Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần III


Đoạn mở đầu lá thư mà nhà du hành người Ba Tư “Rica” gửi cho người bạn “Ibben” của ông từ Paris năm “1712” sẽ cung cấp cho chúng ta một sự tương phản đáng chú ý.

Giáo hoàng là nhà lãnh đạo tối cao của tín đồ Thiên chúa; ngài là thần tượng từ thời cổ đại mà ngày nay người ta vẫn quen tôn thờ. Ngài từng là nỗi sợ hãi với ngay cả các thái tử, bởi ngài thường phế truất họ dễ dàng, giống như các Quốc vương Hồi giáo (sultan) vĩ đại của chúng ta từng phế truất vua của Iremetia hoặc Georgia. Nhưng giờ đây không ai còn sợ ngài nữa. Ngài xưng ngài là người nối nghiệp một rtong những tín đồ Thiên chúa đầu tiên, thánh Peter, và đó dĩ nhiên là sự kế thừa giàu có, bởi người được sở hữu của cải vô tận và cai quản một đất nước vĩ đại.

Những bịa tạo có chủ ý và phức tạp của tín đồ Công giáo thế kỷ XVIII này [Montesquieu – ND] phản ánh chủ nghĩa hiện thực chất phác của vị tiền bối thế kỷ XIII của ông, nhưng giờ đây quá trình “tương đối hóa” và “lãnh thổ hóa” lại hoàn toàn tự giác và có chủ đích chính trị. Khi Ayatollah Ruhollah Khomeini đồng nhất Đại Sa tăng không phải với một dị giáo, cũng không phải với một nhân vật bị quỷ ám (Carter mờ nhạt nhỏ bé không phù hợp với vai diễn này), mà là với một dân tộc, liệu ta có thể coi đây là một phát triển nghịch lý truyền thống đang diễn tiến này?

Thứ hai là sự suy tàn dần của bản thân các ngôn ngữ thiêng. Viết về Tây Âu thời Trung cổ, Bloch nhận thấy “tiếng Latin không chỉ là ngôn ngữ để dạy học, nó còn là ngôn ngữ duy nhất được truyền dạy”. (Chữ “duy nhất” cho thấy rõ tính thiêng liêng của tiếng Latin – không một ngôn ngữ nào khác được coi là đáng truyền dạy). Nhưng vào thế kỷ XVI tất cả điều này đã thay đổi một cách nhanh chóng. Ở đây chúng ta chưa cần phải giải thích chi tiết lý do dẫn tới sự thay đổi này: vai trò trung tâm của chủ nghĩa tư bản in ấn sẽ được thảo luận dưới đây. Chúng ta chỉ cần nhớ đến quy mô và tốc độ của nó. Theo ước tính của Febvre và Martin, 77% số sách được in ra trước năm 1500 vẫn bằng tiếng Latin (nghĩa là chỉ 23% được in bằng phương ngữ). Nếu như trong 88 đầu sách xuất bản ở Paris năm 1501 có tới 80 cuốn in bằng tiếng Latin, thì sau 1575 phần lớn sách được in bằng tiếng Pháp. Tuy có sự khôi phục tạm thời trong thời kỳ Chống Cải cách, song vị thế bá chủ của tiếng Latin đã mất. Chúng ta cũng không chỉ nói đến một sự phổ biến chung chung. Có phần muộn hơn, nhưng với tốc độ không kém chóng mặt, tiếng Latin đã đánh mất vị thế ngôn ngữ của tầng lớp trí thức thượng lưu trên toàn châu Âu. Trong thế kỷ XVII Hobbes (1588 – 1678) là một nhân vật danh tiếng của châu Âu đại lục bởi ông đã viết bằng thứ ngôn ngữ chân lý này. Còn Shakespeare (1564 – 1616), sáng tác bằng phương ngữ, lại hầu như không được biết đến ở bên kia eo biển Anh. Hai trăm năm sau, nếu tiếng Anh không trở thành một ngôn ngữ đế chế vượt trội của thế giới thì có lẽ ông vẫn vô danh trên hòn đảo quê hương mình. Trong khi Descartes (1596 – 1650) và Pascal (1623 – 1662), hai người ở bên kia eo biển Anh gần nhưc ùng thời với những nhân vật này, đã thư từ chủ yếu bằng tiếng Latin thì hầu như toàn bộ thư từ của Voltaire (1694 – 1778) lại viết bằng phương ngữ. “Sau năm 1640, khi sách in bằng tiếng Latin ngày càng ít đi, sách in bằng phương ngữ ngày một nhiều hơn, thì xuất bản không còn là một ngành kinh doanh mang tính quốc tế [nguyên văn] nữa”. Tóm lại, sự suy tàn của tiếng Latin tiêu biểu cho một tiến trình lớn hơn, trong đó các cộng đồng thiêng được gắn kết bằng những ngôn ngữ cổ linh thiêng dần dần bị phân mảnh, đa nguyên hóa và lãnh thổ hóa.

Ta cũng cần nhớ rằng những nhà nước quân chủ cổ xưa này đã mở rộng không chỉ bằng chiến tranh mà còn bằng chính trị tình dục – một kiểu chính trị khác hẳn với ngày nay. Nhờ nguyên lý thẳng đứng phổ biến này, những cuộc hôn nhân của vương quyền đã gắn kết các cư dân phồn tạp dưới những đỉnh chóp mới. Ở khía cạnh này Nhà Habsburg là một trường hợp điển hình, đúng như một phát ngôn về nó, Hãy để kẻ khác gây chiến, còn ngươi, nước Áo hạnh phúc, hãy cưới nhau đi! (Bella gerant alii, tu felix Austria, nube). Trong một hình thức có phần vắn tắt, đây chính là tước vị của những ông vua Nhà Habsburg sau này.

Hoàng đế Áo; Vua Hungary, Bohemia, Dalmatia, Croatia, Slavonia, Galicia, Lodomeria và Illyria; Vua Jerusalem… Thái tử Áo [nguyên văn]; Đại công tước Tuscany và Cracow; công tước Lotharingia, Slazburg, Styria, Carinthia, Carniola và Bukovina; Đại công tước Transylvania, Bá tước Moravia, công tước vùng Thượng và Hạ Silesia, công tước Modena, Parma, Placenza và Guastella, Auschwitz và Sator, Teschen, Friaull, Raguas và Zara; bá tước Harburg và Tyrol, Hyburg, Gӧrz và Gradiska; công tước Trient và Brizen; bá tước vùng Thượng và Hạ Lausitz, bá tước Istria; bá tước Hohenembs, Feldkirch, Bregenz, Sonnenberg…; huân tước Trieste, huân tước Cattaro và Windisch Mark; đại thống lĩnh của Voyvodina, Servia…

Như Jászi đã chỉ ra một cách chính xác, các tước vị “không phải không có một khía cạnh khôi hài nào đó… chúng là chứng tích của vô số những cuộc hôn nhân, những vụ mặc cả và tước đoạt của Nhà Habsburg”.

Trong những vương quốc chấp nhận về mặt tôn giáo tình trạng đa thê, các hệ thống thê thiếp thứ bậc và phức tạp có vai trò rất quan trọng đối với sự thống nhất của vương quốc. Trên thực tế, phải chăng uy thế của huyết thống hoàng tộc, ngoài nguồn gốc thần thánh, còn thường bắt nguồn từ hôn nhân dị tộc (miscegenation)? Bởi lẽ những cuộc hôn phối này là dấu hiệu cho thấy địa vị chí tôn. Việc không có một vương triều “Anh” nào thống trị ở London thế kỷ XI (giả sử trước đó từng có) chính là một ví dụ tiêu biểu cho điều này; vậy thì đâu là “dân tộc” (nationality) mà chúng ta quy cho Nhà Bourbons?

Tuy nhiên trong thế kỷ XVII – vì những lý do mà chúng ta không cần nêu ra ở đây – tính hợp thức mặc nhiên của chế độ quân chủ linh thiêng bắt đầu suy tàn dần ở Tây Âu. Năm 1649, Charles Stuart bị chém đầu trong cuộc cách mạng đầu tiên của thế giới hiện đại; trong những năm 1650, một trong những nhà nước châu Âu quan trọng được cai trị bởi một vị quan Bảo hộ xuất thân bình dân, không phải bởi một ông vua. Song ngay trong thời đại của Pope và Addison, Anne Stuart vẫn chữa bệnh bằng cách đặt tay hoàng tộc lên bệnh nhân; cách chữa này cũng được Louis XV và Louis XVI của Nhà Bourbon tiến hành ở nước Pháp Khai sáng cho đến cuối thời quân chủ (ancien régime). Nhưng sau năm 1789, nguyên lý Hợp thức cần phải được bảo vệ một cách nhiệt thành và tự giác, và trong quá trình này, “chế độ quân chủ” trở thành một mô hình bán chuẩn. Thiên hoàng và Thiên tử trở thành những “hoàng đế”. Ở nước Xiêm xa xôi, Rama V (Chulalongkorn) đã gửi con cháu của mình sang triều đình St. Petersburg, London và Berlin nhằm học hỏi cơ chế phức tạp của mô hình thế giới này. Năm 1887, ngài thiết lập nguyên tắc con trai trưởng thừa kế về mặt pháp lý, nhờ đó đưa nước Xiêm “ngang hàng với các nền quân chủ “văn minh” của châu Âu”. Năm 1910 hệ thống mới này đã đem đến cho ngai vàng một ông vua đồng tính dị thường, người chắc chắn sẽ bị gạt đi trong thời đại trước đó. Tuy nhiên các nước quân chủ vẫn chấp nhận ông lên ngôi trở thành vua Rama VI, thể hiện qua sự tham dự của các thái tử Anh, Nga, Hy Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch, thậm chí cả Nhật Bản vào lễ tấn phong của ông.

Đến tận năm 1914, các nhà nước vương triều vẫn chiếm phần đa trong hệ thống chính trị thế giới, nhưng như chúng tôi sẽ chỉ ra cụ thể dưới đây, ở một số thời điểm nhiều vị vua đã có được dấu ấn “dân tộc” ngay khi nguyên lý Hợp thức cũ đang âm thần suy tàn. Trong khi quân đội của Frederick Đại đế (trị vì từ 1740 đến 1786) vẫn còn tràn ngập những “người ngoại quốc” thì quân đội người cháu vĩ đại của ông, Frederick Wilhelm III (trị vì từ 1797 đến 1840), nhờ những cải cách ngoạn mục của Scharnhorst, Gnei-senau và Clausewitz, lại chỉ toàn “quốc dân Phổ”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.

Advertisements

Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần II


Tuy nhiên các cộng đồng lâu đời được gắn kết nhau nhờ những ngôn ngữ thiêng như vậy đều có một đặc trưng phân biệt với cộng đồng tưởng tượng của các quốc gia hiện đại. Một khác biệt chính yếu đó là sự tin tưởng mạnh mẽ của các cộng đồng cổ xưa này vào tính thiêng liêng độc nhất của ngôn ngữ mà chúng sở hữu. Niềm tin này đã tạo nên những quan niệm của chúng trong việc chấp nhận tư cách thành viên. Quan lại Trung Hoa coi trọng những người man di ra sức học viết các kí tự Trung Quốc. Những người man di này đã được tiếp thu [văn minh] một cách vừa phải. Tình trạng bán khai vẫn hơn hẳn dã man. Một thái độ như vậy chắc chắn không riêng gì người Trung Hoa cũng không chỉ giới hạn ở thời cổ. Chẳng hạn hãy xem “chính sách về người man di” được nhà khai phóng người Colombia đầu thế kỷ XIX Pedro Fermin de Vargas phát biểu dưới đây:

“Để mở rộng nền nông nghiệp cần phải Tây Ban Nha hóa những người Anh-điêng của chúng ta. Sự lười biếng, ngu dốt và thái độ thờ ơ trước những nỗ lực bình thường khiến ta nghĩ rằng họ đến từ một chủng tộc sa sút, đã thoái hóa rất nhiều so với nguồn gốc của mình… Mong rằng những người Anh-điêng sẽ bị diệt trừ bằng cách cho hôn phối với người da trắng, tuyên bố họ không phải cống nạp, không phải chịu những nghĩa vụ khác và trao họ quyền tư hữu đất đai”.

Điều đáng chú ý là nhà khai phóng này vẫn đề nghị “diệt trừ” một bộ phận người Anh-điêng của ông bằng cách “tuyên bố họ không phải cống nạp” và “trao họ quyền tư hữu đất đai” hơn là hủy diệt họ bằng súng và vi trùng như những người kế thừa ông đã làm tại Brazil, Argentina và Mỹ sau đó không lâu. Ta cũng nhận thấy cùng với sự tàn nhẫn chiếu cố là một chủ nghĩa lạc quan phổ quát: rốt cuộc ngời Anh-điêng có thể được cứu chuộc, bằng cách cho thụ tinh bằng tinh dịch “văn minh” của người da trắng và chiếm dụng tài sản riêng, giống như tất cả những người khác. (Thái độ của Fermin thật khác với các nhà đế quốc châu Âu sau này: ưu ái người Malay, Gurkha và Hausa “thuần gốc” hơn “người lai”, “dân bản xứ bán khai”, “nhà Âu hóa và những khái niệm tương tự).

Tuy nhiên, nếu những ngôn ngữ thiêng trầm mặc là phương tiện để tưởng tượng nên các cộng đồng lớn của thế giới trong quá  khứ, thì thực tế cả những tưởng tượng như vậy lại phụ thuộc vào một quan niệm chủ yếu xa lạ với tư duy phương Tây hiện đại: tính phi võ đoán của các ký hiệu. Những ký tự trong tiếng Hán, tiếng Latin hay Arab là những sản phẩm bắt nguồn từ thực tế, không phải là những biểu trưng của hiện thực được bịa tạo một cách ngẫu nhiên. Chúng ta đều biết rõ cuộc tranh luận lâu dài nhằm xác định ngôn ngữ phù hợp (tiếng Latin hoặc phương ngữ) với quần chúng. Trong truyền thống Hồi giáo, mãi đến gần đây kinh Koran vẫn không thể trực dịch (và do đó không được dịch), bởi lẽ chân lý của Allah chỉ có thể tiếp cận thông qua những ký hiệu đích thực không thể thay thế của tiếng Arab văn bản. Ở đây không hề có ý niệm về một thế giới tách biệt khỏi ngôn ngữ đến mức tất cả các ngôn ngữ đều là những ký hiệu tương đương (và vì vậy có thể thay thế nhau) của nó. Trong thực tế, thực tiễn bản thể luận chỉ có thể lĩnh hội thông qua một hệ thống biểu trưng đơn nhất được trao đặcq uyền: ngôn ngữ chân lý của tiếng Latin nhà thờ, của tiếng Arab trong kinh Koran hoặc của tiếng Hán dùng trong khoa cử. Là các ngôn ngữ chân lý, chúng mang một xung lực chủ yếu xa lạ với chủ nghĩa dân tộc, xung lực dẫn tới sự cải đạo. Tôi dùng khái niệm cải đạo không phải để chỉ việc chấp nhận những nguyên lý tôn giáo đặc thù mà là việc hấp thu mang tính giả kim. Man di thành “Trung Hoa”, người Rif thành người Hồi giáo, người Ilongo thành tín đồ Thiên chúa giáo. Dễ biến đổi theo những nghi lễ linh thiêng là bản chất tồn tại của con người. (Bởi vậy hãy thử đối sánh uy thế của những ngôn ngữ cổ có tính thế giới này – thành thứ tiếng có địa vị cao hơn hẳn tất cả các phương ngữ – với tiếng Esperanto hoặc tiếng Volapük bị bỏ quên giữa chúng). Rốt cuộc, chính khả năng cải đạo thông qua những ngôn ngữ thiêng này đã tạo điều kiện cho một “người Anh” trở thành Giáo hoàng và “người Mãn Châu” trở thành Thiên tử.

Thế nhưng dù các ngôn ngữ thiêng có thể khiến cho những cộng đồng như Thiên chúa giáo được tưởng tượng nên, thì phạm vi thực tế và tính hữu lý của những cộng đồng này lại không thể giải thích chỉ bằng các văn tự thiêng: rốt cuộc người đọc của chúng chỉ là thiểu số những người có học vượt lên trên biển người mù chữ. Một giải thích trọn vẹn hơn đòi hỏi phải xem xét qua mối quan hệ giữa giới trí thức và các xã hội của họ. Sẽ sai lầm nếu nhìn trí thức như một kiểu kĩ trị thần học. Những ngôn ngữ mà họ duy trì tuy khó hiểu song lại không hề có sự khó hiểu đóng kín, hầu như nằm ngoài những quan niệm của xã hội về thực tiễn như thuật ngữ của luật gia hay các nhà kinh tế học. Đúng hơn giới trí thức là đội ngũ tài năng, là tầng lớp chiến lược trong một trật tự vũ trụ mà đỉnh chóp là thần thánh. Những khái niệm căn bản về “nhóm xã hội” mang tính hướng tâm và tôn ty hơn là hướng biên hoặc nằm ngang. Quyền uy lạ thường của chức Giáo hoàng khi đạt đến đỉnh điểm chỉ có thể hiểu được trong quan hệ với một đội ngũ trí thức viết chữ Latin xuyên châu Âu một quan niệm về thế giới mà mọi người hầu như đều chia sẻ, rằng giới trí thức song ngữ, thông qua việc thương thỏa giữa phương ngữ và tiếng Latin, đã làm trung gian giữa mặt đất và thiên đường (nỗi sợ bị rút phép thông công phản ánh vũ trụ luận này).

Tuy nhiên, bất chấp uy thế và sức mạnh của những cộng đồng tưởng tượng lớn có tính tôn giáo này, sự gắn kết không tự giác của chúng lại suy yếu dần sau giai đoạn Trung cổ hậu kỳ. Có nhiều lý do dẫn tới sự suy tàn này, song ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai lý do liên quan trực tiếp đến tính linh thiêng độc nhất của những cộng đồng này.

Trước hết là tác động của những cuộc thám hiểm khám phá thế giới ngoài châu Âu. Tác động này – tuy không chỉ giới hạn ở châu Âu nhưng chủ yếu vẫn diễn ra ở châu Âu – “đã đột ngột mở rộng các chân trời văn hóa và địa lý, từ đó mở rộng quan niệm của con người về các dạng thức khả dĩ của đời sống nhân loại”. Quá trình này đã được thể hiện rõ trong các cuốn du ký vĩ đại nhất của người châu Âu. Hãy xem mô tả đầy kính sợ sau về Hốt Tất Liệt của Marco Polo, một người Thiên chúa xuất sắc ở Venice cuối thế kỷ XIII:

“Đại Hãn, sau khi giành được thắng lợi vang dội này, đã ca khúc khải hoàn trở về kinh thành Kanbalu. Sự kiện này diễn ra vào tháng mười một, ngài tiếp tục ở đó trong suốt tháng hai và tháng ba, mà tháng ba chính là lễ Phục sinh của chúng ta. Biết đây là một trong những nghi lễ trọng đại của chúng ta, ngài đã lệnh cho tất cả Ki-tô hữu đến trình diện ngài và mang theo Thánh thư của họ, cuốn sách chứa đựng bốn Tin mừng của các tác giả Phúc âm. Sau khi liên tục xức hương trầm lên Thánh thư bằng một cung cách kính trọng, Đại Hãn cung kính hôn nó rồi lệnh cho tất cả các quý tộc của ngài đang có mặt cũng làm tương tự. Đây là một nghi thức thường thấy ở ngài vào những dịp lễ lớn của người Thiên chúa, chẳng hạn Lễ phục sinh và Giáng sinh; và ngài cũng làm như thế trong những lễ tiết của người Arab, người Do Thái và các tín đồ Phật giáo. Khi được hỏi về động cơ của hành động này, ngài nói: “Có bốn nhà Tiên tri vĩ đại được những tầng lớp khác nhau của loài người sùng kính và thờ phụng. Người Thiên chúa coi Jesus Christ là đấng tối cao; người Arab là Mohamet; người Do Thái là Moses, còn các tín đồ Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni, người xuất chúng nhất trong số những thần tượng của họ. Ta tôn trọng và kính phục cả bốn vị, và đều nguyện cầu được phù trợ cho bất cứ ai trong họ thực sự có được địa vị tối cao trên thượng giới”. Song nhìn từ cung cách kính cẩn của ngài dành cho họ, ta thấy rõ rằng ngài coi đức tin của các Ki-tô hữu là đúng đắn và tốt đẹp nhất…”

Điều đáng chú ý ở đoạn văn này không phải là thuyết tương đối tôn giáo điềm tĩnh của vị đại đế Mông Cổ (nó vẫn là một thuyết tương đối tôn giáo) mà là thái độ và ngôn ngữ của Marco Polo. Dù đang viết cho các tín hữu Ki-tô châu Âu, nhưng Marco Polo không hề nghĩ đến chuyện gọi Hốt Tất Liệt là một nhà đạo đức giả hay một kẻ sùng tín. (Rõ ràng một phần nguyên do là bởi “xét về số lượng thần dân, phạm vi lãnh thổ, tổng lượng lợi tức, ngài đã vượt qua tất cả các vị quân vương từ trước tới nay trên thế giới”). Hơn nữa, qua việc sử dụng một cách vô thức cụm từ “của chúng ta” (sau đó chuyển thành “của họ”) và mô tả đức tin của người Thiên chúa là “đúng đắn nhất” chứ không chỉ “đúng đắn”, chúng ta có thể nhận thấy những mầm mống của một quá trình lãnh thổ hóa các đức tin, báo hiệu ngôn ngữ của nhiều nhà dân tộc chủ nghĩa (dân tộc “chúng ta” là “tốt đẹp nhất” – trong một lĩnh vực cạnh tranh và có thể đối sánh nào đó).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.

Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần I


Không biểu tượng nào của nền văn hóa dân tộc chủ nghĩa thời hiện đại lại gây chú ý như đài tưởng niệm và mộ Những người lính vô danh. Những công trình tưởng niệm này nhận được sự tôn kính lễ nghi của công chúng bởi chúng trống rỗng một cách có chủ ý hoặc bởi không ai biết rõ những người đang yên nghỉ bên trong. Điều này không có những tiền lệ thực sự trong quá khứ. Để cảm nhận được sức mạnh của tính hiện đại này, ta chỉ cần hình dung phản ứng chung của mọi người đối với những kẻ hiểu sự đã “phát hiện” ra tên tuổi Những người lính vô danh hoặc chỉ muốn cho các bộ hài cốt thật vào những đài tưởng niệm này. Một hình thức báng bổ xa lạ của thời hiện đại! Tuy nhiên dù những nấm mộ này không có các bộ hài cốt khả dĩ nhận diện hay những linh hồn bất tử, chúng lại thấm đẫm những tưởng tượng dân tộc đầy ma mị. (Điều này giải thích tại sao rất nhiều quốc gia khác nhau tuy có những những nấm mộ như vậy nhưng lại không cảm thấy cần xác định tư cách dân tộc cho những linh hồn vắng mặt. Ngoài người Đức, người Mỹ, người Argentina… họ còn có thể thuộc về dân tộc nào…?)

Ý nghĩa văn hóa của những công trình tưởng niệm như vậy còn trở nên rõ rệt hơn nếu ta thử hình dung, chẳng hạn. Mộ những nhà Marxist vô danh hoặc đài tưởng niệm những Nhà tự do chủ nghĩa đã ngã xuống. Liệu ta có tránh khỏi một cảm giác về sự vô lý? Bởi lẽ cả chủ nghĩa nghĩa Marx lẫn chủ nghĩa Tự do đều không bận tâm nhiều đến cái chết và sự bất tử. Nếu tưởng tượng dân tộc chủ nghĩa có bận tâm thì điều này cho thấy một sự tương đồng rõ rệt với những tưởng tượng tôn giáo. Do sự tương đồng này không hề ngẫu nhiên nên sẽ hữu ích nếu ta xuất phát từ cái chết – chung cục của mọi định (fatalities) – để xem xét những cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc.

Nếu như cách đến với cái chết của một con người có vẻ thường ngẫu nhiên thì cái chết của anh ta lại là điều không thể tránh khỏi. Đời sống con người đầy những kết hợp như thế giữa tính tất yếu và sự tình cờ. Tất cả chúng ta đều ý thức được tính ngẫu nhiên và tính không thể tránh khỏi của đặc điểm di truyền riêng của chúng ta, giới tính chúng ta, thời đại chúng ta sống, các khả năng cơ thể, tiếng mẹ đẻ của chúng ta… Đóng góp to lớn của các thế giới quan tôn giáo truyền thống (hiển nhiên phải phân biệt với vai trò của chúng trong quá trình hợp thức hóa những hệ thống cai trị và bóc lột cụ thể) là mối bận tâm của chúng tới con người trong vũ trụ, con người với tư cách chủng loài đang hiện hữu, và tới tính ngẫu nhiên của đời sống. Sự tồn tại lạ thường hàng ngàn năm của Phật giáo, Thiên chúa giáo hay Hồi giáo trong nhiều dạng thức xã hội khác nhau đã chứng thực cho khả năng hồi đáp tưởng tượng của chúng trước bao gánh nặng gây ra bởi những đau khổ của con người – bệnh tật, tàn phế, buồn đau, tuổi tác và cái chết. Tại sao tôi sinh ra mù lòa? Tại sao người bạn thân nhất của tôi bị bại liệt? Tại sao con tôi lại thiểu năng? Các tôn giáo nỗ lực lý giải. Nhược điểm lớn nhất của tất cả các dạng thức tư tưởng tiến hóa luận/tiến bộ chủ nghĩa, không loại trừ chủ nghĩa Marx, là những câu hỏi như thế được trả lời bằng sự im lặng không thể chấp nhận được. Đồng thời bằng các giải pháp khác nhau, tư tưởng tôn giáo cũng hồi đáp những dự cảm mơ hồ về sự bất tử, thường bằng cách biến định mệnh (fanility) thành tính tiếp diễn (nghiệp báo, tội tổ tông…). Bằng cách này tôn giáo quan tâm tới mối liên hệ giữa người đã khuất và kẻ sắp chào đời, tới sự huyền bí của tái sinh. Ai từng mang thai và sinh con mà không lờ mờ nhận thấy sự liên đới, ngẫu nhiên và định mệnh kết hợp nhau nhờ ngôn ngữ của “tính tiếp diễn”? (Một lần nữa hạn chế của tư tưởng tiến hóa luận/tiến bộ chủ nghĩa là sự thù địch gần như theo kiểu Heraclitus trước bất cứ quan điểm nào về tính tiếp diễn).

Tôi đưa ra những quan sát có lẽ còn sơ giản này trước hết bởi vì ở Châu Âu thế kỷ XVIII không chỉ đánh dấu buổi bình minh của kỷ nguyên chủ nghĩa dân tộc mà còn đánh dấu thời điểm tàn suy của những mô hình tư tưởng tôn giáo. Thế kỷ của Khai sáng, của chủ nghĩa thế tục duy lý, đã mang đến bóng tối hiện đại của chính nó. Tuy đức tin tôn giáo bị giảm sút, song những đau khổ mà đức tin góp phần tạo nên thì không hề mất đi. Sự giải thể của thiên đường: không gì khiến định mệnh còn trở nên ngẫu nhiên. Sự vô nghĩa của cứu rỗi: không gì khiến người ta còn cần đến một dạng thức tiếp diễn khác. Vì vậy cần phải có một chuyển biến thế tục: định mệnh thành tiếp diễn, ngẫu nhiên thành ý nghĩa. Như chúng ta sẽ thấy, hầu như không gì phù hợp với chung cuộc này hơn một quan niệm về dân tộc. Nếu như các quốc gia – dân tộc (nation-state) được thừa nhận rộng rãi là “mới” và “có tính lịch sử” thì các dân tộc mà chúng cấp cho những biểu đạt chính trị luôn hiện ra từ một quá khứ xa xưa, và quan trọng hơn, trượt vào một tương lai vô hạn. Đó chính là ma lực của chủ nghĩa dân tộc, biến ngẫu nhiên thành số mệnh. Chúng ta có thể nói như Depray rằng “vâng, thật tình cờ khi tôi sinh ra là người Pháp; song rốt cuộc, nước Pháp mới là bất diệt”.

Tất nhiên tôi không khẳng định rằng sự xuất hiện của chủ nghĩa dân tộc vào cuối thế kỷ XVIII được “tạo nên” nhờ sự xói mòn những niềm tin tôn giáo, cũng không cho rằng bản thân sự xói mòn này không đòi hỏi một diễn giải phức tạp. Tôi cũng không giả định về mặt lịch sử của chủ nghĩa dân tộc đã tìm cách “thay thế” tôn giáo. Tôi cho rằng cần phải hiểu chủ nghĩa dân tộc bằng cách đặt nó trong mối liên hệ với các hệ thống văn hóa quy mô xuất hiện trước đó (không phải với các ý thức hệ chính trị được duy trì một cách tự giác) mà nhờ có chúng – cũng như chống lại chúng – chủ nghĩa dân tộc mới tồn tại được.

Hai hệ thống văn hóa có liên quan đến mục đích thảo luận hiện tại của chúng ta là cộng đồng tôn giáovương triều. Sở dĩ như thế là vì hai hệ thống này, trong thời hoàng kim của chúng, là những khung tham chiếu đương nhiên, rất giống với dân tộc (nationality) ngày nay. Bởi vậy, điều quan trọng là phải xem xét điều gì đã đem đến cho những hệ thống văn hóa này tính hợp thức mặc nhiên của chúng, đồng thời cũng chỉ ra những yếu tố cơ bản dẫn đến quá trình chúng giải thể.

Cộng đồng tôn giáo

Không gì ấn tượng hơn phạm vi lãnh thổ rộng lớn của cộng đồng Hồi giáo từ Morocco đến Quần đảo Sulu, của người Thiên chúa giáo từ Paraguay đến Nhật Bản và thế giới Phật giáo từ Sri Lanka đến bán đảo Triều Tiên. Những nền văn hóa thiêng vĩ đại (do mục đích thảo luận của chúng ta ở đây, có thể chấp nhận cả “Nho giáo”) đều bao hàm các khái niệm về những cộng đồng rộng lớn. Tuy nhiên sở dĩ cộng đồng Thiên chúa, cộng đồng Hồi giáo và thậm chí cả Trung Quốc (tuy ngày nay chúng ta coi Trung Quốc là Trung Hoa, nhưng quá khứ nó hình dung mình không phải là Trung Hoa mà là trung tâm) có thể được tưởng tượng nên chủ yếu là nhờ vai trò trung gian của các ngôn ngữ thiêng và hệ thống chữ viết. Chỉ cần lấy một ví dụ về đạo Hồi: nếu người Maguindanao gặp người Berber ở Mecca, không hề biết ngôn ngữ của nhau, không thể giao tiếp bằng lời, nhưng họ vẫn hiểu được các ký tự của nhau, bởi lẽ các thánh thư mà họ dùng chung chỉ tồn tại trong tiếng Arab cổ điển. Trong ý nghĩa này, tiếng Arab văn bản vận hành giống như các ký tự Hán văn nhằm tạo nên một cộng đồng bằng ký hiệu, không phải bằng âm thanh. (Bởi vậy ngày nay ngôn ngữ toán vẫn tiếp tục truyền thống cũ. Người Rumania không biết âm đọc mà người Thái dùng để gọi dấu + và ngược lại, song cả hai đều hiểu được ký hiệu này). Tất cả các cộng đồng lớn và lâu đời đều coi mình là trung tâm vũ trụ, thông qua vai trò trung gian của một ngôn ngữ thiêng có can hệ tới một trật tự quyền lực siêu nhiên nào đấy. Do đó phạm vi mở rộng của tiếng Latin, tiếng Pali, tiếng Arab hay tiếng Hán, về mặt lý thuyết, đều không bị giới hạn. (Trên thực tế ngôn ngữ viết càng trở thành từ ngữ – tức càng tách ra khỏi lời nói – thì càng tốt: về mặt nguyên tắc bất cứ ai cũng có thể tiếp cận một thế giới ký hiệu thuần túy).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần cuối


Tóm lại, từ đầu bài cho đến giờ, chúng ta có thể nhận thấy hàng loạt các hệ thống sinh sản khác nhau ở các loài động vật như hệ thống sinh sản đơn thê, tạp hôn, các kiểu hậu cung, vân vân, có thể hiểu được dựa trên khía cạnh xung đột lợi ích giữa các cá thể đực và cá thể cái. Các cá thể ở cả hai giới đều “mong muốn” cực đại hóa sản phẩm sinh sản của chúng trong suốt quãng đời của mình. Do sự khác biệt cơ bản giữa kích thước và số lượng của tinh trùng và trứng, cá thể đực nói chung có lẽ thiên về tập tính tạp hôn và thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái. Cá thể cái có hai thủ đoạn đối phó chính, hai thủ đoạn đó là chiến lược anh ta-người được lựa chọnthuần hóa-hạnh phúc. Hoàn cảnh sinh thái của một loài sẽ quyết định liệu cá thể cái có thiên về một trong số các thủ đoạn đối phó đó hay không, và cũng sẽ quyết định cách thức cá thể đực phản ứng lại. Và như chúng ta đã thấy, trong thực tế, tất cả các dạng trung gian giữa chiến lược anh ta-người được lựa chọn thuần hóa-hạnh phúc đã được tìm thấy, có những trường hợp mà cá thể đực thực hiện việc chăm sóc con non nhiều hơn cả cá thể cái. Chúng tôi không bàn chi tiết về các loài động vật cụ thể, do vậy tôi sẽ không bàn luận về những điều có thể làm cho một loài thực hiện một dạng này trong số các hệ thống sinh sản chứ không phải là dạng khác. Thay vào đó, tôi sẽ cân nhắc sự khác biệt thường thấy giữa các cá thể đực và các cá thể cái nói chung, và chỉ ra cách giải thích những khác biệt đó. Do đó, tôi sẽ không nhấn mạnh các loài động vật có sự khác biệt rất ít giữa các giới tính mà chú ý đến cá thể cái ưa thích chiến lược thuần hóa-hạnh phúc.

Trước tiên, cá thể đực có khuynh hướng ham thích màu mè lòe loẹt và tạo sự hấp dẫn giới tính, cá thể cái có vẻ như tẻ nhạt hơn. Các cá thể ở hai giới tính đều muốn tránh những kẻ săn mồi, và vì vậy một vài áp lực tiến hóa đối với cả hai giới xuất hiện buộc chúng phải có màu xám. Các màu rực rỡ cũng cuốn hút kẻ săn mồi không kém gì khi chúng hấp dẫn những cá thể khác giới. Trong ngôn ngữ di truyền, điều này có nghĩa rằng các gen quy định màu sắc rực rỡ có lẽ hợp với kết cục phải ở trong bụng của kẻ săn mồi hơn so với các gen quy định màu xám. Mặt khác, các gen quy định màu xám ít có khả năng được tìm thấy ở thế hệ kế tiếp hơn các gen quy định màu sắc rực rỡ, bởi vì các cá thể màu xám gặp khó khăn trong việc hấp dẫn bạn tình. Do đó, hai áp lực chọn lọc xung đột sẽ tồn tại: kẻ săn mồi có khuynh hướng loại bỏ các gen quy định màu xám. Cũng như trong nhiều trường hợp khác, các cỗ máy sống hiệu quả có thể được xem như một sự thỏa hiệp giữa các áp lực chọn lọc xung đột. Điều gây hứng thú cho chúng ta lúc này là sự thỏa hiệp tối ưu cho cá thể cái. Dĩ nhiên, điều đó sẽ tương thích hoàn toàn với quan điểm các cá thể đực là những con bạc với rủi-ro-cao, phần-thưởng-lớn. Do một cá thể đực sản sinh hàng triệu tinh trùng cho mỗi quả trứng của một cá thể cái nên các tinh trùng có số lượng lớn hơn rất nhiều so với số trứng trong quần thể. Vì thế, bất kỳ một quả trứng nhất định nào cũng có nhiều khả năng tham dự vào quá trình hợp nhất các tế bào sinh sản hơn so với một tinh trùng. Trứng là một nguồn tài nguyên tương đối có giá, và do đó một cá thể cái không cần phải trở nên quá hấp dẫn đối với giới khác như cá thể đực đã làm để đảm bảo cho trứng được thụ tinh. Mặc dù, cá thể đực có đời sống ngắn ngủi bởi vì cái đuôi lòe loẹt của nó thu hút kẻ săn mồi hoặc bị vướng trong bụi rậm, nhưng nó vẫn có thể trở thành cha của rất nhiều con non trước khi chết. Một cá thể đực không hấp dẫn hoặc xám màu thậm chí có thể sống lâu bằng một cá thể cái, nhưng nó có ít con non và gen của nó không được truyền lại. Điều gì sẽ đem lại lợi ích cho một cá thể đực nếu nó chiếm hữu cả thế giới và mất đi gen bất tử của mình?

Sự khác biệt giới tính thường thấy nữa là các cá thể cái kén chọn đối tượng mà nó sẽ giao phối hơn so với các cá thể đực. Một trong số những lý do cho tính cầu kỳ của một trong hai giới đó là sự cần thei61t trong việc tránh cặp đôi với một thành viên của một loài khác. Sự lai tạp như vậy là một điều tồi tệ vì rất nhiều lý do. Đôi khi, như trong trường hợp một người đàn ông giao phối với một con cừu, sự giao phối này sẽ không hình thành một phôi thai, và như vậy sẽ không mất mát gì nhiều. Tuy nhiên, khi các loài có quan hệ gần gũi hơn như ngựa và lừa lai với nhau, cái giá phải trả có thể là đáng kể, chí ít cũng là đối với cá thể cái. Một cái phôi cho ra con la có thể được hình thành và sau đó nằm trong bụng của cá thể cái khoảng 11 tháng. Nó chiếm một lượng lớn trong tổng mức “sự đầu tư của cha mẹ” của cá thể cái, không chỉ ở dạng thức ăn được hấp thụ qua nhau thai và sau đó là ở dạng sữa, mà trên hết là thời gian mà cá thể cái có thể dùng để nuôi nâng những đứa con khác. Sau đó, khi con la đến tuổi trưởng thành, hóa ra nó lại vô sinh. Điều này có thể là vì các nhiễm sắc thể của ngựa và lừa không đủ tương đồng để hoạt động cùng nhau một cách thích hợp trong giảm phân, mặc dù chúng đủ tương đồng để phối hợp xây dựng nên cơ thể một con la khỏe mạnh. Dù cho bất kể lý do chính xác nào, sự đầu tư rất đáng kể của cá thể mẹ trong việc nuôi dạy con la là hoàn toàn lãng phí nếu nhìn từ khía cạnh các gen của nó. Con ngựa cái nên rất, rất cẩn thận để đảm bảo rằng cá thể mà nó giao phối là một con ngựa khác chứ không phải là một con lừa. Về mặt gen, bất kỳ gen nào của ngựa mà quy định “này cơ thể, nếu ngươi là cái, hãy giao phối với bất kỳ cá thể đực già nào, bất kể kẻ đó là lừa hay ngựa” là một gen có thể sẽ ở trong cơ thể một con la ở thế hệ kế tiếp, không lối thoát, và sự đầu tư chăm sóc của cá thể mẹ vào con la non sẽ lấy đi rất nhiều “sự đầu tư của cha mẹ” vào những con ngựa non tiềm năng khác. Mặt khác, một cá thể đực có ít thứ để mất hơn nếu như nó có giao phối với một thành viên khác loài, và mặc dù nó có thể cũng không thu được điều gì, chúng ta vẫn lường trước rằng cá thể đực ít cầu kỳ hơn trong sự lựa chọn bạn tình. Xem xét điều này ở bất kỳ đâu, chúng ta đều thấy nó đúng.

Thậm chí ở trong cùng một loài, chúng ta cũng vẫn tìm thấy nguyên do của tính cầu kỳ trong sự lựa chọn bạn tình. Giống như sự lai giống, giao phối loạn luân có thể gây ra những tổn hại di truyền. Trong trường hợp này, nguyên nhân là vì các gen lặn gây chết và chết gián tiếp được tập hợp lại và hoạt động. Một lần nữa, cá thể cái có nhiều điều để mất hơn cá thể đực, bởi vì sự đầu tư của nó vào bất kỳ một đứa con cụ thể nào cũng đều có khuynh hướng lớn hơn. Ở những nơi mà sự cấm kị loạn luân tồn tại, chúng ta cần lường trước rằng cá thể cái sẽ cứng nhắc hơn trong việc vi phạm điều cấm kỵ so với cá thể đực. Nếu chúng ta giả định rằng bạn tình già hơn trong mối quan hệ loạn luân có khả năng là kẻ khởi xướng chủ động, chúng ta nên lường trước rằng hôn nhân loạn luân trong đó cá thể đực già hơn cá thể cái thường thấy hơn hôn nhân loạn luân mà cá thể cái già hơn. Ví dụ sự loạn luân cha/con gái phải thường thấy hơn giữa mẹ/con trai. Loạn luân anh/em gái sẽ là trung gian trong các trường hợp thông thường. Nói chung, các cá thể đực có khuynh hướng giao phối bừa bãi hơn các cá thể cái. Bởi vì các cá thể cái sản sinh một lượng trứng giới hạn với một tốc độ tương đối chậm, nên nó thu được ít hơn từ việc giao phối nhiều lần với các cá thể đực khác nhau. Mặt khác, cá thể đực có thể sản sinh hàng triệu tinh trùng mỗi ngày sẽ thu được mọi thứ từ nhiều lần giao phối bừa bãi của nó. Giao phối quá giới hạn thực tế có thể không gây tổn thất nhiều cho cá thể cái, chỉ mất một chút thời gian và năng lượng, nhưng chúng cũng không tạo nên điều gì tích cực cho nó. Mặt khác, cá thể đực có thể chẳng bao giờ cảm thấy giao phối là đủ với tất cả các cá thể cái mà nó có thể có: từ “quá nhiều” không có ý nghĩa gì đối với cá thể đực.

Tôi đã không trình bày một cách rõ ràng về con người nhưng chắc chắn là khi chúng ta nghĩ đến những lập luận về tiến hóa như những điều tôi trình bày trong bài này, chúng ta không thể không nghĩ về chính loài người và những trải nghiệm của bản thân chúng ta. Các khái niệm về việc cá thể cái từ chối giao phối cho đến khi cá thể đực thể hiện một vài bằng chứng về lòng trung thành lâu dài có thể đánh đúng vào tình cảm quen thuộc của chúng ta. Điều đó có thể cho thấy rằng phụ nữ thường dùng chiến thuật thuần hóa-hạnh phúc hơn là chiến thuật anh ta-người được lựa chọn. Nhiều xã hội loài người thực tế là xã hội một vợ một chồng. Trong xã hội của chúng ta, “sự đầu tư của cha mẹ” ở cả cha và mẹ là lớn và không mất cân đối rõ rệt. Người mẹ chắc chắn làm nhiều việc trực tiếp hơn so với người cha, nhưng người cha thường làm việc chăm chỉ một cách gián tiếp hơn để cung cấp các nguồn tài nguyên vật chất chu toàn cho con cái. Mặt khác, một vài xã hội loài người là xã hội tạp hôn và nhiều xã hội dựa trên cơ sở hậu cung. Sự đa dạng đáng kinh ngạc đó cho thấy rằng phương thức sống còn của con người được xác định phần lớn là nhờ văn hóa chứ không phải thông qua các gen. Tuy nhiên, như chúng ta đã dự đoán trên cơ sở tiến hóa, việc người đàn ông nói chung có khuynh hướng hướng tính tạp hôn, và người phụ nữ hướng tới gia đình một vợ một chồng là có thể xảy ra. Khuynh hướng nào trong số các khuynh hướng ấy sẽ giành thắng lợi trong các xã hội cụ thể sẽ phụ thuộc vào đặc điểm chi tiết của hoàn cảnh văn hóa, cũng như là nó phụ thuộc vào đặc điểm chi tiết của các hệ sinh thái ở các loài động vật khác.

Một đặc điểm dường như được xem là bất thường của xã hội chúng ta là vấn đề phô trương giới tính. Như chúng ta vừa thấy, chúng ta phải kỳ vọng rằng trên cơ sở tiến hóa, ở đâu có sự phân biệt giới tính thì ở đó cá thể đực thích phô trương và cá thể cái là tẻ nhạt. Người phương Tây hiện đại chắc chắn là ngoại lệ trong khía cạnh này. Dĩ nhiên, một vài người đàn ông ăn mặc lòe loẹt và một vài phụ nữ ăn mặc xấu xí là chuyện có thật, nhưng tính trung bình thì trong xã hội của chúng ta những điều tương tự với đuôi của con công đực lại được xuất hiện ở nữ giới, chứ không phải ở nam giới. Phụ nữ trang điểm khuôn mặt của họ và đeo mí mắt giả. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như các diễn viên, đàn ông không làm vậy. Phụ nữ dường như quan tâm đến ngoại hình cá nhân của chính họ và được khuyến khích làm như vậy thông qua tạp chí và báo chí. Tạp chí của đàn ông ít bị chiếm chỗ bởi những điều gợi cảm ở nam giới, và một người đàn ông tỏ thái độ quan tâm bất thường đến cách ăn mặc và ngoại hình của mình có thể gây nghi ngờ cho cả nam giới và nữ giới. Khi chúng ta mô tả về một phụ nữ trong câu chuyện hàng ngày, có lẽ rằng vẻ đẹp gợi cảm, hoặc là không có vẻ đẹp, của cô ấy sẽ là chủ đề chính. Điều đó là sự thật, cho dù những người đang nói chuyện là đàn ông hay đàn bà. Khi nói về đàn ông, tính từ thường dùng có lẽ chẳng liên quan gì đến sự gợi cảm.

Khi đối mặt với những sự thật này, nhà isnh học sẽ buộc phải nghi ngờ rằng anh ta đang xem xét một xã hội mà ở đấy cá thể cái sẽ cạnh tranh để tranh giành cá thể đực, chứ không phải là ngược lại. Trong trường hợp chim thiên đường, chúng ta đã quyết định cá thể cái là xấu xí bởi vì chúng không cần cạnh tranh để giành giật các cá thể đực. Cá thể đực bảnh bao và thích phô trương bởi vì cá thể cái được nhiều cá thể đực ưa chuộng và có thể có quyền kén chọn. Lý do mà chim thiên đường mái được nhiều chim trống ưa chuộng là trứng của nó trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm hơn so với tinh trùng Điều gì đã xảy ra ở người phương Tây hiện đại? Có phải đàn ông thực sự đã trở thành giới tính được săn đón, giới tính được những kẻ khác giới ưa chuộng, giới tính có quyền kén chọn? Nếu như vậy, thì tại sao?

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần VII


Do đó, sự lãng phí như đuôi của chim thiên đường trống có thể đã tiến hóa nhờ một kiểu quá trình bỏ chạy không ổn định. Ở thuở ban đầu, đuôi dài hơn một chút so với bình thường có thể đã được các chim mái chọn làm phẩm chất mong muốn ở chim trống, có lẽ bởi vì nó báo hiệu một thể chất khỏe mạnh và sung sức. Đuôi ngắn ở chim trống có lẽ biểu hiện của sự thiết một vài vitamin – bằng chứng của khả năng kiếm được ít thức ăn. Hoặc có lẽ những con chim trống đuôi ngắn không giỏi trong việc chạy trốn khỏi kẻ săn mồi, và do đó đuôi của chúng đã bị cắn đứt. Hãy chú ý, chúng ta không phải giả  thiết rằng đuôi ngắn là đặc điểm di truyền được truyền lại, mà nó có vai trò như một yếu tố chỉ thị một vài tính chất di truyền thấp hơn. Dù sao đi nữa, vì bất cứ lý do gì, chúng ta hãy cứ cho rằng các con chim mái ở loài chim thiên đường cổ đại đã thích tìm đến với những con chim trống có đuôi dài hơn kích thước trung bình. Miễn là những biến đổi tự nhiên về chiều dài đuôi chim trống có một vài liến quan đến di truyền, theo thời gian, điều này sẽ làm cho đuôi chim trống trong quần thể dài thêm. Các con chim mái đã tuân theo một quy luậ đơn giản: quan sát tất cả các con chim trống và tìm đến con trống có đuôi dài nhất. Bất kỳ con mái nào không thực hiện theo quy luật này sẽ bị trừng phạt, mặc dù cái đuôi đã trở thành quá dài đến nỗi chúng gây vướng víu cho chính những kẻ sở hữu chúng. Nguyên nhân của điều này là vì bất cứ một con mái nào không sinh được chim trống có đuôi dài đều khiến cho nó ít có cơ hội trở thành kẻ hấp dẫn. Giống như thời trang quần áo của phụ nữ, hoặc thời trang về thiết kế xe hơi ở Mỹ, khuynh hướng nghiêng về những cái đuôi dài đã diễn ra và đã tạo thành phong trào của riêng mình. Nó chỉ bị dừng lại khi cái đuôi dài đến mức kỳ cục và những bất lợi hiển nhiên của chúng bắt đầu vượt xa lợi thế về sự hấp dẫn giới tính.

Đây là một ý tưởng khó có thể chấp nhận, và nó đã gây ra nhiều nghi ngờ từ lúc Darwin đề cập lần đầu tiên dưới cái tên là chọn lọc giới tính. A. Zahavi là người không tin vào giả thuyết này. Ông cũng là người đưa ra thuyết “cáo, cáo” mà chúng ta đã đề cập đến. Nguyên lý “vật cản” đối lập đầy điên rồ được A. Zahavi đề xuất để giải thích hiện tượng trên. Ông ta chỉ ra rằng sự kiện cá thể cái đang cố gắng lựa chọn những gen tốt giữa những cá thể đực sẽ mở ra cơ hội cho sự dối trá ở những cá thể đực. Các cơ bắp khỏe mạnh có thể là một phẩm chất tốt thực thụ để cá thể cái lựa chọn, nhưng vậy điều gì sẽ ngăn chặn cá thể đực không phát triển các cơ bắp giả chẳng khác gì các bả vai được lót đệm ở người? Nếu hình thành các cơ giả ở cá thể đực ít tốm kém hơn các cơ thật, chọn lọc giới tính sẽ phải ưu đãi các gen quy định hình thành các cơ giả. Tuy nhiên, điều này sẽ không thể kéo dài vì sự chọn-lọc-chống-đối sẽ tạo ra những cá thể cái có khả năng phát hiện sự dối trá. Tiền đề cơ bản của Zahavi là sự quảng bá giới tính gian dối cuối cùng sẽ bị các cá thể cái phát hiện. Do đó, ông ta kết luận rằng các cá thể đực thành công thực sự sẽ là những cá thể không quảng bá một cách dối trá, mà thể hiện rõ ràng rằng chúng không lừa dối. Nếu đặc điểm cơ bắp khỏe mạnh là điều chúng ta đang bàn luận, vậy thì những cá thể đực chỉ làm ra vẻ có ngoại hình cơ bắp sẽ sớm bị cá thể cái phát hiện. Nhưng, một khi cá thể đực chứng minh nó có cơ bắp thực thụ bằng cách nâng tạ hoặc khoe khoang chống đẩy, nó sẽ thành công trong việc thuyết phục các cá thể cái. Nói cách khác, Zahavi tin rằng cá thể anh-ta-người-được-lựa-chọn không chỉ phải là một cá thể đực có phẩm chất tốt và phẩm chất tốt đấy phải là thực sự, nếu không nó sẽ không được các cá thể cái có tính nghi ngờ chấp nhận. Do vậy phô trương sẽ tiến hóa để chỉ một cá thể anh ta-người được lựa chọn chân thật có khả năng làm được điều đó.

Cho đến thời điểm hiện tại mọi việc đều tốt. Bây giờ sẽ đến phần thực sự khó có thể chấp nhận trong lý thuyết của Zahavi. Ông ta gợi ý răng đuôi của những con chim thiên đường, chim công, các gạc lớn ở loài hươu, các đặc điểm chọn lọc giới tính khác, những điều dường như luôn luôn đối nghịch vì trông chúng có vẻ như là những vật cản cho chủ nhân của chúng, trên thực tế sẽ luôn tiến hóa bởi chúng là những vật cản. Một con chim đực có đuôi dài và cồng kềnh đang khoe với những cá thể cái rằng nó là một cá thể anh ta-người được lựa chọn mạnh mẽ, mạnh mẽ đến mức mà nó vẫn có thể sống sót bất kể cái đuôi cồng kềnh của mình. Hãy nghĩ về một người phụ nữ đang quan sát hai người đàn ông chạy đua. Nếu cả hai cán đích cùng một thời điểm, nhưng một người đã cố ý làm khó mình với một chồng than trên lưng, người phụ nữ này tự nhiên sẽ đưa ra kết luận rằng người đàn ông gánh nặng thực sự là kẻ chạy nhanh hơn.

Tôi không tin vào lý thuyết này, mặc dù tôi không tin lắm vào sự nghi ngờ của mình khi mới nghe đến nó lần đầu. Khi đó tôi đã chỉ ra rằng kết luận logic của nó sẽ phải là tiến hóa tạo ra những cá thể đực chỉ có một chân và một mắt. Zahavi, xuất thân từ Israel, đã ngay lập tức bác lại: “một vài trong số các vị tướng giỏi nhất của chúng ta chỉ có một mắt!” Tuy nhiên, vấn đề còn tồn tại là lý thuyết vật cản đường dường như chứa đựng một sự nghịch lý cơ bản. Nếu vật cản là một vật thích hợp, và cốt lõi của lý thuyết là nó phải là một vật thích hợp, thì bản thân vật cản sẽ trừng phạt con cháu một cách chắc chắn như là nó có thể hấp dẫn cá thể cái. Trong mọi trường hợp, điều quan trọng là vật cản phải không được truyền lại cho con cái non.

Nếu chúng ta trình bày lại lý thuyết vật cản theo ngôn ngữ của các gen, chúng ta sẽ có một điều tương tự như sau. Gen khiến cá thể đực hình thành vật cản, chẳng hạn như một cái đuôi dài, trở nên phổ biến trong vốn gen bởi vì các cá thể cái lựa chọn các cá thể đực có vật cản. Nguyên nhân ở đây là các gen quy định cá thể cái lựa chọn như vậy trở nên thường gặp trong vốn gen. Các cá thể cái thích cá thể đực có vật cản sẽ tự động có khuynh hướng lựa chọn cá thể đực này đã sống sót đến lúc trưởng thành mặc dù chúng có vật cản. Các gen tốt khác sẽ có ích cho cơ thể của những con non, do đó chúng có thể sống sót để phổ biến gen quy định vật cản, bên cạnh đó chúng cũng có ích cho các gen quy định chọn lựa các cá thể đực có vật cản. Lý thuyết này chỉ có thể áp dụng trong trường hợp các gen quy định vật cản chỉ ảnh hưởng đến các cá thể đực con, cũng như các gen quy định ưa chuộng các cá thể khác giới có vật cản chỉ tác động lên các con non cái. Nhưng khi lý thuyết này được trình bày bằng lời, chúng ta không thể đảm bảo liệu nó có áp dụng được hay không. Chúng ta sẽ hình dung tính khả thi của những lý thuyết như vậy tốt hơn kkhi nó được diễn đạt lại trên phương diện mô hình toán học. Cho đến nay, các nhà toán học di truyền đã thất bại khi cố gắng đưa nguyên tắc vật cản vào một mô hình có thể áp dụng. Điều này có thể là do lý thuyết đó không phải là nguyên tắc có thể áp dụng, hoặc nó có thể là vì họ chưa đủ thông minh để tạo ra đúng mô hình. Nhưng mà một trong số những nhà toán học di truyền đó lại là Maynard Smith, và linh cảm của tôi nghiêng về khả năng trước.

Nếu cá thể đực có thể thể hiện sự vượt trội của nó so với các cá thể đực khác theo cách không liên quan đến việc cố ý tạo vật cản cho mình, chắc chắn rằng cá thể đực này có thể làm tăng khả năng thành công của nó về mặt di truyền theo cách đấy. Do đó, những con hải cẩu voi chiến thắng và giữ được bầy hậu cung của chúng, không phải bằng cách tạo sự hấp dẫn bề ngoài đối với các cá thể cái, mà đơn giản là bằng hành động, đánh bại bất cứ một cá thể đực nào đang cố gắng tiếp cận. Những kẻ chiếm giữ hậu cung có khuynh hướng chiến thắng trong các cuộc chiến chống lại kẻ-có thể tiếm quyền, chỉ vì một lý do đơn giản: đây là nguyên nhân tại sao chúng lại là những kẻ nắm giữ hậu cung. Những kẻ tiếm quyền thường không giành thắng lợi trong các cuộc chiến, bởi vì nếu chúng có khả năng chiến thắng thì chúng đã làm được điều đó trước đây! Do vậy, bất kỳ cá thể cái nào chỉ cặp đối với một kẻ nắm giữ hậu cung, nó sẽ gắn các gen của mình với một cá thể đực đủ mạnh để đánh bại tất cải những thách thức liên tiếp từ vô số cá thể đực đơn độc liều mạng. Nếu may mắn, những con non của cá thể cái sẽ thừa hưởng khả năng chiếm giữ hậu cung của cá thể đực đó. Trong thực tế, hải cẩu voi cái không có nhiều lựa chọn, bởi vì ông chủ hậu cung sẽ tấn công nó nếu nó ly khai. Tuy nhiên, nguyên tắc đó vẫn duy trì, các cá thể cái chọn cách cặp đôi với cá thể đực giành thắng lợi trong các cuộc chiến, bằng cách làm như vậy, có thể mang lại nhiều lợi ích cho gen của chúng. Như chúng ta đã thấy, các cá thể cái thường thích cặp đôi với các cá thể đực chiếm giữ các vùng lãnh thổ và cũng ưu tiên các cá thể đực có vị trí cao trong quần thể có thứ bậc thống trị.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần VI


Để đơn giản hóa, tôi đã coi như cá thể đực chỉ đơn thuần là trung thực hoặc hoàn toàn dối trá. Trong thực tế, một khả năng dễ xảy ra hơn là tất cả các cá thể đực, thực ra là tất cả các cá thể riêng lẻ, đều dối trá đôi chút. Theo cách đó chúng đều được lập trình để tận dụng các cơ hội khai thác bạn tình của mình. Chọn lọc tự nhiên, bằng cách mài sắc khả năng khám phá sự không trung thực của mỗi cá thể đối với cá thể khác, đã giữ cho sự dối trá ở tỉ lệ cao giảm xuống một mức tương đối thấp. Các cá thể đực thu lợi từ sự không trung thực nhiều hơn so với cá thể cái, và chúng ta phải lường trước được rằng, thậm chí ở những loài mà cá thể đực thể hiện tính vị tha đáng kể trong việc nuôi dạy con cái, chúng sẽ luôn luôn có khuynh hướng làm việc ít hơn một chút so với cá thể cái, và sẵn sàng lẩn trốn hơn. Ở các loài chim và động vật có vú, đây là trường hợp thường gặp.

Tuy nhiên, thực tế ở một số loài, cá thể đực chăm sóc con non nhiều hơn so với cá thể cái. Những trường hợp tận tâm của người cha thường cực kỳ hiếm ở các loài chim và động vật có vú, nhưng lại rất thường gặp ở loài cá. Tại sao lại như vậy? Đây là một thách thức đối với lý thuyết gen vị kỷ, điều đã gây khó dễ cho tôi một khoảng thời gian dài. Cô T.R. Carlisle trong một bài giảng gần đây đã gợi ý cho tôi một lời giải thông minh. Cô ấy đã sử dụng ý tưởng “sự gắn bó bắt buộc” của Trivers, được đề cập ở trên. Ý tưởng của cô ấy như sau.

Nhiều loài cá không giao phối, nhưng thay vào đó sẽ phun các tế bào sinh sản của chúng vào môi trường nước. Sự thụ tinh diễn ra ở môi trường nước bên ngoài, không phải ở bên trong cơ thể của cá thể mẹ hoặc bố. Có lẽ đây là cách sinh sản hữu tính được thực hiện lúc ban đầu. Mặt khác động vật trên cạn như chim, động vật có vú và bò sát, không thể đảm bảo cho kiểu thụ tinh ngoài như vậy bởi vì các tế bào sinh sản rất dễ bị khô. Các giao tử của một giới tính, chẳng hạn cá thể đực, được đưa vào phần ẩm ướt bên trong của thành viên khác giới, cá thể cái bởi vì các tinh trùng có khả năng di động. Tất cả chỉ là sự kiện. Bây giờ tôi sẽ đề cập đến ý tưởng. Sau khi giao phối cá thể cái sống trên cạn bị bỏ lại với cái thai. Cái thai ở bên trong cơ thể cái. Mặc dù cá thể cái gần như ngay lập tức đẻ ra quả trứng đã thụ tinh, nhưng cá thể đực vẫn có đủ thời gian để biến mất, bằng cách đó buộc cá thể cái rơi vào hoàn cảnh như ý tưởng “sự gắn bó bắt buộc” của Trivers. Cá thể đực chắc chắn có được cơ hội có quyền quyết định bỏ rơi trước, khép lại khả năng chọn lựa của cá thể cái, và buộc cá thể cái phải quyết định có nên để mặc con non chế dần hay ở lại và nuôi nấng nó. Do đó, sự chăm sóc con non ở các loài động vật trên cạn thường gặp với cá thể cái hơn là cá thể đực.

Nhưng đối với cá và những động vật khác sống dưới nước, sự việc lại rất khác. Nếu cá thể đực không đưa trực tiếp tinh trùng của nó vào cơ thể của cá thể cái thì chiều hướng cá thể cái bị bỏ mặc để “nuôi giữ con non” là không cần thiết. Một trong hai con có thể chạy trốn và bỏ con khác lại với nhiệm vụ trông giữ trứng mới thụ tinh. Nhưng ở đây, cá thể đực có thể lại là cá thể dễ bị bỏ rơi lại nhất, lý do có thể giải thích cho điều này như sau. Dường như cuộc chiến tiến hóa đã nghiêng về phía kẻ đầu tiên đưa ra các tế bào sinh sản của chúng. Đối tác thực hiện điều này sẽ có lợi thế ở chỗ nó có thể bỏ rơi bạn tình của mình ngay sau đó, để nó một mình trông coi những cái thai mới. Mặt khác, đối tác đẻ trứng đầu tiên sẽ phải đối mặt với nguy cơ bạn tình tiềm năng của nó có thể sẽ không thực hiện bước thụ tinh cho trứng sau đó. Lúc này, cá thể đực là kẻ dễ bị bỏ rơi hơn, chỉ vì các tinh trùng nhẹ hơn và dễ có khả năng phát tán hơn trứng. Nếu một cá thể cái đẻ trứng quá sớm, ví dụ trước khi cá thể đực sẵn sàng, thì cũng không phải là vấn đề lớn lắm bởi vì trứng tương đối to và nặng nên chúng có khả năng gắn kết với nhau tạo thành ổ trong một khoảng thời gian. Do đó, con cái có thể sẵn sàng chấp nhận “rủi ro” từ việc đẻ trứng quá sớm thì tinh trùng của nó sẽ phát tán đi ngay trước khi cá thể cái sẵn sàng thụ tinh và sau đó có thể cái sẽ không đẻ trứng bởi vì chẳng có ý nghĩa gì khi cá thể cái làm như vậy. Do vấn đề phát tán, cá thể đực phải đợi cho đến khi cá thể cái đẻ trứng, và sau đó nó phải tưới tinh trùng của nó lên đám trứng. Nhưng cá thể cái đã có được vài giây quý giá để có thể bơi đi mất, bỏ cá thể đực ở lại trông đám trứng đã thụ tinh và buộc cá thể đực rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan mà Trivers đã đưa ra. Vậy thì, lý thuyết này giải thích một cách gọn gàng việc vì sao sự chăm sóc con non ở cá thể đực thường thấy ở những loài sống dưới nước hơn ở những loài sống trên cạn.

Bỏ qua cá, bây giờ tôi quay trở lại với một chiến lược chủ yếu khác của cá thể cái, chiến lược anh ta-người được lựa chọn. Ở những loài mà chiến lược này được áp dụng, vì mục đích của nó, cá thể cái từ bỏ việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ cha của những đứa con của chúng, và thay vào đó là tìm kiếm bằng mọi giá các gen tốt. Một lẫn nữa chúng sẽ sử dụng vũ khí từ chối giao phối của mình. Chúng sẽ từ chối cặp đôi với bất kỳ cá thể đực nào, nhưng sẽ thể hiện sự thận trọng và phân biệt cực điểm trước khi cho phép cá thể đực giao phối. Một vài cá thể đực chắc chắn sẽ có một lượng lớn gen tốt hơn các cá thể đực khác, các gen sẽ đảm bảo cho khả năng sống sót của cả những con bất kể đực, cái. Nếu một cá thể cái, bằng cách nào đó phát hiện được các gen tốt ở cá thể đực qua những dấu hiệu có thể nhìn thấy bên ngoài, cá thể cái đó có thể đem lại lợi ích cho các gen của nó bằng cách kết hợp chúng với những gen tốt đó. Nếu sử dụng thuật ngữ tương đồng của chúng ta là các đội chèo, thì một cá thể cái có thể giảm thiểu khả năng các gen của nó sẽ bị gục ngã vì có bạn đồng hành kém cỏi. Nó có thể cố gắng chọn lấy những bạn chèo tốt cho các gen của nó.

Do các cá thể cái đều có chung thông tin, nên nhiều khả năng chúng cũng đưa ra những ý kiến giống nhau về những cá thể đực tốt nhất. Do đó, một số cá thể đực may mắn này sẽ thực hiện phần lớn các cuộc giao phối. Chúng hoàn toàn có khả năng làm điều này vì tất cả những gì mà chúng phải trao cho mỗi cá thể cái chỉ là một vài tinh trùng rẻ rung. Đây cũng là sự giả định những điều đã xảy ra trong các quần thể hải cẩu voi và chim thiên đường. Các cá thể cái chỉ cho phép một vài cá thể đực trốn đi cùng với chiến lược khai thác vị kỷ lý tưởng này, chiến lược mà tất cả các cá thể đực khao khát thực hiện, nhưng các cá thể cái sẽ đảm bảo rằng chỉ những cá thể đực tốt nhất được hưởng sự xa hoa đó.

Theo quan điểm của một cá thể cái đang cố gắng chọn ra các gen tốt để cùng đồng hành với các gen của nó, thì nó sẽ tìm kiếm điều gì? Một điều mà nó muốn sẽ là bằng chứng về khả năng sống sót. Rõ ràng, bất kỳ cá thể đực tiềm năng nào, kẻ đang ve vãn cá thể cái, cũng đã chứng tỏ khả năng sống sót của nó ít ra là cho đến lúc trưởng thành, nhưng cá thể đực không cần phải chứng tỏ rằng nó có thể sống lâu hơn. Một chính sách tương đối tốt cho cá thể cái có thể là đi tìm những cá thể đực già. Cho dù khuyết điểm của cá thể già này là gì đi nữa thì ít ra chúng đã chứng tỏ rằng chúng có thể sống sót, và cá thể cái có thể để gen của nó đồng hành với các gen quy định sự trường thọ. Tuy nhiên, nếu những đứa con của cá thể cái này không thể sinh ra nhiều cháu cho nó thì cũng không có gì đảm bảo rằng chúng sẽ sống lâu. Sự trường thọ không phải là bằng chứng bề ngoài cho khả năng sinh sản của cá thể đực. Thực vậy, một cá thể đực sống lâu được có thể bởi vì nó không phải mạo hiểm để sinh sản. Một cá thể cái chọn một cá thể đực già sẽ không hoàn toàn chắc chắn sẽ có nhiều con cháu hơn một cá thể cái đối thủ, kẻ sẽ chọn một bạn tình trẻ hơn và có một vài bằng chứng khác của các gen tốt.

Vậy thì những bằng chứng khác là gì? Có rất nhiều khả năng, có thể là cơ bắp khỏe mạnh, bằng chứng cho khả năng bắt mồi, có thể là chân dài, bằng chứng cho khả năng chạy trốn kẻ săn mồi. Một cá thể cái có thể thu lợi cho gen của nó bằng cách để gen của mình đồng hành với các đặc tính như vậy, bởi vì chúng có thể là những phẩm chất hữu ích cho các con của nó, bất kể đực cái. Vậy thì để bắt đầu, chúng ta phải hình dung các cá thể cái đang lựa chọn cá thể đực dựa trên các biểu hiện thực sự hoàn hảo hoặc các dự báo có khuynh hướng trở thành bằng chứng cho các gen tốt. Nhưng bây giờ chúng ta sẽ thấy một điểm rất thú vị mà Darwin đã nhận ra và cũng được Fisher đề cập đến rất rõ. Ở một xã hội cá thể đực cạnh tranh với nhau để được cá thể cái chọn là anh ta-người được chọn, một trong những điều tốt nhất mà cá thể cái có thể làm cho gen của nó là tạo ra đứa con trai sẽ trở thành một cá thể anh ta-người được lựa chọn hấp dẫn. Nếu cá thể cái có thể đảm bảo rằng con trai của nó là một trong vài cá thể đực may mắn, kẻ chiến thắng phần lớn trong các cuộc tranh chấp để được giao phối trong xã hội mà nó trưởng thành, cá thể cái sẽ có một lượng lớn các cháu ngoại. Kết quả là, một trong các phẩm chất mong muốn nhất mà một cá thể đực có thể có trong mắt của một cá thể cái sẽ là sự hấp dẫn giới tính. Một cá thể cái cặp đôi với một cá thể anh ta-người được lựa chọn siêu hấp dẫn có thể có nhiều con trai hấp dẫn đối với các cá thể cái của thế hệ tiếp theo, và chúng sẽ sinh ra rất nhiều con cháu cho nó. Vậy thì ban đầu, chúng ta có thể xem như cá thể cái có khả năng lựa chọn cá thể đực trên cơ sở các phẩm chất hữu ích rõ ràng như cơ bắp to. Nhưng một khi những phẩm chất này được chấp nhận là lôi cuốn đông đảo các cá thể cái trong cùng loài, chọn lọc tự nhiên sẽ tiếp tục ưu ái chung, đơn giản là vì chúng hấp dẫn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần V


Nếu những con sở khanh tăng nhanh chóng đến mức chúng trở thành nhóm cá thể đực chính trong quần thể, thì những cá thể cái dễ dãi sẽ rơi vào tình huống vô cùng khó khăn. Bất kì cá thể rụt rè nào cũng sẽ có lợi thế rất lớn. Nếu một cá thể cái rụt rè bắt gặp một cá thể đực sở khanh thì sẽ không có điều gì xảy ra. Cá thể cái sẽ tiếp tục duy trì giai đoạn ve vãn kéo dài, cá thể đực sẽ từ chối và bỏ đi nhằm tìm kiếm cá thể cái khác. Sẽ không có cá thể nào phải trả giá cho chi phí lãng phí thời gian. Và cũng không có cá thể nào thu được điều gì cả bởi vì không có con non ra đời. Điều này sẽ dẫn đến việc một cá thể cái rụt rè trong quần thể toàn cá thể đực là sở khanh nhận được 0 đơn vị. Con số này có vẻ như là không nhiều, nhưng vẫn tốt hơn là -5 đơn vị, số đơn vị trung bình dành cho cá thể cái dễ dãi. Mặc dù một cá thể cái dễ dãi quyết định bỏ mặc con non của nó sau khi bị cá thể đực sở khanh bỏ rơi, nó vẫn sẽ phải trả một chi phí đáng kể cho cái trứng. Vì vậy, các gen rụt rè lại bắt đầu phát tán khắp quần thể.

Để hoàn thiện chu trình giả thuyết, khi các cá thể cái rụt rè tăng số lượng quá nhiều đến mức chúng trở thành các cá thể chính, những kẻ đã có một quãng thời gian thoải mái với những cá thể cái dễ dãi như cá thể đực sở khanh, sẽ bắt đầu cảm thấy thiếu thốn. Hết cá thể cái này đến cá thể cái khác kiên quyết phải có thời gian ve vãn dài và gian khổ. Những cá thể đực sở khanh sẽ tán tỉnh từ con này sang con khác, và câu chuyện luôn luôn xảy ra như vậy. Mức lợi ích trung bình cuối cùng cho một cá thể đực sở khanh trong quần thể toàn cá thể cái rụt rè sẽ là 0. Bây giờ nếu một cá thể đực trung thành xuất hiện, nó sẽ là cá thể duy nhất mà các các thể cái rụt rè kết bạn. Mức lợi ích của nó sẽ là +2, tốt hơn so với mức lợi ích của cá thể đực sở khanh. Vì vậy, các gen trung thành sẽ bắt đầu tăng, và chúng ta đã đi hết vòng quay.

Giống như trong trường hợp phân tích tính hiếu chiến, tôi đã kể câu chuyện như thể nó là sự dao động lặp lại không ngừng. Nhưng giống như trong trường hợp tính hiếu chiến, chúng ta có thể thấy rằng sự dao động đó sẽ không xảy ra. Hệ thống sẽ hội tụ ở một trạng thái bền vững. Nếu bạn làm phép tính tổng, bạn sẽ thấy rằng một quần thể trong đó 5/6 số cá thể cái rụt rè, và 5/8 cá thể đực trung thành sẽ bền vững về mặt tiến hóa. Dĩ nhiên, đây là do chúng ta đã sử dụng các con số cụ thể tự đặt lúc ban đầu, nhưng chúng ta cũng dễ dàng tìm ra tỉ lệ bền vững cho bất kỳ một giả định tùy tiện nào khác.

Giống như trong phân tích của Maynard Smith, chúng ta không cần phải nghĩ về việc sẽ phải có hai kiểu cá thể đực khác nhau và hai kiểu cá thể cá thể cái khác nhau. Chiến lược tiến hóa bền vững đều có thể đạt được cân bằng nếu mỗi cá thể đực sử dụng 5/8 thời gian của nó để trở thành kẻ trung thành và số thời gian còn lại là kẻ sở khanh; và mỗi cá thể cái sẽ sử dụng 5/6 thời gian của nó với vai trò là cá thể cái rụt rè và 1/6 thời gian trong vai kẻ dễ dãi. Dù chúng ta có nghĩ về chiến lược tiến hóa bền vững theo cách nào thì điều này luôn có ý nghĩa. Bất kể khuynh hướng nào làm cho các thành viên trong cả hai giới tách khỏi tỉ lệ bền vững thích hợp của chúng sẽ bị loại bỏ bớt bởi sự thay đổi tất yếu về tỉ lệ trong các chiến lược của giới còn lại, điều mà sau đó sẽ gây bất lợi cho cá thể ly khai ban đầu. Do đó, chiến lược tiến hóa bền vững sẽ được bảo tồn.

Chúng ta có thể kết luận rằng một quần thể gồm phần lớn các cá thể cái rụt rè và cá thể đực trung thành chắc chắn có thể tiến hóa. Trong một số hoàn cảnh, chiến lược thuần hóa-hạnh phúc đối với cá thể cái dường như thực sự phù hợp. Chúng ta không phải quan tâm đến phương diện sự thông đồng của các cá thể rụt rè. Tính rụt rè thực sự có thể có ích cho các gen vị kỷ của cá thể cái.

Cá thể cái ũng có thể áp dụng dạng chiến lược này trong thực tế với nhiều cách khác nhau. Tôi đã đề cập rằng một cá thể cái có thể sẽ từ chối giao phối với một cá thể đực, kẻ đã không xây được cho nó một cái tổ, hoặc chí ít là giúp nó xây dựng một cái tổ. Trên thực tế, ở nhiều loài chim có tập tính một vợ một chồng, chúng chỉ giao phối với nhau sau khi tổ của chúng được hoàn thành. Như vậy, ở thời điểm thụ thai, cá thể đực đã đầu tư khá nhiều cho đứa con, nhiều hơn so với sự đầu tư chỉ đơn thuần gồm những tinh trùng của nó.

Yêu cầu người bạn đời tiềm năng phải xây một cái tổ là cách thức hữu hiệu mà cá thể cái dùng để bẫy cá thể đực. Trên lý thuyết chúng ta có thể nghĩ rằng phần lớn những thứ gây tốn kém cho cá thể đực sẽ thành công, mặc dù chi phí đó không được chuyển trực tiếp thành lợi ích cho đứa con sắp sinh. Nếu tất cả cá thể cái của một quần thể buộc cá thể đực thực hiện một vài công việc khó khăn và tốn ém như săn hạ một con rồng hoặc leo lên một ngọn núi trước khi chúng đồng ý giao phối, thì về mặt lý thuyết, chúng thể làm giảm những cám dỗ lôi kéo cá thể đực bỏ đi sau. Bất kỳ cá thể đực nào bị cám dỗ đến mức bỏ rơi bạn tình và cố gắng phân tán các gen của nó nhiều hơn thông qua các cá thể cái khác sẽ bị thoái trí với ý nghĩ rằng nó sẽ phải giết một con rồng khác. Tuy nhiên, trong thực tế, các cá thể cái không hẳn sẽ áp đặt những nhiệm vụ tùy tiện như giống rồng hay đi tìm chiếc cốc thánh đối với những kẻ theo đuổi nó. Bởi vì một cá thể cái đối thủ khác, những kẻ đưa ra một nhiệm vụ không kém phần khó khăn nhưng hữu ích hơn cho nó và con của nó, sẽ có lợi thế hơn nhiều so với những cá thể cái luôn nghĩ đến những điều lãng mạn, yêu cầu sự khổ sai vô ích vì tình yêu. Xây dựng một cái tổ có thể không lãng mạn bằng việc săn hạ một con rồng hoặc bơi qua biển Hele nhưng nó lại hữu ích hơn nhiều.

Một hành động khác cũng hữu ích cho cá thể cái là hành động cung cấp thức ăn trong thời gian tán tỉnh của cá thể đực mà tôi đã đề cập đến trước đây. Ở những loài chim, hành động đó thường được gọi là một loại tập tính trẻ hóa cá thể cái. Cá thể cái cầu xin cá thể đực, sử dụng cùng kiểu điệu bộ như một con chim non sử dụng. Người ta cho rằng cử chỉ này sẽ tự động hấp dẫn cá thể đực, giống như việc một người đàn ông thấy cách nói nhịu hoặc tương tự như cái bĩu môi đầy hấp dẫn ở một người phụ nữ trưởng thành. Con chim cái lúc đó sẽ cần tất cả nguồn thực phẩm mà nó có thể có, bởi vì nó đang tích lũy nguồn dự trữ cho những cố gắng để hình thành những quả trứng khổng lồ của mình. Cung cấp thức ăn cho cá thể cái trong thời kỳ ve vãn có thể đại diện cho sự đầu tư trực tiếp của cá thể đực vào trứng. Do đó, nó có tác dụng làm giảm sự khác biệt giữa hai cá thể bố mẹ trong giai đoạn đầu tư ban đầu cho đứa con.

Một loài vài nhện và côn trùng cũng bộc lộ hiện tượng cung cấp thức ăn ở giai đoạn tán tỉnh. Ở đây, đôi khi sự giải thích khác đi lại rất rõ ràng. Bởi vì, như trong trường hợp những con bọ ngựa, cá thể đực có thể ở trong tình trạng có nguy cơ bị cá thể cái lớn hơn ăn thịt, nên bất cứ điều gì mà cá thể đực làm để giảm khẩu vị của cá thể cái đều có thể mang đến lợi ích cho nó. Trong một số hoàn cảnh tàn khốc, con bọ ngựa đực bất hạnh có thể được coi là đã đầu tư cho những đứa con của nó. Cá thể đực được sử dụng như một nguồn thức ăn để giúp tạo nên những quả trứng mà sau đó sẽ được thụ tinh bởi các tinh trùng dự trữ của chính cá thể đực đã chết.

Một cá thể cái thực hiện chiến lược thuần hóa-hạnh phúc bằng cách quan sát những cá thể đực và cố gắng nhận diện trước những phẩm chất trung thành sẽ đặt nó vào tình trạng dễ bị lừa dối. Bất kỳ cá thể đực nào lừa dối chính mình qua việc thể hiện đặc điểm dễ thuần hóa và trung thành nhưng thực tế nó đang che đậy khuynh hướng bỏ rơi và không trung thành, có thể thu được nhiều lợi nhuận. Chừng nào mà người vợ cũ bị bỏ rơi còn có chút khả năng nuôi nấng thành công một vài đứa con của nó, thì kẻ sở khanh chắc chắn sẽ để lại được nhiều gen hơn so với một cá thể đực đối thủ, kẻ đóng vai trò một người chồng và người cha trung thực. Các gen quy định sự lừa dối hữu hiệu của các cá thể đực sẽ có khuynh hướng được phát tán trong vốn gen.

Ngược lại, chọn lọc tự nhiên sẽ có khuynh hướng ưu ái những cá thể cái giỏi trong việc nhận diện sự dối trá như vậy. Cá thể cái có thể sử dụng một cách là “làm cao: khi cá thể đực mới tán tỉnh chúng, nhưng vào mùa sinh sản kế tiếp chúng lại sẵn sàng nhanh chóng chấp nhận sự tiến tới của bạn tình mùa trước. Cách thức này sẽ tự động loại bỏ những cá thể đực trẻ tham gia vào mùa sinh sản đầu tiên của chúng, bất kể những cá thể đực này có thực sự là kẻ lừa dối hay không. Một nhóm cá thể cái ngây thơ lần đầu bước vào mùa sinh sản sẽ có khuynh hướng mang một tỉ lệ tương đối cao các gen của các cá thể đực không trung thành, nhưng những cá thể đực trung thành sẽ có lợi thế ở năm thứ hai và những năm tiếp theo trong mùa sinh sản của một cá thể cái bởi vì chúng không phải trải qua nghi thức ve vãn kéo dài tốn thời gian và lãng phí năng lượng như trước. Nếu đa số cá thể trong quần thể là con của các cá thể cái có kinh nghiệm hơn chứ không phải là ngây thơ, thì với một giả định hợp lý ở bất kỳ một loài sống lâu nào, các gen quy định tính cách người cha tốt, trung thực sẽ trở thành phổ biến trong vốn gen.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.