Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XV


Nội dung của RIE 2015 nêu ra 6 chiến lược then chốt sau:

+ Đầu tư vào khoa học cơ bản và tri thức để tạo ra nguồn “vốn trí tuệ” – là cơ sở cho đổi mới sáng tạo trong tương lai, đặc biệt là phục vụ cho giai đoạn phát triển mới của nền kinh tế đổi mới sáng tạo. Các nhà khoa học nhận được sự hỗ trợ và tự chủ để theo đuổi những vấn đề khoa học xuất hiện từ nghiên cứu của họ, với mục đích thúc đẩy sự xuất sắc trong các lĩnh vực có tác động kinh tế và xã hội lâu dài.

+ Tập trung vào việc thu hút và phát triển tài năng khoa học để đáp ứng nhu cầu của các tổ chức nghiên cứu công nghiệp và khu vực công cộng của Singapore. Kinh phí sẽ được cung cấp cho học bổng và học bổng đào tạo tài năng tại các tổ chức nổi tiếng cả trong nước và nước ngoài, để tạo ra một nguồn nhân lực khoa học trẻ tài năng.

+ Chú trọng hơn vào tài trợ cạnh tranh để thúc đẩy đổi mới và đưa ra những ý tưởng tốt nhất. Một tỷ lệ lớn hơn của tài trợ cho R&D sẽ được cấp trên cơ sở cạnh tranh, trong khi vẫn duy trì một mức độ thích hợp kinh phí đảm bảo cho những nghiên cứu cốt lõi.

+ Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức thực hiện R&D trong khi vực công và với ngành công nghiệp; ưu tiên tài trợ lớn hơn sẽ được trao cho những nỗ lực đa ngành và hợp tác, bao gồm cả với các phòng thí nghiệm R&D của doanh nghiệp.

+ Nâng cao hơn sự đóng góp cua R&D đối với tăng trưởng kinh tế. Điều này có nghĩa là hỗ trợ lớn hơn cho khu vực tư nhân R&D, hợp tác chặt chẽ hơn giữa R&D công và tư, và nhấn mạnh vào thương mại hóa các sản phẩm trí tuệ dẫn đến sản phẩm và dịch vụ mới và tốt hơn. Trong R&D công, Quỹ gắn kết công nghiệp sẽ khuyến khích các nhà nghiên cứu công hợp tác chặt chẽ hơn với các ngành công nghiệp.

+ Cung cấp hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho các nhà khoa học để biến ý tưởng của họ từ nghiên cứu cơ bản đến thương mại hóa, thông qua việc tăng tài trợ  để chuyển giao công nghệ và ươm tạo doanh nghiệp.

Ngày 09/01/2016, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã công bố RIE 2020 với khoản ngân sách lên tới 19 tỷ SDG (khoảng 13 tỷ USD) nhằm hỗ trợ R&D trong giai đoạn 2016 – 2020. Đây là khoản đầu tư kỷ lục mà Chính phủ Singapore dành cho R&D từ trước tới nay. Singapore đặt mục tiêu chiến lược trở thành “Quốc gia thông minh” (Smart Nation) và RIE 2020 được đưa ra với khẩu hiệu “chiến thắng tương lai thông qua khoa học và công nghệ”.

Để tối đa hóa tác động, kinh phí sẽ được ưu tiên trong 4 lĩnh vực công nghệ chiến lược mà Singapore có lợi thế cạnh tranh và cũng là những nhu cầu quan trọng quốc gia. Bốn ưu tiên là:

(1) Phát triển công nghệ sản xuất và kỹ thuật tiên tiến  (phát triển năng lực công nghệ hỗ trợ tăng trưởng và tính cạnh tranh của các ngành chế tạo và kỹ thuật);

(2) Đẩy mạnh các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y sinh học (đưa Singapore trở thành trung tâm hàng đầu thế giới về chăm sóc sức khỏe, y sinh học; tạo ra các giá trị kinh tế cho đất nước và người dân Singapore thông qua nghiên cứu xuất sắc và ứng dụng);

(3) Dịch vụ và nền kinh tế kỹ thuật số (phát triển, tích hợp và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo kỹ thuật số của Singapore nhằm đáp ứng các ưu tiên quốc gia, nâng cao năng suất và hỗ trợ các dịch vụ then chốt, tạo ra những cơ hội kinh tế bền vững và việc làm chất lượng);

(4) Phát triển các giải pháp đô thị bền vững (phát triển đất nước Singapore bền vững và đáng sống thông qua các giải pháp tích hợp không chỉ cho Singapore mà còn cho cả thế giới).

Ngoài ra, trong RIE 2020, Chính phủ Singapore đầu tư 2,5 tỷ SGD (tăng 900 triệu SGD so với RIE 2015) cho nghiên cứu các lĩnh vực “Không gian Trắng” (các lĩnh vực mới xuất hiện hoặc dự báo có vai trò lớn, như an ninh mạng…).

Chính sách tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học: Các nhà hoạch định chính sách cho rằng, thành công của đảo quốc này cũng nhờ vào chính sách gọi thầu – theo tiêu chuẩn quốc tế cho nghiên cứu khoa học. Trên thực tế, Chính phủ Singapore đã không sáng tạo ra mô hình mới nào, mà chủ yếu dựa trên các hệ thống đã tồn tại sẵn, nhất là mô hình của Anh. Theo đó, chính quyền thực hiện chính sách gọi thầu cho các dự án 3 năm, 5 năm hay 10 năm, theo quan điểm “chuyển giao công nghệ” thông qua hợp tác với các nhà công nghiệp và mua bằng sáng chế nhằm thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình từ khám phá đến ứng dụng.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những công nghệ lõi như blockchain, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, robot, in 3D cùng với quá trình chuyển đổi số đang tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Cuối năm 2016, Chính phủ Singapore với tham vọng khuyến khích các doanh nghiệp phát triển công nghệ tài chính đã chính thức cho áp dụng Sandbox – cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế – cho phép các công ty công nghệ trong những lĩnh vực chưa có quy định rõ ràng được phép thử nghiệm các giải pháp của họ trên thị trường, dưới sự giám sát của cơ quan quản lý. Theo đó, ngày 16/11/2016, cơ quan quản lý tiền tệ của Singapore (MAS) đã công bố Hướng dẫn về Khung pháp lý thử nghiệm cho ngành tài chính (FinTech Regulatory Sandbox Guidelines) để khuyến khích và cho phép thử nghiệm các giải pháp sử dụng công nghệ một cách sáng tạo để cung cấp các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính. MAS công bố Hướng dẫn về Khung pháp lý thử nghiệm cho ngành tài chính hướng tới mục tiêu cụ thể là khuyến khích những khởi nghiệp sáng tạo về công nghệ tài chính có thể được thử nghiệm ở thị trường, sau đó được áp dụng tại Singapore và nhiều quốc gia khác. Những thử nghiệm này sẽ được tiến hành trogn một không gian và thời gian được xác định rõ ràng và với các biện pháp bảo vệ thích hợp để bảo vệ cho “hệ thống tài chính” của Singapore.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ  và đổi mới sáng tạo của Singapore

Về cơ cấu tổ chức, Bộ Thương mại và Công nghiệp Singapore là cơ quan chính phụ trách các vấn đề liên quan đến hoạt động khoa học – công nghệ. Cơ quan tham vấn và quản lý các vấn đề khoa học – công nghệ chính của Singapore là Cơ quan Khoa học và Công nghệ và Nghiên cứu (Agency for Science and Technology and Research – A*STAR), được thành lập từ năm 1991. A*STAR do Bộ Thương mại và Công nghiệp tài trợ và đảm nhiệm vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển. A*STAR bao gồm 2 tổ chức nghiên cứu: Hội đồng Nghiên cứu Y Sinh (The Biomedical Research Council – BMRC), Hội đồng Nghiên cứu Khoa học và Kỹ thuật (The Science and Engineering Research Council – SERC), mỗi tổ chức bao gồm 7 viện. Bên cạnh đó là hệ thống các viện nghiên cứu và trường đại học với năng lực nghiên cứu xuất sắc.

Hoạt động R&D là một trong những bộ phận quan trọng nhất của hệ thống khoa học – công nghệ Singapore, thu hút đầu tư và sự tham gia của mọi thành phần trong nền kinh tế bao gồm các doanh nghiệp khu vực tư nhân, các trường đại học, chính phủ, viện nghiên cứu công lập.

Hình 1.5

Ngoài ra, Hội đồng Nghiên cứu, Đổi mới và Kinh doanh (RIEC) có chức năng tư vấn cho Chính phủ Singapore về chính sách và chiến lược nghiên cứu, đổi mới quốc gia. Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho Chính phủ Singapore về chính sách, chiến lược nghiên cứu và đổi mới quốc gia nhằm đưa Singapore trở thành một nền kinh tế tri thức, có năng lực mạnh về R&D; dẫn dắt quốc gia thúc đẩy những động lực sáng tạo mới bằng các giải pháp khoa học và công nghệ, và xúc tác cho những tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Cơ quan giúp việc cho RIEC là Tổ chức Nghiên cứu quốc gia (NRF), được thành lập năm 2006, có chức năng điều phối các hoạt động nghiên cứu của các cơ quan và tổ chức trên cả nước theo một định hướng chiến lược tổng thể rõ ràng, xây dựng các chính sách và kế hoạch nhằm thực hiện năm động lực chương trình R&D quốc gia, thực hiện các chiến lược nghiên cứu, đổi mới, kinh doanh do RIEC phê duyệt và phân bổ kinh phí cho  cho các chương trình. NRF là cơ quan đầu mối cấp kinh phí nghiên cứu cho các viện, trường đại học, trường bách khoa công nghệ, các bệnh viện, các phòng thí nghiệm công và tư, các ngành công nghiệp và doanh nghiệp.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XIV


Sự phát triển của ngành công nghệ cao ở Israel có lịch sử lâu đời, từ hoạt động R&D đã được tiến hành trong lĩnh vực quân sự. Bên cạnh đó, với xu hướng toàn cầu hóa và dòng vốn quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Israel đạt giá trị hơn 7 tỷ USD giai đoạn 1993 – 1997, đạt kỷ lục ở mức 5 tỷ USD vào năm 2000, trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngành công nghệ cao của Israel được quốc tế hóa, Israel được đánh giá là 1 trong 3 quốc gia có giá trị IPO lớn nhất trên sàn chứng khoán NASDAQ ở New York, sau Mỹ và Canada, và chỉ sau Anh trên thị trường đầu tư thay thế ở London. Giá trị xuất khẩu ở khu vực công nghệ cao và dịch vụ chiếm đến 1/3 trong tổng giá trị xuất khẩu Israel.

Israel rất năng động trong phát triển phần mềm, viễn thông và bán dẫn. Việc tập trung cao độ các ngành công nghệ cao ở Israel, với sự hỗ trợ của một ngành đầu tư mạo hiểm vững chắc, khiến Israel được mệnh danh là “Silicon Wadi”, và được đánh giá là chỉ đứng thứ hai sau Silicon Valley của Mỹ. Nhiều công ty Israel đã được mua lại bởi các công ty đa quốc gia vì lực lượng nhân sự chất lượng cao và đáng tin cậy. Israel là điểm đến đầu tiên ngàoi nước Mỹ của Berkshire Hathaway khi công ty này mua lại ISCAR Metalworking. Israel cũng là nơi đặt những trung tâm R&D đầu tiên ngàoi nước Mỹ của các công ty như Intel, Microsoft và Apple.

