Sự thất bại của các thị trường – Phần IV


Chức Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang được chuyển giao từ Alan Greenspan sang Ben Bernanke vào tháng 2 năm 2006, ngay khi tai họa bong bóng nhà ở bắt đầu lộ diện. Bernanke phải giải quyết vấn đề giảm phát mà Greenspan để lại, sự sụp đổ của thị trường trong năm 2007 đã phá hủy giá trị cầm cố hơn một nghìn tỷ USD trong tài sản thế chấp dưới chuẩn và các tài sản thế chấp chất lượng thấp khác, thêm vào đó là nghìn tỷ USD trong chứng khoán phái sinh trên cơ sở những tài sản này cũng bốc hơi. Cuộc Khủng hoảng năm 2008 buộc các công ty tài chính và các nhà đầu cơ phải cơ bản bán tống bán tháo tài sản để trả nợ. Những tài sản khác được rao bán trên thị trường vì vỡ nợ như Bear Stearns, Lehman Brothers và AIG. Cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng sang cả nền kinh tế thực khi thị trường nhà ở bắt đầu chững lại và việc làm trong ngành xây dựng ít dần. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, góp phần đưa tình trạng giảm phát trở lại. Tỷ lệ lạm phát giảm còn 1,6% trong năm 2010, đúng bằng mức lạm phát đã làm Greenspan mất ăn mất ngủ năm 2001. Trước tình hình này, Bernanke phản ứng thậm chí còn quyết liệt hơn người tiền nhiệm đã làm trước đó gần một thập kỷ. Ông hạ lãi suất thực của Quỹ FED xuống gần bằng 0 trong năm 2008. Từ đó đến nay, con số này vẫn giữ nguyên.

Thế giới đang chứng kiến một cuộc chiến gay go chưa từng có giữa giảm phát và lạm phát. Giảm phát bắt nguồn từ bên trong, từ năng suất của các thị trường đang phát triển, sự thay đổi về nhân khẩu học và tình trạng thoái nợ. Lạm phát đến từ bên ngoài, từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương và chính sách in tiền. Các chỉ số giá theo thời gian không đơn thuần là điểm dữ liệu, nói đúng hơn, chúng giống một máy đo địa chấn đo lường lực tác động lẫn nhau của các mảng kiến tạo trên một đường đứt gãy. Phần lớn thời gian, đường đứt gãy tĩnh lặng, gần như im lìm. Nhưng có những lúc nó hoạt động mạnh, khi sức ép gia tăng và một mảng kiến tạo đẩy mạng phía trên nó. Tỷ lệ lạm phát biến động tương đối mạnh trong năm 2011, khi mức tăng so với cùng kỳ năm trước đó lên đến 3,2%. Cuối năm 2012, tình trạng giảm phát chiếm ưu thế từ 9 đến tháng 12 năm 2012 khiến chỉ số giá tiêu dùng mỗi lúc một thấp. Nền kinh tế không ở trong tình trạng lạm phát, cũng không ở trong tình trạng giảm phát. Nó ở cả hai trạng thái cùng một lúc vì những nguyên nhân khác nhau và cơ chế hoạt động có thể được xác định thông qua các chỉ số giá.

Điều này tiềm ẩn nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với hoạt động hoạch định chính sách. FED không thể dừng chính sách nới lỏng tiền tệ quá lâu vì những yếu tố nền tảng thúc đẩy giảm phát đã hiện hữu. Nếu FED chùn tay trong việc in tiền, giảm phát sẽ nhanh chóng bao trùm nền kinh tế, kéo theo đó là nhiều hậu quả khủng khiếp cho nợ công, doanh thu của Chính phủ và hệ thống ngân hàng. Nhưng dù thế nào thì những nguyên nhân gốc rẽ của giảm phát cũng sẽ không mất đi. Trong vài thập kỷ tới, sẽ có thêm hàng tỷ người gia nhập lực lượng lao động ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, gia tăng áp lực khiến chi phí và giá cả phải giảm xuống. Cùng lúc đó, hiện tượng tan rã về mặt nhân khẩu ở các quốc gia phát triển sẽ gây áp lực khiến tổng cầu ở những nền kinh tế này giảm xuống. Cuối cùng, những tiến bộ công nghệ vượt bậc đang không ngừng xuất hiện và hứa hẹn khiến năng suất cao hơn với hàng hóa và dịch vụ rẻ hơn. Cuộc cách mạng năng lượng trong khí gas tự nhiên, dầu đá phiến và công nghệ fracking cũng là một yếu tố thúc đẩy lạm phát.

Nói gắn gọn, thế giới muốn giảm phát trong khi các chính phủ muốn lạm phát. Cả giảm phát và lạm phát đều không chịu lùi bước, vì thế sức ép giữa hai bên sẽ tiếp tục gia tăng. Không sớm thì muộn, nền kinh tế cũng sẽ phải hứng chịu không chỉ các “bong bóng” mà cả một “trận động đất” dưới hình thức suy thoái sâu hơn hoặc lạm phát cao hơn khi một “thế lực” nhanh chóng và bất ngờ áp đảo “thế lực” còn lại.

Những chấn động

Những trận động đất được dự báo trước, có cường độ mạnh và gần các thành phố lớn đông dân thường được gọi là “những trận động đất lớn”. Nhưng trước khi chúng xảy ra, người ta có thể thấy những cơn địa chấn nhỏ, gây ra nhiều thiệt hại ở những vùng dọc theo đường đứt gãy các xa các thành phố lớn. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với những chính sách của FED nhằm can thiệp vào thị trường. Trong những nỗ lực tuyệt vọng để đối phó với giảm phát. FED đang gây ra những đợt ran rã quy mô nhỏ trong các thị trường cách xa “đấu trường trung tâm” của lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ. Những hậu quả ngoài dự tính và không lường trước được của các chính sách nới lỏng tiền tệ mà FED áp dụng đang ngày một rõ nét hơn, tốn kém hơn và rắc rối hơn theo nhiều cách. Việc xem xét một cách toàn diện những chính sách độc hại này sẽ cho thấy cuộc rượt đuổi viển vông của FED đối với con rồng giảm phát tất yếu sẽ thất bại như thế nào.

Từ năm 2008 đến năm 2013, mặc dù tỷ lệ lạm phát khá thấp nhưng không phải bằng 0, trong khi thu nhập của các cá nhân của họ gia đình thì gần như bằng 0. Điều này có nghĩa là thu nhập thực tế đã giảm ngay cả trong môi trường lạm phát thấp. Nếu FED chấp nhận giảm phát thì thu nhập thực tế sẽ tăng ngay cả khi không có thu nhập danh nghĩa, vì giá hàng hóa tiêu dùng sẽ thấp hơn. Theo cách này, giảm phát chính là một khoản thưởng thêm cho người lao động vì nó cho phép họ nâng mức sống của mình lên ngay cả khi tiền lương không đổi. Nhà kinh tế học Lacy Hunt đã khái quát hiệu ứng này một cách súc tích như sau:

Vì tiền lương không thay đổi bao nhiêu nên thu nhập thực tế của đại đa số các hộ gia đình Mỹ giảm xuống. Nếu FED không có những quyết định lạ thường như vậy, đáng lẽ lãi suất và lạm phát sẽ thấp hơn so với thực tế hiện nay, và chúng ta có thể tránh được những rủi ro khó nhận biết trong bảng cân đối kế toán nhìn thì có vẻ hoàn hảo của FED. Về bản chất, FED đã cản trở quá trình hồi phục, trì hoãn nền kinh tế tăng trưởng bình thường trở lại, khiến khoảng cách về thu nhập/tài sản trở nên tồi tệ hơn, đồng thời tạo ra một vấn đề mới – làm sao để “thoát khỏi” những chính sách thất bại của FED.

Một hệ quả không mong muốn khác từ chính sách của FED là ảnh hưởng của nó đối với người gửi tiết kiệm. Chính sách lãi suất 0% của Cục Dự trữ Liên bang khiến cho khối tài sản trị giá 400 tỷ USD/năm bị chuyển từ túi của người dân Mỹ sang các ngân hàng lớn. Nguyên nhân là do môi trường lãi suất bình thường ở mức 2% sẽ trả 400 tỷ USD cho những người gửi tiết kiệm trong ngân hàng. Thế nhưng trên thực tế, họ không nhận được gì hết cả, toàn bộ 400 tỷ USD chảy vào các ngân hàng và được xem như tiền nhàn rỗi để cho khách hàng khác vay kiếm lợi nhuận “khủng”. Một phần mục đích của FED khi áp dụng chính sách này là để trừng phạt người gửi tiết kiệm, khuyến khích họ không để tiền ở ngân hàng nữa mà đầu tư vào tài sản rủi ro như cổ phiếu và bất động sản, nhờ đó chống đỡ cho giá trị cầm cố trong những thị trường này.

Tuy nhiên, nhiều người gửi tiết kiệm rất bảo thủ và họ có lý do để như vậy. Một bà cụ hưu trí 82 tuổi không muốn đầu tư vào cổ phiếu vì bà có thể dễ dàng mất 30% tiền tiết kiệm lương hưu khi bong bóng tiếp theo nổ tung. Một nhân viên 22 tuổi dành dụm để mua căn hộ đầu tiên trong đời cũng có thể không mua cổ phiếu vì cùng lý do. Cả hai người đều hy vọng sẽ nhận được một khoản lợi suất hợp lý từ tiền gửi tiết kiệm của mình trong ngân hàng, nhưng FED lại dùng chính sách lãi suất để đảm bảo rằng họ không nhận được gì hết. Vì thế, một chính sách được thiết kế để người dân không tiết kiệm được nữa thực chất lại làm thúc đẩy họ tiết kiệm nhiều hơn, với tâm lý đề phòng, để bù đắp cho phần tiền lãi không được hưởng. Đây chính là phản ứng hành vi không dược dạy trong các giáo trình hay đưa vào các mô hình mà FED sử dụng.

