Ai sẽ chi phối quá trình thiết lập quy tắc kinh tế thương mại?


Với tư cách là một hiệp định quan trọng để một số nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương thực hiện các quy tắc kinh tế thương mại theo tiêu chuẩn cao hơn, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đồng thời đang gánh vác một trách nhiệm lớn là làm cho các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương chiếm trước địa vị chủ đạo vạch ra quy tắc kinh tế thương mại thế hệ mới, tạo dựng lại trật tự kinh tế thương mại trong khu vực. CPTPP sắp có hiệu lực, liệu điều này có nghĩa là cuộc cạnh tranh trong việc thiết lập quy tắc kinh tế thương mại bao trùm mờ mịt này đang bước vào cao trào hay không? Các nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương không phải là thành viên của CPTPP sẽ đối phó ra sao?

Sự thay đổi và không thay đổi của CPTPP

Về quy mô inh tế, CPTPP được sinh ra từ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn chiếm 13% GDP danh nghĩa của thế giới, 15% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu. So với TPP, CPTPP đã bảo lưu một số nội dung và đặc điểm ở mức độ tương đối lớn về tiêu chuẩn quy tắc và kết cấu thành viên của hiệp định ban đầu, nhưng cũng có những thay đổi mới.

Thứ nhất, về tiêu chuẩn quy tắc, cho đến nay CPTPP vẫn là mộ thiệp định thương mại tự do có tiêu chuẩn, yêu cầu cao nhất thế giới, tiếp tục theo đuổi mục tiêu phải đạt được quy tắc thương mại thực chất, mặc dù giữ lại trên 95% nội dung của TPP nhưng một số điều khoản đưa vào đàm phán theo yêu cầu trước đó của Mỹ được gác lại. Từ phiên bản cuối cùng của CPTPP do Chính phủ New Zealand công bố có thể cho thấy những điều khoản được gác lại chủ yếu tập trung vào chương đầu tư và quyền sở hữu trí tuệ, cũng như các điều khoản có nội dung liên quan đến quản lý hải quan và tạo thuận lợi cho thương mại, thương mại dịch vụ xuyên biên giới, dịch vụ tài chính, viễn thông, mua sắm công, môi trường, mức độ minh bạch và chống tham nhũng.

Đối với những quy tắc mang tính trình tự, CPTPP cũng sửa lại những điều khoản về chế độ liên quan đến hiệu lực, rút lui, tham gia hiệp định. Theo quy định của CPTPP hiện nay, chỉ cần 6 nước hoặc tối thiểu 50% số nước ký kết thì hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày, do lấy tiêu chuẩn ở ngưỡng tương đối thấp nên mức độ khó khăn để CPTPP có hiệu lực thấp hơn hẳn so với TPP. Vì vậy, khi Australia trở thành nước thành viên thứ 6 phê chuẩn, trình tự hiệu lực của CPTPP đã được khởi động ngay sau đó. Ngoài ra, CPTPP quy định thành viên mới có thể bao gồm bất kỳ quốc gia hoặc khu vực thuế quan riêng biệt nào, sau khi hiệp định có hiệu lực thì có thể tham gia nếu nhận được sự đồng ý của các nước thành viên, trong khi TPP lại yêu cầu thành lập tiểu ban phê chuẩn để thẩm tra tư cách đối với thành viên mới, điều này đồng nghĩa với việc rào cản tham gia đối với các thành viên mới sẽ giảm đi.

Thứ hai, về kết cấu thành viên, ngoại trừ Mỹ, CPTPP do các thành viên của TPP hợp thành, nhưng xét về kết cấu quyền lực giữa các nước thành viên, CPTPP dường như đang thiếu một người cầm trịch. Mặc dù luôn đóng vai trò dẫn dắt và điều phối cơ chế sau khi Mỹ rút lui, nhưng Nhật Bản không có quyền lực áp đảo như Mỹ, những kiến nghị mà nước này đưa ra luôn cần nhận sự ủng hộ và đồng ý của các nền kinh tế phát triển trong số các thành viên như Canada, Australia… mới có thể thực hiện thuận lợi, điều này đồng nghĩa với việc mức độ khó khăn khi điều phối cơ chế trong nội bộ CPTPP lớn hơn so với TPP.

Cục diện kinh tế thương mại châu Á – Thái Bình Dương đứng trước sự thay đổi

Hiện nay, CPTPP sắp có hiệu lực, thắng lợi lớn nhất đang thuộc về nước dẫn dắt CPTPP – Nhật Bản. Dựa vào CPTPP, Nhật Bản đã lấy lại được vị thế tương đối có lợi trong cục diện kinh tế thương mại châu Á – Thái Bình Dương. Hiện nay, Nhật Bản vẫn tích cực thuyết phục Mỹ quay trở lại TPP (tức là gia nhập CPTPP), điều này phù hợp với sách lược đi theo Mỹ của Nhật Bản bấy lâu nay. Tuy nhiên, cho dù Nhật Bản có hữu ý, nhưng Mỹ lại tỏ ra vô tình. Hiện nay, Mỹ đang tích cực thúc đẩy đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương, tìm cách lấy song phương thay thế đa phương, bảo vệ lợi ích của Mỹ ở mức độ lớn hơn.

CPTPP có hiệu lực cũng đem đến cơ hội mới cho các nền kinh tế thành viên khác. Một mặt CPTPP sẽ cung cấp nền tảng hạ thấp rào cản thương mại giữa các nước thành viên cho một số nền kinh tế phát triển tương đối nhanh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, củng cố hoặc thiết lập quan hệ thương mại mới, giúp mở rộng và tăng cường mạng lưới đối tác thương mại ở nước thành viên. Mặt khác, không gian phát triển của các nước đang phát triển sẽ được mở rộng hơn nữa trong khuôn khổ CPTPP. Đặc biệt là Việt Nam, một khi CPTPP có hiệu lực, nước này sẽ bước lên đoàn tàu cao tốc nắm quyền chủ động trong việc hoạch định quy tắc, đi đầu thực hiện quy tắc thương mại có tiêu chuẩn và trình độ cao trong các nước đang phát triển, năng lực lan tỏa kinh tế ra bên ngoài và mức độ hội nhập kinh tế thế giới trong tương lai được nâng cao rõ rệt, rất có thể sẽ nhanh chóng trở thành nền kinh tế mới nổi có ảnh hưởng quan trọng nhất ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

CPTPP có hiệu lực còn có nghĩa là quá trình mở rộng nội dung theo cơ chế bước tiếp theo đang được đưa vào chương trình nghị sự. Có nguồn tin cho biết Nhật Bản đã dự định thúc đẩy CPTPP mở rộng thành viên sau khi hiệp định này có hiệu lực, dự tính vào đầu năm 2019 mờ đại diện của các nước thành viên đến Nhật Bản tham dự hội nghị Ủy ban CPTPP lần đầu tiên và trọng điểm thảo luận về đề tài tiêu chuẩn tiếp nhận thành viên mới. Hiện nay, các nước như Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Anh, Colombia.. đều mong muốn gia nhập CPTPP.

Trung Quốc cần đẩy nhanh các bước hướng đến quy tắc thương mại với tiêu chuẩn cao hơn

Trung Quốc hiện nay không phải là thành viên của CPTPP. Sức ép quy tắc mà CPTPP hình thành có thể có những ảnh hưởng tương đối lớn đối với Trung Quốc. Trên thực tế, tình hình quy tắc thương mại mà Trung Quốc phải đối mặt hiện nay đã thể hiện một xu thế nghiêm trọng hơn. Các tranh chấp thương mại có liên quan đến Trung Quốc hiện nay liên tục tăng lên, nguyên nhân ngoài do ảnh hưởng tiêu cực của chủ nghĩa đơn phương và chính sách bảo hộ của các nước khác, một nhân tố quan trọng là Trung Quốc vẫn chưa thể thích nghi và thực hiện quy tắc thương mại với tiêu chuẩn cao hơn, điều này sẽ tạo cớ để nước khác tấn công Trung Quốc. Chẳng hạn, ngày 26/10, đại sứ quán Canada tại Trung Quốc tuyên bố do Trung Quốc chưa đáp ứng được mong đợi của mọi người về các chính sách như tiêu chuẩn tham gia thị trường nông nghiệp, tiền lương, bình đẳng giới… Canada sẽ tạm thời ngừng đàm phán hiệp định thương mại cho đến khi những vấn đề đó được cải thiện. Có thể thấy Trung Quốc cần nhanh chóng thích ứng với quy tắc thương mại có tiêu chuẩn cao hơn, tránh bị gạt ra ngoài các tổ chức thương mại.

Thứ nhất là tăng cường nghiên cứu quy tắc của CPTPP, giảm bớt tác động tiêu cực có thể có của các quy tắc mới đối với Trung Quốc.

Thứ hai là vững bước thúc đẩy chiến lược khu vực thương mại tự do, xây dựng mạng lưới đối tác thương mại tự do nhằm giành được quyền thiết lập quy tắc thương mại.

Ở cấp độ song phương, Trung Quốc một mặt cần tiếp tục tìm kiếm đối tượng ký FTA thích hợp, mở rộng mạng lưới đối tác thương mại tự do, tìm kiếm sự ủng hộ của nhiều đối tác hơn để thúc đẩy hệ thống quy tắc thương mại phù hợp hơn với nhu cầu phát triển của nước mình. Hiện nay, Trung Quốc đang đàm phán để xây dựng các khu vực thương mại tự do song phương với các nước như Sri Lanka, Panama…, có 8 khu vực thương mại tự do song phương mới đang được nghiên cứu. Mặt khác, Trung Quốc còn cần chú trọng nâng cấp và duy trì các FTA hiện có. Xem xét từ kinh nghiệm hiện có, Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN là hiệp định nâng cấp đầu tiên được hoàn thành trên nền tảng khu vực thương mại tự do hiện có, trong quá trình đàm phán nâng cấp hiệp định, hai bên vừa nhấn mạnh việc cắt giảm nhiều hơn hàng rào thuế quan trong thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ…, vừa chú trọng đưa các vấn đề mới như hợp tác công nghệ liên quan đến kinh tế như thương mại điện tử xuyên quốc gia vào đàm phán, thực hiện đồng thời việc đi sâu và mở rộng quan hệ thương mại song phương, cung cấp kinh nghiệm có thể học hỏi cho việc đàm phán nâng cấp các FTA khác. Trung Quốc hiện nay đã khởi động đàm phán nâng cấp FTA với Singapore và New Zealand, bắt đầu đàm phán FTA giai đoạn hai với Hàn Quốc và Pakistan. Trung Quốc phải nắm chắc cơ hội triển khai đàm phán nâng cấp FTA với những quốc gia này, có không gian đi sâu nâng cấp quy tắc của nước mình.

