Trung Quốc đã sẵn sàng thay thế Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương


Winarno Zain

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump dường như sẽ có chính sách đối ngoại với khu vực châu Á – Thái Bình Dương khác người tiền nhiệm là ông Barack Obama. Điều đó thể hiện qua việc ông cam kết sẽ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) xem lại chính sách quan hệ với các đồng minh chủ chốt của mình ở khu vực… Chính những điều này đang tạo cho Trung Quốc một cơ hội lớn để khẳng định mình như một cường quốc sẵn sàng thay thế cho vị trí của Mỹ ở khu vực.

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump dường như sẽ không tiếp tục thực hiện chính sách “xoay trục” của Mỹ hướng về khu vực châu Á – Thái Bình Dương bằng việc cam kết sẽ rút khỏi TPP. Trong bối cảnh đó, các nước ở khu vực này đang phải vật lộn để tìm một thỏa thuận tự do thương mại thay thế.

Trong chiến dịch vận động tranh cử của mình, ông D. Trump đã nói rằng TPP là một “thỏa thuận thương mại khủng khiếp” và rằng ông sẽ rút khỏi TPP ngay trong ngày đầu tiên chính thức làm tổng thống Mỹ.

TPP là một hiệp định thương mại được Tổng thống Barack Obama tâm huyết muốn nó trở thành hiện thực nhằm đối trọng với Trung Quốc ở khu vực. Hiệp định này bao gồm 12 quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương mà không bao gồm Trung Quốc.

Cũng giống như các hiệp định thương mại tự do khác, TPP được cho là sẽ giúp tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập và đem lại cuộc sống thịnh vượng hơn cho người dân các quốc gia thành viên. TPP không chỉ xóa bỏ hàng rào thuế quan trong hợp tác thương mại giữa các quốc gia mà nó còn thiết lập các tiêu chuẩn về môi trường, quyền sở hữu trí tuệ và các điều kiện lao động…

Ngay sau khi tổng thống đắc cử của Mỹ tuyên bố không ủng hộ hiệp định này, các quốc gia thành viên còn lại của TPP đang xem Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) mà các thành viên bao gồm 10 quốc gia ASEAN cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand có thể là giải pháp thay thế.

RCEP hiện đang được 16 quốc gia đàm phán sẽ là sự thay thế hợp lý TPP và trở thành hiệp định thương mại quan trọng nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), kim ngạch thương mại cũng như quy mô dân số.

Lãnh đạo một số nước thành viên, trong đó có Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thừa nhận rằng nếu TPP không thể ra đời, rất có thể RCEP sẽ lấp khoảng trống này.

Tuy nhiên, hiện nay, để quá trình đàm phán RCEP đi đến ký kết, vẫn còn phải mất một thời gian nữa. Hiện tại các quốc gia thành viên chưa thể thống nhất với nhau về nhiều vấn đề, trong đó có những khía cạnh quan trọng về tự do thuế quan của hiệp định thương mại này.

ASEAN, Nhật Bản và Australia muốn việc cắt giảm thuế đối với nhiều loại sản phẩm, trong khi Trung Quốc cho rằng việc cắt giảm này chỉ tập trung ở một số mặt hàng, dựa trên các thỏa thuận thương mại song phương hiện đang tồn tại trong hợp tác của các quốc gia thành viên.

Điều đó có nghĩa là Trung Quốc chưa sẵn sàng mở cửa nền kinh tế một cách rộng khắp đối với các sản phẩm của mình.

Một số quốc gia đã có những kinh nghiệm xương máu trong hợp tác thương mại với Trung Quốc. Brazil là nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên sang Trung Quốc, khi kinh tế Trung Quốc bị chững lại, các loại hàng hóa của Brazil xuất khẩu vào nước này đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tình trạng Indonesia được cho là có khá hơn một chút so với Brazil khi quốc gia này rút ra bài học từ năm 2014, thời điểm kinh tế Trung Quốc bắt đầu suy giảm.

Tuy nhiên, thực tế thâm hụt thương mại của Indonesia với Trung Quốc đã xấu đi kể từ năm 2010 với mức thâm hụt 5,6 tỷ USD, con số này đã tăng vọt lên 16 tỷ USD vào năm 2015.

Trong khi giá của các mặt hàng như than đá, niken cũng như các mặt hàng khác của Indonesia xuất khẩu vào Trung Quốc đều bị giảm thì các sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu vào Indonesia vẫn được duy trì mức giá cũ. Các loại hàng hóa của Trung Quốc như thép xây dựng, máy móc, thiết bị điện tử, điện thoại thông minh, đồ chơi… vẫn đang tràn ngập thị trường Indonesia, điều đó cũng đã gây ra những khó khăn rất lớn cho nhà sản xuất trong nước.

Trong khi đó, hiện nay, chính phủ Indonesia đang cố gắng để thúc đẩy quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư của nước này, đặc biệt là đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng.

Năm 2016 đã có sự nhảy vọt về đầu tư của Trung Quốc vào Indonesia. Tính đến tháng 9/2016, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc vào quốc gia này đã đạt 1,6 tỷ USD, gấp 3 lần so với tổng số vốn đầu tư của năm 2015. Thị phần tổng số vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào Indonesia đã tăng từ 2,1% lên đến 7,4%.

Đầu tư của Trung Quốc tập trung vào lĩnh vực khoáng sản, năng lượng, cơ sở hạ tầng. FDI từ Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục tăng khi chính phủ Indonesia tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi đối với Trung Quốc, trong đó bao gồm việc thiết lập một “Văn phòng tư vấn đầu tư” đối với các doanh nghiệp Trung Quốc, trụ sở được đặt tại Ban Điều phối Đầu tư (BKPM) của Indonesia tại thủ đô Jakarta.

Vấn đề thứ hai mà các quốc gia đàm phán RCEP cần quan tâm, đó là tình trạng dư thừa các loại hàng hóa tại Trung Quốc. Các nhà đàm phán đã cảnh báo về việc Trung Quốc sẽ sử dụng RCEP để tuồn các loại hàng hóa dư thừa trong nước sang các nước thành viên khi hiệp định này trở thành hiện thực.

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên khi trong vòng vài năm qua, các sản phẩm thép giá rẻ của Trung Quốc đã tràn sang thị trường các quốc gia ASEAN và làm cho thị trường thép của các nước này bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tại Indonesia, việc nhập khẩu thép giá rẻ từ Trung Quốc đang làm cho tập đoàn PT Krakatau Steel và các doanh nghiệp sản xuất thép khác của nước này đứng trước nguy cơ thua lỗ nặng.

Khi RCEP trở thành hiện thực, với mức thuế nhập khẩu bị giảm, trong khi đó Bắc Kinh không có sự điều chỉnh giảm tương ứng, ngành công nghiệp sản xuất thép của Indonesia sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản.

Một điểm đáng lưu ý nữa cho thấy Trung Quốc đang muốn thiết lập vị trị thống trị của mình ở khu vực đó là vào tháng 10/2014, Trung Quốc đã cùng 20 quốc gia khác thành lập Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Ngân hàng này tập trung đầu tư vào các dự án hạ tầng ở khu vực châu Á. Khi AIIB được thành lập, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của Mỹ và Nhật Bản bởi vì khi đi vào hoạt động nó sẽ cạnh tranh quyết liệt với Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Trung Quốc có thể sử dụng AIIB để mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực châu Á, khu vực trước kia luôn do Mỹ thao túng. Bên cạnh đó, việc cho ra đời ngân hàng này cũng sẽ giúp đồng NDT của Trung Quốc có giá trị hơn trong thanh toán toàn cầu.

Mặc dù Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất châu Á, Philippines hiện vẫn chủ yếu dựa vào nguồn vốn từ ADB. Thị phần đầu tư của Nhật Bản ở quốc gia này hiện vẫn gấp 2 lần Trung Quốc.

Đối với Indonesia, việc trở thành một trong những quốc gia sáng lập AIIB cũng giúp quốc gia này nhận được các khoản cho vay lớn từ ngân hàng này. AIIB được chính phủ Indonesia kỳ vọng sẽ là một nguồn bổ sung kinh phí đáng kể cho các dự án cơ sở hạ tầng quy mô của quốc gia này trong những năm tới.

