Kế hoạch hóa gia đình – Phần I


Chúng ta cũng dễ thấy tại sao một số người đã muốn tách sự chăm sóc của cha mẹ với các dạng tính vị tha theo họ hàng. Sự chăm sóc của cha mẹ trông có vẻ như là một bộ phận gắn liền với sự sinh sản, trong khi tính vị tha ví dụ như đối với một người cháu trai lại không liên quan đến sinh sản. Tôi nghĩ rằng chắc chắn sự khác biệt quan trọng đã được ẩn đi ở đây, nhưng tôi cho rằng người ta đã hiểu lầm về sự khác biệt đấy. Họ đã đặt sinh sản và sự chăm sóc của cha mẹ về cùng phía, và các kiểu tính vị tha khác về phía bên kia. Nhưng tôi lại muốn phân biệt giữa việc sinh ra các cá thể mới ở một phía và phía kia là sự chăm sóc các cá thể đang sống. Tôi sẽ gọi hai hành động này lần lượt là “sinh con” và “chăm sóc con”. Một cỗ máy sống riêng biệt phải thực hiện hai loại quyết định khác nhau, những quyết định chăm sóc con và quyết định sinh con. Tôi sử dụng từ quyết định với ý nghĩa một hành động chiến lược vô thức. Các quyết định chăm sóc có dạng như sau: “Có một đứa trẻ; mức độ quan hệ họ hàng của nó với tôi là bình thường; cơ hội sống của nó nếu tôi không cho nó ăn là như thế; vậy tôi có nên cho nó ăn?” Các quyết định sinh con mặt khác lại là như thế này: “Tôi có nên tiến hành theo các bước cần thiết để sinh ra một cá thể mới? Tôi có nên sinh đẻ?” Ở một mức độ nào đó, chăm sóc và sinh con chắc chắn sẽ xung đột lẫn nhau về thời gian và các nguồn tài nguyên khác của một cá thể: cá thể này có thể phải lựa chọn: “Tôi sẽ chăm sóc cho đứa trẻ này hoặc tôi sẽ sinh ra một đứa mới?”

Tùy thuộc vào đặc tính sinh thái của các loài, việc phối hợp chiến lược chăm sóc và sinh con có thể là chiến lược tiến hóa bền vững. Chiến lược chăm sóc thuần túy sẽ không thể trở thành chiến lược tiến hóa bền vữnng. Nếu tất cả các cá thể sử dụng thời gian của chúng cho việc chăm sóc những đứa trẻ đã sinh ra đến mức chúng chẳng bao giờ sinh thêm các cá thể mới, thì quần thể sẽ nhanh chóng bị thôn tính bởi các cá thể đột biến chuyên hóa trong việc sinh con. Chiến lược chăm sóc chỉ có thể là tiến hóa bền vững với vai trò như một phần của một chiến lược hỗn hợp – tức là sự “sinh con” nhất định phải được tiếp diễn.

Các loài quen thuộc với chúng ta nhất như động vật có vú và loài chim có khuynh hướng là những kẻ chăm sóc tốt. Quyết định sinh ra một cá thể mới luôn luôn kéo theo quyết định chăm sóc cá thể đấy. Bởi vì chăm sóc và sinh con thường đi cùng nhau trong thực tiễn đến nỗi người ta trộn cả hai thành một. Nhưng trên quan điểm của gen vị kỷ, như chúng ta đã thấy, về mặt nguyên tắc sẽ không có sự khác biệt nào giữa việc chăm sóc em trai ruột và chăm sóc cho con trai. Cả hai đứa trẻ đều có quan hệ gần gũi với bạn. Nếu bạn phải lựa chọn giữa việc chăm sóc một trong hai đứa, thì sẽ chẳng có cơ sở di truyền nào lý giải việc tại sao bạn nên chọn đứa con của chính mình. Nhưng mặt khác, theo định nghĩa, bạn cũng không thể sinh ra em trai mình. Bạn chỉ có thể chăm sóc cho em trai mình một khi một ai đó đã sinh ra anh ta. Chúng ta đã xem xét làm thế nào để các cỗ máy sống quyết định có nên cư xử vị tha đối với các cá thể đang sống khác hay không. Ở đây, chúng ta sẽ tìm hiểu làm thế nào để các cá thể quyết định có nên sinh ra các cá thể mới hay không.

Những tranh cãi gay gắt về “chọn lọc nhóm” mà tôi đã đề cập đã kết thúc. Đó là vì Wynne-Edwards, người chịu trách nhiệm phổ biến ý tưởng chọn lọc nhóm, đã làm như vậy trong nội dung của lý thuyết “Điều chỉnh quần thể”. Ông ta đã gợi ý rằng các động vật đơn lẻ sẽ giảm tỉ lệ sinh của chúng một cách có chủ tâm và vị tha vì lợi ích của cả nhóm.

Đấy là một giả thuyết rất hấp dẫn bởi vì nó rất phù hợp với những gì mà cá nhân con người phải làm. Nhân loại đang có quá nhiều trẻ con. Quy mô dân số phụ thuộc vào bốn điều: tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử, nhập cư và di cư. Hãy lấy dân số thế giới một cách tổng thể, nhập cư và di cư không xảy ra, và chúng ta chỉ còn tính đến tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử. Chừng nào mà số con của một cặp vợ chồng có thể sống sót để sinh sản là con số lớn hơn hai, số lượng trẻ em được sinh ra sẽ  có xu hướng tăng lê hằng năm với tốc độ tăng trưởng chưa từng có. Dân số trong mỗi thế hệ, thay vì tăng lên theo một lượng cố định, sẽ tăng một khoảng giống như một phần cố định của quy mô dân số đã đạt đến. Bởi vì bản thân quy mô này sẽ lớn dần lên, cho nên quy mô gia tăng cũng lớn hơn. Nếu loại tăng trưởng này được tiếp diễn mà không bị kiểm soát, dân số sẽ đạt tỉ lệ vô cùng lớn một cách cực kỳ nhanh chóng.

Rất tình cờ, một điều mà ngay cả những người quan tâm đến các vấn đề dân số đôi khi cũng không nhận ra là sự tăng trưởng dân số phụ thuộc vào khi nào người ta có con cũng như phụ thuộc vào việc họ có bao nhiêu con. Vì dân số có khuynh hướng tăng với một tỉ lệ nhất định theo thế hệ, nên nó dẫn đến việc quần thể sẽ tăng trưởng với tốc độ tăng hằng năm chậm hơn nếu bạn tách dãn các thế hệ nhiều hơn. Khẩu hiệu ghi “dừng ở hai” có thể được thay đổi tương ứng với khẩu hiệu “bắt đầu ở 30”! Nhưng trong bất kỳ trường hợp nào, sự tăng trưởng dân số nhanh đều báo hiệu mối đe dọa nghiêm trọng.

Chúng ta có lẽ đều đã thấy các ví dụ về những tính toán gây sửng sốt có thể đem lại. Ví dụ, dân số hiện tại của châu Mỹ Latin là khoảng 300 triệu, và đã có nhiều người trong số họ thiếu ăn. Nhưng nếu dân số tiếp tục tăng lên theo tốc độ hiện tại, thì chưa đến 500 năm sau, dân số sẽ đạt tới điểm mà mọi người chỉ đứng một chỗ cũng đã hình thành một thảm người dày đặc trải khắp toàn bộ châu lục. Và cho dù chúng ta giả định rằng họ rất gầy, một giả định không phải là thực tế, thì điều đó vẫn xảy ra. Trong 1000 năm nữa kể  từ thời điểm này, họ sẽ phải đứng lên vai của nhau, tạo thành độ sâu 1.000.000 mét. Khoảng 2000 năm, “núi người” này, vươn ra ngoài theo tốc độ ánh sáng, sẽ chạm tới mép vũ trụ của chúng ta.

Bạn sẽ không quên rằng đấy là một tính toán lý thuyết! Điều đó sẽ không thực sự xảy ra vì một vài nguyên nhân thực tế. Những nguyên nhân đó là nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh; hoặc nếu chúng ta may mắn, thì đó là do kiểm soát tỉ lệ sinh. Việc kêu gọi thúc đẩy phát triển nông nghiệp, “cách mạng xanh” và những điều tương tự là vô ích. Tăng sản lượng lương thực có thể tạm thời làm dịu bớt vấn đề, nhưng theo tính toán toán học thì chắc chắn rằng đấy không phải là những giải pháp về lâu dài. Thực tế thì, giống như các tiến bộ y học đã làm lắng dịu khủng hoảng, các giải pháp đó cũng có thể làm vấn đề trở nên tồi tệ hơn, bằng cách làm tăng tốc độ phát triển dân số. Một sự thật đơn giản và logic là nếu không có sự di tản với số lượng lớn vào vũ trụ, với các tên lửa được phóng lên với tỉ lệ vài triệu chiếc mỗi giây, tỉ lệ sinh không được kiểm sát sẽ dẫn đến tỉ lệ chết tăng một cách khủng khiếp. Bạn sẽ khó tin rằng những nhà lãnh đạo lại không thể hiểu được sự thật đơn giản này, những người đã cấm những người ủng hộ các biện pháp tránh thai hữu hiệu. Những nhà lãnh đạo này ưa thích sử dụng các biện pháp “tự nhiên” để giới hạn dân số, và cái mà họ sắp nhận được cũng chính xác là một phương thức tự nhiên. Đó là sự chết đói.

