Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần IV


Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường của các ngành công nghiệp cơ bản, Chính phủ Nhật Bản đã áp dụng một số biện pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, thực hiện sản xuất sạch hơn. Theo nguyên tắc “3R” (sửa chữa, tái sử dụng, tái chế) của nền kinh tế tuần hoàn mà Chính phủ Nhật Bản tuân thủ thì tiết kiệm tài nguyên là quy tắc ưu tiên hàng đầu. Do đó, việc thực hiện sản xuất sạch hơn, giảm tiêu dùng lãng phí tài nguyên thiên nhiên là nhiệm vụ chính đặt ra đối với các ngành công nghiệp cơ bản tại Nhật Bản. Nhiệm vụ này bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như áp dụng quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm các nguồn năng lượng thông thường, phát triển các nguồn năng lượng mới, tái sử dụng chất thải, giảm các bước quy trình sản xuất không cần thiết, tiêu chuẩn hóa sản xuất và thiết kế bao bì xanh.

Thứ hai, làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất. Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế của Nhật Bản, chỉ rõ doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động tái chế và tái sử dụng nguyên vật liệu và sản phẩm cũ trong phạm vi chịu trách nhiệm của mình. Cụ thể là nhà sản xuất cần phải chịu trách nhiệm về các tác động môi trường trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất và thậm chí có nghĩa vụ tái sử dụng các sản phẩm tái chế. Ví dụ như nhiều doanh nghiệp sản xuất thiết bị gia dụng lớn và chế tạo ô tô phải tuân thủ yêu cầu xây dựng các trung tâm xử lý rác thải và tái chế sản phẩm.

Thứ ba, kiến tạo những khu công nghiệp sinh thái. Trong mô hình kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, đi đôi với với xây dựng doanh nghiệp sạch, Nhật Bản cũng chú trọng xây dựng một hệ thống sản xuất tuần hoàn giữa các ngành công nghiệp cơ bản thông qua việc thiết lập những khu công nghiệp sinh thái. Việc liên kết các quy trình sản xuất và chia sẻ tài nguyên giữa các doanh nghiệp trong khu công nghê sinh thái có thể gia tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực, giảm bớt lượng chất xả thải và thực hiện tái chế tối đa nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất.

Tại Nhật Bản, hầu hết các ngành công nghiệp cơ bản hàng đầu đều có ngành công nghiệp hỗ trợ đi kèm. Ví dụ ngành công nghiệp tái chế thiết bị gia dụng được phát triển dựa trên ngành công nghiệp sản xuất điều hòa không khí, tủ lạnh, tivi và máy giặt. Nhật Bản đã xây dựng 26 khu công nghiệp sinh thái cho các ngành công nghiệp hỗ trợ. Những khu công nghiệp sinh thái này không chỉ ưu tiên phục vụ chiến lược xây dựng kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản, mà còn đóng một vai trò quan trọng trong phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong khu vực. Có thể nói, đi đôi với các ngành công nghiệp cơ bản thì Chính phủ Nhật Bản cũng ban hành các quy luật và quy định nhằm phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và đặc biệt là hoạt động của các khu công nghiệp sinh thái được xây dựng giành riêng cho các ngành công nghiệp hỗ trợ này. Cụ thể như sau:

Một là, thiết lập một hệ thống tái chế chất thải và năng lượng. Chính phủ Nhật Bản căn cứ vào đặc điểm của các ngành công nghiệp địa phương, các hình thức và số lượng chất thải để xây dựng các khu công nghiệp sinh thái tái chế tương ứng. Nguyên tắc chung đối với hoạt động của các khu công nghiệp này là toàn bộ quá trình tái chế đều do các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thực hiện với mục tiêu thực hiện hoạt động tái chế trên quy mô lớn.

Hai là, tập hợp các tổ chức nghiên cứu để tiến hành hợp tác nghiên cứu chuyên sâu. Cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ cũng như nhu cầu cấp bách cảu thị trường, các tổ chức nghiên cứu của Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt các nghiên cứu cơ bản về nguyên vật liệu sử dụng trong sản xuất nhằm giảm bớt chất thải công nghiệp, phát triển công nghiệp tái chế tài nguyên, công nghệ tái chế chất thải và các công nghệ khác làm cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ của Nhật Bản.

Ba là, thực hiện tuyên truyền và giáo dục thường xuyên. Hoạt động này do nhiều cấp chính quyền và các tổ chức đoàn thể có liên quan thực hiện cho nhiều đối tượng khác nhau. Ví dụ thành phố Kitakyushu có thể coi như một ví dụ tiêu biểu về hoạt động giáo dục về ý thức bảo vệ môi trường cho người dân. Chính quyền thành phố thường xuyên tổ chức các bài giảng về môi trường, tuyên truyền và các công nghệ và sản phẩm tái chế và là địa phương đầu tiên trong khu vực áp dụng chu trình tái chế rác thải tuần hoàn thực sự.

c/ Hợp tác chặt chẽ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất

Trong nền kinh tế tuần hoàn, sự hợp tác toàn diện giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất có ý nghĩa quan trọng. Người tiêu dùng hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế tuần hoàn thông qua các hoạt động cụ thể như tự động phân chia rác thải hay sản phẩm cũ theo đúng quy định về tái chế hay trả phí tái chế trực tiếp khi mua và sử dụng sản phẩm. Các nhà sản xuất thể hiện vai trò của mình thông qua việc gia tăng vòng đời sản phẩm, sử dụng vật liệu tái chế nhiều hơn, hoặc sản xuất những sản phẩm có thể dễ dàng sửa chữa tái sử dụng và tái chế. Mối quan hệ giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất thể hiện qua một số hình thức cụ thể như sau:

+ Xây dựng hệ thống thu gom sản phẩm tái chế tiện dụng: Tại Nhật Bản hệ thống thu gom các thiết bị cũ để tái chế rất toàn diện và dễ sử dụng cho nên phần lớn người tiêu dùng Nhật Bản thường xuyên áp dụng. Các thiết bị cũ được các nhà bán lẻ thu nhận lại tại cửa hàng hoặc khi cung cấp thiết bị mới. Đối với thiết bị CNTT cũ thì tùy theo quy định của chính quyền địa phương mà khách hàng có thể yêu cầu nhà sản xuất tới nhà để thu lại hoặc gửi trả qua bưu điện. Hệ thống này phổ biến và được sử dụng rộng rãi trên khắp đất nước Nhật Bản.

+ Người tiêu dùng trả phí trước: Đối với một số sản phẩm gia dụng như thiết bị điện tử, chi phí vận chuyển và thu hồi sản phẩm cũ đã được người tiêu dùng thanh toán tại thời điểm mua hàng, hờ vậy, đã giảm bớt sự miễn cưỡng của khác hàng khi thực hiện các quy định về thu gom sản phẩm cũ. Thêm vào đó là mức xử phạt cao cho việc không tuân thủ các quy định về xả rác cũng làm cho người tiêu dùng có động cơ thực hiện đúng các quy trình về thu gom và xử lý sản phẩm cũ.

+ Cơ sở hạ tầng tái chế là đồng sở hữu: Tại Nhật Bản, luật pháp quy định rõ các doanh nghiệp sản xấut lớn, đồng thời phải đầu tư dài hạn để xây dựng các nhà máy tái chế, đảm bảo họ có thể được hưởng lợi trực tiếp từ việc thu hồi các nguyên liệu hay các bộ phận trong các sản phẩm cũ. Khi doanh nghiệp đồng thời sở hữu cả nhà máy sản xuất và nhà máy tái chế sẽ khiến cho họ hiểu rõ những khó khăn khi phải tháo gỡ để tái chế các sản phẩm có thiết kế kém. Do đó, khi thiết kể sản phẩm mới, một số công ty thậm chí còn đưa hàng mẫu tới nhà máy tái chế để kiểm tra nhằm đảm bảo những sản phẩm này có thể dễ dàng tháo gỡ và tái chế.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần III


Đứng trước thực trạng nền kinh tế Nhật Bản rơi vào quá trình giảm phát, Chính phủ Nhật Bản buộc phải tìm kiếm để chuyển đổi sang một mô hình mới là kinh tế tuần hoàn, đặt trọng tâm vào duy trì sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển bền vững hệ thống xã hội và hệ sinh thái tự nhiên Nói cách khác, đối với Nhật Bản thì nền kinh tế tuần hoàn là một giải pháp tích hợp nền kinh tế, công nghệ và xã hội, theo đó phát triển kinh tế là một yếu tố chi phối nhưng không tách rời khỏi sự hỗ trợ và bảo vệ của hệ thống các cơ quan nhà nước, các quy định pháp luật, các tiến bộ kỹ thuật và các yếu tố xã hội khác.

Thứ hai, do đặc điểm địa hình của Nhật Bản.

Nhật Bản có mật độ dân số cao và không gian bãi rác hạn chế, một phần là do địa hình đảo và núi lửa của quốc gia này. Điều này đã buộc Chính phủ Nhật Bản, vào đầu những năm 1950, phải tìm kiếm các giải pháp thay thế việc chôn lấp chất thải vào lòng đất. Tiếp theo vào những năm 1990, Chính phủ Nhật Bản gần như không thực hiện đốt cháy chất thải do những lo ngại về chất dioxin phát sinh có thể gây tác hại cho con người như phá hủy hệ miễn dịch, gây ra các vấn đề sinh sản và bệnh tật. Vậy nên hoạt động tái sử dụng nguyên liệu và sản phẩm cũ thay vì vất bỏ ra môi trường trong nền kinh tế tuần hoàn trở thành một biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề đặc điểm địa hình của Nhật Bản.

Thứ ba, do sự thiếu hụt nguồn tài nguyên thiên nhiên của Nhật Bản.

Nhật Bản là quốc gia sản xuất công nghiệp lớn nhưng có nguồn tài nguyên khoáng sản trong nước rất hạn chế dẫn tới hầu hết các nguồn lực và nguyên liệu công nghiệp phải dựa vào nhập khẩu. Bởi vậy, việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, trong đó, hoạt động tái chế và tái sử dụng được đặc biệt chú trọng trở thành nhu cầu cấp bách của quốc gia này. Việc phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn hỗ trợ cho Nhật Bản vượt qua được những hạn chế về nguồn lực, cải thiện việc sử dụng tài nguyên, giảm chi phí sản xuất để tiếp tục duy trì vị trí và tính cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và quốc tế.

Cuối cùng, do bản thân văn hóa doanh nghiệp của Nhật Bản nhấn mạnh tới sự hợp tác giữa các thực thể trong nền kinh tế và dẫn tới kết quả là sự thống nhất cao trong các cấp chính quyền, doanh nghiệp và người dân trong việc xây dựng và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn cả về khung pháp lý cũng như các hoạt động cụ thể.

3.2/ Hệ thống pháp lý hỗ trợ chuyển đổi mô hình kinh tế tuần hoàn

Mô hình kinh tế tuần hoàn giảm bớt những vấn đề giữa môi trường và phát triển kinh tế đảm bảo sự thích ứng giữa các yêu cầu sản xuất, tiêu dùng và các hoạt động kinh tế khác với những yêu cầu về bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên.

Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản thúc đẩy xây dựng xã hội định hướng tái chế và Bản kế hoạch cơ bản để thúc đẩy một xã hội định hướng tái chế làm cơ sở pháp lý cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn. Hai văn bản này và một số luật chuyên ngành quy định rõ các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và công dân,…cần thực hiện vai trò theo trách nhiệm và nghĩa vụ tương ứng của họ, phải hợp tác và thực hiện có hiệu quả các biện pháp khác nhau dựa trên nguyên tắc hợp lý và chia sẻ gánh nặng chi phí một cách công bằng trong chiến lược xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Trách nhiệm của chính quyền trung ương Nhật Bản là hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức và công dân để xây dựng các luật và quy định hoàn chỉnh và áp dụng các biện pháp hiệu quả và toàn diện để thúc đẩy việc thực hiện chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Đi đôi với những hoạt động này thì chính quyền trung ương cũng trực tiếp hỗ trợ các hoạt động để hình thành một xã hội định hướng tái chế và tái sử dụng thông qua tài trợ từ các nguồn quỹ do chính phủ quản lý, cung cấp các dịch vụ hành chính, dẫn đầu thực hiện các khoản mua sắm xanh và các hành động cụ thể khác để khuyến khích sự phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

Các quy định của pháp luật đòi hỏi doanh nghiệp phải đóng một vai trò tích cực và quan trọng để thúc đẩy xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Doanh nghiệp cần xem xét đầy đủ các yếu tố  môi trường trong khi thiết kế và sản xuất sản phẩm, thực hiện các sáng kiến sinh thái trong quy trình sản xuất, sử dụng vật liệu tái tạo và tái chế, tập trung nỗ lực giảm nguồn gây ô nhiễm và kiểm soát chất gây ô nhiễm để cung cấp cho thị trường những sản phẩm có chất lượng cao và ít gây tác động tiêu cực tới môi trường. Đồng thời, doanh nghiệp cũng tận dụng những lợi thế về năng lực và công nghệ của mình để tái sử dụng tối đa nguồn rác thải công nghiệp nhằm tham gia vào quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn.

Các tổ chức xã hội cũng góp phần không nhỏ thúc đẩy quá trình xây dựng nền kinh tế tuần hoàn Các tổ chức này thực hiện vai trò cầu nối giữa chính quyền các cấp, doanh nghiệp và công chúng, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin tư vấn, hướng dẫn và đào tạo kỹ thuật… Cụ thể như các tổ chức này phối hợp với các doanh nghiệp trong việc phát triển công nghệ tái chế, thực hiện tư vấn thông tin và điều tra cho chính quyền các cấp, tiến hành các khóa đào tạo kỹ thuật cho doanh nghiệp, thực hiện các chiến dịch tuyên truyền công khai về quá trình chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn.

