Nhà tư tưởng và người bán hàng


Randall Lane

Điểm chung giữa người giàu nhất thế giới (kiêm nhà từ thiện hào phóng nhất) với ngôi sao nhạc rock nổi tiếng nhất thế giới (kiêm nhà hoạt động xã hội hiệu quả nhất)? Quan điểm tư bản về cách giải quyết đói nghèo trên toàn cầu.

Forbes (F): Trên giấy tờ hai ông rất khác nhau, nhưng trên thực tế có thể hai ông lại có nhiều điểm chung hơn mình nghĩ…

Bono (B): Chiều cao đấy!

F: Cả hai đều chơi cờ vua lúc nhỏ, rồi vào đại học nhưng bỏ giữa chừng. Hai ông cùng đều gây dựng nên công ty quy mô toàn cầu và đều chịu tác động mạnh mẽ sau chuyến đi đầu tiên đến châu Phi (Bono sau buổi biểu diễn từ thiện Live Aid, và Bill trước chuyến safari trăng mật với Melinda) và cả hai đều coi Nelson Mandela là một trong những người hùng vĩ đại nhất.

Nhưng Bill này, có đúng là hồi đầu tiên gặp Bono, ông không thực sự muốn gặp vì nghĩ chuyện đó mất thời gian?

Bill Gate (G): Đúng thế, chúng tôi có bạn chung là Paul Allen. Paul đôi lần nói với tôi, “Anh biết không, Bono thực sự rất quan tâm đến vấn đề đói nghèo và việc cậu đang làm, cậu nên nói chuyện với anh ấy”. Đúng là thoạt tiên tôi không coi chuyện gặp Bono là ưu tiên. Rồi trong cuộc họp tại Davos ở New York sau vụ khủng bố 11.9, Bono, Bill Clinton và tôi gặp nhau. Tôi khá thích thú thấy Bono thực sự hiểu điều anh ấy nói và cam kết thực hiện nghiêm túc. Không phải ai cũng thế. Kể từ đó, chúng tôi sát cánh bên nhau.

F: Bono, ông từng nói ông học được từ Bill nhiều điều. Bill đã dạy ông những gì, và tại sao ông học từ ông ấy?

B: Trước khi nói tôi học được gì, tôi sẽ nói tôi dạy Bill những gì. Đó là chuyện thú vị về việc không nên đánh giá bạn bè. Tôi nói với Paul Allen, “Anh giúp tôi gặp Bill Gates được không? Vì chúng tôi thực sự cần chuyên nghiệp hóa hoạt động, cần vốn. Tôi biết Bill quan tâm đến việc chúng tôi làm và Melinda cũng vậy”. Paul là gã kiệm lời. Trước đó ông ấy luôn trả lời e-mail của tôi, đột nhiên lần này không trả lời. Thực sự, tôi khá bực và nói, “Chơi vậy không đẹp đâu”. Vì đó là lần duy nhất tôi nhờ ông ấy.

Tất nhiên, tôi không hề biết Paul đã ngỏ ý để Bill gặp tôi nhưng Bill đã bảo “tôi không muốn gặp, dù đó là Sonny Bono hay ai cũng thế”.

Tôi tự gặp Bill và Melinda và nói: “Chúng tôi có tổ chức và có những người rất thông minh và tinh nhạy. Nhưng chúng tôi cần phải chuyên nghiệp hóa”. Tổng thống Bush đã tiếp quản Nhà Trắng. Những gì chúng tôi làm trước nay đều dẫn đến Nhà Trắng của Bill Clinton, nhưng giờ không còn phù hợp nữa và chúng tôi cần chuyên nghiệp hơn. Thế rồi chúng tôi nhận 1 triệu đôla Mỹ từ Bill Gates. Sau đó Bill nói trên New York Times hay đâu đó là 1 triệu đôla Mỹ đưa cho chúng tôi là khoản chi tiêu có ý nghĩa nhất của anh ấy đến nay. Lời khen của Bill rất tuyệt vời và còn giúp chúng tôi tìm nguồn tài trợ dễ hơn.

Nhưng điều làm tôi sốc khi là nhà hoạt động xã hội là lúc nhận ra vai trò quan trọng của thương mại trong quá trình chấm dứt đói nghèo cùng cực và vai trò doanh nghiệp trong việc đưa con người ra khỏi cái nghèo cùng cực. Ngay lúc này chủ nghĩa tư bản đang rơi vào khủng hoảng và bị phán xét. Có cảm giác về sự tách biệt giữa “chúng ta” và “họ”, 99% người nghèo và 1% người giàu, những người được lợi từ hoàn cảnh. Một số lời tố cáo dĩ nhiên quá mức một cách lố bịch, nhưng một số thì không. Điều cốt yếu là làm sao để tinh thầnh doanh nhân làm từ thiện (entrepreneurial philanthropy) trong thế kỷ 21 hợp nhất được khuôn dạng và hình thức mới. Điều tôi học được từ Bill và Melinda là không chi tiền của họ mới là thứ cần thiết, mà quan trọng nhất là họ có thể đóng góp sức mạnh trí tuệ của mình.

F: Bono, tôi tin là ông đã gọi mình là “nhà tư bản mạo hiểm”. Hãy nói một chút về RED, nơi ông là người ủng hộ và dẫn dắt vào định hướng thương mại để khích lệ thay đổi và huy động được rất nhiều tiền.

B: Tôi nhớ mình gặp Bob Rubin ngay khi ông rời bỏ vị trí Bộ trưởng Tài chính để xin lời khuyên giải quyết bệnh HIV/AIDS. Ông trả lời: “Nếu muốn có một chút thay đổi trong chuyện này, ông phải có lộ trình giống như Nike. Ông phải giải thích, chẳng hạn với người Mỹ, quy mô của vấn đề và phương cách giải quyết. Và ông có thể phải chi 50 triệu USD để biến điều đó thành hiện thực, giống như cách Nike chi tiền tiếp thị các ý tưởng của họ”. Tôi nói, “Bob, làm sao chúng tôi có 50 triệu USD?” Ông nói: “Đó là chuyện của ông!”

Chúng tôi thành lập RED. Giờ đây, với sự trợ giúp của quỹ Gates – nhân tiện nói luôn là thực sự tôi không làm gì được nếu không có quỹ Gates – RED là sáng kiến cố gắng “cưỡi trên lưng” những người khổng lồ như Apple hay Microsoft, Armani hay Starbucks. Tại giải Pháp mở rộng, tất cả vận động viên tennis tên tuổi đều xuất hiện với cây vợt màu đỏ, vì RED đã làm việc với hãng dụng cụ thể thao Head. Bởi vậy chúng tôi dùng RED không chỉ để quyên tiền… – tôi nghĩ chúng tôi đã quyên tới nay được 207 triệu USD để mua thuốc trị AIDS cho người không có khả năng mua thuốc – mà còn tạo ra lửa nhiệt tình và lòng hăng hái giải quyết vấn đề. Khi các nhà làm luật gặp nhau ở quốc hội trong những lúc khó khăn, họ cảm nhận được điều đó. Chúng tôi đã từng tạo ra sức nóng tại Mỹ và khi đó người ta không cảm nhận được sự cấp bách về AIDS. Chúng tôi muốn có mặt trong những trung tâm thương mại để tỏa nhiệt. Khi bước dọc con đường và thấy một áo T-shirt hiệu Gap, họ sẽ cảm thấy lửa nhiệt. Năm 2013 là một năm khó khăn về quyên vốn cho Global Fund (nơi cấp tiền để chống AIDS, bại liệt và sốt rét) nên lửa nhiệt rất quan trọng. Đó là điều RED làm: tạo lửa nhiệt, để khi một tổ chức khác, chiến dịch ONE, có thể thực sự xuất hiện ở Berlin, Paris hay London, chúng tôi xin ngân sách lớn của các chính phủ và tiếp cận theo hướng đó.

