Ánh sáng hay bóng tối? – Phần cuối


Ham mê và kiềm chế ở nơi làm việc

Giáo sư quản trị và chuyên gia văn hóa người Nga Sergey Myasoedov được biết đến ở các trường kinh doanh Đông Âu về những bài tường thuật thú vị của ông, mô tả những xung đột văn hóa giữa các giám đốc người Mỹ ở Nga với nhân viên hoặc khách hàng. Ông nhấn mạnh rằng nhân viên lễ tân Mỹ đòi hỏi phải luôn luôn mỉm cười với khách hàng. Điều này dường như phổ biến ở các nền văn hóa hạnh phúc và ham mê nói chung như Mỹ. Nhưng một công ty như McDonald’s cố gắng mang khuôn mẫu ở Mỹ áp dụng vào một xã hội kiềm chế cao thì sẽ có những kết quả không mong đợi.

Khi họ đến Nga, họ mang theo văn hóa doanh nghiệp đặc trưng của mình. Họ quyết định đào tạo các cô bé cậu bé bán hàng người Nga. Họ muốn chúng mỉm cười theo cách mà McDonald’s trình diễn, phô hết tất cả 32 cái răng ra. Nhưng sau đó, các chuyên gia McDonald’s thấy rằng khách hàng Nga bị sốc bởi nụ cười hết cỡ đó. Họ nhìn chằm chằm vào nhân viên bán hàng thực sự kinh ngạc: “Tại sao lại nhe răng cười toe toét như thế?”. Họ đã nghiên cứu và thấy rằng một nụ cười ngoác với một người lạ không phải là văn hóa ở Nga. Người Nga không bao giờ cười như thế khi họ tình cờ gặp một người lạ. Khi một ai đó làm như vậy với người Nga, phản ứng thường thấy là: “Người này có vấn đề gì vậy?”.

Những khác biệt đó cũng thành thông lệ cho hình ảnh công chúng của những nhà lãnh đạo chính trị. Ở Mỹ, duy trì một bộ mặt hề sẽ là dấu chấm hết cho ứng viên chính trị hoặc cho người quản lý một văn phòng chính trị cấp cao. Hình ảnh công chúng ở Mỹ được mong đợi là phải có chút lạc quan và vui vẻ ngay cả thâm tâm họ đang lo lắng về sự nghiệp chính trị của mình. Nhưng ở Nga, một bộ mặt nghiêm nghị là dấu hiệu của sự nghiêm túc, và Vladimir Putin là một ví dụ sống động.

Geert cho rằng Ham mê cũng giải thích thông lệ mỉm cười khi chụp ảnh (“Hãy nói thật tuyệt!”). Những người bạn Đông Âu của ông dường như không có thói quen này.

Ham mê và kiềm chế và nhà nước

Một điểm trong nghiên cứu WVS từ 1995 đến 2004 hỏi người được phỏng vấn là lựa chọn mục tiêu quan trọng nhất trong 4 mục tiêu quốc gia: duy trì trật tự quốc gia, đem lại tiếng nói cho người dân nhiều hơn, chống giá cả tăng, bảo vệ tự do ngôn luận. Phần trăm người được hỏi chọn “duy trì trật tự quốc gia” là mục tiêu đầu tiên liên hệ nghịch với ham mê, và liên hệ thuận với kiềm chế như là một nét văn hóa. Người dân ở các xã hội kiềm chế nhiều hơn thường sẽ xem duy trì trật tự (hay bất cứ thứ gì họ hiểu như thế) như là một một mục tiêu quốc gia quan trọng đặt lên trên các mục tiêu khác.

Trong nghiên cứu WVS, thậm chí có một mối tương quan mạnh hơn giữa ham mê và lựa chọn tự do ngôn luận làm mục tiêu quốc gia quan trọng nhất. Đây là một phát hiện quan trọng đối với các chính trị gia phương Tây và các nhà báo, nhiều người trong số họ gặp rắc rối trong việc hiểu được thực tế là con người ở một vài nước không coi trọng mục tiêu quốc gia, như Mỹ và Hà Lan. Sự tự do ngôn luận có thể là mục tiêu nổi bật ở một xã hội phương Tây ham mê nhưng ở một nước kiềm chế thì nó có thể bị coi thường, đặc biệt nếu người ta phải thực hiện những chọn lựa quan trọng hơn. Phần trăm người được hỏi chọn tự do ngôn luận làm mục tiêu đầu tiên rải từ 36,6 ở Hà Lan đến 1,5 – mức thấp nhất trên thế giới – ở Nga. Người Nga, cũng như người dân ở nhiều nước Đông Âu khác, ít ưu tiên đến một số quyền con người mà công dân các nước phương Tây coi trọng. Điều này giải thích tại sao tỷ lệ người Nga không quan tâm đến việc bị cai quản bởi những kẻ chuyên quyền cao đến vậy; trong một xã hội kiềm chế, phân chia quyền lực lớn, luật cầm quyền có thể được chấp nhận. Nó cũng giải thích tại sao nhiều công dân Nga sống ở nước ngàoi và quen với cuộc sống phương Tây lại không ấn tượng chút nào với sự tự do mà họ chứng kiến. Bình luận về các chiến thuật mạnh tay của Điện Kremlin, họ khăng khăng đó là điều tốt để có một chính phủ mạnh, nếu không sẽ có hỗn loạn, và đó là một điều đất nước không bao giờ muốn.

Kết luận cũng giống với dữ liệu của Eurobarometer năm 2008. Trong 26 nước châu Âu, phần trăm người được hỏi chọn “tự do ngôn luận” làm mục tiêu mưu cầu cho tương lai có liên quan mật thiết với ham mê. Tương tự với phần trăm người chọn “dân chủ” là quan trọng nhất trong mối tương liên với ý kiến về hạnh phúc.

Bảng 8.3: Những khác biệt chính giữa xã hội cởi mở và Cấm kỵ
II. Cuộc sống riêng tư, hành vi của người tiêu dùng, giới tính, và chính trị
Cởi mở Cấm kỵ
Thưởng thức âm nhạc và phim ảnh nước ngoài cao Ít thưởng thức âm nhạc và phim ảnh nước ngoài
Đáp ứng nhiều hơn cuộc sống gia đình Ít hài lòng với cuộc sống gia đình
Nhiệm vụ gia đình phải được chia sẻ Bất bình đẳng chia sẻ nhiệm vụ gia đình
Tích cực tham gia các môn thể thao Hiếm khi tham gia các môn thể thao
Email và Internet cho các địa chỉ liên hệ cá nhân Ít trao đổi email với các nhân
Email và Internet liên lạc với người nước ngoài Ít email và Internet liên lạc với người nước ngoài
Ít tiêu thụ cá Tiêu thụ nhiều cá
Dùng nhiều nước giải khát và bia Dùng ít nước giải khát và bia
Ở các nước giàu: tỷ lệ phầm trăm những người béo phì cao hơn Ở những nước giàu: tỷ lệ phầm trăm những người béo phì ít hơn
Quy định vai trò giới tính lỏng lẻo Vai trò giới tính theo quy định nghiêm ngặt
Ở các nước giàu: tiêu chí tình dục không quá cấm đoán Ở các nước giàu: tiêu chí tình dục nghiêm ngặt
Mỉm cười như một tiêu chuẩn Mỉm cười khi nghi ngờ
Tự do ngôn luận được xem là tương đối quan trọng Tự do ngôn luận không phải là một mối quan tâm chính
Duy trì trật tự trong cả nước không là ưu tiên cao Duy trì trật tự trong cả nước được coi là một ưu tiên cao
Số lượng nhân viên cảnh sát thấp trên 100.000 dân Số lượng nhân viên cảnh sát cao trên 100.000 dân

Sự xuất hiện sự tự do bộc lộ và tự do dân chủ ở một đất nước đã được cho thấy có liên quan đến những giá trị con người trong lĩnh vực phân chia quyền lực, chủ nghĩa cá nhân và sự tránh né bất trắc. Mối liên hệ với IVR cho thấy một ảnh hưởng khác lên việc con người một nước nghĩ thế nào về những ý tưởng chính trị liên quan.

Chỉ số ham mê không chỉ dự đoán được thái độ đối với chính quyền quốc gia trong các nghiên cứu viết. Trên thực tế, nó liên hệ nghịch với số lượng cảnh sát trên 100.000 dân ở 41 nước mà dữ liệu thu thập. Những xã hội kiềm chế hơn thì nghiêm túc hơn về các giớ hạn của họ – họ có nhiều cảnh sát tính trên đầu người hơn.

