia tăng tiền tệ trong lưu thông và tình trạng lạm phát, Jean Bodin đã phát triển lý thuyết định lượng tiền tệ đầu tiên, vào giữa thế kỷ XVI. Trước đây, lạm phát (“giá cả đắt đỏ mọi thứ” được lý giải bởi việc các quân vương “cắt xén” trọng lượng các kim loại quý trong các đồng tiền: cũng một đồng tiền đó nhưng có trọng lượng kim loại ít hơn sẽ cho phép mua ít hàng hơn. Nhưng chúng ta thấy lợi nhiều hơn hại ở sự việc trên: sự kích hoạt các giao dịch trao đổi thương mại và sự cắt giảm lãi suất thực tế (một khi tình trạng lạm phát đã hạ) đã được các nhà buôn và các quân vương, những người vay tiền quy mô lớn, đánh giá cao, do đã thấy một phần nợ của họ bị tình trạng lạm phát ăn bớt. Tiền tệ không mang tính trung lập trong sự vận hành thực của nền kinh tế.

Do tiền tệ là sự giàu có, nên một trong những mục tiêu của chính sách kinh tế là thu hút càng nhiều càng tốt các nguồn tiền thặng dư từ hải ngoại, được các nhà buôn ưa chuộng và các quân vương dùng làm cơ sở tính các loại thuế. Tiền tệ, năng động và sống động, được làm bằng thứ thịt ngon miệng, tự bản thân nó là một mục tiêu; do đó, việc gia tăng khối tiền tệ là điều đặc biệt có lợi.

Tuy nhiên, lý luận của trường phái trọng thương chứa đựng một khía cạnh nguy hại: sự phát triển các thặng dư thương mại, khi lượng tiền tăng lên sẽ làm cho giá cả tăng theo. Điều này làm cho việc cạnh tranh với bên ngoài thêm nặng gánh, góp phần làm giảm thặng dư từng mong muốn. Lý thuyết ngoại thương của trường phái trọng thương, trước khi bị trường phái tự do trao đổi thương mại phá bỏ, đã bị bào mòn bởi con sâu của lý thuyết định lượng.

Một cô gái đẹp mà chúng ta cởi bỏ quần áo

Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuộc khủng hoảng năm 1930, chúng ta khẳng định rằng tiền tệ chỉ là một cô gái đẹp, một vỏ bọc thời trang – hơn nữa, tiền tệ được làm bằng giấy ngày càng nhiều, chứ không phải bằng kim loại quý – mà đằng sau đó che giấu những tài sản thực, Của cải thựccủa các quốc gia, như Adam Smith đã mô tả vào năm 1776 trong cuộc cách mạng công nghiệp của nước Anh.

Với trường phái cổ điển rồi đến trường phái tân cổ điển, chúng ta cởi bỏ quần áo của cô gái đẹp, vén lên màn che mặt để tìm ra những giao dịch tài sản thực được trao đổi với nhau. Cuộc phân tích trở thành lưỡng phân: một bên là thế giới của những của cải thực, và bên kia là vỏ bọc thời trang, tiền tệ. Tiền tệ trở thành trung lập, theo nghĩa sự gia tăng hay sự giảm thiểu lượng tiền không làm thay đổi dòng chảy thực của tiền, mà chỉ điều chỉnh mức giá cả chung.

Vậy thì sự giàu có thực ở đâu? Điều này phụ thuộc vào những gì tạo nên giá trị của tài sản. Đầu tiên, tư tưởng kinh tế cổ điển, được Karl Marx lấy lại và biến đổi, đã phát minh ra lý thuyết “khách quan” về giá trị lao động: giá trị được lý giải bởi các chi phí sản xuất, bởi mức cung. Sau đó, các nhà lý thuyết tân cổ điển phá bỏ lý thuyết giá trị lao động để cho ra đời lý thuyết “chủ quan” về lợi ích cận biên: giá trị được lý giải bởi mức cầu của người sử dụng của cải, là người tiêu dùng hàng hóa hay người sản xuất đi mua các tư liệu sản xuất.

Cô gái đẹp bị cởi bỏ quần áo một lần nữa

Các nhà lý thuyết tân cổ điển xem lý thuyết định lượng như một thành tựu dứt khoát. Nhất là khi, cho đến đầu thế kỷ XX, nền kinh tế rơi vào một thời kỳ gần như trì trệ và gần như giảm phát, có lẽ chính là vì lý do thiếu tiền: chiếc ô có ích gì khi trời không mưa nữa? Tuy nhiên, sau khi phát hiện ra những mỏ vàng mới, nền kinh tế đã khởi động trở lại và đi cùng với nó là tình trạng lạm phát: vấn đề lý thuyết định lượng lại được đặt ra.

Lý thuyết định lượng lại nổi lên dưới hình thức một phương trình nổi tiếng MV=PT, được nhà kinh tế học người Mỹ Irving Fisher đề xuất vào năm 1911. Với M là cung tiền, V là vận tốc lưu thông của tiền tệ, P là mức giá cả chung và T là khối lượng các giao dịch. Từ đó ông suy ra rằng mọi biến động về lượng tiền tệ đang lưu thông trong nền kinh tế sẽ kéo theo một sự biến động tỷ lệ thuận với mức giá cả chung. Người ta thường quên là Fisher, thừa nhận hẳn là có những giai đoạn chuyển đổi mà trong đó tiền tệ có thể có những hiệu ứng thực có lợi, nhưng về lâu dài, giá cả nhất thiết sẽ tăng khi khối lượng tiền tệ tăng.

Nàng tiên đẹp của học thuyết Keynes

Về lâu dài, tất cả chúng ta đều chết”, John Maynard Keynes đã đáp trả Fisher. Từ cuối những năm 1930 cho đến giữa những năm 1970, cô gái đẹp trở lại thành một nàng tiên đẹp với học thuyết Keynes. Vả lại, Keynes gọi các “nhà cổ điển” tất cả những người đi trước ông, các nhà lý thuyết cổ điển và các nhà lý thuyết tân cổ điển, tất cả những tín đồ của lý thuyết định lượng và của tính trung lập của tiền tệ. Đối với ông, việc chủ động phát hành tiền tệ – bằng tín dụng ngân hàng – có thể làm cho nền kinh tế khởi động lại và chống lại tình trạng thất nghiệp. Bằng cách nào? Bằng việc giảm lãi suất thực được tạo ra bởi sự gia tăng lượng tiền tệ trong lưu thông. Mặc kệ các chủ nợ, những người sẽ thấy các khoản nợ của mình bị lạm phát ăn bớt: Keynes ủng hộ cái chết nhẹ nhàng của những người thực lợi.