F: Bono là nhà hoạt động trở thành nhà tư bản. Còn Bill, ông luôn là nhà tư bản và nhà từ thiện, giờ đây gia tăng cường độ làm việc với các chính phủ. Liệu từ thiện thương nghiệp và phong trào hoạt động xã hội có thể vận hành đơn thương độc mã, hay thực sự cần gắn kết với nhau?

G: Tôi nghĩ chìa khóa cho hoạt động từ thiện là tiếp cận được các khu vực lớn hơn như chính phủ và cộng đồng kinh doanh. Chẳng hạn bạn có một mục tiêu, như giảm số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong mỗi năm. Từ thiện trực tiếp là sáng chế ra vaccine mua vaccine, vận chuyển, nhưng không hẳn giải quyết cốt lõi vấn đề. Trừ khi bạn có những cái đầu tinh nhạy trong các công ty dược can dự vào quá trình sáng chế, trừ khi bạn có được ngân sách hỗ trợ từ các chính phủ giàu có, và trừ khi bạn thuyết phục được người ở địa bàn hỗ trợ – trong nhiều trường hợp là làm việc với các quốc gia đang phát triển giám sát cách họ đào tạo và quản lý những người làm trong trong mảng chăm sóc sức khỏe ban đầu – chỉ can dự sâu vào những việc đó, bạn mới tạo ra ảnh hưởng.

Có những công đoạn trong nghiên cứu, ví dụ tìm ra vaccine sốt rét, nhà từ thiện có thể trợ vốn cho phần lớn quá trình nghiên cứu. Nhưng đến công đoạn vận chuyển, ngân sách hỗ trợ 130 tỷ USD/năm của các chính phủ phải tập trung vào các quốc gia nghèo này, đảm bảo số tiền được sử dụng chính đáng để khoản tiền ấy sẽ không bị cắt đi vì các vấn đề ngân sách và bạn phải thu hút sức mạnh khu vực tư nhân, nơi tạo đà phát triển của các quốc gia này – đó là cách để thắng lợi và có số tiền đó trong 15 năm tới.

F: Tham nhũng là rào cản lớn. Làm sao ông đảm bảo tiền vào các quốc gia này không chảy vào túi các chính phủ tệ hại?

G: Điều này phụ thuộc vào lĩnh vực bạn hoạt động: đo đạc chính xác đến đâu. Trong y tế, tính toán bao nhiêu người sống nhờ nhận được thuốc trị HIV rất rõ ràng, cũng như tính toán độ phủ của vaccine giúp đẩy lùi bệnh sởi, để giảm chi phí từ hơn 1 triệu xuống 300 nghìn USD/năm. Đó là những tính toán trực tiếp. Và vì bạn mua vaccine và đưa chúng đến một quốc gia, bạn biết mình tốn một ít tiền đào tạo, chi phi nhân công, và có thể vài phần trăm trong đó sẽ bay hơi.

Nhưng việc này không giống như xây đường, khi gửi tiền cho chính phủ và không có con đường nào được xây, hay bạn biết rằng mình phải trả gấp đôi số cần có. Lĩnh vực y tế và nông nghiệp vốn rất quan trọng ở những nước nghèo nhất (để người dân có quyền khám sức khỏe, đảm bảo về dinh dưỡng), bạn có thể làm được trong môi trường mà tỉ lệ tham nhũng nhiều nhất là 5%. Và nếu bạn không thể chấp nhận được vài phần trăm đó, giống như người mới bước chân vào nghề, thì bạn là người theo chủ nghĩa lý tưởng và không chơi được cuộc chơi giúp các quốc gia nghèo.

B: Có cách trị bệnh tham nhũng. Ít nhất có một loại vaccine. Chúng tôi gọi đó là minh bạch. Một trong những điều chúng tôi làm trong chiến dịch ONE, và vẫn đang làm nhờ sự hỗ trợ từ Bill và Melinda Gates, là tạo ra cuộc cách mạng về tính minh bạch. Làn sóng minh bạch đang đến qua tất cả các phương thức thương mại, soi rọi mọi giao dịch để người ta có thể nhìn thấy điều gì đang diễn ra và tự đánh giá liệu chính phủ của họ có đang điều hành tốt không.

F: Nói đến minh bạch là nói đến những con số. Bono, gần đây ông đã bước ra khỏi “tủ kính”: Ông đã thừa nhận mình ghiền con số. Ông nói một chút về việc ghiền con số này xem.

B: Tôi đang giả vờ giống Bill thôi mà. Tôi là người Ireland, chúng tôi dễ thể hiện cảm xúc. Tôi đã học cách trở thành nhà hoạt động dựa vào cứ liệu, để bỏ qua những thứ bề mặt, tìm ra những gì hoạt động được và những gì không. Lặp lại và tăng cường những thứ làm được, ngưng làm những gì vô ích. Tôi không xuất thân từ truyền thống hippie, nghĩ rằng hãy nắm tay nhau và thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

Tôi thực sự thích tính toán. Toán quá hay! Gần đây, tôi kể với mọi người là có 9 triệu người đang dùng thuốc điều trị AIDS. Năm 2003, chỉ có 50 ngàn người. Đó là điều phi thường nhất. Tôi chỉ muốn gửi lời cảm ơn đến những người đóng thuế, những người đã chi trả cho việc này. Bởi đó là điều rất đáng kể. Những con sốt tiết lộ thực sự. Trong 10 năm qua, số ca sơ sinh tử vong đã giảm. Tôi nghĩ là giảm 7.256 ca/ngày. Giảm từ 9,4 triệu xuống còn 7,2 triệu, đại loại vậy. Tôi yêu những con số. Chúng thật quyến rũ. Như thể chúng có vần điệu trong đầu tôi vậy.

F: Dựa vào các con số và dữ liệu, đâu là sự thay đổi lớn nhất mà các ông đã tạo ra?

G: Bạn luôn phải học hỏi – đi thực địa, gặp các nhà khoa học, nhìn vào các con số; đó là tổng hợp những mảnh được ghép lại. Với công việc trong mảng y tế, chúng tôi tìm hiểu cách vận hành thực sự các hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, từ đó cho phủ vaccine, dạy người mẹ về những thứ phải làm trước và sau khi sinh, chuyện dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Thật tuyệt vời khi một số quốc gia chi rất ít vào hệ thống y tế ban đầu và họ có 95% số trẻ được tiêm vaccine; một số nước chi rất nhiều mà chỉ có 30%. Và chúng tôi hiểu tầm quan trọng của hệ thống nhân viên và việc cải thiện hệ thống này, cách đo đạc, đào tạo, tuyển dụng.

Trong mảng giáo dục ở Mỹ, thách thức lớn nhất chúng tôi gặp là tập trung vào cấu trúc trường học trong 4 năm học đầu tiên và không tập trung quá nhiều vào việc giúp các giáo viên học hỏi từ những giáo viên xuất sắc nhất. Và điều này đã có tác dụng, giúp cải thiện 10% hay 15% thứ chúng ta gọi là “sáng kiến trường học nhỏ” – nhưng như thế chưa đủ. Vậy nên chúng tôi trập trung vào cách giúp giáo viên nhận phản hồi, về những cách làm đúng để giúp họ cải thiện – một cách thực chất với hệ thống nhân viên của họ chứ không phải chỉ là chuyện trợ cấp – bởi hóa ra đó là bước kế tiếp trong việc phát triển, phân tích và đo lường một cách chuyên nghiệp. Bây giờ chúng ta thấy đó là điều rõ ràng phải làm, nhưng chúng tôi phải mất rất nhiều thời gian và tiền bạc mới đưa được mô hình ban đầu đó vào thực tiễn.

B: Áp dụng tính minh bạch vào phát triển là bài học lớn với chúng tôi. Thật kỳ lạ, nhưng cả hai yếu tố quan trọng nhất trong giao dịch, chúng tôi gọi là trợ lực của phát triển, lại không hề biết rằng đó là hai vế của một phương trình. Người trả thuế và đứa bé sử dụng vaccine hay học sinh được ngồi trong lớp. Điều này phải thay đỏi. Và một khi làm được, tôi nghĩ là sẽ thật tuyệt.