Như trường hợp của hầu hết các khía cạnh văn hóa, thật khó giải thích chắc chắn được tiến trình lịch sử đã tạo ra những khác biệt gì trong trục Ham mê và Kiềm chế mà chúng ta quan sát hôm nay. Lời giải thích có thể được Misho đưa ra trong một bài viết trên tờ báo Nhân loại học Sage có tên CrossCultural Research (Nghiên cứu giao thoa văn hóa) cũng như những ấn phẩm trước đó của ông. Ông cho rằng những xã hội ham mê không có lịch sử hàng thiên niên kỷ của nền văn minh nông nghiệp tập trung Âu – Á kéo dài đến ngày nay. Theo lịch sử, nền nông nghiệp tập trung chưa bao giờ có ở vùng cận Sahara châu Phi. Một số nước hình thành từ con đường này đaã tồn tại ở một vài nơi trên châu Mỹ, nhưng giống như châu Phi, không có các động vật dưới nước ở đây, đó là một trở ngại nghiêm trọng cho sự phát triển của nó. Đối với các quốc gia nói tiếng Anh và Scandinavia, lịch sử văn hóa nông nghiệp tập trung truyền thống đã có từ lâu trước khi bị mai một. Nền nông nghiệp tập trung cao của loại hình Á – Âu mang lại vô số tai ương cho những người đã nếm trải nó: làm việc căng thẳng, các thời kỳ luân phiên dồi dào và khan hiếm thực phẩm, tình trạng đè nén và khai thác quá mức, dịch bệnh tràn lan, và chiến tranh lãnh thổ triền miên. Không ngạc nhiên khi các xã hội Á – Âu của nền nông nghiệp tập trung phát triển những học thuyết triết học như Phật giáo, theo đó cho rằng cuộc sống là chịu đựng và mưu cầu hạnh phúc là phí phạm thời gian, hoặc ba nền tôn giáo Trung Đông vĩ đại là đạo Do Thái, đạo Thiên Chúa và đạo Hồi, những tôn giáo dạy hạnh phúc thực sự nằm ở cuộc sống bên kia. Xã hội săn bắn hái lượm và trồng trọt chăn nuôi không bị đe dọa bởi các thiên tai của nền nông nghiệp tập trung, điều này giải thích tại sao họ có mong muốn tự do và hạnh phúc cao hơn. Như chuyên gia người Mỹ ở SWB Ed Diener và William Tov phát biểu, nghiên cứu những người Inuit và Maasai đã tiết lộ rằng họ hạnh phúc như những người Mỹ giàu có nhất. Hơn nữa, nền nông nghiệp tập trung đòi hỏi phải có kỷ luật khắt khe, lập kế hoạch và tiết kiệm cho tương lai, tránh xa nghỉ ngơi, thắt chặt quản lý xã hội, và điều đó lại không cần thiết, cũng không thể có ở mức độ như vậy trong xã hội săn bắn hái lượm hay trồng trọt chăn nuôi. Những xã hội hiện đại tiên tiến bậc cao với nền kinh tế dịch vụ dường như lại đang quay trở lại nền văn hóa ham mê hơn của thời xa xưa, trước khi nền văn minh nông nghiệp tập trung ra đời.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Advertisements

Ánh sáng hay bóng tối? – Phần IV


Chúng tôi đã nói rằng tính ham mê cao gắn liền với tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch thấp hơn ngay cả khi đã tính đến chênh lệch giàu nghèo các quốc gia. Điều này chứng tỏ Sự thỏa mãn mang tính chủ quan cao hơn mà tính ham mê đại diện cho nó thật ra không hề chủ quan. Những xã hội kiềm chế hơn có những vấn đề về sức khỏe rõ ràng chứ không phải là sản phẩm của trí tưởng tượng của con người. Các bệnh về tim mạch là một hiện tượng phức tạp với nhiều nguyên nhân ở cấp độ cá nhân, nhưng dường như sự bất hạnh là một trong những nguyên nhân đó.

Chính phủ các quốc gia nghèo thường lo lắng về tỷ lệ sinh tăng, nhưng họ lại có ít biện pháp để kiểm soát nó. Chưa tính đến trình độ giáo dục thấp – điều khó tránh khỏi – lựa chọn duy nhất của họ là tăng mức độ hạnh phúc trong đất nước của họ, điều này sẽ khuyến khích sức khỏe mang tính chủ quan và thái độ lạc quan. Thật không may, chưa có phương pháp nào được biết tới để đẩy cao tỷ lệ người hạnh phúc ở một quốc gia. Dường như phát triển kinh tế có một tác động như thế. Tuy nhiên, điều này cần phải có thời gian dài. Giữa năm 1998 và 2008, hầu hết tất cả các nước ở phần châu Âu của Liên bang Xô Viết cũ, cũng như Bulgaria và Rumania, đểu có chỉ số GNI trên đầu người gấp đôi. Nhưng mức độ hạnh phúc thấp đến đáng buồn vốn đã thành đặc điểm của họ ở đầu thập kỷ trước vẫn không thay đổi gì ở thập kỷ sau. Và khủng hoảng nhân khẩu đang tàn phá tất cả các nước này vẫn còn tiếp diễn.

Ham mê và kiềm chế, tầm quan trọng của bạn bè, và thái độ tiêu dùng

Chúng ta đã thấy rằng “một người bạn thân thiết” là một giá trị mà những người được hỏi thường có xu hướng lựa chọn trong những xã hội theo chủ nghĩa cá nhân. Nhưng còn tầm quan trọng của bạn bè nói chung thì sao? Nếu như ham mê đại diện cho thiên hướng tận hưởng cuộc sống, thì bạn bè lại có tầm quan trọng cao hơn trong những xã hội ham mê bởi vì một trong những chức năng của họ là cung cấp sự giải trí và vui đùa.

WVS đem lại một cơ hội kiểm tra giả thuyết này. Một điểm phỏng vấn những người được hỏi là bạn bè quan trọng như thế nào trong cuộc sống của họ. Tỷ lệ những người trả lời “rất quan trọng” có liên hệ thuận với IVR. Điều này phù hợp với phát hiện rằng các nền văn hóa ham mê có đặc trưng là tính hướng ngoại cao hơn – một thước đo cấp độ cá nhân của tính hòa đồng xã hội và vui vẻ.

Trong các cuộc nghiên cứu những năm 2002, 2003, Trung tâm nghiên cứu Pew đã hỏi những người được phỏng vấn là liệu các bộ phim và ca nhạc nước ngoài là một điều tốt hay không. Tỷ lệ người trả lời “rất tốt” có liên hệ thuận với ham mê. Các xã hội ham mê cao hơn có tỷ lệ người hoàn toàn đồng ý với những sản phẩm giải trí du nhập như phim ảnh, ca nhạc cao hơn. Các tỷ lệ này rải từ 68 (đồng ý cao nhất) ở Nigeira đến 11 (đồng ý thấp nhất) ở Pakistan. Chúng hoàn toàn không liên quan đến các thước đo tôn giáo hay lòng yêu nước của WVS, do đó những khác biệt quan sát được trong việc chấp nhận phim ảnh ca nhạc ngoại không thể giải thích bằng những luận điểm này.

Chuyên gia marketing Hà Lan Marieke de Mooji liên hệ điểm số IVR với điều tra cua Eurobarometer gần đầy và các dữ liệu tiêu dùng khác. Trong số 27 nước châu Âu theo điều tra của Eurobarometer, IVR chia làm hai nhóm: hầu hết các thành viên phương Tây (ham mê hơn) và các nước phương Đông (kiềm chế hơn). De Mooji tìm thấy một số mối liên hệ chính. Ở các xã hội ham mê hơn, người ta công bố thỏa mãn hơn với cuộc sống gia đình, họ thường coi sự chia sẻ bất bình đẳng trong các công việc gia đình giữa vợ chồng là một vấn đề hơn. Họ thường chủ động tham gia thể thao (ít nhất 1 lần 1 tuần). Họ thường trao đổi email với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và liên lạc nhiều hơn với người nước ngoài trên Internet và email. Họ cũng dùng ít cá hơn, uống nhiều nước ngọt và bia hơn.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cung cấp dữ liệu béo phì ở nam và nữ ở hầu hết các quốc gia. Nó cũng không có ý nghĩa nhiều trong việc so sánh tỷ lệ béo phì giữa các quốc gia, nơi nhiều người phải chịu chế độ dinh dưỡng không đầy đủ. Trong 26 nước giàu mà dữ liệu này cung cấp, sau khi tính đến yếu tố GNI dựa trên ngang giá sức mua, kết quả cho thấy ham mê có liên hệ thuận với béo phì. Mặc dù có nhiều tác động quan trọng, nhưng dường như khả năng trang trải không phải là vấn đề, các xã hội ham mê hơn sẽ thiên về tiêu dùng không giới hạn các đồ thực phẩm ăn vật gây bệnh béo phì.

Chúng tôi cũng liên hệ IVR với những khía cạnh văn hóa quốc gia trong dự án Globe. Trong 49 nước phổ biến, IVR đặc biệt liên quan đến 5 trong số 18 thước đo của Globe. Mối liên hệ mạnh nhất với ham mê là chủ nghĩa bình đẳng giới “mong muốn” (Không có mối liên hệ với chủ nghĩa bình đẳng giới thực tế). Sự khác biệt vai trò giới khắt khe có ở xã hội kiềm chế. Tiếp theo, ham mê liên hệ nghịch với chủ nghĩa tập thể nội bộ thực tế, và thuận với chủ nghĩa tập thể nội bộ mong muốn. Các xã hội kiềm chế tồn tại chủ nghĩa tập thể nội bộ nhiều hơn và ít hạnh phúc với nó. Mối liên hệ còn lại là với định hướng thực thi mong muốn (thuận) và với tính quyết đoán mong muốn (nghịch). Xã hội ham mê mong muốn sự thực thi mà không cần hành vi quyết đoán.

