Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần II


Theo Ionin, quá trình định hình bản sắc của các cá nhân trong dạng thức văn hóa mới đồng thời cũng là quá trình nó hình thành, khai triển từ trạng thái chồi non. Bắt đầu cùng với sự giới thiệu đối tượng và hành vi ứng xử, và nó hoàn tất bằng sự hình thành của lợi ích xã hội.

Tác giả hệ quan niệm này từ bỏ các khái niệm phong cách văn hóa, phong cách sống, hình thức sống là những khái niệm được coi là có thể thay thế cho nhau. Dưới dạng chung nhất, “phong cách” có thể hiểu là phương thức đặc thù của hành động, của cách thể hiện, của lối thức sinh hoạt. Phong cách, theo Ionin, đối lập với quy thức (canon) truyền thống hiểu như là cái có thể lựa chọn với cái không được lựa chọn.

Khái niệm dạng thức sinh hoạt (forma vivendi) là phương thức đặc trưng cho một tập nhóm người nào đó để thỏa mãn các nhu cầu, các định chế xã hội, các quy phạm hành vi ứng xử và… Vào sơ kỳ thời Trung cổ, khái niệm này được dùng để miêu tả các đặc điểm của đời sống các tu sĩ, sau này thì miêu tả sinh hoạt của các dân tộc khác.

Khái niệm phong cách sinh hoạt (Lebensfuring) thường gặp ở M. Weber dùng để chỉ phương thức xử sự, phương cách tổ chức cuộc sống. T. Weblen gắn khái niệm phong cách sống với sự tiêu dùng theo chỉ định là nét biểu trưng cho tính sở thuộc một tập nhóm hay một giai cấp xác định (Weblen, 1984). Trong xã hội học phân chia giai tầng Anh quốc những năm 1960 và 1970, khái niệm phong cách sống (life-style) hiểu như là tổng hòa các hình mẫu quan hệ xã hội, tiêu dùng phúc lợi vật chất và văn hóa đã từng được sử dụng để phân tích các khác biệt giai cấp. Những khác biệt kể trên được hiểu như là các chỉ số rõ ràng của vị thế giai tầng, còn phong cách sinh hoạt thì được coi là một trong các phương thức thể hiện về mặt xã hội của các giai cấp kinh tế. Trong xã hội học Mỹ, khái niệm phong cách sống được sử dụng để phân biệt các dạng thức sinh hoạt xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa nội và ngoại (ven) đô. Gần đây nó được áp dụng với hàm nghĩa rộng hơn, để chỉ sở thích, phương châm, phúc lợi vật chất hoặc phương thức hành xử của một tập nhóm xã hội bấy kỳ, khu biệt nó với các tập nhóm khác (Aberkrombi, Hill, Terner, 2004).

Khái niệm lối sống được sử dụng phổ biến hơn trong tranh luận xã hội học ở Nga tập trung sự chú ý vào các dạng thức (loại hình, phương thức, đặc tính) xác định của hoạt động sống có chủ thể riêng của mình (cá thể, tập nhóm, xã hội) và có tính tất định bởi điều kiện nhất định (Butenko, 1978; Lối sống, 1983). Tương ứng, rõ ràng là đặc thù của lối sống đô thị (các dạng thức đô thị) một mặt là những điều kiện đô thị, và mặt khác là cư dân đô thị với tính cách là chủ thể tương ứng (Kobjak, 2003).

Nếu trong các định nghĩa kể trên vấn đề được đề cập chủ yếu là các đặc điểm quan sát được một cách khách quan thì dạng thức văn hóa trong sự tồn tại danh nghĩa của nó đúng hơn là cấu thể lý tưởng. Ionin xuất phát từ cách giải thích của F. Tenbruk về văn hóa là cái mang tính chất đặc trưng tiêu biểu: Văn hóa là một hiện tượng xã hội vì nó là cái mang tính đại diện, tức là đề ra các ý tưởng, ý nghĩa, giá trị có hiệu lực do chúng được công nhận trên thực tế. Do đó, văn hóa này bao gồm các xác tín (niềm tin), ý kiến đánh giá, bức tranh thế giới, các tư tưởng và hệ tư tưởng, tác động tới cách hành xử xã hội ở mức độ mà các thành viên xã hội hoặc tích cực chia sẻ, hoặc thừa nhận một cách thụ động (dẫn theo Ionin, 2004: 224). Theo Ionin, “văn hóa đại diện là cái tiêu biểu đại diện trong ý thức của các thành viên xã hội tất thảy mọi sự kiện thực tế, chỉ một cái gì đó đối với các cá nhân hành động. Và những hành vi đó, với họ, mang chính cái được coi là tiêu biểu về mặt văn hóa. Chỉ cái đó là tồn tại đối với các thành viên xã hội và chỉ như thế, tức là đại diện văn hóa, xã hội mới (có thể) tồn tại” (Ionin, 2004: 680). Nói cách khác, có thể diễn đạt tư tưởng cơ bản thế này: các hành động, quan hệ, định chế xã hội… là cái đại diện, tiêu biểu, tức là thể hiện các quan niệm xác định đằng sau nó – chính đó, trong cách tiếp cận này, mới là những điều kiện có tính tất định.

Logic định hình bản sắc trong quá trình đến với một dạng thức văn hóa thông qua sàn diễn văn hóa gồm các giai đoạn sau:

+ Có các thuộc tính bề ngoài của dạng thức văn hóa.

+ Xxx – cảm thụ những hình dung về thế giới đưa ra lời giải thích chỗ đứng của cá nhân và tập nhóm của nó, các tập nhóm khác ứng xử với nhau, vai trò, những điểm khác biệt, lịch sử… của chúng. Các quan niệm này cũng là cơ sở để định hình bản sắc hiểu theo nghĩa “kết nạp” cá nhân vào bức tranh thế giới của dạng thức văn hóa đó. Chẳng hạn, P. Berger và Th. Lukman nhấn mạnh rằng cá nhân đồng chất nhất mình với các tập nhóm xã hội này hay khác hay với các lập trường nào đó là dự trên các quan niệm của anh ta về toàn bộ cấu trúc các lập trường. (Berger, Lukman, 1995).

+ Đề ra trạng thái tình cảm – cảm xúc tương ứng với dạng thức văn hóa. Ionin viết: “Các phương châm đạo đức cũng giả định bản thân nội hàm của lý thuyết. Thực tế thì mọi thứ lý thuyết thường ngày đều vẽ nên một hình ảnh thế giới với hai màu đen – trắng, chia người ta ra thành hai: mình và họ (những người khác mình)… Tuy nhiên, các quy phạm hành vi ứng xử đối với người mình và người khác trong lý thuyết lại khác nhau. Chúng tùy thuộc vào lợi ích của bên mình và bên những người khác kia được quan niệm trong lý thuyết xung khắc đến mức nào, không thể dung hợp, trái ngược, đối lập nhau đến mức nào. Việc giảng dạy lý thuyết đồng thời cũng là giảng dạy các quy phạm đó và bồi bổ đạo đức và tình cảm” (Ionin, 2004: 284).

Khi xét rằng đa số dân cư hiện thời là người đô thị thì khó có thể nói rằng việc có bản sắc đô thị cũng giống như là nói về sàn diễn văn hóa (trừ những trường hợp nói về quá trình hội nhập bản sắc với đô thị mới hay di chuyển nơi cư trú từ nông thôn ra thành phố). Tuy nhiên, giải thích đô thị như là một dạng thức văn hóa tạo điều kiện để phân biệt các yếu tố của nó: môi trường quy phạm, hệ tư tưởng, môi trường bên ngoài, lợi ích (Ionin, 2004: 285 – 286).

Hiện có cả một loạt công trình kinh điển cho phép nghiên cứu đặc trưng đô thị như một dạng thức văn hóa. Nếu theo danh mục các yếu tố mà Ionin đã liệt kê thì có thể nêu những cách miêu tả sau đây về các yếu tố đó:

Lợi ích. Lợi ích xã hội – đó là việc ý thức được các điều kiện tồn tại khách quan của một tập nhóm. Trong trường hợp đô thị thì lợi ích chung trước hết gắn với việc đảm bảo khả năng hiện thực hóa các lợi ích và các mục tiêu riêng khác nhau của người dân sống ở thành phố (Zimmel, 2002: Park, 2002; Mumford, 1996). Điều này được đảm bảo bởi tính chất duy lý luận của tổ chức đời sống chung của dân đô thị, đặc biệt là về phương diện xây dựng và bảo vệ cơ sở hạ tầng cần thiết. Nói cách khác, ở đây nói về lợi ích dựa trước hết trên chức năng vận hành. Đây chính là khía cạnh cơ bản khi nói về sự hình thành “cộng đồng người đô thị” hay “các cộng đồng đô thị địa phương” được hiểu theo tinh thần một “cộng đồng dân sự” với tính cách một “cộng đồng trách nhiệm hữu hạn” (Janowitz, 1961) nhằm bảo vệ quyền (đối với) đô thị của mình (Lefebvre, 1996).

Hệ tư tưởng. Nhà kinh điển nghiên cứu đô thị Louis Maumford trong công trình “Đô thị là gì?” (Mumford, 1996) viết rằng đô thị là một tổng hòa các tập nhóm người có chung một mục đích. Quan điểm này được nhiều tác giả ủng hộ; họ coi một trong những mục tiêu chủ yếu là nhiệm vụ có cá tính riêng và không phải chịu sự chi phối của các cộng đồng bản địa (Zimmel, 2002; Park 2002). Hiểu theo nghĩa này, đô thị tất nhiên là biểu tượng tính duy lý của thời đại là điều đã được cả các nhà kinh điển của xã hội học lẫn các đại biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại nhận định chẳng qua chỉ là công cụ để đạt đến những mục tiêu riêng, cá biệt của mình, một cái mà xét về nguyên tắc, đã mất hết tính chất thiêng liêng. Như R. Park đã viết về đô thị: “Đô thị là cái không mang tính tự nhiên và tính thiêng, mà có tính thực dụng và thể nghiệm. Do sức ép cần thiết thực tiễn, cấu thể nay đã không còn chỉ là một hình thức nghi lễ xã hội, chính sách đã trở nên thực dụng, đức tin tôn giáo giờ đây, nói cho đúng, là một quá trình tìm kiếm chứ không còn là truyền thống, là cái đáng ra là phải mất công mới có, chứ không phải đơn giản là nhận (Park, 2004: 4). Đô thị ở đây là điều kiện, là sân chơi, là vật mang các cơ hội để đạt được các mục tiêu – nó có giá trị vì nếu thiếu nó thì hoàn toàn không thể đạt được những mục tiêu (mà đôi khi là do người ta tự đề ra) kia. Tức là cái giá trị không chỉ là ở hạ tầng cơ sở (vật chất), mà còn là tính không thuần về nguyên tắc của người dân đô thị – đó là nhận định đã được thể hiện, chẳng hạn, trong tư tưởng của Z. Bauman (Bauman, 2008).

