Cải cách kinh tế học nhìn từ bên trong


Cameron Murray

Không thể cường điệu thách thức mà cải cách kinh tế học phải đối mặt. Kinh tế học hiện đại dòng chính vẫn chiếm ưu thế trong các trường đại học và các chính phủ của chúng ta mặc cho bằng chứng áp đảo chống lại hầu hết các nguyên tắc cốt lõi của nó, và mặc cho nhiều thập niên nỗ lực của các cuộc cách mạng. Khái niệm về trạng thái cân bằng tĩnh và ‘tác nhân tiêu biểu’ (‘representative agent’) của phương pháp tổng gộp chỉ là hai khái niệm mà đã nhiều lần cho thấy là không có sự nhất quán nội tại, không chỉ từ những người bên ngoài mà còn từ nhiều trong số những nhà lãnh đạo trong dòng chính. Tuy nhiên, chúng vẫn tiếp tục thống trị bộ môn [kinh tế học] này.

Điều cốt lõi vẫn không hề suy suyển.

Các khái niệm lỗi thời và không thích đáng về mặt kinh tế vẫn chiếm đầy các trang của những quyển giáo trình nhập môn. Từ đó, chúng được nhồi vào tâm trí của mỗi thế hệ sinh viên mới, đến lượt mình, họ tiếp tục chuyển giao các ý tưởng này cho thế hệ sinh viên tiếp theo, và toàn bộ xã hội rộng lớn hơn. Để biến đổi bộ môn [kinh tế học], điều cần thiết là phải phá vỡ những vòng phản hồi trong hệ thống này.

Lời kêu gọi đa nguyên xứng đáng được ca tụng. Đa nguyên là một mục tiêu mà hầu hết các nhà cải cách đều đồng thuận. Nhưng theo quan điểm của tôi, những nỗ lực cải cách kinh tế học trước đó đã thất bại vì chúng lẩn tránh, hoặc không đủ thấu hiểu, hai rào cản chính đối với sự thay đổi. Thoạt tiên, trông có vẻ không thể vượt qua được những rào cản này, nhưng nếu không tận dụng chúng để tạo ra sự thay đổi, [kinh tế học] dòng chính sẽ vẫn chiếm ưu thế bởi cách tiếp cận phân tích kinh tế chủ đạo.

Rào cản chính đầu tiên là xã hội. Kinh tế học là một ngành thường tưởng thưởng cho lòng trung thành đối với bộ lạc hơn là việc điều hòa ý kiến bất đồng. Nếu bạn theo dõi các blog về kinh tế học trong những năm gần đây, bạn có thể có cái nhìn khá rõ về điều này. Nhưng những hoạt động sôi nổi tương tự cũng xảy ra trong giới học thuật. Các tạp chí buộc [các bài viết phải] tuân theo các phương pháp và các khái niệm ưa thích của mình và hành động như người gác cổng cho bộ lạc, yêu cầu tất cả mọi người khi đến bộ lạc đều phải dâng hương kính lễ cho các tộc trưởng lão làng. Thêm vào đó, [kinh tế học] dòng chính đại diện cho hơn 80% của ngành, vì vậy, bất kỳ thay đổi nào do các nhóm thiểu số khởi xướng đều nhận được những cái chau mày khó chịu. Và đây chính là hiện thực xã hội.

Thách thức về mặt xã hội này, về bản chất, là làm thế nào mang các bộ lạc lại với nhau sao cho tất cả đều cảm thấy bản thân mình là “người trong nhà” trong một nhóm mới lớn hơn. Điều này không có nghĩa là khiêu chiến với các bộ lạc hùng mạnh, đặc biệt là không gây chiến với [kinh tế học] dòng chính hiện nay; mà nó có nghĩa là nêu bật bất kỳ nền tảng chung nào mà các bộ lạc đồng thuận và tin tưởng vào cách mà họ góp tay xây dựng một quan điểm tốt hơn về kinh tế học. Còn nhiều vấn đề có thể bàn về các rào cản xã hội đối với sự thay đổi trong kinh tế học, và tôi hy vọng sẽ giải quyết chúng vào chi tiết trong tương lai. Nhưng với những mục đích hiện tại thì điều này cũng cung cấp đủ bối cảnh để thảo luận về rào cản thứ hai đối với sự thay đổi.

Rào cản chính thứ hai là kỹ thuật. Vấn đề liên quan đến kỹ thuật ở đây là: Làm sao bạn có thể giảng dạy một chương trình đa nguyên khi không có cấu trúc chính thức để giới thiệu nội dung từ các tư tưởng khác nhau và thường trái ngược với nhau, và khi mà có rất ít học giả được đào tạo đủ khả năng để thực hiện điều này?

Giảng dạy một chương trình đa nguyên không nên giống như là đang giới thiệu bộ môn kinh tế học như thể nó là một trong các bộ lạc có mối thù truyền kiếp. Tôi chia sẻ nỗi lo sợ của Simon Wren-Lewis rằng một chương trình giảng dạy đa nguyên có thể trở thành một cửa hàng mà sinh viên có thể mua sắm tất cả mọi thứ, họ lướt qua các bộ lạc trước khi gia nhập vào bộ lạc nào phù hợp với hệ tư tưởng chính trị hiện có của mình nhất. Thay vào đó, mục tiêu nên là đào tạo một thế hệ kinh tế gia nhận thức được di sản của mỗi trường phái tư tưởng, và thừa nhận nền tảng chung giữa chúng.

Có một câu châm ngôn xưa cũ cho rằng nếu bạn hỏi năm nhà kinh tế cùng một câu hỏi, bạn sẽ nhận được năm câu trả lời khác nhau – và sáu nếu có nhà kinh tế ở Harvard. Liệu chúng ta có thể giảng dạy một chương trình đa nguyên mà chương trình này sẽ làm cho các kinh tế gia suy nghĩ theo cách tương tự nhau, để rồi khi bạn đặt cùng một câu hỏi cho năm nhà kinh tế, bạn sẽ nhận được một câu trả lời hay ho?

Vấn đề này cần một giải pháp có hệ thống. Ví dụ, chúng ta cần suy nghĩ về phương cách để cấu trúc việc giảng dạy xung quanh các chủ đề và khái niệm cho phép sinh viên có thể nghiên cứu các vấn đề và đánh giá các cách tiếp cận tiềm năng. Chúng ta cần một giáo trình hoặc một bộ giáo trình thay thế mà ở đó có thể thể hiện thỏa đáng mỗi cách tiếp cận và cuối cùng là cung cấp nền tảng cho một chương trình giảng dạy đa nguyên.

Hiện nay, thậm chí các quyển giáo trình chính thống nhất cũng chỉ bổ sung một vài ý kiến về các cách tiếp cận khác. Ví dụ, các trường phái kinh tế học thực nghiệm hoặc kinh tế học hành vi phổ biến hiện nay – dù cho khắp nơi coi đó là một cuộc cách mạng trong tư duy kinh tế và khoa học kinh tế – nhận được rất ít tín nhiệm trong các quyển giáo trình phổ biến nhất. Sau khi xem xét nội dung của 25 quyển giáo trình nhập môn kinh tế vi mô phổ biến ở bậc đại học,Lombardini-Riipinien và Autio thấy rằng:

“… mười trong số 25 quyển giáo trình được kiểm tra không có tài liệu tham khảo nào về kinh tế học hành vi; sáu quyển dành cho nó ít hơn 1% tổng số trang, sáu quyển từ 1% đến 2,6%, và ba quyển từ 6% đến 11%. Khi thảo luận về kinh tế học hành vi, trọng tâm vẫn có xu hướng bàn về duy lý hạn chế (bounded rationality) hơn là tư lợi hạn chế (bounded self-interest) hoặc ý chí hạn chế (bounded willpower).”

“Kinh tế học thực nghiệm không hề được thảo luận trong mười quyển giáo trình, mười hai quyển dành cho nó ít hơn 0,6% tổng số trang, trong khi ba quyển dành từ 2% đến 10% tổng số trang.”

Joan Robinson đã cố gắng viết lại toàn diện quyển giáo trình cốt lõi về nhập môn kinh tế học với John Eatwell vào năm 1973. Tuy quyển sách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là đặt phân tích kinh tế trong bối cảnh triết học và lịch sử, nhưng nó lại không cung cấp khung sườn cố kết để dựa vào đó mà xây dựng sự thông hiểu về kinh tế học. Nó chứa đựng rất ít nội dung hỗ trợ sinh viên trong việc trả lời các câu hỏi thực tế hàng ngày về nền kinh tế. Tiền đến từ đâu? Làm thế nào để đo lường thất nghiệp? Làm thế nào chúng ta có thể đánh giá các đối chọn thay thế để giải quyết các hiệu ứng ngoại lai tiêu cực (negative externalities)? Khái niệm rất riêng về hiệu ứng ngoại lai này có hữu ích không khi nó ngụ ý sự tồn tại của một thế giới không hề có hiệu ứng ngoại lai?

Điều cần thiết ở đây là một phương cách để kết cấu việc khảo sát phân tích kinh tế bằng cách sắp xếp các vấn đề kinh tế xung quanh một số lĩnh vực cốt lõi. Các phương pháp tiếp cận từ những trường phái tư tưởng khác nhau có thể được đưa vào phân tích khi thích hợp, cùng với việc nhấn mạnh nền tảng chung và các mối liên kết giữa chúng.

Theo quan điểm của tôi, để đạt được điều này đòi hỏi phải sắp xếp những mô hình và ý tưởng vào các lĩnh vực khái niệm vượt khỏi các trường phái tư tưởng cụ thể. Sau đó, bất kỳ chủ đề kinh tế nào cũng đều có thể được trình bày như một vấn đề chung, chẳng hạn như, “Tại sao các công ty tồn tại?”, hoặc “Tại sao chúng ta quan tâm đến việc phân bổ các nguồn lực?” Nhưng các cuộc thảo luận này sẽ được cấu trúc thành các lĩnh vực có thể áp dụng rộng rãi.

