Kinh tế học 2.0 trong thực tế – Phần cuối


6/ Tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi đáng kể về việc làm. Bản chất của công việc thay đổi nhanh chóng.

Bảng X: Thay đổi trong công việc của phụ nữ

Vào năm 1900, việc giặt giũ tại 98% hộ gia đình mất 4 giờ lao động để giặt một khối lượng 38 pound, cùng với 4 – 5 giờ ủi. Với việc sử dụng thiết bị điện, thời gian đã giảm xuống còn 41 giặt sấy và 1,75 giờ ủi.

Bảng Y: Những công việc đã biến mất, và những việc làm mới được tạo ra

Kỹ thuật và công nghệ mới giúp cải thiện năng suất và đã làm thay đổi một cách cơ bản việc con người có thể lao động bằng cách nào, ở đâu và bao nhiêu. Theo báo cáo được trích dẫn ở trên: “năng suất cũng cho phép người Mỹ giảm số giờ làm việc trung bình trong một tuần: từ 76 giờ vào năm 1830 xuống còn 60 giờ vào năm 1890, 39 giờ vào nă 1950 và ngày nay chỉ còn 34 giờ”.

Những lợi ích về năng suất này có thể làm mất đi nhiều công việc, nhưng chúng cũng tạo ra nhiều công việc mới và những ngành công nghiệp hoàn toàn mới.

Từ năm 1979 đến năm 2003, người Mỹ đã nộp hơn 114 triệu đơn yêu cầu thất nghiệp, một con số chỉ phản ánh một phần nhỏ số lượng việc làm đã mất đi. Tuy nhiên, trong cùng thời kỳ này, Mỹ đã tạo ra đủ việc làm cho một lực lượng lao động ngày càng tăng, với tổng số việc làm tăng từ 91 triệu lên 130 triệu.

Trong thập kỷ qua, kỷ nguyên của sự thay đổi công nghệ nhanh chóng và toàn cầu hóa, các ngành nghề dựa vào kỹ năng con người và trí thông minh cảm xúc đã tạo ra một mức tăng rất lớn về công ăn việc làm. Chúng ta đã tăng thêm 512.000 y tá có đăng ký hành nghề và 248.000 người tư vấn dịch vụ tài chính. Những người khác làm các nghề đang tăng trưởng bao gồm luật sư, chuyên viên tư vấn giáo dục và nghề nghiệp và người làm việc trong ngành giải trí.

Thập kỷ vừa qua cũng chứng kiến sự gia tăng trong công việc liên quan đến trí tưởng tượng và sự sáng tạo – nhà thiết kế, kiến trúc sư, nhiếp ảnh gia, diễn viên và đạo diễn. Ngành chuyên viên tạo mẫu tóc và chuyên viên thẩm mỹ tăng 146.000 việc làm. Nhiều ngành nghề sử dụng lý luận phân tích cũng tiếp tục phát triển, nhưng các công việc vận hành máy tính và các ngành nghề khác đã bắt đầu sụt giảm.

Các ngành nghề đang mất dần đi này nói chung là những ngành có liên quan đến sức mạnh cơ bắp, sự khéo léo và sự thông minh có tính công thức. Ví dụ như số lượng thư ký và nhân viên đánh máy đã giảm 1,3 triệu so với năm 1992, khi ngày càng có nhiều máy tính, máy in, thư thoại (voice mail) và các loại máy văn phòng khác bước vào công sở. Số nhân viên vận hành máy đã giảm 347.000, số nông dân giảm 182.000.

 

Ngành nghề Mức tăng số lao động

1992 – 2002

(Đơn vị: nghìn người)

Tỷ lệ tăng trưởng

1992 – 2002 (%)

Kỹ năng con người/Trí thông minh cảm xúc
Y tá 512 28
Dịch vụ tài chính 248 78
Luật sư 182 24
Tư vấn giáo dục và hướng nghiệp 48 21
Ngành giải trí 35 37
Trí tưởng tượng/Tính sáng tạo
Nhà thiết kế 230 43
Nhà tạo mẫu tóc và chuyên gia thẩm mỹ 146 19
Kiến trúc sư 60 44
Nghệ sĩ và đạo diễn 59 61
Nhiếp ảnh gia 49 38
Kỹ năng lập luận phân tích
Tư vấn pháp luật 159 66
Kỹ sư điện tử 147 28
Nhà khoa học y khoa 22 33
Kỹ sư luyện kim -2 -8
Vận hành máy tính -367 -55
Trí thông minh có tính công thức
Kế toán chi phí và tiền lương -16 -24
Kỹ thuật viên y tế -36 -63
Tổng đài viên điện thoại -98 -45
Kế toán sổ sách cơ bản -247 -13
Thư ký và nhân viên đánh máy -1305 -30
Sự khéo léo tay chân
Người tạo ra công cụ lao động -30 -23
Người điều hành máy tiện -30 -49
Thợ sắp chữ -34 -62
Người bán thịt -67 -23
Công nhân vận hành máy may -347 -50
Sức mạnh cơ bắp
Công nhân thu gom rác -2 -4
Công nhân bốc dỡ -3 -17
Ngư dân -14 -27
Thợ lâm trường -25 -32
Nông dân -182 -20

Bảng Z: Một góc nhìn khác về sự phát triển của công việc

Ngành nghề Tỷ lệ trong việc làm của Mỹ năm 1910 (%) Tỷ lệ trong việc làm của Mỹ năm 2000 (%)
Chuyên viên kỹ thuật 4 23
Ngành dịch vụ 3 13
Thư ký 5 17
Giám đốc, quan chức, chủ sở hữu 6 14
Nhân viên bán hàng 4 6
Thợ thủ công, quản đốc 11 10
Thợ máy 15 10
Lao động chân tay 10 3
Người làm việc nhà 5 1
Nông dân 15 1
Lao động nông nghiệp 17 1

Bảng trên cho thấy sự phân bổ lại lao động một cách mạnh mẽ diễn ra trong giai đoạn từ 1910 đến 2000.

