Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần IX


h/ Lý thuyết về mô hình phát triển ở các nước châu Á gió mùa

Lý thuyết này do nhà kinh tế học Nhật Bản Harry Toshima trình bày trong cuốn Tăng trưởng kinh tế ở châu Á – gió mùa. Theo H. Toshima, lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên của A. Lewis cho rằng, việc tăng trưởng kinh tế do chuyển lao động dư thừa trong khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp mà không làm giảm sản lượng nông nghiệp là không đúng đối với các nước nông nghiệp châu Á – gió mùa. Khác với phương Tây, ở các nước châu Á – gió mùa có hiện tượng thiếu lao động nông nghiệp trong thời vụ đỉnh cao, nhưng lại thừa lúc nông nhàn. Vì vậy, để phát triển, các nước này phải giải quyết các vấn đề theo một trình tự nhất định. Đó là: một mặt, giữ nguyên lao động trong nông nghiệp, tạo thêm việc làm trong thời kỳ nhàn rồi để tăng sức cầu cho nông nghiệp bằng các hoạt động đầu tư của nhà nước như thủy lợi, giao thông, phát triển công nghiệp địa phương… Mặt khác, đa dạng hóa sản xuất để ổn định và tăng thu nhập cho nông dân do tính thời vụ và tính phức tạp của thời tiết, qua đó mở rộng thị trường cho nông nghiệp. Nhờ cả hai hoạt động trên với các hình thức, bước đi thích hợp, lao động trong nông nghiệp, nông thôn được phân bố lại, tăng lao động trong tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành khác. Khi thị trường lao động nông nghiệp bị thu hẹp, tiền lương thực tế sẽ tăng lên, các nông trại, xí nghiệp chuyển sang cơ giới hóa, làm cho năng suất lao động tăng nhanh, GNP và GDP/người cũng tăng lên khi sử dụng hết lao động nông nghiệp. Từ sự phân tích trên, Harry Toshima cho rằng, “nông nghiệp hóa” là con đường tốt nhất để phát triển của các nước châu Á – gió mùa, tiến tới xã hội có cơ cấu nông nghiệp – dịch vụ hiện đại.

i/ Lý thuyết hiện đại hóa

Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết hiện đại hóa là W. Rostow, A.F.K. Organski; S. Huntington; T. Parsons; D.S. Landes…

Đây là lý thuyết phát triển nhìn nhận sự phát triển hay kém phát triển như là hậu quả của những điều kiện nội tại của từng nền kinh tế (vai trò của chủ thể phát triển, yếu tố động lực, điều kiện vật chất – kỹ thuật, phương thức tiến hành,…). Tiếp cận hiện đại hóa là luận giải sự phát triển thông qua tiếp thu, kế thừa kinh nghiệm hay mô hình, nhận sự hỗ trợ phát triển từ các nước phát triển hiện nay. Chẳng hạn, W.W. Rostow đã khái quát các giai đoạn phát triển, được vận dụng cho tất cả các nước. S. Huntington nhìn nhận sự phát triển theo đường tuyến tính mà mỗi nước buộc phải trải qua. Nhà nước đóng vai trò chủ thể trung tâm trong việc hiện đại hóa các xã hội lạc hậu và kém phát triển. Để đuổi kịp các xã hội phát triển, các nước đang phát triển phải dựa vào những trợ giúp từ các nước tiên tiến nhằm tạo ra sự đột phá tăng trưởng kinh tế từ các yếu tố như giáo dục, đào tạo, công nghệ, kỹ năng…

k/ Lý thuyết phụ thuộc

Đại diện tiêu biểu: các nhà marxist mới (neo-marxists). Vào những năm 1940, bắt đầu làn sóng mới trong việc tiếp tục những tiếp cận lý luận và tư tưởng kinh tế của Marx ở các nước phương Tây phát triển như Mỹ, Anh… với các học giả như: Maurice H. Dobb, Joan Robinson, Paul Sweezy, Paul Baran, Ernst Mandel và Oskar Lange, Ronald Meek, Francis Seton, Andras Bródy, Paul A. Samuelson, William J. Baumol, Domenico Nuti, Anwar Shaikh, Gerard Dumenil, Duncan Foley, Michio Morishima và Shigeto Tsuru, Kozo Uno, Nubuo Okishio và Makoto Itoh… Tu tưởng chính của lý thuyết phụ thuộc là nhìn nhận sự phát triển trong tương quan của nhiều yếu tố giữa các quốc gia, trình độ phát triển và văn minh. Thế giới được phân chia thành các nh1om nước trung tâm giàu có và các nhóm nước ngoại vi nghèo đói. Trung tâm thâu tóm và chi phối ngoại vi trong quá trình tận dụng các yếu tố, cơ hội phát triển như nhân công dồi dào và rẻ mạt, nguồn nguyên liệu thô phong phú. Tương quan lợi ích thiên lệch cho các nước giàu có dẫn tới sự bất bình đẳng và chênh lệch về trình độ phát triển. Nước giàu ngày càng giàu thêm, hiện đại hơn, nước nghèo ngày càng nghèo hơn và nguồn lực cạn kiệt hơn vì sức hút từ trung tâm. Nói về mô hình phát triển này, trong tác phẩm Giới thiệu về lý thuyết phát triển P.W. Preston đã nhận xét: “Các nước kém phát triển cung cấp những nguyên liệu thô và những sản phẩm chế biến với công nghệ thấp sang các nước phát triển để nhập về những hàng hóa chất lượng công nghệ cao. Sự phụ thuộc mang tính kinh tế này phản ánh một sự phụ thuộc sâu rộng hơn về chính trị và văn hóa. Hậu quả là sự kém phát triển sẽ mãi mãi tồn tại trong những điều kiện phụ thuộc mang tính hệ thống”. Điều này có nghĩa là sự phát triển và kém phát triển là kết quả của mối quan hệ bất bình đẳng giữa các nước giàu với các nước nghèo, giữa các khu vực trung tâm với ngoại vi cũng như giữa chính quốc với thuộc địa.

Như vậy, nếu như lý thuyết phát triển hiện đại hóa nhấn mạnh vào sự phát triển của từng quốc gia thì lý thuyết phát triển phụ thuộc lại nhấn mạnh đến sự phát triển ở cấp độ liên quốc gia, liên quan đến chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa đế quốc mới, đến chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa thực dân mới. Xuất phát từ thực trạng đó, các học giả lý thuyết phụ thuộc đề xuất ý tưởng rằng, các nước kém phát triển cần đoạn tuyệt với các nước phát triển và xây dựng cho mình năng lực tự chủ cho tăng trưởng. Một trong những can thiệp này là chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu vào những năm 1950.

l/ Lý thuyết hệ thống thế giới

Đại diện cho lý thuyết này là nhà xã hội học Mỹ Immanuel Wallerstein. Lý thuyết hệ thống thế giới xuất hiện vào những năm 1970, nguồn gốc của nó xuất phát từ xã hội học nhưng được phát triển thành lĩnh vực liên ngành với tiếp cận vĩ mô, bao hàm từ lịch sử thế giới tới sự thay đổi xã hội. Lý thuyết hệ thống thế giới được coi là lý thuyết thay thế lý thuyết hiện đại hóa. Theo quan điểm của Wallerstein, phân công lao động quốc tế là căn cứ cơ bản trong việc xác định hệ thống trên thế giới. Theo đó, thế giới được phân chia thành ba loại hệ thống chính là hệ thống các nước trung tâm, bán ngoại vi và ngoại vi. Các nước trung tâm tập trung vào kỹ năng cao hơn, sản xuất hàm chứa nhiều vốn, phần còn lại của thế giới tập trung vào kỹ năng thấp hơn, sản xuất hàm chứa nhiều lao động và khai thác nguyên vật liệu thô. Wallerstein khái quát hệ thống thế giới như tập hợp các cơ chế cho phép phân bổ lại nguồn lực từ ngoại vi (hệ thống kém phát triển) tới trung tâm (hệ thống phát triển, công nghiệp hóa) thông qua cơ chế thị trường. Hiện nay, hệ thống thế giới hiện đại là hệ thống các nền kinh tế thế giới chủ nghĩa tư bản đầy đủ trên toàn cầu. Chủ nghĩa tư bản là hệ thống dựa vào cạnh tranh tự do giữa các nhà sản xuất trên thị trường.

