Làm thế nào để thay đổi tư duy và gây ảnh hưởng đến người khác


Tim Harford

Điều tốt nhất về Thaler, những gì thực sự làm cho ông trở nên đặc biệt, đó là việc ông là người lười biếng.” Daniel Kahneman, người được trao giải thưởng về kinh tế học năm 2002 để tưởng nhớ Nobel, đã nói như vậy. Giáo sư Kahneman nói về Richard Thaler, người đã lặp lại thành tích này 15 năm sau đó. Người hướng dẫn luận án của Thaler, nhà kinh tế học Sherwin Rosen, nói điều đó theo cách khác: “Chúng tôi không mong đợi gì nhiều ở ông ấy.”

Câu chuyện về về việc làm thế nào một người ‘lười biếng’ và không nhiều triển vọng đã được trao giải thưởng Nobel cũng quan trọng như việc vì sao ông giành được giải thưởng ấy. Thông báo của ủy ban Nobel đã công nhận Giáo sư Thaler “vì những đóng góp của ông cho kinh tế học hành vi”. Nhưng có một cách khác để mô tả cách thức ông định hình lại kinh tế học: ông thuyết phục một nhóm rộng lớn những người thành công bằng một thế giới quan mạnh mẽ để thay đổi tư duy của họ.

Tư duy đó là gì? Đơn giản hoá một cách thái quá, điều đó có nghĩa rằng tất cả chúng ta đều là những người tối ưu hóa duy lý giống như nhân vật Spock [trong bộ phim truyền hình Star Trek], có khả năng ngay lập tức đánh đổi rủi ro và khen thưởng, cân bằng lại một kế hoạch chi tiêu khi đối mặt với sự thay đổi giá cả, và chống lại những cám dỗ như bánh brownies sô-cô-la hoặc những khoản cho vay nóng.

Tất nhiên, không có nhà kinh tế học nào tin vào điều trên. Nhưng trong nhiều thập kỷ qua, hầu hết các nhà kinh tế học đều tin rằng những sai biệt với thế giới của Spock đủ nhỏ, đủ hiếm và đủ ngẫu nhiên để có thể bỏ qua chúng. Con người không giống như Spock, nhưng khi xây dựng các mô hình kinh tế và trình bày các chính sách kinh tế, chúng ta có thể xử lí con người như thể họ là Spock.

Cách tiếp cận này không ngớ ngẩn như nó có vẻ. Nó có tính linh hoạt, mạnh mẽ và nhất quán. Nó thường đủ gần với thực tế để có thể hữu ích. Giáo sư Thaler đã nói với tôi: “Nếu ông muốn có một lý thuyết thống nhất về hành vi kinh tế, thì ông sẽ làm không tốt hơn mô hình tân cổ điển.”

Tuy nhiên, sức mạnh của cách tiếp cận tân cổ điển khiến thách thức trở nên khó khăn hơn. Giáo sư Thaler không phải là người đoạt giải Nobel đầu tiên nghiên cứu bên ngoài mô thức đó – trong số đó có Maurice Allais, Herb Simon và Thomas Schelling. Tuy nhiên, tất cả những người này, cho dù được ngưỡng mộ, đều không tìm cách làm chệch tư tưởng kinh tế dòng chính vượt ra ngoài kênh tối ưu hóa duy lý cũ rích. Chính Giáo sư Thaler là người đã thay đổi các chuẩn mực về cách thức kinh tế học được thực hành như thế nào, cả trong giới hàn lâm cũng như trong lĩnh vực chính sách.

Giờ đây, kinh tế học hành vi được tôn trọng từ chuyên san kinh tế American Economic Reviewđến Ngân hàng Thế giới. Cho dù bạn có cho rằng kinh tế học hành vi có quan trọng hay không, thì đây vẫn là một trường hợp đáng nghiên cứu như là một kì công trong việc thuyết phục con người thay đổi tư duy.

Vậy thì ông ấy đã làm như thế nào? Tất cả chúng ta đều có thể làm với hiểu biết của mình, bởi vì thế giới này đầy rẫy những người có đầu óc ngoan cố, những người cần được thuyết phục để thay đổi quan điểm của họ về những điều quan trọng.

Một phần của câu chuyện đơn giản là sự kiên trì: Bài viết khoa học của Giáo sư Thaler về kinh tế học hành vi đã được xuất bản vào năm 1980; ông đã ủng hộ mạnh mẽ kinh tế học hành vi trong một thời gian dài.

Điều quan trọng hơn là giáo sư Thaler hiểu rõ những gì ông phê phán. Thật quá dễ cho mọi người công kích những người mà mình bất đồng, dựa trên ý tưởng mơ hồ nhất về những gì họ suy nghĩ và lý do vì sao họ suy nghĩ như thế. Nhưng ông nắm bắt được, một cách hoàn hảo, lý do vì sao các đồng nghiệp kinh tế của ông chấp nhận tính duy lý, và những lập luận (tốt và xấu) mà họ đã sử dụng để bảo vệ điều đó. Giáo sư Thaler đã đấu tranh, một cách thẳng thắn và cẩn thận, với kinh tế học dòng chính.

Kỹ thuật thứ ba của ông là nhìn vào sự kiện – không chỉ là những số liệu thống kê tài tình, mà cả những sự kiện hàng ngày về sự tồn tại của con người. Chúng ta thấy khó cưỡng lại với các thức ăn chơi. Chúng ta chia tiền ra thành nhiều tài khoản cảm tính riêng biệt – tiền cho những ngày mưa bão [không đi làm], tiền để vui chơi giải trí, tiền ăn, tiền quần áo. Nếu tìm thấy một chai rượu cũ trong phòng áp mái, chúng ta có thể từ chối bán nó với giá hàng trăm pounds, mặc dù chúng ta không mơ chi ra một số tiền lớn bằng ba con số để mua bất cứ chai rượu nào. An tâm với sự tán thành về những sự kiện này, sau đó ông chuyển sang lập luận rằng chúng có thể có tầm quan trọng nào đó.

Cuối cùng, Giáo sư Thaler quan tâm đến cảm giác tò mò của con người. Loạt bài viết nhiều tập của ông “Anomalies [Những điều bất thường]”, được xuất bản trên chuyên san nghiên cứu học thuật có nhiều độc giả Journal of Economic Perspectives, thường bắt đầu bằng một câu đố – một số hành vi hoặc mô thức trong những dữ liệu mà không hề có ý nghĩa gì từ quan điểm củakinh tế học dòng chính. Sau đó, ông khảo sát câu đố, mở rộng nó, và xem xét giải pháp có thể.

Các nhà kinh tế học sẽ bàn luận về những điều bất thường này trong căng-tin của khoa. Theo lời mời của Giáo sư Thaler, họ sẽ gửi những ý kiến ​​riêng của mình. Thay vì nói với những người phản đối mình rằng họ đã sai, Giáo sư Thaler đã đưa ra một câu hỏi hóc búa và mời mọi người cùng thảo luận. Một trong những người phê phán ông, nhà kinh tế học vĩ đại Merton Miller của Đại học Chicago, đã hạ giọng khi phàn nàn rằng những điều bất thường của Giáo sư Thaler là một sự phân tâm khỏi sự mô hình hóa nghiêm túc, bởi vì chúng đơn giản quá thú vị.

Điều này đưa chúng ta trở lại với tính lười biếng của ông. Giáo sư Kahneman cho rằng tính lười biếng của Giáo sư Thaler đã làm cho ông trở nên “đặc biệt” bởi vì điều đó có nghĩa là ông ta có thể chỉ quan tâm nghiên cứu những vấn đề hấp dẫn nhất mà thôi.

Có lẽ đúng. Nhưng có lẽ sự thật là tính lười biếng đó không có gì đặc biệt cả. Giáo sư Thaler cho rằng hầu hết chúng ta đều lười biếng. Hầu hết chúng ta không muốn suy nghĩ sâu về những niềm tin của mình, hoặc về những thách thức đối với các niềm tin đó. Giải pháp của ông là đảm bảo rằng những thách thức đó đơn giản là quá hấp dẫn để bỏ qua.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

NguồnRichard Thaler: how to change minds and influence peopleFinancial Times, 13-10-17.

Advertisements

Các lý thuyết tiền tệ: Mặt trái mặt phải


Một số phân tích khẳng định rằng tiền tệ không gây ảnh hưởng đến sự vận hành thực của nền kinh tế, một số phân tích khác thì nói ngược lại. Nếu có khả năng gây ảnh hưởng nhiều, thì các chính sách tiền tệ cũng có những hạn chế.

Trước tiên chúng ta chỉ thấy có tiền tệ. Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, với trường phái trọng thương, tiền tệ là thực tế của sự giàu có: tiền tệ, đó là vàng hay bạc. Khi cô nàng (tiền tệ) khỏe mạnh, thì giá cả tăng lên. Khi thiết lập một quan hệ nhân quả giữa sự gia tăng tiền tệ trong lưu thông và tình trạng lạm phát, Jean Bodin đã phát triển lý thuyết định lượng tiền tệ đầu tiên, vào giữa thế kỷ XVI. Trước đây, lạm phát (“giá cả đắt đỏ mọi thứ” được lý giải bởi việc các quân vương “cắt xén” trọng lượng các kim loại quý trong các đồng tiền: cũng một đồng tiền đó nhưng có trọng lượng kim loại ít hơn sẽ cho phép mua ít hàng hơn. Nhưng chúng ta thấy lợi nhiều hơn hại ở sự việc trên: sự kích hoạt các giao dịch trao đổi thương mại và sự cắt giảm lãi suất thực tế (một khi tình trạng lạm phát đã hạ) đã được các nhà buôn và các quân vương, những người vay tiền quy mô lớn, đánh giá cao, do đã thấy một phần nợ của họ bị tình trạng lạm phát ăn bớt. Tiền tệ không mang tính trung lập trong sự vận hành thực của nền kinh tế.

Do tiền tệ là sự giàu có, nên một trong những mục tiêu của chính sách kinh tế là thu hút càng nhiều càng tốt các nguồn tiền thặng dư từ hải ngoại, được các nhà buôn ưa chuộng và các quân vương dùng làm cơ sở tính các loại thuế. Tiền tệ, năng động và sống động, được làm bằng thứ thịt ngon miệng, tự bản thân nó là một mục tiêu; do đó, việc gia tăng khối tiền tệ là điều đặc biệt có lợi.

Tuy nhiên, lý luận của trường phái trọng thương chứa đựng một khía cạnh nguy hại: sự phát triển các thặng dư thương mại, khi lượng tiền tăng lên sẽ làm cho giá cả tăng theo. Điều này làm cho việc cạnh tranh với bên ngoài thêm nặng gánh, góp phần làm giảm thặng dư từng mong muốn. Lý thuyết ngoại thương của trường phái trọng thương, trước khi bị trường phái tự do trao đổi thương mại phá bỏ, đã bị bào mòn bởi con sâu của lý thuyết định lượng.

Một cô gái đẹp mà chúng ta cởi bỏ quần áo

Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuộc khủng hoảng năm 1930, chúng ta khẳng định rằng tiền tệ chỉ là một cô gái đẹp, một vỏ bọc thời trang – hơn nữa, tiền tệ được làm bằng giấy ngày càng nhiều, chứ không phải bằng kim loại quý – mà đằng sau đó che giấu những tài sản thực, Của cải thựccủa các quốc gia, như Adam Smith đã mô tả vào năm 1776 trong cuộc cách mạng công nghiệp của nước Anh.

Với trường phái cổ điển rồi đến trường phái tân cổ điển, chúng ta cởi bỏ quần áo của cô gái đẹp, vén lên màn che mặt để tìm ra những giao dịch tài sản thực được trao đổi với nhau. Cuộc phân tích trở thành lưỡng phân: một bên là thế giới của những của cải thực, và bên kia là vỏ bọc thời trang, tiền tệ. Tiền tệ trở thành trung lập, theo nghĩa sự gia tăng hay sự giảm thiểu lượng tiền không làm thay đổi dòng chảy thực của tiền, mà chỉ điều chỉnh mức giá cả chung.

