Sự thất bại của các thị trường – Phần IV


Chức Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang được chuyển giao từ Alan Greenspan sang Ben Bernanke vào tháng 2 năm 2006, ngay khi tai họa bong bóng nhà ở bắt đầu lộ diện. Bernanke phải giải quyết vấn đề giảm phát mà Greenspan để lại, sự sụp đổ của thị trường trong năm 2007 đã phá hủy giá trị cầm cố hơn một nghìn tỷ USD trong tài sản thế chấp dưới chuẩn và các tài sản thế chấp chất lượng thấp khác, thêm vào đó là nghìn tỷ USD trong chứng khoán phái sinh trên cơ sở những tài sản này cũng bốc hơi. Cuộc Khủng hoảng năm 2008 buộc các công ty tài chính và các nhà đầu cơ phải cơ bản bán tống bán tháo tài sản để trả nợ. Những tài sản khác được rao bán trên thị trường vì vỡ nợ như Bear Stearns, Lehman Brothers và AIG. Cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng sang cả nền kinh tế thực khi thị trường nhà ở bắt đầu chững lại và việc làm trong ngành xây dựng ít dần. Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, góp phần đưa tình trạng giảm phát trở lại. Tỷ lệ lạm phát giảm còn 1,6% trong năm 2010, đúng bằng mức lạm phát đã làm Greenspan mất ăn mất ngủ năm 2001. Trước tình hình này, Bernanke phản ứng thậm chí còn quyết liệt hơn người tiền nhiệm đã làm trước đó gần một thập kỷ. Ông hạ lãi suất thực của Quỹ FED xuống gần bằng 0 trong năm 2008. Từ đó đến nay, con số này vẫn giữ nguyên.

Thế giới đang chứng kiến một cuộc chiến gay go chưa từng có giữa giảm phát và lạm phát. Giảm phát bắt nguồn từ bên trong, từ năng suất của các thị trường đang phát triển, sự thay đổi về nhân khẩu học và tình trạng thoái nợ. Lạm phát đến từ bên ngoài, từ chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương và chính sách in tiền. Các chỉ số giá theo thời gian không đơn thuần là điểm dữ liệu, nói đúng hơn, chúng giống một máy đo địa chấn đo lường lực tác động lẫn nhau của các mảng kiến tạo trên một đường đứt gãy. Phần lớn thời gian, đường đứt gãy tĩnh lặng, gần như im lìm. Nhưng có những lúc nó hoạt động mạnh, khi sức ép gia tăng và một mảng kiến tạo đẩy mạng phía trên nó. Tỷ lệ lạm phát biến động tương đối mạnh trong năm 2011, khi mức tăng so với cùng kỳ năm trước đó lên đến 3,2%. Cuối năm 2012, tình trạng giảm phát chiếm ưu thế từ 9 đến tháng 12 năm 2012 khiến chỉ số giá tiêu dùng mỗi lúc một thấp. Nền kinh tế không ở trong tình trạng lạm phát, cũng không ở trong tình trạng giảm phát. Nó ở cả hai trạng thái cùng một lúc vì những nguyên nhân khác nhau và cơ chế hoạt động có thể được xác định thông qua các chỉ số giá.

Điều này tiềm ẩn nhiều ý nghĩa sâu sắc đối với hoạt động hoạch định chính sách. FED không thể dừng chính sách nới lỏng tiền tệ quá lâu vì những yếu tố nền tảng thúc đẩy giảm phát đã hiện hữu. Nếu FED chùn tay trong việc in tiền, giảm phát sẽ nhanh chóng bao trùm nền kinh tế, kéo theo đó là nhiều hậu quả khủng khiếp cho nợ công, doanh thu của Chính phủ và hệ thống ngân hàng. Nhưng dù thế nào thì những nguyên nhân gốc rẽ của giảm phát cũng sẽ không mất đi. Trong vài thập kỷ tới, sẽ có thêm hàng tỷ người gia nhập lực lượng lao động ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh, gia tăng áp lực khiến chi phí và giá cả phải giảm xuống. Cùng lúc đó, hiện tượng tan rã về mặt nhân khẩu ở các quốc gia phát triển sẽ gây áp lực khiến tổng cầu ở những nền kinh tế này giảm xuống. Cuối cùng, những tiến bộ công nghệ vượt bậc đang không ngừng xuất hiện và hứa hẹn khiến năng suất cao hơn với hàng hóa và dịch vụ rẻ hơn. Cuộc cách mạng năng lượng trong khí gas tự nhiên, dầu đá phiến và công nghệ fracking cũng là một yếu tố thúc đẩy lạm phát.

Nói gắn gọn, thế giới muốn giảm phát trong khi các chính phủ muốn lạm phát. Cả giảm phát và lạm phát đều không chịu lùi bước, vì thế sức ép giữa hai bên sẽ tiếp tục gia tăng. Không sớm thì muộn, nền kinh tế cũng sẽ phải hứng chịu không chỉ các “bong bóng” mà cả một “trận động đất” dưới hình thức suy thoái sâu hơn hoặc lạm phát cao hơn khi một “thế lực” nhanh chóng và bất ngờ áp đảo “thế lực” còn lại.

Những chấn động

Những trận động đất được dự báo trước, có cường độ mạnh và gần các thành phố lớn đông dân thường được gọi là “những trận động đất lớn”. Nhưng trước khi chúng xảy ra, người ta có thể thấy những cơn địa chấn nhỏ, gây ra nhiều thiệt hại ở những vùng dọc theo đường đứt gãy các xa các thành phố lớn. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với những chính sách của FED nhằm can thiệp vào thị trường. Trong những nỗ lực tuyệt vọng để đối phó với giảm phát. FED đang gây ra những đợt ran rã quy mô nhỏ trong các thị trường cách xa “đấu trường trung tâm” của lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ. Những hậu quả ngoài dự tính và không lường trước được của các chính sách nới lỏng tiền tệ mà FED áp dụng đang ngày một rõ nét hơn, tốn kém hơn và rắc rối hơn theo nhiều cách. Việc xem xét một cách toàn diện những chính sách độc hại này sẽ cho thấy cuộc rượt đuổi viển vông của FED đối với con rồng giảm phát tất yếu sẽ thất bại như thế nào.

Từ năm 2008 đến năm 2013, mặc dù tỷ lệ lạm phát khá thấp nhưng không phải bằng 0, trong khi thu nhập của các cá nhân của họ gia đình thì gần như bằng 0. Điều này có nghĩa là thu nhập thực tế đã giảm ngay cả trong môi trường lạm phát thấp. Nếu FED chấp nhận giảm phát thì thu nhập thực tế sẽ tăng ngay cả khi không có thu nhập danh nghĩa, vì giá hàng hóa tiêu dùng sẽ thấp hơn. Theo cách này, giảm phát chính là một khoản thưởng thêm cho người lao động vì nó cho phép họ nâng mức sống của mình lên ngay cả khi tiền lương không đổi. Nhà kinh tế học Lacy Hunt đã khái quát hiệu ứng này một cách súc tích như sau:

Vì tiền lương không thay đổi bao nhiêu nên thu nhập thực tế của đại đa số các hộ gia đình Mỹ giảm xuống. Nếu FED không có những quyết định lạ thường như vậy, đáng lẽ lãi suất và lạm phát sẽ thấp hơn so với thực tế hiện nay, và chúng ta có thể tránh được những rủi ro khó nhận biết trong bảng cân đối kế toán nhìn thì có vẻ hoàn hảo của FED. Về bản chất, FED đã cản trở quá trình hồi phục, trì hoãn nền kinh tế tăng trưởng bình thường trở lại, khiến khoảng cách về thu nhập/tài sản trở nên tồi tệ hơn, đồng thời tạo ra một vấn đề mới – làm sao để “thoát khỏi” những chính sách thất bại của FED.

