Nhiều cách hiểu đan xen nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần III


Hiện có hai cuộc tranh luận liên quan đến chủ đề này:

+ Sự phân chia nhiệm vụ giữa nhà nước và các doanh nghiệp – điều này đưa chúng ta trở lại với những câu hỏi liên quan tới xu hướng tân gia trưởng: khi bước ra khỏi lĩnh vực hoạt động kinh tế truyền thống, liệu các doanh nghiệp có tránh khỏi nguy cơ bị kết tội là muốn chi phối thế giới mà không phải tuân thủ sự kiểm soát về mặt chính trị? Dù sao thì chiều kích quốc tế ngày càng tăng trong hoạt động của doanh nghiệp đã làm thay đổi thế cờ: khi mà các doanh nghiệp không bị lũng đoạn bởi các nhóm mafia quốc tế, thì sự thiếu vắng luật lệ quốc tế đối với các hoạt động của doanh nghiệp là điều mà ai cũng có thể nhận thấy một cách nghiêm túc. Tất nhiên ngoại trừ một số lĩnh vực đã có những thỏa ước quốc tế. Nhưng, khi Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc chẳng hạn, muốn thúc đẩy các chuẩn mực mang tính cưỡng chế đối với các công ty đa quốc gia thì Phòng Thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce) và Hội đồng kinh doanh quốc tế của Mỹ (US Council for International Business) liền chỉ trích gay gắt các chuẩn mực này và cho rằng người ta đã dịch chuyển nghĩa vụ tôn trọng nhân quyền từ các nhà nước sang phía các doanh nghiệp.

+ Cuộc tranh luận thứ hai diễn ra xoay quanh những trách nhiệm của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và của công dân nói chung. Các nhà công nghiệp cho rằng họ chỉ sản xấut ra những sản phẩm có người mua trên thị trường và do đó, họ không phải chịu trách nhiệm với người tiêu dùng cuối cùng vì người này có quyền tự do mua hoặc không mua. Cuộc tranh luận xa xưa này đã kết thúc từ lâu khi người ta quan tâm đến chiều kích cá thể hóa của yếu tố cầu trước sự độc quyền thiểu số của cung (thị trường độc quyền nhóm – ND). Mặt khác, người tiêu dùng chưa bao giờ có thể gây ảnh hưởng lên các quyết định đầu tư hoặc những lựa chọn về công nghệ và cách tổ chức lao động trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Rõ nhất là lập luận cố chứng minh rằng các thị trường sẽ hợp thức hóa mọi hoạt động kinh tế; điều này có nghĩa là gán cho thị trường một tính chất đạo đức và một sự sáng suốt mà nó không hề có, bằng chứng là những hoạt động kinh tế phi pháp vẫn đang diễn ra hàng ngày trước mắt chúng ta. Nhưng những chủ thể hành động khác ngoài doanh nghiệp cũng có những trách nhiệm của mình và họ có thể thể hiện những trách nhiệm ấy thông qua các hoạt động công dân hoặc các hành vi tiêu dùng có trách nhiệm. Tất nhiên chúng ta đều đồng ý rằng mỗi người đều có trách nhiệm riêng của mình trong bối cảnh hành tinh hiện nay, nhưng cũng có những mức độ trách nhiệm mà ta không thể bỏ qua hoặc tránh né vì, như Anna Harendt đã từng nói, “nếu mọi người đều cùng có trách nhiệm thì sẽ chẳng ai có trách nhiệm cả”.

Rõ ràng, phạm vi của CSR là điều mà người ta còn đang tranh cãi và sẽ còn tranh cãi bởi sự phức tạp của vấn đề cũng như những lý do khác nhau của các chủ thể hành động. Nhưng dù sao thì vấn đề cũng đã được đặt ra. Luật của nước Pháp, khi quy định rằng những doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán phải công bố các thông tin về những hậu quả xã hội và môi trường do hoạt động của mình gây ra, vẫn còn để lại một khoảng trống cho câu hỏi về phạm vi bao phủ và mọi người đều đồng ý rằng điều này cần được nêu cho chính xác hơn. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng cố gắng xác định điều mà tổ chức này gọi là “những vùng ảnh hưởng” của các doanh nghiệp, bằng cách lấy các quan hệ đầu tư làm tiêu chuẩn để xem xét. Các ngân hàng chẳng hạn, cần nhận thức rõ rằng trách nhiệm của họ không chỉ giới hạn trong phạm vi của các trụ sở mà còn phải tính đến cả những tác động của dự án mà họ cho vay. Các nhà máy chế biến thực phẩm phải giám sát nguồn gốc của các sản phẩm do mình làm ra trong suốt quá trình sản xuất. Những người đặt hàng và các siêu thị lớn cũng được yêu cầu phải kiểm tra chất lượng xã hội của các sản phẩm từ các nhà cung ứng hoặc từ công ty gia công trước khi bán chúng ra thị trường. Những ví dụ này cho thấy rằng phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp, xét từ khía cạnh không gian lẫn thời gian, đang là một mối bận tâm lớn, và vẫn còn gây ra nhiều cuộc tranh luận.

“Xã hội” cần được hiểu như thế nào?

Trong tiếng Pháp, tính từ “social” (“mang tính xã hội” – ND) mang rất nhiều ý nghĩa khiến cho khái niệm “trách nhiệm xã hội” trở nên mơ hồ hơn. Bởi vì khái niệm này được áp dụng cho các doanh nghiệp nên rất nhiều người đã giới hạn CSR vào các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời loại bỏ tất cả các khía cạnh khác liên quan đến sự phát triển bền vững. Chính vì thế mà người ta sử dụng tính từ “sociétal” (“trên quy mô xã hội” – ND) để phân biệt những gì có liên quan tới xã hội theo nghĩa rộng với những gì chỉ liên quan tới các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động (ví dụ bản tổng kết xã hội theo nghĩa rộng [bilan sociétal] so với bản tổng kết xã hội theo nghĩa hẹp [bilan social]). Đồng thời, sự quy giản này đã làm nảy sinh những cụm từ nhằm hội nhập thêm những chiều kích khác như: trách nhiệm xã hội và môi trường (responsibilité sociale et environnementale), trách nhiệm trên quy mô xã hội (responsibilité sociétale), trách nhiệm tổng thể (responisbilité globale). Hiện nay, việc sử dụng tính từ “xã hội” (trong ngữ cảnh CSR) đang ngày càng có xu hướng ngả theo cách hiểu Anh – Mỹ, tức tính xã hội phổ quát, bao trùm mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Cách hiểu này gần như đã được chấp nhận bởi vì một trong những ý nghĩa của tính từ xã hội trong tiếng Pháp là chỉ các mối quan hệ của con người trong xã hội hiểu theo nghĩa rộng.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nhiều cách hiểu đan xen nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần II


Các công việc nghiên cứu chuẩn bị cho việc xây dựng bộ tiêu chuẩn ISO 26.000 trong tương lai đã đề xuất một định nghĩa về CSR vừa thỏa mãn cho cả Mỹ lẫn châu Âu như sau: CSR là “những hoạt động của một tổ chức nhằm đảm nhận trách nhiệm về tác động các hành động của mình gây ra cho xã hội và môi trường, trong chừng mực mà các hoạt động này phải gắn bó với các lợi ích của xã hội và của sự phát triển bền vững, dựa trên một lối ứng xử có đạo đức, tôn trọng luật pháp hiện hành và các thiết chế của nhà nước, và được hội nhập vào trong các hoạt động thông thường của tổ chức”. Việc quy chiếu vào sự phát triển bền vững sẽ làm thỏa mãn các quốc gia Âu châu, trong khi việc quy chiếu vào đạo đức sẽ được người Mỹ tán thành.Nhưng chúng ta sẽ thấy rằng những người hành động có thể được xem như “có trách nhiệm về mặt xã hội” cần phải được “hội nhập vào các hoạt động thông thường của tổ chức” – điều này hàm ý rằng quan niệm về CSR đã vượt qua cách hiểu coi CSR chỉ là hoạt động từ thiện.

Có trách nhiệm về cái gì, đến đâu, liên quan đến ai, và như thế nào?

Bất cứ cuộc tranh luận nào về trách nhiệm cũng cần đặt ra các câu hỏi sau: Chịu trách nhiệm với ai? Liên quan đến cái gì? Có trách nhiệm đến đâu và như thế nào?

Với câu hỏi “chịu trách nhiệm với ai?”, có thể có nhiều câu trả lời rất khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm về doanh nghiệp và về vị trí của doanh nghiệp trong xã hội. Đối với Friedman, doanh nghiệp chỉ phải chịu trách nhiệm với các cổ đông mà thôi, bởi vì vai trò của doanh nghiệp là phải tối đa hóa lợi nhuận vì lợi ích của các cổ đông.

Một kiểu trả lời thứ hai, như của Liên minh châu Âu chẳng hạn, dựa trên khái niệm “các thành phần có liên quan”. Theo đó, doanh nghiệp cần phải quan tâm đến những cá nhân hoặc các nhóm có thể bị tác động bởi các hoạt động của mình, hoặc những nhóm hay cá nhân có thể có ảnh hưởng đối với các hoạt động của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được gán cho vai trò làm thỏa mãn mọi thành phần có liên quan và trở thành nơi phân định các lợi ích khác nhau cho các thành phần có liên quan đó. Yêu cầu này có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo các thành phần được xem xét: có những thành phần mà doanh nghiệp có các mối quan hệ khế ước (những người lao động, những nhà cung ứng, các khách hàng…), và những thành phần mà doanh nghiệp không có bất cứ mối quan hệ khế ước nào (các nhóm lợi ích khác nhau, chẳng hạn những người sống gần nơi hoạt động của doanh nghiệp hoặc những người bảo vệ thiên nhiên). Cách tiếp cận này không tính đến các nhóm quá yếu thế để có thể đại diện hoặc vắng mặt [trong các quyết định của doanh nghiệp], chẳng hạn như các thế hệ tương lai.

Cách trả lời thứ ba cho rằng doanh nghiệp phải có trách nhiệm với lợi ích chung của cộng đồng. Nhưng nếu hiểu theo định nghĩa của Adam Smith (Những nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc sự thịnh vượng của quốc gia, 1776) thì lợi ích chung là tổng của các lợi ích riêng, nhờ “bàn tay vô hình” nhân từ của thị trường, điều này dẫn đến khả năng xem lợi ích riêng của doanh nghiệp như là cộng đồng lợi ích giữa vốn tư bản và lao động [Robe, 1999]. Ngược lại, theo khái niệm “ý chí chung” của Jean-Jacques Rousseau (Khế ước xã hội, 1762), diện mạo của doanh nghiệp sẽ được xây dựng trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với xã hội tuân thủ những đòi hỏi của cộng đồng được thể hiện qua nhà nước. Hiện nay, khi các vấn đề về lợi ích chung đã vượt khỏi biên giới của các nhà nước – quốc gia thì vấn đề đóng góp của doanh nghiệp vào lợi ích chung cần phải được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhưng vấn đề này cho đến nay mới chỉ có những phác thảo hay những kinh nghiệm hạn chế về các cơ chế điều tiết.

Sự tiếp cận lý thuyết về đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững cần phải đi đến việc định vị các hoạt động của doanh nghiệp và những hậu quả của chúng trong quá trình khai thác và giữ gìn các lợi ích chung mang tính toàn cầu, trong đó bao gồm cả việc giảm bớt các chi phí ngoại tác đối với xã hội. Chúng ta vẫn còn cách xa điều đó lắm. Có lẽ tạm thời cộng đồng quốc tế (trong mối liên hệ với các chủ thể kinh tế) cần xác định những vấn đề quan trọng nhất khi nói đến sự phát triển bền vững và những lợi ích chung của cộng đồng thế giới.

