Sự phát triển của văn hóa – Phần cuối


Tương lai của văn hóa

Cụm từ “tiến hóa văn hóa” quá ít dùng và cụm từ “cách mạng văn hóa” đã được sử dụng thay thế. Ví dụ ở cấp độ thao tác này, trớ trêu thay, lại phản ánh nhu cầu bức thiết của con người đòi hỏi phải có sự hiểu biết sâu hơn về những tác động của những động cơ chúng ta tạo ra lên sự phát triển văn hóa mà chúng ta đang trải nghiệm.

Văn hóa thúc đẩy sự tiến hóa vật chất, nhưng chúng ta có thể kiểm soát được sự phát triển văn hóa không?

Văn hóa thích ứng với hoàn cảnh sinh thái, và tình trạng sinh thái của ta đang biến đổi nhanh chóng, cả về mặt thể chất lẫn mặt xã hội, biến đổi bởi chính hành vi của chúng ta. Sáu khía cạnh văn hóa mà cuốn sách này mô tả là một bức tranh tái hiện những yếu tố tạo nên lịch sử trong một thiên niên kỷ gần nhất, nhất là việc phát minh ra văn hóa nông nghiệp và xã hội quy mô lớn đã tạo ra sự khác biệt giữa các xã hội trên thế giới. Nếu các nhà nghiên cứu có thể đi ngược lại thời gian 20.000 năm trước và tìm hiểu văn hóa trong một thế giới chỉ tồn tại người săn bắn hái lượm thì họ sẽ tìm thấy những khía cạnh khác. Chẳng hạn, tất cả các xã hội đều là những nhóm người theo chủ nghĩa bình quân, họ hầu như không thấy một điểm đáng chú ý nào tương đồng với sự phân chia quyền lực.

Đến đây, tác giả nên tóm lược lại 5 điểm “mấu chốt mà đơn giản” về tiến hóa và xem xét ch1ung có nghĩa gì với tương lai văn hóa.

Tiến hóa là không thể tránh khỏi

Những người có thế giới quan dựa trên những giá trị bảo thủ có thể sẽ có cái nhìn tôn giáo hoặc áp đặt, tin vào tính bất biến của tự nhiên, con người, và các quy tắc đạo đức. Những thái độ như vậy sẽ đi đến mâu thuẫn nghiêm trọng với thực tiễn, và mâu thuẫn đó có thể sẽ quay lại củng cố hơn nữa niềm tin trái tự nhiên – một cái vòng luẩn quẩn. Con người chúng ta cần phải chấp nhận thực tế là sự tiến hóa đang diễn ra xung quanh chúng ta và chúng ta cần phải đối mặt với nó.

Tiến hóa không phải theo đường thẳng

Tiến hóa có mặt mỗi ngày, nhưng nó khuấy đảo xã hội con người, và con người chúng ta có thể hướng về phía trước. Hệ quả là chúng ta đối mặt với một nhiệm vụ, vì cả lý do đạo đức lẫn lý do thực dụng, là cần phải học từ lịch sử và xây dựng một thế giới bền vững cho thế hệ sau. Nhiệm vụ này cũng kế thừa nhu cầu hiểu biết về tiến hóa càng nhiều càng tốt. Đặc biệt, nếu chỉ quan tâm đến sự chọn lọc cấp độ cá nhân mà không để ý đến chọn lọc cấp độ nhóm sẽ dẫn đến việc dung túng cho tính ích kỷ cá nhân và điều đó là mối nguy tiềm tàng của xã hội.

Tiến hóa là con đường độc lập

Bất kỳ gen, sinh vật hay văn hóa nào bị tiêu diệt đều vĩnh viễn biến mất. Mối đe dọa diệt vong không phải lúc nào cũng là lý do để bảo tồn, bởi vì tiến hóa là không thể tránh khỏi, không có cách nào để biến Trái đất thành một viện bảo tàng khổng lồ. Mặc dù vậy, nó là vấn đề đạo đức trong việc bảo tồn các loài, các nền văn hóa, ngôn ngữ và các sản phẩm nhân tạo. Nếu không phải những vấn đề đó thì sự ích kỷ có thể khuyến khích bảo tồn, chẳng hạn bảo tồn sự khác biệt gen.

Tiến hóa sử dụng nhiều bản mô phỏng

Gen, các phân nhóm xã hội và xã hội là vài bản mô phỏng chính ngày nay. Quy luật biến đổi nói rằng càng nhiều bản mô phỏng thì tiến trình tiến hóa di truyền xảy ra càng nhanh. Tiến hóa văn hóa có thể làm chúng ta mất nhiều như chính trị pha trộn lại trên quy mô lớn nhưng bù lại nó ngày càng đa dạng hơn vì bên trong xã hội ngày càng trở nên phức tạp hơn.

Tiến hóa cũng tiến hóa

Ngày nay chúng ta còn hiểu biết hạn chế về tiến hóa văn hóa mới xuất hiện gần đây. Tri thức chúng ta có được phần lớn là từ các nhà sinh học và chỉ bắt đầu ảnh hưởng đến khoa học xã hội và nhân văn, nói chi đến phạm vi công chúng. Các nhà khoa học xã hội từ các phân ngành khác nhau đang bắt đầu công bố những phát hiện về tiến hóa văn hóa sử dụng các kỹ thuật bắt chước hành vi của cá thể hoặc các đơn vị nhỏ hơn và nghiên cứu hành vi của hệ thống xã hội lớn hơn. Có rất nhiều việc phải làm trong lĩnh vực này nếu loài người muốn tìm hiểu thành công cao trào tiến hóa hiện đại.

Liệu loài người chúng ta có thể đối mặt với những thách thức không? Trong chốc lát, thiên hướng làm động vật nhóm ở chúng ta sẽ khiến sức mạnh trí óc của ta phục vụ lợi ích của chính ta hoặc nhóm chúng ta. Chúng ta có xu hướng tin vào bất cứ thứ gì làm cho nhóm chúng ta tốt đẹp, chẳng hạn sự ưu ái đặc biệt của Chúa dành cho mình, thay vì khách quan nhìn nhận ta là ai. Triết học và tôn giáo vẫn còn khá xa rời thế giới sinh học thực tế. Điều này cản trở sự nhận thức đúng đắn và thái độ trách nhiệm chung vì thế giới của chúng ta.

Xã hội của chúng ta bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện gần đây trong tiến trình tiến hóa. Mỗi chúng ta có thể có những hành động đặc trưng của xã hội săn bắn, hái lượm, chăn nuôi và trồng trọt. Một số hoạt động rất giống với săn bắn. Chẳng hạn, các nhà tư vấn, người kinh doanh và những chuyên gia sáng tạo, đi từ hợp đồng thành công này đến hợp đồng thành công khác, họ trải nghiệm hào quang của thành công và có nhu cầu chinh phục thành công khác. Những hoạt động khác tương tự với chăn nuôi. Các nhà đầu tư, chính trị gia và nhà nghiên cứu đều bận rộn với việc điều khiển công ty, người bầu phiếu và ấn phẩm riêng của mình, và phải lo lắng về trộm cắp và lừa đảo. Nhiều hoạt động hàng ngày như mua sắm và lướt web tương đồng với hái lượm. Công nhân nhà máy, giáo viên và cán bộ công – viên chức giống với nông dân vất vả cực nhọc với cuộc sống, sử dụng những lễ nghi xã hội để cân bằng cuộc sống. Ở các tổ chức đa quốc gia lớn chẳng hạn, những người đứng đầu tổ chức có phong cách sống gần với săn bắn hoặc chăn nuôi, còn nhân viên có đời sống gần với đời sống nông nghiệp. Những mô tả này dĩ nhiên còn sơ sài và chắc chắn nhiều trường hợp sai, nhưng chúng rất có ích cho việc giải thích cách thức tổ chức xã hội của thế hệ trước ảnh hưởng đến thế hệ sau như thế nào.

Các nhóm người này sống riêng biệt với nhau. Chúng ta ít nhiều đều có các thị trường toàn cầu, nhưng như đã lập luận, chúng ta không sống trong một ngôi làng toàn cầu. Giữa các nhóm có sự kết nối các phát minh nhưng lại có sự phân chia lòng trung thành. Ngày nay chúng ta kết nối tốt đến nỗi toàn bộ loài người có thể tiến lên thông qua việc áp dụng bất kỳ đổi mới nào trong công nghệ miễn là nó được phát minh chỉ một lần trên hành tinh. Trong bối cảnh rộng mở truyền thông mới mẻ này, môi trường của chúng ta giống như đại dương, trong đó các loài động vật biển có vú (nhưu cá voi và cá heo) cùng chung sống. Một vài loài lớn hơn đã được phát hiện sử dụng âm thanh để giao tiếp với nhau ở khoảng cách xa. Đối với họ, đại dương, thực sự mà nói, giống như một ngôi làng toàn cầu; tất cả cùng sống trong một bể tắm. Liệu điều này có quan trọng trong quá trình tiến hóa của chúng không? Các loài động vật biển có vú đặc biệt hiền hòa và thông minh về mặt xã hội. Chúng là hậu duệ của động vật có vú trên cạn di cư xuống biển 20 triệu năm trước. Có vẻ như năng lực trí óc vốn có và cơ cấu xã hội của chúng, cùng với các nhân tố môi trường và khả năng tiềm tàng giao tiếp từ xa trong đại dương đã khiến áp lực tiến hóa làm gia tăng khả năng cùng chung sống trong hòa bình của chúng. Ví dụ, cá nhà táng là động vật săn mồi lớn nhất thế giới, có bộ óc lớn nhất trong tất cả các loài. Chúng phát ra những tiếng lách cách ầm ĩ nhất trong tất cả các động vật – và chúng cần những âm thanh đó: chẳng hạn để định hướng tiếng động của loài mực khổng lồ mà chúng săn ở sâu hàng kilomet. Cá nhà táng được phát hiện có ít nhất bốn cấp độ tổ chức xã hội, có thể bao gồm tới hàng nghìn cá thể trong phạm vi hàng nghìn kilomet. Tổ chức xã hội của chúng thậm chí có thể rộng hơn về phạm vi, nhưng vì những lý do nhất định, chúng ta khó có thể tiếp cận được.