Yếu tố thể hiện rõ nhất về hệ tư tưởng trong trường hợp này là những khả năng (cơ hội) đa dạng (bao gồm cả khả năng tiếp xúc với cái mới), sự tự thể hiện, tính duy lý, và cả sự bình đẳng nhờ đó mà có, theo tinh thần của Durkheim, như là sự thể hiện “tính đoàn kết gắn bó hữu cơ” một mối phụ thuộc nhau trong hoạt động (thực hiện chức năng), thể hiện cả trong việc công nhận “quyền đối với thành phố” là bình đẳng đối với tất cả mọi người. Định hướng của hệ tư tưởng đô thị vào việc đạt mục đích cũng là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật các giá trị năng nổ, thành công, tiến bộ, phát triển, và như vậy cũng có nghĩa là góp phần vào tính hiện đại, cơ động, năng động và… Chính các giá trị này, thường được sử dụng để thiết kế nên các mô hình “tiêu dùng đô thị” như là sự thể hiện “lối sống đô thị” được quảng cáo với mục đích thương mại.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần I


Aleksej Musiezdov

Giới thiệu

Bài viết này giải thích đô thị như một dạng thức văn hóa. Những biến đổi xã hội nhanh chóng dẫn đến tính xác định cá nhân trở thành một vấn đề; nhằm xác định bản sắc riêng của mình người ta tìm đến những cách phân loại rạch ròi nhất, kể cả phân loại theo vùng lãnh thổ. Điều này, đến lượt mình, càng khiến hệ vấn đề về bản sắc đô thị càng có tính chất thời sự hơn. Đặc điểm của đô thị như một cấu thể xã hội là không có một cộng đồng thành thị thống nhất với tính cách là nguồn hình mẫu đơn nghĩa (rõ ràng) để xác định tính đồng chất (bản sắc). “Xã hội thông tin” hiện nay chỉ ngày càng thúc đẩy mạnh hơn tính đa dạng của dân đô thị và các cộng đồng thành thị. Vì vậy, thay cho cách giải thích truyền thống về định hình tính đồng chất/bản sắc là đề xuất nên xem xét bản sắc đô thị theo logic khái niệm “cộng đồng tưởng tượng”. Các quan niệm cơ sở của bản sắc trong trường hợp này là quan niệm về đô thị chứ không phải về cộng đồng. Khi đi tìm một bộ máy lý luận để miêu tả nội dung các quan niệm này, tác giả đã đến với khái niệm “dạng thức văn hóa”. Nó đã được L. Ionin sử dụng trong quan niệm “sàn diễn văn hóa” của ông. Mô hình xã hội học cổ điển, đặc biệt là trong phiên/dị bản marxist của nó, có khẳng định rằng các mẫu văn hóa được hình thành trên cơ sở lợi ích xã hội khách quan, được ý thức, trình bày như một học thuyết rồi sau đó trở thành cơ sở nền tảng cho hành vi ứng xử tương ứng. Trong một xã hội đang trải qua bước chuyển hóa sâu sắc, nơi các mô hình bản sắc quen thuộc đã mất ý nghĩa của mình, và “lợi ích” được quy về tất yếu sống còn thì một mô hình như vậy khó mà phát huy tác dụng. Qua niệm “sàn diễn văn hóa” đưa ra cách giải thích sự hình thành nên các bản sắc như là sự khai triển các hình mẫu văn hóa trong một khoảng thời gian nào đó là có tính danh nghĩa, tức là không thể hiện trong thực tiễn xã hội. Các hình mẫu đó chính là các “dạng thức văn hóa”.

Những chuyển biến xã hội nhanh chóng (dù là do nguyên nhân nào) cũng khiến người ta đặt dấu hỏi không chỉ đối với trật tự xã hội như một hệ thống quy phạm và quy tắc, mà cả hệ thống ý nghĩa của thế giới xã hội và chỗ đứng của con người trong đó. Sự thay đổi các trị nghĩa đang dẫn đến chỗ làm cho tính xác định nhân cách trở thành vấn đề, buộc mỗi người phải đưa ra một lời giải mới cho câu hỏi: mình là ai. Khi muốn xác định bản sắc riêng của mình, người ta thường tìm đến những cách phân loại có vẻ là rạch ròi nhất – họ định vị bản thân chủ yếu bằng cách quy về gia đình, các cộng đồng sắc tộc và cộng đồng lãnh thổ… (Jadov, 1994). Trong cách phân loại theo cộng đồng vùng lãnh thổ thì chiếm tỷ lệ cao nhất là cộng đồng đô thị.

Thế những câu hỏi thuộc về một cộng đồng đô thị nghĩa là thế nào – là một người dân thành phố, người đại diện cho thành phố hay đô thị nói chung – thì vẫn đang là điều hết sức mơ hồ cả trong thực tiễn lẫn về mặt lý thuyết. Đối với một người bình thường thì nói thế cũng có nghĩa là anh ta thuộc về những người mà ông đã quen biết đến từ khi còn nhỏ và/hoặc đến hiện thời vẫn giữ quan hệ và tiếp xúc là để có thể thỏa mãn nhu cầu này khác, và định hướng vào nhóm tham chiếu những “người đô thị đích thực” với các giá trị, quan điểm, lối sống của họ và chỉ đơn giản là nếp quen sinh hoạt trong những điều kiện đó… Dù sao thì quan hệ sở thuộc (danh tính) và/hay mối liên hệ đó cũng cần được khái quát trong lý thuyết xã hội học, là lĩnh vực nó thường được định danh là “bản sắc”.

Việc luận bàn về bản sắc đô thị theo chìa khóa truyền thống ngay lập tức sẽ vấp phải nhiều trở ngại. Chẳng hạn, nếu bản sắc là kết quả của quá trình định hình tính đồng chất với một tập nhóm thì “cộng đồng đô thị” về nguyên tắc rất khó giải thích với tính cách một tập nhóm. Đô thị, theo “đúng định nghĩa” vốn là tâm điểm của các cộng đồng khác nhau, với cơ cấu của mình, văn hóa của mình và… – là tư tưởng phổ biến về “lối sống đô thị” (Virt, 2005) tuy không phải hoàn toàn là ảo tưởng, nhưng nói cho đúng, không phải là nguyện vọng từ việc quảng bá văn hóa đại chúng. Rất nhiều công trình nghiên cứu về các cộng đồng đô thị chỉ xác nhận rằng đặc trưng của đô thị là nó không chỉ có một, mà có nhiều lối sống (Fischer, 1982; Gans, 1962; Wellman, Leighton, 1979). Các nghiên cứu về đô thị hiện nay chỉ ra rằng do sự phổ biến rộng rãi các công nghệ thông tin và truyền thông, các cộng đồng đô thị ngày càng trở nên “khép kín” hơn, thiết lập ranh giới chia cắt với nhau và giữa mình với các cộng đồng khác (Davids, 1998; Architecture of Fear, 1997; Cennet, 2008). Nếu vậy thì bản sắc đô thị và cộng đồng đô thị là gì, bản sắc của nó và của những cộng đồng khác được định hình như thế nào?

Phương án giải đáp mà chúng ta sẽ xem xét rất khác với cách giải thích về cộng đồng đô thị như là một cộng đồng tưởng tượng, tức là dựa trên tổng hòa các quan niệm chung (Anderson, 2001). Trong trường hợp này, ta có thể nói không hẳn là về các quan niệm về người dân đô thị, mà chính là về đô thị. Chính đô thị là vật mang các ý nghĩa có thể bằng cách này hay khác “vượt qua” hiểu theo nghĩa biểu trưng, những khác biệt giữa những người dân đô thị và các đô thị cụ thể là rất khác nhau. Nói cách khác, đơn vị của bản sắc đô thị là đô thị chứ không phải là cộng đồng đô thị. Logic này về nguyên tắc phù hợp với quan niệm đang phổ biến trong khoa học xã hội vai trò của trí tưởng tượng trong hoạt động của xã hội (hậu) hiện đại (Maffsoli, 1991; Kastoriadis, 2003).

Tư tưởng của A. Anderson về cộng đồng tưởng tượng rất giống với cách giải thích của Durkheim về tôn giáo, coi tôn giáo là hệ thống “các tín ngưỡng và nghi lễ tập hợp lại thành một cộng đồng đạo đức gọi là Nhà thờ tất cả những ai tin theo nó” (dẫn lại theo Garadz, 2005: 118). Quan trọng là phải nhấn mạnh rằng ở đây không chỉ nói đơn thuần một “hệ quỹ đạo” cho phép “…” không gian xã hội, mà là về một học thuyết xác định, ngoài các yếu tố khác, đưa ra một thước đo giá trị (Ban’kovskaja, 2001), tức là về một văn hóa chung.

Ở đây chúng ta không chuyên sâu xem xét “khía cạnh nghi thức” của văn hóa đô thị (các hoạt động thực hành nhằm thực hiện và trình diễn tượng trưng danh tính đô thị), mặc dù nó, rõ ràng là có xảy ra và liên quan chủ yếu với tiêu dùng (Zukin, 1995), – đề tài này là đối tượng độc lập của các nghiên cứu riêng. Chúng ta chỉ quan tâm đến khía cạnh lý thuyết, cho phép miêu tả bản sắc đô thị như là một thứ tính sở thuộc “văn hóa”, mà trong trường hợp này “đô thị với tính cách là một văn hóa”; phương tiện để biểu đạt nội dung của nền văn hóa đó. Mục đích của bài viết này là xem xét khái niệm dạng thức văn hóa như là một công cụ được sử dụng trong khuôn khổ “phép phân tích văn hóa”, – cách tiếp cận xã hội học đã được L. Ionin phát triển (Ionin, 2004).

