Thành công của Singapore là rất đáng nể nhưng không dễ bắt chước


Singapore chưa bao giờ thiếu người hâm mộ. Nhiều lãnh đạo các nước đang phát triển kính nể Lý Quang Diệu, người sáng lập và dẫn dắt quốc đảo này từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất trong khi vẫn quay lưng với lời kêu gọi tự do hóa chính trị hơn nữa của phương Tây. Paul Kagame, vị tổng thống bàn tay sắt của Rwanda hy vọng rằng đất nước của ông ta sẽ trở thành “Singapore của châu Phi”. Các fan hâm mộ của tổng thống Philippine Rodrigo Duterte thì so sánh ông ta với Lý Quang Diệu vì ý chí mạnh mẽ và không khoan nhượng đối với tội phạm và tham nhũng.

Gầy đây, thế giới các nước giàu cũng bắt đầu tăm tia hòn đảo này. “Muốn loại bỏ Obamacare ư? Vậy thì hãy cóp-py mô hình chăm sóc y tế kỳ diệu của Singapore”, một bài ý kiến trên trang web của hãng truyền thông bảo thủ Mỹ Fox News líu lo ngay sau khi Donald Trump thắng cử. Ý kiến này cho rằng “sự thần kỳ” nằm ở hai đặc tính mà phe Cộng hòa thiết tha cổ súy – “trao quyền cho người tiêu dùng và ươm dưỡng sự cạnh tranh”. Một số người ủng hộ Brexit to tiếng hơn còn mơ về việc biến Anh quốc thành “Singapore trên dòng sông Thames”: nơi kinh doanh thuận lợi, ít bị ràng buộc luật lệ và thuế thấp cho các doanh nghiệp sẵn sàng giao thương với châu Âu. Giống như câu chuyện mấy ông mù sờ voi và tả con vật theo đúng bộ phận mà họ sờ tới, những fan hâm mộ này có nhận xét đúng về Singapore nhưng lại không thể nhìn ra toàn cục.

Bắt đầu với phe ủng hộ Brexit. So với Singapore, Anh có 65 triệu dân, nhiều hơn 12 lần, và rải đều trên lãnh thổ lớn hơn Singapore 337 lần. Thuế ở Anh vốn đã nhẹ và được điều tiết theo chuẩn châu Âu, nhưng so với Singapore thì An vẫn là con voi ma mút. Suất thuế thu nhập cao nhất của Anh là 45%, gấp đôi của Singapore, chi tiêu của chính phủ chiếm khoảng 38% GDP, gấp đôi hệ thống nhà nước tinh gọn của Singapore. Việc tinh giản hơn nữa có nghĩa phải giảm mạnh chi tiêu nhà nước và định hình lại toàn diện Dịch vụ Y tế Quốc gia. Cử tri Anh sẽ chắc chắn trừng phạt bất kỳ đảng phái nào manh nha thực hiện điều này.

Ngay cả khi giả định rằng EU sẽ cho phép nước Anh có thuế thấp dễ dàng tiếp cận thị trường chung của mình, thì bối cảnh láng giềng cũng khác hẵn. Đông Nam Á là khu vực đang bùng nổ với 630 triệu dân, đa số sống ở các nước có tình hình không ổn định, tham nhũng, hay cơ sở hạ tầng yếu kém. Một Singapore hiệu quả cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận lực lượng người tiêu dùng này trong khi tối thiểu hóa rủi ro. Ngược lại, châu Âu có thể trì trệ, dù mang những nguy cơ dân túy, nhưng vẫn ổn định về mặt chính trị và hầu như được quản trị tốt. Khó có thể hình dung một doanh nghiệp sẽ chọn đầu tư vào Anh để phục vụ thị trường Tây Ban Nha thay vì thiết lập hoạt động ở Singapore để phục vụ khách hàng Indonesia – và càng khó hình dung hơn điều này sẽ xảy ra khi Anh không còn hưởng quyền tiếp cận không hạn chế vào thị trường châu Âu, điều rất có thể xảy ra khi Brexit hoàn tất.

Về phần phe bảo thủ Mỹ, họ đã đúng khi cho rằng hệ thống chăm sóc y tế của Singapore đạt được những kết quả tốt đẹp bằng cách chú trọng vào trách nhiệm cá nhân, cạnh tranh và hạn chế chi tiêu công. Dân Singapore tự trả hầu hết chi phí chăm sóc y tế từ túi riêng và tận hưởng tuổi thọ thuộc loại cao nhất và tỉ lệ tử vong sơ sinh thấp nhất thế giới. Nước này chi tiêu chỉ 5% GDP cho chăm sóc y tế, trong đó khoảng 2% là từ túi tiền người dân. Mỹ chi hơn rất nhiều, với tỉ lệ tương ứng là 17% và 8%, nhưng dân chúng lại kém xa về sự khỏe mạnh.

Tuy nhiên, hệ thống của Singapore cũng thể hiện sự cưỡng ép và can thiệp của nhà nước nhiều hơn hẵn những gì mà người Mỹ có thể chấp nhận. Đa số bệnh viện là của nhà nước. Hầu hết các các viện hay nhà chăm sóc cuối đời là của tư nhân nhưng được chính phủ cấp ngân sách. Chính phủ trợ cấp mạnh cho chăm sóc đặc biệt. Họ khuyến khích cạnh tranh thông qua công khai hóa đơn bệnh viện; các tổ chức dịch vụ y tế của Mỹ, ngược lại cố gắng che dấu viện phí để bệnh nhân không thể dò giá. Chính phủ Singapore buộc người dân phải chuyển 10,5% tiền lương của mình vào tài khoản “Medisave” (chủ lao động cũng phải đóng góp vào đây). Chính phủ cũng trợ giá cho những loại thuốc “thiết yếu và hiệu quả chi phí”; những loại thuốc không được duyệt, nếu có, sẽ vô cùng tốn kém.

Cả hai phe tả hữu đều thấy có nhiều điều đáng nể từ hệ thống chăm sóc y tế của Singapore. Nhưng bất kỳ ai có quan điểm cho rằng việc Michelle Obama khuyến khích trẻ em ăn nhiều táo là kiểu vú em ép trẻ ăn, sẽ khó chấp nhận hệ thống này. Như Hiệu trưởng Kishore Mahbubani của Trường Chính sách công Lý Quang Diệu giải thích: “ý thức hệ dẫn dắt Lý Quang Diệu không phải là kiểu Ayn Rand.”

Một mô thức tương tự – trách nhiệm cá nhân được hỗ trợ bởi sự cưỡng ép và mạng lưới an sinh tinh gọn và mạnh mẽ, được áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế của Singapore. Hơn 90% dân Singapore sở hữu nhà riêng, nhưng đa số là căn hộ do chính phủ xây, chính phủ định giá, và cũng chính phủ cho vay mua nhà. Nơi cư ngụ của dân Singapore một phần phụ thuộc vào sắc tộc của họ: để tránh hình thành những khu ghetto sắc tộc, Singapore bắt buộc các khu nhà do nhà nước xây là đa thành phần để phản ánh nền tảng đa chủng tộc của đất nước.

Cuộc mặc cả khó khăn

Hình thức thiết kế xã hội này sẽ khiến cử tri phương tây kinh hãi và tòa án phương tây sẽ gạt bỏ ngay. Nhưng dân Singapore lại chấp nhận. Chủ nghĩa gia trưởng đã áp đặt được sự ôn hòa sắc tộc. Người gốc Hoa đa số ở đây đã tránh được sự thù hằn mà những Hoa kiều ở nơi khác như Malaysia và Indonesia gặp phải. Quan trọng hơn là sự đánh đổi mà Lý Quang Diệu đưa ra vẫn còn giá trị: nền chính trị phi tự do đổi lại một chính phủ tốt và mức sống cao.

Các lãnh đạo Singapore bảo vệ một cách quyết liệt uy tín của mình bằng cách đưa ra tòa tội bôi nhọ, và dàn xếp cử tri để duy trì tính đa số của đảng cầm quyền. Nhưng ngược lại họ cung cấp đường xá an toàn, chăm sóc y tế hạng nhất, giao thông công cộng tốt và một nền hành chính công sạch và nhạy bén. Trong một hình thái không hoàn chỉnh, các cuộc bầu cử vẫn cho phép cử tri tác động lên chính sách: sau khi đảng cầm quyền gánh chịu kết quả bỏ phiếu tệ hại nhất năm 2011, “chỉ” được 60% số phiếu ủng hộ, thì họ đã chuyển theo hướng dân túy hơn và giành thắng lợi vẻ vang 4 năm sau đó.

Thỏa thuận của Lý Quan Diệu khó có thể bắt chước. Cả hai vế đánh đổi đều quan trọng đối với sự thành công của Singapore. Tuy nhiên, những fan hâm mộ như ông Duterte và Hun Sen, người đàn ông cứng của Campuchia, chỉ chăm học phần chuyên quyền độc đoán, mà quên phần chính phủ sạch hay việc kiến tạo sự thịnh vượng. Còn với các fan của Singapore từ thế giới giàu có, thì lại thiếu nền chính trị bị thuần hóa đã cho phép các nhà cầm quyền Singapore đề ra chính sách mà không phải lo lắng quá nhiều về đợt bầu cử tiếp theo – hay quá lo về quyền tự do dân sự của công dân.

Người dịch: https://www.facebook.com/tamnq?fref=mentions

Nguồn: http://www.economist.com/news/asia/21722865-city-states-success-offers-much-admire-little-emulate-how-foreigners-misunderstand

Thể chế, chính sách và văn hóa, đình trệ và phát triển – Phần cuối


Ở đây động cơ giữ vai trò then chốt. Để làm bất cứ điều gì – đưa ra ý tưởng, lập dự án, tổ chức, điều hành, sản xuất, phân chia, chuyên chở, cất giữ, bán, mua – đều phải muốn. Nguyện vọng đưa ra một hoạt động kinh tế nào đấy xuất phát từ dưới lên là cơ sở cho động cơ tốt hơn nhiều so với sự bắt buộc từ bên ngoài. Trong kinh tế chúng ta gặp phải sự áp đặt kinh tế, nhưng chỉ trong những phạm vi nhất định. Tuy nhiên, ở đây cần phải nhấn mạnh rằng, chính lý thuyết tự do của chủ nghĩa tư bản (tự do, chứ không phải là sự lệch lạc của thuyết tân tự do) đã hình thành các nguyên tắc của cuộc chơi kinh tế một cách đúng đắn nhất, hơn bất cứ một cuộc chơi chung nào khác mang bản chất con ngời, trong đó có cả những cơ chế tâm lý riêng của động cơ. Và khai thác chúng. Chủ nghĩa tư bản không đâm quàng vào bụi rậm của việc thử tạo ra những “con người mới”, cũng như những điều không tưởng khác từ chủ nghĩa cộng sản, đạo Hồi đến khoa học xã hội của Nhà thời Thiên Chúa giáo, mà khai thác cực kỳ hiệu quả những đặc tính tự nhiên của con người. Tất nhiên là trong đó có cả những đặc tính xấu nhất như thói ích kỷ, tính tham lam tàn bạo, lòng hận thù, óc thiển cận chứ không chỉ những đặc tính mong muốn như sáng tạo, cần cù, tháo vát, biết lo xa, tằn tiện, đoàn kết tập thể.

Những thành quả và thành công lớn nhất trong quản lý vi mô (ở cấp công ty) và trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội (ở cấp nhà nước) không phải từ sự áp đặt kinh tế kinh điển mà có. Cả Henry Ford, người đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp và phổ biến sản xuất ôtô vào đầu thế kỷ XX lẫn Mohamad Mahathir, nhà lãnh đạo của Malaysia vào cuối thế kỷ XX đều không bị ép buộc làm những gì mà họ có thể thông qua cạnh tranh. Họ có động cơ xuất phát từ tính cách cá nhân và từ nền văn hóa xã hội bao quanh họ. Có thể họ đã may mắn khi đưa thêm vào đó nhiều yếu tố khác nữa, song nếu thiếu động cơ thích hợp thì tất cả những cái đó cộng lại vẫn chưa đủ.

Bởi không có động cơ thì không có kinh doanh và không có những hoạt động có ý nghĩa. Không chỉ trong kinh tế. Nếu như trong nghệ thuật và khoa học, động cơ xuất phát từ cảm nhận riêng về các giá trị hay từ bản thân sự vươn tới cái đẹp và sự thật, thì trong kinh tế, nó phải hài hòa với sự có lý và đồng thuận với các nguyên tắc logic hành động trong việc làm kinh tế. Ở đây, chỉ riêng văn hóa là chưa đủ. Lịch sử cũng đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, bên cạnh một nền văn hóa nhất định, cần phải đặt ra những thể chế hoặc điều chỉnh chính sách một cách thích ứng để cho giai đoạn đình trệ chuyển sang giai đoạn phát triển. Hoặc đẩy nhanh tốc độ của nó hoặc đơn giản là kiềm chế nó. Gần đây, chúng ta có thể nhìn thấy điều này một cách rõ nhất ở vùng Đông Nam Á. Cả ở các nền kinh tế sau chuyển đổi ở Trung – Đông Âu nữa. Còn ở phạm vi nhỏ hơn – kể cả về mặt văn hóa – tại các nước cộng hòa Trung Á sau Liên Xô, ở Mỹ Latinh và ở vùng Caribean. Ở mức độ thấp nhất là vùng Cận Đông, Châu Phi và ở Châu Đại Dương. Công việc kinh doanh, ngoài các khuynh hướng cá nhân của những người trong cuộc, là một hàm số của khoa học, kỹ thuật và chính sách. Trong đó chính sách có ý nghĩa đặc biệt đối với kích thích kinh doanh. Một mặt, như chúng ta đã thấy qua chuyến chu du ngắn vào lịch sử, chính sách có thể làm tổn hại đến công việc kinh doanh và dập tắt nó. Khi đó tình trạng đình trệ xảy ra. Nhưng mặt khác, khoa học và kỹ thuật không đủ khả năng để tự thâm nhập vào khu vực sản xuất. Khi đó chúng cần đến sự giúp đỡ. Trong trường hợp này không có biện pháp khuyến khích công việc kinh doanh nào tốt hơn là tác động đến động cơ thông qua các công cụ của chính sách kinh tế. Khi những công cụ được đưa ra một cách thích hợp, nếu một công việc nào đó là có lợi, thì sẽ được đảm bảo.

Công việc kinh doanh vừa là một thuộc tính của con người (cho dù không phải của tất mọi người), vừa là một kỹ năng. Năng khiếu bẩm sinh ở đây bao giờ cũng giúp ích rất nhiều, nhưng kỹ năng lại có thể học và dạy được.

Khi nhìn vào những thách thức của sự phát triển trong tương lai thật xa, thì thấy rằng những cuộc vận động cho tương lai xảy ra chính trong trường giao thoa giữa ba thể loại lớn này. Và mặc dò rõ ràng là văn hóa của những người theo đạo Tin Lành của Benalux hay tính cách Bắc Âu của người dân vùng Scandinavi sẽ có lợi cho phát triển hơn là nền văn hóa Hồi giáo của Saudi Arabia hay Sahel – cũng tương tự như trường hợp của mấy trăm năm gần đây – trong trường hợp thứ hai có thể hình dung ra cách đưa ra thể chế và chính sách và cố gắng để áp dụng chúng sao cho dân chúng của những vùng này cũng có thể phát triển nền kinh tế của mình. Với tất cả các hệ quả tích cực đối với xã hội và kinh tế thế giới. Bởi đây đâu phải chỉ là việc của họ một khi hệ quả – đối với vấn đề di cư, an ninh và phát triển – cũng là của chúng ta.

Một số các nước Hồi Giáo ngoài Ảrập cũng đã đạt được rất nhiều, ví dụ như Indonesia, đặc biệt là những nước có sự giàu có đa văn hóa, ví dụ như Malaysia. Là nơi mà những sắc tộc và tôn giáo khác nhau cùng tồn tại. Bên cạnh người Mã Lai có rất nhiều người Hoa và người Ấn, cũng có cả một số ít người châu Âu nữa. Bên cạnh đạo Hồi thì Thiên Chúa giáo cũng được mở mang, và phổ biến hơn là đạo Lão và đạo Phật. Và triết lý của hai tôn giáo cuối này rất có lợi cho sự phát triển. Và không còn gần nhau, trong tỉnh Aceh của Indonesia, một sự pha trộn như vậy không còn đúng nữa. Những người dân ở đấy tự giễu rằng, Aceh là từ viết tắt những chữ đầu của Asian-Chinese-European-Hindu. Tuy nhiên ở đó, một tác phẩm văn hóa như vậy không chỉ không đủ cho phát triển mà nó còn là một đám tro tàn chưa được dập tắt hoàn toàn xung đột. Sở dĩ như vậy là do thiếu những nhân tố cần thiết để chuyển hướng đa số phê bình mang tích cực, đặc biệt là hòa bình bền vững và sự lãnh đạo về chính trị có ý nghĩa – có tầm nhìn và không bị ảo tưởng. Một số người đôi khi gặp may vì gặp đúng điều đó. Phần lớn là do gặp được bối cảnh thuận lợi.

Vâng – hãy thử tách khỏi những lợi ích xung đột lẫn nhau một lúc thôi – nếu như vì sự kìm hãm giáo điều có nền tảng văn hóa nào đó mà việc xây dựng thể chế có định hướng ủng hộ phát triển bị hạn chế và gây khó khăn cho việc thực thi một chính sách kinh tế có ý nghĩa, thì coi như nền văn hóa đó đã tuyên án đối với dân tộc rằng, dân tộc này sẽ bước đi loạng choạng vì sự trì trệ trong kinh tế. Có thể tiếp nhận khẳng định này chỉ để tham khảo, nhưng ít nhất cũng không từ bỏ được việc tìm kiếm lý thuyết cho sự phát triển, mà lý thuyết đó cho thấy là nó giúp ích để chiến thắng hội chứng bất lực đó và thoát ra khỏi tình trạng đình trệ về khía cạnh thực dụng.

Có thể nói một cách tổng quát rằng, văn hóa xác định các giá trị và cách hành xử của mọi người xuất phát từ những giá trị đó. Bản thân văn hóa, tự nó không quyết định số phận của sự phát triển kinh tế, nhưng trong môi trường tự nhiên, xã hội và kỹ thuật cụ thể, cùng với thời gian nó tác động ngược lại, nhiều hơn đến môi trường xã hội và kỹ thuật, đến môi trường tự nhiên thì ở mức độ thấp hơn. Không phải từ bản thân văn hóa, mà kết hợp với nhiều yếu tố khác, nếu những yếu tố này được sắp đặt theo một tổ hợp cụ thể chúng có thể có lợi cho sự phát triển hoặc đình trệ. Tuy nhiên, về lâu dài, chính văn hóa quyết định ai thắng ai bại, ai sẽ giàu có, ai sẽ đói nghèo, nền kinh tế nào sẽ nở rộ, nền kinh tế nào sẽ tàn héo, dân tộc nào sẽ thịnh vượng, dân tộc nào sẽ hẩm hiu. Và như vậy là bởi vì trong văn hóa chứa đựng nhiều bối cảnh khác có ý nghĩa cùng quyết định đối với hoạt động kinh doanh và năng suất lao động của con người. Lúc thì văn hóa có tác động tích cực, lúc lại ảnh hưởng tiêu cực, bởi văn hóa có nhiều khuôn mặt khác nhau và gặp gỡ tình cờ với những yếu tố phụ khác nhau.

Tuy nhiên, nếu xem xét tương lai và các biện pháp định hình tương lai từ góc nhìn kinh tế, cần phải nhớ tới các điều kiện văn hóa chung, nhưng phải đặt chân lên vùng đất cụ thể. Bao giờ con người cũng hoạt động trong một môi trường văn hóa cụ thể, nhưng cũng luôn đưa ra những quyết định trong môi trường vật lý và kinh tế cụ thể, là điều mà các mô hình lý thuyết cũng hpải lưu ý một cách cụ thể. Mặc dầu liên tục có những nghiên cứu và đã có nhiều bước tiến bộ, nhưng cho tới lúc này không một lý thuyết nào về tăng trưởng và phát triển làm chúng ta hài lòng. Bởi chúng không làm sáng tỏ được tất cả các khía cạnh của đình trệ và phát triển và khi phân tích những trường hợp riêng biệt, chúng ta liên tục gặp khó khăn về diễn đạt hoặc là thấy rằng, thực tế không nằm trong cách tiếp cận khuôn mẫu hay đôi khi mâu thuẫn với chúng. Theo lý thuyết thì một cái gì đó phải tăng, vậy mà ở đây lại giảm. Theo lý thuyết thì một cái gì đó phải chảy từ nước giàu sang nước nghèo, nhưng lại xảy ra ngược lại. Lẽ ra phải xuất hiện khủng hoảng, nhưng nó lại không thèm vội. Hoặc hay xảy ra nhất là, điều lẽ ra không có gì khiến chúng ta phải ngạc nhiên thì lại tấn công chúng ta.

