Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần III


Thương vụ mua lại của Buffett có thể hiểu là cách thoát khỏi tiền giấy và đầu tư vào tài sản hữu hình, đồng thời bảo vệ những tài sản đó khỏi mọi tác động của việc đóng cửa thị trường cổ phiếu. Nó có thể là một “cuộc đặt cược vào đất nước” – nhưng nó cũng là một rào chắn chống lại lạm phát và khủng hoảng tài chính. Nhà đầu tư nhỏ không thể mua lại toàn bộ tuyến đường sắt có thể đặt cược tương tự bằng cách mua vàng. Buffett nổi tiếng là coi thường vàng, nhưng ông là vua đầu tư tài sản hữu hình, và khi nói đến giới siêu giàu, tốt hơn là nên nhìn vào việc họ làm thay vì lời họ nói. Tiền giấy là một hợp đồng được thế chấp bằng vàng, mà vàng là một tài sản hữu hình không gì so sánh được.

Nợ, thâm hụt ngân sách, và sự bền vững

Cục Dự trữ Liên bang không phải là con nợ duy nhất có liên hệ với Chính phủ trong hệ thống tiền của Hoa Kỳ. Trên thực tế, quy mô con nợ lớn hơn rất nhiều. Kho bạc Hoa Kỳ đã phát hành hơn 17.000 tỷ USD nợ dưới hình thức trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, so với khoảng 4 nghìn tỷ USD giấy nợ dưới dạng tiền mà FED phát hành.

Không giống như giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang, tín phiếu Kho bạc không phải là tiền, mặc dù những công cụ thanh khoản nhất thường được gọi là “tương đương tiền mặt” trên bản cân đối kế toán doanh nghiệp. Một điểm khác biệt nữa giữa giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang và tín phiếu Kho bạc là tín phiếu Kho bạc có kỳ hạn và có trả lãi. Giấy nợ của FED có thể được phát hành với số lượng vô hạn và có giá trị lưu hành mãi mãi, nhưng tín phiếu Kho bạc phải tuân thủ kỷ luật của thị trường trái phiếu, nơi các nhà đầu tư giao dịch hơn 500 tỷ USD chứng khoán Kho bạc mỗi ngày.

Kỷ luật thị trường bao gồm việc các nhà đầu tư liên tục đánh giá xem liệu gánh nặng nợ của Kho bạc có bền vững hay không. Sự đánh giá này đặt ra câu hỏi liệu Kho bạc có thể thanh toán các khoản nợ tồn đọng theo thỏa thuận hay không. Nếu câu trả lời là có, thị trường sẽ vui vẻ chấp nhận thêm nợ Kho bạc với nợ lãi suất hợp lý. Nếu câu trả lời là không, thị trường sẽ từ chối khoản nợ Kho bạc, và lãi suất sẽ tăng vọt. Trong trường hợp cực kỳ không chắc chắn do thiếu vốn hoặc không sẵn sàng trả nợ, nợ Chính phủ có thể trở nên gần như vô giá trị, như việc đã xảy ra ở Hoa Kỳ sau cách mạng và rất nhiều lần ở các nước khác từ trước đến nay.

Việc phân tích nợ Chính phủ nhiều thách thức hơn cả khi câu trả lời không phải là có hay không, mà là có thể. Chính tại những điểm bùng phát này (mà những người ủng hộ lý thuyết về sự phức hợp gọi là giai đoạn chuyển tiếp), thị trường trái phiếu đứng giữa sự tự tin và cơn hoảng loạn, và có vẻ như khả năng vỡ nợ rất cao. Các thị trường trái phiếu nhà nước ở châu Âu đến rất gần điểm này vào cuối năm 2011 và vẫn mấp mé bờ vực cho tới tháng 9 năm 2012, khi Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu – ông Mario Draghi đưa ra tuyên bố nổi tiếng:”làm bất cứ điều gì cần thiết”. Ý của Mario là ECB sẽ thay thế khoản nợ tiền của mình bằng nợ nhà nước với số lượng cần thiết để trấn an các chủ nợ nhà nước. Biện pháp trấn an này đã có hiệu quả, và các thị trường nợ nhà nước châu Âu được kéo xa khỏi mép vực.

Trong những năm gần đây, các vụ mua chứng khoán Chính phủ bằng tiền do Cục Dự trữ Liên bang in ra chiếm một tỷ lệ cao trong nợ ròng mới do Kho bạc phát hành. FED nhấn mạnh rằng, việc mua chứng khoán của họ là một công cụ chính sách nhằm nới lỏng các điều kiện tiền tệ, chứ không nhằm mục đích kiếm tiền từ nợ quốc gia. Cùng lúc đó, Kho bạc lại khẳng định rằng họ là con nợ tốt nhất thế giới và hoàn toàn không gặp khó khăn gì trong việc đáp ứng những yêu cầu tài trợ cho Chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, một người quan sát bình thường có lý do để tin rằng FED đang kiếm tiền từ khoản nợ bằng cách làm giảm giá trị của tiền – một bước đi hướng đến kết cục sụp đổ cho các hệ thống chính trị và kinh tế mà người ta đã thấy rất nhiều trong lịch sử, từ Rome cổ đại đến Argentina ngày nay. Trò chơi vĩ đại của FED là hoán đổi các giấy nợ không lãi suất của mình lấy giấy nợ có lãi suất của Kho bạc, sau đó trả lãi ít hơn cho Kho bạc. Thách thức đối với thị trường trái phiếu, và với nhà đầu tư nói chung, là phải quyết định xem Kho bạc phát hành bao nhiêu tín phiếu thì bền vững và thay thế tín phiếu Kho bạc bằng bao nhiêu giấy nợ FED thì chấp nhận được, trước khi giai đoạn chuyển tiếp xuất hiện và sự sụp đổ bắt đầu.

Động năng của nợ Chính phủ và thâm hụt ngân sách phức tạp hơn nhiều so với quan điểm thông thường. Tranh cãi xảy ra xung quanh vấn đề nợ nần và thâm hụt ngân sách thường xuyên thoái trào thành những lựa chọn “nhị phân”: Nợ vay tốt hay xấu cho nền kinh tế? Thâm hụt ngân sách của Mỹ quá cao hay chấp nhận được? Phe bảo thủ ở Đảng Trà (Tea Party) cho rằng về bản chất thì việc chi tiêu thâm hụt ngân sách gây ra tác động tiêu cực, rằng một ngân sách cân bằng là khao khát của chính họ, và rằng Hoa Kỳ đang trên con đường trở thành một Hy Lạp thứ hai. Những người theo chủ nghĩa tự do kiểu Krugman lại cho rằng nợ là yếu tố cần thiết để tài trợ những chương trình “trong mơ” nhất định, và rằng trước đây, Hoa Kỳ đã ở vào tình trạng này nếu xét về tỷ lệ nợ/GDP. Sau Thế chiến II, tỷ lệ nợ/GDP của Hoa Kỳ là 100% – xấp xỉ mức hiện nay. Trong suốt thập niên 1950 và 1960, Hoa Kỳ dần gảim tỷ lệ này xuống, và phe tự do nói rằng Mỹ có thể tái hiện thành tích đó bằng việc tăng thuế đôi chút.

Quan điểm của cả hai bên đều có những điểm hợp lý, nhưng cũng có thể dễ dàng bị bác bỏ. Vấn đề chính sách ở đây là một cuộc tranh luận được đóng khung theo cách này tạo ra những sự lưỡng phân giả tạo, chỉ lo cho hùng biện chứ không giúp tìm ra giải pháp. Về bản chất, nợ không tích cực cũng không tiêu cực. Tính hữu dụng của nợ được quyết định bởi việc người đi vay làm gì với số tiền vay được. Các mức nợ tự nó không quá cao hoặc quá thấp, điều quan trọng đối với chủ nợ là xu hướng hướng đến sự bền vững.

Nợ có thể tiêu cực nếu nó được sử dụng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách tài chính mà không hề có kế hoạch trả nợ nào khác ngoài cách đi vay thêm. Nợ có thể tích cực nếu nó tài trợ cho những dự án đem lại hiệu quả cao hơn chi phí bỏ ra, và tự nó có thể trả hết nợ qua thời gian. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối thấp nhưng vẫn gây phiền hà nếu chúng đang ngày một tăng lên. Tỷ lệ nợ/GDP có thể tương đối cao nhưng không đáng lo ngại nếu chúng đang  ngày một giảm xuống.

Tranh cãi về nợ

Việc đóng khung các cuộc tranh cãi về nợ và thâm hụt ngân sách trong những điều kiện này làm dấy lên nhiều câu hỏi khác. Đâu là hướng dẫn thỏa đáng để xác định xem nợ có đang được sử dụng đúng mục đích mong muốn hay không, và xu hướng của tỷ lệ nợ/GDP có đang đi đúng hướng? May thay, cả hai câu hỏi đều có thể được trả lời một cách chính xác và không phản ánh sự chia rẽ trong ý thức hệ chính trị mà không cần nhờ đến tài hùng biện của phe bảo thủ hay phe tự do.

Nó được sử dụng để tài trợ chi tiêu Chính phủ có thể chấp nhận được khi nó đáp ứng ba điều kiện: lợi ích của việc chi tiêu phải lớn hơn chi phí, chi tiêu của Chính phủ phải hướng vào các dự án mà khu vực tư nhân không thể thực hiện, và mức tổng nợ phải bền vững. Những bài kiểm tra này phải được áp dụng độc lập, cả ba điều kiện đều phải được thỏa mãn. Ngay cả khi chỉ tiêu của Chính phủ có thể chứng minh được lợi ích ròng, thì nó vẫn không hợp lý nếu khu vực tư nhân có thể làm tốt hơn. Khi chi tiêu Chính phủ tạo ra chi phí ròng, nó sẽ hủy hoại khối tài sản trong xã hội và không bao giờ có thể chấp nhận được trừ khi xảy ra một cuộc khủng hoảng hiện sinh như chiến tranh.

Khó khăn nảy sinh khi chi phí và lợi ích không được định nghĩa rõ ràng, và khi ý thức hệ thay thế cho kết quả phân tích trong quá trình ra quyết định. Hai trường hợp minh họa những vấn đề này là Internet và gói kích thích của Obama năm 2009.

Những người ủng hộ chi tiêu Chính phủ chỉ ra rằng, Chính phủ đã tài trợ cho sự phát triển ban đầu của Internet. Quả thực, Chính phủ đã tài trợ cho ARPANET, một hệ thống lưu lượng tin nhắn cực mạnh trong số các máy tính Đại học quy mô lớn được thiết kế để tạo điều kiện cho hoạt động hợp tác nghiên cứu suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, sự phát triển của ARPANET thành Internet ngày nay được thúc đẩy bởi khu vực tư nhân thông qua việc phát minh ra World Wide Web, trình duyệt web và nhiều dự án cách tân khác. Lịch sử này cho thấy rằng, một số khoản chi tiêu của Chính phủ có thể mang lại lợi ích cao khi nó kích thích năng lực sáng tạo, cách tân của khu vực tư nhân. ARPANET có tham vọng khá khiêm tốn nếu xét theo các tiêu chuẩn hiện nay, và nó đã thành công. Không phải lúc nào Chính phủ cũng đóng băng ARPANET. Thay vào đó, họ đã tạo ra những giao thức có sẵn cho các nhà phát triển tư nhân rồi tránh đường để khối tư nhân làm việc. Internet là một ví dụ của việc Chính phủ giao lại công việc cho khu vực tư nhân.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần II


Một cách tiếp cận khác là lý thuyết nhà nước tiền tệ (state theory of money), với quan điểm rằng tiền giấy không được bảo lãnh vẫn có giá trị vì nhà nước có thể yêu cầu trả thuế bằng tiền đó. Nhà nước có thể ép buộc người dân đến chết để thu thuế. Do đó, người dân làm việc vì tiền và đánh giá cao đồng tiền vì nó có thể đáp ứng được yêu cầu từ nhà nước. Mối quan hệ giữa tiền và nhà nước này có nghĩa là tiền giấy có giá trị ngoại lai vượt quá giá trị nội tại do quyền lực nhà nước. Loại tiền này được gọi là chartal chartalism (tạm dịch: chủ nghĩa duy chính) là một tên khác của lý thuyết nhà nước tiền tệ. Trong những năm 1920, John Maynard Keynes đã sử dụng chartalism trong những lần ông kêu gọi bãi bỏ bản vị vàng. Những thành viên mới hơn của lý thuyết tiền tệ này từng giữ những vai trò đắc lực trong hệ thống quyền lực nhà nước là Paul McCulley, cựu Giám đốc Điều hành của Quỹ trái phiếu khổng lồ PIMCO và Stephanie Kelton, nhà kinh tế học tại Đại học Missouri, người luôn trung thành với lý thuyết tiền tệ hiện đại.

