Trở thành – Phần cuối


Chúng ta đã không nhận ra thế giới trực tuyến mới mẻ này sẽ được phân bổ và kiểm soát bởi người dùng, chứ không phải là những thể chế lớn. Toàn bộ nội dung của Facebook, YouTube, Instagram và Twitter không được tạo ra bởi các nhân viên của nó mà được xây dựng bởi người dùng. Sự nổi lên của Amazon gây bất ngờ không phải vì nó trở thành “cửa hàng bán mọi thứ” (điều cũng khó hình dung ra) mà bởi các khách hàng của Amazon (chính là bạn và tôi) đã viết những bình luận giúp cho những hàng hóa nhỏ lẻ vẫn có thể bán và thu về lợi nhuận. Ngày nay, hầu hết các nhà sản xuất phần mềm đều chỉ có một số ít các bàn tư vấn, vì chính các khách hàng đã nhiệt tình tư vấn và giúp đỡ những người dùng khác trên diễn đàn hỗ trợ của trang web công ty, họ trở thành đội ngũ hỗ trợ khách hàng chất lượng cao. Nhờ có một số lượng lớn người dùng, Google đã biến các lượng truy cấp và các mẫu liên kết tạo ra bởi 90 tỷ lượt người tìm kiếm mỗi tháng thành những tri thức có tổ chức cho một nền kinh tế mới. Sự đảo lộn từ dưới lên trên này không nằm trong tầm nhìn 20 năm của bất kỳ ai trước đây.

Không có một hiện tượng web nào đáng ngạc nhiên hơn sức hút bất tận của những video trên Youtube và Facebook. Mọi thứ các chuyên gia truyền thông biết về khán giả (và họ biết khá nhiều) đều củng cố niềm tin rằng khán giả sẽ không bao giờ nhấc mông lên và tự mình sản xuất các chương trình giải trí. Khán giả là những người xem bị động, giống những gì những lãnh đạo của ABC từng đánh giá. Ai cũng biết rằng việc đọc và viết chẳng ăn thua, còn âm nhạc lại quá khó để sáng tạo ra trong khi bạn có thể chỉ cần ngồi xuống và nghe những sản phẩm của người khác, sản xuất video thì quá khả năng của những kẻ nghiệp dư cả về chi phí lẫn trình độ. Những sản phẩm được tạo ra bởi chính người dùng sẽ không bao giờ xảy ra ở quy mô lớn, mà nếu có xảy ra thì chúng cũng không thể lôi kéo được khán giả, và như thế thì chúng không đáng để bàn đến. Nhưng ngạc nhiên thay, đến đầu những năm 2000, đã có đến hơn 50 triệu blog tạo ra bởi người dùng, tức là cứ một giây lại có thêm hai blog mới. Và chỉ vài năm sau đó, năm 2015, chúng ta đã chứng kiến sự bùng nổ của các video do người dùng sản xuất, với 65.000 video được đăng tải mỗi ngày trên Youtube, tức là mỗi phút lại có 300 video mới. Trong những năm gần đây, những cảnh báo, mẹo vặt hay tin tức cũng ngập tràn trên mạng. Mỗi người dùng đều làm những việc mà ta vốn kỳ vọng chỉ có ABC, AOL, USA Today mới làm, và chính các đài này cũng nghĩ như thế. Nhưng những kênh được tạo ra bởi người dùng này không hề có giá trị kinh tế. Nó miễn phí. Vậy thì thời gian, công sức và nguồn lực đến từ đâu?

Từ khán giả.

Sự tham gia và quan tâm của khán giả thúc đẩy nhữung người dân bình thường đầu tư thời gian và năng lượng để làm những bách khoa thư, những bài hướng dẫn miễn phí về thay lốp xe hoặc phân loại các phiếu bầu trong Thượng viện. Ngày càng có nhiều trang web vận hành theo cách này. Một khảo sát mấy năm trước chỉ ra rằng chỉ có 40% các trang web được vận hành vì mục đích thương mại, số còn lại được duy trì bằng trách nhiệm và đam mê.

Khi một công ty mở ra cơ sở dữ liệu và các tính năng cho người dùng và các startup (doanh nghiệp khởi nghiệp) thông qua một giao diện lập trình ứng dụng (API) công cộng như Amazon, Google, eBay, Facebook, nó khuyến khích sự tham gia của người dùng ở những cấp độ mới. Khi người dùng tận dụng được các khả năng này thì họ không chỉ là khách hàng mà còn là nhà phát triển, người bán hàng, người nghiên cứu và quảng bá sản phẩm cho công ty.

Với những cách tham gia mới cho khán giả và người dùng, web đã tham gia vào mọi hoạt động và khu vực trên hành tinh. Trên thực tế, nỗi lo lắng về Internet bị đẩy ra rìa có vẻ đã trở nên thừa thãi. Nỗi lo năm 1990 về việc Internet bị thống trị bởi đàn ông cũng không còn. Năm 2002, lần đầu tiên người dùng Internet nữ giới nhiều hơn nam giới. Ngày nay, 51% công dân mạng là nữ. Và tất nhiên, Internet không bao giờ là lãnh địa riêng của lứa tuổi thiếu niên. Thống kê năm 2014 đã cho thấy độ tuổi trung bình của người dùng mạng là lứa tuổi trung niên – 44 tuổi.

Việc Internet trở thành thứ phổ thông được thể hiện rõ nhất qua việc sử dụng Internet của người Amish. Gần đây, tôi đã đến thăm một vài nông dân Amish và trông họ đúng là những đại diện tiêu biểu cho tộc người này với mũ rơm, râu ria xồm xoàm, và những bà vợ đội mũ trùm đầu kín cả hai tai. Họ không dùng điện, không điện thoại, tivi, đi lại cũng chỉ bằng xe ngựa. Họ có tiếng từ lâu là những người chối bỏ mọi loại công nghệ, nhưng trên thực tế, họ chỉ là những người sử dụng công nghệ muộn màng. Tuy nhiên, tôi vẫn ngạc nhiên khi nghe họ nói về trang web của mình.

“Trang web của người Amish sao?” Tôi hỏi.

“Đúng vậy. Để chúng tôi giới thiệu việc kinh doanh của gia đình, chúng tôi chuyên hàn những vỉ nướng thịt ở cửa hàng của mình”.

“Vâng, nhưng…”

“Ồ, chúng tôi dùng Internet ở thu viện công. Và Yahoo!”

Thế là tôi nhận ra, khi Internet được phổ cập rộng rãi, tất cả chúng ta đều thay đổi.

Trong một cách hiểu nghiêm ngặt về mặt kỹ thuật, web ngày nay có thể được định nghĩa là tổng hòa mọi thứ bạn có thể google (tra cứu), đó chính là mọi tập tin có thể truy cập được thông qua một đường link. Hiện nay, có một phần lớn của thế giới số hóa mà chúng ta không google được. Rất nhiều thứ diễn ra trên Facebook,, ứng dụng di động, trong thế game điện tử, hoặc thậm chí là trong một video mà chúng ta không thể tìm kiếm được. Nhưng trong 30 năm nữa thì có thể. Các đường link sẽ không ngừng mở rộng để kết nối mọi bit. Một con chip nhỏ xíu và gần như được miễn phí được gắn vào các vật dụng có thể kết nối chúng đến web và tích hợp các dữ liệu. Hầu hết đồ dùng trong phòng bạn đều sẽ được kết nối, và bạn có thể google ra đồ vật này khi cần tìm chúng. Hoặc google cả ngôi nhà bạn. Chúng ta đã bắt đầu thực hiện quá trình này. Bây giờ tôi đã có thể điều khiển hệ thống nhiệt độ (điều hòa, sưởi) và bật tắt nhạc bằng di động. Trong ba thập kỷ nữa, cả thế giới sẽ có những thiết bị như tôi đang sở hữu. Và không bất ngờ gì, web sẽ mở rộng đến cả thế giới vật lý chứ không chỉ là thế giới ảo.

Theo thời gian, web sẽ mở rộng. Các trang web ngày nay gần như không có liên hệ gì với quá khứ. Nó có thể cho bạn xem hình ảnh trực tiếp về quảng trường Tahrir ở Ai Cập, nhưng việc xem hình ảnh quảng trường này một năm về trước thì gần như bất khả thi Tương tự, việc xem lại phiên bản trước của một trang web không phải là điều dễ dàng. Nhưng trong 30 năm nữa chúng ta sẽ có một chức năng gọi là “thanh trượt thời gian” (time slider) để có thể xem lại các phiên bản cũ. Giống như thiết bị chỉ đường trên di động trong thành phố được cải tiến để có thể xem lại tình hình giao thông những ngày hôm trước, tuần trước, tháng trước, trang web 2050 sẽ có thể dịch chuyển từ các nội dung ở quá khứ đến hiện tại, và có khi là cả tương lai.

Từ giây phút bạn thức dậy, web đã cố gắng lường trước các ý định của bạn. Bởi lịch trình và thói quen của bạn được ghi lại, web sẽ có thể đi trước mọi hành động của bạn, đưa ra câu trả lời trước cả khi được hỏi. Nó được thiết kế để cung cấp cho bạn những tài liệu bạn cần trước buổi họp, gợi ý cho bạn địa điểm ăn trưa với bạn bè dựa trên điều kiện thời tiết, vị trí hiện tại, những món bạn đã ăn trong tuần này, và những món đã ăn trong lần hẹn trước với người bạn đó, cùng với tất cả những nhân tố mà bạn có thể sẽ cân nhắc đến. Bạn sẽ học cách trao đổi với web. Thay vì xem một loạt ảnh chụp bạn bè trên điện thoại, bạn có thể hỏi chiến điện thoại của mình về một người bạn. Web sẽ dự đoán bức ảnh bạn muốn xem, và tùy vào phản ứng cảu bạn với những bức ảnh ấy mà web sẽ cho bạn xem nhiều ảnh và thông tin hơn từ một người bạn khác. Hoặc nếu cuộc họp của bạn sắp bắt đầu, web sẽ đưa cho bạn hai email mà bạn cần phải đọc. Web sẽ ngày càng giống một sự hiện diện thường trực chứ không còn là một địa điểm (không gian mạng) mà bạn có thể đến (sử dụng) hoặc đi (không sử dụng) như những năm 1980. Sự hiện diện của nó sẽ ở mức thấp và đều đặn như điện trong nhà, ngoài đường, luôn ở xung quanh chúng ta và ẩn trong các đường dây trong tường hoặc dưới đất. Đến năm 2050, chúng ta sẽ coi web là một loại hình giao tiếp hoàn toàn mới.