Tại sao lại xảy ra như vậy? Và có thể làm được gì với vấn đề này? Câu trả lời chúng ta sẽ tìm thấy trong cách tiếp cận với phương pháp trình bày về lý thuyết các quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội được đưa ra ở đây. Đã đến lúc phải vứt bỏ thuyết không tưởng của chủ nghĩa tân tự do du dương như một đĩa nhạc cũ và đưa ra một mô hình mới. Một mặt nó liên quan đến bộ phận mô tả (họa pháp) của kinh tế. Mặt khác, đây là chủ nghĩa thực dụng mới dựa trên lý thuyết này, liên quan đến bộ phận thủ tục (qui chuẩn). Trở lại với những lưu ý mang tính phương pháp luận trước đây, ở phương pháp họa pháp, lý thuyết này giải thích cho chúng ta về tình trạng của các vấn đề và những cơ chế đang điều hành các tiến trình kinh tế, còn ở phương pháp qui chuẩn, nó nói cho chúng ta biết hpải làm gì và làm như thế nào để mọi việc tốt hơn.

Như vậy, trước hết cần thoát khỏi mọi chủ nghĩa giáo điều, bởi nó đè nặng lên tư duy sáng tạo không kém gì sự dốt nát. Đôi khi thậm chí còn hơn. Chủ nghĩa giáo điều – chúng ta hãy nhắc lại – tốt trong tôn giáo, nhưng không tốt trong khoa học. Ở đây, những điều cần thiết là chủ nghĩa li khai, động lực liên tục tiến lên phía trước và giác quan xứng đáng với cải tổ và cách tân chứ không phải là chủ nghĩa truyền thống và chủ nghĩa bảo thủ.

Tiền bạc không đem lại văn hóa. Chính văn hóa, mà bản thân nó đã đáng giá rất nhiều, đem lại tiền bạc.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.

Thể chế, chính sách và văn hóa, đình trệ và phát triển – Phần VII


Với các dân tộc cũng kiểu như vậy. Theo cách của mình, mỗi dân tộc có thể chọn hoặc là tối tối học hành, hoặc là uống rượu. Xã hội, được gán cho những đặc tính giống như tính cách con người. Xã hội này được tuyên bố là chăm chỉ và tiết kiệm, xã hội khác – lười biếng và không biết lo xa. Xã hội này được coi là có ý thức kinh doanh, trong khi xã hội khác rất tùy tiện. Có những xã hội nổi tiếng là quy củ, nhưng cũng có những xã hội rất lộn xộn. Theo nghĩa đen và ẩn dụ. Xã hội này hiếu khách, xã hội khác trong nhiều năm không cho khách bước qua ngưỡng cửa nhà mình. Có những dân tộc và sắc tộc nổi tiếng vì tính hiếu chiến và có những dân tộc luôn luôn ôn hòa và yêu hòa bình. Người Scotland luôn được liên tưởng đến tính keo kiệt, người Gruzia đến thói lãng phí. Người Đức có tính kỷ luật rất cao nhưng bù vào đó lại thiếu tính hài hước, hoàn toàn trái ngược với người Ba Lan, do đó mà có thể giải thích trong một chừng mực nào đó vì sao những chuyến đi ở Đức là tuyệt vời nhưng ở Ba Lan lại vui hơn nhiều. Rõ ràng là ở đây có nhiều sự rập khuôn và các dân tộc khác nhau – nhất là những dân tộc láng giềng với nhau – thường phàn nàn lẫn nhau về cùng những điểm yếu.

Từ những thời xa xưa nhất, con người đã nằm trong mối tương quan giữa các nền văn hóa. Khi con người bước qua chướng ngại vậy là mảnh vườn của mình, thì đây là một sự kiện văn hóa, bởi anh ta sẽ gặp những người khác. Sự đa văn hóa theo nghĩa như vậy có tầm cỡ vi mô, bắt đầu từ mảnh vường theo đúng nghĩa đen của từ này cũng như vĩ mô, tức ở thượng tầng xã hội, dân tộc, nhà nước. Nó cũng có tầm cỡ xuyên quốc gia và toàn cầu. Không có gì thay đổi các đặc tính – của con người, các nhóm xã hội, các dân tộc – như các mối quan hệ giữa các nền văn hóa.

Trong đặc tính bao giờ cũng có những thuộc tính tốt và những thuộc tính xấu ở nhiều cung bậc khác nhau. Trong khi một số các thuộc tính bẩm sinh, thì một số khác được tiếp thu từ bên ngoài. Ai cũng biết rằng quả táo rơi không xa gốc táo (đây là câu ngạn ngữ của Ba Lan giống như câu ngạn ngữ Việt Nam con nhà tông không giống lông cũng giống cánh – ND). Nhưng ai cũng lại biết rằng, tuổi trẻ mà nhiễm phải thói hư thì về già khó mà sửa được. Khoảng một nửa tính cách của chúng ta là do gien quyết định, như vậy là chúng được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác (quả táo rơi), còn một nửa được hình thành trong quá trình sống, đặc biệt là trong giai đoạn sớm của cuộc đời.

Chúng ta được giáo dục trong gia đình, chúng ta sống trong các môi trường láng giềng, trường học, làm việc, chính trị, bạn bè khác nhau. Chúng ta tiếp thu những thói quen giúp ích cho sự tiến hóa và trưởng thành của nhân cách, nhưng – rất tiếc – cả những thói quen làm hỏng nhân cách. Những ứng viên giải Nobel của nửa sau thế kỷ XXI vẫn còn đang ở mẫu giáo hoặc trường tiểu học. Các kinh tế gia mà thậm chí chính họ cũng chưa biết rằng mình sẽ trở thành các nhà kinh tế học. Khi ấy cũng có cả những tên tội phạm sẽ lộ diện vào cùng thời gian đó. Lúc này, thậm chí chúng vẫn còn là những đứa trẻ ngoan ngoãn, những học trò gương mẫu. Và nếu như không thể thông qua quá trình giáo dục với những điều kiện thích hợp để biến dạng người thứ hai thành dạng người thứ nhất thì cũng có thể làm được rất nhiều để số người thông thái và trung thực nhiều hơn số người ngu dốt và đểu giả. Chẳng phải thông qua quá trình giáo dục và đào tạo – cả những mối tương tác xã hội mà trong đó vị thế của các phương tiện truyền thông đại chúng và Internet đang gia tăng mạnh mẽ – có thể tác động đến tính cách một cách đáng kể sao. Và các bậc phụ huynh, giáo viên, các tôn giáo và rất nhiều tổ chức đang cố gắng làm việc này. Với những kết quả khác nhau.

Với kinh tế cũng có phần giống như vậy. Kinh tế cũng có những “đặc tính” khác nhau. Những thuộc tính “bẩm sinh” và “tiếp thu được”, mặc dù chúng ta không thể nói chính xác tỷ lệ giữa chúng là bao nhiêu. Tôi cho rằng hiện nay, những thuộc tiếp “tiếp thu được” chiếm ưu thế, nhưng theo cách khác nhau trong những xã hội khác nhau. Xã hội giống hệt con người. Xã hội này học nhanh hơn, xã hội khác chậm hơn. Xã hội này nhanh chóng quen với những thuộc tính tiến bộ, trong khi xã hội khác tiếp thu những thay đổi mang tính bảo thủ hơn. Cũng có những xã hội mà trải qua nhiều thế hệ hoặc nhiều thế kỷ vẫn không học được mấy những điều tốt đẹp.

Có thể đưa ra nhiều thí dụ. Chẳng hạn như Chile và Czech. Nếu so sánh hai quốc gia này vào 25 năm trước đây, chúng ta thấy có sự khác biệt cơ bản. Ngày nay hai nước có rất nhiều điểm giống nhau và những đặc tính chung, bởi cả hai nước này đều học được rất nhiều về việc đưa những hoạt động kinh tế có ý nghĩa vào nền kinh tế toàn cầu hóa. Tương tự như vậy với hai nước Argentina và Hungary. Chỉ cần một thế hệ. Gần hoặc là tận. Một phần tư thế kỷ trước, đây là hai hệ thống khác nhau về cơ bản và văn hóa kinh tế cũng khác nhau, giờ đây có thể chỉ ra rất nhiều sự tương đồng về cơ cấu và thể chế. Không còn là sự giống nhau chỉ ở vẻ ngoài trên phố và ngoài đồng, những bối cảnh đã xuất hiện từ trước – là điều mà Alan Parker đã tận dụng rất giỏi khi quay Evita cả ở Buenos Aires cũng như ở Budapest, trên những cánh đồng hoang của Argentina cũng như trên thảo nguyên của Hungary – mà cả bên trong, những cái làm sáng tỏ cách thức vận hành và sự phát triển của nền kinh tế.

Những thuộc tính bẩm sinh với chức năng là sức mạnh của truyền thống văn hóa cũng như cơ cấu của sức ì thể chế và sự bước đi trên con đường phụ thuộc đã chọn trước, có xu thế tiếp diễn. Đôi khi quá lâu, bởi chúng gây tổn hại; đôi khi rất kịp thời bởi chúng có lợi cho sự tiến bộ của KHKT và hoạt động kinh doanh. Phải nói thật là nỗi mong muốn có một “Evita mới” ở Argentina còn lớn hơn gấp nhiều lần nỗi mong muốn có một nhà vua mới ở Hungary. Đến mức mà Cristina Fernandez de Kirchner dễ dàng chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống vào mùa thu năm 2007 ngay ở vòng đầu. Bởi xã hội có – cũng như con người – tình cảm và nỗi oán hận của mình. Nhiều khi sau nhiều năm, thậm chí ngay cả khi biết rằng điều đó không có lợi cho sự phát triển, nhưng xã hội vẫn không thể thoát ra khỏi những nỗi oán hận đó. Hơi giống với thói phàm ăn. Cần phải thôi, phải bỏ, nhưng lại không thể hoặc đơn giản nhất là không muốn.

Những thuộc tính mới được tiếp thu thông qua việc học tập trong quá trình xây dựng thể chế mới cũng như thực hiện chiến lược và chính sách phát triển kinh tế tích cực. Giống như trường hợp của một người mà ở người đó có thể tạo nên những tích được xã hội mong muốn và hình thành đặc tính cá nhân tốt của anh ta, trong kinh tế cũng có thể tạo nên những thuộc tính tích cực, mang lại cho nền kinh tế đặc tính có lợi cho sự phát triển. Nếu như gánh nặng về gien quá cản trở, thì càng cần phải nỗ lực đào tạo và giáo dục nhiều hơn chứ không nên ca thán trời đất hay gần hơn là các bậc phụ huynh. Nếu di sản văn hóa của việc mở rộng kinh tế không giúp được gì, thì cũng cần phải nỗ lực hơn trong việc khuyến khích phát triển kinh tế thay vì oán trách lịch sử hay gần hơn, những êkíp làm kinh tế trước đây.

Với bối cảnh may mắn thì không cần cả mấy thế hệ cho việc này. Và tiếc thay, ngược lại cũng vậy. Bởi có thể dễ dàng làm hỏng những cơ hội sáng tạo nên “đặc tính tốt” như vậy của nền kinh tế, nghĩa là vì sự phát triển của nó. Chỉ cần so sánh những nước láng giềng với nhau như Chile với Argentina, Costarica với Honduras, Dominica với Haiti, Senegal với Guine, Ba Lan với Ukraine, Slovenia với Slovaskia, Qatar với Bahrain, Malaysia với Philippines thì thấy rằng không phải điều kiện tự nhiên (giống nhau) hay vị trí địa lý (cũng giống nhau) đã khiến cho nhữn gnước đầu trong các cặp này bỏ xa những nước thứ hai về phát triển trong vòng một phần tư thế kỷ gần đây.

Văn hóa – cũng giống như tính cách – liên quan chặt chẽ với động cơ và nguồn cảm hứng. Người Nga từ xa xưa đã có câu như thế này: từ một miếng gỗ có thể làm ra một bức tượng thánh cũng như một cây dùi cui. Chính là thế đó. Xuất phát từ cùng những biện pháp hay những biện pháp giống nhau, có thể có động cơ và nguồn cảm hứng khác nhau. Và chính những điều này quyết định chất lượng của sản phẩm cuối cùng của việc đầu tư vào hoạt động sản xuất. Tất nhiên, với giả thiết rằng trình độ cần thiết để tạc tượng và đẽo dùi cui là như nhau, mà điều này thì thực tế là không thể. Nhưng trong dân chúng ẩn chứa những kỹ năng khác nhau, và trong xã hội rất nhiều những kỹ năng đó tồn tại cạnh nhau. Vậy nên có thể làm hoặc dùi cui, hoặc tượng thánh. Hoặc cả cái này và cái kia theo những tỷ lệ khác nhau. Cũng có thể xảy ra tình trạng như thế này: những người có trình độ đẽo dùi cui nắm được quyền hành (không nhất thiết phải bằng vũ lực, nhờ những chiếc dùi cui ấy, bởi nhiều khi là thông qua bầu cử dân chủ hẳn hoi) và bóp chế những người có khả năng làm ra tượng thánh. Khi đó trên thị trường sẽ có quá nhiều dùi cui và quá ít tượng thánh. Các kinh tế gia sẽ nói là thị trường mất cân đối. Sự mất cân đối này sẽ dẫn đến sự mất cân đối của xã hội và chính trị, và tất cả ba cái mất cân đối này sẽ quay đầu chống lại sự phát triển kinh tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.

Thể chế, chính sách và văn hóa, đình trệ và phát triển – Phần VI


Một khi đã và đang diễn ra như vậy, sẽ xuất hiện câu hỏi, liệu sau đây điều này có một ý nghĩa thực tiễn nào đó. Liệu có rút ra được điều gì đó cho tương lai khi chính sách kinh tế của những tên thực dân tại Châu Phi nhiệt đới, hay của các đế chế hậu thuộc địa ở các nước Ảrập, hay của các nhà hoạch định chính sách của chính phủ ở Trung Á thuộc Liên Xô, hay của Quỹ Tiền tệ Quốc tế tại Đông Nam Á, hay của những người theo trào lưu chính thống tân tự do tại Trung tâm Châu Âu, là “ngu xuẩn”? Có đấy, bởi hậu quả của chính sách này vẫn đang tiếp diễn. Và cho dù không còn khả năng loại bỏ nguyên nhân và lấy lại thời gian đã qua đi, cũng như không thể dùng gậy để quay ngược dòng nước, thì vẫn có thể quay lại cách thể hiện về mặt xã hội những gì đã xảy ra và tác động đến hậu quả của nó đối với lối tư duy về hiện tại và tương lai một cách sáng tạo, có nghĩa là về việc, điều gì có thể xảy ra và chúng ta mong muốn điều gì sẽ xảy ra.

Cần phải tận dụng thời gian chờ đợi việc nắm quyền hành của những người muốn và có khả năng cải thiện tình hình theo hướng tích cực không phải cho bản thân mình hay những người ủng hộ mình, mà là cho toàn xã hội. Kể cả đối với đào tạo về kinh tế. Do đó mà lời nói mang ý nghĩa. Bởi chúng là phương tiện truyền tải nội dung. Do đó cần phải đấu tranh! Vì “trật tự của những tâm hồn”. Bởi tốt hơn cả là mọi người – quảng đại quần chúng – hiểu được bản chất của quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Sẽ thật ngây thơ nếu hy vọng rằng mỗi một người đều trở thành một kinh tế gia. Bởi khi đó sẽ rất nhiều người cảm thấy nhàm chán, và thế giới sẽ không thể chịu đựng được điều đó. Nhưng mong muốn đạt tới tình trạng hiểu biết về kinh tế một cách tốt nhất là thực tế. Trong một nửa thập niên trước, một trong những người bạn, những kinh tế gia tài giỏi của tôi đã viết về sự ra đời của nền kinh tế thị trường ở Nga, rằng có vẻ như nó đã xuất hiện, chỉ có điều mọi người chưa hiểu được điều đó. Lúc ấy tôi đã phản bác lại rằng, một khi mọi người không hiểu được điều đó, thì – một mặt – không thể coi đây là một nền kinh tế thị trường từ sự hiện thực, bởi cái thứ được tạo ra với tính chất sớm nở tối tàn ấy đã không có được tầng văn hóa thể chế cần thiết cho sự vận hành chuẩn xác và phát triển thị trường. Mặt khác, không có cách gì để chờ đợi dân chúng ủng hộ một hệ thống như vậy. Làm sao có thể ủng hộ một nền kinh tế một khi không hiểu nó? Do chỉ đạo? Đã xảy ra như vậy. Một cách vô thức? Điều này không đủ để phát triển, bởi nó không khởi động sự tương tác sáng tạo cần thiết giữa xã hội và nền kinh tế.

Do đó, cần phải hết sức nỗ lực sao cho có nhiều người nhất hiểu được nhiều nhất về kinh tế. Một chính sách tốt đòi hỏi không chỉ một lý thuyết tốt, mà còn đòi hỏi cả một xã hội được giáo dục tốt. Nếu xã hội không có được thuộc tính này, thì không thể có sự thống nhất đồng bộ ba vấn đề:

+ sự thật khoa học,

+ nền dân chủ đích thực,

+ một chính sách hiệu quả.

Có vô số những nhà kinh tế học mạo danh, những chính trị gia mị dân và cả đám con buôn chính trị mà thực ra là những kẻ bóc lột trên lĩnh vực này. Khi mọi việc diễn ra như vậy, thì chính sách kinh tế ít ra cũng không dựa trên nền tảng tri thức, mà là dựa vào:

+ sự ngoan cố mang tính ý thức hệ,

+ sự dốt nát,

+ sự thiển cận,

+ lòng tham,

+ lợi ích từ bên ngoài (chứ không phải của xã hội mà họ đang ở trong đó).

Chống lại chuyện này không dễ, bởi cả những nhà kinh tế học, đặc biệt là các nhà xã hội học vốn vẫn dùng chính sách ngu dân, thao túng họ bằng các quan điểm mình của mình cho các nhu cầu về hệ tư tưởng, cho tiến hành các cuộc bầu cử không hợp lệ, cũng hoạt động rất nỗ lực. Những lúc ấy phải làm gì? Tiếp tục làm theo kiểu cách của mình. Bởi làm theo cách của mình – đặc biệt là vì những người khác – phải liên tục, không ngưng nghỉ.

Đối với khoa học và chính trị, càng cần phải nỗ lực nhiều hơn. Nếu như khoa học – và ở đây, kinh tế học không nên là bất cứ một ngoại lệ nào – phải đi đến sự tìm kiếm sự thật một cách khắt khe, thì chính sách là một nghệ thuật di chuyển khó khăn giữa tính kỷ luật và tính mềm dẻo. Một chính sách tốt dựa trên việc đem lại cho mọi người cái mà họ cần. Chính sách tồi thì đưa ra cho mọi người cái mà họ không muốn. Một chính sách tuyệt vời là chính sách mà nhờ đó mọi người nhận được cái họ muốn và đồng thời cả cái mà họ cần. Hiếm thì hiếm, nhưng những điều tuyệt vời vẫn có. Khi điều tuyệt vời đó xảy ra thì đình trệ biến mất, phát triển ngự trị.

***

Khi nhìn vào lịch sử phát triển và đình trệ của kinh tế, thì có thể thấy rằng, lịch sử dạy chúng ta một điều cực kỳ rõ ràng: văn hóa có tính chất quyết định. Điều này đã được Max Weber (1864 – 1920) khẳng định, và thế kỷ vừa qua đã cho thấy rõ hơn sự quan sát đúng đắn này. Tôi không hề nghi ngờ gì, rằng sau thế kỷ XXII và những thế kỷ tiếp theo nữa, nhận định này càng không có gì phải tranh cãi.

Các kinh tế gia không thể thích nhận định này. Không chỉ vì văn hóa là một khái niệm rất mềm dẻo, rất khó để đong đếm, đồng thòi lại có dung lượng rất lớn, bởi có thể đưa vào đó rất nhiều. Trước hết là bởi vì nó có thể gợi ý về thuyết định mệnh được đẩy đi khá xa. Thực ra thì văn hóa không phải được đưa một lần cho mãi mãi, tuy nhiên vẫn cho một thời gian dài. Một khi văn hóa có thể quyết định phát triển, thì chúng ta phải làm gì? Không nhiều. Chúng ta bị giam giữ trong tấm áo giáp di sản chật chội từ những thời đại trước. Chúng ta suy nghĩ và hành động dưới tác động của gánh nặng tôn giáo, đẳng cấp, sắc tộc và cá tính. Ngoài ra, những đề tài mà không phải lúc nào cũng có thể nói ra được, nhất là khi cần phải đảm bảo tính đúng đắn về chính sách vốn vẫn được cả một đội quân những kẻ đạo đức giả chăm sóc, đều là những đề tài nan giải.

Kinh tế học là một khoa học về những biến đổi. Thậm chí cả những người tự do cực đoan cũng thích thao túng bên cạnh những biến đổi này. Cho tương lai gần thì thông qua những biến đổi của nhiều thông số kinh tế – nào là lãi suất, nào là thuế, rồi tỷ giá hối đoái – còn cho đích xa hơn, họ ủng hộ những tiến trình mong muốn thông qua việc cải cách thể chế, còn với những tiến trình không mong muốn thì họ hạn chế. Còn văn hóa, như một sản phẩm của lịch sử không dễ gì để can thiệp vào đó, khi nó tiến hóa dần dần, qua nhiều thế hệ, và không thể htay đổi ngay một lúc được.

Như vậy là văn hóa điều khiển chúng ta chứ không phải chúng ta điều khiển văn hóa. Trong khi một số các nhà nhân chủng học cho rằng, một số đặc tính văn hóa nói chung là không thể thay đổi được, một số khác chỉ ra những đặc tính dường như được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác cùng với dòng sữa mẹ. Có thể không phải bằng con đường ấy, nhưng chắc chắn là chúng được truyền qua nhiều thế hệ và đôi khi trong lĩnh vực này, thì sự kế tục nhiều hơn là biến đổi. Nếu đó là những đặc tính hay thì thật là tốt, nhưng nếu chúng dở thì thật tồi tệ.

Một khi đúng như vậy, một khi chúng ta bị câu thúc bởi những điều kiện văn hóa thì phải tác động đến phát triển kinh tế như thế nào? Có thể đơn giản là sự phát triển đi theo những con đường mòn đã được văn hóa quy định và ở đây không thể làm được gì hơn nữa? Có thể đúng là văn hóa đã bén rễ sâu vào lịch sử và truyền thống và chính văn hóa chỉ ra con đường phát triển và quy định cho dân tộc một cái khung nào đó mà rất khó để vượt ra khỏi cái khung ấy? Ít ra là như vậy.

Sẽ dễ hơn để nắm bắt được ý nghĩa của văn hóa trong phát triển nếu so sánh văn hóa với vai trò của một đặc tính trong sự phát triển của con người. Tính cách của Cain khác với Abel; của Dr Jekyll khác với Mr Hyde. Nền kinh tế thị trường xã hội vùng Bắc Âu có đặc tính (tức văn hóa) khác với đặc tính của nền kinh tế tư bản tân tự do Anglo-Saxon (và tương ứng với nó là xã hội và giới tinh hoa của vùng này).

Nói về dân tộc – hoặc xã hội – cũng giống như nói về con người. Mà con người thì khác nhau. Trong khi người này thì giành rất nhiều thời gian để ngồi trước màn hình vô tuyến hoặc đọc báo chỉ để đọc, người khác lại đan len hoặc trồng dưa chuột ngoài vườn. Người này thích ngủ nhiều, người khác lại ham công tiếc việc. Ai đó thích lao động chân tay, ai đó khác lại thích ngồi lê đôi mách. Tất cả những cách ứng xử này đều có các cơ sở văn hóa và hệ quả kinh tế của nó. Chúng không nhất thiết phải được đưa vào thống kê thu nhập quốc dân, cho dù chúng ảnh hưởng tới không chỉ mức tiêu dùng thực tế, mà còn ảnh hưởng tới cả mức độ hài lòng với cuộc sống. Ở đây, tính thực dụng và tính sáng tạo mang ý nghĩa then chốt. Khi có tiền, người ta có thể có cả trí tưởng tượng. Còn khi chỉ có trí tưởng tượng rất phong phú, rất khó để có tiền.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.

Thể chế, chính sách và văn hóa, đình trệ và phát triển – Phần V


Chính xác là từ cũng những lý do này – những mối quan tâm ích kỷ đến những vấn đề của cấp trên – ít ra họ cũng không áp đặt nền dân chủ theo chuẩn mực của mình ở những nơi mà chính quyền chuyên chế đảm bảo thực hiện những lợi ích chiến lược của họ. Ví dụ như ở Ai Cập, Saudi Arabia, Pakistan hay các nước hậu Xôviết Azerbaizan và Turkmenistan, vẫn còn rất xa dù chỉ là những chuẩn mực dân chủ của các nước Đông Âu sau chuyển đổi. Với toàn bộ sự ồn ào chính thức về hiện đại hóa và chủ nghĩa đa nguyên, ở Jordan có tới 77% dân số nhận định rằng, không thể chỉ trích chính quyền mà không sợ bị phạt, còn gần 16% cho rằng có thể làm điều đó. Nền dân chủ rất được quan tâm, nhưng những lợi ích mang tính chiến lược về quân sự, kinh tế, đặc biệt là năng lượng còn được quan tâm hơn nữa. Mọi thứ đều có chỗ của mình.

Một điều rất quan trọng, điểm tựa của nền dân chủ ở một số nước khác cũng có được từ việc biết ỉm đi sự phản đối dưới nhiều hình thức khác nhau. Bởi một khi đã là dân chủ, thì kể cả ai đó có không thích điều gì đấy, vẫn buộc phải như vậy, bởi đây là sự nhất trí với nền dân chủ. Tham gia biểu tình có thể là  những người nông dân không có ruộng đất hoặc những nữ y tá với đồng lương ít ỏi, phẫn nộ với chính quyền có thể là những người phản đối tên lửa hoặc cơ sở của lực lượng hải quân, nhưng họ biết nói gì một khi những quyết định mà họ phản đối chính là do chính quyền dân chủ đưa ra?

Trong khi nền dân chủ tước vũ khí của người này nhưng lại trang bị cho người khác thêm lý lẽ. Nền dân chủ chắp cánh, nhưng cũng có thể lập lại trật tự tốt hơn cả cảnh sát. Nền dân chủ có thể truyền cảm hứng, nhưng cũng có thể kết thúc một cách tàn bạo. Có thể chiến thắng một cuộc chiến, nhưng lại thất bại trong một cuộc bầu cử, là điều mà không chỉ riêng Churchill đã trải nghiệm. Khó có thể phản đối chính quyền dân chủ theo cách khác hơn là tước đoạt quyền lực của nó trong các cuộc bầu cử dân chủ. Và có thể thấy rằng, trong phần lớn các trường hợp – không kể một số ít các các “tai nạn” như những quyết định không chính xác của những cử tri cầm quyền ở Argentina, Venezuela, Nicaragua, Belarus, Iran – biện pháp này là vô cùng hiệu quả.

Trước vòng bầu cử tổng thống thứ hai mang tính quyết định tôi có hỏi Đại sứ mới của Hoa Kỳ, rằng việc ai sẽ là người chiến thắng có ý nghĩa như thế nào đối với đất nước ông, ông đã trả lời rằng về nguyên tắc thì chẳng có ý nghĩa gì hết, bởi người nào cũng bảo vệ cho các lợi ích của Mỹ, còn lại thì không phải việc của họ. Ba người tiền nhiệm của ông còn không giấu giếm, rằng họ còn đại diện cho các nhà đầu tư Mỹ và mối liên kết quân sự – công nghiệp hơn cả các công dân. Và đúng như vậy. Trong thực tế, mọi người quan tâm chính là đến những lợi ích của mình chứ không phải của người khác. Chỉ cần chú ý xem họ nói gì. Bởi – như chúng ta vẫn biết – lời nói mang ý nghĩa. Không chỉ trong ngoại giao.

Liệu một nền dân chủ như vậy – lúc này thì mềm, lúc khác thì rắn – có lợi cho tăng trưởng kinh tế? Để được như vậy trong một tương lai gần là một điều thật đáng ngờ. Bởi bắt buộc phải nâng cao hiệu quả lao động và sản xuất của nguồn vốn hay – theo một khái niệm khác – cải thiện một cách đáng kể mức độ an toàn quay vòng vốn và mở rộng hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, tất cả những biểu hiện này chỉ được bộc lộ trong một khoảng thời gian dài, cùng với việc xây dựng những thể chế hữu ích và một chính sách vĩ mô hợp lý. Trong nhiều trường hợp, một nền dân chủ non trẻ, mới nổi không hợp lý những tranh cãi về kinh tế, không rút ngắn quy trình đưa ra quyết định, mà chỉ làm cho chúng phức tạp thêm lên và kéo dài hơn.

Có thể tạm dừng lại ở nhận định, rằng về lâu dài, không có gì tác động tốt tới tăng trưởng kinh tế như nền dân chủ. Vâng, nhưng “về lâu dài” có nghĩa là rất nhiều những quãng ngắn cộng lại, mà về điều này tôi biết rất rõ với tư cách của một người chạy marathon. Ngoài ra, nhiều cái gọi là nền dân chủ – cho dù là ở các nước Latinh hay Phi châu – chỉ là những nền dân chủ trên danh nghĩa, mang tính hình thức. Có những cuộc bầu cử, nhưng không có sự chọn lựa. Ít ra thì cũng không phải do vox populi (dư luận quần chúng) chỉ đạo. Nó chỉ là công cụ điều hành của nhóm cầm quyền chọn lọc, đại diện cho những nhóm nhỏ lợi ích. Cá nhân, nhưng thường lại rất nhất quán với những lợi ích từ bên ngoài mà về nguyên tắc cũng khá chọn lọc.

Trong những giai đoạn trưởng thành khác nhau (trong đó có cả ý thức, nền kinh tế là gì và nó điều hành theo những nguyên tắc nào) đã có thời có cả những quốc gia mà hiện đang là những quốc gia phát triển nhất. Không chỉ trích họ bất cứ điều gì ngoài những điều cần thiết, phải nhớ rằng, một vấn đề cơ bản nhất như quyền bầu cử của phụ nữ mà cho ãmi tới gần đây mới được thực hiện. Ở nhiều nước, trong thế kỷ XX, trong đó có Thụy Sĩ – một nước phản đối nền dân chủ trực tiếp với nhiều cuộc trưng cầu dân ý – đột nhiên vào năm 1971 phụ nữ mới được tham gia bầu cử! Không một quốc gia nào trong khu vực văn hóa Tây Âu có quyền bầu cử rộng rãi vào thời kỳ mà mức độ phát triển tương đương với mức độ phát triển của châu Phi hiện nay. Không hiểu bằng con đường riêng của mình, mọi chuyện sẽ diễn ra như thế nào nếu như các nước Tây Âu vào mấy trăm năm trước đây đưa thể chế đầy đủ vào các cuộc bầu cử dân chủ, khi mà mức độ sản xuất thấp như vậy và mức độ mù chữ hẳn cao như vậy (và bỏ qua các vấn đề kinh tế), như những nước nghèo nhất trong thời đại chúng ta? Chúng ta hẳn đã có những cuộc bầu cử rộng rãi, tự do và bình đẳng ở châu Âu ngay từ thời Trung Cổ. Điều này có nghĩa như thế nào, chúng ta không biết được, vì lịch sử đã xảy ra rồi. Và lịch sử dạy chúng ta rằng, ở đâu mà chính thể chuyên chế được khai sáng, sự phát triển sẽ diễn ra nhanh chóng. Ở đâu mà tăm tối ngự trị, thì bầu cử cũng không giúp được gì nhiều. Nếu khác đi, thì ở chỗ này hay chỗ khác cũng sẽ nhanh chóng dẫn tới tình trạng đó.

Hiện nay việc công kích thể chế dân chủ dân sự, đặc biệt là những quyền bầu cử chung mà thiếu chúng thì không thể nói đến dân chủ, nhưng bản thân chúng lại không dân chủ, đang bị coi là hoàn toàn thiếu chuẩn xác. Nhưng có gì phải nói dối; vấn đề đang tồn tại. Nó dẫn tới chỗ, vì sự phức tạp về kỹ thuật của những vấn đề liên quan đến vận hành và phát triển kinh tế – vì không hiểu những cuộc tranh cãi diễn ra vì cái gì và cuộc chơi đi đến đâu; vì không có lượng thông tin thích hợp về tình trạng của vấn đề – đôi khi xã hội tiến hành những cuộc bầu cử tồi tệ. Tồi tệ có nghĩa là chúng làm hại chính họ, bởi chúng đưa vào chính quyền những chính trị gia là những người muốn thực thi kế hoạch ít ra cũng không phục vụ cho những người đã bầu ra họ. Khi đó phải làm gì?

Biết làm sao được, phải chờ thôi, cho tới khi mọi người hiểu được và cùng với thời gian (bị hoài phí từng phần dưới góc nhìn về khả năng phát triển) chọn ra được người cần thiết. Tiếc là thời gian này có thể kéo quá dài. Dài đến mức trong khi dân tộc này đã bứt lên phía trước, thì ở một số dân tộc khác đã bị mất đi vĩnh viễn nhiều cơ hội. Bởi cho dù trí khôn dân tộc thường lớn hơn trí không của tầng lớp được đắc cử, đúng như câu ngạn ngữ: “cái gì chậm sẽ không chạy mất”, ít khi được kiểm chứng đối với phát triển kinh tế. Và một người Ba Lan (và không chỉ mình anh ta) đã khôn ra sau thiệt hại chính là vì rốt cuộc anh ta ngộ ra rằng tuy nhiên, những gì chậm trễ thì đã chạy mất…

Vấn đề bộc lộ ra sẽ khó hơn nhiều, khi chính sách kinh tế sai không phải theo kiểu tùy hứng, mà mang tính lịch sử. Khi đó một chính sách “dốt” có thể được quảng bá trong nhiều năm – thông qua các nhà bác học và những người chưa phải là bác học đủ loại, thông qua các trường phái tư duy của họ, các đảng, các phương tiện truyền thông và tổ chức phi chính phủ (bao gồm cả những tổ chức tôn giáo hùng mạnh và các loại nhà thờ) – như một chính sách “khôn ngoan”. Ilia Erenburg, nhà thơ, nhà văn và nhà báo Nga nổi tiếng đã nói rằng sự ngu xuẩn là một hiện tượng phi chế độ. Và mặc dù ý ông muốn nói đến sự ngu xuẩn mà ông quan sát được trong thời kỳ Xôviết trước (ông sống vào những năm 1891 – 1967), mà ít ra thì khi đó sự ngu xuẩn đã không bị loại bỏ cùng với chế độ mà nó phải chịu đựng, thì sự đúng đắn của ông vẫn mang tính tổng quát. Cả cuộc cách mạng tiếp theo, mà lần này là phản cộng sản – và cả sự phát triển của chủ nghĩa tân tự do – cũng không loại bỏ sự ngu xuẩn. Đây quả là một hiện tượng phi hệ thống kỳ lạ, bởi nó phụ thuộc vào một điều gì đó nhiều hơn là bản thân hệ thống xã hội – chính sách. Một hệ thống hoàn toàn không chứa đựng điều gì đó ngu xuẩn đang và sẽ là điều không tưởng. Cũng có thể đó chính là điều không tưởng mà chúng ta tiếc nuối nhiều hơn so với điều không tưởng với tần suất phổ biến.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.

Thể chế, chính sách và văn hóa, đình trệ và phát triển – Phần IV


Tuy nhiên thường lại hay như thế này – mà như chúng ta đã biết rất rõ rằng tỷ trọng đặc biệt trong những năm gần đây nhất chính là phần đóng góp của thực tiễn tân tự do – những “cải tổ tiến bộ” chẳng là gì khác ngoài chiếc vung đặc biệt, còn thực chất thì là một biện pháp láu cá trong việc tái phân phối phần thu nhập đang gia tăng từ nhóm này sang nhóm khác. Cơ chế của việc tái phân phối này cực kỳ phức tạp, nên những người chịu thiệt thòi trong quá trình này sẽ không tài nào nắm bắt được vấn đề. Khi trong xã hội tích tụ những kinh nghiệm tồi từ một số những cải tổ “chỉ có đúng” trước đó, thì họ sẽ trở nên nghi ngờ những ý đồ tiếp theo của chính quyền. Và những người bảo thủ thì: “Tốt hơn là đừng có thay đổi gì nữa, vì sẽ lại không được như cũ cho mà xem”. Tức là không tốt lên, mà chỉ xấu đi.

Sự mất niềm tin kiểu này trong chính sách phải trả  giá rất nhiều. Bởi bồn tắm tràn sẽ làm trôi đứa trẻ. Không cho phép thay đổi, mà bản thân những thay đổi ấy sẽ mang lại sự cải thiện tình hình chung (bình quân), sẽ cản trở cả những thay đổi có thể làm cho tình hình tốt hơn lên. Những cơ chế gây cản trở như vậy hoạt động trước tiên là ở tầng vi mô, khu vực và quốc gia, nhưng hiện nay nó thể hiện ngày càng rõ cả ở những tập đoàn siêu quốc gia, là thứ gấn liền với toàn cầu hóa.

Thêm vào tất cả những điều trên đây là cuộc chiến chính trị không ngưng nghỉ, mà thường là phe đối lập – tất nhiên bản thân phe này là rất cải tổ – gây khó khăn trong việc đưa ra những thay đổi kinh tế. Bởi nó chỉ đạo bằng “sự hợp lý” về chính sách của mình. Bởi làm sao có thể ủng hộ các đối thủ về chính sách trong một vấn đề nào đấy – thông qua những tác động tích cực của mình – có thể cải thiện được thành tích của họ và cơ may tồn tại trong chính quyền? Những người này cần phải làm hại họ, với họ thì “càng xấu càng tốt”. “Logic” kiểu này đôi khi dẫn dắt dạng chính sách sẽ dẫn tới tình trạng, ai cho ai, ai với ai và ai giá bao nhiêu, chứ không hề dẫn tới tình trạng, ai cho ai, ai với ai và ai giá bao nhiêu, chứ không hề dẫn tới điều mà chính sách cần phải làm, tức đến những hoạt động trong phạm vi công chúng nhằm cải thiện vị thế của số đông trong xã hội.

Một chính sách kinh tế sáng suốt và có tinh thần xây dựng là một chính sách có phương pháp giải quyết hiệu quả về mặt xã hội những vấn đề kinh tế tài chính phức tạp. Rất tiếc là trong sự nhiệt tình trong thực tế của những cuộc đụng độ triền miên về chính sách, đã rất nhiều lần chính sách chỉ giải quyết những vấn đề này ở mức độ mà nó phải làm. Và chính là cơ chế của đời sống cộng đồng buộc chính sách phải làm như vậy – thỉnh thoảng tổ chức bầu cử và phản ánh hàng ngày trong tấm gương cong của truyền thông đại chúng.

Tuy nhiên vấn đề còn phức tạp hơn thế. Là bởi vì chúng ta mơn trớn nền dân chủ. Trước hết là bởi đó là giá trị trong bản thân nó. Chính xác hơn là người này thì mơn trớn, người khác lại không. Cũng cả với lý lẽ như thế này – ít ra cũng là với loại lý lẽ ồn ảo, để sử dụng từ xa – rằng chính xã hội đã chưa đủ trưởng thành để tự lãnh đạo thông qua những thể chế dân chủ như vậy hoặc là khác hơn. Do đó cần phải chỉ đạo nó. Vấn đề rất rõ ràng là, vì lợi ích của xã hội, bởi còn của ai được nữa?…

Đôi khi điều này là sự thật. Ví dụ như tôi khó có thể không đồng ý với Yoweri Museven, tổng thống Uganda, khi ông thuyết phục rằng bầu cử tự do tại nước ông, một nước đẹp và nghèo, sẽ đi theo lối phân chia sắc tộc một cách ngặt nghèo. Chúng tôi liên tục quan sát thấy điều này với những hệ lụy tai hại tại nhiều nước khác của lục địa. Còn đúng là chiến lược phát triển kinh tế (mà dù sao thì trong nhiệm kỳ của tổng thống này, được nhậm chức không phải do bầu cử dân chủ mà do đảo chính quân sự, cũng đã được thực thi tốt) đòi hỏi sự liên kết quốc gia và xã hội. Những xung đột sắc tộc âm ỉ mà bầu cử tự do chỉ có tác động tác động kích thích thêm, chắc chắn sẽ chống lại sự ổn định tương đối cần thiết về chính sách và phát triển kinh tế.

