Xu hướng tương lai và lựa chọn hiện nay về văn hóa – Phần III


Quy luật thứ năm: Từ khép kín tới mở ngỏ

Trong xã hội cổ đại, trước khi chế độ tư bản chủ nghĩa xuất hiện, thế giới là phân tán, giữa các quốc gia rất ít giao tiếp. Nhưng từ sau khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, thế giới biến thành một thị trường thống nhất. Sau khi có chế độ tư bản chủ nghĩa mới có lịch sử thế giới. Các nước liên hệ với nhau, không còn là khép kín nữa, mà là mở ngỏ. Triều Thanh muốn đóng cửa, nhưng không được, anh muốn đóng cửa người ta sẽ phá vỡ anh, anh không tiếp nhận giao thương cũng vẫn phải tiếp nhận giao thương, hoặc là tiếp nhận một cách hòa bình, hoặc là tiếp nhận một cách nhục nhã. Sau khi anh mở cửa, lúc đầu là nhục nhã, chịu rất nhiều thiệt thòi, nhưng càng về sau, cái lợi nhận được sẽ càng nhiều, văn hóa sẽ tiến bộ, văn minh sẽ tiến bộ, sản phẩm sẽ phong phú, kỹ thuật sẽ được nâng cao. Có Chiến tranh Thuốc phiện sau đó mới có Phong trào Dương vụ, sau khi Phong trào Dương vụ nổi lên, Đông, Tây đều đến. Cho nên nói, thực hiện đóng cửa là không ổn, đóng cửa cần phát triển thành mở cửa. Sau Hội nghị 3 UBTW khóa 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc, chính sách mở cửa do Đặng Tiểu Bình thực hiện là sáng suốt, đánh giá thế nào về ý nghĩa chiến lược này cũng không quá cao. Sau “Lục Tứ”, có người nêu ra: giảm thiểu giao tiếp với các nước phương Tây thì lưu học sinh sẽ giảm thiểu. Trên thượng tầng phát sinh bất đồng: đóng cửa hay tiếp tục mở cửa? giảm thiểu hay tiếp tục gia tăng? Cuối cùng ý kiến mở cửa chiếm địa vị chủ đạo. Không thể vì một việc mà đi ngược lại quy luật, nếu chúng ta ở bên ngoài dòng chính của trào lưu thế giới, thực hiện phát triển theo kiểu khép kín, thì đó là một sự thụt lùi.

Quy luật thứ sáu: Từ mê tín tới lý tính

Lúc đầu là mê tín, dần dần là lý tính tăng lên, trước đây vì lý trí hạn chế, tri thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đều có hạn, cho nên mê tín rất nhiều, thì ngày nay lý tính dần nhiều lên. Kể cả tôn giáo vốn dĩ cũng có mê tín, nhưng lý tính tôn giáo hiện nay cũng tăng lên. Ngày nay bàn về tôn giáo, nếu vẫn chỉ coi nó là thuốc phiện tinh thần thì không toàn diện, có mặt thuốc phiện, mặt ma túy, nhưng còn có mặt lý tính. Tác giả từng tới Đài Loan khảo sát văn hóa truyền thống Trung Hoa ở Đài Loan, nhìn thấy Phật giáo Đài Loan hiện nay vẫn rất nhiều, sự nghiệp từ thiện Phật giáo làm rất lớn. Tôi tới núi Phật Quang, có một cuộc tọa đàm với đại sư Tinh Vân (Jing Yun). Ông nói, trên thế giới 170 quốc gia và khu vực đều có hội viên Hội Phật Quang của họ, tổng số có mấy chục triệu người. Sách của họ được phiên dịch thành nhiều loại văn tự, phát hành tại các nơi trên thế giới. Núi Phật Sơn lộ vẻ rất oai nghiêm. Tôi hỏi ông: “Thưa đại sư Tinh Vân, tại sao sự nghiệp Phật giáo của ngài lớn lao vậy? Ảnh hưởng lớn lao vậy?” Ông trả lời: “Có rất nhiều người thông minh hơn tôi, cũng có rất nhiều tín đồ Phật giáo kiên định hơn tôi, nhưng tại sao họ không có thành công như tôi? Sự khác biệt của tôi với họ là ở một chữ “vô”, có nghĩa là không có. Người khác đều theo đuổi rất nhiều thứ: của cải, danh lợi…, tôi chỉ theo đuổi một cái “vô”, không cần gì, không có gì. Bao nhiêu tỷ tài sản của núi Phật Sơn ai cần cứ lấy. Hàng trăm hàng nghìn căn nhà ở chỗ này không căn nào là của tôi, trên tay tôi không có một khoản tiền tiết kiệm. Tôi dựa vào một chữ vô mới phát triển được lớn như thế này”. Qua đó có thể thấy, tư tưởng Phật giáo của ông có rất nhiều nhân tố lý tính. Tư tưởng Lão Tử thời cổ đại cho rằng đại vô là đại hữu. Cánh hôn quan kia sở dĩ sụp đổ, hôm nay muốn cái này, ngày mai muốn cái kia, cảm thấy không bao giờ là đủ, vẫn cứ phải tham lam thêm một chút, cuối cùng sụp đổ. Điều này cho tôi một gợi mở rất lớn, vô, đó là trí tuệ cao thâm của đại sư Tinh Vân, cũng là bí quyết thành công của ông. Cho nên sự nghiệp Phật giáo, sự nghiệp từ thiện của ông rất nhiều, mỗi năm đều mấy trăm triệu NDT. Phật giáo giúp đỡ người dân nhiều thứ, khuyên người ta hướng thiện, khuyên người ta phải có lòng tôn kính và e sợ, bất kể là nam hay nữ, là quan hay dân, không thể muốn làm gì thì làm, phải có lý tính, phải tuân thủ đạo đức và pháp luật, phải tránh cái ác, làm điều thiện. Cho nên nói, tôn giáo không hoàn toàn là mê tín, mà có rất nhiều thành phần lý tính. Những người tin Phật cũng có thể ăn thịt, đây chính là sự phát triển của lý tính.

Quy luật thứ bảy: Từ phi nhân đạo tới nhân đạo

Quy luật xã hội này cũng phản ánh qua việc trừng trị phạm nhân. Trước kia có móc mắt, chọc vào mặt, cắt ngón tay, chặt chân, cắt tai, còn có hình phạt cắt cơ quan sinh dục, tứ mã phanh thây, tùng xẻo, moi tim, rất tàn khốc. Cùng với văn minh không ngừng tiến bộ, giờ đây không có những hình phạt này, có quốc gia còn bỏ án tử hình. Án tử hình ở Trung Quốc từng chém bằng đao, đao lại có các loại khác nhau, có đao sắc và đao cùn, đao sắc thì chết nhanh gọn, đao cùn thì khi bị chém rất khổ, trong Biến pháp Mậu Tuất 6 vị quân tử bị chém bằng đao cùn tại cổng chợ rau Bắc Kinh, chết cũng bắt anh chết rất đau đớn. Về sau đổi lại dùng súng bắn, hiện nay dùng kim tiêm, đau đớn dần giảm nhẹ. Điều kiện của trại giam cũng không ngừng trở nên nhân đạo, có trại được xây cất rất đẹp, rất sáng sủa, không đem lại cho người ta cảm giác tăm tối u ám. Lấy con người làm gốc, điều này được đặt ra từ xã hội nô lệ, nhưng không làm được, chủ nghĩa tư bản cũng đề ra lấy con người làm gốc, cũng chưa hoàn toàn làm được, ngày nay Đảng Cộng sản trung Quốc cũng đề ra lấy con người làm gốc, đây là một tiến bộ quan trọng. Nhưng rốt cuộc lấy ai làm gốc? Lấy toàn thể công dân làm gốc hay là lấy tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân làm gốc? Còn đang thảo luận. Nói chung, xã hội không ngừng phát triển về phía trước, không ngừng trở nên nhân đạo, không ngừng trở nên lý tính. Tác giả cho rằng, lấy con người làm gốc mà hiện nay những người cộng sản chúng ta chủ trương phải là lấy toàn thể công dân làm gốc. Điều này không hề mâu thuẫn với việc trừng trị các phần tử xấu. Bởi vì các phần tử xấu phá hoại việc lấy con người làm gốc, chúng giết người, chúng cường bạo, chế phục chúng chính là bảo vệ nguyên tắc lấy con người làm gốc. Các dịch vụ công trong xã hội chúng ta hiện nay, chỉ cần anh tuân thủ pháp luật, thì đều được trao, bất kể là tỷ phú hay giai cấp vô sản, đều không phân biệt, đều cung cấp dịch vụ.

Quy luật thứ tám: Từ bảo thủ đến tiến bộ

Thụt lùi cũng có, nhưng thụt lùi là tạm thời, cục bộ, muốn thụt lùi toàn diện thì không được. Chúng ta nhìn vào lịch sử, sau khi Cách mạng Tân Hợi thực hiện cộng hòa, Viên Thế Khải (Yuan Shiqi) muốn quay về đế chế, chỉ làm được giấc mộng hoàng đế 83 ngày, cuối cùng quân phiệt Bắc Dương không ủng hộ ông ta, ông ta thụt lùi không được. Trương Huân (Zhang Xun) muốn khôi phục, tuổi thọ hoàng đế càng ngắn, 12 ngày là bật ra khỏi Cố cung. Cho nên, muốn thụt lùi rốt cuộc thụt lùi không nổi, vẫn cứ phải đi về phía trước.

