Bí ẩn của vốn – Phần III


Bất kể tài sản nào mà các khía cạnh kinh tế và xã hội của nó không được xác định trong một hệ thống quyền sở hữu chính thức thì rất khó tham gia thị trường. Làm sao có thể kiểm soát được lượng tài sản khổng lồ trong một nền kinh tế thị trường hiện đại, nếu không thông qua hình thức quyền sở hữu chính thức? Không có một hệ thống như vậy, bất kể việc mua bán một tài sản nào, ví dụ một bất động sản, sẽ đòi hỏi nỗ lực to lớn chỉ để xác định những căn cứ giao dịch: có thật người bán là chủ của bất động sản và có quyền bán nó không? Liệu người chủ mới có được những người thực thi quyền sở hữu chấp nhận là như vậy không? Các phương tiện hữu hiệu để loại trừ những người khác đòi quyền lợi là gì? Ở các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây, rất khó trả lời những câu hỏi như vậy. Đối với hầu hết hàng hóa, không có nơi nào các câu trả lời được xác định một cách tin cậy. Đó là lý do vì sao việc bán hoặc cho thuê một căn nhà có thể kéo theo các thủ tục chấp thuận dài dòng và rối rắm liên quan đến tất cả hàng xóm. Đây thường là cách duy nhất để xác minh rằng, người chủ thực sự làm chủ căn nhà và không còn ai khác có đòi hỏi về nó. Đó cũng là lý do vì sao sự chuyển nhượng của hầu hết tài sản ở các nước không thuộc phương Tây lại bị hạn chế chỉ trong giới bạn hàng kinh doanh địa phương.

Như chúng ta đã thấy, vấn đề chủ yếu của các nước này không phải là thiếu tinh thần kinh doanh: những người nghèo đã tích tụ hàng ngàn tỷ đôla bất động sản trong 40 năm qua. Cái những người nghèo thiếu là khả năng tiếp cận dễ dàng đến các cơ chế quyền sở hữu có thể cố định một cách hợp pháp tiềm năng kinh tế của các tài sản của họ; làm sao họ có thể dùng chúng để tạo ra, bảo đảm, hoặc bảo lãnh giá trị lớn hơn trong thị trường được mở rộng. Ở phương Tây, mọi tài sản – mọi mảnh đất, mọi căn nhà, mọi bất động sản – đều được xác định một cách chính thức trong các hồ sơ được cập nhật và được quản lý bởi các quy tắc của hệ thống quyền sở hữu. Mọi sự gia tăng sản xuất, mọi tòa nhà mới, sản phẩm mới, hoặc thứ gì mới có giá trị thương mại đều thuộc sở hữu chính thức của ai đó. Thậm chí, tài sản thuộc về một công ty, vẫn có những người thật sự sở hữu chúng một cách gián tiếp, thông qua các chứng thư chứng nhận rằng họ sở hữu công ty với tư cách là “các cổ đông”.

Giống như năng lượng điện, vốn sẽ không được tạo ra nếu thiếu khâu then chốt duy nhất có khả năng tạo ra và cố định nó. Cũng như cái hồ cần nhà máy thủy điện để tạo ra năng lượng khả dụng, các tài sản cần một hệ thống quyền sở hữu chính thức để tạo ra giá trị thặng dư đáng kể. Không có quyền sở hữu chính thức để chiết xuất tiềm năng kinh tế và biến đổi nó thành một dạng có thể vận chuyển, kiểm soát được một cách dễ dàng, thì các tài sản của các nước thế giới thứ ba và XHCN trước đây cũng giống như nước trong một hồ cao trên dãy núi Andes – một kho năng lượng tiềm tàng chưa được khai thác.

Vì sao căn nguyên của vốn lại trở nên bí ẩn như vậy? Vì sao các quốc gia giàu có của thế giới, với những lời khuyên kinh tế quá ngắn ngủi, lại không giải thích quyền sở hữu chính thức cần thiết đến thế nào cho việc hình thành vốn? Câu trả lời là, cực kỳ khó mường tượng ra quá trình nằm trong hệ thống quyền sở hữu chính thức, cái có thể phân các tài sản thành tư bản. Nó được che giấu trong hàng ngàn đoạn luật, chế độ, quy chế, và các định chế điều khiển hệ thống. Bất kể ai bị sa vào một bãi lầy pháp lý như vậy đều sẽ quá bận rộn để có thể hình dung ra quá trình thực sự vận hành ra sao. Cách duy nhất để xem xét nó là từ bên ngoài hệ thống – từ khu vực ngoài pháp luật – nơi các cộng sự của tôi và tôi tiến hành hầu hết công việc của mình.

Cho đến nay, tôi xem xét luật pháp từ góc nhìn ngoài pháp luật, để hiểu rõ hơn nó hoạt động như thế nào và tác dụng nó gây ra là gì. Đây là điều không đến nỗi điên rồ như nó có vẻ. Như triết gia Pháp, Michel Foucault, đã lập luận, có thể dễ khám phá ra cái gì đó có ý nghĩa gì bằng cách xem xét nó từ phía ngược lại. Foucault viết, “Để khám phá ra xã hội chúng ta hiểu tỉnh táo có nghĩa là gì”, “có lẽ chúng ta phải khảo sát cái gì xảy ra đối với sự điên rồ. Và chúng ta hiểu hợp pháp có ý nghĩa gì trong lĩnh vực bất hợp pháp”. Hơn thế, quyền sở hữu, giống như năng lượng, là một khái niệm; không thể cảm nhận được một cách trực tiếp. Năng lượng thuần túy không bao giờ có thể thấy hay cầm nắm được. Không ai có thể thấy quyền sở hữu. Chỉ có thể cảm nhận năng lượng và quyền sở hữu thông qua những tác dụng của chúng.

Theo góc nhìn từ khu vực ngoài pháp luật, tôi đã thấy rằng hệ thống quyền sở hữu chính thức của phương Tây có sáu tác dụng cho phép các công dân của họ tạo ra vốn. Sự bất lực của những nơi khác trên thế giới trong việc tạo ra vốn bắt nguồn từ sự thực là hầu hết dân chúng ở các nước thế giới thứ ba và XHCN trước đây bị tách khỏi những tác dụng cơ bản này.

Tác dụng số 1 của quyền sở hữu: xác định tiềm năng kinh tế của tài sản

Giá trị tiềm tàng trong căn nhà có thể được giải phóng và chuyển đổi thành vốn năng động theo đúng như cách thế năng trong một hồ nước ở trên núi được xác định và sau đó chuyển đổi thành năng lượng thực tế. Trong cả hai trường hợp, việc chuyển đổi từ một trạng thái này sang một trạng thái khác cần đến một quá trình chuyển đối tượng vật lý sang một thế giới biểu trưng nhân tạo, trong đó chúng ta có thể thoát khỏi những ràng buộc vật chất phiền toái của đối tượng và chỉ tập trung vào tiềm năng của nó.

Vốn sinh ra qua sự thể hiện bằng văn tự – trong một chứng thư, một hợp đồng, và trong các hồ sơ khác tương tự – thể hiện những khía cạnh kinh tế và xã hội hữu ích nhất về tài sản, so với vẻ bề ngoài dễ nhận biết bằng mắt hơn của tài sản. Đây là nơi giá trị tiềm tàng lần đầu được mô tả và đăng ký. Thời điểm bạn tập trung chú ý vào chứng thư sở hữu, ví dụ, của một căn nhà, chứ không phải vào bản thân căn nhà, chính là thời điểm bạn đã bước từ thế giới vật chất sang thế giới khái niệm nơi vốn sinh sống. Bạn đang xem xét biểu hiện đại diện, chỉ tập trung sự chú ý của bạn vào tiềm năng kinh tế của căn nhà, bằng cách lọc bỏ tất cả những nét sáng và vết tối gây rối của các khía cạnh vật lý và vùng xung quanh lân cận của nó. Quyền sở hữu chính thức buộc bạn phải nghĩ về căn nhà như một khái niệm kinh tế và xã hội. Nó khuyến khích bạn nhìn căn nhà không chỉ như là nơi lưu trú đơn thuần – và như thế là một tài sản chết – mà nhìn nó với tư cách là vốn năng động.

Sự chứng minh rằng quyền sở hữu chỉ là một khái niệm thuần túy xảy ra khi một ngôi nhà được đổi chủ; không có gì thay đổi về mặt vật lý. Nhìn vào một căn nhà sẽ không cho ta biết ai sở hữu nó. Một căn nhà là của bạn hôm nay nhìn hoàn toàn chính xác như hôm qua khi nó còn là của tôi. Nó được nhìn đúng như vậy bất luận tôi sở hữu nó, cho thuê nó hoặc bán nó cho bạn. Quyền sở hữu không phải là bản thân căn nhà mà là khái niệm kinh tế về căn nhà, được hiện thân trong một mô tả pháp lý. Điều này có nghĩa rằng, thể hiện quyền sở hữu chính thức là cái gì đó tách rời khỏi tài sản nó thể hiện.

