NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần cuối


Kết quả chắc chắn sẽ mang đến nhiều xáo trộn mới về kinh tế và lao động ở Mexico, và nếu kết hợp với một tổng thống Mexico mới vốn đã chỉ trích Mỹ, thì quan hệ song phương có khả năng sẽ gặp nhiều rắc rối hơn bất kỳ thời điểm nào trong những thập kỷ gần đây. Nó sẽ đi ngược lại bố cảnh gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn, vốn từ lâu đã được Mỹ coi là một điều kiện gần như vĩnh cửu. Trong bối cảnh đó, bất kỳ sự thay đổi nào về tình trạng biên giới đó cũng được xem như là một mục tiêu cơ hội rất hấp dẫn cho các đối thủ của Mỹ, trong đó có Tổng thống Nga Vladimir Putin. Đúng như ông đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô như là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, ông chắc chắn coi một vùng biên giới phía Nam của Mỹ bất ngờ rơi vào tình trạng hỗn loạn như là một món quà bất ngờ đối với Moskva. Lý do cốt lõi xuất phát từ hiểu biết của ban lãnh đạo Nga rằng trong mối quan hệ cạnh tranh của họ với Mỹ, Nga không thể đọ được với Mỹ trong bất kỹ lĩnh vực nào khác ngoài quân sự. Kết quả là một nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại Nga, như trong thời đại Xô viết, là thu hẹp và giảm đến mức thấp nhất mọi biểu hiện cho thấy sức mạnh và tầm ảnh hưởng của Mỹ – nhằm “hạ thấp tầm quan trọng của Mỹ”.

Trong những năm trước, mục tiêu đó được phản ánh trong các nỗ lực của Liên Xô nhằm mục đích nhấn mạnh và lợi dụng những khuyết điểm và nỗi đau trong xã hội và nền chính trị Mỹ, nổi bật nhất là bằng việc nhấn mạnh các điều luật Jim Crow (gồm các quy định hà khắc đối với người da đen – ND) và hoàn cảnh khó khăn của người Mỹ da đen. Trong hoàn cảnh đã thay đổi và khác biệt hiện nay, Moskva chú trọng vào việc làm suy yếu sự ủng hộ của người dân Mỹ đối với hệ thống chính trị của nước này, chẳng hạn như thúc đẩy quan điểm cho rằng các cuộc bầu cử của Mỹ là “gian lận”. Yếu tố phổ biến và trung tâm trong cách tiếp cận này là để Nga khẳng định sự tương đương về mặt đạo đức với Mỹ, cụ thể là đưa ra ý kiến cho các rằng các giá trị và thông lệ của Mỹ và phương Tây không tốt đẹp hơn các giá trị và thông lệ của Nga. Với những người Nga vốn có giao thiệp với phương Tây thì đ1o là một chiến thuật phổ biến, như John F. Kennedy đã hoang mang khi nhận thấy trong cuộc gặp đầu tiên của ông với Khrushev. Chính Putin cũng đã thể hiện một cách chính xác phương pháp này vào năm 2013 khi được một phóng viên Anh hỏi về cảm nhận của mình về Stalin và những tội ác của ông ta. Như Nikita Petrov gần đây đã viết trên tờ Foreign Affairs, “Putin đáp lại: ‘Cromwell thì có gì tốt đẹp hơn?’”.

Cách đối đáp đầy kinh nghiệm đó phản ánh một sự hiểu biết rõ về lịch sử của Mỹ và phương Tây, điều hữu ích hơn hẳn các chiến thuật tranh luận của Nga. Nó phản ánh nhận thức rằng trong bối cảnh mối quan hệ Mỹ – Mexico vốn đã bị tổn hại bởi các vấn đề thương mại và biên giới, sự sụp đổ của NAFTA sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu mà một lần nữa sẽ dễ bị lợi dụng. Tính dễ bị tổn thương mới có này sẽ đại diện cho một sự thay đổi về tình trạng: từ một vùng biên giới phía Nam trước đó vốn yên ổn trong nhiều thập kỷ thành một khu vực mà sẽ đòi hỏi tối thiểu một sự chuyển hướng và tái phân phối các nguồn lực an ninh quốc gia của Mỹ, và nhiều hơn thế nếu các mối quan hệ trở nên tồi tệ thêm.

Dĩ nhiên, khu vực biên giới phía Bắc của Mỹ với Canada chưa bị hỗn loạn ở mức độ gần như tương tự với khu vực phía Nam, và có một lịch sử rất khác và thuận lợi hơn. Nhưng vấn đề NAFTA thật sự đã khiến cho mối quan hệ Mỹ – Canada bị xáo trộn hơn bao giờ hết trong những năm gần đây, và trong một trường hợp gần đây, Canada đã lựa chọn một chính sách chủ yếu được biện minh bởi sự cần thiết phải tránh làm cho mối quan hệ với Washington trở nên tồi tệ thêm nữa. Điều đó xảy ra vào tháng 12/2017, khi nhiều người biết rằng Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bỏ phiếu với kết quả 128 phiếu thuận và 9 phiếu chống nhằm chỉ trích quyết định của Washington công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Điều rất bất ngờ là Canada không gia nhập đa số gồm 128 nước – bao gồm hầu hết các đồng minh của Mỹ trong Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) – đã bỏ phiếu chống lại Mỹ. Thay vào đó, Canada đã bỏ phiếu trắng, và lời giải thích được đưa ra công khai là với những mối quan hệ vốn đã quá căng thẳng do vấn đề NAFTA, Thủ tướng Trudeau muốn né tránh bất kỳ điều gì mà sẽ làm cho Tổng thống Trump thất vọng hơn nữa. Ngay dù vậy, Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland dường như bị thuyết phục rằng các cuộc đàm phán NAFTA hiện nay sẽ thất bại, và Trump sẽ rút khỏi thỏa thuận này. Khi đó, Canada sẽ đẩy nhanh các bước để mở rộng các thị trường xuất khẩu của họ vượt ra ngoài Mỹ, nới lỏng các mối quan hệ mà trong 1/4 thế kỷ qua đã trở nên thân thiết hơn bao giờ hết.

Ít nhất có 1 vấn đề khác có tiềm năng làm cho mối quan hệ Mỹ – Canada trở nên tồi tệ thêm và do đó được coi là một mục tiêu cơ hội có lợi cho đối thủ của Mỹ. Nó xuất phát từ sự kết hợp giữa chế độ liên bang đôi khi hỗn loạn của Canada và lịch sử phong trào độc lập Quebec của nước này. Đây là một chủ đề đặc biệt có liên quan trong kỷ nguyên của chủ nghĩa ly khai mang màu sắc dân túy và chủ nghĩa dân tộc được khôi phục hiện nay, thường bắt nguồn từ những sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa (như ở Quebec). Vấn đề này bắt đầu được chú ý vào cuối những năm 1960, khi Quebec ngày càng trở thành nơi diễn ra phong trào ly khai sôi động. Khi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đến thăm Montreal vào năm 1967 và được nhiều người biết đến là đã hô to “Quebec tự do muôn năm”, đám đông đã reo hò tán thành và phong trào độc lập của Quebec được phục hưng. Tuy nhiên, phản ứng của Chính phủ Canada là ngay lập tức phủ nhận, vì một Quebec độc lập, tỉnh lớn nhất Canada về diện tích và đứng thứ hai về dân số, làm dấy lên nỗi ám ảnh về một đất nước bị chia rẽ hoàn toàn. Không ngạc nhiên, chuyến thăm của De Gaulle đã nhanh chóng bị rút ngắn và quan hệ với Pháp đã bị tổn hại trong một vài năm.

Hiện nay, phong trào ly khai của Quebec đã yên ắng, nhưng tro tàn của nó thì chưa biến mất; như gần đây đối với Chính quyền Clinton vào giữa những năm 1990, chúng là nguyên nhân dẫn đến những quan ngại về chính sách đối ngoại của Mỹ. Như trong trường hợp biên giới của Mỹ với Mexico, và trong bối cảnh quan hệ căng thẳng hiện nay của Canada với Mỹ liên quan đến NAFTA, những ký ức đó là một điểm yếu tiềm tàng trong chính sách đối ngoại của Mỹ mà dễ bị lợi dụng. Nếu điều đó dường như không có khả năng xảy ra, thì hãy nhắc lại việc Nga gần đây đã – và trong một số trường hợp là đang – tiến hành đưa thông tin sai lệch và các hoạt động có liên quan đến tình hình nội chính của Pháp, Anh và Đức, mà không đề cập đến Phần Lan, Estonia, Gruzia và Ukraine. Những hành động đó của Nga là đề tài của một báo cáo của Ủy ban đối ngoại Thượng viện dài 200 trang vừa được công bố, có tựa đề “Cuộc tấn công bất cân xứng của Putin vào nền dân chủ ở Nga và châu Âu”.