Ham mê và kiềm chế, và các mối quan hệ giới tính

Nhà tâm lý học người Mỹ David Schmitt thành lập ra dự án Mô tả tính dục quốc tế và kết hợp làm một số nghiên cứu văn hóa thú vị dưới dự án đó. Một trong số chúng tập trung vào những gì mà ông gọi là Tính dục xã hội. Theo Schmitt, đây là một khía cạnh chiến lược đơn lẻ của việc kết bạn của con người, định nghĩa như sau:

Những người ở vị trí khá thấp trong trục này được cho rằng sở hữu một định hướng tính dục xã hội kiềm chế, họ có xu hướng một vợ một chồng, thời gian tìm hiểu lâu dài và đầu tư cảm xúc nhiều vào các mối quan hệ lâu dài. Những người có mức tính dục xã hội cao được cho rằng ít kiềm chế trong định hướng kết bạn hơn, họ có xu hướng tạp hôn, dễ có hành vi yêu đương, và trải nghiệm các cấp độ thấp hơn của sự thân thiết lãng mạn.

Những phát hiện của Schmitt và cộng sự cho thấy tính dục xã hội ở nữ tự công khai có liên quan cực thuận với chủ nghĩa cá nhân/tính phổ quát (và cực nghịch với chủ nghĩa tập thể/tính riêng biệt). Điều này có thể có nghĩa là phụ nữ phương Tây tự do hơn về tình dục, nhưng cũng có nghĩa là phụ nữ ở các nước theo chủ nghĩa tập thể hạn chế nói về tình dục hơn, hai điểm này không hề loại trừ lẫn nhau. Thú vị ở chỗ khác biệt về tính dục xã hội nam giới được công bố không có liên quan nhiều đến chủ nghĩa cá nhân và tính riêng biệt. Đàn ông trên khắp thế giới có lẽ không miễn cưỡng khi nói về tình dục và ở nhiều nền văn hóa họ thật ra còn phải ba hoa về khả năng của mình, không biết được là thật hay là do tưởng tượng.

Điều này có nghĩa là những kết luận về sự khác biệt quốc gia trong tính dục xã hội dựa trên sự tự công khai nên được bảo vệ. Tuy nhiên, ở các nước giàu có, nơi tình dục ít bị coi là cấm kị, thì có thể đoán được là những người được phỏng vấn phần nào nói thật về nó, ít nhất là trong các nghiên cứu giấu tên. Kết quả từ các bài nghiên cứu trên giấy bút do đó đáng tin cậy hơn. Nhưng sự khác biệt ở chủ nghĩa cá nhân (và theo đó là ở mức độ mà người được hỏi dám trả lời thẳng thắn) và ở tính chất đàn ông trong các chủ đề cấm kị vẫn góp phần tạo nên sự khác biệt trong tính dục xã hội tự công khai. Hơn thế nữa, trong 21 nước giàu, điểm số tính dục xã hội quốc gia đối với đàn ông và đàn bà có liên hệ thuận với ham mê. Điều này mở ra một khía cạnh khác của trục Ham mê và Kiềm chế, đó là các thànhv iên trong các xã hội ham mê hơn, đặc biệt là các nước giàu, có xu hướng công khai hơn về tính dục xã hội. Có lẽ những công khai này phản ánh hành vi thực sự, mặc dù điều này cần phải nghiên cứu thêm.

Một điểm trong WVS hỏi người được phỏng vấn (chỉ lấy mẫu người châu Âu) là họ nghĩ gì về tình dục ngẫu hứng. Phần trăm người chọn vị trí 10 (luôn luôn chấp nhận) liên hệ thuận với ham mê. Trong trường hợp này, câu hỏi đưa vào như một thông lệ. Người được hỏi không nhất thiết phải nói về họ mà ám chỉ những hành vi mà họ mong muốn ở người khác. Do đó, kết quả đáng tin cậy hơn. Những xã hội ham mê hơn có phần trăm người nói không với những tục lệ nới lỏng cho tình dục ngẫu hứng cao hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Ánh sáng hay bóng tối? – Phần III


Ham mê và kiềm chế, sự thỏa mãn mang tính chủ quan trọng các nghiên cứu tầm quốc gia khác

Một đội nghiên cứu dẫn đầu bởi Peter Kuppens từ Bỉ đã nghiên cứu cái họ gọi là tần suất hồi tưởng các kinh nghiệm cảm xúc (tức là người ta nhớ về những cảm xúc tiêu cực và tích cực ra sao). Mẫu của họ là 9300 cá nhân từ 48 quốc gia. Hai trục cấp độ quốc gia ở nghiên cứu này, đặt tên là Thành phần 1 (mặt tích cực) và Thành phần 2 (mặt tiêu cực). Những người tham gia từ các xã hội có tỉ số cao về Thành phần 1 có xu hướng hồi tưởng lại những cảm giác tích cực, trong khi những người có tỉ số cao về Thành phần 2 nhớ nhiều hơn đến các cảm giác tiêu cực. Cả hai thành phần này đều không liên quan đến nhau.

Thành phần 1, đo lường tần suất cảm giác tích cực, có mối liên quan chặt chẽ với IVR. Ở các xã hội đam mê nhiều hơn, người ta dường như nhớ những cảm giác tích cực nhiều hơn.

Một nghiên cứu trên quy mô rộng tương tự được công bố bởi các nhà nghiên cứu người Mỹ Ulrich Schimmack, Shigeiro Oishi, và Ed Diener. Họ phỏng vấn 6780 sinh viên đại học từ 40 quốc gia với câu hỏi: Họ đã bao nhiêu lần trải nghiệm các cảm xúc dễ chịu và không dễ chịu trong tháng trước. Công bố này có nghĩa là tần suất cảm xúc dễ chịu có liên hệ thuận với Ham mê. Sinh viên ở các xã hội nhiều ham mê theo công bố thường trải nghiệm các cảm xúc tích cực nhiều hơn.

IVR không liên quan đến LTO-CVS, nhưng Nghiên cứu giá trị Trung Quốc của Micheal Bond công bố một trục khác gọi là Nguyên tắc đạo đức. Chúng ta đã thấy nó liên quan đến sự phân chia quyền lực. Hai điểm đầu của nó là “kiềm chế đạo đức” và “sự thiếu lập trường cứng rắn”. Những điểm xác định cực dương của trục này là “khiêm tốn”, “giữ cho mình trong sạch và không mành danh lợi”, và “có ít tham vọng”. Bởi vì những điểm này dễ liên kết với tính Kiềm chế, nên ta có thể đoán nó liên kết nghịch với Ham mê. Thực tế liên kết này có tồn tại. Những xã hội có tỉ số ham mê cao lại đạt điểm số thấp ở nguyên tắc đạo đức. Các thành viên trong xã hội đó ít khi đánh giá cao sự khiêm tốn và có ít tham vọng.

Với một nhóm trợ lý khác, Bond sau đó đã nghiên cứu những gì mà ông gọi là chân lý xã hội trong các niềm tin chung của 7672 sinh viên từ 41 quốc gia. Họ đạt được hai trục văn hóa, một trục gọi là tính hoài nghi văn hóa. Nó ám chỉ sự đồng tình với những phát ngôn như “Quan tâm đến những vấn đề của xã hội chỉ đem lại phiền phức cho bạn”, “Những người tốt bụng thường chịu nhiều mất mát”, “Người già thường cố chấp và thành kiến”, và “Con người sẽ ngừng làm việc sau khi họ đạt được một cuộc sống sung túc”. Nó cũng phản ánh một quan điểm cho rằng những người có quyền lực là những kẻ bóc lột ngạo mạn những cá nhân ít quyền lực hơn. Theo dữ liệu sẵn có, tính hoài nghi văn hóa mạnh nhất ở Đông Âu, Đông Á (Hàn Quốc, Đài Loan), Pakistan và Thái Lan. Nó yếu nhất ở Na Uy, Hoa Kỳ và Canada. Tính hoài nghi văn hóa liên hệ nghịch khá chặt chẽ với IVR. Điều này có thể suy ra những thành viên trong các xã hội nhiều kiềm chế và ít ham mê thường có cái nhìn hoài nghi hơn. Sự kiềm chế của xã hội không chỉ làm con người kém hạnh phúc hơn mà dường như còn khích lệ những trạng thái của chủ nghĩa tiêu cực. Tính hoài nghi chỉ là một trạng thái. Những trạng thái khác sẽ được thảo luận tiếp theo dưới đây.

Cuối cùng, Ham mê có liên quan đến những tục lệ quốc gia đối với 2 trong 5 trục ở mô hình nét tính cách Big Five: nó có quan hệ thuận với tính hướng ngoại và nghịch với tính trung lập. Bởi vì tính hướng ngoại gắn liền với tác động tích cực, trong khi tính trung lập phản ánh xu hướng trải nghiệm những cảm giác tiêu cực, cho nên phát hiện này phù hợp với bản chất của trục Ham mê và Kiềm chế. Các xã hội ham mê nhiều hơn sẽ có nhiều cá nhân hướng ngoại hơn và ít cá nhân mang tính trung lập hơn.

