Fintech: Đặc trưng của hệ sinh thái và mô hình kinh doanh – Phần cuối


Bốn là, sự hợp tác giữa công ty Fintech và ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế, mới chỉ đơn thuần là cung cấp các dịch vụ thanh toán giản đơn, chưa đa dạng hóa các mô hình kinh doanh, các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Hoạt động của các công ty Fintech tại Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn đầu, chưa đa dạng hóa mô hình kinh doanh và dịch vụ, phần lớn đang hoạt động theo mô hình dịch vụ thanh toán. Bên cạnh đó, hệ sinh thái Fintech tại Việt Nam chưa có sự kết nối chặt chẽ giữa các chủ thể bao gồm cơ quan quản lý, các định chế tài chính, công ty Fintech và các doanh nghiệp viễn thông… Hoạt động kết nối để cung ứng sản phẩm dịch vụ cho người tiêu dùng chủ yếu là hợp tác giữa công ty Fintech và ngân hàng. Tuy nhiên, sự hợp tác này vẫn còn nhiều hạn chế, mới chỉ đơn thuần là cung cấp các dịch vụ thanh toán giản đơn, chưa cung cấp các dịch vụ nâng cao khác cũng như tiếp nhận, phản hồi, chia sẻ thông tin về khách hàng (Phạm Anh Tuấn, 2017).

Việc sớm khắc phục những hạn chế trên bằng các giải pháp cụ thể sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc hoàn chỉnh hệ sinh thái Fintech, góp phần đa dạng hóa mô hình kinh doanh và thúc đẩy phát triển Fintech tại Việt Nam trong thời gian tới.

Những đề xuất góp phần hoàn chỉnh hệ sinh thái và đa dạng hóa mô hình kinh doanh Fintech tại Việt Nam

Đào tạo nhân lực

Xây dựng chương trình đào tạo Fintech cho giáo dục đại học và sau đại học và có quy định, hướng dẫn các cơ sở đào tạo nhân lực cho hoạt động Fintech ở các cấp độ. Đào tạo cách tiếp cận kinh doanh qua phân tích bối cảnh kinh doanh luôn có những tiến bộ công nghệ cùng với những tổ chức, cá nhân mới tham gia cạnh tranh làm thay đổi cách kinh doanh hiện tại nhằm cung cấp cho người học hiểu biết tốt hơn về xu hướng công nghệ hiện đại trong lĩnh vực kinh doanh. Tập trung vào đào tạo phát triển đầy đủ các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ bao gồm đào tạo chuyên sâu về phân tích Fintech thông qua mô hình hóa tín dụng, tiền tệ số và Blockchain dựa trên dữ liệu; tư vấn trực tuyến và hệ thống hóa hoạt động thương mại; các ứng dụng Fintech trong tài chính doanh nghiệp, tài chính cá nhân, thanh toán, tài chính tiêu dùng, cho vay trực tuyến; quản lý tài sản, quản lý rủi ro Fintech… Về quản lý công nghệ, cần hướng vào phân tích công nghệ, bảo mật, an ninh thông tin, hiện đại hóa công nghệ thông tin, hệ thống thông tin tài chính, quản lý ứng dụng công nghệ trong tài chính doanh nghiệp, đạo đức trong quản lý công nghệ… Nhằm rèn luyện kỹ năng, tiếp cận thực tiễn của người học, những chương trình thực hành được cấu trúc tốt với mục đích tạo ra những nhà đổi mới Fintech trong tương lai, đảm bảo người học được tham gia vào các xu hướng mới nhất, ý tưởng mới và phù hợp với sự phát triển của Fintech. Các cơ sở đào tạo kết nối với các tổ chức tham gia vào hoạt động Fintech, tổ chức thực tập và trao đổi sinh viên với nước ngoài, tạo điều kiện cho người học tiếp cận thực tiễn và nghiên cứu các giải pháp sáng tạo về công nghệ, mô hình kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ… Tạo nguồn nhân lực là công việc chuyên môn, lãnh đạo, quản lý va chuyên gia với các kỹ năng và kỹ thuật tiên tiến, tầm nhìn rộng về các ứng dụng cần thiết trong lĩnh vực dịch vụ tài chính để tham gia vào hoạt động Fintech.

Hoàn thiện chính sách

Quy định rõ và tiêu chuẩn hóa các mô hình kinh doanh của công ty Fintech, đa dạng các loại hình hoạt động của công ty đầu tư và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Trong đó:

i/ Đối với các mô hình kinh doanh: Quy định rõ về các phương tiện, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt mới, dịch vụ trung gain thanh toán, tiền điện tử, hoạt động thương mại điện tử. Đặc biệt, tạo cơ chế, chính sách và hướng dẫn các tổ chức, cá nhân tham gia mô hình kinh doanh trên thị trường vốn và bảo hiểm nhằm góp phần thúc đẩy các mô hình kinh donah này hiện chưa phát triển tại Việt Nam; tạo điều kiện tốt cho đầu tư, giao dịch ngoại hối, quản lý rủi ro và nghiên cứu thị trường, kết nố các nhà đầu tư với nhau để chia sẻ thông tin, đặt lệnh mua bán, bán tài sản hoặc chứng khoán và giám sát rủi ro; tạo mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và công ty bảo hiểm; đơn giản hóa quá trình thanh toán tiền bảo hiểm y tế; thực hiện phân tích dữ liệu để tính toán và đối sảnh rủi ro trong hoạt động bảo hiểm.

ii/ Đối với các loại hình hoạt động của công ty đầu tư và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Ngoài các quy định cụ thể về mô hình tổ chức, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ các bên liên quan đến hoạt động của các công ty và các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, cần quy định chi tiết về các điều kiện thành lập, hoạt động công ty và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo bao gồm các yêu cầu về tài chính, tiêu chuẩn nguồn nhân lực đảm bảo cho hoạt động nguyên tắc đầu tư khởi nghiệp sáng tạo… Khuyến khích, tạo điều kiện cho các công ty và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo có thể tham gia thử nghiệm các mô hình kinh doanh trong một thời gian nhất định trước khi được cấp phép chính thức, giúp các tổ chức này hội đủ các điều kiện, chứng minh được khả năng hoạt động trong các mô hình kinh doanh Fintech; đồng thời, đảm bảo có đủ vốn, có hệ điều hành và nhân sự phù hợp để cung cấp các sả phẩm, dịch vụ theo hướng đa dạng hóa các mô hình kinh doanh.

Thu hút vốn đầu tư

Có chính sách khuyến khích, thu hút vốn vào lĩnh vực Fintech như chính sách miễn, giảm thuế nhằm hỗ trợ các công ty và các quỹ đầu tư khởi nghiệp; hỗ trợ cho các công ty và các quỹ đầu tư khởi nghiệp tiếp cận các nguồn tài trợ… Đồng thời gia tăng vốn thông qua đầu tư của Nhà nước hỗ trợ vào nghiên cứu và phát triển công nghệ, truyền thông, quảng bá hoạt động Fintech cùng với tạo sự kết nối trong đầu tư, khai thác và hợp tác chặt chẽ giữa các công ty công nghệ, viễn thông, các công ty Fintech, ngân hàng, tổ chức tài chính, tổ chức và cá nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ sẽ góp phần gia tăng thu hút vốn đầu tư vào Fintech. Trong đó, nâng cấp một số hệ thống thanh toán và đầu tư hệ thống thanh toán mới nhằm tăng cường sự kết nối liên thông giữa các hệ thống thanh toán, trao đổi dữ liệu điện tử giữa các tổ chức liên quan; tạo thuận lợi cho việc kết nối với các hệ thống thanh toán khác trong khu vực và trên thế giới; áp dụng các thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất cho một số phương tiện và hệ thống thanh toán; ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật thanh toán thế hệ mới, tiên tiến nhằm tăng tính hiệu quả và tốc độ thanh toán cho các hệ thống thanh toán; phát triển nhiều mô hình kinh doanh và dịch vụ giá trị gia tăng.

Tạo sự kết nối các bên tham gia và thúc đẩy nhu cầu

Cần tạo sự kết nối chặt chẽ các bên tham gia, qua đó thúc đẩy nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ, góp phần đa dạng hóa mô hình kinh doanh Fintech.

Các hoạt động kết nối có thể thông qua hình thành các trung tâm và hiệp hội Fintech; tạo điều kiện trực tiếp hỗ trợ vè chuyên môn, kỹ thuật và hướng dẫn chính sách phát triển Fintech; giới thiệu mô hình kinh doanh, kích thích nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ Fintech; tạo liên kết giữa các tổ chức, cá nhân tham gia và người sử dụng dịch vụ Fintech với các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách, tăng cường trao đổi thông tin, tiếp nhận những phản hồi đóng góp của các bên tham gia, giúp cho việc hoàn chỉnh hệ sinh thái, cơ chế quản lý phù hợp, hoàn thiện khung khổ pháp lý, xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển Fintech, tăng cường các chính sách quản lý để tạo thuận lợi cho việc áp dụng các đổi mới công nghệ trong ngành dịch vụ tài chính, tạo môi trường hoạt động thân thiện, hiệu quả cho các công ty và các quỹ đầu tư khởi nghiệp của Việt Nam tiếp tục hình thành và phát triển đa dạng mô hình kinh doanh Fintech.