5/ Các lý thuyết phát triển xã hội dựa trên một yếu tố chủ đạo

Ngoài yếu tố kinh tế ra, trong quá trình tìm kiếm mô hình phát triển đã có nhiều học giả và nhiều nhà quản lý đưa ra những lý thuyết phát triển khác nhau, trong đó tìm cách cắt nghĩa sự phát triển của các quốc gia dựa vào một yếu tố chủ đạo, mang tính quyết định nào đó. Chẳng hạn, có lý thuyết cắt nghĩa sự phát triển của một quốc gia căn cứ vào mức độ giàu có và phong phú của nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, không phải quốc gia nào giàu tài nguyên thiên nhiên cũng là những quốc gia phát triển. Trái lại, nhiều quốc gia phát triển lại rất nghèo tài nguyên thiên nhiên. Có lý thuyết cho rằng, sự phát triển phụ thuộc vào vị trí địa lý. Nhà kinh tế Jeffrey Sachs (Đại học Columbia) và một số người có ý kiến rằng, vị trí nhiệt đới, không có bờ biển và sự tùy thuộc vào “hàng hóa” (nhất là tài nguyên thô, thay vì dịch vụ) là những yếu tố trực tiếp cản trở phát triển. Không phải tình cờ mà hầu hết các nước chậm phát triển đều ở vùng nhiệt đới. Những nước nghèo nhất thế giới, có thu nhập tính theo đầu người không bằng 1/20 mức của Mỹ, đều nằm sát đường xích đạo với những đặc trưng là khí hậu rất nóng, mưa dữ dội và nhiều bệnh dịch nhiệt đới. Địa lý là yếu tố quyết định của tình trạng khí hậu, tài nguyên thiên nhiên và nhiều thứ bệnh tật, phí tổn giao thông, vận chuyển. Địa lý cũng là yếu tố ngăn cản sự lan truyền kiến thức, phát minh từ những vùng tiến bộ đến những vùng kém và chậm phát triển, qua đó có ảnh hưởng lớn đến năng suất nông nghiệp và “chất lượng của tài nguyên con người”. Thực tiễn cho thấy những lập luận trên chưa có sức thuyết phục về mặt khoa học. Yếu tố địa lý có tác động nhất định, nhưng không thể có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của một quốc gia hay vùng lãnh thổ. Các quốc gia có trình độ phát triển cao hiện hữu ở các châu lục, cả ở phương Tây và phương Đông, cả ở Bắc bán cầu và Nam bán cầu, không phải quốc gia phát triển nào cũng có vị trí địa lý thuận lợi. Có những quốc gia phát triển nhanh nhờ biết phát huy vị trí địa lý thuận lợi, biến nó thành lợi thế cạnh tranh và thu hút đầu tư, trong khi các quốc gia khác lại không làm được như vậy. Có lý thuyết cho rằng, sự phát triển phụ thuộc vào quy mô và dân số của một quốc gia. Tuy nhiên, thực tiễn khẳng định quy mô và dân số của một quốc gia cũng không phải là yếu tố quyết định. Trong số các quốc gia phát triển có quốc gia lớn, quốc gia nhỏ cả về diện tích và dân số. Có lý thuyết hoặc lập luận cho rằng, sự phát triển của một quốc gia chủ yếu phụ thuộc vào tiến bộ về kỹ thuật công nghệ và những phát minh khoa học. Đương nhiên, một quốc gia được coi là phát triển không thể là một quốc gia lạc hậu, yếu kém về khoa học, công nghệ, không có những phát minh. Tuy nhiên, có những quốc gia sở hữu nhiều phát minh khoa học, đạt những thành tựu lớn về nghiên cứu cơ bản, nhưng do không tạo dựng được cơ chế và điều kiện phù hợp để sử dụng và phát huy chúng cho sự phát triển của mình, nên cũng không nằm trong số những quốc gia phát triển nhất.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Advertisements

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần VIII


Ngoài ra, ở các nước đang phát triển đã và đang thịnh hành một số lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế sau đây:

đ/ Lý thuyết cất cánh của W.W. Rostow

Lý thuyết này do nhà kinh tế Mỹ, Giáo sư W.W. Rostow đưa ra trong tác phẩm Các giai đoạn tăng trưởng kinh tế  (1961), nhằm nhấn mạnh các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Theo Rostow, quá trình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phải trải qua năm giai đoạn là: Xã hội truyền thống – Tiền cất cánh – Cất cánh – Xã hội trưởng thành – Tiêu dùng cao. Trong mỗi giai đoạn phát triển, tác giả chỉ ra những đặc điểm kinh tế – xã hội và những điều kiện ràng buộc phải giải quyết để chuyển sang giai đoạn sau. Theo sơ đồ của Rostow, “cất cánh” là giai đoạn trung tâm, giống như chiếc phi cơ chỉ cất cánh được khi đạt tốc độ giới hạn. Rostow cho rằng, nền kinh tế của một quốc gia chỉ bước vào giai đoạn “cất cánh” khi các giai đoạn trước đó đã cung cấp cho nó một xung lực nhất định. Theo ông, điều kiện để một nền kinh tế cất cánh là: 1 – Tỷ lệ đầu tư mới đạt trên 10% thu nhập quốc dân; 2 – Khu vực chế tạo, “lĩnh vực đầu tầu” phát triển với tỷ lệ tăng trưởng cao; 3 – Có một cơ cấu chính trị – xã hội cho phép khai thác các xung lực phát triển trong khu vực kinh tế hiện đại và đảm bảo một sự tăng trưởng liên tục. Trong giai đoạn “tiền cất cánh” sẽ tồn tại một sự bất bình đẳng lớn trong thu nhập như là một sự “tạo điều kiện” cho sự tích lũy và hình thành tư bản. Sự cất cánh của nền kinh tế được thúc đẩy bởi những “khu vực đầu tầu” như một thị trường xuất khẩu phát triển nhanh hay một ngành công nghiệp hiện đại có hiệu quả kinh tế trên quy mô lớn… Khi những khu vực đầu tư này đã phát triển thì sẽ xuất hiện một quá trình tăng trưởng tự thân – nền kinh tế bắt đầu cất cánh – tăng trưởng đưa lại lợi nhuận – lợi nhuận được tái đầu tư tư bản – năng suất và thu nhập tăng vọt – sự phát triển kinh tế đã diễn ra. Theo Rostow, động lực của quá trình này là quá trình công nghiệp hóa, là cái đã được thử nghiệm và chứng minh thành công ở Bắc Mỹ và Tây Âu cuối thế kỷ XIX. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Rostow là người theo thuyết quyết định luận kinh tế và kỹ thuật và sự phát triển trong mô hình hiện đại hóa hay lý thuyết cất cánh của ông về bản chất là sản phẩm của sự tăng trưởng kinh tế với những chỉ số như tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập bình quân đầu người, lượng tiết kiệm, mức độ đầu tư… Tuy nhiên, trên thực tế, Rostow vẫn cho rằng, động lực kinh tế không hoàn toàn là đơn nhất và quan trọng nhất đối với lịch sử. Ông nhấn mạnh: “Sự biến đổi kinh tế có căn nguyên từ chính trị và xã hội. Và về động lực con người thì rất nhiều sự thay đổi kinh tế căn bản là kết quả của các động cơ kinh tế”. Đối với ông, sự phát triển kinh tế không chỉ đòi hỏi các điều kiện kinh tế, kỹ thuật mà còn cần có các điều kiện khác như dân chủ và các thể chế xã hội và hệ thống giá trị thích hợp.

Dù sơ đồ phân kỳ của W.W. Rostow có đúng hay không, nhưng khái niệm “tiền cất cánh” và “cất cánh” của ông đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến các nghiên cứu về sự phát triển kinh tế, đồng thời phản ánh nội dung hiện thực trong quá trình phát triển, có giá trị tham khảo đối với những nước đang phát triển hiện nay, trong đó có Việt Nam.

e/ Lý thuyết về cái vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài

Đây là do nhiều nhà kinh tế học tư sản đưa ra, trong đó có A. Gershon và Paul A. Samuelson (1915 – 2009). Theo lý thuyết này, để tăng trưởng kinh tế nói chung phải bảo đảm bốn nhân tố là: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản và kỹ thuật.

+ Về nhân lực: Ở những nước nghèo có tuổi thọ trung bình thấp khảong 57 – 58 tuổi, trong khi ở các nước tiên tiến là 72 – 75 tuổi. Vì vậy, phải kiểm soát bệnh tật, cải thiện điều kiện sức khỏe và dinh dưỡng để người lao động làm việc có năng suất lớn. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng bệnh viện và hệ thống bảo vệ sức khỏe, coi đó là những vốn xã hội mang lợi ích sống còn, chứ không phải là hàng xa xỉ. Ở các nước đang phát triển, số người lớn biết chữ chỉ chiếm từ 32 – 52%. Do đó, cần phải đầu tư cho chương trình xóa nạn mù chữ, trang bị cho con người những kỹ thuật mới trong nông nghiệp, công nghiệp, đồng thời phải gửi những người thông minh ra nước ngoài để học hỏi, mang về những kiến thức và lý thuyết kinh doanh tiên tiến. Đặc biệt, phần lớn lực lượng lao động của các nước đang phát triển (70%) làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Do vậy, phải chú ý tới tình trạng “thất nghiệp trá hình”, tức lao động ở nông thôn có năng suất không cao, sử dụng thời gian lao động lãng phí, nên tìm cách tạo điều kiện cho lao động nông thôn chuyển nhiều sang lĩnh vực công nghiệp.

+ Về tài nguyên thiên nhiên: Những nước đang phát triển cũng thường là những nước nghèo tài nguyên thiên nhiên và sử dụng nó kém hiệu quả. Đất đai chật hẹp, khoáng sản ít ỏi so với số dân đông đúc, tỷ lệ tăng dân số cao. Tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất ở đây là đất nông nghiệp. Việc sử dụng có hiệu quả đất đai sẽ có tác dụng làm tăng sản lượng quốc dân. Muốn vậy, phải có chính sách bảo vệ đất đai, đầu tư phân bón, canh tác phù hợp, thực hiện tư nhân hóa đất đai để kích thích chủ trang trại đầu tư vốn, kỹ thuật.

