Ngân hàng trung ương – Phần I


Sau khi lớp thứ hai của tiền xuất hiện, các chính phủ chuyển sang kiểm soát vị trí quan trọng giữa lớp thứ nhất và lớp thứ hai. Vào thế kỷ XVII và XVIII, Ngân hàng Amsterdam và Ngân hàng Anh Quốc thêm mình vào kim tự tháp tiền tệ, trao cho chính phủ của họ quyền lực chưa từng có đối với những vấn đề tiền tệ của người dân. Bằng cách bắt buộc sử dụng đồng tiền lớp thứ hai của chính họ, chính phủ và những điều lệ mới của ngân hàng trung ương đã xóa bỏ khả năng tự do sử dụng mệnh giá tiền tệ của người dân. Ngày nay chính phủ và tiền tệ liên kết chặt chẽ với nhau vì chính phủ công bố sự độc quyền đối với tiền lớp thứ hai và sử dụng cho lợi ích của riêng mình, bắt đầu với Ngân hàng Amsterdam vào năm 1609. Khi xem xét hai ngân hàng trung ương đã phát minh ra mọi khía cạnh những gì chúng ta ngày nay xem là dịch vụ của ngân hàng trung ương, việc đánh giá những mặt mà cải cách tiền tệ đóng góp thế nào tới chương trình hành động của chính phủ rất quan trọng. Những ngân hàng này cũng cho chúng ta biết ý nghĩa khi phát hành thứ mà phần còn lại của thế giới xem là tiền tệ dự trữ. Các ngân hàng trung ương, tiền tệ dự trữ thế giới và sự xuất hiện của tiền tệ lớp thứ ba sẽ được tìm hiểu nhiều hơn trong bài này.

Thanh toán ngay

Ngân hàng Amsterdam (BoA) được tạo ra nhờ công ty cổ phần đầu tiên của thế giới, Công ty Đông Ấn Hà Lan (Vereeingde Oostindische Compagnie, hay VOC). Câu chuyện về VOC bắt đầu vào năm 1585 khi người Hà Lan nhanh chóng kết thúc vai trò trung tâm nền thương mại của thế giới của Antwerp bằng việc đóng cửa sông Schedl và chặn lối ra biển. Sự đóng cửa xảy ra trong thời gian giữa cuộc nổi dậy của Hà Lan, 80 năm chiến đấu vì độc lập của Hà Lan khỏi chế độ quân chủ của Tây Ban Nha. Với mục đích chính trị, cuộc nổi dậy của Hà Lan đã truyền cảm hứng cho sự thay đổi từ chế độ quân chủ sang hình thức mang tính đại diện hơn cho chính phủ như ở nước Anh, Pháp và Mỹ. Cuộc nổi dậy dẫn đến sự hình thành Cộng hòa Liên bang Hà Lan, thường được gọi là Cộng hòa Hà Lan. Việc hình thành nền cộng hòa mới khởi đầu cho sự tập trung hóa tài chính đã thay đổi bộ mặt của tiền tệ và kinh tế mãi mãi. Thế kỷ tiếp theo của thị trường tiền tệ và tất cả nền tài chính đều tập trung ở Amsterdam.

Vào đầu thế kỷ XVII, các thương nhân người Hà Lan đã đưa thuyền đến hòn đảo Java của Indonesia để mua gia vị và bán lại ở châu Âu với khoản lợi nhuận đáng kể. Lợi nhuận đã thu hút thêm nhiều thương nhân và ngay sau đó một đoàn các thương nhân quốc tế bắt đầu tự làm rõ với nhau. Hoạt động mua bán quế và gừng sau đó đã dẫn đến lợi nhuận cao hơn, và những thương nhân này nhanh chóng nhận ra nỗ lực của họ có thể tăng lên gấp nhiều lần bằng cách hợp lực và thu hút vốn như một cá thể thống nhất. Kết quả là công ty cổ phần đầu tiên được thành lập vào năm 1602, công ty VOC. Đối với chúng ta điều đó ngày nay rất bình thường, như VOC là ví dụ đầu tiên về việc các nhà đầu tư cổ phần góp vốn để đổi lấy sự chia sẻ trong việc làm chủ theo hình thức một tờ giấy chứng nhận. Chính phủ Hà Lan cho VOC sự độc quyền trong việc giao dịch tại châu Á cũng như quyền thuê lính và tiến hành chiến tranh với nhiệm vụ tạo ra lợi nhuận từ giao dịch quốc tế. Khả năng huy động vốn của công ty mang lại cho nó đòn bẩy để tạo nên thành công trong kinh doanh. Cổ phần trong VOC là một tài sản được nhiều người săn đón. Khi cổ phần tăng giá trị, các nhà đầu tư ban đầu nhìn thấy lợi nhuận bằng việc bán chúng cho các nhà đầu tư mới để lấy tiền mặt, và điều đó là cách mà thị trường chứng khoán đầu tiên ra đời. Amsterdam Bourse được đặt tên theo tiền thân của nó ở Antwerp và được thành lập nhanh chóng sau những dấu hiệu đầu tiên của thị trường giao dịch cổ phần của VOC. VOC tự mình tạo ra thị trường nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi cổ phần của nó trên thị trường thứ cấp và đi kèm với khả năng theo dõi tất cả những hoạt động giao dịch. Việc tạo ra Amsterdam Bourse cho phép VOC quan sát việc lưu chuyển cổ phiếu trong chính nền tảng của mình.

Sự ra đời của thị trường chứng khoán dẫn đến sự tăng trưởng khổng lồ trong các giao dịch tài chính, điều này đòi hỏi một cơ chế thanh toán ưu việt nhất từ trước đến nay. Vì mối quan tâm đối với cổ phần của VOC gia tăng, các giao dịch tăng lên. Tất cả những giao dịch mua bán cổ phần đều được thực hiện bằng tiền, nhưng loại tiền nào các cổ đông sẽ chấp nhận? Họ sẽ yêu cầu tiền mặt , nhưng chấp nhận một túi lớn đầy những đồng vàng và bạc sẽ không có lợi cho việc trao đổi hoạt động hiệu quả. Với hơn 1000 loại tiền khác nhau lưu thông trong trung tâm thương mại quốc tế mới của Amsterdam, tình hình tiền tệ này quá phức tạp đối với một thành phố có thị trường chứng khoán đầu tiên của thế giới. Một công cụ tiền tệ được yêu cầu để thanh toán và hoàn thiện tất cả các giao dịch mua bán. Vào năm 1609, Ngân hàng Amsterdam hay Wisselbank được thành lập như một sự phát triển tự nhiên của các tổ chức tài chính theo sau sự xuất hiện của Amsterdam Bourse. Việc lưu hành cổ phần VOC cần sự cải tiến trong thanh toán bằng tiền. Sử dụng đơn vị ủy quyền tài khoản, cũng được gọi là đồng florin của Hà Lan, Ngân hàng Amsterdam triển khai một nền tảng cho việc thanh toán cho việc thanh toán miễn phí và ngay lập tức đối với tất cả những người gửi tiền. Cộng hòa Hà Lan mới được thành lập cần tiền lớp thứ hai của chính nó để hỗ trợ cho việc liên doanh thuộc địa thành công rực rỡ của nó.

Nhiệm vụ kinh doanh đầu tiên của BoA là cấm các thủ quỹ và giấy nợ của họ cũng như bắt buộc tất cả đồng vàng và bạc của thành phố phải được gửi vào ngân hàng. Thủ quỹ là những người đổi tiền của Amsterdam cho đến khi hoạt động của họ bị xem là phạm pháp. Họ giữ đồng vàng và bạc, phát hành giấy nợ dựa vào nó. Thủ quỹ là tác nhân chính giữa tiền lớp thứ nhất và thứ hai ở Amsterdam, vì vậy để BoA thu hút vốn, nó cần phải làm vậy bằng quy định chính thức. Tất cả thủ quỹ phải giao nộp kim loại quý cho Ngân hàng Amsterdam và được BoA phát hành ký quỹ. Các thủ quỹ được phép hoạt động trở lại nhiều năm sau khi bị cấm nhưng chỉ được phép giữ tiền trong một vài ngày trước khi ký quỹ tất cả tại Ngân hàng Amsterdam. BoA có thể thành công trong việc độc quyền phát hành tiền lớp thứ hai bằng cách loại bỏ quyền tiếp cận của công chúng đối với tiền lớp thứ nhất.

Khoản ký quỹ của ngân hàng BoA trở thành loại tiền được yêu thích ở khắp châu Âu, đặc biệt vì vị trí của Amsterdam là trung tâm thương mại quốc tế. Hàng hóa của VOC chinh phục châu Á và sự phổ biến của cấu trúc công ty cổ phần đã mang đến hàng loạt nguồn vốn cho thành phố. Điều này tạo điều kiện cho cuộc cách mạng thực sự đầu tiên của Ngân hàng Amsterdam: khả năng cho phép chuyển nhượng tức thì giữa những người gửi tiền. Dù là giao dịch nhỏ và lớn, việc chuyển nhượng giữa những người gửi tiền của BoA trở nên vô cùng đơn giản. Để tăng mức độ sử dụng, BoA không thu phí đối với các giao dịch chuyển nhượng nội bộ. Việc chuyển nhượng cũng không yêu càu bất kỳ giao dịch tiền xu hay tiền giấy. Chỉ có Ngân hàng Amsterdam điều chỉnh sổ cái kế toán. Tất cả điều này có nghĩa là với số lượng đăng ký mệnh giá trong và ngoài Hà Lan ngày càng tăng, chuyển tiền trở nên dễ dàng hơn rất nhiều so với việc sử dụng tiền xu hay thậm chí tiền giấy. Vì sự cải tiến về thanh toán tức thì đối với tiền lớp thứ hai này, Ngân hàng Amsterdam là ngân hàng trung ương đầu tiên bởi vì theo luật ngân hàng này là trung tâm của tất cả các giao dịch liên quan đến tiền. Nhiệm vụ thanh toán, hay thực hiện chuyển nhượng giữa những người gửi tiền là nền tảng của ngân hàng trung ương. Ngân hàng Amsterdam là động thái quản lý đối với giao dịch chứng khoán và là một cách để chính phủ kiểm soát mọi giao dịch diễn ra giữa những người gửi tiền. Nó có sự giám sát tài chính tuyệt đối với nền kinh tế bởi vì nó tập trung định tuyến tất cả những giao dịch và có tầm ảnh hưởng đối với các mối quan hệ tài chính giữa những ông chủ lớn.

Yêu cầu về đồng tiền của BoA tăng cao ở khắp châu Âu khi Amsterdam nâng cao vị thế của mình như cái nôi của nguồn vốn. Đồng florin Hà Lan được xem là tiền tệ dự trữ của thế giới trong thế kỷ XVII vì các thương nhân và doanh nghiệp khắp châu Âu dự trữ nó vì sự tin tưởng tuyệt đối với người phát ngôn. Danh hiệu tiền tệ dữ trữ của thế giới tồn tại đến tận thế kỷ XVIII.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nik Bhatia – Sự tiến hóa của tiền tệ – NXB CT 2021

Tính có thể sai và tính phản xạ – Phần III


Tính phản xạ trong lịch sử các ý tưởng

Hãy để tôi định vị trí của khái niệm tính phản xạ trong lịch sử các ý tưởng. Các nhận định có thể tác động đến đối tượng mà chúng nói tới – thực tế đó được xác định đầu tiên bởi Epimenides, một người dân đảo Crete (Hy Lạp) khi ông đặt ra nghịch lý của kẻ nói dối. Dân đảo Crete luôn luôn nói dối, ông nói, và bằng cách nó lên điều đó, ông đã khiến người ta đặt câu hỏi về tính chân thực trong nhận định của ông. Vốn là người dân đảo Crete, nếu ý nghĩa của điều ông nói là chân thực, thì nhận định của ông phải là giả dối; trái lại, nếu nhận định của ông là chân thực, thì cái ý nghĩa mà nó chuyển tải tất phải giả dối.

Nghịch lý của kẻ nói dối được coi như một sự tò mò về trí tuệ, và bị bỏ qua trong một thời gian quá dài vì nó cản trở việc theo đuổi chân lý mà nếu không có nó, vẫn thường là thành công. Chân lý bắt đầu được thừa nhận như là sự phù hợp của các nhận định với các thực tế bên ngoài. Cái gọi là lý thuyết phù hợp về chân lý bắt đầu được chấp nhận chung ở đầu thế kỷ hai mươi. Đó là thời điểm khi việc nghiên cứu thực tế đã giành được những kết quả đầy ấn tượng, và những thành tựu khoa học được sự khâm phục rộng rãi.

