Chú trọng dân sinh văn hóa, thúc đẩy xã hội hài hòa – Phần cuối


Xem xét từ góc độ cơ chế thực hiện, mấu chốt của chú trọng dân sinh văn hóa là ở việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phục vụ văn hóa chung (hay văn hóa cộng đồng). Vấn đề hệ thống phục vụ văn hóa chung lấy việc thực hiện quyền lợi văn hóa của người dân làm logic xuất phát, cũng là thỏa mãn nhu cầu văn hóa của toàn xã hội, hướng đến công chúng để đưa ra các sản phẩm văn hóa cộng đồng và sự phục vụ cùng các hệ thống cơ chế liên quan, nó là bộ phận hợp thành của hệ thống phục vụ cộng đồng quốc gia. Xuất phát điểm chủ yếu của nó chính là đảm bảo lợi ích văn hóa cho quần chúng nhân dân, duy trì quyền lợi văn hóa cho người dân; nội dung chủ yếu gắn liền với bốn phương diện cơ bản: lý luận văn hóa và sáng tạo cơ chế mới đối với hệ thống giá trị văn hóa, các thiết chế văn hóa chung và môi trường sinh thái văn hóa, chủ thể vi mô hỗn hợp của sự nghiệp phục vụ văn hóa chung, thể chế quản lý giám sát và hệ thống chính sách pháp luật. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống phục vụ văn hóa cộng đồng cũng chính là con đường chủ yếu để thực hiện, duy trì và phát triển tốt quyền và lợi ích văn hóa cơ bản của người dân. Ngoài ra, cũng cần phải coi trọng việc xây dựng hệ thống phục vụ thị trường văn hóa. Việc xây dựng đó đương nhiên cần tuân theo quy luật thị trường, nhưng vẫn phải thể hiện ý thức dân sinh, từ đó mà hình thành hai nhân tố tác động hữu cơ với nhau trong hệ thống phục vụ văn hóa.

Xem xét từ góc độ mục đích cuối cùng, chú trọng dân sinh văn hóa là nhằm giải quyết vấn đề tinh thần gia đình, thực hiện quyền lợi và nhu cầu tinh thần đa tầng của người dân. Con người là tồn tại văn hóa, văn hóa là biểu hiện người của con người, cũng là huyết mạch và linh hồn cho sự phát triển và sinh tồn của một dân tộc, tinh thần gia đình và ký ức tinh thần dân tộc thể hiện sự đồng cảm của dân tộc, phản ánh sức sống của dân tộc, sức kết dính của dân tộc. Văn hóa của một dân tộc là sự kết dính của cảm thụ hiện thực và nhận thức lịch sử của dân tộc đó đối với thế giới và đối với bản thân, tích tụ và nhuần nhuyễn các chuẩn tắc hành vi, truy cầu tinh thần, bao gồm các thói quen sinh hoạt chung, phương thức tư duy, phương thức hoạt động, tình cảm đạo đức, thị hiếu thẩm mỹ, tôn giáo tín ngưỡng, tiêu chuẩn giá trị… Do vậy, con người không thể chỉ dừng lại ở chỗ truy cầu và thụ hưởng trên phương diện vật chất, không cần tinh thần gia đình, nếu tinh thần không có nơi nương tựa, tâm hồn sẽ trở nên trống rỗng. Xã hội hiện đại đang trong giai đoạn chuyển đổi, đi liền với nó là các hiện tượng tâm lý như ảo tưởng, trống rỗng, lo âu, lạnh nhạt, khiếp sợ, bất an,… Do vậy, cần phải thông qua những quan tâm mang tính nhân văn, những tư vấn tâm lý để giải quyết các vấn đề đó. Mục đích cuối cùng của việc xây dựng dân sinh văn hóa chính là xây dựng tinh thần gia đình, giải quyết sự bình yên tinh thần, làm cho cuộc sống của quần chúng nhân dân càng thêm hạnh phúc, vui vẻ. Đương nhiên, ở đây cần phải chú ý nhiều tầng bậc khác nhau của sự truy cầu tinh thần, không chỉ phải chú trọng việc xây dựng tinh thần gia đình chung của toàn thể dân tộc, mà còn phải chú ý đến sự truy cầu tinh thần của các cộng đồng khác nhau, giai tầng khác nhau, các cá nhân khác nhau.

3/ Chú trọng văn hóa dân sinh thể hiện tính tự giác văn hóa mới

Phí Hiếu Thông đã từng cho rằng, “tự giác văn hóa là chỉ con người trong một nền văn hóa nhất định, tự hiểu về nền văn hóa của mình, hiểu lịch sử của nó, quá trình hình thành của nó, cũng như đặc sắc và xu thế phát triển của nó. Ở đây không chứa đựng bất kỳ ý nghĩa nào của “trở về văn hóa”, không phải là “phục cổ”, đồng thời cũng không chủ trương “tây hóa hoàn toàn” hoặc “tha hóa hoàn toàn”. Tự giác văn hóa chính là chỉ sự tự giác ngộ, tự phản tỉnh, tự sáng tạo của văn hóa. Do rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, tự giác văn hóa của chúng ta trì trệ hơn so với tự giác đối với lực lượng sản xuất, xây dựng văn hóa cũng khá chậm chạp. Việc chú trọng dân sinh văn hóa thể hiện một cách đầy đủ tự giác văn hóa mới trong tiến trình xây dựng xã hội hài hòa ở Trung Quốc hiện nay.

Thứ nhất, biểu hiện định hướng giá trị lấy dân làm gốc

Quyền và lợi ích văn hóa cũng như nhu cầu văn hóa của quần chúng nhân dân mang tính đa dạng và có nhiều cấp độ; các khu vực khác nhau, các giai tầng khác nhau, các cộng đồng khác nhau đều có những nhu cầu văn hóa khác nhau. Từ sau cải cách mở cửa, vấn đề tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, nỗ lực thúc đẩy phương diện công bằng văn hóa đã giành được những tiến triển nhất định. Nhưng, tốc độ thực hiện quyền lợi văn hóa vẫn còn khá thấp, chủ yếu thể hiện ở chỗ: Một là, những chi tiêu cho văn hóa và giải trí có tỷ trọng tương đối thấp trong tổng chi phí của người dân; Hai là, trong sự phát triển của văn hóa, có sự mất cân bằng trong phát triển giữa các khu vực, giữa thành thị và nông thôn, giữa các giai tầng khác nhau, cụ thể sự phát triển văn hóa khu vực tây trung bộ rõ ràng chậm chạp hơn khu vực đông bắc, nông thôn chậm chạp hơn thành thị; Ba là, thiếu sự tôn trọng quyền biểu đạt đối với các nhu cầu văn hóa của quần chúng, quyền tham gia vào các quyết sách văn hóa chung; Bốn là, phương diện thực thi cơ sở văn hóa cộng đồng còn thiếu. Điều này làm cho việc thực hiện bình đẳng trong thụ hưởng văn hóa của người dân không thể đảm bảo. Chú trọng dân sinh văn hóa cần phải lấy việc tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân làm xuất phát điểm, cần phải kiên trì tính công ích, tính công bằng và hiệu quả xã hội, coi đó là những nguyên tắc đầu tiên, đem lại cho người dân sự ưu đãi, miễn phí, phục vụ văn hóa một cách hiệu quả, nhanh chóng, giúp cho người dân có thể được hưởng những thành quả của sự phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

Thứ hai, nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của văn hóa đối với việc nâng cao quyền lực mềm của đất nước

Sức mạnh của một đất nước bao gồm quyền lực cứng và quyền lực mềm, quyền lực cứng biểu hiện ở thực lực trên các phương diện chủ yếu, như quân sự, kỹ thuật, kinh tế. Quyền lực mềm biểu hiện ở sức lôi cuốn của văn hóa, năng lực thuyết phục trên lĩnh vực ngoại giao, sức thu hút của chế độ chính trị, trong đó sức ảnh hưởng, độ kết dính và lôi cuốn của văn hóa đóng vai trò hạt nhân của quyền lực mềm. Trong thời đại ngày nay, quyền lực mềm của văn hóa đóng vai trò ngày càng quan trọng trong năng lực cạnh tranh của một đất nước. Quốc gia nào chiếm vị trí đỉnh cao trong phát triển văn hóa, quốc gia đó sẽ nắm quyền chủ động trong cạnh tranh quốc tế. Như trên đã trình bày, xây dựng dân sinh văn hóa bao gồm nội dung ở nhiều cấp độ khác nhau, bất luận sự sáng tạo và sản sinh các sản phẩm văn hóa hay các thiết chế văn hóa, thực hiện và tôn trọng các quyền lợi văn hóa của nhân dân, đều là xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa cũng như xây dựng tinh thần gia đình của quần chúng nhân dân, đều là nhằm nâng cao quyền lực mềm văn hóa. Quyền lực mềm văn hóa, ở cấp độ cao nhất, biểu hiện trạng thái tinh thần quốc gia, sức kết dính nội tại và phẩm cách ý chí, tất cả những cái đó đến từ sự đồng thuận đối với các giá trị nòng cốt trong xã hội của mọi người. Theo đó, trọng tâm của việc xây dựng quyền lực mềm là xây dựng dân sinh văn hóa, hạt nhân của xây dựng dân sinh văn hóa là xây dựng tinh thần gia đình.