Một hệ quả không mong muốn khác từ chính sách của FED là ảnh hưởng của nó đối với người gửi tiết kiệm. Chính sách lãi suất 0% của Cục Dự trữ Liên bang khiến cho khối tài sản trị giá 400 tỷ USD/năm bị chuyển từ túi của người dân Mỹ sang các ngân hàng lớn. Nguyên nhân là do môi trường lãi suất bình thường ở mức 2% sẽ trả 400 tỷ USD cho những người gửi tiết kiệm trong ngân hàng. Thế nhưng trên thực tế, họ không nhận được gì hết cả, toàn bộ 400 tỷ USD chảy vào các ngân hàng và được xem như tiền nhàn rỗi để cho khách hàng khác vay kiếm lợi nhuận “khủng”. Một phần mục đích của FED khi áp dụng chính sách này là để trừng phạt người gửi tiết kiệm, khuyến khích họ không để tiền ở ngân hàng nữa mà đầu tư vào tài sản rủi ro như cổ phiếu và bất động sản, nhờ đó chống đỡ cho giá trị cầm cố trong những thị trường này.

Tuy nhiên, nhiều người gửi tiết kiệm rất bảo thủ và họ có lý do để như vậy. Một bà cụ hưu trí 82 tuổi không muốn đầu tư vào cổ phiếu vì bà có thể dễ dàng mất 30% tiền tiết kiệm lương hưu khi bong bóng tiếp theo nổ tung. Một nhân viên 22 tuổi dành dụm để mua căn hộ đầu tiên trong đời cũng có thể không mua cổ phiếu vì cùng lý do. Cả hai người đều hy vọng sẽ nhận được một khoản lợi suất hợp lý từ tiền gửi tiết kiệm của mình trong ngân hàng, nhưng FED lại dùng chính sách lãi suất để đảm bảo rằng họ không nhận được gì hết. Vì thế, một chính sách được thiết kế để người dân không tiết kiệm được nữa thực chất lại làm thúc đẩy họ tiết kiệm nhiều hơn, với tâm lý đề phòng, để bù đắp cho phần tiền lãi không được hưởng. Đây chính là phản ứng hành vi không dược dạy trong các giáo trình hay đưa vào các mô hình mà FED sử dụng.

Chính sách của Cục Dự trữ Liên bang cũng gây tổn hại đến hoạt động cho vay với khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Điều này không ảnh hưởng gì đến FED, vì nó có lợi cho lãi suất của các ngân hàng lớn. Mới đây, Giáo sư Steve Hanke của Viện Đại học John Hopkins đã chỉ ra nguyên nhân của tổn hại mà hoạt động cho SME vay phải gánh chịu. Các ngân hàng cho SME vay thông qua hệ thống cho vay liên ngân hàng. Tức là, Ngân hàng A cho Ngân hàng B vay tiền trên thị trường liên ngân hàng để Ngân hàng B có thể cho một doanh nghiệp nhỏ vay. Nhưng này nay, hình thức cho vay như vậy không còn hấp dẫn đối với các ngân hàng vì lãi suất cho vay liên ngân hàng bằng 0% do sự can thiệp của FED. Vì không thể kiếm lợi nhuận thị trường từ hình thức cho vay liên ngân hàng nên các ngân hàng không tham gia vào thị trường đó. Kết quả là, tính thanh khoản trong thị trường cho vay liên ngân hàng rất thấp, và các ngân hàng có thể không còn tự tin rằng mình có thể huy động tiền khi cần. Do đó, họ tất yếu sẽ ngần ngại không muốn mở rộng danh mục cho vay đối với khu vực SME.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Sự thất bại của các thị trường – Phần III


Thông thường, hiệu ứng tài sản được thể hiện như số phần trăm tăng thêm trong chi tiêu tiêu dùng cho mỗi dollar tăng thêm trong tài sản. Ví dụ, một khoản tăng thêm trị giá 100 tỷ USD trong thị trường cổ phiếu và giá nhà ở có hiệu ứng tài sản ở mức 2% sẽ tạ ra một khoản tăng thêm trị giá 2 tỷ USD trong chi tiêu tiêu dùng. Theo Văn phòng Ngân sách Quốc hội, các nghiên cứu khác nhau đánh giá hiệu ứng tài sản từ giá nhà ở năm trong khoảng từ 1,7% đến 21%. Khoảng dao động quá lớn như vậy khá buồn cười, khiến người ta nghi ngờ về những nghiên cứu tương tự, đồng thời nêu bật những khó khăn về phương pháp luận trong lĩnh vực này.

Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York đã thực hiện một nghiên cứu tiên phong về hiệu ứng tài sản từ giá cổ phiếu, trong đó đưa ra những kết luận về cơ bản là phá vỡ niềm tin của Cục Dự trữ Liên bang vào hiệu ứng tài sản. Nghiên cứu có đoạn:

Chúng tôi nhận thấy… một mối liên hệ tích cực giữa sự thay đổi tài sản tích lũy và chi tiêu tích lũy… nhưng hiệu ứng không ổn định và khó xác định. Phản ứng của mức độ tăng trưởng tiêu dùng đối với một sự thay đổi bất ngờ trong tài sản là không chắc chắn và có vẻ như chỉ tồn tại trogn thời gian rất ngắn… Chúng tôi thấy rằng… hiệu ứng tài sản… đang nhỏ dần trong những năm gần đây… Khi chúng ta ép tiêu dùng phải phản ứng lại với độ trễ một giai đoạn,, một… cú sốc đối với sự tăng trưởng của tài sản hầu như không có ảnh hưởng gì đến sựu tăng trưởng tiêu dùng.

Một nghiên cứu khác cho thấy rằng hiệu ứng tài sản, trong phạm vi mà nó tồn tại, tập trung chủ yếu vào giới nhà giàu và không ảnh hưởng gì đến chi tiêu của người dân bình thuờng. Davdi K. Backus, Chủ nhiệm khoa Kinh tế của trường Đại học New York, ủng hộ quan điểm này:

Ý tưởng về một hiệu ứng tài sản không thể đứng vững trước các dữ liệu kinh tế. Theo David Backus, sự bùng nổ của thị trường cổ phiếu vào cuối thập niên 1990 đã góp phần tăng tài sản của người dân Mỹ, nhưng nó không tạo ra một thay đổi đáng kể nào trong tiêu dùng… Trước khi thị trường cổ phiếu tự đảo chiều, “anh không hề thấy tiêu dùng tăng vọt”, Backus nói, “và khi tự nó đảo chiều, anh cũng chẳng hề thấy tiêu dùng giảm mạnh”.

Tuy nhiên, có một vấn đề khác còn gây nhiễu loạn hơn cả sự nghi ngờ đối với quy mô và thời điểm của hiệu ứng tài sản. Đó là việc các nhà kinh tế học thậm chí không chắc chắn về hướng của hiệu ứng. Trong khi đa số cho rằng giá cổ phiếu tăng khiến tiêu dùng tăng thì các nhà kinh tế lại đề xuất rằng chuyện có thể xảy ra theo hướng ngược lại rằng có thể tiêu dùng tăng làm giá cổ phiếu tăng. Nhà kinh tế tiền tệ lỗi lạc Lacy H. Hunt tóm tắt nghiên cứu nói trên về hiệu ứng tài sản như sau:

Vấn đề ở đây không phải là việc các chính sách của FED có khiến tài sản tích lũy tăng hoặc giảm hay không. Vấn đề là những thay đổi trong tài sản có làm chi tiêu tiêu dùng thay đổi ở một mức độ đáng kể nào hay không. Những bằng chứng thuyết phục nhất cho rằng sự tăng giảm thất thường của tài sản có rất ít hoặc hầu như không có tác động đến chi tiêu tiêu dùng. Do đó, khi thị trường cổ phiếu tăng do FED đẩy mạnh tính thanh khoản, nền kinh tế nói chung không bị tác động gì.