Câu hỏi “có trách nhiệm về điều gì?” đề cập đến những tiêu chí mà dựa vào đó, người ta sẽ đánh giá xem liệu một doanh nghiệp nào đó có trách nhiệm về mặt xã hội hay không. Các tiêu chí này là hết sức đa dạng khiến cho việc đánh giá khó mang tính khách quan, bởi vì người lượng giá không thể không bị tác động bởi các giá trị riêng của mình cũng như vị trí của anh ta trong các mối quan hệ xã hội, hoặc các lợi ích của tổ chức mà anh ta là thành viên.

Do vậy, người ta có thể chỉ dựa vào những việc tốt đẹp mà doanh nghiệp đã làm cùng với vô số loại giải thưởng đã dựa trên các thành tích này để đề cao những “doanh nghiệp tốt nhất”. Ngược lại, người ta cũng có thể chỉ tập trung vào việc đánh giá những mặt chưa được của doanh nghiệp, những thiệt hại do doanh nghiệp gây ra mà thôi. Đây là cách làm của khá nhiều tổ chức phi chính phủ nhằm lôi kéo sự chú ý của công luận vào những nguy cơ, những rủi ro nảy sinh từ một số hoạt động của doanh nghiệp.

Trên thực tế, người ta thường hài lòng với cách đánh giá từng phần, tức là chỉ dựa trên một số sự kiện rõ rang, bởi vì thật sự là rất khó để có thể nắm bắt hoặc đưa ra một ý kiến tổng quát về toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp lớn. Vả lại, doanh nghiệp có thể có những điểm mạnh trong một lĩnh vực nào đó (lĩnh vực xã hội chẳng hạn) và những điểm yếu trong một lĩnh vực khác (lĩnh vực môi trường chẳng hạn); cái này không thể bù trừ cho cái kia, và người ta hoàn toàn không thể lấy một điểm trung bình cho cả hai lĩnh vực đó.

Mặt khác, người ta có thể tiến hành đánh giá quân bình bằng cách cân nhắc nhiều tiêu chí khác nhau,nhưng điều này cũng có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc xác định các tiêu chí. Ngay định hướng các câu hỏi cũng có thể tạo ra những tình huống khó phân định: chẳng hạn liệu có nên ca tụng công ty McDonald’s như một vị ân nhân vì đã cung cấp cho các nước Tây phương loại thực phẩm có giá rẻ, hay chê trách công ty này vì đã tạo nên mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng với việc góp phần làm gia tăng tình trạng béo phì? Tất cả mọi hoạt động kinh tế đều có thể đưa đến những lưỡng đề nan giải kiểu như vậy và câu trả lời có thể là rất khác nhau tùy theo thang giá trị của các cá nhân hay các nhóm được hỏi.

Người ta cũng có thể yêu cầu doanh nghiệp tự lượng giá với lưu ý rằng kết quả hay số điểm đạt được không phải là điều quan trọng, mà quan trọng là tiến trình gây dự ý thức trong lòng doanh nghiệp mà cách làm này tạo ra. Trong trường hợp, việc xác định các tiêu chí đánh giá là điều có tính mấu chốt, và điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải tính đến mong đợi của đối tượng mà báo cáo lượng giá muốn nhắm đến.

Doanh nghiệp phải có trách nhiệm xã hội đến mức nào? Biên độ giới hạn về CSR có thể đi từ không cho đến vô cực. Không thể có câu trả lời mang tính phổ quát và vĩnh viễn cho câu hỏi này; tầm mức CSR có thể thay đổi qua các thời kỳ, tùy theo những mong đợi và áp lực của các xã hội dân sự, và câu trả lời cũng có thể rất khác nhau tùy theo thành phần của những người có liên quan. Cuối cùng, các câu trả lời cho câu hỏi này còn phụ thuộc rất nhiều vào nền văn hóa, lịch sử và các định chế của mỗi quốc gia.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nhiều cách hiểu đan xen nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần I


Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hình thành từ việc ghép lại ba từ thoạt nhìn là rất đơn giản, dịch từ tiếng Anh là corporate social responsibilitiy (viết tắt là CSR), nhưng mỗi từ này lại được diễn giải theo nhiều cách khác nhau gây ra những khó khăn trong việc tìm hiểu khái niệm này. Việc hiểu những từ ngữ tạo thành khái niệm trên là điều rất quan trọng. Tuy nhiên, những cách dịch khác nhau trong tiếng Pháp lại cũng tạo thêm sự khó khăn và sự mơ hồ trong cách hiểu. Ở cấp độ quốc tế, mặc dù tiếngAnh là một ngôn ngữ quen thuộc, nhưng việc giải thích ba từ ngữ đó cũng thường là không rõ ràng. Khía cạnh ngữ nghĩa học của khái niệm là chuyện không thể bỏ qua, nhất là trong các cuộc tranh luận quốc tế, khi mà việc hiểu nghĩa tiếng Anh của khái niệm phải được đặt trong bối cảnh văn hóa, pháp luật của người nói.

Về khái niệm trách nhiệm

Khái niệm “trách nhiệm” là một trong những khái niệm khó hiểu và thiếu nhất quán nhất trong lĩnh vực triết học [Neuberg, 1997]. Một cách chung nhất, “trách nhiệm” có thể được định nghĩa như là “điều kiện quy trách (imputabilité) những hành động cho một cá nhân nào đó”. Về mặt từ nguyên, thuật ngữ này xuất phát từ tiếng Latin là respondere và có nghĩa là “chịu trách nhiệm về”, “bảo đảm cho”. Đây là cách hiểu được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực pháp lý và chỉ được áp dụng cho các nhân thân (personnes): trách nhiệm được định nghĩa như là một nghĩa vụ phải bồi thường một thiệt hại do hành vi của mình gây ra, điều này bao hàm một sự trừng phạt, một sự chế tài nào đó. Như vậy, trách nhiệm có nghĩa là người ta có thể quy trách một hành vi (một hành vi gây tổn hại hoặc một nghĩa cử) cho một nhân thân nào đó.

Chính đây là điểm khó hiểu đầu tiên bởi vì doanh nghiệp, ngay cả khi được nhìn nhận như là một “pháp nhân”, không thể được đồng hóa với một “thể nhân”. Trong cái thực thể này (tức doanh nghiệp), vốn bao gồm một số lượng, nhiều hoặc ít, các cá nhân được gắn kết với nhau bởi các mối quan hệ quyền lực, ảnh hưởng và tương thuộc, sẽ luôn luôn khó mà gán cho một người cụ thể nào đó trách nhiệm về một hành vi nào đó. Thực vậy, để có thể được quy trách về một hành vi nào đó, người ta cần phải có những năng lực ý chí và nhận thức – mà đây lại là điều đáng hồ nghi trong trường hợp một tổ chức. Lối tiếp cận mang tính đạo đức ở Mỹ về CSR muốn biến doanh nghiệp thành một “hữu thể luân lý” (être moral) (cũng giống y như một cá nhân), trong khi đó, doanh nghiệp vốn là nơi diễn ra các quan hệ quyền lực và là nơi có những quyền lợi đối kháng, hành vi của doanh nghiệp không thể được quy giản như hành vi của một cá nhân, như nhiều lý thuyết về tổ chức đã chứng minh (Barnard, Cyert và March, Crozier và Friedberg…).

Nhưng thuật ngữ “trách nhiệm” đã khoác một ý nghĩa triết học giúp nó tách khỏi lỗi lầm và vì thế, tách ra khỏi sự bồi thường và sự chế tài; nó trở nên đồng nghĩa với nghĩa vụ hay sự cam kết, chẳng hạn theo Jonas [1990], “nguyên tắc trách nhiệm” hệ tại ở việc hành xử như thế nào đó sao cho các hành động của mình không mang tính hủy hoại đối với những nguồn tài nguyên cho sự sống tương lai trên trái đất này. Trách nhiệm lúc này trở thành một mô thức hành động: hành xử một cách có trách nhiệm có nghĩa là suy nghĩ đến những hậu quả của các hành vi đối với chính mình và nhất là đối với người khác [Ewald, 1977]. Điều này có nghĩa là vận dụng đức tính tiên liệu (prévoyance).

Ewald [1977] đã phân biệt sự tiến hóa của khái niệm “trách nhiệm” qua ba giai đoạn biến chuyển của luật về trách nhiệm: giai đoạn đầu tiên là giai đoạn mà ở đó người ta nhấn mạnh đến trách nhiệm đối với hành vi, tức là bao hàm ý tưởng về sự bồi thường trong trường hợp hành vi có thể gây ra những tổn thất; giai đoạn thứ hai (tức giai đoạn đương đại, đi đôi với các xã hội công nghiệp) là giai đoạn mà trách nhiệm dược đặt ra đối với nguy cơ, điều này dẫn đến ý tưởng phòng ngừa những tai nạn, những đe dọa và những nguy hiểm; và, cuối cùng, giai đoạn thứ ba (đang hình thành) đặt trách nhiệm trước yêu cầu về sự an toàn, thể hiện sự lo ngại trước những mối nguy hiểm của một thế giới đang tiến hóa vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của con người, và điều này đưa đến chỗ vận dụng nguyên tắc đề phòng (précaution).

Những ý nghĩa khác nhau của khái niệm trách nhiệm

Như vậy, chúng ta nhìn thấy được những hậu quả xuất phát từ những khó khăn trong việc giải thích khái niệm trách nhiệm: một số người thì nhấn mạnh đến những thiệt hại và tổn thất do hành vi của doanh nghiệp gây ra, những người khác thì lại dành sự quan tâm cho việc phòng ngừa những nguy cơ và các giải pháp để nhằm phòng tránh những nguy hiểm có thể có.

Những nguy cơ rối nhiễu trong cách hiểu còn lớn hơn nữa khi người Anh và người Mỹ ngày càng có xu hướng thay thế thuật ngữ trách nhiệm (responsibility) bằng thuật ngữ trách nhiệm giải trình (accountability). Từ trách nhiệm giải trình thực ra bao gồm hai ý nghĩa:

+ trong giới kế toán, thuật ngữ này thường được dùng theo nghĩa là nghĩa vụ khai trình sổ sách thu-chi, và như vậy, đây là một nghĩa vụ được giới hạn vào trong một lĩnh vực rất cụ thể;

+ thuật ngữ này cũng còn mang ý nghĩa là nghĩa vụ phải hoàn tất một nhiệm vụ và phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ này trước cấp trên hoặc một cơ quan có thẩm quyền. Nghĩa thứ hai cũng hàm ý sẽ có sự trừng phạt hay một hình thức chế tài nào đó nếu cá nhân không chu toàn nghĩa vụ này (xem Webster’s Dictionary).

Sự phân biệt giữa hai cách hiểu trên là điều rất đáng lưu tâm. Nếu hiểu theo ý nghĩa thứ nhất, nghĩa vụ có vẻ như ít khắt khe hơn theo nghĩa thứ hai, bởi vì điều này có nghĩa là chỉ cần giải trình các hành vi của mình mà không nhất thiết phải gánh chịu những hậu quả của các hành vi ấy. Việc người ta rất sẵn lòng khai trình sổ sách kế toán, tỏ ra “minh bạch” không có nghĩa là họ đã ứng xử một cách mẫu mực, đúng đắn; và không hẳn những doanh nghiệp thông tin nhiều về hoạt động của mình là những doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm cao nhất. Ngược lại, nghĩa thứ hai bao hàm trong đó sự chế tài nếu không thi hành nghĩa vụ của mình, và điều này làm cho thuật ngữ trách nhiệm giải trình (accountability) có sức nặng hơn và chính xác hơn khái niệm trách nhiệm (responsibility): nó giả định một khả năng hay một thẩm quyền phán xét với những hành động đáng khiển trách, như vậy, “có trách nhiệm” có nghĩa là “có thể bị khiển trách”. Sự phân biệt giữa hai cách hiểu trên đây đã trở thành trung tâm của những cuộc tranh luận quốc tế về khái niệm CSR giữa những người muốn đặt ra sự cưỡng chế đối với các doanh nghiệp (ý kiến của các tổ chức phi chính phủ, các nghiệp đoàn) với những người chống đối lại ý kiến này (giới doanh nghiệp).