Vậy thì sự giàu có thực ở đâu? Điều này phụ thuộc vào những gì tạo nên giá trị của tài sản. Đầu tiên, tư tưởng kinh tế cổ điển, được Karl Marx lấy lại và biến đổi, đã phát minh ra lý thuyết “khách quan” về giá trị lao động: giá trị được lý giải bởi các chi phí sản xuất, bởi mức cung. Sau đó, các nhà lý thuyết tân cổ điển phá bỏ lý thuyết giá trị lao động để cho ra đời lý thuyết “chủ quan” về lợi ích cận biên: giá trị được lý giải bởi mức cầu của người sử dụng của cải, là người tiêu dùng hàng hóa hay người sản xuất đi mua các tư liệu sản xuất.

Cô gái đẹp bị cởi bỏ quần áo một lần nữa

Các nhà lý thuyết tân cổ điển xem lý thuyết định lượng như một thành tựu dứt khoát. Nhất là khi, cho đến đầu thế kỷ XX, nền kinh tế rơi vào một thời kỳ gần như trì trệ và gần như giảm phát, có lẽ chính là vì lý do thiếu tiền: chiếc ô có ích gì khi trời không mưa nữa? Tuy nhiên, sau khi phát hiện ra những mỏ vàng mới, nền kinh tế đã khởi động trở lại và đi cùng với nó là tình trạng lạm phát: vấn đề lý thuyết định lượng lại được đặt ra.

Lý thuyết định lượng lại nổi lên dưới hình thức một phương trình nổi tiếng MV=PT, được nhà kinh tế học người Mỹ Irving Fisher đề xuất vào năm 1911. Với M là cung tiền, V là vận tốc lưu thông của tiền tệ, P là mức giá cả chung và T là khối lượng các giao dịch. Từ đó ông suy ra rằng mọi biến động về lượng tiền tệ đang lưu thông trong nền kinh tế sẽ kéo theo một sự biến động tỷ lệ thuận với mức giá cả chung. Người ta thường quên là Fisher, thừa nhận hẳn là có những giai đoạn chuyển đổi mà trong đó tiền tệ có thể có những hiệu ứng thực có lợi, nhưng về lâu dài, giá cả nhất thiết sẽ tăng khi khối lượng tiền tệ tăng.

Nàng tiên đẹp của học thuyết Keynes

Về lâu dài, tất cả chúng ta đều chết”, John Maynard Keynes đã đáp trả Fisher. Từ cuối những năm 1930 cho đến giữa những năm 1970, cô gái đẹp trở lại thành một nàng tiên đẹp với học thuyết Keynes. Vả lại, Keynes gọi các “nhà cổ điển” tất cả những người đi trước ông, các nhà lý thuyết cổ điển và các nhà lý thuyết tân cổ điển, tất cả những tín đồ của lý thuyết định lượng và của tính trung lập của tiền tệ. Đối với ông, việc chủ động phát hành tiền tệ – bằng tín dụng ngân hàng – có thể làm cho nền kinh tế khởi động lại và chống lại tình trạng thất nghiệp. Bằng cách nào? Bằng việc giảm lãi suất thực được tạo ra bởi sự gia tăng lượng tiền tệ trong lưu thông. Mặc kệ các chủ nợ, những người sẽ thấy các khoản nợ của mình bị lạm phát ăn bớt: Keynes ủng hộ cái chết nhẹ nhàng của những người thực lợi.

Như vậy, Keynes dường như đã đoạn tuyệt với nguyên lí tính trung lập của tiền tệ. Ông đặc biệt đoạn tuyệt với lý thuyết truyền thống đang thống trị về lãi suất. Đối với những nhà lý thuyết tân cổ điển, lãi suất quả nhiên chỉ được lý giải bởi các hiện tượng thực gắn với mức cung và mức cầu về vốn, quỹ vốn cho vay. Mức cung về vốn là mức cung về tiết kiệm, tăng với lãi suất, và đó chính là dòng tiền thực, bởi vì tiết kiệm là một khoản phi tiêu dùng. Tương tự, mức cầu về vốn là mức cầu được thể hiện để cung cấp tài chính cho đầu tư – vì vậy là một dòng tiền thực khác –, nhưng lại giảm với lãi suất (đầu tư tốn nhiều tiền hơn về mặt tài chính khi lãi suất tăng cao).

Theo Keynes, lãi suất nội bộ không được xác định bởi các hiện tượng thực này, mà bởi các hiện tượng tiền tệ: có một cung tiền tệ (cung tín dụng của ngân hàng, tăng với lãi suất) và một cầu tiền tệ (mà một phần vì lý do đầu cơ, được cho là giảm dần với lãi suất, ở cấp độ kinh tế vĩ mô) mà chúng ta không nên nhầm lẫn với cung và cầu của quỹ vốn cho vay. Thị trường tiền tệ đã được sinh ra.

Tuy nhiên, Keynes giải thích sự hỗ trợ của một chính sách tiền tệ bành trướng cho việc khởi động lại nền kinh tế bằng những hiện tượng thuần túy mang tính… tiền tệ. Vì vậy, cách tiếp cận của ông vẫn còn mang tính lưỡng phân, bởi vì ông không nhấn mạnh đến thực tế là việc tạo sinh tiền tệ (cung tiền), chủ yếu là tín dụng ngân hàng. Thế mà, khoản tín dụng này lại can dự trực tiếp và hoàn toàn đơn giản vào thị trường các tài sản thực. Khi khẳng định điều tầm thường này, chúng ta đoạn tuyệt hẳn với sự lưỡng phân giữa tài sản thực và tiền tệ; chúng ta đưa lên hàng đầu thực tế về chu trình kinh tế. Chúng ta không cần giải thích việc thúc đẩy tiền tệ chỉ bởi việc hạ lãi suất, hệ quả của thị trường tiền tệ – dù, nếu áp dụng cả hai cùng một lúc, thì thậm chí còn hiệu quả hơn. Nhưng khẳng định này không khác gì một điều phi chính thống, ngay cả đối với Keynes!

Nói chung, thuyết can thiệp đã hồi sinh: cùng với các chính sách tiền tệ bành trướng để giảm lãi suất và khởi động lại cầu, là các chính sách tài khoá để thúc đẩy lại nền kinh tế. Trong thời kỳ ba mươi năm vinh quang (Trente Glorieuses), các chính phủ nghiện học thuyết Keynes giả vờ quên rằng khi lạm dụng phương thuốc tạo sinh tiền tệ, chúng ta đẩy tình trạng lạm phát lên cao lại một chút hoặc rất cao. Nhưng mọi người – hay gần như vậy – thừa nhận sự cần thiết phải lựa chọn giữa tình trạng lạm phát một chút và tình trạng thất nghiệp một chút hay không có lạm phát và thất nghiệp cao. Đây là nan đề của lạm phát và thất nghiệp, được suy ra từ những quan sát mang tính thống kê của nhà kinh tế học người New Zealand William Phillips về nước Anh. Hơn nữa, chúng ta đã quên những ràng buộc bên ngoài; chính xác hơn, chúng ta đã lẩn tránh nó: khi giá cả tăng, chúng ta thực hiện việc phá giá cạnh tranh tiền tệ.

Mụ phù thủy và cây chổi tự do cực đoan

Với sự trở lại mạnh mẽ của những nhà kinh tế theo thuyết tự do và tự do cực đoan, người đẹp trở thành mụ phù thủy. Sau cuộc khủng hoảng của hệ thống tiền tệ quốc tế và sự cáo chung của hệ thống tỷ giá hối đoái cố định dựa trên bản vị đồng đô la, vào đầu những năm 1970, hai cú sốc dầu mỏ (1973-1974 và 1979-1980) đã thắng được học thuyết can thiệp của Keynes. Thuyết can thiệp bị cuốn đi cả về mặt lý thuyết lẫn chính trị trong một vài năm.

Học thuyết trọng tiền của Milton Friedman và của trường phái Chicago đưa vào trọng tâm phân tích nguy cơ lạm phát trong trường hợp áp dụng chính sách tiền tệ bành trướng. Chúng ta không nên tạo ra, qua các khoản tín dụng, nhiều tiền tệ hơn nhu cầu của tăng trưởng thực tế. Friedman diễn giải lại đường cong Phillips và cho thấy rằng bất cứ sự thúc đẩy nào, cho dù có thể hiệu quả trong ngắn hạn, cũng sẽ kích hoạt tình trạng lạm phát.

Làm thế nào? Khi nhà nước – vẫn còn kiểm soát các Ngân hàng Trung ương – tìm cách vực dậy sự tăng trưởng với một chính sách tiền tệ bành trướng, thì giá cả tăng vọt và tiền lương cũng tăng theo, khiến một số người thất nghiệp (lặp lại là “những người thất nghiệp tự nguyện“) muốn có việc làm. Nếu tình trạng thất nghiệp giảm trong trường hợp tiền lương tăng, điều ấy đơn giản được lý giải là bởi vì người làm công ăn lương đang chịu cảnh ảo giác tiền tệ: họ không thấy việc tăng lương bị lạm phát ăn mòn. Những người không muốn làm việc với mức lương hiện tại bây giờ chịu đi làm, và tình trạng thất nghiệp tự nguyện giảm xuống.

Tuy nhiên, là người cận thị nhưng không mù, họ sẽ hiểu ra sai lầm của họ sau một thời gian ngắn. Khi thấy tình trạng lạm phát, họ sẽ quay trở lại tình trạng thất nghiệp tự nguyện: những dự kiến của họ mang tính thích nghi. Như vậy Nhà nước đã thành công, trong một thời gian, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp bằng một chính sách tiền tệ; trong ngắn hạn, tiền tệ không còn mang tính trung lập. Tuy nhiên, trong trung hạn, khi người làm công ăn lương nhận ra sai lầm của họ, tiền tệ trở lại có tính trung lập, ngoại trừ việc nó rất có hại, bởi vì nó đã khởi động tình trạng lạm phát.

Thuyết trọng tiền suy ra từ đó một chính sách tiền tệ hoàn toàn mới. Vấn đề rõ ràng không còn là việc thúc đẩy nền kinh tế thông qua việc tạo sinh tiền tệ, mà là việc công bố và duy trì một khối lượng tiền tệ tăng trưởng đều đặn hàng năm – nói chung, tỉ suất tăng trưởng thực tế ước tính – và sẽ tránh được mọi tình trạng lạm phát. Ở cấp độ thể chế, điều tốt nhất là các Ngân hàng Trung ương phải độc lập với quyền lực chính trị, vai trò của họ chuyển từ chính sách kích cầu tiền tệ sang cuộc chiến chống lạm phát và bảo vệ tỷ giá hối đoái.

Trường phái cổ điển mới, mà người đại diện nổi tiếng nhất là Robert Lucas, người được trao giải thưởng của Ngân hàng Thụy Điển, sau đó triệt để hoá quan điểm của Friedman. Những dự kiến sẽ không mang tính thích nghi nữa mà là mang tính duy lý: mọi người đều tin vào mô hình tự do và có khả năng sử dụng mô hình đó bằng cách huy động tất cả các thông tin có sẵn. Trong trường hợp chính sách tiền tệ quá lỏng lẻo, các giai đoạn quá độ của Friedman không tồn tại nữa: tai họa lạm phát sẽ xuất hiện tức thì. Tiền tệ trở lại “siêu trung tính“. Friedman bình luận đó là “rượu cũ bình mới”…

Nỗi lo xanh mặt của việc tạo sinh tiền tệ quá mức, đã từng thúc đẩy hoạt động của nhiều Ngân hàng Trung ương từ cuối những năm 1980, là nguyên nhân của cuộc suy thoái nghiêm trọng ở châu Âu vào năm 1993. Bị ám ảnh bởi nguy cơ lạm phát sau khi nước Đức thống nhất, Ngân hàng Trung ương Đức (Bundesbank) đã tiến hành thắt chặt tiền tệ một cách cực đoan, mà các nước khác ở châu Âu, trong đó có Pháp, đã làm theo. Kết quả là gây ra một sự tăng mạnh về lãi suất, phá vỡ hoạt động kinh tế. May thay, chính sách tự sát này đã ngưng lại: lãi suất tiếp theo đó đã lao dốc, đồng thời với lạm phát.

