Tranh cãi về chính sách quản lý ngành tài chính ở Mỹ


Simon Johnson

Giờ đây đã có sự đồng thuận gần như tuyệt đối rằng đạo luật cải tổ tài chính Dodd-Frank của Mỹ, được thông qua năm 2010, đã không chấm dứt được các vấn đề liên quan đến một số ngân hàng “quá lớn để sụp đổ”. Tuy nhiên, khi nói tới những giải pháp được đề xuất thì lại không tồn tại bất kỳ sự đồng thuận nào như vậy. Ngược lại, điều tiết ngành tài chính đã trở thành một vấn đề chủ chốt trong các cuộc bầu cử quốc hội và tổng thống vào tháng 11 này.

Vậy ai là người có kế hoạch khả thi và tốt hơn nhằm giảm thiểu các rủi ro liên quan tới các công ty tài chính khổng lồ? Những người thuộc Đảng Dân chủ đã có một chiến lược được chấp thuận và có thể thực hiện được, điều sẽ đem lại một sự cải thiện rõ ràng so với tình thế hiện tại. Nhưng không may là đề xuất của Đảng Cộng hòa lại là một công thức cho thảm họa lớn hơn những gì mà nước Mỹ (và cả thế giới) đã trải qua năm 2008.

Về phía Đảng Dân chủ, các tài liệu từ chiến dịch của bà Hilary Clinton cũng như đề cương tranh cử của Đảng này hướng tới một kế hoạch chi tiết nhằm bảo vệ cho đạo luật Dodd-Frank và đi xa hơn trong việc gây áp lực buộc các công ty tài chính lớn nhất trở nên ít phức tạp hơn và, nếu cần, là phải nhỏ hơn. Các ngân hàng cũng phải tự tạo nguồn tài chính theo một cách ổn định hơn. Nếu bà Clinton thắng cử, bà sẽ thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ từ các Nghị sĩ Đảng Dân chủ – bao gồm cả đối thủ cạnh tranh vị trí ứng cử viên Đảng Dân chủ, Bernie Sanders, và thượng nghị sĩ Elizabeth Warren – khi bà đi theo đường lối này.

Một số nhà bình luận cho rằng bà Clinton đã bị “kéo về phía tả” trong lĩnh vực điều tiết tài chính trong suốt chiến dịch của mình. Nhưng nếu bạn nhìn một cách kỹ lưỡng vào các phát ngôn của bà trong mùa bầu cử này, ngay từ đầu chúng hầu như giống hệt những gì mà Warren đã tìm kiếm trong suốt hơn 6 năm qua. Và những mục tiêu này hoàn toàn đồng nhất với điều mà tất cả các quan chức có trách nhiệm mong muốn. Mỗi người với suy nghĩ đúng đắn của mình đều muốn ngăn chặn những ngân hàng lớn nhất vượt ra khỏi tầm kiểm soát, chuyển những rủi ro thành những hoạt động không được điều tiết hay mập mờ (được thể hiện hoặc không trên bản cân đối tài chính của họ) và những người tiêu dùng bị lừa dối.

Đây là một nghị trình đầy khôn ngoan và có trách nhiệm. Dĩ nhiên, nó bị phản đối bởi những người được trả tiền để đại diện cho những ngân hàng lớn nhất, theo cách này hay cách khác.

Về phía Đảng Cộng hòa, các ý định cụ thể của Donald Trump ít rõ ràng hơn, mặc dù ông tự gọi mình một cách đầy tự hào là “vua nợ”, điều có vẻ không đặc biệt đem lại nhiều hy vọng. Hàng núi nợ khổng lồ có thể giúp làm giàu cho những chủ dự án bất động sản hay những nhà đầu tư tài chính, nhưng chúng nhìn chung sẽ dẫn tới rắc rối cho nền kinh tế vĩ mô. Chính những khoản nợ như núi đó đã đổ sụp xuống nền kinh tế Hoa Kỳ và toàn cầu năm 2008. Rất nhiều khoản đã bị chôn vùi trong cuộc Đại suy thoái theo sau đó; còn nhiều khoản nữa vẫn đang được khai quật.

Không giống với Trump, các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa đã thành lập và công bố các kế hoạch chi tiết khá tương tự với kế hoạch mà Đảng Dân chủ đã trình bày. Và, trong trường hợp Trump trở thành Tổng thống, chính sách tài chính nhiều khả năng sẽ được định hình một phần lớn bởi Ủy ban các Dịch vụ Tài chính Hạ viện, mà chủ tịch của nó đã phát biểu rõ ràng rằng những ưu tiên bao gồm giảm sự bảo hộ người tiêu dùng và gỡ bỏ các rào cản hiện thời đối với các hoạt động của những ngân hàng lớn.

Trọng tâm trong chiến lược của các Hạ nghị sĩ Đảng Cộng hòa là một ý tưởng đơn giản: tất cả các công ty tài chính nên có khả năng bị phá sản mà không ảnh hưởng đến phần còn lại của nền kinh tế cũng như không khiến chính phủ phải liên lụy. Điều này nếu là một câu khẩu hiệu tranh cử thì ổn. Nhưng logic của nó lại có vấn đề lớn.

Vào tháng 9 năm 2008, Lehman Brothers phá sản – và không có hỗ trợ nào của chính phủ được đưa ra. Đã có những hậu quả mang tính thảm họa đối với phần còn lại của ngành tài chính; nền kinh tế phi tài chính và với việc làm.

Các nghị sĩ Đảng Cộng hòa đã đề xuất sửa chữa điều này bằng cách sửa đổi đạo luật về quy chế phá sản. Điều này nghe có vẻ cũng tốt, nhưng thực chất nó có nghĩa gì?

Việc chỉ hứa hẹn không cung cấp gói cứu trợ là khó tin được. Nước Mỹ là một nước lớn và nhiều quyền lực, và khi rủi ro tới, các nhà đầu tư sẽ mua trái phiếu chính phủ liên bang – làm lãi suất xuống thấp. Nước Mỹ có một bản cân đối kế toán như một “thành trì”, cũng như một trong những ngân hàng trung ương đáng tin cậy nhất trong lịch sử thế giới.

Nếu các nhà làm chính sách trong khoảnh khắc đó nghĩ rằng sự hỗ  trợ của chính phủ hay ngân hàng trung ương sẽ giúp ngăn chặn một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, họ sẽ hành động theo suy nghĩ đó. Đó là điều mà Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson, Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Ben Bernanke và Tổng thống George W. Bush (tất cả đều thuộc Đảng Cộng hòa) đã làm sau khi tác động toàn diện từ sự sụp đổ của Lehman trở nên rõ ràng.

Tính khả thi từ đề xuất cho phép các công ty tài chính phá sản của Đảng Cộng hòa nói tóm lại là: ai sẽ cấp tiền cho một định chế tài chính lớn phức tạp – hoạt động trên phạm vi toàn cầu – trong khi nó đang bị tái cấu trúc vì phá sản? Khu vực tư nhân sẽ không làm điều này. Bản thân các tòa án cũng không thể đi vay. Nếu không có nguồn tài chính, đề xuất này sẽ sụp đổ – và chúng ta lại có một “khoảnh khắc Lehman” khác, hoặc thậm chí còn tồi tệ hơn.

Do vậy chúng ta hẳn là đang nói về một tình huống mà trong đó một số bộ phận của chính phủ liên bang, dù có hay không sự chấp thuận rõ ràng của quốc hội, vội vàng cung cấp một khoản vay tức thời trong phạm vi hàng chục đến hàng trăm tỷ đô-la, thông qua một thẩm phán. Điều này thật khó hiểu và cực kỳ khó chấp nhận.

Hãy nghĩ đến những sai lầm kinh doanh sẽ được tạo ra và sự phản ứng chính trị dữ dội. Hãy cộng thêm vào đó tác động bóp méo nền kinh tế khi cho phép quá nhiều bảo hiểm miễn phí cho các rủi ro như vậy.

Đảng Dân chủ đang ủng hộ một cách tiếp cận tài chính mà sẽ làm cho hệ thống tài chính an toàn hơn, để nó sẽ không bao giờ phải rơi vào rủi ro này nữa. Kế hoạch của Đảng Cộng hòa sẽ chỉ có lợi cho những ngân hàng “quá lớn để sụp đổ”. Và sự giúp đỡ đó sẽ càng làm cho chúng trở nên nguy hiểm hơn.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Simon Johnson, “The Republican Bankruptcy Illusion”, Project Syndicate, 31/07/2016.

Simon Johnson, nguyên kinh tế trưởng tại IMF, là giáo sư tại Trường Quản trị Sloan (MIT), nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Peterson về Kinh tế Quốc tế, và là đồng sáng lập của blog kinh tế học hàng đầu mang tên The Baseline Scenario. Ông là đồng tác giả với James Kwak cuốn White House Burning: The Founding Fathers, Our National Debt, and Why It Matters to You.

Advertisements

Hỡi tiền tệ hãy trở thành hiện thực


Marc Chevallier & Sandra Moatti

Trẻ em nào mà không ngạc nhiên trước điều kỳ diệu này: khi đưa cho chủ cửa hiệu mượn trong vài giây đồng hồ một miếng nhựa nhỏ hình chữ nhật màu xanh, em có thể bước ra khỏi cửa hiệu với món đồ mà em mong muốn… Mãnh lực tuyệt vời của miếng nhựa này đến từ đâu?