Một lý thuyết mới gia nhập cuộc chiến lý thuyết tiền tệ là lý thuyết lượng tín dụng (quantity theory of credit). Lý thuyết này được phát triển bởi Richard Duncan, là một biến thể của lý thuyết lượng tiền. Duncan đề xuất rằng việc tạo lập tín dụng đã trở nên phổ biến và tràn lan đến mức ý niệm về tiền bây giờ đã được gộp chung vào ý niệm về tín dụng, và việc tạo lập tín dụng là trọng tâm của hoạt động nghiên cứu và chính sách tiền tệ. Duncan đưa nhiều phân tích thống kê và pháp lý ấn tượng về dữ liệu của Chính phủ vào công trình nghiên cứu sự mở rộng tín dụng. Có thể gọi công trình này của ông là chủ nghĩa tín dụng (creditism), mặc dù thực ra nó là một phiên bản của thế kỷ XXI của Trường phái Ngân hàng Anh quốc (British Banking School) – quan điểm về tiền tệ trong thế kỷ XIX.

Chủ nghĩa tiền tệ, chủ nghĩa duy chính và chủ nghĩa tín dụng đều có chung một ý tưởng: niềm tin vào đồng tiền pháp định (fiat). Từ fiat có nguồn gốc từ tiếng Latin, có nghĩa là “để cho nó được thực hiện”. Khi áp dụng cho tiền tệ, fiat đề cập đến trường hợp trong đó nhà nước ra lệnh rằng một dạng tiền tệ cụ thể sẽ đóng vai trò như tiền tệ và được xem như đồng tiền hợp pháp. Cả ba lý thuyết đều đồng ý rằng tiền không bắt buộc phải có giá trị nội tại, miễn sao nó nắm giữ giá trị bên ngoài mà nhà nước đặt cho. Khi phe phản đối đồng tiền pháp định nói tiền “không được đảm bảo bởi bất cứ thứ gì”, những người ủng hộ ba lý thuyết trên sẽ đáp trả, “Thì sao?” Theo họ, tiền có giá trị vì nhà nước ra lệnh rằng nó có giá trị như vậy, và không có gì khác là cần thiết để cho tiền giá trị của nó.

Một lý thuyết chỉ hữu dụng khi nó hài hòa với hiện tượng trong thế giới thực, đồng thời giúp các nhà quan sát hiểu và dự đoán các sự kiện trong thế giới đó. Các lý thuyết về tiền dựa vào quyền lực của nhà nước rất mong manh vì việc áp dụng quyền lực nhà nước có thể thay đổi. Theo nghĩa đó, có thể nói những lý thuyết cạnh tranh về tiền kể trên còn tùy thuộc vào tình hình thực tiễn.

Trở lại nơi chúng ta bắt đầu, lý thuyết hợp đồng tiền tập trung vào giá trị nội tại của tiền. Tiền có thể là giấy, nhưng giấy có văn bản trên đó, và văn bản này là một hợp đồng hợp pháp. Một công dân có thể xem hợp đồng này là đáng giá vì những lý do riêng, không phụ thuộc vào các sắc lệnh của nhà nước. Anh ta có thể đánh giá hiệu quả thực hiện hợp đồng cao hơn là tính chất pháp định. Lý thuyết này là hữu ích để hiểu không chỉ đồng USD mà cả việc liệu rằng hợp đồng dollar có đang được tôn trọng hay không, cả bây giờ và trong tương lai.

Mặc dù đồng USD là khoản nợ không lãi suất và không kỳ hạn nhưng nó vẫn liên quan đến nghĩa vụ thực hiện của cả FED và Ngân khố, hai bên có tên trong hợp đồng. Việc thực hiện này được thể hiện rõ trong nền kinh tế. Nếu nền kinh tế hoạt động tốt, đồng USD hữu dụng, và hiệu quả thực hiện hợp đồng là thỏa đáng hoặcó giá trị. Nếu nền kinh tế không hiệu quả, người ta có thể nghĩ rằng hiệu quả thực hiện kém đến mức vi phạm vỡ nợ theo quy định của hợp đồng.

Bản vị vàng là một cách để thi hành hợp đồng tiền. Phe ủng hộ vàng khẳng định rằng tất cả tiền giấy đều không có giá trị nội tại, giá trị vốn dĩ chỉ có thể được cung cấp bằng kim loại quý hữu hình dưới dạng vàng, hoặc có thể là bạc. Quan điểm này hiểu sai vai trò của vàng trong một bản vị vàng, nhưng một số ít người khăng khăng rằng tiền đồng hoặc vàng thỏi phải là phương tiện trao đổi duy nhất – một tình trạng hoàn toàn phi thực tiễn. Tất cả các bản vị vàng đều liên quan đến mối quan hệ giữa vàng vật chất và các hình thức đại diện của vàng trên giấy tờ, cho dù những đại diện này được gọi là giấy nợ, cổ phần hay hóa đơn. Một khi mối quan hệ này được chấp nhận, người ta nhanh chóng trở lại với thế giới của hợp đồng.

Theo quan điểm này, vàng là tài sản thế chấp hoặc trái phiếu được niêm yết để đảm bảo việc thực hiện thỏa đáng hợp đồng tiền. Nếu nhà nước in quá nhiều tiền thì người dân có thể tự do tuyên bố kê khai hợp đồng bị vi phạm và đổi tiền lấy vàng theo tỷ giá trao đổi trên thị trường. Trên thực tế, người đó nhận tài sản thế chấp của mình.

Những người ủng hộ vàng cho rằng nên duy trì và ấn định một tỷ giá trao đổi giữa tiền giấy và vàng. Quan điểm này cũng có ý đúng, nhưng một tỷ giá trao đổi cố định không phải là yếu tố thiết yếu đối với vai trò của vàng trong một hệ thống hợp đồng tiền. Chỉ cần người dân được tự do mau hoặc bán vàng bất cứ lúc nào. Mọi công dân đều sẽ có thể sử dụng một bản vị vàng cá nhân bằng cách mua vàng bằng tiền giấy, còn người nào không mua vàng tức là đang tạm thời thoải mái với hợp đồng tiền giấy.

Do đó, giá tiền của vàng là một thước đo hiệu quả thực hiện hợp đồng của FED và Ngân khố. Nếu hiệu quả thỏa đáng, giá vàng sẽ ổn định, vì người dân yên tâm khi giao dịch bằng tiền. Nếu hoạt động yếu kém, giá vàng sẽ tăng, vì người dân chấm dứt hợp đồng nợ-tiền và đòi lại khoản thế chấp của họ thông qua việc mua vàng trên thị trường mở. Giống như bất kỳ con nợ nào, FED muốn các chủ nợ-người dân không biết gì về quyền đòi bồi thường của họ. FED đang đánh cược rằng người dân sẽ không đồng loạt yêu cầu khoản thế chấp bằng vàng. Việc đặt cược này phụ thuộc vào mức độ hài lòng cao của người dân đối với bản chất của hợp đồng tiền, bản chất của vàng, và quyền được đòi lại tài sản thế chấp khi hợp đồng không được thực hiện thỏa đáng.

Đây là một lý do khiến FED và các chuyên gia kinh tế tiền pháp định sử dụng những cụm từ như “di tích man rợ” và “truyền thống” để mô tả vàng và khẳng định rằng vàng không có vai trò gì trong một hệ thống tiền tệ hiện đại. Quan điểm của FED rất vô lý, nó giống như việc nói rằng đất đai và nhà cửa không có vai trò gì trong một hợp đồng thế chấp vậy. Tiền là một khoản nợ bằng giấy lấy vàng làm tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp có thể được đòi lại bằng cách trực tiếp mua hàng.

FED muốn rằng các nhà đầu tư không thiết lập mối liên kết này, nhưng có một nhà đầu tư đã làm, đó là Warren Buffett. Ông không chuyển sang vàng nhưng chuyển sang tài sản hữu hình, và câu chuyện của ông đang được tiết lộ.

Vào tháng 11 năm 2009, không lâu sau khi thị trường bắt đầu bán tống bán tháo vì hệ quả của cuộc Khủng hoảng năm 2008, Buffett đã thông báo mua lại 100% công ty Burlington Northern Santa Fe Railway. Buffett mô tả thương vụ này như một “cuộc đặt cược vào đất nước”.

Có thể. Một tuyến đường sắt là tài sản hữu hình tuyệt đối. Đường sắt bao gồm một số tài sản hữu hình, chẳng hạn như quyền sử dụng tuyến đường, quyền khai thác liền kề, đường ray, công tắc, tín hiệu, sân bãi và xe kéo. Đường sắt kiếm tiền bằng cách vận chuyển các tài sản hữu hình khác như lúa mì, thép, quặng và gia súc. Đường sắt là tài sản hữu hình vận chuyển tài sản hữu hình.

Bằng cách mua lại 100% cổ phiếu, Buffett đã chuyển đổi thành công tuyến đường sắt từ một công ty vốn cổ phần được giao dịch công khai thành một công ty vốn cổ phần tư nhân. Điều này có nghĩa là nếu các thị trường cổ phiếu bị đóng cửa trong một cuộc khủng hoảng tài chính thì cổ phần của Buffett sẽ không bị ảnh hưởng vì ông không tìm kiếm khả năng thanh khoản. Trong khi những người khác có thể bị sốc bởi cổ phần của họ đột ngột mất tính thanh khoản, Buffett chỉ việc án binh bất động.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần I


Định hướng chính sách… nên cam kết rằng chính sách tiền tệ sẽ không hất đổ chén rượu mà cho phép bữa tiệc kéo dài đến tận khuya nhằm đảm bảo rằng ai cũng vui vẻ.

Charles I. Plosser

Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang Philadelphia

Ngày 12 tháng 2 năm 2013

Việc áp dụng một mức thu nhập danh nghĩa… mục tiêu mà chỉ những ai xa lạ với cuộc tranh cãi về thiết kế của chính sách tiền tệ trong vài thập kỷ qua mới đánh giá là cách tân, mới mẻ. Chưa có ai nghĩ ra cách để ý tưởng này hiệu quả… Nói đúng hơn, một… mục tiêu sẽ được nhìn nhận như một cách hời hợt để che giấu mục đích thật là tăng lạm phát.

Charles Goodhart

Ngày 18 tháng 03 năm 2013

Ý nghĩa của tiền

Một dollar là gì? Câu hỏi này không dễ trả lời. Hầu hết mọi người sẽ trả lời rằng một dollar là tiền, thứ họ làm ra, chi tiêu hoặc tiết kiệm. Điều này lại đặt ra câu hỏi khác: Tiền là gì? Các chuyên gia trích dẫn lại định nghĩa của tiền gồm ba phần: một phương tiện trao đổi, một phương tiện tích trữ giá trị, và một đơn vị tính toán. Phần “đơn vị tính toán” (unit of account) trong định nghĩa rất hữu ích nhưng hầu như không quan trọng. Nắp chai có thể là một đơn vị tính toán, tương tự với những nút thắt trên một sợi dây. Một đơn vị tính toán chỉ đơn thuần là cách để thêm hoặc bớt giá trị nhận thức. Phương tiện trao đổi (medium of exchange) cũng đề cập gián tiếp đến giá trị vì mỗi bên tham gia vào cuộc trao đổi phải nhận thức được giá trị trong một đơn vị đang được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ. Hai trong ba phần của định nghĩa đều ám chỉ giá trị. Do đó, toàn bộ định nghĩa chuẩn có thể được quy về phần còn lại: phương tiện tích trữ giá trị (store of value).

Vậy nếu tiền là giá trị thì giá trị là gì? Tại điểm này, phân tích trở thành vấn đề triết học và đạo đức. Các giá trị có thể được nắm giữ bởi các cá nhân mà không chia sẻ trong phạm vi một nền văn hóa hoặc cộng đồng. Các giá trị có thể mang tính chủ quan (như các vấn đề đạo đức) hoặc tuyệt đối (như vấn đề tôn giáo). Các giá trị có thể xung đột khi các nhóm đối kháng hoặc gần gũi nhau có những giá trị khác xa nhau.

Mặc dù ý nghĩa của giá trị rất rộng nhưng vẫn có hai khía cạnh nổi bật. Thứ nhất là ý tưởng về một phép đo: rằng có một cách để do lường sự hiện diện, vắng mặt, hoặc mức độ của giá trị. Thứ hai là ý tưởng về lòng tin: rằng khi một người gán các giá trị cho một cá nhân hoặc một nhóm, anh ta tin tưởng rằng cá nhân hoặc nhóm đó sẽ hành động phù hợp với những giá trị đó. Lòng tin thể hiện hành vi nhất quán dưới dạng các hành động bao dung hoặc có đi có lại.

Một dollar là tiền, tiền là giá trị, và giá trị là lòng tin được trân trọng một cách kiên định. Khi một người mua một chai nước của Coca-Cola ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, anh ta tin tưởng rằng chai nước đó đang sử dụng công thức nguyên bản, và rằng chất nước bên trong không phải hàng giả; ở khía cạnh này, Coca-Cola không làm anh ta thất vọng. Đây là lòng tin được trân trọng một cách kiên định, có nghĩa là một chai Coca-Cola có giá trị.