Sự trở lại của một học thuyết Keynes khập khiễng

Cuộc khủng hoảng hiện nay (diễn ra trong thực tế vào đầu những năm của thiên niên kỷ) được coi là phát sinh từ nguyên nhân tài chính và ngân hàng: tiền tệ quay trở lại như một nhân tố giải thích động thái kinh tế. Tuy nhiên, tiền tệ cũng có thể phát sinh từ nguyên nhân thực, không chỉ vì các chính sách tiền tệ chặt chẽ được tiến hành từ những năm 1980 đã gây ra sự sụt giảm của cầu. Hẳn là các ngân hàng đã thấy lãi suất giảm và thị trường tín dụng ngân hàng truyền thống của họ hoạt động ít sôi nổi do sự phát triển của các thị trường tài chính. Nền kinh tế vay nợ tạo sinh tiền tệ, bị những nhà kinh tế theo phái tự do phê phán bởi tính chất lạm phát của nó, đã nhường chỗ cho nền kinh tế của các thị trường vốn tài chính, nơi mà các ngân hàng đã đâm đầu vào. Do đó, họ chấp nhận mọi rủi ro để duy trì lợi nhuận. Và sụp đổ! Có tội nhưng không chịu trách nhiệm!

Kể từ đầu những năm 2000, một chính sách tiền tệ theo thuyết Keynes đã quay trở lại mà không nêu tên mình. Cuộc khủng hoảng những năm 2001-2002, gây ra bởi sự bùng nổ của bong bóng Internet, đã nhanh chóng được khắc phục nhờ chủ nghĩa thực dụng của Fed, Ngân hàng Trung ương Mỹ: Fed đã không ngần ngại giảm lãi suất chủ đạo đến một mức đặc biệt thấp[*] để kích thích hoạt động kinh tế. Dù cam kết gắn chặt với nhiệm vụ đấu tranh chống lạm phát, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cuối cùng cũng đã chấp nhận làm theo chính sách này.

Đối mặt với những hậu quả của cuộc khủng hoảng ngân hàng và tài chính về các khoản nợ dưới chuẩn bắt đầu tại Hoa Kỳ vào năm 2007 và cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu, các Ngân hàng Trung ương đã đi một bước xa hơn, tiến hành hàng loạt các giải pháp nới lỏng định lượng (quantitative easing) để hỗ trợ sự tăng trưởng và tránh tình trạng giảm phát: Ngân hàng Trung ương Anh, Cục dự trữ liên ban Fed (Ngân hàng Trung ương của Hoa Kỳ) và từ đầu năm 2015 là Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã lao vào hàng loạt những chương trình mua lại các chứng khoán nợ công và nợ tư nhân với số lượng lớn. Vào những năm 1930, khi Keynes đề xuất sự can thiệp trực tiếp của các Ngân hàng Trung ương (lúc đó nằm trong tay quyền lực chính trị) vào các thị trường tài chính thứ cấp về các trái phiếu chính phủ, thì đề xuất của ông đã được cho là tà thuyết. Như vậy, với giải pháp nới lỏng định lượng (quantitative easing), chính sách tiền tệ từ nay hoàn toàn theo thuyết Keynes, nhưng trong một thế giới tự do. Trong thực tế, các chính sách tài khóa ở Châu Âu vẫn mang tính hết sức khắc khổ: một hướng đi mang tính tự sát. Chính sách tiền tệ không thể làm được mọi thứ và học thuyết Keynes ngày nay đang đi trên một chân.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: Les théories de la monnaie: côté pile côté face, trong La monnaie et ses mystères, Alternatives Economiques HORS–SÉRIES no105, page 5–34.

Akerlof và Shiller: Tất cả những gì bạn cần biết về thao túng thị trường tự do – Phần cuối


Làm sao chúng ta biết được?

Chúng tôi tiên đoán rằng cuốn sách này sẽ không phổ biến (thậm chí là ít phổ biến nhất) đối với những người nghĩ rằng ai cũng luôn đưa ra các quyết định tốt nhất cho bản thân mình. Họ sẽ hỏi ai là Bob và George để nói rằng cá nhân con người không bao giờ là trọng tài tốt nhất của chính mình trong việc giúp bản thân ra các quyết định có tác động đến chính họ? Tương tự như phần lớn kinh tế học, luận điểm này có ý nghĩa trừu tượng. Nhưng khi chúng tôi xem xét câu hỏi này lúc nó mô tả con người thực ra quyết định thực (như chúng tôi sẽ làm trong suốt quyển sách này), chúng tôi phát hiện ra rằng họ đã bị lừa cắn câu: và, hậu quả là họ đưa ra các quyết định mà chỉ cần vận dụng một ít trí khôn cơ bản thôi, họ sẽ nhận biết các quyết định đó không mang lại lợi ích cho họ.

Chúng ta không phải tự phụ khi thấy người ta đưa ra những quyết định như vậy. Chúng ta nhận biết được là vì chúng ta thấy người ta đưa ra các quyết định mà KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN. Henry David Thoreau đã nhấn mạnh rằng “nhiều người sống cuộc sống trong âm thầm tuyệt vọng”. Đáng chú ý, một trăm năm mươi năm sau, ở nước Mỹ, quốc gia phồn vinh nhất thế giới mà chúng ta từng biết, quá nhiều người vẫn sống trong âm thầm tuyệt vọng. Hãy nghĩ về trường hợp cô Mollie tội nghiệp ở Vegas.

KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN CẢ

Bốn vấn đề lớn cho thấy tại sao tình trạng KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN CẢ lại lan rộng gồm: an toàn tài chính cá nhân; ổn định nền kinh tế vĩ mô (nền kinh tế tổng thể); sức khỏe của chúng ta; và chất lượng của chính phủ. Trong mỗi vấn đề trên, chúng ta sẽ thấy rằng việc thả câu chờ kẻ đại ngốc mắc sai lầm có tác động đáng kể đến cuộc sống của chúng ta.

An toàn tài chính cá nhân. Một thực tế cơ bản của đời sống kinh tế chưa bao giờ được đưa vào sách giáo khoa kinh tế học. Hầu hết người trưởng thành, ngay cả ở các nước giàu, đều mang mối lo làm thế nào để thanh toán các hóa đơn theo lên giường ngủ mỗi tối. Các kinh tế gia cho rằng ai cũng dễ dàng gói gém chi tiêu trong ngân sách của mình. Nhưng họ quên rằng ngay cả khi chúng ta thận trọng đến 99%, thì cũng còn 1% chúng ta hành động như thể “tiền là chuyện nhỏ”, có thể hủy hoại toàn bộ lựa chọn đúng đắn trước đó. Và các doanh nghiệp biết rất rõ 1% này. Họ nhắm vào các sự kiện trong cuộc sống của chúng ta khi mà tình yêu (hay những động cơ khác) lấn át sự cẩn trọng ngân sách của chúng ta. Đối với một số người thì sự kiện đó là thông lệ tặng quà vào dịp Giáng Sinh hàng năm. Đối với những người khác thì là các nghi lễ đánh dấu những cột mốc của đời người như: đám cưới (là nghi lễ mà các tạp chí chuyên về cưới hỏi khẳng định với các cô dâu rằng chi phí của một “đám cưới trung bình” gần bằng một nửa thu nhập bình quân đầu người hàng năm); đám tang (là nghi lễ mà người điều hành dịch vụ tang lễ tỉ mỉ giới thiệu về các cỗ quan tài để dẫn dắt lựa chọn, ví dụ như, kiểu Monaco “làm bằng thép không gỉ Sea Mist, bên trong toàn bộ được lót nhung 600 Aqua thượng hạng, được chần bông và dệt chun tinh xảo”); hay sinh con (là dịp mà hãng đồ chơi Babies “R” Us sẽ phái chuyên viên tư vấn cá nhân của họ đến).

Nhưng các nghi lễ kể trên không phải là những dịp duy nhất trong đời mà việc tính toán được cho là keo kiệt. Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà ở Mỹ, vốn trong thời kỳ phồn vinh nhất từ trước đến giờ, hầu hết người trưởng thành vẫn phải lo lắng về các hóa đơn khi đi ngủ. Các nhà sản xuất rất sáng tạo trong việc khiến cho chúng ta cảm thấy cần những sản phẩm được sản xuất ra trong khi họ đáp ứng các nhu cầu có thực của chúng ta. Không ai muốn phải lo lắng về các hóa đơn khi đi ngủ. Nhưng hầu như ai cũng phải lo lắng.

Một lý do khiến chúng ta lo lắng về các hóa đơn là tình trạng bán giá quá đắt: là người tiêu dùng, chúng ta đặc biệt có xu hướng trả quá nhiều tiền khi chúng ta bước ra khỏi vỏ ốc của mình để mua một hàng hóa đắt đỏ và hiếm khi mua. Đáng chú ý là trong khoảng 30% số nhà bán được cho người mua mới, tổng chi phí giao dịch – của người mua lẫn người bán – bằng hơn phân nửa số tiền đặt cọc mà người mua phải nộp để thực hiện giao dịch. Như chúng ta sẽ thấy, nhân viên kinh doanh xe hơi, đã phát triển các kỹ thuật tinh vi để bán cho chúng ta nhiều xe hơi hơn số chúng ta thực sự muốn; và đồng thời cũng khiến chúng ta phải trả quá nhiều tiền. Không ai muốn bị mua đắt. Nhưng chúng ta vẫn phải mua hàng với giá đắt, ngay cả trong những trường hợp mua bán mà chúng ta cẩn trọng nhất trong cuộc đời của mình.

Bất ổn tài chính và bất ổn vĩ mô. Thả câu chờ kẻ đại ngốc mắc sai lầm trong thị trường tài chính là nguyên nhân lớn nhất của các cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo tình trạng suy thoái sâu. Xét về các cuộc khủng hoảng tài chính thì cụm từ thịnh hành “Lần này sẽ khác” vừa đúng vừa sai. Trong giai đoạn tăng trưởng nóng trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, những kẻ thả câu dụ dỗ người mua về những tài sản mà họ phải bán bằng chiêu thức “lần này sẽ khác”. Ví dụ như vụ công ty sản xuất que diêm Swedish Match ở những năm 1920 (Ivar Kreuger, sáng lập viên của công ty Kreuger & Toll); vụ các công ty công nghệ dot-com ở những năm 2000 (Angelo Mozilo, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành của công ty tài chính Countrywide). Vâng, không lần nào giống lần nào cả; các doanh nghiệp khác nhau; sản phẩm của họ khác nhau. Nhưng, đồng thời, lần nào cũng vậy. Có những kẻ thả câu; và có những kẻ đại ngốc. Và khi chứng khoán do những kẻ thả câu giấu mặt dựng lên (kinh tế gia John Kenneth Galbraith gọi là “the bezzle” – sự gia tăng tài sản ảo) hiện nguyên hình, giá tài sản lao dốc. Các nhà quản lý đầu tư đã mua các gói chứng khoán có các khoản thế chấp xấu trong thời gian tích tụ nên cuộc khủng hoảng 2008 có thể đã không muốn mua chúng. Và sau đó, thật đau đớn, phản ứng phụ kinh hoàng đã diễn ra: niềm tin vỡ vụn trong toàn bộ nền kinh tế; giá chứng khoán giảm đi phân nửa; mất việc hàng loạt; và người thất nghiệp không thể tìm được việc làm. Tình trạng thất nghiệp dài hạn đạt mức cao chưa từng thấy kể từ Cuộc Đại Khủng Hoảng.

Sức khỏe. Ngay cả trong vấn đề sức khỏe, vốn dĩ là nhu cầu lớn nhất của chúng ta khi chúng ta đã được cơm no áo ấm, có nhà cửa đầy đủ, các hãng dược cũng thả câu đợi chúng ta mắc sai lầm. Vào những năm 1880, khi Daniel Pinkham, sống ở ngoại vi New York, để ý thấy có nhiều phụ nữ rất quan tâm đến bệnh thận, ông đã viết thư về nhà nhắn mọi người nên đưa bệnh thận vào danh sách các căn bệnh mà hãng thuốc Pinkham Pills của gia đình có thể chữa khỏi. Lời khuyên của ông được tiếp thu. Ngày nay, các hãng dược không còn được bổ sung bệnh vào trong danh sách nữa. Ở Mỹ, các hãng dược phải vượt qua hai cửa ải. Họ phải có được sự chấp thuận của Food and Drug Administration (Cục Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm), thông qua việc thực nghiệm đối chứng ngẫu nhiên; họ phải đồng thời thuyết phục được các bác sĩ kê thuốc của họ cho bệnh nhân. Nhưng họ cũng đã có hơn một thế kỷ lăn lộn tìm cách vượt qua các cửa ải này. Một số dược phẩm dù vượt ải thành công nhưng chỉ mang lại lợi ích rất bé. Tệ hơn, một số dược phẩm chỉ toàn gây hại, như Vioxx (một loại kháng viêm giống như Aleve) và liệu pháp thay thế nội tiết tố. Với bề dày năm năm xuất hiện trên thị trường, từ năm 1999 đến năm 2004, người ta ước lượng rằng Vioxx đã gây ra từ 26.000 đến 56.000 trường hợp tử vong do vấn đề tim mạch ở Mỹ; việc các bác sĩ và các nhà thuốc không thông báo cho phụ nữ biết những nghi ngờ về liệu pháp thay thế nội tiết tố đã gây ra khoảng 94.000 ca ung thư vú. Không ai muốn dùng thuốc dỏm cả.