Thứ ba, thể hiện lựa chọn lý tính đối với sự phát triển và sáng tạo văn hóa mới của Trung Quốc đương đại

Văn hóa Trung Quốc đương đại thể hiện tính phong phú, đa dạng, sáng tạo và phát triển văn hóa mới. Chú trọng văn hóa dân sinh cần phải tiếp thu và học hỏi những thành tựu văn hóa cổ kim và trên thế giới. Sự tồn tại và phát triển một nền văn hóa của bất kỳ dân tộc hay quốc gia nào cũng đều phải được kế thừa, phát triển, sáng tạo trên nền tảng văn hóa truyền thống. Nếu xa rời truyền thống, đứt đoạn, thì sẽ tự đánh mất mình, đánh mất gốc. Đối với văn hóa Trung Hoa, cần nỗ lực duy trì tính dân tộc, thể hiện tính thời đại nhằm làm cho văn hóa phù hợp với xã hội và văn minh hiện đại; đối với văn hóa của các dân tộc, cần tăng cường khai thác và giữ gìn; đối với đặc sắc văn hóa truyền thống của các khu vực, vùng miền, cần khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Như vậy, tinh thần gia đình của dân sinh văn hóa mới có thể gắn kết với thực tiễn, với cuộc sống, với quần chúng, mới có thêm sức và lực mới. Cùng với sự tăng tốc của quá trình toàn cầu hóa kinh tế, nhân loại đang bước vào giai đoạn có những xung đột lớn về các giá trị văn hóa. Xây dựng dân sinh văn hóa còn phải đối diện với sự tồn tại khách quan của tính đa dạng văn hóa thế giới. Tính đa dạng, một mặt, mang lại tính phong phú của văn hóa; mặt khác, cũng mang đến những thách thức đối với văn hóa truyền thống dân tộc và nguy cơ xung đột văn hóa. Trong quá trình ngày càng phức tạp của sự giao lưu văn hóa quốc tế, sự tăng tốc của các sản phẩm văn hóa trong và ngoài nước đã mở rộng tầm mắt văn hóa cho người dân, kích thích những nhu cầu văn hóa chung, tăng cường sự phục vụ các sản phẩm văn hóa mang sắc thái thời đại, cũng là mở rộng sức ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trên phạm vị thế giới; đồng thời, cũng mang đến những thách thức và xung đột đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc, chẳng hạn, một số hình thức văn hóa truyền thống địa phương, như hý kịch, các ngày lễ truyền thống,… dần dần mai một. Mặc dù vậy, Trung Quốc hiện vẫn luôn tràn đầy tự tin, hội nhập với thế giới thông qua việc đối diện với chỉnh thể văn hóa của quá trình toàn cầu hóa, đối diện với hoàn cảnh lịch sử thế giới của quá trình toàn cầu hóa để từ đó khảo nghiệm vấn đề dân sinh văn hóa.

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Chú trọng dân sinh văn hóa, thúc đẩy xã hội hài hòa – Phần đầu


Trương Vũ Đông

1/ Chú trọng dân sinh văn hóa là vấn đề không thể thiếu trong xây dựng xã hội hài hòa

Những năm qua, trong điều kiện nhấn mạnh quan điểm lấy dân làm gốc, phát triển khoa học, xây dựng xã hội hài hòa, dân sinh đã trở thành một nội hàm quan trọng trong phát triển xã hội Trung Quốc. Chú trọng dân sinh ngày càng nhận được sự quan tâm, đồng thuận của toàn xã hội và trở thành nội dung quan trọng trong tư duy quản lý mới. Nhưng xét một cách tổng thể, bất luận trong nghiên cứu lý luận về dân sinh hay trong việc đưa ra những giải pháp đối với các vấn đề dân sinh cụ thể, về cơ bản đều phải tiến hành xem xét từ góc độ xây dựng xã hội. Chẳng hạn, trong giai đoạn giữa hai kỳ đại hội toàn quốc, có người từng đưa ra yêu cầu giải quyết 12 vấn nạn dân sinh, bao gồm: lao động việc làm, đảm bảo xã hội, vệ sinh y tế, an toàn thực phẩm, học phí giáo dục, luật pháp nghiêm minh, an toàn sinh sản, phân phối thu nhập, cơ chế doanh nghiệp, trưng dụng đất đai, quá trình đô thị hóa và ô nhiễm môi trường. Từ đó, nảy sinh các vấn đề, như vấn đề dân sinh có bao gồm nội dung xây dựng văn hóa hay không? Quyền lợi dân sinh có bao gồm quyền lợi văn hóa? Dân sinh có đòi hỏi nội dung văn hóa và công bằng văn hóa?…

Ngoài ra, chúng ta còn nhận thấy một số hiện tượng đáng chú ý gắn liền với vấn đề dân sinh văn hóa.

Chẳng hạn, ở Trung Quốc, ngày 13/9/2006, “Đề cương phát triển văn hóa thời kỳ “thập nhất ngũ” của đất nước” được ban hànhl trong đó, đưa ra nguyên tắc phát triển văn hóa cần phải kiên trì lấy dân làm gốc, đảm bảo và thực hiện quyền lợi văn hóa cơ bản của quần chúng nhân dân, làm cho quảng đại quần chúng nhân dân được hưởng những thành quả của phát triển văn hóa; đề ra trọng điểm phát triển văn hóa chung, thực hiện tốt việc xây dựng văn hóa cơ sở, dốc hết sức để nhanh chóng cải thiện các điều kiện văn hóa cộng đồng ở khu vực miền Trung và miền Tây cũng như khu vực nông thôn, hoàn thiện phục vụ văn hóa cộng đồng, đảm bảo quyền lợi văn hóa cơ bản cho nông dân và tầng lớp có thu nhập thấp ở thành thị.

Ngày 16/6/2007, Bộ Chính trị đã Họp hội nghị để tập trung nghiên cứu làm rõ vấn đề xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa cộng đồng. Hội nghị chỉ rõ rằng, tăng cường xây dựng hệ thống phục vụ văn hóa là yêu cầu tất yếu của việc xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa và của việc phát triển phồn vinh nền văn hóa tiên tiến xã hội chủ nghĩa; đồng thời, việc đảm bảo, duy trì và phát triển tốt các quyền lợi văn hóa cơ bản của quần chúng nhân dân có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người, nâng cao nhân tố văn hóa khoa học và đạo đức tư tưởng toàn dân tộc, cũng như việc xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh, thực hiện hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa…

Đến năm 2007, thành phố Thâm Quyến đề ra “Hệ thống chỉ số phúc lợi dân sinh”, trong đó đã bổ sung quyền lợi văn hóa và phúc lợi văn hóa của người dân thành phố vào chỉ số về “trình độ phát triển toàn diện của con người”.

Ngày 2/3/2008, Bảo tàng quân sự cách mạng nhân dân Trung Quốc đã mở cửa miễn phí, số người đến tham quan hôm đó trở thành một hiện tượng. Kể từ năm nay trở đi, trên toàn quốc, các Viện bảo tàng văn hóa văn vật, nhà tưởng niệm, những nơi biểu dươg và có giá trị giáo dục lòng yêu nước sẽ tiến hành mở cửa miễn phí.

Theo “Nhân dân nhật báo” ngày 9/4/2008, tại Tỉnh Cam Túc, “Huyện Vĩnh Tịnh đã đầu tư 3000 vạn tệ xây dựng Hoàng Hà Tam Hiệp Khổng Tử đại điện”, “Huyện Hoa Đình đã đầu tư hơn 3000 vạn tệ xây dựng công trình quảng trường văn hóa Tần Thủy Hoàng tế trời”, “Huyện Lâm Đào đầu tư 8000 vạn tệ xây dựng vườn văn hóa Lão Tử”. Ba huyện trên không tiếc tiền bạc công sức để xây dựng “văn hóa cổ”, do đó đã gây được sự quan tâm của toàn xã hội.

Những ví dụ nêu trên đã chứng minh một điều rằng, Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc hết sức quan tâm và coi trọng vấn đề “dân sinh văn hóa”; mặt khác, cũng thể hiện trong vấn đề dân sinh và dân sinh văn hóa vẫn đang tồn tại một số vấn đề cần giải quyết. Ví dụ, ở một số địa phương lấy những người nổi tiếng, quan chức chính phủ, diễn viên điện ảnh, các doanh nhân thành đạt,… làm nhân vật chính trong các hoạt động văn hóa; do đó, bộ mặt văn hóa biến thành bộ mặt quý tộc, còn sự truy cầu văn hóa của quần chúng nhân dân bị lãng quên, dẫn đến sự phai nhạt của bản sắc dân sinh và sắc thái văn hóa vốn không thể thiếu trong các hoạt động văn hóa. Vì vậy, đối với dân sinh văn hóa, việc quan tâm chú trọng và làm rõ một số vấn đề mang tính cơ sở sẽ giúp ích cho việc xây dựng xã hội hài hòa và xây dựng dân sinh.

Trung Quốc tiến hành cải cách đã 30 năm, trong 30 năm đó đã giành được những thành tựu to lớn trong xây dựng văn minh vật chất và văn minh tinh thần, được thế giới thừa nhận. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới. Trong thời kỳ “Thập nhất ngũ”, thu nhập bình quân đầu người đã đạt khoảng 2000 – 3000 USD, số lượng hộ đói nghèo ở thành thị và nông thôn giảm đáng kể, Trung Quốc đã “bước vào giai đoạn mới trong phát triển toàn diện xã hội hài hòa”. Có thể nói, Trung Quốc đã giải quyết được những vấn đề cơ bản của đời sống nhân dân. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn bộc lộ nhiều mâu thuẫn. Trong khi thu nhập bình quân đầu người không ngừng tăng trưởng, số hộ đói nghèo không ngừng giảm xuống thì mức độ hài hòa xã hội lại có chiều hướng đi xuống. Những yếu tố liên quan đến chỉ số hạnh phúc của người dân, như đời sống tinh thần, gia đình hạnh phúc… có chiều hướng chậm lại; số lượng, chủng loại các yếu tố, như tính xã hội, tính quần thể có xu thế gia tăng. Những vấn đề nêu trên hoàn toàn không thể chỉ dựa vào các biện pháp kinh tế, xã hội hay chính trị là có thể giải quyết được, mà đòi hỏi phải kiên trì quan điểm phát triển khoa học lấy dân làm gốc. Xã hội hài hòa đòi hỏi giá trị nội tại. Như nhiều học giả nhận định, trong xã hội tồn tại rất nhiều vấn đề, thái độ bất mãn bộc lộ và lan rộng, ngoài vấn đề phân phối ra, vấn đề công ăn việc làm, ổn định cuộc sống của các tầng lớp nhân dân chưa được giải quyết tốt.

2/ Dân sinh văn hóa là một phạm trù có nội dung đa tầng

Thuật ngữ “Dân sinh” xuất hiện lần đầu tiên trong Tả truyện – Tuyên Công năm thứ 12, trong mệnh đề “Dân sinh tại cần, cần tắc bất quỹ” (tạm dịch: Dân sinh ở chỗ cần cù, cần cù thi không thiếu thống – ND). Hiện nay, “dân sinh” được giải thích là “sinh kế của nhân dân”, cách giải thích này chứa đựng tư tưởng nhân bản và ý nghĩa nhân văn. Thông thường “dân sinh” được giải thích là đời sống nhân dân, nhưng chủ yếu nhấn mạnh đến những nhu cầu thiết yếu của người dân. Những nhu cầu đó đương nhiên bao gồm những nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Tuy vậy, khi đề cập đến “dân sinh”, đa số đều chú trọng đến phương diện vật chất, mà ít chú trọng đến phương diện tinh thần của dân sinh.