Thông qua RCEP và AIIB, Trung Quốc đang dần khẳng định vai trò lãnh đạo không thể từ chối trong các vấn đề liên quan đến kinh tế, chính trị khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, hiện nay, Trung Quốc không phải không có những vấn đề khiến các nước trong khu vực phải dè chừng cũng như e ngại về sức mạnh của họ. Trung Quốc cần phải thể hiện là một nước lớn, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, bình đẳng trong hợp tác, làm ăn với các quốc gia láng giềng cũng như các quốc gia ở khu vực, từ đó mới có thể tiếp quản vai trò lãnh đạo trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Nguồn: The Jakarta Post – 08/12/2016

TKNB – 09/12/2016

Chủ nghĩa đa phương, song phương và ảnh hưởng của nó tới AEC – Phần cuối


4/ Chủ nghĩa song phương, đa phương và ảnh hưởng của nó tới AEC

Việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố vùng biển nằm trong đường lưỡi bò chín đoạn (dựa vào đường 11 đoạn tuyên bố năm 1953 bỏ đi 2 đoạn) làm cho tình hình an ninh kinh tế, chính trị và quân sự trở nên phức tạp. Trước áp lực đó, gần đây nhất không gian Đông Á đã mở rộng hơn thông qua Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Đông Á (EAS) khai mạc lần đầu vào tháng 12 năm 2005. Mặc dù Đông Nam Á đã được “thể chế hóa” từ khi ASEAN ra đời năm 1967, nhưng không có sự tham gia nào của Đông Bắc Á cho tới khi ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) được hình thành nhờ sáng kiến của ASEAN năm 1997. EAS là một đề xuất của Malaysia với sự chống lưng rất lớn từ Trung Quốc. Ý định của Kuala Lumpur là cho EAS phát triển giống ASEAN + 3, nhưng chuyển từ chương trình nghị sự tập trung vào kinh tế dần dần sang xem xét cả các vấn đề “an ninh, dân chủ, quản trị tốt, nền pháp quyền, và các khía cạnh của an ninh con người”. Cả Malaysia và Trung Quốc dự kiến EAS sẽ độc lập với Mỹ, một diễn đàn chỉ gồm các nước Đông Á. Tuy nhiên, các thành viên ASEAN khác cùng với Nhật Bản lo ngại khả năng thống trị của Trung Quốc, yêu cầu mời Australia, New Zealand và Ấn Độ tham gia – kết quả là EAS bao gồm một số bạn bè và đồng minh của Mỹ mặc dù không có mặt của Washington.

ASEAN cũng nhấn mạnh rằng chỉ các thành viên của nó mới có thể chủ trì các hội nghị thượng đỉnh hàng năm. Vì vậy, cũng như các cuộc họp ASEAN + 3 và ARF, ASEAN sẽ ngồi ở vị trí chủ trì. ASEAN đã áp đặt ba điều kiện cho việc tham gia EAS: đã có vị thế đối tác đối thoại, và có mối quan hệ “đáng kể” với ASEAN. Nga đã ứng cử và EAS với sự hỗ trợ mãnh mẽ từ Malaysia, Trung Quốc và Philippines mặc dù có sự dè dặt từ Singapore, Indonesia và Nhật Bản.

Sự im lặng của Mỹ đối với EAS dựa trên thái độ hoài nghi về sự gia tăng các hoạt động đa phương ở châu Á và không mấy tin rằng APEC và ARF sẽ là các tổ chức dẫn đầu châu Á – Thái Bình Dương về kinh tế và an ninh. Mỹ thường thấy mô hình chủ nghĩa đa phương châu Á quá quan tâm đến tính đồng thuận, và vì vậy định hướng này khiến hợp tác khu vực tiến triển quá chậm để có thể giải quyết những thách thức về an ninh, kinh tế, chính trị cấp bách ở châu Á (Sheldon, 2006).

Trong bối cảnh Trung Quốc lớn mạnh đang gây áp lực với các nước ASEAN, hội nghị cấp cao của ASEAN tại Campuchia năm 2012 không đạt được đồng thuận quy tắc ứng xử về Biển Đông. Trong khi Việt Nam và Philippines phản đối Trung Quốc thì Malaysia, Lào, Campuchia và Brunei không tỏ thái độ ủng hộ quy tắc ứng xử về Biển Đông. Lý do chính là Malaysia, Brunei không có vùng biển tranh chấp với Trung Quốc còn Lào và Campuchia cần được hưởng ưu đãi vốn đầu tư của Trung Quốc và mở rộng các lĩnh vực hợp tác với nước này. Do đó vai trò của ASEAN mờ nhạt trước ý đồ chia rẽ của Trung Quốc. Đặc biệt Trung Quốc tận dụng khá hiệu quả quan hệ hợp tác ASEAN + 3. Hậu quả là hợp tác thương mại trong nội bộ ASEAN không tăng đáng kể nhưng với các đối tác khác như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc… lại tăng. Hợp tác đa phương trong ASEAN đang bị chi phối bởi các hiệp định song phương giữa các thành viên ASEAN với các đối tác khác theo mục tiêu lợi ích riêng. Có thể xem các bảng số liệu sau để thấy diễn biến tình hình hợp tác thương mại của các thành viên ASEAN.

20170106-182517_p0

Bảng 8 – 1 cho thấy xuất nhập khẩu trong nội bộ khối ASEAN thấp hơn nhiều so với ngoài khối. Xuất khẩu năm 2011 của Singapore trong khối là 127,54 tỷ USD chiếm 31,2% nhưng ngoài khối là 281,89 tỷ USD chiếm 68,8% tổng giá trị xuất khẩu. Tương tự các số liệu xuất khẩu của Thái Lan trong nội khối là 22 tỷ USD chiếm 31,6% và ngoài khối là 156,59 tỷ USD chiếm 68,4%, của Malaysia là 56,05 tỷ USD; 24,6%; 172,13 tỷ USD; 75,4%. Những nước chậm phát triển hơn như Lào, Campuchia, Việt Nam, Myanmar đều có giá trị xuất khẩu trong nội khối ASEAN thấp, và hướng tới các thị trường lớn trên thế giới. Giá trị xuất khẩu ra thị trường bên ngoài khối chiếm tỷ lệ cao, ví dụ của Việt Nam là 85,8% của Campuchia là 87% và của Myanmar là 75,4%. Xuất khẩu nội bộ thị trường ASEAN giảm do hàng rào thuế quan cao của những nước mới gia nhập ASEAN gây cản trở khi các nước phát triển hơn tiếp cận thị trường các nước kém phát triển này. Mặt khác, dung lượng thị trường của các nước ASEAN lại quá nhỏ bé so với Trung Quốc, Mỹ và EU, cho nên hàng hóa chế tạo của các nước ASEAN phải hướng tới thị trường lớn. Ngược lại, hàng hóa của các nước kém phát triển trong ASEAN mẫu mã đơn giản khó cạnh tranh với hàng hóa của các nước có trình độ phát triển cao hơn như Singapore, Malaysia, Indonesia nên mặt hàng chủ lực mà những nước kém phát triển xuất khẩu ra thị trường bên ngoài chỉ là nguyên liệu thô, hàng dệt may, giày dép, nông sản và thủy sản. Tóm lại, thương mại nội khối ASEAN chỉ chiếm khoảng 25% còn thị trường bên ngoài chiếm 75%. Dường như chủ nghĩa song phương đang lấn át chủ nghĩa đa phương trong trường hợp ở khu vực ASEAN.

20170106-182517_p1

20170106-182517_p2

Các số liệu trong bảng 8 – 2 chứng minh nhận định rằng các thành viên ASEAN tích cực hướng tới thị trường bên ngoài. Các đối tác chủ yếu là Trung Quốc, EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Trong số đó Trung Quốc trở thành đối tác chính vượt qua EU và Mỹ về tổng giá trị thương mại hai chiều. Một số quốc gia từng là đối tác thương mại truyền thống của Mỹ như Thái Lan, Malaysia, Singapore cũng quay sang đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc. Khi nền kinh tế Trung Quốc càng lớn mạnh, với tỷ lệ tăng trưởng đạt mức cao thì xu hướng này sẽ vẫn còn tiếp diễn. Việt Nam, Lào, Campuchia là ba nước phụ thuộc nhiều hơn vào thị trường Trung Quốc.

ASEAN và AEC với tư cách là hợp tác kinh tế và an ninh kinh tế. Hợn tác được xây dựng để tăng lợi ích chung và đối phó với các thách thức chung rõ ràng không phải là các biện pháp phòng thủ hay thiết lập các liên minh để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Hơn nữa, chúng đã không được thành lập để chống lại các mối đe dọa cụ thể, mà để đạt được nhiều thỏa thuận phòng thủ hợp tác kinh tế riêng biệt của một số thành viên với các thế lực bên ngoài và tìm cách ứng xử để tránh xung đột. Một mục đích chính của việc tăng cường đoàn kết ASEAN là để hạn chế tham vọng bá quyền của Trung Quốc, nước láng giềng. Tuy nhiên, an ninh hợp tác thành công vẫn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận với một cường quốc đối trọng bên ngoài mà chính sách của cường quốc đó phải phù hợp với chính sách an ninh hợp tác của tổ chức này. Trong trường hợp của ASEAN, đây chính là Mỹ. Sự hiện diện quân sự của Washington ở châu Á hỗ trợ mục tiêu của chính ASEAN, đảm bảo rằng không có bá quyền nào phát sinh, một cách hạn chế tham vọng chính trị của Trung Quốc. Không gian hợp tác của ASEAN có thể mở rộng hơn khi có sự tham gia của Nga, Ấn Độ. Khi an ninh Đông Á bị đe dọa, sự liên kết giữa Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc đối phó với Trung Quốc đang góp phần làm cho FDI của Nhật Bản, Mỹ tại Trung Quốc giảm và tăng nhanh tại ASEAN.