Từ sự tín nhiệm. Cho dù được chuyền từ tay người này đến tay người khác, là bằng kim loại hay bằng giấy, hay được lưu thông lòng vòng qua trò viết kí đơn giản trên chi phiếu, qua vài cú nhấp trên phím một thiết bị đầu cuối của thẻ ngân hàng, là một lệnh chuyển khoản hay chuyển tiếp trên internet, tiền tệ lúc nào cũng là một sợi giây tín nhiệm liên kết các thành viên của một xã hội. Sự tín nhiệm trong việc nó được người khác thừa nhận và chấp nhận ở mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Sự chấp nhận mang tính nhất trí này là điều làm cho tiền tệ trở thành thước đo giá trị của mọi thứ, thứ vừng phổ quát cho phép sở hữu được mọi thứ được bày bán. Điều này làm cho tiền tệ mang tính hấp dẫn rất cao, và thậm chí hấp dẫn hơn rất nhiều so với những món đồ có thể mua được, bởi tính “tiềm năng thuần túy” của nó, theo như triết gia Georg Simmel, có nghĩa là khả năng lựa chọn vô hạn hàm chứa trong nó.

Nhưng trên thực tế, ai tạo ra thừ tiền tệ hấp dẫn như thế? Một bí ẩn khác. Ngày nay, người ta nói về “tiền pháp định (fiat money)”, như Chúa đã nói “fiat lux” (“Hỡi ánh sáng hãy trở thành hiện thực“): Hỡi tiền tệ hãy trở thành hiện thực, nhưng Chúa của tiền tệ là ai? Khi các đồng tiền được làm bằng kim loại quý, đó là việc đơn giản. Đồng Tiền không từ trên trời rơi xuống. Phải đi tìm nó trong các hầm mỏ. Hẳn là các Nhà nước luôn tím cách bớt xén một vài miligram giữa giá trị niêm yết và trọng lượng thực tế của các đồng tiền mà họ đúc ra. Ở một số nhà giả kim tà tâm, họ mơ chuyển chì thành vàng.

Ngày nay, các nhà giả kim có cửa hiệu ở mặt phố. Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, đó là các ngân hàng khi tạo ra tiền thông qua các khoản cho vay mà họ cung cấp, những hứa hẹn thu nhập trong tương lai. Ngân hàng tạo ra tiền tệ, nhưng không tạo ra sự tín nhiệm. Đây là một vấn đề khác …

Bởi vì tiền tệ không phải là chất làm lỏng duy nhất của các giao dịch, như các nhà kinh tế thường nói, nó là một thể chế. Một tờ giấy bạc 100 đô-la đáng giá một cái gì đó trên toàn thế giới. Nhưng hãy thử đi mua sắm với tờ giấy bạc bolivard của Venezuela xem sao… Vì sao? Bởi sự tín nhiệm vào Hoa Kỳ – sự ổn định chính trị, ảnh hưởng kinh tế, sức mạnh quân sự của nước này – lớn hơn so với sự tín nhiệm đặt vào Venezuela.

Đó cũng là hứa hẹn to lớn của đồng euro, đồng tiền “duy nhất” của 350 triệu người dân châu Âu: tạo ra một đồng tiền có khả năng cạnh tranh với đồng đô-la. Một cuộc khủng hoảng sau đó, đồng euro lâm vào tình thế nguy ngập. Những tay học việc đúc tiền tệ hiểu ra rằng người ta không thể đơn giản tạo ra một đồng tiền bằng cách in hình những chiếc cầu trên tờ giấy bạc và liên kết các tài khoản ngân hàng. Tuy nhiên, nếu các thị trường nghi ngờ tính vĩnh cửu của đồng euro, thì sự tín nhiệm của người dân vào đồng tiền của họ không hề bị dao động. Bằng chứng là bất chấp mọi trở lực, cái cộng đồng châu Âu này tiếp tục có ý nghĩa đối với họ.