Nguồn: Mạng Cankao Xiaoxi (Tin tức tham khảo) – TQ

TKNB – 08/11/2018

Advertisements

Canada hưởng lợi gì từ CPTPP?


Canada là một trong 11 quốc gia ký Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Khi chính thức được đưa vào thực hiện, thỏa thuận này sẽ mở ra nhiều thị trường mới cho các doanh nghiệp Canada, bao gồm Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Việt Nam… Với dân số 495 triệu người và GDP 13500 tỷ USD (chiếm 13,5% kinh tế thế giới), CPTPP với quy mô tương tự Hiệp định kinh tế và thương mại toàn diện (CETA) giữa Canada với Liên minh châu Âu (EU). Không chỉ thể, CPTPP còn có các điều khoản tiến bộ quy định rõ trong các chương về môi trường và lao động.

Vậy CPTPP sẽ mang lại cho Canada những lợi ích gì? Trong loạt bài “CPTPP – Các doanh nghiệp hưởng lợi từ thỏa thuận thương mại mới nhất của Canada” đăng trên trang web của Cơ quan xúc tiến xuất khẩu Canada (EDC), cơ quan này cho rằng về mặt kinh tế, CPTPP sẽ bổ sung thêm cho nền kinh tế Canada 4,2 tỷ CAD nhờ việc nước này được quyền tiếp cận phi thuế quan và/hoặc ưu đãi thuế với thị trường của 10 nước thành viên còn lại. CPTPP cũng sẽ mang lại cho Canada cơ hội đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và đầu tư.

Theo lời của nhà kinh tế học Motria Savaryn-Roy thuộc Trung tâm tình báo kinh tế và chính trị EDC, với việc tham gia CPTPP, Canada hầu như đã có chân trong hầu hết các thỏa thuận thương mại chính của thế giới. Cụ thể, Canada đã có thỏa thuận thương mại tự do với Mỹ và Mexico (thông qua NAFTA), với EU (thông qua CETA), Hàn Quốc (thông qua Hiệp định thương mại tự do (ETA) song phương) và với phần lớn khu vực châu Á – Thái Bình Dương (thông qua CPTPP). Ngoài ra, Canada cũng đang tiến hành các cuộc thảo luận thăm dò với Trung Quốc và Ấn Độ về ETA song phương. Ông Savaryn-Roy nói: Điều này sẽ giúp Canada phần nào giảm bớt phụ thuộc vào thị trường Mỹ, đồng thời nhấn mạnh thêm rằng CPTPP sẽ thực sự mở ra các cơ hội mới cho Canada ở châu Á.

Theo đánh giá của ông Gustavo Galvis, Trưởng đại diện EDC tại vùng Andes và Trung Mỹ, CPTPP là một thỏa thuận đầy tham vọng. “Với một số lượng lớn khách hàng tiềm năng và quy mô các nền kinh tế thành viên, sẽ có rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Canada khai thác, nhất là ở khu vực vành đai Thái Bình Dương”. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội có được từ tiếp cận ưu đãi với các thị trường mới, CPTPP cũng sẽ đem lại những thách thức cho các doanh nghiệp Canada trước sự cạnh tranh của các đối thủ đến từ 10 quốc gia thành viên. Ông Galvis nói: “Các doanh nghiệp Canda sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng và tăng cường hiệu quả để có thể bảo vệ thị trường trong nước. Sẽ luôn có cho – nhận, được – mất mỗi khi có một thỏa thuận mới được ký kết”.

CPTPP hiện có 11 nước thành viên và được hình thành sau 12 năm đàm phán ròng rã. Mốc khởi điểm bao đầu của thỏa thuận này là Thỏa thuận đối tác kinh tế chiến ược xuyên Thái Bình Dương, được ký năm 2006 giữa 4 nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore (còn gọi là nhóm P4). Đầu năm 2010, thỏa thuận này được nâng cấp thành Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) khi có thêm 4 nước tham gia là Australia, Peru, Việt Nam và Mỹ. Cuối năm 2010, Malaysia đặt chân lên chiếc thuyền TPP. Hai năm sau, danh sách thành viên tham gia đàm phán mở rộng thêm 2 nước là Canada và Mexico. Một năm sau đó, Nhật Bản cũng chính thức nhập cuộc sau những tranh cãi gay gắt ở trong nước, nâng tổng số thành viên đàm phán lên con số 12. Tháng 2/2016, các nước chính thức ký TPP ở New Zealand, nhưng chỉ một năm sau, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố rút khỏi thỏa thuận này ngay khi vừa nhậm chức. Sự rút lui của Mỹ đã buộc 11 nước thành viên còn lại phải tiến hành đàm phán lại và sửa đổi các nội dung của TPP, tiền đề cho việc đổi tên lần thứ hai thành CPTPP. Tới ngày 23/1/2018, các nước mới đạt được nhất trí về nội dung phiên bản sửa đổi cuối cùng của CPTPP. Ngày 11/3 vừa qua, các bộ trưởng của 11 nước thành viên chính thức ký CPTPP tại thủ đô Santiago của Chile, chính thức hình thành một trong những khối thương mại tự do lớn nhất và tham vọng nhất thế giới hiện nay.

CPTPP bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nông nghiệp, ô tô, văn hóa, thủy sản đến lâm nghiệp… Theo đánh giá của Quỹ Tây Canada, những ngành và tiểu ngành của Canada được hưởng lợi nhiều nhất là nông sản, thực phẩm chế biến, các sản phẩm gỗ, máy móc công nghiệp, kim loại và khoáng sản, nhôm, nikel, các sản phẩm từ dầu mỏ…), Canada sẽ được hưởng lợi lớn khi hầu hết các hảon thuế sẽ được dỡ bỏ. Hiện tại, mỗi năm Canada xuất khẩu khoảng 6,8 tỷ CAD kim loại và khoáng sản sang các nước CPTPP với mức thuế 20% ở Malaysia, 40% ở Việt Nam, 6,3% ở Nhật Bản và 5% ở Australia. Theo thỏa thuận trong CPTPP, Malaysia, Việt Nam, Nhật Bản và một số nước khác sẽ phải dỡ bỏ các loại thuế này trong vòng 10 năm, riêng Australia chỉ có thời gian 4 năm.

Ngành thịt bò và thịt lợn của Canada cũng được cho là sẽ hưởng lợi lớn. Theo nhà quản lý quan hệ công chúng của Hội đồng thịt lợn Canada, ông Gary Stordy, CPTPP tạo ra một trong những thị trường chính cho các nhà xuất khẩu thịt lợn của Canada. Hội đồng này ước tính CPTPP sẽ giúp tăng tổng số thịt lợn xuất khẩu thêm 600 triệu CAD mỗi năm nhờ có lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ Mỹ và Anh trong việc tiếp cận ưu đãi với thị trường Nhật Bản và một số thị trường khác trong khối. Phó Chủ tịch Hội đồng thịt bò Canada Ron Glaser cũng bày tỏ hy vọng vào triển vọng xuất khẩu thịt bò sang các nước CPTPP. Ông Glaser khẳng định: “Chỉ một thay đổi nhỏ về tỷ lệ phần trăm cũng sẽ làm tăng mạnh doanh số bán”, trước khi cho biết thêm rằng Nhật Bản, Việt Nam và Singapore sẽ là những thị trường mục tiêu chính của thị bò Canada.

Ngành hàng không cung nhìn thấy nhiều dư địa phát triển trong CPTPP bởi, theo nhận định của Chủ tịch kiêm CEO Hiệp hội công nghiệp hàng không Csanada Jim Quick, các nền kinh tế trong CPTPP đều là “những thị trường hàng không đang nổi”. Việt Nam và Singapore là hai ví dụ điển hình và điều này sẽ cho phép ngành hàng không Canada đặt một chân vào những thị trường này, bên cạnh việc tiếp tục củng cố thị trường truyền thống là Nhật Bản.

Với ngành công nghệ thông tin, trước mắt Canada đặt mục tiêu vào các thị trường Nhật Bản, Malaysia và Australia. Đây đều là những thị trường khó tính ở châu Á, nhưng có giá trị toàn cầu và triển vọng phát triển tốt.

Trong khi đó, do phải cân bằng với các điều kiện và quy định trong NAFTA nên ngành sản xuất ô tô và phương triện vận tải của Canada được dự báo chỉ đạt tăng trưởng nhẹ. Con số ước tính cho ngành sản xuất ô tô là 206 triệu CAD.

Riêng đối với ngành sữa, Chính phủ Canada ước tính doanh số nhập khẩu sẽ tăng vượt trội so với xuất khẩu. Cụ thể, tổng giá trị nhập khẩu có thể sẽ tăng khoảng 135,1 triệu CAD do phải mở cửa thị trường cho các nước khác, trong khi giá trị xuất khẩu chỉ tăng khiêm tốn khoảng 3,5 triệu CAD. Tuy nhiên, Chính phủ Canada đã cam kết sẽ hỗ trợ và bảo vệ chuỗi quản lý nguồn cung trong ngành này.

So sánh với các thỏa thuận thương mại tự do khác, CPTPP được coi là một “hiệp định hiện đại”, đặc biệt là các chương về lao động và môi trường. Chương lao động được thiết kế để bảo vệ quyền lợi người lao động và đảm bảo rằng họ sẽ được hưởng lợi, chứ không phải trả giá cho sự tiến bộ kinh tế. CPTPP thúc đẩy các quyền và nguyên tắc lao động đã được quốc tế công nhận. Chương này cũng cam kết loại bỏ lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Vì thế, các nước thành viên CPTPP phải “tái khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, tôn trọng văn hóa và đa dạng văn hóa, bảo tồn và bảo vệ môi trường, thúc đẩy bình đẳng giới, đảm bảo quyền của người bản địa, các quyền lao động, thương mại toàn diện, phát triển bền vững, phong tục truyền thống cũng như bảo lưu quyền ra quyết định bảo vệ các lợi ích công cộng”. Trong khi đó, chương về môi trường được xem là tham vọng nhất, được thiết kể để đảm bảo rằng tất cả các bên tham gia đều phải bảo vệ môi trường và đề ra quy trình thực hiện việc này.

