Năm 2017 và những nguy cơ đến từ đồng USD mạnh


Giá trị của đồng USD đang đứng ở mức cao kỷ lục trong một thập niên qua, và những bối cảnh của nền kinh tế thế giới có vẻ sẽ khiến đồng bạc xanh còn tăng giá trị hơn nữa. Khi đồng tiền dự trữ của thế giới quá mạnh, không nước nào tránh được sự tác động. Và đối với nhiều nền kinh tế mới nổi, vốn vay nợ rất nhiều bằng đồng USD, thì năm 2017 có thể là một năm đầy khó khăn.

Ngày nay, đồng USD cản trở thế giới giống như chiếc vòi bạch tuộc thời hiện đại. Những quốc gia gắn giá trị đồng nội tệ với đồng USD sản xuất 1/3 sản lượng của toàn cầu, và đồng USD hiện là sự lựa chọn của hầu hết giao dịch hàng hóa. Đồng bạc xanh có mặt trong 85% giao dịch ngoại hối và hiện là đồng tiền của 39% tổng số nợ của toàn cầu, 63,4% kho dự trữ tiền tệ công khai của thế giới.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, một số nhà phân tích đã viện dẫn thâm hụt thương mại của Mỹ như là bằng chứng cho thấy thời hoàng kim của đồng USD sắp lụi tàn và đồng thời đưa ra dự đoán rằng đồng USD sẽ bị “ruồng bỏ”. Tuy nhiên, họ đã sai bởi các luồng vốn đổ vào ồ ạt chỉ càng củng cố vị thế của đồng USD như là “nơi trú ẩn” an toàn bất chấp tương lai đầy bấp bênh của chính đồng tiền này. Điều tưởng chừng như rất nghịch lý này lại đặc biệt chính xác bởi nước Mỹ là “thủ phạm chính” gây ra cuộc khủng hoảng tài chính 2008.

Để đối phó với các khủng hoảng của năm 2008, chính phủ của các thị trường đã triển khai những chính sách ngăn chặn sự tái diễn “tình trạng đình đốn” như Phố Wall từng gây ra hồi những năm 1930. Các ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng lẻo, khiến thị trường tràn ngập tiền mặt bằng cách ấn định lãi suất thấp kỷ lục và những chính sách nới lỏng định lượng, trong đó Mỹ là nước đi đầu trào lưu này. Kết quả là đồng USD đổ vào thị trường toàn cầu do các nhà đầu tư ở thế giới phát triển nhận thấy các thị trường nội địa của họ không để đem lại đủ lợi nhuận. Các thị trường mới nổi nhận được lượng vốn lớn và hầu hết là dưới hình thức nợ công ty. Do các nhà đầu tư không muốn cấp các khoản vay bằng đồng nội tệ đối với những thị trường mới nổi có tỷ lệ lạm phát cao, nên các khoản cho vay tính bằng đồng USD lại được “lạm dụng”.

Hiện tại, những quốc gia gánh nhiều rủi ro nhất từ đồng USD mạnh là những nước đang có những món nợ chồng chất tính bằng đồng USD. Kho dự trữ ngoại hối dồi dào có thể phần nào giúp giải cứu vấn đề này bởi có thể được dùng để củng cố đồng nội tệ hay thanh toán nợ công ty. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lãi sẽ khiến đồng USD tự khắc “chảy ra” khỏi những nước này.

Trong thời gian tới, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên và có thể khiến nhiều nước phải “đau đầu” Một trong số những “nạn nhân lớn nhất” là Trung Quốc. Trong suốt 18 tháng qua, đồng NDT đã mất giá so với đồng USD,d ẫn đến tình trạng tẩu tán vốn. Điều này có nguy cơ trở thành một tiến trình rối loạn và Trung Quốc đã phải chi một lượng khá lớn dự trữ ngoại tệ để kiểm soát tình hình. Kho dự trữ của nước này hiện là 3,1 nghìn tỷ USD, một con số vẫn được coi là “khổng lồ”, song giảm 25% so với năm 2014. Đồng USD mạnh sẽ gây áp lực hơn nữa lên Bắc Kinh buộc họ phải tiêu số dự trữ ngoại tệ còn lại ở tốc độ thậm chí còn nhanh hơn nữa, làm hao mòn khối tài sản mà nước này tích cóp suốt 2 thập niên qua.

Tuy nhiên, những quốc gia “dễ bị tổn thương” nhất là những nước (chủ yếu có các thị trường mới nổi) đang phải “cõng” gánh nặng nợ tính bằng đồng USD và không có nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào để “chống lưng”. Đồng USD mạnh lên khiến các quốc gia này khó có thể thanh toán hay trả lãi cho các khoản nợ, nhất là khi chi phí trao đổi đồng USD trên thị trường tăng. Đồng USD mạnh lên là “điềm báo” cho thấy 2017 sẽ là một năm đầy khó khăn cho các thị trường mới nổi.

Nguồn: Strator – 08/12/2016

TKNB – 09/12/2016

Advertisements

Hợp tác đầu tư Trung Quốc – Anh hậu Brexit – Phần cuối


Việc tăng lên vùn vụt các khoản đầu tư của các công ty nhà nước Trung Quốc vào những mục tiêu và dự án quan trọng, tăng cường ảnh hưởng và mua các công ty của Anh trong lĩnh vực sản xuất công nghệ cao, trong triển vọng lâu dài, đang gây cho chính phủ mới của Anh những mối nguy hiểm về việc làm suy yếu khả năng kiểm soát các mục tiêu cơ sở hạ tầng và nhà máy lớn. Sự bất an cũng được gợi lên bởi người Trung Quốc đang tích cực hơn trong việc mua các khu nhà ở và bất động sản của Anh. Chẳng hạn, trong 2 tháng đầu năm 2016, các công ty và cá nhân người Trung Quốc đã mua bất động sản với tổng số tiền là 560 triệu bảng, chiếm 40% tổng số bất động sản được mua tại Anh trong năm 2015.

Anh không phải là quốc gia duy nhất lo ngại về chính sách đầu tư bành trướng của các công ty nhà nước Trung Quốc thời gian gần đây. Chính quyền Australia cũng đã thể hiện sự lo ngại trước việc gia tăng ảnh hưởng và nỗ lực kiểm soát của Trung Quốc đối với các dự án cơ sở hạ tầng chiến lược lớn thông qua việc tham gia đầu tư. Tháng 4/2016, Giám đốc Viện chính sách chiến lược, kiểm chủ tịch hội đồng chuyên gia thuộc chính phủ Australia Peter Jennings đã tuyên bố, cần cảnh giác cao độ và cân nhắc kỹ trước các nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc vào các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng chiến lược trên lãnh thổ đất nước. Ông Peter Jennings kêu gọi không chỉ chú ý tới lợi ích kinh tế của việc thu hút đầu tư trong triển vọng ngắn hạn, mà còn cần chú ý tới những hậu quả dài hạn có thể xảy ra từ quá trình này đối với an ninh quốc gia.

Giữa ngã ba đường: Tìm kiếm một “điểm vàng chính giữa”

Theo đánh giá của các nhà khoa học thuộc Trường Kinh tế London, việc Anh rời khỏi EU dẫn tới tổng lượng FDI thu hút giảm đi 22%, kéo theo các khoản thu nhập thực của người dân giảm đi 3,4%. Đồng thời những thiệt hại từ việc giảm ngoại thương có thể là 2,6%, kể cả trong khuôn khổ một kịch bản bi quan. Việc Anh rời khỏi EU tác động trước tiên tới ngành công nghiệp sản xuất ôtô và mạng lưới tài chính.

Rõ ràng, sau khi rời EU và bị mất đi phần lớn các khoản đầu tư từ các nhà đầu tư theo tổ chức tại châu Âu, Anh sẽ hướng tới việc thu hút tích cực hơn các đối tác đầu tư từ những nước thứ ba. Và các công ty Trung Quốc, có các nguồn đầu tư tương đối dồi dào, hóa ra lại xếp ở vị trí đầu tiên. Sự hợp tác giữa Anh và Trung Quốc trong lĩnh vực đầu tư sẽ thúc đẩy hướng đầu tư ra nước ngoài của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Những triển vọng phối hợp đầu tư giữa Anh với châu Âu và các nước thứ ba, nói riêng là với Trung Quốc, sẽ phụ thuộc vào thứ nhất là kịch bản có thể thực hiện được của việc Anh rời khỏi EU, thứ hai là phương hướng kinh tế đối ngoại của Chính phủ Anh mới. Hiện cả hai điều trên vẫn chưa rõ ràng.

Mặc dù sự vận động của các luồng đầu tư phần lớn dễ chịu ảnh hưởng của Brexit, nhưng liệu sự không rõ ràng nảy sinh trong phương hướng kinh tế đối ngoại tương lai của Anh, và cả những cố gắng của Chính phủ Anh nhằm giữ sự kiểm soát đối với các nguồn đầu tư nước ngoài vào các dự án và lĩnh vực chiến lược, có ảnh hưởng đến các kế hoạch đưa các nguồn vốn vào nền kinh tế Anh của các nhà đầu tư Trung Quốc.

Trong những năm tới đây, sự lôi cuốn của thị trường Anh, nhìn từ góc độ đưa vào các nguồn vốn như một căn cứ bàn đạp để mở rộng sự hiện diện về thương mại và buôn bán tại châu Âu, sẽ chỉ tăng lên. Tuy nhiên, các công ty nhà nước Trung Quốc sẽ tiếp tục chiếm lấy các lợi ích riêng và hướng tới việc mở rộng đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

Đến lượt mình, chính sách của Anh đối với các nhà đầu tư Trung Quốc sẽ được hình thành dưới ảnh hưởng của 2 xu hướng đối lập nhau.

Xu hướng thứ nhất là sự tăng mạnh về tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc đối với sự phát triển của kinh tế Anh. Điều này xếp ở vị trí hàng đầu khi tính tới việc Anh mất đi phần lớn các nguồn vốn đến từ các nhà đầu tư châu Âu trước đó. Ngoài ra, sự lớn mạnh trong cạnh tranh giữa Anh, Đức, Pháp và Italy vì nguồn vốn từ Trung Quốc có thể thôi thúc Chính phủ Anh “mềm hóa” các điều kiện để nguồn vốn nước ngoài tiếp cận nền kinh tế nước này, trong đó có FDI từ Trung Quốc.

Xu hướng thứ hai là sau sự ra đi khỏi EU và tìm được sự độc lập trong việc tiến hành chính sách kinh tế đối ngoại của mình, các nhà cầm quyền Anh sẽ nỗ lực bảo vệ các lợi ích riêng trong lĩnh vực an ninh và các mạng lưới quan trọng chiến lược khỏi sự xâm nhập từ nguồn vốn nước ngoài. Điều này trước tiên có thể động chạm tới toàn bộ việc thu hút FDI vào các dự án hạ tầng cơ sở lớn (xây dựng các công trình giao thông và cơ sở hạ tầng năng lượng), và cả các điều kiện mua bất động sản Anh bởi các nhà đầu tư nước ngoài. Liên quan tới điều này, các thủ tục thỏa thuận hợp đồng có thể trở nên phức tạp hơn, tăng thời hạn thông qua quyết định, trong các trường hợp riêng, có thể tiến hành hạn chế hoặc hủy bỏ các điều kiện tham gia của vốn đầu tư nước ngoài trong các dự án chiến lược quan trọng và trong việc mua bất động sản.

Các chuyên gia và nghị sĩ Anh đã hơn một lần đưa ra vấn đề hạn chế việc tiếp cận của các nhà đầu tư nước ngoài đối với vấn đề mua bất động sản trong nước. Rõ ràng, việc thực hiện các sáng kiến này trước tiên sẽ đánh vào các nhà đầu tư Trung Quốc.

Xuất phát từ điều này, trong triển vọng trung hạn, có thể chờ đợi một số thay đổi trong cấu trúc ngành của FDI của Trung Quốc vào Anh: lượng đầu tư vào mạng lưới giao thông liên lạc, lĩnh vực tài chính, thương mại bán lẻ và sản xuất công nghệ cao có thể tăng lên, còn số đầu tư cho giao thông, năng lượng và mua bất động sản sẽ giảm.

Tóm lại, Anh sẽ cân bằng giữa mong muốn tăng cường bổ sung các nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào trong nước (xét theo quan điểm cắt giảm sự ảnh hưởng về mặt tài chính của châu Âu) và mong muốn bảo vệ các lợi ích an ninh quốc gia. Chính sách đối với sự đầu tư từ Trung Quốc sẽ phụ thuộc vào cái đĩa cân nào sẽ được cheo, các nhà cầm quyền Anh có thể giữ cân bằng các mối quan hệ đối tác với châu Âu và thu hút đầu tư từ các trung tâm đầu tư lớn khác của thế giới ở mức độ nào.

Nguồn: Russiancouncil.ru

TLTKĐB – 15/12/2016

Hợp tác đầu tư Trung Quốc – Anh hậu Brexit – Phần đầu


Ngày 15/9/2016, mọi thứ đã trở nên rõ ràng khi Chính phủ Anh tán thành dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point với sự tham gia của công ty nhà nước Trung Quốc – công ty mà hồi tháng 7 đã bị phía Anh trì hoãn quyết định hợp tác bởi các lý do liên quan tới an ninh và sự cần thiết đối với việc nghiên cứu chi tiết hơn các hậu quả có thể xảy ra từ việc mở rộng hợp tác đầu tư của các công ty Trung Quốc vào mạng lưới kinh tế chiến lược. Về điều này, các nhà cầm quyền Anh đã đưa ra các biện pháp bảo vệ mới nhằm giữ việc kiểm soát đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại các dự án cơ sở hạ tầng chiến lược, trong đó có năng lượng hạt nhân.

Tình hình xung quanh Hinkley Point đang cho thấy một mặt, Chính phủ Anh không thể cho phép mình vứt bỏ các đối tác chiến lược trong số các quốc gia ngoài châu Âu. Mặt khác, các nhà cầm quyền mới không thể tíchc ực và nhiệt tình hơn trong việc bảo vệ các lợi ích an ninh quốc gia, trong khi sử dụng sự độc lập trong tiến hành chính sách kinh tế đối ngoại mới nhận được sau khi rút khỏi Liên minh châu Âu (EU).

Quyết định của việc rời khỏi EU có thể dẫn tới thay đổi toàn bộ sự cân bằng các lực lượng trong thị trường nội địa Anh, cũng như sự cân bằng trong cấu trúc địa lý và ngành của các dòng thương mại và nhà đầu tư. Những thay đổi thích hợp có thể động chạm tới Trung Quốc – nước đang cho thấy là một trong những nhà đầu tư năng động vào kinh tế Anh.

Chính sách đầu tư bành trướng của Trung Quốc

Trung Quốc hiện đang giữa vị trí thứ ba về tầm vóc của một nhà đầu tư quốc tế, sau Mỹ và Nhật Bản. Tổng lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc năm 2015 đạt 128 tỷ USD, tăng 3,6% so với năm 2014. Theo các chuyên gia Đức, tới năm 2020, con số này có thể tăng lên gần gấp đôi, đạt khoảng 250 tỷ USD.

Phần lớn FDI của Trung Quốc hướng tới các lĩnh vực dịch vụ, thương nghiệp bán lẻ, giao thông và tài chính, trong khi đó nguồn đầu tư cho sản xuất đã giảm đi đáng kể. Số lượng đầu tư cho lĩnh vực dịch vụ trong năm 2015 tăng tới 55% còn lĩnh vực sản xuất thì giảm tới 33%. Các công ty Trung Quốc đặc biệt tích cực đầu tư cho các lĩnh vực liên quan tới phát triển cơ sở hạ tầng.

Một cách so sánh, tốc độ cao hơn trong phát triển đầu tư của Trung Quốc được nhận thấy tại các nước đối tác khu vực châu Á. Trong năm 2015, tổng số FDI của Trung Quốc tại các nước châu Á đang phát triển khác tăng lên khoảng 1,8 lần, trước tiên là dựa vào việc mở rộng đầu tư trong khuôn khổ các dự án quy mô lớn “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa” và “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21”. Đồng thời, Bắc Kinh cũng tiến hành chính sách tích cực đa dạng địa lý trong đầu tư và củng cố sự hiện diện về đầu tư và thương mại tại các thị trường ngoài nước, bao gồm cả thị trường các nước châu Âu.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc thể hiện là một trong những nhà đầu tư lớn vào kinh tế của các nước phát triển tại châu Âu, trong đó có việc nhờ vào tiến hành các hợp đồng lớn xuyên biên giới nhằm hợp nhất và thu hút. Chẳng hạn, cuối năm 2015, công ty quốc gia China National Chemical Corporation (ChemChina) của Trung Quốc đã thực hiện hợp đồng mua công ty Pirelli của Italy với tổng số tiền là 9 tỷ euro. Tháng 8/2016, ChemChina đã nhận được sự tán thành để mua công ty Syngenta của Thụy Sỹ với giá 43 tỷ USD.