19 quốc gia mà báo cáo này bao trùm không mở rộng sang bán cầu Tây, nhưng nếu các hành động chính thức của Mỹ khiến NAFTA sụp đổ, như nhiều người lo sợ, thì các tàn tích đau thương ở những vùng biên giới phía Nam và phía Bắc của Mỹ hiện đang âm ỉ sẽ lại bùng cháy do các phương pháp tương tự của Nga. Gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn vốn được coi là điều đương nhiên sẽ trở thành các vùng biên giới một lần nữa dễ có khả năng phải chịu sự phá hoại khéo léo của một đối thủ được chứng minh là có năng lực và cam kết làm suy yếu Mỹ. Hậu quả đối với an ninh quốc gia đó hoàn toàn chưa tính đến những tổn thất lớn về kinh tế mà nó sẽ đem lại cho người nông dân và người lao động trong ngành công nghiệp ô tô của Mỹ, cũng như thiệt hại nó có thể mang đến cho chính đảng của tổng thống. Từ quan điểm hoàn toàn mang tính phe phái đó, như Karl Rove gần đây đã viết, “việc hủy bỏ NAFTA sẽ gây tổn hại cho các thành viên đảng Cộng hòa ở các bang nông nghiệp, sản xuất ô tô và gần biên giới… Ngài Tổng thống, điều này là không đáng”.

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

Advertisements

NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần đầu


Bernard K. Gordon

Sự sụp đổ của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu một lần nữa dễ bị khai thác.

Tháng 4/2005, Vladimir Putin được nhiều người biết đến là mô tả sự tan rã của Liên Xô vừ là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, vừa là một “bi kịch” đối với Nga. Đối với người Mỹ trong thế kỷ này, một thảm họa có quy mô thậm chí còn lớn hơn đang hình thành: sự chấm dứt vị thế độc tôn của Mỹ là nước lớn duy nhất có biên giới yên ổn. Không một nước lớn nào khác ở bất kỳ đâu được hưởng hay đã được hưởng sự xa xỉ đó. Ở châu Âu, Pháp, Đức, Nga, Anh và các nước khác đều đã phải sống chung với các nước thù địch ở biên giới của họ, đôi khi nổ ra xung đột công khai. Điều tương tự đang diễn ra ở Nam Á hiện nay, nơi người ta biết rõ về thái độ thù địch lẫn nhau giữa Ấn Độ và Pakistan, thêm vào đó là sự kình địch ngày càng gia tăng của Ấn Độ với nước láng giềng Trung Quốc. Và điều đó đương nhiên cũng diễn ra ở Đông Á, nơi sự thù địch lâu dài và sâu sắc giữa Trung Quốc và Nhật Bản chỉ là một trong nhiều ví dụ về những khu vực biên giới đáng lo ngại mà hai nước này phải đối mặt. Đối với Nhật Bản, biên giới phía Bắc với Nga từ lâu đã là một vấn đề gây bất đồng hiện vẫn tiếp diễn, và Trung Quốc có hơn một chục khu vực biên giới, bao gồm một vài nơi mà trong những năm gần đây đã dẫn tới xung đột vũ trang.

Trải nghiệm của Mỹ thì hoàn toàn khác biệt. Nằm ở trung tâm lục địa Bắc Mỹ, vớ đại dương ở cả hai phía, Mỹ đã truyền đi một hình ảnh cũng như một thực tế rất đáng thèm muốn. Với một Canada dân cư thưa thớt ở phía Bắc và một nền kinh tế Mexico thường phải vật lộn ở phía Nam, sự kết hợp giữa diện tích rộng bằng cả lục địa, dân số lớn và một nền kinh tế sôi động của Mỹ đồng nghĩa với việc hầu như không có mối lo ngại nào ở những vùng biên giới. Điều này đã làm gia tăng đáng kể sức mạnh địa chính trị của nước này, và trong ngữ cảnh là bài viết về “cường quốc đang trỗi dậy”, so sánh cường quốc lâu đời là Mỹ với cường quốc đang trỗi dậy là Trung Quốc, Joseph Nye thuộc Đại học Harvard gần đây đã viết rằng vị trí địa lý có lợi cho Mỹ vì nước này có các nước láng giềng “có khả năng vẫn thân thiện”.

Nhưng giờ đây tình thế đã thay đổi. Khả năng NAFTA sụp đổ đã làm thay đổi tình trạng biên giới yên ổn lâu dài đó. Không có thay đổi đột ngột nào sắp diễn ra, nhưng đồng thời, điều mà Mỹ từ lâu đã coi là đương nhiên không còn có thể được thừa nhận một cách chắc chắn như trước nữa. Lý do là quan hệ của cả Mexico lẫn Canada với Mỹ đã trở nên rất bất ổn, đáng chú ý là vì một lập trường mới và chính thức của Mỹ về thương mại đối với cả 2 nước láng giềng này. Theo quan điểm mới này, cả Mexcio lẫn Canada hầu như đều không có ảnh hưởng đòn bẩy trong thương lượng và Washington về cơ bản có thể định hình mối quan hệ. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross là rõ nhất về điều này. Vào tháng 12/2017, ông nói rằng sự sụp đổ của NAFTA sẽ “gây tổn hại đến nền kinh tế Mexico” và là một “vấn đề lớn đối với Canada”. Điều đó là đúng: Cả 2 nước này đều phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ nhiều hơn là theo chiều ngược lại, điều đã khiến Ross dự đoán rằng 2 nước sẽ “bắt đầu suy nghĩ thấu đáo và đưa ra một thỏa thuận hợp lý”.

Tình hình khó mà được như vậy. 5 vòng đàm phán NAFTA trong năm 2017 phản ánh cả một thực tế thương mại khác biệt lẫn một môi trường chính trị đã thay đổi. Về các vấn đề thương mại, Canada và Mexico đã nhanh chóng hành động để mở rộng các mối quan hệ của họ vượt ra ngoài Mỹ, cụ thể là tới châu Âu và Trung Quốc, nhưng hậu quả rõ ràng nhất là ở thực tế chính trị đã thay đổi rõ rệt của Mexico. Mexico sẽ tổ chức tổng tuyển cử và bầu cử tổng thống vào tháng 7/2018, và, lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ, một ứng cử viên bài Mỹ công khai là ông López Obrador có khả năng chiến thắng. Là cựu Thị trưởng Mexico City, ông từng ra ứng cử 2 lần và thua với kết quả rất suýt soát trong lần thứ 2. López Obrador nổi tiếng là một nhà cải cách chống tham nhũng cũng như một người chỉ trích mạnh mẽ nước Mỹ, và các cuộc thăm dò gần đây cho thấy ông dẫn trước các đối thủ của mình từ 5% – 20%.

Nhiều điểm yếu của ban lãnh đạo hiện tại của Mexico đã giúp ông trở thành ứng cử viên, nhưng có 2 thành tố chính liên quan đến Mỹ giải thích cho sự vươn lên vững chắc của ông. Một mặt là lập trường cứng rắn của Đại diện thương mại Mỹ Lighthizer và Bộ trưởng Thương mại Mỹ Ross trong các cuộc đàm phán NAFTA; mặt khác là những sự chỉ trích gay gắt đối với Mexico và người dân Mexico thường được bày tỏ trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Donald Trump. Việc ông mô tả người Mexico là những kẻ cưỡng hiếp và buôn bán ma túy đã làm sống lại tư tưởng bài Mỹ vốn âm ỉ nhưng đã có từ lâu ở Mexico. Tư tưởng đó đã giảm bớt trong những năm kể từ khi có NAFTA, và những sự cải thiện mà nó đã giúp mang lại cho nền kinh tế Mexico, nhưng tư tưởng đó vốn ăn sâu bám rễ và bắt nguồn từ thất bại của Mexico trong cuộc chiến tranh 1847 – 1848 với Mỹ. Cuộc chiến đó đã khiến Mexico phải nhượng cho Mỹ một nửa lãnh thổ của mình, một vùng rộng lớn mà giờ đây là Utah, Nevada và California, toàn bộ New Mexico và nhiều vùng ở Arizona, Colorado và Wyoming. Những ký ức về thất bại đó khó có thể mất đi, như Hạ nghị sĩ bang Texas Henry Cuellar gần đây đã nhắc lại trước cử tọa ở Washington, và trong khi hầu như không có người Mỹ nào nhớ được nhiều đều về James K. Polk, tổng thống Mỹ khi đó, thì chỉ có Donald Trump mới cạnh tranh được với Polk về mức độ bị phản đối ở Mexico hiện nay.