Những định nghĩa về CSR dựa trên những cách hiểu khác nhau về khái niệm trách nhiệm

Trong các cuộc tranh luận quốc tế về CSR còn tồn tại tình trạng mập mờ bắt nguồn từ hai cách hiểu về trách nhiệm: trách nhiệm có thể xem như là kết quả của một nghĩa vụ (obligation), nhưng cũng có thể là kết quả của một sự cam kết (engagement). Giới Anh – Mỹ thiên về khuynh hướng hiểu CSR như một sự cam kết (mang tính tự nguyện), trong khi giới Âu châu lục địa lại thiên về cách giải thích CSR như một nghĩa vụ (mang tính bắt buộc). Một bên thì tin tưởng vào những hành động mang tính tự nguyện; còn phía bên kia thì lại đòi hỏi phải có các quy định chung. Nhưng quả thực, đôi khi một sự cam kết nào đó vẫn có thể biến thành một nghĩa vụ: các tòa án, nhất là tại Mỹ, thường dựa vào điều này để ra các quyết định xử phạt những doanh nghiệp không giữ đúng các lời hứa đã được ghi trong các bộ quy tắc ứng xử mang tính tự nguyện.

Ủy ban châu Âu [2001] đã chấp nhận cách hiểu CSR theo cách hiểu của trường phái Anglo-Saxon, nhưng đồng thời cũng tìm cách dàn xếp ổn thỏa đối với các nước theo truyền thống luật La Mã: “có trách nhiệm về mặt xã hội không chỉ là phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý có hiệu lực, mà còn phải đi xa hơn và đầu tư nhiều hơn cho nguồn vốn con người, cho môi trường và cho các mối liên hệ với các thành phần có liên quan”; điều này có nghĩa là các doanh nghiệp phải “chủ động hội nhập các mối bận tâm về mặt xã hội và môi trường vào trong các hoạt động thương mại của mình và trong mối quan hệ của mình với các thành phần có liên quan”. Trên thực tế, người ta thường dựa trên những sự cam kết và các hoạt động mang tính tự nguyện của doanh nghiệp để đánh giá trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp nào đó. Điều này, xét ở cấp độ quốc tế, sẽ mang lại thuận lợi cho doanh nghiệp khi họ hoạt động tại các quốc gia có nền tảng pháp lý liên quan đến lĩnh vực xã hội và môi trường đặc biệt thấp.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần cuối


Sự nối kết giữa CSR và sự phát triển bền vững

Hiện nay, ít nhất là tại châu Âu, các doanh nghiệp được mời gọi tiếp thu những nguyênt ắc của sự phát triển bền vững và cố gắng đưa các nguyên tắc ấy vào trong các chiến lược của mình. Trong chuyện này lại có một sự nhầm lẫn giữa sự phát triển bền vững với doanh nghiệp bền vững (hoặc doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội). Khái niệm phát triển bền vững và khái niệm CSR thuộc về những cấp độ khác nhau.

Phát triển bền vững là khái niệm mang tính kinh tế vĩ mô và xã hội vĩ mô ở cấp độ toàn cầu mà ta không thể áp dụng một cách trực tiếp vào một thực tế đặc thù nào đó, và cũng không phải cứ một doanh nghiệp phát triển bền vững, tức tồn tại lâu dài, là nhất thiết có đóng góp vào sự phát triển bền vững. Những hành vi không tôn trọng nhân quyền và môi trường cũng có thể kéo dài nếu như không có sự chế tài (về mặt pháp lý hoặc biểu trưng) để ngăn chặn chúng lại.

Nói chung, sự phát triển bền vững thường được nhìn nhận trong mối liên hệ với sự can thiệp của lĩnh vực chính trị; chẳng hạn tất cả các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đểu phải đưa ra một chiến lược quốc gia về sự phát triển bền vững do các cơ quan công quyền thực thi. Những đòn bẩy khuyến khích gia tăng các lối hành xử tốt đẹp, những quan hệ giao kết và hợp tác giữa các chủ thể, những quyết định nhằm đặt ra quy tắc hạn chế các điều kiện hoạt động đối với các doanh nghiệp (hoặc cá nhân) cũng thường xuất phát từ các cơ quan công quyền ở các cấp lãnh thổ khác nhau.

Nhưng thật khó mà hình dung và hiểu được cách thức kết nối giữa những chính sách công ở tầm vĩ mô (sự phát triển bền vững) với những hành xử của các doanh nghiệp ở cấp kinh tế vi mô (CSR). Khái niệm phát triển bền vững kêu gọi doanh nghiệp đặt vấn đề về các cứu cánh của mình, quan niệm về tổ chức của mình, bằng cách đưa ra những nguyên tắc định hướng hoặc quy định cho các hoạt động kinh tế. Còn CSR là những mô thức ứng xử của doanh nghiệp (hoặc của một tập hợp kinh tế rộng lớn hơn) trước những đòi hỏi của xã hội khi đưa ra các chiến lược, công cụ quản trị, kiểm soát, lượng giá và giải trình thể hiện trong những quan niệm mới về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ít ra là xét về mặt nguyên tắc.

CSR có tạo nên sự đồng thuận?

Người ta có thể đặt ra câu hỏi trên khi mà vấn đề này đã xuất hiện ở châu Âu và đặc biệt là tại Pháp từ ít nhất là mười năm trở lại đây. Đã có sự hồ hởi nơi một số khu vực kinh tế trong giai đoạn đầu khi CSR mới xuất hiện, mặc dù hiểu biết về CSR là chưa rõ ràng, và khái niệm này cũng chưa có nội dung cụ thể. Tức là, người ta đã không biết rằng đây là một khái niệm đặt vấn đề nhiều hơn là giải quyết vấn đề, và nó cũng có một lịch sử đầy biến động tại Mỹ. Thực tế là từ lâu, một bộ phận giới kinh doanh (có thể nói là đa số), do chịu ảnh hưởng bởi trường phái kinh tế Chicago (Friedman), nên đã có quan điểm đối lập gần như hoàn toàn với CSR, thậm chí là trước khi thuật ngữ này ra đời.

Chúng ta có thể quay lại ngọn nguồn vụ kiện tụng giữa Henry Ford và anh em nhà Dodge vào năm 1919. Anh em nhà Dodge không chấp nhận việc các nguồn lợi nhuận không được phân chia hoàn toàn cho các cổ đông, trong khi Ford (cổ đông chính) lại muốn tái đầu tư lợi nhuận vào công ty nhằm phục vụ những mục tiêu xã hội. Tòa án tối cao Michigan đã xử thua cho Ford, đồng thời kết luận rằng lợi nhuận chỉ để phục vụ cho các cổ đông mà thôi. Nhiều năm sau, cụ thể là vào năm 1958, Levitt đã cảnh báo những nguy cơ của CSR: các doanh nghiệp không thể chịu trách nhiệm (accountable) như các cơ quan công cộng được, bởi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không được bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.

Chính vì theo dòng tư tưởng này mà Friedman [1962, 1971] đã viết rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không có trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm tạo ra càng nhiều tiền càng tốt cho các cổ đông của mình: “Nếu các doanh nhân có một trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm tạo ra lợi nhuận tối đa cho các cổ đông, thì liệu họ làm thế nào để biết đó là trách nhiệm gì? Liệu những cá nhân tự chỉ định có thể quyết định được điều gì là có lợi cho xã hội?” Tuy nhiên, ông cũng cẩn trọng nói thêm là nếu việc thực hiện trách nhiệm xã hội giúp cho doanh nghiệp tối đa hóa được lợi nhuận thì doanh nghiệp nhất định phải đi theo con đường này. Như chúng ta sẽ thấy ở các phần sau, toàn bộ cuộc tranh luận này thực ra xoay quanh vấn đề quan nhiệm về vai trò của doanh nghiệp trong xã hội và phạm vi của trách nhiệm của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ngay ở những nhà kinh doanh không tỏ ra thù địch với khái niệm CSR cũng nảy sinh rất nhiều khác biệt khó dung hòa trong quan niệm về CSR, và điều này cuối cùng đã dẫn đến một sự lúng túng trong việc thao tác hóa khái niệm CSR, thậm chí là lúng túng trong việc xác định lợi ích của khái niệm này.

Trước hết, có vẻ như mối quan tâm đối với CSR chủ yếu chỉ diễn ra ở các doanh nghiệp lớn đa quốc gia; các doanh nghiệp vừa và nhỏ phần lớn đều nằm ngoài trào lưu này, do họ có những nguồn lực tài chính và nhân sự hạn chế cũng như thường xuyên phải tập trung vào các mục tiêu kinh tế mang tính sống còn trong ngắn hạn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu tham gia vào trào lưu này thì thông thường là do nỗ lực thúc đẩy của người chủ doanh nghiệp, tùy theo những giá trị cá nhân của người này. Các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thường tìm cách hội nhập tối đa vào cộng đồng địa phương, thông qua các hoạt động bảo trợ, mặc dù đôi khi cũng tham gia vào những hành động mang tính chiến lược hơn như là quản lý rác thải hoặc tiết kiệm năng lượng. Áp lực của các doanh nghiệp đối tác lớn cũng có thể là một động lực tạo nên những ứng xử mang tính CSR nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng áp lực này thường mang tính hình thức và thường được nhìn nhận như là một sự cưỡng ép hơn là một sự khuyến khích.

Các động cơ của các doanh nghiệp thường là thuộc lĩnh vực kinh tế và tài chính, và xuất phát từ một xu hướng duy lợi chiến lược nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Perrow [1997], một trong những lý thuyết gia lớn nhất hiện nay trong lĩnh vực khoa học tổ chức, đã nhận diện CSR như là một cơ chế có hiệu ứng rõ ràng nhất, đó là giúp định vị tổ chức của doanh nghiệp nhằm khai thác một cách tối ưu môi trường xung quanh. Những lý lẽ động viên thì nhấn mạnh rằng CSR sẽ có lợi cho doanh nghiệp. Đến nay, người ta không thể đem hết số lượng công trình nghiên cứu, tại Mỹ cũng như tại châu Âu, đã cố gắng chứng minh có mối liên hệ giữa “thành tích xã hội” với thành tích kinh tế của doanh nghiệp. Bởi vì các kết quả nghiên cứu đó không đưa đến những kết luận dứt khoát nên dường như đã làm hình thành nên một niềm tin có khả năng tác động lên ứng xử của các doanh nghiệp mà ta có thể gọi đó là một thứ huyền thoại có lý lẽ.

Tuy nhiên, CSR cũng có một cái giá nằm ngoài tầm với của các doanh nghiệp: rất nhiều lãnh đạo doanh nghiệp tuyên bố rằng doanh nghiệp chỉ có thể làm việc “xã hội” một khi đã có các kết quả tài chính tốt mà thôi. Như vậy, ý nghĩa của mối quan hệ đã bị đảo ngược. Thế nên, chúng ta có thể đặt câu hỏi là phải chăng những người ủng hộ cho tính hữu ích của CSR, nhưng theo đuổi khuynh hướng duy lợi, sẽ dùng thuật ngữ “trách nhiệm” như một cái nhãn nhằm tạo sự khác biệt trong cạnh tranh?

Cuối cùng thì nội dung, ý nghĩa và những sự tốt đẹp của trách nhiệm xã hội [của doanh nghiệp] và của sự phát triển bền vững phụ thuộc vào những  gì người ta đặt ra dưới lớp vỏ ngôn ngữ. Chiến lược của các doanh nghiệp bao gồm từ hoạt động từ thiện, cho đến việc hội nhập các yêu cầu xã hội và môi trường vào trong các công cụ quản trị và lượng giá. Giữa hai cực đó, người ta có thể thấy hàng loạt giải pháp cục bộ hết sức khác biệt nhau liên quan đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của sự phát triển bền vững.

Ngoài giới kinh doanh, cách nhìn và thái độ của các chủ thể hành động khác cũng khác biệt nhau rất nhiều: từ việc lên án CSR như là một hiện thân mới của chủ nghĩa tư bản nhằm dự báo trước những sự điều tiết mang tính cưỡng chế [Plihon, 2003], cho đến việc tin tưởng vào một đòn bẩy mới có khả năng làm biến đổi các doanh nghiệp cũng như giới kinh doanh [Duval, 2003].

