Kinh tế học Phật giáo – Trung đạo trong Thương trường – Phần IV


Đạo lý quyết định Kinh tế học như thế nào

Chắc chắn rằng sự phân biệt giữa kinh tế học và đạo đức học rất dễ nhận ra. Chúng ta có thể nhìn vào bất cứ hoàn cảnh kinh tế nào kể cả từ viễn cảnh thuần tuý kinh tế, hoặc từ một viễn cảnh thuần tuý đạo đức. Chẳng hạn, bạn đang đọc cuốn sách này. Từ viễn cảnh đạo đức, việc đọc của bạn là một hành động tốt, bạn được thúc đẩy bởi khát vọng hiểu biết. Đây là một phán xét đạo đức. Từ một viễn cảnh kinh tế, mặt khác, cuốn sách này dường như là một sự phí hoài các nguồn mà không có một lợi ích rõ ràng. Điều kiện tương tự cũng được thấy theo cách khác. Tuy nhiên hai quan điểm đó tương liên và ảnh hưởng lẫn nhau. Trong khi tư duy kinh tế học hiện đại phản đối bất cứ giá trị chủ quan nào chẳng hạn như đạo đức học, thì ảnh hưởng của đạo đức học trong các vấn đề kinh tế lại hoàn toàn rõ ràng. Nếu một cộng đồng mà không an toàn – nếu có những tên trộm, thì việc ăn trộm là một hành động tội ác, và những con đường là không an toàn khi ta đi lại – vậy thì rõ ràng là doanh nghiệp sẽ không đầu tư vào đó, khách du lịch sẽ không muốn đến đó, và nền kinh tế sẽ phải chịu thua thiệt. Mặt khác, nếu các công dân chấp hành luật và có kỷ luật tốt và có ý thức giúp đỡ duy trì sự an ninh và sạch sẽ của cộng đồng thì các doanh nghiệp sẽ có cơ hội tốt để thành công và chính quyền thành phố sẽ không phải tiêu quá nhiều tiền để duy trì an ninh trật tự công cộng.

Kinh doanh phi đạo đức có những hậu quả trực tiếp. Nếu các doanh nghiệp cố tăng lợi nhuận bằng cách sử dụng cả những chất lượng không đảm bảo, chẳng hạn như dùng phẩm nhuộn làm màu cho kẹo của trẻ em, dùng các hoá chất thay thế cho nước cam, hoặc cho acid boric vào thịt viên (tất cả những hành động đó đều đã xảy ra ở Thái Lan trong những năm vừa qua) thì rõ ràng là sức khoẻ của người tiêu dùng đã bị đe doạ. Những người bị đau ốm bởi những hàng hoá như vậy phải chi phí cho thuốc men, còn chính phủ thì phải tiêu tiền cho cảnh sát tìm kiếm và truy tố bọn tội phạm. Hơn nữa những con người bị đau ốm sẽ không thể duy trì được năng suất lao động. Trong thương mại quốc tế, những người nào làm ăn gian dối làm mất đi lòng tin của khách hàng và bỏ mất thị trường quốc tế – cũng như mất đi những khoản ngoaị tệ kiếm được thông qua các thị trường này.

Phẩm chất đạo đức cũng ảnh hưởng đến sản lượng công nghiệp. Nếu các công nhân thích thú với công việc của họ và họ có tác phong công nghiệp thì sản lượng sẽ cao. Nhưng nếu họ không trung thực, khó chịu hoặc lười nhác thì sẽ có một kết quả tiêu cực đối với chất lượng sản xuất và số lượng sản phẩm. Khi được đưa ra thị trường, những người khách hàng trong một xã hội có những giá trị phù phiếm và hay thay đổi sẽ thích những sản phẩm hào nhoáng, phô trương. Trong một xã hội thực tiễn với các giá trị xã hội chín chắn và không hoang phí thì những người tiêu dùng sẽ lựa chọn những hàng hoá dựa vào mức độ đáng tin cậy của chúng. Rõ ràng là các hàng hoá được tiêu thụ trong các xã hội khác nhau này sẽ dẫn đến những kết quả kinh tế và xã hội khác nhau.

Quảng cáo kích thích hành vi kinh tế, nhưng lại thường không thể chấp nhận được về phương diện đạo lý. Quảng cáo liên quan đến các giá trị phổ biến: người quảng cáo phải phát hiện ra các ham muốn, các thiên hướng và khát vọng thông thường để tạo ra các quảng cáo. Bằng việc khai thác tâm lý xã hội quảng cáo tạo ra giá trị thông dụng cho các mục đích kinh tế, và vì tác động trở lại đối với tâm tư của công chúng nên nó có ý nghĩa đạo lý rất đáng kể. Dung lượng quảng cáo có thể tạo ra sự gia tăng chủ nghĩa vật chất và những hình ảnh hoặc thông điệp vụng về có thể gây hại không nhỏ đối với đạo đức công cộng. Rất nhiều quảng cáo làm cho công chúng ngập trong đam mê ích kỷ; các quảng cáo đó làm cho chúng ta trở thành những kẻ tiêu thụ hoàn hảo mà không còn bất cứ mục đích nào khác trong cuộc đời để theo đuổi nữa ngoài mục đích tiêu thụ các sản phẩm của nền công nghệ hiện đại. Trong quá trình đó, chúng ta bị biến đổi trở thành những “con ma đói” lúc nào cũng thèm được ăn và xã hội trở thành một đám đông lúc nào cũng sôi lên sùng sục bởi sự xung đột lợi ích.

Tuy nhiên quảng cáo cũng bổ sung vào tự thân giá trị sản phẩm. Vì vậy người ta có khuynh hướng mua những đồ vật không cần thiết với cái giá không không phải là đắt. Người ta thường rất lãng phí và phung phí quá mức. Mọi thứ chỉ được sử dụng trong một thời gian rất ngắn, sau đó lại đổi bằng những đồ vật mới, thậm chí ngay cả khi chúng vẫn còn rất tốt. Quảng cáo cũng góp phần dung dưỡng người ta phô trương của cải và quyền sở hữu như là một phương cách nhằm có được vị thế xã hội. Khi khát vọng đua đòi trở thành một tiêu chí chính yếu thì người ta sẵn sàng mua sắm cả những sản phẩm đắt tiền nhưng không cần thiết mà không hề quan tâm đến chất lượng của các sản phẩm đó. Trong những trường hợp cực đoan, người ta còn bị dẫn dắt bởi khát vọng thể hiện phong độ là thứ mà người ta bất chấp cả việc tiết kiệm các khoản tiền lớn bị đem ra phung phí vô ích cho những đồ vật mới nhất, hoặc chạy theo các mốt thời trang – người ta chỉ cần một hành động rất đơn giản và tiện lợi là sử dụng những tấm thẻ tín dụng. Việc chi tiêu quá mức những khoản tiền kiếm được có thể khiến người ta sa vào một vòng xoáy tội lỗi. Một mẫu mốt mới hơn được quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và người ta phóng mình sâu hơn vào nợ nần. Bằng cách đó, việc quảng cáo phi luân có thể dẫn người ta tới phá sản về tài chính. Thật trớ trêu là với một lượng thông tin khổng lồ, hầu hết chúng đều được sử dụng để tạo ra những “thông tin sai lầm” hoặc các ảo tưởng.

Trong môi trường chính trị, người ta đưa ra các quyết định liên quan đến chính sách quảng cáo – trong lĩnh vực này cần phải có sự kiểm sóat, và nếu như vậy thì đó là loại kiểm soát nào? Người ta phải làm gì để đạt được sự cân bằng chính xác giữa các quan tâm về đạo đức và kinh tế? Giáo dục cũng liên quan mạnh mẽ đến lĩnh vực này. Những cách thức có thể sử dụng để dạy cho người ta thức tỉnh về việc quảng cáo họat động như thế nào để thể hiện nó, và để xem xem người ta tin tưởng vào nó được bao nhiêu. Một nền giáo dục tốt cần phải tìm cách làm cho người ta khôn ngoan, tỉnh táo và hiểu biết hơn trong khi quyết định mua sắm những loại hàng hóa nào. Vấn đề quảng cáo thể hiện các hành động thình hành trong xã hội có thể được nhìn nhận như thế nào từ nhiều quan điểm khác nhau, tất cả những vấn đề đó đều liên quan đến nhau.

Khi nhìn nhận vấn đề bằng một quan điểm rộng rãi hơn, người ta có thể thấy rằng hệ thống thị trường tự do tự thân chúng chắc chắn phải dựa vào một tối thiểu đạo lý. Quyền tự do của hệ thống thị trường tự do có thể bị biến mất thông qua các doanh vụ sử dụng các phương thức cạnh tranh vô sỉ; việc tạo ra một độc quyền nhờ ảnh hưởng là một ví dụ phổ biến, việc sử dụng những kẻ côn đồ để sát hại một đối thủ cạnh tranh là một cách thức dị giáo. Việc loại trừ đối thủ bằng bạo lực báo trước cái kết cục của hệ thống thị trường tự do, mặc dù đó là một phương thức hiếm khi được đề cập đến trong các cuốn ssách giáo khoa kinh tế học.

Hợp lý về phương diện đạo đức, họat động kinh tế có thể diễn ra theo cách không làm phương hại đến các cá nhân, xã hội hoặc môi trường tự nhiên. Nói cách khác, họat động kinh tế không nên tạo ra các vấn đề cho chính bản thân nó, tạo ra tâm trạng lo âu trong xã hội hoặc làm hủy hoại các hệ thống sinh thái, mà phải củng cố sự thịnh vượng trong ba quyển đó (kinh tế, xã hội và môi trường). Nếu các giá trị đạo lý trở thành một nhân tố phân tích kinh tế thì một bữa ăn rẻ tiền nhưng thịnh soạn vẫn có giá trị hài hòa hơn cả một chai whiskey.

Vì vậy một nền kinh tế học được gợi hứng bởi Phật giáo sẽ cố gắng nhìn nhận và chấp nhận chân lý của vạn vật. Nó đưa đến một cách nhìn rộng rãi và toàn diện hơn về vấn đề đạo lý. Khi đạo lý được xem như một chủ đề chính thống thì các vấn đề về đạo lý sẽ trở thành các nhân tố được nghiên cứu trong toàn bộ quá trình quan hệ nhân quả. Nhưng nếu vấn đề đó không được thừa nhận thì kinh tế học sẽ không có khả năng phát triển bất cứ sự hiểu biết nào về toàn bộ tiến trình nhân quả mà đạo lý là một bộ phận của nó.

Kinh tế học hiện đại được coi là một bộ môn có tính khoa học nhất trong số các khoa học xã hội. Thực tế thì khi tự hào về phương pháp hệ khoa học của mình, các nhà kinh tế học chỉ lấy định lượng để xem xét vấn đề. Một số người thậm chí còn quả quyết rằng kinh tế học thuần tuý là khoa học của các con số, một vấn đề của các phương trình toán học. Trong các nỗ lực để trở thành khoa học của nó, kinh tế học đã bỏ qua những giá trị trừu tượng, không thể định lượng.

Bằng cách xem xét họat động kinh tế biệt lập khỏi các hình thức họat động khác của con người, các nhà kinh tế học đã rơi vào sự chuyên môn hóa đặc trưng cho thời đại công nghiệp. Bằng cung cách chuyên môn, các nhà kinh tế học cố gắng loại bỏ các yếu tố phi kinh tế khỏi quá trình nghiên cứu các họat động của con người trong các công trình của họ để chỉ tập trung vào một lối nhìn duy nhất bằng con mắt chuyên môn của họ.

Trong những năm gần đây, các nhà phê bình kinh tế, và thậm chí ngay cả bản thân các nhà kinh tế cũng đã lên tiếng thách thức cái lập trường “khách quan” đó và khẳng định rằng cũng như tất cả các khoa học xã hội khác, kinh tế học là một khoa học có giá trị phụ thuộc nhất. Người ta có thể đặt câu hỏi là làm thế nào mà kinh tế học có thể thoát khỏi các giá trị khi mà trong thực tế nó có nguồn gốc từ tư duy của con người. Tiến trình kinh tế khởi đầu bằng nhu cầu, tiếp tục bằng chọn lựa, và kết thúc bằng sự thỏa mãn, tất cả các khâu đó đều là các họat động và chức năng của tư duy. Vì vậy các giá trị tuyệt đối là điểm khởi đầu, trung điểm và cùng đích của kinh tế học, và vì vậy kinh tế học không thể có ogiá trị tự do. Vậy mà nhiều nhà kinh tế học lại né tránh xem xét các giá trị, đạo lý, hoặc các phẩm chất tinh thần, bất chấp một thực tế là những vấn đề đó luôn luôn chuyển tải các mối quan tâm kinh tế. Khiếm khuyết của các nhà kinh tế học trong đào tạo về đạo lý, sự vô minh của họ về các công trình giá trị tinh thần và dục vọng của con người chính là những thiếu sót căn bản ngáng trở họ giải quyết các vấn đề mà họ cần phải giải quyết. Nếu thế giới được cứu độ khỏi sự hủy hoại của nạn tiêu thụ và sản xuất quá đáng thì các nhà kinh tế học cần phải bắt đầu hiểu ra tầm quan trọng của đạo lý đối với lĩnh vực của họ. Dù cho ngay cả khi có thể nghiên cứu sinh thái thì họ cũng cần phải nghiên cứu đạo lý và bản chất các khát vọng của con người và tìm hiểu con người một cách thấu suốt. Đây chính là một lĩnh vực mà Phật giáo có thể trợ giúp đáng kể cho họ.

(còn tiếp)

Người dịch: Hà Hữu Nga

Nguồn: Buddhist Economics – A Middle Way for the Market place by Ven. P.A. Payutto. Translated into English by Dhammavijaya and Bruce Evans; Compiled by Bruce Evans and Jourdan Arenson. http://www.buddhanet.net/cmdsg/payutto.htm.

Advertisements

Kinh tế học Phật giáo – Trung đạo trong Thương trường – Phần III


Hai ý nghĩa của Pháp

Đối với nhiều người, thuật ngữ “Kinh tế học Phật giáo” có thể gợi lên hình ảnh về một xã hội lý tưởng trong đó mọi hoạt động kinh tế – mua và bán, sản xuất và tiêu thụ – đều gắn liền với các tiêu chuẩn đạo đức chặt chẽ. Nhưng một hình ảnh lý tưởng như vậy, hấp dẫn như vậy lại không chuyên chở được đầy đủ chiều sâu các giáo lý của Đức Phật. Đó chính là Pháp hoặc chân lý. Trong Phật giáo, thuật ngữ Pháp được dùng để chuyển tải những cấp độ chân lý khác nhau, kể cả chân lý tương đối lẫn chân lý tuyệt đối.