Được khuyến khích bởi sự thành công của khoa học, Bertrand Russell tìm cách giải quyết nghịch lý mà kẻ nói dối gặp phải. Giải pháp của ông là phân biệt giữa hai loại nhận định: một loại bao gồm những nhận định quy chiếu về và nói tới chính bản thân chúng, và một loại thì loại trừ những nhận định như trên. Chỉ những nhận định thuộc loại sau mới có thể được coi là những nhận định vững chắc với một giá trị chân thực xác định. Trong trường hợp những nhận định tự nói về mình, có lẽ không thể phân biệt liệu chúng là chân thực hay giả dối. Những người theo chủ nghĩa thực chứng logic đã đẩy lập luận của Bertrand Russell xa hơn nữa và tuyên bố rằng những nhận định nào mà giá trị chân thực của chúng không thể được xác định là vô nghĩa. Xin nhớ rằng đó là một thời điểm khi khoa học đang cung cấp những giải thích xác định cho một loạt ngày càng mở rộng các hiện tượng, trong khi triết học đã trở nên ngày càng xa rời hiện thực. Chủ nghĩa thựcc chứng logic là một giáo điều vốn tán dương tri thức khoa học như là hình thức hiểu biết duy nhất xứng đáng với cái tên của nó, và đặt siêu hình học ra ngoài vòng pháp luật. Ludwig Wittgenstein nói trong kết luận của Tractatus Logico Philosophicus của ông rằng: “Những người nào đã hiểu lập luận của tôi phải nhận ra rằng mọi thứ tôi đã nói trong cuốn sách là vô nghĩa”. Đấy xem ra là sự kết thúc con đường cho những đoán định siêu hình và sự thắng lợi hoàn toàn của tri thức dựa trên cơ sở thực tế, tất định chủ nghĩa, vốn là đặc trưng của khoa học.

Chẳng bao lâu sau đó Wittgenstein nhận ra rằng phán đoán của ông quá nghiêm khắc, và ông bắt đầu nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày. Ngay khoa học tự nhiên cũng đã trở nên ít tất định hơn. Nó gặp những ranh giới mà vượt ra ngoài chúng thì các quan sát không thể nào được giữ tách khỏi đối tượng của chúng. Các nhà khoa học đã hiểu ra được và vượt qua hàng rào ngăn cản, trước tiên với thuyết tương đối của Einstein, rồi với nguyên lý tính không xác định của Heisenberg. Gần đây hơn, các nhà điều tra vốn dùng lý thuyết các hệ thống tiến hóa, cũng còn gọi là thuyết hỗn loạn (chaos), bắt đầu thám sát những hiện tượng phức hợp mà tiến trình của chúng vốn không thể được quyết định bởi những quy luật có giá trị phi thời gian. Các sự kiện đi theo một con đường không thể đảo ngược, trong đó ngay những khác biệt mong manh nhất cũng trở nên to lớn cùng với thời gian trôi qua. Lý thuyết hỗn loạn đã có khả năng rọi sáng nhiều hiện tượng như thời tiết mà trước đó vẫn tỏ ra là không xử lý được về mặt khoa học, và nó đã khiến cho dễ chấp nhận hơn cái ý tưởng về một vũ trụ không xác định, trong đó các sự kiện đi theo một con đường độc nhất, không thể đảo ngược.

Điều thực sự xảy ra là tôi bắt đầu áp dụng khái niệm tính phản xạ vào tìm hiểu tài chính, chính trị và kinh tế học vào đầu những năm 1960, trướ khi lý thuyết các hệ thống tiến hóa ra đời. Tôi đạt tới nó với sự hỗ trợ của các tác phẩm do Karl Popper viết, thông qua khái niệm tự quy chiếu về bản thân (self-reference). Hai khái niệm có liên quan chặt chẽ nhưng không nên lẫn lộn chúng với nhau. Tự quy chiếu về bản thân là một thuộc tính của các nhận định: nó hoàn toàn thuộc về địa hạt của tư duy. Tính phản xạ nối tư duy với hiện thực; nó thuộc về cả hai địa hạt. Có lẽ đó là lý do vì sao nó bị bỏ qua suốt một thời gian dài như vậy.

Điều chung giữa tính phản xạ và tự quy chiếu về bản thân là yếu tố không xác định. Chủ nghĩa thực chứng logic coi các nhận định tự quy chiếu về bản thân là vô nghĩa và đặt chúng ra ngoài vòng pháp luật, nhưng bằng cách đưa ra khái niệm tính phản xạ, tôi đang đặt chủ nghĩa thực chứng logic lên đầu của nó. Hoàn toàn không vô nghĩa, tôi cho rằng những nhận định mà giá trị chân thực của chúng không định lại thậm chí có ý nghĩa hơn những nhận định mà giá trị chân thực của chúng đều đã được biết rõ. Những nhận định loại sau tạo thành tri thức: chúng giúp ta hiểu thế giới như nó vốn có. Nhưng nhận định loại trước, những biểu hiện của hiểu biết vốn không hoàn hảo của chúng ta, lại giúp nhào nặn thế giới nơi chúng ta sống.

Vào thời điểm tôi đạt được kết luận này, tôi đã coi nó là một phát kiến lớn lao. Bây giờ thì khoa học tự nhiên không còn khăng khăng viện dẫn một cách diễn giải tất định về mọi hiện tượng, và chủ nghĩa thực chứng logic đã lùi về phía sau, tôi cảm thấy dường như tôi đang hăng hái làm một việc đã lỗi thời mà chẳng ai quan tâm nữa. Dĩ nhiên, thời thượng trí tuệ đã quay sang một cực đoan đối lập: việc phân giải hiện thực thành các quan điểm và thành kiến chủ quan của những người tham dự đã trở nên hết sức thịnh hành. Còn chính bản thân cái cơ sở để trên đó có thể phán xét các quan điểm khác nhau, cụ thể hơn là bản thân sự thật, lại đang bị đặt thành câu hỏi. Tôi cho rằng cái cực đoan khác này cũng làm người ta lạc đường giống như vậy. Tính phản xạ nên dẫn tới một sự đánh giá lại, chứ không phải một sự hoàn toàn bác bỏ, cái quan niệm của chúng ta về sự thật.

Một khái niệm phản xạ về sự thật

Chủ nghĩa thực chứng logic phân loại các nhận định là chân thực, giả dối hay vô nghĩa. Sau khi loại bỏ những nhận định vô nghĩa, nó còn lại với hai phạm trù: chân thực hoặc là giả dối. Sơ đồ này hết sức thích hợp với một vũ trụ vốn tách biệt và độc lập với những nhận định về nó, nhưng lại rất không thích hợp với việc hiểu biết thế giới của các tác nhân biết suy nghĩ. Ở đây chúng ta cần thừa nhận một phạm trù bổ sung: những nhận định phản xạ mà giá trị chân lý của chúng phụ thuộc vào những tác động chúng tạo ra.

Bao giờ cũng có thể tấn công lập trường của chủ nghĩa thực chứng logic ở bên lề của nó bằng cách gợi nên những nhận định nào đó mà giá trị về mặt chân lý của chúng có thể gây tranh cãi; ví dụ: “Vị vua hiện nay của nước Pháp bị hói đầu”. Nhưng những nhận định như vậy hoặc là không có ý nghĩa hoặc là bịa đặt ra; dù trường hợp nào xảy ra đi nữa, chúng ta vẫn có thể sống không cần chúng. Trái lại, những nhận định phản xạ thì không thể thiếu. Chúng ta không thể sống thiếu những nhận định phản xạ vì chúng ta không thể tránh những quyết định vốn có một ảnh hưởng đến số mệnh chúng ta; và chúng ta không thể đạt đến các quyết định mà không dựa vào những ý tưởng và lý thuyết vốn có thể tác động đến những đối tượng mà chúng nói tới. Bỏ qua những nhận định như vậy hoặc gán ép chúng vào các phạm trù “chân thực” và “giả dối” sẽ đẩy ngôn từ vào một hướng lạc đường, và đặt cách chúng ta diễn giải các quan hệ con người và lịch sử vào một khung sai lầm.

Tất cả mọi nhận định về giá trị đều mang tính phản xạ: “Những người nghèo được ban phước lành, vì thiên đường là của họ” – nếu người ta tin ở nhận định này, thì dĩ nhiên những người nghèo có thể được ban phước lành, nhưng họ có thể sẽ ít có động cơ thúc đẩy để đưa chính họ ra khỏi cảnh khốn khổ của họ. Tương tự như vậy, nếu người ta cho rằng người nghèo có lỗi về khốn khó của họ, thì họ ít có khả năng sống cuộc đời được ban phước hơn. Hầu hết các khái quát hóa về lịch sử và xã hội đều mang tính chất phản xạ tương tự như vậy; hãy xét, “Những người vô sản của thế giới chẳng có gì để mất ngoài xiềng xích của họ” hay “Lợi ích chung được phục vụ một cách tốt nhất bằng việc cho phép mỗi người theo đuổi lợi ích riêng của họ”. Có thể là thích hợp nếu khẳng định rằng những nhận định như vậy không có giá trị chân lý, nhưng sẽ là lạc đường (và về mặt lịch sử thực ra là rất nguy hiểm) nếu coi chúng là vô nghĩa. Chúng tác động đến tình huống mà chúng nói.

Tôi không tuyên cáo rằng một phạm trù thứ ba về chân lý là không thể thiếu để đề cập tới các hiện tượng phản xạ. Điểm mấu chốt là trong các tình huống phản xạ các thực tế không nhất thiết cung cấp một tiêu chuẩn độc lập về chân lý. Chúng ta đã đi đến chỗ coi sự phù hợp như là dấu hiệu xác nhận chân lý. Nhưng có thể mang lại sự phù hợp theo hai cách: hoặc là bằng cách đưa ra những nhận định chân thực hoặc là bằng cách tạo ra một tác động đến bản thân thực tế. Sự phù hợp không phải là cái bảo đảm chân lý. Điều báo trước này đúng với hầu hết các tuyên cáo chính trị và dự báo kinh tế.

Tôi chẳng cần nhấn mạnh ý nghĩa sâu sắc của mệnh đề này. Không có gì cơ bản cho tư duy của chúng ta hơn khái niệm của chúng ta về chân lý. Chúng ta đã quen suy nghĩ về những tình huống vốn có những người tham dự biết suy nghĩ theo cùng một cách như chúng ta nghĩ về các hiện tượng tự nhiên. Nhưng nếu có một phạm trù thứ ba về chân lý, chúng ta phải xem lại thật cẩn thận cái cách chúng ta suy nghĩ về thế giới của các sự việc, con người và xã hội.

Tôi muốn đưa ra một minh họa nhỏ từ lĩnh vực tài chính quốc tế. IMF đang bị sức ép ngày càng tăng phải hoạt động hteo một cách rõ ràng hơn, và tiết lộ những suy tính và quan điểm nội bộ của họ về các nước riêng lẻ. Những đòi hỏi này bỏ qua tính chất phản xạ của những nhận định này. Nếu IMF tiết lộ những quan tâm của họ về những nước nhất định, những nhận định đó sẽ tác động đến những nước mà chúng nói tới. Nhận ra điều này, các uqan chức IMF sẽ bị cấm biểu hiện những ý kiến thực của họ, và những tranh cãi nội bộ sẽ bị giấu kín. Nếu chân lý là mang tính phản xạ, thì việc tìm kiếm chân lý đôi khi đòi hỏi sự kín đáo.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999

Tính có thể sai và tính phản xạ – Phần II


Có những lĩnh vực rộng lớn nơi tư tưởng của chúng ta và hiện thực là độc lập với nhau và việc giữ chúng tách biệt nhau không hề đặt ra vấn đề gì. Nhưng có một lĩnh vực trùng gối lên nhau, nơi các chức năng nhận thức và tham dự có thể cản trở nhau, và khi chúng làm thế, hiểu biết của chúng ta bị biến thành không hoàn hảo và các kết quả trở nên không xác định.

Khi chúng ta nghĩ về các sự kiện ở thế giới bên ngoài, dòng thời gian trôi qua có thể cung cấp một mức độ cách biệt nào đó giữa tư tưởng và hiện thực. Những ý nghĩ hiện tại của chúng ta có thể ảnh hưởng các sự kiện tương lai, nhưng các sự kiện tương lai không thể ảnh hưởng tư duy hiện tại; chỉ đến một thời điểm tương lai mà các sự kiện này có thể chuyển đổi thành một kinh nghiệm mới có thể thay đổi tư duy của những người tham dự. Nhưng sự cách biệt này không phải là một bằng chứng ngớ ngẩn bởi vì có vai trò của các kỳ vọng. Những kỳ vọng của chúng ta về các sự kiện tương lai không đợi bản thân các sự kiện; chúng có thể thay đổi ở bất kỳ thời điểm nào, biến đổi các kết quả. Đó chính là điều diễn ra ở các thị trường tài chính mọi thời đại. Bản chất của sự đầu tư là đón đợi hay “chiết khấu” tương lai. Nhưng cái giá mà các nhà đầu tư sẵn lòng trả cho một cổ phiếu (hay tiền hay hàng) hôm nay có thể ảnh hưởng đến vậy may rủi của công ty (hay tiền hay hàng) hữu quan theo nhiều cách khác nhau. Như vậy những biến đổi trong các kỳ vọng hiện nay tác động tới cái tương lai mà chúng chiết khấu. Mối quan hệ phản xạ này trong các thị trường tài chính quan trọng đến mức tôi sẽ đề cập đến nó dài hơn nhiều ở phần sau. Nhưng tính phản xạ không hạn hẹp ở các thị trường tài chính; nó hiện diện ở mọi quá trình lịch sử. Thật vậy, chính tính phản xạ biến một quá trình trở thành thực sự lịch sử.

