Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XV


Nội dung của RIE 2015 nêu ra 6 chiến lược then chốt sau:

+ Đầu tư vào khoa học cơ bản và tri thức để tạo ra nguồn “vốn trí tuệ” – là cơ sở cho đổi mới sáng tạo trong tương lai, đặc biệt là phục vụ cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế đổi mới sáng tạo. Các nhà khoa học nhận được sự hỗ trợ và tự chủ để theo đuổi những vấn đề khoa học xuất hiện từ nghiên cứu của họ, với mục đích thúc đẩy sự xuất sắc trong các lĩnh vực có tác động kinh tế và xã hội lâu dài.

+ Tập trung vào việc thu hút và phát triển tài năng khoa học để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức nghiên cứu công nghiệp và khu vực công cộng của Singapore. Kinh phí sẽ được cung cấp cho học bổng và học bổng đào tạo tài năng tại các tổ chức nổi tiếng cả trong nước và nước ngoài, để tạo ra một nguồn nhân lực khoa học trẻ tài năng.

+ Chú trọng hơn vào tài trợ cạnh tranh để thúc đẩy đổi mới và đưa ra những ý tưởng tốt nhất. Một tỷ lệ lớn hơn của tài trợ cho R&D sẽ được cấp trên cơ sở cạnh tranh, trong khi vẫn duy trì một mức độ thích hợp kinh phí đảm bảo cho những nghiên cứu cốt lõi.

+ Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức thực hiện R&D trong khi vực công và với ngành công nghiệp; ưu tiên tài trợ lớn hơn sẽ được trao cho những nỗ lực đa ngành và hợp tác, bao gồm cả với các phòng thí nghiệm R&D của doanh nghiệp.

+ Nâng cao hơn sự đóng góp cua R&D đối với tăng trưởng kinh tế. Điều này có nghĩa là hỗ trợ lớn hơn cho khu vực tư nhân R&D, hợp tác chặt chẽ hơn giữa R&D công và tư, và nhấn mạnh vào thương mại hóa các sản phẩm trí tuệ dẫn đến sản phẩm và dịch vụ mới và tốt hơn. Trong R&D công, Quỹ gắn kết công nghiệp sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu công hợp tác chặt chẽ hơn với các ngành công nghiệp.

+ Cung cấp hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho các nhà khoa học để biến ý tưởng của họ từ nghiên cứu cơ bản đến thương mại hóa, thông qua việc tăng tài trợ  để chuyển giao công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp.

Ngày 09/01/2016, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã công bố RIE 2020 với khoản ngân sách lên tới 19 tỷ SDG (khoảng 13 tỷ USD) nhằm hỗ trợ R&D trong giai đoạn 2016 – 2020. Đây là khoản đầu tư kỷ lục mà Chính phủ Singapore dành cho R&D từ trước tới nay. Singapore đặt mục tiêu chiến lược trở thành “Quốc gia thông minh” (Smart Nation) và RIE 2020 được đưa ra với khẩu hiệu “chiến thắng tương lai thông qua khoa học và công nghệ”.

Để tối đa hóa tác động, kinh phí sẽ được ưu tiên trong 4 lĩnh vực công nghệ chiến lược mà Singapore có lợi thế cạnh tranh và cũng là những nhu cầu quan trọng quốc gia. Bốn ưu tiên là:

(1) Phát triển công nghệ sản xuất và kỹ thuật tiên tiến  (phát triển năng lực công nghệ hỗ trợ tăng trưởng và tính cạnh tranh của các ngành chế tạo và kỹ thuật);

(2) Đẩy mạnh các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y sinh học (đưa Singapore trở thành trung tâm hàng đầu thế giới về chăm sóc sức khỏe, y sinh học; tạo ra các giá trị kinh tế cho đất nước và người dân Singapore thông qua nghiên cứu xuất sắc và ứng dụng);

(3) Dịch vụ và nền kinh tế kỹ thuật số (phát triển, tích hợp và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo kỹ thuật số của Singapore nhằm đáp ứng các ưu tiên quốc gia, nâng cao năng suất và hỗ trợ các dịch vụ then chốt, tạo ra những cơ hội kinh tế bền vững và việc làm chất lượng);

(4) Phát triển các giải pháp đô thị bền vững (phát triển đất nước Singapore bền vững và đáng sống thông qua các giải pháp tích hợp không chỉ cho Singapore mà còn cho cả thế giới).

Ngoài ra, trong RIE 2020, Chính phủ Singapore đầu tư 2,5 tỷ SGD (tăng 900 triệu SGD so với RIE 2015) cho nghiên cứu các lĩnh vực “Không gian Trắng” (các lĩnh vực mới xuất hiện hoặc dự báo có vai trò lớn, như an ninh mạng…).

Chính sách tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học: Các nhà hoạch định chính sách cho rằng, thành công của đảo quốc này cũng nhờ vào chính sách gọi thầu – theo tiêu chuẩn quốc tế cho nghiên cứu khoa học. Trên thực tế, Chính phủ Singapore đã không sáng tạo ra mô hình mới nào, mà chủ yếu dựa trên các hệ thống đã tồn tại sẵn, nhất là mô hình của Anh. Theo đó, chính quyền thực hiện chính sách gọi thầu cho các dự án 3 năm, 5 năm hay 10 năm, theo quan điểm “chuyển giao công nghệ” thông qua hợp tác với các nhà công nghiệp và mua bằng sáng chế nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình từ khám phá đến ứng dụng.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những công nghệ lõi như blockchain, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, robot, in 3D cùng với quá trình chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Cuối năm 2016, Chính phủ Singapore với tham vọng khuyến khích các doanh nghiệp phát triển công nghệ tài chính đã chính thức cho áp dụng Sandbox – cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế – cho phép các công ty công nghệ trong những lĩnh vực chưa có quy định rõ ràng được phép thử nghiệm các giải pháp của họ trên thị trường, dưới sự giám sát của cơ quan quản lý. Theo đó, ngày 16/11/2016, cơ quan quản lý tiền tệ của Singapore (MAS) đã công bố Hướng dẫn về Khung pháp lý thử nghiệm cho ngành tài chính (FinTech Regulatory Sandbox Guidelines) để khuyến khích và cho phép thử nghiệm các giải pháp sử dụng công nghệ một cách sáng tạo để cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính. MAS công bố Hướng dẫn về Khung pháp lý thử nghiệm cho ngành tài chính hướng tới mục tiêu cụ thể là khuyến khích những khởi nghiệp sáng tạo về công nghệ tài chính có thể được thử nghiệm ở thị trường, sau đó được áp dụng tại Singapore và nhiều quốc gia khác. Những thử nghiệm này sẽ được tiến hành trogn một không gian và thời gian được xác định rõ ràng và với các biện pháp bảo vệ thích hợp để bảo vệ cho “hệ thống tài chính” của Singapore.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ  và đổi mới sáng tạo của Singapore

Về cơ cấu tổ chức, Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore là cơ quan chính phụ trách các vấn đề liên quan đến hoạt động khoa học – công nghệ. Cơ quan tham vấn và quản lý các vấn đề khoa học – công nghệ chính của Singapore là Cơ quan Khoa học và Công nghệ và Nghiên cứu (Agency for Science and Technology and Research – A*STAR), được thành lập từ năm 1991. A*STAR do Bộ Thương mại và Công nghiệp tài trợ và đảm nhiệm vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển. A*STAR bao gồm 2 tổ chức nghiên cứu: Hội đồng Nghiên cứu Y Sinh (The Biomedical Research Council – BMRC), Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật (The Science and Engineering Research Council – SERC), mỗi tổ chức bao gồm 7 viện. Bên cạnh đó là hệ thống các viện nghiên cứu và trường đại học với năng lực nghiên cứu xuất sắc.

Hoạt động R&D là một trong những bộ phận quan trọng nhất của hệ thống khoa học – công nghệ Singapore, thu hút đầu tư và sự tham gia của mọi thành phần trong nền kinh tế bao gồm các doanh nghiệp khu vực tư nhân, các trường đại học, chính phủ, viện nghiên cứu công lập.

Hình 1.5

Ngoài ra, Hội đồng Nghiên cứu, Đổi mới và Kinh doanh (RIEC) có chức năng tư vấn cho Chính phủ Singapore về chính sách và chiến lược nghiên cứu, đổi mới quốc gia. Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho Chính phủ Singapore về chính sách, chiến lược nghiên cứu và đổi mới quốc gia nhằm đưa Singapore trở thành một nền kinh tế tri thức, có năng lực mạnh về R&D; dẫn dắt quốc gia thúc đẩy những động lực sáng tạo mới bằng các giải pháp khoa học và công nghệ, và xúc tác cho những tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Cơ quan giúp việc cho RIEC là Tổ chức Nghiên cứu quốc gia (NRF), được thành lập năm 2006, có chức năng điều phối các hoạt động nghiên cứu của các cơ quan và tổ chức trên cả nước theo một định hướng chiến lược tổng thể rõ ràng, xây dựng các chính sách và kế hoạch nhằm thực hiện năm động lực chương trình R&D quốc gia, thực hiện các chiến lược nghiên cứu, đổi mới, kinh doanh do RIEC phê duyệt và phân bổ kinh phí cho  cho các chương trình. NRF là cơ quan đầu mối cấp kinh phí nghiên cứu cho các viện, trường đại học, trường bách khoa công nghệ, các bệnh viện, các phòng thí nghiệm công và tư, các ngành công nghiệp và doanh nghiệp.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XIV


Sự phát triển của ngành công nghệ cao ở Israel có lịch sử lâu đời, từ hoạt động R&D đã được tiến hành trong lĩnh vực quân sự. Bên cạnh đó, với xu hướng toàn cầu hóa và dòng vốn quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Israel đạt giá trị hơn 7 tỷ USD giai đoạn 1993 – 1997, đạt kỷ lục ở mức 5 tỷ USD vào năm 2000, trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngành công nghệ cao của Israel được quốc tế hóa, Israel được đánh giá là 1 trong 3 quốc gia có giá trị IPO lớn nhất trên sàn chứng khoán NASDAQ ở New York, sau Mỹ và Canada, và chỉ sau Anh trên thị trường đầu tư thay thế ở London. Giá trị xuất khẩu ở khu vực công nghệ cao và dịch vụ chiếm đến 1/3 trong tổng giá trị xuất khẩu Israel.

Israel rất năng động trong phát triển phần mềm, viễn thông và bán dẫn. Việc tập trung cao độ các ngành công nghệ cao ở Israel, với sự hỗ trợ của một ngành đầu tư mạo hiểm vững chắc, khiến Israel được mệnh danh là “Silicon Wadi”, và được đánh giá là chỉ đứng thứ hai sau Silicon Valley của Mỹ. Nhiều công ty Israel đã được mua lại bởi các công ty đa quốc gia vì lực lượng nhân sự chất lượng cao và đáng tin cậy. Israel là điểm đến đầu tiên ngàoi nước Mỹ của Berkshire Hathaway khi công ty này mua lại ISCAR Metalworking. Israel cũng là nơi đặt những trung tâm R&D đầu tiên ngàoi nước Mỹ của các công ty như Intel, Microsoft và Apple.

Bất chấp sự suy giảm đều đặn số lượng người tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp, Israel vẫn có khả năng sản xuất 95% nhu cầu thực phẩm của mình và xuất khẩu lượng nông sản trị giá 2,4 tỷ USD vào năm 2012. Các sản phẩm xuất khẩu chính là nông sản tươi sống (chủ yếu sang châu Âu) và thực phẩm chế biến. Ngoài ra, Israel còn xuất khẩu lượng sản phẩm phụ trợ cho nông nghiệp trị giá 2,87 tỷ USD trong năm 2010, chủ yếu là các công cụ sản xuất, công nghệ và dịch vụ. Giá trị xuất khẩu công nghệ thể hiện tầm quan trọng của công nghệ nông nghiệp Israel trong cộng đồng thế giới.

Thành tựu nổi bật nhất của khoa học nông nghiệp Israel là công nghệ tưới nhỏ giọt. Hãng sản xuất dụng cụ tưới nhỏ giọt Netafim, hoạt động trên 150 quốc gia, góp vốn vào 37 công ty và 12 nhà máy trên toàn thế giới. Năm 2017, nhà sáng chế Mehudar của Netafim tuyên bố: “nếu đặt các ống dẫn được chúng tôi bán mỗi năm nối liền với nhau, có thể tạo thành một đường ống bao quanh trái trái đất 100 lần”. Một tạp chí kinh tế học của Ấn Độ vào năm 2010 thừa nhận kỹ thuật này “ảnh hưởng đáng kể đến việc tiết kiệm tài nguyên, giá thành canh tác, sản lượng cây trồng và lợi nhuận”.

Hiện nay Israel đứng thứ 4 trên thế giới về số công trình khoa học trên 1 triệu dân. Tỷ lệ trung bình số nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật và kỹ sư là 140 người/10 nghìn lao động cao nhất thế giới. Tỷ lệ này ở Mỹ là 85 và ở Nhật Bản là 83 người/10 nghìn lao động.

d/ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ quá trình phát triển của Israel, có thể rút ra một vài gợi ý đối với Việt Nam như sau:

Thứ nhất, trên con đường phát triển trở thành nước công nghiệp hiện đại, các giai đoạn có những đặc điểm riêng biệt đòi hỏi một quốc gia hay vùng lãnh thổ phải xác định nguồn động lực và chính sách phát triển phù hợp. Mỗi quốc gia lại có đặc điểm khác biệt, nếu không nói là độc nhất vô nhị, cần được nhận ra và phát huy nếu đó là đặc điểm tốt hoặc hạn chế nếu đó là những đặc điểm không thuận lợi. Trường hợp của Israel đã cho thấy rằng, quốc gia này đã kết hợp và biến điểm yếu (xung đột và chiến tranh) trở thành điểm mạnh, thậm chí là điểm được cho là động lực phát triển của nền kinh tế (sản xuất vũ khí và cung cấp các dịch an ninh, tận dụng nguồn tài trợ, lựa chọn phát triển các sản phẩm công nghệ cao phù hợp với đặc điểm xuất khẩu trong điều kiện hạn chế nguồn lực),… Con đường đi lên thành nước công nghệ hiện đại của Israel gập ghềnh khó khăn chứ không phẳng lặng như nhiều quốc gia phát triển khác. Bên cạnh đó, trong so sánh với các nước phát triển khác, có thể dễ dàng thấy được, là cho dù với nước nào, thì sau thời gian phát triển theo chiều rộng, họ đều cần tìm đến những mô hình phát triển kinh tế theo chiều sâu, dựa vào nguồn lao động có tay nghề và tri thức, năng lực đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học và công nghệ, để từ đó có thể làm chủ quá trình sản xuất và công nghệ, sản xuất ra những hàng hóa có chất lượng cao.

Việt Nam cần xác định rõ hướng đi của ình hơn trong việc sử dụng các nguồn lực phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, Israel cho thấy rằng, phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cũng là một hướng đi tốt cho những nước vốn đi lên từ nông nghiệp. Đây cũng là một gợi ý đối với Việt Nam nói chung.

Thứ hai, cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế. Từ các trường hợp của Israel cũng như nhiều quốc gia công nghiệp hóa thành công, có thể thấy được thể chế kinh tế hoàn thiện và năng động giữ một vai trò quan trọng. Chính phủ Israel đã hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển thông qua việc tạo ra một nền tảng luật pháp chặt chẽ, và sự năng động trong thay đổi chính sách phát triển phù hợp với tình hình của đất nước, từ tận dụng viện trợ phát triển vũ khí tối tân vừa để bảo vệ đất nước, vừa xuất khẩu tạo nguồn thu, đến việc tận dụng nguồn lực tri thức đến từ những người nhập cư có chuyên môn, tạo nền tảng thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, phát triển công nghệ cao. Chính phủ Israel cũng thể hiện sự mạnh mẽ trong việc bảo vệ hòa bình, mở cửa nền kinh tế và khuyến khích tự do hóa tài chính, kết nối mạnh mẽ với giới kinh tế.

Thứ ba, việc phát triển con người cần được quan tâm hơn nữa. Không thể phủ nhận rằng, tố chất thông minh, chăm học hỏi, quan niệm coi trọng tri thức, tư duy vì cộng đồng của người Do Thái là một trong những nhân tố quan trọng để mang lại thành công của đất nước này. Bởi vậy, nếu Việt Nam muốn tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn, thì con người cần được coi là yếu tố then chốt để kiến tạo thành công. Việt Nam cần một cuộc cải cách giáo dục triệt để để xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao.

Thứ tư, cần thiết phải nâng cao năng lực đổi mới. Khi nhìn vào con đường phát triển của các quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nghiệp hóa thành công, có thể thấy rằng, sau một giai đoạn phát triển theo chiều rộng, nền kinh tế Việt Nam cần những nguồn động lực mới để phát triển theo chiều sâu, mà một trong những vấn đề đó là năng lực đổi mới.

Thứ năm, cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa phong trào khởi nghiệp, vốn được khởi xướng trong những năm gần đây ở Việt Nam, đang được triển khai nhưng chưa thu được những kết quả thuyết phục. Một quốc gia muốn phát triển thì mỗi cá nhân trong nền kinh tế phải phát triển lành mạnh và bền vững, bởi vậy, phong trào khởi nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế cần được chú trọng và thực thi mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa để tạo nên cộng đồng doanh nghiệp giàu mạnh cho đất nước, khai thác tốt hơn nguồn lực hiện có của nền kinh tế.

3/ Singapore

Singapore vốn là một trung tâm phân phối xuất, nhập khẩu, không phải là quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên và từng phải đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt từ các nước láng giềng về đầu tư nước ngoài. Sau này, Chính phủ Singapore đã đưa ra kế hoạch tập trung vào tài sản giá trị nhất của đất nước: tri thức và khoa học – công nghệ là trụ cột chính trong nền kinh tế của quốc đảo này. Cho đến nay, các thành tựu có được nhờ đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới đã dẫn dắt Singapore trở thành một trong những quốc gia đổi mới nhất ở khu vực châu Á.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Singapore

Singapore là một quốc gia phát triển tại khu vực châu Á dựa trên động lực đổi mới sáng tạo. Chiến lược đổi mới sáng tạo của Singapore được thể hiện rõ nét nhất trong Kế hoạch khoa học và công nghệ chính thức của nước này, lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1991, với ngân sách 2 tỷ SGD. Kế hoạch này tập trung chủ yếu vào việc thiết lập các viện và trung tâm nghiên cứu, các hạ tầng kỹ thuật, các chương trình phát triển nhân lực, tài trợ nghiên cứu phát triển công nghiệp và các chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo khác.

Sau năm 1991, cứ 5 năm một lần Singapore lại công bố Kế hoạch khoa học và công nghệ cho giai đoạn 5 năm tiếp theo. Đến năm 2009, Kế hoạch khoa học và công nghệ cho giai đoạn 2011 – 2015 được đổi tên thành Kế hoạch Nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và Doanh nghiệp 2011 – 2015 (RIE 2015).

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Nền kinh tế ứng dụng – Phần cuối


Airbnb kiếm tiền bằng cách nào?

Amazon, Uber và Airbnb đều được tải xuống miễn phí, không bao giờ tính phí sử dụng ứng dụng và chỉ hiển thị cho bạn một vài quảng cáo, nếu có. Vậy họ kiếm tiền bằng cách nào?

Các ứng dụng thương mại điện tử trung gian “marketplace” hoặc “platform” kiểu này kết nối người mua với người bán (hoặc người đi xe với người lái xe…) và kiếm tiền hoa hồng bằng cách thu một vài khoản phí với các giao dịch mua hàng thành công. Nó giống như cách chính phủ thu tiền thông qua thuế doanh thu hoặc các đại lý bất động sản tính phí hoa hồng bất cứ khi nào họ giúp bạn mua hoặc bán một ngôi nhà.

Ví dụ: Airbnb tính “phí dịch vụ” bất cứ khi nào bạn đặt phòng thành công. Chủ nhà trả 3%, và khách hàng trả 6 – 12% tiền phí. Các khoản phí này là nguồn thu chủ yếu của Airbnb.

Các ứng dụng thương mại điện tử khác cũng thu phí hoa hồng. Uber thu 20 – 25% số tiền các lái xe kiếm được. Amazon thu phí bên bán thứ ba khi họ đưa ra danh sách sản phẩm và bán các mặt hàng của mình trên nền tảng này. Số thu chính xác là bao nhiêu sẽ thay đổi tùy theo loại sản phẩm, nhưng từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi có thể cho bạn biết là Amazon thu về 30 – 65% lợi nhuận bán sách.

Và đó là cách kiếm tiền của hầu hết các ứng dụng thương mại điện tử trung gian. Vậy có đúng là một số ứng dụng thương mại điện tử trung gian có thể kiếm tiền mà không tính phí hoa hồng không? Chúng ta hãy đọc tiếp nhé.

Tại sao ứng dụng Robinhood cho phép bạn giao dịch cổ phiếu mà không tính phí hoa hồng?

Mua và bán cổ phiếu là một cách tuyệt vời để đầu tư số tiền bạn dành dụm được và kiếm thêm cho mình một khoản tiền, nhưng sau mỗi lần giao dịch thành công, bạn sẽ phải trả một khoản phí hoa hồng cho một nhà môi giới. Có đúng như vậy không? Ứng dụng giao dịch chứng khoán Robinhood cho phép bạn thực hiện giao dịch cổ phiếu miễn phí. Đúng vậy, họ không tính phí hoa hồng.

Vậy làm thế nào họ vẫn có lợi nhuận? Có hai phương pháp chính để Robinhood kiếm tiền.

Phương pháp thứ nhất: họ sử dụng mô hình freemium cổ điển để giúp người dùng “quyền lực” nhận được nhiều tính năng hơn. Robinhood Gold cho phép bạn giao dịch ngoài giờ (tức là vài giờ trước và sau phiên giao dịch hàng ngày, từ 9:30 sáng đến 4:00 chiều theo giờ EST) và cho phép bạn vay tiền từ Robinhood để thực hiện thêm các giao dịch vượt quá khả năng chi trả hiện tại.

Phương pháp thứ hai khá thông minh. Robinhood kiếm trước tiền lãi cho số tiền chưa sử dụng nằm trong tài khoản của người dùng, việc này giống như cách bạn nhận được tiền lãi bằng cách gửi số tiền tích trữ chưa sử dụng của mình trong ngân hàng.

Như các bạn có thể thấy, các ứng dụng ngày càng trở nên láu cá với các mô hình kinh doanh của mình. Chúng ta hãy kết thúc bài này bằng cách xem xét một số cách thức kiếm tiền thậm chí còn sáng tạo hơn.

Các ứng dụng làm thế nào để kiếm tiền mà không cần hiển thị quảng cáo hoặc tính phí người dùng

Mọi ứng dụng chúng ta đề cập cho đến giờ đều kiếm tiền bằng cách hiển thị quảng cáo hoặc tính phí người dùng (nếu không phải là trả trước, thì thông qua thuê bao, mua hàng trong ứng dụng hoặc tính phí hoa hồng). Vậy còn cách nào khác để các doanh nghiệp ứng dụng tiếp tục tồn tại và phát triển không? Các ứng dụng có thể nhận được tiền từ bất kỳ ai đó không, ngoài người dùng hoặc các nhà quảng cáo?

Hóa ra câu trả lời là có. Chúng ta hãy cùng kết thúc bài này bằng cách nghiên cứu một số mô hình kinh doanh thông minh hiện nay.

Đầu tiên, bạn có thể tính phí những người khác, ngoài người dùng hoặc nhà quảng cáo. Chẳng hạn, dịch vụ đặt vé du lịch Wanderu sẽ giúp bạn tìm vé xe buýt tốt nhất và giới thiệu bạn đến website của các tuyến xe buýt như Greyhound và Megabus để mua vé. Wanderu không tính phí người mua vé, nhưng thu một khoản phí hoa hồng nhỏ từ các hãng xe buýt cho việc đưa khách hàng đến với dịch vụ của họ.

Hoặc các ứng dụng có thể cố gắng tồn tại mà không có bất kỳ nguồn doanh thu nào. Nghe có vẻ vô lý, nhưng trong thế giới công nghệ, điều đó có thể xảy ra – ít nhất là trong ngắn hạn.

Một số ứng dụng chỉ cố gắng tồn tại trong khó khăn (và sống nhờ vào tiền của nhà đầu tư mạo hiểm), họ cung cấp dịch vụ miễn phí cho đến khi đủ lớn mạnh để có thể bắt đầu kiếm tiền – nói cách khác, khẩu hiệu của họ là “phát triển trước, kiếm tiền sau”. Ví dụ, Venmo không tính phí khi bạn thanh toán tiền hộ bạn bè, hay chuyển tiền giữa các tài khoản ngân hàng và chỉ áp dụng cùng một mức phí (3%) nếu bạn chuyển tiền từ thẻ tín dụng của mình, và đó là số tiền cần thiết để trang trải chi phí xử lý quá trình thanh toán của công ty.

Sau đó, vào năm 2018, khi đã có cơ sở người dùng đủ lớn, Venmo quyết định bắt đầu kiếm tiền. Họ thông báo rằng bây giờ bạn có thể thanh toán cho Ubers thông qua Venmo và phát hành thẻ ghi nợ. Trong cả hai trường hợp, người bán phải trả cho Venmo một khoản phí nhỏ. Một số người cũng suy đoán rằng Venmo có thể sẽ bắt đầu thực hiện các quảng cáo mục tiêu nhắm vào người dùng, vì giờ đây họ đã biết chính xác người dùng của họ tiêu tiền vào những thứ gì.

Các ứng dụng khác chỉ hy vọng có ai đó mua lại trước khi cạn tiền. Ví dụ, vào năm 2013, ứng dụng email miễn phí Mailbox ra nhập thị trường, và chẳng bao lâu sau, nó đã gửi được 60 triệu tin nhắn trong một ngày. Sau đó, trong vòng một tháng kể từ khi ra mắt, Dropbox đã mua lại ứng dụng này và nhóm điều hành đằng sau nó với giá 100 triệu USD. Tuy nhiên, kết thúc của ứng dụng này khá bi thảm: năm 2015, Dropbox khai tử nó và chuyển nhân viên sang các nhóm khác. Cứ coi như chúng ta là những người hoài nghi, nhưng rất có khả năng Mailbox phát triển mạnh mẽ và đạt được “đầu ra” hấp dẫn vì họ cung cấp dịch vụ miễn phí.

Nói tóm lại, các nhà sản xuất ứng dụng đã phải trở nên láu cá hơn bao giờ hết, bởi người dùng chỉ thích các ứng dụng được tải xuống miễn phí. Một điểm đặc biệt là dường như các nhà sản xuất ứng dụng không bao giờ ngừng sáng tạo ra những cách thông minh để kiếm tiền. Chiến lược kiếm tiền quan trọng tiếp theo của họ là gì?

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XIII


Các lĩnh vực công nghệ mới nổi: Bốn lĩnh vực nghiên cứu khoa học được I-CORE lựa chọn làm các lĩnh vực ưu tiên chính sách then chốt, bao gồm cả đầu tư vào giáo dục đại học các ngành liên quan cho những năm tới. Đó là các lĩnh vực: bản chất phân tử trong bệnh tật ở người, khoa học nhận thức, khoa học máy tính, các nguồn năng lượng bền vững và tái tạo. Mục tiêu là phát triển các lĩnh vực công nghiệp mới có thể mang lại cho Israel lợi thế cạnh tranh quốc tế. Các lĩnh vực ưu tiên khác bao gồm nghiên cứu não bộ, công nghệ nano và công nghệ sinh học, với sự hỗ trợ từ Quỹ công nghệ sinh học Israel.

Đổi mới sáng tạo xanh là một ưu tiên quan trọng của Israel, đặc biệt tập trung vào các nguồn năng lượng bền vững và tái tạo. Một trung tâm công nghệ được thành lập để hỗ trợ việc chuyển giao tri thức từ các viện tới ngành công nghiệp cho đến giai đoạn “chứng minh khái niệm” và cung cấp cơ hội thử nghiệm những công nghệ như vậy. Một trung tâm công nghệ khác liên quan đến đổi mới sáng tạo xanh tập trung vào công nghệ nước, một lĩnh vực mà Israel đã đóng góp những đổi mới tiên phong.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Israel

Thương mại hóa sản phẩm khoa học – công nghệ là mắt xích trọng yếu trong nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo. Ba yếu tố quan trọng cấu thành Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Israel là: Nhà nước; khu vực doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp sản xuất); trường đại học, viện nghiên cứu (gọi chung là tổ chức khoa học – công nghệ).

Ở khu vực nhà nước, việc thành lập Văn phòng trưởng khoa học gia (Office of the Chief Scientists – OCS) thuộc Bộ Công nghiệp và Công thương Israel vào năm 1974 là một cột mốc quan trọng. Sự ra đời của OCS đã tạo điều kiện để thúc đẩy trào lưu nghiên cứu khoa học – công nghệ tại Israel, có chức năng điều phối các chương trình quốc gia đầu tư cho R&D ở khu vực tư nhân. Thời kỳ đó, cơ quan này đóng vai trò thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm khoa học – công nghệ của Israel, được coi là thành tố cơ bản trong hệ thống hỗ trợ quốc gia cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. OCS cung cấp 50 – 80% số quỹ hỗ trợ cho startup mới mà không cần điều kiện cũng như không tham gia điều hành, quản lý. Vào đầu những năm 1980, quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên dành cho startup đã được thành lập. Theo thống kê, trung bình hàng năm Văn phòng thực hiện hỗ trợ cho hơn 500 công ty với trên 1000 dự án, giá trị tài trợ chiếm 20 – 50% ngân sách dành cho nghiên cứu. Từ năm 2016, Văn phòng này chuyển thành Cơ quan đổi mới sáng tạo quốc gia trực thuộc Bộ Kinh tế và Công nghiệp.

Cơ quan đổi mới sáng tạo Israel có 6 đơn vị trực thuộc: hợp tác giáo dục; chuyển giao công nghệ; quỹ hỗ trợ, đầu tư vào các công ty khởi nghiệp; các vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp; đơn vị thúc đẩy các nghiên cứu và phát triển; bộ phận tham gia công tác xã hội.

Tiếp theo phải kể tới sự ra đời của Bộ Khoa học – Công nghệ và Vũ trụ. Đây là cơ quan đưa ra các chính sách quốc gia về khoa học – công nghệ ở Israel, thúc đẩy các nghiên cứu, xây dựng hạ tầng cơ sở cũng như triển khia các dự án trong lĩnh vực ưu tiên phát triển về khoa học – công nghệ. Bộ dành tới 80% số ngân sách của mình (hàng chục triệu USD mỗi năm) để hỗ trợ các nhà khoa học, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu.

Ở Israel, các bộ đều tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, chức năng chủ trì, điều phối chung và xây dựng chính sách phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia vẫn do Bộ Khoa học – Công nghệ và Vũ trụ đảm nhiệm kể từ khi Bộ hoạt động với tư cách là cơ quan độc lập vào năm 1982.

Nếu như ở 12 bộ đều có bộ phận riêng với tên gọi là Văn phòng trưởng khoa học gia đóng vai trò là đơn vị chuyên trách về hoạch định chính sách đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa và quản lý kinh phí tài trợ cho các dự án thuộc chuyên ngành do bộ mình quản lý thì Văn phòng trưởng khoa học gia trực thuộc Bộ Khoa học – Công nghệ và Vũ trụ giữ vai trò “nhạc trưởng” và điều phối diễn đàn khoa học – công nghệ của tất cả các bộ. Nhà khoa học trưởng đưa ra các khuyến nghị về những lĩnh vực khoa học – công nghệ ưu tiên quốc gia sẽ được Bộ Khoa học – Công nghệ và Vũ trụ hỗ trợ trên cơ sở kết hợp với chuyên gia của Bộ. Nhà khoa học trưởng xây dựng khung ngân sách cho sự phát triển hạ tầng cơ sở khoa học – công nghệ của Israel. Nhà khoa học trưởng cũng giám sát một nhóm các nhà chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khoa học.

Ngay từ đầu sự hỗ trợ của Chính phủ Israel đã tuân theo nguyên tắc không can thiệp trực tiếp và chỉ hỗ trợ ở những lĩnh vực được coi là “khiếm khuyết của thị trường”, nghĩa là những khu vực mà tư nhân không muốn đầu tư, cần “bàn tay” của nhà nước. Cụ thể, Israel ưu tiên tài trợ cho nghiên cứu cơ bản và hỗ trợ chuyển giao kết quả nghiên cứu cho khu vực sản xuất dưới dạng các chương trình tài trợ. Ngoài ra, theo nguyên tắc chỉ hỗ trợ mà không “bao cấp”, Israel sớm thực hiện chính sách hỗ trợ 50% cho R&D ở các công ty nội địa có sẵn cơ sở sản xuất và sản phẩm phải được sản xuất ra trên lãnh thổ Israel và phục vụ xuất khẩu, các bí quyết công nghệ không được chuyển giao ra nước ngoài. Đến năm 2005, Israel mới cho phép chuyển giao các kết quả nghiên cứu, bí quyết công nghệ do nhà nước tài trợ ra nước ngoài. Hiện nay, ngành công nghệ cao của Israel là ngành công nghệ mở và hướng tới mục tiêu chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Ở khu vực hàn lâm, phát huy vai trò của các tổ chức trung gian khoa học – công nghệ trong việc thúc đẩy thương mại hóa, chuyển giao công nghệ tại các trường đại học – thành phần quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Israel. Theo công ty chuyển giao công nghệ RAMOT của Israel, hiện có khoảng 75% sáng chế (patent) tạo ra bởi các trường đại học có tiềm năng thương mại hóa cao. Đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học cho doanh nghiệp là các công ty chuyển giao công nghệ – tổ chức trung gian khoa học – công nghệ. Tại Israel, các công ty này có thể của tư nhân, nhà nước hoặc trường đại học. Quy trình thực hiện hỗ trợ thương mại hóa của các công ty là: khi có sáng chế, nhà khoa học sẽ thông báo cho công ty chuyển giao công nghệ để công ty này đánh giá mức độ thương mại hóa tiềm năng và xây dựng kế hoạch kinh doanh, mời chào doanh nghiệp. Việc soạn thảo hợp đồng chuyển giao công nghệ, xác định tỷ lệ lợi nhuận giữa các bên, hỗ trợ giao dịch với các nhà đầu tư cũng do các công ty chuyển giao công nghệ đảm nhiệm, nhà khoa học không cần quan tâm đến quy trình này mà chỉ chú tâm vào nghiên cứu. Trong trường hợp phi vụ thành công, họ sẽ nhận 40% giá trị hợp đồng chuyển giao và tự phân bổ cho các thành viên trong nhóm; 60% còn lại chia thành 3 phần bằng nhau nộp vào ngân sách trường đại học, quỹ phát triển phòng thí nghiệm nghiên cứu và phần còn lại cho hoạt động của công ty chuyển giao công nghệ. Các công ty chuyển giao công nghệ thuộc các trường đại học đều là những đơn vị hoạt động chuyên nghiệp, mang lại lợi nhuận cho trường và do những người có kinh nghiệm kinh doanh điều hành.

Ở khu vực tư, tiếp cận kết nối “cầu” – “cung” thay vì “cung” – “cầu” công nghệ, tăng cường vai trò của nhà khoa học và doanh nghiệp trong việc lựa chọn các dự án tiềm năng để triển khai. Ở Israel, việc lựa chọn dự án để nhà nước hỗ trợ từ nghiên cứu đến thương mại hóa hiện nay được thực hiện theo nguyên tắc xuất phát từ nhu cầu thị trường, “cầu” quyết định “cung” thay vì việc nhà khoa học cứ nghiên cứu và cho ra công nghệ, sau đó mới tìm kiếm thị trường.

c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Israel

Không thể phủ nhận khoa học – công nghệ chính là nhân tố làm nên “điều thần kỳ Israel”. Thu nhập bình quân đầu người ở Israel tăng lên nhanh chóng. Nếu năm 1960, thu nhập bình quân đầu người của Israel chỉ mới ở mức 1366 USD thì đến năm 1988, chỉ tiêu này đạt mức 9881 USD và năm 1998 đạt mức 19.400 USD. Giá trị này tiếp tục tăng ấn tượng, đạt mức 29.657 USD vào năm 2008. Tổng sản phẩm quốc nội của Israel năm 2008 đạt mức 216,76 tỷ USD, dự trữ ngoại hối trên 30 tỷ USD. Israel trở thành thành viên chính thức của OECD ngày 07/9/2010. Năm 2016, thu nhập bình quân đầu người của Israel khoảng 36.557 USD, đứng thứ 26 trên thế giới.

Israel có sự phát triển đáng kinh ngạc của khu vực công nghệ cao, khu vực mà hiện tại đứng trong top 5 trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Tel Aviv tại Israel được xác định là 1 trong 10 trung tâm công nghệ cao lớn nhất trên thế giới. Tính đến tháng 12/2000, cứ trong 1000 người Israel thì có 9 người được tuyển dụng vào làm việc trong lĩnh vực R&D công nghệ cao. Tỷ lệ này gần như gấp đôi so với Nhật Bản và Mỹ vào cùng thời điểm.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Nền kinh tế ứng dụng – Phần III


Thống trị lĩnh vực quảng cáo

Quảng cáo nhắm đúng mục tiêu rất hiệu quả và không ai làm việc này tốt hơn Google và Facebook. Hai công ty này gần như thống trị lĩnh vực quảng cáo, cùng nhau chiếm khoảng một nửa thị phần quảng cáo trên điện thoại di động. Thực tế này gây ra nhiều khó khăn hơn cho các công ty khởi nghiệp muốn kiếm tiền từ quảng cáo nhắm đúng mục tiêu, vì các nhà quảng cáo chỉ muốn mua trên Google và Facebook, vì họ có nhiều dữ liệu người dùng hơn.

Nhưng Amazon, một công ty có thể khiến bộ phận quảng cáo của Google và Facebook sợ hãi, đã trở thành nền tảng quảng cáo lớn thứ ba ở Mỹ. Hiện nay, hơn một nửa số người dùng, khi muốn tìm kiếm sản phẩm để mua hàng trực tuyến, bắt đầu tìm kiếm trên Amazon thay vì trên Google. Với lượng người dùng tăng lên, hiện nay Amazon có thể đặt quảng cáo trực tiếp trong danh sách các mặt hàng để bán, đó là nơi mà người xem rất có động cơ mua hàng. Và vì Amazon biết chính xác những gì bạn mua, nó có thể dự đoán những gì bạn có thể muốn mua với độ chính xác đáng sợ.

Nói cách khác, Amazon đã bắt đầu cạnh tranh với Google để giành lấy những quảng cáo trực tiếp dẫn đến việc mua hàng hay còn gọi là quảng cáo phản hồi trực tiếp “direct-response ads”. Vậy nên, những người chơi mới thực sự có thể tham gia vào sân chơi quảng cáo nhắm đúng mục tiêu, dù Amazon chắc chắn không còn là một công ty khởi nghiệp nhỏ nữa.

Bản dữ liệu của bạn ư? Không hẳn là như vậy.

Cuối cùng, điều quan trọng là phải nói rõ rằng: Google và Facebook – và hầu hết các công ty phần mềm khác có kinh doanh quảng cáo – không bán dữ liệu của bạn cho các nhà quảng cáo. Các nhà quảng cáo gửi quảng cáo đến Google và Facebook, và hai công ty này sử dụng dữ liệu của bạn để quyết định hiển thị quảng cáo nào đến. Dữ liệu của bạn được sử dụng rộng rãi trên các máy tính của Goolge và Facebook, nhưng chúng không bao giờ ra khỏi các công ty đó. Trên thực tế, chúng thực sự khiến Google và Facebook phải giữ lại dữ liệu của người dùng cho chính mình, vì những dữ liệu đó buộc các nhà quảng cáo tiếp tục quay lại với họ.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Facebook đã bị chỉ trích nhiều vì đã cho đi dữ liệu của người dùng mà không thông báo cho họ biết. Facebook đã hợp tác với các nhà sản xuất thiết bị như Apple và Samsung, chuyển giao dữ liệu người dùng để đổi lấy vị trí đặc biệt trên điện thoại. Facebook cũng chia sẻ dữ liệu người dùng với Amazon để đổi lấy dữ liệu của Amazon, vì những dữ liệu đó giúp tăng cường tính năng gợi ý kết bạn của Facebook.

Nói tóm lại, phần lớn các công ty sống bằng quảng cáo không bán dữ liệu của bạn. Như giới PCWorld đã nói, chính xác hơn họ đang bán bản thân bạn. Và chiến lược này thành công đến mức có thể tạo nên các công ty trị giá hàng tỷ USD mà không cần tính phí người dùng dù chỉ một đồng. Đó là điểm đặc biệt của nền kinh tế ứng dụng.

Tại sao các website tin tức lại có nhiều nội dung được tài trợ?

Khi nói đến quảng cáo, có thể bạn sẽ nghĩ đến quảng cáo biểu ngữ (banner ads): đó là những hình chữ nhật động, màu sắc sặc sỡ bắt mắt, hiển thị trên các trang web hoặc ở phần cuối có các ứng dụng. Hiện nay, loại hình quảng cáo này vẫn phổ biến trên các website, tuy nhiên, số lượng các ứng dụng lớn có quảng cáo biểu ngữ ngày càng giảm, có thể vì quảng cáo loại này gây phiền nhiễu và chiếm dụng quá nhiều không gian quý giá. Thêm vào đó, mọi người không thường xuyên nhấp chuột vào quảng cáo biểu ngữ nữa, vì vậy chúng không còn khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận. Trên thực tế, chỉ có 0,17% người dùng có ý định nhấp chuột vào các quảng cáo biểu ngữ, tức là gần bằng 1/600 quảng cáo mà bạn nhìn thấy.

Nhưng bây giờ đã xuất hiện một loại quảng cáo mới ít gây khó chịu hơn và cũng khiến người dùng khó bỏ qua hơn. Khi đọc lướt qua bảng tin trên Instagram, bạn có thể nhận ra một số bài đăng không phải từ nguồn bạn bè, mà từ các công ty đang cố gắng bán cho bạn một sản phẩm nào đó. Snapchat cho phép các nhà quảng cáo tạo ra các bộ lọc để hàng triệu người dùng có thể nhìn thấy quảng cáo của họ, và Twitter thậm chí còn cho phép các nhà quảng cáo mua các thẻ hashtag, thứ đang bắt đầu trở thành “xu hướng”.

Có một từ đi kèm tất cả những quảng cáo loại này, đó là “sponsored” nghĩa là “được tài trợ”. Nội dung được tài trợ (sponsored content), còn được gọi là “quảng cáo tự nhiên”, nghĩa là quảng cáo được trộn lẫn với nội dung bình thường, dẫn đến nhiều khả năng độc giả sẽ đọc các quảng cáo đó một cách nghiêm túc thay vì bỏ qua chúng.

Nội dung được tài trợ đang phát triển đặc biệt nhanh chóng trên các báo. Các nhà quảng cáo có thể trả tiền để đăng các bài báo có vẻ chính thống (nhưng thực ra chỉ là quảng cáo) bên cạnh các bài báo bình thường trên các website như New York Times, CNN, NBC, Wall Street Journal. Các công ty truyền thông mới hơn như BuzzFeed cũng yêu thích quảng cáo tự nhiên. HÌnh thức quảng cáo ngày càng đậm chất “báo chí” đang trở nên vô cùng hấp dẫn. Ví dụ, tờ New York Times từng đăng một bài báo viết về lý do tại sao hệ thống nhà tù truyền thống không phù hợp với các tù nhân nữ. Đó là một bài viết trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và rất lôi cuốn người đọc, nhưng hóa ra đó chỉ là một bài quảng cáo cho loạt phim của Netflix có tựa đề “Orange is the New Black” (tạm dịch: Nhà tù kiểu Mỹ).

Nội dung được tài trợ rất hiệu quả đối với các nhà quảng cáo: quảng cáo tự nhiên có số lần nhấp chuột cao gấp đôi so với quảng cáo biểu ngữ. Và nó trở thành nguồn thu dồi dào cho các ấn phẩm tin tức. Ví dụ, vào năm 2016, tờ Atlantic dự kiến 3/4 doanh thu quảng cáo kỹ thuật số của họ đến từ quảng cáo tự nhiên. Và kể từ khi Internet xóa sổ mô hình kinh doanh báo chí truyền thống, quảng cáo tự nhiên có thể là một trong số ít cứu cánh cho báo chí.

Quảng cáo tự nhiên rất hiệu quả, tuy nhiên nó nguy hiểm ở chỗ mọi người sẽ thấy khó hơn trong việc phân biệt đâu là sự thật và đâu là quảng cáo. Trên thực tế, Reuters phát hiện 43% độc giả Mỹ cảm thấy quảng cáo tự nhiên là “thất vọng hoặc lừa dối”. Và căn bản hơn, quảng cáo tự nhiên phá vỡ các bức tường trước nay vẫn ngăn cách các nhà báo và giới doanh nhân. Nói cách khác, nếu những nhà báo trước đây chỉ biết đưa tin thì nay trở thành người viết quảng cáo, như vậy tính chính trực của báo chí có thể bị mai một.

Trước thực tế đó, quảng cáo tự nhiên có hy vọng nào không? Có lẽ là có. Một nghiên cứu phát hiện 22% người tiêu dùng nghĩ rằng quảng cáo tự nhiên có tính giáo dục, so với chỉ 4% nghĩ như vậy về quảng cáo biểu ngữ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XII


c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển

Trên tất cả các bảng xếp hạng, các chỉ số đánh giá năng lực đổi mới, Thụy Điển đều xếp thứ hạng cao. Với dân số khoảng 9,6 triệu người năm 2013, mức GDP là 570,59 tỷ USD năm 2014, giá trị GDP của Thụy Điển chiếm đến 0,92% nền kinh tế thế giới. Năm 2012, số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế đạt 2749 đơn, trung bình 290 đơn/tháng.

Hệ thống đổi mới khoa học – công nghệ của Thụy Điển dựa trên mô hình Triple Helix, trong đó có 43 vườn ươm doanh nghiệp, 33 công viên khoa học, 12 quỹ đầu tư hạt giống vùng (số liệu thống kê năm 2013). Nhiệm vụ trọng tâm của các thành phần này là tập trung vào quá trình thương mại hóa và đổi mới kinh doanh. Có 5000 doanh nghiệp khởi nghiệp với 72.000 lao động.

Với những lợi thế về môi trường kinh doanh, sự ưu đãi trong các khoản vay của ngân hàng dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sự liên kết đổi mới chặt chẽ, sâu rộng và một hiệu suất lao động cao tạo nên một môi trường đổi mới vô cùng thuận lợi cho bất cứ cá nhân hay tổ chức nào muốn khởi nghiệp.

d/ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Toàn cảnh bức tranh về khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển rất đặc sắc về cấu trúc cũng như thành quả hoạt động. Những gì Thụy Điển đã đạt được về vị trí, sự phát triển kinh tế – xã hội là một tấm gương cho các quốc gia khác. Tuy nhiên, hạn chế trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng được coi là điểm yếu của hệ thống đổi mới quốc gia của Thụy Điển. Đứng trước vấn đề như vậy, Thụy Điển đã xây dựng các chính sách nhằm đẩy mạnh các doanh nghiệp spin-off và các start-up để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là hình thành các doanh nghiệp nhỏ và vừa công nghệ cao thông qua việc phổ biến các kết quả nghiên cứu và hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận với nghiên cứu khoa học.

2/ Israel

Năm 2019, Israel xếp thứ 10/187 quốc gia về Chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc, được xếp vào nhóm “phát triển rất cao”. Đẩy mạnh chuyển giao tri thức và thương mại hóa các sản phẩm khoa học và công nghệ vào thực tiễn đã giúp cho Israel từ một nước xuất khẩu chủ yếu các loại quả có múi (cam, quýt) trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm công nghệ cao, đưa Israel trở thành nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo thành công nhất thế giới, là hình mẫu cho các quốc gia khác học tập.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Israel

Chính phủ Israel đã thực thi nhiều biện pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế mà đáng kể đến là việc tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư được thực hiện. Chính phủ đã ban hành các luật khuyến khích đầu tư vốn từ năm 1959 thông qua các chương trình tài trợ cạnh tranh và miễn thuế cho các phương tiện sản xuất. Chính phủ cũng ban hành luật khuyến khích chi tiêu nghiên cứu và phát triển công nghiệp vào năm 1984 để thúc đẩy phát triển lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra, Chính phủ Israel cũng hỗ trợ phát triển kinh doanh trên mọi lĩnh vực thông qua nhiều chương trình như: Khuôn khổ hợp tác nghiên cứu và phát triển trong các doanh nghiệp toàn cầu, hình thành các trung tâm dự án R&D doanh nghiệp toàn cầu, ưu đãi thuế cho các trung tâm R&D, miễn thuế cho đầu tư vốn mạo hiểm, triển khai các chươgn trình hỗ trợ việc làm, các chương trình hỗ trợ đào tạo…

Chiến lược khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo tổng thể: Tuy không có chiến lược hay kế hoạch quốc gia nào về chính sách khoa học – công nghệ, đổi mới, nhưgn Israel công bố nhiều báo cáo và văn kiện chính sách đưa ra nhiều định hướng. Một số lĩnh vực cụ thể được xác định thuộc những mục trọng tâm của chính sách gồm: công nghệ sinh học, công nghệ nano, lĩnh vực công nghệ sạch và nâng cao hiệu suất của các ngành công nghiệp công nghệ thấp. Như vậy, Israel xác định trực tiếp các định hướng phát triển kinh tế gắn với công nghệ cao. Đồng thời quốc gia này chú ý nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Không có sự thay đổi đáng kể nào gần đây trong chính sách quản trị khoa học – công nghệ và đổi mới. Một vấn đề ưu tiên chính liên quan đến quản trị là cải tiến đánh giá chính sách. Điều này dẫn đến việc thành lập một bộ phận thẩm định chính sách thuộc văn phòng của các nhà khoa học đứng đầu, tư vấn về các vấn đề chính sách liên quan đến hỗ trợ công cho R&D và các chương trình đánh giá.

Về ngân sách cho hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới, Israel có cường độ R&D rất cao trong khối OECD, với tổng chi phí quốc gia cho hoạt động R&D (GERD) năm 2010 đạt 4% GDP (không bao gồm quốc phòng). Đầu tư cho R&D tăng trung bình 4,1%/năm trong giai đoạn 2005 – 2010. Khu vực tư nhân tài trợ khoảng 52% GERD trong năm 2008.

Israel là quốc gia có nền tảng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, thuộc nhóm nước đứng đầu OECD về các trường đại học được xếp hạng trên thế giới. Trong giai đoạn 2011 – 2020, chi tiêu công cho R&D luôn ở mức cao trong khu vực, Chính phủ hỗ trợ Quỹ đầu tư cho các nghiên cứu lên đến hơn 100 USD/năm.

Ngoài ra, để khuyến khích nghiên cứu chất lượng cao, một hình thức tài trợ mới đã được áp dụng dựa nhiều hơn vào đánh giá hiệu suất hoạt động thực tế. Các nguồn lực bổ sung cũng được chuẩn bị sẵn sàng để cho phép thuê thêm giảng viên mới tại các trường đại học và để cải thiện hạ tầng cơ sở của các trường đại học. Các trung tâm dự án xuất sắc I-CORE nhằm mục tiêu tăng cường hạ tầng cơ sở nghiên cứu trong các lĩnh vực đã được lựa chọn. Dự án được chính phủ phê chuẩn và được Hội đồng Giáo dục đại học của Israel thông qua tháng 3/2010, có tổng ngân sách khoảng 362 triệu USD.

Chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới và ứng dụng công nghệ mới trong doanh nghiệp: Nhiều biện pháp đã được thực hiện để hỗ trợ R&D doanh nghiệp; khoảng 80% ngân sách R&D dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quỹ R&D đã được thành lập để giảm thiểu rủi ro cho các nhà đổi mới công nghiệp. Quỹ này phê chuẩn dự án của tất cả các loại hình doanh nghiệp – mới khởi nghiệp hay doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí cả các công ty lớn – dựa trên tư vấn của các chuyên gia công nghiệp và đánh giá các dự án có hệ thống. Đây là một công cụ đã được sử dụng trong phát triển thành công lĩnh vực công nghệ thông tin và hiện nay tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực ưu tiên mới như công nghệ sinh học.

Để đảm bảo quyền lợi cho trường đại học và doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ; đồng thời khuyến khích các nhà khoa học cũng như trường đại học nghiên cứu và đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ, Israel quy định nghiêm ngặt về quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ. Theo đó, doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ phải cam kết đưa công nghệ ra thị trường và không có quyền công bố kết quả nghiên cứu. Quyền sở hữu trí tuệ vẫn thuộc về trường đại học và luôn được quy định trong hợp đồng chuyển giao. Mặt khác, trường đại học cũng không có quyền tự kinh doanh bằng công nghệ đó mà không có sự hợp tác với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Israel không cho bán mà chỉ cho phép trường đại học chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho doanh nghiệp theo hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Về các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp, việc hỗ trợ cho các công ty mới khởi nghiệp là một khía cạnh quan trọng trong chính sách khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo của Israel. Chương trình vườn ươm công nghệ hỗ trợ giai đoạn đầu cho doanh nghiệp công nghệ bằng cách hỗ trợ chuyển đổi các ý tưởng sáng tạo thành các sản phẩm thương mại có khả năng thành công. Ngân sách của chương trình vào khoảng 40 triệu USD. Chương trình thúc đẩy quốc gia khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (TNUFA) cũng hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ đổi mới sáng tạo ở giai đoạn trước khởi nghiệp bằng cách giúp chuẩn bị đăng ký sáng chế và đánh giá tính khả thi công nghệ và tài chính của các sáng kiến.

Chính sách đẩy mạnh chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Một số chương trình hỗ trợ sự tương tác giữa khu vực nghiên cứu công và công nghiệp tư nhân. Một trong số đó là Chương trình hỗ trợ nghiên cứu lĩnh vực công nghệ mới (MAGNET), được thành lập vào năm 1994 và có ngân sách là 57 triệu USD vào năm 2011. Chương trình này hỗ trợ nghiên cứu khái quát tiền cạnh tranh do các consortium công nghiệp và các tổ chức nghiên cứu thực hiện. Chương trình hỗ trợ các đề xuất từ các viện nghiên cứu, ngành công nghiệp và các nhân viên MAGNET cũng đề xuất ý tưởng với các viện và ngành công nghiệp như là một cách để hình thành các consortium. Một mục tiêu bổ sung của chương trình là hỗ trợ sự phát triển các cụm công nghệ. Chương trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu (NOFAR) tích cực hỗ trợ thương mại hóa bằng cách tài trợ nghiên cứu khoa học về công nghệ sinh học và công nghệ nano nhằm điều chỉnh các hoạt động đổi mới phù hợp để sử dụng cho các ngành công nghiệp và khuyến khích áp dụng. Ngân sách phân bổ cho các dự án kéo dài 12 – 15 tháng, thường vào khoảng 100.000 USD.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Nền kinh tế ứng dụng – Phần II


Săn cá voi

Có thể bạn đã từng trải qua chuyện này, tức là mong muốn không phải trả một đồng nào cho phần mềm: một nghiên cứu cho thấy trong số tất cả các lượt tải xuống của ứng dụng iOS, chỉ có 6% lượt tải xuống có trả phí. Trong khi đó, thậm chí chi ra 1 USD cũng là quá nhiều đối với hầu hết mọi người. Trong khi đa số người dùng sẽ không trả một đồng nào, nhưng thường thì một phần nhỏ những người sử dụng nhiều nhất một ứng dụng nhất định lại sẵn sàng trả nhiều tiền. Các nhà kinh tế gọi đây là quy tắc 80 – 20 hay quy tắc Pareto: 20% khách hàng sẽ tạo ra 80% doanh thu, và 80% khách hàng sẽ tạo ra 20% doanh thu còn lại.

Vấn đề chính của các nhà phát triển ứng dụng là tìm ra 20% những người muốn trả tiền (được gọi là “cá voi” trong ngành công nghệ, có lẽ vì họ là số ít nhưng trả nhiều tiền) và cố gắng thu từ họ nhiều nhất có thể. Những chú cá voi này khá lớn: trung bình mỗi năm một người dùng trò chơi di động chi ra 86,50 USD để mua hàng trong ứng dụng. Năm 2015, Game of War: Fire Age kiếm được gần 550 USD từ mỗi người dùng trả tiền.

Bởi vì những người sử dụng nhiều nhất một ứng dụng sẽ có khả năng trả tiền nhiều nhất, nên mua hàng trong ứng dụng hoặc thuê bao chủ yếu nhằm vào những người dùng thường xuyên nhất. Ví dụ, bạn hãy nhớ cách Tinder cho phép bạn trả tiền để “vuốt” bao nhiêu tùy thích. Hầu hết người dùng sẽ không vuốt đến vài chục lần, tức là đủ số lần được “vuốt” miễn phí mỗi ngày, nhưng những người dùng Tinder nhiệt tình nhất sẽ nhanh chóng đạt đến số lượng đó. Và bởi những người này rất thích Tinder, họ sẽ không ngại trả một vài USD để được “vuốt” nhiều hơn – trong khi hầu hết người dùng bình thường sẽ do dự ngay cả với một khoản phí rất nhỏ.

Tóm lại, chiến lược freemium là: đưa ra ứng dụng miễn phí để thu hút một lượng lớn người dùng, tìm kiếm “người dùng quyền lực” yêu thích ứng dụng và thu phí – một lần hoặc thông qua thuê bao định kỳ – khi họ muốn có thêm các tính năng.

Nhưng làm thế nào một công ty có thể kiếm tiền mà không cần tính phí người dùng? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

Facebook kiếm tiền tỷ bằng cách nào khi không tính phí người dùng?

Freemium có thể mang lại lợi nhuận cao. Nhưng chúng ta hãy xem xét trường hợp của Google và Facebook. Có thể bạn đang sử dụng các ứng dụng – từ Maps (bản đồ) và Dos (tài liệu) cho đến Instagram và Facebook – nhưng có thể trong nhiều năm qua, bạn chưa bao giờ phải trả cho họ một đồng nào. Và nếu bạn không sử dụng freemium, thì họ kiếm tiền bằng cách nào?

Câu trả lời đơn giản là quảng cáo nhắm đối tượng. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về loại hình quảng cáo này.

Đấu giá quảng cáo

Như bạn có thể thấy, đã từ lâu, các ứng dụng và website kiếm tiền qua quảng cáo. Các nhà quảng cáo sẽ phải chi một khoản tiền nhỏ để quảng cáo của họ được hiển thị trên ứng dụng hoặc website. Nhưng chính xác thì các ứng dụng và website làm thế nào để biết phải tính phí các quảng cáo đó bao nhiêu tiền? Có hai phương pháp chính.

Đầu tiên, các ứng dụng và website có thể tính một khoản phí nhỏ cho các nhà quảng cáo mỗi khi có ai đó xem một quảng cáo, chiến lược này được gọi là Pay-Per-Imperssion (PPI). Vì có rất nhiều người xem quảng cáo, các ứng dụng và trang web thường tính phí theo gia số của 1000 lượt xem; nghĩa là giá cho một chiến dịch quảng cáo có thể là 5 USD cho 1000 “lượt xem”. Vì các nhà quảng cáo thường trả tiền theo đơn vị nghìn lượt xem, nên Pay-Per-Impression (PPI) thường được gọi là Cost-Per-Mille (CPM). (Mille bắt nguồn từ tiền tố mili nghĩa là nghìn, như milimet là một phần nghìn mét).

Ngoài ra, các ứng dụng và webisite có thể tính phí nhà quảng cáo bất cứ khi nào có ai đó nhấp vào một quảng cáo, được gọi là Cost-Per-Click (CPC) – giá tiền cho mỗi lần nhấp chuột. CPC có một tên gọi khác phổ biến hơn là Pay-Per-Click (PPC).

Google và Facebook áp dụng cả hai cách tính Cost-Per-Mille (CPM) và Cost-Per-Click (CPC) để thu tiền từ quảng cáo. Nhà quảng cáo muốn đặt một quảng cáo trên các sản phẩm của Google hoặc Facebook, như trên Google Search hoặc news feed, sẽ phải đưa ra “giá thầu” của họ, tức là số tiền họ sẵn sàng trả cho mỗi lần nhấp chuột hoặc lượt xem. Mỗi khi có người truy cập tải một trang, tất cả các nhà quảng cáo sẽ trải qua một “phiên đấu giá” tức thì, và quảng cáo và người thắng thầu sẽ được hiển thị.

Đưa ra giá thầu cao hơn sẽ khiến quảng cáo của bạn có nhiều khả năng được hiển thị hơn, nhưng người trả giá cao nhất không nhất thiết sẽ là người thắng thầu. Google và Facebook còn xem xét một số tiêu chí khác, như mức độ liên quan để quyết định sẽ cho hiển thị quảng cáo nào. Tại sao lại như vậy? Các quảng cáo có liên quan hơn có thể nhận được nhiều lượt nhấp chuột hơn, vì vậy họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn so với một quảng cáo ít liên quan nhưng có giá thầu cao hơn. Ta hãy cùng làm một phép tính: nếu bạn là Google, bạn có muốn hiển thị một quảng cáo có giá thầu là 5 USD nhận được 10 lần nhấp chuột, hay là quảng cáo có giá thầy 2 USD nhận được 100 lần nhấp chuột?

Quảng cáo là cách Google và Facebook kiếm tiền, nhưng lý do họ kiếm tiền được nhiều tiền là nhờ kỹ thuật nhắm đúng mục tiêu.

Quảng cáo nhắm đúng mục tiêu

Bạn đã bao giờ nhấp chuột vào một quảng cáo cho ghế sofa không, trừ khi bạn đang tích cực mua sắm đồ đạc? Chắc chắn là không. Đó là một trong những nguyên nhân khiến những quảng cáo mà bạn vẫn thấy trên tivi hoặc trên tạp chí không mang lại hiệu quả: có thể bạn đang lãng phí tiền bạc khi truyền tải một thông điệp đến rất nhiều người, trong khi chỉ một lượng nhỏ khán giả sẽ quan tâm. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu các nhà quảng cáo hiển thị quảng cáo ghế sofa một cách có chiến lược, vào đúng thời điểm bạn sắp chuyển đến một phòng ở mới trong khu ký túc xá, hoặc một ngôi nhà mới, và bạn đang rất cần mua đồ nội thất? Quảng cáo theo cách này có lẽ sẽ hiệu quả hơn.

Google và Facebook đã thực sự tự tạo nên khác biệt với chiến lược “quảng cáo nhắm đúng mục tiêu”. Bởi vì bạn có rất nhiều hoạt động trên các ứng dụng và website của Google và Facebook, những công ty này biết rất rõ bạn thích cái gì. Sau đó, họ sử dụng những dữ liệu này để đưa quảng cáo đến với bạn, như vậy họ sẽ kiếm được tiền từ các nhà quảng cáo trong khi cho bạn sử dụng dịch vụ miễn phí.

Ví dụ, nếu Google nhận thấy bạn nhập cụm từ tìm kiếm “hướng dẫn chọn đồng hồ” hay “giá một chiếc đồng hồ loại rẻ”, họ có thể suy luận rằng bạn đang muốn mua một chiếc đồng hồ đeo tay. Sau đó, họ có thể hiển thị các quảng cáo về đồng hồ khi bạn đang thực hiện các tìm kiếm khác. Vì những quảng cáo rất đúng mục tiêu này có liên quan đến bạn hơn, nên khả năng bạn sẽ nhấp vào chúng cao hơn so với các quảng cáo không đúng mục tiêu khác. Nhiều lần nhấp chuột hơn dẫn đến nhiều lượt mua hơn, vì vậy quảng cáo nhắm đúng mục tiêu giúp các nhà quảng cáo kiếm được nhiều tiền hơn.

Nói cách khác, quảng cáo nhắm đúng mục tiêu cải thiện “tỷ lệ nhấp chuột” (CTR – click through rate), thông qua đó giúp các nhà quảng cáo thu được nhiều lợi nhuận. Google và Facebook có nhiều dữ liệu người dùng hơn bất cứ nền tảng nào khác, nên họ rất giỏi đưa ra các quảng cáo nhắm đúng mục tiêu, và vì vậy họ có thể tính phí rất cao với các nhà quảng cáo. Mảng kinh doanh quảng cáo nhắm đúng mục tiêu dựa trên dữ liệu người dùng thu lợi rất lớn: gần như toàn bộ doanh thu của Google và Facebook đến từ quảng cáo. Facebook mỗi năm kiếm được hơn 30 tỷ USD từ quảng cáo – gần bằng 99% tổng doanh thu của họ.

Vậy các quảng cáo nhắm đúng mục tiêu là tốt hay xấu? Những người ủng hộ quyền riêng tư đang lo lắng về cách các công ty lớn này có thể theo dõi bạn sau mỗi lần nhấp chuột, và biết rất nhiều về sở thích, thói quen và hoạt động của bạn.

Nhưng có thể đó chỉ là cái giá của kinh doanh: chẳng ai cho không ai thứ gì, và thay vì trả cho các sản phẩm của Google và Facebook bằng tiền mặt, bạn đang trả cho họ bằng chính dữ liệu cá nhân của mình. Lập luận này được tổng kết thành một câu thành ngữ ở Thung lũng Silicon: “nếu bạn không trả tiền cho sản phẩm, thì bạn sẽ là sản phẩm”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XI


II/ Kinh nghiệm xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của một số quốc gia trên thế giới

1/ Thụy Điển

Được coi là một nước có nền kin tế tri thức cao, Thụy Điển là một trong số các quốc gia tiên phong trong hoạt động đổi mới, phát triển thành công hệ thống đổi mới và có tổng chi tiêu cho hoạt động R&D cao nhất thế giới. Những chính sách và cách thức xây dựng, phát triển hệ thống đổi mới khoa học và công nghệ của Thụy Điển là kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế và chinh phục những thành tựu cao trong phát triển khoa học – công nghệ.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển

Ở Thụy Điển, cứ bốn năm một lần, chính phủ chuẩn bị một chương trình nghiên cứu và đổi mới, trong đó xác định các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn cũng như kinh phí hoạt động cho hệ thống đổi mới, khoa học – công nghệ trong vòng bốn năm tới. Trong chương trình nghiên cứu vào năm 2014, Chính phủ Thụy Điển đã tuyên bố mục tiêu chính sách đổi mới và phát triển khoa học – công nghệ của mình vẫn là nâng cao chất lượng nghiên cứu và tăng cường sự đóng góp của các kết quả nghiên cứu khoa học cho sự phát triển kinh tế – xã hội thông qua việc đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Ngoài chương trình quốc gia về nghiên cứu và đổi mới, Chính phủ Thụy Điển cũng thúc đẩy sự phát triển của đổi mới sáng tạo và khoa học – công nghệ thông qua: các quy định về tài chính, các quy định hoạt động khoa học – công nghệ chung và thông qua các thành viên hội đồng quản trị trong các cơ quan và tổ chức khoa học – công nghệ.

Các chính sách về tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứgn dụng công nghệ mới tại Thụy Điển. Vào cuối năm 2013, Chính phủ Thụy Điển xem xét đầu tư 3 triệu euro hằng năm cho các chương trình vườn ươm doanh nghiệp của VINNOVA nhằm đẩy mạnh việc ươm tạo công nghệ. Trong kinh phí cho hoạt động R&D, nguồn tài chính từ các doanh nghiệp vẫn chiếm ưu thế trong lĩnh vực R&D của Thụy Điển (63%), nhân tố này vừa đóng vai trò là nguồn tài trợ và vừa là nhóm thực hiện đối với các chương trình R&D. Trên thực tế, hầu hết các nguồn tài trợ R&D ở Thụy Điển là từ/cho các doanh nghiệp, và nhìn chung, việc chia sẻ kinh phí tổng dành cho R&D giữa các ngành là thấp.

Thụy điển có các chính sách thúc đẩy sự tham gia của nhiều bên liên quan, đồng thời thúc đẩy hợp tác liên ngành để đổi mới. Những cơ chế như vậy góp phần xây dựng niềm tin, tạo ra một tầm nhìn chung và toàn diện về sự chuyển đổi và tạo điều kiện để phối hợp các hành động theo đúng hướng. Ví dụ: Chương trình đổi mới chiến lược Bioinnovation của Thụy Điển – nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên sinh học vào năm 2050 – thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dùng để đảm bảo sự phù hợp với thị trường của các dự án đổi mới.

Liên quan đến các chính sách công nghiệp gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Thụy Điển đã đưa ra Chiến lược công nghiệp thông minh nhằm thúc đẩy công nghiệp 4.0, bao gồm các mục tiêu: 1) Kích thích phát triển, mở rộng và sử dụng các công nghệ kỹ thuật số có tiềm năng lớn để dẫn đầu sự chuyển đổi ngành công nghiệp; 2) Khuyến khích các mô hình kinh doanh và tổ chức mới để khai thác tiềm năng của các công nghệ mới; 3) Đáp ứng các yêu cầu tri thức mới do phát triển kỹ thuật số mang lại; 4) Điều chỉnh các điều kiện khung và hạ tầng cơ sở phù hợp với kỷ nguyên số.

Ngoài ra, chính sách nhằm tăng cường kết nối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo rộng lớn như Chương trình khởi nghiệp Thụy Điển tổ chức các trại huấn luyện (Boot camp) kéo dài một tuần (tập hợp các doanh nhân tại một địa điểm cụ thể cho phép họ được tiếp xúc và học hỏi lẫn nhau) nhằm vào các công ty khởi nghiệp số triển vọng nhất Thụy Điển. Mười công ty được chọn tham gia vào mỗi đợt huấn luyện, có cơ hội mở rộng mạng lưới với các công ty, nhà đầu tư, khách hàng tiềm năng và đối tác khác.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển

Nhìn vào cơ cấu hệ thống đổi mới, khoa học – công nghệ của Thụy Điển có thể thấy sự phân rõ trách nhiệm giữa các thành phần trong hệ thống. Với ba chức năng chính và ba thành phần chính của hệ thống đổi mới, các tổ chức được phân bổ và có cơ chế phối hợp với nhau rất chặt chẽ.

Chức năng 1: Xây dựng chính sách chung. Với nhiệm vụ này, hai cơ quan đóng vai trò thực hiện chính là chính phủ và chính quyền địa phương cùng với Hội đồng quốc gia. Dưới sự hỗ trợ của Hội đồng chính sách nghiên cứu (RPC), Hội đồng chính sách đổi mới (IPC) và Viện nghiên cứu chính sách phát triển (ITPS). Ở cấp địa phương, chính sách được xây dựng trong các chương trình phát triển vùng (RTP).

Hình 1.4

Chức năng 2: Tài chính và hỗ trợ chính sách. Cả ba khu vực (khu vực công, khu vực tư và khu vực có sự tham gia của nước ngoài) đều tham gia đóng góp vào nguồn kinh phí tài trợ.

Chức năng 3: Thực hiện hoạt động R&D. Thực hiện các chức năng này, có hai nhân tố chính là các trường đại học và các viện nghiên cứu. Ở Thụy Điển có khoảng 16 trường đại học tham gia thực hiện hoạt động R&D. Các trường đại học không chỉ tập trung vào các nghiên cứu cơ bản thuần túy, các nghiên cứu cơ bản định hướng mà còn cả chuyển giao công nghệ. Chiếm một phần rất nhỏ trong việc đóng góp vào hệ thống đổi mới quốc gia nhưng các viện nghiên cứu thực sự đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa nghiên cứu và ứng dụng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển mang những nét đặc trưng sau:

+ Có sự phân định rạch ròi giữa khu vực công và khu vực tư trong hoạt động R&D và mỗi khu vực lại chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của một vài nhân tố trong khu vực đó (ở khu vực tư nhân là các công ty đa quốc gia lớn như AstraZeneca, AtlasCopco, Electrolux, IKEA và ở khu vực công thì đó là những trường đại học nghiên cứu lớn).

+ Các trường đại học có mức độ tự chủ cao: bắt buộc phải tự xây dựng chiến lược nghiên cứu của riêng mình, tuy nhiên các trường đại học gặp phải khó khăn trong việc trở thành trung gian giữa nghiên cứu và sản xuất.

+ Có sự phân chia trách nhiệm trong hệ thống đổi mới khoa học – công nghệ: Bộ Giáo dục và Nghiên cứu chịu trách nhiệm về chức năng giải quyết các vấn đề liên quan đến nghiên cứu và đổi mới trong khu vực hàn lâm và Bộ Doanh nghiệp có trách nhiệm liên quan đến các vấn đề nghiên cứu và đổi mới trong khu vực tư nhân.

+ Có sự phân cấp trách nhiệm trong hệ thống đổi mới, khoa học – công nghệ đến chính quyền khu vực (quận).

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Nền kinh tế ứng dụng – Phần I


Năm 2010, Apple đăng ký thương hiệu cho slogan quảng cáo “there’s an app for that” (có một ứng dụng cho việc đó). Và thực sự, các ứng dụng dường như đang thống trị thế giới này. Các công ty trị giá hàng tỷ USD như Uber (thành lập năm 2008), Airbnb (cũng thành lập năm 2008) và Snapchat (thành lập năm 2011) chỉ dựa trên một ứng dụng. Ước tính toàn bộ “nền kinh tế ứng dụng” trị giá 100 tỷ USD.

Vậy làm thế nào để những biểu tượng nhỏ xíu trên màn hình điện thoại củ bạn lại giúp thu về hàng tỷ USD trong hoạt động kinh tế? Các quy tắc áp dụng cho “nền kinh tế ứng dụng” rất khác so với các quy tắc của nền kinh tế “truyền thống”, nơi có các cửa hàng để bạn bước vào và mau những mặt hàng trên kệ. Chúng ta hãy cùng khám phá thế giới mới mẻ vô cùng kỳ lạ này.

Tại sao bạn có thể tải xuống miễn phí hầu hết mọi ứng dụng

Bạn sẽ phải trả 9,99 USD cho một chiếc bánh pizza cỡ vừa. Một lần rửa xe tiêu tốn của bạn 15 USD. Bạn sẽ phải trả khoảng 45 USD/tháng cho một gói dữ liệu.

Nhưng hầu hết mọi ứng dụng trên điện thoại của bạn là miễn phí. Instagram, Snapchat, Dropbox, Venmo, Google Maps – tất cả đều miễn phí. Trên thực tế, trong số tất cả các ứng dụng trên Android và iOS mang về lợi nhuận cao nhất, chỉ có một ứng dụng trả phí lọt vào top 100, và đó là Minecraft. (Trong khi đó, vào năm 2018, cho dù miễn phí nhưng trò chơi di động Fortnite thu về hơn 1 tỷ USD).

Chưa hết, nhiều công ty sản xuất các ứng dụng tải xuống miễn phí cũng đang thu về hàng triệu USD. Ví dụ, Snapchat hoàn toàn miễn phí nhưng công ty mẹ của ứng dụng này (Snap, Inc.) khi trở thành công ty đại chúng vào năm 2017 được định giá 33 tỷ USD. Điều đó cho thấy nền kinh tế ứng dụng khác với nền kinh tế “bình thường” như thế nào: nếu Pizza Hut nói rằng họ sẽ kiếm tiền trong khi tặng pizza miễn phí, bạn sẽ nghĩ rằng họ bị điên.

Vậy làm thế nào để các nhà sản xuất ứgn dụng kiếm tiền mà không cần bán phần mềm? Họ đã sáng tạo một số mô hình kinh doanh khá thông minh, được gọi là các chiến lược “tiền tệ hóa”. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu một trong số những ứng dụng phổ biến nhất, được gọi là “freemium”.

Freemium: trả tiền để có thêm tính năng

Nếu bạn đã từng chơi Candy Crush, bạn sẽ nhận thấy rằng ứng dụng này miễn phí, nhưng một khi bắt đầu chơi, bạn sẽ liên tục nhận được những lời đề nghị dùng tiền thật để mua thêm mạng sống hoặc để mở khóa các cấp độ mới. Tương tự, Tinder cho phép bạn “vuốt” vào những người có tiềm năng “ghép cặp” với bạn, nhưng chỉ trong phạm vi vài chục lần “vuốt” một ngày. Nếu bạn muốn “vuốt” nhiều hơn, bạn sẽ cần trả cho Tinder Plus, là phí thuê bao theo tháng”.

Mô hình kinh doanh “freemium” này khá đơn giản. Ứng dụng này miễn phí, vì vậy sẽ có rất nhiều người tải xuống, sau đó người dùng được yêu cầu trả tiền cho các tính năng bổ sung cao cấp “premium”. Freemium có ở khắp mọi nơi: đó là cách mà nhiều trò chơi di động như Candy Crush và Pokémon Go kiếm tiền, và nó rất phổ biến với các ứng dụng nổi tiếng như Tinder, Spotify, và Dropbox.

Các ứng dụng Freemium thường sử dụng một trong hai chiến lược sau để kiếm tiền: mua hàng trong ứng dụng hoặc tính phí thuê bao. Chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu cả hai chiến lược này.

Mua hàng trong ứng dụng nghĩa là bạn có thể dùng tiền thật để mua các tính năng bổ sung hoặc các vật phẩm ảo trong ứng dụng. Candy Crush, trò chơi điện tử mà chúng tôi đã đề cập ở trên, còn bán thêm mạng sống. Pokémon Go cho phép bạn mua tiền xu để có thể đổi thêm bóng Poké Balls hoặc Potions, nhằm củng cố sức mạnh cho những con quái vật cưng của bạn. Đôi khi, bạn mua hàng trong ứng dụng chỉ với mục đích thẩm mỹ: người chơi Fortnite chi ra hàng trăm USD chỉ để tùy chỉnh hình đại diện của họ với những thứ như áo sơ mi và các điệu nhảy.

Tuy nhiên, với các trò chơi, trả phí để nâng cấp chẳng phải là chuyện mới. Thậm chí, các trò chơi trên máy tính ra đời từ hàng thập kỷ trước như World of Warcraft hoặc SimCity từ lâu đã yêu cầu người chơi trả phí cho các “gói mở rộng”. Người chơi trên máy chơi game cũng được đề nghị mua hàng trong ứng dụng thông qua các nội dung có thể tải xuống (DLC – downloadable content), tức là bạn trả tiền để mua các vật phẩm, hầm ngục và thử thách mới.

Mua hàng trong ứng dụng chủ yếu được áp dụng trong các trò chơi, tuy nhiên, một số ứng dụng tiêu chuẩn cũng đưa ra những đề xuất như vậy. Ví dụ, Snapchat cho phép bạn mua bộ lọc địa lý tùy chỉnh của riêng bạn cho các sự kiện đặc biệt. Và nhiều ứng dụng Android/iOS thường hiển thị quảng cáo sẽ cho phép bạn trả tiền mua một bản nâng cấp để loại bỏ chúng.

Một lý do quan trọng khiến những người sáng tạo trò chơi và ứng dụng yêu thích mua hàng trong ứng dụng (in-app purchase) vì chúng mang lại lợi nhuận thuần mà không làm tăng thêm chi phí: khi bạn xây dựng ứng dụng hoặc trò chơi, về cơ bản chi phí để cung cấp cho người dùng các vật phẩm ảo như trang phục hoặc bộ lọc địa lý là bằng 0 (nói cách khác, chi phí biên bằng 0). Tuy nhiên, in-app purchase được thiết kế với mục đích xấu hoặc không trung thực có thể dẫn đến phản ứng dữ dội, như việc khách hàng phẫn nộ khi trò chơi miễn phí trên Facebook đánh lừa trẻ em, khiến chúng chi hàng trăm USD cho các vật phẩm trong trò chơi.

Thuê bao có trả phí

Ngoài mua hàng trong ứng dụng, một mô hình kinh doanh “freemium” quan trọng khác là các thuê bao có trả phí, tương tự như khi bạn trả hóa đơn điện thoại hàng tháng. Thông thường, các thuê bao cho phép bạn mở khóa các tính năng mới hữu ích, đổi lại hàng tháng bạn phải trả một khoản tiền nhất định. Rất dễ nhận biết thuê bao có trả phí; bạn chỉ cần tìm các ứng dụng có chữ “Plus”, “Premium” hoặc “Gold”.

Thuê bao được áp dụng nhiều hơn với các ứng dụng không phải trò chơi, và chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Chúng tôi đã nói đến Tinder Plus, ứng dụng này cho phép bạn trả một khoản phí nhỏ hàng tháng để nhận được số lần vuốt không giới hạn và có thêm các tính năng. LinkedIn yêu cầu thanh toán hàng tháng cho LinkedIn Premium để bạn có thể gửi email cho những người mà bạn không có kết nối. Bạn có thể nghe nhạc trực tuyến miễn phí với Spotify, nhưng để xóa quảng cáo và lưu nhạc ngoại tuyến, bạn sẽ phải trả phí thuê bao Premium. Ngay cả Microsoft, công ty đã nhiều năm kiếm tiền từ việc bán Office, hiện nay đang cung cấp một số ứng dụng Office miễn phí, nhưng khuyến khích người dùng trả thuê bao hàng năm cho Office 365.

Một số website và ứng dụng cũng đã bắt đầu sử dụng thuê bao: Ví dụ, mỗi tháng, tờ New York Times cho phép bạn đọc một vài bài báo miễn phí, nhưng bạn phải trả tiền hàng tháng để nhận được quyền truy cập không giới hạn.

Có hai lý do quan trọng khiến các nhà sản xuất ứng dụng chuyển sang thuê bao. Thứ nhất, chúng mang lại một nguồn thu nhập ổn định và đáng tin cậy, trong khi mua hàng một lần chỉ giúp doanh thu tăng đột biến khi phát hành bản cập nhật mới, và sự giảm mạnh vào những thời điểm khác. Thứ hai, khách hàng thuê bao có xu hướng gắn bó với ứng dụng lâu hơn (có thể vì họ cảm thấy có một mối quan hệ lâu dài với ứng dụng thay vì chỉ tương tác một lần duy nhất), nghĩa là họ sẽ trả cho công ty nhiều tiền hơn trong suốt cuộc đời. Về mặt kinh doanh, khách hàng thuê bao sẽ có “giá trị lâu dài” (LTV – lifetime value) cao hơn, và việc tối đa hóa LTV được công nhận là chén thánh cho các doanh nghiệp kỹ thuật số.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần X


Nếu như tiến bộ khoa học và công nghệ có lịch sử lâu dài thì một trong những xu hướng hiện nay tạo nên bối cảnh mới trên toàn cầu là sự tăng tốc của quá trình số hóa và chuyển đổi số. Thế giới hiện nay đang bước vào kỷ nguyên số. Cuộc cách mạng số được khởi nguồn từ vài thập niên trước đang tăng tốc nhanh nhờ sự phát triển mạnh mẽ của Internet tốc độ cao, điện toán phát triển mạnh với tốc độ tính toán tăng nhanh cũng như các cảm biến có giá ngày càng rẻ và chất lượng cao hơn. Nhờ cuộc cách mạng số – nội dung cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư – nên có sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa thế giới và không gian số (Cyber space), qua đó tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp (Hình 1.3).

Quá trình số hóa bắt đầu từ khi có Internet và diễn ra qua 4 giai đoạn. Cấp độ số hóa của mỗi doanh nghiệp tương ứng với giai đoạn cao nhất mà doanh nghiệp tham gia, từ mức thấp là Internet nội dung, lên các mức cao hơn là Internet dịch vụ, Internet con người và cao nhất cho đến nay là Internet vạn vật. Cấp độ số hóa là một yếu tố quan trọng quyết định năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả năng nắm bắt được các cơ hội mới gắn với nền kinh tế số cũng đóng vai trò quan trọng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong kỷ nguyên số. Hiện nay, với sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa thế giới thực và không gian số, có khoảng 20 tỷ vật thể và 4,5 tỷ người đã được kết nối qua Internet. Dự kiến đến năm 2025 sẽ có khoảng 50 tỷ vật thể và hơn 6 tỷ người sẽ được kết nối. Internet kết nối vạn vật giúp dữ liệu lớn bùng nổ. Đây chính là mảnh đất màu mỡ giúp cho các mô hình kinh doanh mới ngày càng nở rộ. Các mô hình kinh doanh mới dựa vào Internet và công nghệ số tuy không tạo ra công nghệ mới (các chuyên gia gọi là đổi mới sáng tạo phi công nghệ – Non-technological innovation) sogn đang có tác động mạnh mẽ đến thế giới đương đại nhờ tạo ra những phức sản xuất, kinh doanh mới có ưu việt hơn các phương thức truyền thống, gia tăng năng suất lao động, hiệu quả cũng như gia tăng chất lượng, giảm đáng kể giá cả để qua đó nâng cao phúc lợi của người dân.

Đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với trình độ phát triển của một quốc gia, được đo bằng GDP bình quân đầu người. Đối với các nước thu nhập thấp và trung bình cần áp dụng các công nghệ mới để duy trì hoặc cạnh tranh, thì việc nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp là rất quan trọng.

Với các quốc gia ở trình độ phát triển thấp như Việt Nam thì ưu tiên là thúc đẩy chuyển giao, lan tỏa và hấp thụ công nghệ, thúc đẩy công nghệ tiên tiến cấp quốc gia (National frontier). Qua thời gian, khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, quốc gia đó có thể thúc đẩy phát triển công nghệ tiên tiến ở cấp khu vực, rồi dần tiệm cận đến phát triển công nghệ của thế giới. Việc biết có một công nghệ mới tồn tại, hoặc thậm chí mua bản quyền để sử dụng công nghệ đó vẫn không đủ để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ trong thực tế hoặc áp dụng nó vào một sản phẩm được đưa ra thị trường thành công. Những khả năng này đòi hỏi các nhà quản lý và người lao động trong các doanh nghiệp có khả năng phù hợp. Cũng cần phải có hạ tầng cơ sở và khung pháp lý cần thiết để hỗ trợ việc sử dụng các công nghệ mới. Ví dụ, nếu một quốc gia không chứng nhận các tiêu chuẩn hoặc luồng dữ liệu hỗ trợ nhất định theo cách mà các đối tác thương mại hoặc các quốc gia khác công nhận trong chuỗi giá trị, thì công nghệ không thể được sử dụng hoặc không thể phục vụ lợi ích của quốc gia đó.

Công nghệ có thể tham gia thương mại quốc tế và có thể lan rộng đến những nơi mới một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, với các quy định được thiết lập tại địa phương, ngay cả khi các quy tắc được đàm phán quốc tế, chúng sẽ không được nhập khẩu đơn giản như sản phẩm vốn. Vì vậy, sẽ luôn luôn có một quá trình chính trị phức tạp, cụ thể theo ngữ cảnh dẫn đến việc áp dụng và xác định công nghệ hiệu quả như thế nào được triển khai. Đồng thời, công nghệ và các quy tắc cho phép tạo ra hoặc áp dụng các “ý tưởng mới” hoặc cải tiến các phương thức sản xuất, làm việc hoặc phục vụ công dân. Chất lượng của các quy tắc  khác nhau giữa các quốc gia. Có thể viện dẫn việc tư nhân hóa ngành nước thành phố cho một công ty Pháp ở Argentina để minh họa cho điều này. Chương trình ban đầu đã thành công, nhưng giống như ở nhiều quốc gia khác, cuối cùng họ đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ, điều này đã thúc đẩy quá trình tái quốc hữu hóa. Công nghệ cần thiết, các quy tắc và ưu tiên về việc điều chỉnh độc quyền tiện ích đã có mặt ở Pháp nhưng không phải ở Argentina, ở đó công nghệ và quy định điều tiết không kết hợp được với nhau. Ngược lại, ý tưởng về việc thiết lập và vận hành hệ thống điện thoại di động nhanh chóng lan rộng đến nhiều quốc gia, thậm chí đến các quốc gia nhỏ như Somalia. Trái ngược với điện thoại cố định hoặc nước đô thị, công nghệ điện thoại di động dễ dàng cho phép cạnh tranh giữa các nhà cung cấp, ngay cả ở những nơi năng lực điều tiết thấp. Đối với thiết bị di động, các quy định của địa phương đã được điều chỉnh cho phù hợp với công nghệ mới. Mối liên quan giữa công nghệ và kỹ năng là mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau, thể hiện tác động của công nghệ đến thị trường lao động. Những tác vụ tuân theo các quy trình dễ mã hóa có thể được thực hiện bằng máy tính nhanh hơn, tốt hơn và rẻ hơn. Với sức mạnh tính toán ngày càng tăng và phần mềm tốt hơn, nguyên tắc chung là nếu có thể dễ dàng giải thích một công việc cho ai đó, thì nó có thể được tự động hóa. Các nhiệm vụ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề khả năng thích ứng và sáng tạo thì lại rất khó để tự động hóa. Một lần nữa, khó khăn trong việc tự động hóa một công việc liên quan đến mức độ khó khăn trong việc mô tả nó. Các chuyên gia nhấn mạnh sự tương tác của công nghệ với các nhiệm vụ không theo quy tắc. Người lao động thực hiện các công việc không theo quy tắc có năng suất cao hơn khi việc tự động hóa các nhiệm vụ khác tăng lên.

d/ Vai trò của nhà nước trong Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia

Ở các nước phát triển, nhà nước là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng NIS, trong đó chủ yếu thực hiện những chức năng sau:

+ Trực tiếp rót vốn đầu tư cho đổi mới sáng tạo.

Việc hình thành và xây dựng Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia không thể tách rời vai trò đầu tư trực tiếp của nhà nước nhằm thúc đẩy nhanh việc sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phổ biến tri thức khoa học – công nghệ và sản phẩm mới. Theo báo cáo của OECD, với 1 USD của chính phủ dành cho đầu tư nghiên cứu và phát triển sẽ mang lại 1,7 USD lợi ích cho doanh nghiệp. Ở Mỹ và nhiều nước châu Âu, ngân sách nhà nước đầu tư nhiều cho các dự án khoa học và công nghệ trọng điểm, then chốt liên quan đến quốc phòng và dân sinh. Báo cáo của OECD cho thấy, tại hầu hết các quốc gia, từ 10% đến 20% nghiên cứu và phát triển của donah nghiệp được tài trợ bằng ngân sách của nhà nước thông qua các hình thức đầu tư khác nhau.

+ Tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.

Việc xây dựng NIS đòi hỏi một môi trường tốt, bao gồm cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, chính sách về sở hữu trí tuệ, quỹ đổi mới, hệ thống pháp luật và việc bảo đảm dân chủ trong hoạt động nghiên cứu. Cơ chế, chính sách của nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy hoạt động đổi mới nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực, ngành, nghề, góp phần giúp doanh nghiệp nắm bắt được xu hướng công nghệ chủ đạo. Bên cạnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý cho đổi mới sáng tạo cũng là một vai trò quan trọng của nhà nước.

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật , quan điểm chung nhất mà các nước cùng thống nhất là “thừa nhận và khích lệ mọi người có quyền tự do tối đa trong khung khổ pháp luật; thông qua tự do để có được sự đổi mới và giải phóng sức sáng tạo”; thực hiện phương châm “giải phóng tư tưởng”, bảo đảm tự do tư tưởng trong nghiên cứu khoa học, nhất là trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng là một nội dung được các nước phát triển coi trọng nhằm góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

+ Điều tiết hoạt động đổi mới sáng tạo.

Xây dựng NIS đòi hỏi sự tích hợp về nguồn lực, sức mạnh của quốc gia và quốc tế, của trung ương và địa phương, của các cơ quan nhà nước, của nhà nước – doanh nghiệp – trường đại học và cơ quan nghiên cứu. Tất cả điều này đòi hỏi nhà nước cần thực hiện tốt chức năng điều tiết, trong đó bao gồm cả điều tiết của nhà nước đối với hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ nhằm thúc đẩy giao lưu, hợp tác cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

+ Hoạch định chiến lược và chính sách đổi mới quốc gia.

Xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia đòi hỏi một chiến lược đổi mới rõ ràng. Chiến lược đổi mới sẽ đề ra mục tiêu, thời gian, bước đi và nhiệm vụ. Các nước phát triển rất coi trọng việc hoạch địch chiến lược đổi mới để định hướng, khích lệ và hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo. 

(còn tiềp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021