Nguồn: Thị trường tài chính tiền tệ  – Số 10 (499) – 2018.

Advertisements

Sự lụi tàn của đồng tiền – Phần cuối


+ Sự sụp đổ của thị trường

Viễn cảnh thị trường sụp đổ phụ thuộc vào rủi ro hệ thống, không phụ thuộc vào chính sách kinh tế nền tảng. Rủi ro thị rường sụp đổ bị phóng đại bởi trình độ quản lý, điều hành kém cỏi và sự tham lam của các ngân hàng. Lý thuyết về độ phức tạp chính là công cụ thích hợp để phân tích rủi ro này.

Trong quá trình phân tích này, bước đầu tiên, chúng ta phải hiểu rằng các thị trường vốn bao gồm cả bốn đặc tính đặc trưng của những hệ thống phức tạp: cơ quan đoàn thể đa dạng, không có tính kết nối, phụ thuộc lẫn nhau và hành vi có tính thích nghi. Việc kết luận rằng thị trường vốn là hệ thống phức tạp có rất nhiều ý nghĩa đối với công tác điều hành và quản trị rủi ro. Ý nghĩa thứ nhất, công cụ thích hợp để đo lường rủi ro là tổng giá trị giả định của chứng khoán phái sinh, không phải giá trị thuần. Tổng quy mô vị thế chứng khoán phái sinh của tất cả các ngân hàng hiện nay là trên 650 nghìn tỷ USD, cao gấp hơn 9 lần GDP toàn cầu.

Ý nghĩa thứ hai, bi kịch lớn nhất có thể xảy ra trong hệ thống phức tạp là hàm số mũ phi tuyến tính của quy mô hệ thống. Điều này nghĩa là, khi quy mô hệ thống mở rộng gấp đôi hoặc gấp ba, rủi ro đứng trước thảm họa sẽ tăng lên theo thừa số của 10 hoặc 100. Đây cũng chính là lý do những bài kiểm tra mức độ căng thẳng dựa trên các sự kiện lịch sử như 9/11 hay 2008 hoàn toàn không có giá trị, vì quy mô hệ thống không đồng nhất sẽ dẫn đến rủi ro hệ thống không đồng nhất.

Giải pháp rủi ro cho hệ thống này thực ra lại đơn giản đến không ngờ. Nhiệm vụ trước mắt là đóng cửa các ngân hàng lớn và cấm các giao dịch phần lớn chứng khoán phái sinh. Các ngân hàng lớn không cần thiết đối với nền tài chính toàn cầu. Khi cần đến những khoản tiền lớn, một ngân hàng chủ trì có thể đứng ra tổ chức nghiệp đoàn ngân hàng, như đã từng làm trong quá khứ đối với các dự án hạ tầng khổng lồ như đường ống Alaska, những đoàn tàu chở dầu cực lớn và những chiếc Boeing 747 đầu tiên. Lợi ích của việc đóng cửa ngân hàng không phải là loại bỏ được nguy cơ ngân hàng làm ăn thất bại, mà là sự thất bại đó sẽ không trở thành mối nguy hiểm nữa. Cái giá phải trả cho nó sẽ nằm trong khả năng kìm hãm được và không thể “di căn” đến mức đe dọa toàn hệ thống. Trường hợp cấm giao dịch phần lớn chứng khoán phái sinh thậm chí còn dễ hiểu hơn nữa. Trên thực tế, chứng khoán phái sinh không có ích lợi gì ngoài việc làm giàu cho các chủ nhà băng nhờ giá cả mù mờ và lừa gạt các nhà đầu tư thông qua hạch toán ngoại bảng.

Bất kể những chiến lược giải tán ngân hàng lớn hay cấm chứng khoán phái sinh có mang lại lợi ích gì chăng nữa thì khả năng để chúng trở thành hiện thực cũng bằng 0, vì các nhà quản lý đang sử dụng những mô hình đã lỗi thời hoặc dựa vào mô hình của chính ngân hàng, bất chấp việc chúng không thể nhận diện được rủi ro hệ thống. Quốc hội sẽ không hành động bởi vì nhìn chung, ông nghị bà nghị nào cũng bị trói buộc bởi những khoản tiền mà các ngân hàng đổ vào hoạt động chính trị.

Rủi ro từ phía ngân hàng và chứng khoán phái sinh sẽ không ngừng tăng lên và lần sụp đổ tiếp theo sẽ diễn ra ở một phạm vi chưa từng có vì quy mô hệ thống đã đạt đến mức lớn nhất từ trước đến nay. Các nguồn lực của Cục Dự trữ Liên bang đã gần như không thể ngăn chặn một đợt sụp đổ toàn diện trong năm 2008, vì vậy chúng ta nên chuẩn bị tinh thần cho một đợt sụp đổ còn lớn hơn thế sẽ chôn vùi bảng cân đối kế toán của FED. Trong một thời kỳ tương đối yên bình mà cơ quan nào đã in tới hơn 3000 tỷ USD thì trong cuộc khủng hoảng tương lai, việc in thêm 3000 tỷ USD nữa hoàn toàn không khả thi về mặt chính trị. Nhiệm vụ giải cứu thế giới sẽ đặt lên vai IMF, vì họ sẽ là định chế chính thức duy nhất sở hữu một bảng cân đối kế toán sạch sẽ. IMF sẽ đối phó bằng một đợt phát hành SDR quy mô cực lớn và thị trường tiền tệ này sẽ đặt dấu chấm hết cho vai trò là tiền tệ dự trữ hàng đầu của đồng USD.

+ Nguy hiểm dồn dập

Những mối đe dọa nói trên đối với đồng USD hiện diện khắp mọi nơi. Từ bên trong là việc in tiền vô tội vạ của FED và nguy cơ lạm phát phi mã. Từ bên ngoài là hoạt động tích trữ vàng của Nga và Trung Quốc báo trước sự chuyển đổi sang một loại tài sản dự trữ mới.

Ngoài ra, còn vô số mối đe dọa liên quan khác. Nếu lạm phát không hình thành thì chỉ có thể do nền kinh tế đã giảm phát vô phương cứu chữa và phản ứng của FED sẽ dọn đường cho sự trỗi dậy của vàng. Nga và Trung Quốc không phải là hai quốc gia duy nhất khao khát thoát khỏi sự chi phối của đồng USD. Iran và Ấn Độ có thể dẫn đầu một cuộc cách mạng chuyển hướng sang sử dụng đồng tiền châu Á làm tiền tệ dự trữ và các thành viên trong Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council) có thể chọn cách xác định giá xuất khẩu dầu mỏ bằng một loại tiền tệ khu vực mới do một ngân hàng trung ương có trụ sở tại Vịnh Ba Tư phát hành. Về mặt địa chính trị, các mối đe dọa đối với đồng USD có thể không giới hạn trong sự cạnh tranh kinh tế, mà có thể mang khuynh hướng thù địch và chuyển thành một cuộc chiến tranh tài chính. Cuối cùng, chính sự phức tạp và hiệu ứng lan tỏa từ bên trong có thể sẽ khiến hệ thống tài chính toàn cầu sụp đổ mà không cần đến một cuộc tấn công trực diện nào.

Cho đến bây giờ, đồng USD và hệ thống tiền tệ quốc tế tuy hai mà một. Nếu đồng USD sụp đổ, hệ thống tiền tệ quốc tế cũng sẽ sụp đổ theo, đó là điều tất yếu. Người dân, người gửi tiền tiết kiệm và người được hưởng trợ cấp, lương hưu sẽ là nạn nhân chính trong những biến động khó lường theo sau cuộc sụp đổ, mặc dù một sự kiện như vậy không có nghĩa là sự chấm hết cho hoạt động thương mại, tài chính hay ngân hàng. Những “tay chơi” lớn trên thị trường tài chính, bất kể đó là các quốc gia, ngân hàng hay các thể chế đa phương, sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn, trong khi các Bộ trưởng Tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương và Nguyên thủ quốc gia liên tục nhóm họp để dàn xếp luật lệ mới của cuộc chơi. Nếu tình hình xã hội trở nên bất ổn trước khi giới tài chính chóp bu kịp cứu vãn hệ thống, các quốc gia sẽ phải chuẩn bị lực lượng cảnh sát có vũ trang, quân đội, phương tiện, cơ chế giám sát và ban hành các mệnh lệnh để đàn áp làn sóng phẫn nộ trong dân chúng.

Hệ thống tiền tệ quốc tế tương lai sẽ không dựa trên đồng USD vì Trung Quốc, Nga, các nước khai thác dầu mỏ và các quốc gia mới nổi khác sẽ đồng tâm hiệp lực chấm dứt sự thống trị của Mỹ về mặt tiền tệ và thiết lập nên một bản vị tiền tệ mới. Việc bản vị mới này sẽ dựa trên vàng, SDR hay một mạng lưới tiền tệ dự trữ của khu vực, chúng ta còn phải chờ xem. Tuy nhiên, sự lựa chọn không có nhiều, và việc nghiên cứu thấu đáo về những khả năng hàng đầu có thể đem lại cho các nhà đầu tư một lợi thế cùng cái nhìn toàn cảnh hợp lý để bảo tồn tài sản trong thế giới này.

