Thương mại vô hình – Phần cuối


e/ Về các quy định trong nước.

Các nước có quyền thực thi các quy định về ngành dịch vụ trong nước tại đất nước mình, nhưng không được mâu thuẫn với các quy định trong hiệp định này. Các nước đang phát triển có nhu cầu đặc thù về sử dụng quyền này.

Nước này có thể yêu cầu công việc dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của nước khác phải tuân thủ những quy định, tiêu chuẩn hoặc điều kiện nào đó. Nhưng, những yêu cầu đó phải phù hợp với năng lực của họ và không tăng thêm gánh nặng đối với họ. Việc thực hiện những yêu cầu này có thể dựa trên cơ sở ký kết giao kèo hoặc trên cơ sở những quy định, tiêu chuẩn và điều kiện tại các hiệp định đã cùng nhau thừa nhận.

Không được biến các quy định, tiêu chuẩn và điều kiện ấy thành công cụ chuyên quyền độc đoán hoặc phân biệt đối xử giữa các nước hoặc che đậy sự hạn chế buôn bán dịch vụ.

Khi có yêu cầu của bên cung cấp dịch vụ hoặc của bên tiếp nhận dịch vụ, thì phải thông qua tổ chức tư pháp, trọng tài hoặc thủ tục hành chính để nhanh chóng điều tra và uốn nắn các quyết định hành chính có liên quan tới việc cung cấp dịch vụ.

g/ Về độc quyền dịch vụ và người chuyên doanh cung cấp dịch vụ.

Người cung cấp dịch vụ độc quyền là thực thể quốc doanh hoặc tư doanh trên lãnh thổ một nước nào đó được chính phủ nước đó giao quyền hoặc chỉ định là người cung cấp duy nhất ngành dịch vụ nào đó. Còn người cung cấp dịch vụ chuyên doanh là một trong số ít người cung cấp dịch vụ do chính phủ đã chỉ định.

Bất kỳ nước nào, khi chỉ định một thực thể kinh doanh là người cung cấp dịch vụ độc quyền và chuyêndoanh cũng phải bảo đảm rằng, những ưu đãi dành cho người cung cấp dịch vụ của nước khác trong trường hợp tương tự không thấp hơn những ưu đãi dành cho người cung cấp dịch vụ trong nước.

Các nước phải bảo đảm rằng, các dịch vụ được cung cấp ngoài dịch vụ độc quyền và dịch vụ chuyên doanh không được sử dụng biện pháp gây ra thiệt hại lợi ích của người cung cấp dịch vụ của nước khác.

h/ Nguyên tắc kinh doanh.

Khi thực thi luật cạnh tranh và quy tắc cạnh tranh trong phạm vi lãnh thổ nước mình, các nước có quyền yêu cầu người cung cấp dịch vụ của nước khác trên lãnh thổ nước mình giao nộp các tư liệu cần thiết để đề phòng các trường hợp gây rối thị trường hoặc gây ra tác động có hại cho cạnh tranh thị trường. Các nước cần hợp tác và trao đổi thông tin cho nhau về vấn đề này.

i/ Về biện pháp bảo vệ khẩn cấp.

Mọi biện pháp bảo vệ đều chỉ là tạm thời, hơn nữa chỉ được thực hiện theo nguyên tắc nhiều bên nhất trí, phải đáp ứng các điều kiện: trong sáng, có thương lượng, có thông báo và phải chịu sự giám sát.

k/ Về cá biện pháp bảo đảm cân đối thu chi quốc tế.

Khi có khó khăn trong việc cân đối thu chi quốc tế, các nước có thể yêu cầu được áp dụng biện pháp tạm thời đối với dịch vụ được cung cấp tại nước mình. Chú ý tới yêu cầu của các nước đang phát triển trong việc sử dụng biện pháp thích đáng để giải quyết khó khăn về thu chi quốc tế.

l/ Về việc thừa nhận quy định của nước khác đối với nhân viên chuyên nghiệp.

Các nước cần thừa nhận quy định của các nước khác về tiêu chuẩn, tư cách của nhân viên chuyên nghiệp; không ngăn cấm các nước có tiêu chuẩn khác nhau đối với người cung cấp dịch vụ trong nước và nước ngoài, nhưng phải ghi rõ trong cam kết gia nhập thị trường.

m/ Về trợ cấp.

Nước thực hiện trợ cấp cho buôn bán dịch vụ phải thông báo cho Toàn thể các nước ký Hiệp định chung mọi hình thức trợ cấp mà mình thực hiện đối với ngành dịch vụ trong nước và những ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp có thể sẽ xảy ra đối với buôn bán dịch vụ.

IV/ Về cam kết cụ thể, tự do hóa từng bước và thực hiện hiệp định

1/ Về cam kết cụ thể

a/ Về việc gia nhập thị trường.

Bất kỳ nước nào cũng phải mở cửa thị trường dịch vụ. Hai bên đàm phán để thống nhất ý kiến về các điều kiện gia nhập thị trường, về hạn ngạch và việc thực hiện nghĩa vụ. Những ưu đãi về gia nhập thị trường dành cho dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của nước khác không được ít hơn những ưu đãi đã cam kết khi đàm phán về việc thực hiện nghĩa vụ này.

Khi đàm phán, nếu có nhiều phương thức cung cấp dịch vụ, thì người cung cấp dịch vụ nước ngoài có quyền tự do lựa chọn phương thức nào có lợi cho họ nhất.

b/ Về chế độ ưu đãi chung.

Các ưu đãi mà nước tiếp nhận dịch vụ dành cho ngành dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ nước ngoài về các mặt luật pháp, quy chế, quản lý hành chính không được kém hơn những ưu đãi dành cho ngành dịch vụ và người cung cấp dịch vụ trong nước có cùng một hoàn cảnh.

Khi cần thiết, có thể dành cho ngành dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của nước khác những ưu đãi khác với ưu đãi dành cho người cung cấp dịch vụ trong nước, miễn là trên thực tế những ưu đãi đó tương đương với ưu đãi đối với người cung cấp dịch vụ trong nước và thực tế không có phân biệt đối xử.

Các quy định pháp luật, các quy chế và các yêu cầu về chế độ ưu đãi chung không áp dụng đối với các hoạt động mà các cơ quan của chính phủ mua cho chính phủ sử dụng (chứ không để sản xuất ra dịch vụ hoặc tiêu dùng thương nghiệp). Chế độ ưu đãi chung không ngăn cản trợ cấp hoặc tặng biếu có tính chất khuyến khích đối với người cung cấp dịch vụ trong nước.

2/ Về tự do hóa từng bước

a/ Các nước ký hiệp định này cần tiến hành hàng loạt cuộc đàm phán định kỳ về vấn đề tự do hóa thương mại hơn nữa nhằm giảm hoặc loại bỏ các biện pháp có hại cho việc gia nhập thị trường buôn bán dịch vụ một cách có hiệu quả, đồng thời cũng nhằm làm cho các nước đều có lợi ích theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, cân đối toàn diện về nghĩa vụ và quyền lợi.

Mức độ tự do hóa thương mại được quyết định bởi chính sách của chính phủ các nước và trình độ phát triển của mỗi nước. Do vậy, cần có sự linh hoạt đối với từng nước đang phát triển trong việc họ ít mở cửa ở một số lĩnh vực hoặc ít nới rộng loại hình giao dịch, hoặc trong việc họ từng bước gia nhập thị trường tùy theo tình hình phát triển của họ. Các vấn đề được thảo luận trong các cuộc đàm phán tự do hóa từng bước gồm có: 1) Loại bỏ từng phần hoặc toàn bộ các điều kiện, các hạn chế và các ý kiến bảo lưu về gia nhập thị trường hoặc cam kết tự do hóa thương mại hơn nữa; 2) Hủy bỏ từng phần hoặc toàn bộ việc thẩm định tư cách và điều kiện được hưởng chế độ ưu đãi chung hoặc những điều bảo lưu về chế độ ưu đãi chung; 3) Các vấn đề tương tự có liên quan tới các điều khoản trong hiệp định này; 4) Thông qua việc sửa đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp hạn chế quy mô hoạt động kinh doanh, hoặc các biện pháp không cho người cung cấp dịch vụ của nước khác có cơ hội cạnh tranh giống như người cung cấp dịch vụ trong nước.

b/ Các quy định về việc áp dụng hiệp định này.

Từ ngày hiệp định này bắt đầu có hiệu lực, các nghĩa vụ, kỷ luật, nguyên tắc và những giải thích thống nhất ghi trong hiệp định này được áp dụng đối với tất cả các nước đã ký kết. Sau khi đàm phán đã có kết luận và đã được ghi vào các văn bản kế hoạch, các nước không được: 1) Dựng lên hoặc duy trì các vật cản và điều kiện gia nhập thị trường không đúng với hiệp định này, không thực thi theo kế hoạch đã được dàn xếp; 2) Sửa đổi biện pháp cũ hoặc sử dụng biện pháp mới khiến ngành dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của nước khác không được hưởng chế độ ưu đãi theo kế hoạch đã được dàn xếp.

c/ Về việc dàn xếp kế hoạch thực hiện.

Sau khi đàmphán giữa nước này với nước khác kết thúc, các nước phải căn cứ vào thời gian biểu đã định thực hiện nghĩa vụ của mình như kế hoạch đã dàn xếp. Kế hoạch này cần gồm các nội dung: 1) Những hạn chế, điều kiện phải xóa bỏ và những điều bảo lưu về gia nhập thị trường; 2) Các điều kiện và những điều bảo lưu về tư cách được hưởng chế độ ưu đãi chung; 3) Các vấnđề có liên quan tới các điều khoản khác của hiệp định này; 4) Các biện pháp phụ kèm theo để được gia nhập thị trường; 5) Ngày giờ bắt đầu có hiệu lực của các quy định về nghĩa vụ ấy trong kế hoạch.

Việc sửa đổi, xóa bỏ kế hoạch hoặc các ý kiến về duy trì nguyên trạng phải được thông báo cho Toàn thể các nước ký hiệp định, và phải qua đàm phán để điều chỉnh và bổ sung.

3/ Về việc chấp hành hiệp định

Hiệp định chung về buôn bán dịch vụ có quy định trình tự thương lượng và giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp tình hình nghiêm trọng cần phải hành động, thì một nước hoặc nhiều nước được phép căn cứ vào tình hình thực tế để ngừng thực hiện nghĩa vụ của họ đối với nước khác. Trình tự giải quyết tranh chấp cũng quy định cả biện pháp trả đũa giữa các ngành dịch vụ, hoặc sự trả đũa đan chéo giữa ngành dịch vụ với ngành buôn bán hàng hóa; quy định cơ chế quyết định phối hợp hành động; quy định lập ra Ủy ban giám sát việc thực hiện hiệp định, giải quyết các tranh chấp.

Hiệp định này cũng quy định các nước phát triển cần cung cấp cho những người cung cấp dịch vụ của các nước đang phát triển tư liệu thương mại và kỹ thuật, các tư liệu có liên quan về đăng ký, cấp phép và xin duyệt tư cách chuyên nghiệp. Việc viện trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển do Ban thư ký Hiệp định chung cung cấp.

Điều khoản cuối cùng trong hiệp định này có các quy định cụ thể về việc chấp nhận và tham gia hiệp định, ngày hiệp định bắt đầu có hiệu lực, về việc các bên không áp dụng hiệp định này với nhau, về việc không thừa nhận lợi ích của một nước nào đó, việc sửa đổi hiệp định và rút ra khỏi hiệp định.