Những cuộc hội thoại “cao cấp” này sẽ mang đến nhiều khả năng mới. Tuy nhiên, thế giới số hóa đến nay đã quá đồ sộ với nhiều lựa chọn và khả năng. Dường như sẽ không có chỗ cho thứ gì thực sự mới mẻ trong vài năm tới.

Bạn có thể tưởng tượng được những doanh nhân tham vọng hồi năm 1985 đã sung sướng thế nào không? Lúc đó Internet mới còn ở buổi bình minh, và bạn có thể chọn bất cứ cái tên với đuôi .com nào. Tất cả nhữung gì bạn cần là đăng ký một cái tên. Tên miền chỉ có một chữ, rồi những cái tên thông dụng, tất cả đều sẵn có. Thậm chí bạn còn hầu như chẳng mất gì để đăng ký. Cơ hội tuyệt vời này tồn tại trong nhiều năm. Năm 1994, một nhà báo của tờ Wired để ý rằng cái tên mcdonalds.com vẫn chưa được đăng ký, vậy là với sự khích lệ của tôi, anh bạn nhà báo này đã đăng ký cái tên đó. Nhưng anh ấy đã không thành công khi nỗ lực bán lại nó cho McDonald, bởi công ty này bấy giờ chẳng biết gì về Internet” (“cái gì chấm com (.com) cơ?”). Và thế là chúng tôi đã đưa câu chuyện nực cười này lên một bài đăng trên tờ Wired.

Lúc đó, Internet đã thực sự là một chân trời rộng mở. Thật dễ dàng để trở thành người đầu tiên ở mọi hạng mục. Khách hàng còn chẳng ngờ rằng việc gia nhập Internet lại thuận lợi đến thế. Bắt đầu một công cụ tìm kiếm, trở thành người đầu tiên mở cửa hàng trực tuyến, người đầu tiên quay những video nghiệp dư… Khi nhìn lại, dường như làn sóng những người dùng Internet từ đó đến nay đã chiếm lấy mọi phần dễ dàng và để lại những thứ khó nhằn nhất cho những người dùng mới. Sau 30 năm, Internet trở nên bão hòa với các ứng dụng, các công nghệ nền tảng (để dựa vào đó các ứng dụng và chương trình khác vận hành), các thiết bị và quá đủ các nội dung mà chúng ta cần xem trong một triệu năm nữa. Kể cả khi bạn có thể sáng tạo ra một thứ gì mới, thì liệu rằng có ai chú ý đến thứ nhỏ bé ấy giữa vô vàn tài nguyên phong phú của Internet?

Nhưng, hãy nhớ rằng, khi nói về Internet, chưa có gì thực sự bắt đầu. Internet vẫn đang ở bước đầu tiên trong thời kỳ đầu của nó. Nó vẫn đang trong giai đoạn “trở thành”. Nếu chúng ta có thể leo lên một cỗ máy thời gian, bay đến 30 năm sau và nhìn lại về thế giới ngày nay, chúng ta sẽ thấy rằng đa số những sản phẩm tuyệt vời nhất của đời sống năm 2050 còn chưa được phát minh ra sau năm 2016. Loài người trong tương lai sẽ có những không gian ảo ba chiều, những mắt kính áp tròng thực tế ảo, những nhân vật đại diện có thể tải xuống được và những giao diện trí tuệ nhân tạo.  Với công nghệ vượt bậc này, người của năm 2050 sẽ nhìn về năm 2016 và nói, “Ồ, người thời ấy còn chẳng thực sự được dùng Internet, hoặc bất cứ cái tên gì họ gọi cho những công nghệ thô sơ ấy”.

Và có thể họ đúng. Bởi từ quan điểm của chúng ta hiện nay, những công nghệ trực tuyến đỉnh cao nhất của nửa đầu thế kỷ XXI đều đang ở trước mắt. Tất cả những phát minh kỳ diệu này đang chờ đợi những ý tưởng đột phá (có thể ban đầu trông bất khả thi) để đưa nhân loại đến thời đại tận hưởng những công nghệ vượt bậc, không khác gì thời kỳ được thoải mái chọn tên miền năm 1984.

Ba mươi năm qua đã xây dựng cho chúng ta một điểm xuất phát hoàn hảo và một nền tảng vững chắc để tạo nên những thứ lớn lao. Nhưng những gì sẽ đến sau đó sẽ rất khác biệt. Thứ mà chúng ta làm ra sẽ không ngừng cải tiến để trở thành một thứ khác. Và thứ tuyệt với nhất cho đến nay còn chưa được phát minh.

Chúng ta đều đang mở rộng giới hạn của mình. Tất cả đều đang trong giai đoạn “trở thành”. Đây là thời điểm tốt nhất trong lịch sử nhân loại để bắt đầu.

Vẫn chưa muộn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Advertisements

Trở thành – Phần III


Trong khi chúng ta rất dễ dàng cười những người đắm chìm vào chiếc ti vi, họ không phải là những người duy nhất gặp khó khăn khi hình dung ra một cách thay thế cho việc ngồi trước ti vi hàng giớ. Tạp chí Wired cũng thế. Tôi là một tổng biên tập đồng sáng lập của Wired và khi kiểm tra lại những số phát hành đầu những năm 1990 (những số tạp chí mà tôi đã biên tập tỉ mỉ), tôi ngạc nhiên khi thấy những trang báo này đã nhắc đến một tương lai của các nội dung có giá trị sản xuất cao – 5000 kênh truyền hình và thực tế ảo thường trực, với một chút dữ liệu từ thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Trên thực tế, Wired đã mang đến một tầm nhìn gần giống với những gì Internet muốn được trở thành trong hệ thống phát thanh, xuất bản, phần mềm và công nghiệp phim ảnh, giống như ABC. Trong tương lai này, web về cơ bản là một chiếc ti vi trực tuyến. Với một vài cú nhấp chuột, bạn có thể chọn một trong 5000 kênh để xem hoặc học tập, từ kênh thể thao đến kênh về hồ cá nước mặn. Điều duy nhất không chắc chắn là ai sẽ làm ra những chương trình đó? Wired kỳ vọng những công ty truyền thông mới như Nintendo hay Yahoo! Sẽ làm việc này, chứ không phải hãng truyền thông lớn và lâu đời như ABC.

Vấn đề là, việc sản xuất nội dung rất tốn kém, và 5000 kênh thì sẽ tốn gấp 5000 lần. Không có công ty nào đủ vốn, không có nền công nghiệp nào đủ lớn để hoàn thành dự án ấy. Những công ty viễn thông lớn, vốn định tiến hành cuộc cách mạng số hóa, cũng đã bị suy yếu bởi sự không chắc chắn khi chi trả cho mạng lưới. Tháng Sáu năm 1994, David Quinn của công ty Bristish Telecom đã phải thú nhận trong buổi họp mặt của các nhà xuất bản phần mềm rằng, “Tôi không chắc các anh sẽ kiếm được bao nhiêu tiền từ Internet”. Tổng số tiền khổng lồ cần cho việc lấp đầy các mạng lưới với các nội dung khác nhau sẽ làm các nhà nghiên cứu công nghệ phải chóng mặt. Họ rất lo lắng rằng không gian mạng rộng lớn sẽ trở thành những diễn đàn mạng bên lề (cyburbia) được sở hữu và vận hành ở cấp độ cá nhân.

Sự thương mại hóa chính là nỗi lo sợ lớn nhất của những lập trình viên tài giỏi, những người xây dựng web và vận hành mạng tùy biến. Họ là những người viết code, người quản lý hệ điều hành Unix và các tình nguyện viên công nghệ thông tin (IT). Họ coi Internet là một cộng đồng mở, không phải là thứ bị chiếm lĩnh bởi lòng tham và sự thương mại hóa. Dù có vẻ khó tin, đến tận năm 1991, các hoạt động thương mại trên Internet vẫn bị nghiêm cấm. Hoạt động buôn bán và quảng cáo đều không được chấp nhận. Đối với Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (những người vận hành chính của mạng Internet), Internet được tài trợ vì mục đích nghiên cứu chứ không phải thương mại. Nghe có vẻ thật ngây thơ nhưng ngày ấy, các luật lệ đều ủng hộ những thể chế công cộng và ngăn cấm việc sử dụng rộng rãi của các cá nhân hoặc doanh nghiệp. Giữa những năm 1980, tôi tham gia vào xây dựng WELL, một hệ thống nhắn tin trực tuyến thời kỳ đầu. Chúng tôi phải vật lộn để kết nối mạng lưới WELL cá nhân của mình vào mạng lưới Internet chung vì bị ngăn cấm một phần bởi chính sách “sử dụng được chấp nhận” của Quỹ Khoa học Quốc gia. Bởi WELL không thể chứng minh được người dùng sẽ không thực hiện các hoạt động trao đổi thương mại trên mạng, nên chúng tôi không được kết nối vào mạng lưới lớn. Tất cả chúng ta đều đã không nhận ra Internet đang dần trở nên như thế nào.

Thái độ phản đối giao thương trên Internet này lan đến tận văn phòng của tạp chí Wired. Năm 1994, trong cuộc họp chuẩn bị cho trang web đầu tiên của Wired, Hot Wired, những lập trình viên của chúng tôi tạo ra, quảng cáo đầu tiên trên mạng, đã phá vỡ tiềm năng đóng góp cho xã hội của lĩnh vực mới này. Họ cảm thấy Internet hầu như đã không còn được bảo vệ và đã bị hủy hoại bởi các bảng thông báo và quảng cáo. Nhưng việc ngăn cấm dòng lưu chuyển thương mại trong một nền văn minh đang phát triển như thế này thật là không hợp lý. Kiếm tiền qua mạng là điều không thể tránh khỏi.

Nhưng đó mới chỉ là một nhận thức nhầm lẫn nhỏ so với cả câu chuyện lớn hơn mà chúng ta đã bỏ lỡ.

Từ năm 1945, nhà tiên phong về máy tính Vannevar Bush đã chỉ ra ý tưởng cốt lõi của web là những trang mạng liên kết (hyperlinked pages), nhưng người đầu tiên xây dựng các đường link giữa các trang mạng này vào năm 1965 là nhà tư tưởng tự do Ted Nelson. Tuy nhiên, ông đã không thành công khi kết nối các bit số hóa trên diện rộng, và những nỗ lực của ông chỉ được biết đến ở một nhóm nghiên cứu nhỏ.