Bây giờ hãy xem xét đến việc một số nghiên cứu đi đầu về hiệu ứng tài sản được xuất bản trong năm 1999 hoặc trong năm 2007, đỉnh điểm của hai bong bóng cổ phiếu gần đây nhất. Không có gì đáng ngạc nhiên khi người ta đặc biệt quan tâm đến các nghiên cứu học thuật về hiệu ứng tài sản trong những giai đoạn xảy ra bong bóng cổ phiếu, khi mà hiệu ứng tài sản được cho là mạnh mẽ nhất, nhưng nghiên cứu này lại ngụ ý rằng hiệu ứng tài sản trên thực tế rất yếu ớt và không chắc chắn.

Tất cả những điều trên đều cho thấy rằng, mặc dù Cục Dự trữ Liên bang Mỹ in hàng nghìn tỷ USD hòng theo đuổi hiệu ứng tài sản nhưng trên thực tế, có lẽ cái mà họ đang theo đuổi chỉ là một ảo vọng mà thôi.

Bong bóng tài sản

Nước Mỹ ngày nay đang chứng kiến bong bóng cổ phiếu thứ ba và bong bóng nhà ở thứ hai trong vòng 50 năm qua. Những bong bóng này không giúp ích được gì cho nền kinh tế thực mà chỉ làm giàu cho các công ty môi giới và ngân hàng. Khi chúng phát nổ, nền kinh tế sẽ đối mặt với cơn khủng hoảng tồi tệ từng xuất hiện vào năm 2008, và chẳng bao lâu sau các ngân hàng sẽ cầu xin cứu trợ. Đóng góp không hề nhỏ vào viễn cảnh ảm đạm đó chính là thói ngạo mạn của các ngân hàng trung ương, những người từng không tin vào thị trường nhưng lại luôn tìm cách kiểm soát chúng.

Sự hình thành bong bóng tài sản là một trong những mối hiểm họa dễ thấy nhất mà chính sách in tiền của Cục Dự trữ Liên bang gây ra. Ngoài ra, còn nhiều hiểm họa khác. Một tác động hiển nhiên nhất là việc “xuất khẩu” tình trạng lạm phát từ Mỹ sang các đối tác thương mại của mình thông qua cơ chế tỷ giá hối đoái. Từ năm 2008 đến nay, người ta vẫn luôn thắc mắc về việc tại sao giá cả tiêu dùng ở Mỹ không bị lạm phát. Trong giai đoạn 2008 – 2012, mỗi năm chỉ số giá tiêu dùng ở Mỹ chỉ tăng bình quân 1,8% so với cùng kỳ năm trước đó, tỷ lệ thấp nhất trong tất cả các giai đoạn 5 năm kể từ 1965. Suốt nhiều năm qua, phe chỉ trích FED đã hy vọng rằng lạm phát trong nước sẽ tăng mạnh do hậu quả của việc in tiền, mặc dù có thể chậm đôi chút, nhưgn thực tế là không hề có lạm phát mà ngược lại, những dấu hiệu giảm phát đã bắt đầu xuất hiện trong năm 2013.

Một lý do căn bản giải thích cho việc không có lạm phát ở Mỹ là vì lạm phát đã được xuất khẩu ra nước ngoài thông qua cơ chế tỷ giá hối đoái. Các đối tác thương mại của Mỹ, như Trung Quốc và Brazil, muốn thúc đẩy xuất khẩu của mình bằng cách ngăn không để đồng tiền nước mình tăng giá so với đồng USD. Khi FED in thêm tiền, những đối tác thương mại này phải mở rộng nguồn cung tiền của mình để chặn đứng cơn lũ USD ập vào nền kinh tế nội địa dưới hình thức thặng dư thương mại hoặc đầu tư. Những chính sách in tiền của các quốc gia này gây ra lạm phát trong nền kinh tế của các đối tác thương mại. Ở Mỹ không hề có lạm phát vì Mỹ nhập khẩu hàng hóa giá rẻ từ phía đối tác.

Kể từ khi bắt đầu thiên niên kỷ mới, thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng có một khuynh hướng giảm phát tự nhiên. Ban đầu, Mỹ nhập khẩu giảm phát từ Trung Quốc dưới hình thức hàng hóa giá rẻ được sản xuất bởi nhân công thừa mứa, cộng thêm đồng tiền bị định giá thấp khiến giá hàng hóa Trung Quốc tính theo đồng USD thấp hơn mức mà các nguyên tắc cơ bản của kinh tế quy định. Khuynh hướng giảm phát này được đề cập vào năm 2001, khi tỷ lệ lạm phát hàng năm giảm xuống còn 1,6% – rất gần với ranh giới giảm phát.

Chính nỗi sợ hãi giảm phát đã buộc Chủ tịch của FED – Alan Greenspan giảm mạnh lãi suất. Năm 2002, lãi suất thực bình quân của Quỹ Liên bang là 1,67% – thấp nhất trong 44 năm. Năm 2003, lãi suất bình quân của Quỹ Liên bang thậm chí còn thấp hơn – 1,13% và duy trì ở mức thấp đến hết năm 2004 với lãi suất bình quân là 1,35%. Chính lãi suất thấp bất thuờng kéo dài suốt ba năm này nhằm ngăn chặn giảm phát, và nó đã phát huy hiệu quả. Sau khoảng trễ thường gặp, chỉ số tiêu dùng tăng 2,7% trong năm 2004 và 3,4% trong năm 2005. Greenspan như hoa tiêu của một chiếc máy bay gặp nạn, người đã kéo nó lên vừa đúng lúc nó chuẩn bị đâm xuống mặt đất, ổn định khí động lực và trở lại không trung. Đến năm 2007, tỷ lệ lạm phát quay lại mức 4% và lãi suất của Quỹ Liên bang là hơn 5%.

Greenspan đã chặn đứng con rồng giảm phát, nhưng đồng thời lại tạo nên một con quái vật còn kinh khủng hơn. Chính sách lãi suất thấp của ông trực tiếp dẫn đến bong bóng tài sản nhà ở phát nổ với sức tàn phá nặng nề vào cuối năm 2007, đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ suy thoái mới. Trong vòng một năm, giá trị tài sản giảm, khả năng thanh khoản mất dần và lòng tin suy yếu đã hình thành giai đoạn Khủng hoảng năm 2008, trong đó hàng chục nghìn tỷ USD tài sản trên giấy tờ bốc hơi chỉ sau một đêm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Sự thất bại của các thị trường – Phần II


Lời chỉ trích này không mới, nó cũng xưa như bản thân các thị trường tự do vậy. Trong cuốn Lý thuyết cảm xúc đạo đức (The Theory of Moral Sentiments) – một tác phẩm triết học từ năm 1795, buổi bình minh của hệ thống tư bản chủ nghĩa hiện đại – Adam Smith đã đưa ra quan điểm rằng không một nhà hoạch định nào có thể điều khiển một hệ thống các thành phần có thứ tự, lớp lang, mà bản thân mỗi thành phần lại là một hệ thống với những đặc điểm độc nhất vô nhị, nằm ngoài khả năng quan sát của người hoạch định. Có thể gọi đây là Lý thuyết Matryoshka, đặt theo tên của những con búp bê truyền thống của Nga gồm nhiều con nhỏ trong một con lớn mà nhìn ở ngoài không thấy được. Điểm khác biệt là số lượng búp bê matryoshka có hạn, trong khi sự đa dạng trong một nền kinh tế hiện đại thì vô hạn, chúng tác động qua lại lẫn nhau và nằm khả năng lĩnh hội của đa số chúng ta.