+ Về cơ cấu tư bản: Ở các nước nghèo, người sản xuất kinh doanh có rất ít tư bản, do đó không có điều kiện tăng năng suất. Muốn có tư bản phải có tích lũy vốn, song đây lại là cái khó vì ở những nước nghèo năng suất lao động thấp, chỉ đảm bảo được cuộc sống tối thiểu cho người dân, không có tiết kiệm, tích lũy, do đó cũng không có vốn để phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng. Muốn có tư bản phải vay nước ngoài. Trước đây, các nước giàu đầu tư vào nước nghèo, mang lại lợi ích cho cả hai bên. Nhưng gần đây do lo ngại phong trào giải phóng dân tộc ở những nước đang phát triển đe dọa sự an toàn của tư bản đầu tư nên nhiều nhà tư bản ngại đầu tư vào khu vực này. Thêm vào đó, hầu hết những nước đang phát triển cũng là những con nợ lớn, không có khả năng trả nợ gốc và lãi. Vì vậy, đối với những nước này, tư bản vẫn là vấn đề nan giải.

+ Về kỹ thuật: Các nước đang phát triển có trình độ kỹ thuật yếu kém, nhưng lại có lợi thế là có thể bắt chước về kỹ thuật và công nghệ của các nước đi trước. Đây là con đường ngắn nhất và hiệu quả để nhanh chóng nắm bắt được khoa học, công nghệ hiện đại, lý thuyết quản lý và kinh doanh tiên tiến phục vụ cho phát triển.

Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, bốn nhân tố trên rất khan hiếm và việc kết hợp chúng nhằm tạo xung lực cho sự phát triển gặp rất nhiều trở ngại. Điều đó làm cho những nước khó khăn lại càng thêm khó khăn, bị lâm vào “cái vòng luẩn quẩn” của sự nghèo khó không lối thoát là: Tiết kiệm và đầu tư thấp – tốc độ tích lũy vốn thấp – tiết kiệm và đầu tư thấp… Để phát triển cần phải có “cú huých” từ bên ngoài, nhằm phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” đó, nghĩa là phải có sự đầu tư của các nước phát triển. Muốn vậy, phải tạo ra môi trường và những điều kiện thuận lợi nhằm thu hút và kích thích sự đầu tư của tư bản nước ngoài.

g/ Lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên

Lý thuyết này được Athur Lewis (1915 – 1991) – nhà kinh tế học Jamaica (được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1979) nêu lên trong tác phẩm Lý thuyết về phát triển kinh tế (1955), sau đó được John Fei và Gustar Ranis phát triển. Nội dung cơ bản của lý thuyết mô hình kinh tế nhị nguyên bàn về sự phát triển ở những nước nghèo có tỷ trọng nông nghiệp lớn. Để phát triển, vấn đề có tính chất quyết định là chuyển lao động nông nghiệp thành lao động công nghiệp có năng suất cao. Điều kiện để thực hiện là duy trì một chế độ tiền lương thấp trong công nghiệp (nhưng có khá hơn so với lao động nông nghiệp) để trợ giúp tích lũy mở rộng sản xuất cho nông nghiệp, tạo nên chu trình liên tục, cho đến khi lao động nông nghiệp được sử dụng tương đó đầy đủ, công nghiệp và nông nghiệp phát triên cân đối, hiệu quả. Tuy nhiên, đồng thời với việc giải quyết tương quan giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp, cần phải kết hợp với việc giảm tốc độ gia tăng dân số.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần VII


Theo các nhà nghiên cứu, lý thuyết phát triển xã hội dựa trên cơ sở tăng trưởng và phát triển kinh tế đã có từ lâu, trong đó có tầm quan trọng và ảnh hưởng đến các nước đang phát triển phải kể đến những lý thuyết sau:

a/ Lý thuyết tích lũy tư bản với mô hình tăng trưởng cổ điển của A. Smith và mô hình của Harrod – Domar

Theo nhà kinh tế học cổ điển A. Smith, của cải của xã hội tăng lên chủ yếu do hai con đường trình độ phát triển của phân công làm tăng năng suất lao động và tăng lượng người trong lĩnh vự sản xuất vật chất. Ông còn chỉ ra rằng, phân công dẫn đến việc sử dụng máy móc, sự gia tăng số người lao động cần phải phối hợp với tư bản. Vì vậy, việc tích lũy tư bản trở thành vấn đề then chốt nhất, quyết định sản xuất ra của cải vật chất. Tiếp tục phát triển mô hình mà A. Smith khởi xướng và trở thành đại diện điển hình cho lý thuyết tích lũy tư bản là mô hình của nhà kinh tế Anh Roy Harrod (1900 – 1978) và nhà kinh tế Mỹ gốc Nga Evsey Domar (1914 – 1997). Tư tưởng chính của mô hình là lý giải sự tăng trưởng kinh tế dựa trên những mức độ tiết kiệm và năng suất của vốn đầu tư. Tỷ suất tăng trưởng của tổng sản lượng quốc gia (G), khuynh hướng tiết kiệm của dân cư (s), hệ số vốn – tỷ số giữa gia tăng tư bản và gia tăng của sản xuất (C). Tương quan trong mô hình là GC – s. Mô hình này được lượng hóa và nghiên cứu kỹ trong môn học kinh tế học vĩ mô (Macroeconomics). Theo R. Harrod và E. Domar, tỉ lệ tích lũy tư bản là nhân tố duy nhất quyết định sự tăng trưởng kinh tế. Để đo năng lực sản xuất thêm hay khả năng tăng trưởng, người ta dùng chỉ số gia tăng tư bản. Ưu điểm lớn nhất của cách tiếp cận này là tính đơn giản, dễ vận dụng để đề ra kế hoạch ưu tiên phát triển một ngành hay một số lĩnh nào đó trong nền kinh tế quốc dân, hoặc có thể kịp thời đưa ra những chính sách điều chỉnh cơ cấu khi xét tới mối tương quan giữa nền tài chính và nguồn nhân lực hiện có. Chỉ số gia tăng tư bản đầu tư là gợi ý tốt cho việc vận dụng này. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết, do không tính đến những thay đổi trong cơ cấu sản xuất và thu nhập. Toàn bộ động lực tăng trưởng kinh tế chỉ quy vào một nhân tố là đầu tư tư bản mà không phân tích các nhân tố khác như: lao động, tài nguyên, thị trường, giá cả… và các nhân tố phi kinh tế như văn hóa, xã hội, tập quán, tâm lý, điều kiện địa lý, dân cư… Mặc dù vậy, lý thuyết tích lũy tư bản đã thịnh hành và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế các nước phát triển trong thời gian dài, khoảng 200 năm, từ thế kỷ XVII đến thập kỷ 50 thế kỷ XX.

b/ Thuyết kỹ trị với mô hình tăng trưởng của Robert Solow và Denison

Ra đời và thịnh hành từ cuối những năm 50 đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại bắt đầu phát triển mạnh mẽ, thuyết kỹ trị khẳng định kỹ thuật, công nghệ là nhân tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế. R. Solow chỉ rõ: “Tất cả các điều tôi muốn nói là, giáo dục trên mỗi lao động đã làm sản lượng trên đầu người làm việc tăng thêm 30%, và các thành tựu về kiến thức đóng góp 64% vào kết quả của Denison. Như thế, công nghệ vẫn là động lực chính của sự tăng trưởng, còn đầu tư vốn con người chiếm vị trí thứ hai. Chúng ta không nhất thiết phải tin vào sự chính xác của số liệu; nhưng dù sao, thông điệp mà chúng truyền tải hết sức rõ ràng”. Như vậy, trong khi đề cao kỹ thuật và công nghệ, thuyết kỹ trị đã hàm ý coi trọng yếu tố “vật mà xem nhẹ yếu tố “người” trong phát triển, đối lập với thuyết tích lũy tư bản.

c/ Lý thuyết thu nhập tăng dần, hay lý thuyết tăng trưởng mới

Lý thuyết trên thịnh hàng từ đầu những năm 80 thế kỷ XX đến nay do hai nhà kinh tế học là Romo Rucas (người Mỹ) và Scost (người Anh) đưa ra, với những tư tưởng chủ yếu sau:

Một là, cho thấy vai trò của tiến bộ kỹ thuật và tri thức đối với sự tăng trưởng kinh tế, kết hợp nhân tố tri thức và nhân tố tư bản nhân lực vào mô hình tăng trưởng kinh tế, cụ thể hóa tiến bộ kỹ thuật thành tri thức chuyên nghiệp hóa, được thể hiện trong kỹ năng đặc thù của sức lao động.

Hai là, khẳng định tri thức chuyên nghiệp hóa và tích lũy tư bản nhân lực làm cho thu nhập tăng dần.

Ba là, nhấn mạnh tiến bộ kỹ thuật là nhân tố quyết định đối với tăng trưởng kinh tế, đồng thời phân tích mối quan hệ nhân quả của đầu tư tư bản và tiến bộ kỹ thuật, nêu rõ tầm quan trọng của tích lũy tư bản đối với việc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và tăng trưởng kinh tế.