Năm 1984, với lời gợi ý của một người bạn am hiểu máy tính, tôi đã liên lạc với Nelson, lúc này là một thập kỷ trước khi trang web đầu tiên ra đời. Chúng tôi gặp nhau trong một quán bar mờ tối ở bến cảng của Sausalito, California. Nelson đã thuê một cái nhà thuyền ở gần đó và có vẻ đang sống khá nhàn nhã. Trong túi ông có đầy những tờ giấy ghi chú và cuốn sổ của ông cũng kẹp đầy giấy. Ông đeo một chiếc bút bi vào sợi dây quanh cổ. Với một giọng điệu quá mức nghiêm túc trong quán bar lúc mới 4 giờ chiều, ông nói với tôi về kế hoạch tổ chức và sắp xếp mọi kiến thức của nhân loại. Những kiến thức này đều được ông ghi lại trong những tấm thẻ chữ nhật 3 x 5 mà ông có đầy trong sổ và túi.

Dù Nelson rất lịch sự, lôi cuốn và dễ chịu, tôi vẫn không thể theo kịp những gì ông nói. Nhưng tôi vẫn bắt kịp được từ “liên kết văn bản” (hypertext – siêu văn bản). Ông tin chắc rằng mọi văn bản trên thế giới cần có chú thích để dẫn tới một số văn bản nguồn khác, và rằng máy tính có thể tạo nên các đường link (đường dẫn) bền vững giữa các văn bản ấy. Đây là một ý tưởng mới vào thời đó. Nhưng đó mới chỉ là điểm khởi đầu. Ông vừa nguệch ngoạc trên giấy vừa phác ra ý tưởng phức tạp về việc chuyển quyền tác giả đến nhà sáng chế và theo dấu các khoản thanh toán khi người đọc truy cập tài liệu, và ông gọi đó là phương thức “docuverse” (document reverse) – truy ngược văn bản. Ông nói về việc dẫn link trong các văn bản điện tử (transclusion) và sự đan cài phức tạp của kiến thức (intertwingularity) khi mô tả về những lợi ích lý tưởng lớn của cấu trúc nhúng (embedded structure), đưa một đường link vào văn bản đang được truy cập. Chắc chắn nó sẽ cứu thế giới khỏi sự ngu dốt!

Tôi tin vào những gì ông nói. Dù ông có hơi lập dị, tôi vẫn hiểu được rằng một thế giới siêu liên kết với những đường link như thế chắc chắn sẽ xảy ra. Nhưng khi nhìn lại 30 năm trải nghiệm đời sống trực tuyến của mình, điều khiến tôi kinh ngạc về nguồn gốc của web là có bao thiếu sót trong tầm nhìn của Vannevar Bush, trong phương pháp truy ngược văn bản của Nelson và trong chính kinh nghiệm của tôi. Chúng ta đều bỏ lỡ mất cả câu chuyện lớn. Cả ABC lâu đời lẫn Yahoo! non trẻ đều không tạo ra 5000 nội dung cho 5000 trang mạng. Thay vào đó, hàng tỷ người dùng tự tạo ra nội dung cho những người dùng khác. Sự thay đổi mà ABC không thể tưởng tượng được chính là “cái thứ Internet” mà họ từng coi thường đã khiến những khách hành thụ động trước đây trở thành những nhà sáng chế chủ động. Cuộc cách mạng mở ra bởi mạng lưới web chỉ đề cập rất ít đến việc liên kết các văn bản và kiến thức của nhân loại. Trung tâm của cuộc cách mạng là một loại hình tham gia mới đã phát triển thành nền văn hóa dựa trên sự chia sẻ. Việc “chia sẻ” nhờ vào các đường link này đang tạo nên một kiểu tư duy mới, nửa của con người, nửa của máy móc. Đây là lối tư duy chưa từng xuất hiện trên hành tinh hay trong lịch sử. Web đã mang đến một sự “trở thành” hoàn toàn mới.

Không chỉ hình dung được web sẽ phát triển ra sao, mà đến nay, chúng ta vẫn chưa nhìn nhận nó một cách chính xác. Chúng ta đã quên mất web đã nhân rộng thành một mạng lưới tuyệt diệu thế nào. 25 năm sau khi ra đời, phạm vi rộng lớn của web, bao gồm cả những trang web, được thiết lập theo yêu cầu, đã vượt quá 60 nghìn tỷ, tức là có gần 10.000 trang web trên một đầu người. Và toàn bộ sự đồ sộ này được tạo ra trong chưa đến 8000 ngày.

Sự tích lũy những điều kỳ diệu nhỏ bé có thể khiến ta kinh ngạc trước khối lượng khổng lồ cuối cùng chúng ta có. Ngày nay, từ bất cứ cửa sổ Internet nào, bạn cũng có thể tìm thấy những video và bản nhạc đa dạng, một cuốn bách khoa thư luôn được bổ sung cập nhật, dự báo thời tiết, quảng cáo cần trợ giúp, hình ảnh vệ tinh của bất cứ nơi nào trên trái đất, những tin tức cập nhật hàng phút trên khắp thế giới, mẫu kê khai thuế, lịch chiếu các chương trình ti vi, bản đồ chỉ dẫn đường đi, báo giá chứng khoán theo thời gian thực, danh sách bất động sản với hình ảnh ảo mô phỏng và báo giá thực tế, hình ảnh của gần như bất cứ thứ gì, kết quả thể thao mới nhất, nơi mùa đồ, số liệu về các khoản đóng góp chính trị (để vận động tranh cử hoặc đóng góp cho các đảng phái), danh mục thư viện, sổ hướng dẫn sử dụng các thiết bị, bản tin giao thông trực tiếp, tài liệu lưu trữ của các tờ báo lớn, tất cả đều được truy cập ngay tức khắc.

Chúng ta nên đánh giá cao hơn sự đầy đủ này. Các vị vua trước đây hẳn sẽ sẵn sàng gây chiến để có được khả năng mà chúng ta đang có. Còn lũ trẻ chỉ có thể mơ về chúng. Tôi đã điểm lại các kỳ vọng của những chuyên gia ở những năm 1980 và tôi có thể khẳng định rằng không phải ai trong số họ cũng tin rằng 20 năm nữa chúng ta có thể đạt được sự đa dạng của các tài liệu miễn phí và sẵn có theo nhu cầu này. Vào thời điểm đó, những kẻ “ngu ngốc” dám đề cập đến những điều ấy chắc chắn sẽ bị bác bỏ bởi bằng chứng rằng không có đủ vốn từ tất cả các doanh nghiệp trên thế giới để chi trả số tiền lớn thế này. Thành công của web trên phạm vi rộng là bất khả thi.

Nhưng nếu chúng ta đã học được gì từ ba thập kỷ qua, thì đó chính là sự bất khả thi còn hợp lý hơn những gì chúng ta tưởng.

Bản phác thảo phức tạp của Ted Nelson về việc dẫn link trong các văn bản điện tử (transclusion) không đề cập đến thị trường trực tuyến. Nelson hy vọng nhượng quyền hệ thống liên kết văn bản Xanadu của mình sẽ vận hành trong thế giới thực ở quy mô quán cà phê nhỏ và độc lập, trong đó, mọi người sẽ đến cửa hàng Xanadu để tiến hành khai thác các văn bản. Thay vào đó, web lại bùng nổ thành một thị trường trực tuyến toàn cầu với các thương hiệu thương mại điện tử như eBay, Craigslist, và Alibaba, đảm nhiệm hàng tỷ giao dịch mỗi năm và được vận hành ngay trong phòng ngủ của bạn. Và điều đáng ngạc nhiên là người dùng mới là những người vận hành chủ đạo: họ chụp ảnh, lên danh mục, đăng bài và tự quảng bá hàng hóa của mình. Họ thậm chí còn tự quản lý việc mua bán, dù các trang web có kêu gọi các cơ quan có thẩm quyền bắt giữ những kẻ lạm dụng hàng loạt. Phương pháp tốt nhất để đảm bảo công bằng là hệ thống xếp hạng thiết lập bởi chính người dùng. Ba tỷ ý kiến phản hồi có thể tạo nên tác động lớn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Trở thành – Phần II


Thế giới phản địa đàng thực sự giống với tình hình của Liên bang Xô viết năm xưa hơn là những gì được tái hiện trong Mad Max: quan liêu nhưng không vô pháp luật, ở đó vẫn có chính phủ còn xã hội được cai trị dựa trên nỗi sợ và chỉ để lại lợi ích cho một số ít cá nhân. Và giống như thời đại của các cướp biển hai thế kỷ trước, xã hội vẫn có rất nhiều luật lệ. Vì trên thực tế, trong một xã hội thối nát thực sự, sự vô pháp luật thái quá mà chúng ta gán cho những đặc tính của thế giới phản địa đàng không được phép tồn tại. Vì những kẻ ăn tiền to lớn với lòng tham vô đáy có thể khống chế và kiểm soát sự hỗn loạn và những kẻ nhỏ bé dưới trướng họ.

Tuy nhiên, cả hai kiểu thế giới kể trên đều không phải cái đích chúng ta hướng đến. Thay vào đó, công nghệ đang đưa chúng ta đến thế giới “protopia” – thế giới “tiến bộ”. Nói một cách chính xác hơn, chúng ta đã đặt chân vào thế giới ấy.

“Tiến bộ” là một trạng thái “trở thành” đang diễn ra, là quá trình chứ không phải một đích đến. Trong thế giới tiến bộ, mọi vật ngày hôm nay lại tốt hơn hôm qua, dù chỉ là một chút. Nó là những tiến bộ nhỏ nhặt và dần dần. Từ “tiến” trong thế giới “tiến bộ” nhằm chỉ những “tiến độ” và “tiến trình”. Quá trình “tiến bộ” này không diễn ra mạnh mẽ, có khi còn không được ghi nhận vì nó mang đến cả những rắc rối lẫn lợi ích mới. Những công nghệ được làm ra ngày hôm qua đòi hỏi phải có sự tiến bộ hơn trong ngày hôm nay, và giải pháp công nghệ cho vấn đề hôm nay lại đặt ra thách thức cho ngày mai. Những lợi ích nhỏ bé cứ thế được tích tụ trong vòng quay ngày qua ngày của cặp vấn đề – giải pháp này. Kể từ thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVIII) và sự ra đời của khoa học, chúng ta đã nỗ lực để tạo ra nhiều thành tựu hơn những gì chúng ta phá hủy mỗi năm. Và sự khác biệt nhỏ bé đó qua hàng thập kỷ dần dần tạo nên cái ta vẫn gọi là nền văn minh. Thế nhưng những lợi ích của nó thì chẳng bao giờ được kể công rõ ràng.

Một thế giới tiến bộ thì khó để nhận thấy vì lúc nào nó cũng đang ở trong trạng thái “trở thành”, vẫn tiếp diễn và chưa kết thúc, luôn biến đổi và phát triển. Thật khó để chúc mừng một quá trình đang thành hình mà chưa có kết quả. Nhưng điều quan trọng là ta phải nhận biết được quá trình ấy.

Ngày nay, loài người đã bắt đầu ý thức về những nhược điểm của sự đổi mới. Chúng ta thất vọng về những lời hứa của thế giới không tưởng đến nỗi còn chẳng dám tin vào một thế giới tiến bộ dần dần trong tương lai. Chúng ta thấy khó để hình dung ra tương lai mình mong muốn. Bạn có thể kể ra bất cứ bộ phim khoa học viễn tưởng nào vệ một tương lai vừa hợp lý lại vừa đáng khao khát? (trừ Star Trek ra, và đó còn chẳng phải là cuộc sống trên Trái Đất).

Chẳng còn có một chiếc ô tô bay nào trong tưởng tượng về tương lai của chúng ta nữa. Chúng ta không còn háo hức mong chờ tương lai tươi đẹp như một thế kỷ trước và giờ đây không ai muốn nghĩ đến tương lai gần và trải qua nó, thậm chí nhiều người còn e sợ nó. Do đó, chúng ta khó mà nhìn nhận tương lai một cách nghiêm túc. Vậy là chúng ta cứ thế kẹt lại ở hiện tại và không có một tầm nhìn nào về tương lai. Một vài người còn đi theo quan điểm của chủ nghĩa Phi thường (singularity), cho rằng việc tưởng tượng ra tương lai một trăm năm nữa về mặt ỹ thuật là bất khả thi. Do đó, chúng ta trở thành những kẻ mù tương lai. Một lựa chọn thay thế là tin vào tương lai và diễn biến của nó. Tương lai mà chúng ta hướng đến là một sản phẩm của quá trình “trở thành”, điều chúng ta có thể nhìn thấy ngay lúc này. Chúng ta có thể nắm bắt sự dịch chuyển của hiện tại, thứ sẽ trở thành tương lai sau này.

Một vấn đề của sự tiếp diễn (đặc biệt là trong sự dịch chuyển của thế giới “tiến bộ”) là những thay đổi không ngừng có thể che lấp những thay đổi nhỏ. Khi chuyển động liên tục, chúng ta sẽ dần mất ý thức về sự chuyển động. “Trở thành” giống như một hành động tự che giấu và chúng ta chỉ có thể nhận ra nó khi dừng lại và quay đầu nhìn lại. Hơn nữa, chúng ta thường có xu hướng nhìn nhận cái mới từ góc nhìn dành cho cái cũ. Chúng ta mở rộng các quan niệm về tương lai, nhưng trên thực tế lại bó méo cái mới phù hợp với những gì chúng ta đã biết. Đó là lý do tại sao bộ phim đầu tiên của loài người trông như một vở kịch còn lần quay thực tế ảo đầu tiên lại như một bộ phim. Việc gọt chân cho vừa giày này không phải lúc nào cũng tệ. Các nhà biên kịch khai thác những phản xạ của con người để tạo ra cái mới so với cái cũ, nhưng khi chúng ta cố gắng phân biệt những thứ sẽ xảy ra, chúng ta lại gặp khó khăn để phân biệt những thay đổi hiển nhiên này dường như bất khả thi, không hợp lý và nực cười, nên ta bỏ lỡ chúng. Chúng ta cứ liên tục ngạc nhiên trước những điều đã diễn ra cả 20 năm về trước hoặc lâu hơn thế.

Tôi cũng không ngoại lệ. Tôi là người có liên quan mật thiết đến sự ra đời của thế giới trực tuyến 30 năm trước và sau đó là sự xuất hiện của web một thập kỷ sau. Tuy vậy ở mỗi giai đoạn, tôi đều khó thấy được những thứ trong giai đoạn “trở thành”. Chúng thường khá khó tin và đôi khi chúng ta còn chẳng muốn chúng phát triển theo hướng ấy.

Chúng ta không cần phải lờ đi quá trình liên tục này. Tốc độ thay đổi trong những năm gần đây đã tăng lên chưa từng thấy, đến mức chúng ta phải sững sờ. Nhưng chúng ta đã hiểu ra mình đã và sẽ mãi là những “người dùng mới”. Chúng ta cần thường xuyên tin vào những thứ không có vẻ sẽ xảy ra hơn. Mọi thứ đều đang trong dòng chảy của nó, và những dạng thức mới sẽ là bản remix (tháo và ráp lại) của những cái đã có. Với nỗ lực và trí tưởng tượng, chúng ta có thể học cách nhận biết mọi thứ trước mắt rõ ràng hơn.

Tôi sẽ đưa ra một ví dụ về những gì chúng ta có thể biết về tương lai từ lịch sử gần đây của web. Trước khi trình duyệt mạng có đồ họa Netscape ra đời năm 1994, mạng Internet chỉ toàn chữ và không được nhiều người biết đến. Nó quá khó sử dụng vì phải gõ code (mã), lại chẳng có hình ảnh gì. Chẳng ai lại muốn bỏ thời gian vào một thứ vô vị như thế. Nếu trong những năm 1980 nó có được ghi nhận đi nữa, thì Internet cũng chỉ được coi như thư điện tử chung của công ty (tương tự nhu cái cà vạt đồng phục của công ty) hoặc một câu lạc bộ cho nam thiếu niêm. Dù có tồn tại, Internet cũng hoàn toàn bị bỏ qua.

Mọi phát minh mới và hứa hẹn nào cũng sẽ có những người phản đối, và những lời hứa càng to tát thì những lời phản đối càng quyết liệt. Khi Internet và web mới ra đời, gần như không khó để tìm ra những người có học thức nói về những điều ngốc nghếch về chúng. Vào cuối năm 1994, tờ Time  đã có bài viết tại sao Internet không bao giờ được sử dụng rộng rãi: “Nó không được thiết kể để sử dụng trong lĩnh vực thương mại, và nó gây khó dễ cho những người dùng mới”. Chao ôi! Bạn hãy nhìn Internet ngày nay và xem người ta đã từng phát ngôn như thế nào. Tờ Newsweek cũng từng bày tỏ nghi ngại về Internet với tiêu đề báo tháng Hai năm 1995 rằng: “Internet? Thật sao?” Bài báo đó được viết bởi Cliff Stoll, một nhà Vật lý học Thiên văn và cũng là một chuyên gia mạng. Ông đã lý luận rằng mua sắm trực tuyến và các cộng đồng mạng là những ảo tưởng phi thực tế đi ngược lại hiểu biết thông thường. “Sự thực là không có một cơ sở dữ liệu trực tuyến nào có thể thay thế được báo giấy”, Stoll đã khẳng định. “Nhưng ngài Nicholas Negroponte, Giám đốc phòng Nghiên cứu phương tiện truyền thông của MIT lại dự đoán rằng chúng ta sẽ sớm mua sách và báo qua mạng. Ừ, chắc vậy”. Stoll đã phản ánh đúng sự hoài nghi rộng rãi của công chúng bấy giờ về thế giới số hóa với những “thư viện tương tác, cộng đồng ảo và thương mại điện tử” khi đánh giá về nó chỉ bằng một từ: “vớ vẩn”.

Thái độ phủ nhận dành cho Internet này tràn ngập trong cuộc gặp mặt của tôi với các lãnh đạo hàng đầu của ABC năm 1989. Tôi đã đến gặp họ để thuyết trình về Internet. ABC là một trong ba mạng lưới truyền hình lớn mạnh nhất thế giới, và so với quy mô ấy, Internet chỉ là con muỗi. Nhưng những người thường xuyên dùng Internet (như tôi) nói rằng Internet có thể thay đổi việc làm ăn của họ. Thế nhưng chẳng điều gì tôi nói đủ để thuyết phục họ rằng Internet không phải thứ công cụ ngoài rìa, không chỉ để đánh máy và nhất là không phải là một công cụ chưa hoàn chỉnh. Nhưng những hoạt động chia sẻ và những thứ miễn phí trên mạng dường như bất khả thi đối với các giám đốc kinh doanh của ABC. Stephen Weiswasser, Phó Chủ tịch cấp cao cảu ABC cuối cùng đã nói: “Internet sẽ chỉ là một cái dải băng tần dân dụng của những năm 90 thôi”. Và những lời này được ông lặp đi lặp lại khi trả lời phỏng vấn trên báo. Ông còn tổng kết lại rằng: “Chúng tôi không có ý định biến khách hàng thụ động thành những kẻ quấy rối chủ động trên Internet”.

Vậy là cuối cùng tôi được dẫn ra cửa. Nhưng trước khi đi, tôi cố bật mí cho họ. “Nhìn này”, tôi nói. “Tôi tình cờ biết được địa chỉ abc.com của các ông chưa được đăng ký. Hãy xuống nay tầng dưới, tìm một chuyên viên máy tính và bảo anh ta đăng ký ngay. Đó là việc mà các ông nên làm”. Họ cảm ơn tôi một cách thờ ơ. Vài tuần sau, khi tôi lên mạng kiểm tra, tên miền đó vẫn chưa được đăng ký.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Trở thành – Phần I


Tôi đã mất 60 năm để ngộ ra rằng: mọi thứ đều cần thêm năng lượng và sự định hướng để có thể tự duy trì. Tôi biết về điều này qua định luật nổi tiếng thứ hai của nhiệt động lực học rằng mọi thứ đang từ từ tan rã. Nó không chỉ là tiếng than của sự lão hóa ở con người mà còn là sự hao mòn của những vật vô tri như hòn đá, cột sắt, ống đồng, mảnh giấy hay những con đường sỏi đá, tất cả đều không tồn tại bền lâu nếu không có sự chú ý, sửa chữa và những chỉ thị bổ sung. Phần lớn sự tồn tại dường như chỉ là sự duy trì.

Điều khến tôi gần đây phải kinh ngạc là kể cả những thứ trừu tượng phi vật thể cũng thật bất ổn. Giữ cho một trang web hay một phần mềm hoạt động chẳng khác gì giữ một chiếc du thuyền nổi bật trên mặt nước. Những thứ này lúc nào cũng cần phải chú ý. Tôi có thể hiểu tại sao một thiết bị cơ khí như máy bơm lại hỏng hóc sau một thời gian, độ ẩm làm gỉ kim loại, không khí làm ôxy hóa vỏ máy hoặc dầu bôi trơn hay bay hơi, tất cả những chi tiết này đều cần được sửa chữa. Nhưng tôi không thể tin được thế giới phi vật chất của các bit nhị phân cũng bị xuống cấp. Có thứ gì trên đời này là không thể bị đổ vỡ? Câu trả lời rõ ràng là không.

Máy tính mới rồi cũng sẽ cũ. Các mã hóa cũng yếu đi. Các ứng ụng và phần mềm rồi cũng lạc hậu dần. Sự sa sút này tự nó diễn ra mà bạn chẳng cần làm gì. Một thiết bị càng phức tạp thì càng cần nhiều sự chăm chút. Sự suy giảm tự nhiên này là không thể tránh khỏi, thậm chí là đối với các thực thể trừu tượng như bit.

Bởi thế, đã có một sự đổ bộ của một loạt công nghệ số hóa được cải tiến. Khi mọi thứ xung quanh bạn đều được nâng cấp, hệ thống số hóa của bạn phải chịu áp lực cải tiến theo. Dù không muốn, bạn cũng phải nâng cấp thiết bị của mình để không bị tụt hậu. Đây là một cuộc đua về nâng cấp công nghệ.

Tôi đã từng nâng cấp các thiết bị của mình một cách miễn cưỡng khi không thể sử dụng được nữa, bởi tôi tin rằng nếu nó còn hoạt động thì không phải nâng cấp. Thế nhưng, một khi đã động đến một bộ phận, tự nhiên tôi lại cần nâng cấp một bộ phận có liên quan khác, và cuối cùng phải cập nhật mọi thứ. Bởi vậy tôi đã trì hoãn việc nâng cấp này hằng năm trời vì biết (và đã trải nghiệm thực tế) rằng một sự nâng cấp nhỏ xíu có thể làm gián đoạn toàn bộ công việc. Nhưng khi công nghệ cá nhân trở nên phức tạp hơn, giống như một hệ sinh thái sống và chúng ta phụ thuộc vào nó nhiều hơn, việc trì hoãn nâng cấp còn làm cuộc sống bị gián đoạn hơn nữa! Nếu bạn bỏ qua những lần nâng cấp nhỏ, những thay đổi sẽ chồng chất đến không ngờ. Bởi thế mà giờ đây tôi coi việc nâng cấp công nghệ giống như làm vệ sinh hàng ngày và cần tiến hành thường xuyên để thiết bị được khỏe mạnh. Nâng cấp thường xuyên là việc làm rất quan trọng cho hệ thống công nghệ đến nỗi việc nâng cấp hiện nay đều được tiến hành tự động cho các hệ thống vận hành máy tính cá nhân và một số ứng dụng phần mềm. Các thiết bị có khả năng tự nâng cấp và dần thay đổi các tính năng. Việc này diễn ra từ từ, và do đó chúng ta không nhận ra máy móc của mình đang “trở thành” một thứ khác.

Chúng ta coi sự tiến hóa này là lẽ thường.

Đời sống công nghệ trong tương lai sẽ là một chuỗi nâng cấp không ngừng với tốc độ ngày càng cao. Những tính năng thay đổi, các thiếu sót mất dần, các danh mục lựa chọn (menu) cũng biến đổi. Khi tôi mở một phần mềm mình không hay dùng và nghĩ rằng sẽ có một vài lựa chọn để sử dụng, nhưng thực ra có cả bảng menu đã được thay thế.

Bất kể bạn đã dùng một công cụ bao lâu, sự nâng cấp không ngừng luôn khiến bạn bỡ ngỡ khi sử ụng. Trong kỷ nguyên cải tiến để “trở thành” này, mọi người đều là những người dùng mới. Hoặc tệ hơn, chúng ta sẽ vĩnh viễn là những kẻ “chân ướt chân ráo”. Và điều này khiến chúng ta khiêm tốn hơn.

Việc này cứ liên tục lặp lại, và tất cả chúng ta chỉ còn biết nỗ lực bắt kịp với công nghệ. Đó cũng là lời giải thích cho việc làm “người dùng mới”: thứ nhất, hầu hết các công nghệ quan trọng thống trị trong 30 năm tới còn chưa được sáng chế, do đó, nó vẫn còn mới lạ đối với bạn;; thứ hai, bởi công nghệ mới đòi hỏi sự nâng cấp không ngừng, bạn vẫn sẽ ở trong tình trạng “người dùng mới”; thứ ba, do vòng đời khiến một thiết bị trở nên lỗi thời đang ngày một rút ngắn (vòng đời trung bình của một ứng dụng di động chỉ vẻn vẹn 30 ngày), bạn sẽ không có thời gian sử dụng chúng thành thạo trước khi chúng bị thay thế, và bởi vậy, bạn sẽ mãi mãi là một “người dùng mới”, đây cũng chính là một kiểu thiếu sót mới cho tất cả chúng ta, bất kể ta đã có bao nhiêu kinh nghiệm và tuổi tác.

Nếu nói một cách chân thật, chúng ta phải thú nhận rằng một khía cạnh của sự nâng cấp không ngừng và biến đổi không hồi kết của hệ thống công nghệ kết nối toàn cầu (technium) là sự gia tăng của nhu cầu. Cách đây không lâu, tất cả chúng ta đã quyết định không thể sống một ngày mà không có điện thoại thông minh. Thế mà khoảng chục năm về trước, chúng ta chẳng hề bận tâm về nhu cầu này. Ngày nay chúng ta bực mình vì mạng chạy chậm, thế nhưng trước kia chúng ta còn chẳng có khái niệm gì về Internet. Càng sáng chế ra nhiều công nghệ mới, nhu cầu của chúng ta càng cao.

Một số người không hài lòng với xu hướng này. Họ cho rằng những nhu cầu này hạ thấp phẩm giá con người, là nguồn cơn của sự bất mãn không dứt. Tôi đồng ý rằng công nghệ chính là nguyên nhân khiến chúng ta mãi không thấy hài lòng. Động lực của công nghệ thúc đẩy chúng ta đuổi theo các công nghệ mới nhất, và bởi nó mới chẳng được bao lâu, chúng ta mãi không có được sự thỏa mãn trọn vẹn. Mặc dù đồng ý với ý kiến này, nhưng tôi lại ủng hộ sự bất mãn mà công nghệ mang lại. Khác với tổ tiên của mình, chúng ta không chỉ bằng lòng với sự tồn tại đơn thuần, mà còn nghĩ ra nhiều tham vọng mới. Sự không hài lòng của loài người đã châm ngòi cho tính sáng tạo và phát triển.

Con người không thể tự phát triển nếu không có nhu cầu hay khao khát nào. Chúng ta đang mở rộng giới hạn của chính mình và thêm vào những yếu tố làm nên bản sắc của mình. Nhưng khi hình dung ra một tương lai tốt đẹp hơn, chúng ta nên tính đến những khó khăn khi hiện thực hóa nó.

Một thế giới hoàn toàn thoải mái là điều không tưởng, và nó cũng là một thế giới trì trệ. Một thế giới hoàn toàn công bằng ở một vài khía cạnh sẽ cực kỳ bất công ở những khía cạnh khác. Tình trạng “hoàn hảo không tưởng” sẽ không có khó khăn nào cần giải quyết, và do đó cũng chẳng có cơ hội nào cho chúng ta nắm bắt.

Tuy nhiên, chúng ta không cần phải lo lắng về những nghịch lý trong trạng thái “không tưởng”, bởi đơn giản là chúng không bao giờ xảy ra. Mọi kịch bản về một thế giới hoàn hảo không tưởng đều có những lỗ hổng. Nỗi ác cảm của tôi dành cho nó còn sâu sắc hơn. Tôi chưa từng tìm được một trạng thái hoàn hảo mà mình muốn sống, vì chắc chắn cuộc sống ấy sẽ vô cùng buồn chán. Ngược lại, thế giới phản địa đàng – cuộc sống với đầy rẫy buồn đau và bất công lại đáng nói hơn nhiều. Và thế giới ấy cũng dễ hình dung hơn một thế giới “hoàn toàn không tưởng”. Một thế giới giống trong sách khải huyền mà ở đó chỉ còn lại một người duy nhất sống sót, một thế giới bị cai trị bởi robot, hay một hành tinh với những thành phố lớn dần tan rã thành từng khu ổ chuột, hoặc đơn giản là chiến tranh hạt nhân hủy diệt tất cả. Đó là những cái kết cho nền văn minh hiện đại mà chúng ta dễ dàng tưởng tượng ra. Nhưng không phải chỉ vì thế giới phản địa đàng dữ dội, đậm chất điện ảnh và dễ hình dung hơn thì nó có khả năng xảy ra.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Định luật Davodga


Nếu bạn muốn có một cuộc sống vô cùng thành công, nếu bạn muốn có một công ty vô cùng thành công, bạn cần điều gì nhất? Tôi có thể không hề đắn đo mà trả lời bạn rằng, chính là tinh thần sáng tạo! Thế giới này thay đổi quá lớn, chúng ta cần phải mở rộng đôi tay, toàn tâm toàn chí xâm nhập vào thời đại này, học cách dùng những phương thức khác nhau để có những suy nghĩ mang tính sáng tạo về một vấn đề. Đối với một doanh nghiệp thì việc quan trọng nhất nên ý thức được chính là khi mỗi người đều tuân thủ quy tắc, sức sáng tạo sẽ bị bó chặt. Và kết cục của sự tuân thủ đó là diệt vong.

Có người đã từng làm một thí nghiệm rất thú vị: đem 6 con ong và 6 con ruồi nhốt chung trong một chai thủy tinh, sau đó đặt ngang cái chai ra, đẻ cho đáy chai hướng về cửa sổ, sẽ xảy ra hiện tượng gì?

Bạn sẽ nhìn thấy, những con ông không ngừng hướng về phía đáy chai để tìm lối thoát ra, cứ thế cho đến khi chúng sức cùng lực kiệt hoặc đói mà chết; còn ruồi thì trong vòng chưa đầy hai phút, đã xuyên qua đoạn cổ chai mà thoát thân sạch. Thực tế, ong vì thích ánh sáng mà kiên trì hướng về phía ấy nên bước vào đường chết. Ruồi thì chả để ý gì đến ánh sáng, chúng chỉ nghĩ cách nào để thoát thân nên bay tứ tung, kết quả là đánh sai đụng nhầm mà lại may mắn, cuối cùng phát hiện ra lối thoát chính giữa ấy, đồng thời nhờ thế mà đạt được tự do và sự sống mới.

Từ thực nghiệm này chúng ta có thể nghĩ đến môi trường tồn tại của doanh nghiệp đột nhiên có thể từ trạng thái bình thường mà thay đổi một cách không biết trước, không tưởng tượng và không lý giải được, những “con ong” trong doanh nghiệp lúc nào cũng có thể đụng phải “bức tường thủy tinh” không cách nào giải thích được, làm thế nào? Chỉ có cố gắng sáng tạo! Sáng tạo mới có thể có tiền đồ, bảo thủ và không thay đổi tư tưởng cuối cùng nhất định sẽ bị thất bại.

Trước đây, gần như tất cả mọi người đều cho rằng chỉ có phần cứng mới có thể làm ra tiền được, Bill Gates là doanh nhân đầu tiên nhìn ra tiền đồ của phần mềm, hơn nữa “dùng mềm chế cứng”, ứng dụng hệ thống phần mềm vào tất cả các ngành hoặc công ty. Khai thác sử dụng rộng rãi phần mềm máy tính thay đổi thế giới khoa học tư liệu thông tin, cũng thay đổi công việc và cách sống của con người. Người ta gọi Bill Gates là “lãnh tụ trong giới kinh doanh có ảnh hưởng lớn nhất với thế kỷ này”, thật chẳng có gì là quá. Hiện tại, nền kinh tế truyền thống đã nhường ngôi cho nền kinh tế sáng tạo. Thống kê ở Mỹ cho thấy, chỉ có 3,1 vạn nhân viên của công ty phần mềm, nhưng tổng kim ngạch thị trường vốn đạt đến 600 tỷ USD. Nhân viên công ty Mc Donald’s nhiều gấp 10 lần công ty phần mềm, nhưng tổng doanh thu thị trường vốn của họ chỉ bằng 1/10 của công ty phần mềm. Dù thế kỷ XXI vẫn còn thị trường của hamburger, nhưng ảnh hưởng và tham vọng của nó không thể so với thị trường phần mềm.

Phần mềm vẫn là người đầu tiên cung cấp quyền lựa chọn cổ phiếu làm thù lao của công ty cho tất cả các nhân viên. Kết quả, sáng tạo ra vô số các triệu phú, cũng củng cố lòng trung thành của nhân viên, giảm bớt số nhân viên lưu động. Phương pháp này được nhiều doanh nghiệp khác thi nhau sử dụng, gặt hái được thành công to lớn.

Phần mềm luôn luôn dẫn đầu, dựa vào cái gì? Chính là sự sáng tạo. Muốn phát huy tiềm năng của con người với một hạn độ lớn nhất, thì không được bị hạn chế bởi suy nghĩ tự trói buộc chân tay. Người thành công tin tưởng vào ước mơ, và cũng thích thú một cách đơn giản, rõ ràng nhưng rất có chủ ý sáng tạo tốt.

Khách sạn Aier, Keqi ở Shengdiyage do không đủ sử dụng đã mời đến rất nhiều chuyên gia để thương lượng đối sách. Trải qua một hồi đàm đạo, các chuyên gia cùng cho là phải thêm một bộ thang máy nữa, cách tốt nhất là một tầng phá một cái hốc to, tầng dưới mặt đất lắp một motor. Sau khi quyết định, hai vị chuyên gia ấy đến tiền sảnh ngồi cẩn thận bàn bạc vấn đề. Đúng lúc một người lao công quét dọn nghe thấy kế hoạch của họ.

Người lao công nói với họ: “Mỗi tầng đều phá một hốc to, chẳng phải làm cho loạn hết cả lên, tới đâu cũng thấy bụi bay mù mịt ư?”

Vị kiến trúc sư trả lời: “Đó là việc khó tránh, tới lúc đó còn phải phiền bác mệt mỏi nhiều”.

Người lao công nói: “Theo tôi, khi các ông thi công tốt nhất nên đóng cửa khách sạn một thời gian”.

“Không đóng được, bác đóng cửa một thời gian, người ta lại tưởng sập tiệm rồi. Do vậy, chúng tôi dự tính một mặt thi công, mặt khác tiếp tục mở cửa. Nếu không làm thêm một bộ thang máy nữa, về sau khách sạn cũng khó mà mở cửa tiếp được”.

Người lao công đứng thẳng lên, hai tay nắm lấy cán chổi, nói: “Nếu tôi mà là các ông, tôi sẽ cho đặt thang máy ở ngoài khách sạn. Hai vị chuyên gia vừa nghe xong ý kiến đó, trước mắt lóe lên một tia sáng. Liền ngay sau đó từ ý kiến của người lao công, lần đầu tiên trong lịch sử kiến trúc cận đại sáng tạo ra một sáng kiến mới… đặt thang máy ở bên ngoài nhà. Một ví dụ về sự sáng tạo hết sức thông minh, đã tiết kiệm được không biết bao nhiêu tiền của cho các thương gia.

Mấy năm trước, tủ lạnh ở thị trường Nhật Bản bị ngừng trệ khi bán ra, giá bán lẻ mỗi năm giảm 5%, các chủ nhà máy than thở không dứt. Nhưng trong vòng một năm từ tháng 2 năm 1988 đến tháng 2 năm 1989, lượng tủ lạnh được bán ra tăng nhiều hơn năm trước 6,1%. Vì sao? Đáp án ở sự sáng tạo kỹ thuật của các nhà sản xuất tủ lạnh.

Đối với công ty Sanyo – ở 18 độ thịt có thể đông cứng, nhưng khoảng 0oC của ngăn đá lại không thể làm đông thịt, cả hai đều có khiếm khuyết, công ty đã chế tạo ra loại ngăn đá 7oC mới. Công ty Toshiba thì cung cấp loại ngăn đá làm thức ăn đông nhanh 25 phút (tốc độ đông nhanh gấp 3 lần loại tủ lạnh thường), nâng cao độ giữ tươi, tiết kiệm điện một nửa. Công ty Sanyang dùng kỹ thuật “màn khí lạnh” (khí lạnh tuần hoàn) của quầy bán thịt và thức ăn tươi sống trong siêu thị áp dụng vào tủ lạnh, nâng cấp tính chống hỏng, làm thời gian giữ tươi cũng tăng gấp đôi. Công ty Songxia nghe và sử dụng ý kiến của phụ nữa là chủ gia đình, đã nâng cấp tính tiện lợi của tủ lạnh. Chính nhờ những cải tiến kỹ thuật này đã làm cho thị trường tủ lạnh chuyển sang phát triển.

Cải tiến cũng là sáng tạo. Sáng tạo không chỉ giới hạn trong những đột phá to lớn của khoa học kỹ thuật, người Nhật chẳng làm nên những đột phá lớn về khoa học kỹ thuật trên thế giới, nhưng họ dùng kỹ thuật có sẵn làm cơ sở để phát minh ra máy nghe dạng thẻ mang theo người nghe, máy quay phim gia đình và máy dùng thẻ lại thịnh hành toàn cầu, đem lại lợi nhuận dồi dào. Ôtô và ti vi chẳng phải người Nhật phát minh, nhưng họ lại chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng các sự đặc sắc bởi chất lượng cao, giá cả thấp và tiết kiệm nhiên liệu và điện. Kinh nghiệm của Nhật Bản cũng nói cho chúng ta biết, sự sáng tạo không phân to nhỏ, một sáng kiến nho nhỏ cũng bao gồm cả một cơ hội thương mại to lớn. Không chỉ có tinh thần khai phá, không dám mạo hiểm, thì không bước tới được con đường mới, làm không ra sự nghiệp mới. Sáng tạo là một động lực không bao giờ cạn của một dân tộc, lại càng là nguồn suối của sự sống của một doanh nghiệp. Sự khác biệt lớn nhất của nhà doanh nghiệp và một nhà quản lý bình thường là ở chỗ có tinh thần sáng tạo và sự táo bạo. Lật lại 200 năm cách mạng công nghiệp của lịch sử cận đại, bất luận là quốc gia nào, những người sáng tạo thành công ấy, đều là con “ngựa đen” bị giết chết, đều ở những cái mà người khác không nghĩ đến, dùng những cách mà người khác không nghĩ ra, gặt hái được những thành công mà người khác không ngờ đến. Họ không đến đại học Harvard hay đại học Stanford cầm một cái bằng MBA, sau đó mới trở thành nhà doanh nghiệp, mà họ được đào tạo, rèn luyện dưới những công việc thực tiễn mang tính sáng tạo, đó là việc khó khăn và đáng trân trọng.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Đức Lân (bs) – 99 nguyên tắc giản đơn quyết định trong cuộc sống – NXB TN 2008.

“Tai mắt” của thế giới tại Biển Đông và xa hơn thế


Trong bối cảnh xảy ra căng thẳng trên Biển Đông, một vấn đề đang nổi lên đó là: hiện chưa có đủ các phân tích để hiểu rõ về tất cả các tàu thuyền hay bất kỳ hành động nào trên biển, hoặc chính phủ các nước không đủ phương tiện để liên tục giám sát tất cả các hoạt động này. Tuy nhiên, thực tế này đang được thay đổi nhờ sự phát triển của các nhân tố thương mại hàng không vũ trụ vốn đang ảnh hưởng đến môi trường an ninh quốc gia theo các cách quan trọng.

Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chủ yếu là biển và đại dương, đây là lý do tại sao Bộ nhận thức về các vấn đề hàng hải (MDA) lại nhận được sự chú ý về vấn đề hòa bình, thịnh vượng và an ninh. Tầm quan trọng của MDA nổi lên khi Trung Quốc hành động hung hăng trên Biển Đông, trong khi Mỹ và các đồng minh khẳng định các nguyên tắc tự do hàng hải, ngăn chặn xung đột và áp bức, và thực thi luật quốc tế. Một định nghĩa của MDA là “sự hiểu biết sâu sắc” về mọi thứ liên quan đến biển, đại dương, hoặc các hàng hóa, tàu tuyền và vận tải. Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS) đang giúp làm rõ những hình ảnh về cái mà chính phủ Trung Quốc nói là họ làm và không làm ở khu vực lân cận. Hình ảnh vệ tinh của công ty DIgitalGlobe, được cung cấp năm 2015, đã mở màn cho cuộc tranh luận chính sách về hàn vi của Trung Quốc trên Biển Đông. Hình ảnh này không chỉ ảnh hưởng tới cách các bên nhìn nhận hành vi của Trung Quốc như thế nào, mà còn xem cách họ đánh giá các phản ứng của Mỹ vốn đang được xem xét trong khu vực. Một ví dụ khác về MDA, đó là hình ảnh của công ty DigitalGlobal đã giúp xác định các hoạt động đánh bắt cá trái phép nhằm đưa số hải sản đánh bắt được vào chuỗi cửa hàng và các công ty thức ăn vật nuôi của Mỹ. Các công ty lâu đời như DigitalGloble, và các công ty mới như Planet Labs và BlackSky, đã thay đổi những kỳ vọng của con người về hình ảnh vệ tinh, như thời điểm, số lượng và tốc độ mà các khách hàng có thể nắm rõ mọi thứ trên toàn cầu. Các khách hàng có thể quan tâm đến vấn đề kinh tế, nhân đạo, môi trường hay an ninh. Họ cũng có thể quan tâm đến các vấn đề trong và ngoài nước. Các khách hàng có thể là chính phủ hay quân đội, các tập đoàn hay thậm chí các cá nhân. Chi phí thấp và số lượng lớn các vệ tinh nhỏ đồng nghĩa các khách hàng có thể linh hoạt sử dụng các nguồn khác thay vì chỉ từ các cơ sở an ninh quốc gia.

Sự phát triển của các vệ tinh nhỏ đồng nghĩa rằng sự cạnh tranh và “tắc nghẽn” trên không gian có khả năng tăng cao. Sự cạnh tranh này sẽ được hỗ trợ hoặc thậm chí dẫn đầu bởi chính phủ các nước không thuộc phương Tây, như Trung Quốc, Nga và Nhật Bản, vốn có vị trí và lợi ích độc lập trên vũ trụ. Thậm chí Công ty thương mại nổi tiếng như DigitalGloble cũng không thoát khỏi “cám dỗ” của các vệ tinh nhỏ. Cách tiếp cận pha trộn và đa tầng của công ty này có thể là cách đúng đắn. Trong liên doanh với Taqnia Space và KACSR của Saudi Arabia, Công ty DigitalGloble đang hướng tới lắp đặt thêm các lớp vệ tinh nhỏ quan sát Trái đất vào hạm đội các tàu vũ trụ lớn. Dần dần, việc quan sát liên tục trái đất từ các vệ tinh này sẽ kết hợp với các phân tích dữ liệu lớn và phương pháp phân tích dữ liệu “machine learning” (một lĩnh vực của trí tuệ nhân tạo cho phép các hệ thống “học” tự động từ dữ liệu để giả quyết các vấn đề cụ thể). Thông tin được lĩnh hội sẽ trở nên đa hướng, đa nguồn, đa lĩnh vực và có thể được dự báo.

Dữ liệu trên vệ tinh có thể kết hợp với dữ liệu từ các cá nhân di chuyển khắp thế giới với điện thoại thông minh, hệ thống định vị GPS  và mạng xã hội. Các công ty, như Google, đang tiên phong thúc đẩy phương pháp “machine learning” nhanh hơn mọi người dự đoán và sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong phân tích dữ liệu. Nếu xu hướng này được tiếp diễn, chúng sẽ tái định hình nhận thức của con người về an ninh, ổn định và an toàn trên khắp hành tinh. Bởi vậy, nếu chỉ nghĩ đến tác động của chúng trong khuôn khổ MDA là chưa đủ. Cùng với đó, chúng cũng có tác động thực sự đến quan hệ giữa các quốc gia trên mọi lĩnh vực. Chúng cũng làm thay đổi sự tương tác giữa các xã hội.

Nếu các chính phủ và quân đội đang liên tục theo dõi hành tinh này thì họ cần nhớ rằng những người khác cũng đang theo dõi họ. Bởi vậy, họ cần thay đổi chiến thuật, cách hành động và chiến lược – và không chỉ những hành động đối với các đối tác ở những nước khác.

Nguồn: Forbes.com – 01/06/2016

TKNB 02/06/2016

Về nguyên lý “Tảng băng trôi” của Ernest Hemingway


Những phát biểu dưới nhiều hình thức khác nhau của Ernest Hemingway về sáng tác đã thực sự được các nhà phê bình nghiên cứu về sáng tác của chính tác giả, Harry Levin, Joseph Warren Beach rồi Frederic I Carpenter(1) tìm cách lý giải chiều thứ ba, thứ tư, thứ năm trong cấu trúc văn xuôi đa chiều của E.Hemingway là xuất phát từ chính ý kiến của tác giả về thứ “văn xuôi khó hơn rất nhiều so với thơ ca và chưa từng được viết ra nhưng có thể được viết ra và chẳng cần đến xảo thuật cùng sự đánh tráo nào cả” trong những ngọn đồi xanh châu Phi (Green Hills of Afica, 1935), và trong chính tác phẩm này cũng như trong các bài phỏng vấn, truyện ngắn, tiểu thuyết, cách E.Hemingway hay nhân vật của ông đánh giá thứ văn chương hùng biện hoặc nêu ý kiến về câu chữ… đã giúp cho các nhà phê bình, nghiên cứu định hướng trong quá trình nghiên cứu về phong cách E.Hemingway(2).

Những cách làm như thế là hoàn toàn sáng rõ về phương diện thao tác và phương pháp trong chừng mực nhà nghiên cứu tránh cắt xén và coi các phát biểu của tác giả chỉ đơn thuần là cái cớ mà những phát biểu là tùy thuộc cách biện giải của nhà nghiên cứu, mặc dù những phát biểu của nhà văn đôi khi không thể thâu tóm hết những vấn đề sáng tác của chính bản thân. Đó là chưa kể, đôi khi, cách nói của E.Hemingway lại mang tính đa nghĩa bất ngờ, ví dụ một đoạn trong những ngọn đồi xanh châu Phi:

“Hãy cho biết cái gì, những thứ thực tế và cụ thể ấy, gây hại cho nhà văn?”

Tôi mệt mỏi về cuộc trao đổi đã ra chiều phỏng vấn. Thế nên tôi đẩy nó thành cuộc phỏng vấn cho xong chuyện và xin chào. Cần thiết phải đẩy một ngàn chuyện bất khả tri vào một câu trong lúc này, ngay trước bữa ăn trưa, là rất sinh tử:

“Chính trị, phụ nữ rượu chè, tiền bạc, tham vọng, và thiếu chính trị, phụ nữ, rượu chè, tiền bạc và tham vọng”. Tôi nói một cách sâu sắc.

Và sau khi đã đi trọn một đời văn, đã đạt đến đỉnh cao vinh quang của nghiệp văn, Hemingway nhìn lại sáng tác của mình mà đánh giá. Chính bấy giờ, trong bài phỏng vấn do Geoge Plimpton(3) ghi. Hemingway đã nói về hình ảnh “tảng băng trôi” một phần nổi bảy phần chìm như thứ nguyên lý (principle) sáng tác của ông, và từ đấy, “tảng băng trôi” trở đi trở lại trong nhiều bài viết về E.Hemingway, đặc biệt ở Việt Nam.

Chúng ta tiếp cận ý kiến này của E.Hemingway khi nghiên cứu về sáng tác của ông, theo chúng tôi, ít nhất xuất phát từ hai lẽ. Thứ nhất, những phát biểu của E.Hemingway về sáng tác và về sáng tác của chính mình sáng rõ một cách hàm ẩn vì thế đặc biệt cuốn hút các nhà nghiên cứu; hơn nữa vấn đề nguyên lý “tảng băng trôi” về thời điểm xuất hiện và về nội hàm của nó như mang ý nghĩa tổng kết sáng tác của nhà văn về phương diện lý luận. Thứ hai, điều này thực sự thú vị vì liên quan đến tiềm thức phương Đông về văn chương, là nguyên lý “tảng băng trôi” của E.Hemingway bất ngờ giống đến độ như trùng khít với quan niệm của chúng ta về văn chương (cổ), đặc biệt, về thơ, và chúng ta thường dành cho thơ: ý tại ngôn ngoại, điểm – diện, nhất điểm – vạn điểm, một góc – ba góc, quí hồ tinh bất quí hồ đa… Chính điểm thứ hai này dễ khiến chúng ta tiếp nhận nguyên lý “tảng băng trôi” của E.Hemingway một cách đơn giản. Chúng ta dễ dàng đẩy thao tác chọn lựa, thồi ảo trong quan niệm phương Đông (về thơ) vào thao tác loại bỏ (omit, eliminate) trong quan niệm của E.Hemingway về văn xuôi (prose) của ông. Từ đó các nhà nghiên cứu đi tìm những biểu hiện của nguyên lý này ở nhiều phương diện khác nhau: ngôn ngữ và giọng điệu của tác phẩm, vấn đề xây dựng hình tượng nhân vật… và coi những biểu hiện này chủ yếu thuộc phương diện hình thức nghệ thuật, thậm chí có lúc coi nguyên lý “tảng băng trôi” là một phương diện trong nhiều phương diện khác nhau của nghệ thuật văn xuôi E.Hemingway như “miêu tả tâm lý”, “bút phán đối thoại và độc thoại”… Những khám phá  như vậy, ví dụ vấn đề liên văn bản, giọng điệu mỉa mai và tượng trưng, hiện tượng lặp từ hay hình ảnh, ngôn ngữ đối thoại giản dị, rời rạc…, là hoàn toàn xác đáng nhưng chỉ mới dừng lại ở cấp độ hình thức biểu hiện, “phương pháp viết” hay “quan niệm về sáng tạo nghệ thuật và biểu hiện”.

Chúng tôi quan tâm đến nguyên lý “tảng băng trôi” của E.Hemingway theo hướng khác như một đặc điểm thi pháp có tính hệ thống, quan niệm trong sáng tác của E.Hemingway chuyển tải quan niệm của nhà văn về con người và thế giới.

Điều khá hiểm hóc và tạo nhiều hiểu lầm lại xuất phát từ chính hình ảnh quá sáng rõ của bảy phần chìm và một phần nổi của “tảng băng trôi” và do đó dễ đẩy chúng ta đến khái niệm mạch ngầm văn bản theo hướng chúng tôi đã nói ở trên. Thực ra, trước khi phát biểu về nguyên lý “tảng băng trôi”, E.Hemingway đề cập đến chuyện quan sát của nhà văn nhân gợi lại chuyện ông gặp người phụ nữ có thai rồi ngay buổi chiều hôm ấy viết truyện ngắn. Những quả đồi tựa như những con voi trắng, bỏ cả cơm trưa. Sau đây là trọn đoạn trả lời (có đề cập đến nguyên lý “tảng băng trôi”) của E.Hemingway:

Phóng viên: Thế là khi ông không viết, ông vẫn là người quan sát, chờ đợi một thứ gì đó có thể sử dụng được.

E.Hemingway: Chắc vậy. Nhà văn mà không quan sát là hết đời. Nhưng anh ta không phải cố ra mà quan sát và không nên nghĩ là điều gì quan sát được sẽ hữu ích ra sao. Có thể là thời tập tễnh viết thì như vậy. Nhưng về sau thì mọi thứ anh ta nhìn thấy sẽ hòa vào kho dự trữ lớn những điều anh ta đang biết hoặc đã gặp. Nếu biết điều quan sát được chút gì lợi ích, tôi luôn luôn cố gắng viết theo nguyên lý tảng băng trôi. Có bảy phần tám tảng băng trôi dưới nước để cho (ĐNC nhấn mạnh) một phần lộ ra. Thứ gì anh ta biết có thể bỏ đi và điều đó chỉ làm tảng băng trôi của anh thêm mạnh mẽ. Đó là phần không lộ ra. Nếu nhà văn bỏ đi một vài thứ bởi vì anh ta không biết chúng thế là có một lỗ hổng trong câu chuyện.

Ông già và biển cả có thể dài trên một ngàn trang và có đủ mặt nhân vật trong làng cùng đủ mọi cách kiếm sống, ra đời, học hành, sinh con đẻ cái… Điều đó được hoàn tất một cách xuất sắc bởi những nhà văn khác. Trong chuyên viết lách anh thường phải quẩn quanh trong thứ đã được thực hiện thỏa đáng. Vì thế tôi phải cố gắng học làm một vài điều khác. Trước hết tôi phải cố gắng bỏ đi tất cả những thứ không cần thiết để chuyển tải kinh nghiệm đến người đọc, nhờ vậy sau khi bạn đọc nam nữ đã đọc được điều đó thì nó sẽ trở thành một phần kinh nghiệm của họ và như là thực sự xảy ra. Điều này rất khó làm và tôi đã cật lực thực hiện.

Bỏ qua chuyện ấy được thực hiện như thế nào, dẫu sao lần này tôi có được cơ may khó tin và có thể chuyển tải kinh nghiệm một cách trọn vẹn và đó là thứ kinh nghiệm mà chưa ai từng chuyển tải. Cơ may là thế này: tôi đã tóm được một người đàn ông đáng mặt và một đứa bé trai ngon lành và gần đây các nhà văn đã quên rằng vẫn đang có những thứ như thế. Cả biển cả cũng đáng được viết như người vậy. Thế là nơi đó tôi gặp may. Tôi đã từng gặp ông bạn cá đao và biết rõ điều đó. Thế là tôi bỏ đi. Tôi đã từng chứng kiến một đàn năm mươi con cá nhà táng trong cùng một luồng nước và có lần phóng lao vào một con dài 60 feet và để mất. Thế là tôi bỏ đi. Tất cả những câu chuyện biết từ cái làng chài tôi đều bỏ đi. Nhưng kiến thức là thứ làm nên phần chìm của tảng băng trôi.

Nguyên lý “tảng băng trôi” như vậy liên quan đến một loạt vấn đề: quan sát, kiến thức, kinh nghiệm, loại bỏ, tính dân chủ của sáng tác, lỗ hổng của tác phẩm… đặc biệt mối quan hệ giữa phần nổi với phần chìm. Thật ra tất cả những vấn đề ấy có mối quan hệ mật thiết trên cơ sở loại bỏ. Ít nhất, trong lần phỏng vấn này, Hemingway trước đó đã nói đến thao tác này trong mối quan hệ với kiến thức, lỗ hổng của tác phẩm, phần chìm, phần nổi: “Cái gì anh có thể bỏ được là anh biết rõ anh vẫn đưa được vào tác phẩm và chất của nó sẽ lộ ra. Khi nhà văn bỏ qua những thứ mà mình không biết thì chúng sẽ bài ra những lỗ hổng trogn tác phẩm”. Và sau đó: “Thứ gì anh biết anh có thể bỏ đi và điều đó chỉ làm tảng băng trôi của anh thêm mạnh mẽ. Đó là phần không lộ ra. Nếu nhà văn bỏ đi một vài thứ bởi vì anh ta không biết chúng thế là có một lỗ hổng trong câu chuyện”.

Cơ sở của “loại bỏ” là kiến thức, kiến thức viên mãn về một vấn đề nào đó trong kho dự trữ lớn lao mà nhà văn có được. Nếu không, sẽ không phải là phần chìm mà là lỗ hổng. Với thao tác lược bỏ này, E.Hemingway đặc biệt quan tâm đến phần chìm; trong khi đó với thao tác lựa chọn, chúng ta dễ hướng tới phần nổi. Điều này giúp lý giải hiện tượng ngôn ngữ trong tác phẩm E.Hemingway.

Trong bài phỏng vấn đã nêu, rất nhiều lần E.Hemingway đề cập đến kiến thức và nhiều dạng kiến thức: kiến thức xác thân, kiến thức riêng, kiến thức khách quan, kiến thức không thể giải thích được như thứ kinh nghiệm về gia đình, chủng loại đã bị quên lãng, đồng thời ông cho rằng hoạt động sáng tác (theo cách hiểu của chúng ta) là hoạt động phát minh (invent), làm ra (make) từ kiến thức, kinh nghiệm và hiểu biết về hiện thực, thế giới. Những điều đó cho chúng ta thấy rằng sáng tác và hoạt động sáng tác của E.Hemingway, nhìn từ góc nhìn của chính tác giả, gắn bó với nhận thức hiện thực và điều đó là nguyên tắc. Xuất phát từ việc loại bỏ những gì đã biết rõ về hiện thực, thế giới trên cơ sở toàn bộ những kiến thức kinh nghiệm, hiểu biết về thế giới, nguyên lý “tảng băng trôi” tạo nên một hiệu quả nghệ thuật trên người đọc, thực hiện quá trình dân chủ hóa hoạt động sáng tác và tiếp nhận khi chuyển tải kinh nghiệm như một quan niệm bản thân về thế giới đến người đọc. Và như thế bản thân hình ảnh “tảng băng trôi” (bảy phần tám dưới nước cho một phần lộ ra) kia không phải là hình thức biểu hiện như hiện tượng hàm súc là hình thức biểu hiện cảm xúc trong thơ (cổ) mà là hình thức cảm nhận (cảm thức) hiện thực, thế giới chủ yếu trong văn xuôi (của E.Hemingway).

Từ đây chúng ta có thể nhận ra mối quan hệ giữa thao tác lược bỏ với các biểu hiện của hình thức cảm nhận hiện thực hay cảm thức hiện thực (nguyên lý “tảng băng trôi”) của E.Hemingway. Đó là hiện tượng khoảng trắng trong đối thoại và độc thoại; hiện tượng lắp ghép, lặp lại, phiến đoạn trong kết cấu ở nhiều cấp độ; hiện tượng phi cốt truyện hay cốt truyện bên trong của cốt truyện; hiện tượng liên văn bản trong cách đọc văn bản tác phẩm; hiện tượng đa giọng một cách đặc biệt trong ngôn ngữ; hiện tượng chất thơ trong lời văn… Bởi vì những biểu hiện như vậy đều gắn bó với hình thưc cảm nhận hiện thực, con người: tảng băng trôi, bảy chìm một nổi. Con người cô đơn, xa lạ vừa như đang cố giấu mình vừa như đang tìm nhau; con người bao giờ cũng như vừa sống hết mình lại vừa phải nén lại, theo đuổi một điều gì rất riêng như một nỗi ám ảnh. Kiểu nhân vật con người ấy trong hiện tượng liên văn bản có khi là sự tiếp nối của một nhân vật(4). Nhân vật luôn luôn đi trên đường trong từng tác phẩm và luôn luôn đi trên đường trong một chuỗi tác phẩm từ sự thúc đẩy của thứ tinh thần thời đại, làm một cuộc phiêu lưu mà cuộc đời là hành trình và là đích tới của nhân vật.

Trong bài viết ngắn này, chúng tôi chỉ nhằm làm sáng tỏ nguyên lý “tảng băng trôi” của E.Hemingway không thuộc phạm vi hình thức biểu hiện và là một hình thức cảm nhận hiện thực (cảm thức hiện thực), một đặc điểm thi pháp sang tính hệ thống và quan niệm trong sáng của E.Hemingway; chứ không đề ra mục tiêu lý giải, miêu tả và chứng minh những biểu hiện của hình thức cảm nhận hiện thực ấy cũng như mối quan hệ giữa những biểu hiện ấy với quan niệm về con người và thế giới của E.Hemingway. Nhưng những khái quát trên đây về những điểm vừa nêu có thể gợi lên những điểm đáng quan tâm, mới mẻ về thế giới nghệ thuật của Ernest Hemingway.

Đào Ngọc Chương
Nguồn: Văn học và Ngôn ngữ

========

Chú thích:

(1) Xin đọc: Harry Levin, “Observations on the style of Ernest Hemingway” và Frederic I. Carpenter, “Hemingway Achieves the Fifth Dimension” trong Hemingway and His Critics, Hill and wang. Inc, NewYork, 1961.
(2) Xin đọc: Harry Levin; SID, Andre’ Maurois, “Ernest Hemingway”, SID; Earl H.Rovit, “Ernest Hemingway: The Sun Also Rises, “Landmarke of American Writing, Forum Lectures, USA, 1970.
(3) George flimpton, “An Interview with Ernest Hemingway”, SID. Những đoạn trích đều do chúng tôi dịch từ bài này.
(4) Xin đọc: Philip Young, Ernest Hemingway, NewYork, 1952.