Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần cuối


Chính quyền các bang và địa phương của Mỹ bày tỏ quan ngại và tăng cường trao đổi với Trung Quốc

Gần đây, cựu Giám đốc truyền thông Nhà Trắng Anthony Scaramucci đăng bài trên tờ Financial Times, cho rằng cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ đã tác động đến nền chính trị Mỹ. Ví dụ như doanh nghiệp Trung Quốc ngừng hoàn toàn việc mua đậu tương của Mỹ, các bang có ngành nông nghiệp phát triển đã mất đi đơn đặt hàng trị giá 1,2 tỷ USD. Anthony Scaramucci – từng là bạn của Donald Trump – kêu gọi tổng thống phải ngay lập tức thay đổi sách lược, nếu không sẽ gây bất lợi cho cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Phần lớn các chính trị gia bỏ phiếu tán thành nghị quyết để Thượng viện hạn chế quyền áp thuế của Donald Trump vào ngày 11/7/2018 đều xuất phát từ xem xét ảnh hưởng của việc áp thuế đối với địa phương đang không ngừng tăng lên. Ví dụ như thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Tom Udall lo ngại việc áp thuế này sẽ làm cho các doanh nghiệp của bang New Mexico gặp nhiều khó khăn. Trong buổi điều trần tại Thượng viện gần đây, Bộ trưởng thương mại Wilbur Ross đã vấp phải công kích của Thượng nghị sĩ Chuck Grassley đến từ bang Iowa chuyên trồng đậu tương, Chuck Grassley chỉ trích Donald Trump theo đuổi kinh tế theo chủ nghĩa trọng thương, chứ không phải kinh tế thị trường tự do. Lãnh tụ phe đa số tại thượng viện Mitch McConnell đến từ tiểu bang Kentucky cho rằng Trung Quốc là thị trường lớn nhất của các loại hàng hóa xuất khẩu chủ yếu của bang này – rượu Wihsky. Trong thời gian Donald Trump đến thăm Trung Quốc năm 2017, Tập đoàn năng lượng quốc gia Trung Quốc đã ký bản ghi nhớ hợp tác với tiểu bang Tây Virginia, cam kết sẽ đầu tư 83,7 tỷ USD để tham gia dự án kiểu mẫu khai thác trong toàn bộ chuỗi ngành nghề khí đá phiến. Do kinh tế của tiểu bang Tây Virginia phụ thuộc nghiêm trọng vào khai thác than đá gặp nhiều khó khăn, nên khi Donald Trump rút khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, tỷ lệ ủng hộ của ông ở bang này đạt 70%. Khoản đầu tư này sẽ thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế và việc làm của bang này, còn có lợi cho việc bảo vệ môi trường, hiện nay lại bị quan hệ kinh tế thương mại ngày càng căng thẳng gác lại.

Ngày 11/7, cùng ngày Mỹ công bố danh sách áp thuế 200 tỷ USD hàng hóa của Trung Quốc, đoàn đại biểu của thành phố Chicago đến thăm Trung Quốc, không những đã ký Kế hoạch hợp tác 5 năm để bảo đảm các hạng mục đầu tư liên quan sẽ không bị gián đoạn, mà thị trưởng thành phố Chicago còn công khai bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác kinh tế thương mại với Trung Quốc. Tiểu bang Illinois với thành phố Chicago điển hình không những có các công ty đa quốc gia như Boeing, Caterpillar, McDonald’s, Abbott…, mà còn có hơn 50 doanh nghiệp Trung Quốc như tập đoàn lương thực quốc doanh lớn nhất Trung Quốc COFCO, ngân hàng Trung Quốc, hãng hàng không Hải Nam, tập đoàn sản xuất kính Fuyao, tập đoàn Wanxiang… Không ít trong số các bang này bày tỏ sự bất mãn đối với cuộc chiến thương mại mà Donald Trump thực hiện với Trung Quốc. Tiểu bang Michigan là nơi đặt trụ sở chính cảu General Motors, Ford, Daimler AG và Chrysler; tiểu bang Ohio có Procter & Gamble (P&G), Chrysler, American Electric Power; tiểu bang California có Apple, Walt Disney, những bang này đều phê phán chính sách thương mại cấp tiến của Donald Trump. Ngày 19/7/2018, thống đốc của 22 bang tham dự Hội nghị hàng năm Hiệp hội thống đốc các bang Mỹ, căn cứ theo cuộc điều tra của Tổng hội thương mại chung Trung Quốc tại Mỹ (CGCC), doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Mỹ đã tạo ra 200.000 việc làm ở các bang như Ohio, Indiana, Pennsylvania, Michigan, California, các thống đốc bang đã thảo luận tích cực về việc làm thế nào để đối phó với cuộc chiến thương mại, tăng cường quan hệ kinh tế thương mại với Trung Quốc. Theo cơ chế thu nhập từ thuế hiện nay của Mỹ, so với chính quyền liên bang, chính quyền bang thực chất tương đối độc lập, không cần phải chịu trách nhiệm với tổng thống và có quyền quản lý tự chủ rất lớn, cũng như có trách nhiệm thúc đẩy việc làm của người dân trong bang của mình. Chính quyền bang có ảnh hưởng tương đối lớn đối với quyết sách của Thượng viện và Hạ viện. Điều này cũng có nghĩa là nếu chinh phục được chính quyền các bang này, thì sẽ nắm được quyền bỏ phiếu của lưỡng viện ở mức độ rất lớn, và sẽ có cơ hội kiềm chế Donald Trump.

Các công ty đa quốc gia của Mỹ là nạn nhân của cuộc chiến thương mại

Các hội đoàn kinh tế thương mại phê phán biện pháp của cuộc chiến thương mại

Hội đoàn kinh tế thương mại lớn nhất của Mỹ là Phòng thương mại Mỹ (USCC) gần đây công khai phê phán cách làm của Donald Trump gây ra cuộc chiến thương mại, chỉ trích biện pháp đe dọa áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc của Nhà Trắng sẽ làm tổn hại lợi ích của người tiêu dùng Mỹ, làm suy yếu lợi ích đầu tư của Mỹ ở nước ngoài, đồng thời có thể bóp méo thực sự mối liên hệ kinh tế thương mại giữa Mỹ và các nền kinh tế quan trọng khác trên thế giới. Chủ tịch Phòng thương mại Mỹ Thomas J. Donohue liệt kê những tổn thất do cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ gây ra cho kinh tế các bang của Mỹ. Chủ tịch Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung John Frisbie công khai công rằng “Đã đủ rồi. Chúng ta cần phải ngừng cuộc chiến áp thuế leo thang không cần thiết và bắt đầu tìm phương án giải quyết vấn đề mà doanh nghiệp Mỹ quan tâm thực sự, áp thuế không giải quyết vấn đề”. Tổ chức này đã đưa ra các kiến nghị như kháng án lên WTO, đàm phán hiệp định đầu tư song phương… Năm 2016, Trung Quốc đã khẩu các bộ phim của Mỹ với tổng giá trị là 16 tỷ USD. Năm 2018, Bản ghi nhớ Trung – Mỹ về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến phim trong WTO với thời hạn 5 năm được ký vào năm 2012 sẽ được tái đàm phán, số lượng các bộ phim của Mỹ mà ngành sản xuất phim Mỹ vốn dự tính được phê chuẩn sẽ tăng lên. Tuy nhiên, từ tình hình hiện nay cho thấy Hollywood có thể trở thành vật hy sinh của cuộc chiến thương mại, thậm chí có thể trở thành mục tiêu của áp thuế trả đũa. Các nhà sản xuất phim của Mỹ cũng đang nỗ lực và tích cực thuyết phục Chính quyền Washington.

Lợi ích của các công ty đầu tư vào Trung Quốc bị tổn hại nghiêm trọng

Cựu Thứ trưởng thương mại Trung Quốc Ngụy Kiến Quốc viết bài cho rằng vài giờ sau khi Chính phủ Mỹ công bố áp thêm thuế đối với hàng hóa của Trung Quốc trị giá 34 tỷ USD vào ngày 6/7, không chờ đợi thông báo của Văn phòng đại diện thương mại, các bên liên quan có thể làm đơn xin miễn thuế theo điều khoản 301 cho một sản phẩm nào đó cho Mỹ trước ngày 9/10, với thời hạn miễn 1 năm. Trong danh sách áp thuế đợt đầu tiên, 59% sản phẩm do các công ty đa quốc gia sản xuất tại Trung Quốc, trong đó trên 70% sản phẩm do doanh nghiệp Mỹ gia công thương mại ở Trung Quốc, không thể thiếu trong dây chuyền ngành nghề toàn cầu. Để tránh làm tổn thương các doanh nghiệp trong nước, Chính phủ Mỹ đã nhanh chóng ném “vòng cứu sinh” miễn thuế. Theo thống kê, trong danh sách áp thuế của Mỹ, có một phần là các sản phẩm du lịch như xe đẩy, ví, ba lô và giày du lịch. Đây là một thị trường của Mỹ trị giá 31 tỷ USD, trong đó 87% sản phẩm đến từ Trung Quốc. Vì vậy, Phó chủ tịch liên đoàn bán lẻ Mỹ đã đứng lên phản đối cuộc chiến thương mại, lý do đơn giản rằng ông không thể tìm được nhiều lựa chọn thay thế cho các sản phẩm này ở các nước khác. Phòng Thương mại Mỹ ở Thượng Hải khẩn cấp công bố một khảo sát cho thấy 69% doanh nghiệp Mỹ ở Trung Quốc phản đối việc chính phủ coi việc áp thêm thuế như con bài thương lượng, càng không muốn các công ty trở thành mục tiêu nhắm tới được chính phủ miễn giảm thuế hàng năm.