Nhưng dĩ nhiên, những lo lắng xuất phát từ sự tính toán về lâu dài như vậy cũng dựa trên sự quan ngại về lợi ích tương lai của toàn bộ các loài. Con người (một vài cá thể trong số chúng) đã tiên đoán trước về những hậu quả hủy diệt của sự bùng nổ dân số. Cũng cần nhắc lại rằng cuốn sách này giả định các cỗ máy sống nói chung được điều hành bởi các gen vị kỷ, và những gen này hầu như chắc chắn không thể dự báo về tương lai, cũng thực sự không có khái niệm vì lợi ích chung của tất cả các loài. Đây cũng là chỗ mà các phần học thuyết của Wynne-Edwards có chung quan điểm với các nhà học thuyết tiến hóa chính thống. Wynne-Edwards ch rằng có một phương thức mà nhờ nó việc kiểm soát tỉ lệ sinh mang tính vị tha thực sự có thể phát triển.

Một quan điểm không được nhấn mạnh trong các bài viết của Wynne-Edwards, hay trong các tác phẩm phổ biến quan điểm của Wynne-Edwards do Ardrey viết, là có một lượng lớn các số liệu đã được nhất trí mà không cần bàn cãi. Đó là, các quần thể động vật hoang dã không tăng trưởng với tốc độ lớn như lý thuyết tính toán. Đôi khi những quần thể này duy trì tương đối ổn định, với tỉ lệ sinh và tỉ lệ chết tương đương nhau. Trong nhiều trường hợp mà quần thể chuột đồng lemming là một ví dụ nổi tiếng, quần thể dao động trong một giới hạn rộng, có giai đoạn bùng nổ mãnh liệt xen kẽ với những giai đoạn sụp đổ và gần tuyệt chủng. Đôi khi nó dẫn đến sự tuyệt chủng ngay lập tức, chí ít là đối với các quần thể địa phương. Đôi khi, giống như trường hợp loài mèo rừng Canada, quần thể mèo dường như lên xuống theo nhịp, số liệu thu được nhờ tính tóa từ số lượng bộ lông mèo được công ty Vịnh Hudso bán ra hàng năm. Một điều mà các quần thể động vật không thể thực hiện được đó là tiếp tục tăng số lượng một cách vô hạn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011

Advertisements

Trình chiếu – Phần III


Việc đọc dần mang đậm tính xã hội. Với các màn hình, chúng ta không chỉ có thể chia sẻ nhan đề cuốn sách mà còn chia sẻ cả các ghi chú và bình luận khi đọc sách. Ngày nay, chúng ta có thể tô đậm một đoạn văn, nhưng đến ngày mai, chúng ta còn có thể liên kết một đoạn văn. Chúng ta sẽ có thể liên kết một đoạn văn trong cuốn sách đang đọc với một đoạn văn có nội dung trái ngược trong một cuốn sách khác đã đọc để so sánh, cũng như liên kết một từ trong đoạn với từ điển, một cảnh được mô tả trong sách với một cảnh được diễn xuất trong phim. (Và tất cả những thủ thuật này đều đòi hỏi những công cụ tìm kiếm đoạn văn tương đương). Chúng ta có thể đăng ký để được đọc các ghi chú của người mà mình quan tâm, ngưỡng mộ, từ đó ta không chỉ xem được danh sách đọc của họ mà còn cả những ghi chú, đánh dấu, câu hỏi và cảm nghĩ.

Trên thực tế, những đường liên kết dày đặc trên các cuốn sách sẽ khiến mỗi cuốn sách là một mạng lưới. Trước kia, người ta từng nhận định rằng sách trong tương lai vẫn sẽ là những vật thể độc lập nằm im lìm trên giá sách trong các thư viện công. Ở đó, gần như các cuốn sách không được liên kết với những cuốn sách bên cạnh. Khi tác giả viết xong một cuốn sách, đó là một tác phẩm hoàn thành và bất di bất dịch. Sự chuyển động của nó chỉ xảy đến khi một độc giả đọc sách và làm nó sống động bằng trí tưởng tượng. Trước đây, người ta từng cho rằng lợi thế lớn nhất của thư viện điện tử là tính di động, bởi nó giống như một bản dịch tiện lợi từ chữ trên giấy thành các bit trên màn hình để người đọc có thể đọc từ các màn hình. Nhưng cuộc cách mạng về sách điện tử còn mở ra một thư viện toàn cầu, nơi không có quyển sách nào độc lập mà chúng đều được kết nối.

Khi đọc những cuốn sách này, bạn sẽ có cảm giác như mình đang ở Wikipedia, một cuốn sách lớn và là một bách khoa thư duy nhất. Phần lớn trong 34 triệu trang của Wikipedia là những từ ngữ màu xanh chen chúc vì được dẫn link để liên kết đến nội dung liên quan trong bách khoa thư. Mạng lưới các mối quan hệ chằng chịt này chính là những gì làm nên động lực tồn tại và phát triển của Wikipedia và web Wikipedia là cuốn sách được liên kết đầu tiên. Theo thời gian, mỗi trang Wikipedia sẽ bão hòa với các đường link màu xanh khi mọi câu trên trang đều được tham chiếu chéo. Kết quả là, một trí tuệ tập thể của thư viện siêu kết nối cho phép chúng ta thấy được những thứ mình không thể biết khi chỉ có một cuốn sách đơn lẻ.

Giấc mơ về một thư viện toàn cầu không phải là điều gì mới mẻ: đó chính là giấc mơ gom được mọi kiến thức từ quá khứ đến hiện tại vào một chỗ. Tất cả sách vở, tài liệu, các công trình mang tính khái niệm ở mọi ngôn ngữ đều được kết nối. Đây là một kỳ vọng quen thuộc của loài người, vì khoảng năm 300 TCN thư viện Alexandria đã được xây dựng để lưu giữ những cuộn giấy ghi lại mọi kiến thức thu thập được trên thế giới. Đã có lúc, trong thư viện có đến nửa triệu cuộn giấy, ước tính bằng 30% đến 70% sách trên thế giới lúc bấy giờ. Nhưng kể cả trước khi thư viện sụp đổ, khoảnh khắc mà toàn bộ kiến thức của nhân loại được lưu giữ trong một thư viện cũng chưa đạt được. Kể từ đó, sự mở rộng không ngừng của thông tin đã làm con người không đủ sức để lưu giữ nó. Trong suốt 2000 năm, thư viện toàn cầu cùng với những mong muốn khác như áo choàng tàng hình, giày chống trọng lực và các văn phòng không dùng giấy tờ đã thành những giấc mơ xa vời mà chúng ta không dám nghĩ tới. Nhưng liệu một thư viện vĩ đại chứa đựng toàn bộ thế giới mà chúng ta đã cố thực hiện và mơ ước từ lâu có thể ở trong tầm tay?

Brewster Kahle, nhà hoạt động ủng hộ Internet trong mọi lĩnh vực của đời sống, nói rằng thư viện toàn cầu là điều khả thi. “Đây là cơ hội của chúng ta để vượt qua nền văn minh Hy Lạp!” Ông khẳng định, “Chúng ta có thể làm được với khả năng công nghệ ngày nay, chứ đừng chờ đến ngày mai. Nhờ có thư viện toàn cầu, chúng ta có thể cung cấp mọi sản phẩm trí tuệ của loài người cho mọi người trên thế giới. Đây sẽ là một thành tựu đáng nhớ mọi thời đại, giống như việc loài người đặt chân lên Mặt Trăng”. Và không giống như những thư viện xưa cũ chỉ dành cho giới tinh hoa, thư viện số hóa toàn cầu kiểu mới này sẽ thực sự dân chủ, nó cung cấp mọi đầu sách viết bằng mọi ngôn ngữ cho mọi người trên hành tinh này.

Đây quả thực là một thư viện đồ sộ. Từ thời kỳ bảng chữ cái viết trên đất sét của người Sumer đến nay, con người đã “xuất bản” ít nhất 310 triệu cuốn sách, 1,4 tỷ bài viết và bài luận, 180 triệu bài hát và 3,5 nghìn tỷ hình ảnh, 330 nghìn bộ phim, 1 tỷ giờ video, chương trình tivi, phim ngắn và 60 nghìn tỷ trang web. Tất cả những tư liệu này đang được lưu trữ trong thư viện và các danh mục trên thế giới. Khi tất cả được số hóa, với trình độ công nghệ hiện tại, chúng sẽ được nén thành 50 petabyte đĩa cứng. Mười năm trước, bạn cần một tòa nhà lớn bằng cả một thư viện của một thị trấn nhỏ đế chứa 50 petabyte. Nhưng ngày nay, một thư viện toàn cầu chỉ lớn bằng phòng ngủ của bạn. Với công nghệ trong tương lai, tất cả sẽ được chứa vừa trong chiếc di động của bạn. Nhưng những công nghệ mang đến cho chúng ta mọi tư liệu cũng sẽ thay đổi bản chất của những thứ chúng ta vẫn gọi là “sách” và “thư viện”. Thư viện toàn cầu và “sách” sẽ không giống với thư viện và sách mà chúng ta đã biết, thay vì đọc, chúng ta trình chiếu nó trên màn hình. Trước thành công của mạng lưới liên kết khổng lồ trên Wikipedia, nhiều kẻ mọt sách đã tin rằng một tỷ người đọc có thể cùng nhau tạo nên các trang của những cuốn sách cũ với nhiều đường link khác nhau. Những người có niềm đam mê với những chủ đề mới lạ, những tác giả ít tiếng tăm và những cuốn sách yêu thích có thể dần dần kết nối các bộ sưu tập của chính họ lại với nhau. Khi sự kết nối và chia sẻ được nhân rộng giữa hàng triệu độc giả, thư viện toàn cầu sẽ được tích hợp đầy đủ bởi chính các fan hâm mộ và cũng để phục vụ chính họ.