Chính sách của Cục Dự trữ Liên bang cũng gây tổn hại đến hoạt động cho vay với khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Điều này không ảnh hưởng gì đến FED, vì nó có lợi cho lãi suất của các ngân hàng lớn. Mới đây, Giáo sư Steve Hanke của Viện Đại học John Hopkins đã chỉ ra nguyên nhân của tổn hại mà hoạt động cho SME vay phải gánh chịu. Các ngân hàng cho SME vay thông qua hệ thống cho vay liên ngân hàng. Tức là, Ngân hàng A cho Ngân hàng B vay tiền trên thị trường liên ngân hàng để Ngân hàng B có thể cho một doanh nghiệp nhỏ vay. Nhưng này nay, hình thức cho vay như vậy không còn hấp dẫn đối với các ngân hàng vì lãi suất cho vay liên ngân hàng bằng 0% do sự can thiệp của FED. Vì không thể kiếm lợi nhuận thị trường từ hình thức cho vay liên ngân hàng nên các ngân hàng không tham gia vào thị trường đó. Kết quả là, tính thanh khoản trong thị trường cho vay liên ngân hàng rất thấp, và các ngân hàng có thể không còn tự tin rằng mình có thể huy động tiền khi cần. Do đó, họ tất yếu sẽ ngần ngại không muốn mở rộng danh mục cho vay đối với khu vực SME.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Sự thất bại của các thị trường – Phần III


Thông thường, hiệu ứng tài sản được thể hiện như số phần trăm tăng thêm trong chi tiêu tiêu dùng cho mỗi dollar tăng thêm trong tài sản. Ví dụ, một khoản tăng thêm trị giá 100 tỷ USD trong thị trường cổ phiếu và giá nhà ở có hiệu ứng tài sản ở mức 2% sẽ tạ ra một khoản tăng thêm trị giá 2 tỷ USD trong chi tiêu tiêu dùng. Theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội, các nghiên cứu khác nhau đánh giá hiệu ứng tài sản từ giá nhà ở năm trong khoảng từ 1,7% đến 21%. Khoảng dao động quá lớn như vậy khá buồn cười, khiến người ta nghi ngờ về những nghiên cứu tương tự, đồng thời nêu bật những khó khăn về phương pháp luận trong lĩnh vực này.

Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York đã thực hiện một nghiên cứu tiên phong về hiệu ứng tài sản từ giá cổ phiếu, trong đó đưa ra những kết luận về cơ bản là phá vỡ niềm tin của Cục Dự trữ Liên bang vào hiệu ứng tài sản. Nghiên cứu có đoạn:

Chúng tôi nhận thấy… một mối liên hệ tích cực giữa sự thay đổi tài sản tích lũy và chi tiêu tích lũy… nhưng hiệu ứng không ổn định và khó xác định. Phản ứng của mức độ tăng trưởng tiêu dùng đối với một sự thay đổi bất ngờ trong tài sản là không chắc chắn và có vẻ như chỉ tồn tại trogn thời gian rất ngắn… Chúng tôi thấy rằng… hiệu ứng tài sản… đang nhỏ dần trong những năm gần đây… Khi chúng ta ép tiêu dùng phải phản ứng lại với độ trễ một giai đoạn,, một… cú sốc đối với sự tăng trưởng của tài sản hầu như không có ảnh hưởng gì đến sựu tăng trưởng tiêu dùng.

Một nghiên cứu khác cho thấy rằng hiệu ứng tài sản, trong phạm vi mà nó tồn tại, tập trung chủ yếu vào giới nhà giàu và không ảnh hưởng gì đến chi tiêu của người dân bình thuờng. Davdi K. Backus, Chủ nhiệm khoa Kinh tế của trường Đại học New York, ủng hộ quan điểm này:

Ý tưởng về một hiệu ứng tài sản không thể đứng vững trước các dữ liệu kinh tế. Theo David Backus, sự bùng nổ của thị trường cổ phiếu vào cuối thập niên 1990 đã góp phần tăng tài sản của người dân Mỹ, nhưng nó không tạo ra một thay đổi đáng kể nào trong tiêu dùng… Trước khi thị trường cổ phiếu tự đảo chiều, “anh không hề thấy tiêu dùng tăng vọt”, Backus nói, “và khi tự nó đảo chiều, anh cũng chẳng hề thấy tiêu dùng giảm mạnh”.

Tuy nhiên, có một vấn đề khác còn gây nhiễu loạn hơn cả sự nghi ngờ đối với quy mô và thời điểm của hiệu ứng tài sản. Đó là việc các nhà kinh tế học thậm chí không chắc chắn về hướng của hiệu ứng. Trong khi đa số cho rằng giá cổ phiếu tăng khiến tiêu dùng tăng thì các nhà kinh tế lại đề xuất rằng chuyện có thể xảy ra theo hướng ngược lại rằng có thể tiêu dùng tăng làm giá cổ phiếu tăng. Nhà kinh tế tiền tệ lỗi lạc Lacy H. Hunt tóm tắt nghiên cứu nói trên về hiệu ứng tài sản như sau:

Vấn đề ở đây không phải là việc các chính sách của FED có khiến tài sản tích lũy tăng hoặc giảm hay không. Vấn đề là những thay đổi trong tài sản có làm chi tiêu tiêu dùng thay đổi ở một mức độ đáng kể nào hay không. Những bằng chứng thuyết phục nhất cho rằng sự tăng giảm thất thường của tài sản có rất ít hoặc hầu như không có tác động đến chi tiêu tiêu dùng. Do đó, khi thị trường cổ phiếu tăng do FED đẩy mạnh tính thanh khoản, nền kinh tế nói chung không bị tác động gì.

Bây giờ hãy xem xét đến việc một số nghiên cứu đi đầu về hiệu ứng tài sản được xuất bản trong năm 1999 hoặc trong năm 2007, đỉnh điểm của hai bong bóng cổ phiếu gần đây nhất. Không có gì đáng ngạc nhiên khi người ta đặc biệt quan tâm đến các nghiên cứu học thuật về hiệu ứng tài sản trong những giai đoạn xảy ra bong bóng cổ phiếu, khi mà hiệu ứng tài sản được cho là mạnh mẽ nhất, nhưng nghiên cứu này lại ngụ ý rằng hiệu ứng tài sản trên thực tế rất yếu ớt và không chắc chắn.

Tất cả những điều trên đều cho thấy rằng, mặc dù Cục Dự trữ Liên bang Mỹ in hàng nghìn tỷ USD hòng theo đuổi hiệu ứng tài sản nhưng trên thực tế, có lẽ cái mà họ đang theo đuổi chỉ là một ảo vọng mà thôi.

Bong bóng tài sản

Nước Mỹ ngày nay đang chứng kiến bong bóng cổ phiếu thứ ba và bong bóng nhà ở thứ hai trong vòng 50 năm qua. Những bong bóng này không giúp ích được gì cho nền kinh tế thực mà chỉ làm giàu cho các công ty môi giới và ngân hàng. Khi chúng phát nổ, nền kinh tế sẽ đối mặt với cơn khủng hoảng tồi tệ từng xuất hiện vào năm 2008, và chẳng bao lâu sau các ngân hàng sẽ cầu xin cứu trợ. Đóng góp không hề nhỏ vào viễn cảnh ảm đạm đó chính là thói ngạo mạn của các ngân hàng trung ương, những người từng không tin vào thị trường nhưng lại luôn tìm cách kiểm soát chúng.

Sự hình thành bong bóng tài sản là một trong những mối hiểm họa dễ thấy nhất mà chính sách in tiền của Cục Dự trữ Liên bang gây ra. Ngoài ra, còn nhiều hiểm họa khác. Một tác động hiển nhiên nhất là việc “xuất khẩu” tình trạng lạm phát từ Mỹ sang các đối tác thương mại của mình thông qua cơ chế tỷ giá hối đoái. Từ năm 2008 đến nay, người ta vẫn luôn thắc mắc về việc tại sao giá cả tiêu dùng ở Mỹ không bị lạm phát. Trong giai đoạn 2008 – 2012, mỗi năm chỉ số giá tiêu dùng ở Mỹ chỉ tăng bình quân 1,8% so với cùng kỳ năm trước đó, tỷ lệ thấp nhất trong tất cả các giai đoạn 5 năm kể từ 1965. Suốt nhiều năm qua, phe chỉ trích FED đã hy vọng rằng lạm phát trong nước sẽ tăng mạnh do hậu quả của việc in tiền, mặc dù có thể chậm đôi chút, nhưgn thực tế là không hề có lạm phát mà ngược lại, những dấu hiệu giảm phát đã bắt đầu xuất hiện trong năm 2013.

Một lý do căn bản giải thích cho việc không có lạm phát ở Mỹ là vì lạm phát đã được xuất khẩu ra nước ngoài thông qua cơ chế tỷ giá hối đoái. Các đối tác thương mại của Mỹ, như Trung Quốc và Brazil, muốn thúc đẩy xuất khẩu của mình bằng cách ngăn không để đồng tiền nước mình tăng giá so với đồng USD. Khi FED in thêm tiền, những đối tác thương mại này phải mở rộng nguồn cung tiền của mình để chặn đứng cơn lũ USD ập vào nền kinh tế nội địa dưới hình thức thặng dư thương mại hoặc đầu tư. Những chính sách in tiền của các quốc gia này gây ra lạm phát trong nền kinh tế của các đối tác thương mại. Ở Mỹ không hề có lạm phát vì Mỹ nhập khẩu hàng hóa giá rẻ từ phía đối tác.

Kể từ khi bắt đầu thiên niên kỷ mới, thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng có một khuynh hướng giảm phát tự nhiên. Ban đầu, Mỹ nhập khẩu giảm phát từ Trung Quốc dưới hình thức hàng hóa giá rẻ được sản xuất bởi nhân công thừa mứa, cộng thêm đồng tiền bị định giá thấp khiến giá hàng hóa Trung Quốc tính theo đồng USD thấp hơn mức mà các nguyên tắc cơ bản của kinh tế quy định. Khuynh hướng giảm phát này được đề cập vào năm 2001, khi tỷ lệ lạm phát hàng năm giảm xuống còn 1,6% – rất gần với ranh giới giảm phát.

Chính nỗi sợ hãi giảm phát đã buộc Chủ tịch của FED – Alan Greenspan giảm mạnh lãi suất. Năm 2002, lãi suất thực bình quân của Quỹ Liên bang là 1,67% – thấp nhất trong 44 năm. Năm 2003, lãi suất bình quân của Quỹ Liên bang thậm chí còn thấp hơn – 1,13% và duy trì ở mức thấp đến hết năm 2004 với lãi suất bình quân là 1,35%. Chính lãi suất thấp bất thuờng kéo dài suốt ba năm này nhằm ngăn chặn giảm phát, và nó đã phát huy hiệu quả. Sau khoảng trễ thường gặp, chỉ số tiêu dùng tăng 2,7% trong năm 2004 và 3,4% trong năm 2005. Greenspan như hoa tiêu của một chiếc máy bay gặp nạn, người đã kéo nó lên vừa đúng lúc nó chuẩn bị đâm xuống mặt đất, ổn định khí động lực và trở lại không trung. Đến năm 2007, tỷ lệ lạm phát quay lại mức 4% và lãi suất của Quỹ Liên bang là hơn 5%.

Greenspan đã chặn đứng con rồng giảm phát, nhưng đồng thời lại tạo nên một con quái vật còn kinh khủng hơn. Chính sách lãi suất thấp của ông trực tiếp dẫn đến bong bóng tài sản nhà ở phát nổ với sức tàn phá nặng nề vào cuối năm 2007, đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ suy thoái mới. Trong vòng một năm, giá trị tài sản giảm, khả năng thanh khoản mất dần và lòng tin suy yếu đã hình thành giai đoạn Khủng hoảng năm 2008, trong đó hàng chục nghìn tỷ USD tài sản trên giấy tờ bốc hơi chỉ sau một đêm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Sự thất bại của các thị trường – Phần II


Lời chỉ trích này không mới, nó cũng xưa như bản thân các thị trường tự do vậy. Trong cuốn Lý thuyết cảm xúc đạo đức (The Theory of Moral Sentiments) – một tác phẩm triết học từ năm 1795, buổi bình minh của hệ thống tư bản chủ nghĩa hiện đại – Adam Smith đã đưa ra quan điểm rằng không một nhà hoạch định nào có thể điều khiển một hệ thống các thành phần có thứ tự, lớp lang, mà bản thân mỗi thành phần lại là một hệ thống với những đặc điểm độc nhất vô nhị, nằm ngoài khả năng quan sát của người hoạch định. Có thể gọi đây là Lý thuyết Matryoshka, đặt theo tên của những con búp bê truyền thống của Nga gồm nhiều con nhỏ trong một con lớn mà nhìn ở ngoài không thấy được. Điểm khác biệt là số lượng búp bê matryoshka có hạn, trong khi sự đa dạng trong một nền kinh tế hiện đại thì vô hạn, chúng tác động qua lại lẫn nhau và nằm khả năng lĩnh hội của đa số chúng ta.

Gần 200 năm sau tác phẩm của Adam Smith, năm 1945, Friedrich Hayek xuất bản tiểu luận kinh điển “Việc sử dụng kiến thức trong xã hội” (The Use of Knowledge in Society) và cũng đưa ra lập luận như trên, nhưng trọng tâm thay đổi một chút. Trong khi Smith nhấn mạnh vào các cá nhân thì Hayek lại nhấn mạnh và thông tin. Điều này phản ánh góc nhìn của Hayek về ngưỡng giới hạn của kỷ nguyên máy tính, khi các mô hình dựa trên các hệ phương trình bắt đầu thống trị ngành khoa học kinh tế. Tất nhiên, Hayek là một nhà vô địch trong địa hạt sự tự do cá nhân. Ông hiểu rằng những thông tin mà mình đề cập đến cuối cùng sẽ được tạo ra ở mức độ các “diễn viên tự trị” (autonomous actor) riêng lẻ trong một hệ thống kinh tế phức tạp. Ý Hayek là không một cá nhân, ủy ban hay chương trình máy tính nào có được tất cả mọi thông tin cần thiết để kiến thiết một trật tự kinh tế, ngay cả khi có sẵn một mô hình trật tự như vậy. Ông viết:

Đặc điểm dị biệt của một trật tự kinh tế có lý trí là: kiến thức về những hoàn cảnh mà chúng ta phải khai thác lại không bao giờ tồn tại trong một hình thức tập trung hoặc tích hợp mà phân tán thành nhiều mảnh kiến thức không hoàn chỉnh và thường mâu thuẫn nhau do tất cả các cá nhân riêng lẻ nắm giữ… Hay nói ngắn gọn, đó là vấn đề về việc sử dụng dạng kiến thức mà không một ai nắm giữ toàn bộ.

Charles Goodhart lần đầu tiên trình bày Định luật Goodhart (Goodhart’s Law) trong một tờ báo xuất bản năm 1975 bởi Ngân hàng Dự trữ Australia. Định luật Goodhart thường được diễn giải như sau: “Khi một chỉ số tài chính trở thành đối tượng của chính sách, nó sẽ không còn thực hiện chức năng của một chỉ số nữa”. Cách diễn giải này nắm bắt được bản chất của Định luật Goodhart nhưng nguyên văn của định luật còn sắc bén hơn nhiều, vì nó bao gồm cụm từ “nhằm mục đích kiểm soát”. (Câu đầy đủ là: “Bất cứ hiện thành thống kê tuần quy nào cũng sẽ có xu hướng sụp đổ một khi người ta tạo sức ép lên đó nhằm mục đích kiểm soát”). Cụm từ này nhấn mạnh vấn đề mà Goodhart lo ngại, không chỉ với sự can thiệp hay lũng đoạn thị trường nói chung mà với cả hình thức ra mệnh lệnh từ trên xuống của các ngân hàng trung ương nhằm kiểm soát các kết quả trong những hệ thống phức tạp.

Cả Adam Smith, Friedrich Hayek và Charles Goodhart đều kết luận rằng phương pháp hoạch định tập trung không đơn thuần là được ưa chuộng và không tối ưu. Nó còn không khả thi. Kết luận này phù hợp với lý thuyết về độ  phức tạp tính toán (computational complexity). Lý thuyết này phân loại các thách thức về mặt tính toán theo độ khó được đo lường bằng dữ liệu, các bước tính và nguồn lực cần thiết để giải quyết một vấn đề cho trước. Có những vấn đề được xem là không thể tính toán vì dữ liệu quá đồ sộ, hoặc các bước xử lý kéo dài vô tận, hoặc tất cả nguồn lực tính toán trên thế giới vẫn chưa đủ để thực hiện, hoặc cả ba lý do trên. Cả Smith, Hayek và Goodhart đều cho rằng sự khác  biệt và khả năng thích nghi của những hành động của con người trong môi trường kinh tế là một trường hợp điển hình của độ phức tạp tính toán và việc tối ưu hóa chúng vượt quá khả năng của con người hoặc máy móc. Điều này không có nghĩa là các hệ thống kinh tế không thể chạm đến điểm tối ưu, mà điểm tối ưu sẽ được xác định dựa trên độ phức tạp của nền kinh tế chứ không bị ấn định bởi ngân hàng trung ương thông qua các chính sách của họ. Các ngân hàng trung ương ngày nay, đặc biệt là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, đang lặp lại những sai lầm của Lenin, Stalin và Mao Trạch Đông dưới hình thức phi bạo lực, mặc dù bạo lực có thể xuất hiện thông qua tình trạng chênh lệch về thu nhập, bất ổn xã hội và sự đối kháng với chính quyền.

Charles Goodhart đã bổ sung một đoạn kết đáng sợ cho những phát biểu nổi tiếng của Adam Smith và Friedrich Hayek về vấn đề độ phức tạp của nền kinh tế. Điều gì sẽ xảy ra khi bản thân những dữ liệu mà các ngân hàng trung ương sử dụng để hoạch định chính sách lại là kết quả của tình trạng lũng đoạn chính sách đã xảy trước đó?