Khi một khách hàng mua một chai Coca-Cola, anh ta đưa cho người bán một dollar. Đây không đơn thuần là hành động đổi chác, mà là một sự trao đổi giá trị. Nguồn gốc giá trị của đồng dollar ấy là gì? Làm thế nào mà nó được nâng tầm thành ví dụ của lòng tin được trân trọng một cách kiên định?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần đào sâu hơn. Đồng dollar, dù là ở dạng giấy hay dạng kỹ thuật số, cũng là một vật thể mang tính đại diện. Đồng dollar đại diện cho điều gì? Lòng tin đó dành cho ai? Khi lòng tin được yêu cầu, ta có thể áp dụng khẩu hiệu của Ronald Reagan: Cứ tin tưởng, nhưng hãy xác minh (Trust, but verify). Hệ thống Dự trữ Liên bang, thuộc sở hữu của các ngân hàng tư nhân, là tổ chức phát hành đồng dollar. FED đòi hỏi sự tin tưởng của chúng ta, nhưng làm thế nào để chúng ta có thể xác minh xem niềm tin đó có đang được trân trọng?

Trong một xã hội pháp quyền, cách thông thường để xác minh lòng tin là hợp đồng được thể hiện dưới dạng văn bản. Một sinh viên Luật năm thứ nhất trong lớp học về hợp đồng học ngay lập tức được cách để “giành được nó bằng câu chữ”. Các bên tham gia ký kết một hợp đồng sẽ viết ra rồi đọc rõ những niềm tin và sự kỳ vọng của mình. Giả sử cả hai bên đồng ý, hợp đồng được ký kết, và từ đó, hợp đồng này thể hiện lòng tin. Đôi khi, tranh cãi phát sinh về ý nghĩa của từ ngữ trong hợp đồng hoặc việc thực hiện các điều khoản của nó. Các quốc gia có tòa án để giải quyết những tranh chấp đó. Hệ thống hợp đồng, tòa án và các phán quyết được dẫn dắt bởi hiến pháp chính là cách thức vận hành của một xã hội pháp quyền.

Cục Dự trữ Liên bang làm thế nào để thích nghi với hệ thống này? Ở một mức độ nào đó, FED tuân thủ mô hình hợp đồng văn bản. Một người có thể bắt đầu bằng cách đọc không sót chữ nào trên tờ tiền dollar. Đó là nơi mà người ta tìm thấy hợp đồng tiền tệ bằng văn bản. Các bên tham gia hợp đồng này được hgi rõ là “Cục Dự trữ Liên bang” và “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” thay mặt cho người dân.

Các hợp đồng một dollar có sự tham gia của từng ngân hàng trong số 12 ngân hàng dự trữ khu vực của FED. Một số những hợp đồng văn bản có sự tham gia của FED ở Dallas, một số khác do FED ở Philadelphia… Những mệnh giá lớn hơn như hợp đồng 20 USD thì có sự tham gia của “Hệ thống”. Tất cả những hợp đồng này được ký kết bởi một đại diện là Bộ trưởng Ngân khố Hoa Kỳ, thay mặt cho người dân.

Điều khoản quan trọng nhất trong hợp đồng dollar bằng văn bản xuất hiện trên góc trên cùng ở mặt trước của mỗi tờ tiền. Đó là cụm từ “Giấy nợ của Cục Dự trữ Liên bang” (Federal Reserve Note). Một tờ giấy nợ nghĩa là một nghĩa vụ, một hình thức vay nợ. Quả thực, đây chính là cách FED báo cáo lượng tiền phát hành ra thị trường trên bảng cân đối kế toán của mình. Các bảng cân đối kế toán thể hiện tài sản ở phía bên tay trái, nợ phải trả ở phía bên tay phải, và vốn, bằng tài sản trừ nợ phải trả, ở dưới cùng. Giấy nợ do FED phát hành được ghi nhận ở phía bên phải của bảng cân đối kế toán, như một khoản nợ phải trả, chính xác ở nơi mà người ta ghi nhận một khoản vay nợ.

Giấy nợ của FED là một hình thức vay nợ bất thường vì không chịu lãi suất và không có kỳ hạn. Có thể sử dụng lý thuyết hợp đồng để mô tả một dollar như một giấy nợ vĩnh viễn, không chịu lãi suất FED phát hành. Bất kỳ người đi vay nào cũng xác nhận rằng một khoản nợ không kỳ hạn và không lãi suất là khoản nợ lý tưởng nhất, vì người ta không bao giờ trả nợ, và cũng không phải chịu bất cứ chi phí gì. Tuy nhiên, nó vẫn là một món nợ.

Vì vậy, đồng dollar là tiền, tiền là giá trị, giá trị là lòng tin, lòng itn là một hợp đồng, và hợp đồng là nợ. Bằng cách áp dụng tính chất bắc cầu trong số học, đồng dollar là món nợ mà FED nợ người dân dưới hình thức hợp đồng. Có thể gọi cách nhìn này là lý thuyết hợp đồng về tiền bạc, hay chủ nghĩa hợp đồng (contractism). Khi áp dụng cho đồng dollar, một cách để hiểu được lý thuyết này là thay thế tất cả từ tiền (money) thành từ nợ (debt). Và thế giới trông sẽ rất khác, một thế giới ngập trong nợ nần.

Cách tiếp cận khái niệm tiền thông qua lăng kính của hợp đồng là một trong nhiều lý thuyết tiền tệ. Có sức ảnh hưởng lớn nhất trong số đó là lý thuyết lượng tiền (quantity theory of money), hay chủ nghĩa tiền tệ (monetarism), được Irving Fisher và Milton Friedman ủng hộ trong thế kỷ XX. Chủ nghĩa tiền tệ là một trong những cẩm nang mà FED áp dụng để tạo ra tiền, mặc dù công thức ban đầu mà Friedman ủng hộ không còn hợp thời nữa.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Lý do đồng bitcoin tăng giá


Nhật báo Pháp La Tribune số ra ngày 22/02/21 đăng bài viết về đồng tiền kỹ thuật số Bitcoin của Yann Le Floch, chuyên gia tư vấn của ngân hàng Maslow Capital Partners – chuyên cung cấp các dịch vụ tư vấn đầu tư choc ác công ty công nghệ và truyền thông. Theo tác giả bài viết, sự xuất hiện của đồng tiền kỹ thuật số Bitcoin và hệ sinh thái tài sản kỹ thuật số liên quan đôi khi có thể được tranh luận trong xã hội, đặc biệt là trong giới kinh tế và tài chính. Về câu hỏi Bitcoin có phải là một loại tiền tệ không, những người ủng hộ hệ sinh thái này khẳng định là “có”, trong hi những người gièm pha trả lời là “không”. Liệu có thể thừa nhận rằng xét trên góc độ phân tích khác nhau, cả hai luồng ý kiến trên đều có lý?

Tiền hay không phải là tiền?

Tiền được định nghĩa một cách truyền thống như một phương tiện trao đổi, một kho lưu trữ giá trị và một đơn vị tài khoản, một định nghĩa thường gắn liền với nhà triết học Aristote.

Bitcoin có phải là phương tiện trao đổi không?

Điều này là chắc chắn khi bạn hoạt động trong hệ sinh thái doanh nghiệp kỹ thuật số. Chẳng hạn, một giám đốc doanh nghiệp trả lương cho đội ngũ các nhân viên phát triển thị trường ở Pakistan bằng Bitcoin, và nhóm các nhân viên này lại do các trưởng dự án ở Argentina quản lý, các trưởng dự án cũng được trả lương bằng Bitcoin xứng đáng với công việc. Tương tự, một Pháp kiều ở Venezuela, Liban hay Mali sẽ đặtmua trực tuyến các mặt hàng hoặc sản phẩm công nghệ khác nhau và thanh toán bằng Bitcoin, thay vì bằng nội tệ hoặc đồng USD, và tiếp nhận hàng hóa thông qua các dịch vụ chuyển phát quốc tế. Đây là một xu hướng đang bắt đầu được củng cố ở một số nền kinh tế. Chưa kể các dịch vụ chuyển tiền trực tuyến toàn cầu, cho phép chuyển tiền cho bạn bè, gia đình ở bất cứ nơi nào có kết nối Internet và với mức chi phí không thể cạnh tranh hơn. Nền kinh tế kỹ thuật số và hơn thế nữa hiện đã hoàn toàn chấp nhận việc sử dụng Bitcoin như một phương tiện thanh toán và như một công cụ để trao đổi hàng hóa và dịch vụ.

Bitcoin có phải là một đồng tiền dự trữ?

Có thể đúng, đặc biệt khi giá trị của nó tăng mạnh và các loại hình dự trữ tài chính truyền thống, như sổ tiết kiệm, bảo hiểm nhân thọ, quỹ tiết kiệm, bị mất giá trị, đặc biệt do lạm phát, phí quản lý và đôi khi là các tình huống tài chính dưới mức tối ưu. Bitcoin là một loại hình dự trữ dễ thay đổi, nhưng trong trung và dài hạn, đồng tiền này đã được chứng minh là một loại hình dự trữ tài chính thực sự.

Bitcoin có phải là một đơn vị tài khoản không?

Không trực tiếp, sự biến động của Bitcoin khá lớn, mặc dù trong những năm qua, có thể giá “vàng kỹ thuật số” ổn định để trở thành “bản vị vàng kỹ thuật số”. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng cùng với việc sử dụng cái gọi là đồng tiền xanh ổn định được gắn với đồng USD (như các loại tiền ảo Tether, DAI, USD Coin, Paxos), việc hạch toán tiền điện tử ngày nay hoàn toàn có thể thực hiện được trong hệ sinh thái tiền tệ kỹ thuật số.

Do vậy, Bitcoin và hệ sinh thái tiền điện tử xuất hiện ngày càng được củng cố, và thể hiện những đặc trưng mạnh mẽ của một loại tiền tệ ngày càng được sử dụng phổ biến mà người ta khó có thể phủ nhận đặc tính hoàn hảo của nó trong trung hạn.

Mô hình của niềm tin…

Trong hơn 10 năm, Bitcoin và hệ sinh thái tài sản kỹ thuật số đã có thể tạo ra một không gian kinh tế và tài chính trị giá khoảng 1000 tỷ USD, tương đưng với sức mạnh tiền tệ của một nước. Vậy điều gì có thể thúc đẩy để tạo ra trogn 10 năm một kiến trúc kinh tế và tài chính như vậy, niềm tin vào một tài sản kinh tế và tài chính, Bitcoin, và rất nhiều loại tiền điện tử khác được tạo ra tiếp theo như Ethereum, Polkadot…

Khái niệm “niềm tin” trong nền kinh tế là một khái niệm cơ bản, đôi khi có phần trừu tượng. Chúng ta thường nghe thấy các phương tiện truyền thông nhắc đến như “niềm tin sẽ trở lại”, “cần bảo vệ niềm tin”, “niềm tin trong nền kinh tế”, “cần phải có niềm tin”.

Tại sao lại nói về niềm tin, và hơn nữa là ai tin vào ai và tin vào cái gì? Từ quan điểm của một công dân, chúng ta nghe thấy theo thuật ngữ niềm tin này có nghĩa là ngày mai sẽ tốt hơn theo một triết lý cổ điển về tăng trưởng kinh tế, về chi tiêu cho các mục đích sử dụng hiện tại và các cam kết tài chính, về việc duy trì một việc làm hay việc trả thù lao cho một hoạt động kinh tế, về việc duy trì hoặc phát triển các hoạt động của một doanh nghiệp hay một người sử dụng lao động. Nói tóm lại, ẩn sau khẩu hiệu “hãy có niềm tin” là khẩu hiệu “đừng sợ”, lời hứa về một nền kinh tế tốt đẹp hơn được gửi đến chúng ta trong cái gọi là “niềm tin”.

Từ quan điểm kinh tế vĩ mô, từ quan điểm mang tính hệ thống, niềm tin có thể được hình dung như thế nào? Chúng ta đang số trong một hành tinh với những của cải thô và của cải được chuyển hóa thông qua lao động của con người, thể chất, trí tuệ và công nghệ. Như vậy, ở cấp độ kinh tế vĩ mô, hiện tồn tại một dạng trung gian giữa của cải thô, cũng như của cải được tạo ra bởi bàn tay và khối óc của con người, và một lượng tiền tệ mà chúng ta sở hữu một phần nhỏ của cải này trên toàn thế giới.

Hệ thống kinh tế vĩ mô có thể được nhìn nhận như một cỗ máy làm ra của cải thô và của cải đã chuyển hóa, đồng thời tạo ra tiền đề quản lý trực tiếp và gián tiếp, thông qua các hợp đồng quản lý tài sản, các phương tiện đảm bảo sự trao đổi, phân chia, chuyển hóa của cải được làm ra.

Như vậy, các ngân hàng trung ương thường xuyên tạo ra tiền, buộc bộ máy kinh tế tạo ra nhiều của cải hơn để đảm bảo rằng đơn vị tiền tệ sẽ được giữ nguyên giá trị của nó, cho phép tạo ra sự cân bằng mà hệ thống kinh tế vĩ mô, mà các ngân hàng trung ương và các ngân hàng là những bên bảo đảm.

Như vậy, niềm tin vào một thế giới tốt đẹp hơn theo nghĩa kinh tế và vật chất xuất hiện, ngày mai chúng ta sẽ có nhiều của cải hơn, chúng ta sẽ sống tốt hơn, giá trị của cải của chúng ta sẽ được đánh giá theo cùng một cách từ quan điểm tài chính, trong đó tài sản được cho là phản ánh của sự giàu có về kinh tế.