Bên cạnh những đường link kết nối từ, câu hoặc một quyển sách đến một từ, câu hoặc quyền sách khác, độc giả còn có thể thêm nhãn.

Đường link và nhãn (tag) có lẽ là hai trong số những phát minh quan trọng nhất trong 50 năm qua. Bạn có thể tự do đánh dấu các trang web và làm cho nó thông minh hơn khi gắn link và nhãn vào nó. Những bit mà bạn quan tâm được thu thập và phân tích bởi các công cụ tìm kiếm và các AI để củng cố mối quan hệ giữa các đầu nút của mọi đường link và củng cố sự liên kết được tạo ra bởi các nhãn. Loại trí thông minh này vốn quen thuộc với web, nhưng lại lạ lẫm với thế giới sách vở khi nó mới xuất hiện. Các đường link và các nhãn đang làm cho việc trình chiếu thư viện toàn cầu trở nên khả thi và đầy mạnh mẽ.

Một khi sách được tích hợp vào thư viện số bằng cách kết nối này, các con chữ của những cuốn sách khác nhau cũng được liên kết. Ví dụ, một cuốn sách thường sẽ có một danh mục tham khảo hoặc chú thích. Khi các cuốn sách được liên kết chặt chẽ, bạn sẽ có thể click vào tiêu đề trong danh mục tham khảo và chú thích để tìm ra cuốn sách nguồn được nêu trong đó. Cuốn sách nguồn được nêu ra trong phần danh mục tham khảo cũng có thể được tìm thấy và bạn có thể truy cập vào thư viện bằng một cách nhanh chóng, đơn giản như khi truy cập vào một link và đọc hết chú thích này đến chú thích khác cho đến khi bạn đào sâu vấn đề liên quan một cách chi tiết nhất.

Tiếp đến là các từ. Một bài báo trên mạng đã nói, san hô cũng có thể được liên hệ với định nghĩa về các thuật ngữ liên quan đến cá. Tương tự, bất kỳ hoặc tất cả các từ trong một cuốn sách kỹ thuật số đều có thể được liên kết với các phần khác của cuốn sách khác. Sách, bao gồm cả tiểu thuyết viễn tưởng, sẽ trở thành một mạng lưới gồm các tên gọi và một cộng đồng của nhiều ý tưởng. (Tất nhiên bạn cũng có thể nén link lại nếu bạn không muốn nhìn thấy nó khi đang đọc tiểu thuyết. Nhưng tiểu thuyết vốn đã là tập con của những ý tưởng được viết ra).

Kể cả khi phần trọng tâm của cuốn sách được sáng tác bởi chỉ một mình tác giả (nhất là đối với các sách viễn tưởng), mạng lưới phụ trợ của các tài liệu tham khảo, thảo luận, phê bình, danh mục tham khảo và các đường link về cuốn sách sẽ đóng vai trò hợp tác. Nếu thiếu đi những thứ này, cuốn sách sẽ trở nên trần trụi vô cùng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018

Mối quan hệ gen – người – Phần cuối


Nếu C là anh em sinh đôi cùng trứng với tôi thì tôi sẽ quan tâm đến anh ta gấp đôi so với sự quan tâm của tôi với con tôi, thực tế là tôi nên đánh giá mạng sống của anh ta không hề kém hơn mạng sống của tôi. Nhưng liệu tôi có thể chắc chắn về anh ta? Anh ta chắc chắn trông giống tôi, nhưng cũng có thể rằng chúng tôi chỉ có chung những gen quy định các đặc điểm của khuôn mặt. Không, tôi sẽ không hi sinh cuộc sống của tôi cho anh ta, vì ch dù anh ta có thể mang trong mình 100% gen của tôi, nhưng tôi biết chắc chắn rằng tôi có 100% gen cảu tôi, vì vậy bản thân tôi đáng giá với tôi hơn so với anh ta. Tôi là cá thể duy nhất mà bất kỳ gen vị kỷ nào của tôi cũng có thể chắc chắn. Và mặc dù nói một cách lý tưởng, một gen quy định cho tính vị kỷ cá nhân có thể bị thay thế bởi một gen cạnh tranh quy định hành động cứu giúp mang tính vị tha ít nhất một người anh em sinh đôi cùng trứng, hai đứa con hoặc anh/em, hoặc ít nhất bốn đứa cháu… Gen quy định sự vị kỷ cá nhân vẫn có lợi thế cực kỳ lớn của độ chắc chắn về nhận dạng cá thể. Gen cạnh tranh mang hành động vị tha cho họ hàng sẽ gặp rủi ro trong việc tạo ra những nhầm lẫn về nhận dạng, dù thực sự là tình cờ hoặc được tạo ra một cách có chủ ý bởi những kẻ lừa dối và ký sinh. Vì vậy, chúng ta phải thấy rằng trong tự nhiên, sự vị kỷ cá nhân chiếm một phần lớn hơn rất nhiều so với sự dự đoán chỉ dựa trên những cân nhắc về độ thân thuộc di truyền.

Trong nhiều loài, một cá thể mẹ có thể chắc chắn về con của nó hơn một người cha. Cá thể mẹ đẻ trứng ra có thể nhìn, sờ thấy được, hoặc đẻ ra những đứa con. Nó có cơ hội tốt để biết chắc chắn về kẻ mang gen của nó. Cá thể cha tội nghiệp dễ bị lừa dối hơn rất nhiều. Do đó, người ta cho rằng những cá thể cha sẽ bỏ ít nỗ lực hơn những cá thể mẹ vào việc chăm sóc con non. Chúng ta sẽ thấy rằng có nhiều lý do khác dẫn tới cùng kết luận như vậy. Tương tự, những cá thể bà ngoại có thể chắc chắn về cháu của họ hơn là những cá thể bà nội, và có thể sẽ thường thể hiện tính vị tha nhiều hơn so với những cá thể bà nội. Điều này là do những cá thể bà ngoại có thể chắc chắn về những đứa con của con gái mình, trong khi con trai của chúng có thể bị cắm sừng. Những cá thể ông ngoại cũng chỉ chắc chắn về cháu của họ như những cá thể bà nội bởi cả hai có thể nhận ra một thế hệ có sự chắc chắn và thế hệ có sự không chắc chắn. Tương tự, những người bác/cậu bên mẹ sẽ quan tâm hơn đến cuộc sống của các cháu trai và cháu gái hơn là những người bác/chú bên bố, và nói chung, sẽ thể hiện tính vị tha như những người cô. Thực tế, trong xã hội với những cuộc hôn nhân có độ phản bội cao, những người bác/cậu bên mẹ sẽ có tính vị tha nhiều hơn so với “những người cha” vì họ có nhiều cơ sở cho sự tự tin vào độ thân thuộc của họ với đứa trẻ. Họ biết rằng mẹ của đứa trẻ ít ra cũng là chị/em gái cùng mẹ hoặc cha của họ. Những người cha “hợp pháp” chẳng biết gì cả. Tôi không biết bất cứ bằng chứng nào liên quan đến những dự đoán này, nhưng tôi đưa ra những dự đoán này với hi vọng rằng những người khác có thể hoặc có thể bắt đầu tìm kiếm những bằng chứng. Cụ thể là, các nhà nhân chủng học xã hội có thể có nhiều điều thú vị để nói.

Trở lại với thực tế là tính vị tha của cha mẹ/con cái phổ biến hơn so với tính vị tha của anh/chị/em, điều này có vẻ hợp lý để giải thích dưới khía cạnh “vấn đề nhận dạng”. Nhưng nó không thể giải thích tính bất đối xứng cơ bản trong bản thân mối quan hệ cha mẹ/con cái. Những cá thể bố mẹ quan tâm nhiều hơn đến con cái của họ so với những đứa con đối với bố mẹ chúng, mặc dù mối quan hệ di truyền là đối xứng, và tính chắc chắn của sự thân thuộc của cả hai hướng đều lớn như nhau. Một lý do là những cá thể cha mẹ có vị trí thực tế tốt hơn để giúp đỡ con cái họ, chững chạc và thành thạo hơn trong các vấn đề của cuộc sống. Cho dù nếu một đứa trẻ muốn chăm sóc cha mẹ nó, nó cũng không được trang bị đầy đủ để làm điều đó trong thực tế.

Có một sự bất đối xứng nữa trong mối quan hệ cha mẹ/con cái mà không áp dụng được trong mối quan hệ anh/chị/em. Những đứa con luôn trẻ hơn cha mẹ chúng. Điều này thường có nghĩa, dù không phải lúc nào cũng đúng, là chúng có kỳ vọng sống lớn hơn. Như tôi đã nhấn mạnh ở trên, kỳ vọng sống là một biến quan trọng, mà trong những thế giới lý tưởng, sẽ nhập vào “sự tính toán” của một cá thể động vật khi nó đang “quyết định” liệu có nên cư xử một cách vị tha hay không. Trong một loài mà những đứa con có kỳ vọng sống trung bình lớn hơn của cha mẹ, bất kỳ gen nào quy định cho tính vị tha của con cái sẽ hoạt động dưới điều kiện bất thuận lợi. Nó có thể xây dựng nên tính vị tha quên mình cho lợi ích của những cá thể cận kề cái chết vì tuổi già hơn là bản thân người có hành động vị tha. Mặt khác, một gen quy định tính vị tha của bố mẹ sẽ có những lợi thế tương ứng cho đến chừng nào những thuật ngữ về kỳ vọng sống trong công thức này còn được xem xét.