Đối với loài người chúng ta, ít nhất đối với nhiều người chúng ta, thế giới còn trở nên nhỏ hơn cả đại dương đối với cá voi. Tin tức và đổi mới có thể lan ra thế giới trong nhiều ngày nếu không muốn nói là trong giây lát. Chúng ta có thể thương xót các nạn nhân bị thiên tai ở phần bên kia thế giới toàn cầu và cố gắng giúp họ, nhưng cảm giác trung thành với nhóm vẫn chi phối thống trị chúng ta. Văn hóa phát triển thúc đẩy sự điều hòa trong nhóm và việc gìn giữ ranh giới các nhóm không bị đụng chạm là một trong những điều kiện tiên quyết cho việc hợp tác trong nhóm. Động cơ phát triển văn hóa là động lực hợp nhất – chia tách. Loài người nhận thức những động lực này trên khía cạnh đạo đức: “chúng ta” tốt trong khi “họ” thì xấu. Nhưng chúng ta rất cần phải từ bỏ sự chia tách giữa liên kết thương mại toàn cầu và quân đội một bên, vòng lòng trung thành nhỏ hẹp đối với dân tộc chúng ta một bên. Ở thiên niên kỷ hiện tại, tiến hóa ghi dấu ấn hướng tới sự mở rộng phạm vi đạo đức, nhưng chúng ta vẫn chưa hoàn thành xong. Chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài theo đuổi hướng mở rộng phạm vi đạo đức với tất cả mọi người trên thế giới. Và để làm điều đó chúng ta cần kiểm soát được áp lực chọn lọc ở tất cả các cấp độ xã hội hóa, từ tình hàng xóm đến “cộng đồng làng xã toàn cầu”. Việc tước bỏ quyền và trách nhiệm đạo đức của bất kỳ nhóm nào cũng cần phải lên án.

Thông điệp của chúng tôi ở đây là một lời khích lệ: bạn là một phần của tiến hóa con người, tương lai là do chúng ta tạo nên và bạn có thể đóng góp vào đó, kể cả ít nhất. Ngược lại, thông điệp của phần còn lại này thật là khiêm nhường: mặc dù các phạm vi đạo đức có thể được mở rộng, nhưng văn hóa vẫn tiếp tục thay đổi. Do đó sẽ không thực tế nếu kỳ vọng là tất cả công dân trên thế giới đều giống nhau. Và cũng không nên khao khát hay yêu cầu họ nhất thiết phải như vậy. Các dân tộc sẽ khác nhau, nhưng họ phải học cách cùng tồn tại mà khômg muốn dân tộc hác trở nên giống mình. Bất cứ con đường nào khác đều là ngõ cụt.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Sự phát triển của văn hóa – Phần XIII


Dưới đây chỉ là một vài ví dụ. Với vai trò là các nhà khoa học xã hội, tác giả cũng muốn ghi vài điểm mấu chốt về tính chuyên nghiệp của chúng ta dưới ánh sáng tư duy tiến hóa. Mặc dù nó không phải lúc nào cũng được nhìn nhận như vậy, nhưng bất kỳ nghiên cứu nào về hành vi con người, bất kỳ lĩnh vực nào của khoa học xã hội và nhân văn đều nhìn vào những khía cạnh của tiến hóa biểu tượng và hành vi. Phạm vi của những lĩnh vực này trải rộng từ cá thể đến nhóm nhỏ, rồi đến xã hội và quốc tế. Với những vấn đề phức tạp hơn, trình tự thời gian của hầu hết những lĩnh vực này nhiều nhất là hàng năm, thậm chí còn không liên quan đến lịch sử. Hệ quả là chúng thường không liên quan với lịch sử tiến hóa của loài người. Sự riêng biệt này đã tạo ra một bức tranh rộng khắp về những kỷ luật gây hiểu nhầm hoặc thờ ơ và có giá trị dự đoán hạn chế trong đời sống xã hội. Tình cảnh này có thể hiểu được trong bối cảnh đối tượng nghiên cứu rất phức tạp và hoàn toàn là mục tiêu tiến bộ. Kết quả, nó đã tạo ra một “quần đảo ngà voi” biệt lập với xã hội, để lại một khoảng trống được lấp đầy bằng những những ý thức hệ kém hiểu biết có xu hướng phục vụ lợi ích của một nhóm đơn lẻ. Những hệ thống tư duy như vậy đã trở nên phổ biến bởi vì chúng phù hợp với liệu pháp tổng thể mà khoa học chưa khám phá hết được. Một lối tiếp cận đa chiều và theo lịch sử, nhận thức bản chất con người ở mức đầy đủ nhất sẽ có ích cho khoa học xã hội và nhân văn rất nhiều.

Đây là hướng đi trong đó những đổi mới có ý nghĩa có thể dự đoán được trong những thập kỷ tới. Khoa học xã hội tự bản thân nó cũng cần phát triển. Những động lực được áp dụng hoặc bị lụi tàn đều không giúp gì được, bởi vì chúng thúc đẩy sự cá biệt hóa và ít có sự tương tác đa chiều. Cần có những động lực mới cho các công việc tương tác đặt khoa học xã hội trong phạm vi tiến hóa rộng hơn.

Quan điểm về tiến hóa có xu hướng sẽ khá thẳng thắn, chẳng hạn như ví dụ dưới đây. Bạn đọc nên cố gắng hình dung ra bản thân các sức ép tiến hóa và các xu thế tiến hóa. Các phần trước đã phác họa những tri thức tóm lược về kinh doanh, quản trị, công nghệ và ngôn ngữ dưới góc độ tiến hóa. Vậy còn âm nhạc, bóng đá, chương trình học đường, phim ảnh thì sao? Còn công nghệ di động và trang web nữa chứ? Đây là một sự phát triển đương đại gây nhiều tranh cãi, cần phải nhìn nhận thấu đáo hơn.

Mạng và đại lý nhóm

Các mạng truyền thông di động và các trang web có trở thành nét văn hóa toàn cầu hay không? Liệu loài người có sử dụng cái gọi là “trí tuệ tổ ong” như dự đoán của Kevin Kelly năm 1994 hay không? Cũng vào năm 2009, “Hives” là một phần mềm mạng xã hội phổ biến trong giới trẻ. “Tôi đoàn kết tức là tôi tồn tại” là một khẩu hiệu của Descartes mà trường đại học của Gert Jan sử dụng để thu hút sinh viên ngành truyền thông xã hội. Phải chăng nó ám chỉ là “Nếu bạn không đoàn kết thì bạn không tồn tại”?

Mạng truyền thông di động nhất định đã xuất hiện như một ngôi sao chổi, tạo ra một sự thay đổi thật sự. Vào ngày 23/3/1997, Carlo Picornie – một cổ động viên Hà Lan ở thành phố Ajax – trở thành kẻ tử vì đạo của môn túc cầu. Các nhóm cổ động viên hooligan của các câu lạc bộ Ajax và Feynoord đã sử dụng điện thoại di động để tìm kiếm nhau mà không có sự can thiệp của cảnh sát, và sau đó nổ ra một cuộc chiến ở bãi cỏ gần thành phố Beverwijk. Carlo vô tình bị đánh chết bằng gậy gộc, dao và búa Đánh nhau và phá hoại cho vui xung quanh các trận đấu bóng đá giữa các nhóm thanh niên thù địch không chỉ là hiện tượng ở Hà Lan, và việc liên lạc bằng điện thoại di động để phối hợp hành động bây giờ là chuyện thường tình với những người kinh doanh, trẻ em, tội phạm và cảnh sát nữa.

Kể từ năm 1997, hệ thống máy tính dùng cho xã hội hóa tạo ra một đấu trường mới hấp dẫn của tiến hóa biểu tượng. Trẻ em ở nhiều nước hằng ngày truy cập vào phần mềm mạng xã hội bất kỳ khi nào có thể. Việc này cho phép chúng giữ liên lạc với bạn bè hầu như lúc nào chúng không ở trường, tham gia vào hoạt động thể chất, hay trên giường. Đứng từ quan điểm tiến hóa, tốc độ ứng dụng mạng xã hội di động thật chóng mặt. Phần mềm mạng xã hội như Facebook, Hives, LinkedIn, Plaxo, Twitter, Xing… đã mở rộng với tốc độ vượt xa khả năng lan truyền của dịch cúm, và chúng ta mới chỉ bắt đầu thôi.

Vào năm 2009, một chương trình vacxin ở Hà Lan chống lại một virus gây ung thư tử cung hướng tới các thiếu nữ đã phải làm lại vì có những lời đồn đại lan rộng trên mạng xã hội cho rằng loại vacxin này rất nguy hiểm. Bất chấp những thông tin có căn cứ, những lời đồn đại đã khiến 15% nhóm đối tượng mục tiêu phải ở nhà. Việc từ chối tiêm vacxin là một câu chuyện dài ở Hà Lan, nhưng nó đã từng bị hạn chế ở những cộng đồng tôn giáo bảo thủ và không phải là sản phẩm của mạng Internet sớm nở sớm tàn.

Tính chất mới mẻ của những bài tường thuật đã mô tả chỉ là bề nổi. Chúng liên quan đến những động cơ của con người cổ xưa: các nhóm đàn ông gây chiến, phụ nữ buôn chuyện – nhưng việc sử dụng các công nghệ truyền thông mới là một sự thay đổi tạo nên phát triển. Ở những ví dụ này cũng như hàng triệu ví dụ khác về sự úng dụng nhanh chóng phần mềm xã hội thì bản mô phỏng là gì? Đó là đại diện nhóm. Sự cạnh tranh giữa các nhóm thể hiện ở trường hợp hooligan và liên kết nhóm được thúc đẩy ở trường hợp từ chối tiêm vacxin. Bất kỳ công cụ mới nào cho phép thúc đẩy hai lực lượng này đều nhanh chóng được sử dụng bởi vì nó đem lại lợi thế chọn lọc cho nhóm sử dụng nó. Chưa nói đến những tai họa lớn có thể xảy ra, sẽ không có cách nào quay trở lại từ những bước tiến hóa này.