Hậu quả ảnh hưởng đến sức khỏe không chỉ dừng lại ở thuốc dỏm. Nói về vấn đề ăn uống và hậu quả của nó. Khoảng 69% người Mỹ trưởng thành bị thừa cân; hơn phân nửa trong số đó (36% người Mỹ) bị béo phì. Một nghiên cứu thuần tập thực hiện trên hơn 120.000 người đã phô bày một thực trạng chính xác đáng kinh ngạc. Những người được phỏng vấn, chủ yếu là các y tá có đăng ký chính thức, được quan sát mỗi bốn năm một lần, từ cuối những năm 1970 suốt đến năm 2006. Số cân tăng trung bình mỗi bốn năm là 3,35lb (cân Anh) (tổng cộng tăng 16,75lb trong 20 năm). Phân tích thống kê cho biết 3,35lb tăng thêm là do 1,69lb snack khoai tây, 1,28lb khoai tây chiên, và 1lb thức uống có đường. Nói một cách hình tượng thì những y tá đó đã không thể ngưng nhóp nhép snack khoai tây (muối và mỡ) và khoai tây chiên (mỡ và muối) hay ngưng xì xụp các chai nước ngọt (đường). Họ lựa chọn một cách tự nguyện. Không dừng lại ở các y tá, mà khái quát hơn, các ông lớn ngành thực phẩm chi hoa hồng cho các phòng thí nghiệm khoa học để họ tính toán “các điểm cực mãn” của người tiêu dùng khiến họ thèm đường, muối, và mỡ cực độ. Tuy nhiên, không ai muốn béo phì cả.

Thuốc lá và rượu là những cái cần câu khác có liên quan đến sức khỏe. Nhưng có sự khác biệt lớn giữa hai sản phẩm này. Ngày nay, không ai nghĩ rằng hút thuốc lá là sành điệu cả. Khi George viết đoạn này, ông ngồi làm việc trong một tòa nhà văn phòng lớn ở Washington, HQ1 (Trụ sở chính 1) của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Người ta cấm hút thuốc bên trong tòa nhà. Nhưng trên đường đến nơi làm việc vào buổi sáng, ông đi ngang qua một số người hút thuốc đứng lác đác bên ngoài. Những người hút thuốc đó ai nấy cũng hằn học né tránh ánh nhìn chăm chăm của ông. Tuy không nói ra, nhưng họ biết ông đang nghĩ rằng họ đang liều mạng sống của chính họ: để có được niềm vui rất không đáng. Kết quả của sự chỉ trích và tự chỉ trích này là tỷ lệ người hút thuốc lá ở Mỹ đã giảm đi hơn phân nửa tính từ cái thời tăm tối khi mà những người đáng ra biết được nhiều thông tin hơn lại thuyết phục rằng hút thuốc thực sự tốt cho sức khỏe: hút thuốc giúp bạn giảm cân.

Còn một loại chất gây nghiện hợp pháp nữa ngoài thuốc lá, có thể có hại nhiều hơn; nhưng lại ít bị chỉ trích hơn. David Nutt và các cộng sự ở Anh, cùng Jan van Amsterdam và Willem van den Brink ở Hà Lan đã thành lập các nhóm chuyên gia đánh giá tác hại tương đối của các loại chất gây nghiện ở các quốc gia của họ. Tính luôn cả tác hại đối với người khác – thay vì chỉ tính tác hại đối với bản thân người dùng – Nutt và các cộng sự đánh giá rượu là loại tệ hại nhất; van Amsterdam và các cộng sự xếp rượu ở hàng thứ hai sau ma túy, nhưng sự hơn kém về tác hại là rất nhỏ. Lát nữa chúng ta sẽ thấy (từ các nghiên cứu suốt đời) rằng việc lạm dụng rượu rất có thể là phương thuốc giảm đau thần diệu duy nhất trong đời sống người Mỹ. Hơn nữa, các quán bar, nhà hàng, hãng hàng không và bạn bè của chúng ta gặp khi tiệc tùng đều ép chúng ta uống một ly, và đôi khi thêm một ly nữa, và một ly nữa,… Không ai để ý rằng uống thêm một ly nữa là một lựa chọn quá dễ dàng. Không ai muốn trở thành kẻ nghiên rượu. Nhưng thay vì khuyên can thì người ta lại dụ dỗ.

Chính phủ tồi. Trong khi thị trường tự do ít nhất là có thể vận hành hiệu quả trong các điều kiện lý tưởng, thì nền dân chủ cũng vậy. Nhưng các cử tri lại bận rộn lo toan cho cuộc sống của riêng mình; do vậy mà các cử tri hoàn toàn không thể biết được khi nào một chính trị gia đi chệch ra khỏi mong muốn thực sự của cử tri về tăng cường pháp chế. Và cũng chỉ vì chúng ta là người trần mắt thịt, chúng ta có xu hướng bầu cho người nào khiến chúng ta cảm thấy hài lòng nhất. Do vậy, chính trị dễ bị tác động bởi trò thả mồi đơn giản nhất, theo đó các chính trị gia âm thầm huy động tiền bạc từ các nhóm lợi ích, và sử dụng nguồn tiền đó để chứng tỏ rằng họ “không khác gì các cử tri”. Chương “Thả Câu Trong Chính Trị” của chúng tôi sẽ mô tả chiến dịch vận động tranh cử năm 2004 của Charles Grassley thuộc tiểu bang Iowa, người giữ chức chủ tịch Ủy Ban Tài Chính Thượng Viện lúc bấy giờ, và là người đã tập hợp được một nguồn quỹ tranh cử trị giá nhiều triệu đô la và đã tấn công dồn dập khắp tiểu bang bằng chương trình quảng cáo trên truyền hình phát đi hình ảnh ông cũng “như dân chúng”, đang ở nhà, ngồi trên chiến xe cắt cỏ của ông ta. Không có gì quá bất thường về vai trò của tiền bạc trong cuộc vận động này. Ngược lại, chúng ta chọn cách làm như vậy vì nó quá đặc trưng. Nhưng (hầu như) không ai muốn có một nền dân chủ mà các cuộc bầu cử được mua theo cách này.

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “Akerlof and Shiller: Everything You Need to Know About Free-Market Manipulation”, Evonomics.com, 6/1/2016.

Akerlof và Shiller: Tất cả những gì bạn cần biết về thao túng thị trường tự do – Phần đầu


Nội dung dưới đây được trích từ quyển sách Phishing for Phools: The Economics of Manipulation and Deception (Thả Mồi Câu Cá Ngáo: Kinh Tế Học Của Sự Thao Túng Và Mánh Khóe Lừa Bịp) của George A. Akerlof và Robert J. Shiller. Được xuất bản bởi Princeton University Press. Chúng tôi đã được phép in lại.

James Carville, cố vấn chiến dịch vận động tranh cử chức tổng thống của Bill Clinton năm 1992, đã từng nói rằng: “It’s the economy, stupid!” (Là vấn đề kinh tế cả thôi, ngốc ơi!). Ông muốn dùng câu nói này chĩa mũi dùi vào Tổng Thống George H. W. Bush vì hàng loạt các vấn đề kinh tế có liên quan mật thiết đến cuộc suy thoái kinh tế xuất hiện trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của Bush. Tuy nhiên, về phát biểu của Carville, chúng tôi có cách hiểu khác, rộng hơn: nhiều vấn đề của chúng ta khởi sinh từ chính bản chất của nền kinh tế. Nếu doanh nhân hành xử hoàn toàn ích kỷ vì lợi ích của chính mình theo cách thức mà lý thuyết kinh tế giả định, thì hệ thống kinh tế thị trường của chúng ta có xu hướng dung dưỡng sự thao túng và mánh khóe lừa bịp. Vấn đề không phải là do có nhiều người xấu. Hầu hết mọi người đều tuân thủ luật chơi và chỉ mưu cầu cuộc sống sung túc. Nhưng, rõ ràng, áp lực cạnh tranh đè lên giới doanh nhân buộc họ phải nhúng tay vào hành vi lừa bịp và thao túng trong các thị trường tự do khiến chúng ta mua, và trả quá nhiều tiền cho những sản phẩm không cần đến; khiến chúng ta làm những công việc không mấy ý nghĩa; và khiến chúng ta tự hỏi tại sao cuộc sống của mình lại trở nên bất ổn.

Chúng tôi viết quyển sách này với tư cách là những người hâm mộ hệ thống thị trường tự do, nhưng hy vọng sẽ giúp mọi người tìm được lợi ích của mình trong đó. Hệ thống kinh tế thị trường đầy rẫy các ngón đòn gian lận, và ai cũng cần phải biết được thực tế này. Tất cả chúng ta ai cũng phải lèo lái hệ thống này để giữ gìn phẩm giá và tính chính trực của mình, tất cả chúng ta đều phải tìm cho được nguồn cảm hứng để bước tiếp bất chấp sự điên rồ xung quanh chúng ta. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới người tiêu dùng, họ chính là đối tượng cần phải cảnh giác trước vô số trò lừa bịp nhắm vào họ. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới giới doanh nhân, họ chính là những người cảm thấy chán nản trước sự hoài nghi của một số đồng nghiệp và rơi vào cái bẫy của sự không cần thiết này về mặt kinh tế. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới các quan chức chính phủ, họ là lực lượng đảm đương nhiệm vụ bạc bẽo điều tiết hoạt động kinh doanh. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới các tình nguyện viên, các nhà hảo tâm, các nhà hướng dẫn dư luận, họ là thành phần ủng hộ sự liêm chính. Và chúng tôi viết quyển sách này hướng tới giới trẻ, những người tự vấn làm sao họ có thể tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình khi nhìn ra quảng đời làm việc của mình phía trước. Tất cả những đối tượng này sẽ cùng có lợi từ nghiên cứu về trạng thái cân bằng lừa đảo – về các lực lượng kinh tế đã cấy sự thao túng và mánh khóe lừa bịp vào hệ thống kinh tế trừ khi chúng ta mạnh dạn đấu tranh chống lại nó. Chúng ta cũng cần những câu chuyện về những vị anh hùng, những người mà bằng chính sự liêm chính của bản thân (chứ không phải vì lợi ích kinh tế) đã cố gắng kìm hãm sự dối trá trong nền kinh tế của chúng ta ở mức có thể chung sống được. Chúng tôi sẽ kể thật nhiều những câu chuyện về những vị anh hùng này.

Các sản phẩm của kinh tế thị trường tự do

Cuối thế kỷ thứ mười chín là giai đoạn bận rộn của những nhà phát minh trong ngành xe hơi, điện thoại, xe đạp, đèn điện. Nhưng, có một phát minh khác cùng thời ít nhận được sự chú ý chính là “chiếc máy tự động dùng đồng xu”. Ngay từ khi ra đời, chiếc máy này không mang ý nghĩa như của ngày hôm nay. Khái niệm này có liên quan đến bất cứ loại “máy bán hàng tự động” nào mà khi bạn cho tiền xu vào một cái khe trống, bạn sẽ được khui một chiếc hộp. Vào những năm 1890, máy tự động dùng đồng xu được dùng để bán kẹo cao su, xì gà, thuốc lá, ống dòm (để xem nhạc kịch – ND), sô-cô-la que được quấn trong giấy gói cá nhân, thậm chí là các lượt xem nhanh tài liệu được coi là tiền thân của danh bạ điện thoại thành phố – hàng hóa gì cũng có. Sự cải tiến cơ bản chính là chiếc khóa được kích hoạt bằng đồng xu được nhét vào trong.