Trên thực tế, dân sinh là một phạm trù lịch sử. Trng điều kiện người dân chưa được thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu: ăn, mặc, ở, đi lại… hay nói cách khác, khi quyền sinh tồn cơ bản chưa thể giải quyết, dân sinh chủ yếu nhấn mạnh đến những sinh kế cơ bản ở phương diện vật chất, còn những nhu cầu văn hóa đối với người dân lúc đó dường như là thứ hàng xa xỉ. Cùng với sự phát triển của kinh tế, sự phồn vinh của xã hội, những nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng trở nên bức thiết, yếu tố văn hóa dần dần thẩm thấu vào cuộc sống của người dân, dân sinh ngày càng trở về với ý nghĩa đầy đủ của nó.

Trong bối cảnh “dân sinh” trở thành tâm điểm như hiện nay, yêu cầu bắt buộc đầu tiên đối với xây dựng văn hóa là phát triển “dân sinh văn hóa”. Vấn đề “dân sinh văn hóa” chính là những sinh kế cơ bản trên phương diện văn hóa, cũng có thể xem đó như những nhu cầu văn hóa của người dân. Dân sinh văn hóa là một phạm trù có nội dung phong phú với nhiều tầng bậc khác nhau.

Từ góc độ cuộc sống hàng ngày, chú trọng dân sinh văn hóa chính là đưa ra những thiết chế, những hình thức và những sản phẩm văn hóa có tính chất lành mạnh, bổ ích nhằm thỏa mãn nhu cầu thưởng thức, giải trí của quần chúng nhân dân. Chẳng hạn, các hoạt động mang tính quần chúng, phục vụ lợi ích quần chúng; quảng trường văn hóa, khu văn hóa, tháng đọc sách, các buổi diễn giảng, nói chuyện về văn hóa… Những hoạt động này là những hoạt động không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa của quần chúng. Thông qua những hoạt động đó, có thể mang lại cho quần chúng nhân dân sự thụ hưởng những thành quả của phát triển văn hóa, giúp cho người dân được sống trong môi trường văn hóa lành mạnh, cảm thụ được sự hoan hỷ của các hoạt động văn hóa, từ đó mà cảm nhận được sự hài hòa của xã hội cũng như nét đẹp của cuộc sống.

Xem xét từ góc độ quyền lợi chủ thể, chú trọng dân sinh văn hóa tất yếu phải tôn trọng quyền lợi văn hóa của quần chúng nhân dân. Quyền lợi văn hóa là một trong những quyền lợi căn bản nhất của con người, có vị trí quan trọng ngang bằng với các quyền chính trị và quyền kinh tế. Quyền lợi văn hóa của người dân bao gồm: quyền được lựa chọn và tham gia vào các hoạt động văn hóa; quyền sáng tạo văn hóa và quyền giữ gìn, bảo tồn các thành quả văn hóa; quyền truyền bá văn hóa, hưởng thụ các thành quả và giá trị văn hóa, quyền phê bình đối với các hiện tượng văn hóa,… Hạt nhân của quyền lợi văn hóa là công bằng văn hóa, nghĩa là mọi người đều có quyền lợi và cơ hội hưởng thụ các giá trị văn hóa một cách công bằng, nhu cầu văn hóa của mọi người đều có thể được thỏa mãn. Chú trọng dân sinh văn hóa tất yếu phải tôn trọng quyền lợi văn hóa của người dân, thúc đẩy công bằng văn hóa.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn & Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần cuối


Môi trường quy phạm. Yếu tố của dạng thức văn hóa quy định lối thức cư xử và quan hệ với “người mình” và “người khác mình”. Nếu theo những lý tưởng của G. Zimmel chẳng hạn, thì dân đô thị về thực chất cư xử với nhau như những “người dưng” (Zimmel, 2008). Vì vậy, cách cư xử khi quan hệ với người khác ở đô thị nên thế này: thái độ hợp tác với những người có chung cách suy nghĩ như mình và tránh xa với tất cả số còn lại (trong đó kể cả để “tiết kiệm cảm xúc và thông tin”). Trong các phương án cấp tiến nhất, một thái độ như vậy có nghĩa là sợ hãi, nghi ngại, không tin, được thể hiện ở ý muốn tạo ra một bức tường bảo vệ chắc chắn trước đủ loại mối đe dọa thực và ảo – những ổ khóa chất lượng trên cửa các căn hộ, bình xịt trong túi xách tay, chỉ đi về theo những tuyến đường quen và an toàn, sáng sủa và có người quen đi cùng… (Architecture of fear, 1997; Sennet, 2008). Đồng thời cũng nên giữ thái độ tương đối bình thường, (không vồ vập) với mọi người, đơn giản là cảnh giác với người lạ hoặc không muốn len vào thế giới riêng tư của người khác.

Có lẽ có thể coi các biến thể tiếp theo là các trường hợp có tính chất cá biệt. Chẳng hạn, có thể theo G. Hans, người đã từng nói về những khác biệt giữa những người dân đô thị “thông thường” với “người nông thôn sống ở đô thị” (urban villagers) (Gans, 1962), M. Kastells, người phân biệt giới tinh hoa “công dân thế giới” và “quần chúng bản địa” (Kastells, 1989), cuộc tranh luận giữa R. Florida và D. Kotkin về các hệ đặc tính của lớp người đại diện cho “giai cấp sáng tạo” (Gnedovskij, 2004) và… chứ không nói về các mảng văn hóa cấp nhánh của giới trẻ. Không phải ngẫu nhiên mà R. Park viết rằng “ở đô thị, được tự do, mỗi cá nhân, dù có thái độ ly tâm đến mấy cũng nhất định tìm ra được môi trường để có thể phát huy và thể hiện, bằng cách nào đó, những đặc điểm bản tính của mình… Và một cộng đồng nhỏ đôi khi bị tách xa trung tâm, nhưng đô thị lại thường bản thưởng cho nó. Rõ ràng nét hấp dẫn của đô thị là do ở đây bất kỳ kiểu cá nhân nào – một kẻ tội phạm hay một gã lang thang hay một thiên tài – cũng đều sẽ tìm thấy hội chơi của mình, và tội đồ hay thiên tài bị giam hãm trong cảnh chật hẹp tù túng của gia đình hoặc giả sử trong một khuôn khổ hẹp hơn của một cộng đồng nhỏ đều phát hiện ở đây một bầu không khí đạo đức mà nó cần để bộc lộ hết mình. Còn nói chung thì mọi ước vọng thiêng liêng và mọi ham muốn bị kìm nén đều tìm thấy ở đô thị một cách biểu đạt” (Park, 2002: 12). Tương ứng, vì mỗi xã hội, ở mức độ nào đó, đều là đơn vị văn hóa độc lập, có những chuẩn mực, quan niệm riêng của mình về bổn phận, nghĩa vụ, về sự lịch thiệp đàng hoàng và về cái xứng đáng được tôn trọng” (Park, 2002: 8), những đặc tính được nhấn mạnh của môi trường quy phạm của dạng thức văn hóa đều có thể được goi là “mẫu số chung” của tính quy phạm đô thị.

Môi trường sự vật. Nếu không nói đến khía cạnh vật chất của đô thị thì rõ ràng có thể coi chính bản thân đô thị là môi trường sự vật của dạng thức văn hóa, và sống ở đô thị có thể hiểu là tiêu dùng nó. Tuy nhiên khi nói về văn hóa đại diện nói chung và về dạng thức văn hóa nói riêng, môi trường sự vật là thuộc tính của sự vật là các dấu hiệu nhận biết, các biểu trưng thể hiện các quan niệm, là những cái cập nhật tính trình diễn trong việc sử dụng các sự vật.

Hệ đặc trưng của đô thị với tính cách là “nơi tiêu dùng” được ưu đãi – là một trong các hệ đặc tính then chốt. Đô thị thực tế đưa lại nhiều khả năng lớn để tiêu dùng, đồng thời điều muốn nói ở đây không chỉ là tiêu dùng vật chất. Đối với nhiều người, dấu hiệu nhận biết một “người đô thị đích thực, chân chính” là sự tiêu dùng văn hóa. Người ta thường cho rằng “con người (có) văn hóa” (người đô thị hiểu theo cách đối lập truyền thống thành thị – nông thôn cũng giống như là “văn hóa” đối lập với “tự nhiên”) mặc dù chỉ thỉnh thoảng “cần” đến nhà hát, rạp chiếu phim, triển lãm, đi nhà hàng, uống cà phê và… Ở đây, ý nghĩa riêng tư cá nhân của những việc đó hoàn toàn có thể giới hạn ở việc thể hiện cách tiêu dùng và đề cao cái vị thế của mình và/hoặc cái bản sắc đô thị. Ở đây, sự vật là cái tiêu biểu cho tính sở thuộc đô thị (mình là người thành phố), là thứ “đạo cụ” của sự tương tác trong sinh hoạt đời thường (Hofman, 2003; Waksteinm, 2006: Kharlamov, 2007).

Không có gì ngạc nhiên khi nền kinh tế hiện đại bằng mọi cách duy trì ham muốn tiêu dùng, đẻ ra đủ dạng mẫu “phong cách đô thị”. Người đô thị cần chăm lo cho bản thân và đời sống tiện nghi của mình mà muốn thế thì phải dùng đồ tốt, thường là có thương hiệu hàng đầu thế giới, dùng đủ loại kỹ thuật, muốn là hàng đời mới, sống ở những nơi gần sự kiện văn hóa đáng quan tâm, trang phục trước hết là hướng vào mục đích tiện dụng, đồng thời cũng thể hiện tính cách riêng (Sinozhataskaja, 2011) và… Bản thân đô thị ở đây có lẽ nói cho đúng là một thứ đồ trang trí, ở chừng mực nào đó phù hợp cho việc “hoàn chỉnh hình ảnh”. Ở đô thị có những nơi chốn mà với người này là thực tiễn đô thị, còn với người khác, lại là những cái là biểu tượng của quá khứ hoặc tương lai, và cũng là dấu hiệu (đặc tính) nhận biết – các yếu tố của môi trường đô thị “chỉ cho thấy” những ý nghĩa “đã bị quên lạng” (Serto, 2010).