Ham mê và kiềm chế, sức khỏe chủ quan, chủ nghĩa lạc quan và tỉ lệ sinh

Các xã hội với điểm số cao về Ham mê có số phần trăm người được WVS mô tả sức khỏe cá nhân là “rất tốt” cao hơn. Mối liên hệ này đặc biệt cao ở các nước giàu.

Trung tâm nghiên cứu Pew là một cơ quan nghiên cứu trưng cầu ý dân đặt tại Mỹ. Cơ quan này thu thập dữ liệu từ 50 quốc gia, sử dụng chủ yếu mẫu đại diện cho quốc gia. Một trong những câu hỏi phỏng vấn trong các nghiên cứu tầm quốc gia của họ đưa ra cho người được hỏi là họ cảm thấy lạc quan đến mức nào về tương lai. Tỷ lệ những người được hỏi thể hiện thái độ lạc quan có liên quan nhiều đến số điểm ham mê. Những xã hội ham mê cao có nhiều người lạc quan hơn và ngược lại.

Bảng 8.2: Những khác biệt chính giữa xã hội cởi mở và cấm kỵ
I. Tổng chi tiêu, cảm xúc cá nhân, và sức khỏe
Cởi mở Cấm kỵ
Tỷ lệ phần trăm của người rất hạnh phúc cao hơn Tỷ lệ phần trăm của người rất hạnh phúc ít hơn
Nhận thức về kiểm soát cuộc sống cá nhân Nhận thức về kiểm soát cuộc sống cá nhân: Những gì xảy ra cho tôi không phải là do tôi
Tầm quan trọng của giải trí cao hơn Tầm quan trọng của giải trí ít hơn
Tầm quan trọng của việc có bạn bè cao hơn Tầm quan trọng của việc có bạn bè thấp
Tiết kiệm không phải là rất quan trọng Tiết kiệm là rất quan trọng
Xã hội cởi mở Xã hội ràng buộc
Nhiều khả năng nhớ những cảm xúc tích cực Ít khả năng nhớ những cảm xúc tích cực
Ít đạo đức Đạo đức được chỉ dạy
Thái độ tích cực Thái độ tiêu cực
Nhiều người hướng ngoại Nhiều người hướng nội
Tỷ lệ phần trăm của những người cảm thấy khỏe mạnh Tỷ lệ phần trăm của những người cảm thấy khỏe mạnh ít
Lạc quan cao hơn Lạc quan thấp hơn
Ở các quốc gia với dân số được giáo dục tốt: cao hơn tỷ lệ sinh Ở các quốc gia với dân số được giáo dục tốt: tỷ lệ sinh thấp
Tỷ lệ tử vong thấp hơn các bệnh tim mạch Tỷ lệ tử vong hơn các bệnh dịch

Hạnh phúc, sức khỏe mang tính chủ quan và thái độ lạc quan về tương lai, tất cả đóng vai trò nhất định đối với số lượng trẻ em sinh ra trong một xã hội.

Những bằng chứng cho mối quan hệ giữa sự giàu có, tính nữ trong văn hóa và số lượng trẻ em được công bố. Trình độ giáo dục cũng có ảnh hưởng nhất định: nhóm dân số ít giáo dục hơn thường có nhiều con hơn. Ở 28 nước giàu (những nước có GNI trên đầu người hơn 10000 USD trong năm 1999), trục ham mê đối lập với kiềm chế là nhân tố chính dự đoán tỷ lệ sinh, giải thích được nhiều hơn trình độ giáo dục và sự giàu có quốc gia. Nhóm dân số không cảm thấy hạnh phúc và khỏe mạnh không hào hứng lắm với việc có con, đặc biệt nếu họ có trình độ giáo dục điển hình của một nước phát triển kinh tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Ánh sáng hay bóng tối? – Phần II


Sự đam mê đối lập với sự kiềm chế với tư cách là một trục mang tính xã hội

Bị hấp dẫn bởi những phân tích của Inglehart thuộc WVS, Misho tự mình thực hiện những phân tích riêng. Ông khám phá ra rằng trục nghiên cứu “sự thỏa mãn đối lập với sự sinh tồn” của Inglehart có thể tách ra làm hai, không những về mặt quan điểm mà còn về mặt thống kê. Những điểm chỉ các mối quan hệ giữa các nhóm người hoặc giữa các cá nhân và các nhóm (ví dụ luận điểm đàn ông làm lãnh đạo tốt hơn hay đàn bà cần có con cái) đã hình thành nên trục giá trị mà Misho gọi là “tính phổ quát đối lập với tính riêng biệt” đã được thảo luận như một biến thể của trục chủ nghĩa cá nhân đối lập với chủ nghĩa tập thể. Những điểm ban đầu liên quan đến hạnh phúc đứng thành một nhóm riêng biệt và hình thành một trục khác. Quan sát hơn 90 nước, hai điểm WVS đặc biệt dự đoán hạnh phúc tốt hơn bất kỳ biến nghiên cứu nào trước đó.

Misho xem xét những điểm sau như là điểm cốt lõi của một trục mới. Đây là những điểm hạnh phúc được hình thành trong WVS:

1/ Hạnh phúc: % câu trả lời “Rất hạnh phúc” cho câu hỏi: “Xét toàn diện thì bạn sẽ nói bạn rất hạnh phúc, hạnh phúc, khá hạnh phúc, không hạnh phúc lắm hay không hề hạnh phúc?”

2/ Kiểm soát cuộc sống: Điểm trung bình quốc gia công bố bởi WVS cho câu hỏi sau: “Một số người cảm thấy họ hoàn toàn tự do lựa chọn cuộc sống của mình, trong khi những người khác cảm thấy họ không thực sự tác động đến những gì xảy ra với họ. Hãy sử dụng thang điểm 1 cho nghĩa “không một chút nào” và 10 cho “rất nhiều” để đo mức độ tự do lựa chọn và kiểm soát mà bạn cảm thấy về cuộc sống của mình”.

3/ Tầm quan trọng của giải trí: Phần trăm lựa chọn câu trả lời “Rất quan trọng” đối với thời gian nghỉ ngơi cho câu hỏi: “Với mỗi đối tượng sau, hãy chỉ ra tầm quan trọng của nó đối với cuộc sống của bạn ở các mức rất quan trọng, quan trọng, không quan trọng lắm, không hề quan trọng: gia đình, bạn bè, thời gian nghỉ ngơi, chính trị, công việc, tôn giáo, phục vụ người khác”.

4/ Yếu tố tương liên và dự đoán hạnh phúc ở tầm quốc gia là những yếu tố sau: Thứ nhất, nhận thức về kiểm soát cuộc sống – cảm giác mà một người cảm thấy tự do về cuộc sống của họ mà không có những ràng buộc xã hội cản trở sự tự do lựa chọn của người đó; thứ hai, tầm quan trọng của nghỉ ngơi như là một giá trị riêng. Hạnh phúc, kiểm soát cuộc sống và tầm quan trọng của nghỉ ngơi đều có mối liên quan đến nhau, và mối liên hệ giữa chúng vẫn còn bền vững trong các phong trào nghiên cứu sau đó. Do đó chúng xác định như là một trục chung bền vững.

Ngoài ba điểm mấu chốt kia, trục cũng liên kết thuận với tầm quan trọng của việc kết bạn và liên kết nghịch với việc coi tính tiết kiệm là một điểm giá trị đối với trẻ em.

Tiếp theo, một trong hai điểm đầu của trục được đặc trưng bởi nhận thức một người có thể hành động theo ý muốn của mình, tiêu tiền và nuông chiều bản thân vào những hoạt động giải trí nghỉ ngơi với bạn bè hoặc một mình. Tất cả những điểm này đều có thể dự tính ra một hạnh phúc khá cao. Mặt khác chúng ta thấy một nhận thức rằng hành động của con người bị kiềm chế bởi những tục lệ xã hội và cảm giác tận hưởng các hoạt động giải trí, tiêu dùng và các loại ham mê khác là có vẻ sai trái. Bởi những đặc tính này, Misho gọi là trục “Sự ham mê và sự kiềm chế” IVR.

Thang điểm quốc gia về trục này được liệt kê ở Bảng 8.1

 

Bảng 8.1

 

Chúng ta định nghĩa trục này như sau:

Sự ham mê đại diện cho một xu hướng cho phép tự do hài lòng với những khao khát con người tự nhiên và bản năng về mặt tận hưởng cuộc sống và vui chơi. Điểm đối lập với nó, Sự kiềm chế, phản ánh ý thức cho rằng sự hài lòng đó cần phải kiềm chế lại và đưa vào khuôn khổ bằng những thông lệ xã hội hà khắc.

Với tư cách là một đặc điểm văn hóa, cặp đối lập Sự ham mê và Sự kiềm chế để lại nhiều nghiên cứu rõ ràng, xác định những hiện tượng rất cụ thể. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng sự hài lòng với những khao khát ở mặt Ham mê chỉ sự tận hưởng cuộc sống và vui chơi, chứ không phải hài lòng với những khao khát con người chung chung.

Đây thực sự là một khía cạnh mới chưa từng được công bố trong lĩnh vực học thuật; nó xứng đáng được nghiên cứu nhiều hơn. Nó có cái gì đó tương đồng với nét khác biệt trong ngành nhân loại học ở Mỹ giữa những xã hội hà khắc và nhũng xã hội thoáng hơn. Ở những xã hội thoáng, thông lệ được biểu hiện thông qua nhiều kênh và các hành vi trái với thông lệ dễ dàng được tha thứ; những xã hội hà khắc vẫn còn duy trì những giá trị của tổ chức nhóm, lễ nghi, sự bền vững và đoàn kết. Trong các ấn phẩm đầu tiên của Geert, sự khác biệt này về mặt nhận thức gắn liền với tính Tránh né bất trắc, nhưng ông chưa thấy được những phương pháp khách quan để định lượng nó.

Trục “Ham mê và Kiềm chế” giải quyết nghịch lý của người phụ nữ Philippines tội nghiệp, những người hạnh phúc hơn các công dân giàu có của Hong Kong. Người Philippines ở Bảng 8.1 xếp hạng cao hơn về mặt Ham mê hơn Hong Kong, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với những xã hội ở Bắc Mỹ Latinh và Tây Phi. Mối liên kết giữa trục IVR và IBM được mô tả ở đây như sau: IVR thể hiện một liên kết nghịch yếu với Phân chia Quyền lực, chỉ ra một xu hướng nhỏ là các xã hội phân chia giai cấp hơn thường ít đam mê hơn. Nó không liên quan đến trục IBM khác hoặc với LTO-CVS.

 

Hình 8.1

 

Mối quan hệ giữa IVR và LTO-CVS thể hiện ở Biểu 8.1 với hai trục đi qua 90 nước phổ biến. Mối liên hệ tổng thể khá là nghịch. Không ngạc nhiên với quan điểm cho rằng sự không ủng hộ tính tằn tiện ở các xã hội nhiều ham mê là một nét đáng ao ước ở trẻ em. Tuy nhiên, sai số chung giữa LTO-CVS và IVR chỉ là 20%, ít hơn nhiều so với sai khác 35% giữa hai trục khác là PDI và IDV.

Góc phần tư của biểu đồ thể hiện một mô hình theo vùng rõ ràng. Sự kết hợp khá hiếm hoi giữa ham mê cao và định hướng dài hạn là các nhóm 9 nước thành viên EU cộng với Thụy Sĩ, Đài Loan và Singapore. Mô hình chung nhất là: ham mê cao và định hướng ngắn hạn, gồm 12 nước Mỹ Latin, 04 nước châu Phi, 04 nước Anglo bên ngoài, 5 nước Bắc Âu, 4 nước Nam Âu và 2 nước Đông Nam Á. Mô hình chung thứ hai: Kiềm chế kết hợp với định hướng lâu dài: 9 nước Đông và Nam Á, 19 nước Đông Âu và một số khác. Sự kết hợp ít hiếm hoi giữa Kiềm chế và định hướng ngắn hạn được thấy ở các nước Hồi giáo, 6 nước lục địa đen châu Phi và một số khác.

Về mặt thống kê, có mối quan hệ thuận giữa Ham mê và sự giàu có quốc gia, rõ nét nhưng hơi yếu. Sự giàu có quốc gia giải thích 10% những khác biệt quốc gia về mặt Ham mê. Sự kiềm chế có nét gì đó đi liền với nghèo đói, điều này cũng có ý nghĩa riêng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Ánh sáng hay bóng tối? – Phần I


Trong các ấn bản đặc biệt của Công giáo, vào thời điểm người ta nghĩ mọi người ở thế giới Công giáo truyền thống đều vui vẻ hạnh phúc, thì tạp chí nổi tiếng Anh Quốc “The Economist” xuất bản truyện sau:

Một lần một tuần, vào chủ nhật, Hong Kong trở thành một thành phố khác hẳn. Hàng nghìn phụ nữ Philippines tiến vào địa hạt trung tâm thương mại quanh Statue Square (Quảng trường Tượng đá) để đi dã ngoại, khiêu vũ, hát hò, nói chuyện và cười đùa. Họ ôm nhau. Họ nói chuyện với nhau. Họ mỉm cười. Tình người không gì có thể hạnh phúc hơn. Nó hoàn toàn trái ngược với 6 ngày còn lại trong tuần. Sau đó, chính người Trung Quốc – dân tộc vốn nổi tiếng gàn dở và thô lỗ – cùng với những doanh nhân biệt xứ hay căng thẳng là những người kiểm soát trung tâm. Vào những ngày đó, người phụ nữ Philippines hầu hết đều cư ngụ trong 154.000 hộ dân quanh vùng địa hạt này – nơi họ làm việc như “người giúp việc” hay vú em theo tiếng Trung Quốc. Ở đó họ không những phải chịu nỗi cô đơn vì xa gia đình, mà còn thường xuyên phải làm kiếp nô lệ trá hình cho những ông chủ xa xứ hoặc chủ người Trung Hoa. Do đó đây là một bí mật: Những con người khốn khổ nhất ở Hong Kong thì bề ngoài luôn bao bọc bởi một vẻ ngoài hạnh phúc nhất.

Hạnh phúc, hay về mặt học thuật người ta thường gọi là sự thỏa mãn mang tính chủ quan (SWB), là một mục tiêu luôn ấp ủ với mỗi người. Một số trường phái triết học, như đạo Phật cổ điển, phê phán sự mưu cầu hạnh phúc và coi đó là sự lãng phí thời gian đáng xấu hổ mà một người được giác ngộ không nên mắc phải. Tuy nhiên, những học thuyết khổ hạnh đó không thể nào dễ dàng thu hút được số đông. Toàn thế giới, chưa kể đến mặt tôn giáo, hầu hết mọi người đều mong muốn đạt được trạng thái hạnh phúc cho hiện tại, và không giống như các nhà Phật học cổ điển, họ không bị nản lòng bởi quy luật nhất thời của hạnh phúc.

Thật không may, một số quốc gia, xét một cách toàn diện, lại tốt hơn các quốc gia khác về sự mưu cầu hạnh phúc. Thậm chí đối với những quốc gia tụt hậu thì sự thật này có thể gây khó chịu, nhưng nghiên cúu dựa trên sự khác biệt giữa các nền văn hóa về sự thỏa mãn mang tính chủ quan đã cho thấy mức độ ổn định trong bảng xếp hạng các nước. Tất nhiên là có sự biến động, nhưng không có sự xáo động lớn kể từ lần xếp hạng quốc gia đầu tiên được công bố từ hàng thập kỷ trước, dựa trên những thước đo hạnh phúc ở tầm vĩ mô. Điều thú vị là một vài nghiên cứu đã chỉ ra sự tương đồng lớn giữa trật tự xếp hạng sự thỏa mãn mang tính chủ quan ở 20 quốc gia và trật tự xếp hạng ở các nhóm người Mỹ có tổ tiên từ những quốc gia đó. Điều này có nghĩa là thậm chí khi người ta có nguồn gốc dân tộc khác nhau cùng chung một môi trường sống, thì họ cũng không hạnh phúc như nhau và một vài điểm khác biệt cổ xưa vẫn còn tồn tại cho đến nay.

Bản chất của sự thỏa mãn mang tính chủ quan

Có hẳn một tài liệu học thuật chuyên viết về sự thỏa mãn mang tính chủ quan. Thường thì hai khía cạnh chính được phân định ra là: sự đánh giá mang tính định lượng về cuộc sống của một con người và sự mô tả về cảm giác của con người. Sự thỏa mãn cuộc sống và khía cạnh xúc cảm không nhất thiết là một và giống nhau. Một số người có thể tính rằng cuộc sống của họ suôn sẻ nhưng tinh thần không vui vẻ và ngược lại.

Nghiên cứu Giá trị thế giới (WVS) viết về cả hai khía cạnh của sự thỏa mãn mang tính chủ quan thông qua việc phỏng vấn nhiều người xem họ hài lòng với cuộc sống của mình như thế nào và họ cảm thấy hạnh phúc ra sao. Các quốc gia có số điểm cao ở câu hỏi thứ nhất thường cũng đạt điểm cao ở câu hỏi thứ hai, nhưng mối liên hệ giữa hai khía cạnh này không chặt chẽ lắm. Sự chênh lệch trên diện quốc gia về thỏa mãn cuộc sống có thể giải thích một cách thuyết phục bằng các thước đo về sự chênh lệch mức độ giàu có ở các quốc gia nhưng sự khác biệt này ít có liên quan đến hạnh phúc trong bài nghiên cứu của WVS. Các nước có tỷ lệ cao nhất về câu trả lời hạnh phúc thường là các nước nghèo hoặc không giàu có lắm. Đó là các nước ở Tây Phi (Nigeira, Ghana) và Nam Mỹ Latinh (Mexico, El Salvador, Colombia, Venezuela). Vậy tại sao lại có kết quả này?

Sự mất niềm tin không phải là phản ứng hiếm gặp đối với các phát hiện này. Không chỉ những người bình thường, mà một số học giả cũng coi tính thực tiễn của việc đo lường hạnh phúc thật mơ hồ. Đối với họ dường như đây đơn giản là điều quá khó nắm bắt, mơ hồ và dễ thay đổi để có thể đo lường được. Nhưng những quan điểm như vậy chỉ là số ít trong lĩnh vực khoa học xã hội hiện thời. Các chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực này, như nhà tâm lý học người Mỹ Ed Diener, nhà xã hội học Hà Lan Ruut Veenhoven, và một số khác, đã diễn giải một cách chắc chắn rằng việc đo lường hạnh phúc là điều có ý nghĩa. Và Misho đã chỉ ra rằng các quốc gia có tỷ lệ người hạnh phúc cao hơn sẽ có tỷ lệ người chết vì bệnh tim mạch thấp hơn. Mối liên hệ giữa hai con số này vẫn đúng ngay cả trong trường hợp xét đến một nhân tố rất quan trọng: sự chênh lệch giàu nghèo ở các quốc gia (và kế sau đó là chất lượng chăm sóc sức khỏe ở các quốc gia đó). Những công bố của con người về hạnh phúc cá nhân không phải là không có cơ sở thực tiễn.

Không thiếu các học thuyết giải thích sự khác biệt về hạnh phúc giữa các quốc gia dựa trên quan sát. Nhiều học thuyết dựa khá nhiều vào những ví dụ ở các quốc gia nhỏ và do đó không đủ tin cậy là một lời giải thích tổng quát. Không phủ nhận rằng các yếu tố quyết định hạnh phúc có rất nhiều và một số yếu tố có thể nổi bật trong xã hội này hơn trong xã hội khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là không thể tìm thấy những xu hướng chung.

Sự thỏa mãn mang tính chủ quan và nghiên cứu giá trị thế giới (WVS)

Chúng ta đã gặp một trục gọi là “sự thỏa mãn đối lập với sự sinh tồn” trong phân tích tổng thể của Inglehart thuộc WVS. Nó gắn liền với sự kết hợp giữa IDV cao và MAS thấp. Mặc dù một nghiên cứu những yếu tố văn hóa quyết định hạnh phúc không tập trung vào những quan tâm của Inglehart, nhưng trục ông đưa ra bao hàm một đo lường bất hạnh ở mặt sinh tồn. Những điểm khác xác định trục này cần phải ưu tiên xét đến an sinh thể chất và kinh tế đối với chất lượng cuộc sống, sự phụ thuộc về chính trị, tránh tình dục đồng giới và cẩn trọng trong việc đặt niềm tin vào người khác. Xa hơn nữa, trục này có liên quan mật thiết với một niềm tin cho rằng đàn ông làm chính trị tốt hơn và đàn bà phù hợp với vai trò chăm sóc con cái hơn, nhấn mạnh tầm quan trọng của công nghệ, bài xích những người ngoài nhóm (ví dụ những người ngoại quốc), ý thức kiểm soát cuộc sống thấp, và nhiều thứ khác.

Trục sự thỏa mãn đối lập với sự sinh tồn của Inglehart đúng về mặt thống kê. Và mặc dù có quá nhiều điểm xác định trục gây rối trí, nhưng sau hết, về mặt nhận thức, tất cả các điểm đó đều có cái lí riêng bởi vì mọi thứ liên quan đến trục này, cách này hay cách khác dường như đều xuất phát từ sự khác biệt giữa các quốc gia trong trục Giàu và Nghèo. Nó là trục xuyên suốt, giải thích sự khác biệt giữa các nước giàu và nước nghèo và những thay đổi văn hóa xã hội mà ta có thể dự đoán được sua khi một nước đạt được sự phát triển kinh tế. Tuy nhiên, quan điểm từ xa này còn nhiều chi tiết quan trọng chưa giải thích được. Đặc biệt, nó chưa đề cập gì đến câu hỏi quan trọng là tại sao một số nước nghèo có tỷ lệ những người rất hạnh phúc cao như vậy.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hosfstede, Gert Jan Hofstede, Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQGHN 2013.

Xu hướng tương lai và lựa chọn hiện nay về văn hóa – Phần cuối


Nửa sau thế kỷ trước, vào cuối đời đồng chí Mao Trạch Đông đã phạm sai lầm lớn là phát động cách mạng văn hóa, về sau Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, thế là tín ngưỡng vốn có của chúng ta sụp đổ. Ngày nay, rốt cuộc chúng ta dùng lý luận tư tưởng nào để người Trung Quốc khỏa lấp chỗ trống về tín ngưỡng? Các thứ của phương Tây đã đến, chủ nghĩa hậu hiện đại đã đến, cũng có người đề xuất nên dùng văn hóa Nho gia làm tư tưởng chỉ đạo. Kể cả ngài Quý Hâm Lâm (Ji Xianlin), ông nói, 30 năm Hà Đông, 30 năm Hà Tây, thế kỷ 21 cần lấy văn minh Nho gia làm chủ đạo. Tháng 1 năm 1988, tại Đại hội Quốc tế lần thứ nhất những người được giải Nobel, người được giải đề xuất “loài người muốn tiếp tục sinh tồn thì cần quay trở về 25 thế kỷ trước để hấp thụ trí tuệ của Khổng Tử”. Người Trung Quốc nhìn nhận thế nào? Người Trung tranh luận không ngớt về điều này, ý kiến không thống nhất. Năm 2011, sau khi việc mở rộng Bảo tàng Lịch sử Trung Quốc kết thúc, đã đặt tượng Khổng Tử trước Bảo tàng Lịch sử, phía nam đại lộ Trường An, thế là dấy lên một làn sóng lớn rùm beng, có người chất vấn: Điều này có ý gì? Chếch phía đối diện là Mao Trạch Đông, phải chăng định dùng Khổng Tử thay thế Mao Trạch Đông, nói cách khác là phải chăng định dùng tư tưởng Nho gia thay thế chủ nghĩa Marx – Lenin đương đại? Rất nhiều người viết thư chỉ trích Bộ Văn hóa, các ông định làm gì? Thực ra Bộ Văn hóa cũng không nhất định dùng Khổng Tử để thay thế Marx – Lenin, chỉ muốn làm nổi bật địa vị của Khổng Tử, rốt cuộc ông là thánh nhân vĩ đại thứ nhất, nhà giáo dục, nhà tư tưởng vĩ đại. Đây là niềm kiêu hãnh của dân tộc Trung Hoa, là lịch sử khách quan. Nhưng không được, về sau đành đưa về bên trong Bảo tàng Lịch sử. Điều này nói lên rằng thụt lùi rất khó. Anh có thể tiếp tục nghiên cứu những thứ của Nho gia, phát huy truyền thống văn hóa ưu tú của Nho gia nếu bê nguyên xi trở lại, giống như xã hội phong kiến, lấy tư tưởng Khổng Tử làm chỉ đạo, đã không thể được nữa rồi.

Trên đây là 8 quy luật phát triển văn hóa (đương nhiên hoàn toàn không phải chỉ 8 quy luật này) mà tôi tổng kết. Vậy sự phát triển của văn hóa cho đến nay đều thể hiện những quy luật này, cho nên chúng ta ngày nay không nên đi ngược lại những quy luật này.

IV/ Quan niệm giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội và trách nhiệm của giới trí thức

Hệ thống giá trị cốt lõi của chủ nghĩa xã hội chúng ta có 4 mảng lớn: thứ hất, kiên trì lấy chủ nghĩa Marx, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc làm tư tưởng chỉ đạo; thứ hai, kiên trì lý tưởng chung về con đường xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc; thứ ba, kiên trì tinh thần dân tộc với chủ nghĩa yêu nước là cốt lõi và tinh thần thời đại với cải cách đổi mới là cốt lõi; thứ tư, kiên trì quan niệm vinh nhục xã hội chủ nghĩa lấy “tám vinh tám nhục” làm nội dung chủ yếu.

Hệ thống này rất hoàn chỉnh, rất toàn diện nhưng không dễ nhớ, khá nhiều người kể cả một số cán bộ và nghiên cứu viên đều nói không rõ, công nhân nông dân hiểu càng khó. Nhưng quan niệm giá trị hạt nhân của xã hội phong kiến rất giản dị rõ ràng, đó là “tam cương ngũ thường”, vua làm gương cho bầy tôi, cha làm gương cho con, chồng làm gương cho vợ, nhân nghĩa lễ trí tín, phục vụ cho giai cấp thống trị phong kiến, dễ hiểu dễ nhớ dễ thực hiện.