Nhưng rồi sau đó, người ta phát minh ra một công dụng khác. Chẳng bao lâu thì máy tự động dùng đồng xu bắt đầu bao gồm cả những chiếc máy đánh bạc. Một tờ báo lúc bấy giờ đã ghi nhận sự xuất hiện của máy tự động dùng đồng xu với ý nghĩa của thời hiện đại vào năm 1893. Lúc đầu, những chiếc máy này thưởng kẹo cho người chơi thắng thay vì thưởng tiền; chẳng bao lâu thì người ta đã gán cho sự trùng hợp hiếm hoi khi ba quả anh đào cùng xuất hiện một ý nghĩa đặc biệt.

Cuối những năm 1890, một chứng nghiện mới xuất hiện đối với trò đỏ đen trên máy đánh bạc. Vào năm 1899, tờ Los Angeles Times đã đưa tin: “Người ta có thể tìm thấy từ một cho tới nửa tá máy đánh bạc ở hầu hết các quán rượu, được vây kín bởi đám đông những người chơi suốt từ sáng đến tối … Một khi thói quen đã được hình thành, nó sẽ trở thành chứng nghiện. Người ta có thể bắt gặp các thanh niên ngồi hàng giờ liền trước máy đánh bạc. Cuối cùng, chắc chắn họ chính là những kẻ thua cuộc.

Rồi thì lực lượng quản lý đã can thiệp. Máy đánh bạc hủy hoại cuộc đời của quá nhiều người nên phải bị cấm, hoặt ít nhất là phải được kiểm soát, cùng với cờ bạc nói chung. Chúng đã biến mất khỏi đời sống cộng đồng, hầu như hoàn toàn bị cho ra rìa: được chuyển đến những nơi đặc biệt như sòng bài, và ở nơi được quản lý lỏng lẻo như Nevada, máy đánh bạc dễ dàng được tìm thấy trong siêu thị, trạm xăng, và sân bay; trung bình một người lớn ở đây nướng 4% thu nhập của mình vào bài bạc, gấp chín lần mức trung bình của người Mỹ. Nhưng ngay cả Nevada cũng có một số giới hạn: vào năm 2010, Hội Đồng Kiểm Soát Đánh Bạc Nevada đã bác bỏ đề xuất cho phép khách hàng ở các cửa hàng tiện lợi được sử dụng thẻ tín dụng trên các máy đánh bạc, mà chỉ cho phép đổi tiền lẻ như thường lệ.

Khi được tin học hóa, máy đánh bạc có thêm chức năng mới. Đặt theo tên của quyển sách viết năm 2012 của Natasha Schüll đến từ MIT, các chiếc máy thế hệ mới được thiết kế để gây nghiện. Mollie, người mà Schüll đã gặp tại buổi họp mặt các thành viên của tổ chức Gamblers Anonymous tại Las Vegas đã thể hiện khía cạnh con người của sự ham mê này. Mollie đã vẽ cho Schüll một sơ đồ trình bày cách thức mà cô tìm thấy bản thân mình. Sơ đồ diễn tả cô bằng hình ảnh ốm o, đơn độc, đứng cạnh chiếc máy đánh bạc, bị bao vây – mắc kẹt – trong một con đường vòng tròn. Con đường đó dẫn đến sáu nơi chốn quan trọng nhất trong cuộc đời của cô: đường MGM Grand, nơi cô làm công việc nhân viên nhận đăng ký đặt chỗ; ba điểm nơi cô chơi đánh bạc; cơ sở của tổ chức Gamblers Anonymous, nơi cô cố gắng cai bài bạc; và cuối cùng là nơi cô mua thuốc chống chứng rối loạn lo âu. Mollie hoàn toàn ý thức được vấn đề của mình: cô không tìm đến các máy đánh bạc để mong được thắng. Cô biết rằng cô sẽ thua. Đúng hơn là cô bị lôi kéo bởi sự cưỡng bức. Và khi cô đến đó chè chén say sưa, cô đơn độc; hành động trở nên nhanh và liên tục. Mollie đi vào nơi mà cô gọi là “khu vực”. Nhấn cái nút màu đỏ. Các ánh đèn và buổi diễn bắt đầu. Cô ta hoặc thắng hoặc thua. Nhấn cái nút màu đỏ một lần nữa. Và một lần nữa. Cứ thế tiếp tục cho đến khi sạch túi. Mollie không phải là trường hợp cá biệt ở Vegas. Cách đây mười năm, những cái chết do ngưng tim là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng ở các sòng bài. Đề xuất về đội cấp cứu không được thông qua. Cuối cùng thì các sòng bài tự thành lập riêng các đội kích tim được huấn luyện đặc biệt. Một đoạn video quan sát cho thấy lý do tại sao cần phải có chương trình huấn luyện đặc biệt như vậy. Trong đoạn băng, lực lượng của sòng bạc kích tim cho một người chơi bị ngưng tim, những người chơi xung quanh vẫn tiếp tục chơi, thần trí bị mê hoặc của họ vẫn bình thản, mặc dù nạn nhân rõ ràng đang nằm ngay dưới chân họ.

Thị trường mang lại cho chúng ta điều gì

Lịch sử về mặt tốt và mặt xấu của máy tự động dùng đồng xu từ những năm 1890 đến nay minh họa quan điểm sóng đôi của chúng ta về nền kinh tế. Cơ bản nhất là chúng ta ca ngợi thị trường. Thị trường tự do là sản phẩm của hòa bình và tự do, phát triển trong thời kỳ ổn định khi mà con người không sống trong lo sợ. Nhưng song song với việc tạo ra các chiếc hộp mà khi mở ra sẽ cho chúng ta một thứ chúng ta muốn thì động cơ lợi ích cũng tạo ra những chiếc máy đánh bạc với trò cờ bạc gây nghiện ưu tiên lột tiền của bạn. Hầu như toàn bộ quyển sách này sẽ minh họa mặt xấu của chiếc máy tự động dùng đồng xu, chứ không nói về mặt tốt: vì với tư cách là những người chủ trương cải cách về cả tư tưởng kinh tế lẫn nền kinh tế, chúng tôi cố gắng thay đổi những trục trặc của xã hội chứ không thay đổi những mặt tốt. Nhưng trước khi bắt đầu, chúng ta nên suy ngẫm xem thị trường đã mang lại cho chúng ta những gì.

Để làm được điều này, chúng ta cần phải nhìn lại thời kỳ cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi. Vào tháng 12/1900, chàng kỹ sư xây dựng John Elfreth Watkins Jr. đã tham gia trò giải trí dự đoán xem cuộc sống sẽ như thế nào một trăm năm nữa được đăng trên tạp chí The Ladies Home Journal. Anh ta đã dự đoán rằng chúng ta sẽ có “khí nóng và khí lạnh thoát ra từ các vòi nước”. Chúng ta sẽ có những con tàu cao tốc đưa chúng ta “đến nước Anh trong vòng hai ngày”. “Sẽ có máy bay”, chủ yếu dùng trong quân đội, nhưng đôi khi được dùng để chuyên chở hành khách và hàng hóa. “Buổi đại nhạc kịch sẽ được truyền đến tư gia bằng điện thoại và âm thanh cũng du dương như đang thưởng thức trong nhà hát”. Các dự đoán cứ thế tiếp tục.

Watkins mô tả các dự đoán của mình có vẻ “lạ, hầu như bất khả”; nhưng, đáng chú ý là thị trường tự do, với động cơ sản xuất ra những gì con người muốn, miễn là có lợi nhuận, đã khiến cho những dự đoán của anh ta trở thành hiện thực, và hơn thế nữa.

Tuy nhiên, thị trường tự do không chỉ mang lại sự phong phú mà con người muốn có. Thị trường tự do còn tạo ra trạng thái cân bằng kinh tế hết sức phù hợp với các tổ chức kinh tế muốn thao túng hay làm sai lệch sự phán đoán của chúng ta bằng các hoạt động kinh doanh tương tự như căn bệnh ung thư bám chặt vào sự cân bằng bình thường của cơ thể con người. Máy đánh bạc là một ví dụ rõ nét. Không phải tự nhiên mà chiếc máy đánh bạc phổ biến đến mức không thể ngăn chặn được trước khi chúng bị quản lý và bị cấm. Chừng nào mà chúng ta có bất kỳ điểm yếu nào trong việc nhận biết mình thực sự muốn gì, và chừng nào mà những điểm yếu đó có thể được tạo ra và nuôi dưỡng một cách có lợi, thì thị trường sẽ chớp lấy cơ hội cho chúng ta vào tròng vì những điểm yếu đó. Thị trường sẽ soi mói và lợi dụng chúng ta. Thị trường sẽ thả câu chờ những kẻ đại ngốc mắc sai lầm.

Về khái niệm Phish và Phool

Từ phish, theo Tự Điển Anh Ngữ Oxford, xuất hiện vào năm 1996 khi trang web ra đời. Tự điển này định nghĩa phish là “lừa gạt trên Internet nhằm thu thập thông tin riêng tư của cá nhân, đặc biệt là bằng cách mạo danh một công ty có uy tín; tham gia trò lừa gạt trực tuyến bằng cách lừa “câu” thông tin cá nhân. Trong quyển sách này, chúng tôi phát triển một ý nghĩa mới và rộng hơn cho từ phish. Chúng tôi sử dụng định nghĩa của ngành tin học như một phép ẩn dụ. Thay vì xem trò lừa đảo ăn cắp thông tin trên mạng (phishing) là bất hợp pháp, chúng tôi giới thiệu một định nghĩa khái quát hơn và có liên hệ với lịch sử hơn. Định nghĩa này có liên quan đến việc khiến người ta làm những điều mang lại lợi ích cho những kẻ lừa đảo ăn cắp thông tin trên mạng (phisherman), chứ không mang lại lợi ích cho người thực hiện. Định nghĩa này có liên quan đến việc câu cá, việc thả một con mồi giả xuống nước và ngồi chờ cho con cá thận trọng nào đó bơi ngang, mắc sai lầm, và cắn câu. Có rất nhiều kẻ thả câu và họ rất tài tình tạo ra vô số con mồi giả mà theo các qui luật xác suất thì chúng ta sớm muộn gì cũng đều cắn câu, cho dù chúng ta cố gắng thận trọng đến mức độ nào đi nữa. Không một ai là ngoại lệ cả.

Theo định nghĩa của chúng tôi, kẻ đại ngốc (phool) là người, vì bất kỳ lý do gì, hoàn toàn bị mắc câu. Có hai loại kẻ đại ngốc: ngốc tâm lý và ngốc thông tin. Ngốc tâm lý cũng có hai loại. Đối với loại thứ nhất, tiếng gọi của trí khôn cơ bản của kẻ đại ngốc tâm lý bị đè nén bởi cảm xúc của họ. Đối với loại thứ hai, các sai lệch về nhận thức, tương tự như ảo giác quang học, khiến cho họ hiểu sai thực tế, và họ hành động trên cơ sở hiểu biết sai lầm đó. Mollie là một ví dụ của kẻ đại ngốc cảm xúc, nhưng không phải là kẻ đại ngốc nhận thức. Cô ta rõ ràng là tự nhận thức được tình trạng của mình trước các chiếc máy đánh bạc, nhưng cô ta không thể giúp được chính mình.

Kẻ đại ngốc về thông tin hành động dựa trên các thông tin được gọt dũa có chủ đích để đánh lừa họ. Sự tăng giá của Enron cũng căn cứ trên việc sử dụng thông tin kế toán sai lệch (và sau đó là lừa bịp). Lợi nhuận bất thường của công ty này là kết quả của phương pháp hạch toán “theo giá thị trường” (mark-to-market – MTM), theo đó lợi nhuận trong tương lai của dự án đầu tư có thể được ghi nhận ngay khi dự án đó được triển khai. Thông lệ phổ biến hơn là chờ cho đến khi lợi nhuận thực sự được sinh ra. Từ năm 1995 đến năm 2000, tạp chí Fortune công bố Enron là Công Ty Sáng Tạo Nhất quốc gia. Fortune đã đúng; chỉ có điều là các biên tập viên của tạp chí đã không hiểu được bản chất của các sáng tạo của Enron.