Như vậy, Keynes dường như đã đoạn tuyệt với nguyên lí tính trung lập của tiền tệ. Ông đặc biệt đoạn tuyệt với lý thuyết truyền thống đang thống trị về lãi suất. Đối với những nhà lý thuyết tân cổ điển, lãi suất quả nhiên chỉ được lý giải bởi các hiện tượng thực gắn với mức cung và mức cầu về vốn, quỹ vốn cho vay. Mức cung về vốn là mức cung về tiết kiệm, tăng với lãi suất, và đó chính là dòng tiền thực, bởi vì tiết kiệm là một khoản phi tiêu dùng. Tương tự, mức cầu về vốn là mức cầu được thể hiện để cung cấp tài chính cho đầu tư – vì vậy là một dòng tiền thực khác –, nhưng lại giảm với lãi suất (đầu tư tốn nhiều tiền hơn về mặt tài chính khi lãi suất tăng cao).

Theo Keynes, lãi suất nội bộ không được xác định bởi các hiện tượng thực này, mà bởi các hiện tượng tiền tệ: có một cung tiền tệ (cung tín dụng của ngân hàng, tăng với lãi suất) và một cầu tiền tệ (mà một phần vì lý do đầu cơ, được cho là giảm dần với lãi suất, ở cấp độ kinh tế vĩ mô) mà chúng ta không nên nhầm lẫn với cung và cầu của quỹ vốn cho vay. Thị trường tiền tệ đã được sinh ra.

Tuy nhiên, Keynes giải thích sự hỗ trợ của một chính sách tiền tệ bành trướng cho việc khởi động lại nền kinh tế bằng những hiện tượng thuần túy mang tính… tiền tệ. Vì vậy, cách tiếp cận của ông vẫn còn mang tính lưỡng phân, bởi vì ông không nhấn mạnh đến thực tế là việc tạo sinh tiền tệ (cung tiền), chủ yếu là tín dụng ngân hàng. Thế mà, khoản tín dụng này lại can dự trực tiếp và hoàn toàn đơn giản vào thị trường các tài sản thực. Khi khẳng định điều tầm thường này, chúng ta đoạn tuyệt hẳn với sự lưỡng phân giữa tài sản thực và tiền tệ; chúng ta đưa lên hàng đầu thực tế về chu trình kinh tế. Chúng ta không cần giải thích việc thúc đẩy tiền tệ chỉ bởi việc hạ lãi suất, hệ quả của thị trường tiền tệ – dù, nếu áp dụng cả hai cùng một lúc, thì thậm chí còn hiệu quả hơn. Nhưng khẳng định này không khác gì một điều phi chính thống, ngay cả đối với Keynes!

Nói chung, thuyết can thiệp đã hồi sinh: cùng với các chính sách tiền tệ bành trướng để giảm lãi suất và khởi động lại cầu, là các chính sách tài khoá để thúc đẩy lại nền kinh tế. Trong thời kỳ ba mươi năm vinh quang (Trente Glorieuses), các chính phủ nghiện học thuyết Keynes giả vờ quên rằng khi lạm dụng phương thuốc tạo sinh tiền tệ, chúng ta đẩy tình trạng lạm phát lên cao lại một chút hoặc rất cao. Nhưng mọi người – hay gần như vậy – thừa nhận sự cần thiết phải lựa chọn giữa tình trạng lạm phát một chút và tình trạng thất nghiệp một chút hay không có lạm phát và thất nghiệp cao. Đây là nan đề của lạm phát và thất nghiệp, được suy ra từ những quan sát mang tính thống kê của nhà kinh tế học người New Zealand William Phillips về nước Anh. Hơn nữa, chúng ta đã quên những ràng buộc bên ngoài; chính xác hơn, chúng ta đã lẩn tránh nó: khi giá cả tăng, chúng ta thực hiện việc phá giá cạnh tranh tiền tệ.

Mụ phù thủy và cây chổi tự do cực đoan

Với sự trở lại mạnh mẽ của những nhà kinh tế theo thuyết tự do và tự do cực đoan, người đẹp trở thành mụ phù thủy. Sau cuộc khủng hoảng của hệ thống tiền tệ quốc tế và sự cáo chung của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định dựa trên bản vị đồng đô la, vào đầu những năm 1970, hai cú sốc dầu mỏ (1973-1974 và 1979-1980) đã thắng được học thuyết can thiệp của Keynes. Thuyết can thiệp bị cuốn đi cả về mặt lý thuyết lẫn chính trị trong một vài năm.

Học thuyết trọng tiền của Milton Friedman và của trường phái Chicago đưa vào trọng tâm phân tích nguy cơ lạm phát trong trường hợp áp dụng chính sách tiền tệ bành trướng. Chúng ta không nên tạo ra, qua các khoản tín dụng, nhiều tiền tệ hơn nhu cầu của tăng trưởng thực tế. Friedman diễn giải lại đường cong Phillips và cho thấy rằng bất cứ sự thúc đẩy nào, cho dù có thể hiệu quả trong ngắn hạn, cũng sẽ kích hoạt tình trạng lạm phát.

Làm thế nào? Khi nhà nước – vẫn còn kiểm soát các Ngân hàng Trung ương – tìm cách vực dậy sự tăng trưởng với một chính sách tiền tệ bành trướng, thì giá cả tăng vọt và tiền lương cũng tăng theo, khiến một số người thất nghiệp (lặp lại là “những người thất nghiệp tự nguyện“) muốn có việc làm. Nếu tình trạng thất nghiệp giảm trong trường hợp tiền lương tăng, điều ấy đơn giản được lý giải là bởi vì người làm công ăn lương đang chịu cảnh ảo giác tiền tệ: họ không thấy việc tăng lương bị lạm phát ăn mòn. Những người không muốn làm việc với mức lương hiện tại bây giờ chịu đi làm, và tình trạng thất nghiệp tự nguyện giảm xuống.

Tuy nhiên, là người cận thị nhưng không mù, họ sẽ hiểu ra sai lầm của họ sau một thời gian ngắn. Khi thấy tình trạng lạm phát, họ sẽ quay trở lại tình trạng thất nghiệp tự nguyện: những dự kiến của họ mang tính thích nghi. Như vậy Nhà nước đã thành công, trong một thời gian, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp bằng một chính sách tiền tệ; trong ngắn hạn, tiền tệ không còn mang tính trung lập. Tuy nhiên, trong trung hạn, khi người làm công ăn lương nhận ra sai lầm của họ, tiền tệ trở lại có tính trung lập, ngoại trừ việc nó rất có hại, bởi vì nó đã khởi động tình trạng lạm phát.

Thuyết trọng tiền suy ra từ đó một chính sách tiền tệ hoàn toàn mới. Vấn đề rõ ràng không còn là việc thúc đẩy nền kinh tế thông qua việc tạo sinh tiền tệ, mà là việc công bố và duy trì một khối lượng tiền tệ tăng trưởng đều đặn hàng năm – nói chung, tỉ suất tăng trưởng thực tế ước tính – và sẽ tránh được mọi tình trạng lạm phát. Ở cấp độ thể chế, điều tốt nhất là các Ngân hàng Trung ương phải độc lập với quyền lực chính trị, vai trò của họ chuyển từ chính sách kích cầu tiền tệ sang cuộc chiến chống lạm phát và bảo vệ tỷ giá hối đoái.