Bất chấp sự suy giảm đều đặn số lượng người tham gia trong lĩnh vực nông nghiệp, Israel vẫn có khả năng sản xuất 95% nhu cầu thực phẩm của mình và xuất khẩu lượng nông sản trị giá 2,4 tỷ USD vào năm 2012. Các sản phẩm xuất khẩu chính là nông sản tươi sống (chủ yếu sang châu Âu) và thực phẩm chế biến. Ngoài ra, Israel còn xuất khẩu lượng sản phẩm phụ trợ cho nông nghiệp trị giá 2,87 tỷ USD trong năm 2010, chủ yếu là các công cụ sản xuất, công nghệ và dịch vụ. Giá trị xuất khẩu công nghệ thể hiện tầm quan trọng của công nghệ nông nghiệp Israel trong cộng đồng thế giới.

Thành tựu nổi bật nhất của khoa học nông nghiệp Israel là công nghệ tưới nhỏ giọt. Hãng sản xuất dụng cụ tưới nhỏ giọt Netafim, hoạt động trên 150 quốc gia, góp vốn vào 37 công ty và 12 nhà máy trên toàn thế giới. Năm 2017, nhà sáng chế Mehudar của Netafim tuyên bố: “nếu đặt các ống dẫn được chúng tôi bán mỗi năm nối liền với nhau, có thể tạo thành một đường ống bao quanh trái trái đất 100 lần”. Một tạp chí kinh tế học của Ấn Độ vào năm 2010 thừa nhận kỹ thuật này “ảnh hưởng đáng kể đến việc tiết kiệm tài nguyên, giá thành canh tác, sản lượng cây trồng và lợi nhuận”.

Hiện nay Israel đứng thứ 4 trên thế giới về số công trình khoa học trên 1 triệu dân. Tỷ lệ trung bình số nhà khoa học, chuyên gia kỹ thuật và kỹ sư là 140 người/10 nghìn lao động cao nhất thế giới. Tỷ lệ này ở Mỹ là 85 và ở Nhật Bản là 83 người/10 nghìn lao động.

d/ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ quá trình phát triển của Israel, có thể rút ra một vài gợi ý đối với Việt Nam như sau:

Thứ nhất, trên con đường phát triển trở thành nước công nghiệp hiện đại, các giai đoạn có những đặc điểm riêng biệt đòi hỏi một quốc gia hay vùng lãnh thổ phải xác định nguồn động lực và chính sách phát triển phù hợp. Mỗi quốc gia lại có đặc điểm khác biệt, nếu không nói là độc nhất vô nhị, cần được nhận ra và phát huy nếu đó là đặc điểm tốt hoặc hạn chế nếu đó là những đặc điểm không thuận lợi. Trường hợp của Israel đã cho thấy rằng, quốc gia này đã kết hợp và biến điểm yếu (xung đột và chiến tranh) trở thành điểm mạnh, thậm chí là điểm được cho là động lực phát triển của nền kinh tế (sản xuất vũ khí và cung cấp các dịch an ninh, tận dụng nguồn tài trợ, lựa chọn phát triển các sản phẩm công nghệ cao phù hợp với đặc điểm xuất khẩu trong điều kiện hạn chế nguồn lực),… Con đường đi lên thành nước công nghệ hiện đại của Israel gập ghềnh khó khăn chứ không phẳng lặng như nhiều quốc gia phát triển khác. Bên cạnh đó, trong so sánh với các nước phát triển khác, có thể dễ dàng thấy được, là cho dù với nước nào, thì sau thời gian phát triển theo chiều rộng, họ đều cần tìm đến những mô hình phát triển kinh tế theo chiều sâu, dựa vào nguồn lao động có tay nghề và tri thức, năng lực đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học và công nghệ, để từ đó có thể làm chủ quá trình sản xuất và công nghệ, sản xuất ra những hàng hóa có chất lượng cao.

Việt Nam cần xác định rõ hướng đi của ình hơn trong việc sử dụng các nguồn lực phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, Israel cho thấy rằng, phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cũng là một hướng đi tốt cho những nước vốn đi lên từ nông nghiệp. Đây cũng là một gợi ý đối với Việt Nam nói chung.

Thứ hai, cần phải hoàn thiện thể chế kinh tế. Từ các trường hợp của Israel cũng như nhiều quốc gia công nghiệp hóa thành công, có thể thấy được thể chế kinh tế hoàn thiện và năng động giữ một vai trò quan trọng. Chính phủ Israel đã hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển thông qua việc tạo ra một nền tảng luật pháp chặt chẽ, và sự năng động trong thay đổi chính sách phát triển phù hợp với tình hình của đất nước, từ tận dụng viện trợ phát triển vũ khí tối tân vừa để bảo vệ đất nước, vừa xuất khẩu tạo nguồn thu, đến việc tận dụng nguồn lực tri thức đến từ những người nhập cư có chuyên môn, tạo nền tảng thúc đẩy phong trào khởi nghiệp, phát triển công nghệ cao. Chính phủ Israel cũng thể hiện sự mạnh mẽ trong việc bảo vệ hòa bình, mở cửa nền kinh tế và khuyến khích tự do hóa tài chính, kết nối mạnh mẽ với giới kinh tế.

Thứ ba, việc phát triển con người cần được quan tâm hơn nữa. Không thể phủ nhận rằng, tố chất thông minh, chăm học hỏi, quan niệm coi trọng tri thức, tư duy vì cộng đồng của người Do Thái là một trong những nhân tố quan trọng để mang lại thành công của đất nước này. Bởi vậy, nếu Việt Nam muốn tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn, thì con người cần được coi là yếu tố then chốt để kiến tạo thành công. Việt Nam cần một cuộc cải cách giáo dục triệt để để xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao.

Thứ tư, cần thiết phải nâng cao năng lực đổi mới. Khi nhìn vào con đường phát triển của các quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nghiệp hóa thành công, có thể thấy rằng, sau một giai đoạn phát triển theo chiều rộng, nền kinh tế Việt Nam cần những nguồn động lực mới để phát triển theo chiều sâu, mà một trong những vấn đề đó là năng lực đổi mới.

Thứ năm, cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa phong trào khởi nghiệp, vốn được khởi xướng trong những năm gần đây ở Việt Nam, đang được triển khai nhưng chưa thu được những kết quả thuyết phục. Một quốc gia muốn phát triển thì mỗi cá nhân trong nền kinh tế phải phát triển lành mạnh và bền vững, bởi vậy, phong trào khởi nghiệp thúc đẩy phát triển kinh tế cần được chú trọng và thực thi mạnh mẽ, hiệu quả hơn nữa để tạo nên cộng đồng doanh nghiệp giàu mạnh cho đất nước, khai thác tốt hơn nguồn lực hiện có của nền kinh tế.

3/ Singapore

Singapore vốn là một trung tâm phân phối xuất, nhập khẩu, không phải là quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên và từng phải đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt từ các nước láng giềng về đầu tư nước ngoài. Sau này, Chính phủ Singapore đã đưa ra kế hoạch tập trung vào tài sản giá trị nhất của đất nước: tri thức và khoa học – công nghệ là trụ cột chính trong nền kinh tế của quốc đảo này. Cho đến nay, các thành tựu có được nhờ đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ mới đã dẫn dắt Singapore trở thành một trong những quốc gia đổi mới nhất ở khu vực châu Á.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Singapore

Singapore là một quốc gia phát triển tại khu vực châu Á dựa trên động lực đổi mới sáng tạo. Chiến lược đổi mới sáng tạo của Singapore được thể hiện rõ nét nhất trong Kế hoạch khoa học và công nghệ chính thức của nước này, lần đầu tiên được thực hiện vào năm 1991, với ngân sách 2 tỷ SGD. Kế hoạch này tập trung chủ yếu vào việc thiết lập các viện và trung tâm nghiên cứu, các hạ tầng kỹ thuật, các chương trình phát triển nhân lực, tài trợ nghiên cứu phát triển công nghiệp và các chương trình hỗ trợ đổi mới sáng tạo khác.

Sau năm 1991, cứ 5 năm một lần Singapore lại công bố Kế hoạch khoa học và công nghệ cho giai đoạn 5 năm tiếp theo. Đến năm 2009, Kế hoạch khoa học và công nghệ cho giai đoạn 2011 – 2015 được đổi tên thành Kế hoạch Nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và Doanh nghiệp 2011 – 2015 (RIE 2015).

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XIII


Các lĩnh vực công nghệ mới nổi: Bốn lĩnh vực nghiên cứu khoa học được I-CORE lựa chọn làm các lĩnh vực ưu tiên chính sách then chốt, bao gồm cả đầu tư vào giáo dục đại học các ngành liên quan cho những năm tới. Đó là các lĩnh vực: bản chất phân tử trong bệnh tật ở người, khoa học nhận thức, khoa học máy tính, các nguồn năng lượng bền vững và tái tạo. Mục tiêu là phát triển các lĩnh vực công nghiệp mới có thể mang lại cho Israel lợi thế cạnh tranh quốc tế. Các lĩnh vực ưu tiên khác bao gồm nghiên cứu não bộ, công nghệ nano và công nghệ sinh học, với sự hỗ trợ từ Quỹ công nghệ sinh học Israel.

Đổi mới sáng tạo xanh là một ưu tiên quan trọng của Israel, đặc biệt tập trung vào các nguồn năng lượng bền vững và tái tạo. Một trung tâm công nghệ được thành lập để hỗ trợ việc chuyển giao tri thức từ các viện tới ngành công nghiệp cho đến giai đoạn “chứng minh khái niệm” và cung cấp cơ hội thử nghiệm những công nghệ như vậy. Một trung tâm công nghệ khác liên quan đến đổi mới sáng tạo xanh tập trung vào công nghệ nước, một lĩnh vực mà Israel đã đóng góp những đổi mới tiên phong.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Israel

Thương mại hóa sản phẩm khoa học – công nghệ là mắt xích trọng yếu trong nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo. Ba yếu tố quan trọng cấu thành Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Israel là: Nhà nước; khu vực doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp sản xuất); trường đại học, viện nghiên cứu (gọi chung là tổ chức khoa học – công nghệ).

Ở khu vực nhà nước, việc thành lập Văn phòng trưởng khoa học gia (Office of the Chief Scientists – OCS) thuộc Bộ Công nghiệp và Công thương Israel vào năm 1974 là một cột mốc quan trọng. Sự ra đời của OCS đã tạo điều kiện để thúc đẩy trào lưu nghiên cứu khoa học – công nghệ tại Israel, có chức năng điều phối các chương trình quốc gia đầu tư cho R&D ở khu vực tư nhân. Thời kỳ đó, cơ quan này đóng vai trò thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm khoa học – công nghệ của Israel, được coi là thành tố cơ bản trong hệ thống hỗ trợ quốc gia cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. OCS cung cấp 50 – 80% số quỹ hỗ trợ cho startup mới mà không cần điều kiện cũng như không tham gia điều hành, quản lý. Vào đầu những năm 1980, quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tiên dành cho startup đã được thành lập. Theo thống kê, trung bình hàng năm Văn phòng thực hiện hỗ trợ cho hơn 500 công ty với trên 1000 dự án, giá trị tài trợ chiếm 20 – 50% ngân sách dành cho nghiên cứu. Từ năm 2016, Văn phòng này chuyển thành Cơ quan đổi mới sáng tạo quốc gia trực thuộc Bộ Kinh tế và Công nghiệp.

Cơ quan đổi mới sáng tạo Israel có 6 đơn vị trực thuộc: hợp tác giáo dục; chuyển giao công nghệ; quỹ hỗ trợ, đầu tư vào các công ty khởi nghiệp; các vườn ươm doanh nghiệp khởi nghiệp; đơn vị thúc đẩy các nghiên cứu và phát triển; bộ phận tham gia công tác xã hội.