Theo truyền thống, niềm tin này, cái mà một số người ngày nay gọi là “thị trường của những lời hứa” được thể hiện bằng niềm tin rằng nền kinh tế sẽ tăng trưởng tốt nhất. Như vậy, công việc sẽ mang lại thu nhập tốt hơn, và người ta sẽ đầu tư đầy đủ cho bản thân, bất động sản sẽ có giá hơn nên họ đầu tư, trong tương lai, những khoản tiết kiệm sẽ cho phép họ có cuộc sống tốt hơn, nên họ tích lũy tiền. Logic này là một trong những bản chất của chủ nghĩa tư bản theo quan điểm kinh tế vĩ mô. Nếu các trò chơi kinh tế và tài chính có thể được quản lý một cách cân bằng, thì logic này sẽ tồn tại trong tâm trí mỗi chúng ta. Người ta làm kinh tế và đầu tư cho bản thân, và đầu tư để có cuộc sống tốt đẹp hơn. Và khái niệm này có thể gọi là niềm tin, niềm tin đối với bản thân họ và các thế hệ sau này.

Những gì chúng ta đang quan sát được thông tin Bitcoin, để quay lại với nó sau lần suy thoái này, là sự nổi lên của một hệ thống tài chính (một phần mang tính kinh tế) đang tìm kiếm niềm tin mới bằng cách tạo ra vốn mới, tiền tiện lợi. Và đó chính là về sự xuất hiện của các công nghệ sổ cái phân tán (DLT) cho phép thực hiện trải nghiệm tiền tệ, tài chính và kinh tế. Các công nghệ này có thể tạo ra vốn, của cải và niềm tin. Và đây có lẽ chỉ là sự khởi đầu của một hiện tượng cơ bản cho lịch sử kinh tế và tài chính.

Trong lịch sử, con người đã khai thác, đô hộ, tiến hành chiến tranh, để sở hữu vàng, thứ đảm bảo sự giàu có về kinh tế và tài chính. Sau đó, một nền kinh tế tiền tệ và tài chính dựa trên đồng tiền giấy đã xuất hiện. Phương Tây trở thành một khu vực giàu có so với các khu vực khác, đặc biệt nhờ khả năng dự trữ vàng, đôi khi một cách thiếu nhân đạo.

Trong những thế kỷ gần đây, chúng ta có thể quan sát thấy sự chuyển đổi dần dần, từ vốn dựa trên tài sản bằng vàng sang vốn dựa trên tài sản bằng tiền giấy, mà thường dựa vào tài sản tự nhiên, công nghiệp, công nghệ và tài chính với những hiệu ứng đòn bẩy mạnh mẽ. Ngày nay, chúng ta có thể quan sát thấy niềm tin vào vốn bằng tiền giấy có viễn cảnh được phục hồi, để từ đó có thể sẽ dẫn đến việc tìm kiếm các hình thức vốn mới, vốn kỹ thuật số.

Lịch sử hậu Chiến tranh thế giới thứ hai gần đây đã chứng kiến xuất hiện thời kỳ củng cố tư bản trong lĩnh vực tài chính, với các hoạt động mua bán và sáp nhập, và trao đổi vốn ở cấp độ quốc tế với các thị trường tài chính. Việc tạo nguồn vốn là một hiện tượng phức tạp nhưng có thể xảy ra, giống như giai đoạn đầu phát triển Bitcoin và các loại tiền điện tử hiện nay, thông qua các yếu tố công nghệ, tiếp thị, đầu tư vào lợi thế thương mại tài chính, vào khả năng tạo ra phản ứng dây chuyền của niềm tin.

Việc tạo nguồn vốn phải tạo dựng được niềm tin, tức một hứa hẹn rằng mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn vào ngày mai dưới góc độ kinh tế và tài chính. Niềm tin vào lợi thế thương mại tài chính của tư bản có thể được xem như là chuỗi Ponzi, mà theo một số người, điều này có lẽ đúng một phần. Thị trường tài chính có chức năng tạo vốn sẽ ra sao khi bị các doanh nghiệp lớn, các ngân hàng thâu tóm và khi các mạng lưới quyền lực cho phép họ làm như vậy?

Nguồn: TLTKĐB – 02/03/2021.

Mục đích đồng tiền kỹ thuật số của Trung Quốc – Phần cuối


Các bản tin trên phương tiện truyền thông nhà nước cũng nhấn mạnh một tính năng giúp đồng NDT kỹ thuật số trở nên linh hoạt như tiền mặt: khả năng thanh toán ngoại tuyến. Khi không có kết nối Internet, người dùng vẫn có thể chuyển tiền giữa hai thiết bị ngoại tuyến bằng cách sử dụng cái mà phương tiện truyền thông nhà nước gọi là “công nghệ ngoại tuyến kép”.

Các nhà phân tích cho biết tính năng này liên quan đến việc sử dụng một công nghệ truyền thông tầm gần tương tự như Bluetooth. Vẫn chưa rõ mức độ tin cậy của các hệ thống như vậy, hay nói chung là đồng NDT kỹ thuật số, nhưng Mục Trường Xuân, Viện trưởng Viện nghiên cứu đồng tiền số của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, cho biết công nghệ ngoại tuyến kép đã tương đối thành công.

Trung Quốc coi hệ thống ngân hàng tập trung của mình là công cụ quan trọng mang lại sức mạnh kinh tế cho đảng và nhà nước. Bất cứ khi nào quyền kiểm soát của họ bị đe dọa, như đã từng xảy ra trước sự phát triển nở rộ của mô hình cho vay ngang hàng tự do năm 2016, các nhà chức trách sẽ quyết liệt ra tay để khẳng định lại uy thế của mình. Hiện chỉ có 29 trong số khoảng 6000 công ty cho vay ngang hàng còn tồn tại sau chiến dịch thanh lọc của Bắc Kinh. Tương tự, một nhóm ngân hàng đầy quyền lực thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc cũng coi thành công bất thường của Ant Group, trước khi đợt chào bán cổ phiếu của tập đoàn này bị hủy, là một mối đe dọa.

Mặc dù hệ thống thanh toán bằng đồng NDT kỹ thuật số rõ ràng được thiết kế để hoạt động độc lập với Alipay và WeChat Pay nhưng theo các nhà phân tích, hai nền tảng thanh toán tư nhân trên có khả năng cũng sẽ được sử dụng các giao dịch bằng loại tiền tệ này. Do đó, các nền tảng tư nhân vẫn sẽ được tận dụng trong một thời gian để thúc đẩy đồng NDT kỹ thuật số.

Trâu Truyền Vĩ, chuyên gia về tiền kỹ thuật số của tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận Wanxiang Blockchain ở Thượng Hải cho biết: “Việc thị phần của đồng NDT kỹ thuật số tăng lên sẽ gây tổn thất cho WeChat Pay và Alipay”. Ông cho biết thêm: “Chính phủ đang thắt chặt kiểm soát đối với các tập đoàn công nghệ tài chính, và việc đồng tiền số thay thế Alipay và WeChat Pay sẽ gây thiệt hại cho hoạt động cho vay tiêu dùng của các công ty này.

Công cụ kiểm soát

Sau 15 thế kỷ “kể từ khi Trung Quốc phát minh ra tiền giấy, bản chất của tiền tệ cơ bản đã thay đổi. Dưới thời Đường (618 – 907), tiền giấy không khác nhiều so với giấy ghi nợ và được gọi là “đồng tiền bay” bởi không như tiền kim loại, nó dễ bị thổi bay.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của đồng NDT kỹ thuật số là một bước thay đổi. Đó không chỉ là một phương tiện trao đổi mà còn được coi là bức tường thành chống lại sự xâm nhập của các đồng tiền số nước ngoài, chẳng hạn như đồng Diem của Facebook, và là công cụ để Chính quyền Bắc Kinh dễ dàng giám sát người dân Trung Quốc.

Giữa năm 2020, Mục Trường Xuân đưa ra lập luận rằng đồng NDT kỹ thuật số sẽ ngăn đồng Libra, tên ban đầu của đồng Diem, xâm nhập hệ thống tiền tệ của Trung Quốc. Suy nghĩ này đã xuất hiện sau khi các nhà nghiên cứu của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đưa ra cảnh báo vào năm 2018 rằng sự ra đời của các đồng tiền số – được gọi là các “đồng xu ổn định” – gắn với đồng USD có thể phá hỏng những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm quốc tế hóa đồng NDT.

Tuy nhiên, ngoài việc đóng vai trò như một bức tường thành chống lại các loại tiền điện tử nước ngoài không mong muốn, các nhà phân tích còn cho rằng tham vọng của Bắc Kinh đối với đồng NDT kỹ thuật số còn bắt nguồn từ mong muốn thầm kín về việc kiểm soát xã hội.

Trong báo cáo tháng 1/2021 cho Trung tâm an ninh Mỹ mới, một tổ chức tư vấn có trụ sở tại Washington, Yaya Fanusie và Emily Jin đã viết: “Đồng NDT kỹ thuật số có thể sẽ có lợi cho Đảng Cộng sản Trung Quốc trong việc giám sát nền kinh tế và cho chính phủ trong việc can thiệp vào cuộc sống của người dân Trung Quốc”. Họ nói rằng việc triển khai đồng NDT số sẽ mang lại cho ngân hàng trung ương khả năng khai thác một lượng lớn dữ liệu về hoạt động kinh tế của người dân. Điều này khớp với kế hoạch về công nghệ tài chính được chính phủ ban hành cuối năm 2019 nhằm thúc đẩy việc xây dựng trung tâm dữ liệu lớn tích hợp trên toàn quốc “.

Emily Jin nói: “Nếu ngân hàng trung ương có thể triển khai thành công đồng NDT kỹ thuật số, thì đó thực sự sẽ là một công cụ quan trọng để chính phủ kiểm soát tình hình trong nước. Người dân có thể vẫn sẽ cố gắng thoát khỏi sự giám sát (của đồng tiền này), nhưng tôi nghĩ rằng điều đó sẽ vô cùng khó khăn vì hệ thống này sẽ cho phép ngân hàng trung ương theo dõi các giao dịch theo thời gian thực”. Nếu điều này trở thành hiện thực, thì Ngân hàng nhân dân Trung Quốc có thể nắm thêm quyền thực thi kỷ luật và sẽ có khả năng thực hiện các biện pháp trừng phạt như chặn các giao dịch trong tình huống bắt buộc.

Samantha Hoffman cho rằng đồng NDT kỹ thuật số sẽ mở rộng đáng kể khả năng giám sát của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bà nói: “Đảng và nhà nước Trung Quốc sẽ có thể nắm rõ tất cả các giao dịch tài chính thông qua đồng tiền số, và sẽ không có cái gọi là trạng thái ẩn danh thực sự cho người dùng”.

Miễn trừ giám sát?

Trạng thái ẩn danh dành cho các công dân Trung Quốc sử dụng đồng tiền số vẫn là một vùng xám. Phát biểu tại một hội nghị ở Singapore năm 2020, Mục Trường Xuân cho biết một hệ thống ẩn danh có kiểm soát sẽ được triển khai. Ông nói: “Chúng tôi hiểu rằng công chúng muốn ẩn danh bằng cách sử dụng tiền giấy và tiền xu… Chúng tôi sẽ đáip ứng yêu cầu ẩn dạnh của họ trong giao dịch”.

Ông nói thêm: “Chúng tôi sẽ cân bằng giữa việc thực hiện chế độ ẩn danh có kiểm soát và hoạt động chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, vấn đề về thuế, cờ bạc trực tuyến cũng như mọi hành vi tội phạm điện tử khác.

Samantha Hoffman nói rằng trạng thái mơ hồ này làm dấy lên những lo ngại. Bà nói: “Việc chống tài trợ khủng bố hay rửa tiền là yêu cầu bình thường đối với các ngâ nhàng trung ương, nhưng điều khác biệt ở Trung Quốc là ai cũng bị soi xét kỹ lưỡng. Quy định về khủng bố áp dụng cho các đối thủ chính trị của đảng”.

Những lo ngại như vậy có thể cản trở khát vọng lâu nay của Bắc Kinh là thúc đẩy việc sử dụng đồng tiền của họ trên phạm vi quốc tế như một phần trong tham vọng dài hạn của Trung Quốc về việc giải phóng mình khỏi hầu hết các giao dịch thương mại bằng đồng USD.

Một doanh nhân Hong Kong cho biết: “Nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể nắm rõ mọi giao dịch bằng đồng NDT kỹ thuật số của chúng ta, thì tôi nghĩ rằng nhiều người bên ngoài Trung Quốc sẽ không muốn sử dụng nó”.

Tuy nhiên, Trung Quốc đang đẩy mạnh nỗ lực quốc tế hóa của mình. Tháng 1/2021, Trung Quốc đã đồng ý thành lập liên doanh với SWIFT, hệ thống thanh toán xuyên biên giới có trụ sở tại Bỉ, động thái được cho là nhằm thúc đẩy việc sử dụng đồng NDT kỹ thuật số.