Hiệp định chung về buôn bán dịch vụ này có tính linh hoạt nhất định, các nước có thể căn cứ vào trình độ phát triển của mình để đàm phán về nghĩa vụ phải gánh vác, tương ứng với trình độ phát triển của mình.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Thương mại vô hình – Phần II


3/ Lập trường của các nước đang phát triển

Các nước đang phát triển có thái độ thận trọng trong khi đàm phán buôn bán dịch vụ. Họ e ngại rằng, mở cửa thị trường dịch vụ cho các nước phát triển vào sẽ nguy hại tới chủ quyền và an ninh đất nước, không thực hiện được chính sách phát triển kinh tế của nước mình. Nhiều lĩnh vực dịch vụ mới đang ở vào giai đoạn mở đầu, không có năng lực cạnh tranh. Nếu mở cửa hoàn toàn, các ngành dịch vụ mới ấy tất sẽ bị bóp chết. Do vậy, họ phải ra sức bảo hộ, nhất là các ngành ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, thông tin viễn thông lại càng phải được bảo hộ.

Tất nhiên, các nước đáng phát triển cũng có lợi thế nhất định ở một vài lĩnh vực nào đó. Như một số nước đang phát triển đã có năng lực cạnh tranh nhất định trong ngành sử dụng nhiều lao động nên cũng có lợi thế nhất định trong một vài ngành tập trung vốn và kỹ thuật. Buôn bán dịch vụ chuyển nhượng kỹ thuật cũng rất cần đối với các nước đang phát triển, hạn chế quá nhiều cũng là tự hạn chế mình có được kỹ thuật của các nước phát triển. Trong trường hợp sự phát triển của mình không bị đe dọa, thì hãy nới lỏng một cách thích đáng, có lựa chọn một số hạn chế, điều đó có thể mang lại kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý kinh doanh, đẩy mạnh cạnh tranh, tăng hiệu quả. Vì vậy, bảo hộ không có nghĩa là đóng cửa hoàn toàn, mà cần từng bước mở cửa một cách thích đáng.

III/ Mục tiêu, nội dung và nghĩa vụ chung trong buôn bán dịch vụ

“Hiệp định chung về buôn bán dịch vụ” là một trong những kết quả đàm phán tại vòng Uruguay, được đưa vào “Các văn kiện cuối cùng và kết quả đàm phán thương mại nhiều bên vòng Uruguay”. Dưới đây giới thiệu mục đích, nội dung và những quy tắc cơ bản trong buôn bán dịch vụ.

1/ Về mục tiêu và nội dung buôn bán dịch vụ

a/ Về mục tiêu.

+ Lập ra hiệp định chung về buôn bán dịch vụ với các nguyên tắc và quy định dựa trên cơ sở trong sáng và phát triển tự do hóa thương mại có lợi cho tất cả các bạn hàng và cho sự phát triển của các nước đang phát triển.

+ Phát triển tự do hóa buôn bán dịch vụ quốc tế lên một giai đoạn thông qua đàm phán nhiều bên, đồng thời quan tâm một cách thích đáng mục tiêu của chính sách trong nước.

+ Tăng mức tham dự của các nước đang phát triển vào buôn bán dịch vụ quốc tế, giúp họ mở rộng xuất khẩu trong lĩnh vực này, đặc biệt là bằng cách tăng năng lực và hiệu quả dịch vụ trong nước cũng như năng lực cạnh tranh của họ để đạt được mục tiêu trên.

+ Do vị trí kinh tế đặc thù, trình độ phát triển, nhu cầu thương mại và tài chính của những nước chậm phát triển nhất, nên cần quan tâm đặc biệt tới những khó khăn của những nước này.

b/ Về nội dung và phạm vi áp dụng.

Buôn bán dịch vụ gồm có các giao dịch sau: 1) Cung cấp dịch vụ vượt qua biên giới quốc gia; 2) Sự lưu động lao động qua biên giới quốc gia; 3) Lưu động các yếu tố sản xuất qua biên giới quốc gia.

Hiệp định chung về buôn bán dịch vụ áp dụng cho mọi hoạt động buôn bán của tất cả các ngành dịch vụ.

2/ Nghĩa vụ chung và kỷ luật buôn bán dịch vụ

a/ Về quy chế tối huệ quốc.

Mọi ưu đãi mà nước thành viên này dành cho dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ của nước khác cũng sẽ được áp dụng ngay và vô điều kiện cho dịch vụ hoặc người cung ứng dịch vụ cùng loại của các nước thành viên khác.

Quy chế tối huệ quốc là nền tảng của thể chế buôn bán dịch vụ nhiều bên. Nhưng buôn bán dịch vụ liên quan tới rất nhiều ngành, mà trong đó có nhiều ngành đã có các hiệp định hai bên hoặc nhiều bên, việc thực thi quy chế tối huệ quốc sẽ có khó khăn. Vì thế, các nước có thể căn cứ vào tình hình cụ thể trong việc ký kết các hiệp định ấy để làm đơn xin miễn áp dụng quy chế này. Đơn xin miễn trừ này phải được trình trước khi hiệp định này bắt đầu có hiệu lực, trong đó cần nói rõ tên gọi biện pháp ấy, những ưu đãi không phù hợp với quy chế tối huệ quốc, thời hạn miễn trừ và nguyên nhân xin miễn trừ. Những đơn xin miễn trừ gửi sau ngày hiệp định này có hiệu lực sẽ không được chấp nhận.

b/ Về sự minh bạch.

Ngoại trừ trường hợp khẩn cấp, còn thì muộn nhất là trước khi hiệp định này có hiệu lực, các nước phải công bố tất cả các đạo luật, pháp quy, mệnh lệnh hành chính và các tập quán khác có ảnh hưởng tới buôn bán dịch vụ tại thị trường trong nước mình, dù chúng do chính quyền trung ương hoặc do chính quyền địa phương hay do tổ chức phi chính phủ ban bố, ngoại trừ các quy định khác của cơ quan tư pháp. Các nước còn phải công bố các hiệp định quốc tế khác có ảnh hưởng hoặc có liên quan tới buôn bán dịch vụ mà mình tham gia ký kết.

Mỗi năm một lần, các nước phải thông báo cho Toàn thể các nước ký Hiệp định chung biết các đạo luật mới và việc sửa đổi các đạo luật cũ có ảnh hưởng lớn đến buôn bán dịch vụ mà mìnhd đã cam kết; phải lập ra một hoặc nhiều cơ quan tư vấn đề nhanh chóng trả lời các vấn đề do các nước khác đặt ra.

c/ Về sự tham dự sâu rộng hơn nữa của các nước đang phát triển.

Để các nước đang phát triển tham dự sâu rộng hơn nữa vào buôn bán dịch vụ quốc tế và tăng xuất khẩu dịch vụ, cần có những biện pháp đặc biệt mà các bên có thể chấp nhận được để cải thiện tình hình buôn bán dịch vụ hiện nay của họ, tăng cường lực lượng, nâng cao hiệu suất của ngành dịch vụ trong nước và tăng sức cạnh tranh của họ.

Để thật sự quan tâm tới năng lực dịch vụ trong nước của những nước chậm phát triển nhất và tính tới những khó khăn của họ trong việc tiếp nhận những nghĩa vụ cụ thể quy định trong hiệp định này, cần có những quy định đặc thù. Các nước phát triển cần lập ra những điểm liên lạc để cung cấp thông tin cho các nước đang phát triển.

d/ Về nhất thể hóa kinh tế.

Hiệp định chung về buôn bán dịch vụ không ngăn cản các nước ký hiệp định này ký các hiệp định nhằm tự do hóa buôn bán dịch vụ với mức độ cao hơn, miễn là các hiệp định ấy bảo đảm chắc chắn rằng các nước này càng được tự do buôn bán dịch vụ trong các ngành khác nhau với các hình thức và phương pháp khác nhau.

Sau khi hiệp định này có hiệu lực, các nước không được dựng lên những vật cản mới hoặc tăng thêm sức nặng của vật cản cũ đối với buôn bán dịch vụ. Nước nào ký hiệp định này quyết định tham gia vào các hiệp định nhất thể hóa kinh tế thì phải thông báo cho toàn Toàn thể các nước ký Hiệp định chung biết nội dung của hiệp định đó; khi có sửa đổi lớn những hiệp định này cũng phải lập tức thông báo cho Toàn thể các nước ký Hiệp định chung.

Những quyết định về mặt này không cản trở các nước đang phát triển dành ưu đãi cho nhau.

Nếu nước nào ký hiệp định này cho rằng lợi ích mà họ được hưởng theo hiệp định này bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì họ có thể khiếu nại theo trình tự đã quy định.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Thương mại vô hình – Phần I


Lần đầu tiên trong lịch sử, Hiệp định chung về vấn đề buôn bán dịch vụ được đưa vào nội dung đàm phán. Qua đàm phán chật vật giữa các nước phát triển và đang phát triển, cuối cùng, người ta đã đạt được “Hiệp định chung về buôn bán dịch vụ”, các ngành then chốt được liệt kê thành phụ lục của hiệp định, các nước sơ bộ cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, đàm phán và thỏa thuận được một biểu thuế. Có thể nói rằng, buôn bán dịch vụ được đưa vào khuôn khổ Hiệp định chung có ý nghĩa vạch thời đại, có ảnh hưởng sâu sắc đối với thương mại thế giới trong thời gian tới.

I/ Ngành dịch vụ và buôn bán dịch vụ quốc tế

1/ Về ngành dịch vụ và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân

Phạm vi ngành dịch vụ rất rộng, như vận tải, bảo hiểm, tài chính, thông tin bưu chính, thông tin tư vấn, phục vụ công cộng, thương nghiệp, ngành ăn uống, du lịch, quảng cáo, dịch vụ kỹ thuật, quản lý công cộng, bảo vệ môi trường, văn hóa, giáo dục, thể dục, vệ sinh, dịch vụ cá thể như luật sư, kế toán, nhận thầu công trình xây dựng, nhận thầu lao động…

Trong đời sống kinh tế hiện tại, ngành dịch vụ đã trở thành ngành ngày càng quan trọng của các hoạt động kinh tế. Quá trình sản xuất và lưu thông phụ thuộc ngày càng sâu rộng vào hoạt động dịch vụ. Tỷ trọng của ngành dịch vụ trong tổng giá trị sản xuất quốc dân là một trong những tiêu chí quan trọng về trình độ hiện đại hóa của nền kinh tế quốc dân. Tại các nước phát triển chủ yếu, giá trị sản xuất của ngành dịch vụ thường chiếm trên 1/2 tổng giá trị sản xuất quốc dân; ngành dịch vụ cũng là con đường giải quyết việc làm chủ yếu. Như năm 1987, tại Mỹ, ngành dịch vụ chiếm 69,1% tổng giá trị sản xuất quốc dân, tỷ lệ ấy tại Anh là 61,3%, tại Pháp – 63,2%, tại CHLB Đức – 57,7%, tại Nhật Bản – 57,1%; tỷ lệ số người làm việc trong ngành dịch vụ chiếm 76,8% tổng số người có việc làm tại Mỹ, tỷ lệ ấy tại Anh là 68,3%, tại Pháp – 67,8%, tại CHLB Đức – 61%, tại Nhật Bản – 60,1%.

Hiện nay, tại các nước đang phát triển, ngành dịch vụ còn đang ở vào giai đoạn phát triển thấp. Trình độ phát triển của ngành này giữa các nước đang phát triển rất không đồng đều. Tại các nước đang phát triển có thu nhập cao và trung bình, giá trị sản xuất của ngành dịch vụ chiếm khoảng 51% tổng giá trị sản xuất quốc dân. Tại các nước có thu nhập thấp tỷ lệ ấy chỉ chiếm khoảng 29%. Giữa các nước này, tỷ trọng số người làm việc trong ngành dịch vụ cũng chênh lệch nhau rất lớn. Chiếm vai trò chủ yếu trong ngành dịch vụ là ngành dịch vụ truyền thống như: dịch vụ vận tải biển, du lịch, nhận thầu công trình và nhận thầu lao động. Nhiều nước đang phát triển đã nhận ra rằng, sự lạc hậu của ngành dịch vụ đã trở thành một trong những trở ngại quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.

2/ Buôn bán dịch vụ quốc tế

a/ Sự phát triển buôn bán dịch vụ quốc tế.

Từ những năm 1970 trở đi, sự phát triển buôn bán dịch vụ có xu hướng tăng mạnh. Theo thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế, từ năm 1970 – 1975, xuất khẩu dịch vụ bình quân hàng năm tăng 20,32%, từ năm 1976 – 1980 bình quân hàng năm tăng 16,7%, vượt rất xa tốc độ tăng thương mại hàng hóa cùng thời gian ấy. Từ những năm 80 lại đây, tốc độ tăng trưởng buôn bán dịch vụ quốc tế tuy có giảm, nhưng vẫn vượt tốc độ tăng trưởng thương mại hàng hóa. Theo tài liệu thống kê có liên quan, hiện nay thương mại hàng hóa thế giới đạt 3,5 nghìn tỷ USD, còn buôn bán dịch vụ cũng đã lên tới 900 tỷ USD. Trong tương lai buôn bán dịch vụ vẫn còn tăng trưởng hơn nữa.

b/ Đặc điểm buôn bán dịch vụ.

Do lợi ích so sánh trong buôn bán dịch vụ quốc tế, đặc biệt là lợi ích xuất khẩu thuộc về các nước phát triển cho nên nó có các đặc điểm: một là, các nước phát triển chiếm địa vị chủ đạo trong buôn bán dịch vụ quốc tế, các nước đang phát triển ở vào vị trí thứ yếu; hai là, phạm vi buôn bán dịch vụ có xu thế mở rộng hơn nữa, trong khi đó phát triển nhanh nhất là các ngành dịch vụ mới, như tư vấn kỹ thuật, thông tin, bưu chính viễn thông, còn buôn bán dịch vụ truyền thống thì tăng chậm lại, thậm chí co lại, giảm sút; ba là, các nước phát triển sản xuất siêu dịch vụ, các nước đang phát triển nhập siêu dịch vụ, do vậy các nước phát triển càng được lợi.

3/ Những trở ngại đối với buôn bán dịch vụ quốc tế

Do một số lĩnh vực dịch vụ liên quan tới mạch máu nền kinh tế quốc dân, cho nên các nước đều thực hiện chính sách bảo hộ, đóng cửa tương đối đối với ngành dịch vụ, sự phát triển buôn bán dịch vụ bị chính sách kinh tế của các nước điều tiết, bị các nước can thiệp bằng biện pháp tài chính và các biện pháp hạn chế đặc biệt. Chủ yếu gồm có các biện pháp sau đây: 1) Hạn chế người cung cấp dịch vụ nước ngoài thâm nhập thị trường trong nước; 2) Độc quyền ngành vận tải biển; 3) Hạn chế dịch vụ nước ngoài về ngân hàng, bảo hiểm, tín dụng; 4) Trong lĩnh vực thông tin quốc tế thì phân biệt đối xử về tiêu chuẩn kỹ thuật, nhà nước độc quyền, hạn chế trao đổi số liệu vượt ra ngoài biên giới quốc gia; 5) Hạn chế và đặt ra yêu cầu về kỹ năng dịch vụ chuyên nghiệp.

So với thương mại hàng hóa, bảo hộtrong lĩnh vực dịch vụ nghiêm ngặt hơn, tiêu chuẩn cao hơn, hạn chế nhiều hơn. Do vậy đã cản trở buôn bán dịch vụ phát triển.

II/ Đàm phán buôn bán dịch tại Vòng Uruguay

1/ Về đề nghị đàm phán buôn bán dịch vụ

Mỹ là nước giữ vị trí đặc biệt trong buôn bán dịch vụ quốc tế, ngay từ vòng đàm phán Tokyo, họ đã đề nghị đưa vấn đề buôn bán dịch vụ vào nội dung đàm phán. Nhưng các nước phát triển khác rất e ngại ý đồ của Mỹ khi đưa ra đề nghị này cho nên họ không đồng ý. Song, Ủy ban hợp tác và phát triển kinh tế thuộc Liên hợp quốc đã căn cứ vào đề nghị của Mỹ, ra quyết định từ năm 1979 bắt đầu nghiên cứu thí điểm loại bỏ các trở ngại thương mại trong các lĩnh vực kỹ thuật công trình xây dựng, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải biển. Tuyên bố của hội nghị cấp bộ trưởng tại Đại hội lần thứ 38 các nước ký Hiệp định chung họp năm 1982 chỉ ra rằng, các nước ký Hiệp định chung có liên quan tới việc buôn bán dịch vụ, nếu có khả năng thì đều cần tiến hành thẩm tra vấn đề này ở trong nước mình, thông qua tổ chức Hiệp định chung để trao đổi thông tin, tổ chức Hiệp định chung dựa theo phương thức đã nhất trí để biên soạn thành những tập tư liệu về vấn đề này và phân phát cho các nước, các nước căn cứ vào kết quả điều tra để xem xét áp dụng hành động chung trên vấn đề buôn bán dịch vụ thì có thích hợp không. Sau nhiều lần thảo luận, các nước phát triển quyết định đưa vấn đề buôn bán mậu dịch vào nội dung đàm phán tại vòng Uruguay.

Xuất phát từ lợi ích kinh tế của mình, các nước đang phát triển lúc đầu không đồng ý đàm phán về vấn đề này, nhưng do sức ép, cuối cùng, đã phải đồng ý đàm phán, song họ kiên quyết chỉ đàm phán với điều kiện tách riêng buôn bán hàng hóa với buôn bán dịch vụ.

2/ Lập trường của các nước phát triển

Mỹ, nước khởi xướng đàm phán nhiều bên về buôn bán dịch vụ, tích cực chủ trương tựdo hóa buôn bán dịch vụ.

Theo đà phát triển của khoa học – kỹ thuật hiện đại và sự điều chỉnh mang tính chất toàn cầu về kết cấu công nghiệp, lợi thế so sánh của Mỹ từ ngành chế tạo chuyển sang ngành dịch. Đầu những năm 70, năng lực cạnh tranh trong ngành chế tạo của Mỹ yếu đi rõ rệt, có xu hướng nhập siêu trong buôn bán hàng hóa. Nhưng cùng thời gian đó, trong buôn bán dịch vụ, Mỹ lại xuất siêu lớn, nhờ đó bù đắp được nhập siêu hàng hóa. Chính trong bối cảnh như vậy Mỹ đã đưa ra đề nghị đàm phán nhiều bên về buôn bán dịch vụ.

Trong đàm phán, mục tiêu chủ yếu của Mỹ là định ra một hệ thống quy tắc quốc tế về buôn bán dịch vụ. Hàng loạt trở ngại và đủ thứ hạn chế đã đẩy lui ưu thế so sánh của các xí nghiệp Mỹ, tạo nên phòng tuyến thứ hai ngăn chặn hàng nhập khẩu. Dựng lên vật cản đối với nước ngoài, điều đó cũng hạn chế các hoạt động giao dịch trong nước. Theo Mỹ, cần phải dở bỏ những vật cản ấy.

EEC, Nhật Bản và các nước phát triển khác ủng hộ đề nghị đưa vấn đề buôn bán dịch vụ vào vòng đàm phán Uruguay. Song các nước này đều xuất phát từ lợi ích riêng của mình, do vậy họ có quan điểm khác với Mỹ trên một số vấn đề cụ thể.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Đi theo hướng Tổ chức thương mại nhiều bên – Phần cuối


b/ Trợ giá trong nước.

Theo dự thảo hiệp định này, các nước phải từng bước giảm trợ giá trong nước đối với hàng nông sản để giá hàng nông sản sát với giá thị trường. Phương thức cụ thể là trước tiên tính ra “đơn vị của tổng lượng trợ giá”, sau đó, giảm đi; đối với những hàng nông sản không thể tính ra “đơn vị của tổng lượng trợ giá” được giảm ngang với mức cam kết trợ giá. Nhưng việc giảm trợ giá này không áp dụng đối với: trợ cấp đầu tư cho người đầu tư có thu nhập thấp và thiếu vốn. Lấy mức trợ cấp trong thời gian từ năm 1986 – 1988 làm mốc, từ năm 1993 – 1998 phải giảm 20% tất cả các khoản trợ cấp trong nước.

c/ Về cạnh tranh xuất khẩu.

Để thực hiện buôn bán tự do, cạnh tranh công bằng, dự thảo hiệp định này còn quy định phạm vi giảm trợ cấp xuất khẩu. Về phương thức giảm, hiệp định coi trọng cả giảm chi ngân sách và giảm số lượng sản phẩm được trợ cấp. Lấy năm 1986 – 1988 làm mốc, từ năm 1993 – 1998, phải giảm 36% ngân sách chi trợ cấp, gảim 24% sản phẩm được trợ cấp.

Ngoài ra còn dành ưu đãi đặc biệt và đơn phương cho các nước đang phát triển. Các nước này được giảm cam kết không quá 1 phần 3 mức cam kết theo quy định trong hiệp định này.

V/ Đi theo hướng tổ chức thương mại nhiều bên

1/ Các thỏa thuận khác tại vòng đàm phán Uruguay

“Văn bản cuối cùng về kết quả đàm phán thương mại nhiều bên tại vòng Uruguay” quy định rằng, các hiệp định vòng đàm phán Uruguay mở cửa đối với mọi bên đàm phán và đòi hỏi chấp nhận cả gói, cũng có nghĩa là, các nước tham gia đàm phán hoặc chấp nhận toàn bộ, hoặc không chấp nhận toàn bộ, chứ không được chọn lọc chấp nhận một số hiệp định, còn một số hiệp định thì không chấp nhận.

Ngoài các hiệp định đã nói ở trên, dự thảo “Văn bản cuối cùng” còn có các nội dung sau:

a/ Về thuế.

Nghị định thư giảm thuế quy định rằng, trên cơ sở mức thuế hiện hành, các nước ký hiệp định lại phải giảm 1 phần 3 nữa. Biểu thuế mới trở thành biểu thuế của Hiệp định chung, bắt đầu có hiệu lực cùng với hiệu lực của nghị định thư.

b/ Về các biện pháp phi thuế quan.

Ngoài hiệp định về quy tắc nơi sản xuất, hiệp định về kiểm nghiệm trước khi hàng xuống tàu, còn có 6 hiệp định đã được thỏa thuận tại vòng đàm phán Tokyo là: hiệp định thư về trình tự cấp giấy phép nhập khẩu, hiệp định về việc chính phủ thu mua, hiệp định về chống bán phá giá, hiệp định về trợ cấp và chống trợ cấp, hiệp định về hàng rào kỹ thuật và hiệp định tính giá hải quan đã sửa đổi.

c/ Về việc sửa đổi các điều khoản trong Hiệp định.

Đã có những sửa đổi đối với biện pháp bảo vệ, việc liệt kê thuế vào biểu thuế, hạn chế nghiêm ngặt hơn đối với thương mại quốc doanh, xiết chặt hơn kỷ luật đối với những hạn chế về số lượng vì mục đích cân đối thu chi quốc tế, xiết chặt hơn kỷ luật torng việc thành lập liên minh thuế quan và đối với việc miễn trừ trách nhiệm.

d/ Về trình tự và quy tắc giải quyết tranh chấp, về cơ chế giải quyết tranh chấp.

Quy định cụ thể hơn về thương lượng, dàn xếp, thành lập tổ chuyên gia, trình tự khiếu tố, trọng tài, về giám sát thi hành quyết định, về nghĩa vụ đền bù và ngừng nghĩa vụ giảm thuế… Đồng thời, quyết định lập ra tổ chức giải quyết tranh chấp, xác lập cơ chế trả đũa.

e/ Về vai trò của Hiệp định chung.

Để phát huy hơn nữa vai trò của Hiệp định chung, người ta đã quyết định lập ra cơ chế thẩm nghị chế độ thương mại và đã làm thử; yêu cầu các nước ký hiệp định phải bảo đảm tính trong sáng của chính sách thương mại; các nước ký hiệp định phải kịp thời thông báo cho Ban thư ký Hiệp định chung tình hình thực hiện và thay đổi chính sách thương mại; lập ra trong Ban thư ký “Trung tâm đăng ký thông báo”, lập ra tổ thẩm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ thông báo của các nước; tăng cường sự giao lưu và hợp tác giữa Hiệp định chung với Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới.

g/ Về các lĩnh vực mới.

Vòng đàm phán Uruguay cũng đã thỏa thuận được dự thảo hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại, về buôn bán hàng giả, về các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại và về buôn bán dịch vụ.

2/ Tổ chức thương mại nhiều bên

Một thành quả quan trọng tại vòng đàm phán Uruguay là đã đạt được thỏa thuận bước đầu về quyết định thành lập Tổ chức thương mại nhiều bên.

Trong hơn 40 năm kể từ ngày thành lập Hiệp định chung tới nay, số nước ký hiệp định này lúc đầu là 23 nước, nay đã tăng lên tới 104 nước (Nam Tư (cũ) bị tạm đình chỉ tư cách thành viên), kim ngạch mậu dịch giữa các nước ký hiệp định chiếm trên 90% kim ngạch mậu dịch thế giới. Về ảnh hưởng thực tế của Hiệp định chung đối với nền kinh tế thế giới thì không một tổ chức kinh tế thế giới nào có thể bì kịp. Bởi vậy, địa vị pháp lý của nó ngày càng quan trọng.

Tổ chức thương mại nhiều bên ra đời sẽ chấm dứt lịch sử hơn 40 năm việc tạm thời áp dụng của Hiệp định chung. Với việc xác lập quy tắc quốc tế hoàn bị về buôn bán hàng hóa, buôn bán dịch vụ, về quyền sở hữu trí tuệ và về các lĩnh vực thương mại vô hình khác và chúng thật sự nằm trong khuôn khổ Hiệp định chung, tổ chức thương mại nhiều bên sẽ trở thành tổ chức quốc tế chính thức quan trọng nhất giữa các chính phủ trong nền thương mại thế giới.

Tổ chức thương mại nhiều bên sẽ quản lý thống nhất việc thi hành các hiệp định được ký kết tại vòng đàm phán Uruguay, là nơi đàm phán thương mại nhiều bên; quản lý mọi công việc của tổ chức giải quyết tranh chấp. Điều đó cho thấy tính kế thừa của nó đối với Hiệp định chung.

Trong tổ chức thương mại nhiều bên sẽ lập ra một ủy ban chung phụ trách tổ chức tổng hợp về giải quyết tranh chấp, tổ chức thẩm nghị chính sách thương mại và các tổ chức dưới quyền khác. Đồng thời, trong ủy ban chung này sẽ lập ra ủy ban về buôn bán hàng hóa, ủy ban về buôn bán dịch vụ, ủy ban về quyền sở hữu trí tuệ, ủy ban về thu chi quốc tế, ủy ban ngân sách, ủy ban phát triển…

Thành viên cảu tổ chức thương mại quốc tế là các nước ký Hiệp định chung hiện nay, nếu họ chấp nhận cả gói mọi hiệp định tại vòng đàm phán Uruguay. Còn tất cả các nước khác và các khu vực (lãnh thổ) hải quan độc lập có quyền tự trị về thương mại đều có thể đàm phán, gia nhập tổ chức thương mại nhiều bên theo trình tự đã quy định.

Các nước thành viên của Tổ chức thương mại nhiều bên phải sửa đổi các đạo luật trong nước cho phù hợp với quy định của hiệp định tại vòng đàm phán Uruguay.

Tổ chức thương mại nhiều bên có tư cách pháp nhân. Hiệp định về Tổ chức thương mại nhiều bên có hiệu lực cùng lúc với hiệp định tại vòng đàm phán Uruguay, ngày giờ cụ thể sẽ do hội nghị cấp bộ trưởng vòng đàm phán Uruguay xác định.

Hiệp định chung phát triển thành Tổ chức thương mại nhiều bên, quy tắc thương mại nhiều bên phát triển từ chỗ được áp dụng tạm thời tới chỗ được áp dụng lâu dài, từ chỗ là tổ chức chỉ quản lý buôn bán hàng hóa tiến tới chỗ quản lý cả thương mại hữu hình, thương mại vô hình và quyền sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại. Điều đó có thể rút ra một kết luận cơ bản như sau: Hiệp định chung đang trở thành “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” với ý nghĩa thật sự như thế. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại và Tổ chức thương mại nhiều bên sắp ra đời chẳng những có ảnh hưởng to lớn đối với nền thương mại thế giới trong thế kỷ này mà còn tiếp tục có ảnh hưởng đối với tình hình thương mại thế giới trong thế kỷ XXI.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Đi theo hướng Tổ chức thương mại nhiều bên – Phần IV


c/ Các quy tắc khác.

Các nước phải hợp tác để xử lý các hành vi dối trá về vận chuyển, thay đổi luồng đường, khai báo láo về nước sản xuất, làm giả các văn kiện, giấy tờ chính thức. Nếu qua điều tra có đủ chứng cứ về sự gian dối thì có thể từ chối nhập khẩu; nếu hàng đã nhập khẩu thì có thể cắt giảm hạn ngạch của nước sản xuất; nếu có chứng cứ cho thấy nước vận chuyển hàng tham gia vào sự lừa dối thì có thể áp dụng biện pháp hạn chế đối với nước này. Đối với các hành vi khai báo dối trá thành phần, số lượng sợi và quy cách sản phẩm, cũng sẽ áp dụng biện pháp thích đáng.

Nếu nước nào đó cho rằng việc tăng tổng lượng nhập khẩu sản phẩm nào đó làm thiệt hại nghiêm trọng hoặc có đe dọa thực tế đối với sản phẩm cùng loại do mình sản xuất hoặc đối với ngành công nghiệp của mình sản xuất sản phẩm trực tiếp cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu ấy, thì có thể áp dụng biện pháp bảo vệ, nhưng phải phù hợp với quy định.

Hội đồng đại biểu Hiệp định chung sẽ lập ra tổ chức giám sát việc thực hiện hiệp định. Cứ trước khi kết thúc mỗi giai đoạn nhất thể hóa, Hội đồng đại biểu sẽ thẩm tra rộng lớn một lần.

Ngoài ra, phụ lục hiệp định đã liệt kê ra khoảng 900 loại sản phẩm, như vậy đã mở rộng phạm vi nhất thể hóa hàng dệt.

IV/ Hiệp định về hàng nông sản

1/ Buôn bán hàng nông sản trên thế giới

Buôn bán hàng nông sản trên thế giới là vấn đề cực kỳ nhạy cảm và cực kỳ phức tạp. Do vậy, việc buôn bán này xưa nay vẫn là một “vùng xám”, một nửa nằm ngoài khuôn khổ Hiệp định chung.

Các nước phát triển nắm giữ khoảng 65% buôn bán hàng nông sản thế giới. Chính nông nghiệp của họ quyết định tình hình buôn bán và sản xuất hàng nông sản nhiệt đới trên thế giới. Đó là nguồn gốc gây ra những sai lạc trong buôn bán hàng nông sản. Các hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp trợ cấp khiến cho sản xuất và tiêu thụ hàng nông sản mất cân đối, lợi thế so sánh không được tận dụng một cách bình thường. Thuế đánh vào hàng nông sản chế biến rất cao; hạn ngạch thuế, thuế có tính chất thời vụ, hạn ngạch nhập khẩu, hạn chế số lượng…, là những hàng rào dày đặc; các điều lệ vệ sinh cũng có ảnh hưởng tiêu cực đối với buôn bán hàng  nông sản.

Chính chính sách nông nghiệp ấy của các nước phát triển đã dẫn đến những thay đổi to lớn trong buôn bán hàng nông sản. Những năm 60, EEC còn là người nhập khẩu hàng nông sản nhiều nhất, nhưng tới những năm 80, họ đã trở thành đối thủ cạnh tranh bằng vai phải lứa với Mỹ và các nước xuất khẩu hàng nông sản khác. Do đó đã nổ ra sự cạnh tranh về hàng nông sản giữa Mỹ và Tây Âu. Những khoản trợ cấp khổng lồ cho hàng nông sản đã trở thành gánh nặng tài chính đối với các nước phát triển, đồng thời điều đó cũng khiến cho giá hàng nông sản mỗi năm một giảm, nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển khó tiếp tục xuất khẩu hàng nông sản.

Tháng 11/1982, Ủy ban về hàng nông sản được thành lập để tìm cách xử lý những sai lạc trong buôn bán hàng nông sản. Tháng 9/1986, tuyên bố của hội nghị cấp bộ trưởng vòng đàm phán Uruguay đã xác định mục tiêu tự do buôn bán hàng nông sản. Sau nhiều năm đàm phán, giữa Mỹ và EEC vẫn còn bất đồng lớn. Trong sản xuất nông nghiệp, Mỹ có lợi thế hơn EEC. Xóa bỏ các biện pháp bảo hộ, như trợ cấp…, có nghĩa là thất nghiệp tăng, điều đó khiến EEC không dám khinh suất sửa đổi chính sách nông nghiệp. Đó cũng là thực chất tranh chấp buôn bán hàng nông sản.

Tại vòng đàm phán Uruguay, lúc đầu Mỹ đề nghị trong vòng 10 năm hủy bỏ toàn bộ trợ cấp có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đối với hàng nông sản. Sau đó họ lại cụ thể hóa mục tiêu ấy, đó là, trong vòng 10 năm, giảm 75% trợ cấp trong nước, giảm 90% trợ cấp xuất khẩu, đồng thời giảm mạnh thuế nhập khẩu và hàng rào phi thuế quan đối với hàng nông sản. Đề nghị này của Mỹ bị EEC cực lực phản đối. Sau nhiều lần điều chỉnh, mục tiêu của Mỹ đã nhích lại gần với lập trường của EEC, nhưng vẫn còn mâu thuẫn gay gắt.

Xuất phát từ lợi ích của bản thân, tập đoàn Cairns gồm 14 nước xuất khẩu hàng nông sản loại vừa và nhỏ, ủng hộ về nguyên tắc lập trường của Mỹ. Nhật Bản và Hàn Quốc kiên quyết phản đối mở cửa thị trường gạo nước mình. Thụy Sĩ và các nước Bắc Âu thì hoặc là ủng hộ hoặc là đồng tình với lập trường của EEC. Còn các nước không xuất mà chỉ nhập khẩu lương thực thì nhấn mạnh rằng hủy bỏ trợ cấp xuất khẩu sẽ có ảnh hưởng bất lợi cho họ, vì vậy họ đòi được đền bù.

Trước tình hình đó, Chủ tịch Ủy ban đàm phán Dunkel đưa ra một bản dự thảo hiệp định triết trung về hàng nông sản với kỳ hạn từ năm 1993 – 1998, hết thời hạn này sẽ đàm phán lại. Nhưng EEC vẫn phản đối kịch liệt. Ngày 5/11/1992, Mỹ và EEC ký hiệp định có tính chất thỏa hiệp về vấn đề hàng nông sản, làm lóe lên tia hy vọng kết thúc một cách thuận lợi vòng đàm phán Uruguay. Nhưng sau đó Pháp công khai tỏ ý không chấp nhận hiệp định này.

2/ Hiệp định về hàng nông sản

Dự thảo hiệp định về hàng nông sản tại vòng đàm phán Uruguay gồm có 4 phần. Phần một quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các nước ký hiệp định và nguyên tắc chung; phần hai là các cam kết ràng buộc đối với các hàng rào kỹ thuật trong lĩnh vực này; phần bốn quy định các biện pháp cụ thể chiếu cố lợi ích của các nước đang phát triển không có xuất khẩu mà chỉ có nhập khẩu lương thực. Dưới đây sẽ giới thiệu vắn tắt nội dung dự thảo hiệp định này.

a/ Về việc gia nhập thị trường.

Một trong những mục tiêu chủ yếu của hiệp định này là giảm các vật cản gia nhập thị trường, mở cửa thị trường hàng nông sản. Lấy phương thức giảm thuế làm phương thức nhân nhượng. Căn cứ vào phương thức chuyển đổi để chuyển đổi hàng rào phi thuế quan thành thuế, tức là thuế quan hóa các biện pháp phi thuế quan, sau đó giảm thuế.

Thuế, gồm cả thuế bình thường và thuế sau khi thuế quan hóa, từ năm 1993 – 1998 giảm bình quân 36%, mỗi mục thuế giảm tối thiểu 15%. Không được sử dụng biện pháp phi thuế quan mới hoặc sử dụng lại những biện pháp phi thuế quan đã được chuyển hóa thành thuế.

Nếu trong một năm, lượng nhập khẩu một loại hàng nông sản có liệt kê trong biểu thuế lên tới 125% lượng nhập khẩu bình quân 3 năm trước, hoặc nếu giá thấp hơn giá tham khảo từ năm 1986 – 1988, thì có thể đánh thuế ngoại ngạch đối với hàng nông sản ấy, tỷ lệ thuế ngoại ngạch này do hiệp định quy định cụ thể. Điều khoản bảo vệ đặc biệt này có hiệu lực từ năm 1993 – 1998.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Đi theo hướng Tổ chức thương mại nhiều bên – Phần III


h/ Trình tự khởi tố.

Chính phủ các nước nhập khẩu phải bảo đảm rằng, tổ chức kiểm nghiệm hàng trước khi xuống tàu phải lập ra một trình tự tiếp nhận, nghiên cứu và trả lời các ý kiến của hãng xuất khẩu về sự không hài lòng và oan sai của họ. 1) Tổ chức kiểm nghiệm phải đặt trụ sở làm việc ở các thành phố hoặc bến cảng và cử một hoặc một số người thường xuyên có mặt trong giờ làm việc để tiếp nhận, nghiên cứu và trả lời các khiếu nại hoặc ý kiến bày tỏ sự oan sai của hãng xuất khẩu; 2) Hãng xuất khẩu có thể trao cho những người nói trên văn bản những vụ việc có nghi vấn về nghiệp vụ cụ thể và phương pháp giải quyết sự oan sai đó; 3) Những người trên phải tận tình nghiên cứu sự oan sai của hãng xuất khẩu và giải quyết một cách nhanh chóng.

3/ Nghĩa vụ của chính phủ các nước xuất khẩu

Chính phủ nước xuất khẩu bảo đảm các quy định pháp lý về hoạt động kiểm nghiệm hàng trước khi xuống tàu được thực thi một cách không phân biệt đối xử. Chính phủ nước xuất khẩu phải kịp thời công bố các quy định pháp lý về kiểm nghiệm hàng trước khi hàng xuống tàu để chính phủ các nước khác và các hãng thương mại biết. Khi có yêu cầu, chính phủ nước xuất khẩu phải chủ động giúp đỡ kỹ thuật cho nước nhập khẩu trong việc thực hiện mục tiêu này.

4/ Trình tự thẩm tra của Tổ chức thẩm tra độc lập

Các nước ký hiệp định cần khuyến khích tổ chức kiểm nghiệm cùng nước xuất khẩu tự giải quyết tranh chấp. Song, hai ngày sau khi trình bày oan sai, bất kỳ bên nào cũng có thể đề nghị xác minh. Hai bên phải lập ra một đoàn kiểm tra gồm đại diện của tổ chức kiểm nghiệm và đại diện của hãng xuất khẩu để xử lý vấn đề được đặt ra.

Mục đích thẩm tra là để xác định trong quá trình có tranh chấp về kiểm nghiệm, hai bên có chấp hành các quy định của thỏa thuận này hay không. Việc thẩm tra phải được tiến hành khẩn trương và cho hai bên được trực tiếp trình bày bằng miệng hoặc trình bày bằng văn bản quan điểm của mình. Quyết định của đoàn thẩm tra dựa vào việc biểu quyết, thông qua bằng đa số phiếu. Quyết định giải quyết tranh chấp phải được thông báo cho các bên. Quyết định này có hiệu lực ràng buộc đối với hai bên tranh chấp.

5/ Thông báo, kiểm tra, thương lượng, giải quyết tranh chấp

Các nước ký hiệp định này phải gửi cho Ban thư ký Hiệp định chung các quy định pháp lý về việc thực hiện thỏa thuận này. Mọi sự thay đổi những quy định ấy mà chưa công bố thì chưa có hiệu lực, sau khi công bố phải gửi ngay cho Ban thư ký Hiệp định chung.

Trong vòng 3 ngày sau khi hiệp định này có hiệu lực, các nước ký hiệp định này phải kiểm tra các điều khoản và tình hình chấp hành các điều khoản ấy trong hiệp định này để bổ sung, sửa đổi. Việc thương lượng và giải quyết tranh chấp giữa các nước áp dụng theo quy định trong Hiệp định chung.

III/ Hiệp định về hàng dệt và hàng may mặc

1/ Lịch sử diễn biến của thể chế thương mại thế giới về hàng dệt

Buôn bán hàng dệt và hàng may mặc chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch thương mại thế giới và là ngành xuất khẩu trụ cột của các nước đang phát triển. Nhưng lâu nay, việc buôn bán hàng dệt luôn luôn luồn lách ngoài vòng kỷ luật của Hiệp định chung, trở thành lĩnh vực thương mại hàng hóa đặc thù mà người ta gọi là “vùng xám”.

Năm 1957, sau 10 năm Hiệp định chung có hiệu lực, Nhật Bản đã ký kết hiệp định 5 năm về “tự nguyện” xuất khẩu hàng dệt và hàng may mặc. Năm 1959 Mỹ đưa ra khái niệm “quấy rối thị trường” làm chỗ dựa cho họ đi chệch nguyên tắc cơ bản của Hiệp định chung, làm chỗ dựa pháp lý để hạn chế số lượng có tính chất phân biệt đối xử.

Năm 1961, Ủy ban về hàng dệt sợi bông được thành lập, 19 nước và khu vực xuất nhập khẩu hàng dệt ký kết “Hiệp định thương mại quốc tế ngắn hạn về hàng dệt sợi bông”. Từ năm 1962 đến năm 1973 hiệp định ngắn hạn này trở thành hiệp định dài hạn, và hai lần gia hạn, từ chỗ chỉ có 7 loại hàng dệt bị hạn chế bởi hiệp định này tăng lên khoảng 70 loại.

Năm 1972, Ủy ban về hàng dệt được thành lập. Năm 1973 “Hiệp định thương mại quốc tế hàng dệt” (tức “Hiệp định về sợi kép”) được ký kết thay cho hiệp định nói trên. Hiệp định này tạo mô hình buôn bán hàng dệt thông qua các hiệp định song phương giữa các nước xuất nhập khẩu, đi chệch khỏi nguyên tắc nhiều bên được quy định trong Hiệp định chung. Hiệp định này chỉ dựng lên những hạn chế của các nước phát triển đối với các nước đang phát triển, chứ không có hạn chế giữa các nước phát triển với nhau, do vậy cũng đi chệch khỏi nguyên tắc không phân biệt đối xử được quy định trong Hiệp định chung.

“Hiệp định về sợi kép” lần thứ nhất chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/1974, cuối năm 1977 thì hết hạn; “Hiệp định về sợi kép” lần thứ hai có hiệu lực từ năm 1978, cuối năm 1981 thì hết hạn; “Hiệp định về sợi kép” lần thứ ba có hiệu lực từ năm 1982, tháng 7/1986 thì hết hạn; “Hiệp định về sợi kép” lần thứ tư có hiệu lực từ năm 1987, cuối năm 1991 thì hết hạn. Do nhiều nguyên nhân, hiệp định lần thứ tư được gia hạn đến cuối năm 1993.

“Hiệp định về sợi kép” lần thứ 3 có đặc điểm: 1) Mở rộng phạm vi hạn chế; 2) Mở rộng quyền hạn chế của nước nhập khẩu; 3) Tăng nội dung của điều khoản chống lẩn tránh.

Để “Hiệp định về sợi kép” trở về với Hiệp định chung, tháng 4/1984, tiểu ban công tác về hàng dệt được thành lập để nghiên cứu và chuẩn bị cho vấn đề này. Tháng 9/1986, vòng đàm phán Uruguay bắt đầu và xác lập mục tiêu đưa hàng dệt vào khuôn khổ Hiệp định chung. Qua đàm phán nhiều lần giữa các nước phát triển là nước nhập khẩu và các nước đang phát triển là nước xuất khẩu, cuối cùng đã đi tới thỏa thuận về “Hiệp định hàng dệt và hàng may mặc” (dự thảo), xác định thời gian và bước đi cụ thể từ “Hiệp định về sợi kép” trở lại quỹ đạo của Hiệp định chung.

2/ Hiệp định về hàng dệt và hàng xuất khẩu

a/ Nguyên tắc chung.

Thời kỳ quá độ nhất thể hóa hàng dệt phải áp dụng hiệp định này, cần cải thiện điều kiện gia nhập thị trường của các nước cung ứng nhỏ; phải thể hiện được lợi ích cụ thể của nước sản xuất bông và có ưu đãi đặc biệt đối với những nước không phải là nước thành viên của hiệp định về sợi kép; khuyến khích các nước điều chỉnh ngành sản xuất tự chủ; việc thực thi hiệp định này không được ảnh hưởng tới quyền lợi và nghĩa vụ của các nước ký Hiệp định chung.

b/ Sự sắp xếp và bước đi của việc nhất thể hóa.

Trong vòng 60 ngày sau khi hiệp định này có hiệu lực, các bên ký hiệp định này phải thông báo cho tổ chức giám sát hàng dệt mọi hạn chế về số lượng theo hiệp định song phương về hàng sợi kép, những hạn chế chưa được thông báo phải lập tức được hủy bỏ và không được thực hiện những hạn chế mới, ngoại trừ có quy định khác. Thời gian quá độ nhất thể hóa là 10 năm, kể từ ngày 1/1/1993 đến 31/12/2002. Thời kỳ quá độ nhất thể hóa chia làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn một (1993 – 1995), bắt đầu từ ngày 1/1/1993, các nước phải lấy năm 1990 làm mốc để đưa ít nhất 12% tổng lượng nhập khẩu hàng dệt (gồm sợi hóa học, sợi bông, hàng dệt, hàng may mặc) vào khuôn khổ Hiệp định chung, tức là xóa bỏ hạn chế bằng hạn ngạch. Trong giai đoạn này, mỗi năm tăng 16% cơ số hạn ngạch nhập khẩu trên cơ sở mức tăng hàng năm theo định sợi kép song phương năm 1992.

Giai đoạn hai (1996 – 1999), bắt đầu từ ngày 1/1/1996, lấy năm 1990 làm mốc, các nước phải đưa 17% bốn loại sản phẩm nói trên trong tổng lượng nhập khẩu hàng dệt của nước mình vào khuôn khổ Hiệp định chung. Đồng thời hàng năm tăng 25% cơ số hạn ngạch nhập khẩu quy định trong hiệp định song phương năm 1995.

Giai đoạn ba (năm 2000 – 2002), bắt đầu từ ngày 1/1/2000, lấy năm 1990 làm mốc, các nước phải đưa 18% tổng lượng nhập khẩu hàng dệt của nước mình vào khuôn khổ Hiệp định chung. Đồng thời tăng 27% cơ số hạn ngạch nhập khẩu theo hiệp định năm 1999.

Tới ngày 1/1/2003, hoàn thành toàn bộ tiến trình nhất thể hóa hàng dệt và hàng may mặc theo Hiệp định chung, hủy bỏ mọi hạn chế bằng hạn ngạch và các hạn chế khác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Đi theo hướng Tổ chức thương mại nhiều bên – Phần II


4/ Phối hợp các quy tắc về nơi sản xuất

Để phối hợp các quy tắc về nơi sản xuất, đặc biệt là để tạo ra sự tin cậy cao hơn đối với các hoạt động thương mại thế giới, các nước phải làm việc có hiệu quả với Ủy ban hợp tác hải quan. Để bảo đảm kịp thời hoàn thành kế hoạch công tác phối hợp này, sự phối hợp phải được tiến hành trên cơ sở phân loại hàng hóa được liệt kê ở các chương, tiết trong mục lục hạng thuế.

Ủy ban kỹ thuật về quy tắc nơi sản xuất phải gánh các trách nhiệm: 1) Kiểm tra các vấn đề kỹ thuật cụ thể nảy sinh trong công tác quản lý hàng ngày của các nước đối với quy tắc về nơi sản xuất, và dựa trên cơ sở các sự thật đã biết để có ý kiến chỉ đạo về phương pháp giải quyết; 2) Cung cấp thông tin tư vấn và đề ra kiến nghị mà các nước hoặc Ủy ban về quy tắc nơi sản xuất yêu cầu trong việc xác nhận nơi sản xuất; 3) Hằng năm thẩm tra và công bố tình hình thao tác kỹ thuật về quy tắc nơi sản xuất.

5/ Quy tắc về nơi sản xuất được ưu đãi

Do tính tới việc sẽ có thể có một số nước áp dụng quy tắc nơi sản xuất được ưu đãi khác hẳn với quy tắc về nơi sản xuất, các nước ký Hiệp định chung đã đưa ra một dự thảo “Tuyên  bố chung về quy tắc nơi sản xuất được ưu đãi”. Trong dự thảo này, quy tắc nơi sản xuất được ưu đãi được định nghĩa là những sắc luật, pháp quy và những quy định thi hành hành chính mà các nước ký Hiệp định chung áp dụng để xác nhận hàng hóa có được hưởng ưu đãi không (không bị hạn chế bởi khoản 1 điều 1 trong Hiệp định chung) của nước thực hiện ưu đãi thuế hay không. Việc thực thi quy tắc về nơi sản xuất được ưu đãi phải phù hợp với các yêu cầu về thực thi quy tắc chung về nơi sản xuất.

II/ Hiệp định về kiểm nghiệm trước khi hàng xuống tàu (dự thảo)

1/ Định nghĩa

Hoạt động kiểm nghiệm trước khi hàng xuống tàu là kiểm nghiệm chất lượng, số lượng hàng và so sánh giá cả, gồm cả hối suất chuyển đổi ngoại hối và điều kiện tài chính, hoặc phân loại hải quan đối với hàng hóa từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu.

Tổ chức kiểm nghiệm trước khi hàng xuống tàu là tổ chức được xác định trong hợp đồng hoặc được chỉ định. Thỏa thuận về kiểm nghiệm trước khi hàng xuống tàu được áp dụng cho hoạt động này trên lãnh thổ các nước ký Hiệp định chung, dù là do chính phủ hoặc cơ quan chính phủ tiến hành, hoặc là do tổ chức được xác định trong hợp đồng hoặc được chỉ định tiến hành.

2/ Nghĩa vụ của chính phủ nước nhập khẩu

a/ Không phân biệt đối xử.

Chính phủ nước nhập khẩu phải bảo đảm hoạt động kiểm nghiệm không phân biệt đối xử, trình tự được áp dụng khi kiểm nghiệm phải có tiêu chuẩn khách quan, bình đẳng đối với mọi hàng xuất khẩu, công tác kiểm nghiệm do các nhân viên kiểm nghiệm tiến hành phải thống nhất, phải tuân thủ pháp luật và các quy định trong Hiệp định chung, phải thông báo kết quả kiểm nghiệm.

Hoạt động kiểm nghiệm phải được tiến hành trên lãnh thổ hải quan của nước xuất khẩu, nếu không tiến hành kiểm nghiệm tại lãnh thổ hải quan nước này được thì phải nói rõ nơi sản xuất hàng; hoặc nếu hai bên đồng ý thì kiểm nghiệm tại lãnh thổ hải quan của nước sản xuất hàng. Kiểm nghiệm số lượng và chất lượng hàng phải căn cứ vào tiêu chuẩn quy định trong hợp đồng. Nếu trong hợp đồng không có tiêu chuẩn đó thì phải căn cứ vào tiêu chuẩn quốc tế.

b/ Sự trong sáng.

Chính phủ nước nhập khẩu phải công khai các hoạt động kiểm nghiệm. Nếu hãng nhập khẩu có yêu cầu từ trước thì trước khi kiểm nghiệm phải cung cấp cho họ toàn bộ những thông tin đòi hỏi họ phải tuân thủ các yêu cầu về kiểm nghiệm, gồm có các tư liệu về các đạo luật của nước nhập khẩu có liên quan tới hoạt động kiểm nghiệm, trình tự và tiêu chuẩn dùng để so sánh giá cả và hối suất, quyền lợi của hãng xuất khẩu. Mọi điều bổ sung hoặc thay đổi so với trình tự hiện hành đều không được áp dụng để kiểm nghiệm, ngoại trừ trường hợp đã được thông báo khi bố trí ngày giờ kiểm nghiệm.

Chính phủ nước nhập khẩu phải nhanh chóng gửi cho các chính phủ khác các đạo luật của mình có liên quan tới hoạt động kiểm nghiệm này. Trụ sở của tổ chức kiểm nghiệm hàng trước khi xuống tàu nên được dùng làm điểm dịch vụ về thông tin.

c/ Bảo vệ bí mật thương mại.

Chính phủ nhập khẩu phải bảo đảm rằng, tổ chức kiểm nghiệm hàng trước khi xuống tàu phải giữ bí mật thương mại những thông tin khi kiểm nghiệm, nếu những thông tin này chưa được công khai.

Tổ chức kiểm nghiệm hàng  trước khi xuống tàu không được đòi hỏi hãng xuất khẩu cung cấp các thông tin sau: 1) Các tư liệu về bản quyền, giấy phép, công nghệ sản xuất chưa công khai, hoặc công nghệ sản xuất chưa đăng ký bản quyền; 2) Các số liệu kỹ thuật chưa công bố; 3) Giá trị nội bộ, gồm cả giá thành sản xuất; 4) Mức lợi nhuận; 5) Nội dung hợp đồng giữa hãng xuất khẩu và hãng cung ứng.

d/ Tránh xung đột lợi ích.

Chính phủ nước nhập khẩu phải bảo đảm rằng, tổ chức kiểm nghiệm tránh gây ra xung đột lợi ích như: 1) Tổ chức kiểm nghiệm tránh gây ra tranh cãi với các tổ chức khác; 2) Tránh gây ra tranh cãi với các tổ chức có quan hệ với mình về tài vụ hoặc về lợi ích thương mại trong bất kỳ tổ chức nào; 3) Tránh gây ra tranh cãi với các tổ chức có liên quan tới hàng hóa mà mình kiểm nghiệm; không được có xung đột giữa các bộ phận khác nhau trong hoạt động kiểm nghiệm.

e/ Tránh gây lỡ việc.

Chính phủ nước nhập khẩu phải bảo đảm tổ chức kiểm nghiệm tránh kéo dài vô cớ việc kiểm nghiệm.

Sau khi kiểm nghiệm xong, trong vòng 5 ngày kể từ ngày cấp giấy cho phép hàng xuống tàu, tổ chức kiểm nghiệm phải làm báo cáo về việc cấp giấy cho phép hàng xuống tàu. Nếu không cấp giấy cho hàng xuống tàu thì phải làm văn bản nói rõ lý do.

Vào bất kỳ lúc nào, nếu hãng xuất khẩu yêu cầu, trước khi kiểm nghiệm vật lý, tổ chức kiểm nghiệm phải làm dự thẩm giá cả, hối suất, hình thức cấp giấy chứng nhận, giấy phép nhập khẩu, sau đó lập tức thông báo bằng văn bản cho hãng xuất khẩu tỉ mỉ các nguyên nhân chấp nhận hoặc không chấp nhận giá cả hoặc hối suất mà họ đề nghị.

Để tránh làm lỡ việc, tổ chức kiểm nghiệm phải nhanh chóng chuyển báo cáo thanh kiểm cho hãng xuất khẩu hoặc đại diện được chỉ định của họ. Nếu báo cáo thanh kiểm có sai sót thì tổ chức kiểm nghiệm phải sửa sai và sau đó chuyển cho các bên thích hợp.

g/ So sánh giá cả.

Chính phủ nước nhập khẩu phải bảo đảm tổ chức kiểm nghiệm, căn cứ vào các quy tắc dưới đây để so sánh giá cả:

+ Không từ chối giá cả theo hợp đồng được ký kết giữa hãng xuất khẩu và hãng nhập khẩu.

+ Việc so sánh giá cả để xác minh giá xuất khẩu phải căn cứ vào giá xuất khẩu của sản phẩm cùng loại hoặc tương tự, giá cả của sản phẩm cùng loại hoặc tương tự mà nước xuất khẩu ấy áp dụng trong thời gian gần như nhau.

+ Khi so sánh giá cả, phải để ra một khoảng linh hoạt về yêu cầu của nghiệp vụ điều chỉnh chung so với các điều kiện trong hợp đồng tiêu thụ. Khoảng linh hoạt ấy gồm có các yếu tố: số lượng tiêu thụ, thời gian và điều kiện xuất hàng, điều khoản tăng giá, thuyết minh về chất lượng, thiết kế đặc thù, vận tải đặc thù hoặc thuyết minh về việc đóng gói, quy mô đặt hàng, tiêu thụ tại chỗ, ảnh hưởng của thời tiết, chi phí về giấy phép hoặc chi phí về quyền sở hữu trí tuệ và dịch vụ hợp đồng.

+ Việc xác minh cước vận chuyển chỉ tiến hành trong khuôn khổ giá vận chuyển trong nước xuất khẩu mà hai bên đã chấp thuận và có ghi rõ trong hợp đồng tiêu thụ.

+ Các yếu tố không được dùng để so sánh giá cả là: giá tiêu thụ sản phẩm do nước nhập khẩu sản xuất; giá cả hàng hóa do nước xuất khẩu; giá thành sản xuất; giá cả hoặc giá trị được xác định một cách tùy tiện hoặc giả tạo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Đi theo hướng Tổ chức thương mại nhiều bên – Phần I


Nội dung “Dự thảo văn kiện cuối cùng về kết quả đàm phán nhiều bên vòng đàm phán Uruguay” rất rộng lớn, từ thuế đến biện pháp phi thuế quan, từ buôn bán hàng hóa đến buôn bán dịch vụ và các lĩnh vực khác, từ “vùng xám” đến vai trò của Hiệp định chung và hướng đi trong tương lai của hiệp định này. Ở đây giới thiệu một cách có trọng điểm một số nội dung trong dự thảo trên, gồm các dự thảo về: quy tắc về nơi sản xuất, về kiểm nghiệm trước khi hàng xuống tàu, về hàng dệt và hàng may mặc, về hàng nông sản, về thành lập tổ chức thương mại nhiều bên.

I/ Quy tắc về nơi sản xuất

Lời nói đầu dự thảo quy tắc về nơi sản xuất vạch ra rằng, quy tắc về nơi sản xuất rõ ràng và có thể lượng định được thì việc thực thi quy tắc ấy sẽ tạo thuận lợi cho lưu thông thương mại quốc tế. Do vậy, phải bảo đảm quy tắc này không gây trở ngại cho thương mại, cũng không được xóa bỏ hoặc gây thiệt hại cho quyền lợi của các nước ký Hiệp định chung. Các sắc luật, pháp quy và thông lệ về quy tắc nơi sản xuất phải trong sáng; thực thi quy tắc về nơi sản xuất bằng phương thức ngay thẳng, trong sáng, có thể lượng định được, thống nhất và trung lập. Vì vậy phải định ra cơ chế và trình tự thương lượng để có thể giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, hữu hiệu và ngay thẳng.

1/ Định nghĩa và phạm vi

Dự thảo định nghĩa quy tắc về nơi sản xuất là những sắc luật, pháp quy và các quyết định hành chính chấp hành các sắc luật pháp quy ấy mà các nước ký Hiệp định chung thực thi để xác định nước sản xuất hàng hóa.

Phạm vi của quy tắc về nơi sản xuất gồm tất cả các công cụ sử dụng vào chính sách thương mại không có ưu đãi, như quy chế tối huệ quốc ở điều 1, điều 2, điều 3, điều 11, điều 13 trong Hiệp định chung; chống bán phá giá và thuế chống trợ cấp tại điều 6; biện pháp bảo vệ tại điều 19; nhãn hiệu nước sản xuất tại điều 9, và các biện pháp hạn chế số lượng hoặc hạn ngạch thuế quan mang tính chất phân biệt đối xử. Ngoài ra, còn có các quy tắc về nơi sản xuất được sử dụng vào việc thu mua của chính phủ và thống kê thương mại.

2/ Quy tắc thực thi chi tiết

a/ Quy tắc trong thời gian quá độ.

Khi công bố quyết định thực thi hành chính, phải làm rõ các yêu cầu: trong trường hợp áp dụng tiêu chuẩn phân loại thay đổi hạng thuế thì phải ghi rõ quy tắc về nơi sản xuất này và ngoại lệ vào các mục thuế trong mục lục hạng thuế; trong trường hợp áp dụng tiêu chuẩn đánh thuế tỷ lệ phần trăm tính theo giá thì phải ghi rõ cách tính phần trăm ấy; trong trường hợp áp dụng thuế theo tiêu chuẩn chế tác hoặc theo tiêu chuẩn thao tác gia công thì phải nói rõ tiêu chuẩn chế tác.

Bản thân quy tắc về nơi sản xuất không được có ảnh hưởng mang tính chất hạn chế thương mại; không được đặt ra những đòi hỏi quá nghiêm ngặt, hoặc những điều kiện không liên quan tới chế tác và gia công để làm điều kiện xác định nơi sản xuất. Quy tắc về nơi sản xuất không được mang tính chất phân biệt đối xử, phải được quản lý thống nhất, ngay thẳng, hợp lý; phải công bố các sắc luật, pháp quy, các quyết định tư pháp và hành chính có liên quan.

Khi các hãng xuất nhập khẩu yêu cầu và đã nộp đủ các tài liệu cần thiết thì trong vòng 150 ngày, hàng hóa của họ phải được xác nhận nơi sản xuất. Một khi các điều kiện không có gì thay đổi về cơ bản, sự xác nhận ấy có hiệu lực trong thời gian 3 năm.

Nếu sửa đổi quy tắc về nơi sản xuất thì những sửa đổi ấy không được trái với các sắc luật hoặc pháp quy về quy tắc này, không được có thiên kiến. Khi cần thiết thì có thể thông qua tư pháp, trọng tài hoặc trình tự quản lý hành chính để thẩm tra các hành vi hành chính được áp dụng để xác nhận nơi sản xuất. Mọi tài liệu mật hoặc những tài liệu được cung cấp bí mật để thực thi quy tắc về nơi sản xuất phải được bảo mật nghiêm ngặt, không được sự đồng ý của người hoặc chính phủ cung cấp tài liệu thì không được tiết lộ nội dung tài liệu.

b/ Quy tắc sau thời kỳ quá độ.

Sau khi quy tắc về nơi sản xuất được xác lập, các nước phải thực thi quy tắc này một cách bình đẳng. Theo quy tắc đó, nước nào sản xuất ra toàn bộ sản phẩm thì nước ấy là nước sản xuất của sản phẩm. Khi có trên một nước tham gia sản xuất một sản phẩm, thì nước gia công cuối cùng mang tính thực chất của sản phẩm là nước sản xuất của sản phẩm ấy. Các điều khác giống như quy tắc thời kỳ quá độ.

3/ Trình tự thông báo, thẩm nghị, thương lượng và giải quyết tranh chấp

a/ Về tổ chức.

+ Ủy ban về quy tắc nơi sản xuất.

Ủy ban này tạo cơ hội thương lượng giữa các nước, thúc đẩy thực hiện mục tiêu đã đề ra, đồng thời gánh vác các nghĩa vụ khác do các nước ký thỏa thuận này hoặc các nước ký Hiệp định chung giao phó. Ban thư ký Hiệp định chung kiêm nhiệm chức năng ban thư ký của ủy ban này.

+ Ủy ban kỹ thuật về quy tắc nơi sản xuất.

Ủy ban này là ủy ban hợp tác về hải quan. Ban thư ký của Ủy ban hợp tác hải quan sẽ kiêm nhiệm ban thư ký của ủy ban kỹ thuật này.

b/ Thông báo.

Trong vòng 90 ngày sau khi hiệp định này có hiệu lực, các nước ký Hiệp định chung phải gửi cho Ban thư ký Hiệp định chung quyết định của họ về nơi sản xuất và quy tắc quản lý hành chính đối với quy tắc về nơi sản xuất được thực thi từ ngày quy tắc này bắt đầu có hiệu lực.

Nếu nước nào sửa đổi hoặc áp dụng quy tắc mới về nơi sản xuất, thì trong vòng 60 ngày sau khi sửa đổi hoặc từ ngày quy tắc mới bắt đầu có hiệu lực phải thông báo cho các nước khác biết.

c/ Thẩm nghị, thương lượng, giải quyết tranh chấp.

Hàng năm, Ủy ban về quy tắc nơi sản xuất sẽ kiểm tra và thông báo về tình hình chấp hành hiệp định này. Trình tự thương lượng và giải quyết tranh chấp sẽ áp dụng theo quy định của Hiệp định chung.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Vòng đàm phán Uruguay – Phần cuối


h/ Về các điều khoản trong Hiệp định chung

Các bên tham gia đàm phán căn cứ vào yêu cầu của các nước ký Hiệp định chung để thẩm nghị các điều khoản quy định và quy tắc trogn Hiệp định chung hiện hành, nhất là các bộ phận chưa có trong lĩnh vực đàm phán khác và sẽ đàm phán vào lúc thích hợp.

i/ Điều khoản bảo vệ.

Việc ký kết một thỏa thuận trong đó hai bên hoàn toàn thông cảm lẫn nhau về vấn đề bảo vệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc tăng cường thể chế của Hiệp định chung và sự tiến triển về đàm phán thương mại nhiều bên. Thỏa thuận về vấn đề bảo vệ phải dựa trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định chung, nó phải gồm các yếu tố: trong sáng, phạm vi bảo vệ, tiêu chuẩn khách quan của hành động bảo vệ, trong đó gồm có khái niệm về thiệt hại nghiêm trọng hoặc có nguy cơ thiệt hại nghiêm trọng; tính chất tạm thời, giảm dần và điều chỉnh kết cấu; đền bù và trả đũa; thông báo, thương lượng, giám sát nhiều bên và giải quyết tranh chấp; làm rõ và tăng cường các quy tắc của Hiệp định chung và việc áp dụng chúng đối với các nước ký hiệp định này.

k/ Thỏa thuận và dàn xếp đàm phán thương mại nhiều bên.

Đàm phán trong lĩnh vực này nhằm cải tiến, làm rõ hoặc mở rộng những thỏa thuận, việc dàn xếp về đàm phán thương mại nhiều bên đã được ký kết tại vòng đàm phán Tokyo, có nghĩa là phải mở rộng phạm vi áp dụng thỏa thuận này.

l/ Về trợ cấp và biện pháp chống trợ cấp.

Đàm phán về trợ cấp và chống trợ cấp phải được tiến hành trên cơ sở thẩm nghị điều 6, điều 16 của Hiệp định chung và thỏa thuận đàm phán nhiều bên về trợ cấp và chống trợ cấp. Mục tiêu là cải tiến quy tắc về mọi biện pháp trợ cấp và chống trợ cấp có ảnh hưởng tới thương mại quốc tế, xiết chặt kỷ luật của Hiệp định về trợ cấp và chống trợ cấp đã được ký kết tại vòng đàm phán Tokyo.

m/ Về giải quyết tranh chấp.

Đàm phán nhằm cải tiến quy tắc và trình tự giải quyết tranh chấp, tìm ra biện pháp thỏa đáng để giám sát việc thực hiện trình tự đã thông qua.

n/ Về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ có liên quan tới thương mại, gồm cả vấn đề buôn bán hàng giả.

Vì tầm quan trọng của việc bảo vệ một cách hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời bảo đảm bản thân các biện pháp và trình tự thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không gây trở ngại cho việc buôn bán hợp pháp, việc đàm phán nhằm làm rõ quy định trong Hiệp định chung, định ra quy tắc và kỷ luật mới. Đàm phán cũng nhằm định ra nguyên tắc, quy tắc và khung kỷ luật xử lý buôn bán hàng giả trên thế giới, đồng thời cũng tính tới những công việc đã làm về phương diện này.

Đàm phán về hai vấn đề trên không cản trở tổ chức về quyền sở hữu trí tuệ thế giới và các tổ chức khác có hành động bổ sung khác để xử lý những vấn đề này.

o/ Về các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại.

Thẩm tra tình hình chấp hành các văn bản về các biện pháp đầu tư trong Hiệp định chung đã gây ra những hạn chế và sai lạc đối với thương mại, nghiên cứu định ra quy tắc mới để tránh gây ra ảnh hưởng bất lợi đối với thương mại.

p/ Về vai trò của Hiệp định chung.

Đàm phán về mặt này nhằm tăng thêm sự hiểu biết lẫn nhau và soạn thảo hiệp định về:

+ Điều chỉnh thích đáng cơ cấu tổ chức của Hiệp định chung, bảo đảm để tổ chức giám sát của Hiệp định chung có thể kiểm tra định kỳ ảnh hưởng của chính sách, biện pháp thương mại của các nước ký hiệp định và tác dụng của thể chế thương mại nhiều bên.

+ Cải thiện chức năng toàn diện và năng lực quyết sách của Hiệp định chung với tư cách là một tổ chức.

+ Tăng cường quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, nâng cao vai trò của Hiệp định chung trong việc thực hiện thống nhất hơn nữa các quyết sách kinh tế toàn cầu.

q/ Về buôn bán dịch vụ.

Mục đích đàm phán nhằm định ra nguyên tắc nhiều bên và khung quy tắc xử lý các vấn đề về buôn bán dịch vụ, bao gồm quy tắc của các ngành nhằm mở rộng dịch vụ với điều kiện trong sáng và tự do hóa từng bước và lấy đó làm một phương tiện thúc đẩy phát triển kinh tế. Khung quy tắc này phải tôn trọng mục tiêu của các nước trong việc áp dụng luật lệ và quy tắc ngành dịch vụ và phải tính tới công việc của các tổ chức quốc tế.

Xét trên chỉnh thể, 15 đề mục này chia thành 4 mục lớn: 1) Đề mục 1 – 6 là vấn đề gia nhập thị trường; 2) Đề mục 8, 10 là vấn đề quy tắc cạnh tranh thị trường; 3) Đề mục 7, 9, 11 và 14 là vấn đề cải tiến Hiệp định chung; 4) Đề mục 12, 13 và 15 là các đề mục mới.

3/ Triển vọng đàm phán và hiện trạng

Từ khi bắt đầu vòng đàm phán Uruguay tới nay các nhóm đàm phán đã tổ chức hơn 400 hội nghị chính thức, ngoài ra còn rất nhiều hội nghị không chính thức, với khoảng 1500 đề án và văn kiện đàm phán.

Từ ngày 5 đến ngày 9/12/1988 hội nghị cấp bộ trưởng họp tại Montpellier (Cananda) kiểm điểm giữa kỳ vòng đàm phán Uruguay, nhưng không kết quả. Từ ngày 3 đến ngày 7/12/1990 hội nghị cấp bộ trưởng lại được triệu tập tại Brussels (Bỉ) với mong mỏi là kết thúc vòng đàm phán này. Tại hội nghị này, bước đầu đã thỏa thuận được phần lớn vấn đề. Nhưng Mỹ và EEC đối lập nhau gay gắt về vấn đề buôn bán hàng nông sản, không thỏa thuận được với nhau về giảm trợ cấp tài chính của chính phủ và những hạn chế về gia nhập thị trường. Thất bại này buộc các bộ trưởng phải quyết định kéo dài vòng đàm phán Uruguay. Tháng 12/1991, Tổng thư ký Hiệp định chung kiêm Chủ tịch Ủy ban đàm phán thương mại Dunkel đưa ra một dự thảo tổng hợp dung hòa quan điểm của các bên – “Dự thảo văn kiện cuối cùng về kết quả đàm phán nhiều bên vòng đàm phán Uruguay” – để các bên thương lượng và thông qua cả gói.

Mặc dầu dự thảo của ông Dunkel vẫn còn vấn đề này vấn đề khác, nhưng đã được các bên chấp nhận dùng làm cơ sở đàm phán cuối cùng.

Ngày 17/4/1992, Tổng thư ký Hiệp định chung Dunkel tuyên bố kéo dài vòng đàm phán Uruguay tới cuối năm 1992. Tháng 11/1992, Mỹ và EEC bước đầu đã thỏa thuận được với nhau về buôn bán hàng nông sản, làm lóe lên tia hy vọng kết thúc vòng đàm phán Uruguay.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.

Vòng đàm phán Uruguay – Phần III


1/ Mục tiêu và nguyên tắc đàm phán thương mại

a/ Mục tiêu:

+ Nới rộng và mở rộng hơn nữa thương mại thế giới bằng cách giảm và xóa bỏ thuế, hạn chế về số lượng, các biện pháp và hàng rào phi thuế quan.

+ Tăng cường vai trò của Hiệp định chung, cải tiến thể chế thương mại nhiều bên trên cơ sở các nguyên tắc của Hiệp định chung, đưa thương mại thế giới với phạm vi rộng hơn vào khuôn khổ Hiệp định chung với những quy tắc thống nhất, hữu hiệu.

+ Tăng khả năng thích ứng của Hiệp định chung với tình hình kinh tế luôn thay đổi, đặc biệt là thúc đẩy việc điều chỉnh kết cấu, tăng cường quan hệ giữa Hiệp định chung và các tổ chức quốc tế hữu quan. Đồng thời, nghiên cứu tầm quan trọng ngày càng tăng của buôn bán sản phẩm kỹ thuật cao, những khó khăn của thị trường sản phẩm sơ chế và tầm quan trọng của việc cải thiện tình hình buôn bán trên thị trường ấy, đặc biệt là tạo ra các điều kiện cho các nước mắc nợ thực hiện nhiệm vụ tài chính của họ.

+ Thúc đẩy sự phối hợp giữa trong nước và quốc tế để tăng cường mối quan hệ nội tại giữa chính sách thương mại với các chính sách khác có ảnh hưởng tới tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiếp tục có những nỗ lực hữu hiệu và kiên quyết để cải tiến thể chế tiền tệ quốc tế thúc đẩy tài chính và các nguồn đầu tư thực tế lưu động vào các nước đang phát triển.

b/ Nguyên tắc chung

+ Để đảm bảo các bên tham gia đều được lợi, đàm phán phải tiến hành một cách trong sáng, phù hợp với nguyên tắc của Hiệp định chung.

+ Việc khởi xướng đàm phán, tiến hành đàm phán và thực hiện kết quả đàm phán phải được coi là bộ phận tổ thành của tổng thể các nhiệm vụ. Trong trường hợp các bên thống nhất ý kiến, thì trước khi chính thức kết thúc đàm phán, có thể thực thi tạm thời hoặc thực thi lần chót những thỏa thuận trước đó; khi đánh giá sự cân bằng tổng thể trong đàm phán, cần tính tới cả những thỏa thuận đã đạt được trong kỳ đàm phán trước.

+ Để tránh những đòi hỏi đối chọi nhau, cần tìm ra những nhân nhượng cân bằng trong lĩnh vực rộng lớn và trong phạm vi các đề mục đàm phán.

+ Khi đàm phán cần áp dụng nguyên tắc ưu đãi đơn phương và ưu đãi nhiều hơn. Trong đàm phán, khi các nước phát triển cam kết giảm hoặc xóa bỏ thuế và các hàng rào thương mại khác đối với các nước đang phát triển thì không nên có yêu sách ưu đãi có đi có lại.

+ Với đà kinh tế dần dần phát triển và tình hình thương mại được cải thiện, các nước chậm phát triển cần tham gia sâu rộng hơn vào thể chế cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ của Hiệp định chung.

c/ Nguyên tắc giữ nguyên hiện trạng và từng bước sửa sai.

+ Giữ nguyên hiện trạng có nghĩa là không áp dụng những biện pháp hạn chế hoặc lệch lạc không phù hợp với quy định của Hiệp định chung, hoặc không phù hợp với những văn bản đã thỏa thuận trong khuôn khổ Hiệp định chung; khi thi hành các quyền hợp pháp theo Hiệp định chung, không áp dụng các biện pháp hạn chế hoặc linh hoạt vượt quá mức cần thiết; không áp dụng các biện pháp thương mại nhằm tăng cường thế đàm phán.

+ Từng bước sửa sai có nghĩa là chậm nhất là trước ngày chính thức kết thúc đàm phán phải từng bước hủy bỏ hết mọi biện pháp hạn chế hoặc sai lạc không phù hợp với quy định của Hiệp định chung và các văn bản đã thỏa thuận trong khuôn khổ Hiệp định chung hoặc phải sửa cho phù hợp với những quy định và thỏa thuận này, phải tôn trọng các thỏa thuận, cam kết đã đạt được trong đàm phán. Các bên phải thực hiện những cam kết đó trên cơ sở công bằng thông qua thương lượng mà mình đã đồng ý. Không được yêu sách trả giá cho việc hủy bỏ những biện pháp ấy.

Ủy ban đàm phán thương mại đã quyết định thành lập tổ chức giám sát, trong đó có cả việc đánh giá định kỳ, việc thực hiện sửa sai này. Các bên có thể nhắc nhở tổ chức giám sát chú ý thích đáng tới mọi hành vi có liên quan tới việc thực hiện những cam kết mà mình cho là cần thiết.

2/ Đề mục đàm phán

“Tuyên bố của hội nghị cấp bộ trưởng vòng đàm phán Uruguay” đã xác định 15 đề m5uc đàm phán tại vòng đàm phán Uruguay là:

a/ Về thuế.

Đàm phán về thuế nhằm giảm và xóa bỏ thuế, nhấn mạnh mở rộng phạm vi giảm thuế, xác định mục tiêu giảm thuế bình quân khoảng 30%.

b/ Về các biện pháp phi thuế quan.

Đàm phán về các biện pháp phi thuế quan nhằm giảm hoặc hủy bỏ các biện pháp phi thuế quan, trong đó có biện pháp hạn chế số lượng hàng nhập khẩu, các biện pháp từng bước sửa sai, thực hiện cam kết.

c/ Về sản phẩm nhiệt đới.

Đàm phán về sản phẩm nhiệt đới nhằm thực hiện tự do hóa đầy đủ nhất buôn bán sản phẩm nhiệt đới, trong đó gồm cả hàng gia công và bán gia công, giảm thuế và các biện pháp phi thuế quan đối với những sản phẩm này, đặc biệt coi trọng việc buôn bán sản phẩm nhiệt đới của các nước chậm phát triển. Dự tính có khoảng 20 tỷ USD sản phẩm nhiệt đới nằm trong diện đàm phán này.

d/ Sản phẩm là tài nguyên thiên nhiên.

Đàm phán về sản phẩm là tài nguyên thiên nhiên nhằm thực hiện tự do hóa hơn nữa buôn bán loại sản phẩm này, trong đó gồm cả hàng gia công và bán gia công. Trọng điểm là cá và hàng thủy sản, lâm sản, kim loại màu và khoáng sản. Giảm và hủy bỏ thuế và các hàng rào phi thuế quan đối với các mặt hàng này.

e/ Về hàng dệt và hàng may mặc.

Đàm phán về hàng dệt và hàng may mặc nhằm xác định phương thức đưa ngành này vào khuôn khổ Hiệp định chung, tức là đưa ngành này trở về với các quy định của Hiệp định chung, xóa bỏ những quy định trong hiệp định về sợi kép không phù hợp với Hiệp định chung và những hạn chế đối với hàng dệt và hàng may mặc.

g/ Về hàng nông sản.

Đàm phán về hàng nông sản nhằm uốn nắn và phòng ngừa những biện pháp hạn chế và những hiện tượng sai lạc, giảm những nhân tố gây ra mất cân đối, mất ổn định trên thị trường hàng nông sản thế giới; thực hiện tự do hóa hơn nữa buôn bán hàng nông sản, đưa mọi biện pháp có ảnh hưởng tới việc gia nhập thị trường và cạnh tranh xuất khẩu hàng nông sản vào kỷ luật chặt chẽ hơn, hữu hiệu hơn của Hiệp định chung.

+ Giảm hàng rào nhập khẩu để cải thiện điều kiện gia nhập thị trường.

+ Cải thiện môi trường cạnh tranh, tăng cường các quy tắc về trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng tới buôn bán hàng nông sản, bao gồm cả việc từng bước giảm các ảnh hưởng tiêu cực của việc trợ cấp và nghiên cứu nguồn gốc của chúng.

+ Giảm các ảnh hưởng tiêu cực của các điều lệ và hàng rào về vệ sinh và kiểm dịch thực vật đối với buôn bán hàng nông sản, đồng thời nghiên cứu các hiệp định có liên quan.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Cương – Từ “Câu lạc bộ các nhà giàu trên thế giới” đến “Liên hợp quốc kinh tế và thương mại” – NXB CTQG 1996.