Ánh sáng hay bóng tối? – Phần cuối


Ham mê và kiềm chế ở nơi làm việc

Giáo sư quản trị và chuyên gia văn hóa người Nga Sergey Myasoedov được biết đến ở các trường kinh doanh Đông Âu về những bài tường thuật thú vị của ông, mô tả những xung đột văn hóa giữa các giám đốc người Mỹ ở Nga với nhân viên hoặc khách hàng. Ông nhấn mạnh rằng nhân viên lễ tân Mỹ đòi hỏi phải luôn luôn mỉm cười với khách hàng. Điều này dường như phổ biến ở các nền văn hóa hạnh phúc và ham mê nói chung như Mỹ. Nhưng một công ty như McDonald’s cố gắng mang khuôn mẫu ở Mỹ áp dụng vào một xã hội kiềm chế cao thì sẽ có những kết quả không mong đợi.

Khi họ đến Nga, họ mang theo văn hóa doanh nghiệp đặc trưng của mình. Họ quyết định đào tạo các cô bé cậu bé bán hàng người Nga. Họ muốn chúng mỉm cười theo cách mà McDonald’s trình diễn, phô hết tất cả 32 cái răng ra. Nhưng sau đó, các chuyên gia McDonald’s thấy rằng khách hàng Nga bị sốc bởi nụ cười hết cỡ đó. Họ nhìn chằm chằm vào nhân viên bán hàng thực sự kinh ngạc: “Tại sao lại nhe răng cười toe toét như thế?”. Họ đã nghiên cứu và thấy rằng một nụ cười ngoác với một người lạ không phải là văn hóa ở Nga. Người Nga không bao giờ cười như thế khi họ tình cờ gặp một người lạ. Khi một ai đó làm như vậy với người Nga, phản ứng thường thấy là: “Người này có vấn đề gì vậy?”.

Những khác biệt đó cũng thành thông lệ cho hình ảnh công chúng của những nhà lãnh đạo chính trị. Ở Mỹ, duy trì một bộ mặt hề sẽ là dấu chấm hết cho ứng viên chính trị hoặc cho người quản lý một văn phòng chính trị cấp cao. Hình ảnh công chúng ở Mỹ được mong đợi là phải có chút lạc quan và vui vẻ ngay cả thâm tâm họ đang lo lắng về sự nghiệp chính trị của mình. Nhưng ở Nga, một bộ mặt nghiêm nghị là dấu hiệu của sự nghiêm túc, và Vladimir Putin là một ví dụ sống động.

Geert cho rằng Ham mê cũng giải thích thông lệ mỉm cười khi chụp ảnh (“Hãy nói thật tuyệt!”). Những người bạn Đông Âu của ông dường như không có thói quen này.

Ham mê và kiềm chế và nhà nước

Một điểm trong nghiên cứu WVS từ 1995 đến 2004 hỏi người được phỏng vấn là lựa chọn mục tiêu quan trọng nhất trong 4 mục tiêu quốc gia: duy trì trật tự quốc gia, đem lại tiếng nói cho người dân nhiều hơn, chống giá cả tăng, bảo vệ tự do ngôn luận. Phần trăm người được hỏi chọn “duy trì trật tự quốc gia” là mục tiêu đầu tiên liên hệ nghịch với ham mê, và liên hệ thuận với kiềm chế như là một nét văn hóa. Người dân ở các xã hội kiềm chế nhiều hơn thường sẽ xem duy trì trật tự (hay bất cứ thứ gì họ hiểu như thế) như là một một mục tiêu quốc gia quan trọng đặt lên trên các mục tiêu khác.

Trong nghiên cứu WVS, thậm chí có một mối tương quan mạnh hơn giữa ham mê và lựa chọn tự do ngôn luận làm mục tiêu quốc gia quan trọng nhất. Đây là một phát hiện quan trọng đối với các chính trị gia phương Tây và các nhà báo, nhiều người trong số họ gặp rắc rối trong việc hiểu được thực tế là con người ở một vài nước không coi trọng mục tiêu quốc gia, như Mỹ và Hà Lan. Sự tự do ngôn luận có thể là mục tiêu nổi bật ở một xã hội phương Tây ham mê nhưng ở một nước kiềm chế thì nó có thể bị coi thường, đặc biệt nếu người ta phải thực hiện những chọn lựa quan trọng hơn. Phần trăm người được hỏi chọn tự do ngôn luận làm mục tiêu đầu tiên rải từ 36,6 ở Hà Lan đến 1,5 – mức thấp nhất trên thế giới – ở Nga. Người Nga, cũng như người dân ở nhiều nước Đông Âu khác, ít ưu tiên đến một số quyền con người mà công dân các nước phương Tây coi trọng. Điều này giải thích tại sao tỷ lệ người Nga không quan tâm đến việc bị cai quản bởi những kẻ chuyên quyền cao đến vậy; trong một xã hội kiềm chế, phân chia quyền lực lớn, luật cầm quyền có thể được chấp nhận. Nó cũng giải thích tại sao nhiều công dân Nga sống ở nước ngàoi và quen với cuộc sống phương Tây lại không ấn tượng chút nào với sự tự do mà họ chứng kiến. Bình luận về các chiến thuật mạnh tay của Điện Kremlin, họ khăng khăng đó là điều tốt để có một chính phủ mạnh, nếu không sẽ có hỗn loạn, và đó là một điều đất nước không bao giờ muốn.

Kết luận cũng giống với dữ liệu của Eurobarometer năm 2008. Trong 26 nước châu Âu, phần trăm người được hỏi chọn “tự do ngôn luận” làm mục tiêu mưu cầu cho tương lai có liên quan mật thiết với ham mê. Tương tự với phần trăm người chọn “dân chủ” là quan trọng nhất trong mối tương liên với ý kiến về hạnh phúc.

Bảng 8.3: Những khác biệt chính giữa xã hội cởi mở và Cấm kỵ
II. Cuộc sống riêng tư, hành vi của người tiêu dùng, giới tính, và chính trị
Cởi mở Cấm kỵ
Thưởng thức âm nhạc và phim ảnh nước ngoài cao Ít thưởng thức âm nhạc và phim ảnh nước ngoài
Đáp ứng nhiều hơn cuộc sống gia đình Ít hài lòng với cuộc sống gia đình
Nhiệm vụ gia đình phải được chia sẻ Bất bình đẳng chia sẻ nhiệm vụ gia đình
Tích cực tham gia các môn thể thao Hiếm khi tham gia các môn thể thao
Email và Internet cho các địa chỉ liên hệ cá nhân Ít trao đổi email với các nhân
Email và Internet liên lạc với người nước ngoài Ít email và Internet liên lạc với người nước ngoài
Ít tiêu thụ cá Tiêu thụ nhiều cá
Dùng nhiều nước giải khát và bia Dùng ít nước giải khát và bia
Ở các nước giàu: tỷ lệ phầm trăm những người béo phì cao hơn Ở những nước giàu: tỷ lệ phầm trăm những người béo phì ít hơn
Quy định vai trò giới tính lỏng lẻo Vai trò giới tính theo quy định nghiêm ngặt
Ở các nước giàu: tiêu chí tình dục không quá cấm đoán Ở các nước giàu: tiêu chí tình dục nghiêm ngặt
Mỉm cười như một tiêu chuẩn Mỉm cười khi nghi ngờ
Tự do ngôn luận được xem là tương đối quan trọng Tự do ngôn luận không phải là một mối quan tâm chính
Duy trì trật tự trong cả nước không là ưu tiên cao Duy trì trật tự trong cả nước được coi là một ưu tiên cao
Số lượng nhân viên cảnh sát thấp trên 100.000 dân Số lượng nhân viên cảnh sát cao trên 100.000 dân

Sự xuất hiện sự tự do bộc lộ và tự do dân chủ ở một đất nước đã được cho thấy có liên quan đến những giá trị con người trong lĩnh vực phân chia quyền lực, chủ nghĩa cá nhân và sự tránh né bất trắc. Mối liên hệ với IVR cho thấy một ảnh hưởng khác lên việc con người một nước nghĩ thế nào về những ý tưởng chính trị liên quan.

Chỉ số ham mê không chỉ dự đoán được thái độ đối với chính quyền quốc gia trong các nghiên cứu viết. Trên thực tế, nó liên hệ nghịch với số lượng cảnh sát trên 100.000 dân ở 41 nước mà dữ liệu thu thập. Những xã hội kiềm chế hơn thì nghiêm túc hơn về các giớ hạn của họ – họ có nhiều cảnh sát tính trên đầu người hơn.

Như trường hợp của hầu hết các khía cạnh văn hóa, thật khó giải thích chắc chắn được tiến trình lịch sử đã tạo ra những khác biệt gì trong trục Ham mê và Kiềm chế mà chúng ta quan sát hôm nay. Lời giải thích có thể được Misho đưa ra trong một bài viết trên tờ báo Nhân loại học Sage có tên CrossCultural Research (Nghiên cứu giao thoa văn hóa) cũng như những ấn phẩm trước đó của ông. Ông cho rằng những xã hội ham mê không có lịch sử hàng thiên niên kỷ của nền văn minh nông nghiệp tập trung Âu – Á kéo dài đến ngày nay. Theo lịch sử, nền nông nghiệp tập trung chưa bao giờ có ở vùng cận Sahara châu Phi. Một số nước hình thành từ con đường này đaã tồn tại ở một vài nơi trên châu Mỹ, nhưng giống như châu Phi, không có các động vật dưới nước ở đây, đó là một trở ngại nghiêm trọng cho sự phát triển của nó. Đối với các quốc gia nói tiếng Anh và Scandinavia, lịch sử văn hóa nông nghiệp tập trung truyền thống đã có từ lâu trước khi bị mai một. Nền nông nghiệp tập trung cao của loại hình Á – Âu mang lại vô số tai ương cho những người đã nếm trải nó: làm việc căng thẳng, các thời kỳ luân phiên dồi dào và khan hiếm thực phẩm, tình trạng đè nén và khai thác quá mức, dịch bệnh tràn lan, và chiến tranh lãnh thổ triền miên. Không ngạc nhiên khi các xã hội Á – Âu của nền nông nghiệp tập trung phát triển những học thuyết triết học như Phật giáo, theo đó cho rằng cuộc sống là chịu đựng và mưu cầu hạnh phúc là phí phạm thời gian, hoặc ba nền tôn giáo Trung Đông vĩ đại là đạo Do Thái, đạo Thiên Chúa và đạo Hồi, những tôn giáo dạy hạnh phúc thực sự nằm ở cuộc sống bên kia. Xã hội săn bắn hái lượm và trồng trọt chăn nuôi không bị đe dọa bởi các thiên tai của nền nông nghiệp tập trung, điều này giải thích tại sao họ có mong muốn tự do và hạnh phúc cao hơn. Như chuyên gia người Mỹ ở SWB Ed Diener và William Tov phát biểu, nghiên cứu những người Inuit và Maasai đã tiết lộ rằng họ hạnh phúc như những người Mỹ giàu có nhất. Hơn nữa, nền nông nghiệp tập trung đòi hỏi phải có kỷ luật khắt khe, lập kế hoạch và tiết kiệm cho tương lai, tránh xa nghỉ ngơi, thắt chặt quản lý xã hội, và điều đó lại không cần thiết, cũng không thể có ở mức độ như vậy trong xã hội săn bắn hái lượm hay trồng trọt chăn nuôi. Những xã hội hiện đại tiên tiến bậc cao với nền kinh tế dịch vụ dường như lại đang quay trở lại nền văn hóa ham mê hơn của thời xa xưa, trước khi nền văn minh nông nghiệp tập trung ra đời.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Bàn tay vô hình gặp con khỉ đột vô hình: Kinh tế học và tâm lý học của sức chú ý khan hiếm