Thường thì điều này không phải là sự thật, như ở chính Uganda dưới thời của chính quyền độc tài Idy Amin, còn ở nhiều nước tại tất cả các lục địa trừ Bắc Mỹ và Châu Âu thì vẫn đang như vậy. Vấn đề là ở chỗ – dù sao thì chúng ta đã biết rõ – không nhất thiết phải tách nền dân chủ ra khỏi bối cảnh lịch sử và văn hóa. Cái gì cũng có thời điểm của nó.

Giống như đối với cá nhân, cần phải đủ tuổi để sử dụng quyền bầu cử một cách có ý nghĩa, trong phạm vi xã hội và quốc gia cần phải trưởng thành đến mức độ cần thiết. Chỉ có điều ai sẽ là người có quyền phán xử về việc này? Những người “đủ tuổi” khác?

Đây là khu vực rất trơn trượt nên rất khó khăn để di chuyển trong đó vì cái gọi là sự chính xác về mặt chính trị. Hoặc là – như có người thích – sự phù hợp. Tốt nhất là “ủng hộ”, không nghiêng ngả và không đe dọa những người theo trào lưu chính thống thuộc mọi thể loại. Nhưng những quan điểm như thế này phải là xa lạ đối với chúng ta. Nhất là khi những vấn đề vẫn đang tồn tại, bởi xã hội rất khác nhau. Xã hội này thì lãnh đạo tuyệt vời, xã hội khác lại rất tồi tệ. Xã hội khác nữa thì hoàn toàn không có khả năng lãnh đạo. Trong xã hội này nói chung không có những tình thế khó xử, dân chủ hay chuyên quyền, trong xã hội khác thì tình thế này đúng với tên gọi nhất. Nhất là khi sự lựa chọn đối nghịch của cỗ máy dân chủ chưa được kiểm chứng là chủ nghĩa chuyên quyền sáng suốt. Có thể hiếm, nhưng vẫn xảy ra, cho dù là ở nhiều nước Đông Nam Á phát triển nhanh vào giai đoạn sau của thế kỷ XX.

Vấn đề sẽ là nan giải nhất khi chủ nghĩa chuyên quyền không được kiểm chứng – trường hợp này không phải là hiếm – hay khi nền dân chủ không có ít ra là những cơ hội trước mắt. Châu Phi đã trải nghiệm điều này rõ nhất. Chuyện này phụ thuộc ở mức độ như thế nào vào di sản hậu thuộc địa, và phụ thuộc ở mức độ bao nhiêu vào các điều kiện văn hóa không bị biến chất trogn chế độ thuộc địa, thì vẫn là một vấn đề phải bàn cãi. Tuy nhiên không nên nghi ngờ vào điều này, là gì thì gì, nhưng chủ nghĩa thực dân không dạy dỗ nền dân chủ. Hơn thế nữa: từ bản chất sâu xa của mình, nó phủ nhận nền dân chủ.

Cho tới ngày nay, trên quảng trường chính tại Arushy của Tanzania mà đã có thời là của Đông Phi thuộc Đức, vẫn có một tháp lớn với một chiếc đồng hồ lớn mà những kẻ thực dân đã dựng lên từ trước Đại chiến thế giới lần thứ nhất. Họ dạy những người dân ở đây – và rất chính xác – cảm giác về thời gian và kỷ luật. Cũng tương tự như vậy ở phía tây của lục địa, tại Lome, thủ đô của Togo mà trước đây là vùng đất Togo thuộc Đức. Hay ở Apia, thủ đô của Samoa ở phái nam Thái Bình Dương, cũng đã từng là thuộc địa của Đức. hay ở Madang trên Biển Bismar (và rất thú vị, nhất là đối với người Ba Lan, trên Vịnh Szczecin của Ba Lan nữa) ở Papua NewGuine mà số phận của nó dưới chế độ thực dân cũng tương tự. Cũng có thể nhờ thế mà tại các vùng này người dân đã phần nào quen với cảm giác về thời gian và khái niệm đúng giờ. Nhưng dân chủ thì người ta không dạy. Thế chân người Đức – người Brazil, người Pháp, Mỹ, Australia – đã không đạt dược thành quả gì trên lĩnh vực nỳ trong suốt nửa thế kỷ tiếp theo, sau khi chủ nghĩa thực dân bị sụp đổ.

Tôi xin nói thêm: các triết giá và các chính trị gia có thể phân vân, không hiểu chuyện gì đã xảy ra khi Hợp Chủ quốc Hoa Kỳ – và một số nước khác, đặc biệt là Anh Quốc – trong một thời gian ngắn, nếu nói về lịch sử, bởi chỉ khoảng hơn chục năm, đã trở thành những người phát ngôn đúng phép tắc của thị trường dân chủ. Mà chí ít (đây là một sự khác biệt lớn) cũng là của những cuộc bầu cử dân chủ. Đến mức độ, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, họ bắt đầu áp đặt nền dân chủ thậm chí cả ở những nước không có chút hy vọng gì, như Haiti, Paragoay hay Liberia, đấy là chưa kể đến Afghanistan hay Iraq. Trước đó, những quốc gia khác có vẻ không ưa dân chủ lắm, đã từng xảy ra trường hợp nền dân chủ bị quấy nhiễu bằng nhiều cách. Biết làm sao được, thói đạo đức giả không biết đến giới hạn. “Một chính thể tốt là một chính thể tốt với chúng ta, nhưng nói chung” – đó là nguyên tắc, mà nguyên tắc đó không cần phải làm ầm ĩ lên, nhưng có thể công bố và áp dụng trong thực tế. Đã và đang diễn ra như vậy. Alesander I. Hercen (1812 – 70), triết gia và nhà văn Nga nổi tiếng, dù sao cũng có xu thế thân phương Tây, đã từng nói rằng, nếu ai đó không hiểu biết về con người, có thể khuất phục họ và bắt chước họ, nhưng không thể giải phóng họ.

Và những quốc gia hùng mạnh này và một vài quốc gia khác nữa – và đã khiến chính họ phải ngạc nhiên đầy thích thú – rằng thay vì gửi tầu chiến tầm trung và lính thủy đánh bộ, với sự ủng hộ tài chính thích hợp và cứ cho là logic, thì có thể chọn ra những chính quyền đúng đắn theo quy trình dân chủ về mặt thủ tục. Chính quyền đúng đắn, nghĩa là chính quyền tốt và đảm bảo tốt hơn việc thực thi những lợi ích kinh tế chính trị mang tính chiến lược của những cường quốc này. Do đó cần phải phái đi “lực lượng mềm” – các chính khác, các nhà tư vấn về kinh tế, các nhà báo của nhiều tổ chức phi chính phủ, những người dù sao cũng sẵn sàng nhận tiền từ những chính quyền thao túng họ và các tập đoàn lớn. Chỉ khi nào mà như thế vẫn chưa đủ, mới cần phải gửi “lực lượng cứng”, tức quân đội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.

Thể chế, chính sách và văn hóa, đình trệ và phát triển – Phần III


Như ở trên tôi đã nói, không chỉ dòng chảy tài chính và kinh tế, tình hình chính trị và xã hội, môi trường thiên nhiên cần phải được cân bằng, mà cả các thể chế cũng phải được cân bằng. Điều này có nghĩa là gì? Ở đây muốn nói đến một hệ thống thể chế mà những người tham gia trò chơi kinh tế trong khuôn khổ của thể chế đó không bị bật ra khỏi trạng thái cân bằng, và được bảo vệ trước những xáo trộn lớn của thị trường. Sự cân bằng của thể chế dẫn tới trạng thái điều tiết kinh tế và cơ cấu tổ chức thị trường sao cho hệ thống được hướng về trung tâm và vận hành trôi chảy chứ không bị tan rã. Sự hài hòa của thể chế có nhiệm vụ hợp nhất hệ thống thông qua ảnh hưởng đến hoạt động theo mong muốn của các chủ thể kinh tế dưới góc độ cân bằng về động học. Do đó mà cần phải đưa vào hệ thống thể chế một thiết bị bảo vệ thích hợp, yếu tố điều chỉnh nếu hệ thống bộc lộ trạng thái mất cân bằng. Nếu phát triển thể chế kinh doanh tự do, thì cần phải có thể chế bảo vệ người tiêu dùng; nếu thể chế luân chuyển vốn tự do hoạt động, thì phải có thể chế di cư tự do của lao động đồng hành với nó; nếu trên thị trường có kẻ cắp, thì ở đó buộc phải có cảnh sát.

Trong một thời gian dài, sự cảnh báo này của các nguyên tắc trung thực trong trò chơi kinh tế thị trường là cội nguồn của những thành công trong kinh tế. Sự cảnh báo đó dựa trên danh dự của thể chế. Để bảo vệ nó, trước hết cần phải nắm bắt được nó. Chúng ta không chỉ xây dựng thể chế, mà còn học thể chế. Và ở đây lại giống như trong cuộc sống: có thể học từ những sai lầm của chính mình hoặc là từ các trường đại học, nơi có các giáo sư giỏi giảng cho chúng ta về những lý thuyết được rút ra cũng từ những phân tích sai lầm của người khác. Nhưng không phải là các thể chế phạm sai lầm, bởi chúng chỉ đánh dấu các khung mà chúng ta được xê dịch trong đó và các quyết định được đưa ra trong đó. Chỉ có những nhà quản lý các cơ sở kinh doanh mới có thể phạm sai lầm, do đó mà vai trò của việc quản lý tài sản và các công ty mới lớn và ngày càng gia tăng như vậy. Cả chính sách cũng có thể mắc sai lầm, và rất thường xuyên!

Chính sách, đó là trò chơi của những lợi ích xuất phát từ hệ thống xã hội đang tồn tại. Giữa các nhóm xã hội rất khác nhau xuất hiện những bất đồng về lợi ích. Khuynh hướng chiến thắng chúng có thể là lực thúc đẩy phát triển, nhưng hoạt động không hiệu quả trên lĩnh vực này cũng có thể là mầm mống của sự hủy hoại. Trong chính sách, cần không ngừng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi, làm thế nào để tránh được việc biến những tình huống có khả năng gây xung đột – tức tạm thời chỉ có nguy cơ có xung đột – thành những xung đột xã hội mở. Việc khai thác những tình huống như vậy là một nghệ thuật chuyên nghiệp – có lẽ không bao giờ thiếu – cho việc tăng tốc phát triển.

Chính sách còn là nghệ thuật dung hòa giữa cái có thể và cái cần thiết. Đáng sợ nhất là khi cái cần thiết lại không thể. Nhưng đây chỉ là trò chơi có ý nghĩa của ngôn từ. Trong thực tế lại hay xảy ra như thế này: một điều gì đấy mặc dù hợp lý về mặt kinh tế nhưng tại thời điểm đó lại không thể thực thi vì chính sách không cho phép. Khi đó cần làm đúng nhưng gì có thể và chờ đợi dịp tốt sẽ đến, chứ đừng có quy tội cho ai đó hoặc là đầu hàng, bởi “cái cần thiết lại không thể”. Cho nên cần phải biến sự cần thiết đó thành có thể trong thực tế. Hay chính xác hơn là phải hoạt động sao cho cơ may cho sự cần thiết của chúng ta đến càng sớm càng tốt. Và đến lúc ấy sẽ tiến hành những thay đổi cần thiết vốn vẫn được các nhà hoạch định chính sách và các kinh tế gia gọi là cải tổ và gợi ý rằng những thay đổi đó là cốt lõi, căn bản và to lớn. Thậm chí ngay cả khi chúng không hề thay đổi cách thức vận hành nền kinh tế, bởi về bản chất mà nói, điều này rất hiếm khi xảy ra, mà chỉ can thiệp vào hoạt động của những thành phần cụ thể và quan trọng cho toàn bộ hệ thống kinh tế.

Chính sách, muốn thành công phải có sáng kiến, tri thức và ngoại cảnh ủng hộ. Một số người vẫn cho rằng chính sách là một nghệ thuật nhiều hơn là những công việc cụ thể. Chỉ kỹ năng không là chưa đủ. Cần phải có năng khiếu. Trong chiến lược phát triển (thực ra thì trong chiến lược kinh doanh cũng thế) và trong chính sách kinh tế, sáng kiến – càng sáng tạo càng tốt – là cần thiết. Những cơ may luôn ở quanh ta, cho nên cần tính đến chúng và vận dụng chúng trong ý tưởng của chúng ta. Trong khi – tri thức, trụ cột của tất cả – nằm ở trung tâm.

Tuy nhiên, chính sách thường hay hoạt động theo kiểu, những thay đổi sâu hơn và phức tạp hơn được tiến hành không quá sớm, mà thường là quá muộn. Điều này có nghĩa là, những điều kiện cần thiết về chính sách để tiến hành thay đổi – việc cho phép thực hiện những cải tổ như mong muốn và một hệ thống chính sách đủ năng lực để yêu cầu điều đó – chỉ xuất hiện khi nền kinh tế đã bộc lộ sự bất thường trong vận hành. Có thể là dưới dạng tăng trưởng kém hoặc đình trệ. Trong văn hóa Ba Lan, có một câu châm ngôn nói về hội chứng này “Người Ba Lan khôn ra sau mất mát”.

Xin nói thêm: một số châm ngôn của các dân tộc thể hiện rất rõ tính cách, phản chiếu theo cách của mình những gì mà dân tộc ấy tự quan sát mình. Những tính chất mang tính triệu chứng của họ, những giá trị được ưa chuộng hơn của họ và những triết lý về cuộc đời của họ. Ví dụ người Slovak ở Đông Âu, thường là theo đạo Thiên chúa, hay nói: “ai dậy sớm, kẻ đó sẽ được Chúa ban thưởng”, còn người Anglo-Saxon vùng Tây Âu lại nói: “con chim bị thương bắt được con sâu”. Sự khác nhau giữa hai câu này? Những người Slovak nhận, bởi có ai đó cho họ (mặc dù họ cũng phải cố gắng vì phải dậy sớm). Những người Anglo-Saxon thì tự mình làm việc, bởi chẳng có ai cho họ cái gì. Trong trường hợp thứ nhất là sự bị động, còn ở trường hợp thứ hai là sự chủ động. Những ví dụ kiểu này có thể kể ra rất nhiều. Chỗ này, khi hỏi một doanh nhân thành đạt, công việc thế nào, anh ta sẽ than rằng chán lắm, còn ở kia, một doanh nhân phá sản sẽ trả lời: OK. Ở đây không có gì lạ, qua thời gian có thể nhận thấy sự khác biệt trong tính cách về sự trông đợi của một người làm kinh tế, mà đặc biệt là trong ý thức hoạt động kinh doanh của hai nhóm người này.

Những gì liên quan đến hành động quá sớm hoặc quá muộn, thì thậm chí cả những quốc gia có thể chế chặt chẽ nhất, có văn hóa chính sách cao ở Tây Âu cũng phải sau thời kỳ khủng hoảng trầm trọng mới tiền hành những cải tổ căn bản. Chứ không sớm hơn, khi còn có thể ngăn chặn khủng hoảng, nếu như biết sử dụng logic kinh tế. Nhưng “logic” chính sách lại chỉ đạo, mặc dù nó không logic đến vậy. Ví dụ như ở Anh Quốc, là nước mãi đến cuộc khủng hoảng năm 1979 mới trưởng thành về chính sách và đưa ra những cải tổ cần thiết, hay Hà Lan vào năm 1982, Iceland vào năm 1987, Đan Mạch, Phần Lan và Thụy Sĩ vào đầu những năm 1990. Tại Đức, Pháp và nhất là Italy, những cải tổ căn bản như vậy đã không được tiến hành. Chúng tàn úa theo thời gian, dây dưa từ năm này sang năm khác, và điều đó có thể nhận thấy qua kết quả kinh tế của những quốc gia này.

Ở các quốc gia với thể chế kinh tế thị trường yếu kém thì tình hình tồi tệ hơn nhiều, và tồi tệ nhất là ở những nước mà thêm vào đó còn thực thi một chính sách phát triển tồi hoặc nói chung là không có chính sách. Có thể đưa ra ở đây nhiều nước kém phát triển, đặc biệt là ở châu Phi và vùng Cận Đông. Nhưng ngay cả ở đó cũng có thể tìm thấy những ví dụ tích cực, khi các hành động cải tổ được tiến hành và thử đa dạng hóa cơ cấu nền kinh tế nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế. Có thể lấy Uganda hay Senegal ở châu Phi hay UAE hoặc Qatar thuộc vùng Cận Đông làm ví dụ. Tuy nhiên, những điển hình này chưa thể chiếm ưu thế trong bức tranh về các vùng này. Những nước khác đang “chờ” một cuộc khủng hoảng lớn hơn nào đấy, hay một tiếng nổ quan trọng hơn, vì những khó khăn cho đến lúc này rõ ràng là còn quá nhỏ để buộc phải có những thay đổi về cơ cấu vốn không dễ dàng gì. Các nước XHCN đã có thời chờ đợi khá lâu để sau đó không còn gì để chờ đợi nữa, mà họ chỉ chuyển sang một lộ trình phát triển hoàn toàn khác.

***

Tuy nhiên, tất cả những điều này đòi hỏi phải suy ngẫm sâu sắc hơn. Cần phải có ai đó thật sắc sảo đưa ra câu hỏi: khoan đã, một khi những “cải tổ cơ cấu” đủ loại ấy quả thật là cần thiết – vâng, và chúng cần phải mang lại sự cải thiện về tình hình, là điều mà các kinh tế gia và các nhà hoạch định chính sách vẫn hứa hẹn – thì tại sao mọi người lại không muốn? Tại sao mọi người – có suy nghĩ đấy chứ, hay là không? – lại không thích thay đổi mà chúng phải có lợi cho họ? Tại sao mong muốn những cải tổ ấy đôi khi lại tạo ra sự phản đối xã hội và tình trạng phong tỏa chính sách mạnh mẽ, đôi khi là không thể thuyết phục được như vậy?

Câu trả lời đơn giản nhất – và có lẽ là phổ biến nhất trong số các kinh tế gia tự cho mình là những nhà cải cách – là, đơn giản vì mọi người không hiểu. Và thường thì có thể đúng như vậy. Nhưng cũng không ít người cho rằng, những thay đổi dự tính hoàn toàn không dẫn tới sự cải thiện tình hình của những người phản đối chúng. Và thậm chí nếu do chính sách cải tổ mà tình hình có thay đổi theo hướng tốt hơn nói chung hoặc trung bình, thì vấn đề chính là ở chỗ, nói chung và trung bình. Việc đóng cửa những cơ sở kinh doanh không có lợi về bản chất có thể làm thay đổi tình hình chung hay trung bình nhờ tiết kiệm cho chủ sở hữu những tổn thất hoặc cho những người đóng thuế các khoản trợ cấp của nhà nước, ví dụ như trường hợp của các nhà máy đóng tàu Scotland hay các mỏ than ở Ba Lan chẳng hạn. Nhưng ngay lập tức – và đôi khi là mãi mãi – vị trí của người bị sa thải ở các công ty phải ngừng hoạt động và gia đình họ xấu đi trông thấy. Nhà kinh tế học sáng suốt và nhà hoạch định chính sách có tư tưởng cải tổ vẫn cứ chạy theo các thay đổi, bởi chúng được nảy sinh từ những tiến bộ kỹ thuật và thể hiện những thay đổi trong tính hiệu quả của các hoạt động kinh tế, nhưng con người cụ thể bị thiệt hại và những nhà hoạch định chính sách có lương tâm thì ít ra cũng không. Điều này nhất định phải là rõ ràng. Vậy phải làm gì trong những tình huống như thế này? Theo cách của mình, tức thay đổi và cải tổ, sắp xếp lại lợi ích đơn vị và lợi ích nhóm vì lợi ích chung, không bỏ mặc những người bị mất việc làm do những thay đổi này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB TG 2010.