Những cột mốc thời gian: cuộc phiêu lưu vĩ đại của tiền tệ

  • 9000-6000 TCN: Gia súc và ngũ cốc bắt đầu được sử dụng làm tiền tệ trong nhiều xã hội, vì những lý do khác nhau (giải quyết xung đột, của hồi môn, kinh doanh thương mại, tiền chuộc …)
  • 3000-2000 TCN: Người ta tìm thấy những “ngân hàng ngũ cốc” tại Babylon, ở vùng Lưỡng Hà. Đó là những ngôi đền và cung điện hoàng gia được sử dụng để lưu trữ ngũ cốc. Các chủ sở hữu nhận được các giấy tờ chứng minh về các khoản tiền gửi của họ, được sử dụng để giải quyết các khoản nợ, nộp thuế, thanh toán tiền cho các thầy tu và các thương gia.
  • 1792-1750 TCN: Năm 1902, các nhà khảo cổ người Pháp phát hiện ra bộ luật của Hammurabi, vị vua của Babylon, trong đó có quy định pháp luật về ngành ngân hàng.
  • 1200 TCN: Người Trung Quốc sử dụng các vỏ ốc, vỏ của các họ đồ sứ, làm tiền tệ.
  • 1000-500 TCN: Công cụ và vũ khí được sử dụng làm tiền tệ ở Trung Quốc.
  • 687 TCN: Theo Herodotus, những đồng tiền đầu tiên được đúc tại Lydia, ở vùng Tiểu Á.
  • 640-630 TCN: Các đồng tiền của người Lydia được đúc bằng hợp kim electrum, một hỗn hợp tự nhiên của vàng và bạc.
  • 600 TCN: Pythius, người giao dịch tại Hy Lạp và vùng Tiểu Á, là chủ ngân hàng lâu đời nhất mà người ta có được thông tin.
  • 600-570 TCN: Các đồng tiền của người Lydia lan rộng khắp Hy Lạp và thay thế những chiếc đinh được sử dụng cho tới bấy giờ.
  • 546 TCN: Crésus, vua của Lydia, bị người Ba Tư bắt. Việc trả tiền chuộc ngài đã làm phát triển việc sử dụng các đồng tiền của người Lydian (từ nay được tách thành đồng tiền vàng và đồng tiền bạc) tại Ba Tư.
  • 600-300 TCN: Các đồng tiền kim loại xuất hiện tại Trung Quốc. Người ta không chắc chắn về thời điểm xuất hiện, nhưng chúng có thể đã được sử dụng trước đó.
  • 407-405 TCN: Việc người Spartan chiếm lấy các mỏ bạc của Athens buộc người Athens phải phát hành các đồng tiền bằng đồng được bao bọc bằng bạc. Kết quả: người Athens cất giữ các đồng tiền bằng bạc của họ và cho lưu thông các đồng tiền bằng đồng. Trong vở kịch Les grenouilles(Những chú ếch), Aristophane là người đầu tiên trình bày định luật này: đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt. Một định luật mà Thomas Gresham, cố vấn người Anh của Nữ hoàng Elizabeth I, chỉ phát hiện lại vào năm 1560.
  • 394-371 TCN: Pasion, người nô lệ trở thành chủ ngân hàng đầu tiên nổi tiếng trong lịch sử. Ông mua được quyền tự do của mình và quyền trở thành công dân của Athens. Các giao dịch ngân hàng chủ yếu được thực hiện bằng tiền mặt.
  • 350 TCN: Nếu tin vào Demosthenes, nhà hùng biện người Athenes, thì lãi suất đối với các giao dịch thông thường là 10%. Đối với các giao dịch mang tính rủi ro, thì tỷ lệ này dao động từ 20% đến 30%.
  • 118 TCN: Người Trung Quốc sử dụng tiền tệ bằng da thuộc.
  • 30: “Chúa Giêsu bước vào đền thờ, ngài đuổi tất cả những người tham gia giao dịch thương mại; ngài hất ngã bàn của những người đổi tiền, và ghế của những người bán chim bồ câu” (Matthew 21-12). Tính đa dạng của đồng tiền kim loại làm cho những người đổi tiền thành những chủ ngân hàng đầu tiên. Tín dụng ngân hàng chủ yếu cung cấp tài chánh cho ngành thương mại tàu thuyền, khai thác mỏ và xây dựng các công trình công.
  • 435: Với sự xâm lược của những người “man rợ” Anglo-Saxon, các đồng tiền không còn được sử dụng ở Anh trong gần hai trăm năm.
  • 476: Sự sụp đổ của Đế chế La Mã phương Tây đặt dấu chấm hết cho các hoạt động ngân hàng, sẽ bị lãng quên ở Châu Âu.
  • 806-821: Hoàng đế Hien Tsung, phát triển việc sử dụng tiền giấy tại Trung Quốc khi phải đối mặt với tình trạng thiếu đồng.
  • 1095-1270: Nhu cầu chuyển những số tiền quan trọng cho các cuộc thập tự chinh phục hồi lại hoạt động ngân hàng. Với 9000 người dưới quyền, các chức sắc nhà dòng có một mạng lưới đặc biệt các chi nhánh.
  • 1156: Hợp đồng hoán đổi ngoại tệ đầu tiên. Hai anh em vay 115 đồng tiền bảng tại một ngân hàng ở Genoa và hoàn trả 460 đồng tiền bizant ở Constantinople. Những hợp đồng này được mở rộng vào thế kỷ XIII.
  • 1275-1292: Những chuyến hành trình của Marco Polo dạy cho phương Tây cách thức sử dụng tiền giấy tại Trung Quốc.
  • 1355: Nicolas Oresme công bố chuyên luận kinh tế đầu tiên về tiền tệ. Ông trở thành cố vấn của nhà vua Pháp Charles V.
  • 1360: “Đồng denier vàng nguyên chất mà chúng ta đang cho đúc hiện nay và có ý định tiếp tục cho đúc sẽ được gọi là đồng franc vàng.” Một sắc lệnh hoàng gia được Jean le Bon ký cho ra đời đồng Franc và quy định trọng lượng vàng của nó.
  • 1403: Yêu cầu một lãi suất trên các khoản cho vay trở nên hợp pháp ở Florence. Pháp luật chỉ làm việc xác nhận một thực hành đã phổ biến, bất chấp sự cấm cản của đạo Cơ Đốc đồng hóa lãi suất với cho vay nặng lãi.
  • 1455: Trung Quốc bãi bỏ việc sử dụng tiền giấy.
  • 1487-1492: Với những nguồn vàng đến từ châu Phi và châu Mỹ, giá trị tương đối của bạc tăng lên. Tại Đức, gia đình Fugger, người đã đầu tư vào các mỏ bạc, nổi lên là một trong những chủ ngân hàng quyền lực nhất ở châu Âu.
  • 1634-1637: Một số hành tulip, với hình dạng và màu sắc khác thường, là đối tượng của một vụ đầu cơ rất lớn ở Amsterdam và tạo ra một trong những bong bóng tài chính đầu tiên trong lịch sử.
  • 1716: John Law thành lập Ngân hàng trung ương, phát hành những tiền giấy riêng của họ. Ngân hàng trở thành Ngân hàng Hoàng gia vào năm 1718, dưới sự kiểm soát của quan nhiếp chính. Sự phá sản của ông vào năm 1720, buộc Law phải chạy trốn khỏi nước Pháp.
  • 1720: nhà vật lý Isaac Newton, phụ trách việc đúc tiền hoàng gia, thua mất 20.000 bảng khi đầu cơ vào thị trường chứng khoán và tuyên bố: “Tôi có thể tính toán sự chuyển động của các hành tinh, nhưng không thể tính toán sự điên rồ của con người“.
  • 1762: Thành lập Ngân hàng Barings. Khi nó bị phá sản vào năm 1995, thì đó là ngân hàng thương mại lâu đời nhất của Anh.
  • 1792: Thành lập thị trường chứng khoán New York.
  • 1800: Theo chân cuộc đảo chính của Napoleon Bonaparte, Ngân hàng trung ương Pháp được thành lập bởi người thân của vị Tổng tài đầu tiên. Nó trở thành một định chế của chính phủ, được các cá nhân hùn vốn vào năm 1806 và được độc quyền phát hành tiền vào năm 1848. Nó được quốc hữu hóa vào năm 1945.
  • 1848: Cuộc đổ xô đi tìm vàng tại Hoa Kỳ.
  • 1862-1863: Các sản phẩm phái sinh bắt đầu phát triển tại Hoa Kỳ. Hoạt động của chúng được quân đội phương Bắc khởi xướng, trong cuộc chiến chống lại phương Nam, nhằm tìm cách tự bảo vệ chống lại những biến động về giá yến mạch cần thiết để nuôi ngựa.
  • 1878-1882: Sự thất bại của ngân hàng Union générale, một ngân hàng Công giáo nhằm vượt qua mặt các chủ ngân hàng người Do Thái ở Paris, được dùng làm nền tảng cho cuốn tiểu thuyết của Zola, L’argent(Tiền).
  • 1910: Ngựa vẫn được người Kyrgyz ở Trung Á sử dụng làm tiền tệ. Cừu được sử dụng trong các giao dịch nhỏ và da của chúng được sử dụng làm những đồng tiền lẻ.
  • 1950: Thẻ Diner’s Clublà thẻ tín dụng đầu tiên được sử dụng để rút tiền ở nhiều cơ sở ngân hàng.
  • 1960: Ngoại trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, tất cả các hình thức tiền tệ sơ khai đều biến mất.
  • 1976: Vàng chính thức mất đi hoàn toàn vai trò tiền tệ quốc tế.
  • 1991: Đóng cửa ngân hàng TCNCI, lần đầu tiên phơi bày mức độ quan trọng của tội phạm hình sự về tài chính quốc tế.
  • 1998: Sự sụp đổ gần như không tránh khỏi của Quỹ đầu tư LTCM của Mỹ thiếu chút nữa làm sụp đổ toàn bộ hệ thống tài chính quốc tế.
  • 1999: Đồng euro ra đời, lưu thông song song với 11 loại tiền tệ quốc gia châu Âu.
  • 2002: Đồng euro thay thế 11 loại tiền tệ quốc gia.
  • 2008: Sự phá sản của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers gây ra sự lây lan của cuộc khủng hoảng các khoản cho vay dưới chuẩn sang các ngân hàng châu Âu. Ngân hàng Trung ương châu Âu bơm vào 125 tỷ euro trong một tuần để cứu vãn hệ thống ngân hàng châu Âu.
  • 2009: Ngày 5 tháng 11, Thủ tướng mới của Hy Lạp tăng mức dự báo thâm hụt ngân sách lên 12,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), dẫn đến việc các cơ quan xếp hạng hạ mức tín nhiệm của Hy Lạp, hai tháng sau đó. Đây là sự khởi đầu của cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu.
  • 2010-2011: Liên minh châu Âu cung cấp một khoản hỗ trợ tài chính lần lượt cho các nước Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nhà, và Hy Lạp một lần nữa. Thành lập Quỹ ổn định tài chính của châu Âu (EFSF), Cơ chế ổn định của châu Âu (ESM) và Hiệp định của châu Âu về một hiệp ước mới (TSCG) có dự trù một một quy tắc vàng về điều phối.
  • 2012: Liên minh châu Âu đặt nền móng cho một liên minh ngân hàng.
  • 2015: Chính phủ Hy Lạp của Thủ tướng Alexis Tsipras đối đầu với Đức nhằm nới lỏng thòng lọng thắt lưng buộc bụng đang bóp nghẹt đất nước này nhưng không rời khỏi đồng euro.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: “Que l’argent soit !“, Alternatives économiques, Hors série n. 105, avril 2015

Thế giới trong biến động lớn kêu gọi tài chính học chính trị – Phần cuối


Uy lực của tài chính nổi bật trong trò chơi của các nước lớn

Thế giới đang trong biến đổi lớn hiện nay cũng cần lý luận tài chính học mới để giải thích những biến đổi này, đồng thời chỉ đạo thực tiễn tài chính trong tương lai.

Những hiện tượng kinh tế xuất hiện trong một hai thập niên gần đây, đặc biệt là hai hiện tượng quan trọng lớn mới xuất hiện sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, đều đang được tài chính học chủ lưu và các phân chi tài chính học mới nổi quan tâm hoặc bắt đầu đưa vào các chương trình nghiên cứu chủ yếu. Nhưng vẫn cần dùng góc nhìn mới, các bộ môn giao thoa mới để tăng cường nghiên cứu những hiện tượng này.

Biến đổi quan trọng thứ nhất là, ở nhiều nước, cả các nước phát triển Âu Mỹ lẫn các nước đang phát triển như Trung Quốc…, ngành tài chính đều trải qua sự mở rộng theo bội số hình học. Ở Mỹ, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành tài chính trogn GDP từ 0 đến 5% năm 1980 tăng lên khoảng 7,3% năm 2014; ở Trung Quốc, tỷ trọng này năm 2016 cũng đạt tới 8,3%. Có thể nói, tài chính đã trở thành ngành độc lập vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh tế, sự mạnh yếu của nó có thể trực tiếp ảnh hưởng tới sự mạnh yếu của kinh tế, cũng ảnh hưởng tới sự hưng suy của quốc gia.

Quan trọng hơn là, cùng với sự mở rộng của ngành tài chính, hoạt động tài chính dần hình thành vai trò hướng dẫn thậm chí khống chế hoạt động kinh tế. Bất luận là ngân hàng, thị trường vốn hay đầu tư rủi ro, đầu tư quyền cổ phần, quyết định đầu tư hoặc cho vay của ngành tài chính có thể trực tiếp quyết định ngành nào, công ty nào có thể phát triển lớn mạnh, còn một số doanh nghiệp hoặc ngành khác dù có tính hợp lý kinh tế nhưng có được sự cấp vốn bên ngoài thì đành tự sinh tự diệt. Hàng loạt sản phẩm, tài sản này, giao dịch tài chính có thể trực tiếp ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và mức lợi nhuận của kinh tế thực thể. Những nguyên liệu hoặc sản phẩm cấp một quan trọng như dầu thô, than đá, gang thép, nông sản phẩm là thí dụ rất tốt trong đó, giao dịch tài chính quyết định mức giá của chúng, còn mức giá của chúng trực tiếp ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh của các ngành tương quan, thậm trí trực tiếp ảnh hưởng tới chính sách và cục diện chính trị của một nước.