Người dân Nhật Bản cũng phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường. Những nỗ lực tuyên truyền, vận động cũng như các chính sách của Chính phủ đã góp phần nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân trong việc nỗ lực tham gia xây dựng một nền kinh tế tuần hoàn.

3.3/ Một số đặc điểm của mô hình kinh tế tuần hoàn tại Nhật Bản

a/ Xây dựng các chỉ số đo lường trong nền kinh tế tuần hoàn

Để đánh giá các nỗ lực của xã hội trong xây dựng và phát triển nền kinh tế tuần hoàn, Nhật Bản xây dựng ba chỉ số đo lường cấp quốc gia cơ bản. Cụ thể là chỉ số về tỷ lệ sử dụng hiệu quả tài nguyên tính trên GDP, chỉ số về tỷ lệ tái sử dụng vật liệu trên tổng số vật liệu được sử dụng trong nền kinh tế, và chỉ số đo lường số lượng rác thải cuối cùng được chôn lấp vào môi trường.

Bên cạnh các chỉ số quốc gia này, Nhật Bản còn bổ sung một loạt các chỉ số cụ thể theo từng ngành và đôi khi theo các mục tiêu cụ thể để sử dụng nhằm đánh giá các hoạt động kinh tế cơ bản trong nền kinh tế tuần hoàn. Ví dụ như các chỉ số về quy mô thị trường cho thuê và số lượng hàng hóa cho thuê, số lượng bao bì tái sử dụng được bán ra trên thị trường, mức phí thu gom rác thải ở các địa phương…

b/ Kết hợp hài hòa hoạt động của các ngành công nghiệp cơ bản và hỗ trợ

Tương tự như ý tưởng của Stahel và Reday-Mulvey (1981), một số học giả Nhật phân chia mô hình kinh tế tuần hoàn của quốc gia này thành hai nhóm ngành chính có tên gọi là “ngành công nghiệp cơ bản” và “ngành công nghiệp hỗ trợ”. Theo đó, nhóm thứ nhất bao gồm các ngành công nghiệp tham gia vào quá trình khai thác nguyên liệu thô để sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm và xả thải ra môi trường. Nhóm hành thứ hai, là nhóm ngành thực hiện thu gom, vận chuyển, phân hủy, tái chế và xử lý an toàn chất thải.

Như vậy, đối với ngành công nghiệp cơ bản thì nhiệm vụ đặt ra là xử lý vấn đề môi trường của ngành, cụ thể là tập trung giảm thiểu việc xả thải chất gây ô nhiễm ra môi trường thông qua phát triển các quy trình sản xuất sạch hơn nhằm cung cấp các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ thì nhiệm vụ trọng tâm là tập trung vào phát triển hoạt động xử lý chất thải và các doanh nghiệp chuyên tái chế và tái sử dụng. Việc kết hợp thực hiện cả hai nhiệm vụ chính của hia nhóm ngành nói trên sẽ tạo thành một giải pháp toàn diện cho Nhật Bản để có thể sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm bớt các vấn đề môi trường là hậu quả trực tiếp của quá trình khai thác, sản xuất, tiêu thụ và xả thải của nền kinh tế Nhật Bản.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần II


2.2/ Các nguyên tắc cơ bản của kinh tế tuần hoàn

+ Nguyên tắc thứ nhất là thiết kế để tái sử dụng. Theo nguyên tắc này thì sẽ không tồn tại rác thải do các thành phần sinh học và hóa học trong sản phẩm được thiết kế theo cách thức có thể tái sử dụng trong một chu trình mới. Nói cách khác, có thể phân tách và/hoặc tái sử dụng các thành phần này. Trong mô hình kinh tế tuần hòa, chất thải từ các hệ thống sản xuất và tiêu thụ đều được tái sinh và sử dụng cho các mục đích khác. Các công ty có thể phục hồi các sản phẩm đã tới giai đoạn cuối của chu kỳ sử dụng để lấy hoặc tái sử dụng các nguyên liệu, năng lượng và hợp phần còn giá trị trong sản phẩm, hoặc họ cũng có thể tái chế rác thải và sử dụng các sản phẩm này vào trong quá trình sản xuất.

+ Nguyên tắc thứ hai là linh động nhờ đa dạng. Khả năng linh hoạt trong nền kinh tế tuần hoàn có được là nhờ sự đa dạng về các loại hình doanh nghiệp, các mô hình kinh doanh và các hệ thống sản xuất. Hơn nữa, bản thân các mạng lưới kinh doanh cũng có những mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau cũng như với nhiều nhà cung cấp và khách hàng khác nhau. Ví dụ như mối quan hệ giữa công ty với khách hàng cần thay đổi từ mối quan hệ đơn lẻ giữa các lần trao đổi/mua bán sang mối quan hệ dài lâu, trong đó, các công ty có thể thực hiện nâng cấp và thay đổi sản phẩm cũ dựa trên yêu cầu cụ thể của từng khách hàng. Về phần mình thì các hệ thống sản xuất cũng có sự kết nối nội bộ đa dạng với sức chịu đựng cao và linh động trước những tác động bất ngờ từ ngoại cảnh.

+ Nguyên tắc thứ ba là sử dụng năng lượng từ các nguồn vô tận. Với mục tiêu giảm bớt sự tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên, nền kinh tế tuần hoàn chú trọng tới việc sử dụng những nguồn năng lượng mới luôn sẵn có như năng lượng tái chế hay sức lao động. Thường xuyên nghiên cứu để phát hiện những nguồn năng lượng mới thay thế cho nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống là một trong những mục đích trong các hoạt động của nền kinh tế tuần hoàn.

+ Nguyên tắc thứ tư là tuần hoàn và chia sẻ. Nguyên tắc tuần hoàn cho rằng đối với các hệ thống sản xuất trong nền kinh tế tuần hoàn thì đầu ra ở một mắt xích trong cấu trúc này sẽ có tác động lên đầu vào tại chính mắt xích đó. Do đó, để tối ưu hóa hệ thống sản xuất, cần phải cân nhắc đến những mối quan hệ giữa những mắt xích trong hệ thống, hay nói cách khác đường đi của các nguyên liệu trong chu trình sản xuất. Tại nhiều cấp độ và quy mô khác nhau trong nền kinh tế tuần hoàn, các hệ thống sản xuất có tác động lẫn nhau làm phát sinh mối quan hệ phụ thuộc và tạo nên những vòng lặp phản hồi gia tăng tính linh động của nền kinh tế. Nguyên tắc chia sẻ trong nền kinh tế tuần hoàn có được nhờ sự hỗ trợ ngày càng hiệu quả của các công nghệ, kỹ thuật mới ra đời, kiến tạo nên các mối quan hệ và cơ hội kinh doanh mới cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp (đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô nhỏ) để họ có thể cho thuê, chia sẻ, trao đổi hay cho mượn những đồ dùng họ sở hữu nhưng ít sử dụng. Với nguyên tắc này thì việc sản xuất các sản phẩm thường dùng sẽ tốn ít nguồn lực hơn và người tiêu dùng lại có thêm cơ hội kiếm thêm thu nhập và tiết kiệm tiền.

+ Nguyên tắc thứ năm là nền tảng sinh học. Trong nền kinh tế tuần hoàn, có nhiều hàng hóa tiêu dùng được tạo nên từ các nguyên liệu sinh học và các thành phần sinh học này được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Đặc biệt đối với những công ty sử dụng các nguồn nguyên liệu hiếm hoặc gây hại cho môi trường, thường phải trả tiền nhiều hơn để mua những nguyên liệu này hay phải tìm các nguồn nguyên liệu thay thế có thể tái chế, tái sử dụng hoặc được phân hủy bằng con đường sinh học. Việc sử dụng các nguyên liệu này trong các chu kỳ tiếp nối nhau không ngừng sẽ hỗ trợ làm giảm chi phí, củng cố khả năng kiểm soát nguồn nguyên liệu cho các doanh nghiệp, đồng thời giảm bớt những tác động bất lợi cho môi trường. Ví dụ một công ty sản xuất sinh chất tái chế sử dụng cây lanh và gai dầu để tạo ra sợi có chất lượng tốt tương đương sợi bông mà không gây tác động tới môi trường.

2.3/ Nguyên nhân chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn

Các quốc gia trên thế giới thực hiện chuyển đổi mô hình sang kinh tế tuần hoàn do nhiều nguyên nhân cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, có ba nguyên nhân liên quan tới môi trường hỗ trợ lý giải sự cần thiết phải xây dựng và chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn.

Thứ nhất, sự thiếu hiệu quả của hệ thống tái chế hiện hành. Ví dụ trong lĩnh vực sản xuất điện thoại di động hiện nay, mới chỉ có 17 trong số 40 chi tiết có thể tái sử dụng toàn bộ, số chi tiết còn lại không thể tái sử dụng, ngay cả khi được đưa vào xử lý trong các máy tái chế tốt nhất (Scott, 2014).

Thứ hai, gánh nặng của những vấn đề môi trường đang chuyển dần từ phía người sử dụng sang nhà sản xuất. Ví dụ như khoảng 75% lượng khí thải carbon từ máy tính xách tay, máy tính bảng và điện thoại thông minh phát sinh trong quá trình sản xuất, chứ không phải khi sử dụng. Điều này có nghĩa là lượng khí thải đã bị đưa ra môi trường trước khi những sản phẩm được bán ra thị trường. Một ví dụ khác là lượng khí thải carbon để sản xuất ra xe điện gần như lớn gấp đôi so với sản xuất xe thường mặc dù lượng phát thải toàn phần của xe điện là ít hơn (Hawkins và cộng sự, 2013). Điều này có nghĩa là việc kéo dài vòng đời của sản phẩm hoặc phục hồi hay tái sử dụng sản phẩm là cách thức tốt nhất để giảm các tác động tiêu cực của quá trình sản xuất tới môi trường.

Thứ ba, việc giảm bớt sử dụng nguyên liệu thô có thể làm giảm đáng kể lượng khí thải và tác động tiêu cực tới môi trường của hoạt động khai thác mỏ và tinh luyện. Ngoài ra, lượng khí phát thải của quá trình tinh luyện cũng ít hơn là quá trình khai thác, ví dụ lượng khí thải carbon thải ra môi trường khi tinh luyện nhôm chỉ tương đương 1/10 khi khai thác quặng nhôm. Như vậy, tái sử dụng hoặc tái chế sẽ góp phần giảm bớt các thảm họa môi trường có thể phát sinh do úa trình khai thác nguyên liệu thô. Ví dụ như trường hợp hồ chứa chất thải của khu mỏ khai thác nhôm ở Hungary bị vỡ đã gây úng lụt cho các khu dân cư gần đó cũng như phá hủy nghiêm trọng hệ sinh thái của dòng sông Marcal gần đó (BBC News Europe, 2010).

Mặc dù nền kinh tế tuần hoàn đem lại nhiều lợi thế đặc biệt trong dài hạn, tuy nhiên, những quốc gia theo đuổi mô hình này vẫn vấp phải một loạt các khó khăn. Do đó, việc phân tích kinh nghiệm của Nhật Bản khi chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn có thể là một minh họa hữu ích cho những quốc gia có chiến lược phát triển mô hình kinh tế này.

3/ Chiến lược phát triển mô hình kinh tế tuần hòa tại Nhật Bản

3.1/ Nguyên nhân chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn

Nhật Bản bắt đầu xây dựng mô hình kinh tế tuần hòa từ những năm 80 của thế kỷ trước và là một trong những quốc gia đầu tiên theo đuổi mô hình kinh tế này. Trong quá trình kiến tạo nền kinh tế tuần hoàn, Nhật Bản đã đạt được những kết quả khả quan, ngay cả khi so sánh các nước OECD khác. Cụ thể như tỷ lệ tái chế sản phẩm của Nhật Bản là cao trong số các quốc gia OECD, ví dụ như Nhật Bản tái chế 98% kim loại (Bộ Môi trường, 2010) và chỉ có 5% chất thải của Nhật Bản là bị chôn xuống đất trong khi tỷ lệ này là 48% ở Anh. Các luật liên quan tới hoạt động tái chế của Nhật Bản đảm bảo rằng phần lớn các sản phẩm điện và điện tử được tái chế trong khi tỷ lệ này chỉ là 30 – 40% ở châu Âu (WEEE Forum, 2012). Hơn nữa, đối với các sản phẩm điện và điện tử này của Nhật Bản thì có tới 74 – 89% nguyên liệu được thu hồi và được tái sử dụng để sản xuất cùng loại sản phẩm (Panasonic, 2015). Quy trình sản xuất mà Nhật Bản áp dụng đã tạo nên một vòng tròn khép kín là cơ sở của một nền kinh tế tuần hoàn thực sự. Ngoài những nguyên nhân chung đã phân tích ở phần trên thì có một số nguyên nhân đặc thù lý giải cho chiến lược chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản cụ thể như sau:

Thứ nhất, do Nhật Bản phải khắc phục hậu quả của chiến lược tăng trưởng tối đa.

Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, để nhanh chóng khôi phục nền kinh tế bị tàn phá do chiến tranh và bắt kịp với các quốc gia phương Tây, Nhật Bản đã áp dụng mô hình kinh tế mà tất cả mọi hoạt động đều hướng tới hỗ trợ và phục vụ mục tiêu tăng trưởng tối đa của nền kinh tế. Nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp hàng đầu của đất nước, đều áp dụng chính sách “ưu tiên hàng đầu cho sản xuất” để thực hiện chiến lược sản xuất đại trà và tiêu thụ sản phẩm hàng loạt nhằm giảm tối đa chi phí sản xuất tính trên một đơn vị sản phẩm. Chính sách này đã giúp Nhật Bản nhanh chóng hoàn thành quá trình hiện đại hóa nền công nghiệp trong nước, đồng thời, cũng chiếm lĩnh được vị trí hàng đầu trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, chiến lược tập trung vào sản xuất và phát triển kinh tế đã làm tăng lượng khí thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, làm trầm trọng thêm những vấn đề xã hội cũng như sự mất cân bằng giữa môi trường sinh thái và phát triển kinh tế của Nhật Bản. Hậu quả của quá trình này là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản xuất hiện xu hướng giảm.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Mô hình kinh tế tuần hoàn, chiến lược của Nhật Bản và bài học – Phần I


TS. Trần Thị Vân Anh

Mô hình tuần hoàn là mô hình kinh tế, trong đó, các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ luôn đặt ra mục tiêu là kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường. Bài viết trình bày khái quát mô hình kinh tế tuần hoàn, đặc biệt là phân tích những đặc điểm trong chiến lược phát triển kinh tế tuần hoàn của Nhật Bản; đồng thời đề xuất một số hàm ý cần cân nhắc khi theo đuổi mô hình kinh tế này.

1/ Đặt vấn đề

Trong 17 mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu do 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc thông qua vào năm 2015 thì có đến 2/3 số mục tiêu liên quan đến môi trường, cho thấy vấn đề này đã thực sự trở nên cấp thiết trên toàn thế giới. Lời giải cho bài toán làm thế nào để sự phát triển ngày hôm nay không ảnh hưởng đến thế hệ mai sau đòi hỏi sự chung tay phối hợp của Chính phủ, các tổ chức phát triển, doanh nghiệp và toàn thể cộng đồng.

Những cải tiến công nghệ khiến cuộc sống của con người tiện lợi và gọn nhẹ bao nhiêu thì môi trường thiên nhiên lại bị tàn phá và ô nhiễm bấy nhiêu. Những việc làm tưởng chừng như “bình thường” của con người lại dẫn đến những tác hại khôn lường như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và trực tiếp làm chúng ta phải trả giá khi khắc phục hậu quả của những hiện tượng như nước biển dâng cao gây sạt lở, mất đất, cạn kiệt tài nguyên. Theo Cairns và cộng sự (2018) thì nếu tiếp tục sử dụng mô hình sản xuất và tiêu thụ không bền vững như hiện tại thì tới năm 2050, chúng ta sẽ phải cần tới 400% lượng tài nguyên thiên nhiên vốn có của trái đất. Những tác động bất lợi của nền kinh tế nâu hiện nay sẽ làm tổn hại cho nền kinh tế toàn cầu khoảng 4,5 nghìn tỷ USD vào năm 2030 và khoảng 25 nghìn tỷ USD vào năm 2050. Thực tế cho thấy, nếu các quốc gia tiếp tục theo đuổi mô hình kinh tế tuyến tính truyền thống mà ở đó, tài nguyên bị khai thác, sử dụng để sản xuất hàng hóa và vứt bỏ sau sử dụng thì thế giới sẽ phải đối mặt với hàng loạt mối nguy về kinh tế, xã hội, môi trường. Bởi vậy, nhiều quốc gia trên thế giới đang thực hiện chuyển đổi sang một mô hình kinh tế mới là kinh tế tuần hoàn.

Vào những năm gần đây, mô hình kinh tế tuần hoàn là chủ đề thảo luận trong chương trình nghị sự của nhiều chính phủ, đặcbiệt là các quốc gia châu Âu do những lợi ích mà mô hình này đem lại. Theo đánh giá của Ủy ban châu Âu (EC, 2014a, b, 2015), áp dụng mô hình kinh tế này dự kiến sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của khu vực do việc thành lập các doanh nghiệp mới sẽ tạo ra những cơ hội việc làm mới, tiết kiệm được chi phí nguyên vật liệu, giảm bớt được biến động giá cả, cải thiện tình hình cung cấp sản phẩm, đồng thời giảm bớt những áp lực và tác động tiêu cực tới môi trường. Theo các nghiên cứu của Ủy ban châu Âu thì việc thiết kế các sản phẩm sinh thái, áp dụng công nghệ giảm bớt chất thải và tái sử dụng nguyên liệu và sản phẩm cũ có thể mang lại cho các doanh nghiệp EU khoản tiết kiệm ròng lên đến 600 tỷ EUR, đồng thời còn có tác động làm giảm lượng phát thải khí nhà kính. Hơn nữa, nếu áp dụng các biện pháp hỗ trợ để tăng thêm tỷ lệ sử dụng hiệu quả tài nguyên lên tới 30% vào năm 2030 thì có thể làm tăng GDP của khu vực lên gần 1% cũng như tạo thêm 2 triệu việc làm mới (EC, 2014a).

Triển khai kinh tế tuần hoàn ở Anh ước tính có thể tạo ra 50.000 việc làm mới và 12 tỷ euro đầu tư (EMF, 2013), trong khi ở Hà Lan thì lợi ích tiềm năng của kinh tế tuần hoàn được ước tính lên tới 7,3 tỷ euro mỗi năm về giá trị thị trường, tạo ra 54.000 việc làm và nhiều ảnh hưởng tích cực khác cho môi trường. Xuất phát từ những lợi ích to lớn của kinh tế tuần hoàn trong những năm vừa qua, Ủy ban châu Âu (EC) và các quốc gia thành viên đã tiến hành hàng loạt các chương trình nghị sự, ban hành nhiều chính sách và chiến lược đầu tư, ví dụ như Kế hoạch hành động thúc đẩy kinh tế tuần hoàn (EC, 2015b) với mục đích chung là hỗ trợ phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn tại khu vực này.

Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia đi tiên phong trong việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế tuần hoàn và đã đạt được nhiều thành tựu khả quan. Vậy thế nào là mô hình kinh tế tuần hoàn và kinh nghiệm của Nhật Bản có thể cho chúng ta những hàm ý chính sách hữu ích như thế nào?

2/ Mô hình kinh tế tuần hoàn

2.1/ Khái niệm kinh tế tuần hoàn

Nhà kinh tế học người Mỹ Kenneth Boulding lần đầu tiên đề xuất khái niệm “tuần hoàn” trong học thuyết kinh tế vũ trụ của mình vào năm 1965. Một trong những nghiên cứu sớm nhất liên quan tới khái niệm kinh tế tuần hoàn là báo cáo của (Stahel, W.R., Reday-Mulvey, G., 1981) xuất phát từ thực tiễn là vào đầu thập kỷ 1970, khi giá năng lượng và tỉ lệ thất nghiệp đều tăng cao thì để tân trang các tòa nhà cần nhiều lao động và ít nguồn lực hơn so với việc xây mới. Stahel và Reday-Mulvey cho rằng, nguyên tắc này có thể mở rộng và đúng với bất kỳ hình thức sản phẩm hay dịch vụ nào và do đó, có thể trở thành nguyên tắc chung để xây dựng một mô hình kinh tế mới là kinh tế tuần hoàn.

Kinh tế tuần hoàn có thể hiểu là một mô hình kinh tế, trong đó, các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ luôn đặt ra mục tiêu là kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường. Điều này có thể hiểu là nền kinh tế tuần hoàn sẽ biến những sản phẩm và dịch vụ đang ở cuối vòng đời phục vụ của mình trở thành nguồn lực đầu vào cho những sản phẩm và dịch vụ khác, lấp đầy khoảng trống trong các hệ sinh thái công nghiệp và giảm thiểu lượng rác thải ra môi trường.

Nếu như mô hình kinh tế tuyến tính hay kinh tế nâu truyền thống chỉ quan tâm đến việc khai thác tài nguyên để sử dụng cho quá trình sản xuất và vứt bỏ sản phẩm sau tiêu thụ, dẫn đến việc tạo ra một lượng phế thải khổng lồ thì mô hình kinh tế tuần hoàn chú trọng tới quản lý và tái tạo tài nguyên theo một vòng khép kín nhằm tránh tạo ra phế thải. Việc tận dụng tài nguyên được thực hiện bằng nhiều hình thức như sửa chữa, tái sử dụng, tái chế và thay vì sở hữu vật chất thì hướng đến chia sẻ hoặc cho thuê. Hay nói cách khác, mô hình kinh tế tuần hoàn tái sử dụng những gì có thể, tái chế những gì không thể tái sử dụng, sửa chữa những gì hỏng hóc, tái sản xuất những gì không thể sửa chữa.

Theo Stahel và Reday-Mulvey (1981), trong mô hình kinh tế tuần hoàn, hoạt động kinh doanh được chia thành hai nhóm là (i) nhóm thúc đẩy và tái sử dụng và kéo dài thời gian sử dụng thông qua sửa chữa, tái sản xuất, nâng cấp, cải tiến; và (ii) nhóm biến sản phẩm cũ thành các nguồn lực “như mới” bằng cách tái chế các nguyên vật liệu. Trong mô hình kinh tế tuần hoàn, người chủ sở hữu trở thành người quản lý và người tiêu dùng trở thành người sử dụng và người sáng tạo.

Tiếp theo, Stahel (2010) phân loại nền kinh tế thành ba loại hình là kinh tế tuyến tính, kinh tế tuần hoàn và kinh tế hiệu quả với những đặc trưng cụ thể như sau:

Thứ nhất, nền kinh tế tuyến tính. Nền kinh tế này hoạt động theo nguyên tắc dòng chảy, nghĩa là, biến các nguồn tài nguyên thiên nhiên thành các vận liệu và sản phẩm thông qua các quy trình sản xuất tạo ra giá trị gia tăng. Các vật liệu và sản phẩm này được bán ra thị trường theo nguyên tắc càng bán được nhiều thì càng tốt. Điều này dẫn tới sự hoang phí các nguồn tài nguyên khi nhu cầu trên thị trường bão hòa.

Thứ hai, nền kinh tế tuần hoàn. Khác với nền kinh tế tuyến tính, nền kinh tế tuần hoàn vận hành giống như một chiếc đồng hồ, trong đó việc tái xử lý nguyên vật liệu và sản phẩm cũ sẽ tạo ra công ăn việc làm, tiết kiệm năng lượng, đồng thời làm giảm mức tiêu thụ nguồn lực và lượng rác thải ra môi trường. Ví dụ như làm sạch một chai thủy tinh rồi sử dụng tiếp thị nhanh và rẻ hơn là tái chế thủy tinh hay sản xuất ra một cái chai thủy tinh mới từ quặng. Hoặc thay vì bị bỏ đi thì những đồ đạc cũ có thể được thu gom lại và bán ở mức giá cao nhất cho ai có nhu cầu.

Thứ ba, nền kinh tế hiệu quả. Đây là mô hình kinh tế phát triển hơn nữa do tối đa hóa hiệu quả những hoạt động kinh tế thông thường. Ví dụ việc bán hàng hóa trở thành một loại dịch vụ thông qua các mô hình kinh doanh cho thuê, cho mượn hay sử dụng chung. Trong trường hợp này, nhà sản xuất vẫn giữ quyền sở hữu sản phẩm cùng các nguồn lực tượng trưng của sản phẩm đó và cũng là người chịu trách nhiệm về chi phí liên quan đến những rủi ro khi sử dụng sản phẩm cũng như vứt bỏ sản phẩm khi cần thiết. Thiết kế và tái sử dụng sản phẩm, tìm kiếm và áp dụng giải pháp sử dụng tối ưu sản phẩm và dịch vụ nhằm tối đa hóa lợi nhuận là những mục tiêu cơ bản của nền kinh tế hiệu quả.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Ngân hàng  số 14 – 7/2018.

Phỏng vấn Joel Mokyr – Phần cuối


Giờ đây, mức độ mà chúng ta giữ vững niềm tin của các thế hệ trước là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành một xã hội sáng tạo và cải tiến đến đâu, vì nếu bạn nghĩ về điều đó thì sẽ thấy: mọi hành động phát minh đều là một hành động nổi loạn. Phát minh ra cái mới là hành động không tôn trọng các thế hệ trước, đúng không? Một xã hội đề cao tôn giáo tin tưởng rằng tổ tiên chúng ta đã khám phá hết tất cả sự thông minh thì sẽ không sáng tạo, bởi vì khi khám phá ra cái gì đó nghãi là bạn đang ngầm nói: “Xem này, cách mà cha ông tôi và những thế hệ khác đã làm điều này là sai. Tôi có thể làm điều đó tốt hơn”. Điều đó có thể đúng, nhưng nó có vẻ thiếu tôn trọng một cách sâu sắc. Nó giúp tôi giải quyết một điều khó hiểu mà tôi chưa bao giờ có thể giải đáp trước đây: nhìn lại lịch sử châu Âu trong suốt 1500 năm qua, tại sao có quá ít phát minh liên quan đến người Do Thái, tận đến đầu thế kỷ 19, khi người Do Thái trở nên trần tục hóa và trở thành người bình thường giống như mọi dân tộc khác theo một cách nào đó? Trước đó, người ta có thể kỳ vọng người Do Thái dẫn đầu công cuộc đổi mới, vì họ đã biết chữ; nhiều người trong số họ là thợ thủ công và thương gia. Họ đã tham gia sâu vào những bộ phận tiến bộ hơn của nền kinh tế, nhưng họ đã không sáng tạo ra bất cứ điều gì. Tôi đã nghiên cứu kỹ, nhưng cho đến lúc đó, không một người Do Thái nào có tầm quan trọng như một nhà khoa học, kỹ sư hay nhà phát minh.