Cấp độ chọn lọc nào (di truyền, biểu sinh, giới tính, hành vi, biểu tượng) bị ảnh hưởng bởi những ví dụ này? Có thể nói rằng tất cả các cấp độ. Những người nào về mặt di truyền hay biểu sinh chưa phù hợp với việc sử dụng những công cụ truyền thông này sẽ phải chịu một chi phí xã hội và khó có khả năng tìm được đối tác. Người nào không học được cách điều khiển chúng hoặc năng lực ngôn ngữ yếu kém sẽ bị bất lợi. Tuy nhiên, tác động chọn lọc lớn hơn sẽ ở cấp độ nhóm: các nhóm sử dụng công nghệ mới với mục đích tốt sẽ thực hiện tốt hơn. Đó là bởi vì họ sẽ làm tốt hơn về mặt liên kết. Còn thực chất họ có thực hiện tốt hơn không còn phụ thuộc vào những yếu tố khác. Vì vậy phần mềm xã hội còn là một công cụ khác để thực hiện chọn lọc cấp độ nhóm. Ta có thể dự đoán những tiến bộ nhanh chóng về phần mềm xã hội, phần mềm hỗ trợ xây dựng quan hệ và duy trì danh tiếng, và về những ứng dụng khác giúp duy trì phạm vi đạo đức. Ở các nền văn hóa trong đó giáo dục đóng vai trò quan trọng, công nghệ mới được sử dụng trong giáo dục, trong các nhóm coi trọng xã hội hóa, và nó sẽ được sử dụng vì mục đích đó. Tóm lại, những tiến bộ này trong công nghệ truyền thông sẽ không xóa được ranh giới giữa các nhóm, nhưng chúng sẽ thúc đẩy những nhóm hiện thời tổ chức hiệu quả hơn, xây dựng trên nền văn hóa vốn có.

Sự hội tụ văn hóa và sự phân chia văn hóa

Nghiên cứu về phát triển các giá trị văn hóa một lần nữa lại cho thấy có rất ít bằng chứng về sự hội tụ quốc tế qua thời gian, trừ sự gia tăng chủ nghĩa cá nhân đối với các nước đang giàu lên. Những khác biệt về giá trị giữa các nước được các tác giả miêu tả từ hàng thế kỷ trước nay vẫn còn nguyên giá trị, mặc dù các nước vẫn tiếp tục tiếp xúc gần gũi với nhau. Ít nhất trong vài trăm năm tới, và có lẽ hàng thiên niên kỷ sau, các nước vẫn còn khác biệt nhau về văn hóa.

Không chỉ sự đa dạng văn hóa sẽ vẫn còn tồn tại, mà dường như những khác biệt giữa các nước còn gia tăng. Các nhóm thiểu số đạt tới một tầm nhận thức mới về đặc trưng của nhóm mình và đòi hỏi được công nhận về mặt chính trị cho đặc trưng đó. Dĩ nhiên, những khác biệt giữa các nhóm thiểu số này vẫn diễn ra. Cái thay đổi là mật độ tiếp xúc giữa các nhóm – thứ đã xác nhận với các thành viên trong nhóm về đặc tính của nhóm. Sự lan truyền thông tin (bằng truyền thông quốc tế) cũng cho thấy con người sống ở khắp nơi trên thế giới có ảnh hưởng đến các nhóm thiểu số như thế nào, ai so sánh họ với phần còn lại của thế giới mà họ cho rằng khấm khá hơn. Truyền thông tin tức thế giới cũng lan truyền thông tin về tổn thất và xung đột rộng khắp chưa từng có. “Tẩy chay thiểu số”, nổi dậy, và trấn áp bạo lực không còn mới mẻ, nhưng trước kia có khá ít người ngoài cuộc biết về chúng. Ngày nay, chúng hiển hiện qua màn hình tivi khắp nơi trên thế giới. Sự lan truyền rộng rãi này có tác dụng làm tăng nỗi lo, đặc biệt ở những nơi văn hóa né tránh xung đột. Ý thức đạo đức thức dậy đối với sự lụi tàn của các nhóm người khác chứ không phải nhóm mình. Đó không phải là tiếng gọi đồng nhất văn hóa, mà là tiếng gọi hợp tác lẫn nhau. Con người khẩn thiết phải có khả năng hợp tác tốt hơn vượt qua những khác biệt về giá trị đạo đức trong khi dung hòa những khác biệt về biểu tượng giữa họ. Về lâu dài, tư duy tiến hóa mang lại niềm hy vọng ở khía cạnh này. Bởi vì công nghệ liên tục làm giảm chi phí hợp tác và gia tăng chi phí mâu thuẫn, cho nên có áp lực chọn lọc hướng tới mục tiêu các phạm vi đạo đức cùng tồn tại trong hòa bình với nhau. Tuy nhiên, con đường phía trước thật chông gai và chi phí mâu thuẫn tiềm tang đòi hỏi tất cả chúng ta phải có lối cư xử trách nhiệm hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Sự phát triển của văn hóa – Phần XII


c thể và thể chế trong dòng chảy cuộc đời

Nếu các nhóm quan trọng như vậy thì mức độ phân tích đầy đủ để nghiên cứu hành vi con người là gì? Đó là cấp độ nhóm hay cá thể? Nếu là cái thứ hai, thì ở cấp độ nhóm nào? Câu hỏi này giống như hỏi cái gì quan trọng hơn: biển, sông, hay suối – tất cả đều quan trọng, và chúng bổ trợ cho nhau. Hình 12.1 biểu diễn hai cấp độ cơ bản, cá thể và xã hội, cấp độ thứ hai là đơn vị mang giá trị văn hóa sâu sắc. Hình vẽ biểu thị cấp độ cá thể (trên) và cấp độ xã hội (dưới) bổ trợ cho nhau như thế nào, bởi vì chúng đều góp phần giúp chúng ta hiểu chuyện gì đang diễn ra trong vũ đài cuộc sống hằng ngày. Vai trò sẵn có lại gặp những cá nhân tự nguyện ở đó, và dòng chảy đời sống xã hội cứt iếp tục, qua lễ nghi này đến lễ nghi khác. Giả định có một bể đủ lớn có các cá thể trong đó để lựa chọn, sự khác biệt giữa các cá thể và khả năng thích nghi của chúng cho phép thực hiện mỗi vai trò sẵn có với những cá thể khác nhau qua thời gian. Tiến trình này đem lại tính liên tục bền vững cho đời sống xã hội của một xã hội. Các lễ nghi có xu hướng không đổi về bản chất ngay cả qua nhiều thế hệ chúng quá tải với những ý nghĩa biểu tượng mới, thay đổi tên, hay thực hiện với công nghệ mới.

Hình vẽ hướng sự chú ý tới sự việc các cá thể đến với các lễ nghi của đời sống xã hội với những tính cách độc đáo của mình, và thấy vai trò sẵn có với họ phụ thuộc vào bản chất của các thể chế tồn tại trong xã hội. Các cấp độ nhóm khác không được đề cập ở hình vẽ này; thực tế, cấp độ các xã hội tự bản thân đã phức tạp, mang đặc điểm của tất cả các phân nhóm. Ở các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân, các cá thể đều hoạt động trong nhiều nhóm mất kết nối khác nhau; trong khi ở các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, sự lựa chọn tự do ít hơn nhưng tính liên kết lại cao hơn. Trong dòng chảy thời gian, cả cá thể lẫn thể chế đều học, và chọn lọc diễn ra ở cả hai. Tuy nhiên, ở cả hai cấp độ, lực cân bằng nội tại diễn ra. Trong khi con người có thể học cách áp dụng những hành vi mới, tính cách vẫn bất biến trong suốt cuộc đời, trừ phi có tai nạn thảm họa hay bệnh tật xảy ra can thiệp vào. Xã hội cũng như vậy. Xã hội có thể học những kinh nghiệm mới nhưng rất khó có thể thay đổi những giá trị cơ bản của xã hội ấy.

Cuốn sách này nhảy từ cấp độ này sang cấp độ khác. Nó buộc phải như vậy, vì đời sống xã hội nảy sinh từ tương tác giữa các cá thể và thể chế.

Tiến hóa trong công việc ngày nay

Vậy điều tốt nào có thể làm được để coi các sự việc của con người diễn ra dưới khía cạnh tiến hóa, hỡi các chính trị gia, các nhà lãnh đạo, các nhà nghiên cứu và các công dân? Nhiều lắm Một hành trình chiết trung vắn tắt về các vấn đề đương đại sẽ xác nhận thêm điều này.

Kinh doanh

Các công ty là các bản mô phỏng, và các công ty tốt cũng thực hiện chức năng như các phạm vi đạo đức dù không nhất thiết ở cấp độ giá trị như đã nói ở đây. Chúng liên tục được tạo ra, mua và bán, và phá sản. Tính trên quy mô hàng năm, các lĩnh vực kinh doanh mới được tạo ra. Những thực thể này không cứ gì phải tốt hơn phiên bản cũ, nhưng chúng là những biến đổi có thể tốt hơn thích ứng với sức ép tiến hóa hiện tại. Cơ chế chọn lọc dựa vào nhiều yếu tố, bao gồm cả khả năng kết bạn ở những nơi cao, tồn tại trong vòng luật lệ, sử dụng công nghệ giao tiếp mới, tạo ra hình ảnh công chúng dễ chịu, cắt giảm chi phí, sản xuất chất lượng và đổi mới. Chu kỳ thời gian là hàng tháng hoặc hàng năm. Toàn bộ bối cảnh phát triển kinh doanh được điều khiển bởi các quốc gia và các tổ chức quốc tế – ít nhất những chủ thể này cố gắng quản lý sức ép chọn lọc có lợi, khuyến khích kinh nghiệm tốt và hạn chế những kinh nghiệm dường như bất lợi cho xã hội.

Sự mở mới hay đóng cửa bớt các chi nhánh là một chuyên ngành của sự phát triển tổ chức. Quá trình này là phương tiện gây đột biến hiệu quả. Một công ty mới, khởi đầu bằng những người lãnh đạo mới hoặc bằng những nhà lãnh đạo thử một công thức mới, có thể là khởi đầu của một loại hình công ty. Một công ty khởi đầu đa quốc gia khá giống nhóm 30 người bị mắc kẹt trên hòn đảo sa mạc. Công việc đầu tiên của họ là tạo những quy định làm việc mỗi ngày – một văn hóa tổ chức.