Chẳng hạn, tôi nhớ là chúng tôi đã làm việc trong mảng xóa nợ, và chúng tôi ở trong một khu ổ chuột ngoại ô Accra (Ghana). Ở đó không có nhà vệ sinh, hay bất cứ cái gì tương tự, cho 80 ngàn người sinh sống. Vài năm sau, sau cuộc chiến xóa nợ và khiến chính phủ Ghana chi số tiền này chính đáng, tôi đã nhìn thấy các nhà vệ sinh! Khi ấy tôi nghĩ, “Chà, mình phải thử mới được!” Tôi ngồi vào, và xin thứ lỗi trước nhé, tôi đứng ở đó và nhìn lên tường, thấy đề dòng chữ “Do HIPC tài trợ”. HIPC là cái gì? Để tôi nói cho quí vị nghe, đó là ý tưởng của Liên hợp quốc có tên Sáng kiến cho các quốc gia nghèo nặng nợ. Và nhóm này đi đầu trong công cuộc xóa nợ. Đó là chữ viết tắt của họ! Ai mà biết đó là cái gì?

Khi trình bày với Tổng thống Bush về đề án AIDS trong phòng bầu dục, tôi nhớ mình nói với ông ấy, “Ngài có thể sơn viên thuốc màu đỏ, trắng và xanh nếu cần, thưa Tổng thống. Nếu là như thế, đó sẽ là cách quảng cáo tuyệt vời nhất cho nước Mỹ”. Và đúng là như vậy.

F: Giả sử chuyện đó không diễn ra như ý ông, tôi tin chắc là lĩnh vực vận động hành lang tại Washington vẫn có công việc tốt dành cho ông. Tôi biết ông xuất thân từ gia đình kinh doanh – và ông có lẽ là người vận động hành lang hiệu quả nhất thế giới. Sao ông làm được điều đó?

B: Xin cảm ơn. Quan trọng là phải có ý tưởng. Khi chúng tôi họp với Angela Merkel, hoặc tôi và Bill cùng đi gặp khá nhiều quan chức chính phủ Pháp vài tháng trước, chúng tôi mang theo những ý tưởng giải quyết vấn đề chúng tôi đang trình bày. Chiến lược của chúng tôi, bạn có thể gọi nó là thao tác từ bên trong nhưng bên ngoài tỏ ra linh động, luôn có những lúc bạn cần ghé tai nhà làm luật và chỉ cần nói (nếu họ tỏ ra thô lỗ với bạn): “Đó sẽ là một dấu ấn lớn…”

F: Câu hỏi cuối, Các ông chịu nhiều áp lực vì ai cũng chờ đợi những thay đổi lớn. Liệu hành động hứng khởi ban đầu có tạo ra áp lực cho bản thân các ông trong những công việc tiếp sau đó?

G: Có chứ. Nhưng vui mà. Bạn có khả năng thất bại. Tôi nghĩ lòng hảo tâm của Warren dành cho quỹ sẽ khiến áp lực còn lớn hơn. Vì nếu đó là tiền bạn tự làm ra, bạn sẽ nghĩ, “Được thôi, mình có quyền phạm lỗi”. Còn với tiền của ông ấy, ngay cả khi ông tử tế nói là thôi, thất bại cũng không sao, tôi cũng cảm thấy mình không nên thất bại. Nhưng việc này thú vị mà. Bạn muốn mình thức dậy vào buổi sáng và nghĩ, liệu mình có làm việc đủ siêng năng? Liệu mình có suy nghĩ đủ kỹ càng? Liệu mình có tìm đúng người? Tại sao thứ mình nghĩ sẽ suôn sẻ lại không như thế? Việc làm của tôi mang tính “động”, và tôi thấy vui về thách thức đó. Làm từ thiện bao hàm tất cả góc cạnh của những việc tôi từng làm trước đó.

B: Tôi vẫn không thôi cống việc chính, hàng ngày của mình, dù luôn có khả năng là U2 sẽ ra album mà không ai mua. Và theo như ban nhạc của tôi, nếu tôi vẫn cứ thế này, thì việc U2 thất bại sẽ đến nhanh hơn chúng tôi nghĩ. Công việc của tôi khá khó, vì tôi phải cân bằng giữa vai trò nghệ sĩ, vốn là điều thiên phú, và người bán hàng. Ở U2, tôi bán giai điệu. Tôi bán bài hát. Ở đây, tôi tìm cách bán các ý tưởng, nhưng tôi phải tin vào ý tưởng của mình, tin tôi là người bán hàng tốt. Có một áp lực to lớn là bạn không muốn làm dở công việc mình được giao. Tôi cảm thấy điều đó, và tôi cảm thấy bất cứ ai trong ONE cũng cảm thấy điều đó và ai trong RED cũng vậy, bởi chúng tôi đang phục vụ người khác. Mặc dù được Nelson Mandela nhờ vả, còn Desmond Tutu lúc nào cũng hăm dọa nếu chúng tôi không tiếp tục làm thiện nguyện, chúng tôi sẽ không được lên thiên đàng, thì vẫn có áp lực nội tại như Bill nói.

Trong công việc này, bạn đôi khi thấy người ta tuyệt vọng, vì thường xuyên là việc giằng xé giữa sự sống và cái chết. Thế nên may mà Bill và tôi uống cũng nhiều. Đùa thôi. Nhưng thực sự chúng tôi rất vui khi làm việc này. Thật hứng khởi khi thấy quá trình thay đổi trong 10 năm qua. Và lại có dịp qua lại với Warren Buffett, ông ấy kể chuyện tiếu lâm hơi bị buồn cười đấy.

Nguồn: Forbes 01/2014

Tương lai của hoạt động từ thiện


Matthew Bishop

Ngày 14.5.2013 sẽ đánh dấu 100 năm ra đời của Quỹ Rockefeller, với kỳ vọng thúc đẩy sự thịnh vượng của nhân loại trên toàn thế giới. Quỹ này nhanh chóng trở thành nổi tiếng nhất trong thời hoàng kim của hoạt động từ thiện, sử dụng khối tài sản khổng lồ của J.D.Rockefeller – người sáng lập Quỹ – để tạo ra hoặc góp phần xây dựng nên những tổ chức lớn của nước Mỹ ở thế kỷ 20, từ Hội Chữ thập đỏ đến Đại học Chicago. Quỹ cũng giúp cứu sống hàng triệu người thông qua việc hỗ trợ nghiên cứu trong lĩnh vực y tế công cộng toàn cầu (chẳng hạn như việc tìm kiếm loại vắcxin chống lại bệnh sốt vàng da) và nông nghiệp (cộng tác với Norman Borlaug để mang lại cuộc cách mạng xanh trong sản xuất lương thực ở châu Á).

Lễ kỷ niệm 100 năm đến vào lúc Bill Gates và Warren Buffett đang nỗ lực hướng đến một thời kỳ mới đầy hứa hẹn cho hoạt động từ thiện: cả hai ông vừa đóng góp tài sản cá nhân khổng lồ, vừa khuyến khích các tỷ phú khác tham gia vào chương trình Giving Pledge, cam kết đóng góp một nửa số tài sản của họ vì những mục đích tốt đẹp. Vậy thế kỷ tới, hoạt động từ thiện có thể mang lại những gì?