Biến đổi quan trọng thứ hai là, đi liền với tiến trình toàn cầu hóa kinh tế, sự lưu động xuyên biên giới của tư bản diễn ra thường xuyên và dày đặc, trở thành lực lượng gốc gây ra khủng hoảng quốc tế. Nhiều nước đang phát triển tuy ở mức độ nhất định được hưởng tăng trưởng kinh tế do đầu tư trực tiếp của nước ngoài mang lại nhưng cũng mất đi năng lực kiểm soát tự chủ đối với kinh tế nước mình. Một khi vốn nước ngoài rút đi, quốc gia có vốn chảy vào sẽ đối mặt với nguy cơ sức mua của tiền trong nước giảm sút, ngành nghề tan rã, kinh tế trượt dốc. Là nước xuất khẩu vốn, các nước phát triển vừa hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển, vừa hưởng thụ hàng hóa giá rẻ xuất khẩu từ các nước đang phát triển, thậm chí thực hiện sự thao túng đối với ngành nghề của các nước đang phát triển. Trong ba, bốn chục năm gần đây, khủng hoảng nợ ở các nước Mỹ Latinh, khủng hoảng tài chính châu Á đã cho thấy rõ lưu động vốn xuyên biên giới có thể gây thiệt hại nghiêm trọng không kịp đề phòng cho các nước đang phát triển.

Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt đầu với khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ, nhưng cuối cùng đã lan ra kinh tế toàn cầu; nước Mỹ – kẻ đầu tiên gây ra khủng hoảng lại thoát ra khỏi bóng tối trước tiên, còn các khu vực khác, kể các các nước đang phát triển châu Âu lại ngập sâu vào đầm lầy một thời gian rất dài không thoát ra được. Ở vào địa vị chi phối trong xử lý tài chính toàn cầu, nước Mỹ lợi dụng ưu thế của hệ thống tiền tệ và tài chính của họ để đổ vấy khủng hoảng sang các nước khác, lại mượn năng lực ứng phó khủng hoảng và địa vị phân phối nguồn lực tài chính toàn cầu lớn mạnh của mình để nhanh chóng khôi phục trạng thái bình thường.

Trong những bối cảnh này, quan hệ giữa phát triển tài chính và chính trị quốc gia trở nên ngày càng chặt chẽ, cần thiết phải xem xét tỉ mỉ hơn những quan hệ này, đồng thời phát triển lý luận mới để chỉ đạo thực tiễn tài chính tương lai. Trước mắt, các nghiên cứu tương quan trong lĩnh vực kinh tế học, tài chính học vẫn bó hẹp trong quan hệ tài chính và kinh tế. Một mặt, hệ thống tài chính thông qua giải quyết vấn đề thông tin không đối xứng, cung cấp phương thức phân tán rủi ro, xúc tiến tích lũy và đầu tư, đồng thời làm cho vốn có thể đi vào các ngành và các doanh nghiệp có hiệu suất cao nhất, từ đó xúc tiến tăng trưởng kinh tế; mặt khác, khi gặp phải tác động tiêu cực bên ngoài, hệ thống tài chính lành mạnh và năng lực xử lý khủng hoảng tốt đẹp có thể giúp nền kinh tế phục hồi nhanh chóng, quay về quỹ đạo tăng trưởng bình thường.

Nhưng tôi cho rằng, ngoài phát sinh ảnh hưởng to lớn đối với kinh tế một nước, tài chính cũng có thể sản sinh lực tác động to lớn tới chính trị, kể cả chính trị quốc tế. Tương tự, nhân tố chính trị cũng sản sinh lực can thiệp cực mạnh đối với thực tiễn tài chính. Đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hóa tài chính ngày nay, tài chính đang phát huy uy lực ngày càng lớn trong trò chơi giữa các nước lớn. Cần thiết phải triển khai những nghiên cứu mới về tài chính học từ góc nhìn chính trị, đồng thời chính trị học cũng cần mở rộng tới phạm trù tài chính. Sự phát triển của thời đại kêu gọi nghiên cứu “tài chính học chính trị” bước ra vũ đài.

Trong ngữ cảnh này, nội dung bao trùm của tài chính học hơn nửa thế kỷ lại đây sẽ càng mở rộng, bao gồm hai chủ đề lớn chủ yếu của tài chính học phương Tây hiện đại – định giá tài sản và tài chính công ty, vấn đề tiền tệ, tín dụng và ngân hàng mà học giả các lĩnh vực kinh tế học vĩ mô, kinh tế học tiền tệ… quan tâm, còn bao gồm các nhân tố chính trị đằng sau hệ thống tiền tệ quốc tế, lưu động vốn xuyên biên giới, biến đổi thực lực quốc gia, biến đổi địa lý quốc tế mà chủ yếu là các nhà nghiên cứu kinh tế học quốc tế quan tâm.

Bổ sung và hoàn thiện tài chính học chủ lưu

Từ “tài chính học chính trị” (Political Finance) đã từng được đề cập trong cuốn Quỹ tranh cử của các chính đảng mà học giả Mỹ James K. Pollock xuất bản năm 1926. Mấy chục năm qua, các học giả phương Tây với Herbert E. Alexander là đại diện đã bằng vào thực tế của nước mình nghiên cứu quan hệ giữa nhân tố chính trị và hướng đi của vốn, nhưng những nghiên cứu này khác biệt rất lớn với “tài chính học chính trị” mà thế kỷ XXI cần đến.

Nhìn từ sự phân chia bộ môn, giống như tài chính học hành vi và tài chính học chế độ, tài chính học chính trị cũng tuyệt nhiên không phải là phải thay thế hoàn toàn tài chính học chủ lưu, mà là sự bổ sung và hoàn thiện đối với tài chính học chủ lưu. Tài chính học chủ lưu hiện đại thiếu sự tìm tòi về quan hệ giữa tài chính và nhà nước, quan hệ giữa tài chính và cục diện thế giới, tài chính học chính trị có thể bổ sung cho tài chính học chủ lưu về các chủ đề nghiên cứu này.

Nhìn từ sự tiếp nối tư tưởng, suy nghĩ lại vấn đề tài chính dẫn đến khủng hoảng chính trị thực ra là theo đuổi việc “giải phương Tây hóa” hoặc “siêu Mỹ hóa” trong nghiên cứu tài chính từ đặc trưng chính trị và thuộc tính tài chính. Thí dụ, tài chính phải phục vụ cho kinh tế thực thể, nhà nước chủ đạo sự phát triển của tài chính…, những quan niệm tài chính này ch1inh là đã nhấn mạnh sự dung hợp giữa tài chính và chính trị học.

Nhìn từ sự tương tác bộ môn, tài chính học chính trị cũng là kết quả của trò chơi học thuật kéo dài trên nửa thế kỷ trong tài chính học giữa chính trị học và kinh tế học. Các nhà kinh tế học với Hayek là đại diện chủ trương thẩm thấu vào khoa học chính trị, đoạt lại trận địa của kinh tế học chính trị; còn các nhà chính trị học thì đứng chân trên chính sách công, chính trị chính đảng và truyền thống học thuật thiên về chính trị của kinh tế học chính trị từ thế kỷ XIX trở đi, nắm chắc sự chủ động tương đối của kinh tế học chính trị. Kết quả cuối cùng có thể là tài chính chủ đạo chính trị, bao trùm kinh tế.

Ngày 25 tháng 4 năm 2017 Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành học tập tập thể lần thứ 40 về duy trì an toàn tài chính quốc gia, tổng bí thư Tập Cận Bình đã chỉ rõ, “cần nhận thức đầy đủ về địa vị và vai trò quan trọng của tài chính trong phát triển kinh tế và đời sống xã hội, thiết thực coi duy trì an toàn tài chính là đại sự trong điều hành nền chính trị quốc gia”. Trung Quốc làm thế nào dựa vào tài chính để trở thành một trong những quốc gia nòng cốt toàn cầu trong thế kỷ XXI? Sau khi làm rõ quan hệ giữa tài chính và nhà nước, tài chính và cục diện thế giới, tài chính học chính trị có thể sẽ đưa ra lời giải đáp mạnh mẽ cho vấn đề này.

Người dịch: Du Tử

Nguồn: TN 2018 – 25

Thế giới trong biến động lớn kêu gọi tài chính học chính trị – Phần đầu


Wang Wen

Đổi mới lý luận và diễn biến của thời đại bổ sung cho nhau, xúc tiến lẫn nhau. Lý luận tài chính, lý luận chính trị đều như vậy. Sau khi khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát năm 2008, giới tài chính học và giới chính trị học xuất hiện cục diện tương tác hiếm thấy. Nhưng gần chục năm trôi qua, hành trình tham khảo lẫn nhau giữa bộ môn chính trị học và tài chính học diễn ra vẫn rất chậm chạp, đến mức trong bối cảnh biến đổi trọng đại thời đại hiện nay mà vẫn chưa xuất hiện diễn ngôn giải thích có tính cách mạng. Thời đại kêu gọi “tài chính học chính trị” thực sự ra đời.

Chính trị học bức thiết đòi hỏi mở rộng tài chính

Theo cách nói của Gabriel A. Almond, dùng một đường cong để miêu tả lịch trình phát triển của khoa học chính trị thì khởi điểm của đường cong này rõ ràng là khoa học chính trị của Hy Lạp cổ đại, sau đó trải qua lịch trình phát triển như sau: thời đại La Mã cổ đại đạt được bước phát triển nhất định, trải qua sự phát triển chậm chạp thời Trung kỷ, đến thời Phục hưng và thời Khai sáng thì phát triển nhảy vọt, sau đó ở thế kỷ XIX đạt được một số đột phá quan trọng, cuối cùng ở thế kỷ XX thực sự có được đặc trưng chuyên nghiệp và sau khi đặt được cơ sở vững chắc thì bắt đầu tiến vọt.