* * *

Khái niệm dạng thức văn hóa được Ionin sử dụng trong hệ quan niệm “sàn diễn văn hóa” của ông. Ông tập trung chú ý vào vấn đề: để tái sản xuất các quan hệ xã hội, nó cần phải được các cá nhân quán triệt trong quá trình xã hội hóa là quá trình trước hết được hiểu như là đồng chất hóa/định hình bản sắc với một số hình mẫu văn hóa. Hệ quan niệm của ông giải thích sự hình thành các bản sắc như là sự triển khai các mẫu văn hóa mà trong suốt một thời đoạn nào đó có tính chất danh nghĩa, tức là không được thể hiện trong thực tiễn xã hội.

Mô hình xã hội học “cổ điển”, đặc biệt là ở phiên bản marxist của nó, khẳng định rằng các mẫu văn hóa được hình thành các mẫu văn hóa được hình thành trên cơ sở lợi ích xã hội khách quan được ý thức, trình bày như một học thuyết và sau đó trở thành nền tảng của cách ứng. Ionin cho rằng trong xã hội đang trải qua giai đoạn chuyển hóa sâu sắc, nơi các mô hình quen thuộc của quá trình định hình tính đồng chất/bản sắc đã mất đi ý nghĩa của mình, “lợi ích được quy về tất yếu sống còn thì một mô hình như vậy khó thể phát huy tác dụng. Muốn ý thức được lợi ích và “trình bày” các mẫu văn hóa cần phải có thời gian, mà hình ảnh mới của thế giới với tính cách là nền tảng của quá trình định hình bản sắc thì ngay lúc này đã rất thời sự.

“Mặt khác, ta đều biết có cả một tập hợp các dạng thức văn hóa có sẵn, giả định các phương án đồng bản sắc có sẵn. Các dạng thức này tồn tại ở dạng phôi thai, nhưng “chồi non” ấy đã chứa sẵn hầu như tất cả những gì cần có để triển khai một dạng thức văn hóa có đầy đủ giá trị. “…Chỉ thiếu có một yếu tố – đó là lợi ích xã hội trực tiếp, cái có thể coi như là cơ sở để một dạng thức văn hóa xuất hiện và dần định hình từ lâu trước khi nó chuyển sang trạng thái là một cái chồi non. Có thể gọi đó là các dạng thức bay lượn tự do: chúng không gắn với nhau như trong trạng thái hiện nay của chúng với các lợi ích xã hội và thông qua đó, gắn với các tầng lớp và tập nhóm xác định… Chúng thấm vào mỗi người đang bận tâm tìm kiếm bản sắc, cố gắng có được một hình ảnh hoàn chỉnh mới về cái thế giới trong đó có thể ghi nhận chính xác chỗ đứng của bản thân mình” (Ionin, 2004: 276 – 277).

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Các phương pháp nghiên cứu văn hóa học


G.A. Avanesova

Phương pháp nghiên cứu của văn hóa học là tập hợp các phương thức, thao tác và biện pháp được sử dụng để phân tích văn hóa và, ở mức độ nhất định, tạo nên đối tượng của nghiên cứu văn hóa.

Do văn hóa học là một lĩnh vực kiến thức tích hợp, thu thập kết quả nghiên cứu của một loạt khoa học chuyên ngành (nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học, sử học…), cho nên thao tác phân tích được thực hiện thông qua sự tổng hợp các phương pháp và mục đích nhận thức, tập hợp xung quanh một trung tâm: văn hóa và các bình diện của nó. Điều này đã cho phép tư duy lại nhiều quan niệm và khái niệm đang tồn tại trong khuôn khổ mỗi chuyên ngành hợp thành văn hóa học. Trong quá trình phân tích văn hóa học, các phương pháp cụ thể của từng chuyên ngành khác nhau được sử dụng một cách có chọn lọc, tính đến khả năng giải quyết các vấn đề, phân tích chúng trên phương diện văn hóa học. Không hiếm khi chúng được sử dụng không phải với tư cách các thao tác hình thức, mà giống như các cách tiếp cận trong nghiên cứu xã hội hoặc nghiên cứu nhân văn. Tất cả những điều này tạo nên cơ sở để biểu hiện về sự biến thái nhất định các phương pháp chuyên ngành, về sự tích hợp chúng trong khuôn khổ các nghiên cứu văn hóa, và đó, cuối cùng, chính là tác nhân kích thích sự phát triển nhận thức văn hóa học nói chung.

Sự nhận biết như vậy không có nghĩa là dẫn đến loại bỏ sự cần thiết phân thành những nhóm đặc biệt và nghiên cứu chuyên sâu các phương pháp phân tích của văn hóa học. Trong hệ phương pháp của văn hóa học cũng áp dụng sự chia tách, phổ biến đối với các khoa học xã hội và nhân văn khác, là chia thành các phương pháp phục vụ cho việc nghiên cứu tri thức cơ bản và các phương pháp gắn với việc thu nhận tri thức kinh nghiệm. Cũng có thể tách thêm một nhóm đặc biệt các phương pháp nghiên cứu lĩnh vực tri thức văn hóa học ứng dụng. Trong những thập niên gần đây trong khuôn khổ tri thức ứng dụng đã xuất hiện các phương pháp và kỹ thuật của các chuyên ngành văn hóa học mới nhất như nhân học sinh thái, nhân học đô thị, dự án văn hóa-xã hội, tổ chức các liên kết và quan hệ liên thiết chế (trong đó có tư vấn thích ứng, giao tiếp cộng đồng…

Một cách phân nhóm các phương pháp nghiên cứu văn hóa học khác bắt nguồn từ cách phân chia truyền thống trong lịch sử, chia các khoa học thành khoa học về tự nhiên và khoa học về tinh thần. Đến thế kỷ XX các nhà nghiên cứu bắt đầu nói đến việc sử dụng trong phân tích xã hội và phân tích văn hóa các phương pháp của nghiên cứu văn hóa nhân văn và nghiên cứu văn hóa xã hội theo hệ thuật ngữ của tư duy khoa học Nga. Khi nói về các ngành khoa học nhân văn, người ta muốn nói đến tổ hợp các phương pháp của nghiên cứu ngữ văn, nghiên cứu văn học, sử học, lý luận văn hóa, nghiên cứu tôn giáo, nghệ thuật học, dân tộc chí, nhân học văn hóa, triết học, đạo đức học,… Còn khi nói đến các khoa học xã hội, người ta đưa vào nhóm này các phương pháp của kinh tế học, chính trị học, dân tộc học, xã hội học,… Trong nhóm thứ nhất, nhiệm vụ cơ bản là nghiên cứu tính chất cá thể của văn hóa, so sánh chúng, mô tả các tư liệu xuất phát điểm của văn hóa. Còn thao tác tổng quát trong trường hợp này chỉ là nhiệm vụ thứ yếu. Đồng thời người ta cũng sử dụng các phương pháp gắn liền với việc đi sâu thấu hiểu văn hóa, thâm nhập vào ý nghĩa bên trong của các hiện tượng và giá trị của nó, bằng cách này hay cách khác, gắn với quan điểm giá trị của khuynh hướng thực chứng. Trong số chúng, có tầm quan trọng đặc biệt là các phương pháp dân tộc học thực địa (mô tả, phân loại, phương pháp tàn dư,…), phương pháp quan sát, phỏng vấn mở của tâm lý học và xã hội học, các phương pháp của sử học (trong đó có phương pháp lịch sử – so sánh), phân tích văn bản trong khuôn khổ hệ hình của giải minh học,… Trong nhóm thứ hai, ngược lại, nhiệm vụ chủ yếu là tìm ra các qui luật và nguyên tắc, cho phép đi từ những qui luật chung đến thấu hiểu các hiện tượng riêng. Trong nhóm này, các thực tế riêng lẻ ít có giá trị hơn các tổng kết mang tính hệ quan niệm, phân tích tính chất chung của các hiện tượng và liên kết chúng với rất nhiều hiện tượng khác. Trong trường hợp này, việc sử dụng các phương pháp này hay khác chủ yếu là hướng tới việc làm rõ về mặt nhận thức các chức năng của văn hóa, nêu bật những mối liên hệ nhân – quả, khách quan, bên trong của nó, thấu hiểu một cách có phê phán các hiện tượng tinh thần của đời sống văn hóa. Bên cạnh đó, các phương pháp, nguyên tắc và phạm trù nhận thức bị cuốn hút về mô hình lý tưởng phân tích hệ hình của khoa học tự nhiên và phương thức xây dựng đề án-công cụ để vận dụng chúng. Theo khuynh hướng này được sử dụng rộng rãi là các phương pháp và thủ pháp cụ thể của phép phân tích trong các nghiên cứu kinh tế học, chính trị học, xã hội học – đó là cách tiếp cận cấu trúc – chức năng, phương pháp phân loại, phân tích sự kiện và các hợp phần, mô hình hóa đi đôi với áp dụng phân tích toán học, trưng cầu dư luận xã hội, nghiên cứu văn bản bằng phương pháp phân tích nội dung,…

Như vậy, nhóm các phương pháp thứ nhất ở mức độ cao hơn, có khả năng phản ánh thế giới không gian vật thể và sự kiện cụ thể của văn hóa, phản ánh dòng chảy kinh nghiệm văn hóa còn phân lập yếu của con người, cũng như các đặc tính của hiện tượng văn hóa như những sự khác nhau, giống nhau, rất khó biểu đạt, những gì độc nhất vô nhị. Các phương pháp này có thể phản ánh những hiện tượng dễ thay đổi hoặc toàn vẹn của văn hóa, nhưng thật khó xác định hình thức của bản thân tính hay thay đổi và tính toàn vẹn đó.