Biểu diễn quyền sở hữu chính thức có cái gì cho phép chúng tạo thêm việc? Phải chăng chúng đơn giản chỉ là những diễn đạt thay cho các tài sản? Không. Tôi nhắc lại: một biểu hiện quyền sở hữu chính thức, ví dụ như một chứng thư sở hữu, không phải là một bản sao của cái nhà, như một bức ảnh, mà là một biểu hiện khái niệm của chúng ta về cái nhà. Đặc biệt, nó biểu hiện các đại lượng vô hình, nhưng cái có khả năng tạo ra giá trị. Những cái này không phải là đại lượng vật lý của bản thân cái nhà, mà thay vào đó là các đại lượng có ý nghĩa về mặt kinh tế và xã hội được con người gán cho cái nhà (ví dụ khả năng dùng nó cho các mục đích khác nhau được đảm bảo bằng các quyền lưu giữ, thế chấp, quyền sử dụng đất của người khác, và các điều quy ước khác).

Ở các quốc gia tiên tiến, sự thể hiện quyền sở hữu chính thức này oạt động như các công cụ để đảm bảo quyền lợi của các bên và tạo ra trách nhiệm giải trình bằng cách cung cấp tất cả thông tin, dẫn chiếu, quy tắc, và các cơ chế thực thi cần thiết. Ví dụ, ở phương Tây hầu hết quyền sở hữu chính thức có thể được sử dụng dễ dàng làm tài sản thế chấp cho một khoản vay; vốn cổ phần cho đầu tư; là địa chỉ cho việc thu các khoản nợ, lãi, và các khoản thuế; là địa điểm để nhận diện các cá nhân cho mục đích thương mại, pháp lý, hoặc dân sự; và như một cổng đáng tin cậy để tiếp nhận các dịch vụ công ích như năng lượng, nước, nước thải, điện thoại, hoặc các dịch vụ cáp. Trong khi các căn nhà ở các quốc gia tiên tiến hoạt động như những nơi cư trú hoặc chỗ làm việc, những biểu hiện của chúng có một cuộc sống song song, thực hiện một loạt các chức năng thêm nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên.

Như vậy, quyền sở hữu hợp pháp đã cho các nước phương Tây công cụ để tạo ra giá trị thặng dư vượt ra ngoài tài sản vật lý của nó. Những biểu diễn quyền sở hữu cho phép người ta nghĩ về tài sản không chỉ thông qua sự nhận biết vật lý, mà còn thông qua mô tả những đại lượng kinh tế và xã hội tiềm ẩn của chúng. Cho dù có chủ đích hay không, hệ thống pháp lý về quyền sở hữu đã trở thành cầu thang dẫn các quốc gia này từ thế giới của các tài sản ở trạng thái tự nhiên của chúng sang thế giới khái niệm của tư bản, nơi các tài sản có thể được nhìn nhận một cách đầy đủ trong tiềm năng hữu ích của chúng.

Với quyền sở hữu hợp pháp, các quốc gia tiên tiến phương Tây có chìa khóa cho sự phát triển hiện đại; các công dân của họ giờ đây đã có các phương tiện để khám phá, với khả năng to lớn và trên cơ sở liên tục, những đại lượng hữu ích có tiềm năng nhất trong các nguồn lực của họ. Như Aristotle đã phát hiện ra 2300 năm trước đây, cái ta có thể làm các thứ tăng lên vô tận khi ta tập trung suy nghĩ của mình vào tiềm năng của chúng. Bằng cách cố định tiềm năng kinh tế của các tài sản của mình thông qua hồ sơ quyền sở hữu, những người phương Tây đã tạo ra một đường đi nhanh để khai phá các khía cạnh hữu ích nhất của vật sở hữu của họ. Quyền sở hữu chính thức đã trở thành cầu thang dẫn tới địa hạt khái niệm, nơi ý nghĩa kinh tế của mọi vật có thể được khám phá và là nơi tư bản sinh ra.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Bí ẩn của vốn – Phần II


Quan niệm này – rằng vốn trước tiên là một khái niệm trừu tượng và phải được thể hiện trong một dạng được cố định, hữu hình để trở nên hữu ích – cũng quen thuộc đối với các nhà kinh tế học cổ điển khác. Vào thế kỷ XIX, nhà kinh tế học Thụy Sĩ, Simonde de Sismondi, đã viết rằng, vốn là “một giá trị lâu dài, cái được nhân lên và không tàn lụi… Bây giờ giá trị này tự tách khỏi sản phẩm tạo ra nó, trở thành một đại lượng siêu hình và phi thực thể luôn luôn nằm trong sự chiếm hữu của bất kể ai tạo ra nó, mà đối với họ giá trị này có thể được cố định ở các dạng khác nhau”. Nhà kinh tế học người Pháp vĩ đại, Jean Baptiste Say, đã tin rằng “về bản chất vốn luôn là phi vật chất vì không phải vật chất tạo ra vốn mà là giá trị của vật chất ấy, giá trị không có cái hữu hình”. K. Marx đồng ý với quan điểm này; đối với ông, một chiếc bàn có thể được làm bằng vật liệu nào đó, như gỗ “nhưng ngay khi nó trở thành một hàng hóa, nó chuyển thành cái gì đó siêu việt. Nó không chỉ đứng trên những cái chân của nó trên mặt đất, mà trong quan hệ với tất cả các hàng hóa khác, nó đứng trên đầu của nó, và phát triển ra ngoài các ý tưởng kỳ cục trong đầu óc gỗ của nó, kỳ diệu hơn nhiều so với chuyển động của bàn do thế lực siêu nhiên từng gây ra.

Lịch sử đã bỏ sót ý nghĩa quan trọng này của vốn. Vốn bây giờ bị lẫn lộn với tiền, cái chỉ là một trong nhiều dạng vận động của tư bản. Thường là dễ nhớ một khái niệm khó qua những biểu hiện hữu hình của nó, hơn là cái cốt lõi của khái niệm. Trí óc quấn chặt với “tiền” dễ hơn là “vốn”. Nhưng là một sai lầm khi giả thiết rằng tiền là cái cuối cùng cố định tư bản. Như Adam Smith đã chỉ ra, tiền là “cái bánh xe vĩ đại của trao đổi”, nhưng nó không phải là vốn bởi vì giá trị “không nằm trong các đống kim loại ấy”. Nói cách khác, tiền làm cho các giao dịch thuận tiện, cho phép chúng ta mua và bán các thứ, nhưng bản thân nó không phải là nguồn gốc tăng thêm sản xuất. Như A. Smith đã nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại, “tiền vàng và bạc, cái được luân chuyển trong bất cứ nước nào, có thể được so sánh một cách rất thích hợp với đường cao tốc, cái mà, trong khi nó luân chuyển và mang ra thị trường tất cả cỏ và ngũ cốc của đất nước, bản thân nó không tạo ra một khối lượng nào của hai thứ đó”.

Đa số sự bí ẩn về vốn tiêu tan ngay khi bạn ngừng nghĩ về vốn như là một từ đồng nghĩa với “tiền được tiết kiệm và đầu tư”. Tôi cho có sự hiểu lầm, rằng chính tiền là cái cố định vốn, là bởi vì việc trao đổi buôn bán diễn ra dưới hình thức cao hơn nên giá trị của vốn được thể hiện bằng tiền. Thực chất, rất khó ước lượng tổng giá trị của một tập hợp các tài sản dưới các dạng rất khác nhau, như máy móc, nhà cửa, và đất đai, mà không sử dụng đến tiền. Xét cho cùng, đó chính là lý do tại sao tiền đã được sáng chế ra; nó cung cấp một chỉ số chuẩn để đo lường giá trị của các thứ sao cho chúng ta có thể trao đổi các tài sản không giống nhau. Nhưng dù có hữu ích đến đâu thì tiền không thể ấn định bằng bất cứ cách nào tiềm năng trừu tượng của một tài sản cụ thể nào đó để chuyển đổi nó thành vốn. Các quốc gia thế giới thứ ba và XHCN trước đây bị tai tiếng vì việc làm lạm phát nền kinh tế của họ bằng tiền – trong khi không có khả năng tạo ra nhiều vốn.

Năng lượng tiềm tàng trong các tài sản

Cái gì xác định tiềm năng của tài sản để nó có thể tạo thêm một quá trình sản xuất? Cái gì tách giá trị ra khỏi một căn nhà bình thường và cố định nó theo cách cho phép chúng ta nhận ra nó như là vốn?

Chúng ta có thể tìm một lời giải đáp tương tự như năng lượng. Hãy xem xét một cái hồ trên núi. Chúng ta có thể nghĩ về cái hồ này theo nghĩa vật lý trực tiếp của nó và thấy một số tác dụng ban đầu của nó, như bơi thuyền và đánh cá. Nhưng khi chúng ta nghĩ đúng về cái hồ này, như một kỹ sư, bằng cách tập trung vào khả năng tạo năng lượng của nó như là một giá trị thêm vào ngoài trạng thái tự nhiên của một hồ nước, sẽ thấy thế năng được tạo ra bởi cao độ của hồ. Thách thức đối với người kỹ sư là tìm ra một quá trình cho phép anh ta chuyển đổi và cố định tiềm năng này trong một dạng có thể sử dụng được để làm thêm việc khác. Trong trường hợp cái hồ nằm trên cao này, quá trình đó diễn ra ở một nhà máy thủy điện, cho phép nước hồ chảy nhanh xuống dưới tác dụng của lực hấp dẫn; và như thế chuyển thế năng bình yên của hồ thành động năng của dòng nước cuồn cuộn chảy. Rồi động năng mới này có thể làm quay các turbin tạo ra cơ năng, cái có thể dùng để quay các nam châm điện tử, rồi tiếp tục chuyển nó thành điện năng. Dưới dạng điện năng, thế năng yên bình của hồ bây giờ được cố định ở dạng cần thiết để tạo ra dòng điện có thể điều khiển được, tiếp tục truyền tải qua các đường dây đến những nơi xa xôi tham gia vào quá trình sản xuất mới.