Bốn là, chỉ rõ phát triển mậu dịch quốc tế và tiền tệ quốc tế là động cơ của tăng trưởng kinh tế, nhấn mạnh tác động của mậu dịch quốc tế đối với tích lũy tri thức và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Năm là, tăng trưởng kinh tế hiện đại chủ yếu là do sự thúc đẩy của tri thức và tư bản nhân lực. Quốc gia nào có tỷ lệ tích lũy tư bản nhân lực và tri thức cao thì mức thu nhập, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và ngược lại. Quốc gia có tư bản phong phú thì tỷ suất lợi nhuận không phải có xu hướng giảm mà là ổn định hoặc tăng lên, do đó thu hút được tư bản nước ngoài, vì vậy có sự “chảy ngược” của tư bản quốc tế.

d/ Lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại của S. Kuznets

Hiện nay, trong lý thuyết phát triển xã hội hiện đại dựa trên sự tăng trưởng kinh tế đáng chú ý là lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại của S. Kuznets.

Simon Kuznets, nhà kinh tế học Mỹ gốc Nga, giáo sư danh dự của Trường Đại học Tổng hợp Harvard, Cambridge, Masachusetts là người đã được nhận giải thưởng Nobel về khoa học kinh tế năm 1971 do có công đem lại một sự hiểu biết mới sâu sắc hơn về cơ cấu kinh tế – xã hội và về quá trình biến đổi và phát triển. Ông cũng là người nêu lên tư tưởng mới về tăng trưởng kinh tế hiện đại dựa trên tổng kết thực tiễn. Theo Kuznets, tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là “sự tăng lên trong dài hạn của khả năng cung cấp các hàng hóa kinh tế ngày càng đa dạng của nhân dân, khả năng liên tục phát triển này dựa trên cơ sở công nghệ tiên tiến, những điều chỉnh về thể chế và hệ tư tưởng mà nó đòi hỏi”. Trong định nghĩa này, Kuznets đã nhấn mạnh ba yếu tố cấu thành của sự tăng trưởng kinh tế làm nền tảng cho sự phát triển xã hội: 1 – Tăng trưởng là sự gia tăng lâu bền chứ không phải ngắn hạn, ngẫu nhiên, nhất thời của năng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú cho nhân dân. 2 – Nguồn gốc của sự tăng trưởng kinh tế là “công nghệ tiên tiến” chứ không phải là dựa vào lao động thủ công hay dựa vào tài nguyên thiên nhiên như nguồn khoáng sản hay vị trí địa lý thuận lợi. 3 – Công nghệ tiên tiến là một yếu tố của tăng trưởng kinh tế, một điều kiện cần, là một tiềm năng cho phát triển, nhưng chưa đủ. Để công nghệ tiên tiến được triển khai, ứng dụng có hiệu quả sâu rộng trong các lĩnh vực sản xuất và tái sản xuất xã hội, cần phải có những điều chỉnh về thể chế và hệ tư tưởng sao cho phù hợp. Những công nghệ tiên tiến khó có thể áp dụng hiệu quả với những thể chế kinh tế hộ gia đình, kinh tế tiểu nông và tình trạng mù chữ hoặc trình độ học vấn thấp của đại bộ phận dân cư. Kuznets cũng chỉ ra sáu đặc trưng cùng hàng loạt các chỉ báo cơ bản của tăng trưởng kinh tế có giá trị ứng dụng trong thực tiễn, nhất là đối với những nước đang phát triển hiện nay. Đó là: 1 – Tỷ lệ tăng trưởng sản phẩm bình quân đầu người ở một xã hội (hiện nay thường được tính bằng GDP bình quân đầu người); 2 – Tốc độ tăng năng suất lao động, tức là sản phẩm đầu ra trên mỗi đơn vị của tất cả đầu vào (hiện nay thước đo này thường được tính bằng hệ số vốn đầu tư ICOR); 3 – Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế: một xã hội phát triển là một xã hội có tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh chóng từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, sang công nghiệp và dịch vụ; đồng thời chuyển dịch cả quy mô các đơn vị sản xuất trong khu vực nhà nước và tư nhân theo hướng công nghiệp – dịch vụ hiện đại; 4 – Tốc độ đô thị hóa với sự biến đổi của cơ cấu xã hội gắn với sự hình thành và phát triển những giai tầng xã hội như doanh nhân, dịch vụ, trí thức và những nghề nghiệp đặc trưng cho thành thị; 5 – Tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng giao thông và truyền thông; 6 – Tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần VI


2/ Lý thuyết của Keynes về sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, ở các nước phương Tây diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, đó là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933. Cuộc khủng hoảng đó chứng tỏ học thuyết “tự điều tiết kinh tế” của trường phái cổ điển và cổ điển mới, cũng như các học thuyết “bàn tay vô hình” của A. Smith và “cân bằng tổng quát” của Leon Walras tỏ ra khiếm khuyết, kém hiệu nghiệm, đòi hỏi các nhà kinh tế học phải đưa ra những lý thuyết mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Từ đó xuất hiện lý thuyết về sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế do John Maynard Keynes (1833 – 1946) đưa ra. Keynes là nhà kinh tế học người Anh, tác giả Chương trình khôi phục và phát triển kinh tế nước Anh sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Tác phẩm nổi tiếng của ông là Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ (1936). Tư tưởng cơ bản của Keynes là bác bỏ cách lý giải cổ điển về quá trình tự điều chỉnh nền kinh tế dựa trên cơ chế thị trường linh hoạt, đồng thời chứng minh cơ chế thị trường không thể bảo đảm tận dụng tối ưu các tiềm năng về sản xuất và lao động. Từ đó, ông chủ trương cần có can thiệp sâu rộng của nhà nước vào kinh tế nhằm khắc phục suy thoái, hạn chế thất nghiệp.

Theo các nhà kinh tế, phát triển là hàm số của cung – cầu (sản xuất và tiêu dùng), trong đó, đầu tư và tiết kiệm là hai đại lượng quan trọng. Muốn phát triển thì phải duy trì tiêu dùng ít nhất là cân bằng với sản xuất. Keynes chỉ ra rằng, việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập đòi hỏi phải khuyến khích đầu tư và giảm tiết kiệm. Lý thuyết của Keynes cũng đánh giá cao vai trò của tiêu dùng, coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà mọi nền kinh tế phải quan tâm giải quyết, vì vậy, phải kích thích cầu tiêu dùng. Do đó, lý thuyết của ông còn gọi là lý thuyết “trọng cầu”. Tùy theo điều kiện cụ thể của nền kinh tế và mục tiêu cần đạt được, chính phủ có thể sử dụng các chính sách để gia tăng mức sản lượng và tạo công ăn việc làm, kích thích tiêu dùng sản xuất.

Học thuyết của Keynes với cách tiếp cận mới, phi cổ điển đã mở ra một giai đoạn mới của sự phát triển lý luận kinh tế tư sản, trong đó có lý thuyết kinh tế vĩ mô về hệ thống điều tiết của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước. Mặc dù có nhiều tác giả phê phán, cho rằng lý thuyết của Keynes đã lỗi thời trong khi đánh giá cao vai trò của kinh tế nhà nước lại bỏ qua vai trò điều tiết của cơ chế thị trường, nhưng thực tế cuộc khủng hoảng tài chính thế giới trong những năm vừa qua cho thấy lý thuyết của Keynes vẫn cần được nghiên cứu, vận dụng, ít nhất là những tư tưởng về phát huy vai trò quản lý của nhà nước đối với kinh tế và kích cầu. Thực tế là, cuộc khủng hoảng tài chính trên bắt nguồn trực tiếp từ việc Chính phủ Mỹ cũng như nhiều chính phủ khác của các nền kinh tế phát triển cao đã phó mặc cho thị trường tự do điều tiết nền kinh tế mà thiếu sự giám sát cần thiết. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ đã thả lỏng tín dụng cho sự bùng nổ tăng trưởng “ảo” trong một thời gian dài. Hệ quả là nền kinh tế Mỹ sụp đổ, dẫn đến sụp đổ dây chuyền của các nền kinh tế lớn khác như Tây Âu và Nhật Bản. Cuối cùng, Chính phủ Mỹ buộc phải can thiệp bằng cách tung ra các gói kích cầu và một số biện pháp mạnh để giải cứu nền kinh tế thoát khỏi khủng hoảng đúng như bài bản mà lý thuyết Keynes đã đưa ra. Như vậy, nếu nhà nước bỏ mặc cho thị trường tự do chi phối thì sớm muộn nền kinh tế cũng rơi vào trạng thái bất ổn và khủng hoảng. Điều này có ý nghĩa quan trọng, trở thành một vấn đề có tính nguyên tắc đối với Việt Nam khi chúng ta đang thực hiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa là không bao giờ được buông lỏng vai trò và chức năng quản trị phát triển của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường.

3/ Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp

Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp có từ cuối thế kỷ XIX. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nó được các nhà kinh tế Mỹ như A. Haxen tiếp tục nghiên cứu. Đây cũng là tư tưởng trung tâm của kinh tế học trường phái chính, được trình bày trong cuốn Kinh tế học xuất bản lần đầu tiên năm 1948 tại New York của Paul A. Samuelson.