Hệ thống tiền tệ quốc tế đang diễn biến ngoài tầm kiểm soát, cục diện nền kinh tế thế giới đã biến đổi, với những đối thủ mới, lòng trung thành đổi chủ, sự vô lý về mặt chính trị và sự thay đổi về mặt công nghệ khiến giới đầu tư cảm thấy rối rắm.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rikards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Fintech: Đặc trưng của hệ sinh thái và mô hình kinh doanh – Phần II


Bảng 1: Quy hoạch nhân lực đến năm 2020 và kết quả thực hiện đến 2015
Quy hoạch nhân lực đến năm 2020 Kết quả 5 năm đến 2015
Ngành ngân hàng: Tổng số nhân lực làm việc trong ngành khoảng 300 nghìn người với trình độ trung cấp khoảng 13%, trình độ cao đẳng và đại học khoảng 83% và trình độ trên đại học khoảng 4%. Tuyển tăng thêm nhân lực mới từ nguồn sinh viên, học sinh các trường trong giai đoạn 2016 – 2020 bình quân tuyển mới hàng năm khoảng 12000 người. Quy hoạch đào tạo phát triển đội ngũ nhân lực cao, có trình độ chuyên môn sâu, có kiến thức ngoại ngữ, tin học và kỹ năng xử lý công việc trong các lĩnh vực quản trị ngân hàng: nghiên cứu phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng; marketing và bán hàng; công nghệ thông tin; kinh doanh vốn… (NHNN, 2012). Ngành ngân hàng về cơ bản đã vượt mức chỉ tiêu, là ngành có sự đầu tư lớn cho nguồn nhân lực với tổng số là 264.639 người; trong đó, trung cấp chiếm 6,9%, cao đẳng và đại học chiếm 86,76%, trên đại học chiếm 6,34% (Trang thông tin điện tử phát triển nhân lực Việt Nam, 2017).
Ngành tài chính: Nhu cầu nhân lực toàn ngành là gần 5,7 triệu người. Trong đó, trên 5,4 triệu người làm việc trong lĩnh vực: chứng khoán, chiếm 0,3%; lĩnh vực bảo hiểm 5,49%; lĩnh vực dịch vụ kế toán – kiểm toán 0,60%; lĩnh vực thẩm định giá 0,05%; lĩnh vực đại lý thuế 0,18%; lĩnh vực đại lý hải quan 0,07%; còn lại là nhân lực quản lý tài chính – kế toán tại các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và các tổ chức, đơn vị khác (Bộ Tài chính, 2012). Ngành tài chính có số lượng tiến sĩ là 325 người, chiếm tỷ lệ 0,45%; thạc sĩ là 4.791 người, chiếm tỷ lệ 6,59%; đại học là 50.491 người, chiếm tỷ lệ 69,5% và nguồn nhân lực cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra (Trang thông tin điện tử phát triển nhân lực Việt Nam, 2017).
Ngành CNTT: Nhu cầu nhân lực công nghiệp phần cứng 197.000 người có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên là 35%, trình độ trung học, sơ cấp, công nhân kỹ thuật là 65%. Nhân lực công nghiệp phần mềm 200.000 người và trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 70%, trung học, sơ cấp công nhân kỹ thuật là 30%. Nhân lực công nghiệp nội dung số là 104.000 người và trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên là 60%, trình độ trung học, sơ cấp, công nhân kỹ thuật là 40%. Nhân lực ứng dụng CNTT trong cộng đồng có thêm 22 triệu người sử dụng Internet giai đoạn 2016 – 2020 để đạt mục tiêu 70% dân số sử dụng Internet (Bộ TT & TT, 2012). Ngành CNTT, đạt số lượng 600.000 người, trong đó nhân lực có trình độ cao đẳng và đại học chiếm 67%; tỷ lệ nhân lực ngành CNTT được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đạt 20 – 25% (Trang thông tin điện tử phát triển nhân lực Việt Nam, 2017).

Thứ ba, chính sách: Về chính sách phát triển Fintech, đến nay Chính phủ đã ban hành nhiều chương trình, đề án, quy định liên quan đến phát triển Fintech; trong đó, tập trung vào hoàn thiện, tạo lập khuôn khổ hành lang pháp lý, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đa dạng sản phẩm dịch vụ; xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển các mô hình kinh doanh mới, hệ thống thanh toán điện tử; xây dựng cổng thông tin khởi nghiệp; đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; hỗ trợ kinh phí, đào tạo… Bên cạnh đó, việc thành lập Ban Chỉ đạo về lĩnh vực công nghệ tài chính của Ngân hàng Nhà nước đã thể hiện chính sách tập trung cho các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ sinh thái, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho Fintech ở Việt Nam phát triển.

Thứ tư, nhu cầu: Giá trị giao dịch năm 2017 đạt 7.258,8 triệu USD và theo số liệu dự báo của Statista (2017), giá trị giao dịch Fintech tại Việt Nam đến năm 2020 đạt mức 12.263,3 triệu USD, tăng 1,6 lần so với năm 2015 (Biểu đồ 1).

Theo Statista (2017), số người sử dụng tiềm năng về dịch vụ Fintech tại Việt Nam gia tăng hàng năm, đến năm 2020 đạt 71,3 triệu người, tăng 1,35 lần so với năm 2015 (Biểu đồ 2).

Với dân số trên 90 triệu người, phần lớn là do dân số trẻ và Việt Nam đứng thứ 7 về số người sử dụng Internet, Việt Nam có tiềm năng to lớn và Fintech vẫn là một cơ hội chưa được khai thác (Fintech News, 2016).

Mô hình kinh doanh Fintech

Qua thực tiễn về nguồn nhân lực, vốn đầu tư, chính sách và nhu cầu về Fintech tại Việt Nam cùng với định hướng cụ thể về hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia, thu hút vốn vào các dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực Fintech đã tạo cơ hội tốt cho Fintech tại Việt Nam phát triển. Song, tại Việt Nam, các mô hình kinh doanh Fintech chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ thanh toán, dịch vụ quản lý tài sản, huy động vốn cộng đồng, cho vay và các hoạt động; chưa hoạt động trong các mô hình kinh doanh trên thị trường vốn, mô hình kinh doanh bảo hiểm. Bên cạnh đó, số lượng 48 công ty Fintech của Việt Nam còn khá ít so với một số nước như Indonesia có 120 công ty Fintech vào cuối năm 2016; tại Singapore, tính đến tháng 11/2016 có hơn 300 công ty khởi nghiệp Fintech, hơn 20 ngân hàng toàn cầu và các công ty bảo hiểm đã thiết lập các văn phòng và trung tâm nghiên cứu đổi mới ở Singapore (Clipford Chance, 2017)…

Mô hình kinh doanh Fintech tại Việt Nam chưa đa dạng, còn ít công ty tham gia, còn bởi các nguyên nhân sau:

Một là, vẫn thiếu nhân lực trình độ cao, một số khó khăn đối với nhân lực ngành ngân hàng muốn làm việc, phải đào tạo lại do các cơ sở đào tạo của ngành tài chính ngân hàng thiên về lý thuyết chung, chưa chú trọng nhiều đến các kỹ năng, thiếu thực hành, nên khi tuyển dụng doanh nghiệp phải đào tạo lại (Minh Giảng, 2016). Nhân lực ngành tài chính còn hạn chế trong việc xử lý các tình huống thực tế, hạn chế về kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng xử lý ra quyết định. Chất lượng nhân lực ngành CNTT còn hạn chế, 72% sinh viên ngành CNTT không có kinh nghiệm thực hành, 42% thiếu kỹ năng làm việc nhóm và các kỹ năng khác, số lượng sinh viên tốt nghiệp nhiều, nhưng vẫn phải đào tạo lại đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động. Nguyên do, các chương trình đào tạo đã đổi mới, nhưng chưa thực sự dựa trên nhu cầu của người sử dụng lao động, nhu cầu phát triển xã hội và chất lượng nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu hợp tác và hội nhập quốc tế (Trang thông tin điện tử phát triển nhân lực Việt Nam, 2017).

Hai là, doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực Fintech thường gặp khó khăn về nguồn vốn để duy trì hoạt động, đặc biệt là đảm bảo được dòng tiền mặt duy trì hoạt động. Mặt khác, các doanh nghiệp khó khăn trong kêu gọi vốn khi chưa có sản phẩm hình thành tương đối hoàn chỉnh trong giai đoạn đầu hoạt động.