Tiếp theo phải kể tới sự ra đời của Bộ Khoa học – Công nghệ và Vũ trụ. Đây là cơ quan đưa ra các chính sách quốc gia về khoa học – công nghệ ở Israel, thúc đẩy các nghiên cứu, xây dựng hạ tầng cơ sở cũng như triển khia các dự án trong lĩnh vực ưu tiên phát triển về khoa học – công nghệ. Bộ dành tới 80% số ngân sách của mình (hàng chục triệu USD mỗi năm) để hỗ trợ các nhà khoa học, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu.

Ở Israel, các bộ đều tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, chức năng chủ trì, điều phối chung và xây dựng chính sách phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia vẫn do Bộ Khoa học – Công nghệ và Vũ trụ đảm nhiệm kể từ khi Bộ hoạt động với tư cách là cơ quan độc lập vào năm 1982.

Nếu như ở 12 bộ đều có bộ phận riêng với tên gọi là Văn phòng trưởng khoa học gia đóng vai trò là đơn vị chuyên trách về hoạch định chính sách đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại hóa và quản lý kinh phí tài trợ cho các dự án thuộc chuyên ngành do bộ mình quản lý thì Văn phòng trưởng khoa học gia trực thuộc Bộ Khoa học – Công nghệ và Vũ trụ giữ vai trò “nhạc trưởng” và điều phối diễn đàn khoa học – công nghệ của tất cả các bộ. Nhà khoa học trưởng đưa ra các khuyến nghị về những lĩnh vực khoa học – công nghệ ưu tiên quốc gia sẽ được Bộ Khoa học – Công nghệ và Vũ trụ hỗ trợ trên cơ sở kết hợp với chuyên gia của Bộ. Nhà khoa học trưởng xây dựng khung ngân sách cho sự phát triển hạ tầng cơ sở khoa học – công nghệ của Israel. Nhà khoa học trưởng cũng giám sát một nhóm các nhà chuyên môn sâu trong các lĩnh vực khoa học.

Ngay từ đầu sự hỗ trợ của Chính phủ Israel đã tuân theo nguyên tắc không can thiệp trực tiếp và chỉ hỗ trợ ở những lĩnh vực được coi là “khiếm khuyết của thị trường”, nghĩa là những khu vực mà tư nhân không muốn đầu tư, cần “bàn tay” của nhà nước. Cụ thể, Israel ưu tiên tài trợ cho nghiên cứu cơ bản và hỗ trợ chuyển giao kết quả nghiên cứu cho khu vực sản xuất dưới dạng các chương trình tài trợ. Ngoài ra, theo nguyên tắc chỉ hỗ trợ mà không “bao cấp”, Israel sớm thực hiện chính sách hỗ trợ 50% cho R&D ở các công ty nội địa có sẵn cơ sở sản xuất và sản phẩm phải được sản xuất ra trên lãnh thổ Israel và phục vụ xuất khẩu, các bí quyết công nghệ không được chuyển giao ra nước ngoài. Đến năm 2005, Israel mới cho phép chuyển giao các kết quả nghiên cứu, bí quyết công nghệ do nhà nước tài trợ ra nước ngoài. Hiện nay, ngành công nghệ cao của Israel là ngành công nghệ mở và hướng tới mục tiêu chiếm lĩnh thị trường thế giới.

Ở khu vực hàn lâm, phát huy vai trò của các tổ chức trung gian khoa học – công nghệ trong việc thúc đẩy thương mại hóa, chuyển giao công nghệ tại các trường đại học – thành phần quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Israel. Theo công ty chuyển giao công nghệ RAMOT của Israel, hiện có khoảng 75% sáng chế (patent) tạo ra bởi các trường đại học có tiềm năng thương mại hóa cao. Đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu từ trường đại học cho doanh nghiệp là các công ty chuyển giao công nghệ – tổ chức trung gian khoa học – công nghệ. Tại Israel, các công ty này có thể của tư nhân, nhà nước hoặc trường đại học. Quy trình thực hiện hỗ trợ thương mại hóa của các công ty là: khi có sáng chế, nhà khoa học sẽ thông báo cho công ty chuyển giao công nghệ để công ty này đánh giá mức độ thương mại hóa tiềm năng và xây dựng kế hoạch kinh doanh, mời chào doanh nghiệp. Việc soạn thảo hợp đồng chuyển giao công nghệ, xác định tỷ lệ lợi nhuận giữa các bên, hỗ trợ giao dịch với các nhà đầu tư cũng do các công ty chuyển giao công nghệ đảm nhiệm, nhà khoa học không cần quan tâm đến quy trình này mà chỉ chú tâm vào nghiên cứu. Trong trường hợp phi vụ thành công, họ sẽ nhận 40% giá trị hợp đồng chuyển giao và tự phân bổ cho các thành viên trong nhóm; 60% còn lại chia thành 3 phần bằng nhau nộp vào ngân sách trường đại học, quỹ phát triển phòng thí nghiệm nghiên cứu và phần còn lại cho hoạt động của công ty chuyển giao công nghệ. Các công ty chuyển giao công nghệ thuộc các trường đại học đều là những đơn vị hoạt động chuyên nghiệp, mang lại lợi nhuận cho trường và do những người có kinh nghiệm kinh doanh điều hành.

Ở khu vực tư, tiếp cận kết nối “cầu” – “cung” thay vì “cung” – “cầu” công nghệ, tăng cường vai trò của nhà khoa học và doanh nghiệp trong việc lựa chọn các dự án tiềm năng để triển khai. Ở Israel, việc lựa chọn dự án để nhà nước hỗ trợ từ nghiên cứu đến thương mại hóa hiện nay được thực hiện theo nguyên tắc xuất phát từ nhu cầu thị trường, “cầu” quyết định “cung” thay vì việc nhà khoa học cứ nghiên cứu và cho ra công nghệ, sau đó mới tìm kiếm thị trường.

c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Israel

Không thể phủ nhận khoa học – công nghệ chính là nhân tố làm nên “điều thần kỳ Israel”. Thu nhập bình quân đầu người ở Israel tăng lên nhanh chóng. Nếu năm 1960, thu nhập bình quân đầu người của Israel chỉ mới ở mức 1366 USD thì đến năm 1988, chỉ tiêu này đạt mức 9881 USD và năm 1998 đạt mức 19.400 USD. Giá trị này tiếp tục tăng ấn tượng, đạt mức 29.657 USD vào năm 2008. Tổng sản phẩm quốc nội của Israel năm 2008 đạt mức 216,76 tỷ USD, dự trữ ngoại hối trên 30 tỷ USD. Israel trở thành thành viên chính thức của OECD ngày 07/9/2010. Năm 2016, thu nhập bình quân đầu người của Israel khoảng 36.557 USD, đứng thứ 26 trên thế giới.

Israel có sự phát triển đáng kinh ngạc của khu vực công nghệ cao, khu vực mà hiện tại đứng trong top 5 trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Tel Aviv tại Israel được xác định là 1 trong 10 trung tâm công nghệ cao lớn nhất trên thế giới. Tính đến tháng 12/2000, cứ trong 1000 người Israel thì có 9 người được tuyển dụng vào làm việc trong lĩnh vực R&D công nghệ cao. Tỷ lệ này gần như gấp đôi so với Nhật Bản và Mỹ vào cùng thời điểm.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XII


c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển

Trên tất cả các bảng xếp hạng, các chỉ số đánh giá năng lực đổi mới, Thụy Điển đều xếp thứ hạng cao. Với dân số khoảng 9,6 triệu người năm 2013, mức GDP là 570,59 tỷ USD năm 2014, giá trị GDP của Thụy Điển chiếm đến 0,92% nền kinh tế thế giới. Năm 2012, số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế đạt 2749 đơn, trung bình 290 đơn/tháng.

Hệ thống đổi mới khoa học – công nghệ của Thụy Điển dựa trên mô hình Triple Helix, trong đó có 43 vườn ươm doanh nghiệp, 33 công viên khoa học, 12 quỹ đầu tư hạt giống vùng (số liệu thống kê năm 2013). Nhiệm vụ trọng tâm của các thành phần này là tập trung vào quá trình thương mại hóa và đổi mới kinh doanh. Có 5000 doanh nghiệp khởi nghiệp với 72.000 lao động.

Với những lợi thế về môi trường kinh doanh, sự ưu đãi trong các khoản vay của ngân hàng dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sự liên kết đổi mới chặt chẽ, sâu rộng và một hiệu suất lao động cao tạo nên một môi trường đổi mới vô cùng thuận lợi cho bất cứ cá nhân hay tổ chức nào muốn khởi nghiệp.

d/ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Toàn cảnh bức tranh về khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển rất đặc sắc về cấu trúc cũng như thành quả hoạt động. Những gì Thụy Điển đã đạt được về vị trí, sự phát triển kinh tế – xã hội là một tấm gương cho các quốc gia khác. Tuy nhiên, hạn chế trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng được coi là điểm yếu của hệ thống đổi mới quốc gia của Thụy Điển. Đứng trước vấn đề như vậy, Thụy Điển đã xây dựng các chính sách nhằm đẩy mạnh các doanh nghiệp spin-off và các start-up để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là hình thành các doanh nghiệp nhỏ và vừa công nghệ cao thông qua việc phổ biến các kết quả nghiên cứu và hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận với nghiên cứu khoa học.

2/ Israel

Năm 2019, Israel xếp thứ 10/187 quốc gia về Chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc, được xếp vào nhóm “phát triển rất cao”. Đẩy mạnh chuyển giao tri thức và thương mại hóa các sản phẩm khoa học và công nghệ vào thực tiễn đã giúp cho Israel từ một nước xuất khẩu chủ yếu các loại quả có múi (cam, quýt) trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm công nghệ cao, đưa Israel trở thành nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo thành công nhất thế giới, là hình mẫu cho các quốc gia khác học tập.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Israel

Chính phủ Israel đã thực thi nhiều biện pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế mà đáng kể đến là việc tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư được thực hiện. Chính phủ đã ban hành các luật khuyến khích đầu tư vốn từ năm 1959 thông qua các chương trình tài trợ cạnh tranh và miễn thuế cho các phương tiện sản xuất. Chính phủ cũng ban hành luật khuyến khích chi tiêu nghiên cứu và phát triển công nghiệp vào năm 1984 để thúc đẩy phát triển lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra, Chính phủ Israel cũng hỗ trợ phát triển kinh doanh trên mọi lĩnh vực thông qua nhiều chương trình như: Khuôn khổ hợp tác nghiên cứu và phát triển trong các doanh nghiệp toàn cầu, hình thành các trung tâm dự án R&D doanh nghiệp toàn cầu, ưu đãi thuế cho các trung tâm R&D, miễn thuế cho đầu tư vốn mạo hiểm, triển khai các chươgn trình hỗ trợ việc làm, các chương trình hỗ trợ đào tạo…

Chiến lược khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo tổng thể: Tuy không có chiến lược hay kế hoạch quốc gia nào về chính sách khoa học – công nghệ, đổi mới, nhưgn Israel công bố nhiều báo cáo và văn kiện chính sách đưa ra nhiều định hướng. Một số lĩnh vực cụ thể được xác định thuộc những mục trọng tâm của chính sách gồm: công nghệ sinh học, công nghệ nano, lĩnh vực công nghệ sạch và nâng cao hiệu suất của các ngành công nghiệp công nghệ thấp. Như vậy, Israel xác định trực tiếp các định hướng phát triển kinh tế gắn với công nghệ cao. Đồng thời quốc gia này chú ý nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Không có sự thay đổi đáng kể nào gần đây trong chính sách quản trị khoa học – công nghệ và đổi mới. Một vấn đề ưu tiên chính liên quan đến quản trị là cải tiến đánh giá chính sách. Điều này dẫn đến việc thành lập một bộ phận thẩm định chính sách thuộc văn phòng của các nhà khoa học đứng đầu, tư vấn về các vấn đề chính sách liên quan đến hỗ trợ công cho R&D và các chương trình đánh giá.