Để minh họa, hãy xem xét sơ đồ sau đây. Hai mức thấp hơn (được đánh dấu màu vàng) là hai lĩnh vực kinh tế học dòng chính hiện hành.

Khi thảo luận về hành vi của người tiêu dùng, nó sẽ được lưu ý rằng đây là một phân tích về phúc lợi. Một giảng viên giỏi sẽ giải thích rằng bất kỳ lựa chọn nào của người tiêu dùng cũng sẽ phụ thuộc vào tình hình trong các lĩnh vực ở phía cao hơn [trong sơ đồ trên]. Khi thảo luận về sản xuất và các lựa chọn của công ty, chúng sẽ được phác họa như là một trong những nguồn lực thực được đồng thuận, hàng hóa vật chất mà chúng ta tiêu thụ, và tư bản hữu hình mà chúng ta đầu tư. Một lần nữa, các lĩnh vực ở phía cao hơn [trong sơ đồ trên] sẽ cung cấp kiến thức cho những điều này, chẳng hạn như ai sở hữu quyền đối với tài sản. (Rốt cuộc thì bạn sẽ không thể xây dựng một tòa nhà mà không có quyền hợp pháp đối với địa điểm bạn dự kiến sẽ xây.)

Chúng ta cần phải khám phá các mối liên kết giữa các lĩnh vực và những hạn chế của từng lĩnh vực trong việc đưa ra lời giải thích cho toàn bộ, và tôi hy vọng sẽ phát triển khái niệm này trong tương lai.

Nếu cộng đồng các nhà cải cách kinh tế không nỗ lực để tái xây dựng đường lối giảng dạy kinh tế học, và đưa ra những quyết định khó khăn về phương cách kết cấu các giáo trình cốt lõi mới, bao gồm những gì nên để lại và những gì nên bỏ đi, khi đó sự thay đổi vẫn còn ngoài tầm tay. Chúng ta không thể kêu gọi sự thay đổi trong môi trường xã hội bộ lạc của kinh tế học mà không đưa ra một lựa chọn hấp dẫn thay thế – một lựa chọn mà trong đó bao trùm những tinh hoa từ mỗi trường phái tư tưởng và tìm kiếm nền tảng chung mà không cần tạo ra một tập hợp mới những người ngoài cuộc.

Nguyễn Hoàng Mỹ Phương dịch

Nguồn: Murray, Cameron. “Inside the reform of Economics. Reforming Economics: The Challenge”. Inside, Vol. 1, no.1, November 10, 2014.

Advertisements

Các nhà kinh tế đưa ra quy tắc đạo đức


Ben Casselman

Một nhóm các nhà kinh tế hàn lâm hàng đầu đã thông qua các quy tắc xung đột lợi ích để đáp lại những phê phán cho rằng ngành kinh tế học không những thất bại trong việc dự đoán cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2008, mà trong thực tế có thể còn giúp tạo ra nó.

Chính sách mới này quyết định không đi tới cùng trước lời kêu gọi của một số người trong ngành kinh tế học về những hướng dẫn chung về mặt đạo đức.

Nhiều nhà kinh tế còn làm tư vấn cho các công ty, các chính phủ và các tập đoàn khác, những công việc ngoài lãnh vực học thuật chính thức của họ. Các nhà phê bình, cả bên trong và bên ngoài ngành kinh tế học, đã biện luận rằng các mối quan hệ đó – thường có lợi và đôi khi không được công bố – có thể đã gây ảnh hưởng đến công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế, khiến họ, trước tiên, bỏ lỡ những dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng sắp xảy đến và tiếp đó khuyến nghị những giải pháp về chính sách chỉ phục vụ cho lợi ích của các khách hàng của họ, với cái giá mà nền kinh tế nói chung phải gánh trả.

Những phê phán nổi bật nhất đã được đưa ra trong bộ phim “Inside Job (Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế)” năm 2010, bộ phim đã giành được giải thưởng Oscar về phim tài liệu hay nhất năm 2011. Bộ phim nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các nhà kinh tế lỗi lạc với các công ty và các chính phủ, để rồi sau đó sụp đổ trong cuộc khủng hoảng tài chính. Giám đốc Charles Ferguson đã cáo buộc các nhà kinh tế hàn lâm là những người “tham nhũng“, những người đã góp phần trực tiếp vào cuộc khủng hoảng.

Theo quy định mới của Hiệp hội Kinh tế Mỹ (AEA, American Economic Association) được thông qua tại cuộc họp thường niên ở đây tuần trước, các nhà kinh tế sẽ phải thông tin các mối quan hệ tài chính và các xung đột lợi ích tiềm tàng khác trong các bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học. Những người ủng hộ chính sách mới này biện luận rằng những thông tin được công bố ấy sẽ giúp khôi phục lại niềm tin vào giới kinh tế học, bằng cách cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách và công chúng có thêm thông tin để đánh giá sự tư vấn của các nhà kinh tế.

Người dân, khi nghe những gì chúng ta nói, có quyền được biết chúng ta là ai, chúng ta vướng mắc những gì, lý do vì sao những vướng mắc ấy tồn tại để có thể bị cho là đáng ngờ,” Michael Woodford, giáo sư Đại học Columbia, ủy viên ban điều hành của Hiệp hội, người đã nhất trí thông qua chính sách, đã nói. “Hầu như chắc chắn đã có một số suy nghĩ ngây ngô nào đó. Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng: “Vâng, chúng tôi nghĩ chúng tôi là những người không thể chê vào đâu được, nên đó là điều hiển nhiên“.

Một vài nhà kinh tế đã biện luận trong nhiều năm rằng kinh tế học cần có những hướng dẫn rõ ràng về mặt đạo đức giống như bên các ngành y học, kỹ sư và các lĩnh vực khác. Nhưng vấn đề không được cộng đồng kinh tế rộng rộng lớn hơn hưởng ứng.

Trưởng khoa kinh tế của Đại học Harvard John Campbell, người được thấy trong bộ phim “Inside Job” lúng túng bảo vệ ngành kinh tế học, hôm chủ nhật cho biết rằng những phê phán của công chúng cho thấy cần phải minh bạch hóa nhiều thông tin hơn. Nhưng ông cũng lưu ý một sự khác biệt giữa các lĩnh vực như y học, nơi mà các nhà nghiên cứu có thể ngăn chặn những dữ liệu nào không hỗ trợ cho kết quả mong muốn của họ hoặc của các nhà tài trợ của họ, thì trong kinh tế học, đa số các nghiên cứu đều dựa trên những thông tin công khai có sẵn. Và ông bác bỏ quan điểm cho rằng xung đột lợi ích góp phần vào sự thất bại trong việc đoán trước cuộc khủng hoảng. “Phần thưởng đối với các nhà kinh tế khi dự đoán hoặc cảnh báo đúng một cuộc khủng hoảng là rất lớn“, ông Campbell nói.

Tuy nhiên, bộ phim đã làm cho một số nhà kinh tế phải tự vấn lương tâm. Tại một buổi họp chuyên đề về đạo đức nghề nghiệp ở đây vào hôm thứ bảy, David Colander, nhà kinh tế học của trường Middlebury College, đã kêu gọi xây dựng một bộ quy tắc đạo đức dựa trên bộ quy tắc đã được Hiệp hội quốc gia các kỹ sư chuyên nghiệp thông qua. George Demartino, giáo sư tại Đại học Denver, dẫn đầu buổi hội thảo, thậm chí đã biện luận rằng việc thông qua một “lời thề của các nhà kinh tế” rộng lớn hơn sẽ giải quyết được những vấn đề như đạo đức của việc tham mưu cho các nhà độc tài và trách nhiệm của các nhà kinh tế đấu tranh vì người nghèo. Giáo sư Deirdre McCloskey, thuộc Đại học Illinois, nói với hội nghị rằng các nhà kinh tế thường hành động giống như các luật sư, đấu tranh vì một quan điểm nào đó mà không quan tâm đến bằng chứng.

Cái tội chủ yếu, đặc biệt trong kinh tế học Mỹ, là biện hộ mà không quan tâm đến chân lý,” Bà McCloskey cho biết.

Chính sách mới này không giải quyết những vấn đề lớn như vậy, mà thay vào đó, bám lấy những vấn đề mà thông tin được minh bạch hóa ít gây tranh cãi hơn.

Theo chính sách này, sẽ được ban hành vào năm sau, các tác giả khi gửi bài nghiên cứu cho các tạp chí khoa học phải thông tin cho các biên tập viên của tạp chí tất cả các nguồn tài trợ cho việc nghiên cứu và tất cả các quan hệ tài chính “đáng kể” với các nhóm hoặc cá nhân có một “quyền lợi tài chính, ý thức hệ hoặc chính trị” trong nghiên cứu. Chính sách định nghĩa thuật ngữ “đáng kể” là một sự hỗ trợ tài chính dành cho tác giả và cho các thành viên trực hệ trong gia đình một số tiền tổng cộng bằng ít nhất 10.000 USD trong vòng ba năm qua. Các tạp chí, sau đó, sẽ công khai những gì mà các biên tập viên của họ cho là “xung đột lợi ích tiềm tàng có liên quan.”

Về mặt chính thức, chính sách này chỉ áp dụng cho bảy tạp chí được hiệp hội AEA xuất bản, nhưng các nhà xuất bản học thuật khác có khả năng làm theo. Chính sách này cũng kêu gọi các nhà kinh tế áp dụng các nguyên tắc tương tự trong các cuộc phỏng vấn với báo chí, các lời chứng với chính phủ và các công trình phi học thuật khác.