Ba là, thực tiễn khuôn khổ pháp lý về cơ bản hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần cho lĩnh vực công nghệ tài chính trong thanh toán, chưa đầy đủ và đồng bộ cho các lĩnh vực tài chính khác. Trong bối cảnh các quốc gia trong khu vực và trên thế giới có những cách tiếp cận khác nhau trong việc hỗ trợ và thúc đẩy phát triển của các doanh nghiệp Fintech. Việt Nam cần sớm xây dựng hệ sinh thái hoàn chỉnh, cơ chế quản lý phù hợp, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp Fintech của Việt Nam hình thành và phát triển, đồng thời xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển Fintech tại Việt Nam phù hợp với chủ trương, định hướng của Chính phủ trong thời gian tới.

(còn tiếp) 

Nguồn: Thị trường tài chính tiền tệ  – Số 10 (499) – 2018.

Sự lụi tàn của đồng tiền – Phần III


+ Lạm phát

Những lời chỉ trích của Richard Cantillon về V.I. Lenin đầu thế kỷ XVIII và của John Maynard Keynes trong thế kỷ XX giống nhau ở chỗ: cả hai đều cho rằng lạm phát là kẻ hủy diệt giấu mặt đối với tiền tiết kiệm, vốn và sự tăng trưởng kinh tế.

Lạm phát thường bắt đầu một cách rất tinh vi và đến khi người ta nhận ra thì nó đã đi được những bước đáng kể rồi. Tình trạng chậm trễ trong việc nắm bắt sự hình thành và tiến triển của lạm phát, vốn hết sức quan trọng đối với các ngân hàng trung ương, được gọi là ảo giác tiền tệ  (money illusion) – cụm từ dùng để chỉ một nhận thức rằng tài sản thực đang được tạo nên, từ đó “tinh thần động vật” mà Keynes đề xuất được đánh thức. Chỉ đến sau này, người ta mới vỡ lẽ ra rằng các ngân hàng và nhà đầu tư tinh ranh đã “ăn” trọn chỗ tài sản đó, còn người dân hàng ngày sẽ bị bỏ lại với chỗ tiền tiết kiệm, lương hưu và bảo hiểm nhân thọ bị mất giá.

Những năm 1960 và 1970 là một ví dụ tốt để minh họa cho khái niệm ảo giác tiền tệ. Từ 1961 đến 1965, tỷ lệ lạm phát bình quân hàng năm của Mỹ là 1,24%. Trong năm 1965, Tổng thống Lyndon Johnson áp dụng chính sách “súng và bơ” – “súng” tượng trưng cho cuộc chiến kéo dài ở Việt Nam, “bơ” tượng trưng cho chương trình phúc lợi Đại xã hội, khởi nguồn cho một đợt chi tiêu tốn kém khủng khiếp và đẩy ngân sách vào tình trạng thâm hụt. Cục Dự trữ Liên bang đổ tiền cho chính sách này cho đến tận khi Tổng thống Nixon tái đắc cử vào năm 1972. Ban đầu, lạm phát nhích từng chút một, tăng lên 2,9% vào năm 1966 và 3,1% vào năm 1967. Sau đó, nó diễn biến phức tạp ngoài tầm kiểm soát, đạt mức 5,7% vào năm 1970 và chạm đỉnh 13,5% vào năm 1980. Đến tận năm 1986, tỷ lệ lạm phát mới quay về mức 1,9% – mức trung bình của những năm đầu thập niên 1960.

Giai đoạn 1960 – 1970 để lại hai bài học có thể áp dụng hoàn hảo cho ngày nay. Bài học thứ nhất là: trước khi người dân kịp nhận ra thì lạm phát có thể đã diễn biến hết sức nghiêm trọng. Phải đến tận năm 1974, chín năm kể từ khi lạm phát bắt đầu, nó mới trở thành một vấn đề có sức nặng về mặt chính trị và là mối quan tâm hàng đầu của chính sáh công. Sự chậm trễ trong hành động và nhận thức này chính là bản chất của ảo giác tiền tệ.

Bài học thứ hai là: một khi nhận thức về lạm phát thay đổi thì sẽ vô cùng khó thiết lập lại. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, phải mất 9 năm để người dân Mỹ bình thường tập trung vào lạm phát, thêm 11 năm nữa để định hình lại những kỳ vọng của họ. Lăn một tảng đá xuống chân đồi bao giờ cũng nhanh hơn nhiều so với khi đẩy nó lên phía đỉnh.

Gần đây hơn, kể từ năm 2008 đến nay, Cục Dự trữ Liên bang đã in hơn 3000 tỷ tiền mới mà  không làm lạm phát ở Mỹ tăng nhiều. Tuy nhiên, FED vẫn định ra mức tỷ lệ lạm phát tối thiểu là 2,5%, hoặc có thể cao hơn và họ sẽ không hạn chế in tiền cho đến khi đạt được mục tiêu đó. Đối với FED, lạm phát là một cách để làm giảm bớt giá trị thực nợ công của Mỹ và tránh được bóng ma giảm phát.

Thế nhưng cách này tiềm ẩn một rủi ro lớn. Chúng ta có thể tìm thấy trong cả lịch sử lẫn tâm lý học hành vi những lý do để tin rằng khi đã đạt được mục tiêu lạm phát và thay đổi được kỳ vọng, một vòng hồi tiếp sẽ hình thành, trong đó, lạm phát cao hơn dẫn đến kỳ vọng về lạm phát cao hơn, dẫn đến lạm phát cao hơn nữa, cứ thế… FED sẽ không thể làm vòng hồi tiếp này ngừng lại, vì sự phát triển của nó không chỉ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ mà cả bản chất con người.

Khi vòng hồi tiếp lạm phát đủ mạnh, lịch sử những năm cuối thập niên 1970 sẽ tái diễn. Tình trạng giá vàng tăng phi mã và đồng USD mất giá – hai mặt của một đồng xu, sẽ nhanh chóng xảy ra. Điểm khác biệt giữa viễn cảnh lạm phát tăng mạnh sắp tới và trường hợp trong quá khứ là Nga, Trung Quốc và IMF sẽ sẵn sàng cung cấp những tài sản dự trữ mới bằng và SDR, chứ không phải USD. Khi đồng USD ngã ngựa vào lần tới, sẽ không có tấm đệm nào đỡ nó nữa.

+ Giảm phát

Từ sau giai đoạn 1927 – 1933, Hoa Kỳ không trải qua đợt giảm phát kéo dài nào nữa, vì thế, người Mỹ hiện nay cũng không nhớ gì nhiều về nó. Đáng lẽ ra, nước Mỹ đã phải đối mặt với đợt giảm phát nghiêm trọng từ 2009 đến 2013 nếu không có lượng tiền in khổng lồ của Cục Dự trữ Liên bang. Bóng ma giảm phát trôi dạt khắp nước Mỹ không hề biến mất. Nó chỉ được che giấu đi mà thôi.

Giảm phát là cơn ác mộng tồi tệ nhất đối với Cục Dự trữ Liên bang vì nhiều lý do. Thu thập thực từ giảm phát rất khó đánh thuế. Nếu một cán bộ quản lý trường học kiếm được 100.000 USD mỗi năm, giá cả không đổi và được tăng lương 5%, thì mức sống thực trước thuế của cô ta sẽ tăng thêm 5000 USD, nhưng Chính phủ chỉ đánh thuế đối với phần tăng thêm và để người quản lý được hưởng toàn bộ phần còn lại. Thế nhưng, nếu thu nhập của người quản lý không đỏi và giá cả giảm 5% thì mức sống của cô ta vẫn tăng thêm 5000 USD mỗi năm nhưng Chính phủ không thể đánh thuế khoản tăng thêm này vì nó xuất hiện dưới hình thức giá cả thấp hơn chứ không phải tiền lương cao hơn.

Giảm phát làm tăng giá trị thực của nợ công, khiến việc trả nợ khó khăn hơn. Nếu giảm phát không đảo chiều thì Hoa Kỳ sẽ vỡ nợ ngay tức khắc, “đau đớn” hơn nhiều so với hệ quả vỡ nợ do lạm phát. Giảm phát cũng làm chậm mức tăng trưởng GDP danh nghĩa, trong khi nợ danh nghĩa lại tăng hàng năm do thâm hụt ngân sách. Điều này có xu hướng làm tăng tỷ lệ nợ/GDP, đẩy nước Mỹ vào vết xe đổ của Hy Lạp và gần hơn đến một cuộc khủng hoảng nợ quốc gia.

Cuối cùng, giảm phát tự nuôi sống chính nó và FED gần như không thể nào dự trữ được. Cục Dự trữ Liên bang vốn rất tự tin về khả năng kiểm soát lạm phát, mặc dù những bài học từ thập niên 1970 cho thấy họ cần có những thước đo thật nghiêm khắc. Tuy nhiên, họ hoàn toàn hiểu rõ khó khăn của việc chấm dứt giảm phát. Khi giá trị của tiền mặt tăng lên từng ngày – đặc điểm nhận diện của giảm phát, người dân và doanh nghiệp sẽ tích trữ tiền mặt chứ không chi tiêu hay đầu tư, khiến tổng cầu và GDP giảm mạnh. Đây chính là lý do tại sao từ 2008 đến nay, FED in thêm hơn ba nghìn tỷ USD – để chặn đứng giảm phát ngay từ trong trứng nước. Con đường khả dĩ nhất của Cục Dự trữ Liên bang trong những năm sắp tới là tiếp tục in thêm thật nhiều tiền để ngăn giảm phát xuất hiện. Giả định mà FED đang áp dụng là bất cứ hệ quả nào của lạm phát cũng có thể được giải quyết ổn thỏa trong một khoảng thời gian hợp lý.

