Sự sáng tạo thắng thế – Phần IV


Nhiều nghiên cứu đã nhắm đến sức mạnh của vua hạng mục. Eddie Yoon, một lãnh đạo Cambridge Group, năm 2011 đã công bố một bài trên Harvard Business Review nhan đề “Sáng tạo hạng mục là chiến lược tối hậu (Category Creation is the Ultimate Growth Strategy). Công ty ông đã tiến hành phân tích 20 công ty hàng đầu trên danh sách các công ty tăng trưởng nhanh nhất năm 2010 của Fortune. Tại 20 công ty đó, cứ mỗi dollar tăng trưởng doanh thu, thì vốn hóa thị trường trung bình tăng 3,40 USD. Nhưng nửa số 20 công ty hàng đầu đó là những người sáng tạo hạng mục, Yoon khẳng định thế, và 10 công ty đó tăng trung bình 5,60 USD vốn hóa cho mỗi dollar tăng trưởng doanh thu. “Wall Street thưởng công rất lớn cho các công ty tạo ra hạng mục”, Yoon viết. Năm 2014, gã khổng lồ ngành tư vấn McKinsey công bố bài báo nhan đề “Lớn nhanh hoặc chết chậm” (Grow Fast or Die Slow). McKinsey phân tích 3000 công ty phần mềm và trực tuyến từ 1980 đến 2012. Nghiên cứu xác định một nhóm nhỏ công ty nổi bật là “siêu tăng trưởng” (supergrower, nhóm này trùng lặp khá nhiều với định nghĩa vua hạng mục của chúng tôi, và tuyên bố rằng tăng trưởng thần tốc ngay từ đầu là chỉ báoo cho sự thành công lâu dài. Vua hạng mục, một khi đã yên vị, hầu như không thể bị thay thế.

Tại sao bây giờ việc này mới xảy ra với tốc độ cao đến vậy, nhất là khi vua hạng mục từ trước đến giờ vẫn luôn tồn tại trong bức tranh kinh doanh?

Mạng có mặt khắp nơi, phân phối điện toán đám mây giá rẻ, và ời truyền miệng lan nhanh như chớp qua các kênh truyền thông xã hội đang tăng cường cho nền kinh tế “kẻ thắng lấy tất cả” – đặc biệt là với các sản phẩm và dịch vụ kỹ thuật số. Hãy nhớ rằng vào năm 1999, chỉ khoảng 400 triệu người kết nối Internet. Đến năm 2015, con số đó đã vọt lên 3 tỷ, đang tiến tới 4 tỷ vào năm 2020. Và đến năm 2020, kỳ vọng có khoảng 6 tỷ smartphone. Đồng thời, hàng chục tỉ đồ vật như xe, đèn, cảm biến công nghiệp, bộ điều nhiệt, và vòng cổ chó được kết nối vào mạng lưới, trong khi các ngành trước nay chưa bao giờ dính dáng đến kỹ thuật số (taxi, khách sạn, y khoa) đang nhanh chóng số hóa. “Internet vạn vật” (Internet of Things) sẽ biến hầu như mọi thứ trở thành một bộ phận của mạng toàn cầu. Vì mạng cho mọi người từ bất cứ nơi đâu khả năng tiếp cận sản phẩm được xem là tốt nhất trong bất cứ hạng mục nào, nên đại đa số chọn sản phẩm dẫn đầu và bỏ rơi các sản phẩm hạng hai hoặc hạng ba. Đó là mặt tối của khái niệm “cái đuôi dài” mà các chuyên gia đã nói đến suốt hơn chục năm nay. Trong bất cứ hạng mục sản phẩm hoặc dịch vụ nào, một thực thể sẽ trở thành con chó, to lớn và đầy giá trị, trong khi tất cả phần còn lại nằm ở phần đuôi đầy khó khăn về mặt kinh tế. Con chó vua hạng mục chắc chắn sẽ tích cự vẫy cái đuôi sau đít nó quay tít.

Khi một công ty chiếm được ngai vàng hạng mục, bánh đà lợi ích sẽ tạo khoảng cách giữa công ty dẫn đầu và phần còn lại. Ví dụ, công ty dẫn đầu ngày càng có dữ liệu tốt hơn hẳn. Thời nay, dữ liệu là sức mạnh. Tất cả các giao dịch trên Amazon cho công ty những hiểu biết quý giá về khách hàng, hàng tồn kho, giá cả – tất cả mọi thứ. Mỗi cuốc Uber, mỗi bộ phim được chọn trên Neflix, mỗi dòng thông tin nhập vào Salesforce.com cũng đều giống như thế. Khi công ty dẫn đầu tích lũy dữ liệu, dữ liệu đó dần trở thành một lợi thế bất công – một khoảng cách mà những kẻ theo sau không bao giờ hi vọng có thể rút lại nổi. Các nhân viên giỏi nhất cũng muốn làm việc cho đức vua. Các đối tác muốn ký kết với hoàng đế. Các nhà phát triển bên ngoài cũng muốn phát triển cho quốc vương. Các nhà đầu tư tốt nhất muốn rót vốn và các ngân hàng đầu tư cũng muốn hỗ trợ chào cổ phiếu bán ra công chúng lần đầu (IPO). Vì vua hạng mục vượt xa về mặt kinh tế, nên họ có đủ tiền để thâu tóm các công ty khác, từ đó lại giúp họ tiến xa hơn nữa trong vị trí dẫn đầu. Sức mạnh kinh tế của vua hạng mục chỉ có ngày càng lớn mà thôi.

Cuối năm 2014, nhà phân tích ngành công nghệ Micheal Walkley ở Canaccord Genuity xem tình trạng lợi nhuận của các công ty smartphone và thấy rằng Apple thu 93% tổng lợi nhuận ngành. Tưởng tượng đi! Trong tất cả các nhà sản xuất smartphone trên thế giới, chỉ một công ty – vị vua hạng mục – nắm gần hết lợi nhuận. Dù muốn hay không, tầng lớp trung lưu trong kinh doanh đang ngày càng biến mất nhanh hơn. Của cải rơi hết vào tay các ông vua. Hoàng tử ở vị trí thứ nhì – như Lyft hay Samsung – có thể nhận được một phần tàm tạm. Những tay chơi còn lại bị đày ải xuống làm kiếp nông nô trong đế chế của vị quân vương.

Vào giữa thập niên 2010, truyền thông bị ám ảnh bởi mức định giá các start-up công nghệ đang tăng cực nhanh. Nhiều con số có thể đã bị lái bởi tình hình thị trường tài chính, thứ mà dĩ nhiên thường ngả theo chiều gió. Nhưng khi nhìn bức tranh lớn, thì sự sôi động này bị lái bởi những thay đổi nền tảng trong công nghệ và nền kinh tế, và được cường hóa bởi hoạt động kinh doanh vua hạng mục. Nếu nhìn kỹ, bạn sẽ thấy rằng các start-up định giá cao nhất hầu như luôn là các vua hạng mục đã yên vị hoặc đang trỗi dậy.

Thông qua dữ liệu, chúng tôi đã kịp thời bắt giữ được khoảnh khắc thể hiện tốc độ tăng trưởng và khoảng cách đang giãn ra giữa các vị vua và phần còn lại. Chúng tôi phân tích dữ liệu đánh giá trên hàng ngàn start-up công nghệ, và phát hiện rằng các công ty thành công được sinh ra trong giai đoạn 2009 – 2014 đạt mức giá siêu cao nhanh gấp 3 lần các công ty khởi nghiệp đầu thập niên 2000. Nói cách khác, chỉ hơn 10 năm, tốc độ tăng trưởng giá trị của các start-up công nghệ tăng trưởng cao gần gấp 3 lần. Nhưng không giống cuộc bùng nổ công nghệ cuối thập niên 1990, cơn thủy triều dâng lần này nâng các đại du thuyền và nhấn chìm những chiếc xuồng con. Những kẻ không ngồi trên ngai phải sống thật vất vả. Nghiên cứu dữ liệu của chúng tôi phát hiện rằng một start-up 6 năm tuổi mà vẫn chưa phải là vua thì cơ hội được ngồi vào hoàng vị gần như bằng 0.

Khoảng cách vua hạng mục nói tóm lại như thế này: Uber được định giá 51 tỷ USD cuối năm 2015, trong khi cùng lúc đó công ty đứng hạng nhì, Lyft, được định giá thấp hơn khoảng 25 lần, khoảng 2 tỷ USD. Phần còn lại của hạng mục đó hầu như không đáng để tâm. Có thể mức định giá này đang cao một cách không bền vững; cũng có thể không. Tuy nhiên, chúng tôi tập trung vào giá trị tương đối: Uber có giá trị gấp 25 lần Lyft. Các nhà đầu tư nhìn vào giá trị tương lai của hạng mục vận chuyển cá nhân theo yêu cầu và thấy chỉ một công ty – Uber hoàng đế – đang chiếm gần hết lãnh thổ.

Chúng tôi bắt đầu viết sách này giữa chu kỳ lên của ngành công nghệ. Chúng tôi không biết đến lúc bạn đọc sách thì đợt bùng nổ công nghệ này đã sang chu kỳ xuống hay chưa. Nhưng chúng tôi chắc chắn rằng động lực và chiến lược trong sách này là vĩnh cửu. Trong các thời kỳ lắm tiền, một công ty cần tư duy như vua hạng mục để có thể vượt qua và ở thế trên cơ tất cả các đối thủ cũng được đầu tư khác. Ở thời khó khăn, khi tiền bạc eo hẹp, ông vua có thể là kẻ duy nhất còn sống sót trong hạng mục. Nói chung, giai đoạn suy thoái chính là cơ hội tuyệt vời cho vua hạng mục triệt hạ tất cả những kẻ thách thức không đủ vốn, để rồi thoát khỏi giai đoạn suy thoái mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Nói ngắn gọn, bất cứ khi nào – thị trường lên, xuống hay đi ngang – cũng đều là thời gian thích hợp để mạnh lên thay vì trông chờ vào vị thần may mắn. Và tư duy như một ông vua hạng mục chính là cách khôn ngoan để cải thiện cơ hội thành công, thay vì bỏ mặc mọi thứ cho số phận. Đó là lý do vì sao phải chơi lớn.