Thuyết tổ chức và kinh tế học kinh doanh nghiên cứu sự phát triển kinh doanh, dù chúng không thường xuyên gọi bằng cái tên đó. Hiểu gốc rễ cảu những đặc trưng xã hội và các đặc tính năng động của phát triển văn hóa sẽ giúp ta hiểu hơn về thành công và thất bại của các tổ chức. Quản trị, về bản chất, là giáo dục sức ép phát triển lên tổ chức, lên các cộng sự và nhân viên của nó. Mareting, theo hướng này, là nghiên cứu các nỗ lực thay đổi sức ép chọn lọc đặt trên vai bằng hành vi của khách hàng ủng hộ sản phẩm của công ty.

Chính phủ

Chính trị là bản mô phỏng ở cấp độ phạm vi đạo đức. Các chính trị gia liên tục đàm phán và thay đổi luật lệ của những phạm vi đạo đức rõ ràng nhất của chúng ta ngày nay: các bang. Nhiều hình thái cầm quyền cùng tồn tại, mang những yếu tố độc tài chuyên chế, hệ thống một đảng, chính trị thần quyền, chính phủ quân đội, dân chủ đa đảng, dân chủ dân túy… Chính phủ áp dụng những ý tưởng từ các chính phủ khác và cố gắng hợp tác. Xu hướng phổ biến trên thế giới là tìm nhiều nền tảng chung hơn, hiện nay thị trường và các dòng chảy thương mại cũng là vấn đề của nhiều chính quyền và rõ ràng là giải pháp của họ mang tính toàn cầu. Chu kỳ thời gian là hàng năm, hàng thập kỷ hoặc hàng thế kỷ. Kết cục thật khó đoán trước, bởi vì xu hướng chia tách/hợp nhất nhóm vốn đã mạnh hơn các quyết định có ý thức của chúng ta. Ở vài thời điểm mấu chốt, sự xuất hiện của một người hoặc một ý tưởng có thể thay đổi thế giới, nhưng hầu hết các thời điểm khác, chúng ta bị xuôi theo. Một khi làn sóng cảm giác tập thể của một dân tộc được giải phóng thì không có cách nào chống lại nó.

Công nghệ

Ảnh hưởng của nguy cơ phát triển cũng tương tự đối với công nghệ. Công nghệ là bản mô phỏng được phát minh và nâng cấp. Có sự linh hoạt đáng kể khi dấu vết phát triển mới manh nha hình thành, và mức độ ổn định sau đó. Hãy xem xét con đường vận chuyển. Người La Mã là dân tộc đầu tiên xây dựng mạng lưới đường đi ở khắp đế chế của họ. Họ lập tiêu chuẩn bằng việc sử dụng dây thừng bánh xe với thông thường hai ngựa song song chứ không phải ba. Dấu vết con đường qua châu Âu và chế độ của nó kế thừa khuôn mẫu từ loại xe hai ngựa của người La Mã. Đường sắt và lốp xe ô tô ứng dụng độ rộng này vì những lý do thực tế. Những chiếc xe hơi đầu tiên trông giống xe kéo ngựa, và hình dạng xe hơi dần dần phát triển từ đây. Hình dạng khí động lực dạng giọt ngày nay của những chiếc xe hơi là kết quả của sức ép chịu áp lực không khí thấp để tiết kiệm nhiên liệu ở tốc độ cao hơn.

Ngôn ngữ

Tiến hóa có thể đơn thuần về biểu tượng, như trường hợp của ngôn ngữ cũng vậy. Ngôn ngữ biểu tượng có lẽ đã phát triển dần qua bài hát và những phát âm đơn giản khoảng một triệu đến 40000 năm trước. Nó thúc đẩy những thay đổi ngoạn mục diễn ra, chính nó gần đây đã trở thành đối tượng của tiến hóa biểu tượng siêu nhanh. Kể chuyện là hoạt động trung tâm của văn hóa loài người, phát triển dựa trên ngôn ngữ, nó là một trong những sáng tạo chính ở quy trình tiến hóa của chúng ta. Bên cạnh việc sinh ra hình thức kể chuyện, thật kỳ lạ chúng ta rất giỏi trong việc sáng tạo ngôn ngữ mới. Khoảng 10000 năm trước Công nguyên, do sự tăng lên về quy mô và mạng lưới, tổng số nền chính trị và ngôn ngữ trên thế giới đã giảm đi nhanh chóng. Đồng thời, mặc dù vậy, từ mới cho những khám phá mới, các ngôn ngữ mật mã, ngôn ngữ máy tính, biệt ngữ trong nhóm và thơ ca đã được sáng tạo. Tuy có từ điển, song ngôn ngữ đang phát triển với chu kỳ hàng tháng đến hàng thập kỷ. Với tư cách là một hệ mô phỏng, ngôn ngữ rất phức tạp: từ, cụm từ, câu chuyện, thành ngữ – tất cả có thể được xem là đơn vị tiến hóa ngôn ngữ đầy ý nghĩa.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Sự phát triển của văn hóa – Phần XI


Các nhóm bị trừng phạt vì các lý do biểu tượng thường tạo ra một sự phản ứng mạnh mẽ, như nhà sử – sinh học Peter Turchin đã nói. Dựa trên công trình phân tích mở rộng dữ liệu lịch sử, và dẫn chứng nhiều ví dụ về các vương quốc trong lịch sử, Turchin đã mô tả rằng lịch sử đời sống của các vương quốc thể hiện ba mô hình ăn khớp nhau có tính chu kỳ. Mô hình lớn nhất, vận hành trên quy mô nhiều thập kỷ, liên quan đến sự thối nát của năng lực hành vi tập thể phối hợp giữa những người ở trung tâm vương quốc, trong khi cùng lúc đó, những nhóm người bị áp bức về ngoại vi lại đạt được năng lực đó. Để giải thích, Turchin mượn thuật ngữ asabiya từ Ibn Khaldun, nhà tư tưởng vĩ đại người Thổ Nhĩ Kỳ ở thế kỷ XIV. Ibn Khaldun đã thảo luận về mâu thuẫn giữa những người cư ngụ và những người định cư, và phân tích của ông là khả năng hành động tập thể – ông gọi là asabiya – là nhân tố quyết định. Thế thì asabiya là một biến số trực tiếp điều khiển mức độ mà một người có thể hành động liên minh như một siêu sinh vật, tay vì đày đọa bởi sự đấu tranh trong nhóm. Từ quan điểm tiến hóa mà nói, điều này có nghĩa là một người với asabiya cao sẽ có thể lặp lại tốt nhất các giá trị và kinh nghiệm thực tiễn và cả gen nữa.

Tất cả các cấp độ đều tương tác

Trong khi chọn lọc gen và chọn lọc biểu sinh vận hành ở cấp độ mô phỏng các cá thể thì chọn lọc biểu tượng và hành vi lại mang cấp độ nhóm. Chọn lọc giới tính có thể vận hành ở cả hai cấp độ, bởi vì nó bị các nhóm biểu tượng điều chỉnh ở cấp độ nhóm. Vì vậy, sự cạnh tranh giữa các cá thể trong nhóm có thể có lợi hoặc bất lợi cho sự tồn tại của nhóm, điều này hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong lịch sử tiến hóa, những bản sao mới được bổ sung trong khi những bản sao cũ tiếp tục thực hiện chức năng. Ví dụ, chọn lọc giới tính sử dụng tiến hóa gen để nhân rộng những đặc tính hấp dẫn trong dân số, nhưng bản thân nó bị chế ngự bởi tiến hóa biểu tượng và tiến hóa hành vi dưới hình thái những luật lệ xã hội trong việc lựa chọn ai là người thỏa mãn yêu cầu làm đối tác để thực hiện tái sản xuất. Về khía cạnh này, chúng ta vừa là kết quả lại vừa là người tạo ra tiến hóa, trong một hỗn hợp ngày càng phức tạp của các cơ chế gần đúng. Cũng nên nhớ rằng toàn bộ tiến hóa, dù có bản mô phỏng hay không, còn phụ thuộc vào cơ hội dưới hình thức trôi dạt. Nếu một cấp độ mô phỏng nhất định có một vài trường hợp cá biệt, sự trôi dạt vẫn chiếm chủ đạo. Sự pha trộn các xã hội hiện thời chỉ giới hạn ở một vài trăm, gắn liền với sự biến mất của tôn giáo và ngôn ngữ, dường như lại thúc đẩy sự trôi dạt. Mặt khác, khác biệt bên trong xã hội giữa các phân nhóm của nhiều loài có thể tăng lên và dẫn đến sự đa dạng mới.

Tiến hóa vượt khỏi ích kỷ: các nhóm vượt lên trên các cá thể

Như đã khẳng định, chọn lọc hành vi và biểu tượng diễn ra giữa các nhóm. Văn hóa diễn ra ở cấp độ nhóm, như cuốn sách này vẫn khẳng định. Về mặt tiến hóa, văn hóa là một cơ chế gần đúng của chọn lọc hành vi và biểu tượng ở cấp độ nhóm. Thậm chí còn gần đúng hơn là cơ chế tâm lý mà dựa trên đó văn hóa hình thành. Cụ thể, tất cả mọi người, trừ bệnh nhân tâm thần đều phấn đấu làm các thành viên tốt trong nhóm. “Tốt” ở đây là một ý niệm liên quan đến văn hóa: cái gì được coi là tốt còn phụ thuộc vào những luật lệ văn hóa của nhóm, những điều kiện và đặc điểm tính cách của một người. Hơn thế nữa, xu hướng mong muốn là thành viên tốt, nổi bật trong cộng đồng ở đâu cũng có, và cảm xúc con người đi liền với xu hướng này như: sự kiêu hãnh, sự sợ hãi, xấu hổ và tội lỗi có thể bị xâm phạm. Những cảm xúc này khiến con người cống hiến cho nhóm của họ, thậm chí mạo hiểm cuộc sống vì nó. Mặt khác, các xu hướng đấu tranh vì sự thống trị hay liên kết bên trong nhóm, cùng với những cảm xúc như đố kị ganh ghét cũng có thể bị xâm phạm. Sự cạnh tranh giữa các cá thể cũng sôi nổi như cạnh tranh giữa các nhóm vậy.

Hai bản mô phỏng này, nhóm và cá thể, chính chúng cũng cạnh tranh nhau, nhưng nhóm đang ở thế thắng. Chúng ta đã dùng ví dụ về 30 người, tất cả mọi người đều không biết nhau, họ bị mắc kẹt trên một hòn đảo toàn sa mạc. 30 người mắc nạn này chỉ có thể tồn tại nếu cả 30 người đối xử tốt với nhau. Ngoài việc họ không phải là người tâm thần, họ phải coi những người khác như là một phần của phạm vi đạo đức chung và tránh giao tranh ở cấp độ cá nhân. Nếu không (giả định mọi thứ đơn giản cho ví dụ này), họ sẽ bắt đầu cạnh tranh để tìm nguồn thức ăn, gây chiến, và cuối cùng giết chết lẫn nhau. Giờ ta giả định có một quần đảo gồm nhiều hòn đảo tương tự như thế, trên mỗi hòn đảo là một tổ hợp ngẫu nhiên những người mắc nạn. Chuyện gì sẽ xảy ra? Dễ dàng có thể thấy: chỉ những người trên các hòn đảo có khả năng xây dựng được phạm vi đạo đức chung mới tồn tại. Trên những hòn đảo xảy ra chiến tranh, dân số sẽ tiêu hao và cơ hội sống sót sẽ giảm đi. Ví dụ này nghe có vẻ tầm thường, nhưng nó rất rõ ràng. Chọn lọc tự nhiên giữa các nhóm sẽ mang lại lợi ích cho những cá thể tích cực xây dựng phạm vi đạo đức, chịu đựng, yêu hòa bình bởi vì những nhóm có nội chiến sẽ không phát triển được.

Trong khi trí thông minh biểu tượng của con người dường như không giống với bất kỳ loài nào trên Trái đất thì các kỹ năng xã hội của con người lại khá giống với một số loài. Các nhà nghiên cứu hành vi động vật chỉ ra rằng tất cả các loài động vật xã hội, như kiến, ong, chuột chù mù, cá heo, quạ gáy xám và sói, nhiều loài khác đều sử dụng những kiểu giao tiếp phức tạp và cách hiểu các ngôn ngữ phức tạp rất thông minh. Điểm này quả thực là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ loài xã hội nào. Ví dụ loài ong, mặc dù có kích cỡ bộ não nhỏ, nhưng lại có khả năng ra dấu rất chính xác cho đồng đội nơi chúng đi lấy mật. Có loài kiến xây dựng nên các chế từ chính cơ thể chúng, và có những loài canh giữ chấy rận như chúng ta canh giữ gia súc, ể cả việc nuôi ấu trùng chấy rận. Qua thời gian địa chất, các nhóm đã làm tốt sứ mệnh tiến hóa: ngày nay một nửa khối côn trùng trên thế giới được ước tính là có nguồn gốc từ loài taxa côn trùng ít ỏi (kiến, ong, mối, ong bắp cày) – các loài đã phát triển đến cập độ tổ chức siêu xã hội (eusociality). Siêu xã hội (eu là tiếng Hy Lạp có nghĩa là tốt) chỉ những điều kiện trong đó các nhóm, có thể lên tới hàng nghìn cá thể hoặc nhiều hơn, tương tác với nhau tốt đến nỗi họ sống như thể một siêu sinh vật có khả năng làm được những điều mà không một thành viên đơn lẻ nào làm được một mình.

Quả thực, thành công không thể phủ nhận của các nhóm không hề biến mất trong sự tiến hóa đời sống trên Trái đất.

Cơ thể người và các sinh vật đa bào khác được làm từ các tế bào có nhân. Những tế bào này chứa các cơ thể dưới mức tế bào nhỏ (các bào quan, như ty thể) có DNA riêng. Các tế bào có nhân như vậy bắt đầu từ hàng tỉ năm trước khi các nhóm tế bào không nhân đơn giản hơn nuốt lẫn nhau mà không cần giết chết, và chúng lại bắt đầu tái sản xuất như một đơn vị độc lập. Việc gộp thành các tế bào có nhân tạo thành sự thay đổi từ cạnh tranh sang hợp tác và nó chứng tỏ một sự đổi mới rất thành công. Nhiều triệu năm sau, các sinh vật đa bào là bước đột phá mới. Ngày nay nhiều loài sinh vật đã phát triển các nhóm sinh vật siêu xã hội như một cấp độ mới của chọn lọc; về mặt sinh khối, loài người là loài thành công nhất, có lẽ ngoại trừ loài kiến siêu xã hội được ước đoán vào năm 1990 là sinh vật thành công hơn con người.

Thành công của các nhóm ở tất cả các cấp độ, thậm chí ở hầu hết các loài côn trùng xã hội óc bé, đều cho thấy những bộ óc lớn không nhất thiết để hình thành một xã hội giao tiếp tốt và phức tạp. Từ quan điểm tiến hóa, bộ óc mới chỉ là sáng tạo gần đây nhất, nhưng sự giao tiếp giỏi luôn luôn cần cho thành công của nhóm. Các loài côn trùng dựa vào những dấu vết hóa học nhìn thấy được như là cơ chế gần đúng cho giao tiếp của chúng. Qua thời gian, tiến hóa đã tìm thấy nhiều cơ chế gần đúng để đạt được bước đột phá lên xã hội cấp cao hơn. Một yếu tố chung giữa các cơ chế này, một yếu tố thật sự mang tính cách mạng, là sự tồn tại của khái niệm “tốt” và “xấu” trong cảm giác tiến hóa. Tốt ám chỉ việc phục vụ nhóm theo mệnh lệnh vô điều kiện, như nhà triết học người Đức Immanuel Kant (1724 – 1804) viết: “Muốn người khác đối xử tốt với mình trước hết hãy đối xử tốt với người”, trong khi xấu ám chỉ việc lợi dụng nhóm mà để phục vụ lợi ích của riêng mình. Ví dụ, một tế bào ung thư tốt với chính nó khi nó tự nhân bản nhanh hơn các tế bào khác, nhưng nó giết chết sinh vật mà nó kí sinh bằng việc rút khỏi vai trò vốn có, vì vậy nó xấu với nhóm nó thuộc về – sinh vật của nó. Điều này có nghĩa là có sự chọn lọc mạnh mẽ chống lại căn bệnh ung thư ở những người trẻ: nếu một người trẻ mắc bệnh ung thư, người đó sẽ không tái sản xuất, vì vậy sự nhạy cảm với căn bệnh ung thư không được tái diễn ở các cơ thể khác. Tương tự, những tên trộm tốt với chính chúng, nhưng xấu với xã hội vì chúng đánh cắp các thứ từ xã hội. Do đó, những gì gọi là tốt ở cấp độ mô phỏng nhất định trong tiến hóa có thể là xấu ở cấp độ cao hơn.

Một khi đạt tới cấp độ xã hội tiếp theo, giả định là có sự cạnh tranh giữa các nhóm, thì sẽ không có con đường quay ngược trở lại trừ phi có thảm họa lớn xảy ra. Không có cơ hội nào cho loài người quay trở về thời kỳ sống cô độc. Ngược lại, xu hướng tiến bộ bao hàm những loài khác vào trong phạm vi đạo đức chung dường như thúc đẩy con người hợp tác nhiều hơn với một số lượng lớn chưa từng có.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Sự phát triển của văn hóa – Phần X


Ví dụ này về chọn lọc đối tác cho thấy cha con nhà McNeil có thể hơi quá lời một chút. Nhưng sự phát triển biểu tượng càng ngày càng trở nên quan trọng, và đúng là nó đang vận hành với tốc độ rất nhanh, nhưng không có nghĩa là con người loại bỏ những tiến hóa gen cũ nhưng tốt. Luận điểm này cũng chưa tính đến việc nhìn nhận tiến hóa di truyền như một động lực thúc đẩy tiến hóa biểu tượng và công nghệ. Việc không đề cập đến có thể hiểu được là do giá trị văn hóa không để lại hóa thạch, trong khi kinh nghiệm thực tiễn thì lại có.

Vì vậy con người tiến hóa ở nhiều cấp độ khác nhau, sử dụng nhiều dạng mô phỏng khác nhau. Nói cụ thể hơn, các cấp độ mà họ tiến hóa là sự tự hợp tác và đôi khi đấu tranh với chính mình. Những cấp độ này là gì? Phần sau sẽ tóm tắt vấn đề này.

Sự chọn lọc gen

Gen được khám phá bởi Gregor Mendel vào cuối thế kỷ XIX, và chuỗi DNA hình xoắn ốc đôi được khám phá bởi James Watson và Francis Crick. Sự tiến hóa gen theo cơ chế sau: Mỗi một tế bào trong cơ thể con người mang một hệ gen hoàn chỉnh, với tất cả các gen phân bố trên hai dải đồng nhất gồm 23 nhiễm sắc thể, một giải kế thừa từ mẹ và một dải kế thừa từ cha. Trứng và tinh dịch được hình thành bởi một đơn vị tự rút gọn (sự phân bào giảm nhiễm) của một nhiễm sắc thể, để mỗi trứng hoặc tế bào tinh dịch chỉ chứa một trong hai dải gồm 23 nhiễm sắc thể. Trong quá trình phân bào giảm nhiễm, các lỗi và sự tái kết hợp giữa đôi nhiễm sắc thể có thể xảy ra, vì vậy hoặc là trứng hoặc là tế bào tinh dịch phải khá đồng nhất với bộ nhiễm sắc thể ở cha mẹ chúng hoặc với nhau. Sau đó ở thời điểm thụ thai, mỗi nửa hệ gen của trứng và của tinh trùng tái kết hợp, với những lỗi có thể xảy ra lần nữa, để hình thành nên một hệ gen hoàn chỉnh mới. Các lỗi thường được gọi là đột biến. Người nào cũng có khả năng mang một số đột biến. Chúng có xu hướng hoặc trung tính hoặc có hại, nhưng nhiều khi cũng có lợi. Và tàn suất xảy ra đột biến có lợi tỷ lệ thuận với số mẫu.

Các đột biến có lợi trong hệ gen người đã xảy ra vào khảong 10000 năm trước, và vẫn đang trong quá trình nhân rộng, nó nằm ở khu vực trao đổi chất, khả năng kháng bệnh truyền nhiễm, sự tái sản xuất, và hệ thống thần kinh trung ương. Dường như sự tiến hóa gen chúng ta vẫn để thích ứng với nông nghiệp và với quay mô dân số tăng nhanh.

Giai đoạn “gen vị kỷ” được Richard Dawkins giới thiệu làm tựa đề cuốn sách năm 1976, và đã gây nhiều bàn luận. Luận điểm cơ bản là cơ thể người chủ yếu là những bộ máy mang gen, và theo quy luật cơ hội, tiến hóa sẽ chọn lọc bất kỳ đột biến nào làm cho gen tăng lên về tần suất trong những thế hệ sau. Luận điểm này được làm rõ bằng nhiều bằng chứng, nhưng nó không phải đúng cho mọi trường hợp.

Sự chọn lọc biểu sinh

Các tế bào cơ thể giống hệt nhau về mặt di truyền, nhưng về mặt nào đó chúng vẫn khác biệt so với các tế bào khác. Rõ ràng là có một bộ máy tiến hóa phức tạp trên cơ chế di truyền (từ epi xuất phát từ Hy Lạp. Trong những năm gần đây, có nhiều bằng chứng chứng minh sự khác biệt giữa các tế bào và các cá thể đồng nhất về di truyền. Có nhiều cách gen có thể gắn liền hoặc rời ra. Protein chứ không phải DNA là cơ chế gần giống của biến đổi biểu sinh. Những năm sau này sẽ chứng kiến những phát hiện mới trong lĩnh vực này, củng cố ý kiến của chúng ta về “một gen sở hữu X”. Các nhóm gen, được điều khiển bởi cơ chế biểu sinh, là những công cụ phức tạp để đối mặt với hoàn cảnh môi trường, tích lũy những phản ứng thích nghi, rất hiếm để tìm ra được một gen quy định một đặc tính, giống như trường hợp sự xuất hiện đặc điểm mắt xanh.

Sự chọn lọc giới tính

Tại sao giới trẻ mất thời gian để loại bỏ những nốt mụn trứng cá, sử dụng mỹ phẩm, đi ra ngoài hay viết thư tình? Tại sao con công đực có những cái đuôi lộng lẫy nhưng vô dụng? Tại sao chim sơn ca thông báo sự có mặt của mình với những loài thú ăn thịt tiềm ẩn bằng tiếng hót? Tại sao đàn ông dám mạo hiểm chịu đựng những vết thương trầm trọng trong việc đánh nhau với đàn ông khác? Ở tất cả các trường hợp này, câu trả lời là giống nhau: để tìm cách tái sản xuất với đối tác chất lượng cao. Tuy nhiên chọn lọc giới tính là không cân xứng. Trong một hệ thống với hai giới tính, trong đó giống cái bị giới hạn bởi lượng con cháu mà nó có thể sản xuất ra, trong khi giống được rõ ràng là không bị giới hạn, sự tái sản xuất yêu cầu giống đực ít hơn giống cái. Do đó giống cái có thể trở nên khó chiều, và giống đực ở nhiều loài phải cạnh tranh để có các con cái. Hoàn cảnh này thường sẽ đưa lại kết quả là giống đực có kích cỡ lớn hơn. Đàn ông và đàn bà đều có khổ người khác nhau trong suốt bề dày lịch sử, hiện tại mức chênh lệch này là khoảng 10%. Nhóm người trung bình có nhiều tổ tiên là đàn bà gấp hai lần tổ tiên là đàn ông. Điều này là do trong khi hầu hết đàn bà đều sinh con thì có nhiều đàn ông lại không để lại hậu duệ nào, nhưng có những người đàn ông lại có hàng trăm, hoặc cá biệt là quốc vương Mông Cổ Genghis Khan có hàng nghìn.

Sự chọn lọc giới tính là phương tiện chọn lọc gen giữa các cá thể, nhưng ở con người, nó đặc biệt liên quan đến ranh giới nhóm mang tính biểu tượng. Ở các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, sự chọn lọc đối tác là một sự kiện quan trọng, không chỉ với đối tác mà còn đối với gia đình của họ. Hôn nhân giữa các gia đình hoàng tộc thường được dùng để kết nối hoặc hợp nhất vương quốc. Sức hút giới tính giữa Rome và Juliet đã gây ra cuộc chiến lớn bởi vì họ thuộc về những gia đình cạnh tranh nhau. Nhiều tôn giáo trừng phạt hôn nhân với những kẻ chống đối. Con người vẫn bị giết hàng ngày vì quan hệ giới tính với những kẻ ngoại bang. Sức mạnh của phạm vi đạo đức có thể rất thô bạo khi nó liên quan đến các luật lệ giới tính. Sự chọn lọc giới tính là trường hợp đặc biệt của chọn lọc hành vi, loại tiếp theo đây.

Chọn lọc hành vi

Khi Gert Jan còn là một đứa trẻ, hầu hết mọi người xung quanh cậu đều hút thuốc. Đó là một hành vi xã hội hợp thời. Những người lịch sự hút thuốc sau bữa tối. Ngày nay ở những nơi tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, hút thuốc bị hạn chế trong những phân nhóm nhất định, những người hút thuốc nhiều nơi bị coi là những kẻ yếu thế tự làm hại sức khỏe của mình. Với người nào đang tìm kiếm đối tác hoặc bạn bè, một câu lạc bộ để gia nhập, hút thuốc có thể là vấn đề nhạy cảm. Vì vậy các loại hành vi khác cũng tương tự. Trong một nhóm, một vài cá nhân có thể được yêu thích hoặc bị ghét hơn những người khác, với hệ quả là hành vi của họ lan truyền. Giữa các nhóm, một vài nhóm phát triển những mô hình tương tác có thể sống được với nhau, để họ có thể chiến thắng các nhóm khác. Loại hình chọn lọc này không trực tiếp di truyền, mặc dù dĩ nhiên chúng ta không thể cư xử mà không có các phương tiện sinh học.

Sự chọn lọc hành vi cũng có thể diễn tiến thông qua trung gian môi trường. Các nhóm có thể đốt cháy cây cối để tạo vùng sinh sống cho các loài vật ăn cỏ lớn, và các nhóm này hay nhóm khác có thể săn những động vật đó. Các nhóm này có thể di cư đến một hòn đảo và học cách câu cá để mưu sinh. Họ có thể làm ô nhiễm môi trường và phá hủy nguồn thức ăn hay nguồn nước của mình. Họ có thể tìm ra những cách mới để khai thác dinh dưỡng hoặc năng lượng từ cây cỏ và từ đó mở rộng khả năng khai phá khu vực sinh sống. Các loại hành vi con người là vô tận, nhưng không phải là không giới hạn.

Chọn lọc biểu tượng

Trong thế chiến thứ hai, nhìn xa như thể đây là cuộc chiến giữa những người Do Thái và những người không phải Do Thái, trong khi ở châu Âu đây cũng tương tự như sự xâm phạm. Ở các cuộc chiến và các hành động khủng bố khác gần đây, xu thế điển hình của những kẻ gây chiến là giết bỏ người khác vì những lý do tượng trưng. Lý do tôn giáo sai có lẽ là lý do quan trọng nhất trong các lý do, mặc dù số lượng những người thiểu số cũng thắng khá nhiều, và người ủng hộ đội bóng đối lập cũng đã bị chế ở vài trường hợp. Đây là những ví dụ điển hình cho sự chọn lọc biểu tượng: sự chọn lọc không dựa trên những gì người ta làm mà dựa trên đặc điểm tượng trưng được gán cho người đó. Sự chọn lọc, đó không có gì nghi ngờ, là một lực lượng tiến hóa.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Sự phát triển của văn hóa – Phần IX


BẢN CHẤT CỦA SỰ TIẾN HÓA

Nếu những thay đổi nhanh chóng mà con người và xã hội đang thực hiện thực sự là cách mạng, và bài miêu tả trước đã thể hiện rõ điều này, thì tiếp theo một sự hiểu biết sâu sắc về tiến hóa là cần thiết để quản lý được những sự kiện của con người. Thật không may, tiến hóa là một từ đã từng mang tiếng xấu. Bởi vì những ý kiến tiến hóa nông cạn đã từng sử dụng nó cho những mưu đồ chính trị, và bởi lối tư duy chủ quan duy ý chí chống lại lịch sử ở một số giáo lý tôn giáo nên có nhiều nỗi sợ hãi và kiêng kị xung quanh nó. Tiến hóa thực sự là một hiện tượng đơn giản và rõ ràng. Nó không cần có sự can thiệp của bất kỳ ý thức hệ hay tôn giáo nào. Tất cả những gì cần là các thế hệ sản xuất ra thật nhiều hậu duệ kế thừa từ đời trước, nhưng có những sự khác biệt và chọn lọc sao cho loại đi những biến đổi không có lợi ở mỗi thế hệ. Nói một cách văn hoa hơn, để tiến hóa xảy ra, cần có những điều kiện sau:

+ Những yếu tố có thể sao chép, gọi là bản mô phỏng: gen, sinh vật, lời đồn, nghi thức, ý thức hệ, hình thái chính quyền, văn hóa…

+ Cơ chế sao chép tốt nhưng không hoàn hảo, để thế hệ sau trong giống như thế hệ trước nhưng không hoàn toàn giống.

+ Việc sản xuất ra nhiều phiên bản hơn có thể tồn tại.

+ Sự lưu giữ những bản sao dựa trên một loại sức ép chọn lọc nào đấy.

Dưới đây là 5 điểm mấu chốt đơn giản về sự tiến hóa:

+ Tiến hóa là không thể tránh khỏi. Trong một thế giới mà thời gian chỉ diễn tiến theo một hướng, những thứ nào không tồn tại thường trực hoặc không tái sản xuất sẽ bị đào thải. Có nghĩa là, bất kỳ thứ gì không thường trực tồn tại ngày nay chắc chắn phải tiến hóa. Điều này đúng cho mọi sinh vật sống. Đúng cho các virus, các chuỗi DNA, tế bào, cơ thể và các nhóm. Bất kỳ ví dụ nào trong tất cả những thứ trên hoặc là phải tiến hóa, hoặc phải tồn tại thường trực. Bởi vì sự tiến hóa qua hàng thế hệ ngầm diễn ra đối với con người, sinh vật gây hại và bệnh tật, có thể kết lậun là nó cũng diễn ra đối với văn hóa loài người nữa. Chú ý rằng sự tiến hóa gen diễn ra rất chậm vì còn phụ thuộc vào chiều dài chu kỳ nữa. Những nhóm virus mới, kể cả loài mới, tiến hóa mỗi năm, nhưng có thể cần hàng triệu năm để một loài động vật có vú tiến hóa.