Gerald Epstein, giáo sư tại Đại học Massachusetts tại Amherst, người trước đây đã phê phán việc các nhà kinh tế thiếu minh bạch, trong một email đã gọi chính sách này là “một bước tiến lớn về phía trước.” Ông cho biết lời kêu gọi bạch hóa thông tin trong các công trình phi học thuật, mặc dù không bị bắt buộc, là điều đặc biệt quan trọng vì nó giúp “thiết lập các chuẩn mực ứng xử mà các đồng nghiệp, báo chí, sinh viên và người dân có thể giúp các nhà kinh tế có trách nhiệm giải trình.”

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnEconomists Set Rules on Ethics, The Wall Street Journal, January 9, 2012.

Tại sao Kinh tế học tân cổ điển và Kinh tế học hành vi sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có Darwin


Terry Burnham

Kinh tế học đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng thầm lặng, rơi vào sự chia rẽ từ bốn mươi năm trước [những năm 1970] và hiện tại vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Trong nghiên cứu “Hướng đến sự kết hợp theo thuyết Darwin mới của kinh tế học tân cổ điển và kinh tế học hành vi”, tôi đã tranh luận về việc những môn khoa học tự nhiên đã đưa ra được một lộ trình để tái thống nhất kinh tế học theo hướng tốt nhất.

Kinh tế học được chia thành trường phái tân cổ điển (the neoclassical school), vốn cho rằng con người là những sinh vật tối đa hóa một cách duy lí, và trường phái hành vi (the behavioral school) vốn chỉ ra rằng con người – theo cách nói của Richard Thaler – “ngớ ngẩn và tử tế” hơn nhiều so với những giả định của các nhà kinh tế học tân cổ điển.

Kinh tế học hành vi đã và đang trở nên có sức nặng hơn bởi nó đã ghi nhận hàng loạt chênh lệch giữa hành vi của con người thực tế (actual living people) và hành vi được Con người kinh tế (Homo economicus) tiên đoán.

Sự chia rẽ giữa hai phe kinh tế có thể nhìn thấy qua ví dụ về mối quan hệ của Giáo sư Thaler và giáo sư Eugene Fama, đồng nghiệp của mình ở Đại học Chicago. Trên tờ New York Times, Fama bác bỏ công trình của Thaler như sau: “Về cơ bản việc Thaler đã làm chỉ là một thứ tò mò … Làm thế nào mà mấy thứ này [kinh tế học hành vi] lại được xuất bản cơ chứ?“.

Ở đây bạn thấy được 2 giáo sư chính thức của đại học Chicago, một trong những trường kinh tế tốt nhất thế giới, bất đồng ý kiến với nhau về những giả thuyết cốt lõi trong lĩnh vực này. Kinh tế học vẫn đang trong tình trạng hỗn loạn.

Những nghiên cứu đầu tiên về kinh tế học hành vi được Daniel Kahneman và Amos Tversky công bố vào những năm 1970. Sau gần nửa thế kỷ, các học giả tân cổ điển và hành vi vẫn chưa nhích lại gần nhau hơn. Trên thực tế, bài báo năm 2001 trên tờ New York Times mà Eugene Fama bác bỏ kinh tế học hành vi vẫn là một sự mô tả tốt về tình trạng của kinh tế học. Chẳng có gì thay đổi trong 15 năm qua.

Trong thực tế, kinh tế học vẫn chưa tìm ra lối thoát trong nhiều thập kỷ. Lúc này đây, sinh học mở ra một hướng đi hàn gắn sự chia rẽ và đưa kinh tế tiến về phía trước. Những cuộc thảo luận cốt lõi trong kinh tế học đang hòa giải những hành vi phức tạp, ‘thông minh’ với những hành vi phi lí (silly), ‘ngớ ngẩn’ (‘dumb’). Lý thuyết thống nhất của sinh học có thể giải thích cho cả hai loại hành vi, và không hề có sự chia rẽ như thế trong sinh học.

[Bây giờ chúng ta] xem xét công trình của nhà khoa học đạt giải Nobel Niko Tinbergen trên những chú mòng biển (herring gulls). Những chú chim này đều tung ra mọi loại chiến lược tinh vi để sống sót và sinh sôi nảy nở trong những môi trường nghiệt ngã. Một nhà kinh tế học tân cổ điển có thể ngạc nhiên về khả năng bay, tìm thức ăn, và nuôi con của chúng.

Tuy nhiên, công trình Tinbergen đã chứng minh một số hành vi của chú mòng biển có vẻ phi lí. Trong tự nhiên, chú mòng biển con đòi ăn bằng cách mổ vào mỏ của con trưởng thành, ngay nơi có đốm đỏ. Tinbergen phát hiện ra rằng chú mòng biển con bẩm sinh có khuynh hướng mổ vào đốm đỏ ngay cả với những chú chim nhân tạo. Hơn nữa, những chú mòng biển con (gull chicks) còn thích những cây bút chì với những cục tẩy màu đỏ hơn cả những chú chim mô hình, như thật nhưng không có vết đỏ.

Nếu Richard Thaler từng nghiên cứu những chú mòng biển, người ta có thể hình dung ông sẽ viết một bài nghiên cứu kinh tế học hành vi về hành vi ‘bất thường’ của chúng. Loài chim này ngốc nghếch đến nỗi cố gắng đòi ăn cả những cây bút chì. Giáo sư Thaler có thể tiếp tục kết luận rằng lý thuyết của Darwin là sai lầm bởi những chú mòng biển trong những sắp đặt nhân tạo (artificial settings) đã không thể sống sót và sinh sôi nảy nở.

Tuy nhiên, các nhà sinh học không có vấn đề gì với những con mòng biển hành xử theo những cách có vẻ vừa thông minh vừa phi lí. Chọn lọc tự nhiên hình thành nên những kết quả thông minh như việc bay. Tuy nhiên, hành vi được các cơ chế thần kinh cụ thể tạo ra có thể hình thành nên hành vi bất thường trong một vài sắp đặt nhất định.

Thật vậy, Tinbergen đã không xem hành vi mổ bút chì là bất thường, thay vào đó ông nhìn nhận điều này là kết quả của các cơ chế thích nghi nảy sinh trong thế giới mòng biển không có những cục tẩy bút chì.

Quan điểm sinh học này đưa ra một phương thức để dung hòa kinh tế học hành vi và kinh tế học tân cổ điển. Con người, cũng như các loài động vật khác, đang chịu áp lực tiến hóa để tối đa hóa. Việc tối đa hóa này gần giống với dự đoán của các nhà kinh tế học tân cổ điển. Tuy nhiên, khi các cơ chế ra-quyết định được kích hoạt trong những môi trường cụ thể sẽ tạo ra những bất thường của kinh tế học hành vi.

Kinh tế học có thể học tập theo sinh học, hàn gắn sự chia rẽ, và tiến lên phía trước với một cách tiếp cận liên kết chặt chẽ và phù hợp với hành vi con người.

Nguyễn Thị Trà Giang, Nguyễn Việt Anh dịch

Nguồn: Why Neoclassical and Behavioral Economics Doesn’t Make Sense Without Darwin, evonomics, 9 November 2015.

Terry Burnham là nhà kinh tế học chuyên nghiên cứu nền tảng sinh học và tiến hóa của hành vi con người. Ông là Phó Giáo sư tại đại học Chapman. Có thể theo dõi ông trên Twitter: @TerenceBurnham.

Hãy chặn đứng chủ nghĩa tự do kinh tế


Christian Chavagneux

Bài phỏng vấn Alan Kirman gây sốc

Alan Kirman, giáo sư danh dự về kinh tế tại Đại học Aix-Marseille 3, không được công chúng biết đến nhiều. Nhưng ông rất được tôn trọng trong thế giới nhỏ bé của các nhà kinh tế, ở nước ngoài cũng như ở Pháp. Là môn đồ của lý thuyết thống trị và các công cụ của nó, ông được các đồng nghiệp thừa nhận, nhưng điều đó không ngăn ông thường phê phán rất gắt những tiến hóa của phân tích kinh tế. Trong cuộc phỏng vấn này dành cho trang Evonomics(kinh tế học tiến hóa) của Mỹ, ông tranh luận về vị thế của chủ nghĩa tự do trong các suy tưởng kinh tế.

Từ Smith đến Hayek

Tự do kinh doanh, đó là ý tưởng cho rằng càng để cho các cá nhân quyết định làm những gì họ muốn, thì nền kinh tế càng có nhiều khả năng tự tổ chức tốt hơn. Bằng cách nào? Đối với câu hỏi này, các nhà kinh tế lại không trả lời được, Kirman khẳng định. Tư tưởng của Adam Smith đã bị những người theo chủ nghĩa tự do làm biến dạng và chuyển hướng, ông chưa bao giờ viết rằng chỉ cần để cho các cá nhân làm những gì họ muốn, thì mọi thứ sẽ vận động tốt.

Đối với Walras, vấn đề là phải chứng minh bằng toán học, dưới một số giả định nào đó, rằng tất cả các thị trường đều có thể tồn tại đồng thời ở trạng thái cân bằng. Ông không quan tâm đến việc liệu điều đó tốt hay không cho xã hội và ông không phải là người ủng hộ chủ nghĩa tự do kinh tế. Về phần mình, Pareto nói rằng nếu đạt được trạng thái cân bằng cạnh tranh thì đó là điều tối ưu theo nghĩa không thể cải thiện vị thế của một ai đó mà không làm xấu đi vị thế của một người khác. Kirman nhấn mạnh rằng đó là một tiêu chí tối ưu khá yếu. Và Pareto không nói rằng nếu có được tối đa chủ nghĩa tự do, thì có đạt được kết quả ấy không.

