Nhiều cách hiểu đan xen nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần III


Hiện có hai cuộc tranh luận liên quan đến chủ đề này:

+ Sự phân chia nhiệm vụ giữa nhà nước và các doanh nghiệp – điều này đưa chúng ta trở lại với những câu hỏi liên quan tới xu hướng tân gia trưởng: khi bước ra khỏi lĩnh vực hoạt động kinh tế truyền thống, liệu các doanh nghiệp có tránh khỏi nguy cơ bị kết tội là muốn chi phối thế giới mà không phải tuân thủ sự kiểm soát về mặt chính trị? Dù sao thì chiều kích quốc tế ngày càng tăng trong hoạt động của doanh nghiệp đã làm thay đổi thế cờ: khi mà các doanh nghiệp không bị lũng đoạn bởi các nhóm mafia quốc tế, thì sự thiếu vắng luật lệ quốc tế đối với các hoạt động của doanh nghiệp là điều mà ai cũng có thể nhận thấy một cách nghiêm túc. Tất nhiên ngoại trừ một số lĩnh vực đã có những thỏa ước quốc tế. Nhưng, khi Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc chẳng hạn, muốn thúc đẩy các chuẩn mực mang tính cưỡng chế đối với các công ty đa quốc gia thì Phòng Thương mại quốc tế (International Chamber of Commerce) và Hội đồng kinh doanh quốc tế của Mỹ (US Council for International Business) liền chỉ trích gay gắt các chuẩn mực này và cho rằng người ta đã dịch chuyển nghĩa vụ tôn trọng nhân quyền từ các nhà nước sang phía các doanh nghiệp.

+ Cuộc tranh luận thứ hai diễn ra xoay quanh những trách nhiệm của doanh nghiệp, của người tiêu dùng và của công dân nói chung. Các nhà công nghiệp cho rằng họ chỉ sản xấut ra những sản phẩm có người mua trên thị trường và do đó, họ không phải chịu trách nhiệm với người tiêu dùng cuối cùng vì người này có quyền tự do mua hoặc không mua. Cuộc tranh luận xa xưa này đã kết thúc từ lâu khi người ta quan tâm đến chiều kích cá thể hóa của yếu tố cầu trước sự độc quyền thiểu số của cung (thị trường độc quyền nhóm – ND). Mặt khác, người tiêu dùng chưa bao giờ có thể gây ảnh hưởng lên các quyết định đầu tư hoặc những lựa chọn về công nghệ và cách tổ chức lao động trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Rõ nhất là lập luận cố chứng minh rằng các thị trường sẽ hợp thức hóa mọi hoạt động kinh tế; điều này có nghĩa là gán cho thị trường một tính chất đạo đức và một sự sáng suốt mà nó không hề có, bằng chứng là những hoạt động kinh tế phi pháp vẫn đang diễn ra hàng ngày trước mắt chúng ta. Nhưng những chủ thể hành động khác ngoài doanh nghiệp cũng có những trách nhiệm của mình và họ có thể thể hiện những trách nhiệm ấy thông qua các hoạt động công dân hoặc các hành vi tiêu dùng có trách nhiệm. Tất nhiên chúng ta đều đồng ý rằng mỗi người đều có trách nhiệm riêng của mình trong bối cảnh hành tinh hiện nay, nhưng cũng có những mức độ trách nhiệm mà ta không thể bỏ qua hoặc tránh né vì, như Anna Harendt đã từng nói, “nếu mọi người đều cùng có trách nhiệm thì sẽ chẳng ai có trách nhiệm cả”.

Rõ ràng, phạm vi của CSR là điều mà người ta còn đang tranh cãi và sẽ còn tranh cãi bởi sự phức tạp của vấn đề cũng như những lý do khác nhau của các chủ thể hành động. Nhưng dù sao thì vấn đề cũng đã được đặt ra. Luật của nước Pháp, khi quy định rằng những doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán phải công bố các thông tin về những hậu quả xã hội và môi trường do hoạt động của mình gây ra, vẫn còn để lại một khoảng trống cho câu hỏi về phạm vi bao phủ và mọi người đều đồng ý rằng điều này cần được nêu cho chính xác hơn. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cũng cố gắng xác định điều mà tổ chức này gọi là “những vùng ảnh hưởng” của các doanh nghiệp, bằng cách lấy các quan hệ đầu tư làm tiêu chuẩn để xem xét. Các ngân hàng chẳng hạn, cần nhận thức rõ rằng trách nhiệm của họ không chỉ giới hạn trong phạm vi của các trụ sở mà còn phải tính đến cả những tác động của dự án mà họ cho vay. Các nhà máy chế biến thực phẩm phải giám sát nguồn gốc của các sản phẩm do mình làm ra trong suốt quá trình sản xuất. Những người đặt hàng và các siêu thị lớn cũng được yêu cầu phải kiểm tra chất lượng xã hội của các sản phẩm từ các nhà cung ứng hoặc từ công ty gia công trước khi bán chúng ra thị trường. Những ví dụ này cho thấy rằng phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp, xét từ khía cạnh không gian lẫn thời gian, đang là một mối bận tâm lớn, và vẫn còn gây ra nhiều cuộc tranh luận.

“Xã hội” cần được hiểu như thế nào?

Trong tiếng Pháp, tính từ “social” (“mang tính xã hội” – ND) mang rất nhiều ý nghĩa khiến cho khái niệm “trách nhiệm xã hội” trở nên mơ hồ hơn. Bởi vì khái niệm này được áp dụng cho các doanh nghiệp nên rất nhiều người đã giới hạn CSR vào các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời loại bỏ tất cả các khía cạnh khác liên quan đến sự phát triển bền vững. Chính vì thế mà người ta sử dụng tính từ “sociétal” (“trên quy mô xã hội” – ND) để phân biệt những gì có liên quan tới xã hội theo nghĩa rộng với những gì chỉ liên quan tới các mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động (ví dụ bản tổng kết xã hội theo nghĩa rộng [bilan sociétal] so với bản tổng kết xã hội theo nghĩa hẹp [bilan social]). Đồng thời, sự quy giản này đã làm nảy sinh những cụm từ nhằm hội nhập thêm những chiều kích khác như: trách nhiệm xã hội và môi trường (responsibilité sociale et environnementale), trách nhiệm trên quy mô xã hội (responsibilité sociétale), trách nhiệm tổng thể (responisbilité globale). Hiện nay, việc sử dụng tính từ “xã hội” (trong ngữ cảnh CSR) đang ngày càng có xu hướng ngả theo cách hiểu Anh – Mỹ, tức tính xã hội phổ quát, bao trùm mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Cách hiểu này gần như đã được chấp nhận bởi vì một trong những ý nghĩa của tính từ xã hội trong tiếng Pháp là chỉ các mối quan hệ của con người trong xã hội hiểu theo nghĩa rộng.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nhiều cách hiểu đan xen nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần II


Các công việc nghiên cứu chuẩn bị cho việc xây dựng bộ tiêu chuẩn ISO 26.000 trong tương lai đã đề xuất một định nghĩa về CSR vừa thỏa mãn cho cả Mỹ lẫn châu Âu như sau: CSR là “những hoạt động của một tổ chức nhằm đảm nhận trách nhiệm về tác động các hành động của mình gây ra cho xã hội và môi trường, trong chừng mực mà các hoạt động này phải gắn bó với các lợi ích của xã hội và của sự phát triển bền vững, dựa trên một lối ứng xử có đạo đức, tôn trọng luật pháp hiện hành và các thiết chế của nhà nước, và được hội nhập vào trong các hoạt động thông thường của tổ chức”. Việc quy chiếu vào sự phát triển bền vững sẽ làm thỏa mãn các quốc gia Âu châu, trong khi việc quy chiếu vào đạo đức sẽ được người Mỹ tán thành.Nhưng chúng ta sẽ thấy rằng những người hành động có thể được xem như “có trách nhiệm về mặt xã hội” cần phải được “hội nhập vào các hoạt động thông thường của tổ chức” – điều này hàm ý rằng quan niệm về CSR đã vượt qua cách hiểu coi CSR chỉ là hoạt động từ thiện.

Có trách nhiệm về cái gì, đến đâu, liên quan đến ai, và như thế nào?

Bất cứ cuộc tranh luận nào về trách nhiệm cũng cần đặt ra các câu hỏi sau: Chịu trách nhiệm với ai? Liên quan đến cái gì? Có trách nhiệm đến đâu và như thế nào?

Với câu hỏi “chịu trách nhiệm với ai?”, có thể có nhiều câu trả lời rất khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm về doanh nghiệp và về vị trí của doanh nghiệp trong xã hội. Đối với Friedman, doanh nghiệp chỉ phải chịu trách nhiệm với các cổ đông mà thôi, bởi vì vai trò của doanh nghiệp là phải tối đa hóa lợi nhuận vì lợi ích của các cổ đông.

Một kiểu trả lời thứ hai, như của Liên minh châu Âu chẳng hạn, dựa trên khái niệm “các thành phần có liên quan”. Theo đó, doanh nghiệp cần phải quan tâm đến những cá nhân hoặc các nhóm có thể bị tác động bởi các hoạt động của mình, hoặc những nhóm hay cá nhân có thể có ảnh hưởng đối với các hoạt động của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được gán cho vai trò làm thỏa mãn mọi thành phần có liên quan và trở thành nơi phân định các lợi ích khác nhau cho các thành phần có liên quan đó. Yêu cầu này có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo các thành phần được xem xét: có những thành phần mà doanh nghiệp có các mối quan hệ khế ước (những người lao động, những nhà cung ứng, các khách hàng…), và những thành phần mà doanh nghiệp không có bất cứ mối quan hệ khế ước nào (các nhóm lợi ích khác nhau, chẳng hạn những người sống gần nơi hoạt động của doanh nghiệp hoặc những người bảo vệ thiên nhiên). Cách tiếp cận này không tính đến các nhóm quá yếu thế để có thể đại diện hoặc vắng mặt [trong các quyết định của doanh nghiệp], chẳng hạn như các thế hệ tương lai.

Cách trả lời thứ ba cho rằng doanh nghiệp phải có trách nhiệm với lợi ích chung của cộng đồng. Nhưng nếu hiểu theo định nghĩa của Adam Smith (Những nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc sự thịnh vượng của quốc gia, 1776) thì lợi ích chung là tổng của các lợi ích riêng, nhờ “bàn tay vô hình” nhân từ của thị trường, điều này dẫn đến khả năng xem lợi ích riêng của doanh nghiệp như là cộng đồng lợi ích giữa vốn tư bản và lao động [Robe, 1999]. Ngược lại, theo khái niệm “ý chí chung” của Jean-Jacques Rousseau (Khế ước xã hội, 1762), diện mạo của doanh nghiệp sẽ được xây dựng trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với xã hội tuân thủ những đòi hỏi của cộng đồng được thể hiện qua nhà nước. Hiện nay, khi các vấn đề về lợi ích chung đã vượt khỏi biên giới của các nhà nước – quốc gia thì vấn đề đóng góp của doanh nghiệp vào lợi ích chung cần phải được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhưng vấn đề này cho đến nay mới chỉ có những phác thảo hay những kinh nghiệm hạn chế về các cơ chế điều tiết.

Sự tiếp cận lý thuyết về đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững cần phải đi đến việc định vị các hoạt động của doanh nghiệp và những hậu quả của chúng trong quá trình khai thác và giữ gìn các lợi ích chung mang tính toàn cầu, trong đó bao gồm cả việc giảm bớt các chi phí ngoại tác đối với xã hội. Chúng ta vẫn còn cách xa điều đó lắm. Có lẽ tạm thời cộng đồng quốc tế (trong mối liên hệ với các chủ thể kinh tế) cần xác định những vấn đề quan trọng nhất khi nói đến sự phát triển bền vững và những lợi ích chung của cộng đồng thế giới.

Câu hỏi “có trách nhiệm về điều gì?” đề cập đến những tiêu chí mà dựa vào đó, người ta sẽ đánh giá xem liệu một doanh nghiệp nào đó có trách nhiệm về mặt xã hội hay không. Các tiêu chí này là hết sức đa dạng khiến cho việc đánh giá khó mang tính khách quan, bởi vì người lượng giá không thể không bị tác động bởi các giá trị riêng của mình cũng như vị trí của anh ta trong các mối quan hệ xã hội, hoặc các lợi ích của tổ chức mà anh ta là thành viên.

Do vậy, người ta có thể chỉ dựa vào những việc tốt đẹp mà doanh nghiệp đã làm cùng với vô số loại giải thưởng đã dựa trên các thành tích này để đề cao những “doanh nghiệp tốt nhất”. Ngược lại, người ta cũng có thể chỉ tập trung vào việc đánh giá những mặt chưa được của doanh nghiệp, những thiệt hại do doanh nghiệp gây ra mà thôi. Đây là cách làm của khá nhiều tổ chức phi chính phủ nhằm lôi kéo sự chú ý của công luận vào những nguy cơ, những rủi ro nảy sinh từ một số hoạt động của doanh nghiệp.

Trên thực tế, người ta thường hài lòng với cách đánh giá từng phần, tức là chỉ dựa trên một số sự kiện rõ rang, bởi vì thật sự là rất khó để có thể nắm bắt hoặc đưa ra một ý kiến tổng quát về toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp lớn. Vả lại, doanh nghiệp có thể có những điểm mạnh trong một lĩnh vực nào đó (lĩnh vực xã hội chẳng hạn) và những điểm yếu trong một lĩnh vực khác (lĩnh vực môi trường chẳng hạn); cái này không thể bù trừ cho cái kia, và người ta hoàn toàn không thể lấy một điểm trung bình cho cả hai lĩnh vực đó.

Mặt khác, người ta có thể tiến hành đánh giá quân bình bằng cách cân nhắc nhiều tiêu chí khác nhau,nhưng điều này cũng có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc xác định các tiêu chí. Ngay định hướng các câu hỏi cũng có thể tạo ra những tình huống khó phân định: chẳng hạn liệu có nên ca tụng công ty McDonald’s như một vị ân nhân vì đã cung cấp cho các nước Tây phương loại thực phẩm có giá rẻ, hay chê trách công ty này vì đã tạo nên mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng với việc góp phần làm gia tăng tình trạng béo phì? Tất cả mọi hoạt động kinh tế đều có thể đưa đến những lưỡng đề nan giải kiểu như vậy và câu trả lời có thể là rất khác nhau tùy theo thang giá trị của các cá nhân hay các nhóm được hỏi.

Người ta cũng có thể yêu cầu doanh nghiệp tự lượng giá với lưu ý rằng kết quả hay số điểm đạt được không phải là điều quan trọng, mà quan trọng là tiến trình gây dự ý thức trong lòng doanh nghiệp mà cách làm này tạo ra. Trong trường hợp, việc xác định các tiêu chí đánh giá là điều có tính mấu chốt, và điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải tính đến mong đợi của đối tượng mà báo cáo lượng giá muốn nhắm đến.