Làm suy yếu nghiêm trọng khả năng cạnh tranh của công ty Mỹ tại các thị trường mới nổi

Năm 2016, người tiêu dùng Trung Quốc mua 44,9 triệu chiếc điện thoại di động của Apple, 5,1 triệu xe của 3 thương hiệu lớn là GM, Ford, Chrysler, lần lượt chiếm 21% và 33% doanh thu toàn cầu của Apple và 3 thương hiệu xe ô tô nói trên. Doanh thu của GM Buick ở Trung Quốc là 42 tỷ USD, vượt qua 39 tỷ USD ở Mỹ và doanh thu của Apple là 46 tỷ USD, chỉ đứng sau ở Mỹ. Boeing có 41.000 máy bay mới, hơn 7000 chiếc được bán cho Trung Quốc. Từ năm 2017 Tập đoàn viễn thông ZTE đã mua linh kiện trị giá khoảng 2,3 tỷ USD từ 211 công ty của Mỹ, Chính phủ Mỹ đã xử phạt ZTE nặng nề, tuy nhiên, Trung Quốc cũng phụ thuộc vào con chip của Mỹ. Năm 2017, tổng giá trị sản lượng chip của thế giới là 440 tỷ USD, Trung Quốc chiếm 260 tỷ USD, trong đó 70% chip cao cấp của Mỹ đã được bán cho Trung Quốc. Trung Quốc chiếm hơn 65% doanh thu cảu Qualcom, 50% doanh thu của Micron, 50% của Broadcom và 23% của Intel (chỉ riêng kim ngạch tiêu thụ của 4 công ty trên sang Trung Quốc đã lên đến 50 tỷ USD). Mạch tích hợp và chất bán dẫn là các ngành đòi hỏi nhiều nghiên cứu và vốn, nếu bị mất thị trường Trung Quốc, khả năng cạnh tranh ngành nghề của Mỹ cũng sẽ chịu tác động nặng nề. Việc phong tỏa công nghệ của Mỹ có thể khiến các công ty công nghệ có động lực tới thành lập các nhà máy ở Trung Quốc để thúc đẩy doanh số bán hàng tại thị trường Trung Quốc.

Một trong những hãng sản xuất ô tô lớn nhất của Mỹ là GM đã công khai bày tỏ sự không hài lòng trước việc Trump phát động cuộc chiến thương mại, lo ngại điều này sẽ làm suy yếu khả năng cạnh tranh kinh tế của Mỹ và không có lợi cho triển vọng của nền kinh tế Mỹ. Theo Financial Times, giám đốc điều hành của công ty Boeing thường xuyên gặp các quan chức cấp cao của Chính quyền Trump, chủ tịch kiêm CEO của Boeing nói: “Tiếng nói của chúng tôi đang được lắng nghe. Chúng tôi được tiếp xúc với chính phủ Mỹ và Trung Quốc, tôi hy vọng chúng ta có thể đạt được một giải pháp tốt”. Thị trường Trung Quốc là thị trường có tốc độ tiêu thụ nhanh nhất của Telsa Motor, nhưng trong danh sách trả đũa thuế ngày 6/7 có cả xe ô tô nhập khẩu của Trung Quốc, Telsa Motor nâng giá tại Trung Quốc, phiên bản cấu hình tối thiểu tăng giá 140.000 NDT, cấu hình cao nhất 250.000 NDT. Ngày 11/7, Telsa Motor tuyên bố thành lập công ty ở Trung Quốc và thành lập một siêu nhà máy ở Thượng Hải. Lợi ích của các công ty đa quốc gia cũng có thể gây áp lực đối với Trump theo hình thức Chỉ số trurng bình công nghiệp Dow Jones, tạp chí “Foreign policy” có bài bình rằng Trump coi Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones là mũi tên chỉ hướng gió của chính cá nhân mình, đặc biệt Boeing nằm trong số khách hàng lớn nhất đặc biệt của Chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones, vì vậy khi chỉ số chứng khoán Dow Jones giảm, Chính quyền Trump cảm thấy cần phải đàm phán để giải quyết tranh chấp thương mại nhằm xoa dịu thị trường.

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Advertisements

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần III


Quan hệ cạnh tranh – hợp tác trong thời kỳ mới dẫn đến sự chuyển hướng trọng tâm được chú ý

Những năm 1990, đóng góp của MỸ đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 29,1%, tổng lượng của các nền kinh tế phát triển phương Tây với G7 làm đại diện là 76%, khi so sánh, đóng góp cảu Trung Quốc là 9% và của những nền kinh tế mới nổi và phát triển là 36,3%. Từ năm 2008 đến 2016, đóng góp của Mỹ và các nước phát triển đối với kinh tế thế giới giảm xuống mức 7,4% và 23,9%, còn đóng góp của Trung Quốc là 35,6% và các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển là 77,7%, thể hiện rõ xu thế phương Đông tiến lên, phương Tây thụt lùi. Năm 2005, tổng lượng GDP của Trung Quốc đã vượt qua Anh, năm 2007 vượt qua Đức, năm 2010 đã thay thế Nhạt Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2012, tổng lượng kinh tế Trung Quốc đạt đến một nửa của Mỹ, năm 2017 đã lên tới mức 2/3 tổng lượng kinh tế của Mỹ. Ngay từ năm 2011, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố một dự báo tính toán GDP trên cơ sở thuyết sức mua tương đương (PPP) cho rằng GDP của Trung Quốc có thể ngang bằng, thậm chí vượt qua Mỹ sau năm 2020. Báo cáo mới nhất của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và thế giới thuộc Đại học Thanh Hoa dự báo Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới sau năm 2025.

Tuy xem xét về mặt mức thu nhập bình quân đầu người của một nước, giữa Trung Quốc và Mỹ còn có khoảng cách khá lớn, tổng lượng kinh tế giữa hai nước xích lại gần nhau, sự phát triển công nghệ của Trung Quốc đang trong quá trình rượt đuổi Mỹ và ảnh hưởng của Trung Quốc không ngừng gia tăng trên vũ đài quốc tế đều có dấu ấn cạnh tranh quyết liệt về tâm lý của giới tinh hoa, dân chúng Mỹ và quan hệ Trung – Mỹ. Chắc chắn, Trung Quốc đã bị Mỹ coi là đối thủ cạnh tranh chủ yếu, từ “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” công bố vào ngày 18/12/2017, “Báo cáo chiến lược quốc phòng” được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố vào ngày 19/1/2018 đến “Chương trình chính sách thương mại năm 2918 và Báo cáo hàng năm năm 2017” do Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ công bố tháng 2/2018 đều nâng vấn đề thương mại với Trung Quốc lên tầm cao của an ninh quốc gia Mỹ. Trong báo cáo điều tra liên quan đến Mục 301 của Đạo luật thương mại Mỹ năm 1974 dài 184 trang, từ “nhập siêu” chỉ xuất hiện một lần, mục tiêu liên quan đến Mục 301 mà Đại diện thương mại Mỹ công khai tuyên bố chính là chĩa mũi nhọn vào chiến lược “Made in China 2025”. Ngày 8/11/2017, Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã lần lượt đề xuất một dự thảo “Luật hiện đại hóa đánh giá rủi ro từ đầu tư của nước ngoài”, một trong những người khởi xướng đạo luật này là hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Robert Pittenger cho biết bộ luật sẽ đảm bảo khoa học công nghệ Mỹ duy trì vị trí đứng đầu.

Thái độ của Chính phủ Mỹ đối với chiến tranh thương mại thể hiện rất đa dạng

Nghị sỹ hai đảng của Mỹ đưa ra tiếng nói phản đối tại Quốc hội

Ngày 11/7/2018, với 88 phiếu thuận/11 phiếu chống, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết hạn chế quyền áp thuế của Tổng thống Donald Trump. Đây là lần hiếm hoi hai đảng thể hiện lập trường đồng nhất. Tuy là nghị quyết không mang tính ràng buộc, nhưng việc hai đảng có tư tưởng thống nhất và cùng hành động trong cơ chế lập pháp chung lần này, đã truyền đi tín hiệu rằng thể chế chính trị của Mỹ bắt đầu quan ngại đối với chính sách thương mại cấp tiến của Chính quyền Donald Trump. Ngày 18/7/2018, tiếp tục có 140 nghị sĩ cùng lên tiếng phản đối việc chính phủ áp thuế ô tô, cho rằng việc áp thuế đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, thực hiện hạn ngạch thương mại hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khác sẽ làm tổn hại sự phát triển của ngành ô tô Mỹ. Việc Donald Trump gây sức ép với Trung Quốc là có cơ sở quần chúng, ví dụ như cuộc thăm dò dư luận do Trung tâm nghiên cứu Pew công bố ngày 19/7 cho thấy 49% người Mỹ được hỏi cho rằng việc áp thuế đối với các đối tác thương mại không có lợi cho Mỹ, trái lại 40% số người được hỏi cho rằng hành động này có lợi cho Mỹ, chỉ có 11% số người được hỏi không biết Mỹ sẽ phải chịu những ảnh hưởng nào. Nếu sự ủng hộ đối với chính sách thương mại của Donald Trump được duy trì ổn định, thì vì sao người của đảng Cộng hòa lại không đoàn kết xung quanh Donald Trump, trái lại còn gây khó khăn cho tổng thống?