Thế thì chủ nghĩa tư bản cũng có tự do, bình đẳng, bác ái, nhân quyền, cũng là bảy tám chữ, ba bốn từ khóa. Hệ thống lớn như vậy của chúng ta không dễ nhớ, cho nên cần cô đúc thành quan niệm giá trị cốt lõi, phải có mấy từ khóa, không thế xã hội sẽ không có quy phạm thống nhất rõ ràng. Hội nghị toàn thể 6 UBTW khóa 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc từng định làm điều này nhưng không chín muồi, không thống nhất, thế là các địa phương tự làm, Bắc Kinh có tinh thần Bắc Kinh, Thượng Hải có tinh thần Thượng Hải, Giang Tô có tinh thần Giang Tô, Triết Giang có tinh thần Triết Giang. Cuối cùng quy về tổng thể cần đưa ra một thứ, cho nên năm nay Mạng Khoa học Xã hội của chúng tôi phát động một cuộc trưng cầu bài viết về từ khóa cô đúc quan niệm giá trị cốt lõi, nhận được không ít bài viết. Trong “Thuyết minh về trưng cầu bài viết” chúng tôi nêu, thực hiện quan niệm giá trị hạt nhân của chủ nghĩa xã hội cần tuân thủ mấy nguyên tắc: Thứ nhất, cần phản ánh mục tiêu bản chất của cộng đồng quần chúng xã hội. Không phải là mục tiêu của một số người, cũng không phải là mục tiêu rời rạc mà là mục tiêu bản chất. Quan niệm giá trị là phục vụ cho con người, xa rời bản chất của con người sẽ không thực hiện được. Thứ hai, phải phản ánh thành quả ưu tú của văn minh Trung Quốc năm nghìn năm. Vì là Trung Quốc, Trung Quốc lại có nghìn năm lịch sử, có rất nhiều tinh hoa, không nên coi là rác rưởi quẳng đi, cần chọn lọc những thứ tốt, sau đó gia công chế tác. Thứ ba, cần hấp thu những nhân tố tiến bộ thích hợp với chúng ta trong văn minh phương Tây. Quan niệm giá trị của chúng ta cần giao lưu với người, cần phản ánh một số thứ chung, không thể độc thoại. Thứ tư, cần phản ánh những sáng tạo mới của người đương đại. Trí tuệ của người đương đại có sáng tạo mới. Đối với sáng tạo mới, cần phản ánh ra, không nên dừng lại ở quá khứ. Chỉ có sau khi phản ánh 4 mặt này, quan niệm giá trị hạt nhân được cô đúc nên mới là tiên tiến, có sức sống, mới đạt được ước số chung, đông đảo công dân chấp nhận, mới có thể mở rộng, truyền lại, từ đó thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, có trật tự, lành tính.

Quan niệm giá trị cốt lõi vừa hướng dẫn chính phủ, vừa hướng dẫn công dân bình thường, cho nên nói, lựa chọn cần tuân thủ những nguyên tắc trên đây. Lựa chọn hôm nay quyết định tương lai ngày mai. Rõ ràng, tiến bộ của xã hội cần dựa vào toàn thể công dân, nhưng cần có người lãnh đạo, có nòng cốt, có tiên phong. Cần phát huy vai trò của trí thức. Trí thức là lương tri của xã hội. Trong xã hội có những người tiên tri tiên giác, cũng có những người hậu tri hậu giác, còn có những người vô tri vô giác. Tháng 8 năm 2010, trưởng ban Tuyên truyền ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng chí Lưu Vân Sơn (Liu Wenshan) nêu, cần “tự giác văn hóa, tự tin văn hóa, tự cường văn hóa”. Tự giác, trí thức trước hết cần tự giác, phải như Mạnh Tử phu tử nói, nếu bây giờ muốn bình ổn thiên hạ, ngoài ta còn ai! Phải có một thứ ý thức đảm đương như vậy.

Trí thức cần có hoài bão rộng lớn, cần dũng cảm làm người mở đường. Đương nhiên lực lượng của cá nhân rất nhỏ bé, xã hội quả là quá lớn mạnh, có khi nói thật còn không có được sự báo đáp tốt, thậm chí còn gặp tai nạn. Anh cáo giác phần tử tham nhũng, kết quả anh bị tống ngục; anh nói áo mới của hoàng đế là giả, kết quả người ta nói anh là thằng ngốc. Từ xưa đến nay luôn có một số người cống hiến cho tiến bộ của xã hội, thậm chí hy sinh tính mệnh. Đương thời chủ tịch Mao nói, nếu Khuất Nguyên không bị lưu đầy, tiếp tục làm quan, sẽ không viết được “Ly tao”. Người trí thức có khi phải chịu khổ, phải chịu tội, điều đó có thể khiến anh ta có cống hiến đặc biệt cho xã hội, đó là sự trả giá. Giống như người nông dân làm ruộng phải đổ mồ hôi, người trí thức muốn có được thành quả, cũng cần tốn tâm huyết, cần trả giá, kể cả rủi ro bị hiểu nhầm. Đây chính là chỗ giá trị của anh. Cái giá anh phải trả càng cao, giá trị của anh có thể sẽ càng lớn, mức độ tôn kính anh nhận được trong xã hội, trong lịch sử cũng sẽ càng cao. Giá trị không chỉ là sự đánh giá đương thời mà còn có sự đánh giá của hậu thế; không chỉ là sự đánh giá của người lãnh đạo mà còn có sự đánh giá của dân chúng. “Huy chương vàng, huy chương bạc không bằng sự khen thưởng của quần chúng: cúp vàng, cúp bạc không bằng bia miệng của quần chúng”, đây là một vấn đề về quan niệm giá trị. Phương hướng lựa chọn cần đúng đắn, chỉ cần anh vì sự tiến bộ của dân tộc, vì sự tiến bộ của xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân, dù tạm thời bị hiểu lầm, cuối cùng sẽ có được sự đánh giá công bằng.

Vì vậy, trong hiện thực ngày nay, chúng ta không thể trôi dạt theo dòng, không thể a dua theo người khác, không thể không chịu trách nhiệm, không thể chỉ nghĩ đến lợi riêng của mình. Các đại biểu Quốc hội năm họp hai lần, nếu chỉ phát ngôn từ giác độ ngành riêng của mình, đại biểu ngành dầu khí đòi nâng giá dầu khí, đại biểu ngành xây dựng nhà ở đòi nâng giá nhà ở, đại biểu ngành điện đòi nâng giá điện, đại biểu ngành giáo dục đòi nâng học phí,… thì không thể gọi là “đại biểu của nhân dân”, mà là “đại biểu của ngành”, bởi vì anh không phát ngôn từ giác độ và lập trường của toàn dân. Nếu đề xuất ngành mình cần giảm thu phí, thuế mới gọi là “đại biểu của nhân dân”. Đương nhiên, hoàn toàn không phải là đòi hỏi nhất loạt phản đối tăng giá, vì sự cân bằng tổng hợp, có ngành cần nâng giá cũng là đúng đắn. Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội quốc gia cần lập Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện Nghiên cứu Giáo dục, Viện Nghiên cứu Y tế, Viện Nghiên cứu Năng lượng… vì Viện Hàn lâm Khoa học xã hội tương đối siêu thoát, không có lợi ích ngành, có thể đứng trên giác độ toàn dân để suy xét vấn đề, góp tiếng nói hiến kế cho đất nước. Còn đại biểu các ngành thực nghiệp thường có sự ràng buộc và hạn chế của lợi ích ngành mình.

Tóm lại, xu hướng văn hóa tương lai quyết định bởi lựa chọn ngày nay, lựa chọn ngày nay trước hết quyết định bởi lựa chọn của tầng lớp trí thức, trong lựa chọn của tầng lớp trí thức, lựa chọn của những người trí thức tiên tiến, những trí thức ở cương vị lãnh đạo đặc biệt quan trọng. Hy vọng sẽ có thêm một số nhà tư tưởng, nhà lý luận, nhà chiến lược, có thêm một số lương tri xã hội, chỉ khi những người như vậy nhiều lên, triển vọng văn hóa của chúng ta mới sáng sủa, tiến bộ xã hội của chúng ta mới có thể vừa tốt vừa nhanh!

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2014 – 6 & 7

Xu hướng tương lai và lựa chọn hiện nay về văn hóa – Phần III


Quy luật thứ năm: Từ khép kín tới mở ngỏ

Trong xã hội cổ đại, trước khi chế độ tư bản chủ nghĩa xuất hiện, thế giới là phân tán, giữa các quốc gia rất ít giao tiếp. Nhưng từ sau khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, thế giới biến thành một thị trường thống nhất. Sau khi có chế độ tư bản chủ nghĩa mới có lịch sử thế giới. Các nước liên hệ với nhau, không còn là khép kín nữa, mà là mở ngỏ. Triều Thanh muốn đóng cửa, nhưng không được, anh muốn đóng cửa người ta sẽ phá vỡ anh, anh không tiếp nhận giao thương cũng vẫn phải tiếp nhận giao thương, hoặc là tiếp nhận một cách hòa bình, hoặc là tiếp nhận một cách nhục nhã. Sau khi anh mở cửa, lúc đầu là nhục nhã, chịu rất nhiều thiệt thòi, nhưng càng về sau, cái lợi nhận được sẽ càng nhiều, văn hóa sẽ tiến bộ, văn minh sẽ tiến bộ, sản phẩm sẽ phong phú, kỹ thuật sẽ được nâng cao. Có Chiến tranh Thuốc phiện sau đó mới có Phong trào Dương vụ, sau khi Phong trào Dương vụ nổi lên, Đông, Tây đều đến. Cho nên nói, thực hiện đóng cửa là không ổn, đóng cửa cần phát triển thành mở cửa. Sau Hội nghị 3 UBTW khóa 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc, chính sách mở cửa do Đặng Tiểu Bình thực hiện là sáng suốt, đánh giá thế nào về ý nghĩa chiến lược này cũng không quá cao. Sau “Lục Tứ”, có người nêu ra: giảm thiểu giao tiếp với các nước phương Tây thì lưu học sinh sẽ giảm thiểu. Trên thượng tầng phát sinh bất đồng: đóng cửa hay tiếp tục mở cửa? giảm thiểu hay tiếp tục gia tăng? Cuối cùng ý kiến mở cửa chiếm địa vị chủ đạo. Không thể vì một việc mà đi ngược lại quy luật, nếu chúng ta ở bên ngoài dòng chính của trào lưu thế giới, thực hiện phát triển theo kiểu khép kín, thì đó là một sự thụt lùi.

Quy luật thứ sáu: Từ mê tín tới lý tính

Lúc đầu là mê tín, dần dần là lý tính tăng lên, trước đây vì lý trí hạn chế, tri thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đều có hạn, cho nên mê tín rất nhiều, thì ngày nay lý tính dần nhiều lên. Kể cả tôn giáo vốn dĩ cũng có mê tín, nhưng lý tính tôn giáo hiện nay cũng tăng lên. Ngày nay bàn về tôn giáo, nếu vẫn chỉ coi nó là thuốc phiện tinh thần thì không toàn diện, có mặt thuốc phiện, mặt ma túy, nhưng còn có mặt lý tính. Tác giả từng tới Đài Loan khảo sát văn hóa truyền thống Trung Hoa ở Đài Loan, nhìn thấy Phật giáo Đài Loan hiện nay vẫn rất nhiều, sự nghiệp từ thiện Phật giáo làm rất lớn. Tôi tới núi Phật Quang, có một cuộc tọa đàm với đại sư Tinh Vân (Jing Yun). Ông nói, trên thế giới 170 quốc gia và khu vực đều có hội viên Hội Phật Quang của họ, tổng số có mấy chục triệu người. Sách của họ được phiên dịch thành nhiều loại văn tự, phát hành tại các nơi trên thế giới. Núi Phật Sơn lộ vẻ rất oai nghiêm. Tôi hỏi ông: “Thưa đại sư Tinh Vân, tại sao sự nghiệp Phật giáo của ngài lớn lao vậy? Ảnh hưởng lớn lao vậy?” Ông trả lời: “Có rất nhiều người thông minh hơn tôi, cũng có rất nhiều tín đồ Phật giáo kiên định hơn tôi, nhưng tại sao họ không có thành công như tôi? Sự khác biệt của tôi với họ là ở một chữ “vô”, có nghĩa là không có. Người khác đều theo đuổi rất nhiều thứ: của cải, danh lợi…, tôi chỉ theo đuổi một cái “vô”, không cần gì, không có gì. Bao nhiêu tỷ tài sản của núi Phật Sơn ai cần cứ lấy. Hàng trăm hàng nghìn căn nhà ở chỗ này không căn nào là của tôi, trên tay tôi không có một khoản tiền tiết kiệm. Tôi dựa vào một chữ vô mới phát triển được lớn như thế này”. Qua đó có thể thấy, tư tưởng Phật giáo của ông có rất nhiều nhân tố lý tính. Tư tưởng Lão Tử thời cổ đại cho rằng đại vô là đại hữu. Cánh hôn quan kia sở dĩ sụp đổ, hôm nay muốn cái này, ngày mai muốn cái kia, cảm thấy không bao giờ là đủ, vẫn cứ phải tham lam thêm một chút, cuối cùng sụp đổ. Điều này cho tôi một gợi mở rất lớn, vô, đó là trí tuệ cao thâm của đại sư Tinh Vân, cũng là bí quyết thành công của ông. Cho nên sự nghiệp Phật giáo, sự nghiệp từ thiện của ông rất nhiều, mỗi năm đều mấy trăm triệu NDT. Phật giáo giúp đỡ người dân nhiều thứ, khuyên người ta hướng thiện, khuyên người ta phải có lòng tôn kính và e sợ, bất kể là nam hay nữ, là quan hay dân, không thể muốn làm gì thì làm, phải có lý tính, phải tuân thủ đạo đức và pháp luật, phải tránh cái ác, làm điều thiện. Cho nên nói, tôn giáo không hoàn toàn là mê tín, mà có rất nhiều thành phần lý tính. Những người tin Phật cũng có thể ăn thịt, đây chính là sự phát triển của lý tính.

Quy luật thứ bảy: Từ phi nhân đạo tới nhân đạo

Quy luật xã hội này cũng phản ánh qua việc trừng trị phạm nhân. Trước kia có móc mắt, chọc vào mặt, cắt ngón tay, chặt chân, cắt tai, còn có hình phạt cắt cơ quan sinh dục, tứ mã phanh thây, tùng xẻo, moi tim, rất tàn khốc. Cùng với văn minh không ngừng tiến bộ, giờ đây không có những hình phạt này, có quốc gia còn bỏ án tử hình. Án tử hình ở Trung Quốc từng chém bằng đao, đao lại có các loại khác nhau, có đao sắc và đao cùn, đao sắc thì chết nhanh gọn, đao cùn thì khi bị chém rất khổ, trong Biến pháp Mậu Tuất 6 vị quân tử bị chém bằng đao cùn tại cổng chợ rau Bắc Kinh, chết cũng bắt anh chết rất đau đớn. Về sau đổi lại dùng súng bắn, hiện nay dùng kim tiêm, đau đớn dần giảm nhẹ. Điều kiện của trại giam cũng không ngừng trở nên nhân đạo, có trại được xây cất rất đẹp, rất sáng sủa, không đem lại cho người ta cảm giác tăm tối u ám. Lấy con người làm gốc, điều này được đặt ra từ xã hội nô lệ, nhưng không làm được, chủ nghĩa tư bản cũng đề ra lấy con người làm gốc, cũng chưa hoàn toàn làm được, ngày nay Đảng Cộng sản trung Quốc cũng đề ra lấy con người làm gốc, đây là một tiến bộ quan trọng. Nhưng rốt cuộc lấy ai làm gốc? Lấy toàn thể công dân làm gốc hay là lấy tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân làm gốc? Còn đang thảo luận. Nói chung, xã hội không ngừng phát triển về phía trước, không ngừng trở nên nhân đạo, không ngừng trở nên lý tính. Tác giả cho rằng, lấy con người làm gốc mà hiện nay những người cộng sản chúng ta chủ trương phải là lấy toàn thể công dân làm gốc. Điều này không hề mâu thuẫn với việc trừng trị các phần tử xấu. Bởi vì các phần tử xấu phá hoại việc lấy con người làm gốc, chúng giết người, chúng cường bạo, chế phục chúng chính là bảo vệ nguyên tắc lấy con người làm gốc. Các dịch vụ công trong xã hội chúng ta hiện nay, chỉ cần anh tuân thủ pháp luật, thì đều được trao, bất kể là tỷ phú hay giai cấp vô sản, đều không phân biệt, đều cung cấp dịch vụ.

Quy luật thứ tám: Từ bảo thủ đến tiến bộ

Thụt lùi cũng có, nhưng thụt lùi là tạm thời, cục bộ, muốn thụt lùi toàn diện thì không được. Chúng ta nhìn vào lịch sử, sau khi Cách mạng Tân Hợi thực hiện cộng hòa, Viên Thế Khải (Yuan Shiqi) muốn quay về đế chế, chỉ làm được giấc mộng hoàng đế 83 ngày, cuối cùng quân phiệt Bắc Dương không ủng hộ ông ta, ông ta thụt lùi không được. Trương Huân (Zhang Xun) muốn khôi phục, tuổi thọ hoàng đế càng ngắn, 12 ngày là bật ra khỏi Cố cung. Cho nên, muốn thụt lùi rốt cuộc thụt lùi không nổi, vẫn cứ phải đi về phía trước.

Ngoài ra, ngày nay có người đề xuất khôi phục chữ phồn thể, đặt ra tại Quốc hội và Hội nghị Hiệp thương Chính trị toàn Trung Quốc, đây thực tế là một chủ trương thụt lùi. Tôi đã viết một bài, “Bàn về việc tái giản hóa chữ Hán”, cho rằng không những không thể khôi phục chữ phồn thể mà còn thế giản hóa hơn nữa. Hương Cảng, Áo Môn, Đài Loan dùng chữ phồn thể, để tiện giao lưu, khôi phục chữ phồn thể, nhưng Hương Cảng, Áo Môn, Đài Loan cũng cảm thấy phiền phức về chữ phồn thể. Hương Cảng có chuyên gia kêu gọi nên dùng chữ giản thể của Đại Lục, hiện giờ Singapore, Malaysia, Liên hợp quốc đều dùng chữ giản thể. Ngày nay khi xã hội theo đuổi tốc độ cao, hiệu quả cao, khôi phục chữ phồn thể là sự thụt lùi lịch sử, cho nên không thể được ủng hộ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2014 – 6 & 7