Hiệu ứng tài sản

Cho phép đo lỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, thu nhập và những chỉ số khác đều được các ngân hàng trung ương giám sát một cách chặt chẽ và xem đó là cơ sở để đưa ra quyết sách. Tỷ lệ thất nghiệp giảm và tỷ lệ lạm phát tăng có thể là dấu hiệu của việc phải thắt chặt chính sách tiền tệ, trong khi giá tài sản giảm có thể cho thấy cần phải nới lỏng chính sách tiền tệ. Các nhà hoạch định chính sách phản ứng lại với các vấn đề của nền kinh tế bằng cách thiết kế chính sách sao cho chúng có thể cải thiện được dữ liệu. Sau một thời gian, bản thân dữ liệu có thể không còn phản ánh thực trạng nền kinh tế nữa mà chỉ là kết quả của một chính sách có chủ định. Nếu những dữ liệu này lại được sử dụng làm chỉ dẫn cho chính sách tiếp theo tức là ngân hàng trung ương đã rơi vào vòng luẩn quẩn không  hồi kết, trong đó những dấu hiệu sai dẫn đến chính sách sai, chính sách sai này lại tạo ra những chỉ dẫn sai hơn và sự lũng đoạn chính sách nghiêm trọng hơn, cứ thế… Chính sách sẽ ngày càng xa rời thực tế, cho đến khi nó đâm sầm vào bức tường dữ liệu không dễ gì điều chỉnh được, chẳng hạn như thu nhập và sản lượng thực tế.

Hiệu ứng tài sản (wealth effect) là một ví dụ. Khái niệm này không hề phức tạp. Hai lớp tài sản là cổ phiếu và nhà ở là đại diện cho hầu hết tài sản của người dân Mỹ. Tài sản được đại diện bởi cổ phiếu rất dễ thấy. Hàng tháng, người Mỹ đều nhận được sao kê tài khoản 401(k) của mình, và họ có thể kiểm tra giá của những cổ phiếu cụ thể trong thời gian thực nếu muốn. Giá nhà ở thì kém minh bạch hơn, nhưng người ta có thể thu thập tin tức từ các bảng niêm yết giá bất động sản và những câu chuyện phiếm cũng đủ để người Mỹ hiểu sơ về giá trị ngôi nhà mình đang ở. Những người ủng hộ lý thuyết hiệu ứng tài sản nói rằng, khi giá cổ phiếu và giá nhà ở tăng lên, người dân Mỹ cảm thấy giàu có hơn, sẵn sàng tiết kiệm ít hơn và chi tiêu nhiều hơn.

Hiệu ứng tài sản là một trụ cột chống đỡ cho chính sách lãi suất 0% và việc in tiền vô tội vạ từ năm 2008 đến nay của FED. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu được cách lập luận của họ. Lãi suất thấp thì sẽ có nhiều người Mỹ có khả năng trả thế chấp hơn, khiến nhu cầu mua nhà tăng lên, dẫn đến giá nhà cao hơn. Tương tự, với lãi suất thấp, các nhà môi giới sẽ đưa ra những khoản nợ lãi suất thấp hơn cho khách hàng, khiến nhu cầu mua cổ phiếu và giá cổ phiếu cao hơn.

Ngoài ra, cũng có một số hiệu ứng chuyển đổi quan trọng. Tất cả các nhà đầu tư đều thích nhận được tỷ suất sinh lời ổn định từ khoản tiết kiệm và đầu tư của mình. Nếu ngân hàng trả lãi gần bằng 0, người Mỹ sẽ quay sang chi tiền cho cổ phiếu để mong nhận được lợi nhuận cao hơn, khiến giá cổ phiếu và nhà ở tăng cao hơn. Nhìn bề mặt, các chính sách lãi suất 0% và nới lỏng tiền tệ đã đem lại kết quả đúng như dự định. Giá cổ phiếu tăng hơn hai lần trong giai đoạn 2009 – 2014, giá nhà ở cũng bắt đầu phục hồi mạnh mẽ từ giữa năm 2012. Sau bốn năm cố gắng kiểm soát giá tài sản, đến năm 2004, có vẻ như FED đã thành công. Tài sản đang được tạo ra, ít nhất là trên giấy tờ, nhưng hiệu quả của việc này là gì?

Người ta đã tranh cãi về sức mạnh của hiệu ứng tài sản suốt mấy chục năm qua, nhưng những nghiên cứu gần đây ngày càng củng cố sự nghi ngại đáng kể về tác động của nó. Một số nhà kinh tế học nghi ngờ rằng hiệu ứng tài sản chỉ tồn tại đến một mức độ nhất định. Vấn đề là, hiệu ứng này mạnh đến đâu, kéo dài được bao lâu và có đáng để xã hội phải chấp nhận những tác động tiêu cực và sự méo mó thông tin cần thiết để đạt được nó hay không?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Sự thất bại của các thị trường – Phần I


Người đứng đầu hệ thống… dường như ông ta nghĩ rằng mình có thể bố trí các thành viên khác nhau trong một xã hội rộng lớn dễ dàng như việc sắp xếp các quân cờ khác nhau trên một bàn cờ. Ông ta không hề nghĩ đến việc trong bàn cờ vĩ đại của xã hội loài người, mỗi quân cờ có một nguyên lý chuyển động của riêng nó.

Adam Smith

The Theory of Moral Sentiments

“ Dữ liệu” mà từ đó các tính toán kinh tế bắt đầu không bao giờ dành cho cả xã hội, nó chỉ dành cho một trí tuệ duy nhất có thể nhìn ra những ảnh hưởng tiềm tàng và không bao giờ quá chủ quan.

Friedrich A. Hayek

Bất cứ quy tắc thống kê hợp thức nào cũng sẽ có xu hướng sụp đổ một khi người ta tạo sức ép lên đó nhằm mục đích kiểm soát.

Định luật Goodhart

1975

Trong tác phẩm Người lái buôn thành Venice (The Merchant of Venice) của Shakespeare, Salanio hỏi, “Giờ thì, có tin gì mới về Rialto?” Anh ta đang tìm kiếm thông tin, thu thập tình báo và cố gắng xác định xem việc gì đang xảy ra trên thị trường. Salanio không có ý kiểm soát hoạt động giao thương, anh ta biết mình không thể. Anh ta cố gắng nắm bắt luồng tin tức, tìm chỗ của mình trong chợ.

Janet Yellen và Cục Dự trữ Liên bang cũng nên khiêm nhường như vậy mới phải.

Từ chợ/thị trường (market) gợi ra hình ảnh về mọi thứ từ những hàng hóa trao đổi thời tiền sử đến các hội chợ trung cô tới các sàn giao dịch kỹ thuật số đương đại với những vụ mua bán tốc độ nano giây diễn ra trong một đám mây điện toán. Về bản chất, chợ là nơi người mua và người bán gặp nhau để tiến hành giao dịch hàng hóa và dịch vụ. Trong thế giới ngày nay, chợ có thể diễn ra ở một địa điểm ảo, một đại lộ kỹ  thuật số, một cuộc gặp có thể chỉ là sự kết nối chớp nhoáng. Nhưng bản chất của chợ thì không đổi kể từ khi con người đổi hổ phách lấy gỗ mun trên các bờ biển Địa Trung Hải trong suốt Thời đại Đồ đồng.

Tuy nhiên, thị trường – dù là cho hàng hóa hữu hình như vàng, hay vô hình như cổ phiếu – lại bao hàm những quy trình chuyên sâu hơn việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ đơn thuần. Về cơ bản, thị trường nói về việc trao đổi thông tin liên quan đến giá cả hàng hóa và dịch vụ. Giá cả rất linh động. Khi một nhà buôn hay thương gia tìm hiểu chắc chắn một mức giá thị trường, những người khác có thể sử dụng thông tin đó để mở rộng sản lượng hoặc ký hợp đồng sản phẩm đầu ra, thuê hoặc sa thải nhân viên, hay chuyển sang thị trường khác với một lợi thế về thông tin trong tay.

Thông tin có thể giá trị hơn cả tài sản cơ sở của nó. Đây chính là bí mật của đế chế Bloomberg trị giá nhiều tỷ USD. Một nhà đầu tư mạo hiểm nên định giá như thế nào đối với một cổ phần trong một doanh nghiệp sản xuất một sản phẩm hoàn toàn mới? Cả nhà đầu tư lẫn chủ doanh nghiệp đều không biết. Nhưng thông tin về kết quả hoạt động trong quá khứ, doanh nghiệp đó thi thoảng lời rất nhiều hay thường xuyên lỗ, sẽ đưa ra những chỉ dẫn cho các bên và cho phép nhà đầu tư tiếp tục góp vốn. Những thông tin về doanh số và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư chính là chất bôi trơn để công ty có thêm nhiều doanh số và vốn đầu tư nữa. Có thể một vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ là kết quả của hoạt động của thị trường, nhưng trước hết, thiết lập giá mới là chức năng của thị trường cho phép một vụ trao đổi diễn ra.

Bất cứ ai từng bước khỏi một cửa tiệm bán thảm trong một khu chợ Trung Đông rồi thấy người bám đuổi theo la to “Ông ơi, ông ơi, tôi có giá tốt hơn, rất rẻ”, hẳn sẽ biết được sức hấp dẫn của việc thiết lập giá. Động năng này không khác gì hoạt động giao dịch tần suất cao, được số hóa và tự động hóa diễn ra trong các máy chủ kế bên các nền tảng giao dịch hối đoái ở New York và Chicago. Máy tính này cho ra phiên bản nano giây của “Ông ơi, tôi có giá tốt hơn”. Thiết lập giá vẫn là chức năng chủ yếu nhất của thị trường.