Gần 200 năm sau tác phẩm của Adam Smith, năm 1945, Friedrich Hayek xuất bản tiểu luận kinh điển “Việc sử dụng kiến thức trong xã hội” (The Use of Knowledge in Society) và cũng đưa ra lập luận như trên, nhưng trọng tâm thay đổi một chút. Trong khi Smith nhấn mạnh vào các cá nhân thì Hayek lại nhấn mạnh và thông tin. Điều này phản ánh góc nhìn của Hayek về ngưỡng giới hạn của kỷ nguyên máy tính, khi các mô hình dựa trên các hệ phương trình bắt đầu thống trị ngành khoa học kinh tế. Tất nhiên, Hayek là một nhà vô địch trong địa hạt sự tự do cá nhân. Ông hiểu rằng những thông tin mà mình đề cập đến cuối cùng sẽ được tạo ra ở mức độ các “diễn viên tự trị” (autonomous actor) riêng lẻ trong một hệ thống kinh tế phức tạp. Ý Hayek là không một cá nhân, ủy ban hay chương trình máy tính nào có được tất cả mọi thông tin cần thiết để kiến thiết một trật tự kinh tế, ngay cả khi có sẵn một mô hình trật tự như vậy. Ông viết:

Đặc điểm dị biệt của một trật tự kinh tế có lý trí là: kiến thức về những hoàn cảnh mà chúng ta phải khai thác lại không bao giờ tồn tại trong một hình thức tập trung hoặc tích hợp mà phân tán thành nhiều mảnh kiến thức không hoàn chỉnh và thường mâu thuẫn nhau do tất cả các cá nhân riêng lẻ nắm giữ… Hay nói ngắn gọn, đó là vấn đề về việc sử dụng dạng kiến thức mà không một ai nắm giữ toàn bộ.

Charles Goodhart lần đầu tiên trình bày Định luật Goodhart (Goodhart’s Law) trong một tờ báo xuất bản năm 1975 bởi Ngân hàng Dự trữ Australia. Định luật Goodhart thường được diễn giải như sau: “Khi một chỉ số tài chính trở thành đối tượng của chính sách, nó sẽ không còn thực hiện chức năng của một chỉ số nữa”. Cách diễn giải này nắm bắt được bản chất của Định luật Goodhart nhưng nguyên văn của định luật còn sắc bén hơn nhiều, vì nó bao gồm cụm từ “nhằm mục đích kiểm soát”. (Câu đầy đủ là: “Bất cứ hiện thành thống kê tuần quy nào cũng sẽ có xu hướng sụp đổ một khi người ta tạo sức ép lên đó nhằm mục đích kiểm soát”). Cụm từ này nhấn mạnh vấn đề mà Goodhart lo ngại, không chỉ với sự can thiệp hay lũng đoạn thị trường nói chung mà với cả hình thức ra mệnh lệnh từ trên xuống của các ngân hàng trung ương nhằm kiểm soát các kết quả trong những hệ thống phức tạp.

Cả Adam Smith, Friedrich Hayek và Charles Goodhart đều kết luận rằng phương pháp hoạch định tập trung không đơn thuần là được ưa chuộng và không tối ưu. Nó còn không khả thi. Kết luận này phù hợp với lý thuyết về độ  phức tạp tính toán (computational complexity). Lý thuyết này phân loại các thách thức về mặt tính toán theo độ khó được đo lường bằng dữ liệu, các bước tính và nguồn lực cần thiết để giải quyết một vấn đề cho trước. Có những vấn đề được xem là không thể tính toán vì dữ liệu quá đồ sộ, hoặc các bước xử lý kéo dài vô tận, hoặc tất cả nguồn lực tính toán trên thế giới vẫn chưa đủ để thực hiện, hoặc cả ba lý do trên. Cả Smith, Hayek và Goodhart đều cho rằng sự khác  biệt và khả năng thích nghi của những hành động của con người trong môi trường kinh tế là một trường hợp điển hình của độ phức tạp tính toán và việc tối ưu hóa chúng vượt quá khả năng của con người hoặc máy móc. Điều này không có nghĩa là các hệ thống kinh tế không thể chạm đến điểm tối ưu, mà điểm tối ưu sẽ được xác định dựa trên độ phức tạp của nền kinh tế chứ không bị ấn định bởi ngân hàng trung ương thông qua các chính sách của họ. Các ngân hàng trung ương ngày nay, đặc biệt là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, đang lặp lại những sai lầm của Lenin, Stalin và Mao Trạch Đông dưới hình thức phi bạo lực, mặc dù bạo lực có thể xuất hiện thông qua tình trạng chênh lệch về thu nhập, bất ổn xã hội và sự đối kháng với chính quyền.

Charles Goodhart đã bổ sung một đoạn kết đáng sợ cho những phát biểu nổi tiếng của Adam Smith và Friedrich Hayek về vấn đề độ phức tạp của nền kinh tế. Điều gì sẽ xảy ra khi bản thân những dữ liệu mà các ngân hàng trung ương sử dụng để hoạch định chính sách lại là kết quả của tình trạng lũng đoạn chính sách đã xảy trước đó?

Hiệu ứng tài sản

Cho phép đo lỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, thu nhập và những chỉ số khác đều được các ngân hàng trung ương giám sát một cách chặt chẽ và xem đó là cơ sở để đưa ra quyết sách. Tỷ lệ thất nghiệp giảm và tỷ lệ lạm phát tăng có thể là dấu hiệu của việc phải thắt chặt chính sách tiền tệ, trong khi giá tài sản giảm có thể cho thấy cần phải nới lỏng chính sách tiền tệ. Các nhà hoạch định chính sách phản ứng lại với các vấn đề của nền kinh tế bằng cách thiết kế chính sách sao cho chúng có thể cải thiện được dữ liệu. Sau một thời gian, bản thân dữ liệu có thể không còn phản ánh thực trạng nền kinh tế nữa mà chỉ là kết quả của một chính sách có chủ định. Nếu những dữ liệu này lại được sử dụng làm chỉ dẫn cho chính sách tiếp theo tức là ngân hàng trung ương đã rơi vào vòng luẩn quẩn không  hồi kết, trong đó những dấu hiệu sai dẫn đến chính sách sai, chính sách sai này lại tạo ra những chỉ dẫn sai hơn và sự lũng đoạn chính sách nghiêm trọng hơn, cứ thế… Chính sách sẽ ngày càng xa rời thực tế, cho đến khi nó đâm sầm vào bức tường dữ liệu không dễ gì điều chỉnh được, chẳng hạn như thu nhập và sản lượng thực tế.

Hiệu ứng tài sản (wealth effect) là một ví dụ. Khái niệm này không hề phức tạp. Hai lớp tài sản là cổ phiếu và nhà ở là đại diện cho hầu hết tài sản của người dân Mỹ. Tài sản được đại diện bởi cổ phiếu rất dễ thấy. Hàng tháng, người Mỹ đều nhận được sao kê tài khoản 401(k) của mình, và họ có thể kiểm tra giá của những cổ phiếu cụ thể trong thời gian thực nếu muốn. Giá nhà ở thì kém minh bạch hơn, nhưng người ta có thể thu thập tin tức từ các bảng niêm yết giá bất động sản và những câu chuyện phiếm cũng đủ để người Mỹ hiểu sơ về giá trị ngôi nhà mình đang ở. Những người ủng hộ lý thuyết hiệu ứng tài sản nói rằng, khi giá cổ phiếu và giá nhà ở tăng lên, người dân Mỹ cảm thấy giàu có hơn, sẵn sàng tiết kiệm ít hơn và chi tiêu nhiều hơn.