Động lực căn bản thúc đẩy sự tiến bộ tri thức này là ở thực tiễn xã hội và diễn biến lịch sử. Những năm 50 của thế kỷ XX, một loạt thuộc địa giành độc lập quốc gia. Lúc bấy giờ với sự tài trợ của Quỹ nước Mỹ, có khoảng hơn 3000 nhà khoa học xã hội Mỹ được cử sang châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh và một số nước mới độc lập khác tiến hành nghiên cứu toàn diện về phương thức phát triển chế độ chính trị, đẻ ra hàng nghìn luận văn và rất nhiều sách. Chính trị học so sánh nổi lên từ đó.

Tiến trình nghiên cứu so sánh chính trị kéo dài liên tục đến những năm 80 của thế kỷ XX và sản sinh ba biến đổi tư tưởng học thuật chính trị to lớn quan trọng nhất trong lịch sử thế giới đương đại: một là học giả Mỹ thay thế các học giả châu Âu như Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, xác định “bá quyền nước Mỹ” ở các cấp độ nghiên cứu học thuật; hai là sản sinh ra một loạt nhà chính trị học ưu tú và một loạt tác phẩm kinh điển để đời của thế kỷ XX, ví dụ Lipset, Easton, Almond, Huntington, đưa chính trị học so sánh lên đỉnh chóp; ba là sản sinh một loạt bộ môn giao thoa mới nổi, thí dụ nhân học chính trị, tâm lý học chính trị, địa lý học chính trị…

Khái quát theo Mattei Dogan thì ba đặc điểm lớn này là, trong thời kỳ từ sau Thế chiến II tới Chiến tranh lạnh, đặc điểm chủ yếu của khoa học chính trị là chuyên nghiệp hóa, phân hóa và phức tạp hóa. Chính trị học so sánh đã đi tới đỉnh cao nhất của lịch sử học thuật từ tiến trình chuyên nghiệp hóa, phân hóa và phức tạp hóa này.

Nhưng chính trị học so sánh lại mắc một loạt “nợ ngoại” lớn. Loạt nợ này sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đã xuất hiện sự “vỡ nợ” có tính tập thể, nguyên nhân căn bản của điều đó là không thể giải thích toàn bộ hiện tượng chính trị bằng chính trị học. Hai hiện tượng lớn sau chiến tranh lạnh đã vượt qua năng lực giải thích của chính trị học so sánh sau Thế chiến II: Một là tại sao Liên Xô lại tan rã, tại sao chiến tranh lạnh lại kết thúc bằng phương thức hòa bình? Hai là tại sao làn sóng dân chủ hóa toàn cầu lại hưng thịnh như vậy?

Sau chiến tranh lạnh, một loạt cách giải thích lý luận và chi nhánh, trường phái chính trị học mới các loại lại xuất hiện: chủ nghĩa kiến tạo, “thuyết lịch sử cáo chung”, “thuyết dân chủ hòa bình”, “làn sóng thứ ba”… Những xu thế chính trị học so sánh mới này đứng chân trên nghiên cứu trường hợp và bối cảnh, nhấn mạnh hợp tác xuyên quốc gia và phân tích mạng quốc tế, nhưng vòng tiến bộ mới của chính trị học này rất nhanh chóng bị chứng minh là “đi trệch”, thậm chí là “thất bại”.

Sau khi khủng hoảng tài chính bùng phát mạnh tại Mỹ năm 2008, giới chính trị học toàn cầu sa vào trạng thái lúng túng và đầy phê phán: Tại sao sau làn sóng dân chủ hóa thứ ba, từ châu Phi, Mỹ Latinh đến Ukraine, Nam Tư, Afghanistan, Iraq, sự chuyển hóa chính trị nhà nước hầu như đều gặp “thất bại lớn”? Tại sao trong môi trường được coi là có thể “sáng tạo ra xã hội tốt đẹp” (lời Robert J. Shiller) mà tài chính lại sản sinh ra mối đe dọa chính trị lớn như vậy? Khủng hoảng chính trị khu vực hiện tại hầu như đều có thể tìm nguyên nhân từ khủng hoảng tài chính năm 2008. Trên cơ sở đó, chính trị học đã xuất hiện yêu cầu bức thiết về mở rộng tài chính.

Trong thực tế, ngay từ sau khi Thế chiến II kết thúc, một loạt nhà chính trị học Âu Mỹ đã định trực tiếp tìm hiểu các nhân tố liên quan đến tài chính như lưu động vốn, tỷ lệ phân phối tài chính công…, xúc tiến cơ chế tài chính chính trị từ góc nhìn của người nộp thuế. Nhưng nửa thế kỷ sau đó, phả hệ nghiên cứu của các nhà chính trị học này cuối cùng rơi vào nghiên cứu chính trị vĩ mô như quỹ tranh cử, quyên góp cho các chính đảng mà không tự rút ra được, càng không dẫn dắt được trào lưu tư tưởng chính trị học sau khủng hoảng tài chính năm 2008.

Biến đổi của thực tiễn tài chính cần có cách giải thích lý luận mới

Tư duy trên hai nghìn năm về tài chính luôn nằm trong chuẩn thức của chính trị học và kinh tế học. Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, Aristotle đã nhận thức được rằng tiền tệ có thể đóng vai trò môi giới trao đổi và thước đo giá trị, đồng thời phản đối cho vay nặng lãi. Nhân vật đại biểu của triết học kinh viện Trung kỷ là Thomas Aquinas cũng cho rằng, vai trò chủ yếu của tiền tệ là trao đổi tiện lợi, nhưng cũng thừa nhận tồn tại rủi ro thanh toán. Những tư tưởng này rõ ràng trong một thời gian rất dài đã chỉ đạo thực tiễn kinh tế, biểu hiện tập trung ở sự hạn chế nghiêm ngặt của châu Âu trong thời kỳ đế quốc La Mã và Trung kỷ đối với việc cho vay thu lãi.

Đến thời kỳ phát kiến địa lý và manh nha chủ nghĩa tư bản, châu Âu chủ trương thông qua can thiệp của nhà nước, hạn chế xuất khẩu vàng bạc hoặc duy trì thặng dư thương mại ở mức cao để đạt được tích lũy tiền tệ, chính sách trọng thương chủ nghĩa theo đó nảy sinh. Điều đó thỏa mãn nhu cầu của giai cấp tư sản về tích lũy tiền tệ và mở rộng thị trường. Nhưng phương tiện tài chính lúc này chẳng qua chỉ là công cụ kinh tế.

Kinh tế học chính trị cổ điển Anh xuất hiện sau đó đã xác lập chuẩn thức phân tích truyền thống cổ điển tương tác giữa kinh tế học và tài chính học. Adam Smith, Ricardo… đã thảo luận các vấn đề về nguồn gốc và hiệu ích của tiền tệ, quy luật lưu thông tiền tệ, bản chất của tư bản, nguồn gốc của lợi tức…, mở đường cho sự phát triển kinh tế thương mại của các nước tư bản và thuộc địa. Sự xuất hiện và sử dụng rộng rãi tiền tệ tín dụng đã thúc đẩy Bohm-Bawerk, Wieser, Fisher, Keynes thảo luận về ảnh hưởng của nhân tố tiền tệ đối với kinh tế, bao gồm việc quyết định lãi suất, sự hình thành giá cả, lý luận nhu cầu tiền tệ, thuyết số nhân tiền tệ… Những học thuyết này cung cấp sự ủng hộ lý luận cho việc quyết định chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, đồng thời cung cấp phương pháp luận tài chính cho chính sách tăng trưởng kinh tế.

Từ đại suy thoái trong những năm 30 của thế kỷ XX trở đi, sự thăng trầm kinh tế và biến đổi chính sách tiền tệ đã gây tranh luận kéo dài tới mấy chục năm của chủ nghĩa Keynes và trường phái tân cổ điển về vai trò của kinh tế và việc lựa chọn chính sách tiền tệ. Năm 1952, khởi đầu bằng luận văn tiến sĩ của Markowitz “Lựa chọn tổ hợp đầu tư” (Portfolio Selection), tài chính học hiện đại đã triệt để tách biệt khỏi kinh tế học, trở thành một bộ môn tương đối độc lập.

Từ những năm 50 của thế kỷ XX trở đi, sự phát triển của tài chính học hiện đại đã được lợi ở mức độ rất lớn bởi sự phong phú của dữ liệu tài chính và sự nâng cao của kỹ thuật tính toán. Nhưng ngược lại, dữ liệu và kỹ thuật cũng thúc đẩy sự tiến bộ của thực tiễn tài chính.