Nhưng thị trường không chỉ là nhà của người mua và người bán, dân đầu cơ và đầu cơ hưởng chênh lệch. Các thị trường trên toàn cầu ngày nay dường như có sức hấp dẫn không thể cưỡng nổi đối với các ngân hàng trung tâm đang ấp ủ những kế hoạch đổi đời. Kế hoạch là những thứ phù phiếm hão huyễn của họ vì với họ, các thị trường chỉ là những ống nghiệm để họ thí nghiệm các lý thuyết can thiệp của mình.

Các ngân hàng trung ương kiểm soát giá tiền và do đó gián tiếp ảnh hưởng đến mọi thị trường trên thế giới. Với quyền lực vô biên này, một ngân hàng trung ương lý tưởng sẽ khiêm nhường thận trọng và tôn trọng các tín hiệu thị trường. Thay vào đó, các ngân hàng trung ương hiện đại vừa trơ tráo, vừa ngạo mạn trong những nỗ lực nhằm bẻ hướng thị trường theo ý họ. Kế hoạch tập trung từ trên xuống, áp đặt cách phân bổ nguồn lực và sản lượng công nghiệp dựa trên những hiểu biết mà họ cho là ưu việt nhất về mong muốn và nhu cầu – những việc này đã góp phần “đầu độc” các nhà chính trị trong lịch sử. Thật là nực cười vừa chua xót khi các ngân hàng trung ương của phương Tây lại thích thú cổ xúy cho phương pháp kế hoạch tập trung vào đầu thế kỷ XXI trong khi cuối thế kỷ XX, tức là cách đây không lâu, cả Liên Xô lẫn Cộng sản Trung Quốc đều từ bỏ nó. Liên Xô và Cộng sản Trung Quốc đã áp dụng hình thức kế hoạch tập trung cực đoan cho hai quốc gia lớn nhất thế giới và 1/3 dân số Trái Đất trong tổng cộng hơn 100 năm. Kết quả là những thất bại cay đắng mà ai cũng thấy. Các nhà hoạch định kế hoạch theo hướng tập trung, như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, cũng sẽ phải đối mặt với thất bại tương tự trong tương lai. Vấn đề còn bỏ ngỏ hiện nay là khi nào thì điều đó xảy ra và cái giá mà xã hội phải trả là gì?

Sở dĩ người ta ủng hộ đường lối kế hoạch tập trung là vị họ nhấn thấy nhu cầu phải giải quyết một vấn đề từ trên xuống. Đối với Cộng sản Nga năm 1917, đó là vấn đề Nga hoàng và xã hội phong kiến. Đối với Cộng sản Trung Quốc, đó là vấn đề tham nhũng ở các địa phương và chủ nghĩa đế quốc ngoại bang. Đối với các nhà hoạch định tập trung ở các ngân hàng trung ương ngày nay, vấn đề là giảm phát và tỷ lệ tăng trưởng danh nghĩa thấp. Những vấn đề trên đều có thật, nhưng cách giải quyết từ trên xuống lại không thực tế, chúng chỉ là sản phẩm của những ý thức hệ ngạo mạn và sai lầm.

Trong thế kỷ XX, Nga và Trung Quốc bám chặt vào ý thức hệ Marxist và sự ngạo mạn của họng súng. Ngày nay, các ngân hàng trung ương nhất mực đi theo chủ nghĩa Keynes và sự ngạo mạn của tấm bằng Tiến sĩ Cả ý thức hệ Marxist lẫn Keynes đều không cho phép các cá nhân có được sự tự do cần thiết để tìm hiểu những giải pháp thực chất là hệ quả từ đám mây mù các đặc tính phức tạp, rắc rối của một nền kinh tế phát triển. Thay vào đó, các cá nhân có thể cảm nhận được sự thao túng và kiểm soát từ các ngân hàng trung ương nên sẽ kìm hãm hoạt động kinh tế của mình hoặc theo đuổi những loại hình doanh nghiệp nhỏ hơn và hoàn toàn mới nhưng nằm ngoài tầm thao túng của ngân hàng trung ương.

Các bên tham gia thị trường bị bỏ lại với tình trạng đầu cơ giao dịch quá mức cần thiết và lúc nào cũng phải cố gắng đi trước những cái đầu trong phòng Chủ tịch của Cục Dự trữ Liên bang. Gần đây, những nơi được gọi là thị trường thực chất đã biến thành nơi để giao dịch trước khi FED kịp công bố chính sách mới, hoặc làm lợi từ sự thực thi cứng rắn của FED. Từ năm 2008, các thị trường trở thành nơi để bòn rút nhiều hơn là tạo ra của cải. Thị trường không còn thực hiện đúng chức năng của nó nữa. Trong thị trường ngày nay, bàn tay chết của giới học thuật và người thực lợi đã thay thế cho bàn tay vô hình của người giao dịch hoặc doanh nghiệp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Quản lý mối quan hệ nhà đầu tư – Phần cuối


Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng có thể chủ động tiếp cận với thông tin xấu bằng cách đề xuất với Tổng giám đốc nhưng kế hoạch giảm nhẹ vấn đề và công bố việc thực hiện những kế hoạch này. Nếu không có người kế nhiệm Tổng giám đốc, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể đề nghị kế hoạch lập người kế nhiệm và thiết lập các cuộc phỏng vấn với các trưởng bộ phận để chứng tỏ với các nhà đầu tư về năng lực quản lý của công ty. Một ví dụ khác, nếu một công ty dầu mỏ thông báo rằng tàu chở dầu của họ có nguy cơ gây ra sự cố ô nhiễm trên biển, hãy chuyển sang vỏ tàu kép và lên chiến dịch truyền thông để quảng báo cho hành động này.

Nếu tin xấu này liên quan đến các cáo buộc rằng một nhân viên hoặc công ty nào đó đã làm điều phi pháp, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư (sau khi thảo luận với cố vấn) phải lập tức thông báo tình hình và chỉ ra rằng một kế hoạch xoa dịu đang được triển khai nhằm giảm thiểu rủi ro tái diễn sự kiện này, tích cực hợp tác với các cơ quan hữu quan và nhanh chóng nộp tiền phạt. Điều tệ hại nhất mà công ty có thể mắc phải là che dấu sự thật trong lúc này; các phương tiện thông tin đại chúng rất thích nói về sự xung đột và do đó sẽ đưa vấn đề này ra trước cộng đồng đầu tư lâu hơn mức cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề sẽ sớm bị lãng quên nếu công ty nói trực tiếp với nhà đầu tư và chỉ cho họ thấy các bước giảm thiểu rủi ro mà công ty đang nỗ lực thực hiện.

Nếu tin xấu xảy ra mà công ty không có kế hoạch dự phòng, trước tiên, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải đánh giá được mức độ thiệt hại do tin xấu đó gây ra. Trong nhiều trường hợp, những “thiệt hại” này sẽ biến mất trong vòng vài ngày hoặc vài tuần khi giá cổ phiếu quan trở lại các mức giá trước đó. Tuy nhiên, nếu những thiệt hại này xuất hiện và tác động đến niềm tin của các cổ đông chủ chốt trong công ty, chẳng hạn như tên thương hiệu hoặc chất lượng sản phẩm, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cần phải có nhiều hành động hơn nữa để loại bỏ những tin xấu. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên tập trung vào việc giảm thiểu những ảnh hưởng kéo dài của những thông tin xấu này vì nó thường đe dọa làm giảm giá cổ phiếu. Ví dụ, nếu một sản phẩm của công ty gây ra cái chết cho người tiêu dùng, công ty phải lập tức thông báo về việc thuê một chuyên gia tư vấn chất lượng để tiến hành điều tra độc lập về nguyên nhân của vấn đề. Nếu không có những động thái nhanh chóng đó thì không có gì bất ngờ khi các nhà đầu tư gây áp lực, khiến giá cổ phiếu giảm xuống.

Nếu có một áp lực lớn buộc chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải công bố thông tin xấu này ra thị trường, cách tốt nhất là thông báo tất cả các vấn đề cùng một lúc thay vì đưa tin nhỏ giọt trong một khoảng thời gian dài với hy vọng là công ty có thể giảm bớt một số thiệt hại trước khi công bố công khai toàn bộ sự việc. Bằng cách thông báo và giải quyết toàn bộ vấn đề cùng lúc, giá cổ phiếu sẽ bị giảm một lần nhưng sau đó chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể tập trung thông báo với thị trường về các hành động khắc phục hậu quả, điều này sẽ dần đưa giá cổ phiếu trở lại. Nếu một phương pháp thay thế được sử dụng để công bố tin xấu, dần dần các nhà đầu tư sẽ hình thành ý nghĩa rằng đội ngũ quản lý của công ty không đáng tin cậy, khiến cho tình trạng giảm giá này kéo dài hơn và sâu sắc hơn.

