Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần III


Đoạn mở đầu lá thư mà nhà du hành người Ba Tư “Rica” gửi cho người bạn “Ibben” của ông từ Paris năm “1712” sẽ cung cấp cho chúng ta một sự tương phản đáng chú ý.

Giáo hoàng là nhà lãnh đạo tối cao của tín đồ Thiên chúa; ngài là thần tượng từ thời cổ đại mà ngày nay người ta vẫn quen tôn thờ. Ngài từng là nỗi sợ hãi với ngay cả các thái tử, bởi ngài thường phế truất họ dễ dàng, giống như các Quốc vương Hồi giáo (sultan) vĩ đại của chúng ta từng phế truất vua của Iremetia hoặc Georgia. Nhưng giờ đây không ai còn sợ ngài nữa. Ngài xưng ngài là người nối nghiệp một rtong những tín đồ Thiên chúa đầu tiên, thánh Peter, và đó dĩ nhiên là sự kế thừa giàu có, bởi người được sở hữu của cải vô tận và cai quản một đất nước vĩ đại.

Những bịa tạo có chủ ý và phức tạp của tín đồ Công giáo thế kỷ XVIII này [Montesquieu – ND] phản ánh chủ nghĩa hiện thực chất phác của vị tiền bối thế kỷ XIII của ông, nhưng giờ đây quá trình “tương đối hóa” và “lãnh thổ hóa” lại hoàn toàn tự giác và có chủ đích chính trị. Khi Ayatollah Ruhollah Khomeini đồng nhất Đại Sa tăng không phải với một dị giáo, cũng không phải với một nhân vật bị quỷ ám (Carter mờ nhạt nhỏ bé không phù hợp với vai diễn này), mà là với một dân tộc, liệu ta có thể coi đây là một phát triển nghịch lý truyền thống đang diễn tiến này?

Thứ hai là sự suy tàn dần của bản thân các ngôn ngữ thiêng. Viết về Tây Âu thời Trung cổ, Bloch nhận thấy “tiếng Latin không chỉ là ngôn ngữ để dạy học, nó còn là ngôn ngữ duy nhất được truyền dạy”. (Chữ “duy nhất” cho thấy rõ tính thiêng liêng của tiếng Latin – không một ngôn ngữ nào khác được coi là đáng truyền dạy). Nhưng vào thế kỷ XVI tất cả điều này đã thay đổi một cách nhanh chóng. Ở đây chúng ta chưa cần phải giải thích chi tiết lý do dẫn tới sự thay đổi này: vai trò trung tâm của chủ nghĩa tư bản in ấn sẽ được thảo luận dưới đây. Chúng ta chỉ cần nhớ đến quy mô và tốc độ của nó. Theo ước tính của Febvre và Martin, 77% số sách được in ra trước năm 1500 vẫn bằng tiếng Latin (nghĩa là chỉ 23% được in bằng phương ngữ). Nếu như trong 88 đầu sách xuất bản ở Paris năm 1501 có tới 80 cuốn in bằng tiếng Latin, thì sau 1575 phần lớn sách được in bằng tiếng Pháp. Tuy có sự khôi phục tạm thời trong thời kỳ Chống Cải cách, song vị thế bá chủ của tiếng Latin đã mất. Chúng ta cũng không chỉ nói đến một sự phổ biến chung chung. Có phần muộn hơn, nhưng với tốc độ không kém chóng mặt, tiếng Latin đã đánh mất vị thế ngôn ngữ của tầng lớp trí thức thượng lưu trên toàn châu Âu. Trong thế kỷ XVII Hobbes (1588 – 1678) là một nhân vật danh tiếng của châu Âu đại lục bởi ông đã viết bằng thứ ngôn ngữ chân lý này. Còn Shakespeare (1564 – 1616), sáng tác bằng phương ngữ, lại hầu như không được biết đến ở bên kia eo biển Anh. Hai trăm năm sau, nếu tiếng Anh không trở thành một ngôn ngữ đế chế vượt trội của thế giới thì có lẽ ông vẫn vô danh trên hòn đảo quê hương mình. Trong khi Descartes (1596 – 1650) và Pascal (1623 – 1662), hai người ở bên kia eo biển Anh gần nhưc ùng thời với những nhân vật này, đã thư từ chủ yếu bằng tiếng Latin thì hầu như toàn bộ thư từ của Voltaire (1694 – 1778) lại viết bằng phương ngữ. “Sau năm 1640, khi sách in bằng tiếng Latin ngày càng ít đi, sách in bằng phương ngữ ngày một nhiều hơn, thì xuất bản không còn là một ngành kinh doanh mang tính quốc tế [nguyên văn] nữa”. Tóm lại, sự suy tàn của tiếng Latin tiêu biểu cho một tiến trình lớn hơn, trong đó các cộng đồng thiêng được gắn kết bằng những ngôn ngữ cổ linh thiêng dần dần bị phân mảnh, đa nguyên hóa và lãnh thổ hóa.

Ta cũng cần nhớ rằng những nhà nước quân chủ cổ xưa này đã mở rộng không chỉ bằng chiến tranh mà còn bằng chính trị tình dục – một kiểu chính trị khác hẳn với ngày nay. Nhờ nguyên lý thẳng đứng phổ biến này, những cuộc hôn nhân của vương quyền đã gắn kết các cư dân phồn tạp dưới những đỉnh chóp mới. Ở khía cạnh này Nhà Habsburg là một trường hợp điển hình, đúng như một phát ngôn về nó, Hãy để kẻ khác gây chiến, còn ngươi, nước Áo hạnh phúc, hãy cưới nhau đi! (Bella gerant alii, tu felix Austria, nube). Trong một hình thức có phần vắn tắt, đây chính là tước vị của những ông vua Nhà Habsburg sau này.

Hoàng đế Áo; Vua Hungary, Bohemia, Dalmatia, Croatia, Slavonia, Galicia, Lodomeria và Illyria; Vua Jerusalem… Thái tử Áo [nguyên văn]; Đại công tước Tuscany và Cracow; công tước Lotharingia, Slazburg, Styria, Carinthia, Carniola và Bukovina; Đại công tước Transylvania, Bá tước Moravia, công tước vùng Thượng và Hạ Silesia, công tước Modena, Parma, Placenza và Guastella, Auschwitz và Sator, Teschen, Friaull, Raguas và Zara; bá tước Harburg và Tyrol, Hyburg, Gӧrz và Gradiska; công tước Trient và Brizen; bá tước vùng Thượng và Hạ Lausitz, bá tước Istria; bá tước Hohenembs, Feldkirch, Bregenz, Sonnenberg…; huân tước Trieste, huân tước Cattaro và Windisch Mark; đại thống lĩnh của Voyvodina, Servia…

Như Jászi đã chỉ ra một cách chính xác, các tước vị “không phải không có một khía cạnh khôi hài nào đó… chúng là chứng tích của vô số những cuộc hôn nhân, những vụ mặc cả và tước đoạt của Nhà Habsburg”.

Trong những vương quốc chấp nhận về mặt tôn giáo tình trạng đa thê, các hệ thống thê thiếp thứ bậc và phức tạp có vai trò rất quan trọng đối với sự thống nhất của vương quốc. Trên thực tế, phải chăng uy thế của huyết thống hoàng tộc, ngoài nguồn gốc thần thánh, còn thường bắt nguồn từ hôn nhân dị tộc (miscegenation)? Bởi lẽ những cuộc hôn phối này là dấu hiệu cho thấy địa vị chí tôn. Việc không có một vương triều “Anh” nào thống trị ở London thế kỷ XI (giả sử trước đó từng có) chính là một ví dụ tiêu biểu cho điều này; vậy thì đâu là “dân tộc” (nationality) mà chúng ta quy cho Nhà Bourbons?

Tuy nhiên trong thế kỷ XVII – vì những lý do mà chúng ta không cần nêu ra ở đây – tính hợp thức mặc nhiên của chế độ quân chủ linh thiêng bắt đầu suy tàn dần ở Tây Âu. Năm 1649, Charles Stuart bị chém đầu trong cuộc cách mạng đầu tiên của thế giới hiện đại; trong những năm 1650, một trong những nhà nước châu Âu quan trọng được cai trị bởi một vị quan Bảo hộ xuất thân bình dân, không phải bởi một ông vua. Song ngay trong thời đại của Pope và Addison, Anne Stuart vẫn chữa bệnh bằng cách đặt tay hoàng tộc lên bệnh nhân; cách chữa này cũng được Louis XV và Louis XVI của Nhà Bourbon tiến hành ở nước Pháp Khai sáng cho đến cuối thời quân chủ (ancien régime). Nhưng sau năm 1789, nguyên lý Hợp thức cần phải được bảo vệ một cách nhiệt thành và tự giác, và trong quá trình này, “chế độ quân chủ” trở thành một mô hình bán chuẩn. Thiên hoàng và Thiên tử trở thành những “hoàng đế”. Ở nước Xiêm xa xôi, Rama V (Chulalongkorn) đã gửi con cháu của mình sang triều đình St. Petersburg, London và Berlin nhằm học hỏi cơ chế phức tạp của mô hình thế giới này. Năm 1887, ngài thiết lập nguyên tắc con trai trưởng thừa kế về mặt pháp lý, nhờ đó đưa nước Xiêm “ngang hàng với các nền quân chủ “văn minh” của châu Âu”. Năm 1910 hệ thống mới này đã đem đến cho ngai vàng một ông vua đồng tính dị thường, người chắc chắn sẽ bị gạt đi trong thời đại trước đó. Tuy nhiên các nước quân chủ vẫn chấp nhận ông lên ngôi trở thành vua Rama VI, thể hiện qua sự tham dự của các thái tử Anh, Nga, Hy Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch, thậm chí cả Nhật Bản vào lễ tấn phong của ông.

