Quản lý mối quan hệ nhà đầu tư – Phần II


Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có rất nhiều công cụ để sử dụng tùy thích. Các công cụ này được phân thành ba nhóm: cơ bản, trung cấp và cao cấp. Một công cụ cơ bản là thứ cần có để hoàn thành các mục tiêu cơ bản trong các mối quan hệ với nhà đầu tư, trong khi các công cụ tiên tiến hơn được sử dụng để đạt được mức giao tiếp cao nhất với cộng đồng đầu tư. Các công cụ cơ bản bao gồm:

+ Báo cáo thường niên. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư được kỳ vọng sẽ quản lý việc phát hành báo cáo thường niên về kết quả hoạt động của công ty trong năm qua, đồng thời giải thích các mục tiêu và triển vọng của công ty trong tương lai. Một dạng cơ bản hơn của báo cáo này là wrap report (Một dạng báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong năm có kèm theo dẫn giải về tầm nhìn, thư gửi cổ đông, tổng quan kinh doanh… – ND), đây là mẫu 10-K của Ủy ban Chứng khoán kèm theo một lá thư của Tổng giám đốc. Báo cáo này đang ngày càng trở nên phổ biến nhưng không chuyển tải được thông điệp đầu tư đến các cổ đông.

+ Đại hội thường niên. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có trách nhiệm tổ chức các cuộc họp cổ đông hàng năm, nơi các cổ đông tham gia bỏ phiếu để bầu chọn ra Ban giám đốc. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng có thể mở rộng ra rất nhiều vấn đề trong chương trình hội nghị tối thiểu này bằng cách bao gồm các bài thuyết trình của nhà quản lý, bổ sung quyết định để được biểu quyết, và mục hỏi đáp.

+ Yêu cầu ủy quyền. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có trách nhiệm đưa ra đề xuất ủy quyền thường niên, trong đó công ty yêu cầu các nhà đầu tư bỏ phiếu cho các ứng viên vào các vị trí trong ban giám đốc, và có thể bao gồm nhiều hoạt động khác liên quan đến việc quản trị công ty.

Những công cụ cơ bản này chỉ đạt được mức giao tiếp khiêm tốn nhất với cộng đồng đầu tư. Việc yêu cầu ủy quyền đại diện và các cuộc họp thường niên được tổ chức nhằm đáp ứng các yêu cầu pháp lý hơn là để tăng cường hoạt động truyền thông, trong khi các báo cáo thường niên thường chỉ là  bản trình bày một cách khô khan về các sự kiện trước đây của công ty. Vì vậy, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên sử dụng thêm các công cụ trung cấp để tăng cường hơn nữa hoạt động trao đổi thông tin với các cổ đông:

+ Thông cáo báo chí. Một công cụ then chốt của chuyên viên quan hệ nhà đầu tư là thông cáo báo chí. Đây là bản thông tin ngắn gọn về một sự kiện quan trọng của công ty như việc mua lại một công ty khác hoặc giành được một hợp đồng lớp. Nó được phát hành thông qua hệ thống dịch vụ cung cấp thông tin báo chí. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng có thể công bố thông tin tương tự theo mẫu 8-K của Ủy ban Chứng khoán.

+ Trung tâm thông tin điện tử. Mục quan hệ nhà đầu tư trên trang thông tin điện tử của một công ty có khả năng truyền đạt một lượng lớn thông tin chất lượng đến các nhà đầu tư. Nếu được xây dựng đúng cách và duy trì ổn định, một trang thông tin điện tử có thể là nguồn thông tin chủ yếu đến các nhà đầu tư.

+ Bản giới thiệu tóm tắt. Đây là tài liệu có độ dài từ hai đến bốn trang liệt kê các dữ liệu cần thiết về công ty, bao gồm các khách hàng chính, các nhà quản lý, các thông cáo báo chí gần đây và các nhiệm vụ. Bản giới thiệu này có thể được đăng trên trang thông tin điện tử của công ty, đây cũng là một tài liệu hữu ích có thể mang đến các cuộc họp để phát cho những người tham dự.

+ Báo cáo. Trang thông tin điện tử của công ty có thể cho phép bất kỳ người truy cập nào đăng ký vào hàng loạt báo cáo của công ty, chẳng hạn như thông báo về sản phẩm mới, các báo cáo về nguồn sản phẩm, bản tin quản lý và các báo cáo thu nhập.

+ Bản ghi chép lại bài phát biểu. Nếu một thành viên trong ban giám đốc công ty trình bày một bài phát biểu quan trọng, nhân viên của bộ phận quan hệ nhà đầu tư có thể ghi chép lại nội dung này và sau đó đăng lên trang thông tin điện tử của công ty.

+ Quảng cáo. Một chiến dịch quảng cáo có thể giới thiệu công ty đến một nhóm nhà đầu tư tiềm năng hoàn toàn mới mặc dù việc này có thể gây tốn kém vì liên quan đến số lượng cổ đông mới được bổ sung. Đây không phải là một công cụ hiệu quả cho các công ty nhỏ với nguồn ngân sách hạn chế trong hoạt động quan hệ nhà đầu tư.

Những công cụ trung cấp này được thiết kế chủ yếu để tạo ra thông tin mới và giới thiệu chúng một cách bị động đến cộng đồng đầu tư. Tuy nhiên, mức hoạt động bổ sung này là cần thiết để công ty có thể tiếp xúc trực diện với các nhà đầu tư và các nhà phân tích. Điều này đòi hỏi sự tham gia của nhiều cá nhân từ ban quản trị cấp cao bởi vì ban quản trị phải tham gia vào việc thuyết trình. Ngoài ra, công ty (trong một số trường hợp) phải trả chi phí tiền thuê phòng họp và các bữa ăn cho tất cả khách mời tham dự, những thứ có thể tạo nên một khoản chi phí đáng kể. Sau đây là các công cụ tiên tiến hơn:

+ Buổi giới thiệu tiềm năng đầu tư. Hoạt động hiệu quả nhất của các công cụ tiên tiến về quan hệ nhà đầu tư là tổ chức là tổ chức buổi giới thiệu cơ hội đầu tư. Đây thường là một chuỗi các cuộc họp được tổ chức để các Tổng giám đốc, Giám đốc tài chính và Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư của công ty giới thiệu công ty đến nhiều đối tượng dự thính. Chi phí cho việc tổ chức một chuỗi chương trình giới thiệu tiềm năng đầu tư này là rất đáng kể, tuy nhiên, nó có thể tạo ra cơ hội tốt nhất để tiếp xúc với cộng đồng đầu tư.

+ Hội nghị thoại. Cách thực hiện đúng chuẩn là sắp xếp một cuộc nghị thoại ngay sau khi công bố báo cáo quý của công ty. Trong suốt cuộc hội đàm này, ban quản trị của công ty thảo luận về doanh thu thường kỳ, và thường dành một khoảng thời gian để giải đáp thắc mắc của những người tham dự.

+ Ngày của các nhà đầu tư. Công ty sẽ mời các nhà đầu tư và nhà phân tích đến tham dự các buổi thuyết trình chính thức được thực hiện bởi các chuyên viên quản lý của công ty. Đại điểm tổ chức có thể ở gần cộng đồng đầu tư hoặc tại trụ sở chính của công ty (trong trường hợp này thường kèm theo một chuyến tham quan cơ sở vật chất của công ty).

Một khi đã tạo ra bộ công cụ phù hợp nhất để đạt được mục tiêu chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng cần phải thiết lập một hệ thống đo lường để đánh giá hiệu quả của các công cụ này. Ví dụ về các thước đo thích hợp là những thay đổi về giá cổ phiếu, số lượng yêu cầu thông tin tài chính, sự thay đổi về thành phần nhà đầu tư, số lượng các nhà phân tích đi theo công ty, khối lượng giao dịch và hệ số giá/thu nhập (P/E) so với thị trường hoặc một nhóm công ty ngang hàng trên thị trường.

Ngân sách dành cho các mối quan hệ nhà đầu tư

Khi xây dựng ngân sách tiềm năng cho bộ phận quan hệ nhà đầu tư, cách tốt nhất là xây dựng theo nhiều dòng dựa trên sự cần thiết của các hoạt động. Dòng dưới cùng của bản ngân sách thường là về các quyền lợi. Đây là những yêu cầu cơ bản tối thiểu trong hoạt động của bất kỳ công ty đại chúng nào. Nhưng điểm mấu chốt là phải tuân thủ các yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán (SEC), bao gồm việc chi trả đầy đủ cho người được ủy quyền, kiểm toán viên, các dịch vụ định giá để hoàn thành các báo cáo theo số lượng yêu cầu của Ủy ba Chứng khoán trong thời gian nhất định. Chi phí cho việc này có thể được phân bổ trong ngân sách của bộ phận kế toán hơn là ngân sách của bộ phận quan hệ nhà đầu tư, tuy nhiên, nó phải được ghi nhận ở một bộ phận nào đó.

Mức ngân sách tối thiểu dành cho chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cũng nên bao gồm một mức lương đủ để giữ lại các dịch vụ của một chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có trình độ chuyên môn. Một công ty có thể tìm cách giảm chi phí bằng cách thuê các chuyên viên quan hệ nhà đầu tư không đạt chuẩn hoặc tiến cử một nhà quản lý cấp thấp lên phụ trách công việc này. Bởi vì chuyên viên quan hệ nhà đầu tư được xem là cầu nối chính giữa công ty với cộng đồng đầu tư, rõ ràng là công ty xem nhẹ giá trị của các nhà đầu tư. Nếu chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có trình độ quá thấp, các nhà đầu tư hoặc sẽ bán đi cổ phần của họ hoặc sẽ tìm các phương tiện giao tiếp thay thế cho công ty thông qua các nhà quản lý khác.

(còn tiếp) 

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo:  Steven M. Bragg – Điều hành hiệu quả bộ phận quan hệ nhà đầu tư – NXB TH TPHCM – 2011.

Quản lý mối quan hệ nhà đầu tư – Phần I


Công việc của một chuyên viên quan hệ nhà đầu tư (Investor Relations Officer – IRO) là xoay quanh việc truyền đạt giá trị thị trường hiện tại và tiềm năng của công ty đến các nhà đầu tư. Để đạt được điều này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cần có các mục tiêu cụ thể và sử dụng nhiều công cụ khác nhau. Ngoài ra, họ còn phải thông thạo các phương pháp xây dựng một nguồn ngân sách khả thi cho các mối quan hệ nhà đầu tư. Hơn nữa, tính cách của chuyên viên quan hệ nhà đầu tư sẽ được thể hiện rõ qua cách thức anh ta/cô ta xử lý các tin xấu, và đây là điểm mấu chốt để các nhà đầu tin tin tưởng và công ty.

Vì sao cần phải có bộ phận quan hệ nhà đầu tư?

Một công ty đại chúng không nhất thiết phải có bộ phận quan hệ nhà đầu tư. Luật pháp không đề cập đến vấn đề công bố thông tin cho cộng đồng đầu tư ngoài các yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC). Tuy nhiên, khi không có bộ phận chuyên về các mối quan hệ nhà đầu tư, các nhà đầu tư phải tìm kiếm thông tin trên các phương tiện truyền thông, Internet, hay các báo cáo của Ủy ban Chứng khoán, những thứ hầu như đều dựa trên hồ sơ của doanh nghiệp hoặc đôi khi chỉ là sự phỏng đoán. Với nguồn thông tin hạn chế này, các nhà đầu tư ít có xu hướng mua cổ phiếu của công ty, và chắc chắn sẽ không đặt giá cao hơn mức giá trung bình của các đối thủ đồng đẳng khác trên thị trường.

Với mức giá cổ phiếu thấp như thế, công ty phải tăng chi phí vốn vì chỉ nhận một khoản tiền ít hơn trên mỗi cổ phiếu được bán ra. Đồng thời, nếu không có nhu cầu mạnh mẽ về một loại cổ phiếu, giá cổ phiếu đó sẽ có xu hướng biến động với nhiều giao dịch tăng giảm trong một khoảng thời gian ngắn. Hơn nữa, nếu không có thông tin đầu tư chính thức từ phía công ty, các nhà đầu tư ngắn hạn sẽ có xu hướng tung ra thị trường những thông tin sai lệch nhằm làm trượt giá cổ phiếu trong ngắn hạn để kiếm lời.

Với mức giá cổ phiếu thấp như thế, công ty phải tăng chi phí vốn vì chỉ nhận một khoản tiền ít hơn trên mỗi cổ phiếu được bán ra. Đồng thời, nếu không có nhu cầu mạnh mẽ về một loại cổ phiếu, giá cổ phiếu đó sẽ có xu hướng biến động với nhiều giao dịch tăng giảm trong một khoảng thời gian ngắn. Hơn nữa, nếu không có thông tin đầu tư chính thức từ phía công ty, các nhà đầu tư ngắn hạn sẽ có xu hướng tung ra thị trường những thông tin sai lệch nhằm làm trượt giá cổ phiếu trong ngắn hạn để kiếm lời.

Một cổ phiếu có mệnh giá thấp cũng sẽ thu hút các đối tượng thu mua nhằm mục đích tiếp quản công ty. Trong trường hợp mục tiêu chủ yếu của nhà quản lý là đạt được mức giá cổ phiếu cao nhất cho nhà đầu tư, cổ phiếu phải được chào mời với cả các nhà đầu tư đối thủ. Vấn đề là bên thâu tóm tiềm năng chắc chắn sẽ chào bán với mức giá thấp hơn mức giá công ty đưa ra nếu họ quyết tâm đạt được giá cổ phiếu cao hơn!

Vì vậy, mục đích chính của việc thiết lập bộ phận quan hệ nhà đầu tư là tối đa hóa giá trị thị trường của công ty. Để làm được điều này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải thường xuyên thông báo với cộng đồng đầu tư về những giá trị độc đáo của công ty và cụ thể là thông qua các mục tiêu được trong phần tiếp theo.

Các mục tiêu và mục đích của quan hệ nhà đầu tư

Bước đầu tiên để các chuyên viên quan hệ đầu tư thiết lập bộ phận quan hệ nhà đầu tư là phải xác định rõ các mục tiêu và mục đích hỗ trợ. Chuyên viên quan hệ nhà đầu tư cần phải hiễu rõ những vấn đề này để tránh lãng phí nguồn lực khi theo đuổi các hoạt động khác.

Cuối cùng, mục tiêu duy nhất của bộ phận quan hệ nhà đầu tư là nhằm tối đa hóa giá trị thị trường của công ty. Bằng cách đó, công ty có thể đạt được tối đa lượng tiền mặt từ số cổ phiếu thấp nhất. Ngoài ra, giá cổ phiếu vững mạnh sẽ tránh được các trường hợp bị thôn tính từ việc thu mua cổ phiếu, vì nếu cổ phiếu của công ty quá cao, các đối tượng thu mua sẽ không thể làm được điều đó.

Do đó, các chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên chú ý đến các mục tiêu hỗ trợ gia tăng giá trị thị trường:

+ Thay đổi nhận thức của công ty. Nếu một công ty trước đây đã được so sánh với một nhóm đồng đẳng gồm những công ty có các hệ số muốn định giá thấp, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư sẽ gặp khó khăn khi muốn nâng giá cổ phiếu cảu mình lên cao hơn mức giá của nhóm doanh nghiệp này. Một giải pháp để đưa giá cổ phiếu của công ty lên nhóm doanh nghiệp đồng đẳng khác – nhóm có hệ số định giá cao hơn – là thay đổi câu chuyện về công ty.

+ Tăng mức khuyến nghị từ nhà phân tích. Ý kiến của các nhà phân tích có trọng lượng đáng kể với các nhà đầu tư, vì vậy, việc có được đề xuất từ một số nhà phân tích là mục tiêu chính cảu các chuyên viên quan hệ nhà đầu tư. Các báo cáo phân tích thuận lợi sẽ có nhiều khả năng làm gia tăng khối lượng bán trung bình, và từ đó làm tăng giá cổ phiếu.

+ Tăng sự dàn trải về mặt địa lý. Nếu cổ đông của một công ty chỉ giới hạn trong một vài khu vực địa lý, chẳng bao lâu, những ai muốn nắm giữ các cổ phiếu này cũng sẽ làm được điều đó. Kết quả là giao dịch cổ phiếu giảm và áp lực tăng giá cổ phiếu cũng giảm theo. Để tránh điều này, các chuyên viên quan hệ nhà đầu tư nên tổ chức các buổi giới thiệu về cổ phiếu ở những khu vực mới để gặp gỡ các nhà phân tích, môi giới, các tổ chức nhà đầu tư và các nhà đầu tư hoàn toàn mới.

+ Giảm mức biến động giá cổ phiếu. Nếu có các tổ chức đầu tư chuyên mua vào và bán ra khối lượng lớn cổ phiếu của công ty, giá cổ phiếu sẽ dao động đáng kể. Đây là sự biến động không mong muốn bởi nó làm thay đổi một số nhà đầu tư hiện có và thu hút các nhà đầu tư bán khống. Để giảm thiểu tình trạng biến động này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể tập trung vào việc thu hút các nhà đầu tư bán lẻ – những người nắm giữ lượng cổ phiếu ít hơn và có xu hướng giữ lại cổ phiếu đó lâu hơn.

+ Quản lý các nhà đầu tư hiện có. Nếu các nhà đầu tư hiện tại bán ra số cổ phần mà họ đang nắm giữ, nguồn cung cổ phiếu trên thị trường tăng lên, điều này có thể gây giảm giá cổ phiếu cũng như sự biến động về giá. Để giảm thiểu rủi ro này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải tăng cường trao đổi thông tin với các nhà đầu tư thông qua các cuộc họp riêng kèm theo các bản tin về công ty. Điều này có thể khiến các nhà đầu tư duy trì việc nắm giữ cổ phiếu lâu hơn.

Rõ ràng, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư phải hoạt động trong phạm vi rộng lớn để đạt được giá trị thị trường cao. Các công cụ sẵn có để đạt được mục tiêu này sẽ được mô tả trong phần kế tiếp.

Các công cụ được sử dụng cho các mối quan hệ nhà đầu tư

Chúng tôi tin rằng mục tiêu cơ bản của các mối quan hệ nhà đầu tư là nhằm tối đa hóa giá trị thị trường của công ty. Trước khi tìm cách nâng giá, chúng ta phải xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến nó. Hai yếu tố quan trọng là điều kiện của nền kinh tế nói chung và tình trạng của ngành nơi công ty đang hoạt động. Các hành động cụ thể của công ty không thể thay đổi bất cứ điều gì, có nghĩa là đến một mức độ nào đó, giá của một cổ phiếu sẽ dao động mà không phụ thuộc vào bất kỳ mối quan hệ đầu tư nào. Ngoài ra, giá cổ phiếu còn chịu sự chi phối của hoạt động kinh doanh và kết quả báo cáo tài chính của công ty, định hướng chiến lược của nó và chất lượng của đội ngũ quản lý. Với các công cụ được mô tả trong phần này, chuyên viên quan hệ nhà đầu tư có thể làm được rất nhiều điều để có thể trình bày hiệu quả những vấn đề này với cộng đồng đầu tư.

(còn tiếp) 

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo:  Steven M. Bragg – Điều hành hiệu quả bộ phận quan hệ nhà đầu tư – NXB TH TPHCM – 2011.

Các nước vùng Vịnh tìm kiếm gì ở khu vực Sừng châu Phi?


Trang mạng economist.com có bài phân tích về sự cạnh tranh giữa các nước vùng Vịnh trong khu vực Sừng châu Phi khi các nước này tăng cường cả quan hệ chính trị và kinh tế tại khu vực Đông Bắc Phi bất ổn nhất thế giới này.

Nhiều bằng chứng ở khắp khu vực Sừng châu Phi cho thấy các nước vùng Vịnh đang tăng cường mối quan hệ với các quốc gia tại khu vực đầy bất ổn này. Tháng trước, đại diện Djibouti, Sudan và Somalia đã nhóm họp tại Riyadh (Saudi Arabia) để thảo luận về việc thành lập m65t liên minh an ninh mới ở Biển Đỏ.

Ba tháng trước đó, dưới sự bảo trợ của Saudi Arabia, Thủ tướng Ethiopia và Thủ tướng Eritrea đã ký một thỏa thuận hòa bình. Tại Addis Ababa, nhà thầu từ Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đang thực hiện dự án lớn nhất với tổng mức đầu tư cao nhất từ trước tới nay ở thủ đô của Ethiopia.

UAE đã đưa vào hoạt động căn cứ quân sự đầu tiên của nước này ở Eritrea từ năm 2015 và đang xây dựng một căn cứ khác ở Somaliland – khu vực ly khai ở phía Bắc Somalia. Saudi Arabia có kế hoạch xây dựng một căn cứ quân sự ở Djibouti. Trong khi đó, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ đang sửa chữa một cảng ở Sudan. Lý giải thế nào cho tất cả những động thái trên?

Giống như vùng Vịnh, Hồi giáo là tôn giáo chính ở khu vực Sừng châu Phi và vấn đề di cư cũng gắn kết hai khu vực này với nhau. Trong suốt những năm 1990, quan hệ kinh tế giữa hai khu vực này không có gì đáng kể. Tuy nhiên, sau khi giá lương thực tăng vọt vào năm 2008, các quốc gia vùng Vịnh giàu có đã để xô đi mua đất nông nghiệp ở Sudan và Ethiopia nhằm đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai.

Theo nghiên cứu của Viện Clingendael, Hà Lan, từ năm 2000 đến năm 2017, các quốc gia vùng Vịnh đã đầu tư 13 tỷ USD vào khu vực Sừng châu Phi, chủ yếu ở Sudan và Ethiopia. Đối với các nước khu vực Sừng châu Phi nghèo tài nguyên, lợi ích kinh tế do đầu tư của các nước vùng Vịnh mang lại là rất rõ ràng.

Cả Sudan và Ethiopia đều thiếu hụt nghiêm trọng nguồn dự trữ các loại ngoại tệ mạnh. Một trong những động thái đầu tiên của Thủ tướng Ethiopia Abiy Ahmed khi nhậm chức vào tháng 4/2018 là bảo đảm 3 tỷ USD viện trợ và đầu tư từ UAE, trong đó khoản tiền gửi 1 tỷ USD vào Ngân hàng trung ương Ethiopia. Tháng 3/2018, UAE cũng đã gửi 1,4 tỷ USD vào Ngân hàng trung ương Sudan.

Tại các quốc gia vùng Vịnh, nguồn vốn ít khi thực sự là của tư nhân và doanh nghiệp có xu hướng phục vụ các mục tiêu chính sách đối ngoại. Đối với Saudi Arabia, sự quan tâm trở lại đối với khu vực Sừng châu Phi chủ yếu xuất phát từ cạnh tranh với Iran. Năm 2014, Saudi Arabia buộc cả Sudan và Eritrea phải cắt đứt quan hệ với Iran, trục xuất các nhà ngoại giao Iran.

Đối với UAE, một cường quốc về hậu cần, vận chuyển và trung chuyển, trọng tâm mới về an ninh hàng hải xuất phát từ mối đe dọa ngày càng tăng của cướp biển Somalia vào những năm 2000, cũng như tình hình chiến sự ở Yemen năm 2015. Chuỗi cảng và căn cứ của UAE dọc theo vành đai phía Nam của bán đảo Arab và kéo dài tới Biển Đỏ là một phần trong chiến lược nhằm gây ảnh hưởng trên toàn khu vực Sừng châu Phi (UAE sử dụng căn cứ ở Eritrea để tiến hành các cuộc tấn công ở Yemen).

Sự thù địch giữa một bên là Saudi Arabia, UAE và bên kia là Qatar, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã lan tới khu vực Sừng châu Phi. Khi Thổ Nhĩ Kỳ thâm nhập vào khu vực thông qua thúc đẩy mối quan hệ chặt chẽ với Chính phủ Somalia và giành được các hợp đồng cho các công ty Thổ Nhĩ Kỳ, các quốc gia vùng Vịnh đã cố gắng đẩy lùi ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ. Saudi Arabia và UAE cũng cảm thấy bắt buộc phải thể hiện đường lối đối ngoại cứng rắn hơn trong bối cảnh ảnh hưởng của Mỹ ở “sân sau” của hai nước này đã suy yếu.

Quan hệ chặt chẽ hơn trên Biển Đỏ cũng có thể cải thiện các mối quan hệ nội bộ châu Phi. Cùng với việc bảo trợ đàm phán hòa bình giữa Ethiopia và Eritrea, các quốc gia vùng Vịnh đang cố gắng giảm bớt căng thẳng giữa Ethiopia và Ai Cập liên quan đến đập nước đang được Ethiopia xây dựng trên sông Nile.

Tuy nhiên, sự yếu kém của các quốc gia khu vực Sừng châu Phi đang gây ra nhiều vấn đề rắc rối. Tại Somalia, nguồn tài chính của UAE đã làm trầm trọng thêm sự tranh giành giữa chính phủ liên bang được quốc tế công nhận ở Mogadhishu và các khu vực ly khai.

Nhiều người dân Ethiopia đặt câu hỏi liệu có phải Thủ tướng Abiy Ahmed đã đánh đổi chủ quyền đất nước để có được đầu tư từ vùng Vịnh. Dù Ethiopia đã cố gắng giữ trung lập trong các mối quan hệ thù địch ở vùng Vịnh, nhưng giờ đây, có vẻ như nước này đang đứng về phía Saudi Arabia và UAE. Mặt khác, quan hệ của Ethiopia với Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar có thể đang nguội lạnh hơn.

Nguồn: TKT – 19/01/2019

Đằng sau thái độ ngày càng cứng rắn của EU đối với Trung Quốc – Phần cuối


Chính sách của EU đối với Trung Quốc đang chuyển hướng

Khác với Mỹ vốn luôn coi Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh tiềm tàng”, EU và các nước luôn có thái độ hòa dịu trong chính sách quan hệ với Trung Quốc. Họ luôn tin rằng hệ thống chính trị của mình có tính công bằng khi tham gia rộng rãi, nhưng năm 2018, chúng ta đã nhìn thấy có sự thay đổi chính sách của EU, nguyên nhân chủ yếu có 3 mặt sau:

Thứ nhất, việc điều chỉnh đối với bên ngoài này xuất phát từ sự thất bại chính trị trong nước. Tính hạn chế của EU với tư cách là tổ chức quốc tế và nguyên tắc phát triển cơ bản đã quyết định rằng họ sẽ chỉ là các cường quốc kinh tế, chứ không phải là một người chơi chiến lược trong chính trị quốc tế.

Thứ hai, nguyên nhân quan trọng khiến châu Âu có xu hướng thắt chặt đối với Trung Quốc là do chưa thoát khỏi sự đánh giá sai về logic trong “Nghịch lý Zeno”. Zeno, một triết gia Hy Lạp, đã từng có suy luận rằng. Nếu Achilles chạy đua với rùa. Ví dụ Achilles chấp rùa một đoạn 100 mét. Nếu chúng ta giả sử rằng mỗi tay đua đều bắt đầu chạy với một tốc độ không đổi (Achilles chạy rất nhanh và rùa rất chậm), thì sau một thời gian hữu hạn, Achilles sẽ chạy được 100m, tức anh ta đã đến được điểm xuất phát của con rùa. Nhưng trong thời gian này, con rùa cũng đã chạy được một quãng đường ngắn, ví dụ 10m. Sau đó Achilles lại tốn một khoảng thời gian nữa để chạy đến điểm cách 10m ấy, mà trong thời gian đó thì con rùa lại tiến xa hơn một chút nữa, và cứ như thế mãi. Vì vậy, bất cứ khi nào Achilles đến một vị trí mà con rùa đã đến, thì con rùa lại cách đó một đoạn. Bởi vì số lượng các điểm Achilles phải đếnược mà con rùa đã đi qua là vô hạn, do đó anh ta không bao giờ có thể bắt kịp được con rùa. Các phán đoán trước đây của châu Âu về Trung Quốc luôn dựa trên 2 giả thiết sai lầm. Thứ nhất là người ta thường tin rằng thời kỳ đầu Trung Quốc phát triển có thể là do chạy nhanh trước một khoảng thời gian, nhưng sẽ không thể chạy nhanh trong một thời gian dài được và sẽ luôn bị tụt lại phía sau phương Tây. Thứ hai là khi nền kinh tế Trung Quốc phát triển đến một mức độ nhất định chắc chắn sẽ dần dần đi theo chế độ dân chủ đại nghị. Đến lúc đó, Trung Quốc sẽ ngày càng tiến gần hơn đế phương Tây và những vấn đề tương tự với xã hội phương Tây sẽ lần lượt xuất hiện, từ đó sẽ hạn chế tốc độ phát triển. Các kết luận rút ra bởi 2 điểm này là: Nếu Trung Quốc muốn thoát nghèo, trở thành cường quốc thế giới, chắc chắn sẽ phải đi theo con đường “phát triển phổ quát: trước tiên phát triển kinh tế thị trường, sau đó là chế độ dân chủ đại nghị” mà phương Tây đề xướng dưới sự dẫn dắt của châu Âu và Mỹ. Ngày nay, khi EU thấy rằng Trung Quốc cuối cùng sẽ đi theo con đường riêng của mình theo điều kiện quốc gia, liền thay đổi thái độ ôn hòa trước đây, bắt đầu không ngừng bày tỏ “sự thất vọng” của mình.

Thứ ba, châu Âu thiếu nhận thức mang tính hệ thống và hiểu biết toàn diện về Trung Quốc. Nói một cách đơn giản chính là không hiểu Trung Quốc và các doanh nghiệp của nước này, ở một mức độ nhất định, “đeo kính màu” để nhìn sự phát triển của Trung Quốc. Đây là lý do tại sao EU mất vị thế quốc tế và cũng là kết quả của việc định vị EU là nước lớn phi chiến lược. Biểu hiện cụ thể ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, EU thiếu chiều rộng và chiều sâu đối với Trung Quốc, thiếu hiểu biết về động lực phát triển và logic phát triển của Trung Quốc. Đây chính là lý do tại sao đến nay EU vẫn quy kết việc phát triển nhanh chóng của các doanh nghiệp Trung Quốc là do sự “trợ cấp cao” và “độc quyền cao” giản đơn; Hai là, tính ưu việt của ý thức hệ khiến họ chú ý hơn đến sự phản ánh cảu đề xuất giá trị trong xã hội, mà bỏ qua sự cân bằng tình hình đằng sau đó.

Kể từ năm 2016 đến nay, trong thời gian chưa đầy 3 năm, thái độ của EU đối với Trung Quốc có sự thay đổi hoàn toàn. Tình hình thế giới trong khoảng thời gian này cũng đã có những điều chỉnh nhỏ cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Sau khi Donald Trump lên nắm quyền, một loạt biện pháp bảo hộ kết hợp với đàm phán thương mại đã đưa trục thương mại toàn cầu từ chủ nghĩa đa phương sang chủ nghĩa song phương lấy Mỹ làm trung tâm, điều này đã làm giảm đáng kể vị thế và quyền phát ngôn của EU trong cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng khiến EU cảm giác không gian chiến lược của họ có thể sẽ bị thu hẹp thành mối đe dọa lấy quan hệ xuyên Đại Tây Dương làm cốt lõi. Sự thành công của con đường Trung Quốc và mô hình phát triển của nước này đã khiến EU cảm thấy bất an, lo ngại việc truyền bá mô hình này trong tương lai có thể sẽ thay thế mô hình phát triển ra bên ngoài của EU. Đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu vượt xa mong đợi của khu vực này, do vậy, họ lo ngại ý đồ chính trị có thể ẩn chứa đằng sau hành vi kinh tế của Trung Quốc.

Từ phân tích trên cho thấy châu Âu hiện nay đã bắt đầu một tư duy logic mới thể hiện trong chính sách của EU. Châu Âu cần phải từ bỏ chính sách cởi mở truyền thống trong một môi trường rộng lớn như vậy, thay vào đó bắt chước Mỹ thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết. Căn cứ tình hình hiện nay của EU và các quốc gia chủ chốt của khu vực này cho thấy, hiện chưa phải là lúc EU có thể mạnh nhất. Nút thắt này sẽ xuất hiện rõ ràng vào nửa cuối năm 2019, các biện pháp chính sách nhắm vào mục tiêu tương ứng sẽ được tập trung đưa ra vào nửa cuối năm 2020 đến cuối năm 2021. Cũng có nghĩa là, Chính phủ và các công ty của Trung Quốc phải chuẩn bị sẵn sàng tâm lý và chiến lược ứng phó với các chính sách thế mạnh của châu Âu trong 3 năm tới.

Ảnh hưởng tiềm tàng các chính sách mới của EU đối với các doanh nghiệp Trung Quốc

Đối với các doanh nghiệp Trung Quốc, các nhà tư vấn chiến lược phán đoán những chính sách mới này sẽ đưa ra những thách thức mới từ 3 phương diện để họ thực hiện chiến lược toàn cầu hóa.

Xét từ góc độ thích ứng chính sách, mặc dù sự thay đổi chính sách của EU sẽ mang lại sức ép cho hoạt động kinh doanh và quyết sách của doanh nghiệp, làm thế nào để giải thích hợp lý trạng thái bình thường mới, tránh phản ứng quá khích, đây là thách thức lớn đầu tiên đối với các doanh nghiệp Trung Quốc. Việc xây dựng pháp luật của EU thông thường là một quá trình lâu dài và tương đối minh bạch.

Xét từ góc độ dư luận, thách thức xem xét sức ép từ dư luận mà các công ty Trung Quốc sẽ phải đối mặt cũng sẽ chưa từng có. Từ xưa đến nay, các phương tiện truyền thông châu Âu tương đối đơn giản nội dung đưa tin về các công ty Trung Quốc, người dân châu Âu có sự hiểu biết tương đối hạn chế về cách thức hoạt động và triết lý kinh doanh đằng sau của các công ty Trung Quốc.

Xét từ góc độ nhận thức xã hội và vai trò của bản thân châu Âu, thách thức đằng sau vấn đề này cũng sẽ chưa từng có. Sự xác định vị trí của các doanh nghiệp trong hệ thống xã hội, chính trị và kinh tế khác nhau không nên và cũng sẽ không giống nhau. Nhận thức của các doanh nghiệp về “bản thân” không nên tuyệt đối, mà là tương đối. Điều này có nghĩa là cần phải có sự hiểu biết sâu sắc về môi trường bên ngoài, bản thân và các bộ phận cấu thành khác trong hệ thống và môi trường.

Là địa điểm then chốt trên thị trường toàn cầu, châu Âu trong một thời gian dài sắp tới sẽ là nơi tất yếu mà các doanh nghiệp toàn cầu hóa của Trung Quốc phải đi qua. Sự thay đổi chính sách của EU đối với Trung Quốc đương nhiên ở một mức độ nhất định sẽ ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của các doanh nghiệp nước này.

Nguồn: TKNB – 27/03/2019

Đằng sau thái độ ngày càng cứng rắn của EU đối với Trung Quốc – Phần đầu


Tống Hân

Bất luận các cuộc đàm phán Trung – Mỹ diễn ra như thế nào, chính sách của Trung Quốc đối với EU và Mỹ cân bằng ra sao thì thái độ cứng rắn trong chiến lược của EU đối với Trung Quốc là xu hướng không thể đảo ngược. Tiếp theo sẽ là cải cách nghĩa bảo thủ trong chính sách ngành nghề của EU, hệ thống đánh giá đầu tư của thị trường EU cần phải được tăng cường, đồng thời định ra chính sách mang tính phòng ngự đoối với các doanh nghiệp địa phương và các ngành nghề cốt lõi chiến lược. Đối với các doanh nghiệp toàn cầu hóa của Trung Quốc, đây sẽ là thách thức nghiêm trọng. Các doanh nghiệp Trung Quốc làm thế nào để chuyển từ thế thụ động sang chủ động, điều cần phải xem xét lại không chỉ các vấn đề thương mại, kinh tế, chính trị xã hội, mà bản chất hơn là vấn đề triết học ở đằng sau: Tôi là ai? Tôi đến từ đâu? Và sẽ đi đâu?

Phán đoán từ góc độ châu Âu của các chuyên gia tư vấn chiến lược đối với tình hình hiện nay cho rằng “Chiến tranh thương mại Trung – Mỹ cuối cùng là chiến tranh hay hòa bình có thể đối với châu Âu đều sẽ không phải là tin vui. Bởi vì cuối cùng xác suất hai thế lực lớn thỏa thiệp với nhau thì bên chịu thiệt hại sẽ chỉ là châu Âu”.

Trên thực tế, điều này đã không còn là sự lo ngại của một doanh nghiệp hay quốc gia nào đó, tinh thần bi quan của “người ngoài cuộc” đang lan ra khắp châu Âu, đồng thời tập trung thể hiện ở trong các chính sách gần đây của EU, đặc biệt là về mặt điều chỉnh tư duy chiến lược đối với Trung Quốc.

Sự thay đổi lớn: EU từ vai trò “tiên phong” đến “người ngoài cuộc” trong cạnh tranh toàn cầu hóa

Cần phải nói rằng nguyên nhân cơ bản nhất mà EU chuyển hướng chính sách đối với Trung Quốc nằm ở sức cạnh tranh toàn cầu hóa của khu vực này giảm mạnh. Pháp và Đức có nhiều lo ngại đối với tương lai của ngành công nghiệp châu Âu.

Châu Âu làm thế nào từ một thời huy hoàng đi đến vị trí “người ngoài cuộc” như hiện nay? Đây là nhân tố kép từ thời Chiến tranh thế giới thứ Hai, có những nguyên nhân sau:

Trước tiên, nhân tố Mỹ. Kể từ thời Chiến tranh thế giới thứ Hai đến nay, Mỹ luôn    là “linh hồn” quanh quẩn ở châu Âu, ảnh hưởng đối với châu Âu rất sâu rộng. Về mặt kinh tế, kế hoạch Marshall sau Chiến tranh thế giới thứ Hai khiến kinh tế của các nước Tây Âu nhanh chóng phục hồi, “30 năm hoàng kim” của Tây Âu đã chứng minh sự thành công của mô hình Mỹ, nhưng từ đó, Mỹ đã có quyền phát ngôn đầy đủ trong lĩnh vực kinh tế, về mặt chính trị, Mỹ đã thúc đẩy tiến trình hội nhập châu Âu vì sự ổn định lâu dài của khu vực này. Tuy nhiên, tiến trình này ở mức độ nào đoó là do Mỹ chủ đạo; về mặt địa chiến lược, chiến lược hướng Đông của họ sau khi Liên Xô tan rã đã thúc đẩy các nước Trung – Đông Âu trước tình hình chính trị đất nước và thực lực kinh tế chưa đạt tiêu chuẩn đã lần lượt “phá cách” gia nhập NATO và EU, 15 nước EU từ đầu thế kỷ này đã nhảy vọt lên tới 28 nước. Xét về bề ngoài là sự gia tăng tốc độ hội nhập châu Âu, trên thực tế là đã gia tăng chi phí mà việc hội nhập sâu rộng cần cải cách, những chi phí này cũng có thể hiểu là học phí mà châu Âu cần phải nộp: một mặt, trình độ phát triển kinh tế và chính trị của các nước mới gia nhập khá thấp, cần phải đầu tư lớn; mặt khác, sự mở rộng bản đồ của EU có nghĩa là sự mở rộng biên giới không ngừng về phía Đông, về mặt quân sự đã hình thành xu thế trực tiếp ép Nga, trực tiếp hạn chế không gian chiến lược trong tương lai của châu Âu, khiến cho mức độ phụ thuộc vào NATO của họ không ngừng gai tăng. Đằng sau đó là việc tạo dựng chiến lược toàn diện của Mỹ đối với “Đại châu Âu” trong nửa thế kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, kết quả cuối cùng mà việc tạo dựng này mang lại chính là châu Âu lớn nhưng suy yếu.

Thứ hai, nhân tố chiến lược của bản thân EU. Sự phục hồi thế mạnh của kinh tế châu Âu khiến vị thế của khu vực này trong hệ thống thương mại toàn cầu được hình thành bước đầu dần dần vững chắc. Ngoài ra, cộng đồng chung châu Âu khi đó không ngừng xác lập nguyên tắc phát triển “hội nhập kinh tế trước, hội nhập chính trị sau”. Điều này thúc đẩy EU xác định rõ chiến lược “củng cố hệ thống thương mại toàn cầu, phát triển chủ nghĩa đa phương, giành được quyền phát ngôn chính trị thông qua kinh tế”.

Thứ ba, EU đã bỏ lỡ “cánh cửa” thời gian để cải cách. Nhìn lại 20 năm qua, đó là quá trình Trung Quốc cải cách mở cửa phát triển mạnh mẽ, châu Âu tiếp tục suy yếu. Các nước EU không phải là không có cơ hội cải cách, chỉ có điều đại đa số các nước đều chưa thể nắm bắt, hoặc là chính phủ không dám nắm bắt.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã mang đến khó khăn chưa từng có cho EU. Sau đó, các vấn đề nợ công của các nước như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Ireland… liên tiếp nổ ra, sức sống kinh tế của châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề. Nhưng dù là thời khắc khủng hoảng khi đó cũng có thể là thời cơ tốt để tiến hành một cuộc cải cách mạnh mẽ, dứt khoát, nhưng lại không thể hình thành do nhiều vấn đề về thể chế và xã hội. Trong đó bao gồm: Thứ nhất, tầng quyết sách chính trị chính thống của EU vì kiên trì ý thức hệ “thị trường tự do” nên không muốn đối mặt với cốt lõi của vấn đề đằng sau khủng hoảng, đó là vấn đề thiếu kiểm soát vĩ mô hợp lý và giám sát hiệu quả trong chính sách kinh tế của EU; thứ hai, hình thái xã hội cứng nhắc; thứ ba, xã hội già hóa “nóng lòng tìm kiếm sự ổn định”, dẫn đến động lực và ủng hộ cải cách giảm sút. Còn tầng quyết sách chính trị để đảm bảo sự biểu hiện của chính đảng mình trong cuộc bầu cử tiếp theo buộc phải đón ý các khu vực có phiếu bầu lớn, đặc biệt là nhu cầu lợi ích của tầng lớp đã nghỉ hưu và sắp nghỉ hưu. Nói một cách thẳng thắn, chính trị EU hiện nay bị trói buộc bởi tư duy “già cỗi” của châu Âu già hóa, các chính trị gia trẻ tuổi lại không có tiếng nói để đưa ra bố cục phát triển lâu dài.

Sự tích tụ của nhiều nhân tố đã khiến cho EU ngày càng bị gạt ra ngoài hệ thống quản trị toàn cầu, thúc đẩy sự sản sinh chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa hiện thực, đồng thời đẩy mạnh sự phát triển nhanh chóng của các thế lực chính trị cực đoan. 3 yếu tố cùng thúc đẩy các vấn đề xã hội như tăng thâm hụt thương mại, hiệu quả sản xuất xã hội thấp, mức sống của người dân sụt giảm… đều đổ lên “toàn cầu hóa”, trong khi đó, ngày càng nhiều các công ty toàn cầu hóa của Trung Quốc khi tiến vào châu Âu đều oán trách.

Châu Âu phải mất 30 năm để hoàn thành phục hồi kinh tế và bắt đầu “sắp xếp” toàn cầu hóa thương mại, 30 năm để hoàn thành việc mở rộng mạnh mẽ các thế lực chính trị, hy vọng củng cố quyền phát ngôn kinh tế và chính trị của mình trên toàn cầu. Hiện nay, do để lỡ mất cơ hội tốt để cải cách, trong vòng chưa đầy 20 năm đã trở thành “người ngoài cuộc” của toàn cầu hóa.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 27/03/2019

Năm 2017 và những nguy cơ đến từ đồng USD mạnh


Giá trị của đồng USD đang đứng ở mức cao kỷ lục trong một thập niên qua, và những bối cảnh của nền kinh tế thế giới có vẻ sẽ khiến đồng bạc xanh còn tăng giá trị hơn nữa. Khi đồng tiền dự trữ của thế giới quá mạnh, không nước nào tránh được sự tác động. Và đối với nhiều nền kinh tế mới nổi, vốn vay nợ rất nhiều bằng đồng USD, thì năm 2017 có thể là một năm đầy khó khăn.

Ngày nay, đồng USD cản trở thế giới giống như chiếc vòi bạch tuộc thời hiện đại. Những quốc gia gắn giá trị đồng nội tệ với đồng USD sản xuất 1/3 sản lượng của toàn cầu, và đồng USD hiện là sự lựa chọn của hầu hết giao dịch hàng hóa. Đồng bạc xanh có mặt trong 85% giao dịch ngoại hối và hiện là đồng tiền của 39% tổng số nợ của toàn cầu, 63,4% kho dự trữ tiền tệ công khai của thế giới.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, một số nhà phân tích đã viện dẫn thâm hụt thương mại của Mỹ như là bằng chứng cho thấy thời hoàng kim của đồng USD sắp lụi tàn và đồng thời đưa ra dự đoán rằng đồng USD sẽ bị “ruồng bỏ”. Tuy nhiên, họ đã sai bởi các luồng vốn đổ vào ồ ạt chỉ càng củng cố vị thế của đồng USD như là “nơi trú ẩn” an toàn bất chấp tương lai đầy bấp bênh của chính đồng tiền này. Điều tưởng chừng như rất nghịch lý này lại đặc biệt chính xác bởi nước Mỹ là “thủ phạm chính” gây ra cuộc khủng hoảng tài chính 2008.

Để đối phó với các khủng hoảng của năm 2008, chính phủ của các thị trường đã triển khai những chính sách ngăn chặn sự tái diễn “tình trạng đình đốn” như Phố Wall từng gây ra hồi những năm 1930. Các ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng lẻo, khiến thị trường tràn ngập tiền mặt bằng cách ấn định lãi suất thấp kỷ lục và những chính sách nới lỏng định lượng, trong đó Mỹ là nước đi đầu trào lưu này. Kết quả là đồng USD đổ vào thị trường toàn cầu do các nhà đầu tư ở thế giới phát triển nhận thấy các thị trường nội địa của họ không để đem lại đủ lợi nhuận. Các thị trường mới nổi nhận được lượng vốn lớn và hầu hết là dưới hình thức nợ công ty. Do các nhà đầu tư không muốn cấp các khoản vay bằng đồng nội tệ đối với những thị trường mới nổi có tỷ lệ lạm phát cao, nên các khoản cho vay tính bằng đồng USD lại được “lạm dụng”.

Hiện tại, những quốc gia gánh nhiều rủi ro nhất từ đồng USD mạnh là những nước đang có những món nợ chồng chất tính bằng đồng USD. Kho dự trữ ngoại hối dồi dào có thể phần nào giúp giải cứu vấn đề này bởi có thể được dùng để củng cố đồng nội tệ hay thanh toán nợ công ty. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lãi sẽ khiến đồng USD tự khắc “chảy ra” khỏi những nước này.

Trong thời gian tới, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên và có thể khiến nhiều nước phải “đau đầu” Một trong số những “nạn nhân lớn nhất” là Trung Quốc. Trong suốt 18 tháng qua, đồng NDT đã mất giá so với đồng USD,d ẫn đến tình trạng tẩu tán vốn. Điều này có nguy cơ trở thành một tiến trình rối loạn và Trung Quốc đã phải chi một lượng khá lớn dự trữ ngoại tệ để kiểm soát tình hình. Kho dự trữ của nước này hiện là 3,1 nghìn tỷ USD, một con số vẫn được coi là “khổng lồ”, song giảm 25% so với năm 2014. Đồng USD mạnh sẽ gây áp lực hơn nữa lên Bắc Kinh buộc họ phải tiêu số dự trữ ngoại tệ còn lại ở tốc độ thậm chí còn nhanh hơn nữa, làm hao mòn khối tài sản mà nước này tích cóp suốt 2 thập niên qua.

Tuy nhiên, những quốc gia “dễ bị tổn thương” nhất là những nước (chủ yếu có các thị trường mới nổi) đang phải “cõng” gánh nặng nợ tính bằng đồng USD và không có nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào để “chống lưng”. Đồng USD mạnh lên khiến các quốc gia này khó có thể thanh toán hay trả lãi cho các khoản nợ, nhất là khi chi phí trao đổi đồng USD trên thị trường tăng. Đồng USD mạnh lên là “điềm báo” cho thấy 2017 sẽ là một năm đầy khó khăn cho các thị trường mới nổi.

Nguồn: Strator – 08/12/2016

TKNB – 09/12/2016

Hợp tác đầu tư Trung Quốc – Anh hậu Brexit – Phần cuối


Việc tăng lên vùn vụt các khoản đầu tư của các công ty nhà nước Trung Quốc vào những mục tiêu và dự án quan trọng, tăng cường ảnh hưởng và mua các công ty của Anh trong lĩnh vực sản xuất công nghệ cao, trong triển vọng lâu dài, đang gây cho chính phủ mới của Anh những mối nguy hiểm về việc làm suy yếu khả năng kiểm soát các mục tiêu cơ sở hạ tầng và nhà máy lớn. Sự bất an cũng được gợi lên bởi người Trung Quốc đang tích cực hơn trong việc mua các khu nhà ở và bất động sản của Anh. Chẳng hạn, trong 2 tháng đầu năm 2016, các công ty và cá nhân người Trung Quốc đã mua bất động sản với tổng số tiền là 560 triệu bảng, chiếm 40% tổng số bất động sản được mua tại Anh trong năm 2015.

Anh không phải là quốc gia duy nhất lo ngại về chính sách đầu tư bành trướng của các công ty nhà nước Trung Quốc thời gian gần đây. Chính quyền Australia cũng đã thể hiện sự lo ngại trước việc gia tăng ảnh hưởng và nỗ lực kiểm soát của Trung Quốc đối với các dự án cơ sở hạ tầng chiến lược lớn thông qua việc tham gia đầu tư. Tháng 4/2016, Giám đốc Viện chính sách chiến lược, kiểm chủ tịch hội đồng chuyên gia thuộc chính phủ Australia Peter Jennings đã tuyên bố, cần cảnh giác cao độ và cân nhắc kỹ trước các nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc vào các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng chiến lược trên lãnh thổ đất nước. Ông Peter Jennings kêu gọi không chỉ chú ý tới lợi ích kinh tế của việc thu hút đầu tư trong triển vọng ngắn hạn, mà còn cần chú ý tới những hậu quả dài hạn có thể xảy ra từ quá trình này đối với an ninh quốc gia.

Giữa ngã ba đường: Tìm kiếm một “điểm vàng chính giữa”

Theo đánh giá của các nhà khoa học thuộc Trường Kinh tế London, việc Anh rời khỏi EU dẫn tới tổng lượng FDI thu hút giảm đi 22%, kéo theo các khoản thu nhập thực của người dân giảm đi 3,4%. Đồng thời những thiệt hại từ việc giảm ngoại thương có thể là 2,6%, kể cả trong khuôn khổ một kịch bản bi quan. Việc Anh rời khỏi EU tác động trước tiên tới ngành công nghiệp sản xuất ôtô và mạng lưới tài chính.

Rõ ràng, sau khi rời EU và bị mất đi phần lớn các khoản đầu tư từ các nhà đầu tư theo tổ chức tại châu Âu, Anh sẽ hướng tới việc thu hút tích cực hơn các đối tác đầu tư từ những nước thứ ba. Và các công ty Trung Quốc, có các nguồn đầu tư tương đối dồi dào, hóa ra lại xếp ở vị trí đầu tiên. Sự hợp tác giữa Anh và Trung Quốc trong lĩnh vực đầu tư sẽ thúc đẩy hướng đầu tư ra nước ngoài của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Những triển vọng phối hợp đầu tư giữa Anh với châu Âu và các nước thứ ba, nói riêng là với Trung Quốc, sẽ phụ thuộc vào thứ nhất là kịch bản có thể thực hiện được của việc Anh rời khỏi EU, thứ hai là phương hướng kinh tế đối ngoại của Chính phủ Anh mới. Hiện cả hai điều trên vẫn chưa rõ ràng.

Mặc dù sự vận động của các luồng đầu tư phần lớn dễ chịu ảnh hưởng của Brexit, nhưng liệu sự không rõ ràng nảy sinh trong phương hướng kinh tế đối ngoại tương lai của Anh, và cả những cố gắng của Chính phủ Anh nhằm giữ sự kiểm soát đối với các nguồn đầu tư nước ngoài vào các dự án và lĩnh vực chiến lược, có ảnh hưởng đến các kế hoạch đưa các nguồn vốn vào nền kinh tế Anh của các nhà đầu tư Trung Quốc.

Trong những năm tới đây, sự lôi cuốn của thị trường Anh, nhìn từ góc độ đưa vào các nguồn vốn như một căn cứ bàn đạp để mở rộng sự hiện diện về thương mại và buôn bán tại châu Âu, sẽ chỉ tăng lên. Tuy nhiên, các công ty nhà nước Trung Quốc sẽ tiếp tục chiếm lấy các lợi ích riêng và hướng tới việc mở rộng đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

Đến lượt mình, chính sách của Anh đối với các nhà đầu tư Trung Quốc sẽ được hình thành dưới ảnh hưởng của 2 xu hướng đối lập nhau.

Xu hướng thứ nhất là sự tăng mạnh về tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư của Trung Quốc đối với sự phát triển của kinh tế Anh. Điều này xếp ở vị trí hàng đầu khi tính tới việc Anh mất đi phần lớn các nguồn vốn đến từ các nhà đầu tư châu Âu trước đó. Ngoài ra, sự lớn mạnh trong cạnh tranh giữa Anh, Đức, Pháp và Italy vì nguồn vốn từ Trung Quốc có thể thôi thúc Chính phủ Anh “mềm hóa” các điều kiện để nguồn vốn nước ngoài tiếp cận nền kinh tế nước này, trong đó có FDI từ Trung Quốc.

Xu hướng thứ hai là sau sự ra đi khỏi EU và tìm được sự độc lập trong việc tiến hành chính sách kinh tế đối ngoại của mình, các nhà cầm quyền Anh sẽ nỗ lực bảo vệ các lợi ích riêng trong lĩnh vực an ninh và các mạng lưới quan trọng chiến lược khỏi sự xâm nhập từ nguồn vốn nước ngoài. Điều này trước tiên có thể động chạm tới toàn bộ việc thu hút FDI vào các dự án hạ tầng cơ sở lớn (xây dựng các công trình giao thông và cơ sở hạ tầng năng lượng), và cả các điều kiện mua bất động sản Anh bởi các nhà đầu tư nước ngoài. Liên quan tới điều này, các thủ tục thỏa thuận hợp đồng có thể trở nên phức tạp hơn, tăng thời hạn thông qua quyết định, trong các trường hợp riêng, có thể tiến hành hạn chế hoặc hủy bỏ các điều kiện tham gia của vốn đầu tư nước ngoài trong các dự án chiến lược quan trọng và trong việc mua bất động sản.

Các chuyên gia và nghị sĩ Anh đã hơn một lần đưa ra vấn đề hạn chế việc tiếp cận của các nhà đầu tư nước ngoài đối với vấn đề mua bất động sản trong nước. Rõ ràng, việc thực hiện các sáng kiến này trước tiên sẽ đánh vào các nhà đầu tư Trung Quốc.

Xuất phát từ điều này, trong triển vọng trung hạn, có thể chờ đợi một số thay đổi trong cấu trúc ngành của FDI của Trung Quốc vào Anh: lượng đầu tư vào mạng lưới giao thông liên lạc, lĩnh vực tài chính, thương mại bán lẻ và sản xuất công nghệ cao có thể tăng lên, còn số đầu tư cho giao thông, năng lượng và mua bất động sản sẽ giảm.

Tóm lại, Anh sẽ cân bằng giữa mong muốn tăng cường bổ sung các nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào trong nước (xét theo quan điểm cắt giảm sự ảnh hưởng về mặt tài chính của châu Âu) và mong muốn bảo vệ các lợi ích an ninh quốc gia. Chính sách đối với sự đầu tư từ Trung Quốc sẽ phụ thuộc vào cái đĩa cân nào sẽ được cheo, các nhà cầm quyền Anh có thể giữ cân bằng các mối quan hệ đối tác với châu Âu và thu hút đầu tư từ các trung tâm đầu tư lớn khác của thế giới ở mức độ nào.

Nguồn: Russiancouncil.ru

TLTKĐB – 15/12/2016

Hợp tác đầu tư Trung Quốc – Anh hậu Brexit – Phần đầu


Ngày 15/9/2016, mọi thứ đã trở nên rõ ràng khi Chính phủ Anh tán thành dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân Hinkley Point với sự tham gia của công ty nhà nước Trung Quốc – công ty mà hồi tháng 7 đã bị phía Anh trì hoãn quyết định hợp tác bởi các lý do liên quan tới an ninh và sự cần thiết đối với việc nghiên cứu chi tiết hơn các hậu quả có thể xảy ra từ việc mở rộng hợp tác đầu tư của các công ty Trung Quốc vào mạng lưới kinh tế chiến lược. Về điều này, các nhà cầm quyền Anh đã đưa ra các biện pháp bảo vệ mới nhằm giữ việc kiểm soát đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại các dự án cơ sở hạ tầng chiến lược, trong đó có năng lượng hạt nhân.

Tình hình xung quanh Hinkley Point đang cho thấy một mặt, Chính phủ Anh không thể cho phép mình vứt bỏ các đối tác chiến lược trong số các quốc gia ngoài châu Âu. Mặt khác, các nhà cầm quyền mới không thể tíchc ực và nhiệt tình hơn trong việc bảo vệ các lợi ích an ninh quốc gia, trong khi sử dụng sự độc lập trong tiến hành chính sách kinh tế đối ngoại mới nhận được sau khi rút khỏi Liên minh châu Âu (EU).

Quyết định của việc rời khỏi EU có thể dẫn tới thay đổi toàn bộ sự cân bằng các lực lượng trong thị trường nội địa Anh, cũng như sự cân bằng trong cấu trúc địa lý và ngành của các dòng thương mại và nhà đầu tư. Những thay đổi thích hợp có thể động chạm tới Trung Quốc – nước đang cho thấy là một trong những nhà đầu tư năng động vào kinh tế Anh.

Chính sách đầu tư bành trướng của Trung Quốc

Trung Quốc hiện đang giữa vị trí thứ ba về tầm vóc của một nhà đầu tư quốc tế, sau Mỹ và Nhật Bản. Tổng lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc năm 2015 đạt 128 tỷ USD, tăng 3,6% so với năm 2014. Theo các chuyên gia Đức, tới năm 2020, con số này có thể tăng lên gần gấp đôi, đạt khoảng 250 tỷ USD.

Phần lớn FDI của Trung Quốc hướng tới các lĩnh vực dịch vụ, thương nghiệp bán lẻ, giao thông và tài chính, trong khi đó nguồn đầu tư cho sản xuất đã giảm đi đáng kể. Số lượng đầu tư cho lĩnh vực dịch vụ trong năm 2015 tăng tới 55% còn lĩnh vực sản xuất thì giảm tới 33%. Các công ty Trung Quốc đặc biệt tích cực đầu tư cho các lĩnh vực liên quan tới phát triển cơ sở hạ tầng.

Một cách so sánh, tốc độ cao hơn trong phát triển đầu tư của Trung Quốc được nhận thấy tại các nước đối tác khu vực châu Á. Trong năm 2015, tổng số FDI của Trung Quốc tại các nước châu Á đang phát triển khác tăng lên khoảng 1,8 lần, trước tiên là dựa vào việc mở rộng đầu tư trong khuôn khổ các dự án quy mô lớn “Vành đai kinh tế con đường tơ lụa” và “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21”. Đồng thời, Bắc Kinh cũng tiến hành chính sách tích cực đa dạng địa lý trong đầu tư và củng cố sự hiện diện về đầu tư và thương mại tại các thị trường ngoài nước, bao gồm cả thị trường các nước châu Âu.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc thể hiện là một trong những nhà đầu tư lớn vào kinh tế của các nước phát triển tại châu Âu, trong đó có việc nhờ vào tiến hành các hợp đồng lớn xuyên biên giới nhằm hợp nhất và thu hút. Chẳng hạn, cuối năm 2015, công ty quốc gia China National Chemical Corporation (ChemChina) của Trung Quốc đã thực hiện hợp đồng mua công ty Pirelli của Italy với tổng số tiền là 9 tỷ euro. Tháng 8/2016, ChemChina đã nhận được sự tán thành để mua công ty Syngenta của Thụy Sỹ với giá 43 tỷ USD.

Các công ty Trung Quốc đang tích cực áp dụng vào lĩnh vực năng lượng thay thế, trong khi đầu tư và mua, chẳng hạn việc mua bán ngoài khơi về sản xuất năng lượng gió – nguồn năng lượng đang thuộc về các công ty năng lượng lớn của châu Âu và triển khai phần lớn trên lãnh thổ Anh. Ở đây đang nói riêng về các hợp đồng mua của các công ty nhà nước Trung Quốc State Development and Investment Corporation trong việc mua bán với công ty Repsol của Tây Ban Nha vào tháng 5/2016 hay việc công ty Trung Quốc China Three Gorges Corporation mua 30% cổ phần dự án ngoài khơi Moray Firth của công ty EDP Renovaveis của Bồ Đào Nha và các trao đổi mua bán khác.

Rất quan trọng khi nhận xét rằng những năm gần đây, trong chính sách đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài, những thay đổi căn bản đã được ghi dấu.

Thứ nhất, đang diễn ra sự định hướng lại một cách nhanh chóng từ việc đầu tư vào khu vực thực tế trong lĩnh vực dịch vụ và tham gia các dự án cơ sở hạ tầng lớn.

Thứ hai, việc đầu tư vào các dự án sản xuất theo công nghệ cao hơn, trong đó có các dự án trong lĩnh vực năng lượng thay thế, công nghệ sinh học và các lĩnh vực khác, đang được mở rộng. Số hợp đồng mua các công ty và nhà máy sản xuất theo công nghệ cao, những cái mà các nhà cầm quyền Trung Quốc coi là cách nhanh và hiệu quả nhất để tiếp cận các công nghệ tiên tiến, đang tăng lên.

Thứ ba, phần lớn nhất trong tổng số FDI của Trung Quốc là thuộc các công ty nhà nước (khoảng 70% theo thực tế năm 2015). Về điều này, xu hướng chung giai đoạn 2000 – 2015 là theo chiều đi lên.

Thứ tư, các công ty Trung Quốc đang dần chuyển từ đầu tư với tư cách cổ đông không kiểm soát nhằm khai thác lợi nhuận sang dạng mua các công ty nước ngoài, tăng cổ phần của mình trong các dự án, tham gia vào quá trình thông qua quyết định và sử dụng các mục tiêu hạ tầng cơ sở phù hợp với các ưu tiên chiến lược riêng. Xu hướng sau cùng có thể gây ra sự bất an cho các nước được đầu tư vì việc mất kiểm soát có thể xảy ra đối với các mục tiêu hạ tầng cơ sở chiến lược và vì sự phát sinh các nguy cơ đối với an ninh quốc gia.

Sự bành trướng của Trung Quốc tại Anh

Trong giai đoạn 2000 – 2015, Anh giữ vị trí số 1 trong số các quốc gia EU về tổng số FDI của Trung Quốc – đạt 15,164 tỷ euro, so với 11,186 tỷ của Italy, 9,485 tỷ của Pháp và 7,905 tỷ của Đức. Theo số liệu của công ty luật quốc tế Baker & McKenzie, năm 2015, tổng số tiền đầu tư của Trung Quốc là 3,3 tỷ USD.

Trước năm 2012, các hướng đầu tư chính của Trung Quốc là mạng lưới ngân hàng, năng lượng mặt trời, ngành chế tạo ôtô và giao thông liên lạc. Những năm gần đây đánh dấu xu hướng tăng cường đầu tư của nước này vào lĩnh vực chế tạo công nghệ và cơ sở hạ tầng, còn mạng lưới tài chính và sản xuất thực tế đang nhường lại vị trí của mình. Ngoài ra, từ việc mua các cổ phần không lớn trong thương mại, các công ty Trung Quốc chuyển sang đẩy mạnh các hợp đồng về hợp nhất và thâu tóm. Mặc dù giá trị các bản hợp đồng tương ứng được các nhà đầu tư Trung Quốc tiến hành tại thị trường Anh giảm đi, nhưng số lượng các bản hợp đồng lại có chiều hướng tăng lên. Về điều này, các khoản tiền được đặt chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản, khai khoáng, dầu mỏ và khí đốt, xây dựng và giao thông, thương nghiệp bán lẻ và mạng lưới ngân hàng.

Đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng lớn của Anh đang là một trong những ưu tiên chiến lược của các công ty Trung Quốc. Năm 2012, công y China Investment Corporation của Trung Quốc đã mua 8,68% cổ phần của công ty Thames Water Utilities Ltd. và 10% cổ phần của Heathrow Airport Holdings của Anh. Trước đó 1 năm, công ty Cheung Kong Infrastructure Holdings của Trung Quốc đã thực hiện hợp đồng mua công ty Northumbrian Water. Đưa nhiều vốn hơn vào các công trình cơ sở hạ tầng lớn, các công ty Trng Quốc dự định sử dụng chúng với tư cách căn cứ đầu cầu để mở rộng sự hiện diện của mình tại châu Âu. Cho nên, công ty Beijing Construction Engineering Group của Trung Quốc đã đầu tư vào dự án Airport City Manchester, công ty Chinese Construction Company dự định tham gia trên cơ sở đồng đẳng (50:50) vào các dự án của công ty xây dựng Carillion của Anh, còn công ty China Railway Group đang xem xét đề nghị đầu tư vào dự án High Speed 2.

(còn tiếp) 

Nguồn: Russiancouncil.ru

TLTKĐB – 15/12/2016

Bí ẩn của vốn – Phần cuối


Như các nhà kinh tế học lỗi lạc của Đức, Gunnar Heinsohn và Otto Steiger đã chỉ ra, “Tiền không bao giờ được tạo ra từ hô vô, xét từ quan điểm quyền sở hữu, cái luôn phải có trước khi tiền có thể tồn tại”. Thừa nhận những sự giống nhau giữa công trình của họ và của tôi, họ đã lưu ý tôi về bản thảo của một bài báo chưa được công bố, có nêu “rằng không thể hiểu lãi và tiền nếu không có định chế quyền sở hữu”. Họ đề cập tiếp, mối quan hệ này bị làm lu mờ bởi đa số mọi người hiểu lầm rằng các ngân hàng trung ương phát hành giấy bạc và hỗ trợ các ngân hàng thương mại tiến hành thanh toán. Theo quan điểm của Heinsohn và Steiger, cái tuột khỏi tầm nhìn thực tế “là tất cả các khoản ứng trước trong kinh doanh ngân hàng lành mạnh đều có bảo đảm”, hoặc theo thuật ngữ của tôi, đều dựa trên giấy chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp. Họ đồng ý với Harold Demsetz rằng nền móng quyền sở hữu của chủ nghĩa tư bản được cho là dĩ nhiên và lưu ý Joseph Schumpeter đã gợi bóng gió rằng chính quyền sở hữu bảo đảm cho sự tạo ra tiền. Như Tom Bethell khẳng định đúng đắn trong cuốn sách khác thường của ông, The Noblest Triumph [Chiến thắng cao quý nhất], rằng “nhiều sự may mắn của một hệ thống quyền sở hữu tư nhân chưa bao giờ được phân tích một cách thích đáng”.

Vốn, như tôi đã lập luận ở trước, không được tạo ra bởi tiền; nó được tạo ra bởi dân chúng mà các hệ thống quyền sở hữu giúp họ hợp tác và suy nghĩ về việc làm sao có thể làm cho các tài sản họ tích tụ tham gia sản xuất thêm. Sự gia tăng lớn củ tư bản ở phương Tây hơn hai thế kỷ qua là hệ quả của hệ thống quyền sở hữu được cải thiện dần dần, những hệ thống cho phép các tác nhân kinh tế phát hiện và thực hiện tiềm năng trong các tài sản, do đó có thể tạo ra tiền mà không bị lạm phát để tài trợ và tạo ra thêm sản xuất.

Như vậy, chúng ta hơn những con sóc cất trữ lương thực cho màu đông và cam kết tiêu thụ sau. Thông qua việc sử dụng thành thạo các định chế quyền sở hữu, chúng ta biết cách để cho các thứ tích tụ có một sự tồn tại song hành. Khi các quốc gia tiên tiến hòa hợp tất cả thông tin và các quy tắc về tài sản của họ lại với nhau và thiết lập hệ thống quyền sở hữu theo dõi tiến triển kinh tế của chúng, họ đã tập hợp thống nhất toàn bộ quá trình thể chế, quá trình làm nền cho sự tạo ra vốn. Nếu chủ nghĩa tư bản có trí tuệ, nó sẽ nằm trong hệ thống quyền sở hữu hợp pháp. Nhưng giống như hầu hết các thứ thuộc trí óc, đa phần của “chủ nghĩa tư bản” ngày nay hoạt động ở mức vô thức.

Vì sao các nhà kinh tế học cổ điển, những người đã biết tư bản là trừu tượng và phải được cố định, lại không đưa ra quan hệ giữa vốn và quyền sở hữu? Một lời thanh minh có thể là trong thời của A. Smith hoặc thậm chí của K. Marx, hệ thống quyền sở hữu vẫn còn bị hạn chế và chưa được phát triển, và tầm quan trọng của chúng là khó phán đoán. Có lẽ quan trọng hơn, cuộc chiến vì tương lai của chủ nghĩa tư bản đã dịch chuyển từ những nghiên cứu mang tính sách vở của các nhà lý thuyết sang một mạng lưới rất lớn các nghiệp chủ, các nhà tài chính, các chính trị gia, và các luật gia. Sự chú ý của thế giới chuyển từ lý thuyết sang những công việc thực tế được tiến hành hàng ngày trong dân chúng, từ năm tài chính này sang năm tài chính khác.

Một khi cỗ máy khổng lồ của chủ nghĩa tư bản đã được đặt chắc chắn vào vị trí và chủ nhân của nó bận rộn làm giàu, thì câu hỏi về việc nó sinh ra thế nào sẽ mất đi tính khẩn cấp. Giống như dân cư sống ở vùng châu thổ giàu có và màu mỡ của một con sông dài, những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản không có nhu cầu thúc ép để khám phá thượng nguồn nhằm tìm nguồn gốc sự phồn vinh của họ. Vì sao phải phiền muộn?… Do vậy, phần còn lại của thế giới quay sang phương Tây nhờ giúp đỡ và được khuyên hãy bắt chước các điều kiện của cuộc sống ở châu thổ: các đồng tiền ổn định, các thị trường mở và các doanh nghiệp tư nhân, các mục tiêu của những cái gọi là cải cách kinh tế vĩ mô và điều chỉnh cơ cấu. Tất cả mọi người đã quên rằng lý do của cuộc sống giàu có ở châu thổ nằm xa ở tận thượng lưu, trong nước nguồn chưa được khai phá. Các hệ thống quyền sở hữu hợp pháp có thể tiếp cận một cách rộng rãi như là phù sa từ thượng lưu, cho phép tư bản hiện đại hưng thịnh.

Đây là một trong những lý do chính giải thích vì sao các cải cách kinh tế vĩ mô không có kết quả. Bắt chước chủ nghĩa tư bản ở mức độ của châu thổ, bằng cách nhập khẩu đặc quyền kinh doanh McDonald và Blockbluster, là không đủ để tạo sự giàu có. Cái cần là tư bản, nó đòi hỏi một hệ thống phức tạp và rất rộng lớn của quyền sở hữu hợp pháp, mà tất cả chúng ta đều coi là dĩ nhiên.

Chiếc lồng kính của Braudel

Phần lớn những người nghèo ở các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây bị đẩy ra bên lề là do họ không có khả năng lợi dụng được sáu tác dụng mà quyền sở hữu mang lại. Thách thức mà các nước này đối mặt không phải là liệu họ phải tạo ra hay nhận được nhiều tiền hơn, mà là liệu họ có thể hiểu được các định chế pháp lý và dồn hết quyết tâm chính trị cần thiết xây dựng một hệ thống quyền sở hữu để những người gnhèo có thể tiếp cận một cách dễ dàng.

Nhà sử học Pháp, Fernand Braudel, đã thấy rằng sự bí ẩn lớn là chỗ ngay từ lúc khởi đầu, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã chỉ phục vụ một số ít những người có đặc quyền, giống như nó hoạt động ở những nơi khác trên thế giới ngày nay:

Vấn đề mấu chốt là tìm ra vì sao khu vực đó của xã hội thời xưa, cái tôi sẽ không ngần ngại gọi là tư bản chủ nghĩa, lại phải sống như thể trong một lồng kính (bell jar), cắt đứt khỏi phần còn lại của xã hội; vì sao nó đã không có khả năng mở rộng và chinh phục toàn xã hội?… Vì sao chỉ có thể có tốc độ tạo vốn đáng kể ở những khu vực nhất định chứ không phải trong toàn bộ nền kinh tế thị trường của thời ấy?… Có lẽ sẽ là trái với quy luật tự nhiên nếu nói rằng mọi thứ khác đều thiếu, còn tiền chắc chắn là không [thiếu]… như thể đây là một thời kỳ mà những nơi đất được coi là xấu vẫn có người mua hết và các dinh thự tráng lệ ở thôn quê được xây dựng, các đài kỷ niệm to lớn được dựng lên, và sự tài trợ một cách phung phí cho văn hóa… Làm sao chúng ta giải quyết được sự mâu thuẫn này… giữa bầu không khí kinh tế trì trệ và sự tráng lệ của Florence dưới thời Lorenzo Huy hoàng.

Tôi tin câu trả lời cho câu hỏi của Braudel chính ở sự tiếp cận hạn chế đối với quyền sở hữu chính thức, cả trong quá khứ của phương Tây lẫn ở các nước thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây hiện nay. Các nhà đầu tư địa phương và nước ngoài đúng là có tư bản; các tài sản của họ ít nhiều được tích hợp, có thể chuyển đổi được, được kết nối mạng, và được bảo vệ bởi hệ thống quyền sở hữu chính thức. Nhưng họ chỉ là một thiểu số rất nhỏ – những người có thể có đủ điều kiện thuê các luật sư nhiều kinh nghiệm, có các mối quan hệ nội bộ, và có sự kiên nhẫn để lách qua tệ quan liêu của hệ thống quyền sở hữu của họ. Tuyệt đại đa số dân chúng, những người không thể hưởng việc những thành quả lao động của mình được biểu thị bởi hệ thống quyền sở hữu chính thức, sống ngàoi chiếc lồng kính của Braudel.

Chiếc lồng kính làm cho chủ nghĩa tư bản trở thành một câu lạc bộ tư nhân, chỉ mở cửa cho một số ít người có đặc ân, và làm tức giận hàng tỷ người đứng ngoài ngó vào. Sự phân biệt chủng tộc tư bản chủ nghĩa này sẽ tiếp tục một cách không thể tránh khỏi, cho đến khi tất cả chúng ta đều thấy sự thiếu sót cốt lõi trong hệ thống pháp luật và chính trị của nhiều nước, những cái ngăn cản đa số người dân tham gia hệ thống quyền sở hữu chính thức.

Đây là lúc để tìm ra nguyên nhân hầu hết các nước đã không có khả năng tạo ra hệ thống quyền sở hữu chính thức mở. Nó là thời điểm, bởi vì các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây đang trải qua những nỗ lực đầy khát vọng nhất… để nhấc chiếc lồng kính đi.