Trường phái cổ điển mới, mà người đại diện nổi tiếng nhất là Robert Lucas, người được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển, sau đó triệt để hoá quan điểm của Friedman. Những dự kiến sẽ không mang tính thích nghi nữa mà là mang tính duy lý: mọi người đều tin vào mô hình tự do và có khả năng sử dụng mô hình đó bằng cách huy động tất cả các thông tin có sẵn. Trong trường hợp chính sách tiền tệ quá lỏng lẻo, các giai đoạn quá độ của Friedman không tồn tại nữa: tai họa lạm phát sẽ xuất hiện tức thì. Tiền tệ trở lại “siêu trung tính“. Friedman bình luận đó là “rượu cũ bình mới”…

Nỗi lo xanh mặt của việc tạo sinh tiền tệ quá mức, đã từng thúc đẩy hoạt động của nhiều Ngân hàng Trung ương từ cuối những năm 1980, là nguyên nhân của cuộc suy thoái nghiêm trọng ở châu Âu vào năm 1993. Bị ám ảnh bởi nguy cơ lạm phát sau khi nước Đức thống nhất, Ngân hàng Trung ương Đức (Bundesbank) đã tiến hành thắt chặt tiền tệ một cách cực đoan, mà các nước khác ở châu Âu, trong đó có Pháp, đã làm theo. Kết quả là gây ra một sự tăng mạnh về lãi suất, phá vỡ hoạt động kinh tế. May thay, chính sách tự sát này đã ngưng lại: lãi suất tiếp theo đó đã lao dốc, đồng thời với lạm phát.

Sự trở lại của một học thuyết Keynes khập khiễng

Cuộc khủng hoảng hiện nay (diễn ra trong thực tế vào đầu những năm của thiên niên kỷ) được coi là phát sinh từ nguyên nhân tài chính và ngân hàng: tiền tệ quay trở lại như một nhân tố giải thích động thái kinh tế. Tuy nhiên, tiền tệ cũng có thể phát sinh từ nguyên nhân thực, không chỉ vì các chính sách tiền tệ chặt chẽ được tiến hành từ những năm 1980 đã gây ra sự sụt giảm của cầu. Hẳn là các ngân hàng đã thấy lãi suất giảm và thị trường tín dụng ngân hàng truyền thống của họ hoạt động ít sôi nổi do sự phát triển của các thị trường tài chính. Nền kinh tế vay nợ tạo sinh tiền tệ, bị những nhà kinh tế theo phái tự do phê phán bởi tính chất lạm phát của nó, đã nhường chỗ cho nền kinh tế của các thị trường vốn tài chính, nơi mà các ngân hàng đã đâm đầu vào. Do đó, họ chấp nhận mọi rủi ro để duy trì lợi nhuận. Và sụp đổ! Có tội nhưng không chịu trách nhiệm!

Kể từ đầu những năm 2000, một chính sách tiền tệ theo thuyết Keynes đã quay trở lại mà không nêu tên mình. Cuộc khủng hoảng những năm 2001-2002, gây ra bởi sự bùng nổ của bong bóng Internet, đã nhanh chóng được khắc phục nhờ chủ nghĩa thực dụng của Fed, Ngân hàng Trung ương Mỹ: Fed đã không ngần ngại giảm lãi suất chủ đạo đến một mức đặc biệt thấp[*] để kích thích hoạt động kinh tế. Dù cam kết gắn chặt với nhiệm vụ đấu tranh chống lạm phát, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cuối cùng cũng đã chấp nhận làm theo chính sách này.

Đối mặt với những hậu quả của cuộc khủng hoảng ngân hàng và tài chính về các khoản nợ dưới chuẩn bắt đầu tại Hoa Kỳ vào năm 2007 và cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu, các Ngân hàng Trung ương đã đi một bước xa hơn, tiến hành hàng loạt các giải pháp nới lỏng định lượng (quantitative easing) để hỗ trợ sự tăng trưởng và tránh tình trạng giảm phát: Ngân hàng Trung ương Anh, Cục dự trữ liên ban Fed (Ngân hàng Trung ương của Hoa Kỳ) và từ đầu năm 2015 là Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã lao vào hàng loạt những chương trình mua lại các chứng khoán nợ công và nợ tư nhân với số lượng lớn. Vào những năm 1930, khi Keynes đề xuất sự can thiệp trực tiếp của các Ngân hàng Trung ương (lúc đó nằm trong tay quyền lực chính trị) vào các thị trường tài chính thứ cấp về các trái phiếu chính phủ, thì đề xuất của ông đã được cho là tà thuyết. Như vậy, với giải pháp nới lỏng định lượng (quantitative easing), chính sách tiền tệ từ nay hoàn toàn theo thuyết Keynes, nhưng trong một thế giới tự do. Trong thực tế, các chính sách tài khóa ở Châu Âu vẫn mang tính hết sức khắc khổ: một hướng đi mang tính tự sát. Chính sách tiền tệ không thể làm được mọi thứ và học thuyết Keynes ngày nay đang đi trên một chân.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les théories de la monnaie: côté pile côté face, trong La monnaie et ses mystères, Alternatives Economiques HORS–SÉRIES no105, page 5–34.

Akerlof và Shiller: Tất cả những gì bạn cần biết về thao túng thị trường tự do – Phần cuối


Làm sao chúng ta biết được?

Chúng tôi tiên đoán rằng cuốn sách này sẽ không phổ biến (thậm chí là ít phổ biến nhất) đối với những người nghĩ rằng ai cũng luôn đưa ra các quyết định tốt nhất cho bản thân mình. Họ sẽ hỏi ai là Bob và George để nói rằng cá nhân con người không bao giờ là trọng tài tốt nhất của chính mình trong việc giúp bản thân ra các quyết định có tác động đến chính họ? Tương tự như phần lớn kinh tế học, luận điểm này có ý nghĩa trừu tượng. Nhưng khi chúng tôi xem xét câu hỏi này lúc nó mô tả con người thực ra quyết định thực (như chúng tôi sẽ làm trong suốt quyển sách này), chúng tôi phát hiện ra rằng họ đã bị lừa cắn câu: và, hậu quả là họ đưa ra các quyết định mà chỉ cần vận dụng một ít trí khôn cơ bản thôi, họ sẽ nhận biết các quyết định đó không mang lại lợi ích cho họ.