Kết luận

Vị trí và vai trò của ASEAN trong khu vực những năm tới phụ thuộc rất nhiều vào sự phục hồi kinh tế một cách bền vững của ASEAN và khả năng cạnh tranh của ASEAN ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương cả về chính trị, kinh tế, thương mại và công nghệ. Đẩy nhanh việc thực hiện AFTA, triển khai thực hiện HIệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) và chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO)… nhằm tăng cường và củng cố hơn nữa hợp tác kinh tế ASEAN, để AEC trở thành thực thể giúp nâng cao vị trí của ASEAN trong APEC và trong WTO, là những ưu tiên trước mắt và lâu dài của ASEAN. Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là ASEAN cần phải đầu tư thích đáng hơn nữa vào phát triển, đặc biệt là công nghệ thông tin, và phát triển nguồn nhân lực trong điều kiện “thế giới đang bắt đầu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức”, và “khoảng cách giữa các nước chính là khoảng cách về tri thức”. Đây là thách thức lớn cho khả năng cạnh tranh và vai trò của ASEAN trong khu vực và trên trường quốc tế do khoa học và công nghệ của ASEAN còn yếu kém. Ngoài những thách thức trên, khá nhiều học giả, nhà nghiên cứu và phân tích về khu vực Đông Nam Á cho rằng đối với các vấn đề an ninh mà Đông Nam Á đang phải đối phó hiện nay với sức mạnh của Trung Quốc không ngừng tăng lên, thì thách thức trong thế kỷ XXI chính là sự phát triển các thể chế hoặc cơ chế khu vực để giải quyết các vấn đề an ninh đó. Như vậy, khả năng của ASEAN tiếp tục đóng vai trò chủ đạo và kiểm soát được những bước đi tiếp theo trong tiến trình phát triển sẽ rất quan trọng vào năm 2015 tiến đến AEC, các vấn đề an ninh của khu vực. Tuy nhiên cũng chính điều này đang là thách thức lớn đối với khả năng của ASEAN. Hợp tác đa phương, hợp tác song phương, khu vực không mâu thuẫn nhau, cần phải thực hiện một cách hài hòa tùy vào tình hình khu vực và quốc tế với mục tiêu lợi ích trước mắt và lâu dài. Mỹ và Trung Quốc đều quan tâm tới châu Á, để đảm bảo sự đồng thuận, các thành viên ASEAN không nên tập trung vào lợi ích trước mắt tránh tình trạng lúc ngả theo Trung Quốc, lúc ngả theo Mỹ giúp cho AEC nâng cao vị thế của mình.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyền Hồng Sơn & Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Chủ nghĩa đa phương, song phương và ảnh hưởng của nó tới AEC – Phần II


Khi chuyển đổi từ GATT thành WTO vào năm 1995, số thành viên của WTO là 118 quốc gia và vùng lãnh thổ, đến năm 2013, số thành viên là 156. WTO tiếp tục chiếm tỷ trọng 97% chu chuyển thương mại thế giới và thúc đẩy thương mại toàn cầu tăng trưởng với tỷ lệ trung bình hơn 6% trong suốt 50 năm qua. Tham gia WTO, tức là tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu, các vòng đàm phán thương mại của WTO đã hạ thấp mức thuế quan trung bình đối với hàng công nghiệp chế tạo xuống 4%. Ngoài ra các vòng đàm phán cũng đã thiết lập được hệ thống thương mại đa biên trên cơ sở luật lệ chung. Các nước đang phát triển thông qua việc giành thêm được thị trường xuất khẩu, đòng thời cũng tiếp thu được công nghệ mới thông qua chuyển giao công nghệ. Một giải pháp cho các nước đang phát triển ở bốn khía cạnh. Thứ nhất, tạo điều kiện để các nước này cải cách thương mại, đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo điều kiện tốt hơn cho người lao động. Thứ hai, WTO đưa ra các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng vì thế có lợi hơn cho các nước đang phát triển. Thứ ba, cải cách thương mại là có lợi, do đó các thành viên có thể lựa chọn mức thuế quan phải cắt giảm thích hợp khi tham gia WTO. Thứ tư, quy chế thương mại trong WTO là rõ ràng, nhờ vậy chi phí giao dịch giảm đi rõ rệt, năng lực kỹ thuật trong hoạt động thương mại dần dần được nâng cao.

Vì những lợi ích đó, đa số các nước đang phát triển đều tích cực gia nhập tổ chức này, mặc dầu điều kiện đàm phán gia nhập không đơn thuần là lợi ích kinh tế mà còn có liên quan tới lợi ích chính trị xã hội. WTO như là một phép thử, để thử thách mức chịu đựng của một quốc gia trong quá trình hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Chấp nhận điều kiện gia nhập WTO, nghĩa là chấp nhận cải cách cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường, dân chủ hóa kinh tế, chính trị và xã hội. Tăng cường tính công khai, minh bạch và bảo đảm tính nhất quán của thể chế phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Nói khác đi, nó đòi hỏi phải tiến hành một cuộc cải cách toàn diện, khắt khe với nhiều nước đang phát triển, đặc biệt là các nước đã từng áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung đang chuyển sang kinh tế thị trường.

Chủ nghĩa đa phương xét theo quan điểm thương mại quốc tế luôn chứa đựng cả tính tích cực và tiêu cực trong đó. Các nước giàu có nhiều lợi thế luôn đưa ra yêu sách đòi hỏi các nước đang phát triển mở cửa thị trường, trong khi họ lại sử dụng các biện pháp bảo hộ thị trường trong nước, để duy trì lợi ích của các nhóm xã hội. Các nước nghèo trước sức ép từ nước giàu phải chấp nhận mở cửa thị trường ở mức độ nào đó, chịu thua thiệt nhưng không biết bằng cách nào có thể sử dụng các biện pháp trả đũa. Mặc dầu có những tác động tiêu cực, thế nhưng lợi ích lớn, cho nên chủ nghĩa đa phương đang là một xu hướng phát triển mạnh, và nhiều nước chưa phải là thành viên của WTO đang tìm cách tham gia vào tổ chức này.

3/ Chủ nghĩa khu vực và chủ nghĩa song phương

Lý thuyết về chủ nghĩa khu vực được cụ thể hóa bằng liên kết kinh tế khu vực, trong đó diễn ra quá trình hội nhập của hai quốc gia riêng biệt trở lên, cùng nhau hình thành các khối kinh tế khu vực rộng lớn hơn. Hội nhập kinh tế khu vực được cụ thể hóa bởi nhiều cấp độ, nhưng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan để chống lại chủ nghĩa bảo hộ là cam kết chủ yếu. Những nấc thang của hội nhập kinh tế khu vực là thành lập thị trường chung và liên kết, liên minh kinh tế sẽ tạo cơ hội cho di chuyển lao động, vốn trao đổi thương mại tự do hơn giữa các nước trong khối.

Khác với chủ nghĩa đa phương, thông qua tham gia WTO, thúc đẩy cải cách trên quy mô rộng thì chủ nghĩa khu vực hoạt động liên  kết kinh tế  khu vực, mà nòng cốt là hiệp định thương mại khu vực sẽ giúp cho các nước thành viên tiến hành cải cách hội nhập sâu hơn để nâng cao hiệu quả hợp tác và năng lực cạnh tranh quốc tế đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và thu hút FDI. Chủ nghĩa khu vực là công cụ quan trọng để mỗi quốc gia đạt được sự đồng thuận sâu hơn với các đối tác then chốt, đồng thời mang lại những bảo đảm an ninh chính trị và phát triển ổn định lâu dài cho mỗi thành viên. Lợi ích của sân chơi khu vực được định hình rõ ràng hơn và tập trung vào một số đối tác cụ thể có ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư của mỗi bên tham gia.

Trong hơn một thập kỷ qua, quá trình hội nhập khu vực về kinh tế và thể chế sâu hơn đã thúc đẩy cải cách các lĩnh vực thuế quan, hải quan, hài hòa các quan hệ quốc tế, đặc biệt hội nhập khu vực đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích đầu tư, hợp tác lao động và đề xuất các cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại. Bằng các biện pháp khuyến khích đầu tư trong nội bộ khu vực song hành với hiệp định thương mại tự do, lộ trình giảm thuế quan và dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan trong nội bộ khối đã được đặt ra. Tiềm năng của mỗi quốc gia được khai thác hợp lý, liên kết các nền kinh tế thành viên trong khối với các nền kinh tế phát triển hơn để đạt được nhịp độ tăng trưởng cao hơn, chính là nhờ vào tác động hội nhập khu vực.

Chủ nghĩa khu vực là nền tảng lý thuyết của sự hình thành các khối mậu dịch tự do khu vực giữa các nước gần nhau về địa lý trong những thập niên 1980 – 1990. Tuy nhiên, đến nửa sau của những năm 1990, nhu cầu mở rộng liên kết thương mại của nhiều quốc gia đã hìn thành lý thuyết về chủ nghĩa khu vực mở. Chủ nghĩa khu vực mở tạo ra những cơ hội khuyến khích, tạo lập liên kết thương mại đối với những lực lượng thị trường, tổng cầu mở rộng ra ngoài phạm vi một quốc gia và khu vực. Chủ nghĩa khu vực mở, không những làm tập trung độ sâu của tiến trình hợp tác kinh tế trong khuôn khổ đa phương mà còn là căn cứ để hình thành các phản ứng về chính sách kinh tế và vị trí địa chính trị của một quốc gia. Từ đó đã có nhiều hiệp định thương mại tự do được thành lập thu hút sự tham gia của nhiều quốc gia không cùng chung vị trí địa lý. Thí dụ ASEAN hướng tới liên kết thêm với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để hình thành cộng đồng Đông Á. NAFTA ở khu vực Bắc Mỹ, mong muốn có vai trò trong khu vực mậu dịch tự do châu Mỹ.

Bên cạnh chủ nghĩa đa phương và chủ nghĩa khu vực, chủ nghĩa song phương cùng tồn tại bên cạnh và được cụ thể hóa bằng các hiệp định thương mại song phương (FTA). Những hiệp định này đặt mục tiêu phát triển quan hệ thương mại bền chặt với các đối tác tiềm năng, từ đó đạt được những lợi ích kinh tế và chính trị lâu dài. Các FTA mang nặng màu sắc chính trị giữa hai bên ký kết và là công cụ để mặc cả. Bởi vậy nó không chỉ được ký kết với hai đối tác thương mại gần nhau về vị trí địa lý, mà cả các đối tác xa nhau về địa lý trên nguyên tắc dành cho nhau những ưu đãi hơn hẳn so với khuôn khổ của các hiệp định đa phương, khu vực. Một câu hỏi mà nhiều nhà hoạch định chính sách của các quốc gia thường đặt ra là liệu các FTA có phương hại đến tính không chia cắt của thương mại toàn cầu không? Muốn vậy, cần xem sự mở rộng của rất nhiều thỏa thuận thương mại tự do song phương bắt nguồn từ yếu tố nào? Thứ nhất, do bế tắc của vòng đàm phán thương mại toàn cầu, biểu hiện tập trung nhất là thất bại của Hội nghị Bộ trưởng thành viên WTO tại Cancun tháng 8 năm 2003, khiến nhiều quốc gia tìm đến các giải pháp song phương. Thứ hai, FTA được xem là sự cần thiết khi thương mại đa biên chưa có hiệu lực, khi hạn chót hạ thấp hàng rào thuế quan cả gói chưa được ấn định. Thứ ba, các FTA cũng tạo ra động lực cạnh tranh và cải cách thể chế. Thứ tư, các FTA gây nên áp lực cạnh tranh trong thị trường nội địa, nhờ đó giá cả hàng hóa giảm và mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Trái với mục tiêu của thương mại đa phương luôn tôn trọng sự công bằng, giải quyết các tranh chấp trên cơ sở hòa bình thì các điều khoản ưu đãi của thương mại song phương đang đe dọa những nguyên tắc trên và lung lạc tính thống nhất của thương mại toàn cầu. Bất chấp những mối lo ngại, các FTA vẫn tiếp tục hình thành ở khắp nơi (Mario, 2006).

Để hình thành thêm các đồng minh kinh tế và chính trị, khai thác tối đa những cơ hội mở rộng thương mại tự do, cơ hội ngoại giao sang các vùng lãnh thổ khác, FTA đã dành cho mỗi bên đối tác một số đặc quyền ưu đãi thuận lợi hơn so với điều kiện của WTO. Vì những lý do đó, phạm vi điều chỉnh mức thuế quan trong các FTA rộng hơn so với phạm vi điều chỉnh thuế suất trong khuôn khổ của WTO từ các hàng hóa, sản phẩm của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, các FTA chỉ được thực hiện khi mà hai đối tác đều là thành viên của WTO. Sự bùng nổ của các FTA phản ánh tính hai mặt của nền thương mại toàn cầu, một bên là tự do hóa và bên khác là bảo hộ; xung đột lợi ích giữa các đối tác thương mại và xung đột gay gắt hơn về lợi ích thương mại và đầu tư giữa nước giàu và nước nghèo. Những bế tắc nhìn thấy trước trong các vòng đàm phán thương mại tại WTO báo hiệu các thỏa thuận chung về thương mại toàn cầu còn lâu mới đạt được. Trong khi các FTA đã mang lại lợi ích rất rõ ràng cho các đối tác như tận dụng lợi thế cạnh tranh, tăng cường xuất khẩu, thu hút lao động khi cơ hội việc làm nhiều hơn và cuối cùng là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Với những lợi ích từ FTA, cho nên trong vòng 10 năm qua (1995 – 2005) đã có 130 FTA được ký kết (Trần Văn Tùng, 2014).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyền Hồng Sơn & Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

Chủ nghĩa đa phương, song phương và ảnh hưởng của nó tới AEC – Phần I


Trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế và thị trường của mỗi nước với thị trường khu vực và thị trường thế giới ở các cấp độ khác nhau như song phương và đa phương. Thực chất chủ nghĩa đa phương, song phương không mâu thuẫn nhau vậy nên tùy thuộc bối cảnh quốc tế, khu vực, thực tế mỗi nước mà điều chỉnh chính sách, tiến trình hội nhập cho phù hợp. Bài này sẽ phân tích mối quan hệ giữa các hình thức hợp tác đó, ảnh hưởng của nó tới AEC.

1/ Đặc trưng và xu hướng mới của hội nhập kinh tế quốc tế

Xét từ góc độ đơn phương, các quốc gia đã đẩy mạnh nỗ lực cải cách và chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường tự do, chủ động cải cách thể chế, cơ cấu kinh tế để nâng cao năng lực cạnh tranh. Những cải cách này là tự thân, lấy tiêu chuẩn chung là các tiêu chí phát triển quốc tế để hướng tới chứ chưa hoàn toàn phải tuân theo các cam kết, định chế cụ thể. Thực tế cho thấy những cải cách bên trong của Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, gần đây là Myanmar đã giúp cho nền kinh tế phát triển năng động hơn. Môi trường đầu tư được cải thiện, hấp dẫn nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Trung Quốc năm 2001, VIệt Nam, cuối năm 2006 mới là thành viên của WTO, nhưng các nỗ lực mở cửa thị trường đã diễn ra từ thập niên 1980. Có thể khẳng định, hội nhập đơn phương là quá trình cải cách liên tục, đáp ứng những thay đổi của chuẩn mực quốc tế. Đây là hững tiền đề quan trọng để cho một quốc gia hội nhập sâu hơn ở các cấp độ khá nhau với yêu cầu cao hơn.

Ở cấp độ song phương, hầu hết các nước đang đàm phán và ký kết với nhau các hiệp định song phương, đặc biệt là các hiệp định tự do thương mại song phương, kể từ khi vòng đàm phán Doha gặp một số trở ngại. Từ năm 1948 đến 1994 chỉ có 124 hiệp địh thương mại song phương (FTA) được ký kết, nhưng từ năm 1995 trở đi, khi GATT chuyển thành WTO đến nay đã có hơn 300 FTA được ký kết dưới nhiều hình thức khác nhau. Đến đầu năm 2006, giá trị thương mại từ các FTA song phương và khu vực đã chiếm tỷ trọng 50% trao đổi thương mại quốc tế đến năm 2010 tỷ lệ đó là khoảng 65%. Hiện nay các FTA song phương và khu vực đã diễn ra rộng khắp ở hầu hết các khu vực trên thế giới, nổi bật là khu vực Đông Á. Hầu hết các nước lớn đều đàm phán và ký kết FTA với khu vực này. Mỹ đang xúc tiến ký kết FTA với một số nước ASEAN để hình thành mạng lưới FTA song phương với từng nước, còn Nhật Bản đang xúc tiến ký kết FTA với cả ASEAN, Trung Quốc lại tiến hành ký kết hiệp định khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN, sau đó mới ký kết FTA song phương với từng nước. Điều quan trọng là các FTA song phương không có gì mâu thuẫn với các nguyên tắc của hiệp định thương mại tự do đa phương. Cam kết song phương thường dễ dàng thông qua, nhưng các yêu cầu đặt ra lại cao, thúc đẩy mở cửa thị trường sớm và cam kết tự do toàn diện hơn. Tất nhiên, mọi cuộc đàm phán phải đạt được lợi ích hài hòa của cả hai bên, tuy nhiên các nước phát triển hơn, độ mở cửa thị trường lớn hơn thì được hưởng nhiều hơn. Đó là chưa kể một số trường hợp các nước phát triển tận dụng lợi thế để áp đặt một số điều kiện bất lợi cho các nước kém phát triển. Mặc dù có một số trở ngại, FTA song phương đang được nhiều nước, kể cả các nước đang phát triển ưa chuộng. Các tiến trình hội nhập song phương, khu vực đều cùng một hướng, cùng một mục tiêu với tự do hóa thương mại đa phương. Đây là sự kết hợp giữa các lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích cục bộ và lợi ích toàn cục, để cuối cùng các nước đều là thành viên trong hệ thống thương mại toàn cầu công bằng hơn. Trên thực tế, thì FTA có lợi hơn cho những nước có độ mở cửa ở mức cao, Singapore, Mexico là những quốc gia thu được lợi ích từ hoạt động thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. FTA song phương có thể làm giảm nỗ lực của các thỏa thuận đa phương, nhưng không loại trừ tiến trình đa phương, trái lại nó thúc đẩy việc nối lại các vòng đàm phán đa phương đã bị thất bại trước đây, thí dụ vòng đàm phán Doha. Muốn tránh sức ép và áp đặt phi lý từ các nước phát triển, các nước đang phát triển cần phải tranh thủ các quy định trong hợp tác đa phương khu vực và trên quy mô toàn cầu (Seddon & Wacziarg 2001).

Ở cấp độ đa phương, hiện đã có nhiều nước cùng nhau đẩy mạnh hoặc tham gia vào những định chế, tổ chức toàn cầu. Các định chế này có thể hình thành từ các quốc gia, trong cùng một khu vực địa lý, thí dụ EU, NAFTA, AFTA, ASEAN… hoặc đó là các định chế toàn cầu mà hầu hết các nước trên thế giới cùng tham gia. Sự phong phú về các hình thức của mức độ hội nhập có thể rất chặt như EU, nhưng có khi cũng chỉ là những thỏa thuận thương mại ưu đãi giữa một số nước với nhau theo nguyên tắc đồng thuận như ASEAN hoặc có tính ràng buộc lỏng lẻo như các thỏa thuận của các nước trong APEC. Dưới sự tác động của toàn cầu hóa kinh tế, xu hướng hội nhập sâu hơn vào các khối kinh tế hoặc các định chế khu vực để tạo điều kiện di chuyển tự do về hàng hóa, dịch vụ, vốn, lao động có kỹ năng đang diễn ra mạnh mẽ (WB 2004). Nhiều dự báo cho rằng sự ra đời của khu vực mậu dịch tự do toàn châu Mỹ hoặc cộng đồng Đông Á có thể trở thành hiện thực trong tương lai. Ở châu Mỹ, ngoài NAFTA khối hợp tác thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) đã ra đời với các thành viên chủ chốt của nó là Venezuela, Argentina, Colombia mong muốn thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ. Cộng đồng Đông Á với hạt nhân là ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Riêng với ASEAN, ý tưởng thành lập cộng đồng kinh tế ASEAN đang được thực hiện từng bước dựa trên 12 lĩnh vực ưu tiên, để đến năm 2010, thuế quan của hầu hết các danh mục hàng hóa thuộc AFTA cũng như các cam kết về dịch vụ sẽ có mức thuế bằng không, đặc biệt tiến tới AEC vào năm 2015. Đây chính là mục tiêu của các nước trong khối thúc đẩy mạnh cải cách điều chỉnh chính sáh của mình để nâng cao hiệu quả trong tiến trình hội nhập.

2/ Chủ nghĩa đa phương

Mậu dịch thế giới đang hình thành các hình thức chủ nghĩa đa phương, khu vực và song phương. Cùng với quá trình hội nhập mỗi hình thái chủ nghĩa có vai trò riêng, luôn được hoàn thiện để phát huy vai trò của nó. Một câu hỏi được đặt ra là liệu rằng sự gia tăng mạnh mẽ các hiệp định thương mại song phương có gây tổn hại đến thương mại tự do toàn cầu không? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta đi sâu tìm hiểu các đặc điểm của những hình thái chủ nghĩa nêu trên và tác động của nó đối với quá trình hội nhập.

Chủ nghĩa đa phương là khái niệm được sử dụng nhiều nhưng không phải bất cứ nơi đâu cũng hiểu đầy đủ khái niệm này. Đi đến một định nghãi chính xác, Ruggie (1992) đã nêu ra ba đặc điểm nổi bật, như tính không thể chia cắt, tính khái quát hóa các nguyên tắc ứng xử và mở rộng nguyên tắc tương tác có đi có lại. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đa phương trong thương mại quốc tế đã phát triển dựa trên bốn nền tảng cơ bản. Thứ nhất, thương mại đa phương được coi như là một công cụ hàng đầu để thực hiện những lợi ích toàn cầu hóa. Trong hoàn cảnh đó các nước đang phát triển tiếp thu công nghệ và tri thức mới, mở rộng thị trường xuất khẩu đạt được nhiều thành quả trong phát triển. Thứ hai, việc tái phân bổ các hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp chế tạo và dịch vụ sẽ mang lại nhiều cơ hội thương mại cho nhiều nước trên thế giới. Thứ ba, cùng với việc chiếm lĩnh thị trường, sự mở rộng mạng lưới sản xuất của các MNC, của các quốc gia thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng thương mại giữa các nước, khu vực và quy mô toàn cầu. Thứ tư, hình thành một thể chế quốc tế để hỗ trợ cho tăng trưởng thương mại công bằng.

Nếu như GATT chỉ là một diễn đàn chủ yếu tranh luận nhiều về các quy chế thuế quan và mậu dịch quốc tế nhằm mở đường cho tập quán buôn bán theo hướng công bằng hơn thì WTO lại là tổ chức có bước tiến hơn ở chỗ, tự do hóa thương mại không phân biệt đối xử được đề cao hơn. Nhiệm vụ của WTO không khác nhiều so với GATT, nhưng WTO là tổ chức khởi xướng ra các hiệp định tự do hóa thương mại và giải quyết các tranh chấp thương mại. Những việc làm quan trọng đó sẽ giúp bảo đảm tính công bằng tự do thương mại, ngăn chặn sự tùy tiện của chính sách thương mại, bảo đảm cho hệ thống thương mại toàn cầu không bị chia cắt. Những vai trò và nhiệm vụ này của WTO đã được xác lập từ vòng đàm phán Urugoay.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyền Hồng Sơn & Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế – NXB ĐHQG HN 2015.

TTIP “bốc bơi” như thế nào? – Phần cuối


Tyson Barker

……..

Rồi, có một vấn đề danh tiếng của TTIP. Các nhà đàm phán nỗ lực tạo ra một lý do tiến bộ ủng hộ TTIP, lập luận rằng nó sẽ bảo đảm các quyền lao động và môi trường trong số các vấn đề khác. Tuy nhiên, cái nhãn TTIP đã trở nên tai hại, phần lớn do những sự hiểu sai xung quanh một số đặc trưng tiềm năng của hiệp định này. Chẳng hạn, các đối thủ của TTIP đã tấn công một điều khoản khó hiểu nhưng ngày càng gây tranh cãi được biết đến như là giải pháp cho tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước (ISDS), một cơ chế cho phép các nhà đầu tư và các công ty nước ngoài thách thức những nỗ lực của chính phủ áp đặt các điều kiện lên doanh nghiệp của họ mà họ xem là sự phân biệt đối xử. Đối với những người phỉ báng TTIP, quá trình đó là một con đường tắt ngoại tụng và không dân chủ để khu vực tư nhân biến cuộc sống hàng ngày thành lợi thế cho các doanh nghiệp nước ngoài. Tuy nhiên, các điều khoản đó, mà chủ yếu có nghĩa khuyến khích đầu tư nước ngoài ở các nhà nước nơi phần nào có rủi ro chính trị, đã là một rường cột trong các thỏa thuận thương mại kể từ những năm 1950, và không một trường hợp ISDS nào chống lại Pháp, Đức hay Mỹ – 3 nền kinh tế lớn nhất trong TTIP – từng thành công. Các nhà vận động chiến dịch chống TTIP cũng lo ngại về cách xử lý dữ liệu cá nhân trong thương trường châu Âu, các vấn đề bảo mật, và an toàn thực phẩm. Các quan chức công và trong ngành công nghiệp ủng hộ thỏa thuận này đã dần dần nhận ra những cáo buộc như vậy sẽ tạo ra tiếng vang như thế nào với công chúng châu Âu và đã thất bại trong việc chống lại chúng một cách hiệu quả, thay vào đó phần lớn tự giới hạn mình ở những tuyên bố chung chung ủng hộ các cuộc đàm phán.

Những người hoài nghi về TTIP lớn tiếng nhất thuộc về các nước cốt lõi của châu Âu, có ảnh hưởng lớn nhất lên các thể chế EU, và tuy thế có khả năng một cách khác thường thu được lợi nhiều nhất từ một thỏa thuận thành công. Ở Đức, gần 1/2 GDP và 1/4 công việc làm phụ thuộc vào xuất khẩu, sự ủng hộ của dân chúng dành cho TTIP đã giảm xuống – từ 55% vào năm 2014 xuống chỉ còn 17% hiện nay, theo Bertelsmann Foundation. Nước này đã rơi vào vòng ngoài của khối – các nước Bắc Âu, Baltic, Trung Âu và Iberi – ủng hộ thỏa thuận này.

Từ chập chạp đến nói “không”

Các nhà đàm phán TTIP cũng đối mặt với nhiều khó khăn mang tính cấu trúc. Do tính phức tạp ngày càng tăng của các thỏa thuận thương mại và sự khó khăn của việc đưa chúng vượt qua các cơ quan lập pháp hoài nghi và sai chức năng, các thỏa thuận song phương ngày càng mất nhiều thời gian hơn để đưa vào có hiệu lực. Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ, đã có hiệu lực vào năm 1994, đã mất chưa đầy 3 năm để hoàn thành. Một thỏa thuận thương mại tự do năm 2011 giữa Mỹ và Hàn Quốc đã mất gần 6 năm để thông qua; một thỏa thuận với Panama, đã hoàn thành chỉ vài năm trước, mất gần 9 năm. Các cuộc đàm phán về TPP đã bắt đầu vào tháng 2/2008, trong thời chính quyền của Tổng thống Mỹ George W. Bush. Trong những năm gần đây, khi sự đồng thuận chính trị xung quanh những lợi ích thương mại tan rã, các thỏa thuận thương mại châu Âu đã thất bại do một xu hướng tương tự.

Vòng đàm phán lần thứ 15 của TTIP được tổ chức ở New York vào đầu tháng 10. Các quan chức Mỹ, tìm cách tận dụng mọi tiềm năng từ cuộc đàm phán trước khi Chính quyền Obama hết nhiệm kỳ, vẫn muốn nhanh chóng ký kết hiệp định trước khi kết thúc năm. Đó là một mục tiêu không thể đạt được: nhiều chương trong hiệp định này vẫn chưa được hoàn thành. Sự khăng khăng của Washington về một sự kết thúc nhanh chóng các cuộc đàm phán đã khiến nhiều người ở EU phải khổ sở, như Bộ trưởng Kinh tế Áo Reinhold Mitterlehner và Bộ trưởng Thương mại Pháp Matthias Fekl, những người coi đó là vụng về và không thực tế. Cả hai đã kêu gọi bắt đầu các cuộc đàm phán mới dưới tên gọi khác.

Brexit cũng để lại dấu ấn trong các cuộc đàm phán. Anh chiếm khoảng 17% GDP của EU và tiếp nhận 1/4 hàng xuất khẩu của Mỹ đến EU. Một khi nước này rời khỏi liên minh, khả năng kinh tế và sức mạnh đàm phán của khối này sẽ giảm xuống. Đồng thời, EU sẽ mất đi một trong những nước ủng hộ mạnh mẽ nhất cho thỏa thuận thương mại Mỹ – EU, và cán cân sức mạnh ở châu Âu sẽ nghiêng ra xa những người có tư tưởng tự do về kinh tế và nghiêng về phía những người ủng hộ sự bảo vệ và quản lý thị trường châu Âu nhiều hơn. Khi đó đối với Mỹ, Brexit sẽ tạo ra cho các thị trường EU một phần thưởng nhỏ hơn và các quan chức EU khó có thể đàm phán với các đối tác hơn. (Việc đó cũng đã dẫn đến những lời kêu gọi của một số đảng viên Đảng Cộng hòa của Mỹ về việc đàm phán một thỏa thuận thương mại riêng rẽ giữa Anh và Mỹ).

Cũng có vấn đề dư luận của công chúng châu Âu đối với Mỹ, mà có thể được miêu tả là sự pha trộn giữa sự ngưỡng mộ, lo lắng và coi thường. Các quyết định chính trị của EU đã đụng đến các lợi ích doanh nghiệp của Mỹ, như phán quyết của Ủy ban châu Âu buộc hãng Apple đóng trả thuế ở Ireland, nằm trong số những điều được lòng dân nhất của lục địa này. Về TTIP, những thái độ như vậy cũng khuyến khích một số quan chức EU tiếp cận với các cuộc đàm phán một cách thận trọng.

Bị chôn nhưng không chết

Trong nhiều thập kỷ, quyền đàm phán các thỏa thuận thương mại nhân danh các nhà nước thành viên EU là một báu vật trong các quyền lực của Brussels. Thương mại là một lĩnh vực trong đó EU có chung một tiếng nói: tiếng nói của Ủy ban châu Âu. Nhưng gần đây, áp lực trả lại các quyền này cho các nhà chức trách cấp quốc gia đã và đang tăng lên. Các chính phủ Pháp, Đức, và các nước khác đang thúc giục các bộ trưởng thương mại quốc gia của họ đóng vai trò lớn hơn trong các hội nghị của EU và khẳng định rằng cả CETA lẫn TTIP được xếp vào cái được gọi là các hiệp định hỗn hợp, có nghĩa là chúng sẽ đòi hỏi sự thông qua ở hàng chục nghị viện cấp quốc gia và khu vực để có hiệu lực.

Sự chuyển giao quyền lực này làm suy giảm các thể chế của Brussels, đặc biệt là Nghị viện châu Âu, với tư cách là trọng tài thương mại hàng đầu của lục địa này. Nó làm cho các hiệp định như CETA và TTIP sa lầy vào các nghị viện cấp khu vực và quốc gia thực tế, để mặc các thỏa thuận có hiệu lực tạm thời trong nhiều năm. (Một số người chỉ trích các thỏa thuận thương mại lường trước được điều này đã bắt đầu kêu gọi chấm dứt việc thực thi tạm thời).

Xu hướng đó dường như sẽ tiếp diễn trong tương lai có thể thấy được. Tuy nhiên, chưa phải quá muộn để cứu lấy TTIP, CETA và TPP. Để cứu thời đại của thỏa thuận thương mại lớn, các nhà hoạch định chính sách phương Tây phải giải quyết những mối quan ngại của người dân, những người đã nghe về những lợi ích rộng lớn của sự toàn cầu hóa kinh tế, tuy nhiên đã gánh chịu tình trạng lương không tăng, sức mạnh thương lượng bị mất đi, và các cơ hội suy giảm. Các chính phủ nên đưa ra các thỏa thuận thương mại vào các chiến lược kinh tế rộng hơn mà duy trì các hệ thống cơ sở hạ tầng tiên tiến, bảo vệ các cư dân chống lại các cuộc suy thoái kinh tế, và làm nhiều hơn để phân phối một cách công bằng những thành quả mà sự mở cửa kinh tế tạo ra. Chỉ khi đó phương Tây mới thu được những lợi ích mà một thỏa thuận thương mại Mỹ – EU sẽ mang lại.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2016-09-28/how-ttip-lost-steam

TLTKĐB – 04/11/2016

TTIP “bốc bơi” như thế nào? – Phần đầu


Tyson Barker

Wolfsburg, ở trung tâm công nghiệp của Đức, là một biểu tượng cho khu vực sản xuất đang phát triển mạnh và khả năng cạnh tranh quốc tế của đất nước này. Được thành lập vào những năm 1930 như là một cộng đồng được lên kế hoạch cho các công nhân làm việc trong ngành sản xuất ôtô ở Đức, thành phố này đã trở thành nơi có thu nhập bình quân đầu người giàu nhất nước. Nó có trụ sở của hãng Volkswagen và nhà máy sản xuất ôtô lớn nhất thế giới và là một mô hình mẫu mực cho lý lẽ trung tả của nước này ủng hộ nền kinh tế mở và dựa vào thương mại. Nó là một nơi phù hợp cho Đảng Dân chủ Xã hội (SPD) xác định các lập trường của mình vào tháng 9 này khi chuẩn bị cho cuộc bầu cử liên bang Đức vào năm 2017.

Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất tại hội nghị SPD là lập trường của đảng này về Hiệp định kinh tế và thương mại toàn diện (CETA) giữa Liên minh châu Âu và Canada, mà các cuộc đàm phán về nó đã kết thúc vào năm 2014. Phải có một cuộc chiến khó chịu trong nội bộ đảng và một nước cờ đầu chính trị của Sigmar Gabriel – nhà lãnh đạo SPD, bộ trưởng kinh tế, phó thủ tướng và có thể là nhân vật đối thủ của Thủ tướng Angelan Merkel trong cuộc bầu cử năm 2017 – để thúc đẩy sự ủng hộ đưa hiệp định này vào cương lĩnh của SPD.

Việc bỏ phiếu về CETA quan trọng bởi vì một số người châu Âu, đặc biệt là ở Áo, Pháp và Đức, coi tranh cãi xung quanh hiệp định này là một cuộc tập dượt cho cuộc xung đột lớn hơn nhiều về Hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) được đề xuất, hiệp định thương mại tự do lớn giữa Mỹ và EU. Số phận của CETA và TTIP có quan hệ chặt chẽ với nhau, và giống như CETA, TTIP, vẫn đang được đàm phán, không phải là không gặp khó khăn.

Khi Pháp và Đức chuẩn bị cho các cuộc bầu cử lớn, sự phản đối TTIP đã trở thành một vấn đề nóng trong các nhà dân túy cánh hữu, những người nông dân, các nhà môi trường, các nhà hoạt động chống toàn cầu hóa và một số công đoàn (đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ) của châu Âu. Cùng với một số nhân tố rộng hơn âm mưu chống lại việc hoàn thành TTIP, sự phản đối này đã làm cho những triển vọng của hiệp định – và những triển vọng của các cuộc đàm phán thương mại nói chung hơn – dường như rất ảm đạm. Thời đại của thỏa thuận thương mại lớn chắc chắn là đang đóng băng. Câu hỏi hiện nay là nó có hoàn toàn chết hay không.

Sa lầy

Lôgích kinh tế và chiến lược cho một khu vực thương mại tự do Mỹ – EU là rõ ràng. Nền kinh tế xuyên Đại Tây Dương chiếm 45% tổng kinh tế toàn cầu, chiếm 1 nghìn tỷ USD thương mại thường niên và 3900 tỷ USD đầu tư, và hỗ trợ 13 triệu công ăn việc làm. Theo ít nhất là một nghiên cứu, thỏa thuận thương mại xuyên Đại Tây Dương có thể tăng thêm tổng cộng hơn 106 tỷ USD cho nền kinh tế Mỹ và 133 tỷ USD cho nền kinh tế EU; nó cũng có thể tạo ra khoảng 750.000 công ăn việc làm mới chỉ riêng ở Mỹ. (Các nghiên cứu thực hiện dưới giả định rằng Anh vẫn là một phần của EU. Tuy nhiên, ngay cả dưới Brexit những thành quả đạt được đối với nền kinh tế xuyên Đại Tây Dương này sẽ là đáng kể). Cùng với việc mở rộng NATO và EU, việc tạo ra một thương trường không có các rào cản là một trong những dự án còn đang dang dở của liên minh xuyên Đại Tây Dương hậu Chiến tranh Lạnh. Việc đó sẽ kéo châu Âu và Mỹ thậm chí lại gần nhau hơn và cho phép họ đàm phán từ địa vị có sức mạnh với các nước như Trung Quốc và Nga trong các lĩnh vực từ quản lý Internet đến năng lượng.

Trong những giai đoạn đầu của các cuộc đàm phán, TTIP dường như không tốn mấy công sức đối với các quan chức của cả Mỹ lẫn EU. Merkel đã ủng hộ dự án mà bà nghĩ rằng sẽ củng cố những sức mạnh của Đức với tư cách là một cường quốc thương mại và lợi ích của nước này trong việc củng cố liên minh xuyên Đại Tây Dương trong các lĩnh vực vượt ra ngoài an ninh và quốc phòng. Các nhà lãnh đạo Anh tin rằng thỏa thuận này có thể mang lại một sự thúc đẩy cho tầm nhìn của họ về một châu Âu tự do và định hướng thương mại, cải thiện mối quan hệ của London với Mỹ, và củng cố lý lẽ trong nước ủng hộ tư cách thành viên tiếp tục của Anh ở trong EU. Và các quan chức Mỹ xem TTIP là một cách trực tiếp để Mỹ góp phần vào sự phục hồi của châu Âu từ cuộc khủng hoảng Khu vực đồng tiền chung (Eurozone).

Nhưng mặc dù hứa hẹn của TTIP, chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tiếp cận hiệp định này một cách do dự. Một lý do là, Washington đã xem sự thành công của một thỏa thuận thương mại đa phương khác, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), quan trọng hơn đối với tương lai địa chính trị của Mỹ. Và rồi có những khó khăn thực tiễn của các cuộc đàm phán TTIP, mà được cho là gian khổ tới mức các nhà đàm phán của Mỹ và châu Âu phải mất 1 năm rưỡi để quyết định họ có sẵn sàng cam kết về chúng hay không. Việc tạo ra phần lớn thỏa thuận sẽ đòi hỏi làm việc tích cực về các vấn đề vượt ra ngoài việc cắt giảm thuế quan; để thành công, Washington sẽ cần hủy hoại tiền tài của nhiều nhóm lợi ích đầy quyền lực trong các lĩnh vực như chính sách nông nghiệp, hợp tác về pháp lý và các vấn đề kỹ thuật số.

Các nhà đàm phán ở hai bờ Đại Tây Dương tin rằng số phận của TTIP sẽ được quyết định ở châu Âu. Thách thức trong việc thuyết phục những người hoài nghi của lục địa này ủng hộ hiệp định là rất lớn. Tuy nhiên, các chính phủ EU đã chỉ tạo ra một sự bảo vệ miễn cưỡng đối với các cuộc đàm phán, và nhiều nhà lãnh đạo EU thậm chí đã công khai phản đối chúng. Gabriel, người có tương lai chính trị phụ thuộc vào sự thành công của CETA, đã tìm cách tách thỏa thuận đó khỏi TTIP bằng cách tuyên bố TTIP là một thất bại vào cuối tháng 8. Vào cùng thời gian đó, Tổng thống Pháp François Hollande đã nói rằng những quan điểm của châu Âu đã “không được tôn trọng” và chỉ ra rằng Paris đã sẵn sàng ngừng các cuộc đàm phán TTIP. Tầng lớp chính trị của Áo cũng đi theo đường hướng tương tự, và các ứng cử viên tổng thống của nước này – nhà dân túy theo cánh hữu Nobert Hofer và thành viên Đảng Xanh Alexander Van der Bellen – đang cạnh tranh để tuyên bố đảm nhận trọng trách của một ứng cử viên chống TTIP. Ngay cả Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker, người lãnh đạo cơ quan đang đàm phán TTIP cho EU, cũng đã không đề cập đến hiệp định này trong bài diễn văn thông điệp Liên minh châu Âu vào ngày 14/9.

Ở chừng mực nhất định, sự phản đối gần đây của châu Âu đối với TTIP phản ánh một nỗ lực đảm bảo đòn bẩy đàm phán thay vì một sự từ chối thẳng thừng hiệp định này. Nhưng có nhiều lý do khác, dai dẳng hơn giải thích sự rút lui gần đây của các nhà lãnh đạo EU. Đầu tiên, các nhà lãnh đạo châu Âu bận rộn với rất nhiều vấn đề trước mắt: việc Anh bỏ phiếu rời khỏi EU, hậu quả của cuộc khủng hoảng Eurozone, cuộc xung đột ở Ukraine, cuộc nội chiến ở Syria, sự trỗi dậy của phe cánh hữu châu Âu, và cuộc khủng hoảng nhập cư. Kế tiếp, nhiều người ở châu Âu coi thái độ chống TTP của chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm nay là một dấu hiệu cho thấy điều gì đó tương tự cuối cùng sẽ xảy đến với TTIP ở Mỹ, làm cho sự ủng hộ của châu Âu dành cho hiệp định này trở thành một nỗ lực vô ích. Và nhiều nhà lãnh đạo châu Âu thực sự tỏ ra nước đôi về sự cần thiết phải có một thỏa thuận kinh tế lớn giữa Mỹ và EU.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/united-states/2016-09-28/how-ttip-lost-steam

TLTKĐB – 04/11/2016

Hội nhập AEC – góc nhìn từ ngành dịch vụ logistics Thái Lan và vận dụng kinh nghiệm phát triển logistics tại Việt Nam – Phần cuối


Để duy trì được năng lực cạnh tranh cao của ngành công nghiệp Thái Lan phải kể tới đóng góp chiến lược của Logistics định hướng sản xuất tinh gọn thông qua mô hình quản trị cung ứng nhanh chóng “Just-in-time”. Nhưng điều này cũng tiềm ẩn những nguy cơ, như trận lụt lịch sử mùa thu năm 2011 làm cho chuỗi cung ứng bị gián đoạn và đình trệ việc sản xuất. Bài học rút ra dưới góc độ Logistics là việc phát triển một chiến lược mới nhằm phòng ngừa rủi ro. Nó bao hàm một giải pháp tổng thể, gồm tạm thời di dời máy móc thiết bị tới các khu vực an toàn hơn trước mưa lũ, thay đổi các nhà cung cấp linh kiện, thay thế bằng hàng hóa nhập khẩu, tăng lượng hàng dự trữ, hay như phân bổ phi tập trung các địa điểm nhà xưởng.

Với mục tiêu tăng cường phối hợp hoạt động kinh doanh với các quốc gia láng giềng, Ủy ban Quản lý Bất động sản Công nghiệp Thái Lan (Industrial Estate Authority of Thailand – IEAT) đã mời gọi các nhà đầu tư cá nhân tại tổng cộng 13 khu công nghiệp với diện tích 4800 ha, tổng số vốn đầu tư vào khoảng 300 tỷ Baht. Đa số các địa điểm triển khai nằm tại vùng phía Bắc, Đông Bắc và phía Đông, ngoài ra cũng dự kiến xây dựng một khu dịch vụ Logistics nằm ở biên giới với Lào tại thành phố Chiang Rai. Cho đến thời điểm năm 2014, IEAT đã cấp 48 giấy phép cho khu công nghiệp,  trong đó 36 khu công nghiệp đã hoạt động và 12 khu công nghiệp đang trong quá trình xây dựng; 11 khu công nghiệp nằm dưới sự giám sát trực tiếp của IEAT. Nhóm các nhà đầu tư tư nhân tiềm năng với năng lực tài chính và kinh nghiệm gồm công ty Nava Nakorn và Thai Industrial Estate. Chính phủ Thái Lan đang khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào các dịch vụ Logistics tích hợp song song với quản lý có hiệu quả sản xuất và chuỗi cung ứng sản phẩm. Trong đó đặc biệt khuyến khích đầu tư vào công nghệ thông tin để thực hiện quản lý và kiểm soát hoạt động logistics.

Tóm lại, sự quan tâm của Chính phủ được đánh giá là một trong những lợi thế của Logistics Thái Lan. Những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính sách và môi trường Logistics Thái Lan thời gian qua cho thấy sự linh hoạt và quan tâm rất nghiêm túc trong việc đẩy mạnh Logistics của Chính phủ. Ngoài việc hỗ trợ bằng hệ thống chính sách, Chính phủ Thái Lan còn chủ động đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng Logistics. Chính phủ cũng duy trì hệ thống giám sát và đánh giá liên tục hiệu quả Logistics quốc gia. Tuy nhiên, những kết quả vẫn còn hạn chế, vị trí 35/155 hiện nay của Thái Lan cho thấy năng lực Logistics của Thái Lan mới thuộc nhóm trung bình khá. Trong tương lai, nếu Thái Lan không có những biện pháp tích cực và hiệu quả hơn nữa để nâng cao năng lực hệ thống Logistics thì trình độ Logistics của Thái Lan có thể tụt bậc, làm suy giảm sức cạnh tranh sản xuất và tăng trưởng thương mại.

4/ Vận dụng kinh nghiệm phát triển dịch vụ Logistics tại Việt Nam

Thị trường dịch vụ Logistics tại Việt Nam còn kém phát triển, chất lượng dịch vụ Logistics thấp nhưng mức chi phí Logistics lại rất cao chiếm khoảng 25% GDP (so với các nước phát triển chỉ từ 9% đến 15%) trong đó chi phí vận tải chiếm 30% đến 40% giá thành sản phẩm (tỷ lệ này là 15% ở các nước phát triển). Mức chi phí cho các hoạt động Logistics trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và thị phần Logistics của các doanh nghiệp Việt Nam, tác động cũng không nhỏ đến sản xuất và lưu thông hàng hóa và tốc độ tăng trưởng kinh tế đất nước.

Tuy vậy, Logistics được xác định là một lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng, cần phát triển có trọng điểm tại những địa phương có lợi thế về liên kết giao thông. Định hướng chung là hình thành dịch vụ trọn gói 3PL, phát triển Logistics điện tử cùng với thương mại điện tử và quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả và thân thiện. Cùng với việc xác định mục tiêu tổng thể phát triển ngành dịch vụ thì mục tiêu phát triển cụ thể cũng được đề ra, như là: Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2011 – 2015 khu vực dịch vụ đạt 7,8 – 8,5%/năm, với quy mô khoảng 41 – 42% GDP toàn nền kinh tế; giai đoạn 2016 – 2020, tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 8,0 – 8,5%/năm với quy mô khoảng 42 – 43% GDP toàn nền kinh tế. Trong đó, tốc độ tăng trưởng thị trường Logistics đạt 20 – 25%/năm. Tổng giá trị thị trường dịch vụ Logistics dự báo chiếm 10% GDP vào năm 2020. Tỷ lệ thuê ngoài logistics (Outsourcing Logistics) đến năm 2020 là 40%.

Theo như lộ trình hội nhập các lĩnh vực hoạt động dịch vụ Logistics, Chính phủ và các bộ, ngành quản lý đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về giao thông vận tải (GTVT), cảng biển, xuất nhập khẩu, hải quan, thuế… Trong đó, đặc biệt là các quy hoạch về GTVT, cảng biển, vận tải biển, vận tải đường bộ, đường thủy, các cảng cạn, khu công nghiệp Logistics đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Cụ thể là, để điều chỉnh các hoạt động Logistics liên quan đến dịch vụ GTVT có Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội địa Việt Nam và Luật Đường sắt Việt Nam, và các Nghị định có liên quan, trong đó nổi bật là Nghị định về Vận tải đa phương thức số 87/NĐ-CP ngày 19/10/2009 và 89/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011. Ngoài ra, còn có các điều ước quốc tế về GTVT mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, như các cam kết trong WTO, Hiệp định ASEAN, Hiệp định GMS mở rộng, hiệp định song biên và đa biên với các nước láng giềng trong lĩnh vực vận tải đa phương thức, vận tải quá cảnh, và vận tải qua biên giới.

Trong phân loại các ngành/phân ngành dịch vụ của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) không có khái niệm dịch vụ logistics. Các hoạt động logistics cụ thể thực tế nằm trong các phân ngành dịch vụ hỗ trợ vận tải, thuộc ngành dịch vụ vận tải. Gia nhập WTO, liên quan đến dịch vụ logistics, Việt Nam đã cam kết mở cửa các phân ngành như sau: dịch vụ xếp dỡ container; dịch vụ thông quan; dịch vụ kho bãi; dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa; các dịch vụ thực hiện thay mặt cho chủ hàng (bao gồm các hoạt động kiểm tra vận đơn; dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa; giám định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; giám định hàng hóa; dịch vụ nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải). Theo các cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cho phía nước ngoài được thiết lập các doanh nghiệp liên doanh, với tỷ lệ góp vốn 49 – 51% trong các dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi… Từ ngày 7/1/2014, tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài đã tăng lên 100%.

Trên thực tế các hành lang pháp lý nêu trên đã có tác động tích cực đến phát triển thị trường dịch vụ logistics. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý cần hoàn thiện và thực hiện đầy đủ các luật và văn bản dưới luật của ngành GTVT. Các hiệp định và cam kết này cần được phổ biến và hướng dẫn kịp thời tới các doanh nghiệp GTVT và các nhà cung cấp dịch vụ Logistics của Việt Nam và nước ngoài đang hoạt động ở nước ta. Nghị định về vận tải đa phương thức cũng cần được xem xét sửa đổi cho phù hợp với điều kiện kinh doanh vận tải hiện nay. Các chính sách phát triển vận tải và kết cấu hạ tầng GTVT cần có ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp vận tải và cung cấp dịch vụ logistics. Việc thường xuyên kiểm tra sau cấp phép, nổi bật là vận tải đa phương thức, cần được tiến hành nghiêm túc.

Tựu trung lại, dựa trên những kinh nghiệm của Thái Lan và thực trạng phát triển tại Việt Nam, để thúc đẩy ngành Logistics, đặc biệt là dịch vụ giao thông vận tải cần thực hiện bổ sung các giải pháp chính sau đây:

+ Khuyến khích áp dụng dữ liệu và chứng từ thương mại tiêu chuẩn hóa, chứng từ điện tử khi làm thủ tục thông quan nhằm tạo thuận lợi cho thương mại bằng việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như mô hình dữ liệu của tổ chức Hải quan thế giới.

+ Xúc tiến việc sử dụng nhận dạng bằng tần số radio để tạo thuận lợi cho việc sử dụng nó giữa các nước trong thương mại và hải quan cũng như phát hiện hàng hóa. Tạo thuận lợi cho giao dịch điện tử qua biên giới, chia sẻ thông tin, thanh toán và chữ ký bằng điện tử. Khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng và phát triển các hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng liên kết trong ASEAN nhằm tạo nên sự gắn kết các giải pháp đặt kế hoạch, hệ thống lưu giữ, lấy hàng hóa bằng phương tiện không dây;

+ Tăng cường sự minh bạch hóa các quy định trong nước về Logistics bằng cách công bố đúng lúc các quy định về đầu tư, các tiêu chí cấp phép, các quyết định cấp phép của Chính phủ và tạo thuận lợi cho việc lấy ý kiến của khu vực tư nhân trong quá trình hoạch định chính sách ngành. Tạo dựng môi trường chính sách có hiệu quả nhằm tăng cường việc tham gia của khu vực tư nhân và/hoặc hợp tác công – tư trong việc phát triển kết cấu hạ tầng logistics;

+ Thực hiện Hiệp định khung ASEAN về tạo thuận lợi cho hàng hóa quá cảnh và Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức, xúc tiến có hiệu quả việc vận chuyển hàng hóa từ cửa – đến – cửa và tạo thuận lợi cho vận tải qua biên giới. Cải thiện kết cấu hạ tầng mạng lưới vận tải trên bộ và các dịch vụ nhằm đạt được sự kết nối với nhau tốt hơn, liên thông hoạt động và liên kết các phương thức vận tải với các cửa ngõ vận tải hàng không, hàng hải của quốc gia, khu vực và thế giới; tăng cường các dịch vụ vận tải biển nội khối ASEAN.

Kết luận

Sự hình thành của AEC 2015 vừa là mục tiêu và động lực đối với việc hoàn thiện sự tổ chức về dòng hàng hóa, bảo quản, vận chuyển và truyền tải thông tin liên quan thông qua các hợp đồng cung cấp dịch vụ Logistics. Tại Thái Lan, các doanh nghiệp nước ngoài cạnh tranh gay gắt với doanh nghiệp nội địa để trở thành nhà cung cấp dịch vụ cho các nhà sản xuất quốc tế. Ngoài việc hỗ trợ bằng hệ thống chính sách, Chính phủ Thái Lan còn chủ động đầu tư mạnh cho hạ tầng Logistics. Chính phủ cũng duy trì hệ thống giám sát và đánh giá liên tục hiệu quả Logistics quốc gia. Tại Việt Nam, lĩnh vực Logistics sản xuất và phân phối mang lại nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt đối với các hoạt động liên quan tới GTVT, ví dụ như, các tập đoàn sản xuất điện tử sản xuất và lắp ráp điện thoại Smartphone tại đây để kịp thời và phân phối chính xác qua đường hàng không tới các khách hàng ở thị trường Mỹ và châu Âu. Việc thực hiện có kết quả Lộ trình hội nhập logistics với những biện pháp cụ thể nêu trên sẽ giúp Việt Nam phát triển ngành dịch vụ Logistics tiến kịp với các nước trong khu vực, góp phần xây dựng ASEAN thành một trung tâm dịch vụ logistics toàn cầu, thúc đẩy việc hình thành thị trường chung ASEAN vào năm 2015.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Hồng Sơn & Nguyễn Anh Thu (đcb) – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) – bối cảnh và kinh nghiệm quốc tế, NXB ĐHQG HN 2015.