Không phải mọi hành động xã hội đều đạt yêu cầu được coi là phản xạ. Chúng ta có thể phân biệt giữa những sự kiện hàng ngày, đều đều buồn tẻ và những thời cơ lịch sử. Trong các sự kiện hàng ngày, chỉ một hay hai chức năng phản xạ là hoạt động; hoặc là chức năng nhận thức hoặc là chức năng tham dự không hoạt động. Chẳng hạn, khi bạn đăng ký đi bầu cử trong một cuộc bầu cử địa phương, bạn không thay đổi các quan điểm của bạn về bản chất nền dân chủ; khi bạn đọc trên báo chí về một cuộc bầu cử gian lận ở Nigeria, cách nhìn nhận đã thay đổi của bạn không tác động đến những gì đang thực sự diễn ra ở phần đó của thế giới, trừ phi bạn là một ủy viên quản trị về dầu khí hay một nhà hoạt động về nhân quyền quan tâm đến Nigeria. Nhưng có những dịp khi các chức năng nhận thức và tham dự hoạt động cùng một lúc, do đó cả những quan điểm của những người tham dự lẫn tình huống mà các quan điểm đó có liên quan đến không còn y nguyên như trước. Đó chính là điều biện giải cho việc mô tả những sự phát triển như thế là có tính lịch sử.

Một sự kiện thực sự mang tính lịch sử không chỉ thay đổi thế giới; nó thay đổi cách hiểu của chúng ta về thế giới – và cách hiểu mới này đến lượt nó lại có một tác động mới và không dự đoán trước được đến cách mà thế giới hoạt động. Cuộc Cách mạng Pháp là một sự kiện như vậy. Sự phân biệt giữa các sự kiện đều đều buồn tẻ và những sự kiện lịch sử đương nhiên chỉ mang tính lặp thừa, nhưng phép lặp thừa có thể làm sáng tỏ nhiều điều. Các đại hội Đảng ở Liên Xô là những vụ việc khá đều đều buồn tẻ, có thể tiên đoán được, nhưng diễn văn của Khrushchev tại Đại hội lần thứ 20 là một sự kiện lịch sử. Nó đã thay đổi cách nhìn nhận của con người, và ngay nếu chế độ cộng sản không thay đổi ngay lập tức, bài diễn văn vẫn có những hậu quả không dự đoán trước được. Nhãn quan ủa những người đứng ở tuyến đầu phong trào glasnost (công khai) của Gorbachev được nhào nặn ở thời thanh niên của họ bởi những tiết lộ của Khruschev.

Dĩ nhiên con người ta suy nghĩ không chỉ về thế giới bên ngoài mà cả về bản thân họ và về những người khác. Ở đây các chức năng nhận thức và tham dự có thể cản trở nhau không ngừng. Hãy xét những câu nói như “Anh yêu em” hay “Anh ta là kẻ thù của tôi”. Chúng có ý định mạnh mẽ là tác động đến người mà chúng nói tới, tùy theo cách mà chúng được thông đạt. Hãy thử nhìn vào hôn nhân. Nó có hai người tham dự có suy nghĩ, nhưng tư duy của họ không nhằm vào một hiện thực vốn tách rời và độc lập với điều họ suy nghĩ và cảm thấy. Những ý nghĩ và cảm xúc của một người trong cuộc tác động đến hành vi của người kia và ngược lại. Cả cảm xúc và hành vi đều có thể thay đổi do tất cả mọi sự thừa nhận khi hôn nhân tiến triển.

Nếu việc thời gian trôi đi có thể cách biệt các chức năng nhận thức và tham dự, thì có thể dự đoán tính phản xạ như một loại đoản mạch giữa tư duy và đối tượng của nó. Khi diễn ra, nó tác động đến tư duy của những người tham dự một cách trực tiếp, nhưng chỉ tác động đến thế giới bên ngoài một cách gián tiếp. Tác động của tính phản xạ trong việc nhào nặn hình ảnh bản thân của những người tham dự, các giá trị của họ, và những kỳ vọng của họ, thì bao trùm hơn nhiều và mang tính thức thời hơn là tác động của nó đến tiến trình của các sự kiện. Chỉ một cách thất thường, trong những trường hợp đặc biệt thì một sự tác động qua lại phản xạ mới có ảnh hưởng đáng kể đến không chỉ quan điểm của những người tham dự mà cả thế giới bên ngoài. Những dịp này có một ý nghĩa đặc biệt vì chúng chứng tỏ tầm quan trọng của tính phản xạ với tư cách một hiện tượng của thế giới thực. Trái lại, sự không xác định mang tính đặc thù địa phương trong các giá trị và hình ảnh bản thân của con người ta lại chủ yếu có tính chủ quan.

Sự không xác định

Bước tiếp theo trong việc phân tích tác động của tính phản xạ đến các hiện tượng xã hội và kinh tế là chỉ ra rằng yếu tố không xác định mà tôi đang nói tới không được tạo ra bởi riêng tính phản xạ; tính phản xạ phải kèm theo một sự hiểu biết không hoàn hảo của những người tham dự. Nếu nhờ may mắn con người ta được phú cho tri thức hoàn hảo, sự tương tác hai chiều giữa ý nghĩ của họ và thế giới bên ngoài có thể bị bỏ qua. Bởi vì thực trạng của thế giới được phản ánh một cách hoàn hảo trong các quan điểm của họ, kết quả các hành động của họ sẽ phù hợp một cách hoàn hảo với các kỳ vọng của họ. Sự không xác định sẽ bị loại bỏ, vì nó bắt nguồn từ sự phản hồi giữa những kỳ vọng không chính xác và những hậu quả không trù định trước của những kỳ vọng có lẽ đang thay đổi nhưng luôn luôn thiên lệch của con người.

Luận điểm cho rằng những tình huống nào có những người tham dự biết suy nghĩ đều chứa đựng một yếu tố không xác định được sự hậu thuẫn dồi dào của quan sát hàng ngày. Tuy nhiên nó không phải là một kết luận đã được chấp nhận chung trong kinh tế học hay khoa học xã hội. Thậm chí nó hiếm được đề ra dưới hình thức trực tiếp mà tôi đã nêu lên. Trái lại, ý tưởng về sự không xác định đã và đang bị phủ nhận mạnh mẽ bởi các nhà khoa học xã hội đang khẳng định năng lực của họ trong việc lý giải các sự kiện bằng phương pháp khoa học. Marx và Freud là những ví dụ nổi bật, nhưng những người đặt nền tảng của lý thuyết kinh tế học cổ điển cũng cực đoan tới mức loại trừ tính phản xạ khỏi lĩnh vực nghiên cứu của họ, mặc dù nó có tầm quan trọng đối với các thị trường tài chính. Dễ dàng thấy lý do tại sao. Sự không xác định, tình trạng không có những tiên đoán vững chắc và lý giải thỏa đáng có thể đe dọa địa vị nghề nghiệp của một khoa học.

Khái niệm tính phản xạ có tầm quan trọng cơ bản đến nỗi khó mà tin được rằng tôi là người đầu tiên phát minh ra nó. Thực tế thì tôi không phải là người như vậy. Tính phản xạ chỉ đơn thuần là một nhãn hiệu mới cho một tương tác hai chiều giữa tư duy và hiện thực vốn ăn sâu thâm căn cố đế trong ý thức thông thường của chúng ta. Nếu chúng ta nhìn ra ngoài địa hạt của khoa học xã hội, chúng ta sẽ tìm thấy một nhận thức rộng rãi về tính phản xạ. Những tiên đoán của lời sấm Delphi là mang tính phản xạ, và kịch Hy Lạp cũng vậy. Ngay trong khoa học xã hội thỉnh thoảng cũng có sự thừa nhận: Machiavelli đưa một yếu tố không xác định vào sự phân tích của ông và gọi nó là số mệnh; Thomas Merton lưu ý đến những tiên tri tự chứng minh là đúng và hiệu ứng bắt chước nhau; và một khái niệm có họ hàng với tính phản xạ được Alfred Schutz đưa vào xã hội học dưới cái tên gọi “tính liên chủ thể”.

Tôi không muốn người ta nghĩ rằng tôi đang thảo luận một hiện tượng thần bí nào đó. Đúng, có một số khía cạnh của các sự vụ con người không được lý giải một cách thích hợp, nhưng đó không phải vì tính phản xạ vừa mới được phát minh ra; đây là vì các khoa học xã hội nói chung và kinh tế học nói riêng đã đi đến cực đoan tới mức che phủ nó không để người ta nhận thấy.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999

Tính có thể sai và tính phản xạ – Phần I


Dù điều này có thể kỳ quái với một ai đó, từng tạo lập danh tiếng và may rủi của mình chính trong thế giới rất thực tiễn của kinh doanh, thành công về mặt tài chính của tôi và nhãn quan chính trị của tôi đã dựa phần lớn trên nhiều ý tưởng triết học trừu tượng. Chừng nào chưa hiểu những ý tưởng này, thì không lập luận nào khác trình bày trong cuốn sách này, dù là về các thị trường tài chính, địa chính trị, hay kinh tế học, có thể có nhiều ý nghĩa. Đây chính là lý do vì sao cần có sự thảo luận khá trừu tượng của hai bài tiếp theo. Cụ thể là cần giải thích chi tiết ba khái niệm then chốt làm nền tảng cho tất cả mọi ý tưởng khác của tôi – và hầu hết các hoạt động của tôi trong kinh doanh và từ thiện. Các khái niệm này là tính có thể sai, tính phản xạ và xã hội mở. Các danh từ trừu tượng này có thể xem như đã bị đẩy ra xa khỏi thế giới hàng ngày của chính trị và tài chính. Một trong những mục đích chính của cuốn sách này là thuyết phục độc giả tin rằng các khái niệm này đã đi vào trái tim của thế giới thực tế các công việc làm ăn.

Tư duy và hiện thực

Tôi phải xuất phát từ chỗ khởi đầu, với một vấn đề triết học mà xem chừng nằm ở cội rễ của nhiều vấn đề khác. Quan hệ giữa tư duy và hiện thực là gì? Tôi thừa nhận rằng đây là một cách rất vòng vo để tiếp cận các sự việc, nhưng điều đó không thể tránh. Tính “có thể sai” nghĩa là hiểu biết của chúng ta về thế giới nơi chúng ta đang sống mang đặc tính cố hữu là không hoàn hảo. Tính “phản xạ” nghĩa là tư duy của chúng ta tích cực ảnh hưởng đến các sự kiện mà chúng ta tham gia vào, và chúng ta nghĩ tới. Vì bao giờ cũng có một sự khác nhau giữa hiện thực và hiểu biết của chúng ta về nó, khoảng cách giữa hai cái đó mà tôi gọi là thiên hướng của người tham dự, là một yếu tố quan trọng trong việc nhào nặn tiến trình của lịch sử. Khái niệm “xã hội mở” dựa trên cơ sở thừa nhận tính có thể sai của chúng ta. Không ai có được chân lý cuối cùng. Điều này có thể đủ hiển nhiên với độc giả bình thường, nhưng là một thực tế mà những người ra quyết định về chính trị và kinh tế, và ngay cả các nhà tư tưởng hàn lâm, thường không sẵn lòng chấp nhận. Sự khước từ không chấp nhận khoảng cách vốn có này giữa hiện thực và tư duy chúng ta có một tác động sâu rộng, và rất nguy hiểm về mặt lịch sử.

Dưới một hình thức này hay khác, mối quan hệ giữa tư duy và hiện thực nằm ở trung tâm của ngôn từ triết học suốt từ khi con người ta bắt đầu ý thức được về bản thân mình với tư cách là những sinh thể biết tư duy. Việc thảo luận này đã chứng tỏ là rất tốt. Nó đã cho phép một sự trình bày các khái niệm cơ bản như chân lý và tri thức, và nó đã cung cấp nền tảng cho phương pháp khoa học.

Không hề là một sự phóng đại nếu nói rằng sự phân biệt giữa tư duy và hiện thực là cần thiết cho tư tưởng duy lý. Nhưng quá một điểm nhất định, sự chia tách tư tưởng và hiện thực thành những phạm trù độc lập vấp phải những khó khăn. Mặc dù chia tách những nhận định và thực tế là đáng mong muốn, nhưng không phải bao giờ cũng làm được điều đó. Ở tình huống mà những người tham dự có suy nghĩ, những ý nghĩ của những người tham dự này là bộ phận của cái hiện thực mà họ phải suy nghĩ về nó. Sẽ là ngớ ngân nếu không phân biệt giữa tư duy và hiện thực và nếu coi quan điểm của chúng ta về thế giới như thể nó là một bản thân thế giới; nhưng cũng sẽ là sai như vậy nếu coi tư duy và hiện thực như thể chúng hoàn toàn tách biệt và độc lập. Tư duy con người ta đóng một vai trò kép: nó vừa là một sự phản ánh thụ động của hiện thực mà họ cố gắng hiểu, vừa là một thành tố tích cực trong việc nhào nặn các sự kiện mà họ tham dự vào.