Theo tôi nghĩ ở cấp độ đó, tôn giáo thực sự quan trọng. Tôi nghĩ rằng sự phi tôn giáo hóa, thế tục hóa xã hội (secularization) bắt đầu bằng phong trào Khai sáng, hoặc có thể trước đó; tôi không biết chính xác. Tôi không biết cách đánh giá về sự thế tục hóa xã hội này, nhưng tôi biết điều đó đang diễn ra. Nhưng thế tục hóa đã đi kèm với việc đánh mất toàn bộ sự tôn trọng với trí tuệ và sự khôn ngoan của các thế hệ trước đó. Đó là điều mà chúng ta coi là đương nhiên, song thật ra thì không phải như vậy. Hầu hết các tôn giáo đều nói rằng các bậc tiền bối thông minh hơn chúng ta và họ biết nhiều hơn. Nếu bạn muốn hiểu họ thì hãy đọc lại Aristotle, hoặc bất cứ hình tượng khôn ngoan tiêu biểu nào trong cộng đồng tôn giáo của bạn. Chúng ta không có hình tượng khôn ngoan tiêu biểu, cho hầu hết mọi thứ. Mọi người rất ít tôn trọng sự khôn ngoan của các thế hệ trước, và tôi nghĩ rằng về căn bản đó là một hiện tượng siêu hình. Đó cơ bản là một hiện tượng tôn giáo. Đó là một ví dụ tốt cho thấy tôn giáo, và có lẽ là nền văn hóa của con người đóng vai trò kìm hãm như thế nào. Như tôi đã nói, sự kìm hãm đó có thể được giải tỏa và có thể bị suy yếu; tôi nghĩ rằng ngày nay nó đang bị suy yếu. Tôi có cảm xúc lẫn lộn về việc này. Không hẳn đó là một điều hoàn toàn tốt đẹp, nhưng nó đang xảy ra.

AN: Chúng ta hãy trở lại với kiến thức hữu ích một lần cuối. Thực tế là chúng ta thường thậm chí không biết kiến thức mới sẽ có ích gì khi nó xuất hiện lần đầu tiên, vậy Chính phủ có vai trò gì trong việc trợ cấp nghiên cứu cơ bản và tạo ra những kiến thức mới và hữu ích hay không? Làm thế nào có thể thực hiện được điều này mà không có tham nhũng trong quá trình đó?

JM: Bạn biết làm việc với Chính phủ là thế nào rồi đó. Đó là một vấn đề khó khăn. Chúng ta biết rằng thị trường tự do sẽ không cho ra đủ số lượng nghiên cứu, phát triển và thông tin hữu ích vì thị trường có những mặt trái mà mọi người đều biết. Khi thị trường thất bại thì các nhà kinh tế học tân cổ điển chuẩn mực sẽ nói: “Vậy chúng ta cần có chính sách công”, và có lẽ mọi thứ sẽ tốt hơn rất nhiều so với khi không có chính sách công! Nhưng tôi nghĩ rằng trong trường hợp đặc biệt này, bất kỳ ai tìm kiếm sự tối ưu (optimality) hoặc hiệu quả (efficiency) sẽ phải đối mặt với thực tế rằng dù bạn xem xét nó như thế nào đi chăng nữa thì sự tiến hóa của công nghệ chắc chắn sẽ là một quá trình lãng phí. Tiến hóa luôn luôn là một quá trình lãng phí rất lớn. 99,9% sự biến đổi không đi đến kết quả gì. Điều đó rất lãng phí. Cuộc sống là lãng phí; nó không hiệu quả. Những người duy nhất nhìn nhận thế giới như một nơi hiệu quả là các nhà kinh tế học và chiến lược gi, nhưng thực sự thì thế giới này đang và sẽ không hiệu quả. Con người luôn làm rối tung mọi thứ. Điều duy nhất là một số nơi làm rối tung.. tốt hơn, và một số nơi làm điều đó tệ hơn. Tôi có một vài ý tưởng về phát triển chính sách nghiên cứu, nhưng không ý tưởng nào liên quan đến tính hiệu quả hoặc một hệ thống tốt.

Tôi nghĩ rằng tham nhũng, cả trong khu vực Chính phủ và khu vực tư nhân đều không thể tránh khỏi, và tốt hơn hết là nên sống chung với nó. Nhưng tôi có thể nói rằng có một loại chính sách công rõ ràng là không tốt, đó là chính sách loại trừ các con đường nghiên cứu về những hệ tư tưởng hoặc những thứ tương tự. Đó là nơi chính sách của Chính phủ nên can thiệp và nói rằng không có điều cấm kị, không có những con cừu thiêng, và chúng ta nên cho phép nghiên cứu phát triển tự do – những câu hỏi đặt ra là ai sẽ trả tiền để làm việc đó? Và vì vậy, mọi việc trở nên khó khăn hơn. Rõ ràng là không có chính sách tối ưu.

Các bạn hãy nghĩ về việc có rất ít bài báo khoa học được công bố mà có người đọc. Hơn một nửa số bài báo đó không bao giờ được trích dẫn – do đó đúng là chúng đang bị lãng phí. Bạn dành rất nhiều thời gian để viết báo khoa học, và không ai đọc nó. Tôi đã viết những bài báo như vậy, tôi còn hông quan tâm đến việc liệt kê chúng. Tôi đã viết các bài báo khoa học. Không ai đọc chúng. Đó là một sự lãng phí khủng khiếp, nhưng bạn biết đấy, đó là một phần của quy trình. Tôi chấp nhận điều đó vì đó là bản chất của mọi quá trình tiến hóa; đó không phải là một quá trình có tính hiệu quả.

Tôi nghĩ rằng nền kinh tế mở tốt hơn nền kinh tế đóng cửa, và tôi tin rằng không nên có sự cấm kỵ. Nếu con người không thích một công nghệ cụ thể nào đó – ví dụ như là nghiên cứu tế bào gốc – thì họ luôn có thể nói: “Tôi sẽ không mua thứ gì có công nghệ đó”. Tôi sẽ cho bạn một ví dụ khác. Người Mỹ không phải là những người duy nhất. Hãy xem sự kháng cự của người châu Âu đối với thực phẩm biến đổi gen. Đó thực sự là việc mà tôi đang đề cập đến. Thực phẩm biển đổi gen có thể là làn sóng của tương lai.

AN: Đó đã là làn sóng của hiện tại, ở một số nơi.

JM: Đúng vậy, ở một số nơi, nhưng đến giờ bạn vẫn chưa thấy gì cả. Làn sóng này sẽ vô cùng mạnh mẽ, và tôi không nghĩ rằng người châu Âu sẽ có khả năng ngăn chặn nó. Tôi tôn trọng những người nói là tôi không muốn mua rau diếp được biến đổi gen để chống lại sâu rầy, vì tôi thích trong rau có sâu. Tốt thôi! Thế nào cũng sẽ có những nơi bán thứ bạn muốn mua. Và trên thực tế, chúng ta đang làm điều đó ngay bây giờ. Chúng ta có cả một thị trường cho thực phẩm hữu cơ; bạn có thể mua trứng của những con gà chưa được điều trị bằng kháng sinh và hormone… Những thứ này đắt tiền hơn, nhưng bạn có thể mua chúng, vậy là được rồi. Cho dù có công nghệ đó thì bạn cũng không nhất thiết phải tham gia. Nhưng việc cấm đoán những điều đó, theo tôi, là một ý kiến tồi, vì vậy tôi không thích thái độ của người Mỹ đối với việc nhân bản và tế bào gốc; cũng như thái độ của người châu Âu đối với thực phẩm biến đổi gen. Có rất nhiều lời phàn nàn về việc này.

Đây là những điều mà tôi muốn đề xuất. Tôi không có đề nghị cụ thể về việc tiền dành cho nghiên cứu nên được đầu tư vào đâu, vì điều đó khiến tôi phải giả vờ biết những điều mà tôi không biết. Đó là cách tạo chính sách không tốt.

AN: Ông muốn giới thiệu những lĩnh vực nghiên cứu nào cho một nhà kinh tế học trẻ tuổi ngày nay?

JM: Còn gì khác ngoài lịch sử kinh tế học! Tôi nghĩ rằng kinh tế học đóng vai trò quan trọng trong việc nhắc nhở các nhà làm chính sách rằng điều này liên quan đến thực tế. Đây là về những con người có thực, sự kiện có thực, địa điểm có thực mà bạn có thể nhìn thấy và điều đó không thể diễn tả bằng các ký hiệu toán học. Tôi nghĩ rằng đó là một cách để minh họa tất cả những điều đó. Có một số nhà kinh tế học thật sự giỏi về điều này, những người nghiên cứu kinh tế học dòng chính và mô hình hóa nhưng vẫn lưu ý đến thực tế lịch sử. Tôi đang nghĩ tới một người mà tôi thật sự ngưỡng mộ, Daron Acemoglu. Ông ấy không phải là một nhà sử học kinh tế nếu xét về bằng cấp hay theo chuyên ngành nghiên cứu, nhưng ông thật sự đọc, suy nghĩ và quan tâm đến lịch sử. Ông ấy thông minh một cách khó tin. Đó là điều mà tôi nghĩ người ta nên thực hiện. Chúng ta nên nghiên cứu về lịch sử kinh tế học để cung cấp tư liệu cho các mô hình chính thức mà chúng ta đang nghiên cứu, để kinh tế học không trở thành một nhánh của toán học ứng dụng, mong sao đừng có chuyện đó xảy ra! Tôi không nghĩ rằng điều đó sẽ xảy ra, nhưng hiểm họa vẫn luôn tồn tại nếu con người không để tâm vào những gì tôi đang nghiên cứu.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB TH TPHCM – 2019.

Phỏng vấn Joel Mokyr – Phần IV


Nhưng sau đó đã có việc xảy ra: Nhật Bản vươn lên. Nước Nhật không “dị ứng” với sự đổi mới như người Mỹ, và họ tạo ra những chiếc xe tốt hơn từ các vật liệu tốt hơn, với giá thành rẻ hơn. Tuổi thọ của những chiếc xe tăng lên. Và bạn đoán thử xem? Xe hơi của Mỹ ngày nay tốt hơn rất nhiều so với xe được sản xuất vào giai đoạn cuối thập niên 1950 đến đầu thập niên 1970 – không phải vì người Mỹ không thể làm được điều đó sớm hơn, mà vì chính nền kinh tế mở đã buộc họ phải làm việc đó.

Tôi nghĩ đó là điều mà định luật Cardwell thực sự muốn nói đến. Nó không đưa ra dự đoán; mà chỉ nói rằng thế giới càng mở cửa – càng có thương mại tự do, càng có nhiều ý tưởng và con người có thể di chuyển từ nước này sang nước khác – thì càng ít có khả năng tiến bộ công nghệ sẽ chấm dứt. Ai sẽ dẫn đầu về công nghệ gần như không thể xác định, và điều đó cũng không nhất thiết quan trọng, vì nhiều khả năng nước Mỹ sẽ vẫn là nhà lãnh đạo thế giới trong việc phát triển một số thứ nhất định, như phần mềm hay cách làm bánh hamburger, trong khi người Trung Quốc sẽ sản xuất máy tính xách tay và xe hơi, và điều đó với tôi cũng không sao!

AN: Ông đã viết rằng: “các thể chế giúp xác định các ranh giới áp dụng nỗ lực và thời gian của những người giàu có và nhiều tham vọng nhất. Các doanh nhân, nhà cải cách và nhà sáng chế sẽ cố gắng làm giàu và tạo danh tiếng bất cứ nơi nào họ nhận thấy rằng có phần thưởng hứa hẹn nhất. Có rất nhiều con đường có thể đi để thực hiện điều này: thương mại, đổi mới và tài chính; hoặc cướp bóc, tống tiền và tham nhũng”. Dựa vào đó, kinh tế học thể chế mới (new institutional economics) coo1 những điểm mạnh và thiếu sót gì, thưa ông?

JM: Tôi nghĩ rằng trên hết, điểm mạnh là trường phái này cho chúng ta thấy một câu chuyện tốt hơn về sự tác động giữa chính trị và quyền lực đối với các biến số kinh tế, điều mà trước đây chúng ta không thực sự quan tâm đến. Tôi nghĩ điểm yếu là chúng tôi không thực sự có một lý thuyết tốt về sự thay đổi thể chế (institutional change); chúng tôi đang nỗ lực, nhưng vẫn chưa làm tốt điều đó. Và chúng tôi không có một lý thuyết tốt về sự tương quan giữa các thể chế và văn hóa – điều này rất khó thực hiện. Trên thực tế, hiện nay các nhà kinh tế chỉ mới đang khám phá văn hóa.

Tôi nghĩ chúng ta không hiểu rõ tại sao một số nước lại dựa trên một loại hình thể chế và các nước khác lại có một mô hình thể chế khác. Chúng ta hiểu rằng có rất nhiều quán tính và sức ì trong các thể chế, mặc dù chúng thay đổi theo thời gian. Nhưng chúng ta không hiểu hết vì sao một số quốc gia lại có những thể chế tốt và các nước khác lại có thể chế xấu. Và khả năng tiên đoán của chúng ta về chúng hoàn toàn là số không.