Quỹ Rockefeller sẽ vẫn còn đón chào lễ kỷ niệm năm 2113, nhưng Quỹ Bill & Melinda Gates Foundation có thể không còn. J.D.Rockerfeller thành lập một nền tảng ổn định, hoạt động lâu dài; trong khi tất cả số tiền ủng hộ vào quỹ Gates phải được chi tiêu trong vòng 50 năm sau ngày mất của người sáng lập còn lại cuối cùng (ông bà Gates và ông Buffett). Gia đình nhà Gates và ông Buffett nằm trong số ngày càng nhiều những nhà hảo tâm tin tưởng rằng, tiền của họ sẽ được sử dụng tốt hơn nếu nó được sử dụng khi họ vẫn còn tồn tại trong ký ức. Mười năm tới hoặc hơn một chút sẽ đặc biệt quan trọng trong việc định hình tương lai của hoạt động từ thiện. Cũng như J.D.Rockerfeller theo đuổi những gì mà ông gọi là “làm từ thiện có khoa học”, kết nối các chuyên gia để tìm câu trả lời cho những vấn đề lớn, ngày nay gia đình nhà Gates và những người khác kỳ vọng rằng hoạt động từ thiện của họ là để giúp vượt qua những thách thức ghê gớm nhất của thế giới. Nếu những điều này thành hiện thực, rất nhiều doanh nhân thành đạt sẽ tham gia làm từ thiện, với suy nghĩ rằng họ có thể tạo sự khác biệt. Nhưng nếu kết quả không khác biệt trong thập kỷ tới, nhiều người sẽ có thể từ bỏ công việc từ thiện vì nó chỉ là “mốt” nhất thời. Hoàn thành việc xóa bỏ bệnh bại liệt còn tồn tại ở ba nước và tiếp tục giảm đáng kể số người chết vì bệnh sốt rét trong thời gian gần đây sẽ là những nhiệm vụ được theo dõi chặt chẽ.

Ràng buộc với số người chiếm một phần trăm

Một số thắng lợi nhanh chóng của những nhà hảo tâm mới này sẽ giảm nhiệt cho không khí sôi sục chống người giàu đang ngày càng gay gắt hơn trên toàn thế giới; thậm chí có thể hình thành cơ sở cho một ràng buộc xã hội mới, trong đó sự khác biệt lớn về tài sản cá nhân được chấp nhận nếu những người giàu nỗ lực nghiêm túc để cho đi một cách hào phóng và hiệu quả.

Trong thời kỳ của J.D.Rockefeller khi quy mô còn nhỏ, một nhà hảo tâm có thể tự giải quyết vấn đề. Ngày nay, rõ ràng các giải pháp chỉ có tác dụng khi các nhà từ thiện có khả năng hợp tác hiệu quả không chỉ với lĩnh vực phi lợi nhuận mà cả với chính phủ và doanh nghiệp khác. Một số người coi việc làm từ thiện như đầu tư vốn mạo hiểm hay đặt cược dài hạn sẽ bị các nhà cung cấp tài chính khác lảng tránh.

Ngày nay chính phủ và các nhà hảo tâm nói nhiều về quan hệ đối tác với nhau. Tuy nhiên, quá trình hợp tác liệu có được thực hiện đúng như họ đã hứa? Một phép thử quan trọng sẽ là những người đóng góp tiền lo ngại về biến đổi khí hậu có thể sử dụng tiền của họ để chuyển hướng quan tâm của các chính trị gia tới mối đe dọa lâu dài này. Ý tưởng cho rằng các nhà hảo tâm nên làm việc với công ty lớn cũng sẽ được xem xét cặn kẽ. Không loại trừ khả năng các công ty khổng lồ như Nike, Pepsico và Unilever sử dụng việc làm từ thiện để che đậy những mục đích sâu xa của họ trong công việc kinh doanh. Các doanh nghiệp quan tâm hơn tới sự nghiệp từ thiện cũng có thể vì tin rằng những nhân sự xuất sắc nhất sẽ gia nhập vào lực lượng lao động của họ một phần vì ý nghĩa xã hội chứ không chỉ tiền bạc.

Tương tự như vậy, người ta cũng bày tỏ nhiều hy vọng về “đầu tư tác động”: đầu tư để đạt được hiệu quả cả về tài chính, xã hội và môi trường. Những bên đã ký vào cam kết Giving Pledge sẽ cùng xem xét kỹ hình thức đầu tư này trong năm 2013.

Sản phẩm đầu tư có thể tạo ra bước đột phá sẽ là trái phiếu thuộc loại “tác động xã hội”, đầu tư vào các chương trình của chính phủ có hứa hẹn lợi nhuận trong dài hạn. Tuy nhiên, các chính trị gia sẽ phải thận trọng khi theo đuổi những chương trình này. Các nhà đầu tư vào các loại trái phiếu tác động xã hội được trả lợi nhuận từ các khoản tiết kiệm – cũng chính là kết quả của chương trình trên. Trái phiếu đầu tiên thuộc loại này được thiết kế tại Anh để hỗ trợ một chương trình giảm tỷ lệ tái phạm tội của những tù nhân ra trại. Phần lớn các nhà hảo tâm đã đồng ý móc hầu bao. Ý tưởng này hiện nhận được sự chú ý của các chính phủ trên khắp thế giới, nhưng vì có rủi ro nên nó cần đến những nhà đầu tư sẵn lòng chịu mất số tiền này với hy vọng gia tăng một loại tài sản mới.

Phong trào làm từ thiện cũng sẽ lớn mạnh trên toàn cầu, khi có thêm nhiều quốc gia trở nên giàu có và tạo ra những người siêu giàu. Những quốc gia này không thể sao chép chính xác các hình thức hoạt động từ thiện đang có ở Mỹ, thay vào đó, sẽ tìm cách phù hợp với văn hóa của mình. Như chính các ông Buffett và Gates nhận thấy trong chuyến đi nước ngoài để vận động, các ông trùm tư bản tại các nền kinh tế mới nổi không nhiệt tình với cam kết Giving Pledge như những tư bản Mỹ. Lo lắng về những đứa con được nuông chiều của mình, họ thiên về các hoạt động từ thiện theo cách thức của gia đình nhà Rockefeller để giữ gìn các giá trị đã được tạo dựng qua nhiều thế hệ.

Sự lớn mạnh của truyền thông xã hội cũng sẽ làm thay đổi hoạt động từ thiện, cũng giống như nó đang làm thay đổi gần như tất cả mọi thứ khác. Ví dụ, các trang web mang đến cho các nhà tài trợ sự tương tác trực tiếp với một cá nhân hay cộng đồng có nhu cầu sử dụng tiền của họ sẽ củng cố và khuyến khích mọi người đóng góp, dù số tiền không lớn. Quan trọng hơn nữa, những người được hưởng lợi từ những khoản đóng góp này sẽ có khả năng mà họ chưa từng có trước đây, đó là gửi phản hồi tới nhà tài trợ và thậm chí gợi ý việc cho tiền nên được tiến hành như thế nào.

Tuy nhiên, trong dài hạn, tương lai của hoạt động từ thiện sẽ phụ thuộc trên hết vào sự tiến bộ của thế giới trong việc giải quyết các vấn đề nhân đạo. Vào cuối thế kỷ 20, nhận thức mới về nghèo đói toàn cầu và mối đe dọa mới của biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến một sự thay đổi trong hoạt động từ thiện hướng tới những việc có tính cấp bách hơn chứ không đổ vào nghệ thuật. “Tôi không đem tiền cho các nhà hát opera”, ông Gates từng nói. Nếu như thế kỷ 21 kết thúc mà biến đổi khí hậu không còn là vấn đề hoặc nhân loại đã thích nghi được, còn đói nghèo trở thành quá khứ nhờ một phần vào vai trò xúc tác của hoạt động từ thiện thì xu hướng này mới bị đảo ngược. Đến năm 2113, hoạt động từ thiện có lẽ sẽ không còn tập trung vào việc đảm bảo các nhu cầu cơ bản – việc đó đã hoàn thành – mà vào nghệ thuật và những thứ cao cả hơn. Đó thực sự sẽ là điều đáng để ăn mừng.

Nguồn: The Economist – Thế giới 2013

Tạo lập giá trị chung – Phần II


Những nguồn gốc của giá trị chung

Ở cấp độ rất cơ bản, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và sự khỏe mạnh của cộng đồng xung quanh nó có một mối liên quan gắn chặt với nhau. Hoạt động kinh doanh cần cộng đồng thành công, không chỉ để tạo ra nhu cầu cho sản phẩm của doanh nghiệp mà còn cung cấp những tài sản công cộng then chốt cùng một môi trường khuyến khích cho kinh doanh. Một  cộng đồng cần các hoạt động knh doanh thành công để cung cấp việc làm và sự thịnh vượng tạo ra những cơ hội cho công dân của cộng đồng đó. Sự phụ thuộc lẫn nhau có nghĩa rằng  những chính sách công làm suy yếu hiệu suất và khả năng cạnh tranh của các họat động kinh doanh là tự chuốc lấy thất bại, đặc biệt là trong một nền kinh tế toàn cầu nơi việc tạo thuận lợi và việc làm có thể dễ dàng di chuyển tới bất cứ đâu. Các tổ chức phi chính phủ và các chính phủ chưa thường thực sự đánh giá cao sự gắn kết này.