Nhưng những mũi tên độc nhất nhắm vàoHayek, “một con người kinh khủng“. Đối với Kirman, đó là điều hiển nhiên rằng Hayek, là người phân biệt chủng tộc, viện dẫn một bài phỏng vấn trong đó ông gán các đặc điểm chủng tộc cho các sinh viên người Ấn Độ tại Trường Kinh tế học London, nơi ông giảng dạy (Kirman nói về một băng video nhưng không cho biết nguồn). Người ta tìm thấy một trích dẫn tương đương, và không chỉ đối với người Ấn Độ, trong bài viết này. Hayek đã tạo nên một danh tiếng vào cuối Thế chiến II khi tố cáo bộ máy quan liêu, được coi là nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa phát xít. Nhưng ông không trả lời câu hỏi bất nhã của Ronald Coase chỉ ra rằng Hoa Kỳ là nước đầy dẫy các viên chức quan liêu, những bộ máy quan liêu trong các tập đoàn đa quốc gia lớn. Vã lại, Hayek sẽ chấp nhận để công ty General Motors chi trả việc xuất bản phiên bản hoạt hình về cuốn sách của ông The Road to Serfdom (Đường về nô lệ) …

Một hệ tư tưởng cho những kẻ quyền lực và người tham lam

Trong thực tế, người phỏng vấn hỏi ông, có phải tự do kinh doanh là một hệ tư tưởng phục vụ cho những kẻ quyền lực, muốn làm những gì họ muốn mà không bị hạn chế không? “Hoàn toàn đúng,” giáo sư Kirman trả lời. Và thông điệp chính của kẻ mạnh là thông điệp của Gordon Gekko, nhà tài chính gian xảo trong bộ phim Wall Street của Oliver Stone: “tham lam là tốt“!

Tiếp đó, Kirman lên án sự ám ảnh về tính hiệu quả của các nhà kinh tế tự do. Phải xóa bỏ mọi quy tắc ngăn cản tính hiệu quả tối đa. Kể cả các quy tắc tồn tại trên thị trường lao động. Tuy nhiên Kirman vặn lại, các quy tắc ấy được ban hành vì một mục đích rõ ràng và nếu muốn loại bỏ chúng thì phải đánh giá các hệ quả mang lại. Như vậy, thị trường lao động càng linh hoạt, thì các doanh nghiệp càng ít đầu tư cho việc đào tạo nhân viên của họ. Liệu đó có thực sự là kết quả mong muốn không? Đơn giản hóa các quy định hành chính là điều luôn luôn hữu ích, nhưng “nó không có nghĩa là loại bỏ tất cả các quy định“.

Đây là câu chuyện về một thầy tu, một nhà phân tâm học và một nhà kinh tế …

Cuối cùng, Kirman minh họa việc đi tìm tính hiệu quả tuyệt đối từ một câu chuyện. Một thầy tu, một nhà phân tâm học và một nhà kinh tế cùng chơi golf. Nhưng họ mất nhiều thời gian, bởi vì người chơi đứng trước họ chơi rất chậm, làm chậm đi cuộc chơi của họ. Mặc cho tiếng la ó, người chơi kia không chơi nhanh hơn bao nhiêu. Vì vậy, vị thầy tu đến nói chuyện với người ấy và quay trở lại nói: “người ấy chơi chậm bởi vì ông ấy bị mù! Thật là khủng khiếp, bởi vì tôi luôn nói với con chiên tôi rằng phải thân thiện và tôn trọng người khác“. Nhà phân tâm học nói: “Thật là khủng khiếp, bởi vì tôi thường tiếp người mù tại phòng khám của tôi và tôi nói với họ hãy cứ sống như những người khác, và tôi hét điều đó vào mặt anh ta“. Và nhà kinh tế nói: “Thật là khủng khiếp, bởi vì tình hình hoàn toàn không hiệu quả, anh chàng kia nên đến chơi vào ban đêm!”

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Haro sur le libéralisme économique: l’interview choc d’Alan KirmanAlterEcoPlus,26/10/2015

Vì một thời đại mới của kinh tế học


Antoine Reverchon

Hơn một trăm nhà kinh tế quốc tế, chủ yếu là anglo-saxon, tham gia hội thảo hằng năm lần thứ sáu của Institute for New Economic Thinking (INET) tại Paris. Bất bình đẳng, các cuộc khủng hoảng Hy lạp và Âu châu, chính sách khắc khổ và giảm phát, biến đổi khí hậu, vai trò của các ngân hàng trung ương, điều tiết tài chính, tái cơ cấu nợ công, cách tân: những chủ đề được đề cập ở cuộc hội thảo này, diễn ra cho đến ngày 11 tháng 4 năm 2015 tại trụ sở của OECD, đều có tính thời sự. Tên của hai vị khách mời,Thomas Piketty và Yanis Varoufakis được công chúng biết đến, nhưng đó không phải là trường hợp của những nhà sáng lập và lãnh đạo INET – ngoại trừ Joseph Stiglitz, giải Nobel kinh tế (2001). Thế mà tham vọng của họ là “đào tạo thế hệ sắp tới những nhà lãnh đạo kinh tế thế giới, sáng tạo một tư tưởng kinh tế mới, và khuyến khích giới kinh tế học đáp ứng những thách thức của thế kỉ XXI”.

Với một chương trình như thế, INET có thể che đậy một tổ chức hành động của những nhà kinh tế li khai đi tìm tiếng tăm. Nhưng đó không phải là trường hợp của INET. Hội đồng khoa học của INET, ngoài Joseph Stiglitz còn có năm giải Nobel kinh tế khác: James Mirrlees(1996), Amartya Sen (1998),James Heckman (2000), George Akerlof và Michael Spence (2001). Thành lập năm 2010, hội thảo hằng năm đầu tiên của INET được tổ chức tại King’s College, ở Cambridge, nơi mà Keynes (1883-1946) từng theo học và giảng dạy. INET tài trợ khoảng 4 triệu đôla mỗi năm học bổng nghiên cứu cho sinh viên khắp thế giới. INET đã thiết kế những chương trình nghiên cứu với các trường đại học Cambridge, Oxford, Harvard, Berkeley, Thanh Hoa (Bắc Kinh), Bangalore (Ấn Độ), Moscou, Saint-Pétersbourg, Toronto, Copenhague, Hong Kong … Tuy nhiên INET không phải là một đại học; đó là một quỹ được nhà tài chính George Soros tài trợ ban đầu 50 triệu đôla, và tiếp đó là Jim Balsillie, nguyên chủ nhân của Blackberry và William Janeway của quỹ đầu tư Warburg Pincus nối gót.

Một cách tiên nghiệm, những sự bảo trợ như thế dường như không phải là một điềm thuận lợi cho việc phát triển một tư tưởng phản kháng. Mặt khác, Robert Johnson, chủ tịch hiện nay của INET, đặt Viện trong một logic hoàn toàn khác: “Chúng tôi không thuộc cánh tả, cũng không thuộc cánh hữu, không phải là những nhà friedmanian lẫn những nhà keynesian. Mục đích của chúng tôi đơn giản là khuyến khích sự phê phán và tranh luận, như trong các bộ môn khoa học khác. Chúng tôi xuất phát từ các lí thuyết kinh tế hiện có, đối chiếu chúng qua thử thách trên thực địa, và như thế phát hiện những sai lầm phạm phải nhân danh lí thuyết”. Nếu tin vào INET thì có vô số những sai lầm như thế. Robert Johnson nói tiếp: “Từ những năm 1980, mô hình hóa toán học bắt đầu ngự trị trong các khoa kinh tế ở các đại học Mĩ. Nó phủ nhận là sự tồn tại, vai trò và ý chí của con người, sự tương tác giữa con người với nhau, ý thức về cái thiện và cái ác có thể có chỗ đứng trong việc giải thích các hiện tượng kinh tế: tất cả đều quy về những phương trình. Giảng dạy kinh tế học là giảng dạy các mô hình này chứ không phải là dạy quan sát các sự kiện trên thực địa”.

Trong những năm 1980 này, một nhóm các nhà kinh tế, trong đó có Willem Buiter, thuộc London School of Economics, David Hendry thuộc đại học Oxford và Anatole Kaletsky, cây bút viết xã luận của Financial Times phản bác việc toán học hóa quá đáng này. Năm 1988, nhà tài chính George Soros trong tác phẩm The Alchemy of Finance (Giả kim thuật tài chính) trình bày một cách nhìn vô cùng phê phán đối với chính nghề nghiệp của ông. Theo Robert Johnson, “trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 chúng tôi hiểu là chính ngay các hệ ý của lí thuyết kinh tế đã thất bại: các nhà kinh tế chịu trách nhiệm về những quyết định sai lầm vì lí thuyết của họ không tính đến thực tế.

Tiếp theo những cuộc bàn luận sôi nổi vào mùa xuân và mùa hè năm 2009, sau khi ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ, những “cây đa cây đề” của khoa học kinh tế Mĩ gặp nhau vào tháng chín cùng năm ở Bradford, gần New York. Robert Johnson kể lại: “Ở đó có mặt Joseph Stiglitz, George Akerlof, James Mirrlees, Jeffrey Sachs … và George Soros. Vào cuối buổi họp, George Soros nói với chúng tôi: “Phải thay đổi hoàn toàn nghề này”. Vào tháng tư năm 2010, INET được thành lập”.