Nhóm các phương pháp thứ hai, ngược lại, dựa vào thế mạnh của trừu tượng hóa khách quan, giải quyết tốt hơn loại nhiệm vụ biểu lộ rõ cái chung nhất, cái toàn thể gắn với nhau về mặt chức năng bằng cách phân tích các cấu trúc điều chỉnh phân tầng. Các phương pháp đó có hiệu quả tốt nhất với các đơn vị văn hóa trung mô và cho phép nghiên cứu những gì đã được phân hóa, chia tách, đã có hình thức biểu hiện rõ ràng, nhưng rất khó cấp cho hình thức đó một nội dung nhân văn mang tính cá nhân, độc đáo, vốn hết sức quan trọng trong văn hóa.

Bên cạnh đó, khi sử dụng các phương pháp này hay khác cũng không thể đưa ra một ranh giới rõ rệt giữa chủ thể của phép phân tích với khách thể được nghiên cứu. Đặc tính đó liên kết tất cả các phương pháp phân tích xã hội và phân tích nhân văn lại, phân biệt chúng với các phương pháp của khoa học tự nhiên, của toán học, kỹ thuật ứng dụng, mà việc sử dụng chúng có nền tảng vững chắc dựa trên thể thức giải thích và hầu như không quan tâm lắm đến thể thức thấu hiểu. M. Weber là một trong những người đầu tiên chú ý đến đặc điểm vừa nêu của các khoa học về xã hội và văn hóa, nơi không thể chia tách khách thể và chủ thể của việc phân tích. Vì thế ông cho rằng các khoa học này cần sử dụng đồng thời cả phương pháp thấu hiểu lẫn phương pháp giải thích. Cái thể thức có thể liên kết chúng làm một được M. Weber gọi là “sự thấu hiểu có giải thích”. Từ đó việc công nhận xã hội và văn hóa là những đối tượng đặc biệt của phân tích khoa học và đòi hỏi những phương pháp đặc biệt trên phương diện tổng hợp, thường xuyên được đề cập tới ở nước ngoài trong khuôn khổ các khuynh hướng khoa học như xã hội học thấu hiểu (Ph. Znaneski, U. Tomas…), hiện tượng học (A. Sius …), xã hội học văn hóa (Ph.Kh. Tenbruk, P.Bourdier…), và trong khoa học Nga là những người bênh vực văn hóa học xã hội và xã hội học văn hóa. Trong khuôn khổ các trường phái và khuynh hướng nghiên cứu văn hóa vừa nêu, ở những thập niên gần đây xuất hiện nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu muốn khắc phục những điểm hạn chế của cả cách mô tả dân tộc học, lẫn chủ nghĩa hình thức của các phương pháp cấu trúc chức năng và hình thành những phương pháp phân tích bằng con đường thấu hiểu văn hóa, cho phép chuyển thành sự diễn giải xã hội học các tư liệu lịch sử văn hóa.

Cách đặt vấn đề về sự cần thiết giải quyết các nhiệm vụ phức tạp như vậy đã được chuẩn bị bằng cả một thời kỳ trước đó trong sự phát triển của tri thức văn hóa học: trong nó in rõ dấu ấn của một loạt giai đoạn tuần tự, trong khuôn khổ của chúng, các phương pháp đặc thù của phân tích văn hóa đã tạo dựng và hình thành nên các mô hình nhận thức nhất định.

Giai đoạn đầu tiên trong phân tích văn hóa một dân tộc hoặc một thời kỳ lịch sử xa xôi nào đó được phát triển trong khuôn khổ giải quyết các vấn đề nhân văn của tư liệu, chủ yếu mang tính chất mô tả kinh nghiệm. Ở giai đoạn này, các phương pháp được sử dụng cho phép các nhà nghiên cứu tháo gỡ những rào cản “không hiểu” thời đại khác hoặc nền văn hóa khác. Ở đây, việc sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau là nhằm hướng tới làm rõ các chứng cớ để giải thích và đạt tới cấp độ lý luận. Đồng thời, được tạo dựng và được phổ biến là mô hình phân loại và mô hình miêu tả để nhận biết văn hóa. Các mô hình này chỉ đưa ra những mô tả cấu hình hoặc mô tả nền văn hóa như những chỉnh thể mà không chỉ rõ được mối quan hệ nhân quả và các chức năng của hiện tượng được nghiên cứu.

Giai đoạn tiếp theo sử dụng các phương pháp tiếp cận văn hóa học so sánh các nền văn hóa khác nhau, điều này đòi hỏi phải sử dụng một quang phổ rộng hơn các phương tiện phân tích và khái niệm chuyên ngành đặc thù. Đồng thời, các nhà văn hóa học thường hay sử dụng các phương pháp của triết học, lôgíc học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lý học, ký hiệu học, sử học, cũng như các thể thức phân tích trên phương diện liên ngành – cách tiếp cận cấu trúc, chức năng, mô hình hóa,… Trong khuôn khổ của cấp độ phân tích này, các mô tả đặc tính và mô tả văn hóa riêng lẻ dường như vẫn còn tản mạn, chưa gắn kết với nhau do sự không đồng loại của chúng. Ở giai đoạn này, các mô hình nhận thức văn hóa được xây dựng là mô hình liên tưởng và mô hình chức năng.

Một giai đoạn khác của phân tích văn hóa gắn liền với việc làm lộ rõ các đặc điểm tổng hợp, chủ đạo, quyết định của văn hóa: cơ cấu cốt lõi và tính ổn định của nó, các cấu trúc và khuôn mẫu quan trọng nhất (những đặc điểm thế giới quan, các thiết chế truyền thống,…). Còn một cấp độ phân tích văn hóa nữa gắn với việc tìm hiểu và giải thích các xu hướng và đặc điểm của văn hóa dường như đối lập với cơ cấu cốt lõi, với các hệ hình quan trọng nhất của nó, nhưng không xuất hiện như những gì xa lạ đối với các hệ hình đó, mà tương quan với chúng theo một cách thức xác định (đó có thể là các tà thuyết, các cuộc cách mạng cực đoan, các hiện tượng phản văn hóa,…). Ở hai bình diện phân tích cuối cùng, xem xét văn hóa trên cấp độ những biến đổi năng động qui mô lớn của nó và sự phát triển của văn minh nói chung không thể không sử dụng các phương pháp của khoa học nhân văn, vốn có khả năng khái quát lớn, khả năng nhận thức lớn để nhìn thấy đằng sau các hiện tượng cụ thể bên ngoài của văn hóa các mối quan hệ sâu xa và các sơ đồ ý thức. ở cấp độ phân tích văn hóa này xuất hiện nhu cầu xây dựng các mô hình hệ thống, cũng như các mô hình động trong nhận biết văn hóa.

Cuối cùng, có một nhóm các phương pháp phân tích văn hóa trong khuôn khổ các trường phái và khuynh hướng khoa học, trước hết là thuyết tiến hóa, thuyết khuyếch tán, cấu trúc luận, chức năng luận, nhân học hành động, nhân học nhận thức,… Như vậy, trong tri thức văn hóa học chỉ sử dụng các phương pháp có khả năng giải quyết các nhiệm vụ ở cấp độ nhận thức phức hợp, có thể kết hợp sự lựa chọn của các phương pháp hoàn toàn khác nhau, lấy từ các hệ hình khái niệm lý thuyết khác nhau. Mỗi một phương pháp sẽ mất đi tính chất tự thân trọn vẹn trước kia, và tiếp nhận những đặc tính bổ sung tương hỗ, sự liên hợp đặc biệt với các nguyên tắc nhận thức, các thể thức và thủ pháp phân tích khác nhau. Điều đó cho phép có được những nghiên cứu văn hóa học phản ánh đúng cái đối tượng siêu phức tạp của nó là văn hóa.

Người dịch: Từ Thị Loan

Nguồn: Bách khoa toàn thư văn hóa học thế kỷ XX

Bản chất của văn hóa và các quy luật phát triển của nó – Phần cuối


Một tính quy luật khác là động thái xã hội – văn hóa là có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nhịp độ phát triển xã hội – văn hóa của xã hội và trình độ bản sắc địa phương của văn hóa đó. Chúng ta biết rõ rằng tất cả các nền văn hóa tộc người, và sau đó là văn hóa quốc tộc (quốc gia – dân tộc) đều có những nét khác nhau do được thể hiện bản sắc đậm nhạt tính lịch sử cụ thể của mình, giúp ta phân biệt được các nền văn hóa khác nhau, và cùng với đó, dựa theo mức độ lịch sử cụ thể của sự khái quát, điều phải nói tới không phải là văn hóa chung chung, mà là về một tập hợp các nền văn hóa có bản sắc riêng khác nhau.

Tuy nhiên, khi xem xét hiện tượng này trong động thái lịch sử, ta sẽ thấy độ đậm nhạt của bản sắc văn hóa địa phương của một xã hội được quyết định chủ yếu bởi nhịp độ phát triển xã hội của nó. Khi động thái phát triển của xã hội được đẩy nhanh, thì độ đậm bản sắc văn hóa của nó lại phai nhạt đi, còn khi nhịp độ phát triển xã hội chậm lại thì tính đặc thù văn hóa lại tăng lên. Chúng ta thực tế hiểu rất rõ rằng việc tăng cường độ động thái phát triển thường phải trả bằng sự mất mát một phần không nhỏ tính đặc thù văn hóa truyền thống; điều này thể hiện rõ qua các thí dụ về công cuộc cải cách của Petr Đại đế ở Nga, của Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản của Kemal Ataturk ở Thổ Nhĩ Kỳ… Và ta cũng có thể thấy việc củng cố bản sắc văn hóa lại luôn đi kèm sự trì trệ trong phát triển xã hội, như trong lịch sử của nước Nga qua thí dụ vương quốc Moskva hay trong một số thời kỳ lịch sử Trung Quốc (thời nhà Tần chẳng hạn).