Nếu như các nhà kinh tế học cổ điển và cổ điển mới say sưa với các lý thuyết “bàn tay vô hình” và “cân bằng tổng quát”, trường phái Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay nhà nước”, thì Samuelson chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả hai bàn tay là nhà nước và thị trường. Ông cho rằng, điều hành một nền kinh tế mà không có chính phủ hoặc thị trường thì chẳng khác nào như “vỗ tay bằng một bàn tay”. Theo Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của kinh tế là: Sản xuất cái gì? Như thế nào? Và cho ai? Cơ chế thị trường không phải là sự hỗn độn, mà là một trật tự kinh tế, hoạt động tinh vi và hoàn toàn khách quan, thu hút mọi tầng lớp xã hội tham gia. “Nó không có đầu não trung tâm, nhưng vẫn giải được những bài toán khó mà máy tính lớn nhất ngày nay không thể giải nổi. Không ai thiết kế ra nó. Nó tự nhiên và cũng như xã hội loài người, nó đang thay đổi”. Cơ chế thị trường hoạt động theo quy luật khách quan vốn có (cạnh tranh, cung cầu, giá cả…) và với một cơ chế như vậy, nền kinh tế sẽ đạt được một sự cân đối chung. Tuy nhiên, “bàn tay vô hình” đôi khi cũng đưa nền kinh tế tới những sai lầm. Đó chính là những khuyết tật của nền kinh tế thị trường như ô nhiễm môi trường, tình trạng độc quyền, khủng hoảng, thất nghiệp, thu nhập bất bình đẳng… Để đối phó với những khuyết tật của cơ chế thị trường, các nền kinh tế hiện đại cần phối hợp giữa “bàn tay vô hình” với “bàn tay hữu hình” của thuế khóa, chi tiêu và luật lệ của chính phủ.

Trong nền kinh tế thị trường, theo Samuelson, chính phủ có bốn chức năng là: 1/ Thiết lập khuôn khổ pháp luật, đề ra các quy tắc trò chơi kinh tế mà các nhà doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả bản thân chính phủ cũng phải tuân thủ. 2/ Sửa chữa những thất bại của thị trường để nó hoạt động hiệu quả, bằng các biện pháp như: can thiệp để hạn chế độc quyền, bảo đảm cạnh tranh, khắc phục những tác động bên ngoài gây nên những rủi ro, đảm nhiệm việc sản xuất hàng hóa công cộng, sử dụng công cụ thế… 3/ Đảm bảo công bằng, khắc phục và hạn chế bất bình đẳng xã hội. 4/ Ổn định kinh tế vĩ mô.

Tuy nhiên, tương tự như “bàn tay vô hình”, “bàn tay hữu hình” cũng có những khuyết tật của nó. Có nhiều vấn đề mà nhà nước lựa chọn không đúng, cơ quan lập pháp bị mua chuộc, chính phủ tài trợ cho những chương trình quá lớn trong thời gian dài, quản lý tài chính công không hiệu quả, chính phủ đề ra những quyết định, chính sách sai… làm cho sự can thiệp của nhà nước trở nên kém hiệu quả. Thực tế cho thấy, tuyệt đối hóa, đề cao quá mức vai trò của “bàn tay vô hình”, hay quá đề cao vai trò của nhà nước, chỉ sử dụng “bàn tay hữu hình” can thiệp quá sâu vào nền kinh tế cũng đều là sai lầm, gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Đối với Việt Nam hiện nay, phải kết hợp cả cơ chế thị trường và vai trò của Nhà nước trong việc điều hành nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hình thành một “nền kinh tế hỗn hợp” có cả “bàn tay vô hình” và “bàn tay hữu hình”, tức thị trường và nhà nước đều là vấn đề có tính nguyên tắc.

4/ Các lý thuyết phát triển xã hội dựa trên cơ sở tăng trưởng và phát triển kinh tế

Theo quan điểm duy vật lịch sử, sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội. Phát triển xã hội có nguyên nhân sâu xa và dựa trên cơ sở của phát triển kinh tế. Sự phát triển và tiến bộ của mỗi quốc gia trong khoảng thời gian nhất định thường được đánh giá ở hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự biến đổi về xã hội, được thể hiện thông qua hai thuật ngữ là tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Đây là hai thuật ngữ khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự khác nhau thể hiện rõ nhất ở chỗ, tăng trưởng kinh tế phản ánh sự thay đổi thuần túy về mặt kinh tế, về mặt lượng của nền kinh tế. Trong khi đó, phát triển kinh tế không chỉ phản ánh sự thay đổi về lượng mà còn phản ánh cả sự thay đổi về chất của nền kinh tế, phản ánh không chỉ sự tiến bộ về mặt kinh tế mà còn cả sự thay đổi về mặt xã hội trong quá trình phát triển của một quốc gia. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế thể hiện ở chỗ, tăng trưởng kinh tế chưa phải là phát triển kinh tế, nhưng nó là yếu tố cơ bản nhất của phát triển kinh tế. Nếu không có tăng trưởng kinh tế thì sẽ không có phát triển kinh tế. Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, tăng trưởng chưa phải là phát triển, song tăng trưởng lại là một cách cơ bản để có phát triển và không thể nói phát triển kinh tế mà trong đó lại không có sự tăng trưởng kinh tế. Như vậy, phát triển kinh tế bao hàm có cả tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần V


Như vậy, đã có một bước tiến khá dài trong quan niệm của nhân loại về phát triển và phát triển bền vững. Từ chỗ xuất phát từ mối lo ngại về tình trạng phát triển xấu, không bền vững khiến tài nguyên bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, nên đặt vấn đề phát triển bền vững gắn với việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển, sao cho vừa đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến sự phát triển của các thế hệ tương lai (Báo cáo Brundtland, 1987), đến chỗ quan niệm phát triển bền vững là phải gắn việc giải quyết phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường và giải quyết các vấn đề xã hội trong quá trình phát triển (Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg, 2002). Thay vì đồng nhất phát triển với tăng trưởng kinh tế, chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh kinh tế và môi trường tự nhiên, giờ đây trong các quan niệm về phát triển đã chú ý nhiều hơn đến sự phát triển đồng bộ, hài hòa của tất cả các lĩnh vực, các yếu tố, các bộ phận cấu thành đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng. Tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát triển bền vững là: tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống. Con người được đặt vào trung tâm của sự phát triển bền vững, phát triển bền vững là phát triển bởi con người, do con người và vì con người trong mố quan hệ cộng sinh, hài hòa, bền vững với tự nhiên. Nội hàm của khái niệm phát triển bền vững ngày càng được bổ sung, phát triển phong phú và toàn diện hơn, cụ thể hơn, mở rộng hơn, với những đòi hỏi cao hơn… Phát triển bền vững đã và đang trở thành một triết lý, một phương thức phát triển xã hội và quản lý xã hội hiện đại.

II/ Một số lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

1/ Các lý thuyết cổ điển về phát triển

a/ Lý thuyết về vai trò của thị trường (bàn tay vô hình) trong phát triển của A. Smith

Lý thuyết cố điển về phát triển được mở đầu bằng công trình nghiên cứu Của cải của các dân tộc  (1776) của Adam Smith (1723 – 1790), người đã mở ra giai đoạn phát triển mới của các học thuyết về kinh tế thị trường như là một động lực của sự phát triển.

Theo A. Smith, phát triển là kết quả của sự nỗ lực sản xuất để trao đổi với sự điều tiết của thị trường (bàn tay vô hình) và nhà nước (bàn tay hữu hình). Về thực chất, “bàn tay vô hình” chính là các quy luật kinh tế khách quan tự phát hoạt động như một “trật tự tự nhiên”, chi phối hành động của con người. Để có sự hoạt động của trật tự tự nhiên này, cần phải có những điều kiện cần thiết. Đó là sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa. Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do mậu dịch, tự do sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa người với người. Quan hệ giữa người với người là quan hệ phụ thuộc về kinh tế, từ đó A. Smith cho rằng, cần phải tôn trọng trật tự tự nhiên, tôn trọng “bàn tay vô hình”. Hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa được phát triển theo sự điều tiết của “bàn tay vô hình”. Hoạt động kinh tế vốn có cuộc sống riêng của nó. Do đó, trong một xã hội dựa trên nền kinh tế thị trường tự do, nhà nước phải là tối thiểu. Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, mà chỉ cần tập trung vào chức năng là chống giặc ngoại xâm, bảo vệ xã hội, xây dựng và duy trì các tổ chức. Vai trò kinh tế của nhà nước được thể hiện khi những nhiệm vụ kinh tế vượt quá sức các doanh nghiệp như xây dựng đường sá, đào sông, làm những công trình kinh tế lớn… Như vậy, theo A. Smith, nguồn gốc của sự gia tăng của cải và phát triển quốc gia ở cấp vĩ mô là sự phân công giữa thị trường và nhà nước; ở cấp vi mô là sự chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa của người lao động dưới tác động của các quy luật kinh tế khách quan. Nhà nước có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự hoạt động của các quy luật kinh tế, nhưng không thể không thừa nhận sự tồn tại khách quan của chúng. Trả lời câu hỏi: “Chính sách kinh tế nào phù hợp với trật tự tự nhiên?”, Smith khẳng định: “Đó là tự do cạnh tranh. Xã hội muốn giàu có phải phát triển kinh tế theo tinh thần tự do”.