Bảng AA: Công việc trên thị trường, Công việc nhà và Thời gian rảnh rỗi

Năm Công việc trên thị trường Công việc phi thị trường Tổng cộng
1965 34,24 23,52 57,76
1975 32,13 20,30 52,43
1985 32,13 20,64 52,77
1993 34,02 17,94 51,96
2003 33,01 18,00 51,01
Sự khác biệt giữa 2003 so với 1965 -1,23 -5,52 -6,75

Bảng trên cho thấy số giờ trung bình hàng tuần dành cho việc làm thuộc về thị trường và việc làm phi thị trường (công việc nhà) cho người trưởng thành ở Mỹ từ năm 1963 đến năm 2003. Thời gian cần thiết dành cho công việc nhà sụt giảm là một lợi ích quan trọng của tăng trưởng kinh tế.

Bảng AB: Công việc phi thị trường tại Mỹ so với Đức

Quốc gia/giới tính Công việc trên thị trường Công việc phi thị trường Thời gian rảnh rỗi
Mỹ, lao động nam 39,1 14,1 114,4
Đức, lao động nam 35,2 17,9 113,7
Mỹ, lao động nữ 25,4 26,8 115,4
Đức, lao động nữ 17,7 36,1 113,3

Dữ liệu của Đức là từ Tây Đức trong giai đoạn 1991 – 1992; dữ liệu của Mỹ là từ một cuộc khảo sát năm 1994. Cả hai bộ dữ liệu đều cho một tuần làm việc trung bình. Dữ liệu cho thấy mặc dù người Đức làm việc ít hơn trên thị trường, thời gian rảnh rỗi của họ lại bị hạn chế bởi công việc phi thị trường (việc nhà).

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.

Kinh tế học 2.0 trong thực tế – Phần VII


Bảng Q: Tác động của Chủ nghĩa Cộng sản

Quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản GPD bình quân đầu người (USD) Quốc gia phi cộng sản tương ứng GDP bình quân đầu người (USD)
Bắc Triều Tiên $700 Hàn Quốc $13.590
Trung Quốc $3.130 Đài Loan $14.170
Việt Nam $1.630 Philippines $3.520
Campuchia $1.290 Thái Lan $6.690
Georgia $1.960 Thổ Nhĩ Kỳ $6.350
Nga $4.370 Phần Lan $20.150
Bulgaria $4.010 Hy Lạp $12.769
Slovenia $11.800 Italy $20.290
Hungary $7.200 Áo $22.070
Cộng hòa Cezch $10.510 Đức $21.260
Ba Lan $6.520 Thụy Điển $19.790
Cuba $3.100 Mexico $8.730

Bảng R: Lòng tin và tiêu chuẩn sống

Chỉ số lòng tin trong một xã hội bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm văn hóa, lịch sử, quy tắc và các thể chế pháp lý. Nhưng cho dù chỉ số lòng tin của xã hội bị ảnh hưởng bởi điều gì đi nữa thì đều có bằng chứng mạnh mẽ rằng mức độ lòng tin cao mang lại lợi ích kinh tế to lớn.

William Easterly đã viết:

Giả sử chúng ta đo lường mức độ lòng tin theo tỷ lệ người trả lời “có” cho một câu hỏi khảo sát rằng: nói chung, hầu hết mọi người đều có thể đáng tin cậy. Các quốc gia có chỉ số lòng tin rất cao có mức thu nhập bình quân đầu người cao gấp 5 lần mức thu nhập của các quốc gia có chỉ số lòng tin rất thấp. Ở Đan Mạch giàu có, nơi có chỉ số niềm tin rất cao, đến nỗi các bà mẹ dám để con cái không cần trông chừng trong khi họ đi mua sắm trên đường phố, có đến 58% nói rằng họ có thể tin tưởng vào con người. Trong khi ở nước Philippines nghèo hơn, con số này chỉ có 5%.

Bảng S: Tác động của các định chế tài chính đến tiêu chuẩn sống

Đặc điểm của định chế Lợi thế của truyền thống Thông luật so với truyền thống Dân luật
Tính minh bạch của kế toán doanh nghiệp 30%
Hiệu quả thực thi hợp đồng 20%
Hiệu quả thực thi quyền tài sản 50%
Tính thượng tôn pháp luật 50%

Một nguồn tài sản vô hình khác xuất hiện dưới dạng các thể chế tài chính và pháp lý có lợi cho hoạt động kinh tế sản xuất.

Bảng T: Chủ nghĩa dân chủ và Tiêu chuẩn sống

Xếp hạng các nước theo Chủ nghĩa dân chủ Thu nhập đầu người trung bình vào năm 2002 (USD)
Nhóm 25% cuối $1000
Nhóm 25% thứ hai $1600
Nhóm 25% thứ ba $3700
Nhóm 25% cao nhất $12000

Bảng U: Sự khác biệt về năng suất lao động giữa các quốc gia

Quốc gia Năng suất lao động của ngành bán lẻ, so với Mỹ (%) Năng suất lao động của ngành xây dựng nhà ở, so với Mỹ (%)
Mỹ 100 100
Nhật 50 45
Hàn Quốc 32 70
Ba Lan 24 25
Nga 24 8
Brazil 14 35
Ấn Độ 6 8

Các quy định và quy tắc có thể có tác động mạnh đến năng suất. Bảng này cho thấy rằng so với Mỹ, các nước khác sử dụng nhiều lao động hơn trong lĩnh vực bán lẻ và xây dựng. Điều này cho thấy có rào cản trong việc áp dụng các giải pháp tốt nhất trong hai ngành nói trên. Quyển sách của Lewis liệt kê nhiều rào cản do luật lệ tạo ra.

5/ Một trong những yếu tố vô hình là môi trường kinh doanh. Việc thành lập doanh nghiệp hợp pháp càng khó khăn bao nhiêu thì tiêu chuẩn sống của quốc gia đó càng thấp bấy nhiêu.

Nghiên cứu được tóm tắt trong bảng V dưới đây xem xét thời gian và chi phí để có được tư cách pháp lý để vận hành một công ty ở các quốc gia khác nhau. Thời gian được ítnh bằng ngày và chi phí được tính theo tỷ lệ GDP bình quân đầu người ở nước đó.