Giới thiệu bộ môn thiết kế hạng mục

Nếu có chơi bài poker thì bạn sẽ biết Greg Raymer. Ông lăn lộn khắp vùng Trung Tây trong thời niên thiếu, lấy bằng thạc sĩ hóa sinh tại Đại học Minnesota, tốt nghiệp khoa Luật tại Đại học Minnesota năm 1992, sau đó làm luật sư bộ phận sở hữu trí tuệ cho Pfizer. Ông đã chơi poker rất nhiều hồi còn ở trường – “chúng tôi cả đám thật thảm hại”, ông hồi tưởng. Sau đó, trong khi đang làm việc ở Chicago, ông quyết định đã đến lúc phải luyện để chơi thật giỏi. Ông đọc sách poker và bắt đầu tham gia giải, dần nâng cao trình độ qua các ván đấu. Năm 2004, ông thắng giải Word Series of Poker – tiền thưởng 5 triệu USD. Tại giải World Series of Poker năm sau, ông đã làm được điều chưa từng có trong một trò chơi thoạt trông có vẻ khá may rủi: Ông nối tiếp chiến thắng năm trước bằng cách kết thúc ở nhóm đầu giải này, mang về nhà hơn 300 ngàn USD. Đến năm 2013, ông đã kiếm được hơn 7,4 triệu USD từ poker. Ờ, và ông cũng bỏ việc luôn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Al Ramadan, Dave Peterson, Christopher Lochheed, Kevin Maney – Chơi lớn – NXB ĐHKT TPHCM – 2018.

Advertisements

Sự sáng tạo thắng thế – Phần III


Sách này bàn về chiến lược xây dựng vua hạng mục. Chiến lược này không bảo đảm bạn sẽ thành vua hạng mục, nhưng nó làm tăng cơ hội của bạn. Và chúng tôi tin rằng ít nhất sẽ giúp bạn có thể chơi lớn hơn. Như chúng tôi sẽ chỉ ra, chiến lược vua hạng mục rất quan trọng và hiệu quả khi nền kinh tế đang lên mạnh, và có lẽ còn mạnh hơn khi các cuộc suy thoái làm tê liệt những đối thủ đang đuổi theo bén gót. Một số vị vua hạng mục lớn đã được dựng nên trong những thời kỳ “tồi tệ nhất” – Google vào đầu thập niên 2000 ngay sau cuộc sụp đổ dot-com; Airbnb năm 2008 khi các thị trường tài chính đang tan chảy; Birds Eye thì rơi vào thời kỳ Đại suy thoái thập niên 1930.

Vua hạng mục thường là các công ty thu hút sự chú ý nhiều nhất trên truyền thông, từ các nhà đầu tư, cũng như từ công chúng. Facebook định nghĩa và phát triển một loại mạng xã hội mới dựa trên cuộc sống thực của chúng ta. Chúng tôi sẽ thảo luận sau việc nó khác biệt, chứ không phải tốt hơn, so với các mạng xã hội khác trước đó như thế nào. Netflix khởi đầu bằng cách tạo ra hạng mục DVD gởi qua bưu điện (khác biệt với Blockbuster) và sau đó tạo ra hạng mục chiếu phim trên mạng (movie streaming). Pixar thiết kế hạng mục phim làm bằng máy tính. Airbnb, Tesla, Snapchat, và Twitter là các vị vua hạng mục gần đây trong các thị trường tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng. Không gian công nghệ dành cho khách hàng doanh nghiệp cũng đầy các vị vua hạng mục. Salesforce.com phát triển hạng mục bán hàng tự động dựa trên công nghệ đám mây (cloud-based sales automation). Vmware định nghĩa và thống trị một hạng mục ảo hóa máy tính (computer virtualization). Workday, Zenefits, NetSuite, và Slack là một số vua hạng mục mới về các dịch vụ kinh doanh.

Hầu hết vua hạng mục là thành tựu cả đời chỉ có một lần của nhà sáng lập. Vài cá nhân hiếm hoi đã chứng tỏ mình là nhà tạo dựng vua hạng mục bậc thầy. Một trong các bậc thầy ấy, như ai cũng biết, là Steve Jobs, đặc biệt trong thời kỳ ông quay lại Apple. Ông lãnh đạo quá trình tạo dựng 3 hạng mục mới rất quan trọng: nhạc số (với iPod và iTunes), điện thoại thông minh (iPhone) và máy tính bảng (iPad). Elon Musk biến Tesla Motors thành vua hạng mục xe chạy điện và SpaceX thành vua hạng mục du hành không gian tư nhân; khó mà tin được là ông làm cả hai việc cùng một lúc. Jeff Bezos bắt đầu biến Amazon.com thành vua hạng mục bán lẻ trực tuyến, và lặp lại thành công với sách điện tử (Kindle) và các dịch vụ điện toán đám mây (Amazon Web Services). Một nhà tạo dựng vua hạng mục ít nổi tiếng hơn nhưng có không hề ít thành tựu là doanh nhân Rich Barton ở Seattle. Anh có dự phần vào việc sáng lập Expedia Zillow, và Glassdoor.

Như đã nhận xét với Bird Eye, vua hạng mục không chỉ là hiện tượng công nghệ thời đại kết nối. Khi Chrysler giới thiệu loại xe minivan năm 1983, họ tạo ra – và sau đó thống trị chừng 3 thập niên – một hạng mục ô tô cá nhân mới. MTV của Bob Pittman và CNN của Ted Turner đã từng là vua hạng mục. Boeing tạo ra hạng mục máy bay phản lực với chiếc 707 năm 1958. Đôi khi vua hạng mục thậm chí không phải là doanh nghiệp, tuy nhiên họ định nghĩa và phát triển cái mới cho lối sống của chúng ta. Peter Drucker là vua hạng mục tư duy quản trị. Và dĩ nhiên như đã đề cập, vẫn còn đó Elvis Presley, vua hạng mục nhạc rock and roll. Những cá nhân đó không chỉ tốt hơn những thứ có trước đó; họ còn rất khác biệt với những thứ trước đó nữa.

Cuối cùng, vua hạng mục không chỉ đến từ Thung lũng Silicon, hay nước Mỹ. Các vua hạng mục toàn cầu sinh ra từ khắp mọi ngóc ngách ở hành tinh này. IKEA tạo ra một hạng mục mới – đồ nội thất tự làm, rẻ, hợp thời trang – từ thị trấn Ӓlmhult nhỏ bé ở Thụy Điển, và không có thứ gì khác giống được họ. Estonia khai sinh ra Skype, phần mềm đã phát triển hạng mục điện thoại Internet. Nước Úc cho ta Atlassian, vua hạng mục công nghệ hợp tác cho các nhóm xây dựng phần mềm. Trong một số doanh nghiệp, khác biệt văn hóa hoặc ranh giới quốc gia cung cấp cơ hội tạo ra các vua hạng mục theo địa lý. Alibaba đã xây dựng một công ty thống trị hạng mục khổng lồ bằng cách tự định nghĩa cơ bản rằng họ là Amazon của Trung Quốc. Flipkart cũng tương tự tại Ấn Độ. Cả hai không định nghĩa và phát triển hạng mục bán lẻ trực tuyến, nhưng họ định nghĩa và phát triển bán lẻ trực tuyến theo một cách khác để xử lý và thống trị thị trường sân nhà rộng lớn.

Mô hình vua hạng mục

Những lợi thế kinh tế mà vua hạng mục có được rất đáng kinh ngạc; quỹ đạo phát triển thì dốc hơn và nhanh hơn bao giờ hết. Lý do thường không phải do hoạt động đầu cơ của nhà đầu tư, thứ mà ai cũng biết rất dễ biến động. Lý do nằm ở các xu hướng công nghệ mạnh mẽ đang liên tục nhận thêm động năng. Các xu hướng đó đang thay đổi cách đầu tư của các VC sắc sảo nhất, từ đó định hình cách doanh nhân suy nghĩ về công ty khởi nghiệm của mình. Mô hình vua hạng mục đang ảnh hưởng giới CEO khi họ cân nhắc các đề nghị mới và các đường hướng tương lai. Nó đang tác động cách các nhà tiếp thị định vị và cách các kỹ sư xây dựng sản phẩm. Bất kỳ ai đang hoạch định sự nghiệp đều cần phải biết cách hoạt động của nền kinh tế vua hạng mục.

Trong quyển sách năm 2014 của mình, Zero to One, nhà đầu tư lớn Peter Thiel rõ ràng đã ca ngợi các công ty độc quyền, và nói rõ rằng đó là những công ty ông muốn đầu tư. “Mọi công ty độc quyền đều là độc nhất, nhưng thường có chung một/một số đặc trưng sau: công nghệ độc quyền, hiệu ứng mạng lưới (network effect), lợi thế về quy mô, và thương hiệu”. Như bạn sẽ thấy, ông mô tả vua hạng mục là công ty nắm tất cả hoạt động kinh doanh của hạng mục. Thiel nói tiếp, “Tất cả các công ty hạnh phúc đều khác nhau: Mỗi công ty có được thế độc quyền nhờ giải quyết một vấn đề độc đáo. Tất cả các công ty thất bại đều giống nhau: Họ không thoát được sự cạnh tranh”. Theo định nghĩa của Thiel, vua hạng mục là các công ty hạnh phúc.

Suốt nhiều năm, Mike Maples, một trong các nhà đầu tư huyền thoại của Thung lũng Silicon, đã nói về việc tìm và rót vốn vào những con “thằn lằn sấm” (thunder lizard). Đó là thuật ngữ của ông để chỉ vua hạng mục. “Thằn lằn sấm là một công ty thay đổi cuộc chơi, sẽ vượt xa các công ty khác trong ngành”, ông nói với lớp ông dạy tại Đại học Stanford. “Thằn lằn sấm rất hiếm. Giả dụ trong một năm có 10.000 công ty khởi nghiệp được các thiên thần đầu tư và 1.500 được đầu tư Series A, thì sẽ có khoảng 80 công ty hoạt động tốt – nhưng sẽ chỉ có 12 công ty trở thành thằn lằn sấm”.