Trong quá trình không ngừng in tiền để ngăn chặn giảm phát, nhiều khả năng FED sẽ chạm tới những giới hạn về mặt chính trị đối với việc in tiền, có lẽ là khi bảng cân đối kế toán của nó vượt quá 5000 tỷ USD, hoặc khi nó bị đánh giá là không có khả năng trả nợ trên cơ sở hạch toán theo giá thị trường. Đến lúc nó, các thống đốc của FED có thể chọn cách thử vận may với giảm phát. Trong kịch bản “khiêu vũ với quỷ Sa-tăng” này, FED sẽ dựa vào chính sách tài khóa để giữ cho tổng cầu ổn định. Hoặc giảm phát có thể vẫn sẽ xuất hiện bất chấp việc in tiền. Kịch bản này xảy ra khi FED đứng từ trên trực thăng vung vãi tiền xuống nhưng người dân không chút đoái hoài vì nhặt tiền lên đồng nghĩa với chấp nhận gánh thêm nợ. Trong cả hai kịch bản, nước Mỹ đều sẽ trở về năm 1930 và đối mặt với nạn giảm phát vượt tầm kiểm soát.

Trước tình hình đó, cách duy nhất để nước Mỹ chặn đứng giảm phát là ban bố sắc luật quy định giá vàng là (ví dụ) 7000 USD/ounce, có thể cao hơn. Cục Dự trữ Liên bang có thể giữ vững mức giá này bằng cách sử dụng vàng ở Fort Knox để thay mặt Ngân khố chỉ đạo hoạt động của thị trường mở. FED có thể mua vàng với giá 6900 USD/ounce và bán ra với giá 7100 USD/ounce để duy trì mức giá 7000 USD/ounce. Mục đích ở đây không phải để làm giàu cho người sở hữu vàng, mà là để tái thiết lập mức giá chung.

Những bước đi như trên có thể không khả thi, nhưng chúng sẽ hiệu quả. Vì mọi thứ đều tác động qua lại lẫn nhau nên việc giá trị đồng USD quy đổi ra vàng bị giảm xuống sẽ nhanh chóng được phản ánh qua việc giá USD quy đổi ra tất cả những thứ khác tăng lên. Việc một ounce vàng giá 7000 USD cũng đồng nghĩa với việc một thùng dầu giá 400 USD và ounce bạc giá 100 USD. Sự quay lại của giảm phát có thể được chặn đứng nếu đồng USD bị giảm giá trị so với vàng, như trường hợp năm 1933 khi Mỹ quy định lại giá trị của vàng, từ 20,67 USD/ounce lên 35 USD/ounce, tức là giá trị đồng USD bị giảm 41%. Nếu Hoa Kỳ lại một lần nữa đối mặt với giảm phát nghiêm trọng thì giảm giá trị đồng USD là phương thuốc duy nhất, bởi vì ngoài nó ra không còn giải pháp nào khác khi cách in tiền đã thất bại.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rikards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Fintech: Đặc trưng của hệ sinh thái và mô hình kinh doanh – Phần I


Hà Văn Dương & Hà Phạm Diễm Trang

Các yếu tố đặc trưng của hệ sinh thái Fintech

Sự sẵn có về nhân lực kỹ thuật, tài chính và quản lý kinh doanh. Trong đó, nhân lực tham gia vào các công ty công nghệ, doanh nghiệp, tổ chức tài chính và nhân lực phục vụ cho đào tạo, nghiên cứu phát triển Fintech.

Sự sẵn có của nguồn lực tài chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp và vốn cho phát triển, gia tăng quy mô. Vốn được cung cấp bởi các nhà đầu tư, nhà đầu tư mạo hiểm và tiếp cận vốn từ thị trường vốn đại chúng.

Chính sách của chính phủ đối với các quy định, chính sách thuế và chính sách tăng trưởng các ngành. Chính phủ hỗ trợ cho các chương trình nhằm giảm rào cản tham gia ngành, tăng tính cạnh tranh, thu hút các công ty Fintech nước ngoài và tăng cường an ninh mạng. Các cơ quan quản lý hỗ trợ cho doanh nghiệp mới và thúc đẩy các mô hình kinh doanh sáng tạo.

Nhu cầu về các dịch vụ tài chính của người tiêu dùng cá nhân và các doanh nghiệp; mức độ tiếp nhận để đáp ứng nhu cầu phát triển dịch vụ tài chính của các tổ chức tài chính truyền thống.

Các mô hình kinh doanh Fintech

Theo In Lee (2016), có 6 mô hình kinh doanh Fintech:

Một là, mô hình kinh doanh dịch vụ thanh toán: Dịch vụ thanh toán khá đơn giản so với các dịch vụ tài chính khác. Các công ty Fintech tập trung vào lĩnh vực thanh toán có khả năng thu hút khách hàng một cách nhanh chóng với chi phí thấp và là một trong những lĩnh vực có mức độ cải tiến và áp dụng cao nhất. Hai thị trường trong lĩnh vực này là (i) thanh toán dành cho khách hàng cá nhân và nhà bán lẻ, (ii) thanh toán dành cho doanh nghiệp và nhà bán lẻ. Thanh toán dành cho khách hàng cá nhân và nhà bán lẻ bao gồm ví điện tử, thanh toán ngang hàng qua di động, trao đổi ngoại tệ, chuyển tiền. Các dịch vụ này giúp khách hàng thanh toán nhanh, đáp ứng yêu cầu về tính tiện lợi và có thể truy cập đa kênh.

Hai là, mô hình kinh doanh dịch vụ quản lý tài sản: Một mô hình kinh doanh Fintech phổ biến là dịch vụ quản lý tài sản tự động (robo-advisors), tư vấn tài chính với chi phí thấp so với nhà tư vấn tài chính truyền thống. Hệ thống hoạt động bằng cách sử dụng thuật toán đề nghị một danh mục tài sản để đầu tư dựa trên sở thích và đặc điểm của khách hàng. Sự thay đổi dân số và hành vi người tiêu dùng sẽ tạo điều kiện phát triển cho mô hình này khi họ càng ưa chuộng chiến lược đầu tư thụ động và được tự động hóa, cấu trúc chi phí đơn giản, minh bạch và vốn đầu tư tối thiểu thấp hoặc không đòi hỏi vốn đầu tư tối thiểu.

Ba là, mô hình huy động vốn cộng đồng: Hy động vốn cộng đồng liên quan tới ba bên: (i) Chủ doanh nghiệp cần được thêm vốn, (ii) những người góp vốn; (iii) tổ chức trung gian tạo điều kiện cho việc thực hiện sự cam kết giữa chủ doanh nghiệp và người góp vốn. Tổ chức này giúp người góp vốn có thể tiếp cận thông tin về nhiều doanh nghiệp khác nhau đang kêu gọi vốn và tìm kiếm cơ hội góp vốn cho sự phát triển của sản phẩm hoặc dịch vụ.

Bốn là, mô hình kinh doanh cho vay: Cho vay ngang hàng (Peer-to-peer – P2P) đối với cá nhân và doanh nghiệp đang là xu hướng lớn trong Fintech. Cho vay ngang hàng cho phép cá nhân và doanh nghiệp cho vay và đi vay lẫn nhau. Với cấu trúc kinh doanh hiệu quả, cho vay ngang hàng có thể cung cấp mức lãi suất thấp và quá trình cho vay được cải thiện cho nguòi vay và người đi vay. Một điểm đáng lưu ý để phân biệt ngân hàng với các công ty này là các công ty này không cho vay mà họ chỉ đơn giản là kết nố người cho vay và người đi vay với nhau và thu phí sử dụng dịch vụ.

Năm là, mô hình kinh doanh trên thị trường vốn: Mô hình kinh doanh này trải rộng trên mọi lĩnh vực của thị trường vốn như đầu tư, giao dịch ngoại hối, quản lý rủi ro và nghiên cứu thị trường. Công ty Fintech kết nối các nhà đầu tư với nhau để thảo luận và chi sẻ thông tin, đặt lệnh để mua, bán tài sản hoặc chứng khoán và giám sát rủi ro. Đối với giao dịch ngoại hối, từng bị chi phối bởi các tổ chức tài chính truyền thống, qua hoạt động Fintech đã giảm bớt rào cản và chi phí, giúp cá nhân và doanh nghiệp tham gia giao dịch ngoại hối trên toàn thế giới. Người sử dụng có thể xem trực tiếp tỷ giá và chuyển nhận tiền bằng nhiều ngoại tệ khác nhau một cách an toàn thông qua thiết bị di động.