Mối liên hệ giữa tư tưởng đô thị với vị thế và tiêu dùng biểu diễn là hiển nhiên ngay từ thời phát triển chủ nghĩa tư bản nếu không nói là sớm hơn thế, khi tính sở thuộc vào giới quý tộc hoặc không hẳn là để lừa người khác, hoặc vẫn là việc khó khăn như trước đây. Trong điều kiện “tầng lớp thị dân” trở thành một đẳng cấp cao sang hơn so với vị thế một nông dân, mà thị dân đây không phải là một anh công nhân, mặc dù cả hai đều là người sống ở đô thị. Các giai cấp này đối lập nhau rất rõ, đặc biệt là trong quy thức hệ tư tưởng Xô Viết.Tuy nhiên, việc người công nhân (vốn trước đây là nông dân) muốn xích lại gần hơn với phương tiêu dùng kiểu “thị dân” là điều hoàn toàn hợp logic. Từ thế kỷ XIX, từ “thị dân” đã có nghĩa không chỉ và không hẳn là đại diện của đẳng cấp tương ứng, mà chính là một kiểu cá nhân xác định có đặc điểm là tham vọng sở hữu các sự vật (mà thường là bất chấp sở thích), vặt vãnh và ky cóp, không có xác tín cứng nhắc, ý thức trách nhiệm trước xã hội, bình thản theo số đông và cuộc sống an bình không xáo động (chẳng hạn có thể xem: Gorki, 1982; Fedosjuk, 2008). Nếu thêm vào đó “tin chắc rằng lối sống và hệ giá trị của mình là tuyệt đối đúng đắn và do đó, nó có thái độ cố chấp đối với cá mục đích và sở nguyện sống khác với mình” (Tabunov, 2004) thì ta sẽ thấy một hình ảnh hoàn toàn tương hợp với các quan niệm về “con người đại chúng”, “con người một chiều” (Marcuse, 2002; Ortega-i-Gaset, 2001).

Một mặt, vì văn hóa đại chúng, nền sản xuất và tiêu dùng vốn là đặc trưng vốn có của xã hội đô thị hiện đại (Lefebvre, 1970; Kastells, 1977) nét đặc điểm này của hệ tư tưởng đô thị không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, mặt khác, nó lại rất mâu thuẫn với các giá trị rất có ý nghĩa trước đây như thành đạt, sự tự thể hiện và… Đây là một thí dụ nữa cho thấy tính chất mâu thuẫn của hệ tư tưởng đô thị, cái thể hiện ý thức của các tầng lớp dân đô thị khác nhau, hình thành nên các phong cách sống đô thị khác nhau (Hans, 1962). Tương ứng, khó có thể coi sự mô tả của chúng ta về nội dung của văn hóa đô thị với tính cách hình mẫu để hình thành nên tính đồng bản sắc là phương án duy nhất. Nói cho đúng hơn là chúg tôi chỉ nêu lên một quan niệm chung nhất về “văn hóa đô thị”, cái có nhiều biến thể khác nhau tùy thuộc vào từng đối tượng và điều kiện tiếp cận nghiên cứu nó.

* * *

Xem xét đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa là phương cách dù chỉ là trên những nét đặc điểm chung nhất để chỉ nội dung của văn hóa đô thị như là nguồn gốc các trị nghĩa để định hình tính đồng bản sắc đô thị. Dạng thức văn hóa trong cách giải thích của Ionin cần gồm chứa các yếu tố như môi trường quy phạm, hệ tư tưởng, môi trường sự vật, lợi ích. Hoàn toàn có thể xem đô thị là một cấu thể có các yếu tố đó. Trong trường hợp đô thị, lợi ích gắn trước hết với việc đảm bảo các cơ hội, khả năng hiện thực hóa các nhu cầu, lợi ích và mục tiêu khác nhau của mỗi cá nhân của người dân sống nơi đô thị. Điều này, đến lượt mình, cho thấy có sự hợp lý nhất định cả trong việc giải thích đô thị nói chung (hệ tư tưởng) cũng như thái độ khá bình thản (nhưng thường là cảnh giác) đối với những người xung quanh (môi trường quy phạm). Môi trường sự vật của đô thị có thể lý giải không chỉ với tính cách là “cơ sở hạ tầng” như là phương tiện duy lợi thỏa mãn các nhu cầu, mà còn như là một thứ “đạo cụ” để thể hiện và tôn vinh danh tính (dân đô thị) của mình.

Có thể xem nội dung bài viết này chỉ là “điểm xuất phát” cho các nghiên cứu khác, trong đó có các nghiên cứu kinh nghiệm. Chính là từ góc nhìn này, khái niệm dạng thức văn hóa, cũng như hệ quan niệm về sàn diễn văn hóa nói chung, theo chúng tôi, là một công cụ lý thuyết thành công trong bối cảnh phân tích bản sắc đô thị.

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần II


Theo Ionin, quá trình định hình bản sắc của các cá nhân trong dạng thức văn hóa mới đồng thời cũng là quá trình nó hình thành, khai triển từ trạng thái chồi non. Bắt đầu cùng với sự giới thiệu đối tượng và hành vi ứng xử, và nó hoàn tất bằng sự hình thành của lợi ích xã hội.

Tác giả hệ quan niệm này từ bỏ các khái niệm phong cách văn hóa, phong cách sống, hình thức sống là những khái niệm được coi là có thể thay thế cho nhau. Dưới dạng chung nhất, “phong cách” có thể hiểu là phương thức đặc thù của hành động, của cách thể hiện, của lối thức sinh hoạt. Phong cách, theo Ionin, đối lập với quy thức (canon) truyền thống hiểu như là cái có thể lựa chọn với cái không được lựa chọn.

Khái niệm dạng thức sinh hoạt (forma vivendi) là phương thức đặc trưng cho một tập nhóm người nào đó để thỏa mãn các nhu cầu, các định chế xã hội, các quy phạm hành vi ứng xử và… Vào sơ kỳ thời Trung cổ, khái niệm này được dùng để miêu tả các đặc điểm của đời sống các tu sĩ, sau này thì miêu tả sinh hoạt của các dân tộc khác.

Khái niệm phong cách sinh hoạt (Lebensfuring) thường gặp ở M. Weber dùng để chỉ phương thức xử sự, phương cách tổ chức cuộc sống. T. Weblen gắn khái niệm phong cách sống với sự tiêu dùng theo chỉ định là nét biểu trưng cho tính sở thuộc một tập nhóm hay một giai cấp xác định (Weblen, 1984). Trong xã hội học phân chia giai tầng Anh quốc những năm 1960 và 1970, khái niệm phong cách sống (life-style) hiểu như là tổng hòa các hình mẫu quan hệ xã hội, tiêu dùng phúc lợi vật chất và văn hóa đã từng được sử dụng để phân tích các khác biệt giai cấp. Những khác biệt kể trên được hiểu như là các chỉ số rõ ràng của vị thế giai tầng, còn phong cách sinh hoạt thì được coi là một trong các phương thức thể hiện về mặt xã hội của các giai cấp kinh tế. Trong xã hội học Mỹ, khái niệm phong cách sống được sử dụng để phân biệt các dạng thức sinh hoạt xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa nội và ngoại (ven) đô. Gần đây nó được áp dụng với hàm nghĩa rộng hơn, để chỉ sở thích, phương châm, phúc lợi vật chất hoặc phương thức hành xử của một tập nhóm xã hội bấy kỳ, khu biệt nó với các tập nhóm khác (Aberkrombi, Hill, Terner, 2004).

Khái niệm lối sống được sử dụng phổ biến hơn trong tranh luận xã hội học ở Nga tập trung sự chú ý vào các dạng thức (loại hình, phương thức, đặc tính) xác định của hoạt động sống có chủ thể riêng của mình (cá thể, tập nhóm, xã hội) và có tính tất định bởi điều kiện nhất định (Butenko, 1978; Lối sống, 1983). Tương ứng, rõ ràng là đặc thù của lối sống đô thị (các dạng thức đô thị) một mặt là những điều kiện đô thị, và mặt khác là cư dân đô thị với tính cách là chủ thể tương ứng (Kobjak, 2003).

Nếu trong các định nghĩa kể trên vấn đề được đề cập chủ yếu là các đặc điểm quan sát được một cách khách quan thì dạng thức văn hóa trong sự tồn tại danh nghĩa của nó đúng hơn là cấu thể lý tưởng. Ionin xuất phát từ cách giải thích của F. Tenbruk về văn hóa là cái mang tính chất đặc trưng tiêu biểu: Văn hóa là một hiện tượng xã hội vì nó là cái mang tính đại diện, tức là đề ra các ý tưởng, ý nghĩa, giá trị có hiệu lực do chúng được công nhận trên thực tế. Do đó, văn hóa này bao gồm các xác tín (niềm tin), ý kiến đánh giá, bức tranh thế giới, các tư tưởng và hệ tư tưởng, tác động tới cách hành xử xã hội ở mức độ mà các thành viên xã hội hoặc tích cực chia sẻ, hoặc thừa nhận một cách thụ động (dẫn theo Ionin, 2004: 224). Theo Ionin, “văn hóa đại diện là cái tiêu biểu đại diện trong ý thức của các thành viên xã hội tất thảy mọi sự kiện thực tế, chỉ một cái gì đó đối với các cá nhân hành động. Và những hành vi đó, với họ, mang chính cái được coi là tiêu biểu về mặt văn hóa. Chỉ cái đó là tồn tại đối với các thành viên xã hội và chỉ như thế, tức là đại diện văn hóa, xã hội mới (có thể) tồn tại” (Ionin, 2004: 680). Nói cách khác, có thể diễn đạt tư tưởng cơ bản thế này: các hành động, quan hệ, định chế xã hội… là cái đại diện, tiêu biểu, tức là thể hiện các quan niệm xác định đằng sau nó – chính đó, trong cách tiếp cận này, mới là những điều kiện có tính tất định.

Logic định hình bản sắc trong quá trình đến với một dạng thức văn hóa thông qua sàn diễn văn hóa gồm các giai đoạn sau:

+ Có các thuộc tính bề ngoài của dạng thức văn hóa.