Các tác giả của nghiên cứu nhận thấy rằng:

Quy định chặt chẽ hơn về việc gia nhập thị trường thường đi đôi với tham nhũng nhiều hơn và nền kinh tế phi chính thức lớn hơn, mà không có tương quan với chất lượng hàng hóa tư nhân hoặc công cộng tốt hơn. Chúng tôi cũng thấy rằng các Chính phủ ít dân chủ hơn và can thiệp nhiều hơn sẽ điều tiết, giám sát việc gia nhập thị trường chặt hơn, thậm chí kiểm soát cả mức độ phát triển kinh tế.Quy mô của khu vực kinh tế phi chính thức (informal sector) được đo bằng tỷ lệ ước tính so với GNP, là một chỉ số đo lường sự yếu kém về thể chế. Nền kinh tế ngầm (underground economy) càng lớn thì càng có nhiều khả năng rằng quyền sở hữu tài sản không được đảm bảo. Sự thiểu vắng quyền sở hữu tài sản an toàn khiến cho hoạt động thị trường chợ đen hấp dẫn hơn.Các ước tính trong bảng cho thấy quyền sở hữu tài sản không an toàn và sự kém phát triển có khuynh hướng đi cùng nhau. So sánh theo từng cặp, các quốc gia và khu vực có nền kinh tế ngầm chiếm tỷ trọng lớn trong GDP có xu hướng nghèo hơn các quốc gia/khu vực nơi mà người ta có thể vận hành một doanh nghiệp hợp pháp dễ dàng hơn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.

Kinh tế học 2.0 trong thực tế – Phần VI


3/ Sự chênh lệch về mức sống trung bình giữa các quốc gia đã mở rộng, khi sự tăng trưởng tiếp tục gia tăng ở các nước giàu, còn các nước nghèo nhất thì cực kỳ trì trệ.

Bảng N: Các nước giàu và các nước nghèo

Một khi các quốc gia bắt đầu một con đường tăng trưởng ổn định, họ sẽ thịnh vượng hơn nhiều so với các nước nghèo không tăng trưởng ổn định. Như Lant Prichett đã chỉ rõ:

Được đo bằng các thuật ngữ ngang bằng sức mua… tỷ lệ thu nhập bình quân đầu người (per capita income) của các quốc gia giàu nhất (Mỹ) so với thu nhập bình quân đầu người trung bình của các nước nghèo nhất đã tăng từ khoảng 9 lần (2181 USD so với 250 USD) vào năm 1870  đến hơn 50 lần (16.779 USD so với 325 USD) vào năm 1960.

Trong giai đoạn giữa năm 1960 và 1990, thu nhập tăng bình quân 2,6%/năm ở các nước OECD, và 1,8% ở các nước khác. 43% các quốc gia nghèo đã phát triển chậm hơn so với các quốc gia OECD phát triển chậm nhất; 70% các quốc gia nghèo đã tăng trưởng chậm hơn so với các quốc gia OECD trung bình.

Bảng O: Các quốc gia giàu và các quốc gia nghèo

Theo David Henderson và Charley Cooper: “900 triệu người sống ở 28 nước có thu nhập cao, với thu nhập bình quân đầu người hàng năm là 9.361 USD hoặc cao hơn. Trong khi đó 3,5 tỷ người trong số 6,1 tỷ người trên thế giới ống ở các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 760 USD/năm. Trong số này, 1,2 tỷ người sống ở các nước có thu nhập trung bình thấp hơn 1 USD/ngày. Chuẩn nghèo chính thức ở Mỹ còn cao gấp 20 lần con số đó”.

4/ Phần lớn sự khác biệt về mức sống của các quốc gia không phải do các yếu tố hữu hình như tài nguyên hay vốn. Các yếu tố vô hình, những gì được chúng ta gọi là các giao thức (protocol), dường như có vai trò quan trọng hơn trong việc giải thích sự khác biệt này.

Bảng P: Tài sản vô hình trên toàn thế giới

Nhóm thu nhập Của cải bình quân đầu người (USD) Tỷ lệ nguồn tài nguyên tự nhiên (%) Tỷ lệ nguồn vốn được sản xuất (%) Tỷ lệ nguồn vốn vô hình (%)
Các nước có thu nhập thấp $7.532 26 16 59
Các nước có thu nhập trung bình $27.616 13 19 68
Các nước có thu nhập cao $439.063 2 17 80
Thụy Sĩ $648.241 1 15 84
Đan Mạch $575.138 2 14 84
Thụy Điển $513.424 2 11 87
Mỹ $512.612 3 16 82
Đức $496.447 1 14 85
Niger $3.695 53 8 39
Congo $3.516 265 180 -346
Burundi $2.859 42 7 50
Nigeria $2.748 147 24 -71
Ethiopia $1.965 41 9 50

Khi nghĩ về của cải hay sự giàu có (wealth), nhiều người nghĩ đến những thứ họ có thể chạm vào và cảm nhận, chẳng hạn như nhà cửa hoặc tài sản cho thuê. Hoặc họ nghĩ vè chứng khoán, chẳng hạn như cổ phiếu và trái phiếu, đại diện cho cổ phần trong các công ty có văn phòng và nhà máy khổng lồ. Đó là những của cải hữu hình. Nhưng sự giàu có còn có thể có nhiều hình thức khác, đôi khi là vô hình. Thật vậy, các hình thức quan trọng nhất của sự giàu có là vô hình.

Là một cá nhân, sự giàu có hay của cải của bạn có thể bao gồm một số nguồn như: đất đai thuộc sở hữu của bạn (vốn tự nhiên); tài sản tài chính cho phép bạn hưởng lợi nhuận từ các khoản đầu tư vào nhà máy và thiết bị kinh doanh (vốn sản xuất); và vốn vô hình, bao gồm giá trị của các kỹ năng và học vấn đề bạn làm việc cũng như chất lượng của các thể chế kinh tế tại quốc gia nơi bạn sinh sống. Lưu ý rằng mức của cải bình quân đầu người ở các quốc gia có thu nhập cao (khoảng 25 quốc gia thuộc khối OECD) cao hơn 15 lần mức của cải bình quân của những quốc gia giàu có không thuộc khối OECD; và cao hơn 50 lần so với các nước nghèo nhất không thuộc khối OECD. Bạn cũng nên lưu ý về tỷ lệ rất cao của phần vốn vô hình trong tổng thể của cải tại những quốc gia giàu có.