Đôi khi, người ta nghe nói rằng sự chọn lọc theo họ hàng là rất tốt về mặt lý thuyết, nhưng có rất ít ví dụ về tác động của nó trong thực tế. Sự phê phán này chỉ có thể được đưa ra bởi một người không hiểu sự chọn lọc theo họ hàng nghĩa là gì. Sự thật là tất cả những ví dụ về sự bảo vệ con, sự chăm sóc của bố mẹ và tất cả những cơ quan liên quan đến nhau trong cơ thể, các tuyến sữa, những chiếc túi nhỏ của loài chuột túi, vân vân, là những ví dụ về tác động trong tự nhiên của nguyên lý chọn lọc theo họ hàng. Những người chỉ trích tất nhiên là quen thuộc với sự tồn tại rộng rãi của sự chăm sóc của bố mẹ, nhưng họ không hiểu được rằng sự chăm sóc của bố mẹ cũng chỉ là một ví dụ về sự chọn lọc theo họ hàng như là tính vị tha của anh/chị. Khi họ nói họ muốn có các ví dụ, ý của họ là họ muốn những ví dụ khác ngoài sự chăm sóc của bố mẹ, và sự thực là những ví dụ đó ít phổ biến hơn. Tôi đã đưa ra lý do giải thích điều đó. Tôi có thể xa rời đường lối của mình để trích dẫn những ví dụ về tính vị tha của anh/chị,những điều mà rất ít có trong thực tế. Nhưng tôi không muốn làm như vậy, bởi vì nó sẽ củng cố thêm cho những ý tưởng sai lầm (như chúng ta thấy, được Wilson ưa thích) rằng chọn lọc theo họ hàng là sự đặc trưng về các mối quan hệ khác ngoài mối quan hệ cha mẹ/con cái.

Lý do mà các lỗi này vẫn phát triển phần lớn mang tính lịch sử. Lợi thế tiến hóa của sự chăm sóc của cha mẹ là rõ ràng đến mức mà chúng ta không phải đợi đến lúc Hamilton chỉ ra điều đó. Nó đã được hiểu từ thời Darwin. Khi Hamilton giải thích tính tương đồng di truyền của các mối quan hệ khác và ý nghĩa tiến hóa của chúng, tất nhiên ông đã phải nhấn mạnh các mối quan hệ khác này. Cụ thể là, ông đã đưa ra các ví dụ từ các loài côn trùng xã hội như kiến và ong mà trong đó mối quan hệ chị/em đặc biệt quan trọng, như chúng ta sẽ biết. Tôi thậm chí đã từng nghe người ta nóio rằng họ nghĩ học thuyết của Hamilton chỉ áp dụng đối với các loài côn trùng xã hội!

Nếu ai đó không muốn thừa nhận rằng sự chăm sóc của cha mẹ là một ví dụ của chọn lọc theo họ hàng trong hoạt động thì nhiệm vụ của anh ta là xây dựng nên một lý thuyết đại cương về chọn lọc tự nhiên và có thể dự đoán tính vị tha của cha mẹ, nhưng lại không dự đoán tính vị tha giữa những người họ hàng thân thuộc. Tôi nghĩ rằng anh ta sẽ thất bại.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Trình chiếu – Phần II


Nhưng tất nhiên chúng ta vẫn không ngừng việc xem tivi. Và trong một thời gian, dường nhưc hẳng có ai viết, hoặc có thể viết và điểm đọc thì tụt giảm trong hàng thập kỷ. Nhưng ngạc nhiên thay, chính những màn hình siêu mỏng và kết nối Internet như màn hình máy tính, tivi và máy tính bảng vào đầu thế kỷ XXI đã phát động một trào lưu viết rộng lớn và vẫn đang tiếp tục phát triển. Thời lượng chúng ta dành ra để đọc gần gấp ba năm 1980. Đến năm 2015, hơn 60 nghìn tỷ trang web đã được đưa vào mạng lưới toàn cầu (World Wide Web) và con số đó đã tăng thêm 7 tỷ trang mỗi ngày. Mỗi trang đó lại được viết bởi người dùng. Và hiện nay các công dân viết 80 triệu bài đăng trên blog mỗi ngày. Thay vì dùng bút, những người dùng trẻ tuổi sử dụng ngón cái để viết 500 triệu quip (câu nói, lời cảm nghĩ) mỗi ngày trên điện thoại của họ. Tỷ lệ biết đọc – viết ở Mỹ không thay đổi trong 20 năm qua, nhưng những người có thể đọc thì đang ngày càng đọc và viết lách nhiều hơn. Nếu tính cả những tác phẩm ngôn từ trên tất cả các màn hình, thì bạn đang viết nhiều hơn ông bà mình mỗi tuần, bất kể bạn sống ở đâu.

Nhưng bất kể sự hồi sinh của những con chữ, Con người của sách vở vẫn có lý do để sợ rằng sách, và sau đó là việc đọc và viết cổ điển sẽ sớm mất đi vai trò tiêu chuẩn trong nền văn hóa. Nếu điều này xảy ra, ai sẽ tin vào tính hợp lý tuyến tính được phát triển nhờ việc đọc sách? Ai sẽ tuân theo những luật lệ nếu sự tôn trọng dành cho những quyển sách luật không còn và bị thay thế bởi những dòng code có thể kiểm soát hành vi của chúng ta? Ai sẽ trả tiền cho các tác giả để viết về những thứ luôn miễn phí trên các màn hình sáng nhấp nháy? Những con người của sách vở sợ rằng có lẽ chỉ còn lại những người giàu mới đọc sách giấy. Sẽ có rất ít người bỏ tiền ra để mua sách giấy. Điều gì có thể thay thế sự cố định của một cuốn sách trong nền văn hóa của chúng ta? Cách đọc cũ trước đây (không phải cách đọc mới với màn hình) đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra đa số những gì chúng ta quý trọng trong xã hội hiện đại như văn học, các suy nghĩ lý tính, khoa học, sự công bằng, pháp luật. Những thứ này sẽ như thế nào trong thời đại của những màn hình? Và điều gì sẽ xảy ra với những cuốn sách?

Con người của sách vở cho rằng họ biết một cuốn sách là gì: đó là một tập giấy được đóng vào gáy để bạn có thể cầm và đọc. Trong quá khứ, hầu như thứ gì được in và đặt giữa hai trang bìa sẽ được tính là một cuốn sách. Một danh sách số điện thoại cũng được coi là một quyển sách, dù nó không hề có phần mở đầu, nội dung và phần kết thúc logic. Một xấp các trang giấy trắng đóng vào nhau được gọi là cuốn phác thảo (sketch book). Nhưng nó hoàn toàn không có nội dung gì mà chỉ có hai trang bìa, và do đó được gọi là sách. Một bộ sưu tập ảnh được xếp vào các trang giấy cũng là một cuốn sách để bàn, dù bên trong đó chẳng có câu chữ gì.

Một số học giả văn học cho rằng sách là một nơi mang tính giả tưởng mà tâm trí bạn sẽ tìm đến khi đang đọc sách. Nó là một trạng thái mang tính khái niệm của sự tưởng tượng được gọi là “không gian văn học”. Theo các học giả này, khi bạn bước vào không gian văn học, não bộ của bạn hoạt động theo một cách khác với não bộ lúc bạn đang đọc trên màn hình. Các nghiên cứu về thần kinh chỉ ra rằng học đọc làm thay đổi các mạch não. Thay vì đọc các con chữ (được xây dựng từ các bit trên màn hình) rời rạc và gây mất tập trung, đọc sách giấy khiến bạn thực sự bị lôi cuốn, tập trung và đắm chìm vào các dòng chữ.

Một người có thể dành hàng giờ đọc trên mạng mà vẫn không vào đến không gian văn học. Họ chỉ có thể nắm bắt được một bộ phận, chủ đề hoặc vài nội dung lướt qua. Đó cũng chính là sức hút lớn nhất của web:: những mẩu thông tin đa dạng được liên kết lỏng lẻo. Nhưng nếu không có sự kiểm soát, những phần thông tin này sẽ dễ dàng tách rời, làm người đọc không còn tập trung vào nội dung và chủ đề chính.

Một thiết bị đọc riêng biệt có thể hữu dụng. Hiện nay chúng ta đã có các máy tính bảng, Kindle và di động. Di động là thiết bị đáng ngạc nhiên nhất. Các nhà bình luận từ lâu đã cho rằng sẽ chẳng ai muốn đọc sách trên một màn hình chỉ bé có vài inch, nhưng họ đã nhầm. Nhầm to! Tôi và rất nhiều người khác đã vui vẻ đọc sách theo cách này. Trên thực tế, chúng ta vẫn chưa biết một màn hình để đọc còn có thể nhỏ đến mức nào. Có một loại thử nghiệm của việc đọc, gọi là “trình chiếu thị giác nhanh”, tức là sử dụng một màn hình chỉ rộng bằng đúng một từ, bé bằng một cái tem. Trong trường hợp này, bạn không cần đảo mắt mà là các chữ cái sẽ dịch chuyển để mắt tự đọc. Một màn hình như thế này có thể mang đi bất cứ đâu, cũng có nghĩa là bạn có thể đọc ở mọi nơi.

Tính đến nay, hơn 36 triệu Kindle và các thiết bị đọc điện tử đã được bán ra. Ebook là một thiết bị hình chữ nhật (như một tấm ván nhỏ) với màn hình vừa vặn một trang giấy, sau mỗi lần click, màn hình sẽ chuyển sang trang giấy mới, hay nói cách khác, một trang sẽ “hòa tan” vào một trang khác. Các dòng chữ được “in” bằng mực điện tử (e-ink) trong Kindle thế hệ sau rõ rệt, sắc nét và dễ đọc như mực in truyền thống trên giấy. Hơn nữa, không giống như giấy in, với ebook, bạn có thể cắt và dán các từ từ một trang giấy ảo, truy cập vào các đường link hoặc tương tác với các hình minh họa.

Nhưng một ebook không nhất thiết phải mang hình dáng cố định. Nó có thể là các tờ giấy mỏng, có thể bẻ cong và rẻ như giấy thật. Một trăm tờ giấy này có thể được gắn thành một tập vào gáy sách và được bọc bởi hai tờ bìa như sách thật. Ebook sẽ trông giống với sách giấy nhưng nội dung của nó không cố định mà có thể thay đổi. Một phút trước trên các trang giấy đang là thơ, thì một phút sau nó đã trở thành công thức nấu ăn. Bạn vẫn có thể lật giở các trang sách như sách thật để tiếp tục đọc. Khi đọc sách xong, bạn vỗ vào gáy sách và những trang giấy điện tử sẽ hiển thị những nội dung mới. Nó sẽ không còn là một tiểu thuyết kỳ bí bán chạy mà trở thành một cuốn sách dạy nuôi sứa. Một sản phẩm như thế này được chế tạo một cách tuyệt vời và bạn sẽ hoàn toàn thỏa mãn khi sử dụng. Hơn nữa, bìa của ebook còn rất thu hút và đáng để mua. Nó có thể làm bằng da Marocco mềm mại, vừa vặn với cuốn sách, cũng vừa với tay bạn khi mang, cầm và tô điểm cho những trang giấy mỏng và mượt mà nhất. Bạn có thể sở hữu vài thiết bị ebook với nhiều kích thước và hình dạng để phù hợp với nội dung.

Cá nhân tôi thích các trang sách khổ lớn. Tôi muốn một ebook lớn như một tờ báo và có thể có nhiều trang. Tôi không ngại tốn vài phút để gập nó lại cho đến khi nhét vừa túi khi đọc xong. Tôi rất thích đọc lướt nhanh qua các cột văn bản (được trình bày thành các cột như trong báo) và đọc các tiêu đề trên một trang giấy. Đã có một số thí nghiệm với loại sách điện tử có thể chiếu lên một mặt phẳng lớn bằng các tia laze từ các thiết bị bỏ túi. Một mặt bàn hoặc bức tường cũng có thể trở thành các trang sách và các trang được lật mở bằng các thao tác của tay. Một trang giấy điện tử cỡ lớn mang đến cho bạn cảm giác xưa cũ khi mắt bạn dịch chuyển giữa nhiều cột và các phần văn bản gần nhau.

Tác dụng tức thì của sách điện tử là nó có thể chảy vào mọi loại màn hình bất cứ lúc nào. Một cuốn sách sẽ xuất hiện khi bạn cầm mà không phải mua hoặc tích trữ từ trước. Sách điện tử ít giống như một tạo vật mà trở thành các dòng chảy xuất hiện trong tầm mắt của bạn.

Dòng chảy này hoàn toàn thích hợp để tạo ra sách như một sản phẩm tiêu dùng. Hãy nghĩ về một quyển sách ở mọi giai đoạn sản xuất hơn là một tạo vật đã hoàn thiện. Nó là một động từ, chứ không phải danh từ. Sách cũng đang trong quá trình “trở thành”. Nó là một dòng chảy không ngừng của suy nghĩ, viết lách, nghiên cứu, chỉnh sửa, viết lại, chia sẻ, xã hội hóa, cải tiến, bán theo từng phần (chứ không phải cả quyển hoàn chỉnh), quảng bá, tiếp tục chia sẻ, rồi trình chiếu. Đây là một dòng chảy mà trong đó, sách được tạo ra trong cả quá trình. Tuy nhiên, những căng thẳng giữa sách giấy và sách điện tử vẫn tiếp tục. Những nhà sản xuất ebook như Amazon và Google, theo yêu cầu của cá nhà xuất bản sách giấy ở New York và của một vài tác giả tên tuổi, đã phải thu hẹp lại sự tự do trong dòng chảy của ebook bằng cách ngăn cản người đọc cắt và dán dễ dàng nội dung trong sách. Bởi vậy, ebook ngày nay không có được sự pha trộn của các văn bản ban đầu trong quá trình trình chiếu như Wikipedia với các đường link dẫn đến các văn bản khác và người dùng có thể chỉnh sửa nội dung. Nhưng trong tương lai, các câu chữ và nội dung của ebook sẽ được tự do, và bản chất thực sự này của sách sẽ trở nên phổ biến. Chúng ta sẽ hiểu rằng minh không muốn in những loại sách như danh bạ điện thoại, danh mục phần cứng và các sách hướng dẫn bìa mềm. Đó là những công việc mà màn hình và các bit làm tốt hơn một cuốn sách giấy khi nó có thể cập nhật và tìm kiếm liên tục. Những cuốn sách như thế này luôn cần chú thích, đánh dấu, tóm tắt, cũng như cần được dẫn đến các tài liệu tham khảo liên quan, chia sẻ và bàn luận giữa những người đọc. Khi những cuốn sách này được số hóa, những việc kể trên và nhiều tính năng khác đều khả thi.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Mối quan hệ gen – người – Phần VI


Chúng ta cũng có thể nói: “Vậy, điều gì sẽ xảy ra nếu những con chim trung thực trả đũa lại bằng cách tránh bị lừa dối và cương quyết chỉ ấp một và chỉ một quả trứng mà thôi? Điều này sẽ làm nản lòng những kẻ lừa dối, bởi chúng sẽ thấy những quả trứng của mình nằm lăn lóc trên các tảng đá mà chẳng có ai ấp cả. Những con chim này sẽ sớm trở lại đội ngũ”. Đáng tiếc, điều đó sẽ không xảy ra. Bởi vì chúng ta đang công nhận rằng những kẻ ấp trứng không biệt đối xử với một quả trứng từ một con khác, nếu những con chim trung thực đưa kịch bản này vào thực tế để ngăn chặn sự gian dối, những quả trứng bị từ chối có thể sẽ là của chúng hoặc là của những kẻ gian dối. Những kẻ gian dối sẽ vẫn có lợi thế bởi chúng sẽ có thể đẻ thêm trứng và có nhiều con non có thể sống sót hơn. Cách duy nhất để các con chim Uria trung thực đánh bại những kẻ gian dối là chủ động phân biệt những quả trứng của chính nó. Kết quả là, hãy đừng thể hiện tính vị tha và chăm sóc cho quyền lợi của chính mình.

Theo cách nói của Maynard Smith, “chiến lược” vị tha trong việc nuôi con nuôi không phải là một chiến lược tiến hóa bền vững. Nó không bền vững bởi chiến lược của đối thủ vị kỷ có thể tốt hơn thông qua việc đẻ trứng nhiều hơn bình thường và sau đó từ chối ấp chúng. Chiến lược vị kỷ này sau đó cũng sẽ trở thành không bền vững bởi chiến lược vị tha mà bản thân nó lợi dụng là không ổn định và sẽ biến mất. Chiến lược tiến hóa ổn định duy nhất cho một con chim Uria là nhận ra trứng của chính nó và chỉ ấp trứng của nó mà thôi. Đây chính là điều đang xảy ra.

Những loài chim biết hót bị chim cu cu ký sinh phản công lại, không phải bằng cách nhận ra vẻ bề ngoài các quả trứng của chúng mà bằng sự phân biệt theo bản năng đối với các quả trứng có các dấu hiệu đặc trưng của loài. Việc này là hiệu quả vì những loài chim này không phải chịu nguy hiểm do bị ký sinh bởi các thành viên trong cùng loài của chúng. Nhưng các con chim cu cu đã trả đũa bằng cách đẻ ra những quả trứng ngày càng giống với trứng của loài vật chủ về màu sắc, kích thước và các dấu hiệu. Đây là một ví dụ về sự lừa dối, và nó thường thành công. Kết quả của cuộc chạy đua vũ trang trong tiến hóa này là sự hoàn hảo xuất sắc trong việc giả trang của trứng chim cu cu. Chúng ta có thể giả thiết rằng một phần trong số trứng và chim cu cu non bị “phát hiện” và một số khác không bị phát hiện ra là những con có thể sống sót và đẻ tiếp các trứng chim cu cu thế hệ tiếp theo. Vì vậy, các gen giúp cho việc đánh lừa có hiệu quả được phát tán trong vốn gen của loài chim cu cu. Tương tự, những con chim chủ với cặp mắt đủ sắc bén để phát hiện ra những điểm không hoàn hảo trong sự giả trang của trứng chim cu cu và những con đóng góp chủ yếu cho vốn gen của chúng. Vì vậy, những cặp mắt sắc bén và đa nghi sẽ được truyền qua các thế hệ tiếp theo của chúng. Đây là một ví dụ tốt cho việc làm thế nào mà chọn lọc tự nhiên có thể làm tăng khả năng phân biệt, trong trường hợp này là sự phân biệt đối với một loài khác mà các thành viên của loài đó đang cố gắng hết mình để đánh lạc hướng những kẻ có khả năng phân biệt.

Bây giờ chúng ta hãy trở lại với sự so sánh giữa “sự ước tính” của một loài động vật về quan hệ họ hàng của nó với các thành viên khác trong nhóm và sự ước tính tương ứng của một nhà tự nhiên học thực địa. Brian Bertram đã tiêu tốn hàng năm trời trong việc nghiên cứu sinh học của những con sư tử trong vườn quốc gia Serengeti. Dựa trên cơ sở những hiểu biết của mình về thói quen sinh sản của chúng, ông đã ước tính độ thân thuộc trung bình giữa các cá thể trong một bầy sư tử điển hình. Trên thực tế, ông thường thực hiện những ước tính của mình như sau. Một bầy sư tử điển hình bao gồm bảy con cái trưởng thành, những thành viên cố định của bầy, và hai con đực trưởng thành không cố định. Khoảng một nửa trong số các con cái sẽ sinh một lứa vào cùng một thời điểm và cùng nhau nuôi nấng những con non. Vì thế, sẽ rất khó nói con non nào thuộc về cặp sư tử bố-mẹ nào. Số lượng của một lứa đẻ điển hình là 3 con non. Vai trò làm cha của những lứa đẻ được phân chia đồng đều giữa những con đực trong bầy. Những con non cái sẽ ở lại trong bầy và thay thế những con cái già sẽ chết đi hoặc rời khỏi đàn. Những con đực non sẽ bị đuổi ra khỏi bầy khi đến tuổi trưởng thành. Khi sư tử đực lớn lên, chúng lang thang từ bầy này sang bầy khác theo một nhóm nhỏ có mối liên hệ với nhau hoặc thành từng cặp, và chúng thường không trở về gia đình ban đầu của mình.

Sử dụng điều này và những giả thiết khác, bạn có thể thấy rằng để tính toán một con số trung bình cho độ thân thuộc của hai cá thể từ một bầy sư tử điển hình là có thể. Bertram đưa ra con số 0,22 cho một cặp đực được chọn một cách ngẫu nhiên và 0,15 cho một cặp cái. Điều này nói lên rằng các con đực trong một bầy hơi kém gần gũi hơn một chút với các anh em cùng mẹ hoặc cha và các con cái gần gũi hơn một chút so với các chị em họ thế hệ thứ nhất (con chú con bác).

Bây giờ, tất nhiên là bất kỳ một cặp cá thể nhất định đều có thể là anh em ruột như Bertram không có cách nào để biết được điều này và có thể đánh cược một cách công bằng rằng các con sư tử cũng không biết điều đó. Mặt khác, những con số trung bình mà Bertram đã ước tính có thể dùng được cho chính những con sư tử trong một hoàn cảnh nhất định. Nếu những con số này thực sự là điển hình cho một bầy sư tử trung bình thì bất kỳ gen nào dẫn đến việc các con đực cư xử với những con đực khác như thể chúng gần như là anh em cùng mẹ hoặc cha sẽ có giá trị tồn tại dương. Bất kỳ gen nào đi quá xa và khiến cho các con đực cư xử theo cách thân thiện mà ưu đãi hơn cho các anh em ruột sẽ bị trừng phạt. Điều đó cũng sẽ xảy ra với một gen khiến cho việc đối xử không đủ thân thiện, như việc đối xử với các con đực khác như những anh em họ thế hệ thứ hai. Nếu thực tế cuộc sống của các con sư tử như Bertram đề cập và quan trọng là nếu chúng đã, đang và sẽ như vậy trong số lượng lớn các thế hệ, chúng ta có thể cho rằng chọn lọc tự nhiên sẽ ưu tiên một mức độ hành động vị tha phù hợp với một mức độ thân thuộc trung bình của một bầy điển hình. Đây là điều mà tôi muốn đề cập tới khi tôi nói rằng sự ước tính về quan hệ họ hàng của động vật và một nhà tự nhiên học có tài có thể đưa đến một kết quả gần như nhau.

Vì vậy, chúng ta kết luận rằng độ thân thuộc “thực sự” có thể ít quan trọng trong sự tiến hóa của tính vị tha hơn là ước tính tốt nhất về độ thân thuộc mà các loài động vật có thể có. Thực tế này có thể là một chìa khóa để hiểu được tại sao sự chăm sóc của bố mẹ lại phổ biến và tận tâm hơn rất nhiều so với hành động vị tha của anh/chị trong tự nhiên, và cũng hiểu được tại sao các loài động vật thậm chí có thể đánh giá bản thân chúng cao hơn so với một số anh em. Tóm lại, điều mà tôi đang nói đến là bên cạnh chỉ số về sự thân thuộc, chúng ta nên cân nhắc đến một điều gì đó, như chỉ số của “sự chắc chắn” chẳng hạn. Mặc dù, mối quan hệ cha mẹ/com cái không gần gũi về mặt di truyền hơn so với mối quan hệ anh em/chị em, độ chắc chắn của nó vẫn lớn hơn. Thường thì bạn có thể chắc chắn về việc ai là con của bạn nhiều hơn là việc ai là anh em của bạn. Và bạn có thể vẫn chắc chắn hơn về việc bản thân bạn là ai!

Chúng ta đã xem xét những kẻ lừa dối trong các con chim Uria, và chúng ta sẽ có nhiều điều để nói hơn về những kẻ nói dối, gian lận và lợi dụng trong những chương tiếp theo. Trong một thế giới mà các cá thể khác liên tục cảnh giác với những cơ hội để lợi dụng tính vị tha mang tính chọn lọc theo họ hàng, và sử dụng nó cho những mục đích cuối cùng của chúng, một cỗ máy sống phải xem xét xem ai có thể tin cậy và ai là người mà nó có thể thực sự chắc chắn. Nếu B thực sự là em trai tôi thì tôi nên quan tâm đến nó ít nhất phải bằng một nửa sự quan tâm của tôi dành cho bản thân mình và tương đương với sự quan tâm của tôi đến đứa con của mình. Nhưng liệu tôi có thể chắc chắn về nó như tôi có thể chắc chắn về đứa con của mình? Làm sao tôi có thể biết được nó là em trai tôi?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Trình chiếu – Phần I


Trong thời kỳ cổ đại, nền văn hóa phát triển từ những lời nói. Kỹ năng nói của sự ghi nhớ, trần thuật và hùng biện đã thấm nhuần trong văn hóa truyền miệng một sự tôn kính dành cho quá khứ, những thứ mơ hồ, cầu kỳ và mang tính chủ quan. Chúng ta là con người của những ngôn từ. Sau đó, khoảng 500 năm trước, ngôn từ bị lật đổ bởi công nghệ. Phát minh năm 1450 của Gutenberg về máy đánh chữ kim loại di động đã đưa việc viết lách lên vị trí trung tâm của nền văn hóa. Bằng những bản sao giá rẻ và chất lượng hoàn hảo, các bản in trở thành động lực cho sự thay đổi và nền tảng của sự bền vững. Nối tiếp in ấn là báo chí, khoa học, thư viện và luật. Lần này, xã hội đã tôn thờ việc in ấn với sự chính xác (mực đen giấy trắng), với logic tuyến tính (trong một chuỗi các câu), với niềm đam mê cho tính khách quan (những dòng chữ thực sự được in trên giấy) và sự trung thành với thẩm quyền (thông qua tác giả), tức là tôn trọng những sự thực không bao giờ bị xóa bỏ trên những cuốn sách.

Các cuốn sách được sản xuất hàng loạt đã thay đổi cách nghĩ của con người. Công nghệ in ấn đã làm gia tăng số lượng từ, từ khoảng 50 nghìn từ trong tiếng Anh cổ lên đến một triệu từ tiếng Anh hiện đại. Nhiều từ hơn đồng nghĩa với nhiều ý tưởng được trao đổi giữa con người hơn. Nhiều lựa chọn phương tiện truyền thông (sách, báo chí…) hơn cũng mở rộng nội dung viết lách hơn. Các tác giả không chỉ sáng tác các sách mang tính học thuật mà con có thể “lãng phí” những cuốn sách in giá rẻ để viết về các chuyện tình lãng mạn đang được yêu thích (tiểu thuyết lãng mạn ra đời năm 1740), hoặc xuất bản các hồi ký mà không cần phải là các vị vua. Người ta có thể viết các tờ truyền đơn để phản đối một quyết định, luật lệ đang phổ biến. Với việc in ấn giá rẻ, một ý tưởng không chính thống có thể có đủ ảnh hưởng để lật đổ đức vua hoặc giáo hoàng. Luật lệ được viết thành những cuốn sách chính thức, hợp đồng cũng được viết lại, tóm lại là chẳng có gì có giá trị nếu nó không được viết lên giấy. Hội họa, âm nhạc, kiến trúc và khiêu vũ đều quan trọng, nhưng nhịp đập của văn hóa phương Tây bấy giờ chính là việc lật giở các trang giấy của cuốn sách. Đến năm 1910, ba phần tư các thị trấn ở nước Mỹ với 2500 cư dân sở hữu thư viện công. Nước Mỹ cũng khởi đầu từ các văn bản nổi tiếng như Hiến pháp, Tuyên ngôn Độc lập và Kinh thánh (theo một cách không trực tiếp). Thành công của Mỹ phụ thuộc vào trình độ học vấn (biết đọc-viết) của người dân, tự do báo chí, tuân thủ pháp luật (được viết trong sách) và có một ngôn ngữ chung trên khắp lục địa. Sự thịnh vượng và tự do của nước Mỹ bắt nguồn từ văn hóa đọc và viết. Chúng ta trở thành Con người của sách vở.

Nhưng đến ngày nay, khi 5 tỷ màn hình kỹ thuật số thắp sáng cuộc sống của chúng ta, các nhà sản xuất màn hình kỹ thuật số làm ra thêm 3,8 tỷ màn hình mới mỗi năm. Có nghĩa là gần như mỗi người lại có một màn hình mới sau một năm. Chúng ta sẽ bắt đầu đặt các màn hình như thế nào ở mọi mặt phẳng. Các con chữ di chuyển từ các tờ giấy làm bằng gỗ sang các pixel trên máy tính, điện thoại, laptop, màn hình máy chơi game, tivi, bảng quảng cáo và máy vi tính bảng. Các con chữ không còn được cỗ định bằng mực đen trên giấy mà được chuyển qua chuyển lại các bề mặt của màn hình trong chớp mắt và có đủ màu sắc chứ không chỉ là màu đen. Các màn hình có trong túi, cặp sách, bảng thông tin, tường phòng khách và bề mặt bên ngoài các tòa nhà. Những màn hình này ở trước mặt chúng ta khi chúng ta làm việc, bất kể đó là việc gì, Giờ đây, chúng ta lại trở thành Con người của màn hình.

Việc này đang tạo ra sự va chạm văn hóa giữa Con người của sách vở và Con người của màn hình. Con người của sách vở ngày nay là những người làm việc chăm chỉ cho các báo, tạp chí, các điều lệ luật, các văn phòng quy định và các quy định tài chính. Họ sống nhờ vào sách và các tài liệu chuyên môn viết bởi các tác giả. Nền tảng của văn hóa này bắt nguồn từ các chữ và ký tự cùng nằm trên một trang.

Sức mạnh văn hóa to lớn của sách xuất phát từ công nghệ tái sản xuất. Các máy in sao chép sách một cách nhanh chóng, chính xác và với giá cả phải chăng. Kể cả một người bán thịt cũng có một bản sao cuốn Cơ sở của Euclid hoặc bản sao của Kinh thánh, và từ đó, các bản in của sách đã soi sáng tâm trí của mọi công dân bất kể giai cấp. Sự chuyển đổi ở sách cũng được áp dụng với mỹ thuật và âm nhạc, với một sự phấn khích cũng giống như thế. Các bản in của các bản khắc gỗ đã mang sự tuyệt vời của nghệ thuật thị giác đến công chúng. Các bản sao giá rẻ của sơ đồ và đồ thị đã tăng tốc cho ngành khoa học. Và cuối cùng, những bản sao giá rẻ của ảnh và âm nhạc cũng lan rộng và giúp chúng ta có được một bản nhạc hoặc một tác phẩm nghệ thuật giá rẻ nhanh chóng như khi muốn có một cuốn sách.

Nền văn hóa tái sản xuất này đã có từ thế kỷ trước hoặc lâu hơn thế. Nó đã tạo ra những thành tựu lớn nhất thế giới từng được chứng kiến. Đó chính là kỷ nguyên vàng của các công việc mang tính sáng tạo. Các bản in giá rẻ đã giúp hàng triệu người kiếm sống bằng cách bán các tác phẩm nghệ thuật của mình cho khán giả mà không cần dựa vào sự ủng hộ tự nguyện hoặc các nhà bảo trợ. Không chỉ có các tác giả, nghệ sĩ, mà khán giả cũng được lợi từ mô hình kiếm tiền này. Lần đầu tiên trong lịch sử, hàng tỷ người dân bình thường có thể tiếp cận được với những tác phẩm lớn. Vào thời kỳ của Beethoven, chỉ có một số ít người được nghe các bản giao hưởng của ông hơn một lần. Với sự ra đời của các bản ghi âm giá rẻ, một thợ cắt tóc ở Bomaby cũng có thể nghe nhạc của Beethoven suốt cả ngày.

Nhưng ngày nay hầu hết chúng ta đã trở thành Con người của màn hình. Con người ngày nay thường có xu hướng lờ đi các logic kinh điển của sách hoặc lòng trân trọng dành cho các bản sao mà chuyển sang thích dòng chảy mạnh mẽ của các pixel hơn. Họ hướng đến các màn hình ti vi, màn hình phim, màn hình máy tính, iPhone, máy tính bảng, thực tế ảo và trong tương lai gần có thể là màn hình megapixel đủ màu sắc hiển thị trên mọi bề mặt. Văn hóa màn hình là một thế giới của những dòng chảy không ngừng, những bit âm nhạc không dứt, những cú cut nhanh gọn và những ý tưởng tiềm năng nhưng chưa chín muồi. Nó là dòng chảy của các tweet, tiêu đề tin tức, Instagram, chữ và những ấn tượng bề nổi đầu tiên. Các quan niệm không mang tính độc lập, mà có liên kết chặt chẽ với mọi thứ khác; sự thật không được đưa ra bởi các tác giả và chính quyền như trước đây mà được tập hợp dần dần theo thời gian thực bởi chính khán giả. Các bản sao cố định không có giá trị  bằng khả năng truy cập vào các dòng chảy. Văn hóa màn hình phát triển nhanh như một đoạn giới thiệu phim (trailer) 30 giây với tính mở và tính linh hoạt như Wikipedia.

Trên màn hình, các từ đều di động, chuyển đổi thành hình ảnh, thay đổi màu sắc hoặc thậm chí thay đổi cả ý nghĩa. Đôi khi trên màn hình còn không có chữ mà chỉ có tranh hoặc những biểu tượng mang nhiều ý nghĩa. Dòng chảy này chắc chắn làm hoang mang bất cứ nền văn minh nào dựa trên logic chữ viết. Trong thế giới mới này, các code chạy nhanh, hay còn gọi là phiên bản cập nhật của các code máy tính hiện có, còn quan trọng hơn luật pháp, vì luật cố định, còn các code thì luôn được nâng cấp. Code hiển thị trên các màn hình được chỉnh sửa không ngừng bởi người dùng, trong khi luật pháp viết trên giấy thì không. Hơn nữa, code còn có thể định hình hành vi của con người nhiều như, hoặc có thể là nhiều hơn luật pháp. Con người của sách vở chuộng các giải pháp bằng pháp luật, trong khi Con người của màn hình ủng hộ công nghệ như một giải pháp cho mọi vấn đề. Sự thật là, chúng ta đang trong quá trình chuyển giao, và sự va chạm giữa các nền văn hóa sách vở và màn hình xảy ra trong mỗi cá nhân chúng ta. Nếu bạn là người được giáo dục hiện đại, bạn sẽ ở giữa mối xung đột của hai hình thức này. Sự căng thẳng này sẽ là tiêu chuẩn mới. Nó bắt đầu từ chiếc màn hình đầu tiên xuất hiện trong phòng khách 50 năm trước: đó chính là cái ti vi to lớn và tỏa hơi nóng. Nó đã làm giảm thời gian chúng ta dành cho việc đọc đến mức trong những thập kỷ tiếp theo dường như việc đọc và viết đã hết thời. Các nhà giáo dục, học giả, chính trị gia và các bậc cha mẹ trong nửa thế kỷ qua đã rất lo lắng rằng thế hệ xem ti vi sẽ không biết viết lách nữa. Màn hình đã bị đổ lỗi cho một loạt các căn bệnh của xã hội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Mối quan hệ gen – người – Phần V


Trong những loài mà các cá thể không di chuyển nhiều hoặc những cá thể di chuyển trong một nhóm nhỏ, cơ hội để bất kỳ cá thể ngẫu nhiên nào đó mà bạn tình cờ gặp là họ hàng của bạn có thể sẽ khá cao. Trong trường hợp này, quy tắc “đối xử tốt với bất cứ thành viên nào trong loài mà bạn gặp” có thể sẽ có giá trị tồn tại dương, theo nghĩa một gen dẫn dắt những người sở hữu nó tuân theo quy tắc này có thể sẽ trở nên đông đảo trong vốn gen. Điều này cũng có thể giải thích tại sao tập tính vị tha thường được thấy một cách phổ biến trong các bầy khỉ hoặc các đàn cá voi. Cá voi và cá heo sẽ bị chết chìm nếu chúng không được hít thở không khí. Người ta đã thấy các con cá voi và các con cá voi bị thương không thể bơi lên mặt nước được cứu và dìu lên bởi các cá thể khác trong đàn. Chúng ta không biết được cá voi có cách nào để biết được ai là họ hàng của chúng hay không, nhưng có thể điều này không phải là vấn đề. Có thể là xác suất chung để một thành viên trong đàn là họ hàng của chúng rất cao khiến cho hành động vị tha là đáng giá. Nhân đây, đã có ít nhất một câu chuyện có tính xác thực cao về một người đang bị chìm được cứu sống bởi một chú cá heo hoang dã. Điều này có thể được coi là một sự nhầm lẫn của quy tắc cứu giúp các thành viên trong đàn đang bị chìm. “Định nghĩa” về một thành viên gặp nạn trong quy tắc này có thể là một điều gì đó giống như: “Một vật dài dài đang vùng vẫy và bị ngạt thở gần mặt nước”.

Người ta đã báo cáo về trường hợp những con khỉ đầu chó đực trưởng thành có thể mạo hiểm cuộc sống của chúng chống lại những kẻ ăn thịt, chẳng hạn như các con báo, để bảo vệ phần còn lại của bầy. Nếu tính trung bình, việc bất kỳ con đực nào cũng có một lượng lớn gen bên trong các thành viên khác trong bầy là điều hoàn toàn có thể. Nếu một gen nào đó “nói” rằng: “Này cơ thể, nếu ngươi là một con đực trưởng thành, hãy bảo vệ đàn của mình chống lại các con báo” thì số lượng của nó trong vốn gen có thể sẽ trở nên đông đảo. Trước khi kết thúc ví dụ hay được trích dẫn này, để công bằng, cần phải nhắc đến ít nhất một chuyên gia có uy tín đã báo cáo về một thực tế rất khác. Theo bà ta, những con đực là những kẻ đầu tiên biến mất ở phía chân trời khi một con báo xuất hiện.

Những chú gà con trong cùng một ổ luôn đi theo mẹ của chúng để kiếm ăn. Chúng có hai dấu hiệu chính để gọi nhau. Ngoài tiếng kêu to thất thanh mà tôi đã đề cập đến, chúng còn phát ra những tiếng líu ríu có âm điệu ngắn khi đang ăn. Những tiếng kêu to có tác dụng kêu gọi sự giúp đỡ của mẹ không có tác dụng với các con gà con khác. Tuy nhiên, những tiếng líu ríu lại thu hút chúng. Điều này có nghĩa là khi một con gà con tìm được thức ăn, tiếng líu ríu của nó sẽ thu hút các con gà con khác cũng tìm đến nguồn thức ăn đó: theo khía cạnh của ví dụ mang tính giả thiết đã được đề cập, những tiếng líu ríu chính là “tiếng gọi chia sẻ thức ăn”. Trong trường hợp đó, hành động vị tha biểu kiến của những con gà con có thể dễ dàng được giải thích bằng thuyết lựa chọn theo họ hàng. Bởi vì trong tự nhiên, các con gà con đều là anh/chị em ruột, gen quy định tiếng líu ríu chia sẻ thức ăn sẽ được phân bố rộng rãi, khiến cho sự trả giá của những con gà phát ra tiếng líu ríu sẽ nhỏ hơn một nửa lợi ích thực sự cho các con gà con khác. Do lợi ích được chia sẻ giữa các thành viên trong toàn bộ đàn gà, thường có nhiều hơn hai thành viên, điều này cũng không khó để tưởng tượng nếu nó thành sự thực. Tất nhiên là quy tắc này cũng không tránh khỏi nhầm lẫn trong các tình huống gặp ở các loài vật nuôi trong nhà hay trong nông trại, chẳng hạn như một con gà mái ấp các trứng không phải của nó, thậm chí là trứng gà tây hoặc trứng vịt. Nhưng cả con gà mái và những đứa con của nó không thể nhận ra được điều này. Tập tính của chúng đã được hình thành trong các điều kiện phổ biến trong tự nhiên, và trong tự nhiên thì những kẻ lạ mặt thường khó có thể tìm được tổ của chúng.

Tuy nhiên, những sự nhầm lẫn này đôi khi xảy ra trong tự nhiên. Trong các loài sống thành từng bầy, đàn, một con non mồ côi có thể được nuôi dưỡng bởi một con cái khác, thường là con cái đã bị mất đứa con của nó. Những người quan sát khỉ đôi khi dùng từ “dì” để chỉ một cái nuôi dưỡng con non không phải con của nó. Trong đại đa số các trường hợp, không có bằng chứng nào chứng minh con khỉ cái đó thật sự là dì hay một cá thể họ hàng nào đó: nếu những người quan sát khỉ có nhận thức về gen, họ sẽ không dùng một từ quan trọng như từ “dì” một cách tùy tiện như vậy. Tuy nhiên, cho dù có cảm động đến mức nào chăng nữa thì trong đa số trường hợp, chúng ta nên đánh giá sự nhận con nuôi là một sự nhầm lẫn của quy tắc nội tại. Đó là do con cái rộng lượng kia không được lợi ích gì cho gen của nó với việc nuôi dưỡng đứa trẻ mồ côi. Nó đang lãng phí thời gian và năng lượng, những thứ mà nó có thể đầu tư vào việc đem lại lợi ích cho các thành viên trong họ hàng, đặc biệt là những đứa con tương lai của nó. Giả thiết rằng sự nhầm lẫn này rất hiếm xảy ra trong tự nhiên để cho sự chọn lọc tự nhiên phải “lưu ý” đến việc thay đổi các quy tắc thông qua việc làm cho bản năng làm mẹ có tính chọn lọc hơn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc nuôi dưỡng con nuôi này không xảy ra và con non mồ côi sẽ bị chết.

Có một ví dụ về sự nhầm lẫn rất đặc biệt mà bạn có thể nghĩ đó không phải là một sự nhẫm lẫn mà là một bằng chứng để chống lại học thuyết gen vị kỷ. Đó là trường hợp của những con khỉ mẹ bị mất con đi bắt trộm khỉ con của một con cái khác và chăm sóc nó. Tôi cho rằng đây là một sai lầm kép vì kẻ chăm sóc con nuôi kia không chỉ lãng phí thời gian của nó mà còn giải phóng cho đối thủ khỏi gánh nặng phải chăm sóc con cái và có đứa con khác nhanh hơn. Theo tôi, đây là một ví dụ then chốt cần phải có những nghiên cứu thấu đáo. Chúng ta cần phải biết việc này có xảy ra thường xuyên hay không; độ thân thuộc trung bình của kẻ nuôi dưỡng và con non ở mức nào; và thái độ của con khỉ mẹ thực sự ra sao, tính cho cùng thì khỉ mẹ cũng có lợi thế khi con của nó được nhận làm con nuôi. Có phải những con khỉ mẹ cố tình lừa dối những con khỉ cái trẻ ngây thơ nuôi hộ con cho chúng không? (Cũng có thể những con khỉ mẹ nuôi và những kẻ bắt cóc con non có thể có lợi thông qua những kinh nghiệm thực tế thu được trong việc nuôi dạy con cái).

Loài chim cu cu và một số loài chim “đẻ trứng ký sinh” khác (những con chim đẻ trứng của chúng vào tổ của các loài chim khác) là những ví dụ về sự nhầm lẫn bản năng làm mẹ một cách có chủ ý. Các con chim cu cu lợi dụng quy tắc bẩm sinh của các con chim bố mẹ: “Đối xử tốt với bất kỳ con chim non nào trong tổ mà nó xây nên”. Ngoài chim cu cu ra, quy tắc này thường có tác dụng rất tích cực trong việc hạn chế tính vị tha đối với những con họ hàng gần bởi trong thực tế, các tổ chim thường được cách ly khỏi các tổ khác và do đó những gì trong tổ của một con chim hầu như chắc chắn là những con non của nó. Những con mòng biển trưởng thành thường không nhận ra đâu là trứng của chúng và sẵn lòng ấp trứng của những con mòng biển khác và thậm chí là các hình nộm thô sơ bằng gỗ được các nhà nghiên cứu thay vào. Trong tự nhiên, việc nhận dạng trứng không quan trọng với những con mòng biển bởi trứng của chúng không lăn xa đến mức có thể lọt vào địa phận của những tổ bên cạnh cách đó vài mét. Tuy nhiên, những con mòng biển lại nhận dạng được các con non của nó: các con non, không như các quả trứng, có thể đi lại và dễ dàng đến các tổ của các con mòng biển trưởng thành bên cạnh và thường có kết cục bi thảm.

Những con chim Uria thì lại khác, chúng có thể nhận dạng được các quả trứng của mình thông qua những mảng lốm đốm và chủ động đối xử một cách ưu ái với những quả trứng đó trong khi ấp. Điều này có lẽ là do tổ của chúng nằm trên các phiến đá phẳng, nơi mà các quả trứng có thể bị lăn đi và có thể bị lẫn lộn. Vậy thì tại sao những con chim Uria lại quan tâm đến việc phân biệt và chỉ ấp trứng của chúng? Chắc chắn rằng mọi con cái đều biết rằng nó đang ấp trứng của một con khác thì việc một con chim mẹ ấp trứng của nó hay một con mái khác sẽ không có vấn đề gì. Đây chính là lập luận của một nhà khoa học theo thuyết chọn lọc theo nhóm. Hãy thử xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu một nhóm ấp chung như vậy đã phát triển. Kích cỡ trung bình của tổ chim Uria là một. Điều này có nghĩa là nếu sự tương trợ trong nhóm ấp chung hoạt động tốt, mỗi cá thể trưởng thành sẽ phải ấp trung bình một quả trứng. Bây giờ, hãy giả sử một con nào đó gian lận, nó không áp một quả trứng nào cả. Thay vì lãng phí thời gian vào việc ấp trứng, nó có thể sử dụng thời gian đó để đẻ thêm trứng. Và một kịch bản hoàn hảo là các con chim khác, có tính vị tha cao hơn, sẽ chăm sóc các quả trứng đó cho nó. Chúng sẽ trung thành tuân theo một quy tắc: “Nếu bạn thấy một quả trứng bị lạc bên cạnh ổ của bạn, hãy kéo nó lại và ấp nó”. Như vậy, gen lặn sẽ được phát tán rộng rãi trong quần thể. Liên minh ấp trứng chung sẽ bị phá vỡ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.