+ Tiến hóa không hướng thẳng về phía trước. Sự chọn lọc  cơ chế điều khiển sự tiến hóa – có thể làm việc trong tình huống hiện thời. Thực tế, từ chọn lọc đang bị hiểu nhầm, bởi vì nó có nghĩa là những biến đổi có lợi nhất được chọn ra trên một con đường nhắm thẳng tới mục tiêu. Điều này có thể xảy ra, như việc chọn lọc những đột biến gen chịu được chất lactose ở những người nuôi gia súc lấy sữa, nhưng ngược lại, những biến đổi không phù hợp được loại bỏ, đơn giản vì chúng không thành công trong việc tái sản xuất. Thêm vào đó, sự trôi dạt xảy ra. Trôi dạt là quá trình mà qua đó, những biến đổi bị đào thải ngẫu nhiên, và nó mạnh hơn trong phạm vi các nhóm nhỏ hơn. Ở các nhóm nhỏ, có lẽ ngay cả các biến đổi gen có lợi cũng bị đào thải bởi vì không ai tình cờ sinh ra lại mang chúng hoặc bởi vì những người mang chúng lại bị chết trẻ. Tóm lại, sự chọn lọc diễn ra ở dưới đáy của phạm vi phù hợp, ở phía trên hoặc bất cứ đâu. Giả sử cho một lượng dân đủ lớn, sự chọn lọc tự nhiên sẽ giữ lại bất kỳ biến đổi nào không gây hại đến khả năng tái sản xuất. Ở nhóm lớn, điều này có nghĩa là nhiều biến đổi sẽ xuất hiện mà không có tác động rõ ràng nào nhưng lại cấu thành nên sự thích nghi tiềm tàng để ứng phó với những hoàn cảnh mới.

+ Tiến hóa là con đường độc lập. Nghe như thể tiến hóa có thể làm bết cứ điều gì, nhưng luận điểm này sai. Tiến hóa luôn luôn bị giới hạn bởi hoàn cảnh, chí ít bởi lịch sử của chính nó. Và không có con đường nào quay trở lại lịch sử. Sự tiến hóa của con người cho thấy rõ điều này. Loài người thường xuyên phải chịu đựng những nỗi đau đớn ở xương sống phía dưới, bên hông và đầu gối bởi vì những khớp nối này trở nên chịu đựng sức nặng nề hơn kể từ khi tổ tiên chúng ta bắt đầu đứng thẳng, có lẽ đó là lối thích nghi để di chuyển trong đám cỏ cao. Một khi đứng thẳng, con người lại tiếp tục đi bộ trên hai chân, kể cả ở những nơi sinh sống trong rừng do những lợi ích từ việc tự do sử dụng đôi tay mang lại.

+ Tiến hóa sử dụng nhiều bản mô phỏng. Darwin không biết gì về gen, nhưng ông lại rất thông hiểu sự tiến hóa. Sự khám phá ra chuỗi DNA như là phương tiện truyền tải gen một thế kỷ sau đã chứng minh là ông đúng. Mặc dù gen là bản mô phỏng thành công cho sự tiến hóa trên hành tinh, nhưng chúng không có nghĩa là duy nhất, và cũng không có nghĩa là sự tiến hóa không thuộc di truyền kém tiến hóa hơn sự tiến hóa di truyền. Sự tiến hóa của văn minh loài người gần như chỉ đi đôiới sự tiến hóa gen. Nhiều loại tri thức tự tái sản xuất thông qua việc truyền bá lại những kỹ năng bằng việc dạy dỗ, và như chúng ta thấy, các giá trị văn hóa cũng có thể được truyền lại cho thế hệ mới. Xã hội cũng vậy, với tư cách một đơn vị truyền bá tri thức và văn hóa, xã hội đã trở thành bản mô phỏng đầy quyền lực của con người. Hiện tượng tiến hóa có thể diễn ra đồng thời sử dụng những bản mô phỏng khác nhau, chẳng hạn sử dụng gen ở cấp độ cá nhân và sử dụng kiến thức và xã hội ở cấp độ xã hội, được gọi là sự chọn lọc đa cấp. Hiện tại chúng ta còn chưa chứng minh được sự tiến hóa cấp độ xã hội như Darwin nói về gen khi ông viết cuốn Nguồn gốc các loài: Quan sát cho chúng ta những luận chứng tin cậy chứng minh cho sự phát triển văn hóa của các xã hội, nhưng chúng ta không biết chúng diễn ra như thế nào. Nói cách khác, chúng ta không biết về bản chất chính xác của các bản mô phỏng  – còn gọi là “cơ chế gần giống” của tiến hóa. Những cuộc tranh luận về việc văn hóa tự lặp lại như thế nào, được chọn lọc ra sao vẫn còn bỏ ngỏ. Hơn nữa, do hạn chế cá nhân rõ ràng, thật không dễ để biết được mô tả của các nhóm. Con người ở bất cứ thời điểm nào đều là một phần trong nhiều nhóm với những ranh giới đôi khi rất mơ hồ. Hi vọng rằng ở thế kỷ tiếp theo sẽ cho thấy một sức phát triển mạnh mẽ về tri thức những cơ chế hoạt động sự phát triển văn hóa. Thật may là cơ chế tiến hóa về bản chất luôn luôn giống nhau, bất kể có sự pha trộn các bản mô phỏng như thế nào. Nếu có sự tái sản xuất diễn ra có điều chỉnh, và có sự chọn lọc thì tiến hóa sẽ xảy ra.

+ Sự tiến hóa cũng tiến hóa. Trong 5 tỉ năm lịch sử Trái đất, sự tiến hóa đã tăng lên mức độ phức tạp. Tiến hóa không chỉ về gen nữa. Nó còn xuất hiện ở dung dịch protein trước khi gen tồn tại, và nó vẫn còn biến đổi không chỉ ở gen. Từ sự pha trộn protein đến chuỗi DNA đến những tế bào đơn giản không có nuclei cho tới những tế bào phức tạp bao gồm các vi sinh vật cộng sinh, những tổ hợp tế bào và những sinh vật sống, đến cả các nhóm xã hội, nó tiếp tục khuấy đảo tạo thành những cái mới. Con người chúng ta hiện nay đang cố gắng sử dụng bộ óc tiến hóa của mình để dự đoán tương lai, và để tác động đến tương lai. Vì vậy mặc dù sức ép tiến hóa vẫn còn vận hành trong bối cảnh hiện tại, nhưng bối cảnh này đã trở nên bao hàm cả những tiên đoán về tương lai nữa. Con người chọn lọc một vài kỹ xảo, nhất là những giá trị văn hóa  và kinh nghiệm, nhưng chúng ta vẫn còn mù mờ về cơ chế thiết lập tiến hóa hiện tại. Cụ thể, chúng ta có xu hướng đánh giá thấp tầm quan trọng của xã hội với tư cách là một bản mô phỏng tiến hóa.

Tiến hóa: không chỉ là gen

Điều này có nghĩa là sự phát triển biểu tượng trong cộng đồng người gần như thay thế sự tiến hóa gen trong việc làm lực lượng chi phối biến đổi sinh học trên Trái đất, và những gì có thể được gọi là kỷ nguyên con người của lịch sử sinh thái bắt đầu từ khoảng 40.000 năm trước.

Mc Neill và Mc Neill, Mạng lưới con người 2003

Bạn đã bao giờ yêu chưa? Nếu rồi, bạn đã từng lo lắng về hệ miễn dịch của người bạn yêu chưa? Có lẽ chưa, nhưng nghiên cứu chỉ ra rằng chúng ta có xu hướng yêu những người có hệ miễn dịch bổ trợ cho chúng ta. Đứng ở quan điểm tiến hóa, xu hướng này không có gì bất ngờ, bệnh dịch lây lan là kẻ thù nguy hiểm nhất của chúng ta, và chọn lọc chắc là đã lựa chọn những người có hệ thống miễn dịch hỗn hợp, bởi vì họ có khả năng kháng bệnh tốt hơn. Nhưng không ai trong chúng ta chú ý về điều đó. Đối với chúng ta, những đối tác tiềm năng này đơn giản trông có vẻ, có cảm giác hoặc có mùi vị ưa chuộng hơn. Chúng ta thậm chí còn không để ý nhiều đến chất lượng: đơn giản là chúng ta yêu họ. Vì thế, một trong những cơ chế gần giống khác khuyến khích sự chọn lọc đối tác liên quan đến gen có lẽ đã được phát hiện nhiều năm. Thêm vào đó, tất cả mọi người đều quen thuộc với cơ chế văn hóa trong chọn lọc đối tác: sự cấm kị loạn luân, dưới hình thức ít nhiều khắt khe, tồn tại ở tất cả các xã hội; và nhiều luật lệ tỉ mỉ ảnh hưởng đến việc chọn lọc đối tác dựa trên thông tin biểu tượng, ví dụ như liên minh tôn giáo. Những luật lệ này khác nhau ở các xã hội và có xu hướng khắt khe hơn ở những nền văn hóa bảo thủ, định hướng ngắn hạn, tránh né bất trắc, trọng nam, theo chủ nghĩa tập thể.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Sự phát triển của văn hóa – Phần VIII


Việc sử dụng các phương tiện mưu sinh khác nhau ở các dân tộc cũng khác nhau rất nhiều. Khí hậu cũng rất khác nhau, từ thảo mộc, động vật đến các yếu tố thuộc bối cảnh địa lý. Thêm vào đó, nếu sức ép chọn lọc khác nhau ở những nơi khác nhau thì sự phát triển cũng có xu hướng phân hóa. Có thể chọn lọc ở cấp độ nhóm có xu hướng giữ lại những giá trị và một số thực tiễn bền vững trong nhóm, duy trì ranh giới biểu tượng giữa các nhóm. Kết quả là, thế giới hiện đại biểu thị một sự đa dạng văn hóa kinh ngạc, trên cả khía cạnh giá trị và khía cạnh thực tiễn. Hầu hết các nền văn hóa đều bắt nguồn từ xưa mặc dù đã thay đổi khá nhiều. Những thay đổi văn hóa đã, đang và sẽ chịu ảnh hưởng của những tác động lớn của thế lực tự nhiên cũng như thế lực con người. Lý do đầu tiên cho sự đa dạng văn hóa là sự thích ứng với môi trường tự nhiên mới. Vì loài người sinh sống ở hầu hết các nơi trên thế giới, nên nhu cầu tồn tại đã dẫn đến việc nảy sinh các giải pháp văn hóa khác nhau. Sự di trú tập thể đến môi trường khác thường chịu tác động bởi nạn đói, phụ thuộc vào biến đổi khí hậu (như tình trạng sa mạc hóa), dân số quá đông, hay bất ổn chính trị (ví dụ sự thống trị của người Anh ở Ireland thế kỷ XIX). Thiên tai, ví dụ động đất và lũ lụt, đôi khi quét sạch toàn bộ xã hội và tạo những cơ hội mới cho xã hội khác.

Ở thế kỷ gần đây, loài người đã nhanh chóng trở nên giỏi hơn ở lĩnh vực mà các nhà sinh học gọi là “kiến thức hốc tường”. Bằng lửa, quần áo, cư trú và tất cả các loại công nghệ khác, chúng ta đã xâm chiếm gần như tất cả sinh quyển. Nhưng khí hậu vẫn còn là một yếu tố lớn, như nhà tâm lý xã hội học người Hà Lan Evert van de Vliert đã chứng minh. Evert van de Vliert nhìn vào những tác động của khí hậu trong suốt 10000 năm khi nền văn minh của chúng ta phát triển. Ông cho rằng khí hậu khắc nghiệt nhất là trong bối cảnh nhiệt độ hàng ngày chệch đi so với nhiệt độ lý tưởng 22oC (72oF). Phân tích dữ liệu cấp độ vùng của ông bao gồm cả mùa đông lãnh lẽo và mùa hè nóng nực. Khí hậu khắc nghiệt phân chia các xã hội giàu làm hai loại, một loại có những nguồn lực để chủ động ứng phú, một loại nghèo nàn tài nguyên và chỉ có thể chịu đựng điều đó. Loại thứ nhất, văn hóa tự bộc lộ rõ; loại thứ hai, văn hóa ẩn giấu bên trong do nhu cầu tồn tại. Văn hóa ở những nước có khí hậu dễ chịu trong năm không thể hiện sự phụ thuộc vào sự giàu có: con người ở các nước này có thể tự thể hiện mình ngay cả khi họ nghèo. Điều còn lại là câu hỏi về quan hệ nhân quả: tại sao một vài xã hội lại trở nên giàu có trong khi những xã hội khác vẫn nghèo đói.

Trong 10.000 năm trở lại đây, dân số thế giới đã tăng lên đáng kể, và thế giới ngày nay hoàn toàn sống trong bối cảnh các nền chính trị cạnh tranh nhau. Vì vậy, những năm gần đây, đã có một sự dịch chuyển nhanh chóng về sức ép tiến hóa. Nơi các nguồn lực tự nhiên từng là những nhân tố quan trọng của văn hóa, thì bây giờ nguồn lực con người nhanh chóng trở nên quan trọng hơn. Chinh phục bằng quân đội đã làm thay đổi đáng kể văn hóa bằng giết chóc, di chuyển, pha trộn dân số, trao quyền cho các lãnh chúa mới và định ra những luật lệ mới. Sự phát triển biểu tượng dưới hình thức lòng hăng hái truyền giáo, đẩy con người vào những tôn giáo tín ngưỡng mới cũng làm thay đổi văn hóa. Tuy nhiên, nếu ta nhìn lại lịch sử tôn giáo của các nước, ta sẽ thấy việc dân số một nước theo tôn giáo nào và hình thức nào của tôn giáo đó dường như là hệ quả của những hình mẫu giá trị đã tồn tại trước đó, chứ không phải là nguyên nhân của sự khác biệt văn hóa. Những tôn giáo lớn của thế giới, tại một thời điểm nào đó trong lịch sử, đều tồn tại sự ly giáo sâu xa: giữa những người La Mã Catholic, người Đông Orthodox và nhiều nhóm Tin Lành ở Thiên Chúa giáo; giữa những người Sunni và Shia của đạo Islam; giữa những nhóm tự do và những nhóm theo thuyết chức năng của đạo Jewry; giữa nhóm Hinayana và nhóm Mahayana của đạo Phật. Những khác biệt văn hóa từ trước giữa các nhóm tín ngưỡng thể hiện rõ sự ly giáo này. Chẳng hạn, phong trào cải cách trong nhà thờ Công giáo La Mã ở thế kỷ XVI ban đầu đã tác động đến toàn châu Âu. Tuy nhiên, ở các nước đã thuộc về Đế chế La Mã từ hơn 1000 năm trước, làn sóng chống cải cách đã phục hồi sự cầm quyền của nhà thờ La Mã. Cuối cùng, cuộc cải cách chỉ thành công ở những nước không có truyền thống La Mã. Mặc dù ngày nay hầu hết vùng Bắc Âu đều là người Tin Lành, và hầu hết vùng Nam Âu đều là người Công giáo La Mã, nhưng gốc rễ của sự khác biệt văn hóa không phải là sự chia rẽ tôn giáo mà là sự kế thừa Đế chế La Mã. Do đó liên minh tôn giáo bản thân nó không liên quan nhiều đến văn hóa như người ta vẫn tưởng. Mặc dù, một khi tôn giáo đã được thiết lập, nó sẽ củng cố thêm cho những hình mẫu văn hóa dựa trên những gì nó áp dụng, thông qua việc đưa những hình mẫu này trở thành những thành phần cốt lõi trong các bài giảng tôn giáo.

Những khám phá và đổi mới khoa học, bất kể đó là du nhập từ bên ngoài hay có ở trong nước, như đã khẳng định từ trước, có xu hướng tác động đến kinh nghiệm thực tiễn hơn là những giá trị tiềm ẩn. Chúng cũng có xu hướng được áp dụng trên toàn thế giới. Khi các nền văn hóa cùng thay đổi do những nguyên nhân chung, thì sự khác biệt giữa chúng vẫn còn tồn tại. Điều đó giải thích tại sao ta có thể tìm lại nguồn gốc văn hóa chung khi ngược trở lại nhiều thế kỷ trước.

Hồi kết của lịch sử: không!

Hành trình cỗ máy thời gian cho thấy không có bước đột phá diệu kỳ nào giữa các thời đại chúng ta, từ thời xã hội động vật nguyên thủy, buổi ban đầu làm người, và đến những thế kỷ sống trong văn minh. Cũng không có lý do gì để tin rằng sự phát triển đã dừng lại. Hoàn toàn có lý do để tin rằng sự tiến hóa của con người đang ngày càng nhanh hơn. Vì vậy đã đến lúc làm quen với tư duy tiến hóa. Hiểu lịch sử dưới ánh sáng của tiến hóa sẽ cho phép đưa ra những lời dự đoán xác thực hơn về những gì cần làm để phát triển tương lai của chúng ta. Sự phát triển văn hóa có mặt xung quanh chúng ta. Lịch sử không những không hề kết thúc mà còn diễn tiến nhanh hơn. Lịch sử chứng kiến sự gia tăng ngoạn mục của quy mô xã hội chỉ trong một vài thế hệ. Tiến trình này vẫn không dừng lại. Khoảng 700 thế hệ trước đây vào 15000 năm trước Công nguyên, có thể có 600.000 chế độ chính trị trên Trái đất, mỗi chế độ có khoảng hàng chục đến hàng trăm cá nhân. Ngày nay có khoang 200 chế độ, mỗi chế độ có hàng triệu người. Chúng ta đang trong tiến trình chinh phục tự nhiên nhanh hơn, đó là hệ quả của việc môi trường con người đang ngày càng trở nên quan trọng hơn. Càng ngày, các mối đe dọa cũng như các cơ hội càng xuất phát từ người khác. Đổi lại, chúng ta đang ở trong quá trình pha trộn và mở rộng trên quy mô lớn những phạm vi đạo đức. Tiến trình này có lẽ là xu thế phát triển đáng chú ý nhất của vài trăm thế hệ gần đây. Đồng thời, chúng ta vẫn duy trì nhiều điều chỉnh thích ứng với đời sống ở các bộ lạc nhỏ đặc trưng cho tổ tiên chúng ta qua hàng triệu năm. Chưa kể đến việc, do chúng ta quá đông đúc và đã tạo ra một đời sống xã hội quá phong phú, mà những đổi mới đang diễn ra trong guồng quay biến đổi xung quanh chúng ta.

Nghịch lý ở chỗ thực tiễn và công nghệ có thể thay đổi nhanh bởi vì, và miễn là, xã hội vẫn thực hiện chức năng bằng những cách thức ổn định. Một xã hội đòi hỏi phải có sự đồng nhất văn hóa ở mức độ các giá trị tiềm ẩn để có khả năng hành động tập thể, đây là điều kiện cho một nhóm có thể thích ứng được với môi trường. Và sự đồng nhất văn hóa không cho phép thay đổi nhanh các giá trị được cho là phần chủ yếu trong giai đoạn đầu của sự phát triển và trong đời sống. Những thay đổi hệ giá trị đòi hỏi nhiều thế hệ. Vì vậy, trong khi các nhóm với những giá trị văn hóa chung sẽ đồng phản ứng tốt hơn với môi trường, thì họ sẽ chậm dịch chuyển hệ giá trị chung của mình ngay cả khi những thay đổi hoàn cảnh sống khiến cho sự dịch chuyển giá trị đó có những lợi thế tồn tại riêng. Chú ý rằng sự chậm thay đổi ở hệ giá trị vẫn còn rất nhanh so với tình huống thiếu vắng văn hóa trong đó sự biến đổi gen là cơ chế duy nhất.

Loài người đã có bề dày lịch sử, mạng giao tranh và hợp tác đan xen phức tạp giữa các nhóm liên minh là quy luật lịch sử. Một vài nhóm ưu tú ở một vài xã hội sẽ mong muốn mở rộng phạm vi đạo đức để bao quát cả mọi thứ, tạo ra một thế giới hoàn toàn mới, trong đó tất cả con người và các sinh vật đều chung sống hòa bình. Đó là một ý tưởng đẹp nên theo đuổi, nhưng hiện giờ tính thực tế của nó cũng giống như những ý tưởng về thiên đường trên Trái đất trong Kinh Thánh. Tuy nhiên xu hướng mở rộng phạm vi đạo đức đã đưa chúng ta đến được nơi chúng ta sống ngày nay, và nó tiếp tục đưa chúng ta đi xa hơn. Ta tồn tại – do đó ta tiến hóa.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.