Đương nhiên có những sự kiện vốn diễn ra độc lập với điều bất kỳ ai suy nghĩ: những hiện tượng này, chẳng hạn như sự vận động của các hành tinh, tạo thành đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên. Ở đây, tư duy đóng vai trò thuần túy thụ động. Những nhận định khoa học có thể phù hợp hay không với những sự thật của thế giới vật lý, nhưng ở trường hợp nào đi nữa thì các sự thật tách biệt và độc lập với những nhận định về chúng. Tuy nhiên, các sự kiện xã hội có những người tham dự biết suy nghĩ. Ở đây quan hệ giữa tư duy và hiện thực phức tạp hơn. Tư duy của chúng ta là bộ phận của hiện thực; nó chỉ dẫn chúng ta trong hành động, và hành động của chúng ta có một tác động đến những điều xảy ra. Tình hình phụ thuộc vào điều chúng ta (và những người khác) suy nghĩ và cách chúng ta hành động như thế nào. Các sự kiện mà chúng ta tham gia không tạo thành một loại tiêu chuẩn độc lập nào để có thể phán đoán về tính chân thực hay giả dối của tư tưởng chúng ta. Theo các quy tắc của logic, các nhận định là chân thực nếu, và chỉ nếu, chúng phù hợp với thực tế. Nhưng ở tình huống có những người tham dự biết suy nghĩ, thực tế không diễn ra độc lập với điều những người tham dự nghĩ; chúng phản ánh tác động của các quyết định của những người tham dự. Do kết quả đó, chúng có thể không đạt yêu cầu để làm một tiêu chuẩn độc lập cho việc xác định tính chân thực của các nhận định. Đó là một lý do vì sao hiểu biết của chúng ta có đặc tính cố hữu là không hoàn hảo. Đây không phải là một điểm tranh luận triết học khó hiểu, có thể so với câu hỏi của Berkeley là liệu con bò trước mặt ông có ngừng tồn tại không khi ông quay lưng lại. Còn nói đến việc ra quyết định, thì vốn có một sự không phù hợp giữa tư duy và hiện thực bởi vì thực tế nằm ở đâu đó trong tương lai và phụ thuộc vào các quyết định của những người tham dự.

Sự không phù hợp là một nhân tố quan trọng trong việc làm nên thế giới theo cách nó đang tồn tại. Nó có những hệ quả sâu xa cả cho tư duy của chúng ta và cho những tình huống chúng ta tham dự vào – những hệ quả đã bị cố tình bỏ qua trong lý thuyết kinh tế quy chuẩn. Điều tôi muốn nêu bật ở đây là những người tham dự các sự kiện xã hội không thể đặt các quyết định của họ trên cơ sở tri thức vì lý do đơn giản là tri thức như vậy không có vào thời điểm họ ra quyết định. Đương nhiên con người ta không phải là không có đủ tri thức; họ có cả một hệ thống khoa học (kể cả khoa học xã hội, do cái mà nó xứng đáng) thuộc quyền sử dụng của họ cũng như kinh nghiệm thực tiễn tích lũy hàng bao thế kỷ, nhưng tri thức này không đủ để đạt được các quyết định. Xin để tôi trích dẫn một ví dụ rõ ràng từ thế giới tài chính. Nếu con người ta có thể hành động trên cơ sở tri thức có căn cứ khoa học, thì các nhà đầu tư đã chẳng bán và mua cùng những cổ phiếu cùng một lúc. Những nguòi tham dự không thể tiên đoán các kết quả những quyết định của họ theo cách mà các nhà khoa học có thể tiên đoán sự vận động của các thiên thể. Kết quả có thể khác với những kỳ vọng của họ, đưa ra một yếu tố không xác định vốn rất đặc thù cho các sự kiện xã hội.

Lý thuyết về tính phản xạ

Cách tốt nhất để đề cập mối quan hệ giữa tư duy của những người tham dự với những sự kiện họ tham dự vào là khảo sát trước tiên mối quan hệ giữa các nhà khoa học và những hiện tượng mà họ nghiên cứu.

Trong trường hợp các nhà khoa học, chỉ có một liên hệ một chiều giữa các nhận định thực tế. Thực tế về thế giới tự nhiên độc lập đối với những nhận định mà các nhà khoa học đưa ra về chúng. Đây là một đặc điểm then chốt đã khiến cho thực tế trở nên thích hợp để làm tiêu chuẩn phán đoán tính chân thực hay có căn cứ của các nhận định. Nếu một nhận định phù hợp với thực tế, nó là chân thực; nếu không, nó là giả dối. Trong trường hợp những người tham dự có suy nghĩ thì không thế. Có một mối liên hệ hai chiều. Một mặt, những người tham dự cố hiểu tình huống mà họ tham gia vào. Họ cố tạo lập một hình ảnh phù hợp với hiện thực. Tôi gọi đó là chức năng thụ động hay chức năng nhận thức. Mặt khác, họ cố gây tác động, khuôn hiện thực vào những mong muốn của họ. Tôi gọi đây là chức năng chủ động hay chức năng tham dự. Khi cả hai chức năng hoạt động cùng một lúc, tôi gọi đó là tình huống phản xạ. Tôi dùng từ này theo cùng một cách như người Pháp khi họ mô tả một động từ là phản thân khi nó có chủ ngữ chính là bổ ngữ mình: Je me lave (Tôi tắm rửa cho tôi).

Khi cả hai chức năng hoạt động cùng một lúc, chúng có thể cản trở nhau. Thông qua chức năng tham dự, con người ta có thể ảnh hưởng đến tình huống vốn được dùng làm một biến số độc lập cho chức năng nhận thức. Do vậy, hiểu biết của những người tham dự không thể đạt yêu cầu làm tri thức khách quan. Và do những quyết định của họ không dựa trên cơ sở tri thức khách quan, kết quả dễ có thể khác với các kỳ vọng của họ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999

Sự xuất hiện của tiền phân lớp – Phần cuối


Một hội chợ kéo dài

Việc ra đời Antwerp Bourse vào năm 1531 đã cải cách tiền tệ vì nó khai sinh ra thị trường tiền tệ. Vào thời gian đó, thị trường tiền tệ là thị trường dành cho những công cụ tiền tệ lớp thứ hai như hối phiếu, vàng ký quỹ, và những lời hứa trả kim loại quý khác. Từ bourse xuất phát từ Bruges gần đó, trước đây là một trung tâm thương mại Bắc Âu và sau đó lụi tàn khi các thương nhân quần áo người Anh quyết định tập trung mua bán tại Antwerp vào năm 1421. Bruges Bourse là một địa điểm gặp mặt kín cho các nhà thương mại năng động và trở thành nơi trao đổi tài chính hiện đại đầu tiên của thế giới. Bourse tiếp tục trở thành từ đồng nghĩa với những trung tâm trao đổi tài chính trên thế giới; từ “trao đổi hàng hóa” là bourse trong tiếng Pháp và börse trong tiếng Đức.

Giao dịch tài chính, giống như Antwerp Bourse nguyên bản, là những địa điểm thương mại nơi mà quá trình hình thành giá xảy ra. Hình thành giá bao gồm những việc như: quá trình một tài sản hình thành giá trị của nó khi được mua và bán trên thị trường. Giá của tài sản xuất hiện, hay được hình thành khi theo dõi những giao dịch giữa người mua và bán. Nếu các giao dịch được phép tự do thực hiện, bất kỳ thứ gì đều có thể được định giá. Antwerp tự hào vì đã tạo ra môi trường không có quy định, nơi mà giao dịch giữa đồng tiền lớp thứ nhất và hối phiếu lớp thứ hai, giữa những hối phiếu không yêu cầu giấy phép và phải chịu bất kỳ khoản thuế nào. Nó là thiên đường cho các thương gia của mọi đất nước ở châu Âu và được xem là trung tâm của nền kinh tế toàn cầu trong suốt thế kỷ XVI. Thương nhân từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh và Đức tấp nập đổ về trung tâm thương mại quốc tế. Những hội chợ mùa xuân và mùa thu của Antwerp có vải của nước Anh, hạt tiêu Đông Ấn được người Bồ Đào Nha bán, bạc Mỹ bán bởi người Tây Ban Nha và những mặt hàng Đức, Italy và Pháp. Tất cả giao dịch này thu hút các nhà ngân hàng thương mại và nhiều đợt phát hành tiền lớp thứ hai. Khi Antwerp Bourse mở cửa, nó được biết đến như “Hội chợ kéo dài”, mô tả sự tiến triển của việc thanh toán tài chính từ định kỳ thành theo thời gian thực.

Trong sảnh của Antwerp Bourse, thị trường tiền tệ được ra đời, một thị trường thay đổi sự hiểu biết về tiền mặt từ kim loại sang giấy. Các chủ ngân hàng đã hoàn thiện điều này bằng việc chính thức hóa hai cải tiến lớn trong sự phát triển của tiền phân lớp: Chiết khấu và phát hành giấy nợ. Nhân viên ngân hàng tại Bourse mới không đi lại với hàng trăm đồng xu trong người mỗi ngày. Đồng xu là tác nhân gây cản trở đối với vận tốc tiền tệ, và chỉ sự kết hợp giữa trả sau, kế toán và giấy tờ có khả năng thúc đẩy nó. Đầu tiên, thị trường tiền tệ giao dịch tại Antwerp Bourse hầu hết sử dụng hối phiếu. Các nhà giao dịch trên thị trường tiền tệ mang lại tính thanh khoản cho hối phiếu, điều mà chúng chưa từng có trước đây. Điều này đã gia tăng vận tốc của tiền một cách đáng kể. Trước khi mở cửa Bourse, tiền lớp thứ hai được phát hành theo từng quý và tạo ra để lưu nợ cho đến hội chợ tiếp theo. Nhưng ở Antwerp, tiền lớp thứ hai bắt đầu phát triển các đặc điểm giống như tiền mặt.

Giá trị thời gian của tiền

Các chủ ngân hàng thương mại cảu Antwerp nhanh chóng nhận ra cách sử dụng các lớp tiền và sáng tạo hơn, phát triển tiền như một công nghệ cho quá trình của con người. Chính xác bí mật ở đây là gì? Câu trả lời nằm ở một trong những khái niệm nền tảng của tài chính hiện đại: chiết khấu. Hãy cùng xem ví dụ cơ bản về chiết khấu để minh chứng cho giá trị thời gian của tiền và thấy rõ những chủ ngân hàng ở Antwerp đã bổ sung điều gì vào hệ thống tiền tệ của chúng ta.

Hôm nay bạn mua một hối phiếu với giá 98 USD từ một nhân viên ngân hàng và có thể đổi thành 100 USD trong vòng 1 tháng. Bạn làm việc này vì 2 USD mà bạn tích lũy được trong vòng 1 tháng xứng đáng với thời gian bạn phải đợi. Điều này thường được gọi là giá trị thời gian của tiền bởi thời gian bạn chờ đợi có giá trị đi kèm với nó: bạn được trả tiền để chờ đợi. Trước sự khai sinh của thị trường tiền tệ vào thế kỷ XVI tại Antwerp, bạn phải đợi một tháng trước khi xuất trình hối phiếu để lấy tiền mặt. Trong lúc này, bạn có một mảnh giấy ghi số tiền gốc và ngày đáo hạn. Mặc dù nó có ngày đáo hạn trong tương lai, mảnh giấy đó vẫn có giá trị tương ứng. Nếu sau 2 tuần, bạn cần tính thanh khoản từ hối phiếu và phải đổi ra tiền mặt, bạn cần đi đến đâu? Bạn cần một nhân viên ngân hàng sẵn lòng mua lại hối phiếu bằng tiền mặt trước khi nó đáo hạn. Nhân viên ngân hàng sẽ chia đều giữa giá mua (98 USD) và mệnh giá (100 USD) và trả bạn 99 USD. Quá trình một nhân viên ngân hàng mua hối phiếu với giá 99 USD, được “giảm giá” từ mệnh giá 100 USD trước ngày đáo hạn, được gọi là chiết khấu. Hình thức chiết khấu này thực hiện bởi những giao dịch viên của thị trường tiền tệ ở Antwerp đã mang lại giá trị thời gian của dòng tiền hằng ngày. Tiền giấy cuối cùng cũng có mệnh giá để thế giới nhìn nhận. Thực tế là sự ra đời của báo chí tài chính diễn ra ở Antwerp trong giai đoạn này, không phải vì cổ phiếu hay trái phiếu chính phủ mà để cụ thể hóa những thay đổi giá hằng ngày của các mặt hàng được giao dịch bởi thương nhân và tiền lớp thứ hai giao dịch bởi các chủ ngân hàng.