Tại Thung lũng Silicon, chúng tôi thấy các VC áp dụng triết lí đầu tư vua hạng mục ngày càng nhiều. Paul Martino của Bullpen Capital nhận xét rằng các VC đã từng dùng chiến lược “bắt chước” (me-too): Nếu một start-up thành công lớn và mở ra một hạng mục mới nóng sốt, thì cả đám quỹ mạo hiểm ở Thung lũng Silicon ngay lập tức nghĩ rằng có chỗ cho nhiều người thắng trong hạng mục đó. Vì vậy tất cả các quỹ mạo hiểm đều sẽ đầu tư vào một công ty nào đó (bất cứ công ty nào!) trong hạng mục mới nổi. Nhưng trong thế kỷ này, cái câu “có chỗ cho nhiều người thắng trong thị trường đó” cần phải bị tiễn vào nhà thương điên thôi. Như Martino đã nói, bây giờ rõ ràng là chỉ một công ty thắng lớn và thống trị một hạng mục lành mạnh, các công ty còn lại thì sống vật vã, bị thôn tính, hoặc toi mạng. Điều này có nghĩa là ngay khi một công ty xuất hiện và trở thành vua hạng mục, đồng tiên khôn tranh nhau đầu tư vào đó, nâng giá trị nó lên. Mức định giá của các vị vua hạng mục mới tăng lên mạnh mẽ vào thập niên 2010 một phần cũng do nhận thức đó của các nhà đầu tư. Trái lại, tuy các công ty bắt chước có thể được tài trợ từ rất sớm, nhưng họ sẽ nhanh chóng gặp rắc rối với vòng gọi vốn mới từ các nhà đầu tư chất lượng cao, những người hiểu rõ mô hình vua hạng mục. Rất nhiều công ty bắt chước đã được định mệnh là thất bại từ khi mới ra đời. Bryan Roberts ở Venrock, một quỹ mạo hiểm hàng đầu, cố xác định sớm các vua hạng mục tiềm năng. “Vua hạng mục có khuynh hướng mở bung một không gian mới, và đó thường là một yếu tố rủi ro lớn từ đầu – cái mà hầu hết mọi người nghĩ rằng không thể vượt qua được; hoặc nếu vượt qua được thì cũng chẳng ai quan tâm”, ông bảo chúng tôi. Công ty như Snapchat có lẽ thuộc loại thứ hai. Từ đầu, nhiều người tự hỏi, trừ mấy bé tuổi teen ra, thì ai mà lại đi quan tâm đến một dịch vụ làm biến mất ảnh selfie (tự chụp) chứ. Nhưng một khi vua hạng mục đã chứng minh được hạng mục của mình, như Snapchat đã làm, “mọi thứ chuyển từ hoài nghi thành đồng thuận rất nhanh, nhưng đến lúc đó thì bạn [công ty] đã có lợi thế cạnh tranh khó ai vượt qua được rồi”. Theo quan điểm của Roberts, các vua hạng mục sẽ thắng lớn – và thời nay, họ thắng rất nhanh. Trong khi đó, Jim Goetz ở Sequoia Capital cũng quảng cáo thẳng triết lí sáng tạo hạng mục của mình: “Chúng tôi tìm kiếm các nhà sáng lập định-hướng-sứ-mạng (mission-driven), những người có thể xây dựng một công ty và một hạng mục lớn cùng một lúc”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Al Ramadan, Dave Peterson, Christopher Lochheed, Kevin Maney – Chơi lớn – NXB ĐHKT TPHCM – 2018.

Sự sáng tạo thắng thế – Phần II


Đến năm 2014, Uber được giới đầu tư định giá ở mức khá vi diệu. Tháng 6/2014, Uber được định giá 17 tỷ USD. Đến tháng 12/2014, con số này lên 40 tỷ. Sau đó 6 tháng, nó đụng nóc 50 tỷ. Nếu nhìn vào hoạt động kinh doanh của Uber lúc đó, hẳn ta sẽ kết luận rằng các nhà đầu tư điên hết rồi. Nhưng nếu xem xét tầm cỡ của vấn đề mà Uber tự đưa ra để giải quyết, 40 tỷ hay 50 tỷ USD dường như vẫn còn rẻ trong dài hạn. Uber đã tạo ra một hạng mục kinh doanh chưa từng có trước đó, và công ty đã gieo vào trong tâm trí chúng ta rằng chỉ duy nhất có họ là hiểu vấn đề và có thể xây dựng giải pháp. Ở nơi mà 5 hoặc 6 năm trước đó chưa có gì cả. Uber đang tạo ra một hạng mục khổng lồ, và tự lên làm vua. Đây là thứ mà các nhà đầu tư đang đổ tiền vào: tiềm năng của hạng mục mới này và niềm tin cho rằng Uber sẽ là vị vua ngự trị lâu dài. Năm 2015, Uber vẫn còn là công ty tư nhân – một dấu hiệu cho thấy bất chấp mọi tai tiếng, Uber ở tuổi thứ 5 vẫn đang phát triển hạng mục của mình. Nghiên cứu dữ liệu của chúng tôi chỉ ra rằng: Các công ty thông minh thường đại chúng hóa khi hạng mục của họ đã cất cánh – thường là khoảng từ 6 đến 10 năm sau khi thành lập công ty.

Trong thế kỷ XXI, các vị vua hạng mục mới đang không ngừng được thành lập, với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết. Một công ty có tên Sensity Systems là một ví dụ. Họ bắt đầu đi trên con đường sáng tạo hạng mục sau khi chuyên gia khởi nghiệp Hugh Martin tiếp quản cơ sở, lúc bấy giờ chỉ là một công ty nhỏ bé sản xuất đèn LED. Martin là người ngoại đạo đối với ngành chiếu sáng. Trước đó anh đã điều hành một công ty công nghệ sinh học, một công ty viễn thông, và một công ty video game – nhưng chưa hề điều hành công ty ngành chiếu sáng nào. Anh nhìn thấy một cơ hội thú vị trong đèn LED. Đèn LED chạy ở mức 5V điện một chiều – cùng mức điện áp với máy tính, trang thiết bị mạng, và các cảm biến số. Điều đó có nghĩa là đèn LED cơ bản có thể số hóa các trang thiết bị chiếu sáng, thay đổi ngành chiếu sáng giống hệt như ngành âm nhạc và nhiếp ảnh đã được thay đổi bởi kỹ thuật số vậy. Đúng thật là như thế, bóng đèn có thể được gắn các cảm biến thu nhận thông tin về chất lượng không khí, sự dịch chuyển, âm thanh, hoặc thời tiết. Và vì bóng đèn có thể truyền tin trên mạng vô tuyến, nên đèn LED có thể được kết nối với nhau để chia sẻ thông tin hoặc thu thập các lượng lớn dữ liệu. Mạng lưới chiếu sáng bấy giờ sẽ có thể theo dõi số lượng xe trong bãi đậu xe khu mua sắm; hoặc đối với cảnh sát, hệ thống đèn có thể dò ra đường đạn chính xác hơn nhiều công nghệ hiện tại. Trong tương lai, Martin có thể hình dung ra một nền tảng ánh sáng kết nối toàn cầu.

Chúng tôi hân hạnh được làm việc với Martin để xác định và lên kế hoạch hạng mục mà anh đã hình dung ra – một quy trình chúng tôi gọi là thiết kế hạng mục. Martin và nhóm chúng tôi đã thống nhất một cái tên cho hạng mục đó: Light Sensory Network (hệ thống cảm biến ánh sáng), hay LSN. Martin bắt đầu truyền bá hạng mục đồng thời với việc xây dựng công ty. Anh muốn khách hàng tiềm năng trước tiên hiểu được các vấn đề mà LSN có thể giải quyết. Và nếu họ muốn vấn đề được giải quyết, họ sẽ gọi cho ai? Dĩ nhiên là cái công ty đã định nghĩa và đồng nhất hóa chính mình với hạng mục này – Công ty Sensity. Nếu không có kiểu tư duy này, Sensity cũng sẽ chỉ là một công ty chiếu sáng thông minh tương tự như mọi công ty khác mà thôi. Thế là họ đã trở thành công ty LSN hàng đầu. Các công ty toàn cầu lớn đã gia nhập ngành đèn LED và thiết bị cảm biến – General Electric, Philips, Samsung, LG. Nhưng Sensity – năm 2015 đã ký kết thỏa thuận đối tác với GE và Cisco – không cố gắng đánh bại đối thủ bằng cách làm đèn LED có lắp cảm biến tốt hơn. Họ có kế hoạch chiến thắng bằng cách marketing một thứ gì đó thật khác biệt, tập trung vào mạng lưới và dữ liệu. Nếu Sensity thực thi tốt, họ sẽ duy trì hạng mục LSN thật dài lâu.

Một lần nữa, việc này sẽ tốn thời gian – có thể mất một thập niên. Không ai đảm bảo chiến lược đó sẽ thành công. Nhiều nhân tố sẽ tác động đến cuộc chơi, những nhân tố mà Martin hay Sensity không kiểm soát được. Tuy nhiên, khả năng Sensity chiến thắng là lớn hơn nhiều bởi họ đang xây dựng nền móng để thiết kế và phát triển hạng mục của mình. Sensity đã gia tăng khả năng họ sẽ thực sự chơi lớn.

Định nghĩa vua hạng mục

Các công ty lý thú nhất đều sáng tạo. Họ cho chúng ta phương cách mới để sống, để tư duy, để kinh doanh, và nhiều khi là để giải quyết một vấn đề mà ta thậm chí còn không biết là mình đang gặp phải nữa – hoặc một vấn đề mà ta không chú ý vì cứ đinh ninh là chẳng còn cách nào khác để giải quyết. Trước khi có Uber, chúng ta gọi taxi bằng cách đứng gần chỗ xe cộ lưu thông mà vẫy tay. Sau khi có Uber, vẫy vẫy kiểu đó đúng là có vẻ ngáo ngáo.

Các công ty này không chỉ phát minh ra thứ gì đó để bán cho ta. Họ không tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ cải tiến dựa trên những thứ đã có. Họ không bán cho ta cái tốt hơn. Các công ty lý thú nhất bán cho ta cái khác biệt. Họ giới thiệu cho xã hội một hạng mục sản phẩm hoặc dịch vụ mới – như thực phẩm đông lạnh của Clarence Birdseye, hay dịch vụ vận chuyển theo yêu cầu của Uber. Họ thay thế quan điểm hiện tại về thế giới bằng một góc nhìn mới. Họ khiến giải pháp hiện tại trở nên lỗi thời, rườm rà, thiếu hiệu quả, tốn kém và khó dùng.

Chúng ta nghe nhiều về ”sự triệt phá” (disruption). Đó là một từ thiêng liêng trong ngành công nghệ, có khi ta phải quỳ xuống khi ai đó nói đến nó. Nhưng sự triệt phá sản phẩm phụ, không phải mục đích. Các công ty huyền thoại tạo những hạng mục mới có khả năng phát sinh lực hấp dẫn trên thị trường. Khách hàng ùa tới hạng mục mới vì nó có ý nghĩa với họ. Trong nhiều trường hợp, người ta ra đi bỏ lại hạng mục cũ sau lưng, và cũng vì đó mà hạng mục cũ bị hút cạn sức sống. Vì vậy, dĩ nhiên hạng mục mới triệt phá hạng mục cũ. Nhưng đối với những tên hải tặc, những kẻ mộng mơ, và những người đổi mới thông minh nhất hành tinh, triệt phá không hề là mục đích. Sáng tạo mới là mục đích. Elvis Presley không định “triệt phá” nhạc jazz. Ông sáng tạo rock and roll – một sản phẩm đến từ tâm hồn ông. Nhạc rock thì khác biệt – chứ không hay hơn – nhạc jazz. Nhưng dần dần, khi khán giả trẻ đi theo rock, họ bỏ rơi dàn nhạc jazz và ca sĩ nhạc tỉnh lẻ phía sau. Sản phẩm phụ trong sáng tạo của Elvis chính là sự triệt phá.

Đôi khi, sự bùng phát các hạng mục mới không triệt phá cái gì cả. Airbnb sáng tạo hạng mục mới về chỗ trọ theo yêu cầu, nhưng khi chúng tôi đang viết sách này, chưa có ai – đặc biệt là cả đồng sáng lập kiêm CEO Brian Chesky – tiên đoán rằng hạng mục mới sẽ dẫn đến sự sụp đổ của ngành khách sạn.

Chúng tôi dùng thuật ngữ vua hạng mục để chỉ một công ty sáng tạo phát triển, và thống trị một hạng mục mới. Cần chú ý, vua hạng mục không nhất thiết phải là công ty đầu tiên ấp ủ ý tưởng hoặc có bằng sáng chế. Một sản phẩm xịn đơn lẻ được tung ra vũ trụ này không làm nên vua hạng mục. Vua hạng mục tự chịu trách nhiệm thiết kế một sản phẩm mạnh, một công ty mạnh, và một hạng mục mạnh cùng một lúc. Vua hạng mục sẵn sàng định nghĩa và phát triển hạng mục của mình tự lập mình lên thành công ty thống trị hạng mục đó lâu dài.

Thỉnh thoảng, ngành công nghệ bị kẹt trong các vụ định giá công ty khởi nghiệp ở mức trên trời. Nhưng cũng giống sự triệt phá, mức định giá này là kết quả đầu ra, chứ không phải chiến lược. Định giá tỉ đô một công ty không phải là vua hạng mục thì nhiều khả năng là ảo. Định giá tỉ đô đối với một vị vua hạng mục đang sáng tạo, phát triển và thống trị một hạng mục mới thì thường là giá hời, bất kể nền kinh tế tốt hay xấu.

Vua hạng mục là những công ty bùng nổ và lâu bền, tạo ra lượng giá trị khổng lồ theo thời gian – Amazon.com, Salesforce.com, Facebook, Google. Họ thực hiện điều đó bằng cách mở ra một hạng mục có tiềm năng to lớn – chúng tôi dùng thuật ngữ tiềm năng hạng mục (category potential) – và họ tự đưa mình lên nắm hầu hết hoạt động của toàn hạng mục. Các vua hạng mục, theo dữ liệu, thường ngốn hết 70% đến 80% lợi nhuận và giá trị thị trường của hạng mục. Theo phân tích khoa học dữ liệu của chúng tôi về các start-up được quỹ đầu tư mạo hiểm Mỹ chống lưng thành lập từ 2000 đến 2015, các vua hạng mục chiếm 76% tổng vốn hóa thị trường trong hạng mục của họ. Một số vua hạng mục trở thành những thương hiệu nổi tiếng nhất vì họ đã trở thành biểu tượng của toàn hạng mục – Xerox, Google, IKEA. Vua hạng mục – nói theo nghĩa đen – sở hữu vấn đề họ đang giải quyết. Và vì lý do đó, hầu như không thể nào đánh bật vua hạng mục ra khỏi ngai vàng hạng mục. Khách hàng đã quá gắn bó với họ rồi. Đó là lý do tại sao Microsoft đã chi tới 10 tỷ USD vào Bing mà vẫn không làm sứt mẻ được thị phần tìm kiếm của Google. Hạ bệ một vị vua hạng mục đang mạnh hầu như là nhiệm vụ bất khả thi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Al Ramadan, Dave Peterson, Christopher Lochheed, Kevin Maney – Chơi lớn – NXB ĐHKT TPHCM – 2018.

Thiết kế là gì? – Phần cuối


Chúng ta còn có thể kể thêm những hoạt động có gắn kèm từ “thiết kế” vào tên gọi để gợi ấn tượng về tính chuyên nghiệp, ví dụ như: thiết kế tóc, thiết kế móng, thiết kế hoa tươi, và thậm chí thiết kế đám tang. Tại sao người ta không nói là Kỹ thuật hoa tươi hay Kiến trúc đám tang? Sở dĩ họ có thể sử dụng hai chữ “thiết kế” một cách tùy hứng như vậy một phần là vì công việc “thiết kế” chưa bao giờ cố kết lại thành một chuyên môn nghề nghiệp thống nhất, kiểu như ngành luật, y học, kiến trúc chẳng hạn; đó là những ngành yêu cầu có giấy phép hoặc một chứng nhận tương tự để hành nghề, có những tiêu chuẩn do các cơ quan độc lập đưa ra và bảo vệ, và việc dùng ký hiệu chuyên môn trong những ngành đó chỉ dành cho những ai đã được cấp phép thông qua những quy trình có kiểm soát. Thay vào đó, “thiết kế” đã và đang phân nhánh thành các lĩnh vực hoạt động riêng rẽ mà không có bất cứ sự tổ chức hay khái niệm bao trùm nào để quản lý. Do vậy, bất kỳ ai cũng có thể lấy hai chữ đó làm của riêng.

Trong sự hỗn độn như thế của hoạt động thiết kế, để tìm kiếm ra được các đặc điểm khái quát ta có thể đi theo hai hướng: một là, xác định những đặc điểm hoạt động chung nhất làm nền tảng cho sự phát triển mở rộng, từ đó có thể hiểu hơn về cấu trúc và ý nghĩa của các vấn đề; hai là, lần theo những đặc điểm hoạt động này trong suốt chiều dài lịch sử để hiểu được vì sao và bằng cách nào mà lĩnh vực thiết kế lại trở nên đa dạng và rối rắm như ngày nay.

Để xử lý vấn đề theo hướng đi đầu tiên: trước hết ta có thể thử định nghĩa thiết kế là gì; xét theo bản chất cốt lõi của nó, thiết kế chính là khả năng của con người trong việc định hình và kiến tạo nên môi trường xung quanh mình bằng những cách thức chưa từng có trong giới tự nhiên, nhằm phục vụ nhu cầu của chính con người và làm cho cuộc sống có ý nghĩa.

Để hiểu rõ hơn về khả năng đó của con người chúng ta có thể thử quan sát môi trường xung quanh mình khi đang đọc những dòng này – đại loại như bạn đang đọc cuốn sách này trong một hiệu sách, ở nhà, trong thư viện, tại văn phòng, hay trên xe lửa. Nhiều khả năng là hầu như không có thứ gì trong cái môi trường đó là hoàn toàn tự nhiên – ngay cả cây cối cũng là do bàn tay con người tạo hình, sắp đặt và hơn thế nữa, đến cả từng giống cây trồng cũng có thể đã khác đi nhiều so với giống tự nhiên ban đầu. Như vậy, khả năng con người định hình và kiến tạo thế giới xung quanh giờ đây đã đạt đến mức độ là hầu như không còn bộ phận nào của hành tinh chúng ta giữ được tình trạng nguyên thủy, và khi đi vào từng chi tiết, ta thấy cuộc sống hoàn toàn chịu ảnh hưởng của những tác động do thiết kế mà thành, theo kiểu này hay kiểu khác.

Cần nhấn mạnh lại rằng hình thức hay cấu trúc của thế giới chúng ta cư ngụ ngày nay phần lớn là kết quả đến từ bàn tay thiết kế của con người. Chúng không phải là những khả năng duy nhất hoặc những điều không thay đổi được mà hoàn toàn được khơi mở để mọi người kiểm nghiệm và thảo luận. Dù được thi công tốt hay không tốt, chịu ảnh hưởng đáng kể từ bối cảnh và tình huống khách quan (và dù dựa trên nền tảng đánh giá nào đi nữa), các mẫu thiết kế là do chính con người lựa chọn và quyết định. Yếu tố con người vì thế luôn hiện diện ở từng quyết định đưa ra trong suốt quy trình thiết kế bên cạnh các điều kiện về công nghệ, cấu trúc xã hội, hay các hệ thống kinh tế.

Đã có lựa chọn thì sẽ có trách nhiệm đi kèm. “Lựa chọn” ở đây ý muốn nói đến những giải pháp khác nhau để làm sao đạt được mục tiêu, tức là phục vụ những mục đích gì và vì lợi ích của ai. Điều này có nghĩa là công việc thiết kế không chỉ bao hàm những quyết định hay quan niệm khởi đầu của nhà thiết kế mà nó còn bao hàm luôn cả cách thức triển khai cũng như cách thức đánh giá hiệu quả, lợi ích của những quyết định và quan niệm đó.

Nói tóm lại, khả năng thiết kế biểu hiện trong vô số thứ khác nhau trong cuộc tồn sinh của loài người chúng ta. Không có loài vật nào khác trên hành tinh có cùng một khả năng như thế. Nó cho phép chúng ta xây dựng nên môi trường sống của mình bằng những cách thức duy nhất, mà nếu không có khả năng thiết kế đó chúng ta không thể nhận biết đâu là khác biệt giữa nền văn minh con người và giới tự nhiên. Thiết kế quan trọng bởi vì cùng với ngôn ngữ nó là một đặc trưng có tính quyết định trong vấn đề “thế nào là con người”, và do đó mà vị trí của công việc thiết kế không còn tầm thường chút nào.

Dĩ nhiên khả năng thiết kế của con người thể hiện ra thành rất nhiều kiểu loại đa dạng, một số trong đó đã trở thành những ngành nghề chuyên môn chính thống, ví dụ như ngành kiến trúc, mỹ thuật dân dụng, kiến trúc cảnh quan, và thiết kế thời trang. Để có thể tập trung vào một số vấn đề nhất định, nội dung cuốn sách nhỏ này chủ yếu nhấn mạnh đến các đối tượng có cấu trúc không gian hai chiều, ba chiều trong đời sống thường nhật – nói cách khác, đó là các đồ vật, các phương tiện truyền thông, các môi trường, và các hệ thống bao quanh con người ở nhà, ở nơi làm việc, trên đường phố, nơi công cộng, khi con người giải trí, cầu nguyện hay đi du lịch. Ngay cả khi đã xác định trọng tâm như vậy thì phạm vi các vấn đề được nói đến trong sách vẫn còn rất lớn, do đó, chúng ta sẽ chỉ xem xét một nhóm các ví dụ có hạn nào đó chứ không cố gắng bao quát một cách khiên cưỡng tất cả mọi vấn đề.

Nếu khả năng thiết kế của con người thể hiện ra thành nhiều kiểu như vậy, làm sao chúng ta hiểu được sự đa dạng đó? Câu hỏi này đưa chúng ta quay lại hướng đi thứ hai đã nói ở trên: tìm về lịch sử phát triển của thiết kế. Đôi khi trong những câu chuyện về lịch sử nghệ thuật người ta có nhắc đến công việc thiết kế, khi đó nó ở trong một chuỗi các phong trào và phong cách nghệ thuật được xếp theo thứ tự thời gian gọn ghẽ, cho thấy những hình thức biểu hiện mới ra đời là để thay thế cho cái đi trước. Tuy vậy, chúng ta có thể miêu tả lịch sử thiết kế một cách phù hợp hơn bằng cách xem đó như là một quá trình “xếp lớp”, tức là qua thời gian những cái mới ra đời là để bổ sung vào cái đã có trước đó. Một quá trình xếp lớp dần như vậy không chỉ đơn thuần là một sự tích tụ hay tập hợp mà còn là một quá trình tương tác sôi động khi mà từng nấc thang phát triển mới lại làm thay đổi vai trò, tầm quan trọng và chức năng của cái đang tồn tại. Lấy ví dụ, có vô số những ngành nghề thủ công trên toàn thế giới đã đồng loạt bị các loại hàng hóa sản xuất công nghiệp chiếm chỗ đứng trung tâm trong nền kinh tế và văn hóa, nhưng thay vào đó các ngành nghề thủ công cũng đã tìm thấy những vai trò mới cho mình, như là vai trò cung cấp hàng hóa cho ngành du lịch hay cung ứng cho một phân khúc cụ thể trên thị trường toàn cầu là ngành Thủ công Mỹ nghệ. Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực công nghệ thông tin và máy tính giúp tạo ra những tiềm năng phát triển mới đầy hấp dẫn cho công việc thiết kế tương tác, mặt khác nó còn làm thay đổi các quan niệm, cách thức con người làm ra sản phẩm và dịch vụ, và thay đổi theo hướng bổ sung, cải tiến chứ không phải là thay thế cho cái cũ.

Chúng ta cũng sẽ không tìm thấy một quá trình phát triển nào có đặc điểm giống nhau ở tất cả mọi nơi. Quá trình thay đổi xảy ra ở các xã hội khác nhau thì khác nhau và ngay cả những hệ quả theo sau sự thay đổi cũng khác biệt đáng kể theo từng nơi. Tuy nhiên, cho dù những khác biệt chi tiết là gì đi nữa thì nhìn chung, những cái tồn tại trước một khi đã thay đổi và đi tới thì vẫn hay tuân theo một cách thức, đặc điểm phổ biến nào đó. Chính điều phổ biến đó sẽ giúp chúng ta giải thích được phần lớn cái kết cấu dày đặc và phức tạp của lĩnh vực thiết kế cùng những hình thức hoạt động đa dạng của nó trong thời điểm hiện nay. Bên cạnh những nghề thủ công và hình thức cổ xưa đã sống sót và thích nghi được là những khả năng và ứng dụng mới không ngừng được thêm vào, thế nên việc tìm hiểu về thiết kế có thể rắc rối chủ yếu là do kiểu tiến triển như vậy của lịch sử. Tuy nhiên, giả sử chúng ta tìm được một khung tiêu chuẩn nào đó giúp nắm bắt và hiểu được sự đa dạng, thì những điều rắc rối gây khó hiểu bấy giờ có thể trở thành một nguồn thông tin tham khảo dồi dào và linh động. Chính vì vậy việc tóm tắt ngắn gọn quá trình phát triển trong lịch sử của thiết kế – một công việc và hoạt động nhằm kiến tạo ra những hình dạng – là cần thiết.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: John Heskett – Thiết kế – NXB TT 2011.

Sự sáng tạo thắng thế – Phần I


Các câu hỏi huyền thoại

Facebook, Google, Salesforce.com, Uber, Vmware, Netflix, IKEA, Birds Eye, 5-hour Energy, và Pixar có những điểm chung gì?

Apple giống công ty thủy tinh Corning 165 tuổi ở mặt nào?

Microsoft đã phạm phải – và lặp đi lặp lại nhiều lần – cái sai lầm muôn thuở nào khi họ lãng phí hàng tỉ USD cho Zune, Windows Mobile, Bing, và Microsoft Stores?

Tại sao một số start-up trụ được và xây dựng giá trị, còn số khác thì phóng một phát lên mây rồi mất lửa?

Tại sao Elvis không chỉ là Vua, mà còn là vua hạng mục?

Và tất cả chuyện này dạy ta điều gì về sự thành công lâu dài trong nền kinh tế Thế kỷ XXI  cả trong thời kỳ hưng thịnh lẫn thời kỳ suy thoái?

Chìa khóa cho mỗi câu hỏi liên quan đến việc sáng tạo, phát triển, và thống trị các hạng mục sản phẩm và dịch vụ mới.

Xem tiếp nhé, chúng tôi sẽ nói cho bạn biết cách làm.

Những câu chuyện thật về các vị vua và các vương quốc

Vua hạng mục có khắp nơi quanh ta. Họ tạo ra các hạng mục kinh doanh hoàn toàn mới, hoặc những cách làm hoàn toàn mới. Với quyển sách này, chúng tôi nghiên cứu các vua hạng mục, phân tích dữ liệu về họ, và phỏng vấn nhiều nhà sáng lập. Đây là các công ty định hình cuộc sống chúng ta và thay đổi tương lai. Chúng tôi thích nói kiểu này: Họ chơi lớn hơn các công ty khác.

Vua hạng mục không phải là hiện tượng mới gần đây. Trước thập niên 1920, không hề tồn tại hạng mục sản phẩm gọi là “thực phẩm đông lạnh”. Clarence Birdseye – đúng, tên ông ấy đúng y vậy đó – đã tạo ra nó. Cũng như nhiều nhà sáng tạo hạng mục qua các thời đại, Birdseye là dân ngoại đạo. Sinh tại Brooklyn, New York, năm 1886, ông bỏ khá nhiều thời gian ở trang trại gia đình mình ở Long Island và ngày càng đam mê trò làm thú nhồi bông (hẳn không phải là trò tụi nhóc bây giờ mê rồi). Trò đó khiến ông sau này trở thành một nhà nghiên cứu tự nhiên cho chính phủ Mỹ, cuối cùng nó đưa ông đến Labrador, vùng Đông Bắc Canada xa xôi. Birdseye quan sát người Inuit bắt cá và ném lên băng, cá đông lạnh tức thì, giữ được hương vị và vẫn tươi ngon. Khi Birdseye trở lại Mỹ, ông thử nghiệm làm đông lạnh cá trong các cây nước đá khô, và rồi nhận ra tiến trình đó cũng hiệu quả với rau củ. Ông bắt đầu lập công ty – lúc đầu gọi là General Seafoods – để sản xấut và bán hạng mục sản phẩm mới này.

Khi xây dựng công ty, Birdseye nhận ra rằng mình phải thiết kế và xây dựng cả hạng mục, bởi vì trước khi Birdseye ra đời, không có hệ sinh thái nào đưa thực phẩm đông lạnh từ nhà máy đến cho người tiêu dùng cả. Người tiêu dùng không có nhu cầu thực phẩm đông lạnh, thậm chí không biết họ cần có nó. Ông phát triển các toa tàu ướp lạnh, và mang ý tưởng này đi thuyết phục các công ty đường sắt. Ông phát triển thùng ướp lạnh cho người bán tạp hóa và thuyết phục họ rằng thực phẩm đông lạnh sẽ làm tăng doanh thu. Thậm chí ông còn thuyết phục DuPont sáng chế giấy bóng kính cellophane. Và ông chạy quảng cáo định vị rau củ đông lạnh là thứ khác biệt với rau củ đóng hộp. Một quảng cao ban đầu trên tạp chí Life – lúc bấy giờ lấy thương hiệu Birds Eye – in hình một phụ nữ mang chuỗi ngọc trai nằm trên gối ăn cải bó xôi Birds Eye, hàm ý rằng chỉ thường mới phải ăn cải đóng hộp. Dự án của Birdseye mất vài thập niên mới thực sự thu lợi, nhưng xây dựng và thống trị các hạng mục cần thời gian – và hồi đó tốn nhiều thời gian hơn bây giờ. Dĩ nhiên, gần một thế kỷ sau, Birds Eyes vẫn là thương hiệu lớn trong ngành thực phẩm đông lạnh.

Clarence Birdseye có nhiều điểm chung với các nhà sáng lập Uber hơn ta nghĩ.

Uber là vua hạng mục thời kỳ gần đây. Cách đây không lâu lắm, chúng ta phải sống chung với một vấn đề lâu đời: Ở hầu hết các thành phố, dịch vụ taxi rất cùi bắp. Nếu đi bộ ra góc đường nào đó, ta không biết rằng liệu sẽ có taxi đến trong vài phút tới hay là… chờ tới già. Tuy nhiên, có vẻ như không có cách nào khác để có xe đi ngay, vì vậy người ta không tìm cách. Chúng ta có một vấn đề cũ cứ tái diễn, nhưng thực sự không biết đó là vấn đề có thể giải quyết được theo cách mới.

Vào một đêm năm 2008, Paris tuyết rơi đầy. Có mặt tại thành phố dự một hội nghĩ kỹ thuật châu Âu, Travis Kalanick và Garrett Camp đứng bên vệ đường toàn thân ướt lạnh, cố đón taxi trong vô vọng. Kalanick và Camp, người nào cũng là doanh nhân khởi nghiệp khá thành công trong ngành công nghệ. Kalanick đã sáng lập công ty chuyển giao nội dung trực tuyến Red Swoosh, sau đó đã được Akamai Technologies mua lại với giá 20 triệu USD. Camp dữ hơn nữa, sáng lập StumbleUpon – một trang khám phá nội dung – và bán cho eBay với giá 75 triệu USD. Họ đang tìm ý tưởng mới để thành lập công ty – có lẽ cái gì đó có thể làm chung. Trong khi đang lạnh cóng và rất chán ngán ở Paris, họ nói đến việc giải quyết vấn đề taxi. iPhone của Apple được giới thiệu trước đó chưa tới một năm, thay đổi cách chúng ta suy nghĩ về công nghệ và các dịch vụ di động. Kalanick và Camp tự hỏi, tại soa mình không rút smartphone ra, nhấn nút, và có xe đến đón chứ nhỉ?

Trở về San Francisco, hai anh chàng lại phải trải nghiệm vấn đề này một lần nữa. Đón taxi trong thành phố ấy chẳng khác gì cố vẫy gọi anh phục vụ trong một hộp đêm chật cứng. Vì vậy, Kalanick và Camp thực thi ý tưởng, và tung ra dịch vụ của họ vào mùa hè năm 2010 tại San Francisco. Như hàng triệu người dùng bây giờ đều biết, một ứng dụng iPhone của khách hàng ra đời, chỉ cần nhấn một phát sẽ gửi một thông báo cho cánh tài xế, hiện ra địa điểm của khách hàng. Tài xế – không phải tài xế taxi, mà là người làm thêm ngoài giờ và lái xe của chính họ – cũng có phiên bản ứng dụng trong điện thoại của mình, cho phép họ xem thông báo và phản hồi. Hệ thống sẽ lưu thông tin thẻ tín dụng của khách hàng, để việc trả tiền xe được dễ dàng và an toàn cho tất cả mọi người liên quan đến quy trình này. Kalanick và Camp ban đầu gọi dịch vụ này là UberCab, rồi sau đó bỏ chữ Cab đi

Nửa năm sau, các nhà đầu tư xếp hàng để được rót tiền vào Uber. Benchmark Capital bỏ vào 10 triệu USD. Một số tên tuỏi nổi tiếng như Jay-Z và Jeff Bezos cũng đã đầu tư. Uber bành trướng sang các trướng sang các thành phố khác. Khi tăng trưởng, Uber đồng thời làm một việc cực kỳ quan trọng: Uber khiến tất cả chúng ta ý thức rằng chúng ta gặp vấn đề về taxi – và vấn đề đó có cách giải quyết mới. Uber làm việc này thông qua cách họ thiết kế công ty và dịch vụ. Họ làm việc này thông qua việc gửi thông điệp cho công chúng. Và họ làm việc này thông qua đối đầu. Mỗi lần ngành taxi cố gắng chặn Uber lại, cuộc tranh giành đó lại làm cho mọi người biết về Uber nhiều hơn. Tại London, cánh tài xế taxi phản đối Uber bằng cách đình công. Khi khách hàng không đón được taxi, họ đăng ký Uber với tỉ lệ cao gấp 8 lần trước khi xảy ra vụ đình công. Khi Uber phát triển dịch vụ và công ty, họ đồng thời cũng định nghĩa nhóm vấn đề mới và nạp nó vào trí não chúng ta.

Trong vòng vài năm, Kalanick, bấy giờ là CEO và là gương mặt đại diện trước công chúng của Uber, hiểu rằng anh có thể xác định một vấn đề còn lớn hơn mà Uber có khả năng giải quyết. Tất cả các loại hình giao thông cá nhân đều quá đắt tiền và hỗn độn, đặc biệt ở các thành phố lớn. Còn nữa, quá nhiều xe cộ sẽ dẫn đến ùn tắc và ô nhiễm. Đó là những vấn đề lớn chưa có giải pháp tốt. Nhưng, Kalanick hỏi tất cả chúng ta, nếu ít xe hơn mà phục vụ được nhiều người hơn thì sao? Sẽ thế nào nếu dịch vụ của anh có thể bành trướng lớn hơn, đáng tin cậy, và rẻ đến mức dùng Uber còn lợi hơn sở hữu một chiếc xe Anh muốn làm cho “việc vận chuyển chất lượng và ổn định như nước máy vậy”, anh nói với phóng viên như thế. Nhân tiện nói luôn, dịch vụ vận chuyển đó không chỉ chở người quanh thành phố – họ chở bất cứ thứ gì. Họ có thể giao hàng. Uber đã thiết kế dịch vụ và công ty, đồng thời thiết kế một hạng mục lớn hơn mà công ty có thể định nghĩa và cuối cùng là thống trị.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Al Ramadan, Dave Peterson, Christopher Lochheed, Kevin Maney – Chơi lớn – NXB ĐHKT TPHCM – 2018.

Thiết kế là gì? – Phần đầu


Một trong những điểm kỳ cục nhất của thế giới hiện đại đó là người ta đã  biến công việc thiết kế thành một thứ gì đó thật vô vị và nhỏ nhặt. Tôi muốn khẳng định một điều ngược lại: Nếu công việc thiết kế được nhìn nhận một cách nghiêm túc và ứng dụng một cách có trách nhiệm thì nó phải được giữ vai trò như một bệ đỡ vững chắc cho tổng thể môi trường sống của con người, gồm cả những tiểu tiết trong đó, để đem lại lợi ích và niềm vui cho mọi người.

Thế nhưng nếu ta nhìn nhận về thiết kế theo kiểu nghiêm túc như vậy thì nó lại ngược với cách mà các phương tiện truyền thông đại chúng thường hay quảng bá về công việc này, khi đó thiết kế thường đóng một vai trò nhẹ nhàng, có tính trang trí thì nhiều mà mang lại kết quả thì ít: thiết kế có thể có tính vui vẻ và giải trí; có thể hữu ích theo kiểu không đáng kể; tạo lợi nhuận trong các lĩnh vực vốn hay thay đổi theo chu kỳ của thời trang và các nhu cầu xa xỉ; nhưng thiết kế vẫn chẳng đóng vai trò cốt lõi thực sự nào trong những vấn đề cơ bản của đời sống.

Bên cạnh việc thiếu vắng một sự đồng thuận rộng rãi về tầm quan trọng và giá trị của công việc thiết kế, chúng ta còn bắt gặp những điều khúc mắc xoay quanh hoạt động thiết kế trong thực tế. Ở một số lĩnh vực khác, các tác giả còn có thể tìm lấy những điểm tương đồng với độc giả của mình. Ví dụ: khi một tác giả viết phần dẫn nhập về lĩnh vực kiến trúc hay lịch sử, cho dù mức độ hiểu biết cụ thể của từng độc giả về chủ đề có thể rất khác nhau thì tác giả vẫn có thể chọn ra cho mình một khái niệm rõ ràng và hợp lý nào đấy để giới thiệu về chủ đề. Còn với những lĩnh vực như vật lý hạt nhân chẳng hạn, nó có thể khó hiểu đến mức chẳng có những hiểu biết chung như vậy tồn tại và do đó, tác giả cần có những bước tiếp cận đi từ các nguyên lý cơ bản nhất của ngành.

Lĩnh vực thiết kế lại nằm lơ lửng ở giữa hai thái cực. Nếu xét “thiết kế” như một từ ngữ đơn thuần, thì nó là một từ khá thông dụng, nhưng phân tích kỹ ra thì từ này có đầy những cái kỳ quặc, có vô số kiểu biểu hiện và rất khó để ta phân định rõ ràng và định nghĩa được nó. Còn nếu xem thiết kế như là một nghề, khi đó thiết kế là một hoạt động làm ra rất nhiều thứ phương tiện và đồ vật các loại, phần lớn trong số đó tồn tại ngắn ngủi, chỉ một số nhỏ là có tính bền lâu.

Rõ ràng là có nhiều người biết chút ít về thiết kế hoặc quan tâm đến nó, nhưng để hiểu chính xác thuật ngữ “thiết kế” là gì thì hầu như không có một sự đồng thuận nào. Những minh chứng tham khảo dễ thấy nhất nằm ở các lĩnh vực như thời trang, đồ nội thất, đóng gói bao bì, hay ô tô; trong đó những quan niệm về hình thức và kiểu dáng chỉ mang tính nhất thời và thay đổi thường xuyên tùy thuộc vào yếu tố thị hiếu cá nhân vốn không theo tiêu chuẩn cố định nào. Vấn đề này quả thực là một phần đặc trưng đáng kể của hoạt động thiết kế đương đại, là chủ đề của nhiều bài bình luận và cũng chiếm phần lớn trong chi tiêu cho hoạt động quảng cáo. Ngoài ra, những vấn đề hay được nhắc đến nữa thường liên quan đến khía cạnh kỹ thuật hoặc các nghề thủ công. Mặt khác, ở đây ta cũng không nên lẫn lộn giữa cái bộ phận với cái toàn bộ, vì cho dù vấn đề liên quan đến thiết kế kể trên đều quan trọng thì chúng vẫn là những bộ phận nằm trong một tổng thể rộng lớn và khó thấy hơn.

Vậy làm thế nào để hiểu về thiết kế một cách sâu sắc và toàn diện nhất? Nếu ta có thể bỏ qua sự phù phiếm bề nổi đến từ các hoạt động tiếp thị và quảng cáo, không tính đến nghề làm pháo hoa đầy màu sắc của những nhà thiết kế bậc thầy muốn được nổi tiếng, và nếu ta bỏ ngoài tai những lời tuyên bố về phong cách sống này nọ của các chuyên viên thiết kế hay người bán hàng, ta sẽ thấy một sự thật đơn giản thế này: Thiết kế là một công việc đặc trưng cơ bản giúp làm rõ câu hỏi: “làm con người là làm gì”, và thiết kế là một trong những yếu tố quyết định cho chất lượng cuộc sống loài người. Thiết kế ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong từng chi tiết, từng khía cạnh công việc họ vẫn hay làm mỗi ngày. Và như vậy, nó quan trọng một cách sâu sắc. Hầu như không có một bộ phận nào của môi trường vật chất lại không được cải thiện đáng kể mộ tkhi con người ta đã đầu tư nhiều hơn cho thiết kế của các bộ phận đó. Tình trạng chiếu sáng không đầy đủ, máy móc khó sử dụng, trình bày thông tin không hợp lý, bấy nhiêu chỉ là một số ít ví dụ về việc những thiết kế không tốt có thể tạo ra những khó khăn và rắc rối chồng chất. Từ đây rất đáng đặt ra câu hỏi: nếu những điều như vậy là một phần thiết thực trong đời sống của chúng ta, tại sao chúng ta thường làm ra chúng theo một cách tệ hại? Không có một câu trả lời đơn giản ở đây. Đôi khi các yếu tố về chi phí được nêu ra đầu tiên để bào chữa, nhưng  biên độ giữa việc làm tốt hay không tốt một cái gì có thể cực kỳ nhỏ bé, và yếu tố chi phí thực ra có thể được khắc phục bằng những phương án thiết kế đầu vào “phù hợp”. Bởi lẽ công việc thiết kế liên quan đến khả năng tạo ra nhiều thứ thuộc nhiều loại khác nhau, nên dùng từ “phù hợp” như thế để nhấn mạnh rằng những phương tiện cụ thể cần phải làm sao đáp ứng được mục đích tương ứng cuối cùng. Đi tìm giải pháp cho một vấn đề của đời sống mà lại bỏ qua các khía cạnh về công dụng trên thực tế thì có thể gây thảm họa, giả dụ trường hợp chúng ta thiết kế ra một thiết bị y tế mà như một thứ ô tô thời trang hòng đáp ứng cho nhu cầu phô diễn hình ảnh cá nhân.

Tác giả viết về thiết kế được dựa trên một niềm tin rằng công việc thiết kế quan trọng một cách sâu sắc đối với tất cả chúng ta theo vô số cách khác nhau và nó biểu trưng cho một lĩnh vực có tiềm năng to lớn, chưa được khai thác hết trong cuộc sống. Cuốn sách này sẽ đi vào khám phá một số nguyên do của vấn đề trên và đề xuất một số khả năng thay đổi. Dự định của tác giả không nhằm phủ nhận bất cứ khía cạnh nào trong phạm vi hoạt động mà thuật ngữ “thiết kế” gợi mở, mà nhằm mở rộng các cách hiểu về thuật ngữ; kiểm nghiệm về rộng của hoạt động thiết kế khác nhau. Tuy nhiên, để thực hiện được dự định đó, một số vấn đề cần được làm rõ từ đầu để loại trừ những điều dễ gây nhầm lẫn xung quanh đề tài.

Việc thảo luận về thiết kế gặp rắc rối ngay từ đầu bởi một vấn đề nằm ngay trong chính từ “thiết kế”. Từ “thiết kế” có quá nhiều tầng ý nghĩa khiến cho tự thân nó đã là một điều dễ gây nhầm lẫn. Nó hơi giống từ “tình yêu”, nghĩa của từ này cũng thay đổi hoàn toàn tùy thuộc vào việc ai đang dùng nó, dùng nó với đối tượng nào, và dùng trong bối cảnh ra sao. Hãy xem xét một ví dụ để thấy sự biến đổi ý nghĩa của từ “thiết kế” trong tiếng Anh với một câu minh họa có vẻ ngớ ngẩn sau đây:

“Design is to design a design to produce a design”

(Thiết kế là thiết kế một thiết kế để sản xuất ra được một thiết kế).

Tuy nhiên từng cách sử dụng từ “thiết kế” trong câu trên đều đúng ngữ pháp tiếng Anh. Cách dùng đầu tiên là dùng từ “thiết kế” như một danh từ chỉ một khái niệm tổng quát về một lĩnh vực chung nhất, giống như nói: “Ngành thiết kế có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế của đất nước”. Cách dùng thứ hai là dùng một động từ, chỉ một hành động hay quá trình: “Cô ấy được giao nhiệm vụ thiết kế ra một cái máy xay sinh tố”. Từ “thiết kế” thứ ba trong câu là một danh từ, có nghĩa như một ý tưởng hay một kế hoạch: “Bản thiết kế đã được giao cho khách hàng xem xét”. Và cách dùng từ “thiết kế” lần cuối trong câu cũng như một danh từ, với ý chỉ một sản phẩm hoàn thiện nào đó, ý tưởng và kế hoạch thiết kế giờ đây đã thành hiện thực: “Chiếc Con bọ mới của VW đã làm sống lại một thiết kế kinh điển”.

Hoạt động thiết kế và hệ thống thuật ngữ của nó có phạm vi rất rộng nên cũng dễ gây nhầm lẫn. Hãy thử điểm tên một loạt các hoạt động có thể có bên dưới hai chữ “thiết kế” – những ngành như: Thiết kế thủ công, Mỹ thuật công nghiệp, Mỹ thuật thương mại, Thiết kế kỹ thuật, Thiết kế sản phẩm, Thiết kế đồ họa, Thiết kế thời trang, và Thiết kế tương tác. Trong một loạt bài đăng hằng tuần có tựa đề “Nhà thiết kế Ireland” nằm trong chuyên mục Văn hóa Ireland, tờ The Sunday Times ở London đã phân tích một cách ngắn gọn và chất lượng từng lĩnh vực thiết kế cụ thể. Trong vòng 6 tuần lễ, từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2000, các chủ đề lần lượt là: phù hiệu của Farda Siochanna, lực lượng cảnh sát nước Cộng hòa Ireland; Louise Kennedy, một nhà thiết kế thời trang; bếp lò hiệu The Party Grill để nấu ăn ngoài trời; bao bì của Carrolls Number One, một nhãn hàng thuốc lá; bộ đồ ăn nhãn hiệu Costelloe; và hệ thống nhận diện thương hiệu của Ryan Air, một hãng hàng không giá rẻ. Phạm vi các đề tài được nhắc đến trong cả loạt bài ở trên thậm chí còn gây khó hiểu hơn vì chúng quá đa dạng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: John Heskett – Thiết kế – NXB TT 2011.

Trở thành – Phần cuối


Chúng ta đã không nhận ra thế giới trực tuyến mới mẻ này sẽ được phân bổ và kiểm soát bởi người dùng, chứ không phải là những thể chế lớn. Toàn bộ nội dung của Facebook, YouTube, Instagram và Twitter không được tạo ra bởi các nhân viên của nó mà được xây dựng bởi người dùng. Sự nổi lên của Amazon gây bất ngờ không phải vì nó trở thành “cửa hàng bán mọi thứ” (điều cũng khó hình dung ra) mà bởi các khách hàng của Amazon (chính là bạn và tôi) đã viết những bình luận giúp cho những hàng hóa nhỏ lẻ vẫn có thể bán và thu về lợi nhuận. Ngày nay, hầu hết các nhà sản xuất phần mềm đều chỉ có một số ít các bàn tư vấn, vì chính các khách hàng đã nhiệt tình tư vấn và giúp đỡ những người dùng khác trên diễn đàn hỗ trợ của trang web công ty, họ trở thành đội ngũ hỗ trợ khách hàng chất lượng cao. Nhờ có một số lượng lớn người dùng, Google đã biến các lượng truy cấp và các mẫu liên kết tạo ra bởi 90 tỷ lượt người tìm kiếm mỗi tháng thành những tri thức có tổ chức cho một nền kinh tế mới. Sự đảo lộn từ dưới lên trên này không nằm trong tầm nhìn 20 năm của bất kỳ ai trước đây.

Không có một hiện tượng web nào đáng ngạc nhiên hơn sức hút bất tận của những video trên Youtube và Facebook. Mọi thứ các chuyên gia truyền thông biết về khán giả (và họ biết khá nhiều) đều củng cố niềm tin rằng khán giả sẽ không bao giờ nhấc mông lên và tự mình sản xuất các chương trình giải trí. Khán giả là những người xem bị động, giống những gì những lãnh đạo của ABC từng đánh giá. Ai cũng biết rằng việc đọc và viết chẳng ăn thua, còn âm nhạc lại quá khó để sáng tạo ra trong khi bạn có thể chỉ cần ngồi xuống và nghe những sản phẩm của người khác, sản xuất video thì quá khả năng của những kẻ nghiệp dư cả về chi phí lẫn trình độ. Những sản phẩm được tạo ra bởi chính người dùng sẽ không bao giờ xảy ra ở quy mô lớn, mà nếu có xảy ra thì chúng cũng không thể lôi kéo được khán giả, và như thế thì chúng không đáng để bàn đến. Nhưng ngạc nhiên thay, đến đầu những năm 2000, đã có đến hơn 50 triệu blog tạo ra bởi người dùng, tức là cứ một giây lại có thêm hai blog mới. Và chỉ vài năm sau đó, năm 2015, chúng ta đã chứng kiến sự bùng nổ của các video do người dùng sản xuất, với 65.000 video được đăng tải mỗi ngày trên Youtube, tức là mỗi phút lại có 300 video mới. Trong những năm gần đây, những cảnh báo, mẹo vặt hay tin tức cũng ngập tràn trên mạng. Mỗi người dùng đều làm những việc mà ta vốn kỳ vọng chỉ có ABC, AOL, USA Today mới làm, và chính các đài này cũng nghĩ như thế. Nhưng những kênh được tạo ra bởi người dùng này không hề có giá trị kinh tế. Nó miễn phí. Vậy thì thời gian, công sức và nguồn lực đến từ đâu?

Từ khán giả.

Sự tham gia và quan tâm của khán giả thúc đẩy nhữung người dân bình thường đầu tư thời gian và năng lượng để làm những bách khoa thư, những bài hướng dẫn miễn phí về thay lốp xe hoặc phân loại các phiếu bầu trong Thượng viện. Ngày càng có nhiều trang web vận hành theo cách này. Một khảo sát mấy năm trước chỉ ra rằng chỉ có 40% các trang web được vận hành vì mục đích thương mại, số còn lại được duy trì bằng trách nhiệm và đam mê.

Khi một công ty mở ra cơ sở dữ liệu và các tính năng cho người dùng và các startup (doanh nghiệp khởi nghiệp) thông qua một giao diện lập trình ứng dụng (API) công cộng như Amazon, Google, eBay, Facebook, nó khuyến khích sự tham gia của người dùng ở những cấp độ mới. Khi người dùng tận dụng được các khả năng này thì họ không chỉ là khách hàng mà còn là nhà phát triển, người bán hàng, người nghiên cứu và quảng bá sản phẩm cho công ty.

Với những cách tham gia mới cho khán giả và người dùng, web đã tham gia vào mọi hoạt động và khu vực trên hành tinh. Trên thực tế, nỗi lo lắng về Internet bị đẩy ra rìa có vẻ đã trở nên thừa thãi. Nỗi lo năm 1990 về việc Internet bị thống trị bởi đàn ông cũng không còn. Năm 2002, lần đầu tiên người dùng Internet nữ giới nhiều hơn nam giới. Ngày nay, 51% công dân mạng là nữ. Và tất nhiên, Internet không bao giờ là lãnh địa riêng của lứa tuổi thiếu niên. Thống kê năm 2014 đã cho thấy độ tuổi trung bình của người dùng mạng là lứa tuổi trung niên – 44 tuổi.

Việc Internet trở thành thứ phổ thông được thể hiện rõ nhất qua việc sử dụng Internet của người Amish. Gần đây, tôi đã đến thăm một vài nông dân Amish và trông họ đúng là những đại diện tiêu biểu cho tộc người này với mũ rơm, râu ria xồm xoàm, và những bà vợ đội mũ trùm đầu kín cả hai tai. Họ không dùng điện, không điện thoại, tivi, đi lại cũng chỉ bằng xe ngựa. Họ có tiếng từ lâu là những người chối bỏ mọi loại công nghệ, nhưng trên thực tế, họ chỉ là những người sử dụng công nghệ muộn màng. Tuy nhiên, tôi vẫn ngạc nhiên khi nghe họ nói về trang web của mình.

“Trang web của người Amish sao?” Tôi hỏi.

“Đúng vậy. Để chúng tôi giới thiệu việc kinh doanh của gia đình, chúng tôi chuyên hàn những vỉ nướng thịt ở cửa hàng của mình”.

“Vâng, nhưng…”

“Ồ, chúng tôi dùng Internet ở thu viện công. Và Yahoo!”

Thế là tôi nhận ra, khi Internet được phổ cập rộng rãi, tất cả chúng ta đều thay đổi.

Trong một cách hiểu nghiêm ngặt về mặt kỹ thuật, web ngày nay có thể được định nghĩa là tổng hòa mọi thứ bạn có thể google (tra cứu), đó chính là mọi tập tin có thể truy cập được thông qua một đường link. Hiện nay, có một phần lớn của thế giới số hóa mà chúng ta không google được. Rất nhiều thứ diễn ra trên Facebook,, ứng dụng di động, trong thế game điện tử, hoặc thậm chí là trong một video mà chúng ta không thể tìm kiếm được. Nhưng trong 30 năm nữa thì có thể. Các đường link sẽ không ngừng mở rộng để kết nối mọi bit. Một con chip nhỏ xíu và gần như được miễn phí được gắn vào các vật dụng có thể kết nối chúng đến web và tích hợp các dữ liệu. Hầu hết đồ dùng trong phòng bạn đều sẽ được kết nối, và bạn có thể google ra đồ vật này khi cần tìm chúng. Hoặc google cả ngôi nhà bạn. Chúng ta đã bắt đầu thực hiện quá trình này. Bây giờ tôi đã có thể điều khiển hệ thống nhiệt độ (điều hòa, sưởi) và bật tắt nhạc bằng di động. Trong ba thập kỷ nữa, cả thế giới sẽ có những thiết bị như tôi đang sở hữu. Và không bất ngờ gì, web sẽ mở rộng đến cả thế giới vật lý chứ không chỉ là thế giới ảo.

Theo thời gian, web sẽ mở rộng. Các trang web ngày nay gần như không có liên hệ gì với quá khứ. Nó có thể cho bạn xem hình ảnh trực tiếp về quảng trường Tahrir ở Ai Cập, nhưng việc xem hình ảnh quảng trường này một năm về trước thì gần như bất khả thi Tương tự, việc xem lại phiên bản trước của một trang web không phải là điều dễ dàng. Nhưng trong 30 năm nữa chúng ta sẽ có một chức năng gọi là “thanh trượt thời gian” (time slider) để có thể xem lại các phiên bản cũ. Giống như thiết bị chỉ đường trên di động trong thành phố được cải tiến để có thể xem lại tình hình giao thông những ngày hôm trước, tuần trước, tháng trước, trang web 2050 sẽ có thể dịch chuyển từ các nội dung ở quá khứ đến hiện tại, và có khi là cả tương lai.

Từ giây phút bạn thức dậy, web đã cố gắng lường trước các ý định của bạn. Bởi lịch trình và thói quen của bạn được ghi lại, web sẽ có thể đi trước mọi hành động của bạn, đưa ra câu trả lời trước cả khi được hỏi. Nó được thiết kế để cung cấp cho bạn những tài liệu bạn cần trước buổi họp, gợi ý cho bạn địa điểm ăn trưa với bạn bè dựa trên điều kiện thời tiết, vị trí hiện tại, những món bạn đã ăn trong tuần này, và những món đã ăn trong lần hẹn trước với người bạn đó, cùng với tất cả những nhân tố mà bạn có thể sẽ cân nhắc đến. Bạn sẽ học cách trao đổi với web. Thay vì xem một loạt ảnh chụp bạn bè trên điện thoại, bạn có thể hỏi chiến điện thoại của mình về một người bạn. Web sẽ dự đoán bức ảnh bạn muốn xem, và tùy vào phản ứng cảu bạn với những bức ảnh ấy mà web sẽ cho bạn xem nhiều ảnh và thông tin hơn từ một người bạn khác. Hoặc nếu cuộc họp của bạn sắp bắt đầu, web sẽ đưa cho bạn hai email mà bạn cần phải đọc. Web sẽ ngày càng giống một sự hiện diện thường trực chứ không còn là một địa điểm (không gian mạng) mà bạn có thể đến (sử dụng) hoặc đi (không sử dụng) như những năm 1980. Sự hiện diện của nó sẽ ở mức thấp và đều đặn như điện trong nhà, ngoài đường, luôn ở xung quanh chúng ta và ẩn trong các đường dây trong tường hoặc dưới đất. Đến năm 2050, chúng ta sẽ coi web là một loại hình giao tiếp hoàn toàn mới.

Những cuộc hội thoại “cao cấp” này sẽ mang đến nhiều khả năng mới. Tuy nhiên, thế giới số hóa đến nay đã quá đồ sộ với nhiều lựa chọn và khả năng. Dường như sẽ không có chỗ cho thứ gì thực sự mới mẻ trong vài năm tới.

Bạn có thể tưởng tượng được những doanh nhân tham vọng hồi năm 1985 đã sung sướng thế nào không? Lúc đó Internet mới còn ở buổi bình minh, và bạn có thể chọn bất cứ cái tên với đuôi .com nào. Tất cả nhữung gì bạn cần là đăng ký một cái tên. Tên miền chỉ có một chữ, rồi những cái tên thông dụng, tất cả đều sẵn có. Thậm chí bạn còn hầu như chẳng mất gì để đăng ký. Cơ hội tuyệt vời này tồn tại trong nhiều năm. Năm 1994, một nhà báo của tờ Wired để ý rằng cái tên mcdonalds.com vẫn chưa được đăng ký, vậy là với sự khích lệ của tôi, anh bạn nhà báo này đã đăng ký cái tên đó. Nhưng anh ấy đã không thành công khi nỗ lực bán lại nó cho McDonald, bởi công ty này bấy giờ chẳng biết gì về Internet” (“cái gì chấm com (.com) cơ?”). Và thế là chúng tôi đã đưa câu chuyện nực cười này lên một bài đăng trên tờ Wired.

Lúc đó, Internet đã thực sự là một chân trời rộng mở. Thật dễ dàng để trở thành người đầu tiên ở mọi hạng mục. Khách hàng còn chẳng ngờ rằng việc gia nhập Internet lại thuận lợi đến thế. Bắt đầu một công cụ tìm kiếm, trở thành người đầu tiên mở cửa hàng trực tuyến, người đầu tiên quay những video nghiệp dư… Khi nhìn lại, dường như làn sóng những người dùng Internet từ đó đến nay đã chiếm lấy mọi phần dễ dàng và để lại những thứ khó nhằn nhất cho những người dùng mới. Sau 30 năm, Internet trở nên bão hòa với các ứng dụng, các công nghệ nền tảng (để dựa vào đó các ứng dụng và chương trình khác vận hành), các thiết bị và quá đủ các nội dung mà chúng ta cần xem trong một triệu năm nữa. Kể cả khi bạn có thể sáng tạo ra một thứ gì mới, thì liệu rằng có ai chú ý đến thứ nhỏ bé ấy giữa vô vàn tài nguyên phong phú của Internet?

Nhưng, hãy nhớ rằng, khi nói về Internet, chưa có gì thực sự bắt đầu. Internet vẫn đang ở bước đầu tiên trong thời kỳ đầu của nó. Nó vẫn đang trong giai đoạn “trở thành”. Nếu chúng ta có thể leo lên một cỗ máy thời gian, bay đến 30 năm sau và nhìn lại về thế giới ngày nay, chúng ta sẽ thấy rằng đa số những sản phẩm tuyệt vời nhất của đời sống năm 2050 còn chưa được phát minh ra sau năm 2016. Loài người trong tương lai sẽ có những không gian ảo ba chiều, những mắt kính áp tròng thực tế ảo, những nhân vật đại diện có thể tải xuống được và những giao diện trí tuệ nhân tạo.  Với công nghệ vượt bậc này, người của năm 2050 sẽ nhìn về năm 2016 và nói, “Ồ, người thời ấy còn chẳng thực sự được dùng Internet, hoặc bất cứ cái tên gì họ gọi cho những công nghệ thô sơ ấy”.

Và có thể họ đúng. Bởi từ quan điểm của chúng ta hiện nay, những công nghệ trực tuyến đỉnh cao nhất của nửa đầu thế kỷ XXI đều đang ở trước mắt. Tất cả những phát minh kỳ diệu này đang chờ đợi những ý tưởng đột phá (có thể ban đầu trông bất khả thi) để đưa nhân loại đến thời đại tận hưởng những công nghệ vượt bậc, không khác gì thời kỳ được thoải mái chọn tên miền năm 1984.

Ba mươi năm qua đã xây dựng cho chúng ta một điểm xuất phát hoàn hảo và một nền tảng vững chắc để tạo nên những thứ lớn lao. Nhưng những gì sẽ đến sau đó sẽ rất khác biệt. Thứ mà chúng ta làm ra sẽ không ngừng cải tiến để trở thành một thứ khác. Và thứ tuyệt với nhất cho đến nay còn chưa được phát minh.

Chúng ta đều đang mở rộng giới hạn của mình. Tất cả đều đang trong giai đoạn “trở thành”. Đây là thời điểm tốt nhất trong lịch sử nhân loại để bắt đầu.

Vẫn chưa muộn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.