Đồng thời, sự mở rộng theo một chiều cạnh khác của tài chính học bắt nguồn từ sự khai thác biến số bên ngoài. Từ khi truyền thống cổ điển của kinh tế học xác lập trở đi, phần lớn phân tích kinh tế học, bao gồm cả tài chính học, điều kiến lập trên giả thiết “con người duy lý”, tức là người ta luôn phải gia tăng tối đa hiệu ích của mình. Nhưng trong thị trường tài chính lại thường có thể quan sát thấy hiện tượng mức giá chênh ở mức độ lớn trong thời gian dài với số trị cân bằng mà hành vi ưu hóa quyết định, chẳng hạn hiện tượng bong bóng tài sản. Được lợi từ nghiên cứu tâm lý học và sự phát triển của kinh tế học hành vi, từ những năm 80 của thế kỷ XX trở đi, với tính cách là một thử nghiệm giải thích những hiện tượng khác thường này, tài chính học hành vi dần trở thành một phân ngành hoàn toàn mới của lĩnh vực tài chính học. Ngược lại, sự phát triển của tài chính học hành vi cũng thúc đẩy sự phát triển của các ngành tài chính tương quan với sách lược đầu tư, như sách lược động lượng…

Một biến số khác được phát hiện bắt nguồn từ chế độ. Phân tích kinh tế học truyền thống cổ điển về cơ bản xác lập trên giả thiết “không tồn tại ma sát”, nhưng trong hoạt động kinh tế hiện thực, có thể quan sát thấy đủ loại ảnh hưởng mà chi phí giao dịch tạo ra cho hiệu suất kinh tế, còn chi phí giao dịch thường liên quan tới lựa chọn chế độ. Vì vậy, cần đưa chế độ vào trong phân tích kinh tế. Kinh tế học chế độ mới ứng dụng phương pháp kinh tế học vào phân tích chế độ, do vậy đạt được sự phát triển bước dài. Dựa trên đó, lĩnh vực tài chính học xuất hiện ngày càng nhiều học giả kêu gọi tiến hành nghiên cứu sâu hơn về môi trường chế độ tài chính, lựa chọn hệ thống tài chính, bối cảnh quan trọng của điều đó là nhiều nước trên thế giới đang đối diện với sự chuyển hóa chế độ. Nghiên cứu quan hệ giữa chế độ pháp luật và hiệu suất hệ thống tài chính và nghiên cứu trong các lĩnh vực đưa chi phí giao dịch và quyền sở hữu vào phân tích kinh tế học, được học giả trong nước gọi là “tài chính học chế độ”…, đều tiến hành tìm tòi về phân tích chế độ tài chính. Nếu có thể có được kết luận đáng tin cậy, những nghiên cứu này sẽ có hy vọng được ứng dụng vào thiết kế hệ thống tài chính cảu các thị trường mới nổi.

Hiện nay, tài chính học hành vi và tài chính học chế độ đang ở trong giai đoạn tìm tòi ban đầu, còn đòi hỏi phải có khuôn khổ lý luận hoàn thiện hơn. Sự xuất hiện của chúng cũng tuyệt nhiên không có nghĩa là phải hoàn toàn lật đổ phương pháp phân tích kinh tế hiện có, mà là một sự bổ sung hữu cho lý luận hiện có, đồng thời cũng xúc tiến sự phát triển của thực tiễn. Điều đó nói lên đầy đủ rằng, sự biến đổi của thực tiễn tài chính cần có lý luận mới để giải thích, còn sự phát triển của lý luận ngược lại lại chỉ đạo, thúc đẩy sự biến đổi của thực tiễn tài chính.

(còn tiếp)

Người dịch: Du Tử

Nguồn: TN 2018 – 25

Ngân hàng trong nền kinh tế số


Nguyễn Toàn Thắng

Ngân hàng Việt Nam tích cực chuẩn bị cho việc chuyển đổi sang ngân hàng số

Trước tiên, điều này thể hiện rõ nét ở việc các ngân hàng đã tích cực tìm hiểu, troa đổi, học hỏi kinh nghiệm và kiến thức của các nước đi trước trong lĩnh vực này; hình thành chiến lược, kế hoạch chuyển đổi sang ngân hàng số phù hợp với điều kiện riêng của từng ngân hàng. Tuy mức độ chuẩn bị của các ngân hàng có khác nhau, tùy theo quy mô, năng lực tiếp cận, nhưng nhìn chung có thể thấy đại đa số các ngân hàng đã có thái độ sẵn sàng cho việc chuyển đổi sang ngân hàng số.

Thứ hai, các ngân hàng đã chủ động đề xuất với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý liên quan để xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ngân hàng số. NHNN đã quan tâm, tích cực nghiên cứu, từng bước giải quyết những yêu cầu của các ngân hàng trong phạm vi quyền hạn của mình.

Thứ ba, các ngân hàng chú ý nghiên cứu và đã bắt tay vào đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ để chuẩn bị cho việc chuyển đổi sang ngân hàng số (với mức độ khác nhau).

Thứ tư, các ngân hàng tích cực phối hợp với các công ty công nghệ nói chung và công nghệ tài chính (Fintech) nói riêng để thử nghiệm, phát triển và bắt đầu cung cấp cho thị trường ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ, tiện ích ngân hàng dựa trên nền tảng kỹ thuật số, đa dạng hóa và tích hợp các kênh phân phối sản phẩm đến khách hàng.

Thực tế cho thấy, các ngân hàng cung cấp ngày càng nhiều các dịch vụ trên nền tảng Internet (Internet Banking) và trên nền tảng điện thoại di động (Mobile Banking). Tốc độ tăng trưởng các dịch vụ qua kênh Internet và điện thoại thông minh khá cao. Theo số liệu của NHNN, năm 2017 lượng giao dịch qua kênh Internet đạt 191 triệu giao dịch, tăng 52% so với năm 2016, với giá trị giao dịch đạt 13 triệu tỷ đồng, tăng 88% so với năm 2016; qua kênh điện thoại di động đạt 131 triệu giao dịch, tăng 34% so với năm 2016, với giá trị giao dịch đạt 690.000 tỷ đồng, tăng 127% so với năm 2016.

Mô hình Live Bank của TPBank ra đời, cung cấp các điểm giao dịch tự động, cho phép khách hàng tự phục vụ 24/7, thực hiện mở tài khoản, gửi tiền, rút tiền, chuyển tiền, làm thẻ và giao thẻ tại chỗ (từ máy), được hỗ trợ trực tuyến qua video. Đây có thể được coi là dạng ngân hàng số đầu tiên ở Việt Nam.

Nhiều ngân hàng đã đưa vào hoạt động các trung tâm chăm sóc khách hàng trực tuyến (contact center, trợ lý ảo chat bot). Một số ngân hàng đã phối hợp với các công ty Fintech cung cấp dịch vụ thanh toán qua QR code, thanh toán với công nghệ phi tiếp xúc NFC qua ứng dụng Samsung Pay (chạm điện thoại di động vào thiết bị đọc để thanh toán, thay vì phải quẹt thẻ)…

Một số vấn đề cần giải quyết nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang ngân hàng số

Cần xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ngân hàng số. Hiện tại, khuôn khổ cho ngân hàng triển khai hoạt động ngân hàng số nhìn chung còn rất thiếu, chưa đồng bộ, chưa theo kịp với tốc độ phát triển của công nghệ. Đây là vấn đề rất vướng cho các ngân hàng. Công nghệ và hạ tầng của một số sản phẩm, dịch vụ đã sẵn sàng nhưng pháp luật chưa cho phép, khiến các ngân hàng không dám triển khai hoặc đầu tư mạnh để cung cấp ra thị trường. Ví dụ, việc xác thực danh tính khách hàng thông qua kênh điện tử (eKYC) vẫn chưa thực hiện được, điều kiện để áp dụng công nghệ đám mây (cloud technology) còn vướng… Yếu tố này đang cản trở các ngân hàng Việt Nam bắt kịp với các ngân hàng các nước, mặc dù chúng ta xuất phát không chậm hơn các nước trong việc ứng dụng những công nghệ ngân hàng tốt nhất.

Để giải quyết vấn đề này, một mặt các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng tốc tạo khuôn khổ pháp lý cần thiết cho công nghệ số phát triển, đáp ứng kịp thời yêu cầu ứng dụng của các doanh nghiệp nói chung, các ngân hàng nói riêng. Mặt khác, Chính phủ cần đưa ra quy định cho phép thử nghiệm, thí điểm những sản phẩm mới, mô hình kinh doanh mới trong khi khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa có thể tạo điều kiện cho sáng tạo khởi nghiệp, ứng dụng công nghệ mới. Các nước đi trước đã áp dụng phương thức này, đưa ra khuôn khổ pháp lý thử nghiệm (Sandbox Regulation Framework).

Cần tạo dựng cơ sở hạ tầng, nền tảng công nghệ chung và xây dựng, hình thành hệ sinh thái cần thiết cho công nghệ số phát triển, tạo sự kết nối, liên thông, chia sẻ thông tin, dữ liệu thuận lợi giữa các hệ thống công nghệ thông tin của các doanh nghiệp nói chung, các ngân hàng nói riêng. Việc này có ý nghĩa tổng thể, căn bản, lâu dài, đồng thời giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian và chi phí của xã hội. Và tốt nhất là những hệ thống hạ tầng này được thiết kế tuân thủ, tương thích với các tiêu chuẩn, quy định quốc tế để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập.

Để đồng bộ, các cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ, tạo thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số, đi cùng với những phương thức quản lý phù hợp, bảo đảm an ninh, an toàn, trật tự xã hội cần được Nhà nước quan tâm chỉ đạo thực hiện.

Công tác truyền thông, tuyên truyền, phổ biến, nâng cao kiến thức tài chính trong xã hội về kinh tế số, tài chính số cần được quan tâm đẩy mạnh, giúp cho người dùng sử dụng đúng cách, biết cách tự bảo vệ mình.

Thiết nghĩ, những vấn đề trên, không chỉ là vấn đề riêng của các doanh nghiệp tài chính ngân hàng mà là những vấn đề chung khi nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế số đang gặp phải cần được các cấp, các ngành xem xét giải quyết.

Nguồn: Thị trường tài chính tiền tệ – số 10/2018.