Hiệu ứng tài sản là một trụ cột chống đỡ cho chính sách lãi suất 0% và việc in tiền vô tội vạ từ năm 2008 đến nay của FED. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu được cách lập luận của họ. Lãi suất thấp thì sẽ có nhiều người Mỹ có khả năng trả thế chấp hơn, khiến nhu cầu mua nhà tăng lên, dẫn đến giá nhà cao hơn. Tương tự, với lãi suất thấp, các nhà môi giới sẽ đưa ra những khoản nợ lãi suất thấp hơn cho khách hàng, khiến nhu cầu mua cổ phiếu và giá cổ phiếu cao hơn.

Ngoài ra, cũng có một số hiệu ứng chuyển đổi quan trọng. Tất cả các nhà đầu tư đều thích nhận được tỷ suất sinh lời ổn định từ khoản tiết kiệm và đầu tư của mình. Nếu ngân hàng trả lãi gần bằng 0, người Mỹ sẽ quay sang chi tiền cho cổ phiếu để mong nhận được lợi nhuận cao hơn, khiến giá cổ phiếu và nhà ở tăng cao hơn. Nhìn bề mặt, các chính sách lãi suất 0% và nới lỏng tiền tệ đã đem lại kết quả đúng như dự định. Giá cổ phiếu tăng hơn hai lần trong giai đoạn 2009 – 2014, giá nhà ở cũng bắt đầu phục hồi mạnh mẽ từ giữa năm 2012. Sau bốn năm cố gắng kiểm soát giá tài sản, đến năm 2004, có vẻ như FED đã thành công. Tài sản đang được tạo ra, ít nhất là trên giấy tờ, nhưng hiệu quả của việc này là gì?

Người ta đã tranh cãi về sức mạnh của hiệu ứng tài sản suốt mấy chục năm qua, nhưng những nghiên cứu gần đây ngày càng củng cố sự nghi ngại đáng kể về tác động của nó. Một số nhà kinh tế học nghi ngờ rằng hiệu ứng tài sản chỉ tồn tại đến một mức độ nhất định. Vấn đề là, hiệu ứng này mạnh đến đâu, kéo dài được bao lâu và có đáng để xã hội phải chấp nhận những tác động tiêu cực và sự méo mó thông tin cần thiết để đạt được nó hay không?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Châu Á và các chính sách tiền tệ khác thường thời COVID-19


Do đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 mà các nhà hoạch định chính sách của khu vực châu Á đang có những bước đi vốn trước đó chưa từng được tính đến. Ngân hàng trung ương có thể sẽ có các biện pháp khác xưa.

Cuộc chiến trên mặt trận kinh tế đối với COVID-19 đã đẩy châu Á vào tuyến đầu của sự ứng phó chính sách toàn cầu. Chính sách tiền tệ ở châu Á đã rơi vào tình trạng không chắc chắn mới, vốn thậm chí chưa từng được biết đến trong thời kỳ diễn ra cuộc Đại suy thoái và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á trong những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước. Các biện pháp mà ngân hàng trung ương ở châu Á triển khai là chưa từng có tiền lệ và tác động của các quyết sách mà các thống đốc ngân hàng trung ương đưa ra chưa từng khi nào mang tính chất vĩ mô hơn lúc này. Sự thay đổi này thể hiện theo hai cách thức.

Điều dễ nhận ra trước tiên, giới chức quản lý tiền tệ châu Á đã đưa ra hàng loạt tuyên bố. Chi phí cho vay đã được giảm ở mức thấp nhất. Nếu như ý tưởng về việc các Ngân hàng Trung ương châu Á – trừ Nhật Bản – cần tiến hành chính sách nới lỏng định lượng chỉ mới gần đây được coi là chuyện nực cười thì giờ lại đang xảy ra. Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách đã gạt lo lắng về sự tăng giá cả hàng hóa sang một bên. Vì khi nguồn cầu đổ vỡ ở châu Á cũng giống như hiện tượng xảy ra ở phương Tây thì sẽ không có hiện tượng lạm phát. Việc thể hiện vai trò tăng cường của châu Á trong vấn đề tiền tệ ở đây có phần tinh tế hơn song không kém phần sâu sắc.

Ở khu vực châu Á, không có một quốc gia nào điển hình cho sự sụp đổ kinh tế thế giới như Australia. Khi đại dịch bùng phát, Ngân hàng Dự trữ Australia (Ngân hàng Trung ương) hôm 19/3 đã cắt giảm lãi suất xuống 0% và triển khai chương trình nới lỏng định lượng nhằm duy trì lợi tức trái phiếu thời giạn 3 năm ở mức 0,25%, một biện pháp tương tự như Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện. Dịch bệnh này có thể là “nấm mồ” chôn vùi sự phát triển của Australia, điều khiến nước này có thể thực hiện chính sách tiền tệ thông thường.

Nếu như quốc gia châu Á nào đó thực hiện chính sách tiền tệ ở mức độ khác hẳn so với quá khứ thì phải kể đến Indonesia, Philippines và Hàn Quốc. Vốn có thành tích không mấy vui vẻ gì khi đối phó với các cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế trước đây, Indonesia lần này quyết không phạm phải sai lầm cũ. Mặc dù Ngân hàng Trung ương Indonesia chưa cắt giảm lãi suất xuống 0% từ mức chuẩn 4,5% hiện nay song ngân hàng này đã được phép mua nợ chính phủ từ thị trường sơ cấp. Ngân hàng Trung ương Philippines thì đang mua nợ chính phủ ở thị trường thứ cấp. Các chính sách này nhằm giúp chính phủ hai nước có thêm sức mạnh tài chính để đối phó với dịch bệnh và làm tăng giá trị đồng nội tệ. Hiện cả Indonesia và Philippines đều bị thâm hụt tài khoản vãng lai, khiến họ có nguy cơ đánh mất sự hấp dẫn đối với giới đầu tư nước ngoài. Còn tại Hàn Quốc – nền kinh tế công nghiệp hiện đại hàng đầu thế giới – giới chức nước này đã tiến hành mua trái phiếu chính phủ ngay cả trước khi cắt giảm lãi suất cơ bản về 0%.

Trong tài liệu đánh giá về chính sách của châu Á, giới chuyên gia kinh tế Deutsche Bank AG nhận xét: “Không có gì ngạc nhiên khi chứng kiến chính phủ một số nền kinh tế đang nổi phải tìm cách làm theo cách giải cứu mà Mỹ, châu Âu và Nhật Bản phải thực hiện khi để ngân hàng trung ương phải chấn nhận thực hiện ch1inhs ách này trước khi họ tận dụng triệt để các chính sách truyền thống”.

Về phần mình, Trung Quốc đã tránh thiết lập một vòng quay tiền tệ mới để đối phó với cuộc khủng hoảng y tế. Thay vào đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã không ngừng điều chỉnh lãi suất xuống mức thấp dần, song lo ngại có thể gây ra tình trạng tích lũy nợ vốn từng là hệ quả của các nỗ lực kích thích kinh tế hồi năm 2008. Bắc Kinh cũng đã cắt giảm các yêu cầu dự trữ đối với các ngân hàng và thông qua hệ thống ngân hàng để tăng cấp vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính sách tài hóa cũng đã được nới lỏng dù không đáng kể như ở Mỹ và Nhật Bản.

Tương lai của châu Á là gì? Các biện pháp tiền tệ khác thường nói trên khó có thể sớm bị gỡ bỏ. Mộ tkhi các chính phủ và những người nắm giữ trái phiếu đã trở nên quen với các chính sách này thì khó có thể bỏ đi được. Các nhà hoạch định chính sách ở Indonesia và Philippines có thể gây ra hiện tượng “taper tantrums” nếu họ thử làm vậy. (Taper tantrums – chỉ sự tụt dốc mạnh của thị trường chứng khoán và giá trị đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi khi nhà đầu tư quốc tế rút vốn khỏi đó hồi năm 2013). Chí ít, một số trợ cấp và công cụ nhà nước được huy động để đối phó với tác động của dịch bệnh sẽ vẫn được duy trì. Điều này đồng nghĩa với việc ngân sách nhà nước cần phải được cấp vốn. Giờ đây khi Australia đã thực hiện chính sách nới lỏng định lượng thì nước này sẽ rút khỏi chính sách này bằng cách nào? Tương tự, Nhật Bản đã khi nào rút bỏ chính sách định lượng hay chưa? E rằng điều này khó có thể xảy ra.