Của cải vô hình được tính là một “giá trị thặng dư” (residual). Điều này có nghĩa là nó thể hiện sự khác biệt giữa giá trị sản lượng quốc gia và giá trị được sản xuất bởi lao động không có tay nghề, dựa trên tài nguyên thiên nhiên và vốn sản xuất của quốc gia đó.

Hàng trăm ngàn USD của cải vô hình bình quân đầu người ở châu Âu hoặc Mỹ phản ánh nguồn “vốn nhân lực” (human capital), bao gồm giáo dục và bí quyết việc làm. Đó là giá trị của các công thức mà chúng ta đã tích lũy để tạo điều kiện cho sản xuất và trao đổi dễ dàng hơn.

Hãy nhìn lại Bảng P trên đây: một số nước có giá trị âm về của cải vô hình, nguồn vốn vô hình. Tại sao lại có thể như thế được? Giá trị âm của của cải vô hình trung bình đầu người ở các quốc gia như Congo hoặc Nigeria phản ánh các điều kiện về Chính phủ yếu kém và xã hội bất ổn. Những điều kiện như vậy quá xấu, quá tiêu cực, đến nỗi tác động bất lợi của chúng đến sản lượng trung bình của công nhân còn nhiều hơn cả sự tăng trưởng tích cực nếu công nhân chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và vốn sản xuất. Một lần nữa hãy hình dung một máy tính bị cản trở bởi các lỗi và virus, điều thực sự làm cho bất cứ ai cố gắng sử dụng nó đều ít hiệu quả hơn. Đó là ảnh hưởng tiêu cực và phá hoại của tầng phần mềm ở nước này.

Ngoài những nước được liệt kê trong bảng phía trên, các quốc gia có tỷ lệ vốn vô hình cực kỳ thấp bao gồm Nga (16%), Venezuela (10%), Syria (-15%) và Algeria (-18%).

Phương pháp được các tác giả của Ngân hàng Thế giới sử dụng để tính toán sự thịnh vượng tập trung vào cái mà họ gọi là “tiêu dùng bền vững” (sustainable comsumption), bao gồm cả phần tiết kiệm quốc gia. Vì tỷ lệ tiết kiệm quốc gia ở nhiều nước cao hơn ở Mỹ, nên Mỹ xếp thấp hơn 3 quốc gia Scandinavia xét về sự thịnh vượng quốc gia. Cách tiếp cận này có thể bị tranh cãi vì Mỹ nhìn chung thường sử dụng phần tiết kiệm hiệu quả hơn, do có sự cạnh tranh mạnh mẽ và thị trường vốn tự do.

Chất lượng của các thể chế kinh tế và xã hội với vai trò là nguồn lực của sự thịnh vượng quan trọng như thế nào? Ý tưởng của DeLong là so sánh các tiêu chuẩn sống diễn ra ở các quốc gia có hệ thống kinh tế khác nhau. Các “cặp so sánh” được ghép với nhau để kiểu soát các yếu tố khác. Nếu sự khác biệt duy nhất còn lại giữa mỗi quốc gia ở bên trái và quốc gia so sánh ở bên phải chỉ là hình thức tổ chức nền kinh tế, thì bảng này cung cấp bằng chứng mạnh mẽ về tác động của chủ nghĩa cộng sản lên mức sống trung bình.

Tuy nhiên, lưu ý rằng vào năm 1997, nhiều quốc gia trong cột bên trái không còn theo chủ nghĩa cộng sản. Cũng lưu ý rằng một số cặp so sánh mà DeLong tạo ra là giữa các quốc gia có nền tảng nguồn lực và các thành phần dân tộc rất khác nhau. Mặt khác, nếu ông tiến hành phân tích như vậy trước khi bức tường Berlin sụp đổ, sự tương phản giữa Đông Đức và Tây Đức sẽ là một ví dụ rõ ràng hỗ trợ cho luận điểm rằng hệ thống chính quyền chủ nghĩa cộng sản có tác động tiêu cực đến tiêu chuẩn sống.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.

Kinh tế học 2.0 trong thực tế – Phần V


Ngày càng có nhiều người có thể tiêu thụ nhiều hàng hóa và dịch vụ với ít nỗ lực hơn, so với 100 năm trước. Nhưng sự thay đổi lớn đến mức khiến chúng ta thực sự tiêu dùng theo những cách khác nhau.

William Nordhaus viết: “gần ba phần tư lượng tiêu dùng hôm nay khác hoàn toàn so với lượng tiêu dùng trong thế kỷ 19”. Điều này khiến cho việc đánh giá giá trị của các cải tiến & đổi mới (innovation) trở nên đặc biệt quan trọng.

Nordhaus tin rằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã bị thiên lệch nhiều sau những khoảng thời gian dài, đánh giá quá cao lạm phát và đánh giá thấp tăng trưởng thực sự. Ông đưa ra các ước tính khác, dựa trên các ước tính khác nhau về sự thiên lệch này: “Xét về tiêu chuẩn sống, tiền lương thực tế thông thường đã tăng lên 13 lần trong khoảng thời gian 1800 – 1992. Đối với trường hợp chênh lệch thấp, tiền lương thực tế đã tăng 40 lần, trong khi đối với trường hợp chênh lệch cao, tiền lương thực tế đã tăng 190 lần”. Nói cách khác, khi sử dụng ước tính của DeLong là GDP bình quân đầu người năm 1800 là 250 USD, thì GDP bình quân đầu người thực tế ngày nay bằng khoảng 200 lần con số đó, tương đương 50.000 USD (so với ước tính của DeLong là GDP bình quân đầu người năm 2000 là 8.175 USD).

Nhìn chung, có vẻ công bằng khi nói rằng đời sống kinh tế của chúng ta đã thay đổi đáng kể trong 100 năm qua. Trong khi đó, tất cả những tiến bộ kinh tế từ buổi đầu của nền văn minh cho đến thế kỷ 18 dường như rất nhỏ bé. Mức độ tăng trưởng kinh tế cực nhanh bắt đầu từ khoảng năm 1800 là một sự kiện lịch sử quan trọng.