Doanh nghiệp phải có trách nhiệm xã hội đến mức nào? Biên độ giới hạn về CSR có thể đi từ không cho đến vô cực. Không thể có câu trả lời mang tính phổ quát và vĩnh viễn cho câu hỏi này; tầm mức CSR có thể thay đổi qua các thời kỳ, tùy theo những mong đợi và áp lực của các xã hội dân sự, và câu trả lời cũng có thể rất khác nhau tùy theo thành phần của những người có liên quan. Cuối cùng, các câu trả lời cho câu hỏi này còn phụ thuộc rất nhiều vào nền văn hóa, lịch sử và các định chế của mỗi quốc gia.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nhiều cách hiểu đan xen nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần I


Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hình thành từ việc ghép lại ba từ thoạt nhìn là rất đơn giản, dịch từ tiếng Anh là corporate social responsibilitiy (viết tắt là CSR), nhưng mỗi từ này lại được diễn giải theo nhiều cách khác nhau gây ra những khó khăn trong việc tìm hiểu khái niệm này. Việc hiểu những từ ngữ tạo thành khái niệm trên là điều rất quan trọng. Tuy nhiên, những cách dịch khác nhau trong tiếng Pháp lại cũng tạo thêm sự khó khăn và sự mơ hồ trong cách hiểu. Ở cấp độ quốc tế, mặc dù tiếngAnh là một ngôn ngữ quen thuộc, nhưng việc giải thích ba từ ngữ đó cũng thường là không rõ ràng. Khía cạnh ngữ nghĩa học của khái niệm là chuyện không thể bỏ qua, nhất là trong các cuộc tranh luận quốc tế, khi mà việc hiểu nghĩa tiếng Anh của khái niệm phải được đặt trong bối cảnh văn hóa, pháp luật của người nói.

Về khái niệm trách nhiệm

Khái niệm “trách nhiệm” là một trong những khái niệm khó hiểu và thiếu nhất quán nhất trong lĩnh vực triết học [Neuberg, 1997]. Một cách chung nhất, “trách nhiệm” có thể được định nghĩa như là “điều kiện quy trách (imputabilité) những hành động cho một cá nhân nào đó”. Về mặt từ nguyên, thuật ngữ này xuất phát từ tiếng Latin là respondere và có nghĩa là “chịu trách nhiệm về”, “bảo đảm cho”. Đây là cách hiểu được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực pháp lý và chỉ được áp dụng cho các nhân thân (personnes): trách nhiệm được định nghĩa như là một nghĩa vụ phải bồi thường một thiệt hại do hành vi của mình gây ra, điều này bao hàm một sự trừng phạt, một sự chế tài nào đó. Như vậy, trách nhiệm có nghĩa là người ta có thể quy trách một hành vi (một hành vi gây tổn hại hoặc một nghĩa cử) cho một nhân thân nào đó.

Chính đây là điểm khó hiểu đầu tiên bởi vì doanh nghiệp, ngay cả khi được nhìn nhận như là một “pháp nhân”, không thể được đồng hóa với một “thể nhân”. Trong cái thực thể này (tức doanh nghiệp), vốn bao gồm một số lượng, nhiều hoặc ít, các cá nhân được gắn kết với nhau bởi các mối quan hệ quyền lực, ảnh hưởng và tương thuộc, sẽ luôn luôn khó mà gán cho một người cụ thể nào đó trách nhiệm về một hành vi nào đó. Thực vậy, để có thể được quy trách về một hành vi nào đó, người ta cần phải có những năng lực ý chí và nhận thức – mà đây lại là điều đáng hồ nghi trong trường hợp một tổ chức. Lối tiếp cận mang tính đạo đức ở Mỹ về CSR muốn biến doanh nghiệp thành một “hữu thể luân lý” (être moral) (cũng giống y như một cá nhân), trong khi đó, doanh nghiệp vốn là nơi diễn ra các quan hệ quyền lực và là nơi có những quyền lợi đối kháng, hành vi của doanh nghiệp không thể được quy giản như hành vi của một cá nhân, như nhiều lý thuyết về tổ chức đã chứng minh (Barnard, Cyert và March, Crozier và Friedberg…).

Nhưng thuật ngữ “trách nhiệm” đã khoác một ý nghĩa triết học giúp nó tách khỏi lỗi lầm và vì thế, tách ra khỏi sự bồi thường và sự chế tài; nó trở nên đồng nghĩa với nghĩa vụ hay sự cam kết, chẳng hạn theo Jonas [1990], “nguyên tắc trách nhiệm” hệ tại ở việc hành xử như thế nào đó sao cho các hành động của mình không mang tính hủy hoại đối với những nguồn tài nguyên cho sự sống tương lai trên trái đất này. Trách nhiệm lúc này trở thành một mô thức hành động: hành xử một cách có trách nhiệm có nghĩa là suy nghĩ đến những hậu quả của các hành vi đối với chính mình và nhất là đối với người khác [Ewald, 1977]. Điều này có nghĩa là vận dụng đức tính tiên liệu (prévoyance).

Ewald [1977] đã phân biệt sự tiến hóa của khái niệm “trách nhiệm” qua ba giai đoạn biến chuyển của luật về trách nhiệm: giai đoạn đầu tiên là giai đoạn mà ở đó người ta nhấn mạnh đến trách nhiệm đối với hành vi, tức là bao hàm ý tưởng về sự bồi thường trong trường hợp hành vi có thể gây ra những tổn thất; giai đoạn thứ hai (tức giai đoạn đương đại, đi đôi với các xã hội công nghiệp) là giai đoạn mà trách nhiệm dược đặt ra đối với nguy cơ, điều này dẫn đến ý tưởng phòng ngừa những tai nạn, những đe dọa và những nguy hiểm; và, cuối cùng, giai đoạn thứ ba (đang hình thành) đặt trách nhiệm trước yêu cầu về sự an toàn, thể hiện sự lo ngại trước những mối nguy hiểm của một thế giới đang tiến hóa vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của con người, và điều này đưa đến chỗ vận dụng nguyên tắc đề phòng (précaution).

Những ý nghĩa khác nhau của khái niệm trách nhiệm

Như vậy, chúng ta nhìn thấy được những hậu quả xuất phát từ những khó khăn trong việc giải thích khái niệm trách nhiệm: một số người thì nhấn mạnh đến những thiệt hại và tổn thất do hành vi của doanh nghiệp gây ra, những người khác thì lại dành sự quan tâm cho việc phòng ngừa những nguy cơ và các giải pháp để nhằm phòng tránh những nguy hiểm có thể có.

Những nguy cơ rối nhiễu trong cách hiểu còn lớn hơn nữa khi người Anh và người Mỹ ngày càng có xu hướng thay thế thuật ngữ trách nhiệm (responsibility) bằng thuật ngữ trách nhiệm giải trình (accountability). Từ trách nhiệm giải trình thực ra bao gồm hai ý nghĩa:

+ trong giới kế toán, thuật ngữ này thường được dùng theo nghĩa là nghĩa vụ khai trình sổ sách thu-chi, và như vậy, đây là một nghĩa vụ được giới hạn vào trong một lĩnh vực rất cụ thể;

+ thuật ngữ này cũng còn mang ý nghĩa là nghĩa vụ phải hoàn tất một nhiệm vụ và phải chịu trách nhiệm về việc thi hành nhiệm vụ này trước cấp trên hoặc một cơ quan có thẩm quyền. Nghĩa thứ hai cũng hàm ý sẽ có sự trừng phạt hay một hình thức chế tài nào đó nếu cá nhân không chu toàn nghĩa vụ này (xem Webster’s Dictionary).

Sự phân biệt giữa hai cách hiểu trên là điều rất đáng lưu tâm. Nếu hiểu theo ý nghĩa thứ nhất, nghĩa vụ có vẻ như ít khắt khe hơn theo nghĩa thứ hai, bởi vì điều này có nghĩa là chỉ cần giải trình các hành vi của mình mà không nhất thiết phải gánh chịu những hậu quả của các hành vi ấy. Việc người ta rất sẵn lòng khai trình sổ sách kế toán, tỏ ra “minh bạch” không có nghĩa là họ đã ứng xử một cách mẫu mực, đúng đắn; và không hẳn những doanh nghiệp thông tin nhiều về hoạt động của mình là những doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm cao nhất. Ngược lại, nghĩa thứ hai bao hàm trong đó sự chế tài nếu không thi hành nghĩa vụ của mình, và điều này làm cho thuật ngữ trách nhiệm giải trình (accountability) có sức nặng hơn và chính xác hơn khái niệm trách nhiệm (responsibility): nó giả định một khả năng hay một thẩm quyền phán xét với những hành động đáng khiển trách, như vậy, “có trách nhiệm” có nghĩa là “có thể bị khiển trách”. Sự phân biệt giữa hai cách hiểu trên đây đã trở thành trung tâm của những cuộc tranh luận quốc tế về khái niệm CSR giữa những người muốn đặt ra sự cưỡng chế đối với các doanh nghiệp (ý kiến của các tổ chức phi chính phủ, các nghiệp đoàn) với những người chống đối lại ý kiến này (giới doanh nghiệp).

Những định nghĩa về CSR dựa trên những cách hiểu khác nhau về khái niệm trách nhiệm

Trong các cuộc tranh luận quốc tế về CSR còn tồn tại tình trạng mập mờ bắt nguồn từ hai cách hiểu về trách nhiệm: trách nhiệm có thể xem như là kết quả của một nghĩa vụ (obligation), nhưng cũng có thể là kết quả của một sự cam kết (engagement). Giới Anh – Mỹ thiên về khuynh hướng hiểu CSR như một sự cam kết (mang tính tự nguyện), trong khi giới Âu châu lục địa lại thiên về cách giải thích CSR như một nghĩa vụ (mang tính bắt buộc). Một bên thì tin tưởng vào những hành động mang tính tự nguyện; còn phía bên kia thì lại đòi hỏi phải có các quy định chung. Nhưng quả thực, đôi khi một sự cam kết nào đó vẫn có thể biến thành một nghĩa vụ: các tòa án, nhất là tại Mỹ, thường dựa vào điều này để ra các quyết định xử phạt những doanh nghiệp không giữ đúng các lời hứa đã được ghi trong các bộ quy tắc ứng xử mang tính tự nguyện.

Ủy ban châu Âu [2001] đã chấp nhận cách hiểu CSR theo cách hiểu của trường phái Anglo-Saxon, nhưng đồng thời cũng tìm cách dàn xếp ổn thỏa đối với các nước theo truyền thống luật La Mã: “có trách nhiệm về mặt xã hội không chỉ là phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý có hiệu lực, mà còn phải đi xa hơn và đầu tư nhiều hơn cho nguồn vốn con người, cho môi trường và cho các mối liên hệ với các thành phần có liên quan”; điều này có nghĩa là các doanh nghiệp phải “chủ động hội nhập các mối bận tâm về mặt xã hội và môi trường vào trong các hoạt động thương mại của mình và trong mối quan hệ của mình với các thành phần có liên quan”. Trên thực tế, người ta thường dựa trên những sự cam kết và các hoạt động mang tính tự nguyện của doanh nghiệp để đánh giá trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp nào đó. Điều này, xét ở cấp độ quốc tế, sẽ mang lại thuận lợi cho doanh nghiệp khi họ hoạt động tại các quốc gia có nền tảng pháp lý liên quan đến lĩnh vực xã hội và môi trường đặc biệt thấp.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần cuối


Sự nối kết giữa CSR và sự phát triển bền vững

Hiện nay, ít nhất là tại châu Âu, các doanh nghiệp được mời gọi tiếp thu những nguyênt ắc của sự phát triển bền vững và cố gắng đưa các nguyên tắc ấy vào trong các chiến lược của mình. Trong chuyện này lại có một sự nhầm lẫn giữa sự phát triển bền vững với doanh nghiệp bền vững (hoặc doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội). Khái niệm phát triển bền vững và khái niệm CSR thuộc về những cấp độ khác nhau.

Phát triển bền vững là khái niệm mang tính kinh tế vĩ mô và xã hội vĩ mô ở cấp độ toàn cầu mà ta không thể áp dụng một cách trực tiếp vào một thực tế đặc thù nào đó, và cũng không phải cứ một doanh nghiệp phát triển bền vững, tức tồn tại lâu dài, là nhất thiết có đóng góp vào sự phát triển bền vững. Những hành vi không tôn trọng nhân quyền và môi trường cũng có thể kéo dài nếu như không có sự chế tài (về mặt pháp lý hoặc biểu trưng) để ngăn chặn chúng lại.

Nói chung, sự phát triển bền vững thường được nhìn nhận trong mối liên hệ với sự can thiệp của lĩnh vực chính trị; chẳng hạn tất cả các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đểu phải đưa ra một chiến lược quốc gia về sự phát triển bền vững do các cơ quan công quyền thực thi. Những đòn bẩy khuyến khích gia tăng các lối hành xử tốt đẹp, những quan hệ giao kết và hợp tác giữa các chủ thể, những quyết định nhằm đặt ra quy tắc hạn chế các điều kiện hoạt động đối với các doanh nghiệp (hoặc cá nhân) cũng thường xuất phát từ các cơ quan công quyền ở các cấp lãnh thổ khác nhau.

Nhưng thật khó mà hình dung và hiểu được cách thức kết nối giữa những chính sách công ở tầm vĩ mô (sự phát triển bền vững) với những hành xử của các doanh nghiệp ở cấp kinh tế vi mô (CSR). Khái niệm phát triển bền vững kêu gọi doanh nghiệp đặt vấn đề về các cứu cánh của mình, quan niệm về tổ chức của mình, bằng cách đưa ra những nguyên tắc định hướng hoặc quy định cho các hoạt động kinh tế. Còn CSR là những mô thức ứng xử của doanh nghiệp (hoặc của một tập hợp kinh tế rộng lớn hơn) trước những đòi hỏi của xã hội khi đưa ra các chiến lược, công cụ quản trị, kiểm soát, lượng giá và giải trình thể hiện trong những quan niệm mới về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ít ra là xét về mặt nguyên tắc.

CSR có tạo nên sự đồng thuận?

Người ta có thể đặt ra câu hỏi trên khi mà vấn đề này đã xuất hiện ở châu Âu và đặc biệt là tại Pháp từ ít nhất là mười năm trở lại đây. Đã có sự hồ hởi nơi một số khu vực kinh tế trong giai đoạn đầu khi CSR mới xuất hiện, mặc dù hiểu biết về CSR là chưa rõ ràng, và khái niệm này cũng chưa có nội dung cụ thể. Tức là, người ta đã không biết rằng đây là một khái niệm đặt vấn đề nhiều hơn là giải quyết vấn đề, và nó cũng có một lịch sử đầy biến động tại Mỹ. Thực tế là từ lâu, một bộ phận giới kinh doanh (có thể nói là đa số), do chịu ảnh hưởng bởi trường phái kinh tế Chicago (Friedman), nên đã có quan điểm đối lập gần như hoàn toàn với CSR, thậm chí là trước khi thuật ngữ này ra đời.