Fintech: Đặc trưng của hệ sinh thái và mô hình kinh doanh – Phần cuối


Bốn là, sự hợp tác giữa công ty Fintech và ngân hàng vẫn còn nhiều hạn chế, mới chỉ đơn thuần là cung cấp các dịch vụ thanh toán giản đơn, chưa đa dạng hóa các mô hình kinh doanh, các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng. Hoạt động của các công ty Fintech tại Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn đầu, chưa đa dạng hóa mô hình kinh doanh và dịch vụ, phần lớn đang hoạt động theo mô hình dịch vụ thanh toán. Bên cạnh đó, hệ sinh thái Fintech tại Việt Nam chưa có sự kết nối chặt chẽ giữa các chủ thể bao gồm cơ quan quản lý, các định chế tài chính, công ty Fintech và các doanh nghiệp viễn thông… Hoạt động kết nối để cung ứng sản phẩm dịch vụ cho người tiêu dùng chủ yếu là hợp tác giữa công ty Fintech và ngân hàng. Tuy nhiên, sự hợp tác này vẫn còn nhiều hạn chế, mới chỉ đơn thuần là cung cấp các dịch vụ thanh toán giản đơn, chưa cung cấp các dịch vụ nâng cao khác cũng như tiếp nhận, phản hồi, chia sẻ thông tin về khách hàng (Phạm Anh Tuấn, 2017).

Việc sớm khắc phục những hạn chế trên bằng các giải pháp cụ thể sẽ có ý nghĩa thiết thực trong việc hoàn chỉnh hệ sinh thái Fintech, góp phần đa dạng hóa mô hình kinh doanh và thúc đẩy phát triển Fintech tại Việt Nam trong thời gian tới.

Những đề xuất góp phần hoàn chỉnh hệ sinh thái và đa dạng hóa mô hình kinh doanh Fintech tại Việt Nam

Đào tạo nhân lực

Xây dựng chương trình đào tạo Fintech cho giáo dục đại học và sau đại học và có quy định, hướng dẫn các cơ sở đào tạo nhân lực cho hoạt động Fintech ở các cấp độ. Đào tạo cách tiếp cận kinh doanh qua phân tích bối cảnh kinh doanh luôn có những tiến bộ công nghệ cùng với những tổ chức, cá nhân mới tham gia cạnh tranh làm thay đổi cách kinh doanh hiện tại nhằm cung cấp cho người học hiểu biết tốt hơn về xu hướng công nghệ hiện đại trong lĩnh vực kinh doanh. Tập trung vào đào tạo phát triển đầy đủ các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng công nghệ bao gồm đào tạo chuyên sâu về phân tích Fintech thông qua mô hình hóa tín dụng, tiền tệ số và Blockchain dựa trên dữ liệu; tư vấn trực tuyến và hệ thống hóa hoạt động thương mại; các ứng dụng Fintech trong tài chính doanh nghiệp, tài chính cá nhân, thanh toán, tài chính tiêu dùng, cho vay trực tuyến; quản lý tài sản, quản lý rủi ro Fintech… Về quản lý công nghệ, cần hướng vào phân tích công nghệ, bảo mật, an ninh thông tin, hiện đại hóa công nghệ thông tin, hệ thống thông tin tài chính, quản lý ứng dụng công nghệ trong tài chính doanh nghiệp, đạo đức trong quản lý công nghệ… Nhằm rèn luyện kỹ năng, tiếp cận thực tiễn của người học, những chương trình thực hành được cấu trúc tốt với mục đích tạo ra những nhà đổi mới Fintech trong tương lai, đảm bảo người học được tham gia vào các xu hướng mới nhất, ý tưởng mới và phù hợp với sự phát triển của Fintech. Các cơ sở đào tạo kết nối với các tổ chức tham gia vào hoạt động Fintech, tổ chức thực tập và trao đổi sinh viên với nước ngoài, tạo điều kiện cho người học tiếp cận thực tiễn và nghiên cứu các giải pháp sáng tạo về công nghệ, mô hình kinh doanh và sản phẩm, dịch vụ… Tạo nguồn nhân lực là công việc chuyên môn, lãnh đạo, quản lý va chuyên gia với các kỹ năng và kỹ thuật tiên tiến, tầm nhìn rộng về các ứng dụng cần thiết trong lĩnh vực dịch vụ tài chính để tham gia vào hoạt động Fintech.

Hoàn thiện chính sách

Quy định rõ và tiêu chuẩn hóa các mô hình kinh doanh của công ty Fintech, đa dạng các loại hình hoạt động của công ty đầu tư và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Trong đó:

i/ Đối với các mô hình kinh doanh: Quy định rõ về các phương tiện, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt mới, dịch vụ trung gain thanh toán, tiền điện tử, hoạt động thương mại điện tử. Đặc biệt, tạo cơ chế, chính sách và hướng dẫn các tổ chức, cá nhân tham gia mô hình kinh doanh trên thị trường vốn và bảo hiểm nhằm góp phần thúc đẩy các mô hình kinh donah này hiện chưa phát triển tại Việt Nam; tạo điều kiện tốt cho đầu tư, giao dịch ngoại hối, quản lý rủi ro và nghiên cứu thị trường, kết nố các nhà đầu tư với nhau để chia sẻ thông tin, đặt lệnh mua bán, bán tài sản hoặc chứng khoán và giám sát rủi ro; tạo mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và công ty bảo hiểm; đơn giản hóa quá trình thanh toán tiền bảo hiểm y tế; thực hiện phân tích dữ liệu để tính toán và đối sảnh rủi ro trong hoạt động bảo hiểm.

ii/ Đối với các loại hình hoạt động của công ty đầu tư và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Ngoài các quy định cụ thể về mô hình tổ chức, quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ các bên liên quan đến hoạt động của các công ty và các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, cần quy định chi tiết về các điều kiện thành lập, hoạt động công ty và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo bao gồm các yêu cầu về tài chính, tiêu chuẩn nguồn nhân lực đảm bảo cho hoạt động nguyên tắc đầu tư khởi nghiệp sáng tạo… Khuyến khích, tạo điều kiện cho các công ty và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo có thể tham gia thử nghiệm các mô hình kinh doanh trong một thời gian nhất định trước khi được cấp phép chính thức, giúp các tổ chức này hội đủ các điều kiện, chứng minh được khả năng hoạt động trong các mô hình kinh doanh Fintech; đồng thời, đảm bảo có đủ vốn, có hệ điều hành và nhân sự phù hợp để cung cấp các sả phẩm, dịch vụ theo hướng đa dạng hóa các mô hình kinh doanh.

Thu hút vốn đầu tư

Có chính sách khuyến khích, thu hút vốn vào lĩnh vực Fintech như chính sách miễn, giảm thuế nhằm hỗ trợ các công ty và các quỹ đầu tư khởi nghiệp; hỗ trợ cho các công ty và các quỹ đầu tư khởi nghiệp tiếp cận các nguồn tài trợ… Đồng thời gia tăng vốn thông qua đầu tư của Nhà nước hỗ trợ vào nghiên cứu và phát triển công nghệ, truyền thông, quảng bá hoạt động Fintech cùng với tạo sự kết nối trong đầu tư, khai thác và hợp tác chặt chẽ giữa các công ty công nghệ, viễn thông, các công ty Fintech, ngân hàng, tổ chức tài chính, tổ chức và cá nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ sẽ góp phần gia tăng thu hút vốn đầu tư vào Fintech. Trong đó, nâng cấp một số hệ thống thanh toán và đầu tư hệ thống thanh toán mới nhằm tăng cường sự kết nối liên thông giữa các hệ thống thanh toán, trao đổi dữ liệu điện tử giữa các tổ chức liên quan; tạo thuận lợi cho việc kết nối với các hệ thống thanh toán khác trong khu vực và trên thế giới; áp dụng các thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế tốt nhất cho một số phương tiện và hệ thống thanh toán; ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, an toàn, bảo mật thanh toán thế hệ mới, tiên tiến nhằm tăng tính hiệu quả và tốc độ thanh toán cho các hệ thống thanh toán; phát triển nhiều mô hình kinh doanh và dịch vụ giá trị gia tăng.

Tạo sự kết nối các bên tham gia và thúc đẩy nhu cầu

Cần tạo sự kết nối chặt chẽ các bên tham gia, qua đó thúc đẩy nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ, góp phần đa dạng hóa mô hình kinh doanh Fintech.

Các hoạt động kết nối có thể thông qua hình thành các trung tâm và hiệp hội Fintech; tạo điều kiện trực tiếp hỗ trợ vè chuyên môn, kỹ thuật và hướng dẫn chính sách phát triển Fintech; giới thiệu mô hình kinh doanh, kích thích nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ Fintech; tạo liên kết giữa các tổ chức, cá nhân tham gia và người sử dụng dịch vụ Fintech với các nhà quản lý trong việc hoạch định chính sách, tăng cường trao đổi thông tin, tiếp nhận những phản hồi đóng góp của các bên tham gia, giúp cho việc hoàn chỉnh hệ sinh thái, cơ chế quản lý phù hợp, hoàn thiện khung khổ pháp lý, xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển Fintech, tăng cường các chính sách quản lý để tạo thuận lợi cho việc áp dụng các đổi mới công nghệ trong ngành dịch vụ tài chính, tạo môi trường hoạt động thân thiện, hiệu quả cho các công ty và các quỹ đầu tư khởi nghiệp của Việt Nam tiếp tục hình thành và phát triển đa dạng mô hình kinh doanh Fintech.

Nguồn: Thị trường tài chính tiền tệ  – Số 10 (499) – 2018.