Nếu xem xét ở cấp độ quốc tế, CSR xuất hiện nhiều nhất tại các quốc gia giàu có. Còn các quốc gia Đông Âu, các quốc gia mới nổi và Trung Quốc thì không biết hoặc làm như không biết vấn đề này, hoặc biết nhưng tìm cách lẩn tránh. Với họ, trước tiên phải phát triển kinh tế, còn những vấn đề khác sẽ tính sau…

Như thế thì cuối cùng chẳng có sự đồng thuận nào về CSR cả, mà chỉ thường là một ảo giác đồng thuận. Không thể có một định nghĩa duy nhất và phổ thông về CSR, bởi khái niệm này phụ thuộc vào cách hiểu của từng chủ thể hành động khác nhau. Nhưng có cần phải phàn nàn về điều này không? Sự không rõ ràng của khái niệm này có nhiều ý nghĩa hơn ta nghĩ, bởi lẽ chính vì thiếu sự đồng thuận trong cách hiểu nên điều này bắt buộc mỗi chủ thể phải đào sâu tìm hiểu về nó [Pasquero, 2005].

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần III


Do đó, trong những năm gần đây, trong diễn ngôn của doanh nghiệp luôn có những dấu nhấn về các khía cạnh nhân đạo và sinh thái nhằm làm nổi bật những phần đóng góp của các doanh nghiệp trong việc thỏa mãn các nhu cầu dinh dưỡng (kể cả cho những người nghèo), y tế, giáo dục, văn hóa… Để đảm bảo cho tính đáng tin cậy của những diễn ngôn đó, các doanh nghiệp ngày nay đã đưa ra nhiều loại công cụ hành động, chẳng hạn như: xây dựng bộ quy tắc ứng xử, các hiến chương đạo đức, giấy chứng nhận về mặt xã hội và môi trường, việc được thẩm định và được kiểm toán bởi bên thứ ba.

Nhưng phong trào CSR không chỉ có một phía bởi vì các doanh nghiệp còn tìm cách làm cho thế giới quan mới này được chấp nhận và chia sẻ một cách rộng rãi trong xã hội. Nỗ lực mới nhất của tiến trình này tìm lại tính hợp thức của doanh nghiệp là biến điều này thành một vấn đề mang tính toàn cầu như lời thừa nhận của ông Daniel Vasela, Chủ tịch của Công ty Novartis, khi ông nói đến thái độ của các công ty dược phẩm với việc sản xuất các loại thuốc generic chống bệnh AIDS vào năm 1997: “Quyền tự do hành nghề của chúng ta tại các quốc gia phát triển suycho cùng không phải là không thể bị lệ thuộc vào thái độ của chúng ta trước những vấn đề của thế giới thứ ba” (Le Monde 22/05/2004).

Theo quan điểm của một số doanh nghiệp năng động nhất thì hiện nay, có lẽ người ta sẽ chuyển từ tính trách nhiệm có giới hạn sang tính trách nhiệm không giới hạn đối với các hoạt động và hậu quả của chúng, bởi điều này gắn với mong muốn kiểm soát các vấn đề toàn cầu của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp này có thể sẽ đảm nhận trách nhiệm mang lại lợi ích chung cho toàn thế giới. Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì sự Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development – WBCSD) – một tổ chức tập hợp 160 công ty lớn nhất thế giới – không hề che giấu tham vọng can dự vào các vấn đề toàn cầu, chẳng hạn, muốn trở thành một chủ thể hành động chính yếu trong cuộc chiến chống lại sự biến đổi khí hậu.

Nhưng chỉ cần lướt sang lĩnh vực lý luận thì có thể thấy rằng việc thỏa mãn lợi ích chung đã được chuyển thành thảo mãn những mong đợi của các thành phần có liên quan. Do vậy, hình ảnh mang tính biểu tượng của một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội được đặc trưng bởi khả năng thỏa mãn cho mọi thành phần có liên quan của doanh nghiệp ấy và khả năng xây dựng được các mối quan hệ cùng có lợi với những thành phần cung cấp các nguồn tài nguyên để bảo đảm cho sự trường tồn của doanh nghiệp.

Quan điểm chính trị về sự phát triển bền vững

Quan điểm gần như mang tính cứu thế về vai trò của doanh nghiệp được phát triển bởi trào lưu CSR đã đặc biệt được khẳng định tại châu Âu, nơi mà trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được nhìn nhận qua đóng góp của họ vào sự phát triển bền vững.

Khái niệm “phát triển bền vững” được hình thành trong những năm 1980 qua những công trình nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế, và bắt đầu được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 thông qua bản báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc (báo cáo Brundtland) có tên Tương lai chung của chúng ta. Định nghĩa về sự phát triển bền vững trong bản báo cáo này là định nghĩa được trích dẫn nhiều nhất: “phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không gây ảnh hưởng tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”, nhất là “những người cùng khổ nhất”. Định nghĩa này hiện được lý giải theo nhiều cách khác nhau và đương nhiên không tránh khỏi những lối lý giải mơ hồ, chẳng hạn có rất nhiều tác giả Pháp dịch khái niệm này là “sự phát triển có thể chấp nhận được” (dévelopment soutenable) [Vivien, 2005].

Có nhiều định nghĩa về sự phát triển bền vững vì mỗi một chủ thể hành động (acteur/actor) điều tự mình xây dựng và phát triển khái niệm này. Điều đó có nghĩa là những nguyên tắc của sự phát triển bền vững không phải đều được mọi chủ thể chấp nhận, nói cách khác, các chủ thể không áp đặt sự phát triển bền vững vào cùng một vị trí. Tuy nhiên, chúng ta cót hể xem hai triết gia châu Âu là Jonas và Levinas là những người đầu tiên đặt ra nền tảng căn bản cho khái niệm phát triển bền vững. Theo Jonas [1990], mọi người cần phải hành động một cách có hệ thống để không tạo ra sự thiệt hại nào, và các chủ thể hành động phải chịu trách nhiệm về các hành động của mình, không phải sau khi mà là trước khi hành động, tức là các chủ thể phải chứng minh rằng hành động của họ không tạo ra những tiềm năng thiệt hại. Do đó, nhà chính trị phải bảo đảm sao cho mọi hành động của mình đều tuân thủ một cách vô điều kiện “nguyên tắc trách nhiệm”, và phải giáo dục các công dân để họ ứng xử thích hợp với nguyên tắc đó. Như vậy, Jonas đã đặt nền tảng cho hai nguyên tắc chủ đạo làm điểm tựa cho ý tưởng phát triển bền vững: sự liên đới giữa các thế hệ, sự phòng ngừa. Còn với Levinas [1974], khi bàn về sự phát triển bền vững, ông đã xây dựng một hình thái nhân văn đặcbiệt dựa trên tính liên chủ thể, trên các mối quan hệ giữa các chủ thể chứ không dựa trên xu hướng vị kỷ. Theo ông, điều cần quan tâm là những nguy cơ mà mỗi người có thể gây ra cho người khác và cho cộng đồng.

Hiện nay, nói chung, người ta thường chấp nhận rằng sự phát triển bền vững có ba chiều kích, nó hướng tới chỗ gắn kết hiệu quả kinh tế với sự thịnh vượng xã hội và việc bảo vệ môi trường (các khía cạnh về văn hóa và quản trị đôi khi cũng được tính đến). Nói cách khác, phát triển bền vững là nhằm mục tiêu thỏa mãn những nhu cầu của toàn thể nhân loại (vai trò của kinh tế), đồng thời vẫn bảo tồn những điều kiện tái sản xuất của tự nhiên (sự quan tâm về sinh thái) với những mối quan hệ xã hội công bằng để đảm bảo cho sự hòa thuận và sự cố kết xã hội (những mong đợi về mặt xã hô). Mục tiêu này cũng đã được chuyển thành công thức: kiến tạo một thế giới dễ sống, trên một hành tinh bền vững, với một xã hội công bằng.

Tuy nhiên, điều khó khăn là ba khía cạnh trên thường rơi vào tình trạng căng thẳng và thường xuyên xung đột nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, và mọi nghệ thuật lập chính sách (của nhà nước và của doanh nghiệp) là nhằm giải quyết những mâu thuẫn để đi đến quyết định hợp lý giữa những khả năng lựa chọn có thể có, nói chung là phối hợp được những logic ẩn ngầm trong ba khía cạnh đó của sự phát triển bền vững.

Trên thực tế, tùy theo vị trí được xác định trong xã hội hoặc tùy theo quan niệm mà mỗi một khía cạnh sẽ được nhìn nhận như một mục tiêu, hoặc như một phương tiện, hoặc như một điều kiện (thậm chí là một sự ràng buộc). Ở đây, chúng tôi quan niệm phương tiện là một công cụ phục vụ cho việc đạt được mục tiêu và có thể sử dụng không giới hạn. Những điều kiện chính là việc tôn trọng các chuẩn mực và/hoặc bảo vệ các nguồn tài nguyên, được áp đặt từ bên ngoài, nhằm hạn chế việc tiếp cập hoặc đặt ra những điều kiện sử dụng nhất định (xác định tính hiệu năng).

Những mô hình khác nhau của sự phát triển bền vững

Tùy theo lối tiếp cận hoặc duy xã hội (duy nhân chủng học), duy sinh thái hoặc duy kinh tế, tức là tùy theo mục tiêu hướng tới [một trong ba khía cạnh của phát triển bền vững] mà những ưu tiên sẽ khác biệt nhau. Bằng cách phối hợp nhiều khả năng khác nhau, ta có thể đưa ra sáu mô hình với những biểu hiện khác nhau của các chủ thể kinh tế và xã hội. (xem bảng)

Những mô hình phát triển bền vững

Các mục tiêuKhía cạnh xã hộiKhía cạnh kinh tếKhía cạnh môi trường
Điều kiệnMôi trườngKinh tếMôi trườngXã hộiKinh tếXã hội
Phương tiệnKinh tếMôi trườngXã hộiMôi trườngXã hộiKinh tế
Các mô hìnhKhuynh hướng nhân vănKhuynh hướng tiến bộ mang tính duy sản xuấtKhuynh hướng duy sản xuất tỉnh táoKhuynh hướng duy lợi mang tính thực dụngKhuynh hướng sinh thái cực đoanKhuynh hướng môi trường mang tính xã hội
Những đặc trưngKinh tế nhằm phục vụ cho con người đồng thời phải chú trọng đến những giới hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiênViệc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên là nhằm phục vụ lợi ích con người, trong những điều kiện kinh tế bị áp đặt chứ không bị kiệm soátLao động của con người phải phục vụ cho sự phát triển kinh tế, nhưng phải chú ý đến những giới hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiênNhững nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong sự tôn trọng những điều kiện xã hội đang tồn tạiNhiệm vụ ưu tiên của con người là bảo vệ thiên nhiên trong những điều kiện kinh tế cụ thể nào đóHoạt độngkinhtế nhằm phục vụ cho việc giữ gìn môi trường thông qua sự tôn trọng những điều kiện xã hội cụ thể nào đó

Sáu mô hình trên đây có thể tạo ra nhiều biến thể khác nhau, nhất là khi các phương tiện trở thành những điều kiện (hoặc những cưỡng chế) hay ngược lại; vì thế, chẳng hạn như khuynh hướng duy lợi có thể rất gần với khuynh hướng nhân văn nếu nó không xem môi trường đơn giản chỉ là một phương tiện mà là một nguồn tài nguyên cần được quản lý. Những mô hình mà chúng ta quan sát thấy trong các diễn ngôn nhìn chung là có những nét không trùng khớp hoàn toàn với sáu mô hình trên, điều này cũng có thể dẫn đến những méo mó và thậm chí đôi khi là những mâu thuẫn…

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần II


Chính sự thoái trào dần dần của mô hình Ford trong quản trị doanh nghiệp và sự mờ nhạt dần của mô hình nhà nước phúc lợi đã làm xuất hiện một quan niệm minh bạch (explicite) về CSR tại châu Âu trong những năm 1990, trước hết là qua các thuật ngữ như “doanh nghiệp công dân” (entreprise citoyenne), “doanh nghiệp có đạo đức” (entreprise éthique), và tiếp đến là “doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội” (entreprise socialement responsable). Quả vậy, trong hai mươi năm cuối cùng của thế kỷ XX, người ta đã phải chứng kiến sự xuất hiện của cái gọi là “xã hội rủi ro” (société du risque) [Beck 2001] được thể hiện qua sự giảm bớt khả năng chấp nhận rủi ro ở các doanh nghiệp cũng như ở các cổ đông và những người lao động ăn lương. Mặt khác (ít ra là tại phương Tây), mọi người ngày càng ý thức hơn về sự đe dọa của những mối hiểm họa mà một số có thể gây ra những hậu quả không thể đảo ngược (chẳng hạn sự hủy hoại sinh quyển sự gia tăng của tình trạng bất bình đẳng đe dọa sự cố kết xã hội, những sự tổn hại đối với sức khỏe công cộng); hoạt động kinh tế nói chung và các doanh nghiệp lớn nói riêng bị xem như là thủ phạm gây ra những hiểm họa đó. Đây chính là nguyên nhân thứ hai làm trỗi dậy quan niệm minh bạch về CSR.