Các công ty Trung Quốc đang tích cực áp dụng vào lĩnh vực năng lượng thay thế, trong khi đầu tư và mua, chẳng hạn việc mua bán ngoài khơi về sản xuất năng lượng gió – nguồn năng lượng đang thuộc về các công ty năng lượng lớn của châu Âu và triển khai phần lớn trên lãnh thổ Anh. Ở đây đang nói riêng về các hợp đồng mua của các công ty nhà nước Trung Quốc State Development and Investment Corporation trong việc mua bán với công ty Repsol của Tây Ban Nha vào tháng 5/2016 hay việc công ty Trung Quốc China Three Gorges Corporation mua 30% cổ phần dự án ngoài khơi Moray Firth của công ty EDP Renovaveis của Bồ Đào Nha và các trao đổi mua bán khác.

Rất quan trọng khi nhận xét rằng những năm gần đây, trong chính sách đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài, những thay đổi căn bản đã được ghi dấu.

Thứ nhất, đang diễn ra sự định hướng lại một cách nhanh chóng từ việc đầu tư vào khu vực thực tế trong lĩnh vực dịch vụ và tham gia các dự án cơ sở hạ tầng lớn.

Thứ hai, việc đầu tư vào các dự án sản xuất theo công nghệ cao hơn, trong đó có các dự án trong lĩnh vực năng lượng thay thế, công nghệ sinh học và các lĩnh vực khác, đang được mở rộng. Số hợp đồng mua các công ty và nhà máy sản xuất theo công nghệ cao, những cái mà các nhà cầm quyền Trung Quốc coi là cách nhanh và hiệu quả nhất để tiếp cận các công nghệ tiên tiến, đang tăng lên.

Thứ ba, phần lớn nhất trong tổng số FDI của Trung Quốc là thuộc các công ty nhà nước (khoảng 70% theo thực tế năm 2015). Về điều này, xu hướng chung giai đoạn 2000 – 2015 là theo chiều đi lên.

Thứ tư, các công ty Trung Quốc đang dần chuyển từ đầu tư với tư cách cổ đông không kiểm soát nhằm khai thác lợi nhuận sang dạng mua các công ty nước ngoài, tăng cổ phần của mình trong các dự án, tham gia vào quá trình thông qua quyết định và sử dụng các mục tiêu hạ tầng cơ sở phù hợp với các ưu tiên chiến lược riêng. Xu hướng sau cùng có thể gây ra sự bất an cho các nước được đầu tư vì việc mất kiểm soát có thể xảy ra đối với các mục tiêu hạ tầng cơ sở chiến lược và vì sự phát sinh các nguy cơ đối với an ninh quốc gia.

Sự bành trướng của Trung Quốc tại Anh

Trong giai đoạn 2000 – 2015, Anh giữ vị trí số 1 trong số các quốc gia EU về tổng số FDI của Trung Quốc – đạt 15,164 tỷ euro, so với 11,186 tỷ của Italy, 9,485 tỷ của Pháp và 7,905 tỷ của Đức. Theo số liệu của công ty luật quốc tế Baker & McKenzie, năm 2015, tổng số tiền đầu tư của Trung Quốc là 3,3 tỷ USD.

Trước năm 2012, các hướng đầu tư chính của Trung Quốc là mạng lưới ngân hàng, năng lượng mặt trời, ngành chế tạo ôtô và giao thông liên lạc. Những năm gần đây đánh dấu xu hướng tăng cường đầu tư của nước này vào lĩnh vực chế tạo công nghệ và cơ sở hạ tầng, còn mạng lưới tài chính và sản xuất thực tế đang nhường lại vị trí của mình. Ngoài ra, từ việc mua các cổ phần không lớn trong thương mại, các công ty Trung Quốc chuyển sang đẩy mạnh các hợp đồng về hợp nhất và thâu tóm. Mặc dù giá trị các bản hợp đồng tương ứng được các nhà đầu tư Trung Quốc tiến hành tại thị trường Anh giảm đi, nhưng số lượng các bản hợp đồng lại có chiều hướng tăng lên. Về điều này, các khoản tiền được đặt chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản, khai khoáng, dầu mỏ và khí đốt, xây dựng và giao thông, thương nghiệp bán lẻ và mạng lưới ngân hàng.

Đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng lớn của Anh đang là một trong những ưu tiên chiến lược của các công ty Trung Quốc. Năm 2012, công y China Investment Corporation của Trung Quốc đã mua 8,68% cổ phần của công ty Thames Water Utilities Ltd. và 10% cổ phần của Heathrow Airport Holdings của Anh. Trước đó 1 năm, công ty Cheung Kong Infrastructure Holdings của Trung Quốc đã thực hiện hợp đồng mua công ty Northumbrian Water. Đưa nhiều vốn hơn vào các công trình cơ sở hạ tầng lớn, các công ty Trng Quốc dự định sử dụng chúng với tư cách căn cứ đầu cầu để mở rộng sự hiện diện của mình tại châu Âu. Cho nên, công ty Beijing Construction Engineering Group của Trung Quốc đã đầu tư vào dự án Airport City Manchester, công ty Chinese Construction Company dự định tham gia trên cơ sở đồng đẳng (50:50) vào các dự án của công ty xây dựng Carillion của Anh, còn công ty China Railway Group đang xem xét đề nghị đầu tư vào dự án High Speed 2.

(còn tiếp) 

Nguồn: Russiancouncil.ru

TLTKĐB – 15/12/2016

Bí ẩn của vốn – Phần cuối


Như các nhà kinh tế học lỗi lạc của Đức, Gunnar Heinsohn và Otto Steiger đã chỉ ra, “Tiền không bao giờ được tạo ra từ hô vô, xét từ quan điểm quyền sở hữu, cái luôn phải có trước khi tiền có thể tồn tại”. Thừa nhận những sự giống nhau giữa công trình của họ và của tôi, họ đã lưu ý tôi về bản thảo của một bài báo chưa được công bố, có nêu “rằng không thể hiểu lãi và tiền nếu không có định chế quyền sở hữu”. Họ đề cập tiếp, mối quan hệ này bị làm lu mờ bởi đa số mọi người hiểu lầm rằng các ngân hàng trung ương phát hành giấy bạc và hỗ trợ các ngân hàng thương mại tiến hành thanh toán. Theo quan điểm của Heinsohn và Steiger, cái tuột khỏi tầm nhìn thực tế “là tất cả các khoản ứng trước trong kinh doanh ngân hàng lành mạnh đều có bảo đảm”, hoặc theo thuật ngữ của tôi, đều dựa trên giấy chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp. Họ đồng ý với Harold Demsetz rằng nền móng quyền sở hữu của chủ nghĩa tư bản được cho là dĩ nhiên và lưu ý Joseph Schumpeter đã gợi bóng gió rằng chính quyền sở hữu bảo đảm cho sự tạo ra tiền. Như Tom Bethell khẳng định đúng đắn trong cuốn sách khác thường của ông, The Noblest Triumph [Chiến thắng cao quý nhất], rằng “nhiều sự may mắn của một hệ thống quyền sở hữu tư nhân chưa bao giờ được phân tích một cách thích đáng”.

Vốn, như tôi đã lập luận ở trước, không được tạo ra bởi tiền; nó được tạo ra bởi dân chúng mà các hệ thống quyền sở hữu giúp họ hợp tác và suy nghĩ về việc làm sao có thể làm cho các tài sản họ tích tụ tham gia sản xuất thêm. Sự gia tăng lớn củ tư bản ở phương Tây hơn hai thế kỷ qua là hệ quả của hệ thống quyền sở hữu được cải thiện dần dần, những hệ thống cho phép các tác nhân kinh tế phát hiện và thực hiện tiềm năng trong các tài sản, do đó có thể tạo ra tiền mà không bị lạm phát để tài trợ và tạo ra thêm sản xuất.

Như vậy, chúng ta hơn những con sóc cất trữ lương thực cho màu đông và cam kết tiêu thụ sau. Thông qua việc sử dụng thành thạo các định chế quyền sở hữu, chúng ta biết cách để cho các thứ tích tụ có một sự tồn tại song hành. Khi các quốc gia tiên tiến hòa hợp tất cả thông tin và các quy tắc về tài sản của họ lại với nhau và thiết lập hệ thống quyền sở hữu theo dõi tiến triển kinh tế của chúng, họ đã tập hợp thống nhất toàn bộ quá trình thể chế, quá trình làm nền cho sự tạo ra vốn. Nếu chủ nghĩa tư bản có trí tuệ, nó sẽ nằm trong hệ thống quyền sở hữu hợp pháp. Nhưng giống như hầu hết các thứ thuộc trí óc, đa phần của “chủ nghĩa tư bản” ngày nay hoạt động ở mức vô thức.

Vì sao các nhà kinh tế học cổ điển, những người đã biết tư bản là trừu tượng và phải được cố định, lại không đưa ra quan hệ giữa vốn và quyền sở hữu? Một lời thanh minh có thể là trong thời của A. Smith hoặc thậm chí của K. Marx, hệ thống quyền sở hữu vẫn còn bị hạn chế và chưa được phát triển, và tầm quan trọng của chúng là khó phán đoán. Có lẽ quan trọng hơn, cuộc chiến vì tương lai của chủ nghĩa tư bản đã dịch chuyển từ những nghiên cứu mang tính sách vở của các nhà lý thuyết sang một mạng lưới rất lớn các nghiệp chủ, các nhà tài chính, các chính trị gia, và các luật gia. Sự chú ý của thế giới chuyển từ lý thuyết sang những công việc thực tế được tiến hành hàng ngày trong dân chúng, từ năm tài chính này sang năm tài chính khác.

Một khi cỗ máy khổng lồ của chủ nghĩa tư bản đã được đặt chắc chắn vào vị trí và chủ nhân của nó bận rộn làm giàu, thì câu hỏi về việc nó sinh ra thế nào sẽ mất đi tính khẩn cấp. Giống như dân cư sống ở vùng châu thổ giàu có và màu mỡ của một con sông dài, những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản không có nhu cầu thúc ép để khám phá thượng nguồn nhằm tìm nguồn gốc sự phồn vinh của họ. Vì sao phải phiền muộn?… Do vậy, phần còn lại của thế giới quay sang phương Tây nhờ giúp đỡ và được khuyên hãy bắt chước các điều kiện của cuộc sống ở châu thổ: các đồng tiền ổn định, các thị trường mở và các doanh nghiệp tư nhân, các mục tiêu của những cái gọi là cải cách kinh tế vĩ mô và điều chỉnh cơ cấu. Tất cả mọi người đã quên rằng lý do của cuộc sống giàu có ở châu thổ nằm xa ở tận thượng lưu, trong nước nguồn chưa được khai phá. Các hệ thống quyền sở hữu hợp pháp có thể tiếp cận một cách rộng rãi như là phù sa từ thượng lưu, cho phép tư bản hiện đại hưng thịnh.

Đây là một trong những lý do chính giải thích vì sao các cải cách kinh tế vĩ mô không có kết quả. Bắt chước chủ nghĩa tư bản ở mức độ của châu thổ, bằng cách nhập khẩu đặc quyền kinh doanh McDonald và Blockbluster, là không đủ để tạo sự giàu có. Cái cần là tư bản, nó đòi hỏi một hệ thống phức tạp và rất rộng lớn của quyền sở hữu hợp pháp, mà tất cả chúng ta đều coi là dĩ nhiên.

Chiếc lồng kính của Braudel

Phần lớn những người nghèo ở các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây bị đẩy ra bên lề là do họ không có khả năng lợi dụng được sáu tác dụng mà quyền sở hữu mang lại. Thách thức mà các nước này đối mặt không phải là liệu họ phải tạo ra hay nhận được nhiều tiền hơn, mà là liệu họ có thể hiểu được các định chế pháp lý và dồn hết quyết tâm chính trị cần thiết xây dựng một hệ thống quyền sở hữu để những người gnhèo có thể tiếp cận một cách dễ dàng.

Nhà sử học Pháp, Fernand Braudel, đã thấy rằng sự bí ẩn lớn là chỗ ngay từ lúc khởi đầu, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã chỉ phục vụ một số ít những người có đặc quyền, giống như nó hoạt động ở những nơi khác trên thế giới ngày nay:

Vấn đề mấu chốt là tìm ra vì sao khu vực đó của xã hội thời xưa, cái tôi sẽ không ngần ngại gọi là tư bản chủ nghĩa, lại phải sống như thể trong một lồng kính (bell jar), cắt đứt khỏi phần còn lại của xã hội; vì sao nó đã không có khả năng mở rộng và chinh phục toàn xã hội?… Vì sao chỉ có thể có tốc độ tạo vốn đáng kể ở những khu vực nhất định chứ không phải trong toàn bộ nền kinh tế thị trường của thời ấy?… Có lẽ sẽ là trái với quy luật tự nhiên nếu nói rằng mọi thứ khác đều thiếu, còn tiền chắc chắn là không [thiếu]… như thể đây là một thời kỳ mà những nơi đất được coi là xấu vẫn có người mua hết và các dinh thự tráng lệ ở thôn quê được xây dựng, các đài kỷ niệm to lớn được dựng lên, và sự tài trợ một cách phung phí cho văn hóa… Làm sao chúng ta giải quyết được sự mâu thuẫn này… giữa bầu không khí kinh tế trì trệ và sự tráng lệ của Florence dưới thời Lorenzo Huy hoàng.

Tôi tin câu trả lời cho câu hỏi của Braudel chính ở sự tiếp cận hạn chế đối với quyền sở hữu chính thức, cả trong quá khứ của phương Tây lẫn ở các nước thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây hiện nay. Các nhà đầu tư địa phương và nước ngoài đúng là có tư bản; các tài sản của họ ít nhiều được tích hợp, có thể chuyển đổi được, được kết nối mạng, và được bảo vệ bởi hệ thống quyền sở hữu chính thức. Nhưng họ chỉ là một thiểu số rất nhỏ – những người có thể có đủ điều kiện thuê các luật sư nhiều kinh nghiệm, có các mối quan hệ nội bộ, và có sự kiên nhẫn để lách qua tệ quan liêu của hệ thống quyền sở hữu của họ. Tuyệt đại đa số dân chúng, những người không thể hưởng việc những thành quả lao động của mình được biểu thị bởi hệ thống quyền sở hữu chính thức, sống ngàoi chiếc lồng kính của Braudel.

Chiếc lồng kính làm cho chủ nghĩa tư bản trở thành một câu lạc bộ tư nhân, chỉ mở cửa cho một số ít người có đặc ân, và làm tức giận hàng tỷ người đứng ngoài ngó vào. Sự phân biệt chủng tộc tư bản chủ nghĩa này sẽ tiếp tục một cách không thể tránh khỏi, cho đến khi tất cả chúng ta đều thấy sự thiếu sót cốt lõi trong hệ thống pháp luật và chính trị của nhiều nước, những cái ngăn cản đa số người dân tham gia hệ thống quyền sở hữu chính thức.

Đây là lúc để tìm ra nguyên nhân hầu hết các nước đã không có khả năng tạo ra hệ thống quyền sở hữu chính thức mở. Nó là thời điểm, bởi vì các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây đang trải qua những nỗ lực đầy khát vọng nhất… để nhấc chiếc lồng kính đi.

Nhưng trước khi trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải giải quyết phần còn lại của sự bí ẩn là vì sao các chính phủ lại chậm trễ đến như vậy trong việc nhận ra sự tồn tại của chiếc lồng kính.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của vốn – Phần VI


Ít người biết rằng hệ thống quyền sở hữu hợp pháp ở một quốc gia tiên tiến là trung tâm của một mạng lưới phức tạp các mối quan hệ, trang bị cho các công dân bình thường để thiết lập mối liên hệ với cả chính phủ lẫn khu vực tư nhân, và như thế nhận được thêm hàng hóa, dịch vụ. Không có các công cụ quyền sở hữu chính thức, khó có thể hiểu được vì sao các tài sản lại có thể được dùng vào mọi thứ mà chúng thực hiện ở phương Tây. Bằng cách nào khác mà các tổ chức tài chính có thể xác định những người vay tiền tiềm năng đáng tin cậy ở quy mô hàng loạt? Làm sao các đối tượng vật lý, như gỗ ở Oregon, lại bảo đảm cho một khoản đầu tư công nghiệp ở Chicago? Làm thế nào các công ty bảo hiểm có thể tìm và ký hợp đồng với các khách hàng, những người sẽ thanh toán hóa đơn của họ? Làm thế nào nghề môi giới thông tin hoặc các dịch vụ xác minh và kiểm tra lại có thể được cung cấp một cách hiệu quả và rẻ tiền? Việc thu thuế tiến hành ra sao?

Chính hệ thống quyền sở hữu là cái chắt lọc ra tiềm năng trừu tượng từ các tòa nhà và cố định nó trong các hình thức biểu diễn cho phép chúng ta sử dụng các tòa nhà không chỉ như nơi trú ngụ. Nhiều hệ thống sở hữu ở các quốc gia đang phát triển không tạo ra vốn, bởi họ không nhận ra rằng tài sản có thể tách xa khỏi quyền sở hữu. Các hệ thống này chỉ hoạt động thuần túy như một kho lưu trữ các giấy tờ sở hữu, các bản đồ thay cho các tài sản, mà không cho phép cho thêm cơ chế cần thiết để tạo ra một mạng lưới trong đó các tài sản có thể có một cuộc sống song hành như vốn. Không được nhầm lẫn giữa hệ thống quyền sở hữu chính thức với các hệ thống lưu trữ đồ sộ như Domesday Book (Sổ chủ đất) của nước Anh 900 năm trước đây hoặc hoạt động kiểm tra hành lý ở một sân bay quốc tế. Một hệ thống quyền sở hữu được hiểu đúng đắn và thiết kế một cách phù hợp có khả năng tạo ra một mạng lưới, thông qua đó người dân có thể kết hợp các tài sản của mình theo những cách có giá trị hơn.

Tác dụng số 6 của quyền sở hữu: bảo vệ các giao dịch

Một lý do quan trọng giúp hệ thống quyền sở hữu chính thức phương Tây hoạt động như một mạng lưới là tất cả các hồ sơ sở hữu (các chứng thư, văn bản, chứng khoán và các hợp đồng mô tả khía cạnh kinh tế quan trọng của tài sản) được theo dõi liên tục và được bảo vệ khi chúng di chuyển qua thời gian và không gian. Bến đỗ đầu tiên của chúng là các cơ quan công cộng, đó là những người quản gia đối với các hình thức biểu diễn tài sản của một quốc gia tiên tiến. Những người giữ hồ sơ công cộng quản lý các hồ sơ chứa tất cả những mô tả hữu ích về mặt kinh tế của tài sản, bất kề là đất, nhà, động sản, tàu bè, công nghiệp, hầm mỏ hoặc máy bay. Các hồ sơ này sẽ cảnh báo cho bất kể ai muốn sử dụng tài sản về những thứ có thể hạn chế hoặc tăng cường tính hiện thực của nó, như những điều trở ngại, quyền sử dụng đất của người khác, những hợp đồng thuê mướn, các khoản tiền trả chậm, vỡ nợ và các hợp đồng thế chấp. Các cơ quan cũng đảm bảo rằng các tài sản được biểu thị chính xác và thảo đáng dưới dạng thích hợp có thể được cập nhật và truy cập dễ dàng.

Bên cạnh các hệ thống lưu trữ hồ sơ công cộng, nhiều dịch vụ tư nhân khác đã mở ra để hỗ trợ các bên trong xác định, di chuyển và theo dõi các biểu thị sao cho chúng có thể tạo ra giá trị thặng dư một cách dễ dàng và an toàn. Các dịch vụ này bao gồm các tổ chức tư nhân ghi chép lại các giao dịch, các tổ chức lưu giữ (phong tỏa), trích lục, định giá, các hãng bảo hiểm cho chứng thư và độ tin cậy, các nhà môi giới thế chấp, các dịch vụ ủy thác, lưu ký hồ sơ. Ở Hoa Kỳ, các công ty bảo hiểm chứng thư còn giúp việc khai thác các biểu thị tài sản bằng cách phát hành các khế ước bảo đảm cho các bên đối với rủi ro xác định, từ sai sót trong chứng thư đến việc không thể thực thi khế ước thế chấp và không phát mại được chứng thư. Theo luật, tất cả các thực thể này phải tuân thủ tiêu chuẩn hoạt động khắt khe điều chỉnh khả năng theo dõi hồ sơ của họ, các phương tiện lưu trữ vật lý và bố trí nhân viên.

Mặc dù chúng được thiết lập để bảo vệ sự an toàn của quyền sở hữu lẫn an toàn của các giao dịch, song rõ ràng là các hệ thống phương Tây nhấn mạnh đến khía cạnh sau. Sự an toàn về cơ bản được nhấn mạnh nhằm tạo sự tin cậy trong các giao dịch sao cho người dân có thể làm cho các tài sản của mình tồn tại song hành với tư cách là tư bản một cách dễ dàng hơn.

Ngược lại, ở hầu hết các nước đang phát triển, luật và các cơ quan chính quyền bị mắc bởi hệ thống thuộc địa trước đây và luật Roman, những luật nghiêng về bảo vệ quyền sở hữu. Họ trở thành những người lưu ký ước nguyện của người chết. Điều này có thể giải thích vì sao hệ thống quyền sở hữu phương Tây lại dễ dàng tạo ra vốn như vậy, còn vì sao hầu hết tài sản ở các nước thế giới thứ ba và XHCN trước đây lại tuột khỏi hệ thống pháp lý chính thức để tìm kiếm sự linh động.

Việc phương Tây coi trọng sự an toàn của các giao dịch cho phép người dân có thể di chuyển khối lượng tài sản lớn với rất ít giao dịch. Làm sao chúng ta có thể lý giải rằng ở các quốc gia thế giới thứ ba và XHCN trước đây, người dân vẫn mang lợn của mình ra chợ và mua bán từng con một, như họ đã làm hàng ngàn năm nay, trong khi ở phương Tây, các nhà buôn đưa các hình thức biểu thị về quyền của họ với các con lợn ra thị trường? Ví dụ, các nhà buôn ở Sở Giao dịch Hàng hóa Chicago mua bán thông qua các biểu thị, những cái cung cấp cho họ nhiều thông itn hơn về đàn lợn mà họ mua bán so với việc họ phải xem xét từng con lợn một. Họ có khả năng mua bán các khối lượng khổng lồ lợn mà ít phải quan tâm về sự an toàn của các giao dịch.

Vốn và tiền

Sáu tác dụng của quá trình quyền sở hữu tích hợp có nghĩa là nhà ở của những người phương Tây không còn chỉ để trú mưa và tránh giá lạnh. Được tạo cho sự tồn tại về mặt biểu diễn, những căn nhà này hiện có một cuộc sống song hành, thực hiện những công việc kinh tế mà chúng không thể làm trước đây. Một hệ thống quyền sở hữu chính thức được tích hợp tốt về cơ bản làm hai việc: thứ nhất, nó giảm mạnh mẽ các chi phí để tìm hiểu đại lượng kinh tế của tài sản bằng cách biểu thị chúng theo cách sao cho các giác quan của chúng ta có thể nắm bắt nhanh chóng; và thứ hai, nó tạo thuận lợi cho khả năng thỏa thuận về việc sử dụng các tài sản ra sao để tạo thêm sản phẩm và tăng phân công lao động. Kỳ tài của phương Tây là đã tạo ra một hệ thống cho phép người dân thấu hiểu bằng trí óc những giá trị mà mắt con người không bao giờ có thể nhìn thấy và để thao tác các thứ bàn tay con người không bao giờ có thể sờ thấy.

Hàng thế kỷ trước, các học giả đã nghĩ rằng chúng ta dùng từ vốn (theo tiếng Latinh, capital để chỉ đầu, thủ) bởi vì đầu là nơi chúng ta nắm giữ các công cụ để tạo ra vốn. Điều này gợi ý lý do mà vốn đã luôn luôn bị che khuất trong bí ẩn là bởi vì, giống như năng lượng, nó chỉ có thể được khám phá và được quản lý bằng trí óc. Cách duy nhất để chạm vào vốn là hệ thống quyền sở hữu có thể ghi chép các khía cạnh kinh tế của nó trên giấy và néo chặt chúng vào một địa điểm và người chủ cụ thể.

Khi ấy, quyền sở hữu, không đơn thuần là giấy tờ mà là một công cụ trung gian thâu tóm và lưu trữ hầu hết các thứ cần thiết để làm cho nền kinh tế vận hành. Quyền sở hữu là hạt nhân của hệ thống, bằng cách làm cho người dân có trách nhiệm giải trình và tài sản có thể chuyển đổi được, bằng cách theo dõi các giao dịch, và như thế cung cấp tất cả các cơ chế cần thiết để hệ thống tiền tệ và ngân hàng vận hành, đầu tư hoạt động. Mối quan hệ giữa vốn và tiền hiện đại thấm qua quyền sở hữu.

Ngày nay, chính các hồ sơ về quyền sở hữu và các giao dịch đã cung cấp tiền cho các nhà chức trách làm bằng chứng cốt yếu để phát hành thêm thư chào thầu hợp pháp. Các nhà khoa học tư duy George A. Miller và Philip N. Johnson-Laird đã viết năm 1976: “Tiền giấy có nguồn gốc từ ký phát giấy nợ. Cho nên tiền… giả định trước định chế quyền sở hữu”. Chính hồ sơ quyền sở hữu tài sản là cái cố định các đặc trưng kinh tế của tài sản sao cho chúng có thể được dùng để bảo đảm đối với các giao dịch thương mại và tài chính, và cuối cùng để cung cấp lý lẽ mà dựa vào đó các ngân hàng trung ương phát hành tiền. Để tạo tín dụng và đầu tư, cái cản trở người dân không phải là bản thân tài sản, mà là những biểu thị quyền sở hữu của chúng – các chứng thư hoặc các cổ phần được đăng ký – bị điều chỉnh bởi các quy tắc có thể được thực thi trên toàn quốc. Tiền không kiếm được tiền. Bạn cần một quyền sở hữu trước khi bạn có thể kiếm tiền. Thậm chí nếu bạn cho vay tiền, cách duy nhất bạn có thể kiếm tiền được tiền bởi chính đồng tiền đó bằng việc cho vay hoặc đầu tư dựa trên một loại hồ sơ quyền sở hữu xác định các quyền của bạn đối với tiền gốc và lãi. Xin nhắc lại: tiền giả định trước quyền sở hữu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của vốn – Phần V


Tác dụng số 4 của quyền sỡ hữu: làm cho các tài sản có thể chuyển đổi

Một trong những điều quan trọng nhất mà một hệ thống quyền sở hữu chính thức tạo ra là chuyển đổi các tài sản từ ít có điều kiện tiếp cận sang có điều kiện tiếp cận nhiều hơn, như thế chúng có thể làm thêm các việc khác. Không giống như các tài sản vật lý, các biểu tượng dễ được kết hợp, chia nhỏ, di chuyển và được dùng để thúc đẩy công việc kinh doanh. Bằng cách tách các đặc trưng kinh tế của một tài sản khỏi trạng thái vật lý cứng nhắc của nó, hình thức biểu diễn làm cho tài sản “có thể chuyển đổi” – có khả năng được tạo ra cho phù hợp với gần như bất cứ giao dịch nào.

Bằng cách mô tả tất cả các tài sản theo các tiêu chuẩn, một hệ thống quyền sở hữu chính thức cho phép so sánh hai tòa nhà có kiến trúc khác nhau được xây dựng cho cùng một mục đích. Điều này cho phép phân biệt một cách nhanh chóng và ít tốn kém giữa những sự giống nhau và sự khác nhau trong các tài sản mà không phải xem xét mỗi tài sản như nó là độc nhất.

Những mô tả chuẩn hóa quyền sở hữu ở phương Tây cũng được viết ra để làm cho việc kết hợp các tài sản được thuận tiện. Các quy tắc quyền sở hữu chính thức đòi hỏi các tài sản phải được mô tả và đặc trưng theo cách không chỉ phác họa những nét mang tính độc đáo của chúng, mà còn nêu ra những điểm tương đồng với các tài sản khác, do đó làm cho khả năng kết hợp rõ ràng hơn. Thông qua các quy tắc chuẩn, có thể xác định (trên cơ sở những ràng buộc theo vùng, ai là hàng xóm và họ làm gì, diện tích của các tòa nhà, liệu chúng có thể được nối với nhau…) cách thức khai thác một bất động sản cho có lợi nhất, dù là văn phòng, khách sạn, hiệu sách, hoặc làm sân quần vợt và buồng xông hơi.

Hình thức biểu đạt cũng cho phép chia các tài sản mà không phải đụng đến chúng. Trong khi một tài sản như một nhà máy có thể là một đơn vị không thể phân chia được trong thế giới thực, thì trong thế giới khái niệm của biểu hiện quyền sở hữu chính thức, nó có thể được chia nhỏ thành nhiều phần. Vì thế, công dân của các quốc gia tiên tiến có thể chia tách hầu hết tài sản của họ thành các cổ phần, mỗi phần có thể được sở hữu bởi những người khác nha với các quyền khác nhau, để thực hiện các chức năng khác nhau. Nhờ có quyền sở hữu chính thức, một nhà máy duy nhất có thể được sở hữu bởi vô số nhà đầu tư, những người có thể gạt bỏ quyền sở hữu của họ mà không làm ảnh hưởng đến tính nguyên vẹn của tài sản vật lý.

Tương tự, ở nước phát triển, con trai của một dân muốn nối nghiệp cha có thể giữ lại trang trại bằng cách mua hết phần của các anh chị em ruột có đầu óc thương mại hơn. Những người nông dân ở nhiều nước đang phát triển không có quyền lựa chọn như vậy và phải liên tục chia trang trại của họ qua từng thế hệ đến khi các mảnh đất trở nên quá nhỏ để có thể canh tác hiệu quả. Điều này dẫn đến cho con cháu hai lựa chọn: chết đói hoặc ăn cắp.

Những biểu hiện quyền sở hữu chính thức cũng có thể dùng là vật thay thế di chuyển được cho các tài sản vật lý, cho phép những người chủ và các nghiệp chủ mô phỏng các tình huống giả thuyết nhằm thăm dò các sử dụng sinh lợi khác của tài sản của họ – giống như các sĩ quan quân đội lên kế hoạch tác chiến cho một trận đánh bằng cách di chuyển các ký hiệu của các đội quân và những vũ khí của họ trên bản đồ. Nếu bạn suy nghĩ về điều đó, thì chính những biểu hiện về tài sản là những cái cho phép các nghiệp chủ mô phỏng chiến lược kinh doanh để tăng trưởng công ty và tạo nên tư bản.

Ngoài ra, tất cả các hồ sơ chuẩn về tài sản chính thức được thiết kế sao cho việc đo lường các đặc tính của tài sản được thuận tiện. Nếu không sẵn có những mô tả chuẩn của các tài sản, bất kể ai muốn mua, thuê, hoặc cấp tín dụng trên cơ sở tài sản sẽ phải tốn nguồn lực to lớn để so sánh và đánh giá nó với những tài sản khác – những cái cũng có thể không có những mô tả chuẩn hóa. Bằng cách cung cấp các tiêu chuẩn, hệ thống quyền sở hữu chính thức phương Tây đã giảm đáng kể chi phí giao dịch của việc di chuyển và sử dụng tài sản.

Một khi tài sản đã ở trong một hệ thống quyền sở hữu chính thức, chúng đem lại cho những người chủ một lợi thế lớn về khả năng chúng có thể được chia nhỏ và kết hợp theo nhiều cách hơn so với một bộ lắp ghép Erector. Người phương Tây có thể làm cho các tài sản của họ thích ứng được với bất kỳ hoàn cảnh kinh tế nào để liên tục tạo ra các giá trị cao hơn, trong khi những người tương tự ở thế giới thứ ba lại bị mắc kẹt trong thế giới vật lý với những hình thức cứng nhắc, không chuyển đổi được.

Tác dụng số 5 của quyền sở hữu: kết nối dân chúng

Bằng cách làm cho các tài sản có thể chuyển đổi, gắn người chủ với các tài sản, gắn quyền sở hữu với thực thi, và bằng cách làm cho thông tin về nguồn gốc của các tài sản và chủ tài sản có thể được tiếp cận dễ dàng, các hệ thống quyền sở hữu chính thức đã chuyển hóa người dân phương Tây thành một mạng lưới các tác nhân kinhdoanh có trách nhiệm giải trình và có thể nhận diện từng cá nhân một. Quá trình sở hữu chính thức đã tạo nên một hạ tầng cơ sở tổng thể các công cụ kết nối, những cái, giống như cái bẻ ghi đường ray, cho phép các tài sản (tàu hỏa) chạy an toàn giữa mọi người (các ga). Đóng góp của quyền sở hữu chính thức cho nhân loại không phải là sự bảo hộ cho quyền sở hữu; những kẻ chiếm đất, các tổ chức xây dựng nhà ở, mafia, thậm chí các bộ lạc nguyên thủy đã có cách để bảo vệ tài sản của họ hết sức hiệu quả. Sự đột phá thực sự của quyền sở hữu chính là nó đã cải thiện một cách triệt để luồng thông tin về các tài sản và tiềm năng của chúng. Nó cũng làm tăng địa vị của chủ sở hữu, những người trở thành tác nhân kinh tế có khả năng biến đổi các tài sản trong phạm vị một mạng lưới rộng hơn.

Điều này giải thích vì sao quyền sở hữu hợp pháp khuyến khích các nhà cung ứng dịch vụ công ích như điện và nước lại đầu tư sản xuất và phân phối dịch vụ công ích cho các tòa nhà. Bằng cách gắn trách nhiệm về pháp lý vào các tòa nhà, nơi các dịch vụ được cung ứng cho các chủ sở hữu, những người sẽ sử dụng và trả tiền cho các dịch vụ, hệ thống quyền sở hữu chính thức làm giảm rủi ro ăn trộm các dịch vụ. Nó cũng làm giảm các tổn thất tài chính do thu tiền hóa đơn dịch vụ từ những người khó xác định, cũng như những thiệt hại kỹ thuật do ước lượng sai nhu cầu sử dụng điện của khu vực, nơi các doanh nghiệp và dân cư hoạt động không công khai và không được ghi trong hồ sơ. Không biết ai có quyền với cái gì, và không có một hệ thống pháp lý thích hợp trong đó năng lực cưỡng chế thực thi các nghĩa vụ được chuyển từ các nhóm không được pháp luật quản lý sang cho chính phủ, thì các ngành dịch vụ công cộng sẽ khó có thể cung cấp các dịch vụ một cách có lãi. Trên cơ sở khác nào mà họ có thể nhận ra những người thuê bao, tạo các hợp đồng thuê bao dịch vụ, thiết lập các mối liên hệ dịch vụ, và bảo đảm sự tiếp cận đến các miếng đất hay tòa nhà? Họ sẽ thực hiện việc tính cước phí, đọc đồng hồ đo, các cơ chế thu phí, kiểm soát thất thoát, kiểm tra gian lận, các thủ tục phạt vi phạm thế nào, và các dịch vụ thực thi như khóa đồng hồ đo ra sao?

Các tòa nhà luôn luôn là cổng nhận dịch vụ công cộng. Cái biến đổi chúng thành các điểm nhận đáng tin cậy và có trách nhiệm chính là quyền sở hữu chính thức. Bất kể ai nghi ngờ điều này chỉ cần xem qua tình trạng dịch vụ công cộng ở các nước không thuộc phương Tây, những nơi các khoản tổn thất kỹ thuật và tài chính cộng với mất trộm dịch vụ lên đến từ 30 – 50% của tất cả các dịch vụ công cộng sẵn có.

Quyền sở hữu hợp pháp phương Tây cũng cung cấp cho các doanh nghiệp thông tin về tài sản và những người chủ của chúng, các địa chỉ có thể kiểm tra được, và các bản ghi mang tính khách quan về giá trị tài sản, tất cả những thứ đó cần cho hồ sơ tín dụng. Thông tin này và sự tồn tại của luật thống nhất giúp có thể quản lý được rủi ro bằng cách dàn trải rủi ro thông qua các công cụ bảo hiểm cũng như tập hợp các tài sản lại để đảm bảo cho các khoản nợ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của vốn – Phần IV


Tác dụng số 2 của quyền sở hữu: tích hợp thông tin tản mát vào một hệ thống

Như chúng ta đã thấy, hầu hết dân chúng ở các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây không thể tham gia vào hệ thống quyền sở hữu hợp pháp, dù nó không được hoàn chỉnh, bất luận họ cố gắng ra sao. Bởi vì họ không thể đưa tài sản của họ vào hệ thống quyền sở hữu hợp pháp, kết cục họ giữ chúng ngoài vòng pháp luật. Lý do chủ nghĩa tư bản chiến thắng ở phương Tây và èo uột ở những nơi khác của thế giới là vì hầu hết tài sản ở các quốc gia phương Tây đã được tích hợp vào một hệ thống thể hiện sự chính thống.

Sự tích hợp này đã không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Qua hàng thập kỷ trong thế kỷ XIX, các nhà chính trị, lập pháp, thẩm phán đã hòa hợp những thông tin và các quy tắc điều chỉnh quyền sở hữu nằm tản mát ở các thành phố, làng mạc, công trình, các trang trại với nhau và tích hợp chúng vào một hệ thống. “Sự kết hợp với nhau” này của những biểu diễn quyền sở hữu, một thời điểm cách mạng trong lịch sử của các quốc gia phát triển, đã đưa toàn bộ thông tin và quy tắc điều chỉnh của cải tích tụ được của công dân của họ vào một cơ sở tri thức. Trước thời điểm đó, thông tin về các tài sản ít có thể truy cập được. Mỗi trang trại hoặc khu định cư ghi chép tài sản của mình và các quy tắc điều chỉnh chúng bằng các sổ cái, ký hiệu, hoặc lời chứng thô sơ. Nhưng thông tin đã bị cắt vụn, tản mát, và không có sẵn cho bất kể một người đại diện nào ở bất kể thời điểm cho trước nào. Như chúng ta bây giờ đã biết quá rõ, một sự dư dật thông tin nhất thiết là một sự phong phú tri thức. Để tri thức có thể hoạt động, các quốc gia tiên tiến đã phải tích hợp toàn bộ dữ liệu không được quản lý chặt chẽ và bị cô lập về quyền sở hữu của họ vào một hệ thống toàn diện.

Các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây chưa làm điều này. Trong tất cả các nước tôi đã nghiên cứu, tôi chưa từng thấy chỉ có một hệ thống pháp lý, mà là hàng tá hoặc thậm chí hàng trăm hệ thống được quản lý bởi đủ loại tổ chức, một số hợp pháp, số khác không hợp pháp, trải từ các nhóm nghiệp chủ nhỏ đến các tổ chức xây dựng nhà ở. Do vậy, cái mà dân chúng ở các nước đó có thể làm với tài sản của mình bị hạn chế bởi khả năng tưởng tượng của các chủ sở hữu và những người quen của họ. Ở các nước phương Tây, nơi thông tin tài sản được chuẩn hóa và sẵn có một cách phổ cập, cái mà các chủ sở hữu có thể làm với những tài sản của họ xuất phát từ khả năng sáng tạo tập thể của một mạng lưới rộng lớn hơn.

Có thể gây ngạc nhiên cho độc giả phương Tây là hầu hết các quốc gia trên thế giới vẫn chưa tích hợp các thỏa thuận ngoài pháp luật về tài sản vào một hệ thống pháp lý chính thức. Đối với những người phương Tây, chỉ có một luật – luật chính thức. Dù sao việc phương Tây dựa vào hệ thống quyền sở hữu được tích hợp là một hiện tượng mới, nhiều nhất là 200 năm. Ở hầu hết các nước phương Tây, hệ thống quyền sở hữu được tích hợp mới xuất hiện chỉ khoảng 100 năm trước; sự tích hợp của Nhật Bản xảy ra chỉ hơn 50 năm trước. Như chúng ta sẽ thấy cụ thể dưới đây, những thỏa thuận sở hữu phi chính thức tản mát đã một thời là thông lệ ở mọi quốc gia. Chủ nghĩa đa luật pháp đã là tiêu chuẩn ở châu Âu cho đến khi luật Roman được tái phát hiện ra ở thế kỷ XIV và các chính phủ đã tập hợp tấc cả các khuynh hướng luật vào một hệ thống tổng hợp.