Nội bộ đội ngũ của Donald Trump cũng có bất đồng

Đầu tháng 5/2018, Nhà Trắng cử phái đoàn thương mại Mỹ gồm 7 người đến Bắc Kinh đàm phán. Học giả của Đại học Phúc Đán Trung Quốc phân tích, từ góc độ thực dụng cho thấy đội ngũ đàm phán là “tổ hợp của phe diều hâu và phe bồ câu”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross được xem là người của phe bồ câu, vì ông – một người am hiểu tình hình Trung Quốc – từng đầu tư xưởng lắp ráp linh kiện ô tô ở Quảng Đông vào những năm 1990, năm 2005 tập đoàn may mặc quốc tế của ông đầu tư 100 triệu USD vào thành phố Gia Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông cũng là nạn nhân trong cuộc chiến thương mại gang thép của Mỹ, nhưng vì những kinh nghiệm nàyên ông từng bị Donald Trump công khai phê phán là mềm yếu trong chính sách đối với Trung Quốc, sau này thái độ của ông đối với Trung Quốc cũng dần trở nên cứng rắn. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Terry Branstad được coi là người thuộc phe bồ câu thân Trung Quốc chủ yếu là vì ông đến từ bang xuất khẩu nông nghiệp sang Trung Quốc luôn có quan hệ hữu nghị với giới kinh doanh và giới chính trị Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin từng làm việc cho ngân hàng Goldman Sachs là người ủng hộ dự luật cải cách thuế và kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, từng phản đối việc đưa Trung Quốc vào danh sách các nước thao túng tỷ giá hối đoái, đượ ccho là người thuộc phe trung gian. Điều thú vị là trong tuyên bố được đưa ra sau đàm phán, Nhà Trắng đã nhấn mạnh chủ trương của Mỹ là nhận thức chung của đội ngũ đàm phán, điều này đã làm cho bên ngoài suy đoán về những bất đồng trong đàm phán. Theo quan sát của học giả Derek Scissors thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), sở dĩ hiện nay Donald Trump chưa có chiến lược trong chính sách thương mại đối với Trung Quốc là vì nội bộ chính phủ có những ý kiến khác nhau.

Các giới kinh tế, ngành nghề của Mỹ đưa ra lời cảnh báo

Trước khi cuộc chiến thương mại diễn ra, có phương tiện truyền thông đưa tin 1140 nhà kinh tế học của Mỹ, trong đó có 14 người từng đoạt giải Nobel, cùng gửi thư cho Donald Trump, khẩn cầu tổng thống không nên phạm sai lầm dẫn tới cuộc đại suy thoái của Mỹ. Không lâu trước đó, 25 nhà bán lẻ nổi tiếng của Mỹ gồm Walmart, Macy’s, Best Buy… cùng gửi thư cho Donald Trump, kêu gọi Chính phủ Mỹ không nên áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc để tránh làm tổn hại người tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của người làm công ăn lương, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. 45 hiệp hội ngành nghề đại diện cho lợi ích của ngành bán lẻ, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp và hàng tiêu dùng khác cũng bày tỏ áp thuế sẽ làm cho chi phí của ngành sản xuất Mỹ tăng lên, làm rối loạn chuỗi cung ứng hiện có, và làm giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến việc làm của Mỹ. Tháng 5/2018, khi Bộ Thương mại Mỹ khởi động cuộc điều tra theo điều 232 của Luật Thương mại Mỹ đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, có phương tiện truyền thông cho rằng “những người chỉ trích đang xếp hàng” để kêu gọi chính phủ từ bỏ áp thuế tại phiên điều trần. Hàng nghìn công nhân Mỹ được các nhà sản xuất ô tô nước ngoài thuê cũng biểu tình ở Capitol Hill, khoảng 150 nghị sĩ của hai đảng cũng lên tiếng phản đối việc áp thuế ô tô, phiên điều trần đã trở thành “cuộc bao vây tấn công” để các bên cùng lên tiếng phê phán. Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung Quốc (USCBC) đưa ra công văn cho rằng USCBC đồng ý với Chính quyền Donald Trump – hiện trạng chuyển giao công nghệ của Trung Quốc và sự bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ quả thực cần được chú trọng, nhưng doanh nghiệp Mỹ vẫn hy vọng nhìn thấy phương án giải quyết những vấn đề này, chứ không chỉ là đơn phương áp thuế trừng phạt cuối cùng có thể gây ra tổn thất lớn hơn. Chủ tịch Hiệp hội thương mại Mỹ tại Trung Quốc William Zarit cho biết các đoàn thể thương mại tỏ ra rất quan ngại trước sự đáp trả do các biện pháp áp thuế của Chính quyền Donald Trump và hạn chế Trung Quốc đầu tư ở Mỹ có thể gây ra cũng như những tổn thương có thể gây ra đối với kinh tế Mỹ và thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần II


Doanh nghiệp Mỹ đã giành được phần lớn lợi nhuận trong thương mại Trung – Mỹ

Báo cáo của Bộ Thương mại Trung Quốc nêu rõ 59% xuất siêu của Trung Quốc năm 2017 đến từ thương mại gia công, 57% đến từ doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp ở Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ có thể nói chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2010 cho biết trong số các hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc như dệt may, da giày…, lợi nhuận mà thương nhân nhập khẩu và thương nhân bán lẻ ở Mỹ được hưởng chiếm tới 90% tổng lợi nhuận. Doanh nghiệp xuất khẩu nhiều nhất của Trung Quốc năm 2017 là Công ty Foxconn Trịnh Châu đã sản xuất điện thoại cho Công ty Apple của Mỹ với số tiền là 104 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH], dường như đã chiếm một nửa lượng tiêu thụ điện thoại của Apple trên toàn thế giới, kim ngạch lên tới 28,1 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH]. Điện thoại iPhone được thiết kế, nghiên cứu và phát triển ở Mỹ, nhưng trên 80% linh kiện lắp ráp được sản xuất tại Trung Quốc. Một bài viết trên tờ Foreign Affairs ước tính khi bán một chiếc điện thoại iPhoneX với giá 999 USD, chi phí chế tạo ở Trung Quốc chỉ từ 3 đến 6% tổng chi phí 370 USD, công ty Apple đã giành được phần lớn lợi nhuận. Công ty Apple có tài sản bao gồm tiền mặt và cổ phiếu lên tới 250 tỷ USD ở nước ngoài, sau khi quốc hội Mỹ thông qua dự thảo luật cải cách thuế, công ty này tuyên bố sẽ thanh toán một lần khoản thuế đánh vào lợi nhuận ở nước ngoài với số tiền là 38 tỷ USD, rút số tiền 245,1 tỷ USD ở nước ngoài về Mỹ, đồng thời có kế hoạch đầu tư hơn 350 tỷ USD tại Mỹ trong 5 năm tới, tăng thêm 20.000 việc làm, điều này tương đương với việc đem số tiền kiếm được ở Trung Quốc trở về Mỹ. Tập đoàn Foxconn sản xuất điện thoại iPhone cho Apple đã quyết định xây dựng nhà máy ở Mỹ, tổng đầu tư lên tới 10 tỷ USD, sẽ cung cấp 13000 việc làm tại bang Wisconsin. Có thể nói, trong chuỗi giá trị toàn cầu, xuất siêu phản ánh ở Trung Quốc, nhưng xuất siêu lợi ích lại phản ánh ở Mỹ.

Tốc độ tăng trưởng xuất siêu thương mại dịch vụ nhanh chóng với kim ngạch rất to lớn

Cách tính toán của Mỹ lấy kim ngạch nhập khẩu trừ đi kim ngạch xuất khẩu thấy tình trạng nhập siêu đã không xem xét đến tăng trưởng thương mại dịch Mỹ – Trung. Trong 10 năm qua, tăng trưởng xuất khẩu của ngành dịch vụ Mỹ sang Trung Quốc đã tăng gấp 5 lần. Năm 2017, kim ngạch thương mại dịch vụ giữa Trung Quốc và Mỹ là 118,2 tỷ USD, trong đó giá trị dịch vụ của Mỹ được Trung Quốc mua lên tới 90 tỷ USD, mà kim ngạch 90 tỷ USD đó không được thể hiện trong tính toán thương mại Trung – Mỹ. Hội đồng thương mại Mỹ – Trung nêu rõ Trung Quốc là điểm lớn thứ hai của ngành xuất khẩu dịch vụ của Mỹ, tổng số tiền xuất siêu dịch vụ của Mỹ sang Trung Quốc là 53 tỷ USD (Trung Quốc thống kê là 54,7 tỷ USD). Phần xuất sei6u dịch vụ sang Trung Quốc của Mỹ đã bị bỏ qua mà không tính đến.

Thay đổi môi trường kinh tế chính trị trong nước và quốc tế là nhân tố quan trọng gây ra va chạm thương mại

Sự thay đổi môi trường chính trị bên trong nước Mỹ là động lực quan trọng

Va chạm thương mại có liên quan đến nền tảng chính trị của quan hệ thương mại Trung – Mỹ có sự thay đổi. Chuyên gia nổi tiếng về kinh tế chính trị học của Đại học Harvard (Mỹ) Dani Rodrik cho rằng chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến việc tái phân phối trong chính sách đối nội của một quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế đã tạo ra kẻ thắng và người thua ở Mỹ, sự chia rẽ giữa giới tinh hoa của Mỹ và giới bảo thủ truyền thống ở Mỹ do tích tụ vấn đề trong nhiều năm đã giúp Trump đắc cử tổng thống, do đó hiện tượng Trump là sự phản ánh ở mức độ nhất định nguyện vọng của nhân dân.

Có học giả Mỹ cho rằng: “Trump thiếu kiên nhẫn hơn các tổng thống tiền nhiệm, nguyên nhân là sự mỏng yếu của ông về chính trị, 2018 cũng là năm diễn ra cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, Trump phải giành được thắng lợi to lớn về ngoại giao để sánh ngang với những việc làm vĩ đại của Nixon năm 1972”. Để làm hài lòng cư tri thuộc tầng lớp hạ lưu bị tác động ở những bang có nền công nghiệp “sắt gỉ” (ngành công nghiệp cũ bị suy thoái) trong tiến trình xóa bỏ công nghiệp hóa ở Mỹ, Trump mong muốn thông qua phương thức chiến tranh thương mại quyết liệt để thể hiện mình là người thực hiện cam kết khi tranh cử, là người anh hùng giúp người Mỹ nguôi giận, gia tăng khả năng chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử quốc hội lần này, động cơ rõ ràng đó đã được sự đồng thuận của đông đảo mọi người. Ngoài ra, nội bộ Nhà Trắng từ hơn một năm rưỡi cầm quyền của Trump có sự biến động liên tục về nhân sự, sau hàng loạt hành động “tẩy rửa biển hiệu”, bao gồm hàng loạt người thuộc phái ôn hoa như Gary Cohn đến từ Wall Street bị sa thải, hạt nhân của nhóm giúp việc cho Trump về kinh tế hiện nay thể hiện sự cứng rắn rõ ràng đối với Trung Quốc, những người đại diện tiêu biểu nhất là Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer và Cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro (Cuốn sách “Chết bởi Trung Quốc” của Navarro trở thành cương lĩnh để Mỹ tấn công thương mại đối với Trung Quốc). Tháng 3/2018, Trump cũng đã bổ nhiệm John Bolton làm Cố vấn an ninh quốc gia, Mike Pompeo làm ngoại trưởng, tạo thành một nội cách mà phe diều hâu mạnh nhất trong lịch sử Mỹ.