Đó là điều đặc biệt không may vì khả năng chiến thắng của López Obrador vào tháng 7 cần được nhìn nhận trong bối cảnh ảnh hưởng của việc NAFTA sụp đổ đối với chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Mỹ – ngoài thiệt hại mà nó gây ra cho nền kinh tế Mỹ. Đó không phải là trọng tâm chính ở đây, nhưng có một vài con số đang gợi lại. Chỉ trong ngành nông nghiệp, Canada và Mexico đã chiếm 1/3 giá trị nông sản xuất khẩu của Mỹ (18 tỷ USD sang Mexcio và 23 tỷ USD sang Canada), và các nhà lãnh đạo ngành ô tô Mỹ thường xuyên cảnh báo rằng sự sụp đổ của NAFTA sẽ làm mất đi công ăn việc làm được tạo ra nhờ các chuỗi cung ứng mà họ đã xây dựng giữa 3 nước thành viên NAFTA này. Các quan chức Canada cho biết rằng thêm 9 triệu việc làm của Mỹ phụ thuộc vào thương mại và đầu tư ở Canada, và rằng hơn 2/3 số tiểu bang của Mỹ coi Canada là thị trường hàng đầu của họ. Tháng 1/2018, các nhà lãnh đạo ngành nông nghiệp, chế tạo và kinh doanh của Mỹ (bao gồm cả một số người đến từ Canada và các tiểu bang của Mỹ chịu ảnh hưởng nặng nề) đã trực tiếp đưa phần lớn những bằng chứng này ra để cá nhân tổng thống xem xét. Kết quả là có một số dấu hiệu cho thấy ông đã làm dịu bớt cam kết chấm dứt NAFTA của mình, nhưng cũng có các báo cáo cho rằng ông đơn giản có thể trì hoãn việc rút khỏi NAFTA cho tới sau các cuộc bầu cử vào tháng 7 của Mexico. Điều không thay đổi là các tuyên bố công khai đã có từ lâu của một số người trong chính quyền của ông rằng việc chấm dứt NAFTA không chỉ là chấp nhận được mà còn là đáng mong muốn, điều đã khiến các nhân vật trong giới ngân hàng và tài chính ở cả Canada và Mexico kết luận rằng các quan điểm của chính tổng thống là không thay đổi, và rằng phải chấp nhận sự sụp đổ của NAFTA.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

Điều gì khiến Tổng thống Trump cân nhắc quay trở lại TPP?


Mới đây, khi tham gia Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos (Thụy Sĩ), Tổng thống Mỹ Donald Trump một lần nữa tuyên truyền chủ trương chính sách thương mại “Nước Mỹ trước tiên”, cho biết Mỹ mong muốn thông qua đàm phán hiệp định thương mại song phương cùng có lợi để thúc đẩy chính sách thương mại của mình, đối tác đàm phán có thể là bất kỳ nước nào, kể cả các nước vốn là thành viên HIệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đồng thời đề xuất Mỹ có thể cân nhắc trở lại TPP dưới tiền đề được đáp ứng điều kiện nhất định. Ông cho rằng TPP vốn có không phải là một hiệp định đúng đắn, chỉ sau khi nó có những “cải thiện mang tính thực chất” có lợi cho Mỹ thì nước này mới có thể cân nhắc tiến hành đàm phán TPP. Mặc dù hiện nay Donald Trump vẫn giữ thái độ thận trọng đối với việc đàm phán lại TPP, nhưng đây là lần đầu tiên ông để ngỏ khả năng Mỹ có thể đàm phán lại TPP sau khi tuyên bố rút khỏi TPP ngay khi mới lên nắm quyền.

Chủ trương chính sách thương mại của Trump là “Nước Mỹ trước tiên”, mục tiêu chủ yếu là thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ, chấn hưng ngành sản xuất, củng cố thành quả việc làm. Donald Trump áp dụng phương thức kết hợp giữa phá bỏ cái cũ và lập nên cái mới để thúc đẩy mục tiêu chính sách thương mại của mình; ở trong nước thì thông qua cải cách, tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng để giải phóng sức sống của doanh nghiệp, thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào Mỹ, đối với bên ngoài thì nỗ lực xây dựng lại hệ thống thương mại, thực hiện thương mại bình đẳng. Chính sách thương mại trong năm cầm quyền đầu tiên của Donald Trump phần nhiều được thể hiện qua việc phá vỡ cơ chế thương mại hiện đang “gây bất lợi cho Mỹ”, cho thấy rõ xu thế bảo thủ, trong đó có việc rút khỏi TPP, đàm phán lại các hiệp định thương mại như Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), thực thi Luật thương mại để tăng cường thẩm tra vốn nước ngoài đổ vào Mỹ, khởi động điều tra theo “điều khoản 301” đối với Trung Quốc về tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ, phát động điều tra 79 vụ việc mới về chống bán phá giá và chống trợ cấp… Một loạt biện pháp về chính sách thương mại của Trump đã từng bước củng cố nét đặc sắc chống toàn cầu hóa của Mỹ, hành động cứng rắn này tuy đã giành được lợi ích nhất định cho Mỹ, nhưng trước sự phản ứng không tích cực của cộng đồng quốc tế, Mỹ phải đối mặt với sức ép dư luận gia tăng, không gian quốc tế có thể thương lượng bị thu hẹp, xu thế Mỹ bị cô lập tăng lên.

Donald Trump đề xuất cân nhắc trở lại TPP kèm theo điều kiện là dựa trên những toan tính sau:

1/ Thay đổi hình ảnh quốc gia

Bên cạnh việc công kích cơ chế thương mại hiện nay, Mỹ từng bước thúc đẩy hệ thống thương mại mới dựa trên lợi ích của mình, thay đổi khuynh hướng chủ nghĩa bảo thủ thời kỳ đầu. Trong bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Davos, Donald Trump đã đưa ra một số quan điểm mới của Mỹ đối với toàn cầu hóa, ông chỉ ra rằng “Nước Mỹ trước tiên” không phải là một nước Mỹ cô lập, có thể quay trở lại TPP kèm theo điều kiện. Donald Trump nhận thức đầy đủ ý nghĩa quan trọng của một thế giới mở đối với việc củng cố thành quả tăng trưởng kinh tế và nâng cao việc làm mà ông giành được trong năm đầu cầm quyền, thúc đẩy nước Mỹ phồn vinh và phát triển lâu dài. Hiện nay, các nền kinh tế khác trên thế giới, đặc biệt là kinh tế Trung Quốc phát triển vững chắc, tốc độ theo kịp Mỹ khiến nhiều người hết sức ngạc nhiên. Sự so sánh lực lượng giữa Trung Quốc và Mỹ tiếp tục thay đổi, thực lực tổng hợp của Mỹ bước vào giai đoạn ổn định đỉnh cao. Việc lôi kéo đầu tư nước ngoài và khai thác thị trường quốc tế có vai trò không thể thiếu đối với việc thúc đẩy nước Mỹ phát triển. Bài phát biểu của Donald Trump tại Davos đã nhấn mạnh một cách trọng điểm chính sách thuế thông thoáng mà Mỹ đang xây dựng, xóa bỏ cơ chế quản lý giám sát không cần thiết… để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mỹ cần một thế giới mở, không phải là “khép kín” để thực hiện sự phồn vinh và phát triển của chính mình.

2/ Xoa dịu quan hệ với các nước thành viên khác của TPP trước đây

Việc bày tỏ thái độ muốn quay trở lại TPP kèm theo điều kiện của Trump có thể giúp xoa dịu quan hệ giữa Mỹ với các nước thành viên TPP trước đây. Trước khi diễn ra Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos, 11 nước thành viên TPP trước đây, ngoại trừ Mỹ đã hoàn thành công tác đàm phán về Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), lên kế hoạch ký kết thỏa thuận thương mại này vào ngày 8/3/2018 ở Chile. Nhật Bản đã phát huy vai trò chủ đạo quan trọng trong việc thúc đẩy CPTPP, dựa vào CPTPP, Chính quyền Shinzo Abe tiếp tục duy trì được vị thế của Nhật Bản trong địa chính trị châu Á – Thái Bình Dương, thúc đẩy cải cách và mở cửa trong nước. Canada từ do dự lúc ban đầu chuyển sang ủng hộ tiếp tục đàm phán TPP. Ngày 23/1/2018, trong bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế thế giới tại Davos, Thủ tướng Canada Justin Trudeau đánh giá cao ý nghĩa quan trọng của CPTPP đối với Canada, cho biết ngày đạt được hiệp định là “một ngày vĩ đại của nền thương mại tiến bộ trên thế giới”. CPTPP đã áp dụng các biện pháp linh hoạt hơn, xóa bỏ các yêu cầu khá mạnh mẽ của Mỹ trong TPP trước đây, như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở trình độ cao hơn… đã cân nhắc đến mối quan tâm lợi ích của một số nước khác, như quyền ngoại lệ chung về văn hóa do Canada đề xuất…  CPTPP sẽ mang lợi ích rõ rệt hơn, tổng dân số của 11 nước khoảng 500 triệu người, tổng sản lượng kinh tế vượt trên 10.000 tỷ USD, chiếm khoảng 15% GDP toàn cầu, thông qua chính sách mở cửa với trình độ cao giúp thúc đẩy tăng trưởng phồn vinh của các nước thành viên, gia tăng mức thu nhập của tầng lớp trung lưu. CPTPP đã áp dụng chính sách cởi mở hơn, có thể tiếp tục nhận các thành viên mới, ngoài Mỹ có thể trở lại kèm theo điều kiện, nước Anh đã bày tỏ mong muốn gia nhập CPTPP. Tuy Donald Trump vẫn nhấn mạnh ý nghĩa của các hiệp định thương mại song phương, nhưng với một thị trường châu Á – Thái Bình Dương rộng lớn như vậy, lợi ích kinh tế và ý nghĩa chiến lược của nó vẫn rất có sức hút đối với Mỹ.

3/ Tìm kiếm môi trường bên ngoài có lợi cho Mỹ

Trong bài phát biểu tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) vào tháng 11/2017, Donald Trump nhiều lần nhắc đến khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” là khái niệm không gian địa lý ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” là đưa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương vào một địa chiến lược trong vòng cung chiến lược, “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” của Donald Trump vẫn đang trong quá trình hình thành, hiện nay lực lượng chủ chốt thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong nước Mỹ là phe ủng hộ đường lối chính sách trước đây của Đảng Cộng hòa và quân đội của Mỹ. Trong giai đoạn cầm quyền, tuy Donald Trump nhấn mạnh nhiều hơn đến lợi ích thương mại, chính sách “Nước Mỹ trước tiên”, nhưng cùng với việc triển khai từng bước chính sách của Donald Trump, Mỹ có khả năng từng bước tăng cường phương thức kết hợp mục tiêu địa chính trị và kinh tế để mở rộng tầm ảnh hưởng trên toàn cầu. Việc hình thành và thúc đẩy từng bước “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” của Chính quyền Trump sẽ làm gia tăng tầm ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, khởi động lại TPP sẽ là diễn đàn chiến lược quan trọng để Mỹ thực thi “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Những cân nhắc về kinh tế chính trị cũng là một đặc điểm trong chính sách cầm quyền của Donald Trump, có thể thấy rõ đặc điểm này từ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên và cách xử lý tranh chấp thương mại Trung – Mỹ, trong thời gian tới, để thúc đẩy chiến lược châu Á – Thái Bình Dương, Trump có thể cân nhắc đến việc dựa vào diễn đàn TPP.

4/ Đặt nền tảng cho việc cải tạo hệ thống thương mại đa phương và khu vực

Dưới thời Trump, quan niệm cơ bản – TPP là sân chơi để phát triển hệ thống thương mại quốc tế của Mỹ sẽ được tiếp tục. Donald Trump coi trọng việc dựa vào các hiệp định thương mại song phương hoặc khu vực nhằm thúc đẩy quan niệm “thương mại tự do” và “thương mại công bằng” dựa trên lợi ích của Mỹ, từ đó xây dựng lại hệ thống thương mại quốc tế mới lấy “thương mại bình đẳng” làm trung tâm. Mỹ nhấn mạnh nhiều đến sự bình đẳng hoàn toàn, thương mại cùng có lợi và nhượng bộ vốn tồn tại dựa trên sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế đã giảm đi rõ rệt, đã áp dụng chính sách nghiêm ngặt hơn đối với hành vi thị trường chưa hoàn thiện ở các nước đang trong thời kỳ chuyển đổi mô hình kinh tế thị trường, tiếp tục duy trì quy tắc tiêu chuẩn cao đối với quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước. TPP cũng sẽ trở thành diễn đàn để thúc đẩy quan niệm giá trị và chính sách “Nước Mỹ trước tiên”. Quay trở lại TPP giúp đặt nền tảng cho việc cải tạo hệ thống thương mại khu vực và đa phương, thúc đẩy hệ thống thương mại quốc tế được thúc đẩy mạnh mẽ hơn theo phương thức đổi mới do Mỹ chủ đạo.

5/ Tranh thủ sự ủng hộ lớn hơn cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ

2018 là năm diễn ra bầu cử giữa nhiệm kỳ Quốc hội Mỹ, Trump muốn củng cố thành quả đạt được trong năm đầu tiên, giành được sự ủng hộ lớn hơn. TPP về bản chất không đi ngược lại lợi ích của đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ, việc quay trở lại một TPP đã được “cải thiện mang tính thực chất” theo yêu cầu của Mỹ sẽ mang lại lợi ích thương mại lớn hơn cho nước Mỹ, có lợi hơn cho việc mở mang thị trường quốc tế, thu lợi trong chuỗi giá trị và phát triển ngành nghề của châu Á – Thái Bình Dương, củng cố mối liên hệ kinh tế với các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, xây dựng môi trường bên ngoài có lợi cho sự phát triển của nước Mỹ, thúc đẩy quan niệm chính sách thương mại của Mỹ.

6/ Tăng cường sự phòng ngừa đối với Trung Quốc và các nước

Đầu năm 2018, va chạm thương mại Trung – Mỹ tiếp tục gia tăng. Mặc dù Trung Quốc và Mỹ đã có nhiều cuộc bàn bạc trong năm, Trung Quốc cũng đã có những nỗ lực thực sự để xua tan đám mây đen giữa hai nước, song những động thái này không làm thay đổi nhận thức của Chính phủ Mỹ đối với quan hệ thương mại Trung – Mỹ, cho đến hôm nay, tín hiệu của việc Mỹ muốn phát động cuộc chiến thương mại đã trở nên rõ ràng hơn, thương mại giữa hai nước đang bước vào giai đoạn quan trọng từ va chạm thương mại sang xung đột thương mại. Quay trở lại TPP sẽ giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc, bảo vệ địa vị lãnh đạo của Mỹ trong hệ thống kinh tế thế giới, va chạm thương mại giữa Trung Quốc sẽ dần chuyển sang va chạm mang tính tổng hợp, phạm vi sẽ mở rộng từ song phương sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương và các lĩnh vực đa phương.

Những phân tích trên cho thấy việc Trump quay trở lại đàm phán TPP kèm theo điều kiện cho thấy xu hướng Mỹ đang tìm cách thay đổi hình ảnh quốc gia, xoa dịu mối quan hệ với các đồng minh, tìm kiếm môi trường thương mại có lợi cho Mỹ, dọn đường cho việc cải tạo hệ thống thương mại khu vực và đa phương, tranh thủ sự ủng hộ nhiều hơn cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ cũng như tăng cường sự phòng ngừa đối với các quốc gia như Trung Quốc.

Nói tóm lại, Mỹ không phản đối toàn cầu hóa, mà lùi một bước để tiến ba bước, tìm kiếm môi trường kinh tế bên ngoài có lợi cho nước mình, chèn ép Nga, Trung Quốc và một số nước, tín hiệu quay trở lại TPP kèm theo điều kiện của Mỹ sẽ thúc đẩy các nước như Nhật Bản đẩy mạnh việc thực thi CPTPP, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Mỹ quay trở lại TPP, các cơ chế hợp tác khác nhau ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ xuất hiện xu thế mới. Việc Mỹ quay trở lại TPP sẽ không thuận buồm xuôi gió, có thể sẽ mất khoảng 2 – 3 năm, mặc dù Chính quyền Trump nhiều lần nhấn mạnh muốn áp dụng phương thức đàm phán các hiệp định thương mại tự do song phương để thúc đẩy quan niệm thương mại mới, cho rằng việc đàm phán tập thể các hiệp định có quy mô tương đối lớn đã trói buộc chân tay của Mỹ, nhưng xem xét các nguyên nhân ở các phương diện nêu trên, không loại trừ khả năng Mỹ quay trở lại TPP trong 1 – 2 năm tới.

Nguồn: hexun.com – 14/02/2018

TLTKĐB – 25/02/2018

Mỹ có thể áp dụng thuế 106% đối với nhôm Trung Quốc xuất khẩu qua Việt Nam


Theo tờ Wall Street Journal, ngày 9/1, Hiệp hội các nhà sản xuất nhôm Mỹ (AEC) đang tìm kiếm các biện pháp bảo hộ nhằm ngăn chặn nhôm xuất khẩu từ Trung Quốc với cáo buộc cho rằng tập đoàn Zhongwang Holdings và các công ty con của Zhongwang để né tránh các loại thuế chống trợ cấp và chống bán phá giá bằng cách chuyển nhôm qua Việt Nam để xuất khẩu sang Mỹ.

Hãng tin Reuters (Anh) ngày 10/01 trích dẫn hồ sơ kiện của AEC gửi cho Bộ Thương mại Hoa Kỳ nói rằng các sản phẩm nhôm là của Tập đoàn Zhongwang đã được nhập vào Việt Nam thông qua công ty con là Công ty TNHH nhôm toàn cầu Việt Nam để hợp thức hóa trước khi xuất khẩu sang Mỹ. Hãng tin Reuters trích hồ sơ vụ kiện này nói AEC đã cung cấp bằng chứng cho thấy công ty con của Zhongwang tại Việt Nam đã thay đổi hình dạng các sản phẩm nhôm ép của Trung Quốc một cách không đáng kể, sau đó nói số nhôm này có nguồn gốc từ Việt Nam.

Chủ tịch AEC Jeff Henderson cho biết đây là những hoạt động cố ý nhằm trốn thuế, việc xâm nhập thị trường một cách bất bình đẳng của nhôm Trung Quốc cần phải được ngăn chặn. Vụ kiện chống bán phá giá diễn ra sau khi Mỹ có một loạt động thái nhằm ngăn chặn nhôm nhập khẩu từ Trung Quốc bao gồm áp thuế sơ bộ đối với giấy bạc và điều tra các tấm hợp im nhôm nhập từ Trung Quốc.

Tập đoàn Zhongwang nói với Reuters rằng “các cáo buộc này là không có căn cứ”.

Trong thư gửi Bộ Thương mại Mỹ, các nhà sản xuất nhôm Mỹ cho biết, họ đã đề xuất việc áp thuế đối với các sản phẩm của Công ty nhôm toàn cầu Việt Nam – công ty con của tập đoàn Zhongwang tương tự như mức thuế nhập khẩu Mỹ đã áp dụng đối với nhôm nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo Bộ Thương mại Mỹ, mức thuế hiện tại áp dụng đối với nhôm nhập khẩu từ Trung Quốc là 106%.

Đơn đề nghị được gửi đi sau khi Mỹ đưa ra hàng loạt rào cản nhằm vào nhôm Trung Quốc, trong đó có mức thuế sơ bộ mà Bộ Thương mại áp dụng đối với các phôi nhôm của Trung Quốc và cuộc điều tra hiếm hoi của chính phủ Mỹ nhằm vào các sản phẩm nhôm tấm xuất khẩu từ Trung Quốc. Bộ Thương mại Mỹ dự kiến sẽ gửi khuyến nghị lên Tổng thống Donald Trump vào ngày 22/1, liên quan đến kết quả điều tra theo “mục 232” về các sản phẩm nhôm nhập khẩu từ nước ngoài. Trước đó, ngày 16/1, Bộ Thương mại Mỹ cũng sẽ gửi khuyến nghị lên Tổng thống Trump liên quan đến kết quả điều tra các sản phẩm sắt thép nhập khẩu vào Mỹ. Tổng thống Donald Trump từng cho biết ông đang cân nhắc các biện pháp hạn chế nhập khẩu nhôm với lý do “bảo vệ an ninh quốc gia”. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu các kết quả điều tra trên có được công bố ngay hay không.

Thặng dư trong sản xuất 2 loại sản phẩm trên của Trung Quốc đã gây ra quan ngại lớn cho cả Mỹ và châu Âu, buộc Mỹ và châu Âu phải xem xét các bước đi mới nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp và bảo vệ việc làm trong nước của họ trước các dòng hàng nhập khẩu lớn từ Trung Quốc.

Hồi tháng 6 vừa qua, Bộ Thương mại Mỹ cũng đã đề xuất việc áp các loại thuế trên đối với các tấm nhôm đúc sẵn nhập khẩu từ Trung Quốc sau khi cho rằng các mặt hàng này đã được nhập khẩu vào Mỹ thông qua đường trốn thuế. Bộ Thương mại Mỹ cũng đã áp dụng các loại thuế tương tự nhằm vào các sản phẩm thép nhập khẩu vào Mỹ. Tháng 12/2017, cơ quan này đã áp thuế cao đối với các sản phẩm thép nhập khẩu từ Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Trao đổi với VOA tiếng Việt, chuyên gia kinh tế Huỳnh Bửu Sơn nói rằng động thái này chắc chắn sẽ gây thiệt hại cho các công ty Việt Nam. Tuy nhiên, các biện pháp bảo vệ của AEC là rất “hợp lý” do Mỹ nhằm vào đó thủ thương mại Trung Quốc. Ông nói: “Tất cả doanh nghiệp Việt Nam đều hiểu rằng Hoa Kỳ áp thuế này không nhằm mục đích đối phó với hàng xuất khẩu có xuất xứ từ Việt Nam mà là có xuất xứ từ Trung Quốc, nhằm tránh việc các doanh nghiệp Trung Quốc mượn con đường xuất khẩu từ Việt Nam để né thuế nhập khẩu của Mỹ. Tôi thấy việc làm của chính phủ Mỹ như vậy là hợp lý”.

Ông Huỳnh Bửu Sơn nói rằng việc Việt Nam làm rõ xuất xứ nhôm là điều rất quan trọng: “Việc chứng nhận xuất xứ những mặt hàng xuất khẩu từ Việt Nam cần phải xác minh lại, chủ yếu là từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam”.

Trước đó, vào tháng 6/2017, bà Vũ Thị Thu Hà, Giám đốc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, chi nhánh Vũng Tàu, xác nhận với báo chí rằng đơn vị này đã dừng cấp chứng nhận xuất xứ hàng hóa đối với sản phẩm nhôm của Công ty nhôm toàn cầu Việt Nam.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh từng nói: “Nếu nhôm Trung Quốc đội lốt nhôm Việt Nam thì đó là một tín hiệu hết sức xấu và nguy hiểm”.

Tháng 5/2017, truyền thông trong nước đăng tin một đoàn kiểm tra của 3 bộ – Công thương, Tài chính và Kế hoạch – Đầu tư đã tiến hành kiểm tra tại Công ty nhôm toàn cầu Việt Nam, có trụ sở tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, nhiệm vụ của đoàn kiểm tra là tìm hiểu việc vận chuyển nhôm có nguồn gốc Trung Quốc vào Việt Nam.

Một phóng sự điều tra của tờ Wall Street Journal vào cuối năm 2016 đã phát hiện một số lượng lớn hàng phôi nhôm được phủ bạt đen, canh giữ bởi nhân viên an ninh tuần tra bằng xe máy, mang theo dùi cui ở một nhà máy trong khu cảng Vũng Tàu. Theo nguồn tin này, hàng loạt động thái bất thường trong xuất nhập khẩu nhôm giữa Trung Quốc, Mỹ, Mexico và Việt Nam có liên quan tới tỷ phú Trung Quốc Liu Zhongtian – người được cho là đang giấu 1 triệu tấn nhôm trị giá 2 tỷ USD để thao túng thị trường.

Theo Dịch vụ thông tin thương mại toàn cầu (GTIS) chuyên theo dõi các hoạt động thương mại trên thế giới, Việt Nam là đích đến của 91% lượng xuất khẩu phôi nhôm.

Nguồn: TKNB – 12/01/2018

Lý do khiến đối thoại thương mại Mỹ – Trung không đạt đột phá


Ngày 19/7, Mỹ và Trung Quốc kết thúc cuộc đối thoại kinh tế thương mại đầu tiên dưới thời Tổng thống Donald Trump nhưng vẫn không đưa ra được một kết quả nào. Thậm chí các cuộc họp báo được dự trù sau cuộc họp đã bị hủy bỏ vào giờ chót, một dấu hiệu cho thấy sự bế tắc trong đàm phán.

Cuộc họp mở ra tại Washington là sự tiếp tục của một cơ chế đã vận hành dưới hai chính quyền Mỹ tiền nhiệm, nhưng đã được chính quyền Donald Trump đổi tên thành “Đối thoại Kinh tế Toàn diện Mỹ – Trung”. Phái đoàn Mỹ do hai Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin và Thương mại Wilbur Ross dẫn đầu, còn trưởng đoàn phía Trung Quốc là Phó Thủ tướng Uông Dương. Về mặt chính thức, Mỹ tuyên bố cuộc họp đã có kết quả. Trong thông cáo công bố sau cuộc họp, phía Mỹ khẳng định rằng “Trung Quốc công nhận mục tiêu chung là giảm thâm thủng mậu dịch”, hai bên “sẽ cùng hợp tác để đạt được mục tiêu”. Mỹ tiếp tục yêu cầu một quan hệ thương mại Mỹ – Trung “bình đẳng và có lợi cho cả hai bên”.

Theo AFP, tuyên bố này đã không nói gì về thực tế và hai bên đã có những trao đổi “thẳng thừng” khác thường, trong khi tất cả các cuộc họp báo được dự kiến đều bị hủy bỏ. Theo hãng tin Reuters, sau cuộc họp, trưởng đoàn Trung Quốc, Phó Thủ tướng Uông Dương đã bỏ về ngay mà không có bất cứ phát biểu nào với nhà báo. Trước đó, ông Uông Dương từng cảnh báo về hậu quả tai hại từ một cuộc đối đầu thương mại giữa hai nước.

Sáng kiến “Đối thoại Kinh tế Toàn diện Mỹ – Trung Quốc” của chính quyền Trump khởi sự vào cuối chuỗi nỗ lực kéo dài 100 ngày vạch ra kế hoạch kinh tế nhằm giảm thâm hụt thương mại hàng hóa của Mỹ với Trung Quốc. Các chuyên gia về thương mại Trung Quốc trước đó đưa ra nhận định, các cuộc thảo luận ngày 19/7 có thể đưa tới một số thông báo hoặc giao dịch quy mô nhỏ nhưng không giải quyết được những vấn đề lớn hơn như nhữn than phiền của Mỹ về công suất dư thừa của Trung Quốc trong ngành sản xuất thép, nhôm và những trợ cấp đối với các công ty quốc doanh, cũng như những than phiền của Trung Quốc về việc Mỹ nhiều lần từ chối bán cho Bắc Kinh những sản phẩm công nghệ tiên tiến.

Trước cuộc đối thoại thương mại Mỹ – Trung, trang mạng atimes.com đăng bài của ông David Dollar, chuyên gia hàng đầu của Mỹ về quan hệ kinh tế Mỹ – Trung, từng là phái viên kinh tế và tài chính tại Trung Quốc của Bộ Tài chính Mỹ, phân tích những lý do khiến đối thoại thương mại Mỹ – Trung không đạt đột phá:

Thứ nhất, Mỹ sẽ không nhượng bộ trước các ưu tiên của Trung Quốc

Mỹ sẽ không thừa nhận Trung Quốc là một nền kinh tế thị trường và sẽ không đáp ứng các yêu cầu của Bắc Kinh về việc nới lỏng hạn chế xuất khẩu đối với các mặt hàng công nghệ cao để tạo điều kiện cho doanh nghiệp Trung Quốc tăng đầu tư vào Mỹ, trừ khi Trung Quốc có những động thái tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Mỹ hoạt động tại thị trường nội địa của mình.

Mỹ cũng không ưu tiên đàm phán hiệp định đầu tư song phương với Trung Quốc trong bối cảnh họ còn đang phải phân tâm về nhiều vấn đề khác như tái đàm phán Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA) hay Thỏa thuận Thương mại Tự do Mỹ – Hàn.

Thứ hai, Trung Quốc không chịu áp lực buộc phải chấp nhận các yêu cầu của Mỹ

Kế hoạch hành động 100 ngày của Chính quyền Trump chỉ đem lại những kết quả hết sức khiêm tốn, đáng kể nhất chỉ là mở cửa thị trường xuất khẩu thịt bò cho các sản phẩm của Mỹ. Dù vậy, chính quyền Mỹ vẫn rất hoan nghênh những gì đạt được.

Trong khi đó, giới chức chính quyền Washington đã kín đáo đánh tiếng với phía Bắc Kinh rằng họ hoàn toàn hiểu việc giải quyết sự mất cân bằng trong cán cân thương mại hay các thách thức về việc thâm nhập thị trường đều cần có thời gian.

Những tín hiệu, cả công khai và kín đáo, từ phía Washington đã khiến Bắc Kinh không cảm thấy bị áp lực trong việc phải tìm cách có những nhượng bộ về ngắn hạn, và thậm chí còn tạo điều kiện để quốc gia này có thêm cơ hội giải quyết các khúc mắc có từ lâu bằng việc tham gia đối thoại hay các cam kết chính trị…

Thứ ba, năm chính trị nhạy cảm tại Trung Quốc

Cuối năm nay, Trung Quốc sẽ tổ chức Đại hội XIX. Đây là sự kiện quan trọng diễn ra 5 năm 1 lần và chứng kiến sự chuyển giao quyền lực ở cấp cao nhất. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được cho là sẽ tiếp tục cầm quyền, song thông tin về các vị trí khác cùng các cuộc đấu đá quyền lực vẫn diễn ra vô cùng phức tạp.

Trong bối cảnh này, chắc chắn sẽ không một quan chức cấp cao nào của Trung Quốc muốn tỏ ra nhượng bộ trước áp lực của Mỹ, điều có thể làm tổn hại tới sự đánh giá của dư luận và giới lãnh đạo về khả năng đảm nhận trọng trách của họ. “Ổn định” sẽ là tôn chỉ của các chính sách kinh tế vĩ mô và cấu trúc cũng như hoạt động của ch1inh quyền Trung Quốc trong năm nay.

Khả năng công bố chính sách quan trọng, chẳng hạn như việc mở cửa một số lĩnh vực vẫn còn mang nặng tính nội địa của nền kinh tế, trong các cuộc đối thoại Mỹ – Trung gần như là không có. Việc bộ máy chính trị mới có muốn đẩy nhanh tốc độ cải cách hay không vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải tới tận kỳ họp Quốc hội vào tháng 3/2018. Có thể nói, năm 2017 không phải là năm hợp lý để đàm phán về các cải cách với Trung Quốc.

Thứ tư, quyết định đánh thuế mặt hàng thép của Mỹ là một nhân tố tiêu cực

Quyết định đánh thuế mặt hàng thép nhập khẩu từ Trung Quốc của Mỹ sẽ khiến các cuộc thảo luận trở nên khó lường. Quyết định này có thể sẽ không được công bố trước khi đối thoại bắt đầu, song thông tin về nó chắc chắn cũng sẽ ảnh hưởng ít nhiều tới các cuộc gặp. Thực tế Mỹ nhập khẩu không nhiều thép từ Trung Quốc (chỉ chưa đầy 5% nhu cầu tiêu thụ), và các nhà sản xuất thép hàng đầu cho Mỹ là Canada, Mexico, Hàn Quốc cùng nhiều đối tác khác. Tuy nhiên, sản lượng thép dư thừa và nguồn xuất khẩu lớn của Trung Quốc ra các thị trường thế giới là vấn đề cần quan tâm và đáng được đưa vào nội dung thảo luận của hai bên.

Mặc dù vậy, vấn đề này không thể giải quyết chỉ bằng việc Mỹ áp thuế với mặt hàng này. Trái lại, cách làm của Mỹ sẽ gây tổn hại tới hầu hết các đồng minh và doanh nghiệp, cũng như người lao động đang làm việc trong các ngành công nghiệp có sử dụng thép, trong khi tác động đối với Trung Quốc là không hề đáng kể. Thậm chí, việc áp thuế với mặt hàng thép càng phản ánh lập trường bảo hộ của Mỹ, và tác động trực tiếp tới quan điểm của Trung Quốc khiến họ càng tỏ ra cứng rắn hơn với Washington.

Nguồn: TKNB – 24/07/2017

FTAAP: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP? – Phần cuối


Ngược lại, con đường với “kết cấu mở rộng” sẽ có tính khả thi cao hơn, con đường này sẽ hình thành cục diện RCEP, TPP, FTAAP cùng tồn tại song song, mức độ tự do hóa của FTAAP sẽ nằm ở giữa RCEP và TPP, các thành viên của hai bên phải thống nhất tiêu chuẩn trong các lĩnh vực như thương mại dịch vụ, tiêu chuẩn quyền sở hữu trí tuệ… hàn gắn sự khác biệt về mặt nội dung như mua sắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn môi trường…, đạt được nhận thức chung về mặt quy tắc bất động sản, khuyết điểm của nó là vì cần phải thống nhất quy tắc tồn tại xung đột nên quá trình đàm phán có thể dây dưa.

Con đường thứ năm được quyết định bởi hai nước Trung – Mỹ về mặt hợp tác kinh tế có chung nguyện vọng làm người lãnh đạo thế giới. Kể từ khi khởi động đàm phán BIT năm 2008 đến nay, hai nước đã tiến hành hơn 20 vòng đàm phán, nội dung cũng đi sâu vào các lĩnh vực then chốt như danh sách các lĩnh vực hạn chế đầu tư, ngành nghề văn hóa, an ninh quốc tế…, Trung Quốc còn thành lập khu thử nghiệm thương mại tự do là để tích lũy kinh nghiệm cho biện pháp mở cửa vòng mới. Nếu hai nước có thể sớm đạt được hiệp định BIT, sẽ mở ra một loạt lĩnh vực hợp tác kinh tế thương mại song phương mới, trong đó có khởi động đàm phán “Hiệp định đầu tư và thương mại Trung – Mỹ” (BITT), Trung Quốc tham gia đàm phán các hiệp định thương mại đa biên của WTO (chẳng hạn “Hiệp định thương mại dịch vụ quốc tế” TISA). Nhận thức chung mà hai nước đạt được trên cấp độ song phương sẽ xóa bỏ trở ngại chính khi hai nước cùng trở thành thành viên Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương. Cân nhắc đến mục tiêu thời gian hoàn thành đàm phán mà RCEP nhiều lần bỏ lỡ, hiện nay vẫn còn quá sớm để cho rằng con đường “qua RCEP thực hiện FTAAP” là tốt hơn.

Cho dù cuối cùng con đường nào nói trên trở thành con đường cuối cùng để phát triển FTAAP thì nhận thức chung giữa Trung Quốc và Mỹ về quy tắc thương mại trong tương lai đều chắc chắn không thể thiếu. Khi Donald Trump trình bày chính sách thương mại của mình từng cho biết trong nhiệm kỳ này, ông sẽ chú trọng hơn đến việc thảo luận các quy tắc thương mại song phương công bằng, đây có thể sẽ mang lại cơ hội mới cho hiệp định song phương Trung – Mỹ. Nếu giữa Trung Quốc và Mỹ có thể đạt được BIT và BITT có trình độ cao, có nghĩa là hai nước Trung – Mỹ đạt được nhận thức chung về “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21”, xóa bỏ trở ngại lớn nhất về RCEP (hay các con đường khác) hướng tới FTAAP.

Tóm lại, FTAAP có Trung Quốc và Mỹ cùng tham gia sẽ là sự lựa chọn tốt nhất trong “thời đại hậu TPP”, khối lượng kinh tế lớn của hai nước Trung – Mỹ sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và nền kinh tế thế giới. Mặc dù tồn tại nhiều con đường thực hiện, nhưng bất kỳ con đường nào cũng đều yêu cầu hai nước Trung – Mỹ đạt được nhận thức chung về các vấn đề then chốt. Sự thúc đẩy nhanh chóng BIT và việc sớm ký kết BITT giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ đặt nền tảng cùng thúc đẩy Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai. Còn trước tình hình TPP gặp trở ngại, RCEP tiến hành trước, Trung Quốc cần phải mời Mỹ gia nhập RCEP đúng lúc đồng thời tiến hành đàm phán nâng cấp “RCEP+”, từ 3 phương diện quy tắc, phạm vi, thành viên sẽ nâng cấp RCEP thành FTAAP.

IV/ Tổng kết

Trong hội nghị thượng đỉnh APEC những năm gần đây, Trung Quốc nhiều lần đề xướng xây dựng FTAAP, việc xây dựng thành công FTAAP sẽ thông qua việc nâng cấp nhất thể hóa 2 nền kinh tế Trung – Mỹ, mang lại lợi nhuận lớn cho nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương và toàn cầu. Trong vài năm trước đây, các nước tìm cách nâng cấp hợp tác kinh tế và hội nhập chuỗi cung ứng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương dần dần chuyển hướng đàm phán hai “Khu thương mại tự do siêu khu vực”: TPP và RCEP lấy ASEAN làm trung tâm, việc sắp xếp thương mại tự do ở hai khu vực vừa tồn tại cạnh tranh, vừa có tính bổ sung nhất định: việc đàm phán giữa hai bên đều tăng nhanh trong những năm gần đây, nhưng cả hai đều trở thành con đường thực hiện FTAAP.

Trong thời đại “chuỗi giá trị toàn cầu”, doanh nghiệp ở các nơi trên thế giới được kết nối với nhau thông qua “mối quan hệ thương mại – đầu tư – dịch vụ – quyền sở hữu trí tuệ”, thông qua sự luân chuyển hai chiều không gián đoạn về hàng hóa, nhân viên, sáng kiến mới và đầu tư kịp thời mang đến tận tay khách hàng những sản phẩm có chất lượng và hiệu quả cao. Chính sách kinh tế thế kỷ 21 cần phải thông qua việ xây dựng quy tắc chung và tiêu chuẩn phổ biến, giảm bớt sự quấy nhiễu đối với các loại lâun chuyển đồng thời tăng thêm tính ổn định của chuỗi cung ứng, từ đó khiến cho mỗi người tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đều được hưởng lợi.

Lập “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21” không tách rời với việc cùng tham gia của 2 nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ hai thế giới là Mỹ và Trung Quốc. Trong 30 năm 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, kim ngạch thương mại song phương đã tăng hơn 200 lần, kim ngạch đầu tư lũy kế của Mỹ đối với Trung Quốc vượt trên 200 tỷ USD, tính lũy kế đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ đạt 64 tỷ USD, và năm 2015 vượt qua đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Trung Quốc. Việc hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ trong lĩnh vực quản trị kinh tế thương mại toàn cầu sẽ trực tiếp quyết định tương lai của nền kinh tế thế giới chuyển hướng cởi mở hơn, hội nhập hơn, hay là đi theo hướng chủ nghĩa biệt lập đẩy khó khăn cho người khác. Trong giai đoạn lịch sử mà Trung Quốc tìm cách chuyển đổi mô hình cơ cấu kinh tế và Chính quyền Mỹ nhiệm kỳ mới bố cục lại chiến lược kinh tế, FTAAP mà Trung Quốc và Mỹ cùng thúc đẩy phù hợp với lợi ích chiến lược, kinh tế của hia nước, FTAAP sẽ là sự lựa chọn tốt nhất trong “thời kỳ hậu TPP”.

Cuối cùng, báo cáo này đưa ra những kiến nghị sau:

1 – FTAAP đại diện cho sự phát triển mới của hội nhập kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đàm phán RCEP hiện nay cần phải chú trọng đến việc “mở rộng” trong tương lai cùng với tính khả thi và tính hòa hợp với tư cách là con đường phát triển FTAAP. Trong trường hợp “RCEP đi trước” trong tương lai, có thể thông qua phương thức đàm phán nâng cấp RCEP, cân nhắc từ góc độ quy tắc, phạm vi, thành viên tiến hành hội nhập với TPP.

2 – FTAAP đại diện phương thức mới của hợp tác Trung – Mỹ, thống nhất với BIT giữa Trung Quốc và Mỹ hiện nay và phương hướng BITT có thể khởi động trong tương lai, đồng thời sẽ quyết định hướng đi tương lai của toàn cầu hóa. Với tư cách là nước lớn có trách nhiệm, Trung Quốc và Mỹ cần phải sớm đạt được BIT và khởi động đàm phán BITT, cũng như trong tương lai sẽ coi FTAAP là phương tiện truyền đạt mới và diễn đàn mới cùng thúc đẩy toàn cầu hóa.

3 – Trung Quốc và Mỹ cần phải tiếp tục ủng hộ một cách kiên định hệ thống thương mại đa phương của WTO, nhận thức được vai trò to lớn của cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại trong WTO đối với việc bảo hộ mở cửa thương mại toàn cầu, cũng như hiệu quả hội nhập khu vực và đàm phán thương mại đa biên của WTO đối với việc thực hiện cuối cùng con đường tự do hóa thương mại đa phương.

Nguồn: The Financial Times Chinese

CVĐQT số 6/2017

FTAAP: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP? – Phần IV


III/ FTAAP mà Trung Quốc và Mỹ cùng tham gia sẽ viết ra Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21

Nhằm vào việc “Anh rời khỏi EU” (Brexit), khuynh hướng chủ nghĩa bảo hộ thương mại của Donald Trump, Giáo sư Richard Baldwin – Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế và phát triển Geneve cho biết sự ra đời và phát triển của mạng Internet sau thập niên 90 của thế kỷ 20 khiến cho chi phí truyền tải thông tin giảm mạnh, thông qua việc kết hợp giữa kỹ năng và kiến thức chuyên môn của các nước phát triển với yếu tố sản xuất giá rẻ của các nước đang phát triển, tất cả các mặt hàng đều được tạo ra từ trong một “chuỗi giá trị toàn cầu”. Trong “thời đại chuỗi giá trị toàn cầu”, thông qua việc nâng thuế để bảo vệ công nhân bản địa, giống như “xây một bức tường ở chính giữa nhà máy một cách uổng phí”. Nhưng ông nhấn mạnh chính sách kinh tế trong thế kỷ 21 cần phải thông qua việc thiết lập quy tắc chung và tiêu chuẩn phổ biến, khiến cho các doanh nghiệp ở các nơi trên toàn cầu trong chuỗi cung ứng tin tưởng về tính vững chắc của chúng. “Chuỗi cung ứng trong thế kỷ 21 được kết nối lại với nhau thông qua “mối quan hệ “thương mại – đầu tư – dịch vụ – quyền sở hữu trí tuệ”, bởi sẽ đưa các sản phẩm có chất lượng và hiệu quả cao đến tận tay khách hàng, dựa vào sự luân chuyển hai chiều không gián đoạn về hàng hóa, nhân viên, sáng kiến mới và đầu tư. Sự quấy rối đối với bất kỳ một loại luân chuyển nào nói trên đều sẽ trở thành rào cản tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”.

Không còn nghi ngờ gì, việc viết “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21” không tách rời sự tham gia chung của Trung Quốc và Mỹ. Với tư cách là 2 nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới, tỷ lệ đóng góp của hai nước đối với tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2015 đều đạt khoảng 25%, trở thành 2 động cơ lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu, 2 nước cùng gánh vác trách nhiệm quan trọng đẩy mạnh phát triển phồn vinh toàn cầu. Giống như hợp tác Trung – Mỹ trong lĩnh vực quản lý khí hậu thúc đẩy “Hiệp định Paris” – hiệp định cắt giảm khí phát thải đầu tiên trên toàn cầu có hiệu lực. Hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ trong lĩnh vực quản lý kinh tế thương mại toàn cầu sẽ trực tiếp quyết định tương lai của nền kinh tế thế giới sẽ chuyển hướng cởi mở hơn, hội nhập hơn hay là đi theo hướng chủ nghĩa biệt lập gây khó khăn cho nước khác.

Tổng sản lượng kinh tế của hai nước Trung Quốc và Mỹ chiếm 1/3 thế giới, dân số chiếm 1/4 thế giới, tổng kim ngạch thương mại chiếm 1/5 thế giới. Kể từ khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, từ chưa đầy 2,5 tỷ USD trong thời kỳ đầu thiết lập quan hệ ngoại giao tăng lên đến 555,1 tỷ USD năm 2014, kim ngạch thương mại song phương Trung – Mỹ hơn 30 năm qua đã tăng hơn 200 lần, năm 2015 Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ. Theo số liệu của công ty tư vấn Rhodium Group (Mỹ), đầu tư giữa Trung Quốc và Mỹ cũng bước vào “mô hình hai chiều”, từ năm 1990 đến nay tính lũy kế tổng kim ngạch đầu tư vượt quá 1 triệu USD của Mỹ ở Trung Quốc đạt 228 tỷ USD; Trong cùng kỳ, đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Mỹ đạt 64 tỷ USD; Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Mỹ bắt đầu từ năm 2010 tăng mạnh, và năm 2015 đã vượt quá đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Trung Quốc trong cùng năm. Ngoài ra, mỗi năm Trung Quốc có hơn 200.000 học sinh sang Mỹ du học, Trung Quốc là nước khởi nguồn người nhập cư lớn thứ hai ở Mỹ, giữa Trung Quốc và Mỹ có sự trao đổi nhân viên có quy mô lớn nhất toàn cầu. Chính sự luân chuyển hàng hóa, nhân viên, đầu tư, sáng kiến mới này giữa 2 nước Trung Quốc và Mỹ đã tạo ra điện thoại Apple với “thiết kế ở California, sản xuất ở Trung Quốc”. Rõ ràng, quan hệ kinh tế Trung – Mỹ đang là điển hình “mối quan hệ thương mại – đầu tư – dịch vụ – quyền sở hữu trí tuệ” mà Baldwin đã chỉ ra.

Trung Quốc và Mỹ nằm ở vành đai kinh tế châu Á – Thái Bình Dương hoạt động mạnh nhất thương mại thế giới, nơi đây vừa có cơ sở sản xuất tiên tiến nhất, quy mô lớn nhất, vừa có trung tâm sáng tạo khoa học kỹ thuật phát triển nhất, đồng thời còn là thị trường khu vực lớn nhất thế giới. Tuy trong vài năm qua, hai nước Trung Quốc và Mỹ đều lần lượt thông qua RCEP và TPP nỗ lực thúc đẩy hội nhập kinh tế châu Á – Thái BÌnh Dương, nhưng giữa Trung Quốc và Mỹ đến nay chưa khởi động đàm phán bất kỳ hiệp định khu thương mại tự do nào.

Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC ở Yokohama năm 2010, hai phương án “10 + 3”, “10 + 6” và TPP với tư cách là tiền thân của RCEP đều được coi là con đường để đi đến Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương. Theo phân tích mô hình thiết lập của các chuyên gia nghiên cứu như Petri thuộc Viện nghiên cứu kinh tế Peterson, dù là RCEP hay TPP, lợi nhuận kinh tế mang lại đều nhỏ hơn nhiều so với Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương  – đối với Trung Quốc, lợi ích mà FTAAP mang lại gấp 2,7 lần RCEP, đối với Mỹ, lợi ích mà FTAAP mang lại gấp 2,5 lần TPP. Đồng thời, Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP) trong 3 trường hợp (con đường RCEP, TPP và mô hình 17 nước) đều cho thấy lượng thương mại tăng lên rõ rệt, nguyên nhân của nó nằm ở hiệu ứng lan tỏa xuất hiện từ việc Trung Quốc và Mỹ cùng tham gia khu thương mại tự do.

Khái niệm FTAAP đầu tiên được Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC (ABAC) đề xuất năm 2014, “xây dựng Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương” nhằm củng cố và nhanh chóng đạt được mục tiêu Bogor của APEC. Năm 2006, Tổng thống Mỹ lúc đó là Bush bày tỏ FTAAP “cần phải được cân nhắc kỹ càng”, Hội nghị thượng đỉnh APEC năm đó “chỉ thị quan chức của các nền kinh tế APEC triển khai nghiên cứu nhiều hơn về việc làm thế nào để thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, kể cả FTAAP”. Nghiên cứu này hoàn thành năm 2009, kiến nghị “các nền kinh tế APEC cần phải xác định một FTAAP chất lượng cao, toàn diện làm mục tiêu”.

Những năm gần đây, sự quan tâm của khu vực châu Á – Thái Bình Dương đối với khu thương mại tự do ở mức độ rất lớn chuyển sang TPP và RCEP. Nhưng dưới sự thúc đẩy của Trung Quốc, Hội nghị APEC năm 2014 quyết định khởi động tiến trình FTAAP, phê chuẩn lộ trình thúc đẩy thực hiện FTAAP. Tháng 11/2016, Hội nghị các nhà lãnh đạo lần thứ 24 của APEC bế mạc tại thủ đô Lima của Peru, hội nghị đã phê chuẩn “Báo cáo nghiên cứu chiến lược tập thể Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương” và các kiến nghị chính sách liên quan, đồng thời lấy đó làm “Tuyên bố Lima về Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương”. Trong “Tuyên bố Lima” đã đưa ra một loạt nhận thức chung quan trọng về FTAAP, bao gồm: FTAAP cần phải được xây dựng trên cơ sở TPP, RCEP và hiệp định hội nhập khu vực có khả năng khác; các nền kinh tế APEC sẽ tiến hành đánh giá về con đường thực hiện FTAAP, công tác đánh giá sẽ tìm ra lĩnh vực thách thức lớn nhất trong tiến trình FTAAP.

Giới học giả trong và ngoài nước cho rằng chủ yếu có 5 con đường phát triển đối FTAAP sau: Mở rộng RCEP thực hiện FTAAP, mở rộng TPP thực hiện FTAAP, hợp nhất RCEP và TPP thực hiện FTAAP, trên RCEP và TPP thiết lập một FTAAP có kết cấu rộng; Ngoài ra, còn có học giả chỉ rõ một con đường sau khi Trung – Mỹ ký kết “Hiệp định đầu tư song phương” (BIT) ký kết hiệp định thương mại tự do song phương, cùng thúc đẩy FTAAP.

Bốn con đường trên có ưu và khuyết điểm riêng: Con đường “mở rộng RCEP” là kế hoạch hội nhập Đông Á lấy ASEAN làm trung tâm, mức độ tự do hóa tương đối dễ chấp nhận đối với các nước đang phát triển, khuyết điểm của chúng là dễ tạo ra “vạch giới hạn giữa Thái Bình Dương”, đồng thời mức độ tự do hóa không cao lắm, thậm chí bị coi là “máy đóng sách” của hiệp định song phương hiện nay, còn có khoảng cách với “quy tắc kinh tế thế kỷ 21”; Ưu thế của con đường “mở rộng TPP” nằm ở việc các thành viên hiện nay có sự phân bố khu vực tương đối rộng, xuyên qua Nam Bắc Mỹ và Đông Bắc Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương, mức độ tự do hóa khu thương mại tự do cao, đồng thời bao gồm nhiều “vấn đề của thế kỷ 21” như thương mại điện tử…, khuyết điểm của chúng là ở tiêu chuẩn quá cao khiến cho chúng trở nên “quá cao siêu, ít người hiểu”. Hơn nữa, các nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga… đều không phải là thành viên sáng lập TPP, không thể phản ánh đầy đủ sự quan tâm trọng yếu của các nước đang phát triển khác trong khu vực này. Con đường “hợp nhất RCEP và TPP” vì cần phải tìm “ước số chung nhỏ nhất giữa hai hiệp định” có sự khác biệt khá lớn nên thường bị coi là có mức độ khó khăn thực hiện rất lớn.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Financial Times Chinese

CVĐQT số 6/2017