Mảnh ghép cuối cùng đối với sự thành công của Antwerp trong việc triển khai thị trường tiền tệ hiện đại là phát minh của những tờ hối phiếu nhận nợ. Hối phiếu nhận nợ tạo ra chu kỳ khép kín cho sự chuyển động của thị trường tiền tệ từ một bữa tiệc lộn xộn hàng quý đến trạng thái liên tục. Ở Bourse, để thanh toán bất kỳ số dư chưa hoàn thành vào cuối ngày, nhân viên ngân hàng phát hành một hình thức khác của tín dụng, loại tiền lớp hai mới được gọi là hối phiếu nhận nợ hay giấy nợ. Những giấy nợ này là lời hứa để trả cho người giữ tờ giấy, có nghĩa rằng bất kỳ ai giữ tờ giấy đều vì lời hứa. Những công cụ này là tiền thân trực tiếp với những gì chúng ta gọi là tiền mặt bằng giấy ngày nay, tiền giấy. Chúng là sự cải tiến đột phá khi xóa bỏ tính cụ thể; phiên bản trước đây của tiền lớp thứ hai luôn có tên người ở trên. Giấy nợ, giống như tiền mặt ngày nay, hoàn toàn không có trường hợp này. Chúng được dùng như công cụ thanh toán nhưng đã phát triển vai trò vốn có như tiền mặt và trở thành một phương tiện giao dịch hết sức hữu hiệu. Hình 5 cho thấy những lớp tiền ở Antwerp trong thế kỷ XVI.

Ở Antwerp, phương pháp tạo ra lợi nhuận mua bán tiền đã xuất hiện. Kinh doanh chênh lệch giá là khi bạn mua những quả táo với giá 1 USD ở một thị trấn vì bạn biết rằng mình có thể bán chúng ở thị trấn tiếp theo với giá 2 USD. Nghệ thuật kinh doanh chênh lệch giá cũng lâu đời như bản thân hoạt động kinh doanh, và những người đổi tiền thời trung cổ đổi từ đồng tiền này sang đồng tiền khác cũng là một hình thức tương tự. Nhưng những cơ hội kinh doanh chênh lệch giá không bao giờ tồn tại ở lớp tiền thứ hai cho đến thời kỳ Antwerp Bourse. Khi người bán hàng giảm giá và giao dịch những hối phiếu và giấy nợ quanh năm ở Bourse, tiền giấy có được tính thanh khoản bất cứ khi nào, dần dần khiến hệ thống tiền tệ quốc tế thoát khỏi sự phụ thuộc quá mức vào kim loại. Lớp thứ hai của tiền trở thành một loại tài sản với mức giá được công bố trên các tờ báo tài chính đầu tiên của thế giới. Cách để so sánh tất cả các công cụ lớp thứ hai không phải dựa trên giá cả riêng của chúng mà dựa vào tỉ lệ lợi nhuận mà nó có thể đạt được khi nắm giữ giấy tờ đó. Lãi suất là một cách bổ sung để thể hiện giá cảu tiền tệ, và điều đó cho phép các nhà giao dịch khai thác giá trị của tờ giấy. Mỗi mảnh giấy ở Bourse đều có cơ hội kinh doanh chênh lệch giá và lãi suất đối với các chủ ngân hàng. Quá trình hiện đại hóa trong tính thanh khoản đã thay đổi nhận thức cơ bản về tiền tệ từ kim loại đến tiền giấy. Kim loại quý không thể đáp ứng tất cả những đặc tính được yêu cầu từ hệ thống tiền tệ. Kế toán, tiền giấy và mạng lưới các chủ ngân hàng có thể làm được việc đó.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nik Bhatia – Sự tiến hóa của tiền tệ – NXB CT 2021

Sự xuất hiện của tiền phân lớp – Phần II


Sự ràng buộc mang tính kỷ luật

Đặc điểm quan trọng nhất về lớp đầu tiên của tiền là sự ràng buộc mang tính kỷ luật áp dụng cho các lớp ở dưới nó. Đây là một ví dụ. Những người thợ kim hoàn ở Anh vào thế kỷ XV không phải là những người thợ thủ công nghèo khó. Họ cũng thực hiện nhiệm vụ như một nhân viên ngân hàng vì khả năng lưu trữ kim loại quý cẩn thận hơn bất kỳ ai. Có thể nói rằng, thợ kim hoàn Anh phát hành một tờ giấy gọi là ký quỹ cho mỗi đồng vàng mà anh ta đồng ý cất giữ. Nếu tất cả những người gửi tiền đột nhiên đòi lại đồng vàng của họ, anh ta sẽ dễ dàng đáp ứng yêu cầu đổi lại bởi vì khoản ký quỹ đó được lưu giữ đầy đủ, có nghĩa có mối quan hệ 1 – 1 giữa đồng vàng và khoản tiền gửi vàng.

Nhân cơ hội này hãy giới thiệu thuật ngữ tiền mặt. Các công cụ tiền tệ như tờ đặt cọc vàng được phát hành bởi những người thợ kim hoàn nổi tiếng và đáng tin thường được xem như là tiền mặt. Tiền mặt được định nghĩa là bất cứ thứ gì chúng ta sử dụng như một hình thái của tiền tệ mà người khác chấp nhận mệnh giá, thậm chí có khi nó chỉ là một mảnh giấy trắng với rủi ro các bên và không có sự đảm bảo cho việc trả nợ. Đối với những thứ hoạt động như tiền mặt, con người cần phải tin tưởng người phát hành, hoặc bất kỳ ai đã hứa sẽ trả tiền.

Quay lại với thợ kim hoàn. Tờ giấy ký quỹ của anh ta giành được sự tin tưởng và bắt đầu lưu thông như tiền mặt vì con người tin rằng chúng có thể đổi được thành vàng. Anh ta có thể trở nên tham lam và quyết định tận dụng sự đáng tin cậy mới có của mình. Anh ta phát hành ký quỹ vàng của mình mà không lưu giữ số vàng tương ứng trong kho và dùng những ký quỹ này như tiền mặt để lưu thông. Thợ kim hoàn sau đó sẽ vỡ nợ nếu đối mặt với những yêu cầu hoàn tiền cùng một thời điểm. Kiểu hoạt động này được gọi là ngây hàng dự trữ một phần, trái ngược với ngân hàng dự trữ toàn phần khi tất cả ký quỹ có số vàng tương ứng trong kho. Vàng tồn tại như sự ràng buộc mang tính kỷ luật của thợ kim hoàn, đóng vai trò như động lực để không lạm dụng quyền hạn của việc tạo ra tiền đi kèm với niềm tin của người dân vào ký quỹ như một hình thức của tiền mặt. Vì thế, tiền lớp thứ hai thừa hưởng tính không ổn định, vì quyền hạn để tạo ra nó sẽ luôn bị con người lạm dụng, tương tự với ví dụ của thợ kim hoàn người Anh, những người lạm dụng lòng tin của cộng đồng vào sự đáng tin của anh ta.

Hệ thống phân lớp của tiền rất linh hoạt, có nghĩa rằng nó là một tập hợp của những mối quan hệ tiếp diễn. Khi lòng tin được tăng lên, kim tự tháp tiền tệ cũng mở rộng như lớp thứ hai tăng trưởng về kích cỡ. Khi lòng tin tăng lên, đồng vàng và ký quỹ vàng gần như không có sự khác biệt rõ ràng. Mọi người dễ dàng chấp nhận chứng chỉ vàng như tiền vì họ tin vào khả năng đáp ứng yêu cầu hoàn tiền của người phát hành. Điều này sẽ bị đảo ngược khi kim tự tháp tiền bị thu hẹp lại và sự khác biệt khách quan giữa tiền và những công cụ giống như tiền được xác định. Các công cụ từng có độ tin tưởng cao không còn được dùng, và các chủ sở hữu sẽ bán chúng để lấy những công cụ cao hơn trong hệ thống phân cấp như đồng vàng. Sự thu hẹp đó có thể dẫn đến các yêu cầu đổi tiền, còn gọi là rút tiền hàng loạt, và cuối cùng dẫn đến khủng hoảng tài chính. Những khủng hoảng này có thể xem là những nỗ lực thăng hạng trong kim tự tháp tiền tệ, như những người nắm giữ tiền ở các lớp thấp hơn đấu tranh để có được hình thái tiền tệ ở lớp cao hơn và cao cấp hơn.

Vấn đề thanh toán

Khi tiền phân lớp phát triển để giải quyết những bất cấp với tiền-đồng xu, những vấn đề mới lại xuất hiện. Tất cả hình thái của tiền lớp thứ hai đều khác nhau. Tuy nhiên, những điều xảy ra trong thế kỷ XVI ở Antwerp đã thay đổi điều này mãi mãi: một thị trường hoàn toàn trao đổi bằng tiền lớp thứ hai xuất hiện. Tiền phân lớp gia tăng tốc độ thanh toán thông qua những cải tiến vượt bậc về sự an toàn khi giao dịch quỹ không thể bị mất hay trộm khi giao dịch thông qua mạng lưới ngân hàng. Mặc dù lừa đảo và mất khả năng thanh toán có thể xảy ra, việc giảm thiểu đáng kể hoạt động vận chuyển đồng xu là một thắng lợi lớn hơn đối với thương mại quốc tế. Các chủ ngân hàng thương mại gửi tiền qua các châu lục dễ dàng bằng cách sử dụng bảng cân đối kế toán và mạng lưới chuyên nghiệp thay vì vận chuyển những đồng xu vàng và bạc. Không thể xem nhẹ mức độ rủi ro mà một chủ doanh nghiệp chấp nhận khi gửi kim loại vào thời gian này. Cướp biển luôn rình rập, và các bộ máy bảo hiểm hàng hải còn rất sơ khai. Việc sử dụng hình thức trả sau giúp tăng vận tốc của tiền, vì việc thanh toán cuối cùng có thể trì hoãn vô định với chỉ một tờ giấy cân bằng giữa nợ và lòng tin.

Một loạt khoản nợ ngân hàng mới và tiền lớp thứ hai dẫn đến vấn đề về thanh toán, quá trình xử lý các giao dịch. Chưa có hệ thống thanh toán nào cho hối phiếu. Hối phiếu không được xem như là tiền mặt vì thiếu sự tiêu chuẩn hóa. Chúng là những lời hứa trả vàng và bạc nhưng chúng không thể thay thế cho nhau. Loại tiền tệ và ngày đáo hạn khác nhau khiến mỗi hối phiếu trở thành một công cụ tĩnh không thể nào thay thế được tiền mặt; không có hai hối phiếu nào giống hệt nhau. Mọi người không sẵn sàng đổi hối phiếu cho nhau vì những điều khoản trong hối phiếu không phải tất cả đều giống nhau. Nều văn hóa của sự tin tưởng các bên vẫn chưa phát triển.

Chậm mà chắc, ngày đáo hạn của hối phiếu bắt đầu có sự thống nhất vào thế kỷ XV. Ngày phù hợp với thời gian hội chợ thương nhân của châu Âu được lựa chọn vì các chủ ngân hàng phụ thuộc vào các thương nhận để cung cấp dịch vụ tài chính. Những hội chợ này diễn ra khắp châu Âu – từ Pháp đến Flanders. Các thương nhân bán vải và lụa, hạt tiêu và gia vị, và đồng xu và hối phiếu quy tụ cùng nhau để buôn bán theo mùa. Những hội chợ là cơ hội hoàn hảo cho các chủ ngân hàng thương mại từ khắp nơi trên châu Âu đến và hủy bỏ những giấy nợ cho nhau hay xóa những khoản ghi nợ và tín dụng tương ứng. Tuy nhiên, xu hướng theo mùa của hội chợ giới hạn việc thanh toán hối phiếu khoảng 4 phiên mỗi năm. Điều đó có nghĩa là lớp thứ hai của tiền được giao dịch khoảng 4 lần mỗi năm, một tỉ lệ doanh thu hạn chế.

Cuối cùng, lớp thứ hai của tiền tệ thiếu tính thanh khoản: nó không phải lúc nào cũng sẵn sàng và dễ dàng đổi thành tiền mặt. Trong khoảng thời gian này, tiền mặt và đồng xu tương đồng với nhau, là hình thái tiền tệ duy nhất được hoạt động như tiền mặt chính là những đồng xu kim loại. Hối phiếu không sẵn sàng đổi thành kim loại quý trừ khi được xuất trình cho người bảo lãnh vào ngày đáo hạn. Một thị trường mà hối phiếu có thể mua bán với mức giá quyết định bởi người mua và người bán tại thời điểm đó không tồn tại. Tất cả mọi việc sẽ thay đổi khi thị trường tiền tệ lớp thứ hai chấm dứt giai đoạn thanh toán hằng quý tại các buổi hội chợ di động để chuyển sang giao dịch quanh năm, khởi nguồn tại Antwerp.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nik Bhatia – Sự tiến hóa của tiền tệ – NXB CT 2021

Dẫn luận cho Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – Phần cuối


Những chức năng không thể và không nên được chỉ đạo chỉ riêng bởi các lực lượng thị trường bao gồm nhiều trong số những điều quan trọng nhất trong đời sống con người, từ những giá trị đạo đức tới quan hệ gia đình, tới những thành tựu thẩm mỹ và trí tuệ. Nhưng chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đang thường xuyên nỗ lực mở rộng sự thống trị của nó vào các khu vực này, dưới hình thức chủ nghĩa đế quốc về hệ tư tưởng. Theo thuyết nguyên giáo thị trường, nên coi tất cả mọi hoạt động xã hội và tương tác con người là những quan hệ giao dịch buôn bán, dựa trên cơ sở hợp đồng và được đánh giá dưới góc độ một mẫu số chung duy nhất – đồng tiền. Chừng nào có thể, các hoạt động nên được điều chỉnh bởi bàn tay vô hình của cuộc cạnh tranh tối đa hóa lợi nhuận là sức định hướng mạnh mẽ hơn hết. Sự xâm nhập của hệ tư tưởng thị trường vào những lĩnh vực nằm xa bên ngoài kinh doanh và kinh tế đang có những tác động xã hội phá hoại và vô đạo đức hóa. Nhưng chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đã trở nên mạnh mẽ đến mức bất kỳ thế lực chính trị nào dám chống lại nó đề bị quy gán là tình cảm chủ nghĩa, phi logic và ngây thơ.