+ Xxx – cảm thụ những hình dung về thế giới đưa ra lời giải thích chỗ đứng của cá nhân và tập nhóm của nó, các tập nhóm khác ứng xử với nhau, vai trò, những điểm khác biệt, lịch sử… của chúng. Các quan niệm này cũng là cơ sở để định hình bản sắc hiểu theo nghĩa “kết nạp” cá nhân vào bức tranh thế giới của dạng thức văn hóa đó. Chẳng hạn, P. Berger và Th. Lukman nhấn mạnh rằng cá nhân đồng chất nhất mình với các tập nhóm xã hội này hay khác hay với các lập trường nào đó là dự trên các quan niệm của anh ta về toàn bộ cấu trúc các lập trường. (Berger, Lukman, 1995).

+ Đề ra trạng thái tình cảm – cảm xúc tương ứng với dạng thức văn hóa. Ionin viết: “Các phương châm đạo đức cũng giả định bản thân nội hàm của lý thuyết. Thực tế thì mọi thứ lý thuyết thường ngày đều vẽ nên một hình ảnh thế giới với hai màu đen – trắng, chia người ta ra thành hai: mình và họ (những người khác mình)… Tuy nhiên, các quy phạm hành vi ứng xử đối với người mình và người khác trong lý thuyết lại khác nhau. Chúng tùy thuộc vào lợi ích của bên mình và bên những người khác kia được quan niệm trong lý thuyết xung khắc đến mức nào, không thể dung hợp, trái ngược, đối lập nhau đến mức nào. Việc giảng dạy lý thuyết đồng thời cũng là giảng dạy các quy phạm đó và bồi bổ đạo đức và tình cảm” (Ionin, 2004: 284).

Khi xét rằng đa số dân cư hiện thời là người đô thị thì khó có thể nói rằng việc có bản sắc đô thị cũng giống như là nói về sàn diễn văn hóa (trừ những trường hợp nói về quá trình hội nhập bản sắc với đô thị mới hay di chuyển nơi cư trú từ nông thôn ra thành phố). Tuy nhiên, giải thích đô thị như là một dạng thức văn hóa tạo điều kiện để phân biệt các yếu tố của nó: môi trường quy phạm, hệ tư tưởng, môi trường bên ngoài, lợi ích (Ionin, 2004: 285 – 286).

Hiện có cả một loạt công trình kinh điển cho phép nghiên cứu đặc trưng đô thị như một dạng thức văn hóa. Nếu theo danh mục các yếu tố mà Ionin đã liệt kê thì có thể nêu những cách miêu tả sau đây về các yếu tố đó:

Lợi ích. Lợi ích xã hội – đó là việc ý thức được các điều kiện tồn tại khách quan của một tập nhóm. Trong trường hợp đô thị thì lợi ích chung trước hết gắn với việc đảm bảo khả năng hiện thực hóa các lợi ích và các mục tiêu riêng khác nhau của người dân sống ở thành phố (Zimmel, 2002: Park, 2002; Mumford, 1996). Điều này được đảm bảo bởi tính chất duy lý luận của tổ chức đời sống chung của dân đô thị, đặc biệt là về phương diện xây dựng và bảo vệ cơ sở hạ tầng cần thiết. Nói cách khác, ở đây nói về lợi ích dựa trước hết trên chức năng vận hành. Đây chính là khía cạnh cơ bản khi nói về sự hình thành “cộng đồng người đô thị” hay “các cộng đồng đô thị địa phương” được hiểu theo tinh thần một “cộng đồng dân sự” với tính cách một “cộng đồng trách nhiệm hữu hạn” (Janowitz, 1961) nhằm bảo vệ quyền (đối với) đô thị của mình (Lefebvre, 1996).

Hệ tư tưởng. Nhà kinh điển nghiên cứu đô thị Louis Maumford trong công trình “Đô thị là gì?” (Mumford, 1996) viết rằng đô thị là một tổng hòa các tập nhóm người có chung một mục đích. Quan điểm này được nhiều tác giả ủng hộ; họ coi một trong những mục tiêu chủ yếu là nhiệm vụ có cá tính riêng và không phải chịu sự chi phối của các cộng đồng bản địa (Zimmel, 2002; Park 2002). Hiểu theo nghĩa này, đô thị tất nhiên là biểu tượng tính duy lý của thời đại là điều đã được cả các nhà kinh điển của xã hội học lẫn các đại biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại nhận định chẳng qua chỉ là công cụ để đạt đến những mục tiêu riêng, cá biệt của mình, một cái mà xét về nguyên tắc, đã mất hết tính chất thiêng liêng. Như R. Park đã viết về đô thị: “Đô thị là cái không mang tính tự nhiên và tính thiêng, mà có tính thực dụng và thể nghiệm. Do sức ép cần thiết thực tiễn, cấu thể nay đã không còn chỉ là một hình thức nghi lễ xã hội, chính sách đã trở nên thực dụng, đức tin tôn giáo giờ đây, nói cho đúng, là một quá trình tìm kiếm chứ không còn là truyền thống, là cái đáng ra là phải mất công mới có, chứ không phải đơn giản là nhận (Park, 2004: 4). Đô thị ở đây là điều kiện, là sân chơi, là vật mang các cơ hội để đạt được các mục tiêu – nó có giá trị vì nếu thiếu nó thì hoàn toàn không thể đạt được những mục tiêu (mà đôi khi là do người ta tự đề ra) kia. Tức là cái giá trị không chỉ là ở hạ tầng cơ sở (vật chất), mà còn là tính không thuần về nguyên tắc của người dân đô thị – đó là nhận định đã được thể hiện, chẳng hạn, trong tư tưởng của Z. Bauman (Bauman, 2008).

Yếu tố thể hiện rõ nhất về hệ tư tưởng trong trường hợp này là những khả năng (cơ hội) đa dạng (bao gồm cả khả năng tiếp xúc với cái mới), sự tự thể hiện, tính duy lý, và cả sự bình đẳng nhờ đó mà có, theo tinh thần của Durkheim, như là sự thể hiện “tính đoàn kết gắn bó hữu cơ” một mối phụ thuộc nhau trong hoạt động (thực hiện chức năng), thể hiện cả trong việc công nhận “quyền đối với thành phố” là bình đẳng đối với tất cả mọi người. Định hướng của hệ tư tưởng đô thị vào việc đạt mục đích cũng là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật các giá trị năng nổ, thành công, tiến bộ, phát triển, và như vậy cũng có nghĩa là góp phần vào tính hiện đại, cơ động, năng động và… Chính các giá trị này, thường được sử dụng để thiết kế nên các mô hình “tiêu dùng đô thị” như là sự thể hiện “lối sống đô thị” được quảng cáo với mục đích thương mại.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần I


Aleksej Musiezdov

Giới thiệu

Bài viết này giải thích đô thị như một dạng thức văn hóa. Những biến đổi xã hội nhanh chóng dẫn đến tính xác định cá nhân trở thành một vấn đề; nhằm xác định bản sắc riêng của mình người ta tìm đến những cách phân loại rạch ròi nhất, kể cả phân loại theo vùng lãnh thổ. Điều này, đến lượt mình, càng khiến hệ vấn đề về bản sắc đô thị càng có tính chất thời sự hơn. Đặc điểm của đô thị như một cấu thể xã hội là không có một cộng đồng thành thị thống nhất với tính cách là nguồn hình mẫu đơn nghĩa (rõ ràng) để xác định tính đồng chất (bản sắc). “Xã hội thông tin” hiện nay chỉ ngày càng thúc đẩy mạnh hơn tính đa dạng của dân đô thị và các cộng đồng thành thị. Vì vậy, thay cho cách giải thích truyền thống về định hình tính đồng chất/bản sắc là đề xuất nên xem xét bản sắc đô thị theo logic khái niệm “cộng đồng tưởng tượng”. Các quan niệm cơ sở của bản sắc trong trường hợp này là quan niệm về đô thị chứ không phải về cộng đồng. Khi đi tìm một bộ máy lý luận để miêu tả nội dung các quan niệm này, tác giả đã đến với khái niệm “dạng thức văn hóa”. Nó đã được L. Ionin sử dụng trong quan niệm “sàn diễn văn hóa” của ông. Mô hình xã hội học cổ điển, đặc biệt là trong phiên/dị bản marxist của nó, có khẳng định rằng các mẫu văn hóa được hình thành trên cơ sở lợi ích xã hội khách quan, được ý thức, trình bày như một học thuyết rồi sau đó trở thành cơ sở nền tảng cho hành vi ứng xử tương ứng. Trong một xã hội đang trải qua bước chuyển hóa sâu sắc, nơi các mô hình bản sắc quen thuộc đã mất ý nghĩa của mình, và “lợi ích” được quy về tất yếu sống còn thì một mô hình như vậy khó mà phát huy tác dụng. Qua niệm “sàn diễn văn hóa” đưa ra cách giải thích sự hình thành nên các bản sắc như là sự khai triển các hình mẫu văn hóa trong một khoảng thời gian nào đó là có tính danh nghĩa, tức là không thể hiện trong thực tiễn xã hội. Các hình mẫu đó chính là các “dạng thức văn hóa”.

Những chuyển biến xã hội nhanh chóng (dù là do nguyên nhân nào) cũng khiến người ta đặt dấu hỏi không chỉ đối với trật tự xã hội như một hệ thống quy phạm và quy tắc, mà cả hệ thống ý nghĩa của thế giới xã hội và chỗ đứng của con người trong đó. Sự thay đổi các trị nghĩa đang dẫn đến chỗ làm cho tính xác định nhân cách trở thành vấn đề, buộc mỗi người phải đưa ra một lời giải mới cho câu hỏi: mình là ai. Khi muốn xác định bản sắc riêng của mình, người ta thường tìm đến những cách phân loại có vẻ là rạch ròi nhất – họ định vị bản thân chủ yếu bằng cách quy về gia đình, các cộng đồng sắc tộc và cộng đồng lãnh thổ… (Jadov, 1994). Trong cách phân loại theo cộng đồng vùng lãnh thổ thì chiếm tỷ lệ cao nhất là cộng đồng đô thị.