Những hậu quả xã hội của mô hình Ford (tình trạng mất an ninh xã hội, tình trạng bấp bênh ngày càng gia tăng) cùng với các nhân tố khác (những vụ scandal tài chính, sự thỏa hiệp với các chế độ độc tài, những thảm họa sinh thái…) đã làm hoen ố đáng kể hình ảnh của những tập đoàn doanh nghiệp lớn, mặc dù cho đến cuối những năm 1970 những tập đoàn này vẫn còn được công luận đề cao. Những cuộc tái cấu trúc liên tục, những đợt cắt giảm chỗ làm không thay thế bằng những chỗ làm mới, tình hình này đã đặt dấu chấm hết cho tính hợp thức (légitimité) và lòng tin đối với các doanh nghiệp đó. Các doanh nghiệp lớn đã đạt đến một quy mô khổng lồ khiến người ta không thể thực hiện được việc kiểm soát dân chủ hoặc dân sự đối với các hoạt động của chúng, và điều này khiến người ta lại càng tăng thêm sự ngờ vực đối với các doanh nghiệp này.

Nhiều phong trào xuất phát từ các tổ chức xã hội dân sự đã gây sức ép ngày càng tăng đối với hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là trong các vấn đề liên quan đến việc tôn trọng các quyền con người và các quyền xã hội, việc bảo vệ môi trường và sức khỏe công cộng. Ngày nay, nhiều cuộc thăm dò ý kiến cho thấy rằng những mong đợi của công chúng đối với các doanh nghiệp chủ yếu là về các ứng xử của doanh nghiệp đối với môi trường và đội ngũ nhân sự chứ không phải là hoạt động kinh tế thuần túy của doanh nghiệp.

Ý thức được những vấn đề đó, phản ứng của các doanh nghiệp là cố gắng gây dựng lại hình ảnh của mình và khôi phục niềm tin đã bị đánh mất. Chúng ta sẽ thấy sau đây rằng mọi hoạt động liên quan đến CSR, dù là mang tính vật chất hay tượng trưng, đều hướng đến hai mục tiêu chung đó. Đồng thời, các doanh nghiệp đi đầu trong phong trào này cũng đã đưa ra được những giải pháp thay thế cho sự rút lui của nhà nước phúc lợi. Thậm chí các giải pháp đó còn được xem như là những biện pháp thay thế cho sự bất lực của những tổ chức siêu quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề lớn ở quy mô toàn cầu (chẳng hạn trong lĩnh vực biến đổi khí hậu).

Được phát triển ngay từ những năm 1970 tại Mỹ, phong trào này đã tìm cách bù đắp (ít nhất là trong lời lẽ diễn ngôn) tình trạng thoát ly lãnh thổ bằng cách dấn thân nhiều hơn tại nơi diễn ra hoạt động của doanh nghiệp. Việc chứng minh tư cách công dân tốt (good citizenship) cònt hể hiện ở sự tham gia xây dựng các luật lệ và tác động lên đời sống công cộng. Một phần trong văn liệu thuộc lĩnh vực quản trị chiến lược đã cho thấy rằng trong những năm 1980, sự tồn tại lâu dài của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào khả năng làm chủ môi trường kinh tế mà còn phụ thuộc vào việc làm chủ môi trường chính trị-xã hội [Martinet, 1983]. Ngày nay, nói chung người ta cho rằng sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào sự quan tâm của doanh nghiệp đối với mọi thành phần có quyền và nghĩa vụ liên quan (stakeholders), tức những người và những thực thể mà doanh nghiệp có những mối quan hệ mang tính khế ước hoặc có thể có một ảnh hưởng nào đó đối với doanh nghiệp. Một số tác giả [Thoenig và Waldmann, 2005] còn đi xa hơn khi cho rằng các doanh nghiệp thành công trong thời đại ngày nay là những doanh nghiệp đã làm cho các thành phần có quyền và nghĩa vụ liên quan gắn với bó với căn tính (identité) của doanh nghiệp, và điều này quan trọng hơn việc thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng hoặc định vị trên thị trường.

Như vậy, những mong đợi của xã hội, những phản ứng hay hành động đón đầu của các doanh nghiệp cùng những hiệu ứng hồi đáp từ phía xã hội sẽ làm phát sinh các động lực liên kết mới giữa lĩnh vực kinh tế với xã hội [Capron và Quairel-Lanoizelée, 2002], và điều này sẽ tạo nên những mục tiêu mới mẻ cho các chủ thể kinh tế và xã hội.

Giải thích thế nào về trào lưu CSR

Như chúng tôi đã nhận xét, người ta có thể nhận ra mối liên hệ gốc gác giữa trào lưu CSR (toàn bộ những diễn ngôn và hành động thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp về những tác động đối với môi trường và xã hội) với khuynh hướng gia trưởng công nghiệp của thế kỷ XIX. Mặc dù hình thức là không giống nhau, nhưng có thể khẳng định rằng, tham vọng kiểm soát mọi hành động và ứng xử của bộ máy nhân sự để phát triển một “nền đạo đức kinh doanh”, sự tham gia vào đời sống của xã hội để trở thành một “doanh nghiệp công dân” tốt, sự tác động lên những lựa chọn chính trị của các quốc gia hoặc sự can dự vào những cuộc tranh luận quốc tế (chẳng hạn như Hội nghị Thượng đỉnh về Sự phát triển Bền vững tại Johannesburg năm 2002) của các doanh nghiệp là một kiểu khuynh hướng tân gia trưởng (néopaternalisme). Khuynh hướng này cómu5c tiêu xác định và áp đặt những khuôn mẫu chuẩn mực [mới] cho các cá nhân; những khuôn mẫu chuẩn mực này cũng đã có những vị “tư tế” và nghi thức riêng của mình được thể hiện qua những diễn ngôn cổ xúy cho CSR. Michael Porter, một trong những tác giả lớn trong lĩnh vực quản trị chiến lược, đã viết về CSR như thế này: “Sự phê phán quan trọng nhất của tôi là lĩnh vực CSR đã trở thành một thứ tôn giáo với các vị giáo sĩ riêng của mình, và chính vì vậy, có lẽ nó không cần phải có các dữ kiện thực tiễn và lý thuyết nữa. Có quá nhiều giáo sư và nhà quản trị tự hài lòng với lý lẽ “chúng ta cảm thấy đã ổn rồi”. Có quá nhiều hoạt động từ thiện được thực hiện theo niềm tin cá nhân của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp […]” (European Business Forum, 2003).

Bên cạnh giả thuyết vừa nêu trên về sự hình thành của một thứ khuynh hướng tân gia trưởng, liệu trào lưu CSR phải chăng là một câu trả lời cho những hậu quả nảy sinh từ sự thoái trào của mô hình quản trị Ford, được đánh dấu bởi các quá trình giải quy (dérégulation) các hoạt động kinh tế, một cách thức tổ chức xã hội đối với lao động dựa trên tính linh hoạt, một tình trạng bấp bênh hóa xã hội ngày càng gia tăng và những kiểu tiêu thụ dẫn đến sự dị biệt hóa ngày càng lớn tạo nên những sự phân tầng và những sự bất bình đẳng xã hội ngày càng sâu sắc?

Kèm theo sự thoái trào của mô hình quản lý Ford là sự khủng hoảng về tính hợp thức nền tảng của các đại công ty. Chính sự khủng hoảng này đã khơi mào cho hàng loạt bài viết và công trình nghiên cứu về những hành động xấu xa, những hiểm họa, các quá trình loại trừ, việc tìm kiếm vô độ siêu lợi nhuận và những hành động chống lại nền dân chủ của các công ty loại này, đến mức tất cả những điều đó đã bị kết tội như là một trong những thành tố của “sự tàn bạo êm dịu” (barbarie douce) [Le Goff, 2003].

Vì thế hơn lúc nào hết, các đại công ty đang phải tìm lại sự hợp thức, bởi nếu không họ sẽ mất đi các giá trị về tinh thần và biểu trưng để có thể thực hiện các hoạt động của mình (licence to operate). Vì bị đòi hỏi phải chứng minh tính hữu dụng về mặt xã hội nên các công ty này buộc phải biện minh bằng cách dựa trên một thế giới quan tương thích với các giá trị xã hội đang hiện hành. Trào lưu CSR có thể mang lại cái “phần hồn” phụ thêm đó, và sự biện minh này làm cho công ty hay doanh nghiệp trở nên “có thể chấp nhận được” dưới con mắt của xã hội dân sự. Đặc biệt, Elkington [1999] là người đã ca ngợi hết lời công cuộc viễn chinh nói trên bằng cách chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản sẽ thất bại nếu nó không trở nên có đạo đức hơn và nếu các doanh nghiệp không chịu khó đánh giá các tác động lên môi trường xã hội và tự nhiên nảy sinh từ các hoạt động kinh tế của mình. Ông cũng đã đại chúng hóa khái niệm bộ ba mấu chốt (triple bottom line) mà theo đó, để đánh giá kết quả hoạt động của một doanh nghiệp thì không nên chỉ dựa duy nhất vào các tiêu chí kinh tế, mà còn phải dựa vào các tiêu chí về môi trường và xã hội nữa. Cũng chính vì thế mà một “thị trường của đức hạnh” đã được mở ra nhằm cung cấp lại tính hợp thức cho các đại công ty [Vogel, 2006].

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần I


Nếu như khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là tương đối mới mẻ thì ngược lại, sự quan tâm đến những hậu quả nảy sinh từ hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng và các hoạt động kinh tế nói chung đã có từ rất lâu. Vào thời kỳ công nghiệp, khuynh hướng gia trưởng (paternalisme) chính là hình thái hiện đại đầu tiên của loại trách nhiệm này. Ngay từ những năm 1950, chính các tác giả người Mỹ đã tạo ra khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility – CSR) dựa trên mối bận tâm về mặt đạo đức và tôn giáo. Tuy nhiên vào giữa thế kỷ XX, sự phát triển của mô hình Ford (fordisme) và mô hình nhà nước phúc lợi (État-providence) đã làm lu mờ những vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh những hiểm họa về môi trường ngày càng gia tăng, quá trình toàn cầu hóa và tài chính hóa kinh tế ngày càng mạnh mẽ, thì việc tìm kiếm ý nghĩa cho hoạt động kinh tế lại một lần nữa được đề cập đến, nhất là tại châu Âu. Một quan niệm mang tính thế tục về CSR đã hình thành và tìm được chỗ dựa trong quan niệm về sự phát triển bền vững.