Nguồn: www.bloomberg.com

TKNB – 22/04/2020

Sự thất bại của các thị trường – Phần I


Người đứng đầu hệ thống… dường như ông ta nghĩ rằng mình có thể bố trí các thành viên khác nhau trong một xã hội rộng lớn dễ dàng như việc sắp xếp các quân cờ khác nhau trên một bàn cờ. Ông ta không hề nghĩ đến việc trong bàn cờ vĩ đại của xã hội loài người, mỗi quân cờ có một nguyên lý chuyển động của riêng nó.

Adam Smith

The Theory of Moral Sentiments

“ Dữ liệu” mà từ đó các tính toán kinh tế bắt đầu không bao giờ dành cho cả xã hội, nó chỉ dành cho một trí tuệ duy nhất có thể nhìn ra những ảnh hưởng tiềm tàng và không bao giờ quá chủ quan.

Friedrich A. Hayek

Bất cứ quy tắc thống kê hợp thức nào cũng sẽ có xu hướng sụp đổ một khi người ta tạo sức ép lên đó nhằm mục đích kiểm soát.

Định luật Goodhart

1975

Trong tác phẩm Người lái buôn thành Venice (The Merchant of Venice) của Shakespeare, Salanio hỏi, “Giờ thì, có tin gì mới về Rialto?” Anh ta đang tìm kiếm thông tin, thu thập tình báo và cố gắng xác định xem việc gì đang xảy ra trên thị trường. Salanio không có ý kiểm soát hoạt động giao thương, anh ta biết mình không thể. Anh ta cố gắng nắm bắt luồng tin tức, tìm chỗ của mình trong chợ.

Janet Yellen và Cục Dự trữ Liên bang cũng nên khiêm nhường như vậy mới phải.

Từ chợ/thị trường (market) gợi ra hình ảnh về mọi thứ từ những hàng hóa trao đổi thời tiền sử đến các hội chợ trung cô tới các sàn giao dịch kỹ thuật số đương đại với những vụ mua bán tốc độ nano giây diễn ra trong một đám mây điện toán. Về bản chất, chợ là nơi người mua và người bán gặp nhau để tiến hành giao dịch hàng hóa và dịch vụ. Trong thế giới ngày nay, chợ có thể diễn ra ở một địa điểm ảo, một đại lộ kỹ  thuật số, một cuộc gặp có thể chỉ là sự kết nối chớp nhoáng. Nhưng bản chất của chợ thì không đổi kể từ khi con người đổi hổ phách lấy gỗ mun trên các bờ biển Địa Trung Hải trong suốt Thời đại Đồ đồng.

Tuy nhiên, thị trường – dù là cho hàng hóa hữu hình như vàng, hay vô hình như cổ phiếu – lại bao hàm những quy trình chuyên sâu hơn việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ đơn thuần. Về cơ bản, thị trường nói về việc trao đổi thông tin liên quan đến giá cả hàng hóa và dịch vụ. Giá cả rất linh động. Khi một nhà buôn hay thương gia tìm hiểu chắc chắn một mức giá thị trường, những người khác có thể sử dụng thông tin đó để mở rộng sản lượng hoặc ký hợp đồng sản phẩm đầu ra, thuê hoặc sa thải nhân viên, hay chuyển sang thị trường khác với một lợi thế về thông tin trong tay.

Thông tin có thể giá trị hơn cả tài sản cơ sở của nó. Đây chính là bí mật của đế chế Bloomberg trị giá nhiều tỷ USD. Một nhà đầu tư mạo hiểm nên định giá như thế nào đối với một cổ phần trong một doanh nghiệp sản xuất một sản phẩm hoàn toàn mới? Cả nhà đầu tư lẫn chủ doanh nghiệp đều không biết. Nhưng thông tin về kết quả hoạt động trong quá khứ, doanh nghiệp đó thi thoảng lời rất nhiều hay thường xuyên lỗ, sẽ đưa ra những chỉ dẫn cho các bên và cho phép nhà đầu tư tiếp tục góp vốn. Những thông tin về doanh số và tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư chính là chất bôi trơn để công ty có thêm nhiều doanh số và vốn đầu tư nữa. Có thể một vụ trao đổi hàng hóa và dịch vụ là kết quả của hoạt động của thị trường, nhưng trước hết, thiết lập giá mới là chức năng của thị trường cho phép một vụ trao đổi diễn ra.

Bất cứ ai từng bước khỏi một cửa tiệm bán thảm trong một khu chợ Trung Đông rồi thấy người bám đuổi theo la to “Ông ơi, ông ơi, tôi có giá tốt hơn, rất rẻ”, hẳn sẽ biết được sức hấp dẫn của việc thiết lập giá. Động năng này không khác gì hoạt động giao dịch tần suất cao, được số hóa và tự động hóa diễn ra trong các máy chủ kế bên các nền tảng giao dịch hối đoái ở New York và Chicago. Máy tính này cho ra phiên bản nano giây của “Ông ơi, tôi có giá tốt hơn”. Thiết lập giá vẫn là chức năng chủ yếu nhất của thị trường.

Nhưng thị trường không chỉ là nhà của người mua và người bán, dân đầu cơ và đầu cơ hưởng chênh lệch. Các thị trường trên toàn cầu ngày nay dường như có sức hấp dẫn không thể cưỡng nổi đối với các ngân hàng trung tâm đang ấp ủ những kế hoạch đổi đời. Kế hoạch là những thứ phù phiếm hão huyễn của họ vì với họ, các thị trường chỉ là những ống nghiệm để họ thí nghiệm các lý thuyết can thiệp của mình.

Các ngân hàng trung ương kiểm soát giá tiền và do đó gián tiếp ảnh hưởng đến mọi thị trường trên thế giới. Với quyền lực vô biên này, một ngân hàng trung ương lý tưởng sẽ khiêm nhường thận trọng và tôn trọng các tín hiệu thị trường. Thay vào đó, các ngân hàng trung ương hiện đại vừa trơ tráo, vừa ngạo mạn trong những nỗ lực nhằm bẻ hướng thị trường theo ý họ. Kế hoạch tập trung từ trên xuống, áp đặt cách phân bổ nguồn lực và sản lượng công nghiệp dựa trên những hiểu biết mà họ cho là ưu việt nhất về mong muốn và nhu cầu – những việc này đã góp phần “đầu độc” các nhà chính trị trong lịch sử. Thật là nực cười vừa chua xót khi các ngân hàng trung ương của phương Tây lại thích thú cổ xúy cho phương pháp kế hoạch tập trung vào đầu thế kỷ XXI trong khi cuối thế kỷ XX, tức là cách đây không lâu, cả Liên Xô lẫn Cộng sản Trung Quốc đều từ bỏ nó. Liên Xô và Cộng sản Trung Quốc đã áp dụng hình thức kế hoạch tập trung cực đoan cho hai quốc gia lớn nhất thế giới và 1/3 dân số Trái Đất trong tổng cộng hơn 100 năm. Kết quả là những thất bại cay đắng mà ai cũng thấy. Các nhà hoạch định kế hoạch theo hướng tập trung, như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, cũng sẽ phải đối mặt với thất bại tương tự trong tương lai. Vấn đề còn bỏ ngỏ hiện nay là khi nào thì điều đó xảy ra và cái giá mà xã hội phải trả là gì?