Nhưng chân lý lại là chính bản thân chủ nghĩa nguyên giáo thị trường là ngây thơ và phi logic. Ngay nếu chúng ta gạt sang một bên các vấn đề luân lý và đạo đức, và tập trung chỉ riêng vào vũ đài kinh tế, thì hệ tư tưởng của chủ nghĩa nguyên giáo thị trường vẫn thiếu sót một cách sâu sắc và không thể cứu vãn được. Nói một cách đơn giản, thì các lực lượng thị trường nếu chúng được trao toàn quyền ngay trên những vũ đài thuần túy kinh tế và tài chính, đều tạo ra hỗn loạn, và rút cục có thể dẫn tới sự suy sụp của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Đây là hệ quả thực tiễn quan trọng nhất của lập luận của tôi trong cuốn sách này.

Người ta tin một cách rộng rãi rằng nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản sát cánh nhau cùng đi. Thực ra mối quan hệ phức tạp hơn nhiều. Chủ nghĩa tư bản cần dân chủ với tư cách một đối trọng vì hệ thống tư bản chủ nghĩa tự nó không hề bộc lộ xu hướng vươn tới sự cân bằng. Những người sở hữu tư bản theo đuổi việc tối ưu hóa lợi nhuận của họ. Nếu được bỏ mặc cho riêng mình, họ sẽ tiếp tục tích lũy tư bản cho đến khi tình hình trở nên không cân bằng. Marx và Engels đã đưa ra một sự phân tích rất tốt về hệ thống tư bản chủ nghĩa 150 năm trước, và tôi phải nói rằng một sự phân tích tốt hơn lý thuyết cân bằng của kinh tế học cổ điển nhiều. Nhưng lý do cơ bản vì sao những tiên đoán kinh khủng của họ không trở thành sự thật là vì có những sự can thiệp chính trị đáp lại một cách tương xứng ở các nước dân chủ.

Thật không may chúng ta lại một lần nữa có nguy cơ rút ra những kết luận sai từ những bài học của lịch sử. Lần này nguy cơ không đến từ chủ nghĩa cộng sản mà từ chủ nghĩa nguyên giáo thị trường. Chủ nghĩa cộng sản xóa bỏ cơ chế thị trường và áp đặt sự kiểm soát tập thể đối với tất cả mọi hoạt động kinh tế. Chủ nghĩa nguyên giáo thị trường mưu toan xóa bỏ việc ra quyết định tập thể, và áp đặt quyền tối cao của các giá trị kinh tế đối với tất cả các mọi hoạt động kinhtế. Chủ nghĩa nguyên giáo thị trường mưu toan xóa bỏ việc ra quyết định tập thể, và áp đặt quyền tối cao của các giá trị kinh tế đối với tất cả các giá trị chính trị và xã hội. Cả hai cực đoan đều sai. Điều chúng ta cần là một sự cân bằng đúng đắn giữa chính trị và thị trường, giữa xác lập quy tắc và chơi theo các quy tắc.

Nhưng ngay cả khi chúng ta thừa nhận nhu cầu này, làm thế nào chúng ta có thể đạt được nó? Thế giới đã bước vào một thời kỳ mất cân bằng sâu sắc, trong đó không một nhà nước riêng lẻ nào có thể chống lại sức mạnh của các thị trường tài chính toàn cầu, và thực tế không có những thiết chế để xác lập quy tắc trên quy mô quốc tế. Không hề có những cơ chế ra quyết định tập thể cho nền kinh tế toàn cầu. Những điều kiện này được tôn vinh rộng rãi như là sự toàn thắng của kỷ luật thị trường, nhưng nếu các thị trường tài chính không ổn định một cách cố hữu, thì áp đặt kỷ luật thị trường nghĩa là áp đặt sự không ổn định, mà xã hội thì có thể dung thứ bao nhiêu sự không ổn định?

Song tình hình hoàn toàn không phải đã tuyệt vọng. Chúng ta phải học cách phân biệt giữa việc ra quyết định cá nhân như nó biểu hiện trong hành vi thị trường và việc ra quyết định tập thể như nó biểu hiện ở hành vi xã hội nói chung và chính trị nói riêng. Trong cả hai trường hợp, chúng ta được chỉ đạo bởi lợi ích bản thân; nhưng trong việc ra quyết định tập thể, chúng ta phải đặt lợi ích chung trước lợi ích bản thân của cá nhân ngay nếu như những người khác không làm được như thế. Đó là cách duy nhất mà lợi ích chung có thể thắng thế.

Ngày nay hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu còn đứng gần đỉnh cao quyền lực của nó. Chắc chắn nó đang bị đe dọa bởi cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, nhưng ưu thế về hệ tư tưởng của nó không có giới hạn. Cuộc khủng hoảng châu Á đã quét đi các chế độ chuyên quyền vốn đã kết hợp lợi nhuận cá nhân với đạo đức Khổng giáo, và thay chúng bằng những chính phủ dân chủ hơn và có đầu óc cải cách hơn. Nhưng cuộc khủng hoảng cũng xói mòn khả năng của các nhà chức trách tài chính quốc tế trong việc ngăn ngừa và giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính. Còn bao lâu nữa trước khi cuộc khủng hoảng bắt đầu quét sạch cả các chính phủ có đầu óc cải cách? Tôi e rằng những phát triển chính trị do cuộc khủng hoảng tài chính gây ra rút cục có thể quét phăng cả bản thân hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Nó đã từng xảy ra trước đó.

Tôi muốn làm rõ rằng, tôi muốn ngăn hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu khỏi tự hủy hoại chính nó. Vì mục đích này, chúng ta cần khái niệm xã hội mở hơn bao giờ hết.

Hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của xã hội mở. Xã hội mở dựa trên cơ sở sự thừa nhận rằng hiểu biết của chúng ta là không hoàn hảo và hành động của chúng ta có những hậu quả không trù định trước. Tất cả mọi sự sắp xếp về thể chế của chúng ta đều có thể thiếu sót và chính vì chúng ta mong muốn chúng, chúng ta không nên từ bỏ chúng. Đúng hơn chúng ta nên tạo những thể chế gây dựng cho có các cơ chế sửa sai. Các cơ chế này bao gồm cả thị trường và nền dân chủ. Nhưng chẳng yếu tố nào trong số đó sẽ hoạt động, trừ phi chúng ta có ý thức được khả năng có thể sai lầm của chúng ta và sẵn lòng thừa nhận sai lầm của chúng ta.

Hiện nay có một sự mất cân bằng kinh khủng giữa việc ra quyết định cá nhân như nó biểu hiện ở thị trường với việc ra quyết định tập thể như nó biểu hiện ở chính trị. Chúng ta có một nền kinh tế toàn cầu mà không có một xã hội toàn cầu. Tình hình này không thể bào chữa được. Nhưng làm thế nào có thể sửa chữa nó? Cuốn sách này xin đặc biệt xét về những thiếu sót của các thị trường tài chính. Xét về các lĩnh vực đạo đức và tinh thần, nơi chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đang chen lấn vào khu vực phi thị trường, thì những quan điểm của tôi cần phải có tính thử nghiệm nhiều hơn.

Để ổn định và điều tiết một nền kinh tế thực sự toàn cầu, chúng ta cần một hệ thống toàn cầu về việc ra quyết định chính trị. Nói gọn lại, chúng ta cần một xã hội toàn cầu để hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu của chúng ta. Một xã hội toàn cầu không có nghĩa là một nhà nước toàn cầu. Xóa bỏ sự tồn tại của nhà nước là vừa bất khả thi vừa không đáng mong muốn: nhưng chừng nào có những lợi ích tập thể vượt ra ngoài biên giới nhà nước, thì chủ quyền của nhà nước phải đặt dưới luật quốc tế và các thể chế quốc tế. Điều thú vị là sự chống đối lớn nhất đối với ý tưởng này lại đang đến từ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, nước với tư cách là siêu cường duy nhất còn lại, đang rất miễn cưỡng đặt mình dưới sự lãnh đạo của bất kỳ nhà chức trách quốc tế nào. Nước Mỹ đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng bản sắc: Nó muốn là một siêu cường cô độc hay một lãnh tụ của thế giới tự do? Hai vai trò này đã có thể bị xóa mờ chừng nào thế giới tự do còn đối mặt một “đế chế xấu xa”, nhưng sự lựa chọn bây giờ tự bộc lộ ra dưới những ngôn từ trần trụi hơn nhiều. Thật không may chúng ta thậm chí còn chưa bắt đầu xem xét nó. Khuynh hướng phổ biến ở Mỹ là làm một mình. Chủ nghĩa biệt lập chỉ có thể có được biện minh nếu những người theo chủ nghĩa nguyên giáo thị trường là đúng và nền kinh tế toàn cầu có thể tự duy trì mà không cần một xã hội toàn cầu.

Điều chúng ta cần là đưa vào hoạt động một quá trình hợp tác, lặp đi lặp lại – quá trình sẽ xác định lý tưởng xã hội mở – một quá trình trong đó chúng ta công khai thừa nhận sự không hoàn hảo của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cố gắng học từ những sai lầm của chúng ta.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Sự xuất hiện của tiền phân lớp – Phần I


Mọi lúc và mọi nơi, hệ thống tiền tệ mang tính phân cấp.

Perry Mehrling

Giáo sư Kinh tế, Trường Đại học Boston

Vào năm 1202, một thương nhân lưu động tên là Leonardo da Pisa, thường được gọi là Fibonacci, xuất bản một cuốn sách có tên Liber abaci (tạm dịch: Cuốn sách của sự tính toán) khiến lĩnh vực toán học ở châu Âu trở nên phong phú hơn. Fibonacci lớn lên trong các khu chợ của Algeria, nơi ông tìm hiểu về những phát minh toán học cổ đại, sau này ông ấy xuất bản một cuốn sách và đưa hệ thống chữ số Hindu-Arab vào châu Âu, đặt nền tảng cho sự tồn tại của hệ thống số La Mã giới hạn. Ông trình bày chi tiết về sự cải tiến của số học còn xa lạ với người châu Âu vào thời điểm đó, cũng như những kỹ thuật trong kế toán thể hiện những phương pháp được sử dụng bởi những thương gia Ấn Độ và các trường đại học Tây Ban Nha theo đạo Hồi. Những kỹ thuật trong kế toán là nền tảng của những gì chúng ta gọi là ghi sổ kép ngày nay, một hệ thống phổ biến gồm tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu và lợi nhuận. Di sản của Liber abaci không phù hợp với Italy ngay lập tức vì những ý kiến của Fibonacci tạo ra một tầng lớp thương nhân mới, với sức mạnh không xuất phát từ hàng hóa hay dịch vụ mà từ bảng cân đối kế toán: ông chủ ngân hàng.

Xuất hiện trước cuốn sách về những phát hiện toán học của Fibonacci là một phương tiện thanh toán được gọi là hối phiếu. Hối phiếu là một cách để gửi tiền từ nơi này đến nơi khác và đồng thời chuyển đổi nó sang tiền tệ mà người nhận mong muốn. Chúng là những lá thư được viết bởi nhân viên ngân hàng hứa hẹn cho việc thanh toán. Hối phiếu không phải lúc nào cũng trả trước và vì thế nó trở thành một hình thức cho vay và minh chứng thêm cho sự tin tưởng của người phát hành, khiến hối phiếu trở thành phương tiện tín dụng phổ biến đầu tiên trên toàn thế giới. Các nhà sử học rất khó để tìm ra nguồn gốc của nó, nhưng chúng ta biết rằng, hối phiếu tồn tại ở thế giới Arab nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện ở châu Âu. Vào thế kỷ XII, hối phiếu trở nên phổ biến ở Bắc Italy. Vào thế kỷ XIV, những nhà phát hành hối phiếu quy ước ít nhất một mặt của mỗi tờ hối phiếu bằng đồng florin vàng. Vì đồng florin tham gia vào tất cả những giao dịch toàn cầu chính, hệ thống tiền tệ bắt đầu xuất hiện xoay quanh quy ước này. Thậm chí hàng trăm đồng xu được lưu hành trong châu Âu, mọi người đều dùng đồng florin. Đó là sự lựa chọn về việc quy ước bảng cân đối kế toán kinh tế quốc tế và đồng tiền dự trữ toàn cầu đầu tiên của thế giới. Giữa đồng florin và hối phiếu, cùng với sự cải tiến quan trọng của Fibonacci, hệ thống tiền hai lớp bắt đầu xuất hiện.