Đến tận năm 1914, các nhà nước vương triều vẫn chiếm phần đa trong hệ thống chính trị thế giới, nhưng như chúng tôi sẽ chỉ ra cụ thể dưới đây, ở một số thời điểm nhiều vị vua đã có được dấu ấn “dân tộc” ngay khi nguyên lý Hợp thức cũ đang âm thần suy tàn. Trong khi quân đội của Frederick Đại đế (trị vì từ 1740 đến 1786) vẫn còn tràn ngập những “người ngoại quốc” thì quân đội người cháu vĩ đại của ông, Frederick Wilhelm III (trị vì từ 1797 đến 1840), nhờ những cải cách ngoạn mục của Scharnhorst, Gnei-senau và Clausewitz, lại chỉ toàn “quốc dân Phổ”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.

Advertisements

Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần II


Tuy nhiên các cộng đồng lâu đời được gắn kết nhau nhờ những ngôn ngữ thiêng như vậy đều có một đặc trưng phân biệt với cộng đồng tưởng tượng của các quốc gia hiện đại. Một khác biệt chính yếu đó là sự tin tưởng mạnh mẽ của các cộng đồng cổ xưa này vào tính thiêng liêng độc nhất của ngôn ngữ mà chúng sở hữu. Niềm tin này đã tạo nên những quan niệm của chúng trong việc chấp nhận tư cách thành viên. Quan lại Trung Hoa coi trọng những người man di ra sức học viết các kí tự Trung Quốc. Những người man di này đã được tiếp thu [văn minh] một cách vừa phải. Tình trạng bán khai vẫn hơn hẳn dã man. Một thái độ như vậy chắc chắn không riêng gì người Trung Hoa cũng không chỉ giới hạn ở thời cổ. Chẳng hạn hãy xem “chính sách về người man di” được nhà khai phóng người Colombia đầu thế kỷ XIX Pedro Fermin de Vargas phát biểu dưới đây:

“Để mở rộng nền nông nghiệp cần phải Tây Ban Nha hóa những người Anh-điêng của chúng ta. Sự lười biếng, ngu dốt và thái độ thờ ơ trước những nỗ lực bình thường khiến ta nghĩ rằng họ đến từ một chủng tộc sa sút, đã thoái hóa rất nhiều so với nguồn gốc của mình… Mong rằng những người Anh-điêng sẽ bị diệt trừ bằng cách cho hôn phối với người da trắng, tuyên bố họ không phải cống nạp, không phải chịu những nghĩa vụ khác và trao họ quyền tư hữu đất đai”.

Điều đáng chú ý là nhà khai phóng này vẫn đề nghị “diệt trừ” một bộ phận người Anh-điêng của ông bằng cách “tuyên bố họ không phải cống nạp” và “trao họ quyền tư hữu đất đai” hơn là hủy diệt họ bằng súng và vi trùng như những người kế thừa ông đã làm tại Brazil, Argentina và Mỹ sau đó không lâu. Ta cũng nhận thấy cùng với sự tàn nhẫn chiếu cố là một chủ nghĩa lạc quan phổ quát: rốt cuộc ngời Anh-điêng có thể được cứu chuộc, bằng cách cho thụ tinh bằng tinh dịch “văn minh” của người da trắng và chiếm dụng tài sản riêng, giống như tất cả những người khác. (Thái độ của Fermin thật khác với các nhà đế quốc châu Âu sau này: ưu ái người Malay, Gurkha và Hausa “thuần gốc” hơn “người lai”, “dân bản xứ bán khai”, “nhà Âu hóa và những khái niệm tương tự).

Tuy nhiên, nếu những ngôn ngữ thiêng trầm mặc là phương tiện để tưởng tượng nên các cộng đồng lớn của thế giới trong quá  khứ, thì thực tế cả những tưởng tượng như vậy lại phụ thuộc vào một quan niệm chủ yếu xa lạ với tư duy phương Tây hiện đại: tính phi võ đoán của các ký hiệu. Những ký tự trong tiếng Hán, tiếng Latin hay Arab là những sản phẩm bắt nguồn từ thực tế, không phải là những biểu trưng của hiện thực được bịa tạo một cách ngẫu nhiên. Chúng ta đều biết rõ cuộc tranh luận lâu dài nhằm xác định ngôn ngữ phù hợp (tiếng Latin hoặc phương ngữ) với quần chúng. Trong truyền thống Hồi giáo, mãi đến gần đây kinh Koran vẫn không thể trực dịch (và do đó không được dịch), bởi lẽ chân lý của Allah chỉ có thể tiếp cận thông qua những ký hiệu đích thực không thể thay thế của tiếng Arab văn bản. Ở đây không hề có ý niệm về một thế giới tách biệt khỏi ngôn ngữ đến mức tất cả các ngôn ngữ đều là những ký hiệu tương đương (và vì vậy có thể thay thế nhau) của nó. Trong thực tế, thực tiễn bản thể luận chỉ có thể lĩnh hội thông qua một hệ thống biểu trưng đơn nhất được trao đặcq uyền: ngôn ngữ chân lý của tiếng Latin nhà thờ, của tiếng Arab trong kinh Koran hoặc của tiếng Hán dùng trong khoa cử. Là các ngôn ngữ chân lý, chúng mang một xung lực chủ yếu xa lạ với chủ nghĩa dân tộc, xung lực dẫn tới sự cải đạo. Tôi dùng khái niệm cải đạo không phải để chỉ việc chấp nhận những nguyên lý tôn giáo đặc thù mà là việc hấp thu mang tính giả kim. Man di thành “Trung Hoa”, người Rif thành người Hồi giáo, người Ilongo thành tín đồ Thiên chúa giáo. Dễ biến đổi theo những nghi lễ linh thiêng là bản chất tồn tại của con người. (Bởi vậy hãy thử đối sánh uy thế của những ngôn ngữ cổ có tính thế giới này – thành thứ tiếng có địa vị cao hơn hẳn tất cả các phương ngữ – với tiếng Esperanto hoặc tiếng Volapük bị bỏ quên giữa chúng). Rốt cuộc, chính khả năng cải đạo thông qua những ngôn ngữ thiêng này đã tạo điều kiện cho một “người Anh” trở thành Giáo hoàng và “người Mãn Châu” trở thành Thiên tử.

Thế nhưng dù các ngôn ngữ thiêng có thể khiến cho những cộng đồng như Thiên chúa giáo được tưởng tượng nên, thì phạm vi thực tế và tính hữu lý của những cộng đồng này lại không thể giải thích chỉ bằng các văn tự thiêng: rốt cuộc người đọc của chúng chỉ là thiểu số những người có học vượt lên trên biển người mù chữ. Một giải thích trọn vẹn hơn đòi hỏi phải xem xét qua mối quan hệ giữa giới trí thức và các xã hội của họ. Sẽ sai lầm nếu nhìn trí thức như một kiểu kĩ trị thần học. Những ngôn ngữ mà họ duy trì tuy khó hiểu song lại không hề có sự khó hiểu đóng kín, hầu như nằm ngoài những quan niệm của xã hội về thực tiễn như thuật ngữ của luật gia hay các nhà kinh tế học. Đúng hơn giới trí thức là đội ngũ tài năng, là tầng lớp chiến lược trong một trật tự vũ trụ mà đỉnh chóp là thần thánh. Những khái niệm căn bản về “nhóm xã hội” mang tính hướng tâm và tôn ty hơn là hướng biên hoặc nằm ngang. Quyền uy lạ thường của chức Giáo hoàng khi đạt đến đỉnh điểm chỉ có thể hiểu được trong quan hệ với một đội ngũ trí thức viết chữ Latin xuyên châu Âu một quan niệm về thế giới mà mọi người hầu như đều chia sẻ, rằng giới trí thức song ngữ, thông qua việc thương thỏa giữa phương ngữ và tiếng Latin, đã làm trung gian giữa mặt đất và thiên đường (nỗi sợ bị rút phép thông công phản ánh vũ trụ luận này).

Tuy nhiên, bất chấp uy thế và sức mạnh của những cộng đồng tưởng tượng lớn có tính tôn giáo này, sự gắn kết không tự giác của chúng lại suy yếu dần sau giai đoạn Trung cổ hậu kỳ. Có nhiều lý do dẫn tới sự suy tàn này, song ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh hai lý do liên quan trực tiếp đến tính linh thiêng độc nhất của những cộng đồng này.

Trước hết là tác động của những cuộc thám hiểm khám phá thế giới ngoài châu Âu. Tác động này – tuy không chỉ giới hạn ở châu Âu nhưng chủ yếu vẫn diễn ra ở châu Âu – “đã đột ngột mở rộng các chân trời văn hóa và địa lý, từ đó mở rộng quan niệm của con người về các dạng thức khả dĩ của đời sống nhân loại”. Quá trình này đã được thể hiện rõ trong các cuốn du ký vĩ đại nhất của người châu Âu. Hãy xem mô tả đầy kính sợ sau về Hốt Tất Liệt của Marco Polo, một người Thiên chúa xuất sắc ở Venice cuối thế kỷ XIII:

“Đại Hãn, sau khi giành được thắng lợi vang dội này, đã ca khúc khải hoàn trở về kinh thành Kanbalu. Sự kiện này diễn ra vào tháng mười một, ngài tiếp tục ở đó trong suốt tháng hai và tháng ba, mà tháng ba chính là lễ Phục sinh của chúng ta. Biết đây là một trong những nghi lễ trọng đại của chúng ta, ngài đã lệnh cho tất cả Ki-tô hữu đến trình diện ngài và mang theo Thánh thư của họ, cuốn sách chứa đựng bốn Tin mừng của các tác giả Phúc âm. Sau khi liên tục xức hương trầm lên Thánh thư bằng một cung cách kính trọng, Đại Hãn cung kính hôn nó rồi lệnh cho tất cả các quý tộc của ngài đang có mặt cũng làm tương tự. Đây là một nghi thức thường thấy ở ngài vào những dịp lễ lớn của người Thiên chúa, chẳng hạn Lễ phục sinh và Giáng sinh; và ngài cũng làm như thế trong những lễ tiết của người Arab, người Do Thái và các tín đồ Phật giáo. Khi được hỏi về động cơ của hành động này, ngài nói: “Có bốn nhà Tiên tri vĩ đại được những tầng lớp khác nhau của loài người sùng kính và thờ phụng. Người Thiên chúa coi Jesus Christ là đấng tối cao; người Arab là Mohamet; người Do Thái là Moses, còn các tín đồ Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni, người xuất chúng nhất trong số những thần tượng của họ. Ta tôn trọng và kính phục cả bốn vị, và đều nguyện cầu được phù trợ cho bất cứ ai trong họ thực sự có được địa vị tối cao trên thượng giới”. Song nhìn từ cung cách kính cẩn của ngài dành cho họ, ta thấy rõ rằng ngài coi đức tin của các Ki-tô hữu là đúng đắn và tốt đẹp nhất…”

Điều đáng chú ý ở đoạn văn này không phải là thuyết tương đối tôn giáo điềm tĩnh của vị đại đế Mông Cổ (nó vẫn là một thuyết tương đối tôn giáo) mà là thái độ và ngôn ngữ của Marco Polo. Dù đang viết cho các tín hữu Ki-tô châu Âu, nhưng Marco Polo không hề nghĩ đến chuyện gọi Hốt Tất Liệt là một nhà đạo đức giả hay một kẻ sùng tín. (Rõ ràng một phần nguyên do là bởi “xét về số lượng thần dân, phạm vi lãnh thổ, tổng lượng lợi tức, ngài đã vượt qua tất cả các vị quân vương từ trước tới nay trên thế giới”). Hơn nữa, qua việc sử dụng một cách vô thức cụm từ “của chúng ta” (sau đó chuyển thành “của họ”) và mô tả đức tin của người Thiên chúa là “đúng đắn nhất” chứ không chỉ “đúng đắn”, chúng ta có thể nhận thấy những mầm mống của một quá trình lãnh thổ hóa các đức tin, báo hiệu ngôn ngữ của nhiều nhà dân tộc chủ nghĩa (dân tộc “chúng ta” là “tốt đẹp nhất” – trong một lĩnh vực cạnh tranh và có thể đối sánh nào đó).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.

Cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc – Phần I


Không biểu tượng nào của nền văn hóa dân tộc chủ nghĩa thời hiện đại lại gây chú ý như đài tưởng niệm và mộ Những người lính vô danh. Những công trình tưởng niệm này nhận được sự tôn kính lễ nghi của công chúng bởi chúng trống rỗng một cách có chủ ý hoặc bởi không ai biết rõ những người đang yên nghỉ bên trong. Điều này không có những tiền lệ thực sự trong quá khứ. Để cảm nhận được sức mạnh của tính hiện đại này, ta chỉ cần hình dung phản ứng chung của mọi người đối với những kẻ hiểu sự đã “phát hiện” ra tên tuổi Những người lính vô danh hoặc chỉ muốn cho các bộ hài cốt thật vào những đài tưởng niệm này. Một hình thức báng bổ xa lạ của thời hiện đại! Tuy nhiên dù những nấm mộ này không có các bộ hài cốt khả dĩ nhận diện hay những linh hồn bất tử, chúng lại thấm đẫm những tưởng tượng dân tộc đầy ma mị. (Điều này giải thích tại sao rất nhiều quốc gia khác nhau tuy có những những nấm mộ như vậy nhưng lại không cảm thấy cần xác định tư cách dân tộc cho những linh hồn vắng mặt. Ngoài người Đức, người Mỹ, người Argentina… họ còn có thể thuộc về dân tộc nào…?)

Ý nghĩa văn hóa của những công trình tưởng niệm như vậy còn trở nên rõ rệt hơn nếu ta thử hình dung, chẳng hạn. Mộ những nhà Marxist vô danh hoặc đài tưởng niệm những Nhà tự do chủ nghĩa đã ngã xuống. Liệu ta có tránh khỏi một cảm giác về sự vô lý? Bởi lẽ cả chủ nghĩa nghĩa Marx lẫn chủ nghĩa Tự do đều không bận tâm nhiều đến cái chết và sự bất tử. Nếu tưởng tượng dân tộc chủ nghĩa có bận tâm thì điều này cho thấy một sự tương đồng rõ rệt với những tưởng tượng tôn giáo. Do sự tương đồng này không hề ngẫu nhiên nên sẽ hữu ích nếu ta xuất phát từ cái chết – chung cục của mọi định (fatalities) – để xem xét những cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc.

Nếu như cách đến với cái chết của một con người có vẻ thường ngẫu nhiên thì cái chết của anh ta lại là điều không thể tránh khỏi. Đời sống con người đầy những kết hợp như thế giữa tính tất yếu và sự tình cờ. Tất cả chúng ta đều ý thức được tính ngẫu nhiên và tính không thể tránh khỏi của đặc điểm di truyền riêng của chúng ta, giới tính chúng ta, thời đại chúng ta sống, các khả năng cơ thể, tiếng mẹ đẻ của chúng ta… Đóng góp to lớn của các thế giới quan tôn giáo truyền thống (hiển nhiên phải phân biệt với vai trò của chúng trong quá trình hợp thức hóa những hệ thống cai trị và bóc lột cụ thể) là mối bận tâm của chúng tới con người trong vũ trụ, con người với tư cách chủng loài đang hiện hữu, và tới tính ngẫu nhiên của đời sống. Sự tồn tại lạ thường hàng ngàn năm của Phật giáo, Thiên chúa giáo hay Hồi giáo trong nhiều dạng thức xã hội khác nhau đã chứng thực cho khả năng hồi đáp tưởng tượng của chúng trước bao gánh nặng gây ra bởi những đau khổ của con người – bệnh tật, tàn phế, buồn đau, tuổi tác và cái chết. Tại sao tôi sinh ra mù lòa? Tại sao người bạn thân nhất của tôi bị bại liệt? Tại sao con tôi lại thiểu năng? Các tôn giáo nỗ lực lý giải. Nhược điểm lớn nhất của tất cả các dạng thức tư tưởng tiến hóa luận/tiến bộ chủ nghĩa, không loại trừ chủ nghĩa Marx, là những câu hỏi như thế được trả lời bằng sự im lặng không thể chấp nhận được. Đồng thời bằng các giải pháp khác nhau, tư tưởng tôn giáo cũng hồi đáp những dự cảm mơ hồ về sự bất tử, thường bằng cách biến định mệnh (fanility) thành tính tiếp diễn (nghiệp báo, tội tổ tông…). Bằng cách này tôn giáo quan tâm tới mối liên hệ giữa người đã khuất và kẻ sắp chào đời, tới sự huyền bí của tái sinh. Ai từng mang thai và sinh con mà không lờ mờ nhận thấy sự liên đới, ngẫu nhiên và định mệnh kết hợp nhau nhờ ngôn ngữ của “tính tiếp diễn”? (Một lần nữa hạn chế của tư tưởng tiến hóa luận/tiến bộ chủ nghĩa là sự thù địch gần như theo kiểu Heraclitus trước bất cứ quan điểm nào về tính tiếp diễn).

Tôi đưa ra những quan sát có lẽ còn sơ giản này trước hết bởi vì ở Châu Âu thế kỷ XVIII không chỉ đánh dấu buổi bình minh của kỷ nguyên chủ nghĩa dân tộc mà còn đánh dấu thời điểm tàn suy của những mô hình tư tưởng tôn giáo. Thế kỷ của Khai sáng, của chủ nghĩa thế tục duy lý, đã mang đến bóng tối hiện đại của chính nó. Tuy đức tin tôn giáo bị giảm sút, song những đau khổ mà đức tin góp phần tạo nên thì không hề mất đi. Sự giải thể của thiên đường: không gì khiến định mệnh còn trở nên ngẫu nhiên. Sự vô nghĩa của cứu rỗi: không gì khiến người ta còn cần đến một dạng thức tiếp diễn khác. Vì vậy cần phải có một chuyển biến thế tục: định mệnh thành tiếp diễn, ngẫu nhiên thành ý nghĩa. Như chúng ta sẽ thấy, hầu như không gì phù hợp với chung cuộc này hơn một quan niệm về dân tộc. Nếu như các quốc gia – dân tộc (nation-state) được thừa nhận rộng rãi là “mới” và “có tính lịch sử” thì các dân tộc mà chúng cấp cho những biểu đạt chính trị luôn hiện ra từ một quá khứ xa xưa, và quan trọng hơn, trượt vào một tương lai vô hạn. Đó chính là ma lực của chủ nghĩa dân tộc, biến ngẫu nhiên thành số mệnh. Chúng ta có thể nói như Depray rằng “vâng, thật tình cờ khi tôi sinh ra là người Pháp; song rốt cuộc, nước Pháp mới là bất diệt”.

Tất nhiên tôi không khẳng định rằng sự xuất hiện của chủ nghĩa dân tộc vào cuối thế kỷ XVIII được “tạo nên” nhờ sự xói mòn những niềm tin tôn giáo, cũng không cho rằng bản thân sự xói mòn này không đòi hỏi một diễn giải phức tạp. Tôi cũng không giả định về mặt lịch sử của chủ nghĩa dân tộc đã tìm cách “thay thế” tôn giáo. Tôi cho rằng cần phải hiểu chủ nghĩa dân tộc bằng cách đặt nó trong mối liên hệ với các hệ thống văn hóa quy mô xuất hiện trước đó (không phải với các ý thức hệ chính trị được duy trì một cách tự giác) mà nhờ có chúng – cũng như chống lại chúng – chủ nghĩa dân tộc mới tồn tại được.

Hai hệ thống văn hóa có liên quan đến mục đích thảo luận hiện tại của chúng ta là cộng đồng tôn giáovương triều. Sở dĩ như thế là vì hai hệ thống này, trong thời hoàng kim của chúng, là những khung tham chiếu đương nhiên, rất giống với dân tộc (nationality) ngày nay. Bởi vậy, điều quan trọng là phải xem xét điều gì đã đem đến cho những hệ thống văn hóa này tính hợp thức mặc nhiên của chúng, đồng thời cũng chỉ ra những yếu tố cơ bản dẫn đến quá trình chúng giải thể.

Cộng đồng tôn giáo

Không gì ấn tượng hơn phạm vi lãnh thổ rộng lớn của cộng đồng Hồi giáo từ Morocco đến Quần đảo Sulu, của người Thiên chúa giáo từ Paraguay đến Nhật Bản và thế giới Phật giáo từ Sri Lanka đến bán đảo Triều Tiên. Những nền văn hóa thiêng vĩ đại (do mục đích thảo luận của chúng ta ở đây, có thể chấp nhận cả “Nho giáo”) đều bao hàm các khái niệm về những cộng đồng rộng lớn. Tuy nhiên sở dĩ cộng đồng Thiên chúa, cộng đồng Hồi giáo và thậm chí cả Trung Quốc (tuy ngày nay chúng ta coi Trung Quốc là Trung Hoa, nhưng quá khứ nó hình dung mình không phải là Trung Hoa mà là trung tâm) có thể được tưởng tượng nên chủ yếu là nhờ vai trò trung gian của các ngôn ngữ thiêng và hệ thống chữ viết. Chỉ cần lấy một ví dụ về đạo Hồi: nếu người Maguindanao gặp người Berber ở Mecca, không hề biết ngôn ngữ của nhau, không thể giao tiếp bằng lời, nhưng họ vẫn hiểu được các ký tự của nhau, bởi lẽ các thánh thư mà họ dùng chung chỉ tồn tại trong tiếng Arab cổ điển. Trong ý nghĩa này, tiếng Arab văn bản vận hành giống như các ký tự Hán văn nhằm tạo nên một cộng đồng bằng ký hiệu, không phải bằng âm thanh. (Bởi vậy ngày nay ngôn ngữ toán vẫn tiếp tục truyền thống cũ. Người Rumania không biết âm đọc mà người Thái dùng để gọi dấu + và ngược lại, song cả hai đều hiểu được ký hiệu này). Tất cả các cộng đồng lớn và lâu đời đều coi mình là trung tâm vũ trụ, thông qua vai trò trung gian của một ngôn ngữ thiêng có can hệ tới một trật tự quyền lực siêu nhiên nào đấy. Do đó phạm vi mở rộng của tiếng Latin, tiếng Pali, tiếng Arab hay tiếng Hán, về mặt lý thuyết, đều không bị giới hạn. (Trên thực tế ngôn ngữ viết càng trở thành từ ngữ – tức càng tách ra khỏi lời nói – thì càng tốt: về mặt nguyên tắc bất cứ ai cũng có thể tiếp cận một thế giới ký hiệu thuần túy).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng – LHNB 2019.

Cộng đồng tưởng tượng – Phần cuối


Khái niệm và định nghĩa

Trước khi giải quyết vấn đề đặt ra trên đây, có lẽ chúng ta nên xem xét qua khái niệm “dân tộc” và đưa ra một định nghĩa khả thi. Các lý thuyết gia chủ nghĩa dân tộc thường lúng túng, nếu không muốn nói bực tức, trước ba nghịch lý này: (1) Tính hiện đại khách quan của dân tộc trong mắt các sử gia đối lập với tính cổ xưa chủ quan của chúng trong mắt các nhà dân tộc chủ nghĩa. (2) Sự phổ biến về mặt hình thức của dân tộc tính (nationality) như là một khái niệm xã hội hóa văn hóa – trong một thế giới hiện đại mà mỗi người đều có thể, và cần phải, mang một quốc tịch (nationality) như anh ta hay cô ta “mang” một giới tính – đối lập với tính đặc thù cố hữu trong những biểu hiện cụ thể của nó, chẳng hạn theo định nghĩa, dân tộc (nationality) “Hy Lạp” là một tồn tại độc nhất. (3) Quyền lực “chính trị” của các chủ nghĩa dân tộc đối lập với sự nghèo nàn, thậm chí thiếu thống nhất về mặt triết học của chúng. Nói cách khác, không giống như phần đa các chủ nghĩa khác, chủ nghĩa dân tộc chưa bao giờ sản sinh ra những tư tưởng gia vĩ đại của nó: không Hobbes, không Tocqueville, không Marx hay Weber. Sự “trống rỗng” này dễ dàng làm nảy sinh, trong các trí thức theo chủ nghĩa thế giới và trí thức đa ngữ, một sự coi nhẹ nhất định. Giống như Gertrude Stein khi gặp lại Oakland, người ta có thể nhanh chóng kết luận rằng “chẳng còn gì ở đó”. Điều này khiến ngay cả một chuyên gia về chủ nghĩa dân tộc đầy đồng cảm như Tom Nairn cũng viết rằng: ““Chủ nghĩa dân tộc” là thứ bệnh lý của lịch sử phát triển thời hiện địa, không thể thoát khỏi nó giống như không thể thoát khỏi chứng “loạn thần kinh” ở mỗi cá nhân, với cùng một đặc tính mờ nhòe bản chất đi kèm, một khả năng cố hữu giống nhau trong việc suy thoái thành chứng mất trí, bắt nguồn từ trong những nan giải bất lực ập tới hầu khắp thế giới (tương đương với bệnh ấu trĩ của các xã hội), và gần như vô phương cứu chữa”.

Một phần khó khăn nằm ở chỗ trong vô thức người ta có xu hướng hiện thực hóa sự tồn tại của khái niệm Chủ nghĩa dân tộc (tương tự việc hiện thực hóa sự tồn tại của khái niệm Tuổi), rồi phân loại “nó” thành một ý thức hệ. (Lưu ý rằng nếu như ai cũng có một độ tuổi, thì Tuổi chỉ là một cách biểu đạt để phân tích). Tôi nghĩ sẽ dễ dàng hơn nếu ta coi chủ nghĩa dân tộc tương đồng với “dân tộc” và “tôn giáo” hơn là với “chủ nghĩa tự do” hay “chủ nghĩa Phát xít”.

Trong một tinh thần nhân học, tôi đề xuất định nghĩa sau về dân tộc: dân tộc là một cộng đồng chính trị tưởng tượng – được tưởng tượng có giới hạn và chủ quyền một cách cố hữu.

Nó được tưởng tượng nên bởi lẽ các thành viên của ngay cả những dân tộc nhỏ nhất cũng không bao giờ biết hết đồng bào của mình, gặp họ hay thậm chí nghe nói về họ, nhưng trong ý thức mỗi người vẫn duy trì một hình ảnh về cộng đồng mình. Renan từng đề cập tới hành vi tưởng tượng này bằng một lối châm biếm khéo léo khi ông viết rằng “Thế mà bản chất một dân tộc là mọi cá nhân đều có rất nhiều điểm chung, đồng thời họ cũng thường quên đi nhiều điều” [tiếng Pháp trong nguyên văn – ND]. Dù có phần cực đoan, nhưng Gellner đã đưa ra một luận điểm gần gũi khi ông cho rằng “Chủ nghĩa dân tộc không phải là sự thức tỉnh ý thức tự giác của các dân tộc: nó sáng tạo ra các dân tộc tại những nơi mà chúng không tồn tại”. Tuy nhiên hạn chế của lập luận này nằm ở chỗ, do quá nóng lòng chứng minh sự giả trang ngụy tạo của chủ nghĩa dân tộc, Gellner đã đồng nhất “sáng tạo” (invention) với “bịa tạo” (fabrication) và “ngụy tạo” (falsity) hơn là với “tưởng tượng” (imagining) và “chế tạo” (creation). Theo cách này ông ám chỉ rằng vẫn tồn tại những cộng đồng “thực sự” nếu so sánh với các dân tộc. Tuy nhiên trên thực tế, tất cả những cộng đồng có quy mô lớn hơn các làng mạc nguyên thủy có tiếp xúc trực tiếp (và có lẽ ngay cả những làng mạc này) đều được tưởng tượng nên. Các cộng đồng được khu biệt nhau không phải bởi tính ngụy tạo/chân thực của chúng mà bởi cách thức mà chúng được tưởng tượng. Dân làng ở Java luôn hiểu rằng họ có mối liên hệ với những cư dân mà họ chưa bao giờ gặp mặt, nhưng mối ràng buộc này lại được tưởng tượng một cách đặc thù trong quá khứ – trong tư cách những mạng lưới thân tộc và bảo trợ (clientship) có thể mở rộng không giới hạn. Mãi đến tận gần đây, tiếng Java vẫn không có từ nào trỏ khái niệm trừu tượng “xã hội”. Ngày nay chúng ta có thể nghĩ về quý tộc Pháp thời quân chủ (ancien régime) như là một giai cấp; nhưng chắc chắn phải rất muộn về sau nó mới được tưởng tượng theo cách này. Với câu hỏi “Ai là Bá tước X?” thì câu trả lời thông thường không phải là “một thành viên quý tộc”, mà là “lãnh chúa của xứ X”, “bác của Nam tước Y” hoặc “khách của Công tước Z”.

Dân tộc được tưởng tượng có giới hạn bởi ngay cả các dân tộc lớn nhất trong số chúng, có thể lên tới hàng tỷ cư dân, vẫn có những ranh giới xác định – dù có thể thay đổi – và nằm ngoài ranh giới đó là các quốc gia khác. Không một dân tộc nào tưởng tượng mình giáp ranh với cả nhân loại. Ngay cả các nhà dân tộc chủ nghĩa có tư tưởng cứu thế mạnh mẽ nhất cũng không nghĩ một ngày nào đó tất cả thành viên của nhân loại sẽ gia nhập dân tộc của họ theo kiểu, chẳng hạn, trong những thời đại nhất định, người người Công giáo có thể mơ về một hành tinh chỉ có tín đồ Công giáo.

Dân tộc được tưởng tượng có chủ quyền bởi khái niệm này ra đời trong một kỷ nguyên mà Khai sáng và Cách mạng đã triệt tiêu tính hợp pháp của các vương triều thiêng liêng và tôn ty. Các dân tộc trưởng thành trong một giai đoạn của lịch sử nhân loại khi mà ngay cả những tín đồ sùng đạo nhất của bất cứ tôn giáo phổ quát nào đều không thể đối mặt với chủ nghĩa đa nguyên sống động giữa các tôn giáo và sự khác biệt giữa tuyên ngôn bản thể luận của mỗi niềm tin với phạm vi lãnh thổ của chúng. Trong một thời đại như thế, các dân tộc mong muốn được tự do và được tự do – nếu chịu sự chi phối của Chúa – một cách trực tiếp. Vật làm tin và biểu tượng cho sự tự do này là nhà nước có chủ quyền.

Cuối cùng, dân tộc được tưởng tượng như một cộng đồng, bởi lẽ bất chấp tình trạng bất bình đẳng và bóc lột thực tế có thể đang lan tràn ở mỗi nước, dân tộc luôn được hình dung như một thứ tình đồng chí sâu sắc, bình đẳng. Rốt cuộc chính thứ tình cảm anh em (fraternity) này đã khiến trong hai thế kỷ qua hàng triệu người giết nhau và sẵn sàng chết cho những tưởng tượng giới hạn đó.

Những cái chế này khiến chúng ta phải đối mặt ngay lập tức với vấn đề trung tâm mà chủ nghĩa dân tộc đặt ra: điều gì khiến cho những tưởng tượng bị thu hẹp và chỉ mới xuất hiện này (không quá hai thế kỷ) lại dẫn tới những hy sinh khổng lồ như vậy? Tôi tin rằng xuất phát điểm của câu trả lời nằm ở các cội rễ văn hóa của chủ nghĩa dân tộc.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng –  LHNB 2019.

Cộng đồng tưởng tượng – Phần đầu


Có thể chưa gây được nhiều chú ý, nhưng một chuyển biến căn bản trong lịch sử của chủ nghĩa Marx và các phong trào Marxist vẫn hiện diện trước mắt chúng ta. Dấu hiệu rõ rệt nhất của chuyển biến này là các cuộc chiến tranh gần đây giữa Việt Nam, Campuchia và Trung Quốc. Những cuộc chiến này có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử thế giới bởi lần đầu tiên chúng diễn ra giữa hai thể chế mà sự độc lập và uy tín cách mạng là điều không thể chối cãi và bởi không một bên tham chiến nào thực sự nỗ lực biện minh cho các xung đột đẫm máy này bằng một quan điểm lý thuyết Marxist chấp nhận được. Dù vẫn có thể giải thích các xung đột biên giới Trung – Xô năm 1969 và những can thiệp quân sự của Liên Xô ở Đức (1953), Hungary (1956), Tiệp Khắc (1968) và Afghanistan (1980) bằng các thuật ngữ – tùy theo quan niệm của mỗi người – “chủ nghĩa đế quốc xã hội chủ nghĩa”, “chủ nghĩa xã hội phòng vệ”, nhưng theo tôi sẽ không một ai thực sự tin rằng những cụm từ như vậy lại liên quan đáng kể tới những gì đã diễn ra tại Đông Dương.

Nếu việc xâm lược rồi chiếm đóng Campuchia của Việt Nam vào tháng 12 năm 1978 và tháng Giêng năm 1979 điển hình cho cuộc chiến tranh thông thường quy mô lớn đầu tiên do một thể chế Marxist cách mạng này tiến hành chống lại một thể chế Marxist cách mạng khác, thì cuộc tấn công Việt Nam của Trung Quốc vào tháng Hai năm 1979 nhanh chóng xác nhận cho tiền lệ này. Chỉ những ai giàu niềm tin nhất mới dám cược rằng trong những năm cuối cùng của thế kỷ này bất cứ bùng phát chiến sự quy mô nào giữa các quốc gia chắc chắn sẽ chứng kiến sự hậu thuẫn hoặc tham chiến của Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa – chưa tính các nước xã hội chủ nghĩa nhỏ hơn – trong cùng một phe. Ai dám chắc vào một ngày nào đó Nam Tư và Albania không đánh nhau? Những lực lượng khác nhau yêu cầu Hồng quân rút khỏi các trại lính ở Đông Âu cần phải tự nhắc nhở rằng chính mức độ hiện áp đảo của Hồng quân sau 1945 đã loại trừ xung đột quân sự giữa các thể chế Marxist trong khu vực này.

Những suy xét như vậy sẽ làm nổi bật một thực tế rằng kể từ sau Thế chiến thứ hai tất cả các cuộc cách mạng thành công đều tự định nghĩa chúng trong các phạm trù dân tộc – Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam… – và bằng cách đó, cố định chúng trong một không gian lãnh thổ và xã hội được thừa hưởng từ quá khứ tiền cách mạng. Ngược lại việc có chung một đặc điểm hiếm hoi với Liên hiệp Anh và Bắc Ireland ở sự chối bỏ dân tộc (nationality) trong danh xưng cho thấy rằng Liên Xô không những là kẻ kế thừa các nhà nước vương triều tiền dân tộc trong thế kỷ XIX mà còn là tiền thân của một trật tự quốc tế chủ nghĩa trong thế kỷ XXI.

Eric Hobsbawm hoàn toàn đúng khi cho rằng “các phong trào và các nhà nước Marxist có xu hướng trở thành dân tộc không chỉ trong hình thức mà còn trng cả bản chất, tức trở thành chủ nghĩa dân tộc. Không có một dấu hiệu nào cho thấy khuynh hướng sẽ không tiếp diễn”. Khuynh hướng này cũng không chỉ giới hạn trong khối xã hội chủ nghĩa. Gần như hàng năm Liên hợp quốc đều kết nạp các thành viên mới. Nhiều “cựu dân tộc” từng được coi là cực kỳ cố kết nay nhận ra phải đối mặt với những thách thức của các chủ nghĩa dân tộc “ngoại vi” bên trong biên giới của mình – những chủ nghĩa dân tộc dĩ nhiên nuôi giấc mộng phá bỏ tính chất ngoại vi này vào một ngày đẹp trời nào đó. Thực tế hoàn toàn giản dị: “sự cháo chung của kỷ nguyên dân tộc chủ nghĩa”, như đã tiên đoán từ lâu, lại không hề diễn ra. Trên thực tế, tính dân tộc (nation-ness) là giá trị hợp pháp phổ biến nhất trong đời sống chính trị của thời đại chúng ta.

Thế nhưng nếu những thực tế này rõ ràng thì việc giải thích chúng vẫn là một vấn đề gây tranh luận lâu dài. Dân tộc (nation), dân tộc tính (nationality), chủ nghĩa dân tộc (nationalism) – tất cả đều nổi tiếng khó định nghĩa, chưa nói tới phân tích. Trái với ảnh hưởng to lớn của chủ nghĩa dân tộc đối với thế giới hiện đại, ta dễ nhận thấy sự thiếu hụt của những lý thuyết thỏa đáng về nó. Hugh Seton-Watson, tác giả của một công trình xuất sắc và toàn diện nhất bằng Anh ngữ về chủ nghĩa dân tộc, đồng thời là người kế thừa truyền thống phong phú của sử học và khoa học xã hội khai phóng, đã buồn bã nhận xét: “Bởi vậy tôi buộc phải đi tới kết luận rằng không thể đưa ra một “định nghĩa khoa học” nào về dân tộc; song hiện tượng này đã và vẫn đang tồn tại”. Tom Nairn, tác giả của công trình có tính mở đường Sự tan rã của Vương quốc Anh và là người kế thừa truyền thống không kém phần phong phú của sử học và khoa học xã hội Marxist, đã nhận xét thẳng thừng: “Lý thuyết về chủ nghĩa dân tộc tiêu biểu cho thất bại lịch sử vĩ đại của chủ nghĩa Marx”. Nhưng ngay cả thú nhận này cũng dễ gây nhầm lẫn, bởi nó có thể khiến chúng ta hiểu rằng tác giả đang ngầm chỉ kết quả đáng tiếc của một cuộc tìm kiếm lâu dài và tự giác nhằm xác định tính minh bạch về mặt lý thuyết. Sẽ chính xác hơn nếu nói rằng chủ nghĩa dân tộc đã trưng ra một bất thường không hề dễ chịu cho lý thuyết Marxist và chính vì lý do đó nó thường bị lý thuyết Marxist xem nhẹ, không được giải quyết một cách chính diện. Còn cách nào khác giải thích tại sao Marx không cắt nghĩa tính từ then chốt trong phát ngôn khó quên của ông năm 1848: “Giai cấp vô sản ở mỗi nước đương nhiên phải giải quyết trước hết giai cấp tư sản của chính mình”? Còn cách nào khác giải thích việc sử dụng, trong vòng hơn một thế kỷ, khái niệm “tư sản dân tộc” (national bourgeoisie) mà không có bất cứ nỗ lực nghiêm túc nào biện minh về mặt lý thuyết sự liên đới của tính từ này [dân tộc – ND]? Tại sao sự phân tách này của giai cấp tư sản – một giai cấp thế giới trong chừng mực được định nghĩa bằng các quan hệ sản xuất – lại có tầm quan trọng về mặt lý thuyết?

Mục đích của cuốn sách này là đưa ra một số giả thuyết có tính thử nghiệm nhằm cung cấp một diễn giải thỏa đáng hơn sự “bất thường” này của chủ nghĩa dân tộc. Tôi thấy rằng về chủ đề này cả lý thuyết Marxist lẫn lý thuyết của chủ nghĩa tự do đều tỏ ra yếu ớt trong một nỗ lực muộn màng kiểu Plotemy nhằm “cứu vãn các hiện tượng”; bởi vậy ở đây chúng ta cần nhanh chóng định hướng lại quan niệm theo tinh thần Copernicus. Xuất phát điểm của tôi là việc coi dân tộc tính (nationality), hoặc nếu thích nhìn từ các biểu nghĩa đa dạng của từ này, tính dân tộc (nation-ness), cũng như chủ nghĩa dân tộc, là những tạo tác văn hóa (cultural artefacts) đặc thù. Để hiểu chúng chính xác, chúng ta cần xem xét cẩn thận chúng đã tồn tại như thế nào trong lịch sử, ý nghĩa của chúng đã thay đổi ra sao theo thời gian và tại sao ngày nay chúng lại có được một sự hợp thức sâu sắc về mặt cảm xúc như vậy. Tôi sẽ tìm cách lập luận rằng việc chế tạo ra những tạo tác này vào cuối thế kỷ XVIII là sự kết tinh tự nhiên của một “giao cắt” phức tạp giữa các động lực lịch sử riêng biệt; nhưng một khi được tạo nên, chúng sẽ trở thành “mô hình”, có thể được “bứng chuyển”, với nhiều mức độ tự giác khác nhau, sang vô số lĩnh vực xã hội, để kết hợp và được kết hợp vào hàng loạt mô thức (constellations) chính trị và ý thức hệ tương ứng. Tôi cũng sẽ tìm cách chỉ ra tại sao những tạo tác văn hóa đặc thù này lại làm nảy sinh những gắn kết sâu sắc như vậy.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Benedict Anderson – Cộng đồng tưởng tượng –  LHNB 2019.

Sự phát triển của văn hóa – Phần cuối


Tương lai của văn hóa

Cụm từ “tiến hóa văn hóa” quá ít dùng và cụm từ “cách mạng văn hóa” đã được sử dụng thay thế. Ví dụ ở cấp độ thao tác này, trớ trêu thay, lại phản ánh nhu cầu bức thiết của con người đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu hơn về những tác động của những động cơ chúng ta tạo ra lên sự phát triển văn hóa mà chúng ta đang trải nghiệm.

Văn hóa thúc đẩy sự tiến hóa vật chất, nhưng chúng ta có thể kiểm soát được sự phát triển văn hóa không?

Văn hóa thích ứng với hoàn cảnh sinh thái, và tình trạng sinh thái của ta đang biến đổi nhanh chóng, cả về mặt thể chất lẫn mặt xã hội, biến đổi bởi chính hành vi của chúng ta. Sáu khía cạnh văn hóa mà cuốn sách này mô tả là một bức tranh tái hiện những yếu tố tạo nên lịch sử trong một thiên niên kỷ gần nhất, nhất là việc phát minh ra văn hóa nông nghiệp và xã hội quy mô lớn đã tạo ra sự khác biệt giữa các xã hội trên thế giới. Nếu các nhà nghiên cứu có thể đi ngược lại thời gian 20.000 năm trước và tìm hiểu văn hóa trong một thế giới chỉ tồn tại người săn bắn hái lượm thì họ sẽ tìm thấy những khía cạnh khác. Chẳng hạn, tất cả các xã hội đều là những nhóm người theo chủ nghĩa bình quân, họ hầu như không thấy một điểm đáng chú ý nào tương đồng với sự phân chia quyền lực.

Đến đây, tác giả nên tóm lược lại 5 điểm “mấu chốt mà đơn giản” về tiến hóa và xem xét ch1ung có nghĩa gì với tương lai văn hóa.

Tiến hóa là không thể tránh khỏi

Những người có thế giới quan dựa trên những giá trị bảo thủ có thể sẽ có cái nhìn tôn giáo hoặc áp đặt, tin vào tính bất biến của tự nhiên, con người, và các quy tắc đạo đức. Những thái độ như vậy sẽ đi đến mâu thuẫn nghiêm trọng với thực tiễn, và mâu thuẫn đó có thể sẽ quay lại củng cố hơn nữa niềm tin trái tự nhiên – một cái vòng luẩn quẩn. Con người chúng ta cần phải chấp nhận thực tế là sự tiến hóa đang diễn ra xung quanh chúng ta và chúng ta cần phải đối mặt với nó.

Tiến hóa không phải theo đường thẳng

Tiến hóa có mặt mỗi ngày, nhưng nó khuấy đảo xã hội con người, và con người chúng ta có thể hướng về phía trước. Hệ quả là chúng ta đối mặt với một nhiệm vụ, vì cả lý do đạo đức lẫn lý do thực dụng, là cần phải học từ lịch sử và xây dựng một thế giới bền vững cho thế hệ sau. Nhiệm vụ này cũng kế thừa nhu cầu hiểu biết về tiến hóa càng nhiều càng tốt. Đặc biệt, nếu chỉ quan tâm đến sự chọn lọc cấp độ cá nhân mà không để ý đến chọn lọc cấp độ nhóm sẽ dẫn đến việc dung túng cho tính ích kỷ cá nhân và điều đó là mối nguy tiềm tàng của xã hội.

Tiến hóa là con đường độc lập

Bất kỳ gen, sinh vật hay văn hóa nào bị tiêu diệt đều vĩnh viễn biến mất. Mối đe dọa diệt vong không phải lúc nào cũng là lý do để bảo tồn, bởi vì tiến hóa là không thể tránh khỏi, không có cách nào để biến Trái đất thành một viện bảo tàng khổng lồ. Mặc dù vậy, nó là vấn đề đạo đức trong việc bảo tồn các loài, các nền văn hóa, ngôn ngữ và các sản phẩm nhân tạo. Nếu không phải những vấn đề đó thì sự ích kỷ có thể khuyến khích bảo tồn, chẳng hạn bảo tồn sự khác biệt gen.

Tiến hóa sử dụng nhiều bản mô phỏng

Gen, các phân nhóm xã hội và xã hội là vài bản mô phỏng chính ngày nay. Quy luật biến đổi nói rằng càng nhiều bản mô phỏng thì tiến trình tiến hóa di truyền xảy ra càng nhanh. Tiến hóa văn hóa có thể làm chúng ta mất nhiều như chính trị pha trộn lại trên quy mô lớn nhưng bù lại nó ngày càng đa dạng hơn vì bên trong xã hội ngày càng trở nên phức tạp hơn.

Tiến hóa cũng tiến hóa

Ngày nay chúng ta còn hiểu biết hạn chế về tiến hóa văn hóa mới xuất hiện gần đây. Tri thức chúng ta có được phần lớn là từ các nhà sinh học và chỉ bắt đầu ảnh hưởng đến khoa học xã hội và nhân văn, nói chi đến phạm vi công chúng. Các nhà khoa học xã hội từ các phân ngành khác nhau đang bắt đầu công bố những phát hiện về tiến hóa văn hóa sử dụng các kỹ thuật bắt chước hành vi của cá thể hoặc các đơn vị nhỏ hơn và nghiên cứu hành vi của hệ thống xã hội lớn hơn. Có rất nhiều việc phải làm trong lĩnh vực này nếu loài người muốn tìm hiểu thành công cao trào tiến hóa hiện đại.

Liệu loài người chúng ta có thể đối mặt với những thách thức không? Trong chốc lát, thiên hướng làm động vật nhóm ở chúng ta sẽ khiến sức mạnh trí óc của ta phục vụ lợi ích của chính ta hoặc nhóm chúng ta. Chúng ta có xu hướng tin vào bất cứ thứ gì làm cho nhóm chúng ta tốt đẹp, chẳng hạn sự ưu ái đặc biệt của Chúa dành cho mình, thay vì khách quan nhìn nhận ta là ai. Triết học và tôn giáo vẫn còn khá xa rời thế giới sinh học thực tế. Điều này cản trở sự nhận thức đúng đắn và thái độ trách nhiệm chung vì thế giới của chúng ta.

Xã hội của chúng ta bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện gần đây trong tiến trình tiến hóa. Mỗi chúng ta có thể có những hành động đặc trưng của xã hội săn bắn, hái lượm, chăn nuôi và trồng trọt. Một số hoạt động rất giống với săn bắn. Chẳng hạn, các nhà tư vấn, người kinh doanh và những chuyên gia sáng tạo, đi từ hợp đồng thành công này đến hợp đồng thành công khác, họ trải nghiệm hào quang của thành công và có nhu cầu chinh phục thành công khác. Những hoạt động khác tương tự với chăn nuôi. Các nhà đầu tư, chính trị gia và nhà nghiên cứu đều bận rộn với việc điều khiển công ty, người bầu phiếu và ấn phẩm riêng của mình, và phải lo lắng về trộm cắp và lừa đảo. Nhiều hoạt động hàng ngày như mua sắm và lướt web tương đồng với hái lượm. Công nhân nhà máy, giáo viên và cán bộ công – viên chức giống với nông dân vất vả cực nhọc với cuộc sống, sử dụng những lễ nghi xã hội để cân bằng cuộc sống. Ở các tổ chức đa quốc gia lớn chẳng hạn, những người đứng đầu tổ chức có phong cách sống gần với săn bắn hoặc chăn nuôi, còn nhân viên có đời sống gần với đời sống nông nghiệp. Những mô tả này dĩ nhiên còn sơ sài và chắc chắn nhiều trường hợp sai, nhưng chúng rất có ích cho việc giải thích cách thức tổ chức xã hội của thế hệ trước ảnh hưởng đến thế hệ sau như thế nào.

Các nhóm người này sống riêng biệt với nhau. Chúng ta ít nhiều đều có các thị trường toàn cầu, nhưng như đã lập luận, chúng ta không sống trong một ngôi làng toàn cầu. Giữa các nhóm có sự kết nối các phát minh nhưng lại có sự phân chia lòng trung thành. Ngày nay chúng ta kết nối tốt đến nỗi toàn bộ loài người có thể tiến lên thông qua việc áp dụng bất kỳ đổi mới nào trong công nghệ miễn là nó được phát minh chỉ một lần trên hành tinh. Trong bối cảnh rộng mở truyền thông mới mẻ này, môi trường của chúng ta giống như đại dương, trong đó các loài động vật biển có vú (nhưu cá voi và cá heo) cùng chung sống. Một vài loài lớn hơn đã được phát hiện sử dụng âm thanh để giao tiếp với nhau ở khoảng cách xa. Đối với họ, đại dương, thực sự mà nói, giống như một ngôi làng toàn cầu; tất cả cùng sống trong một bể tắm. Liệu điều này có quan trọng trong quá trình tiến hóa của chúng không? Các loài động vật biển có vú đặc biệt hiền hòa và thông minh về mặt xã hội. Chúng là hậu duệ của động vật có vú trên cạn di cư xuống biển 20 triệu năm trước. Có vẻ như năng lực trí óc vốn có và cơ cấu xã hội của chúng, cùng với các nhân tố môi trường và khả năng tiềm tàng giao tiếp từ xa trong đại dương đã khiến áp lực tiến hóa làm gia tăng khả năng cùng chung sống trong hòa bình của chúng. Ví dụ, cá nhà táng là động vật săn mồi lớn nhất thế giới, có bộ óc lớn nhất trong tất cả các loài. Chúng phát ra những tiếng lách cách ầm ĩ nhất trong tất cả các động vật – và chúng cần những âm thanh đó: chẳng hạn để định hướng tiếng động của loài mực khổng lồ mà chúng săn ở sâu hàng kilomet. Cá nhà táng được phát hiện có ít nhất bốn cấp độ tổ chức xã hội, có thể bao gồm tới hàng nghìn cá thể trong phạm vi hàng nghìn kilomet. Tổ chức xã hội của chúng thậm chí có thể rộng hơn về phạm vi, nhưng vì những lý do nhất định, chúng ta khó có thể tiếp cận được.

Đối với loài người chúng ta, ít nhất đối với nhiều người chúng ta, thế giới còn trở nên nhỏ hơn cả đại dương đối với cá voi. Tin tức và đổi mới có thể lan ra thế giới trong nhiều ngày nếu không muốn nói là trong giây lát. Chúng ta có thể thương xót các nạn nhân bị thiên tai ở phần bên kia thế giới toàn cầu và cố gắng giúp họ, nhưng cảm giác trung thành với nhóm vẫn chi phối thống trị chúng ta. Văn hóa phát triển thúc đẩy sự điều hòa trong nhóm và việc gìn giữ ranh giới các nhóm không bị đụng chạm là một trong những điều kiện tiên quyết cho việc hợp tác trong nhóm. Động cơ phát triển văn hóa là động lực hợp nhất – chia tách. Loài người nhận thức những động lực này trên khía cạnh đạo đức: “chúng ta” tốt trong khi “họ” thì xấu. Nhưng chúng ta rất cần phải từ bỏ sự chia tách giữa liên kết thương mại toàn cầu và quân đội một bên, vòng lòng trung thành nhỏ hẹp đối với dân tộc chúng ta một bên. Ở thiên niên kỷ hiện tại, tiến hóa ghi dấu ấn hướng tới sự mở rộng phạm vi đạo đức, nhưng chúng ta vẫn chưa hoàn thành xong. Chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài theo đuổi hướng mở rộng phạm vi đạo đức với tất cả mọi người trên thế giới. Và để làm điều đó chúng ta cần kiểm soát được áp lực chọn lọc ở tất cả các cấp độ xã hội hóa, từ tình hàng xóm đến “cộng đồng làng xã toàn cầu”. Việc tước bỏ quyền và trách nhiệm đạo đức của bất kỳ nhóm nào cũng cần phải lên án.

Thông điệp của chúng tôi ở đây là một lời khích lệ: bạn là một phần của tiến hóa con người, tương lai là do chúng ta tạo nên và bạn có thể đóng góp vào đó, kể cả ít nhất. Ngược lại, thông điệp của phần còn lại này thật là khiêm nhường: mặc dù các phạm vi đạo đức có thể được mở rộng, nhưng văn hóa vẫn tiếp tục thay đổi. Do đó sẽ không thực tế nếu kỳ vọng là tất cả công dân trên thế giới đều giống nhau. Và cũng không nên khao khát hay yêu cầu họ nhất thiết phải như vậy. Các dân tộc sẽ khác nhau, nhưng họ phải học cách cùng tồn tại mà khômg muốn dân tộc hác trở nên giống mình. Bất cứ con đường nào khác đều là ngõ cụt.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Sự phát triển của văn hóa – Phần XIII


Dưới đây chỉ là một vài ví dụ. Với vai trò là các nhà khoa học xã hội, tác giả cũng muốn ghi vài điểm mấu chốt về tính chuyên nghiệp của chúng ta dưới ánh sáng tư duy tiến hóa. Mặc dù nó không phải lúc nào cũng được nhìn nhận như vậy, nhưng bất kỳ nghiên cứu nào về hành vi con người, bất kỳ lĩnh vực nào của khoa học xã hội và nhân văn đều nhìn vào những khía cạnh của tiến hóa biểu tượng và hành vi. Phạm vi của những lĩnh vực này trải rộng từ cá thể đến nhóm nhỏ, rồi đến xã hội và quốc tế. Với những vấn đề phức tạp hơn, trình tự thời gian của hầu hết những lĩnh vực này nhiều nhất là hàng năm, thậm chí còn không liên quan đến lịch sử. Hệ quả là chúng thường không liên quan với lịch sử tiến hóa của loài người. Sự riêng biệt này đã tạo ra một bức tranh rộng khắp về những kỷ luật gây hiểu nhầm hoặc thờ ơ và có giá trị dự đoán hạn chế trong đời sống xã hội. Tình cảnh này có thể hiểu được trong bối cảnh đối tượng nghiên cứu rất phức tạp và hoàn toàn là mục tiêu tiến bộ. Kết quả, nó đã tạo ra một “quần đảo ngà voi” biệt lập với xã hội, để lại một khoảng trống được lấp đầy bằng những những ý thức hệ kém hiểu biết có xu hướng phục vụ lợi ích của một nhóm đơn lẻ. Những hệ thống tư duy như vậy đã trở nên phổ biến bởi vì chúng phù hợp với liệu pháp tổng thể mà khoa học chưa khám phá hết được. Một lối tiếp cận đa chiều và theo lịch sử, nhận thức bản chất con người ở mức đầy đủ nhất sẽ có ích cho khoa học xã hội và nhân văn rất nhiều.

Đây là hướng đi trong đó những đổi mới có ý nghĩa có thể dự đoán được trong những thập kỷ tới. Khoa học xã hội tự bản thân nó cũng cần phát triển. Những động lực được áp dụng hoặc bị lụi tàn đều không giúp gì được, bởi vì chúng thúc đẩy sự cá biệt hóa và ít có sự tương tác đa chiều. Cần có những động lực mới cho các công việc tương tác đặt khoa học xã hội trong phạm vi tiến hóa rộng hơn.

Quan điểm về tiến hóa có xu hướng sẽ khá thẳng thắn, chẳng hạn như ví dụ dưới đây. Bạn đọc nên cố gắng hình dung ra bản thân các sức ép tiến hóa và các xu thế tiến hóa. Các phần trước đã phác họa những tri thức tóm lược về kinh doanh, quản trị, công nghệ và ngôn ngữ dưới góc độ tiến hóa. Vậy còn âm nhạc, bóng đá, chương trình học đường, phim ảnh thì sao? Còn công nghệ di động và trang web nữa chứ? Đây là một sự phát triển đương đại gây nhiều tranh cãi, cần phải nhìn nhận thấu đáo hơn.

Mạng và đại lý nhóm

Các mạng truyền thông di động và các trang web có trở thành nét văn hóa toàn cầu hay không? Liệu loài người có sử dụng cái gọi là “trí tuệ tổ ong” như dự đoán của Kevin Kelly năm 1994 hay không? Cũng vào năm 2009, “Hives” là một phần mềm mạng xã hội phổ biến trong giới trẻ. “Tôi đoàn kết tức là tôi tồn tại” là một khẩu hiệu của Descartes mà trường đại học của Gert Jan sử dụng để thu hút sinh viên ngành truyền thông xã hội. Phải chăng nó ám chỉ là “Nếu bạn không đoàn kết thì bạn không tồn tại”?

Mạng truyền thông di động nhất định đã xuất hiện như một ngôi sao chổi, tạo ra một sự thay đổi thật sự. Vào ngày 23/3/1997, Carlo Picornie – một cổ động viên Hà Lan ở thành phố Ajax – trở thành kẻ tử vì đạo của môn túc cầu. Các nhóm cổ động viên hooligan của các câu lạc bộ Ajax và Feynoord đã sử dụng điện thoại di động để tìm kiếm nhau mà không có sự can thiệp của cảnh sát, và sau đó nổ ra một cuộc chiến ở bãi cỏ gần thành phố Beverwijk. Carlo vô tình bị đánh chết bằng gậy gộc, dao và búa Đánh nhau và phá hoại cho vui xung quanh các trận đấu bóng đá giữa các nhóm thanh niên thù địch không chỉ là hiện tượng ở Hà Lan, và việc liên lạc bằng điện thoại di động để phối hợp hành động bây giờ là chuyện thường tình với những người kinh doanh, trẻ em, tội phạm và cảnh sát nữa.

Kể từ năm 1997, hệ thống máy tính dùng cho xã hội hóa tạo ra một đấu trường mới hấp dẫn của tiến hóa biểu tượng. Trẻ em ở nhiều nước hằng ngày truy cập vào phần mềm mạng xã hội bất kỳ khi nào có thể. Việc này cho phép chúng giữ liên lạc với bạn bè hầu như lúc nào chúng không ở trường, tham gia vào hoạt động thể chất, hay trên giường. Đứng từ quan điểm tiến hóa, tốc độ ứng dụng mạng xã hội di động thật chóng mặt. Phần mềm mạng xã hội như Facebook, Hives, LinkedIn, Plaxo, Twitter, Xing… đã mở rộng với tốc độ vượt xa khả năng lan truyền của dịch cúm, và chúng ta mới chỉ bắt đầu thôi.

Vào năm 2009, một chương trình vacxin ở Hà Lan chống lại một virus gây ung thư tử cung hướng tới các thiếu nữ đã phải làm lại vì có những lời đồn đại lan rộng trên mạng xã hội cho rằng loại vacxin này rất nguy hiểm. Bất chấp những thông tin có căn cứ, những lời đồn đại đã khiến 15% nhóm đối tượng mục tiêu phải ở nhà. Việc từ chối tiêm vacxin là một câu chuyện dài ở Hà Lan, nhưng nó đã từng bị hạn chế ở những cộng đồng tôn giáo bảo thủ và không phải là sản phẩm của mạng Internet sớm nở sớm tàn.

Tính chất mới mẻ của những bài tường thuật đã mô tả chỉ là bề nổi. Chúng liên quan đến những động cơ của con người cổ xưa: các nhóm đàn ông gây chiến, phụ nữ buôn chuyện – nhưng việc sử dụng các công nghệ truyền thông mới là một sự thay đổi tạo nên phát triển. Ở những ví dụ này cũng như hàng triệu ví dụ khác về sự úng dụng nhanh chóng phần mềm xã hội thì bản mô phỏng là gì? Đó là đại diện nhóm. Sự cạnh tranh giữa các nhóm thể hiện ở trường hợp hooligan và liên kết nhóm được thúc đẩy ở trường hợp từ chối tiêm vacxin. Bất kỳ công cụ mới nào cho phép thúc đẩy hai lực lượng này đều nhanh chóng được sử dụng bởi vì nó đem lại lợi thế chọn lọc cho nhóm sử dụng nó. Chưa nói đến những tai họa lớn có thể xảy ra, sẽ không có cách nào quay trở lại từ những bước tiến hóa này.

Cấp độ chọn lọc nào (di truyền, biểu sinh, giới tính, hành vi, biểu tượng) bị ảnh hưởng bởi những ví dụ này? Có thể nói rằng tất cả các cấp độ. Những người nào về mặt di truyền hay biểu sinh chưa phù hợp với việc sử dụng những công cụ truyền thông này sẽ phải chịu một chi phí xã hội và khó có khả năng tìm được đối tác. Người nào không học được cách điều khiển chúng hoặc năng lực ngôn ngữ yếu kém sẽ bị bất lợi. Tuy nhiên, tác động chọn lọc lớn hơn sẽ ở cấp độ nhóm: các nhóm sử dụng công nghệ mới với mục đích tốt sẽ thực hiện tốt hơn. Đó là bởi vì họ sẽ làm tốt hơn về mặt liên kết. Còn thực chất họ có thực hiện tốt hơn không còn phụ thuộc vào những yếu tố khác. Vì vậy phần mềm xã hội còn là một công cụ khác để thực hiện chọn lọc cấp độ nhóm. Ta có thể dự đoán những tiến bộ nhanh chóng về phần mềm xã hội, phần mềm hỗ trợ xây dựng quan hệ và duy trì danh tiếng, và về những ứng dụng khác giúp duy trì phạm vi đạo đức. Ở các nền văn hóa trong đó giáo dục đóng vai trò quan trọng, công nghệ mới được sử dụng trong giáo dục, trong các nhóm coi trọng xã hội hóa, và nó sẽ được sử dụng vì mục đích đó. Tóm lại, những tiến bộ này trong công nghệ truyền thông sẽ không xóa được ranh giới giữa các nhóm, nhưng chúng sẽ thúc đẩy những nhóm hiện thời tổ chức hiệu quả hơn, xây dựng trên nền văn hóa vốn có.

Sự hội tụ văn hóa và sự phân chia văn hóa

Nghiên cứu về phát triển các giá trị văn hóa một lần nữa lại cho thấy có rất ít bằng chứng về sự hội tụ quốc tế qua thời gian, trừ sự gia tăng chủ nghĩa cá nhân đối với các nước đang giàu lên. Những khác biệt về giá trị giữa các nước được các tác giả miêu tả từ hàng thế kỷ trước nay vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù các nước vẫn tiếp tục tiếp xúc gần gũi với nhau. Ít nhất trong vài trăm năm tới, và có lẽ hàng thiên niên kỷ sau, các nước vẫn còn khác biệt nhau về văn hóa.

Không chỉ sự đa dạng văn hóa sẽ vẫn còn tồn tại, mà dường như những khác biệt giữa các nước còn gia tăng. Các nhóm thiểu số đạt tới một tầm nhận thức mới về đặc trưng của nhóm mình và đòi hỏi được công nhận về mặt chính trị cho đặc trưng đó. Dĩ nhiên, những khác biệt giữa các nhóm thiểu số này vẫn diễn ra. Cái thay đổi là mật độ tiếp xúc giữa các nhóm – thứ đã xác nhận với các thành viên trong nhóm về đặc tính của nhóm. Sự lan truyền thông tin (bằng truyền thông quốc tế) cũng cho thấy con người sống ở khắp nơi trên thế giới có ảnh hưởng đến các nhóm thiểu số như thế nào, ai so sánh họ với phần còn lại của thế giới mà họ cho rằng khấm khá hơn. Truyền thông tin tức thế giới cũng lan truyền thông tin về tổn thất và xung đột rộng khắp chưa từng có. “Tẩy chay thiểu số”, nổi dậy, và trấn áp bạo lực không còn mới mẻ, nhưng trước kia có khá ít người ngoài cuộc biết về chúng. Ngày nay, chúng hiển hiện qua màn hình tivi khắp nơi trên thế giới. Sự lan truyền rộng rãi này có tác dụng làm tăng nỗi lo, đặc biệt ở những nơi văn hóa né tránh xung đột. Ý thức đạo đức thức dậy đối với sự lụi tàn của các nhóm người khác chứ không phải nhóm mình. Đó không phải là tiếng gọi đồng nhất văn hóa, mà là tiếng gọi hợp tác lẫn nhau. Con người khẩn thiết phải có khả năng hợp tác tốt hơn vượt qua những khác biệt về giá trị đạo đức trong khi dung hòa những khác biệt về biểu tượng giữa họ. Về lâu dài, tư duy tiến hóa mang lại niềm hy vọng ở khía cạnh này. Bởi vì công nghệ liên tục làm giảm chi phí hợp tác và gia tăng chi phí mâu thuẫn, cho nên có áp lực chọn lọc hướng tới mục tiêu các phạm vi đạo đức cùng tồn tại trong hòa bình với nhau. Tuy nhiên, con đường phía trước thật chông gai và chi phí mâu thuẫn tiềm tang đòi hỏi tất cả chúng ta phải có lối cư xử trách nhiệm hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.