Lý thuyết “bàn tay vô hình” và vai trò của kinh tế thị trường đối với sự gia tăng của cải và phát triển quốc gia do A. Smith nêu ra năm 1776 đến nay vẫn còn có giá trị tham khảo, nhất là với những nước trước đây từng lâm vào khủng hoảng, bế tắc do áp dụng mô hình phát triển kinh tế – xã hội theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, không thừa nhận kinh tế thị trường và chủ quan, duy ý chí, bất chấp các quy luật kinh tế khách quan, tuyệt đối hóa vai trò và sự can thiệp của nhà nước đối với kinh tế. Trên thực tế, Ngân hàng Thế giới (WB) đã phải trích dẫn quan điểm của A. Smith để nhấn mạnh vai trò điều tiết của thị trường đối với hành vi kinh tế của người sản xuất và quá trình phát triển phúc lợi xã hội. Lý thuyết trên cũng rất có ý nghĩa đối với Việt Nam, nếu được nghiên cứu và áp dụng một cách cẩn trọng, khoa học, phù hợp với thực tiễn đất nước. Một trong những nguyên nhân dẫn đến những thành tựu to lớn của gần 30 năm đổi mới của Việt Nam vừa qua chính là sự đổi mới tư duy, thừa nhận kinh tế thị trường không mâu thuẫn với chủ nghĩa xã hội, từ đó chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quy luật kinh tế khách quan, phân biệt rõ chức năng quản lý của Nhà nước với chức năng tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người sản xuất vốn bị Nhà nước bao biện làm thay, do đó đã giải phóng lực lượng sản xuất xã hội, tạo động lực mạnh mẽ để phát triển đất nước.

b/ Lý thuyết về lợi thế so sánh trong phát triển

Lý thuyết về lợi thế so sánh trong phát triển được David Ricardo (1772 – 1823) nêu ra trong các tác phẩm Những nguyên lý cơ bản của chính sách kinh tế và thuế khóa, Những nguyên lý của kinh tế chính trị học… Theo D. Ricardo, mỗi quốc gia có thể phát triển bằng cách tập trung vào sản xuất những hàng hóa có lợi thế so sánh cao hơn so với các nước khác. Lý thuyết về lợi thế so sánh cho rằng, nếu một đất nước có lợi thế so sánh trong một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh trong một số sản phẩm khác thì nó sẽ có lợi trong chuyên môn hóa và phát triển thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế chủ yếu phụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối. Theo D. Ricardo, một đất nước có lợi thế so sánh trong việc sản xuất một mặt hàng nào đó nếu nước đó có chi phí sản xuất tương đối về mặt hàng đó thấp hơn so với nước khác. Tư tưởng của D. Ricardo về lợi thế so sánh mở đầu cho những phân tích mới về mối quan hệ của một nền kinh tế với thế giới bên ngoài. Nó chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn đạt hiệu quả cao cần phải gắn với phần còn lại của thế giới để lựa chọn chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh. Đây chính là một trong những tư tưởng quan trọng của lý thuyết kinh tế mở, hội nhập kinh tế quốc tế hiện đại trong bố cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Tư tưởng này cũng gợi cho chúng ta nhiều điều đáng suy nghĩ trong quá trình lựa chọn con đường phát triển nhanh, bền vững, khi Việt Nam là nước nông nghiệp nhiệt đới, có nguồn lao động dồi dào, có thể tận dụng được lợi thế của một nước đang phát triển, vừa phát triển tuần tự, vừa “đi tắt đón đầu” nhờ tiếp thu được những kinh nghiệm và thành tựu khoa học – công nghệ của những nước tiên tiến, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu…

c/ Lý thuyết về ảnh hưởng của nhân khẩu trong phát triển

Lý thuyết về ảnh hưởng của nhân khẩu trong phát triển, hay còn gọi là thuyết nhân khẩu được Thomas Robert Malthus (1766 – 1844) trình bày lần đầu tiên trong cuốn Bàn về quy luật nhân khẩu (1788), về sau được sửa chữa, bổ sung trong tác phẩm Những nguyên lý của kinh tế chính trị học (1820). Nội dung cơ bản trong thuyết nhân khẩu của T.R. Malthus là: Theo quy luật sinh học, dân số tăng lên theo cấp số nhân, cứ sau 25 năm dân số sẽ tăng lên gấp đôi, còn tư liệu sinh hoạt thì tăng theo cấp số cộng. Do tốc độ tăng dân số nhanh hơn tốc độ tăng tư liệu sinh hoạt nên nạn khan hiếm tư liệu sinh hoạt là tất yếu, kéo theo sự bần cùng, đói rét có tính chất phổ biến đối với mọi xã hội. Để khắc phục tình trạng này, theo Malthus, phải tiến hành nhiều giải pháp như: lao động quá sức, gây chết chóc, chiến tranh, không cho lập gia đình sớm… để hạn chế tốc độ tăng dân số. Đồng thời, nhà nước cần khuyến khích việc cải tiến kỹ thuật canh tác, phát triển lưu thông hàng hóa tự do, di dân sang các vùng đất mới, giàu tài nguyên chưa được khai thác… Nhìn chung, Malthus muốn nêu lên một xu hướng có tính quy luật là nhân khẩu tăng nhanh hơn tư liệu sinh hoạt.  Vấn đề dân số là vấn đề cần được xem xét một cách nghiêm túc torng quá trình phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia. Cảnh báo này có ý nghĩa đặc biệt đối với những nước đang phát triển hiện nay. Tuy nhiên, trong số những biện pháp mà Malthus đề xuất để giải quyết tình trạng dân số tăng nhanh có nhiều biện pháp vô nhân đạo, thù địch đối với con người. K. Marx đã lên án những tư tưởng trong cuốn Bàn về quy luật nhân khẩu  của Malthus, coi đó là sự phỉ báng loài người một cách vô liêm sỉ, nhằm phục vụ lợi ích cảu giai cấp thống trị và những phần tử phản động trong giai cấp đó. Đây chính là những hạn chế trong thuyết nhân khẩu của Malthus.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần IV


Năm 1996, Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã cảnh báo về năm loại tăng trưởng xấu, bao gồm: 1 – Tăng trưởng không việc làm, tức là tăng trưởng không đi liền với mở rộng cơ hội việc làm…; 2 – Tăng trưởng không lương tâm, tức là thành của nó chủ yếu đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo bị thua thiệt, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng; 3 – Tăng trưởng không có tiếng nói, tức là tăng trưởng kinh tế không kèm theo việc mở rộng dân chủ, tạo điều kiện cho người dân được tham dự nhiều hơn vào đời sống xã hội, thể hiện tiếng nói của mình trong các vấn đề của đất nước; 4 – Tăng trưởng không gốc rễ, tức là sự tăng trưởng khiến cho đời sống văn hóa của con người trở nên khô héo, mất bản sắc; 5 – Tăng trưởng không tương lai, tức là tăng trưởng trong đó thế hệ hiện nay phung phí những nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên và đe dọa môi trường mà các thế hệ tương lai cần đến. Hơn nữa, thực tiễn cho thấy, không phải chỉ có các yếu tố kinh tế tham gia vào sự phát triển, mà còn có các yếu tố văn hóa, xã hội, môi trường – sinh thái đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển. Từ đó đã xuất hiện quan niệm về phát triển không chỉ dựa vào kinh tế, trên phương diện kinh tế, mà còn ở phương diện văn hóa, xã hội, chính trên những phương diện này mới thực sự phản ánh đúng bản chất quá trình phát triển, làm cho phát triển trở nên thực chất, đầy đủ và toàn diện hơn. Điều đó thể hiện ở việc, bên cạnh mệnh đề “Kinh tế và phát triển”, đã xuất hiện và ngày càng phổ biến các mệnh đề gắn với các lĩnh vực đời sống như: Văn hóa và phát triển, Chính trị và phát triển, Dân số và phát triển, Sinh thái và phát triển, Dân tộc và phát triển…

Phát triển bền vững là một khái niệm mà nội hàm của nó không ngừng được mở rộng và hoàn thiện cùng với đòi hỏi của thực tiễn và sự phát triển thế giới quan, nhân sinh quan, tư duy và nhận thức của con người về môi trường và sự sinh tồn của mình. Thực tiễn cho thấy, những ý tưởng về phát triển bền vững xuất hiện từ sớm trong xã hội loài người, nhưng phải đến thập niên đầu thế kỷ XX, chúng mới dần dần được định hình, được thừa nhận và khẳng định trong nhận thức và hành động, trở thành một phong trào xã hội. Ban đầu, phát triển bền vững gắn với cuộc đấu tranh bảo vệ môi trường, mà tiên phong là giới bảo vệ môi trường ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế như UNDP, UNESCO, WHO, FAO… đã có nhiều nỗ lực phối hợp hoạt động, hướng các quốc gia theo mô hình phát triển bền vững. Năm 1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu với tiêu đề: Thực trạng bảo vệ môi trường thiên nhiên trên thế giới. Tài liệu này được cập nhật vào năm 1954 và được coi là một trong số những tài liệu quan trọng của Hội nghị về môi trường và con người (1972) do Liên hợp quốc tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) và cũng được xem là tiền thân của Báo cáo Brundtland (1987). Tháng 4/1968, Câu lạc bộ Rom (The Club of Rom) được thành lập. Các cuộc thảo luận của Câu lạc bộ Rom trong nhiều năm sau đó đã đưa đến sự xuất hiện trên diễn đàn lý luận các tư tưởng về phát triển bền vững thông qua việc đề cập đến hậu quả của việc gia tăng dân số, sự hữu hạn của các nguồn tài nguyên, giới hạn của sự tăng trưởng… Tháng 6/1972, Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và con người tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) đã thông qua Tuyên bố chung, trong đó đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường. Sau đó. Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc ra đời. Trong thập niên 70 của thế kỷ XX, Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc đã sử dụng thêm những cách tiếp cận mới về phát triển như: phát triển không phá hủy, phát triển sinh thái với nội dung cơ bản là phát triển nhưng không phá vỡ cân bằng sinh thái, phát triển một cách thích hợp với môi trường, giảm nhẹ những tác động xấu tới môi trường… Khái niệm phát triển bền vững tiếp tục được đề cập trong các công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây như: Vòng tròn khép kín (1971) của Bary Commner, Kinh tế học nhà nước mạnh (1973) của Herman Daily và Những con đường sử dụng năng lượng mềm cho một nền hòa bình lâu dài (1977) của Amory Lovins. Ngoài ra, nó còn được bổ sung trong các tác phẩm của Maurice Strong (1972) và Ignacy Sachs (1975), đặc biệt được trình bày một cách toàn diện trong công trình Xây dựng một xã hội bền vững (1981) của Laster Brown.

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên trong tài liệu Chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUNC) công bố năm 1980 có nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế, mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái”. Cùng với thời gian, khái niệm phát triển bền vững ngày càng được mở rộng về nội dung và chính thức được phổ biến rộng rãi trên thế giới kể từ sau khi Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển (World Commission on Environment and Development – WCED) trình bày bản báo cáo Tương lai của chúng ta (Báo cáo Brundtland, 1987). Trong báo cáo này lần đầu tiên đưa ra một định nghĩa về khái niệm phát triển bền vững như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo, tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống con người, động vật và thực vật. Kể từ sau Báo cáo Brundtland, “phát triển bền vững” trở thành khái niệm chìa khóa giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển quốc gia. Đây cũng được coi là sự kiện mở đường cho Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCED) tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg (Nam Phi) năm 2002.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, mặc dù khái niệm phát triển bền vững trong Báo cáo Brundtland và được chính thức thừa nhận tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc ở Rio de Janneiro, song cho đến nay, nó vẫn là đề tài mở, gây nhiều tranh cãi, tiếp tục thu hút sự quan tâm của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các đảng phái chính trị, các phong trào xã hội, các chính khách, các nhà quản lý, đặc biệt là giới khoa học, các học giả… Nhiều ý kiến cho rằng, quan niệm phát triển bền vững mà Liên hợp quốc đưa ra còn quá chung chung, mới dừng lại ở cấp độ lý luận trừu tượng, dẫn đến những cách hiểu và đánh giá khác nhau. Do đó, để hiểu rõ khái niệm và khả năng áp dụng của nó ở từng phạm vi hay cấp độ, cần phải định nghĩa và thao tác hóa các khái niệm trong khuôn khổ phạm vi hay cấp độ, khả năng áp dụng và tính phù hợp của khái niệm này chỉ có thể đo lường qua kiểm chứng thực tế. Hơn nữa, quan niệm phát triển bền vững như trên mới chỉ tập trung vào xử lý mối liên hệ giữa môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và tăng trưởng kinh tế, như vậy là chưa đủ, chưa khai thác được hết giá trị và ý nghĩa của khái niệm “bền vững”. Nhiều học giả, nhất là những người theo quan điểm nhân học khẳng định rằng, trong quan niệm về phát triển bền vững, tất yếu phải có quan điểm con người làm trung tâm: lấy sự tồn tại của con người (quốc gia, dân tộc, nhân loại), sự phát triển liên tục, lâu dài, bền vững, ổn định tương đối của thế hiện hiện nay và các thế hệ mai sau làm mục tiêu. Mặt khác, họ cũng cho rằng, nếu chỉ lấy con người làm trung tâm thì vẫn chưa đủ, chưa toàn diện, chưa mang tính tổng thể. Do đó, cần phải bổ sung quan điểm lấy sinh thái làm trungg tâm, trong đó coi việc giữ gìn, bảo vệ sinh thái với tính cách là cơ sở tự nhiên của toàn bộ nền văn minh nhân loại làm mục tiêu chính, để sự phát triển tiếp theo không rơi vào thảm họa sinh thái. Tóm lại, phát triển bền vững phải là sự đồng hóa tiến hóa của tự nhiên và xã hội dưới hình thức chỉnh thể tự nhiên – xã hội, do đó phải chú ý đến khía cạnh xã hội, phải bao gồm cả ba mặt cơ bản là kinh tế, môi trường xã hội. Thực tế là, qua các bản tuyên bố quan trọng trên các diễn đàn, khái niệm phát triển bền vững tiếp tục được mở rộng thêm và nội hàm của nó không dừng lại ở nhân tố sinh thái – kinh tế, mà còn được mở rộng đến các nhân tố xã hội, con người; hàm chưa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo cũng như các thế hệ. Thậm chí, nó còn bao hàm cả sự cần thiết giải trừ quân bị và coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính to lớn để áp dụng chiến lược phát triển bền vững. Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm trước hết là các vấn đề: phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ. Cũng có ý kiến cho rằng, phát triển bền vững không nên chỉ được tiếp cận từ góc độ kinh tế hay bảo vệ môi trường sinh thái, mà cần phải được nhìn nhận toàn diện hơn, cả từ góc độ xã hội văn hóa, vì phát triển kinh tế và phát triển xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường có mối liên hệ hữu cơ. Kinh tế chỉ phát triển bền vững trong sự phát triển bền vững, hài hòa về văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Gần đây, trong quá trình tiếp cận khái niệm phát triển bền vững đã xuất hiện xu hướng đi sâu tìm hiểu và xây dựng các mô hình và cơ chế xã hội cho sự phát triển bền vững, trong đó chủ yếu nhằm vào ba yếu tố căn bản là nhà nước, xã hội công dânthị trường. Nhiều học giả cho đây là ba trụ cột của xã hội hiện đại. Sự phát triển và tương tác của chúng có ảnh hưởng chi phối đến đời sống xã hội hiện đại ở những mức độ khác nhau, góp phần bảo đảm cho xã hội ổn định, phát triển hài hòa, bền vững. Nhiệm vụ chủ yếu và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý của các chính phủ cũng như vai trò của các tổ chức quốc tế là bảo đảm cho sự phát triển đồng bộ, tương thích và hài hòa của ba trụ cột chính đó. Cũng có ý kiến cho rằng, ngoài ba trụ cột trên còn cần trụ cột thứ tư là giới tự nhiên, sinh thái. Nó vừa là giới hạn, vừa là điều kiện cho sự vận động và phát triển tương tác lẫn nhau của cả ba trụ cột kia, tạo thành “cỗ xe tứ mã” trên con đường đưa nhân loại phát triển một cách hài hòa, bền vững.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần III


3/ Quản lý phát triển xã hội

Theo cách hiểu chung nhất, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định do chủ thể đặt ra. Xét từ góc độ chủ thể, quản lý gồm hai thành tố: hệ thống tổ chức bộ máy quản lýcơ chế quản lý. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý, với tư cách là chủ thể quản lý bao gồm những tổ chức và cá nhân có trách nhiệm, quyền hạn nhất định, có mối quan hệ chiều ngang và chiều dọc để thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý theo cấp độ được quy định, ủy quyền. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý được thiết lập tùy thuộc vào triết lý phát triển và đòi hỏi của khách thể quản lý. Cơ chế quản lý do chủ thể quản lý hoạch định thông qua các quan hệ pháp lý, tổ chức theo luật định, bao gồm hai bộ phận cơ bản là: 1) Hệ thống mục tiêu quản lý nhằm bảo đảm cho khách thể quản lý phát triển một cách có định hướng, ổn định và bền vững, đồng thời chúng vừa là điểm quy chiếu để định hướng cho các giải pháp, vừa là tiêu chuẩn đánh giá kết quả thực hiện. Hệ thống các mục tiêu quản lý được đề ra căn cứ vào sự phân tích, tổng hợp quan hệ tương tác giữa mục tiêu, phương tiện và nguồn lực, trong đó bao gồm những mục tiêu cụ thể khác nhau, có mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, mang tính chiến lược, có mục tiêu cuối cùng và mục tiêu trung gian, mục tiêu định lượng và mục tiêu định tính… Chọn đúng mục tiêu là vấn đề cơ bản trong quản lý của hệ thống quản lý. 2) Chính sách, công cụ và phương pháp, phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu quản lý. Đây là yêu cầu tất yếu, khách quan, bảo đảm tính hiện thực và hiệu quả thực tế của hoạt động quản lý.

Từ khi xã hội có nhà nước thì chủ thể quản lý sự phát triển xã hội là nhà nước và khách thể quản lý là sự phát triển xã hội tổng thể với các quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị. Trong xã hội hiện đại, tuy vẫn đan xen tồn tại quản lý nhà nước cùng với các thiết chế quản lý phi nhà nước và vai trò tự quản của các cộng đồng xã hội, cộng đồng dân cư ngày càng mở rộng, nhưng quản lý nhà nước vẫn là chủ đạo.