Ngoài ra, khi công bố tin xấu, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải trình bày một cách cụ thể và rõ ràng để vấn đề cân nhắc đến không xen lẫn với các mục khác, những thứ có thể khiến người đọc xao lãng. Bằng cách đó, nhà đầu tư sẽ có ấn tượng là công ty đang duy trì được mức độ trung thực cao khi tiết lộ những vấn đề của mình. Cách thức tồi tệ nhất để công bố tin xấu là giấu nó trong phần chú thích của các báo cáo tài chính với hy vọng rằng sẽ không ai nhìn thấy. Một nhà đầu tư hoặc nhà phân tích cần mẫn luôn đọc các phần chú thích và sẽ không hài lòng với việc phải tìm hiểu quá sâu mới tìm ra được những thông tin có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, một công ty có xu hướng che giấu tin xấu thường sẽ lộ diện sau đó và lan ra cộng đồng đầu tư, dẫn đến sự ra đi của một số nhà đầu tư và áp lực giảm giá cổ phiếu.

Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải định kỳ cập nhật thông tin với nhà đầu tư về tiến triển của công ty trong việc giải quyết các vấn đề. Điều này không có nghĩa là phải liên lạc với các nhà đầu tiên tục nếu tình hình không có gì thay đổi, mà chỉ nên thông báo khi có sự kiện quan trọng xảy ra.

Trong tình huống có nhiều tin xấu, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải có kế hoạch liên hệ với nhóm hoặc các cổ đông lớn nhất để thảo luận về tình hình và lên kế hoạch ứng phó (trong phạm vi các quy tắc công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán). Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh tranh chấp về người được ủy quyền hay các đối thủ cạnh tranh đang nỗ lực để nắm quyền kiểm soát, khi sự thống nhất của các cổ đông nắm quyền chủ chốt được xem là vấn đề sống còn. Đối với những trường hợp này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cần phải chuẩn bị trước một bản phác thảo sơ bộ về thông báo sẽ được gửi cho các cổ đông quan trọng, tốt nhất là bằng thư điện tử kèm với thư gửi chuyển phát nhanh. Điều này có nghĩa là chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải thu thập thông tin địa chỉ thư điện tử trước từ các nhà đầu tư lớn và liên tục cập nhật danh sách này.

Nếu một công ty đã phải chịu nhiều tin xấu trong một thời gian dài, có nhiều khả năng là các nhà đầu tư sẽ rời bỏ cổ phiếu công ty, do đó khiến giá của nó bị sụt giảm. Trong trường hợp này, sẽ không dễ dàng gì giành lại các cổ đông hiện hữu. Thay vào đó, hãy xem xét lại việc tái định vị câu chuyện về công ty và giới thiệu nó đến một đối tượng hoàn toàn mới. Để làm được điều này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể yêu cầu thay đổi tên công ty hoặc bán đi bộ phận đã gây ra phần lớn các vấn đề, đồng thời thực hiện một loạt chương trình giới thiệu tại các khu vực hoàn toàn mới để thu hút các nhà đầu tư mới.

Nói tóm lại, mục tiêu chính khi đối phó với tin xấu là xử lý theo cách thận trọng, hoặc thậm chí nâng cao quá trình vốn hóa thị trường lâu dài của công ty. Việc giảm giá trong ngắn hạn cũng không quan trọng, miễn sao giá trị dài hạn của công ty không bị ảnh hưởng.

Phản ứng với các tin đồn

Một tin đồn phát sinh có thể lan ra cộng đồng đầu tư và tác động đáng kể đến giá cổ phiếu. Nếu công ty chờ đợi đủ lâu để tin đồng lắng xuống, giá cổ phiếu sẽ trở lại mức bình thường. Nếu được hỏi về tin đồn này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể chỉ cần nói rằng công ty không có phản ứng với các tin đồn và các hoạt động đầu cơ. Việc công ty không phản ứng có thể gây tổn hại đến giá trị của cổ đông trong ngắn hạn, nhưng không thể làm thế trong thời gian dài.

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp tin đồn gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, tác động đến khách hàng của công ty và gây nên sự sụt giảm doanh số bán hàng. Trong trường hợp này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể cảm thấy thôi thúc phải bác bỏ tin đồn thông qua một thông cáo báo chí hoặc thông tin trên các phương tiện truyền thông khác. Dù nghe có vẻ như một phản ứng đúng đắn nhưng hành động này có thể tạo ra một tiền lệ các nhà đầu tư sẽ chờ đợi công ty bác bỏ tin đồn khi chúng xảy ra. Nếu công ty không làm như vậy, nhà đầu tư sẽ nghĩ rằng tin đồn này là chính xác, do đó có thể kéo dài thời gian gây tác động xấu. Vì vậy, cách tốt nhất là không nên có phản ứng gì với tin đồn, ngoại trừ những trường hợp vô cùng khác thường.

Tóm tắt

Tóm lại, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư (IRO) là người chịu trách nhiệm tối đa hóa giá trị thị trường của công ty trong dài hạn. Điều này đòi hỏi phải sử dụng vô số công cụ giao tiếp để xác nhận giá trị duy nhất của công ty trước cộng đồng đầu tư. Nó cũng đòi hỏi phải xử lý các thông tin xấu một cách phù hợp để tránh việc hạ giá ảo đối với cổ phiếu của công ty, điều mà nhiều chuyên viên quan hệ nhà đầu tư choo là phần khó khăn nhất trong công việc của mình. Kết quả thực sự của một chiến dịch truyền thông được áp dụng đồng nhất và cách xử lý khéo léo những tin xấu sẽ giúp nâng giá cổ phiếu lên cao hơn so với trường hợp không có bộ phận quan hệ nhà đầu tư cũng như các mức giá khác nhau trong phạm vi giá cả tương đối hẹp. Những kết quả này sẽ chứng minh cho ngân sách dành cho các mối quan hệ nhà đầu tư.

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo:  Steven M. Bragg – Điều hành hiệu quả bộ phận quan hệ nhà đầu tư – NXB TH TPHCM – 2011.

Quản lý mối quan hệ nhà đầu tư – Phần IV


Một vấn đề có liên quan khác là các nhà đầu tư có xu hướng tránh sở hữu cổ phiếu đa chủng loại. Trên cơ sở đó, họ chỉ có thể tiếp cận với loại cổ phiếu không có quyền biểu quyết hoặc cổ phiếu hạn chế quyền biểu quyết. Nhà đầu tư thường muốn sở hữu loại cổ phiếu phổ thông có tất cả quyền biểu quyết, những thứ luôn có sẵn để bán, để họ có thể bầu ra ban giám đốc trong trường hợp công ty không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. Như vậy, việc sở hữu một loại cổ phiếu phổ thông với đầy đủ quyền biểu quyết có thể làm tăng thành phần cổ đông, do đó gián tiếp làm tăng giá cổ phiếu.

Một khó khăn khác là khi công ty có được một lượng cổ phiếu trôi nổi lớn, nhưng lượng cổ phiếu này lại nằm trong tay một số tổ chức đầu tư. Nếu các tổ chức đầu tư này chủ động không giao dịch thì hiệu quả của việc phát huy lượng cổ phiếu trôi nổi này sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với những tính toán chuẩn ban đầu. Do vậy, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể gặp gỡ các cổ đông lớn để thuyết phục họ bạn bớt một phần cổ phần mà họ đang sở hữu, mặc dù một nhà đầu tư có nhận định lạc quan về cổ phiếu của mình trong tương lai sẽ không thích làm điều đó. Cách tiếp cận tốt hơn về lâu dài là thực hiện các buổi giới thiệu cơ hội đầu tư của công ty đến các nhà môi giới hay trực tiếp đến các nhà đầu tư bán lẻ để khuyến khích họ sắp xếp lại danh mục cổ phiếu theo từng loại nhà đầu tư, những người có khả năng tạo ra một thị trường giao dịch năng động.

Các chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên tư vấn cho ban giám đốc xem xét việc mua lại cổ phiếu. Việc mua lại cổ phiếu sẽ gửi đến thị trường một thông điệp rằng công ty nhận thấy cổ phiếu của mình đang bị định giá thấp. Điều này cũng có khả năng làm tăng giá cổ phiếu nếu công ty khẳng định sẽ mua lại cổ phiếu nếu nó giảm xuống dưới mức ấn định. Hơn nữa, việc mua lại sẽ làm tăng hệ số thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS), bởi vì nguồn thu nhập được chia cho số cổ phiếu ít hơn. Tuy nhiên, việc mua lại cũng sẽ làm giảm khối lượng cổ phiếu đang lưu hành, giảm lượng cổ phiếu trôi nổi. Trong hầu hết các trường hợp, số cổ phiếu được phép mua lại là rất nhỏ nên khó có thể làm giảm lượng cổ phiếu trôi nổi. Do đó, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư chỉ đưa ra lời khuyên với ban giám đốc nếu cho rằng việc mua lại đó lớn đến mức có thể làm giảm lượng cổ phiếu trôi nổi.

Việc theo dõi cổ phiếu trôi nổi của các đối thủ cạnh tranh để xem cách thức họ quản lý cũng rất hữu ích. Nếu nhận thấy họ sử dụng phương pháp mới nhưng có hiệu quả, chúng ta nên học hỏi. Ngược lại, nếu thấy họ gặp khó khăn trong việc quản lý cổ phiếu trôi nổi, ta nên rút ra bài học từ trải nghiệm đó và thử tìm kiếm một phương pháp khác thay thế.

Nói tóm lại, không có những việc như lượng cổ phiếu trôi nổi quá lớn hay mật độ phân phối quá rộng. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cần phải luôn cố gắng để đơn giản hóa cấu trúc nguồn vốn phức tạp, đăng ký cổ phiếu và thuyết phục các nhà đầu tư bán lẻ mua lại cổ phiếu, từ đó sẽ cải thiện được lượng cổ phiếu trôi nổi.