Bên cạnh hai chương mang tính hiện đại trên, những quy định trong CPTPP sẽ giúp các doanh nghiệp Canada tiếp cận được thị trường với sức tiêu thụ khoảng nửa triệu dân, tham gia các hợp đồng mua sắm chính phủ ở nước ngoài, mua hàng hóa, dịch vụ phi thuế quan hoặc thuế thấp… Vấn đề đặt ra là CPTPP sẽ giúp các doanh nghiệp Canada tiếp cận với khách hàng mới ở châu Á như thế nào?

Như đã phân tích ở trên và nhiều ý kiến nhận định khác của các chuyên gia, Nhật Bản, Malaysia, Việt Nam và Singapore sẽ là những thị trường ưa chuộng thịt lợn và thịt bò của Canada, khi những hạn chế thương mại được dỡ bỏ, nông dân Canada và các doanh nghiệp chế biến thực phẩm ở nước này sẽ được đối xử tương tự như các doanh nghiệp địa phương. Theo Mark Agnew, Giám đốc chính sách quốc tế của Phòng thương mại Canada, tiếp cận với thị trường châu Á là điều thú vị nhất của CPTPP. Nhật Bản sẽ là thị trường nhiều hứa hẹn hấp dẫn nhất, đáp ứng mong muốn lâu nay của các doanh nghiệp Canada.

Bên cạnh đó, các thị trường đang phát triển như Malaysia và Việt Nam cũng mang lại nhiều hứa hẹn. Dưới con mắt cảu Agnew, một trong những cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp Canada là được tham gia các hợp đồng mua sắm chính phủ. Các công ty của Canada trong lĩnh vực từ tư vấn, xây dựng đến kỹ thuật, đều có thể công khai, đấu thầu với các doanh nghiệp địa phương. Không chỉ thế, dù kinh doanh mặt hàng gì, các doanh nghiệp Canada cũng sẽ có cơ hội mở rộng thị trường hoạt động nhờ có những thỏa thuận thương mại tự do như CPTPP, một phần do có sự minh bạch hơn về đầu tư và các quy tắc thương mại.

Tất nhiên, sẽ luôn có những quan điểm trái chiều (chống đối hay ủng hộ) trong bất kỳ một thỏa thuận thương mại tự do nào. Các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng quốc tế sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn nhờ có thỏa thuận thương mại tự do. Tuy nhiên cùng với đó, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải chịu cạnh tranh khốc liệt hơn với các đối tác thương mại nước ngoài. Thế nhưng, cạnh tranh sẽ khiến giá cả hàng hóa giảm xuống và làm tăng thêm năng lực cho các doanh nghiệp Canada, nhất là những doanh nghiệp chế biến thực phẩm, nông nghiệp, máy móc và thiết bị.

Nguồn: TLTKĐB – 18/04/2018

Donald Trump áp thuế Trung Quốc và năm hệ quả tiềm tàng


Bằng cách áp thuế quan bổ sung đối với 200 tỷ USD hàng hóa từ Trung Quốc, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã thổi bùng một cuộc chiến ý chí giữa hai cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới – và kết quả chưa có gì là chắc chắn.

Không ai biết mức thuế được công bố hôm 17/9 sẽ kéo dài bao lâu. Không ai biết liệu Bắc Kinh sẽ nhượng bộ khi áp lực gia tăng hay sẽ củng cố quyết tâm và tiếp tục trả đũa. Không ai biết liệu rằng một nước Mỹ bị chia rẽ chính trị có thể khiến thái độ hung hăng của Trump giảm xuống hay không.

Tuy nhiên, điều rõ ràng là trận chiến mới nhất trong cuộc chiến thương mại leo thang này có khả năng, bằng cách này hay cách khác, ảnh hưởng đến người tiêu dùng, các công ty, thị trường, nền kinh tế và cả cảnh quan chính trị của Mỹ. Và tất cả những diễn biến xảy ra có thể xác định được liệu “canh bạc” đàm phán của Trump đã thành công hay thất bại.

Người tiêu dùng

Không giống 2 vòng áp thuế đầu tiên đối với 50 tỷ USD hàng hóa từ Trung Quốc, mức thuế mới lần này do Trump công bố sẽ ảnh hưởng trực tiếp hơn đến người tiêu dùng Mỹ. Có vẻ Tổng thống Trump nhận thấy thực tế này cuối cùng sẽ giúp ích cho công nhân Mỹ. Cuối cùng, như ông suy tính, những nỗi đau trong thời gian ngắn sẽ tạo ra những chính sách và các hiệp định thương mại mới, những thứ sẽ mang lại nhiều thuận lợi hơn choc ác cá nhân và công ty Mỹ.

Từ ngày 17/9, Mỹ bắt đầu áp 10% thuế đối với hàng nghìn hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc theo một danh sách dài 194 trang. Trừ khi chính uyền Mỹ đạt được thỏa thuận tạm ngừng với Bắc Kinh, nếu không Trump sẽ tiếp tục tăng mức thuế lên 25% vào năm 2019. Hơn nữa, nếu Bắc Kinh trả đũa. Trump cho biết ông sẵn sàng áp thuế bổ sung đối với 267 tỷ USD hàng hóa từ Trung Quốc.

Kết quả có thể xảy ra là người tiêu dùng Mỹ sẽ phải chịu mức giá cao hơn, bởi hầu hết các công ty sẽ tăng giá đối với khách hàng của họ. Theo một nghiên cứu của giáo sư kinh tế Mark Perry thuộc Đại học Michigan và cũng là một học giả của Viện nghiên cứu Doanh nghiệp Mỹ, sau khi Trump công bố mức thuế đối với mặt hàng máy giặt từ Trung Quốc hồi đầu năm 2018, giá các thiết bị giặt là đã tăng 16% từ tháng 2 đến tháng 5.

Các mức thuế có thể khiến chi tiêu của người tiêu dùng giảm xuống, mặc dù nhiều nhà kinh tế cho rằng tác động đến tổng thể nền kinh tế sẽ là rất nhỏ. Matthew Shay, Giám đốc điều hành   Liên đoàn bán lẻ quốc gia, cho biết: “Chỉ nhắc đến việc áp thuế đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu còn lại từ Trung Quốc cũng là một mối quan tâm nghiêm trọng đối với các nhà bán lẻ, bởi mức thuế lớn đó sẽ chạm đến mọi khía cạnh của cuộc sống nước Mỹ”.

Các công ty

Nhiều công ty đã cảnh báo rằng việc Trump áp thuế có nguy cơ làm gián đoạn công việc kinh doanh và làm giảm doanh thu của họ. Chỉ số sản xuất hàng tháng của Viện Quản lý Cung ứng chỉ ra rằng một số công ty đã bày tỏ lo ngại về các mức thuế quan mà Trump áp đặt dù nền kinh tế Mỹ vốn đang rất mạnh mẽ. Đại diện một công ty thực phẩm và nước giải khát cho biết: “Các nhà cung cấp dường như đang khuyến khích chúng tôi tăng chi phí, tăng cường các buổi trao đổi về thuế quan và lạm phát”.

Việc Trump tăng thuế, với thời gian không chắc chắn, sẽ khiến các công ty Mỹ gặp khó khăn trong việc lên kế hoạch cho tương lai. Luật sư thương mại Ted Murphy cho biết tổng thống đang báo hiệu rằng nhiều công ty sẽ cần phải suy tính lại các hoạt động của họ.

Thị trường tài chính

Cho đến nay, ít nhất, thị trường chứng khoán đã vượt qua được những mối đe dọa từ việc Trump áp thuế đối với hàng hóa của Trung Quốc. Giá cổ phiếu đã sụt giảm nhưng nhanh chóng phục hồi, một phần là bởi Mỹ cắt giảm sâu thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm nay và nền kinh tế nước này vẫn đang khá vững chắc ở năm thứ 10 liên tiếp trong chu kỳ phát triển.

Tuy nhiên, những rủi ro từ vòng áp đặt thuế quan mới khiến cho các nhà đầu tư phải đưa ra một phản ứng đáng báo động hơn. Mức thuế bổ sung cho thấy hai nước đang đấu tranh để đạt được tiến bộ trong việc giải quyết những mâu thuẫn. Các vấn đề bao gồm hành vi đánh cắp tài sản trí tuệ từ Mỹ của các công ty Trung Quốc và một lỗ hổng thương mại ngày càng rộng khi người tiêu dùng Mỹ phụ thuộc nhiều hơn vào các hàng hóa nhập khẩu tương đối rẻ của Trung Quốc.

J.J. Kinahan, giám đốc chiến lược thị trường cảu sàn giao dịch ngoại hối quốc tế TD Ameritrade, nhận định điều này chắc chắn là một trở ngại đối với các thị trường. Ông nói thêm rằng các công ty công nghệ dường như dễ bị Bắc Kinh trả đũa, chẳng hạn như bị áp thuế hoặc bị hạn chế truy cập vào các trang web hay dịch vụ của Trung Quốc.

Kinh tế toàn cầu

Một cuộc chiến thương mại kéo dài giữa nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ hai thế giới chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến phần còn lại của thế giới. Việc áp đặt các mức thuế quan có thể hạn chế việc giao thương và cản trở sự tăng trưởng của các quốc gia nhỏ hơn.

Đồng USD đã bắt đầu tăng giá khi căng thẳng thương mại leo thang. Điều này đã giúp Mỹ tránh phải chịu mức giá cao hơn. Tuy nhiên, đồng USD tăng giá lại khiến giá trị đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ và đồng peso của Argentina, cùng nhiều loại tiền tệ khác sụt giảm. Xu hướng này giống như một “hòn đá tảng” đè nặng lên nền kinh tế của những nước này. Trong khi đó, giá trị đồng NDT của Trung Quốc cũng đã giảm tương đối so với đồng USD, giúp Bắc Kinh dễ thở hơn khi phải chịu đòn thuế quan từ Mỹ.