Trong thế kỷ XV, hệ thống tiền tệ quốc tế cuối cùng đã thoát khỏi chuỗi kim loại (quý) của nó. Nhà toán học Luca Pacioli đã thúc đẩy quá trình này. Pacioli dạy toán cho Leonardo da Vinci và viết một cuốn sách cùng ông ấy tên là Divina proportione (tạm dịch: Tỉ lệ siêu phàm) về toán học kiến trúc, nhưng điều này không phải là con đường dẫn đến sự nổi tiếng của Pacioli. Trước Divina proportione, ông đã xuất bản Summa de arithmetica, geometria, proportioni et proportionalita (tạm dịch: Tóm tắt về số học, hình học, tỉ lệ và tính tỉ lệ) vào năm 1914 và mang lại cho Pacioli danh hiệu “cha đẻ của kế toán và sổ sách”. Kế toán thực sự là một phần trong những kiến thức từ sự đúc kết tài ba của ông về số học, đại số, hình học, thương mại và hối phiếu, nó đã đặt nền móng cho bảng cân đối kế toán ngày nay. Ông ấy đã chính thức hóa vào các bản ghi chép, thứ trở thành “phương pháp Venice” của kế toán kép, một hệ thống vẫn được các cơ sở kinh doanh lớn trên toàn thế giới ngày nay sử dụng. Trong hệ thống kế toán kép, bí ẩn về cách những ông chủ ngân hàng tạo ra tiền không phải nằm ở đúc xu từ bảng cân đối kế toán của họ. Kể từ khi Summa ra đời, thế giới tài chính của chúng ta được nhìn qua con mắt của những bảng cân đối kế toán, nhưng ở đây chúng tôi muốn định hình nó với các lớp.

Hệ thống phân cấp của tiền

Hãy bắt đầu bằng việc định nghĩa chính thức về tiền phân lớp. Ghi nhớ ví dụ về đồng vàng và chứng chỉ vàng, nghiên cứu ví dụ về Florence thời Phục hưng và đế chế ngân hàng Medici nổi tiếng. Chúng ta bắt đầu với cách tiếp cận phân lớp bằng cách nghĩ về những điểm khác nhau giữa đồng vàng và một mảnh giấy viết rằng “Hệ thống ngân hàng Medici sẽ trả một đồng tiền vàng cho người cầm tờ giấy nếu có yêu cầu”. Đồng vàng là tiền lớp đầu tiên và là hình thức thanh toán cuối cùng. Tờ giấy chỉ tồn tại vì số vàng mà nó đại diện: đó là tiền lớp thứ hai, tạo ra một khoản nợ phải trả trong bảng cân đối kế toán. Tất cả các khoản tiền ở lớp thứ hai là IOU (I-owe-you – Tôi-nợ-bạn) hoặc lời hứa để trả số tiền lớp thứ nhất. Tất cả chúng đều có thứ gọi là rủi ro các bên, hoặc rủi ro đến từ việc tin tưởng vào lời hứa của đối tác. Rủi ro các bên là một khái niệm quan trọng trong kiến thức về tiền tệ, đặc biệt vì tất cả hình thái của tiền trong hệ thống tài chính ngày nay đều chứa một phần. Lòng tin vào các bên liên quan là điều cần thiết để hệ thống tài chính của chúng ta vận hành, nếu không thì tất cả chúng ta vẫn sẽ sử dụng đồng vàng và bạc cho mọi giao dịch. Các lớp của tiền tồn tại vì con người tin vào những hình thái của tiền tệ chứa rủi ro các bên của nhà phát hành. Chúng là một cách để thể hiện các công cụ tiền tệ liên quan đến nhau thế nào dựa vào mối quan hệ giữa những bảng cân đối kế toán của các tổ chức tài chính. Hình 3 và 4 phản ánh cụ thể ví dụ về tiền phân lớp.

Các lớp trở thành một phương pháp để hiểu về hệ thống phân cấp vốn có của tiền tệ, trong đó các công cụ tiền tệ được xếp hạng theo thứ tự ưu tiên từ cao đến thấp, thay vì việc đặt cạnh nhau trên bảng kế toán. Mỗi lớp đại diện cho một phần của bảng cân đối kế toán, và vì thế chúng ta cũng cần phải xác định những tác nhân tồn tại giữa các lớp tiền. Trong Hình 4, Gia đình Ngân hàng Medici là một tác nhân giữa các lớp thứ nhất và thứ hai. Nó phát hành tiền lớp thứ hai – hối phiếu, những lời hứa trả số tiền ở lớp thứ nhất – đồng vàng và bạc. Từ khóa: lời hứa, với nguy cơ có thể bị phá vỡ.

Hối phiếu chứa những rủi ro phá sản của người phát hành bởi vì chúng là một hình thức trả sau. Rủi ro phá sản là những rủi ro mà tác nhân giữa các lớp tiền không thể hoặc sẽ không hoàn thành lời hứa trả tiền. Bất kỳ nhà phát hành hối phiếu nào cũng có thể vỡ nợ, để lại cho người nắm giữ tiền lớp thứ hai một mảnh giấy vô giá trị. Trái ngược với rủi ro không toán được nợ, hối phiếu đóng vai trò là một công cụ đổi tiền và một chất tăng trưởng vận tốc của tiền tệ. Hối phiếu cũng giúp tăng độ đàn hồi của tiền một cách đáng kế: đồng xu không thể bị lỗi mốt trong chốc lát nhưng hối phiếu thì có thể. Những dây cao su có tính đàn hồi, chúng có thể giãn nở khi kéo căng. Tiền cũng có thể đàn hồi: nó có thể bị “giãn nỡ” nhưng chỉ khi nó không được bảo quản đầy đủ số đồng vàng trong kho. Đối với các thương nhân và ngân hàng của họ, sự đàn hồi làm tăng rủi ro phá sản, và hối phiếu trở thành công cụ tiền tệ được ưa chuộng hơn đồng xu. Sự sẵn sàng chấp nhận hối phiếu và những hình thức khác của trả sau chứng minh cho chúng ta thấy rằng tiền về cơ bản có thứ bậc. Nếu một thương nhân yêu cầu trả vàng trước khi vận chuyển hàng thì đó là quyền của anh ta được làm như vậy. Nhưng nếu một thương nhân khác chấp nhận hối phiếu thể hiện lời hứa trả vàng sau, sự sẵn lòng của anh ta đối với việc trả sau là bằng chứng cho việc các lớp của tiền không chỉ là hình thức của các ngân hàng mà giữa mọi người tồn tại xu hướng giữ những mảnh giấy nhỏ. Chúng ta bắt đầu thấy một hệ thống, trong đó các lớp tiền khác nhau có những khả năng khác nhau. Tiền lớp đầu tiên là một cách hiệu quả hơn để giữ giá trị qua một khoảng thời gian dài hơn, và tiền lớp thứ hai xuất hiện như một cách tốt hơn để giao dịch vì nó linh hoạt hơn khi sử dụng nếu so với đồng xu.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nik Bhatia – Sự tiến hóa của tiền tệ – NXB CT 2021

Dẫn luận cho Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – Phần II


Sự phê phán của tôi về hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu nhằm vào hai tiêu đề chính. Một tiêu đề quan tâm đến những khuyết tật của cơ chế thị trường. Ở đây tôi chủ yếu nói về những sự bất ổn dựng lên trong các thị trường tài chính. Tiêu đề khác quan tâm đến những thiếu sót của cái mà tôi phải gọi – do không có một cái tên hay hơn – là khu vực phi thị trường. Dùng tên này, tôi chủ yếu muốn nói sự thất bại của chính trị và sự xói mòn của các giá trị đạo đức ở cả cấp độ quốc gia lẫn quốc tế.

Tôi muốn nói ngay từ đầu rằng tôi coi những thất bại của chính trị là bao trùm và lan tràn rộng hơn, và gây kiệt quệ hơn là những thất bại của cơ chế thị trường. Việc ra quyết định cá nhân, như nó được thể hiện qua cơ chế thị trường. Việc ra quyết định cá nhân, như nó được thể hiện qua cơ chế thị trường, có hiệu quả hơn nhiều so với việc ra quyết định tập thể, như nó được thực hiện trong chính trị. Điều này đặc biệt đúng trên vũ đài quốc tế. Sự thất vọng với chính trị đã nuôi dưỡng chủ nghĩa nguyên giáo thị trường, và đến lượt nó, sự nổi lên của chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đã góp phần vào sự thất bại của chính trị. Một trong những khuyết tật lớn nhất của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là nó đã cho phép cơ chế thị trường và động cơ lợi nhuận thâm nhập vào những lĩnh vực hoạt động mà chúng không sở thuộc một cách thích hợp.

Phần đầu tiên trong sự phê phán của tôi đề cập đến sự bất ổn cố hữu của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Những người theo thuyết nguyên giáo thị trường có một quan niệm về cơ bản là sai sót về cách các lực lượng thị trường hoạt động. Họ tin rằng các lực lượng thị trường có xu hướng vươn tới sự cân bằng. Lý thuyết cân bằng trong kinh tế học dựa trên cơ sở một sự tương đồng giả tạo với vật lý học. Các đối tượng vật lý chuyển động theo cách chúng chuyển động, bất kể ai đó nghĩ gì. Nhưng các lực lượng thị trường nỗ lực tiên đoán một tương lai vốn phụ thuộc vào những quyết định mà người ta đưa ra trong hiện tại. Thay vì chỉ thụ động phản ánh hiện thực, các thị trường tài chính đang tích cực tạo ra cái hiện thực mà đến lượt chúng, cúng lại phản ánh. Có một mối liên hệ hai chiều giữa các quyết định hiện tại và các sự kiện tương lai mà tôi gọi là “tính phản xạ”.

Cũng cơ chế liên hệ ngược đó xen vào tất cả các hoạt động khác vốn liên quan tới những người tham dự có ý thức. Con người đáp lại các lực lượng chính trị, kinh tế và xã hội trong môi trường của họ, nhưng khác với các hạt vô tri vô giác của các khoa học vật lý, con người có tri giác và thái độ – những thứ cũng đồng thời biến đổi các lực lượng đang tác động đến chúng. Sự tương tác phản xạ hai chiều này giữa điều mà những người tham gia vẫn chờ đợi và điều thực sự xảy ra là có tầm quan trọng trung tâm để hiểu tất cả các hiện tượng kinh tế, chính trị và xã hội. Khái niệm “tính phản xạ” này nằm ở trung tâm của những lập luận trình bày ở đây.

Tính phản xạ không hiện diện ở khoa học tự nhiên, nơi mối liên hệ những giải thích của các nhà khoa học và những hiện tượng mà họ đang giải thích chỉ đi theo một chiều. Nếu một tuyên bố phù hợp với các sự kiện, nó là đúng; nếu không, nó là sai. Các nhà khoa học có thể xác lập tri thức theo cách này. Nhưng những người tham dự thị trường không có sự xa xỉ là đặt các quyết định của họ trên cơ sở tri thức. Họ phải phán đoán về tương lai, và sự thiên hướng mà họ mang theo sẽ ảnh hưởng đến những kết quả. Đến lượt mình, các thiên hướng này tăng cường hay làm suy yếu các thiên hướng khởi đầu, nơi những người tham dự thị trường xuất phát.

Tôi công nhận khái niệm tính phản xạ là thích hợp với các thị trường tài chính (và với nhiều hiện tượng kinh tế và xã hội khác nữa) hơn nhiều so với khái niệm cân bằng đang làm cơ sở cho kinh tế học quy ước. Thay vì tri thức, những người tham dự thị trường khởi đầu với một thiên hướng. Hoặc là tính phản xạ sẽ hoạt động để sửa chữa sự thiên hướng, trong trường hợp đó các bạn có một xu hướng tiến tới cân bằng, hoặc là sự thiên hướng có thể bị tăng cường bằng một liên hệ ngược mang tính phản xạ, trong trường hợp đó các thị trường có thể chuyển động rất xa khỏi trạng thái cân bằng mà không bộc lộ xu hướng nào trở lại xuất phát điểm nơi chúng khởi đầu. Các thị trường tài chính mang đặc điểm là có những những sự bùng nổ và đổ vỡ, và thật kỳ quặc là lý thuyết kinh tế vẫn tiếp tục dựa vào khái niệm cân bằng, một khái niệm vốn phủ nhận khả năng của các hiện tượng này ngay cả khi có bằng chứng rành rành. Tiềm năng cho sự mất cân bằng là sẵn có trong hệ thống tài chính: nó không chỉ là kết quả của cú sốc từ bên ngoài. Việc khăng khăng vin vào các cú sốc ngoại sinh với tư cách là một loại phép màu (“deus ex machina”) để lý giải biện bạch cho sự thường xuyên chối bỏ lý thuyết kinh tế trong các hành vi của các thị trường tài chính đã gợi tôi nhớ lại những thủ đoạn ranh ma về các “quyển” trong lòng các “quyển” và các lực thần thánh mà các nhà thiên viên học trước Copernic dùng để lý giải vị trí của các hành tinh, thay vì chấp nhận rằng trái đấy quay xung quanh mặt trời.

Tính phản xạ không phải là khái niệm được chấp nhận rộng rãi, ít nhất trong dòng tư duy chủ đạo, và nó sẽ đòi hỏi nhiều giấy mực để thám sát tất cả mọi hàm ý của nó. Nó sẽ chiếm nhiều chỗ trong cuốn sách. Tôi sẽ dùng khung khái niệm này để rút ra một số kết luận thực tiễn – về các thị trường tài chính: về nền kinh tế thế giới; và về những vấn đề rộng hơn như chính trị quốc tế, sự cố kết xã hội, và sự bất ổn định của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu với tư cách một chỉnh thể.

Tuyến lập luận chính thứ hai của tôi phức hợp hơn và khó tóm tắt hơn. Tôi tin rằng những thất bại của cơ chế thị trường trở nên không có ý nghĩa so với thất bại của cái mà tôi gọi là khu vực phi thị trường của xã hội. Khi tôi nói về khu vực phi thị trường, tôi ngụ ý những lợi ích tập thể của xã hội, những giá trị xã hội vốn không biểu hiện ở thị trường. Có những người đặt câu hỏi liệu có hay không những lợi ích tập thể như vậy. Họ quả quyết rằng xã hội bao gồm các cá nhân, và lợi ích của họ được biểu hiện tốt nhất bởi các quyết định của họ với tư cách những người tham gia thị trường. Chẳng hạn nếu họ sẵn tấm lòng hảo tâm thương người, họ có thể biểu hiện nó bằng cách trao tặng một số tiền. Theo cách này, mọi thứ đều có thể quy về các giá trị tiền tệ.

Gần như chẳng cần phải nói rằng quan điểm này là sai. Có những điều mà chúng ta có thể quyết định một cách riêng lẻ; có những điều khác mà chỉ có thể được đề cập một cách tập thể. Với tư cách một người tham dự thị trường, tôi cố gắng tối đa hóa lợi nhuận của tôi. Với tư cách một công dân, tôi quan tâm đến các giá trị xã hội: hòa bình, công lý, tự do, hay đại loại như vậy. Tôi không thể biểu hiện các giá trị đó với tư cách một người tham dự thị trường. Ta hãy giả định rằng các quy tắc chỉ đạo các thị trường tài chính phải thay đổi. Tôi không thể thay đổi chúng một cách đơn phương. Nếu tôi áp đặt các quy tắc cho bản thân tôi, nhưng không cho những người khác, nó sẽ tác động đến hoạt động của chính tôi trên thị trường, nhưng nó sẽ chẳng có tác động gì đến những gì xảy ra trên các thị trường, vì không một người tham dự đơn lẻ nào sẽ có khả năng ảnh hưởng đến kết quả.

Chúng ta phải phân biệt giữa xác lập các quy tắc và chơi theo các quy tắc này. Xác lập các quy tắc đòi hỏi các quyết định tập thể, hay chính trị. Chơi theo các quy tắc đòi hỏi các quyết định cá nhân, hay hành vi thị trường. Thật không may là hiếm khi người ta theo sự phân biệt này. Xem ra người ta phần lớn bầu cho ví tiền của họ, và họ vận động hành lang cho việc lập pháp phục vụ lợi ích riêng của họ. Điều tệ hơn nữa là những đại biểu được bầu ra cũng thường đặt lợi ích riêng của họ trước lợi ích chung. Thay vì bênh vực các giá trị cố hữu nhất định, các lãnh tụ chính trị lại muốn được bầu bằng bất cứ giá nào – và dưới hệ tư tưởng của chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đang thịnh hành, hay chủ nghĩa cá nhân đang được tha hồ vùng vẫy, điều này được coi như một cách tự nhiên, hợp lý, và có lẽ thậm chí đang mong đợi để các chính khách ứng xử. Thái độ này đối với chính trị đã xói mòn cái định làm nền xây dựng nguyên tắc dân chủ đại diện. Đương nhiên luôn luôn có mâu thuẫn giữa những lợi ích riêng của các chính khách và lợi ích công, nhưng nó đã trở nên trầm trọng hơn rất nhiều bởi thái độ thịnh hành vốn đặt thành công – đo bằng tiền – lên trước các giá trị bản chất như sự trung thực. Vậy là uy thế của động cơ lợi nhuận và sự giảm sút hiệu quả của quá trình ra quyết định tập thể đã tăng cường lẫn nhau theo cách phản ngược nhau. Việc đề cao lợi ích bản thân lên thành một nguyên tắc đạo đức đã làm đồi bại chính trị, và sự thất bại của chính trị đã trở thành luận chứng mạnh nhất để ủng hộ việc cho thị trường được tự do hơn nữa.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999

Florino d’oro – Phần cuối


Đồng Florin

Những thành phố ở phía Bắc Italy như Florence, Venice, Genoa và Pisa tự xem mình như các thành phố cộng hòa sau khi giải phóng khỏi những lãnh chúa phong kiến trong suốt thế kỷ XI, và theo sau nền độc lập vừa giành lại là việc đúc đồng tiền của riêng mình. Vào năm 1252, khi xưởng đúc tiền của Florence tạo ra đồng Fiorino d’Oro đầu tiên hay còn gọi là đồng florin vàng, không có bất cứ điều mới mẻ nào xuất hiện. Nó chỉ đơn thuần là một đồng xu khác. Tuy nhiên, nhiều thế kỷ trôi qua mà không có sự thay đổi về trọng lượng hay độ nguyên chất của vàng, đồng florin đã tạo được tiếng vang và khiến tất cả những đất nước xung quanh sử dụng nó làm đồng tiền chung. Trong lịch sử, những đồng xu kim loại quý rất bền, có thể phân chia và có khả năng di động, nhưng với những chính quyền liên tục giảm đi độ nguyên chất của đồng xu thì không có đồng xu nào có được sự tin tưởng qua các thế hệ. Những xưởng đúc tiền ở Florence đã thay đổi điều đó. Đồng florin duy trì trọng lượng và độ nguyên chất, khoảng 3,5 gram vàng nguyên chất, trong vòng 4 thế kỷ. Vào lúc đồng florin được 100 tuổi, nó đã phát triển thành chuẩn mực tiền tệ quốc tế cho nền tài chính toàn châu Âu. Tiền lương, trang sức, bất động sản và đầu tư vốn, tất cả đều được tính theo đồng florin. Nó cũng phổ biến với tầng lớp người dân lao động như một cách để bảo quản tiết kiệm cả đời trong túi của họ. Đồng florin được chứng minh là tài sản thế chấp chuẩn mực và có thể dễ dàng cầm cố để vay đồng bạc cho những giao dịch nhỏ hơn. Đồng florin như một đơn vị kế toán phổ biến ở khắp châu Âu và còn hơn là một đồng tiền chung đáng tin cậy và ổn định nhất của thế giới. Khả năng bình ổn phi thường của mỗi đồng florin không tạo ra sự cải tiến tiền tệ trong thời kỳ Phục hưng, nhưng sự phổ biến trong nhiều thế kỷ cùng với những tiến bộ cùng lúc của toán học , kế toán và ngân hàng dẫn đến sự thay đổi kinh ngạc đối với những trải nghiệm của con người với tiền tệ. Trước khi đi vào chi tiết về những quá trình này, đầu tiên, chúng ta phải hiểu những bất lợi mà tiền xu gây ra.

Tính đa dạng của tiền xu

Chỉ riêng việc đúc tiền sẽ không tạo ra hệ thống tiền tệ. Đồng tiền xu đặt ra hai vấn đề lớn đối với nền kinh tế toàn cầu trong thời kỳ đó, bao gồm những thành phố của châu Âu, phía Bắc châu Phi, và Trung Đông nối với nhau bằng biển Địa Trung Hải. Đơn giản có quá nhiều loại tiền tệ khác nhau và vấn đề về sự đa dạng của đồng tiền cản trở nghiêm trọng đến vận tốc tiền tệ.

Vận tốc tiền tệ đo lường mức độ nhanh chóng của tiền trao tay. Đó là tốc độ mà tiền trao từ người chủ này đến người chủ khác, và chỉ với tốc độ vừa đủ thì tiền có thể giúp nền thương mại của con người giao dịch với tiềm năng tối đa của họ. Đồng xu vàng và bạc tăng tốc tiền tệ so với những thời kỳ nguyên thủy, khi những thanh và cục kim loại quý với trọng lượng không chuẩn mực được dùng như phương tiện trao đổi. Nhưng một thế giới của sự đa dạng tiền xu, khi hàng nghìn đồng xu thay thế được sử dụng có nghĩa là việc chuyển đổi tương đương cần phải diễn ra cùng với mọi giao dịch giữa con người từ những địa phương khác nhau. Điều này đặt ra thử thách lớn để mở khóa những cấp độ tiếp theo của vận tốc tiền tệ và thương mại quốc tế, bởi chuẩn mực của trọng lượng và mức độ nguyên chất khác biệt nhau trên thế giới.

Những hiệu đổi tiền chuyên thực hiện việc chuyển đổi quan trọng này và trở nên cần thiết đối với mọi loại hình kinh doanh. Chúng có nhiệm buôn bán hàng trăm hay thậm chí là hàng nghìn đồng tiền khác nhau để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi loại trao đổi quốc tế. Sự thiếu đồng nhất của đồng tiền trên toàn thế giới khiến những người đổi tiền tạo ra lợi nhuận từ những lần người bán hay khách hàng cần đổi tiền từ đồng tiền này sang đồng tiền khác. Nghề này vẫn tồn tại đến ngày nay theo hình thức môi giới trao đổi ngoại tệ, ví dụ như những người đổi từ đồng peso của Mexico sang real của Brazil.

Pha trộn vấn đề về tính đa dạng của đồng tiền là vấn đề về chế độ lưỡng kim bản vị, cho phép sử dụng hai loại kim loại khác nhau như tiền. Bạc là kim loại có nhiều hơn vàng trong lớp vỏ của Trái đất, và vốn được xem như đồng tiền của những người bình thường và của những giao dịch bằng ngày. Mặt khác, vàng là kim loại quý giá hơn và là biểu hiện của sự giàu có nên luôn được săn đón, nhưng nó không phù hợp để sử dụng hàng ngày: một đồng florin đáng giá hơn 1 tuần làm việc của người lao động bình thường. Sự phân chia giữa vàng và bạc khiến quá trình hệ thống tiền tệ thống nhất phức tạp hơn cho đến cuối thế kỷ XIX.

Rủi ro của việc trao đổi vật chất

Thách thức lớn thứ hai của hệ thống tiền đồng xu là rủi ro gắn với việc trao đổi vật chất giữa đồng xu. Gửi tiền theo đường bộ và đường biển là một mối nguy hiểm và là cơn ác mộng về việc vận chuyển trong suốt thời trung cổ. Những vụ đắm tàu thường là những thiệt hại đi kèm không mong muốn khi muốn giải quyết những khoản nợ quốc tế. Một phần lý do những kim loại quý được xem là quý giá là vì khả năng không thể bị phá hủy và chúng, vì thế, dường như có cả một ngành công nghiệp săn tàu đắm tồn tại cho đến ngày nay để đi tìm những đồng tiền vàng và bạc bị đánh mất trong thời đại đó.

Các giải quyết cho những vấn đề là trả tiền sau. Như một phương pháp thayt hế cho việc trao đổi vật chất của kim loại, trả tiền sau diễn ra khi một bên hứa sẽ thanh toán sau cho bên còn lại. Vào thời điểm đó, việc trả nợ cuối cùng xảy ra, bên nợ nhận một khoản thanh toán cuối cùng, thường là vàng và bạc. Những lời hứa, lòng tin được dùng như một cách để người bán giảm thiểu rủi ro trao đổi tiền tệ quốc tế. Những kiểu thỏa thuận trả sau này tồn tại rất lâu trước thế kỷ XII nhưng không có bất kỳ đặc điểm mang tính hệ thống này. Những lời hứa về tài chính thiếu sự đồng nhất, và một hệ thống chính thức của lòng tin cũng không tồn tại. Đồng florin ổn định là một khối tạo dựng vĩ đại, nhưng hình thành một hệ thống tiền tệ không chỉ dựa vào sự nguyên chất thống nhất của một đồng tiền. Nó yêu cầu một nền văn hóa của những lời hứa.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nik Bhatia – Sự tiến hóa của tiền tệ – NXB CT 2021