Ngay từ hội nghị thành lập năm 2010, ba trụ cột chính của lí thuyết kinh tế thống trị bị các diễn giả phê phán không thương tiếc. Giáo điều thứ nhất: các thị trường có thể tự điều chỉnh vì hành vi của các tác nhân kinh tế là duy lí. – tác nhân nhắm đến việc tối ưu hóa lợi ích của mình. Đó là những “dự kiến duy lí”. Giáo điều thứ hai: do các thị trường có hiệu quả nên các chính sách kinh tế phải để cho các thị trường đạt đến cân bằng tự nhiên tối ưu của chúng, được thể hiện bằng mức tương đối của giá cả và thất nghiệp – đó là điều được gọi bằng đường Phillips theo tên nhà sáng tạo đường này là Alban William Phillips (1914-1975). Giáo điều thứ ba: do các cân bằng trên thị trường thực hiện một cách tự phát sự phân bổ tốt nhất các nguồn lực nên sự vận hành tự do của thị trường cho phép làm gia tăng của cải của mọi người và của mỗi người.

Thể theo lí thuyết các dự kiến duy lí, được Robert Lucas (giải Nobel 1995) phát triển, và lí thuyết các thị trường hiệu quả, được Eugene Fama phát triển trong những năm 1960, sự tương tác của hành vi các tác nhân có động cơ là quyền lợi bản thân dẫn đến một cân bằng tối ưu được thể hiện bằng giá trao đổi trên các thị trường. Một khi được mô hình hóa, các hành vi này trở thành dự đoán được, điều này cho phép các nhà kinh tế tính đi tính lại việc “tối ưu hóa” các mô hình trong các tạp chí khoa học và cho phép nền công nghiệp tài chính thiết chế những sản phẩm ngày càng phức tạp bằng cách tính đến từng xu rủi ro gắn với hành vi các tác nhân.

Tuy nhiên, trong những năm 1980, các cuộc khủng hoảng tài chính cho thấy rằng, trong thực tế, ứng xử của các tác nhân kinh tế có thể là không duy lí – thậm chí đôi lúc đi ngược với chính quyền lợi của họ. Nhưng không vì thế mà các lí thuyết gia mất tự tin: những trường hợp trên về sự không tuân thủ lí thuyết mở đường cho kinh tế học “hành vi” do Gary Becker (1930-2014, giải Nobel 1992), Daniel Kahneman (giải Nobel 2002) vàGeorge Akerlof (giải Nobel 2001) cổ vũ, hay cho các khái niệm “thị trường không hoàn hảo” và “thông tin không đối xứng” của Joseph Stiglitz, khôi nguyên của giải Nobel 2001. Lí thuyết cũng hướng dẫn các chính sách công cộng về điều tiết, ngay cả ngày hôm nay: để cho các thị trường trở về thế cân bằng “tự nhiên” được lí thuyết dự báo, phải thiết lập một sự minh bạch tối đa để các chủ thể có thể hành động một cách duy lí và phù hợp với quyền lợi của họ. Việc các cuộc khủng hoảng trong những năm 1980 dường như được khắc phục có vẻ xác nhận giá trị của lí thuyết kinh tế thống trị: từ đó nhiều nhà kinh tế rút ra kết luận là không thể quy trách nhiệm các cuộc khủng hoảng trên cho bản thân lí thuyết này mà phải quy cho khoảng cách đối với tính thuần khiết của lí thuyết.

Tuy nhiên kể từ năm 2008, “khoảng cách” lớn đến độ là các mô hình lần lượt sụp đổ. Roman Frydman và Michael Goldberg, tác giả củaBeyond Mechanical Markets – Asset Price Swings, Risk, and the Role of the State cho rằng quá trình ấn định giá trên thị trường về bản chất là không duy lí và hành vi các tác nhân có tính ngẫu nhiên: vả lại, theo họ, chính tính bất trắc kép này mở đường cho lợi nhuận, nghĩa là cho thu hoạch của người này gây thiệt cho người khác. Robert Johnson kết luận: “từ nay chúng ta biết rằng các thị trường là triệt để bất trắc. Mọi mô hình nhằm dự báo hay tìm kiếm một cân bằng ổn định tất yếu sẽ thất bại”.

Trụ cột thứ hai của giáo điều, “tự do kinh doanh” được dựng lên thành chính sách cũng sụp đổ. Kể từ những năm 1980, các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đạt đến cân bằng “tự nhiên” của đường Phillips, mà ta có thể tóm tắt như sau: khi tỉ suất thất nghiệp giảm thì lương tăng thể theo luật cung cầu; tiếp đó các doanh nghiệp tăng giá để phục hồi lợi nhuận. Trong trường hợp ngược lại, giá cả giảm khi thất nghiệp tăng. Do đó, mục tiêu của chính sách kinh tế là phải tôn trọng mức giá “tự nhiên” và mức thất nghiệp “tự nhiên”. Lạm phát, nghĩa là gia tăng của giá cả vượt mức tối ưu của thị trường là kẻ thù chính. Do chi tiêu công cộng là nhân tố đầu tiên làm méo mó giá cả nên phải giảm các chi tiêu này kể cả những chi tiêu mà khi tạo ra việc làm đưa thất nghiệp xuống dưới mức “tự nhiên” của nó. Tương tự, mọi gia tăng của thất nghiệp vượt qua mức “tự nhiên” của nó được xem như dấu hiệu của tính thiếu linh hoạt của thị trường lao động và một sự bảo vệ quá đáng người thất nghiệp khiến cho doanh nghiệp không thể tuyển dụng nhân công cần thiết với một chi phí tương thích với các giá cân bằng.

Điều phiền toái, như Anatole Kaletsky đã chứng minh ở buổi hội thảo khai mạc INET năm 2010, là kể từ đầu những năm 1980, đường Phillips không hoạt động nữa: diễn tiến của thất nghiệp và lạm phát độc lập với nhau vì có những nhân tố, khác với cung và cầu, trên thị trường việc làm, giải thích sự hình thành của giá cả, trong chiều tăng cũng như chiều giảm – toàn cầu hóa các chuỗi giá trị, tài chính hóa của nền kinh tế hay năng lực của các công ti đa quốc gia khổng lồ trong việc khuynh đảo nền kinh tế của một lãnh thổ bằng cách tự ý dịch chuyển những khối cực lớn những giá trị hay công nghệ. Do đó, từ nay, theo Stiglitz, mục tiêu “giá cân bằng tự nhiên” trở thành một giáo điều lỗi thời và nguy hiểm vì nó sinh ra chính sách khắc khổ và thất nghiệp.

Từ đó, Robert Johnson rút ra kết luận là “phải xem xét lại toàn bộ những quy tắc điều hành kinh tế”. Như vậy, INET chủ trương “xây dựng lại cơ sở của kinh tế học chính trị”: ngày nay, theo INET, duy chỉ có việc kéo kinh tế và chính trị lại gần nhau, điều mà lí thuyết từng muốn tách biệt, mới cho phép thiết kế những giải pháp trước các thách thức của thời đại, đặc biệt là sự nóng lên của khí hậu. Như vậy, tại hội thảo Berlin năm 2012, Andrew Sheng, thành viên của hội đồng INET và của các định chế tài chính cao nhất ở Trung Quốc khẳng định: “Chúng ta phải tìm ra những đòn bẫy tác động cho phép hợp tác chung quanh những sản phẩm chung (common goods) là khí hậu, đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên”.

Ngày nay, các định chế của “đồng thuận Washington” – Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO) – vẫn bảo vệ trụ cột thứ ba của giáo điều, việc thị trường phân bổ tối ưu các nguồn lực. Đối với các định chế này, sự năng động của những nền kinh tế mới nổi ở Đông Á minh chứng cho giá trị của lí thuyết về tính hiệu quả của thị trường. Thật vậy, kể từ những năm 1980, tỉ số người sống dưới ngưỡng nghèo trên thế giới đã bắt đầu giảm, và càng giảm mạnh trong những năm 1990. Cả triệu người ở châu Á, ở Ấn Độ, Trung quốc và châu Mĩ la tinh đã đạt đến mức sống gần với mức của người tây phương.

Tuy nhiên lí thuyết này bị quan trắc thực nghiệm quét bay. Thomas Piketty, nhà kinh tế Pháp, đã cho thấy là, từ ba mươi năm nay, những bất bình đẳng ngày càng tăng trong nội bộ các nước phát triển. Branko Milanovic, cựu kinh tế gia của Ngân hàng thế giới và thành viên của hội đồng INET, cũng tiến hành những tính toán đáng chú ý: trong vòng ba mươi năm qua, chênh lệch của cải, tính bằng GDP trung bình trên đầu người, giữa các nước giàu và các nước nghèo giảm dần; nhưng nếu phân bổ toàn thể dân số thế giới trên thang thu nhập thì thu nhập của 1% những người giàu nhất hành tinh tương đương với thu nhập của 61% những người nghèo nhất, và chênh lệch này không ngừng tăng.

Dirk Bezemer, nhà kinh tế ở đại học Groningen, Hà Lan cũng đã tấn công vào trụ cột giáo điều thứ ba ở hội thảo INET năm 2012 tại Berlin khi hỏi rằng việc phân bổ các nguồn lực có thật sự “tối ưu” không, như lí thuyết khẳng định, trong một thế giới bị sự tài chính hóa nền kinh tế toàn cầu thống trị. Ông tính là, trong vòng ba mươi năm qua, khối lượng tín dụng cho khu vực sản xuất vào khoảng 100% GDP thế giới. Nhưng kể từ những năm 1980, khối lượng tín dụng cho khu vực tài chính và di sản đã bùng nổ: từ 200% GDP thế giới kể từ cuối những năm 1990 lên đến 400% vào năm 2007…

Trước cả Thomas Piketty, nhà kinh tế MĩJames K. Galbraith năm 2010 tuyên bố tại hội thảo khai mạc INET: “Những bất bình đẳng không phải là hệ quả của những mất cân bằng kinh tế vi mô của thị trường: chúng là nguyên nhân kinh tế vĩ mô của các mất cân bằng này”. Chính vì thế mà ngày nay các nhà kinh tế của INET khẳng định rằng vấn đề thuế khóa phân phối lại và những chuyển nhượng xã hội phải được đặt trở lại ở trung tâm của các các chính sách kinh tế công cộng. Việc còn lại là thuyết phục ngay chính … các nhà kinh tế. Trên chuyện này, nhà tài chính George Soros không mấy ảo tưởng: “Những nhà bảo căn (fundamentaliste) thị trường sẽ là những kẻ cuối cùng thay đổi ý kiến, giống như các nhà marxist hàn lâm ở Liên Xô đã bảo vệ quan điểm của họ đến tận ngày họ chết, khi thế giới của họ đã sụp đổ”.

