Chú trọng dân sinh văn hóa, thúc đẩy xã hội hài hòa – Phần cuối


Xem xét từ góc độ cơ chế thực hiện, mấu chốt của chú trọng dân sinh văn hóa là ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phục vụ văn hóa chung (hay văn hóa cộng đồng). Vấn đề hệ thống phục vụ văn hóa chung lấy việc thực hiện quyền lợi văn hóa của người dân làm logic xuất phát, cũng là thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội, hướng đến công chúng để đưa ra các sản phẩm văn hóa cộng đồng và sự phục vụ cùng các hệ thống cơ chế liên quan, nó là bộ phận hợp thành của hệ thống phục vụ cộng đồng quốc gia. Xuất phát điểm chủ yếu của nó chính là đảm bảo lợi ích văn hóa cho quần chúng nhân dân, duy trì quyền lợi văn hóa cho người dân; nội dung chủ yếu gắn liền với bốn phương diện cơ bản: lý luận văn hóa và sáng tạo cơ chế mới đối với hệ thống giá trị văn hóa, các thiết chế văn hóa chung và môi trường sinh thái văn hóa, chủ thể vi mô hỗn hợp của sự nghiệp phục vụ văn hóa chung, thể chế quản lý giám sát và hệ thống chính sách pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống phục vụ văn hóa cộng đồng cũng chính là con đường chủ yếu để thực hiện, duy trì và phát triển tốt quyền và lợi ích văn hóa cơ bản của người dân. Ngoài ra, cũng cần phải coi trọng việc xây dựng hệ thống phục vụ thị trường văn hóa. Việc xây dựng đó đương nhiên cần tuân theo quy luật thị trường, nhưng vẫn phải thể hiện ý thức dân sinh, từ đó mà hình thành hai nhân tố tác động hữu cơ với nhau trong hệ thống phục vụ văn hóa.

Xem xét từ góc độ mục đích cuối cùng, chú trọng dân sinh văn hóa là nhằm giải quyết vấn đề tinh thần gia đình, thực hiện quyền lợi và nhu cầu tinh thần đa tầng của người dân. Con người là tồn tại văn hóa, văn hóa là biểu hiện người của con người, cũng là huyết mạch và linh hồn cho sự phát triển và sinh tồn của một dân tộc, tinh thần gia đình và ký ức tinh thần dân tộc thể hiện sự đồng cảm của dân tộc, phản ánh sức sống của dân tộc, sức kết dính của dân tộc. Văn hóa của một dân tộc là sự kết dính của cảm thụ hiện thực và nhận thức lịch sử của dân tộc đó đối với thế giới và đối với bản thân, tích tụ và nhuần nhuyễn các chuẩn tắc hành vi, truy cầu tinh thần, bao gồm các thói quen sinh hoạt chung, phương thức tư duy, phương thức hoạt động, tình cảm đạo đức, thị hiếu thẩm mỹ, tôn giáo tín ngưỡng, tiêu chuẩn giá trị… Do vậy, con người không thể chỉ dừng lại ở chỗ truy cầu và thụ hưởng trên phương diện vật chất, không cần tinh thần gia đình, nếu tinh thần không có nơi nương tựa, tâm hồn sẽ trở nên trống rỗng. Xã hội hiện đại đang trong giai đoạn chuyển đổi, đi liền với nó là các hiện tượng tâm lý như ảo tưởng, trống rỗng, lo âu, lạnh nhạt, khiếp sợ, bất an,… Do vậy, cần phải thông qua những quan tâm mang tính nhân văn, những tư vấn tâm lý để giải quyết các vấn đề đó. Mục đích cuối cùng của việc xây dựng dân sinh văn hóa chính là xây dựng tinh thần gia đình, giải quyết sự bình yên tinh thần, làm cho cuộc sống của quần chúng nhân dân càng thêm hạnh phúc, vui vẻ. Đương nhiên, ở đây cần phải chú ý nhiều tầng bậc khác nhau của sự truy cầu tinh thần, không chỉ phải chú trọng việc xây dựng tinh thần gia đình chung của toàn thể dân tộc, mà còn phải chú ý đến sự truy cầu tinh thần của các cộng đồng khác nhau, giai tầng khác nhau, các cá nhân khác nhau.

3/ Chú trọng văn hóa dân sinh thể hiện tính tự giác văn hóa mới

Phí Hiếu Thông đã từng cho rằng, “tự giác văn hóa là chỉ con người trong một nền văn hóa nhất định, tự hiểu về nền văn hóa của mình, hiểu lịch sử của nó, quá trình hình thành của nó, cũng như đặc sắc và xu thế phát triển của nó. Ở đây không chứa đựng bất kỳ ý nghĩa nào của “trở về văn hóa”, không phải là “phục cổ”, đồng thời cũng không chủ trương “tây hóa hoàn toàn” hoặc “tha hóa hoàn toàn”. Tự giác văn hóa chính là chỉ sự tự giác ngộ, tự phản tỉnh, tự sáng tạo của văn hóa. Do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, tự giác văn hóa của chúng ta trì trệ hơn so với tự giác đối với lực lượng sản xuất, xây dựng văn hóa cũng khá chậm chạp. Việc chú trọng dân sinh văn hóa thể hiện một cách đầy đủ tự giác văn hóa mới trong tiến trình xây dựng xã hội hài hòa ở Trung Quốc hiện nay.

Thứ nhất, biểu hiện định hướng giá trị lấy dân làm gốc

Quyền và lợi ích văn hóa cũng như nhu cầu văn hóa của quần chúng nhân dân mang tính đa dạng và có nhiều cấp độ; các khu vực khác nhau, các giai tầng khác nhau, các cộng đồng khác nhau đều có những nhu cầu văn hóa khác nhau. Từ sau cải cách mở cửa, vấn đề tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, nỗ lực thúc đẩy phương diện công bằng văn hóa đã giành được những tiến triển nhất định. Nhưng, tốc độ thực hiện quyền lợi văn hóa vẫn còn khá thấp, chủ yếu thể hiện ở chỗ: Một là, những chi tiêu cho văn hóa và giải trí có tỷ trọng tương đối thấp trong tổng chi phí của người dân; Hai là, trong sự phát triển của văn hóa, có sự mất cân bằng trong phát triển giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn, giữa các giai tầng khác nhau, cụ thể sự phát triển văn hóa khu vực tây trung bộ rõ ràng chậm chạp hơn khu vực đông bắc, nông thôn chậm chạp hơn thành thị; Ba là, thiếu sự tôn trọng quyền biểu đạt đối với các nhu cầu văn hóa của quần chúng, quyền tham gia vào các quyết sách văn hóa chung; Bốn là, phương diện thực thi cơ sở văn hóa cộng đồng còn thiếu. Điều này làm cho việc thực hiện bình đẳng trong thụ hưởng văn hóa của người dân không thể đảm bảo. Chú trọng dân sinh văn hóa cần phải lấy việc tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân làm xuất phát điểm, cần phải kiên trì tính công ích, tính công bằng và hiệu quả xã hội, coi đó là những nguyên tắc đầu tiên, đem lại cho người dân sự ưu đãi, miễn phí, phục vụ văn hóa một cách hiệu quả, nhanh chóng, giúp cho người dân có thể được hưởng những thành quả của sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

Thứ hai, nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của văn hóa đối với việc nâng cao quyền lực mềm của đất nước

Sức mạnh của một đất nước bao gồm quyền lực cứng và quyền lực mềm, quyền lực cứng biểu hiện ở thực lực trên các phương diện chủ yếu, như quân sự, kỹ thuật, kinh tế. Quyền lực mềm biểu hiện ở sức lôi cuốn của văn hóa, năng lực thuyết phục trên lĩnh vực ngoại giao, sức thu hút của chế độ chính trị, trong đó sức ảnh hưởng, độ kết dính và lôi cuốn của văn hóa đóng vai trò hạt nhân của quyền lực mềm. Trong thời đại ngày nay, quyền lực mềm của văn hóa đóng vai trò ngày càng quan trọng trong năng lực cạnh tranh của một đất nước. Quốc gia nào chiếm vị trí đỉnh cao trong phát triển văn hóa, quốc gia đó sẽ nắm quyền chủ động trong cạnh tranh quốc tế. Như trên đã trình bày, xây dựng dân sinh văn hóa bao gồm nội dung ở nhiều cấp độ khác nhau, bất luận sự sáng tạo và sản sinh các sản phẩm văn hóa hay các thiết chế văn hóa, thực hiện và tôn trọng các quyền lợi văn hóa của nhân dân, đều là xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa cũng như xây dựng tinh thần gia đình của quần chúng nhân dân, đều là nhằm nâng cao quyền lực mềm văn hóa. Quyền lực mềm văn hóa, ở cấp độ cao nhất, biểu hiện trạng thái tinh thần quốc gia, sức kết dính nội tại và phẩm cách ý chí, tất cả những cái đó đến từ sự đồng thuận đối với các giá trị nòng cốt trong xã hội của mọi người. Theo đó, trọng tâm của việc xây dựng quyền lực mềm là xây dựng dân sinh văn hóa, hạt nhân của xây dựng dân sinh văn hóa là xây dựng tinh thần gia đình.

Thứ ba, thể hiện lựa chọn lý tính đối với sự phát triển và sáng tạo văn hóa mới của Trung Quốc đương đại

Văn hóa Trung Quốc đương đại thể hiện tính phong phú, đa dạng, sáng tạo và phát triển văn hóa mới. Chú trọng văn hóa dân sinh cần phải tiếp thu và học hỏi những thành tựu văn hóa cổ kim và trên thế giới. Sự tồn tại và phát triển một nền văn hóa của bất kỳ dân tộc hay quốc gia nào cũng đều phải được kế thừa, phát triển, sáng tạo trên nền tảng văn hóa truyền thống. Nếu xa rời truyền thống, đứt đoạn, thì sẽ tự đánh mất mình, đánh mất gốc. Đối với văn hóa Trung Hoa, cần nỗ lực duy trì tính dân tộc, thể hiện tính thời đại nhằm làm cho văn hóa phù hợp với xã hội và văn minh hiện đại; đối với văn hóa của các dân tộc, cần tăng cường khai thác và giữ gìn; đối với đặc sắc văn hóa truyền thống của các khu vực, vùng miền, cần khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Như vậy, tinh thần gia đình của dân sinh văn hóa mới có thể gắn kết với thực tiễn, với cuộc sống, với quần chúng, mới có thêm sức và lực mới. Cùng với sự tăng tốc của quá trình toàn cầu hóa kinh tế, nhân loại đang bước vào giai đoạn có những xung đột lớn về các giá trị văn hóa. Xây dựng dân sinh văn hóa còn phải đối diện với sự tồn tại khách quan của tính đa dạng văn hóa thế giới. Tính đa dạng, một mặt, mang lại tính phong phú của văn hóa; mặt khác, cũng mang đến những thách thức đối với văn hóa truyền thống dân tộc và nguy cơ xung đột văn hóa. Trong quá trình ngày càng phức tạp của sự giao lưu văn hóa quốc tế, sự tăng tốc của các sản phẩm văn hóa trong và ngoài nước đã mở rộng tầm mắt văn hóa cho người dân, kích thích những nhu cầu văn hóa chung, tăng cường sự phục vụ các sản phẩm văn hóa mang sắc thái thời đại, cũng là mở rộng sức ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trên phạm vị thế giới; đồng thời, cũng mang đến những thách thức và xung đột đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc, chẳng hạn, một số hình thức văn hóa truyền thống địa phương, như hý kịch, các ngày lễ truyền thống,… dần dần mai một. Mặc dù vậy, Trung Quốc hiện vẫn luôn tràn đầy tự tin, hội nhập với thế giới thông qua việc đối diện với chỉnh thể văn hóa của quá trình toàn cầu hóa, đối diện với hoàn cảnh lịch sử thế giới của quá trình toàn cầu hóa để từ đó khảo nghiệm vấn đề dân sinh văn hóa.

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Advertisements

Chú trọng dân sinh văn hóa, thúc đẩy xã hội hài hòa – Phần đầu


Trương Vũ Đông

1/ Chú trọng dân sinh văn hóa là vấn đề không thể thiếu trong xây dựng xã hội hài hòa

Những năm qua, trong điều kiện nhấn mạnh quan điểm lấy dân làm gốc, phát triển khoa học, xây dựng xã hội hài hòa, dân sinh đã trở thành một nội hàm quan trọng trong phát triển xã hội Trung Quốc. Chú trọng dân sinh ngày càng nhận được sự quan tâm, đồng thuận của toàn xã hội và trở thành nội dung quan trọng trong tư duy quản lý mới. Nhưng xét một cách tổng thể, bất luận trong nghiên cứu lý luận về dân sinh hay trong việc đưa ra những giải pháp đối với các vấn đề dân sinh cụ thể, về cơ bản đều phải tiến hành xem xét từ góc độ xây dựng xã hội. Chẳng hạn, trong giai đoạn giữa hai kỳ đại hội toàn quốc, có người từng đưa ra yêu cầu giải quyết 12 vấn nạn dân sinh, bao gồm: lao động việc làm, đảm bảo xã hội, vệ sinh y tế, an toàn thực phẩm, học phí giáo dục, luật pháp nghiêm minh, an toàn sinh sản, phân phối thu nhập, cơ chế doanh nghiệp, trưng dụng đất đai, quá trình đô thị hóa và ô nhiễm môi trường. Từ đó, nảy sinh các vấn đề, như vấn đề dân sinh có bao gồm nội dung xây dựng văn hóa hay không? Quyền lợi dân sinh có bao gồm quyền lợi văn hóa? Dân sinh có đòi hỏi nội dung văn hóa và công bằng văn hóa?…

Ngoài ra, chúng ta còn nhận thấy một số hiện tượng đáng chú ý gắn liền với vấn đề dân sinh văn hóa.

Chẳng hạn, ở Trung Quốc, ngày 13/9/2006, “Đề cương phát triển văn hóa thời kỳ “thập nhất ngũ” của đất nước” được ban hànhl trong đó, đưa ra nguyên tắc phát triển văn hóa cần phải kiên trì lấy dân làm gốc, đảm bảo và thực hiện quyền lợi văn hóa cơ bản của quần chúng nhân dân, làm cho quảng đại quần chúng nhân dân được hưởng những thành quả của phát triển văn hóa; đề ra trọng điểm phát triển văn hóa chung, thực hiện tốt việc xây dựng văn hóa cơ sở, dốc hết sức để nhanh chóng cải thiện các điều kiện văn hóa cộng đồng ở khu vực miền Trung và miền Tây cũng như khu vực nông thôn, hoàn thiện phục vụ văn hóa cộng đồng, đảm bảo quyền lợi văn hóa cơ bản cho nông dân và tầng lớp có thu nhập thấp ở thành thị.

Ngày 16/6/2007, Bộ Chính trị đã Họp hội nghị để tập trung nghiên cứu làm rõ vấn đề xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa cộng đồng. Hội nghị chỉ rõ rằng, tăng cường xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa là yêu cầu tất yếu của việc xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa và của việc phát triển phồn vinh nền văn hóa tiên tiến xã hội chủ nghĩa; đồng thời, việc đảm bảo, duy trì và phát triển tốt các quyền lợi văn hóa cơ bản của quần chúng nhân dân có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người, nâng cao nhân tố văn hóa khoa học và đạo đức tư tưởng toàn dân tộc, cũng như việc xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh, thực hiện hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa…

Đến năm 2007, thành phố Thâm Quyến đề ra “Hệ thống chỉ số phúc lợi dân sinh”, trong đó đã bổ sung quyền lợi văn hóa và phúc lợi văn hóa của người dân thành phố vào chỉ số về “trình độ phát triển toàn diện của con người”.

Ngày 2/3/2008, Bảo tàng quân sự cách mạng nhân dân Trung Quốc đã mở cửa miễn phí, số người đến tham quan hôm đó trở thành một hiện tượng. Kể từ năm nay trở đi, trên toàn quốc, các Viện bảo tàng văn hóa văn vật, nhà tưởng niệm, những nơi biểu dươg và có giá trị giáo dục lòng yêu nước sẽ tiến hành mở cửa miễn phí.

Theo “Nhân dân nhật báo” ngày 9/4/2008, tại Tỉnh Cam Túc, “Huyện Vĩnh Tịnh đã đầu tư 3000 vạn tệ xây dựng Hoàng Hà Tam Hiệp Khổng Tử đại điện”, “Huyện Hoa Đình đã đầu tư hơn 3000 vạn tệ xây dựng công trình quảng trường văn hóa Tần Thủy Hoàng tế trời”, “Huyện Lâm Đào đầu tư 8000 vạn tệ xây dựng vườn văn hóa Lão Tử”. Ba huyện trên không tiếc tiền bạc công sức để xây dựng “văn hóa cổ”, do đó đã gây được sự quan tâm của toàn xã hội.

Những ví dụ nêu trên đã chứng minh một điều rằng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc hết sức quan tâm và coi trọng vấn đề “dân sinh văn hóa”; mặt khác, cũng thể hiện trong vấn đề dân sinh và dân sinh văn hóa vẫn đang tồn tại một số vấn đề cần giải quyết. Ví dụ, ở một số địa phương lấy những người nổi tiếng, quan chức chính phủ, diễn viên điện ảnh, các doanh nhân thành đạt,… làm nhân vật chính trong các hoạt động văn hóa; do đó, bộ mặt văn hóa biến thành bộ mặt quý tộc, còn sự truy cầu văn hóa của quần chúng nhân dân bị lãng quên, dẫn đến sự phai nhạt của bản sắc dân sinh và sắc thái văn hóa vốn không thể thiếu trong các hoạt động văn hóa. Vì vậy, đối với dân sinh văn hóa, việc quan tâm chú trọng và làm rõ một số vấn đề mang tính cơ sở sẽ giúp ích cho việc xây dựng xã hội hài hòa và xây dựng dân sinh.

Trung Quốc tiến hành cải cách đã 30 năm, trong 30 năm đó đã giành được những thành tựu to lớn trong xây dựng văn minh vật chất và văn minh tinh thần, được thế giới thừa nhận. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới. Trong thời kỳ “Thập nhất ngũ”, thu nhập bình quân đầu người đã đạt khoảng 2000 – 3000 USD, số lượng hộ đói nghèo ở thành thị và nông thôn giảm đáng kể, Trung Quốc đã “bước vào giai đoạn mới trong phát triển toàn diện xã hội hài hòa”. Có thể nói, Trung Quốc đã giải quyết được những vấn đề cơ bản của đời sống nhân dân. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn bộc lộ nhiều mâu thuẫn. Trong khi thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng trưởng, số hộ đói nghèo không ngừng giảm xuống thì mức độ hài hòa xã hội lại có chiều hướng đi xuống. Những yếu tố liên quan đến chỉ số hạnh phúc của người dân, như đời sống tinh thần, gia đình hạnh phúc… có chiều hướng chậm lại; số lượng, chủng loại các yếu tố, như tính xã hội, tính quần thể có xu thế gia tăng. Những vấn đề nêu trên hoàn toàn không thể chỉ dựa vào các biện pháp kinh tế, xã hội hay chính trị là có thể giải quyết được, mà đòi hỏi phải kiên trì quan điểm phát triển khoa học lấy dân làm gốc. Xã hội hài hòa đòi hỏi giá trị nội tại. Như nhiều học giả nhận định, trong xã hội tồn tại rất nhiều vấn đề, thái độ bất mãn bộc lộ và lan rộng, ngoài vấn đề phân phối ra, vấn đề công ăn việc làm, ổn định cuộc sống của các tầng lớp nhân dân chưa được giải quyết tốt.