Phải nói rằng bản sắc văn hóa địa phương không có chung nguyên nhân xuất hiện, ở đây chỉ có thể nói đến một sự tổng hòa của nhiều nhân tố sinh ra hiện tượng này. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là tình huống biệt lập về giao tiếp của cộng đồng ấy trong một khoảng thời gian nào đó. Trong giai đoạn phát triển nguyên thủy sơ kỳ, cái giữ vai trò cơ bản là sự biệt lập địa lý quan của các tập thể, về sau thêm vào đó là tình trạng biệt lập về ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo nữa. Trong thời kỳ nguyên thủy và nông nghiệp, nhịp phát triển xã hội rất chậm, bản sắc văn hóa địa phương đóng vai trò quan trọng torng việc đảm bảo độ bền thực tiễn của các xã hội là đơn vị xã hội độc lập. Nhưng khi nhịp phát triển xã hội được đẩy nhanh hơn thì mối liên hệ với các nước láng giềng cũng được tăng cường, các công nghệ kinh tế, xã hội, quân sự… tiên tiến được tích cực du nhập. Các rào cản giao tiếp ở đây bắt đầu thưa dần. Trong điều kiện đó, sức thể hiện của bản sắc văn hóa bắt đầu giảm đi, đơn giản là vì nó không còn cần thiết nữa đối với những nhiệm vụ phát triển mới.

Tôi cho rằng bản sắc địa phương tuyệt nhiên không phải là hình thức bắt buộc của Tồn tại văn hóa, mà chỉ là một trường hợp cá biệt của Tồn tại đó, cái Tồn tại chịu sự quy định của các yếu tố hoàn cảnh tự nhiên – lịch sử trong những thời đoạn lịch sử ban đầu của nó, trước hết là chế độ tự đủ (tự sản tự tiêu) về mặt xã hội của cộng đồng địa phương và sự tồn tại biệt lập ở mức độ nhất định của nó. Nhưng trong quá trình phát triển công nghiệp và hậu công nghiệp của các xã hội, chế độ tự đủ xã hội tự cung cấp lại bắt đầu cản trở sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực đời sống. Đối ngược lại tình trạng đó, việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm và kiến thức giữa các dân tộc ngày càng tăng lên, các rào cản giao tiếp được xóa bỏ và đồng thời ý nghĩa chức năng của bản sắc văn hóa và các nét đặc điểm biểu hiện của nó giảm đi. Nhịp độ phát triển xã hội càng cao thì quá trình này càng mạnh hơn lên.

Tuy nhiên, xét về triển vọng, ít có khả năng bản sắc văn hóa địa phương sẽ biến mất hoàn toàn. Mọi xã hội đều không đồng nhất về mặt xã hội. Trong mỗi xã hội bao giờ cũng sẽ tồn tại một tầng lớp người năng lực cạnh tranh thua kém trong mọi dạng hoạt động, đặc biệt là trên các hướng canh tân mạnh nhất, có thể tạm gọi là lớp người sống ngoài lề xã hội. Chính là đối với lớp người này, chứng tỏ bản sắc văn hóa địa phương sẽ vẫn là hình thức cơ bản để họ tự thể hiện về mặt xã hội, là sự bù lại về phương diện tâm lý sự yếu kém về năng lực cạnh tranh của họ trong các lĩnh vực khác của thực tiễn xã hội.

Tính quy luật thứ ba của động năng văn hóa – xã hội xem xét ở đây là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa trình độ phát triển văn hóa – xã hội của xã hội và các thông số tự do xã hội của cá nhân con người. Sự tùy thuộc lẫn nhau này thể hiện ở chỗ theo đà phát triển của xã hội và cơ cấu xã hội ngày càng phức tạp hơn, sự giám sát xã hội đối với cá tính con người ngày càng giảm theo từng giai đoạn, và nó (cá tính) ngày càng có điểu kiện để tự thực hiện về mặt xã hội và văn hóa, tức là có tự do xã hội lớn hơn. Mức độ kiểm soát khắt khe của xã hội đối với cá nhân trong các cộng đồng thời đoạn phát triển nguyên thủy, thể hiện qua vô số điều húy kỵ, nghi thức, nghi lễ…, cao hơn nhiều so với sự giám sát của công xã nông thôn đối với các chủ đất thời đại nông nghiệp của thời đại nông nghiệp thể hiện qua hệ thống các tập tục tộc người và tôn giáo và phân biệt đẳng cấp. Sự giám sát đó còn nhẹ hơn nữa đối với người dân thành thị thời công nghiệp vì lúc đó thị dân đã có các quyền công dân và tự do chính trị nhất thời theo luật định. Ở thời đoạn phát triển hậu công nghiệp, quyền tự do tự thể hiện văn hóa của con người được ưu tiên hàng đầu. Vec-tơ phát triển của tình huống theo hướng mở rộng quyền tự do xã hội của cá nhân ở đây là hoàn toàn rõ.

Để hiểu được tính chế ước xã hội của quá trình này, cần hình dung văn hóa người như một chương trình hành vi ứng xử xã hội của các thực thể sống, như đã nói ở phần đầu bài viết này. Cách ứng xử xã hội của động vật được điều chỉnh chủ yếu bởi hệ thống các bản năng do di truyền và quy định toàn bộ các phản ứng điển hình khi gặp các tình huống điển hình trong đời sống. Trong quá trình hình thành loài người, các bản năng động vật thông thường chủ yếu là được thay thế bằng một chương trình ứng xử xã hội khác – đó là tập quán tộc người. Tập quán xét về bản chất là cái tươg tự như hành vi bản năng: nó cũng được xây dựng dựa trên các phản ứng điển hình trước các tình huống sống điển hình, nhưng cơ sở thông tin của nó rõ ràng là các điểm mẫu của ý thức và tâm thức không phải do di truyền, và có được nhờ bắt chước cha mẹ truyền lại cho con cái. Dĩ nhiên, cái đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc kế thừa tập quán còn có những phương pháp huấn luyện đặc biệt cho con cháu những quy tắc ứng xử đã thành tập quán. Nhưng dù sao đi nữa thì trong trường hợp này, việc trẻ bắt chước – hành vi ghi nhớ máy móc các mẫu ứng xử của cha mẹ – vẫn là khâu quan trọng hơn. Quá trình chuyển giao tập quán này cũng chính là quá trình xây dựng nên văn hóa truyền thống của các thời đại nguyên thủy và nông nghiệp. Hoạt động sống của người làm nông nghiệp ở nông thôn, chiếm tuyệt đại đa số trong cư dân các thời đại lịch sử buổi sơ kỳ, về nguyên tắc, chưa cần có một chương trình hành xử nào khác, phức tạp hơn.

Tình huống thay đổi về nguyên tắc khi xã hội chuyển sang trình độ phát triển công nghiệp và đặc biệt là khi bắt đầu quá trình đô thị hóa trên quy mô lớn. Cuộc sống ở đô thị công nghiệp đã không còn có thể trông cậy vào việc học cách phản ứng điển hình để ứng phó với các tình huống điển hình nữa. Đến đây thì lại có một mô thái ứng xử xã hội khác hẳn, mà cơ sở của nó là dựa vào năng lực ứng phó tức thời của người ta trong các tình huống hoàn toàn không phải là điển hình trong cuộc sống. Và thay thế cho tập quán là một chương trình hành vi ứng xử khác – hệ thống hành vi ứng xử duy lý. Khác với tập quán và các phương châm có tính chất bắt buộc, cách hành xử duy lý được xác định bởi chính con người, lý trí của nó và giới hạn trong phạm vi các luật lệ khá trừu tượng điều chỉnh hành vi trong các tình huống cực đoan. Quyền hành xử duy lý theo lý trí của con người – đó chính là tự do. Việc xã hội tin vào lý trí của con người dẫn đến chỗ giảm dần mức độ giám sát xã hội đối với ứng xử của con người, không can thiệp vào đời sống riêng tư, hình ảnh bên ngoài và các biểu hiện cá nhân khác (nếu các hành vi đó không nguy hiểm cho người xung quanh) của nó.

Như vậy trong suốt lịch sử nhân loại, chúng ta có thể thấy sự thay thế các chương trình ứng xử xã hội của người Homo sapiens trở thành văn hóa và thể hiện trong văn hóa. Quá trình tiến hóa đi từ bản năng thông thường chủ yếu là trong thời đoạn hình thành con người, chuyển sang trình độ tập quán tộc người, điều chỉnh hành vi của con người trong các thời đoạn nguyên thủy và nông nghiệp, để rồi tiếp đó tiến tới cách hành xử duy lý của các thành viên xã hội dân sự bắt đầu trong các thời đoạn công nghiệp và đầu hậu công nghiệp của lộ trình tiến hóa xã hội. Và đó là hệ quả trực tiếp của sự phát triển xã hội mà xã hội đã trải qua trong tiến trình lịch sử của nó.

Bảng liệt kê trên, tất nhiên, không phải đã là tất cả các tính quy luật điều chỉnh sự phát triển văn hóa – xã hội của loài người, nhưng nó cho phép dự đoán một số xu thế tương lai văn hóa trong tương lai trước mắt. Trong tương lai ấy, có thể, một là, nhịp độ thay đổi các hình thức, phong cách, thể thức văn hóa sẽ được đẩy lên nhanh hơn. Hai là, có thể ý nghĩa thời sự của bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ giảm, dần dần trở thành một nét văn hóa đặc thù của bộ phận dân cư theo chủ nghĩa truyền thống. Và ba là, để bù đắp lại cho sự suy giảm ý nghĩa quan trọng của khởi đề quốc tộc, cần đề cao vai trò và ý nghĩa của khởi đề tính cá nhân trong văn hóa, mà không chỉ trong văn hóa nghệ thuật như ta đã thấy kể từ thời Phục Hưng, nhưng bây giờ là cả trong văn hóa xã hội. Lẽ dĩ nhiên, dự báo này là dành cho viễn cảnh văn hóa tới đây của các nước phát triển hậu công nghiệp. Dự báo này liệu có ý nghĩa thời sự đối với nước Nga không là tùy thuộc vào nhịp độ và những đặc điểm phát triển hậu công nghiệp của nó.