Sự dung hòa giữa hoạt động kinh tế và các mong đợi của xã hội

Từ thời Cổ đại, giữa các hoạt động kinh tế và xã hội đã luôn có những mối quan hệ căng thẳng, dao động giữa hai cực: một bên là việc săn tìm các nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên con người, một bên là đóng góp vào việc thỏa mãn những nhu cầu của các dân tộc. Điều tệ hại là hậu quả của việc săn tìm tài nguyên mà hoạt động kinh tế cần khai thác để có thể tồn tại lâu dài (chẳng hạn như lĩnh vực đánh bắt cá và du lịch ngày nay). Nói cách khác, đó là sự căng thẳng giữa nhu cầu sản xuất và khả năng gánh chịu những nguy cơ nảy sinh từ việc sản xuất ra các vật phẩm phục vụ cho nhu cầu con người.

Qua những thời đại kế tiếp, các mối quan hệ đó ít nhiều đã được điều chỉnh. Từ bộ luật Hammourabi yêu cầu phải bảo vệ những người nô lệ, cho đến việc quản lý các khu rừng thể hiện trong đạo luật Colbert với tầm nhìn rất dài hạn, hay mối bận tâm làm sao tạo ra được sự cân bằng giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và ngành chăn nuôi gia súc trong các đại điền trang của những dòng tu thời Trung cổ, người ta luôn bắt gặp lại mối lo âu thường trực về việc tái sản xuất và lưu giữ các nguồn tài nguyên mà dựa vào đó các hoạt động kinh tế được thực hiện, cho dù nền tảng của mối lo âu ấy đã thay đổi một cách sâu xa qua nhiều thế kỷ [Martinet và Reynaud, 2004].

Đi kềm cuộc cách mạng công nghiệp là lối quản lý gia trưởng đối với nguồn nhân công. Theo lối quản lý này, giới chủ phải chịu trách nhiệm bảo lãnh những người làm công ăn lương và gia đình của họ “từ lúc chào đời cho đến lúc qua đời”. Vì đã đáp ứng được những yêu cầu về kinh tế, trật tự xã hội cũng như những đòi hỏi về mặt đạo đức, mô hình gia trưởng mặc nhiên trở thành một dạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho đến giữa thế kỷ XX [de Bry, 2006]. Tuy nhiên, với sự lan rộng của mô hình Taylor-Ford trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, mô hình gia trưởng dần dần đã bị xóa bỏ. Mô hình Taylor-Ford xem các hoạt động riêng tư của đội ngũ nhân công không dính dáng gì đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, và lấy sự lớn mạnh của mô hình nhà nước phúc lợi với những định chế xã hội mới thay thế cho lòng bác ái của giới chủ.

Kể từ khi nhà nước phúc lợi đứng ra đảm nhiệm việc đền bù cho các “hậu quả thiệt hại của sự tiến bộ” và các chi phí ngoại tác tiêu cực khác của hoạt động kinh tế (các tổn hại, ô nhiễm…), cũng như kể từ khi việc kiểm soát các mối quan hệ lao động thực hiện ở những cấp bao quát hơn (theo ngành, hay liên ngành nghề), doanh nghiệp theo mô hình quản lý Taylor-Ford đã không còn chú ý đến vai trò cá nhân của mình xét về mặt trách nhiệm mang tính xã hội và trách nhiệm đối với xã hội. Điều này từng xảy trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ. Chẳng hạn như, trong thời kỳ “Ba mươi năm vinh quang” tại Pháp, các doanh nghiệp có thể biện minh cho các hành vi mang tính “khai thác” (prédateur) của mình (nhất là sự khai thác đối với môi trường tự nhiên, sức khỏe người lao động và các điều kiện lao động) bằng sự khuếch trương nhanh chóng của những công nghệ sản xuất mới và các nhân tố hợp lý hóa sản xuất (tiêu chuẩn hóa các quy trình sản xuất) cũng như các nhân tố xã hội (thành quả của hoạt động sản xuất có thể được phân chia cho mọi người).

Tuy nhiên, mô hình doanh nghiệp Taylor-Ford ấy đã lụi tàn trong những năm 1980, và nhà nước phúc lợi ngày càng không còn tỏ ra là một viễn tượng hay một phương hướng có triển vọng. Chính xuất phát từ tình hình này mà người ta lại tập trung chú ý đến doanh nghiệp cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp trong lòng xã hội, và điều này làm nảy sinh một quan niệm minh bạch hơn về CSR. Doanh nghiệp từ nay lại chiếm vị trí trung tâm trong các cuộc tranh luận xã hội và trở thành một “vấn đề của xã hội” (affaire de société) [Sainsaulieu, 1990]. Ngược lại, xã hội cũng trở thành một vấn đề của các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp có sức mạnh kinh tế có thể tác động đến những lựa chọn chính trị.

Quan niệm ở Mỹ về CSR: Các lý do đạo đức và tôn giáo

Mặc dù gốc gác của khái niệm CSR đã có từ xa xưa, từ trước Thế chiến thứ Hai, xuất phát từ khuynh hướng dân chủ-xã hội, cho rằng cần thúc đẩy một sự “kiểm toán xã hội” (audit social) đối với ứng xử của các doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nhu cầu của xã hội, nhưng Bowen [1953] mới thực sự là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “corporate social responsibility”, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Bowen là một mục sư muốn xây dựng một học thuyết xã hội cho Giáo hội Tin lành có cùng tầm cỡ với học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, do đó, quan niệm của ông ta đã tạo ra một ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về CSR ở Mỹ. Quan niệm này tương ứng với hai điều giáo huấn của Kinh thánh là nguyên tắc quản gia (stewardship principle) theo đó, người quản lý tài sản một cách có trách nhiệm không được làm tổn hại đến các quyền của người khác, và nguyên tắc bắc ái (charity principle) theo đó người có của có bổn phận phải giúp đỡ những người khốn khó. Vì vậy, đây là một quan niệm nhấn mạnh đến lòng từ thiện với tư cách là hệ luận của nguyên tắc trách nhiệm cá nhân nhằm mục tiêu sửa chữa những khuyết tật của hệ thống và bồi hoàn cho những sự lạm dụng và vi phạm, hơn là ngăn ngừa hay dự liệu nhằm tránh những thiệt hại do hoạt động của doanh nghiệp gây ra.

Mặt khác, quan niệm này cũng phù hợp với những đặc trưng xã hội, văn hóa và thiết chế riêng biệt của xã hội Mỹ [Pasquero, 2005]. Theo đó, cá nhân là trung tâm của tất cả mọi thứ, trách nhiệm chủ yếu thuộc về cá nhân, còn xác định và “quản lý” các quy tắc liên quan tới các mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội là nhiệm vụ của nền đạo đức. Như vậy, mục tiêu loại trừ các hành vi xấu và phi luân lý không được thực hiện thông qua sự cưỡng chế của những quy định của nhà nước, vì điều này bị xem là làm hạn chế quyền tự do cá nhân và có thể gây ra những tác dụng ngược. Quan niệm về doanh nghiệp ưu tiên nhấn mạnh đến các mối quan hệ hợp đồng (theo khế ước), nhất là mối quan hệ với các cổ đông. Giá trị của tổ chức chính là giá trị của người đứng đầu, vốn được xem như có vai trò thống nhất bộ máy nhân sự, giải tỏa những xung đột và căng thẳng trong tổ chức. Một cách tổng quát, có thể tóm tắt quan niệm ở Mỹ về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp qua công thức “lợi nhuận trước, bác ái sau”.

Vì sao xuất hiện một quan niệm minh bạch về CSR

Trong phần lớn nửa sau thế kỷ XX, thuật ngữ CSR vẫn chưa được biết đến tại châu Âu lục địa. Sở dĩ như vậy là vì mức độ bảo hộ xã hội đã được định chế hóa cao nên đã hoàn toàn làm lu mờ hoạt động từ thiện của các doanh nghiệp; đồng thời, các thỏa ước tập thể giữa người sử dụng lao động với người lao động ở cấp quốc gia và cấp ngành nghề tại nhiều nước đã làm cho CSR đối với người lao động, và đôi khi còn đối với cả những đối tượng khác nữa, không phải mang tính chất cá nhân mà là mang tính chất tập thể. Vì thế ở giai đoạn này, có thể gọi đây là một thứ CSR mặc nhiên (implicite) [Matten và Moon, 2005]: một doanh nghiệp nào đó không có lý do gì để khoe khoang các hoạt động xã hội của mình bởi lẽ, về nguyên tắc, luật lệ và các thỏa ước xã hội đều được áp dụng cho mọi doanh nghiệp.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Đâu là sự thật và chân lý? – Phần cuối


Có thể tóm tắt lại nội dung trên bằng cách trình bày sự ứng dụng trong hai tình huống minh họa là DEC và Cibay-Geigy. DEC có cả sự đồng thuận cao độ rằng sự thật được xác định bởi các tiêu chí thực dụng và tranh luận, lẫn sự chấp nhận cao độ đối với những điều mơ hồ. Khi tư vấn cho DEC, tôi chưa bao giờ được yêu cầu có ý kiến đóng góp. Nếu tôi góp ý, ý kiến của tôi ngay lập tức bị gạt ra ngoài bởi hàng loạt các ý kiến khác từ phía khách hàng, và sau đó họ tranh luận về các ý kiến của họ vừa nêu. Tại Ciba-Geigy, tôi luôn luôn được coi là người được ủy quyền, và tôi được hỏi đã biết những gì sau khi nghiên cứu công ty và sau những trải nghiệm khác của tôi, và họ yêu cầu tôi có ý kiến. Tôi được coi là một nhà khoa học mang đến kiến thức cho tổ chức này, và tôi thường thấy ý kiến của mình được thực thi với thái độ tuân thủ chính xác. Nếu các đề xuất của tôi mâu thuẫn với những yếu tố văn hóa khác, ví dụ tôi đã đề xuất cần giao tiếp ngang cấp nhiều hơn, nó bị gạt bỏ ngay. Ciba-Geigy không chấp nhận sự mơ hồ và công ty này vận hành gần với tính đạo lý nhiều hơn.

Cái gì là “Thông tin”?

Cách thức mà nhóm kiểm tra sự thật và ra quyết định cũng liên quan đến sự đồng thuận về việc cái gì là dữ liệu, là thông tin, là kiến thức. Khi công nghệ thông tin phát triển, vấn đề này trở nên sâu sắc hơn bởi các cuộc tranh luận về vai trò của máy tính trong việc cung cấp “thông tin”. Các “chuyên gia” công nghệ thông tin thường có những giả định chung, rất khác so với giả định của các nhà quản lý cấp cao. Ví dụ, nhiều vị tổng giám đốc công ty sẽ cho rằng những gì bạn thấy trên màn hình máy tính đều là “dữ liệu” và cái gì bạn thực sự cần có mới là thông tin, mang hàm ý về một mức độ phân tích dữ liệu mà thường thì việc phân tích này sẽ không thể trừ khi một hệ thống hỗ trợ ra quyết định tinh vi hay một hệ thống chuyên trách được lập trình (Rockart và DeLong, 1988). Để nhóm có các quyết định mang tính thực tế, phải có sự đồng thuận nhất định về việc đâu là các thông tin phù hợp, có liên quan đến nhiệm vụ cần làm.

Một ví dụ về sự mơ hồ sẵn có của những từ ngữ chung chung dạng như thông tin đã được trình bày trong nghiên cứu của Dougherty (1990) về một nhóm phát triển sản phẩm mới. Cô đã xác định được 5 “thế giới tư duy” tách biệt nhau trong nhóm phát triển sản phẩm này. Cả nhóm đều biết rằng để có quyết định đúng thì phải có nhiều thông tin về khách hàng, và mỗi thành viên trong nhóm cũng đều tin rằng mình đã có đủ thông tin cần thiết. Nhưng mỗi người trong số đó lại biết về những thứ khác nhau, và họ không nhận ra điều này cho đến khi họ cố gắng cùng nhau ra quyết định.

+ Những người làm marketing, xây dựng kế hoạch kinh doanh biết được một cách tổng quát về việc thị trường có tồn tại hay không, dung lượng của thị trường tiềm năng, giá cả và sản lượng bán phù hợp với mức lợi nhuận, các xu hướng của thị trường…

+ Những người bán hàng tại hiện trường lại biết khách hàng tiềm năng sẽ sử dụng sản phẩm cho mục đích gì, các yêu cầu chi tiết của người sử dụng, sản phẩm có tầm quan trọng như thế nào nếu so sánh với các sản phẩm của đối thủ.