Ở California ngay sau sự đổ xô đi tìm vàng năm 1849, đã có khoảng 800 tòa án khác nhau về tài sản, mỗi tòa án lại có các hồ sơ và quy chế riêng được thiết lập bởi sự đồng thuận địa phương. Khắp Hoa Kỳ, từ California đến Florida, các hiệp hội đòi quyền lợi đã thống nhất với nhau quy tắc riêng và lựa chọn quan chức riêng của họ. Chính phủ Hoa Kỳ đã mất hơn 100 năm, đến cuối thế kỷ XIX, để thông qua đạo luật đặc biệt, cái đã tích hợp và hình thức hóa các tài sản ở Hoa Kỳ. Bằng cách ban hành hơn 55 đạo luật quyền ưu tiên mua trước và khai mỏ, Quốc hội đã dần dần tìm được cách tích hợp các quy tắc quyền sở hữu phi chính thức của hàng triệu người nhập cư và những kẻ chiếm đất vào trong một hệ thống. Kết quả là một thị trường tài sản đã được tích hợp, đã cấp nhiên liệu cho sự tăng trưởng bùng nổ về kinh tế của Hoa Kỳ sau đó.

Rất khó học theo lịch sử tích hợp các hệ thống sở hữu tài sản rộng lớn là vì, quá trình này xảy ra trong thời gian rất dài. VÍ dụ, các cơ quan đăng ký quyền sở hữu chính thức bắt đầu xuất hiện ở Đức vào thế kỷ XII, nhưng đã không được tích hợp đầy đủ cho đến năm 1896, khi hệ thống Grundbuch [Sổ đất] phục vụ việc ghi chép các giao dịch đất đai bắt đầu hoạt động ở quy mô quốc gia. Ở Nhật Bản, phong trào toàn quốc chính thức hóa quyền sở hữu của những nông dân bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX và chỉ kết thúc vào cuối các năm 1940. Cho đến giao thời của thế kỷ XX, những nỗ lực vô song của Thụy Sĩ để gom các hệ thống bảo vệ quyền sở hữu và các giao dịch khác nhau vào một mối vẫn được ít người biết đến, thậm chí đối với nhiều người Thụy Sĩ.

Nhờ sự tích hợp, công dân của các quốc gia tiên tiến có thể nhận được những mô tả về các đại lượng kinh tế và xã hội của bất kể tài sản sẵn có nào mà không phải xem chính tài sản ấy. Họ không còn phải đi khắp đất nước để thăm từng chủ sở hữu và hàng xóm của họ; hệ thống quyền sở hữu chính thức cho phép họ biết các tài sản nào là sẵn có và những cơ hội nào tồn tại để tạo ra giá trị thặng dư. Vì vậy, tiềm năng của một tài sản trở nên dễ đánh giá hơn và dễ trao đổi hơn, tăng cường sản sinh vốn.

Tác dụng số 3 của quyền sở hữu: làm cho dân chúng có trách nhiệm

Việc tích hợp tất cả các hệ thống quyền sở hữu vào một luật sở hữu chính thức đã chuyển tính hợp pháp về các quyền của chủ sở hữu từ phạm vi chính trị cục bộ địa phương sang phạm vi khách quan của luật. Giải phóng các chủ sở hữu khỏi những dàn xếp hạn chế cục bộ và đưa họ vào một hệ thống pháp lý được tích hợp hơn, tạo thuận tiện cho trách nhiệm giải trình của họ.

Bằng cách chuyển đổi con người với những quyền lợi tài sản thành các cá nhân có trách nhiệm, quyền sở hữu chính thức tạo ra các cá nhân từ quần chúng nhân dân. Người dân không còn phải dựa vào các quan hệ hàng xóm hoặc phải tiến hành các cuộc dàn xếp địa phương để bảo vệ các quyền của mình đối với tài sản. Được giải phóng khỏi những hoạt động kinh tế thô sơ và khỏi các ràn gbuộc của địa phương, họ có thể tìm cách tạo giá trị thặng dư từ các tài sản riêng của mình. Nhưng có một cái giá phải trả: một khi ở trong một hệ thống quyền sở hữu chính thức, người sở hữu mất đi tính ẩn danh của mình. Do được liên kết chặt chẽ với bất động sản và các công việc kinh doanh nên có thể dễ bị nhận diện và định vị, người dân không còn khả năng lẩn trốn trong đám đông. Sự ẩn danh này thực tế đã không còn ở phương Tây, trong khi tính trách nhiệm cá nhân được tăng cường. Những người không trả tiền hàng hóa hay dịch vụ mà họ đã tiêu thụ có thể bị nhận diện, phải chịu lãi phạt, bị phạt, bị cấm vận, bị đánh tụt hạng tín dụng. Các nhà chức trách có khả năng biết những vi phạm pháp luật và các hợp đồng bị từ chối; họ có thể ngưng các dịch vụ, siết tài sản, và rút một số hoặc tất cả các đặc quyền của quyền sở hữu hợp pháp.

Sự tôn trọng đối với quyền sở hữu và các giao dịch ở phương Tây không phải được mã hóa trong DNA cảu các công dân của họ; đúng hơn nó là kết quả của việc ó các hệ thống quyền sở hữu chính thức có thể thực thi được. Vai trò của quyền sở hữu chính thức, trong bảo vệ không chỉ quyền sở hữu mà cả sự an toàn của các giao dịch, khuyến khích công dân các nước tiên tiến tôn trọng các chứng thư sở hữu, tôn trọng thực hiện các hợp đồng và tuân thủ luật pháp. Khi bất kể công dân nào không hành động một cách trung thực, sự vi phạm của anh ta được ghi lại trong hệ thống, hủy hoại uy tín của anh ta với tư cách là một bên đáng tin cậy đối với các hàng xóm, các công ty công ích, ngân hàng, công ty điện thoại, hãng bảo hiểm của anh ta, và các đối tác khác mà tài sản gắn kết anh ta lại.

Như thế các hệ thống quyền sở hữu chính thức của phương Tây ban sự may mắn theo hai chiều. Mặc dù chúng cung cấp tiền cược cho hàng trăm triệu công dân trong ván bài tư bản chủ nghĩa, thì cái làm cho tiền cược này có nghĩa chính là nó có thể bị mất. Một phần lớn giá trị tiềm năng của quyền sở hữu hợp pháp xuất phát từ khả năng mất quyền. Bởi vậy, rất nhiều quyền lực của nó xuất phát từ tính trách nhiệm do nó tạo ra, từ các ràng buộc mà nó áp đặt, các quy tắc nó đẻ ra và từ những sự trừng phạt mà nó có thể áp dụng. Để cho phép người dân thấy tiềm năng kinh tế và xã hội của các tài sản, quyền sở hữu chính thức thay đổi nhận thức trong xã hội tiên tiến không chỉ về những phần thưởng tiềm năng của việc sử dụng các tài sản mà cả về những mối nguy hiểm. Quyền sở hữu chính thức đòi hỏi sự cam kết.

Như vậy, việc thiếu quyền sở hữu hợp pháp giải thích vì sao công dân các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây không thể tiến hành những hợp đồng có lợi với những người xa lạ, không thể có được tín dụng, bảo hiểm hoặc các dịch vụ công ích: họ không có tài sản để mất. Vì họ không có tài sản để mất, nên họ chỉ được coi là những người tham gia hợp đồng nghiêm túc bởi những người gần gũi trong gia đình và láng giềng của họ. Những người không có gì để mất bị mắc bẫy trong tầng hầm dơ dáy của thế giới tiền tư bản chủ nghĩa.

Trong khi đó, công dân của các quốc gia tiên tiến có thể giao dịch cho bất kể thứ gì hợp lý, những cái giá vào cửa là cam kết. Cam kết được hiểu tốt hơn khi đảm bảo bằng một cam kết tài sản, bất luận nó là thế chấp, quyền siết tài sản, hoặc bất kể dạng đảm bảo nào để bảo vệ những người tham gia hợp đồng phía bên kia.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.