Các doanh nhân có đạo đức tốt (hay xấu) không phải là chủ đề của quyển sách này, mặc dù đôi lúc cả mặt tốt lẫn mặt xấu của họ sẽ cùng xuất hiện. Thay vào đó, chúng ta xem xét vấn đề cơ bản là thị trường cạnh tranh tạo ra các áp lực khiến cho người ta ít cẩn trọng hơn. Thị trường cạnh tranh rất xuất sắc trong việc khuyến khích và tán thưởng các anh hùng doanh nhân tạo ra các sản phẩm mới có tính sáng tạo phục vụ cho nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, thị trường tự do phi điều tiết hiếm khi tán thưởng loại chủ nghĩa anh hùng mà theo đó người ta tự chế ngự bản thân không lợi dụng điểm yếu tâm lý và điểm yếu thông tin của khách hàng. Do áp lực cạnh tranh, nhà quản lý nào chế ngự bản thân mình theo lối này có khả năng bị thay thế bởi người khác ít có băn khoăn về vấn đề đạo đức hơn. Xã hội dân sự và các chuẩn mực xã hội có lập ra một số cơ chế kìm hãm những hành vi lợi dụng nói trên; nhưng ở trạng thái cân bằng thị trường, nếu có một cơ hội để lợi dụng, thì ngay cả những công ty được dẫn dắt bởi tính liêm chính đạo đức thực sự cũng sẽ thường phải lợi dụng để cạnh tranh và tồn tại.

(còn tiếp) 

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “Akerlof and Shiller: Everything You Need to Know About Free-Market Manipulation”, Evonomics.com, 6/1/2016.

Tại sao chủ nghĩa tân tự do kinh tế đã hết thời?


Sebastian Buckup

Kể từ cuộc Cách mạng Nông nghiệp, tiến bộ công nghệ luôn luôn thúc đẩy các lực lượng mang tính khuếch tán và tập trung đối lập nhau. Sự khuếch tán xảy ra khi các quyền lực và đặc quyền cũ bị xói mòn; sự tập trung xảy ra khi quyền lực và tầm với của những người đang kiểm soát các năng lực mới được mở rộng. Về phương diện này, cái gọi là cuộc Cách mạng Công nghiệp lần Thứ tư sẽ không phải là ngoại lệ.

Hiện tại, mâu thuẫn giữa khuếch tán và tập trung đang gia tăng ở mọi cấp độ của nền kinh tế. Trong suốt những năm 1990 và đầu những năm 2000, thương mại tăng trưởng nhanh gấp đôi GDP, đưa hàng trăm triệu người thoát khỏi đói nghèo. Nhờ toàn cầu hoá về vốn và tri thức, các nước có thể chuyển các nguồn lực sang các lĩnh vực có năng suất và tiền lương cao hơn. Tất cả những điều này góp phần vào việc khuếch tán sức mạnh thị trường.

Nhưng sự khuếch tán này diễn ra đồng thời với sự tập trung cũng mạnh mẽ như thế. Ở cấp độ ngành, một vài ngành công nghiệp then chốt – đáng chú ý nhất là ngành tài chính và công nghệ thông tin – chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong lợi nhuận. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, ngành tài chính chỉ tạo ra 4% việc làm, nhưng chiếm hơn 25% lợi nhuận doanh nghiệp. Và một nửa trong số các công ty Mỹ có lợi nhuận từ 25% trở lên là các công ty công nghệ.

Điều này cũng xảy ra ở cấp tổ chức. 10% các doanh ngiệp có lợi nhuận cao nhất ở Mỹ có lợi nhuận cao gấp tám lần mức lợi nhuận của một doanh nghiệp trung bình. Trong những năm 1990, bội số này chỉ là 3.

Những tác động của sự tập trung như vậy giúp rất nhiều cho việc giải thích sự bất bình đẳng về kinh tế đang ngày càng gia tăng. Nghiên cứu của Cesar Hidalgo và các đồng nghiệp của ông tại MIT cho thấy, ở những nước có tập trung ngành giảm trong những thập niên gần đây, như Hàn Quốc, sự bất bình đẳng về thu nhập đã giảm. Ở những nơi mà tập trung của ngành tăng lên, như Na Uy, bất bình đẳng đã tăng lên.

Có thể thấy một xu hướng tương tự ở cấp tổ chức. Một nghiên cứu gần đây của Erling Bath, Alex Bryson, James Davis, và Richard Freeman cho thấy sự khuếch tán (hay chênh lệch – NBT) trong mức lương từ những năm 1970 có liên quan đến sự khác biệt về tiền lương giữa các công ty với nhau, chứ không phải trong nội bộ các công ty. Các nhà kinh tế học Nicholas Bloom và David Price của Stanford đã xác nhận điều này, và lập luận rằng hầu như toàn bộ sự gia tăng về bất bình đẳng thu nhập ở Mỹ bắt nguồn từ sự gia tăng khoảng cách giữa các mức lương trung bình mà các doanh nghiệp chi trả.

Những kết quả như vậy bắt nguồn từ không chỉ những thay đổi cơ cấu không thể tránh được mà còn cả các quyết định về cách xử lý những thay đổi đó. Vào cuối những năm 1970, khi chủ nghĩa tân tự do có ảnh hưởng mạnh, các nhà hoạch định chính sách trở nên ít quan ngại việc các công ty lớn chuyển lợi nhuận thành ảnh hưởng chính trị. Thay vào đó, họ lo rằng các chính phủ đang bảo vệ các công ty không có sức cạnh tranh.

Với ý nghĩ này, các nhà hoạch định chính sách bắt đầu dỡ bỏ các quy định và luật lệ về kinh tế đã được thực hiện từ sau cuộc Đại suy thoái (1929-1933), và khuyến khích các vụ sáp nhập theo chiều dọc và ngang. Những quyết định này đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra một làn sóng toàn cầu hóa mới, làm tăng sự lan rộng của tăng trưởng và thịnh vượng khắp các quốc gia, nhưng cũng đặt nền tảng cho sự tập trung của thu nhập và sự giàu có trong nội bộ từng quốc gia.

Dạng “kinh tế số” (platform economy) đang phát triển là một ví dụ. Tại Trung Quốc, công ty thương mại điện tử khổng lồ Alibaba đang dẫn đầu một nỗ lực rất lớn để kết nối khu vực nông thôn với các thị trường quốc gia và toàn cầu, bao gồm cả nền tảng Taobao kết nối người tiêu dùng với người tiêu dùng. Nỗ lực này dẫn đến sự khuếch tán đáng kể: Tại hơn 1.000 cộng đồng người Hoa ở nông thôn – cái gọi là những “Làng Taobao” – hơn 10% dân số kiếm sống bằng cách bán sản phẩm trên Taobao. Tuy nhiên, khi Alibaba xây dựng một nền kinh tế bao trùm gồm hàng triệu công ty đa quốc gia nhỏ tham gia vào nền kinh tế, Alibaba cũng đang mở rộng sức mạnh thị trường của chính mình.

Giờ đây, các nhà hoạch định chính sách cần một cách tiếp cận mới chống lại sự tập trung quá mức. Sự tập trung này có thể làm tăng hiệu quả, nhưng cũng cho phép các công ty tích trữ lợi nhuận và đầu tư ít hơn. Tất nhiên, Joseph Schumpeter có lập luận nổi tiếng là không cần phải lo lắng quá nhiều về đặc lợi của độc quyền, bởi vì sự cạnh tranh sẽ nhanh chóng xóa đi lợi thế đó. Nhưng thực tế hoạt động của các công ty trong những thập niên gần đây lại cho thấy một bức tranh khác: 80% số công ty có lợi nhuận từ 25% trở lên vào năm 2003 vẫn duy trì được mức này 10 năm sau đó. (Trong những năm 1990, tỷ trọng này vào khoảng 50%.)

Để chống lại sự tập trung như vậy, trước tiên các nhà hoạch định chính sách cần thực hiện các luật cạnh tranh thông minh hơn, không chỉ tập trung vào thị phần hay quyền định giá, mà còn vào nhiều hình thức tìm kiếm đặc lợi, từ các quy định về bản quyền và bằng sáng chế cho phép người đang giữ quyền có thể kiếm tiền từ các khám phá cũ, cho đến việc lạm dụng tầm quan trọng của họ trong mạng lưới (internet). Câu hỏi không phải là “lớn như thế nào là quá lớn”, mà là làm sao để phân biệt giữa cái lớn “tốt” và cái lớn “xấu”. Câu trả lời phụ thuộc vào cách doanh nghiệp cân bằng giữa việc chiếm giữ giá trị và tạo ra giá trị.

Hơn nữa, các nhà hoạch định chính sách cần tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các doanh nghiệp khởi nghiệp (start-ups) mở rộng quy mô. Một hệ sinh thái kinh doanh sôi động vẫn là liều thuốc giải độc hiệu quả nhất chống lại việc tìm kiếm đặc lợi. Ví dụ, các công nghệ sổ cái kỹ thuật số (digital ledger technologies)[1] có tiềm năng kiềm chế sức mạnh của độc quyền nhóm một cách hiệu quả hơn so với can thiệp chính sách nặng tay bởi nhà nước. Tuy nhiên, các nền kinh tế không thể chỉ dựa vào thị trường để tạo ra “sự sôi động” mà chủ nghĩa tư bản rất cần. Thật vậy, ngay cả khi các nhà hoạch định chính sách nói ngoài miệng là ủng hộ tinh thần khởi nghiệp, số lượng công ty mới thành lập đã giảm ở nhiều nền kinh tế phát triển.

Cuối cùng, các nhà hoạch định chính sách phải vượt qua sự cao ngạo tân tự do cho rằng những người làm việc chăm chỉ và chơi đúng luật sẽ là những người sẽ vươn cao. Xét cho cùng, mặt trái của quan điểm đó, bắt nguồn từ niềm tin cơ bản vào tác động bình đẳng hoá của thị trường, là cái mà Michael Sandel gọi là “sự ngạo mạn về khả năng”: ý tưởng sai lệch rằng sự thành công (và thất bại) của chúng ta chỉ phụ thuộc vào chính chúng ta.

Điều này có nghĩa là việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo kỹ năng, cho dù là cần thiết, sẽ không đủ để làm giảm bất bình đẳng thu nhập. Cần phải có các chính sách trực tiếp đối đầu với các bất bình đẳng về cơ cấu – từ lương tối thiểu cho đến các chương trình thu nhập cơ bản phổ quát.

Kinh tế học tân tự do đã đạt đến điểm đổ vỡ, dẫn đến việc thay thế sự chia rẽ tả-hữu về chính trị bằng một sự chia rẽ khác: giữa những người tìm kiếm các hình thức tăng trưởng hạn chế tập trung cực đoan và những người muốn chấm dứt sự tập trung bằng cách đóng cửa các thị trường và xã hội mở. Cả hai bên đều thách thức các quan điểm chính thống cũ; nhưng trong khi một bên tìm cách loại bỏ chữ “tân” khỏi chủ nghĩa tân tự do, bên kia tìm cách phá bỏ hoàn toàn chủ nghĩa tự do.

Thời đại của tân tự do đã qua. Đã đến lúc cần xác định tiếp theo sẽ là gì.

Biên dịch: Trần Hoàng Nhị | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Sebastian Buckup, “A New Course for Economic Liberalism”, Project Syndicate, 12/07/2017.

Sebastian Buckup là Trưởng ban chương trình của Diễn đàn Kinh tế Thế giới.