Theo Stephanie Segal, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington, nhiều nền kinh tế mới nổi phụ thuộc vào việc vận chuyển hàng hóa sang Trung Quốc, do đó, nếu kinh tế Trung Quốc không thể chịu đựng được sức nặng từ việc áp thuế của Mỹ, nền kinh tế toàn cầu cũng có thể sẽ trượt ngã.

Chính trị

Sự kiểm soát Hạ viện và Thượng viện của đảng Cộng hòa đang bị đe dọa trong cuộc bầu cử Quốc hội giữa nhiệm kỳ sẽ diễn ra vào tháng 11 tới. Trump đã miêu tả các mức thuế nhập khẩu chính là một vấn đề mang lại chiến thắng trong cuộc bầu cử bởi chúng buộc các nước khác phải thỏa hiệp với Mỹ.

Tuy nhiên, công chúng lại cho rằng việc Trump áp đặt thuế quan có thể sẽ gặp rủi ro. Một cuộc thăm dò dư luận do Trung tâm Nghiên cứu Cộng đồng NORC công bố ngày 24/8 cho thấy 61% người Mỹ phản đối cách xử lý các cuộc đàm phán thương mại của Tổng thống.

Nếu đảng Dân chủ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tới, họ có thể bác bỏ cách tiếp cận của Trump. Song, nếu nhiều nghị sĩ đảng Cộng hòa vẫn giữ được ghế của họ, điều này có thể chứng minh quyết định công bố các mức thuế của Trump là đúng đắn.

Nguồn: TKNB – 21/09/2018

Vì sao cuộc chiến thương mại của Mỹ với Trung Quốc chắc chắn thất bại? – Phần cuối


Ở phương Tây, giới vận động hành lang tài chính đầy quyền lực đã định hình một cấu trúc điều tiết kéo theo các mức độ chịu đựng rủi ro công cộng không thể chấp nhận được. Trong khi đó, Chính phủ Trung Quốc vẫn trơ lì trước lợi ích của các tổ chức tài chính lớn. Họ áp đặt các biện pháp kiểm soát vốn và định hướng nguồn vốn tài chính nhắm tới các khoản đầu tư dài hạn. Đây là một trong những lý do then chốt giải thích tại sao hệ thống tài chính của họ vẫn vững mạnh khi các thị trường phố Wall và London sụp đổ vào năm 2008. Tương tự, trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 ở Đông Á, những “toa thuốc” kinh tế của Trung Quốc đã được chứng tỏ là tiên tiến hơn sự hỗ trợ giáo điều của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cho các tài khoản vốn mở và biện pháp thắt lưng buộc bụng hà khắc.

Chắc chắn, chính sách kinh tế là nghệ thuật quản lý những sự thỏa hiệp bằng cách sử dụng các mức độ quản lý kinh tế phù hợp. Mặc dù sự kiểm soát thông tin tập trung và sự quốc hữu hóa trong tình huống khẩn cấp có thể đem lại lợi ích, nhưng nếu được áp dụng quá mức, nó sẽ làm trầm trọng thêm mối nguy hiểm về đạo đức và không đóng góp cho hiệu quả lâu dài của cơ chế dấu hiệu giả. Nó thậm chí có thể cản trở tăng trưởng kinh tế dài hạn. Như Emilios Avgouleas, giáo sư về quy chế ngân hàng toàn cầu và tài chính thuộc Đại học Edinburgh, đã trình bày trong một cuộc thảo luận với một trong các tác giả của bài viết, chủ nghĩa ngoại lệ kinh tế của Trung Quốc được dựa trên tiền đề cho rằng các công cụ cực đoan có thể được mạnh tay áp dụng khi sự ổn định kinh tế của đất nước đang gặp nguy hiểm. Tuy vậy, trên thực tế, khi được thực hiện quá mức, chúng có thể đẩy nền kinh tế xa hơn nữa khỏi vị trí cân bằng và mất đi độ tin cậy của mình.

Kết luận cuối cùng với thị trường rộng khắp và tính bất đối xứng của thông tin, những sự can thiệp mạnh tay nhưng thận trọng có đặc trưng là có thể gia tăng hiệu quả và tính hợp lý. Khi việc quản lý thông tin và quốc hữu hóa trong tình huống khẩn cấp chỉ được áp dụng một cách chiến lược như một công cụ sử dụng cuối cùng thì khi đó, tác động của nó đối với hoạt động kinh tế có thể là tích cực. Tuy nhiên, trong khi làm vậy, trách nhiệm giải trình có vai trò then chốt để các mối nguy hiểm về đạo đức không trở thành một đặc tính cố hữu, bởi nếu không như vậy, các SOE lớn đến mức không thể thất bại sẽ tham gia các hoạt động rủi ro hơn và kém hiệu quả hơn.

Cuộc cách mạng không sử dụng tiền mặt: Điều kiện thuận lợi cho các khoản thu từ thuế

Trung Quốc là nước đi đầu trên toàn cầu về giao dịch không sử dụng tiền mặt, với việc ngành công nghệ tài chính của nước này vượt trội gấp 10 lần Mỹ. Chẳng hạn, công ty dịch vụ tài chính Ant của Alibaba, “vốn kiểm soát quỹ thị trường tiền tệ lớn nhất thế giới, đã xử lý nhiều khoản thanh toán hơn MasterCard trong năm 2017, và hoàn thành các giao dịch với giá trị hơn 8000 tỷ USD thông qua nền tảng thanh toán trực tuyến của họ chỉ trong năm ngoái”. Việc không sử dụng tiền mặt đem lại cho Alipay và WeChat Pay một lượng dữ liệu khổng lồ, cho phép họ tạo ra các hồ sơ xếp hạng tín dụng hoàn chỉnh cho hơn 800 triệu người dùng. Điều này làm gia tăng mạnh mẽ hiệu quả của hoạt động phân bổ vốn tư nhân, vì cả nguy cơ về đạo đức lẫn sự lựa chọn bất lợi – 2 vấn đề đặc trưng cố hữu của hoạt động phân bổ vốn tài chính – đều được giảm thiểu nhờ việc tạo lập hồ sơ tín dụng.

Rõ ràng, điều này không giải quyết được tình trạng nợ tăng vọt của các chính quyền địa phương, nhưng nó có thể giảm bớt sức ép đối với ngân sách chính phủ, vì các giao dịch không sử dụng tiền mặt khiến cho việc thu thuế trở nên dễ dàng hơn. Hơn nữa, nếu Trung Quốc chuyển hướng sang một nền kinh tế không sử dụng tiền mặt, thì nền kinh tế ngầm sẽ ngay lập tức được bổ sung vào các số liệu thống kê quốc gia và tỷ lệ nợ trên GDP sẽ giảm. Giai đoạn chuyển tiếp tiến tới không sử dụng tiền mặt cũng sẽ dẫn tới hiệu ứng dòng tiền tương lai (vì các khoản thu từ thuế sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai), tăng cường lòng tin vào khả năng của chính quyền trung ương trong việc tiến hành mở rộng tài hóa, và giải cứu các thể chế vỡ nợ mà không đẩy nợ quốc gia lên cao quá mức. Do đó, nỗ lực đang tiếp diễn của Bắc Kinh hướng tới việc giảm nợ có thể đạt được mục tiêu của nó nhờ việc từng bước tăng cường các khoản thu của nhà nước, có khả năng dàn xếp ổn thỏa tiến trình giảm nợ bền vững mà không kiềm chế sự mở rộng tài khóa trong ngắn hạn. Điều này thậm chí đã trở nên thiết yếu hơn nữa, khi các chính quyền địa phương chứng kiến các khoản thu của họ sụt giảm do việc hạn chế hoạt động bán đất và do đó cần có các nguồn thu thay thế.

Giáo sư Micheal Pettis thuộc Đại học Bắc Kinh đã tiên đoán về tác động có lợi của việc mở rộng tài khóa khẩn cấp đối với tăng trưởng của Trung Quốc trong bối cảnh của cuộc chiến tranh thương mại. Pettis đã đánh giá một cách đúng đắn rằng cuộc chiến tranh thương mại sẽ không làm chậm lại đáng kể nền kinh tế Trung Quốc vì chính phủ trung ương sẽ cung cấp sự kích thích tài chính để bù đắp cho xuất khẩu sang Mỹ giảm sút. Pettis cũng lập luận rằng trong một kịch bản như vậy, việc giảm nợ sẽ chậm lại nếu không muốn nói là bị chấm dứt hoàn toàn, và tỷ lệ nợ quốc gia trên GDP sẽ gia tăng, do đó làm suy giảm tăng trưởng dài hạn của Trung Quốc. Tuy vậy, giả thuyết của nhóm tác giả là khi Trung Quốc chuyển sang không sử dụng tiền mặt, tổng giá trị các khoản thu từ thuế sẽ gia tăng. Do đó, việc mở rộng tài khóa khẩn cấp sẽ không làm trầm trọng thêm đáng kể tình hình nợ quốc gia.

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã rất nỗ lực nhằm đánh giá tác động của việc tiến tới không sử dụng tiền mặt đối với chính sách tiền tệ và sản phẩm quốc gia. Mô hình kinh tế vĩ mô và cái được gọi là mô hình kinh tế vĩ mô cân bằng động ngẫu nhiên tổng quát (DSGE) có thể phức tạp và thường gây nhầm lẫn; tuy nhiên, việc chuyểnn sang không sử dụng tiền mặt là một quyết định mang tính chiến lược mà Trung Quốc có thể dễ dàng thực hiện vì họ đã có các nền tảng công nghệ mang tính chiến thuật – hệ sinh thái không sử dụng tiền mặt – trên thực tiễn thông qua Alipay và WePay. Chẳng hạn, nếu chính phủ áp thuế theo giá hàng lên các giao dịch ATM, thì khi đó nguòi dân sẽ được khích lệ gia tăng việc sử dụng các nền tảng không dùng tiền mặt. Điều này sẽ được khiến cho thuế giá trị gia tăng (VAT) ngay lập tức được thu và ghi vào tài khoản quốc gia, do đó gia tăng các khoản thu từ thuế. Ngoài ra, hoạt động phân tích dữ liệu giao dịch sẽ làm cho việc ước tính thuế thu nhập trở nên dễ dàng hơn và hạn chế tình trạng trốn thuế. Ngay cả trong trường hợp của một quốc gia có mức nợ cao như Hy Lạp, như một báo cáo của Quỹ tài trợ nghiên cứu kinh tế và công nghiệp đã chứng minh, sự chuyển dịch một phần hướng tới không sử dụng tiền mặt từ tháng 7/2015 đã tạo ra những phép màu trong việc gia tăng các khoản thu tài khóa.

Sự ổn định của nền kinh tế Trung Quốc sẽ được định đoạt trong nước

Những mối lo ngại về tác động của một cuộc chiến tranh thương mại đối với nền kinh tế Trung Quốc cũng đã được nhắc tới thậm chí bên trong Trung Quốc, với cuộc khẩu chiến bất thường gần đây giữa Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc và Bộ Tài chính về tốc độ giảm nợ mà Trung Quốc cần theo đuổi trong bối cảnh một cuộc chiến tranh thương mại. Các quan chức thuộc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc ủng hộ gói kích thích tài chính quy mô lớn, trong khi các quan chức thuộc Bộ Tài chính lựa chọn việc nới lỏng tài chính có mục tiêu thông qua các SOE. Vào giữa tháng 8, Chính phủ Trung Quốc đã hướng dẫn các ngân hàng nới lỏng thanh khoản đối với các công ty sẽ phải chịu ảnh hưởng tiêu cực của cuộc chiến tranh thương mại.

Quả thật, nền kinh tế Trung Quốc không phải là “bất khả xâm phạm trước các cú sốc toàn cầu, nhưng vì đã tích lũy một lượng của cải quốc gia khổng lồ và được thúc đẩy bởi tinh thần kinh doanh đại chúng ở cấp cơ sở, sức sống kinh tế và hoạt động giảm nợ của Trung Quốc hầu hết sẽ được định đoạt bởi chính trị trong nước, sự cải cách thông minh về phía nguồn cung và việc mở cửa lâu dài. Những cải cách của Trung Quốc sau phiên họp toàn thể lần thứ ba vào năm 2013 đem lại cơ sở để tiến lên phía trước, dù được tính toán để đối phó với căng thẳng đang tiếp diễn do cuộc chiến tranh thương mại gây ra. Theo tờ Financial Times, từ năm 2013, “Trung Quốc đã thu hẹp đáng kể khu vực tài chính ngầm của mình, phát động các sáng kiến nhằm bảo đảm hoạt động cho vay, nỗ lực chống đỡ rủi ro ở các ngân hàng khu vực và kiềm chế việc cấp tín dụng ồ ạt”. Gần đây, Bắc Kinh cũng đã nỗ lực để xử lý nợ ẩn và nâng cấp chất lượng số liệu thống kê quốc gia của Trung Quốc. Nhìn chung, hầu hết nhờ vào cải cách trong nước, năng suất có thể tăng đủ cao, do đó thúc đẩy sản phẩm quốc nội của Trung Quốc và bình thường hóa tỷ lệ nợ trên GDP dài hạn.

Thuế quan không thể giành chiến thắng: Hãy cho hòa bình thương mại một cơ hội

Một cuộc chiến tranh thương mại kéo dài không phải là không thể tránh khỏi. Nhưng điều thiết yếu đối với các chiến lược gia Mỹ là đưa ra đánh giá chính xác về tình hình nên kinh tế Trung Quốc và không đánh giá quá cao tác động tiêu cực của các mức thuế quan thương mại mang tính trừng phạt của Mỹ đối với tính bền vững nợ của Trung Quốc. Điều này sẽ tạo động lực sai lầm cho Trump để leo thang chiến tranh thương mại và đẩy Trung Quốc và Mỹ vào con đường của một cuộc xung đột địa kinh tế mà đáng lẽ ra có thể được giảm nhẹ theo cách khác, với những hậu quả nghiêm trọng đối với trật tự thương mại toàn cầu.

Ngay cả trong những năm 1960, khi Trung Quốc yếu kém hơn nhiều và nền kinh tế cảu nước này chỉ bằng một phần nhỏ của nền kinh tế Mỹ, Bắc Kinh vẫn chống chọi một cách quyết đoán trước sự ép buộc của nước ngoài và đồng thời đương đầu với Liên Xô và Mỹ – hai siêu cường của thế giới. Sau gần 3 thập kỷ tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc không tất yếu sụp đổ, cũng không ở vào thế sẵn sàng chiếm lĩnh thế giới. Dù thành công đến đâu, hệ thống kinh tế của Trung Quốc cũng dị biệt đến mức không thể đóng vai trò hình mẫu để các nước khác đua theo trong khi của cải bình quân đầu người của nước này vẫn thấp hơn bất kỳ nước phương Tây nào. Do đó, Trung Quốc không phải là mối đe dọa đối với nền dân chủ Mỹ và cuộc xung đột thương mại đang tiếp diễn không nên bị phóng đại thành “một cuộc chạm trán liên quan đến sự tồn tại của các hệ thống”. Trong lĩnh vực địa kinh tế chưa được lập bản đồ này, những đánh giá được công nhận về mặt tri thức, chính xác và có tính toán về nền kinh tế Trung Quốc có thể giúp vượt qua những sự khác biệt và đem lại hòa bình thương mại ở mức độ nào đó, cùng với đó là phẩm giá, cho cả hai bên.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/08/why-the-us-trade-war-on-china-is-doomed-to-fail/

TLTKĐB – 19/09/2018

Vì sao cuộc chiến thương mại của Mỹ với Trung Quốc chắc chắn thất bại? – Phần đầu


Vasillis Trigkas & Qian Feng

Các mức thuế quan mang tính trừng phạt của Mỹ dựa trên một nhận định sai lầm nghiêm trọng về các yếu tố căn bản của nền kinh tế Trung Quốc.

Vòng đàm phán thương mại Trung – Mỹ thứ tư được tổ chức gần đây ở Washington D.C. đã kết thúc “không kèn không trống”, và cuộc chiến thương mại lớn nhất trong lịch sử kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn tiếp diễn mà không hề suy giảm, trong khi một cuộc khủng hoảng mới hình thành trong các thị trường đang nổi lên gây lo lắng cho các nhà đầu tư trên toàn thế giới. Được thúc đẩy bởi nhận thức sai lầm rằng nền kinh tế Trung Quốc đang trong tình trạng nguy kịch, vị Tổng thống Mỹ đầy táo bạo Donald Trump dường như quyết tâm leo thang chiến tranh.

Trong một cuộc họp gần đây của nội các, Larry Kudlow, cố vấn kinh tế cấp cao của tổng thống, đánh giá rằng nền kinh tế Trung Quốc “có vẻ tệ hại và đang đi xuống”. Ông tuyên bố thêm rằng Mỹ “đang nghiền nát nước này và có một sự bùng nổ thực sự”.

Lời khẳng định của Kudlow đồng tình với quan điểm của các nhà dự báo Mỹ khác vốn tán thành với câu chuyện thần thoại cũ về sự sụp đổ không thể tránh khỏi của nền kinh tế Trung Quốc, được thúc đẩy một cách đáng chú ý nhất bởi “nhà tiên tri về ngày tận thế” kỳ cựu Gordon Chang. Lập luận theo đường thẳng của họ là ví dụ điển hình về kinh tế học thông thường và đi theo hướng như sau: Mức nợ của chính quyền các địa phương và các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (SOE) chỉ có thể được duy trì ở mức bền vững khi nền kinh tế phát triển vững mạnh, có nghĩa là GDP của Trung Quốc đang tăng trưởng hơn 6%. Khi một cú sốc thương mại kéo tăng trưởng xuống các mức thấp hơn 6%, các tổ chức có mức nợ cao sẽ không thể tăng trưởng để thoát khỏi các khoản nợ cấp bách. Điều này sẽ kích động một cuộc khủng hoảng nợ với quy mô lớn, gây mất lòng tin và cuối cùng dẫn tới sự sụp đổ của nền kinh tế. Trong khi đó, áp lực đối với đồng NDT sẽ gia tăng và “quỹ tiền tệ đặc biệt” trị giá 3200 tỷ USD của Trung Quốc sẽ không ngăn chặn được sự sụp đổ của tỷ giá hối đoái ngay cả khi các biện pháp kiểm soát vốn khắt khe được áp dụng đầy đủ. Khi lòng tin kinh tế tiêu tan, bong bóng bất động sản nổ tung, và lạm phát tăng đột ngột vì đồng NDT rơi tự do, chính tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ bị nghi ngờ. Để tránh một kịch bản đáng lo ngại như vậy, ĐCSTQ sẽ phải sớm đầu hàng và đưa ra cho Washington những nhượng bộ thương mại đầy đủ – hay theo hướng đi của lập luận thì là như vậy.

Những lời “tiên tri” ở Mỹ rằng cuộc chiến tranh thương mại sẽ kích động sự sụp đổ của nền kinh tế Trung Quốc đang khích lệ Trump tỏ ra hiếu chiến thay vì có thái độ hòa giải. Tuy nhiên, theo nhận định của Yukon Huang thuộc Quỹ Carnegie vì hòa bình quốc tế, “Trung Quốc không tuân theo những sự phân loại điển hình”. Tư duy theo đường thẳng và kinh tế học thông thường sẽ chỉ đạt được thành công hạn chế trong việc đánh giá tác động của một cuộc chiến tranh thương mại đối với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, một nền kinh tế còn được định hình bởi nhiều nhân tố bất quy tắc với những đặc trưng khác thường của Trung Quốc. Theo lập luận phản bác của Huang: “Các đánh giá tài chính và tài khóa của Trung Quốc đơn giản là không hề chỉ ra rằng một thời khắc Lehman’ sắp diễn ra, bất chấp những lời cảnh báo được đưa ra đều đặn về điều ngược lại. Vấn đề về nợ của Trung Quốc khác với trường hợp của các cuộc khủng hoảng trước đây ở chỗ nợ của nước này tập trung vào khu vực nhà nước chứ không phải trong số các tổ chức tư nhân, và có nguồn gốc từ trong nước chứ không phải từ ngoài nước. Các thách thức hiện tại của Trung Quốc có thể phức tạp hơn, nhưng tình hình tài chính vào cuối những năm 1990 lại nghiêm trọng hơn, và ngay cả khi đó, nước này vẫn chứng tỏ rằng họ xử lý được những khó khăn”.