Người dịch: Ngô Tuy Phước

Nguồn: TN 2014 – 3 & 4

Bản chất của văn hóa và các quy luật phát triển của nó – Phần II


Dù thế nào chăng nữa, rõ ràng rằng văn hóa người là sản phẩm của sự phát triển tiến hóa các bản năng hành vi xã hội của các loài động vật sống theo bầy đàn và giống với tổ tiên loài mình hệt như con người giống như động vật (khỉ dạng người) nói chung. Như ta biết, sự khác biệt về di truyền giữa người và linh trưởng là khoảng từ 1 đến 2%. Nhưng sự khác biệt không đáng kể này lại có hiệu ứng chất lượng cực kỳ to lớn, được quyết định bởi sự phát triển và các khả năng của bộ não người. Cũng có thể nói đại khái như vậy về những khác biệt giữa hành vi xã hội của động vật và văn hóa của con người. Xét về các hệ đặc trưng chức năng và thủ pháp cơ bản thì hành vi tương tự của động vật không khác lắm so với văn hóa của con người. Trong hành vi đó của động vật cũng có:

+ Sự tương tác (mà đôi khi cũng khá phức tạp), trợ giúp và ủng hộ nhau;

+ Sự phân công chức năng khi hành động tập thể (ví dụ, khi đi kiếm ăn, đào hang xây tổ, phòng vệ, cũng như có sự phân chia hình thức hoạt động theo tuổi tác và giới tính);

+ Cải tạo vùng lãnh thổ sinh sống (lợp nhà xây tổ, làm đường…);

+ Có bất bình đẳng xã hội (có con đầu đàn, thành viên bình thường, những cá thể bị ruồng bỏ…) và nghi thức nội bộ, kiêng kỵ theo độ tuổi và chế độ đối với bậc cao niên;

+ Dạy kỹ năng cho con non;

+ Các trò chơi (hôn nhân, học tập, giải trí);

+ Có những quy tắc nhất định áp dụng cho quan hệ hôn nhân và phân chia phần mồi săn kiếm được;

+ Sự trao đổi thông tin – âm thanh, hình ảnh (dáng thế, cử chỉ chân tay, nét mặt), khứu giác (nhận biết mùi) khá tinh tế.

Loài linh trưởng cũng vốn có những cách biểu hiện khác thường như sử dụng có lựa chọn theo tình huống các công cụ khác nhau (đá, cành cây, gậy…) và thậm chí có cả thái độ côn đồ (những động tác vui đùa có thể gây tác hại; và một số vật nuôi trong nhà (mèo, chó) cũng vốn có những bản năng tương tự).

Sự khác biệt cơ bản nằm ở chỗ động vật thực hiện hoạt động sống của mình nói chung là dựa trên cơ sở một chương trình bản năng bền vững và chúng không có khả năng thay đổi nhanh các mẫu hành vi của mình. Sự thay đổi đó chỉ có được khi có sự tích lũy kinh nghiệm tương ứng (ví dụ, trong quá trình huấn luyện). Còn con người thì có ý thức và về nguyên tắc có thể phản ứng một cách tức thời và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với tình huống thực tế: có thể luyện kỹ năng rất dễ dàng. Đó là cái quyết định điểm khác biệt cơ bản có tính nguyên tắc giữa hành vi xã hội của động vật với hành vi xã hội của con người, cái được gọi là văn hóa. Nhưng văn hóa xét về chức năng xã hội cơ bản của nó – đó chính là hành vi xã hội có tính quy phạm của con người, về thực chất thì tương tự như hành vi xã hội của động vật sống theo bầy đàn và chỉ hơn động vật về chất.

Ưu thế vượt trội về chất nói trên đã được tích lũy trong các hành vi xã hội của người vượn diễn ra rất chậm, dần từng bước trong hơn 2 – 3 triệu năm và về cơ bản tương ứng với các giai đoạn tiến hóa về mặt sinh học của con người. Ở đây có thể được khẳng định rằng không thể nói về “ngày khai sinh ra văn hóa” cũng như coi đó là một sự kiện tức thời, hay như là một quá trình dài, có điểm khởi đầu và điểm kết thúc. Nguồn gốc của văn hóa khởi phát từ các hình thức đơn giản nhất của đời sống sinh học tập nhóm trên Trái Đất và là một giai đoạn xác định trong lịch sử tiến hóa của các hình thức đó. Điểm khởi đầu của nó là sự xuất hiện của hình thức tồn tại tập nhóm của các hệ thống sinh học, mà sự xuất hiện của hình thức này tạm thời vẫn đang là đối tượng của các giả thuyết.

Trong suốt lịch sử của mình, văn hóa đã trải qua một lộ trình phát triển rất phức tạp, khi phân tích lộ trình này có thể nhấn mạnh và miêu tả một số quy luật thông thường, mà theo tôi có thể xem đó là những tính quy luật lịch sử tiến hóa của văn hóa.

Như ta biết, trạng thái của các cộng đồng (dân tộc) văn hóa xã hội địa phương không phải là thường hằng, bất biến về mặt lịch sử. Theo thời gian, nhiều thông số của trạng thái đó biến đổi, điều đó được ghi nhận xét trên toàn bộ phức thể các biểu hiện bên ngoài, gọi gộp chung lại là “văn hóa của một dân tộc”. Văn hóa và trình tự những biến đổi của nó là cái biểu hiện trực quan lịch sử đã kinh qua của mỗi xã hội. Những người theo thuyết tiến hóa định nghĩa tính trình tự của các biến đổi văn hóa – xã hội đó là “sự phát triển tiến bộ”, ý muốn nói rằng trong quá trình lịch sử mức độ phức tạp của các thể thức tổ chức – điều chỉnh của cơ cấu xã hội bên trong của xã hội và thể hiện văn hóa bên ngoài của nó ngày một cao hơn. Dĩ nhiên, mỗi dân tộc đều phát triển về mặt xã hội với nhịp riêng của mình, chủ yếu phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm và điều kiện tồn tại cụ thể của nó, vào mức độ biệt lập về mặt địa lý của nó, mức độ phức tạp của hoàn cảnh tự nhiên và đời sống chính trị… Tính chất năng biến đó có thể rất động, hoặc cũng có thể rất chậm (về nhịp độ), trên thực tế khó nhận biết được khi quan sát. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp sau, vẫn diễn ra những thay đổi, có điều là để làm rõ được sự biến đổi đó, cần phải khái quát vốn tài liệu quan sát trong suốt vài ngàn năm, là cái mà khoa học đương đại không có.

Trong những trường hợp sự phát triển của các thể thức xã hội và văn hóa của các cộng đồng lịch sử là hiển nhiên và có thể khái quát và hệ thống hóa bằng trực quan, thì trong sự phát triển đó, ngoài các dấu hiệu của sự tiến bộ (tức là phức tạp hơn về cấu trúc và chức năng), ta cũng thấy được nhiều tính quy luật của tính năng biến lịch sử.

Tính quy luật đầu tiên là trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội, trình độ chuyên môn hóa trong hoạt động của con người ngày càng cao hơn. Với mỗi kỷ nguyên mới, con người hoạt động đánh mất dần các kỹ năng phổ quát, vốn dĩ làm chủ được mọi công nghệ được áp dụng trong lĩnh vực thực tiễn xã hội đó, và ngày càng đi vào chuyên sâu hơn, chỉ nắm được những công nghệ trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó. Đồng thời, cả chiều sâu nhận thức lẫn chất lượng các kỹ năng chuyên môn của nó lại tăng dần lên. Quá trình này thể hiện rõ nhất là qua ví dụ trong ngành y hoặc hoạt động kỹ thuật công trình. Emile Durkheim là người đã chỉ ra được xu thế này ngay từ cuối thế kỷ XIX. Ông xác định và đã giải thích những những nguyên nhân của nó là do các công nghệ trong lĩnh vực hoạt động nào cũng ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi lao động phải chuyên sâu hơn.

Tuy nhiên, xu thế nào cũng dẫn đến những hệ quả xã hội – văn hóa nhất định. Nhờ không ngừng đi sâu chuyên môn hóa, nhịp độ và khối lượng các biến cải, đổi mới, kiện toạn trong mọi lĩnh vực hoạt động ngày một tăng. Sở dĩ như vậy là do công việc của một chuyên gia từng bước có sự cải tiến, sáng tạo hơn, điều này dần trở thành một bài toán tư duy trong thực tiễn nghề nghiệp của anh ta. Trong một số lĩnh vực ngay trong thời đại ngày nay, ta cũng thấy ranh giới giữa công việc của người chuyên thực hành và người chuyên nghiên cứu đang dần bị xóa nhòa. Cũng là điều dễ hiểu trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, xu thế này phát triển mạnh yếu khác nhau.

Nhờ đó, nhịp độ năng biến của văn hóa trong quá trình lịch sử nói chung ngày càng cao. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất, hiện tượng này được gọi là cách mạng khoa học – kỹ thuật, trong đó có thể phân định như sau:

+ Giai đoạn đầu tiên – bước chuyển sang kinh tế sản xuất vào thời đồ đá mới.

+ Giai đoạn thứ hai – hình thành các nền văn minh đô thị và sự ra đời của loại hoạt động sáng tạo vào khoảng 3 – 4 nghìn năm trước Công nguyên.

+ Giai đoạn thứ ba – hình thành nền sản xuất thủ công vào buổi bình minh thời đại công nghiệp.

+ Từ thế kỷ XIX, cuộc cách mạng đó diễn ra qua quá trình hiện đại hóa không ngừng toàn bộ hoạt động khoa học – kỹ thuật.

Nhưng cả trong nghệ thuật chúng ta cũng thấy động thái cao của sự thay đổi các phong cách nghệ thuật, trong khoa học – sự thay thế nhanh chóng các nguyên tắc và chuẩn nhận thức và khái quát, trong đời sống xã hội – sự tiến hóa từ chỗ ban đầu mối quan hệ huyết thống là chủ đạo tiến tới các quan hệ tôn giáo – chính trị, rồi sau đó đến các chính sách quốc gia và tiếp đó lại chuyển sang các quan hệ xã hội – văn hóa. Và cứ như vậy trong mọi lĩnh vực. Xu thế đó thực tế bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, dần dần thay thế mô thái truyền thống của Tồn tại xã hội ra ngoài lề Tồn tại đó.