Sở dĩ người ta ủng hộ đường lối kế hoạch tập trung là vị họ nhấn thấy nhu cầu phải giải quyết một vấn đề từ trên xuống. Đối với Cộng sản Nga năm 1917, đó là vấn đề Nga hoàng và xã hội phong kiến. Đối với Cộng sản Trung Quốc, đó là vấn đề tham nhũng ở các địa phương và chủ nghĩa đế quốc ngoại bang. Đối với các nhà hoạch định tập trung ở các ngân hàng trung ương ngày nay, vấn đề là giảm phát và tỷ lệ tăng trưởng danh nghĩa thấp. Những vấn đề trên đều có thật, nhưng cách giải quyết từ trên xuống lại không thực tế, chúng chỉ là sản phẩm của những ý thức hệ ngạo mạn và sai lầm.

Trong thế kỷ XX, Nga và Trung Quốc bám chặt vào ý thức hệ Marxist và sự ngạo mạn của họng súng. Ngày nay, các ngân hàng trung ương nhất mực đi theo chủ nghĩa Keynes và sự ngạo mạn của tấm bằng Tiến sĩ Cả ý thức hệ Marxist lẫn Keynes đều không cho phép các cá nhân có được sự tự do cần thiết để tìm hiểu những giải pháp thực chất là hệ quả từ đám mây mù các đặc tính phức tạp, rắc rối của một nền kinh tế phát triển. Thay vào đó, các cá nhân có thể cảm nhận được sự thao túng và kiểm soát từ các ngân hàng trung ương nên sẽ kìm hãm hoạt động kinh tế của mình hoặc theo đuổi những loại hình doanh nghiệp nhỏ hơn và hoàn toàn mới nhưng nằm ngoài tầm thao túng của ngân hàng trung ương.

Các bên tham gia thị trường bị bỏ lại với tình trạng đầu cơ giao dịch quá mức cần thiết và lúc nào cũng phải cố gắng đi trước những cái đầu trong phòng Chủ tịch của Cục Dự trữ Liên bang. Gần đây, những nơi được gọi là thị trường thực chất đã biến thành nơi để giao dịch trước khi FED kịp công bố chính sách mới, hoặc làm lợi từ sự thực thi cứng rắn của FED. Từ năm 2008, các thị trường trở thành nơi để bòn rút nhiều hơn là tạo ra của cải. Thị trường không còn thực hiện đúng chức năng của nó nữa. Trong thị trường ngày nay, bàn tay chết của giới học thuật và người thực lợi đã thay thế cho bàn tay vô hình của người giao dịch hoặc doanh nghiệp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Hệ thống tài chính đa cực: Lời giải cho sự suy yếu của đồng bạc xanh


Một ngày nào đó, đồng tiền số – tương tự như đồng tiền số Bitcoin hay đồng Libra của Facebook  có thể thay thế đồng USD để trở thành “đế vương” của thị trường ngoại hối.

Đó là nhận định của Thống đốc Ngân hàng Trung ương Anh Mark Carney, được đưa ra trong khuôn khổ cuộc họp thường niên gần đây nhất giữa các ngân hàng trung ương hàng đầu thế giới tại thành phố Jackson Hole, Wyoming.

Theo chuyên gia này, trong bối cảnh đồng USD đang dần mất đi sức hấp dẫn do tiến trình toàn cầu hóa và sự thay đổi trật tự kinh tế thế giới, các ngân hàng trung ương có thể chuyển hướng sang phát triển và “nuôi dưỡng” một đồng tiền số mới.

Tài sản chính trị lớn nhất đang suy yếu…

Từ năm 1944, USD đã trở thành đồng tiềm tham chiếu của thế giới khi thỏa thuận Bretton Woods bắt đầu có hiệu lực. Vào thời điểm đó, phần lớn các đồng tiền tệ chủ chốt đều được định giá dựa trên bạc xanh và “việc sở hữu một đồng tiền tệ thống trị toàn cầu được coi là tài sản chính trị lớn nhất của nước Mỹ”, theo nhận định của chuyên gia Philippe Waechter, Giám đốc mảng tư vấn của công ty quản lý tài sản Ostrum Asset Management.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, giữa bối cảnh bất ổn địa chính trị đang khiến nhiều ngân hàng trung ương giảm mạnh tỷ lệ USD trong kho dự trữ ngoại tệ, vị thế thống trị của đồng bạc xanh đã bị lung lay đáng kể.

Giới chuyên gia dẫn một báo cáo gần đây của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng trong quý I/2019, tỷ lệ đồng USD trong kho dự trữ ngoại tệ toàn cầu chiếm gần 62%, nhiều gấp 2 lần tổng tài sản nước ngoài bằng euro, Yen và NDT.

Mặc dù vậy, nhà kinh tế trưởng tại ngân hàng JP Morgan Chase Jim Glassman lại cho rằng việc tích trữ đồng USD ở nước ngoài là hậu quả của sự mất cân bằng thương mại và tuy được coi là một “nơi trú ẩn an toàn” trong bối cảnh thị trường rối loạn, đây không phải là một bằng chứng cho niềm tin vào đồng tiền nước Mỹ.

Thậm chí, các chuyên gia của JP Morgan Chase, một trong những ngân hàng đầu tư lớn nhất của Mỹ, cho rằng trong tương lai, đồng USD sẽ đánh mất vị thế đồng tiền dự trữ toàn cầu và viễn cảnh này này nhiều khả năng sẽ xảy ra khá sớm.

Năm 2018, các nền kinh tế Argentina, Trung Quốc, Khu hành chính đặc biệt Hong Kong (Trung Quốc), Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ đã bán tổng cộng 200 tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ. Nguyên nhân có thể kể đến là một số nước cần tiền mặt để ổn định nền kinh tế của họ, trong hi các nước khác muốn thoát khỏi tài sản Mỹ vì có mâu thuẫn với Washington.

Tờ báo hàng đầu Thổ Nhĩ Kỳ Sabah nhận định mục tiêu của nhiều quốc gia là giảm sự phụ thuộc vào đồng USD để đối phó với các lệnh trừng phạt của Mỹ. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, lượng trái phiếu kho bạc Mỹ đã giảm xuống mức thấp kỷ lục. Hầu hết mọi thứ đã được bán gần hết, theo báo cáo này.

Trong khi đó, Trung Quốc – chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ (nắm giữ khoảng 1100 tỷ USD trái phiếu kho bạc Mỹ) hiện đang dẫn đầu xu thế này. Trong bối cảnh xung đột thương mại Mỹ – Trung leo thang, Bắc Kinh đã cắt giảm 60 tỷ USD lượng nắm giữ trái phiếu Mỹ trong vòng một năm qua. Hồi tháng 4/2019, nước này tiếp tục bán thêm 20 tỷ USD, đưa tỷ lệ nắm giữ xuống mức thấp nhất trong hai năm qua.

… và phương án thay thế tiềm năng

Trong bối cảnh đó, theo gợi ý của Thống đốc Carney, các ngân hàng trung ương có thể cứu vãn tình hình bằng cách tạo ra một đồng tiền điện tử mới của riêng mình, ví dụ đồng Libra của Facebook. Ông Carney cho rằng một hệ thống tài chính đa cực là điều tuyệt vời nhất mà các thị trường cần vào thời điểm này nhằm làm suy yếu “sức ảnh hưởng vượt trội” của đồng USD đối với hệ thống thương mại toàn cầu.

Chính vì vậy, Thống đốc BoE cho rằng câu hỏi mở được đặt ra lúc này là liệu khu vực công có phải đối tượng tốt nhất để cung cấp một đồng tiền số chủ đạo như vậy, có thể là thông qua một mạng lưới các đồng tiền kỹ thuật số của các ngân hàng trung ương, hay không?

Trong bài viết trên trang phân tích thị trường Marketwatch, chuyên gia kinh tế Peter Morici đến từ trường đại học University of Maryland, nhận định đồng Libra đã thu hút sự chú ý của Quốc hội Mỹ với những lo ngại về hoạt động rửa tiền và các vấn đề liên quan khác. Tuy nhiên, nếu được quản lý đúng cách, đồng tiền này sẽ đặt ra một thách thức lớn và thậm chí có thể thay thế đồng USD để trở thành loại tiền tệ được lựa chọn trong các giao dịch quốc tế hợp pháp.

Giống như Bitcoin, Libra cho phép các giao dịch thanh toán được thực hiện dựa trên nền tảng số và thông qua công nghệ chuỗi khối (blockchain). Mạng lưới 2,4 tỷ người dùng của Facebook được coi là lợi thế lớn giúp đồng tiền này có tiềm năng được chấp nhận rộng rãi, đặc biệt là tại những quốc gia đang phát triển, nơi nhiều người không có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng đáng tin cậy.

Sự khác biệt lớn nhất của đồng Libra so với Bitcoin đó là Libra ra đời với rất nhiều tên tuổi lớn hậu thuẫn, như Mastercard, Visa và Paypal, bên cạnh một số công ty thương mại điện tử và viễn thông quan trọng, cũng như các nhà đầu tư mạo hiểm. Mỗi nhà tài trợ này đã đầu tư khoảng 10 triệu USD cho đợt ra mắt đầu tiên của đồng tiền số Facebook.

Những khoản đầu tư đó, cùng với số tiền thu về từ việc bán đồng Libra sẽ được sử dụng để thiết lập hạ tầng thanh toán số và mua lại một số đồng tiền tệ nổi bật trên thế giới, ví dụ như đồng USD, đồng euro, đồng Yen Nhật Bản, cũng như đầu tư vào chứng khoán chính phủ.

Bằng cách này, đồng Libra sẽ nhận được sự hỗ trợ từ các khoản dự trữ ngoại tệ. Đây có lẽ là ưu điểm lớn nhất của Libra so với đồng USD, bởi lâu nay đồng  bạc xanh luôn là đồng tiền dự trữ cuối cùng và hoàn toàn không có sự hậu thuẫn đáng kể nào ngồi một số công cụ như vàng, niềm tin và những chính sách tín dụng đầy đủ của Chính phủ Mỹ. Bên cạnh đóo, trong khi giá trị của các đồng tiền tệ quốc gia, bao gồm cả đồng USD, thường xuyên biến động mạnh mẽ, đồng tiền số Libra tập trung vào việc hình thành một nền tảng ổn định, được hỗ trợ bởi các tài sản thực và Libra không neo vào một đồng tiền duy nhất, mà vào một rổ các đồng tiền tệ chủ chốt khác nhau.

Nguồn: TKT – 17/09/2019

Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của một cuộc chiến tiền tệ


Ngày 6/8, hãng tin Kyodo News đã đăng bài phân tích cảu tác giả Tomoyuki Tachikawa với tiêu đề “Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ”, trong đó bày tỏ quan ngại về khả năng cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ và Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của cuộc chiến tiền tệ này.

Các nhà giao dịch nhận định trong bối cảnh hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ lắng dịu, thị trường ngoại hối toàn cầu chắc chắn sẽ tiếp tục phản ứng trước bất cứ phát biểu hay động thái nào của Mỹ và Trung Quốc trong thời gian tới.

Các nhà phân tích cho rằng Nhật Bản, với đồng Yen được coi là một tài sản an toàn trong thập kỷ qua, sẽ gặp rắc rối với các tranh chấp thương mại và tiền tệ đang gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Ông Masanobu Ishikawa, Tổng Giám đốc Tokyo Forex & Ueda Harlow – một công ty kinh doanh ngoại hối, nói: “Chúng ta không thể dự đoán Tổng thống Trump sẽ làm gì tiếp theo. Điều chúng ta có thể nói bây giờ là sự hỗn loạn trên thị trường tiền tệ có thể sẽ kéo dài trong một thời gian, và Nhật Bản sẽ bị thiệt hại từ sự hỗn loạn này”.

Một đồng NDT yếu hơn thường giúp thúc đẩy xuất khẩu bằng cách giúp cho hàng hóa của các công ty Trung Quốc rẻ hơn khi xuất khẩu sang các nước khác, đồng thời làm tăng doanh thu bằng đồng NDT ở nước ngoài. Chuyên gia kinh tế trưởng Junichi Makino của Công ty Chứng khoán SMBC Nikko, nói: “Nếu Trung Quốc cố gắng giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung bằng cách bằng cách hạ giá đồng bản tệ, cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc kinh tế này có thể sẽ chuyển thành một cuộc chiến tiền tệ”.

Một nhà kinh doanh ngoại hối nói: “Không thể loại trừ khả năng Tổng thống Trump sẽ can thiệp vào thị trường tiền tệ để hạ giá đồng bạc xanh của Mỹ”.

Mỹ vẫn chưa can thiệp vào thị trường tiền tệ kể từ năm 2011, thời điểm khi Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) tiến hành một hành động chung để giúp bình ổn giá của đồng Yen sau trận động đất kinh hoàng tháng 3 năm đó ở Nhật Bản, và tránh các tác động tiềm tàng lên thị trường tài chính toàn cầu.

Ông Ishikawa nhận định Mỹ hầu như không có cơ hội kiểm soát tỷ giá USD vì Washington đang thúc giục Bắc Kinh không làm như vậy. Tuy nhiên, ông nói: “Tôi không thể nói là “tuyệt đối không”. Tổng thống Trump có thể làm bất cứ điều gì mà ông ấy có thể để thách thức Trung Quốc”. Nếu các quan ngại về một cuộc chiến tiền tệ đang lan rộng trên thị trường ngoại hối, Nhật Bản, nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, có thể sẽ trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất”.

Cùng chung nhận định đó, chuyên gia Makino cho rằng đồng Yen của Nhật Bản đang tăng giá khi nhiều nhà giao dịch đã bán các tài sản rủi ro hơn, trong đó có chứng khoán, và đổ xô mua vào các tài sản an toàn hơn trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu đang mờ mịt hơn.

Hôm 6/8, đồng Yen đã ngừng tăng giá nhưng đồng tiền này vẫn đứng ở mức cao nhất trong 7 tháng, trên ngưỡng 105 Yen/USD. Việc đồng Yen tăng giá sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu, khiến cho Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thực hiện mục tiêu đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng thiểu phát đã kéo dài nhiều thập kỷ qua và gây khó khăn cho Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) trong việc thực hiện mục tiêu nâng tỷ lệ lạm phát ở nước này lên 2%.

Trong tháng 6/2019, chỉ số giá tiêu dùng lõi của Nhật Bản (không bao gồm sự biến động của giá thực phẩm tươi sống) đã tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, các số liệu thống kê mới nhất của Chính phủ cho thấy đà tăng của chỉ số này vẫn thấp nhất trong gần 2 năm qua do giá dầu giảm. Trong tình hình như vậy, có những đồn đoán về khả năng BOJ sẽ nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ để kích thích nền kinh tế và chặn đà tăng giá của đồng Yen.

Tuy nhiên, Thủ tướng Abe đã cam kết tăng thuế tiêu dùng từ mức 8% hiện nay lên 10% vào đầu tháng 10/2019 để giúp khôi phục sự lành mạnh tài chính của nước này trong bối cảnh nợ công đang ở mức cao nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Điều này làm gia tăng dự đoán rằng chi tiêu và đầu tư của khu vực tư nhân sẽ giảm. Các nhà kinh tế cho rằng nếu nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đối mặt với áp lực suy thoái, giá cổ phiếu sẽ giảm và điều này có thể làm đẩy nhanh nhu cầu tìm đến đồng Yen như một nơi trú ẩn an toàn.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019