+ Những nhà phân phối biết được cần bán sản phẩm ra như thế nào, các kế hoạch trưng bày nên như thế nào, cần có bao nhiêu kênh bán hàng.

+ Các kỹ sư biết được kích thước sản phẩm nên là bao nhiêu, quy cách kỹ thuật nên như thế nào…

+ Những người phụ trách sản xuất biết được sản lượng tiềm năng, cần có bao nhiêu mẫu sản phẩm, và chi phí sản xuất là bao nhiêu.

Mỗi nhóm nhỏ này, dựa trên kiến thức nền tảng và kinh nghiệm chức năng của mình, đều xây dựng nên những khái niệm và ngôn ngữ quen thuộc trong nhóm mình, nhưng không chắc là dễ hiểu và có giá trị đối với các nhóm khác.

Khi các nhóm nhỏ này được kết hợp thành một nhóm lớn phụ trách phát triển sản phẩm, khả năng của nhóm lớn trong việc khám phá ra chân lý của nhóm nhỏ khác là một yếu tố then chốt, quyết định sản phẩm có thể thành công trên thị trường hay không. Để có được cách hiểu chung, các nhóm nhỏ phải vượt xa hơn quy trình hội họp chính thức, sang đến giai đoạn trò chuyện cá nhân nhiều hơn để có cơ hội tìm hiểu về những điểm bất đồng và những điểm đã thống nhất, và nhận ra sự khác biệt giữa các tập hợp thông tin. Các nhóm nhỏ này phải trở thành một hòn đảo văn hóa tạm thời, để cả nhóm hoạt động hiệu quả.

Câu hỏi “cái gì là thông tin” hiện đang là mối quan tâm đặc biệt khi các bộ bách khoa toàn thư đang được thay thế bởi các nguồn trên mạng, như Wikipedia chẳng hạn. Các tiêu chuẩn khoa học thuần túy về chân lý hiện đang được thay thế bởi một quy trình tương tự như quy trình mà DEC đã triển khai để tìm sự thật – thông qua đề xuất, thách thức, tranh luận và giải pháp sau cùng là những gì còn đứng vững được.

Tóm tắt

Một trong những phạm trù quan trọng nhất của văn hóa là giả định về phương pháp xác định sự thật, chân lý và thông tin. Sự thật có thể tồn tại trong các cấp độ tự nhiên, nhóm và cá nhân, và việc kiểm tra đâu là sự thật cũng khác nhau tùy cấp độ – kiểm tra bằng trực quan, sự đồng thuận mang tính xã hội, hay trải nghiệm của cá nhân. Các văn hóa nghề nghiệp và văn hóa vĩ mô khác nhau tại mức độ mà chúng dựa vào các tiêu chí truyền thống mang tính đạo lý về sự thật và tương phản lại là các tiêu chí thực dụng mang tính khoa học. Các nhóm phát triển nên những giả định về thông tin, từ đó giúp họ cảm nhận được khi nào đã có đủ thông tin để ra quyết định, và các giả định này phản ánh các giả định khác, sâu xa hơn về nguồn gốc tối cao của sự thật. Đâu là sự kiện, đâu là thông tin và đâu là chân lý – mỗi vấn đề phụ thuộc không những vào kiến thức chung về ngôn ngữ chính thức, mà còn vào bối cảnh đồng thuận.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edgar H. Schein – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo – NXB TĐ 2012.

Đâu là sự thật và chân lý? – Phần II


Sự thật của cá nhân là những gì bạn tự mình trải nghiệm được và là chân lý tuyệt đối đối với bạn, tuy nhiên chân lý này không được chia sẻ bởi bất cứ ai khác. Khi chúng ta không đồng thuận được ở cấp độ này thì rất khó để cùng nhau đi xa hơn, cho đến khi nào mọi người đều làm rõ các tải nghiệm thực tế của riêng mình là gì. Chúng ta cũng phải đồng thuận dưới một hình thức nào đó về những trải nghiệm của những người khác mà ta đã tin cậy. Trong một xã hội kiểu truyền thống, dựa trên thứ bậc, nếu một người cao tuổi đưa ra lời phát biểu thì chúng ta vẫn coi nội dung đó là có giá trị và là chân lý khách quan. Trái lại, trong xã hội thực dụng, mang tính cá nhân chủ nghĩa, thái độ sẽ thường là yêu cầu “Chứng minh cho tôi thấy” và chỉ những bằng chứng được chấp nhận mới được phổ biến rộng rãi. Tất nhiên, những gì được định nghĩa là sự thật tự nhiên, xã hội và của cá nhân cũng đều là sản phẩm từ sự học hỏi mang tính xã hội và do đó, theo định nghĩa, cũng là một bộ phận trong một văn hóa nhất định (Van Maanen, 1979b; Michael, 1985).

Đạt đến sự đồng thuận là một quá trình xây dựng nên các sự thật mang tính xã hội được chia sẻ, việc này rất khó khăn khi nhóm là đa văn hóa bởi vì mỗi thành viên trong nhóm đều mang đến những sự thật của cá nhân và nhiều nguyên tắc văn hóa đối với việc điều gì có thể được chia sẻ và điều gì cần giữ lại. Như Bushe đã chỉ ra trong tác phẩm Sự lãnh đạo Minh bạch (Clear Leadership, 2009), các nguyên tắc văn hóa về trật tự xã hội đòi hỏi chúng ta phải có cách giải thích của riêng mình về lý do tại sao người khác lại hành động. Chúng ta tô vẽ nên những câu chuyện nhằm giải thích hành vi của người khác bởi vì sẽ là thô lỗ nếu hỏi thẳng “Tại sao bạn làm điều đó” hoặc “Tôi không hiểu nổi hành vi của bạn”. Để giao tiếp tốt hơn, chúng ta phải đặt mình vào những tình huống khi mà các nguyên tắc đó không được ứng dụng, sao cho các thành viên trong nhóm có thể lý giải được các trải nghiệm của chính họ và học được cách đánh giá những trải nghiệm của người khác. Tôi gọi những tình hống này là “các hòn đảo văn hóa” và sẽ thường xuyên quay lại khái niệm này. Nói tóm lại, khi các thành viên của nhóm đến từ nhiều khái niệm khác nhau về sự thật, sau đó cùng đi đến một nền tảng chung thì họ phải trải qua những tình huống và quá trình đặc biệt.

Bối cảnh tầm cao và tầm thấp

Tác giả Hall (1977) đã mang đến sự phân biệt hữu ích giữa cái mà ông gọi là bối cảnh văn hóa tầm cao và tầm thấp, còn Maruyama (1974) thì cho thấy sự tương phản giữa mô hình văn hóa một chiều duy nhất với mô hình tương hỗ qua lại. Trong văn hóa bối cảnh tầm thấp, một chiều thì các sự việc đều có ý nghĩa rõ ràng; còn trong bối cảnh tầm cao, đa chiều thì sự việc chỉ có thể được hiểu trong hoàn cảnh cụ thể, ý nghĩa của nó cũng sẽ thay đổi, quan hệ nhân quả không thể được thiết lập rõ ràng.

Mặc dù sự phân biệt này mang nhiều ý nghĩa hơn khi so sánh các văn hóa vĩ mô, nó vẫn hữu ích đối với các tổ chức. Ví dụ, DEC mang văn hóa tầm cao theo đó ý nghĩa của ngôn từ và hành động phụ thuộc vào việc ai nói và trong điều kiện nào. Các nhà quản lý đã biết nhau rất rõ và luôn luôn quan tâm đến việc ai đang hành động. Khi người ta chứng kiến một nhà quản lý cấp cao đang công khai trừng phạt thuộc cấp của ông ta vì vi phạm sai lầm ngớ ngẫn, điều đó nhiều khi chỉ đơn giản là người nhân viên kia lẽ ra cần được sự ủng hộ của nhiều người hơn, trước khi anh ta tự ý thực thi. Khi Ken Olsen công khai khiển trách một kỹ sư, những người quan sát thấy việc này điều hiểu rằng Ken chỉ khiển trách những ai mà ông ta đánh giá cao và do đó ông mong đợi sự hoàn thiện ở họ. Ngược lại, tại Ciba-Geigy với văn hóa tầm thấp thì các thông điệp dường như có cùng ý nghĩa, bất chấp chúng xuất phát từ ai. Bị gắn cái nhãn “ngớ ngẩn” trong công ty này cũng có nghĩa là đã nhận được sự đánh giá rất tiêu cực.

Khi nói đến ngôn ngữ, chúng ta thường bỏ qua vai trò của ngữ cảnh. Chúng ta hay giả định rằng khi một cá nhân học ngoại ngữ, anh ta/cô ta sẽ có thể hiểu được điều gì đang diễn ra và sẽ có hành động. Nhưng như chung ta đều biết, nhờ các trải nghiệm khi đi lại, ngôn ngữ được gắn liền với một bối cảnh rộng hơn theo đó những ám hiệu, ngữ điệu, ngôn ngữ hình thể và các dấu hiệu khác cũng quyết định nên ý nghĩa của những gì được nói ra. Một ví dụ sống động là trải nghiệm của tôi khi tham gia hội họp tại British Petroleum như đã viện dẫn, khi tôi nghĩ rằng mình đã quan sát thấy cách dẫn giải rất lịch thiệp của người chủ tịch,nhưng sau đó được giải thích rằng ông này chưa bao giờ lại hành xử theo kiểu “khủng bố” đến vậy.

Chủ nghĩa thực dụng – đạo lý

Một khía cạnh thích hợp trong việc so sánh các nhóm xét từ phương pháp tiếp cận để thậm định thực tế của chúng là việc ứng dụng chủ nghĩa thực dụng – đạo lý của England (1975). Trong nghiên cứu của ông về các giá trị trong quản lý, England đã nhận thấy rằng các nhà quản lý khác nhau đến từ nhiều quốc gia khác nhau đều có xu hướng hoặc mang tính thực dụng (tìm kiếm sự thẩm định bằng các trải nghiệm của chính họ), hoặc theo đạo lý (tìm kiếm sự thẩm định bằng các triết lýchung, hệ thống đạo đức hay truyền thống). Ví dụ, England đã thấy những người Mỹ thường có xu hướng thực dụng nhiều hơn, trong khi người châu Âu lại theo xu hướng đạo lý. Nếu áp dụng khía cạnh này đối với các giả định căn bản mà một nhóm tạo ra, chúng ta có thể chỉ rõ những căn cứ khác biệt nhau để xác định đâu là đúng, là chân lý, như trong Bảng 2.

Bảng 2: Một số tiêu chí có thể áp dụng để xác định chân lý

Các tín điều, dựa trên truyền thống và/hoặc tôn giáo: đó là cách luôn luôn được dùng; đó là ý Chúa; đó là điều được ghi trong Kinh Thánh.
Các niềm tin, sự thông thái được hình thành từ việc tin cậy vào những người thông thái, các nhà lãnh đạo chính thức, các nhà tiên tri hoặc vua chúa: người lãnh đạo muốn chúng ta làm theo cách này; các vị tư vấn đã đề xuất chúng ta phương pháp này; cô ta là người giàu kinh nghiệm nhất, do đó chúng ta nên làm theo những gì cô ta nói.
Chân lý phát xuất bởi một quy trình “lý trí – luật pháp” (như khi chúng ta phạm tội hoặc vô tội sau khi được pháp luật xác định, chúng ta đồng ý với những gì đã được thừa nhận từ đầu rằng không có chân lý tuyệt đối, chỉ có chân lý được phán quyết mang tính xã hội): chúng ta phải đem quyết định này sang ủy ban marketing và thực thi những gì họ yêu cầu; sếp sẽ phải quyết định việc này vì đó là trách nhiệm của sếp; chúng ta phải biểu quyết và làm theo quy tắc đa số; chúng ta đồng ý rằng quyết định này thuộc về trưởng phòng sản xuất.
Chân lý là những gì tồn tại được sau khi trải qua xung đột và tranh luận: chúng ta tranh luận về vấn đề này trước 3 ủy ban khác nhau, kiểm tra với lực lượng bán hàng và ý tưởng vẫn đứng vững, vậy nên chúng ta sẽ thực thi; có ai thấy có vấn đề gì phát sinh không, nếu không thì chúng ta thực hiện.
Chân lý là những gì có hiệu quả, thuần túy là các tiêu chí thực dụng: hãy thử với cách này và đánh giá xem chúng ta làm được đến đâu.
Chân lý được hình thành từ các phương pháp khoa học, một lần nữa lại trở thành tín điều: kết quả nghiên cứu của chúng ta cho thấy đây là cách thức đúng; chúng ta đã khảo sát 3 lần rồi và kết quả thu được là như nhau, vậy hãy thực hiện thôi.