Sự thúc đẩy trực tiếp từ chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Trung Quốc và Mỹ

Cải cách mở cửa được 40 năm, thành công trong phát triển kinh tế Trung Quốc đã thể hiện sự chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Mô hình phát triển tăng trưởng cao dựa vào lực lượng lao động đông đảo và định hướng xuất khẩu được các chuyên gia kinh tế gọi là mô hình phát triển công xưởng của thế giới, làm cho kinh tế Trung Quốc nhanh chóng vươn lên, nhảy vọt trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, mô hình phát triển công xưởng của thế giới dựa vào tiêu hao tài nguyên nhiều, lợi thế dân số, trả giá về môi trường và bán nhiều lãi ít đã đi đến hồi kết. Xem xét từ cấp độ vĩ mô, có thể xuất siêu lớn mà xuất khẩu giành được có nhân tố nhất định từ tình trạng quá dư thừa tính lưu động, xem xét về vi mô, có thể thấy sự thay đổi cơ cấu lao động làm cho ưu thế về giá thành trong ngành chế tạo tập trung nhiều lao động không còn nữa, ngành chế tạo với công nghệ lạc hậu đã mất khả năng cạnh tranh trên thế giới. Trung Quốc cũng như cộng đồng quốc tế không thể tiếp tục thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều rộng như tiêu hao nhiều tài nguyên, lượng khí thải cao, môi trường ô nhiễm nặng… Kinh tế Trung Quốc đang trải qua sự chuyển đổi mô hình sâu sắc, mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực chuyển sang lấy tiêu dùng làm động lực cần thông qua không ngừng ưu việt hóa cơ cấu sản xuất, thông qua đổi mới công nghệ để thực hiện nâng cấp ngành sản xuất, nâng lên vị trí cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là nội dung cốt lõi của kinh tế Trung Quốc từ tăng trưởng với tốc độ cao chuyển sang giai đoạn phát triển chất lượng cao trong bối cảnh thời đại mới.

Nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương, cũng đang gặp rắc rối khi kinh tế suy thoái, từ số liệu thống kê của Cơ quan phân tích kinh tế M4y (BEA), có thể thấy sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên được gọi là “thời kỳ 4%”, thời kỳ đó là giai đoạn tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 1950 đến 1960 là 4,2%; giai đoạn từ năm 1970 đến 1990 tăng trưởng chậm lại xuống còn 3,3%, giai đoạn hai gọi là “thời kỳ 3%”; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 thuộc “thời kỳ 2%”, tốc độ tăng bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 là 2,7% từ năm 2007 đến 2017 đã giảm xuống còn 2,3%. Giáo sư Lư Phong ở Đại học Bắc Kinh phân tích rằng xu thế kinh tế tăng trưởng chậm lại đã tạo ra tình trạng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào chính sách kích thích nới lỏng tiền tệ. Với mô hình phân công quốc tế toàn cầu hóa, ngành công nghiệp Mỹ đã xuất hiện xu hướng lưỡng cực hóa – một cực là ngành sản xuất chất lượng cao tập trung nhiều tri thức và công nghệ, một cực khác là nông nghiệp, kết quả là làm suy yếu ngành chế tạo của Mỹ. Cựu chủ tịch Ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Alan Greenspan cho rằng ảnh hưởng dự trữ ngoại tệ của Mỹ đối với đầu tư trước năm 1980 rất rõ ràng, tăng trưởng kinh tế sau năm 1980 đã tìm được một động lực khác là tín dụng, các khoản vay của Mỹ trên toàn thế giới đã nhanh chóng tăng lên 8000 tỷ USD, nhanh chóng chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội tiêu dùng. Do đó, theo quan điểm của nhiều người, vấn đề mà Trump khởi xướng không phù hợp với “chấn hưng ngành chế tạo”  theo đặc trưng kinh tế Mỹ, là một điều chỉnh mà ông cho rằng do toàn cầu hóa trước đây đã đưa lộ trình phát triển kinh tế Mỹ vào con đường sai lầm. Đối với việc tấn công về thuế nhằm vào Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Canada, Mexico…, kết hợp với nhóm biện pháp kinh tế giảm thuế với quy mô lớn và hạn chế tăng lãi suất, theo quan điểm của nhóm giúp việc cho Trump, sẽ đẩy nhanh sự lưu động của đầu tư toàn cầu về Mỹ, thúc đẩy ngành chế tạo “trở về” Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần I


Căn cứ vào số liệu thống kê thương mại mới nhất do Bộ Thương mại Mỹ công bố, nhập siêu của Mỹ năm 2017 cao kỷ lục trong 9 năm gần đây, lên tới 566 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017 giữa Mỹ và Trung Quốc là 635,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc của Mỹ chỉ là 130,3 tỷ USD. Mỹ đã nhập khẩu 505,6 tỷ USD từ Trung Quốc, nhập siêu là 375,2 tỷ USD. Nhập siêu lớn mà Mỹ tính toán có phải do thương mại bất bình đẳng với Trung Quốc hay không? Xem xét từ nguyên lý thương mại và thực tế của quan hệ thương mại Trung – Mỹ, sự mất cân bằng thương mại song phương được hình thành từ những phương diện sau:

Vấn đề mang tính cơ cấu do sự phát triển kinh tế thế giới nhanh chóng

Nhập siêu là kết quả tất yếu từ vị thế vượt trội của đồng USD trong hệ thống tiền tệ quốc tế

Về nguyên lý kinh tế, mất cân bằng thương mại của Mỹ trước hết là do dự trữ tiền tiết kiệm quốc dân của nước này. Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế nổi tiếng Martin Feldstein cho thấy: Xuất khẩu ròng = (dự trữ cá nhân – đầu tư) + (thuế thu được – chi ngân sách chính phủ). Quan điểm chung là sự mất cân bằng thương mại của một quốc gia về căn bản không phải chứng tỏ quốc gia đó căn cứ vào số liệu về nguồn thu để xác định nguyên tắc chi ngân sách, mà là trạng thái thu không bù được chi. Nếu kim ngạch đầu tư của Mỹ vượt trên số lương dự trữ của cả đất nước thì phải thu hút nguồn tiền từ các khu vực khác trên thế giới để bù đắp vào sự thiếu hụt giữa hai bên, cũng đã tạo ra nhập siêu hiện nay. Ngoài ra, sử dụng hệ thống dự trữ tiền tệ quốc tế với trụ cột là nguồn vay cảu chính phủ Mỹ, một mặt in nhiều đồng USD mà Mỹ không sợ lạm phát để duy trì mức độ tiêu dùng vượt quá năng lực sản xuất của họ, mặt khác sự lưu động của đồng USD trở thành sản phẩm công cộng của hệ thống thương mại quốc tế. Chuyên gia kinh tế nổi tiếng Triffin Dilemma cho rằng một khi đồng tiền của một quốc gia trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế có tầm ảnh hưởng thế giới, nhất định sẽ nhập siêu về thương mại, đồng thời nếu Mỹ không duy trì nhập siêu, tính lưu động của đồng USD sẽ giảm đi, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại toàn cầu.

Tiết kiệm của hộ gia đình liên tục giảm đi và trái phiếu của Mỹ tăng vọt làm gia tăng sự chênh lệch về thương mại

Gần 20 năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình tại Mỹ liên tục giảm, tỷ lệ này đã giảm từ 8% vào những năm 1990 xuống còn 1,75% năm 2006, giảm xuống mức âm vào 6 tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ nợ của Mỹ giảm từ 49% năm 1994, xuống còn 34% năm 2000, nhưng lại tăng lên 70% vào năm 2006. Tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình năm 2017 giảm xuống mức 3,6% mà tỷ lệ nợ của nhà nước đã lên tới hơn 100%.

Hệ thống phân công quốc tế hiện tại đã quyết định cục diện thương mại Trung – Mỹ

Lợi thế so sánh tương đối của Mỹ là ngành tập trung nhiều vốn, lợi thế so sánh cảu Trung Quốc là ngành sản xuất tập trung nhiều lao động. Tỷ lệ ngành sản xuất sơ cấp chiếm 8% trong GDP của Trung Quốc, tỷ lệ này chỉ chiếm 1% ở Mỹ; tỷ lệ ngành sản xuất công nghiệp (ngành sản xuất thứ hai) chiếm 20% GDP của Trung Quốc, chỉ chiếm 12% GDP của Mỹ; 53% GDP của Trung Quốc đến từ ngành dịch vụ (ngành sản xuất thứ ba) cò tỷ lệ này chiếm 79% ở Mỹ, cơ cấu kinh tế của Trung Quốc có vai trò chủ đạo của nông nghiệp cơ sở và ngành chế tạo, cơ cấu kinh tế của Mỹ là ngành dịch vụ nắm vai trò chủ đạo. Xuất siêu ngành dịch vụ của Mỹ năm 2016 lên tới 249,4 tỷ USD, mà nhập siêu ngành dịch vụ của Trung Quốc cùng giai đoạn đó là 240,9 tỷ USD. Thương mại song phương giữa Trung Quốc và Mỹ có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước về lợi thế so sánh và cơ cấu kinh tế. Trong thương mại hàng hóa, Mỹ nhập siêu, trong thương mại dịch vụ, Trung Quốc nhập siêu. Từ năm 2006 đến 2014, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ của Mỹ đối với Trung Quốc hàng năm là 16,7%, lên tới 33 tỷ USD vào năm 2015, trong đó bao gồm du lịch và giáo dục (57,2%), tiền thuế bản quyền (12,3%), giao thông (10,1%), dịch vụ thương mại (7,7%) và dịch vụ tài chính (6,3%).

Việc quản lý xuất khẩu của Mỹ làm gia tăng chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước

Có thể nói, một nguyên nhân gây mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ hoàn toàn do việc Mỹ hạn chế xuất khẩu công nghệ cao sang Trung Quốc, luôn không thay đổi màu sắc của Chiến tranh Lạnh. Năm 2001, tỷ trọng sản phẩm công nghệ của Mỹ trong tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc là 16,7%, tỷ lệ này gảim xuống còn 8,2% năm 2016. Việc làm này không tương xứng với địa vị cường quốc công nghệ của Mỹ và hiện trạng của đối tác quan trọng thuơng mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo báo cáo của Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie được công bố vào tháng 4/2017, nếu mức độ hạn chế xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc giảm xuống bằng mức mà Mỹ dành cho Brazil, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc có thể giảm tối đa ở mức 24%; nếu Mỹ giảm bằng mức hạn chế đối với Pháp, nhập siêu có thể giảm tối đa 34%.

Phương pháp thống kê truyền thống có sự đánh giá sai lầm nghiêm trọng về chênh lệch cán cân thương mại Trung – Mỹ

Đã hình thành cục diện đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu

Theo báo cáo nghiên cứu công bố vào tháng 3/2018 của quốc hội Mỹ, trong chuỗi giá trị toàn cầu, sản phẩm giữa Trung Quốc và Mỹ dường như đã đạt đến bước đi “có linh kiện Mỹ trong sản phẩm của Trung Quốc, có linh kiện Trung Quốc trong sản phẩm Mỹ”. Ví dụ như sản phẩm điện tử, cả thế giới có hơn 900 nhà máy nhận thầu chế tạo vỏ ngoài cho các sản phẩm của công ty Apple, trong đó, số nhà máy ở Trung Quốc là 358. Trong số 10 nhà máy sản xuất chip của Intel của Apple, có 3 nhà máy đặt ở Mỹ, 2 nhà máy đặt ở Trung Quốc. Trung Quốc và Mỹ triển khai hợp tác thương mại là kết quả tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, phân công sản xuất quốc tế, sắp đặt ưu hóa nguồn lực. Mỹ đứng ở vị trí cao và trung bình trong chuỗi giá trị toàn cầu, Trung Quốc ở vị trí trung bình thấp. Cùng với sự điều chỉnh trong chuỗi sản xuất và sự phát triển xuyên quốc gia của chuỗi cung ứng, việc thiết kế và hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm giá trị gia tăng cao có quan hệ ngày càng chặt chẽ với sản xuất và khâu lắp ráp chi phí thấp, doanh nghiệp Mỹ đã nắm chắc được các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế sản phẩm, chế tạo linh kiện cốt lõi, vận chuyển lưu kho và kinh doanh tiêu thụ…, từ đó giành được phần lớn lợi nhuận. Xem xét từ góc độ giá trị gia tăng, căn cứ vào báo cáo “Giá trị thương mại gia tăng” do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố năm 2011, giá trị gia tăng trong nước của hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ chỉ chiếm 46%. Số liệu thống kê năm 2016 cho thấy 77% xuất khẩu giá trị gia tăng cao của Trung Quốc là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất. Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs của Mỹ ước tính chỉ có 30% xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ là hàng hóa xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, còn 46% là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất.

Phương pháp thống kê của Mỹ quá đơn giản và xa rời tình hình thực tế

Chính quyền Trump lâu nay lấy tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ là 375,2 tỷ USD làm lý do chính đáng để phát động chiến tranh thương mại, thực tế cho thấy đó là điều cần phải xem xét lại. Thứ nhất, cách tính chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước có sự khác biệt, chênh lệch giữa các con số lại khá lớn. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc về thương mại Trung – Mỹ năm 2017, chênh lệch cán cân thương mại là 275,8 tỷ USD, trong đó số liệu vênh nhau là 99,4 tỷ USD. Thứ hai căn cứ theo “nguyên tắc xuất xứ hàng hóa” của Mỹ thì Mỹ xuất siêu vào Hong Kong lên tới 32 tỷ USD và xuất siêu gián tiếp sang Đại lục, Trung Quốc với hình thức tái xuất từ Hong Kong, Ma Cao lên tới 100 tỷ USD, đều không được tính vào kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo quan điểm của giáo sư Kim Xán Vinh của Đại học nhân dân Turng Quốc, chênh lệch thực sự về thương mại giữa hai nước chỉ là 220 tỷ USD. Cuối cùng, tính toán theo giá trị gia tăng, xuất siêu của Trung Quốc đã thu hẹp đi nhiều. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Oxford nêu rõ có 44% sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ là “sản phẩm trung gian”, nếu cắt giảm phần giá trị này đi, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc sẽ giảm 50% cũng là mức nhập siêu của Mỹ từ Liên minh châu Âu (EU). Căn cứ vào tính toán của Ngân hàng Deutch, nếu xem xét nhân tố giá trị gia tăng, với giả thiết là cơ cấu xuất khẩu hông có sự thay đổi rõ rệt, nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ trên thực tế năm 2017 chỉ khoảng 31 tỷ USD.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Sự kết thúc của TPP: một “phi sự kiện” với hậu quả lớn


Barthélémy Courmont

Trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ, Donald Trump đã hứa sẽ chấm dứt Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), ngay khi bước vào Nhà Trắng ngày 23/1, ông đã giữ lời hứa này bằng cách ký văn bản chấm dứt việc Mỹ tham gia TPP.

Trên thực tế, quyết định này kết thúc Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương, vốn từng được sắp đặt theo sáng kiến của Chính quyền Obama và tập hợp 12 quốc gia gồm Mỹ, Canada, Mexico, Peru, Chile, Australia, New Zealand, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Việt Nam và Brunei. Chấm dứt một thỏa thuận mà Trump từng phản đối nội dung của nó, nếu bản thân sự lựa chọn này của Donald Trump không phải là một sự kiện trọng đại, điều này mang lại tấn tượng đầu tiên về chính sách của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, và mở ra một kỷ nguyên mới trong cân bằng quyền lực với Trung Quốc, quốc gia mà TPP từng được thai nghén để chống lại. Theo quan điểm này, những hậu quả của việc chấm dứt TPP sẽ là nghiêm trọng và nó cũng không chỉ giới hạn trong giao lưu kinh tế và thương mại.

TPP, một hiệp định hạn chế

Trong quá trình ký kết hiệp định, sau một thời kỳ đàm phán lâu dài, TPP đã đạt được miêu tả như một thỏa thuận thương mại tự do quy tụ 12 quốc gia với dân số hơn 800 triệu người, và chiếm tới 40% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, đằng sau những con số thoạt nhìn đầy ấn tượng này ẩn giấu thực tế của một hiệp định với phạm vi ảnh hưởng hạn chế, đặc biệt đối với khu vực châu Á. Chỉ có 5 quốc gia châu Á ký hiệp định này, trong số đó chỉ duy nhất Nhật Bản là thành viên của G-20. Hàn Quốc, quốc gia đã có một số thỏa thuận thương mại tự do với Hoa Kỳ, không tham gia TPP, Indonesia cũng không tham gia, còn Trung Quốc bị loại trừ một cách có chủ ý, mục tiêu cụ thể của TPP là lập một “mặt trận đối lập” với sự trỗi dậy của Trung Quốc torng các lĩnh vực kinh tế và thương mại trên quy mô châu lục (và nói chung là trên toàn thế giới). Rõ ràng, những đòn bẩy, công cụ của TPP khiêm tốn hơn nhiều so với tham vọng của hiệp định và thậm chí, TPP dường như chẳng là gì so với gia tăng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của Bắc Kinh, vốn là những quốc gia mà TPP từng hướng đến, nhưng nó lại không có phương tiện để chống lại sự mở rộng trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng này.

Phía Mỹ, hiệp định từng được miêu tả như một phương tiện phục hồi kinh tế. Theo Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC), TPP sẽ cho phép Hoa Kỳ tăng GPD lên 0,15% từ nay tới năm 2032, và gia tăng xuất khẩu của nước này lên 1%. Ngoài thực tế là điều này vẫn khá khiêm tốn (nếu ở đây, chúng ta đang nói về 40% GDP toàn cầu), các ước tính vẫn đang gây tranh cãi, và không nhất thiết mang lại nhiều giá trị hơn so với việc gia tăng các hiệp định song phương, chẳng hạn như hiệp định đang có với Hàn Quốc.

Nói về phần nội dung, Hiệp định bao gồm 30 chương về việc giảm thuế hải quan, các vấn đề sở hữu trí tuệ, môi trường, quyền lao động, tiếp cận thị trường mua sắm chính phủ, hoặc một thỏa thuận bảo vệ đầu tư. Về những điểm khác nhau này, có thể nêu lên nhiều vùng tối với các hiệu ứng không chắc chắn đối với nền kinh tế và việc làm tại Hoa Kỳ để biện minh cho quan điểm của Donald Trump, và còn cả sự không rõ ràng đáng kể liên quan đến khả năng “nâng cấp” của một số quốc gia ký kết, tính cả đến sự mất cân bằng kinh tế và xã hội rất lớn giữa 12 thành viên thêm vào đó là những khác biệt cơ bản về chính trị. Tóm lại, từ trước thời điểm ký kết Hiệp định, TPP đã bị gièm pha rằng đây là một thỏa thuận không hoàn thiện, không thực tế và khó áp dụng.

Cuối cùng, hãy nhớ rằng hiệp ước này, từng được ký tại Auckland vào cuối tháng 2/2016, vẫn chưa có hiệu lực, và việc Mỹ hủy bỏ không tham gia hiệp định này xác nhận rằng TPP là trường hợp “chết lưu” hơn là một bước lùi của Hiệp định. Với những lý do khác nhau, quyết định của Tổng thống Donald Trump chẳng gây ấn tượng mạnh mẽ gì, bởi một khi được công bố, quyết định cũng chẳng liên quan đến một hiệp ước mà ta có thể đo lường tầm ảnh hưởng của nó.

Trung Quốc trong tư thế phục kích

Trung Quốc đã không hề chậm trễ trong hành động vào giai đoạn tiếp theo của TPP vốn đang dần hình thành, thậm chí còn dự đoán sự rút lui mà Mỹ sẽ công bố. Nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh APEC từ ngày 17 đến 20/11/2016 tại Peru, và một vài ngày sau bài phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sĩ), ngày 17/1/2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc và các nước láng giềng thiết lập một quan hệ đối tác kinh tế toàn diện. Dự án này đầy tham vọng vì nó bao gồm ngoài Trung Quốc, là các nước ASEAN, Ấn Độ và Australia. Đồng thời từ chối bất kỳ sự tham gia nào của Mỹ (giới quan sát cũng khó tưởng tượng rằng Donald Trump ủng hộ dự án này). Quan điểm này của Bắc Kinh không gây ngạc nhiên, bởi trước tiên, Bắc Kinh luôn nhận thức với tất cả lý lẽ rằng TPP là trực tiếp chống lại Trung Quốc và cũng bởi về phía các nhà lãnh đạo, họ đã đưa ra nhiều sáng kiến để chống lại Hiệp định.

Như vậy, thông báo của Chính quyền Donald Trump là một thắng lợi đối với Bắc Kinh, khi con đường phía trước đã được khai thông, và chúng ta có thể dễ dàng hình dung rằng nhiều thành viên của TPP sẽ tiến gần lại với Trung Quốc, quốc gia mà họ vốn đang duy trì các quan hệ kinh tế và thương mại rất quan trọng. Các quốc gia Singapore, Malaysia, Australia và ngay cả Việt Nam đã bày tỏ sự quan tâm đối với sáng kiến của Bắc Kinh và nahnh chóng quay lưng lại với TPP. Các thành viên ASEAN khác rồi cũng sẽ tiếp bước. Cuối cùng, ngoại trừ Nhật Bản, các quốc gia mang cảm giác mồ côi đối với TPP, bất chấp những nỗ lực của Shinzo Abe, nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên tới chúc mừng Donald Trump ở New York sau khi doanh nhân tỷ phú này đắc cử tổng thống, các nước châu Á đã thay thế Mỹ bởi Trung Quốc như đối tác kinh tế và kinh doanh mà họ đang hướng tới.

Cũng nên nhắc lại rằng, ngoài những mục tiêu này của Trung Quốc, còn nhiều sáng kiến được nêu lên trong những năm gần đây, trong đó, việc thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) là đáng kể hơn cả. Với sáng kiến này, một lần nữa, gần như tất cả các quốc gia châu Á (trừ Nhật Bản) đều tham gia và Mỹ không tham gia (trái ngược với các nền kinh tế quan trọng của châu Âu). Nếu TPP không còn nữa, AIIB sẽ tiếp tục các hoạt động của mình và thậm chí còn được tăng cường hơn, điều này lại cho thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.  Hiệp định do bộ đôi Obama-Clinton thiết lập, được hiểu là tìm cách để chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, sự bãi bỏ hiệp định mở ra cánh cửa rộng cho Bắc Kinh.

Sự kết thúc của chính sách “xoay trục” sang châu Á

Còn lại tầm quan trọng chính trị trong quyết định của Donald Trump, người tuyên bố án tử của chiến lược “xoay trục”, được khởi xướng ngay từ lúc Barack Obama lên nắm quyền năm 2009 và trong chuyến công du của Hillary Clinton (chuyến công du đầu tiên với tư cách Ngoại trưởng Mỹ) tại châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Indonesia), và được chính thức hóa năm 2011. TPP được mong đợi như một trong những yếu tố chính cụ thể hóa chiến lược tái định vị này ở châu Á, bên cạnh các thỏa thuận chiến lược với các quốc gia khác trong khu vực. Trong chiến dịch tranh cử của mình, Donald Trump đã quyết liệt lên án sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Nhật Bản và Hàn Quốc, trong khuôn khổ các quan hệ đối tác chiến lược đang có hiệu lực với 2 quốc gia này, cũng như chiếc ô hạt nhân của Mỹ mà Tokyo và Seoul đang thụ hưởng (trong trường hợp Triều Tiên có hành động xâm lược). Thậm chí, Donald Trump còn gợi ý rằng hai nước này phải chịu trách nhiệm về số phận an ninh của mình, dù phải sở hữu cả vũ khí hạt nhân để đối mặt với những hành động của Bình Nhưỡng.

Tại Đông Nam Á, chiến lược “xoay trục” đã thể hiện những giới hạn cảu nó vào cuối năm 2016, với sự đảo chiều của Philippines, khi Rodrigo Duterte tuyên bố trong chuyến thăm chính thức của nhà lãnh đạo Philippines tới Bắc Kinh (20/10/2016), rằng Duterte sẽ quay lưng lại với Mỹ, đồng minh truyền thống, và rằng ông sẽ xích lại gần Trung Quốc. Một điều chắc chắn, dù Trung Quốc là “người hàng xóm” hay gây ra những tình huống khó xử, nhưng Manila không thể bỏ qua, đặc biệt là năng lực đầu tư của Trung Quốc (cũng như viện trợ phát triển của đất nước đông dân nhất hành tinh này), những khoản đầu tư không cạn kiệt, khó có thể từ chối. Tiếp sau Rodrigo Duterte, Thủ tướng Malaysia Najib Razak, đã tuyên bố ngay tại Bắc Kinh, trong chuyến thăm chính thức của ông tới Trung Quốc, việc thiết lập quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Trung Quốc. Những thay đổi này phản ánh sự tin tưởng ít ỏi mà các đồng minh của Washington đặt vào chính quyền mới của Tổng thống Donald Trump cũng như chính sách châu Á của ông này. Và Trung Quốc là quốc gia được lợi chính trong bối cảnh đó.

Vấn đề còn lại là tìm hiểu xem quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ thế nào, vì rằng “chính sách châu Á” của Washington trước hết là một chính sách đối với Trung Quốc.

Hiện Trung Quốc đang tìm kiếm một sự thỏa hiệp hơn là một cuộc đối đầu, nhưng một thỏa hiệp rõ ràng có lợi cho Bắc Kinh, sẽ phản ánh quan điểm sức mạnh mà Trung Quốc hiện diện tại châu Á – Thái Bình Dương. Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) thậm chí sẽ chào đón một hình thức kiểu “Yalta Thái Bình Dương”, trong đó Đông Thái Bình Dương sẽ được đặt dưới sự giám hộ của Mỹ, và Tây Thái Bình Dương dưới sự cai trị của Trung Quốc, điều này sẽ đánh dấu sự lãnh đạo của Trung Quốc bên bờ châu Á, nhưng đồng thời liên quan đến những cạnh tranh lớn hơn giữa hai quốc gia ở Thái Bình Dương. Chiến lược “xoay trục” dường như là một câu trả lời phủ định đối với sự chia sẻ này tại Thái Bình Dương, và do đó, nó được Bắc Kinh nhìn nhận như một mong muốn rõ rệt về tăng cường đua tranh. Mặc dù vậy, câu hỏi về một món hời lớn thường được đề cập trong giới chiến lược gia và giới học thuật Mỹ vốn ủng hộ quan điểm thực tế. Với việc kết thúc TPP, Donald Trump chỉ đơn thuần làm sống lại ý tưởng rằng món hời lớn này có thể nhanh chóng trở thành nền tảng của chính sách đối ngoại của Mỹ ở châu Á.

Nguồn: Asialyst – 25/01/2017

TKNB – 27/02/2017

Thương mại tự do bồi thường


Theo như giáo sư Đại học Harvard Dani Rodrik, nhà nước độc lập, nền dân chủ, và sự toàn cầu hóa không thể cùng tồn tại: chúng ta có thể có sự kết hợp giữa hai yếu tố bất kì, nhưng không thể là cả ba. Trên thực thế, có thể tồn tại một giải pháp cho “tam nan” của Rodrik.
Hầu như tất cả những người theo chủ nghĩa tự do đề ủng hộ toàn cầu hóa và phản đối chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Họ chối bỏ các bằng chứng vững chắc rằng, với tình hình hiện tại, toàn cầu hóa không tương thích với nền dân chủ.

Trong cuốn sách “Nghịch lý toàn cầu hóa” được xuất bản vào năm 2011 của mình, giáo sư Đại học Harvard Dani Rodrik nói rằng nhà nước độc lập, nền dân chủ, và sự toàn cầu hóa không thể cùng tồn tại: chúng ta có thể có sự kết hợp giữa hai yếu tố bất kì, nhưng không thể là cả ba (ông gọi điều này là một “tam đề”). Trên toàn thế giới, các quốc gia đã chống lại sự toàn cầu hóa nhân danh nền dân chủ.

Điều đó trở nên rõ ràng vào năm nay khi Tổng thống Hoa Kì Donald Trump áp đặt một loạt mức thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc, dĩ nhiên là kèm theo sự trả thù từ Bắc Kinh. Trump cũng phá bỏ hai hiệp ước thương mại quốc tế và đe dọa rút lui khỏi Tổ chức Thương mại Thế giới.

Động cơ cho sự chuyển mình của Hoa Kì sang chủ nghĩa dân tộc kinh tế là sự thâm hụt thương mại ngày càng lớn – 566 tỉ đô la vào năm 2017, và vẫn đang trên đà tăng – khi nền kinh tế Hoa Kì phục hồi. Nhưng lí do sâu xa hơn là nhận thức đúng đắn rằng việc thâm hụt tài khoản vãng lai không hề “thân thiện” tí nào khi nó khởi nguồn từ dòng vốn ngắn hạn chảy vào, còn gọi là dòng tiền nóng.

Thâm hụt tài khoản vãng lai có nghĩa là một quốc gia đang nhập khẩu nhiều hơn lượng nó xuất khẩu. Và lượng nhập khẩu dư ra đó có thể làm cho các công việc “tốt” biến mất. Sáu triệu việc làm trong ngành sản xuất đã biến mất trong thập kỉ đầu tiên của những năm 2000. Vành đai Gỉ sắt (the Rust Belt) đã đưa Trump làm tổng thống. Trump đã nói với đám đông cuồng nhiệt ở Detroit vào năm 2016: “Đã đến lúc để tái xây dựng Michigan, và chúng ta không để chúng tước đi việc làm ra khỏi Michigan thêm nữa”.

Chủ nghĩa bảo hộ của Trump cũng có nguồn gốc địa chính trị. Nhập khẩu kim loại đã dẫn đến việc đóng cửa nhiều doanh nghiệp có thể cần thiết cho nền quốc phòng. Kế hoạch chiến lược “Made in China 2025” (MIC25) của Bắc Kinh là một chính sách công nghiệp công nghệ cao nhằm biến nước này thành một cường quốc trong các ngành công nghiệp của tương lai. Nó phụ thuộc đáng kể vào việc đánh cắp các công nghệ tiên tiến từ Hoa Kì. Nếu MIC25 thành công, Hoa Kì sẽ đối mặt với một tương lai kinh tế và chính trị ảm đạm.

Theo kinh tế học, tính chất chính trị của một đối tác thương mại không nên đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, trong một thế giới cạnh tranh chiến lược, thương mại quốc tế có thể và thường là một công cụ của chính sách, và việc sử dụng nó trong bối cảnh kia không nên bị chối bỏ đơn giản bởi vì nó vi phạm nguyên tắc thiêng liêng của thương mại tự do. Theo Friedrich List, một trong những người tiên phong về chủ nghĩa dân tộc kinh tế vào thế kỉ XIX, đã chỉ ra, thương mại tự do chỉ mang hình thức của một thế giới hòa bình.

Thuế quan chọn lọc có thể hữu ích để bảo vệ các ngành công nghiệp liên quan đến quốc phòng hoặc để ngăn chặn các quốc gia khác đánh cắp các công nghệ tiên tiến. Nhưng xét tổng thể về một chính sách thương mại, thuế quan là một hành vi thô bạo và không chuẩn xác. Hoa Kì sẽ chịu chi phí cao mà chưa chắc sẽ không chứng kiến sự cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại hoặc có được vài lợi ích đáng kể khác.

Liệu có cách nào để hạn chế hình thức thương mại tự do dẫn tới các cuộc chiến tranh thương mại hay không? Nhà kinh tế học Vladimir Masch đã ủng hộ một kết hoạch tinh xảo được gọi là “thương mại tự do bồi thường” (“compensated free trade” – CFT) như một cách để đạt được sự bảo hộ hợp pháp mà không làm gián đoạn hệ thống kinh tế thế giới.

Theo kế hoạch này, các nhà hoạch định chính sách sẽ thiết lập một mức trần thâm hụt thương mại mỗi năm và áp đặt các giới hại đối với thặng dư thương mại theo đối tác. (Bất kì nhu yếu phẩm nào từ một đối tác có thặng dư sẽ được miễn trừ khỏi giới hạn xuất khẩu của đối tác đó.) Trong trường hợp của Hoa Kì, mức trần này phần lớn ảnh hưởng tới Trung Quốc, Mê-xi-cô, Nhật Bản, và Đức, đóng góp lần lượt 375 tỉ, 71 tỉ, 69 tỉ, và 64 tỉ đô la vào thâm hụt thương mại trong năm 2017.

Theo CFT, một quốc gia thặng dư thương mại có thể giảm mức xuất khẩu của mình tới giới hạn đề ra. Nhưng nó cũng có thể vượt qua hạn ngạch xuất khẩu nếp chính phủ nộp một khoản phạt tương đương với giá trị xuất khẩu vượt mức cho chính phủ của đối tác, bằng cách thu số tiền cần thiết từ các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc thông qua dự trữ tiền tệ của quốc gia đó. (Chính phủ nhận tiền có thể sử dụng khoản này để mở rộng các chương trình đầu tư của mình.) Nhưng nếu nước có thặng dư cố gắng xuất khẩu quá mức đã đặt ra mà không trả tiền mặt, lượng xuất khẩu thêm của họ sẽ bị chặn lại.

Chủ nghĩa bảo hộ “thông minh” này có vài lợi thế so với thuế quan đơn lẻ. Đầu tiên và là quan trọng nhất, nó sẽ tự động hóa giải các cuộc chiến thương mại. Do CFT chỉ áp đặt giới hạn đối với một quốc gia thặng dư, bất kì nỗ lực nào của quốc gia thặng dư để làm giảm giá trị nhập khẩu từ Hoa Kì sẽ tự động làm giảm giá trị mức xuất khẩu cho phép.

Thứ hai, CFT sẽ chống lại trợ cấp chính phủ, thao túng giá cả và tiền tệ, cũng như các thủ đoạn bẩn khác đối với thương mại quốc tế. Ngược lại với sự tranh cãi kéo dài và thường không có kết quả đối với các hiệp ước thương mại, kết quả sẽ xuất hiện ngay lập tức.
Thứ ba, bằng cách tái cân bằng các thỏa thuận tài chính và thương mại, CFT sẽ giúp tiến thêm một bước trong giải quyết tình trạng hỗn loạn hiện nay của nền kinh tế toàn cầu. CFT không phải là một giải pháp hoàn chỉnh, bởi nó còn bỏ ngỏ câu hỏi nước nào nên điều chỉnh so với nước nào. Một hệ thống thanh toán toàn cầu được cải cách, đòi hỏi điều chỉnh đối xứng sự mất cân bằng toàn cầu, sẽ cần phải giải quyết vấn đề này.

Thứ tư, nhờ có đòn bẩy từ Hoa Kì, việc áp dụng CFT sẽ thúc đẩy các nước có thặng dư thương mại phải chấp nhận một hệ thống thanh toán như trên. Tài chính toàn cầu sẽ phải hatoj động trong giới hạn của một thệ thống thanh toán cân bằng.

Thứ năm, về lợi ích kinh tế đối với Hoa Kì, việc thực hiện CFT sẽ kích thích sự trở lại của các doanh nghiệp và việc làm vốn dĩ sử dụng nguồn lực của nước ngoài, do đó khôi phục tiềm năng công nghiệp và cân bằng xã hội.

Từ góc nhìn lịch sử, CFT về cơ bẳn chỉ là một sự kích hoạt đơn phương của điều khoản tiền tệ khan hiếm (Điều 7) của Hiệp định Bretton Woods, cho phép Quỹ Tiền tệ Quốc tế tuyên bố tình trạng “khan hiếm” tiền tệ của một quốc gia có thặng dư thương mại kéo dài, cho phép các thành viên khác có những hành vi đặc biệt với hàng hóa từ nước đó. Điều này phù hợp với Điều XII của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade) – tiền thân của WTO, quy định rằng bất kì quốc gia nào “để bảo vệ vị thế tài chính bên ngoài và cán cân thanh toán của mình, có thể hạn chế số lượng hoặc hàng hóa được phép nhập khẩu.”

Nói tóm lại, CFT giải quyết thâm hụt thương mại, khắc phục những hạn chế về thuế quan, chống lại sự thao túng thương mại, tinh chỉnh lý thuyết kinh tế học dòng chính đương thời, và là một bước cần thiếp để tái thiết lập một hệ thống thanh toán toàn cầu khả thi. Nói một cách ngắn gọn, nó giải quyết được “tam nan Rodrik”: chúng ta có thể có nhà nước độc lập, nền dân chủ và sự toàn cầu hóa cùng một lúc.

Nhưng chỉ có một nhà nước độc lập, Hoa Kì, là có “quyền lực ngầm” để đề xuất điều này. Bằng cách đó, nó sẽ ngăn chặn các hành động đang bộc phát toàn cầu một cách mạnh mẽ dưới dạng chủ nghĩa dân tộc kinh tế. Chỉ với lí do đó, kế hoạch của Masch xứng đáng được xem xét nghiêm túc.

Người dịch: https://www.facebook.com/thekeynesian

Nguồn: https://www.project-syndicate.org/commentary/compensated-free-trade-allows-protectionism-by-robert-skidelsky-2018-11

Ai sẽ chi phối quá trình thiết lập quy tắc kinh tế thương mại?


Với tư cách là một hiệp định quan trọng để một số nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương thực hiện các quy tắc kinh tế thương mại theo tiêu chuẩn cao hơn, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đồng thời đang gánh vác một trách nhiệm lớn là làm cho các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương chiếm trước địa vị chủ đạo vạch ra quy tắc kinh tế thương mại thế hệ mới, tạo dựng lại trật tự kinh tế thương mại trong khu vực. CPTPP sắp có hiệu lực, liệu điều này có nghĩa là cuộc cạnh tranh trong việc thiết lập quy tắc kinh tế thương mại bao trùm mờ mịt này đang bước vào cao trào hay không? Các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương không phải là thành viên của CPTPP sẽ đối phó ra sao?

Sự thay đổi và không thay đổi của CPTPP

Về quy mô inh tế, CPTPP được sinh ra từ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn chiếm 13% GDP danh nghĩa của thế giới, 15% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu. So với TPP, CPTPP đã bảo lưu một số nội dung và đặc điểm ở mức độ tương đối lớn về tiêu chuẩn quy tắc và kết cấu thành viên của hiệp định ban đầu, nhưng cũng có những thay đổi mới.

Thứ nhất, về tiêu chuẩn quy tắc, cho đến nay CPTPP vẫn là mộ thiệp định thương mại tự do có tiêu chuẩn, yêu cầu cao nhất thế giới, tiếp tục theo đuổi mục tiêu phải đạt được quy tắc thương mại thực chất, mặc dù giữ lại trên 95% nội dung của TPP nhưng một số điều khoản đưa vào đàm phán theo yêu cầu trước đó của Mỹ được gác lại. Từ phiên bản cuối cùng của CPTPP do Chính phủ New Zealand công bố có thể cho thấy những điều khoản được gác lại chủ yếu tập trung vào chương đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ, cũng như các điều khoản có nội dung liên quan đến quản lý hải quan và tạo thuận lợi cho thương mại, thương mại dịch vụ xuyên biên giới, dịch vụ tài chính, viễn thông, mua sắm công, môi trường, mức độ minh bạch và chống tham nhũng.

Đối với những quy tắc mang tính trình tự, CPTPP cũng sửa lại những điều khoản về chế độ liên quan đến hiệu lực, rút lui, tham gia hiệp định. Theo quy định của CPTPP hiện nay, chỉ cần 6 nước hoặc tối thiểu 50% số nước ký kết thì hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày, do lấy tiêu chuẩn ở ngưỡng tương đối thấp nên mức độ khó khăn để CPTPP có hiệu lực thấp hơn hẳn so với TPP. Vì vậy, khi Australia trở thành nước thành viên thứ 6 phê chuẩn, trình tự hiệu lực của CPTPP đã được khởi động ngay sau đó. Ngoài ra, CPTPP quy định thành viên mới có thể bao gồm bất kỳ quốc gia hoặc khu vực thuế quan riêng biệt nào, sau khi hiệp định có hiệu lực thì có thể tham gia nếu nhận được sự đồng ý của các nước thành viên, trong khi TPP lại yêu cầu thành lập tiểu ban phê chuẩn để thẩm tra tư cách đối với thành viên mới, điều này đồng nghĩa với việc rào cản tham gia đối với các thành viên mới sẽ giảm đi.

Thứ hai, về kết cấu thành viên, ngoại trừ Mỹ, CPTPP do các thành viên của TPP hợp thành, nhưng xét về kết cấu quyền lực giữa các nước thành viên, CPTPP dường như đang thiếu một người cầm trịch. Mặc dù luôn đóng vai trò dẫn dắt và điều phối cơ chế sau khi Mỹ rút lui, nhưng Nhật Bản không có quyền lực áp đảo như Mỹ, những kiến nghị mà nước này đưa ra luôn cần nhận sự ủng hộ và đồng ý của các nền kinh tế phát triển trong số các thành viên như Canada, Australia… mới có thể thực hiện thuận lợi, điều này đồng nghĩa với việc mức độ khó khăn khi điều phối cơ chế trong nội bộ CPTPP lớn hơn so với TPP.

Cục diện kinh tế thương mại châu Á – Thái Bình Dương đứng trước sự thay đổi

Hiện nay, CPTPP sắp có hiệu lực, thắng lợi lớn nhất đang thuộc về nước dẫn dắt CPTPP – Nhật Bản. Dựa vào CPTPP, Nhật Bản đã lấy lại được vị thế tương đối có lợi trong cục diện kinh tế thương mại châu Á – Thái Bình Dương. Hiện nay, Nhật Bản vẫn tích cực thuyết phục Mỹ quay trở lại TPP (tức là gia nhập CPTPP), điều này phù hợp với sách lược đi theo Mỹ của Nhật Bản bấy lâu nay. Tuy nhiên, cho dù Nhật Bản có hữu ý, nhưng Mỹ lại tỏ ra vô tình. Hiện nay, Mỹ đang tích cực thúc đẩy đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, tìm cách lấy song phương thay thế đa phương, bảo vệ lợi ích của Mỹ ở mức độ lớn hơn.

CPTPP có hiệu lực cũng đem đến cơ hội mới cho các nền kinh tế thành viên khác. Một mặt CPTPP sẽ cung cấp nền tảng hạ thấp rào cản thương mại giữa các nước thành viên cho một số nền kinh tế phát triển tương đối nhanh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, củng cố hoặc thiết lập quan hệ thương mại mới, giúp mở rộng và tăng cường mạng lưới đối tác thương mại ở nước thành viên. Mặt khác, không gian phát triển của các nước đang phát triển sẽ được mở rộng hơn nữa trong khuôn khổ CPTPP. Đặc biệt là Việt Nam, một khi CPTPP có hiệu lực, nước này sẽ bước lên đoàn tàu cao tốc nắm quyền chủ động trong việc hoạch định quy tắc, đi đầu thực hiện quy tắc thương mại có tiêu chuẩn và trình độ cao trong các nước đang phát triển, năng lực lan tỏa kinh tế ra bên ngoài và mức độ hội nhập kinh tế thế giới trong tương lai được nâng cao rõ rệt, rất có thể sẽ nhanh chóng trở thành nền kinh tế mới nổi có ảnh hưởng quan trọng nhất ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

CPTPP có hiệu lực còn có nghĩa là quá trình mở rộng nội dung theo cơ chế bước tiếp theo đang được đưa vào chương trình nghị sự. Có nguồn tin cho biết Nhật Bản đã dự định thúc đẩy CPTPP mở rộng thành viên sau khi hiệp định này có hiệu lực, dự tính vào đầu năm 2019 mờ đại diện của các nước thành viên đến Nhật Bản tham dự hội nghị Ủy ban CPTPP lần đầu tiên và trọng điểm thảo luận về đề tài tiêu chuẩn tiếp nhận thành viên mới. Hiện nay, các nước như Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Anh, Colombia.. đều mong muốn gia nhập CPTPP.

Trung Quốc cần đẩy nhanh các bước hướng đến quy tắc thương mại với tiêu chuẩn cao hơn

Trung Quốc hiện nay không phải là thành viên của CPTPP. Sức ép quy tắc mà CPTPP hình thành có thể có những ảnh hưởng tương đối lớn đối với Trung Quốc. Trên thực tế, tình hình quy tắc thương mại mà Trung Quốc phải đối mặt hiện nay đã thể hiện một xu thế nghiêm trọng hơn. Các tranh chấp thương mại có liên quan đến Trung Quốc hiện nay liên tục tăng lên, nguyên nhân ngoài do ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa đơn phương và chính sách bảo hộ của các nước khác, một nhân tố quan trọng là Trung Quốc vẫn chưa thể thích nghi và thực hiện quy tắc thương mại với tiêu chuẩn cao hơn, điều này sẽ tạo cớ để nước khác tấn công Trung Quốc. Chẳng hạn, ngày 26/10, đại sứ quán Canada tại Trung Quốc tuyên bố do Trung Quốc chưa đáp ứng được mong đợi của mọi người về các chính sách như tiêu chuẩn tham gia thị trường nông nghiệp, tiền lương, bình đẳng giới… Canada sẽ tạm thời ngừng đàm phán hiệp định thương mại cho đến khi những vấn đề đó được cải thiện. Có thể thấy Trung Quốc cần nhanh chóng thích ứng với quy tắc thương mại có tiêu chuẩn cao hơn, tránh bị gạt ra ngoài các tổ chức thương mại.

Thứ nhất là tăng cường nghiên cứu quy tắc của CPTPP, giảm bớt tác động tiêu cực có thể có của các quy tắc mới đối với Trung Quốc.

Thứ hai là vững bước thúc đẩy chiến lược khu vực thương mại tự do, xây dựng mạng lưới đối tác thương mại tự do nhằm giành được quyền thiết lập quy tắc thương mại.

Ở cấp độ song phương, Trung Quốc một mặt cần tiếp tục tìm kiếm đối tượng ký FTA thích hợp, mở rộng mạng lưới đối tác thương mại tự do, tìm kiếm sự ủng hộ của nhiều đối tác hơn để thúc đẩy hệ thống quy tắc thương mại phù hợp hơn với nhu cầu phát triển của nước mình. Hiện nay, Trung Quốc đang đàm phán để xây dựng các khu vực thương mại tự do song phương với các nước như Sri Lanka, Panama…, có 8 khu vực thương mại tự do song phương mới đang được nghiên cứu. Mặt khác, Trung Quốc còn cần chú trọng nâng cấp và duy trì các FTA hiện có. Xem xét từ kinh nghiệm hiện có, Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN là hiệp định nâng cấp đầu tiên được hoàn thành trên nền tảng khu vực thương mại tự do hiện có, trong quá trình đàm phán nâng cấp hiệp định, hai bên vừa nhấn mạnh việc cắt giảm nhiều hơn hàng rào thuế quan trong thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ…, vừa chú trọng đưa các vấn đề mới như hợp tác công nghệ liên quan đến kinh tế như thương mại điện tử xuyên quốc gia vào đàm phán, thực hiện đồng thời việc đi sâu và mở rộng quan hệ thương mại song phương, cung cấp kinh nghiệm có thể học hỏi cho việc đàm phán nâng cấp các FTA khác. Trung Quốc hiện nay đã khởi động đàm phán nâng cấp FTA với Singapore và New Zealand, bắt đầu đàm phán FTA giai đoạn hai với Hàn Quốc và Pakistan. Trung Quốc phải nắm chắc cơ hội triển khai đàm phán nâng cấp FTA với những quốc gia này, có không gian đi sâu nâng cấp quy tắc của nước mình.

Nguồn: Mạng Cankao Xiaoxi (Tin tức tham khảo) – TQ

TKNB – 08/11/2018