Đó là lĩnh vực mà tôi muốn nghiên cứu hướng tới, và quyển sách của tôi về vấn đề này, The Enlightened Economy (Nền kinh tế khai sáng), sẽ đề cập đến việc đó. Tôi cho rằng có một “mũi tên nhân quả” xuất phát từ tín ngưỡng, hệ tư tưởng, niềm tin, ý tưởng – bạn có thể gọi chúng bằng bất cứ tên gọi gì – hướng đến việc thay đổi thể chế, và rằng một trong những cách thay đổi thể chế là bắng cách thuyết phục lẫn nhau. Tôi có một lý thuyết về việc các thể chế nên như thế nào, bạn có một lý thuyết khác, và chúng ta cố gắng thuyết phục lẫn nhau; nếu chúng ta không thuyết phục được nhau thì chúng ta sẽ cố gắng thuyết phục các bên thứ ba, và cuối cùng các bên thứ ba sẽ tìm ra một lý luận hấp dẫn hơn dựa trên logic hoặc lợi ích của họ, bằng chứng hoặc theo sự kết hợp của cả ba yếu tố, và họ đưa ra quyết định, sau đó các thế chế thay đổi và bạn có cải cách. Những thứ đó cần phải được thực hiện chính xác hơn, chính thức hơn, nghiêm khắc hơn nhiều, cần phải kết hợp với những thứ khác, và chúng ta đã chưa có nhiều tiến triển trong quá trình này.

AN: Ông cảm thấy tin tưởng đến đâu vào việc chúng ta có thể xây dựng, phát triển các thể chế có tiềm năng đối với tăng trưởng kinh tế tại những nơi mà hiện nay chúng còn chưa tồn tại, hay chính xác hơn là chưa được chuyển đến?

JM: Tôi rất hoài nghi về điều đó. Chính xác là bởi vì nếu bạn thay đổi các thể chế nhưng không thay đổi văn hóa, các thể chế cũng sẽ không sự biến đổi.

Tôi không lạc quan về việc thay đổi thể chế của bất kỳ quốc gia nào – chắc chắn là trong vài năm hoặc vài thập kỷ tới. Tất nhiên tôi không tin rằng phương Tây có khuynh hướng di truyền hay sinh học để có được những thể chế tốt hơn. Tất cả thuộc về lịch sử. Nếu có đủ thời gian, Turkmenistan, Moldova, Belarus, tất cả các quốc gia khác mà hiện tại đang bị điều hành một cách tồi tệ cũng có thể phát triển tốt theo cách mà chúng ta không thể tưởng tượng được. Điều này sẽ không xảy ra trong thời gian chúng ta còn sống. Đó là dự đoán duy nhất mà tôi sẽ đưa ra, và thậm chí tôi sẽ cẩn thận nhấn mạnh bằng cách nói rằng tôi có thể sẽ sai.

AN: Ông có thể thảo luận về những gì mà tôi gọi là “so sánh về bộ thắng xe” (breake analogy) trong quyển sách của ông hay không? Đó là văn hóa có thể đóng vai trò ngăn cản sự đổi mới, tăng tưởng và tiến bộ. Khi mô tả cách hoạt động của bộ thắng này, ông nói rằng một nền văn hóa có thể được so sánh với một cái thắng xe. Qua thời gian, ngay cả khi đã có thắng xe, nó có thể bị mòn. Có bằng chứng nào cho thấy nó thực sự diễn ra không, thưa ông? Ông có thể minh họa điều đó được không?

JM: Tôi sẽ trình bày thế này: chúng ta hãy xem vai trò của tôn giáo trong sự phát triển của công nghệ. Tôn giáo là phần nổi bật nhất của văn hóa, và nó cũng có khía cạnh thể chế. Tôn giáo là một cách tốt để thể hiện sự khác biệt giữa văn hóa và thể chế. Chúng ta có niềm tin và sự nhận thức tôn giáo, không nhất thiết chỉ về Chúa mà còn về mọi thứ khác, và sau đó chúng ta có các tổ chức tôn giáo, nhà thờ, giáo đoàn, giáo đường và những tổ chức tương tự, nơi mà bạn có thể là thành viên của một tổ chức và không phải là thành viên của một tổ chức khác. Tôi đã nghe kể rằng khoảng 90% người Do Thái đến giáo đường thực chất là người vô thần, không biết điều đó có đúng không. Tôi cảm thấy điều đó rất buồn cười, nhưng lý do họ đi đến giáo đường là vì họ muốn người khác tin vào Chúa, vì họ nghĩ rằng điều đó tốt cho xã hội. Theo tôi, tôn giáo ở một vài khía cạnh nào đó có thể là một cái thắng đối với công nghệ, vì theo phân tích cuối cùng, như tôi đã nói ở trên, công nghệ có một khía cạnh trừu tượng, siêu hình mà chúng ta phải luôn nghĩ đến. Chúng ta đang đóng vai trò của Chúa. Chúng ta đang thay đổi môi trường, chúng ta đang gây ra sự tuyệt chủng của các loài, đôi khi vô tình và đôi khi có chủ ý. Chúng ta tiêu diệt virus bệnh đậu mùa, hoặc hy vọng làm được điều đó. Nhưng nếu chưa làm được, thì không phải vì chúng ta đã không cố gắng. Và nếu chúng ta có thể tiêu diệt virus HIV, nghĩa là chúng ta làm điều đó nhờ có Chúa.

Chúng ta đang đóng vai trò của Chúa. Giờ đây, căn cứ cơ bản là chúng ta đã phát triển một tập hợp các niềm tin rằng tôn giáo cho phép chúng ta đóng vai trò của Chúa. Ý tưởng cơ bản là: Đấng tạo hóa tạo ra thế giới nhưng chúng ta chịu trách nhiệm về nó, do đó, bằng cách thao túng và thay đổi nó, chúng ta không phạm lỗi đối với Đấng tạo hóa, mà theo một nghĩa nào đó là đang minh họa cho sự vĩ đại của ông ấy. Đó là cách giải thích thời trung cổ của Thiên chúa giáo và Do Thái giáo, làm cơ sở cho phần lớn các sáng tạo công nghệ của chúng ta. Tất nhiên, ngoại trừ các trường hợp nhiều tôn giáo chỉ ra một hướng khác và nói chúng ta không nên làm một số điều nhất định, và một số người tin vào việc không nên nhân bản, không nên nghiên cứu tế bào gốc, hoặc cần ngăn cản năng lượng hạt nhân… Về mặt này, văn hóa có thể đóng vai trò như mọt bước cản, một “bộ thắng” (brake).

Timur Kunur lý luận rằng trong thế giới Hồi giáo, điều này rất đúng – rằng nhìn chung, tác động của tôn giáo là một bước cản quan trọng đối với sự phát triển kinh tế. Ngày nay, đạo Hồi có ở nhiều nơi, một số nơi tốt hơn và một số nơi kém phát triển hơn. Tôn giáo này đã không ngăn cản sự phát triển của Thổ Nhĩ Kỳ và Indonesia, nhưng ở Trung Đông nói riêng, rất khó để lý luận rằng nó không phải là sự kìm hãm phát triển công nghệ.

Tôn giáo không chỉ là một tuyên bố về mối quan hệ của bạn với đấng tối cao. Nó còn là một vấn đề xã hội. Theo quan điểm của tôi – và với quan điểm của một người nghiệp dư, vì tôi không phải là một chuyên gia về tôn giáo – thì tôn giáo là một tuyên bố về mối quan hệ của bạn với các thế hệ trước đó; có nghĩa là tôn giáo liên quan nhiều đến lịch sử theo nghĩa có nhiều sách và nguyên tắc được hình thành từ nhiều thế hệ trước hiện nay vẫn được tôn trọng. Điều đó có vẻ khá rõ ràng khi bạn nghĩ về nó, phải không? Đạo Thiên Chúa nhìn lại Tân Ước, đạo Do Thái nhìn lại Cựu Ước,và Hồi giáo nhìn vào Kinh Koran. Nhưng đó là tất cả những gì về tôn giáo. Nó không chỉ là về Chúa; đó là về những người đã đến trước chúng ta – những người mà chúng ta tin rằng đã nhận ra Chúa.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB TH TPHCM – 2019.

Phỏng vấn Joel Mokyr – Phần III


AN: Ông nghĩ Cách mạng Công nghiệp sẽ diễn ra như thế nào nếu không có báo in, cái làm gia tăng dung lượng lưu trữ và khả năng truyền thông của kiến thức? Và để tiếp nối điều đó, ông có nghĩa rằng ngày nay máy tính và Internet có thể có những tác động tương tự hay không?

JM: Đó là một câu hỏi khó. Vẫn còn có những người tin rằng báo in là một phát minh đặc biệt torng lịch sử, rằng nếu không có nó thì cũng sẽ không có điều gì diễn ra được. Nhưng tôi không bị thuyết phục bởi điều đó. Hầu như bất cứ cái gì trên đời này cũng có thế có thể thay thế nó! Nếu không có báo in, điều mà châu Âu phải làm là dành một tỷ lệ lực lượng lao động đáng kể để huấn luyện thành những người sao chép, và sao chép mọi thứ bằng tay. Đó là việc tốn kém hơn rất nhiều, tùy thuộc vò mức lương lao động tương đối và người ta viết nhanh đến đâu, và nó sẽ là một trở ngại. Nhưng hãy nhớ rằng trước năm 1750 hoặc 1800, đa phần sách được in ra không giúp được nhiều cho công nghệ, hoặc không giúp được gì. Chắc chắn rằng đã có những quyển sách về công nghệ, kỹ thuật, hóa học và những thứ tương tự, nhưng chúng chỉ là một phần nhỏ trong số sách được in ra. Phần lớn sách in được in ra liên quan đến tôn giáo, tiểu thuyết hoặc sách báo khiêu dâm, hoặc là những tài liệu và những quyển sách nhỏ về chính trị.

Phần lớn thông tin về công nghệ thực chất là thông qua truyền thông cá nhân: qua việc mọi người đi du lịch và tham quan nhà máy cũng như công việc kỹ thuật của những người khác. Nó thông qua các mối quan hệ thầy trò, vốn là sự truyền đạt cá nhân về tri thức thông qua những trò chuyện và sự bắt chước, chứ không nhất thiết phải thông qua sách vở. Chỉ có ngày nay bạn mới có thể học hỏi được nhiều chừng đó từ sách vở. Tôi nhận thức được rằng người ta có thể học rất nhiều từ sách vở trong nhiều trường hợp và với các đề tài mang tính lý thuyết thì điều đó (học từ sách vở – ND) là không thể bỏ qua. Nhưng tôi vẫn có thể hình dung ra cuộc cách mạng công nghiệp mà không có báo in, hoặc không có đầu máy hơi nước, hoặc không có bông vải. Tôi nghĩ rằng chẳng có thứ gì là “không thể thay thế được”.

Sẽ có một ngoại lệ mà tôi còn do dự là quá trình cốt lõi của việc rèn sắt, vì đó là một thứ mà tôi chưa thể nghĩ ra một sự thay thế tốt. Sắt là một vật chất mà chúng ta chưa bao giờ tìm thấy những thứ thay thế tốt hơn trong thời hiện đại.

AN: Câu hỏi tiếp theo của chúng tôi có một số phần. Ông đã tuyên bố rằng điều mà ông gọi là Định luật Cardwell có ý rằng không một xã hội nào có thể duy trì vị trí dẫn đầu về công nghệ mãi mãi. Cơ sở của định luật này là gì? Và ông có cho rằng nước Mỹ, hiện đang là cường quốc công nghệ hàng đầu, sẽ là nạn nhân của định luật Cardwell trong thế kỷ này hay không? Nếu có, họ sẽ mất vị trí này về tay quốc gia nào?

JM: Một lần nữa, tôi muốn tránh đưa ra bất kỳ dự đoán nào. Tôi không nói rằng trong vòng 100 năm nữa nước Mỹ sẽ giống như Đế chế La Mã vào thời Attila the Hun hoặc một cái gì đó tương tự. Bất cứ ai đưa ra lập luận đó đều rất ngu ngốc.

Điều tôi có thể nói là như sau. Nhìn lại quá khứ, rõ ràng là không nước nào nắm giữ vai trò lãnh đạo về công nghệ trong một thời gian quá dài. Lý do chủ yếu là vì công nghệ tạo ra các lợi ích được đảm bảo, và những lợi ích này là một phần lý do của nỗ lực ngăn chặn các công nghệ mới, những thứ sẽ đào thải chúng theo cùng cách mà chúng đã loại bỏ thế hệ công nghệ trước đó. Và điều đó dẫn đến cuộc đấu tranh chính trị. Nếu mọi thứ đều thông qua thị trường, thì đó không phải là vấn đề, phải không? Bởi vì khi thị trường quyết định bạn vận hành không có hiệu quả thì bạn phải ra đi. Bạn là một con khủng lỏng chờ tuyệt chủng, chấm hết! Nhưng tất nhiên, công nghệ cũ không muốn dựa vào thị trường. Họ muốn dựa vào các cơ chế thị trường đã được biết đến, đặc biệt là chính trị. Và họ có tất cả các dạng cơ chế. Một cơ chế trong số đó là quy định và luật lệ (regulation), núp dưới tên gọi an toàn, môi trường, hoặc bảo hộ việc làm. Chúng sẽ cố gắng chống lại những cái mới để bảo vệ con người và nguồn vốn gắn liền với công nghệ cũ.

Do đó luôn có một cuộc đấu tranh chính trị giữa những người muốn có những thứ mới và những người muốn bảo tồn cái cũ. Có lúc bên này thắng, cũng có lúc bên kia thắng. Ví dụ điển hình là nhà Minh của Trung Quốc, khi đó toàn bộ sự vận hành của thể chế đều rất ám ảnh bởi nỗi sợ cái mới và chống lại bất kỳ sự đổi mới công nghệ nào. Dĩ nhiên, điều này dẫn tới việc các xã hội này bị tụt hậu và cuối cùng đã có một sự thức tỉnh đầy cay đắng vào thế kỷ 19 khi họ nhìn thấy phương Tây đã tiến xa lên phía trước.