Khía cạnh này không những nêu bật các nền tảng để xác định chân lý, sự thật và còn liên quan đến “việc tránh né những gì không chắc chắn”, một khía cạnh quan trọng được tìm thấy trong nghiên cứu của Hofstede về các văn hóa quốc gia, và liên quan đến “sự chấp nhận những điều mơ hồ”, một khía cạnh quan trọng được tìm thấy trong cuộc nghiên cứu giai đoạn sau Thế chiến thứ II (Hofstede, 2001; Adorno và các cộng sự, 1950). Các nhà quản lý và nhân viên từ nhiều quốc gia khác nhau sẽ có mức độ khác nhau torng việc họ chia sẻ sự hài lòng, cũng như những điều không chắc chắn và không rõ ràng. Khi môi trường bất ổn hơn và lĩnh vực ngành nghề cũng phức tạp hơn xét từ góc độ công nghệ, khả năng của nhà lãnh đạo trong việc chấp nhận những điều không chắc chắn sẽ trở nên quan trọng hơn để tồn tại và học hỏi được. Các văn hóa tổ chức và quốc gia nào chấp nhận một cách dễ dàng hơn những điều không chắc chắn cũng sẽ mang tính thích ứng cao hơn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edgar H. Schein – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo – NXB TĐ 2012.

Đâu là sự thật và chân lý? – Phần I


Khi các nhóm và tổ chức phát triển, các giả định đã được xây dựng nên về việc điều chỉnh cho phù hợp với môi trường bên ngoài và sự hội nhập trong nội bộ cũng phản ánh các giả định sâu xa hơn đối với những vấn đề trừu tượng hơn, tổng quát hơn từ đó con người cần sự đồng thuận để có một hình thái xã hội. Nếu chúng ta không thể thống nhất được đâu là sự thật, bằng cách nào để xác định đâu là chân lý và đâu là sai lầm, làm thế nào để đo lường thời gian, để phân bổ không, bản chất con người là gì, làm thế nào để mọi người sống hài hòa với nhau thì không thể xây dựng được xã hội.

Bởi vì các xã hội khác nhau đã phát triển nên những câu trả lời khác nhau cho mỗi câu hỏi nêu trên, chúng ta có nhiều văn hóa trên thế giới, và các văn hóa vĩ mô này ảnh hưởng đến cách thức phát triển của các nhóm và tổ chức trong đó. Các loại văn hóa vĩ mô điển hình nhất mà người ta vẫn hay đề cập đến thời điểm này là: các văn hóa quốc gia, dân tộc, tôn giáo và ngành nghề. Theo đó, hành vi cạnh tranh mang tính cá nhân chủ nghĩa vẫn được coi là điều đương nhiên trong các doanh nghiệp Hoa Kỳ, cũng như tinh thần đồng đội trong các công ty Nhật Bản. Việc ôm hôn nhau nơi công cộng vẫn được chấp nhận tại Hoa Kỳ, nhưng hoàn toàn không thể chấp nhận được tại Saudi Arabia. Việc nói đúng những gì bạn đang nghĩ trong đầu cho sếp nghe là điều được mong đợi trong các công ty Đức, nhưng có thể là không khả thi trong các doanh nghiệp Trung Quốc và Nhật Bản.

Khi chúng ta tìm hiểu sự hình thành của các nhóm với xuất phát điểm mang tính đa quốc gia, chẳng hạn như các tổ chức được sáp nhập như British Petroleum và Amoco hoặc các liên doanh giữa nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia khác nhau, chúng ta thấy được sự bất đồng tại mức độ trừu tượng cao hơn này đã gây khó khăn đặc biệt cho sự hình thành và vận hành của nhóm như thế nào. Cách tốt nhất để tư duy về các loại hình mà chúng ta sẽ tìm hiểu là xem chúng về căn bản là những đặc trưng của văn hóa vĩ mô, có ảnh hưởng rộng đến sự hình thành văn hóa tổ chức, văn hóa bộ phận và văn hóa vi mô.

Các khía cạnh được xem xét đều dựa trên những khái niệm do nhà xã hội học Talcott Parsons (1951) đầu tiên xây dựng nên và được phát triển thành một tập hợp các khía cạnh giá trị bởi Kluckhohn và Strodbeck (1961) để họ tiến hành một nghiên cứu so sánh kinh điển về 4 loại hình văn hóa tại khu vực Tây Nam Hoa Kỳ – Anglo, Hispanic, Mormon và Navajo. Tuy nhiên tôi lại làm rõ trên cơ sở là những trải nghiệm của chính mình tại các quốc gia khác nhau, với những loại hình được trình bày trong Bảng 1.

Bảng 1: Các giả định sâu sắc hơn trong các văn hóa vĩ mô

+ Các giả định về bản chất của sự thật và chân lý
+ Các giả định về bản chất của thời gian
+ Các giả định về bản chất của không gian
+ Các giả định về bản chất, hành động và các mối quan hệ của con người

Các giả định chung được chia sẻ về bản chất của sự thật và chân lý

Một phần nền móng của mỗi văn hóa là tập hợp các giả định về việc cái gì là sự thật và làm thế nào để xác định và tìm ra sự thật. Các giả định này cho phép những thành viên trong nhóm biết được cách thức để xác định các thông tin phù hợp, có liên quan, cách lý giải thông tin và cách để xác định khi nào họ đã có đủ thông tin và có thể ra quyết định có hành động hay không, và cần có hành động gì.

Ví dụ, như tôi đã nhiều lần trình bày, sự thật và chân lý tại DEC được xác định bởi những cuộc tranh cãi và các tiêu chí thực dụng đối với tính hiệu quả. Nếu không thể hoặc quá khó để tiến hành việc kiểm tra khách quan, ý tưởng đề xuất sẽ được đưa ra tranh luận để xem nó có thể đứng vững được sau cuộc kiểm tra mức độ phụ thuộc vào những phân tích mang tính phê phán gay gắt hay không. Tại Ciba-Geigy, người ta nhấn mạnh hơn đến các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm và quan điểm của những người được cho là có kinh nghiệm và thông thái. Cả hai công ty này đều tồn tại trong một văn hóa rộng hơn là văn hóa phương Tây, bị thống trị bởi các khái niệm về khoa học và dựa trên kiến thức từ góc độ trải nghiệm. Nhưng sự khác biệt lớn giữa hai công ty này cho thấy rằng ngay cả khi cùng nằm trong một bối cảnh văn hóa vĩ mô thì vẫn có sự khác biệt giữa các định nghĩa về sự thật, tùy theo các văn hóa vĩ mô của ngành nghề (ở đây là ngành kỹ sư điện tử và hóa học) và văn hóa quốc gia (Đức – Thụy Sĩ và Hoa Kỳ).

Các cấp độ của sự thật

Sự thật tự nhiên biểu hiện ra ngoài là những sự việc có thể được xác định theo phương pháp thực chứng bởi những kiểm tra khách quan, hay theo truyền thống phương Tây vẫn gọi là kiểm tra “mang tính khoa học”. Ví dụ, nếu có hai người đang tranh luận về việc một mảnh kính có thể bị vỡ hay không, họ sẽ đập bằng búa và biết kết quả (Festinger, 1957). Nếu hai nhà quản lý tranh luận với nhau về việc cần tung ra sản phẩm nào, họ có thể thống nhất việc tiến hành một cuộc kiểm tra thị trường và đưa ra các tiêu chí, từ đó giải quyết được vấn đề. Mặt khác, nếu hai nhà quản lý tranh luận về việc nên ủng hộ cho chiến dịch vận động tranh cử nào, họ sẽ đều đồng ý rằng chẳng có tiêu chí cụ thể nào để giải quyết xung đột này cả.

Các văn hóa khác nhau sẽ có những giả định khác nhau về đâu là những bộ phận cấu thành nên sự thật tự nhiên. Chẳng hạn, nhiều người trong số chúng ta sẽ không cho rằng thế giới tâm linh hoặc năng lực ngoại cảm là có căn cứ thực tế, nhưng trong các nền văn hóa khác thì các hiện tượng này lại được coi là có thật.

Sự thật mang tính xã hội liên quan đến những sự vật mà các thành viên trong nhóm đều coi là vấn đề của sự đồng thuận, không thể hiện ra ngoài, không thể kiểm tra bằng trải nghiệm thực tế. Bản chất của con người – cách đúng đắn để con người liên kết với tự nhiên và với người khác, sự phân bổ quyền lực và toàn bộ các quá trình chính trị, các giả định về ý nghĩa của cuộc sống, ý thức hệ, tôn giáo, biên giới của nhóm, và bản thân văn hóa – rõ ràng là những vấn đề về sự đồng thuận và không thể được xác định bằng trực giác. Cách thức để nhóm định nghĩa chính nó và các giá trị nhóm đã chọn rõ ràng là không thể đem ra kiểm tra, xét từ góc độ nhận thức truyền thống về kiểm tra mang tính khoa học, thực nghiệm nhưng vẫn được duy trì bền vững và được nhất trí chia sẻ với nhau. Nếu người ta tin một điều gì đó và xác định nó là có thật, thì điều đó trở thành sự thật đối với nhóm.

Trong bối cảnh quốc tế, không có cách nào để kiểm tra xem ai đúng ai sai trong các xung đột về lãnh thổ hay một hệ thống niềm tin. Cuộc chiến tranh dai dẳng tại Afghanistan là một minh chứng đầy đủ. Việc thương lượng trở nên vô cùng khó khăn khi mỗi bên đều có những giả định rất khác nhau về “sự thật”, dẫn đến việc các quốc gia phải vận dụng sức mạnh kinh tế và quân sự. Câu chuyện dở khóc dở cười về một nhà ngoại giao non nớt đã đề xuất người Arab và người Israel nên cùng nhau giải quyết các bất đồng bằng thái độ của những người Thiên Chúa Giáo cũng là một ví dụ làm rõ luận điểm này.

Một trong những lý do tại sao khó ra các quyết định trong kinh doanh và tại sao việc quản lý về căn bản là điều phức tạp là: thiếu đồng thuận về việc phạm vi ra quyết định đó mang tính tự nhiên hay xã hội. Để một tổ chức có các hành động liền lạc, nó phải có các giả định chung được chia sẻ về việc: quyết định nào là có thể được hình thành từ thực nghiệm, và quyết định nào dựa trên các tiêu chí được đồng thuận, chẳng hạn “Hãy để những người nhiều kinh nghiệm nhất quyết định” hay “Quyết định bởi đa số”. Cần chú ý rằng sự đồng thuận phải có được đối với các tiêu chí và quy trình ra quyết định chứ không nhất thiết đồng thuận về bản thân quyết định sau cùng. Ví dụ, trong truyền thống dân chủ phương Tây, chúng ta đều giả định về nguyên tắc đa số thắng thế, nhưng không có cơ sở thực nghiệm nào cho tiêu chí này. Thực ra, đối với nhiều loại quyết định, nguyên tắc đa số có thể là cách tệ hại nhất để ra quyết định bởi vì nó phân hóa cuộc tranh luận thành hai nhóm “thắng” và “thua”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edgar H. Schein – Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo – NXB TĐ 2012.