2/ Dân sinh văn hóa là một phạm trù có nội dung đa tầng

Thuật ngữ “Dân sinh” xuất hiện lần đầu tiên trong Tả truyện – Tuyên Công năm thứ 12, trong mệnh đề “Dân sinh tại cần, cần tắc bất quỹ” (tạm dịch: Dân sinh ở chỗ cần cù, cần cù thi không thiếu thống – ND). Hiện nay, “dân sinh” được giải thích là “sinh kế của nhân dân”, cách giải thích này chứa đựng tư tưởng nhân bản và ý nghĩa nhân văn. Thông thường “dân sinh” được giải thích là đời sống nhân dân, nhưng chủ yếu nhấn mạnh đến những nhu cầu thiết yếu của người dân. Những nhu cầu đó đương nhiên bao gồm những nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Tuy vậy, khi đề cập đến “dân sinh”, đa số đều chú trọng đến phương diện vật chất, mà ít chú trọng đến phương diện tinh thần của dân sinh.

Trên thực tế, dân sinh là một phạm trù lịch sử. Trng điều kiện người dân chưa được thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu: ăn, mặc, ở, đi lại… hay nói cách khác, khi quyền sinh tồn cơ bản chưa thể giải quyết, dân sinh chủ yếu nhấn mạnh đến những sinh kế cơ bản ở phương diện vật chất, còn những nhu cầu văn hóa đối với người dân lúc đó dường như là thứ hàng xa xỉ. Cùng với sự phát triển của kinh tế, sự phồn vinh của xã hội, những nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng trở nên bức thiết, yếu tố văn hóa dần dần thẩm thấu vào cuộc sống của người dân, dân sinh ngày càng trở về với ý nghĩa đầy đủ của nó.

Trong bối cảnh “dân sinh” trở thành tâm điểm như hiện nay, yêu cầu bắt buộc đầu tiên đối với xây dựng văn hóa là phát triển “dân sinh văn hóa”. Vấn đề “dân sinh văn hóa” chính là những sinh kế cơ bản trên phương diện văn hóa, cũng có thể xem đó như những nhu cầu văn hóa của người dân. Dân sinh văn hóa là một phạm trù có nội dung phong phú với nhiều tầng bậc khác nhau.

Từ góc độ cuộc sống hàng ngày, chú trọng dân sinh văn hóa chính là đưa ra những thiết chế, những hình thức và những sản phẩm văn hóa có tính chất lành mạnh, bổ ích nhằm thỏa mãn nhu cầu thưởng thức, giải trí của quần chúng nhân dân. Chẳng hạn, các hoạt động mang tính quần chúng, phục vụ lợi ích quần chúng; quảng trường văn hóa, khu văn hóa, tháng đọc sách, các buổi diễn giảng, nói chuyện về văn hóa… Những hoạt động này là những hoạt động không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của quần chúng. Thông qua những hoạt động đó, có thể mang lại cho quần chúng nhân dân sự thụ hưởng những thành quả của phát triển văn hóa, giúp cho người dân được sống trong môi trường văn hóa lành mạnh, cảm thụ được sự hoan hỷ của các hoạt động văn hóa, từ đó mà cảm nhận được sự hài hòa của xã hội cũng như nét đẹp của cuộc sống.

Xem xét từ góc độ quyền lợi chủ thể, chú trọng dân sinh văn hóa tất yếu phải tôn trọng quyền lợi văn hóa của quần chúng nhân dân. Quyền lợi văn hóa là một trong những quyền lợi căn bản nhất của con người, có vị trí quan trọng ngang bằng với các quyền chính trị và quyền kinh tế. Quyền lợi văn hóa của người dân bao gồm: quyền được lựa chọn và tham gia vào các hoạt động văn hóa; quyền sáng tạo văn hóa và quyền giữ gìn, bảo tồn các thành quả văn hóa; quyền truyền bá văn hóa, hưởng thụ các thành quả và giá trị văn hóa, quyền phê bình đối với các hiện tượng văn hóa,… Hạt nhân của quyền lợi văn hóa là công bằng văn hóa, nghĩa là mọi người đều có quyền lợi và cơ hội hưởng thụ các giá trị văn hóa một cách công bằng, nhu cầu văn hóa của mọi người đều có thể được thỏa mãn. Chú trọng dân sinh văn hóa tất yếu phải tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, thúc đẩy công bằng văn hóa.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Phân tích sự phát triển xã hội theo quan điểm thông tin – văn minh – Phần cuối


Theo chúng tôi, khái quát của V. Stepin và V. Tolstykh là rất hiện thực và chính xác. Ý nói về hai kịch bản:

“Kiến giải thứ nhất (gần với lý luận của T. Malthus) xuất phát từ yếu tố gay gắt quyết liệt của cuộc đấu tranh giữa các nước giành giật nguồn tài nguyên trái đất trong tình trạng đang bị cạn kiệt khủng hoảng. Kết quả không tránh khòi của cuộc đấu tranh này là những nhóm quốc gia khác hẳn nhau về chất lượng cuộc sống đã hình thành trên quy mô hành tinh.

Xét về thực chất, biến thể của kịch bản này là quan niệm xuất phát từ luận điểm cho rằng trong điều kiện tài nguyên cạn kiệt trên quy mô toàn cầu thì khả năng của các nước đang phát triển đuổi kịp trình độ của các nước kinh tế phát triển và chất lượng cuộc sống của họ ngày càng bị thu hẹp, đồng thời khả năng của họ tiến tới giai đoạn phát triển hậu công nghiệp cũng bị hạn chế. Sự thiết lập trật tự thế giới thực hiện kịch bản này giả định về ưu thế của các nước phát triển (về kinh tế) đối với tất cả các nước còn lại.

Kiến giải thứ hai, đối lập lại, trong sự nhìn nhận của mình về tương lai, xuất phát từ những tiền đề và lập luận mang tính nhân văn. Nổi bật là ý tưởng đòi xóa bỏ sự mất cân đối trong phát triển giữa các nước và vùng trên thế giới. Bắt đầu từ những bản báo cáo (trong những năm 70) của Câu lạc bộ Rome về “ngưỡng của sự tăng trưởng”, cách nhìn nhận đối lập này về tương lai của nền văn minh thế giới đã được thừa nhận rộng rãi và được truyền bá trong giới trí thức của nhiều nước khác nhau. Bản chất của phản ứng “đối lập” này đối với cuộc khủng hoảng ngày càng tăng của nền văn minh công nghệ là đề nghị phải sửa đổi về cơ bản chiến lược phát triển thế giới trong tương lai: thay vì sự phân phát vô tội vạ tiềm năng năng lượng của hành tinh là phải dựa vào công nghệ bảo tồn năng lượng; thay vì khai thác có tính ăn cướp môi trường và tài nguyên thiên nhiên là giảm đến mức tối thiểu sự can thiệp kỹ thuật – công nghệ vào quá trình tự nhiên; thay vì mở rộng sản xuất và sự toàn quyền của kinh tế là định hướng vào văn hóa và bảo vệ thiên nhiên…”. Mặc dù vậy, như chính các tác giả thừa nhận, “bóng dáng” của loại hình phát triển văn minh và trật tự thế giới này hiện mới chỉ được phác thảo dưới hình thức rất trừu tượng.

Đáng tiếc là kịch bản thứ nhất lại là hiện thực. Mặc dù không cần đến những nghiên cứu chuyên sâu, người ta cũng đã nhận rõ được sự gia tăng và ngày càng sâu sắc về sự phân hóa giữa các nước theo chất lượng, chuẩn mực sống cũng như những tiềm năng “thừa hưởng” (có nghĩa là những khả năng bảo đảm cho con cháu mình những phương tiện sống cần thiết, tiềm năng kinh tế, môi trường sống trong lành, sự tồn tại các trách nhiệm).

Cuộc đấu tranh thực sự gay gắt để giành giật tất cả các loại tài nguyên: khoáng sản thiên nhiên, không gian trong lành về sinh thái, quyền sở hữu trí tuệ. Cuộc đấu tranh này cũng đồng thời kéo theo cả sự bành trướng về nhiều lĩnh vực: về thông tin, văn hóa (kể cả sự bành trướng trong ngôn ngữ – áp đặt những nền văn hóa thông dụng khá, các chuẩn mực ứng xử), về tôn giáo và tôn giáo tộc người, về chính trị và kinh tế dưới mọi loại hình như tài chính, hàng hóa, công nghệ… Minh chứng cho điều này là sự thao túng của các tập đoàn xuyên quốc gia trong nền kinh tế thế giới. Người ta rất hoài nghi ngay cả với luận đề về sự thống nhất các nước vào những khối ngang nhau về chất lượng sống, đơn giản vì “lợi nhuận”, “có lợi” có thể biểu hiện theo các cách khác nhau.

Kịch bản thứ hai – đó là những hy vọng vào tương lai là cái mà sự tiến bộ toàn nhân loại phải hướng đến. Nhưng làm cách nào có thể bảo đảm cho loài người phương án phát triển cần thiết sống còn đối nghịch này? Làm thế nào để giảm bớt và vô hiệu hóa được tất cả các rào cản và những yếu tố chống đối nhau trong xã hội hiện đại? Để làm được việc này trước hết phải xác định được những lý tưởng của loài người. Những lý tưởng này sẽ là như thế nào? Việc xác định mô hình văn minh thế kỷ XXI chính là phụ thuộc vào lời giải cho câu hỏi then chốt này. Còn bản thân câu trả lời thì lại tùy thuộc vào chỗ những hình thức, biện pháp, mục đích và công cụ mà con người khai thác thế giới xung quanh và bản thân con người sẽ biến đổi ra sao. Dĩ nhiên là sự biến đổi các hình thức và mức độ khai thác, sự chuyển đổi của nó có liên quan đến tiến bộ khoa học – kỹ thuật, đến sự thay đổi các tư liệu sản xuất và thành phần các đối tượng lao động và suy cho cùng, đến sự biến đổi hình thức chủ yếu của hoạt động khai thác – sự khai thác giới tự nhiên mang bản chất nhân đạo.

Như vậy, rõ ràng là không đủ, nếu chỉ hạn chế ở việc phân tích sự khai thác lao động và tư bản, như Marx đã làm. Ngược lại, còn rất nhiều câu hỏi vẫn chưa có lời giải, như:

+ Làm sao giải thích được sự diệt vong của nền văn minh này và sự hưng thịnh của nền văn minh khác.

+ Tại sao cho đến tận ngày nay chúng ta vẫn còn chứng kiến sự khác biệt lớn như vậy trong trình độ phát triển kinh tế của các nước, trong các hệ thống kinh tế – xã hội đã được hình thành ở những nước này?

+ Và điều chủ yếu nhất, tiêu chuẩn phân chia các nền văn minh là gì?

Do những nguyên nhân địa kinh tế đã có từ ban đầu và sau đó là những nguyên nhân lịch sử – chính trị, các cộng đồng người khác nhau được đặc trưng bởi những trình độ và hình thức khai thác khác nhau. Trong đó phải kể đến mức độ khai thác nội tại trong từng cộng đồng người xét ở các khía cạnh văn hóa – xã hội và luật pháp khác nhau (nhà nước – nhân dân; nông nghiệp – công nghiệp – khu vực tài chính; chủ sở hữu tư liệu sản xuất – lực lượng làm thuê; cha mẹ – con cái…); mức độ khai thác giới tự nhiên; mức độ ảnh hưởng tới các cộng đồng người khác (nền văn minh)… Phân cấp cường độ của tác động khai thác và nhóm lại các kiểu khai thác khác nhau và hình thức biểu hiện của chúng, có thể có được một bức tranh lịch sử – thời gian tổng thể của sự phát triển các nền văn minh. Cách tiếp cận này cho phép nói tới tính nhiều mặt và nhiều phương án của sự phát triển thế giới. Có thể hình dung bức tranh chung đó bằng sơ đồ sau:

Các kiểu và hình thức khai thác Cấp độ (trình độ) của tác động khai thác Các nền văn minh Các khuynh hướng

Như vậy, nền văn minh – đó là một cộng đồng văn hóa – xã hội nhất định trên một lãnh thổ địa kinh tế nhất định và ở vào một thời kỳ lịch sử – thời gian nhất định, được đặc trưng bởi những định hướng giá trị đặc biệt, bởi trình độ và các hình thức đặc biệt của tác động khai thác.

Xin nhấn mạnh là sự ra đời và xuất hiện của nền văn minh ngay từ đầu đã giả định sự hiện diện của một cộng đồng người mang tính văn hóa – xã hội có tổ chức tương đối cao. Sự tồn tại tiếp theo sua đó của nền văn minh gắn liền trước hết với những yếu tố kinh tế và được đặc trưng bởi trình độ và các hình thức khai thác trong tiến trình thời gian.

Bất kỳ một kiểu tác động khai thác nào cũng có những giới hạn về tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật, sinh lý học và tâm lý học nhất định.

Ngay khi sự khai thác trong một xã hội đạt tới những giới hạn nhất định thì điều đó làm nảy sinh tình huống xung đột. Còn tươn glai của nền văn minh đó lại phụ thuộc vào điều đâu là ngưỡng (dưới hình thức khai thác nào, các ngưỡng đó quan trọng tới mức nào đối với cộng đồng người đó) và xã hội phản ứng thế nào đối với ngưỡng đó.

Sự diệt vong hay sự trì trệ của từng nền văn minh có thể được giải thích không đúng bằng những định hướng nhất định của sự phát triển văn hóa và kinh tế – xã hội của xã hội, và do vậy:

a/ bởi việc tăng quá cao trình độ tác động cho phép (mức độ khai thác) về một số hướng, làm cản trở bất kỳ sự tiến bộ nào (nguyên nhân của điều đó, nói riêng, có thể là sự can thiệp về quân sự – chính trị, là sức ép về kinh tế, tài chính của các nước khác và cả sự hạn chế của các tài nguyên thiên nhiên…);

b/ bởi chỗ thiếu kích thích cho phát triển tiếp theo, trong sự ổn định lâu dài theo thời gian, các tiêu chí mức độ khai thác tương đối và mối tương quan giữa các kiểu và hình thức khai thác mà sự thay thế chỉ có thể diễn ra trên cơ sở đổi mới những nguyên tắc và tiêu chí giá trị trong xã hội đó;

c/ bởi sự bành trướng không gian quá rộng, vì thường thì bất kỳ nền văn minh nào cũng có khuynh hướng mở rộng lãnh thổ, dẫn tới chỗ “bị trải căng ra” không tránh khỏi và sau đó bị tan rã.

Có thể nói về mối quan hệ qua lại giữa phạm trù “tiến bộ của loài người” và phạm trù “khai thác”, bởi lẽ đẩy mạnh hay giảm việc khai thác được sử dụng như là tiêu chuẩn đánh giá quan trọng nhất sự phát triển của loài người, của sự tiến bộ xã hội.

Nhân loại ngày nay có một bức tranh các nền văn minh đa màu sắc và sự phân chia này được đặc trưng bởi những hình thức và trình độ khai thác khác nhau. Trong đó, trên phạm vi toàn thế giới đang biểu hiện rõ việc gia tăng mức độ khai thác tự nhiên, đẩy mạnh khai thác xuyên quốc gia và tăng cường khai thác trong nước.

Theo chúng tôi, khuynh hướng áp dụng phương pháp tiếp cận văn minh để nghiên cứu động thái phát triển xã hội không phải là một đối án quyết liệt với cách tiếp cận hình thái. Như chúng tôi đã nhấn mạnh, những chuẩn mực cơ bản nhất để phân xuất các nền văn minh phải là “hệ thống các định hướng giá trị của xã hội”. Trong khi đó các phương thức sản xuất lại là những chuẩn mực phân xuất các hình thái. Như vậy, nhìn chung có thể biểu diễn mô hình liên kết lẫn nhau giữa hình thái và văn minh trong hệ thống phối hợp “hình thái – văn minh” trên sơ đồ dưới đây

 

Sơ đồ

 

Những đặc điểm tương lai của cộng đồng thế giới sẽ phụ thuộc vào động thái, sự thay đổi của các hệ thống định hướng giá trị, mức độ khai thác, biết loại trừ hay hạn chế mức độ và hình thức khai thác, không để xảy ra trị số giới hạn cực điểm của chúng, cũng như phụ thuộc vào định hướng hướng đích của chính phủ từng nước riêng và quần chúng nhân dân.

Như vậy mục tiêu toàn cầu của xã hội phải là sự phát triển định hướng xã hội và môi trường, còn nền kinh tế phải tồn tại và phát triển với tư cách là phương tiện để đạt được mục tiêu đó.

Người dịch: Đỗ Việt

Nguồn: TN 2000 – 109

Phân tích sự phát triển xã hội theo quan điểm thông tin – văn minh – Phần II


Trong các học thuyết tiến hóa, sự hình thành nền văn minh có nghĩa là đạt đến một trình độ phát triển nhất định về xã hội và văn hóa đối lập với sự dốt nát và dã man.

Có thể nêu ra các biến thể sau đây của khái niệm “văn minh”:

1/ Dưới dạng chung nhất, “văn minh – đó là một giai đoạn nhất định trong sự phát triển của loài người, kế tiếp theo sau cái gọi là các kỷ nguyên man rợ và dã man”. Nói cách khác, “văn minh chỉ có nghĩa là một kỷ nguyên nhất định trong sự phát triển lịch sử (về kinh tế, xã hội, văn hóa – tâm lý) của xã hội”.

2/ “Văn minh – đó là những thành tựu của loài người, bảo đảm cho sự tiến bộ của loài người, đi từ trạng thái động vật và sau đó là từ giai đoạn man rợ và dã man tiến đến các hình thức sống đặc biệt mang tính con người. Các thành tựu văn minh có liên quan đến cả chiếm lĩnh giới tự nhiên bằng công nghệ lẫn sự hoàn thiện công việc điều tiết các mối quan hệ xã hội”.

(Đây là cách tiếp cận hẹp hơn đối với việc định nghĩa phạm trù khi nền văn minh được quan niệm “theo nghĩa thể hiện sự tiến bộ về văn minh, vốn được hiểu như là sự hoàn thiện xã hội và được đồng nhất, về thực chất, với tiến bộ xã hội”.

3/ Văn minh – đó là “một kiểu xã hội mang tính lịch sử nhất định” hay là “một cộng đồng những con người hay những đất nước có tính chất xã hội văn hóa bền vững nào đó. Cộng đồng này bảo tồn được sự đa dạng, tính độc đáo của mình trong những thời gian dài lịch sử, bất chấp tất cả những biến đổi mà nó phải trải qua”. A. Toynbee có quan điểm gần với khái niệm văn minh này. Đối với ông, văn minh là một kiểu xã hội mang tính lịch sử nhất định, được đặc trưng bởi sự thống nhất văn hóa, tôn giáo mang tính lãnh thổ và bởi những khuôn khổ thời gian nhất định.

4/ Theo quan điểm của S. Huntington thì văn minh được so sánh với văn hóa. “Chúng ta có thể định nghĩa văn minh như là cộng đồng văn hóa cấp cao nhất, như là trình độ đồng nhất văn hóa cao rộng nhất của con người”.

5/ “Văn minh” được sử dụng theo nghĩa đặc tính của nền văn hóa; học vấn của những nước tiên tiến nhất.

6/ “Khái niệm văn minh được lý giải như là sự khu biệt văn hóa xã hội giữa các loại hình của một mẫu xã hội cụ thể đã xuất hiện trong lịch sử (thí dụ như văn minh kiểu truyền thống và văn minh công nghệ).

7/ Văn minh được hiểu như là hệ quả logic, sự hoàn thành và kết thúc của một nền văn hóa.

8/ Theo lập trường của N. Danilevskij, văn minh – đó là các loại hình lịch sử văn hóa mang nguyên tắc hình thức.

9/ Theo quan điểm của P. Sorokin, văn minh – đó là những siêu hệ thống văn hóa lớn có ý nghĩa trung tâm hay trí tuệ.

Như vậy, sự phân tích trên đây cho phép rút ra những kết luận sau đây:

Tất cả những quan niệm khác nhau về việc xác định thực chất của phạm trù văn minh có thể quy thành hai hướng lớn.

1/ Cơ sở của cách phân chia văn minh loài người là những cái gọi là yếu tố kinh tế – xã hội, như: trình độ chiếm lĩnh giới tự nhiên bằng công nghệ, những khác biệt trong công nghệ, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiếp đến, là trình độ phát triển và đặc điểm của các mối quan hệ xã hội trong xã hội. Sự phát triển của loài người, về cơ bản được hiểu là sự chuyển động tịnh tiến, là con đường “dạng dây băng” hay “dạng giun” như O Shpengler từng phê phán. Theo các quan điểm này thì cách tiếp cận hình thái của K Marx, về tiêu chí cơ bản của mình, có thể được xếp vào những diễn giải khác nhau của cách tiếp cận văn minh.

Dĩ nhiên những chi tiết thì khác nhau. Hay như V. Studencov nhận xét “các khái niệm “hình thái” và “văn minh”… khái quát sự phát triển của xã hội từ các hướng khác nhau và trong các hệ tọa độ khác nhau”. Tất cả điều đó đã giải thích sự rất khác nhau của các cách phân loại xã hội. Người ta phân chia các nền văn minh thành:

a/ địa phương, đặc biệt và toàn thế giới;

b/ tiền công nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp (thông tin);

c/ truyền thống, công nghệ và khác nữa.

2/ Nền tảng của hướng thứ hai là nền văn hóa của một xã hội nhất định, nền văn hóa này độc lập một phần so với các yếu tố khác (kinh tế – xã hội, chính trị) và trong tương lai sẽ xác định “các đường gãy cơ bản” của loài người, số phận của các thiết chế xã hội, “sự đối thoại của các nền văn hóa”, và nó đã và sẽ còn đem lại cả một “bó văn minh”. Tính phổ quát của những cách tiếp cận này là như sau:

Một là, tuyệt đại bộ phận các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh “tính nhiều phương án của sự phát triển loài người”, “tính không thuần nhất của thế giới”.

Hai là, “chối bỏ quyết định luận kinh tế hay quyết định luận công nghệ trong việc thiết lập các mối liên hệ nhân quả trong sự phát triển của xã hội loài người”.

Ba là, khả năng thâm nhập lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau của các nền văn hóa trong không – thời gian.

Cách tiếp cận như vậy cho phép hình dung bức tranh toàn diện và bao trùm của thế giới trong quá khứ và hiện tại và vạch ra bức tranh tương lai, dù chỉ là tương đối. Theo hướng này thì các công trình của các nhà sử học, triết học được đánh giá là công phu hơn cả.

Song xét trên quan điểm này thì tương lai thực tế lại là khâu yếu nhất trong tất cả các cách tiếp cận.

Nói về nền văn minh bao giờ người ta cũng ngụ ý nói tới con người, thêm nữa đó là người – Homo Sapience sử dụng công cụ lao động đầu tiên và mở ra con đường phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội.

Dĩ nhiên các quan điểm của Marx, Rostou, Commos đều không đụng chạm tới tính đa yếu tố của loài người. Còn nếu theo quan điểm thế giới quan kinh tế thì sự phát triển của xã hội hay là sự tiến bộ của loài người, nếu muốn nói như vậy, là con đường tiến lên tất yếu. Và ở đây điều quan trọng không chỉ bởi đó là “sự thay thế hoàn toàn một hình thái này bằng hình thái khác” hoặc là “sự pha trộn, sự hạn định trường hoạt động” của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũ bằng những hình thức mới.

Chính sự gia tăng đột ngột vai trò của nền kinh tế trong đời sống các nước riêng biệt và của cộng đồng thế giới đang làm cho sự phân tích hiện đại trở nên phức tạp và lẫn lộn. Yếu tố này được nhấn mạnh nhiều lần trong nhiều công trình nghiên cứu. Thí dụ các phạm trù mang tính khái niệm “địa kinh tế”, “địa chính trị” có liên quan chính là tới các quá trình này: “Hiện nay ảnh hưởng của các quá trình kinh tế đối với sự tiến triển của tình hình địa chính trị trên hành tinh đang gia tăng đột ngột: đang diễn ra toàn cầu hóa các quá trình kinh tế (thương mại quốc tế, chu chuyển tư bản và đầu tư xuyên quốc gia, sự chuyển động của các lực lượng lao động, trao đổi thông tin và công nghệ cao, điều tiết ngoại tệ); sự thâm nhập đang gia tăng của các quá trình kinh tế vào các lĩnh vực phi kinh tế thuộc đời sống quốc tế; xung đột kinh tế được đẩy lên hàng đầu trong số các nhóm xung đột tiềm tàng”.

Như vậy, loại bỏ hoặc cào bằng ảnh hưởng của của các yếu tố kinh tế đối với đời sống và động thái phát triển xã hội đều là sai: “Trong hệ thống này thì nền tảng kinh tế là quan trọng nhất. Không phải bởi vì nền tảng này dường như định trước sự vận động của tất cả các hệ thống khác của xã hội (chúng khá độc lập), mà bởi lẽ nền kinh tế tạo ra điểm tựa khởi đầu”. Trong trường hợp này chúng ta buộc phải thừa nhận thứ bậc nhất định trong sự phát triển của loài người nói chung. Đúng là văn hóa phân cách con người, cản trở sự liên kết vô điều kiện của họ, trên quan điểm văn hóa có thể giải thích một cách logic sự hưng thịnh và diệt vong cảu các nền văn minh, sự đi chệch và tính không điển hình của chúng. Nhưng khi đó cung vẫn chưa đụng chạm tới những vấn đề cấp thiết nhất của sự tồn tại của loài người, – trước hết là sự xung đột của bộ ba: giới tự nhiên – xã hội – con người. Chính vấn đề về ý nghĩa và tính tất yếu của sự vận động đi lên phía trước, của sự phát triển, hoàn thiện cũng đặt ra chính câu hỏi như vậy. Để làm gì? Nếu kết cục là “sự cáo chung” hay là “hoàng hôn” của một nền văn minh?!

Song cũng không thể giảm nhẹ được ý nghĩa của văn hóa, bởi lẽ văn hóa khái quát những định hướng giá trị của sự phát triển loài người và cuối cùng là xác định hướng vận động của xã hội, thái độ của xã hội đối với mục đích cuộc sống, đối với thế giới xung quanh. Thêm nữa càng ít bị lệ thuộc vào các mặt tiêu cực của các yếu tố kinh tế, xã hội càng có nhiều khả năng phát triển về tinh thần và văn hóa.

Như vậy, “tồn tại xã hội phát triển với tư cách là một quá trình lịch sử – tự nhiên, thể hiện tính hai mặt và sự tác động qua lại giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần. Mỗi yếu tố này có tính độc lập tương đối, điều này mang lại cho nó tính chất động lực của lịch sử.

Khi tư tưởng khoa học chân chính vượt trước các điều kiện phát triển khách quan của xã hội thì sẽ đẩy nhanh tiến trình lịch sử. Khi còn những quan điểm sai lầm, không đúng của các nhà hoạt động nhà nước hay của đông đảo quần chúng  thì dẫn đến không chỉ những hiện tượng trì trệ mà cả sự biến dạng và những vận động thụt lùi trong phát triển xã hội”.

Viễn cảnh tương lai của từng nền văn minh riêng hay của nền văn minh thống nhất “toàn thế giới” là hết sức đa dạng.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Việt

Nguồn: TN 2000 – 109

Phân tích sự phát triển xã hội theo quan điểm thông tin – văn minh – Phần I


V. Sadkov, L. Grinkevich

Các nhà tư tưởng thuộc các khuynh hướng khoa học khác nhau như các nhà xã hội học, sử học, kinh tế học, chính trị học, triết học đã cố gắng hình dung bức tranh tổng thể của nhân loại và dự báo về tương lai. Chiếm vị trí đặc biệt trong số các nhà tư tưởng trên là O. Shpengler, A. Toynbee, U. Rostou, P. Sorokin, L. Gumilev, K. Marx, F. Engels, S. Huntington và những người khác. Trong bài viết này chúng tôi cố gắng phân tích các phương pháp nhìn nhận khoa học khác nhau về quá khứ, hiện tại và tương lai của loài người gắn với các phạm trù như hình thái, văn minh, tiến bộ văn minh chung, tiến bộ xã hội.

Trong một thời gian dài, cách tiếp cận hình thái do các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx – Lenin đề ra được tư tưởng khoa học Xô Viết đánh giá là nền tảng phương pháp luận đúng đắn hơn cả và không sai lầm. Những cơ sở khái niệm trong lý luận của họ là như sau. Sự phát triển của xã hội mang tính chất tịnh tiến. Cơ sở phân chia lịch sử xã hội thành những cái gọi là hình thái là phương thức sản xuất, tức là hình thức liên kết đặc biệt sức lao động với tư liệu sản xuất. Có nghĩa là, hình thái kinh tế – xã hội đó là do phương thức sản xuất đang tồn tại, do đặc trưng của hệ thống các mối quan hệ sản xuất đang thống trị quyết định. Hệ thống các mối quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế, kết cấu hạ tầng hiện thực của xã hội đó. Các quan hệ pháp lý và chính trị được coi là kiến trúc thượng tầng, dựa trên cơ sở hạ tầng và cuối cùng do kết cấu hạ tầng quy định. Mức độ các quan hệ pháp lý và chính trị phụ thuộc vào kết cấu hạ tầng của chúng là không giống nhau, sự phụ thuộc đó có thể là trực tiếp hơn hoặc gián tiếp hơn.

Sau khi làm rõ một số phương thức sản xuất đặc trưng, chủ nghĩa Marx – Lenin đề xuất cách phân chia sự phát triển lịch sử của xã hội theo hình thái như chế độ công xã nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản (giai đoạn chủ nghĩa xã hội và giai đoạn chủ nghĩa cộng sản hoàn chỉnh).

Như vậy, những kết luận cơ bản của lý luận Marx là như sau:

Một là, việc phân xuất một hình thái kinh tế – xã hội nào đấy đòi hỏi phải làm rõ phương thức sản xuất tương ứng;

Hai là, trong khuôn khổ một hình thái kinh tế – xã hội không thể tồn tại một số phương thức sản xuất;

Cho dù các nước có khác nhau thế nào về thể chế chính trị, đạo đức, các hình thức hoạt động kinh tế cụ thể, nhưng nếu lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất ở cùng một trình độ như nhau thì các nước này đều thuộc cùng một hình thái kinh tế – xã hội.

Điều đó cho phép phân biệt về mặt định tính một thời kỳ lịch sử này với một thời kỳ lịch sử khác và chứng tỏ rằng lịch sử là sự thay thế của các hình thái kinh tế – xã hội, còn sự phát triển xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên. Sự thay thế các hình thái kinh tế – xã hội là do tác động của qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Những điểm cơ bản nêu trên của lý luận Marx – Lenin thường được truyền bá đúng theo văn cảnh như vậy và được trình bày trong phần lớn các tác phẩm khoa học của các nhà sáng lập ra lý luận này và những người kế tục họ.

Sự thay thế thế giới quan tiếp sau sự phân rã của Liên bang Xô viết đã cho phép xem xét khách quan hơn cả với lập luận lý luận của K. Marx lẫn những cách tiếp cận phân tích sự phát triển xã hội.

Những ý kiến đánh giá về chủ nghĩa duy vật lịch sử của K. Marx là rất khác nhau, từ đoạn tuyệt hoàn toàn đến nhiệt tình ủng hộ và bảo vệ.

Bị phê phán quyết liệt hơn cả là những định đề sau đây của lý luận hình thái của K. Marx:

1/ “tính có trước của sản xuất vật chất;

2/ thái độ với quan hệ sản xuất như là đối với cơ sở của cộng đồng xã hội;

3/ tính đồng nhất về thành phần của các cơ cấu hình thái;

4/ quan niệm về sự phát triển xã hội như là về sự thay thế các hình thái mang tính giai đoạn theo trật tự chặt chẽ và thái độ đối với quá trình mang tính hình thái với tư cách là phương thức triển khai sự tiến bộ”;

5/ việc Marx loại bỏ những sự biến đổi có thể trong các mô hình kết hợp lao động của con người với tư liệu sản xuất;

6/ tính sai lệch và không phù hợp của lý luận giá trị thặng dư với các hình thức và loại hình bóc lột hiện đại.

Đồng thời những cách đánh giá được coi là đúng đắn thuộc kiểu như: học thuyết của K. Marx một mặt mang tính khoa học sâu sắc và mặt khác lại bị giới hạn bởi những khuôn khổ tự nhiên của thời đại mình.

Lý luận của K. Marx đã bị “các môn đồ khoa học xã hội marxist” xuyên tạc một cách đáng kể. Nhìn chung học thuyết thực sự nguyên bản của K. Marx và F. Engels là không phù hợp với dị bản đã được du nhập vào Nga. Sự thực là “cả Marx lẫn Engels đã nhiều lần phản bác việc quy giản tầm thường quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quyết định luận kinh tế thô thiển, một chiều. Chủ nghĩa Marx chân chính không phủ định tính chất đa yếu tố của quá trình lịch sử, mà chỉ hướng tính đa dạng của các yếu tố này thành một hệ thống nhất định và phát hiện ra điểm nổi trội của hệ thống này là tiểu hệ thống kinh tế. Chủ nghĩa duy vật lịch sử khởi đầu, chưa bị biến dạng, thừa nhận tính chất triết học kinh viện của quá trình lịch sử, nhưng sau vô vàn những ngẫu nhiên nó đã nhận ra những quy luật nhất định và chứng minh rằng những quy luật này chủ yếu thuộc lĩnh vực kinh tế chứ không thuộc lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo hay những sản phẩm tương tự của sáng tạo tinh thần”.

Như vậy từ toàn bộ điều đã trình bày ở trên, có thể rút ra kết luận sau đây:

Cách tiếp cận hình thái đối với sự phát triển của loài người do K. Marx đề ra là cách nhìn nhận độc đáo, xin nhấn mạnh đó là cái nhìn mang tính kinh tế đối với sự phát triển xã hội, nhưng cách nhình nhận xuất phát từ sự lựa chọn thực tế những yếu tố mà K. Marx sử dụng trong nghiên cứu lại có liên quan tới và “thích hợp” với chính thời kỳ của chủ nghĩa tư bản tự do. Sau này tính hạn chế của lý luận Marx đã được khẳng định bởi toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế – lịch sử của loài người. Không thể giải thích rõ ràng hết được những thay đổi hiện nay của đời sống thế giới trên cơ sở của lý luận này và lý luận đó không có khả năng tiên đoán được tương lai buộc phải tìm kiếm những cách tiếp cận khác đối với việc giải thích “bản chất tồn tại của con người”. Chúng ta cùng xem xét những cách tiếp cận này.

Hiện nay cách tiếp cận văn minh để nhận thức thế giới được coi là cách tiếp cận đối án với cách tiếp cận hình thái. Có thể nhận xét một cách công bằng rằng “sự loại bỏ trong một thời gian dài những khía cạnh văn minh trong sự phát triển của xã hội loài người đã làm tổn hại to lớn cho nền khoa học Nga. Kết quả là hiện tại ở Nga lý luận về văn minh chỉ tồn tại dưới dạng những quan sát và luận điểm rời rạc chứ không quy tập hợp thành một hệ thống”.

Vậy “văn minh” là gì ? Và bằng cách nào tiếp cận văn minh tạo ra được một thế giới quan chỉnh thể ?

Trước hết, cần tìm hiểu vấn đề xác định bản chất của phạm trù « văn minh ». Cho đến nay chưa có cách tiếp cận thống nhất đối với khái niệm này. Các nhà sáng lập ra lý luận về văn minh hiện đại được người ta tính đến là M. Weber, A. Toynbee, N. Danilevskij, P. Sorokin, O. Shpengler, N. Elias và một số người khác.

Tôn giáo thường được người ta coi là cơ sở hình thành và phát triển của văn minh, giữ một vai trò then chốt trong các nền văn minh lịch sử. Song nếu chỉ dựa vào việc phân xuất nền văn minh theo phạm trù này thì khó mà phân tích được các nền văn minh đa tôn giáo. Thí dụ nền văn minh Viễn Đông dựa trên ba tôn giáo là Khổng giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Như vậy, trong phân xuất theo dấu hiệu phạm trù các nền văn minh phải tính đến cả khía cạnh địa lý và khu vực.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Việt

Nguồn: TN 2000 – 109

Thành công của Singapore là rất đáng nể nhưng không dễ bắt chước


Singapore chưa bao giờ thiếu người hâm mộ. Nhiều lãnh đạo các nước đang phát triển kính nể Lý Quang Diệu, người sáng lập và dẫn dắt quốc đảo này từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất trong khi vẫn quay lưng với lời kêu gọi tự do hóa chính trị hơn nữa của phương Tây. Paul Kagame, vị tổng thống bàn tay sắt của Rwanda hy vọng rằng đất nước của ông ta sẽ trở thành “Singapore của châu Phi”. Các fan hâm mộ của tổng thống Philippine Rodrigo Duterte thì so sánh ông ta với Lý Quang Diệu vì ý chí mạnh mẽ và không khoan nhượng đối với tội phạm và tham nhũng.

Gầy đây, thế giới các nước giàu cũng bắt đầu tăm tia hòn đảo này. “Muốn loại bỏ Obamacare ư? Vậy thì hãy cóp-py mô hình chăm sóc y tế kỳ diệu của Singapore”, một bài ý kiến trên trang web của hãng truyền thông bảo thủ Mỹ Fox News líu lo ngay sau khi Donald Trump thắng cử. Ý kiến này cho rằng “sự thần kỳ” nằm ở hai đặc tính mà phe Cộng hòa thiết tha cổ súy – “trao quyền cho người tiêu dùng và ươm dưỡng sự cạnh tranh”. Một số người ủng hộ Brexit to tiếng hơn còn mơ về việc biến Anh quốc thành “Singapore trên dòng sông Thames”: nơi kinh doanh thuận lợi, ít bị ràng buộc luật lệ và thuế thấp cho các doanh nghiệp sẵn sàng giao thương với châu Âu. Giống như câu chuyện mấy ông mù sờ voi và tả con vật theo đúng bộ phận mà họ sờ tới, những fan hâm mộ này có nhận xét đúng về Singapore nhưng lại không thể nhìn ra toàn cục.

Bắt đầu với phe ủng hộ Brexit. So với Singapore, Anh có 65 triệu dân, nhiều hơn 12 lần, và rải đều trên lãnh thổ lớn hơn Singapore 337 lần. Thuế ở Anh vốn đã nhẹ và được điều tiết theo chuẩn châu Âu, nhưng so với Singapore thì An vẫn là con voi ma mút. Suất thuế thu nhập cao nhất của Anh là 45%, gấp đôi của Singapore, chi tiêu của chính phủ chiếm khoảng 38% GDP, gấp đôi hệ thống nhà nước tinh gọn của Singapore. Việc tinh giản hơn nữa có nghĩa phải giảm mạnh chi tiêu nhà nước và định hình lại toàn diện Dịch vụ Y tế Quốc gia. Cử tri Anh sẽ chắc chắn trừng phạt bất kỳ đảng phái nào manh nha thực hiện điều này.