2/ Kinh tế có khuynh hướng phát triển chậm đến mức không thể nhận thấy hoặc phát triển cực kỳ nhanh. Kết quả là khoảng cách về tiêu chuẩn sống giữa các nướoc phát triển và kém phát triển rất lớn.

Bảng K: Mức tăng trưởng năng suất lao động trong ngành sản xuất đinh ốc

Thời điểm Chỉ số năng suất Tỷ lệ tăng trưởng (%)
1200 – 1249 100
1400 – 1449 147 47
1600 – 1649 351 139
1800 – 1849 1132 223

Con người có thể hoạt động hiệu quả hơn qua thời gian theo nhiều mức độ khác nhau. Các mức thay đổi này rất quan trọng. Chúng giúp xác định mức sống sẽ cải thiện bao nhiêu và nhanh như thế nào.

Để hiểu về sự cải thiện năng suất (productivity) qua thời gian, Clark đã ước tính sản lượng bình quân của mỗi công nhân ngành sản xuất đinh ốc tại Anh. Chỉ số năng suất trong nửa thế kỷ 1400 – 1449 cao hơn 47% so với giá trị của nó vào 200 năm trước đó. Mức tăng của 200 năm tiếp theo còn cao hơn, là 139%. Trong giai đoạn 200 năm trước nửa đầu thế kỷ 19, năng suất thậm chí còn tăng nhanh hơn nữa, dẫn đến mức tích lũy là 223% trong 2 thế kỷ.

Sự tăng trưởng nhanh về năng suất này chính là đặc trưng của sự phát triển kinh tế vũ bão.

Đối với từng quốc gia riêng lẻ, việc trở nên giàu có trong quá khứ khó khăn hơn rất nhiều so với hiện tại. Parente và Prescott chỉ ra rằng quá trình phát triển kinh tế đã tăng tốc theo thời gian.

Bảng L: Tỷ lệ công nghiệp hóa tại các quốc gia

Quốc gia Thu nhập đạt mức

$2000 vào năm

Số năm cần có để thu nhập đạt mức $4000
New Zealand 1821 65
Australia 1831 42
Anh 1835 54
Hà Lan 1855 64
Bỉ 1856 55
Mỹ 1856 44
Syria 1961 12
Jordan 1964 15
Đài Loan 1965 10
Thổ Nhĩ Kỳ 1965 23
Hàn Quốc 1959 8
Thái Lan 1977 13

Bảng minh họa trên đây thể hiện các quốc gia đầu tiên và các quốc gia gần đây nhất đã đạt mức thu nhập bình quân 2000 USD và sau đó tăng lên 4000 USD. Hãy chú ý việc tăng gấp đôi thu nhập bình quân đã diễn ra nhanh như thế nào ở những quốc gia mới “cán đích” gần đây.

Bảng dưới đây cho thấy kinh tế đã tăng trưởng khá nhanh ở phần lớn các nước trên thế giới, mặc dù đói nghèo vẫn còn phổ biến rộng rãi. Sự tăng trưởng ở Trung Quốc và Ấn Độ đặc biệt gây ấn tượng. Hai quốc gia này đã mất chừng 50 năm để đạt được những thành tựu mà các quốc gia OECD phải mất hàng trăm năm để đạt được. Ngược lại, nền kinh tế Mỹ Latin lại tăng trưởng chậm một cách đáng thất vọng trong 50 năm qua.

Ví dụ như bảng số liệu thứ hai trong Bảng M cho thấy: vào năm 1727, các quốc gia OECD có cùng mức GDP với các quốc gia châu Phi vào năm 1950. Các quốc gia thuộc OECD mất 133 năm để đạt mức tăng trưởng bằng với những gì các quốc gia châu Phi đạt được chỉ trong 50 năm (giai đoạn 1950 – 2001). Trung Quốc và Ấn Độ bắt đầu tăng trưởng vào năm 1950 từ một xuất phát điểm thậm chí còn thấp hơn châu Phi, nhưng họ đã tăng trưởng còn nhanh hơn, trong giai đoạn từ 1950 đến 2001. Bảng K và L có khuynh hướng cho thấy rằng phát triển kinh tế, một khi đã bắt đầu, diễn ra tương đối nhanh. Xu hướng này có vẻ như dành cho các quốc gia vốn bị mắc kẹt một thời gian dài với mức sống thấp, nhưng một khi tăng trưởng được duy trì thì nó có xu hướng tăng tốc.

Bảng M: Tỷ lệ tăng trưởng tại nhiều quốc gia khác nhau

Quốc gia hoặc vùng GDP đầu người (USD)
Năm 1950 Năm 2001
Trung bình 18 nước OECD 5.150 20.110
Châu Phi 949 1.796
Trung Đông 1.533 18.289
Ấn Độ 619 1.957
Trung Quốc 438 3.583
Nhật Bản 1.920 20.683
Châu Mỹ Latin 3.673 6.947

 

Quốc gia hoặc vùng (A) Năm mà các nước OECD đạt mức GDP của quốc gia (A) năm 1950 Năm mà các nước OECD đạt mức GDP của quốc gia (A) năm 2001 Số năm để các nước OECD đạt mức tăng trưởng như mức tăng trưởng của quốc gia (A) trong giai đoạn 1950 – 2001
Trung bình 18 quốc gia OECD 1950 2001 51
Châu Phi 1727 1860 133
Trung Đông 1858 1950 92
Ấn Độ <1500 1847 >350
Trung Quốc <1500 1917 >400
Nhật Bản 1920 2001 81
Châu Mỹ Latin 1919 1957 38

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.

Kinh tế học 2.0 trong thực tế – Phần IV


Những tiến bộ này quan trọng như thế nào? Nếu bao gồm các giá trị này thì ước tính của chúng tôi về sự cải thiện tiêu chuẩn sống trong thế kỷ qua sẽ tăng khoảng gấp đôi. Vì vậy, giả sử Brad DeLong phát biểu chính xác rằng số nah6n năng suất đã được nhân lên bởi 20, thì nếu bao gồm các cải thiện về sức khỏe và tuổi thọ, chúng ta đang sống tốt hơn 40 lần so với người sống cách đây 100 năm.

Bảng F: Sự cải thiện về dinh dưỡng

Năm Lượng calorie tiêu thụ hàng ngày trung bình theo đầu người tại Anh
1700 2.095
1800 2.237
1850 2.362
1909 – 1913 2.857
1954 – 1955 3.231
1965 3.304
1989 3.149

Mức tiêu thụ calorie là một chỉ số khác về tăng trưởng kinh tế. Chế độ ăn uống của chúng ta tốt hơn bao nhiều sau vài thế kỷ tăng trưởng kinh tế? Fogel chỉ ra rằng con người ngày nay có thể không sống được bằng chế độ ăn uống của 300 năm trước đây. Với thể trọng của chúng ta, 2000 calorie hầu như chỉ vừa đủ duy trì cơ thể chứ không đủ năng lượng để làm việc.

Bảng G: Sự tiến bộ trong IQ – Hiệu ứng Flynn

              Quốc gia Thời điểm Mức tăng IQ trung bình

(15 điểm – một độ lệch chuẩn)

Bỉ 1958 – 1967 7 điểm
Hà Lan 1952 – 1982 21 điểm
Israel 1970 – 1985 9 điểm
Na Uy 1954 – 1980 12,5 điểm
Anh 1942 – 1992 27 điểm
New Zealand 1936 – 1968 7,7 điểm

Sự gia tăng chỉ số IQ trung bình được gọi là hiệu ứng Flynn. Nó chỉ ra rõ ràng rằng môi trường có thể ảnh hưởng đến chỉ số IQ. Không chỉ khỏe mạnh hơn và sống lâu hơn nhiều so với tổ tiên, chúng ta còn thông minh hơn họ. Sự gia tăng chỉ số IQ qua thời gian là một kết quả có vẻ hợp lý của tăng trưởng kinh tế nói chung và dinh dưỡng tốt hơn nói riêng. Do đó, sự gia tăng chỉ số IQ trung bình có thể đại diện cho một lợi ích khác của tăng trưởng kinh tế.

Không chỉ giàu có hơn, khỏe mạnh hơn, sống lâu hơn từ trước đến giờ, chúng ta còn có nhiều thời gian giải trí hơn một cách đáng kể. Chúng tôi sẽ không đánh giá về việc mọi người sử dụng thời gian giải trí bổ sung này có khôn ngoan hơn và hiệu quả hay không. Nhưng như bảng minh họa dưới đây cho thấy, không thể phủ nhận rằng ngoài việc GDP bình quân đầu người tăng lên, chúng ta còn có gấp ba lần thời gian giải trí.

Bảng H: Thời gian thư giãn nhiều hơn. Các hoạt động của một người đàn ông trụ cột điển hình trong một ngày bình thường

Hoạt động Số giờ dành ra trung bình mỗi ngày
Vào năm 1880 Vào năm 1995
Làm việc 8,5 4,7
Bệnh 0,7 0,5
Ngủ, ăn, làm việc nhà và di chuyển đi làm 13 13
Thư giãn 1,8 5,8

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng chúng ta cần ít nỗ lực hơn bao nhiêu để có được những nhu yếu phẩm của cuộc sống hiện nay, khi so sánh tương đối với cách đây một thế kỷ. Fogel ghi nhận rằng 100 năm trước, con người phải làm việc 1700 giờ để mua đủ thức ăn hàng năm cho một gia đình, tương đương với 10 tháng làm việc. Ngày nay, người ta chỉ cần làm việc 260 giờ, tức là chưa đến một tháng rưỡi!

Bảng I: Sự chuyển dịch chi tiêu vào mảng giải trí

Khoản mục Tỷ lệ tiêu dùng (%)
Vào năm 1875 Vào năm 1995
Ăn uống 49 5
Quần áo 12 2
Đồ dùng gia đình và các hàng hóa lâu bền 13 6
Chăm sóc sức khỏe 1 9
Giáo dục 1 5
Khác 6 7
Giải trí 18 68

Năng suất đã gia tăng chậm hơn đối với ngành sản xuất quần áo và hàng hóa lâu bền. Nhưng nhìn chung kết quả là chúng ta có nhiều thời gian giải trí hơn, có đủ khả năng chi tiêu nhiều hơn cho chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

Sự cải thiện về thời gian giải trí, cũng như sự gia tăng tuổi thọ và tình trạng sức khỏe, không được tính vào GDP. Như vậy chúng ta thậm chí còn có thêm nhiều bằng chứng về sự cải thiện đáng kể trong điều kiện sống trong suốt 125 năm qua.

Bảng J: Sự tiến bộ nhờ cải tiến

Năm Công nghệ Hiệu quả chiếu sáng (giờ phát sáng trên một đơn vị BTU)
1750 TrCN Đèn dầu 17,5
1800 Đèn cầy 22,2
1815 Đèn dùng dầu cá voi 39,4
1875 Đèn dầu lửa 46,6
1883 Đèn điện dây tóc carbon 762
1920 Đèn điện dây tóc tungsten 3463,7
1992 Bóng đèn huỳnh quang compact 20.111,1

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.

Kinh tế học 2.0 trong thực tế – Phần III


Con số GDP có vẻ trừu tượng và các vấn đề so sánh theo thời gian có thể dẫn đến nghi vấn. Bảng minh họa tiếp theo xem xét các mặt hàng xuất hiện trong khoảng thời gian 100 năm. Số liệu trong bảng là ước tính một người có mức lương trung bình của Mỹ thì cần làm việc bao lâu để mua được từng sản phẩm.

Bảng B: Thay đổi về chi phí hàng hóa trong 100 năm qua

Hàng hóa Số giờ làm để mua được hàng hóa đó vào năm 1895 (giờ) Số giờ làm để mua được hàng hóa đó vào năm 1997 (giờ)
Bộ sách của Horatio Alger (6 tập) 21 0,6
Xe đạp 260 7,2
Ghế văn phòng 24 2
Bộ dao nĩa 100 cái 44 3,6
Lược chải tóc 16 2
Ghế dựa 8 1,6
Mặt dây chuyền vàng 28 6
Bộ sách Bách khoa toàn thư Britannica 140 4
Đàn piano hiệu Steinway 2400 1.107,6
Muỗng trà bằng bạc 26 34
Một tá cam 2 0,1
Một pound thịt bò xay 0,8 0,2
Một gallon sữa 2 0,25

Brad DeLong, người lập ra bảng số liệu này, gọi tỷ lệ của con số trong cột đầu tiên so với cột thứ hai là “số nhân năng suất”. Ví dụ như đối với bộ sách của Horatio Alger, số nhân năng suất là 35. Nói cách khác, nếu sử dụng hàng hóa để đo lường mức sống thì một người công nhân vào năm 1997 sống tốt hơn một người công nhân vào năm 1895 là 35 lần. Nhìn chung, DeLong ước tính số nhân năng suất cho 100 năm vừa qua ở Mỹ là khoảng từ 14 đến 25 lần – nghĩa là chúng ta đang sốt tốt hơn từ 14 đến 25 lần so với chỉ cách đây một thế kỷ.