Sáu là, mô hình kinh doanh bảo hiểm: Công ty Fintech tạo mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và công ty bảo hiểm; thực hiện phân tích dữ liệu để tính toán và đối sánh rủi ro. Khách hàng được cung cấp sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của họ như bảo hiểm xe ô tô, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thương vong; đồng thời, đơn giản hóa quá trình thanh toán tiền bảo hiểm y tế. Mô hình kinh doanh Fintech trong bảo hiểm được tiếp nhận nhiều nhất từ các công ty cung cấp bảo hiểm truyền thống. Công nghệ này cho phép các công ty bảo hiểm mở rộng việc thu thập dữ liệu sang các nguồn phi truyền thống để bổ sung các mô hình truyền thống của họ và cải thiện việc phân tích rủi ro.

Bên cạnh các mô hình kinh doanh trên, các công ty Fintech còn hoạt động về công nghệ, công nghệ thông tin, cơ sở hạ tầng, các công cụ tìm kiếm, so sánh các trang web và các hoạt động khác (G. Dorfleitner và cộng sự, 2017).

Mô hình kinh doanh Fintech tương thích với công nghệ, cơ sở hạ tầng cùng với một hệ sinh thái Fintech hoạt động tốt được xây dựng trên 4 đặc trưng trên sẽ tạo điều kiện cho các công ty Fintech có một thị trường thích hợp để phát triển đa dạng các mô hình kinh doanh, các sản phẩm dịch vụ cho các thị trường chưa được phục vụ trước đây.

Sự hình thành các yếu tố đặc trưng của hệ sinh thái và mô hình kinh doanh Fintech tại Việt Nam

Các yếu tố đặc trưng của hệ sinh thái Fintech tại Việt Nam

Thứ nhất, nhân lực: Giai đoạn 2011 – 2020 đã quy hoạch phát triển nhân lực tạo cơ hội cho phát triển Fintech của một số ngành kinh tế đặc thù như ngành ngân hàng khoảng 300 nghìn người ở nhiều trình độ khác nhau, ngành tài chính với nhu cầu đào tạo mới trên 1,6 triệu người; trong đó, ngành công nghệ thông tin (CNTT) 758 nghìn người được đào tạo (Chính phủ, 2011).

Qua thực hiện đến 2015 cho thấy việc phát triển nguồn nhân lực cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra (Bảng 1), tạo thuận lợi và nhiều cơ hội cho phát triển Fintech.

Thứ hai, vốn đầu tư: Với mục tiêu tạo lập môi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới. Nhà nước đã phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”. Trong đó thiết lập Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia; hỗ trợ được 800 dự án, 200 doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó 50 doanh nghiệp gọi vốn thành công từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 1000 tỷ đồng và đến năm 2025 thực hiện hỗ trợ phát triển 2000 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ phát triển 600 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; 100 doanh nghiệp tham gia đề án gọi được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 2000 tỷ đồng (Chính phủ, 2017).

Cùng với nguồn vốn doanh nghiệp, nguồn vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo hiểm và các nguồn vốn khác, nguồn vốn của Nhà nước hỗ trợ kinh phí lắp đặt hạ tầng công nghệ thông tin và cung cấp dịch vụ Internet miễn phí trong Khu tập trung dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: kinh phí tổ chức sự kiện, xây dựng chương trình truyền thông về hoạt động khởi nghiệp; kinh phí để kết nối các mạng lưới khởi nghiệp, hỗ trợ khởi nghiệp, đầu tư mạo hiểm của Việt Nam với khu vực và thế giới… Bên cạnh, hoạt động Fintech tại Việt Nam đã thu hút nhà đầu tư nước ngoài với giá trị khá cao. Năm 2016, tổng vốn đầu tư vào khởi nghiệp trong lĩnh vực Fintech tại Việt Nam đạt 129 triệu USD, chiếm 63% tổng giá trị hợp đồng khởi nghiệp (H.T. 2017).

(còn tiếp) 

Nguồn: Thị trường tài chính tiền tệ  – Số 10 (499) – 2018.

Sự lụi tàn của đồng tiền – Phần II


Sự lụi tàn của đồng tiền sẽ xem xét hai sự kiện trên theo một cách đặc biệt. Nó sẽ nghiên cứu thận trọng những công cụ kinh tế tiêu chuẩn như các mô hình cân bằng, những phép đo mà người ta gọi là giá trị rủi ro (value-at-risk) và các hệ số tương quan giả định. Bạn sẽ thấy rằng những mô hình cân bằng tổng quát đang được sử dụng rộng rãi trở nên vô nghĩa trong tình tạng cân bằng hỗn loạn hoặc cân bằng kép. Nền kinh tế thế giới chưa đạt đến sự “bình thường mới”. Thay vào đó, nó chỉ đang trong hành trình từ cũ đến mới mà không hề có la bàn hay bản đồ định hướng. Giờ đây, sự hỗn loạn mới chính là bình thường.

Mối nguy hiểm đến từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Chúng ta đang tin tưởng một cách sai lầm rằng các ngân hàng trung ương sẽ cứu vãn tình thế. Sự thật là, họ đang phá hoại thị trường của chúng ta. Những mô hình giá trị rủi ro mà Phố Wall và các nhà điều hành sử dụng để đo lường hậu quả của chứng khoán phái sinh thật nực cười. Chúng bao che cho việc lạm dụng phương thức đòn bẩy – tình trạng được lấp liếm một cách không biết ngại ngùng thành những khoản trợ cấp kỳ quặc vốn đang đẩy xã hội của chúng ta lệch khỏi trạng thái cân bằng. Khi các chi phí ẩn “hiện hình” và người nộp thuế một lần nữa loay hoay với đống hóa đơn thì các chủ ngân hàng sẽ thảnh thơi giấu mình trong biệt thự và du thuyền sang trọng của họ. Những gã khổng lồ của nền tài chính sẽ giải thích với đám phóng viên nhẹ dạ cả tin và các chính trị gia đã được đút lót rằng lần sụp đổ mới này là điều mà họ không lường trước được.

Trong khi người Mỹ từ chối việc đối mặt với những sự thật về nợ nần và thâm hụt ngân sách thì rất nhiều quốc gia khác trên toàn cầu đang hàng ngày gia tăng sức ép lên đồng USD. Chúng ta nghĩ rằng bản vị vàng đã lùi vào lịch sử, nhưng ngày nay, vàng đang dần chiếm ưu thế trên khắp thế giới và điều này có thể báo hiệu một sự quay trở lại với chế độ bản vị vàng. Chúng ta đang đánh giá quá thấp về những mối nguy hiểm từ một cuộc tấn công tài chính trên quy mô siêu lớn và những rủi ro của một cuộc chiến tranh tài chính mang tầm quốc tế.

Phân tích hồi quy và các vấn đề tương quan, những công cụ ưa thích của các nhà phân tích định lượng tài chính và các nhà kinh tế học, hoàn toàn không hiệu quả trong việc đối phó với rủi ro phía trước. Những phép phân tích này giả định rằng tương lai giống với quá khứ ở một chừng mực nào đó. Lịch sử là một thầy giáo tuyệt vời nhưng những giả thiết của các chuyên gia phân tích định lượng tài chính lại ẩn chứa những sai lầm chết người. Sai lầm thứ nhất là khi nhìn về quá khứ, tầm nhìn không đủ xa. Hầu hết dữ liệu liên quan đến Phố Wall đều chỉ bao quát 10, 20 hoặc 30 năm về trước. Những nhà phân tích cẩn thận, thấu đáo hơn sẽ sử dụng hàng loạt dữ liệu thu thập được trong 100 năm và tìm kiếm phương pháp thay thế phù hợp cho công cụ đo lường nào không tồn tại trong quá khứ. Tuy nhiên, hai sự sụp đổ của hai nền văn minh lớn nhất trong lịch sử là Thời đại Đồ đồng và Đế chế La Mã diễn ra cách nhau 1600 năm và Đế chế La Mã lại cách thời đại của chúng ta 1600 năm. Nói như vậy không phải để ám chỉ việc nền văn minh của chúng ta lại sắp sụp đổ một lần nữa, mà đơn thuần chúng tôi chỉ muốn đưa ra tầm nhìn cực kỳ hạn chế mà phần lớn các phép phân tích hồi quy đang áp dụng. Sai lầm thứ hai liên quan đến thực tế là các chuyên gia phân tích định lượng tài chính không hiểu rõ các mô hình động lực học đo lường quy mô (scaling dynamics) vốn đang gạt bỏ một số công cụ đo lường rủi ro ra khỏi lịch sử. Vì rủi ro tiềm năng là hàm số mũ của quy mô hệ thống, và vì quy mô của các hệ thống tài chính được đo lường bởi chứng khoán phái sinh không tồn tại, nên rủi ro cũng không tồn tại.

Mặc dù từ “sụp đổ” áp dụng cho đồng USD nghe có vẻ hơi giống trong sách Khải huyền (cuốn sách cuối cùng của Tân Ước) nhưng nó mang một ý nghĩa hết sức thực tế. Sụp đổ đơn giản là việc người dân và các ngân hàng mất niềm tin vào sức mua tương lai của đồng USD. Kết quả là những ai có USD sẽ “tránh xa” nó bằng cách chi tiêu nhanh hơn hoặc mau sắm tài sản hữu hình. Sự thay đổi nhanh chóng trong hành vi này khiến lãi suất cao hơn, lạm phát nghiêm trọng hơn và quá trình tích lũy tư bản tan rã. Kết quả cuối cùng có thể là tình trạng giảm phát (tương tự những năm 1930) hoặc lạm phát (tương tự những năm 1970), hoặc cả hai.

Sự sụp đổ đang diễn ra của đồng USD cũng như của hệ thống tiền tệ quốc tế là điều hoàn toàn có thể thấy trước. Đây không phải một kết luận mang tính khiêu khích. Hệ thống tiền tệ quốc tế đã sụp đổ ba lần trong một thế kỷ qua – vào các năm 1914, 1939 và 1971. Mỗi lần như vậy kéo theo cả một thời kỳ hỗn loạn. Lần sụp đổ năm 1914 là hệ quả của Chiến tranh Thế giới I, theo sau đó là những giai đoạn lạm phát phi mã và suy thoái luân phiên từ 1919 đến 1922 trước khi ổn định trở lại vào giữa thập niên 1920, tuy nhiên, đi kèm với đó là một chế độ bản vị vàng nhiều sai sót – nhân tố đưa thế giới đến lần sụp đổ mới trong thập niên 1930. Chiến tranh Thế giới lần II là nguyên nhân gây ra cuộc sụp đổ 1939 và lại ổn định một lần nữa nhờ hệ thống Bretton Woods được thiết lập năm 1944. Lần sụp đổ năm 1971 xảy ra do lệnh cấm chuyển đổi USD thành vàng của Nixon, mặc dù quyết định này đã được xem xét trong nhiều năm trước đó. Tiếp nối sự kiện này lại là một giai đoạn hỗn loạn khác, gần như đẩy đồng USD đến bờ vực sụp đổ vào năm 1978.

Lần sụp đổ sắp tới, cũng giống những lần trước, có thể liên quan tới chiến tranh, vàng hoặc tình trạng hỗn loạn, hoặc cả ba. Chúng tôi chỉ đề cập đến những mối đe dọa gần nhất đối với đồng USD – những sự kiện nhiều khả năng sẽ xảy ra trong một vài năm tới, đó là chiến tranh tài chính, giảm phát, lạm phát phi mã và sự sụp đổ của thị trường. Chỉ những quốc gia và cá nhân nào chuẩn bị sẵn sàng ngay hôm nay thì mới sống sót được qua cơn cuồng phong đang ập đến.

Sự lụi tàn của đồng tiền không sử dụng những phương pháp đầy tính “mị dân” mặc cho chúng rất phổ biến, mà dựa vào lý thuyết về độ phức hợp (complexity theory) và coi đây là thấu kính tốt nhất để xem xét những rủi ro hiện tại cũng như hệ quả có thể xảy ra trong tương lai. Thị trường vốn là hệ thống phức tạp hơn bất cứ hệ thống nào khác. Lý thuyết về độ phức hợp tương đối mới mẻ trong lịch sử khoa học, nhưng trong 60 năm tồn tại, nó đã được ứng dụng rộng rãi để nghiên cứu thời tiết, động đất, các mạng lưới xã hội và những hệ thống kết nối chằng chịt khác. Lý thuyết này chỉ mới được áp dụng cho thị trường vốn trong thời gian gần đây, nhưng nó đã đem lại nhiều hiểu biết sâu sắc về các phép đo độ rủi ro và sự biến động của giá cả – những nhân tố có khả năng dự báo chính xác hơn so với các phương pháp truyền thống.

Như các bạn sẽ thấy, lần sụp đổ tài chính tiếp theo sẽ là vô tiền khoáng hậu. Nhưng một tầm nhìn sáng suốt hơn về những biến cố đang diễn ra trên thị trường tài chính thế giới có thể giúp các nhà đầu tư suy nghĩ thấu đáo về những chiến lược tối ưu.

Hãy nghĩ đến một cuộc chiến tranh tài chính, chứ không chỉ là những hệ quả mà thị trường phải gánh chịu.

+ Chiến tranh tài chính

Chúng ta có được chuẩn bị để đối phó với một cuộc chiến tranh tài chính không? Sự điều khiển chiến tranh tài chính khác với sự cạnh tranh thông thường về kinh tế giữa các quốc gia, vì nó liên quan đến những hành động hiểm ác một cách có chủ ý thay vì những hành động cạnh tranh đơn thuần. Các bên tham gia cuộc chiến sẽ sử dụng chứng khoán phái sinh và xâm nhập vào các sàn giao dịch để gây tổn thất, kích động khiến mọi người hoang mang và cuối cùng là làm tê liệt nền kinh tế của đối thủ. Chiến tranh tài chính vượt xa hành động gián điệp công nghiệp vốn xuất hiện từ đầu những năm 1800 khi một người Mỹ là Francis Cabot Lowell ghi nhớ bản thiết kế máy dệt của người Anh rồi về nước vẽ lại.

Vũ khí trong cuộc chiến tài chính hiện đại bao gồm các quỹ đầu cơ trá hình và các cuộc tấn công mạng có khả năng gây tổn hại hệ thống nhập lệnh để giả mạo một đợt bán tháo cổ phiếu Apple, Google hay IBM. Những người ủng hộ lý thuyết thị trường hiệu quả nghi ngờ những chiến thuật tinh vi như vậy sẽ nhanh chóng thất bại trong việc nhìn ra điểm yếu này của thị trường. Mục tiêu của chiến tranh tài chính không phải là tối đa hóa sự giàu có, mà là chiến thắng.

Rủi ro xảy ra chiến tranh tài chính trong thời đại đồng USD đang thống trị nghe thật mới mẻ, vì Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chưa bao giờ phải chung sống trong một thế giới nơi các nước khác không phụ thuộc vào Mỹ để đảm bảo an ninh quốc gia của mình. Ngay cả khi đồng USD suy yếu nhất vào năm 1978, Đức, Nhật và những nước xuất khẩu dầu mỏ khác vẫn phải tìm cách chống đỡ cho nó vì họ phụ thuộc rất nhiều vào sự bảo trợ của Mỹ trước mối đe dọa từ Xô viết. Ngày nay, tình hình an ninh của các cường quốc như Nga, Trung Quốc và Iran không cần dựa vào Hoa Kỳ, thậm chí họ còn thấy lợi ích nào đó từ một nước Mỹ bị tổn thương về mặt kinh tế. Các thị trường vốn giờ đây đã trở thành vấn đề chiến lược và cả giới chuyên gia phân tích Phố Wall lẫn các nhà hoạch định chính sách ở Washington đều hiểu một cách hết sức mập mờ về thế giới mới này, trong khi họ chính là những người cần nắm rõ nhất về tác động của sự biến chuyển nói trên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rikards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Sự lụi tàn của đồng tiền – Phần I


Sự lụi tàn của đồng tiền (The Death of Money) bàn về sự thoái trào của đồng USD, hay nói rộng hơn là bàn về nguy cơ sụp đổ của hệ thống tiền tệ quốc tế, bởi vì nếu mọi người mất niềm tin đối với đồng USD thì không một đồng tiền nào khác có khả năng thay thế nó làm đồng tiền dự trữ của thế giới. Đồng USD chính là hạt nhân. Nếu sụp đổ, toàn bộ hệ thống cũng sẽ sụp đổ theo, vì hai khái niệm này đồng nhất. Mặc dù viễn cảnh sụp đổ kép này thật đáng sợ, nhưng nó hoàn toàn có thể xảy ra.

Trước hết, chúng ta sẽ ngược dòng thời gian quay lại quá khứ.

Một số người Mỹ cùng thời với chúng tôi nhớ lại, đồng USD đã gần như mất đi vị thế là đồng tiền dự trữ thế giới vào năm 1978. Đây là năm mà chỉ số sức mạnh của đồng USD của Cục Dự trữ Liên bang giảm không phanh xuống đến mức đáng lo ngại và Bộ Ngân khố Hoa Kỳ buộc phải phát hành trái phiếu Chính phủ thanh toán bằng đồng franc của Thụy Sĩ. Các chủ nợ nước ngoài không còn tin dùng đồng USD như một công cụ cất giữ giá trị nữa. Sức mua của đồng USD giảm dần, đến năm 1981 chỉ còn bằng một nửa so với năm 1977. Trong 5 năm này, tỷ lệ lạm phát của Mỹ tăng ở mức trên 50%. Bắt đầu từ năm 1979, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hầu như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc huy động nguồn lực của mình để phát hành tiền tệ thế giới (quyền rút vốn đặc biệt – special drawing rights hay SDR), “nhấn chìm” thị trường bằng 12,1 tỷ SDR để tạo tính thanh khoản khi mà lòng tin của thế giới vào đồng USD giảm xuống đáy.