Về ngân sách cho hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới, Israel có cường độ R&D rất cao trong khối OECD, với tổng chi phí quốc gia cho hoạt động R&D (GERD) năm 2010 đạt 4% GDP (không bao gồm quốc phòng). Đầu tư cho R&D tăng trung bình 4,1%/năm trong giai đoạn 2005 – 2010. Khu vực tư nhân tài trợ khoảng 52% GERD trong năm 2008.

Israel là quốc gia có nền tảng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, thuộc nhóm nước đứng đầu OECD về các trường đại học được xếp hạng trên thế giới. Trong giai đoạn 2011 – 2020, chi tiêu công cho R&D luôn ở mức cao trong khu vực, Chính phủ hỗ trợ Quỹ đầu tư cho các nghiên cứu lên đến hơn 100 USD/năm.

Ngoài ra, để khuyến khích nghiên cứu chất lượng cao, một hình thức tài trợ mới đã được áp dụng dựa nhiều hơn vào đánh giá hiệu suất hoạt động thực tế. Các nguồn lực bổ sung cũng được chuẩn bị sẵn sàng để cho phép thuê thêm giảng viên mới tại các trường đại học và để cải thiện hạ tầng cơ sở của các trường đại học. Các trung tâm dự án xuất sắc I-CORE nhằm mục tiêu tăng cường hạ tầng cơ sở nghiên cứu trong các lĩnh vực đã được lựa chọn. Dự án được chính phủ phê chuẩn và được Hội đồng Giáo dục đại học của Israel thông qua tháng 3/2010, có tổng ngân sách khoảng 362 triệu USD.

Chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới và ứng dụng công nghệ mới trong doanh nghiệp: Nhiều biện pháp đã được thực hiện để hỗ trợ R&D doanh nghiệp; khoảng 80% ngân sách R&D dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quỹ R&D đã được thành lập để giảm thiểu rủi ro cho các nhà đổi mới công nghiệp. Quỹ này phê chuẩn dự án của tất cả các loại hình doanh nghiệp – mới khởi nghiệp hay doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí cả các công ty lớn – dựa trên tư vấn của các chuyên gia công nghiệp và đánh giá các dự án có hệ thống. Đây là một công cụ đã được sử dụng trong phát triển thành công lĩnh vực công nghệ thông tin và hiện nay tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực ưu tiên mới như công nghệ sinh học.

Để đảm bảo quyền lợi cho trường đại học và doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ; đồng thời khuyến khích các nhà khoa học cũng như trường đại học nghiên cứu và đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ, Israel quy định nghiêm ngặt về quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ. Theo đó, doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ phải cam kết đưa công nghệ ra thị trường và không có quyền công bố kết quả nghiên cứu. Quyền sở hữu trí tuệ vẫn thuộc về trường đại học và luôn được quy định trong hợp đồng chuyển giao. Mặt khác, trường đại học cũng không có quyền tự kinh doanh bằng công nghệ đó mà không có sự hợp tác với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Israel không cho bán mà chỉ cho phép trường đại học chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho doanh nghiệp theo hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Về các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp, việc hỗ trợ cho các công ty mới khởi nghiệp là một khía cạnh quan trọng trong chính sách khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo của Israel. Chương trình vườn ươm công nghệ hỗ trợ giai đoạn đầu cho doanh nghiệp công nghệ bằng cách hỗ trợ chuyển đổi các ý tưởng sáng tạo thành các sản phẩm thương mại có khả năng thành công. Ngân sách của chương trình vào khoảng 40 triệu USD. Chương trình thúc đẩy quốc gia khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (TNUFA) cũng hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ đổi mới sáng tạo ở giai đoạn trước khởi nghiệp bằng cách giúp chuẩn bị đăng ký sáng chế và đánh giá tính khả thi công nghệ và tài chính của các sáng kiến.

Chính sách đẩy mạnh chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Một số chương trình hỗ trợ sự tương tác giữa khu vực nghiên cứu công và công nghiệp tư nhân. Một trong số đó là Chương trình hỗ trợ nghiên cứu lĩnh vực công nghệ mới (MAGNET), được thành lập vào năm 1994 và có ngân sách là 57 triệu USD vào năm 2011. Chương trình này hỗ trợ nghiên cứu khái quát tiền cạnh tranh do các consortium công nghiệp và các tổ chức nghiên cứu thực hiện. Chương trình hỗ trợ các đề xuất từ các viện nghiên cứu, ngành công nghiệp và các nhân viên MAGNET cũng đề xuất ý tưởng với các viện và ngành công nghiệp như là một cách để hình thành các consortium. Một mục tiêu bổ sung của chương trình là hỗ trợ sự phát triển các cụm công nghệ. Chương trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu (NOFAR) tích cực hỗ trợ thương mại hóa bằng cách tài trợ nghiên cứu khoa học về công nghệ sinh học và công nghệ nano nhằm điều chỉnh các hoạt động đổi mới phù hợp để sử dụng cho các ngành công nghiệp và khuyến khích áp dụng. Ngân sách phân bổ cho các dự án kéo dài 12 – 15 tháng, thường vào khoảng 100.000 USD.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XI


II/ Kinh nghiệm xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của một số quốc gia trên thế giới

1/ Thụy Điển

Được coi là một nước có nền kin tế tri thức cao, Thụy Điển là một trong số các quốc gia tiên phong trong hoạt động đổi mới, phát triển thành công hệ thống đổi mới và có tổng chi tiêu cho hoạt động R&D cao nhất thế giới. Những chính sách và cách thức xây dựng, phát triển hệ thống đổi mới khoa học và công nghệ của Thụy Điển là kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế và chinh phục những thành tựu cao trong phát triển khoa học – công nghệ.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển

Ở Thụy Điển, cứ bốn năm một lần, chính phủ chuẩn bị một chương trình nghiên cứu và đổi mới, trong đó xác định các mục tiêu dài hạn và ngắn hạn cũng như kinh phí hoạt động cho hệ thống đổi mới, khoa học – công nghệ trong vòng bốn năm tới. Trong chương trình nghiên cứu vào năm 2014, Chính phủ Thụy Điển đã tuyên bố mục tiêu chính sách đổi mới và phát triển khoa học – công nghệ của mình vẫn là nâng cao chất lượng nghiên cứu và tăng cường sự đóng góp của các kết quả nghiên cứu khoa học cho sự phát triển kinh tế – xã hội thông qua việc đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Ngoài chương trình quốc gia về nghiên cứu và đổi mới, Chính phủ Thụy Điển cũng thúc đẩy sự phát triển của đổi mới sáng tạo và khoa học – công nghệ thông qua: các quy định về tài chính, các quy định hoạt động khoa học – công nghệ chung và thông qua các thành viên hội đồng quản trị trong các cơ quan và tổ chức khoa học – công nghệ.

Các chính sách về tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứgn dụng công nghệ mới tại Thụy Điển. Vào cuối năm 2013, Chính phủ Thụy Điển xem xét đầu tư 3 triệu euro hằng năm cho các chương trình vườn ươm doanh nghiệp của VINNOVA nhằm đẩy mạnh việc ươm tạo công nghệ. Trong kinh phí cho hoạt động R&D, nguồn tài chính từ các doanh nghiệp vẫn chiếm ưu thế trong lĩnh vực R&D của Thụy Điển (63%), nhân tố này vừa đóng vai trò là nguồn tài trợ và vừa là nhóm thực hiện đối với các chương trình R&D. Trên thực tế, hầu hết các nguồn tài trợ R&D ở Thụy Điển là từ/cho các doanh nghiệp, và nhìn chung, việc chia sẻ kinh phí tổng dành cho R&D giữa các ngành là thấp.

Thụy điển có các chính sách thúc đẩy sự tham gia của nhiều bên liên quan, đồng thời thúc đẩy hợp tác liên ngành để đổi mới. Những cơ chế như vậy góp phần xây dựng niềm tin, tạo ra một tầm nhìn chung và toàn diện về sự chuyển đổi và tạo điều kiện để phối hợp các hành động theo đúng hướng. Ví dụ: Chương trình đổi mới chiến lược Bioinnovation của Thụy Điển – nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên sinh học vào năm 2050 – thúc đẩy sự tham gia tích cực của người dùng để đảm bảo sự phù hợp với thị trường của các dự án đổi mới.

Liên quan đến các chính sách công nghiệp gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Thụy Điển đã đưa ra Chiến lược công nghiệp thông minh nhằm thúc đẩy công nghiệp 4.0, bao gồm các mục tiêu: 1) Kích thích phát triển, mở rộng và sử dụng các công nghệ kỹ thuật số có tiềm năng lớn để dẫn đầu sự chuyển đổi ngành công nghiệp; 2) Khuyến khích các mô hình kinh doanh và tổ chức mới để khai thác tiềm năng của các công nghệ mới; 3) Đáp ứng các yêu cầu tri thức mới do phát triển kỹ thuật số mang lại; 4) Điều chỉnh các điều kiện khung và hạ tầng cơ sở phù hợp với kỷ nguyên số.

Ngoài ra, chính sách nhằm tăng cường kết nối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo rộng lớn như Chương trình khởi nghiệp Thụy Điển tổ chức các trại huấn luyện (Boot camp) kéo dài một tuần (tập hợp các doanh nhân tại một địa điểm cụ thể cho phép họ được tiếp xúc và học hỏi lẫn nhau) nhằm vào các công ty khởi nghiệp số triển vọng nhất Thụy Điển. Mười công ty được chọn tham gia vào mỗi đợt huấn luyện, có cơ hội mở rộng mạng lưới với các công ty, nhà đầu tư, khách hàng tiềm năng và đối tác khác.

b/ Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển

Nhìn vào cơ cấu hệ thống đổi mới, khoa học – công nghệ của Thụy Điển có thể thấy sự phân rõ trách nhiệm giữa các thành phần trong hệ thống. Với ba chức năng chính và ba thành phần chính của hệ thống đổi mới, các tổ chức được phân bổ và có cơ chế phối hợp với nhau rất chặt chẽ.

Chức năng 1: Xây dựng chính sách chung. Với nhiệm vụ này, hai cơ quan đóng vai trò thực hiện chính là chính phủ và chính quyền địa phương cùng với Hội đồng quốc gia. Dưới sự hỗ trợ của Hội đồng chính sách nghiên cứu (RPC), Hội đồng chính sách đổi mới (IPC) và Viện nghiên cứu chính sách phát triển (ITPS). Ở cấp địa phương, chính sách được xây dựng trong các chương trình phát triển vùng (RTP).

Hình 1.4

Chức năng 2: Tài chính và hỗ trợ chính sách. Cả ba khu vực (khu vực công, khu vực tư và khu vực có sự tham gia của nước ngoài) đều tham gia đóng góp vào nguồn kinh phí tài trợ.

Chức năng 3: Thực hiện hoạt động R&D. Thực hiện các chức năng này, có hai nhân tố chính là các trường đại học và các viện nghiên cứu. Ở Thụy Điển có khoảng 16 trường đại học tham gia thực hiện hoạt động R&D. Các trường đại học không chỉ tập trung vào các nghiên cứu cơ bản thuần túy, các nghiên cứu cơ bản định hướng mà còn cả chuyển giao công nghệ. Chiếm một phần rất nhỏ trong việc đóng góp vào hệ thống đổi mới quốc gia nhưng các viện nghiên cứu thực sự đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa nghiên cứu và ứng dụng, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển mang những nét đặc trưng sau:

+ Có sự phân định rạch ròi giữa khu vực công và khu vực tư trong hoạt động R&D và mỗi khu vực lại chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của một vài nhân tố trong khu vực đó (ở khu vực tư nhân là các công ty đa quốc gia lớn như AstraZeneca, AtlasCopco, Electrolux, IKEA và ở khu vực công thì đó là những trường đại học nghiên cứu lớn).

+ Các trường đại học có mức độ tự chủ cao: bắt buộc phải tự xây dựng chiến lược nghiên cứu của riêng mình, tuy nhiên các trường đại học gặp phải khó khăn trong việc trở thành trung gian giữa nghiên cứu và sản xuất.

+ Có sự phân chia trách nhiệm trong hệ thống đổi mới khoa học – công nghệ: Bộ Giáo dục và Nghiên cứu chịu trách nhiệm về chức năng giải quyết các vấn đề liên quan đến nghiên cứu và đổi mới trong khu vực hàn lâm và Bộ Doanh nghiệp có trách nhiệm liên quan đến các vấn đề nghiên cứu và đổi mới trong khu vực tư nhân.

+ Có sự phân cấp trách nhiệm trong hệ thống đổi mới, khoa học – công nghệ đến chính quyền khu vực (quận).

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần X


Nếu như tiến bộ khoa học và công nghệ có lịch sử lâu dài thì một trong những xu hướng hiện nay tạo nên bối cảnh mới trên toàn cầu là sự tăng tốc của quá trình số hóa và chuyển đổi số. Thế giới hiện nay đang bước vào kỷ nguyên số. Cuộc cách mạng số được khởi nguồn từ vài thập niên trước đang tăng tốc nhanh nhờ sự phát triển mạnh mẽ của Internet tốc độ cao, điện toán phát triển mạnh với tốc độ tính toán tăng nhanh cũng như các cảm biến có giá ngày càng rẻ và chất lượng cao hơn. Nhờ cuộc cách mạng số – nội dung cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư – nên có sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa thế giới và không gian số (Cyber space), qua đó tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp (Hình 1.3).

Quá trình số hóa bắt đầu từ khi có Internet và diễn ra qua 4 giai đoạn. Cấp độ số hóa của mỗi doanh nghiệp tương ứng với giai đoạn cao nhất mà doanh nghiệp tham gia, từ mức thấp là Internet nội dung, lên các mức cao hơn là Internet dịch vụ, Internet con người và cao nhất cho đến nay là Internet vạn vật. Cấp độ số hóa là một yếu tố quan trọng quyết định năng suất và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả năng nắm bắt được các cơ hội mới gắn với nền kinh tế số cũng đóng vai trò quan trọng đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong kỷ nguyên số. Hiện nay, với sự kết nối ngày càng chặt chẽ giữa thế giới thực và không gian số, có khoảng 20 tỷ vật thể và 4,5 tỷ người đã được kết nối qua Internet. Dự kiến đến năm 2025 sẽ có khoảng 50 tỷ vật thể và hơn 6 tỷ người sẽ được kết nối. Internet kết nối vạn vật giúp dữ liệu lớn bùng nổ. Đây chính là mảnh đất màu mỡ giúp cho các mô hình kinh doanh mới ngày càng nở rộ. Các mô hình kinh doanh mới dựa vào Internet và công nghệ số tuy không tạo ra công nghệ mới (các chuyên gia gọi là đổi mới sáng tạo phi công nghệ – Non-technological innovation) sogn đang có tác động mạnh mẽ đến thế giới đương đại nhờ tạo ra những phức sản xuất, kinh doanh mới có ưu việt hơn các phương thức truyền thống, gia tăng năng suất lao động, hiệu quả cũng như gia tăng chất lượng, giảm đáng kể giá cả để qua đó nâng cao phúc lợi của người dân.

Đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều với trình độ phát triển của một quốc gia, được đo bằng GDP bình quân đầu người. Đối với các nước thu nhập thấp và trung bình cần áp dụng các công nghệ mới để duy trì hoặc cạnh tranh, thì việc nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp là rất quan trọng.

Với các quốc gia ở trình độ phát triển thấp như Việt Nam thì ưu tiên là thúc đẩy chuyển giao, lan tỏa và hấp thụ công nghệ, thúc đẩy công nghệ tiên tiến cấp quốc gia (National frontier). Qua thời gian, khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, quốc gia đó có thể thúc đẩy phát triển công nghệ tiên tiến ở cấp khu vực, rồi dần tiệm cận đến phát triển công nghệ của thế giới. Việc biết có một công nghệ mới tồn tại, hoặc thậm chí mua bản quyền để sử dụng công nghệ đó vẫn không đủ để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ trong thực tế hoặc áp dụng nó vào một sản phẩm được đưa ra thị trường thành công. Những khả năng này đòi hỏi các nhà quản lý và người lao động trong các doanh nghiệp có khả năng phù hợp. Cũng cần phải có hạ tầng cơ sở và khung pháp lý cần thiết để hỗ trợ việc sử dụng các công nghệ mới. Ví dụ, nếu một quốc gia không chứng nhận các tiêu chuẩn hoặc luồng dữ liệu hỗ trợ nhất định theo cách mà các đối tác thương mại hoặc các quốc gia khác công nhận trong chuỗi giá trị, thì công nghệ không thể được sử dụng hoặc không thể phục vụ lợi ích của quốc gia đó.

Công nghệ có thể tham gia thương mại quốc tế và có thể lan rộng đến những nơi mới một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, với các quy định được thiết lập tại địa phương, ngay cả khi các quy tắc được đàm phán quốc tế, chúng sẽ không được nhập khẩu đơn giản như sản phẩm vốn. Vì vậy, sẽ luôn luôn có một quá trình chính trị phức tạp, cụ thể theo ngữ cảnh dẫn đến việc áp dụng và xác định công nghệ hiệu quả như thế nào được triển khai. Đồng thời, công nghệ và các quy tắc cho phép tạo ra hoặc áp dụng các “ý tưởng mới” hoặc cải tiến các phương thức sản xuất, làm việc hoặc phục vụ công dân. Chất lượng của các quy tắc  khác nhau giữa các quốc gia. Có thể viện dẫn việc tư nhân hóa ngành nước thành phố cho một công ty Pháp ở Argentina để minh họa cho điều này. Chương trình ban đầu đã thành công, nhưng giống như ở nhiều quốc gia khác, cuối cùng họ đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ, điều này đã thúc đẩy quá trình tái quốc hữu hóa. Công nghệ cần thiết, các quy tắc và ưu tiên về việc điều chỉnh độc quyền tiện ích đã có mặt ở Pháp nhưng không phải ở Argentina, ở đó công nghệ và quy định điều tiết không kết hợp được với nhau. Ngược lại, ý tưởng về việc thiết lập và vận hành hệ thống điện thoại di động nhanh chóng lan rộng đến nhiều quốc gia, thậm chí đến các quốc gia nhỏ như Somalia. Trái ngược với điện thoại cố định hoặc nước đô thị, công nghệ điện thoại di động dễ dàng cho phép cạnh tranh giữa các nhà cung cấp, ngay cả ở những nơi năng lực điều tiết thấp. Đối với thiết bị di động, các quy định của địa phương đã được điều chỉnh cho phù hợp với công nghệ mới. Mối liên quan giữa công nghệ và kỹ năng là mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau, thể hiện tác động của công nghệ đến thị trường lao động. Những tác vụ tuân theo các quy trình dễ mã hóa có thể được thực hiện bằng máy tính nhanh hơn, tốt hơn và rẻ hơn. Với sức mạnh tính toán ngày càng tăng và phần mềm tốt hơn, nguyên tắc chung là nếu có thể dễ dàng giải thích một công việc cho ai đó, thì nó có thể được tự động hóa. Các nhiệm vụ đòi hỏi phải giải quyết vấn đề khả năng thích ứng và sáng tạo thì lại rất khó để tự động hóa. Một lần nữa, khó khăn trong việc tự động hóa một công việc liên quan đến mức độ khó khăn trong việc mô tả nó. Các chuyên gia nhấn mạnh sự tương tác của công nghệ với các nhiệm vụ không theo quy tắc. Người lao động thực hiện các công việc không theo quy tắc có năng suất cao hơn khi việc tự động hóa các nhiệm vụ khác tăng lên.

d/ Vai trò của nhà nước trong Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia

Ở các nước phát triển, nhà nước là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng NIS, trong đó chủ yếu thực hiện những chức năng sau:

+ Trực tiếp rót vốn đầu tư cho đổi mới sáng tạo.

Việc hình thành và xây dựng Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia không thể tách rời vai trò đầu tư trực tiếp của nhà nước nhằm thúc đẩy nhanh việc sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phổ biến tri thức khoa học – công nghệ và sản phẩm mới. Theo báo cáo của OECD, với 1 USD của chính phủ dành cho đầu tư nghiên cứu và phát triển sẽ mang lại 1,7 USD lợi ích cho doanh nghiệp. Ở Mỹ và nhiều nước châu Âu, ngân sách nhà nước đầu tư nhiều cho các dự án khoa học và công nghệ trọng điểm, then chốt liên quan đến quốc phòng và dân sinh. Báo cáo của OECD cho thấy, tại hầu hết các quốc gia, từ 10% đến 20% nghiên cứu và phát triển của donah nghiệp được tài trợ bằng ngân sách của nhà nước thông qua các hình thức đầu tư khác nhau.

+ Tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.

Việc xây dựng NIS đòi hỏi một môi trường tốt, bao gồm cơ chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, chính sách về sở hữu trí tuệ, quỹ đổi mới, hệ thống pháp luật và việc bảo đảm dân chủ trong hoạt động nghiên cứu. Cơ chế, chính sách của nhà nước có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy hoạt động đổi mới nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực, ngành, nghề, góp phần giúp doanh nghiệp nắm bắt được xu hướng công nghệ chủ đạo. Bên cạnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý cho đổi mới sáng tạo cũng là một vai trò quan trọng của nhà nước.

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật , quan điểm chung nhất mà các nước cùng thống nhất là “thừa nhận và khích lệ mọi người có quyền tự do tối đa trong khung khổ pháp luật; thông qua tự do để có được sự đổi mới và giải phóng sức sáng tạo”; thực hiện phương châm “giải phóng tư tưởng”, bảo đảm tự do tư tưởng trong nghiên cứu khoa học, nhất là trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng là một nội dung được các nước phát triển coi trọng nhằm góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

+ Điều tiết hoạt động đổi mới sáng tạo.

Xây dựng NIS đòi hỏi sự tích hợp về nguồn lực, sức mạnh của quốc gia và quốc tế, của trung ương và địa phương, của các cơ quan nhà nước, của nhà nước – doanh nghiệp – trường đại học và cơ quan nghiên cứu. Tất cả điều này đòi hỏi nhà nước cần thực hiện tốt chức năng điều tiết, trong đó bao gồm cả điều tiết của nhà nước đối với hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ nhằm thúc đẩy giao lưu, hợp tác cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

+ Hoạch định chiến lược và chính sách đổi mới quốc gia.

Xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia đòi hỏi một chiến lược đổi mới rõ ràng. Chiến lược đổi mới sẽ đề ra mục tiêu, thời gian, bước đi và nhiệm vụ. Các nước phát triển rất coi trọng việc hoạch địch chiến lược đổi mới để định hướng, khích lệ và hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo. 

(còn tiềp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần IX


(iv) Nhà nước

Trong Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, vai trò chủ yếu của nhà nước là hoạch định chính sách, cung cấp sự hỗ trợ cho hoạt động đổi mới, nhất là trong nghiên cứu và phát triển – R&D, bảo đảm thực thi và phân bổ nguồn lực theo các nguyên tắc của thị trường… Chính sách đổi mới sáng tạo của nhà nước thể hiện qua ba khía cạnh chính, bao gồm cung ứng, nhu cầu và môi trường. Nhiệm vụ chủ yếu của nhà nước là điều chỉnh hành vi của chủ thể đổi mới, bảo vệ lợi ích của chủ thể đổi mới, duy trì lợi ích của nhà nước và xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.

(v) Tổ chức dịch vụ khoa học – công nghệ trung gian

Tổ chức dịch vụ khoa học – công nghệ trugn gian tồn tại dưới hình thức như tổ chức tư vấn khoa học – công nghệ, trung tâm nghiên cứu khoa học – công nghệ, trung tâm đổi mới công nghệ, công viên khoa học – công nghệ, khu công nghệ cao… thực hiện vai trò cầu nối giữa các chủ thể trong Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Chức năng chủ yếu của các tổ chức này là cung cấp dịch vụ thông tin, tài chính và bảo hiểm.

Trong đó, yếu tố trung tâm của NIS bao gồm thiết kế, lựa chọn thể chế và cơ chế thực thi. Trong Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là vai trò hoạch định chính sách, tạo lập môi trường, hỗ trợ và thực thi thể chế để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Hiệu quả của NIS được quyết định bởi hai phương diện: việc định vị chức năng của các yếu tố, thiết chế trong hệ thống có phù hợp hay không; và sự hợp tác, liên kết giữa các yếu tố trong hệ thống có rộng rãi và chặt chẽ hay không.

Sự tương tác giữa các chủ thể là yếu tố quan trọng của NIS. Mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau giữa các chủ thể trong hệ thống chủ yếu bao gồm: (i) Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp chủ yếu là hợp tác về công nghệ; (ii) Sự hợp tác giữa doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu khoa học; (iii) Sự hợp tác giữa tổ chức dịch vụ khoa học – công nghệ trung gian với các chủ thể khác trong hệ thống; (iv) Sự hợp tác giữa nhà nước với chủ thể khác. NIS là một hệ thống mở, nếu khép kín, NIS sẽ không thể thành công. Thực hiện tính “mở” cả về đầu vào đầu ra của hệ thống đổi mới là một nhân tố đảm bảo sức mạnh của NIS. Chính vì lẽ đó, tăng cường hợp tác quốc tế bao gồm giao lưu và hợp tác về học thuật, khoa học – công nghệ… góp phần tạo nên sự thành công của NIS.

c/ Doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo

Ở mức độ cụ thể hơn, một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra là các thể chế nền tảng thúc đẩy cạnh tranh xóa bỏ các méo mó trong nền kinh tế, đẩy mạnh tác động hòa nhập, giải quyết các thất bại của thị trường… có tác động tích cực đến năng suất thông qua cả ba phương thức này. Trong khi đó các thể chế để thúc đẩy công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng, tinh thần khởi nghiệp tác động thúc đẩy tăng trưởng năng suất nội tại ở cấp độ doanh nghiệp cũng như sự nhập cuộc của các doanh nghiệp sáng tạo có năng suất cao (Hình 1 – 1).

Liên quan đến nâng cao năng lực công nghệ và khuyến khích đổi mới sáng tạo, báo cáo nêu trên của Ngân hàng Thế giới cùng đưa ra một khung phân tích dựa trên cung và cầu đối với các hoạt động này để làm cơ sở cho việc xây dựng thể chế và chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo của một quốc gia (Hình 1.2). Khung phân tích này rất hữu ích cho cả việc nghiên cứu thực chứng cũng như cho việc xây dựng một khung khổ chính sách để giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của khu vực doanh nghiệp Việt Nam nói riêng.

Cột bên trái của Hình 1.2 tóm lược các cấu phần chính tạo nên nguồn cung cho các hoạt động đổi mới sáng tạo. Thứ nhất, đó là sự phát triển các ngành thượng nguồn sản xuất các máy móc, thiết bị cũng như công nghệ (đi kèm hoặc không đi kèm máy móc, thiết bị) nhập khẩu từ nước ngoài hay thông qua nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thứ hai, đó là vốn con người, với kiến thức và kỹ năng nhận được từ hệ thống giáo dục, đào tạo (chính thức hoặc phi chính thức, tức là học thông qua làm, học tập suốt đời) cũng như sự hỗ trợ kỹ năng kinh doanh của các trường đại học, các hiệp hội với sự khuyến khích của nhà nước.

Cột bên phải của Hình 1.2 tóm lược các yếu tố tác động đến “cầu” đối với đổi mới sáng tạo: tại sao có các doanh nghiệp (hay doanh nhân) lại muốn thực hiện áp dụng hay sáng tạo công nghệ, hay các đổi mới sáng tạo phi công nghệ (tạo ra và ứng dụng mô hình kinh doanh mới cũng giúp tăng năng suất mặc dù không tạo ra công nghệ mới). Sự ổn định kinh tế vĩ mô là hết sức cần thiết, vì trong một nền kinh tế bong bóng, các hoạt động đầu cơ hút các nguồn lực (nhân lực, tài lực…) ra khỏi nền kinh tế thực nói chung và các hoạt động sáng tạo hay ứng dụng công nghệ nói riêng. Mức độ cạnh tranh trên thị trường cũng đóng vai trò quan trọng: tình trạng độc quyền không khuyến khích đổi mới sáng tạo (do đạt được lợi nhuận độc quyền nên doanh nghiệp không có động lực), và tình trạng cạnh tranh thái quá cũng có tác động bất lợi đến đổi mới sáng tạo (do biên lợi nhuận quá nhỏ làm cho doanh nghiệp không đủ nguồn lực, nhất là ở các ngành không có tiềm năng trưởng cao). Các yếu tố vĩ mô khác như sự biến động của doanh số, cơ cấu cạnh tranh và chế độ thương mại quyết định việc các doanh nghiệp có tìm cách thâm nhập thị trường hay theo đuổi chiến lược tăng trưởng hay không, qua đó cũng tác động đến các hoạt động liên quan đến ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Các hoạt động liên quan đến mở rộng thị trường như phát triển hoặc kết nối với các nền tảng kỹ thuật số làm giảm chi phí tìm kiếm, chi phí kết nối cung – cầu và chi phí giao dịch thông tin khi tham gia xuất, nhập khẩu; việc thiết lập mạng lưới thương mại trong nước hoặc quốc tế; hoặc chính sách mua sắng cũng tác động đến đổi mới sáng tạo.

Các nhóm yếu tố khác có tác động đến nhu cầu đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp bao gồm:

Năng lực doanh nghiệp, trong đó có năng lực cốt lõi; hệ thống sản xuất và công nghệ; năng lực đánh giá rủi ro – đây là yếu tố quan trọng vì đầu tư công nghệ và đổi mới sáng tạo có mức độ rủi ro cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán đầy đủ lợi ích cũng như rủi ro để có sự so sánh khoa học trước khi đưa ra quyết định đầu tư cũng như xây dựng các phương án phù hợp.

Các đặc điểm của doanh nhân: sự quyết tâm, khả năng chịu rủi ro, năng lực phát hiện cơ hội – đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Cột giữa Hình 1.2 thể hiện sự tương tác giữa bên cung và bên cầu đối với đổi mới sáng tạo, chỉ ra những rào cản đối vơi sự kết nối cung – cầu này.

Các rào cản đối với việc tích lũy, phân bổ nguồn lực bao gồm: sự thiếu vắng thị trường vốn và các cơ chế chia sẻ rủi ro; rào cản đối với nhập cuộc/rút lui khỏi thị trường; mọi trường kinh doanh, khuôn khổ điều tiết; mức độ thiệt hại khi thất bại (phá sản, kỳ thị).

Rào cản đối với việc tích lũy tri thức (ứng dụng và phát minh công nghệ): sự cứng nhắc của thị trường lao động; sự thiếu vắng của nguồn đầu tư mạo hiểm; năng lực đổi mới sáng tạo và sự tự phát hiện; cơ chế lan tỏa công nghệ.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần VIII


Ở Việt Nam, tiếp cận về NIS dưới góc độ học thuật diễn ra muộn hơn rất nhiều so với thế giới. Nhưng nhìn chung, các nghiên cứu về hệ thống đổi mới quốc gia ở nước ta đều mang tính tổng quan trên cơ sở nghiên cứu các công trình của khoa học nước ngoài nổi tiếng như đã dẫn trên đây. Có thể kể đến các công trình của các tác giả: Nguyễn Thị Minh Nga (2004), Nguyễn Việt Hòa (2004), Nguyễn Mạnh Quân (2006), Hoàng Văn Tuyên (2006). Sau khi đưa ra tổng quan, phân tích thực tế trong nước, các nghiên cứu này đưa ra một số quan điểm về chính sách khoa học – công nghệ và hệ thống đổi mới ở Việt Nam. Một thời gian dài, giới chính trị không nói tới cụm từ “Hệ thống đổi mới quốc gia” trong các văn bản chính thức. Còn các nhà nghiên cứu chính sách phải dùng từ vòng vo để nói lên bản chất của cụm từ này, ví dụ “hệ thống đổi mới quốc gia về khoa học – công nghệ”, “hệ thống đổi mới quốc gia bằng khoa học và công nghệ”, “hệ thống nghiên cứu và triển khai”. Tuy nhiên, cách hiểu như thế chưa thật sự phù hợp. Các khái niệm đó không hề thay thế lẫn nhau. Mỗi khái niệm đều có vai trò riêng của mình. Nguyên nhân chính có lẽ là do sự nhầm lẫn giữa đổi mới chính trị với đổi mới kinh tế bằng khoa học và công nghệ. Hiện nay sự nhầm lẫn đó đã được khắc phục bởi chủ trương xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia được đề ra trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Ở nước ta, các thành phần của hệ thống đổi mới quốc gia cũng như chính sách đổi mới đều đã có, thậm chí một số chính sách cho khoa học và công nghệ có thời kỳ đã được xem như là mốc son của đổi mới. Tuy nhiên, hệ thống đó chưa được hình thành, chính sách đó chưa có để vận hành. Điều này không ít lần được nhắc lại trong một số nghiên cứu phân tích chính sách khoa học và công nghệ.

Theo tác giả Vũ Cao Đàm, hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia được nhận diện như sau: (i) Trước hết, trong “hệ thống đổi mới” sẽ hàm ý đến mục đích của hệ thống, mục đích đó là “đổi mới”; (ii) Hệ thống khoa học và công nghệ, là liên quan đến phương tiện để đổi mới, phương tiện đó là khoa học và công nghệ; (iii) Khi nói hệ thống nghiên cứu và triển khai (R&D), là liên quan đến phương tiện cốt lõi để đổi mới, là nghiên cứu và triển khai; (iv) Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, khi hình dung khái quát thì đây là một hệ thống với đầy đủ mục đích đổi mới, với các phương tiện là khoa học và công nghệ và phương tiện cốt lõi, là nghiên cứu và triển khai.

Nhóm nghiên cứu Nguyễn Thị Tuệ Anh lại cho rằng hệ thống đổi mới quốc gia là mạng lưới thiết chế (bao gồm các doanh nghiệp, trường đại học, tổ chức nghiên cứu khoa học và chính phủ) tham gia vào quá trình phát triển và ứng dụng tri thức mới, quan niệm mới, phương pháp mới cũng như sự tác động lẫn nhau giữa các thiết chế trong mạng lưới này nhằm đẩy mạnh việc sáng tạo, tích lũy, chuyển giao tri thức, công nghệ và sản phẩm mới vào sản xuất nhằm tạo ra giá trị gia tăng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trên cơ sở các khái niệm trên, Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia khái quát hóa NIS như sau: NIS là tập hợp tất cả các thể chế và cơ chế (công và tư), tương tác với nhau để kích thích, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, biến tri thức mới thành công nghệ, hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ bởi xã hội. Nói cách khác, NIS bao gồm các thiết chế, các hệ thống tổ chức ở tầm quốc gia nhằm gắn bó hữu cơ các tổ chức khoa học, các trường đại học với sản xuất, thúc đẩy việc tạo ra và ứng dụng nhanh chóng các kết quả nghiên cứu sáng tạo để đổi mới sản xuất, phát triển kinh tế.

Như vậy có thể thấy các tác giả, các tổ chức có quan niệm, cách tiếp cận khác nhau về NIS, nhưng tựu trung lại một số điểm chính sau: (i) Hệ thống các cơ quan trực thuộc nhà nước hoặc tư nhân; (ii) Các yếu tố công – tư có mối quan hệ tương hỗ mật thiết với nhau; (iii) Tạo lập được hệ sinh thái cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phát triển; (iv) Chuyển thể các tri thức, nghiên cứu mới thành công nghệ, hàng hóa và dịch vụ được tiêu thụ bởi cộng đồng xã hội; (v) Tạo ra năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế; (vi) Trở thành quốc gia làm chủ công nghệ.

Bộ Khoa học và Công nghệ thì cho rằng NIS là hệ thống liên kết giữa khu vực hàn lâm (chủ thể tạo ra tri thức – mà đại diện là các trường đại học, viện nghiên cứu) với khu vực công nghiệp (các ngành sản xuất, hoạt động sản xuất), trong đó nhà nước/chính phủ đóng vai trò kiến tạo, kết nối, tạo môi trường chính sách, thể chế thúc đẩy quan hệ tương tác giữa khu vực hàn lâm và công nghiệp để tạo ra, ứng dụng và chuyển hóa tri thức thành các giá trị gia tăng phục vụ người dân và xã hội.

Hệ thống đổi mới sáng tạo chú trọng đến việc khai thông tăng cường tương tác giữa các thực thể, phát triển những thể chế hỗ trợ môi trường thân thiện cho đổi mới sáng tạo, tăng khả năng ứng phó, đáp ứng của hệ thống trước những cơ hội mới. Doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo. Theo cách tiếp cận này, ngoài khoa học và công nghệ, hệ thống đổi mới sáng tạo còn có các thể chế xã hội, điều hành kinh tế vĩ mô, hệ thống tài chính, hạ tầng cơ sở giáo dục và truyền thông, các điều kiện thị trường.

Mặc dù trên thế giới và Việt Nam có nhiều quan niệm khác nhau về Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, nhóm tác giả khái quát Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia là: các thiết chế, các hệ thống tổ chức công – tư ở tầm quốc gia, trong đó nhà nước giữ vai trò kiến tạo, nhằm kết nối sự gắn bó hữu cơ giữa các tổ chức R&D, các trường đại học với doanh nghiệp, thúc đẩy việc tạo ra và ứng dụng nhanh chóng các kết quả tri thức nghiên cứu, sáng tạo để đổi mới sản xuất, phát triển kinh tế nhằm phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng trên nền tảng phát triển khoa học và công nghệ, tri thức.

b/ Các yếu tố cấu thành của Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia

Theo OECD, Hệ thống NIS có các yếu tố cấu thành như sau:

(i) Doanh nghiệp

Với vai trò là lực lượng chủ yếu của nghiên cứu và phát triển, doanh nghiệp là chủ thể chủ chốt của NIS. Hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp chịu sự thúc đẩy và điều tiết của thị trường; do vậy, hoạt động nghiên cứu và triển khai của doanh nghiệp phần lớn hướng vào ứng dụng công nghệ và nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới; không chỉ bao gồm đổi mới kỹ thuật, công nghệ mà còn bao gồm đổi mới quản lý, đổi mới thể chế, đổi mới tổ chức và đổi mới văn hóa. Năng lực đổi mới của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực đổi mới của một quốc gia.

(ii) Các tổ chức nghiên cứu khoa học

Tổ chức nghiên cứu khoa học bao gồm hệ thống các tổ chức nghiên cứu thuộc trường đại học, các cơ quan nghiên cứu khoa học thuộc nhà nước và ngoài nhà nước. Khác với doanh nghiệp hoạt động đổi mới của tổ chức nghiên cứu khoa học thường có tính phi lợi nhuận và chú trọng vào nghiên cứu cơ bản. Tổ chức nghiên cứu khoa học của nhà nước (hay công lập) chủ yếu thực hiện những nghiên cứu liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia và “quốc kế dân sinh”. Đây cũng là những nghiên cứu có độ rủi ro cao, cần nguồn lực lớn mà doanh nghiệp thường không thể hoặc không muốn thực hiện.

(iii) Cơ sở giáo dục và đào tạo

Tổ chức giáo dục và đào tạo chủ yếu là trường đại học với chức năng cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Đào tạo và bồi dưỡng nhân tài có vai trò quan trọng đối với đổi mới và thúc đẩy việc ứng dụng, chuyển giao khoa học – công nghệ. Trong thực tế, nhiều tổ chức giáo dục, đào tạo vừa thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, vừa thực hiện chức năng nghiên cứu khoa học. Sự kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học của trường đại học có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần VII


+ Các nguyên tắc trong mô hình tăng trưởng kinh tế dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo

Xu hướng tất yếu của phát triển nền kinh tế là tăng trưởng phải dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để thực hiện được mô hình này, cần tôn trọng một cách hệ thống và có cơ sở khoa học các nguyên tắc sau đây:

Thứ nhất, tập trung đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng công nghệ đối với hầu hết các ngành, lĩnh vực.

Trong thực tế, các nhà hoạch định chính sách thường có xu hướng tập trung thúc đẩy tiến bộ khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với các ngành khoa học công nghệ cao, hoặc ngành sản xuất sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Cách làm này dẫn đến sự mất cân đối trong phát triển các ngành, các khu vực của nền kinh tế. Do đó, các quốc gia – đặc biệt là các quốc gia đang phát triển – phải thực thi chính sách áp dụng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo lên tất cả các ngành, bao gồm cả công nghiệp, nông nghiệp, bán lẻ, logistics và dịch vụ kinh doanh. Ứng dụng nền tảng công nghệ cho mọi ngành nghề trong nền kinh tế chứ không chỉ riêng cho sản xuất công nghiệp.

Thứ hai, chính sách đổi mới cần hỗ trợ mọi loại hình và các giai đoạn đổi mới.

Đổi mới sáng tạo hàm chứa nhiều loại hình. Nếu chỉ tập trung vào đổi mới sản phẩm thường không đạt được tối ưu hóa trong quá trình đổi mới. Vì vậy, trong hoạch định chính sách quản lý cần đưa ra những chính sách cho mục tiêu hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ và nhất là đổi mới sáng tạo ở mọi loại hình và mọi giai đoạn.

Thứ ba, tạo môi trường cạnh tranh trong sáng tạo.

Các học giả về kinh tế đã chỉ ra rằng quá trình phát triển khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo có tính hai mặt: vừa có tính hủy diệt đối với những sản phẩm lỗi thời khi sản phẩm mới, ưu việt hơn xuất hiện; vừa có tính thúc đẩy xã hội dần tiến bộ hơn. Như vậy, những nhà nghiên cứu chính sách cần thiết kế những chương trình đẩy mạnh tính cạnh tranh lành mạnh trên thị trường về mặt khoa học – công nghệ, tạo môi trường để phát huy đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, hỗ trợ quá trình tạo ra đầu vào cơ bản của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Những đầu vào cơ bản của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo bao gồm hạ tầng cơ sở số, lực lượng lao động có kỹ năng và kiến thức. Hạ tầng cơ sở vật lý đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển khoa học và công nghệ, tuy nhiên, hạ tầng cơ sở số – bao gồm mạng lưới kết nối thông tin tốc độ cao, hay các ứng dụng công nghệ thông tin – đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng thiết yếu của nó trong quá trình này. Hơn nữa, nguồn nhân lực có kỹ năng, cũng như kiến thức tích lũy cũng là các nhân tố chủ chốt trong việc nghiên cứu, phát triển các ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Do đó, chính phủ cần đưa ra các chính sách hỗ trợ và đẩy nhanh quá trình tạo lập đầu vào cơ bản của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thứ năm, phát triển chiến lược đổi mới và tăng năng suất lao động quốc gia.

Từ bài học kinh nghiệm của các quốc gia đi trước và thành công đã cho thấy nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc biến các ý tưởng và nỗ lực phát triển khoa học và công nghệ thành hiện thực thông qua các chiến lược quốc gia, cùng với những tổ chức hỗ trợ. Các chiến lược này cần đi liền với mục tiêu và thời gian thực hiện cụ thể.

+ Đổi mới sáng tạo

Từ định nghĩa đầu tiên về đổi mới sáng tạo được Joseph Schumpeter, nhà kinh tế người Áo, đưa ra vào năm 1934, đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về đổi mới sáng tạo bàn về khái niệm, bản chất và vai trò của khái niệm này. Đổi mới sáng tạo là việc sử dụng tri thức mới để tạo ra một dịch vụ hoặc sản phẩm mới mà có khả năng thương mại hóa. Định nghĩa của OECD được sử dụng khá phổ biến: “đổi mới sáng tạo là việc triển khai một sản phẩm (hàng hóa hoặc dịch vụ), một quy trình mới hoặc cải tiến lớn hoặc một phương pháp tiếp thị mới hoặc một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn kinh doanh, tổ chức công việc hoặc quan hệ đối ngoại”. Theo đó, khái niệm này nhấn mạnh hai vấn đề: (i) đổi mới sáng tạo không chỉ là một khâu hay một hoạt động đơn lẻ, mà bao gồm toàn bộ quá trình bắt đầu từ ý tưởng, triển khai thử nghiệm, đưa ra thị trường và cuối cùng kết thúc bằng thành công thương mại; (ii) đổi mới sáng tạo bao gồm cả những ý tưởng hình thành sản phẩm, dịch vụ mới và những cải tiến cho những sản phẩm, dịch vụ hiện có.

Tại Việt Nam, khái niệm đổi mới sáng tạo được định nghĩa tại khoản 16 Điều 3 Luật khoa học và công nghệ năm 2013 như sau: đổi mới sáng tạo (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa.

3/ Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia

Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo thì việc xây dựng Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) là nội dung cốt lõi trong việc tăng cường các năng lực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia và doanh nghiệp.

a/ Quan điểm về Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia

Cho đến nay, đã có khá nhiều quan điểm của các học giả và tổ chức quốc tế về Hệ thống NIS, quan điểm về mô hình NIS được đưa ra luận bàn đầu tiên là của Chris Freeman, theo đó NIS là tập hợp một mạng lưới các tổ chức, thiết kế trong các khu vực tư nhân và công cộng cùng phối hợp hoạt động lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu, nhập khẩu, cải tiến và phổ biến các công nghệ mới.

Kế đến, B.A. Lundvall cũng cho rằng NIS bao gồm các bộ phận và các mối quan hệ tương tác trong các hoạt động sáng tạo phổ biến và sử dụng tri thức mới có ích lợi về kinh tế… Kiến thức này hoặc được đưa vào, hoặc bắt nguồn từ trong nước. R.R. Nelson đã góp phần hoàn thiện hơn về cách tiếp cận      này khi cho rằng, NIS tập hợp các tổ chức tương tác lẫn nhau có tác dụng quyết định tới hoạt động đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp trong nước.

Còn Patel và Pavitt thì lại đưa ra quan điểm: NIS gồm các tổ chức trong nước, là hệ thống kích thích và tạo năng lực quyết định tốc độ và chiều hướng cải tiến công nghệ (hoặc là tốc độ và cấu thành của các hoạt động tạo ra đổi mới sáng tạo trong một nước.

Còn theo Metcalfe, NIS tập hợp các tổ chức khác nhau góp phần vào việc phát triển và phổ biến công nghệ mới; tạo nên khuôn khổ để chính phủ hoạch định và thực thi các chính sách đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ. Đó là hệ thống các tổ chức có quan hệ tương tác với nhau để tạo lập, lưu trữ và chuyển giao tri thức, kỹ năng và các yếu tố tạo ra công nghệ mới.

Tổ chức OECD đưa ra quan điểm: NIS là một hệ thống các cơ quan thuộc các lĩnh vực công và tư nhân, mà hoạt động của nó nhằm khám phá, du nhập, biến đổi và phổ biến các công nghệ mới. Đó là hệ thống có tính tương hỗ của các doanh nghiệp công và tư, các trường đại học và các cơ quan chính phủ, nhằm hướng tới sự phát triển của khoa học và công nghệ trong phạm vi quốc gia. Tính tương hỗ của các đơn vị này có thể là về mặt kỹ thuật, thương mại, luật pháp và tài chính, nhằm những mục đích phát triển, bảo trợ hay thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ. Như vậy, theo OECD, NIS có thể được hiểu như là một tập hợp các cơ quan, tổ chức và các cơ chế, chính sách cùng nhau tương hỗ nhằm theo đuổi các mục tiêu kinh tế – xã hội và sử dụng đổi mới sáng tạo để khuyến khích sự thay đổi.

Còn Phòng Công nghiệp và Khoa học của Australia đã đưa khái niệm NIS với bốn thành phần sau đây: Thể chế mang tính quốc gia với cơ cấu pháp luật, tài chính, giáo dục hỗ trợ năng động cho doanh nghiệp – yếu tố trung tâm đem lại phồn vinh cho đất nước; các tổ chức cung cấp thông tin, dịch vụ định chuẩn, đo lường, chất lượng, kỹ năng; các doanh nghiệp thực hiện đổi mới; hạ tầng cơ sở khoa học và công nghệ bao gồm các tổ chức khoa học và công nghệ, các trung tâm xuất sắc, phòng thí nghiệm trọng điểm, vườn ươm công nghệ, vườn ươm doanh nghiệp.

Như vậy, có thể thấy, việc xây dựng hệ thống đổi mới quốc gia, các chương trình, kế hoạch đổi mới công nghệ quốc, đã được nhiều nước phát triển và đang phát triển quan tâm.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần VI


đ/ Mô hình tăng trưởng xanh

Tăng trưởng xanh là một quá trình toàn diện trong tăng trưởng kinh tế, hướng tới mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, giảm phát thải khí nhà kính và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Mô hình tăng trưởng xanh là cốt lõi của con đường “tăng trưởng xanh carbon thấp” nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục tăng trưởng kinh tế nhưng phải đặt trong bối cảnh giảm phát thải khí nhà kính ở mức độ nhất định để giảm thiểu biến đổi khí hậu và tạo ra những động cơ tăng trưởng mới như công nghệ xanh, công nghiệp xanh, việc làm xanh. Vì vậy, mô hình tăng trưởng xanh tạo ra một tiền đề là giảm phát thải khí nhà kính nhưng không làm cản trở sự tăng trưởng kinh tế, mà còn mở ra các cơ hội phát triển mới.

Khái niệm tăng trưởng xanh được nhiều tổ chức định nghĩa khác nhau nhưng về cơ bản khá tương đồng về nội dung, cụ thể là:

Theo Tổ chức Sáng kiến tăng trưởng xanh của Liên hợp quốc, tăng trưởng xanh hay xây dựng nền kinh tế xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và hạ tầng cơ sở để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Tăng trưởng xanh là phương thức theo đuổi tăng trưởng và phát triển kinh tế trong khi ngăn chặn suy thoái môi trường, mất đa dạng sinh thái và sử dụng tài nguyên thiên nhiên không bền vững.

Theo Liên minh châu Âu (EU), tăng trưởng xanh là phương thức xây dựng một nền kinh tế có tính cạnh tranh cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển những quy trình, công nghệ mới, công nghệ xanh; áp dụng sâu rộng lưới điện thông minh; sử dụng công nghệ thông tin cũng như hỗ trợ khách hàng đánh giá đúng tầm quan trọng của việc tiết kiệm tài nguyên.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng xanh là việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu tối đa ô nhiễm và các tác động môi trường, có khả năng thích ứng trước các hiểm họa thiên nhiên và vai trò của quản lý môi trường và vốn tự nhiên trong việc phòng ngừa thiên tai.

Còn ở Việt Nam, tăng trưởng xanh được quan niệm là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng cơ cấu lại nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói, giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Mô hình tăng trưởng xanh được cụ thể hóa qua “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050”.

e/ Mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo

+ Các lý thuyết

Các nghiên cứu về mô hình tăng trưởng nội sinh (lý thuyết tăng trưởng mới) thường được phân thành hai nhóm mô hình nghiên cứu chính: mô hình tăng trưởng dựa vào tích lũy (Accumulation – based models) và mô hình tăng trưởng dựa vào đổi mới (Innovation – based models). Nhóm mô hình đầu tiên dựa trên ý tưởng sự kết hợp tích lũy vốn vật chất và vốn con người có thể đủ để duy trì tăng trưởng trong dài hạn. Nhóm mô hình thứ hai cố gắng giải thích sự thay đổi công nghệ như thế nào và nó tạo ra tăng trưởng kinh tế ra sao.

Lý thuyết tang trưởng nội sinh thế hệ thứ nhất, với các nghiên cứu của Lucas Jr (1988), D. Romer (1996) và P. Aghion, P.W. Howitt, M.. Brant-Collett, C. García-Peňalosa (1998) đã phản bác lý thuyết tân cổ điển về suất sinh lợi giảm dần theo yếu tố sản xuất và đưa ra giả thiết về hằng số suất sinh lợi theo các yếu tố đầu vào. Điều này đã giúp các nhà kinh tế tin rằng tri thức sẽ phá bỏ giới hạn của tăng trưởng do sự hữu hạn về nguồn tài nguyên. Nghiên cứu đầu tiên về mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo là của tác giả Romer. Khi tăng trưởng được thúc đẩy bởi chuyên môn hóa và phân công lao động ngày càng tăng, đổi mới sáng tạo là của tác giả Romer. Khi tăng trưởng được thúc đẩy bởi chuyên môn hóa và phân công lao động ngày càng tăng, đổi mới diễn ra theo chiều ngang, cụ thể sự sáng tạo ra các hàng hóa trung gian và hàng hóa cuối cùng sẽ tạo ra các ngành mới, ví dụ sự sáng chế ra bộ vi xử lý. Theo sau, tác giả P. Aghion và P. Howitt đã đề xuất các lý thuyết trong đó tăng trưởng được thúc đẩy bởi những đổi mới theo chiều dọc.

Thế hệ thứ hai của mô hình tăng trưởng dựa vào đổi mới sáng tạo là mô hình tăng trưởng của Schumpeterian, phát triển từ lý thuyết tổ chức công nghiệp hiện đại và coi các doanh nghiệp là trung tâm của quá trình tăng trưởng. Theo tác giả P. Aghion và U. Akcigit, mô hình này dựa trên ba ý tưởng chính: Thứ nhất, tăng trưởng dài hạn dựa trên đổi mới sáng tạo. Quá trình đổi mới sáng tạo bao gồm tăng năng suất của các nhân tố sản xuất (lao động, vốn), đổi mới sản phẩm (giới thiệu sản phẩm mới), đổi mới tổ chức. Thứ hai, đổi mới là kết quả của đầu tư vào nghiên cứu và triển khai (R&D), đầu tư của doanh nghiệp vào đào tạo kỹ năng, tìm kiếm thị trường mới. Cần có sự cân nhắc về vai trò can thiệp của nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo trong quá trình tăng trưởng và phát triển. Đổi mới có tác động tích cực đến lan tỏa tri thức, tuy vậy không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng đầu tư cho R&D, đào tạo. Do vậy, vai trò của nhà nước là cần thiết như một nhà đồng đầu tư trong nền kinh tế tri thức. Thứ ba, là vấn đề hủy diệt sáng tạo bởi tăng trưởng sẽ liên quan đến xung đột giữa cái cũ và cái mới: những người đổi mới ngày hôm qua chống lại những đổi mới làm cho hoạt động của họ trở nên lỗi thời. Điều này cho thấy vai trò thứ hai của nhà nước là tạo ra sự cân bằng, hài hòa giữa cái cũ và cái mới.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) đang diễn ra mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới, tác động trực tiếp nhiều mặt đến sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội ở nước ta. Cách mạng công nghiệp 4.0 có một số điểm khác biệt so với các cuộc cách mạng trước đây. Các công nghệ cốt lõi của Cách mạng công nghiệp 4.0 (như kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chế tạo đắp lớp, thực tế ảo, công nghệ chuỗi khối, điện toán đám mây…), đã và đang làm thay đổi lợi thế so sánh giữa các nền kinh tế. Tài nguyên thiên nhiên, lao động chi phí thấp, thậm chí cả tiền vốn sẽ mất dần lợi thế so với đổi mới sáng tạo; và đổi mới sáng tạo sẽ dần trở thành động lực tăng trưởng hàng đầu đối với tất cả các nền kinh tế. Do đó, một yêu cầu cơ bản đối với quốc gia cũng như doanh nghiệp là phải bắt kịp với xu thế công nghệ của Cách mạng công nghiệp 4.0, rút ngắn tối đa khoảng cách thời gian giữa ý tưởng, phát minh sáng chế và thương mại hóa, đưa sản phẩm ra thị trường.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, xây dựng hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia với nền tảng chủ đạo là lập hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia đã và đang chứng tỏ là công cụ thực hiện yêu cầu nói trên. Vì vậy, các trung tâm đổi mới sáng tạo xuấ thiện và phát triển ngày càng nhiều, không chỉ ở các nước phát triển (Hoa Kỳ, Đức, Anh, các quốc gia Bắc Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,…). Hiện nay, nước ta đã có một số khu công nghệ cao, công viên phần mềm và hàng chục cơ sở vườn ươm, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp có quy mô và lĩnh vực hoạt động khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta chưa có một hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia theo thông lệ của quốc tế. Do đó, để hiện thực hóa được các cơ hội phát triển từ Cách mạng công nghiệp 4.0 và đưa đổi mới sáng tạo dần trở thành một động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế trong thập niên 2021 – 2030, góp phần chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng, đưa đất nước từng bước chuyển sang giai đoạn phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo thì việc hình thành hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia theo chuẩn mực quốc tế phổ biến, tiến tới hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc gia ở trình độ phát triển cao đã trở nên hết sức cấp bách hiện nay.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021