Bảng C: Tuổi thọ trung bình

Quốc gia Năm 1750 Năm 1900 Năm 1950 Năm 1990
Anh 37 48 69 76
Pháp 26 46 67 77
Mỹ 51 48 68 76
Ấn Độ   27 39 59

Ngoài việc trở nên giàu có hơn một cách đáng kể, con người con đang sống lâu hơn. Sự gia tăng tuổi thọ chứng thực rằng: sự gia tăng GDP bình quân đầu người trên thế giới là một biểu hiện của việc mức sống được cải thiện theo thời gian.

Sự phổ biến của các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng đã giảm nhanh trong các thế hệ gần đây. Khi chúng ta giàu hơn và sống lâu hơn, chúng ta cũng sống khỏe mạnh hơn trong tuổi già. Chúng ta đang sống trong những năm tuổi già tốt hơn quá khứ.

Trong bảng dưới đây, sự khác biệt giữa cột đầu tiên và cột thứ hai phản ánh tình trạng sức khỏe thay đổi như thế nào giữa các nhóm cựu chiến binh, xét trong một giai đoạn 75 năm. Sự khác biệt giữa cột thứ hai và cột thứ ba cho thấy sự đóng góp của y tế trong việc giảm bớt các rối loạn trong các nhóm cựu chiến binh gần đây. Sự kết hợp của sức khỏe tổng thể tốt hơn và chăm sóc y tế tốt hơn đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ xảy ra các rối loạn mãn tính như có thể thấy trong sự khác biệt giữa cột đầu tiên và cột thứ ba.

Bảng D: Tình trạng sức khỏe  – Tỷ lệ phát hiện các chứng rối loạn ở các cựu chiến binh từ 65 tuổi trở lên.

Chứng rối loạn Tỷ lệ
Năm

1910

Giữa thập niên 1980 trước khi có sự can thiệp làm giảm chứng rối loạn Giữa thập niên 1980 sau khi có sự can thiệp làm giảm chứng rối loạn
Cơ xương khớp 67,7 47,9 42,5
Hệ tiêu hóa 84 49 18
Hệ sinh dục – tiết niệu 27,3 36,3 8,9
Hệ thần kinh trung ương, tuyến nội tiết, sự trao đổi chất hoặc rối loạn máu 24,2 29,9 12,6
Hệ tim mạch 90,1 42,9 40
Hệ hô hấp 42,2 29,8 26,5

Ví dụ vào đầu thế kỷ 20, phần lớn người trên 65 tuổi sẽ bị rối loạn tiêu hóa. Đến gần cuối thế kỷ 20, chỉ còn ít hơn 1/5 số người cao tuổi bị rối loạn như vậy.

Nhìn chung, vào khoảng năm 1900, trung bình nam giới Mỹ ở độ tuổi từ 65 đến 69 mắc 6,2 căn bệnh mãn tính. Vào giữa thập niên 1990, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 1,9 căn bệnh mãn tính. Sự tăng trưởng kinh tế đã tạo ra những cải thiện về tình trạng sức khỏe cũng như về tuổi thọ.

Một số cải thiện về tiêu chuẩn sống không được tính vào các số liệu thống kê như GDP, vì vậy con số GDP đã khiến người ta đánh giá thấp việc mọi thứ được cải thiện như thế nào. Bảng minh họa dưới đây định lượng giá trị của những cải thiện về tình trạng sức khỏe mà chúng ta đã thảo luận trong bảng C và D. Những cải thiện về sức khỏe này không được tính vào GDP.

Bảng E: Giá trị của các cải thiện về sức khỏe và tuổi thọ

Năm

Tỷ lệ trung bình hàng năm (%)

Tiêu dùng

Giá trị của tình trạng sức khỏe

1900 – 1925

2

2,3

1925 – 1950

1,8

3,3

1950 – 1975

2,4

1,9

1975 – 1995

2

1,7

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.

Kinh tế học 2.0 trong thực tế – Phần II


Quyền sở hữu (property rights) xác lập việc ai sở hữu cái gì. Đối với khăn giấy, ống hút và các gói gia vị nhỏ được lấy tự do, quyền sở hữu được thực thi theo các quy tắc không chính thức. Đối với quan hệ giữa các chủ quầy hàng, nhà phát triển khu thương mại, các nhà cung cấp nước ngọt, và các chuỗi nhượng quyền thức ăn nhanh toàn quốc, quyền sở hữu được phân bổ theo hợp đồng.

Sự tin tưởng (trust) nằm ở việc khách hàng sử dụng thực phẩm của nhà hàng, biểu hiện của nhân viên khi chủ quầy không có mặt và trong các phương thức thanh toán khác. Các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh quốc gia có danh tiếng khiến người tiêu dùng tin tưởng khi lựa chọn thực phẩm. Chúng tôi suy đoán rằng người ta phát ly giấy một cách cẩn thận vì nếu không, các chủ sở hữu không thể tin tưởng rằng nhân viên tính đủ tiền thức uống. Các máy xác thực thẻ tín dụng được sử dụng để cải thiện lòng tin vào hình thức thanh toán.

Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy lòng tin vào hệ thống thanh toán. Máy ATM được truy cập bởi các khách hàng của ngân hàng. Tiền gửi ngân hàng của họ được bảo hiểm bởi một cơ quan liên bang, từ đó kiểm soát và điều hành các ngân hàng để giảm thiểu nguy cơ phải giải cứu ngân hàng vỡ nợ.