Những chân lý ấy liên quan đến hành vi đạo đức – cả trên cơ sở cá nhân hàng ngày lẫn trong xã hội – được gọi là cariyadhmma (Nhược dụng pháp). Đây là những chân lý liên quan đến các vấn đề thiện ác. Pháp theo nghĩa rộng là saccadhamma (Chân pháp), hoặcsabhaavadhamma (Tự nhiên pháp), nó bao gồm vạn vật như chúng vốn vẫn thế và các quy luật mà vạn vật vận hành. Theo nghĩa này, Pháp được sử dụng để miêu tả toàn bộ dòng nguyên nhân và điều kiện, quá trình mà vạn vật tồn tại và vận hành.

Khác với phạm vi hẹp hơn của cariyadhamma, thuộc về những xem xét đạo đức biệt lập,sabhavadhamma cho thấy bản chất hoặc bản thân hiện thực vượt khỏi mối bận tâm về thiện và ác. Theo nghĩa viên dung đó, Pháp  thể hiện tính tổng thể của các điều kiện tự nhiên mà các ngành khoa học khác nhau vẫn tìm cách để miêu tả.

Như vậy, giáo huấn của Đức Phật cho chúng ta nhiều hơn chứ không phải chỉ là những nguyên tắc chỉ đạo cho một đời sống đức hạnh. Các giáo huấn ấy đưa ra một nhận thức lớn đối với bản chất của hiện thực. Hai ý nghĩa của thuật ngữ Pháp cho thấy một kinh tế học được được gợi hứng bởi Pháp đều sẽ được làm cho hoà hợp với lĩnh vực lớn của nguyên nhân và điều kiện, đồng thời được hướng dẫn bởi các giáo huấn đạo đức cụ thể dựa trên hiện thực tự nhiên. Nói cách khác, các nhà kinh tế học Phật giáo không chỉ xem xét các giá trị đạo đức của hoạt động kinh tế, mà còn cố gắng để hiểu thực tế và các hoạt động kinh tế trực tiếp hài hoà với “tự nhiên nhi nhiên”.

Suy cho cùng thì kinh tế học không thể tách khỏi Pháp, vì toàn bộ các hoạt động mà chúng ta gắn với kinh tế học đều xuất hiện từ Pháp. Kinh tế học chỉ là một phần của một tổng thể tương tác rộng lớn liên quan đến các qui luật tự nhiên mà vạn vận vận hành. Pháp miêu tả các hoạt động của tổng thể này, miêu tả chân lý cơ bản của vạn vật trong đó có kinh tế học.  Nếu kinh tế học bỏ quan Phật Pháp – bỏ qua quá trình phức tạp và năng động của các mối quan hệ nhân quả tạo nên hiện thực thì nó sẽ khó mà được sử dụng để giải quyết vấn đề, nó sẽ làm giảm thiểu đáng kể lợi ích đối với những gì mà nó nhắm tới. Nhưng lại còn một phần não với tư duy kinh tế hiện đại. Thiếu mất suy tư toàn diện và tổng thể  và bị hạn chế bởi sự hạn hẹp của quan điểm chuyên môn hoá, các nhà kinh tế học đã lựa chọn một bộ phận đơn lẻ của dòng các điều kiện và không thể xem xét được các kết quả ngoài quan điểm đó. Ví dụ: tồn tại một nhu cầu về hàng hoá, như rượu whiskey chẳng hạn. Nhu cầu ấy được sản xuất đáp ứng – trồng ngũ cốc và sản xuất ra rượu. Sau đó whiskey được đưa ra thị trường, được người ta mua và được tiêu thụ. Khi tiêu thụ thì nhu cầu được thoả mãn. Tư duy kinh tế học hiện đại chỉ dừng lại ở đó. Nó không tìm hiểu xem sau đó cái gì sẽ xảy ra sau khi nhu cầu đã được thoả mãn.

Ngược lại, một kinh tế học được gợi hứng khởi bởi Pháp sẽ quan tâm đến việc làm thế nào mà các hoạt động kinh tế ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình nhân quả và các điều kiện. Trong khi kinh tế học hiện đại chỉ giới hạn mối quan tâm của nó đến các sự kiện thuộc lĩnh vực chuyên môn hoá của nó, kinh tế học Phật giáo sẽ đặt câu hỏi một hành động kinh tế nhất định ảnh hưởng như thế nào đến ba lĩnh vực tương liên của tồn tại con người: cá nhân, xã hội, và tự nhiên hay môi trường. Trong trường hợp cầu đối với hàng hoá, chẳng hạn whiskey, chúng ta sẽ phải tự hỏi mình việc sản xuất whiskey ảnh hưởng như thế nào đến sinh thái và việc tiêu thụ chúng tác động ra sao đến cá nhân và xã hội.

Đây là những xem xét từ khía cạnh đạo đức và nó đưa chúng ta trở lại với ý nghĩa chuyên môn hoá nhiều hơn của Pháp, liên quan đến các vấn đề về thiện và ác. Kinh Phật nói rằng những hành động thiện sẽ dẫn đến những kết quả thiện và những hành động ác sẽ dẫn đến những kết cục xấu. Toàn bộ Phật pháp về hành vi đạo đức là dựa vào nguyên tắc này. Điều quan trọng cần phải lưu ý ở đây là không giống với các tôn giáo hữu thần, Phật giáo không đưa ra một tác nhân hoặc một lực lượng làm trọng tài thưởng hoặc phạt cho các hành động thiện hay ác. Hơn nữa, các hành động thiện hay ác được coi là các nguyên nhân và các điều kiện mở ra tuỳ thuộc vào dòng sự kiện tự nhiên. Về phương diện này Pháp (theo nghĩa là những giáo huấn đạo đức) và Pháp (theo nghĩa thực tại tự nhiên) được kết nối trong đó các giáo huấn đạo đức Phật giáo dựa trên thực taị tự nhiên. Các qui luật đạo đức tuân theo các qui luật nhân quả tự nhiên: các hành động đạo đức tự nhiên dẫn đến lợi lạc, và các hành động ác tự nhiên dẫn tới làm hại, vì toàn bộ những cái đó là những nhân tố  trong dòng nhân quả và điều kiện.

Với cách nhìn năng động về thế giới, Phật giáo không tuyệt đối hóa vai trò thống trị của các hành vi đạo đức. Gía trị của hành vi đạo đức được điều chỉnh dần dần bởi các công quả là nguyên nhân của các kết quả đó. Các hành động đạo đức là thiện lành bởi vì chúng dẫn tới lợi lạc; hành động bất thiện là xấu bởi vì nó dẫn tới sự huỷ hoại. Người ta tin rằng bất cứ phương tiện nào được sử dụng để đạt đến mục đích thì cũng đều được biện minh bởi giá trị của mục đích cuối cùng đó. Tư tưởng này được thể hiện rất rõ trong câu cách ngôn “mục đích biện hộ cho phương tiện”. Chẳng hạn các cuộc cách mạng đều tin rằng vì  mục tiêu đạt được một xã hội lý tưởng trong đó tất cả mọi người đều được đối xử công bằng nên hành động hủy hoại bất cứ ai, bất cứ cái gì vẫn đều được biện minh. Mục đích cuối cùng (xã hội lý tưởng) biện hộ cho các phương tiện của họ (tàn nhẫn và khát máu).

Tư tưởng cho rằng “mục đích biện hộ cho phương tiện” là một ví dụ rõ ràng nhất về niềm tin của con người không hài hòa với chân lý của tự nhiên. Quan niệm này là một phát kiến của con người, một sự duy lý hóa mâu thuẫn với qui luật của tự nhiên và quan niệm “tự nhiên nhi nhiên”. Các niềm tin, tự thân chúng không phải là điều xấu nhưng khi chúng mâu thuẫn với hiện thực thì chúng lại gây nên các vấn đề. Trải qua nhiều thế hệ, con người với các hệ tư tưởng chính trị cực đoan đã tạo ra rất nhiều điều ác nhân danh khẩu hiệu “mục đích biện minh cho phương tiện”. Vấn đề không phải là nguyên cớ của họ đáng khâm phục đến mức nào, vì họ chấm dứt việc hủy họa mà họ đang cố tạo ra, loại hủy hoại có cái gì đó như là niềm hạnh phúc hoặc trật tự xã hội.

Học tập từ lịch sử, chúng ta cần phải phân tích toàn bộ các nguyên nhân và các điều kiện góp phần vào việc phát triển của các sự kiện quá khứ. Điều đó bao gồm cả các phẩm chất tư duy của những người tham gia. Việc phân tích triệt để về lịch sử cách mạng bạo lực chẳng hạn cần phải quan tâm không chỉ đến khí hậu kinh tế xã hội của xã hội, mà còn cả những kiến tạo tri thức và tình cảm của bản thân các nhà cách mạng và phải đặt vấn đề về giá trị duy lý của các lý tưởng trí thức và các phương pháp đã được sử dụng vì tất cả các nhân tố này đều đưa tới các kết quả.

Bằng phân tích này, rõ ràng rằng với các qui luật nhân quả tự nhiên, không thể tạo ra một xã hội lý tưởng nào khác ngoài bản thân các phương tiện lý tưởng – mà lại không mang tính sắt máu. Phật giáo quan niệm rằng mục đích không thể biện minh cho phương tiện, mà chính là phương tiện qui định mục đích. Vì vậy kết quả chém giết và tàn ác chính là bạo lực và không bền vững. Có thể thấy rõ điều này trong các nhà nước cảnh sát và các chính phủ được tạo dựng bởi cách mạng bạo lực – luôn luôn tồn tại một kết cục căng thẳng, các kết quả củanghiệp, thường tỏ ra là thiếu khoan dung và kéo theo đó là khủng hoảng xã hội. Vì vậy phương tiện (sắt máu và gây hấn) qui định mục đích (căng thẳng và bất ổn).

Nhưng trong khi đạo lý liên quan đến các qui luật tự nhiên, khi chúng ta phải lựa chọn những đạo lý cá nhân thì sai và đúng không phải lúc nào cũng có một gianh giới phân biệt rõ ràng. Trong thực tế, vấn đề đạo lý luôn luôn là một vấn đề mang tính chủ quan cao độ. Trong suốt cuộc đời mình, chúng ta phải liên tục đối mặt và phải liên tục trả lời cho chính bản thân mình – các câu hỏi về đúng, sai. Mỗi chọn lựa của chúng ta, mỗi dự định của chúng ta đều chứa đựng những phán đóan mang tính đạo lý.

Kinh Phật dạy về những vấn đề liên quan đến thiện và ác nhằm giúp đỡ chúng ta quyết định những chọn lựa mang tính chủ quan đó. Nhưng trong khi chúng ta chủ quan thì chúng ta không được phép quên rằng các lựa chọn đạo lý rõ ràng đóng một vai trò to lớn trong trần thế theo những nguyên tắc nhân quả khách quan. Đạo lý và các hành vi do đạo lý của chúng ta chi phối cũng góp phần tạo ra nhân quả, là cái quyết định chúng ta là ai, quyết định loại xã hội chúng ta sống sống là gì, loại môi trường mà chúng ta tồn tại là gì.

Một trong những bài học sâu sắc nhất trong kinh Phật là cái chân lý cho rằng các giá trị nội tại tự thân trực tiếp gắn liền với động năng của thực tại khác quan ngoại giới. Cái hiện thực tinh diệu chính là cốt lõi của các vấn đề đạo lý. Nhưng rất không may là hầu hết mọi người lại chỉ cảm nhận được một cách mơ hồ về việc những giá trị nội tại của mình quyết định đến hiện thực ngoại giới như thế nào. Rất dễ để nhận ra các qui luật nhân quả trong thế giới vật chất: quả táo khi chín thì rụng, nước chảy từ đỉnh đồi xuống chân đồi. Nhưng vì con người có thiên hướng suy nghĩ rằng bản thân họ là các cá nhân tách rời khỏi vũ trụ, nên họ không thể nhận thấy được các qui luật của vũ trụ cũng có thể áp pdụng vào các giá trị nội tại chủ quan của chúng ta, như các tư tưởng và thái độ chẳng hạn. Vì đạo lý là “chủ quan” nên con người thường cho rằng chúng không can dự gì đến hiện thực “khách quan”.

Tuy nhiên theo nhãn kiến Phật giáo thì đạo lý tạo ra một cây cầu nối liền các thực tại nội giới và ngoại giới. Phù hợp với các qui luật nhân quả, đạo lý tác động như những nguyên nhân “chủ quan” đối với các điều kiện “khách quan”. Điều đó sẽ trở nên rõ ràng khi chúng ta nhận ra rằng về cơ bản các câu hỏi về đạo lý luôn luôn là “tư duy, lời nói và hành động của tôi có tác động đến chính bản thân tôi và những gì tồn tại xung quanh tôi không?” Trong thực tế, chúng ta luôn dựa vào đạo lý để điều chỉnh các dục vọng không lành mạnh của chúng ta như : tham, ố, hỉ, nộ chẳng hạn. Phẩm chất tư duy của chúng ta, dù là nội tại, vẫn luôn luôn qui định các cung cách mà chúng ta nói năng và hành động. Mặc dù là chủ quan, nhưng đạo lý của chúng ta luôn luôn quyết định loại tác động mà cuộc đời của chúng ta tạo ra đối với thế giới ngoại tại khách quan.

(còn tiếp)

Người dịch: Hà Hữu Nga

Nguồn: Buddhist Economics – A Middle Way for the Market place by Ven. P.A. Payutto. Translated into English by Dhammavijaya and Bruce Evans; Compiled by Bruce Evans and Jourdan Arenson. http://www.buddhanet.net/cmdsg/payutto.htm.

——–

Ghi chú của Tác giả:

1. Small is Beautiful, Economics as if People Mattered, by E. F. Schumacher, first published by Blond and Briggs Ltd., London, 1973.

2. Chanda, when directed toward other beings, is called metta, goodwill, the desire for others’ welfare.

Kinh tế học Phật giáo – Trung đạo trong Thương trường – Phần II


Chương I: Vấn đề chuyên môn hoá

Trong một cuộc thảo luận về kinh tế học Phật giáo, vấn đề thứ nhất nổi lên là có phải một sự vật như vậy thực sự tồn tại hay phải chăng đó chỉ là khả năng. Hình ảnh về một nhà sư im lặng đi xin của bố thí với hầu hết mọi người không thể nào là một hoạt động kinh tế. Những toà nhà chọc trời, những trung tâm thương mại và thị trường chứng khoán có lẽ thích hợp hơn với thực tế. Hiện nay kinh tế học mà chúng ta vốn quen thuộc là một kinh tế học phương Tây. Khi nói về kinh tế học hoặc các vấn đề gắn liền với nó, chúng ta phải sử dụng một ngữ vựng phương Tây và suy nghĩ bằng khung khái niệm lý thuyết kinh tế phương Tây. Thật khó mà tránh được những gượng gạo này khi nói về kinh tế học Phật giáo. Chúng ta có thể thấy bản thân mình đang thảo luận về Phật giáo bằng ngôn ngữ và các khái niệm của kinh tế học phương Tây. Cho dù như vậy thì trong suốt cuốn sách này, tôi mong muốn tối thiểu cũng cung cấp được một số viễn cảnh Phật giáo cho những thứ có thể được khai thác một cách hữu dụng trong kinh tế học.

Kể từ khi có tư duy kinh tế học từ thời Plato và Aristotle, việc nghiên cứu kinh tế học chỉ thực sự kết tinh thành một khoa học trong kỷ nguyên công nghiệp. Giống như những khoa học khác trong thời đại chuyên môn hoá này, kinh tế học đã trở thành một bộ môn hẹp và tinh xảo; một tập hợp tri thức biệt lập, hầu như bị kìm hãm khi có một chút gì đó liên quan đến những bộ môn hoặc các hành vi nhân văn khác.

Một cách lý tưởng, các khoa học nên cung cấp các giải pháp cho những vấn đề phức tạp tương liên với nhau mà nhân loại phải đối mặt, nhưng lại tách biệt cứ như là nó từ những bộ môn khác và phạm vi rộng lớn hơn của hành vi con người, kinh tế học có thể đôi chút  làm dịu đi các vấn đề môi trường, xã hội và đạo đức mà ngày nay chúng ta đang phải đối mặt. Và mối ảnh hưởng lớn lao mà nó tác động đến các xã hội vận hành bằng nền kinh tế thị trường thì một tư duy kinh tế hẹp có thể thực sự trở thành nguyên nhân đầu tiên của một số phiền phức về môi trường và xã hội đầy sức ép của chúng ta.

Giống những khoa học khác, kinh tế học phấn đấu vì tính chất khách quan. Tuy nhiên trong quá trình đó, các giá trị chủ quan như đạo đức đã bị loại trừ. Không có sự xem xét về các giá trị chủ quan, đạo đức, một kinh tế gia có thể nói chẳng hạn như, một chai Whiskey và một bữa cơm Trung Quốc có cùng một giá trị kinh tế, hoặc việc uống rượu trong một hộp đêm cũng đóng góp cho nền kinh tế nhiều hơn là lắng nghe một cuộc nói chuyện về tôn giáo hoặc tình nguyện làm việc cho chủ nghĩa nhân đạo. Đây là những chân lý theo kinh tế học.

Nhưng tính chất khách quan của kinh tế học vẫn rất thiển cận. Các nhà kinh tế học chỉ nhìn vào một giai đoạn ngắn của quá trình nhân quả tự nhiên và chọn ra cái phần hấp dẫn họ, trong khi đó lại lờ đi những khía cạnh rộng lớn khác. Vì vậy các nhà kinh tế học hiện đại không tính đến các hậu quả đạo đức của hoạt động kinh tế. Mối quan tâm của nó không phải là những thói xấu xa vô đạo gắn liền với việc lui tới các hộp đêm, cũng không phải là trí tuệ nảy sinh từ việc lắng nghe một bài thuyết giảng tôn giáo.

Nhưng có phải người ta thực sự là thèm muốn để coi kinh tế học như một khoa học? Mặc dù nhiều người tin rằng khoa học có thể cứu chúng ta khỏi những hiểm hoạ của cuộc sống, trong khi bản thân nó thì lại có rất nhiều hạn chế. Khoa học chỉ trưng ra một khía cạnh của chân lý là thứ liên quan đến thế giới vật chất. Chỉ bằng vào sự xem xét khía cạnh vật chất của vạn vật mà khoa học kinh tế đã bước chệch ra khỏi chân lý tổng thể  mà sự vật tồn tại. Khi cho rằng toàn thể mọi vật trên đời này liên hệ tự nhiên với nhau, thì nó lại theo đuổi những vấn đề mà con người phân cắt ra thành ranh giới để bành trướng.

Suy thoái môi trường là hậu quả rõ ràng và nguy hại nhất đối với cách tiếp cận công nghiệp hoá, chuyên biệt hoá nhằm giải quyết các vấn đề. Các vấn đề môi trường đã trở thành một sức ép quá lớn làm cho con người bắt đầu nhận ra rằng mình đã ngu ngốc đến mức nào khi đặt niềm tin vào những chuyên môn đơn lập luôn luôn bỏ qua một viễn cảnh rộng lớn hơn. Họ bắt đầu nhìn vào các hành vi của con người trong một phạm vi rộng lớn hơn để thấy rõ những tác động ngược trở lại với những gì mà họ đã làm đối với cuộc sống các cá nhân, xã hội và môi trường.

Từ viễn cảnh Phật giáo, kinh tế học không thể bị tách khỏi những ngành tri thức khác. Kinh tế học phần nào là một bộ phận cấu thành của một nỗ lực cụ thể để giải quyết những vấn đề về tính nhân văn, và một kinh tế học dựa trên cơ sở Phật giáo, một “Kinh tế học Phật giáo” vì vậy mà không phải là một khoa học quá độc lập, mà là một trong số những bộ môn liên lập hoạt động vì một mục đích chung để lợi lạc cho xã hội, cá nhân và môi trường.

Một trong những người đầu tiên tích hợp các thuyết pháp của Đức Phật với kinh tế học (và thực sự tạo ra thuật ngữ “Kinh tế học Phật giáo”) là E.F. Schumacher trong cuốn sách Nhỏ là đẹp của ông. Trong tiểu luận của mình về Kinh tế học Phật giáo Ông Schumacher đã coi giáo lý Bát chính đạo là trường hợp của mình. Ông khẳng định rằng việc đưa nhân tố “Chính mệnh” của Bát chính đạo, hay lối sống Phật giáo vào kinh tế học Phật giáo là thiết yếu. Đó chính là xuất phát điểm của Ông Schumacher.

Nhìn lại chúng ta thấy rằng cả tập Nhỏ là tốt đẹp và mối quan tâm tiếp theo về kinh tế học Phật giáo của một số nhà nghiên cứu phương Tây đã xuất hiện nhằm đáp lại cuộc khủng hoảng kinh tế học ngày nay. Các cấu trúc khái niệm và các bộ môn nghiên cứu phương Tây đã đạt tới một điểm mà nhiều người gọi là điểm chết, hoặc nếu không thì ít nhất cũng là một bước ngoặt đánh dấu nhu cầu về những mô hình tư duy và phương pháp luận mới. Điều đó khiến cho nhiều nhà kinh tế học phải suy nghĩ lại về những cách tiếp cận chuyên biệt của họ. Những hậu quả môi trường nghiêm trọng của lối sống tiêu thụ quá khích đã thúc đẩy các nhà kinh tế học phát triển thêm về nhận thức sinh thái. Thậm chí một số người còn cho rằng toàn bộ các sinh viên kinh tế mới đều phải học về môn sinh thái cơ sở.

Quan điểm của ông Schumacher cho rằng việc tồn tại của Chính mệnh như một nhân tố của Bát chính đạo đòi hỏi kinh tế học Phật giáo phải có một số mối quan hệ mật thiết. Trước hết điều đó chỉ ra tầm quan trọng của Chính mệnh (hoặc Kinh tế học) trong Phật giáo. Thứ hai và ngược lại, điều đó có nghĩa là kinh tế học chỉ được coi là một trong số các nhân tố (tám nhân tố truyền thống) bao gồm một sinh kế chính trực, có nghĩa là một lối sống có khả năng giải quyết các vấn đề của cuộc sống.

Chuyên môn hoá có thể là một lợi lạc lớn chừng nào chúng ta không đánh mất tầm nhìn vào mục đích chung của chúng ta: như một nghiên cứu chuyên môn hoá, kinh tế học cho phép chúng ta phân tích chi tiết các nguyên nhân và các nhân tố trong các hoạt động kinh tế. Nhưng sẽ là sai lầm khi tin rằng bất cứ một bộ môn hoặc một lĩnh vực nghiên cứu nào cũng có thể tự mình giải quyết tất cả các vấn đề. Tuy nhiên trong sự phối hợp với các bộ môn khác nhau, kinh tế học có thể kiến tạo được một lời đáp hoàn thiện về cái khổ của con người, và chỉ với một sự tìm hiểu đầy đủ những đóng góp và các giới hạn của mỗi bộ môn chúng ta sẽ có thể tạo ra một cố gắng chung như vậy.

Thật không may là, do lập trường của mình, kinh tế học lại không hề chạm được tới toàn bộ dòng nguyên nhân và các điều kiện kiến tạo nên hiện thực. Kinh tế học và thực sự là tất cả các khoa học xã hội cuối cùng đều dựa trên cơ sở các chân lý giả hoặc do con người tạo ra. Chẳng hạn theo các qui luật tự nhiên hành động đào bới trái đất thì tạo ra một cái hố. Điều này là một mối quan hệ nhân quả chắc chắn dựa trên các qui luật tự nhiên. Tuy nhiên việc đào bới để sinh ra một khoản tiền công là một chân lý quen thuộc dựa trên một thoả thuận xã hội. Nếu không có thoả thuận xã hội thì hành động đào bới kia sẽ không tạo ra một khoản tiền công. Trong khi các nhà kinh tế học nghiên cứu cẩn thận một phân đoạn quá trình nhân quả biệt lập, vũ trụ tự thể hiện bằng một mạng rộng lớn vô cùng của các nguyên nhân và điều kiện, hành động và phản hành động. Bị thu hút vào sự tiến triển tuyến tính của các sự kiện kinh tế mà mình quan tâm, các nhà kinh tế học quên mất rằng tự nhiên mở ra theo mọi hướng. Thực ra thì các hành động và kết quả không bị giới hạn vào những lĩnh vực biệt lập. Một hành động gây ra các kết quả, đến lượt mình lại trở thành nguyên nhân của những kết quả khác. Mỗi kết quả là điều kiện của những kết quả khác. Bằng cách đó, hành động và phản hành động luôn xoắn xuýt nhau để tạo ra cái kết cấu đầy màu sắc của nguyên nhân và các điều kiện mà chúng ta hiểu là hiện thực. Muốn hiểu được hiện thực thì phải hiểu được quá trình này.

(còn tiếp)

Người dịch: Hà Hữu Nga

Kinh tế học Phật giáo – Trung đạo trong Thương trường – Phần I


Ven. P.A. Payutto

Giờ đây các kỹ thuật Thiền học Phật giáo đã trở nên nổi tiếng tại Phương Tây và những kiến thức của Phật giáo về điều kiện sống của con người tối thiểu trong giới nghiên cứu cũng đang có một ảnh hưởng rộng lớn. Thật không may là hình ảnh phổ biến của Phật giáo lại thường quá đơn giản và nhiều người vẫn coi nó là thứ để dạy cho người ta cách chối bỏ hoặc thoát ly khỏi những mối quan tâm chung của thế giới về một lĩnh vực riêng tư và bí mật của niềm hạnh phúc. Tuy nhiên nếu chúng ta gặp phải những rắc rối trong việc tìm hiểu Phật Pháp, thì chúng ta lại nhận ra một giáo huấn hoàn thiện và phong phú bao trùm mọi khía cạnh của đời sống nhân loại, với vô vàn lời khuyên thực tiễn để sống sao cho chính trực, khôn ngoan và hoà bình trong một thế giới đầy bất chắc này. Giờ đây có lẽ đã là lúc những giáo huấn như vậy phải được truyền bá một cách rộng khắp.

Trong tập sách nhỏ này, Thượng toạ Dhammapitaka (P.A. Payutto) đã xuất trình một viễn cảnh Phật giáo về chủ đề kinh tế học. Không cần cố gắng trình bày một lý thuyết kinh tế học Phật giáo toàn diện, ông đã cung cấp cho ta nhiều công cụ để suy ngẫm, những cách nhìn vào các vấn đề kinh tế dựa trên sự đánh giá cẩn trọng cung cách tồn tại của sự vật, cung cách tồn tại của chúng ta. Tôi hy vọng rằng dịch công trình này ra tiếng Anh tối thiểu cũng có thể đi được một đoạn đường ngắn ngủi đến việc giải quyết cái đã được gọi là “ngõ cụt của kinh tế học” hiện thời, và thức tỉnh người đọc về các chân lý vượt thời gian mà Đức Phật đã phát lộ và chia sẻ cùng chúng ta.

Dhammavijaya tháng 5, 1992  

Lời nói đầu: Mọi người đều biết rằng việc nghiên cứu kinh tế học cho đến bây giờ vẫn né tránh các vấn đề về những giá trị đạo đức và các đánh giá đạo đức học, vốn là những phẩm tính trừu tượng. Tuy nhiên, rất rõ ràng là để giải quyết các vấn đề mà chúng ta phải đối diện trong thế giới ngày nay thì việc xem xét cả những nhân tố cụ thể lẫn trừu tượng là rất cần thiết, chính vì vậy mà chúng ta không thể nào lẩn tránh được vấn đề các giá trị đạo đức. Nếu việc nghiên cứu kinh tế học có đóng bất kỳ vai trò nào trong việc giải quyết các vấn đề của chúng ta thì nó cũng không còn lẩn tránh chủ đề đạo đức học được nữa. Ngày nay các nhân tố môi trường đã được đưa vào cả trong các dao dịch kinh tế lẫn trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế học, và nhu cầu về đạo đức học trong việc xác định vấn đề bảo tồn, và vấn đề môi trường đang ngày càng trở nên hiển nhiên.

Thật sự thì kinh tế học là một “khoa học” thống nhất một các rõ ràng nhất cái cụ thể và cái trừu tượng. Nó là một lĩnh vực mà những giá trị nhân văn trừu tượng tương tác một cách lồ lộ với thế giới vật chất. Gía như các nhà kinh tế học thôi không lẩn tránh các vấn đề giá trị đạo đức, thì có lẽ họ đã có một địa vị tốt hơn để tác động ảnh hưởng của mình đối với thế giới bằng một cách thức cơ bản và có lẽ họ đã đưa ra được các giải pháp về những vấn đề nhân đạo và những vấn đề của thế giới nói chung. Nói một cách lý tưởng thì kinh tế học phải có vai trò tạo ra cho con người các cơ hội phát triển cá nhân và xã hội một cách đích thực, chứ không chỉ đơn giản là một công cụ để nuôi dưỡng các nhu cầu ích kỷ và sự phân hoá xã hội, và ở một phạm vi rộng lớn, nó đã tạo ra sự mất cân bằng và bất an trong toàn bộ cấu trúc địa cầu với vô vàn hệ thống sinh thái của nó.

Tôi muốn bày tỏ sự cảm ơn của tôi đối với Dhammavijaya, người đã dịch bản tiếng Thái đầu tiên của cuốn Kinh tế học Phật giáo do Buddhadhamma Foundation xuất bản tháng 8/1988 bằng tiếng Anh. Bản dịch của ông được công bố tháng 5/1992 và đã được dùng làm bản chính cho lần xuất bản thứ hai. Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn của tôi với Bruce Evans và Jourdan Arenson đã có đủ hứng khởi để biên soạn và dịch thêm các nguồn bài giảng về Kinh tế học Phật giáo trong những lần nói chuyện và trong các bài viết của tôi được công bố bằng cả tiếng Thái và tiếng Anh, nhờ đó đã tạo ra được một cách xử lý chủ đề toàn diện hơn. Tôi cũng đánh giá cao Khun Yongyuth Thanapura và The Buddhadhamma Foundation ngay từ lần xuất bản đầu tiên đã xem lại bản in cho đến lúc hoàn thiện.

Ven. P. A. Payutto  July, 1994  

Cuốn sách này đã được biên soạn từ tư liệu trong các công trình sau đây của tác giả:

1.      Kinh tế học Phật giáo, thuyết trình của tác giả tại Đại học Thammasat ngày 9 tháng Ba, 1989, Dhammavijaya dịch.

2.      Lối thoát Kinh tế cho xã hội Thái, Buddhadhamma Foundation xuất bản bằng tiếng Thái, Bruce Evans dịch ra tiếng Anh.

3.      Một số đoạn trong chương “Vấn đề động cơ” do Bruce Evans dịch ra tiếng Anh trong cuốn  Buddhadhamma. (Phật pháp)

4.      Phần về Chính mệnh trong chương về đạo lý của cuốn Buddhadhamma.

5.      Một phần trong chương “Các nền tảng Đạo lý Xã hội Phật giáo” do tác giả viết bằng tiếng Anh in trong “Đạo lý, Thịnh vượng và Tế độ” do Russell F. Sizemore và Donald K. Swearer biên tập, Đại học Nam Carolina, Colombia xuất bản.

Giới thiệu

Cách tiếp cận tinh thần đối với Kinh tế học

Các thư viện của chúng ta chứa đầy sách về các công thức logic được lý sự rất chặt chẽ. Hai nghìn năm trước, Plato trong tác phẩm Nước Cộng hoà, đã viết một trong những luận văn chính trị học đầu tiên và bắt đầu cuộc tìm kiếm một xã hội lý tưởng mà con người vẫn tiếp tục cho đến tận ngày hôm nay. Plato đã xây dựng xã hội lý tưởng của ông dựa trên một định đề cho rằng các xã hội trước đây đã trưởng thành từ một quyết định duy lý để được hạnh phúc, nhưng nếu chúng ta nhìn vào tiến trình lịch sử thì liệu chúng ta có thể nói rằng cách tư duy duy lý đã thực sự là lực lượng hướng dẫn trong quá trình tiến hoá của văn minh? Chúng ta đề nghị người đọc hình dung những bước khởi đầu của xã hội loài người: các nhóm người thuộc thời đại đồ đá tụ tập nhau trong những chiếc hang của họ, mỗi người khi nhìn vào nhóm người trong một chiếc hang bên cạnh với vẻ nghi ngờ. Họ lạnh và đói. Tình trạng nguy hiểm và tăm tối bao vây quanh họ. Bỗng một trong số những con người đó bừng lên trong óc một ý tưởng sáng chói: “Tôi biết, hãy tạo ra một xã hội có thể trao đổi thương mại, xây dựng các bệnh viện và cùng chung hưởng hạnh phúc!”.

Một kịch bản như vậy không thể xảy ra. Những con người sớm và những xã hội đầu tiên có lẽ gắn bó với nhau bởi những nhu cầu tình cảm sâu nặng vì sự ấm áp và an ninh chứ không phải vì bất cứ một kế hoạch duy lý nào. Chắc rằng tư duy duy lý đã chiếm một vị trí nào đó trong tiến trình ấy, nhưng nếu chúng ta có một cái nhìn trung thực vào cái gọi là xã hội tiên tiến thì chúng ta phải thừa nhận rằng các nhu cầu của chúng ta về an ninh ngày nay không quá khác với nhu cầu của những con người trong hang. Trong khi các xã hội của chúng ta chắc chắn phức tạp hơn thì sức mạnh thúc đẩy vẫn chỉ là tình cảm chứ không phải là duy lý.

Nếu chúng ta thảo luận một cách trung thực về kinh tế học, thì chúng ta phải thừa nhận rằng các yếu tố tình cảm – nỗi sợ và cả niềm khát vọng lẫn tính chất phi lý mà chúng sinh ra – có một ảnh hưởng rất mạnh lên thương trường. Các quyết định kinh tế – các quyết định về sản xuất, tiêu dùng và phân phối – được thực hiện bởi con người trong cuộc đấu tranh để mưu sinh và để trở nên thịnh vượng. Đối với hầu hết các nhóm người, những quyết định này được thôi thúc bởi sự bức bách tình cảm để tự bảo vệ.

Không có gì cố hữu xấu về nỗi sợ và tính phi lý; chúng là những điều kiện tự nhiên đi cùng với con người. Tuy nhiên rất không may là nỗi sợ và dục vọng đã đưa chúng ta đi quá những giới hạn kinh tế tồi tệ nhất. Các sức mạnh của lòng tham, sự bóc lột và tiêu thụ quá mức dường như đã tràn ngập các nền kinh tế của chúng ta trong những thập kỷ gần đây. Các xã hội duy vật chủ nghĩa của chúng ta đưa ra cho chúng ta một chút ít chọn lựa nhưng lại bóc lột và cạnh tranh vì sự sống còn trong cái thế giới chó-ăn-thịt-chó ngày nay. Nhưng đồng thời rõ ràng là những lực lượng này đang phá hoại các xã hội của chúng ta và tàn phá môi trường của chúng ta.

Đối mặt với những vấn đề như vậy thì khoa học kinh tế chấp nhận một cách tiếp cận duy lý. Công việc của nhà kinh tế học là phát minh ra các mô hình duy lý để giúp đỡ xã hội vượt lên khỏi tham lam, thù hận và vô minh. Tuy nhiên hiếm khi các nhà kinh tế xem xét câu hỏi cơ bản về nỗi sợ và những nhu cầu tình cảm về an ninh vốn vẫn dẫn dắt con người. Kết quả là các mô hình lý thuyết của họ vẫn duy trì các giải pháp duy lý để giải quyết những vấn đề thực sự phi lý và các lý tưởng kinh tế của họ chỉ có thể thực sự tồn tại trong các quyển sách.

Có lẽ một chút chủ nghĩa duy tâm thì cũng không đến nỗi quá có hại; nhưng có một mối hiểm hoạ đối với cách tiếp cận duy lý thuần tuý. Trong trường hợp xấu nhất, nó cũng được sử dụng để duy lý hoá các phản ứng đầy sợ hãi và cơ bản nhất của chúng ta đối với các vấn đề tồn tại sống còn. Chúng ta thấy khuynh hướng này trong các nhà chiến lược công ty, các cố vấn chính sách và các nhà phân tích quốc phòng là những người lý luận một cách thuyết phục và lôgic rằng việc sản xuất vũ khí là có lợi nhất cho chúng ta. Khi chủ nghĩa duy lý trở thành một con mắt đui mù đối với cái phi lý thì những áp đặt phi lý không nhận ra được lại chắc chắn bao phủ mây mù lên tính chất duy lý của chúng ta.

Cuốn sách mà bạn đang đọc có một cách tiếp cận khác. Theo nghĩa đen, nó không đào sâu vào những rắc rối về kỹ thuật của kinh tế học. Thay vào đó, nó xem xét những nỗi sợ, dục vọng và tình cảm cơ bản thúc đẩy các hành động kinh tế của chúng ta. Trong số tất cả những truyền thống tinh thần, thì Phật giáo phù hợp nhất với nhiệm vụ này. Như chúng ta sẽ thấy, các kinh sách Phật giáo đưa ra những hiểu biết sâu sắc về phương diện tâm lý của dục vọng và những lực lượng thúc đẩy các hành vi kinh tế. Những hiểu biết này có thể dẫn đến một sự giải phóng tự thức là thứ vẫn chầm chậm hoà tan sự mơ hồ giữa cái thực sự có hại và cái thực sự có lợi trong sản xuất và trong tiêu dùng. Đến lượt mình ý thức này là cơ sở cho một đạo đức học đã chín muồi.

Các quyết định thực sự hợp lý phải được đặt trên nền tảng sự hiểu biết đối với các lực lượng làm cho chúng ta trở nên phi lý. Khi chúng ta hiểu được thực chất của dục vọng thì chúng ta thấy rằng nó không thể được thoả mãn bởi toàn bộ số của cải có trên trái đất này. Khi chúng ta tìm hiểu về tính phổ biến của nỗi sợ hãi thì chúng ta phát hiện ra một tình thương yêu tự nhiên đối với mọi sinh linh.Vì vậy cách tiếp cận tinh thần đối với kinh tế học không chỉ dẫn đến các mô hình và các lý thuyết mà còn dẫn đến những lực lượng sống còn có thể thực sự làm lợi cho thế giới của chúng ta – đó là trí tuệ, tình thương yêu và sự độ lượng.

Nói cách khác, cách tiếp cận tinh thần cần phải được hằng sống. Điều đó không có nghĩa là người ta phải đi theo Đạo Phật và và từ bỏ kinh tế học, bởi vì trong một lược đồ rộng lớn của sự vật cả hai đều tương hỗ cho nhau. Thực tế người ta không nhất thiết cứ phải là một Phật tử hoặc là một nhà Kinh tế để thực hành kinh tế học Phật giáo. Người ta chỉ cần công nhận một sợi dây xuyên suốt cuộc đời và tìm cách để sống trong sự cân bằng với cái cách mà sự vật thực sự tồn tại.

Bruce Evans và Jourdan Arenson 

(còn tiếp)

Người dịch: Hà Hữu Nga

Trí huệ là gì?


 Thích Nhất Chân

Theo đạo Phật, không bao giờ có tâm thức hoạt động mà lại không có cảnh hay đối tượng. Đạo Phật chia thức ra làm sáu lãnh vực giới hạn bởi sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) và sáu cảnh đối tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) mà thành ra sáu thức.

Sáu thức này lấy chỗ y cứ là sáu căn nên theo sáu căn mà đặt tên là : thức y nơi mắt (nhãn thức), thức y nơi tai (nhĩ thức), thức y nơi mũi (tỉ thức), thức y nơi lưỡi (thiệt thức), thức y nơi thân (thân thức) và thức y nơi ý (ý thức).

Tâm thức có để làm gì ? Để tiếp nhận và phân biệt sáu cảnh. Do đó không thể có một tâm thức thuần túy trống không, không có cảnh hay đối tượng gì hết. Nhưng trong sáu thức ấy tính chất phân biệt hầu như không có tác dụng gì nơi năm thức đầu, mà phân biệt dường như là hoạt động chính của thức thứ sáu tức là ý thức. Và vì trong các kinh luận [tiểu thừa] chỉ chấp nhận có sáu thức mà thôi, thế nên hầu như toàn thể mọi hoạt động của tâm đều tùy thuc vào ý thức. Trong khi năm thức thuộc mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân chỉ trực tiếp đón nhận lấy hình tướng của năm cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc mà thôi, thì việc phân biệt tốt hay, xấu đẹp, phải trái, đúng sai, để rồi khởi lên mọi thứ tâm sở hoặc thiện hoặc ác là phần vụ của ý thức.

Ý thức không những phân biệt rất mạnh về cảnh ngay hiện tại mà còn nhớ lại các cảnh thuc quá khứ, mơ ước các cảnh trong tương lai cũng rất mãnh liệt. Nói tóm lại, cái tâm không ngớt suy nghĩ tứ tung, không ngừng phân biệt ta người của chúng ta chính là ý thức vậy

Họat động của tâm thức nói chung được đánh giá theo ba lãnh vực : đức lý, thanh tịnh và Trí huệ mà chúng ta vẫn gọi là tam học : Giới, Định, Huệ. Trong ba lãnh vực này, Định thuộc về phương diện kỹ thuật tôi luyện tâm cho thanh tịnh nhằm đạt đến Huệ. Và vì Trí huệ là cứu cánh, cho nên Định là phương tiện quan trọng bậc nhất để đạt đến Trí huệ.

Nhưng Trí huệ là gì đây ? Trước hết phải hiểu rằng Trí huệ là thuộc về tâm thức (các nhà A Tỳ Đàm coi Huệ là một tâm sở). Mà tâm thức thì phải có đối tượng. Vậy đối tượng của Trí huệ là gì ?

Chúng ta đã biết đối tượng của tâm thức là sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Vậy trong sáu cảnh ấy, cảnh là  đối tượng của Trí huệ ? Lại nữa, trong sáu thức thời Trí huệ thuộc thức nào ? Nếu bảo rằng đối tượng của Trí huệ là một cảnh nào đó trong sáu cảnh, thì hóa ra Trí huệ không phổ cập và phổ biến khắp các cảnh, tức không “biết” hết các cảnh, vậy thì sao là Trí huệ được ? Nếu cho rằng sáu cảnh đều không phải là đối tượng của Trí huệ, vậy Trí huệ ấy là một tâm thức không có đối tượng. Một tâm thức như thế không thể có được, mà có đi nữa thì cũng hoàn toàn ngu ngơ, không biết gì hết, có khác gì vật vô tri, sao gọi là Trí huệ được.

Lại trong sáu thức của Trí huệ chỉ thuộc về một thức thôi thì cái biết của Trí huệ cũng không phổ cập hết, sao gọi là Trí huệ được. Nếu Trí huệ không thuộc về thức nào hết, thì hóa ra Trí huệ không phải là tâm nữa. Điều này trái với giáo lý của đạo Phật.

Thế nên phải hiểu rằng đối tượng của Trí huệ phải là tất cả các cảnh, tức sáu cảnh ; và Trí huệ phải là một tâm sở có mặt và hoạt động khắp sáu thức.Nhưng nếu thế thì Trí huệ có khác gì sáu thức đâu ? Và nếu ai có sáu thức tức là có Trí huệ đó hay sao ? Vậy thì Phật và phàm phu có khác gì nữa đâu ?

Tuy đối tượng của sáu thức và của Trí huệ đều là sáu cảnh, song sự nhận biết về sáu cảnh giữa thức và Huệ có khác nhau. Thức nhận biết cảnh theo xu hướng nghiệp riêng biệt của nó,. Như thức loài người “biết” nước là nước, thức loài cá “biết” nước là chỗ ở, thức ngạ quỷ “biết” nước là lửa, thức chư thiên “biết” nước là lưu ly. Còn Huệ nhận biết là nhận biết về sự thật, về thật tướng của các cảnh. Sáu cảnh sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều có sự thật là vô thường, là khổ, là vô ngã (theo giáo lý tiểu thừa), là KHÔNG, là duy thức, duy tâm, là pháp thân, là chân như. .. (theo giáo lý đại thừa). Tóm lại, cảnh hay đối tượng của Trí huệ là chân lý của tất cả các pháp được thâu nhiếp trong sáu lãnh vực sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp.

Lại nữa tuy Huệ là một tâm sở, thuộc về cả sáu thức, song Huệ vẫn là một hoạt động rất đặc biệt của tâm thức mà không phải hễ cứ có tâm thức, có đủ sáu thức là có thể nói là có Huệ được. Trước hết trong sáu thức thời ý thức thể hiện rõ tính chất của Huệ hơn hết. Tính chất ấy chính là khả năng phân biệt và biết suy luận của ý thức. Năm thức đầu thuộc mắt, tai, mũi, lưỡi, thân không có khả năng phân biệt và suy luận như ý thức, mà chỉ nhận biết các cảnh một cách trực tiếp theo cảm quan. Thế nên khi Trí huệ phản ảnh qua sáu thức này nó thể lộ ra hai phương diện thuộc tác dụng của nó : một phương diện trực tiếp thân chứng vô phân biệt, tức là năm thức đầu khi được Trí huệ hóa ; một phương diện nữa gián tiếp qua suy luận phân biệt chính xác và tương ưng với sự thật, tức thuc thức thứ sáu ý thức khi được Trí huệ hóa

Chân lý của sự vật, tức tất cả các pháp nhiếp trong sáu cảnh, cũng theo đó mà được thể nhận ra qua hai phương diện trên của Huệ. Chân lý được chứng qua phương diện trực tiếp vô phân biệt của Huệ thuc năm thức đầu là thật tướng, là đệ nhất nghĩa (paramàrtha) của các pháp ; và chân lý được thấy qua phương diện gián tiếp có phân biệt suy lý, lập luận, trình bày, giảng giải của Huệ thuc ý thức (Duy thức học gọi hai phương diện này là căn bổn trí và hậu đắc trí).

Như thế cho thấy Huệ là một năng lực nhận biết của toàn thể tâm thức (tức là cả sáu thức) tương ưng với chân lý của toàn thể mọi sự vật. Đồng thời Huệ cũng trở thành phương tiện duy nhất thật sự có giá trị để đạt đến chân lý của sự vật. Và như vậy là có đến hai phương tiện trực tiếp và gián tiếp để đạt đến chân lý đều thuộc về Trí huệ.

Đa số người Phật tử hiểu lầm, nghe nói đến Trí huệ thời chỉ biết lờ mờ là “vô phân biệt” gì đó, hoặc đừng “chấp tướng”, “phá chấp” này nọ v.v..  và hễ cứ nghe lý luận, nói năng trình bày là cho là thế trí, chấp ngôn ngữ, chưa “chứng” …  nhưng nếu ngay chính đức Phật mà cứ vô phân biệt, không nói năng, không trình bày, thì Phật có đó có ích gì và có khác gì một khúc gỗ đâu, và làm sao để cho mọi người đả thông được để thể nhập vào chân lý đây ? Sự giác ngộ của đức Phật không phải chỉ để giác ngộ mà là để độ chúng sinh, Phật dùng vô phân biệt trí để chứng ngộ thật tướng chân thật của vạn pháp không phải để vô phân biệt, mà là để phân biệt giảng nói cho chúng sinh sáng tỏ. Tâm giác ngộ là cả sáu thức đều giác ngộ, chứ không phải chỉ có năm thức đầu vô phân biệt còn thức thứ sáu tức ý thức thì bỏ đi vì bản chất của nó là phân biệt. Trái lại khi tâm giác ngộ thể hiện ra năm thức thì thành ra vô phân biệt, và khi thể hiện qua thức thứ sáu thì thành ra là phương tiện trí (nói theo đại thừa), bởi vì chính nhờ cái khả năng phân biệt ấy làm phương tiện nên đức Phật mới độ được chúng sinh bằng cách phân biệt thuyết pháp cho chúng sinh được ngộ nhập vào chân lý.

Lại nữa, tuy ở trên phân tích cho thấy Trí huệ có hai tác dụng trực tiếp nhận thức và gián tiếp suy luận về chân lý, hai tác dụng này như trên đã nói tương ưng với năm thức cảm quan và ý thức phân biệt . Song hầu như chính cái tác dụng gián tiếp suy luận của ý thức mới đóng vai trò chính và chi phối luôn cả hai mặt của Trí huệ. Nghĩa là phân biệt mới là chính là toàn thể Trí huệ chứ không phải là vô phân biệt. Tại sao vậy ?

Như đã nói một tâm thức thời phải có đối tượng, nếu không có đối tượng thời tâm thức sẽ diệt mất. Trí huệ là tâm thức, nên Trí huệ phải có đối tượng và ở đây đối tượng là chân lý đệ nhất (paramàrtha). Theo tiểu thừa chân lý ấy là Niết Bàn (nirvàna), theo đại thừa thời là tính KHÔNG, cả hai đều ly tướng tuyệt ngôn, cả hai đều không thuộc vào lãnh vực của có. Như thế đối tượng của Trí huệ không phải là một cái gì có thuộc về hoặc sắc hoặc thanh, hương v.v.. Nếu đối tượng không có thì đâu còn có tâm thức nào hiện khởi nữa để mà gọi là Trí huệ. Điều này không phải là lạ gì trong giáo lý đại thừa, những danh từ như “vô phân biệt”, “vô tâm”, “vô niệm”, “tuyệt lự” hoặc các phương châm như “vô tâm tiện thị Đạo” (vô tâm chính là Đạo), “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt” (trừ hết mọi ngôn từ, diệt hết mọi trạng thái tâm), “Đối cảnh mạc sinh tâm” (đối cảnh đừng sinh tâm).. đều cho thấy sự xác nhận cảnh giới không có tâm (hay ít ra là ý thức phân biệt) nữa mới là đạo, là chân lý cứu cánh.

Trên phương diện lý luận cảnh giới vô tâm hết sức phi lý. Tại sao ? Vì phải không có đối tượng thì tâm mới tuyệt dứt được, mà nếu đã không có đối tượng nữa thì còn có gì nữa để gọi là Đạo hay chân lý ? Nếu bảo rằng không có đối tượng nữa thì cái còn lại là tâm, và chính tâm này là chân lý. Nhưng nếu không có đối tượng thì tâm đâu còn có đó nữa để mà gọi là chân lý.

Nếu lại nói rằng ở đây cái không có là không có tâm (nên mới nói là vô tâm, vô phân biệt) chứ không phải là không có cảnh. Một khi vô tâm rồi thì chính cảnh ấy là đạo, là chân lý. Song nếu đã không có tâm thì lấy gì để biết là có cảnh, để trực nhận rằng đó là Đạo hay chân lý đây ? Thế nên tâm diệt thì cảnh cũng diệt theo.

Do đó, nếu cảnh đã là Niết Bàn tịch diệt, là KHÔNG thì làm gì có Trí huệ hay bất cứ một thứ tâm nào nữa. Mà nếu đã vô phân biệt thì lấy gì để nhận ra (để giác ngộ ra) rằng đối tượng kia là Niết Bàn, là tính KHÔNG.  Như vậy đủ thấy kinh nghiệm về chân lý tuyệt đối (như vô phân biệt, tính Không ..) chỉ là một cách nói, trên mặt luận lý thời hoàn toàn nghịch lý. Lại nữa đã vô tâm và vô cảnh thì dựa vào đâu để mà lập nghĩa là lập danh và chân lý, là Đạo ? Phải chăng như vậy là hoàn toàn không có một kinh nghiệm thật sự nào hết về chân lý của sự vật, nghĩa là thật sự không thể nào có được một cảnh KHÔNG, hay một trạng thái tâm vô phân biệt gọi là giác ngộ?

Xin trả lời là có, có giác ngộ, có một kinh nghiệm thật sự về tính KHÔNG và Niết  Bàn, chân lý cuả sự vật. Đức Phật và chư tổ sư thường nhắc nhở chúng ta đừng hiểu các danh xưng như KHÔNG là đoạn diệt không có gì hết, đừng nghĩ vô tâm vô phân biệt là trơ trơ như gỗ đá, đức Phật bảo đừng giải thích về Niết Bàn, vì mọi giải thích đều  sai, Niết Bàn là tịch diệt, song không hề phải là đoạn diệt. Để tỏ rõ vấn đề trên, chúng ta phải nên hiểu rằng tâm thức tuy có sáu lãnh vực khác nhau, song vẫn là một toàn thể bất khả phân ly. Thế nên nơi năm thức cảm quan đầu không thể thiếu ý thức phân biệt được. Các nhà A Tỳ Đàm gọi loại ý thức này là “ngũ câu ý thức”, nghĩa là ý thức cùng khởi với năm thức cảm quan. Một khi năm thức khởi lên là ý thức khởi theo ngay liền mà phân biệt. Nên tuy bản chất của năm thức cảm quan là trực tiếp nhận cảnh, song trong thái độ trực tiếp ấy đã có sẵn thái độ phân biệt suy luận gián tiếp của ý thức rồi. Thế nên mọi kinh nghiệm trực tiếp đều được ý thức, được nhận ra là gì (tức phân biệt), được ghi nhận ý nghĩa, và được cho danh xưng.

Trí huệ cũng vậy, khi thể hiện ra qua năm thức cảm quan như là vô phân biệt trí, thì đồng thời phân biệt trí đã thể theo “ngũ câu ý thức” sẵn sàng ngay đó để ghi nhận ngay lấy cái kinh nghiệm vô tâm, vô ngôn tuyệt lự, vô cảnh, vô tướng ấy là gì và như thế nào rồi.

Phải nên hiểu rằng cái kinh nghiệm vô phân biệt không nên được hiểu một cách ngây thơ là không có phân biệt, không có ý thức, không có tâm, không có suy nghĩ gì hết .. mà chính là trạng thái ý thức phân biệt đi sát với năm thức cảm quan để thấy ra được cái kinh nghiệm trực tiếp của năm thức cảm quan đối với sự vật như chính sự vật là (yathàbhùta), tức chân lý của sự vật.

Phân biệt kỹ hơn, chúng ta sẽ thấy toàn thể tâm thức của chúng ta có một phần không phân biệt luôn luôn trực tiếp liên hệ chặt chẽ với chân lý của sự vật, đó là năm thức cảm quan. Năm thức này trình diện toàn thể sự thật của sự vật ra trước ý thức cho ý thức phân biệt. Ý thức là phần đón nhận, đánh giá và thưởng thức các sự vật của tâm thức, tức thuộc phần phân biệt của tâm thức. Phần ý thức là phức tạp hơn hết : một mặt nó đi sát cùng với năm thức cảm quan để nhận diện các sự vật đúng với sự thật của chúng. Mặt khác nó liên hệ với mọi tâm sở thiện, bất thiện khác qua các sự chi phối của tâm vô minh và các kiến chấp, nhất là ngã chấp, rồi duyên khắp ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai để rồi không ngớt hoạt động theo chiều hướng thúc đẩy của tham, sân và si. Ở mặt này nó rối loạn và đầy bất an. Tâm thức bị kết án và bị đối trị qua sự tu tập giới, định, huệ là phần tâm thức này của ý thức.

Song cái phần ý thức phân biệt đi sát với năm thức cảm quan là phần quan trọng nhất trong công việc tựu thành Trí huệ. Chính phần ý thức phân biệt ấy là Trí huệ. Bởi năm thức của cảm quan chỉ biết chiếu rõ thật tướng của sự vật chứ không đưa lại ý nghĩa gì hết, còn phần ý thức phân biệt liên hệ với vô minh, với ngã chấp, thì luôn luôn cho sự vật những ý nghĩa theo ngã, ngã sở, theo các tâm tham, sân, si, đầy phiền não, chứ không biết gì đến thật tướng của sự vật. Thế cho nên chỉ còn cái phần ý thức phân biệt đi sát theo năm thức cảm quan mới nhận chân được chính xác ý nghĩa của thật tướng mà thôi.Ví như tôi nhìn một quyển sách, nhãn thức trực tiếp chiếu rọi quyển sách ấy đúng như nó là và không chút phân biệt nó là gì hết, tức thời ý thức đi cùng với nhãn thức phân biệt ngay đó là một quyển sách. Ngay giai đoạn này sự thật của quyển sách được nhận ra, Trí huệ ở ngay tại đây. Song lập tức cái phần ý thức vô minh chấp ngã sẽ ào ạt hưng khởi, nào là “đây là một quyển sách của tôi mua cách đây hai hôm, của một tác giả mà tôi rất thích, nhưng đáng giận thay, thằng cháu tôi đã làm cháy mất mấy chục trang ..” trong một tâm niệm như thế, nó duyên đủ nào tôi, của tôi, người khác, nào vui, nào buồn, nào quá khứ, hiện tại.. và làm che mờ đi mấy Trí huệ của tâm thức đối với thật tướng của sự vật chỉ là một vật với màu sắc, hình tướng, do nhân duyên mà có đó, được gọi là quyển sách. Sự tu tập thông thường chỉ là chế ngự cái phần ý thức phân biệt liên hệ với ngã chấp và tham, sân và si này, chứ không phải là tiêu diệt toàn thể ý thức. Và chế ngự như thế là để cho phần ý thức đi sát với năm thức cảm quan được tự do phân biệt trực tiếp sự vật, nghĩa là ý thức trực nhận ra sự thật của sự vật, mà không bị cái phần ý thức phiền não kia ào ạt xen vào đem các ý nghĩa phiền não gán cho sự vật và che mờ đi mật nghĩa chân thật của nó. Các phương pháp để chế ngự như thế được gọi là thiền định. Nhờ thiền định ý thức đi cùng với năm thức cảm quan không bị ý thức phiền não xâm hại, nhờ thế nó độc tôn hiện hành và làm cho sự vật hiển hiện ra như thật, tình trạng ấy được gọi là Trí huệ, nên mới nói là định sinh huệ.

Tóm lại không có phân biệt (như năm thức cảm quan) thời không thể là  Trí huệ được, mà phân biệt theo xu hướng ngã và tham, sân, si cũng không thể nào là Trí huệ được. Phải có phân biệt nhưng không phân biệt theo ngã hay tham, sân, si mà phân biệt đi sát với năm thức cảm quan và trực tiếp với đối tượng mà năm thức cảm quan chiếu hiện, mới chính là Trí huệ. Nhờ có phân biệt cho nên chân lý của sự vật mới có ý nghĩa là vô thường, vô ngã, là Niết Bàn, là KHÔNG, là chân như.. và mới được có các danh xưng như vậy. Và cũng nhờ có phân biệt nên các ý nghĩa này mới được trình bày rành mạch, rõ ràng, đúng lý cho người nghe hiểu rõ mà tin nhận.

Do đó, như trên đã có nói, phân biệt có thể nói là có ba tác dụng : tác dụng thể nhận trực tiếp ra chân lý, tác dụng để thành lập ý nghĩa cho chân lý và tác dụng để truyền bá chân lý. Tác dụng đầu tiên là kinh nghiệm cá nhân, tác dụng thứ ba là truyền kinh nghiệm cá nhân sang cho tha nhân, tác dụng thứ hai ở giữa là căn bản cho cả hai tác dụng kia và nó mới chính thật là bản thể trong sáng của ý thức phân biệt và được gọi là Trí huệ (prajnà).

Lại nếu nói cho trọn đủ về ý thức thì nó có thêm một tác dụng thứ tư nữa, là tác dụng phiền não và tạo nghiệp, theo tác dụng này ý thức còn được gọi là nghiệp thức, vọng tưởng, tình thức, phân biệt (theo nghĩa xấu) biến kế chấp, tâm phan duyên.. nó liên hệ chặt chẽ với vô minh, ngã chấp, tham ái.

Tác dụng thứ tư này, dối với các hữu tình chưa giác ngộ, hoàn toàn đóng vai trò chính và chi phối toàn thể tâm thức. Hữu tình vốn chấp ngã, vô minh và tham ái nên luôn luôn chỉ thấy có tác dụng thứ tư này là hoạt động duy nhất của tâm thức  mà thôi. Họ không ngờ đâu rằng trong cái tâm thức đầy phân biệt phiền não đó của họ lại có các thành phần của Trí huệ trong sáng, luôn luôn trực tiếp với chân lý của sự vật. Đại thừa gọi phần Trí huệ đó của tâm thức trong khi tâm thức còn đang đầy chấp ngã phiền não là Như Lai tạng, hay rõ hơn là “tại triền Như Lai” (tức Như Lai tính khi còn đang ở trong triền phược). Và chính do trong tâm thức của chúng sinh đã sẵn thành phần Trí huệ này, nên tâm chúng sinh mới trở thành giác ngộ, và nhờ đó chúng sinh thành Phật, nên phần Trí huệ ấy cũng được gọi là Phật tính của chúng sinh. Vấn đề Trí huệ thật ra còn rất là phức tạp. Chúng ta còn cần phải biết rõ Trí huệ của Phật khác với Trí huệ của A La Hán, Bích Chi Phật ra sao ? Phải chăng nếu chúng ta đã có sẵn Trí huệ trong tâm rồi thời chắc chắn là chúng ta có Trí huệ ? Tại sao (theo đại thừa) Phật lại thuyết đối tượng của Trí huệ là KHÔNG, là mộng, huyễn, bào, ảnh.. Tại sao Trí huệ không thôi chưa đủ là giác ngộ hay sao mà lại còn cần phải có đại bi ? Có đại bi rồi cũng chưa đủ hay sao mà còn phải có ông đức nữa ? Công đức và đại bi liên hệ thế nào với Trí huệ ? Rồi còn hạnh nguyện là gì nữa ? Rồi Phật là Giác (Sambuddha), Giác là khác hay mà một với Trí huệ (prajnà) ?

Và cũng chính từ vấn đề Trí huệ này mà chúng ta có thể lần phanh ra được chân ý nghĩa của Phật. Tại sao (theo đại thừa) Phật lại có pháp thân Phật, báo thân Phật và hóa thân Phật ? Từ đó pháp tịnh độ là gì, báo độ, hóa độ ra sao ? Tịnh độ để làm gì và có ý nghĩa gì ? Vô vàn ý nghĩa khác nữa mà giáo pháp đại thừa chính là nỗ lực để trình bày cho chúng ta tin hiểu về tất cả các ý nghĩa ấy. Tin hiểu để làm gì ? Để thực hành đúng và để vững tin chắc chắn sự lựa chọn và chấp nhận đạo Phật của chúng ta là một hành động thiết thực nhất, hoàn toàn hữu ích và cần thiết nhất cho toàn thể cuộc sống vô minh của chúng ta. Và trên bước đường thực hành của chúng ta, hình bóng Phật sẽ không bao giờ phai nhạt mà trái lại luôn luôn sống động, cụ thể trong từng hơi thở, từng tư tưởng, từng nhịp tim đập của chúng ta.

Với Trí huệ làm nền tảng, Phật pháp trở nên hết sức thâm sâu và bao la vô hạn, thế nên làm người con Phật phải nên cẩn trọng lắng nghe cho kỹ, và lắng nghe thật nhiều, suy xét cho kỹ và sao cho thật rộng trước khi tiến bước vào phương diện thực hành.

Nguồn: http://www.phapvu.com

Phương pháp đưa đến sự hài hòa xã hội – Phần I


Venerable Pyinnyathiha

1/ Trách Nhiệm Trong Gia Ðình

Trong đời sống của mỗi chúng ta, mọi người đều có những bổn phận cần được hoàn thành. Nếu chúng ta không lơ là, chểnh mảng thì không có gì nguy hiểm; nếu không thì sẽ có những chuyện đáng tiếc xảy ra không thể nào tránh khỏi như : lơ là nhiệm vụ, oán ghét, ấu đả, và xung đột .

Ðể tăng trưởng lòng tử tế, sự cảm thông, lòng từ và sự hòa hợp giữa con người, để có thể sống hạnh phúc, Ðức Phật đã đề ra những trách nhiệm về mặt xã hội cho mọi người nương theo.

Ðức Phật xuất hiện ở Ấn Ðộ và giáo pháp của Ngài đã tồn tại khoảng 2,532 năm. Vài người nói, ” Có quá nhiều thay đổi trong thời gian dài đó, và phong tục được thực hành cũng thay đổi theo từng địa phương. Vì vậy vài điều trong giáo pháp của Ðức Phật có vẻ lỗi thời và không thể nào thực tập được”.

Ðức Phật không bao giờ có ý kềm hãm con ngời, và chưa bao giờ Ngài bắt mọi người phải tuân theo lời Ngài mà chưa có sự thể nghiệm hay kiểm chứng. Ngài khuyến khích mọi người hãy đặt câu hỏi về những giáo lý, trong kinh Kalama , Ðức Phật nói, “Ðừng tin vào những gì mà mình chỉ nghe nói lại, hay vì đó là tập quán lâu đời, hoặc là nghe rao truyền, hoặc thấy trong kinh điển, hoặc vì đó là bài luận giải rất hay; hãy tự mình suy nghĩ những gì mình nghe được, biết được đây là những điều xấu, có hại, bị chê trách bởi những bậc hiền triết; đây là những điều gây đau khổ cho người, thì lập tức chúng ta từ bỏ chúng. Khi mà chúng ta biết, đây là những điều có lợi ích, đem đến hạnh phúc thì hãy thi hành và thực tập.” Ðức Phật không đề ra những luật lệ nếu chúng không đem lại lợi ích cho con người. Vì thế, để xóa tan nghi ngờ, bạn đọc nên thử hoàn chỉnh những trách nhiệm liên quan đến xã hội để biết được như thế nào mà ta có thể làm lợi ích cho những người thân yêu và những người chung quanh mình.

2/ Trách nhiệm của bậc cha mẹ

Ðức Phật trình bày về nhiệm vụ của cha mẹ đối với con cái như sau; cha mẹ phải khuyên răn con tránh điều ác, khuyến khích con làm việc lành, cho con học chữ hoặc nghề, lo việc hôn nhân cho con và để gia tài lại cho con đúng thời, đúng lúc.

Cha mẹ là những người thầy quan trọng đầu tiên cho con cái. Khi còn nhỏ, con cái sống với cha mẹ và học hỏi nhiều điều nơi cha mẹ và kế đó chúng mới thu thập kiến thức nơi thầy cô giáo. Khi còn nhỏ dại, sự hiểu biết của chúng chưa trưởng thành. Tâm trí chúng của chúng thường do dự giữa tốt và xấu, và thường dễ nghiêng về những thói quen xấu. Tâm trí của chúng giống như đất sét hay sáp đèn vậy, dễ bị uốn nắn. Và như vậy, muốn được những hình tượng đẹp thì phải nhờ vào tay nghề của thợ đúc tượng. Cũng như vậy, bước đầu huấn luyện con cái rất quan trọng và nương dựa rất nhiều về việc dạy dỗ của cha mẹ. Trong lúc nầy, cha mẹ hiểu biết sẽ dùng mọi cách thích hợp để răn dạy con cái về những bài học đạo đức cũng như những hiểu biết căn bản. Cha mẹ còn phải quan tâm con cái bằng cách đừng cho con giao du với những thành phần bất hảo để tránh cho con cái mình những ảnh hưởng xấu, có hại.

Những đứa con được nuôi nấng, dạy dỗ tử tế, sẽ là những công dân tốt trong xã hội. Vì vậy cha mẹ cần phải cố gắng sao cho con cái mình nhận được sự dạy dỗ tốt. Có những cha mẹ hiểu biết, dù phận nghèo, vẫn cố gắng hy sinh, cho con ăn học thành tài. Có những bậc cha mẹ làm ăn phi pháp để có tiền lo cho gia đình, nuôi con, nhưng không để con mình tham dự vào việc làm phi pháp của mình. Có bậc cha mẹ, rất tệ, dùng con cái vào việc làm ăn phi pháp của mình. Họ không lo lắng cho con, lại còn hành hạ và lạm dụng chúng thay vì phải thương yêu chúng. Những đứa trẻ bị hành hạ bởi cha mẹ; lúc lớn lên và hiểu biết chúng rất oán ghét cha mẹ chúng. Ðôi lúc chúng tự làm khổ chúng chỉ vì oán ghét sự ác độc nơi cha mẹ. Vì thế, cha mẹ cần phải tránh những hành động tàn ác và làm gương xấu cho con.

Cha mẹ có thể nghĩ rằng những hành động tốt sẽ tự động phát triển khi mà những điều xấu dở bị cấm đoán. Nhưng họ cũng nên biết rằng con cái họ hay do dự khi phải làm những điều tốt. Thí dụ, có những đứa con tự nó không phải dở, nhưng chúng không thích học hành. Trong trường hợp nầy, cha mẹ cần phải thuyết phục chúng gắng lo học. Cha mẹ nên hết lòng giúp đỡ chúng bằng cách tìm hiểu những yếu điểm của chúng về thân cũng như tâm.

Nếu cha mẹ vì quá thương yêu con cái, để cho con cái mình tự do, muốn làm gì thì làm, mà không một lời răn dạy thì đây không phải là bậc cha mẹ tốt.

Một câu ngạn ngữ Anh nói, Dẹp cái roi, làm con hư . Thêm vào đó, con cái có thể trở thành thù địch của cha mẹ. Khi mà chúng không thể kiếm đủ tiền bằng phương tiện chân chánh, vì thiếu hiểu biết, chúng đi theo những kẻ xấu và kiếm tiền một cách phi pháp, hoặc giả chúng có thể phung phí tiền bạc cha mẹ làm ra, hoặc đánh cắp tiền của trong nhà. Trong trường hợp nầy, điều phiền muộn do con cái gây ra có thể kéo theo những phiền toái khác. Ðể tránh gặp phải trường hợp nầy, cha mẹ cần phải hiểu rõ trách nhiệm của mình đối với con cái.

Cha mẹ cũng đừng quên giảng dạy cho con những hiểu biết về tôn giáo, vì mọi tôn giáo trực tiếp hay gián tiếp đều dũa mài và làm giàu thêm cho con người về mặt đạo đức, hạnh kiểm, tánh tình, v…v… Hấp thụ giáo lý tôn giáo đối với giới trẻ thật là khó. Cha mẹ nên truyền lại cho con cái gia tài tôn giáo mà họ đang có. Muốn được như vậy, cha mẹ phải là người ngoan đạo sáng suốt, ham học hỏi giáo lý, và biết chọn cho mình một tôn giáo thích hợp để mà thực tập. Ngược lại, cha mẹ sẽ khó mà giải thích tại sao mình theo tôn giáo đó, vì sao họ lại thực tập giáo lý đó, và giáo lý đó đã đem lại lợi ích gì cho cuộc sống hiện tại của họ, v…v… và để noi gương cha mẹ, con cái miễn cưỡng thực hành theo. Sau đây là một thí dụ cho trường hợp nầy.

Thời Ðức Phật còn tại thế, có một ông trưởng gỉa rất thành tâm, tên là Anathapindika. Con trai ông, Kala, thì không có thích viếng Phật và nghe pháp. Kala không bao giờ nghe lời cha để đi nghe Phật thuyết pháp. Ông trưởng giả mới nghĩ rằng, Nếu con mình không biết tu tập, thì tương lai nó sẽ phải đi những đường xấu. Hiện nay, không một ai mà không bị ảnh hưởng bởi tiền bạc; vậy ta sẽ thuyết phục nó bằng cách nầy vậy. Nói rồi, ông gọi con trai đến và nói rằng, Nầy con thân yêu, hãy đến thiền viện, thọ giới và nghe pháp trong một buổi. Khi về, cha sẽ cho con một trăm đồng tiền vàng. Kala bằng lòng và đi đến thiền viện. Nhưng chàng đâu muốn nghe pháp, nên tìm một chỗ để ngủ và trở về nhà rất sớm. Ông trưởng giả rất vui lòng và bảo người ở dọn bàn cho Kala ăn . Kala bảo phải đưa tiền thưởng trước xong chàng mới ăn, vì sợ cha cho ăn rồi không đưa tiền.

Ngày hôm sau, ông trưởng giả lại nói với con mình rằng, Con thương, cha sẽ cho con một ngàn đồng tiền vàng nếu con đến viếng Phật và hiểu được một bài kệ. Như đã giao ước, Kala đến thiền viện và ngồi trước mặt Phật. Chàng chỉ cần hiểu được một câu kinh là sẽ rời thiền viện tức khắc. Ðức Phật bèn làm cho chàng hiểu sai nghĩa. Kala bèn nghĩ, Ta sẽ ráng nhớ câu kế tiếp vậy. Thế rồi, chàng ngồi lại và cuối cùng thì nghe trọn vẹn bài pháp, và như vậy Kala đã bước vào ngưỡng cửa đầu tiên của giải thoát với sự thấu hiểu sâu sắc.

Ngày kế tiếp, chàng theo phái đoàn tăng sĩ, dẫn đầu là Ðức Phật đến nhà cha của mình. Khi thấy Kala cùng Phật và các tăng sĩ đến, ông trưởng giả nhìn con tự nói, bữa nay thái độ của con ta thật làm ta vui quá. , và ngay khi đó, Kala nghĩ, Mong rằng cha ta sẽ không đưa tiền thưởng cho ta trước mặt Ðức Phật. Mong rằng cha ta sẽ dấu chuyện ta đi nghe pháp vì tiền thưởng. Ông trưởng giả mời Phật cùng các tăng sĩ thọ trai. Kala cũng ngồi xuống dùng bữa. Khi Ðức Phật thọ trai xong, ông trưởng giả đặt lên bàn một túi đựng một ngàn đồng tiền vàng trước mặt con trai và nói, Con thương, con đã học và hiểu được bài kệ, như đã hứa, đây là tiền thưởng của con. Kala rất là mắc cỡ và nói, Con không cần tiền đâu , va nhất định từ chối đụng vào tiền đó.

Ông trưởng giả bèn hỏi Phật về thái độ của con mình. Ðức Phật đáp, Con ông đang bước vào ngưỡng cửa giải thoát, vì thế hắn không muốn lấy tiền của ông đâu. Mặc dầu ông trưởng giả biết là con mình có thay đổi, nhưng ông muốn Phật xác định điều đó. (Dha, v 178).

Cha mẹ không cần phải ép buộc con cái theo đạo. Chỉ cần nói về đạo và rồi đưa sách cho chúng đọc trong những giờ rảnh rỗi. Chỉ cần như vậy là cha mẹ có thể khiến chúng thích tìm hiểu về tôn giáo.

Khi con cái học kém và không thể học lên cao, thì cha mẹ cần phải cho con một số vốn làm ăn hoặc cho con đi học nghề để có thể tự kiếm sống. Khi mà con cái có một nghề chuyên môn thì chúng sinh sống nơi nào cũng không lo. Tiền của có thể bị mất khi gặp hỏa hoạn, lụt lội, trộm cướp, kẻ thù, hay chính quyền thối nát, hoặc vì con cái ngu si không biết gìn giữ. Vì vậy tốt nhất là dạy cho chúng một nghề, hoặc nhờ vào học vấn mà có thể tự kiếm sống.

Ngày xưa, cha mẹ quyết định sự hôn nhân cho con cái, và người con chỉ vâng lời tuân theo. Ngày nay, tập tục nầy đang dần biến mất. Con cái muốn được tự do lựa chọn người phối ngẫu, và cha mẹ không can dự vào quyết định nầy.

Thật ra, cha mẹ có nhiều kinh nghiệm trong đời sống hôn nhân. Vì thế, họ muốn chọn một người thích hợp cho con họ để con họ sau nầy tránh được những phiền muộn trong hôn nhân, và họ muốn cho con ý kiến của mình.

Vài cặp vợ chồng nghĩ là không phải phận sự của họ săn sóc cha mẹ chồng, hay cha mẹ vợ, bởi vì họ dọn ra ở riêng sau khi thành hôn. Nhưng dù cho họ có ở với cha mẹ chồng / vợ hay không, nếu họ không quên bổn phận của họ đối với cha mẹ, thì lòng tử tế cũng thấm nhuần nơi gia đình và như vậy họ có thể sống chung một cách hạnh phúc. Cha mẹ chồng / vợ cũng có thể giúp đỡ con dâu hay con rễ tùy theo khả năng của mình. Khi một cặp vợ chồng sống chung với cha mẹ chồng / vợ, họ chỉ cần kính trọng cha mẹ, đừng ganh tỵ, thì sẽ không có chuyện gì . Nếu không, thì sự bực bội, chán ghét và đối đầu là điều sẽ không tránh khỏi.

(còn tiếp)

Người dịch: Mỹ Thanh

Nguồn: vnthuquan.net

Đức Đạt Lạt Ma đàm luận với một nhóm phật tử Đông Nam Á – Phần cuối


HỎI:  Ngày nay thì ngày càng có nhiều người đồng tính luyến ai hơn trên thế giới, những trung tâm Phật Giáo Đài Loan chấp nhận hôn nhân đồng tính.  Quan điểm của Phật Giáo về đồng tính luyến ái là như thế nào?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA:  Kinh điển Phật Giáo đề cập rõ ràng rằng, tình dục giữa những người đồng giới là sai.  Nhưng đấy là qua những người tín ngưỡng, rồi thì những người không tín ngưỡng thì tình dục giữa những nam với nam, nữ với nữ cho đến khi nào mà nó an toàn thì okay thôi (mọi người cùng cười và vổ tay).  Nhưng việc hôn nhân là tùy thuộc vào luật pháp của quốc gia chỉ tuân theo luật lệ nhà nước thôi.  Thế thôi.  Rồi thì đối với những người tu tập nghiêm túc trong Phật Giáo thì nên tránh.  Thế thôi.  Ngay cả đối với thú vật chúng không ngại gì (cười).  Nên chúng ta tin tưởng một cách căn bản, loài người cũng là một loại động vật.  Có phải không?

HỎI:  Trong xã hội hiện đại người ta ngày càng bị căng thẳng, chán chường hơn xa rời sự cống hiến, tôi có thể làm gì cho họ và cho chính tôi?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Tôi tin rằng tôi đã đề cập việc này trong một ngày nào đó rồi.  Hệ thống giáo dục.  Tôi nghĩ chỉ vấn đề sống với cuộc đời của chính mình như thế nào với sự phát triển vật chất, với tiện nghi vật chất mà phải hiểu về trình độ vật lý hay tinh thần.  Trình độ vật lý, những cảm xúc vui sướng hay khổ đau; trình độ tinh thần cũng thế.  Đây là hai vấn đề khác nhau.  Giữa hai trình độ này thì trình độ tinh thần siêu việt hơn nhiều.  Sự đau đớn về thể xác có thể được làm giảm thiểu, chinh phục bằng trình độ tinh thần.  Sự lo lắng, phiền muộn của tinh thần không thể bị chinh phục bằng trình độ vật lý, bằng phương tiện vật chất.  Điều ấy là rõ ràng.  Có phải không?  Cho nên con người không có ý kiến gì về hai trình độ này; trình độ thân thể vật lý và trình độ tinh thần tâm linh.

Cho nên tôi nghĩ trước nhất, thật sự tôi nghĩ tối thiểu là hai năm, chúng tôi đã có những thảo luận nghiêm túc về điều này.  Bây giờ, những giáo sư đại học và chúng tôi đang tiến hành một số hoạt động nghiên cứu vấn đề làm sao áp dụng trong nền giáo dục hiện đại, có nghĩa là nền giáo dục thế gian về đạo đức thế tục.  Vấn đề giới thiệu nhằm để giảng dạy như thế nào, giải thích thế nào cho những sinh viên học sinh.  Chúng ta phải giải thích về tâm thức và cảm xúc, ngoại trừ chúng ta có những ý tưởng về bản đồ của tâm thức, mô hình của cảm xúc; trừ khi chúng ta có những ý tưởng thô sơ về bản đồ cảm xúc của tâm thức.  Sau đó những cảm xúc khác nhau, các cảm xúc nào rất tai hại cho sức khỏe chúng ta, những cảm xúc nào rất tốt lành cho sức khỏe chúng ta.  Rồi thì phát triển những cảm xúc này như thế nào, những nguyên nhân nào, những điều kiện nào.  Một số kiến thức thô sơ về toàn bộ hệ thống tinh thần.  Qua cách ấy chúng ta có thể dạy về từ ái, bi mẫn,…,  những thứ này.  Không phải từ căn bản quá khứ tôn giáo mà chỉ vì sức khỏe thân thể, và sức khỏe tinh thần.

Tôi nghĩ là tháng Giêng tới, chúng tôi sẽ có những cuộc gặp gở và thảo luận xa hơn.  Tôi nghĩ là năm tới chúng tôi sẽ có những chương trình không căn cứ trên tôn giáo, mà chỉ đơn giản là những chủ đề chuyên môn.  Thế thì chúng tôi hy vọng rằng, một số trường học, một số ở Hong Kong cũng như ở Ấn Độ tôi nghĩ một số trường đã bao gồm môn học về đạo đức thế tục.   Một số trường đã tiến hành chương trình này sau đó chúng ta sẽ thấy tác dụng như thế nào.

Vài năm trước đây Đại học Wisonsin, Stanford,… họ đã tiến hành một số chương trình thể nghiệm hai tuần, ba tuần,… về rèn luyện tâm thức.  Việc nghiên cứu rất đáng thuyết phục.  Trước khi tiến hành, họ đo áp huyết, và những kiểm nghiệm y tế khác.  Và rồi sau hai hay ba tuần được rèn luyện, họ được khám y tế lại, những nổi bật là áp huyết giảm xuống, căng thẳng giảm xuống, các người ấy vui vẻ hơn, và mối quan hệ với thân quyến, đồng nghiệp, bè bạn trở nên thân mật hơn hạnh phúc hơn.  Nên có một số thí nghiệm đã tiến  hành, và trường Wisconsin đã có một số bài học về điều này, đạo đức thế tục, về từ ái, bi mẫn, những thứ này, với một số giải thích về các chức năng tinh thần và chủ yếu dựa trên các khám phá của khoa học.  Chứ không phải dựa trên những trích dẫn hay lý thuyết tôn giáo, không.  Chỉ đơn giản là những khám phá của khoa học.  Đấy là hy vọng duy nhất còn sự phát triển vật chất, và tiện nghi vật chất là giới hạn.

Nhiều năm trước đây, khi kinh tế Nhật Bản mỗi năm đi lên như vầy, trong một vài trường hợp nào đó tôi đã tuyên bố, sự phát triển vật chất đi đến một trình độ nào đó sẽ không thể đi xa hơn nữa, có một giới hạn nào đó.  Và đúng như vậy sau một vài năm, kinh tế Nhật Bản gặp phải một vài sự khó khăn nào đó.

Nên kinh tế, những giá trị vật chất, trong bất cứ trường hợp nào cũng là giới hạn.  Sự  phát triển tinh thần là vô giới hạn, những thường thì chúng ta tùy theo trình độ kiến thức, trình độ kinh nghiệm chúng ta đã mong đợi quá nhiều ở những giá trị vật chất, phát triển hơn, phát triển  hơn, nhưng thật sự nó bị giới hạn.

Sự phát triển trình độ tâm linh là vô giới hạn, nhưng người ta không thích thú lắm.Rõ chứ! Cho nên, tôi nghĩ trong khi phát triển chủ nghĩa vật chất, dĩ nhiên là rất quan trọng, rất hữu ích, nhưng cùng lúc ấy, hãy chú ý đến hệ thống tinh thần như một bộ phận trong sự giáo dục của chúng ta.  Rồi thì thôi nghĩ toàn bộ suy nghĩ sẽ thay đổi.  Giáo dục khắp nơi, không về những chủ đề tôn giáo, nhưng hoàn toàn không tôn giáo, giới thiệu trong nền giáo dục hoàn toàn là những kiến thức khoa học về tâm thức, về cảm xúc.  Như thế tôi nghĩ qua cách ấy sẽ có thể có một loại cách mạng, có phải thế không?  Tôi nghĩ là có thể, tôi nghĩ rất triển vọng.  Tôi đã  nói với người phương Tây rằng, quý vị trong quá khức đã khai thác quá nhiều, chủ nghĩa đế quốc phương Tây, nhiều quốc gia Á châu, nhiều quốc gia Phi châu, nhiều quốc gia châu Mỹ La tinh bị kiểm soát bởi những quốc gia phương Tây, đế quốc Anh; có phải bạn đến từ Anh quốc không?  Chủ nghĩa thực dân trước đây hả?  (mọi người cười).  Còn bạn?  Tôi là người Mỹ.  Tổ tiên của bạn đến từ … Ý Đại Lợi à.  A, một số nước Phi châu cũng bị Ý Đại Lợi chiếm làm thuộc địa.  Rồi thì Hòa Lan, Đức, … Nhưng cùng lúc ấy ý tưởng về dân chủ, nhà nước pháp quyền, tôi nghĩ là Anh quốc, rất thực tế, duy trì quốc vương như một biểu tượng, nhưng đồng thời thực hành hoàn toàn hệ thống dân chủ.  Rõ chứ?  Pháp thì hơi khó khăn, hoàn toàn dẹp bỏ chế độ quân chủ.  Vậy thì thế nào đó, các nước phương Tây, trông như với chế độ thuộc địa thực dân rồi trao trả độc lập cho các nước.  Rồi thì khoa học kỷ thuật chính yếu phát triền từ các nước phương Tây.  Tôi nghĩ trong anh chị em loài người, các bạn trưởng thành hơn.

Trong những năm 60 hay 70 tôi có cơ hội thăm Singapore, và khi tôi giảng dạy, những người ở đấy chủ yếu là Phật tử Trung Hoa, khi tôi ban lễ quán đảnh, họ rất chú tâm, khi tôi giảng giải về Đạo Phật họ ngủ gật thế này (mọi người cười).  Còn đối với những người phương Tây, khi tôi giảng giải giáo lý, họ biểu lộ sự thích thú vô cùng, họ ghi chú, thu băng,…tôi nghĩ là họ rất cởi mở, và nghiêm túc hơn nên khi tôi thuyết giảng về những thứ này ở những quốc gia Âu châu, Mỹ châu tôi nghĩ là rất dễ lãnh hội.  Một số quốc gia khác không [nghiêm túc] như thế (cười).  Nên tôi nghĩ những tư tưởng mới, tôi nghĩ có khả năng hơn để có những thay đổi nào đó bắt đầu từ những quốc gia Âu Mỹ, như vài năm trước đây, tôi ở Quebec, thật sự thường thì những trường Đại Học ở vùng này họ khóa tu nghiệp cho những giáo viên về đạo đức thế tục. Thông thường các giáo dục về đạo đức liên hệ với tôn giáo địa phương, thí dụ, những quốc gia Ki Tô với niềm tin Ki Tô.

Thực tế một lần ở Đức Quốc, lúc còn phân chia Đông Tây, trong trường  hợp vào buổi thuyết giảng của tôi, ở Bonn, có Bộ Trường Gia Cư của chính quyền đến dự.  Rồi thì vào lúc trước buổi giảng của tôi, khi tôi đề cập đến đạo đức, vị bộ trưởng ấy nói với tôi rằng bất cứ đạo đức hạnh kiểm nào cũng phải căn cứ trên đạo đức tôn giáo.  Tôi giữ im lặng lúc ấy.  Rồi một lần với Giáo Hoàng John Paul II, một vị giáo hoàng tuyệt vời người Ba Lan.  Từ lần gặp gở đầu tiên, chúng tôi đã trở thành những người bạn vô cùng thân thiết.  Một người tuyệt vời!  Có một lần tôi hỏi ngài, những nguyên tắc đạo đức có thể căn cứ trên chủ nghĩa thế tục mà không căn cứ trên nền tảng tôn giáo hay không?  Có thể  hay không?  Tôi hỏi Đức Giáo Hoàng.  Và ngài im lặng.  Rồi thì một vị Hồng Y trả lời tôi rằng: Không!  Đạo đức hạnh kiểm phải căn cứ trên nền tảng tôn giáo.

Bây giờ ở Quebec, họ đang cố gắng tìm kiếm đạo đức hạnh kiểm không căn cứ trên niềm tin tôn giáo.  Họ đang tổ chức những khóa tu nghiệp cho giáo viên, tôi nghĩ là một vài tuần và  họ mời tôi có một vài thuyết giảng ở đấy và những suy nghĩ thông thường của tôi, tôi nói về những vấn đề như thế.  Nên quý vị thấy đấy những khởi đầu nào đó đang diễn tiến trong những lãnh vực này.

Một trường hợp những nhà khoa học gặp gở với nhau, tôi nghĩ là mười năm trước đây, có vài nhà khoa học Nhật Bổn, có một nữ khoa học gia tham dự.  Ngày thứ nhất, thứ hai, nữ khoa học gia ấy giữ im lặng, không bình  luận gì cả.  Ngày thứ ba bà đề cập, thường thường bà cảm thấy, chúng tôi những người Á Đông, chúng tôi có những tài liệu mà những nhà khoa học phương Tây tiến hành thí nghiệm, khảo sát, nhưng chính chúng tôi lại không có khả năng để khảo sát, nhưng lần này, sau  hai ngày quán sát, bây giờ những người Á Đông chúng tôi có khả năng để khảo sát.  Tôi nghĩ là người Á Đông thường thực hành một số giáo huấn tôn giáo, nhưng không khảo sát nhiều, không thắc mắc nhiều.  Tôi nghĩ là chúng tôi phải thay đổi điều này.

Như tôi đã đề cập trước đây, người Trung Hoa theo truyền thống Na Lan  Đà và một số theo truyền thống Pali chúng ta đã tranh luận về những khảo sát này, như ngày xưa chúng ta căn cứ trên Bốn Chân Lý Cao Quý.  Nên tôi nghĩ người Phật tử chúng ta tối thiểu bây giờ nên thắc mắc nhiều hơn, nên đặt câu hỏi nhiều hơn.  Và nhằm để phát triển vấn đề đặt câu  hỏi thì chủ nghĩa hoài nghi là rất cần thiết.  Chúng ta không nên có niềm tin mù quáng.  Chúng ta phải hoài nghi hơn.  Càng hoài nghi càng dễ đưa đến việc đặt câu hỏi.  Câu hỏi đưa đến việc khảo sát.  Khảo sát đưa đến câu trả lời, câu trả lời đúng.  Chỉ là niềm tin mù quáng chỉ là thể trạng của Đức Phật, hay thể trạng của thầy tôi, thế là dừng lại ngay đấy, không có khảo sát xa hơn.  Nên tôi muốn lập lại lời của Đức Phật, “Tất cả những môn đồ của ta, tì kheo, học giả không nên chấp nhận giáo huấn của ta vì lòng tin, vì sự tận tụy mà đúng hơn là sự khảo sát và thể nghiệm tường tận.”  Cung cách khoa học ấy.

Một lần nữa tôi nghĩ là bốn mươi năm trước đây, khởi đầu sự suy nghĩ nghiêm túc của tôi trong việc đối thoại với khoa học hiện đại và vào lúc ấy, một phụ nữ Hoa Kỳ, có chồng Tây Tạng, tôi đã đề cập với phụ nữ ấy nguyện vọng của tôi trong việc tiến hành thảo luận, đàm luận với khoa học hiện đại.  Rồi thì bà ta nói với tôi rằng, “Ô, hãy cẩn thận, khoa học là những kẻ giết tôn giáo.”  Sau đó tôi nghĩ, không, truyền thống Na Lan Đà, và chính Đức Phật luôn luôn thúc đẩy việc khảo sát xa hơn, ngay chính lời của Đức Phật.  Nên chúng ta có quyền tự do để khảo sát.  Khoa học hiện đại cũng khảo sát.  Cả  khoa học và Phật tử qua khảo sát chính yếu dùng lý luận hợp lý (logic) trong kinh nghiệm.  Nhà khoa học khảo sát căn cứ trên khí cụ và toán học, như thế đấy.  Nên những phương pháp tiếp cận khác nhau.  Nhưng cả hai khảo sát: thực tại là gì?

Cho đến bây giờ, khoa học chủ yếu trên vấn đề vật lý là điều có thể chuyên về và dựa vào người thứ ba.  Những chuyên đề của Phật Giáo không thể dựa vào người thứ ba mà chủ yếu là thể nghiệm chủ đề, như thế ấy.  Nên có một ít khác biệt, nhưng ngày nay, trong những nhà khoa học đã bắt đầu thích thú về tâm thức và cảm xúc bởi vì nó vô cùng quan yếu cho sức khỏe, cho một gia đình lành mạnh, một xã hội lành mạnh.

Trong xã hội ngày nay, rất nhiều khủng hoảng tinh thần, có khi có những biểu hiện đẹp đẻ nhưng tiềm tàng là sự khủng hoảng đạo đức, khủng hoảng tinh thần.  Hãy nhìn Nhật Bổn có nền giáo dục phát triển cao độ nhưng có nhiều vụ tự tử trong sinh viên học sinh.  Ở Singapore thế nào? Không nhiều hả? (trả lời: có một số).  Ở Ladahk trước đây không hề có tự tử, nhưng bây giờ trong sinh viên học sinh đã có những vụ tự tử.  Nên sự phát triển vật chất đưa đến cạnh tranh nhiều hơn, qua cách ấy đưa đến nhiều tham vọng khát vọng hơn, qua cách ấy tạo ra nhiều khủng hoảng.  Tâm thức chúng ta không được cân bằng.

HỎI:  Làm thế nào để can đảm hơn trong việc tiếp nhận khổ đau của người khác để tự hoán đổi mình với người khác?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA:  Như tôi đã đề cập trước đây, tuệ giác với quan điểm  thánh thiện hơn là rất quan yếu.  Như thế ấy chúng ta nhìn sự việc với lòng từ bi chúng ta thể hiện lòng quan tâm thật mãnh liệt, thật kiên nhẫn đối với người khác, nhìn quán chiếu và quan tâm sâu xa về sự việc ngày qua ngày, tuần này đến tuần khác, tháng này đến tháng khác đôi khi tự mình thấy thấm nhuần toàn triệt,… trường hợp này tôi cảm thấy rằng chúng ta cần có một quan điểm thánh thiện hơn.  Nghĩ về những điều chúng ta có thể đảm đương, chúng ta hành động.  Thứ nào ngoài khả năng thì hãy chấp nhận thực tế.  Trường hợp của chính tôi, đôi khi có những vấn nạn, chính yếu ở bên trong Tây Tạng, khi tin tức đến đây, thật đau lòng.  Nhưng rồi thì nếu chỉ nghĩ về những vấn đề này, tôi nghĩ một ngày nào đó Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyệt vọng, một Đạt Lai Lạt Ma chán đời (mọi người cười).  Nhưng cho đến bây giờ không có gì nguy hiểm (cười).  Tôi luôn luôn nhìn trong một nhận thức bao quát hơn.  Như thế rất lợi lạc.  Như vậy không có nghĩa là dửng dưng, thật sự là quan tâm rất nghiêm túc.  Nhưng, trong một trường hợp, tôi nói với những người bạn của tôi ở Hoa Kỳ ở Tòa Bạch Ốc, một ngày nọ tôi nói rằng, “Ngày qua ngày, vô số rắc rối,” một người bạn nói với tôi, “Nhiều khó khăn lắm”. Và tôi nói với ông là, “Vâng, có thể có một cách nào đó trình độ khái quát bên ngoài, trình độ cảm xúc bên trong.  Trước nhất ở trình độ khái quát bên ngoài, thì nhìn vấn đề và tìm cách để vượt thắng.  Và ở trình độ cảm xúc ta có thể duy trì sự tĩnh lặng.  Tôi thường trình bày rằng, như một đại dương, trên bề mặt sóng gió luôn luôn quấy động, nhưng bên dưới luôn luôn duy trì sự tĩnh lặng. Hãy cố gắng để phân biệt trình độ biểu hiện bên ngoài và cảm xúc bên trong. Việc ấy có thể làm ở trình độ khái quát bên ngoài, những tin tức quấy rầy, những tin tức buồn đau đến hãy phân tích làm sao để chiến thắng chúng.  Nhưng cố gắng làm sự phân biệt trình độ khái quát bên ngoài và trình độ cảm xúc sâu bên trong có thể hổ trợ cho sự thông minh.  Một câu châm ngôn thường được nêu lên là, “Nếu ta có thể giải quyết được vấn đề thì không vì phải lo lắng, hãy nổ lực.  Còn nếu không giải quyết được thì có lo lắng cũng không ích gì!”  Rất thực tiển.  Có phải thế không?  Lo lắng quá, tự mình thối chí nản lòng thì thật đáng thương.  Cho nên phải giữ sự quyết tâm, năng lực của quyết tâm.  Từ bi không hành động chỉ là sự phụng sự trên đầu môi.  Trường hợp của chính tôi chỉ là lời nói mà thôi.  Chỉ nói, từ bi từ bi, mà không làm gì cả (cười).  Cho nên những người liên hệ trong những việc làm ở nhà thương, hay giáo viên ở trường học thật sự áp dụng từ bi trong đời sống hàng ngày.  Thật là tuyệt vời.  Nếu tôi làm việc trong nhà thương, tôi nghĩ một tuần sẽ rất bận rộn.  Tuần thứ hai, tuần thứ ba chắc  không thể như thế, kiệt lực rồi (cười).  Cho nên tôi thật sự cảm kích những người làm việc thật sự dâng hiến cả cuộc đời để phục vụ người khác, giúp đở người khác.  Thật tuyệt vời!
(Nói với những tu sĩ trước mặt)  Cho nên chúng ta là những tu sĩ Đạo Phật,  lần đầu tiên tôi thăm viếng Bangkok,Thái Lan, tôi nêu lên câu hỏi, Chúng ta là tu sĩ Phật Giáo, hơi bị cô lập, không như những tu sĩ Ki Tô Giáo liên hệ sâu đậm trong việc phục vụ xã hội.  Chủ yếu trong lãnh vực giáo dục, sức khỏe.  Có phải thế không?  Những tu sĩ nam nữ Ki Tô Giáo thật sự đảm nhận trách nhiệm với công việc xã hội.  Chúng ta những tu sĩ Đạo Phật thường giam mình trong những tu viện nên tôi đã nêu câu hỏi với vị Vua Sãi Thái Lan (Sangha Rajar) trong lần thăm viếng đầu tiên của tôi, và ngài đã có lý khi nói, Chúng ta những tu sĩ cụ túc, chúng ta phải duy trì sự cách biệt với đời sống bình thường, đời sống thế tục.  Điều ấy cũng đúng.  Nhưng chúng ta cũng phải tìm đường lối trung đạo.  Viễn ly có nghĩa là rủ bỏ.  Thật sự lòng từ bi vô giới hạn, lòng từ bi không thành kiến nhằm để phát triển được như vậy, lòng từ bi giới  hạn và thành kiến phải được giảm thiểu.  Ở trình độ ấy rủ bỏ, rồi thì lòng từ ái không giới hạn, lòng bi mẫn không thành kiến phát triển.  Rõ chứ.  Như thế đấy.  Chân thành cảm ơn!

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma / 4-9-2012
Chuyển ngữ:  Tuệ Uyển /  11-9-2012

Nguồn: huongdanphattu.vn

Nguyên tác: Question and Answer Session with a Group from Southeast Asia
Ẩn Tâm Lộ / Tuesday, October 16, 2012 / 11:05:34 AM