Như vậy, một cái hồ bình lặng có thể được dùng để thắp sáng phòng của bạn và cung cấp điện cho máy móc của một nhà máy. Điều cần thiết ở đây là quá trình nhân tạo từ bên ngoài cho phép chúng ta, trước hết, nhận diện ra khả năng từ sức nặng của nước để làm thêm việc khác và, thứ hai, chuyển thế năng này thành điện năng, cái có thể dùng để tạo thêm giá trị. Giá trị tăng thêm nhận được từ cái hồ không phải là giá trị của bản thân cái hồ (như một loại quặng quý hiếm trong trái đất) mà như là một giá trị của quá trình nhân tạo nằm ngoài cái hồ. Chính quá trình này cho phép chuyển đổi cái hồ từ nơi chỉ bơi thuyền và đánh cá thành nơi sản xuất năng lượng.

Vốn, giống như năng lượng, cũng là một giá trị đang nằm ngủ. Đưa vốn vào cuộc sống đòi hỏi phải đi xa hơn việc nhìn các loại tài sản như chúng đang tồn tại, mà phải suy nghĩ một cách năng động về tiềm năng của chúng. Điều này đòi hỏi một quá trình có khả năng được định hình tiềm năng kinh tế của tài sản thành một có thể được dùng để tạo thêm quá trình sản xuất.

Mặc dù mọi người đều biết đến quá trình chuyển đổi thế năng của nước thành điện năng, nhưng không ai biết về quá trình tạo cho tài sản các dạng cần thiết để làm ra thêm quá trình sản xuất. Nói cách khác, trong khi chúng ta biết rằng chính cửa cống, turbin, máy phát điện, biến thế và đường dây của hệ thống thủy điện là những cái chuyển đổi thế năng của hồ cho đến khi nó được cố định ở một dạng có thể tiếp cận được, song chúng ta lại không biết phải tìm ở đâu quá trình then chốt để chuyển tiềm năng kinh tế của một căn nhà thành vốn.

Điều này là do quá trình then chốt đó đã không được thiết lập nhằm tạo vốn, mà cho mục đích đơn giản là bảo vệ quyền sở hữu. Khi hệ thống sở hữu của các quốc gia phương Tây phát triển, chúng đã tạo ra, một cách không thể cảm nhận được, các cơ chế đa dạng, những cái dần dần kết hợp lại thành một quá trình tạo vốn ồ ạt chưa từng thấy trước đây. Mặc dù lúc nào cũng dùng các cơ chế này, nhưng chúng ta không nhận ra rằng chúng có chức năng tạo vốn bởi vì chúng không mang cái nhãn ấy. Chúng ta xem chúng như những bộ phận của hệ thống bảo vệ quyền sở hữu, chứ không như các cơ chế đan khớp vào nhau để định dạng tiềm năng kinh tế của tài sản theo cách cho phép tiềm năng ấy có thể chuyển đổi thành vốn. Nói cách khác, cái tạo ra vốn ở phương Tây là một quá trình ngầm ẩn được chôn vùi trong những điều rối rắm của hệ thống quyền sở hữu chính thức…

Quá trình chuyển đổi bên trong của phương Tây

Quá trình này có thể như quá đơn giản hoặc quá phức tạp. Nhưng hãy xem liệu các tài sản có khả năng được sử dụng một cách có hiệu quả không, nếu chúng không thuộc về cái gì đó hoặc ai đó. Chúng ta xác nhận sự tồn tại của những tài sản này và những giao dịch chuyển đổi chúng, và làm tăng hiệu suất của chúng ở đâu, nếu không phải trong bối cảnh của một hệ thống quyền sở hữu chính thức? Chúng ta ghi chép các đặc tính kinh tế quan trọng của các tài sản vào đâu, nếu không phải vào các hồ sơ và các chứng thư mà hệ thống quyền sở hữu chính thức cung cấp? Các quy tắc cư xử để điều chỉnh việc sử dụng và chuyển nhượng các tài sản nằm ở đâu, nếu không phải khuôn khổ của hệ thống quyền sở hữu chính thức cung cấp? Các quy tắc cư xử để điều chỉnh việc sử dụng và chuyển nhượng các tài sản nằm ở đâu, nếu không phải trong khuôn khổ của hệ thống quyền sở hữu chính thức? Chính quyền sở hữu chính thức là cái cung cấp các quá trình, hình thức, và các quy tắc để cố định các tài sản trong một trạng thái cho phép chúng ta nhận ra chúng như vốn năng động.

Ở phương Tây, hệ thống quyền sở hữu chính thức này bắt đầu chuyển hóa các tài sản thành tư bản bằng cách mô tả và sắp xếp các khía cạnh hữu ích về mặt kinh tế và xã hội của các tài sản, lưu trữ thông tin này trong một hệ thống hồ sơ – như ghi chèn vào sổ cái trong hồ sơ giấy hoặc vào đĩa máy tính – và sau đó thể hiện chúng trong một chứng thư sở hữu. Toàn bộ quá trình này được điều khiển bởi một tập hợp các quy tắc pháp lý chi tiết và chính xác. Như vậy, các hồ sơ quyền sở hữu chính thức và các chứng thư sở hữu thể hiện cách hiểu chung của chúng ta về cái gì là cái có ý nghĩa về mặt kinh tế đối với bất kể tài sản nào. Chúng thâu tóm và thiết lập tất cả thông tin quan trọng cần thiết để khái niệm hóa giá trị tiềm năng của một tài sản và cho phép chúng ta kiểm soát nó. Quyền sở hữu là lĩnh vực chúng ta nhận diện và thăm dò các tài sản, kết hợp chúng, và kết nối chúng với các tài sản khác. Hệ thống quyền sở hữu chính là nhà máy thủy điện của tư bản. Đây là nơi vốn sinh ra.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của vốn – Phần I


Ý nghĩa của thế giới phải nằm ngoài thế giới. Trên thế giới mọi thứ tồn tại như là nó vậy và xảy ra như nó phải xảy ra. Như thế thì không tồn tại giá trị – và giả như có, nó cũng sẽ không có ý nghĩa gì.

Nếu có giá trị mang ý nghĩa, thì nó phải nằm ngoài mọi cái đang xảy ra và hiện tại. Do mọi biến cố và sự sống là tình cờ.

Cái làm cho nó không tình cờ không thể nằm trong thế giới, bởi nếu không điều này sẽ lại là tình cờ.

Nó phải nằm ngoài thế giới.

Ludwig Wittgenstein, Tractatus Logico – Philosophicus

Lang thang trên những con đường ở Trung Đông, Liên Xô trước đây, hoặc ở Mỹ Latinh, và bạn sẽ thấy nhiều thứ: những căn nhà dùng làm nơi ở, các thửa ruộng được canh tác, trồng trọt, gieo hạt và thu hoạch, hàng hóa được mua và bán. Tài sản ở các nước đang phát triển và XHCN trước đây chủ yếu phục vụ cho các mục đích vật chất trực tiếp này. Tuy nhiên, ở phương Tây, cũng chính những tài sản ấy có một cuộc sống song song với tư cách là tư bản nằm bên ngoài thế giới vật chất. Chúng có thể được dùng để khởi động sản xuất nhiều hơn, bằng cách bảo đảm lợi ích của các bên khác, ví dụ, với tư cách “tài sản bảo đảm” cho một văn tự thế chấp, hoặc bằng cách tài sản bảo đảm cho các duạng khác của tín dụng và tiện ích công.

Vì sao nhà và đất ở những nơi khác trên thế giới lại không thể có cuộc sống song hành này? Vì sao các nguồn lực khổng lồ mà chúng ta đã nói tới – 9,3 nghìn tỷ USD vốn chết – lại không thể tạo giá trị vượt ngoài trạng thái “tự nhiên” của chúng? Câu trả lời của tôi là, vốn chết tồn tại bởi vì chúng ta đã quên (hay có lẽ chưa bao giờ nhận ra) rằng việc chuyển đổi một tài sản vật chất để tạo vốn – ví dụ, dùng nhà của chúng ta để vay tiền tài trợ cho một doanh nghiệp – đòi hỏi một quá trình rất phức tạp. Nó không khác gì quá trình mà Einstein đã dạy chúng ta rằng, có thể làm cho một viên gạch đơn lẻ giải phóng một số năng lượng khổng lồ dưới dạng một vụ nổ nguyên tử. Tương tự, vốn là kết quả sự khám phá và giải phóng năng lượng tiềm tàng từ hàng nghìn tỷ viên gạch mà những người nghèo đã tích cóp  trong các ngôi nhà của họ.

Tuy vậy, có một sự khác biệt cơ bản giữa việc giải phóng năng lượng từ một viên gạch và giải phóng vốn từ các tòa nhà xây bằng gạch: mặc dù nhân loại (hoặc ít nhất một nhóm lớn các nhà khoa học) đã làm chủ một cách thành thạo quá trình tạo ra năng lượng từ vật chất, chúng ta dường như đã quên quá trình tạo ra vốn từ các tài sản. Kết quả là 80% của thế giới có mức độ vốn hóa thấp; người dân không thể sử dụng cuộc sống kinh tế của nhà cửa (hoặc bất kể tài sản nào) của họ để tạo ra vốn. Tồi tệ hơn, các quốc gia tiên tiến dường như không có khả năng dạy họ. Vì sao có thể làm cho các tài sản tạo vốn dồi dào ở phương Tây nhưng lại tạo ra rất ít ở phần còn lại của thế giới hiện còn là một điều bí ẩn.

Những manh mối từ quá khứ (từ A. Smith đến K. Marx)

Để làm sáng tỏ bí ẩn của vốn, chúng ta phải quay lại ý nghĩa hai mặt của từ này. Trong tiếng Latinh trung cổ, “capital – vốn (tư bản)” dường như đề cập đến số đầu gia súc hoặc vật nuôi khác, những thứ đã luôn luôn là nguồn quan trọng của sự giàu có, vượt quá ý nghĩa lượng thịt cơ bản mà chúng cung cấp. Việc duy trì sở hữu đối với vật nuôi tốn ít chi phí; chúng dễ chuyển động và có thể di chuyển khỏi mối nguy hiểm; chúng cũng dễ đếm và đo lường. Nhưng quan trọng nhất là, từ vật nuôi có thể nhận được thêm của cải, hoặc giá trị thặng dư, bằng cách tiến hành các ngành nghề khác, bao gồm sữa, da, len, thịt và chất đốt. Vật nuôi cũng có một tính chất hữu ích là có khả năng sinh sản. Như vậy, thuật ngữ “capital – vốn (tư bản)” đề cấp đến hai việc cùng một lúc, thể hiện được khía cạnh vật chất của các tài sản (vật nuôi) cũng như khả năng tạo giá trị thặng dư của chúng. Từ sân nuôi gia súc chỉ còn một bước ngắn để đến bàn viết của các nhà phát minh kinh tế học, những người đã định nghĩa “vốn” là phần trong tài sản của một đất nước mà tạo ra giá trị thặng dư và làm tăng năng suất.

Các nhà kinh tế học cổ điển vĩ đại như Adam Smith và Karl Marx đã tin rằng vốn là động cơ cung cấp động lực cho nền kinh tế thị trường. Vốn được coi là phần chính yếu của kinh tế – nhân tố ưu việt (như các ý nghĩa cốt yếu trong các cụm từ tầm quan trọng tột bậc [capital importance], hình phạt tử hình [capital punishment], thủ đô [capital city] của một nước). Cái họ muốn hiểu, vốn là gì, nó được sinh ra và tích tụ thế nào. Bất luận bạn có đồng ý với các nhà kinh tế học cổ điển hay không, hoặc có thể coi họ là không phù hợp (có thể A. Smith đã không hiểu rằng Cách mạng Công nghiệp đang đến gần; có thể lý thuyết giá trị lao động của K. Marx không có ứng dụng thực tiễn nào), thì một điều chắc chắn rằng những nhà tư tưởng này đã tạo nên các dinh thự tư duy cao chót vót mà trên đó chúng ta đang đứng bây giờ và cố tìm hiểu xem vốn là gì, cái gì tạo ra nó, và vì sao các quốc gia không phải là phương Tây lại tạo ra nó ít đến như vậy.

Đối với A. Smith, chuyên môn hóa kinh tế – phân công lao động xã hội và tiếp đó là trao đổi sản phẩm trên thị trường – là nguồn của tăng năng suất và vì vậy là “sự giàu có của các quốc gia”. Cái làm cho chuyên môn hóa và trao đổi này có thể thực hiện được chính là tư bản, nó được A. Smith định nghĩa là lượng tài sản được tích tụ nhằm mục đích sản xuất. Các nghiệp chủ có thể dùng các nguồn lực tích tụ được của mình để hỗ trợ các doanh nghiệp chuyên môn hóa chừng nào họ có thể dùng các sản phẩm của mình để đổi lấy các thứ khác mà họ cần. Tư bản tích tụ được càng nhiều, thì càng có khả năng chuyên môn hóa hơn, và năng suất của xã hội sẽ càng cao hơn. K. Marx đồng ý; đối với ông, bản thân của cải mà chủ nghĩa tư bản sản xuất là một đống hàng hóa khổng lồ.

Adam Smith đã tin rằng hiện tượng tư bản là một hệ quả của sự tiến bộ tự nhiên của con người từ một xã hội săn bắn, chăn nuôi, và nông nghiệp sang một xã hội thương mại, trong đó, thông qua sự lệ thuộc lẫn nhau, sự chuyên môn hóa, và buôn bán, con người có thể tăng năng lực sản xuất của mình một cách vô cùng lớn. Tư bản trở thành ma lực làm tăng năng suất và tạo giá trị thặng dư. A. Smith đã viết: “Sản lượng công nghiệp, không chỉ tăng ở mọi nước do sự gia tăng của khối lượng tư bản, mà còn nhờ sự gia tăng ấy, cùng một khối lượng đầu vào có thể tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn hơn nhiều”.

Adam Smith đã nhấn mạnh một điểm có tính trung tâm của điều bí ẩn mà chúng ta cố gắng giải quyết: để các tài sản tích tụ được trở thành vốn hữu ích và tạo thêm sản phẩm, chúng phải được cố định lại và thể hiện trong một đối tượng cụ thể nào đó “cái mà tồn tại trong một khoảng thời gian ít nhất là sau khi lao động đã kết thúc. Nó là, như nó đã là, một lượng lao động nhất định được tích lũy và dự trữ để sử dụng, nếu cần, trong một dịp khác”. A. Smith cảnh báo rằng, la động dùng trong sản xuất ra các tài sản sẽ không để lại dấu vết nào hoặc giá trị nào nếu không được cố định một cách thích hợp.

Cái A. Smith thực sự muốn nói đến có thể là chủ đề đáng tranh luận. Tuy nhiên, điều mà tôi rút ra được từ nhận định của ông là vốn không phải là lượng tài sản tích tụ được, mà là khả năng nó chứa đựng để triển khai sản xuất mới. Tất nhiên, khả năng này là cái trừu tượng. Nó phải được xử lý và cố định lại trong một dạng hữu hình trước khi chúng ta có thể giải phóng nó – giống như năng lượng hạt nhân tiềm tàng trong viên gạch của Einstein. Không có một quá trình chuyển đổi – một quá trình chiết xuất và cố định năng lượng tiềm tàng chứa đựng trong viên gạch – thì không có vụ nổ; một viên gạch vẫn chỉ là một viên gạch. VIệc tạo ra vốn cũng đòi hỏi một quá trình chuyển đổi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Bí ẩn của thông tin bị bỏ sót – Phần cuối


Kết quả là nguồn lực của hầu hết người dân trở nên không thể nhìn thấy được về mặt thương mại và tài chính. Không ai thực sự biết ai sở hữu cái gì hoặc ở đâu, ai chịu trách nhiệm về sự thi hành các nghĩa vụ, ai chịu trách nhiệm về các tổn thất và gian lận, hoặc những cơ chế nào có sẵn để ép buộc việc chi trả cho các dịch vụ và những hàng hóa đã được giao. Hệ quả là, hầu hết các tài sản tiềm năng ở các nước này không được nhận diện ra hoặc không được hiểu rõ; có ít vốn khả dụng, và trao đổi kinh tế bị hạn chế và trì trệ.

Bức tranh về khu vực vốn hóa thấp này khác hẳn với sự hiểu biết thông lệ về thế giới đang phát triển. Nhưng đây chính là nơi mà hầu hết người dân sinh sống. Nó là thế giới mà quyền sở hữu tài sản khó theo dõi và hợp thức hóa, được điều chỉnh bởi các quy tắc không thể nhận biết là có hợp pháp hay không; nơi các thuộc tính kinh tế tiềm năng có ích của tài sản không được mô tả hoặc không được thể hiện; nơi chúng không thể được dùng để tạo giá trị thặng dư thông qua nhiều giao dịch, bởi vì bản tính chưa xác định và tính bất trắc của chúng gây ra quá nhiều khả năng hiểu lầm, thu hồi nhầm và phá bỏ thỏa thuận – nơi hầu hết tài sản, nói ngắn gọn, là vốn chết.

Vốn chết đáng giá bao nhiêu?

Vốn chết, thực sự có hàng núi, nằm khắp đường khắp phố của mọi nước đang phát triển và các nước XHCN trước đây. Ở Philippines, theo tính toán của chúng tôi, 57% dân thành thị và 67% dân nông thôn sống trong những căn nhà là vốn chết. Ở Peru, 53% dân thành thị và 81% dân nông thôn sống trong những ngôi nhà ngoài pháp luật.

Những con số này thậm chí còn bi thảm hơn ở Haiti và Ai Cập. Ở Haiti, cũng theo khảo sát của chúng tôi, 68% dân thành thị và 97% dân nông thôn sống trong các căn nhà mà không ai có chứng nhận sở hữu hợp pháp rõ ràng. Ở Ai Cập, nhà cửa là vốn chết chính là nơi ăn chốn ở cho 92% dân cư thành thị và 83% dân cư nông thôn.

Nhiều nhà ở loại này không đáng giá mấy theo các tiêu chuẩn phương Tây. Một ngôi nhà ổ chuột ở Port-au-Prince có thể chỉ bán được 500 USD, một cái chòi dựng trên kênh rạch bị ô nhiễm ở Manila chỉ có 2700 USD, một căn nhà khá chắc chắn ở một làng ngoại ô Cairo chỉ khoảng 5000 USD, và ở sườn đồi xung quanh Lima một căn nhà gỗ một tầng (bungalow) chỉnh tề với garage ôtô và những cửa sổ xinh xắn được đánh giá chỉ có 20.000 USD. Nhưng có rất nhiều nhà cửa như vậy, và tổng hợp lại giá trị của chúng vượt xa đáng kinh ngạc so với toàn bộ của cải của những người giàu.

Ở Haiti, tất cả các bất động sản không có chứng nhận sở hữu ở thành thị và nông thôn có giá trị khoảng 5,2 tỷ USD. Để hiểu con số này, nó bằng 4 lần tổng tài sản của tất cả các công ty hoạt động hợp pháp ở Haiti, bằng 9 lần tổng tài sản thuộc sở hữu của chính phủ, và bằng 158 lần giá trị của tất cả các khoản đầu tư nước ngoài được ghi chép trong lịch sử của Haiti cho đến năm 1995. Phải chăng Haiti là một ngoại lệ, một mảnh đất của châu Phi nói tiếng Pháp được đặt nhầm vào bán cầu Mỹ, nơi chế độ Duvalier đã làm chậm trễ sự xuất hiện của hệ thống pháp lý được hệ thống hóa? Có thể.

Hãy xem xét Peru, một đất nước có bản sắc Tây Ban Nha và da đỏ Mỹ với cơ cấu dân tộc và truyền thống khác nhau. Giá trị các bất động sản được nắm giữ ngoài pháp luật ở thành thị và nông thôn tại Peru lên đến khoảng 74 tỷ USD. Số này bằng 5 lần tổng giá trị của thị trường chứng khoán Lima trước khi sụp đổ năm 1998, lớn hơn 11 lần giá trị của các doanh nghiệp và cơ sở của chính phủ có khả năng được tư nhân hóa và bằng 14 lần tổng các khoản đầu tư nước ngoài theo văn bản trong suốt lịch sử của đất nước này. Liệu có thể phản ứng rằng nền kinh tế chính thức của Peru đã bị làm còi cọc bởi những truyền thống của Đế chế Inca lâu đời, bởi ảnh hưởng tham nhũng của thuộc địa Tây Ban Nha, và bởi chiến tranh vừa qua với lực lượng Sendero Luminoso theo chỉ nghĩa Mao?

Hãy xem Philippines, một nước châu Á trước đây là thuộc địa của Hoa Kỳ. Giá trị của các bất động sản không có chứng nhận sở hữu ở đó là 133 tỷ USD, bằng 4 lần giá trị tư bản hóa của 216 công ty nội địa được niêm yết trên thị trường chứng khoán Philippines, bằng 7 lần tổng các khoản tiền gửi ở các ngân hàng thương mại của nước này, bằng 9 lần tổng vốn của các doanh nghiệp nhà nước, và 14 lần giá trị của tất cả các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Có lẽ Philippines cũng là một trường hợp dị thường – có liên quan gì đó đến việc đạo Thiên Chúa đã phát triển ra sao ở các thuộc địa trước đây của Tây Ban Nha. Nếu vậy, hãy xem xét Ai Cập. Giá trị vốn chết trong bất động sản của Ai Cập, khi chúng tôi tiến hành kiểm đếm cùng các đồng nghiệp Ai Cập, là khoảng 240 tỷ USD. Con số này bằng 30 lần giá trị của tất cả các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Cairo và, như tôi đã nhắc tới trước đây, bằng 55 lần giá trị của tất cả các khoản đầu tư nước ngoài ở Ai Cập.

Trong mỗi nước chúng tôi đã tiến hành khảo sát, tài kinh doanh khéo léo của những người nghèo đã tạo ra của cải ở quy mô khổng lồ – lượng của cải cũng tạo thành nguồn lực vốn tiềm năng to lớn nhất cho phát triển. Những tài sản này không chỉ vượt xa tài sản của chính phủ, của các thị trường chứng khoán địa phương, và của đầu tư trực tiếp nước ngoài; mà chúng còn lớn hơn nhiều lần tất cả các khoản viện trợ từ các nước tiên tiến và tất cả các khoản cho vay của Ngân hàng Thế giới.

Những kết quả này thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn khi chúng tôi lấy các số liệu từ bốn nước mà chúng tôi đã khảo sát và trên cơ sở đó ước tính cho toàn bộ các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây. Chúng tôi ước tính khoảng 85% các mảnh đất đô thị ở các nước này, và khoảng từ 40 đến 53% các miếng đất ở nông thôn, được nắm giữ theo cách mà chúng không thể dùng để tạo tư bản. Việc định giá của các tài sản này chắc hẳn sẽ chỉ ở mức gần đúng. Nhưng chúng tôi tin tài sản này chắc hẳn sẽ chỉ ở mức gần đúng. Nhưng chúng tôi tin rằng ước lượng của chúng tôi ở mức chính xác nhất có thể và là khá thận trọng.

Theo những tính toán của chúng tôi, tổng giá trị của các bất động sản được những người nghèo nắm giữ nhưng không có sự sở hữu một cách hợp pháp ở các quốc gia thế giới thứ ba và xã hội chủ nghĩa trước đây ít nhất là 9,3 nghìn tỷ USD (xem Bảng 2.1).20161114-122023_p7

Đây là con số đáng suy ngẫm: 9,3 nghìn tỷ USD là bằng khoảng 2 lần tổng cung tiền lưu hành của Hoa Kỳ. Nó cũng gần bằng tổng giá trị của tất cả các công ty được niêm yết trên các thị trường chứng khoán chính của 20 nước phát triển nhất thế giới: New York, Tokyo, London, Frankfurt, Toronto, Paris, Milan, NASDAQ, và cả tá thị trường chứng khoán khác. Nó nhiều hơn 20 lần tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tất cả các nước thế giới thứ ba và XHCN trước đây trong 10 năm kể từ 1989 trở lại đây, bằng 46 lần tất cả các khoản cho vay của Ngân hàng Thế giới trong ba thập kỷ qua, và bằng 93 lần các khoản trợ giúp phát triển từ tất cả các nước tiên tiến cho thế giới thứ ba trong cùng thời gian đó.

Những mảnh đất kim cương

Cụm từ “đói nghèo quốc tế” rất dễ ghi vào tâm trí hình ảnh của những người ăn mày cơ cực nằm ngủ trên lề đường Calcutta và của những trẻ em châu Phi đang chết đói trên cát. Những cảnh này tất nhiên là thực, và hàng triệu đồng loại của chúng ta trên khắp thế giới đòi hỏi và đáng được chúng ta trợ giúp. Tuy nhiên, bức tranh tàn nhẫn nhất về thế giới thứ ba không phải là chính xác nhất. Tồi tệ hơn, nó kéo sự chú ra khỏi những thành tựu miệt mài của những doanh nhân nhỏ, những người đã chiến thắng mọi trở ngại có thể tưởng tượng nổi nhằm tạo ra phần của cải lớn hơn cho xã hội của họ.

Một bức tranh thật hơn có lẽ là mô tả một người đàn ông và một người đàn bà đã chịu khó tiết kiệm để xây một căn nhà cho họ và con cái của họ, tạo ra doanh nghiệp ở nơi mà không ai có thể tưởng tượng nổi chúng có thể được dựng lên. Tôi phẫn nộ phản đối lối mô tả những nghiệp chủ anh hùng như vậy như những người góp phần vào vấn đề nghèo đói toàn cầu.

Họ không phải là vấn đề. Họ chính là giải pháp.

Trong những năm sau nội chiến Mỹ, một nhà thuyết giảng có tên Russell Conwell đã đi khắp nước Mỹ đưa ra một thông điệp khuấy động hàng triệu con người. Ông kể một câu chuyện về một nhà buôn người da đỏ, người đã được một nhà tiên tri hứa rằng ông ta sẽ chắc chắn giàu có vượt mọi sự tưởng tượng nếu ông ta tìm kiếm được kho báu của mình. Ông nhà buôn đã đi khắp thế giới, cuối cùng quay về nhà đã già, buồn bã, và thất bại. Ngay khi bước vào lại căn nhà đã bỏ không của mình, ông muốn uống nước. Nhưng giếng trong mảnh đất của ông đã bị lấp đầy bùn. Một cách mệt mỏi, ông lấy chiếc mai và đào một cái giếng mới – và ngay lập tức ông đào phải Golconda, mỏ kim cương lớn nhất thế giới.

Thông điệp của Conwell là một thông điệp hữu ích. Các nhà lãnh đạo của các quốc gia thế giới thứ ba và XHCN trước đây không cần phải đến các bộ ngoại giao trên thế giới và các định chế tài chính để tìm kiếm vận may của mình. Ngay chính giữa những người hàng xóm nghèo nhất và các khu nhà ổ chuột của họ, sẵn có – nếu không phải là các mảnh đất kim cương – hàng nghìn tỷ USD, và có thể sẵn sàng được đưa vào sử dụng ngay nếu có thể làm sáng tỏ điều bí ẩn của việc làm sao chuyển các tài sản thành tư bản sống.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016

Bí ẩn của thông tin bị bỏ sót – Phần III


Khu vực có mức độ vốn hóa thấp

Theo quan điểm của luật, mặc dù những người di cư là những người tị nạn, họ hoàn toàn không phải vô công rồi nghề. Các khu vực có mức độ vốn hóa thấp ở khắp các nước thế giới thứ ba và XHCN trước đây đầy ắp các công việc nặng nhọc và khéo léo. Các cơ sở công nghiệp gia đình lề đường bung ra ở khắp nơi, sản xuất mọi thứ từ quần áo và giầy dép đến làm nhái đồng hồ Cartier và túi xác Vuitton. Có nhiều xưởng chế tạo và phục hồi máy móc, ôtô, thậm chí xe buýt. Những người nghèo thành thị đã tạo nên cả các ngành công nghiệp và các ngành liên quan hoạt động với những kết nối lén lút vào hệ thống điện và nước. Thậm chí có cả các nha sĩ hàn răng mà không có giấy phép.

Đây không chỉ là câu chuyện của những người nghèo phục vụ người nghèo. Tinh thần kinh doanh mới này bù đắp cho các lỗ hổng trong nền kinh tế chính thức. Những xe buýt, xe jitney và taxi không được phép lưu hành đã cung cấp phần lớn giao thông công cộng ở nhiều nước đang phát triển. Ở những nơi khác của thế giới thứ ba, những người giao hàng từ các khu phố ổ chuột tồi tàn (shantytow) cung cấp phần lớn thực phẩm sẵn có trên thị trường, bất luận bằng các xe kéo trên đường phố hay thông qua các quầy trong nhà của họ xây.

Năm 1993, Phòng Thương mại Mexico đã ước lượng có tới 150.000 quầy bán hàng rong tại quân Liên bang của thành phố Mexico, cộng thêm 293.000 quầy ở 43 trung tâm khác của Mexico. Các quầy nhỏ này trung bình chỉ có chiều ngang 1,5m. Nếu những người bán hàng rong ở thành phố Mexico xếp khít các quầy của họ với nhau, thì họ sẽ tạo ra một hàng dài hơn 210 km. Hàng ngàn, hàng vạn người làm việc trong khu vực pháp luật không cho phép – trên đường phố, trong nhà của họ, và trong các cửa hàng, văn phòng và nhà máy không có đăng ký củ thành phố. Năm 1994, nỗ lực của Cục Thống kê quốc gia Mexico nhằm đo lương số lượng các “doanh nghiệp cực nhỏ” không chính thức trong cả nước đã đưa ra con số 2,65 triệu doanh nghiệp.

Đây là những ví dụ có thực của đời sống kinh tế trong khu vực có mức độ vốn hóa thấp của xã hội. Ở các nước XHCN trước đây, thậm chí có thể thấy các hoạt động tinh vi hơn nhiều nằm ngoài sổ sách, từ sản xuất phần cứng và phần mềm máy tính đến chế tạo máy bay chiến đấu phản lực để bán ra nước ngoài.

Nước Nga, tất nhiên, có một lịch sử khác hẳn với các nước thế giới thứ ba như Haiiti và Philippines. Tuy nhiên, từ khi CNXH sụp đổ ở Liên Xô, các nước thuộc Liên Xô trước đây đã gặp phải những hình thái quyền sở hữu phi chính thức giống hệt như vậy. Năm 1995, Business Week nêu ra rằng, ở nước Nga, 4 năm sau sự sụp đổ của CNXH chỉ có “khoảng 280.000 trong số 10 triệu nông dân có sở hữu đất của họ”. Một báo cáo khác đưa ra bức tranh tương tự của thế giới thứ ba: “[ở các nước thuộc Liên Xô trước đây], các quyền tư nhân về chiếm hữu, sử dụng, và chuyển nhượng đất được xác định một cách không thỏa đáng và không được luật bảo vệ một cách rõ ràng… Các cơ chế được sử dụng trong nền kinh tế thị trường để bảo vệ quyền về đất đai, vẫn còn ở thời kỳ phôi thai… Bản thân nhà nước vẫn tiếp tục hạn chế các quyền sử dụng  trên đất mà nhà nước không sở hữu”. Các ước tính dựa trên cơ sở tiêu thụ điện cho thấy, giữa năm 1989 và năm 1994, hoạt động phi chính thức ở Liên Xô trước đây đã tăng từ 12 lên 37% trong tổng sản lượng. Một số người khác đưa ra số liệu thậm chí còn cao hơn.

Điều này không có gì lạ với những người không sống ở phương Tây. Chỉ cần mở cửa sổ hoặc bước lên taxi từ sân bay về khách sạn của bạn là có thể thấy vùng ngoại vi thành phố nhà cửa chen chúc với những đội quân bán hàng rong trên đường, có thể nhìn lướt qua các xưởng ồn ào sau cánh cửa garage, và các xe buýt hối hả lách dọc, lách ngang trên các đường phố bụi bặm. Hoạt động ngoài pháp luật thường được cho là một vấn đề “tầm thường”, tương tự như các thị trường chợ đen ở các quốc gia tiên tiến, hoặc đói nghèo, hoặc thất nghiệp. Khu vực ngoài pháp uật được nhìn nhận như là nơi của bọn gangster lang thang, những nhân vật xấu xa, mà chỉ có cảnh sát, các nhà nhân chủng học, và các nhà truyền giáo quan tâm đến.

Thực chất, tính hợp pháp mới là cái không đáng kể; còn tính không hợp pháp đã trở thành thông lệ. Những người nghèo đã kiểm soát khối lượng khổng lồ về bất động sản và sản xuất. Các cơ quan quốc tế cử chuyên viên của mình đến những tòa tháp kính bóng loáng tại khu sang trọng của thành phố để gặp gỡ “khu vực tư nhân” nội địa, thực chất mới chỉ nói chuyện được với một phần nhỏ bé của giới doanh nghiệp. Sức mạnh kinh tế to lớn của thế giới thứ ba và các nước XHCN trước đây nằm trong tay những người nhặt rác, các nhà sản xuất đồ gia dụng, và các công ty xây dựng bất hợp pháp nằm rất xa phía dưới. Sự lựa chọn duy nhất cho chính phủ của các quốc gia này là liệu họ sẽ tích hợp các nguồn lực đó vào một khuôn khổ pháp lý có nền nếp nhất quán, hay tiếp tục sống trong tình trạng hỗn loạn.

Có bao nhiêu vốn chết?

Hơn thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu của tôi, được các nhà chuyên môn am tường ở địa phương trợ giúp, đã itến hành điều tra 5 thành phố thế giới thứ ba – Cairo, Lima, Manila, Mexico City, và Port-au-Prince – trong một nỗ lực nhằm đo lường giá trị tài sản của những người bị loại ra khỏi nền kinh tế có mức độ vốn hóa cao vì các luật phân biệt đối xử. Để tin tưởng hơn vào các kết quả khảo sát, chúng tôi đã tập trung chú ý vào các tài sản hữu hình nhất và dễ phát hiện nhất: bất động sản.

Không giống như việc bán thức ăn và giày dép, sửa chữa ôtô, hoặc sản xuất đồng hồ Cartier giả – các hoạt động khó đo đếm và thậm chí còn khó đánh giá hơn – nhà cửa không thể giấy giếm được. Có thể xác định giá trị của chúng đơn giản bằng cách khảo sát chi phí các vật liệu xây dựng và theo dõi giá bán của những nhà cửa tương tự. Chúng tôi đã tốn hàng ngàn ngày để đếm nhà cửa ở từng khu. Ở những nơi được phép làm, chúng tôi đã công bố những kết quả của mình ở mỗi nước, như vậy chúng có thể được thảo luận và phê phán một cách công khai. Với sự hợp tác của những người tại hiện trường, chúng tôi đã kiểm tra và kiểm định lại các phương pháp và những kết quả của mình.

Chúng tôi phát hiện ra rằng, cách người dân xây dựng trong khu vực vốn hóa thấp cũng có nhiều dạng như số trở ngại pháp lý mà họ phải luồn lách, né tránh. Dạng rõ ràng nhất là xây nhà ổ chuột trên đất thuộc sở hữu nhà nước. Nhưng các nhà nghiên cứu của chúng tôi phát hiện ra những cách sáng tạo hơn nhiều để lách luật đất đai. Ví dụ, ở Peru, người dân lập các hợp tác xã nông nghiệp để mua ruộng đất của những người chủ cũ và chuyển chúng thành đất ở và đất công gnhiệp. Bởi không có cách hợp pháp dễ dàng để thay đổi sở hữu đất, nông dân trong các hợp tác xã sở hữu nhà nước đã chia đất một cách bất hợp pháp thành các miếng nhỏ và chiếm hữu chúng. Kết quả là, không mấy người có chứng nhận sở hữu đối với đất của họ. Ở Port-au-Prince, thậm chí những bất động sản khá đắt vẫn được trao tay mà không ai bận tâm đến việc thông báo cho cơ quan đăng ký, cơ quan mà đằng nào cũng bề bộn với đống giấy tờ chưa được giải quyết một cách vô vọng. Ở Manila, nhà ở mọc lên trên đất được dành riêng cho mục đích sử dụng công nghiệp. Ở Cairo, những người cư trú ở những nhà bốn tầng trong các đề án chung cư đã cơi thêm ba tầng một cách bất hợp pháp và bán các căn hộ đó cho họ hàng hay khách hàng khác. Cũng ở Cairo, những người thuê căn hộ hợp pháp, mà tiền thuê được cố định ở đầu những năm 1950 với giá nay chỉ còn ít hơn 1 USD 1 năm, đã chia các bất động sản này thành các căn hộ nhỏ hơn và cho thuê chúng với giá thị trường.

Một số nhà này là không hợp pháp ngay từ đầu, được xây dựng một cách phi pháp. Những ngôi nhà khác – các nhà ở Port-au-Prince, các căn hộ cho thuê được kiểm soát ở Cairo – có xuất xứ hợp pháp nhưng sau đó trở thành bất hợp pháp do việc tuân thủ pháp luật trở nên quá tốn kém và phức tạp. Bằng cách này hay cách khác, hầu hết mọi khu dân cư trong các thành phố mà chúng tôi đã khảo sát đều nằm ngoài hệ thống khung khổ pháp lý – chính các điều luật mà theo giả thuyết lẽ ra có thể cung cấp các hình thức biểu hiện của tài sản và các định chế nhằm tạo ra vốn. Ai đó vẫn có thể có các chứng thư hoặc một số loại bản ghi nào đó, nhưng tình trạng sở hữu thực tế của các tài sản này đã tuột khỏi hệ thống đăng ký chính thức, làm cho các bản ghi và bản đồ trở thành lỗi thời.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016

Bí ẩn của thông tin bị bỏ sót – Phần II


Nhóm nghiên cứu của tôi, với sự giúp đỡ của các cộng sự địa phương, đã lặp lại các thí nghiệm tương tự ở các nước khác. Những trở ngại cũng không kém phần kinh khủng so với Peru; thậm chí nhiều khi còn nản chí hơn. Ở Philippines, nếu một người đã xây chỗ ở tại một khu định cư trên đất đô thị hoặc thuộc sở hữu nhà nước hoặc thuộc sở hữu tư nhân, để mua nó một cách hợp pháp người ấy phải lập một hội với những người hàng xóm để có đủ tư cách tham gia chương trình tài trợ nhà ở của nhà nước. Toàn bộ quá trình này cần 168 bước, liên quan đến 53 cơ quan nhà nước hay tổ chức tư nhân và mất từ 13 đến 25 năm (xem Hình 2.2). Với giả thiết rằng, chương trình tài trợ nhà ở của nhà nước có đủ tiền. Nếu nhà ở đó nằm trong khu vực vẫn được coi là “nông nghiệp”, thì người định cư còn phải giải quyết thêm các trở ngại khác để chuyển miếng đất đó thành đất đô thị – thêm 45 thủ tục hành chính qua 13 tổ chức, cộng thêm 2 năm vào đề nghị của anh ta.

20161114-122023_p1

20161114-122023_p2

Tại Ai Cập, một người muốn tìm và đăng ký được một lô đất sa mạc thuộc sở hữu nhà nước phải đi qua ít nhất 77 thủ tục hành chính ở 31 cơ quan nhà nước hay tư nhân (xem Hình 2.3). Việc này mất từ 5 đến 14 năm. Để xây một chỗ hợp pháp trên đất trước đây là đất nông nghiệp, cần từ 6 đến 7 năm để thực hiện các thủ tục hành chính, có thể còn lâu hơn. Điều này giải thích vì sao 4,7 triệu người Ai Cập đã chọn cách xây dựng chỗ ở của họ một cách bất hợp pháp. Nếu sau khi đã xây xong nhà, người định cư quyết định muốn là công dân tuân thủ luật pháp và mua quyền đối với chỗ ở của mình, anh ta có thể phải chịu rủi ro là nhà bị phá hủy, phải trả một khoản phạt nặng, và chịu hình phạt có khi đến 10 năm tù.

20161114-122023_p3

20161114-122023_p4

Ở Haiti, cách một công dân bình thường có thể định cư hợp pháp trên đất của chính phủ là, đầu tiên thuê nó từ chính phủ trong 5 năm và sau đó mua lại. Làm việc với các cộng sự ở Haiti, nhóm nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy rằng, để được thuê như vậy cần 65 bước hành chính – đòi hỏi, xét trung bình, hơn 2 năm một chút – tất cả chỉ để có được đặc ân thuê đất trong vỏn vẹn có 5 năm. Để mua miếng đất ấy cần vượt qua 111 rào cản về thủ tục hành chính khác – và 12 năm (xem Hinh 2 – 4). Tổng thời gian để có đất hợp pháp ở Haiti: 19 năm. Song, sự thử thách lâu dài này thậm chí không đảm bảo rằng tài sản là hợp pháp.

Thực chất, ở tất cả các nước chúng tôi đã nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng, để lưu trú hợp pháp cũng khó gần bằng trở thành hợp pháp. Chắc hẳn là, những người di cư không xâm phạm luật bằng xâm phạm họ – và họ quyết định tham gia vào hệ thống. Năm 1976, hai pah62n ba số người ở Venezuela làm tại các doanh nghiệp hợp pháp; ngày nay tỷ lệ này ít hơn một nửa. Ba mươi năm trước đây, hơn hai phần ba số nhà mới xây ở Brazil là để cho thuê. Ngày nay, chỉ khoảng 3% nhà xây mới là đăng ký chính thức làm nhà cho thuê. Thị trường đó đã biến đi đâu? Chính là sang các khu ngoài vòng luật pháp của các thành phố ở Brazil, những khu được gọi là favelas, chúng hoạt động ngoài nền kinh tế chính thức được điều tiết ở mức độ cao và hoạt động theo cung và cầu. Hoạt động cho thuê ở favelas không bị kiểm soát; tiền thuê được trả bằng đôla Mỹ, và những người đi thuê nếu không trả được tiền sẽ bị đuổi đi một cách nhanh chóng.

Một khi những người mới đến thành thị này rời khỏi hệ thống, họ trở thành “người ngoài vòng pháp luật – extralegal”. Lựa chọn duy nhất của họ là sống và làm việc ngoài phạm vi của luật chính thức, sử dụng những thỏa thuận ràng buộc phi chính thức của riêng họ để bảo vệ và huy động tài sản của họ. Những thỏa thuận này là kết quả kết hợp giữa các quy tắc được vay mượn có chọn lọc từ hệ thống pháp lý chính thức, từ những ngẫu hứng nhất thời, và từ các tập quán mang nguyên quán hoặc được nghĩ ra ở địa phương. Họ được gắn kết với nhau bởi một khế ước xã hội, cái được toàn cộng đồng ủng hộ, và được thực thi bởi các nhà lãnh đạo được cộng đồng lựa chọn. Các khế ước xã hội ngoài pháp luật này đã tạo ra một khu vực đầy sức sống nhưng có mức vốn hóa thấp, điểm trung tâm của thế giới nghèo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016

Bí ẩn của thông tin bị bỏ sót – Phần I


Qua thời gian, kinh tế học ngày càng trở nên trừu tượng và xa rời các sự kiện trong thế giới thực. Các nhà kinh tế, nói chung, không nghiên cứu sự hoạt động của hệ thống kinh tế thực. Họ lý thuyết hóa về nó. Như Ely Devons, một nhà kinh tế người Anh, đã từng nói trong một cuộc họp, “Nếu các nhà kinh tế muốn nghiên cứu con ngựa, họ sẽ không đi và xem ngựa. Họ ngồi trong các phòng nghiên cứu của họ và nói với chính mình, “Tôi sẽ làm gì nếu giả như tôi là một con ngựa?””.