Theo nghĩa rộng, quản lý phát triển xã hội là quản lý sự phát triển xã hội tổng thể, bao gồm quản lý phát triển kinh tế, quản lý phát triển hệ thống chính trị, quản lý phát triển văn hóa, quản lý phát triển xã hội, quản lý phát triển con người và cả quản lý sự phát triển nguồn lực vật chất nhân tạo, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội.

Theo nghĩa hẹp, quản lý phát triển xã hội là quản lý phát triển lĩnh vực (tiểu hệ thống) xã hội của xã hội tổng thể, như quản lý phát triển hệ thống giáo dục – đào tạo, quản lý phát triển hệ thống y tế – chăm sóc sức khỏe con người và cộng đồng, quản lý phát triển hệ thống an sinh xã hội, quản lý phát triển dân số – kế hoạch hóa gia đình, quản lý phát triển các tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội dân sự…

Với quan niệm về xã hội và quản lý phát triển xã hội trên, khi nghiên cứu luận cứ và giải pháp phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời kỳ đổi mới, một số nhà khoa học đã nêu lên quan niệm về quản lý phát triển xã hội với các hàm nghĩa như sau:

+ Quản lý phát triển xã hội là hoạt động quản lý của nhà nước với sự phối hợp của các tổ chức ngoài nhà nước nhằm xây dựng chính sách, hoàn thiện thể chế, huy động và phân bổ các nguồn lực để giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội liên quan trực tiếp tới cuộc sống của cá nhân và cộng đồng, bảo đảm an sinh cho con người và cộng đồng xã hội, góp phần thúc đẩy kinh tế và văn hóa phát triển, chính trị ổn định và xã hội đoàn kết – đồng thuận.

+ Quản lý phát triển xã hội là quản lý việc tổ chức và thực hiện các chính sách, luật pháp, cơ chế để giải quyết các vấn đề xã hội trong đời sống nhằm phục vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân và cộng đồng, tạo ra những tác nhân tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế và văn hóa, sự lành mạnh của xã hội, sự an toàn của môi trường với vai trò, trách nhiệm của nhà nước và sự cộng đồng trách nhiệm của xã hội.

+ Quản lý phát triển xã hội là một tập hợp các tác động quản lý của nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý và sự tham gia của các chủ thể khác ngoài nhà nước để tổ chức đời sống xã hội theo mục tiêu ổn định, phát triển, tiến bộ trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện an sinh xã hội cho cá nhân và cộng đồng.

Tóm lại, từ những quan niệm trên có thể hiểu: Quản lý phát triển xã hội là hoạt động quản lý của nhà nước với sự phối hợp của các tổ chức ngoài nhà nước trong việc tổ chức xây dựng và thực hiện các chính sách, pháp luật, các công cụ quản lý, huy động tối đa các nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội, hướng vào việc phát triển cá nhân và cộng đồng, phát triển xã hội bền vững.

4/ Phát triển bền vững như một triết lý và phương thức phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện đại

Thực tiễn lịch sử cho thấy, khái niệm “phát triển bền vững” mới xuất hiện và trở nên phổ biến trong vài thập niên gần đây, nhưng để nó trở thành một triết lý và phương thức phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là cả một quá trình chuyển biến về mặt nhận thức và hành động của nhiều thế hệ.

Những tư tưởng về phát triển xã hội trong đó hàm ý về phát triển bền vững đã có manh nha, ẩn chứa trong các học thuyết về triết học về nhân sinh và xã hội, về chính trị và con người… từ thời cổ đại, ở cả phương Tây (Hy Lạp – La Mã) và phương Đông (Trung Quốc – Ấn Độ). Nếu như ở phương Tây, trong các học thuyết về sự phát triển thường tìm câu trả lời trong việc tập trung tìm hiểu mối quan hệ con người với tự nhiên, hướng đến việc đi sâu khám phá các quy luật tự nhiên, phát triển khoa học tự nhiên, chinh phục và làm chủ tự nhiên, khai thác tự nhiên, thì ở phương Đông lại có xu hướng đi tìm triết lý phát triển trong lĩnh vực xã hội, trong xử lý mối quan hệ giữa con người với con người. Trong mối quan hệ với tự nhiên, phương Đông quan niệm: con người là sản phẩm của tự nhiên, phụ thuộc tự nhiên. Tự nhiên, theo thuyết Lão – Trang, như một cốc nước trong sạch, tinh khiết, con người không nên can thiệp, thò bàn tay vào để làm nó vẩn đục, làm mất đi cái đẹp vốn có của nó. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, cần sống hòa đồng với thiên nhiên, tôn trọng và thuận theo tự nhiên, không nên can thiệp, chống đối hay thay đổi tự nhiên, làm trái với cái “Đạo” của trời – đất. Triết lý “Tam tài” của phương Đông chỉ rõ: Muốn tồn tại và phát triển cần phải hiểu và xử lý tốt mối quan hệ giữa ba yếu tố Thiên – Địa – Nhân. Thiên tức Trời – được hiểu như thời thế, vận số, quy luật; Địa tức Đất – được hiểu như môi trường, cái nôi con người sinh ra và tồn tại, phát triển; Nhân – được hiểu là con Người, lòng người, tình người. Muốn thành công phải có được “Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa”, trong đó “đắc nhân tâm” – thu phục lòng người, phát huy yếu tố con người là quan trọng nhất – được coi là triết lý của sự ổn định và phát triển, là chìa khóa của sự thành công ở cả cấp độ cá nhân và xã hội. Như vậy, có thể nói trong quá trình tìm kiếm triết lý và phương thức phát triển, mặc dù nhiều vấn đề chưa được lý giải một cách khoa học và luận chứng sâu sắc, song ngay từ thời cổ đại, người ta đã sớm nhận ra rằng, muốn phát triển bền vững phải tôn trọng và bảo vệ tự nhiên, gìn giữ môi trường sống của loài người, đồng thời phải quan tâm đến việc “an dân”, phát huy “yếu tố con người”.

Khái niệm phát triển xuất hiện từ trước Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng phải sau năm 1945 mới trở thành một lý thuyết và được hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Lúc đầu, khái niệm này được đề cao ở các nước Âu – Mỹ và dần dần trở nên phổ dụng thông qua “Kế hoạch Marshall” về viện trợ tái thiết và phát triển của Mỹ đối với châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với nó là sự ra đời của các tổ chức tài chính, ngân hàng như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB)…

Vào những thập niên 40 – 60 của thế kỷ XX, tồn tại quan niệm đồng nhất sự phát triển với tăng trưởng kinh tế, trong đó chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh số lượng và được đánh giá chủ yếu thông qua các chỉ số như tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và bình quân thu nhập trên đầu người. Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhằm thu được lợi nhuận tối đa trong một khoảng thời gian ngắn nhất có thể, chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển, nhất là ở giai đoạn đầu, đã triệt để khai thác nguồn tài nguyên không thể tái tạo trong nước và đẩy mạnh việc khai thác và bóc lột các nước thuộc địa và phụ thuộc. Các nước phát triển tìm mọi cách đẩy công nghệ lạc hậu, gây tốn năng lượng và ô nhiễm môi trường cao sang các nước đang phát triển. Trong khi đó, nhiều quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, đã tìm cách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nóng vội dựa trên sự tiếp thu công nghệ lạc hậu và viện trợ có điều kiện của các nước phát triển, khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí các nguồn tài nguyên hiện có, không thể tái tạo. Kết quả là, ngoài việc thu được những khoản lợi nhuận khổng lồ trước mắt và làm tăng thu nhập, thỏa mãn nhu cầu vật chất cho một bộ phận nhỏ dân cư, những quốc gia phát triển theo mô hình trên đã phải trả giá đắt, phải đối mặt với những vấn đề nan giải kèm theo như: khủng hoảng môi trường tự nhiên, tài nguyên cạn kiệt không thể tái tạo, đói nghèo, gia tăng khác biệt xã hội, mất ổn định chính trị… Không những thế, sự phát triển không bền vững được thực hiện một cách mù quáng, thiển cận, chỉ nghĩ đến lợi ích trước mắt, làm lợi cho một số người nói trên đã góp phần làm cho những vấn đề toàn cầu trở nên gay gắt hơn, đe dọa sự sống còn của toàn nhân loại, hạn chế và tước đi những cơ hội phát triển của các thế hệ mai sau, làm cho việc giải quyết chúng trở nên khó khăn, tốn kém hơn. Ngoài ra, sự gia tăng dân số ở những nước này cũng góp phần tạo nên sức ép to lớn đối với tài nguyên và môi trường, làm trầm trọng thêm những vấn đề xã hội bức xúc cần giải quyết. Những vấn đề về ô nhiễm, bùng nổ dân số, về sinh thái nói chung là những nguy cơ có thể tiêu diệt toàn bộ sự sống trên hành tinh. Như vậy, xét theo quan điểm phát triển bền vững, tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung là có những giới hạn xác định, phụ thuộc và bị chế định bởi nhiều yếu tố mà mỗi quốc gia cần phải cân nhắc kỹ khi lựa chọn mô hình và phương thức phát triển cho mình.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.