Chúng ta thấy rằng nhịp biến của văn hóa của một xã hội hoàn toàn tương ứng với nhịp độ phát triển của xã hội đó. Điều này có thể xác định như là một tính quy luật rõ nét của động thái văn hóa xã hội trong lịch sử. Về mặt kinh nghiệm, tính quy luật này đã được ghi nhận từ lâu. Và theo tôi, đó là do quá trình chuyên môn hóa tăng trong hoạt động của con người và tính chất sáng tạo của hoạt động ấy.

(còn tiếp)

Người dịch: Ngô Tuy Phước

Nguồn: TN 2014 – 3 & 4

Bản chất của văn hóa và các quy luật phát triển của nó – Phần I


Andrej Flier

Toát yếu

Tác giả bài viết này là Flier A.Ja. – GS. TS Triết học, NCV chính, Ban Nghiên cứu văn hóa học ứng dụng và giáo dục trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật, Viện Văn hóa học Nga (Moskva). Bài viết trình bày quan niệm của tác giả về văn hóa như là sản phẩm của sự chuyển hóa lịch sử chương trình hành vi xã hội của động và xem xét một số tính quy luật phát triển lịch sử của nó, tính chế ước nhau giữa một bên là nhịp độ phát triển xã hội và một bên là động thái tính biến thiên của văn hóa, tính bảo toàn bản sắc văn hóa và mức độ kiểm soát của xã hội đối với cá nhân.

Hiểu biết và kiến giải vấn đề nguồn gốc ra đời và sự phát triển của văn hóa tùy thuộc rất nhiều vào việc nhà khoa học hiểu văn hóa là gì, nhà khoa học đó giải thích bản chất của văn hóa và chức năng xã hội của nó như thế nào, và tùy thuộc vào cả lập trường của anh ta trong vấn đề nguồn gốc con người.

Tôi hiểu văn hóa là hình thức phổ biến nhất việc thực hiện tính xã hội của con người, thể hiện thiên hướng bẩm sinh của con người là hướng tới các hình thức hoạt động sống tập thể. Văn hóa là khung luật hệ thống nhất các nguyên tắc và các quy tắc chung nhất của sự tồn tại tập nhóm, bảo đảm quy trình xây dựng của sự đồng sinh xã hội của con người. Tôi xem văn hóa là hệ thống hình thành từ lịch sử các mối quan hệ qua lại giữa con người với nhau theo các thủ tục tiêu chuẩn của hoạt động sống chung của họ, là phương tiện duy trì và đảm bảo điều chỉnh các nguyên lý cơ bản của việc láng giềng đồng sinh và tương tác như vậy.

Trong vấn đề này, tôi không đồng quan điểm với E.S. Markaryan rằng do sinh hoạt tập thể của con người, ông này quy quan hệ qua lại giữa con người về lĩnh vực xã hội học. Theo tôi, xã hội học nghiên cứu sự tương tác giữa các tập nhóm xã hội vốn thể hiện lợi ích thực dụng của mình. Còn như các mối quan hệ qua lại giữa con người xét từ góc nhìn phản ánh các giá trị và chuẩn mực tồn tại tập thể của họ – thì đó lại là đối tượng nghiên cứu khoa học của văn hóa học (culturology).

Các thuộc tính “tích cực” của văn hóa như tính người, đạo đức, tế nhị, đạo lý, mỹ cảm… phổ biến trong ý thức quần chúng chỉ là sự phát triển của một số động cơ, ý hướng (intentions) nội tại gắn với việc đảm bảo tính tập thể của Tồn tại con người, và theo quan điểm của tôi, không phải là những đặc tính gốc, mà chỉ là những đặc tính phái sinh của nó. Văn hóa trước hết là cái mang tính quy phạm, và nó chỉ có tính “tích cực” trong dạng biểu hiện lý tưởng của mình. Thêm nữa, văn hóa lại có hàng loạt thuộc tính hình thành trong lịch sử mâu thuẫn với các xu thế của sự phát triển xã hội hiện đại: nó một mực khăng khăng thiên vị “cái của mình” và rất cố chấp đối với “cái khác, lạ”,  nó hạn chế tự do xã hội của con người trong khuôn khổ những mô hình ứng xử “được cho phép”, nó hướng về quá khứ, coi đó là khuôn vàng thước ngọc và luôn tỏ ra ngờ vực mọi cái mới, lạ…

Các chức năng hàng đầu của văn hóa là khuyến khích mọi người hội nhập xã hội vào các tập thể bền ổn và đảm bảo mối quan hệ giao tiếp khá khăng khít giữa các thành viên tham gia. Ở đây thấy rất rõ là giới hạn lãnh thổ của việc quảng bá các văn hóa địa phương, thường là bị giới hạn do sự cách bức về khoảng cách giao tiếp (liên quan đến việc bên ngoài lãnh thổ của nó người ta lại sử dụng một thứ ngôn ngữ nói khác).

Do đó, các công cụ cơ bản của văn hóa là cách ứng xử xã hội và hoạt động giao tiếp, mà vào giai đoạn đầu của lịch sử, được thể hiện qua tập quán và ngôn ngữ. Chính tập quán và ngôn ngữ là những yếu tố đảm bảo sự cố kết về mặt xã hội của tập thể và sự trao đổi thông tin mạnh mẽ trong tập thể. Tiếp đó mới khởi đầu các quá trình phát triển:

+ Tập quán phát triển thành nghi lễ và nghi thức, rồi sau đó thành các luật lệ, và cuối cùng, thành các nguyên tắc và giới hạn cho phép của tự do xã hội, điều chỉnh hành vi xã hội của con người…

+ Ngôn ngữ nói phát triển thành ngôn ngữ viết, thành  ngôn ngữ hình tượng nghệ thuật, thành ngôn ngữ các biểu trưng có ý nghĩa xã hội, nhãn mác xã hội của con người, nghi thức trình diễn…;

Nhưng điều chủ yếu là ở chỗ, với toàn bộ tính đa dạng các chức năng cá biệt của mình nói chung, văn hóa là quy phạm xác định về tương tác xã hội và giao tế được thực hiện trong thực tiễn bởi một số đông thành viên xã hội, được chuyển giao qua các thế hệ bằng các phương pháp đức dục và trí dục, và thường xuyên được tích cực truyền bá bằng các phương tiện nghi thức xã hội, tôn giáo, văn học, nghệ thuật… Đồng thời, thiết tưởng cũng cần phân biệt hai loại hình thức ứng xử xã hội của con người: 1) loại hành vi xã hội có thể quan sát được và ít nhiều phổ biến trong quần chúng mà ta có thể gộp chung lại là “thực tiễn xã hội” của con người, và 2) loại chuẩn hành vi xã hội được tuyên truyền, áp dụng và khuyến khích, các khuôn mẫu hành vi ứng xử xã hội “đúng đắn, mẫu mực”, những quy phạm được định danh là “văn hóa” của cái xã hội ta đang xem xét.

Nếu theo quan niệm thuyết tiến hóa về nguồn gốc con người, thì câu hỏi về nguồn gốc lịch sử của văn hóa tất sẽ đưa ta đến vấn đề xác định xem mức độ văn hóa của người được hiểu như là sự phát triển các bản năng ứng xử xã hội vốn có của động vật bậc cao (đặc biệt là các loài linh trưởng) và mức độ của cái văn hóa có thể được hiểu như là một tập hợp các dấu hiệu đặc trưng phân biệt về nguyên tắc con người với tổ tiên sinh học của nó.

Rõ ràng là văn hóa của người có cả hai loại thuộc tính trên, nhưng những nét đặc điểm chung giống với hành vi xã hội của động vật vẫn chiếm mức độ lớn hơn. Văn hóa hàm chứa trong nó những dấu hiệu đặc trưng giống loài gốc của nó rất rõ, lấy từ hành vi xã hội của các động vật sống kiểu bầy đàn: nó cũng đảm nhiệm vai trò của chức năng cố kết, điều chỉnh các mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân trong nhóm và tạo điều kiện để họ hiểu nhau và tin cậy nhau, tùy theo khả năng điều chỉnh và giao tiếp của mình tương hợp với khả năng của ý thức con người và với lối thức hoạt động sống của con người. Trong hành vi xã hội của động vật ta thấy (và càng thực hiện nhiều nghiên cứu mới, ta càng phát hiện được nhiều hơn) một phần đáng kể các đặc trưng có tính nguyên tắc vốn có của văn hóa con người với tính cách là một hệ thống điều chỉnh xã hội. Cũng là dễ hiểu khi sự biểu hiện đầy đủ những hệ đặc trưng này thường bị hạn chế bởi trình độ phát triển của các phản ứng tâm lý phức tạp vốn có của một loài này hay khác.

Đồng thời, số các hệ đặc trưng để phân biệt về nguyên tắc văn hóa con người với hành vi ứng xử xã hội của động vật là tương đối ít và bị quy định bởi các khả năng to lớn hơn của tâm lý, ý thức, lời nói…  của con người. Và ở các loài động vật khác nhau cũng có những phương cách khá hiệu quả của mình để chia sẻ những thông tin quan trọng, dĩ nhiên là không thể bằng lời nói của con người, nhưng cũng hoàn toàn đáp ứng với lối sống của các loài động vật đó. Tất nhiên, các loài động vật không có phương cách đặc thù để diễn đạt các quan điểm và thiên hướng văn hóa, như nghệ thuật chẳng hạn, của mình. Nhưng dường như có một số loại bản năng cũng đảm đương vai trò chức năng đó trong việc điều chỉnh hành vi và ý thức của người (kích thích về mặt xúc cảm hành vi xã hội mong muốn và thái độ đối với cuộc sống). Nên nhớ rằng chúng ta vẫn còn hiểu biết rất ít về hành vi của động vật: các nghiên cứu từ nguyên (ethologie) có hệ thống trong khuôn khổ tâm lý học động vật chỉ bắt đầu được thực hiện trong thế kỷ XX, và khả năng quan sát từ xa hành vi của động vật trong tự nhiên trong một thời gian dài chỉ thực hiện được cách nay vài thập kỷ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Ngô Tuy Phước

Nguồn: TN 2014 – 3 & 4

Hôm qua, hôm nay hay sau này? – Phần cuối


Không giống như Điều tra giá trị của Trung Quốc, Điều tra giá trị của châu Phi không tiết lộ một chiều hướng mới. Nó tạo ra 6 yếu tố. Bốn trong các yếu tố này tương quan mật thiết với một chiều giá trị của IBM. Một yếu tố không tương quan là do sự khác biệt giữa hai phiên bản của hai ngôn ngữ. Những yếu tố còn lại (mạnh thứ hai trong phân tích của Noorderhaven và Tidjani), trí khôn người xưa, thực sự tương quan với LTO – CVS, và phản đối từ châu Phi (và một vài nước châu Âu) tới các nước châu Á trong việc học hành. Mục riêng biệt trên cực ngắn hạn của chiều giá trị này là : “Trí thông minh quan trọng hơn kiến thức” và “Trí thông minh tới từ kinh nghiệm và thời gian không phải từ giáo dục”. Nhiều ý kiến phản đối các giá trị Nho giáo.