Ronald H. Coase, The Task of the Society

Hãy tưởng tượng ở một nước mà không ai có thể xác định ai sở hữu cái gì, các địa chỉ không thể được xác minh một cách dễ dàng, không thể buộc ngời dân trả những khoản nợ của họ, các nguồn lực không thể chuyển một cách thuận tiện thành tiền, quyền sở hữu không thể được chia thành cổ phần, hình thức thể hiện tài sản không được chuẩn hóa và không thể so sánh được một cách dễ dàng, và các quy tắc quản lý tài sản thay đổi từ vùng này sang vùng kia hoặc thậm chí từ đường phố này sang đường phố nọ. Bạn đặt mình vào cuộc sống của một nước đang phát triển hay một quốc gia trước đây là XHCN; chính xác hơn, bạn đã tưởng tượng cuộc sống của 80% dân cư của nước đó, điều mà có sự khác biệt rõ rệt với tầng lớp ưu tú phương Tây hóa, như là sự khác biệt một thời giữa những người Nam Phi da trắng và da đen bởi sự phân biệt chủng tộc apartheid.

Phần 80% đa số này không phải, như những người phương Tây thường tưởng tượng, bị bần cùng hóa một cách tuyệt vọng. Bất chấp sự nghèo nàn của họ, thậm chí cả những người sống dưới các chế độ bất bình đẳng nhất cũng có nhiều hơn nhiều so với bất kỳ ai đã từng hiểu. Tuy vậy, cái họ có không được thể hiện theo cách để tạo ra thêm giá trị. Khi ta ra khỏi cửa của khách sạn Nile Hilton, cái chúng ta bỏ lại đằng sau không phải là thế giới công nghệ cao của các máy fax và máy làm đá, TV và các chất kháng sinh. Dân cư Cairo có thể tiếp cận được tất cả các thứ đó.

Cái thực sự bạn bỏ qua là thế giới của các giao dịch có thể thực thi hợp pháp về quyền sở hữu tài sản. Không có các văn tự thế chấp và các địa chỉ đáng tin cậy nhằm tạo thêm của cải, thậm chí đối với người dân Cairo, những người có thể tạo cho bạn ấn tượng là người khá giàu. Bên ngoài Cairo, một số người nghèo nhất trong số những người nghèo sống ở quận có các ngôi một cổ được gọi là “thành phố của sự chết chóc”. Nhưng, hầu như cả thành phố Cairo là thành phố của sự chết chóc – của vốn chết, của các tài sản không được toàn dụng. Các định chế mang lại cuộc sống cho vốn – cái cho phép người ta bảo đảm lợi ích của bên thứ ba bằng lao động và tài sản – không tồn tại ở đây.

Để hiểu làm sao lại như vậy, phải xem lại thế kỷ XIX, khi Hoa Kỳ tạo lập một xã hội từ sự hoang dã của chính mình. Hoa Kỳ đã kế thừa từ nước Anh không chỉ luật đất đai phức tạp kỳ lạ mà còn cả một hệ thống phân đất chồng chéo khổng lổ. Với một miếng đất, nó có thể thuộc về một người đã nhận nó như một phần của một khoảng đất lớn do Quốc vương Anh cấp, người khác lại nó là đã mua nó từ một bộ lạc da đỏ, và người thứ ba thì đã chấp nhận nó thay cho lương nhận từ một cơ quan lập háp của bang – và có thể không ai trong ba người đã từng để mắt thực sự đến mảnh đất đó. Trong khi đó, đất nước này tràn ngập người nhập cư, những người dựng ranh giới, cày ruộng, xây nhà, chuyển nhượng đất, và thiết lập tí dụng trước rất lâu khi chính phủ ban cho họ bất kể quyền nào để tiến hành các hoạt động đó. Đó là thời kỳ của những người tiên phong và của “miền tây hoang dã”. Một trong những lý do của sự hoang dã đến vậy là, những người tiên phong ấy, hầu hết không ai khác chính là những kẻ chiếm đất, đã “khăng khăng rằng chính lao động của họ, chứ không phải các giấy tờ sở hữu chính thức hoặc các đường ranh giới tự tiện, mang lại giá trị cho đất và xác lập quyền sở hữu”. Họ đã tin rằng nếu họ chiếm đất và cải thiện nó bằng nhà cửa và trang trại, thì nó là của họ. Chính phủ Bang và Liên bang thì nghĩ theo cách khác. Các quan chức đã đưa quân đến đốt trang trại và phá hủy nhà cửa. Những người định cư đã đánh lại. Khi binh lính rút đi, những người định cư xây lại và trở về xoay sở cuộc sống. Quá khứ đó là hiện tại của các nước thế giới thứ ba.

Một cuộc cách mạng đáng ngạc nhiên

Trong năm 1950, hầu hết các nước thế giới thứ ba là xã hội nông nghiệp được tổ chức theo cách có thể làm cho một người châu Âu thế kỷ XVIII cảm thấy đúng như ở nhà. Hầu hết dân cư làm việc trên đồng ruộng, sở hữu bởi số rất ít các đại điền chủ, một số trong số họ là những đầu sỏ bản xứ, những người khác là các chủ đồn điền thực dân. Các thành phố thì nhỏ và hoạt động như các chợ và cảng chứ chưa phải như các trung tâm công nghiệp; tầng lớp thương gia ưu tú nhỏ bé chiếm tỷ lệ áp đảo, những người bảo vệ lợi ích của họ bằng những quy tắc và quy chế dày cộp.

Sau năm 1950, trong thế giới thứ ba đã bắt đầu cuộc cách mạng kinh tế tương tự như những xáo động xã hội và kinh tế ở châu Âu năm 1800. Máy móc mới làm giảm nhu cầu lao động nông thôn cũng như các loại thuốc tân dược và phương pháp y tế công cộng đã làm giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và kéo dài tuổi thọ. Chẳng mấy chốc hàng trăm ngàn người dân đã đổ về các thành phố được mô tả đầy hấp dẫn trong các chương trình phát thanh mới.

Dân số của các thành phố bắt đầu tăng nhanh. Riêng ở Trung Quốc, từ năm 1979, đã có hơn 100 triệu người chuyển từ vùng nông thôn ra các thành thị. Từ năm 1950 đến năm 1988, dân số của thành phố Port-au-Prince đã tăng từ 140.000 người lên 1.550.000 người. Đến năm 1998, nó đã lên đến gần 2 triệu người. Gần hai phần ba những người này sống trong các khu nhà ổ chuột. Ngay từ năm 1973, các chuyên gia đã tuyệt vọng về sự trào dâng của những người mới đến ở thành phố, trước rất lâu khi đợt nhập cư lớn nhất xảy ra. Một nhà quy hoạch đô thị đã viết: “Mọi thứ xảy ra cứ như thể thành phố tan ra từng mảng”. “Xây dựng không kiểm soát được, mọi nơi mọi cách. Hệ thống thoát nước không đủ khả năng tiêu nước mưa và ngày nào cũng tắc nghẹt. Dân cư tập trung trong những khu vực không có hạ tầng cơ sở vệ sinh… Các vỉa hè của Đại lộ Dessalines bị tiểu thương chiếm sạch theo đúng nghĩa đen… Thành phố này trở nên không thể sống nổi.

Ít người đã lường trước được sự biến đổi to lớn này trong cách sống và làm việc của người dân. Các lý thuyết thời thượng ngày đó về “phát triển” tìm cách đưa sự hiện đại về vùng nông thôn. Người nông dân được cho là sẽ không cần đến các thành phố để chờ đón thế kỷ XXI. Nhưng dù thế nào đi nữa thì hàng chục triệu người vẫn đến, bất chấp sự phản đối đang tăng cao. Họ đối mặt với một bức tường không thể qua được của các quy tắc ngăn cản họ thực hiện các hoạt động xã hội và kinh tế một cách hợp pháp. Những người dân thành thị mới này rất khó có thể kiếm chỗ ở hợp pháp, tham gia hoặc lập doanh nghiệp chính thức, hoặc kiếm một việc làm hợp pháp.

Những trở ngại đối với tính hợp pháp

Để hiểu được cuộc sống của những người di cư khó khăn đến thế nào, nhóm nghiên cứu của tôi và tôi đã mở một xưởng may quần áo nhỏ ở ngoại ô Lima, Peru. Mục đích của chúng tôi là thành lập một doanh nghiệp mới và hoàn toàn hợp pháp. Sau đó nhóm bắt đầu điền các mẫu biểu, đứng xếp hàng, đi lại bằng xe buýt về trung tâm Lima để lấy tất cả các giấy chứng chỉ cần thiết cho hoạt động của một doanh nghiệp nhỏ ở Peru, theo đúng thủ tục của luật định, Họ tốn 6 giờ mỗi ngày cho công việc ấy và cuối cùng đã đăng ký được doanh nghiệp – sau 289 ngày. Mặc dù xưởng may được dự trù hoạt động với chỉ một công nhân, chi phí đăng ký pháp lý đã là 1231 USD – bằng 31 lần lương tối thiểu. Để nhận được giấy phép hợp pháp cho việc xây một căn nhà trên đất thuộc sở hữu của nhà nước, phải mất 6 năm và 11 tháng, qua 207 bước hành chính ở 52 cơ quan nhà nước (xem Hình 2.1). Để nhận được một giấy chứng nhận quyền sở hữu cho miếng đất ấy, cần 728 bước. Chúng tôi cũng nhận thấy rằng, để có được sự công nhận chính thức cho tuyến xe của mình thì một lái xe buýt, xe buýt hạng tồi (jitney), hoặc taxi tư nhân phải đối mặt với tệ quan liêu 6 tháng.

20161114-122023_p0

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016