Trong quá khứ, theo quan điểm hẹp về chủ nghĩa tư bản, hoạt động kinh doanh đóng góp cho xã hội bằng cách tạo ra lợi nhuận, mà nó trợ giúp tạo việc làm, trả lương, mua hàng, đầu tư và nộp thuế. Hoạt động kinh doanh được điều khiển thường có đủ lợi ích xã hội. Một doanh nghiệp nói chung là một thực thể độc lập và các vấn đề xã hội hay cộng đồng xảy ra bên ngoài phạm vi sở hữu của nó. (Đây là luận cứ đã được phát triển một cách thuyết phục bởi Milton Friedman trong phê phán của ông về khái niệm tổng thể về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp).

“Giá trị chung” là gì?Khái niệm về giá trị chung có thể được định nghĩa như những chính sách và hoạt động thực tiễn nhằm củng cố khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trong khi đồng thời nâng cao các điều kiện kinh tế và xã hội trong những cộng đồng mà nó hoạt động. Việc tạo ra giá trị chung tập trung vào việc xác định và mở rộng các kết nối giữa tiến bộ xã hội và kinh tế.Khái niệm dựa trên giả thuyết rằng cả tiến bộ xã hội và kinh tế đồng thời cần chú trọng vào việc sử dụng các nguyên tắc giá trị. Giá trị được định nghĩa như những lợi ích tương ứng với các chi phí, không chỉ là lợi nhuận không. Việc tạo ra giá trị là một ý tưởng mà nó đã được nhận thức từ lâu trong kinh doanh, ở đó lợi nhuận là tổng thu nhập có được từ các khách hàng trừ đi chi phí đã bỏ ra. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh hiếm khi tấp cận các vấn đề xã hội từ quan điểm giá trị mà xử lý chúng như các vấn đề ngoại vi. Điều này đã che khuất các mối liên hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.

Trong khu vực xã hội, tư duy về mặt giá trị thường ít phổ biến. Các tổ chức xã hội và các thực thể chính phủ thường nhìn nhận thành công đơn thuần dưới nghĩa lợi nhuận có được hay tiền được sử dụng. Khi chính phủ và các tổ chức NGO bắt đầu nghĩ đến nhiều hơn về mặt giá trị, lợi ích của họ trong việc phối hợp với các hoạt động kinh doanh sẽ bắt buộc tăng lên.

Quan điểm này đã thấm sâu vào tư duy quản trị trong suốt hai thập kỷ qua. Các doanh nghiệp tập trung vào những lôi kéo khách hàng mua càng nhiều càng tốt sản phẩm của họ. Đối mặt với sự gia tăng của cạnh tranh và những áp lực về hiệu quả ngắn hạn từ các cổ đông, các nhà quản lý phải viện đến đến những làn sóng tái cấu trúc, giảm bớt nhân sự, tái phân bố lại tới những vùng có chi phí thấp hơn, trong khi tác động đến bảng cân đối về suất hồi vốn của các nhà đầu tư. Các kết quả thường là quá trình chuyển hóa sản phẩm thành hàng tiêu dùng, cạnh tranh giá cả, đổi mới thực sự một chút, tăng trưởng hữu cơ chậm, và lợi thế cạnh tranh không rõ ràng.

Theo cách cạnh tranh này, cộng đồng nơi mà doanh nghiệp hoạt động nhận thức ít được hưởng lợi ngay cả khi lợi nhuận tăng. Thay vào đó, họ nhận thấy rằng lợi nhuận đổ dồn vào chi phí của họ, một ấn tượng đã trở nên mạnh mẽ hơn trong thời kỳ phục hồi kinh tế hiện nay, trong đó thu nhập gia tăng đã được dành quá ít để bù đắp cho thất nghiệp cao, tình cảnh khó khăn về kinh doanh của địa phương, và những áp lực cao về các dịch vụ cộng đồng.

Nhưng không phải luôn theo cách này. Các công ty tốt nhất trước kia đã đảm nhận một phạm vi rộng những vai trò trong việc đáp ứng những nhu cầu của công nhân, cộng đồng, và trợ giúp các hoạt động kinh doanh. Khi những thể chế xã hội khác xuất hiện trên sân khấu, ở một chừng mực, những vai trò này đã bị giảm đi hay được ủy thác. Sự rút ngắn giới hạn về thời gian của nhà đầu tư đã thu hẹp tư duy về những đầu tư thích hợp. Khi các doanh nghiệp tích hợp theo chiều dọc đã phải dựa nhiều hơn vào những nhà cung cấp bên ngoài, thuê ngoài và đưa ra nước ngoài đã làm suy yếu sự kết nối giữa các doanh nghiệp và các cộng đồng của chúng. Khi các doanh nghiệp dịch chuyển những hoạt động khác nhau tới nhiều ngày càng nhiều nơi, họ thường thiếu sự gắn kết với bất kỳ một địa phương nào. Thực vậy, nhiều công ty không còn nhận thức về một quê hương, mà nhìn chính mình như những công ty “toàn cầu”.

Những biến chuyển này đã định hướng những tiến bộ chính yếu trong hiệu suất kinh tế. Tuy nhiên, một số vấn đề hết sức quan trọng đã bị lạc hướng trong tiến trình, như những cơ hội nền tảng hơn để tạo ra giá trị đã bị thiếu mất. Phạm vi của tư duy chiến lược đã bị thu hẹp lại.

Lý thuyết chiến lược tin rằng để thành công, một công ty cần phải tạo ra một đề xuất giá trị khác biệt mà nó đáp ứng được những nhu cầu của một tập hợp chọn lựa của các khách hàng. Công ty có được lợi thế cạnh tranh từ việc làm thế nào nó định hình được chuỗi giá trị, hay một tập hợp các hoạt động tập trung vào việc sáng tạo, sản xuất, bán hàng, phân phối và trợ giúp các sản phẩm và dịch vụ của mình. Trong nhiều thập niên các doanh nhân đã nghiên cứu việc định vị và phương cách tốt nhất để thiết kế các hoạt động và tích hợp chúng. Tuy nhiên, các công ty đã bỏ sót những cơ hội đáp ứng những đòi hỏi xã hội mang tính nền tảng và thiếu sự hiểu biết làm thế nào những tổn thương và yếu kém xã hội tác động lên các chuỗi giá trị. Tầm nhìn của chúng ta đơn giản là quá hẹp.

Trong việc thấu hiểu về môi trường kinh doanh, các nhà quản lý tập trung hầu phần lớn sự chú ý của mình vào lĩnh vực công nghiệp, hay các hoạt động kinh doanh đặc thù mà doanh nghiệp có thể cạnh tranh tốt. Đó là bởi vì cấu trúc ngành công nghiệp có những ảnh hưởng mang tính quyết định lên lợi nhuận của doanh nghiệp. Những gì đã bỏ qua, do vậy, tác động sâu sắc đến vị trí có thể có năng suất và đổi mới. Các công ty đã thất bại trong việc hiểu được tầm quan trọng to lớn của môi trường kinh doanh xung quanh các hoạt động chủ chốt của mình.

Giá Trị Chung được tạo lập như thế nào?

Các công ty có thể tạo ra giá trị kinh tế bằng việc tạo ra giá trị xã hội. Có ba cách khác nhau để thực hiện điều này: bằng việc nhận thức lại về các sản phẩm và thị trường, tái xác định lại năng suất trong giá trị chuỗi, và xây dựng các cụm công nghiệp phụ trợ tại những nơi công ty hoạt động. Mỗi cách trong ba cách này là một phần của vòng tròn đạo đức của giá trị chung; việc cải thiện giá trị trong mỗi vùng mang đến sự gia tăng những cơ hội cho những vùng còn lại.