Chính phủ cũng có trách nhiệm đảm bảo rằng tiền mặt có thể được sử dụng an toàn trong các giao dịch. Chính phủ quy định về đồng tiền pháp định (legal tender), nghĩa là các điểm buôn bán phải chấp nhận tiền khi thanh toán. Tuy nhiên, nếu Chính phủ in tiền bừa bãi thì lạm phát sẽ cao và không thể dự đoán, khiến cho quy trình ấn định giá cả và thanh toán bằng tiền mặt càng khó tin hơn.

Sự tin tưởng của người tiêu dùng vào thực phẩm cũng được tăng cường nhờ vào các cơ quan Chính phủ. Việc sản xấut và phân phối thực phẩm được quy định và kiểm tra tại các giai đoạn khác nhau của các cơ quan liên bang và địa phương. Các nhà hàng được kiểm tra và giám sát bởi các quan chức địa phương.

Ngoài ra, Chính phủ cũng đảm bảo rằng quyền sở hữu tài sản được mọi người tin tưởng. Mặc dù các bên tư nhân thường đàm phán hợp đồng mà không có sự can thiệp của Chính phủ, nhưng họ biết rõ rằng bất kỳ tranh chấp nào giữa các bên sẽ được tòa án của Chính phủ xét xử một cách hòa bình và công bằng.

Sự công bằng và không thiên vị của Chính phủ là điều mà chúng ta xem như là hiển nhiên ở Mỹ. Ở các nước khác, quan chức Chính phủ có thể nhận hối lộ. Tệ hơn nữa, họ có thể hành động theo bè phái hoặc lợi ích của một nhóm nhỏ cầm quyền, khiến cho đa số công dân không được bảo vệ theo thể chế về quyền sở hữu tài sản, hoặc không được bảo vệ về lợi ích trong vai trò là người tiêu dùng.

Các công thức và giao thức tạo thành “tầng phần mềm” của khu ẩm thực rõ ràng là rất quan trọng, mặc dù chúng vô hình. Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét bằng chứng rằng tầng phần mềm đã đóng góp rất lớn cho sự cải thiện hạnh phúc của chúng ta.

Năm mươi năm trước đây, khi các nhà kinh tế học tìm kiếm lời giải thích cho sự khác biệt về sản lượng theo từng nhân công (output per worker) quuua thời gian hoặc giữa các quốc gia, họ đặt trọng tâm vào phần cứng, nhất là nguồn vốn (capital). Tuy nhiên, những gì họ tìm thấy trong nửa cuối thế kỷ qua là sự biến động của vốn chỉ chiếm ít hơn một phần tư trong sự khác biệt về năng suất lao động của công nhân. Thay vào đó, theo thời gian, yếu tố quan trọng nhất là sự phát triển của các công thức mới. Việc sử dụng các công thức thay đổi qua từng quốc gia. Nhìn chung, sự thất bại trong việc sử dụng các công thức tốt nhất phản ánh các giao thức không hoạt động tốt (dysfunctional protocol) – đặc biệt là do không có sự tin tưởng và quyền sở hữu tài sản.

Tầng phần mềm là một yếu tố chính trong phúc lợi kinh tế mà chúng ta đang được hưởng. Rất rõ ràng là tiêu chuẩn sống nói chung đã được cải thiện rất nhiều, chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn. Như bạn sẽ thấy dưới đây, thật ra thì chúng ta có thể đã đánh giá thấp mức độ cải thiện điều kiện sống hiện tại so với trước đây.

Bài này trình bày các bằng chứng để kể câu chuyện sau đây:

1/ Cách mạng Công nghiệp là một bước ngoặt rất lớn. Vào khoảng năm 1800, mức sống của con người bắt đầu cải thiện bền vững và nhanh chóng, điều chưa từng có trước đó.

2/ Kinh tế có khuynh hướng phát triển chậm đến mức không thể nhận thấy hoặc phát triển cực kỳ nhanh. Kết quả là khoảng cách về tiêu chuẩn sống giữa các nước phát triển và kém phát triển rất lớn.

3/ Sự chênh lệch về mức sống trung bình giữa các nước gia tăng, khi các nước giàu tiếp tục tăng trưởng, trong khi các nền kinh tế nghèo nhất lại trì trệ và trong một số trường hợp còn suy yếu.

4/ Phần lớn sự khác biệt về mức sống giữa các quốc gia không phải do các yếu tố hữu hình như tài nguyên hay vốn. Các yếu tố vô hình, những gì được chúng ta gọi là các giao thức, có vai trò quan trọng hơn để giải thích sự khác biệt đó.

5/ Một trong những yếu tố vô hình là môi trường kinh doanh. Việc thành lập doanh nghiệp hợp pháp càng khó khăn bao nhiêu thì tiêu chuẩn sống của quốc gia đó càng thấp bấy nhiêu.

6/ Tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự thay đổi đáng kể về công ăn việc làm. Bản chất của công việc thay đổi nhanh chóng.

1/ Cách mạng Công nghiệp là một bước ngoặt rất lớn. Vào khoảng năm 1800, mức sống của con người bắt đầu cải thiện bền vững và nhanh chóng, điều chưa từng có trước đó.

Bảng minh họa đầu tiên cho thấy sự cải thiện về tiêu chuẩn sống trong lịch sử, được tính bằng thước đo hiệu quả kinh tế tiêu chuẩn là Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người. Bạn hãy hình dung đó là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trên toàn thế giới trong một năm nhất định, chia cho dân số thế giới vào năm đó. Do có các phát minh mới và nhiều yếu tố khác, việc so sánh GDP qua nhiều thời điểm trong lịch sử lâu dài là một nghệ thuật chứ không phải là một môn khoa học.

Bảng A: Các số liệu GDP đầu người trong quá khứ

Năm GDP đầu người trung bình toàn cầu (USD)
5000 TrCN $130
1000 TrCN $160
1 $135
1000 $165
1500 $175
1800 $250
1900 $850
1950 $2030
1975 $4640
2000 $8175

Lưu ý rằng mức sống trung bình vào năm 1500 chỉ cao hơn khoảng 35% so với mức sống vào năm 5000 TrCN. Nhưng trong giai đoạn hơn 50 năm cuối thế kỷ XX, mức sống trung bình tăng lên gần 400% so với số liệu năm 1950.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.