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần cuối


Nghiên cứu về tư bản hiện đại không phải là điều dễ dàng vì nó đòi hỏi người ta phải biết vượt qua những quan niệm cũ, những suy nghĩ cũ. Để phát triển các loại tư bản mới, không thể sa đà vào những điều nhỏ lẻ mà phải có sự tập trung cao độ và điều phối linh hoạt. Các nước đang phát triển với tư cách là đối tượng tác động của các chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô ở các nước khác, biến nước mình trở thành nơi biến các loại tiền ảo thành tiền thật của các nước khác, biến tiền ảo thành tư bản. Sự phối hợp các tư bản lại với nhau trên quy mô quốc gia, mà biên giới quốc gia thời đế quốc chủ nghĩa mở rộng ra các nước thuộc địa là yếu tố hàng đầu để hiểu được sự thiết lập các kết hợp vĩ mô với những nguồn tài nguyên cần thiết cho các hoạt động kinh tế có thể chủ động được, và do đó tạo nên được mối quan hệ khiến cho kinh tế vĩ mô hoạt động được. Nhưng thời đại mới, kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải có những biện pháp khác để giành được sự chủ động, trong đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Kinh tế học siêu vĩ mô nghiên cứu về cách điều hành kinh tế liên quốc gia, khi có những tạo phẩm phi vật thể tác động vượt qua giới hạn biên giới quốc gia và thời gian cụ thể. Nền kinh tế phải phát triển các quan hệ qua lại đến mức nào đó thì kinh tế vĩ mô mới hoạt động được. Việc tạo ra các kết hợp vĩ mô, các mối quan hệ gián tiếp vượt qua không gian và thời gian cụ thể, vai trò của các tạo phẩm phi vật thể như chính sách tiền tệ, chính sách tài chính được khẳng định, tạo nên các kết hợp xã hội hoàn toàn mới. Nền kinh tế đạt được trình độ thị trường nhất định thì kinh tế siêu vĩ mô mới hoạt động được.

Những vấn đề kinh tế siêu vĩ mô cần phải được nhìn nhận khi nó tham gia vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo và thực hiện nhiều mục tiêu xã hội khác nhau. Thực ra nó không dẫm chân lên những lý thuyết vĩ mô hiện hành. Kinh tế học siêu vĩ mô chỉ ra cách gia tăng sức mạnh kinh tế nội tại và tận dụng được sức mạnh bên ngoài, nhất là sức mạnh kinh tế toàn cầu trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay.

Nếu như kinh tế vĩ mô có khái cạnh phủ định kinh tế thị trường, điều tiết kinh tế thị trường, thì kinh tế siêu vĩ mô phủ định kinh tế vĩ mô, đưa kinh tế thị trường lên trình động mới, trình độ phát triển các kết hợp có tầm vóc xã hội hóa cao hơn. Đó là sự phủ định của phủ định. Một khi phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô thì có các hình thái cổ phần hóa mới, diễn biến nhanh chóng hơn. Uy tín là tạo phẩm phi vật thể rất quan trọng đối với doanh nghiệp khiến cho doanh nghiệp buộc phải tìm cách giữ. Nếu doanh nghiệp bị công chúng trừng phạt thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có biện pháp trừng phạt riêng. Điều hành kinh tế siêu vĩ mô có cách làm cho các doanh nghiệp trở nên năng động hơn, những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả sẽ xuống dốc không phanh giá trị cổ phiếu và ban lãnh đạo dễ bị thay thế, còn doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ được hỗ trợ để có sự phát triển phi thường. Với sự ban thưởng và trừng phạt tức khắc, khi giá cổ phiếu tăng vọt hay suy giảm rất nhanh chóng, kinh tế siêu vĩ mô đưa xã hội hoạt động sống động. Một điều đáng lưu ý là các nước thực hiện điều hành kinh tế siêu vĩ mô phát triển nhiều lý thuyết khác nhau để giải thích cho sự phát triển kinh tế vượt bậc của họ, như mô hình “đàn sếu bay” của Kaname Akamatsu ở Nhật Bản, thuyết “các giá trị châu Á” của Singapore, và có những học giả còn viện dẫn nhiều thứ trong lịch sử như những giá trị của đạo Khổng trong sự phát triển thần kỳ của châu Á. Những lý lẽ, tư tưởng này được tuyên truyền để che đậy thực chất hoạt động kinh tế hiện hành ở các tầng mức khác nhau, và người ta cố gắng tìm những luận giải trong kinh tế vĩ mô để giải thích các tiến triển kinh tế hiện đại.

Phát hiện ra các sức mạnh kinh tế mới và tìm cách thức khai thác các sức mạnh đó là nhiệm vụ của kinh tế học siêu vĩ mô, và các điều đó không theo lối mòn cũ. Khi người ta ở đỉnh cao, có những quan niệm mới, người ta có cách xử lý nhanh chóng thông tin, phân loại chúng theo các tầm vóc nào đó. Những điều đó đem lại khả năng nâng lên trình độ mới cho các chi tiết nào đó. Phát triển con người là khâu yếu nhất mà kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô không giải quyết được, vì đó là những đầu tư không sinh lợi trong ngắn hạn. Lao động của con người sản xuất ra các thặng dư kết hợp có ý nghĩa xã hội. Điều cần thiết là mở ra môi trường mới cung ứng các nguồn lực cho sự phát triển.

Sức mạnh siêu vĩ mô làm được những gì? Với chủ nghĩa tư bản, người dân bình thường không cảm nhận sức mạnh siêu vĩ mô thì càng tốt.

Nước giầu mạnh có nhiều hành vi có ý nghĩa khác với nước yếu. Mỹ nhập siêu là để tiêu tiền USD ảo. Nước khác xuất siêu là biến tiền ảo thành USD. Nước Mỹ giảm thuế cho người giầu để lấy tiền đầu tư là lý do để mở đường cho việc bơm ra một lượng tiền ảo khổng lồ cho toàn thế giới, và đẩy xã hội Mỹ giàu lên cách biệt với thế giới.

Con đường để giành được sự thống trị của tư bản trước khi tìm ra được cách thức văn minh hơn là con đường của bạo lực tàn bạo, và chiến tranh thế giới là biểu hiện tột cùng của sự tranh giành giàu có. Những thành quả của sự phát triển đòi hỏi phải có cách bảo vệ thích hợp. Có những phát minh khiến người ta luôn luôn sẵn lòng công bố như những phát minh khoa học cơ bản. Nhưng những phát minh về cách thức mới để nô dịch người khác lại bị người ta giấu nhẹm đi. Trong cuộc chiến tranh kinh tế này người ta sử dụng các phương tiện tác động có tầm siêu vĩ mô.

Chúng ta thấy những lập luận triết chung kiểu như “Ai là chủ của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Những người cấp tiến cánh tả đã miêu tả một thế giới trong đó một nhóm người cực kỳ giàu có tích trự hết các cổ phiếu giống như một ông vua trong phòng kế toán của mình. Ở bên kia là huyền thoại về “chủ nghĩa tư bản nhân dân” do thị trường chứng khoán New York đưa ra, trong thế giới mộng tưởng này, mọi người đều có cổ phần và sẽ bỏ phiếu để bảo vệ tư hữu tài sản và lợi ích tư bản. Thực tế nằm ở một điểm nào đó giữa hai thái cực trên”. Nhưng miêu tả này hiện nay không đúng. Các trùm tư bản tạo ra tiền ảo. Việc nắm giữ cổ phiếu là ở trình độ quá thấp so với chủ nghĩa tư bản hiện đại. Khi sản xuất được tiền ảo thì muốn nắm giữ bao nhiêu cổ phiếu mà chẳng được, vì thế không nhất thiết phải giữ cổ phiếu để làm gì.

Kinh tế học siêu vĩ mô đem lại cách giải thích mới cho những vấn đề cũ như là tham nhũng chẳng hạn. Người ta không mất những gì người ta không có. Cái mà thất thoát đối với kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô thì đối với kinh tế siêu vĩ mô lại không mất đi đâu cả. Cái thất thoát đó tìm được sự hiện hữu. Vai trò của tiền ảo là tạo ra nạn tham nhũng của các nước trên thế giới đang phát triển, và đó là sự chia rẽ xã hội, không tạo nên được sự nhất trí trong xã hội đó và làm hạn chế tốc độ phát triển. Tham nhũng là công cụ chia để trị của tư bản đối với một xã hội, không để cho xã hội đó phát triển việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô nhằm phục vụ sự phát triển của mình đuổi kịp các nước phát triển, và xã hội đó muốn phải triển phải phục vụ lợi ích của tư bản của các nước phát triển hơn. Làm giầu trong thời đại ngày nay không phải là một tiến trình tự phát mà là tiến trình có sự chỉ đạo của chủ thể điều hành siêu vĩ mô.

Chừng nào một xã hội không phát triển điều hành kinh tế siêu vĩ mô, thì xã hội đó không tự mình quyết định được tương lai của mình. Những nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có nhiều đảng phái khác nhau thường xuyên có sự thay đổi chính phủ vì chính phủ bất tài, không giải quyết được những vấn đề kinh tế gai góc đang hiện diện chứ không nói đến việc phát triển đuổi kịp các nước phát triển.

Nghiên cứu về các khủng hoảng, nghiên cứu về việc sử dụng kinh tế học siêu vĩ mô cho sự sử dụng vào các mục đích xã hội là các chủ đề quan trọng. Vấn đề tốc độ phát triển là một chủ đề đáng quan tâm.

Các cuộc khủng hoảng là sự xuất hiện của các loại tư bản mới, chèn ép các loại tư bản cũ, khẳng định vị thế chi phối, thống trị của chúng. Kinh tế học siêu vĩ mô tạo nên cơ chế hữu hiệu chống lại sự rủi ro bằng cách tìm ra những cách thức bù đắp lại sự rủi ro.

Đối với những nước đang phát triển chịu sự chi phối của các học thuyết kinh tế hiện nay, trong khi loay hoay tư bản vi mô bóc lột hay không bóc lột thì người ta để sổng luôn tư bản siêu vĩ mô và thặng dư kèm theo nó rơi vào tay tư bản nước ngoài. Cần phải có cách phân tích kinh tế để đưa những gì người ta vẫn quan niệm về kinh tế đến những giới hạn để thấy được rất nhiều sự vô căn cứ trong các quan niệm kinh tế đương thời, như quan niệm về hiệu quả kinh tế, về số lượng tiền cần thiết cho một xã hội, về cách chủ thể nào đó tạo nên được tiền mới…

Kinh tế học siêu vĩ mô xuất phát từ nên kinh tế thị trường hiện đại khi có rất nhiều thứ vật thể, phi vật thể, nhiều nguồn sản xuất ra các loại vật thể và phi vật thể tham gia vào quá trình trao đổi. Chính vì không thấy được nhiều loại hàng hóa hoàn toàn mới trên thị trường, nên nhiều nhà kinh tế đã bị hụt hơi trước sự phát triển của thực tiễn. Các nhà tư bản sẽ nói với các nhà kinh tế đó rằng: “Chúng tôi hoan nghênh tất cả những quan điểm mà đem lại sự bảo vệ quyền lợi và thống trị của chúng tôi. Các anh có lý thuyết dẫn đường để bảo vệ quyền lợi của các anh trong cuộc đấu tranh với chúng tôi, nếu các anh muốn nói như vậy, nhưng thực chất chúng lại bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của chúng tôi vì cái mà các anh muốn giành được từ chúng tôi thì lại là cái ảo, mà lúc nào chúng tôi cũng có sẵn không mất mấy công sức để tạo ra, còn các anh phải lao tâm khổ tứ, cố gắng giành giật, huy động hết sức người, sức của của các anh. Các anh càng tiết kiệm những gì các anh phải mua từ chúng tôi, phải mua từ bên ngoài và ra sức phát huy nội lực, sử dụng tài nguyên của các anh để đạt được tiền ảo thì càng tốt cho chúng tôi, càng đúng với ý đồ của chúng tôi. Hãy lao động chăm chỉ, sử dụng hết sức mình, sử dụng các thành quả của mình, chúng tôi mong đợi và hoan nghênh các anh”. “Chùng nào các anh không hiểu được tiền ảo, thự chất tiền ảo mà phải tự mình tổ chức lấy việc sản xuất ra tiền ảo, đưa tiền ảo đó thâm nhập được vào phía chúng tôi, dùng những biện pháp đó để giải quyết những vấn đề với chúng tôi thì chừng đó các anh là những nô lệ tự nguyện cho chúng tôi”.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Kinh tế học siêu vĩ mô – Phần X


Kinh tế học siêu vĩ mô đem lại bức tranh hoàn toàn khác về nền kinh tế thế giới, trong đó những thế lực hùng mạnh chi phối nền kinh tế thế giới lại nằm trong bóng tối và thiết lập các luật chơi mới cho toàn thế giới. Những luật lệ này dần dần được nhận thức từng mảng một. Hiệu quả đối với kinh tế siêu vĩ mô không phải khả năng đem lại tiền bạc, vì cần bao nhiêu tiền thì kinh tế siêu vĩ mô có thể sản xuất ra nhanh chóng và tức khắc. Kinh tế siêu vĩ mô có thể sản xuất ngay tức khắc một lượng tiền ảo khổng lồ, đơn giản như việc sửa một con số bé thành một con số to trên tờ ngân phiếu, hay thêm một số không vào cuối dãy số trên tờ ngân phiếu. Hiệu quả là ở chỗ không phải đem lại được các kết hợp mới, càng mới về nguyên tắc càng tốt, vì đó là những lĩnh vực có nhiều rủi ro mà kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô không thể chịu được.