Xử lý thông tin xấu

Thông tin xấu sẽ xuất hiện theo thời gian, và chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải chuẩn bị để đối phó với nó. Bản chất của thông tin xấu là rất khó dự đoán chính xác bởi nó có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức và có thể diễn ra theo một kịch bản mới chưa từng có trước đây. Các ví dụ về tin xấu bao gồm âm mưu thâu tóm, nhiều vụ kiện tụng, sự thất bại của việc ứng dụng bằng sáng chế quan trọng, xung đột với công đoàn… Cộng đồng đầu tư sẽ điều chỉnh giá cổ phiếu của một công ty không chỉ để phản ứng với các tin tức thực tế mà còn phù hợp với cách thức mà công ty xử lý các thông tin đó.

Nếu một loại tin xấu đã từng xảy ra trong quá khứ và có khả năng sẽ tái diễn, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên lập kế hoạch dự phòng cụ thể để đối phó với loại tin xấu như thế. Kế hoạch này phải bao gồm một danh sách liên lạc nêu rõ những thông tin mà các nhà quản lý và các nhà đầu tư sẽ được liên hệ, nơi liên hệ, người thay thế trong trường hợp họ vắng mặt, một danh mục các hoạt động cần thực hiện và danh sách liên hệ với các phương tiện truyền thông. Danh sách này có thể bao gồm cả một bộ thông cáo báo chí. Trong lịch làm việc của mình, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng nên bao gồm cả bản đánh giá thường niên về các kế hoạch dự phòng để đảm bảo rằng tất cả những câu trả lời vẫn còn phù hợp và thông tin liên lạc vẫn còn cập nhật. Ngoài ra, một chuyên viên pháp chế cần phải định kỳ xem xét lại các kế hoạch, thẩm định lại hồ sơ của công ty xem có phù hợp với quy định của Ủy ban Chứng khoán không.

Có một cách tuyệt vời để chuẩn bị cho những tin xấu là liên tục theo dõi thông tin của các công ty khác trong ngành. Nếu những công ty này rơi vào một trường hợp cụ thể nào đó, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên theo dõi cách xử lý của họ. Nếu đối thủ cạnh tranh phản ứng bất thường nhưng có hiệu quả, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên ghi chép vào kế hoạch dự phòng của mình với cùng một kịch bản.

Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng nên xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm để biết được tin xấu càng sớm càng tốt. Điều này có nghĩa là xây dựng một kênh liên lạc trên các phương tiện truyền thông doanh nghiệp và cộng đồng đầu tư, những người sẽ chuyển đến cho bạn bất cứ tin đồn nào mà họ nghe thấy. Ngoài ra, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải kiểm tra các báo cáo tài chính của công ty ngay khi chúng vừa được lưu hành nội bộ nhằm phát hiện những vấn đề có thể khiến các nhà đầu tư hoặc các nhà phân tích chất vấn. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng nên có trong tay danh sách thư kiểm toán có liên quan đến việc kiểm soát công ty. Ngay cả khi có một cơ hội nhỏ để xảy ra một cuộc đình công, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng phải lập tức liên lạc với công đoàn của công ty để giải quyết. Nếu các điều luật sắp được ban hành có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp (chẳng hạn như các quy định kiểm soát ô nhiễm môi trường hoặc hạn chế nhập khẩu), chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải thường xuyên cập nhật thông tin liên quan đến luật pháp thông qua một nhà vận động hành lang hoặc một luật sư. Thậm chí việc bán cổ phiếu của một người bên trong nội bộ cũng bị coi là tin xấu. Nếu một nhà quản lý bán ra một lượng cổ phiếu lớn, cổ phiếu có khả năng sẽ rớt giá. Do đó, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cần phải nhận biết các trường hợp bán cổ phiếu sắp xảy ra và chuẩn bị để thảo luận về các lý do đằng sau việc bán ra này. Như vậy, một hệ thống cảnh báo sớm phải bao gồm thông tin đầu vào từ nhiều nguồn thông tin rộng lớn.

Hệ thống cảnh báo sớm này cũng phải theo dõi sự xuất hiện của hiệu ứng lây lan, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực công nghiệp từ thời điểm này sang thời điểm khác. Về bản chất, nếu một công ty cùng ngành có vấn đề, các nhà đầu tư sẽ nghi ngờ rằng các đối thủ cạnh tranh của công ty này cũng có thể đang gặp phải vấn đề tương tự, khi đó giá cổ phiếu của cả nhóm công ty sẽ giảm xuống. Vì lý do này, một chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể thấy những công ty bị cuốn vào hiệu ứng lây lan này mặc dù họ chẳng làm gì sai Trong những trường hợp như vậy, giá cổ phiếu của một công ty có thể sẽ giảm bất kể hành động quan hệ nhà đầu tư nào được áp dụng. Tuy nhiên, có thể nhanh chóng khiến cho giá cổ phiếu tăng trở lại bằng cách sử dụng hệ thống cảnh báo sớm để chỉ rõ rằng việc lây lan đó bắt nguồn từ một công ty khác và lập tức thông báo với các nhà đầu tư rằng công ty không gặp phải những vấn đề tương tự. Ví dụ, nếu một công ty phải chịu một sự tổn thất lớn do không mua bảo hiểm rủi ro cho các khoản đầu tư bằng ngoại tệ của mình, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải ngay lập tức đưa ra một thông cáo báo chí nêu cụ thể phạm vi bảo hiểm rủi ro mà công ty mình đang sử dụng cũng như cách thức mà việc bảo hiểm rủi ro này giúp công ty tránh được những tổn thất tương tự.

Các hiệu ứng lây lan có thể bắt đầu tại bộ phận chuyên viên quan hệ nhà đầu tư. Nếu vậy chuyên viên có thể cố tình khiến cho  hiệu ứng lây lan này lan sang các đối thủ cạnh tranh bằng cách trở thành người đầu tiên thông báo tin xấu cho cộng đồng đầu tư. Bằng cách làm người đầu tiên truyền tin, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư sẽ có thời gian để gửi đi những thông điệp tốt nhất về cách thức mà công ty sẽ hành động để giải quyết những tin xấu này. Hy vọng là các đối thủ cạnh tranh sẽ bị bất ngờ trước thông báo này và do đó họ sẽ có ít sự chuẩn bị hơn so với công ty khởi xướng.

Bất cứ khi nào hệ thống cảnh báo sớm phát hiện ra một vấn đề tiềm năng, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải ngay lập tức lên kế hoạch dự thảo để đối phó với nó kèm theo các thông cáo báo chí liên quan. Kế hoạch này có thể không cần thiết nhưng nên được thực hiện trước khi có bất kỳ câu hỏi nào xuất phát từ phía công chúng để đội ngũ quản lý có thể dành nhiều thời gian hơn để xem xét cách phản ứng và mức độ tiết lộ thông tin phù hợp thay vì dành thời gian để xem xét lại kế hoạch cơ bản.

(còn tiếp) 

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo:  Steven M. Bragg – Điều hành hiệu quả bộ phận quan hệ nhà đầu tư – NXB TH TPHCM – 2011.

Quản lý mối quan hệ nhà đầu tư – Phần III


Một mục nhỏ thường được ghi ở dòng cuối cùng của bản ngân sách là chi phí mua lại cổ phần từ những cổ đông quá nhỏ. Có những chi phí đáng kể liên quan đến việc ủy quyền của từng cổ phần nắm giữ, bao gồm việc in ấn và gửi thư ủy quyền và việc tính toán phiếu bầu thường niên cho ban giám đốc. Tùy thuộc vào chi phí ủy quyền và giá thị trường trên mỗi cổ phiếu, công ty có thể tiết kiệm chi phí bằng cách mua lại chính cổ phần của mình từ các cổ đông nhỏ hơn. Ví dụ, nếu tổng chi phí ủy quyền cho một cổ đông đơn lẻ là 20 USD/năm và giá trị thị trường của cổ phiếu hiện đại là 4 USD, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể kết luận rằng việc mua lại cổ phiếu từ tất cả các cổ đông đang nắm giữ từ năm cổ phiếu trở xuống sẽ giúp công ty hoàn vốn trong vòng một năm.

Dòng kế tiếp của bản ngân sách là tổng số tiền tối thiểu dành cho yêu cầu thông tin liên lạc với cộng đồng đầu tư. Hạng mục này thường bao gồm chi phí để phản hồi các yêu cầu của nhà đầu tư, một đường dây nóng dành cho các cổ đông, một báo cáo thường niên, một trang thông tin điện tử, thông cáo báo chí định kỳ mô tả các sự kiện lớn, các cuộc hội đàm qua điện thoại và các cuộc trao đổi liên lạc với các phương tiện truyền thông. Nhiều công ty chỉ lập ngân sách cho đến mức này và dừng lại.

Dòng trên cùng của bản ngân sách là dành cho các hoạt động truyền thông như chi phí cho các buổi giới thiệu cơ hội đầu tư, ngày của nhà đầu tư và một loạt báo cáo được đưa vào danh sách gửi thư của các nhà đầu tư, các nhà phân tích và các phương tiện truyền thông khác. Việc chi tiêu này sẽ khá tốn kém nhưng cũng có thể nâng hạng của công ty so với các công ty đại chúng khác trong nhận thức của các nhà đầu tư.