Trong quan hệ quốc tế, nhận thức chiến lược chính xác là thiết yếu đối với việc thiết lập thỏa thuận. Nếu một bên đánh giá quá cao năng lực của mình trong việc tác động tới môi trường chiến lược của đối thủ, thì khi đó xung đột không đáng có sẽ kéo dài, trong khi đáng lẽ ra đã có thể đạt được một hiệp ước có lợi cho cả hai bên theo cách khác. Thất bại liên tiếp của các nhà đàm phán Mỹ và Trung Quốc trong việc đạt được một sự thỏa thuận thương mại cùng có lợi hầu hết phản ánh nhận định sai lầm này, dẫn tới sự đánh giá quá thấp, đặc biệt từ phía Mỹ, về khả năng chống đỡ của nền kinh tế Trung Quốc, và sự đánh giá quá cao tính vượt trội liên tục của nền kinh tế Mỹ.

Theo lập luận của Robert Jervis, một trong những người tiên phong trong lĩnh vực tâm lý học chính trị hiện đại: “Mặc dù câu chuyện về gã say tìm chìa khóa dưới cột đèn vì đèn ở đó sáng hơn là một chuyện đùa, nhưng chúng ta thấy nó khôi hài vì nó quá đúng. Thành kiến dẫn tới việc xem xét những thông tin sẵn có nhất, dễ xử lý nhất và dễ hiểu nhất thay vì khám phá sâu hơn để tìm ra những điều mang tính sáng tỏ và chẩn đoán hơn”.

Do đó, các nhà kinh tế học Mỹ hầu hết tập trung vào giá trị thị trường chứng khoán của Trung Quốc và tỷ lệ nợ trên GDP của nước này vì những thông tin này quá sẵn có và dễ xử lý – đặc biệt khi vị tổng tư lệnh của nước này có khuynh hướng dân túy. Do vậy, các chiến lược gia Mỹ cần “khám phá sâu hơn để tìm ra những điều mang tính sáng tỏ và chẩn đoán hơn” và đánh giá một cách khách quan các yếu tố căn bản của nền kinh tế Trung Quốc trước khi rút ra những kết luận dễ dàng về sự mong manh của nền kinh tế Trung Quốc và xu hướng cam chịu nảy sinh từ đó của ĐCSTQ.

Cần xem xét 3 “thực tế kinh tế cụ thể then chốt của Trung Quốc” một cách chi tiết ở mức độ nào đó: việc Chính phủ Trung Quốc quản lý toàn bộ thông tin liên quan đến các tài sản thuộc sở hữu nhà nước, việc quốc hữu hóa trong tình trạng khẩn cấp bác bỏ các quyền sở hữu, và năng lực của Trung Quốc trong việc mở rộng tài khóa khi cuộc cách mạng không sử dụng tiền mặt thúc đẩy các khoản thu từ thuế của quốc gia. Tất cả những điều này càng trở nên phức tạp hơn do Trung Quốc vẫn có khả năng tận dụng nhóm lao động nông thôn đáng kể khi tỷ lệ đô thị hóa của nước này vẫn thấp hơn tỷ lệ của Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản khi tốc độ tăng trưởng của họ chậm lại. Các thành phố của Trung Quốc có thể tiếp tục mở rộng việc gia tăng năng suất quốc gia bằng những hiệu ứng của sự siêu quần tụ.

Sự kiểm soát của ĐCSTQ đối với thông tin tài chính

Như nghiên cứu của một số nhà kinh tế học hàng đầu thế giới đã chứng minh, thông tin là một yếu tố đầu vào then chốt định hình hành vi của các tác nhân kinh tế, ảnh hưởng tới tính khả thi của các mạng lưới tín dụng và hướng đi chung của toàn thị trường. Một điểm khác biệt lớn giữa phương Tây và Trung Quốc là thông tin tài chính được chính phủ chủ động sàng lọc. Trong trường hợp một doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước hoặc chính quyền địa phương phải đối mặt với những hạn chế về thanh khoản, Bắc Kinh có thể giới hạn sự lan truyền của tin tức này, do đó làm chậm lại “dòng thác thông tin”. Vì các thể chế có mức nợ cao nhất thuộc khu vực nhà nước (các SOE và chính quyền địa phương), điều này sẽ đem lại thời gian cần thiết để các nhà quản lý hành động bằng các biện pháp quy chế, tiền tệ hoặc tài chính phù hợp nhằm ngăn cuộc khủng hoảng lan truyền sang các bên tham gia khác và trở nên có hệ thống.

Chủ nghĩa tư bản phương Tây không thể bắt chước điều này, vì báo giới sẽ ngay lập tức đưa tin về một cuộc khủng hoảng thanh khoản hoặc thậm chí biến mối đe dọa thành một đề tài giật gân, làm cho chính phủ chỉ còn là một bên tham gia “khi sự đã rồi” với năng lực ở mức hạn chế trong việc kiềm chế một cuộc khủng hoảng mới hình thành. Khi Lehman Brothers sụp đổ vào tháng 9/2008, hoạt động cho vay liên ngân hàng – một chức năng rất quan trọng của hệ thống tài chính toàn cầu – đã nhanh chóng suy giảm khi các tác nhân kinh tế bắt đầu biến nguy cơ vỡ nợ thành một đề tài giật gân. Thông tin chính xác và không chính xác về tính thanh khoản của các thể chế tài chính có hệ thống pha trộn với chứng khoán độc hại đã dẫn tới một “dòng thác thông tin”, làm trầm trọng hơn nữa cuộc khủng hoảng trong khi các nhà hoạch định chính sách vật lộn tìm ra giải pháp cho một cuộc khủng hoảng vốn chưa từng nằm trong dự đoán của họ trong một khoảng thời gian eo hẹp. Lòng tin – bàn tay vô hình giữ cho hệ thống tài chính hoạt động được – đã sụp đổ.

Năng lực của ĐCSTQ trong việc quốc hữu hóa các tác nhân kinh tế có hệ thống ngay tại chỗ

Ở Trung Quốc, lợi ích quốc gia đứng ở vị trí tối cao; khi sự ổn định của nền kinh tế quốc gia gặp nguy hiểm, một tập đoàn tài chính lớn hoặc một bên tham gia có hệ thống trong thị trường có thể được quốc hữu hóa và tính thanh khoản được giữ cố định nhờ hoạt động bơm vốn tương xứng theo các thủ tục dành cho tình huống khẩn cấp. Trường hợp gần đây của Anbang là một ví dụ điển hình. Công ty này đã nhanh chóng được liệt vào dạng công ty ủy thác quốc gia và chủ tịch công ty đã bị bắt giữ ngay tại chỗ. Ở Mỹ, Quốc hội, Nhà Trắng và Bộ Tài chính sẽ phải tiến hành một cuộc chiến pháp lý kéo dài nhiều tháng với cả một đội quân gồm các luật sư và các nhà vận động hành lang để đạt được kết quả tương tự, vuột mất thời gian thiết yếu. Ta có thể xem xét lại cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, việc Solyndra vỡ nợ hay việc giải cứu ngành ô tô của Mỹ và thời gian để Quốc hội và nhánh hành pháp hoạt động.

Như nhà kinh tế học từng đoạt giải Nobel Joseph Stiglitz đã khẳng định, “với quy mô lớn, sự kết nối lẫn nhau và sự tương quan với nhau đến mức không thể sụp đổ”, thành công của các ngân  hàng hoặc các tập đoàn có tổ chức lớn “có thể không dựa trên hiệu quả tương đối của mô hình kinh doanh của họ” mà dựa trên quy mô tương đối, sự liên kết và khả năng của họ trong việc bóp méo cơ chế thị trường để phục vụ lợi ích của mình. Sự can thiệp của chính phủ là cần thiết để bình thường hóa hệ thống trong các điều kiện thông thường, nhưng quan trọng nhất là trong khủng hoảng.

(còn tiếp)

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/08/why-the-us-trade-war-on-china-is-doomed-to-fail/

TLTKĐB – 19/09/2018

Hiểu rõ hơn cuộc khủng hoảng nhập khẩu thép và nhôm của Mỹ


Nhà báo Cecilia Bellora đã phỏng vấn Sébastien Jean, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh tế quốc tế của Pháp (CEPII) nhằm làm sáng tỏ cuộc khủng hoảng sau thông báo của Donald Trump đánh thuế nhập khẩu đối với sản phẩm thép và nhôm.

Ngày 8/3/2018, Tổng thống Donald Trump đã khẳng định thiết lập thuế nhập khẩu 25% đối với sản phẩm thép và 10% đối với sản phẩm nhôm.

Những biện pháp này có hiệu lực kể từ ngày 23/3, chúng sẽ bổ sung cho các biện pháp thuế quan hiện có đối với những sản phẩm này (xuất khẩu thép của châu Âu tới Mỹ hiện nay phải đối mặt với mức thuế khoảng 3%).

Cecilia Bellora (CB): Nước nào bị ảnh hưởng?

Sébastien Jean (SJ): Tất cả các nước xuất khẩu bị ảnh hưởng, ngoại trừ Canada và Mexico. Trong bài phát biểu của các đại diện Mỹ, ngoại lệ này liên quan tới một bước tiến trong tái đàm phán Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA).

Phần đầu của “tuyên bố” dự liệu khả năng miễn những loại thuế mới đối với những nước đồng minh, yêu cầu miễn thuế và đề xuất các biện pháp thay thế.

Những ngoại lệ khác là các sản phẩm không thể được sản xuất đủ về lượng trên đất Mỹ, nếu được miễn thuế thì cần có một doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Mỹ đề nghị miễn thuế. Mức thuế được tính toán theo cách mà tỷ lệ sử dụng thiết bị sản xuất thép và nhôm của Mỹ đạt 80% (năm 2017, theo số liệu của Bộ Thương mại Mỹ, con số này là 73% đối với thép và 39% đối với nhôm).

CB: Mức xuất khẩu liên quan là bao nhiêu?

SJ: Các biện pháp thuế quan này nằm ngoài các quy định thông thường do tầm quan trọng của lượng lớn hàng hóa thương mại liên quan. Nhập khẩu của Mỹ đối với sản phẩm thép là 29 tỷ USD năm 2017, đối với nhôm là 19 tỷ USD. Lý do được nêu ra để thiết lập thuế nhập khẩu bổ sung là vấn đề an ninh quốc gia, đúng theo mục 232 Đạo luật thương mại mở rộng năm 1962.

Cho tới nay, lý lẽ này được nêu ra trong trường hợp một lượng hàng nhập khẩu lớn đến từ các quốc gia không được xem là nước đồng minh. Lưu ý: Trung Quốc không phải là nước bị ảnh hưởng hàng đầu, vì xuất khẩu thép và nhôm của nước này tới Mỹ tương đối nhỏ, nhiều biện pháp chống bán phá giá và chống trợ giá được thực hiện từ nhiều năm nay chủ yếu nhắm vào gần như toàn bộ xuất khẩu thép của Trung uốc vào Mỹ, và đa phần đối với sản phẩm nhôm. Về tổng thể đối với 2 sản phẩm này, Trung Quốc chỉ cung cấp khoảng 7% nhập khẩu của Mỹ.

CB: Tác động của những biện pháp này sẽ như thế nào?

SJ: Xuất phát từ những thống kê và giả thuyết, người ta có thể đưa ra những ước tính hiển nhiên về việc giảm rất lớn lượng giao dịch thương mại bị ảnh hưởng.

Lập giả thuyết về mức biến động của thương mại là 2, tức là mức thuế 1% làm giảm lượng nhập khẩu 2%, điều này gắn bó chặt chẽ với những kết quả nghiên cứu mới đây, mức giảm xuất khẩu có thể sẽ ở mức 2,2 tỷ USD đối với EU và 9,6 tỷ USD trên toàn thế giới.

CB: Những tiền lệ trước đó cho chúng ta điều gì?

SJ: Các biện pháp tự vệ của Tổng thống George W. Bush, chống lại hàng nhập khẩu thép vào tháng 3/2002 có lẽ là ví dụ gần nhất.

Bị suy yếu từ nhiều thập kỷ, lĩnh vực luyện kim của Mỹ khi đó lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, điều này thực sự không liên quan tới lĩnh vực nhập khẩu vốn đã giảm trong thời gian từ 2000 tới 2001. Quyết định này của tổng thống, dựa trên mục 201 của Luật thương mại năm 1974, quy định mức thuế quan phụ thu từ 8 tới 30% đối với nhiều sản phẩm thép, trong thời gian 3 năm, đồng thời miễn thuế cho nhiều quốc gia đối tác.

Tác động về việc làm trong lĩnh vực này khó được đánh giá, vì biện pháp này được đưa ra trong bối cảnh khủng hoảng. Nếu như tỷ lệ mất việc trong lĩnh vực luyện kim đã chững lại (-4,9%) trong 12 tháng sau khi biện pháp thuế quan nêu trên được thực thi, so với 12 tháng trước đó (-13,8%), thì xu hướng này không khác biệt lắm so với xu hướng trong các lĩnh vực khác.

Đổi lại, có những tác động lớn trong các lĩnh vực sử dụng thép, khi đó sử dụng 12,8 triệu nhân công, trong khi lĩnh vực luyện kim là 170.000 người. Vậy nên một cuộc điều tra sát sao của Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ (USITC) đối với các doanh nghiệp đã cho thấy 11% trong số họ đã thay đổi nguồn cung nguyên liệu để mua các sản phẩm hỗn hợp từ thép trực tiếp từ nước ngoài, điều này giúp tránh phải trả thuế đánh vào mặt hàng thép. Tỷ lệ này thậm chí đạt 33% trong lĩnh vực điện gia dụng. Và 7% doanh nghiệp đã chuyển ra nước ngoài các bộ phận sử dụng thép (50% trong lĩnh vực điện gia dụng).

Theo một ước tính về kinh tế, 200.000 việc làm đã bị mất trong các lĩnh vực này. Đổi lại, tác động tích cực thể hiện rõ rệt trên giá cổ phiếu của các doanh nghiệp luyện kim, vốn đã tăng 6% tới 8% trong những ngày sau khi công bố kết quả điều tra, và từ 5% tới 6% trong những ngày sau khi công bố các biện pháp trừng phạt.

Quyết định này đã bị EU đưa ra tranh cãi tại Tổ chức thương mại thế giới (WTO), EU khi đó thông báo, đã chuẩn bị một danh sách các biện pháp trừng phạt gồm các sản phẩm ở các danh mục nhạy cảm cũng như các sản phẩm đa dạng như nước cam, nước táo, kính râm, một số sản phẩm len, xuồng máy hay máy photocopy. Mỹ đã rút lại các biện pháp tự vệ ngay trước khi các biện pháp trả đũa được thực hiện.

Một tình tiết khác, mặc dù mức độ rất nhỏ, là việc đánh thuế trong khuôn khổ biện pháp tự về mà Tổng thống Obama đưa ra vào tháng 9/2009, đối với việc nhập khẩu một số loại lốp từ Trung Quốc. Các biện pháp này đã không mang lại kết quả như mong muốn. Theo ước tính tin cậy nhất, kết quả về việc làm của Mỹ trong lĩnh vực lốp xe không đáng kể, trong khi biện pháp này đã khiến người tiêu dùng bị thiệt hại khoảng 1,1 tỷ USD trong năm 2011.

Biện pháp tự vệ này của Mỹ đã bị Trung Quốc đưa ra tranh cãi tại WTO, tuy nhiên tổ chức này đã coi điều đó phù hợp với các thỏa thuận quốc tế. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng đã phản ứng theo cách không chính thức thông qua các biện pháp tự vệ nhằm vào một số phụ tùng ô tô và gà. Từ đó, tranh chấp về nhập khẩu gà của Trung Quốc từ Mỹ lại một lần nữa diễn ra, và báo cáo liên quan tới thủ tục bổ sung theo đúng các biện pháp tự vệ của Trung Quốc chỉ vừa mới được thực hiện vào tháng Giêng vừa qua!

CB: Tiền lệ khác đáng chú ý là “cú sốc Nixon”.

SJ: Ngày 15/8/1971, khi thông báo chấm dứt việc tự do chuyển đổi đồng USD sang vàng, Tổng thống Nixon thực tế cũng thông báo biện pháp đánh thuế 10% trên tất cả hàng hóa nhập khẩu “có thể đánh thuế” của Mỹ, nghĩa là thuế nhập khẩu ban đầu của mọi hàng hóa không phải là bằng không. Trên thực tế, biện pháp này bao trùm gần một nửa hàng nhập khẩu của đất nước.

Tác động kinh tế và thương mại của việc này khó đánh giá được, bởi vì nó đã không được duy trì lâu, và vì việc đánh thuế này đã đi liền với một cuộc đình công lớn của công nhân bến cảng. Phản đối của các đối tác, rồi đe dọa trả đũa liên tiếp được gửi tới Chính phủ Mỹ. Cái giá phải trả về chính trị đã rõ ràng tới mức Kissinger, ban đầu không quan tâm, sau đã gây sức ép để loại bỏ biện pháp này khi ông đánh giá về những thiệt hại tới quan hệ chính trị quốc tế. Biện pháp thuế quan này đã bị bãi bỏ ngày 18/12/1971. Khả năng ảnh hưởng của biện pháp thuế quan này đối với các đối tác của Mỹ vẫn còn chưa rõ ràng, dù rằng có lẽ nó đã ảnh hưởng mạnh tới Nhật Bản.

CB: Tác động kinh tế vĩ mô sẽ như thế nào?

SJ: Trên góc độ kinh tế vĩ mô, mức độ ảnh hưởng của nó là hạn chế. Nhập khẩu liên quan chiếm khoảng 0,2% mức tiêu dùng cuối cùng của Mỹ năm 2017 và thuế về tiêu dùng sau khi bị áp biện pháp đánh thuế nêu trên, sẽ tăng chút ít ở mức 0,04% (khoảng 6 tỷ USD).

Đối với Pháp, trị giá xuất khẩu bị ảnh hưởng (tổng cộng 711 triệu USD, với mức thiệt hại tính gần 200 triệu USD) cũng nhỏ.

Những hệ quả gián tiếp từ vụ việc này gây lo ngại vì 2 lý do. Thứ nhất, hàng hóa xuất khẩu không tìm được người mua ở thị trường Mỹ, có thể được chuyển hướng tới thị trường châu Âu, trong các lĩnh vực vốn đã bị ảnh hưởng vì sản xuất dư thừa và giá cả thấp. Đây là lý do khiến Ủy ban châu Âu đã nêu ra ý tưởng về các biện pháp tự vệ, tức thuế nhập khẩu tạm thời, vì nếu như nhập khẩu tăng đột ngột sẽ đe dọa các nhà sản xuất châu Âu trong những lĩnh vực này.

Thứ hai, vì những biện pháp này có thể đánh dấu sự khởi đầu của các cuộc xung đột thương mại ở quy mô lớn hơn, hoặc do sự gia tăng các biện pháp trả đũa, hoặc vì Mỹ sau đó đưa ra các biện pháp khác tương tự như vậy.

Vượt ra ngoài phương diện số lượng, cần phải nhấn mạnh 2 mâu thuẫn sâu sắc trong các biện pháp này, xét về những ưu tiên chính trị của Donald Trump.

Một mặt, sự bảo hộ thuế quan này đa phần được biện bạch bởi quyết tâm giảm thâm hụt thương mại. Vậy mà, nó không có một chút tác động nào tới vấn đề này, vốn liên quan tới phần tiết kiệm đang bị âm của nền kinh tế Mỹ, vả lại, phần âm này sẽ trầm trọng thêm nhiều do cải cách thuế được thông qua vào tháng 12/2017, vì điều này sẽ khoét sâu thâm hụt tài chính công.

Mặt khác, các biện pháp bảo hộ thương mại có xu hướng làm tăng lạm phát, chính ở thời điểm mà việc lạm phát tăng trở lại này gây lo ngại cho nhiều nhà quan sát. Vì thế, nếu như các biện pháp bảo hộ góp phần thuyết phục Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ (FED) thúc đẩy việc siết chặt chính sách tiền tệ, thì nó có thể lại kìm hãm tăng trưởng và có nguy cơ đột ngột thay đổi tình hình.

Nguồn: La Tribune

TLTKĐB – 28/03/2018

Địa chính trị của “cuộc chiến thương mại” giữa Mỹ và các nước


Ngày 8/3, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã ký một sắc lệnh công bố việc thiết lập hàng rào thuế quan đối với các nguyên liệu, như thép và nhôm. Thông qua tiếng nói của Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker, Liên minh châu Âu (EU) đã thể hiện quan điểm cứng rắn, kết luận rằng mọi biện pháp đơn phương chống lại EU sẽ phải đối mặt với nguyên tắc có đi có lại (trả đũa). Tranh cãi ngoại giao này về vấn đề quản trị thương mại, cho thấy bối cảnh xung đột giữa những người bảo vệ sự mở cửa và hợp tác với những người cho rằng chủ nghĩa đơn phương là một sự đáp trả hiệu quả với sự phụ thuộc lẫn nhau, làm suy yếu sức mạnh của nhà nước. Dưới đây là quan điểm của Sylvie Matelly, Phó giám đốc Viện quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp.

Viện quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp (IRSI): Thuật ngữ “chiến tranh thương mại” được EU liên tục nhắc lại để nói về phát biểu có tính công kích của Tổng thống Mỹ Donald Trump, đe dọa dựng lên hàng rào thuế quan. Liệu đây có phải là một cuộc tranh cãi hay lại là một bước ngoặt trong quan hệ kinh tế xuyên Đại Tây Dương?

Sylvie Mattely (SM): Chính Tổng thống Mỹ ngay từ đầu đã sử dụng từ ngữ này, và EU chỉ dùng lại nó. Theo logic này, chiến tranh thương mại là một tổng thể các biện pháp trả đũa mà mục tiêu là tác động nhiều nhất tới đối thủ cho tới khi đối tượng suy sụp và từ bỏ theo đuổi chiến tranh. Vì đây là yếu tố có tác động mãnh liệt, nên trong lịch sử các cuộc chiến thương mại thường dẫn tới một “cuộc chiến tranh thực sự”…

Vả lại, trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang, không bao giờ có kẻ thắng trong một cuộc chiến thương mại. Tất cả sẽ đều bị thiệt và thậm chí trường hợp nặng nhất có thể chịu những hậu quả nặng nề. Đàm phán và thỏa hiệp luôn là những giải pháp tốt hơn. Chẳng hạn, nếu Donald Trump muốn áp đặt thuế nhập khẩu 25% đối với thép và 10% đối với nhôm, thì việc châu Âu đe dọa phản ứng là điều bình thường, nhưng sự đáp trả này là điều đáng lo ngại. Mặc dù vậy, trong quá khứ, với các tổng thống Mỹ “đúng mực”, điều đó vẫn chỉ là “lời qua tiếng lại có tính nhã nhặn” và kết thúc bằng sự hòa dịu (ví dụ các biện pháp thuế quan đối với thép của George W. Bush năm 2001). Trong trường hợp xấu nhất, các biện pháp trả đũa được đưa ra có tính biểu tượng để tránh chiến tranh thương mại (trường hợp cấm vận của châu Âu về thịt bò có chứa hóoc môn mà Mỹ phản ứng bằng việc cấm nhập khẩu gan ngỗng hoặc pho mát Roquefort). Hiện nay, khó khăn là yếu tố không thể lường trước của Tổng thống Trump, ông khiến thế giới lo ngại, vì trên thực tế ông có thể làm những điều ông nói.

Đối với Ủy ban châu Âu và các nhà lãnh đạo chính trị châu Âu, phạm vi hành động tương đối bị hạn chế. Thật vậy, cần phải kiên quyết, đồng thời tôn trọng các cam kết quốc tế, mặc dù vậy, không nên quay lưng với các nước thành viên EU, vốn nghi ngờ các biện pháp có thể ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế của họ.

IRSI: EU đã thể hiện sự kiên quyết qua phát biểu của Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean Claude Junker, cảnh báo rằng mọi chính sách đơn phương sẽ được đáp trả theo nguyên tắc có đi có lại. Liệu EU có sẵn sàng rơi vào tình thế khó khăn với những cam kết ủng hộ thương mại tự o và liệu họ có đủ năng lực đối phó với tình huống đó?

SM: Các diễn văn của lãnh đạo châu Âu, như của Jean Claude Juncker hay Donald Tusk, hẳn là cứng rắn, nhưng tương đối đúng mực. Trước tiên, vì thực tế trong một số thỏa thuận và tổ chức, châu Âu cam kết ủng hộ mở cửa và thương mại tự do, do đó, khối này không muốn rơi vào tình thế khó khăn với những cam kết của mình.

Đối với EU, đây hoàn toàn không phải là việc thông qua một chính sách gây hấn, mà trái lại, các biện pháp phòng vệ được căn cứ vào nguyên tắc có đi có lại. Sự thận trọng của các lãnh đạo châu Âu cũng đã giải thích sự việc đã được nêu ra rằng nhiều người e ngại Tổng thống Trump đã đi tới tận cùng sự đe dọa của mình. Vậy mà, khi ông đe dọa các hãng sản xuất ô tô Đức, nước Đức đã lo ngại. Trong chừng mực khác, tới lượt Ireland hay sẽ là Pháp, và sự việc không còn mang tính biểu tượng nữa. Nó thật sự ảnh hưởng tới kinh tế châu Âu, có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng cho kinh tế của khối.

Cần nhớ rằng thặng dư thương mại của châu Âu với Mỹ là 200 tỷ euro. Ở một khía cạnh nào đó thì Tổng thống Trump có lý khi chỉ trích hoạt động thương mại của châu Âu, dù rằng thâm hụt thương mại của kinh tế Mỹ không phải do quan điểm của châu Âu hay thậm chí là của Trung Quốc. Mặt khác, hiện tượng thâm hụt thương mại này một phần là vẻ ngoài lừa lọc. Ở một khía cạnh nào đó đây cũng là sức mạnh của nền kinh tế Mỹ, có thể cho phép từ nhiều năm nay một mức thâm hụt thương mại như vậy, đây cũng là chỉ dấu của một thị trường nội địa năng động, mang lại nhiều thị trường tiêu thụ cho các doanh nghiệp Mỹ vốn nhập khẩu nhiều để phục vụ cho sản xuất. Nhìn từ góc độ này, muốn đấu tranh chống lại sự thâm hụt này bằng các biện pháp thuế quan có thể bị phản tác dụng. Mà có lẽ sẽ hiệu quả hơn nhiều khi hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu.

IRSI: Trong những ngày qua, những căng thẳng về các thể thức điều hành thương mại này diễn ra trong một khuôn khổ rộng hơn, theo hướng xét lại chủ nghĩa đa phương về kinh tế và tài chính kể từ khi Donald Trump đắc cử. Các thiết chế quốc tế, như Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hoặc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), đã kêu gọi xuống thang, liệu họ còn nắm giữ quyền điều tiết về thương mại và tài chính quốc tế?

SM: Donald Trump tham gia logic của chủ nghĩa biệt lập, thậm chí là chủ nghĩa đơn phương. Lập trường này không chỉ được Donald Trump thể hiện tại Mỹ. Hai cách nhìn thế giới đối lập nhau hiện nay: một bên là những người ủng hộ thương mại tự do, ca ngợi mở cửa và hợp tác, ở đó, khái niệm phụ thuộc lẫn nhau là cơ bản; một bên là sự tiếp cận theo hướng biệt lập, hiện nay được Mỹ và một số quốc gia hoặc đảng chính trị quốc gia nhưng không phải duy nhất ở châu Âu, nơi có các nhà lãnh đạo dân túy đang ở vị trí cầm quyền, chia sẻ.

Những đòi hỏi về chủ nghĩa biệt lập xuất phát từ những tác động tiêu cực từ bên ngoài hoặc “những tác động tai ác của tiến trình toàn cầu hóa” xung quanh các vấn đề bất bình đẳng, sự dịch chuyển hoạt động sản xuất ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia nhằm tìm kiếm lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp, sự bất ổn định đối mặt với các hiện tượng trốn thuế và các thiên đường thuế, thách thức về biến đổi khí hậu… Và theo họ, toàn cầu hóa thực ra tạo ra nhiều khó khăn và vấn đề hơn là những tác động tích cực. Chính vì lý do này, cần phải nhìn lại rằng trước đây tình hình còn tốt hơn. Vậy mà, phần lớn những thách thức này chỉ có thể có những giải pháp tổng thể, chứ không phải là những giải pháp đơn phương. Một cách khách quan, không thể coi tình hình trước đây tốt hơn, tuy nhiên, cũng không thể coi mọi việc tốt đẹp ở khắp nơi và đối với cả thế giới. Vậy mà, việc quản trị thế giới không tồn tại và không bao giờ tồn tại. Nhận thức về những khó khăn, đi trước rất nhiều so với quyết tâm hoặc khả năng hành động của các quốc gia, điều này thực sự làm mất uy tín của các thủ lĩnh chính trị, có lợi cho các đảng đối lập, theo đuổi chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa quốc gia. Tuy nhiên, họ không có giải pháp thích đáng nào cho những vấn đề này, bởi nó cần phải có một giải pháp chung và tổng thể. Sự do dự tránh né xung quanh vấn đề Brexit là một minh họa cho điều này.

Đã đến lúc Mỹ hiểu được điều này và hành động. Từ quan điểm này, EU tỏ ra bền bỉ hơn. Đã đành những nguy cơ tan rã hoặc sự gia tăng của chủ nghĩa quốc gia là có thực. Vậy nên, mối đe dọa của cuộc chiến thương mại từ Donald Trump sẽ là một phép thử năng lực của châu Âu trong việc tự vệ và thúc đẩy một cách nhìn khác về thế giới so với cách nhìn của Tổng thống Mỹ.

Nguồn: Viện quan hệ quốc tế và chiến lược Pháp

TLTKĐB – 28/03/2018