Bốn kiện tướng của INET

George Soros, sinh năm 1930 tại Budapest. Ông chạy trốn khỏi nước Hung cộng sản năm 1946 và định cư tại Hoa Kì năm 1956, nơi ông thành lập Soros Fund, một trong những quỹ đầu cơ (hedge fund) đầu tiên. Ông thành người cực giàu năm 1992 khi đầu cơ chống đồng bảng Anh. Năm 1993, George Soros sáng lập Open Society Institute, hợp nhất thành mạng những quỹ được thành lập kể từ năm 1984 trong các nước cộng sản đang chuyển đổi; sau đó tổ chức này được nhân bội ở châu Phi và châu Mĩ latinh để khuyến khích nền kinh tế thị trường và đào tạo các nhà lãnh đạo.

Joseph Stiglitz, sinh năm 1943. Ông là giáo sư kinh tế ở đại học Columbia, New York. Từng là cố vấn kinh tế cho tổng thống Clinton từ năm 1992 đến năm 1997, kinh tế gia trưởng của Ngân hàng thế giới từ năm 1997 đến năm 2000 và nhận giải Nobel kinh tế năm 2001 (cùng với George Akerlof và Michael Spence) cho những công trình về thông tin không đối xứng trong các thị trường không hoàn hảo. Cuốn sách của ôngGlobalization and Its Discontents (Toàn cầu hóa và những mặt trái, NXB Trẻ, TP HCM, 2008) phê phán “đồng thuận Washington” và chính sách của các định chế tài chính quốc tế trong các nước chậm phát triển.

George Akerlof, sinh năm 1940. Vị giáo sư kinh tế học ở đại học California, Berkeley, giải Nobel kinh tế năm 2001 cùng với Joseph Stiglitz và Michael Spence, được biết đến vì những công trình về hành vi không duy lí của các tác nhân trên các thị trường từ một bài viết công bố năm 1970 về thị trường xe ôtô đã qua sử dụng ở Hoa Kì. Cuốn sách của ông Animal Spirits(Tinh thần động vật, NXB Thời Đại, TP HCM, 2011) viết cùng Robert Shiller lật đổ lí thuyết những “dự kiến duy lí” của các tác nhân.

Roman Frydman, sinh năm 1945 ở Ba Lan. Ông tị nạn tại Hoa Kì năm 1968 tiếp sau chiến dịch bài Do thái do nhà cầm quyền cộng sản tiến hành. Tại New York, ông học và dạy kinh tế học ở đại học và gặp George Soros. Trong những năm 1990, ông làm tư vấn kinh tế và giảng dạy ở các nước trong quá trình quá độ hậu cộng sản. Hai tác phẩm của ông, viết cùng Michael Goldberg do Princeton University Press xuất bản năm 2007, Imperfect Knowledge Economy vàBeyond Mechanical Markets bác bỏ khả năng có cân bằng giá cả và thị trường ổn định.

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: “Pour un nouvel âge de l’économie”, Le Monde, 11 avril 2015.

Franco Modigliani hay chủ nghĩa Keynes xuống cấp


Gilles Dostaler

Franco Modigliani, người khởi xướng tổng hợp tân cổ điển, cố dung hòa phân tích keynesian và kinh tế học vi mô của Walras. Với cái giá là một sự cắt xén những đóng góp sáng tạo nhất của tác giả cuốn “General Theory (Lý thuyết tổng quát)”.

Franco Modigliani tự cho mình là một “nhà hiền triết” theo thuyết của Keynes.

Ban đầu, Franco Modigliani quan tâm đến y học, nghề của bố ông, bố ông qua đời khi ông mới 13 tuổi. Không chịu được cảnh phải thấy máu chảy, ông chuyển sang ngành luật học, lãnh vực mà ông đã lấy bằng tiến sĩ. Bị đe dọa sau khi chính phủ của Mussolini thông qua các đạo luật mang tính phân biệt chủng tộc, xét nguồn gốc Do Thái và các hoạt động chống phát xít của ông, ông cùng với vợ rời nước Ý vào năm 1939 để định cư tại Pháp, rồi tại Hoa Kỳ, nơi ông tiến hành các nghiên cứu về kinh tế, trong khi phải đi bán sách để kiếm sống. Ông phát hiện ra Keynes một cách phấn khởi. Ông tuyên bố, trong cuộc phỏng vấn với Arjo Klamer, rằng kinh nghiệm của cuộc suy thoái và thất nghiệp đại tràmà nó gây ra là một trong những nhân tố làm ông quan tâm đến kinh tế học: “Và rồi Keynes xuất hiện, nói rằng điều ấy không nên xảy ra[1]. Nhưng rồi Modigliani sẽ làm cho tác phẩm của Keynes phải chịu đựng một cách xử lí đặc biệt.

Xây dựng tổng hợp tân cổ điển

Từ luận án tiến sĩ của mình, Modigliani rút ra bài báo đầu tiên của ông, “Liquidity Preference and the Theory of Interest and Money (Ưa thích thanh khoản và lý thuyết về lãi suất và tiền tệ)”. Bài viết ấy, của một tác giả 26 tuổi, là một trong những bài viết được viện dẫn nhiều nhất và có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XX. Cùng với một bài viết khác không kém phần nổi tiếng “Mr. Keynes and the ‘Classics’ (Ông Keynes và các nhà cổ điển)”, được John Hicks công bố vào năm 1937, ông đặt những nền móng cho điều, mà một vài năm sau đó, người đồng nghiệp và bạn của Modigliani, Paul Samuelson, gọi là “tổng hợp tân cổ điển“. Trong khi Keynes xem lý thuyết của ông như là một sự đoạn tuyệt với điều mà ông gọi là “lý thuyết cổ điển“, thì các nhà kiến ​​trúc của tổng hợp tân cổ điển, sẽ chiếm ưu thế như là tư tưởng chính thống mới trong thời hậu chiến, nhấn mạnh đến sự liên tục giữa các luận điểm của Keynes và các luận điểm của những tác giả trước ông, đặc biệt là giữa kinh tế học vĩ mô keynesian và kinh tế học vi mô tân cổ điển được xây dựng từ công trình của Walras. Điều này kéo theo rằng phải cắt bỏ khỏi lý thuyết của Keynes một số yếu tố sáng tạo nhất, chẳng hạn như vai trò của thời gian, những dự kiến và sự bất trắc. Sự hình thức hóa và toán học hóa mô hình Keynes đi ngược lại ý muốn của người tạo ra nó.

Modigliani phác thảo rõ dự án ấy. Đó là việc “tích hợp các yếu tố cấu thành chính của Lý thuyết tổng quát với phương pháp luận truyền thống và vững chắc nhất của khoa học kinh tế dựa trên định đề cơ bản về hành vi tối đa hóa duy lý của các tác nhân kinh tế.” (Collected Papers – Tuyển tập, Vol. 1, trang XI). Đóng góp chính của bái báo của Modigliani là minh chứng rằng sự cứng nhắc của tiền lương là giả thuyết trung tâm để giải thích tình trạng thất nghiệp không tự nguyện trong mô hình Keynes. Với tiền lương hoàn toàn linh hoạt, điều không nhất thiết là mong muốn của Modigliani, người ta sẽ đạt được sự toàn dụng lao động. Ý tưởng này sẽ chiếm ưu thế trong cách diễn giải chính thống về Keynes. Như vậy “kinh tế học keynesian mới“, rất thịnh hành ngày nay, phải tìm cách giải thích sự tồn tại của những “cứng nhắc danh nghĩa“, những thứ tạo ra “những kết quả keynesian“. Chúng ta ở khá xa với tầm nhìn của Keynes, người đúng ra đã muốn đặt lại vấn đề về định đề sự duy lý của một tác nhân kinh tế tối đa hóa. Vả lại Modigliani cũng cho rằng có một trường hợp mà ông gọi là “trường hợp keynesian“, trong đó giả thuyết về sự cứng nhắc của tiền lương là điều không cần thiết. Đó chính là khi lãi suất đạt đến một mức tối thiểu, thì cầu tiền tệ sẽ trở nên vô cùng co dãn. Trong biệt ngữ keynesian, người ta gọi điều này là chiếc “bẫy thanh khoản“.

Tiếp sau sự can thiệp đầu tiên trên, Modigliani đã mang lại nhiều đóng góp cho ngành công nghiệp đang tăng trưởng của kinh tế học vĩ mô keynesian, khi xây dựng những mô hình kinh trắc của nền kinh tế của Hoa Kỳ.

Một trong những khái niệm then chốt của cuốn General Theory (Lý thuyết tổng quát) của Keynes là xu hướng tiêu dùng. Keynes dựa trên ý tưởng cho rằng, khi thu nhập của một cá nhân tăng lên, thì các chi tiêu về tiêu dùng của người ấy cũng tăng lên, nhưng ở một mức thấp hơn. Nói cách khác, tỷ lệ tiết kiệm tăng khi thu nhập tăng. Tuy nhiên, những nghiên cứu thống kê, được Simon Kuznets tiến hành trong số những nghiên cứu khác, dường như bác bỏ giả thuyết trên. Trong những nghiên cứu được tiến hành cùng với sinh viên của ông, Richard Brumberg (qua đời vì bệnh ung thư ở tuổi 25), Modigliani đã tìm cách lý giải nhận định trên.

Vòng đời và đời sống các doanh nghiệp

Giải pháp có dạng của giả thuyết về vòng đời, được Modigliani và Brumberg trình bày vào năm 1954, và kể từ đó đã dẫn đến nhiều sự phát triển và vô số những kiểm định thống kê. Vấn đề, một lần nữa, là xuất phát từ giả thuyết về tính duy lý của tác nhân kinh tế. Tác nhân này tối đa hóa lợi ích của mình bằng cách phân bổ nguồn lực một cách tối ưu trong suốt cuộc đời, và bằng cách “san bằng” – để sử dụng một thuật ngữ khác của biệt ngữ kinh tế – tiêu dùng của mình. Như vậy, trong giai đoạn đầu của cuộc sống năng động, một cá nhân sẽ tiêu xài nhiều hơn những gì họ kiếm được, bằng cách đi vay mượn, biết rằng thu nhập của họ trong tương lai sẽ tăng lên. Khi đó tỷ lệ tiết kiệm của họ là âm. Tỷ lệ tiết kiệm này sẽ chuyển qua dương, và sẽ tăng lên cho đến khi cá nhân đạt được thu nhập tối đa, trong những năm trước khi nghỉ hưu. Sau khi nghỉ hưu, họ sẽ thanh toán các khoản tiết kiệm ấy. Vì vậy, tỷ lệ tiết kiệm, trong vòng đời của một người, có hình của một chiếc chuông. Và vì vậy khoản tiết kiệm ấy, cũng như mức tiêu dùng, không được xác định bởi thu nhập hiện hành.

Trừ đóng góp đầu tiên của ông, Modigliani, hầu như luôn luôn cùng với một nhà nghiên cứu khác, tiến hành các công trình của ông, thường được công bố dưới hình thức các bài báo. Tại một trong những bái báo nói trên, được công bố năm 1958 và được đề cập, cũng như bài báo năm 1954, trong diễn từ nhận giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển, Modigliani và Merton Miller đã trình bày một số luận điểm đi ngược lại những ý tưởng được tiếp nhận của thời đó, đặt nền tảng cho điều được gọi là kinh tế học tài chính, kết hợp lý thuyết kinh tế thuần túy với nghiên cứu về hành vi tài chính của các doanh nghiệp. Trái ngược với những gì mà lý thuyết kinh tế truyền thống giảng dạy, một doanh nghiệp không tối đa hóa tỷ lệ lợi nhuận, mà là giá trị thị trường của họ. Giá trị này độc lập với cách thức mà doanh nghiệp tài trợ cho nguồn vốn của họ, đặc biệt tỷ lệ giữa tài sản nợ và phát hành cổ phiếu. Nó bắt nguồn từ các nguồn thu nhập được tạo ra bởi các tài sản có. Một doanh nghiệp có tài sản nợ cao có thể có một giá trị thị trường cao hơn một doanh nghiệp hoạt động thận trọng hơn. Tương tự, việc một doanh nghiệp sử dụng các khoản lợi nhuận của họ, tỷ lệ mà doanh nghiệp phải trả dưới dạng cổ tức, không ảnh hưởng đến giá trị thị trường của họ.

Tự cho mình, cùng với những người bạn của ông như Solow, Samuelson, Tobin hay Heller, là một “nhà hiền triết” theo thuyết Keynes (wise Keynesian), Modigliani thường đối lập với những người theo thuyết trọng tiền và, sau này, với những nhà kinh tế học cổ điển mới, mà ông cáo buộc tính giáo điều và hung hăng của họ. Vả lại ông cũng mô tả sự nổi lên của kinh tế học vĩ mô cổ điển mới như là một chính biến cung đình trong lòng của chủ nghĩa trọng tiền. Ông cho rằng hố sâu giữa chủ nghĩa Keynes và chủ nghĩa trọng tiền mang tính chính trị và ý thức hệ hơn là lý thuyết. Ông thừa nhận một số phê phán của Friedman và một số tác giả khác đối với lý thuyết keynesian, lưu ý rằng họ cũng sử dụng mô hình IS-LM[2].

Những khác biệt chính trị

Sự khác biệt cơ bản giữa hai nhóm liên quan đến thái độ của họ đối với chính sách bình ổn. Trong diễn từ nhậm chức chủ tịch Hiệp hội Kinh tế của Mỹ (1977), Modigliani tuyên bố rằng, đối với những nhà phi trọng tiền, thì một nền kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân có thể được bình ổn và phải được bình ổn bằng những chính sách tiền tệ và tài khóa. Trái lại, những người theo thuyết trọng tiền thì cho rằng không cần thiết phải bình ổn một nền kinh tế; rằng ngay cả khi cần thiết, thì cũng không nên làm điều đó, bởi vì các chính sách bình ổn có khả năng làm tăng thêm sự bất ổn; cuối cùng, ngay cả khi những chính sách này có hiệu quả, thì cũng không nên giao phó trách nhiệm này cho các chính phủ: “Friedman tin rằng mọi thứ mà chính phủ làm đều xấu cả. Ông có một sứ mệnh phải hoàn thành và ông có vẻ sẵn sàng hy sinh một phần sự trung thực trí tuệ của ông để đạt được điều đó” (phỏng vấn của Arjo Klamer, trang 164).

Modigliani thường can thiệp vào những công việc của quê hương ông, công bố ở đó nhiều bài báo. Năm 2003, ông đã ký tên cùng với Samuelson và Solow gửi một bức thư ngỏ đến tờ New York Times (Thời báo New York) phản đối quyết định đáng ngạc nhiên của một tổ chức đấu tranh chống chủ nghĩa bài Do Thái, Anti-Defamation League (Liên đoàn chống phỉ báng), trao một giải thưởng cho Silvio Berlusconi, Chủ tịch Hội đồng của Italia.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: “Franco Modigliani ou le keynésianisme édulcoré” của G. Dostaler trong Alternatives Economiques Poche no.057, tháng 10 năm 2012

————

[1] Entretien avec des économistes américains (Cuộc phỏng vấn với các nhà kinh tế học người Mỹ), tr. 160.

[2] Một biểu trưng đơn giản về sự vận hành của một nền kinh tế tuân theo các nguyên lý của Lý thuyết tổng quát.

Kinh tế như một quá trình được thiết chế – Phần cuối


3.3 Những yếu tố thị trường

Bây giờ chuyển sang bàn chính ngay thị trường. Theo logic “họp chợ”, thị trường là nơi trao đổi; thị trường và trao đổi có cùng ngoại diên. Vì theo định đề của logic này, cuộc sống kinh tế thu về những hành động trao đổi được tiến hành thông qua thương thảo và được cụ thể hóa trong các thị trường. Do đó trao đổi được định nghĩa  quan hệ kinh tế và thị trường là thể chếkinh tế. Một cách logic định nghĩa thị trường là hệ luận của các tiền đề trên.

Theo định nghĩa thực chất, thị trường và trao đổi có những đặc điểm thực nghiệm độc lập với nhau. Như thế ở đây thế nào là ý nghĩa của trao đổi và thị trường? Và trong chừng mực nào, chúng tất yếu gắn kết với nhau?

Theo định nghĩa thực chất, trao đổi là sự chuyển động qua lại của sở hữu sản phẩm giữa các bàn tay khác nhau. Chuyển động này, như đã thấy, có thể diễn ra theo những tỉ suất cố định hay theo những tỉ suất được thương thảo. Duy chỉ những tỉ suất sau mới là kết quả của sự mặc cả giữa các đối tác.

Như vậy, mỗi khi có trao đổi thì đều có tỉ suất. Điều này vẫn đúng, cho dù tỉ suất được thương thảo hay là cố định. Cần ghi nhận rằng trao đổi theo những tỉ suất thương thảo giống với trao đổi “họp chợ” hay “trao đổi như là hình thái hợp nhất”. Duy chỉ kiểu trao đổi này là đặc biệt giới hạn vào kiểu thể chế thị trường nhất định, tức là những thị trường tạo ra giá cả.

Những thể chế thị trường được định nghĩa như những thể chế gồm có một nhóm cung và một nhóm cầu hay cả hai nhóm cùng lúc. Hơn nữa các nhóm cung và nhóm cầu được định nghĩa như vô số “bàn tay” luân phiên nhau muốn mua hay muốn bán sản phẩm thông qua trao đổi. Do đó dù các thể chế thị trường là những thể chế trao đổi nhưng thị trường và trao đổi không trùng khớp nhau. Có trao đổi theo tỉ suất cố định khi sự tương hỗ hoặc tái phân phối cấu thành những hình thái hợp nhất; còn như chúng tôi vừa nói trao đổi theo những tỉ suất thương thảo giới hạn ở những thị trường tạo ra giá cả. Có vẻ là nghịch lí khi trao đổi theo những giá cố định tương thích với mọi hình thái hợp nhất, ngoại trừ hình thái hợp nhất bằng trao đổi; tuy nhiên điều này là logic duy chỉ trao đổi có thương thảo mới biểu trưng cho trao đổi theo nghĩa “họp chợ” của từ catallactic này, nghĩa theo đó nó cấu thành một hình thái hợp nhất.

Cách tốt nhất để nắm bắt thế giới những thể chế thị trường dường như là cách tiếp cận bằng các “yếu tố thị trường”. Cuối cùng, phương pháp này không chỉ được dùng làm la bàn hướng dẫn để xem xét những cấu hình khác nhau được gán các tên “thị trường” và “thể chế kiểu thị trường” mà còn là công cụ để mổ xẻ những khái niệm qui ước làm vướng mắc hiểu biết của chúng ta về các thể chế này.

Có hai yếu tố thị trường phải xem là đặc thù: nhóm cung và nhóm cầu, nếu có mặt nhóm này hay nhóm kia thì chúng tôi gọi là thể chế thị trường (nếu cả hai cùng có mặt, chúng tôi gọi là thị trường, nếu chỉ một trong hai nhóm có mặt, chúng tôi gọi là thể chế kiểu thị trường). Tiếp đó là yếu tố tương đương, tức là tỉ suất trao đổi: tùy theo tính chất của sự tương đương, thị trường là thị trường với giá cố định hay là thị trường tạo ra giá cả.

Cạnh tranh là một đặc điểm khác của một vài thể chế thị trường, như các thị trường tạo ra giá cả và các cuộc bán đấu giá, nhưng trái với yếu tố tương đương, cạnh tranh chỉ giới hạn ở các thị trường. Cuối cùng có những yếu tố mà ta có thể gọi là có tính chức năng. Bình thường chúng thể hiện ở bên ngoài các thể chế thị trường, nhưng khi chúng xuất hiện đồng thời với các nhóm cung và nhóm cầu thì chúng nhào nặn các thể chế này theo một cách có lợi lớn trong thực tiễn. Trong số những yếu tố thể chế này, có thể kể địa điểm, các sản phẩm có mặt, phong tục và luật pháp.

Thời gian gần đây, tính đa dạng của các thể chế thị trường bị che mờ, nhân danh khái niệm hình thức về cơ chế cung-cầu-giá. Do đó không phải là điều ngạc nhiên khi cách tiếp cận thực chất dẫn đến việc mở rộng cách nhìn của chúng ta đối với những thuật ngữ cơ bản về cung, cầu và giá.

Trên đây chúng tôi nói đến những nhóm cung và nhóm cầu như những yếu tố tách biệt và khác nhau của thị trường. Sự phân biệt này tỏ ra là không thể chấp nhận trong thị trường hiện đại: ở đây có một ngưỡng mà vượt qua nó sự tụt giá biến thành tăng giá và một ngưỡng khác mà vượt qua nó hiện tượng ngược lại xảy ra. Chính điều này kéo theo rằng một số lớn nhà kinh tế coi nhẹ việc người mua và người bán tách biệt nhau trong mọi thị trường khác hơn là thị trường hiện đại. Hơn nữa điều này tạo điều kiện cho một sự hiểu lầm kép. Thứ nhất, “cung và cầu” xuất hiện như những yếu tố cơ bản được kết hợp với nhau, trong lúc trong thực tế mỗi một yếu tố này có hai thành tố vô cùng khác nhau, tức là một mặt, một lượng sản phẩm và, mặt khác, một số người nhất định gắn với các sản phẩm này với tư cách là người mua và người bán. Thứ hai, “cung và cầu” dường như là không thể tách rời giống như hai anh em sinh đôi dính nhau trong khi trong thực tế cung và cầu hợp thành những nhóm người khác nhau tùy theo là những người này có sẵn những sản phẩm được xem là nguồn lực hay tìm kiếm các sản phẩm như là những sản phẩm cần thiết. Bởi thế, các nhóm cung và nhóm cầu không cần phải có mặt cùng lúc. Ví dụ, khi vị tướng chiến thắng bán đấu giá chiến lợi phẩm thì duy chỉ nhóm cầu mới có mặt; tương tự như thế, duy chỉ nhóm cung mới vào cuộc lúc đấu thầu các hợp đồng theo giá chào thấp nhất. Thế mà, bán đấu giá và đấu thầu rất phổ biến trong xã hội cổ: thời Hi Lạp cổ đại, bán đấu giá xuất hiện như là tiền thân của các thị trường. Sự phân biệt này giữa “cung” và “cầu” đã nhào nặn tổ chức của tất cả các thể chế thị trường có trước thời hiện đại.

Còn yếu tố thị trường thường được gọi là “giá” được xếp vào phạm trù những tương đương. Việc sử dụng từ tổng quát này góp phần tránh những hiểu lầm. Giá cả gợi ý sự biến động trong lúc ý tưởng này không tồn tại trong sự tương đương. Thành ngữ giá “cố định” hay “xác định” hàm ý rằng giá, trước khi được cố định hay xác định, có khả năng thay đổi. Như vậy, ngôn ngữ có khó khăn để bộc lộ trạng thái thật sự của sự việc, có nghĩa rằng “giá” lúc khởi thủy là một lượng được ấn định một cách cứng nhắc mà nếu không có nó thì sẽ không có thương mại. Những giá biến động hay thay đổi có tính cạnh tranh là một ý niệm tương đối mới và sự xuất hiện của nó là một trong những điểm quan tâm của lịch sử kinh tế thời Cổ đại. Theo truyền thống, người ta giả định rằng mọi sự diễn ra theo chiều ngược lại, nghĩa là người ta quan niệm giá như là kết quả chứ không phải là điều kiện tiên quyết của thương mại và trao đổi.

“Giá” chỉ những quan hệ định lượng do việc trao đổi hiện vật hay việc mặc cả giữa những kiểu sản phẩm khác nhau. Chính hình thái tương đương này đặc trưng cho những nền kinh tế được hợp nhất bằng trao đổi. Nhưng không bao giờ sự tương đương bị giới hạn trong những quan hệ trao đổi. Thông thường sự tương đương cũng tồn tại khi tái phân phối là hình thái hợp nhất. Trong trường hợp này, sự tương đương là quan hệ định lượng giữa những kiểu sản phẩm khác nhau được dùng để trả thuế, tiền thuê, lệ phí, tiền phạt hay để hợp thức hóa một cương vị dân sự đặt cơ sở trên tổng điều tra sở hữu. Sự tương đương cũng có thể xác định trong chừng mực nào người ta có thể đòi hỏi lương hay những sản phẩm theo lựa chọn của người thụ hưởng. Độ co dãn của một hệ thống tài chính quy chiếu về những thực phẩm cơ bản – kế hoạch hóa, cân bằng và kế toán – được nối khớp trên cơ sở này. Trong trường hợp này, tương đương không có nghĩa là cái phải được cho để đổi lấy một sản phẩm khác, nhưng là cái ta có thể đòi để thế chỗcho sản phẩm ấy. Khi sự tương hỗ là hình thái hợp nhất thì sự tương đương xác định lượng “thích hợp” cho cái phần giữ vị thế đối xứng. Hiển nhiên là bối cảnh hành xử này khác với bối cảnh của trao đổi và bối cảnh của sự tái phân phối.

Các hệ thống giá cả, như chúng được phát triển qua thời gian, có thể có những kiểu tương đương mà nguồn gốc lịch sử phải tìm trong các hình thái hợp nhất khác nhau. Những giá thị trường của thời cổ Hi Lạp chứng thực khá hiển nhiên rằng chúng là kết quả của những tương đương tái phân phối của những nền văn minh có chữ hình góc tồn tại trước đó. Ba mươi đồng bạc như là giá một mạng người để Judas phản bội Giê-su là một biến thể rất gần với sự tương đương với một nô lệ được ghi trong luật của Hammourabi khoảng 1700 năm trước đó. Mặt khác, những tương đương tái phân phối thời Xô viết phản ảnh trong một thời gian dài giá cả thế giới thời thế kỉ XIX. Các giá thế giới này cũng có những tiền thân. Max Weber nhận xét rằng do thiếu một cơ sở để xác lập các giá, chủ nghĩa tư bản Tây phương đã không được thiết lập nếu không có mạng giá cả thời Trung cổ được quy định, tiền lĩnh canh truyền thống, v.v., di sản của phường hội và lâu đài nhỏ. Như vậy, các hệ thống giá cả có thể có một lịch sử thể chế riêng tùy theo những kiểu tương đương góp phần hình thành chúng.

Chính nhờ những khái niệm kiểu phi “họp chợ” về thương mại, tiền tệ và thị trường mà những vấn đề cơ bản của lịch sử kinh tế và xã hội như nguồn gốc biến động của giá cả và sự phát triển của thương mại thị trường mới được nắm bắt và, chúng tôi hi vọng, cuối cùng sẽ được giải quyết.

Để kết luận, việc xem xét có phê phán những định nghĩa kiểu “họp chợ” về thương mại, tiền tệ và thị trường sẽ phải cung cấp cho chúng ta một số khái niệm hợp thành những dữ liệu cơ bản của các khoa học xã hội dưới khía cạnh kinh tế. Tầm quan trọng của việc thừa nhận này đối với những vấn đề lí thuyết, chính trị và cách nhìn phải được xem xét dưới ánh sáng của sự biến đổi dần dần các thể chế diễn ra từ Thế chiến thứ nhất. Liên quan đến chính ngay hệ thống thị trường, thì xem thị trường như là khuôn khổ quy chiếu duy nhất ít nhiều đã lỗi thời. Tuy nhiên, nên hiểu, một cách sáng suốt hơn là trong quá khứ, rằng không thể thay thế thị trường như là khuôn khổ quy chiếu trừ phi các khoa học xã hội thành công trong việc thiết kế một khuôn khổ quy chiếu rộng hơn trong đó có chỗ cho thị trường. Ngày nay đó là nhiệm vụ trí thức đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế. Như chúng tôi đã cố gắng chứng minh, một cấu trúc khái niệm như thế phải đặt cơ sở trên định nghĩa thực chất về kinh tế.

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: “L’économie en tant que procès institutionnalisé” trong Essais de Karl Polanyi, do Michèle Cangiani và Jérôme tuyển lựa và giới thiệu, Seuil, Paris, 2002, trang 53-77.