Chúng ta không phải tự phụ khi thấy người ta đưa ra những quyết định như vậy. Chúng ta nhận biết được là vì chúng ta thấy người ta đưa ra các quyết định mà KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN. Henry David Thoreau đã nhấn mạnh rằng “nhiều người sống cuộc sống trong âm thầm tuyệt vọng”. Đáng chú ý, một trăm năm mươi năm sau, ở nước Mỹ, quốc gia phồn vinh nhất thế giới mà chúng ta từng biết, quá nhiều người vẫn sống trong âm thầm tuyệt vọng. Hãy nghĩ về trường hợp cô Mollie tội nghiệp ở Vegas.

KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN CẢ

Bốn vấn đề lớn cho thấy tại sao tình trạng KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN CẢ lại lan rộng gồm: an toàn tài chính cá nhân; ổn định nền kinh tế vĩ mô (nền kinh tế tổng thể); sức khỏe của chúng ta; và chất lượng của chính phủ. Trong mỗi vấn đề trên, chúng ta sẽ thấy rằng việc thả câu chờ kẻ đại ngốc mắc sai lầm có tác động đáng kể đến cuộc sống của chúng ta.

An toàn tài chính cá nhân. Một thực tế cơ bản của đời sống kinh tế chưa bao giờ được đưa vào sách giáo khoa kinh tế học. Hầu hết người trưởng thành, ngay cả ở các nước giàu, đều mang mối lo làm thế nào để thanh toán các hóa đơn theo lên giường ngủ mỗi tối. Các kinh tế gia cho rằng ai cũng dễ dàng gói gém chi tiêu trong ngân sách của mình. Nhưng họ quên rằng ngay cả khi chúng ta thận trọng đến 99%, thì cũng còn 1% chúng ta hành động như thể “tiền là chuyện nhỏ”, có thể hủy hoại toàn bộ lựa chọn đúng đắn trước đó. Và các doanh nghiệp biết rất rõ 1% này. Họ nhắm vào các sự kiện trong cuộc sống của chúng ta khi mà tình yêu (hay những động cơ khác) lấn át sự cẩn trọng ngân sách của chúng ta. Đối với một số người thì sự kiện đó là thông lệ tặng quà vào dịp Giáng Sinh hàng năm. Đối với những người khác thì là các nghi lễ đánh dấu những cột mốc của đời người như: đám cưới (là nghi lễ mà các tạp chí chuyên về cưới hỏi khẳng định với các cô dâu rằng chi phí của một “đám cưới trung bình” gần bằng một nửa thu nhập bình quân đầu người hàng năm); đám tang (là nghi lễ mà người điều hành dịch vụ tang lễ tỉ mỉ giới thiệu về các cỗ quan tài để dẫn dắt lựa chọn, ví dụ như, kiểu Monaco “làm bằng thép không gỉ Sea Mist, bên trong toàn bộ được lót nhung 600 Aqua thượng hạng, được chần bông và dệt chun tinh xảo”); hay sinh con (là dịp mà hãng đồ chơi Babies “R” Us sẽ phái chuyên viên tư vấn cá nhân của họ đến).

Nhưng các nghi lễ kể trên không phải là những dịp duy nhất trong đời mà việc tính toán được cho là keo kiệt. Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà ở Mỹ, vốn trong thời kỳ phồn vinh nhất từ trước đến giờ, hầu hết người trưởng thành vẫn phải lo lắng về các hóa đơn khi đi ngủ. Các nhà sản xuất rất sáng tạo trong việc khiến cho chúng ta cảm thấy cần những sản phẩm được sản xuất ra trong khi họ đáp ứng các nhu cầu có thực của chúng ta. Không ai muốn phải lo lắng về các hóa đơn khi đi ngủ. Nhưng hầu như ai cũng phải lo lắng.

Một lý do khiến chúng ta lo lắng về các hóa đơn là tình trạng bán giá quá đắt: là người tiêu dùng, chúng ta đặc biệt có xu hướng trả quá nhiều tiền khi chúng ta bước ra khỏi vỏ ốc của mình để mua một hàng hóa đắt đỏ và hiếm khi mua. Đáng chú ý là trong khoảng 30% số nhà bán được cho người mua mới, tổng chi phí giao dịch – của người mua lẫn người bán – bằng hơn phân nửa số tiền đặt cọc mà người mua phải nộp để thực hiện giao dịch. Như chúng ta sẽ thấy, nhân viên kinh doanh xe hơi, đã phát triển các kỹ thuật tinh vi để bán cho chúng ta nhiều xe hơi hơn số chúng ta thực sự muốn; và đồng thời cũng khiến chúng ta phải trả quá nhiều tiền. Không ai muốn bị mua đắt. Nhưng chúng ta vẫn phải mua hàng với giá đắt, ngay cả trong những trường hợp mua bán mà chúng ta cẩn trọng nhất trong cuộc đời của mình.

Bất ổn tài chính và bất ổn vĩ mô. Thả câu chờ kẻ đại ngốc mắc sai lầm trong thị trường tài chính là nguyên nhân lớn nhất của các cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo tình trạng suy thoái sâu. Xét về các cuộc khủng hoảng tài chính thì cụm từ thịnh hành “Lần này sẽ khác” vừa đúng vừa sai. Trong giai đoạn tăng trưởng nóng trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, những kẻ thả câu dụ dỗ người mua về những tài sản mà họ phải bán bằng chiêu thức “lần này sẽ khác”. Ví dụ như vụ công ty sản xuất que diêm Swedish Match ở những năm 1920 (Ivar Kreuger, sáng lập viên của công ty Kreuger & Toll); vụ các công ty công nghệ dot-com ở những năm 2000 (Angelo Mozilo, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành của công ty tài chính Countrywide). Vâng, không lần nào giống lần nào cả; các doanh nghiệp khác nhau; sản phẩm của họ khác nhau. Nhưng, đồng thời, lần nào cũng vậy. Có những kẻ thả câu; và có những kẻ đại ngốc. Và khi chứng khoán do những kẻ thả câu giấu mặt dựng lên (kinh tế gia John Kenneth Galbraith gọi là “the bezzle” – sự gia tăng tài sản ảo) hiện nguyên hình, giá tài sản lao dốc. Các nhà quản lý đầu tư đã mua các gói chứng khoán có các khoản thế chấp xấu trong thời gian tích tụ nên cuộc khủng hoảng 2008 có thể đã không muốn mua chúng. Và sau đó, thật đau đớn, phản ứng phụ kinh hoàng đã diễn ra: niềm tin vỡ vụn trong toàn bộ nền kinh tế; giá chứng khoán giảm đi phân nửa; mất việc hàng loạt; và người thất nghiệp không thể tìm được việc làm. Tình trạng thất nghiệp dài hạn đạt mức cao chưa từng thấy kể từ Cuộc Đại Khủng Hoảng.

Sức khỏe. Ngay cả trong vấn đề sức khỏe, vốn dĩ là nhu cầu lớn nhất của chúng ta khi chúng ta đã được cơm no áo ấm, có nhà cửa đầy đủ, các hãng dược cũng thả câu đợi chúng ta mắc sai lầm. Vào những năm 1880, khi Daniel Pinkham, sống ở ngoại vi New York, để ý thấy có nhiều phụ nữ rất quan tâm đến bệnh thận, ông đã viết thư về nhà nhắn mọi người nên đưa bệnh thận vào danh sách các căn bệnh mà hãng thuốc Pinkham Pills của gia đình có thể chữa khỏi. Lời khuyên của ông được tiếp thu. Ngày nay, các hãng dược không còn được bổ sung bệnh vào trong danh sách nữa. Ở Mỹ, các hãng dược phải vượt qua hai cửa ải. Họ phải có được sự chấp thuận của Food and Drug Administration (Cục Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm), thông qua việc thực nghiệm đối chứng ngẫu nhiên; họ phải đồng thời thuyết phục được các bác sĩ kê thuốc của họ cho bệnh nhân. Nhưng họ cũng đã có hơn một thế kỷ lăn lộn tìm cách vượt qua các cửa ải này. Một số dược phẩm dù vượt ải thành công nhưng chỉ mang lại lợi ích rất bé. Tệ hơn, một số dược phẩm chỉ toàn gây hại, như Vioxx (một loại kháng viêm giống như Aleve) và liệu pháp thay thế nội tiết tố. Với bề dày năm năm xuất hiện trên thị trường, từ năm 1999 đến năm 2004, người ta ước lượng rằng Vioxx đã gây ra từ 26.000 đến 56.000 trường hợp tử vong do vấn đề tim mạch ở Mỹ; việc các bác sĩ và các nhà thuốc không thông báo cho phụ nữ biết những nghi ngờ về liệu pháp thay thế nội tiết tố đã gây ra khoảng 94.000 ca ung thư vú. Không ai muốn dùng thuốc dỏm cả.

Hậu quả ảnh hưởng đến sức khỏe không chỉ dừng lại ở thuốc dỏm. Nói về vấn đề ăn uống và hậu quả của nó. Khoảng 69% người Mỹ trưởng thành bị thừa cân; hơn phân nửa trong số đó (36% người Mỹ) bị béo phì. Một nghiên cứu thuần tập thực hiện trên hơn 120.000 người đã phô bày một thực trạng chính xác đáng kinh ngạc. Những người được phỏng vấn, chủ yếu là các y tá có đăng ký chính thức, được quan sát mỗi bốn năm một lần, từ cuối những năm 1970 suốt đến năm 2006. Số cân tăng trung bình mỗi bốn năm là 3,35lb (cân Anh) (tổng cộng tăng 16,75lb trong 20 năm). Phân tích thống kê cho biết 3,35lb tăng thêm là do 1,69lb snack khoai tây, 1,28lb khoai tây chiên, và 1lb thức uống có đường. Nói một cách hình tượng thì những y tá đó đã không thể ngưng nhóp nhép snack khoai tây (muối và mỡ) và khoai tây chiên (mỡ và muối) hay ngưng xì xụp các chai nước ngọt (đường). Họ lựa chọn một cách tự nguyện. Không dừng lại ở các y tá, mà khái quát hơn, các ông lớn ngành thực phẩm chi hoa hồng cho các phòng thí nghiệm khoa học để họ tính toán “các điểm cực mãn” của người tiêu dùng khiến họ thèm đường, muối, và mỡ cực độ. Tuy nhiên, không ai muốn béo phì cả.

Thuốc lá và rượu là những cái cần câu khác có liên quan đến sức khỏe. Nhưng có sự khác biệt lớn giữa hai sản phẩm này. Ngày nay, không ai nghĩ rằng hút thuốc lá là sành điệu cả. Khi George viết đoạn này, ông ngồi làm việc trong một tòa nhà văn phòng lớn ở Washington, HQ1 (Trụ sở chính 1) của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Người ta cấm hút thuốc bên trong tòa nhà. Nhưng trên đường đến nơi làm việc vào buổi sáng, ông đi ngang qua một số người hút thuốc đứng lác đác bên ngoài. Những người hút thuốc đó ai nấy cũng hằn học né tránh ánh nhìn chăm chăm của ông. Tuy không nói ra, nhưng họ biết ông đang nghĩ rằng họ đang liều mạng sống của chính họ: để có được niềm vui rất không đáng. Kết quả của sự chỉ trích và tự chỉ trích này là tỷ lệ người hút thuốc lá ở Mỹ đã giảm đi hơn phân nửa tính từ cái thời tăm tối khi mà những người đáng ra biết được nhiều thông tin hơn lại thuyết phục rằng hút thuốc thực sự tốt cho sức khỏe: hút thuốc giúp bạn giảm cân.

Còn một loại chất gây nghiện hợp pháp nữa ngoài thuốc lá, có thể có hại nhiều hơn; nhưng lại ít bị chỉ trích hơn. David Nutt và các cộng sự ở Anh, cùng Jan van Amsterdam và Willem van den Brink ở Hà Lan đã thành lập các nhóm chuyên gia đánh giá tác hại tương đối của các loại chất gây nghiện ở các quốc gia của họ. Tính luôn cả tác hại đối với người khác – thay vì chỉ tính tác hại đối với bản thân người dùng – Nutt và các cộng sự đánh giá rượu là loại tệ hại nhất; van Amsterdam và các cộng sự xếp rượu ở hàng thứ hai sau ma túy, nhưng sự hơn kém về tác hại là rất nhỏ. Lát nữa chúng ta sẽ thấy (từ các nghiên cứu suốt đời) rằng việc lạm dụng rượu rất có thể là phương thuốc giảm đau thần diệu duy nhất trong đời sống người Mỹ. Hơn nữa, các quán bar, nhà hàng, hãng hàng không và bạn bè của chúng ta gặp khi tiệc tùng đều ép chúng ta uống một ly, và đôi khi thêm một ly nữa, và một ly nữa,… Không ai để ý rằng uống thêm một ly nữa là một lựa chọn quá dễ dàng. Không ai muốn trở thành kẻ nghiên rượu. Nhưng thay vì khuyên can thì người ta lại dụ dỗ.

Chính phủ tồi. Trong khi thị trường tự do ít nhất là có thể vận hành hiệu quả trong các điều kiện lý tưởng, thì nền dân chủ cũng vậy. Nhưng các cử tri lại bận rộn lo toan cho cuộc sống của riêng mình; do vậy mà các cử tri hoàn toàn không thể biết được khi nào một chính trị gia đi chệch ra khỏi mong muốn thực sự của cử tri về tăng cường pháp chế. Và cũng chỉ vì chúng ta là người trần mắt thịt, chúng ta có xu hướng bầu cho người nào khiến chúng ta cảm thấy hài lòng nhất. Do vậy, chính trị dễ bị tác động bởi trò thả mồi đơn giản nhất, theo đó các chính trị gia âm thầm huy động tiền bạc từ các nhóm lợi ích, và sử dụng nguồn tiền đó để chứng tỏ rằng họ “không khác gì các cử tri”. Chương “Thả Câu Trong Chính Trị” của chúng tôi sẽ mô tả chiến dịch vận động tranh cử năm 2004 của Charles Grassley thuộc tiểu bang Iowa, người giữ chức chủ tịch Ủy Ban Tài Chính Thượng Viện lúc bấy giờ, và là người đã tập hợp được một nguồn quỹ tranh cử trị giá nhiều triệu đô la và đã tấn công dồn dập khắp tiểu bang bằng chương trình quảng cáo trên truyền hình phát đi hình ảnh ông cũng “như dân chúng”, đang ở nhà, ngồi trên chiến xe cắt cỏ của ông ta. Không có gì quá bất thường về vai trò của tiền bạc trong cuộc vận động này. Ngược lại, chúng ta chọn cách làm như vậy vì nó quá đặc trưng. Nhưng (hầu như) không ai muốn có một nền dân chủ mà các cuộc bầu cử được mua theo cách này.

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “Akerlof and Shiller: Everything You Need to Know About Free-Market Manipulation”, Evonomics.com, 6/1/2016.

Akerlof và Shiller: Tất cả những gì bạn cần biết về thao túng thị trường tự do – Phần đầu


Nội dung dưới đây được trích từ quyển sách Phishing for Phools: The Economics of Manipulation and Deception (Thả Mồi Câu Cá Ngáo: Kinh Tế Học Của Sự Thao Túng Và Mánh Khóe Lừa Bịp) của George A. Akerlof và Robert J. Shiller. Được xuất bản bởi Princeton University Press. Chúng tôi đã được phép in lại.

James Carville, cố vấn chiến dịch vận động tranh cử chức tổng thống của Bill Clinton năm 1992, đã từng nói rằng: “It’s the economy, stupid!” (Là vấn đề kinh tế cả thôi, ngốc ơi!). Ông muốn dùng câu nói này chĩa mũi dùi vào Tổng Thống George H. W. Bush vì hàng loạt các vấn đề kinh tế có liên quan mật thiết đến cuộc suy thoái kinh tế xuất hiện trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của Bush. Tuy nhiên, về phát biểu của Carville, chúng tôi có cách hiểu khác, rộng hơn: nhiều vấn đề của chúng ta khởi sinh từ chính bản chất của nền kinh tế. Nếu doanh nhân hành xử hoàn toàn ích kỷ vì lợi ích của chính mình theo cách thức mà lý thuyết kinh tế giả định, thì hệ thống kinh tế thị trường của chúng ta có xu hướng dung dưỡng sự thao túng và mánh khóe lừa bịp. Vấn đề không phải là do có nhiều người xấu. Hầu hết mọi người đều tuân thủ luật chơi và chỉ mưu cầu cuộc sống sung túc. Nhưng, rõ ràng, áp lực cạnh tranh đè lên giới doanh nhân buộc họ phải nhúng tay vào hành vi lừa bịp và thao túng trong các thị trường tự do khiến chúng ta mua, và trả quá nhiều tiền cho những sản phẩm không cần đến; khiến chúng ta làm những công việc không mấy ý nghĩa; và khiến chúng ta tự hỏi tại sao cuộc sống của mình lại trở nên bất ổn.

Chúng tôi viết quyển sách này với tư cách là những người hâm mộ hệ thống thị trường tự do, nhưng hy vọng sẽ giúp mọi người tìm được lợi ích của mình trong đó. Hệ thống kinh tế thị trường đầy rẫy các ngón đòn gian lận, và ai cũng cần phải biết được thực tế này. Tất cả chúng ta ai cũng phải lèo lái hệ thống này để giữ gìn phẩm giá và tính chính trực của mình, tất cả chúng ta đều phải tìm cho được nguồn cảm hứng để bước tiếp bất chấp sự điên rồ xung quanh chúng ta. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới người tiêu dùng, họ chính là đối tượng cần phải cảnh giác trước vô số trò lừa bịp nhắm vào họ. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới giới doanh nhân, họ chính là những người cảm thấy chán nản trước sự hoài nghi của một số đồng nghiệp và rơi vào cái bẫy của sự không cần thiết này về mặt kinh tế. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới các quan chức chính phủ, họ là lực lượng đảm đương nhiệm vụ bạc bẽo điều tiết hoạt động kinh doanh. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới các tình nguyện viên, các nhà hảo tâm, các nhà hướng dẫn dư luận, họ là thành phần ủng hộ sự liêm chính. Và chúng tôi viết quyển sách này hướng tới giới trẻ, những người tự vấn làm sao họ có thể tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình khi nhìn ra quảng đời làm việc của mình phía trước. Tất cả những đối tượng này sẽ cùng có lợi từ nghiên cứu về trạng thái cân bằng lừa đảo – về các lực lượng kinh tế đã cấy sự thao túng và mánh khóe lừa bịp vào hệ thống kinh tế trừ khi chúng ta mạnh dạn đấu tranh chống lại nó. Chúng ta cũng cần những câu chuyện về những vị anh hùng, những người mà bằng chính sự liêm chính của bản thân (chứ không phải vì lợi ích kinh tế) đã cố gắng kìm hãm sự dối trá trong nền kinh tế của chúng ta ở mức có thể chung sống được. Chúng tôi sẽ kể thật nhiều những câu chuyện về những vị anh hùng này.

Các sản phẩm của kinh tế thị trường tự do

Cuối thế kỷ thứ mười chín là giai đoạn bận rộn của những nhà phát minh trong ngành xe hơi, điện thoại, xe đạp, đèn điện. Nhưng, có một phát minh khác cùng thời ít nhận được sự chú ý chính là “chiếc máy tự động dùng đồng xu”. Ngay từ khi ra đời, chiếc máy này không mang ý nghĩa như của ngày hôm nay. Khái niệm này có liên quan đến bất cứ loại “máy bán hàng tự động” nào mà khi bạn cho tiền xu vào một cái khe trống, bạn sẽ được khui một chiếc hộp. Vào những năm 1890, máy tự động dùng đồng xu được dùng để bán kẹo cao su, xì gà, thuốc lá, ống dòm (để xem nhạc kịch – ND), sô-cô-la que được quấn trong giấy gói cá nhân, thậm chí là các lượt xem nhanh tài liệu được coi là tiền thân của danh bạ điện thoại thành phố – hàng hóa gì cũng có. Sự cải tiến cơ bản chính là chiếc khóa được kích hoạt bằng đồng xu được nhét vào trong.

Nhưng rồi sau đó, người ta phát minh ra một công dụng khác. Chẳng bao lâu thì máy tự động dùng đồng xu bắt đầu bao gồm cả những chiếc máy đánh bạc. Một tờ báo lúc bấy giờ đã ghi nhận sự xuất hiện của máy tự động dùng đồng xu với ý nghĩa của thời hiện đại vào năm 1893. Lúc đầu, những chiếc máy này thưởng kẹo cho người chơi thắng thay vì thưởng tiền; chẳng bao lâu thì người ta đã gán cho sự trùng hợp hiếm hoi khi ba quả anh đào cùng xuất hiện một ý nghĩa đặc biệt.

Cuối những năm 1890, một chứng nghiện mới xuất hiện đối với trò đỏ đen trên máy đánh bạc. Vào năm 1899, tờ Los Angeles Times đã đưa tin: “Người ta có thể tìm thấy từ một cho tới nửa tá máy đánh bạc ở hầu hết các quán rượu, được vây kín bởi đám đông những người chơi suốt từ sáng đến tối … Một khi thói quen đã được hình thành, nó sẽ trở thành chứng nghiện. Người ta có thể bắt gặp các thanh niên ngồi hàng giờ liền trước máy đánh bạc. Cuối cùng, chắc chắn họ chính là những kẻ thua cuộc.

Rồi thì lực lượng quản lý đã can thiệp. Máy đánh bạc hủy hoại cuộc đời của quá nhiều người nên phải bị cấm, hoặt ít nhất là phải được kiểm soát, cùng với cờ bạc nói chung. Chúng đã biến mất khỏi đời sống cộng đồng, hầu như hoàn toàn bị cho ra rìa: được chuyển đến những nơi đặc biệt như sòng bài, và ở nơi được quản lý lỏng lẻo như Nevada, máy đánh bạc dễ dàng được tìm thấy trong siêu thị, trạm xăng, và sân bay; trung bình một người lớn ở đây nướng 4% thu nhập của mình vào bài bạc, gấp chín lần mức trung bình của người Mỹ. Nhưng ngay cả Nevada cũng có một số giới hạn: vào năm 2010, Hội Đồng Kiểm Soát Đánh Bạc Nevada đã bác bỏ đề xuất cho phép khách hàng ở các cửa hàng tiện lợi được sử dụng thẻ tín dụng trên các máy đánh bạc, mà chỉ cho phép đổi tiền lẻ như thường lệ.

Khi được tin học hóa, máy đánh bạc có thêm chức năng mới. Đặt theo tên của quyển sách viết năm 2012 của Natasha Schüll đến từ MIT, các chiếc máy thế hệ mới được thiết kế để gây nghiện. Mollie, người mà Schüll đã gặp tại buổi họp mặt các thành viên của tổ chức Gamblers Anonymous tại Las Vegas đã thể hiện khía cạnh con người của sự ham mê này. Mollie đã vẽ cho Schüll một sơ đồ trình bày cách thức mà cô tìm thấy bản thân mình. Sơ đồ diễn tả cô bằng hình ảnh ốm o, đơn độc, đứng cạnh chiếc máy đánh bạc, bị bao vây – mắc kẹt – trong một con đường vòng tròn. Con đường đó dẫn đến sáu nơi chốn quan trọng nhất trong cuộc đời của cô: đường MGM Grand, nơi cô làm công việc nhân viên nhận đăng ký đặt chỗ; ba điểm nơi cô chơi đánh bạc; cơ sở của tổ chức Gamblers Anonymous, nơi cô cố gắng cai bài bạc; và cuối cùng là nơi cô mua thuốc chống chứng rối loạn lo âu. Mollie hoàn toàn ý thức được vấn đề của mình: cô không tìm đến các máy đánh bạc để mong được thắng. Cô biết rằng cô sẽ thua. Đúng hơn là cô bị lôi kéo bởi sự cưỡng bức. Và khi cô đến đó chè chén say sưa, cô đơn độc; hành động trở nên nhanh và liên tục. Mollie đi vào nơi mà cô gọi là “khu vực”. Nhấn cái nút màu đỏ. Các ánh đèn và buổi diễn bắt đầu. Cô ta hoặc thắng hoặc thua. Nhấn cái nút màu đỏ một lần nữa. Và một lần nữa. Cứ thế tiếp tục cho đến khi sạch túi. Mollie không phải là trường hợp cá biệt ở Vegas. Cách đây mười năm, những cái chết do ngưng tim là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng ở các sòng bài. Đề xuất về đội cấp cứu không được thông qua. Cuối cùng thì các sòng bài tự thành lập riêng các đội kích tim được huấn luyện đặc biệt. Một đoạn video quan sát cho thấy lý do tại sao cần phải có chương trình huấn luyện đặc biệt như vậy. Trong đoạn băng, lực lượng của sòng bạc kích tim cho một người chơi bị ngưng tim, những người chơi xung quanh vẫn tiếp tục chơi, thần trí bị mê hoặc của họ vẫn bình thản, mặc dù nạn nhân rõ ràng đang nằm ngay dưới chân họ.

Thị trường mang lại cho chúng ta điều gì

Lịch sử về mặt tốt và mặt xấu của máy tự động dùng đồng xu từ những năm 1890 đến nay minh họa quan điểm sóng đôi của chúng ta về nền kinh tế. Cơ bản nhất là chúng ta ca ngợi thị trường. Thị trường tự do là sản phẩm của hòa bình và tự do, phát triển trong thời kỳ ổn định khi mà con người không sống trong lo sợ. Nhưng song song với việc tạo ra các chiếc hộp mà khi mở ra sẽ cho chúng ta một thứ chúng ta muốn thì động cơ lợi ích cũng tạo ra những chiếc máy đánh bạc với trò cờ bạc gây nghiện ưu tiên lột tiền của bạn. Hầu như toàn bộ quyển sách này sẽ minh họa mặt xấu của chiếc máy tự động dùng đồng xu, chứ không nói về mặt tốt: vì với tư cách là những người chủ trương cải cách về cả tư tưởng kinh tế lẫn nền kinh tế, chúng tôi cố gắng thay đổi những trục trặc của xã hội chứ không thay đổi những mặt tốt. Nhưng trước khi bắt đầu, chúng ta nên suy ngẫm xem thị trường đã mang lại cho chúng ta những gì.

Để làm được điều này, chúng ta cần phải nhìn lại thời kỳ cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi. Vào tháng 12/1900, chàng kỹ sư xây dựng John Elfreth Watkins Jr. đã tham gia trò giải trí dự đoán xem cuộc sống sẽ như thế nào một trăm năm nữa được đăng trên tạp chí The Ladies Home Journal. Anh ta đã dự đoán rằng chúng ta sẽ có “khí nóng và khí lạnh thoát ra từ các vòi nước”. Chúng ta sẽ có những con tàu cao tốc đưa chúng ta “đến nước Anh trong vòng hai ngày”. “Sẽ có máy bay”, chủ yếu dùng trong quân đội, nhưng đôi khi được dùng để chuyên chở hành khách và hàng hóa. “Buổi đại nhạc kịch sẽ được truyền đến tư gia bằng điện thoại và âm thanh cũng du dương như đang thưởng thức trong nhà hát”. Các dự đoán cứ thế tiếp tục.

Watkins mô tả các dự đoán của mình có vẻ “lạ, hầu như bất khả”; nhưng, đáng chú ý là thị trường tự do, với động cơ sản xuất ra những gì con người muốn, miễn là có lợi nhuận, đã khiến cho những dự đoán của anh ta trở thành hiện thực, và hơn thế nữa.

Tuy nhiên, thị trường tự do không chỉ mang lại sự phong phú mà con người muốn có. Thị trường tự do còn tạo ra trạng thái cân bằng kinh tế hết sức phù hợp với các tổ chức kinh tế muốn thao túng hay làm sai lệch sự phán đoán của chúng ta bằng các hoạt động kinh doanh tương tự như căn bệnh ung thư bám chặt vào sự cân bằng bình thường của cơ thể con người. Máy đánh bạc là một ví dụ rõ nét. Không phải tự nhiên mà chiếc máy đánh bạc phổ biến đến mức không thể ngăn chặn được trước khi chúng bị quản lý và bị cấm. Chừng nào mà chúng ta có bất kỳ điểm yếu nào trong việc nhận biết mình thực sự muốn gì, và chừng nào mà những điểm yếu đó có thể được tạo ra và nuôi dưỡng một cách có lợi, thì thị trường sẽ chớp lấy cơ hội cho chúng ta vào tròng vì những điểm yếu đó. Thị trường sẽ soi mói và lợi dụng chúng ta. Thị trường sẽ thả câu chờ những kẻ đại ngốc mắc sai lầm.

Về khái niệm Phish và Phool

Từ phish, theo Tự Điển Anh Ngữ Oxford, xuất hiện vào năm 1996 khi trang web ra đời. Tự điển này định nghĩa phish là “lừa gạt trên Internet nhằm thu thập thông tin riêng tư của cá nhân, đặc biệt là bằng cách mạo danh một công ty có uy tín; tham gia trò lừa gạt trực tuyến bằng cách lừa “câu” thông tin cá nhân. Trong quyển sách này, chúng tôi phát triển một ý nghĩa mới và rộng hơn cho từ phish. Chúng tôi sử dụng định nghĩa của ngành tin học như một phép ẩn dụ. Thay vì xem trò lừa đảo ăn cắp thông tin trên mạng (phishing) là bất hợp pháp, chúng tôi giới thiệu một định nghĩa khái quát hơn và có liên hệ với lịch sử hơn. Định nghĩa này có liên quan đến việc khiến người ta làm những điều mang lại lợi ích cho những kẻ lừa đảo ăn cắp thông tin trên mạng (phisherman), chứ không mang lại lợi ích cho người thực hiện. Định nghĩa này có liên quan đến việc câu cá, việc thả một con mồi giả xuống nước và ngồi chờ cho con cá thận trọng nào đó bơi ngang, mắc sai lầm, và cắn câu. Có rất nhiều kẻ thả câu và họ rất tài tình tạo ra vô số con mồi giả mà theo các qui luật xác suất thì chúng ta sớm muộn gì cũng đều cắn câu, cho dù chúng ta cố gắng thận trọng đến mức độ nào đi nữa. Không một ai là ngoại lệ cả.

Theo định nghĩa của chúng tôi, kẻ đại ngốc (phool) là người, vì bất kỳ lý do gì, hoàn toàn bị mắc câu. Có hai loại kẻ đại ngốc: ngốc tâm lý và ngốc thông tin. Ngốc tâm lý cũng có hai loại. Đối với loại thứ nhất, tiếng gọi của trí khôn cơ bản của kẻ đại ngốc tâm lý bị đè nén bởi cảm xúc của họ. Đối với loại thứ hai, các sai lệch về nhận thức, tương tự như ảo giác quang học, khiến cho họ hiểu sai thực tế, và họ hành động trên cơ sở hiểu biết sai lầm đó. Mollie là một ví dụ của kẻ đại ngốc cảm xúc, nhưng không phải là kẻ đại ngốc nhận thức. Cô ta rõ ràng là tự nhận thức được tình trạng của mình trước các chiếc máy đánh bạc, nhưng cô ta không thể giúp được chính mình.

Kẻ đại ngốc về thông tin hành động dựa trên các thông tin được gọt dũa có chủ đích để đánh lừa họ. Sự tăng giá của Enron cũng căn cứ trên việc sử dụng thông tin kế toán sai lệch (và sau đó là lừa bịp). Lợi nhuận bất thường của công ty này là kết quả của phương pháp hạch toán “theo giá thị trường” (mark-to-market – MTM), theo đó lợi nhuận trong tương lai của dự án đầu tư có thể được ghi nhận ngay khi dự án đó được triển khai. Thông lệ phổ biến hơn là chờ cho đến khi lợi nhuận thực sự được sinh ra. Từ năm 1995 đến năm 2000, tạp chí Fortune công bố Enron là Công Ty Sáng Tạo Nhất quốc gia. Fortune đã đúng; chỉ có điều là các biên tập viên của tạp chí đã không hiểu được bản chất của các sáng tạo của Enron.

Các doanh nhân có đạo đức tốt (hay xấu) không phải là chủ đề của quyển sách này, mặc dù đôi lúc cả mặt tốt lẫn mặt xấu của họ sẽ cùng xuất hiện. Thay vào đó, chúng ta xem xét vấn đề cơ bản là thị trường cạnh tranh tạo ra các áp lực khiến cho người ta ít cẩn trọng hơn. Thị trường cạnh tranh rất xuất sắc trong việc khuyến khích và tán thưởng các anh hùng doanh nhân tạo ra các sản phẩm mới có tính sáng tạo phục vụ cho nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, thị trường tự do phi điều tiết hiếm khi tán thưởng loại chủ nghĩa anh hùng mà theo đó người ta tự chế ngự bản thân không lợi dụng điểm yếu tâm lý và điểm yếu thông tin của khách hàng. Do áp lực cạnh tranh, nhà quản lý nào chế ngự bản thân mình theo lối này có khả năng bị thay thế bởi người khác ít có băn khoăn về vấn đề đạo đức hơn. Xã hội dân sự và các chuẩn mực xã hội có lập ra một số cơ chế kìm hãm những hành vi lợi dụng nói trên; nhưng ở trạng thái cân bằng thị trường, nếu có một cơ hội để lợi dụng, thì ngay cả những công ty được dẫn dắt bởi tính liêm chính đạo đức thực sự cũng sẽ thường phải lợi dụng để cạnh tranh và tồn tại.

(còn tiếp) 

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “Akerlof and Shiller: Everything You Need to Know About Free-Market Manipulation”, Evonomics.com, 6/1/2016.