Tư duy khởi sự kinh doanh – Phần XII


Mấy năm lại đây, Chính phủ rất quan tâm và quyết tâm cải thiện môi trường kinh doanh nước ta. Đặc biệt những năm 2014 – 2015 nhiều cải cách hành chính đã được triển khai từ chính phủ đến các cơ quan cấp bộ và các địa phương cả nước với quyết tâm giảm thủ tục hành chính theo định hướng đến năm 2016 môi trường kinh doanh nước ta đạt trung bình nhóm ASEAN-4 (Hộp dưới).

Việt Nam muốn tiến sát Thái Lan về môi trường kinh doanh

Chính phủ yêu cầu đến năm 2016, môi trường kinh doanh đạt mức trung bình của nhóm nước ASEAN-4, tiến gần với Thái Lan

Thông tin trên được tiến sĩ Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết tại Hội thảo sáng nay (12/3/15). “Nếu môi trường kinh doanh Việt Nam đạt mức trung bình ASEAN-4 thì sẽ tiến gần đến Thái Lan”, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung phát biểu.

Yêu cầu này cho thấy Chính phủ tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, trong bối cảnh 3 – 5 năm tới là giai đoạn then chốt đối với tiến trình hội nhập quốc tế, sau khi hoàn tất đàm phán và bắt đầu triển khai hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước chủ chốt, xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN.

Trước đó, Nghị quyết 19 ban hành đầu năm 2014 đặt mục tiêu đến cuối năm nay chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam đạt và vượt mức trung bình các nước ASEAN-6 (gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia, Brunei). Tuy nhiên, sau một năm thực hiện, Chính phủ đánh giá cần gia tăng nhiệm vụ hơn nữa cho các Bộ, ngành, địa phương, bởi hơn một nửa giải pháp vẫn bị đánh giá có năng lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh thấp trong khu vực.

Chẳng hạn, đánh giá của Diễn đàn Kinh tế thế giới về năng lực cạnh tranh cho thấy Việt Nam xếp thứ 68, sau các nước Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines. Môi trường kinh doanh cũng được Ngân hàng thế giới xếp ở vị trí 78 trên 189 quốc gia và vùng lãnh thổ, kém Thái Lan 52 bậc.

Tại phiên họp thường kỳ tháng 2/2015, Chính phủ cũng đã tập trung bàn luận về các giải pháp để cải thiện xếp hạng. Theo đó, đến cuối năm nay, một số chỉ tiêu phải giảm một nửa thời gian thực hiện so với hiện nay như nộp thuế, tiếp cận điện, làm thủ tục phá sản… Sang năm 2016, Việt Nam đặt mục tiêu lọt top 60 nước trên thế giới về khởi sự kinh doanh, top 50 về bảo vệ nhà đầu tư, top 20 về chỉ số tiếp cận tín dụng.

Nhằm hoàn thành mục tiêu, Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành phải tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đảm bảo cạnh tranh minh bạch, bình đẳng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và tái cơ cấu nền kinh tế…

Hàng năm tổ chức VCCI đã sử dụng các tiêu chí nhất định để xếp hạng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh cho 63 tỉnh/thành ở nước ta. Những tỉnh xếp hạng cao đã chú trọng đến việc tạo các điều kiện thuận lợi nhất định cho hoạt động kinh doanh; ngược lại, các tỉnh xếp sau đang ít chú ý đến cải thiện môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.

Thực trạng này của môi trường kinh doanh nước ta đã gây ra rất nhiều khó khăn, thậm chí làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta. Điều này dẫn đến những tính toán, lựa chọn của những người khởi sự kinh doanh: trước khi khởi sự bên cạnh việc nghiên cứu cơ hội kinh doanh phải chú ý đánh giá chính xác môi trường kinh doanh để lựa chọn cho mình nơi kinh doanh thuận lợi. Khi đã chấp nhận, người sắp khởi nghiệp phải chú ý nghiên cứu các điều kiện môi trường kinh doanh rất cụ thể tại địa phương mình muốn kinh doanh để thật am hiểu khi tiến hành các hoạt động kinh doanh, giải quyết các công việc có liên quan tại các cơ quan công quyền. Nếu không nhận thức đúng hoặc bỏ qua các vấn đề này đôi khi hoạt động kinh doanh “coi như” chấm dứt ngay từ khi mới khởi sự. Mặt khác, mỗi nghiệp chủ lại đều cần nhận thức được chính bản thân mình cũng có trách nhiệm góp phần làm lành mạnh môi trường kinh doanh mà mình hoạt động trong đó.

3.2.3/ Nền kinh tế thị trường mang tính đan xen

Nhiều doanh nghiệp nước ta ngày nay kinh doanh trong nền kinh tế thị trường mang tính đan xen: vừa ở nơi thị trường mang tính cạnh tranh, vừa ở nơi mà thị trường chưa hoặc chưa thực sự cạnh tranh. Trong khi nước ta chưa có thị trường cạnh tranh thì nhiều thị trường ở nhiều nước đã mang tính cạnh tranh. Hơn nữa, dù thị trường tổng thể ở nước ta chưa thực sự cạnh tranh thì thị trường rất nhiều loại sản phẩm cụ thể cũng đã mang tính cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp nước ta vẫn phải trực tiếp hoặc gián tiếp cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng loại của nước ngoài. Vì thế, doanh nhân không thể chỉ am hiểu thị trường chưa cạnh tranh lại không am hiểu thị trường mang tính cạnh tranh.

Cầu là mối quan hệ giữa giá của một mặt hàng với lượng cầu đối với mặt hàng đó, trong điều kiện những yếu tố khác không đổi. Giá được đo theo đơn vị tiền và lượng cầu được tính theo đơn vị hàng mà người tiêu dùng sẵn lòng mua và có thể mua trong một thời điểm. Quy luật cầu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa giá và lượng cầu: khi giá tăng, lượng cầu của người tiêu dùng giảm đi.

Cung là mối quan hệ giữa giá của một mặt hàng với lượng cung đối với mặt hàng đó, trong điều kiện những yếu tố khác không đổi. Giá được đo theo đơn vị tiền và lượng cung được tính theo đơn vị hàng mà người bán sẵn lòng bán và có thể bán trong một thời điểm. Quy luật cung cho thấy mối quan hệ đồng biến giữa giá và lượng cung: khi giá tăng, lượng cung của người bán cũng tăng lên.

Mức giá mà lượng cầu bằng lượng cung gọi là giá cân bằng thị trường hay là giá cả thị trường. Giá này chính là giá cả tại thị trường cạnh tranh. Tại mức giá này, người bán đã bán được bằng với mức giá mà họ mong muốn và bán được hết hàng, người mua cũng mua được hàng với giá mà họ muốn mua. Nếu giá thị trường thấp hơn giá cân bằng, lượng cầu của người tiêu dùng sẽ vượt lượng cung của nhà sản xuất dẫn đến một số người có cầu nhưng không được đáp ứng; nếu giá thị trường cao hơn mức giá cân bằng, lượng cầu của người tiêu dùng sẽ ít hơn lượng cung của nhà sản xuất, dẫn đến có một lượng cung không được người tiêu dùng chấp nhận. Cũng vì vậy, người mua và người bán đều nhận thức được điểm cân bằng cung – cầu là điểm đem lại lợi ích lâu dài cho cả hai phía.

Như thế, muốn kinh doanh nghiệp chủ phải có nhận thức giá cả phải là giá cả thị trường (chứ không phải giá do người bán mong muốn); Khi bán hàng không thể và không chú ý nghiên cứu thị trường: cung – cầu, tính chất cạnh tranh,… và chính điều này mới đem lại lợi ích và sự phát triển lâu dài cho doanh nghiệp.

Nếu nhìn ra toàn cầu thì các doanh nghiệp nước ta đang kinh doanh trong môi trường vừa chưa thị trường (như đã chỉ ra ở đặc điểm trên), vừa mang đặc điểm thị trường cạnh tranh (với nhiều doanh nghiệp có quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa). Ngày nay, hình ảnh phổ biến của các thị trường trên thế giới là thị trường cạnh tranh, xu thế phát triển chủ yếu ngày nay là xu thế mở rộng cạnh tranh của thị trường. Ở nước ta, thị trường cũng mang nhiều màu sắc: có loại hàng hóa thị trường đã mang tính cạnh tranh như thị trường bán lẻ hàng hóa, thị trường nông sản ở các chợ truyền thống, thị trường viễn thông… và cũng còn nhiều thị trường của nhiều loại hàng hoa chưa thực sự là thị trường; đặc biệt là thị trường hàng hóa liên quan đến các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước,…

Trong bối cảnh này, một lời khuyên đơn giản: thứ nhất là nguyên tắc “nhập gia, tùy tục”, kinh doanh ở thị trường nào phải biết ra quyết định phù hợp với thực trạng thị trường đó; thứ hai, nếu muốn kinh doanh thành đạt trong nền kinh tế thị trường hiện đại người khởi nghiệp hãy biết “quên” dần đi các cách ứng xử trong thị trường phi cạnh tranh hoặc ít cạnh tranh để hình thành các cách thức ra quyết định kinh doanh trong môi trường cạnh tranh.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Tư duy khởi sự kinh doanh – Phần XI


Có thể thấy rõ hơn trong Hộp dưới đây:

Bất cập trong hệ thống giấy phép kinh doanh

Vấn đề mà doanh nghiệp thường phàn nàn trong hệ thống giấy phép kinh doanh hiện hành là việc thực thi cấp phép còn thiếu minh bạch. Trong một khảo sát gần đây của ADB-GTZ, nhiều doanh nhân cho biết, họ bị cơ quan có thẩm quyền từ chối cấp phép với lý do rất chung chung như không phù hợp với quy hoạch kinh tế – xã hội của địa phương, hay có dấu hiệu kinh doanh ngầm, khó kiểm soát hay có tiềm ẩn nguy cơ xấu cho xã hội.

Một thực tế khác đáng lưu ý là nhiều giấy phép kinh doanh đã bị bãi bỏ nay lại “tái xuất”. Đặc biệt, việc bãi bỏ một số giấy phép kinh doanh nhưng không thay đổi triệt để cách làm luật của các cơ quan hành chính nên vẫn không thay đổi được “bản chất sự việc”, các cơ quan này thường tìm cách mở rộng quyền lực của mình thông qua việc tái ban hành các luật lệ cũ dưới hình thức mới.

Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban chính sách kinh tế vĩ mô, Viện Quản lý kinh tế Trung ương khẳng định việc thay thế các giấy phép kinh doanh thành “đăng ký kinh doanh không cần giấy phép” nhằm giảm chi phí thủ tục hành chính và tăng chủ động kinh doanh của doanh nghiệp, trên thực tế, còn khó kiểm soát, giám sát và ít hiệu quả hơn nhiều so với giấy phép kinh doanh.

Ông Phạm Duy Nghĩa, Trưởng bộ môn Luật kinh doanh, khoa Luật, Đại học Quốc iga Hà Nội cho rằng khuyết điểm lớn nhất trong việc cấp phép ở Việt Nam là tồn tại tư duy coi giấy phép kinh doanh như là điều kiện để được gia nhập thị trường, tức là Nhà nước kiểm soát và ngăn chặn từ đầu. Ông Nghĩa cho biết, ở nhiều nước khác, một người có thể mở cửa hàng ăn mà không cần phải xin cấp phép. Nhưng họ sẽ bị kiểm soát thường xuyên bởi hiệp hội ngành (như phải tham gia các khóa đào tạo về an toàn thực phẩm) hay qua kiểm tra đột xuất về việc tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ hai, khi triển khai các hoạt động kinh doanh

Kể từ khi được cấp giấy phép kinh doanh, người khởi sự tiến hành các hoạt động kinh doanh. Quá trình kinh doanh đòi hỏi nghiệp chủ phải tổ chức hàng loạt các hoạt động từ tiếp tục nghiên cứu thị trường, tổ chức cung ứng các nguồn lực đầu vào, tiến hành chế biến sản phẩm hoặc tạo ra dịch vụ, tổ chức vận chuyển hàng hóa tiêu thụ sản phẩm/dịch vụ ở thị trường mục tiêu của mình. Tất cả các hoạt động đó liên quan đến nhiều đối tác kinh doanh khác nhau và chịu ảnh hưởng của các hoạt động quản lý vĩ mô. Nếu các quy định về thủ tục mua bán, hợp đồng đơn giản và chặt chẽ thì hoạt động kinh doanh diễn ra thuận lợi; nếu các thủ tục rườm rà, liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều cấp quản lý,… thì hoạt động kinh doanh gặp những khó khăn nhất định. Mức độ khó khăn tăng tỷ lệ thuận với các quy định thủ tục rườm rà.

Ngoài việc thiết lập quan hệ với các đối tác kinh doanh, nghiệp chủ còn phải tiếp xúc, xử lý hàng loạt các công việc liên quan đến các cơ quan quản lý vĩ mô như đăng ký bản quyền; đảm bảo vệ sinh môi trường; chống hàng giả, hàng nhái, hàng gian; thống kê, báo cáo, kê khai thuế quan… Tất cả các công việc này đều liên quan đến các quy định pháp luật, chính sách quản lý vĩ mô và cách thức xử lý công việc của cán bộ công quyền. Nếu luật pháp quy định rõ ràng, thực thi nghiêm minh sẽ không có chỗ đứng cho hàng giả, hàng nhái, hàng gian… Trong điều kiện này các doanh nghiệp lằm ăn chân chính có nhiều cơ hội phát triển. Việc kê khai, báo cáo.. càng đơn giản bao nhiêu càng giảm được thời gian và chi phí cho các hoạt động này bấy nhiêu.

Những năm gần đây, hàng năm Tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thường công bố xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu, trong đó có những chỉ tiêu phản ánh khía cạnh của môi trường kinh doanh, cụ thể như: khả năng tiếp cận vốn, lạm phát, mức độ ổn định của chính sách vĩ mô, lực lượng lao động đã qua đào tạo, cơ sở hạ tầng.

Các chỉ số này của Việt Nam chưa ổn định, lên xuống thất thường: năm 2008, Việt Nam xếp thứ 70/134; năm 2009 xếp thứ 75/133; năm 2010 xếp thứ 59/139 và gần đây nhất năm 2011 lại tụt 6 bậc so với năm 2010, tức thứ 65/142. Cũng tương tự, việc đánh giá và xếp hạng môi trường kinh doanh hàng năm cũng được các tổ chức nghiên cứu chuyê sâu thế giới khảo sát và công bố. Tạp chí Forbes của Mỹ khảo sát và đánh giá môi trường kinh doanh gồm các chỉ tiêu: tự do hóa thương mại, tự do hóa tiền tệ, bảo vệ quyền sở hữu, năng lực sáng tạo, trình độ công nghệ, tình trạng quan liêu, mức độ bảo vệ nhà đầu tư, tình trạng tham nhũng, tự do cá nhân. Theo đó, năm 2010 xếp Việt Nam thứ 118 trong số 128 nước được đánh giá, tụt 5 bậc so với năm 2008 và 2009. Cũng tương tự như vậy, theo Diễn đàn doanh nghiệp hàng năm, đa phần các doanh nghiệp đều đánh giá môi trường kinh doanh của Việt Nam tồi tệ nhất trong ba năm 2008 – 2011 (Hộp dưới).

Môi trường kinh doanh Việt Nam rớt điểm

Theo khảo sát, lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng giả xếp ở vị trí thấp điểm nhất. Một lần nữa, môi trường kinh doanh tại Việt Nam lại được các chuyên gia, doanh nghiệp trong và ngoài nước lên tiếng báo động tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam diễn ra ngày 2/12/ Kết quả điều tra cảm nhận môi trường kinh doanh năm 2011 do ban thư ký Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thực hiện cho thấy số điểm năm nay chỉ đạt 2,04/4 điểm, thấp hơn nhiều so với số điểm 2,52 của năm ngoái và gần với mức 1,9 điểm năm 2008 (năm khủng hoảng tài chính toàn cầu).

Môi trường kinh doanh khá u ám

Qua khảo sát 240 doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), chỉ có 26% số doanh nghiệp đánh giá môi trường kinh doanh của Việt Nam là tốt và rất tốt, bằng một nửa so với năm ngoái. Trong khi đó, 23,71% doanh nghiệp đánh giá môi trường kinh doanh kém (năm 2010 con số này chỉ 4,9%).

Đáng chú ý trong 14 lĩnh vực được điều tra không có lĩnh vực nào đạt mức 3 điểm (thang điểm 4 cao nhất). Trong đó, lĩnh vực bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống hàng giả, hàng nhái xếp ở vị trí thấp điểm nhất và nằm trong tốp năm nhóm vấn đề ít được cải thiện nhất.

Nói về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, ông Alain Cany, Chủ tịch Eurocham, cho rằng: “Việc thực thi kém hiệu quả về các quyền sở hữu trí tuệ khiến các doanh nghiệp nước ngoài phải kín đáo chuyển giao các quyền sở hữu trí tuệ có giá trị, chứ không giám chuyển giao công khai. Cũng chính điều này khiến cho các doanh nghiệp FDI e ngại về nạn bắt chước tại Việt Nam”.

Chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (Amcham) Christopher Twomey cho rằng vấn đề cấp thiết đặt ra cho Việt Nam là cải tiến việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Thực thi hiệu quả bằng việc xử phạt nặng hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ để không ai tái phạm.

Ngoài ra, khả năng tiếp cận ngoại tệ, tiếp cận đất đai, cơ sở hạ tầng và đáng chú ý là kinh tế vĩ mô sau nhiều năm liền có vị trí cao thì năm nay bị xếp vào nhóm ba lĩnh vực đáng lo ngại nhất của môi trường kinh doanh.

Doanh nghiệp đòi đơn giản thủ tục hơn nữa

Ông Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế VCCI cho biết, qua rà soát 16 luật về doanh nghiệp cho thấy có đến 206 quy định chưa đạt tiêu chí minh bạch, 243 quy định chưa hợp lý, 149 quy định chưa thống nhất và 85 quy định chưa đạt tiêu chí khả thi.

Cụ thể, trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật có những quy định không cần thiết hoặc thiếu minh bạch, thậm chí gây cản trở, gây khó khăn, thậm chí hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp.

“Ví dụ như các quy định liên quan đến thủ tục đăng ký đầu tư, thẩm tra đầu tư, cấp giấy chứng nhận đầu tư còn trùng lặp… Đáng chú ý là một số quy định còn phân biệt đối xử, chưa đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế. Đề nghị Quốc hội xem xét đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các luật được rà soát. Trước mắt là sửa đổi các luật: Đất đai, Quản lý thuế, Đấu thầu…” – ông Huỳnh nói.

Các doanh nghiệp cũng đưa ra năm giải pháp khuyến nghị đến Chính phủ. Đó là tiếp tục cải thiện và đơn giản hóa thủ tục hành chính hơn nữa, cải thiện hệ thống thông tin, viễn thông và năng lượng, cải thiện hệ thống hạ tầng vận tải, giảm rào cản gia nhập thị trường và đối xử bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Riêng các doanh nghiệp FDI còn đề nghị nâng cao tính minh bạch và dễ dàng tiếp cận các văn bản luật, kế hoạch, số liệu thống kê…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Tư duy khởi sự kinh doanh – Phần X


Sau hơn ba chục năm duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã dẫn cách tư duy, cách làm… của cơ chế kinh tế này đã ăn quá sâu trong tiềm thức mỗi con người chúng ta. Đây chính là nguyên nhân của thực trạng dù chúng ta đã xây dựng cơ chế thị trường hơn 20 năm nay nhưng sự “giã từ quá khứ” lại không đơn giản – trên mọi phương diện, nền kinh tế nước ta thực chất vẫn mang nặng dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Đáng tiếc hơn nữa là mặc dù vậy, nhiều người vẫn lầm tưởng cơ chế kinh tế đang diễn ra ở nước ta là cơ chế kinh tế thị trường. Những người này thậm chí không có ý niệm lấy tiêu chí gì để xác định cái gì mang đặc trưng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, cái gì mang đặc trưng của cơ chế thị trường?

Cao hơn nữa là ý thức trách nhiệm xã hội. Ý thức trách nhiệm xã hội là nét sống đẹp và cần có ở mọi xã hội. Người ta không giẫm đạp lên người khác, không thể hy sinh lợi ích của người khác, của xã hội để kiếm tiền. Tuy nhiên, những hiện tượng xảy ra trong nhiều năm qua tại nước ta lại cho bức tranh khác hẳn. Cần chú ý rằng tư duy “buôn gian, bán lận”… lại là thứ tư duy chỉ đúng cho thị trường rất thấp cấp; thị trường luật pháp còn chưa hoàn thiện. Tư duy này, nếu có, cũng chỉ đem lại lợi ích rất ngắn hạn nhưng lại thủ tiêu lợi ích dài hạn của chính người kinh doanh. Vì thế, những nghiệp chủ chân chính, đem lại sự phát triển lâu dài cho doanh nghiệp bao giờ cũng là những người kinh doanh có trách nhiệm xã hội.

3.2.2/ Các yếu tố thị trường ở nước ta mới đang được hình thành

Điều này, có ý nghĩa như thế nào? Nó cho thấy, đến nay, tuy đã xây dựng nền kinh tế thị trường nhưng tính chất “kế hoạch hóa tập trung”, kiểu quan hệ “xin, cho” còn tồn tại ở các cơ quan công quyền rất nặng nề; thực tế có nói nhiều nhưng vẫn chưa sửa được bao nhiêu.

Trong nhiều chục năm qua, một mặt, chúng ta mới đang dần hình thành hệ thống luật pháp “tiếp cận dần” với nền kinh tế thị trường cạnh tranh; mặt khác, việc thực thi các chính sách nhiều khi còn bị ách tắc bởi các cán bộ công chức ở các cấp trực tiếp xử lý các công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Các yếu tố “chưa thị trường” biểu hiện ở rất nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước về kinh tế từ các quy định pháp luật, các chính sách đến sự thực thi chính sách của các cán bộ công quyền tác động rất lớn tới các vấn đề:

Thứ nhất, tiến hành các thủ tục cần thiết để khởi nghiệp

Các quy định khá rườm rà về làm mọi thủ tục, trong đó có thủ tục cấp phép kinh doanh và sự chậm trễ trong việc hoàn thành các thủ tục đó của cán bộ công quyền có liên quan đã làm cho thời gian xin cấp phép kinh doanh bị kéo dài so với nhiều nước khác. Thậm chí, có những trường hợp còn không được cấp giấy phép kinh doanh dù không có lý do chính đáng: “Các loại giấy phép này tồn tại dưới các dạng chứng chỉ hành nghề, giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn, giấy chứng nhận đăng ký, giấy phép, văn bản chấp thuận, thẻ.

Ngoài ra, còn có một loại “cửa quyền” khác dưới dạng điều kiện kinh doanh. Dạng này được hiểu là sự chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ một nhu cầu kinh doanh, sản xuất nào đó của doanh nghiệp do các nhân viên của cơ quan hành chính thực hiện. Chẳng hạn, một doanh nghiệp có thể bị từ chối kinh doanh một ngành nghề nào đó do không phù hợp với quy hoạch kinh tế tại địa phương. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nếu muốn kinh doanh nhà hàng, khách sạn, nhà trọ, dứt khoát phải có “dấu đỏ” của UBND quận, huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh. Không nói đâu xa, tại Hà Nội, dù là thủ đô một quốc gia đang hội nhập nhưng cứ sau 12 giờ đêm, chẳng bao giờ thấy một hàng quán nào dám mở cửa bởi lo xe cảnh sát chở mọi thứ về đồn…

Một cái xúc xích 7 bộ quản lý

Một cái xúc xích của chúng tôi nhưng có đến 7 bộ quản lý, đó là các Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính (cùng với Tổng cục Thuế và Tổng cục Hải quan), Bộ Khoa học công nghệ và cả Bộ Công an nữa”.

Ông Mai Huy Tân, hội viên Hội các nhà quản trị doanh nghiệp vừa là chủ tịch Công ty thực phẩm Đức – Việt và Chủ tịch – Tổng giám đốc Công ty tư vấn nhịp cầu Đức – Việt đã phát biểu như trên tại Hội thảo Dự báo tác động của Luật doanh nghiệp sửa đổi do VCCI tổ chức sáng 29/7.

Ông Tân dành trọn phần phát biểu của mình để chia sẻ những câu chuyện hết sức thực tế về câu chuyện quản lý doanh nghiệp hiện nay.

Moi móc, hành là chính

Theo ông Tân, công ty ông đã đầu tư rất nhiều tiền vào hệ thống xử lý nước thải, môi trường nên chất lượng rất tốt.

Ông kể, gần đây cảnh sát môi trường đến kiểm tra công ty của ông, qua kiểm tra, các chỉ số đều tốt nhưng cuối cùng có một đồng chí công an phát hiện khu vực dự trữ chất thải của công ty có một thùng màu xanh tập kết rác thải mà không phải chứa trong thùng màu đỏ, đồng chí này mở ra và ghi vào trong văn bản là thùng chứa không đúng màu.

“Sự moi móc, hành là chính của các cơ quan quản lý là vậy, bảy bộ quản lý một cái xúc xích là quá đáng! Ở nước họ chỉ có một Cục quản lý thực phẩm mà thôi”, ông Tân bức xúc nói.

Theo ông Tân, Luật Doanh nghiệp sửa đổi lần này sẽ tác động nhiều hơn đối với sự ra đời của các doanh nghiệp mới, nhưng cũng nên quan tâm đến nửa triệu doanh nghiệp đang hoạt động thì thở như thế nào: “Một trong những tác động của Luật Doanh nghiệp lần này là tạo sự thông thoáng dễ thở hơn cho doanh nghiệp nhưng theo tôi ngàoi việc sửa Luật Doanh nghiệp còn phải sửa nhiều thứ khác liên quan đến môi trường kinh doanh thì doanh nghiệp mới thở được”, ông Tân nhấn mạnh.

Khâu nào cũng có phong bì

Ngoài ra, ông Tân còn chỉ ra những hạn chế trong việc khai tử doanh nghiệp, ông đề nghị nên đơn giản hóa thủ tục này. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động rồi nhưng không khai. Hàng trăm nghìn doanh nghiệp “chết” không được chôn và vẫn tồn tại trên giấy.

“Trừ những doanh nghiệp mà lập ra mua hóa đơn rồi giải thể cần phải kiểm soát chặt chứ còn những doanh nghiệp lập ra bình thường nhưng vì cơ hội kinh doanh đi qua họ giải thể rất là sạch sẽ thì phải tạo điều kiện cho người ta làm. Doanh nghiệp muốn khai tử hiện nay vô cùng khó, vô cùng lâu và thường thường là phải “campuchia” (phải có phong bì – PV)”, ông Tân nói.

Đề cập đến vấn nạn phong bì, ông Tân kể tiếp: “chúng tôi muốn nhập container thịt, gia vị để về làm xúc xích thì phải qua rất nhiều khâu nhưng hầu như không khâu nào là không có phong bì mặc dù mọi thủ tục, chứng từ của chúng tôi hoàn toàn sạch sẽ”.

Để có tiền “lót tay” như vậy, ông Tân cho biết công ty phải lấy từ cổ tức, từ lợi nhuận của cổ đông ra đưa vào quỹ để chỉ giữ cho sổ sách được “sạch sẽ”. Và cộng gộp các khoản lót tay này, công ty của ông phải mất tiền tỷ chứ không phải tiền triệu.

“Chúng tôi là doanh nghiệp hàng ngày phải đối phó với rất nhiều vấn đề đau đầu và gần như nhiệt huyết để đầu tư phát triển của chúng tôi suy giảm nhiều. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam phát triển như thế nào nếu trong lòng người ta không còn nhiệt huyết đầu tư. Vì vậy nhà nước phải nghĩ đấy là cốt lõi của dân tộc, phát triển doanh nhân lành mạnh. Một khi đội ngũ doanh nhân không còn nhiệt huyết nữa thì nền kinh tế có còn tương lai không!”, ông Tân bức xúc.

Ngoài ra ông Tân nêu lên một bất cập liên quan đến ngành nghề kinh doanh. Công ty thứ hai của ông Tân là tư vấn việc mua và chế biện cá tra bằng công nghệ Đức.

“Khi tư vấn chúng tôi phát hiện có những cơ hội từ nguồn tài chính nước ngoài cho ngành cá tra Việt Nam nhưng tôi không thể tư vấn vì làm vậy là vi phạm pháp luật trong khi đăng ký kinh doanh tôi không được quyền tư vấn tài chính. Rất nhiều cơ hội chúng tôi nhìn thấy nhưng không dám làm vì luôn luôn bị đe dọa là kinh doanh trái pháp luật, kinh doanh trái phép”, ông nói.

Hệ thống giấy phép hiện đang gây nên những bất cập lớn, cản trở hoạt động của doanh nghiệp. Thứ nhất, cho đến tận bây giờ, chưa tồn tại một thống kê và cập nhật chính xác các loại giấy phép và điều kiện kinh doanh đang có hiệu lực. Thứ hai, mục tiêu của các loại giấy phép đôi khi không rõ ràng, không rõ giấy phép và điều kiện kinh doanh được ban hành để bảo vệ phục vụ những lợi ích gì. Thứ ba, tiêu chí để cơ quan hành chính cấp hoặc từ chối cấp phép đôi khi chưa minh bạch. Thứ tư, quy trình cấp phép và giám sát điều kiện kinh doanh chưa có sự tham gia của người có liên quan, chưa tham vấn và giải thích rõ các quyền của người làm đơn xin cấp phép. Thứ năm, thời hạn có hiệu lực của giấy phép thường ngắn, không quá một năm, trong khi quy trình cấp bổ sung và gia hạn còn phức tạp, thậm chí còn lặp lại các thủ tục cấp phép như lần đầu.

Mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc để xin thủ tục cấp phép kinh doanh là một trong nhiều nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp trong nước ta kém sức cạnh tranh so với các doanh nghiệp ở các nước khác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Tư duy khởi sự kinh doanh – Phần X


Vấn đề là, nếu người lao động không được đào tạo một cách bài bản, không nắm chắc cơ sở lý thuyết và thực tế thì sẽ thiếu tính sáng tạo nghề nghiệp. Đây lại là nguyên nhân gây ra sự trì trệ sau khi khởi nghiệp. Những đánh giá về hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm mới của các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân nước ta cho đến nay cũng cho thấy bức tranh không mấy sáng sủa: khả năng đổi mới sản phẩm là rất thấp. Các doanh nghiệp sản xuất xe đạp, quạt điện Việt Nam chật vật nhiều năm để tìm đường đổi mới sản phẩm sang các mẫu mã mới thích hợp với thị trường mặc dù cũng chỉ là đổi sang các mẫu mã mà thị trường đang tiêu thụ các mẫu hàng tương tự của nước ngoài; các ngành dịch vụ như ngân hàng – tài chính chật vật chuyển từ kinh doah truyền thống (vay và cho vay) sang các sản phẩm mới hơn theo hướng kinh doanh đa ngành mà thế giới đã làm từ rất lâu rồi…

Trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu ngày nay, khả năng đổi mới và sáng tạo từ sản phẩm mới, công nghệ mới, máy móc thiết bị mới, vật liệu mới và cách thức kinh doanh mới là chìa khóa hữu hiệu tránh cạnh tranh; chìa khóa cho sự phát triển. Những doanh nghiệp liên tục phát triển hàng thế kỷ nay của thế giới đều là những doanh nghiệp đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển. Các doanh nghiệp này liên tục nghiên cứu và tung ra thị trường các mẫu sản phẩm mới, công nghệ mới, thiết bị mới, vật liệu mới cũng như tìm kiếm và đưa ra cách thức kinh doanh mới.

Người khởi nghiệp cần hiểu rõ đặc điểm này và có tư duy tốt trong phát triển nghề truyền thống – tư duy liên tục đổi mới sản phẩm theo đòi hỏi của thị trường để từ đó thiết kế công tác đào tạo, tổ chức nghiên cứu sản phẩm, tổ chức sản xuất kinh doanh… Có được tư duy này, có thể biến nguy cơ không phát triển nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, doanh nghiệp chật vật trong kinh doanh hiện nay thành khả năng phát triển chúng trong nền kinh tế hội nhập. Những người khởi nghiệp cần có nhận thức, đổi mới sản phẩm là khó song rõ ràng đổi mới sản phẩm mà mình đã có nghề lâu năm còn dễ gấp nhiều lần so với sáng tạo hoặc đổi mới sản phẩm ở lĩnh vực mà mình còn ít có kiến thức.

Nếu người kinh doanh kết hợp tư duy này với quan niệm kinh doanh trong nền kinh tế toàn cầu họ sẽ đặt câu hỏi tại sao mình không phát triển từ những cái mình đang có trong khi mình có quyền bán hàng ở thị trường của mọi nước thành viên thuộc tổ chức thương mại thế giới khác!

Thứ năm, kinh doanh thiếu vắng hoặc hiểu và làm không đúng tính chất phường hội

Tính phường hội đã xuất hiện từ rất lâu ở thế giới và ở cả nước ta. Từ xưa, các cụ ta đã có câu: “Buôn có bạn, bán có phường”. Điều này có nghĩa là tư duy kinh doanh theo kiểu phường hội cũng đã có từ lâu ở nước ta. Tính phường hội hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là biết “bảo nhau” để có những đồng thuận trong kinh doanh. Hiểu theo đúng nghĩa, tính phườn ghội giúp cho những người kinh doanh nhỏ cùng nghành nghề liên kết, giúp đỡ nhau trong kinh doanh. Nếu chưa hoặc không am hiểu tính phường hội mà mở ra kinh doanh thì chắc chắn tự chuốc lấy thiệt hại và nếu gặp bất trắc sẽ khó bề xoay sở. Tuy nhiên, nếu quan sát kinh doanh ở khắp các làng nghề thủ công, các khu chợ nước ta ngày nay sẽ nhận thấy hầu như tính phường hội chỉ có được trong điều kiện thị trường bình thường; khi thị trường có biến động thì tính phường hội hay bị phá vỡ mặc dù đó mới là lúc những người kinh doanh cần tính phường hội nhất.

Khi xã hội phát triển nhà nước nhận thấy xuất hiện không ít trường hợp ở các phường hội người kinh doanh lại không chỉ bảo nhau để không bị thiệt hại trong kinh doanh mà họ còn có thể bảo nhau gây thiệt hại cho các đối tượng khác. Chính vì vậy, trong nền kinh tế thị trường, luật pháp ở hầu hết các nước đều quy định hoạt động kiểu phường hội phải có giới hạn – không được làm tổn hại đến lợi ích của người thứ ba. Nước ta cũng giống các nước khác, cấm các thỏa thuận mang tính phường hội gây hại cho bên thứ ba. Mặc dù đã bị pháp luật cấm đoán nhưng chỗ này hay chỗ khác ở nước ta chúng ta lại vẫn bắt gặp những hội hay hiệp hội có những cái bắt tay để cùng bảo nhau dừng bán hàng, tăng giá…

Nếu hiểu và thực hiện không đúng tính phường hội, người kinh doanh tự chuốc sự thua thiệt và thất bại. Vì vậy, hiểu và tuân thủ luật pháp về phường hội là điều kiện không thể thiếu mà những người/những người muốn khởi nghiệp cần hiểu thấu đáo.

Thứ sáu, kinh doanh với trình độ quản trị thấp

Ngày nay, người ta khẳng định kinh doanh là một lĩnh vực rất cần thiết và người thực hiện các hoạt động kinh doanh là người làm nghề: nghiệp chủ hay doanh nhân làm nghề kinh doanh, còn các nhà quản trị thì làm “nghề quản trị”. Những người này có kiến thức cần thiết để khởi sự, triển khai và phát triển hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, không phải từ xa xưa mà cũng chỉ mới các đây hơn một trăm năm (cuối thế kỷ XIX) nghề quản trị với tư cách một nghề độc lập mới ra đời. Từ bấy đến nay, tri thức quản trị kinh doanh đã phát triển rất khác so với thuở ban đầu.

Tuy nhiên, không giống với những gì đã diễn ra trên thế giới; đến nay, hoạt động kinh doanh ở nước ta diễn ra với đủ màu sắc: có cả các doanh nghiệp mà ở đó nghiệp chủ và các nhà quản trị am hiểu kiến thức mới về kinh doanh và quản trị kinh doanh; có cả các doanh nghiệp mà ở đó nghiệp chủ và các nhà quản trị am hiểu kiến thức kinh doanh và quản trị kinh doanh đã lỗi thời và cũng có cả các doanh nghiệp mà ở đó doanh nhân còn rất ít am hiểu về kinh doanh và quản trị kinh doanh.

Xét chung trên thế giới thì bất kỳ nước nào cũng có ba loại doanh nhân và nhà quản trị đã chỉ ra ở trên; nếu khác nhau, chỉ là sự khác nhau về tỷ lệ. Tuy nhiên có thể đánh giá chung là tỷ lệ doanh nhân và nhà quản trị nước ta thiếu kiến thức kinh doanh và quản trị kinh doanh, đặc biệt là kiến thức kinh doanh và quản trị kinh doanh hiện đại, là rất cao.

Cũng cần nhận thức rằng nghề kinh doanh và quản trị kinh doanh có đặc điểm khác nhiều nghề khác là tính chất “nghề” không rõ ràng. Ở nước ta, tính chất “nghề” không rõ ràng ở ngay việc đến nay vẫn có quá nhiều người Việt Nam không quan niệm kinh doanh hay quản trị là một nghề. Vì tính chất “nghề” không rõ ràng nên nhiều người chưa biết nghề lầm tưởng mình đã biết nghề; chưa giỏi nghề đã lầm tưởng đã giỏi nghề và đặc biệt nghiêm trọng khi người ta nghĩ đơn giản: ai có vốn cũng có thể mở ra kinh doanh một loại sản phẩm/dịch vụ nào đó. Nếu tình trạng này không được khắc phục thì hiện tượng nền kinh tế thế giới vừa biến động, hàng loạt cơ sở kinh doanh nước ta đã phá sản hoặc kinh doanh thua lỗ như hai năm vừa qua là hiện tượng không có gì khó hiểu.

Trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi công dân là tuân thủ pháp luật. Đây là điều kiện tiền đề cho sự phát triển xã hội. Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm với xã hội cũng cần có ở mọi nghiệp chủ, doanh nhân cũng như mọi người lao động. Chính vì vậy, tuân thủ luật pháp và trách nhiệm xã hội là một vấn đề không mới, không khó đối với nhiều quốc gia.

Tuy nhiên, đây lại là vấn đề cần bàn đối với những người khởi nghiệp ở nước ta. Nhận thức chấp hành luật pháp và phát triển kinh doanh trên cơ sở tuân thủ pháp luật là điều kiện bất di bất dịch để có thể gặt hái thành công lâu dài. Những hiện tượng vi phạm pháp luật như làm hàng giả, hàng nhái, hàng gian; trốn tránh nghĩa vụ nộp bảo hiểm cho người lao động theo quy định pháp luật; xả nước thải, chất thải rắn, khí thải… gây ô nhiễm môi trường; trốn lậu thuế… đều là những hành vi chỉ có thể đem lại lợi ích rất ngắn hạn cho bản thân mà làm hại chính mình trong dài hạn. Đây chính là gốc rễ của vấn đề mà mỗi người/nhóm người khởi nghiệp cần nhận thức đúng. Nếu cứ kinh doanh và phát triển kinh doanh bằng con đường vi phạm pháp luật như làm hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại… thì đến bao giờ đất nước ta mới có sản phẩm cạnh tranh với doanh nghiệp các nước khác?

Khi đất nước có chiến tranh, cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung là một trong nhiều nhân tố giúp chúng ta chiến thắng kẻ thù. Sau chiến thắng 1975, đất nước thống nhất và chuyển sang giai đoạn hòa bình song chúng ta lại vẫn duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Cho đến đầu thập niên 90, nước ta mới chính thức bước vào xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Tư duy khởi sự kinh doanh – Phần IX


Quan sát sự phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam ngày nay dễ nhận thấy các doanh nghiệp này mắc căn bệnh chung khá phổ biến là phát triển dựa trên nền tảng lợi ích ngắn hạn. Hình ảnh phổ biến ngày nay là hiện tượng ban hành các quyết định theo tư duy ngắn hạn như tuyển dụng nhân lực với chất lượng thấp, trả lương thấp cho người lao động, môi trường làm việc không hoặc ít thuận lợi cho nhân viên; nhập khẩu công nghệ – kỹ thuật lạc hậu, bán hàng theo kiểu bắt chẹt khách… với các câu châm ngôn đã có từ muôn đời (đã rất sai nhưng đáng tiếc ít người biết đó là sai) như “buôn gian, bán lận”, “trời sinh voi trời sinh cỏ”, “đời cua, cua máy, đời cáy, cáy đào”,…

Có lẽ nhìn ngắn hạn là “căn bệnh” của những người thiếu tư duy kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Căn bệnh này đang có ở không ít người, kể cả những người đã được đào tạo song độ “hấp thụ” kiến thức thị trường hiện đại còn hạn chế do kiến thức “truyền thống” diễn ra quá phổ biến trong đời sống hàng ngày.

Chỉ những ai thoát khỏi “căn bệnh” cũ này mới có thể khởi sự thành công và đưa doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường, hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.

Thứ hai, kinh doanh với quy mô quá nhỏ

Từ xa xưa cho đến nay, người Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi lối suy nghĩ sản xuất, buôn bán với quy mô nhỏ. Ở nông thôn, mặc dù cả gia đình sống bằng nghề nông nhưng cũng chỉ có vài sào ruộng; người dân thành phố mở một điểm sản xuất hàng hóa kiểu gia đình với quy mô rất nhỏ chẳng hạn sản xuất mỗi ngày vài kilogram bánh rán… Người buôn bán cũng chỉ bán mỗi ngày vài chục mớ rau, một gánh bún riêu, một gánh hàng xén, một điểm sửa xe với vài thứ dụng cụ đơn giản…

Tính quy luật về quy mô cho biết càng kinh doanh với quy mô nhỏ, chi phí sản xuất và giá thành càng cao. Vấn đề là ở chỗ chưa bao giờ những người trong cuộc nghĩ rằng quy mô kinh doanh như vậy là quá nhỏ và cũng vì kinh doanh với quy mô nhỏ bé đó mà chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm rất cao, hiệu quả kinh doanh thấp. Quy mô kinh doanh nhỏ bé là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến từ cái tăm, mớ rau… được sản xuất ở nước ta đều có giá thành sản xuất rất cao; đến lượt nó lại tác động dây chuyền đến các sản phẩm khác cũng có giá thành cao. Kết quả là nhiều loại sản phẩm, dịch vụ được tạo ra ở nước ta thường có giá thành cao hơn khu vực và thế giới.

Nhiều người cho rằng, sở dĩ kinh doanh với quy mô nhỏ là thiếu vốn và các điều kiện cần thiết khác cho hoạt động kinh doanh của mình. Thực ra, nguồn gốc căn nguyên của kinh doanh nhỏ là tư duy, lối mòn suy nghĩ từ bao đời nay của người Việt. Cho đến tận ngày nay, nhiều doanh nhân hoặc chủ doanh nghiệp cũng chưa bao giờ nghĩ rằng sản xuất kinh doanh chỉ được phép “nhỏ” tới một mức độ nhất định nào đó; nếu nhỏ hơn mức đó chắc chắn hoạt động kinh doanh của họ sẽ không có hiệu quả. Nếu nghĩ đến điều này, chắc chắn người khởi nghiệp sẽ không kinh doanh với quy mô quá nhỏ và phải nung nấu ý chí đã không kinh doanh thì thôi, nếu đã kinh doanh thì phải kinh doanh với quy mô đủ lớn mới có hiệu quả.

Góp phần xóa lối kinh doanh với quy mô nhỏ, kém hiệu quả có vai trò của các cơ quan pháp luật và cấp phép kinh doanh. Quy định của luật pháp và các cơ quan cấp phép kinh doanh có trách nhiệm chỉ cấp phép kinh doanh với quy mô đủ lớn cần thiết.

Thứ ba, kinh doanh theo phong trào

Kinh doanh theo phong trào đang diễn ra phổ biến ở nước ta: ở bất kỳ nơi nào, nếu thấy xuất hiện một “nghề” mới nào đó mà có vẻ trụ được thì “nghề” đó sẽ lan tỏa. Nếu có một gia đình kinh doanh phở đông khách, ít lâu sau nhất định hàng xóm anh ta cũng sẽ bán phở dù người mới mở này chưa chắc đã am hiểu nghề nấu phở. Vấn đề là ở chỗ, những người tham gia vào một “nghề” nào đó theo phong trào không cần am hiểu, không tính đến khả năng, trình độ kỹ thuật,… cần có để hành nghề.

Với lối mòn kinh doanh theo kiểu phong trào mà xa xưa, Hà Nội đã từng có các phố Hàng Đường, Hàng Mắm, Hàng Phèn… Gần đây, những người kinh doanh nhỏ nước ta đã từng trải qua những phong trào như nuôi chim cút, nuôi chó cảnh, nuôi ếch, nuôi ba ba, nuôi tôm… ở khắp mọi miền đất nước. Các doanh nghiệp kinh doanh với quy mô lớn hơn nhiều cũng không tránh khỏi tính phong trào trong kinh doanh: hết phong trào sản xuất bia đẻ ra nhiều công ty bia ở mọi tỉnh trên khắp đất nước ta; đến phong trào mía đường mà có thời điểm cao nhất thành lập 44 công ty mía đường mà trong số đó có tới 36 công ty chưa bao giờ có lãi; rồi đến các phong trào xi măng lò đứng, phong trào nấu thép, phong trào khai khoáng… Các tổng công ty, tập đoàn kinh tế lớn thì có phong trào chuyển từ kinh doanh đơn ngành sang đa ngành; họ bắt đầu từ một lĩnh vực kinh doanh ban đầu của mình rồi đua nhau nhảy sang lĩnh vực kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán, tài chính – ngân hàng… mà không gặp bất kỳ lực cản nào. Thậm chí tính “phong trào” không chỉ trong kinh doanh hay thuần túy kinh doanh mà còn lan sang cả các lĩnh vực khác mà có cả những người tham gia không phải là người kinh doanh như phong trào xây dựng các khu công nghiệp, các cảng biển, mở trường học các cấp, đặc biệt là các trường đại học (đáng ra không nên là hoạt động kinh doanh, nên hoạt động mang tính công ích), xây nhà văn hóa thôn, xã…

Vấn đề là tại sao lại như vậy? Tại sao chúng ta lại chuyển từ hết phong trào nọ sang phong trào kia ở mọi cấp độ mà chưa biết đến bao giờ mới dừng lại được? Sở dĩ như vậy là vì những người trong cuộc thiếu các kỹ năng cần thiết có liên quan. Người trong cuộc kinh doanh theo phong trào là vì họ không có kỹ năng tính toán, phân tích, đánh giá để quyết định kinh doanh mà họ “học” trực tiếp theo cách làm của hàng xóm, ở xung quanh họ (thậm chí họ cũng không cần biết đến những người mà họ đang học cũng chưa chắc đã có kỹ năng). Mở ra kinh doanh theo người khác, thậm chí copy hoàn toàn cách làm của người khác mà không nghiên cứu sâu, chắc chỉ có ở và gắn liền với những người có trình độ tư duy kinh doanh chưa cao.

Do bắt chước người khác theo phong trào mà không tính toán kỹ lưỡng nên trong phổ biến các trường hợp bản thân người “làm theo” không nắm vững các kỹ năng, các điều kiện cần thiết của “nghề” mình đang kinh doanh. Đổ bể của nhiều tổng công ty, tập đoàn kinh tế trong thời gian qua cho thấy nếu cứ tiếp tục theo phong trào thì các “đại gia” cũng chết chứ không phải chỉ những người kinh doanh nhỏ lẻ. Có thể kết luận khá đơn giản: nếu không khắc phục lối tư duy “bắt chước”, làm theo phong trào thì chắc chắn sẽ phải chấp nhận kết cục cho mọi hành động là thất bại luôn nắm chắc trong tay, còn thành công thì… chỉ có thể là do may mắn, chỉ có thể “nhờ trời”.

Muốn bước chân vào nghề kinh doanh, người khởi nghiệp cần nhận biết để khắc phục cách tư duy lối mòn kinh doanh theo phong trào. Chí ít, bản thân người khởi nghiệp phải tâm niệm sẽ không thành công nếu chỉ làm theo “cái” mà người khác đã và đang làm.

Thứ tư, thiếu tính sáng tạo và đổi mới

Đặc trưng thứ ba gây các cản trở không nhỏ cho sự phát triển sự nghiệp kinh doanh của chính nghiệp chủ và những người kinh doanh nước ta là thiếu tính sáng tạo cũng như khả năng đổi mới.

Trong quá trình đổi mới nền kinh tế theo hướng chuyển dần sang kinh tế công nghiệp và dịch vụ thì nghề thủ công truyền thống như một điều kiện thuận lợi cho những người khởi nghiệp phát triển kinh doanh. Hình ảnh các tỉnh Bắc Ninh, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), Hưng Yên… có tốc độ phát triển kinh tế nhanh trong những năm gần đây cho thấy nghề thủ công truyền thống là một trong nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế địa phương.

Tuy nhiên, lại rất dễ nhận thấy cho đến nay khả năng đổi mới các sản phẩm thủ công truyền thống ở hầu hết các làng nghề thủ công nước ta theo các đòi hỏi mới của thị trường là rất thấp. Nhiều sản phẩm thủ công truyền thống như làm nón lá, đan rổ rá, đồ kim khí,… cứ mai một dần vì không đổi mới được (hoặc chỉ thay đổi được ở mức rất thấp) từ chất liệu nguyên vật liệu, mẫu mã, kiểu dáng,… cho phù hợp với nhu cầu của người mua. Đây chính là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến nhiều ngành nghề thủ công truyền thống ở khắp mọi miền của đất nước cứ theo đà bị mai một dần.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Tư duy khởi sự kinh doanh – Phần VIII


Mô hình kinh tế hỗn hợp có đặc trưng cơ bản là dựa trên nền tảng kinh tế thị trường như có sự can thiệp của Nhà nước. Đó là nền kinh tế thị trường hội nhập khu vực và thế giới. Như thế, các doanh nhân sẽ phải kinh doanh trong nền kinh tế thị trường không chỉ giới hạn ở trong nước mà còn ở phạm vi thế giới: tự do mua nguyên vật liệu, thiết bị, bán hàng… ở các nước khác và cũng sẽ phải cạnh tranh với mọi doanh nghiệp mạnh cùng loại ở các nước khác nhảy vào thị trường nước ta. Mọi doanh nhân hoặc những người muốn trở thành doanh nhân không thể không chú ý đến những đặc trưng chủ yếu sau đây:

3.2/ Đặc điểm chủ yếu của môi trường tác động đến khởi sự và kinh doanh

3.2.1/ Tư duy manh mún, truyền thống, cũ kỹ

Tư duy manh mún, truyền thống, cũ kỹ chi phối và tác động rất mạnh mẽ đến quá trình khởi sự cũng như kết quả và hiệu quả kinh doanh của các nghiệp chủ. Có thể nhận thấy cho đến nay tư duy kinh doanh nhỏ bé, manh mún vẫn là điểm đặc trưng của các doanh nhân nước ta. Tư duy manh mún, truyền thống, cũ kỹ biểu hiện ở nhiều góc độ, chẳng hạn như:

Thứ nhất, nhìn dài hạn về về sự phát triển và lợi ích

Tất cả các quyết định kinh doanh đều được ban hành hoặc dựa trên nền tảng tư duy về sự phát triển và lợi ích dài hạn hoặc ngược lại, dựa trên nền tảng tư duy về sự phát triển và lợi ích ngắn hạn. Tư duy phát triển kinh doanh, lợi ích ngắn hạn hay dài hạn thể hiện ở mọi quyết định kinh doanh: từ các quyết định mang tính chiến lược đến các quyết định hành động hàng ngày.

Muốn phát triển bền vững, người kinh doanh cần có tư duy dài hạn về sự phát triển và lợi ích. Chỉ trên cơ sở tư duy dài hạn về sự phát triển người kinh doanh mới chú ý quyết định cách thức kinh doanh cũng như sử dụng nguồn lực với tư duy chiến lược: không chỉ nhập công nghệ, không chỉ tuyển dụng nhân lực cho nhu cầu trước mắt mà luôn phải tính đến sự phát triển lâu dài.

Nếu các quyết định kinh doanh dựa trên nền tảng tư duy về sự phát triển và lợi ích ngắn hạn, doanh nghiệp có thể tạm thời có lợi nhuận, tạm thời thoát khỏi các khó khăn trước mắt, song mãi mãi chỉ mang tính tạm thời: ngày nay đang phát triển, ngày mai có thể lại rớt vào khó khăn; ngày nay có lợi nhuận, ngày mai có thể lỗ vốn;… Mặc dù có nhận thức được các doanh nghiệp mình đang yếu nhưng do tư duy “sửa chữa” mang tính ngắn hạn nên nay sửa, mai sửa; sửa mãi mà yếu vẫn hoàn yếu.

Hộp: Bóc mẽ tật xấu của giới doanh nhân Việt

Thích hoành tráng, sĩ diện, khoe khoang, tự ti trước các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài, ghen ăn tức ở, cạnh tranh không lành mạnh… là tính xấu của doanh nghiệp?

Tại diễn đàn do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức nhân dịp kỷ niệm 10 năm Ngày doanh nhân Việt Nam, lẽ thường vào dịp này sẽ có những lời ca ngợi, tung hô, nhưng nhiều diễn giả đã mạnh dạn đưa ra những “tật xấu” của doanh nhân Việt Nam.

Mở đầu, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan khẳng định vị thế của doanh nghiệp, doanh nhân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn cho rằng: Bản thân các doanh nhân vẫn chỉ có tầm nhìn “lũy tre làng”, cò con, chưa có tầm nhìn quốc tế. Từ đó, chúng ta vấp phải hiện tượng tự ti đối với bên ngoài, hoặc quá tôn thờ bên ngoài. Đồng thời có hiện tượng không chịu học hỏi bên ngoài. “Khi nói tới hội nhập chúng ta đang lúng túng xử lý quan hệ này”, – nguyên Phó Thủ tướng nói.

Ông Vũ Khoan cũng phải thốt lên rằng, không hiểu sao sự gắn kết giữa các doanh nghiệp, doanh nhân của Việt Nam lại khó đến thế. Và ông Vũ Khoan nhớ lại, khi còn làm ở Bộ Thương mại và sau này là Phó Thủ tướng Chính phủ, ông luôn cố gắng tạo sự gắn kết giữa các doanh nghiệp, địa phương nhưng rất khó. “Không biết có phải chúng ta có nhiều người giỏi mà khó gắn kết với nhau đến thế? – ông đặt câu hỏi.

Một điểm yếu nữa của doanh nhân Việt Nam được ông Vũ Khoan nhắc tới là “chữ tín chưa được doanh nghiệp, doanh nhân đặt cao”. Có lẽ, theo ông Khoan, là do truyền thống sản xuất nhỏ, không trọng thương thành ra chữ tín không thực sự được coi trọng. Ông lấy một dẫn chứng rất đỗi đời thường: “Khi chúng ta vui vẻ nhậu nhẹt thì hay hẹn nhau hôm nao làm cái nọ, cái kia với nhau đi. Hôm này, tôi dịch sang tiếng Anh là “never”, nghĩa là không bao giờ”.

Ông Vũ Khoan chia sẻ: “Tâm tư của tôi rất nặng nề, chia sẻ, mong đợi ở doanh nghiệp rất nhiều. Chúng ta sắp kết thúc Chiến lược 10 năm để đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Chúng ta đi sắp hết chặng đường rồi mà chưa có gì “ra hồn” cả. Luyện kim, cơ khí thì thất bại, đóng tàu thì đi đâu rồi. Chiến lược phát triển công nghiệp ô tô thì hoành tráng mà không thấy đâu? Công nghệ cao thì toàn Samsung, Nokia… nắm giữ mà không thấy bóng dáng doanh nghiệp Việt Nam.

“Với tư cách là một công dân Việt Nam, tôi mong rằng vài năm tới, các bạn chung sức vào để tạo bước đột phá cho Việt Nam” – ông Vũ Khoan nói trước hàng trăm doanh nhân.

Cũng liên quan đến chủ đề này, ông Phạm Đình Đoàn – Chủ tịch Tập đoàn Phú Thái cho rằng: Trong khoảng từ 10 đến 20 năm trước, cộng đồng doanh nghiệp của chúng ta phát triển có gì đó hơi dễ dãi, tự phát và dựa nhiều vào các quan hệ. Đến giai đoạn kế tiếp, thách thức lớn, biết bao nhiêu hiệp định thương mại tự do và doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam đầu tư.

Chặng đường trước đây và chặng đường kế tiếp vô cùng khác biệt. Chính vì thế, các doanh nhân, doanh nghiệp của chúng ta phải có cách nghĩa rất khác biệt thì mới có cơ hội để bứt phá được.

Cũng theo ông Phạm Đình Đoàn, phải thẳng thắn thừa nhận rằng, doanh nhân Việt Nam có nhiều “tính xấu” phải sửa. Đó là: Không có uy tín, hay thay đổi, quá kiên trì vào một lĩnh vực, thích hoành tráng, sĩ diện, khoe khoang, làm quá nhiều cái vượt khả năng của ta; Hay chúng ta cũng rất tự ti trước các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài, nể nang xen kẽ tình cảm; Ghen ăn tức ở, cạnh tranh không lành mạnh.

“Tất cả những điểm này nếu không có chỉnh sửa thì rất khó bứt phá được”, – ông Phạm Đình Đoàn khẳng định.

Nhiều chính sách xa rời thực tế

Theo đánh giá của ông Phạm Đình Đoàn, hiện nay các Hiệp hội Doanh nghiệp của Việt Nam hoạt động không hiệu quả. Nếu các Hiệp hội này không đưa được tiếng nói, giải pháp, kiến nghị cụ thể thì không thể giúp Đảng, Nhà nước để sau đó Đảng, Nhà nước giúp ngược lại cộng đồng doanh nghiệp.

Ở khía cạnh khác, theo ông Đoàn, khó khăn nhất của vấn đề thực thi chính sách và làm ra chính sách không sát thực tế, là vì các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước rất ít doanh nhân tham gia vào bộ máy. Vì những người không từng trải, va vấp với các hoạt động sản xuất kinh doanh thì khó giải quyết vấn đề.

“Chúng tôi đã có nhiều cuộc làm việc, đối thoại với các cơ quan Đảng, Nhà nước nhưng thực sự là có người hiểu, có người khôn ghiểu. Hoặc có những chính sách Đảng, Nhà nước đưa ra lại chưa sát với mong muốn của doanh nghiệp” – ông Đoàn nêu thực tế.

Chúng ta cần nhiều người tài, chúng ta muốn phát triển được thì phải trọng dụng người tài. Người tài ấy có thể trong Đảng, ngoài Đảng, là tư nhân, là Nhà nước nhưng miễn là yêu nước, có tinh thần dân tộc và có khả năng đưa ra những sáng kiến, giải pháp giúp cộng đồng doanh nghiệp phát triển được.

Bây giờ vẫn có những doanh nghiệp xin dự án ở thành phố lớn phải mất 5 đến 7 năm mới được, đặc biệt là về đất đai. Nếu hội nhập như vậy thì doanh nghiệp của chúng ta tuột cơ hội trước.

Theo ông Đoàn, “Nếu những người làm chính sách quay trở lại làm doanh nghiệp như chúng tôi thì chắc chắn không thể làm được, rất vất vả, thậm chí phải “vật lộn” với chính sách”.

Cách làm chính sách như hiện nay, theo ông Đoàn, vẫn chỉ là giật gấu vá vai, chỉnh sửa, vá víu chứ không thể hội nhập được.

“Phú Thái đã liên doanh với nhiều tập đoàn nước ngoài nên chúng tôi hiểu rõ rằng, khi đang ở mức 2 sao thì phải nâng lên mức 3 đến 4 sao để tiếp cận với 5 sao của thế giới. Còn bây giờ, nếu doanh nghiệp cứ ở bục này thì đến một lúc nào đấy, tất cả chúng ta chỉ là những doanh nghiệp làm thuê, phục vụ cho các tập đoàn lớn của nước ngoài”, ông Đoàn nói.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Tư duy khởi sự kinh doanh – Phần VII


Thứ hai, tác động kinh tế của khởi sự các hoạt động kinh doanh mới

Có hai lý do khiến việc thực hiện hoạt động kinh doanh mới có tác động mạnh mẽ đến sức mạnh và sự ổn định của nền kinh tế. Đó là:

Đổi mới: Đổi mới là quá trình sáng tạo ra những cái mới mà trung tâm của nó là hoạt động thành lập doanh nghiệp. Theo báo cáo của Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ năm 2010, những công ty nhỏ (ít hơn 500 nhân công) đóng vai trò lớn trong việc tạo ra những đổi mới diễn ra tại Advocacy cho thấy những doanh nghiệp nhỏ hoạt động tốt hơn những đối tác lớn của họ xét về hoạt động xin cấp bằng sáng chế.

Tạo việc làm: Các doanh nghiệp quy mô nhỏ tạo ra phần lớn những công việc mới tại Mỹ, và sử dụng hơn một nửa nhân công khu vực tư nhân. Các doanh nghiệp nhỏ được đánh giá cao trong khu vực này. Theo nghiên cứu của tổ chức Kauffman Foundation, 92% người Mỹ rằng doanh nhân có nghĩa vụ quan trọng là tạo ra công ăn việc làm. 75% trong đó tin rằng nước Mỹ không thể phục hồi nền kinh tế mà không có sự bùng nổ của các hoạt động thành lập doanh nghiệp.

Thống kê sau đây đưa ra nhiều con số rất thuyết phục về tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhỏ trong việc tạo ra chỗ làm việc mới. từ năm 1980 đến 2005, những công ty được thành lập dưới 5 năm tạo ra tất cả chỗ làm việc mới tại Mỹ. Tính chung, những doanh nghiệp mới đã tạo thêm trung bình 3 triệu chỗ làm việc mới cho nền kinh tế Mỹ trong năm đầu tiên hoạt động của họ, trong khi những công ty cũ mất đi một triệu chỗ làm việc.

Thứ ba, tác động của khởi sự kinh doanh đến xã hội

Sự đổi mới trong hoạt động thành lập doanh nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ đến xã hội. Hãy nghĩ đến những sản phẩm dịch vụ mới khiến cho cuộc sống của chúng ta dễ dàng hơn, tăng năng suất công việc, cải thiện sức khỏe và giúp chúng ta thư giãn, giải trí. Lấy ví dụ với Amgen, một doanh nghiệp mới thành lập đi tiên phong trong lĩnh vực công nghệ sinh học, có rất nhiều sản phẩm thuốc tác động mạnh mẽ tới việc cải thiện sức khỏe con người. Một ví dụ khác là Neupogen, một loại thuốc làm giảm di căn cho bệnh nhân ung thư, những người đang phải điều trị hóa liệu. Ngoài việc cải thiện sức khỏe cho con người, hãy xét đến những sản phẩm như smartphone, mạng xã hội, mua sắm trực tuyến, chuyển phát nhanh và ảnh kỹ thuật số. Tất cả những sản phẩm này đều mới và hiện đại với thế hệ chúng ta, nhưng thật khó có thể tưởng tượng thế giới sẽ như thế nào nếu không có chúng.

Tuy vậy, việc đổi mới cũng gặp phải những vấn đề về luân lý đạo đức xã hội mà chúng ta đang gặp phải. Ví dụ như công nghệ máy quét mã vạch và mạng Internet giúp các công ty dễ dàng trong việc theo dõi việc mua hàng của khách hàng, nhưng lại gây ra những lo ngại về việc xâm phạm quyền cá nhân. Tương tự đối với công nghệ sinh học, nó giúp kéo dài hơn thời gian sử dụng của rất nhiều loại thực phẩm, nhưng rất nhiều nhà nghiên cứu và người tiêu dùng đặt câu hỏi liệu những thực phẩm sinh học này về lâu dài có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của người sử dụng.

Thứ tư, tác động của khởi sự kinh doanh đến những doanh nghiệp lớn

Ngoài tác động đến nền kinh tế, xã hội, khởi sự kinh doanh mới còn có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động của những doanh nghiệp lớn. Ví dụ, một hãng sản xuất thiết bị phụ tùng, cung cấp từng phần của sản phẩm cho doanh nghiệp lớn lắp ráp và phân phối. Do đó, rất nhiều sản phẩm mới thú vị như smartphone, máy quay kỹ thuật số và những loại thuốc mới không chỉ là kết quả nỗ lực của những công ty lớn với thương hiệu mạnh, như Samsung, Canon, và Johnson & Johnson. Chúng còn được sản xuất từng phần với nỗ lực nghiên cứu và phát triển của nhiều doanh nghiệp nhỏ khác nhau.

Nhiều bằng chứng chỉ ra rằng rất nhiều doanh nghiệp mới thành lập đã xây dựng theo mô hình sản xuất sản phẩm và dịch vụ nhằm giúp các doanh nghiệp lớn hoạt động hiệu quả hơn. Lấy ví dụ, một con số lớn những doanh nghiệp đang cạnh tranh trên thị trường nước ngoài. Điều này yêu cầu các doanh nghiệp cần có phiên dịch viên để giúp họ giao tiếp với các đối tác nước ngoài. SpeakLike, một công ty mới thành lập năm 2008, đã thành lập một dịch vụ trực tuyến cung cấp dịch vụ phiên dịch cho 2 hay 1 nhóm người nói ngôn ngữ khác nhau, với chi phí thấp hơn so với chi phí thuê người phiên dịch. Tương tự, hãng CADI Scientific, tiêu điểm của mục “Error! Reference source not found”, kinh doanh một hệ thống theo dõi bệnh nhân không dây, bao gồm cả nhiệt độ và huyết áp. Hệ thống khi được đưa vào sử dụng ở những bệnh viện tại Trung Đông và châu Á, đã giảm đáng kể rủi ro cho bệnh nhân và khối lượng công việc cho y tá.

Trong rất nhiều trường hợp, các doanh nghiệp mới thành lập sẽ hợp tác với các doanh nghiệp lớn để đạt được mục tiêu hai bên cùng có lợi. Tham gia hoạt động liên doanh cũng đồng nghĩa với việc đẩy nhanh tiến độ lớn mạnh của một doanh nghiệp, bằng cách tiếp cận với một số nguồn lực của đối tác, quản trị nhân tài và năng lực trí tuệ. Chúng ta sẽ cùng nghiên cứu việc hợp tác này.

3/ Nhận thức về tác động của môi trường đến khởi sự kinh doanh

3.1/ Khái niệm

Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố bên ngoài và bên trong doanh nghiệp vận động tương tác lẫn nhau, tác động trực tiếp và/hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Từ quan niệm này có thể coi môi trường kinh doanh là giới hạn không gian mà ở đó doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Trong môi trường kinh doanh mang tính toàn cầu hiện nay, phổ biến các doanh nghiệp chịu sự tác động lớn của môi trường kinh doanh thế giới. Tuy nhiên, khi xét đến nguyên tắc tầm quan trọng thì không phải với mọi doanh nghiệp đều phải nghiên cứu môi trường kinh doanh thế giới. Những doanh nghiệp nhỏ chịu sự tác động không lớn từ môi trường toàn cầu thì thường nghiên cứu môi trường kinh doanh ở phạm vi hẹp hơn. Sự tồn tại và phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào bao giờ cũng là quá trình vận động không ngừng trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động.

Mọi nghiệp chủ, doanh nhân và những người muốn trở thành doanh nhân phải nhận thức được vấn đề đầu tiên: mình sẽ kinh doanh trong môi trường như thế nào?

Tại sao lại cần nhận thức đúng đắn môi trường kinh doanh? Có lẽ không phải ai cũng trả lời chính xác câu hỏi này. Có những người cho rằng chỉ khi làm kế hoạch, chiến lược mới cần nghiên cứu, phân tích môi trường. Họ không nghĩ rằng nếu làm chiến lược, kế hoạch cần nhận diện môi trường thì trước khi làm kinh doanh hay làm nghề kinh doanh còn cần nhận diện môi trường hơn nhiều vì doanh nghiệp vận động trong môi trường kinh doanh cụ thể cũng chẳng khác gì loài cá sống trong nước: nếu nước sạch và nhiều loài có thể làm thức ăn, cá sẽ lớn nhanh; hoặc ngoặc lại, điều này cũng đúng cho con người và bất kỳ loài vật nào khác. Chính vì lẽ đó mà nếu nhận diện đúng hay sai môi trường sẽ tác động trực tiếp theo hướng tốt hay xấu tới các quyết định liên quan đến khởi sự cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã xây dựng. Xu hướng mang tính quy luật là nếu thị trường đã đảm bảo hứa hẹn cho hoạt động kinh doanh thì môi trường kinh doanh sẽ tác động theo xu hướng cơ bản sau:

+ Kinh doanh sẽ thành công và nhanh chóng thành công nếu biết chọn môi trường kinh doanh thuận lợi. Ngược lại, nếu không chọn đúng môi trường, người khởi sự sẽ phải chấp nhận kinh doanh trong môi trường có nhiều lực cản.

+ Khi đã chấp nhận môi trường kinh doanh cụ thể rồi thì nghiệp chủ và doanh nhân không chỉ phải biết “nhập gia tùy tục” mà còn phải am hiểu và có ý thức góp phần cải tạo môi trường.

Cho đến nay loài người đã từng trải qua nhiều cơ chế kinh tế: kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kinh tế thị trường và kinh tế hỗn hợp. Bức tranh phổ biến của thế giới ngày nay là bức tranh về mô hình kinh tế hỗn hợp. Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa chính là xây dựng nền kinh tế theo mô hình hỗn hợp kiểu Việt Nam.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.