Chúng tôi vẫn nhớ rất rõ những ngày đen tối ấy. Trong giai đoạn 1977 đến 1980, giá vàng tăng 500%. Từ chỗ chỉ bị mất giá trong tầm kiểm soát vào năm 1971, khi Tổng thống Richard Nixon tuyên bố chậm dứt việc chuyển đổi USD sang vàng, đến cuối thập kỷ, đồng USD đã thất bại trên mọi mặt trận, thậm chí lan sang cả văn hóa đại chúng. Bộ phim Rollover ra mắt năm 1981, do Jane Fonad thủ vai chính, nói về một kế hoạch bí mật mà các quốc gia sản xuất dầu mỏ vạch ra nhằm “hất cẳng” đồng USD và mua vàng. Kết thúc của bộ phim này chính là một ngân hàng sụp đổ, một cuộc khủng hoảng tài chính và tình trạng hỗn loạn trên toàn cầu. Mặc dù chỉ là một bộ phim hư cấu nhưng sức ảnh hưởng của nó thực sự rất lớn, thậm chí có thể xem như lời tiên tri.

Cuối những năm 1970, cuộc khủng hoảng USD lên tới đỉnh điểm. Tháng 8 năm 1971, mọi người bắt đầu mất niềm tin ngay sau khi Tổng thống Nixon đình chỉ khả năng quy đổi USD sang vàng. Tác giả Janet Tavakoli mô tả tình cảnh của một người Mỹ ở nước ngoài vào cái ngày mà cơn hấp hối của đồng USD trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết:

Bỗng nhiên, người Mỹ ở nước ngoài thấy các nhà hàng, khách sạn và quán xá không muốn rước lấy rủi ro lãi suất thả nổi từ những đồng USD mà họ đang có. Vào lễ Ferragosto [giữa tháng Tám], các ngân hàng ở Rome đóng cửa và người Mỹ nào thiếu tiền mặt thì đánh bó tay chịu chết.

Người quản lý của khách sạn hỏi những vị khách đang rời đi: “Quý khách có vàng không? Xin hãy nhìn những gì Tổng thống Hoa Kỳ của các vị đã làm mà xem”. Ông ta hết sức nghiêm túc và sẵn sàng chấp nhận thanh toán bằng vàng…

Ngay lập tức, tôi yêu cầu trả trước tiền phòng bằng đồng lire… Người quản lý vỗ tay mừng rỡ. Ông ta và toàn bộ nhân viên đối xử với tôi như một bà hoàng. Tôi không giống đám người Mỹ với những đồng USD ngu ngốc của họ. Trong suốt thời gian tôi ở đây, không một lái buôn hay nhà hàng nào muốn tiếp đón tôi cho đến khi tôi giải thích rằng mình có thể thanh toán bằng đồng lire.

Những nỗ lực sau đó của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Paul Volcker và Tổng thống mới đắc cử Ronald Reagan đã cứu đồng USD thoát chết. Volcker tăng lãi suất lên 19% trong năm 1981 để giảm lạm phát và đưa đồng USD trở thành lựa chọn hấp dẫn đối với giới tư bản nước ngoài. Bắt đầu từ năm 1981, Reagan cắt giảm các loại thế và thủ tục hành chính. Những động thái này đã giúp khôi phục niềm tin của các doanh nghiệp và khiến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ trở thành một thỏi nam châm thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Đến tháng 3 năm 1985, chỉ số sức mạnh của đồng USD đã tăng 50% so với mức thấp nhất vào tháng 10 năm 1978, đồng thời giá vàng giảm 60% so với mức đỉnh điểm vào năm 1980. Tỷ lệ lạm phát của Mỹ giảm từ 13,5% trong năm 1980 xuống còn 1,9% trong năm 1986. Tình hình tươi sáng đến mức Hollywood không có cơ hội để phát hành Rollover 2. Đến giữa thập niên 1980, cơn khủng hoảng đã được dập tắt và triều đại của Hoàng đế USD bắt đầu. Sau năm 1978, USD tuy không bị “phế truất” khỏi vị trí là đồng tiền dự trữ của thế giới nhưng cũng từng có thời kỳ bên bờ vực thẳm.

Giờ thì chúng ta trở về với tương lai.

Nhìn vào nền kinh tế thế giới hiện nay, người ta đang thấy những triệu chứng tương tự như trước cơn hấp hối của đồng USD năm 1978. Tháng 7 năm 2011, chỉ số sức mạnh của đồng USD do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ công bố đã giảm xuống mức thấp nhất lịch sử, thấp hơn trên 4% so với mức khủng hoảng hồi đầu tháng 10 năm 1978. Tháng 8 năm 2009, IMF một lần nữa phải ứng cứu bằng cách phát hành một đợt SDR mới, tương đương với 310 tỷ USD, khiến số lượng SDR đang lưu thông trên thị trường tăng thêm 850%. Đầu tháng 9, giá vàng đạt đến một kỷ lục mới là gần 1900 USD/ounce, cao hơn 200% so với giá trung bình năm 2006, ngay trước khi cuộc suy thoái mới bắt đầu. Công chúng trong thế kỷ XXI được thưởng thức phiên bản mới của Rollover, một bộ phim truyền hình về sự sụp đổ của nền tài chính, có tên là Too Big To Fail.

Tình hình năm 1978 và những sự kiện gần đây có nhiều điểm tương đồng kỳ lạ, nhưng không hoàn toàn giống nhau. Có một yếu tố hủy diệt thế giới trước kia mà chúng ta dễ dàng nhìn thấy còn bây giờ thì không. Nó giống một con chó không sủa: lạm phát. Nhưng chúng ta không nghe thấy con chó sủa không có nghĩa là nó không nguy hiểm. Những chỉ số thường được dùng để đo lường tỷ lệ lạm phát của đồng USD như chỉ số giá tiêu dùng hầu như không suy chuyển kể từ năm 2008 đến nay. Thậm chí trong một vài tháng nhất định, nền kinh tế Hoa Kỳ còn chứng kiến sự giảm phát nhẹ. Lạm phát đã xảy ra ở Trung Quốc, nơi Chính phủ định giá lại đồng NDT để giảm sức hấp dẫn của nó và ở Brazil, nơi tình trạng giá cả leo thang trong những dịch vụ cơ bản như xe buýt đã châm ngòi cho nhiều cuộc bạo động. Lạm phát giá thực phẩm cũng là một yếu tố góp phần gây ra các cuộc biểu tình trong giai đoạn đầu của làn sóng “Mùa xuân Arab”. Thế nhưng, nước Mỹ vẫn kiểm soát tốt đồng tiền của mình.

Quan sát kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy một nền tiểu thủ công nghiệp đang sử dụng những phương pháp luận từ thời trước 1999, những giỏ hàng hóa, dịch vụ thay thế khác thể hiện tốt hơn về tình hình nạn lạm phát mà người Mỹ đang thực sự phải đối mặt, để tính toán các chỉ số giá của Mỹ. Chúng đưa ra nhiều dấu hiệu cảnh báo, vì các phương pháp xác định lạm phát khác cho thấy tỷ lệ lạm phát hàng năm của Mỹ là trên 9% thay vì 2% trong tài liệu mà Chính phủ công bố. Bất cứ ai đi mua sữa, bánh mì hay xăng dầu chắc chắn sẽ đồng ý với con số cao hơn. Mặc dù có thể những số liệu thống kê ảm đạm này rất thuyết phục nhưng chúng lại hầu như không ảnh hưởng gì đến các thị trường tiền tệ quốc tế hay chính sách của Cục Dự trữ Liên bang. Để hiểu rõ những mối đe dọa đối với đồng USD cũng như phản ứng khả dĩ trong các quyết sách của FED. Từ góc nhìn này, lạm phát không phải là mối đe dọa. Ngược lại, đối với họ, tỷ lệ lạm phát cao hơn vừa là lời giải cho cuộc khủng hoảng nợ, vừa là một mục tiêu chính sách.

Chính sách ưu tiên lạm phát (pro-inflation) này là cánh cổng dẫn đến thảm họa, ngay cả khi các nhà phân tích sai lầm ở FED vò đầu bứt tai trước “sự vắng mặt” quá rõ ràng của lạm phát trong đợt in tiền lớn chưa từng có của Cục Dự trữ Liên bang và các ngân hàng trung ương khác. Nhiều người thắc mắc làm sao FED có thể tăng lượng cung tiền tệ cơ sở lên 400% kể từ năm 2008 đến nay mà không hề để xảy ra tình trạng lạm phát. Nhưng chúng ta có hai cách giải thích hết sức thuyết phục – và chúng dự báo tiềm năng sụp đổ. Thứ nhất, nền kinh tế Mỹ đang bị tổn hại về mặt cấu trúc, bởi vậy, những đồng tiền dễ kiếm không thể đem lại lợi ích tối ưu. Thứ hai, lạm phát đang diễn ra. Cả hai cách giải thích này đều đúng – quả thực, nền kinh tế Mỹ đang tan rã và lạm phát đang tăng lên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rikards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.