Ngoài ra, ngày nay có người đề xuất khôi phục chữ phồn thể, đặt ra tại Quốc hội và Hội nghị Hiệp thương Chính trị toàn Trung Quốc, đây thực tế là một chủ trương thụt lùi. Tôi đã viết một bài, “Bàn về việc tái giản hóa chữ Hán”, cho rằng không những không thể khôi phục chữ phồn thể mà còn thế giản hóa hơn nữa. Hương Cảng, Áo Môn, Đài Loan dùng chữ phồn thể, để tiện giao lưu, khôi phục chữ phồn thể, nhưng Hương Cảng, Áo Môn, Đài Loan cũng cảm thấy phiền phức về chữ phồn thể. Hương Cảng có chuyên gia kêu gọi nên dùng chữ giản thể của Đại Lục, hiện giờ Singapore, Malaysia, Liên hợp quốc đều dùng chữ giản thể. Ngày nay khi xã hội theo đuổi tốc độ cao, hiệu quả cao, khôi phục chữ phồn thể là sự thụt lùi lịch sử, cho nên không thể được ủng hộ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2014 – 6 & 7

Advertisements

Xu hướng tương lai và lựa chọn hiện nay về văn hóa – Phần II


III/ Quy luật phát triển của văn hóa

Sự phát triển của xã hội là có quy luật, nhưng quy luật này lại do loài người tuân thủ, thể hiện ra thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Nếu cái gì cũng không cân nhắc, cái gì cũng không lựa chọn, chỉ theo đó mà đi, thì lại biến thành thuyết định mệnh, con người sẽ chẳng làm gì, chỉ “Kim triêu hữu tửu kim triêu túy Minh nhật vô tửu minh nhật hưu” [Hôm nay có rượu hôm nay say Ngay mai không rượu ngày mai nghỉ], buông trôi theo số phận, chìm nổi tùy đời. Con người tự giác, con người sáng tạo lịch sử có tính năng động chủ quan. Thực tiễn của con người là sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, giữa tính quy luật và tính lựa chọn. Sự cao thấp của lựa chọn là ở đâu? Nếu nhận thức được quy luật, tuân theo quy luật thì lựa chọn sẽ đúng đắn, sẽ thành công; ngược lại, nếu không nhận thức quy luật, làm ngược lại quy luật thì lựa chọn sẽ sai lầm, sẽ bị trừng phạt, sẽ thất bại, dẫn tới mù quáng. Lúc bấy giờ trị thủy, Vũ đã lựa chọn cách khai thông nguồn nước, khai thông thành công, chính là do Đại Vũ đã tuân thủ quy luật trị thủy.

Vì vậy, khi thảo luận hướng đi tương lai của văn hóa, chúng ta không thể không bàn tới việc lựa chọn, bàn tới lựa chọn thì phải bàn tới quy luật, bàn tới quy luật thì phải bàn tới khoa học, cần phải duy vật, cần phải theo đuổi chân lý, cần phải thực sự cầu thị. Về sự phát triển của văn hóa, tác giả cho rằng ít nhất có mấy quy luật dưới đây:

Quy luật thứ nhất: Từ tính đơn nhất  tới tính đa dạng

Từ đơn nhất tới đa dạng, từ giản đơn tới phức tạp, từ cấp thấp tới cấp cao, giống như tiến hóa sự sống, từ đơn bào tới song bào, từ song bào tới đa bào. Sự phát triển trí lực của con người cũng từ tư duy giản đơn tới tư duy phức tạp, văn hóa cũng như vậy.

Nho gia nhận thức được tính đa dạng của tự nhiên, Lão Tử cũng nhận thức được tính đa dạng của tự nhiên, đề xướng đạo pháp tự nhiên. Tự nhiên tức là tính đa dạng. Trong bài viết “Bàn về pháp lệnh kiểm duyệt sách báo gần đây nhất của Phổ” của mình Marx có một đoạn rất chính xác: “Các bạn ca ngợi sự đa dạng thiên hình vạn trạng và kho báu phong phú vô cùng vô tận khiến người ta thích thú của tự nhiên, các bạn không đòi hỏi hoa hồng tỏa ra hương thơm giống như violet, nhưng tại sao các bạn lại đòi hỏi cái thứ phong phú nhất trên thế giới là tinh thần chỉ có thể có một hình thức tồn tại?” Sâu sắc biết bao! Tính phong phú là bổ sung cho nhau, một loại sự vật không thể có nhiều loại tính chất, mướp đắng là mướp đắng, là trữ nhiệt; dưa hấu là ngọt, là mát; ớt là cay nóng; mơ thì chua. Ngọt, đắng, chua, cay đều có, chúng bổ sung cho nhau, người ta chỉ có mướp đắng thì sống không nổi, chỉ có dưa hấu cũng sống không nổi, chỉ có đủ các loại mùi vị, loài người mới có thể sống tốt. Giới tự nhiên có núi cao, gò nổi và đồng bằng, có ao hồ và biển rộng, có cây cao chọc trời và cỏ dại bé nhỏ, có mẫu đơn bông to và hoa nhài bông nhỏ… Tính đa dạng là một trong những quy luật của văn hóa.

Quy luật thứ hai: Từ tập quyền tới dân chủ

Tập quyền có tính tất yếu lịch sử, là một giai đoạn lịch sử. Học giả phương Tây Karl A. Wittfogel viết một cuốn sách nhan chề Chủ nghĩa chuyên chế phương Đông – Nghiên cứu so sánh về lực lượng cực quyền, cho rằng môi trường địa lý Trung Quốc thiếu nước, thiếu nước thì phải trị thủy, trị thủy thì phải làm những công trình to lớn, công trình to lớn cần có thiên binh vạn mã, muốn có thiên binh vạn mã thì phải tập quyền. Ngược lại, chỉ có tập quyền mới có thể có thiên binh vạn mã; chỉ có thiên binh vạn mã mới có thể làm những công trình to lớn; chỉ có làm những công trình to lớn mới có thể trị thủy thành công; trị thủy thành công, người Trung Quốc mới có thể sinh tồn và phát triển. Đây là quyết định luận môi trường địa lý. Nhưng xã hội không ngừng tiến bộ, phương thức sản xuất, lối sống cũng đòi hỏi đa dạng hóa. Sau khi có đồ sắt, quan hệ sản xuất của chế độ nô lệ tan rã, xuất hiện sản xuất cá thể lấy gia đình làm đơn vị, không còn cần đến chế độ công xã nguyên thủy nữa. Cá thể có thể độc lập sinh tồn phát triển, sẽ dẫn đến đa dạng hóa sản xuất, có thể trồng lúa nước, cũng có thể trồng tiểu mạch, cũng có thể trồng bông. Chúng ta hiện nay thực hiện khoán sản phẩm theo hộ, thực hiện dân chủ kinh tế, không còn nghe theo sự chỉ huy của một người đội trưởng nữa, có quyền tự quyết định việc canh tác, cũng có thể không canh tác, ra ngoài làm công. Từ tập quyền tới dân chủ, đến nay dân chủ vẫn đang tiếp tục phát triển. Cải cách thể chế chính trị hiện nay của Trung Quốc, có một số mặt đang tiến triển, một số mặt đang đình trệ, tổng thể đang phát triển. Muốn dừng lại cũng không được. Như mạng, chính là tự do, mở ngỏ, mọi người đều là thành viên, mọi người đều là phóng viên. Tự do ngôn luận đã phát triển, có người nói đây là thách thức, tôi nói đây là tiến bộ. Không nên cái gì cũng nói là thách thức, nó là tiến bộ, đối với cái cũ, nó là một sự phủ định, nói nó là thách thức thì dường như là nó không thể sống với anh, không thể không đội trời chung. Chúng ta cần thích ứng với sự tiến bộ này, sua đó sẽ tăng cường quản lý, thì sẽ sống mà không hỗn loạn.

Quy luật thứ ba: từ trói buộc tới tự do

Theo đuổi tự do là thiên hướng của con người, giới sinh vật là tự do, chim di trú có thể từ nam bay ra bắc, cũng có thể từ bắc bay vào nam, cá trong nước cũng tự do, chim trong rừng cũng tự do. Người là linh trưởng trong vạn vật, phải tự do. Nhưng trong chế độ nô lệ, trong chế độ phong kiến, người không tự do, ngay cả tư tưởng cũng không tự do, đây là chỗ bi ai của con người. Đến thời đại tư bản chủ nghĩa, con người có tự do về nhân dân, có quyền tự do bán sức lao động của mình, có thể làm việc ở xưởng này, cũng có thể làm việc ở xưởng khác, so với chế độ phong kiến, đó là tiến bộ lịch sử. Ngày nay nhân tài lưu động, cũng tương đối tự do rồi. Ngày nay công nhân viên chức nhiều đơn vị thực hiện chế độ bổ nhiệm, anh ta tìm được đơn vị tốt, nói muốn đi, thì có thể đi. Đương nhiên anh có thể dựa vào sự nghiệp để giữ người, dựa vào môi trường để giữ người, dựa vào đãi ngộ thích đáng để giữ người. Nếu công nhân viên chức tìm được đơn vị và công việc tốt hơn, anh không thể cản trở, cũng không cản trở nổi. Người đi tới chỗ cao, nước chảy tới chỗ thấp, đó là quy luật, vậy thì hoan tiễn anh ta đi, mong anh ta phát triển càng tốt hơn, nếu ở đó không tốt, hoan nghênh anh ta lại trở lại. Đó chính là từ trói buộc tới tự do. Rất nhiều cải cách hiện nay của chúng ta đang trở nên ngày càng tự do.

Quy luật thứ tư: Từ đẳng cấp tới bình đẳng

Đẳng cấp cần thiết, có tính hợp lý, nhưng tuyệt đối hóa chế độ đẳng cấp, tất cả đều là vì đẳng cấp, thì là đi tới cực đoan, sẽ cản trở tiến bộ xã hội. Như trước đây chúng ta nói chế độ tập trung dân chủ, từ trong quần chúng đến với quần chúng, cuối cùng là tập trung, lãnh đạo quyết định. Trước khi quyết định thì có trao qua đổi lại, quá trình trao đổi là quá trình thực hiện dân chủ. Nhìn sự biến đổi lối sống của người ta thì thấy sự phát triển của bình đẳng. Trước đây hội họp chia ghế trên ghế dưới, ghế trên là lãnh đạo, ghế dưới là quần chúng, bây giờ là hội nghị bàn tròn, hội nghị bàn tròn thì nhìn không ra đẳng cấp, không ai lớn hơn ai. Trước đây ăn cơm là ngồi theo bàn, quan tâm đến trình tự chỗ ngồi, đồng thời ăn. Bây giờ có buffet, buffet thể hiện sự bình đẳng và tự do. Trương Tam có thể ăn cơm, Lý Tứ có thể ăn bánh bao, Vương Nhị có thể ăn mì sợi, cũng không phân biệt trình tự chỗ ngồi, thế là đã bình đẳng tự do. Ngoài ra, việc truyền bá thông tin hiện nay có Internet, thế giới trở nên phẳng, không còn là kiểu bảo tháp cũ nữa rồi, rất nhiều thông tin ngày nay không phải là trước hết từ bộ trưởng tới vụ trưởng, vụ trưởng tới trưởng phòng, mà là đồng thời nhận được, thậm chí một người bình thường có thể nhận được nhanh hơn bộ trưởng. Đây là sự biến đổi của văn hóa, sự biến đổi của thông tin, sự phát triển do khoa học kỹ thuật mang lại, không thể nào cản trở.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2014 – 6 & 7

Liệu chủ nghĩa tư bản phúc thiện có làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo nghèo hơn? – Phần cuối


Khi nói đến quy mô, trong khi số lượng cụ thể thì khó nắm bắt được, rõ ràng rằng hoạt động phúc thiện toàn cầu đang ở trong giai đoạn vàng. Gần một nửa trong số 85.000 quỹ tư nhân tại Hoa Kỳ đã được hình thành chỉ trong vòng 15 năm qua. Mỗi năm lại có thêm hàng nghìn quỹ phúc thiện tư nhân được thành lập.

Các chuyên gia có quan điểm khác nhau về sự phát triển của các quỹ riêng lẻ có thực sự làm tăng đáng kể các hoạt động từ thiện trong tương quan so sánh với các thập niên trước đây. Ray Madoff, giáo sư luật tại Đại học Boston, chỉ ra rằng tại Mỹ, tổng số hoạt động từ thiện chiếm 2% GDP từ những năm 1970, và đóng góp của các cá nhân vẫn dừng lại ở con số này trong suốt 40 năm qua, chiếm 2% tổng thu nhập khả dụng.

Mở rộng tầm nhìn ra khỏi nước Mỹ, những tuyên bố rõ ràng về sự gia tăng trong hoạt động phúc thiện toàn cầu được thực hiện dễ dàng hơn. Các học giả về phúc thiện David Moore và Douglas Rutzen cho rằng hoạt động phúc thiện toàn cầu gia tăng đáng kể trong những năm qua, một sự gia tăng “tương ứng với sự gia tăng của cải tư nhân tại Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, và những quốc gia khác”.

Sự tăng trưởng trong hoạt động phúc thiện toàn cầu bắt nguồn từ sự gia tăng tập trung của cải và sự mở rộng bất bình đẳng kinh tế – cần phải có một cái gì đó để làm dồi dào khả năng người giàu có chi ra một con số đáng kể. Sự hoan nghênh của Warren Buffett vào năm 2006 hiến tặng 30 tỷ USD cho Quỹ Gates chỉ là một ví dụ gần đây.

Nhưng cuối cùng là gì?

Điều đáng chú ý là việc gia tăng số lượng các quỹ phúc thiện trong suốt hai thập kỷ qua là việc gia tăng sự hỗ trợ không làm giảm sự bất bình đẳng về kinh tế. Trong thực tế lại xuất hiện trường hợp ngược lại. Điều gì là nguyên nhân của việc gia tăng hoạt động phúc thiện và gia tăng bất bình đẳng kinh tế lại đi cùng với nhau? Liệu phúc thiện có thực sự làm cho người giàu ngày càng giàu thêm và người nghèo ngày càng nghèo hơn?

Những nhận định thẳng thắng về nguyên nhân khá khó thực hiện, khi nhiều yếu tố góp phần gia tăng sự mở rộng phân cách giàu có. Nhưng có một số lý do tại sao mức độ tăng trưởng hoạt động phúc thiện có thể làm trầm trọng hơn sự gia tăng bất bình đẳng hơn là làm giảm nhẹ nó. Thứ nhất là các khoản tài trợ từ thiện làm giảm ngân quỹ từ thuế thu nhập mà nó có thể chi cho các chính sách phúc lợi tái phân phối.

Thứ hai là một tỷ lệ nhỏ đáng ngạc nhiên của ngân quỹ hỗ trợ được nhằm mục đích hỗ trợ kinh tế cho các cá nhân có thu nhập thấp. Báo cáo hàng năm từ các tổ chức như Viện Trợ giúp (Giving Institute) cho thấy rằng thường chỉ có một tỷ lệ phần trăm nhỏ dưới 10% một năm, được chi cho các sáng kiến gắn với « lợi ích xã hội công cộng » và ngược lại chi tiêu nhiều hơn cho các mục đích tôn giáo hay biếu tặng cho các trường đại học giàu có.

Một mối quan tâm khác là các hoạt động phúc thiện được sử dụng để ngăn chặn các đòi hỏi về thuế cao hơn, bảo vệ và mở rộng tài sản hơn là tái phân phối lại của cải. Phúc thiện thường mở ra các thị trường cho các tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ hay Châu Âu là đối tác của các tổ chức như Quỹ Bill and Melinda Gates để tiếp cận những người tiêu dùng mới. Cho đi nhiều hơn là một chiến lược để nhận lại nhiều hơn, trợ giúp việc tập trung của cải vào một số ít hạt nhân hẹp của những nhà môi giới quyền lực với sự tăng cường ảnh hưởng lên việc hoạch định chính sách của những tổ chức như Tổ chức Y tế Thế giới (WTO).

Các nhà phúc thiện thường chính là những người đầu tiên thừa nhận rằng hoạt động phúc thiện của họ là để nhắm đến việc bảo tồn hơn là tái phân phối của cải. Carlos Slim có lẽ là người thẳng thắn nhất thừa nhận thực tế này, tóm tắt các tiếp cận của mình đối với hoạt động từ thiện với bình luận : « Của cải cũng giống như một vườn cây ăn trái. Bạn chia sẻ trái cây, chứ không phải cái cây ».

Bình luận của Slim đã nhắc lại một niềm tin mà nó đã tạo nền tảng cho sự hào phóng của các nhà hảo tâm trước đây như Andrew Carnegie, ông vua thép. Trong những tiểu luận ảnh hưởng của mình về giá trị của việc thực hiện các hoạt động từ thiện, xuất bản trong những năm 1880 và 1890, Carnegie đã cho thấy rõ ràng rằng các hành vi phúc thiện là quan trọng trong việc cho phép người giàu củng cố của cải và đảm bảo các tiến trình sản xuất không bị đe dọa bởi sự gia tăng chiến đấu của một tầng lớp lao động đòi hỏi sự thay đổi tổ chức.

Ông đề xuất vào năm 1889 rằng phúc thiện có thể cho phép « vấn đề giàu và nghèo được giải quyết. Các quy luật về sự tích lũy sẽ được cởi trói, các quy luật về phân phối được tự do. Chủ nghĩa cá nhân sẽ tiếp tục, nhưng những triệu phú sẽ là sự ủy thác của người nghèo, được giao phó trong một thời kỳ với phần lớn sự gia tăng của cải của cộng đồng, nhưng phải quản lý nó để cho cộng đồng tốt hơn có thể hay được thực hiện tự chính nó.

Carnegie đã viết vào thời điểm bất ổn lao động lớn tại Mỹ. Rất ít người lao động của ông đã bị ảnh hưởng bởi đề xuất về cái gọi là « các quy luật tích lũy » mà nó cần phải được giữ nguyên để ông và một số người khác có thể kiểm soát không giới hạn của cải dành cho các lý do được lựa chọn.

Một số nhà viết tiểu thuyết của nữ hoàng Victoria và đầu thế kỷ 20 đã viết những lời châm biếm nền tảng tư tưởng này của Carnegie và những nhà từ thiện đi cùng. Tác phẩm Những nhà phúc thiện mặc đồ rách (The Ragged Trousered Philanthropists) của Robert Tressell, một tiểu thuyết trong một nhóm các tác phẩm của các họa sĩ gia đình, đã mở rộng châm biếm gắn nhãn hiệu « những nhà phúc thiện »  với một nhóm công nhân chấp nhận một cách nhã nhặn các yêu cầu của các ông chủ. Với sự láu cá, Tressel gợi ý rằng sự sẵn lòng của họ ban phát cho người lao động của họ thì cũng rẻ tiền như một hành động phúc thiện căn bản.

Ngày nay, hoạt động phúc thiện hầu hết đã được « làm vệ sinh » của các hiệp hội trào phúng trước đó. Từ các buổi hòa nhạc như Live Aid tới những chương trình phổ biến như The Secret Millionaire, một chương trình truyền hình nổi tiếng của Anh nơi các nhà hảo tâm ẩn mình trong các cộng đồng nghèo khó để tìm kiếm những người xứng đáng nhận từ thiện, đã đạt được một sự nổi tiếng phổ thông mà nó khiến cho hành động cho đi khó bị chỉ trích hay đặt thành vấn đề.

Ngày nay, sự hoan nghênh của công chúng, thậm chí là sự tôn kính đối với những nhà phúc thiện được thúc đẩy bởi truyền thông đa dạng và phổ rộng, làm cho người ta dễ chấp nhận và khẳng định rằng có một cái gì đó chưa từng có về phúc thiện « mang tính chiến lược » mới tại các tổ chức như Quỹ Gates.

Một số kỹ thuật đo lường có thể mới, như thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên mà nó đã xuất hiện từ những năm 1920 nhưng đã trở nên nổi bật trong giới phát triển 20 năm qua. Nhưng nỗ lực để đánh giá tác động thì không.

Tuy nhiên, nhiều lần, các nhà khoa học phúc thiện ngày nay có khuynh hướng bỏ qua những tiền nhân lịch sử. Một ví dụ điển hình là một bài báo của đồng sáng lập Napster Sean Parker trên tờ Wall Street Journal. Parker cho rằng điều bất thường đối với giới tinh hoa toàn cầu mới là tinh thần « hacker » của họ. Nói theo cách của ông ta, rằng « tầng lớp tinh hoa mới có tinh thần hacker là một sai lầm trong lịch sử của sự sáng tạo của cải ». Để chứng minh điều này, ông đã chỉ ra độ tuổi trẻ của giới tinh hoa ngày nay : thực tế là nhiều tỷ phú công nghệ đã đạt được thành công trước tuổi 40. Sau đó, ông đối sánh giới tinh hoa « hacker » mới với các quỹ phúc thiện truyền thống « trước đây » mà ông khẳng định, không quan tâm đến việc đánh giá hiệu quả.

Tuy nhiên cả hai cách đánh giá trên đều sai lầm. Carnegie và Rockeffeller từng tích lũy nhiều của cải vào những năm tuổi 30 của họ, và mỗi người đều là « hacker » trong thời đại của họ, bỏ lại đằng xa cuộc đấu tranh cho hoạt động từ thiện của mình thông qua các bố thí để cho thấy hoạt động từ thiện như một việc làm đức hạnh mà chính họ không thèm đếm xỉa đến hiệu quả thực tiễn. Trái ngược với đề xuất của Parker trong bài báo – lập luận của ông cho rằng « tuổi tác trẻ và hoạt động phúc thiện không thể được lẫn lộn về mặt lịch sử » – Rockefeller và Carnegie đã hào phóng trong suốt cuộc đời của họ nhưng không đơn thuần chỉ là niềm say mê của họ. Rockefeller đã bắt đầu nhường lại một cách có hệ thống một phần thu nhập đáng kể của mình khi ông vẫn là một người trẻ tuổi.

Rất ít bài báo gần đây của Parker trên Wall Street Journal có tính chính xác về lịch sử, một số bài được các chuyên gia chỉ ra trên website của họ như HistPhil, một trang chuyên về lịch sử của hoạt động từ thiện quy mô lớn. Tuy nhiên, Parker đã nhận được sự ủng hộ của báo chí chủ lưu, bao gồm một bài phê bình sáng lạn trên Intercept, một diễn đàn trực tuyến được tài trợ bởi Pierre Omidyar, xem cách tiếp cận của Parker thực sự mang tính đổi mới và chưa có tiền lệ như ông nói.

Omydiar, người sáng lập eBay, là một người không bình thường trong số những nhà tư bản phúc thiện bởi việc thừa nhận sự liên quan của các nhà kinh tế chính trị ban đầu trong cách tiếp cận của ông tới phúc thiện và kinh doanh ; ông đã ca ngợi Smith đã thắp sáng lên cho ông niềm tin rằng doanh nghiệp tư nhân, dưới những điều kiện thích hợp, tự do kinh doanh sẽ đem đến những lợi ích tập thể.

Nhưng đó chỉ là bức tranh ở một phần trong tác phẩm của Smith. Trong một dịp hiếm hoi khi những nhà phúc thiện mới nói về những người đi trước của mình, họ có khuynh hướng lựa chọn những phần văn bản thích hợp giúp tuyên truyền những bức họa thích hợp của các nhà kinh tế chính trị ban đầu.

Lấy bài viết của Mandeville, một nhà triết học người Hà Lan sinh năm 1670, người đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở Anh. Nhiều người tin rằng Adam Smith là nguồn gốc của ý tưởng rằng các cá nhân, lao động để đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của mình, sẽ mang lại lợi ích công cho cộng đồng. Nhưng nguồn gốc xa hơn của ý tưởng này thì thực sự được bắt nguồn từ Mandeville. Nó nằm trọn trọng tiểu luận có ảnh hưởng của ông, Chuyện Tưởng tượng về những Con ong (The Fable of the Bees).

Trong tiểu luận này, Mandeville áp dụng phép ẩn dụ về một tổ ong. Trong cái tổ, ông viết, có rất nhiều con ong siêng năng và tháo vát, và cũng có nhiều con không có đạo đức – chúng là những con giả dối, vô tích sự, hay thay đổi – và rồi mong muốn của chúng là tạo nên « một khối tổng thể như một Thiên đường ». Tuy nhiên, kế hoạch khéo léo của chúng, đã bắt nguồn từ thói xấu, đã giúp tạo ra một ngành công nghiệp năng động, tạo ra những thứ giúp yên phận như « Người nghèo/Liv’d Tốt hơn là Người giàu».

Tiến bộ, nói theo một cách khác, bắt nguồn từ sự tham lam về kinh tế hơn là sự kiêng khem. Trong mong muốn có được ; hơn là hạn chế chống lại sự nhận được. Ý tưởng cho rằng lợi ích tự thân có một chức năng kinh tế và đạo đức quan trọng trong dòng truyền thừa trực tiếp từ Mandeville và Smith, thông qua các nhà công nghiệp thế kỷ XIX như Carnegie và Rockefeller, tới những nhà vô địch phúc thiện ngày hôm nay.

Lấy ví dụ những người nam và nữ được phỏng vấn bởi nhà nhân học người Mỹ Karen Ho trong những nghiên cứu của mình về giới ngân hàng đầu tư trẻ Phố Wall. Các nhà ngân hàng cô gặp cho thấy họ cảm thấy thực sự trở ngại khi nhiều người bên ngoài lĩnh vực của họ nhận thấy sự thiếu vắng đạo đức trong các hoạt động của họ. Xa hơn nữa, họ tự tin rằng họ đang thực hiện những dịch vụ công căn bản. Họ nhìn thấy hình ảnh « sự phá hủy sáng tạo » của Schumpeter như một sự cần thiết để đảm bảo cho những doanh nghiệp nhỏ hơn có thể phát triển và cạnh tranh. Cũng như Mandeville, họ nhấn mạnh rằng lợi ích cá nhân tạo ra những phần thưởng công cộng.

Nhưng có một khía cạnh quan trọng trong lập luận của Mandeville thường bị bỏ quên. Trong Chuyện Tưởng tượng về những Con ong, ông viết câu sau đây :

Vì vậy Thói xấu đặt nền tảng cho lợi ích.

Khi đó, Sự công bằng bị bóp méo và ràng buộc.

Trong một phần khác, ông nhấn mạnh rằng « Thói xấu cá nhân được Quản trị khéo léo bởi một Chính trị gia có năng lực có thể chuyển thành Những lợi ích Công ». Sự tôn trọng của Mandeville đối với lợi ích kinh tế, nói cách khác, nhấn mạnh nhu cầu quản lý của chính phủ và những hạn chế về mặt pháp lý để đảm bảo rằng lợi ích công được tạo ra, thay vì, đưa đến phần thưởng công.

Cái còn thiếu trong sự nhiệt thành đầy hăng hái của các nhà tư bản phúc thiện ngày nay đó là sự thừa nhận một cách đầy đủ những cuộc đấu tranh trong lịch sử giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công đã định hình các mối quan hệ lao động chí ít từ thời của Mandeville. Khi họ thừa nhận lịch sử, vốn không thường có, các nhà tư bản phúc thiện ngày nay đã khen ngợi một phiên bản vô thừa nhận của kinh tế chính trị buổi ban đầu, một phiên bản mà nó bỏ qua sự nhấn mạnh mà Mandeville và sau đó là Adam Smith đặt ra một đòi hỏi về sự điều tiết của chính phủ.

Doanh nghiệp tư nhân có thể có được lợi ích công cộng. Như chỉ khi các nhân tố nhà nước, thông qua « Sự quản trị khéo léo », có thể quản trị sự giàu có theo cách mà nó đảm bảo rằng những lợi ích công được đáp ứng cũng như các lợi ích tư. Mandeville, người anh hùng buổi ban đầu của chủ nghĩa tư bản phúc thiện, đã thực sự là một nhà vô địch của một chính quyền can thiệp, quyền lực. Không có gì ngạc nhiên khi những nhà tư bản phúc thiện ngày nay có khuynh hướng bỏ qua ông.

Người dịch: T.Giang – SCDRC

Nguồn: http://evonomics.com/does-philanthropy-actually-make-the-rich-richer-and-the-poor/

Liệu chủ nghĩa tư bản phúc thiện có làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo nghèo hơn? – Phần đầu


Linsey McGoey

Lần đầu tiên Bill Gates gặp Puff Daddy, một tay chơi Rap và một doanh nhân thời trang, cuộc gặp có một chút căng thẳng.

Cuộc gặp diễn ra tại New York, nơi Gates đi cùng Bono và những người bạn khác ở phía sau một quán bar. Puff Daddy đã tiếp cận Gates và nhóm của ông. Anh ta dừng lại trước Gates và cúi đầu.

“Ông là đồ chết tiệt”

Đôi mắt của Gates hướng về phía người đàn ông. Thật đáng nghĩ khi người đàn ông làm phúc thiện (philanthropy) hào phóng nhất thế giới thường xuyên phải nghe những lời nhận xét như vậy.

Daddy tiếp tục với chuỗi chỉ trích của mình: “ Ông là đồ chết tiệt. Cái ông đang làm với chương trình tiêm chủng ở Botswana là gì vậy? Chết tiệt”.

Gates ngả lưng vào ghế và thư giãn, nhận ra rằng Daddy đã cho ông một lời khen ngợi đáng giá.

Cuộc gặp gỡ này được công bố bởi Matthew Bishop và Micheal Green trong cuốn sách của họ Chủ nghĩa tư bản phúc thiện (philanthrocapitalism): Người giàu đã cứu thế giới như thế nào.

Được xuất bản lần đầu năm 2008, cuốn sách đã trở thành một cuốn kinh thánh tạo ra một loại mới những nhà phúc thiện hứa sẽ tái định hình thế giới bằng việc thực hiện các công việc vận hành các quỹ phúc thiện (philanthropic foundations) thay cho các doanh nghiệp vị lợi nhuận. Trong thế giới này, Gates đã được ca ngợi như là “MacDaddy” của hoạt động phúc thiện mới. Bishop và Green đã đưa ra một trích dẫn từ Bono về sự hấp dẫn về công việc phúc thiện của Gates: “Jay-Z, tất cả những chàng trai hip-hop, đều yêu mến anh ấy. Bởi vì ông ta không được nhìn nhận như một nhân vật lãng mạn – tốt thôi, có thể lãng mạn theo cái cách mà Neil Amstrong lãng mạn, một nhà khoa học chứ không phải một nhà thơ. Ông ấy đã làm được”.

Hãy dọn rác rưởi đi. Bạn có thể nghe thấy những cụm từ khác thay thế cho nó. Những nhà phúc thiện mới tuyên bố những hoạt động định hướng kết quả và hiệu quả hơn những nhà tài trợ phúc thiện trước đó. Họ muốn cách mạng hóa lĩnh vực cuối cùng không bị ảnh hưởng bởi thế giới siêu cạnh tranh, định hướng lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản tài chính: thế giới của hoạt động từ thiện. Thay vì bị sa lầy vào sự quan liêu, họ có kế hoạch để dọn sạch đống rác rưởi.

Những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản phúc thiện cho rằng cách tiếp cận giống như kinh doanh đối với hoạt động phúc thiện là một điều hoàn toàn mới. Được truyền cảm hứng bởi cụm từ được tạo ra bởi các nhà lý thuyết quản trị Mark Kramer và Micheal Port “giá trị chia sẻ”, những nhà phúc thiện mới chỉ ra rằng cái thiết lập cách tiếp cận của họ so với mô hình cũ là một sự nhấn mạnh mới vào việc đo lường các kết quả của hoạt động phúc thiện thay vì đảm bảo rằng hoạt động phúc thiện tạo ra được nhiều nhất những lợi ích xã hội có thể theo cách hiệu quả nhất: vấn đề là đưa ra phép tính đúng về chi phí – lợi ích.

Vào năm 1999, chẳng hạn, Kramer và Porter đã đăng một bài báo trên tạp chí HBR cho rằng có quá ít quỹ phúc thiện “suy nghĩ một cách có chiến lược về việc làm thế nào họ có thể tạo ra giá trị nhiều nhất cho xã hội với những nguồn lực mà họ có. Đã có rất ít nỗ lực để đo lường các kết quả. Ngược lại, các quỹ thường xem xét đo lường hiệu quả hoạt động không liên quan đến sứ mệnh thiện nguyện của họ”.

Đó chỉ là một vấn đề của đề xuất này. Đó là một sai lầm có thể hiểu được. Trên thực tế, các tiếp cận giống như kinh doanh, định hướng tác động đến hoạt động từ thiện đã mang lại lợi ích lớn cho hoạt động phúc thiện trong ít nhất 120 năm qua, kể từ khi các nhà công nghiệp như Carnegie và Rockefeller tuyên bố áp dụng các kỹ thuật kinh doanh vào lĩnh vực phúc thiện. Chỉ cần nhìn vào nhà tư vấn phúc thiện chính của Rockefeller, cựu mục sư Baptist có tên là Frederick T. Gates: Gates rời đoàn mục sư Baptist vào cuối những năm 1880 và tiếp tục dành hàng thập niên để tư vấn trước hết cho Rockefeller, và sau đó là con trai ông John D. Rockefeller về cách tốt nhất để giải ngân nguồn vốn phúc thiện. Một người hâm mộ Phong trào Hiệu quả (Efficiency Movement), một trường phái tư tưởng được phát triển từ những năm 1890 đến đầu những năm 1930 nhắm đến mục tiêu áp dụng các nguyên tắc quản lý của Taylor cho mọi lĩnh vực kinh doanh và xã hội, Gates tiếp tục khuyên Rockefeller cố gắng tận dụng chi tiêu phúc thiện của mình theo những cách mà nó có thể đạt được những điều tốt đẹp có thể thấy được.

William Schambra, một chuyên gia về hoạt động phúc thiện tại Viện Huston, đã nhắc lại điều này trong suốt cuộc phỏng vấn: “Quan điểm cho rằng chúng ta nên tổ chức các hoạt động phúc thiện theo cách chúng ta tổ chức các công ty của mình – là ý tưởng bắt nguồn từ John D. Rockfeller. Đó là việc chúng ta thiết lập một loại hình cấu trúc công ty với việc ra quyết định quan liêu và cẩn trọng. [Chủ nghĩa tư bản phúc thiện] thì không chỉ như vậy”.

Khi những người đề xướng chủ nghĩa tư bản phúc thiện tuyên bố rằng hoạt động phúc thiện “mới” mang tính định hướng tác động và giống như kinh doanh hơn các cách tiếp cận trước đây, họ đang ngang nhiên phớt lờ di sản của những phong trào như Trường phái Hiệu quả. Nhà sử học Stanley Katz đã thẳng thừng chỉ ra điều này. Ông đã viết: “Phần lớn các bài hùng biện quảng bá cho quỹ hiện nay”, “dường như cho tôi thấy một sự thiếu hụt kiến thức lịch sử về các quỹ có quy mô và lớn của Mỹ”.

Quay trở lại xa hơn, vào thế kỷ mười tám, sự tương đồng giữa các nhà tư bản phúc thiện ngày nay và các thế hệ trước đó trở nên nổi bật hơn. Thoạt nhìn, đặc tính nghịch hợp của một cụm từ như “chủ nghĩa tư bản phúc thiện” dường như thực sự khá rõ ràng. Dường như chẳng có mấy thứ không phù hợp nhau hơn phúc thiện, lĩnh vực vị tha, và chủ nghĩa tư bản, lĩnh vực tìm kiếm lợi nhuận cá nhân. Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử, tính mới lạ có ý nghĩa của ý tưởng này biến mất.

Tuyên bố chủ yếu của hoạt động phúc thiện “mới” là các thị trường và đạo đức không phải là những hiện tượng riêng biệt, mà là những hàng hóa tương xứng. Bằng cách khai thác sức mạnh của thị trường, chủ nghĩa tư bản phúc thiện đóng góp cho sự thịnh vượng của một cộng đồng lớn hơn. Đây là một ý tưởng mạnh mẽ, nhưng không phải là một điều mới. Ngược lại, nó phản ánh những giả định lâu dài về lợi thế xã hội của doanh nghiệp tư nhân. Thật vậy, người ta có thể nói rằng đó là nền tảng sáng tạo của nền kinh tế chính trị hiện đại, xuất hiện xa xưa nhất từ những bài viết của Bernard Mandeville và Adam Smith, những nhà kinh tế chính trị đã đưa ra ý tưởng rằng các cá nhân lao động để đáp ứng những mục tiêu kinh tế tự thân đóng góp một cách tự nhiên cho hàng hóa công chung.

Nhà triết học Slavoj Žižek là một trong số ít những nhà quan sát quan trọng chỉ ra cái ý nghĩa lạ lùng của cái được thấy tràn ngập trong những lời hùng biện của những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản phúc thiện. Ông đã chỉ ra rằng những châm ngôn marxist của họ cũng giống như “một phiên bản hậu hiện đại về bàn tay vô hình của Adam Smith: thị trường và trách nhiệm xã hội không đối lập nhau, mà có thể cùng thống nhất vì lợi ích chung… mục tiêu của họ không phải là kiếm tiền, mà là thay đổi thế giới (và như một sản phẩm phụ, làm ra thậm chí nhiều tiền hơn).

Žižek đưa ra một điểm tốt. Nhưng có hai điều mới về hoạt động phúc thiện mới. Một là về quy mô. Cái kia là cái cách các nhà tài trợ trực tiếp tổ chức chứ không che giấu khả năng sử dụng phúc thiện để làm giàu cá nhân.

(còn tiếp) 

Người dịch: T.Giang – SCDRC

Nguồn: http://evonomics.com/does-philanthropy-actually-make-the-rich-richer-and-the-poor/

Xu hướng tương lai và lựa chọn hiện nay về văn hóa – Phần I


Zhou Suyuan

Tóm tắt

Sự phát triển của văn hóa tuân theo những quy luật nhất định, ví như từ đơn nhất tới đa dạng, từ tập quyền tới dân chủ, từ kiềm chế tới tự do, từ đẳng cấp tới bình đẳng, từ khép kín tới mở ngỏ, từ mê tín tới duy lý, từ phi nhân đạo tới nhân đạo, từ bảo thủ tới tiến bộ… Xu hướng của văn hóa được quyết định bởi sự lựa chọn ngày nay, chỉ có lựa chọn theo quy luật mới đúng đắn. Chúng ta cần rút ra giá trị cốt lõi từ hệ thống giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội. Để làm được điều này, cần tuân thủ bốn nguyên tắc, đó là cần phản ánh sự theo đuổi bản chất của cộng đồng quần chúng xã hội, cần phản ánh những thành quả ưu việt của nền văn minh Trung Quốc năm nghìn năm, cần hấp thu những nhân tố tiến bộ thích hợp với chúng ta trong văn minh phương Tây, cần phản ánh những sáng tạo mới của người đương đại. Người trí thức cần phát huy vai trò quan trọng trong xây dựng văn hóa tiên tiến.

Về vai trò của văn hóa, ngày nay dù là quan phương hay dân gian đều ngày càng coi trọng, đã đạt được nhận thức chung. Trước đây nói “văn hóa dựng sân khấu, kinh tế diễn trò”, giờ đây đã thay đổi, văn hóa cũng tạo ra hiệu quả kinh tế. Tại các nước kinh tế phát triển như Mỹ, Đức, Anh, Pháp, Canada, Nhật, Hàn Quốc, ngành văn hóa đã trở thành một cột trụ của kinh tế quốc dân. Mỹ được gọi là đế quốc công nghiệp văn hóa thế giới, tỷ trọng giá trị gia tăng của văn hóa và các ngành tương quan của nó trong GDP đã chiếm tới 1/5. Năm 1993, giá trị sản lượng ngành văn hóa Nhật Bản đã vượt ngành xe hơi, năm 2004 đã trở thành ngành công nghiệp lớn thứ hai chỉ sau ngành chế tạo và chiếm 18% trong GDP. Ở Trung Quốc, hiện nay cũng đã nhận ra hiệu quả của văn hóa, cho nên đã đề ra việc kinh doanh văn hóa. Hội nghị toàn thể VI UBTW khóa 17 ĐCS Trung Quốc đã đề ra phương hướng và tư tưởng phát triển ngành văn hóa. Có người nói doanh nghiệp hóa, tôi không đồng ý, văn hóa không thể doanh nghiệp hóa, vì có một số chương trình văn hóa cần được nâng đỡ, không thể đều kiếm tiền, thậm chí cần cấp tiền, đặc biệt là về mặt xây dựng tinh thần nhân văn và phát huy văn hóa truyền thống ưu tú thì cần cấp tiền để nâng đỡ.

I/ Hàm nghĩa của văn hóa

Về hàm nghĩa của văn hóa, hiện nay không có một quan điểm tiêu chuẩn, theo thống kê có trên 300 định nghĩa, gần đây có một quan điểm tương đối được nhất trí: văn hóa là tổng hòa của văn minh vật chất và văn minh tinh thần của loài người. Hàm nghĩa của văn hóa còn rộng hơn văn minh. Bởi vì văn minh vật chất và văn minh tinh thần đều có thể coi là văn hóa, ăn cơm có văn hóa ăn, dưỡng sinh có văn hóa dưỡng sinh, ngoại giao có văn hóa ngoại giao, lễ nghi có văn hóa lễ nghi. Văn hóa gắn liền với con người, chỉ có con người mới có văn hó, có con người là có văn hóa, chỉ có sự khu biệt văn hóa nhiều và ít, cao và thấp, tiên tiến và lạc hậu. Vậy nếu tìm hiểu quá nhiều về định nghĩa về văn hóa, hiện nay sợ nhất thời còn khó đạt tới nhận thức chung, nhưng điều này tuyệt nhiên không cản trở chúng ta tiếp tục tìm hiểu và phát triển.

II/ Về văn hóa ngọn nguồn

Văn hóa ngọn nguồn tức là văn hóa truyền thống, mà lịch sử Trung Quốc rất dài, nội dung văn hóa truyền thống rất phong phú, các giai đoạn lịch sử khác nhau có văn hóa khác nhau. Vậy văn hóa ngọn nguồn phải là một hệ thống văn hóa chín muồi sớm nhất của Trung Quốc, nói cụ thể thì là văn hóa bách gia chư tử thời Tiên Tần, có Nho giao, Đạo Gia, Pháp gia, Mặc gia, Binh gia, Nông gia, Tạp gia, trong đó có ảnh hưởng tương đối lớn là Nho gia, Mặc gia, Pháp giao, Đạo gia.

Khái niệm cốt lõi của Nho học là “lễ” và “nhân”. “Lễ” bao gồm chế độ thống trị và quy phạm hành vi. Khổng Tử đề xướng “khắc kỷ phục lễ” chính là khôi phục lễ của Chu Công, chư hầu nghe theo lệnh thiên tử, đại phu nghe theo lệnh chư hầu. Khổng Tử còn mở rộng phạm vi của lễ ra sự giao tiếp liên cá nhân và đời sống thường ngày, mỗi người đều phải căn cứ theo địa vị thân phận khác nhau mà tuân thủ những quy phạm và lễ nghĩa nhất định. “Nhân” là lòng yêu mến, nhưng chịu sự chế ước của lễ. Khổng Tử chủ trương vua tôi yêu quý nhau, cha con yêu quý nhau. Ông cho rằng nếu thiên tử, chư hầu tới dân chúng bình thường đều có thể tuân thủ lễ tiết, lại có lòng yêu, coi sự hài hòa là quý thì sẽ tiêu trừ được đấu tranh, thực hiện được thiên hạ thái bình. Mạnh Tử phát triển học thuyết về “nhân” của Khổng Tử, nhấn mạnh “nhân nghĩa”, cho rằng “dân vi quý, xả tắc thứ chi, quân vi khinh”, chủ trương kẻ thống trị phải thực hiện “nhân chính” đối với kẻ bị trị. Mạnh Tử chủ trương “nhân trị”. Tuân Tử phát triển học thuyết về “lễ” của Khổng Tử, chủ trương “pháp hậu vương”, hoàn thiện chế độ hiện hành ở các nước chư hầu, đạt tới sự thống nhất về lễ. Tuân Tử phản đố “thuyết thiên mệnh”, đề xuất “thuyết tính ác”. Chủ trương đối với quý tộc thì dùng “lễ trị”, đối với thứ dân thì dùng hình phạt. Tuân Tử là người truyền bá Nho học, lại là nhà tiên phong của Pháp gia.

Pháp gia vừa phản đối nhân trị của Khổng Mạnh, vừa không tán thành lễ trị của Tuân Tử, chủ trương pháp trị. Hàn Phi là đại biểu. Ông chủ trương bất luận địa vị thân phận cao hay thấp đều phải nhất luân tuân thủ pháp luật thống nhất, kẻ phạm pháp đều phải bị trừng bị trừng trị, không ban phát ân huệ ngoài pháp luật. Pháp lệnh không nên mô phỏng thủ cựu, mà phải thay đổi theo sự biến động của đời sống, do nhà vua chế định ban hành. Nhà vua phải có luật, thuật, thế, quyền thế chí tôn. Cả nước trên dưới đều tuân thủ pháp luật thì nhà vua có thể thực hiện được thiên hạ đại ổn định. Hàn Phi Tử đã tổng kết được các học thuyết của bách gia chư tử về trị quốc an bang, lý luận pháp gia hoàn chỉnh của nó đã cung cấp tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng thể chế chuyên chế tập quyền của vương triều Tần, cũng ảnh hưởng đến thể chế chính trị trên 2000 năm sau Tần.

Quan niệm cơ bản của Mặc gia là “kiêm tương ái giao tương lợi”. Nó không giống với “nhân ái” của Nho gia là thứ chịu sự chế ước của lễ, mà chủ trương “kiêm ái” bất kể thân phận địa vị. Chỉ ra căn nguyên của chiến tranh loạn lạc là ở chỗ chư hầu chỉ yêu nước của mình mà không yêu nước của người khác, cá nhân chỉ yêu mình mà không yêu người khác. Vì vậy Mặc Tử chủ trương giữa các nước chư hầu, giữa vua tôi cha con anh em, giữa những người có đại vị thân phận khác nhau đều phải “giao tương ái kiêm tương lợi”, yêu nhau, làm lợi cho hau mới là “trị đạo” thiên hạ.

Quan niệm cốt lõi của Đạo gia là “vô vi nhi trị”, là tư tưởng cốt yếu của học thuyết chính trị của Lão Tử. Tư tưởng Đạo gia bắt nguồn từ Đạo đức kinh của Lão Tử. Lão Tử cho rằng bách tính cùng khốn khó trị là vì những kẻ ở trên thu thuế quá nhiều, quản lý quá nhiều. Người cai trị phải thanh tĩnh vô vi, thuận theo tự nhiên, mới ổn định. “Ngã vô vi nhi dân tự hóa, ngã hiếu tĩnh nhi dân tự chính, ngã vô sự nhi dân tự phú, ngã vô dục nhi dân tự phác”. Đạo đức kinh còn bao hàm phép biện chứng. Nó gọi quy luật phát triển của sự vật là “đạo”, đạo ở trong vật, chi phối sự vận động của vật. Sự vật do hai mặt cính và phản hợp thành, hai bên đối lập nương tựa vào nhau, không có tiện thì không có quý, không có thấp thì không có cao. Hai bên đối lập nhưng lại chuyển hóa lẫn nhau, họa có thể biến thành phúc, phúc có thể biến thành họa.

Mặc gia về sau suy thoái, Đạo gia là văn hóa xuất thế, không chiếm địa vị chủ đạo, do đó mấy nghìn năm nay có ảnh hưởng lớn nhất là Nho gia và Pháp gia.

Trong văn hóa ngọn nguồn còn có nhiều nội dung có giá trị khác, ở đây không nêu hết. Tóm lại, văn hóa truyền thống của dân tộc Trung Hoa có nguồn gốc sâu xa, rộng lớn tinh thâm, có không ít tinh hoa, có giá trị để kế thừa một cách phê phán. Về tinh thần dân tộc Trung Hoa, trong văn bản thời thượng cổ là Chu dịch có hai câu rất quan trọng: “Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức”; “Địa thế khôn, quân tử dĩ hậu đức tải vật”. “Tự cường bất tức” là tinh thần phấn đấu, mãi mãi tiến lên, nỗ lực vươn tới, quyết không dừng lại; “hậu đức tải vật” là tinh thần kiêm dung, hoài bão rộng lớn, bao chứa vạn vật. Một câu là tinh thần phấn đấu, một câu là tinh thần kiêm dung, hai điểm này luôn chỉ đạo cổ vũ dân tộc Trung Hoa phát triển về phái trước, đứng cao sừng sững tại phương Đông của thế giới.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2014 – 6 & 7

Chú trọng dân sinh văn hóa, thúc đẩy xã hội hài hòa – Phần cuối


Xem xét từ góc độ cơ chế thực hiện, mấu chốt của chú trọng dân sinh văn hóa là ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phục vụ văn hóa chung (hay văn hóa cộng đồng). Vấn đề hệ thống phục vụ văn hóa chung lấy việc thực hiện quyền lợi văn hóa của người dân làm logic xuất phát, cũng là thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội, hướng đến công chúng để đưa ra các sản phẩm văn hóa cộng đồng và sự phục vụ cùng các hệ thống cơ chế liên quan, nó là bộ phận hợp thành của hệ thống phục vụ cộng đồng quốc gia. Xuất phát điểm chủ yếu của nó chính là đảm bảo lợi ích văn hóa cho quần chúng nhân dân, duy trì quyền lợi văn hóa cho người dân; nội dung chủ yếu gắn liền với bốn phương diện cơ bản: lý luận văn hóa và sáng tạo cơ chế mới đối với hệ thống giá trị văn hóa, các thiết chế văn hóa chung và môi trường sinh thái văn hóa, chủ thể vi mô hỗn hợp của sự nghiệp phục vụ văn hóa chung, thể chế quản lý giám sát và hệ thống chính sách pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống phục vụ văn hóa cộng đồng cũng chính là con đường chủ yếu để thực hiện, duy trì và phát triển tốt quyền và lợi ích văn hóa cơ bản của người dân. Ngoài ra, cũng cần phải coi trọng việc xây dựng hệ thống phục vụ thị trường văn hóa. Việc xây dựng đó đương nhiên cần tuân theo quy luật thị trường, nhưng vẫn phải thể hiện ý thức dân sinh, từ đó mà hình thành hai nhân tố tác động hữu cơ với nhau trong hệ thống phục vụ văn hóa.

Xem xét từ góc độ mục đích cuối cùng, chú trọng dân sinh văn hóa là nhằm giải quyết vấn đề tinh thần gia đình, thực hiện quyền lợi và nhu cầu tinh thần đa tầng của người dân. Con người là tồn tại văn hóa, văn hóa là biểu hiện người của con người, cũng là huyết mạch và linh hồn cho sự phát triển và sinh tồn của một dân tộc, tinh thần gia đình và ký ức tinh thần dân tộc thể hiện sự đồng cảm của dân tộc, phản ánh sức sống của dân tộc, sức kết dính của dân tộc. Văn hóa của một dân tộc là sự kết dính của cảm thụ hiện thực và nhận thức lịch sử của dân tộc đó đối với thế giới và đối với bản thân, tích tụ và nhuần nhuyễn các chuẩn tắc hành vi, truy cầu tinh thần, bao gồm các thói quen sinh hoạt chung, phương thức tư duy, phương thức hoạt động, tình cảm đạo đức, thị hiếu thẩm mỹ, tôn giáo tín ngưỡng, tiêu chuẩn giá trị… Do vậy, con người không thể chỉ dừng lại ở chỗ truy cầu và thụ hưởng trên phương diện vật chất, không cần tinh thần gia đình, nếu tinh thần không có nơi nương tựa, tâm hồn sẽ trở nên trống rỗng. Xã hội hiện đại đang trong giai đoạn chuyển đổi, đi liền với nó là các hiện tượng tâm lý như ảo tưởng, trống rỗng, lo âu, lạnh nhạt, khiếp sợ, bất an,… Do vậy, cần phải thông qua những quan tâm mang tính nhân văn, những tư vấn tâm lý để giải quyết các vấn đề đó. Mục đích cuối cùng của việc xây dựng dân sinh văn hóa chính là xây dựng tinh thần gia đình, giải quyết sự bình yên tinh thần, làm cho cuộc sống của quần chúng nhân dân càng thêm hạnh phúc, vui vẻ. Đương nhiên, ở đây cần phải chú ý nhiều tầng bậc khác nhau của sự truy cầu tinh thần, không chỉ phải chú trọng việc xây dựng tinh thần gia đình chung của toàn thể dân tộc, mà còn phải chú ý đến sự truy cầu tinh thần của các cộng đồng khác nhau, giai tầng khác nhau, các cá nhân khác nhau.

3/ Chú trọng văn hóa dân sinh thể hiện tính tự giác văn hóa mới

Phí Hiếu Thông đã từng cho rằng, “tự giác văn hóa là chỉ con người trong một nền văn hóa nhất định, tự hiểu về nền văn hóa của mình, hiểu lịch sử của nó, quá trình hình thành của nó, cũng như đặc sắc và xu thế phát triển của nó. Ở đây không chứa đựng bất kỳ ý nghĩa nào của “trở về văn hóa”, không phải là “phục cổ”, đồng thời cũng không chủ trương “tây hóa hoàn toàn” hoặc “tha hóa hoàn toàn”. Tự giác văn hóa chính là chỉ sự tự giác ngộ, tự phản tỉnh, tự sáng tạo của văn hóa. Do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, tự giác văn hóa của chúng ta trì trệ hơn so với tự giác đối với lực lượng sản xuất, xây dựng văn hóa cũng khá chậm chạp. Việc chú trọng dân sinh văn hóa thể hiện một cách đầy đủ tự giác văn hóa mới trong tiến trình xây dựng xã hội hài hòa ở Trung Quốc hiện nay.

Thứ nhất, biểu hiện định hướng giá trị lấy dân làm gốc

Quyền và lợi ích văn hóa cũng như nhu cầu văn hóa của quần chúng nhân dân mang tính đa dạng và có nhiều cấp độ; các khu vực khác nhau, các giai tầng khác nhau, các cộng đồng khác nhau đều có những nhu cầu văn hóa khác nhau. Từ sau cải cách mở cửa, vấn đề tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, nỗ lực thúc đẩy phương diện công bằng văn hóa đã giành được những tiến triển nhất định. Nhưng, tốc độ thực hiện quyền lợi văn hóa vẫn còn khá thấp, chủ yếu thể hiện ở chỗ: Một là, những chi tiêu cho văn hóa và giải trí có tỷ trọng tương đối thấp trong tổng chi phí của người dân; Hai là, trong sự phát triển của văn hóa, có sự mất cân bằng trong phát triển giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn, giữa các giai tầng khác nhau, cụ thể sự phát triển văn hóa khu vực tây trung bộ rõ ràng chậm chạp hơn khu vực đông bắc, nông thôn chậm chạp hơn thành thị; Ba là, thiếu sự tôn trọng quyền biểu đạt đối với các nhu cầu văn hóa của quần chúng, quyền tham gia vào các quyết sách văn hóa chung; Bốn là, phương diện thực thi cơ sở văn hóa cộng đồng còn thiếu. Điều này làm cho việc thực hiện bình đẳng trong thụ hưởng văn hóa của người dân không thể đảm bảo. Chú trọng dân sinh văn hóa cần phải lấy việc tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân làm xuất phát điểm, cần phải kiên trì tính công ích, tính công bằng và hiệu quả xã hội, coi đó là những nguyên tắc đầu tiên, đem lại cho người dân sự ưu đãi, miễn phí, phục vụ văn hóa một cách hiệu quả, nhanh chóng, giúp cho người dân có thể được hưởng những thành quả của sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

Thứ hai, nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của văn hóa đối với việc nâng cao quyền lực mềm của đất nước

Sức mạnh của một đất nước bao gồm quyền lực cứng và quyền lực mềm, quyền lực cứng biểu hiện ở thực lực trên các phương diện chủ yếu, như quân sự, kỹ thuật, kinh tế. Quyền lực mềm biểu hiện ở sức lôi cuốn của văn hóa, năng lực thuyết phục trên lĩnh vực ngoại giao, sức thu hút của chế độ chính trị, trong đó sức ảnh hưởng, độ kết dính và lôi cuốn của văn hóa đóng vai trò hạt nhân của quyền lực mềm. Trong thời đại ngày nay, quyền lực mềm của văn hóa đóng vai trò ngày càng quan trọng trong năng lực cạnh tranh của một đất nước. Quốc gia nào chiếm vị trí đỉnh cao trong phát triển văn hóa, quốc gia đó sẽ nắm quyền chủ động trong cạnh tranh quốc tế. Như trên đã trình bày, xây dựng dân sinh văn hóa bao gồm nội dung ở nhiều cấp độ khác nhau, bất luận sự sáng tạo và sản sinh các sản phẩm văn hóa hay các thiết chế văn hóa, thực hiện và tôn trọng các quyền lợi văn hóa của nhân dân, đều là xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa cũng như xây dựng tinh thần gia đình của quần chúng nhân dân, đều là nhằm nâng cao quyền lực mềm văn hóa. Quyền lực mềm văn hóa, ở cấp độ cao nhất, biểu hiện trạng thái tinh thần quốc gia, sức kết dính nội tại và phẩm cách ý chí, tất cả những cái đó đến từ sự đồng thuận đối với các giá trị nòng cốt trong xã hội của mọi người. Theo đó, trọng tâm của việc xây dựng quyền lực mềm là xây dựng dân sinh văn hóa, hạt nhân của xây dựng dân sinh văn hóa là xây dựng tinh thần gia đình.

Thứ ba, thể hiện lựa chọn lý tính đối với sự phát triển và sáng tạo văn hóa mới của Trung Quốc đương đại

Văn hóa Trung Quốc đương đại thể hiện tính phong phú, đa dạng, sáng tạo và phát triển văn hóa mới. Chú trọng văn hóa dân sinh cần phải tiếp thu và học hỏi những thành tựu văn hóa cổ kim và trên thế giới. Sự tồn tại và phát triển một nền văn hóa của bất kỳ dân tộc hay quốc gia nào cũng đều phải được kế thừa, phát triển, sáng tạo trên nền tảng văn hóa truyền thống. Nếu xa rời truyền thống, đứt đoạn, thì sẽ tự đánh mất mình, đánh mất gốc. Đối với văn hóa Trung Hoa, cần nỗ lực duy trì tính dân tộc, thể hiện tính thời đại nhằm làm cho văn hóa phù hợp với xã hội và văn minh hiện đại; đối với văn hóa của các dân tộc, cần tăng cường khai thác và giữ gìn; đối với đặc sắc văn hóa truyền thống của các khu vực, vùng miền, cần khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Như vậy, tinh thần gia đình của dân sinh văn hóa mới có thể gắn kết với thực tiễn, với cuộc sống, với quần chúng, mới có thêm sức và lực mới. Cùng với sự tăng tốc của quá trình toàn cầu hóa kinh tế, nhân loại đang bước vào giai đoạn có những xung đột lớn về các giá trị văn hóa. Xây dựng dân sinh văn hóa còn phải đối diện với sự tồn tại khách quan của tính đa dạng văn hóa thế giới. Tính đa dạng, một mặt, mang lại tính phong phú của văn hóa; mặt khác, cũng mang đến những thách thức đối với văn hóa truyền thống dân tộc và nguy cơ xung đột văn hóa. Trong quá trình ngày càng phức tạp của sự giao lưu văn hóa quốc tế, sự tăng tốc của các sản phẩm văn hóa trong và ngoài nước đã mở rộng tầm mắt văn hóa cho người dân, kích thích những nhu cầu văn hóa chung, tăng cường sự phục vụ các sản phẩm văn hóa mang sắc thái thời đại, cũng là mở rộng sức ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trên phạm vị thế giới; đồng thời, cũng mang đến những thách thức và xung đột đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc, chẳng hạn, một số hình thức văn hóa truyền thống địa phương, như hý kịch, các ngày lễ truyền thống,… dần dần mai một. Mặc dù vậy, Trung Quốc hiện vẫn luôn tràn đầy tự tin, hội nhập với thế giới thông qua việc đối diện với chỉnh thể văn hóa của quá trình toàn cầu hóa, đối diện với hoàn cảnh lịch sử thế giới của quá trình toàn cầu hóa để từ đó khảo nghiệm vấn đề dân sinh văn hóa.

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Chú trọng dân sinh văn hóa, thúc đẩy xã hội hài hòa – Phần đầu


Trương Vũ Đông

1/ Chú trọng dân sinh văn hóa là vấn đề không thể thiếu trong xây dựng xã hội hài hòa

Những năm qua, trong điều kiện nhấn mạnh quan điểm lấy dân làm gốc, phát triển khoa học, xây dựng xã hội hài hòa, dân sinh đã trở thành một nội hàm quan trọng trong phát triển xã hội Trung Quốc. Chú trọng dân sinh ngày càng nhận được sự quan tâm, đồng thuận của toàn xã hội và trở thành nội dung quan trọng trong tư duy quản lý mới. Nhưng xét một cách tổng thể, bất luận trong nghiên cứu lý luận về dân sinh hay trong việc đưa ra những giải pháp đối với các vấn đề dân sinh cụ thể, về cơ bản đều phải tiến hành xem xét từ góc độ xây dựng xã hội. Chẳng hạn, trong giai đoạn giữa hai kỳ đại hội toàn quốc, có người từng đưa ra yêu cầu giải quyết 12 vấn nạn dân sinh, bao gồm: lao động việc làm, đảm bảo xã hội, vệ sinh y tế, an toàn thực phẩm, học phí giáo dục, luật pháp nghiêm minh, an toàn sinh sản, phân phối thu nhập, cơ chế doanh nghiệp, trưng dụng đất đai, quá trình đô thị hóa và ô nhiễm môi trường. Từ đó, nảy sinh các vấn đề, như vấn đề dân sinh có bao gồm nội dung xây dựng văn hóa hay không? Quyền lợi dân sinh có bao gồm quyền lợi văn hóa? Dân sinh có đòi hỏi nội dung văn hóa và công bằng văn hóa?…

Ngoài ra, chúng ta còn nhận thấy một số hiện tượng đáng chú ý gắn liền với vấn đề dân sinh văn hóa.

Chẳng hạn, ở Trung Quốc, ngày 13/9/2006, “Đề cương phát triển văn hóa thời kỳ “thập nhất ngũ” của đất nước” được ban hànhl trong đó, đưa ra nguyên tắc phát triển văn hóa cần phải kiên trì lấy dân làm gốc, đảm bảo và thực hiện quyền lợi văn hóa cơ bản của quần chúng nhân dân, làm cho quảng đại quần chúng nhân dân được hưởng những thành quả của phát triển văn hóa; đề ra trọng điểm phát triển văn hóa chung, thực hiện tốt việc xây dựng văn hóa cơ sở, dốc hết sức để nhanh chóng cải thiện các điều kiện văn hóa cộng đồng ở khu vực miền Trung và miền Tây cũng như khu vực nông thôn, hoàn thiện phục vụ văn hóa cộng đồng, đảm bảo quyền lợi văn hóa cơ bản cho nông dân và tầng lớp có thu nhập thấp ở thành thị.

Ngày 16/6/2007, Bộ Chính trị đã Họp hội nghị để tập trung nghiên cứu làm rõ vấn đề xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa cộng đồng. Hội nghị chỉ rõ rằng, tăng cường xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa là yêu cầu tất yếu của việc xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa và của việc phát triển phồn vinh nền văn hóa tiên tiến xã hội chủ nghĩa; đồng thời, việc đảm bảo, duy trì và phát triển tốt các quyền lợi văn hóa cơ bản của quần chúng nhân dân có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người, nâng cao nhân tố văn hóa khoa học và đạo đức tư tưởng toàn dân tộc, cũng như việc xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh, thực hiện hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa…

Đến năm 2007, thành phố Thâm Quyến đề ra “Hệ thống chỉ số phúc lợi dân sinh”, trong đó đã bổ sung quyền lợi văn hóa và phúc lợi văn hóa của người dân thành phố vào chỉ số về “trình độ phát triển toàn diện của con người”.

Ngày 2/3/2008, Bảo tàng quân sự cách mạng nhân dân Trung Quốc đã mở cửa miễn phí, số người đến tham quan hôm đó trở thành một hiện tượng. Kể từ năm nay trở đi, trên toàn quốc, các Viện bảo tàng văn hóa văn vật, nhà tưởng niệm, những nơi biểu dươg và có giá trị giáo dục lòng yêu nước sẽ tiến hành mở cửa miễn phí.

Theo “Nhân dân nhật báo” ngày 9/4/2008, tại Tỉnh Cam Túc, “Huyện Vĩnh Tịnh đã đầu tư 3000 vạn tệ xây dựng Hoàng Hà Tam Hiệp Khổng Tử đại điện”, “Huyện Hoa Đình đã đầu tư hơn 3000 vạn tệ xây dựng công trình quảng trường văn hóa Tần Thủy Hoàng tế trời”, “Huyện Lâm Đào đầu tư 8000 vạn tệ xây dựng vườn văn hóa Lão Tử”. Ba huyện trên không tiếc tiền bạc công sức để xây dựng “văn hóa cổ”, do đó đã gây được sự quan tâm của toàn xã hội.

Những ví dụ nêu trên đã chứng minh một điều rằng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc hết sức quan tâm và coi trọng vấn đề “dân sinh văn hóa”; mặt khác, cũng thể hiện trong vấn đề dân sinh và dân sinh văn hóa vẫn đang tồn tại một số vấn đề cần giải quyết. Ví dụ, ở một số địa phương lấy những người nổi tiếng, quan chức chính phủ, diễn viên điện ảnh, các doanh nhân thành đạt,… làm nhân vật chính trong các hoạt động văn hóa; do đó, bộ mặt văn hóa biến thành bộ mặt quý tộc, còn sự truy cầu văn hóa của quần chúng nhân dân bị lãng quên, dẫn đến sự phai nhạt của bản sắc dân sinh và sắc thái văn hóa vốn không thể thiếu trong các hoạt động văn hóa. Vì vậy, đối với dân sinh văn hóa, việc quan tâm chú trọng và làm rõ một số vấn đề mang tính cơ sở sẽ giúp ích cho việc xây dựng xã hội hài hòa và xây dựng dân sinh.

Trung Quốc tiến hành cải cách đã 30 năm, trong 30 năm đó đã giành được những thành tựu to lớn trong xây dựng văn minh vật chất và văn minh tinh thần, được thế giới thừa nhận. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới. Trong thời kỳ “Thập nhất ngũ”, thu nhập bình quân đầu người đã đạt khoảng 2000 – 3000 USD, số lượng hộ đói nghèo ở thành thị và nông thôn giảm đáng kể, Trung Quốc đã “bước vào giai đoạn mới trong phát triển toàn diện xã hội hài hòa”. Có thể nói, Trung Quốc đã giải quyết được những vấn đề cơ bản của đời sống nhân dân. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn bộc lộ nhiều mâu thuẫn. Trong khi thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng trưởng, số hộ đói nghèo không ngừng giảm xuống thì mức độ hài hòa xã hội lại có chiều hướng đi xuống. Những yếu tố liên quan đến chỉ số hạnh phúc của người dân, như đời sống tinh thần, gia đình hạnh phúc… có chiều hướng chậm lại; số lượng, chủng loại các yếu tố, như tính xã hội, tính quần thể có xu thế gia tăng. Những vấn đề nêu trên hoàn toàn không thể chỉ dựa vào các biện pháp kinh tế, xã hội hay chính trị là có thể giải quyết được, mà đòi hỏi phải kiên trì quan điểm phát triển khoa học lấy dân làm gốc. Xã hội hài hòa đòi hỏi giá trị nội tại. Như nhiều học giả nhận định, trong xã hội tồn tại rất nhiều vấn đề, thái độ bất mãn bộc lộ và lan rộng, ngoài vấn đề phân phối ra, vấn đề công ăn việc làm, ổn định cuộc sống của các tầng lớp nhân dân chưa được giải quyết tốt.

2/ Dân sinh văn hóa là một phạm trù có nội dung đa tầng

Thuật ngữ “Dân sinh” xuất hiện lần đầu tiên trong Tả truyện – Tuyên Công năm thứ 12, trong mệnh đề “Dân sinh tại cần, cần tắc bất quỹ” (tạm dịch: Dân sinh ở chỗ cần cù, cần cù thi không thiếu thống – ND). Hiện nay, “dân sinh” được giải thích là “sinh kế của nhân dân”, cách giải thích này chứa đựng tư tưởng nhân bản và ý nghĩa nhân văn. Thông thường “dân sinh” được giải thích là đời sống nhân dân, nhưng chủ yếu nhấn mạnh đến những nhu cầu thiết yếu của người dân. Những nhu cầu đó đương nhiên bao gồm những nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Tuy vậy, khi đề cập đến “dân sinh”, đa số đều chú trọng đến phương diện vật chất, mà ít chú trọng đến phương diện tinh thần của dân sinh.

Trên thực tế, dân sinh là một phạm trù lịch sử. Trng điều kiện người dân chưa được thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu: ăn, mặc, ở, đi lại… hay nói cách khác, khi quyền sinh tồn cơ bản chưa thể giải quyết, dân sinh chủ yếu nhấn mạnh đến những sinh kế cơ bản ở phương diện vật chất, còn những nhu cầu văn hóa đối với người dân lúc đó dường như là thứ hàng xa xỉ. Cùng với sự phát triển của kinh tế, sự phồn vinh của xã hội, những nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng trở nên bức thiết, yếu tố văn hóa dần dần thẩm thấu vào cuộc sống của người dân, dân sinh ngày càng trở về với ý nghĩa đầy đủ của nó.

Trong bối cảnh “dân sinh” trở thành tâm điểm như hiện nay, yêu cầu bắt buộc đầu tiên đối với xây dựng văn hóa là phát triển “dân sinh văn hóa”. Vấn đề “dân sinh văn hóa” chính là những sinh kế cơ bản trên phương diện văn hóa, cũng có thể xem đó như những nhu cầu văn hóa của người dân. Dân sinh văn hóa là một phạm trù có nội dung phong phú với nhiều tầng bậc khác nhau.

Từ góc độ cuộc sống hàng ngày, chú trọng dân sinh văn hóa chính là đưa ra những thiết chế, những hình thức và những sản phẩm văn hóa có tính chất lành mạnh, bổ ích nhằm thỏa mãn nhu cầu thưởng thức, giải trí của quần chúng nhân dân. Chẳng hạn, các hoạt động mang tính quần chúng, phục vụ lợi ích quần chúng; quảng trường văn hóa, khu văn hóa, tháng đọc sách, các buổi diễn giảng, nói chuyện về văn hóa… Những hoạt động này là những hoạt động không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của quần chúng. Thông qua những hoạt động đó, có thể mang lại cho quần chúng nhân dân sự thụ hưởng những thành quả của phát triển văn hóa, giúp cho người dân được sống trong môi trường văn hóa lành mạnh, cảm thụ được sự hoan hỷ của các hoạt động văn hóa, từ đó mà cảm nhận được sự hài hòa của xã hội cũng như nét đẹp của cuộc sống.

Xem xét từ góc độ quyền lợi chủ thể, chú trọng dân sinh văn hóa tất yếu phải tôn trọng quyền lợi văn hóa của quần chúng nhân dân. Quyền lợi văn hóa là một trong những quyền lợi căn bản nhất của con người, có vị trí quan trọng ngang bằng với các quyền chính trị và quyền kinh tế. Quyền lợi văn hóa của người dân bao gồm: quyền được lựa chọn và tham gia vào các hoạt động văn hóa; quyền sáng tạo văn hóa và quyền giữ gìn, bảo tồn các thành quả văn hóa; quyền truyền bá văn hóa, hưởng thụ các thành quả và giá trị văn hóa, quyền phê bình đối với các hiện tượng văn hóa,… Hạt nhân của quyền lợi văn hóa là công bằng văn hóa, nghĩa là mọi người đều có quyền lợi và cơ hội hưởng thụ các giá trị văn hóa một cách công bằng, nhu cầu văn hóa của mọi người đều có thể được thỏa mãn. Chú trọng dân sinh văn hóa tất yếu phải tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, thúc đẩy công bằng văn hóa.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.