Kết quả khảo sát giá trị châu Phi, giống như một câu chuyện ở phần đầu này, xác nhận điểm thấp cho các nước châu Phi ở cả LTO – CVS và LTO – WVS. Trong bảng 7 – 4, điểm số cho ba nước Bắc Phi, 10 nước Trung Phi và Nam Phi đều ở bên ngắn hạn. Đặt niềm tự hào vào kết quả thực tế và mong đợi trí thông minh mà không cần kiến thức và giáo dục không khuyến khích làm việc và học tập hôm nay để gặt hái lợi ích ngày mai.

Bảng 7.5 – Sự khác biệt chủ chốt giữa xã hội định hướng ngắn hạn và dài hạn dựa trên dữ liệu WVS
Định hướng ngắn hạn Định hướng dài hạn
Nghĩa vụ đối với người khác là một mục tiêu quan trọng Trẻ em nên học cách tiết kiệm tiền bạc và những thứ khác
Tự hào về đất nước Học hỏi các nước khác
Truyền thống quan trọng Trẻ em nên học cách kiên trì
Theo chủ nghĩa sức mạnh Monumentalist (Minkov) Theo chủ nghĩa mềm dẻo Flexhumble (Minkov)
Tự hào gia đình Gia đình chủ nghĩa thực dụng
Các bà mẹ có ảnh hưởng tích cực đến cảm xúc của con gái và vẻ đẹp của con Quan điểm về vẻ đẹp của các cô con gái độc lập với các bà mẹ
Học sinh coi sự thành công hay thất bại là do may mắn Học sinh đạt được thành công là do sự nỗ lực và nếu thất bại thì là do thiếu cố gắng
Kết quả học tập môn toán và khoa học (của học sinh 14 tuổi) kém do thiếu nỗ lực Kết quả học môn toán và khoa học (của học sinh 14 tuổi) cao hơn do chăm chỉ hơn
Không có kỹ năng đặc biệt dành cho toán học Ở Đông Á, học sinh học toán toán học tốt hơn
Có tài năng về lý luận, khoa học trừu tượng Có tài năng cho các ứng dụng, khoa học cụ thể
Các nước nghèo chậm hoặc không có tăng trưởng kinh tế nhỏ tiết kiệm thấp, ít tiền để đầu tư Các nước nghèo tăng trưởng kinh tế nhanh
Đầu tư vào các quỹ tương hỗ Đầu tư vào bất động sản
Tin vào kinh thánh Thực dụng
Tin vào trí tuệ dân gian và phù thủy Tin vào kiến thức và giáo dục

Ở các nước châu Phi, mối quan hệ nhân quả hiển nhiên đối với nước ngoài đôi khi bị từ chối. Một ví dụ là sự từ chối của cựu Tổng thống Thabo Mbeki của Nam Phi để nhận ra sự liên kết giữa việc lây nhiễm HIV và AIDS. Đa số người châu Phi tin vào phù thủy, họ đổ lỗi cho lực lượng huyền bí mà người ngoài châu Phi đã mang tới.

Các điểm số trên không có nghĩa là tất cả người châu Phi là những người có tư tưởng ngắn hạn, và tất cả người Á Đông có tư tưởng dài hạn. Chúng cũng không có nghĩa là cách tư duy là phải giống hoàn toàn để ảnh hưởng các mô hình hành vi chung, cấu trúc và chức năng hay các hoạt động sai chức năng của các thể chế quốc gia. Thông qua đó, tư tưởng ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế.

Gần như hầu hết các nước châu Phi đã phụ thuộc vào viện trợ của nước ngàoi và vay nợ từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Theo Joseph Stiglitz, cựu Trưởng ban Kinh tế của Ngân hàng Thế giới và là người đoạt giải Nobel năm 2001 về kinh tế, vấn đề kinh tế của châu Phi bị kết hợp bởi các điều kiện cho vay từ IMF. Thậm chí IMF thống trị trào lưu ngắn hạn theo thị trường nhiều hơn Ngân hàng Thế giới. Điều này dẫn tới sự căng thẳng về kỷ luật ngân sách cho chi tiêu cho giáo dục, sức khỏe và cơ sở hạ tầng, và thúc đẩy tự do hóa nhập khẩu trong khi vẫn giữ thị trường đóng cửa  cho xuất khẩu của Châu Phi, phá hủy các doanh nghiệp non trẻ của địa phương. Bảng 7.4 phân loại các tư tưởng thống trị của Mỹ trong số các nhà tư vấn của IMF trong cùng một định hướng ngắn hạn như khách hàng châu Phi của họ.

Tương lai của định hướng dài hạn và ngắn hạn

Lần thứ hai công tước nhà Chu gọi Khổng Tử tới, ông ta hỏi Khổng Tử một lần nữa: “Để cai trị tốt thì cần điều bí mật gì?”. Khổng Tử trả lời: “Muốn cai trị tốt thì phải tiết kiệm nguồn lực”.

Tương lai được xác định là vấn đề dài hạn. Cháu chắt của chúng ta sẽ phải sống trong hậu quả dài hạn của các hành động hiện tại của chúng ta.

Câu hỏi của công tước nhà Chu đặt ra cho Khổng Tử từ 2500 năm trước vẫn còn là đề tài chưa bao giờ trả lời được hết: Thế nào là sự cai trị tốt? Năm 1999 – 2000, các nhà khoa học từ Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) và từ Bắc Âu (Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển) cũng đã tham gia vào một cuộc điều tra chọn mẫu đại diện của dân số tại đất nước của họ về vấn đề tương tự.

Cuộc điều tra cho thấy sự khác biệt trong quan điểm về mối quan hệ giữa nhà cầm quyền và công dân nên như thế nào, phản ánh vị trí khác nhau của các quốc gia về khoảng cách quyền lực và tránh rủi ro. Vai trò của chính phủ theo như khảo sát cho thấy sự đồng thuận đáng kể. Phần lớn trong 6 nước ủng hộ “chính phủ phải đủ mạnh để xử lý vấn đề kinh tế phức tạp” và không tin vào “thị trường tự do có thể giải quyết các vấn đề đó mà không có sự can thiệp của chính phủ”. Bên cạnh vai trò trong nền kinh tế, nhiệm vụ của chính phủ mà có sự đồng thuận cao nhất đó là chống ô nhiễm môi trường và duy trì các mối quan hệ hài hòa xã hội.

Báo cáo nghiên cứu về châu Á – Bắc Âu đưa ra vấn đề với quá trình liên tục của toàn cầu hóa, cảm nhận người châu Á như là “bị Âu hóa” và người Bắc Âu như là “bị Mỹ hóa”. Nó báo hiệu một sự chênh lệch giữa 6 nước và các tác giả xem như là giá trị đằng sau của toàn cầu hóa.

Trong bản giải thích của chúng tôi, mục tiêu dựa trên giá trị chính của người châu Á và Bắc Âu là chống lại trực tiếp với tâm điểm ngắn hạn của toàn cầu hóa. Trong bảng 7.4, các nước tham gia vào dự án nghiên cứu ghi điểm dài hạn hơn của Mỹ. Những người trả lời của chúng tôi đã nhìn thấy chính phủ tốt là có định hướng tương lai, trong khi Mỹ và IMF làm công cuộc toàn cầu hóa trở nên căng thẳng và cần phải sửa chữa nhanh chóng. Thực tế, theo như nhà kinh tế học Joseph Stiglitz, nó dựa vào niềm tin thị trường giống như nhiều người cuồng tín tin vào việc duy trì và trở lại vị trí trong quá khứ hơn là được dẫn dắt bởi tầm nhìn hướng tới tương lai cho nhân loại nói chung.

Suy nghĩ có trách nhiệm về dài hạn không thể thoát khỏi kết luận rằng trong thế giới hữu hạn, bất kỳ sự tăng trưởng nào cũng có giới hạn. Dân số loài người không thể tiếp tục tăng mãi mãi, nền kinh tế của một quốc gia cũng không thể tăng trưởng mãi mãi, trừ khi sự tăng trưởng của nó đến từ chi tiêu của các nước khác. Rất ít các nhà chính trị chuẩn bị để đối mặt với thực tế này. Lĩnh vực dễ thấy nhất là môi trường. Khí hậu thay đổi thông qua sự nóng lên của toàn cầu, nguồn nước cạn kiệt và chi phí về chất thải phóng xạ là những ví dụ cho chi phí môi trường của sự tăng trưởng không kiềm chế, điều mà chính phủ nào cũng phải đối mặt.

Những người cuồng tín, quá phụ thuộc chính trị và kinh tế là kẻ thù hiếu chiến của tư duy dài hạn. Chúng dựa trên quá khứ và có xu hướng thoát khỏi trách nhiệm cho tương lai, đặt nó trong tay Chúa hoặc thị trường. Ví dụ, tại nhiều nơi trên thế giới, mối đe dọa ngay tức khắc tới hòa bình, sức khỏe và công lý là sự quá tải dân số. Phương pháp kế hoạch hóa gia đình đã bị những kẻ sùng đạo đồng lòng chống lại việc tiếp cận rộng rãi của nó.

Tầm quan trọng về kinh tế của Đông Á trong thế kỷ XX sẽ tăng lên. Một món quà quý giá mà người đàn ông và phụ nữ khôn ngoan từ phương Đông mang tới cho người khác sẽ là một sự thay đổi đối với tư duy dài hạn toàn cầu.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.