Thêm một khoản dự phòng bổ sung cho bộ phận quan hệ nhà đầu tư để cộng đồng đầu tư đánh giá mức độ ảnh hưởng từ hiệu quả hoạt động của bộ phận này đến quá trình vận hành của công ty. Nếu công ty đối xử tốt với khách hàng theo cách như đối với các nhà đầu tư, nhà đầu tư sẽ có cơ sở để kết luận rằng khách hàng hài lòng và trung thành với công ty. Điểm tiếp xúc duy nhất của cộng đồng đầu tư là các nhân viên của bộ phận quan hệ nhà đầu tư, không có gì là bất hợp lý khi họ đưa ra giả định này. Vì vậy, một bộ phận quan hệ nhà đầu tư nhỏ nhưng có nguồn ngân sách tốt cũng có thể gây ảnh hưởng lớn đến các nhà đầu tư khác.

Cách tiếp cận phân nhánh đối với nguồn ngân sách dành cho việc quan hệ nhà đầu tư là kỹ thuật lập ngân sách hợp lý và dễ quản lý nhất, vì nó trực tiếp gắn kết các chi phí với hiệu quả của một loạt hoạt động cụ thể. Có nhiều phương pháp khác nhau để xây dựng ngân sách, chẳng hạn như tỷ lệ phần trăm trên tổng vốn hóa thị trường của công ty, hoặc chi phí cho mỗi cổ đông. Tuy nhiên, những phương pháp này quá chung chung và không thể gắn kết với một hiệu quả hoạt động cụ thể. Ngoài ra nó cũng biến động rất nhiều, ví dụ quá trình vốn hóa thị trường của một công ty có thể thay đổi từ năm này sang năm khác nhiều đến mức chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể nhận thấy nguồn ngân sách của mình giảm sút hoặc được nhân đôi theo từng năm.

Có một cách giải thích ở mức độ cao dành cho ngân sách quan hệ nhà đầu tư là so sánh nó với một dòng tín dụng hoặc mối quan hệ với tổ chức tư vấn đầu tư. Cả hai hình thức này đều được sử dụng để đạt được các nguồn tiền, do đó, người ta có thể xây dựng ngân sách quan hệ nhà đầu tư dựa trên việc tính tỷ lệ phần trăm của số tiền thu tăng lên từ việc bán cổ phần, sau đó so sánh với cách tính toán tương tự dành cho các hoạt động tài trợ khác. Tuy nhiên, không phải năm nào công ty cũng tìm đến các thị trường vốn đề có được các nguồn tài trợ, do đ1o, có những năm việc so sánh này sẽ không thiết thực.

Khi bắt đầu thiết lập ngân sách cho các mối quan hệ nhà đầu tư, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cần phải chỉ ra rằng chương trình này sẽ gây ra tác động nhỏ trong ngắn hạn. Hoạt động quan hệ nhà đầu tư đòi hỏi một sự nỗ lực tích lũy lâu dài với nhiều kiểu “va chạm” đa dạng của cộng đồng đầu tư trước khi nhận được sự quan tâm rõ rệt từ phía các nhà đầu tư. Trong ngắn hạn, các hiệu ứng khác như suy thoái kinh tế, bất ổn chính trị, và những thay đổi về giá trị tiền tệ sẽ gây ra một tác động lớn áp đảo những tác động ban đầu của một kế hoạch quan hệ nhà đầu tư mà công ty mới thực hiện. Do đó, nguồn ngân sách này phải được thống nhất áp dụng trong dài hạn. Ngoài ra, nếu hoạt động quan hệ nhà đầu tư bị gián đoạn, giá trị dài hạn còn lại sẽ rất ít. Ngay cả khi chương trình đó đã tồn tại trong nhiều năm thì tác động tích tụ của nó cũng sẽ biến mất nếu bị dừng lại. Vì vậy, một công ty đại chúng phải cam kết thường xuyên ủng hộ và tài trợ cho bộ phận quan hệ nhà đầu tư.

Quản lý cổ phiếu trôi nổi

Mục tiêu chính của chuyên viên quan hệ nhà đầu tư là tối đa hóa giá trị thị trường của công ty. Một yếu tố thúc đẩy quan trọng để xác định giá trị này là số lượng cổ phiếu sẵn có (thường được gọi là cổ phiếu nổi) để giao dịch với cộng đồng đầu tư. Nếu lượng cổ phiếu trôi nổi này lớn, các nhà đầu tư có thể dễ dàng mua vào bán ra khi có những biến động tối thiểu về giá. Như đã lưu ý trong phần này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể áp dụng nhiều cách để quản lý hiệu quả số cổ phiếu thả nổi này.

Khi một công ty đang cần tiền mặt và có cơ hội nhận được nó thông qua công nợ hoặc nguồn vốn chủ sở hữu, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên chỉ ra cho giám đốc tài chính thấy rằng việc gia tăng số lượng cổ phiếu đang lưu thông bên ngoài sẽ làm tăng lượng cổ phiếu trôi nổi (một khi nó được đăng ký). Điều này vô cùng quan trọng nếu hiện tại đã có một lượng nhỏ cổ phiếu trôi nổi, bởi mức độ ảnh hưởng đó lên cổ phiếu trôi nổi sẽ rất lớn. Khi đảm nhiệm vị trí này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể sẽ có lập luận trái ngược với ý kiến của Giám đốc tài chính (CFO), người cho rằng việc sử dụng công nợ sẽ ít tốn kém hơn so với việc sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu, và việc phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm tăng thêm chi phí vốn.Trong trường hợp này, ý kiến của giám đốc tài chính là đúng, nhưng điều quan trọng đối với một công ty đại chúng sở hữu một lượng cổ phiếu trôi nổi tối thiểu là làm gia tăng lượng cổ phiếu trôi nổi đó hơon là duy trì một nguồn vốn thấp.

Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng phải tích cực thúc đẩy việc đăng ký cổ phiếu. Nếu một công ty đại chúng có những hoạt động phát hành cổ phiếu riêng lẻ, chẳng hạn như thông qua giao dịch PIPE, những cổ phiếu đó sẽ không được giao dịch công khai cho đến khi công ty làm hồ sơ đăng ký và được Ủy ban Chứng khoán (SEC) phê duyệt. Quá trình tiến hành có thể rất mệt mỏi vì Ủy ban Chứng khoán có thể gửi đi gửi lại nhiều công văn nhận xét trước khi phê duyệt để yêu cầu công ty chỉnh sửa cho phù hợp với những tài liệu mà công ty đã nộp trước đó. Quá trình đăng ký cũng rất tốn kém và có thể kéo dài hơn ba tháng. Bất kể những trở ngại này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải tiếp tục nỗ lực để đăng ký lượng cổ phiếu không thể giao dịch công khai này nhằm gia tăng lượng cổ phiếu trôi nổi.

Nếu số lượng cổ phiếu chưa đăng ký tương đối nhỏ, chi phí đăng ký sẽ rất cao. Trong trường hợp này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên đợi cho đến khi lượng cổ phiếu nhiều hơn để tăng tổng số, khi đó, chi phí đăng ký sẽ không còn đắt đỏ nếu tính trên mỗi cổ phiếu. Tuy nhiên, một số thỏa thuận của việc phát hành cổ phiếu riêng lẻ đòi hỏi rất nhiều nỗ lực để đăng ký trong một khoảng thời gian nhất định, buộc chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nộp hồ sơ đăng ký cho một lượng cổ phiếu nhỏ.

Nếu thành công trong việc đăng ký một lượng lớn cổ phiếu riêng lẻ, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư sẽ có thể đối mặt với rủi ro là các chủ  sở hữu mới này sẽ đưa số cổ phiếu đó ra giao dịch trên thị trường. Nếu họ làm như vậy, sự gia tăng đột ngột về nguồn cung sẽ gây áp lực giảm giá cổ phiếu. Cách tốt nhất để tránh được vấn đề này là yêu cầu các cổ đông ký một bản “thỏa thuận riêng”, theo đó họ không thể bán cổ phần của mình trong một khoảng thời gian nhất định trước (Ví dụ: 50.000 cổ phiếu/tháng). Một lựa chọn khác ít thuyết phục hơn là giải thích cho các cổ đông thấy rằng cổ phần của họ sẽ được bán một cách có trật tự thông qua một công ty môi giới duy nhất, nơi sẽ nỗ lực bán số cổ phiếu nói trên trong một khoảng thời gian dài. Trong hai phương pháp nêu trên, phương pháp đầu tiên là bắt buộc và do đó hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt nếu “thỏa thuận riêng” đó cho phép bán dần cổ phiếu thay vì đột ngột bán tất cả cùng lúc vào cuối thời gian nắm giữ đã được định trước.

Một cơ cấu vốn phức tạp quá mức cũng có thể làm giảm mạnh lượng cổ phiếu trôi nổi. Ví dụ: nếu có nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu, chứgn quyền và các công cụ vốn khác, công ty sẽ phải phân tán lượng vốn đó để giao dịch giữa tất cả các công cụ vốn khác nhau. Cách tiếp cận tốt hơn là đơn giản hóa cơ cấu vốn cổ phần bằng cách giao dịch cổ phiếu phổ thông với tất cả các loại cổ phiếu khác. Việc này sẽ tập trung toàn bộ nguồn vốn vào một khối lượng cổ phiếu lớn có thể giao dịch được.

(còn tiếp) 

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo:  Steven M. Bragg – Điều hành hiệu quả bộ phận quan hệ nhà đầu tư – NXB TH TPHCM – 2011.