Sự lụi tàn của đồng tiền – Phần cuối


+ Sự sụp đổ của thị trường

Viễn cảnh thị trường sụp đổ phụ thuộc vào rủi ro hệ thống, không phụ thuộc vào chính sách kinh tế nền tảng. Rủi ro thị rường sụp đổ bị phóng đại bởi trình độ quản lý, điều hành kém cỏi và sự tham lam của các ngân hàng. Lý thuyết về độ phức tạp chính là công cụ thích hợp để phân tích rủi ro này.

Trong quá trình phân tích này, bước đầu tiên, chúng ta phải hiểu rằng các thị trường vốn bao gồm cả bốn đặc tính đặc trưng của những hệ thống phức tạp: cơ quan đoàn thể đa dạng, không có tính kết nối, phụ thuộc lẫn nhau và hành vi có tính thích nghi. Việc kết luận rằng thị trường vốn là hệ thống phức tạp có rất nhiều ý nghĩa đối với công tác điều hành và quản trị rủi ro. Ý nghĩa thứ nhất, công cụ thích hợp để đo lường rủi ro là tổng giá trị giả định của chứng khoán phái sinh, không phải giá trị thuần. Tổng quy mô vị thế chứng khoán phái sinh của tất cả các ngân hàng hiện nay là trên 650 nghìn tỷ USD, cao gấp hơn 9 lần GDP toàn cầu.

Ý nghĩa thứ hai, bi kịch lớn nhất có thể xảy ra trong hệ thống phức tạp là hàm số mũ phi tuyến tính của quy mô hệ thống. Điều này nghĩa là, khi quy mô hệ thống mở rộng gấp đôi hoặc gấp ba, rủi ro đứng trước thảm họa sẽ tăng lên theo thừa số của 10 hoặc 100. Đây cũng chính là lý do những bài kiểm tra mức độ căng thẳng dựa trên các sự kiện lịch sử như 9/11 hay 2008 hoàn toàn không có giá trị, vì quy mô hệ thống không đồng nhất sẽ dẫn đến rủi ro hệ thống không đồng nhất.

Giải pháp rủi ro cho hệ thống này thực ra lại đơn giản đến không ngờ. Nhiệm vụ trước mắt là đóng cửa các ngân hàng lớn và cấm các giao dịch phần lớn chứng khoán phái sinh. Các ngân hàng lớn không cần thiết đối với nền tài chính toàn cầu. Khi cần đến những khoản tiền lớn, một ngân hàng chủ trì có thể đứng ra tổ chức nghiệp đoàn ngân hàng, như đã từng làm trong quá khứ đối với các dự án hạ tầng khổng lồ như đường ống Alaska, những đoàn tàu chở dầu cực lớn và những chiếc Boeing 747 đầu tiên. Lợi ích của việc đóng cửa ngân hàng không phải là loại bỏ được nguy cơ ngân hàng làm ăn thất bại, mà là sự thất bại đó sẽ không trở thành mối nguy hiểm nữa. Cái giá phải trả cho nó sẽ nằm trong khả năng kìm hãm được và không thể “di căn” đến mức đe dọa toàn hệ thống. Trường hợp cấm giao dịch phần lớn chứng khoán phái sinh thậm chí còn dễ hiểu hơn nữa. Trên thực tế, chứng khoán phái sinh không có ích lợi gì ngoài việc làm giàu cho các chủ nhà băng nhờ giá cả mù mờ và lừa gạt các nhà đầu tư thông qua hạch toán ngoại bảng.

Bất kể những chiến lược giải tán ngân hàng lớn hay cấm chứng khoán phái sinh có mang lại lợi ích gì chăng nữa thì khả năng để chúng trở thành hiện thực cũng bằng 0, vì các nhà quản lý đang sử dụng những mô hình đã lỗi thời hoặc dựa vào mô hình của chính ngân hàng, bất chấp việc chúng không thể nhận diện được rủi ro hệ thống. Quốc hội sẽ không hành động bởi vì nhìn chung, ông nghị bà nghị nào cũng bị trói buộc bởi những khoản tiền mà các ngân hàng đổ vào hoạt động chính trị.

Rủi ro từ phía ngân hàng và chứng khoán phái sinh sẽ không ngừng tăng lên và lần sụp đổ tiếp theo sẽ diễn ra ở một phạm vi chưa từng có vì quy mô hệ thống đã đạt đến mức lớn nhất từ trước đến nay. Các nguồn lực của Cục Dự trữ Liên bang đã gần như không thể ngăn chặn một đợt sụp đổ toàn diện trong năm 2008, vì vậy chúng ta nên chuẩn bị tinh thần cho một đợt sụp đổ còn lớn hơn thế sẽ chôn vùi bảng cân đối kế toán của FED. Trong một thời kỳ tương đối yên bình mà cơ quan nào đã in tới hơn 3000 tỷ USD thì trong cuộc khủng hoảng tương lai, việc in thêm 3000 tỷ USD nữa hoàn toàn không khả thi về mặt chính trị. Nhiệm vụ giải cứu thế giới sẽ đặt lên vai IMF, vì họ sẽ là định chế chính thức duy nhất sở hữu một bảng cân đối kế toán sạch sẽ. IMF sẽ đối phó bằng một đợt phát hành SDR quy mô cực lớn và thị trường tiền tệ này sẽ đặt dấu chấm hết cho vai trò là tiền tệ dự trữ hàng đầu của đồng USD.

+ Nguy hiểm dồn dập

Những mối đe dọa nói trên đối với đồng USD hiện diện khắp mọi nơi. Từ bên trong là việc in tiền vô tội vạ của FED và nguy cơ lạm phát phi mã. Từ bên ngoài là hoạt động tích trữ vàng của Nga và Trung Quốc báo trước sự chuyển đổi sang một loại tài sản dự trữ mới.

Ngoài ra, còn vô số mối đe dọa liên quan khác. Nếu lạm phát không hình thành thì chỉ có thể do nền kinh tế đã giảm phát vô phương cứu chữa và phản ứng của FED sẽ dọn đường cho sự trỗi dậy của vàng. Nga và Trung Quốc không phải là hai quốc gia duy nhất khao khát thoát khỏi sự chi phối của đồng USD. Iran và Ấn Độ có thể dẫn đầu một cuộc cách mạng chuyển hướng sang sử dụng đồng tiền châu Á làm tiền tệ dự trữ và các thành viên trong Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council) có thể chọn cách xác định giá xuất khẩu dầu mỏ bằng một loại tiền tệ khu vực mới do một ngân hàng trung ương có trụ sở tại Vịnh Ba Tư phát hành. Về mặt địa chính trị, các mối đe dọa đối với đồng USD có thể không giới hạn trong sự cạnh tranh kinh tế, mà có thể mang khuynh hướng thù địch và chuyển thành một cuộc chiến tranh tài chính. Cuối cùng, chính sự phức tạp và hiệu ứng lan tỏa từ bên trong có thể sẽ khiến hệ thống tài chính toàn cầu sụp đổ mà không cần đến một cuộc tấn công trực diện nào.

Cho đến bây giờ, đồng USD và hệ thống tiền tệ quốc tế tuy hai mà một. Nếu đồng USD sụp đổ, hệ thống tiền tệ quốc tế cũng sẽ sụp đổ theo, đó là điều tất yếu. Người dân, người gửi tiền tiết kiệm và người được hưởng trợ cấp, lương hưu sẽ là nạn nhân chính trong những biến động khó lường theo sau cuộc sụp đổ, mặc dù một sự kiện như vậy không có nghĩa là sự chấm hết cho hoạt động thương mại, tài chính hay ngân hàng. Những “tay chơi” lớn trên thị trường tài chính, bất kể đó là các quốc gia, ngân hàng hay các thể chế đa phương, sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn, trong khi các Bộ trưởng Tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương và Nguyên thủ quốc gia liên tục nhóm họp để dàn xếp luật lệ mới của cuộc chơi. Nếu tình hình xã hội trở nên bất ổn trước khi giới tài chính chóp bu kịp cứu vãn hệ thống, các quốc gia sẽ phải chuẩn bị lực lượng cảnh sát có vũ trang, quân đội, phương tiện, cơ chế giám sát và ban hành các mệnh lệnh để đàn áp làn sóng phẫn nộ trong dân chúng.

Hệ thống tiền tệ quốc tế tương lai sẽ không dựa trên đồng USD vì Trung Quốc, Nga, các nước khai thác dầu mỏ và các quốc gia mới nổi khác sẽ đồng tâm hiệp lực chấm dứt sự thống trị của Mỹ về mặt tiền tệ và thiết lập nên một bản vị tiền tệ mới. Việc bản vị mới này sẽ dựa trên vàng, SDR hay một mạng lưới tiền tệ dự trữ của khu vực, chúng ta còn phải chờ xem. Tuy nhiên, sự lựa chọn không có nhiều, và việc nghiên cứu thấu đáo về những khả năng hàng đầu có thể đem lại cho các nhà đầu tư một lợi thế cùng cái nhìn toàn cảnh hợp lý để bảo tồn tài sản trong thế giới này.

Hệ thống tiền tệ quốc tế đang diễn biến ngoài tầm kiểm soát, cục diện nền kinh tế thế giới đã biến đổi, với những đối thủ mới, lòng trung thành đổi chủ, sự vô lý về mặt chính trị và sự thay đổi về mặt công nghệ khiến giới đầu tư cảm thấy rối rắm.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rikards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.