Chúng ta có thể quay lại ngọn nguồn vụ kiện tụng giữa Henry Ford và anh em nhà Dodge vào năm 1919. Anh em nhà Dodge không chấp nhận việc các nguồn lợi nhuận không được phân chia hoàn toàn cho các cổ đông, trong khi Ford (cổ đông chính) lại muốn tái đầu tư lợi nhuận vào công ty nhằm phục vụ những mục tiêu xã hội. Tòa án tối cao Michigan đã xử thua cho Ford, đồng thời kết luận rằng lợi nhuận chỉ để phục vụ cho các cổ đông mà thôi. Nhiều năm sau, cụ thể là vào năm 1958, Levitt đã cảnh báo những nguy cơ của CSR: các doanh nghiệp không thể chịu trách nhiệm (accountable) như các cơ quan công cộng được, bởi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không được bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.

Chính vì theo dòng tư tưởng này mà Friedman [1962, 1971] đã viết rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không có trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm tạo ra càng nhiều tiền càng tốt cho các cổ đông của mình: “Nếu các doanh nhân có một trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm tạo ra lợi nhuận tối đa cho các cổ đông, thì liệu họ làm thế nào để biết đó là trách nhiệm gì? Liệu những cá nhân tự chỉ định có thể quyết định được điều gì là có lợi cho xã hội?” Tuy nhiên, ông cũng cẩn trọng nói thêm là nếu việc thực hiện trách nhiệm xã hội giúp cho doanh nghiệp tối đa hóa được lợi nhuận thì doanh nghiệp nhất định phải đi theo con đường này. Như chúng ta sẽ thấy ở các phần sau, toàn bộ cuộc tranh luận này thực ra xoay quanh vấn đề quan nhiệm về vai trò của doanh nghiệp trong xã hội và phạm vi của trách nhiệm của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ngay ở những nhà kinh doanh không tỏ ra thù địch với khái niệm CSR cũng nảy sinh rất nhiều khác biệt khó dung hòa trong quan niệm về CSR, và điều này cuối cùng đã dẫn đến một sự lúng túng trong việc thao tác hóa khái niệm CSR, thậm chí là lúng túng trong việc xác định lợi ích của khái niệm này.

Trước hết, có vẻ như mối quan tâm đối với CSR chủ yếu chỉ diễn ra ở các doanh nghiệp lớn đa quốc gia; các doanh nghiệp vừa và nhỏ phần lớn đều nằm ngoài trào lưu này, do họ có những nguồn lực tài chính và nhân sự hạn chế cũng như thường xuyên phải tập trung vào các mục tiêu kinh tế mang tính sống còn trong ngắn hạn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu tham gia vào trào lưu này thì thông thường là do nỗ lực thúc đẩy của người chủ doanh nghiệp, tùy theo những giá trị cá nhân của người này. Các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thường tìm cách hội nhập tối đa vào cộng đồng địa phương, thông qua các hoạt động bảo trợ, mặc dù đôi khi cũng tham gia vào những hành động mang tính chiến lược hơn như là quản lý rác thải hoặc tiết kiệm năng lượng. Áp lực của các doanh nghiệp đối tác lớn cũng có thể là một động lực tạo nên những ứng xử mang tính CSR nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng áp lực này thường mang tính hình thức và thường được nhìn nhận như là một sự cưỡng ép hơn là một sự khuyến khích.

Các động cơ của các doanh nghiệp thường là thuộc lĩnh vực kinh tế và tài chính, và xuất phát từ một xu hướng duy lợi chiến lược nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Perrow [1997], một trong những lý thuyết gia lớn nhất hiện nay trong lĩnh vực khoa học tổ chức, đã nhận diện CSR như là một cơ chế có hiệu ứng rõ ràng nhất, đó là giúp định vị tổ chức của doanh nghiệp nhằm khai thác một cách tối ưu môi trường xung quanh. Những lý lẽ động viên thì nhấn mạnh rằng CSR sẽ có lợi cho doanh nghiệp. Đến nay, người ta không thể đem hết số lượng công trình nghiên cứu, tại Mỹ cũng như tại châu Âu, đã cố gắng chứng minh có mối liên hệ giữa “thành tích xã hội” với thành tích kinh tế của doanh nghiệp. Bởi vì các kết quả nghiên cứu đó không đưa đến những kết luận dứt khoát nên dường như đã làm hình thành nên một niềm tin có khả năng tác động lên ứng xử của các doanh nghiệp mà ta có thể gọi đó là một thứ huyền thoại có lý lẽ.

Tuy nhiên, CSR cũng có một cái giá nằm ngoài tầm với của các doanh nghiệp: rất nhiều lãnh đạo doanh nghiệp tuyên bố rằng doanh nghiệp chỉ có thể làm việc “xã hội” một khi đã có các kết quả tài chính tốt mà thôi. Như vậy, ý nghĩa của mối quan hệ đã bị đảo ngược. Thế nên, chúng ta có thể đặt câu hỏi là phải chăng những người ủng hộ cho tính hữu ích của CSR, nhưng theo đuổi khuynh hướng duy lợi, sẽ dùng thuật ngữ “trách nhiệm” như một cái nhãn nhằm tạo sự khác biệt trong cạnh tranh?

Cuối cùng thì nội dung, ý nghĩa và những sự tốt đẹp của trách nhiệm xã hội [của doanh nghiệp] và của sự phát triển bền vững phụ thuộc vào những  gì người ta đặt ra dưới lớp vỏ ngôn ngữ. Chiến lược của các doanh nghiệp bao gồm từ hoạt động từ thiện, cho đến việc hội nhập các yêu cầu xã hội và môi trường vào trong các công cụ quản trị và lượng giá. Giữa hai cực đó, người ta có thể thấy hàng loạt giải pháp cục bộ hết sức khác biệt nhau liên quan đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của sự phát triển bền vững.

Ngoài giới kinh doanh, cách nhìn và thái độ của các chủ thể hành động khác cũng khác biệt nhau rất nhiều: từ việc lên án CSR như là một hiện thân mới của chủ nghĩa tư bản nhằm dự báo trước những sự điều tiết mang tính cưỡng chế [Plihon, 2003], cho đến việc tin tưởng vào một đòn bẩy mới có khả năng làm biến đổi các doanh nghiệp cũng như giới kinh doanh [Duval, 2003].

Nếu xem xét ở cấp độ quốc tế, CSR xuất hiện nhiều nhất tại các quốc gia giàu có. Còn các quốc gia Đông Âu, các quốc gia mới nổi và Trung Quốc thì không biết hoặc làm như không biết vấn đề này, hoặc biết nhưng tìm cách lẩn tránh. Với họ, trước tiên phải phát triển kinh tế, còn những vấn đề khác sẽ tính sau…

Như thế thì cuối cùng chẳng có sự đồng thuận nào về CSR cả, mà chỉ thường là một ảo giác đồng thuận. Không thể có một định nghĩa duy nhất và phổ thông về CSR, bởi khái niệm này phụ thuộc vào cách hiểu của từng chủ thể hành động khác nhau. Nhưng có cần phải phàn nàn về điều này không? Sự không rõ ràng của khái niệm này có nhiều ý nghĩa hơn ta nghĩ, bởi lẽ chính vì thiếu sự đồng thuận trong cách hiểu nên điều này bắt buộc mỗi chủ thể phải đào sâu tìm hiểu về nó [Pasquero, 2005].

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần III


Do đó, trong những năm gần đây, trong diễn ngôn của doanh nghiệp luôn có những dấu nhấn về các khía cạnh nhân đạo và sinh thái nhằm làm nổi bật những phần đóng góp của các doanh nghiệp trong việc thỏa mãn các nhu cầu dinh dưỡng (kể cả cho những người nghèo), y tế, giáo dục, văn hóa… Để đảm bảo cho tính đáng tin cậy của những diễn ngôn đó, các doanh nghiệp ngày nay đã đưa ra nhiều loại công cụ hành động, chẳng hạn như: xây dựng bộ quy tắc ứng xử, các hiến chương đạo đức, giấy chứng nhận về mặt xã hội và môi trường, việc được thẩm định và được kiểm toán bởi bên thứ ba.

Nhưng phong trào CSR không chỉ có một phía bởi vì các doanh nghiệp còn tìm cách làm cho thế giới quan mới này được chấp nhận và chia sẻ một cách rộng rãi trong xã hội. Nỗ lực mới nhất của tiến trình này tìm lại tính hợp thức của doanh nghiệp là biến điều này thành một vấn đề mang tính toàn cầu như lời thừa nhận của ông Daniel Vasela, Chủ tịch của Công ty Novartis, khi ông nói đến thái độ của các công ty dược phẩm với việc sản xuất các loại thuốc generic chống bệnh AIDS vào năm 1997: “Quyền tự do hành nghề của chúng ta tại các quốc gia phát triển suycho cùng không phải là không thể bị lệ thuộc vào thái độ của chúng ta trước những vấn đề của thế giới thứ ba” (Le Monde 22/05/2004).

Theo quan điểm của một số doanh nghiệp năng động nhất thì hiện nay, có lẽ người ta sẽ chuyển từ tính trách nhiệm có giới hạn sang tính trách nhiệm không giới hạn đối với các hoạt động và hậu quả của chúng, bởi điều này gắn với mong muốn kiểm soát các vấn đề toàn cầu của doanh nghiệp. Do đó, các doanh nghiệp này có thể sẽ đảm nhận trách nhiệm mang lại lợi ích chung cho toàn thế giới. Hội đồng Kinh doanh Thế giới vì sự Phát triển Bền vững (World Business Council for Sustainable Development – WBCSD) – một tổ chức tập hợp 160 công ty lớn nhất thế giới – không hề che giấu tham vọng can dự vào các vấn đề toàn cầu, chẳng hạn, muốn trở thành một chủ thể hành động chính yếu trong cuộc chiến chống lại sự biến đổi khí hậu.

Nhưng chỉ cần lướt sang lĩnh vực lý luận thì có thể thấy rằng việc thỏa mãn lợi ích chung đã được chuyển thành thảo mãn những mong đợi của các thành phần có liên quan. Do vậy, hình ảnh mang tính biểu tượng của một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội được đặc trưng bởi khả năng thỏa mãn cho mọi thành phần có liên quan của doanh nghiệp ấy và khả năng xây dựng được các mối quan hệ cùng có lợi với những thành phần cung cấp các nguồn tài nguyên để bảo đảm cho sự trường tồn của doanh nghiệp.

Quan điểm chính trị về sự phát triển bền vững

Quan điểm gần như mang tính cứu thế về vai trò của doanh nghiệp được phát triển bởi trào lưu CSR đã đặc biệt được khẳng định tại châu Âu, nơi mà trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được nhìn nhận qua đóng góp của họ vào sự phát triển bền vững.

Khái niệm “phát triển bền vững” được hình thành trong những năm 1980 qua những công trình nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế, và bắt đầu được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 thông qua bản báo cáo của Ủy ban Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc (báo cáo Brundtland) có tên Tương lai chung của chúng ta. Định nghĩa về sự phát triển bền vững trong bản báo cáo này là định nghĩa được trích dẫn nhiều nhất: “phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không gây ảnh hưởng tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”, nhất là “những người cùng khổ nhất”. Định nghĩa này hiện được lý giải theo nhiều cách khác nhau và đương nhiên không tránh khỏi những lối lý giải mơ hồ, chẳng hạn có rất nhiều tác giả Pháp dịch khái niệm này là “sự phát triển có thể chấp nhận được” (dévelopment soutenable) [Vivien, 2005].

Có nhiều định nghĩa về sự phát triển bền vững vì mỗi một chủ thể hành động (acteur/actor) điều tự mình xây dựng và phát triển khái niệm này. Điều đó có nghĩa là những nguyên tắc của sự phát triển bền vững không phải đều được mọi chủ thể chấp nhận, nói cách khác, các chủ thể không áp đặt sự phát triển bền vững vào cùng một vị trí. Tuy nhiên, chúng ta cót hể xem hai triết gia châu Âu là Jonas và Levinas là những người đầu tiên đặt ra nền tảng căn bản cho khái niệm phát triển bền vững. Theo Jonas [1990], mọi người cần phải hành động một cách có hệ thống để không tạo ra sự thiệt hại nào, và các chủ thể hành động phải chịu trách nhiệm về các hành động của mình, không phải sau khi mà là trước khi hành động, tức là các chủ thể phải chứng minh rằng hành động của họ không tạo ra những tiềm năng thiệt hại. Do đó, nhà chính trị phải bảo đảm sao cho mọi hành động của mình đều tuân thủ một cách vô điều kiện “nguyên tắc trách nhiệm”, và phải giáo dục các công dân để họ ứng xử thích hợp với nguyên tắc đó. Như vậy, Jonas đã đặt nền tảng cho hai nguyên tắc chủ đạo làm điểm tựa cho ý tưởng phát triển bền vững: sự liên đới giữa các thế hệ, sự phòng ngừa. Còn với Levinas [1974], khi bàn về sự phát triển bền vững, ông đã xây dựng một hình thái nhân văn đặcbiệt dựa trên tính liên chủ thể, trên các mối quan hệ giữa các chủ thể chứ không dựa trên xu hướng vị kỷ. Theo ông, điều cần quan tâm là những nguy cơ mà mỗi người có thể gây ra cho người khác và cho cộng đồng.

Hiện nay, nói chung, người ta thường chấp nhận rằng sự phát triển bền vững có ba chiều kích, nó hướng tới chỗ gắn kết hiệu quả kinh tế với sự thịnh vượng xã hội và việc bảo vệ môi trường (các khía cạnh về văn hóa và quản trị đôi khi cũng được tính đến). Nói cách khác, phát triển bền vững là nhằm mục tiêu thỏa mãn những nhu cầu của toàn thể nhân loại (vai trò của kinh tế), đồng thời vẫn bảo tồn những điều kiện tái sản xuất của tự nhiên (sự quan tâm về sinh thái) với những mối quan hệ xã hội công bằng để đảm bảo cho sự hòa thuận và sự cố kết xã hội (những mong đợi về mặt xã hô). Mục tiêu này cũng đã được chuyển thành công thức: kiến tạo một thế giới dễ sống, trên một hành tinh bền vững, với một xã hội công bằng.

Tuy nhiên, điều khó khăn là ba khía cạnh trên thường rơi vào tình trạng căng thẳng và thường xuyên xung đột nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, và mọi nghệ thuật lập chính sách (của nhà nước và của doanh nghiệp) là nhằm giải quyết những mâu thuẫn để đi đến quyết định hợp lý giữa những khả năng lựa chọn có thể có, nói chung là phối hợp được những logic ẩn ngầm trong ba khía cạnh đó của sự phát triển bền vững.