Khái niệm về giá trị chung xác định lại những đường biên của chủ nghĩa tư bản. Bằng việc kết nối tốt hơn sự thành công của các công ty với những cải thiện xã hội, điều này đã mở ra nhiều cách thức để đáp ứng những đòi hỏi mới, đạt được hiệu suất, tạo ra sự khác biệt, và mở rộng thị trường.

Khả năng tạo ra giá trị chung tác động một cách công bằng tới các nền kinh tế đã phát triển và các nước đang phát triển, mặc dù những cơ hội đặc biệt sẽ khác nhau. Các cơ hội cũng sẽ khác nhau rõ ràng giữa các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp – nhưng mỗi ty đều có cơ hội. Và lĩnh vực cùng phạm vi của chúng thì rộng hơn nhiều so với cái mà chúng ta đã biết. [Ý tưởng về giá trị chung được khám phá đầu tiên vào tháng 12 năm 2006 trong bài viết trên HBR của Michael E. Porter và Mark R. Kramer, “ Chiến lược và Xã Hội: Mối quan hệ giữa lợi thế cạnh tranh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”]

Nhận thức lại về sản phẩm và thị trường

Những đòi hỏi của xã hội là rất lớn – sức khỏe, nhà cửa tốt hơn, dinh dưỡng được cải thiện, trợ giúp người già, an ninh tài chính tốt hơn, tổn hại môi trường thấp hơn. Người ta có thể cho rằng, chúng là những nhu cầu không được thỏa mãn tối đa trong nền kinh tế toàn cầu. Trong kinh doanh, chúng ta trải qua nhiều thập kỉ để học cách làm sao phân tích loại hình và tạo ra nhu cầu trong khi lại bỏ sót nhu cầu quan trọng cho tất cả mọi người. Rất nhiều công ty đã bị lạc hướng tầm nhìn trong những câu hỏi căn bản nhất: Sản phẩm tốt của chúng ta để cho những khách hàng của chúng ta là gì? Hay để cho khách hàng của khách hàng của chúng ta?

Trong nền kinh tế đã phát triển, nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng các nhu cầu của xã hội đang tăng lên một cách nhanh chóng. Các công ty thực phẩm mà theo truyền thống tập trung vào khẩu vị và số lượng để định hướng ngày càng nhiều hơn việc tiêu dùng đang tập trung vào đòi hỏi căn bản về dinh dưỡng tốt hơn. Intel và IBM cả hai đang tạo ra những cách thức để giúp các tiện ích khai thác trí tuệ số nhằm tiết kiệm trong việc sử dụng năng lượng. Wells Fargo đã phát triển dòng sản phẩm và công cụ giúp lập ngân sách khách hàng, quản trị tín dụng, và trả nợ. Doanh số của GE’s Ecomagination đạt đến 18 tỷ USD trong 2009 – đứng thứ 150 trong bảng xếp hạng của Fortune. GE hiện tại dự đoán doanh thu sản phẩm của Ecomagination sẽ tăng trưởng gấp đôi tỷ lệ tổng doanh thu trong năm năm tới.

Bằng nhiều cách này hay cách khác, toàn bộ những con đường mới để đổi mới đang mở ra, và giá trị chung đã được tạo ra. Lợi ích của xã hội thậm chí còn lớn hơn, bởi vì các hoạt động kinh doanh thường có hiệu quả xa hơn các chính phủ và tổ chức phi lợi nhuận trong việc thực hiện marketing để thúc đẩy khách hàng mua sản phẩm và dịch vụ để tạo ra những lợi ích xã hội, như thực phẩm tốt cho sức khỏe hơn hay những sản phẩm thân thiện với môi trường.

Cơ hội công bằng hay tốt hơn xuất hiện từ việc phục vụ cộng đồng bất lợi thế và và quốc gia đang phát triển. Mặc dù, các đòi hỏi của xã hội thậm chí còn nhiều bức xúc đó, những cộng đồng này vẫn chưa được nhìn nhận như những thị trường tiềm năng. Ngày nay, sự chú ý được đặt vào Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil mang đến những doanh nghiệp hàng triệu khách hàng mới ở chân của kim tự tháp – một khái niệm thuyết phục được làm rõ bởi C.K. Prahalad. Nhưng các quốc gia này luôn có những đòi hỏi lớn, cũng như nhiều quốc gia đang phát triển.

Cơ hội tương tự đang chờ đợi trong các cộng đồng phi truyền thống tại các quốc gia đã phát triển. Chúng ta đã học được, chẳng hạn, rằng những khu thành thị nghèo nàn là thị trường chưa được đáp ứng đầy đủ nhất của Mỹ; sức mua tập trung đáng kể của họ đã thường bị bỏ sót. (Hãy xem nghiên cứu về Sáng kiến cho một thành phố bên trong cạnh tranh, tại icic.org)

Lợi ích xã hội của việc cung cấp sản phẩm thích hợp cho các khách hàng có thu nhập thấp và bất lợi thế có thể đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ, khi mà lợi nhuận của các công ty là một vấn đề đáng kể. Chẳng hạn, điện thoại di động giá rẻ mà nó có cung cấp những dịch vụ ngân hàng di động đã giúp cho người nghèo tiết kiệm tiền một cách đảm bảo và chuyển đổi khả năng của các nông gia nhỏ sản xuất và bán ra thị trường những nông sản của họ. Tại Kenya, các dịch vụ ngân hàng di động M-PESA của Vodafone đã có tới 10 triệu khách hàng đăng ký trong ba năm; các nguồn quỹ nó kiểm soát hiện đã chiếm 11% GDP quốc gia. Tại Ấn Độ, Thomson Reuteurs đã phát triển một dịch vụ hàng tháng đầy hứa hẹn cho những nông gia có thể kiếm được trung bình 2000 USD một năm. Với một khoản phí 5 USD mỗi quý, nó cung cấp thông tin về thời tiết và giá cả nông sản cùng trợ giúp nông nghiệp. Dịch vụ đã đạt được khoảng 2 triệu nông gia, và nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng nó đã giúp gia tăng thu nhập của họ hơn 60% – trong một số trường hợp thậm chí thu nhập còn tăng gấp ba lần. Khi chủ nghĩa tư bản bắt đầu hoạt động trong các cộng đồng nghèo, những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội theo cấp số mũ.

Đối với một doanh nghiệp, điểm khởi đầu trong việc tạo ra hình thức này của giá trị chung là xác định tất cả nhu cầu và lợi ích cùng với những tổn thương của xã hội, mà nó là hay có thể được gắn kết với các sản phẩm công ty. Cơ hội thì không tĩnh tại, chúng thay đổi liên tục khi kỹ thuật được cải tiến, kinh tế phát triển, và những ưu tiên xã hội chuyển dịch. Một nghiên cứu đang diễn ra về các đòi hỏi của xã hội sẽ dẫn dắt các công ty khám phá ra những cơ hội mới để tạo ra sự khác biệt và tái định vị trong các thị trường truyền thống, và nhận ra tiềm năng của các thị trường mới mà họ đã bỏ sót trước đó.

Để đáp ứng những đòi hỏi trong các thị trường chưa được phục vụ thường đòi hỏi các sản phẩm được thiết kế lại hay các phương pháp phân phối khác. Những đòi hỏi này có thể mở ra những đổi mới căn bản mà cũng có thể áp dụng trong các thị trường truyền thống. Tài chính vi mô, chẳng hạn, đã được khám phá để đáp ứng những đòi hỏi tài chính chưa được đáp ứng trong các quốc gia đang phát triển. Bây giờ nó đang tăng trưởng nhanh chóng tại Mỹ, nơi nó đang lấp đầy một khoảng trống quan trọng mà chưa được nhận thấy.

