Chống trợ cấp và chống bán phá giá – Phần cuối


c/ Về định nghĩa công nghiệp

Khi xác định thiệt hại đối với công nghiệp trong nước, thì công nghiệp trong nước nói ở đây là tổng thể các nhà sản xuất sản phẩm cùng loại ở trong nước, hoặc là các nhà sản xấut trong nước mà tổng số lượng sản phẩm này của họ chiếm đa số trong tổng sản lượng loại sản phẩm này ở trong nước, nhưng trừ những trường hợp sau: 1) Nếu người sản xuất là hãng xuất khẩu hoặc hãng nhập khẩu có liên quan với nhau, hoặc chính họ bị gọi là hãng xuát khẩu sản phẩm bán phá giá, thì không tính họ vào cái gọi là công nghiệp trong nước ấy; 2) Trong trường hợp chia lãnh thổ một nướoc nào đó thành hai hoặc nhiều thị trường cạnh tranh của sản phẩm ấy, các nhà sản xấut trên mỗi thị trường ấy được coi là một thị trường độc lập với điều kiện là các nhà sản xuất tại thị trường ấy tiêu thụ tại chỗ toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ sản phẩm của họ, nhu cầu trên thị trường đó, ở mức độ rất lớn, không phải do những người sản xuất của địa phương khác có mặt tại lãnh thổ đó thỏa mãn, thì dù phần chủ yếu của toàn bộ nền công nghiệp trong nước không bị thiệt hại, nhưng nếu hãng nhập khẩu bán phá giá tập trung tại một thị trường riêng biệt ấy, và đang gây ra thiệt hại do toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ những người sản xuất tại thị trường ấy, vì vậy vẫn có thể có vấn đề bán phá giá.

2/ Về điều tra, chứng cứ và bảo đảm giá

a/ Bắt đầu và tiếp tục điều tra

Để xác định được là có bán phá giá, mức độ bán phá giá và ảnh hưởng của nó, người ta thường cần bắt đầu điều tra sau khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của ngành công nghiệp bị ảnh hưởng. Văn bản yêu cầu phải có đủ các chứng cứ: 1) Bán phá giá; 2) Thiệt hại; 3) Quan hệ nhân quả giữa hàng bán phá giá với thiệt hại. Nếu chưa nhận được yêu cầu ấy mà đã quyết định phát động điều tra thì phải nắm chắc đầy đủ chứng cứ ở điểm 1 và 3.

Khi các tổ chức có liên quan tin chắc rằng không có đủ chứng cứ về bán phá giá và thiệt hại để thụ lý thì phải từ chối yêu cầu đó và phải đình chỉ ngay việc điều tra đó. Nếu mức bán phá giá hoặc lượng hàng bán phá giá thực tế hoặc tiềm tàng không đáng kể thì cũng phải lập tức đình chỉ điều tra. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt, trong vòng 1 năm phải kết thúc điều tra.

Mọi kết luận điều tra phải được công bố. Hủy bỏ kết luận điều tra cũng phải được thông báo. Thông báo kết luận điều tra phải được gửi cho các bên có sản phẩm bị điều tra và các hàng xuất khẩu có liên quan.

b/ Về chứng cứ

Các hãng cung ứng nước ngoài và các bên ký hiệp định có quyền đưa ra văn bản (khi có lý do chính đáng thì có quyền nói miệng) về mọi chứng cứ mà họ cho rằng chún được dùng để điều tra chống bán phá giá.

Các tổ chức có liên quan phải tạo điều kiện cho người khởi tố, hãng xuất khẩu, hãng nhập khẩu và chính phủ nước xuất khẩu xem toàn bộ các tài liệu dùn để khởi tố, không có tính chất bí mật. Mọi tài liệu mật, hoặc các tài liệu do các bên đương sự điều tra chống bán phá giá cung cấp một cách bí mật, do tổ chức điều tra xử lý là tài liệu mật. Không được sự đồng ý của người cung cấp tài liệu thì không được tiết lộ những tài liệu này.

Để xác minh tài liệu được cung cấp hoặc để có được tài liệu chi tiết hơn, tổ chức điều tra có thể điều tra ở nước khác, nhưng phải được công ty hữu quan đồng ý và phải thông báo cho đại diện của chính phủ nước ấy biết. Nếu chính phủ nước ấy không đồng ý thì không được điều tra.

Khi tổ chức chủ quản tin rằng có đầy đủ chứng cứ để phát động điều tra chống bán phá giá thì phải thông báo cho các bên đương sự, hãng xuất khẩu, hãng nhập khẩu và người khởi tố, đồng thời ra bố cáo.

Sau khi nhận được yêu cầu, các tổ chức có liên quan phải tạo điều kiện cho các bên đương sự đưa ra ý kiến trái ngược và luận cứ phản bác của họ.

Nếu bên đương sự từ chối tiếp xúc với người khác, hoặc không cung cấp tư liệu cần thiết, hoặc cản trở điều tra, thì tổ chức điều tra có thể căn cứ vào sự thật hiện có để đưa ra kết luận khẳng định hoặc phủ định, sơ bộ hoặc cuối cùng.

c/ Về bảo đảm giá

Trong trường hợp hãng xuất khẩu tự nguyện bảo đảm sửa đổi giá hoặc ngừng xuất khẩu theo giá bán phá giá khiến mọi người hài lòng, do đó nước nhập khẩu tin chắc rằng không còn bị thiệt hại bởi bán phá giá nữa, không áp dụng biện pháp tạm thời hoặc đánh thuế bán phá giá, thì có thể ngừng hoặc chấm dứt tố tụng. Việc tăng giá theo sự bảo đảm này không cao hơn mức độ cần thiết để triệt tiêu việc bán phá giá. Ngoại trừ trường hợp nước nhập khẩu đã phát động điều tra, nếu không thì không được đòi hãng xuất khẩu bảo đảm giá.

Trong trường hợp sự bảo đảm giá đã được chấp nhận nhưng hãng xuất khẩu đồng ý, hơn nữa tổ chức điều tra đã quyết định, thì vẫn phải hoàn thành công tác điều tra. Trong trường hợp này, nếu xác định không có thiệt hại hoặc không có nguy cơ gây thiệt hại, thì sự bảo đảm tự động mất hiệu lực. Nước nhập khẩu có thể đề nghị bảo đảm giá, nhưng không được ép buộc hãng xuất khẩu làm như vậy. Hãng xuất khẩu không đưa ra đảm bảo hoặc chưa chấp nhận yêu cầu bảo đảm, không hề ảnh hưởng tới việc thẩm nghị vụ án.

Nước nhập khẩu có thể yêu cầu hãng xuất khẩu định kỳ gửi cho mình tư liệu về tình hình thực hiện… Nếu những bảo đảm này bị vi phạm thì nước nhập khẩu có thể lập tức hành động, kể cả việc sử dụng tư liệu mới nhất hiện có trong tay, lập tức áp dụng biện pháp tạm thời. Trong trường hợp này, nước nhập khẩu có thể đánh thuế chống phá giá đối với những sản phẩm phá giá đã nhập vào thị trường tiêu thụ nước mình trong vòng 90 ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm thời.

Thời hạn bảo đảm giá không được vượt quá thời hạn có hiệu lực của thuế chống phá giá. Khi kết thúc hoặc ngừng điều tra, hoặc kết thúc việc bảo đảm giá thì phải ra thông báo và công bố chính thức.

3/ Thuế chống bán phá giá.

a/ Đánh thuế chống phá giá.

Nước nhập khẩu là bên quyết định có đánh thuế chống phá giá hay không, quyết định mức thuế chống phá giá thấp hơn hay bằng mức bán phá giá. Đánh thuế, chống phá giá phải dựa trên cơ sở không phân biệt đối xử, đánh thuế chống phá giá với mức thích đáng đối với bất kỳ hãng nào xuất khẩu hàng bán phá giá vào nước mình và gây thiệt hại cho mình.

Mức thuế chống bán phá giá phải tương đương với mức chênh lệch giữa giá xuất khẩu với giá cơ bản được định ra nhằm mục đích ấy. Sau khi cộng cả giá chống bán phá giá, giá của những sản phẩm này không vượt quá giá thấp nhất của sản phẩm cùng loại tại nước xuất khẩu trong điều kiện cạnh tranh bình thường.

b/ Thời hạn đánh thuế chống phá giá.

Thuế chống phá giá chỉ có hiệu lực trong thời hạn cầ thiết để triệt tiêu những thiệt hại do bán phá giá gây ra. Chỉ trong trường hợp có đủ chứng cứ về bán phá giá và sự thiệt hại, và sau khi có kết luận khẳng định sơ bộ mới được áp dụng biện pháp tạm thời.

Biện pháp tạm thời có thể là áp dụng hình thức đánh thuế tạm thời, hoặc là hình thức bảo lãnh (gửi tiền bảo lãnh hoặc đơn bảo lãnh tiền gửi). Tiền bảo lãnh bằng tiền thuế chống bán phá giá tạm tính, không được nhiều hơn mức chênh lệnh phá giá tạm tính. Thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời phải thật ngắn, thường không quá 4 tháng, trường hợp đặc biệt, dài nhất không quá 6 tháng.

c/ Truy thu

Trong lịch sử đã từng có những thiệt hại do bán phá giá gây ra, như thiệt hại do cố tình bán phá giá, thiệt hại do bán phá giá ngẫu nhiên. Để ngăn ngừa tái diễn những trường hợp đó, cần phải đánh thuế chống phá giá. Và trong trường hợp như thế có thể đánh thuế đối với những sản phẩm đã đi vào lĩnh vực tiêu dùng trong vòng 90 ngày trước khi áp dụng biện pháp tạm thời.

Nếu có nguy cơ gây ra thiệt hại hoặc gây cản trở thì phải có kết luận mới được chính thức đánh thuế chống phá giá. Khi chính thức đánh thuế chống phá giá thì phải hoàn trả ngay số tiền gửi và đơn bảo trợ tiền gửi tạm thu khi thực hiện biện pháp tạm thời.

d/ Chống phá giá thay mặt nước thứ ba.

Nước thứ ba phải làm đơn yêu cầu nước nhập khẩu áp dụng biện pháp chống bán phá giá thay mặt cho mình. Trong đơn đề nghị phải có tư liệu nói rõ giá cả của hàng bán phá giá, tài liệu nói rõ thiệt hại do bán phá giá gây ra đối với công nghiệp trong nước của nước thứ ba.

Khi xem xét đơn yêu cầu, nước nhập khẩu phải tính tới ảnh hưởng tổng thể do bán phá giá gây ra đối với công nghiệp của nước thứ ba, tức là không chỉ tính toán thiệt hại từ những ảnh hưởng đối với xuất khẩu hàng công nghiệp của họ. Nước xuất khẩu là nước quyết định có thụ lý vụ án này không. Nếu nước xuất khẩu quyết định chuẩn bị hành động thì phải chủ động tiếp xúc để tranh thủ được sự đồng tình của các nước ký thỏa thuận này.

Hiệp định về biện pháp chống bán phá giá còn có những quy định đặc thù đối với các nước đang phát triển, quy định cụ thể về thương lượng, dàn xếp và giải quyết tranh chấp liên quan đến các nước phát triển. Theo hiệp định này, Ủy ban về biện pháp chống bán phá giá đã được thành lập để xử lý các vụ việc có liên quan.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Chống trợ cấp và chống bán phá giá – Phần III


d/ Về trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm cấp thấp.

Các nước ký Hiệp định chung không được dùng phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp trợ cấp xuất khẩu hàng cấp thấp để làm phương tiện cạnh tranh thị trường. Cần phải hướng tới hậu quả của việc cạnh tranh thị trường bằng các thủ đoạn không ngay thẳng. Nước này trợ cấp xuất khẩu có nghĩa là chèn ép xuất khẩu của nước khác. Khi cạnh tranh trên thị trường mới, cần phải tính tới phương thức truyền thống trong việc cung ứng sản phẩm cấp thấp ấy trên thị trường thế giới.

Các nước không được dùng phương thức trợ cấp xuất khẩu để làm cho giá cả sản phẩm cấp thấp của mình rẻ hơn giá cả hàng hóa cùng loại của người cung ứng khác trên cùng thị trường.

e/ Trợ cấp ngoài trợ cấp xuất khẩu.

Trợ cấp ngoài trợ cấp xuất khẩu cũng là công cụ quan trọng được sử dụng rộng rãi để thực hiện mục tiêu trong chính sách kinh tế – xã hội. Song, nó cũng có thể gây ra thiệt hại hoặc có nguy cơ gây ra thiệt hại đối với công nghiệp trong nước nhập khẩu, hoặc phuong hại tới lợi ích của nước khác, triệt tiêu hoặc làm giảm lợi ích của nước khác được hưởng theo quy định trong Hiệp định chung, nhất là những trợ cấp này có thể gây ảnh hưởng bất lợi đối với các điều kiện cạnh tranh bình thường. Do vậy, khi thực hiện các trợ cấp này phải tránh gây ảnh hưởng.

Các trợ cấp loại này gồm có: 1) Chính phủ trợ vốn, cho không, cho vay hoặc bảo trợ đối với xí nghiệp thương nghiệp; 2) Chính phủ bảo đảm phân phối vật tư, dịch vụ có tính chất kinh doanh hoặc giúp đỡ, trợ vốn một cách thuận lợi cho sự nghiệp công cộng; 3) Chính phủ trợ vốn cho nghiên cứu và quy hoạch phát triển; 4) Khuyến khích về tài chính; Chính phủ góp cổ phần hoặc cấp cổ phần gốc.

Hiệp định này còn quy định cụ thể về thương lượng, dàn xếp, giải quyết tranh chấp, các biện pháp được áp dụng để chống lại các trợ cấp này và về trợ cấp, chống trợ cấp có liên quan đến các nước phát triển.

Ủy ban về trợ cấp và chống trợ cấp xử lý các vụ việc có liên quan tới hiệp định này.

II/ Hiệp định về các biện pháp chống bán phá giá

Tên gọi chính thức của hiệp định về các biện pháp chống bán phá giá là “Hiệp định về thực thi điều 16 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại”. Hiệp định này cho rằng, không được biến biện pháp chống bán phá giá thành vật cản thương mại quốc tế. Thuế chống bán phá giá chỉ được dùng để đối phó với những thiệt hại nặng nề hoặc là nguy cơ thiệt hại nặng nề đối với ngành công nghiệp nào đó, hoặc cản trở việc xây dựng ngành công nghiệp nào đó do việc bán phá giá gây ra. Nhằm mục đích đó, hiệp định này định ra trình tự ngay thẳng và công khai làm cơ sở cho việc thẩm tra toàn diện các trường hợp bán phá giá, thực hiện các quy định tại điều 16 của Hiệp định chung.

1/ Về bán phá giá, thiệt hại về công nghiệp trong nước.

a/ Xác định việc bán phá giá.

Trong buôn bán bình thường, giá cả một hàng hóa nào đó của nước này xuất khẩu sang nước khác thấp hơn giá sản phẩm cùng loại tiêu thụ tại nước xuất khẩu, hàng hóa đó bị coi là hàng bán phá giá.

Sản phẩm cùng loại là sản phẩm giống (giống về mọi mặt) với sản phẩm bị thẩm tra. Nếu không có loại sản phẩm này thì là sản phẩm khác không giống về mọi mặt với sản phẩm bị thẩm tra, nhưng phải rất giống với đặc điểm của sản phẩm ấy.

Nếu sản phẩm không được nhập khẩu trực tiếp từ nước sản xuất mà nhập khẩu qua một nước trung gian, thì giá cả của sản phẩm này thường phải được so với giá cả tương ứng tại nước xuất khẩu. Thí dụ, sản phẩm chỉ đi qua nước xuất khẩu khi vận chuyển, thì phải so sánh với giá cả tại nước sản xuất.

Trường hợp tại thị trường trong nước của nước xuất khẩu không bán sản phẩm cùng loại, hoặc do tình hình đặc thù của thị trường khiến người ta không thể so sánh để tìm ra mức chênh lệch trong việc bán phá giá ấy, thì phải so với giá sản phẩm cùng loại tương ứng được xuất sang bất kỳ nước thứ ba nào; hoặc lấy giá thành sản xuất của sản phẩm ấy tại nước sản xuất, cộng với phí quản lý, chi phí tiêu thụ, các chi phí khác và lợi nhuận, rồi so với giá xuất khẩu để xác định mức chênh lệch khi bán phá giá. Thông thường, số lợi nhuận được cộng vào ấy không vượt quá lợi nhuận bình thường của sản phẩm cùng loại tiêu thụ tại thị trường trong nước sản xuất.

Nếu không có giá xuất khẩu, hoặc do mối quan hệ bạn bè giữa hãng xuất khẩu với hãng nhập khẩu hoặc với bên thứ ba, hoặc có sự dàn xếp đền bù nào đó, khiến nhà đương cục cho rằng giá xuất khẩu không đáng tin cậy, thì có thể dựa vào giá sản phẩm nhập khẩu được bán sang tay lần đầu cho bên mua độc lập để xác định giá xuất khẩu. Nếu sản phẩm không bán sang tay cho bên mua độc lập nào, hoặc khi bán sang tay và khi nhập khẩu tình hình sản phẩm có khác nhau, thì có thể dựa trên cơ sở xác định hợp lý của nhà đương cục để xác định giá xuất khẩu.

Để việc so sánh giá xuất khẩu với giá trong nước của nước xuất khẩu (hoặc nước sản xuất) được tiến hành một cách công bằng, việc so sánh hai loại giá ấy cần được tiến hành trên cùng mặt bằng thương mại, và mọi việc giao dịch cùng đồng thời được hoàn tất.

b/ Về xác định thiệt hại.

Việc xác định thiệt hại phải dựa trên những chứng cứ không thể bác bỏ và phải thẩm tra một cách khách quan về: 1) Hàng nhập khẩu bán phá giá và ảnh hưởng của nó đối với sản phẩm cùng loại tại thị trường trong nước; 2) Những ảnh hưởng đối với người sản xuất sản phẩm cùng loại ở trong nước do việc nhập khẩu này gây ra.

Về số lượng hàng nhập khẩu bán phá giá, tổ chức điều tra phải tính toán xem hàng nhập khẩu bán phá giá có tăng lên rõ rệt hay không, kể cả số tuyệt đối và số tương đối so với sản xuất và tiêu dùng tại nước nhập khẩu. Về giá cả hàng nhập khẩu bán phá giá, phải tính toán xem, so với giá sản phẩm cùng loại trong nước nhập khẩu, hàng nhập khẩu bán phá giá có giảm mạnh hay không, hoặc có gây ra giảm giá mạnh về các mặt hàng khác hay không, hoặc có cản trở việc tăng giá vốn dĩ sẽ xảy ra hay không. Nếu chỉ có một vài nhân tố trong những nhân tố nói trên thì chưa đủ căn cứ để rút ra kết luận cuối cùng.

Khi thẩm tra sự ảnh hưởng đối với công nghiệp người ta phải xem ảnh hưởng đó biểu hiện ở mọi nhân tố và chỉ số như: sản lượng, mức tiêu thụ, phân bố thị trường, lợi nhuận, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, hoặc việc sử dụng thực tế công suất thiết bị; những ảnh hưởng đối với các nhân tố giá cả trong nước; những ảnh hưởng thực tế và tiềm tàng đối với lượng tiền mặt, việc làm, tiền lương, mức tăng trưởng, tích lũy tư bản hoặc năng lực đầu tư. Nếu chỉ có một vài nhân tố trong các nhân tố đó bị ảnh hưởng thì cũng chưa hẳn đã đủ để rút ra kết luận cuối cùng.

Tóm lại, phải bằng các sự thật để chứng minh được rằng hàng nhập khẩu bán phá giá đã gây ra thiệt hại. Song, còn có các nhân tố khác gây ra thiệt hại đối với công nghiệp, không được tổ đổ lên đầu hàng nhập khẩu bán phá giá những thiệt hại do những nhân tố này gây ra.

Nếu có đủ tư liệu để phân loại ngành sản xuất, người sản xuất, thì tiến hành đánh giá ảnh hưởng của hàng nhập khẩu bán phá giá đối với sản phẩm cùng loại. Nếu không làm được như thế thì đánh giá những ảnh hưởng ấy đối với nhóm hoặc hai loại hàng gần giống như thế.

Khi xác định nguy cơ gây thiệt hại phải căn cứ vào sự thật. Cần phải tỉnh táo, việc sử dụng biện pháp chống bán phá giá, phải được cân nhắc và ra quyết định một cách hết sức cẩn trọng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Chống trợ cấp và chống bán phá giá – Phần II


d/ Những biện pháp tạm thời và hiệu lực truy thu.

Biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng sau khi kết luận điều tra sơ bộ khẳng định rằng có đầy đủ chứng cứ về trợ cấp và thiệt hại do nó gây ra. Biện pháp tạm thời có thể áp dụng bằng hình thức thuế chống trợ cấp tạm thời, được bảo đảm bằng tiền gửi hoặc giấy bảo lãnh tiền gửi tương đương với mức trợ cấp tạm tính. Thời hạn áp dụng biện pháp tạm thời phải hết sức ngắn, không được quá 4 tháng.

Khi làm kết luận cuối cùng về thiệt hại thì thuế chống trợ cấp được tính truy thu cả những tháng áp dụng biện pháp tạm thời. Nếu thuế chống trợ cấp đã xác định cao hơn số tiền gửi hoặc cao hơn mức tiền trong giấy bảo lãnh tiền gửi thì không được thu số chênh lệch ấy, còn nếu thấp hơn thì phải trả lại phần vượt trội.

Nếu kết luận có nguy cơ gây thiệt hại hoặc cản trở công việc xây dựng ngành công nghiệp nào đó thì có thể đánh thuế chống trợ cấp bắt đầu từ ngày đưa ra kết luận ấy, nhanh chóng trả lại số tiền gửi và giấy bảo lãnh tiền gửi đã thu nhận trong thời kỳ áp dụng biện pháp tạm thời. Nếu kết luận cuối cùng là kết luận phủ định thì phải nhanh chóng trả lại tiền gửi và giấy bảo lãnh tiền gửi.

Trong trường hợp khẩn cấp, nếu đoán định rằng, trong một thời gian ngắn, một lượng lớn sản phẩm nhập khẩu nào đó đã được trợ cấp xuất khẩu trái với Hiệp định chung, gây ra thiệt hại khó cứu chữa được, thì để tránh tiếp tục bị thiệt hại như thế và để tính truy thu thuế chống trợ cấp đối với những sản phẩm này, có thể thu bổ sung thuế chống trợ cấp đối với hãng nhập khẩu đã đưa vào thị trường tiêu thụ, không quá 90 ngày trước khi thực hiện biện pháp tạm thời.

e/ Xác định thiệt hại.

Xác định thiệt hại phải dựa vào các chứng xứ xác thực, được thẩm tra một cách khách quan về các mặt: 1) Số lượng sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp và ảnh hưởng của nó đối với giá cả sản phẩm cùng loại tại thị trường trong nước; 2) Ảnh hưởng của những sản phẩm nhập khẩu này đối với những người sản xuất sản phẩm cùng loại ở trong nước. Về số lượng sản phẩm nhập khẩu được trợ cấp, cơ quan điều tra vừa phải tính số lượng tuyệt đối, vừa phải tính toán xem so với sản xuất và tiêu thụ ở trong nước nhập khẩu, chúng có tăng lên rõ rệt hay không. Về ảnh hưởng đối với giá cả, tổ chức điều tra phải xem xét chúng có làm giá cả của sản phẩm cùng loại trong nước nhập khẩu giảm mạnh hay không.

Khi thẩm tra sự ảnh hưởng đối với công nghiệp trong nước, nước nhập khẩu phải đánh giá ảnh hưởng biểu hiện ở tất cả các nhân tố và chỉ số kinh tế như: mức giảm thực tế và tiềm tàng về sản lượng, tiêu thụ, phân bố thị trường, lợi nhuận, năng suất lao động, lợi nhuận đầu tư, sử dụng thiết bị; những ảnh hưởng đối với các nhân tố giá cả trong nước; những ảnh hưởng bất lợi thực tế và tiềm tàng đối với lưu động vốn, việc làm, tiền lương, tích lũy tư bản hoặc năng lực đầu tư. Đối với nông nghiệp thì phải tính xem việc đó có tăng thêm gánh nặng của chính phủ trong quy hoạch giúp đỡ nông nghiệp hay không.

Tóm lại là phải chứng minh được rằng hàng nhập khẩu được trợ cấp đang gây thiệt hại. Song, còn có các nhân tố khác cũng gây thiệt hại cho công nghiệp, không được đổ lên đầu hàng nhập khẩu được trợ cấp những thiệt hại do những nhân tố này gây ra.

Khi xác định thiệt hại đối với công nghiệp trong nước, thì thiệt hại đối với công nghiệp trong nước nói ở đây là chỉ tất thảy các thiệt hại đối với toàn bộ các nhà sản xấut sản phẩm cùng loại ở trong nước. Nhưng nếu người sản xuất có liên quan với hãng xuất khẩu hoặc nhập khẩu sản phẩm bán phá giá, hoặc chính họ bị coi là hãng nhập khẩu hàng bán phá giá, thì không tính họ vào cái gọi là công nghiệp trong nước ấy.

Khi có đủ tư liệu để phân loại ngành sản xuất, người sản xuất, thì mới đánh giá ảnh hưởng của hãng nhập khẩu được trợ cấp đối với sản phẩm cùng loại. Nếu không làm như thế được thì đánh giá những ảnh hưởng ấy đối với sản phẩm tương tự, rồi lấy kết quả quá đánh giá này làm kết quả đánh giá ảnh hưởng của hãng nhập khẩu được trợ cấp.

Có thể chia lãnh thổ một nước thành hai hoặc nhiều thị trường cạnh tranh, những người sản xuất trên mỗi thị trường ấy được xem là một ngành riêng, với điều kiện là: 1) Những người sản xuất tại thị trường ấy tiêu thụ tại thị trường ấy toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ sản phẩm do họ sản xuất; 2) Nhu cầu của thị trường này chủ yếu không phải do các nhà sản xuất của địa phương khác có mặt tại lãnh thổ đó thỏa mãn. Trong trường hợp như vậy, thì dẫu phần chủ yếu của toàn bộ nền công nghiệp trong nước không bị thiệt hại, nhưng nếu hàng nhập khẩu được trợ cấp tập trung tại một thị trường riêng rẽ như vậy đang gây ra thiệt hại cho toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ những người sản xuất trong thị trường này, thì có thể xác định là có gây thiệt hại.

2/ Trợ cấp.

a/ Thông báo trợ cấp.

Theo quy định trong điều khoản trợ cấp tại điều 16 của Hiệp định chung, bất kỳ nước nào ký thỏa thuận này cũng có thể gửi văn bản tới nước khác ký hiệp định này yêu cầu cung cấp tính chất và mức độ trợ cấp mà nước ấy đang thực hiện. Nước nhận được yêu cầu phải nhanh chóng cung cấp toàn bộ tình hình ấy. Nếu nước được yêu cầu không cung cấp tình hình ấy thì có thể chuyển việc này lên Ủy ban về trợ cấp và chống trợ cấp giải quyết.

b/ Trợ cấp.

Trợ cấp là biện pháp được các chính phủ các nước dùng để thúc đẩy thực hiện mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội. Nhưng nó cũng có thể gây ảnh hưởng bất lợi đối với lợi ích của các nước khác. Khi áp dụng biện pháp trợ cấp, các nước phải cố gắng tránh: 1) Làm thiệt hại cho nền công nghiệp của nước khác; 2) Triệt tiêu hoặc làm thiệt hại tới lợi ích của nước khác được trực tiếp hoặc gián tiếp hưởng theo quy định trong Hiệp định chung; 3) Làm thiệt hại lợi ích của nước khác.

Yêu cầu nước khác chứng minh lợi ích của họ bị triệt tiêu, bị giảm hoặc phương hại nghiêm trọng là yêu cầu họ chứng minh những ảnh hưởng bất lợi sau đây: 1) Ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được trợ cấp đối với thị trường trong nước của nước nhập khẩu; 2) Những ảnh hưởng của trợ cấp trong việc chèn ép hoặc gây trở ngại đối với những sản phẩm cùng loại nhập khẩu vào thị trường nước thực hiện trợ cấp; 3) Ảnh hưởng của hàng nhập khẩu được trợ cấp đối với sản phẩm xuất khẩu cùng loại của nước khác.

c/ Về trợ cấp cho sản phẩm không phải là những sản phẩm cấp thấp.

Hiệp định này quy định rõ ràng rằng, các nước ký hiệp định này không được trợ cấp cho những sản phẩm không phải là sản phẩm cấp thấp. Các biện pháp trợ cấp xuất khẩu bị cấm gồm có:

+ Trợ cấp trực tiếp của chính phủ cho những công ty hoặc xí nghiệp công nghiệp do hoàn thành nhiệm vụ xuất khẩu.

+ Cho phép giữ lại một phần ngoại tệ hoặc khen thưởng xuất khẩu.

+ Chính phủ hoặc các tổ chức được chính phủ trao quyền dành cho hàng xuất khẩu những ưu đãi về cước vận tải và các cước phí khác ở trong nước so với hàng tiêu dùng trong nước.

+ Chính phủ hoặc các tổ chức đại diện cho chính phủ dành cho sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm và dịch trong nước dùng để sản xuất hàng xuất khẩu những điều kiện ưu đãi hơn những sản phẩm cùng loại sản xuất để tiêu dùng trong nước hoặc những sản phẩm và dịch vụ trực tiếp cạnh tranh với chúng, và dành cho chúng những điều kiện ưu đãi hơn điều kiện thương mại hiện có trên thị trường thế giới.

+ Hàng xuất khẩu của các xí nghiệp công nghiệp hoặc thương nghiệp được miễn toàn bộ hoặc một phần thuế được chậm nộp thuế trực tiếp hoặc tiền phúc lợi xã hội.

+ Khi tính cơ số thuế trực tiếp cho hàng xuất khẩu được hưởng mức khấu trừ đặc biệt cao hơn so với hàng tiêu dùng trong nước.

+ Sản xuất và phân phối hàng xuất khẩu được miễn trừ thuế gián thu nhiều hơn sản xuất và phân phối hàng tiêu dùng trong nước cùng loại.

+ Cho hàng hóa, vật tư và lao động dùng để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn trừ hoặc chậm nộp thuế gián thu lũy tiến nhiều hơn so với sản phẩm cùng loại tiêu dùng trong nước.

+ Miễn trừ hoặc trả lại thuế nhập khẩu nhiều hơn thuế nhập khẩu đánh vào hàng nhập khẩu để tái xuất khẩu.

+ Chính phủ hoặc tổ chức đặc biệt do chính phủ kiểm soát bảo trợ cho vay tín dụng xuất khẩu hoặc bảo hiểm nhằm giữ cho giá thành của sản phẩm xuất khẩu không bị tăng lên, hoặc nhằm bù đắp những tổn thất do rủi ro về hối suất gây ra mà chi phí bảo hiểm không đủ sức bù đắp các chi phí kinh doanh lâu dài và những tổn thất ấy.

+ Chính phủ hoặc tổ chức đặc biệt do chính phủ kiểm soát cho hưởng chế độ lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu thấp hơn lãi suất thực tế phải trả (hoặc thấp hơn lãi suất họ vay cũng một lượng tiền như thế, cũng một kỳ hạn như thế, cũng một loại tiền như vậy, trên thị trường tư bản quốc tế), hoặc ít hơn chi phí mà họ phải chi cho hàng xuất khẩu hoặc tổ chức tài chính để có được tín dụng xuất khẩu với điều kiện có lợi.

+ Mọi chi phí trợ cấp xuất khẩu nói ở điều 16 trong Hiệp định chung.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Chống trợ cấp và chống bán phá giá – Phần I


Trong nền thương mại thế giới, buôn bán công bằng và ngay thẳng là điều kiện quan trọng thúc đẩy sự tự do hóa thương mại, góp phần quan trọng bảo đảm sự ổn định và trong sáng trong thương mại. Do vậy, tại vòng đàm phán Tokyo, các nước tham dự đã ký hai hiệp định khác có liên quan đến buôn bán công bằng là: “Hiệp định về trợ cấp và chống trợ cấp”, “Hiệp định về các biện pháp chống bán phá giá”.

I/ Thỏa thuận về trợ cấp và chống trợ cấp

Tên gọi chính thức của hiệp định về trợ cấp và chống trợ cấp là “Hiệp định về giải thích và áp dụng điều 6, điều 16 và điều 23 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại”. Hiệp định này làm rõ và phát triển các điều khoản về mặt này trong Hiệp định chung, nhằm bảo đảm không cho phép bất kỳ nước nào ký hiệp định này sử dụng biệp pháp trợ cấp để làm thiệt hại lợi ích thương mại của nước khác, dùng biện pháp chống trợ cấp để cản trở thương mại quốc tế.

1/ Điều tra chống trợ cấp và đánh thuế chống trợ cấp

a/ Trình tự điều tra trong nước.

Thuế chống trợ cấp được định nghĩa là một loại thuế nhằm triệt tiêu mọi khoản tiền thưởng hoặc trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu sản phẩm.

Chỉ sau khi phát động và đã điều tra rồi thì mới được đánh thuế chống trợ cấp. Thông thường phải lấy danh nghĩa ngành công nghiệp bị ảnh hưởng để làm văn bản yêu cầu điều tra xác định sự tồn tại, mức độ và ảnh hưởng của cái gọi là trợ cấp. Văn bản yêu cầu này phải làm rõ đầy đủ các chứng cứ về các điều nói trên: 1) Có trợ cấp, nếu điều kiện cho phép thì nói rõ số tiền trợ cấp; 2) Thiệt hại, nói rõ thiệt hại đối với ngành công nghiệp nào, hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho ngành công nghiệp nào, hoặc cản trở xây dựng ngành công nghiệp nào; 3) Quan hệ nhân quả giữa sản phẩm xuất khẩu được trợ cấp và thiệt hại. Trường hợp không có yêu cầu bằng văn bản, phải có điều kiện 1 và 3 thì nhà cầm quyền mới được phát động điều tra.

Nước nhập khẩu phải thông báo tên của tổ chức có tư cách phát động và tiến hành điều tra cũng như trình tự điều tra trong nước mình lên Ủy ban về trợ cấp và chống trợ cấp. Khi đã tin chắc rằng có đầy đủ bằng chứng có thể phát động điều tra, thì tổ chức điều tra thông báo cho nước đối phương hoặc các nước ký hiệp định này các sản phẩm, các hãng xuất khẩu có liên quan và người bị khởi tố, đồng thời ra thông báo về vụ việc này. Khi quyết định có điều tra hay không, tổ chức điều tra phải tính tới lập trường của tổ chức chi nhánh của bên nguyên cáo cư trú tại lãnh thổ nước khác.

Nước nhập khẩu phải bảo đảm khi có yêu cầu thì tổ chức điều tra của nước mình tạo điều kiện cho tất cả các nước khác và các bên có liên quan (nước ký hiệp định này hoặc bên đương sự bị ảnh hưởng về kinh tế bởi sự trợ cấp ấy) xem xét các tư liệu không bí mật có liên quan và các tư liệu tổ chức điều tra sử dụng khi điều tra, cho họ được biện hộ bằng miệng, sau đó có ý kiến bằng văn bản gửi cho tổ chức điều tra.

Tổ chức điều tra phải giữ bí mật các tài liệu và các tư liệu do các bên đương sự bí mật cung cấp cho mình. Không được sự đồng ý của người cung cấp tư liệu này thì không được công bố.

Nếu thấy cần thiết, tổ chức điều tra có thể điều tra trên lãnh thổ nước khác, nhưng phải thông  báo trước và được họ đồng ý. Nếu đủ các điều kiện trên và được các cửa hàng đồng ý, họ có thể kiểm tra tại chỗ các tài liệu được lưu giữ tại cửa hàng.

Nếu bên đương sự từ chối tiếp xúc, hoặc không cung cấp tài liệu cần thiết, hoặc cản trở điều tra thì có thể dựa trên cơ sở sự thật đã có thể để đưa ra kết luận khẳng định hoặc phủ định ở mức sơ bộ hoặc cuối cùng.

Nếu tổ chức điều tra tin chắc rằng không có trợ cấp hoặc cái gọi là ảnh hưởng của trợ cấp đối với ngành công nghiệp chưa gây ra thiệt hại thì cần ngừng điều tra ngay. Trừ trường hợp đặc biệt, còn thì thường phải kết thúc điều tra trong vòng một năm kể từ ngày phát động điều tra.

Mọi kết luận điều tra đều phải được công bố. Hủy bỏ mọi kết luận điều tra cũng phải ra thông báo. Mọi thông báo về kết luận điều tra đều phải được gửi cho nước có sản phẩm mà kết luận điều tra nói tới và các hãng xuất khẩu có liên quan.

Nước đánh thuế chống trợ cấp phải nhanh chóng báo cáo Ủy ban về trợ cấp và chống trợ cấp biện pháp bước đầu hoặc cuối cùng về đánh thuế chống trợ cấp, và cứ sáu tháng một lần phải báo cáo biện pháp đánh thuế chống trợ cấp của sáu tháng trước.

b/ Thương lượng

Sau khi yêu cầu phát động điều tra được chấp nhận, thì trước khi điều tra cần tạo điều kiện cho nước có sản phẩm bị điều tra tiến hành thương lượng để làm rõ sự thật và tìm ra biện pháp giải quyết được hai bên cùng đồng ý. Ngay trong quá trình điều tra cũng cần làm như thế. Chưa tạo cơ hội thích đáng để thương lượng thì không được đưa ra kết luận khẳng định dù là sơ bộ hay là cuối cùng.

Khi đã tạo cơ hội để thương lượng rồi, tổ chức điều tra vẫn có thể đẩy mạnh điều tra và áp dụng các biện pháp tạm thời hoặc chính thức theo quy định trong thỏa thuận này. Nước điều tra phải cho nước bị điều tra tiếp xúc với những chứng cứ không thuộc diện bí mật, kể cả những trích yếu không thuộc diện bí mật được rút ra từ những tài liệu mật dùng làm chứng cứ để phát động điều tra hoặc tiến hành điều tra.

c/ Về đánh thuế chống trợ cấp.

Việc đánh thuế chống trợ cấp do các tổ chức của nước nhập khẩu quyết định, với điều kiện là phải phù hợp với mọi yêu cầu về loại thuế này.

Thuế chống trợ cấp không được cao quá mức trợ cấp đã được điều tra rõ, phải tính theo mức trợ cấp cho mỗi đơn vị sản phẩm đã xuất khẩu.

Đánh thuế chống trợ cấp phải dựa trên cơ sở không phân biệt đối xử.

Nếu qua thương lượng mà một bên vẫn quyết định duy trì trợ cấp và trợ cấp đang gây ra thiệt hại thì có thể đánh thuế chống trợ cấp theo quy định. Nếu nước xuất khẩu đồng ý hủy bỏ hoặc hạn chế trợ chấp, hoặc áp dụng biến pháp khác cũng có tác dụng như vậy; hoặc nếu hãng xuất khẩu đồng ý sửa đổi giá xuất khẩu hàng hóa của họ và tổ chức điều tra tin chắc rằng thiệt hại do trợ cấp gây ra đã được triệt tiêu, thì nước nhập khẩu cần ngừng việc tố tụng, chấm dứt công việc điều tra thiệt hại.

Nước nhập khẩu có thể đề nghị (chứ không được ép buộc) hãng xuất khẩu thi hành bảo đảm về giá cả. Nước nhập khẩu có thể yêu cầu chính phủ nước xuất khẩu bảo đảm hoặc hãng xuất khẩu ấy cung cấp theo định kỳ các tài liệu có liên quan tới việc thực hiện sự bảo đảm đó và cho phép kiểm tra các tài liệu có liên quan khác. Nếu thấy vi phạm sự bảo đảm ấy thì nước nhập khẩu có thể lập tức hành động theo quy định.

Thuế chống trợ cấp chỉ được áp dụng trong thời hạn và phạm vi triệt tiêu thiệt hại do trợ cấp gây ra.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Giấy phép nhập khẩu và chính phủ thu mua – Phần cuối


c/ Về tờ khai đấu thầu.

Các tờ khai đấu thầu cung cấp cho các hãng cung ứng phải đủ các mục để họ có thể trả lời mọi điều cần thiết cho việc đấu thầu, gồm:

+ Địa chỉ gửi các văn bản đấu thầu.

+ Địa chỉ nhận gửi các tài liệu bổ sung.

+ Tờ khai đấu thầu và khi đấu thầu sử dụng một hoặc nhiều ngôn ngữ, là những ngôn ngữ nào.

+ Thời hạn nhận các văn bản đấu thầu.

+ Ngày giờ, địa điểm mở thầu, những người được phép có mặt khi bỏ thầu.

+ Các yêu cầu kinh tế và kỹ thuật, việc bảo đảm vốn, các tư liệu mà các hãng cung ứng phải cung cấp.

+ Các thuyết minh về sản phẩm hoặc các điều kiện phải có, gồm có yêu cầu kỹ thuật, chứng nhận sản phẩm đạt tiêu chuẩn, các bản vẽ và thuyết minh.

+ Tiêu chuẩn ký hợp đồng, gồm có: các nhân tố ngoài giá cả, tức là nhân tố cần thẩm nghị tính giá bỏ thầu; các phụ phí khi tính giá bỏ thầu, như cước vận tải, phí bảo hiểm và kiểm nghiệm, nếu là sản phẩm của nước ngoài, thì còn phải tính đến thuế và các chi phí nhập khẩu khác, loại tiền dùng để chi trả.

+ Điều kiện chi trả.

+ Các điều kiện khác.

d/ Nộp đơn bỏ thầu, chấp nhận đơn bỏ thầu, mở thầu và ký hợp đồng.

Khi nộp đơn bỏ thầu, nhận đơn bỏ thầu, mở thầu và ký hợp đồng phải tuân thủ các quy định sau:

+ Người bỏ thầu thường phải làm bằng văn bản, trực tiếp nộp hoặc chuyển qua bưu điện. Nếu cho phép bỏ thầu qua điện báo, telex, fax thì trong điện báo, telex, fax phải chứa tải toàn bộ tư liệu cần thiết cho bỏ thầu, nhất là giá bỏ thầu và mọi điều kiện, quy định mà người bỏ thầu đồng ý với thông báo gọi thầu. Hình thức bỏ thầu này phải dùng thư hoặc bản sau điện báo, telex, fax, có ký tên để làm chứng cứ.

+ Trong khoảng thời gian sau khi mở thầu tới lúc ký hợp đồng nếu thực thể gọi thầu cho người bỏ thầu cải chính những sai sót sơ ý gây ra thì không được để việc đó biến  thành phương tiện phân biệt đối xử.

+ Nếu hoàn toàn do bản thân thực thể gọi thầu xử lý không thỏa đáng khiến đơn bỏ thầu được gửi tới thì đã quá hạn, thì không được phạt hãng cung ứng. Những trường hợp này được thẩm nghị ngoại lệ.

+ Đơn bỏ thầu được gửi đến theo đúng trình tự gọi thầu thì chấp nhận và mở thầu theo trình tự mở thầu thông thường. Báo cáo mở thầu phải làm bằng văn bản gửi cho cấp trên xem xét và do thực thể gọi thầu lưu giữ.

+ Để được chấp nhận dự thầu, đơn bỏ thầu phải phù hợp với yêu cầu ghi trong thông báo gọi thầu và trong tờ khai bỏ thầu. Chỉ có các hãng cung ứng đáp ứng các điều kiện đấu thầu mới được dự thầu.

+ Khi đã tin chắc nhà thầu nào đó hoàn toàn có khả năng thực hiện hợp đồng, và so với đơn bỏ thầu của các nhà thầu khác ở trong và ngoài nước, đơn bỏ thầu của họ đạt yêu cầu ở mức tốt nhất, các tiêu chuẩn về giá cả cụ thể đều đạt điều kiện có lợi nhất, thì thực thể gọi thầu ký hợp đồng với nhà thầu ấy.

+ Nếu không có đơn bỏ thầu nào đạt điều kiện có lợi rõ ràng nhất về các tiêu chuẩn giá cả cụ thể, thì tại các cuộc đàm phán sau đó, thực thể gọi thầu phải đối xử công bằng với tất cả các nhà thầu đã tham gia cạnh tranh.

+ Nếu hãng cung ứng đưa ra điều kiện hủy bỏ hợp đồng thì các thực thể gọi thầu thường không ký hợp đồng với họ.

Không được dùng hình thức đấu thầu riêng rẽ để lẩn tránh cạnh tranh, hoặc làm phương tiện phân biệt đối xử, hoặc làm phương tiện bảo hộ người sản xuất trong nước.

3/ Các quy định khác

a/ Tư liệu và thẩm tra.

Các nước ký hiệp định này phải kịp thời công bố trên báo chí để các nước khác nắm được các luật lệ, quy tắc quyết định tư pháp và các quyết định hành chính được áp dụng rộng rãi tại nước mình có liên quan tới việc chính phủ thu mua. Khi có yêu cầu thì nước ký hiệp định này phải giải thích cho các nước khác trình tự của việc chính phủ  thu mua ở nước mình; các thực thể mua sắm phải giải thích biện pháp và trình tự mua sắm cho các hãng cung ứng.

Các thực thể gọi thầu phải kịp thời cung cấp tư liệu nói rõ vì sao không liệt hãng cung ứng nào đó vào danh sách các hãng cung ứng đạt tiêu chuẩn, hoặc vì sao không mời hoặc không cho họ dự thầu; phải kịp thời thông báo bằng văn bản cho các hãng không trúng thầu, hoặc công bố hợp đồng đã ký.

Chính phủ các hãng không trúng thầu có thể yêu cầu được cung cấp các tư liệu bổ sung cần thiết về việc ký hợp đồng.

Các nước ký hiệp định này phải thu thập và gửi tới Ủy ban về vấn đề chính phủ thu mua, tư liệu thống kê mua sắm hàng năm. Bao gồm:

+ Thống kê toàn diện về giá trị hợp đồng trên hạn ngạch và dưới hạn ngạch đã được ký kết.

+ Tư liệu thống kê theo phương pháp phân loại thương mại hoặc theo phương pháp phân loại thích đáng khác các hợp đồng có giá trị hạn ngạch mà các loại thực thể đã ký kết, trong đó gồm: mục hợp đồng, tổng giá trị hợp đồng, chủng loại sản phẩm, quốc tịch của hãng trúng thầu hoặc nước sản xuất sản phẩm.

+ thống kê số mục và tổng giá trị các hợp đồng đã ký kết.

b/ Ủy ban phụ trách vấn đề chính phủ thu mua

Mục đích thành lập ủy ban này là tạo cơ hội cho các nước ký thỏa thuận thương lượng các vấn đề có liên quan đến việc chính phủ thu mua, thi hành chức trách do các bên ký hiệp định giao phó. Cụ thể là: phụ trách việc thương lượng, giải quyết tranh chấp, thi hành các quyết định để cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ.

c/ Ngoại lệ.

Hiệp định này không áp dụng đối với việc mua bán vũ khí, đạn dược hoặc vật tư quân dụng.

Hiệp định này không ngăn cấm các nước ký hiệp định thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ đạo đức xã hội, trật tự công  cộng và an toàn xã hội, bảo vệ con người, động, thực vật, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, người tàn tật, các tổ chức từ thiện hoặc giám sát sản phẩm lao động. Nhưng không được dùng những biện pháp đó để làm phương tiện phân biệt đối xử một các tùy tiện, bất hợp lý đối với những nước có cùng điều kiện, hoặc dùng để che giấu sự hạn chế thương mại quốc tế.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Giấy phép nhập khẩu và chính phủ thu mua – Phần II


II/ Hiệp định về việc chính phủ thu mua

Hiệp định về việc chính phủ thu mua là hiệp định quốc tế, được ký kết tại vòng đàm phán Tokyo, quy định quyền lợi và nghĩa vụ trong việc áp dụng luật lệ, quy tắc và các biện pháp chính phủ thu mua. Mục đích của hiệp định này là thực hiện tự do hóa hơn nữa và mở rộng hơn nữa thương mại quốc tế, cải thiện thể chế quốc tế chỉ đạo nền thương mại thế giới.

Các nước không được đặt ra và sử dụng các luật lệ, quy tắc, trình tự và biện pháp trong việc chính phủ thu mua để bảo vệ sản phẩm và người cung ứng trong nước, phân biệt đối xử với sản phẩm hoặc người cung ứng nước ngoài. Do vậy, phải định ra trình tự quốc tế về thông báo, thương lượng, giám sát và giải quyết tranh chấp để bảo đảm thực hiện một cách ngay thẳng, kịp thời các quy định quốc tế về việc chính phủ thu mua.

1/ Phạm vi áp dụng hiệp định, đãi ngộ và yêu cầu kỹ thuật

a/ Phạm vi áp dụng hiệp định

Hiệp định về việc chính phủ thu mua được áp dụng cho: 1) Mọi luật lệ, quy tắc, trình tự và biện pháp thu mau sản phẩm của các thực thể (cơ quan hoặc tổ chức đại lý). Nếu giá trị dịch vụ của sản phẩm được cung cấp không vượt quá giá trị của bản thân sản phẩm thì phải gồm cả giá trị dịch vụ của sản phẩm, nhưng không bao gồm cả giá trị của bản thân hợp đồng dịch vụ; 2) Mọi hợp đồng thu mua có giá trị bằng hoặc hơn 150.00 quyền rút vốn đặc biệt; 3) Các trình tự và biện pháp thu mua của các thực thể do các nước ký hiệp định trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát, và các trình tự, biện pháp thu mua hiện hành của các thực thể được chỉ định thu mua.

b/ Chế độ ưu đãi chung và không phân biệt đối xử.

Khi áp dụng các luật lệ, quy tắc, trình tự và biện pháp về chính phủ thu mua, các nước ký hiệp định này đều phải dành cho sản phẩm và người cung ứng của khu hải quan trực thuộc (kể cả khu tự do) của các nước thành viên khác những ưu đãi không kém hơn: Sự ưu đãi dành cho sản phẩm và người cung ứng trong nước; ưu đãi dành cho sản phẩm và người cung ứng của bất kỳ nước thành viên nào khác, ngoài  thuế nhập khẩu và các lệ phí khác ra.

Khi nhập khẩu sản phẩm của các nước thành viên khác với mục đích chính phủ thu mua thì không áp dụng quy tắc về nơi sản xuất, vì nó khác với quy tắc về nơi sản xuất được áp dụng trong quá trình thương mại bình thường. Thỏa thuận về việc chính phủ thu mua cũng dành cho các nước đang phát triển những ưu đãi đơn phương.

c/ Yêu cầu kỹ thuật.

Khi định ra hoặc sử dụng bảng thuyết minh về yêu cầu kỹ thuật đặc trưng của sản phẩm mua vào như: chất lượng, tính năng, độ an toàn, thí nghiệm và biện pháp thí nghiệm, phù hiệu, thuật ngữ, đóng gói, nhãn hàng và nhãn hiệu…, thì những yêu cầu do thực thể thu mua đặt ra, không được cố ý dựng vật cản cho thương mại quốc tế, cũng không được dựng vật cản này trong thực tế.

Những yêu cầu kỹ thuật do bên mua đặt ra phải là yêu cầu về tính năng chứ không phải là yêu cầu về thiết kế, đồng thời phải căn cứ vào tiêu chuẩn quốc tế, quy phạm kỹ thuật quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc gia đã được thừa nhận. Thường không nên đưa ra các yêu cầu về nhãn hàng, tên gọi, bản quyền phát minh, thiết kế, kiểu dáng, nơi hoặc người sản xuất cụ thể.

2/ Trình tự đấu thầu

Các nước ký hiệp định phải bảo đảm trình tự đấu thầu của các thực thể trực thuộc phù hợp với quy định. Đấu thầu công khai thì phải cho tất cả các hãng cung ứng có nguyện vọng đều tham gia. Đấu thầu có lựa chọn thì chỉ để các hãng cung ứng được mời tham gia. Đấu thầu riêng rẽ thì thực thể đi mua làm việc riêng với từng hãng cung ứng.

a/ Về tư cách của hãng cung ứng.

Khi thẩm tra tư cách các hãng cung ứng, không được phân biệt đối xử giữa các hãng cung ứng. Trình tự thẩm tra tư cách các hãng cung ứng phải phù hợp với các quy định sau:

+ Sớm công bố các điều kiện tham gia đấu thầu.

+ Khi kiểm tra tư cách của các hãng cung ứng tham gia đấu thầu, ngoài việc kiểm tra tài liệu chứng minh tư cách ra, còn phải kiểm tra các tài liệu về bảo đảm vốn, về trình độ kỹ thuật, khả năng về vốn, về thương mại.

+ Không được dùng quá trình kiểm tra và thời gian kiểm tra để cản trở hãng cung ứng nước ngoài lọt vào danh sách tham gia đấu thầu, hoặc lọt vào danh sách các hãng cung ứng được tuyển chọn để cung ứng cho một mục mua sắm cụ thể nào đó.

+ Nhanh chóng lên danh sách các hãng cung ứng đủ tư cách.

+ Thông báo cho các hãng cung ứng nộp đơn xin tham gia đấu thầu biết họ có được tham gia đấu thầu hay không.

+ Các thực thể có thể từ chối không cho các hãng phá sản, hoặc xin đấu thầu giả vờ, tham gia đấu thầu

b/ Thông báo mua sắm

Các thực thể phải thông báo trên báo chí các dự định mua sắm. Thông báo này phải gồm các nội dung sau:

+ Sản phẩm cần mua hoặc tính chất và số lượng sản phẩm định mua.

+ Đấu thầu công khai hay đấu thầu lựa chọn.

+ Thời hạn giao hàng.

+ Việc thẩm tra tư cách các hãng cung ứng được mời tham gia đấu thầu hoặc xin tham gia đấu thầu; địa chỉ và thời hạn nhận đơn, một hay nhiều loại ngôn ngữ được sử dụng khi đấu thầu.

+ Nơi ký hợp đồng và lấy bản thuyết minh cũng như các tờ khai xin giấy chứng nhận khác.

+ Các yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật, việc bảo đảm về vốn và tư liệu mà các hãng cung ứng phải cung cấp.

+ Tiền và điều kiện ký quỹ.

Nếu đấu thầu có lựa chọn thì hằng năm thực thể có trong tay danh sách cố định các hãng cung ứng đủ tư cách phải đăng tải trên báo chí các thông báo sau: 1) Các mục trong danh sách trên, gồm tên gọi mục mua sắm, sản phẩm hoặc loại sản phẩm định mua theo danh sách ấy; 2) Các điều kiện, các hãng cung ứng cần phải có để được đưa vào danh sách, phương pháp thẩm tra các điều kiện ấy; 3) Thời hạn có hiệu lực của bản danh sách và thủ tục gia hạn.

Các thực thể có thể lựa chọn các hãng cung ứng có tên trong danh sách ấy để mời họ tham gia đấu thầu.

Trước khi mở thầu hoặc trước lúc hết hạn nhận đơn dự thầu, nếu cần sửa đổi hoặc công bố lại thông báo mua sắm thì thông báo sửa đổi phải được công bố và phát hành trong phạm vi như lần trước.