Phân tích đúng bản chất của tiền tệ hiện đại thì sẽ tìm ra được các giải pháp hiện đại cho vấn đề đang được mở ra. Điều dễ hiểu là khi nhiều loại tạo phẩm phi vật thể tham gia vào quá trình trao đổi và đóng vai trò trọng yếu đối với nền kinh tế thì không một hàng hóa vật thể nào có đủ tư cách là vật ngang giá chung nữa. Vàng rực rỡ và chói lọi đã mất vai trò là hàng hóa tiền. Và tiền hiện nguyên hình là một loại tạo phẩm phi vật thể xã hội đặc biệt mà người ta cần phải có nhận thức mới. Trong kinh tế vi mô, tiền tùy thuộc vào các hàng hóa khác. Trong kinh tế vĩ mô, tiền chi phối các hàng hóa khác. Sự phân tích kỹ các loại tạo phẩm vĩ mô và siêu vĩ mô sẽ đem lại những kiến giải mới về nền kinh tế, đem lại những kiến thức mới về tiền tệ, về điều hành kinh tế ở nhiều tầng mức khác nhau. Kinh tế học vĩ mô đem lại thuộc tính mới cho đồng tiền. Điều hành kinh tế vĩ mô thống nhất tiền tệ, đảm bảo giá trị tiền tệ. Kinh tế học siêu vĩ mô đưa lại cách phân loại mới về nền kinh tế, về các ngành nghề của nền kinh tế. Trong kinh tế siêu vĩ mô, tiền mở đường cho sự ra đời của những loại hàng hóa hoàn toàn mới, chưa từng được biết đến, tạo nên được các kết hợp xuyên quốc gia. Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải có những lý luận mới nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn, từ việc thiết lập các chủ thể mới ở tầm tương xứng đến việc sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể, sản xuất ra các loại tư bản ở tầm đó.

Tiền tệ là sức mạnh kết hợp của xã hội. Vì vậy một khi có những sức mạnh kết hợp mới của xã hội thì tiền sẽ có sự gia tăng về lượng. Khi có các tạo phẩm phi vật thể vĩ mô tác động, tiền có sức mạnh gắn kết mới, tác động đến sản lượng và làm được nhiều điều khác. Tiền là sức mạnh xã hội dùng để điều hành sản lượng quốc gia. Người ta đã tạo ra cho tiền sức mạnh đó. Mỗi thời đại người ta gán cho tiền chức năng mới và có sức mạnh mới. Những đồng tiền mạnh trên thế giới tạo nên được các gắn kết siêu vĩ mô.

Tiền là phương tiện lưu thông phải được bơm vào và rút ra như thế nào đó để sự phát triển kinh tế gặp thuận lợi. Tiền là thước đo xã hội. Tiền là một tạo phẩm có ý nghĩa xã hội, có sức mạnh xã hội. Một khi một thế lực nào đó có sức mạnh xã hội, chi phối được tiến trình sản xuất ra các tạo phẩm vật thể và phi vật thể xã hội thì thế lực đó sản xuất ra được tiền. Sức mạnh của tiền tùy thuộc vào các chủ thể sử dụng tiền. Chủ thể vi mô không sử dụng tiền ở mọi cấp độ của tiền được, chủ thể vĩ mô sử dụng tiền để liên quan tới các tổ chức, các tạo phẩm vật thể và phi vật thể có quy mô vĩ mô. Chủ thể siêu vĩ mô có thể dùng được mọi loại tiền ở các tầng cấp liên quan tới các tổ chức lớn, đa quốc gia. Trong việc tiền tệ hóa các tạo phẩm phi vật thể, tiền tệ hiện đại có chức năng mới, ngoài chức năng thước đo giá trị, chức năng thanh toán, là chức năng mở rộng giá trị, khuếch đại giá trị, lan tỏa giá trị. Khi giá cả của tạo phẩm phi vật thể không phải là thứ mua đứt bán đoạn, chẳng hạn một bài hát vẫn được trả tác quyền khi có ca sĩ sử dụng, khiến cho không thể xem xét nó như một hàng hóa vật thể có giá cụ thể nào đó. Bởi vì các tạo phẩm phi vật thể đã đóng vai trò thiết yếu trong đời sống kinh tế xã hội nên những học thuyết cũ đã không còn đúng nữa.

Sự có mặt của các tạo phẩm vĩ mô và siêu vĩ mô làm cho tiền tệ bộc lộ ra những thuộc tính hoàn toàn mới. Những tạo phẩm này không thể nhìn nhận theo cách thức của những tạo phẩm vi mô là những thứ người ta có thể nắm lấy và lôi đi. Việc gia tăng lượng tiền để sản xuất ra những tạo phẩm loại này và tác động ngược lại của chúng đối với nền kinh tế là những điều chưa được nghiên cứu, chưa được làm sáng tỏ, nhưng một điều chắc chắn rằng tầm nhìn vĩ mô và vi mô không đem lại một cái nhìn thực chất về những điều đó.

Cùng một đồng tiền thì tùy thuộc vào chủ thể sở hữu đồng tiền đó mà có đẳng cấp khác nhau. Kinh tế siêu vĩ mô có cách thức bơm tiền vào và rút tiền ra đặc thù, thông qua nhiều biện pháp và nhiều thị trường, như thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán.

Bản chất của tiền là biểu hiện của một dạng phi vật thể mà cho phép con người tạo nên được các kết hợp giữa người với người, giữa người với vật, và giữa các vật với nhau. Tiền đóng vai trò mở rộng tầm hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế hiện đại. Tầng mức siêu vĩ mô đem lại cho tiền một chức năng mới, chức năng tạo nên những kết hợp siêu vĩ mô, bảo tồn và sao chuyển giá trị.

Mối quan hệ giữa tiền ảo và tiền thật tùy thuộc vào trình độ phát triển của các xã hội. Tùy từng đối tượng tạo ra tiền ảo mà tỷ giá trao đổi của tiền ảo và tiền thật khác nhau. Trong mọi trường hợp, tiền ảo luôn luôn được định giá thấp hơn. Tùy từng giai đoạn, tùy từng xã hội mà có quan hệ tỷ giá khác nhau. Động thái biến chuyển của tỷ giá hối đoái là điều không định trước được. Các nhân tố trong lạm phát phải tính đến sự đánh giá thấp của tiền ảo.

Tiền ảo không ngừng mở rộng công dụng của nó. Tiền là tạo phẩm xã hội thiết tạo nên các tạo phẩm vi mô, vĩ mô, siêu vĩ mô. Đó là công dụng mới của tiền. Tiền ảo là công cụ để khai thác các nguồn lực tiềm ẩn, là công cụ được sử dụng để duy trì, nuôi dưỡng các loại thị trường.

Tiền ảo là thước đo thặng dư kết hợp, thước đó sự lan tỏa, phát tán, của các kết hợp trong xã hội. Mở ra hoạt động điều hành kinh tế siêu vĩ mô tức là mở ra các hoạt động mới mà vượt trước các loại kết hợp mới trong xã hội. Vì thế cần phải làm gia tăng lượng tiền ảo trong xã hội.

Tiền có vai trò rất khác nhau trong các tầng mức siêu vĩ mô, vĩ mô và vi mô. Đồng tiền của chủ thể siêu vĩ mô làm được những việc rộng hơn đồng tiền của chủ thể vĩ mô, đồng tiền của chủ thể vĩ mô làm được những việc rộng hơn đồng tiền của chủ thể vi mô. Sự khác nhau về tầm tác dụng của những đồng tiền này là điều mà khoa kinh tế trước đây không đề cập đến. Các đồng tiền do các chủ thể kiếm được hay sản xuất ra tạo ra được các kết hợp tương ứng với tầm của mình. Đồng tiền của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có thể mua bán, sáp nhập các đại công ty, có thể thực hiện việc chuyển nhượng các bí quyết công nghệ trình độ cao.

Khi gia tăng lượng tiền vào các tạo phẩm siêu vĩ mô và vĩ mô một cách kín đáo thì sẽ làm hoạt động vĩ mô thay đổi về quy mô và chủng loại, và có biện pháp kìm giữ các loại mặt bằng giá ở mức thấp. Công việc điều hành kinh tế siêu vĩ mô, và điều hành kinh tế vĩ mô chính là việc giữ cho cái gì đó ở tầm kiểm soát được. Cách thức bơm tiền vào nền kinh tế của hoạt động siêu vĩ mô khác với cách thức bơm tiền vào nền kinh tế của hoạt động vĩ mô và vi mô. Cách thức đó là bơm tiền vào các cổ phiếu.

Chỉ số giá tiêu dùng liên quan tới những mặt hàng nhất định hầu như thuộc các lĩnh vực vi mô. Khi một lượng lớn tiền ảo bơm vào nền kinh tế, bơm vào các tạo phẩm vĩ mô và siêu vĩ mô, thì có kích chỉ số tiêu dùng vi mô lên hay không, hay là chuyển sang chất lượng mới của các thứ vi mô. Đây là vấn đề thực chất để phản bác lại các quan điểm của những nhà kinh tế vĩ mô và vi mô lo ngại sự bơm tiền vào nền kinh tế.

Dưới góc độ kinh tế vĩ mô và vi mô, không thấy mối tương quan nào giữa việc bơm tiền vào nền kinh tế của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô, nhưng dưới góc độ siêu vĩ mô thì thấy có tương quan, còn tương quan như thế nào thì tùy vào mức độ hoạt động thực tiễn, tùy vào sự điều hành cụ thể của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô mà có những tương quan nào đó, trong không gian nào đó.

Đồng tiền phải đi kèm với tư bản đại diện cho nó sống động, mà phát huy tác động có khả năng sinh sôi và phát triển chứ không phải bị tiêu hủy và mất đi, thì mới bảo đảm được giá trị của nó. Trong một xã hội mà sự phân rã, phá hủy, chiếm ưu thế, như trong chiến tranh, khủng hoảng, hay sai lầm của các chính sách, đồng tiền mất giá nghiêm trọng vì số lượng tài sản bị tiêu hao, hoặc tư bản để sản xuất ra các tài sản không cần thiết cho thời bình như bom đạn, xe tăng, máy bay, trở nên quá thừa, vì thế đồng tiền cần có sự hạn chế về lượng. Trong một xã hội mà kết hợp chiếm ưu thế, đang mở ra những triển vọng mới thì đồng tiền gia tăng sức mạnh của nó, cần thiết phải có sự tăng trưởng về lượng. Khi lượng tiền có quá nhiều và các tài sản đã bị phá hủy và không được dùng đến, trở nên vô dụng, không có hiệu quả, chẳng hạn do tình huống chiến tranh hay do đầu tư sai lầm thì nảy sinh ra hiện tượng đồng tiền mất giá.

Nếu tốc độ lạm phát tăng chậm hơn tốc độ tăng thu nhập thì xã hội không có những biến động. Hơn nữa, phân tích về lạm phát không tính đến những tạo phẩm phi vật thể mới được tạo ra trong các hàng hóa và dịch vụ làm cơ sở để tính chỉ số giá cả. Nếu tính đến những tạo phẩm phi vật thể này thì lạm phát thấp hơn là những tính toán đã đưa ra. Để phòng chống lạm phát, kinh tế siêu vĩ mô đòi hỏi phải phát triển được các loại tư bản mới có đẳng cấp cao hơn. Giá dầu tăng hiện nay không ảnh hưởng nhiều đến các nước phát triển vì họ có nhiều có thể được chỉ ra khi có lý do chính đáng và họ có những tư bản đẳng cấp cao hơn để làm phao an toàn cho các lượng tiền đó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.