Thế những câu hỏi thuộc về một cộng đồng đô thị nghĩa là thế nào – là một người dân thành phố, người đại diện cho thành phố hay đô thị nói chung – thì vẫn đang là điều hết sức mơ hồ cả trong thực tiễn lẫn về mặt lý thuyết. Đối với một người bình thường thì nói thế cũng có nghĩa là anh ta thuộc về những người mà ông đã quen biết đến từ khi còn nhỏ và/hoặc đến hiện thời vẫn giữ quan hệ và tiếp xúc là để có thể thỏa mãn nhu cầu này khác, và định hướng vào nhóm tham chiếu những “người đô thị đích thực” với các giá trị, quan điểm, lối sống của họ và chỉ đơn giản là nếp quen sinh hoạt trong những điều kiện đó… Dù sao thì quan hệ sở thuộc (danh tính) và/hay mối liên hệ đó cũng cần được khái quát trong lý thuyết xã hội học, là lĩnh vực nó thường được định danh là “bản sắc”.

Việc luận bàn về bản sắc đô thị theo chìa khóa truyền thống ngay lập tức sẽ vấp phải nhiều trở ngại. Chẳng hạn, nếu bản sắc là kết quả của quá trình định hình tính đồng chất với một tập nhóm thì “cộng đồng đô thị” về nguyên tắc rất khó giải thích với tính cách một tập nhóm. Đô thị, theo “đúng định nghĩa” vốn là tâm điểm của các cộng đồng khác nhau, với cơ cấu của mình, văn hóa của mình và… – là tư tưởng phổ biến về “lối sống đô thị” (Virt, 2005) tuy không phải hoàn toàn là ảo tưởng, nhưng nói cho đúng, không phải là nguyện vọng từ việc quảng bá văn hóa đại chúng. Rất nhiều công trình nghiên cứu về các cộng đồng đô thị chỉ xác nhận rằng đặc trưng của đô thị là nó không chỉ có một, mà có nhiều lối sống (Fischer, 1982; Gans, 1962; Wellman, Leighton, 1979). Các nghiên cứu về đô thị hiện nay chỉ ra rằng do sự phổ biến rộng rãi các công nghệ thông tin và truyền thông, các cộng đồng đô thị ngày càng trở nên “khép kín” hơn, thiết lập ranh giới chia cắt với nhau và giữa mình với các cộng đồng khác (Davids, 1998; Architecture of Fear, 1997; Cennet, 2008). Nếu vậy thì bản sắc đô thị và cộng đồng đô thị là gì, bản sắc của nó và của những cộng đồng khác được định hình như thế nào?

Phương án giải đáp mà chúng ta sẽ xem xét rất khác với cách giải thích về cộng đồng đô thị như là một cộng đồng tưởng tượng, tức là dựa trên tổng hòa các quan niệm chung (Anderson, 2001). Trong trường hợp này, ta có thể nói không hẳn là về các quan niệm về người dân đô thị, mà chính là về đô thị. Chính đô thị là vật mang các ý nghĩa có thể bằng cách này hay khác “vượt qua” hiểu theo nghĩa biểu trưng, những khác biệt giữa những người dân đô thị và các đô thị cụ thể là rất khác nhau. Nói cách khác, đơn vị của bản sắc đô thị là đô thị chứ không phải là cộng đồng đô thị. Logic này về nguyên tắc phù hợp với quan niệm đang phổ biến trong khoa học xã hội vai trò của trí tưởng tượng trong hoạt động của xã hội (hậu) hiện đại (Maffsoli, 1991; Kastoriadis, 2003).

Tư tưởng của A. Anderson về cộng đồng tưởng tượng rất giống với cách giải thích của Durkheim về tôn giáo, coi tôn giáo là hệ thống “các tín ngưỡng và nghi lễ tập hợp lại thành một cộng đồng đạo đức gọi là Nhà thờ tất cả những ai tin theo nó” (dẫn lại theo Garadz, 2005: 118). Quan trọng là phải nhấn mạnh rằng ở đây không chỉ nói đơn thuần một “hệ quỹ đạo” cho phép “…” không gian xã hội, mà là về một học thuyết xác định, ngoài các yếu tố khác, đưa ra một thước đo giá trị (Ban’kovskaja, 2001), tức là về một văn hóa chung.

Ở đây chúng ta không chuyên sâu xem xét “khía cạnh nghi thức” của văn hóa đô thị (các hoạt động thực hành nhằm thực hiện và trình diễn tượng trưng danh tính đô thị), mặc dù nó, rõ ràng là có xảy ra và liên quan chủ yếu với tiêu dùng (Zukin, 1995), – đề tài này là đối tượng độc lập của các nghiên cứu riêng. Chúng ta chỉ quan tâm đến khía cạnh lý thuyết, cho phép miêu tả bản sắc đô thị như là một thứ tính sở thuộc “văn hóa”, mà trong trường hợp này “đô thị với tính cách là một văn hóa”; phương tiện để biểu đạt nội dung của nền văn hóa đó. Mục đích của bài viết này là xem xét khái niệm dạng thức văn hóa như là một công cụ được sử dụng trong khuôn khổ “phép phân tích văn hóa”, – cách tiếp cận xã hội học đã được L. Ionin phát triển (Ionin, 2004).

* * *

Khái niệm dạng thức văn hóa được Ionin sử dụng trong hệ quan niệm “sàn diễn văn hóa” của ông. Ông tập trung chú ý vào vấn đề: để tái sản xuất các quan hệ xã hội, nó cần phải được các cá nhân quán triệt trong quá trình xã hội hóa là quá trình trước hết được hiểu như là đồng chất hóa/định hình bản sắc với một số hình mẫu văn hóa. Hệ quan niệm của ông giải thích sự hình thành các bản sắc như là sự triển khai các mẫu văn hóa mà trong suốt một thời đoạn nào đó có tính chất danh nghĩa, tức là không được thể hiện trong thực tiễn xã hội.

Mô hình xã hội học “cổ điển”, đặc biệt là ở phiên bản marxist của nó, khẳng định rằng các mẫu văn hóa được hình thành các mẫu văn hóa được hình thành trên cơ sở lợi ích xã hội khách quan được ý thức, trình bày như một học thuyết và sau đó trở thành nền tảng của cách ứng. Ionin cho rằng trong xã hội đang trải qua giai đoạn chuyển hóa sâu sắc, nơi các mô hình quen thuộc của quá trình định hình tính đồng chất/bản sắc đã mất đi ý nghĩa của mình, “lợi ích được quy về tất yếu sống còn thì một mô hình như vậy khó thể phát huy tác dụng. Muốn ý thức được lợi ích và “trình bày” các mẫu văn hóa cần phải có thời gian, mà hình ảnh mới của thế giới với tính cách là nền tảng của quá trình định hình bản sắc thì ngay lúc này đã rất thời sự.

“Mặt khác, ta đều biết có cả một tập hợp các dạng thức văn hóa có sẵn, giả định các phương án đồng bản sắc có sẵn. Các dạng thức này tồn tại ở dạng phôi thai, nhưng “chồi non” ấy đã chứa sẵn hầu như tất cả những gì cần có để triển khai một dạng thức văn hóa có đầy đủ giá trị. “…Chỉ thiếu có một yếu tố – đó là lợi ích xã hội trực tiếp, cái có thể coi như là cơ sở để một dạng thức văn hóa xuất hiện và dần định hình từ lâu trước khi nó chuyển sang trạng thái là một cái chồi non. Có thể gọi đó là các dạng thức bay lượn tự do: chúng không gắn với nhau như trong trạng thái hiện nay của chúng với các lợi ích xã hội và thông qua đó, gắn với các tầng lớp và tập nhóm xác định… Chúng thấm vào mỗi người đang bận tâm tìm kiếm bản sắc, cố gắng có được một hình ảnh hoàn chỉnh mới về cái thế giới trong đó có thể ghi nhận chính xác chỗ đứng của bản thân mình” (Ionin, 2004: 276 – 277).

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Bản chất của văn hóa và các quy luật phát triển của nó – Phần cuối


Một tính quy luật khác là động thái xã hội – văn hóa là có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nhịp độ phát triển xã hội – văn hóa của xã hội và trình độ bản sắc địa phương của văn hóa đó. Chúng ta biết rõ rằng tất cả các nền văn hóa tộc người, và sau đó là văn hóa quốc tộc (quốc gia – dân tộc) đều có những nét khác nhau do được thể hiện bản sắc đậm nhạt tính lịch sử cụ thể của mình, giúp ta phân biệt được các nền văn hóa khác nhau, và cùng với đó, dựa theo mức độ lịch sử cụ thể của sự khái quát, điều phải nói tới không phải là văn hóa chung chung, mà là về một tập hợp các nền văn hóa có bản sắc riêng khác nhau.

Tuy nhiên, khi xem xét hiện tượng này trong động thái lịch sử, ta sẽ thấy độ đậm nhạt của bản sắc văn hóa địa phương của một xã hội được quyết định chủ yếu bởi nhịp độ phát triển xã hội của nó. Khi động thái phát triển của xã hội được đẩy nhanh, thì độ đậm bản sắc văn hóa của nó lại phai nhạt đi, còn khi nhịp độ phát triển xã hội chậm lại thì tính đặc thù văn hóa lại tăng lên. Chúng ta thực tế hiểu rất rõ rằng việc tăng cường độ động thái phát triển thường phải trả bằng sự mất mát một phần không nhỏ tính đặc thù văn hóa truyền thống; điều này thể hiện rõ qua các thí dụ về công cuộc cải cách của Petr Đại đế ở Nga, của Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản của Kemal Ataturk ở Thổ Nhĩ Kỳ… Và ta cũng có thể thấy việc củng cố bản sắc văn hóa lại luôn đi kèm sự trì trệ trong phát triển xã hội, như trong lịch sử của nước Nga qua thí dụ vương quốc Moskva hay trong một số thời kỳ lịch sử Trung Quốc (thời nhà Tần chẳng hạn).