Theo những người nắm rõ vấn đề này, liên doanh mới, có tên là Công ty dịch vụ cổng thông tin tài chính, chịu trách nhiệm hợp nhất các hệ thống thông tin nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai đồng tiền số. Các cổ đông khác trong liên doanh bao gồm cả Hệ thống thanh toán liên ngân hàng xuyên biên giới của Trung Quốc (CIPS), đối thủ cạnh tranh của SWIFT và chịu trách nhiệm xử ý các thanh toán thương mại bằng đồng NDT. SWIFT cho biết liên doanh này không liên quan đến đồng NDT kỹ thuật số mà tập trung vào việc tuân thủ các quy định.

Tuy nhiên, ngay cả các lãnh đạo trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước cũng nói rằng sự lạc quan về sức hấp dẫn quốc tế của đồng NDT kỹ thuật số phải được củng cố bằng thực tế. Giám đốc một ngân hàng quốc doanh lớn cho biết: “Mục tiêu lớn hơn của chúng tôi là thách thức sự thống trị của đồng USD trong thanh toán thương mại quốc tế. Tuy nhiên, tiến trình này sẽ diễn ra từ từ”.

Những kỳ vọng về sự tiến triển từng bước như vậy bắt nguồn từ một vấn đề đã có từ lâu. Người nước ngoài không mấy hào hứng với việc nắm giữ đồng NDT khi mà việc tiếp cận thị trường tài chính của Trung Quốc vẫn còn phức tạp và không rõ ràng đối với mọi người, trừ các nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Maximilian Kӓrnfelt, chuyên gia Viện nghiên cứu Trung Quốc Mercator (Meries) có trụ sở tại Berlin, cho biết: “Định dạng số sẽ không giúp giải quyết các vấn đề khiến đồng NDT hông được sử dụng rộng rãi hơn trên toàn cầu. Phần lớn thị trường tài chính của Trung Quốc chưa được mở cửa cho người nước ngoài và quyền sở hữu tài sản vẫn còn mong manh”.

Nguồn: Financial Times – 17/02/2021

TLTKĐB – 22/02/2021

Mục đích đồng tiền kỹ thuật số của Trung Quốc – Phần đầu


Các hoạt động chào mừng năm mới Tân Sửu, bắt đầu từ ngày 12/2, tại Trung Quốc phần nào đã bị lu mờ bởi đại dịch COVID-19. Lượng người đi lại thăm viếng họ hàng năm nay giảm mạnh, làm mất đi niềm vui của các buổi tụ họp gia đình.

Tuy nhiên, không phải mọi thứ đều ảm đạm. Các nhà chức trách ở một số thành phố đã phát hàng chục triệu NDT dưới dạng “bao lì xì” mừng năm mới, mà những bao lì xì này có thể được tải xuống điện thoại thông minh. Riêng Bắc Kinh và Tô Châu đã phát ra 200.000 bao lì xì, mỗi cái trị giá 200 NDT (31 USD), trong một buổi phân phát công khai.

Hoạt động từ thiện như vậy che giấu một chương trình nghị sự khó khăn hơn. Bằng cách phân phát các bao lì xì truyền thống dưới dạng “đồng NDT số”, các nhà chức trách Trung Quốc đang thử nghiệm một công nghệ quan trọng mới mà có thể dẫn đến việc thế giới chấp nhận các đồng tiền số và thiết lập các tiêu chuẩn kỹ thuật toàn cầu.

Mặc dù không tuyên bố ngày chính thức phát hành, nhưng Trung Quốc đang hướng tới mục tiêu trở thành nền kinh tế lớn đầu tiên giới thiệu đồng tiền số nhằm chứng tỏ với thế giới vị thế nhà lãnh đạo toàn cầu về công nghệ thanh toán tại Thế vận hội mùa Đông năm 2022.

Người phụ trách khu vực châu Á của một ngân hàng hàng đầu Phố Wall cho biết: “Cho đến nay, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc là những người có tư duy tiến bộ nhất về đồng tiền số. Họ đang nghiên cứu những điều mà phần còn lại của thế giới chưa từng nghĩ đến”.  Người này nói thêm: “Đồng NDT kỹ thuật số sẽ đưa mọi giao dịch vào tầm ngắm của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc”.

Kế hoạch đồng tiền số gắn liền với tham vọng lớn hơn của Trung Quốc là tận dụng công nghệ để thúc đẩy quốc tế hóa đồng NDT và làm suy yếu vị thế thống trị của đồng USD. Mặc dù các lãnh đạo ngân hàng nói rằng trọng tâm ban đầu là sử dụng đồng tiền số này trong phạm vi nền kinh tế nội địa, nhưng nhiều nhà nghiên cứu về Trung Quốc cho rằng trong một vài năm nữa, đồng tiền số này chắc chắn sẽ được sử dụng trong thanh toán thương mại.

Tuy nhiên, các mục tiêu khác đằng sau đồng tiền số của Trung Quốc trái ngược với các thảo luận công khai về vấn đề này ở nhiều nơi khác trên thế giới. Trong khi các đồng tiền điện tử ở Mỹ đắm chìm trong ngôn ngữ của chủ nghĩa tự do, thì dự án đồng tiền số ở Trung Quốc lại gắn với nỗ lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm duy trì kiểm soát đối với xã hội và nền kinh tế. Công nghệ này được thiết kế nhằm góp phần củng cố vai trò giám sát của nhà nước.

Đồng NDT kỹ thuật số của Trung Quốc là đồng tiền số của ngân hàng trung ương, và điều này khiến nó, xét ở một góc độ nào đó, đối lập với các loại tiền điện tử khác như bitcoin. Các đồng tiền điện tử thường được phân cấp và phi tập trung hóa. Chúng không được chính phủ phát hành hay bảo lãnh. Trong khi đó, đồng NDT kỹ thuật số là một phần trong kế hoạch từ trên xuống của Trung Quốc. Đồng tiền này do ngân hàng trung ương phát hành và quản lý, và vị thế pháp định của nó được nhà nước Trung Quốc bảo đảm.

Định dạng số của đồng NDT cho phép ngân hàng trung ương Trung Quốc theo dõi tất cả các giao dịch ở từng cấp độ theo thời gian thực. Bắc Kinh chú ý sử dụng tính năng này để chống lại tình trạng rửa tiền, tham nhũng và tài trợ cho khủng bố trong nước bằng cách tăng cường vai trò giám sát vốn đã rất lớn của đảng cộng sản cầm quyền.

Các nhà phân tích cho biết Bắc Kinh cũng hy vọng sử dụng đồng NDT kỹ thuật số như một phương tiện để khẳng định lại quyền kiểm soát của nhà nước đối với ngành công nghệ tài chính và phi thị trường thanh toán điện tử rộng lớn do hai công ty tư nhân khổng lồ Ant Group và Tencent chi phối. Trên thực tế, công nghệ này có thể trở thành đối thủ của nền tảng thanh toán không dùng tiền mặt của những công ty này.

Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện một nỗ lực đa chiều nhằm kiềm chế ảnh hưởng của các công ty thanh toán mới này, dẫn đến việc Ant Group hủy bỏ kế hoạch chào bán lần đầu ra công chúng trị giá 37 tỷ USD cuối năm 2020.

Nhà phân tích cấp cao Samatha Hoffman thuộc Viện chính sách chiến lược Australia cho rằng kiểm soát xã hội là ưu tiên của Bắc Kinh. Bà nói: “Đồng NDT kỹ thuật số chủ yếu lên quan đến khả năng thực thi quyền kiểm soát của đảng”.

Nắm quyền kiểm soát công nghệ tài chính

Theo các quan chức, chiến lược của Trung Quốc là phổ biến đồng tiền số bằng cách tiến hành thử nghiệm ở cấp thành phố trong năm 2021 và 2022, chuẩn bị sẵn sàng cho việc sử dụng đồng tiền này vào thời điểm tổ chức Thế vận hội mùa Đông cuối năm 2022. Thời gian biểu này đưa Bắc Kinh vượt xa chính phủ những nước đang bắt đầu thử nghiệm ý tưởng này.

Khoảng 60% trong số hơn 60 ngân hàng trung ương được Ngân hàng thanh toán quốc tế khảo sát vào năm 2020 cho biết họ đang thử nghiệm hoặc nghiên cứu tính khả thi của đồng tiền số (tăng so với mức 42% trong năm 2019). Cũng theo khảo sát, 14% các ngân hàng đang hướng tới các chương trình thử nghiệm.

Ở Trung Quốc, cũng như ở nhiều nơi khác, những bất đồng về đồng tiền số là rất lớn. Đồng NDT kỹ thuật số không chỉ thay thế tiền mặt mà còn báo trước sự phát triển của một hệ thống thanh toán mới đe dọa vị thế thị trường của Alipay và WeChat Pay, hai nền tảng phổ biến nhất và thuộc sở hữu tư nhân của Ant Group và Tencent.

Lý do chính cho điều này là đồng NDT kỹ thuật số được các ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước phân phối trực tiếp đến ví điện tử của người tiêu dùng, dẫn đến việc thiết lập các kênh thanh toán vượt qua Alipay và WeChat Pay.

Trong các thử nghiệm cho đến nay, người dùng có thể rút đồng NDT số qua máy rút tiền tự động (ATM) và chuyển vào ví điện tử trên điện thoại thông minh. Sau đó, họ có thể thanh toán bằng cách để ứng dụng trên điện thoại thông minh của mình gần thiết bị bán hàng bằng đồng NDT kỹ thuật số. Một hệ thống như vậy là giải pháp thay thế rõ ràng cho Alipay và WeChat Pay, những hệ thống ước tính đã được khoảng 1,9 tỷ người dân trên toàn thế giới sử dụng.

Cựu Phó Chủ tịch Vương Vĩnh Lợi của Ngân hàng Trung Quốc, một trong những ngân hàng quốc doanh lớn nhất Trung Quốc, cho biết: “Việc sử dụng rộng rãi đồng NDT kỹ thuật số sẽ ảnh hưởng đến vị thế thị trường và mô hình lợi nhuận của các nền tảng thanh toán bên thứ ba như Alipay và WeChat Pay”.

Đây là vấn đề lớn. Bên cạnh việc Alipay và WeChat Pay tạo nên xương sống cho hệ thống thanh toán của Trung Quốc trong một nền kinh tế phần lớn không dùng tiền mặt, hoạt động kinh doanh của các công ty còn hỗ trợ giá cổ phiếu của Tencent, một trong 10 công ty lớn nhất thế giới với giá trị vốn hóa trên 920 tỷ USD, và Alibaba, công ty nắm giữ cổ phần tại Ant Group.

Một chương trình chào năm mới của đài truyền hình CCTV đã phát đi thông điệp của Bắc Kinh rằng việc sử dụng đồng NDT kỹ thuật số tiện lợi hơn so với các hệ thống thanh toán khác. Thông điệp này làm gia tăng cảm giác rằng việc phổ biến loại tiền tệ này có thể gây tổn hại cho Alipay và WeChat Pay.

Giám đốc một ngân hàng quốc doanh lớn cho biết: “Đồng tiền kỹ thuật số này sẽ giáng một đòn mạnh vào Alipay và WeChat Pay vì nó có thể thay thế chúng. Có khả năng chính phủ sẽ sử dụng quyền lực hành chính để thúc đẩy đồng NDT kỹ thuật số nhằm phá bỏ thế độc quyền về dữ liệu người tiêu dùng mà các công ty công nghệ đang nắm giữ”.

Trên thực tế, quyền lực hành chính này là đặc tính cố hữu của đồng NDT kỹ thuật số. Bởi đây là đồng tiền pháp định, nên không một người bán hàng nào có thể từ chối chấp nhận nó và do đó có nghĩa vụ phải cài đặt thiết bị đầu cuối và hệ thống thanh toán bằng đồng NDT số sua khi đồng tiền này chính thức được phát hành. Điều này không xảy ra đối với Alipay và WeChat Pay, bởi người bán hàng trong trường hợp này có quyền từ chối.

(còn tiếp)

Nguồn: Financial Times – 17/02/2021

TLTKĐB – 22/02/2021

Tái phát minh các dịch vụ tài chính – Phần cuối


Thị trường dành cho các thị trường dự đoán

Augur đang xây dựng một nền tảng thị trường dự đoán phi tập trung, hệ thống sẽ thưởng cho người dùng nếu họ dự đoán chính xác các sự kiện trong tương lai – các sự kiện thể thao, kết quả bầu cử, ra mắt sản phẩm mới, giới tính con của người nổi tiếng. Vậy hệ thống này hoạt động như thế nào? Người dùng Augur có thể mua hoặc bán cổ phần trong kết quả của một sự kiện trong tương lai, giá trị là ước tính xác suất của một sự kiện đang xảy ra. Vì vậy, nếu có tỷ lệ cược ngang nhau (tức là 50/50), chi phí mua cổ phiếu sẽ là 50 xu.

Aurgur dựa vào “trí tuệ đám đông”, nguyên tắc khoa học nói rằng một nhóm người với số lượng lớn có thể dự đoán kết quả của một sự kiện tương lai với độ chính xác cao hơn nhiều so với một hoặc nhiều chuyên gia. Nói cách khác, Augur mang tinh thần của thị trường vào tính chính xác của các dự đoán. Cách thức này từng được áp dụng tại các thị trường dự đoán tập trung, chẳng hạn như Sở Giao dịch Chứng khoán Hollywood, Intrade và HedgeStreet (nay là Nadex), nhưng hầu hết các thị trường này đã đóng cửa hoặc không thành công trong việc giải quyết các mối quan ngại của nhà quản lý và luật pháp. Họ đều quan ngại các hợp đồng ám sát và khủng bố trong tương lai.

Sử dụng công nghệ blockchain khiến hệ thống phục hồi tốt hơn sau hỏng hóc, chính xác hơn, ít bị tác động bởi yếu tố con người, cùng những gì Augur gọi là “điều chỉnh ngoài phạm vi thẩm quyền”. Những trọng tài của nền tảng Augur lấy điểm uy tín để đánh giá tính hợp pháp. Khi điều tra đúng kết quả cuối cùng của phiên dự đoán – xác định đúng sự kiện gì xảy ra, trận thể thao hôm đó bên nào thắng, ai là người trúng cử – họ sẽ được thưởng thêm điểm uy tín. Việc duy trì sự liêm chính của hệ thống còn đem lại cho bạn hoa hồng: Càng nhiều điểm uy tín, bạn càng được tham gia nhiều thị trường và càng nhận được nhiều lợi nhuận. Theo lời của Augur, “thị trường dự đoán của chúng tôi loại bỏ rủi ro từ các bên tham gia, từ mô hình máy chủ tập trung và tạo ra thị trường giao dịch toàn cầu bằng cách sử dụng các đồng tiền mã hóa như bitcoin, ether cùng những đồng đang phát triển ổn định. Tất cả đều được dự trữ trong hợp đồng thông minh, không ai có thể đánh cắp tiền”. Augur đã giải quyết được vấn đề hợp đồng bằng chính sách không nhân nhượng với tội phạm.

Với đội ngũ lãnh đạo Augur, trí tưởng tượng của con người là sự giới hạn duy nhất với những tiện tích mà thị trường dự đoán mang lại. Theo Augur, bất kỳ ai cũng có thể đưa ra dự đoán về bất cứ thứ gì xảy ra với ngày giờ cụ thể – từ những điều tầm phào như “Liệu Brad Pitt và Angelina Jolie có ly hôn không?”, “Liệu Liên minh châu Âu có giải thể vào ngày 1 tháng 6 năm 2017?” Những gợi ý cho ngành công nghiệp dịch vụ tài chính, đối với các nhà đầu tư, các chủ thể kinh tế và toàn bộ thị trường là rất lớn. Hãy nhìn trường hợp những người nông dân ở Nicaragua hoặc Kenya, những người không có công cụ mạnh mẽ nào để phòng ngừa rủi ro về tiền tệ, rủi ro về chính trị hay biến đổi thời tiết và khí hậu. Việc tiếp cận các thị trường dự đoán sẽ cho phép người dân giảm bớt thiệt hại do nguy cơ hạn hán hoặc thiên tai. Ví dụ, anh ta có thể mua một hợp đồng dự đoán có tính phí nếu sản lượng cây trồng thấp hơn một mức nhất định, hoặc tại đất nước đó có ít hơn một lượng mưa cho trước.

Các thị trường dự đoán thực sự hữu ích cho các nhà đầu tư muốn đặt cược vào kết quả của các sự kiện cụ thể như: “Liệu cổ phiếu của IBM có tăng thêm ít nhất là 10 xu trong quý này không?” Ngày nay, báo cáo “ước tính” thu nhập doanh nghiệp không khác là bao so với đánh giá bình quân của một số ít chuyên gia phân tích. Bằng cách khai thác trí tuệ của đám đông, chúng ta có thể hình dung các dự đoán thực tế hơn về tương lai, giúp cho các thị trường hoạt động hiệu quả hơn. Các thị trường tiên đoán có thể cung cấp hàng rào chống lại sự không chắc chắn trên toàn cầu và các sự kiện “thiên nga đen”: “Liệu nền kinh tế Hy Lạp có thu hẹp hơn 15% trong năm nay?” Ngày nay, chúng ta dựa vào một vài phát thanh viên để đưa ra cảnh báo; một thị trường dự đoán sẽ hành động một cách công bằng hơn, như một hệ thống cảnh báo sớm cho các nhà đầu tư trên toàn cầu.

Các thị trường dự đoán có thể bổ sung và cuối cùng sẽ chuyển đổi nhiều mặt của hệ thống tài chính. Hãy cùng xem xét thị trường dự đoán dựa trên đầu vào là các hoạt động của công ty – báo cáo thu nhập, sáp nhập, mua lại và thay đổi quản lý. Các thị trường dự báo sẽ cho biết sự đảm bảo về giá trị cùng việc phòng ngừa rủi ro, thậm chí có thể thay thế các công cụ tài chính không rõ ràng như các điều khoản lựa chọn trong hợp đồng, hoán đổi lãi suất và hoán đổi nợ xấu. Tất nhiên, không phải mọi thứ đều cần đến thị trường tiên đoán. Chúng ta chỉ cần một số người quan tâm vừa đủ để thị trường dự đoán ở mức dễ thay đổi nhằm thu hút sự chú ý. Tuy nhiên, tiềm năng của lĩnh vực này vẫn còn rất rộng, cơ hội vẫn dành cho tất cả mọi người.

Con đường để đạt được 8 tiêu chuẩn vàng

Công nghệ blockchain sẽ tác động đến mọi hình thái và chức năng của ngành dịch vụ tài chính – từ các ngân hàng bán lẻ và các thị trường vốn đến ngành kế toán và quản lý. Chúng cũng buộc chúng ta phải suy nghĩ lại vai trò của các ngân hàng và tổ chức tài chính trong xã hội. Andreas Antonopoulos nói, “Bitcoin không thể có các khoản cứu trợ, ngày nghỉ (dành cho hệ thống ngân hàng), kiểm soát tiền tệ, cân bằng ổn định, hạn mức gửi và rút giờ làm việc như ngân hàng”.

Trong khi thế giới cũ lại mang tính phân cấp, chậm chạp, không sẵn sàng thay đổi, đóng kín và không rõ ràng, được kiểm soát bởi các đơn vị trung gian quyền lực, thì trật tự mới sẽ làm thế giới phẳng hơn, đưa ra giải pháp ngang hàng; riêng tư và na toàn hơn; minh bạch, toàn diện và mang tính cải cách. Chắc chắn trong quá trình thay đổi, sẽ có sự xáo trộn và gián đoạn, nhưng đây cũng là một cơ hội đáng chú ý cho lãnh đạo các ngành nghề làm điều gì đó cho ngày hôm nay. Ngành dịch vụ tài chính sẽ vẫn chìm nổi trong những năm tới; sẽ có vài đơn vị trung gian cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp hơn so với số đông. Đó là một điều tốt. Tuy nhiên, blockchain được cấp quyền và blockchain đóng sẽ tìm được một vị trí trong thế giới phi tập trung hay không vẫn là một vấn đề gây tranh cãi. Barry Silbert, người sáng lập SecondMarket và giờ là Giám đốc Điều hành của Digital Currency Group, cho biết: “Tôi rất hoài nghi về tính khách quan do các tập đoàn tài chính lớn đề xuất. Khi tất cả những gì bạn có là một cái búa, thì mọi thứ đều giống như một cái đinh”. Chúng tôi tin rằng sức mạnh không gì ngăn được của công nghệ blockchain đang lan tỏa khắp cơ sở hạ tầng của tài chính hiện đại. Sự va chạm này sẽ định hình lại tổng thể ngành tài chính trong nhiều thập kỷ tới. Chúng tôi muốn blockchain cuối cùng sẽ chuyển đổi từ một cỗ máy tiền tệ của kỷ nguyên công nghiệp thành một nền tảng thịnh vượng.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Don Tapscott & Alex Tapscott – Cuộc cách mạng blockchain – NXB ĐHKTQD 2018.

Tái phát minh các dịch vụ tài chính – Phần IX


Mô hình này đã chứng tỏ khả năng đáp ứng công việc của mình. BTCjam là nền tảng cho vay  ngang hàng sử dụng uy tín làm cơ sở cho việc mở rộng tín dụng. Người dùng có thể liên kết hồ sơ của họ trên BTCjam với Facebook, LinkedIn, eBay hoặc Coinbase để hồ sơ thêm chi tiết và sâu sắc. Bạn bè có thể tự nguyện giới thiệu cho bạn từ Facebook. Bạn còn có thể gửi điểm tín dụng của mình lên đó như một đặc điểm của bạn trong hồ sơ. Không một thông tin riêng tư nào bị lộ ra. Người mới bắt đầu sử dụng nền tảng này có thể có điểm uy tín thấp. Nhưng họ sẽ nhanh chóng xây dựng được uy tín bằng những hành động thể hiện mình là người đứng đắn. Cách tốt nhất là bắt đầu với “khoản vay dựa trên uy tín” để chứng minh bạn là người đáng tin cậy. Là người đi vay, bạn phải trả lời những câu hỏi của nhà đầu tư trong quá trình xin tài trợ. Nếu không trả lời câu hỏi, nhà đầu tư sẽ do dự khi đầu tư vào bạn. Với khoản vay đầu tiên của mình, bạn hãy bắt đầu với con số có thể quản lý được và trả đúng thời hạn. Nếu bạn làm được như vậy, điểm đánh giá của bạn sẽ được tăng lên, những thành viên trong cộng đồng sẽ có cái nhìn tích cực về bạn. Tính đến tháng 9 năm 2015, BTCjam đã tài trợ cho 18.000 khoản vay với tổng giá trị trên 14 triệu USD.

Doanh nhân Erik Voorhees đã dành lời khen tặng: “Với hệ thống dựa trên uy tín, những người có khả năng mua nhà sẽ được cho vay tiền một cách dễ dàng. Những người có khả năng tài chính eo hẹp sẽ mất nhiều thời gian hơn để tìm một khoản vay”. Đối với ông, phương pháp này “sẽ giảm chi phí đối với người có hành vi tốt và ngược lại với người có hành vi xấu, đó sẽ là một động lực phù hợp”. Trong hệ thống đánh giá bằng uy tín, khả năng thanh toán nợ không được đánh giá từ điểm FICO mà được tổng hợp từ các yếu tố cấu thành danh tính. Việc đánh giá tín dụng cho doanh nghiệp cũng sẽ thay đổi nhờ blockchain, với mục tiêu phản ánh nhiều thông tin mới và sâu sắc. Hãy tưởng tượng các công cụ sau này có thể tổng hợp uy tín của mọi người, đồng thời theo dõi các khía cạnh khác nhau, như sự tin cậy về tài chính, năng lực nghề nghiệp và ý thức xã hội. Trong tương lai, cho vay tín dụng sẽ dựa vào sự đóng góp của cộng đồng, nơi họ sẽ cho bạn vay tiền nếu họ có thể đánh giá mục tiêu và uy tín trong cộng đồng của bạn.

IPO Blockchain

Tuần lễ bắt đầu từ ngày 17 tháng 8 năm 2015 thật kinh khủng: Thị trường chứng khoán Trung Quốc sụp đổ, S&P 500 có kết quả tồi tệ nhất trong 4 năm vừa qua, và các chuyên gia tài chính ở khắp nơi đang nói về một cuộc suy thoái toàn cầu mới và khủng hoảng có thể xảy ra. IPO truyền thống bị rút ra khỏi thị trường, các vụ sáp nhập bị đình trệ, và Thung lũng Silicon bồn chồn với việc định giá quá cao những con kỳ lân – các công ty khởi nghiệp có giá trị hơn 1 tỷ USD.

Ngay giữa tâm bão,một doanh nghiệp có tên là Augur đã phát động một trong những chiến dịch gây quỹ thành công nhất trong lịch sử. Trong tuần đầu tiên, hơn 3500 người từ Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Hàn Quốc, Brazil, Nam Phi, Kenya và Uganda đã đóng góp tổng cộng 4 triệu USD. Không có môi giới, không có sự đầu tư của ngân hàng, không có chứng khoán, không có hồ sơ bắt buộc, không có các nhà quản lý, và không có luật sư. Thậm chí còn không có cả sự tham gia của cộng đồng Kickstarter hay Indiegogo. Thưa quý vị, chào mừng các vị đến với IPO blockchain.

Kết hợp các nhà đầu tư với doanh nhân là một trong 8 chức năng của ngành dịch vụ tài chính. Nó có thể sẽ bị gián đoạn. Quá trình huy động vốn cổ phần thông qua tư nhân, phát hành cổ phiếu ra công chúng lần đầu, phát hành thứ cấp và phát hành riêng lẻ với khối lượng lớn (PIPE) – không thay đổi đàng kể kể từ những năm 1930.

Nhờ vào các nền tảng gây quỹ mới, các công ty nhỏ có thể chạm vào nguồn vốn nhờ sử dụng Internet. Hai công ty Oculus Rift và Pebble Watch là hai ví dụ thành công ban đầu của mô hình này. Tuy nhiên, người tham gia không thể mua cổ phần trực tiếp. Ngày nay, Đạo luật Khuyến khích các Doanh nghiệp Khởi nghiệp (Jumpstart Our Business Startups Act) của Mỹ cho phép các nhà đầu tư nhỏ trực tiếp đầu tư vào các chiến dịch gây quỹ, nhưng các nhà đầu tư và doanh nhân vẫn cần các đơn vị trung gian như Kickstarter hoặc Indiegogo cùng một phương thức thanh toán thông thường để tham gia, thường là thẻ tín dụng và PayPal. Các đơn vị trung gian vẫn là trọng tài tối cao của tất cả, dù họ có sở hữu thứ gì đi nữa.

Mô hình IPO blockchain đưa định nghĩa ra xa hơn. Hiện tại, các công ty có thể gây quỹ “trên blockchain” nhờ sử dụng các token, chứng khoán ảo, dựa trên giá trị gì đó của công ty. Chúng có thể đại diện cho cổ phần, trái phiếu hoặc, trong trường hợp của Augur là chỗ đứng với tư cách là nhà tạo lập thị trường trên nền tảng, cho phép chủ sở hữu có quyền quyết định thị trường dự đoán mà công ty sẽ mở. Erthereum là trường hợp thành công hơn cả Augur, nền tảng này đã gây quỹ để phát triển một blockchain hoàn toàn mới qua hình thức bán cho cộng đồng. Ngày nay, Erthereum là nền tảng blockchain công khai phát triển nhanh nhất và có thời gian tồn tại lâu chỉ sau blockchain bitcoin. Mức đầu tư trung bình tính được của mỗi người trong dự án gây quỹ Augur là 750 USD, nhưng ai cũng hiểu khoản đầu tư tối thiểu có thể là 1 USD hay thậm chí là 10 cent. Bất cứ ai trên thế giới – kể cả những người nghèo nhất hay ở xa nhất – cũng có thể trở thành nhà đầu tư của thị trường chứng khoán.

Overstock, một nhà bán lẻ điện tử, đang xây dựng một loại chứng khoán số có khả năng dẫn đầu ở thời điểm hiện tại. Patrick Byrne, người sáng lập Overstock, tin rằng blockchain “có thể làm được nhiều điều cho thị trường vốn tương tự những gì mà Internet đã làm được cho người tiêu dùng”. Dự án có tên Medici cho phép công ty có thể phát hành chứng khoán trên blockchain và dự án đã nhận được sự ủng hộ của Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ (SEC). Công ty đã bắt đầu phát hành chứng khoán số đầu tiên dựa trên nền tảng blockchain, như 5 triệu USD cổ phiếu số cho một chi nhánh của FNY Capital vào năm 2015. Overstock cho biết nhiều công ty dịch vụ tài chính và các công ty khác nữa đang xếp hàng để sử dụng nền tảng này. Chắc chắn là, sự chấp thuận ngầm của SEC sẽ đưa Overstock tiến bước trên hành trình dài phía trước.

Nếu phát hành cổ phiếu dựa vào blockchain tiếp tục trở nên phổ biến,nó sẽ tác động tới vai trò của nhiều bên trong hệ thống tài chính toàn cầu – các nhà môi giới, ngân hàng đầu tư và các luật sư chứng khoán – và thay đổi bản chất của đầu tư. Bằng cách tích hợp blockchain IPO với các nền tảng mới cho việc trao đổi tài sản như Circle, Coinbase (một lính mới sừng sỏ, được rót nhiều vốn nhất trong lĩnh vực giao dịch bitcoin), Smartwallet (chuyên giao dịch tài sản toàn cầu với tất cả các hình thức tài sản) và các công ty mới nổi khác, chúng tôi hy vọng rằng hình thức phân phối ảo phi tập trung sẽ sớm ra mắt. Những người bảo thủ cũng đang để mắt đến điều này. NYSE đã đầu tư vào Coinbase và NASDAQ đang tích hợp công nghệ blockchain vào thị trường riêng của họ. Bob Greifeld, Giám đốc Điều hành của NASDAQ, đang thành lập một công ty quy mô nhỏ, sử dụng blockchain để “hợp lý hóa việc lưu giữ hồ sơ tài chính đồng thời làm giảm chi phí và tăng tính chính xác”, nhưng rõ ràng là NASDAQ và các doanh nghiệp khác đang có kế hoạch lớn hơn nhiều.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Don Tapscott & Alex Tapscott – Cuộc cách mạng blockchain – NXB ĐHKTQD 2018.

Tái phát minh các dịch vụ tài chính – Phần VIII


Cuối cùng, một hồ sơ bất biến của mọi vật có được như kỳ vọng? Ở châu Âu, các tòa án đang duy trì “quyền được quên”, cho phép các công dân trong khối được phép xóa bỏ vĩnh viễn những thông tin, hình ảnh cá nhân trên mạng mà họ không muốn lưu giữ vì một lý do nào đó. Chúng ta có nên áp dụng nguyên tắc tương tự cho doanh nghiệp? Không nên. Tại sao các tài xế của Uber được đánh giá qua sự hài lòng của khách hàng nhưng các nhà quản lý công ty lại có quyền thay đổi đánh giá đó? Hãy tưởng tượng có một cơ chế – được xây dựng dưới dạng một ứng dụng tin cậy – ghi nhận phản hồi trong sổ cái công khai và duy trì một điểm số độc lập, ai cũng được xem, để đánh giá sự liêm chính của doanh nghiệp. Đối với mảng tối của các công ty, chỉ có ánh sáng soi rọi mới là sự thanh tẩy tốt nhất.

Kế toán tam phân là sự đổi mới đầu tiên trong rất nhiều ứng dụng của blockchain trong quản trị doanh nghiệp. Giống như nhiều tổ chức trong xã hội, các công ty của chúng ta đang phải gánh chịu một cuộc khủng hoảng về tính hợp pháp. Nhà hoạt động cổ đông Robert Monks đã viết, “Chủ nghĩa tư bản đã trở thành một chế độ tham nhũng, được điều hành và hoạt động vì lợi ích của các giám đốc điều hành, hay như tôi thường gọi là những ông vua dưới vỏ bọc của các nhà quản lý”.

Blockchain trao lại quyền lực cho các cổ đông. Hãy tưởng tượng một token đại diện cho quyền sở hữu về tài sản, một đơn vị “bitshare”, xuất hiện với tư cách một lá phiếu hay nhiều lá phiếu tượng trưng cho quyết định của cổ đông. Mọi người có thể bỏ phiếu bảo đảm quyền của mình ngay lập tức ở bất cứ đâu, điều này làm cho quá trình bỏ phiếu đối với các hoạt động của những công ty lớn sẽ nhận được phản hồi nhanh hơn, hoàn thiện hơn và ít bị chi phối hơn. Việc ra quyết định trong công ty sẽ yêu cầu sự đồng thuận thực sự, cùng chữ ký của các bên, các cổ đông sẽ là người nắm giữ chìa khóa mở cánh cửa tương lai của công ty. Khi các phiếu bầu được biểu quyết, quyết định của người chủ lá phiếu cũng như biên bản cuộc họp hội đồng quản trị sẽ được gắn nhãn thời gian và ghi lại trong sổ cái bất biến.

Nên hay không việc các doanh nghiệp có quyền thay đổi quá khứ của mình, như quyền được lãng quên? Không thể thế được. Là một pháp nhân trong xã hội, các công ty phải có trách nhiệm đi kèm với giấy phép kinh doanh để hoạt động. Thật vậy, doanh nghiệp có nghĩa vụ phải công khai mọi thông tin về hoạt động giao dịch của mình. Đúng là doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ bảo vệ bí mật kinh doanh và quyền riêng tư của công nhân, nhân viên và các cổ đông. Nhưng việc này khác với quyền riêng tư. Tăng cường tính minh bạch sẽ tạo ra lợi thế lớn cho các nhà quản lý ở bất cứ khía cạnh nào: duy trì các tiêu chuẩn cao nhất cho hệ thống quản trị doanh nghiệp, nắm được những thông tin mật chỉ dành cho chủ doanh nghiệp. Tất cả điều này đều xuất phát từ công nghệ blockchain.

Đánh giá uy tín: Điểm tín dụng sẽ phản ánh được con người bạn

Dù bạn mới lần đầu tiên nộp đơn đề nghị sử dụng thẻ tín dụng hay vay tiền, tiêu chí đánh giá cao nhất của ngân hàng vẫn là điểm tín dụng. Chỉ số này nhằm phản ánh mức độ đáng tin cậy của bạn và đánh gái rủi ro bạn có thể gây ra. Đây là sự kết hợp của nhiều dữ kiện, như khoảng thời gian từ lúc bạn vay tiền cho đến lúc trả. Hầu hết các hình thức tín dụng đều dựa vào điểm tín dụng. Nhưng phép tính này có nhiều lỗ hổng trong đó. Đầu tiên là nó vô cùng thiển cận. Một người tuy không có lịch sử giao dịch tín dụng như có thể có nhiều trang sức quý hiếm, có thể từng có tiền án tiền sự, hay cũng có thể có một người họ hàng giàu có. Những thông tin này không hề được dùng để cho điểm uy tín. Thứ hai, điểm số gây ra những động lực ngược cho con người. Ngày càng có nhiều người sử dụng thẻ ghi nợ, nghĩa là họ để tiền mặt trong tài khoản. Vì không có điểm tín dụng nên họ sẽ phải chịu phạt. Tuy vậy, các công ty thẻ tín dụng vẫn khuyến khích các cá nhân không có tài sản đến nộp đơn xin sử dụng thẻ tín dụng bằng mọi giá. Thứ ba, việc đánh giá điểm không hiệu quả: dữ liệu đầu vào có thể đã lỗi thời và không còn mấy liên quan. Một khoản thanh toán trễ khi 20 tuổi sẽ ít dính dáng tới những rủi ro tín dụng khi người đó 50 tuổi.

FICO, một công ty Mỹ với tên gốc là Fair, Isaac and Company, đang dẫn đầu thị trường Mỹ về đánh giá điểm tín dụng, nhưng đây không được xem như yếu tố có nhiều thông tin liên quan chặt chẽ tới việc phân tích. Marc Andressen nói, “PayPal có thể đánh giá điểm tín dụng theo thời gian thực, dựa vào lịch sử mua hàng eBay của bạn – và hóa ra đó là một nguồn thông tin tốt hơn so với những thứ được sử dụng để tạo ra điểm FICO”. Những yếu tố này, kết hợp với dữ liệu giao dịch và kinh doanh cùng các thuộc tính khác được tạo ra bởi công nghệ blockchain, có thể cho phép con người tạo ra một thuật toán mạnh mẽ hơn để phát hành tín dụng và quản lý rủi ro.

Uy tín là gì? Tất cả chúng ta đều có uy tín. Uy tín là điều quan trọng để tin tưởng trong kinh doanh và trong cuộc sống hàng ngày.  Đến nay, những nhà trung gian tài chính đã không sử dụng uy tín làm nền tảng thiết lập sự tin tưởng giữa các cá nhân và ngân hàng. Hãy xem xét một chủ doanh nghiệp nhỏ muốn vay tiền. Thông thường, nhân viên cho vay sẽ dựa trên hồ sơ, đánh giá của nhân viên cùng điểm tín dụng của họ. Tất nhiên, chúng ta không thể chỉ đánh giá con người qua số an sinh xã hội, nơi sinh, nơi cư trú thường xuyên và lịch sử tín dụng. Tuy nhiên, ngân hàng không biết và cũng không quan tâm điều đó, cho dù bạn có là một nhân viên đáng tin cậy, một tình nguyện viên tích cực, một công dân lương thiện và yêu quý con cái. Các nhân viên cho vay có thể đánh giá hành vi của bạn với sự liêm chính, nhưng hệ thống điểm tín dụng ngân hàng thì không. Những thành phần quan trọng kể trên của uy tín đơn giản là khó tổng hợp, khó lưu trữ và khó sử dụng trong các hệ thống xã hội đang dùng. Hầu hết các hệ thống này đều không có tính thực tiễn lâu dài.

Vì vậy, hàng tỷ người sẽ phải làm thế nào khi không được đánh giá uy tín đúng mức? Đối với các dịch vụ tài chính dành cho người nghèo trên toàn cầu, nhiều người không thể đáp ứng được các yêu cầu danh tính cần thiết, chẳng hạn như thẻ căn cước, giấy chứng minh cư trú hay lịch sử giao dịch tài chính. Đây cũng là một vấn đề đối với những nước phát triển. Vào tháng 12 năm 2015, nhiều ngân hàng lớn của Mỹ đã từ chối thẻ căn cước chứng nhận công dân New York như một giấy chứng nhận hợp lệ để mở tài khoản ngân hàng, mặc dù có hơn 670.000 người sử dụng loại thẻ này và các nhà quản lý ngân hàng liên bang đã chấp thuận thẻ đó là hợp lệ. Blockchain có thể giải quyết vấn đề này bằng cách trao quyền cho mọi người tạo ra danh tính riêng với nhiều thuộc tính, đảm bảo ghi lại lịch sử giao dịch của những người cùng hệ thống và cung cấp cho họ những giải pháp mới ngoài hệ thống ngân hàng truyền thống.