Trên thực tế, tùy theo vị trí được xác định trong xã hội hoặc tùy theo quan niệm mà mỗi một khía cạnh sẽ được nhìn nhận như một mục tiêu, hoặc như một phương tiện, hoặc như một điều kiện (thậm chí là một sự ràng buộc). Ở đây, chúng tôi quan niệm phương tiện là một công cụ phục vụ cho việc đạt được mục tiêu và có thể sử dụng không giới hạn. Những điều kiện chính là việc tôn trọng các chuẩn mực và/hoặc bảo vệ các nguồn tài nguyên, được áp đặt từ bên ngoài, nhằm hạn chế việc tiếp cập hoặc đặt ra những điều kiện sử dụng nhất định (xác định tính hiệu năng).

Những mô hình khác nhau của sự phát triển bền vững

Tùy theo lối tiếp cận hoặc duy xã hội (duy nhân chủng học), duy sinh thái hoặc duy kinh tế, tức là tùy theo mục tiêu hướng tới [một trong ba khía cạnh của phát triển bền vững] mà những ưu tiên sẽ khác biệt nhau. Bằng cách phối hợp nhiều khả năng khác nhau, ta có thể đưa ra sáu mô hình với những biểu hiện khác nhau của các chủ thể kinh tế và xã hội. (xem bảng)

Những mô hình phát triển bền vững

Các mục tiêuKhía cạnh xã hộiKhía cạnh kinh tếKhía cạnh môi trường
Điều kiệnMôi trườngKinh tếMôi trườngXã hộiKinh tếXã hội
Phương tiệnKinh tếMôi trườngXã hộiMôi trườngXã hộiKinh tế
Các mô hìnhKhuynh hướng nhân vănKhuynh hướng tiến bộ mang tính duy sản xuấtKhuynh hướng duy sản xuất tỉnh táoKhuynh hướng duy lợi mang tính thực dụngKhuynh hướng sinh thái cực đoanKhuynh hướng môi trường mang tính xã hội
Những đặc trưngKinh tế nhằm phục vụ cho con người đồng thời phải chú trọng đến những giới hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiênViệc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên là nhằm phục vụ lợi ích con người, trong những điều kiện kinh tế bị áp đặt chứ không bị kiệm soátLao động của con người phải phục vụ cho sự phát triển kinh tế, nhưng phải chú ý đến những giới hạn của các nguồn tài nguyên thiên nhiênNhững nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sự phát triển kinh tế trong sự tôn trọng những điều kiện xã hội đang tồn tạiNhiệm vụ ưu tiên của con người là bảo vệ thiên nhiên trong những điều kiện kinh tế cụ thể nào đóHoạt độngkinhtế nhằm phục vụ cho việc giữ gìn môi trường thông qua sự tôn trọng những điều kiện xã hội cụ thể nào đó

Sáu mô hình trên đây có thể tạo ra nhiều biến thể khác nhau, nhất là khi các phương tiện trở thành những điều kiện (hoặc những cưỡng chế) hay ngược lại; vì thế, chẳng hạn như khuynh hướng duy lợi có thể rất gần với khuynh hướng nhân văn nếu nó không xem môi trường đơn giản chỉ là một phương tiện mà là một nguồn tài nguyên cần được quản lý. Những mô hình mà chúng ta quan sát thấy trong các diễn ngôn nhìn chung là có những nét không trùng khớp hoàn toàn với sáu mô hình trên, điều này cũng có thể dẫn đến những méo mó và thậm chí đôi khi là những mâu thuẫn…

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần II


Chính sự thoái trào dần dần của mô hình Ford trong quản trị doanh nghiệp và sự mờ nhạt dần của mô hình nhà nước phúc lợi đã làm xuất hiện một quan niệm minh bạch (explicite) về CSR tại châu Âu trong những năm 1990, trước hết là qua các thuật ngữ như “doanh nghiệp công dân” (entreprise citoyenne), “doanh nghiệp có đạo đức” (entreprise éthique), và tiếp đến là “doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội” (entreprise socialement responsable). Quả vậy, trong hai mươi năm cuối cùng của thế kỷ XX, người ta đã phải chứng kiến sự xuất hiện của cái gọi là “xã hội rủi ro” (société du risque) [Beck 2001] được thể hiện qua sự giảm bớt khả năng chấp nhận rủi ro ở các doanh nghiệp cũng như ở các cổ đông và những người lao động ăn lương. Mặt khác (ít ra là tại phương Tây), mọi người ngày càng ý thức hơn về sự đe dọa của những mối hiểm họa mà một số có thể gây ra những hậu quả không thể đảo ngược (chẳng hạn sự hủy hoại sinh quyển sự gia tăng của tình trạng bất bình đẳng đe dọa sự cố kết xã hội, những sự tổn hại đối với sức khỏe công cộng); hoạt động kinh tế nói chung và các doanh nghiệp lớn nói riêng bị xem như là thủ phạm gây ra những hiểm họa đó. Đây chính là nguyên nhân thứ hai làm trỗi dậy quan niệm minh bạch về CSR.

Những hậu quả xã hội của mô hình Ford (tình trạng mất an ninh xã hội, tình trạng bấp bênh ngày càng gia tăng) cùng với các nhân tố khác (những vụ scandal tài chính, sự thỏa hiệp với các chế độ độc tài, những thảm họa sinh thái…) đã làm hoen ố đáng kể hình ảnh của những tập đoàn doanh nghiệp lớn, mặc dù cho đến cuối những năm 1970 những tập đoàn này vẫn còn được công luận đề cao. Những cuộc tái cấu trúc liên tục, những đợt cắt giảm chỗ làm không thay thế bằng những chỗ làm mới, tình hình này đã đặt dấu chấm hết cho tính hợp thức (légitimité) và lòng tin đối với các doanh nghiệp đó. Các doanh nghiệp lớn đã đạt đến một quy mô khổng lồ khiến người ta không thể thực hiện được việc kiểm soát dân chủ hoặc dân sự đối với các hoạt động của chúng, và điều này khiến người ta lại càng tăng thêm sự ngờ vực đối với các doanh nghiệp này.

Nhiều phong trào xuất phát từ các tổ chức xã hội dân sự đã gây sức ép ngày càng tăng đối với hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là trong các vấn đề liên quan đến việc tôn trọng các quyền con người và các quyền xã hội, việc bảo vệ môi trường và sức khỏe công cộng. Ngày nay, nhiều cuộc thăm dò ý kiến cho thấy rằng những mong đợi của công chúng đối với các doanh nghiệp chủ yếu là về các ứng xử của doanh nghiệp đối với môi trường và đội ngũ nhân sự chứ không phải là hoạt động kinh tế thuần túy của doanh nghiệp.

Ý thức được những vấn đề đó, phản ứng của các doanh nghiệp là cố gắng gây dựng lại hình ảnh của mình và khôi phục niềm tin đã bị đánh mất. Chúng ta sẽ thấy sau đây rằng mọi hoạt động liên quan đến CSR, dù là mang tính vật chất hay tượng trưng, đều hướng đến hai mục tiêu chung đó. Đồng thời, các doanh nghiệp đi đầu trong phong trào này cũng đã đưa ra được những giải pháp thay thế cho sự rút lui của nhà nước phúc lợi. Thậm chí các giải pháp đó còn được xem như là những biện pháp thay thế cho sự bất lực của những tổ chức siêu quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề lớn ở quy mô toàn cầu (chẳng hạn trong lĩnh vực biến đổi khí hậu).

Được phát triển ngay từ những năm 1970 tại Mỹ, phong trào này đã tìm cách bù đắp (ít nhất là trong lời lẽ diễn ngôn) tình trạng thoát ly lãnh thổ bằng cách dấn thân nhiều hơn tại nơi diễn ra hoạt động của doanh nghiệp. Việc chứng minh tư cách công dân tốt (good citizenship) cònt hể hiện ở sự tham gia xây dựng các luật lệ và tác động lên đời sống công cộng. Một phần trong văn liệu thuộc lĩnh vực quản trị chiến lược đã cho thấy rằng trong những năm 1980, sự tồn tại lâu dài của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào khả năng làm chủ môi trường kinh tế mà còn phụ thuộc vào việc làm chủ môi trường chính trị-xã hội [Martinet, 1983]. Ngày nay, nói chung người ta cho rằng sự thành công của một doanh nghiệp phụ thuộc vào sự quan tâm của doanh nghiệp đối với mọi thành phần có quyền và nghĩa vụ liên quan (stakeholders), tức những người và những thực thể mà doanh nghiệp có những mối quan hệ mang tính khế ước hoặc có thể có một ảnh hưởng nào đó đối với doanh nghiệp. Một số tác giả [Thoenig và Waldmann, 2005] còn đi xa hơn khi cho rằng các doanh nghiệp thành công trong thời đại ngày nay là những doanh nghiệp đã làm cho các thành phần có quyền và nghĩa vụ liên quan gắn với bó với căn tính (identité) của doanh nghiệp, và điều này quan trọng hơn việc thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng hoặc định vị trên thị trường.

Như vậy, những mong đợi của xã hội, những phản ứng hay hành động đón đầu của các doanh nghiệp cùng những hiệu ứng hồi đáp từ phía xã hội sẽ làm phát sinh các động lực liên kết mới giữa lĩnh vực kinh tế với xã hội [Capron và Quairel-Lanoizelée, 2002], và điều này sẽ tạo nên những mục tiêu mới mẻ cho các chủ thể kinh tế và xã hội.

Giải thích thế nào về trào lưu CSR

Như chúng tôi đã nhận xét, người ta có thể nhận ra mối liên hệ gốc gác giữa trào lưu CSR (toàn bộ những diễn ngôn và hành động thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp về những tác động đối với môi trường và xã hội) với khuynh hướng gia trưởng công nghiệp của thế kỷ XIX. Mặc dù hình thức là không giống nhau, nhưng có thể khẳng định rằng, tham vọng kiểm soát mọi hành động và ứng xử của bộ máy nhân sự để phát triển một “nền đạo đức kinh doanh”, sự tham gia vào đời sống của xã hội để trở thành một “doanh nghiệp công dân” tốt, sự tác động lên những lựa chọn chính trị của các quốc gia hoặc sự can dự vào những cuộc tranh luận quốc tế (chẳng hạn như Hội nghị Thượng đỉnh về Sự phát triển Bền vững tại Johannesburg năm 2002) của các doanh nghiệp là một kiểu khuynh hướng tân gia trưởng (néopaternalisme). Khuynh hướng này cómu5c tiêu xác định và áp đặt những khuôn mẫu chuẩn mực [mới] cho các cá nhân; những khuôn mẫu chuẩn mực này cũng đã có những vị “tư tế” và nghi thức riêng của mình được thể hiện qua những diễn ngôn cổ xúy cho CSR. Michael Porter, một trong những tác giả lớn trong lĩnh vực quản trị chiến lược, đã viết về CSR như thế này: “Sự phê phán quan trọng nhất của tôi là lĩnh vực CSR đã trở thành một thứ tôn giáo với các vị giáo sĩ riêng của mình, và chính vì vậy, có lẽ nó không cần phải có các dữ kiện thực tiễn và lý thuyết nữa. Có quá nhiều giáo sư và nhà quản trị tự hài lòng với lý lẽ “chúng ta cảm thấy đã ổn rồi”. Có quá nhiều hoạt động từ thiện được thực hiện theo niềm tin cá nhân của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp […]” (European Business Forum, 2003).

Bên cạnh giả thuyết vừa nêu trên về sự hình thành của một thứ khuynh hướng tân gia trưởng, liệu trào lưu CSR phải chăng là một câu trả lời cho những hậu quả nảy sinh từ sự thoái trào của mô hình quản trị Ford, được đánh dấu bởi các quá trình giải quy (dérégulation) các hoạt động kinh tế, một cách thức tổ chức xã hội đối với lao động dựa trên tính linh hoạt, một tình trạng bấp bênh hóa xã hội ngày càng gia tăng và những kiểu tiêu thụ dẫn đến sự dị biệt hóa ngày càng lớn tạo nên những sự phân tầng và những sự bất bình đẳng xã hội ngày càng sâu sắc?

Kèm theo sự thoái trào của mô hình quản lý Ford là sự khủng hoảng về tính hợp thức nền tảng của các đại công ty. Chính sự khủng hoảng này đã khơi mào cho hàng loạt bài viết và công trình nghiên cứu về những hành động xấu xa, những hiểm họa, các quá trình loại trừ, việc tìm kiếm vô độ siêu lợi nhuận và những hành động chống lại nền dân chủ của các công ty loại này, đến mức tất cả những điều đó đã bị kết tội như là một trong những thành tố của “sự tàn bạo êm dịu” (barbarie douce) [Le Goff, 2003].

Vì thế hơn lúc nào hết, các đại công ty đang phải tìm lại sự hợp thức, bởi nếu không họ sẽ mất đi các giá trị về tinh thần và biểu trưng để có thể thực hiện các hoạt động của mình (licence to operate). Vì bị đòi hỏi phải chứng minh tính hữu dụng về mặt xã hội nên các công ty này buộc phải biện minh bằng cách dựa trên một thế giới quan tương thích với các giá trị xã hội đang hiện hành. Trào lưu CSR có thể mang lại cái “phần hồn” phụ thêm đó, và sự biện minh này làm cho công ty hay doanh nghiệp trở nên “có thể chấp nhận được” dưới con mắt của xã hội dân sự. Đặc biệt, Elkington [1999] là người đã ca ngợi hết lời công cuộc viễn chinh nói trên bằng cách chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản sẽ thất bại nếu nó không trở nên có đạo đức hơn và nếu các doanh nghiệp không chịu khó đánh giá các tác động lên môi trường xã hội và tự nhiên nảy sinh từ các hoạt động kinh tế của mình. Ông cũng đã đại chúng hóa khái niệm bộ ba mấu chốt (triple bottom line) mà theo đó, để đánh giá kết quả hoạt động của một doanh nghiệp thì không nên chỉ dựa duy nhất vào các tiêu chí kinh tế, mà còn phải dựa vào các tiêu chí về môi trường và xã hội nữa. Cũng chính vì thế mà một “thị trường của đức hạnh” đã được mở ra nhằm cung cấp lại tính hợp thức cho các đại công ty [Vogel, 2006].

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần I


Nếu như khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) là tương đối mới mẻ thì ngược lại, sự quan tâm đến những hậu quả nảy sinh từ hoạt động của các doanh nghiệp nói riêng và các hoạt động kinh tế nói chung đã có từ rất lâu. Vào thời kỳ công nghiệp, khuynh hướng gia trưởng (paternalisme) chính là hình thái hiện đại đầu tiên của loại trách nhiệm này. Ngay từ những năm 1950, chính các tác giả người Mỹ đã tạo ra khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility – CSR) dựa trên mối bận tâm về mặt đạo đức và tôn giáo. Tuy nhiên vào giữa thế kỷ XX, sự phát triển của mô hình Ford (fordisme) và mô hình nhà nước phúc lợi (État-providence) đã làm lu mờ những vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong bối cảnh những hiểm họa về môi trường ngày càng gia tăng, quá trình toàn cầu hóa và tài chính hóa kinh tế ngày càng mạnh mẽ, thì việc tìm kiếm ý nghĩa cho hoạt động kinh tế lại một lần nữa được đề cập đến, nhất là tại châu Âu. Một quan niệm mang tính thế tục về CSR đã hình thành và tìm được chỗ dựa trong quan niệm về sự phát triển bền vững.

Sự dung hòa giữa hoạt động kinh tế và các mong đợi của xã hội

Từ thời Cổ đại, giữa các hoạt động kinh tế và xã hội đã luôn có những mối quan hệ căng thẳng, dao động giữa hai cực: một bên là việc săn tìm các nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên con người, một bên là đóng góp vào việc thỏa mãn những nhu cầu của các dân tộc. Điều tệ hại là hậu quả của việc săn tìm tài nguyên mà hoạt động kinh tế cần khai thác để có thể tồn tại lâu dài (chẳng hạn như lĩnh vực đánh bắt cá và du lịch ngày nay). Nói cách khác, đó là sự căng thẳng giữa nhu cầu sản xuất và khả năng gánh chịu những nguy cơ nảy sinh từ việc sản xuất ra các vật phẩm phục vụ cho nhu cầu con người.

Qua những thời đại kế tiếp, các mối quan hệ đó ít nhiều đã được điều chỉnh. Từ bộ luật Hammourabi yêu cầu phải bảo vệ những người nô lệ, cho đến việc quản lý các khu rừng thể hiện trong đạo luật Colbert với tầm nhìn rất dài hạn, hay mối bận tâm làm sao tạo ra được sự cân bằng giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và ngành chăn nuôi gia súc trong các đại điền trang của những dòng tu thời Trung cổ, người ta luôn bắt gặp lại mối lo âu thường trực về việc tái sản xuất và lưu giữ các nguồn tài nguyên mà dựa vào đó các hoạt động kinh tế được thực hiện, cho dù nền tảng của mối lo âu ấy đã thay đổi một cách sâu xa qua nhiều thế kỷ [Martinet và Reynaud, 2004].

Đi kềm cuộc cách mạng công nghiệp là lối quản lý gia trưởng đối với nguồn nhân công. Theo lối quản lý này, giới chủ phải chịu trách nhiệm bảo lãnh những người làm công ăn lương và gia đình của họ “từ lúc chào đời cho đến lúc qua đời”. Vì đã đáp ứng được những yêu cầu về kinh tế, trật tự xã hội cũng như những đòi hỏi về mặt đạo đức, mô hình gia trưởng mặc nhiên trở thành một dạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cho đến giữa thế kỷ XX [de Bry, 2006]. Tuy nhiên, với sự lan rộng của mô hình Taylor-Ford trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, mô hình gia trưởng dần dần đã bị xóa bỏ. Mô hình Taylor-Ford xem các hoạt động riêng tư của đội ngũ nhân công không dính dáng gì đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, và lấy sự lớn mạnh của mô hình nhà nước phúc lợi với những định chế xã hội mới thay thế cho lòng bác ái của giới chủ.

Kể từ khi nhà nước phúc lợi đứng ra đảm nhiệm việc đền bù cho các “hậu quả thiệt hại của sự tiến bộ” và các chi phí ngoại tác tiêu cực khác của hoạt động kinh tế (các tổn hại, ô nhiễm…), cũng như kể từ khi việc kiểm soát các mối quan hệ lao động thực hiện ở những cấp bao quát hơn (theo ngành, hay liên ngành nghề), doanh nghiệp theo mô hình quản lý Taylor-Ford đã không còn chú ý đến vai trò cá nhân của mình xét về mặt trách nhiệm mang tính xã hội và trách nhiệm đối với xã hội. Điều này từng xảy trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ. Chẳng hạn như, trong thời kỳ “Ba mươi năm vinh quang” tại Pháp, các doanh nghiệp có thể biện minh cho các hành vi mang tính “khai thác” (prédateur) của mình (nhất là sự khai thác đối với môi trường tự nhiên, sức khỏe người lao động và các điều kiện lao động) bằng sự khuếch trương nhanh chóng của những công nghệ sản xuất mới và các nhân tố hợp lý hóa sản xuất (tiêu chuẩn hóa các quy trình sản xuất) cũng như các nhân tố xã hội (thành quả của hoạt động sản xuất có thể được phân chia cho mọi người).

Tuy nhiên, mô hình doanh nghiệp Taylor-Ford ấy đã lụi tàn trong những năm 1980, và nhà nước phúc lợi ngày càng không còn tỏ ra là một viễn tượng hay một phương hướng có triển vọng. Chính xuất phát từ tình hình này mà người ta lại tập trung chú ý đến doanh nghiệp cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp trong lòng xã hội, và điều này làm nảy sinh một quan niệm minh bạch hơn về CSR. Doanh nghiệp từ nay lại chiếm vị trí trung tâm trong các cuộc tranh luận xã hội và trở thành một “vấn đề của xã hội” (affaire de société) [Sainsaulieu, 1990]. Ngược lại, xã hội cũng trở thành một vấn đề của các doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp có sức mạnh kinh tế có thể tác động đến những lựa chọn chính trị.

Quan niệm ở Mỹ về CSR: Các lý do đạo đức và tôn giáo

Mặc dù gốc gác của khái niệm CSR đã có từ xa xưa, từ trước Thế chiến thứ Hai, xuất phát từ khuynh hướng dân chủ-xã hội, cho rằng cần thúc đẩy một sự “kiểm toán xã hội” (audit social) đối với ứng xử của các doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nhu cầu của xã hội, nhưng Bowen [1953] mới thực sự là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “corporate social responsibility”, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Bowen là một mục sư muốn xây dựng một học thuyết xã hội cho Giáo hội Tin lành có cùng tầm cỡ với học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, do đó, quan niệm của ông ta đã tạo ra một ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm về CSR ở Mỹ. Quan niệm này tương ứng với hai điều giáo huấn của Kinh thánh là nguyên tắc quản gia (stewardship principle) theo đó, người quản lý tài sản một cách có trách nhiệm không được làm tổn hại đến các quyền của người khác, và nguyên tắc bắc ái (charity principle) theo đó người có của có bổn phận phải giúp đỡ những người khốn khó. Vì vậy, đây là một quan niệm nhấn mạnh đến lòng từ thiện với tư cách là hệ luận của nguyên tắc trách nhiệm cá nhân nhằm mục tiêu sửa chữa những khuyết tật của hệ thống và bồi hoàn cho những sự lạm dụng và vi phạm, hơn là ngăn ngừa hay dự liệu nhằm tránh những thiệt hại do hoạt động của doanh nghiệp gây ra.

Mặt khác, quan niệm này cũng phù hợp với những đặc trưng xã hội, văn hóa và thiết chế riêng biệt của xã hội Mỹ [Pasquero, 2005]. Theo đó, cá nhân là trung tâm của tất cả mọi thứ, trách nhiệm chủ yếu thuộc về cá nhân, còn xác định và “quản lý” các quy tắc liên quan tới các mối quan hệ giữa các cá nhân trong xã hội là nhiệm vụ của nền đạo đức. Như vậy, mục tiêu loại trừ các hành vi xấu và phi luân lý không được thực hiện thông qua sự cưỡng chế của những quy định của nhà nước, vì điều này bị xem là làm hạn chế quyền tự do cá nhân và có thể gây ra những tác dụng ngược. Quan niệm về doanh nghiệp ưu tiên nhấn mạnh đến các mối quan hệ hợp đồng (theo khế ước), nhất là mối quan hệ với các cổ đông. Giá trị của tổ chức chính là giá trị của người đứng đầu, vốn được xem như có vai trò thống nhất bộ máy nhân sự, giải tỏa những xung đột và căng thẳng trong tổ chức. Một cách tổng quát, có thể tóm tắt quan niệm ở Mỹ về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp qua công thức “lợi nhuận trước, bác ái sau”.

Vì sao xuất hiện một quan niệm minh bạch về CSR

Trong phần lớn nửa sau thế kỷ XX, thuật ngữ CSR vẫn chưa được biết đến tại châu Âu lục địa. Sở dĩ như vậy là vì mức độ bảo hộ xã hội đã được định chế hóa cao nên đã hoàn toàn làm lu mờ hoạt động từ thiện của các doanh nghiệp; đồng thời, các thỏa ước tập thể giữa người sử dụng lao động với người lao động ở cấp quốc gia và cấp ngành nghề tại nhiều nước đã làm cho CSR đối với người lao động, và đôi khi còn đối với cả những đối tượng khác nữa, không phải mang tính chất cá nhân mà là mang tính chất tập thể. Vì thế ở giai đoạn này, có thể gọi đây là một thứ CSR mặc nhiên (implicite) [Matten và Moon, 2005]: một doanh nghiệp nào đó không có lý do gì để khoe khoang các hoạt động xã hội của mình bởi lẽ, về nguyên tắc, luật lệ và các thỏa ước xã hội đều được áp dụng cho mọi doanh nghiệp.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Nhà tư tưởng và người bán hàng


Randall Lane

Điểm chung giữa người giàu nhất thế giới (kiêm nhà từ thiện hào phóng nhất) với ngôi sao nhạc rock nổi tiếng nhất thế giới (kiêm nhà hoạt động xã hội hiệu quả nhất)? Quan điểm tư bản về cách giải quyết đói nghèo trên toàn cầu.

Forbes (F): Trên giấy tờ hai ông rất khác nhau, nhưng trên thực tế có thể hai ông lại có nhiều điểm chung hơn mình nghĩ…

Bono (B): Chiều cao đấy!

F: Cả hai đều chơi cờ vua lúc nhỏ, rồi vào đại học nhưng bỏ giữa chừng. Hai ông cùng đều gây dựng nên công ty quy mô toàn cầu và đều chịu tác động mạnh mẽ sau chuyến đi đầu tiên đến châu Phi (Bono sau buổi biểu diễn từ thiện Live Aid, và Bill trước chuyến safari trăng mật với Melinda) và cả hai đều coi Nelson Mandela là một trong những người hùng vĩ đại nhất.

Nhưng Bill này, có đúng là hồi đầu tiên gặp Bono, ông không thực sự muốn gặp vì nghĩ chuyện đó mất thời gian?

Bill Gate (G): Đúng thế, chúng tôi có bạn chung là Paul Allen. Paul đôi lần nói với tôi, “Anh biết không, Bono thực sự rất quan tâm đến vấn đề đói nghèo và việc cậu đang làm, cậu nên nói chuyện với anh ấy”. Đúng là thoạt tiên tôi không coi chuyện gặp Bono là ưu tiên. Rồi trong cuộc họp tại Davos ở New York sau vụ khủng bố 11.9, Bono, Bill Clinton và tôi gặp nhau. Tôi khá thích thú thấy Bono thực sự hiểu điều anh ấy nói và cam kết thực hiện nghiêm túc. Không phải ai cũng thế. Kể từ đó, chúng tôi sát cánh bên nhau.

F: Bono, ông từng nói ông học được từ Bill nhiều điều. Bill đã dạy ông những gì, và tại sao ông học từ ông ấy?

B: Trước khi nói tôi học được gì, tôi sẽ nói tôi dạy Bill những gì. Đó là chuyện thú vị về việc không nên đánh giá bạn bè. Tôi nói với Paul Allen, “Anh giúp tôi gặp Bill Gates được không? Vì chúng tôi thực sự cần chuyên nghiệp hóa hoạt động, cần vốn. Tôi biết Bill quan tâm đến việc chúng tôi làm và Melinda cũng vậy”. Paul là gã kiệm lời. Trước đó ông ấy luôn trả lời e-mail của tôi, đột nhiên lần này không trả lời. Thực sự, tôi khá bực và nói, “Chơi vậy không đẹp đâu”. Vì đó là lần duy nhất tôi nhờ ông ấy.

Tất nhiên, tôi không hề biết Paul đã ngỏ ý để Bill gặp tôi nhưng Bill đã bảo “tôi không muốn gặp, dù đó là Sonny Bono hay ai cũng thế”.

Tôi tự gặp Bill và Melinda và nói: “Chúng tôi có tổ chức và có những người rất thông minh và tinh nhạy. Nhưng chúng tôi cần phải chuyên nghiệp hóa”. Tổng thống Bush đã tiếp quản Nhà Trắng. Những gì chúng tôi làm trước nay đều dẫn đến Nhà Trắng của Bill Clinton, nhưng giờ không còn phù hợp nữa và chúng tôi cần chuyên nghiệp hơn. Thế rồi chúng tôi nhận 1 triệu đôla Mỹ từ Bill Gates. Sau đó Bill nói trên New York Times hay đâu đó là 1 triệu đôla Mỹ đưa cho chúng tôi là khoản chi tiêu có ý nghĩa nhất của anh ấy đến nay. Lời khen của Bill rất tuyệt vời và còn giúp chúng tôi tìm nguồn tài trợ dễ hơn.

Nhưng điều làm tôi sốc khi là nhà hoạt động xã hội là lúc nhận ra vai trò quan trọng của thương mại trong quá trình chấm dứt đói nghèo cùng cực và vai trò doanh nghiệp trong việc đưa con người ra khỏi cái nghèo cùng cực. Ngay lúc này chủ nghĩa tư bản đang rơi vào khủng hoảng và bị phán xét. Có cảm giác về sự tách biệt giữa “chúng ta” và “họ”, 99% người nghèo và 1% người giàu, những người được lợi từ hoàn cảnh. Một số lời tố cáo dĩ nhiên quá mức một cách lố bịch, nhưng một số thì không. Điều cốt yếu là làm sao để tinh thầnh doanh nhân làm từ thiện (entrepreneurial philanthropy) trong thế kỷ 21 hợp nhất được khuôn dạng và hình thức mới. Điều tôi học được từ Bill và Melinda là không chi tiền của họ mới là thứ cần thiết, mà quan trọng nhất là họ có thể đóng góp sức mạnh trí tuệ của mình.

F: Bono, tôi tin là ông đã gọi mình là “nhà tư bản mạo hiểm”. Hãy nói một chút về RED, nơi ông là người ủng hộ và dẫn dắt vào định hướng thương mại để khích lệ thay đổi và huy động được rất nhiều tiền.

B: Tôi nhớ mình gặp Bob Rubin ngay khi ông rời bỏ vị trí Bộ trưởng Tài chính để xin lời khuyên giải quyết bệnh HIV/AIDS. Ông trả lời: “Nếu muốn có một chút thay đổi trong chuyện này, ông phải có lộ trình giống như Nike. Ông phải giải thích, chẳng hạn với người Mỹ, quy mô của vấn đề và phương cách giải quyết. Và ông có thể phải chi 50 triệu USD để biến điều đó thành hiện thực, giống như cách Nike chi tiền tiếp thị các ý tưởng của họ”. Tôi nói, “Bob, làm sao chúng tôi có 50 triệu USD?” Ông nói: “Đó là chuyện của ông!”

Chúng tôi thành lập RED. Giờ đây, với sự trợ giúp của quỹ Gates – nhân tiện nói luôn là thực sự tôi không làm gì được nếu không có quỹ Gates – RED là sáng kiến cố gắng “cưỡi trên lưng” những người khổng lồ như Apple hay Microsoft, Armani hay Starbucks. Tại giải Pháp mở rộng, tất cả vận động viên tennis tên tuổi đều xuất hiện với cây vợt màu đỏ, vì RED đã làm việc với hãng dụng cụ thể thao Head. Bởi vậy chúng tôi dùng RED không chỉ để quyên tiền… – tôi nghĩ chúng tôi đã quyên tới nay được 207 triệu USD để mua thuốc trị AIDS cho người không có khả năng mua thuốc – mà còn tạo ra lửa nhiệt tình và lòng hăng hái giải quyết vấn đề. Khi các nhà làm luật gặp nhau ở quốc hội trong những lúc khó khăn, họ cảm nhận được điều đó. Chúng tôi đã từng tạo ra sức nóng tại Mỹ và khi đó người ta không cảm nhận được sự cấp bách về AIDS. Chúng tôi muốn có mặt trong những trung tâm thương mại để tỏa nhiệt. Khi bước dọc con đường và thấy một áo T-shirt hiệu Gap, họ sẽ cảm thấy lửa nhiệt. Năm 2013 là một năm khó khăn về quyên vốn cho Global Fund (nơi cấp tiền để chống AIDS, bại liệt và sốt rét) nên lửa nhiệt rất quan trọng. Đó là điều RED làm: tạo lửa nhiệt, để khi một tổ chức khác, chiến dịch ONE, có thể thực sự xuất hiện ở Berlin, Paris hay London, chúng tôi xin ngân sách lớn của các chính phủ và tiếp cận theo hướng đó.

F: Bono là nhà hoạt động trở thành nhà tư bản. Còn Bill, ông luôn là nhà tư bản và nhà từ thiện, giờ đây gia tăng cường độ làm việc với các chính phủ. Liệu từ thiện thương nghiệp và phong trào hoạt động xã hội có thể vận hành đơn thương độc mã, hay thực sự cần gắn kết với nhau?

G: Tôi nghĩ chìa khóa cho hoạt động từ thiện là tiếp cận được các khu vực lớn hơn như chính phủ và cộng đồng kinh doanh. Chẳng hạn bạn có một mục tiêu, như giảm số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong mỗi năm. Từ thiện trực tiếp là sáng chế ra vaccine mua vaccine, vận chuyển, nhưng không hẳn giải quyết cốt lõi vấn đề. Trừ khi bạn có những cái đầu tinh nhạy trong các công ty dược can dự vào quá trình sáng chế, trừ khi bạn có được ngân sách hỗ trợ từ các chính phủ giàu có, và trừ khi bạn thuyết phục được người ở địa bàn hỗ trợ – trong nhiều trường hợp là làm việc với các quốc gia đang phát triển giám sát cách họ đào tạo và quản lý những người làm trong trong mảng chăm sóc sức khỏe ban đầu – chỉ can dự sâu vào những việc đó, bạn mới tạo ra ảnh hưởng.

Có những công đoạn trong nghiên cứu, ví dụ tìm ra vaccine sốt rét, nhà từ thiện có thể trợ vốn cho phần lớn quá trình nghiên cứu. Nhưng đến công đoạn vận chuyển, ngân sách hỗ trợ 130 tỷ USD/năm của các chính phủ phải tập trung vào các quốc gia nghèo này, đảm bảo số tiền được sử dụng chính đáng để khoản tiền ấy sẽ không bị cắt đi vì các vấn đề ngân sách và bạn phải thu hút sức mạnh khu vực tư nhân, nơi tạo đà phát triển của các quốc gia này – đó là cách để thắng lợi và có số tiền đó trong 15 năm tới.

F: Tham nhũng là rào cản lớn. Làm sao ông đảm bảo tiền vào các quốc gia này không chảy vào túi các chính phủ tệ hại?

G: Điều này phụ thuộc vào lĩnh vực bạn hoạt động: đo đạc chính xác đến đâu. Trong y tế, tính toán bao nhiêu người sống nhờ nhận được thuốc trị HIV rất rõ ràng, cũng như tính toán độ phủ của vaccine giúp đẩy lùi bệnh sởi, để giảm chi phí từ hơn 1 triệu xuống 300 nghìn USD/năm. Đó là những tính toán trực tiếp. Và vì bạn mua vaccine và đưa chúng đến một quốc gia, bạn biết mình tốn một ít tiền đào tạo, chi phi nhân công, và có thể vài phần trăm trong đó sẽ bay hơi.

Nhưng việc này không giống như xây đường, khi gửi tiền cho chính phủ và không có con đường nào được xây, hay bạn biết rằng mình phải trả gấp đôi số cần có. Lĩnh vực y tế và nông nghiệp vốn rất quan trọng ở những nước nghèo nhất (để người dân có quyền khám sức khỏe, đảm bảo về dinh dưỡng), bạn có thể làm được trong môi trường mà tỉ lệ tham nhũng nhiều nhất là 5%. Và nếu bạn không thể chấp nhận được vài phần trăm đó, giống như người mới bước chân vào nghề, thì bạn là người theo chủ nghĩa lý tưởng và không chơi được cuộc chơi giúp các quốc gia nghèo.

B: Có cách trị bệnh tham nhũng. Ít nhất có một loại vaccine. Chúng tôi gọi đó là minh bạch. Một trong những điều chúng tôi làm trong chiến dịch ONE, và vẫn đang làm nhờ sự hỗ trợ từ Bill và Melinda Gates, là tạo ra cuộc cách mạng về tính minh bạch. Làn sóng minh bạch đang đến qua tất cả các phương thức thương mại, soi rọi mọi giao dịch để người ta có thể nhìn thấy điều gì đang diễn ra và tự đánh giá liệu chính phủ của họ có đang điều hành tốt không.

F: Nói đến minh bạch là nói đến những con số. Bono, gần đây ông đã bước ra khỏi “tủ kính”: Ông đã thừa nhận mình ghiền con số. Ông nói một chút về việc ghiền con số này xem.

B: Tôi đang giả vờ giống Bill thôi mà. Tôi là người Ireland, chúng tôi dễ thể hiện cảm xúc. Tôi đã học cách trở thành nhà hoạt động dựa vào cứ liệu, để bỏ qua những thứ bề mặt, tìm ra những gì hoạt động được và những gì không. Lặp lại và tăng cường những thứ làm được, ngưng làm những gì vô ích. Tôi không xuất thân từ truyền thống hippie, nghĩ rằng hãy nắm tay nhau và thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn.

Tôi thực sự thích tính toán. Toán quá hay! Gần đây, tôi kể với mọi người là có 9 triệu người đang dùng thuốc điều trị AIDS. Năm 2003, chỉ có 50 ngàn người. Đó là điều phi thường nhất. Tôi chỉ muốn gửi lời cảm ơn đến những người đóng thuế, những người đã chi trả cho việc này. Bởi đó là điều rất đáng kể. Những con sốt tiết lộ thực sự. Trong 10 năm qua, số ca sơ sinh tử vong đã giảm. Tôi nghĩ là giảm 7.256 ca/ngày. Giảm từ 9,4 triệu xuống còn 7,2 triệu, đại loại vậy. Tôi yêu những con số. Chúng thật quyến rũ. Như thể chúng có vần điệu trong đầu tôi vậy.

F: Dựa vào các con số và dữ liệu, đâu là sự thay đổi lớn nhất mà các ông đã tạo ra?

G: Bạn luôn phải học hỏi – đi thực địa, gặp các nhà khoa học, nhìn vào các con số; đó là tổng hợp những mảnh được ghép lại. Với công việc trong mảng y tế, chúng tôi tìm hiểu cách vận hành thực sự các hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, từ đó cho phủ vaccine, dạy người mẹ về những thứ phải làm trước và sau khi sinh, chuyện dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe sinh sản. Thật tuyệt vời khi một số quốc gia chi rất ít vào hệ thống y tế ban đầu và họ có 95% số trẻ được tiêm vaccine; một số nước chi rất nhiều mà chỉ có 30%. Và chúng tôi hiểu tầm quan trọng của hệ thống nhân viên và việc cải thiện hệ thống này, cách đo đạc, đào tạo, tuyển dụng.

Trong mảng giáo dục ở Mỹ, thách thức lớn nhất chúng tôi gặp là tập trung vào cấu trúc trường học trong 4 năm học đầu tiên và không tập trung quá nhiều vào việc giúp các giáo viên học hỏi từ những giáo viên xuất sắc nhất. Và điều này đã có tác dụng, giúp cải thiện 10% hay 15% thứ chúng ta gọi là “sáng kiến trường học nhỏ” – nhưng như thế chưa đủ. Vậy nên chúng tôi trập trung vào cách giúp giáo viên nhận phản hồi, về những cách làm đúng để giúp họ cải thiện – một cách thực chất với hệ thống nhân viên của họ chứ không phải chỉ là chuyện trợ cấp – bởi hóa ra đó là bước kế tiếp trong việc phát triển, phân tích và đo lường một cách chuyên nghiệp. Bây giờ chúng ta thấy đó là điều rõ ràng phải làm, nhưng chúng tôi phải mất rất nhiều thời gian và tiền bạc mới đưa được mô hình ban đầu đó vào thực tiễn.

B: Áp dụng tính minh bạch vào phát triển là bài học lớn với chúng tôi. Thật kỳ lạ, nhưng cả hai yếu tố quan trọng nhất trong giao dịch, chúng tôi gọi là trợ lực của phát triển, lại không hề biết rằng đó là hai vế của một phương trình. Người trả thuế và đứa bé sử dụng vaccine hay học sinh được ngồi trong lớp. Điều này phải thay đỏi. Và một khi làm được, tôi nghĩ là sẽ thật tuyệt.

Chẳng hạn, tôi nhớ là chúng tôi đã làm việc trong mảng xóa nợ, và chúng tôi ở trong một khu ổ chuột ngoại ô Accra (Ghana). Ở đó không có nhà vệ sinh, hay bất cứ cái gì tương tự, cho 80 ngàn người sinh sống. Vài năm sau, sau cuộc chiến xóa nợ và khiến chính phủ Ghana chi số tiền này chính đáng, tôi đã nhìn thấy các nhà vệ sinh! Khi ấy tôi nghĩ, “Chà, mình phải thử mới được!” Tôi ngồi vào, và xin thứ lỗi trước nhé, tôi đứng ở đó và nhìn lên tường, thấy đề dòng chữ “Do HIPC tài trợ”. HIPC là cái gì? Để tôi nói cho quí vị nghe, đó là ý tưởng của Liên hợp quốc có tên Sáng kiến cho các quốc gia nghèo nặng nợ. Và nhóm này đi đầu trong công cuộc xóa nợ. Đó là chữ viết tắt của họ! Ai mà biết đó là cái gì?

Khi trình bày với Tổng thống Bush về đề án AIDS trong phòng bầu dục, tôi nhớ mình nói với ông ấy, “Ngài có thể sơn viên thuốc màu đỏ, trắng và xanh nếu cần, thưa Tổng thống. Nếu là như thế, đó sẽ là cách quảng cáo tuyệt vời nhất cho nước Mỹ”. Và đúng là như vậy.

F: Giả sử chuyện đó không diễn ra như ý ông, tôi tin chắc là lĩnh vực vận động hành lang tại Washington vẫn có công việc tốt dành cho ông. Tôi biết ông xuất thân từ gia đình kinh doanh – và ông có lẽ là người vận động hành lang hiệu quả nhất thế giới. Sao ông làm được điều đó?

B: Xin cảm ơn. Quan trọng là phải có ý tưởng. Khi chúng tôi họp với Angela Merkel, hoặc tôi và Bill cùng đi gặp khá nhiều quan chức chính phủ Pháp vài tháng trước, chúng tôi mang theo những ý tưởng giải quyết vấn đề chúng tôi đang trình bày. Chiến lược của chúng tôi, bạn có thể gọi nó là thao tác từ bên trong nhưng bên ngoài tỏ ra linh động, luôn có những lúc bạn cần ghé tai nhà làm luật và chỉ cần nói (nếu họ tỏ ra thô lỗ với bạn): “Đó sẽ là một dấu ấn lớn…”

F: Câu hỏi cuối, Các ông chịu nhiều áp lực vì ai cũng chờ đợi những thay đổi lớn. Liệu hành động hứng khởi ban đầu có tạo ra áp lực cho bản thân các ông trong những công việc tiếp sau đó?

G: Có chứ. Nhưng vui mà. Bạn có khả năng thất bại. Tôi nghĩ lòng hảo tâm của Warren dành cho quỹ sẽ khiến áp lực còn lớn hơn. Vì nếu đó là tiền bạn tự làm ra, bạn sẽ nghĩ, “Được thôi, mình có quyền phạm lỗi”. Còn với tiền của ông ấy, ngay cả khi ông tử tế nói là thôi, thất bại cũng không sao, tôi cũng cảm thấy mình không nên thất bại. Nhưng việc này thú vị mà. Bạn muốn mình thức dậy vào buổi sáng và nghĩ, liệu mình có làm việc đủ siêng năng? Liệu mình có suy nghĩ đủ kỹ càng? Liệu mình có tìm đúng người? Tại sao thứ mình nghĩ sẽ suôn sẻ lại không như thế? Việc làm của tôi mang tính “động”, và tôi thấy vui về thách thức đó. Làm từ thiện bao hàm tất cả góc cạnh của những việc tôi từng làm trước đó.

B: Tôi vẫn không thôi cống việc chính, hàng ngày của mình, dù luôn có khả năng là U2 sẽ ra album mà không ai mua. Và theo như ban nhạc của tôi, nếu tôi vẫn cứ thế này, thì việc U2 thất bại sẽ đến nhanh hơn chúng tôi nghĩ. Công việc của tôi khá khó, vì tôi phải cân bằng giữa vai trò nghệ sĩ, vốn là điều thiên phú, và người bán hàng. Ở U2, tôi bán giai điệu. Tôi bán bài hát. Ở đây, tôi tìm cách bán các ý tưởng, nhưng tôi phải tin vào ý tưởng của mình, tin tôi là người bán hàng tốt. Có một áp lực to lớn là bạn không muốn làm dở công việc mình được giao. Tôi cảm thấy điều đó, và tôi cảm thấy bất cứ ai trong ONE cũng cảm thấy điều đó và ai trong RED cũng vậy, bởi chúng tôi đang phục vụ người khác. Mặc dù được Nelson Mandela nhờ vả, còn Desmond Tutu lúc nào cũng hăm dọa nếu chúng tôi không tiếp tục làm thiện nguyện, chúng tôi sẽ không được lên thiên đàng, thì vẫn có áp lực nội tại như Bill nói.

Trong công việc này, bạn đôi khi thấy người ta tuyệt vọng, vì thường xuyên là việc giằng xé giữa sự sống và cái chết. Thế nên may mà Bill và tôi uống cũng nhiều. Đùa thôi. Nhưng thực sự chúng tôi rất vui khi làm việc này. Thật hứng khởi khi thấy quá trình thay đổi trong 10 năm qua. Và lại có dịp qua lại với Warren Buffett, ông ấy kể chuyện tiếu lâm hơi bị buồn cười đấy.

Nguồn: Forbes 01/2014

Tương lai của hoạt động từ thiện


Matthew Bishop

Ngày 14.5.2013 sẽ đánh dấu 100 năm ra đời của Quỹ Rockefeller, với kỳ vọng thúc đẩy sự thịnh vượng của nhân loại trên toàn thế giới. Quỹ này nhanh chóng trở thành nổi tiếng nhất trong thời hoàng kim của hoạt động từ thiện, sử dụng khối tài sản khổng lồ của J.D.Rockefeller – người sáng lập Quỹ – để tạo ra hoặc góp phần xây dựng nên những tổ chức lớn của nước Mỹ ở thế kỷ 20, từ Hội Chữ thập đỏ đến Đại học Chicago. Quỹ cũng giúp cứu sống hàng triệu người thông qua việc hỗ trợ nghiên cứu trong lĩnh vực y tế công cộng toàn cầu (chẳng hạn như việc tìm kiếm loại vắcxin chống lại bệnh sốt vàng da) và nông nghiệp (cộng tác với Norman Borlaug để mang lại cuộc cách mạng xanh trong sản xuất lương thực ở châu Á).

Lễ kỷ niệm 100 năm đến vào lúc Bill Gates và Warren Buffett đang nỗ lực hướng đến một thời kỳ mới đầy hứa hẹn cho hoạt động từ thiện: cả hai ông vừa đóng góp tài sản cá nhân khổng lồ, vừa khuyến khích các tỷ phú khác tham gia vào chương trình Giving Pledge, cam kết đóng góp một nửa số tài sản của họ vì những mục đích tốt đẹp. Vậy thế kỷ tới, hoạt động từ thiện có thể mang lại những gì?

Quỹ Rockefeller sẽ vẫn còn đón chào lễ kỷ niệm năm 2113, nhưng Quỹ Bill & Melinda Gates Foundation có thể không còn. J.D.Rockerfeller thành lập một nền tảng ổn định, hoạt động lâu dài; trong khi tất cả số tiền ủng hộ vào quỹ Gates phải được chi tiêu trong vòng 50 năm sau ngày mất của người sáng lập còn lại cuối cùng (ông bà Gates và ông Buffett). Gia đình nhà Gates và ông Buffett nằm trong số ngày càng nhiều những nhà hảo tâm tin tưởng rằng, tiền của họ sẽ được sử dụng tốt hơn nếu nó được sử dụng khi họ vẫn còn tồn tại trong ký ức. Mười năm tới hoặc hơn một chút sẽ đặc biệt quan trọng trong việc định hình tương lai của hoạt động từ thiện. Cũng như J.D.Rockerfeller theo đuổi những gì mà ông gọi là “làm từ thiện có khoa học”, kết nối các chuyên gia để tìm câu trả lời cho những vấn đề lớn, ngày nay gia đình nhà Gates và những người khác kỳ vọng rằng hoạt động từ thiện của họ là để giúp vượt qua những thách thức ghê gớm nhất của thế giới. Nếu những điều này thành hiện thực, rất nhiều doanh nhân thành đạt sẽ tham gia làm từ thiện, với suy nghĩ rằng họ có thể tạo sự khác biệt. Nhưng nếu kết quả không khác biệt trong thập kỷ tới, nhiều người sẽ có thể từ bỏ công việc từ thiện vì nó chỉ là “mốt” nhất thời. Hoàn thành việc xóa bỏ bệnh bại liệt còn tồn tại ở ba nước và tiếp tục giảm đáng kể số người chết vì bệnh sốt rét trong thời gian gần đây sẽ là những nhiệm vụ được theo dõi chặt chẽ.

Ràng buộc với số người chiếm một phần trăm

Một số thắng lợi nhanh chóng của những nhà hảo tâm mới này sẽ giảm nhiệt cho không khí sôi sục chống người giàu đang ngày càng gay gắt hơn trên toàn thế giới; thậm chí có thể hình thành cơ sở cho một ràng buộc xã hội mới, trong đó sự khác biệt lớn về tài sản cá nhân được chấp nhận nếu những người giàu nỗ lực nghiêm túc để cho đi một cách hào phóng và hiệu quả.

Trong thời kỳ của J.D.Rockefeller khi quy mô còn nhỏ, một nhà hảo tâm có thể tự giải quyết vấn đề. Ngày nay, rõ ràng các giải pháp chỉ có tác dụng khi các nhà từ thiện có khả năng hợp tác hiệu quả không chỉ với lĩnh vực phi lợi nhuận mà cả với chính phủ và doanh nghiệp khác. Một số người coi việc làm từ thiện như đầu tư vốn mạo hiểm hay đặt cược dài hạn sẽ bị các nhà cung cấp tài chính khác lảng tránh.

Ngày nay chính phủ và các nhà hảo tâm nói nhiều về quan hệ đối tác với nhau. Tuy nhiên, quá trình hợp tác liệu có được thực hiện đúng như họ đã hứa? Một phép thử quan trọng sẽ là những người đóng góp tiền lo ngại về biến đổi khí hậu có thể sử dụng tiền của họ để chuyển hướng quan tâm của các chính trị gia tới mối đe dọa lâu dài này. Ý tưởng cho rằng các nhà hảo tâm nên làm việc với công ty lớn cũng sẽ được xem xét cặn kẽ. Không loại trừ khả năng các công ty khổng lồ như Nike, Pepsico và Unilever sử dụng việc làm từ thiện để che đậy những mục đích sâu xa của họ trong công việc kinh doanh. Các doanh nghiệp quan tâm hơn tới sự nghiệp từ thiện cũng có thể vì tin rằng những nhân sự xuất sắc nhất sẽ gia nhập vào lực lượng lao động của họ một phần vì ý nghĩa xã hội chứ không chỉ tiền bạc.

Tương tự như vậy, người ta cũng bày tỏ nhiều hy vọng về “đầu tư tác động”: đầu tư để đạt được hiệu quả cả về tài chính, xã hội và môi trường. Những bên đã ký vào cam kết Giving Pledge sẽ cùng xem xét kỹ hình thức đầu tư này trong năm 2013.

Sản phẩm đầu tư có thể tạo ra bước đột phá sẽ là trái phiếu thuộc loại “tác động xã hội”, đầu tư vào các chương trình của chính phủ có hứa hẹn lợi nhuận trong dài hạn. Tuy nhiên, các chính trị gia sẽ phải thận trọng khi theo đuổi những chương trình này. Các nhà đầu tư vào các loại trái phiếu tác động xã hội được trả lợi nhuận từ các khoản tiết kiệm – cũng chính là kết quả của chương trình trên. Trái phiếu đầu tiên thuộc loại này được thiết kế tại Anh để hỗ trợ một chương trình giảm tỷ lệ tái phạm tội của những tù nhân ra trại. Phần lớn các nhà hảo tâm đã đồng ý móc hầu bao. Ý tưởng này hiện nhận được sự chú ý của các chính phủ trên khắp thế giới, nhưng vì có rủi ro nên nó cần đến những nhà đầu tư sẵn lòng chịu mất số tiền này với hy vọng gia tăng một loại tài sản mới.

Phong trào làm từ thiện cũng sẽ lớn mạnh trên toàn cầu, khi có thêm nhiều quốc gia trở nên giàu có và tạo ra những người siêu giàu. Những quốc gia này không thể sao chép chính xác các hình thức hoạt động từ thiện đang có ở Mỹ, thay vào đó, sẽ tìm cách phù hợp với văn hóa của mình. Như chính các ông Buffett và Gates nhận thấy trong chuyến đi nước ngoài để vận động, các ông trùm tư bản tại các nền kinh tế mới nổi không nhiệt tình với cam kết Giving Pledge như những tư bản Mỹ. Lo lắng về những đứa con được nuông chiều của mình, họ thiên về các hoạt động từ thiện theo cách thức của gia đình nhà Rockefeller để giữ gìn các giá trị đã được tạo dựng qua nhiều thế hệ.

Sự lớn mạnh của truyền thông xã hội cũng sẽ làm thay đổi hoạt động từ thiện, cũng giống như nó đang làm thay đổi gần như tất cả mọi thứ khác. Ví dụ, các trang web mang đến cho các nhà tài trợ sự tương tác trực tiếp với một cá nhân hay cộng đồng có nhu cầu sử dụng tiền của họ sẽ củng cố và khuyến khích mọi người đóng góp, dù số tiền không lớn. Quan trọng hơn nữa, những người được hưởng lợi từ những khoản đóng góp này sẽ có khả năng mà họ chưa từng có trước đây, đó là gửi phản hồi tới nhà tài trợ và thậm chí gợi ý việc cho tiền nên được tiến hành như thế nào.

Tuy nhiên, trong dài hạn, tương lai của hoạt động từ thiện sẽ phụ thuộc trên hết vào sự tiến bộ của thế giới trong việc giải quyết các vấn đề nhân đạo. Vào cuối thế kỷ 20, nhận thức mới về nghèo đói toàn cầu và mối đe dọa mới của biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến một sự thay đổi trong hoạt động từ thiện hướng tới những việc có tính cấp bách hơn chứ không đổ vào nghệ thuật. “Tôi không đem tiền cho các nhà hát opera”, ông Gates từng nói. Nếu như thế kỷ 21 kết thúc mà biến đổi khí hậu không còn là vấn đề hoặc nhân loại đã thích nghi được, còn đói nghèo trở thành quá khứ nhờ một phần vào vai trò xúc tác của hoạt động từ thiện thì xu hướng này mới bị đảo ngược. Đến năm 2113, hoạt động từ thiện có lẽ sẽ không còn tập trung vào việc đảm bảo các nhu cầu cơ bản – việc đó đã hoàn thành – mà vào nghệ thuật và những thứ cao cả hơn. Đó thực sự sẽ là điều đáng để ăn mừng.

Nguồn: The Economist – Thế giới 2013

Tạo lập giá trị chung – Phần II


Những nguồn gốc của giá trị chung

Ở cấp độ rất cơ bản, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và sự khỏe mạnh của cộng đồng xung quanh nó có một mối liên quan gắn chặt với nhau. Hoạt động kinh doanh cần cộng đồng thành công, không chỉ để tạo ra nhu cầu cho sản phẩm của doanh nghiệp mà còn cung cấp những tài sản công cộng then chốt cùng một môi trường khuyến khích cho kinh doanh. Một  cộng đồng cần các hoạt động knh doanh thành công để cung cấp việc làm và sự thịnh vượng tạo ra những cơ hội cho công dân của cộng đồng đó. Sự phụ thuộc lẫn nhau có nghĩa rằng  những chính sách công làm suy yếu hiệu suất và khả năng cạnh tranh của các họat động kinh doanh là tự chuốc lấy thất bại, đặc biệt là trong một nền kinh tế toàn cầu nơi việc tạo thuận lợi và việc làm có thể dễ dàng di chuyển tới bất cứ đâu. Các tổ chức phi chính phủ và các chính phủ chưa thường thực sự đánh giá cao sự gắn kết này.

Trong quá khứ, theo quan điểm hẹp về chủ nghĩa tư bản, hoạt động kinh doanh đóng góp cho xã hội bằng cách tạo ra lợi nhuận, mà nó trợ giúp tạo việc làm, trả lương, mua hàng, đầu tư và nộp thuế. Hoạt động kinh doanh được điều khiển thường có đủ lợi ích xã hội. Một doanh nghiệp nói chung là một thực thể độc lập và các vấn đề xã hội hay cộng đồng xảy ra bên ngoài phạm vi sở hữu của nó. (Đây là luận cứ đã được phát triển một cách thuyết phục bởi Milton Friedman trong phê phán của ông về khái niệm tổng thể về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp).

“Giá trị chung” là gì?Khái niệm về giá trị chung có thể được định nghĩa như những chính sách và hoạt động thực tiễn nhằm củng cố khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trong khi đồng thời nâng cao các điều kiện kinh tế và xã hội trong những cộng đồng mà nó hoạt động. Việc tạo ra giá trị chung tập trung vào việc xác định và mở rộng các kết nối giữa tiến bộ xã hội và kinh tế.Khái niệm dựa trên giả thuyết rằng cả tiến bộ xã hội và kinh tế đồng thời cần chú trọng vào việc sử dụng các nguyên tắc giá trị. Giá trị được định nghĩa như những lợi ích tương ứng với các chi phí, không chỉ là lợi nhuận không. Việc tạo ra giá trị là một ý tưởng mà nó đã được nhận thức từ lâu trong kinh doanh, ở đó lợi nhuận là tổng thu nhập có được từ các khách hàng trừ đi chi phí đã bỏ ra. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh hiếm khi tấp cận các vấn đề xã hội từ quan điểm giá trị mà xử lý chúng như các vấn đề ngoại vi. Điều này đã che khuất các mối liên hệ giữa lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.

Trong khu vực xã hội, tư duy về mặt giá trị thường ít phổ biến. Các tổ chức xã hội và các thực thể chính phủ thường nhìn nhận thành công đơn thuần dưới nghĩa lợi nhuận có được hay tiền được sử dụng. Khi chính phủ và các tổ chức NGO bắt đầu nghĩ đến nhiều hơn về mặt giá trị, lợi ích của họ trong việc phối hợp với các hoạt động kinh doanh sẽ bắt buộc tăng lên.

Quan điểm này đã thấm sâu vào tư duy quản trị trong suốt hai thập kỷ qua. Các doanh nghiệp tập trung vào những lôi kéo khách hàng mua càng nhiều càng tốt sản phẩm của họ. Đối mặt với sự gia tăng của cạnh tranh và những áp lực về hiệu quả ngắn hạn từ các cổ đông, các nhà quản lý phải viện đến đến những làn sóng tái cấu trúc, giảm bớt nhân sự, tái phân bố lại tới những vùng có chi phí thấp hơn, trong khi tác động đến bảng cân đối về suất hồi vốn của các nhà đầu tư. Các kết quả thường là quá trình chuyển hóa sản phẩm thành hàng tiêu dùng, cạnh tranh giá cả, đổi mới thực sự một chút, tăng trưởng hữu cơ chậm, và lợi thế cạnh tranh không rõ ràng.

Theo cách cạnh tranh này, cộng đồng nơi mà doanh nghiệp hoạt động nhận thức ít được hưởng lợi ngay cả khi lợi nhuận tăng. Thay vào đó, họ nhận thấy rằng lợi nhuận đổ dồn vào chi phí của họ, một ấn tượng đã trở nên mạnh mẽ hơn trong thời kỳ phục hồi kinh tế hiện nay, trong đó thu nhập gia tăng đã được dành quá ít để bù đắp cho thất nghiệp cao, tình cảnh khó khăn về kinh doanh của địa phương, và những áp lực cao về các dịch vụ cộng đồng.

Nhưng không phải luôn theo cách này. Các công ty tốt nhất trước kia đã đảm nhận một phạm vi rộng những vai trò trong việc đáp ứng những nhu cầu của công nhân, cộng đồng, và trợ giúp các hoạt động kinh doanh. Khi những thể chế xã hội khác xuất hiện trên sân khấu, ở một chừng mực, những vai trò này đã bị giảm đi hay được ủy thác. Sự rút ngắn giới hạn về thời gian của nhà đầu tư đã thu hẹp tư duy về những đầu tư thích hợp. Khi các doanh nghiệp tích hợp theo chiều dọc đã phải dựa nhiều hơn vào những nhà cung cấp bên ngoài, thuê ngoài và đưa ra nước ngoài đã làm suy yếu sự kết nối giữa các doanh nghiệp và các cộng đồng của chúng. Khi các doanh nghiệp dịch chuyển những hoạt động khác nhau tới nhiều ngày càng nhiều nơi, họ thường thiếu sự gắn kết với bất kỳ một địa phương nào. Thực vậy, nhiều công ty không còn nhận thức về một quê hương, mà nhìn chính mình như những công ty “toàn cầu”.

Những biến chuyển này đã định hướng những tiến bộ chính yếu trong hiệu suất kinh tế. Tuy nhiên, một số vấn đề hết sức quan trọng đã bị lạc hướng trong tiến trình, như những cơ hội nền tảng hơn để tạo ra giá trị đã bị thiếu mất. Phạm vi của tư duy chiến lược đã bị thu hẹp lại.

Lý thuyết chiến lược tin rằng để thành công, một công ty cần phải tạo ra một đề xuất giá trị khác biệt mà nó đáp ứng được những nhu cầu của một tập hợp chọn lựa của các khách hàng. Công ty có được lợi thế cạnh tranh từ việc làm thế nào nó định hình được chuỗi giá trị, hay một tập hợp các hoạt động tập trung vào việc sáng tạo, sản xuất, bán hàng, phân phối và trợ giúp các sản phẩm và dịch vụ của mình. Trong nhiều thập niên các doanh nhân đã nghiên cứu việc định vị và phương cách tốt nhất để thiết kế các hoạt động và tích hợp chúng. Tuy nhiên, các công ty đã bỏ sót những cơ hội đáp ứng những đòi hỏi xã hội mang tính nền tảng và thiếu sự hiểu biết làm thế nào những tổn thương và yếu kém xã hội tác động lên các chuỗi giá trị. Tầm nhìn của chúng ta đơn giản là quá hẹp.

Trong việc thấu hiểu về môi trường kinh doanh, các nhà quản lý tập trung hầu phần lớn sự chú ý của mình vào lĩnh vực công nghiệp, hay các hoạt động kinh doanh đặc thù mà doanh nghiệp có thể cạnh tranh tốt. Đó là bởi vì cấu trúc ngành công nghiệp có những ảnh hưởng mang tính quyết định lên lợi nhuận của doanh nghiệp. Những gì đã bỏ qua, do vậy, tác động sâu sắc đến vị trí có thể có năng suất và đổi mới. Các công ty đã thất bại trong việc hiểu được tầm quan trọng to lớn của môi trường kinh doanh xung quanh các hoạt động chủ chốt của mình.

Giá Trị Chung được tạo lập như thế nào?

Các công ty có thể tạo ra giá trị kinh tế bằng việc tạo ra giá trị xã hội. Có ba cách khác nhau để thực hiện điều này: bằng việc nhận thức lại về các sản phẩm và thị trường, tái xác định lại năng suất trong giá trị chuỗi, và xây dựng các cụm công nghiệp phụ trợ tại những nơi công ty hoạt động. Mỗi cách trong ba cách này là một phần của vòng tròn đạo đức của giá trị chung; việc cải thiện giá trị trong mỗi vùng mang đến sự gia tăng những cơ hội cho những vùng còn lại.

Khái niệm về giá trị chung xác định lại những đường biên của chủ nghĩa tư bản. Bằng việc kết nối tốt hơn sự thành công của các công ty với những cải thiện xã hội, điều này đã mở ra nhiều cách thức để đáp ứng những đòi hỏi mới, đạt được hiệu suất, tạo ra sự khác biệt, và mở rộng thị trường.

Khả năng tạo ra giá trị chung tác động một cách công bằng tới các nền kinh tế đã phát triển và các nước đang phát triển, mặc dù những cơ hội đặc biệt sẽ khác nhau. Các cơ hội cũng sẽ khác nhau rõ ràng giữa các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp – nhưng mỗi ty đều có cơ hội. Và lĩnh vực cùng phạm vi của chúng thì rộng hơn nhiều so với cái mà chúng ta đã biết. [Ý tưởng về giá trị chung được khám phá đầu tiên vào tháng 12 năm 2006 trong bài viết trên HBR của Michael E. Porter và Mark R. Kramer, “ Chiến lược và Xã Hội: Mối quan hệ giữa lợi thế cạnh tranh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp”]

Nhận thức lại về sản phẩm và thị trường

Những đòi hỏi của xã hội là rất lớn – sức khỏe, nhà cửa tốt hơn, dinh dưỡng được cải thiện, trợ giúp người già, an ninh tài chính tốt hơn, tổn hại môi trường thấp hơn. Người ta có thể cho rằng, chúng là những nhu cầu không được thỏa mãn tối đa trong nền kinh tế toàn cầu. Trong kinh doanh, chúng ta trải qua nhiều thập kỉ để học cách làm sao phân tích loại hình và tạo ra nhu cầu trong khi lại bỏ sót nhu cầu quan trọng cho tất cả mọi người. Rất nhiều công ty đã bị lạc hướng tầm nhìn trong những câu hỏi căn bản nhất: Sản phẩm tốt của chúng ta để cho những khách hàng của chúng ta là gì? Hay để cho khách hàng của khách hàng của chúng ta?

Trong nền kinh tế đã phát triển, nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ để đáp ứng các nhu cầu của xã hội đang tăng lên một cách nhanh chóng. Các công ty thực phẩm mà theo truyền thống tập trung vào khẩu vị và số lượng để định hướng ngày càng nhiều hơn việc tiêu dùng đang tập trung vào đòi hỏi căn bản về dinh dưỡng tốt hơn. Intel và IBM cả hai đang tạo ra những cách thức để giúp các tiện ích khai thác trí tuệ số nhằm tiết kiệm trong việc sử dụng năng lượng. Wells Fargo đã phát triển dòng sản phẩm và công cụ giúp lập ngân sách khách hàng, quản trị tín dụng, và trả nợ. Doanh số của GE’s Ecomagination đạt đến 18 tỷ USD trong 2009 – đứng thứ 150 trong bảng xếp hạng của Fortune. GE hiện tại dự đoán doanh thu sản phẩm của Ecomagination sẽ tăng trưởng gấp đôi tỷ lệ tổng doanh thu trong năm năm tới.

Bằng nhiều cách này hay cách khác, toàn bộ những con đường mới để đổi mới đang mở ra, và giá trị chung đã được tạo ra. Lợi ích của xã hội thậm chí còn lớn hơn, bởi vì các hoạt động kinh doanh thường có hiệu quả xa hơn các chính phủ và tổ chức phi lợi nhuận trong việc thực hiện marketing để thúc đẩy khách hàng mua sản phẩm và dịch vụ để tạo ra những lợi ích xã hội, như thực phẩm tốt cho sức khỏe hơn hay những sản phẩm thân thiện với môi trường.

Cơ hội công bằng hay tốt hơn xuất hiện từ việc phục vụ cộng đồng bất lợi thế và và quốc gia đang phát triển. Mặc dù, các đòi hỏi của xã hội thậm chí còn nhiều bức xúc đó, những cộng đồng này vẫn chưa được nhìn nhận như những thị trường tiềm năng. Ngày nay, sự chú ý được đặt vào Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil mang đến những doanh nghiệp hàng triệu khách hàng mới ở chân của kim tự tháp – một khái niệm thuyết phục được làm rõ bởi C.K. Prahalad. Nhưng các quốc gia này luôn có những đòi hỏi lớn, cũng như nhiều quốc gia đang phát triển.

Cơ hội tương tự đang chờ đợi trong các cộng đồng phi truyền thống tại các quốc gia đã phát triển. Chúng ta đã học được, chẳng hạn, rằng những khu thành thị nghèo nàn là thị trường chưa được đáp ứng đầy đủ nhất của Mỹ; sức mua tập trung đáng kể của họ đã thường bị bỏ sót. (Hãy xem nghiên cứu về Sáng kiến cho một thành phố bên trong cạnh tranh, tại icic.org)

Lợi ích xã hội của việc cung cấp sản phẩm thích hợp cho các khách hàng có thu nhập thấp và bất lợi thế có thể đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ, khi mà lợi nhuận của các công ty là một vấn đề đáng kể. Chẳng hạn, điện thoại di động giá rẻ mà nó có cung cấp những dịch vụ ngân hàng di động đã giúp cho người nghèo tiết kiệm tiền một cách đảm bảo và chuyển đổi khả năng của các nông gia nhỏ sản xuất và bán ra thị trường những nông sản của họ. Tại Kenya, các dịch vụ ngân hàng di động M-PESA của Vodafone đã có tới 10 triệu khách hàng đăng ký trong ba năm; các nguồn quỹ nó kiểm soát hiện đã chiếm 11% GDP quốc gia. Tại Ấn Độ, Thomson Reuteurs đã phát triển một dịch vụ hàng tháng đầy hứa hẹn cho những nông gia có thể kiếm được trung bình 2000 USD một năm. Với một khoản phí 5 USD mỗi quý, nó cung cấp thông tin về thời tiết và giá cả nông sản cùng trợ giúp nông nghiệp. Dịch vụ đã đạt được khoảng 2 triệu nông gia, và nghiên cứu ban đầu chỉ ra rằng nó đã giúp gia tăng thu nhập của họ hơn 60% – trong một số trường hợp thậm chí thu nhập còn tăng gấp ba lần. Khi chủ nghĩa tư bản bắt đầu hoạt động trong các cộng đồng nghèo, những cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội theo cấp số mũ.

Đối với một doanh nghiệp, điểm khởi đầu trong việc tạo ra hình thức này của giá trị chung là xác định tất cả nhu cầu và lợi ích cùng với những tổn thương của xã hội, mà nó là hay có thể được gắn kết với các sản phẩm công ty. Cơ hội thì không tĩnh tại, chúng thay đổi liên tục khi kỹ thuật được cải tiến, kinh tế phát triển, và những ưu tiên xã hội chuyển dịch. Một nghiên cứu đang diễn ra về các đòi hỏi của xã hội sẽ dẫn dắt các công ty khám phá ra những cơ hội mới để tạo ra sự khác biệt và tái định vị trong các thị trường truyền thống, và nhận ra tiềm năng của các thị trường mới mà họ đã bỏ sót trước đó.

Để đáp ứng những đòi hỏi trong các thị trường chưa được phục vụ thường đòi hỏi các sản phẩm được thiết kế lại hay các phương pháp phân phối khác. Những đòi hỏi này có thể mở ra những đổi mới căn bản mà cũng có thể áp dụng trong các thị trường truyền thống. Tài chính vi mô, chẳng hạn, đã được khám phá để đáp ứng những đòi hỏi tài chính chưa được đáp ứng trong các quốc gia đang phát triển. Bây giờ nó đang tăng trưởng nhanh chóng tại Mỹ, nơi nó đang lấp đầy một khoảng trống quan trọng mà chưa được nhận thấy.

Ranh giới không mờ nhạt giữa lợi nhuận và phi lợi nhuận.Khái niệm về giá trị chung làm mờ đi ranh giới giữa tổ chức vì lợi nhuận và phi lợi nhuận. Những loại hình mới của doanh nghiệp lai đang xuất hiện một cách nhanh chóng. Ví dụ công ty Quốc tế Water Health, có sự tăng trưởng nhanh về lợi nhuận, sử dụng kĩ thuật lọc nước đổi mới để phân phối nước sạch với chi phí thấp nhất cho hơn 1 triệu người ở nông thôn Ấn Độ., Ghana và Philippin. Các nhà đầu tư của công ty gồm không chỉ các tổ chức tập trung về mặt xã hội như Quỹ Acumen và IFC của Ngân hàng Thế giới mà còn cả quỹ mạo hiểm của Dow Chemical. Revolution Foods, một nguồn vốn mạo hiểm có bốn năm tuổi được chống lưng bởi Mỹ khởi đầu, cung cấp 60 000 bữa ăn tươi, giàu sức khỏe và dinh dưỡng cho sinh viên hàng ngày – và như vậy tổng lợi nhuận cao hơn các đối thủ cạnh tranh truyền thống. Western Concern, một doanh nghiệp lai vì lợi nhuận/phi lợi nhuận bắt đầu tại Bangladesh 15 năm qua, đã xây dựng được khả năng chuyển đổi 700 tấn rác, được thu gom hàng ngày từ các khu ổ chuột lân cận, thành phân hữu cơ, bằng cách đó giúp tăng sản lượng ngũ cốc và giảm khí thải CO2. Phát triển từ nguồn vốn của Lions Club và Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), công ty đã cải thiện các điều kiện sức khỏe trong khi kiếm được lợi nhuận bền vững thông qua việc bán phân bón và quyền phát thải.Sự mờ nhạt đường biên giữa thành công về lợi nhuận và phi lợi nhuận là một trong những dấu hiệu mạnh mẽ của việc tạo ra giá trị chung là khả thi
Mối liên kết giữa lợi thế cạnh tranh và các vấn đề xã hộiCó rất nhiều cách để đưa ra các lợi ích xã hội có thể cung cấp những lợi ích hiệu quả cho doanh nghiệp. Các lợi ích xã hội vì nhân viên và gia đình của họ trở nên mạnh khỏe hơn, và doanh nghiệp tối thiểu hóa việc thiếu hụt nhân sự và mất năng suất. Hình vẽ dưới đây miêu tả những lĩnh vực ở đó có những mối liên kết mạnh mẽ nhất.

(còn tiếp)

Người dịch: N.A.Thư – SCDRC

Hiệu đính: T.Giang – SCDRC

—————————

Các bài liên quan: