FTAAP: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP? – Phần cuối


Ngược lại, con đường với “kết cấu mở rộng” sẽ có tính khả thi cao hơn, con đường này sẽ hình thành cục diện RCEP, TPP, FTAAP cùng tồn tại song song, mức độ tự do hóa của FTAAP sẽ nằm ở giữa RCEP và TPP, các thành viên của hai bên phải thống nhất tiêu chuẩn trong các lĩnh vực như thương mại dịch vụ, tiêu chuẩn quyền sở hữu trí tuệ… hàn gắn sự khác biệt về mặt nội dung như mua sắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn môi trường…, đạt được nhận thức chung về mặt quy tắc bất động sản, khuyết điểm của nó là vì cần phải thống nhất quy tắc tồn tại xung đột nên quá trình đàm phán có thể dây dưa.

Con đường thứ năm được quyết định bởi hai nước Trung – Mỹ về mặt hợp tác kinh tế có chung nguyện vọng làm người lãnh đạo thế giới. Kể từ khi khởi động đàm phán BIT năm 2008 đến nay, hai nước đã tiến hành hơn 20 vòng đàm phán, nội dung cũng đi sâu vào các lĩnh vực then chốt như danh sách các lĩnh vực hạn chế đầu tư, ngành nghề văn hóa, an ninh quốc tế…, Trung Quốc còn thành lập khu thử nghiệm thương mại tự do là để tích lũy kinh nghiệm cho biện pháp mở cửa vòng mới. Nếu hai nước có thể sớm đạt được hiệp định BIT, sẽ mở ra một loạt lĩnh vực hợp tác kinh tế thương mại song phương mới, trong đó có khởi động đàm phán “Hiệp định đầu tư và thương mại Trung – Mỹ” (BITT), Trung Quốc tham gia đàm phán các hiệp định thương mại đa biên của WTO (chẳng hạn “Hiệp định thương mại dịch vụ quốc tế” TISA). Nhận thức chung mà hai nước đạt được trên cấp độ song phương sẽ xóa bỏ trở ngại chính khi hai nước cùng trở thành thành viên Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương. Cân nhắc đến mục tiêu thời gian hoàn thành đàm phán mà RCEP nhiều lần bỏ lỡ, hiện nay vẫn còn quá sớm để cho rằng con đường “qua RCEP thực hiện FTAAP” là tốt hơn.

Cho dù cuối cùng con đường nào nói trên trở thành con đường cuối cùng để phát triển FTAAP thì nhận thức chung giữa Trung Quốc và Mỹ về quy tắc thương mại trong tương lai đều chắc chắn không thể thiếu. Khi Donald Trump trình bày chính sách thương mại của mình từng cho biết trong nhiệm kỳ này, ông sẽ chú trọng hơn đến việc thảo luận các quy tắc thương mại song phương công bằng, đây có thể sẽ mang lại cơ hội mới cho hiệp định song phương Trung – Mỹ. Nếu giữa Trung Quốc và Mỹ có thể đạt được BIT và BITT có trình độ cao, có nghĩa là hai nước Trung – Mỹ đạt được nhận thức chung về “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21”, xóa bỏ trở ngại lớn nhất về RCEP (hay các con đường khác) hướng tới FTAAP.

Tóm lại, FTAAP có Trung Quốc và Mỹ cùng tham gia sẽ là sự lựa chọn tốt nhất trong “thời đại hậu TPP”, khối lượng kinh tế lớn của hai nước Trung – Mỹ sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và nền kinh tế thế giới. Mặc dù tồn tại nhiều con đường thực hiện, nhưng bất kỳ con đường nào cũng đều yêu cầu hai nước Trung – Mỹ đạt được nhận thức chung về các vấn đề then chốt. Sự thúc đẩy nhanh chóng BIT và việc sớm ký kết BITT giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ đặt nền tảng cùng thúc đẩy Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai. Còn trước tình hình TPP gặp trở ngại, RCEP tiến hành trước, Trung Quốc cần phải mời Mỹ gia nhập RCEP đúng lúc đồng thời tiến hành đàm phán nâng cấp “RCEP+”, từ 3 phương diện quy tắc, phạm vi, thành viên sẽ nâng cấp RCEP thành FTAAP.

IV/ Tổng kết

Trong hội nghị thượng đỉnh APEC những năm gần đây, Trung Quốc nhiều lần đề xướng xây dựng FTAAP, việc xây dựng thành công FTAAP sẽ thông qua việc nâng cấp nhất thể hóa 2 nền kinh tế Trung – Mỹ, mang lại lợi nhuận lớn cho nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương và toàn cầu. Trong vài năm trước đây, các nước tìm cách nâng cấp hợp tác kinh tế và hội nhập chuỗi cung ứng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương dần dần chuyển hướng đàm phán hai “Khu thương mại tự do siêu khu vực”: TPP và RCEP lấy ASEAN làm trung tâm, việc sắp xếp thương mại tự do ở hai khu vực vừa tồn tại cạnh tranh, vừa có tính bổ sung nhất định: việc đàm phán giữa hai bên đều tăng nhanh trong những năm gần đây, nhưng cả hai đều trở thành con đường thực hiện FTAAP.

Trong thời đại “chuỗi giá trị toàn cầu”, doanh nghiệp ở các nơi trên thế giới được kết nối với nhau thông qua “mối quan hệ thương mại – đầu tư – dịch vụ – quyền sở hữu trí tuệ”, thông qua sự luân chuyển hai chiều không gián đoạn về hàng hóa, nhân viên, sáng kiến mới và đầu tư kịp thời mang đến tận tay khách hàng những sản phẩm có chất lượng và hiệu quả cao. Chính sách kinh tế thế kỷ 21 cần phải thông qua việ xây dựng quy tắc chung và tiêu chuẩn phổ biến, giảm bớt sự quấy nhiễu đối với các loại lâun chuyển đồng thời tăng thêm tính ổn định của chuỗi cung ứng, từ đó khiến cho mỗi người tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đều được hưởng lợi.

Lập “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21” không tách rời với việc cùng tham gia của 2 nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ hai thế giới là Mỹ và Trung Quốc. Trong 30 năm 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, kim ngạch thương mại song phương đã tăng hơn 200 lần, kim ngạch đầu tư lũy kế của Mỹ đối với Trung Quốc vượt trên 200 tỷ USD, tính lũy kế đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ đạt 64 tỷ USD, và năm 2015 vượt qua đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Trung Quốc. Việc hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ trong lĩnh vực quản trị kinh tế thương mại toàn cầu sẽ trực tiếp quyết định tương lai của nền kinh tế thế giới chuyển hướng cởi mở hơn, hội nhập hơn, hay là đi theo hướng chủ nghĩa biệt lập đẩy khó khăn cho người khác. Trong giai đoạn lịch sử mà Trung Quốc tìm cách chuyển đổi mô hình cơ cấu kinh tế và Chính quyền Mỹ nhiệm kỳ mới bố cục lại chiến lược kinh tế, FTAAP mà Trung Quốc và Mỹ cùng thúc đẩy phù hợp với lợi ích chiến lược, kinh tế của hia nước, FTAAP sẽ là sự lựa chọn tốt nhất trong “thời kỳ hậu TPP”.

Cuối cùng, báo cáo này đưa ra những kiến nghị sau:

1 – FTAAP đại diện cho sự phát triển mới của hội nhập kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đàm phán RCEP hiện nay cần phải chú trọng đến việc “mở rộng” trong tương lai cùng với tính khả thi và tính hòa hợp với tư cách là con đường phát triển FTAAP. Trong trường hợp “RCEP đi trước” trong tương lai, có thể thông qua phương thức đàm phán nâng cấp RCEP, cân nhắc từ góc độ quy tắc, phạm vi, thành viên tiến hành hội nhập với TPP.

2 – FTAAP đại diện phương thức mới của hợp tác Trung – Mỹ, thống nhất với BIT giữa Trung Quốc và Mỹ hiện nay và phương hướng BITT có thể khởi động trong tương lai, đồng thời sẽ quyết định hướng đi tương lai của toàn cầu hóa. Với tư cách là nước lớn có trách nhiệm, Trung Quốc và Mỹ cần phải sớm đạt được BIT và khởi động đàm phán BITT, cũng như trong tương lai sẽ coi FTAAP là phương tiện truyền đạt mới và diễn đàn mới cùng thúc đẩy toàn cầu hóa.

3 – Trung Quốc và Mỹ cần phải tiếp tục ủng hộ một cách kiên định hệ thống thương mại đa phương của WTO, nhận thức được vai trò to lớn của cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại trong WTO đối với việc bảo hộ mở cửa thương mại toàn cầu, cũng như hiệu quả hội nhập khu vực và đàm phán thương mại đa biên của WTO đối với việc thực hiện cuối cùng con đường tự do hóa thương mại đa phương.

Nguồn: The Financial Times Chinese

CVĐQT số 6/2017

Advertisements

FTAAP: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP? – Phần IV


III/ FTAAP mà Trung Quốc và Mỹ cùng tham gia sẽ viết ra Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21

Nhằm vào việc “Anh rời khỏi EU” (Brexit), khuynh hướng chủ nghĩa bảo hộ thương mại của Donald Trump, Giáo sư Richard Baldwin – Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế và phát triển Geneve cho biết sự ra đời và phát triển của mạng Internet sau thập niên 90 của thế kỷ 20 khiến cho chi phí truyền tải thông tin giảm mạnh, thông qua việc kết hợp giữa kỹ năng và kiến thức chuyên môn của các nước phát triển với yếu tố sản xuất giá rẻ của các nước đang phát triển, tất cả các mặt hàng đều được tạo ra từ trong một “chuỗi giá trị toàn cầu”. Trong “thời đại chuỗi giá trị toàn cầu”, thông qua việc nâng thuế để bảo vệ công nhân bản địa, giống như “xây một bức tường ở chính giữa nhà máy một cách uổng phí”. Nhưng ông nhấn mạnh chính sách kinh tế trong thế kỷ 21 cần phải thông qua việc thiết lập quy tắc chung và tiêu chuẩn phổ biến, khiến cho các doanh nghiệp ở các nơi trên toàn cầu trong chuỗi cung ứng tin tưởng về tính vững chắc của chúng. “Chuỗi cung ứng trong thế kỷ 21 được kết nối lại với nhau thông qua “mối quan hệ “thương mại – đầu tư – dịch vụ – quyền sở hữu trí tuệ”, bởi sẽ đưa các sản phẩm có chất lượng và hiệu quả cao đến tận tay khách hàng, dựa vào sự luân chuyển hai chiều không gián đoạn về hàng hóa, nhân viên, sáng kiến mới và đầu tư. Sự quấy rối đối với bất kỳ một loại luân chuyển nào nói trên đều sẽ trở thành rào cản tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”.

Không còn nghi ngờ gì, việc viết “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21” không tách rời sự tham gia chung của Trung Quốc và Mỹ. Với tư cách là 2 nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới, tỷ lệ đóng góp của hai nước đối với tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2015 đều đạt khoảng 25%, trở thành 2 động cơ lớn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu, 2 nước cùng gánh vác trách nhiệm quan trọng đẩy mạnh phát triển phồn vinh toàn cầu. Giống như hợp tác Trung – Mỹ trong lĩnh vực quản lý khí hậu thúc đẩy “Hiệp định Paris” – hiệp định cắt giảm khí phát thải đầu tiên trên toàn cầu có hiệu lực. Hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ trong lĩnh vực quản lý kinh tế thương mại toàn cầu sẽ trực tiếp quyết định tương lai của nền kinh tế thế giới sẽ chuyển hướng cởi mở hơn, hội nhập hơn hay là đi theo hướng chủ nghĩa biệt lập gây khó khăn cho nước khác.

Tổng sản lượng kinh tế của hai nước Trung Quốc và Mỹ chiếm 1/3 thế giới, dân số chiếm 1/4 thế giới, tổng kim ngạch thương mại chiếm 1/5 thế giới. Kể từ khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, từ chưa đầy 2,5 tỷ USD trong thời kỳ đầu thiết lập quan hệ ngoại giao tăng lên đến 555,1 tỷ USD năm 2014, kim ngạch thương mại song phương Trung – Mỹ hơn 30 năm qua đã tăng hơn 200 lần, năm 2015 Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ. Theo số liệu của công ty tư vấn Rhodium Group (Mỹ), đầu tư giữa Trung Quốc và Mỹ cũng bước vào “mô hình hai chiều”, từ năm 1990 đến nay tính lũy kế tổng kim ngạch đầu tư vượt quá 1 triệu USD của Mỹ ở Trung Quốc đạt 228 tỷ USD; Trong cùng kỳ, đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Mỹ đạt 64 tỷ USD; Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Mỹ bắt đầu từ năm 2010 tăng mạnh, và năm 2015 đã vượt quá đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Trung Quốc trong cùng năm. Ngoài ra, mỗi năm Trung Quốc có hơn 200.000 học sinh sang Mỹ du học, Trung Quốc là nước khởi nguồn người nhập cư lớn thứ hai ở Mỹ, giữa Trung Quốc và Mỹ có sự trao đổi nhân viên có quy mô lớn nhất toàn cầu. Chính sự luân chuyển hàng hóa, nhân viên, đầu tư, sáng kiến mới này giữa 2 nước Trung Quốc và Mỹ đã tạo ra điện thoại Apple với “thiết kế ở California, sản xuất ở Trung Quốc”. Rõ ràng, quan hệ kinh tế Trung – Mỹ đang là điển hình “mối quan hệ thương mại – đầu tư – dịch vụ – quyền sở hữu trí tuệ” mà Baldwin đã chỉ ra.

Trung Quốc và Mỹ nằm ở vành đai kinh tế châu Á – Thái Bình Dương hoạt động mạnh nhất thương mại thế giới, nơi đây vừa có cơ sở sản xuất tiên tiến nhất, quy mô lớn nhất, vừa có trung tâm sáng tạo khoa học kỹ thuật phát triển nhất, đồng thời còn là thị trường khu vực lớn nhất thế giới. Tuy trong vài năm qua, hai nước Trung Quốc và Mỹ đều lần lượt thông qua RCEP và TPP nỗ lực thúc đẩy hội nhập kinh tế châu Á – Thái BÌnh Dương, nhưng giữa Trung Quốc và Mỹ đến nay chưa khởi động đàm phán bất kỳ hiệp định khu thương mại tự do nào.

Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC ở Yokohama năm 2010, hai phương án “10 + 3”, “10 + 6” và TPP với tư cách là tiền thân của RCEP đều được coi là con đường để đi đến Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương. Theo phân tích mô hình thiết lập của các chuyên gia nghiên cứu như Petri thuộc Viện nghiên cứu kinh tế Peterson, dù là RCEP hay TPP, lợi nhuận kinh tế mang lại đều nhỏ hơn nhiều so với Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương  – đối với Trung Quốc, lợi ích mà FTAAP mang lại gấp 2,7 lần RCEP, đối với Mỹ, lợi ích mà FTAAP mang lại gấp 2,5 lần TPP. Đồng thời, Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP) trong 3 trường hợp (con đường RCEP, TPP và mô hình 17 nước) đều cho thấy lượng thương mại tăng lên rõ rệt, nguyên nhân của nó nằm ở hiệu ứng lan tỏa xuất hiện từ việc Trung Quốc và Mỹ cùng tham gia khu thương mại tự do.

Khái niệm FTAAP đầu tiên được Hội đồng tư vấn kinh doanh APEC (ABAC) đề xuất năm 2014, “xây dựng Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương” nhằm củng cố và nhanh chóng đạt được mục tiêu Bogor của APEC. Năm 2006, Tổng thống Mỹ lúc đó là Bush bày tỏ FTAAP “cần phải được cân nhắc kỹ càng”, Hội nghị thượng đỉnh APEC năm đó “chỉ thị quan chức của các nền kinh tế APEC triển khai nghiên cứu nhiều hơn về việc làm thế nào để thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực, kể cả FTAAP”. Nghiên cứu này hoàn thành năm 2009, kiến nghị “các nền kinh tế APEC cần phải xác định một FTAAP chất lượng cao, toàn diện làm mục tiêu”.

Những năm gần đây, sự quan tâm của khu vực châu Á – Thái Bình Dương đối với khu thương mại tự do ở mức độ rất lớn chuyển sang TPP và RCEP. Nhưng dưới sự thúc đẩy của Trung Quốc, Hội nghị APEC năm 2014 quyết định khởi động tiến trình FTAAP, phê chuẩn lộ trình thúc đẩy thực hiện FTAAP. Tháng 11/2016, Hội nghị các nhà lãnh đạo lần thứ 24 của APEC bế mạc tại thủ đô Lima của Peru, hội nghị đã phê chuẩn “Báo cáo nghiên cứu chiến lược tập thể Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương” và các kiến nghị chính sách liên quan, đồng thời lấy đó làm “Tuyên bố Lima về Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương”. Trong “Tuyên bố Lima” đã đưa ra một loạt nhận thức chung quan trọng về FTAAP, bao gồm: FTAAP cần phải được xây dựng trên cơ sở TPP, RCEP và hiệp định hội nhập khu vực có khả năng khác; các nền kinh tế APEC sẽ tiến hành đánh giá về con đường thực hiện FTAAP, công tác đánh giá sẽ tìm ra lĩnh vực thách thức lớn nhất trong tiến trình FTAAP.

Giới học giả trong và ngoài nước cho rằng chủ yếu có 5 con đường phát triển đối FTAAP sau: Mở rộng RCEP thực hiện FTAAP, mở rộng TPP thực hiện FTAAP, hợp nhất RCEP và TPP thực hiện FTAAP, trên RCEP và TPP thiết lập một FTAAP có kết cấu rộng; Ngoài ra, còn có học giả chỉ rõ một con đường sau khi Trung – Mỹ ký kết “Hiệp định đầu tư song phương” (BIT) ký kết hiệp định thương mại tự do song phương, cùng thúc đẩy FTAAP.

Bốn con đường trên có ưu và khuyết điểm riêng: Con đường “mở rộng RCEP” là kế hoạch hội nhập Đông Á lấy ASEAN làm trung tâm, mức độ tự do hóa tương đối dễ chấp nhận đối với các nước đang phát triển, khuyết điểm của chúng là dễ tạo ra “vạch giới hạn giữa Thái Bình Dương”, đồng thời mức độ tự do hóa không cao lắm, thậm chí bị coi là “máy đóng sách” của hiệp định song phương hiện nay, còn có khoảng cách với “quy tắc kinh tế thế kỷ 21”; Ưu thế của con đường “mở rộng TPP” nằm ở việc các thành viên hiện nay có sự phân bố khu vực tương đối rộng, xuyên qua Nam Bắc Mỹ và Đông Bắc Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương, mức độ tự do hóa khu thương mại tự do cao, đồng thời bao gồm nhiều “vấn đề của thế kỷ 21” như thương mại điện tử…, khuyết điểm của chúng là ở tiêu chuẩn quá cao khiến cho chúng trở nên “quá cao siêu, ít người hiểu”. Hơn nữa, các nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương như Trung Quốc, Ấn Độ, Nga… đều không phải là thành viên sáng lập TPP, không thể phản ánh đầy đủ sự quan tâm trọng yếu của các nước đang phát triển khác trong khu vực này. Con đường “hợp nhất RCEP và TPP” vì cần phải tìm “ước số chung nhỏ nhất giữa hai hiệp định” có sự khác biệt khá lớn nên thường bị coi là có mức độ khó khăn thực hiện rất lớn.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Financial Times Chinese

CVĐQT số 6/2017

FTAAP: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP? – Phần III


II/ RCEP: Có còn hơn không?

Năm 1992, 6 nước ASEAN trước đây (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Brunei) tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ tư đã đề xuất xây dựng Khu thương mại tự do ASEAN, trải qua 10 năm xây dựng, Khu thương mại tự do được chính thức khởi động vào năm 2002. Năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã đạt được “Hiệp định khung về Khu thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN”, trở thành Khu thương mại tự do “10 + 1” hàng đầu. Trong vài năm tiếp theo, ASEAN và Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand lần lượt đạt được thỏa thuận về khu thương mại tự do.

Sau khi ký hiệp định thương mại tự do với ASEAN, ba nước Trung – Nhật – Hàn nhận ra rằng phải thiết lập cơ chế hợp tác kinh tế ở khu vực Đông Á, thúc đẩy tiến trình hợp tác kinh tế khu vực Đông Á. “Khu thương mại tự do Đông Á” (EAFTA) bao gồm các nước ASEAN “10 + 3” và “Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Đông Á” (CEPEA) của các nước ASEAN “10 + 6” được đề xuất năm 2005 và 2007, lần lượt đại diện 2 phương án nhất thể hóa khu vực mà Trung Quốc và Nhật Bản ủng hộ. Do tồn tại sự bất đồng về đường lối “10 + 3” và “10 + 6”, Khu thương mại tự do Đông Á trì trệ không phát triển trong thời gian vài năm, mãi đến sau năm 2008 “hiệu ứng cá da trơn”, khiến cho sự tranh cãi về đường lối xuất hiện cơ hội cứu vãn. Năm 2011, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 19 diễn ra ở đảo Bali, Trung Quốc và Nhật Bản đồng ý thúc đẩy đồng thời hai phương án. Tháng 8/2012, tại Hội nghị Bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN “10 + 6”, các bên đã đồng ý về mặt nguyên tắc xây dựng “Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực” (RCEP), đồng thời đặt kế hoạch kết thúc đàm phán vào năm 2015. Tháng 9/2016, các bên RCEP đồng ý lùi thời gian đạt được thỏa thuận cơ bản đến sau năm 2017.

RCEP nhấn mạnh “vai trò trung tâm” mà ASEAN phát huy trong tiến trình hợp tác kinh tế khu vực, đồng thời tiến hành hội nhập kinh tế rộng hơn, đi sâu hơn trên cơ sở các hiệp định ASEAN “10 + 1” hiện có. Đàm phán RCEP sẽ cân nhắc đến trình độ phát triển khác nhau của các nước tham gia, để thể hiện tính linh hoạt, sẽ đưa vào điều khoản “đãi ngộ đặc biệt và khác biệt” đối với các nước đang phát triển. Khác với TPP bao gồm nhiều quy tắc “phía sau biên giới”, RCEP bao gồm các vấn đề thương mại tự do tương đối truyền thống, vấn đề mà nó chủ yếu nhằm vào là vấn đề tiếp cận thị trường và hội nhập chuỗi cung ứng.

So với ý tưởng hợp tác kinh tế khu vực trước đây, RCEP có 4 đặc điểm mới: Thứ nhất, RCEP lấy ngành sản xuất làm chính, các nền kinh tế mới nổi ở Đông Á dẫn dắt xuất khẩu làm chủ thể, các quy tắc của RCEP giúp hoàn thiện hơn nữa mạng lưới sản xuất ở Đông Á và khu vực này tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; Thứ hai, RCEP ở mức độ tương đối đã kế thừa nguyên tắc chủ nghĩa khu vực mà APEC mở cửa và tinh thần hợp tác theo “phương thức ASEAN”, có đặc trưng mở cửa, linh hoạt, tuần tự tiệm tiến và theo mức độ phù hợp của các bên, thông qua các cơ chế như mở cửa phát triển, sắp xếp tổng hợp và từng bước thúc đẩy… đáp ứng nhu cầu của các nước có trình độ phát triển khác nhau, đồng thời chú ý đến việc sắp xếp hợp tác kinh tế kỹ thuật mà các nến kinh tế đang phát triển quan tâm; Thứ ba, RCEP sẽ đứng trên cơ sở 5 hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand, chú ý đến mục tiêu trình độ cao và thực hiện mang tính tiệm tiến 2 yêu cầu lớn, xây dựng khu thương mại tự do “hiện đại, chất lượng cao”; Thứ tư, RCEP không phải là phương án tổng thể khu thương mại tự do mang tính tổng hợp, phần lớn các nền kinh tế tham gia đều đang đồng thời tiến hành đàm phán khu thương mại tự do đa biên và đa phương khác, bao gồm đàm phán thương mại tự do Trung – Nhật – Hàn do 3 nước Đông Bắc Á tham gia, đàm phán TPP có các nước như Singapore tham gia và việc Hội nhập nội bộ của 10 nước ASEAN…

Tuy quá trình đàm phán RCEP tuân theo “phương thức ASEAN” về việc các thành viên bình đẳng, hiệp thương nhất trí cũng giúp nâng cao tính linh hoạt và tính mở, đồng thời quan tâm đến mức độ phù hợp của các thành viên tham gia, nhưng điều này cũng có thể tạo nên một số thiếu sót của khu thương mại tự do được hình thành cuối cùng. Trước tiên, sự khác biệt lớn giữa 5 hiệp định “10 + 1” với tư cách là cơ sở của RCEP, trình độ phát triển kinh tế của 6 nước chênh lệch nhau và lập trường tự do hóa thương mại cũng khác nhau, cuối cùng RCEP liệu có thể thực hiện được mục tiêu “chất lượng cao” hay không sẽ trở thành điểm khó trong đàm phán. Ví dụ, lấy thương mại hàng hóa làm ví dụ, ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, New Zealand lần lượt vào năm 2012, năm 2018, năm 2026, năm 2022, năm 2025 cuối cùng thực hiện mức thuế quan bằng 0 của toàn bộ hàng hóa thông thường. Tháng 8/2016, tại Hội nghị cấp bộ trưởng RCEP diễn ra ở thủ đô Viêng Chăn của Lào, Nhật Bản, Australia (đồng thời cũng tham gia TPP) chủ trương xóa bỏ thuế quan, mở cửa thương mại dịch vụ trình độ cao, hình thành quy tắc thống nhất với TPP; thương mại giữa Ấn Độ có trình độ mở cửa kinh tế tương đối thấp với các nước RCEP phần lớn là nhập siêu, tại hội nghị chủ trương “do trình độ phát triển kinh tế của các nước khác nhau, mức thuế quan cũng cần phải khác biệt”. Sự chia rẽ lập trường của các bên chắc chắn mang lại nhân tố không xác định cho việc sớm đạt được RCEP.

Thứ hai, trái ngược với mô hình “danh sách các lĩnh vực hạn chế đầu tư” mà thương mại dịch vụ trong TPP áp dụng, RCEP lấy dnah sách các lĩnh vực đầu tư trong “Hiệp định chung về thương mại dịch vụ” (GATS) của WTO có trình độ tự do hóa tương đối thấp và Khu thương mại tự do “10 + 1” làm cơ sở để đàm phán thương mại dịch vụ. Trong Hiệp định thương mại tự do hiện nay, Trung Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand đã lần lượt mở 33, 85, 164, 85 và 116 chi nhánh thương mại dịch vụ, theo khung đàm phán hiện hành, trình độ tự do hóa thương mại dịch vụ, theo khung đàm phán hiện hành, trình độ tự do hóa thương mại dịch vụ mà RCEP cuối cùng đạt được có thể tương đối hạn chế.

Thứ ba, RCEP được thiết lập trên cơs ở 5 Khu thương mại tự do “10 + 1” sẽ hình thành cục diện thương mại “trung tâm và các vệ tinh” với ASEAN làm trung tâm, trong trường hợp Mỹ vắng mặt, Trung Quốc, Nhật Bản không chiếm vai trò trung tâm, không đủ khả năng để chèo chống hội nhập thương mại kinh tế châu Á – Thái Bình Dương. Tác giả chuyên mục của “Thời báo tài chính – FT” (Anh) Martin Wolf bày tỏ Trung Quốc thậm chí cả châu Á đều khó có thể thay thế Mỹ duy trì sức sống của thương mại thế giới – mặc dù Trung Quốc kể từ khi gia nhập WTO đến nay, sự phát triển thần tốc tổng giá trị sản xuất và thương mại, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chiếm tỷ lệ toàn cầu từ 4% năm 2000 tăng vọt đến 15% năm 2016, tỷ lệ nhập khẩu toàn cầu đạt 12%, nhưng Trung Quốc vẫn thấp hơn so với Mỹ về 2 chỉ tiêu trên; Tiếp theo, phần lớn kiến thức chuyên môn thúc đẩy thương mại vẫn đến từ các doanh nghiệp trong các nền kinh tế phát triển.

Dù cho TPP đối mặt với “trở ngại” thì RCEP trong tương lai có thể cũng không có cơ hội viết ra “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21”. Giáo sư Shujiro Urata của Đại học Waseda – Nhật Bản chỉ rõ việc khởi động TPP có vai trò mang tính quyết định đối với sự phục hồi kinh tế Nhật Bản, các nguyên tắc mang tính không phân biệt đối xử có liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài trong TPP, cấm cưỡng chế các công ty nước ngoài chuyển nhượng kỹ thuật, mở cửa mua sắm chính phủ đối với các công ty nước ngoài, giảm trợ cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước sẽ tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các doanh nghiệp Nhật Bản “đầu tư ra bên ngoài”; TPP sẽ còn mở ra một loạt ngành nghề của Nhật Bản được bảo hộ lâu dài, chẳng hạn như các sản phẩm nông nghiệp như gạo, thịt bò…, giúp sắp xếp hợp lý hơn tiền vốn, nhân lực và các nguồn lực khác. Điều này cũng có thể nhìn ra một số đầu mối từ rất nhiều nền kinh tế RCEP đồng thời cũng đang tham gia đàm phán các khu thương mại tự do khác.

Đối với Trung Quốc, RCEP tuy khá phù hợp với cơ cấu kinh tế hiện nay của Trung Quốc, nhưng cân nhắc đến tính phức tạp của việc đàm phán hiệp định thương mại tự do, việc hoàn thành đàm phán thường bị trì hoãn nhiều lần, khi khu thương mại tự do tương lai cuối cùng được khởi động, có thể hoặc không thể phù hợp với bước phát triển kinh tế của Trung Quốc. Chẳng hạn, năm 2015 ngành dịch vụ của Trung Quốc đã chiếm 50,5% GDP, chiếm 43% việc làm, đồng thời thể hiện rõ chiều hướng tăng lên nhanh chóng; tỷ lệ GDP của ngành dịch vụ năm 2020 vào cuối “Quy hoạch 5 năm lần thứ 13” đạt 58,8% so với dự kiến, tỷ trọng việc làm đột phá 57%. Để ủng hộ hơn nữa việc Trung Quốc tham gia thương mại dịch vụ xuyên biên giới, các lĩnh vực như sở hữu trí tuệ, trao đổi bản quyền, quy tắc thương mại dịch vụ… sẽ là phương hướng tìm kiếm đàm phán hiệp định thương mại tự do trong tương lai của Trung Quốc.

Tóm lại, do RCEP đã bao gồm các nền kinh tế chủ chốt ở châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ…, giúp mạng lưới sản xuất ở châu Á thống nhất và hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng do RCEP được thiết lập trên nền tảng của 5 Khu thương mại tự do “10 + 1” có sự chênh lệch về mức độ mở cửa tương đối lớn, mức độ mở cửa liên quan đến thương mại dịch vụ và trình độ tiêu chuẩn liên quan khá thập, dựa vào mô hình “trung tâm và các vệ tinh” lấy ASEAN làm trung tâm của khu thương mại tự do đồng thời không bao gồm Mỹ, RCEP không thể trở thành phương án thay thế của “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21” tiêu biểu.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Financial Times Chinese

CVĐQT số 6/2017

FTAAP: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP? – Phần II


Quan điểm truyền thống nói chung cho rằng do FTA tồn tại tính chất biệt lập, sẽ tạo thành sự “chuyển dịch thương mại” từ không phải thành viên FTA sang thành viên FTA, từ đó đã đi ngược lại nguyên tắc có tính không phân biệt đối xử, không có lợi cho thương mại tự do. Nhưng nội dung bao hàm của FTA những năm gần đây ngày càng nhiều “chính sách trong biên giới” từ thương mại hàng hóa kéo dài đến thương mại dịch vụ, sự tiếp cận đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, chính sách người lao động…, làm cho FTA mới ký kết về trình độ mở cửa và tự do hóa cao hơn trình độ của quy tắc WTO; đồng thời FTA cũng trở nên ngày càng lớn hơn, nhiều FTA khu vực lớn trong đó có TPP, Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), “Hiệp định đố tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương” (TTIP) đều được ví là “WTO phiên bản mini”. Chính vì những sự thay đổi này, trước tình hình FTA ngày càng được coi là cơ chế đàm phán đa phương không hiệu quả cần phải thực hiện con đường tự do hóa thương mại trên phạm vi toàn cầu.

Sau khi đề xuất “Lộ trình Bắc Kinh về FTAAP” trong thời gian Hội nghị thượng đỉnh APEC năm 2014, năm 2016 Trung Quốc một lần nữa cao giọng đề xuất xây dựng FTAAP. Ý nghĩa đặc biệt của FTAAP sẽ là hiệp định thương mại tự do khu vực đầu tiên có Trung Quốc và Mỹ cùng tham dự, sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương và toàn cầu. Trong giai đoạn mang tính lịch sử khi Trung Quốc tìm cách chuyển đổi mô hình cơ cấu kinh tế và Chính phủ Mỹ nhiệm kỳ mới bố cục lại chiến lược kinh tế, FTAAP mà Trung Quốc và Mỹ cùng thúc đẩy phù hợp với lợi ích kinh tế, chiến lược của hai nước, rất có thể là sự lựa chọn tốt nhất trong “thời kỳ hậu TPP”.

I/ Thời kỳ hậu TPP: TPP thiếu Mỹ không còn có tiềm lực trở thành “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21”

Mặc dù TTP, RCEP, FTAAP thường được coi là sự sắp xếp thương mại tự do cạnh tranh lẫn nhau, nhưng trên thực tế, 3 hiệp định thương mại tự do lớn đều thoát khỏi mục tiêu Bogor được APEC xác định năm 1994. Theo mục tiêu này, các nền kinh tế công nghiệp hóa trong APEC vào năm 2010, các nền kinh tế đang phát triển vào năm 2020 sẽ thực hiện “thương mại và đầu tư tự do và mở cửa”. APEC kể từ thời kỳ đầu thành lập đã đề xướng nguyên tắc mở cửa, tự nguyện, không ràng buộc, sau năm 2001 lại hướng đến “hành động của người tìm đường”, khuyến khích các nền kinh tế thử nghiệm chia nhóm và kế hoạch khác nhau thúc đẩy tự do hóa, tiện lợi hóa đầu tư thương mại và hợp tác kinh tế kỹ thuật. Kể từ khi thành lập đến nay, APEC đã thu được một loạt thành quả bao gồm chương trình “Tự nguyên tự do hóa sớm theo ngành” (EVSL), danh mục sản phẩm trong hiệp định công nghệ thông tin (ITA) và hiệp định sản phẩm môi trường, bản mẫu hiệp định thương mại tự do khu vực (“Lộ trình Busan”)…

Trong thời gian diễn ra Hội nghị APEC năm 2002, 4 nước Chile, New Zealand, Singapore, Brunei (P4) tuyên bố khởi động đàm phán FTA, 4 nước đạt được “Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương” (TPSEP) năm 2005 trở thành tiền thân của TPP. Do các nước tham gia đều là các nền kinh tế mở cửa có quy mô khá nhỏ, đồng thời có tính hỗ trợ kinh tế tương đối tốt, TPSEP thể hiện rõ đặc sắc tự do hóa hơn so với các hiệp định đa phương và hiệp định khu vực khác. Ví dụ thương mại nông sản phẩm sau năm 2015 thực hiện thuế quan bằng 0, giảm mạnh sự ủng hộ trong nước về nông nghiệp.

Năm 2008, do vòng đàm phán Doha đình trệ, đồng thời Chính quyền Obama nhiệm kỳ mới của Mỹ sau khi cầm quyền khởi động chiến lược “trở lại châu Á”, Mỹ vào tháng 1 tuyên bố tham gia đàm phán với P4, hiệp định mới đổi tên thành “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương”. Trong vài năm sau đó, dưới sự chủ đạo của Mỹ, đàm phán TPP nhanh chóng được thúc đẩy. Sự tham gia của Nhật Bản năm 2013 khiến cho các thành viên TPP tăng lên con số 12. Theo tính toán số liệu năm 2014 của IMF, quy mô kinh tế của các nước thành viên chiếm 36,21% tổng sản lượng kinh tế toàn cầu, quy mô thương mại của họ chiếm 27,64% tổng sản lượng thương mại toàn cầu. Ngày 5/10/2015, 12 nước tham gia TPP tuyên bố đạt được thỏa thuận cơ bản. Ngày 4/2/2016, trải qua hơn 7 năm đàm phán, đại diện cùa 12 nước như Mỹ đã ký kết Hiệp định TPP tại thủ đô Auckland của New Zealand.

So với FTA khác, TPP được chho là có đặc điểm có độ bao phủ rộng, lĩnh vực bao quát, tiêu chuẩn cao, 12 nước thành viên của TPP phân bố ở Bắc Mỹ ven vành đai Thái Bình Dương, Nam Mỹ, Đông Á, Đông Nam Á và Châu Đại Dương, đồng thời bao gồm các nước dẫn đầu ngành sản xuất và các nước có nguồn tài nguyên, bao gồm các nước phát triển và các nước đang phát triển, đặc biệt bao gồm Mỹ và Nhật Bản – nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ ba trên thế giới. Nội dung của văn bản hiệp định TPP bao gồm 30 chương, nội dung chính hơn 600 trang, toàn văn hơn 6000 trang, trừ nội dung FTA truyền thống bao gồm các quy tắc thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, bất động sản…, còn đại đa số FTA lại có rất ít hoặc chưa có điều khoản đề cập đến quyền sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường, nhập cảnh tạm thời, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, tài chính, phát triển, xây dựng năng lực, tính giám sát thống nhất, độ minh bạch và chống tham nhũng… Tiêu chuẩn cao của TPP lại thể hiện trên 4 phương diện : thương mại hàng hóa cuối cùng thực hiện thuế quan bằng 0 các sản phẩm thương mại, trong thương mại dịch vụ ngoài các lĩnh vực đặc biệt như quốc phòng, tài chính…, cho phép tất cả các ngành dịch vụ tiếp cận thị trường trong giai đạon trước khi thành lập và đối xử tối huệ quốc; các tiêu chuẩn như sản phẩm có tiêu chí địa lý, bảo hộ bản quyền, bảo hộ sáng chế, định giá dược phẩm trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ… rõ ràng cao hơn trình độ “Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)” của WTO; thiết lập riêng các điều khoản về lao động và môi trường, đồng thời thông qua sự kết nối với thương mại thống nhất trình độ bảo vệ người lao động và bảo vệ môi trường trong nội bộ thành viên; đưa vào “các doanh nghiệp nhà nước và sự lũng đoạn chỉ định” (chương 17), chủ trương xóa bỏ sự hỗ trợ về chính sách, tài chính, những sự đãi ngộ khác đối với doanh nghiệp nhà nước, hủy bỏ các biện pháp cho vay vốn ưu đãi đặc biệt cho các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ở nước ngoài, xóa bỏ sự ưu ái trong mua sắm chính phủ… Trong cuộc bầu cử Mỹ năm 2016, ứng cử viên đảng Cộng hòa Donald Trump đã hô vang khẩu hiệu “nước Mỹ trên hết”, cho rằng sự sắp xếp thương mại tự do như WTO, NAFTA, TPP… đã hy sinh lợi ích của Mỹ, dẫn đến tình hình thất nghiệp và khó khăn kinh tế của tầng lớp lao động Mỹ. Ông Trump tuyên bố rút khỏi TPP, đồng thời đàm phán lại NAFTA một cách công bằng hơn. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Donald Trump đã lần lượt vượt qua khó khăn, đồng thời nhờ sự ủng hộ của các bang công nghiệp truyền thống ở vùng vành đai công nghiệp (rust belt), vượt qua đối thủ Hillary Clinton, trở thành tổng thống Mỹ nhiệm kỳ mới.

Do chính trị trong nước Mỹ thay đổi nhanh chóng, nền móng của TPP sụp đổ. Năm 2015 sau khi đạt được thỏa thuận cơ bản về TPP, Tổng thống Obama khi đó từng bày tỏ Mỹ “không cho phép các nước như Trung Quốc viết ra các quy tắc của nền kinh tế toàn cầu”, mà việc đạt được thỏa thuận về TPP sẽ định ra “quy tắc của nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21 trên nhiều lĩnh vực”. Đối với Nhật Bản – một nền kinh tế chủ chốt khác trong TPP, biện pháp cải cách mà TPP cần là một trong những đơn thuốc mà Abenomics kê, thiếu những cải cách này, chính sách nới lỏng tiền tệ và phá giá đồng Yen mà Chính quyền Abe thúc đẩy có hạn chế đối với việc khôi phục hiệu quả tiềm lực tăng trưởng kinh tế dài hạn của Nhật Bản.

Các học giả chỉ rõ quan điểm lựa chọn từ bỏ TPP của Donald Trump không chỉ là lấy lòng mọi người trong chính trị bầu cử, ít nhất còn có nguyên nhân trên 5 phương diện: Thứ nhất, Chính quyền Obama khi “chào hàng” với trong nước, Trung Quốc trở thành mục tiêu đối đầu của Mỹ chứ không phải là thị trường xuất khẩu, nhiều lần chỉ rõ TPP khiến cho Mỹ nắm ưu thế định ra quy tắc, nhưng chỉ thúc đẩy tự do hóa thương mại từ góc độ địa chính trị chứ không phải là lợi ích địa kinh tế, khó có thể được sự ủng hộ về chính trị; Thứ hai, quá trình đàm phán TPP bảo mật cao độ, gây nên sự bất mãn trong quốc hội; Thứ ba, “cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư với nhà nước” (ISDS) mà TPP bao hàm đã gây ra tranh chấp về việc nhượng lại quyền tư pháp; Thứ tư theo phân tích định lượng của Viện nghiên cứu kinh tế Peterson (PIIE), Việt Nam sẽ trở thành nền kinh tế được hưởng lợi lớn nhất sau khi TPP khởi động, tuy ngành dịch vụ Mỹ cũng sẽ được lợi, nhưng ngành sản xuất có thể bị ảnh hưởng, đây là điều mà Donald Trump thắng cử nhờ ngành sản xuất ủng hộ không thể chấp nhận; Thứ năm, trong TPP đã thiết lập quy tắc trình độ cao nhằm ngăn chặn hành vi “lợi dụng”, nhưng đối với các nước khó khăn trong việc đạt tiêu chuẩn về cơ bản đã cung cấp chính sách linh hoạt hoặc thời kỳ quá độ tương đối dài, điều này theo quan điểm của Quốc hội Mỹ là đã vi phạm nguyên tắc cùng có lợi.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Financial Times Chinese

CVĐQT số 6/2017

Quan niệm và quan điểm khoa học về nâng cấp ngành và về tham gia mạng sản xuất quốc tế – Phần cuối


Thứ tư, theo Gereffi và Stugeron (2013), quốc gia và/hoặc doanh nghiệp cần biết nhắm tới những phân khúc đã được chuyên môn hóa của chuỗi giá trị của mạng sản xuất quốc tế. Đó có thể là những khúc có giá trị gia tăng cao phù hợp với năng lực sẵn có. Đó cũng có thể là những năng lực chung có thể liên kết (pooled across) các nhà đầu tư nước ngoài với nhau. Dù theo kiểu nào thì cũng có thể phục vụ cả thị trường nội địa lẫn quốc tế. Kiểu chuyên môn hóa chuỗi giá trị này tất nhiên sẽ đòi hỏi mức độ phụ thuộc nhất định vào đầu vào/dịch vụ nhập khẩu.

Thứ năm, việc thúc đẩy hội tụ ngành (cụm liên kết ngành) có vai trò quan trọng. Như đã trình bày ở trên, để nâng cấp trong mạng sản xuất, doanh nghiệp trong nước cần có chỗ dựa trên thị trường nội địa, tiếp cận dễ dàng các đầu vào trung gian và tự nâng cao năng lực công nghệ của mình. Hội tụ ngành hỗ trợ cả ba điều kiện đó, thông qua mật độ dày đặc các liên kết xuôi (với khách hàng ở hạ nguồn), liên kết ngược (với đầu vào trung gian ở thượng nguồn) và thông qua các tác động thúc đẩy năng lực đổi mới của doanh nghiệp.

Một số nghiên cứu đã khẳng định hội tụ ngành thúc đẩy việc phổ biến công nghệ và bí quyết quản lý giữa các doanh nghiệp trong cùng vùng. Khi các mạng sản xuất đã đặt các nút của mình ở vùng hội tụ ngành nào đó, cơ hội phổ biến công nghệ và bí quyết quản lý từ công ty xuyên quốc gia sang doanh nghiệp địa phương sẽ mở ra.

Nếu cơ sở sản xuất là nút của mạng, thì vùng hội tụ ngành là tập hợp của rất nhiều nút của một mạng cũng như của đồng thời nhiều mạng. Ví dụ, các mạng sản xuất ô tô lần lượt do các nhà chế tạo ô tô lừng dnah đứng đầu, như BWM, Ford, General Motors, Honda, Isuzu, Mazda, Mitsubshi, Suzuki đều có cơ sở sản xuất ở khu vực hội tụ ngành ô tô ở miền Trung Thái Lan. Đông Hoàn và Thâm Quyến là hai thành phố của Quảng Đông đều là những vùng hội tụ ngành điện tử lớn của Trung Quốc. Nhiều mạng sản xuất khác nhau đứng đầu đều có cơ sở sản xuất ở các thành phố đó. Vì thế, nếu vùng hội tụ ngành là nơi để các doanh nghiệp liên kết đồng thời cạnh tranh với nhau, thì đó cũng là nơi để các mạng sản xuất quốc tế liên kết đồng thời cạnh tranh với nhau. Trong quá trình đó, các mạng sản xuất quốc tế sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp địa phương tham gia mạng và nâng cấp trong mạng.

Mặt khác, hội tụ ngành phát triển đến một mức độ nhất định thì hiện tượng hỗn tạp do quá đông sẽ dẫn tới một quá trình ngược lại, đó là di tản. Quá trình di tản này có thể dẫn tới sự hình thành một vùng hội tụ ngành mới. Việc nhân bản vùng hội tụ ngành sẽ mở rộng về mặt địa lý các mạng sản xuất quốc tế từ nơi này sang nơi khác. Ví dụ, các doanh nghiệp của Hoa Kiều ở vùng hội tụ ngành công nghệ thông tin Silicon Valley đã đưa các mạng sản xuất quốc tế ngành này sang Khu Khoa học – Công nghiệp Tân Trúc (Đài Loan), rồi sau đó lại từ Đài Loan sang Thâm Quyến  và Đông Hoàn (Quảng Đông, Trung Quốc). Quá trình này tạo cơ hội cho doanh nghiệp Đài loan và sau đó là doanh nghiệp Trung Quốc tham gia mạng và nâng cấp trong mạng. Người ta cũng thấy một quá trình tương tự đối với mạng sản xuất quốc tế ngành ICT khi mở rộng từ Silicon Valley sang Bangalore (thủ phủ bang Karnataka, Ấn Độ).

Bên cạnh đó, quyết định lựa chọn vị trí địa lý đặt nút của nhà sản xuất đứng đầu một mạng sản xuất quốc tế có thể có tác động quan trọng tới quyết định của các nhà cung ứng cấp 1 của mạng, dẫn tới sự hình thành của các vùng hội tụ ngành cho riêng một mạng.

Thứ sáu, cơ hội tăng năng lực của doanh nghiệp trong nước để từ đó nâng cấp khi tham gia cung ứng cho các công ty xuyên quốc gia phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó đáng kể nhất là: (1) mức độ phức tạp của thông tin và tri thức được chuyển giao giữa công ty xuyên quốc gia và doanh nghiệp địa phương, (2) khả năng mã hóa thông tin và tri thức để thuận tiện cho việc chuyển giao, (3) chiến lược thuê ngoài của công ty xuyên quốc gia (hay mức độ sẵn sàng tản quyền theo chiều dọc), và (4) chiến lược học hỏi của doanh nghiệp trong nước. Trong đó, mỗi yếu tố thứ ba và thứ tư đều chịu tác động của cả hai yếu tố thứ nhất và thứ hai. Các yếu tố thứ ba và thứ tư tương tác với nhau và cùng quyết định cơ hội nâng cao năng lực và do đó nâng cấp vị trí của doanh nghiệp trong nước ở trong mạng sản xuất (xem Hình 1.8). Như vậy, không thể thụ động chờ đợi công ty xuyên quốc gia chuyển gia công nghệ và tri thức cho doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp phải nỗ lực học hỏi và tự nâng cao năng lực đổi mới – sáng tạo. Đồng thời, chính phủ các nước đang phát triển cần có những biện pháp tác động vào chiến lược thuê ngoài của công ty xuyên quốc gia.

Thứ bảy, vai trò của nhà nước rất quan trọng, Henry Waihchung Yeng phác thảo một quá trình nâng cấp bao gồm sự kết hợp khôn ngoan về mặt chiến lược ở cả cấp doanh nghiệp lẫn cấp nhà nước như thể hiện ở Hình 1.9. Quá trình như vậy bắt đầu từ việc tham gia mạng sản xuất quốc tế. Điều này vừa đem tới những thách thức cho doanh nghiệp trong nước như sự cạnh tranh khốc liệt và sự điều chỉnh cơ cấu bản thân để phù hợp với phân công lao động quốc tế theo chiều dọc, đồng thời đem tới các cơ hội cho doanh nghiệp về mặt thị trường, công nghệ và bí quyết quản lý (bao gồm cả quản lý chuỗi cung ứng, quản lý quan hệ khách hàng…). Với chiến lược khôn ngoan của bản thân và được nhà nước tạo điều kiện, doanh nghiệp có thể phát huy các lợi thế, khai thác các cơ hội, khắc phụ các điểm yếu, chinh phục các thách thức.

Vai trò tạo thuận lợi của Nhà nước thể hiện ở chính sách công nghiệp dựa vào mạng sản xuất quốc tế, các chính sách thúc đẩy hội tụ ngành, thậm chí là cả chính sách phát triển các tập đoàn kinh tế trong nước. Khi đã đạt đến một mức độ thu nhập và hội tụ ngành nhất định, bước tiếp theo là phải biết khai thác các hiệu ứng hội tụ tích cực để xây dựng các chiến lược phát triển tiếp theo. Những chính sách khôn ngoan của nhà nước khiến cho quốc gia trở thành nơi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, và do đó càng hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia mạng sản xuất quốc tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Bình Giang (cb) – Nâng cấp ngành với vấn đề tham gia mạng sản xuất quốc tế – Kinh nghiệm Đông Á – NXB KHXH 2015.

FTAAP: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP? – Phần I


Trung Quốc ứng phó ra sao với xu thế đảo ngược toàn cầu hóa? Làm thế nào để viết ra quy tắc kinh tế toàn cầu trong thời đại hậu Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)? Trung Quốc sẽ đóng vai trò gì trong hệ thống thương mại thế giới mới? Ngày 8/12, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc và toàn cầu hóa (CCG) công bố báo cáo “Nhận thức khách quan về xu thế đảo ngược toàn cầu hóa, tích cực thúc đẩy toàn cầu hóa mang tính bao dung” và “Khu vực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP?” tại trụ sở ở Bắc Kinh, đưa ra phương án nghiên cứu và kiến nghị đối sách về các vấn đề lớn nói trên.

Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC trong những năm gần đây, Trung Quốc nhiều lần đề xướng xây dựng Khu vực thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương (FTAAP). Việc thành lập FTAAP sẽ thông qua việc nâng cấp nhất thể hóa 2 nền kinh tế lớn Trung – Mỹ, tạo ra lợi nhuận lớn cho kinh tế châu Á – Thái Bình Dương và toàn cầu. Trong vài năm qua, các nước mà khu vực châu Á – Thái Bình Dương tìm cách nâng cấp hợp tác kinh tế và liên kết chuỗi cung ứng dần dần chuyển hướng sang đàm phán hai “Khu thương mại tự do siêu khu vực”: TPP do Mỹ chủ đạo và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) lấy ASEAN làm trung tâm, việc sắp xếp thương mại tự do ở hai khu vực vừa tồn tại cạnh tranh vừa có tính bổ sungh nhất định: việc  đàm phán giữa hai bên đều đang tăng nhanh trong những năm gần đây, nhưng cả hai đều trở thành con đường thực hiện FTAAP.

TPP được coi là có đặc điểm bao phủ rộng, lĩnh vực bao quát, tiêu chuẩn cao, 12 thành viên sáng lập phân bố ở các khu vực của vành đai Thái Bình Dương, đồng thời bao gồm các nước lớn về ngành sản xuất và các nước lớn về tài nguyên, nội dung văn bản 30 chương trong Hiệp định TPP đã bao gồm nhiều quy tắc “phía sau biên giới” và “chủ đề thế kỷ 21”, đồng thời trong lĩnh vực thương mại hàng hóa đã đặt ra mục tiêu cuối cùng về thuế quan bằng 0. Ngược lại, RCEP được thiết lập trên cơ sở của 5 Hiệp định thương mại tự do “10 + 1”, nhấn mạnh việc ASEAN phát huy vai trò trung tâm trong việc sắp xếp nhất thể hóa khu vực, giúp hoàn thiện hơn nữa mạng lưới sản xuất Đông Á và khu vực này tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, có đặc trưng của tính mở cửa, tính linh hoạt, tuần tự tiệm tiến và quan tâm mức độ phù hợp của các bên, thông qua các cơ chế như mở cửa phát triển, sắp xếp tổng hợp và từng bước thúc đẩy… đáp ứng nhu cầu của các nước có trình độ phát triển khác nhau, đồng thời chú ý đến việc sắp xếp hợp tác kinh tế kỹ thuật mà các nền kinh tế trong khi phát triển quan tâm, nhưng vấn đề thương mại tự do mà RCEP bao gồm tương đối truyền thống, không bao hàm quá nhiều quy tắc “phía sau biên giới”.

12 nước tham gia TPP đạt được thỏa thuận cơ bản vào tháng 10/2015, đồng thời tiến hành ký kết thỏa thuận vào ngày 4/2/2016. Tuy nhiên, kết quả bầu cử Mỹ năm 2016 có lẽ đã thay đổi số phận của TPP trong kế hoạch “100 ngày cầm quyền” do Tổng thống đắc cử Donald Trump công bố tối ngày 21/11/2016, “Mỹ rút khỏi TPP” bất ngờ có trong danh sách.

Trong “thời đại hậu TPP” bởi sự vắng mặt của Mỹ, TPP không còn có tiềm lực trở thành “quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21”. Tuy  nhiên, cho dù TPP đối mặt với “trở ngại”, RCEP trong tương lai có thể cũng không đủ để hoàn toàn thay thế TPP – do sự khác biệt lớn giữa vai trò của TPP trong việc kích thích cải cách  nông nghiệp của các nước như Nhật Bản, vai trò của TPP đối với việc thúc đẩy ngành dịch vụ chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong nền kinh tế của các nước và RCEP với tư cách là cơ sở của 5 Hiệp định thương mại tự do “10 + 1”, mô hình “trung tâm và các vệ tinh” thiếu sự lãnh đạo của các nước lớn và ASEAN làm trung tâm nên RCEP không thể trở thành phương án thay thế “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21”.

Trong thời đại “chuỗi giá trị toàn cầu”, doanh nghiệp ở các nơi trên thế giới được kết nối với nhau thông qua “mối quan hệ thương mại – đầu tư – dịch vụ – quyền sở hữu trí tuệ”, thông qua sự luân chuyển hai chiều không gián đoạn về hàng hóa, nhân viên, sáng kiến mới và đầu tư, sẽ mang đến tận tay khách hàng các sản phẩm có chất lượng và có hiệu quả cao vào đúng thời điểm. Chính sách kinh tế thế kỷ 21 cần phải thông qua việc thiết lập các quy tắc chung và tiêu chuẩn phổ biến, giảm bớt sự quấy rối đối với các loại luân chuyển và tăng thêm tính ổn định của chuỗi cung ứng, từ đó khiến cho mỗi một người tham gia chuỗi giá trị toàn cầu được hưởng lợi.

Việc viết ra “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21” không tách rời với sự tham gia chung của Mỹ và Trung Quốc – nền kinh tế lớn thứ nhất và thế hai thế giới. Trong 30 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, kim ngạch thương mại song phương đã tăng lên hơn 200 lần, kim ngạch đầu tư lũy kế của Mỹ đối với Trung Quốc vượt trên 200 tỷ USD, lũy kế đầu tư của Trung Quốc đối với Mỹ đạt 64 tỷ USD, đồng thời đầu tư trực tiếp của Mỹ sang Trung Quốc năm 2015 vượt qua trước đây. Hợp tác Trung – Mỹ trong lĩnh vực quản trị kinh tế thương mại toàn cầu sẽ trực tiếp quyết định tương lai của kinh tế thế giới chuyển hướng mở cửa hơn, hội nhập hơn, hay là đi theo hướng chủ nghĩa biệt lập gây khó khăn cho nước khác. Trong giai đoạn lịch sử mà Trung Quốc tìm cách chuyển đổi mô hình kinh tế và Chính phủ nhiệm kỳ mới của Mỹ bố cục lại chiến lược kinh tế , FTAAP mà Trung Quốc và Mỹ cùng thúc đẩy phù hợp với lợi ích kinh tế, chiến lược của hai nước, FTAAP sẽ là sự lựa chọn tốt nhất của “thời kỳ hậu TPP”.

Lời tựa

Trong cuộc bầu cử Mỹ năm 2016, Donald Trump trúng cử Tổng thống thứ 45 của Mỹ nằm ngoài dự đoán của nhiều chuyên gia trước đó. Theo quan điểm của các chuyên gia trong lĩnh vực thương mại, kết quả bầu cử này không chỉ là “tin buồn” cho thương mại tự do – Donald Trump trong quá trình tranh cử từng đưa ra một loạt chủ trương và khẩu hiệu chống toàn cầu hóa, chống thương mại tự do, chống tầng lớp tinh hoa, chống ủng hộ chế độ, ông coi Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) là “hiệp định thương mại tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ”, tuyên bố nếu trung cử sẽ “rút khỏi WTO”, TPP với sự tham gia của Mỹ và 11 nước khác lại trở thành đối tượng chỉ trích mạnh mẽ nhất của ông đối với Chính quyền Obama.

Quả nhiên, tối 21/11 Donald Trump đã công bố một đoạn video trên Youtube về kế hoạch “100 ngày cầm quyền” của mình – ngày đầu tiên làm ông chủ Nhà Trắng, ông sẽ ký một tuyên bố mục đích, chính thức rút khỏi TPP. Về phía Quốc hội Mỹ, Chủ tịch Thượng viện Mỹ Mitch McConnell, Lãnh đạo phe thiểu số tại Thượng viện Chuck Schmer đều công khai bày tỏ Quốc hội Mỹ xác nhận sẽ không thông qua TPP, TPP đã được xác nhận “chết yểu”.

Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC tại Lima (Peru) diễn ra ngày 19 – 20/11/2016, 12 nước tham gia TPP tổ chức gặp mặt, thảo luận về khả năng “cứu vãn” TPP trong trường hợp không có Mỹ. Trước đó, Hạ viện Nhật Bản đã buộc phải thông qua TPP ngày 10/11. Theo dự đoán mô hình của Viện nghiên cứu kinh tế Peterson, Nhật Bản sau khi TPP được thực thi sẽ tăng 140 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu hàng năm và 100 tỷ USD giá trị sản lượng hàng năm (đến năm 2025), trở thành nước được hưởng lợi lớn nhất trong Khu thương mại tự do. Việc cải cách liên quan đến các điều khoản của TPP được cho là nhân tố quan trọng của “kinh tế học Abe” (Abenomics), Nhật Bản cũng là nền kinh tế lớn thứ hai chỉ đứng sau Mỹ trong các nước TPP, do vậy được coi là có khả năng nhất để tiếp nối trở thành nhà lãnh đạo mới của TPP. Giữa lúc các bài viết tương tự như “Mỹ muốn rút lui, Nhật Bản giữ vị trí đứng đầu” lần lượt đăng tít đầu các báo, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tại một cuộc họp báo Buenos Aires ngày 21/11 cho biết: Không có sự tham gia của Mỹ, TPP sẽ “vô nghĩa”.

“Hiệp định chung về thương mại và thuế quan” (GATT) ký kết sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã thúc đẩy 8 vòng đàm phán về giảm thuế quan, kéo theo thương mại toàn cầu từ cuối những năm 1970 liên tục tăng trưởng với tốc độ cao trong 30 năm. Tuy nhiên, sau cơn biến động tài chính toàn cầu năm 2007 – 2008, tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới bắt đầu giảm mạnh, từ năm 2011 đến nay tốc độ tăng trưởng thương mại các năm đều thấp dưới 3%, dự báo tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới năm 2016 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng giảm xuống 1,7%. Trong khi đó, sự phục hồi của nền kinh tế thế giới yếu ớt, tỷ lệ thất nghiệp của nhiều nước châu Âu tăng cao. Vấn đề đi kèm theo tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm chạp là sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy ở các nước phương Tây, ảnh hưởng đến khả năng quy tụ trong xã hội và làm cho các quy tắc quốc tế đứng trước rủi ro sụp đổ. Kể từ khi WTO thành lập năm 1995 đến nay, đàm phán thương mại đa phương chưa giành được bất kỳ thành quả thực tế nào, vòng đàm phán thương mại Doha bao quát tất cả sau khi khởi động năm 2001 đã rơi vào bế tắc, các nước đã hoàn toàn mất lòng tin về vấn đề này. Chiến trường chính của tự do hóa thương mại đã chuyển từ đàm phán thương mại tự do khu vực đa phương sang song phương. Tính đến năm 2015, Hiệp định thương mại tự do (FTA) được lập hồ sơ gửi lên WTO đã lên đến hơn 600 bản, trong đó hơn 400 hiệp định đã có hiệu lực, bình quân mỗi thành viên WTO đã ký kết 13 FTA. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng đã trải qua sự “tăng vọt” của FTA, theo số liệu của Ngân hàng phát triển châu Á, số lượng FTA ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương 1995 – 2015 đã tăng hơn 6 lần, từ 31 hiệp định tăng lên đến 215 hiệp định.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Financial Times Chinese

CVĐQT số 6/2017

Quan niệm và quan điểm khoa học về nâng cấp ngành và về tham gia mạng sản xuất quốc tế – Phần VII


Bảng 1.4: Các cơ sở hạ tầng cần thiết cho kết nối trong mạng

Khu vực Cứng (công trình) Mềm (chính sách, hệ thống)
Trong nước Đường sá, kho tàng Các hệ thống quản lý nguồn lực doanh nghiệp.
Tại biên giới Cảng (hàng hải, hàng không) Trao đổi dữ liệu điện tử và các phần mềm, hệ thống cần thiết cho hải quan.
Trong nước Khu thương mại tự do, trạm bốc dỡ hàng container, khu logistics miễn thuế Cấp phép và quy định về thương mại và vận tài

Nguồn: Goh (2013), bảng 10.2

Các mạng sản xuất trong các ngành khác nhau có thể có những yêu cầu khác đối với hoạt động logistics như trình bày trong Bảng 1.5.

Bảng 1.5: Yêu cầu đối với hoạt động logistics theo ngành

Ngành Đặc điểm Yêu cầu đối với logistics
Điện tử – ICT Vòng đời sản phẩm ngắn, dễ được thị trường quan tâm, thương mại nội ngành phát triển Cần phương thức vận tải nhanh, càng đóng gói càng tốt, giao hànhg nhanh cho khâu lắp ráp hoặc sản xuất tiếp theo, sản xuất phân tán đòi hỏi hoạt động vận tải tin cậy cao
Dệt – may, Da – giày Mang tính thời vụ, dễ bị từ bỏ, dễ bị mất trộm Phản ứng nhanh với thị trường, hệ thống IT tốt để kết nối nhà sản xuất với người tiêu dùng, các phương tiện lưu trữ trung gian, đảm bảo an ninh
Ô tô Hệ thống liên lạc dễ phân tán, outsourcing nhiều, số lượng nhà cung ứng cấp 3 (doanh nghiệp nhỏ và vừa) đông Có một hệ thống tốt để chuyển các linh kiện và bộ phận hỗ trợ đi, thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về linh kiện, bộ phận, thỏa thuận để tiêu chuẩn hóa vận đơn

Nguồn: Goh (2013), bảng 10.1

Đề cập thêm đến môi trường đầu tư để thu hút các phân đoạn sản xuất của các công ty xuyên quốc gia, Kimura và Obashi (2011) khẳng định rằng tỷ giá hối đoái rõ ràng là một khía cạnh quan trọng của lợi thế vị trí trong việc sản xuất bất kỳ loại hàng hóa để trao đổi nào. Thêm vào đó, sự biến động của tỷ giá hối đoái là một trong những bất trắc chính liên quan đến khả năng cạnh tranh của đối tác kinh doanh cũng như chi phí kết nối. Kết quả là, các doanh nghiệp hoặc các nhà máy sản xuất ở những nước mà tỷ giá hay biến động khó mà được kết nạp vào mạng sản xuất.

Để gia nhập mạng sản xuất quốc tế thành công, Anukoonwattaka (2011) lưu ý thêm, tầm quan trọng của “mức độ dày đặc của thị trường”, theo nghĩa là khả năng tiếp cận các khách hàng tiêu thụ ở hạ nguồn và các nhà cung ứng ở thượng nguồn. Một khi các liên kết theo chiều dọc giữa các công ty xuyên quốc gia đã phát triển đến một mức độ nhất định ở các vùng hội tụ ngành, thì là lúc các doanh nghiệp vừa và nhỏ địa phương có cơ hội tham gia vào mạng sản xuất.

Khi tìm hiểu và xúc tiến thu hút đầu tư (các phân đoạn sản xuất) của các công ty xuyên quốc gia, cũng cần lưu ý rằng các hãng dẫn dắt mạng sản xuất quốc tế thường phải dựa vào các nhà cung ứng toàn cầu và các trung gian cho một chuỗi các quá trình sản xuất, các đầu vào/dịch vụ chuyên dụng và yêu cầu các nhà cung ứng quan trọng nhất của mình hiện diện toàn cầu. Vì thế, chính là các nhà cung ứng, chứ không phải các hãng dẫn dắt mạng, đầu tư mới nhiều vào các nước đang phát triển, những nước cũng đang đón chờ đầu tư nước ngoài. Trong nhiều trường hợp, các nhà cung ứng cũng đóng góp lớn vào xuất khẩu của nước thu hút đầu tư. Hơn nữa, các nhà cung ứng lớn nhất thường phục vụ cùng lúc nhiều khách hàng, do đó không nhất thiết cứ phải theo đuổi một hãng dẫn dắt mạng duy nhất nào đó thì mới có thể thu hút được nhiều FDI. Trong bối cảnh thị phần thay đổi nhanh giữa các hãng dẫn dắt và sự xuất hiện đột ngột của những hãng dẫn dắt mới, khả năng phục vụ đồng thời nhiều khách hàng rất quan trọng. Cả Apple Inc. lẫn Google đều không tham gia ngành sản xuất thiết bị di động cho đến trước năm 2007. Trong khi đó, Ericsson, Siemens AG, NEC và Panasonic đã rút lui khỏi ngành sản xuất điện thoại di động. Motorola Mobility bị chuyển từ Motorola sang Google rồi sang Lenovo. Mảng điện thoại di động của Nokia bị bán cho Microsoft. IBM đã bán mảng sản xuất máy vi tính cá nhân và thương hiệu sản phẩm ThinkPad cho một công ty khác. Sony cũng làm tương tự.

4.3/ Làm thế nào để nâng cấp ngành bằng cách tham gia mạng sản xuất quốc tế?

Việc một mạng sản xuất gồm nhiều loại thành viên phân theo năng lực công nghệ và kỹ năng gợi ý những con đường khác nhau để nâng cấp doanh nghiệp khi tham gia mạng sản xuất quốc tế. Hình 1.7 minh họa cách thức cơ bản để nâng cấp ngành nhìn từ phương diện tổ chức của mạng sản xuất quốc tế.

i/ Từ CM (bao gồm cả CMS, ECM trong ngành điện tử, foundry trong ngành bán dẫn, CMT trong ngành may mặc) trở thành OEM (trong điện tử là EMS);

ii/ Từ OEM trở thành ODEM thông qua phát triển thêm kỹ năng thiết kế;

iii/ Từ ODM trở thành ODEM  thông qua phát triển kỹ năng quản trị mạng và kỹ năng thuê ngoài đối với CM;

iv/ Từ OEM trở thành OBEM bằng cách phát triển năng lực xây dựng thương hiệu;

iv/ Từ ODM trở thành OBDM bằng cách phát triển năng lực xây dựng thương hiệu;

v/ Từ ODEM, OBEM, OBDM trở thành OIM bằng cách phát triển năng lực tổng hợp.

Cách thức nâng cấp doanh nghiệp và nâng cấp quốc gia, có những điểm lưu ý sau đây.

Dựa vào các quan điểm của Porter, Gereffi và các học giả khác, có thể suy luận ra rằng, trước hết doanh nghiệp phải xây dựng năng lực của mình dựa vào nhu cầu trong nước, lấy thị trường trong nước phát triển làm tiền đề. Thị trường trong nước càng lớn và càng mở rộng nhanh thì doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng sản xuất, phát triển năng lực vận hành sản xuất quy mô lớn, sẵn sàng đáp ứng các đơn đặt hàng lớn từ nước ngoài.

Thứ hai, nếu doanh nghiệp càng tiếp cận dễ dàng với các đầu vào trung gian giá thấp, thì càng dễ nâng cấp. Bởi vì, khi doanh nghiệp tự nâng cấp lên tầng cao hơn, thì đòi hỏi phải có nguồn cung ứng các đầu vào trung gian từ các tầng thấp hơn nó. Nếu không có nguồn cung ứng từ tầng thấp, doanh nghiệp không có đầu vào để sản xuất đáp ứng các đơn đặt hàng đối với sản phẩm phức tạp hơn.

Thứ ba, doanh nghiệp muốn nâng cấp khi tham gia vào mạng sản xuất quốc tế do nhà sản xuất dẫn dắt phải có khả năng đạt được các chứng chỉ quốc tế về sản xuất.

Mạng sản xuất quốc tế, nếu nhìn từ góc độ quản trị, có hai loại, đó là mạng do nhà sản xuất dẫn dắt và mạng do người mua toàn cầu dẫn dắt. Loại mạng thứ hai còn được gọi là chuỗi thương phẩm toàn cầu (global commodity chain). Các chuỗi thương phẩm toàn cầu có xu hướng tạo nhiều cơ hội hơn cho các nhà cung ứng trong việc nâng cấp sản phẩm và nâng cấp chức năng bởi vì nền tảng cạnh tranh cốt lõi của người mua toàn cầu là marketing và phát triển thương hiệu, chứ không phải chức năng sản xuất. Trong khi đó, mạng sản xuất do nhà sản xuất dẫn dắt đòi hỏi các thành viên phải nâng cấp quá trình sản xuất và đạt được các chứng chỉ quốc tế để đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và tiêu chuẩn hiệu quả kinh doanh của cả mạng.

Gereffi cho rằng, càng phân tán sản xuất quốc tế, các người mua toàn cầu và các OBM càng quen với việc thuê các nhà sản xuất nước ngoài cung ứng cho mình. Đồng thời, các nước đang phát triển cũng dần dần có được kết cấu hạ tầng và năng lực sản xuất cần thiết cho phép vận hành nền sản xuất quy mô lớn. Đây là tiền đề cho những nhà sản xuất – nhà cung ứng ở các nước đang phát triển nâng cấp năng lực của mình để đáp ứng các đơn đặt hàng số lượng lớn hơn và sản phẩm phức tạp hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Bình Giang (cb) – Nâng cấp ngành với vấn đề tham gia mạng sản xuất quốc tế – Kinh nghiệm Đông Á – NXB KHXH 2015.