Nhưng trước khi trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải giải quyết phần còn lại của sự bí ẩn là vì sao các chính phủ lại chậm trễ đến như vậy trong việc nhận ra sự tồn tại của chiếc lồng kính.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của vốn – Phần VI


Ít người biết rằng hệ thống quyền sở hữu hợp pháp ở một quốc gia tiên tiến là trung tâm của một mạng lưới phức tạp các mối quan hệ, trang bị cho các công dân bình thường để thiết lập mối liên hệ với cả chính phủ lẫn khu vực tư nhân, và như thế nhận được thêm hàng hóa, dịch vụ. Không có các công cụ quyền sở hữu chính thức, khó có thể hiểu được vì sao các tài sản lại có thể được dùng vào mọi thứ mà chúng thực hiện ở phương Tây. Bằng cách nào khác mà các tổ chức tài chính có thể xác định những người vay tiền tiềm năng đáng tin cậy ở quy mô hàng loạt? Làm sao các đối tượng vật lý, như gỗ ở Oregon, lại bảo đảm cho một khoản đầu tư công nghiệp ở Chicago? Làm thế nào các công ty bảo hiểm có thể tìm và ký hợp đồng với các khách hàng, những người sẽ thanh toán hóa đơn của họ? Làm thế nào nghề môi giới thông tin hoặc các dịch vụ xác minh và kiểm tra lại có thể được cung cấp một cách hiệu quả và rẻ tiền? Việc thu thuế tiến hành ra sao?

Chính hệ thống quyền sở hữu là cái chắt lọc ra tiềm năng trừu tượng từ các tòa nhà và cố định nó trong các hình thức biểu diễn cho phép chúng ta sử dụng các tòa nhà không chỉ như nơi trú ngụ. Nhiều hệ thống sở hữu ở các quốc gia đang phát triển không tạo ra vốn, bởi họ không nhận ra rằng tài sản có thể tách xa khỏi quyền sở hữu. Các hệ thống này chỉ hoạt động thuần túy như một kho lưu trữ các giấy tờ sở hữu, các bản đồ thay cho các tài sản, mà không cho phép cho thêm cơ chế cần thiết để tạo ra một mạng lưới trong đó các tài sản có thể có một cuộc sống song hành như vốn. Không được nhầm lẫn giữa hệ thống quyền sở hữu chính thức với các hệ thống lưu trữ đồ sộ như Domesday Book (Sổ chủ đất) của nước Anh 900 năm trước đây hoặc hoạt động kiểm tra hành lý ở một sân bay quốc tế. Một hệ thống quyền sở hữu được hiểu đúng đắn và thiết kế một cách phù hợp có khả năng tạo ra một mạng lưới, thông qua đó người dân có thể kết hợp các tài sản của mình theo những cách có giá trị hơn.

Tác dụng số 6 của quyền sở hữu: bảo vệ các giao dịch

Một lý do quan trọng giúp hệ thống quyền sở hữu chính thức phương Tây hoạt động như một mạng lưới là tất cả các hồ sơ sở hữu (các chứng thư, văn bản, chứng khoán và các hợp đồng mô tả khía cạnh kinh tế quan trọng của tài sản) được theo dõi liên tục và được bảo vệ khi chúng di chuyển qua thời gian và không gian. Bến đỗ đầu tiên của chúng là các cơ quan công cộng, đó là những người quản gia đối với các hình thức biểu diễn tài sản của một quốc gia tiên tiến. Những người giữ hồ sơ công cộng quản lý các hồ sơ chứa tất cả những mô tả hữu ích về mặt kinh tế của tài sản, bất kề là đất, nhà, động sản, tàu bè, công nghiệp, hầm mỏ hoặc máy bay. Các hồ sơ này sẽ cảnh báo cho bất kể ai muốn sử dụng tài sản về những thứ có thể hạn chế hoặc tăng cường tính hiện thực của nó, như những điều trở ngại, quyền sử dụng đất của người khác, những hợp đồng thuê mướn, các khoản tiền trả chậm, vỡ nợ và các hợp đồng thế chấp. Các cơ quan cũng đảm bảo rằng các tài sản được biểu thị chính xác và thảo đáng dưới dạng thích hợp có thể được cập nhật và truy cập dễ dàng.

Bên cạnh các hệ thống lưu trữ hồ sơ công cộng, nhiều dịch vụ tư nhân khác đã mở ra để hỗ trợ các bên trong xác định, di chuyển và theo dõi các biểu thị sao cho chúng có thể tạo ra giá trị thặng dư một cách dễ dàng và an toàn. Các dịch vụ này bao gồm các tổ chức tư nhân ghi chép lại các giao dịch, các tổ chức lưu giữ (phong tỏa), trích lục, định giá, các hãng bảo hiểm cho chứng thư và độ tin cậy, các nhà môi giới thế chấp, các dịch vụ ủy thác, lưu ký hồ sơ. Ở Hoa Kỳ, các công ty bảo hiểm chứng thư còn giúp việc khai thác các biểu thị tài sản bằng cách phát hành các khế ước bảo đảm cho các bên đối với rủi ro xác định, từ sai sót trong chứng thư đến việc không thể thực thi khế ước thế chấp và không phát mại được chứng thư. Theo luật, tất cả các thực thể này phải tuân thủ tiêu chuẩn hoạt động khắt khe điều chỉnh khả năng theo dõi hồ sơ của họ, các phương tiện lưu trữ vật lý và bố trí nhân viên.

Mặc dù chúng được thiết lập để bảo vệ sự an toàn của quyền sở hữu lẫn an toàn của các giao dịch, song rõ ràng là các hệ thống phương Tây nhấn mạnh đến khía cạnh sau. Sự an toàn về cơ bản được nhấn mạnh nhằm tạo sự tin cậy trong các giao dịch sao cho người dân có thể làm cho các tài sản của mình tồn tại song hành với tư cách là tư bản một cách dễ dàng hơn.

Ngược lại, ở hầu hết các nước đang phát triển, luật và các cơ quan chính quyền bị mắc bởi hệ thống thuộc địa trước đây và luật Roman, những luật nghiêng về bảo vệ quyền sở hữu. Họ trở thành những người lưu ký ước nguyện của người chết. Điều này có thể giải thích vì sao hệ thống quyền sở hữu phương Tây lại dễ dàng tạo ra vốn như vậy, còn vì sao hầu hết tài sản ở các nước thế giới thứ ba và XHCN trước đây lại tuột khỏi hệ thống pháp lý chính thức để tìm kiếm sự linh động.

Việc phương Tây coi trọng sự an toàn của các giao dịch cho phép người dân có thể di chuyển khối lượng tài sản lớn với rất ít giao dịch. Làm sao chúng ta có thể lý giải rằng ở các quốc gia thế giới thứ ba và XHCN trước đây, người dân vẫn mang lợn của mình ra chợ và mua bán từng con một, như họ đã làm hàng ngàn năm nay, trong khi ở phương Tây, các nhà buôn đưa các hình thức biểu thị về quyền của họ với các con lợn ra thị trường? Ví dụ, các nhà buôn ở Sở Giao dịch Hàng hóa Chicago mua bán thông qua các biểu thị, những cái cung cấp cho họ nhiều thông itn hơn về đàn lợn mà họ mua bán so với việc họ phải xem xét từng con lợn một. Họ có khả năng mua bán các khối lượng khổng lồ lợn mà ít phải quan tâm về sự an toàn của các giao dịch.

Vốn và tiền

Sáu tác dụng của quá trình quyền sở hữu tích hợp có nghĩa là nhà ở của những người phương Tây không còn chỉ để trú mưa và tránh giá lạnh. Được tạo cho sự tồn tại về mặt biểu diễn, những căn nhà này hiện có một cuộc sống song hành, thực hiện những công việc kinh tế mà chúng không thể làm trước đây. Một hệ thống quyền sở hữu chính thức được tích hợp tốt về cơ bản làm hai việc: thứ nhất, nó giảm mạnh mẽ các chi phí để tìm hiểu đại lượng kinh tế của tài sản bằng cách biểu thị chúng theo cách sao cho các giác quan của chúng ta có thể nắm bắt nhanh chóng; và thứ hai, nó tạo thuận lợi cho khả năng thỏa thuận về việc sử dụng các tài sản ra sao để tạo thêm sản phẩm và tăng phân công lao động. Kỳ tài của phương Tây là đã tạo ra một hệ thống cho phép người dân thấu hiểu bằng trí óc những giá trị mà mắt con người không bao giờ có thể nhìn thấy và để thao tác các thứ bàn tay con người không bao giờ có thể sờ thấy.

Hàng thế kỷ trước, các học giả đã nghĩ rằng chúng ta dùng từ vốn (theo tiếng Latinh, capital để chỉ đầu, thủ) bởi vì đầu là nơi chúng ta nắm giữ các công cụ để tạo ra vốn. Điều này gợi ý lý do mà vốn đã luôn luôn bị che khuất trong bí ẩn là bởi vì, giống như năng lượng, nó chỉ có thể được khám phá và được quản lý bằng trí óc. Cách duy nhất để chạm vào vốn là hệ thống quyền sở hữu có thể ghi chép các khía cạnh kinh tế của nó trên giấy và néo chặt chúng vào một địa điểm và người chủ cụ thể.

Khi ấy, quyền sở hữu, không đơn thuần là giấy tờ mà là một công cụ trung gian thâu tóm và lưu trữ hầu hết các thứ cần thiết để làm cho nền kinh tế vận hành. Quyền sở hữu là hạt nhân của hệ thống, bằng cách làm cho người dân có trách nhiệm giải trình và tài sản có thể chuyển đổi được, bằng cách theo dõi các giao dịch, và như thế cung cấp tất cả các cơ chế cần thiết để hệ thống tiền tệ và ngân hàng vận hành, đầu tư hoạt động. Mối quan hệ giữa vốn và tiền hiện đại thấm qua quyền sở hữu.

Ngày nay, chính các hồ sơ về quyền sở hữu và các giao dịch đã cung cấp tiền cho các nhà chức trách làm bằng chứng cốt yếu để phát hành thêm thư chào thầu hợp pháp. Các nhà khoa học tư duy George A. Miller và Philip N. Johnson-Laird đã viết năm 1976: “Tiền giấy có nguồn gốc từ ký phát giấy nợ. Cho nên tiền… giả định trước định chế quyền sở hữu”. Chính hồ sơ quyền sở hữu tài sản là cái cố định các đặc trưng kinh tế của tài sản sao cho chúng có thể được dùng để bảo đảm đối với các giao dịch thương mại và tài chính, và cuối cùng để cung cấp lý lẽ mà dựa vào đó các ngân hàng trung ương phát hành tiền. Để tạo tín dụng và đầu tư, cái cản trở người dân không phải là bản thân tài sản, mà là những biểu thị quyền sở hữu của chúng – các chứng thư hoặc các cổ phần được đăng ký – bị điều chỉnh bởi các quy tắc có thể được thực thi trên toàn quốc. Tiền không kiếm được tiền. Bạn cần một quyền sở hữu trước khi bạn có thể kiếm tiền. Thậm chí nếu bạn cho vay tiền, cách duy nhất bạn có thể kiếm tiền được tiền bởi chính đồng tiền đó bằng việc cho vay hoặc đầu tư dựa trên một loại hồ sơ quyền sở hữu xác định các quyền của bạn đối với tiền gốc và lãi. Xin nhắc lại: tiền giả định trước quyền sở hữu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.