Phải nói rằng bản sắc văn hóa địa phương không có chung nguyên nhân xuất hiện, ở đây chỉ có thể nói đến một sự tổng hòa của nhiều nhân tố sinh ra hiện tượng này. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là tình huống biệt lập về giao tiếp của cộng đồng ấy trong một khoảng thời gian nào đó. Trong giai đoạn phát triển nguyên thủy sơ kỳ, cái giữ vai trò cơ bản là sự biệt lập địa lý quan của các tập thể, về sau thêm vào đó là tình trạng biệt lập về ngôn ngữ, chính trị, tôn giáo nữa. Trong thời kỳ nguyên thủy và nông nghiệp, nhịp phát triển xã hội rất chậm, bản sắc văn hóa địa phương đóng vai trò quan trọng torng việc đảm bảo độ bền thực tiễn của các xã hội là đơn vị xã hội độc lập. Nhưng khi nhịp phát triển xã hội được đẩy nhanh hơn thì mối liên hệ với các nước láng giềng cũng được tăng cường, các công nghệ kinh tế, xã hội, quân sự… tiên tiến được tích cực du nhập. Các rào cản giao tiếp ở đây bắt đầu thưa dần. Trong điều kiện đó, sức thể hiện của bản sắc văn hóa bắt đầu giảm đi, đơn giản là vì nó không còn cần thiết nữa đối với những nhiệm vụ phát triển mới.

Tôi cho rằng bản sắc địa phương tuyệt nhiên không phải là hình thức bắt buộc của Tồn tại văn hóa, mà chỉ là một trường hợp cá biệt của Tồn tại đó, cái Tồn tại chịu sự quy định của các yếu tố hoàn cảnh tự nhiên – lịch sử trong những thời đoạn lịch sử ban đầu của nó, trước hết là chế độ tự đủ (tự sản tự tiêu) về mặt xã hội của cộng đồng địa phương và sự tồn tại biệt lập ở mức độ nhất định của nó. Nhưng trong quá trình phát triển công nghiệp và hậu công nghiệp của các xã hội, chế độ tự đủ xã hội tự cung cấp lại bắt đầu cản trở sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực đời sống. Đối ngược lại tình trạng đó, việc trao đổi thông tin, kinh nghiệm và kiến thức giữa các dân tộc ngày càng tăng lên, các rào cản giao tiếp được xóa bỏ và đồng thời ý nghĩa chức năng của bản sắc văn hóa và các nét đặc điểm biểu hiện của nó giảm đi. Nhịp độ phát triển xã hội càng cao thì quá trình này càng mạnh hơn lên.

Tuy nhiên, xét về triển vọng, ít có khả năng bản sắc văn hóa địa phương sẽ biến mất hoàn toàn. Mọi xã hội đều không đồng nhất về mặt xã hội. Trong mỗi xã hội bao giờ cũng sẽ tồn tại một tầng lớp người năng lực cạnh tranh thua kém trong mọi dạng hoạt động, đặc biệt là trên các hướng canh tân mạnh nhất, có thể tạm gọi là lớp người sống ngoài lề xã hội. Chính là đối với lớp người này, chứng tỏ bản sắc văn hóa địa phương sẽ vẫn là hình thức cơ bản để họ tự thể hiện về mặt xã hội, là sự bù lại về phương diện tâm lý sự yếu kém về năng lực cạnh tranh của họ trong các lĩnh vực khác của thực tiễn xã hội.

Tính quy luật thứ ba của động năng văn hóa – xã hội xem xét ở đây là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa trình độ phát triển văn hóa – xã hội của xã hội và các thông số tự do xã hội của cá nhân con người. Sự tùy thuộc lẫn nhau này thể hiện ở chỗ theo đà phát triển của xã hội và cơ cấu xã hội ngày càng phức tạp hơn, sự giám sát xã hội đối với cá tính con người ngày càng giảm theo từng giai đoạn, và nó (cá tính) ngày càng có điểu kiện để tự thực hiện về mặt xã hội và văn hóa, tức là có tự do xã hội lớn hơn. Mức độ kiểm soát khắt khe của xã hội đối với cá nhân trong các cộng đồng thời đoạn phát triển nguyên thủy, thể hiện qua vô số điều húy kỵ, nghi thức, nghi lễ…, cao hơn nhiều so với sự giám sát của công xã nông thôn đối với các chủ đất thời đại nông nghiệp của thời đại nông nghiệp thể hiện qua hệ thống các tập tục tộc người và tôn giáo và phân biệt đẳng cấp. Sự giám sát đó còn nhẹ hơn nữa đối với người dân thành thị thời công nghiệp vì lúc đó thị dân đã có các quyền công dân và tự do chính trị nhất thời theo luật định. Ở thời đoạn phát triển hậu công nghiệp, quyền tự do tự thể hiện văn hóa của con người được ưu tiên hàng đầu. Vec-tơ phát triển của tình huống theo hướng mở rộng quyền tự do xã hội của cá nhân ở đây là hoàn toàn rõ.

Để hiểu được tính chế ước xã hội của quá trình này, cần hình dung văn hóa người như một chương trình hành vi ứng xử xã hội của các thực thể sống, như đã nói ở phần đầu bài viết này. Cách ứng xử xã hội của động vật được điều chỉnh chủ yếu bởi hệ thống các bản năng do di truyền và quy định toàn bộ các phản ứng điển hình khi gặp các tình huống điển hình trong đời sống. Trong quá trình hình thành loài người, các bản năng động vật thông thường chủ yếu là được thay thế bằng một chương trình ứng xử xã hội khác – đó là tập quán tộc người. Tập quán xét về bản chất là cái tươg tự như hành vi bản năng: nó cũng được xây dựng dựa trên các phản ứng điển hình trước các tình huống sống điển hình, nhưng cơ sở thông tin của nó rõ ràng là các điểm mẫu của ý thức và tâm thức không phải do di truyền, và có được nhờ bắt chước cha mẹ truyền lại cho con cái. Dĩ nhiên, cái đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc kế thừa tập quán còn có những phương pháp huấn luyện đặc biệt cho con cháu những quy tắc ứng xử đã thành tập quán. Nhưng dù sao đi nữa thì trong trường hợp này, việc trẻ bắt chước – hành vi ghi nhớ máy móc các mẫu ứng xử của cha mẹ – vẫn là khâu quan trọng hơn. Quá trình chuyển giao tập quán này cũng chính là quá trình xây dựng nên văn hóa truyền thống của các thời đại nguyên thủy và nông nghiệp. Hoạt động sống của người làm nông nghiệp ở nông thôn, chiếm tuyệt đại đa số trong cư dân các thời đại lịch sử buổi sơ kỳ, về nguyên tắc, chưa cần có một chương trình hành xử nào khác, phức tạp hơn.

Tình huống thay đổi về nguyên tắc khi xã hội chuyển sang trình độ phát triển công nghiệp và đặc biệt là khi bắt đầu quá trình đô thị hóa trên quy mô lớn. Cuộc sống ở đô thị công nghiệp đã không còn có thể trông cậy vào việc học cách phản ứng điển hình để ứng phó với các tình huống điển hình nữa. Đến đây thì lại có một mô thái ứng xử xã hội khác hẳn, mà cơ sở của nó là dựa vào năng lực ứng phó tức thời của người ta trong các tình huống hoàn toàn không phải là điển hình trong cuộc sống. Và thay thế cho tập quán là một chương trình hành vi ứng xử khác – hệ thống hành vi ứng xử duy lý. Khác với tập quán và các phương châm có tính chất bắt buộc, cách hành xử duy lý được xác định bởi chính con người, lý trí của nó và giới hạn trong phạm vi các luật lệ khá trừu tượng điều chỉnh hành vi trong các tình huống cực đoan. Quyền hành xử duy lý theo lý trí của con người – đó chính là tự do. Việc xã hội tin vào lý trí của con người dẫn đến chỗ giảm dần mức độ giám sát xã hội đối với ứng xử của con người, không can thiệp vào đời sống riêng tư, hình ảnh bên ngoài và các biểu hiện cá nhân khác (nếu các hành vi đó không nguy hiểm cho người xung quanh) của nó.

Như vậy trong suốt lịch sử nhân loại, chúng ta có thể thấy sự thay thế các chương trình ứng xử xã hội của người Homo sapiens trở thành văn hóa và thể hiện trong văn hóa. Quá trình tiến hóa đi từ bản năng thông thường chủ yếu là trong thời đoạn hình thành con người, chuyển sang trình độ tập quán tộc người, điều chỉnh hành vi của con người trong các thời đoạn nguyên thủy và nông nghiệp, để rồi tiếp đó tiến tới cách hành xử duy lý của các thành viên xã hội dân sự bắt đầu trong các thời đoạn công nghiệp và đầu hậu công nghiệp của lộ trình tiến hóa xã hội. Và đó là hệ quả trực tiếp của sự phát triển xã hội mà xã hội đã trải qua trong tiến trình lịch sử của nó.

Bảng liệt kê trên, tất nhiên, không phải đã là tất cả các tính quy luật điều chỉnh sự phát triển văn hóa – xã hội của loài người, nhưng nó cho phép dự đoán một số xu thế tương lai văn hóa trong tương lai trước mắt. Trong tương lai ấy, có thể, một là, nhịp độ thay đổi các hình thức, phong cách, thể thức văn hóa sẽ được đẩy lên nhanh hơn. Hai là, có thể ý nghĩa thời sự của bản sắc dân tộc của văn hóa sẽ giảm, dần dần trở thành một nét văn hóa đặc thù của bộ phận dân cư theo chủ nghĩa truyền thống. Và ba là, để bù đắp lại cho sự suy giảm ý nghĩa quan trọng của khởi đề quốc tộc, cần đề cao vai trò và ý nghĩa của khởi đề tính cá nhân trong văn hóa, mà không chỉ trong văn hóa nghệ thuật như ta đã thấy kể từ thời Phục Hưng, nhưng bây giờ là cả trong văn hóa xã hội. Lẽ dĩ nhiên, dự báo này là dành cho viễn cảnh văn hóa tới đây của các nước phát triển hậu công nghiệp. Dự báo này liệu có ý nghĩa thời sự đối với nước Nga không là tùy thuộc vào nhịp độ và những đặc điểm phát triển hậu công nghiệp của nó.

Người dịch: Ngô Tuy Phước

Nguồn: TN 2014 – 3 & 4

Bản chất của văn hóa và các quy luật phát triển của nó – Phần II


Dù thế nào chăng nữa, rõ ràng rằng văn hóa người là sản phẩm của sự phát triển tiến hóa các bản năng hành vi xã hội của các loài động vật sống theo bầy đàn và giống với tổ tiên loài mình hệt như con người giống như động vật (khỉ dạng người) nói chung. Như ta biết, sự khác biệt về di truyền giữa người và linh trưởng là khoảng từ 1 đến 2%. Nhưng sự khác biệt không đáng kể này lại có hiệu ứng chất lượng cực kỳ to lớn, được quyết định bởi sự phát triển và các khả năng của bộ não người. Cũng có thể nói đại khái như vậy về những khác biệt giữa hành vi xã hội của động vật và văn hóa của con người. Xét về các hệ đặc trưng chức năng và thủ pháp cơ bản thì hành vi tương tự của động vật không khác lắm so với văn hóa của con người. Trong hành vi đó của động vật cũng có:

+ Sự tương tác (mà đôi khi cũng khá phức tạp), trợ giúp và ủng hộ nhau;

+ Sự phân công chức năng khi hành động tập thể (ví dụ, khi đi kiếm ăn, đào hang xây tổ, phòng vệ, cũng như có sự phân chia hình thức hoạt động theo tuổi tác và giới tính);

+ Cải tạo vùng lãnh thổ sinh sống (lợp nhà xây tổ, làm đường…);

+ Có bất bình đẳng xã hội (có con đầu đàn, thành viên bình thường, những cá thể bị ruồng bỏ…) và nghi thức nội bộ, kiêng kỵ theo độ tuổi và chế độ đối với bậc cao niên;

+ Dạy kỹ năng cho con non;

+ Các trò chơi (hôn nhân, học tập, giải trí);

+ Có những quy tắc nhất định áp dụng cho quan hệ hôn nhân và phân chia phần mồi săn kiếm được;

+ Sự trao đổi thông tin – âm thanh, hình ảnh (dáng thế, cử chỉ chân tay, nét mặt), khứu giác (nhận biết mùi) khá tinh tế.

Loài linh trưởng cũng vốn có những cách biểu hiện khác thường như sử dụng có lựa chọn theo tình huống các công cụ khác nhau (đá, cành cây, gậy…) và thậm chí có cả thái độ côn đồ (những động tác vui đùa có thể gây tác hại; và một số vật nuôi trong nhà (mèo, chó) cũng vốn có những bản năng tương tự).

Sự khác biệt cơ bản nằm ở chỗ động vật thực hiện hoạt động sống của mình nói chung là dựa trên cơ sở một chương trình bản năng bền vững và chúng không có khả năng thay đổi nhanh các mẫu hành vi của mình. Sự thay đổi đó chỉ có được khi có sự tích lũy kinh nghiệm tương ứng (ví dụ, trong quá trình huấn luyện). Còn con người thì có ý thức và về nguyên tắc có thể phản ứng một cách tức thời và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với tình huống thực tế: có thể luyện kỹ năng rất dễ dàng. Đó là cái quyết định điểm khác biệt cơ bản có tính nguyên tắc giữa hành vi xã hội của động vật với hành vi xã hội của con người, cái được gọi là văn hóa. Nhưng văn hóa xét về chức năng xã hội cơ bản của nó – đó chính là hành vi xã hội có tính quy phạm của con người, về thực chất thì tương tự như hành vi xã hội của động vật sống theo bầy đàn và chỉ hơn động vật về chất.

Ưu thế vượt trội về chất nói trên đã được tích lũy trong các hành vi xã hội của người vượn diễn ra rất chậm, dần từng bước trong hơn 2 – 3 triệu năm và về cơ bản tương ứng với các giai đoạn tiến hóa về mặt sinh học của con người. Ở đây có thể được khẳng định rằng không thể nói về “ngày khai sinh ra văn hóa” cũng như coi đó là một sự kiện tức thời, hay như là một quá trình dài, có điểm khởi đầu và điểm kết thúc. Nguồn gốc của văn hóa khởi phát từ các hình thức đơn giản nhất của đời sống sinh học tập nhóm trên Trái Đất và là một giai đoạn xác định trong lịch sử tiến hóa của các hình thức đó. Điểm khởi đầu của nó là sự xuất hiện của hình thức tồn tại tập nhóm của các hệ thống sinh học, mà sự xuất hiện của hình thức này tạm thời vẫn đang là đối tượng của các giả thuyết.

Trong suốt lịch sử của mình, văn hóa đã trải qua một lộ trình phát triển rất phức tạp, khi phân tích lộ trình này có thể nhấn mạnh và miêu tả một số quy luật thông thường, mà theo tôi có thể xem đó là những tính quy luật lịch sử tiến hóa của văn hóa.

Như ta biết, trạng thái của các cộng đồng (dân tộc) văn hóa xã hội địa phương không phải là thường hằng, bất biến về mặt lịch sử. Theo thời gian, nhiều thông số của trạng thái đó biến đổi, điều đó được ghi nhận xét trên toàn bộ phức thể các biểu hiện bên ngoài, gọi gộp chung lại là “văn hóa của một dân tộc”. Văn hóa và trình tự những biến đổi của nó là cái biểu hiện trực quan lịch sử đã kinh qua của mỗi xã hội. Những người theo thuyết tiến hóa định nghĩa tính trình tự của các biến đổi văn hóa – xã hội đó là “sự phát triển tiến bộ”, ý muốn nói rằng trong quá trình lịch sử mức độ phức tạp của các thể thức tổ chức – điều chỉnh của cơ cấu xã hội bên trong của xã hội và thể hiện văn hóa bên ngoài của nó ngày một cao hơn. Dĩ nhiên, mỗi dân tộc đều phát triển về mặt xã hội với nhịp riêng của mình, chủ yếu phụ thuộc nhiều vào các đặc điểm và điều kiện tồn tại cụ thể của nó, vào mức độ biệt lập về mặt địa lý của nó, mức độ phức tạp của hoàn cảnh tự nhiên và đời sống chính trị… Tính chất năng biến đó có thể rất động, hoặc cũng có thể rất chậm (về nhịp độ), trên thực tế khó nhận biết được khi quan sát. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp sau, vẫn diễn ra những thay đổi, có điều là để làm rõ được sự biến đổi đó, cần phải khái quát vốn tài liệu quan sát trong suốt vài ngàn năm, là cái mà khoa học đương đại không có.

Trong những trường hợp sự phát triển của các thể thức xã hội và văn hóa của các cộng đồng lịch sử là hiển nhiên và có thể khái quát và hệ thống hóa bằng trực quan, thì trong sự phát triển đó, ngoài các dấu hiệu của sự tiến bộ (tức là phức tạp hơn về cấu trúc và chức năng), ta cũng thấy được nhiều tính quy luật của tính năng biến lịch sử.

Tính quy luật đầu tiên là trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội, trình độ chuyên môn hóa trong hoạt động của con người ngày càng cao hơn. Với mỗi kỷ nguyên mới, con người hoạt động đánh mất dần các kỹ năng phổ quát, vốn dĩ làm chủ được mọi công nghệ được áp dụng trong lĩnh vực thực tiễn xã hội đó, và ngày càng đi vào chuyên sâu hơn, chỉ nắm được những công nghệ trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp nào đó. Đồng thời, cả chiều sâu nhận thức lẫn chất lượng các kỹ năng chuyên môn của nó lại tăng dần lên. Quá trình này thể hiện rõ nhất là qua ví dụ trong ngành y hoặc hoạt động kỹ thuật công trình. Emile Durkheim là người đã chỉ ra được xu thế này ngay từ cuối thế kỷ XIX. Ông xác định và đã giải thích những những nguyên nhân của nó là do các công nghệ trong lĩnh vực hoạt động nào cũng ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi lao động phải chuyên sâu hơn.

Tuy nhiên, xu thế nào cũng dẫn đến những hệ quả xã hội – văn hóa nhất định. Nhờ không ngừng đi sâu chuyên môn hóa, nhịp độ và khối lượng các biến cải, đổi mới, kiện toạn trong mọi lĩnh vực hoạt động ngày một tăng. Sở dĩ như vậy là do công việc của một chuyên gia từng bước có sự cải tiến, sáng tạo hơn, điều này dần trở thành một bài toán tư duy trong thực tiễn nghề nghiệp của anh ta. Trong một số lĩnh vực ngay trong thời đại ngày nay, ta cũng thấy ranh giới giữa công việc của người chuyên thực hành và người chuyên nghiên cứu đang dần bị xóa nhòa. Cũng là điều dễ hiểu trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau, xu thế này phát triển mạnh yếu khác nhau.

Nhờ đó, nhịp độ năng biến của văn hóa trong quá trình lịch sử nói chung ngày càng cao. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất, hiện tượng này được gọi là cách mạng khoa học – kỹ thuật, trong đó có thể phân định như sau:

+ Giai đoạn đầu tiên – bước chuyển sang kinh tế sản xuất vào thời đồ đá mới.

+ Giai đoạn thứ hai – hình thành các nền văn minh đô thị và sự ra đời của loại hoạt động sáng tạo vào khoảng 3 – 4 nghìn năm trước Công nguyên.

+ Giai đoạn thứ ba – hình thành nền sản xuất thủ công vào buổi bình minh thời đại công nghiệp.

+ Từ thế kỷ XIX, cuộc cách mạng đó diễn ra qua quá trình hiện đại hóa không ngừng toàn bộ hoạt động khoa học – kỹ thuật.

Nhưng cả trong nghệ thuật chúng ta cũng thấy động thái cao của sự thay đổi các phong cách nghệ thuật, trong khoa học – sự thay thế nhanh chóng các nguyên tắc và chuẩn nhận thức và khái quát, trong đời sống xã hội – sự tiến hóa từ chỗ ban đầu mối quan hệ huyết thống là chủ đạo tiến tới các quan hệ tôn giáo – chính trị, rồi sau đó đến các chính sách quốc gia và tiếp đó lại chuyển sang các quan hệ xã hội – văn hóa. Và cứ như vậy trong mọi lĩnh vực. Xu thế đó thực tế bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, dần dần thay thế mô thái truyền thống của Tồn tại xã hội ra ngoài lề Tồn tại đó.

Chúng ta thấy rằng nhịp biến của văn hóa của một xã hội hoàn toàn tương ứng với nhịp độ phát triển của xã hội đó. Điều này có thể xác định như là một tính quy luật rõ nét của động thái văn hóa xã hội trong lịch sử. Về mặt kinh nghiệm, tính quy luật này đã được ghi nhận từ lâu. Và theo tôi, đó là do quá trình chuyên môn hóa tăng trong hoạt động của con người và tính chất sáng tạo của hoạt động ấy.

(còn tiếp)

Người dịch: Ngô Tuy Phước

Nguồn: TN 2014 – 3 & 4