Việc xác định thời hạn phải hợp lý, sao cho các hãng cung ứng có đủ thời gian chuẩn bị tham gia bỏ thầu, phải tính tới các nhân tố: tính chất phức tạp của công việc mua sắm, phạm vi các phân nhánh hợp đồng đã dự kiến, thời gian bưu điện chuyển các văn bản đấu thầu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Giấy phép nhập khẩu và chính phủ thu mua – Phần I


I/ Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu

Các nước ký hiệp định này cho rằng việc áp dụng không thỏa đáng thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu sẽ cản trở thương mại quốc tế phát triển. Do đó, họ muốn đơn giản hóa thủ tục quản lý trong thương mại quốc tế, bảo đảm sử dụng một cách trong sáng, công bằng, hợp lý những thủ tục ấy.

1/ Nguyên tắc chung

Quy tắc về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu phải thể hiện trong thực tế là công bằng, hợp lý, không phân biệt đối xử.

Chính phủ các nước phải nhanh chóng công bố quy tắc và các tư liệu có liên quan về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu để các chính phủ và các hãng, các công ty của các nước biết. Mọi thay đổi về quy tắc và các tư liệu có liên quan về thủ tục ấy cũng phải được công bố một cách nhanh chóng và gửi bằng văn bản về Ban thư ký Hiệp định chung.

Các mẫu đơn xin phép và đơn xin gia hạn phải được đơn giản hóa, thủ tục xin cấp giấy phép và xin gia hạn cũng phải giản đơn hóa.

Không được từ chối những đơn xin nhập khẩu mà các điều kiện cơ bản trên chứng từ không bị sửa chữa, chỉ có sai sót nhỏ. Không xử phạt nặng hơn mức cảnh cáo đối với những chứng từ rõ ràng là không có ý lừa đảo hoặc không có sai sót nặng, hoặc có sai sót về thủ tục.

Không từ chối nhập khẩu đối với những hàng hóa do vận chuyển, bốc xếp mà có sai sót nhỏ ở mức độ cho phép, khiến giá trị, số lượng và trọng lượng hàng có sai lệch nhỏ so với ghi trong giấy phép.

Người xin giấy phép nhập khẩu hàng được đổi ngoại hối chỉ dùng vào việc xin phép nhập khẩu trên cùng một cơ sở giống như các hãng nhập khẩu không phải xin giấy phép nhập khẩu.

Các quy định trong hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu nghiêm cấm bất kỳ nước nào ký hiệp định này tiết lộ các tư liệu mật gây cản trở thi hành luật pháp, hoặc trái với lợi ích của chính phủ, hoặc phương hại tới lợi ích thương nghiệp hợp pháp của các xí nghiệp nhà nước hoặc tư nhân nào đó.

2/ Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu tự nguyện

Giấy phép nhập khẩu tự nguyện là giấy phép nhập khẩu được miễn phí cấp phép. Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu tự nguyện phải tuân theo các quy định về nguyên tắc chung, ngoài ra, còn phải phù hợp với các quy định sau:

a/ Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu tự nguyện không được gây trở ngại có tính chất hạn chế đối với những hàng hóa nhập khẩu theo giấy phép nhập khẩu tự nguyện.

b/ Khi chưa có thủ tục khác thích hợp thì cần áp dụng thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu tự nguyện. Khi có điều kiện áp dụng giấy phép nhập khẩu tự nguyện hoặc khi chưa có biện pháp thích hợp hơn để đạt mục tiêu quản lý thực tế, thì có thể sử dụng giấy phép nhập khẩu tự nguyện.

c/ Bất kỳ cá nhân, các hãng hoặc tổ chức nào làm nghiệp vụ nhập khẩu những sản phẩm nhập khẩu theo giấy phép nhập khẩu tự nguyện, đã chấp hành luật nhập khẩu, đều có tư cách xin và được cấp giấy phép nhập khẩu.

d/ Trước khi mở cửa hải quan cho hàng hóa đi qua, có thể nộp đơn xin giấy phép nhập  khẩu vào bất kỳ ngày làm việc nào.

e/ Nếu thủ tục giấy phép nhập khẩu được làm đầy đủ và với phạm vi quản lý cho phép thì sau 10 ngày làm việc, kể từ sau ngày nhận được đơn, giấy phép phải được duyệt.

3/ Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu không tự nguyện

Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu không tự nguyện phải tuân thủ các quy định tại nguyên tắc chung, ngoài ra còn phải phù hợp với các quy định sau:

a/ Do cấp giấy phép là để quản lý hạn ngạch với các hạn chế nhập khẩu khác, cho nên, ngoài những hạn chế chứa đựng trong bản thân việc cấp giấy phép này, thủ tục cấp giấy phép không được tạo ra các hạn chế khác đối với nhập khẩu.

b/ Khi có bất kỳ nước nào ký hiệp định này có quan hệ lợi ích trong việc xuất nhập khẩu hàng hóa xin phép nhập khẩu ấy đề nghị, thì nước nhập khẩu phải cung cấp cho họ các tài liệu: về quản lý các biện pháp hạn chế; thời hạn ngắn nhất trong việc cấp giấy phép nhập khẩu; tình hình phân phối giấy phép nhập khẩu loại này cho các nước xuất khẩu; thống kê (theo giá trị hoặc số lượng) sản phẩm nhập khẩu theo giấy phép nhập khẩu.

c/ Khi quản lý hạn ngạch bằng phương thức cấp giấy phép nhập khẩu, thì các nước phải công bố số lượng hoặc tổng giá trị hạn ngạch, thời hạn hạn ngạch và mọi sự thay đổi khác; thông báo cho các nước xuất khẩu biết số lượng hoặc giá trị hàng hóa trong hạn ngạch phân phối cho họ và bố cáo công khai.

d/ Nếu trong giấy phép có ghi rõ thời hạn thì phải nhanh chóng công bố thời hạn đó. Các cá nhân, các hãng và tổ chức đã chấp hành luật pháp của các nước nhập khẩu đều có tư cách xin và được cấp giấy phép nhập khẩu. Nếu đơn xin phép không được duyệt thì phải thông báo nguyên nhân cho người nộp đơn. Người nộp đơn không được phê duyệt có quyền căn cứ vào luật pháp nước mình để khiếu nại hoặc yêu cầu thẩm tra.

e/ Thời hạn xét duyệt đơn phải hết sức ngắn. Thời hạn có hiệu lực của giấy phép phải hợp lý, không nên ngắn tới mức ảnh hưởng tới nhập khẩu, không gây trở ngại cho hàng hóa được khẩu từ xa.

g/ Khi áp dụng phương thức phân phối hạn ngạch thì không được cản trở việc nhập khẩu theo giấy phép nhập khẩu, và không được cản trở việc sử dụng hết hạn ngạch. Đối với hạn ngạch không được thực hiện thông qua các giấy phép được phân phối cho các nước xuất khẩu, người có giấy phép (người được cấp hạn ngạch) được tự do lựa họn nguồn nhập khẩu. Nếu là hạn ngạch được phân phối cho các nước xuất khẩu thì phải ghi rõ tên nước xuất khẩu trên giấy phép nhập khẩu.

h/ Khi cấp giấy phép nhập khẩu phải tính tới khả năng kinh tế cho phép nhập khẩu. Khi phân phối giấy phép nhập khẩu, cần phải tính tới số lượng hoặc giá trị hàng thực sự đã nhập khẩu trước đó của người xin phép nhập khẩu, cân nhắc xem liệu người được cấp giấy phép nhập khẩu có thể sử dụng được triệt để giấy phép nhập khẩu hay không. Cần phải tính toán phân phối giấy phép nhập khẩu mới một cách hợp lý.

Để thực hiện tốt hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu, một ủy ban về giấy phép nhập khẩu, gồm đại biểu các nước ký hiệp định, đã được thành lập. Ủy ban này tạo cơ hội thương lượng để thúc đẩy việc thực hiện hiệp định, và khi cần thiết thì cứ hai năm kiểm tra một lần tình hình thực hiện hiệp định này, rồi thông báo cho các nước ký hiệp định.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.