Tôi nghĩ về điều này mỗi khi tôi nhìn vào những gì đang xảy ra ở nước Mỹ. Tôi thấy những dấu hiệu cho thấy hệ thống có thể chống lại sự đổi mới, bằng hình thức này hay hình thức khác, và tôi cảm thấy lo lắng. Tôi không tuyên bố rằng mình biết kết quả của cuộc đấu tranh này. Nhưng tôi thấy người ta đang đưa ra những lập luận tương tự. Các tranh luận phản đối nghiên cứu về tế bào gốc và việc nhân bản cũng giống như những gì xảy ra 150 năm trước chống lại việc gây tê. Người ta cho rằng không nên tiêm thuốc giảm đau cho phụ nữ khi hạ sinh em bé. Chúa Trời muốn họ phải chịu đau đớn, và chúng ta không thể chống lại Chúa Trời.

Chúng ta không tạo ra các quy luật tự nhiên. Có thể Chúa Trời đã tạo ra điều đó. Nhưng chúng ta sử dụng chúng, chúng ta làm thay đổi môi trường, và chúng ta thay đổi cách vận hành mọi vật. Bạn đã biết là chúng ta đã làm điều đó từ rất lâu trước khi chúng ta biết đến kỹ thuật di truyền. Chúa Trời không tạo ra đồ ăn, mà con người đã làm điều đó. Nhưng tôi thấy đang xuất hiện những lập luận như vậy. Chúng được nêu ra theo quan điểm tôn giáo – rằng chúng ta không nên chống lại Chúa Trời – và hiện đang có những tranh luận theo quan điểm dân túy., đó là những công nghệ mới này sẽ khiến con người thất nghiệp và làm xáo trộn cộng đồng. Công nghệ luôn làm xáo trộn, hay “phá hủy” các cộng đồng hiện hữu. Khi con người chăn nuôi gia súc và làm nông nghiệp có tổ chức, họ đã làm xáo trộn cộng đồng thợ săn và những người hái lượm. Các cộng đồng này đã bị xáo trộn và phá hủy trong vô vọng. Điều đó không tốt đối với những người muốn giữ các cộng đồng này, nhưng đó là những gì thuộc về tiến bộ công nghệ. Cuộc Cách mạng Công nghiệp đã phá hủy các cộng đồng theo một cách thức chưa từng có tiền lệ!

Trên thực tế, tôi không nói rằng Định luật Cardwell dự đoán điều này sẽ xảy ra. Nó chỉ xảy ra trong các xã hội khép kín. Nền kinh tế càng mở cửa thì chúng càng ít có khả năng xảy ra. Hiện nay một số xã hội đã làm rất tốt việc bế quan tỏa cảng. Albania, Bắc Triều Tiên và nhiều nơi đã làm như vậy. Nhưng Albania đã hối hận và Bắc Triều Tiên cũng sẽ hối hận, nếu hiện nay họ chưa cảm thấy vậy. Và ở phần còn lại của thế giới, việc ngăn chặn công nghệ là rất khó khăn, vì nếu bạn không làm điều đó (ý nói không áp dụng một công nghệ nào đó – ND), người khác cũng vẫn sẽ làm. Tôi nghĩ điều đó là nguồn động lực công nghệ quan trọng nhất trong lịch sử thế giới: không quốc gia nào có thể bảo thủ, trừ khi nó sẵn sàng hứng chịu một rủi ro khủng khiếp.

Đó chính là những gì xảy ra ở Nhật Bản khi Phó Đề đốc Perry xuất hiện vào năm 1853. Trong hai thế kỷ, người Nhật đã đóng cửa với toàn thế giới; họ nói rằng họ không muốn có sự thay đổi. Họ muốn duy trì mọi thứ như đang có. Bạn biết đó, họ cấm súng. Nhật Bản đã có súng vào thế kỷ 16, nhưng họ đã vứt bỏ tất cả vũ khí vào thế kỷ 17. Sau đó không có khẩu súng nào ở Nhật Bản. Đây là một công nghệ mà họ không thích, và tôi phần nào thông cảm với điều đó. Nhưng sau đó Perry xuất hiện và người Nhật Bản nói rằng: “Bạn biết đấy, ngoài kia có một thế giới rộng lớn, họ đang tiến lên phía trước trong khi chúng ta thì không, và đó không phải là một tình huống tốt. Chúng ta hãy mở cửa vào hòa nhập với họ”. Phần còn lại, tất nhiên, đã chính là lịch sử. Tôi nghĩ rằng có sự khác biệt giữa một kinh tế mở và đóng: trong một nền kinh tế đóng, định luật Cardwell hầu như không thể tránh khỏi, nhưng một nền kinh tế mở, trong một nền kinh tế có sự trao đổi thương mại và sự cạnh tranh với phần còn lại của thế giới, điều này khó có thể xảy ra.

Đây là một ví dụ khác. Nó nằm ngoài chuyên môn cảu tôi, nhưng chúng ta hãy xem xét ngành công nghiệp xe hơi của nước Mỹ trong thập niên 1950. Chúng hoàn toàn không thay đổi gì về công nghệ. Những chiếc xe hơi được chế tạo vào năm 1960 về cơ bản giống xe sản xuất năm 1950! Các vây đuôi được tháo ra rồi gắn lại, những chiếc xe cũng không có gì tốt hơn. Khi tôi đến Mỹ vào cuối những năm 1960, họ vẫn còn chế tạo xe Vega và Pinto, những chiếc xe tồi tệ nhất từng tồn tại. Nhưng đó chính xác là những gì đã xảy ra. Ngành công nghiệp xe hơi trở nên quá tự phụ, tự hài lòng với bản thân! Không phải là họ không có ý tưởng mới; mà là họ đã đàn áp những ý tưởng mới. Nếu Studebaker muốn làm ra một chiếc xe tốt hơn, họ đã loại bỏ ông ta rồi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB TH TPHCM – 2019.

Phỏng vấn Joel Mokyr – Phần II


Ví dụ như tôi không nghĩ rằng có ai đó thực sự hiểu châm cứu hoạt động như thế nào. Có thể bạn hiểu, tôi thì không. Nhưng chúng ta biết rằng – hay ít nhất người ta cũng lập luận – rằng châm cứu rất hiệu quả đối với một số người và vẫn còn rất nhiều thứ để học hỏi về cơ thể con người, và cuối cùng người ta sẽ biết được – tuy có thể sẽ kéo dài thêm một thế hệ nữa. Chúng ta biết rằng một số loại thuốc nhất định có hiệu quả đối với não bộ. Chúng ta không biết chính xác tại sao, nhưng chúng ta đang cố gắng tìm hiểu. Khi hiểu được, chúng ta sẽ có thể giúp nó trở nên tốt hơn – và theo quan điểm của tôi, đó là cách dẫn đến tăng trưởng kinh tế.

Có một ví dụ trong quyển sách của tôi, mà tôi thực sự thích thú, liên quan đến việc sử dụng động cơ. Khi động cơ đầu tiên được làm ra – có lẽ bắt đầu từ năm 1712 với động cơ Newcomen đầu tiên, mặc dù có một số mô hình được xây dựng trước đó – như chúng ta nhìn thấy ngày nay, những gì Newcomen cơ bản đã làm chỉ là tìm cách chuyển đổi năng lượng nhiệt thành động năng. Vào thời điểm đó, đó là một khái niệm mà ông ấy không biết, đúng không? Đó là khái niệm về nhiệt động lực học, có thể đã được phát hiện ra sau đó một thế kỷ rưỡi. Ông ấy đã khiến các động cơ hơi nước làm việc, và trên thực tế đã có một số cải tiến khả thi. Tuy nhiên, phải đến giữa thế kỷ 19, khi nhiệt động lực học trở thành một phần kiến thức hữu ích thì người ta mới biết động cơ hơi nước chính xác hoạt động như thế nào và những gì làm cho nó trở nên hiệu quả hơn hoặc kém hiệu quả hơn!

Rõ ràng nhiệt động lực học đã truyền cảm hứng, một cách trực tiếp và có thể giải thích được, bởi những người quan sát động cơ hơi nước tại nơi làm việc. Họ nhìn thấy nó hoạt động, và tự hỏi: “Sao có thể như thế được?”. Và từ đó sinh ra lĩnh vực nhiệt động lực học. Một khi nhiệt động lực học ra đời, mọi người nhìn vào nó với tri thức rằng họ có thể làm cho các động cơ này tốt hơn. Và từ đó, chúng ta có động cơ đốt trong, có dầu diesel, có điện, có tất cả những máy móc đã tận dụng nhiệt động lực học dưới dạng này hoặc dạng khác.

Và đó là một hình thức động lực nội tại (internal dynamic) của kiến thức hữu ích, cái đã tạo nên lịch sử. Tôi nghĩ đó là thông điệp chính trong quyển sách của tôi, và đó là điều mà tôi muốn chỉ ra cho các nhà kinh tế học. Theo đánh giá khiêm tốn của tôi, ở một ý nghĩa nào đó, nó giúp mở hộp đen của Nathan Rosenberg – tất cả chúng ta đều nói về công nghệ, nhưng chúng ta không bao giờ biết trong đó có gì. Tôi đã không giải quyết được tất cả mọi thứ, và có rất nhiều thứ mà tôi không biết, nhưng đây là một cách để mở hộp đen đó.

AN: Ông đã nêu trong quyển The gifts of Athena rằng: “kiến thức hữu ích thường xuất hiện trước khi mọi người biết được nó sẽ được dùng vào việc gì”. Bây giờ thì nhận định này ăn khớp phần nào với những gì ông vừa nói, nhưng nó trở thành một điểm cực kỳ quan trọng, vì nó có nghĩa là việc phát triển trong nhiều lĩnh vực sẽ trở nên cực kỳ khó khăn, nếu không nói là không thể dự đoán, và có lẽ quan trọng hơn là không thể lập kế hoạch trước. Theo ước tính của ông thì điều này có đúng không? Và điều này có những ảnh hưởng gì?

JM: Hoàn toàn đúng. Tôi không biết một nhà kinh tế học nào đang nghiên cứu về chủ đề này mà có suy nghĩ khác. Nhà kinh tế học Richard G. Lipsey đã phát biểu chính xác như vậy: cách duy nhất chúng ta có thể nghĩ về công nghệ là trong các thuật ngữ mang tính chất tiến hóa. Và sinh học tiến hóa là một dạng khoa học không có dự đoán, trừ khi nói rằng một số điều nhất định sẽ không xảy ra vì chúng bị loại trừ. Nhưng trong số tất cả những điều có thể , thực sự không có cách nào đoán trước được điều gì sẽ xuất hiện và trông ra sao. Tôi có xu hướng rất hoài nghi về khả năng dự đoán của các nhà kinh tế học, chấm hết! Tôi luôn luôn trích dẫn cho học sinh của mình một tuyên bố nổi tiếng rằng kể từ khi ngôi đền thứ hai của chúng ta bị hủy hoại, nghệ thuật tiên tri đã được trao cho những kẻ ngốc. Điều đó không làm cho tôi được ưa thích trong số những đồng nghiệp thích dự đoán, nhưng tôi đã được bổ nhiệm rồi.

AN: Vậy sự bổ nhiệm cũng có mặt tốt, phải không?

JM: Đúng vậy [cười]. Những gì chúng ta có thể nói là: có một số vấn đề nhất định dường như rất quan trọng và sẽ có nghiên cứu về các vấn đề đó. Tất nhiên những gì nghiêm túc hơn nhiều là chúng ta thực sự không có cách gì dự đoán được những kỹ thuật mới nào sẽ xuất hiện mà không được gợi ý bởi các mức giá tương đối hiện tại. Không ai có thể thuyết phục tôi rằng mọi người có nhu cầu rất lớn đối với iPod. Nó bán chạy nhờ có thiết kế đẹp, mọi người thích nó và nó tạo ra dấu ấn riêng, và đó là cách mọi việc thường diễn ra. Và tôi nghĩ đó là cách mà công nghệ thường hoạt động.

Tất nhiên, điều thú vị là nhìn lại những gì mà người theo thuyết vị lại và các nhà văn khoa học viễn tưởng nghĩ rằng sẽ xảy ra trong tương lai, từ cách đây 50 – 100 năm. Hóa ra hầu như tất cả họ đều đoán sai những gì cuối cùng người ta thực sự quan tâm đối với công nghệ hiện tại và chúng trông như thế nào. Tất cả họ đều dự đoán rất nhiều về du lịch vũ trụ, điều chúng ta chưa làm tốt lắm, và họ đã dự đoán tất cả các loại công nghệ tương tự – ví dụ như khả năng di chuyển vật đó bằng sức mạnh tinh thần và những thứ tương tự – nhưng họ thực sự không thể dự đoán được cuộc cách mạng thông tin liên lạc.

Tôi không thể tìm thấy bất cứ ai trước đây từng dự đoán rằng mọi người sẽ thật sự rời khỏi văn phòng và nhà máy, và bắt đầu làm việc từ nhà riêng, nơi nghỉ mát hoặc bất cứ nơi đâu mà họ đang có mặt! Sự phân biệt nhân tạo giữa công việc và giải trí, cả trong không gian và thời gian, là khá phổ biến vào năm 1914. Nếu bạn nhìn lại thế giới vào năm 1914, một lượng lao động khổng lồ – làm việc ở một nơi được xác định rõ ràng theo giờ làm việc được xác định rõ ràng. Chuông reo lúc 8 giờ sáng và bạn có mặt ở đó, và sau đó nó lại reo lúc 5 giờ chiều và bạn đi về nhà, và đó là công việc. Ngày nay, số người phải chịu sự quản lý của chế độ này đang giảm dần do kết quả của công nghệ thông tin. Và ai đã dự đoán được điều đó? Không một ai, chưa từng có ai dự đoán được xu thế này! Hoặc là tôi không biết đến người đã nói về điều đó.

Tôi sẽ đưa ra một so sánh liên tưởng nữa mà tôi thích. Giả sử bạn đang cố gắng đưa ra dự đoán về sự tiến hóa của các loài. Hãy nghĩ đến sự tiến hóa của loài người. Như mọi người đều biết, khủng long đã biến mất vào 65 triệu năm trước, và điều đó tạo cơ hội cho động vật có vú. Vì vậy, động vật có vú đã tiến hóa qua hơn 60 triệu năm và tạo ra tất cả các chủng loại khó có thể tin được, hầu hết trong số đó đều đã tuyệt chủng. Phải mất 60 triệu năm để người tinh khôn tiến hóa. Liệu ai có thể đoán trước được rằng một tiểu hành tinh sẽ va chạm và tất cả khủng long biến mất? Nếu bạn sống trong khoảng thời kỳ đó, bạn có dự đoán được rằng một loài như người tinh khôn, với hệ thần kinh to lớn phức tạp hơn tất cả các loài khác, cuối cùng sẽ thay đổi toàn bộ sinh quyển của hành tinh này không? Không ai dự đoán được điều đó, vì theo một ý nghĩa nào đó thì nó là một tai nạn. Nó có thể đã xảy ra vào 30 triệu năm trước, 40 triệu năm trước, hoặc có nhiều khả năng… không hề xảy ra. Đó là một dạng yếu tố tình cờ, điều tôi nghĩ là vẫn đúng đối với công nghệ.

Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể dự đoán bất kỳ sự tiến hóa nào. Ví dụ, có thể đoán chắc rằng sẽ không bao giờ có côn trùng lớn như voi, bởi vì điều này đã bị loại bỏ bởi các định luật vật lý. Và rất nhiều thứ khác có thể bị loại trừ. Hầu hết các sinh vật mà bạn nhìn thấy trong phim Chiến tranh giữa các vì sao không thể tồn tại ngoại trừ trong trí tưởng tượng của chúng ta, vì hầu hết chúng đều vi phạm một số luật về vật lý, hóa học hoặc sinh học. Ngược lại, tôi có thể đưa ra cho bạn một danh sách dài các loài về nguyên tắc là có thể sẽ có nhưng không bao giờ xuất hiện, đơn giản là vì sự đột biến chính xác chưa bao giờ xảy ra. Theo nghĩa đó, tôi nghĩ các vấn đề này và biến đổi công nghệ hoàn toàn giống nhau.

Tôi không muốn nhấn mạnh  quá nhiều vào sự so sánh này, vì trong thực tế nó có thể gây hiểu lầm. Sinh học là một trường hợp đặc biệt của sự tiến hóa theo lý thuyết. Có rất nhiều hệ thống tiến hóa khác không hẳn là không xác định hay không thể dự đoán, và công nghệ có thể là một trong số đó. Tuy nhiên, vẫn có một tính chất “không thể xác định, không thể dự đoán” cơ bản và sâu sắc ở đó, khiến cho việc dự đoán hầu như là bất khả! Và tất nhiên đó là lý do tại sao lại có nhiều chuyện vui.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB TH TPHCM – 2019.

Phỏng vấn Joel Mokyr – Phần I


Joel Mokyr là Giáo sư Nghệ thuật và Khoa học danh hiệu Robert H. Strotz tại Đại học Northwestern. Ông cũng được đồng bổ nhiệm trong ngành kinh tế học với vị trí Giáo sư danh hiệu Sackler tại Trường Kinh tế Etian Berglas thuộc Đại học Tel Aviv. Ông đặc biệt quan tâm đến lịch sử kinh tế học của công nghệ và dân số, nhưng ông tự xem mình là một nhà sử học kinh tế tổng hợp. Ông từng là cựu biên tập của Tạp chí Lịch sử Kinh tế học (Journal of Economic History), tổng biên tập của Bách khoa Toàn thư Oxford về Lịch sử kinh tế học (5 tập, 2004) và tiếp tục là tổng biên tập của một loạt sách mang tên Lịch sử Kinh tế học của Thế giới phương Tây, được in bởi Nhà xuất bản Đại học Princeton. Ông là Trưởng khoa Kinh tế tại Northwestern và là Chủ tịch Hiệp hội Lịch sử Kinh tế học. Ông là thành viên của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ. Các tác phẩm của ông bao gồm The Lever of Riches – 1990, The Bristish Industrial Revolution – 1993; tái bản có chỉnh sửa năm 1998; The Gifts of Athena – 2002. Hiện nay ông đang viết hai quyển sách: The Enlightened Economy: an Economic History of Britain, 1700 – 1850 Neither Fluke nor Destiny: Evolutionary Models in Economic History.

Arnold Kling & Nick Schulz (AN): Xin ông hãy cho biết tầm quan trọng của những gì ông gọi là “kiến thức hữu ích” (useful knowledge) trong quyển sách mà ông đang viết, The gifts of Athena. Nó quan trọng như thế nào đối với tăng trưởng kinh tế, và kiến thức này được tạo ra như thế nào?

Joel Mokyr (JM): Tôi tự hỏi nếu có ai đó chĩa súng vào đầu tôi và bảo “Hãy định nghĩa công nghệ!”, thì tôi sẽ nói gì? Và câu trả lời duy nhất tôi có thể đưa ra và thực sự hài lòng là công nghệ là một cái gì đó trong đầu của chúng ta. Nó không thực sự là hiện vật như là máy móc, công cụ, thiết bị, phòng thí nghiệm; cũng không phải là quyển sách, cũng không phải là cái gì có dạng như vậy. Đó thực sự là những gì đang xảy ra trong đầu mỗi người.

Nhưng điều đó không có nghĩa là kiến thức này có thể ngay lập tức biến thành hành động mà không cần các bước trung gian. Nhưng chính kiến thức mới là điều quan trọng, và như vậy những gì tôi muốn làm là suy nghĩ về những đơn vị cơ bản dùng để định nghĩa nó, cái thực thể được chúng ta gọi là kiến thức, mà không bị vướng quá nhiều vào các vấn đề về nhận thức luận, điều chúng ta sẽ là khi nghĩ rằng mình hiểu biết về cái gì đó. Tôi vui lòng chừa lại phần này cho tâm lý học nhận thức.

Tôi thật sự hiểu được điều này từ một nhà tâm lý học nhận thức nổi tiếng tên là Michael Polanyi. Ông ấy là người có đóng góp lớn phía sau những suy nghĩ đó, mặc dù theo tôi được biết thì ông không thực sự quan tâm nhiều về lịch sử kinh tế học. Những gì Polanyi nói về cơ bản là có hai loại kiến thức, và tôi đã sử dụng chúng trong quyển sách của tôi với tên gọi kiến thực định đề (propositional knowledge) và kiến thức hướng dẫn (prescripve knowledge).

Kiến thức hướng dẫn thực sự là tất cả những gì công nghệ liên quan đến; bạn nên nghĩ nó như một loại công thức. Nhưng hãy nó về cơ bản kỹ thuật là gì: đó là một tập hợp các hướng dẫn. Đó là cách bạn tạo ra sản phẩm. Và đó là một khái niệm rất rộng. Nó không chỉ là cách nướng bánh hoặc làm thế nào để lái xe từ Cincinnati đến Louisville. Đó là cách xây dựng một lò phản ứng hạt nhân và làm thế nào để sửa chữa khi nó bị hỏng. Mọi thứ liên quan đến sản xuất sau khi chúng ta hiểu được sẽ định nghĩa là một công thức (recipe).

Bạn có thể nghĩ đến một công thức – nếu muốn tỏ ra bí hiểm hơn nữa, bạn có thể nghĩ lại thời điểm khi chúng ta vẫn còn viết lập trình máy tính. Đó là một “vòng lặp” theo kiểu “hãy làm điều này, điều đó, rồi điều đó” – và nếu bạn lập trình chính xác, chúng ta sẽ có sản phẩm. Tất nhiên, những vòng lặp này có thể được lồng vào nhau, và chúng có thể có tất cả các loại chương trình con nội bộ, và chúng có thể vô cùng phức tạp. Nhưng về cơ bản, đó được gọi là kỹ thuật.

Đó là một bộ kiến thức hữu ích. Phần khác của kiến thức hữu ích chính là nền tảng của nó: Làm thế nào bạn biết được điều đó? Làm sao bạn nhận được kỹ thuật này? Khi người đầu tiên viết ra điều này, người đó phải biết những gì? Nếu bạn muốn hướng dẫn cho ai đó cách lái xe từ Cincinnati đến Louisville, có một số kiến thức nền có liên quan. Bạn biết sơ đồ của vùng đất đó, biết đường cao tốc ở đâu, rồi mới có thể đưa ra những hướng dẫn chỉ đường. Nhưng có một số kiến thức nền mà bản thân nó không phải là một công thức, mà là kiến thức cơ bản. Và đó là những gì tôi gọi là cơ sở nhận thức của kỹ thuật. Đó là những gì chúng ta hiểu biết về hiện tượng tự nhiên và những điều diễn ra thường xuyên, cho phép chúng ta khai thác tự nhiên theo mục đích riêng và tạo ra những kỹ thuật này. Một số điều này cực kỳ đơn giản và một số khác lại vô cùng phức tạp.

AN: Trong quyển sách, ông mô tả nó như là trang bị mà chúng ta sử dụng trong cuộc chơi chống lại tự nhiên.

JM: Vâng, chính xác là như vậy. Quan điểm của tôi là hai thực thể đó là riêng biệt. Chúng cùng nhau tạo ra cái tôi gọi là kiến thức hữu ích. Nếu bạn muốn phân chia kiến thức hữu ích thành hai tập hợp con này, thì nói theo ngôn ngữ kinh tế học chính thức, có một tập con hướng dẫn, về cơ bản là các công thức, và một tập hợp con định đề, đó là tất cả các kiến thức mà chúng ta có được về các hiện tượng thiên nhiên và những điều diễn ra thông thường mà chúng ta có thể sử dụng để viết nên những công thức này.

Một số kiến thức này có thể cực kỳ đơn giản, ví dụ như mặt trời mọc ở hướng đông và lặn ở hướng tây, hoặc gió thổi theo một hướng khác vào mùa thu, và bạn có thể sử dụng kiến thức đó để đi thuyền trên Đại Tây Dương; và một số kiến thức có liên quan đến những điều rất phức tạp như cơ học lượng tử. Nhưng tất cả kiến thức theo một nghĩa nào đó thì đều có mẫu số chung, rằng đó là những gì chúng ta biết được về hiện tượng tự nhiên và những điều diễn ra thường xuyên. Tất nhiên, những gì chúng ta biết về khoa học ngày nay là một tập hợp con của các kiến thức đó, nhưng không ai có thể cho rằng kiến thức “Tại Chicago, mùa hè nóng và mùa đông lạnh” là khoa học, mà đó chỉ là một hiểu biết thông thường. Nó bao quát hơn, rộng lớn hơn khoa học hơn rất nhiều.

Nhưng đó là những gì tôi muốn nói về kiến thức hữu ích. Một mặt, kiến thực định đề cung cấp cơ sở cho các kiến thức hướng dẫn. Nhưng mức độ rộng hẹp của cơ sở nhận thức luận phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật cụ thể đang được đề cập. Và đây là lý do tại sao lịch sử lại thú vị; Đôi khi chúng ta phát minh ra một cái gì đó mà không hề biết tại sao nó lại hiệu quả. Chúng ta chỉ tình cờ phát hiện ra điều đó, nhờ may mắn, bằng cách thử và sai, hoặc có thể hoàn toàn bằng cách lý luận ảo tưởng. Vấn đề là các phát minh này xuất hiện khi có một cơ sở nhận thức luận tối thiểu – có khi là số không, nhưng đôi khi không phải. Bạn không thể xây dựng một nhà máy hạt nhân nhờ tình cờ, mà phải biết chút gì đó về khoa học hạt nhân. Nhưng bạn có thể tạo ra aspirin nhờ may mắn, mà không có manh mối gì về cách hoạt động của nó.

Sau đó, bạn thấy một điều thú vị xảy ra: một khi người ta phát minh ra một kỹ thuật nào đó, thậm chí nhờ dựa trên cơ sở nhận thức luận rất hẹp, nhưng nếu có các thể chế phù hợp và xã hội đã sẵn sàng cho điều đó, thì sẽ xuất hiện quá trình đi ngược từ kỹ thuật vào lại thành kiến thức, và mọi người bắt đầu tự hỏi nó hoạt động như thế nào và tại sao. Và điều này xảy ra nhiều lần. Trong quyển sách của tôi, tôi đưa ra một vài ví dụ – về hàng không, về động cơ hơi nước, về thuốc aspirin – nhưng mọi người có thể nhân rộng các ví dụ này lên rất nhiều lần. Chúng ta phát minh ra một cái gì đó, và đôi khi chúng ta biết rất ít về cách hoạt động của chúng, đôi khi chúng ta không biết gì, đôi khi chúng ta biết khá nhiều, nhưng trong mọi trường hợp, khi chúng ta sử dụng nó nhiều hơn thì cơ sở nhận thức (epistemic base) sẽ trở nên rộng hơn. Chúng ta biết ngày một rõ hơn về việc chính xác điều gì khiến cho nó hoạt động. Chúng ta hiểu nhiều hơn về nó, đây là chìa khóa liên kết nó với nền kinh tế. Khi đó, chúng ta cải thiện nó dễ dàng hơn. Chúng ta cũng dễ dàng áp dụng nó vào những thứ khác hơn. Nó cũng dễ dàng thích ứng hơn với sự thay đổi tình hình.

Có rất nhiều kỹ thuật trong lịch sử con người mà chúng ta đã áp dụng hiệu quả, nhưng vì chúng ta không hiểu tại sao các phương pháp này lại hiệu quả, nên các kỹ thuật này đã dừng lại. Chúng không được tiếp tục cải thiện. Nhưng trong 200 năm qua, thế giới lại đổi khác: con người cảm thấy bị thách thức nếu một cái gì đó hoạt động mà họ không hiểu rõ lý tại sao! Chúng ta muốn biết tại sao, và chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu để biết tại sao. Đôi khi chúng ta làm tốt và đôi khi làm không tốt điều đó, nhưng chúng ta luôn cố gắng tìm ra.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB TH TPHCM – 2019.

Phỏng vấn Paul Romer – Phần cuối


AN: Thách thức lớn nhất trong việc khiến các giáo sư chấp nhận áp dụng Aplia là gì, thưa ông?

PR: Vấn đề cơ bản là hầu hết họ không có động lực nào để giảng dạy tốt hơn. Nhiều người dạy tốt chỉ vì họ thích làm giáo viên giỏi. Tính chính trực của bản thân khiến họ muốn làm điều gì đó, nhưng xét về mặt tưởng thưởng từ thể chế thì có rất ít điều khiến họ muốn làm tốt hơn công việc của một giáo viên, do đó…

AN: Nếu có điều gì đó, phải chăng là điều ngược lại?

PR: Đúng vậy, thậm chí còn có một loại kỳ thị gắn liền với việc trở thành một giáo viên giỏi hơn. Tôi nghĩ điều này quay trở lại một số vấn đề phổ biến hơn. Trở lại tuyên bố ban đầu của tôi rằng Chính phủ nên trợ cấp cho giáo dục. Tôi tin là như vậy, nhưng một khi chúng ta làm điều đó, chúng ta phải suy nghĩ kỹ về vấn đề đâu là hình thức khích lệ (incentive) trong các định chế thực sự giảng dạy dựa trên các khoản trợ cấp này?

Vì thế chúng ta có, ví dụ, một hệ thống giáo dục công mà tôi nghĩ là đang chịu ảnh hưởng từ một phiên bản cực đoan của việc thiếu vắng sự đo lường về những gì thực sự xảy ra trong hệ thống giáo dục công. Nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu hệ thống giáo dục công đã cho biết: “Vấn đề ở đây là nó giống như được độc quyền. Không có lựa chọn nào khác”. Việc chọn lựa và tham gia thị trường bởi những nhà cung cấp cạnh tranh rõ ràng là một điều giúp thị trường hoạt động tốt, vì vậy họ đang hướng đến một điều gì đó khi nói rằng việc tham gia cạnh tranh sẽ là một điều tốt cho giáo dục; nhưng tôi nghĩ rằng họ thực sự bỏ lỡ một phần của điều này, đó là nếu không có đánh giá, đo lường về điều gì đang xảy ra, thì thật khó để có sự cạnh tranh có hiệu quả…

AN: …Và rằng không có lối ra.

PR: Đúng. Nếu bạn không  thể xác định ai đang làm không tốt, bạn sẽ không có quy trình đào thải những nhà cung cấp dịch vụ kém hiệu quả hơn.

Vì vậy, tôi nghĩ sự lựa chọn và cạnh tranh là tốt, nhưng có thể chúng ta đã đánh giá thấp tầm quan trọng của việc đo lường và đánh giá trong hoạt động giáo dục này, vì không dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa các định chế giáo dục đang thực sự hoạt động tốt với các định chế chỉ đơn thuần là lừa đảo.

AN: Phải chăng có đôi điều quan trọng mà giới chính trị, nói chung, không đánh giá đúng, hoặc không hiểu về tăng trưởng kinh tế?

PR: Có một điều quan trọng để thuyết phục mọi người là: ai cũng muốn tăng trưởng nhưng không người nào muốn thay đổi, và bạn sẽ có cả hai hoặc không có gì cả. Tôi đã từng nói ý này trước đây, rằng đó là về sự sắp xếp lại (rearrangement) và tìm ra những cách tốt hơn để sắp xếp lại mọi thứ. Mà cách duy nhất để bạn tạo ra giá trị mới với những sắp xếp mới là phải làm việc theo cách khác (doing things differently). Bất cứ lúc nào bạn làm khác đi thì sẽ sự thay đổi, vì vậy mọi người phải chấp nhận rằng “thay đổi đi kèm với tăng trưởng”. Nó không chỉ là mang đến nhiều hơn những thứ hiện tại cho tất cả mọi người. Mọi người mong muốn nó giống như cái bánh mình – nghĩa là phần mỗi người đều lớn hơn một chút nhưng không có gì thay đổi về chất – nhưng rõ ràng không thể nào như vậy được!

Một phiên bản mạnh hơn là khi diễn ra thay đổi, chắc chắn sẽ có kẻ thắng và người thua. Cần chấp nhận ý tưởng rằng: nếu có điều gì đó nhìn chung sẽ làm cho thế hệ sau tốt hơn nhiều so với thế hệ này, thì chúng ta phải cùng cam kết thực hiện điều đó, cho dù một số người đang có vị trí cực kỳ tốt hiện nay cuối cùng sẽ có vị trí thấp hơn. Một số người sẽ bị thụt lùi và những người khác sẽ tiến lên, và không thể để một nhóm nhỏ những người thua cuộc – cho dù là thua tuyệt đối hay chỉ hơi thụt lùi – ngăn chặn quá trình tăng trưởng có lợi cho hầu hết mọi người tiến lên phía trước.

Chúng ta phải đồng ý rằng một là sẽ có sự thay đổi, hai là có kẻ thắng người thua và không có gì chắc chắn: tất cả những người tham gia vào hoạt động kinh tế đều chịu rủi ro nhất định. Luôn luôn có người chiến thắng và kẻ thất bại khi có rủi ro. Tất cả chúng ta đều phải chịu điều đó, và tính trung bình thì tất cả chúng ta sẽ đạt được điều tốt hơn, nhưng chúng ta không để cho những kẻ thất bại có quyền bác bỏ sự tiến bộ. Đây rõ ràng là một vấn đề quan trọng hiện nay ở châu Âu, nơi tầng lớp tinh hoa hiện tại, những người đang khá giả hiện tại, đóng một vai trò quan trọng đối với quyền phủ quyết, kìm hãm sự thay đổi và đổi mới. Tôi nghĩ mọi người cần thấu hiểu sự cam kết này đối với việc thay đổi, việc sẽ có người chiến thắng và kẻ thua cuộc.

Hơn nữa, tôi nghĩ rằng bạn có thể đồng thời nói rằng chúng ta chấp nhận rủi ro, chúng ta sẽ có thay đổi, chúng ta sẽ có một số người chiến thắng và kẻ thua cuộc và cả xã hội chúng ta cũng sẽ nỗ lực không để diễn ra tình trạng thu nhập quá cao và bất bình đẳng. Từ trước đến nay trong chiều dài lịch sử, sự cam kết tài trợ tập thể cho giáo dục là rất quan trọng trong việc tạo ra một quá trình tăng trưởng mà mọi người đều có thể chia sẻ lợi ích. Nếu chúng ta chưa có bất kỳ điều khoản công hoặc khoản tài trợ công nào cho giáo dục, thì mọi thứ ở nước Mỹ ngày nay có lẽ còn bất bình đẳng hơn! Nói chung, chúng ta sẽ thực hiện một số biện pháp, như tiếp tục trợ cấp giáo dục cho tất cả mọi người, thậm chí là những người có hoàn cảnh bất lợi hoặc khó khăn. Nước Mỹ vẫn có thể thực hiện những cam kết này, nhưng sẽ không còn đi xa đến mức tuyên bố cho phép mọi nhóm lợi ích, mọi đoàn thể, mọi doanh nghiệp cổ hủ, mọi quan chức tại vị có quyền phủ quyết bất kỳ sự thay đổi nào.

AN: Liệu có bất kỳ mối đe dọa nào đối với sự phát triển và sự thay đổi về mặt kỹ thuật, mà ông cho là đặc biệt đáng lo ngại không? Hay ông nghĩ rằng những lợi ích có được từ sự tăng trưởng là quá tuyệt vời, rằng chúng ta đã đạt đến điểm có thể vượt qua được bất cứ trở ngại nào vốn đã ngăn cản hoặc đảo ngược tăng trưởng trong lịch sử?

PR: Tôi chỉ có một lo lắng nhỏ. Nói chung, tôi rất lạc quan; bất chấp sự phản đối về chính trị và việc không muốn thay đổi và các nhóm lợi ích đặc biệt, chúng ta vẫn tăng trưởng càng lúc càng nhanh. Một yếu tố khiến tôi lo lắng là những thay đổi về nhân khẩu học mà nước Mỹ đang trải qua. Tôi nghĩ những người trẻ có xu hướng sáng tạo hơn, sẵn sàng chấp nhận những rủi ro hơn, sẵn sàng làm việc khác đi hơn, và họ có thể đóng vai trò rất quan trọng, quan trọng một cách không cân xứng trong quá trình đổi mới và tăng trưởng này.

Trong tương lai, nhóm dân số trẻ sẽ có tỷ lệ giảm đi, vì tại Mỹ hiện nay dân số tăng chậm và tuổi thọ lại kéo dài hơn. Sự thay đổi tỷ lệ không nhất thiết là điều xấu. Nhưng nó có thể trở nên tồi tệ nếu cấu trúc kiểm soát được chuyển vào tay những nhóm dân số bảo thủ hơn, lớn tuổi hơn. Điều đó được thể hiện ở đâu? Ví dụ nếu bạn nhìn vào các trường đại học, độ tuổi trung bình của một nhà nghiên cứu chính, nhận tài trợ từ quỹ nghiên cứu của NIH (National Institute of Health, Viện Y tế Quốc gia Mỹ) đã tăng theo thời gian: thay vì các nhà khoa học trẻ nhận được tài trợ kinh phí để làm bất cứ điều gì họ muốn ở độ tuổi 20 thì họ lại làm việc trong một phòng thí nghiệm, dưới sự dẫn dắt của một nhà nghiên cứu chính, chịu trách nhiệm về khoản tài trợ, đang ở độ tuổi 40 – 50! Gần như tất cả họ đều làm tập sự, dưới quyền một “sếp” cấp cao. Nếu chúng ta không cẩn thận, chúng ta có thể khiến cho các thể chế như nhiệm kỳ, thứ bậc trên dưới, đánh giá ngang hàng… dần dần thay đổi theo thời gian. Những người lớn tuổi kiểm soát ngày càng nhiều những gì đang xảy ra, những người trẻ ngày càng khó khăn hơn trong việc tạo ra một cái gì đó khác biệt. Đó sẽ là một điều xấu cho quá trình phát triển và thay đổi . Tôi muốn chúng ta tiếp tục suy nghĩ về việc làm thế nào chỉnh đốn các thể chế, trao nhiều quyền lực, quyền kiểm soát và tạo cơ hội cho những người trẻ tuổi.

Tuy có chút lo lắng về dài hạn, tôi nghĩ rằng nước Mỹ hiện tại thật tuyệt vời – không chỉ ở hiệu quả trong việc tạo ra các cấu trúc thị trường, thể chế thị trường tốt hơn so với các nước khác, mà còn là ở cách cung cấp nguồn lực cho những người trẻ tuổi khi họ nảy ra những ý tưởng mạnh mẽ. Một trong những điểm mạnh của Mỹ là chúng ta thực sự tạo ra không gian và phòng thí nghiệm cho những nhà sáng tạo trẻ khi họ đưa ra một điều gì đó mới mẻ. Tôi nghĩ rằng triển vọng dài hạn đối với nước Mỹ là tốt, nhưng vẫn cần phải nhận thức được các mối nguy hiểm có thể xảy ra.

Nhân tiện, đây là một trong những phần tinh tế nhỏ giúp phân biệt chúng và phần còn lại của thế giới. Không chỉ là vì châu Âu chú trọng vào các tập đoàn, chú trọng vào công đoàn hơn, mang tính tập thể hơn và tập trung vào các nhóm lợi ích đặc biệt nhiều hơn, mà còn là do tại đó người ta thể hiện nhiều sự tôn kính về tuổi tác, sự tôn trọng dành cho tri thức và tri thức được truyền thụ lại hơn so với chúng ta!

AN: Điều đó cũng đúng với những nơi như Nhật Bản.

PR: Đúng vậy. Và sẽ rất thú vị khi xem nó diễn ra như thế nào ở Trung Quốc, vì Trung Quốc có tiềm năng để có nền giáo dục cao và sáng tạo mạnh mẽ. Họ rõ ràng đang dịch chuyển rất nhanh chóng về hướng thị trường, nhưng họ có truyền thống tôn kính đối với người cao tuổi. Đó là loại văn hóa có thể chịu đựng nhạc rap và các môn thể thao nguy hiểm, và tạo không gian sáng tạo cho những người như Page và Brin tại Google! Đây là một trong những thế mạnh tiềm ẩn của chúng ta.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB TH TPHCM – 2019.