Ngay cả khi giả định rằng EU sẽ cho phép nước Anh có thuế thấp dễ dàng tiếp cận thị trường chung của mình, thì bối cảnh láng giềng cũng khác hẵn. Đông Nam Á là khu vực đang bùng nổ với 630 triệu dân, đa số sống ở các nước có tình hình không ổn định, tham nhũng, hay cơ sở hạ tầng yếu kém. Một Singapore hiệu quả cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận lực lượng người tiêu dùng này trong khi tối thiểu hóa rủi ro. Ngược lại, châu Âu có thể trì trệ, dù mang những nguy cơ dân túy, nhưng vẫn ổn định về mặt chính trị và hầu như được quản trị tốt. Khó có thể hình dung một doanh nghiệp sẽ chọn đầu tư vào Anh để phục vụ thị trường Tây Ban Nha thay vì thiết lập hoạt động ở Singapore để phục vụ khách hàng Indonesia – và càng khó hình dung hơn điều này sẽ xảy ra khi Anh không còn hưởng quyền tiếp cận không hạn chế vào thị trường châu Âu, điều rất có thể xảy ra khi Brexit hoàn tất.

Về phần phe bảo thủ Mỹ, họ đã đúng khi cho rằng hệ thống chăm sóc y tế của Singapore đạt được những kết quả tốt đẹp bằng cách chú trọng vào trách nhiệm cá nhân, cạnh tranh và hạn chế chi tiêu công. Dân Singapore tự trả hầu hết chi phí chăm sóc y tế từ túi riêng và tận hưởng tuổi thọ thuộc loại cao nhất và tỉ lệ tử vong sơ sinh thấp nhất thế giới. Nước này chi tiêu chỉ 5% GDP cho chăm sóc y tế, trong đó khoảng 2% là từ túi tiền người dân. Mỹ chi hơn rất nhiều, với tỉ lệ tương ứng là 17% và 8%, nhưng dân chúng lại kém xa về sự khỏe mạnh.

Tuy nhiên, hệ thống của Singapore cũng thể hiện sự cưỡng ép và can thiệp của nhà nước nhiều hơn hẵn những gì mà người Mỹ có thể chấp nhận. Đa số bệnh viện là của nhà nước. Hầu hết các các viện hay nhà chăm sóc cuối đời là của tư nhân nhưng được chính phủ cấp ngân sách. Chính phủ trợ cấp mạnh cho chăm sóc đặc biệt. Họ khuyến khích cạnh tranh thông qua công khai hóa đơn bệnh viện; các tổ chức dịch vụ y tế của Mỹ, ngược lại cố gắng che dấu viện phí để bệnh nhân không thể dò giá. Chính phủ Singapore buộc người dân phải chuyển 10,5% tiền lương của mình vào tài khoản “Medisave” (chủ lao động cũng phải đóng góp vào đây). Chính phủ cũng trợ giá cho những loại thuốc “thiết yếu và hiệu quả chi phí”; những loại thuốc không được duyệt, nếu có, sẽ vô cùng tốn kém.

Cả hai phe tả hữu đều thấy có nhiều điều đáng nể từ hệ thống chăm sóc y tế của Singapore. Nhưng bất kỳ ai có quan điểm cho rằng việc Michelle Obama khuyến khích trẻ em ăn nhiều táo là kiểu vú em ép trẻ ăn, sẽ khó chấp nhận hệ thống này. Như Hiệu trưởng Kishore Mahbubani của Trường Chính sách công Lý Quang Diệu giải thích: “ý thức hệ dẫn dắt Lý Quang Diệu không phải là kiểu Ayn Rand.”

Một mô thức tương tự – trách nhiệm cá nhân được hỗ trợ bởi sự cưỡng ép và mạng lưới an sinh tinh gọn và mạnh mẽ, được áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế của Singapore. Hơn 90% dân Singapore sở hữu nhà riêng, nhưng đa số là căn hộ do chính phủ xây, chính phủ định giá, và cũng chính phủ cho vay mua nhà. Nơi cư ngụ của dân Singapore một phần phụ thuộc vào sắc tộc của họ: để tránh hình thành những khu ghetto sắc tộc, Singapore bắt buộc các khu nhà do nhà nước xây là đa thành phần để phản ánh nền tảng đa chủng tộc của đất nước.

Cuộc mặc cả khó khăn

Hình thức thiết kế xã hội này sẽ khiến cử tri phương tây kinh hãi và tòa án phương tây sẽ gạt bỏ ngay. Nhưng dân Singapore lại chấp nhận. Chủ nghĩa gia trưởng đã áp đặt được sự ôn hòa sắc tộc. Người gốc Hoa đa số ở đây đã tránh được sự thù hằn mà những Hoa kiều ở nơi khác như Malaysia và Indonesia gặp phải. Quan trọng hơn là sự đánh đổi mà Lý Quang Diệu đưa ra vẫn còn giá trị: nền chính trị phi tự do đổi lại một chính phủ tốt và mức sống cao.

Các lãnh đạo Singapore bảo vệ một cách quyết liệt uy tín của mình bằng cách đưa ra tòa tội bôi nhọ, và dàn xếp cử tri để duy trì tính đa số của đảng cầm quyền. Nhưng ngược lại họ cung cấp đường xá an toàn, chăm sóc y tế hạng nhất, giao thông công cộng tốt và một nền hành chính công sạch và nhạy bén. Trong một hình thái không hoàn chỉnh, các cuộc bầu cử vẫn cho phép cử tri tác động lên chính sách: sau khi đảng cầm quyền gánh chịu kết quả bỏ phiếu tệ hại nhất năm 2011, “chỉ” được 60% số phiếu ủng hộ, thì họ đã chuyển theo hướng dân túy hơn và giành thắng lợi vẻ vang 4 năm sau đó.

Thỏa thuận của Lý Quan Diệu khó có thể bắt chước. Cả hai vế đánh đổi đều quan trọng đối với sự thành công của Singapore. Tuy nhiên, những fan hâm mộ như ông Duterte và Hun Sen, người đàn ông cứng của Campuchia, chỉ chăm học phần chuyên quyền độc đoán, mà quên phần chính phủ sạch hay việc kiến tạo sự thịnh vượng. Còn với các fan của Singapore từ thế giới giàu có, thì lại thiếu nền chính trị bị thuần hóa đã cho phép các nhà cầm quyền Singapore đề ra chính sách mà không phải lo lắng quá nhiều về đợt bầu cử tiếp theo – hay quá lo về quyền tự do dân sự của công dân.

Người dịch: https://www.facebook.com/tamnq?fref=mentions

Nguồn: http://www.economist.com/news/asia/21722865-city-states-success-offers-much-admire-little-emulate-how-foreigners-misunderstand

Thể chế, chính sách và văn hóa, đình trệ và phát triển – Phần cuối


Ở đây động cơ giữ vai trò then chốt. Để làm bất cứ điều gì – đưa ra ý tưởng, lập dự án, tổ chức, điều hành, sản xuất, phân chia, chuyên chở, cất giữ, bán, mua – đều phải muốn. Nguyện vọng đưa ra một hoạt động kinh tế nào đấy xuất phát từ dưới lên là cơ sở cho động cơ tốt hơn nhiều so với sự bắt buộc từ bên ngoài. Trong kinh tế chúng ta gặp phải sự áp đặt kinh tế, nhưng chỉ trong những phạm vi nhất định. Tuy nhiên, ở đây cần phải nhấn mạnh rằng, chính lý thuyết tự do của chủ nghĩa tư bản (tự do, chứ không phải là sự lệch lạc của thuyết tân tự do) đã hình thành các nguyên tắc của cuộc chơi kinh tế một cách đúng đắn nhất, hơn bất cứ một cuộc chơi chung nào khác mang bản chất con ngời, trong đó có cả những cơ chế tâm lý riêng của động cơ. Và khai thác chúng. Chủ nghĩa tư bản không đâm quàng vào bụi rậm của việc thử tạo ra những “con người mới”, cũng như những điều không tưởng khác từ chủ nghĩa cộng sản, đạo Hồi đến khoa học xã hội của Nhà thời Thiên Chúa giáo, mà khai thác cực kỳ hiệu quả những đặc tính tự nhiên của con người. Tất nhiên là trong đó có cả những đặc tính xấu nhất như thói ích kỷ, tính tham lam tàn bạo, lòng hận thù, óc thiển cận chứ không chỉ những đặc tính mong muốn như sáng tạo, cần cù, tháo vát, biết lo xa, tằn tiện, đoàn kết tập thể.

Những thành quả và thành công lớn nhất trong quản lý vi mô (ở cấp công ty) và trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (ở cấp nhà nước) không phải từ sự áp đặt kinh tế kinh điển mà có. Cả Henry Ford, người đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp và phổ biến sản xuất ôtô vào đầu thế kỷ XX lẫn Mohamad Mahathir, nhà lãnh đạo của Malaysia vào cuối thế kỷ XX đều không bị ép buộc làm những gì mà họ có thể thông qua cạnh tranh. Họ có động cơ xuất phát từ tính cách cá nhân và từ nền văn hóa xã hội bao quanh họ. Có thể họ đã may mắn khi đưa thêm vào đó nhiều yếu tố khác nữa, song nếu thiếu động cơ thích hợp thì tất cả những cái đó cộng lại vẫn chưa đủ.

Bởi không có động cơ thì không có kinh doanh và không có những hoạt động có ý nghĩa. Không chỉ trong kinh tế. Nếu như trong nghệ thuật và khoa học, động cơ xuất phát từ cảm nhận riêng về các giá trị hay từ bản thân sự vươn tới cái đẹp và sự thật, thì trong kinh tế, nó phải hài hòa với sự có lý và đồng thuận với các nguyên tắc logic hành động trong việc làm kinh tế. Ở đây, chỉ riêng văn hóa là chưa đủ. Lịch sử cũng đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, bên cạnh một nền văn hóa nhất định, cần phải đặt ra những thể chế hoặc điều chỉnh chính sách một cách thích ứng để cho giai đoạn đình trệ chuyển sang giai đoạn phát triển. Hoặc đẩy nhanh tốc độ của nó hoặc đơn giản là kiềm chế nó. Gần đây, chúng ta có thể nhìn thấy điều này một cách rõ nhất ở vùng Đông Nam Á. Cả ở các nền kinh tế sau chuyển đổi ở Trung – Đông Âu nữa. Còn ở phạm vi nhỏ hơn – kể cả về mặt văn hóa – tại các nước cộng hòa Trung Á sau Liên Xô, ở Mỹ Latinh và ở vùng Caribean. Ở mức độ thấp nhất là vùng Cận Đông, Châu Phi và ở Châu Đại Dương. Công việc kinh doanh, ngoài các khuynh hướng cá nhân của những người trong cuộc, là một hàm số của khoa học, kỹ thuật và chính sách. Trong đó chính sách có ý nghĩa đặc biệt đối với kích thích kinh doanh. Một mặt, như chúng ta đã thấy qua chuyến chu du ngắn vào lịch sử, chính sách có thể làm tổn hại đến công việc kinh doanh và dập tắt nó. Khi đó tình trạng đình trệ xảy ra. Nhưng mặt khác, khoa học và kỹ thuật không đủ khả năng để tự thâm nhập vào khu vực sản xuất. Khi đó chúng cần đến sự giúp đỡ. Trong trường hợp này không có biện pháp khuyến khích công việc kinh doanh nào tốt hơn là tác động đến động cơ thông qua các công cụ của chính sách kinh tế. Khi những công cụ được đưa ra một cách thích hợp, nếu một công việc nào đó là có lợi, thì sẽ được đảm bảo.

Công việc kinh doanh vừa là một thuộc tính của con người (cho dù không phải của tất mọi người), vừa là một kỹ năng. Năng khiếu bẩm sinh ở đây bao giờ cũng giúp ích rất nhiều, nhưng kỹ năng lại có thể học và dạy được.

Khi nhìn vào những thách thức của sự phát triển trong tương lai thật xa, thì thấy rằng những cuộc vận động cho tương lai xảy ra chính trong trường giao thoa giữa ba thể loại lớn này. Và mặc dò rõ ràng là văn hóa của những người theo đạo Tin Lành của Benalux hay tính cách Bắc Âu của người dân vùng Scandinavi sẽ có lợi cho phát triển hơn là nền văn hóa Hồi giáo của Saudi Arabia hay Sahel – cũng tương tự như trường hợp của mấy trăm năm gần đây – trong trường hợp thứ hai có thể hình dung ra cách đưa ra thể chế và chính sách và cố gắng để áp dụng chúng sao cho dân chúng của những vùng này cũng có thể phát triển nền kinh tế của mình. Với tất cả các hệ quả tích cực đối với xã hội và kinh tế thế giới. Bởi đây đâu phải chỉ là việc của họ một khi hệ quả – đối với vấn đề di cư, an ninh và phát triển – cũng là của chúng ta.

Một số các nước Hồi Giáo ngoài Ảrập cũng đã đạt được rất nhiều, ví dụ như Indonesia, đặc biệt là những nước có sự giàu có đa văn hóa, ví dụ như Malaysia. Là nơi mà những sắc tộc và tôn giáo khác nhau cùng tồn tại. Bên cạnh người Mã Lai có rất nhiều người Hoa và người Ấn, cũng có cả một số ít người châu Âu nữa. Bên cạnh đạo Hồi thì Thiên Chúa giáo cũng được mở mang, và phổ biến hơn là đạo Lão và đạo Phật. Và triết lý của hai tôn giáo cuối này rất có lợi cho sự phát triển. Và không còn gần nhau, trong tỉnh Aceh của Indonesia, một sự pha trộn như vậy không còn đúng nữa. Những người dân ở đấy tự giễu rằng, Aceh là từ viết tắt những chữ đầu của Asian-Chinese-European-Hindu. Tuy nhiên ở đó, một tác phẩm văn hóa như vậy không chỉ không đủ cho phát triển mà nó còn là một đám tro tàn chưa được dập tắt hoàn toàn xung đột. Sở dĩ như vậy là do thiếu những nhân tố cần thiết để chuyển hướng đa số phê bình mang tích cực, đặc biệt là hòa bình bền vững và sự lãnh đạo về chính trị có ý nghĩa – có tầm nhìn và không bị ảo tưởng. Một số người đôi khi gặp may vì gặp đúng điều đó. Phần lớn là do gặp được bối cảnh thuận lợi.

Vâng – hãy thử tách khỏi những lợi ích xung đột lẫn nhau một lúc thôi – nếu như vì sự kìm hãm giáo điều có nền tảng văn hóa nào đó mà việc xây dựng thể chế có định hướng ủng hộ phát triển bị hạn chế và gây khó khăn cho việc thực thi một chính sách kinh tế có ý nghĩa, thì coi như nền văn hóa đó đã tuyên án đối với dân tộc rằng, dân tộc này sẽ bước đi loạng choạng vì sự trì trệ trong kinh tế. Có thể tiếp nhận khẳng định này chỉ để tham khảo, nhưng ít nhất cũng không từ bỏ được việc tìm kiếm lý thuyết cho sự phát triển, mà lý thuyết đó cho thấy là nó giúp ích để chiến thắng hội chứng bất lực đó và thoát ra khỏi tình trạng đình trệ về khía cạnh thực dụng.

Có thể nói một cách tổng quát rằng, văn hóa xác định các giá trị và cách hành xử của mọi người xuất phát từ những giá trị đó. Bản thân văn hóa, tự nó không quyết định số phận của sự phát triển kinh tế, nhưng trong môi trường tự nhiên, xã hội và kỹ thuật cụ thể, cùng với thời gian nó tác động ngược lại, nhiều hơn đến môi trường xã hội và kỹ thuật, đến môi trường tự nhiên thì ở mức độ thấp hơn. Không phải từ bản thân văn hóa, mà kết hợp với nhiều yếu tố khác, nếu những yếu tố này được sắp đặt theo một tổ hợp cụ thể chúng có thể có lợi cho sự phát triển hoặc đình trệ. Tuy nhiên, về lâu dài, chính văn hóa quyết định ai thắng ai bại, ai sẽ giàu có, ai sẽ đói nghèo, nền kinh tế nào sẽ nở rộ, nền kinh tế nào sẽ tàn héo, dân tộc nào sẽ thịnh vượng, dân tộc nào sẽ hẩm hiu. Và như vậy là bởi vì trong văn hóa chứa đựng nhiều bối cảnh khác có ý nghĩa cùng quyết định đối với hoạt động kinh doanh và năng suất lao động của con người. Lúc thì văn hóa có tác động tích cực, lúc lại ảnh hưởng tiêu cực, bởi văn hóa có nhiều khuôn mặt khác nhau và gặp gỡ tình cờ với những yếu tố phụ khác nhau.

Tuy nhiên, nếu xem xét tương lai và các biện pháp định hình tương lai từ góc nhìn kinh tế, cần phải nhớ tới các điều kiện văn hóa chung, nhưng phải đặt chân lên vùng đất cụ thể. Bao giờ con người cũng hoạt động trong một môi trường văn hóa cụ thể, nhưng cũng luôn đưa ra những quyết định trong môi trường vật lý và kinh tế cụ thể, là điều mà các mô hình lý thuyết cũng hpải lưu ý một cách cụ thể. Mặc dầu liên tục có những nghiên cứu và đã có nhiều bước tiến bộ, nhưng cho tới lúc này không một lý thuyết nào về tăng trưởng và phát triển làm chúng ta hài lòng. Bởi chúng không làm sáng tỏ được tất cả các khía cạnh của đình trệ và phát triển và khi phân tích những trường hợp riêng biệt, chúng ta liên tục gặp khó khăn về diễn đạt hoặc là thấy rằng, thực tế không nằm trong cách tiếp cận khuôn mẫu hay đôi khi mâu thuẫn với chúng. Theo lý thuyết thì một cái gì đó phải tăng, vậy mà ở đây lại giảm. Theo lý thuyết thì một cái gì đó phải chảy từ nước giàu sang nước nghèo, nhưng lại xảy ra ngược lại. Lẽ ra phải xuất hiện khủng hoảng, nhưng nó lại không thèm vội. Hoặc hay xảy ra nhất là, điều lẽ ra không có gì khiến chúng ta phải ngạc nhiên thì lại tấn công chúng ta.

Tại sao lại xảy ra như vậy? Và có thể làm được gì với vấn đề này? Câu trả lời chúng ta sẽ tìm thấy trong cách tiếp cận với phương pháp trình bày về lý thuyết các quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội được đưa ra ở đây. Đã đến lúc phải vứt bỏ thuyết không tưởng của chủ nghĩa tân tự do du dương như một đĩa nhạc cũ và đưa ra một mô hình mới. Một mặt nó liên quan đến bộ phận mô tả (họa pháp) của kinh tế. Mặt khác, đây là chủ nghĩa thực dụng mới dựa trên lý thuyết này, liên quan đến bộ phận thủ tục (qui chuẩn). Trở lại với những lưu ý mang tính phương pháp luận trước đây, ở phương pháp họa pháp, lý thuyết này giải thích cho chúng ta về tình trạng của các vấn đề và những cơ chế đang điều hành các tiến trình kinh tế, còn ở phương pháp qui chuẩn, nó nói cho chúng ta biết hpải làm gì và làm như thế nào để mọi việc tốt hơn.

Như vậy, trước hết cần thoát khỏi mọi chủ nghĩa giáo điều, bởi nó đè nặng lên tư duy sáng tạo không kém gì sự dốt nát. Đôi khi thậm chí còn hơn. Chủ nghĩa giáo điều – chúng ta hãy nhắc lại – tốt trong tôn giáo, nhưng không tốt trong khoa học. Ở đây, những điều cần thiết là chủ nghĩa li khai, động lực liên tục tiến lên phía trước và giác quan xứng đáng với cải tổ và cách tân chứ không phải là chủ nghĩa truyền thống và chủ nghĩa bảo thủ.

Tiền bạc không đem lại văn hóa. Chính văn hóa, mà bản thân nó đã đáng giá rất nhiều, đem lại tiền bạc.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.