Diane Coyle

Phải chăng các nhà kinh tế học đã thiếu chú ý? Bài báo này tường thuật lại một hội nghị về tâm lý học và kinh tế học của “sức chú ý khan hiếm”. Trung tâm của cuộc thảo luận là giả thiết phải chăng việc có quá nhiều thông tin khiến cho việc ra quyết định trở nên mù quáng và liệu điều này có thể giải thích tại sao rất nhiều nhà kinh tế học bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo về một cuộc khủng hoảng.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính [2008 – ND], nhiều nhà bình luận đã đặt câu hỏi tại sao rất nhiều nhà kinh tế đã không dự đoán được nó – hoặc thậm chí liệu rằng kinh tế học có vai trò nào trong việc (góp phần) gây ra cuộc khủng hoảng. Một nhóm các chuyên gia Anh trong năm 2009 cho rằng việc không dự đoán được này là một dạng “tâm lý học của sự từ chối” đang đè nặng toàn bộ thế giới tài chính.[2]

Giới kinh tế từ đó tiếp tục đánh giá vai trò của mình trong thảm họa tài chính và khủng hoảng kinh tế sau này. Những giả thiết chuẩn của chủ đề này về cách mọi người đưa ra quyết định và lựa chọn hành xử là trọng tâm đặc biệt được nghiên cứu kỹ lưỡng. Phải chăng giả định rằng các sự lựa chọn đều dựa trên lý trí, vì mục đích có lợi cho bản thân, dựa trên các thông tin có sẵn, tự chính nó góp phần vào một hiểu lầm khủng khiếp của các cơ quan điều tiết và hoạch định chính sách về những gì có thể xảy ra trong các thị trường tài chính?

Kinh tế học hành vi đưa ra một số ví dụ về các quy tắc theo kinh nghiệm về hành vi khác nhau mô tả quyết định điển hình chính xác hơn so với các giả thiết chuẩn. Tuy nhiên, để giải quyết các câu hỏi một cách hệ thống, các nhà kinh tế sẽ cần phải học từ tâm lý học (cụ thể, tâm lý học về sự lựa chọn cá nhân trong tình huống mà con người phải đối mặt với một dòng thông tin liên tục, như họ thường phải đối mặt với nhiều quyết định kinh tế).

Những người tham gia một buổi hội thảo gần đây về Tâm lý học và Kinh tế học của sức chú ý khan hiếm tại trường Kinh tế Toulouse đã đề cập tới những vấn đề này (xem tóm tắt ở đây). Chủ đề chính là liệu sự hiểu biết ngày càng lớn của các nhà khoa học về tri nhận về cách “cảm nhận giác quan” chuyển thể thành hành động, với sức chú ý có hạn của con người, có đưa ra được bài học nào cho các nhà kinh tế hay không.

Một minh họa sống động về sự tương đồng tiềm năng được đưa ra trong một ví dụ do Giám đốc Nghiên cứu CNRS Kevin O’Regan của Học viện Descartes Paris về Thần kinh học và Nhận thức (Institut Paris Descartes de Neurosciences et Cognition) đưa ra, về một vụ tai nạn máy bay (trong mô phỏng) do phi công không nhìn thấy chiếc máy bay khác phía trước mình khi anh hạ cánh. Tại sao phi công giàu kinh nghiệm không nhìn thấy máy bay trên đường băng? Thật sự thì câu hỏi này cũng giống như hỏi tại sao hầu hết mọi người không nhìn thấy sự sụp đổ sắp xảy ra trong các thị trường tài chính, khi các thông tin đã có sẵn cho những người tìm kiếm cẩn thận?

“Sự mù lòa vô thức” là chuyện bình thường. Ví dụ nổi tiếng nhất liên quan đến những gì mọi người gần một nửa thời gian là không thấy khi đặt ra nhiệm vụ xem một đoạn video và đếm số lần chuyền bóng giữa hai đội bóng rổ – một con khỉ đột đi ngang trên màn hình (Chabris và Simons 2010). Các nhà thần kinh học tham gia hội thảo đã không cảm thấy thuyết phục rằng có sự giống nhau giữa sự mù lòa vô thức và việc không thể dự đoán, nhưng các nhà kinh tế cho rằng con khỉ đột vô hình có thể cung cấp cho họ một bộ giả thiết hiệu quả hơn các hơn so với bàn tay vô hình khi nói đến cách con người hình thành sở thích và đưa ra quyết định của mình.

Nếu cho rằng sự chú ý là có chọn lọc trong việc đối phó với số lượng lớn các thông tin mà các giác quan có thể thu được từ thế giới bên ngoài, thì cả hai yếu tố tự nguyện và không tự nguyện có thể đều tham gia vào việc lựa chọn đó. Kiến trúc của não nắm giữ chìa khóa để hiểu được cơ chế lựa chọn. Nhiều khu vực khác nhau của bộ não xử lý các nhận thức trực quan. Mỗi phần có chức năng chuyên biệt của mình, hoạt động đồng thời và tương tác với nhau. Hệ thống này phức tạp và ít nhiều có tính thứ bậc, và tất cả các giác quan thể hiện vai trò cùng một lúc. Có một sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các tế bào thần kinh trong quá trình chọn lọc.

Do đó, quan điểm hiện tại về sức chú ý khan hiếm là nó bắt nguồn từ kiến trúc của não. Ví dụ như trong xử lý hình ảnh, thông tin đi từ cấp thấp đến cấp cao hơn của não. Các tế bào thần kinh cấp thấp (trong vỏ não thị giác chính) rất nhạy cảm với các đặc điểm đơn giản như góc cạnh trong khi những tế bào cấp cao rất nhạy cảm với các đối tượng và phạm trù (như khuôn mặt). Ngoài ra, các tế bào thần kinh cấp thấp được kích hoạt bởi các đặc điểm trực quan tại các địa điểm cụ thể trong khi tế bào thần kinh cấp cao lại không cụ thể như vậy, và các vùng tiếp nhận tương ứng (các khu vực không gian, nơi mà sự hiện diện của một tác nhân kích thích sẽ làm thay đổi sự phản ứng của tế bào thần kinh đó) là lớn hơn. Cả hai điều này đều có nghĩa là mỗi tế bào thần kinh cấp cao có liên quan với một vài tế bào thần kinh cấp thấp – những tế bào cấp thấp này đang cạnh tranh với nhau trong một cuộc thi “được ăn cả, ngã về không”. Có một thất thoát thông tin [ở đây], và là cơ sở thần kinh của sự chú ý khan hiếm.

Có vẻ như mục tiêu rõ ràng cho việc áp dụng những bài học từ tâm lý học về cách hướng sự chú ý hiệu quả – ví dụ như, khi tìm kiếm cách trình bày thích hợp các dữ liệu về thị trường tài chính để giúp cảnh báo các cơ quan chức năng về những cuộc khủng hoảng trong tương lai. Các nhà kinh tế cũng quan tâm tới những bài học khái quát hơn cho các giả thiết về việc ra quyết định trong các mô hình kinh tế. Một lĩnh vực kinh tế mà sự chú ý là một yếu tố quan trọng là trong quảng cáo. Chúng ta có chú ý đủ đến quảng cáo để thay đổi lựa chọn mua sắm của mình không – quảng cáo có hiệu quả không?

Vấn đề về hiệu quả của quảng cáo đã trở nên cấp thiết hơn khi ngày càng nhiều phương tiện truyền thông và chi tiêu chuyển sang hoạt động trực tuyến. Các nhà quảng cáo đang xem xét nơi họ có thể truyền đạt tới người tiêu dùng hiệu quả nhất, trong khi người tiêu dùng đang phải đối mặt với các loại quảng cáo mới, và ngày càng bị “quá tải thông tin”. Quảng cáo trực tuyến tạo ra dữ liệu phong phú, và nghiên cứu kinh tế đang bắt đầu đề cập tới một số vấn đề này.

Số lần nhấp chuột vào các quảng cáo trực tuyến (clicks on ads online) chiếm 98% doanh thu của Google. Hal Varian, Nhà kinh tế trưởng (Chief economist) tại Google, cho rằng vị trí của quảng cáo trên màn hình quyết định tần suất mọi người nhấp vào nó. Sự lựa chọn vị trí một phần là do văn hóa – ví dụ, tùy thuộc vào việc người đó có đọc ngôn ngữ đó từ trái sang phải hay không – và một phần phát triển từ việc Google học hỏi dần dần từ người sử dụng và sự lựa chọn của nhà quảng cáo. Do đó, việc chọn vị trí của mỗi quảng cáo trên trang trực tuyến được quyết định bằng giá trị của vị trí mỗi nhà quảng cáo nhận được đối với họ; và sự khác biệt giữa các mức đấu giá là thước đo giá trị của sự chú ý. Nếu mọi người đều có khả năng nhấp vào bất kỳ quảng cáo trên trang web như nhau, các nhà quảng cáo sẽ không sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để được đặt ở phía trên cùng của trang.

Sự hiểu biết thông thường về áp lực thương mại ngày càng tăng trên cả hai ngành công nghiệp báo chí và phát thanh là doanh thu của họ đang bị phá hoại bởi cả việc người dùng không sẵn lòng trả tiền cho bất cứ điều gì trực tuyến lẫn việc doanh thu từ việc quảng cáo trực tuyến thấp hơn rất nhiều so với quảng cáo ngoại tuyến (quảng cáo thông thường). Tuy nhiên, Varian lập luận rằng việc cho rằng quảng cáo ngoại tuyến đắt hơn rất nhiều là sai, vì sự so sánh thích hợp là giá của sự chú ý, chứ không phải là giá của bản thân quảng cáo.

Độc giả ngoại tuyến tạo ra 88% doanh thu quảng cáo báo chí tại Mỹ, và họ dành ra trung bình 24 phút mỗi ngày để đọc báo. Độc giả trực tuyến tạo ra 12% doanh thu quảng cáo và dành ra chỉ 1,2 phút một ngày để đọc. Vì vậy, quảng cáo ngoại tuyến rẻ hơn cho mỗi phút đọc khi so sánh với đọc báo trực tuyến, nó (quảng cáo ngoại tuyến) chiếm được gấp 20 lần sự chú ý mà chỉ tốn chi phí gấp bảy lần. Lý do có vẻ là do người ta đọc báo trực tuyến tại nơi làm việc, còn đọc báo ngoại tuyến ở nhà. Điều đó tạo nên thách thức thực sự cho báo chí để làm cho người dân dành nhiều thời gian hơn để đọc báo trực tuyến, Varian kết luận.

David Reiley (2011), nhà khoa học nghiên cứu chính (Principal Research Scientist) tại Yahoo! Research, mô tả các kết quả của một thí nghiệm nghiên cứu hơn một triệu khách hàng đã mua từ một nhà bán lẻ lớn của Mỹ và cũng là người sử dụng Yahoo! Các khách hàng được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm xử lí và nhóm đối chứng. Nhìn vào số liệu của mỗi khách hàng về mức độ tiếp xúc với quảng cáo và việc mua sắm hàng tuần tại cửa hàng bán lẻ này, cả trực tuyến và tại cửa hàng, cho thấy tác động đáng kể về mặt thống kê và kinh tế của quảng cáo trên doanh thu. Tác động này kéo dài trong vài tuần sau khi kết thúc một chiến dịch quảng cáo, và tổng tác động lên doanh thu vượt quá chi phí của nhà bán lẻ dành cho quảng cáo. Một chiến dịch quảng cáo tốn 25.000 USD đem lại thêm doanh thu trong hai tuần là 83.000 USD (+/-70.000 USD- khoảng tin cậy rộng do số liệu doanh số bán lẻ có dao động lớn). Sau năm tuần, một chiến dịch quảng cáo được ước tính trị giá 33.000 USD đã tăng doanh số bán hàng thêm 250.000 USD +/-190.000 USD. Tuy nhiên, hầu hết các tác động của quảng cáo trực tuyến trên doanh số bán hàng là thông qua bán hàng tại cửa hàng.

Những bằng chứng khác được trình bày tại hội thảo cho rằng cá nhân hoá quảng cáo trực tuyến thường ít hiệu quả hơn so với việc gửi thông báo chung. Việc tuỳ chỉnh quảng cáo cho mỗi cá nhân căn cứ theo hành vi duyệt web của họ – được biết đến trong ngành công nghiệp là “tái lập mục tiêu động” – là tâm điểm niềm hy vọng khổng lồ của các nhà quảng cáo để đạt được hiệu quả lớn hơn nhờ sự liên quan của quảng cáo hiển thị cho từng cá nhân. Nhưng bằng chứng từ một thí nghiệm trực tuyến được trình bày bởi Anja Lambrecht của Trường Thương mại London (London Business School), (thí nghiệm này) sử dụng tái lập mục tiêu động ngẫu nhiên cho một công ty du lịch, cho rằng quảng cáo chung có nhiều khả năng khiến cho một người tiêu dùng quyết định mua hơn là một quảng cáo cụ thể, tăng khả năng chuyển đổi thêm 60%. Những người duy nhất mà các quảng cáo cụ thể có hiệu quả hơn là những người đã đọc qua một trang web đánh giá để tìm kiếm một loại sản phẩm cụ thể. Lambrecht cho rằng sự khác biệt này có thể chỉ ra rằng nhiều người tiêu dùng ban đầu không có sở thích rõ ràng, và sử dụng các quá trình tìm kiếm để tinh chỉnh sở thích của họ. Nhưng nếu họ đã biết đủ về những gì họ muốn mua để truy cập vào một trang web đánh giá, có thể nói là họ đã có sở thích khá cụ thể. Bài học cho ngành công nghiệp quảng cáo là để có hiệu quả lớn hơn họ sẽ cần phải có cái nhìn sâu sắc hơn hiện tại về quá trình ra quyết định của khách hàng, cần phải biết sở thích của họ đã cố định đến mức nào, và theo mức độ chi tiết mà quảng cáo nhắm tới một đối tượng khách hàng cần phải có để đạt hiệu quả (Lambrecht và Tucker 2011).

Lưu Anh Trí, Nguyễn Thị Trà Giang dịch

Nguồn: The invisible hand meets the invisible gorilla: The economics and psychology of scarce attentionVoxeu.Org, 03 Dec. 2011.

Diane Coyle là Giáo sư Kinh tế, Đại học Manchester; nhà sáng lập Kinh tế học Khai minh và là đồng giám đốc của Policy@Manchester.

Ánh sáng hay bóng tối? – Phần IV


Chúng tôi đã nói rằng tính ham mê cao gắn liền với tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch thấp hơn ngay cả khi đã tính đến chênh lệch giàu nghèo các quốc gia. Điều này chứng tỏ Sự thỏa mãn mang tính chủ quan cao hơn mà tính ham mê đại diện cho nó thật ra không hề chủ quan. Những xã hội kiềm chế hơn có những vấn đề về sức khỏe rõ ràng chứ không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng của con người. Các bệnh về tim mạch là một hiện tượng phức tạp với nhiều nguyên nhân ở cấp độ cá nhân, nhưng dường như sự bất hạnh là một trong những nguyên nhân đó.

Chính phủ các quốc gia nghèo thường lo lắng về tỷ lệ sinh tăng, nhưng họ lại có ít biện pháp để kiểm soát nó. Chưa tính đến trình độ giáo dục thấp – điều khó tránh khỏi – lựa chọn duy nhất của họ là tăng mức độ hạnh phúc trong đất nước của họ, điều này sẽ khuyến khích sức khỏe mang tính chủ quan và thái độ lạc quan. Thật không may, chưa có phương pháp nào được biết tới để đẩy cao tỷ lệ người hạnh phúc ở một quốc gia. Dường như phát triển kinh tế có một tác động như thế. Tuy nhiên, điều này cần phải có thời gian dài. Giữa năm 1998 và 2008, hầu hết tất cả các nước ở phần châu Âu của Liên bang Xô Viết cũ, cũng như Bulgaria và Rumania, đểu có chỉ số GNI trên đầu người gấp đôi. Nhưng mức độ hạnh phúc thấp đến đáng buồn vốn đã thành đặc điểm của họ ở đầu thập kỷ trước vẫn không thay đổi gì ở thập kỷ sau. Và khủng hoảng nhân khẩu đang tàn phá tất cả các nước này vẫn còn tiếp diễn.

Ham mê và kiềm chế, tầm quan trọng của bạn bè, và thái độ tiêu dùng

Chúng ta đã thấy rằng “một người bạn thân thiết” là một giá trị mà những người được hỏi thường có xu hướng lựa chọn trong những xã hội theo chủ nghĩa cá nhân. Nhưng còn tầm quan trọng của bạn bè nói chung thì sao? Nếu như ham mê đại diện cho thiên hướng tận hưởng cuộc sống, thì bạn bè lại có tầm quan trọng cao hơn trong những xã hội ham mê bởi vì một trong những chức năng của họ là cung cấp sự giải trí và vui đùa.

WVS đem lại một cơ hội kiểm tra giả thuyết này. Một điểm phỏng vấn những người được hỏi là bạn bè quan trọng như thế nào trong cuộc sống của họ. Tỷ lệ những người trả lời “rất quan trọng” có liên hệ thuận với IVR. Điều này phù hợp với phát hiện rằng các nền văn hóa ham mê có đặc trưng là tính hướng ngoại cao hơn – một thước đo cấp độ cá nhân của tính hòa đồng xã hội và vui vẻ.

Trong các cuộc nghiên cứu những năm 2002, 2003, Trung tâm nghiên cứu Pew đã hỏi những người được phỏng vấn là liệu các bộ phim và ca nhạc nước ngoài là một điều tốt hay không. Tỷ lệ người trả lời “rất tốt” có liên hệ thuận với ham mê. Các xã hội ham mê cao hơn có tỷ lệ người hoàn toàn đồng ý với những sản phẩm giải trí du nhập như phim ảnh, ca nhạc cao hơn. Các tỷ lệ này rải từ 68 (đồng ý cao nhất) ở Nigeira đến 11 (đồng ý thấp nhất) ở Pakistan. Chúng hoàn toàn không liên quan đến các thước đo tôn giáo hay lòng yêu nước của WVS, do đó những khác biệt quan sát được trong việc chấp nhận phim ảnh ca nhạc ngoại không thể giải thích bằng những luận điểm này.

Chuyên gia marketing Hà Lan Marieke de Mooji liên hệ điểm số IVR với điều tra cua Eurobarometer gần đầy và các dữ liệu tiêu dùng khác. Trong số 27 nước châu Âu theo điều tra của Eurobarometer, IVR chia làm hai nhóm: hầu hết các thành viên phương Tây (ham mê hơn) và các nước phương Đông (kiềm chế hơn). De Mooji tìm thấy một số mối liên hệ chính. Ở các xã hội ham mê hơn, người ta công bố thỏa mãn hơn với cuộc sống gia đình, họ thường coi sự chia sẻ bất bình đẳng trong các công việc gia đình giữa vợ chồng là một vấn đề hơn. Họ thường chủ động tham gia thể thao (ít nhất 1 lần 1 tuần). Họ thường trao đổi email với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và liên lạc nhiều hơn với người nước ngoài trên Internet và email. Họ cũng dùng ít cá hơn, uống nhiều nước ngọt và bia hơn.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cung cấp dữ liệu béo phì ở nam và nữ ở hầu hết các quốc gia. Nó cũng không có ý nghĩa nhiều trong việc so sánh tỷ lệ béo phì giữa các quốc gia, nơi nhiều người phải chịu chế độ dinh dưỡng không đầy đủ. Trong 26 nước giàu mà dữ liệu này cung cấp, sau khi tính đến yếu tố GNI dựa trên ngang giá sức mua, kết quả cho thấy ham mê có liên hệ thuận với béo phì. Mặc dù có nhiều tác động quan trọng, nhưng dường như khả năng trang trải không phải là vấn đề, các xã hội ham mê hơn sẽ thiên về tiêu dùng không giới hạn các đồ thực phẩm ăn vật gây bệnh béo phì.

Chúng tôi cũng liên hệ IVR với những khía cạnh văn hóa quốc gia trong dự án Globe. Trong 49 nước phổ biến, IVR đặc biệt liên quan đến 5 trong số 18 thước đo của Globe. Mối liên hệ mạnh nhất với ham mê là chủ nghĩa bình đẳng giới “mong muốn” (Không có mối liên hệ với chủ nghĩa bình đẳng giới thực tế). Sự khác biệt vai trò giới khắt khe có ở xã hội kiềm chế. Tiếp theo, ham mê liên hệ nghịch với chủ nghĩa tập thể nội bộ thực tế, và thuận với chủ nghĩa tập thể nội bộ mong muốn. Các xã hội kiềm chế tồn tại chủ nghĩa tập thể nội bộ nhiều hơn và ít hạnh phúc với nó. Mối liên hệ còn lại là với định hướng thực thi mong muốn (thuận) và với tính quyết đoán mong muốn (nghịch). Xã hội ham mê mong muốn sự thực thi mà không cần hành vi quyết đoán.

Ham mê và kiềm chế, và các mối quan hệ giới tính

Nhà tâm lý học người Mỹ David Schmitt thành lập ra dự án Mô tả tính dục quốc tế và kết hợp làm một số nghiên cứu văn hóa thú vị dưới dự án đó. Một trong số chúng tập trung vào những gì mà ông gọi là Tính dục xã hội. Theo Schmitt, đây là một khía cạnh chiến lược đơn lẻ của việc kết bạn của con người, định nghĩa như sau:

Những người ở vị trí khá thấp trong trục này được cho rằng sở hữu một định hướng tính dục xã hội kiềm chế, họ có xu hướng một vợ một chồng, thời gian tìm hiểu lâu dài và đầu tư cảm xúc nhiều vào các mối quan hệ lâu dài. Những người có mức tính dục xã hội cao được cho rằng ít kiềm chế trong định hướng kết bạn hơn, họ có xu hướng tạp hôn, dễ có hành vi yêu đương, và trải nghiệm các cấp độ thấp hơn của sự thân thiết lãng mạn.

Những phát hiện của Schmitt và cộng sự cho thấy tính dục xã hội ở nữ tự công khai có liên quan cực thuận với chủ nghĩa cá nhân/tính phổ quát (và cực nghịch với chủ nghĩa tập thể/tính riêng biệt). Điều này có thể có nghĩa là phụ nữ phương Tây tự do hơn về tình dục, nhưng cũng có nghĩa là phụ nữ ở các nước theo chủ nghĩa tập thể hạn chế nói về tình dục hơn, hai điểm này không hề loại trừ lẫn nhau. Thú vị ở chỗ khác biệt về tính dục xã hội nam giới được công bố không có liên quan nhiều đến chủ nghĩa cá nhân và tính riêng biệt. Đàn ông trên khắp thế giới có lẽ không miễn cưỡng khi nói về tình dục và ở nhiều nền văn hóa họ thật ra còn phải ba hoa về khả năng của mình, không biết được là thật hay là do tưởng tượng.

Điều này có nghĩa là những kết luận về sự khác biệt quốc gia trong tính dục xã hội dựa trên sự tự công khai nên được bảo vệ. Tuy nhiên, ở các nước giàu có, nơi tình dục ít bị coi là cấm kị, thì có thể đoán được là những người được phỏng vấn phần nào nói thật về nó, ít nhất là trong các nghiên cứu giấu tên. Kết quả từ các bài nghiên cứu trên giấy bút do đó đáng tin cậy hơn. Nhưng sự khác biệt ở chủ nghĩa cá nhân (và theo đó là ở mức độ mà người được hỏi dám trả lời thẳng thắn) và ở tính chất đàn ông trong các chủ đề cấm kị vẫn góp phần tạo nên sự khác biệt trong tính dục xã hội tự công khai. Hơn thế nữa, trong 21 nước giàu, điểm số tính dục xã hội quốc gia đối với đàn ông và đàn bà có liên hệ thuận với ham mê. Điều này mở ra một khía cạnh khác của trục Ham mê và Kiềm chế, đó là các thànhv iên trong các xã hội ham mê hơn, đặc biệt là các nước giàu, có xu hướng công khai hơn về tính dục xã hội. Có lẽ những công khai này phản ánh hành vi thực sự, mặc dù điều này cần phải nghiên cứu thêm.

Một điểm trong WVS hỏi người được phỏng vấn (chỉ lấy mẫu người châu Âu) là họ nghĩ gì về tình dục ngẫu hứng. Phần trăm người chọn vị trí 10 (luôn luôn chấp nhận) liên hệ thuận với ham mê. Trong trường hợp này, câu hỏi đưa vào như một thông lệ. Người được hỏi không nhất thiết phải nói về họ mà ám chỉ những hành vi mà họ mong muốn ở người khác. Do đó, kết quả đáng tin cậy hơn. Những xã hội ham mê hơn có phần trăm người nói không với những tục lệ nới lỏng cho tình dục ngẫu hứng cao hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Akerlof và Shiller: Tất cả những gì bạn cần biết về thao túng thị trường tự do – Phần cuối


Làm sao chúng ta biết được?

Chúng tôi tiên đoán rằng cuốn sách này sẽ không phổ biến (thậm chí là ít phổ biến nhất) đối với những người nghĩ rằng ai cũng luôn đưa ra các quyết định tốt nhất cho bản thân mình. Họ sẽ hỏi ai là Bob và George để nói rằng cá nhân con người không bao giờ là trọng tài tốt nhất của chính mình trong việc giúp bản thân ra các quyết định có tác động đến chính họ? Tương tự như phần lớn kinh tế học, luận điểm này có ý nghĩa trừu tượng. Nhưng khi chúng tôi xem xét câu hỏi này lúc nó mô tả con người thực ra quyết định thực (như chúng tôi sẽ làm trong suốt quyển sách này), chúng tôi phát hiện ra rằng họ đã bị lừa cắn câu: và, hậu quả là họ đưa ra các quyết định mà chỉ cần vận dụng một ít trí khôn cơ bản thôi, họ sẽ nhận biết các quyết định đó không mang lại lợi ích cho họ.

Chúng ta không phải tự phụ khi thấy người ta đưa ra những quyết định như vậy. Chúng ta nhận biết được là vì chúng ta thấy người ta đưa ra các quyết định mà KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN. Henry David Thoreau đã nhấn mạnh rằng “nhiều người sống cuộc sống trong âm thầm tuyệt vọng”. Đáng chú ý, một trăm năm mươi năm sau, ở nước Mỹ, quốc gia phồn vinh nhất thế giới mà chúng ta từng biết, quá nhiều người vẫn sống trong âm thầm tuyệt vọng. Hãy nghĩ về trường hợp cô Mollie tội nghiệp ở Vegas.

KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN CẢ

Bốn vấn đề lớn cho thấy tại sao tình trạng KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN CẢ lại lan rộng gồm: an toàn tài chính cá nhân; ổn định nền kinh tế vĩ mô (nền kinh tế tổng thể); sức khỏe của chúng ta; và chất lượng của chính phủ. Trong mỗi vấn đề trên, chúng ta sẽ thấy rằng việc thả câu chờ kẻ đại ngốc mắc sai lầm có tác động đáng kể đến cuộc sống của chúng ta.

An toàn tài chính cá nhân. Một thực tế cơ bản của đời sống kinh tế chưa bao giờ được đưa vào sách giáo khoa kinh tế học. Hầu hết người trưởng thành, ngay cả ở các nước giàu, đều mang mối lo làm thế nào để thanh toán các hóa đơn theo lên giường ngủ mỗi tối. Các kinh tế gia cho rằng ai cũng dễ dàng gói gém chi tiêu trong ngân sách của mình. Nhưng họ quên rằng ngay cả khi chúng ta thận trọng đến 99%, thì cũng còn 1% chúng ta hành động như thể “tiền là chuyện nhỏ”, có thể hủy hoại toàn bộ lựa chọn đúng đắn trước đó. Và các doanh nghiệp biết rất rõ 1% này. Họ nhắm vào các sự kiện trong cuộc sống của chúng ta khi mà tình yêu (hay những động cơ khác) lấn át sự cẩn trọng ngân sách của chúng ta. Đối với một số người thì sự kiện đó là thông lệ tặng quà vào dịp Giáng Sinh hàng năm. Đối với những người khác thì là các nghi lễ đánh dấu những cột mốc của đời người như: đám cưới (là nghi lễ mà các tạp chí chuyên về cưới hỏi khẳng định với các cô dâu rằng chi phí của một “đám cưới trung bình” gần bằng một nửa thu nhập bình quân đầu người hàng năm); đám tang (là nghi lễ mà người điều hành dịch vụ tang lễ tỉ mỉ giới thiệu về các cỗ quan tài để dẫn dắt lựa chọn, ví dụ như, kiểu Monaco “làm bằng thép không gỉ Sea Mist, bên trong toàn bộ được lót nhung 600 Aqua thượng hạng, được chần bông và dệt chun tinh xảo”); hay sinh con (là dịp mà hãng đồ chơi Babies “R” Us sẽ phái chuyên viên tư vấn cá nhân của họ đến).

Nhưng các nghi lễ kể trên không phải là những dịp duy nhất trong đời mà việc tính toán được cho là keo kiệt. Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà ở Mỹ, vốn trong thời kỳ phồn vinh nhất từ trước đến giờ, hầu hết người trưởng thành vẫn phải lo lắng về các hóa đơn khi đi ngủ. Các nhà sản xuất rất sáng tạo trong việc khiến cho chúng ta cảm thấy cần những sản phẩm được sản xuất ra trong khi họ đáp ứng các nhu cầu có thực của chúng ta. Không ai muốn phải lo lắng về các hóa đơn khi đi ngủ. Nhưng hầu như ai cũng phải lo lắng.

Một lý do khiến chúng ta lo lắng về các hóa đơn là tình trạng bán giá quá đắt: là người tiêu dùng, chúng ta đặc biệt có xu hướng trả quá nhiều tiền khi chúng ta bước ra khỏi vỏ ốc của mình để mua một hàng hóa đắt đỏ và hiếm khi mua. Đáng chú ý là trong khoảng 30% số nhà bán được cho người mua mới, tổng chi phí giao dịch – của người mua lẫn người bán – bằng hơn phân nửa số tiền đặt cọc mà người mua phải nộp để thực hiện giao dịch. Như chúng ta sẽ thấy, nhân viên kinh doanh xe hơi, đã phát triển các kỹ thuật tinh vi để bán cho chúng ta nhiều xe hơi hơn số chúng ta thực sự muốn; và đồng thời cũng khiến chúng ta phải trả quá nhiều tiền. Không ai muốn bị mua đắt. Nhưng chúng ta vẫn phải mua hàng với giá đắt, ngay cả trong những trường hợp mua bán mà chúng ta cẩn trọng nhất trong cuộc đời của mình.

Bất ổn tài chính và bất ổn vĩ mô. Thả câu chờ kẻ đại ngốc mắc sai lầm trong thị trường tài chính là nguyên nhân lớn nhất của các cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo tình trạng suy thoái sâu. Xét về các cuộc khủng hoảng tài chính thì cụm từ thịnh hành “Lần này sẽ khác” vừa đúng vừa sai. Trong giai đoạn tăng trưởng nóng trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, những kẻ thả câu dụ dỗ người mua về những tài sản mà họ phải bán bằng chiêu thức “lần này sẽ khác”. Ví dụ như vụ công ty sản xuất que diêm Swedish Match ở những năm 1920 (Ivar Kreuger, sáng lập viên của công ty Kreuger & Toll); vụ các công ty công nghệ dot-com ở những năm 2000 (Angelo Mozilo, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành của công ty tài chính Countrywide). Vâng, không lần nào giống lần nào cả; các doanh nghiệp khác nhau; sản phẩm của họ khác nhau. Nhưng, đồng thời, lần nào cũng vậy. Có những kẻ thả câu; và có những kẻ đại ngốc. Và khi chứng khoán do những kẻ thả câu giấu mặt dựng lên (kinh tế gia John Kenneth Galbraith gọi là “the bezzle” – sự gia tăng tài sản ảo) hiện nguyên hình, giá tài sản lao dốc. Các nhà quản lý đầu tư đã mua các gói chứng khoán có các khoản thế chấp xấu trong thời gian tích tụ nên cuộc khủng hoảng 2008 có thể đã không muốn mua chúng. Và sau đó, thật đau đớn, phản ứng phụ kinh hoàng đã diễn ra: niềm tin vỡ vụn trong toàn bộ nền kinh tế; giá chứng khoán giảm đi phân nửa; mất việc hàng loạt; và người thất nghiệp không thể tìm được việc làm. Tình trạng thất nghiệp dài hạn đạt mức cao chưa từng thấy kể từ Cuộc Đại Khủng Hoảng.

Sức khỏe. Ngay cả trong vấn đề sức khỏe, vốn dĩ là nhu cầu lớn nhất của chúng ta khi chúng ta đã được cơm no áo ấm, có nhà cửa đầy đủ, các hãng dược cũng thả câu đợi chúng ta mắc sai lầm. Vào những năm 1880, khi Daniel Pinkham, sống ở ngoại vi New York, để ý thấy có nhiều phụ nữ rất quan tâm đến bệnh thận, ông đã viết thư về nhà nhắn mọi người nên đưa bệnh thận vào danh sách các căn bệnh mà hãng thuốc Pinkham Pills của gia đình có thể chữa khỏi. Lời khuyên của ông được tiếp thu. Ngày nay, các hãng dược không còn được bổ sung bệnh vào trong danh sách nữa. Ở Mỹ, các hãng dược phải vượt qua hai cửa ải. Họ phải có được sự chấp thuận của Food and Drug Administration (Cục Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm), thông qua việc thực nghiệm đối chứng ngẫu nhiên; họ phải đồng thời thuyết phục được các bác sĩ kê thuốc của họ cho bệnh nhân. Nhưng họ cũng đã có hơn một thế kỷ lăn lộn tìm cách vượt qua các cửa ải này. Một số dược phẩm dù vượt ải thành công nhưng chỉ mang lại lợi ích rất bé. Tệ hơn, một số dược phẩm chỉ toàn gây hại, như Vioxx (một loại kháng viêm giống như Aleve) và liệu pháp thay thế nội tiết tố. Với bề dày năm năm xuất hiện trên thị trường, từ năm 1999 đến năm 2004, người ta ước lượng rằng Vioxx đã gây ra từ 26.000 đến 56.000 trường hợp tử vong do vấn đề tim mạch ở Mỹ; việc các bác sĩ và các nhà thuốc không thông báo cho phụ nữ biết những nghi ngờ về liệu pháp thay thế nội tiết tố đã gây ra khoảng 94.000 ca ung thư vú. Không ai muốn dùng thuốc dỏm cả.

Hậu quả ảnh hưởng đến sức khỏe không chỉ dừng lại ở thuốc dỏm. Nói về vấn đề ăn uống và hậu quả của nó. Khoảng 69% người Mỹ trưởng thành bị thừa cân; hơn phân nửa trong số đó (36% người Mỹ) bị béo phì. Một nghiên cứu thuần tập thực hiện trên hơn 120.000 người đã phô bày một thực trạng chính xác đáng kinh ngạc. Những người được phỏng vấn, chủ yếu là các y tá có đăng ký chính thức, được quan sát mỗi bốn năm một lần, từ cuối những năm 1970 suốt đến năm 2006. Số cân tăng trung bình mỗi bốn năm là 3,35lb (cân Anh) (tổng cộng tăng 16,75lb trong 20 năm). Phân tích thống kê cho biết 3,35lb tăng thêm là do 1,69lb snack khoai tây, 1,28lb khoai tây chiên, và 1lb thức uống có đường. Nói một cách hình tượng thì những y tá đó đã không thể ngưng nhóp nhép snack khoai tây (muối và mỡ) và khoai tây chiên (mỡ và muối) hay ngưng xì xụp các chai nước ngọt (đường). Họ lựa chọn một cách tự nguyện. Không dừng lại ở các y tá, mà khái quát hơn, các ông lớn ngành thực phẩm chi hoa hồng cho các phòng thí nghiệm khoa học để họ tính toán “các điểm cực mãn” của người tiêu dùng khiến họ thèm đường, muối, và mỡ cực độ. Tuy nhiên, không ai muốn béo phì cả.

Thuốc lá và rượu là những cái cần câu khác có liên quan đến sức khỏe. Nhưng có sự khác biệt lớn giữa hai sản phẩm này. Ngày nay, không ai nghĩ rằng hút thuốc lá là sành điệu cả. Khi George viết đoạn này, ông ngồi làm việc trong một tòa nhà văn phòng lớn ở Washington, HQ1 (Trụ sở chính 1) của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Người ta cấm hút thuốc bên trong tòa nhà. Nhưng trên đường đến nơi làm việc vào buổi sáng, ông đi ngang qua một số người hút thuốc đứng lác đác bên ngoài. Những người hút thuốc đó ai nấy cũng hằn học né tránh ánh nhìn chăm chăm của ông. Tuy không nói ra, nhưng họ biết ông đang nghĩ rằng họ đang liều mạng sống của chính họ: để có được niềm vui rất không đáng. Kết quả của sự chỉ trích và tự chỉ trích này là tỷ lệ người hút thuốc lá ở Mỹ đã giảm đi hơn phân nửa tính từ cái thời tăm tối khi mà những người đáng ra biết được nhiều thông tin hơn lại thuyết phục rằng hút thuốc thực sự tốt cho sức khỏe: hút thuốc giúp bạn giảm cân.

Còn một loại chất gây nghiện hợp pháp nữa ngoài thuốc lá, có thể có hại nhiều hơn; nhưng lại ít bị chỉ trích hơn. David Nutt và các cộng sự ở Anh, cùng Jan van Amsterdam và Willem van den Brink ở Hà Lan đã thành lập các nhóm chuyên gia đánh giá tác hại tương đối của các loại chất gây nghiện ở các quốc gia của họ. Tính luôn cả tác hại đối với người khác – thay vì chỉ tính tác hại đối với bản thân người dùng – Nutt và các cộng sự đánh giá rượu là loại tệ hại nhất; van Amsterdam và các cộng sự xếp rượu ở hàng thứ hai sau ma túy, nhưng sự hơn kém về tác hại là rất nhỏ. Lát nữa chúng ta sẽ thấy (từ các nghiên cứu suốt đời) rằng việc lạm dụng rượu rất có thể là phương thuốc giảm đau thần diệu duy nhất trong đời sống người Mỹ. Hơn nữa, các quán bar, nhà hàng, hãng hàng không và bạn bè của chúng ta gặp khi tiệc tùng đều ép chúng ta uống một ly, và đôi khi thêm một ly nữa, và một ly nữa,… Không ai để ý rằng uống thêm một ly nữa là một lựa chọn quá dễ dàng. Không ai muốn trở thành kẻ nghiên rượu. Nhưng thay vì khuyên can thì người ta lại dụ dỗ.

Chính phủ tồi. Trong khi thị trường tự do ít nhất là có thể vận hành hiệu quả trong các điều kiện lý tưởng, thì nền dân chủ cũng vậy. Nhưng các cử tri lại bận rộn lo toan cho cuộc sống của riêng mình; do vậy mà các cử tri hoàn toàn không thể biết được khi nào một chính trị gia đi chệch ra khỏi mong muốn thực sự của cử tri về tăng cường pháp chế. Và cũng chỉ vì chúng ta là người trần mắt thịt, chúng ta có xu hướng bầu cho người nào khiến chúng ta cảm thấy hài lòng nhất. Do vậy, chính trị dễ bị tác động bởi trò thả mồi đơn giản nhất, theo đó các chính trị gia âm thầm huy động tiền bạc từ các nhóm lợi ích, và sử dụng nguồn tiền đó để chứng tỏ rằng họ “không khác gì các cử tri”. Chương “Thả Câu Trong Chính Trị” của chúng tôi sẽ mô tả chiến dịch vận động tranh cử năm 2004 của Charles Grassley thuộc tiểu bang Iowa, người giữ chức chủ tịch Ủy Ban Tài Chính Thượng Viện lúc bấy giờ, và là người đã tập hợp được một nguồn quỹ tranh cử trị giá nhiều triệu đô la và đã tấn công dồn dập khắp tiểu bang bằng chương trình quảng cáo trên truyền hình phát đi hình ảnh ông cũng “như dân chúng”, đang ở nhà, ngồi trên chiến xe cắt cỏ của ông ta. Không có gì quá bất thường về vai trò của tiền bạc trong cuộc vận động này. Ngược lại, chúng ta chọn cách làm như vậy vì nó quá đặc trưng. Nhưng (hầu như) không ai muốn có một nền dân chủ mà các cuộc bầu cử được mua theo cách này.

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “Akerlof and Shiller: Everything You Need to Know About Free-Market Manipulation”, Evonomics.com, 6/1/2016.

Akerlof và Shiller: Tất cả những gì bạn cần biết về thao túng thị trường tự do – Phần đầu


Nội dung dưới đây được trích từ quyển sách Phishing for Phools: The Economics of Manipulation and Deception (Thả Mồi Câu Cá Ngáo: Kinh Tế Học Của Sự Thao Túng Và Mánh Khóe Lừa Bịp) của George A. Akerlof và Robert J. Shiller. Được xuất bản bởi Princeton University Press. Chúng tôi đã được phép in lại.

James Carville, cố vấn chiến dịch vận động tranh cử chức tổng thống của Bill Clinton năm 1992, đã từng nói rằng: “It’s the economy, stupid!” (Là vấn đề kinh tế cả thôi, ngốc ơi!). Ông muốn dùng câu nói này chĩa mũi dùi vào Tổng Thống George H. W. Bush vì hàng loạt các vấn đề kinh tế có liên quan mật thiết đến cuộc suy thoái kinh tế xuất hiện trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của Bush. Tuy nhiên, về phát biểu của Carville, chúng tôi có cách hiểu khác, rộng hơn: nhiều vấn đề của chúng ta khởi sinh từ chính bản chất của nền kinh tế. Nếu doanh nhân hành xử hoàn toàn ích kỷ vì lợi ích của chính mình theo cách thức mà lý thuyết kinh tế giả định, thì hệ thống kinh tế thị trường của chúng ta có xu hướng dung dưỡng sự thao túng và mánh khóe lừa bịp. Vấn đề không phải là do có nhiều người xấu. Hầu hết mọi người đều tuân thủ luật chơi và chỉ mưu cầu cuộc sống sung túc. Nhưng, rõ ràng, áp lực cạnh tranh đè lên giới doanh nhân buộc họ phải nhúng tay vào hành vi lừa bịp và thao túng trong các thị trường tự do khiến chúng ta mua, và trả quá nhiều tiền cho những sản phẩm không cần đến; khiến chúng ta làm những công việc không mấy ý nghĩa; và khiến chúng ta tự hỏi tại sao cuộc sống của mình lại trở nên bất ổn.

Chúng tôi viết quyển sách này với tư cách là những người hâm mộ hệ thống thị trường tự do, nhưng hy vọng sẽ giúp mọi người tìm được lợi ích của mình trong đó. Hệ thống kinh tế thị trường đầy rẫy các ngón đòn gian lận, và ai cũng cần phải biết được thực tế này. Tất cả chúng ta ai cũng phải lèo lái hệ thống này để giữ gìn phẩm giá và tính chính trực của mình, tất cả chúng ta đều phải tìm cho được nguồn cảm hứng để bước tiếp bất chấp sự điên rồ xung quanh chúng ta. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới người tiêu dùng, họ chính là đối tượng cần phải cảnh giác trước vô số trò lừa bịp nhắm vào họ. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới giới doanh nhân, họ chính là những người cảm thấy chán nản trước sự hoài nghi của một số đồng nghiệp và rơi vào cái bẫy của sự không cần thiết này về mặt kinh tế. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới các quan chức chính phủ, họ là lực lượng đảm đương nhiệm vụ bạc bẽo điều tiết hoạt động kinh doanh. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới các tình nguyện viên, các nhà hảo tâm, các nhà hướng dẫn dư luận, họ là thành phần ủng hộ sự liêm chính. Và chúng tôi viết quyển sách này hướng tới giới trẻ, những người tự vấn làm sao họ có thể tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình khi nhìn ra quảng đời làm việc của mình phía trước. Tất cả những đối tượng này sẽ cùng có lợi từ nghiên cứu về trạng thái cân bằng lừa đảo – về các lực lượng kinh tế đã cấy sự thao túng và mánh khóe lừa bịp vào hệ thống kinh tế trừ khi chúng ta mạnh dạn đấu tranh chống lại nó. Chúng ta cũng cần những câu chuyện về những vị anh hùng, những người mà bằng chính sự liêm chính của bản thân (chứ không phải vì lợi ích kinh tế) đã cố gắng kìm hãm sự dối trá trong nền kinh tế của chúng ta ở mức có thể chung sống được. Chúng tôi sẽ kể thật nhiều những câu chuyện về những vị anh hùng này.

Các sản phẩm của kinh tế thị trường tự do

Cuối thế kỷ thứ mười chín là giai đoạn bận rộn của những nhà phát minh trong ngành xe hơi, điện thoại, xe đạp, đèn điện. Nhưng, có một phát minh khác cùng thời ít nhận được sự chú ý chính là “chiếc máy tự động dùng đồng xu”. Ngay từ khi ra đời, chiếc máy này không mang ý nghĩa như của ngày hôm nay. Khái niệm này có liên quan đến bất cứ loại “máy bán hàng tự động” nào mà khi bạn cho tiền xu vào một cái khe trống, bạn sẽ được khui một chiếc hộp. Vào những năm 1890, máy tự động dùng đồng xu được dùng để bán kẹo cao su, xì gà, thuốc lá, ống dòm (để xem nhạc kịch – ND), sô-cô-la que được quấn trong giấy gói cá nhân, thậm chí là các lượt xem nhanh tài liệu được coi là tiền thân của danh bạ điện thoại thành phố – hàng hóa gì cũng có. Sự cải tiến cơ bản chính là chiếc khóa được kích hoạt bằng đồng xu được nhét vào trong.

Nhưng rồi sau đó, người ta phát minh ra một công dụng khác. Chẳng bao lâu thì máy tự động dùng đồng xu bắt đầu bao gồm cả những chiếc máy đánh bạc. Một tờ báo lúc bấy giờ đã ghi nhận sự xuất hiện của máy tự động dùng đồng xu với ý nghĩa của thời hiện đại vào năm 1893. Lúc đầu, những chiếc máy này thưởng kẹo cho người chơi thắng thay vì thưởng tiền; chẳng bao lâu thì người ta đã gán cho sự trùng hợp hiếm hoi khi ba quả anh đào cùng xuất hiện một ý nghĩa đặc biệt.

Cuối những năm 1890, một chứng nghiện mới xuất hiện đối với trò đỏ đen trên máy đánh bạc. Vào năm 1899, tờ Los Angeles Times đã đưa tin: “Người ta có thể tìm thấy từ một cho tới nửa tá máy đánh bạc ở hầu hết các quán rượu, được vây kín bởi đám đông những người chơi suốt từ sáng đến tối … Một khi thói quen đã được hình thành, nó sẽ trở thành chứng nghiện. Người ta có thể bắt gặp các thanh niên ngồi hàng giờ liền trước máy đánh bạc. Cuối cùng, chắc chắn họ chính là những kẻ thua cuộc.

Rồi thì lực lượng quản lý đã can thiệp. Máy đánh bạc hủy hoại cuộc đời của quá nhiều người nên phải bị cấm, hoặt ít nhất là phải được kiểm soát, cùng với cờ bạc nói chung. Chúng đã biến mất khỏi đời sống cộng đồng, hầu như hoàn toàn bị cho ra rìa: được chuyển đến những nơi đặc biệt như sòng bài, và ở nơi được quản lý lỏng lẻo như Nevada, máy đánh bạc dễ dàng được tìm thấy trong siêu thị, trạm xăng, và sân bay; trung bình một người lớn ở đây nướng 4% thu nhập của mình vào bài bạc, gấp chín lần mức trung bình của người Mỹ. Nhưng ngay cả Nevada cũng có một số giới hạn: vào năm 2010, Hội Đồng Kiểm Soát Đánh Bạc Nevada đã bác bỏ đề xuất cho phép khách hàng ở các cửa hàng tiện lợi được sử dụng thẻ tín dụng trên các máy đánh bạc, mà chỉ cho phép đổi tiền lẻ như thường lệ.

Khi được tin học hóa, máy đánh bạc có thêm chức năng mới. Đặt theo tên của quyển sách viết năm 2012 của Natasha Schüll đến từ MIT, các chiếc máy thế hệ mới được thiết kế để gây nghiện. Mollie, người mà Schüll đã gặp tại buổi họp mặt các thành viên của tổ chức Gamblers Anonymous tại Las Vegas đã thể hiện khía cạnh con người của sự ham mê này. Mollie đã vẽ cho Schüll một sơ đồ trình bày cách thức mà cô tìm thấy bản thân mình. Sơ đồ diễn tả cô bằng hình ảnh ốm o, đơn độc, đứng cạnh chiếc máy đánh bạc, bị bao vây – mắc kẹt – trong một con đường vòng tròn. Con đường đó dẫn đến sáu nơi chốn quan trọng nhất trong cuộc đời của cô: đường MGM Grand, nơi cô làm công việc nhân viên nhận đăng ký đặt chỗ; ba điểm nơi cô chơi đánh bạc; cơ sở của tổ chức Gamblers Anonymous, nơi cô cố gắng cai bài bạc; và cuối cùng là nơi cô mua thuốc chống chứng rối loạn lo âu. Mollie hoàn toàn ý thức được vấn đề của mình: cô không tìm đến các máy đánh bạc để mong được thắng. Cô biết rằng cô sẽ thua. Đúng hơn là cô bị lôi kéo bởi sự cưỡng bức. Và khi cô đến đó chè chén say sưa, cô đơn độc; hành động trở nên nhanh và liên tục. Mollie đi vào nơi mà cô gọi là “khu vực”. Nhấn cái nút màu đỏ. Các ánh đèn và buổi diễn bắt đầu. Cô ta hoặc thắng hoặc thua. Nhấn cái nút màu đỏ một lần nữa. Và một lần nữa. Cứ thế tiếp tục cho đến khi sạch túi. Mollie không phải là trường hợp cá biệt ở Vegas. Cách đây mười năm, những cái chết do ngưng tim là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng ở các sòng bài. Đề xuất về đội cấp cứu không được thông qua. Cuối cùng thì các sòng bài tự thành lập riêng các đội kích tim được huấn luyện đặc biệt. Một đoạn video quan sát cho thấy lý do tại sao cần phải có chương trình huấn luyện đặc biệt như vậy. Trong đoạn băng, lực lượng của sòng bạc kích tim cho một người chơi bị ngưng tim, những người chơi xung quanh vẫn tiếp tục chơi, thần trí bị mê hoặc của họ vẫn bình thản, mặc dù nạn nhân rõ ràng đang nằm ngay dưới chân họ.

Thị trường mang lại cho chúng ta điều gì

Lịch sử về mặt tốt và mặt xấu của máy tự động dùng đồng xu từ những năm 1890 đến nay minh họa quan điểm sóng đôi của chúng ta về nền kinh tế. Cơ bản nhất là chúng ta ca ngợi thị trường. Thị trường tự do là sản phẩm của hòa bình và tự do, phát triển trong thời kỳ ổn định khi mà con người không sống trong lo sợ. Nhưng song song với việc tạo ra các chiếc hộp mà khi mở ra sẽ cho chúng ta một thứ chúng ta muốn thì động cơ lợi ích cũng tạo ra những chiếc máy đánh bạc với trò cờ bạc gây nghiện ưu tiên lột tiền của bạn. Hầu như toàn bộ quyển sách này sẽ minh họa mặt xấu của chiếc máy tự động dùng đồng xu, chứ không nói về mặt tốt: vì với tư cách là những người chủ trương cải cách về cả tư tưởng kinh tế lẫn nền kinh tế, chúng tôi cố gắng thay đổi những trục trặc của xã hội chứ không thay đổi những mặt tốt. Nhưng trước khi bắt đầu, chúng ta nên suy ngẫm xem thị trường đã mang lại cho chúng ta những gì.

Để làm được điều này, chúng ta cần phải nhìn lại thời kỳ cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi. Vào tháng 12/1900, chàng kỹ sư xây dựng John Elfreth Watkins Jr. đã tham gia trò giải trí dự đoán xem cuộc sống sẽ như thế nào một trăm năm nữa được đăng trên tạp chí The Ladies Home Journal. Anh ta đã dự đoán rằng chúng ta sẽ có “khí nóng và khí lạnh thoát ra từ các vòi nước”. Chúng ta sẽ có những con tàu cao tốc đưa chúng ta “đến nước Anh trong vòng hai ngày”. “Sẽ có máy bay”, chủ yếu dùng trong quân đội, nhưng đôi khi được dùng để chuyên chở hành khách và hàng hóa. “Buổi đại nhạc kịch sẽ được truyền đến tư gia bằng điện thoại và âm thanh cũng du dương như đang thưởng thức trong nhà hát”. Các dự đoán cứ thế tiếp tục.

Watkins mô tả các dự đoán của mình có vẻ “lạ, hầu như bất khả”; nhưng, đáng chú ý là thị trường tự do, với động cơ sản xuất ra những gì con người muốn, miễn là có lợi nhuận, đã khiến cho những dự đoán của anh ta trở thành hiện thực, và hơn thế nữa.

Tuy nhiên, thị trường tự do không chỉ mang lại sự phong phú mà con người muốn có. Thị trường tự do còn tạo ra trạng thái cân bằng kinh tế hết sức phù hợp với các tổ chức kinh tế muốn thao túng hay làm sai lệch sự phán đoán của chúng ta bằng các hoạt động kinh doanh tương tự như căn bệnh ung thư bám chặt vào sự cân bằng bình thường của cơ thể con người. Máy đánh bạc là một ví dụ rõ nét. Không phải tự nhiên mà chiếc máy đánh bạc phổ biến đến mức không thể ngăn chặn được trước khi chúng bị quản lý và bị cấm. Chừng nào mà chúng ta có bất kỳ điểm yếu nào trong việc nhận biết mình thực sự muốn gì, và chừng nào mà những điểm yếu đó có thể được tạo ra và nuôi dưỡng một cách có lợi, thì thị trường sẽ chớp lấy cơ hội cho chúng ta vào tròng vì những điểm yếu đó. Thị trường sẽ soi mói và lợi dụng chúng ta. Thị trường sẽ thả câu chờ những kẻ đại ngốc mắc sai lầm.

Về khái niệm Phish và Phool

Từ phish, theo Tự Điển Anh Ngữ Oxford, xuất hiện vào năm 1996 khi trang web ra đời. Tự điển này định nghĩa phish là “lừa gạt trên Internet nhằm thu thập thông tin riêng tư của cá nhân, đặc biệt là bằng cách mạo danh một công ty có uy tín; tham gia trò lừa gạt trực tuyến bằng cách lừa “câu” thông tin cá nhân. Trong quyển sách này, chúng tôi phát triển một ý nghĩa mới và rộng hơn cho từ phish. Chúng tôi sử dụng định nghĩa của ngành tin học như một phép ẩn dụ. Thay vì xem trò lừa đảo ăn cắp thông tin trên mạng (phishing) là bất hợp pháp, chúng tôi giới thiệu một định nghĩa khái quát hơn và có liên hệ với lịch sử hơn. Định nghĩa này có liên quan đến việc khiến người ta làm những điều mang lại lợi ích cho những kẻ lừa đảo ăn cắp thông tin trên mạng (phisherman), chứ không mang lại lợi ích cho người thực hiện. Định nghĩa này có liên quan đến việc câu cá, việc thả một con mồi giả xuống nước và ngồi chờ cho con cá thận trọng nào đó bơi ngang, mắc sai lầm, và cắn câu. Có rất nhiều kẻ thả câu và họ rất tài tình tạo ra vô số con mồi giả mà theo các qui luật xác suất thì chúng ta sớm muộn gì cũng đều cắn câu, cho dù chúng ta cố gắng thận trọng đến mức độ nào đi nữa. Không một ai là ngoại lệ cả.

Theo định nghĩa của chúng tôi, kẻ đại ngốc (phool) là người, vì bất kỳ lý do gì, hoàn toàn bị mắc câu. Có hai loại kẻ đại ngốc: ngốc tâm lý và ngốc thông tin. Ngốc tâm lý cũng có hai loại. Đối với loại thứ nhất, tiếng gọi của trí khôn cơ bản của kẻ đại ngốc tâm lý bị đè nén bởi cảm xúc của họ. Đối với loại thứ hai, các sai lệch về nhận thức, tương tự như ảo giác quang học, khiến cho họ hiểu sai thực tế, và họ hành động trên cơ sở hiểu biết sai lầm đó. Mollie là một ví dụ của kẻ đại ngốc cảm xúc, nhưng không phải là kẻ đại ngốc nhận thức. Cô ta rõ ràng là tự nhận thức được tình trạng của mình trước các chiếc máy đánh bạc, nhưng cô ta không thể giúp được chính mình.

Kẻ đại ngốc về thông tin hành động dựa trên các thông tin được gọt dũa có chủ đích để đánh lừa họ. Sự tăng giá của Enron cũng căn cứ trên việc sử dụng thông tin kế toán sai lệch (và sau đó là lừa bịp). Lợi nhuận bất thường của công ty này là kết quả của phương pháp hạch toán “theo giá thị trường” (mark-to-market – MTM), theo đó lợi nhuận trong tương lai của dự án đầu tư có thể được ghi nhận ngay khi dự án đó được triển khai. Thông lệ phổ biến hơn là chờ cho đến khi lợi nhuận thực sự được sinh ra. Từ năm 1995 đến năm 2000, tạp chí Fortune công bố Enron là Công Ty Sáng Tạo Nhất quốc gia. Fortune đã đúng; chỉ có điều là các biên tập viên của tạp chí đã không hiểu được bản chất của các sáng tạo của Enron.

Các doanh nhân có đạo đức tốt (hay xấu) không phải là chủ đề của quyển sách này, mặc dù đôi lúc cả mặt tốt lẫn mặt xấu của họ sẽ cùng xuất hiện. Thay vào đó, chúng ta xem xét vấn đề cơ bản là thị trường cạnh tranh tạo ra các áp lực khiến cho người ta ít cẩn trọng hơn. Thị trường cạnh tranh rất xuất sắc trong việc khuyến khích và tán thưởng các anh hùng doanh nhân tạo ra các sản phẩm mới có tính sáng tạo phục vụ cho nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, thị trường tự do phi điều tiết hiếm khi tán thưởng loại chủ nghĩa anh hùng mà theo đó người ta tự chế ngự bản thân không lợi dụng điểm yếu tâm lý và điểm yếu thông tin của khách hàng. Do áp lực cạnh tranh, nhà quản lý nào chế ngự bản thân mình theo lối này có khả năng bị thay thế bởi người khác ít có băn khoăn về vấn đề đạo đức hơn. Xã hội dân sự và các chuẩn mực xã hội có lập ra một số cơ chế kìm hãm những hành vi lợi dụng nói trên; nhưng ở trạng thái cân bằng thị trường, nếu có một cơ hội để lợi dụng, thì ngay cả những công ty được dẫn dắt bởi tính liêm chính đạo đức thực sự cũng sẽ thường phải lợi dụng để cạnh tranh và tồn tại.

(còn tiếp) 

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “Akerlof and Shiller: Everything You Need to Know About Free-Market Manipulation”, Evonomics.com, 6/1/2016.

Ánh sáng hay bóng tối? – Phần III


Ham mê và kiềm chế, sự thỏa mãn mang tính chủ quan trọng các nghiên cứu tầm quốc gia khác

Một đội nghiên cứu dẫn đầu bởi Peter Kuppens từ Bỉ đã nghiên cứu cái họ gọi là tần suất hồi tưởng các kinh nghiệm cảm xúc (tức là người ta nhớ về những cảm xúc tiêu cực và tích cực ra sao). Mẫu của họ là 9300 cá nhân từ 48 quốc gia. Hai trục cấp độ quốc gia ở nghiên cứu này, đặt tên là Thành phần 1 (mặt tích cực) và Thành phần 2 (mặt tiêu cực). Những người tham gia từ các xã hội có tỉ số cao về Thành phần 1 có xu hướng hồi tưởng lại những cảm giác tích cực, trong khi những người có tỉ số cao về Thành phần 2 nhớ nhiều hơn đến các cảm giác tiêu cực. Cả hai thành phần này đều không liên quan đến nhau.

Thành phần 1, đo lường tần suất cảm giác tích cực, có mối liên quan chặt chẽ với IVR. Ở các xã hội đam mê nhiều hơn, người ta dường như nhớ những cảm giác tích cực nhiều hơn.

Một nghiên cứu trên quy mô rộng tương tự được công bố bởi các nhà nghiên cứu người Mỹ Ulrich Schimmack, Shigeiro Oishi, và Ed Diener. Họ phỏng vấn 6780 sinh viên đại học từ 40 quốc gia với câu hỏi: Họ đã bao nhiêu lần trải nghiệm các cảm xúc dễ chịu và không dễ chịu trong tháng trước. Công bố này có nghĩa là tần suất cảm xúc dễ chịu có liên hệ thuận với Ham mê. Sinh viên ở các xã hội nhiều ham mê theo công bố thường trải nghiệm các cảm xúc tích cực nhiều hơn.

IVR không liên quan đến LTO-CVS, nhưng Nghiên cứu giá trị Trung Quốc của Micheal Bond công bố một trục khác gọi là Nguyên tắc đạo đức. Chúng ta đã thấy nó liên quan đến sự phân chia quyền lực. Hai điểm đầu của nó là “kiềm chế đạo đức” và “sự thiếu lập trường cứng rắn”. Những điểm xác định cực dương của trục này là “khiêm tốn”, “giữ cho mình trong sạch và không mành danh lợi”, và “có ít tham vọng”. Bởi vì những điểm này dễ liên kết với tính Kiềm chế, nên ta có thể đoán nó liên kết nghịch với Ham mê. Thực tế liên kết này có tồn tại. Những xã hội có tỉ số ham mê cao lại đạt điểm số thấp ở nguyên tắc đạo đức. Các thành viên trong xã hội đó ít khi đánh giá cao sự khiêm tốn và có ít tham vọng.

Với một nhóm trợ lý khác, Bond sau đó đã nghiên cứu những gì mà ông gọi là chân lý xã hội trong các niềm tin chung của 7672 sinh viên từ 41 quốc gia. Họ đạt được hai trục văn hóa, một trục gọi là tính hoài nghi văn hóa. Nó ám chỉ sự đồng tình với những phát ngôn như “Quan tâm đến những vấn đề của xã hội chỉ đem lại phiền phức cho bạn”, “Những người tốt bụng thường chịu nhiều mất mát”, “Người già thường cố chấp và thành kiến”, và “Con người sẽ ngừng làm việc sau khi họ đạt được một cuộc sống sung túc”. Nó cũng phản ánh một quan điểm cho rằng những người có quyền lực là những kẻ bóc lột ngạo mạn những cá nhân ít quyền lực hơn. Theo dữ liệu sẵn có, tính hoài nghi văn hóa mạnh nhất ở Đông Âu, Đông Á (Hàn Quốc, Đài Loan), Pakistan và Thái Lan. Nó yếu nhất ở Na Uy, Hoa Kỳ và Canada. Tính hoài nghi văn hóa liên hệ nghịch khá chặt chẽ với IVR. Điều này có thể suy ra những thành viên trong các xã hội nhiều kiềm chế và ít ham mê thường có cái nhìn hoài nghi hơn. Sự kiềm chế của xã hội không chỉ làm con người kém hạnh phúc hơn mà dường như còn khích lệ những trạng thái của chủ nghĩa tiêu cực. Tính hoài nghi chỉ là một trạng thái. Những trạng thái khác sẽ được thảo luận tiếp theo dưới đây.

Cuối cùng, Ham mê có liên quan đến những tục lệ quốc gia đối với 2 trong 5 trục ở mô hình nét tính cách Big Five: nó có quan hệ thuận với tính hướng ngoại và nghịch với tính trung lập. Bởi vì tính hướng ngoại gắn liền với tác động tích cực, trong khi tính trung lập phản ánh xu hướng trải nghiệm những cảm giác tiêu cực, cho nên phát hiện này phù hợp với bản chất của trục Ham mê và Kiềm chế. Các xã hội ham mê nhiều hơn sẽ có nhiều cá nhân hướng ngoại hơn và ít cá nhân mang tính trung lập hơn.

Ham mê và kiềm chế, sức khỏe chủ quan, chủ nghĩa lạc quan và tỉ lệ sinh

Các xã hội với điểm số cao về Ham mê có số phần trăm người được WVS mô tả sức khỏe cá nhân là “rất tốt” cao hơn. Mối liên hệ này đặc biệt cao ở các nước giàu.

Trung tâm nghiên cứu Pew là một cơ quan nghiên cứu trưng cầu ý dân đặt tại Mỹ. Cơ quan này thu thập dữ liệu từ 50 quốc gia, sử dụng chủ yếu mẫu đại diện cho quốc gia. Một trong những câu hỏi phỏng vấn trong các nghiên cứu tầm quốc gia của họ đưa ra cho người được hỏi là họ cảm thấy lạc quan đến mức nào về tương lai. Tỷ lệ những người được hỏi thể hiện thái độ lạc quan có liên quan nhiều đến số điểm ham mê. Những xã hội ham mê cao có nhiều người lạc quan hơn và ngược lại.

Bảng 8.2: Những khác biệt chính giữa xã hội cởi mở và cấm kỵ
I. Tổng chi tiêu, cảm xúc cá nhân, và sức khỏe
Cởi mở Cấm kỵ
Tỷ lệ phần trăm của người rất hạnh phúc cao hơn Tỷ lệ phần trăm của người rất hạnh phúc ít hơn
Nhận thức về kiểm soát cuộc sống cá nhân Nhận thức về kiểm soát cuộc sống cá nhân: Những gì xảy ra cho tôi không phải là do tôi
Tầm quan trọng của giải trí cao hơn Tầm quan trọng của giải trí ít hơn
Tầm quan trọng của việc có bạn bè cao hơn Tầm quan trọng của việc có bạn bè thấp
Tiết kiệm không phải là rất quan trọng Tiết kiệm là rất quan trọng
Xã hội cởi mở Xã hội ràng buộc
Nhiều khả năng nhớ những cảm xúc tích cực Ít khả năng nhớ những cảm xúc tích cực
Ít đạo đức Đạo đức được chỉ dạy
Thái độ tích cực Thái độ tiêu cực
Nhiều người hướng ngoại Nhiều người hướng nội
Tỷ lệ phần trăm của những người cảm thấy khỏe mạnh Tỷ lệ phần trăm của những người cảm thấy khỏe mạnh ít
Lạc quan cao hơn Lạc quan thấp hơn
Ở các quốc gia với dân số được giáo dục tốt: cao hơn tỷ lệ sinh Ở các quốc gia với dân số được giáo dục tốt: tỷ lệ sinh thấp
Tỷ lệ tử vong thấp hơn các bệnh tim mạch Tỷ lệ tử vong hơn các bệnh dịch

Hạnh phúc, sức khỏe mang tính chủ quan và thái độ lạc quan về tương lai, tất cả đóng vai trò nhất định đối với số lượng trẻ em sinh ra trong một xã hội.

Những bằng chứng cho mối quan hệ giữa sự giàu có, tính nữ trong văn hóa và số lượng trẻ em được công bố. Trình độ giáo dục cũng có ảnh hưởng nhất định: nhóm dân số ít giáo dục hơn thường có nhiều con hơn. Ở 28 nước giàu (những nước có GNI trên đầu người hơn 10000 USD trong năm 1999), trục ham mê đối lập với kiềm chế là nhân tố chính dự đoán tỷ lệ sinh, giải thích được nhiều hơn trình độ giáo dục và sự giàu có quốc gia. Nhóm dân số không cảm thấy hạnh phúc và khỏe mạnh không hào hứng lắm với việc có con, đặc biệt nếu họ có trình độ giáo dục điển hình của một nước phát triển kinh tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Ánh sáng hay bóng tối? – Phần II


Sự đam mê đối lập với sự kiềm chế với tư cách là một trục mang tính xã hội

Bị hấp dẫn bởi những phân tích của Inglehart thuộc WVS, Misho tự mình thực hiện những phân tích riêng. Ông khám phá ra rằng trục nghiên cứu “sự thỏa mãn đối lập với sự sinh tồn” của Inglehart có thể tách ra làm hai, không những về mặt quan điểm mà còn về mặt thống kê. Những điểm chỉ các mối quan hệ giữa các nhóm người hoặc giữa các cá nhân và các nhóm (ví dụ luận điểm đàn ông làm lãnh đạo tốt hơn hay đàn bà cần có con cái) đã hình thành nên trục giá trị mà Misho gọi là “tính phổ quát đối lập với tính riêng biệt” đã được thảo luận như một biến thể của trục chủ nghĩa cá nhân đối lập với chủ nghĩa tập thể. Những điểm ban đầu liên quan đến hạnh phúc đứng thành một nhóm riêng biệt và hình thành một trục khác. Quan sát hơn 90 nước, hai điểm WVS đặc biệt dự đoán hạnh phúc tốt hơn bất kỳ biến nghiên cứu nào trước đó.

Misho xem xét những điểm sau như là điểm cốt lõi của một trục mới. Đây là những điểm hạnh phúc được hình thành trong WVS:

1/ Hạnh phúc: % câu trả lời “Rất hạnh phúc” cho câu hỏi: “Xét toàn diện thì bạn sẽ nói bạn rất hạnh phúc, hạnh phúc, khá hạnh phúc, không hạnh phúc lắm hay không hề hạnh phúc?”

2/ Kiểm soát cuộc sống: Điểm trung bình quốc gia công bố bởi WVS cho câu hỏi sau: “Một số người cảm thấy họ hoàn toàn tự do lựa chọn cuộc sống của mình, trong khi những người khác cảm thấy họ không thực sự tác động đến những gì xảy ra với họ. Hãy sử dụng thang điểm 1 cho nghĩa “không một chút nào” và 10 cho “rất nhiều” để đo mức độ tự do lựa chọn và kiểm soát mà bạn cảm thấy về cuộc sống của mình”.

3/ Tầm quan trọng của giải trí: Phần trăm lựa chọn câu trả lời “Rất quan trọng” đối với thời gian nghỉ ngơi cho câu hỏi: “Với mỗi đối tượng sau, hãy chỉ ra tầm quan trọng của nó đối với cuộc sống của bạn ở các mức rất quan trọng, quan trọng, không quan trọng lắm, không hề quan trọng: gia đình, bạn bè, thời gian nghỉ ngơi, chính trị, công việc, tôn giáo, phục vụ người khác”.

4/ Yếu tố tương liên và dự đoán hạnh phúc ở tầm quốc gia là những yếu tố sau: Thứ nhất, nhận thức về kiểm soát cuộc sống – cảm giác mà một người cảm thấy tự do về cuộc sống của họ mà không có những ràng buộc xã hội cản trở sự tự do lựa chọn của người đó; thứ hai, tầm quan trọng của nghỉ ngơi như là một giá trị riêng. Hạnh phúc, kiểm soát cuộc sống và tầm quan trọng của nghỉ ngơi đều có mối liên quan đến nhau, và mối liên hệ giữa chúng vẫn còn bền vững trong các phong trào nghiên cứu sau đó. Do đó chúng xác định như là một trục chung bền vững.

Ngoài ba điểm mấu chốt kia, trục cũng liên kết thuận với tầm quan trọng của việc kết bạn và liên kết nghịch với việc coi tính tiết kiệm là một điểm giá trị đối với trẻ em.

Tiếp theo, một trong hai điểm đầu của trục được đặc trưng bởi nhận thức một người có thể hành động theo ý muốn của mình, tiêu tiền và nuông chiều bản thân vào những hoạt động giải trí nghỉ ngơi với bạn bè hoặc một mình. Tất cả những điểm này đều có thể dự tính ra một hạnh phúc khá cao. Mặt khác chúng ta thấy một nhận thức rằng hành động của con người bị kiềm chế bởi những tục lệ xã hội và cảm giác tận hưởng các hoạt động giải trí, tiêu dùng và các loại ham mê khác là có vẻ sai trái. Bởi những đặc tính này, Misho gọi là trục “Sự ham mê và sự kiềm chế” IVR.

Thang điểm quốc gia về trục này được liệt kê ở Bảng 8.1

 

Bảng 8.1

 

Chúng ta định nghĩa trục này như sau:

Sự ham mê đại diện cho một xu hướng cho phép tự do hài lòng với những khao khát con người tự nhiên và bản năng về mặt tận hưởng cuộc sống và vui chơi. Điểm đối lập với nó, Sự kiềm chế, phản ánh ý thức cho rằng sự hài lòng đó cần phải kiềm chế lại và đưa vào khuôn khổ bằng những thông lệ xã hội hà khắc.

Với tư cách là một đặc điểm văn hóa, cặp đối lập Sự ham mê và Sự kiềm chế để lại nhiều nghiên cứu rõ ràng, xác định những hiện tượng rất cụ thể. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng sự hài lòng với những khao khát ở mặt Ham mê chỉ sự tận hưởng cuộc sống và vui chơi, chứ không phải hài lòng với những khao khát con người chung chung.

Đây thực sự là một khía cạnh mới chưa từng được công bố trong lĩnh vực học thuật; nó xứng đáng được nghiên cứu nhiều hơn. Nó có cái gì đó tương đồng với nét khác biệt trong ngành nhân loại học ở Mỹ giữa những xã hội hà khắc và nhũng xã hội thoáng hơn. Ở những xã hội thoáng, thông lệ được biểu hiện thông qua nhiều kênh và các hành vi trái với thông lệ dễ dàng được tha thứ; những xã hội hà khắc vẫn còn duy trì những giá trị của tổ chức nhóm, lễ nghi, sự bền vững và đoàn kết. Trong các ấn phẩm đầu tiên của Geert, sự khác biệt này về mặt nhận thức gắn liền với tính Tránh né bất trắc, nhưng ông chưa thấy được những phương pháp khách quan để định lượng nó.

Trục “Ham mê và Kiềm chế” giải quyết nghịch lý của người phụ nữ Philippines tội nghiệp, những người hạnh phúc hơn các công dân giàu có của Hong Kong. Người Philippines ở Bảng 8.1 xếp hạng cao hơn về mặt Ham mê hơn Hong Kong, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với những xã hội ở Bắc Mỹ Latinh và Tây Phi. Mối liên kết giữa trục IVR và IBM được mô tả ở đây như sau: IVR thể hiện một liên kết nghịch yếu với Phân chia Quyền lực, chỉ ra một xu hướng nhỏ là các xã hội phân chia giai cấp hơn thường ít đam mê hơn. Nó không liên quan đến trục IBM khác hoặc với LTO-CVS.

 

Hình 8.1

 

Mối quan hệ giữa IVR và LTO-CVS thể hiện ở Biểu 8.1 với hai trục đi qua 90 nước phổ biến. Mối liên hệ tổng thể khá là nghịch. Không ngạc nhiên với quan điểm cho rằng sự không ủng hộ tính tằn tiện ở các xã hội nhiều ham mê là một nét đáng ao ước ở trẻ em. Tuy nhiên, sai số chung giữa LTO-CVS và IVR chỉ là 20%, ít hơn nhiều so với sai khác 35% giữa hai trục khác là PDI và IDV.

Góc phần tư của biểu đồ thể hiện một mô hình theo vùng rõ ràng. Sự kết hợp khá hiếm hoi giữa ham mê cao và định hướng dài hạn là các nhóm 9 nước thành viên EU cộng với Thụy Sĩ, Đài Loan và Singapore. Mô hình chung nhất là: ham mê cao và định hướng ngắn hạn, gồm 12 nước Mỹ Latin, 04 nước châu Phi, 04 nước Anglo bên ngoài, 5 nước Bắc Âu, 4 nước Nam Âu và 2 nước Đông Nam Á. Mô hình chung thứ hai: Kiềm chế kết hợp với định hướng lâu dài: 9 nước Đông và Nam Á, 19 nước Đông Âu và một số khác. Sự kết hợp ít hiếm hoi giữa Kiềm chế và định hướng ngắn hạn được thấy ở các nước Hồi giáo, 6 nước lục địa đen châu Phi và một số khác.

Về mặt thống kê, có mối quan hệ thuận giữa Ham mê và sự giàu có quốc gia, rõ nét nhưng hơi yếu. Sự giàu có quốc gia giải thích 10% những khác biệt quốc gia về mặt Ham mê. Sự kiềm chế có nét gì đó đi liền với nghèo đói, điều này cũng có ý nghĩa riêng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.