Vẫn còn rất nhiều ứng dụng khác của blockchain – đặc biệt là trong tín dụng – nơi blockchain sẽ thiết lập lòng tin giữa các bên khi cần. Công nghệ blockchain không chỉ được dùng để chuyển tiền cho bên vay mà còn có thể đảm bảo người vay sẽ trả cả gốc lẫn lãi. Blockchain sẽ trao quyền sử dụng dữ liệu của bản thân cho mỗi bên, củng cố quyền riêng tư, tạo ra một mô hình danh tính kinh tế bền vững dựa trên lịch sử giao dịch trên blockchain và vốn xã hội của họ. Patrick Deegan, Giám đốc Công nghệ tại công ty khởi nghiệp hoạt động trong lĩnh vực danh tính, Personal BlackBox, cho rằng các cá nhân một ngày nào đó sẽ “tự triển khai, quản lý danh tính của mình và hình thành kết nối đáng tin cậy với những người đồng cấp hoặc thành viên của mạng lưới”, tất cả đều nhờ có công nghệ blockchain. Vì blockchain đã ghi và lưu trữ giao dịch trong những hồ sơ bất biến, nên tất cả các giao dịch đều có thể kiểm tra, hướng tới sự đảm bảo về uy tín và mức độ tín nhiệm. Hơn nữa,mọi người có thể quyết định giao tiếp với các tổ chức bằng danh tính phù hợp. Deegan nói: “Tôi có thể tạo ra nhiều cá thể, thể hiện các khía cạnh cá nhân khác nhau của bản thân tôi, và tôi sẽ chọn nhân cách phù hợp để tương tác với các công ty”. Ngân hàng và các công ty khác trong blockchain không nên yêu cầu và tổng hợp nhiều thông tin hơn số họ cần để cung cấp dịch vụ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Don Tapscott & Alex Tapscott – Cuộc cách mạng blockchain – NXB ĐHKTQD 2018.

Tái phát minh các dịch vụ tài chính – Phần VII


Sổ cái Toàn cầu

Ngày nay, các công ty đều ghi nợ và có mỗi giao dịch thành hai mục, do đó, chúng ta còn gọi đây là hình thức kế toán kép. Họ có thể dễ dàng thêm một mục thứ ba vào Sổ cái Toàn cầu, khi có ai đó cần xem thông tin họ có thể truy cập vào đó ngay lập tức – người xem có thể là cổ đông của công ty, kiểm toán viên, hay các nhà quản lý. Hãy tưởng tượng rằng khi một công ty lớn như Apple bán sản phẩm, mua nguyên liệu thô, trả tiền nhân viên, hoặc kiểm toán tài sản và nợ phải trả trên cả bảng cân đối kế toán, Sổ cái Toàn cầu sẽ ghi lại giao dịch và xuất một hóa đơn có gắn nhãn thời gian đính vào blockchain. Báo cáo tài chính của một công ty sẽ trở thành một cuốn sổ cái trực tuyến, có thể tìm kiếm và kiểm chứng. Việc tạo ra báo cáo tài chính được cập nhật từng phút cũng sẽ đơn giản như chức năng bảng kê, chỉ cần ấn nút và nó sẽ cung cấp cho bạn một báo cáo tài chính bất biến, hoàn chỉnh và có thể tìm kiếm được, không có lỗi nào. Có thể các công ty sẽ không muốn tất cả mọi người nhìn thấy những con số này, và vì vậy giám đốc điều hành có thể kiểm soát nó bằng cách chỉ cho những nhà điều hành, quản lý, và các bên liên quan khác được phép truy cập.

Nhiều người trong ngành nhìn thấy những tiềm năng của Sổ cái Toàn cầu đối với ngành kế toán. Theo Simon Taylor của Barclays, một cuốn sổ cái có thể đảm bảo việc tuân thủ các quy định của ngân hàng và giảm bớt rủi ro. “Chúng tôi thực hiện rất nhiều báo cáo về việc chấp hành quy định, về cơ bản chúng tôi chỉ cần nói rằng đây là tất cả những gì chúng tôi đã làm, bởi tất cả những gì chúng tôi đã làm đều nằm trong hệ thống mà không ai có thể thấy được”. Sổ cái Toàn cầu là một hồ sơ minh bạch mọi thứ “có nghĩa là một nhà quản lý sẽ có một quyền truy cập cùng tầng dữ liệu cơ bản với các doanh nghiệp. Điều này sẽ làm giảm khối lượng công việc và chi phí, đồng thời chúng tôi có thể thực hiện kiểm toán trong thời gian thực. Công nghệ này thực sự mạnh mẽ”. Theo Jeremy Allaire của Circle, các nhà quản lý sẽ là những người được hưởng lợi nhiều nhất. “Các thanh tra ngân hàng đã phải dựa vào các hệ thống kế toán tài chính và sổ cái không rõ ràng, bị kiểm soát một cách kín đáo và bị giữ độc quyền, để thực hiện công việc họ – đó là nhược điểm của “sổ sách và hồ sơ””, ông nói. “Với sổ cái công khai, các kiểm toán viên và thanh tra ngân hàng có thể tự động kiểm tra tình trạng cơ bản của bảng cân đối và tiềm lực của một công ty – đây là một sự đổi mới mạnh mẽ, có thể tự động hóa các công việc trong quản lý cũng như trong kiểm toán và kế toán”.

Điều này sẽ đem lại sự liêm chính cho toàn hệ thống. “Tất cả các hành vi gian lận sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Bạn phải gian lận liên tục,không có cách nào để phục hồi và thay đổi hồ sơ của mình”, Christian Lundvist đến từ Balanc3, một công ty khởi nghiệp kế toán tam phân dự trên nền tảng Ethereum, nói. Austin Hill lập luận, “Một sổ cái công khai được kiểm toán và xác minh liên tục nghĩa là bạn không phải tin tưởng vào sổ sách của đối tác; chúng ta sẽ có sự liêm chính trong các báo cáo hay trong các hồ sơ giao dịch, bởi chính mạng lưới cũng đang xác minh nó. Nó giống như một cuộc kiểm toán liên tục được thực hiện theo hình thức mã hóa. Bạn sẽ không còn phải nhờ đến các công ty như PricewaterHouseCopers  hay Deloitte. Bạn sẽ không gặp rủi ro với các đối tác. Nếu sổ cái nói điều này là đúng, thì nó là đúng”.

Deloitte, một trong Big Four ngành kế toán của thế giới, đang cố gắng để hiểu được tác động của blockchain. Eric Piscini, người đứng đầu trung tâm tiền mã hóa của Deloitte, nói với khách hàng rằng blockchain là “rủi ro lớn đối với mô hình kinh doanh của chính bạn vì giờ đây công việc kinh doanh của ngân hàng là quản lý rủi ro. Nếu ngày mai tất cả những rủi ro kia biến mất, bạn sẽ làm gì?” Nơi lạc hậu cần thay đổi là hoạt động kiểm toán, và kiểm toán lại chiếm đến 1/3 doanh thu của Deloitte. Piscini nói, “Điều đó đã phá vỡ mô hình kinh doanh của chúng tôi, phải không? Ngày nay, chúng tôi dành nhiều thời gian kiểm toán cho các công ty, và từ đó chúng tôi tính lệ phí cho phù hợp. Trong tương lai, nếu quá trình hoàn toàn hợp lý vì có mốc đánh dấu thời gian trong blockchain, nó sẽ làm thay đổi cách chúng ta kiểm toán các công ty”. Hay chúng ta cũng có thể loại bỏ hoàn toàn ngành kiểm toán?

Deloitte đã phát triển một giải pháp gọi là PermaRec (dành cho Permanent Record), theo đó “Deloitte sẽ ghi lại các giao dịch đó vào blockchain và sau đó có thể kiểm toán một trong hai đối tác, hoặc cả hai, rất nhanh chóng, bởi vì giao dịch đó đã được ghi lại”. Nhưng nếu mục nhập thứ ba lên blockchain – gắn nhãn thời gian và sẵn sàng để mọi người nhìn thấy  mọi thứ sẽ diễn ra hoàn toàn tự động, bất cứ ai, ở bất cứ nơi nào, cũng có thể xác định xem sổ sách có cân đối hay không. Ngược lại, lĩnh vực phát triển nhanh nhất của Deloitte và ba hãng lớn khác là dịch vụ tư vấn. Nhiều khách hàng đang thắc mắc, vò đầu bứt tai về blockchain. Sự bối rối này đang tạo cơ hội tăng doanh thu cho công ty.

Mornini, một doanh nhân đầy nhiệt huyết và tự mô tả mình là “người luôn lạc quan”, đã so sánh việc kiểm toán định kỳ với việc “xem một người đứng lên và nhảy trước ánh đèn lấp lánh. Bạn biết họ đang nhảy múa, nhưng bạn không thể hiểu được những gì đang xảy ra. Và dù trông nó thật thú vị, nhưng thật khó để nhận ra tất cả các bước trong đó”. Kế toán định kỳ đưa ra một cái nhìn nhanh gọn. Kiểm toán, theo định nghĩa, là một quá trình hợp với quá khứ hơn là hiện tại. Việc tạo ra một bức tranh toàn cảnh về tình hình tài chính của một công ty bằng cách xem các báo cáo tài chính định kỳ giống như nhìn chiếc bánh hamburger thành một con bò.

Theo Mornini, hầu hết các tập đoàn lớn sẽ không bao giờ muốn có hồ sơ kế toán minh bạch được biết đến công khai hoặc ngay cả được truy cập bởi những người có đặc quyền, chẳng hạn như kiểm toán viên hoặc cơ quan quản lý. Sức khỏe tài chính của công ty là một trong những bí mật cần được bảo vệ nhất. Hơn nữa, nhiều công ty muốn đảm bảo rằng việc quản lý có mức độ linh hoạt nhất định trong cách kế toán các khoản mục cụ thể, chẳng hạn như cách xác định thu nhập, khấu hao tài sản, hay tính toán giá trị thương hiệu công ty.

Tuy nhiên, Mornini tin rằng các công ty sẽ được hưởng lợi lớn hơn từ sự minh bạch – không chỉ trong việc tinh giản bộ phận tài chính hoặc giảm chi phí kiểm toán của họ, mà còn là cách thị trường đánh giá công ty họ. Ông nói, “Công ty đầu tiên sử dụng hệ thống này sẽ thấy lợi thế về gái cả trên mỗi cổ phiếu, hay lợi thế về tỷ suất lợi nhuận/giá so với các công ty khác, nơi các nhà đầu tư phải lo lắng chờ đợi thông tin tài chính ngân hàng, cung cấp theo quý”. Cuối cùng, ông lập luận, “Ai sẽ đầu tư vào một công ty chỉ cho họ thấy những gì đang diễn ra hàng quý, so với công ty cho họ thấy tất cả, bất cứ lúc nào?”

Liệu các nhà đầu tư có sẵn lòng yêu cầu kế toán tạm phân để đáp ứng các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp không? Đây không phải là một câu hỏi xa vời. Nhiều nhà đầu tư theo tổ chức, chẳng hạn như Hệ thống Hưu trí Công nhân California, đã phát triển các tiêu chuẩn quản trị doanh nghiệp nghiêm ngặt, và họ sẽ không đầu tư vào một công ty trừ khi các tiêu chuẩn này được đáp ứng. Kế toán tam phân có thể là tương lai của chúng ta.

Kế toán tam phân: Sự riêng tư dành cho các cá nhân, không phải cho các doanh nghiệp

Không phải không có hoài nghi về nguyên tắc kế toán tam phân. Izabella Kaminska, phóng viên tờ Financial Times, tin rằng việc ủy nhiệm kế toán tam phân sẽ làm tăng số lượng các giao dịch được chuyển sang bảng cân đối kế toán. “Sẽ luôn có những người từ chối thực hiện theo đúng giao thức, người lách luật và giấu tài sản bí mật ở ngoài chợ đen, bảng cân đối ngoài, ngân hàng ngầm”.

Làm thế nào để một người có thể sử dụng các phương pháp kế toán phi-giao-dịch, đặc biệt là trong việc ghi nhận các tài sản vô hình? Làm thế nào để quản lý quyền sở hữu trí tuệ, giá trị thương hiệu, hoặc ngay cả danh tiếng của những người nổi tiếng như Tom Hanks? Diễn viên từng đoạt giải Oscar phải thủ vai bao nhiêu bộ phim tồi trước khi blockchain hạ bớt giá trị thương hiệu của ông?

Lập luận về kế toán tam phân không trái ngược với kế toán truyền thống. Vẫn có những nơi cần kiểm toán viên thông thạo nghiệp vụ. Tuy nhiên, nếu kế toán tam phân có thể cải thiện phần lớn tính minh bạch và khả năng đáp ứng thông qua thanh toán thời gian thực, hồ sơ giao dịch có thể xác nhận và kiểm toán tức thì, thì blockchain có thể giải quyết những vấn đề lớn nhất đặt ra cho công tác kế toán. Deloitte sẽ chỉ cần một vài người để đánh giá các giá trị tài sản vô hình và thực hiện công tác kế toán khác mà blockchain không thể làm, hơn là duy trì một đội ngũ kiểm toán viên lớn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Don Tapscott & Alex Tapscott – Cuộc cách mạng blockchain – NXB ĐHKTQD 2018.