Ranh giới không mờ nhạt giữa lợi nhuận và phi lợi nhuận.Khái niệm về giá trị chung làm mờ đi ranh giới giữa tổ chức vì lợi nhuận và phi lợi nhuận. Những loại hình mới của doanh nghiệp lai đang xuất hiện một cách nhanh chóng. Ví dụ công ty Quốc tế Water Health, có sự tăng trưởng nhanh về lợi nhuận, sử dụng kĩ thuật lọc nước đổi mới để phân phối nước sạch với chi phí thấp nhất cho hơn 1 triệu người ở nông thôn Ấn Độ., Ghana và Philippin. Các nhà đầu tư của công ty gồm không chỉ các tổ chức tập trung về mặt xã hội như Quỹ Acumen và IFC của Ngân hàng Thế giới mà còn cả quỹ mạo hiểm của Dow Chemical. Revolution Foods, một nguồn vốn mạo hiểm có bốn năm tuổi được chống lưng bởi Mỹ khởi đầu, cung cấp 60 000 bữa ăn tươi, giàu sức khỏe và dinh dưỡng cho sinh viên hàng ngày – và như vậy tổng lợi nhuận cao hơn các đối thủ cạnh tranh truyền thống. Western Concern, một doanh nghiệp lai vì lợi nhuận/phi lợi nhuận bắt đầu tại Bangladesh 15 năm qua, đã xây dựng được khả năng chuyển đổi 700 tấn rác, được thu gom hàng ngày từ các khu ổ chuột lân cận, thành phân hữu cơ, bằng cách đó giúp tăng sản lượng ngũ cốc và giảm khí thải CO2. Phát triển từ nguồn vốn của Lions Club và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), công ty đã cải thiện các điều kiện sức khỏe trong khi kiếm được lợi nhuận bền vững thông qua việc bán phân bón và quyền phát thải.Sự mờ nhạt đường biên giữa thành công về lợi nhuận và phi lợi nhuận là một trong những dấu hiệu mạnh mẽ của việc tạo ra giá trị chung là khả thi
Mối liên kết giữa lợi thế cạnh tranh và các vấn đề xã hộiCó rất nhiều cách để đưa ra các lợi ích xã hội có thể cung cấp những lợi ích hiệu quả cho doanh nghiệp. Các lợi ích xã hội vì nhân viên và gia đình của họ trở nên mạnh khỏe hơn, và doanh nghiệp tối thiểu hóa việc thiếu hụt nhân sự và mất năng suất. Hình vẽ dưới đây miêu tả những lĩnh vực ở đó có những mối liên kết mạnh mẽ nhất.

(còn tiếp)

Người dịch: N.A.Thư – SCDRC

Hiệu đính: T.Giang – SCDRC

—————————

Các bài liên quan:

Tạo Lập Giá Trị Chung – Phần I


Làm thế nào để tái tạo chủ nghĩa tư bản và tạo ra làn sóng đổi mới và tăng trưởng

Michael E. Porter và Mark R. Kramer.

HBR – Jan – Feb 2011

Chủ nghĩa tư bản đang lâm nguy …. Sự suy giảm niềm tin trong kinh doanh là nguyên nhân mà các nhà lãnh đạo chính trị thiết lập những chính sách làm suy yếu tăng trưởng kinh tế. Các hoạt động kinh doanh đã rơi vào một chu kỳ tha hóa (vicious). Mục tiêu của doanh nghiệp cần được xác định lại khắp cả.

Hệ thống chủ nghĩa tư bản đang lâm nguy.Trong những năm gần đây, kinh doanh ngày càng được xem như nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về xã hội, môi trường, và kinh tế. Các công ty đã nhận thức được một cách rộng rãi rằng để có sự thịnh vượng trong kinh doanh thì phải dành chi phí nhiều hơn cho cộng đồng.

Thậm chí tồi tệ hơn, các càng nhiều doanh nghiệp bắt đầu quan tâm đến trách nhiệm xã hội, thì lại càng nhiều doanh nghiệp bị khiển trách về những vấn đề thất bại của xã hội. Tính hợp pháp trong kinh doanh đã bị hạ thấp xuống nhiều cấp mà không được nhìn thấy trong lịch sử hiện tại. Sự suy giảm niềm tin này đã khiến các nhà lãnh đạo chính trị thiết lập ra những chính sách làm suy yếu năng lực cạnh tranh và làm suy giảm tăng trưởng. Các hoạt động kinh doanh đang rơi vào một chu kỳ tha hóa.

Một phần lớn của vấn đề nằm ở chính trong các công ty, khi vẫn mắc bẫy trong cách tiếp cận lỗi thời về việc tạo dựng giá trị mà nó đã xuất hiện nhiều thập kỷ qua. Các công ty này vẫn tiếp tục nhìn nhận việc tạo dựng giá trị một cách thiển cận, tối đa hóa hiệu quả tài chính ngắn hạn trong một cái bong bóng trong khi để lỡ những nhu cầu quan trọng nhất của khách hàng và lờ đi những ảnh hưởng rộng lớn mà nó định đoạt thành công trong dài hạn. Làm sao mà các công ty đã có thể quên mất sự thịnh vượng của những khách hàng của mình, làm suy kiệt những nguồn tài nguyên thiên nhiên sống còn cho hoạt động kinh doanh của mình, cho khả năng tồn tại của những nhà cung cấp chủ chốt, hay sự khốn cùng về kinh tế của các cộng đồng mà trong đó các công ty này đang sản xuất và bán hàng? Làm sao mà các công ty đã có thể nghĩ rằng đơn giản chỉ cần chuyển đổi các hoạt động tới những nơi có mức lương thấp hơn cả là một “giải pháp” bền vững để đối mặt với các thách thức cạnh tranh? Chính phủ và xã hội dân sự thường đã làm trầm trọng hơn vấn đề bằng việc nỗ lực đưa ra những khiếm khuyết xã hội trong chi phí kinh doanh. Sự cân bằng giả định giữa hiệu quả kinh tế và tiến bộ xã hội đã được thể chế hóa trong nhiều thập kỷ của những chọn lựa chính sách.

Nhiều công ty cần đặt lên hàng đầu trong việc đưa hoạt động kinh doanh và xã hội lại cùng với nhau. Một điều thừa nhận là có một mô hình mới đang xuất hiện giữa những hoạt động kinh doanh phức tạp, tư tưởng lãnh đạo và những yếu tố triển vọng. Nhưng chúng ta vẫn còn thiếu một khung khổ tổng thể để chỉ dẫn cho những nỗ lực này, và phần lớn công ty vẫn bị sa lầy trong tư tưởng “trách nhiệm xã hội” mà trong đó những vấn đề xã hội chỉ ở ngoại biên chứ không phải ở trung tâm.

Giải pháp nằm ở nguyên lý về giá trị chung, trong đó bao gồm việc tạo ra giá trị kinh tế theo cách cũng tạo ra các giá trị cho xã hội bằng việc tập trung vào những nhu cầu và thách thức của nó. Hoạt động kinh doanh cần tái kết nối thành công của công ty với những tiến bộ xã hội. Giá trị chung không là trách nhiệm xã hội, không phải là từ thiện, hay thậm chí khả năng chống đỡ, mà là một cách mới để đạt được thành công về mặt kinh tế. Nó không nằm ở biên của cái công ty thực hiện mà nằm ở trung tâm. Chúng tôi tin rằng nó có thể đưa đến sự trỗi dậy sự chuyển đổi quan trọng tiếp tới của tư duy về kinh doanh.

Có một số đang ngày càng nhiều hơn các công ty biết cách tiếp cận rõ ràng của họ đối với hoạt động kinh doanh – như GE, Google, IBM, Intel, Jonhson & Johnson, Nestlé, Unilever, và Wal-Mart – đã thực sự gắn kết những nỗ lực quan trọng để tạo ra giá trị chung bằng việc quan niệm lại sự giao nhau giữa hiệu quả xã hội và hiệu quả doanh nghiệp. Nhưng sự ghi nhận của chúng tôi về sức mạnh chuyển biến của giá trị chung vẫn còn mới ở bước đầu của nó. Việc hiện thực hóa nó đòi hỏi những nhà lãnh đạo và các nhà quản trị phải phát triển những kỹ năng và kiến thức mới – chẳng hạn như một sự đánh giá sâu sắc hơn về các đòi hỏi của xã hội, một sự hiểu biết nhiều hơn về những nền tảng thực sự của hiệu suất doanh nghiệp, và khả năng kết hợp chéo giữa ranh giới lợi nhuận/phi lợi nhuận. Và hệ thống lãnh đạo cần phải học cách làm thế nào để điều tiết theo những cách cho phép tạo ra giá trị chung hơn là chống lại nó.

Chủ nghĩa tự bản không phải là một phương tiện đồng thời đáp ứng được các đòi hỏi của con người, cải thiện hiệu suất, tạo ra việc làm, và xây dựng sự thịnh vượng. Nhưng một khái niệm hẹp về chủ nghĩa tư bản đã cản trở hoạt động kinh doanh bởi việc kiềm hãm những tiềm năng to lớn của nó trong việc đáp ứng những thách thức ngày càng lớn hơn của xã hội. Những cơ hội luôn đi cùng nhưng đã bị bỏ qua. Các hoạt động kinh doanh chỉ là hoạt động kinh doanh, không phải là những tài trợ từ thiện, là tác động mạnh mẽ nhất trong đưa ra những vấn đề cấp thiết mà chúng ta phải đối mặt. Bây giờ là thời điểm cho một khái niệm mới về chủ nghĩa tư bản; những đòi hỏi của xã hội ngày càng nhiều và rộng lớn hơn, trong khi đó các khách hàng, người lao động và thế hệ trẻ mới đang đòi hỏi các hoạt động kinh doanh tiến lại gần.

Mục tiêu của doanh nghiệp cần phải được định nghĩa lại như một sự tạo dựng giá trị chung, không chỉ là tỷ lệ lợi nhuận. Điều này sẽ định hướng làn sóng kế tiếp của sự đổi mới và tăng trưởng năng suất trong nền kinh tế toàn cầu. Nó cũng sẽ định hình lại chủ nghĩa tư bản cùng các mối quan hệ của nó đối với xã hội. Có lẽ, quan trọng hơn cả, việc học tập cách làm thế nào để tạo dựng giá trị chung là cơ hội tốt nhất của chúng ta để hợp lý hóa các hoạt động kinh doanh đáp lại yêu cầu.

Vượt qua sự thỏa hiệp

Hoạt động kinh doanh và xã hội đã đối kháng nhau một thời gian dài. Đó là một phần lý do tại sao các nhà kinh tế học đã hợp lý hóa ý tưởng rằng để đem lại các lợi ích xã hội, các công ty cần phải làm giảm bớt những thành công về mặt kinh tế của mình. Theo tư tưởng tân cổ điển, một đòi hỏi cho sự cải thiện xã hội – như an toàn hay thuê người tàn tật – đặt ra một sự bắt buộc đối với doanh nghiệp.  Thêm vào một sự bắt buộc đối với doanh nghiệp mà nó đang chỉ thực sự tối đa hóa lợi nhuận, nói về mặt lý thuyết, sẽ không tránh tránh được việc gia tăng chi phí và giảm lợi nhuận này.

Một khái niệm liên quan, với cùng kết luận, là khái niệm về các các yếu tố bên ngoài. Các yếu tố bên ngoài xuất hiện khi các doanh nghiệp tạo ra các chi phí xã hội mà họ không phải chịu trách nhiệm, như ô nhiễm chẳng hạn. Do vậy, xã hội cần áp đặt thuế, các điều tiết, và hình phạt để các hãng “tiếp nhận” những yếu tố bên ngoài này – một niềm tin ảnh hưởng lên nhiều quyết định chính sách của chính phủ.

Quan điểm này chính chúng cũng đã định hình các chiến lược của các công ty, mà nó đã bác bỏ một cách rộng rãi những cân nhắc xã hội và môi trường trong tư tưởng kinh tế của mình. Các công ty đã đưa ra bối cảnh rộng lớn hơn mà trong đó họ kinh doanh và chống lại những tiêu chuẩn quy định ở một chừng mục không trái ngược với những lợi ích của mình. Giải quyết những vấn đề xã hội đã  được nhường lại cho chính phủ và các NGO. Các chương trình trách nhiệm doanh nghiệp – một hành động đáp lại áp lực bên ngoài – đã xuất hiện một cách rộng rãi để cải thiện danh tiếng của doanh nghiệp và được coi như một chi phí cần thiết. Không gì bị xăm soi nhiều bằng việc sử dụng thiếu trách nhiệm tiền bạc của cổ đông. Các chính phủ, trong trách nhiệm của mình, đã thường phải điều tiết theo cách mà việc tạo ra giá trị chung khó khăn hơn để đạt được. Điều đó ngụ ý, mỗi mặt được giả định rằng mặt khác thì là một trở ngại cho việc theo đuổi những mục tiêu của mình và hành động theo cách như vậy.

Khái niệm giá trị chung, ngược lại, thừa nhận rằng những đòi hỏi xã hội, không chỉ là những đòi hỏi kinh tế thông thường, xác định các thị trường. Nó cũng thừa nhận rằng những tổn hại hay lỗi lầm của xã hội thường tạo ra những chi phí nội bộ cho doanh nghiệp – chẳng hạn năng lượng lãng phí hay vật liệu thô, chi phí rủi ro, và đòi hỏi đào tạo bổ sung để đền bù cho những bất bình đẳng trong giáo dục. Và việc đưa ra những tổn hại xã hội cùng những cản trở không cần thiết làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp, bởi vì họ có thể đổi mới thông qua việc sử dụng các kỹ thuật mới, phương thức hoạt động, và các cách tiếp cận quản trị – và kết quả là, gia tăng năng suất của họ và mở rộng thị trường của họ.

Giá trị chung, do vậy, không nói về những giá trị cá nhân. Cũng không về “sự chia sẻ” giá trị thực sự được tạo ra bởi doanh nghiệp – một cách tiếp cận tái phân phối. Mà thay vào đó, nó là về việc mở rộng một quỹ tổng thể về giá trị kinh tế và xã hội. Một ví dụ tốt của sự khác biệt này trong quan điểm là hành động thương mại công bằng trong việc mua hàng. Thương mại công bằng nhắm tới việc gia tăng sự cân xứng của lợi tức mà nó giúp cho những người nông dân nghèo bằng việc trả giá cao hơn cho những nông sản tương tự. Thông qua điều này có thể là một ý nghĩ cao thượng, thương mại công bằng chủ yếu là về sự tái phân phối hơn là việc mở rộng tổng thể giá trị được tạo ra. Một quan điểm về giá trị chung, thay vì, tập trung vào việc cải thiện các kỹ thuật tăng trưởng và củng cố những nhóm địa phương trong việc trợ giúp các nhà cung ứng và những thể chế khác thì lại nhằm gia tăng hiệu suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm, và sự bền vững của nông gia. Điều này dẫn đến một miếng bánh to hơn về lợi tức và lợi nhuận mà nó đem lại lợi ích cho cả nông gia và những công ty mua nông sản từ họ. Những nghiên cứu ban đầu về các nông gia trồng ca cao tại Côte D’Ivoire, chẳng hạn, đề nghị rằng trong khi thương mại công bằng có thể gia tăng thu nhập của nông gia khoảng 10 – 20%, những đầu tư vào giá trị chung có thể gia tăng thu nhập của họ hơn 300%. Đầu tư ban đầu và thời điểm có thể được đòi hỏi  thực hiện những hoạt động thu mua mới và phát triển nhóm trợ giúp, nhưng cái thu được sẽ là giá trị kinh tế lớn hơn và những lợi ích chiến lược rộng hơn để cho tất cả những người tham gia.

(cỏn tiếp)

Người dịch: N.A.Thư – SCDRC

Hiệu đính: T.Giang – SCDRC

—————————

Các bài liên quan: