Bình đẳng hơn những người khác – Phần cuối


Chỉ riêng vĩ độ địa lý (khoảng cách từ đường xích đạo của thủ đô một quốc gia) đã cho phép chúng ta dự đoán 43% sự khác biệt (phương sai) về giá trị PDI giữa 50 quốc gia thuộc tập hợp IBM ban đầu. Vĩ độ cùng quy mô dân số dự đoán được 51% phương sai, còn vĩ độ và quy mô dân số cộng thểm sự thịnh vượng quốc gia (sản phẩm quốc nội, đầu người trong năm 1970, năm trung bình của thời kỳ khảo sát) dự đoán được 58%. Nếu một người không biết gì về những quốc gia này ngoài ba dữ liệu trên thì người đó vẫn có thể tạo ra được một danh sách điểm PDI dự đoán gần giống với Bảng 3.1. Trung bình, các giá trị sẽ lệch 11 điểm so với những giá trị khảo sát của IBM.

Các mối quan hệ thống kê không chỉ ra được hướng của nguyên nhân: chúng không chỉ ra được đâu là nguyên nhân và đâu là kết quả hoặc các yếu tố liên quan có phải là kết quả của một nguyên nhân chung thứ ba hay không. Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt, về vị trí địa lý của một quốc gia, khó có thể coi đó không phải là nguyên nhân hay thậm chí là nguyên nhân đầu tiên trừ khi chúng ta giả sử rằng ở thời tiền sử, con người di cư đến những khu vực khí hậu phù hợp với quan niệm về khoảng cách quyền lực của mình và điều này rất khó xảy ra.

Theo rất nhiều nghiên cứu, tính lôgích của mối quan hệ như sau: Trước hết, các xã hội có liên quan đều cùng phát triển tới nền nông nghiệp định cư và công nghiệp đô thị. Các xã hội săn bắn nguyên thủy áp dụng một lôgích khác không được kể đến ở đây. Tại vĩ độ thấp (tức là khu vực khí hậu nhiệt đới), các xã hội nông nghiệp thường được thiên nhiên phong phú. Để tồn tại và phát triển tại khu vực khí hậu này, con người không cần can thiệp nhiều vào thiên nhiên, mọi thứ đều tư nhiên phát triển. Ở đây, mối đe dọa lớn nhất đối với xã hội chính là sự cạnh tranh giữa các nhóm người khác thuộc cùng lãnh thổ và sử dụng chung các nguồn tài nguyên. Cơ hội sống sót chỉ tồn tại với những xã hội biết cách tổ chức theo thứ bậc và dựa vào một chính quyền duy nhất để duy trì trật tự công bằng.

Tại vĩ độ cao hơn (tức là khu vực khí hậu ôn hòa và lạnh), thiên nhiên kém phong phú hơn. Con người cần can thiệp nhiều vào thiên nhiên mới có thể tồn tại được. Những điều kiện này khuyến khích sự phát triển công nghiệp trước nông nghiệp. Chính thiên nhiên chứ không phải con người là kẻ thù đầu tiên cần chống chọi. Con người tại xã hội này học cách tự lo cho bản thân mà không quá dựa dẫm vào những người mạnh hơn. Chính vì vậy, tại những khu vực như vậy, xã hội có nhiều cơ hội sống sót hơn những xã hội giáo dục con em mình phải biết tuân lệnh.

Sự kết hợp giữa khí hậu và sự giàu sang là chủ đề của một nghiên cứu rất thú vị của nhà tâm lý xã hội người Hà Lan Evert van de Vliert. Van de Vliert nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu đến văn hóa, đối lập nền văn hóa trong sống sót (PDI cao) với nền văn hóa trọng biểu lộ bản thân (PDI cao). Ông đã chứng minh được rằng khí hậu nóng hoặc lạnh dẫn tới nền văn hóa trọng sống sót, ngoại trừ những xã hội giàu có với đủ phương tiện để chống chọi với cái lạnh và sức nóng, ở đây chúng ta tìm thấy nền văn hóa trọng biểu lộ bản thân. Tại khu vực khí hậu ôn hòa, vai trò của sự giàu sang không được đề cập.

Bản thân sự thịnh vượng của một quốc gia đại diện cho rất nhiều yếu tố mà mỗi yếu tố đó có thể là nguyên nhân hoặc kết quả của khoảng cách quyền lực nhỏ. Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến quan hệ nhân quả dạng xoắn ốc, chẳng hạn như quan hệ giữa con gà và quả trứng. Những yếu tố liên quan nhiều đến sự thịnh vượng quốc gia và liên quan ít đến sự phụ thuộc vào những người có thế lực bao gồm:

+ Nền nông nghiệp ít giữ được truyền thống’

+ Công nghệ hiện đại hơn;

+ Người dân sống ở thành thị nhiều hơn;

+ Xã hội linh hoạt hơn;

+ Hệ thống giáo dục tốt hơn;

+ Tầng lớp trung lưu đông hơn.

Những quốc gia thuộc địa cũ thường có khoảng cách quyền lực lớn hơn những quốc gia từng bị thực dân hóa, tuy nhiên trogn hai thập kỷ vừa qua, việc là một thuộc địa hay từng bị thực dân hóa đều có mối quan hệ mạnh mẽ với sự thịnh vượng hiện tại của quốc gia đó. Dữ liệu không cho phép thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa ba yếu tố là sự nghèo đói, quá trình thực dân hóa và khác biệt quyền lực lớn. Giả thiết về quan hệ nhân quả trong khía cạnh này thường phụ thuộc vào điều ta muốn chứng minh.

Yếu tố dự báo thứ hai của khoảng cách quyền lực là quy mô dân số giúp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phụ thuộc vào chính quyền bởi công dân của một quốc gia đông dân sẽ phải chấp nhận một quyền lực chính trị xa hơn và khó tiếp cận hơn công dân của một quốc gia nhỏ. Mặt khác, ở đây có thể tồn tại trường hợp hoán vị quan hệ nhân hóa bởi những dân tộc có tâm lý ít phụ thuộc sẽ chống trả quyết liệt để tránh phải hội nhập vào một quốc gia lớn hơn.

Tương lai của những khác biệt về khoảng cách quyền lực

Cho đến giờ, bức tranh mô tả sự khác biệt về khoảng cách quyền lực giữa các quốc gia đã không còn biến động. Phần trên xác nhận rằng một số khác biệt có cội nguồn lịch sử lên tới 4000 năm hoặc hơn. Đó là quá khứ, còn tương lai thì sao? Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên tăng cường giao tiếp quốc tế chưa từng có trong lịch sử: liệu điều này có xóa bỏ sự khác biệt và giúp chúng ta phát triển một tiêu chuẩn thế giới hay không? Nếu có, thì đó là khoảng cách quyền lực lớn, nhỏ hay trung bình?

Ít nhất thì sự phụ thuộc vào quyền lực của người khác tại phần lớn các khu vực trên thế giới đã giảm đáng kể trong vài thế hệ gần đây. Rất nhiều người trong chúng ta cảm thấy ít phụ thuộc hơn thế hệ cha mẹ, ông bà của mình. Hơn nữa, tự do còn là một chủ đề chính trị hấp dẫn. Các phong trào giải phóng xuất hiện ở nhiều nơi. Tại nhiều quốc gia, cơ hội giáo dục nay được cải thiện và chúng ta có thể nhận thấy điểm khoảng cách quyền lực trong nội bộ quốc gia ngày càng giảm khi trình độ giáo dục tăng lên. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là những khác biệt giữa các quốc gia như mô tỏa ở bài này – đã thật sự thay đổi. Tất cả các quốc gia vẫn có thể chuyển xuống mức khảong cách quyền lực thấp hơn mà không phải thay đổi xếp hạng chung ở Bảng 3.1.

Con người có thể sẽ cố gắng dự đoán những thay đổi dài hạn về khoảng cách quyền lực bằng cách nghiên cứu những yếu tố tiềm ẩn được chỉ ra tại phần trước của bài này. Trong các yếu tố có mối liên quan mật thiết với khoảng cách quyền lực (vĩ độ, dân số và sự thịnh vượng) thì yếu tố đầu tiên không thể thay đổi được. Đối với nhân tố thứ hai, dân số, người ta có thể lập luận rằng trong một thế giới toàn cầu hóa thì những quốc gia lớn và nhỏ đều khó có khả năng tự đưa ra quyết định ở tầm của mình và tất cả đều ngày càng phụ thuộc vào những quyết định quốc tế. Điều này sẽ dẫn đến sự gia tăng khoảng cách quyền lực trên toàn cầu.

Yếu tố thứ ba, sự thịnh vượng, chỉ tăng lên với một số quốc gia. Sự thịnh vượng gia tăng có thể làm giảm khoảng ccách quyền lực nếu như nó mang lợi ích cho tất cả mọi người dân. Kể từ thập kỷ cuối của thế kỷ XXI, sự phân chia thu nhập tại một số quốc gia giàu có, mà đi đầu là Mỹ, ngày càng trở nên bất cân bằng. Sự giàu có gia tăng chỉ mang lại lợi ích cho những người vốn đã rất giàu. Xuất hiện phản ứng phụ: nó làm tăng sự bất bình đẳng trong xã hội, không chỉ ở lĩnh vực kinh tế mà còn ở lĩnh vực luật pháp, những người giàu có thể vận động hành lang các nhà làm luật và trả tiền cho luật sư, những người có mức lương gấp nhiều lần quan tòa. Như vậy sự gia tăng thịnh vượng này sẽ làm tăng thêm khoảng cách quyền lực. Tại những quốc gia óc nền kinh tế trì trệ hay xuống cấp, tức là tại phần lớn những quốc gia nghèo, không có sự giảm hay thậm chí tăng khoảng cách quyền lực.

Theo như chúng tôi biết, chưa ai đưa ra được bằng chứng về sự hội tụ của các quốc gia tiến tới những khác biệt nhỏ hơn về khoảng cách quyền lực. Chúng tôi tin rằng bức tranh quốc gia đa dạng ở bài này với cội nguồn lịch sử lâu đời, chắc chắn sẽ còn tồn tại trong một thời gian, ít nhất là vài thế kỷ nữa. Quá trình đồng hóa trí não thế giới về quyền lực và sự phụ thuộc, tự do và phụ thuộc lẫn nhau dưới ảnh hưởng của quá trình giao thoa văn hóa vẫn còn rất xa vời và có thể sẽ không bao giờ xảy ra.

Tháng 12 năm 1988, mẩu tin sau đã xuất hiện trên báo chí:

Stockholm, ngày 23 tháng 12. Tuần này trong lúc mua quà Giáng sinh cho các con, vua Thụy Điển Carl Gustav đã gặp phải nhiều cản trở khi nhà vua muốn trả bằng séc nhưng lại không thể đưa ra tấm thẻ séc của mình. Người bán hàng từ chối chấp nhận tấm séc chưa được hợp pháp hóa. Chỉ khi những người ngoài cuộc lấy trong túi áo họ đồng một xu Thụy Điển có hình vị vua thì người bán hàng mới chấp nhận tấm séc này là hợp lệ nhưng lại không kiểm tra kỹ tính xác thực của tấm séc và ghi lại tên và địa chỉ của chủ nhân tấm séc.

Người nhà Bernadotte (hậu duệ trực tiếp của vị tướng người Pháp) vẫn gặp phải quy tắc bình đẳng tương tự như tổ tiên của mình. Sẽ cần bao nhiêu thời gian để công dân các nước Mỹ, Nga hay Zimbabwe cư xử với tổng thống của mình theo cách này? Hay để người Thụy Điển bắt đầu sùng kính vị vua của mình như người Thái Lan sùng kính vị vua của họ?

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Bình đẳng hơn những người khác – Phần VII


Tân ước Thiên Chúa giáo được soạn thảo và những thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên thuyết giáo về đức hạnh của sự nghèo đói. Mưu cầu đức hạnh này sẽ dẫn tới bình đẳng trong xã hội, nhưng trên thực tế, nó chỉ dành riêng cho các thành viên của giai cấp tôn giáo. Đức hạnh này không phổ biến đối với các nhà lãnh đạo, nhà nước, doanh nghiệp hay bản thân nhà thờ theo đạo Thiên Chúa. Giáo hội Công giáo vẫn duy trì hệ thống thứ bậc từ thời Đế chế La Mã. Giáo hội Chính thống giáo Đông phương cũng vậy. Xét theo nhiều khía cạnh, giáo phái Tin lành không có hệ thống thứ bậc. Theo truyền thống, các quốc gia theo đạo Tin lành thường có điểm PDI thấp hơn các quốc gia theo đạo Thiên Chúa hoặc Chính thống.

Niccolò Machiavelli người Ý (1469 – 1527) là một trong những tác giả vĩ đại nhất của nền văn học thế giới về việc sử dụng quyền lực chính trị. Ông phân biệt giữa hai mô thức: mô thức con cáo và mô thức con sư tử. Theo như Machiavelli, một người thống trị khôn ngoan phải biết sử dụng cả hai mô thức cùng một lúc tại thời điểm thích hợp: sự khôn ngoan của con cáo sẽ giúp tránh được cạm bẫy, còn sức mạnh của con sư tử sẽ gây kinh sợ cho đàn sói. Khi liên hệ tư tưởng của Machiavelli với sự khác biệt về khảong cách quyền lực quốc gia, ta có thể thấy những quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ thường quen với mô thức con cáo, còn những quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn lại quen với mô thức con sư tử. Theo dữ liệu nghiên cứu IBM ở thế kỷ XX, điểm của nước Ý nằm ở giữa trong khu vực khoảng cách quyền lực (xếp hạng 51 so với số điểm 50). Có vẻ như nếu nghiên cứu nước Ý theo từng vùng miền thì miền Bắc sẽ giống con cái hơn, còn miền Nam sẽ giống con sư tử hơn. Mặc dù không được Machiavelli đề cập đến nhưng mối liên hệ giữa hệ thống chính trị và trí não công dân cho thấy việc người thống trị nên bắt chước con vật nào phụ thuộc phần lớn vào con vật tượng trưng của người bị thống trị.

Karl Marx (1818 – 83) cũng tìm cách giải quyết vấn đề quyền lực nhưng ông muốn mang quyền lực đến kẻ yếu. Ông chưa bao giờ thực sự trả lời được câu hỏi liệu cuộc cách mạng mà ông thuyết giáo có tạo ra một tầng lớp kẻ yếu mới hay không. Trên thực tế, dường như ông chỉ giả định rằng việc sử dụng quyền lực có thể chuyển từ cá nhân sang tập thể, đó là triết lý mà chúng ta có thể nhận thấy khoảng cách quyền lực trong cộng đồng quê hương ông (nước Đức) là nhỏ. Quả là một điều khó khăn với thế giới hiện đại khi tư tưởng của Marx chủ yếu lại được ứng dụng ở những quốc gia có khảong cách quyền lực lớn mà theo như đầu bài này đã đề cập thì ở những nước này không tồn tại giả thiết rằng quyền lực phải phục tùng luật pháp. Theo quan niệm “nền chuyên chính vô sản” của Marx thì phần chuyên chính rất hấp dẫn kẻ thống trị tại một số quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn nhưng phần vô sản lại bị lãng quên. Trên thực tế, đây là một quan niệm rất giản đơn theo những gì chúng tôi biết về xu hướng bất bình đẳng của nhân loại thì nền chuyên chính thực hiện bởi giai cấp vô sản là một mâu thuẫn hoàn toàn lôgích.

Việc mang tư tưởng đến người dân tại các quốc gia khác mà không quan tâm đến các giá trị xung quanh sự phát triển của tư tưởng cũng như sử dụng tư tưởng bởi những tín đồ cả tin tại các quốc gia này không thuộc lĩnh vực chính trị mà thuộc lĩnh vực giáo dục và đặc biệt là quản lý và tổ chức. Thành công kinh tế của Mỹ trong nhiều thập kỷ trước và sau Thế chiến thứ hai đã khiến người dân tại các quốc gia khác tin rằng tư tưởng của Mỹ về quản lý là tốt nhất và bắt chước. Họ quên không tìm hiểu về loại hình xã hội nơi tư tưởng này được phát triển và áp dụng và liệu tư tưởng này có thực sự được áp dụng như sách nói hay không. Kể từ cuối những năm 1960, điều tương tự cũng xảy ra với tư tưởng của Nhật Bản.

Trong Bảng 3.1, điểm khoảng cách quyền lực của Mỹ thấp nhưng không phải là quá thấp (xếp hạng 57/59 với số điểm 74). Các thuyết lãnh đạo của Mỹ dựa vào nhân viên với nhu cầu phụ thuộc trung bình, không quá cao cũng không quá thấp. Tư tưởng chủ đạo là việc quản lý có sự tham gia, tức là quản lý cho phép nhân viên tham gia vào các quyết định do chính quản lý khởi xướng. So sánh các thuyết lãnh đạo của Mỹ với các thí nghiệp về “nền dân chủ công nghiệp” tại các quốc gia như Thụy Điển hay Đan Mạch (có điểm số PDI rất thấp), ta có thể nhận thấy rằng tại các quốc gia thuộc bán đảo Scandinavia này, nhân viên thường chủ động tham gia trong khi nhà quản lý người Mỹ sẽ rất khó chấp nhận điều này bởi đó là biểu hiện của sự xâm phạm “đặc quyền quản lý”. Tuy nhiên tại bán đảo Scandinavia, các đặc quyền quản lý thường không quan trọng. Mặt khác, các thuyết quản lý có sự tham gia của Mỹ chắc chắn không thể áp dụng vào những quốc gia có điểm khoảng cách quyền lực cao. Một nghiên cứu đã ghi nhận lại tình trạng bối rối của nhân viên người Hy Lạp khi lãnh đạo người Mỹ hỏi ý kiến ông về lượng thời gian cần để hoàn thành công việc: “Ông ta là ông chủ. Tại sao ông ta không bảo tôi?”

20160530-165332_p3

Bảng 3.5 tổng hợp những khác biệt chính giữa xã hội có khoảng cách quyền lực lớn và xã hội có khoảng cách quyền lực nhỏ trong hai phần trên. Cùng với Bảng 3.3 và 3.4, Bảng 3.5 mang đến cái nhìn tổng thể về bản chất của khác biệt về khoảng cách quyền lực trong mọi lĩnh vực của cuộc sống được đề cập trong bài này.

Nguồn gốc của những khác biệt về khoảng cách quyền lực

Các quốc gia châu Âu có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ Roman (như tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Romani và tiếng Tây Ban Nha) đều đạt điểm khoảng cách quyền lực từ trung bình đến cao (trong Bảng 3.1 từ Ý 50 điểm cho đến Romani 90 điểm). Các quốc gia châu Âu có tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ German (như tiếng Đan Mạch, tiếng Hà Lan, tiếng Anh, tiếng Na Uy và tiếng Thụy Điển) đều đạt điểm thấp (từ Áo 11 điểm cho đến Luxembourg 40 điểm). Dường như ngôn ngữ có mối quan hệ với trí não ngày nay về khoảng cách quyền lực. Thực tế rằng một quốc gia thuộc một khu vực ngôn ngữ có nguồn gốc trong lịch sử: ngôn ngữ Roman bắt nguồn từ tiếng Latin và được châu Mỹ Latin từng là thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha (hai quốc gia này lại là thuộc địa cũ của Đế chế La Mã). Ngôn ngữ German được sử dụng tại những quốc gia vẫn còn “man rợ” trong thời kỳ La Mã, tại những khu vực từng chịu sự thống trị của người La Mã nhưng bị những dân tộc man rợ (như Anh) chiếm lại, hoặc tại thuộc địa cũ của những quốc gia này. Như vậy nguồn gốc của khoảng cách quyền lực trong bộ não xuất hiện từ thời kỳ La Mã, tức là khoảng 2000 năm trước. Những quốc gia kế thừa văn hóa Trung Hoa (Khổng Tử) đều có điểm khoảng cách quyền lực ở mức từ trung bình đến cao và có nền văn hóa ít nhất 4000 năm tuổi.

Không ai trong chúng ta có mặt khi các nền văn hóa bắt đầu hội tụ: một trong những nguyên nhân gây ra những khác biệt này là nền giáo dục dựa trên những tư liệu lịch sử và tiền sử. Cả đế chế La Mã và đế chế Trung Hoa đều do một trung tâm quyền lực thống trị và nhân dân phải tuân lệnh trung tâm quyền lực này. Trái lại, khu vực sử dụng ngôn ngữ German của châu Âu chia thành nhiều bộ tộc nhỏ dưới sự chỉ huy của chính quyền địa phương và không chịu sự chỉ huy của bất kỳ ai khác. Một giả thiết hợp lý đó là những kinh nghiệm trong thời kỳ nhà nước sơ khai giúp trang bị cho dân tộc này những kiến thức chung cần thiết để hệ thống xã hội và chính trị của họ có thể tồn tại.

Đương nhiên câu hỏi còn lại là: Tại sao những kinh nghiệm trong thời kỳ nhà nước sơ khai này lại khác nhau? Một cách giúp đưa ra phỏng đón về nguyên nhân là nghiên cứu dữ liệu định lượng về những quốc gia có mối tương quan với số điểm khoảng cách quyền lực. Có rất nhiều biến số định lượng như vậy. Phương pháp hồi quy cho phép chúng ta chọn trong số này những biến liên tục đóng góp nhiều nhất trong việc giải thích sự khác biệt về điểm PDI ở Bảng 3.1. Kết quả là điểm PDI của một quốc gia có thể dự đoán khá chính xác dựa vào:

+ Vĩ độ địa lý của quốc gia đó (vĩ độ càng cao thì điểm PDI càng thấp)

+ Quy mô dân số (quy mô càng lớn thì điểm PDI càng cao)

+ Sự thịnh vượng (quốc gia càng giàu thì điểm PDI càng thấp)

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Bình đẳng hơn những người khác – Phần VI


Khoảng cách quyền lực và nhà nước

Phần trước đã nghiên cứu ý nghĩa của sự khác biệt về khoảng cách quyền lực giữa các quốc gia đối với vai trò cha mẹ – con cái, giáo viên – học sinh, bác sĩ – bệnh nhân và lãnh đạo – nhân viên, một vai trò khác cũng bị ảnh hưởng bởi khoảng cách quyền lực là chính quyền – công dân. Bất kỳ ai khi đọc tin tức thế giới cũng nhận ra rằng tại một số quốc gia giải quyết sự khác biệt về quyền lực giữa chính quyền và công dân khác với những quốc gia khác. Một điều không hiển nhiên nhưng cần phải hiểu đó là phương thức quản lý quyền lực ở một quốc gia bắt nguồn từ lòng tin của một bộ phận lớn người dân về những hành động thích hợp của chính quyền.

Trong phân tích dữ liệu của 43 xã hội thu được trong Khảo sát giá trị toàn cầu, Ronald Inglehart, nhà khoa học chính trị Mỹ, tìm ra rằng ông có thể sắp xếp thứ tự các quốc gia theo chiều kích “Lẽ phải lâu đời và quyền lực truyền thống”. Phân tích mối tương quan cho thấy chiều kích này có quan hệ mật thiết với khoảng cách quyền lực. Trong một xã hội có khoảng cách quyền lực lớn, quyền lực có tính truyền thống đôi khi bắt nguồn từ tôn giáo. Quyền lực được xem như yếu tố cơ bản của xã hội có trước chọn lựa giữa cái tốt và cái xấu. Tính hợp pháp không ảnh hưởng tới quyền lực. Chân lý thuộc về kẻ mạnh. Đây là một tuyên bố hiếm khi được thể hiện ở dạng này nhưng lại được phản ảnh bởi hành vi của những người có quyền lực và người dân thường. Có một thỏa thuận bất thành văn là thế giới này nên có trật tự bất bình đẳng và mỗi người đều có vị trí riêng trong đó. Trật tự này thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc của con người và mang lại cảm giác an toàn cho những người có quyền lực và những người ở vị trí thấp hơn.

Ở đầu bài này, chúng tôi đã tham khảo xu hướng tại một số xã hội nhằm đạt được sự nhất quán trong vị trí của con người về quyền lực, sự giàu sang và địa vị. Đạt được sự nhất quán về địa vị là mong muốn điển hình của những nền văn hóa có khoảng cách quyền lực lớn. Tại các nền văn hóa này, những người có quyền lực được hưởng đặc lợi và sử dụng quyền lực của mình để tăng thêm của cải cho bản thân. Địa vị của họ được nâng cao bằng những hành vi biểu trưng khiến họ càng trở nên mạnh hơn. Quyền lực chủ yếu đến từ gia đình và bạn bè, uy tín và khả năng sử dụng quyền lực. Khả năng sử dụng quyền lực giải thích sự xuất hiện của chế độ độc tài quân sự tại những quốc gia này trên thang khoảng cách quyền lực. Xuất hiện những vụ bê bối liên quan đến người có quyền lực nhưng chúng thường bị che đậy. Nếu điều gì xảy ra, những người xếp dưới hệ thống thứ bậc luôn bị khiển trách. Khi mọi thứ trở nên tồi tệ, cách duy nhất để thay đổi hệ thống là một cuộc cách mạng nhằm thay thế những người nắm quyền. Phần lớn cuộc cách mạng này đều thất bại, và nếu có thành công thì sau một thời gian, những người nắm quyền mới sẽ lặp lại hành vi của người tiền nhiệm bởi họ cùng có các giá trị phổ biến về bất bình đẳng.

Tại những quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn, người dân đọc tương đối ít báo chí (nhưng họ tự tin vào những gì mình đọc) và họ hiếm khi bàn luận về chính trị: bất đồng quan điểm chính trị sẽ nhanh chóng biến thành bạo lực. Hệ thống thường chỉ cho phép một đảng chính trị, tại những nơi có nhiều đảng thì chỉ một đảng luôn chiến thắng. Dải phân bố chính trị, nếu có, yếu ở giữa và mạnh ở hai bên cánh trái và cánh phải. Đây là sự phản ánh phân cực chính trị giữa phụ thuộc và phản phụ thuộc đã được mô tả ở đầu bài này. Phân chia thu nhập tại các quốc gia này không đều với số ít người rất giàu và số đông người rất nghèo. Bên cạnh đó, hệ thống thuế bảo vệ những người giàu khiến cho thu nhập sau thuế càng trở nên bất bình đẳng hơn thu nhập trước thuế. Công đoàn thường do chính phủ chỉ đạo, ở những nơi chính phủ không chỉ đạo thì về tư tưởng, công đoàn dựa vào chính trị và có liên quan đến chính trị.

Chính quyền tại những xã hội có khoảng cách quyền lực lớn được Inglehart đánh giá là lẽ phải lâu đời: dựa vào suy nghĩ thực tế hơn là truyền thống. Tại những xã hội này, chính trị và tôn giáo luôn tách biệt. Việc sử dụng quyền lực phải tuân thủ luật pháp và quan niệm tốt xấu. Về cơ bản không ai muốn sự bất bình đẳng, nếu không thể tránh khỏi thì chính trị sẽ giảm tối thiểu sự bất bình đẳng. Luật pháp đảm bảo rằng mọi người, không kể địa vị, đều có quyền bình đẳng. Quyền lực, sự giàu sang và địa vị không nhất thiết phải đi cùng nhau. Người lãnh đạo có thể nâng cao địa vị dân dã của mình bằng cách từ bỏ những biểu tượng quyền lực: thủ tướng bắt xe công cộng đi làm. Phần lớn các quốc gia thuộc nhóm này đều tương đối giàu và có đông tầng lớp trung lưu. Quyền lực chủ yếu đến từ địa vị chính thức, khả năng chuyên môn và khả năng trao thưởng. Các vụ bê bối đồng nghĩa với kết thúc sự nghiệp chính trị. Cách mạng không xuất hiện phổ biến. Hệ thống thay đổi theo hướng tiến hóa mà không cần thiết phải hạ bệ những người nắm quyền. Người dân đọc rất nhiều nhưng lại không mấy tin vào báo chí. Các vấn đề chính trị được bàn luận thường xuyên và bạo lực trong chính trị quốc gia hiếm khi xảy ra. Các quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ thường có nhiều chính phủ thay phiên nhau nắm quyền trong hòa bình hoặc liên minh với nhau nắm quyền dựa vào kết quả bầu cử. Dải phân bố chính trị tại những quốc gia này mạnh ở giữa và yếu ở hai bên cánh phải và cánh trái. Phân chia thu nhập tại đây bình đẳng hơn tại các quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn. Hệ thống thuế giúp phân chia lại thu nhập khiến thu nhập sau thuế trở nên bình đẳng hơn. Công đoàn tồn tại độc lập và thiên về các vấn đề thực tế của thành viên hơn là thiên về tư tưởng và chính trị.

Người đọc sẽ dễ dàng nhận thấy những đặc điểm của hai thái cực này trong lịch sử cũng như trong thực tế của nhiều quốc gia. Liên minh châu Âu dựa vào nguyên tắc dân chủ đa đảng nhưng rất nhiều thành viên từng có chế độ độc tài. Mức độ khoảng cách quyền lực trong văn hóa giúp giải thích tại sao hiện nay các nước này đang phải đấu tranh với nền dân chủ. Chẳng hạn, khảo sát Eurobarometer đề cập ở phần trướccủa bài này cho thấy, tại những nơi có PDI cao, ít người tin vào cảnh sát, nhiều người trẻ tuổi gia nhập đảng phái chính trị và ít người tham gia bàn luận về các nhà hoạch định chính sách. Thậm chí tại hệ thống dân chủ nhất thì nhà báo và và người chỉ điểm các vụ bê bối cũng gặp phải khó khăn. Tại những hệ thống ít dân chủ hơn thì họ phải mạo hiểm cả cuộc sống của mình.

Đôi khi thể chế của các quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ lại bắt chước các quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn bởi tư tưởng chính trị lan rộng. Các nhà lãnh đạo chính trị đã học tập tại các quốc gia khác thường thử mô phỏng hệ thống chính trị tại những quốc gia này. Trong bối cảnh hợp tác phát triển, chính phủ của những quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ thường hăm hở xuất khẩu hệ thống thể chế của mình. Tuy nhiên, thay đổi các bước bầu cử sẽ không thay đổi được tập tục chính trị của cả một quốc gia nếu những tập tục này đã bám sâu vào trí não của một bộ phận lớn dân chúng. Đặc biệt, tầng lớp dân chúng nghèo và không có giáo dục là những người theo đảng dân chủ rất tồi và những phong tục chính trị tại các nước giàu không thể áp dụng được vào các nước nghèo. Những hoạt động của chính phủ nước ngoài nhằm đưa quốc gia tiến đến nền dân chủ và tôn trọng nhân quyền do trí não của những người trợ giúp nước ngoài truyền cảm hứng và chúng thường hiệu quả hơn trong việc giải quyết ý kiến của cử tri nước ngoài hơn là giải quyết những vấn đề quốc gia cần được giúp đỡ.

Khoảng cách quyền lực và tư tưởng

Cha mẹ, giáo viên, người quản lý và người thống trị đều là con đẻ của văn hóa, họ nối gót những người đi trước và để hiểu được hành vi của họ thì cần hiểu cả trí não của con cái, học sinh, nhân viên và người bị thống trị. Tuy nhiên trong thế giới này không chỉ người thực hiện mà cả người tư duy cũng đều là con đẻ của văn hóa. Tác giả của những cuốn sách về quản lý hay nhà sáng lập các tư tưởng chính trị đều lấy ý tưởng từ những kiến thức họ học được trong quá trình trưởng thành. Như vậy sự khác biệt giữa các quốc gia về các chiều kích giá trị như khoảng cách quyền lực không chỉ giúp chúng ta hiểu được sự khác biệt trong tư duy, cảm xúc và hành động của người lãnh đạo và người bị lãnh đạo mà còn giúp chúng ta trân trọng những lý thuyết được phát minh và sử dụng tại những quốc gia này để có thể giải thích và đoán biết tư duy, cảm xúc và hành vi.

Trong lịch sử thế giới, các triết gia và các nhà sáng lập tôn giáo đã phải đối mặt trực tiếp với vấn đề quyền lực và bất bình đẳng. 500 năm trước Công nguyên tại Trung Quốc, Khổng Tử đã xác định rằng xã hội ổn định là nhờ mối quan hệ bất bình đẳng giữa con người. Ông phân thành ngũ luân – năm mối quan hệ cơ bản: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu thê (vợ chồng), huynh đệ (anh em) và bằng hữu (bạn bè). Các mối quan hệ này bao gồm nghĩa vụ tương hỗ và bổ sung: người ít tuổi phải kính trọng và vâng lời người lớn tuổi, người lớn tuổi phải bảo vệ và chăm sóc người ít tuổi. Tư tưởng của Khổng Tử tồn tại như kim chỉ nam cho mọi hành động của con người Trung Quốc cho đến tận ngày nay. Tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Mao Trạch Đông cố gạt bỏ đạo Khổng Tử nhưng cách cai trị của ông lại chịu ảnh hưởng mạnh của những đặc điểm của đạo này. Các quốc gia trong nghiên cứu IBM cóphần đông người dân là Trung Quốc hoặc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa theo thứ tự xuất hiện ở Bảng 3.1 là: Trung Quốc, Singapore, Hong Kong, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản. Các quốc gia này đều thuộc vùng điểm PDI trung bình hoặc trên trung bình. Người dân tại các quốc gia này chấp nhận và coi trọng sự bất bình đẳng nhưng cảm thấy rằng việc sử dụng quyền lực nên được giảm bớt bằng ý thích trách nhiệm.

Tại Hy Lạp cổ đại khoảng 350 năm trước Công nguyên, Plato đã nhận ra nhu cầu bình đẳng cơ bản của con người nhưng ông lại ủng hộ một xã hội mà ở đó, một tầng lớp ưu tú có tên người bảo hộ đảm nhiệm việc lãnh đạo. Ông cố gắng giải quyết mâu thuẫn giữa các xu hướng phân kỳ này bằng cách lập lờ giữa hai nghĩa của từ “bình đẳng”, một nghĩa là định tính còn một nghĩa là định lượng. Tuy nhiên với chúng tôi, các lý lẽ của ông đều gần giống với câu nói nổi tiếng trích từ Trại súc vật của George Orwell: “Tất cả gia súc đều bình đẳng nhưng một số loại lại bình đẳng hơn những loài còn lại”. Theo Bảng 3.1, Hy Lạp ngày nay đang đứng lưng chừng trong khoảng cách quyền lực (xếp hạng 41/42 với số điểm 60).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Bình đẳng hơn những người khác – Phần V


Khoảng cách quyền lực và y tế

Không bất ngờ khi các nghiên cứu so sánh chức năng của hệ thống y tế tại các quốc gia thành viên thuộc Liên minh châu Âu đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa bệnh nhân và bác sĩ cũng phản ánh mức độ khoảng cách quyền lực trong một xã hội. Tại các quốc gia với nền văn hóa có khoảng cách quyền lực lớn, thời gian khám bệnh ngắn hơn và không có chỗ cho việc trao đổi thông tin đột xuất.

Sự khác biệt này cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc. Tại các quốc gia với nền văn hóa có khoảng cách quyền lực lớn, bác sĩ thường kê thuốc kháng sinh bởi đó là thứ thuốc chữa bệnh nhanh và phổ biến. Tại các quốc gia này, bệnh nhân cũng tự dùng thuốc kháng sinh để chữa bệnh. Những kết quả này quan trọng ở chỗ khi thuốc kháng sinh được sử dụng quá thường xuyên thì có nguy cơ vi trùng sẽ hình thành sức đề khác với kháng sinh.

Một nghiên cứu khác so sánh việc truyền máu giữa 25 quốc gia châu Âu. Quá trình truyền máu chỉ được thự chiện trong bản thân một quốc gia, việc trao đổi quốc tế các sản phẩm máu diễn ra rất ít. Các quốc gia có nền văn hóa có khoảng cách quyền lực nhỏ có nhiều người hiến máu hơn, nhiều cuộc hiến máu hơn và nguồn cung máu cho bệnh viện cũng lớn hơn. Trong hai trường hợp sau, trình độ giáo dục của người dân đóng vai trò quan trọng. Sự khác biệt rất đáng kế: trong số các quốc gia được nghiên cứu, số người hiến máu trên 1000 người dân trong năm 2004 là từ 2 đến 51 người. Mặc dù tại tất cả các nước, hiến máu là hành động tự nguyện không công nhưng mối tương quan trái ngược với PDI chỉ ra rằng hành động này thường là tự nguyện và không công tại những nền văn hóa mà người dân ít phụ thuộc vào những người có nhiều quyền lực và người dân cũng được giáo dục tốt hơn. Sự thịnh vượng của quốc gia không có ảnh hưởng gì.

Bảng 3.3 tổn ghợp những khác biệt chính giữa xã hội có khoảng cách quyền lực lớn và xã hội có khoảng cách quyền lực nhỏ đã được đề cập.

20160530-165332_p1

Khoảng cách quyền lực tại nơi làm việc

Phần lớn mọi người bắt đầu đi làm khi trưởng thành, sau khi đã học hành tại gia đình và trường học. Vai trò cha mẹ – con cái, giáo viên – học sinh và bác sĩ – bệnh nhân nay được bổ sung bằng vai trò sếp – nhân viên. Và không có gì ngạc nhiên khi thái độ với cha mẹ, đặc biệt là bố, và với giáo viên, vốn thuộc quá trình hình thành trí não, nay chuyển thành thái độ với sếp.

Tại những nơi có khoảng cách quyền lực lớn, cấp trên và cấp dưới vốn dĩ đã coi nhau là bất bình đẳng. Quyền lực tại các tổ chức tập trung càng nhiều càng tốt trong tay một số ít cá nhân. Nhân viên muốn được giao nhiệm vụ. Có nhiều đội ngũ giám sát, tạo thành hệ thống thứ bậc những người phải báo cáo với người khác. Hệ thống lương bổng thể hiện khoảng cách lớn giữa những người ở chức vụ cao nhất với những người ở chức vụ thấp nhất trong tổ chức. Công nhân thường không được giáo dục đầy đủ và công việc chân tay có địa vị thấp hơn công việc văn phòng. Cấp trên được hưởng nhiều đặc quyền (theo nghĩa đen là “luật riêng”) và cấp trên chủ động liên lạc với cấp dưới. Trong mắt nhân viên, một ông sếp lý tưởng, người họ cảm thấy thoải mái nhất khi ở cạnh và cũng kính trọng nhất, là người chuyên quyền nhưng rộng lượng hay một “người cha tốt”. Sau những kinh nghiệm với “người cha xấu”, nhân viên bên ngoài thì tuân thủ nhưng trong tư tưởng thì phản đối quyền lực của sếp.

Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới tại tổ chức có khoảng cách quyền lực lớn thường chứa nhiều cảm xúc. Philippe d’Iribarne dẫn đầu một viện nghiên cứu công tại Pháp về quản lý quốc tế. Trải qua rất nhiều cuộc phỏng vấn, đội ngũ nghiên cứu của ông đã so sánh nhà máy sản xuất tại cùng một công ty đa quốc gia của Pháp tại chính nước này (PDI 68), tại Mỹ (PDI 40) và tại Hà Lan (PDI 38). Trong cuốn sách viết về dự án này, d’Iribarne nhận xét:

Tính cảm xúc cao thường thấy trong các mối quan hệ thứ bậc tại Pháp rất hấp dẫn. Cảm xúc về cấp trên rất đa dạng: cấp trên có thể được yếu mến hoặc bị ghét bỏ với cường độ cảm xúc như nhau. Tình huống này không hề phổ biến: chúng tôi không gặp tình huống này tại Hà Lan hay Mỹ”.

Nhận xét này càng khẳng định tính phân cực tại Pháp giữa phụ thuộc và phản phụ thuộc với những người có quyền lực. Điềunày theo chúng tôi cũng chính là đặc điểm chung của các quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn.

Các dấu hiệu địa vị tại quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn củng cố thêm quyền lực của sếp. Nhân viên có thể cảm thấy tự hào khi kể với hàng xóm rằng sếp của mình lái chiếc xe to hơn sếp của người hàng xóm. Lãnh đạo cao tuổi thường được kính trọng hơn lãnh đạo trẻ tuổi. Thật không may khi phải trở thành nạn nhân bị sếp lạm dụng quyền lực. Không có giả thiết nào cho rằng trường hợp này cần được chấn chỉnh. Nếu tình huống trở nên xấu hơn, nhân viên sẽ tập hợp nhau lại để thực hiện bạo động. Các phương pháp lãnh đạo theo nhóm được phát minh tại Mỹ, như quản lý theo mục tiêu (MBO), sẽ không có hiệu quả bởi chúng bao hàm cuộc thương lượng giữa cấp trên và cấp dưới trong khi không bên nào cảm thấy thoải mái với cuộc thương lượng này.

Tại những nơi có khoảng cách quyền lực nhỏ, cấp trên và cấp dưới vốn dĩ đã coi nhau là bình đẳng, hệ thống thứ bậc thể hiện sự bất bình đẳng trong vị trí, được thiết lập để tiện sử dụng. Vị trí có thể thay đổi, người hôm nay là cấp dưới ngày mai có thể thành sếp. Các tổ chức được phân quyền với kim tự tháp thứ bậc tương đối thấp và số lượng đội ngũ giám sát có giới hạn. Khoảng lương giữa vị trí cao nhất và thấp nhất tương đối nhỏ. Công nhân có trình độ cao và lao động chân tay có trình có trình độ cao có địa vị cao hơn lao động văn phòng có trình độ thấp. Về cơ bản, không ai muốn những đặc quyền dành cho sếp và tất cả dùng chung bãi đỗ xe, nhà vệ sinh và quán cà phê. Cấp dưới luôn có thể tiếp cận với cấp trên và một ông sếp lý tưởng là người theo chủ nghĩa dân chủ và tháo vát (vì vậy cũng được kính trọng). Nhân viên mong muốn được lãnh đạo tham khảo ý kiến trước khi đưa ra những quyết định có ảnh hưởng đến công việc của họ nhưng nhân viên chấp nhận để lãnh đạo là người quyết định cuối cùng.

Những biểu hiện của địa vị không đáng tin và nhân viên thường phàn nàn với hàng xóm nếu sếp của họ dùng tiền công ty để mua một chiếc xe đắt tiền. Lãnh đạo trẻ tuổi thường được coi trọng hơn lãnh đạo lớn tuổi. Tổ chức có phương pháp định sẵn để giải quyết những phàn nàn của nhân viên về việc lạm dụng quyền lực. Một vài phương pháp quản lý theo nhóm, như MBO, có thể có hiệu quả nếu được lãnh đạo chú ý đúng mực.

Vào những năm 1990, thông qua mạng lưới đồng nghiệp, Peter Smith đến từ Đại học Sussex tại Anh đã thu thập báo cáo củahơn 7000 trưởng phòng tại 47 quốc gia về cách giải quyết 8 tình huống hay gặp phải tại công sở (chẳng hạn: “khi một vài thiết bị hoặc máy móc trong phòng bạn cần được thay thế”). Với mỗi tình huống có 8 định hướng giải quyết và trưởng phòng phải chỉ ra rằng họ sẽ đưa vào mỗi định hướng này nhiều đến đâu (chẳng hạn: “thủ tục và luật lệ chính thức”). Với mỗi quốc gia, Smith tính toán chỉ số thẳng đứng kết hợp sự dựa vào cấp trên, vào luật lệ chính thức, không dựa vào kinh nghiệm bản thân và không dựa vào cấp dưới. Điểm chỉ số thẳng đứng có mối tương quan mạnh mẽ với PDI: tại những quốc gia có khảong cách quyền lực lớn, trưởng phòng trong mẫu được cho là dựa nhiều vào cấp trên và luật lệ chính thức hơn là dựa vào kinh nghiệm bản thân và cấp dưới.

Không có bằng chứng nghiên cứu nào về khác biẹt hệ thống của tính hiệu quả giữa các tổ chức tại quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn và quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ. Các quốc gia này có thể giỏi những nhiệm vụ khác nhau: nền văn hóa có khoảng cách quyền lực nhỏ giỏi trong việc yêu cầu cấp dưới chủ động còn nền văn hóa có khoảng cách lớn giỏi trong việc yêu cầu kỷ luật. Điều quan trọng là nhà quản lý phải biết tận dụng điểm mạnh của nền văn hóa địa phương.

Một lần nữa phần này lại tiếp tục mô tả hai thái cực. Phần lớn các tình huống tại công sở sẽ nằm giữa hai thái cực này và bao gồm một vài đặc điểm của khoảng cách quyền lực lớn và khoảng cách quyền lực nhỏ. Lý thuyết quản lý hiếm khi cho rằng tồn tại những mô thức trái ngược này và sự tồn tại của chúng là do nền văn hóa quyết định.

Bảng 3.4 tổng hợp những khác biệt chính tại nơi làm việc giữa xã hội có khoảng cách quyền lực nhỏ và xã hội có khoảng cách quyền lực lớn.

20160530-165332_p2

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Bình đẳng hơn những người khác – Phần IV


Khung cảnh trong hai đoạn văn trước cố ý được phân cực. Hiện thực của một tình huống nhất định nằm giữa hai đầu của dãy điểm khoảng cách quyền lực: điểm của quốc gia nằm dọc theo dãy này. Chúng ta thấy rằng tầng lớp xã hội và trình độ giáo dục của cha mẹ, đặc biệt tại những quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ, rất quan trọng. Các gia đình tự hình thành văn hóa gia đình của riêng mình và có thể khác với các tiêu chuẩn của xã hội. Tính cách của từng cha mẹ và con cái có thể tạo ra hành vi độc nhất. Tuy nhiên hai khung cảnh đã thể hiện được hai đầu của sợi dây mà theo đó sẽ xuất hiện những cách giải quyết khác nhau cho vấn đề bất bình đẳng con người trong gia đình.

Năm 2008, Eurobarometer, một khảo sát định kỳ các mẫu đại diện dân số các quốc gia thành viên và các quốc gia ứng cử làm thành viên của Liên minh châu Âu, đã thu thập dữ liệu về việc phân chia công việc toàn thời gian và bán thời gian giữa cha mẹ và con cái. Tại các quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn, cả hai cha mẹ cùng làm việc toàn thời gian. Còn tại các quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ, chỉ một trong hai cha mẹ làm việc toàn thời gian, người còn lại cũng làm việc nhưng là bán thời gian. Trừ các quốc gia nghèo nhất thì sự khác biệt này không phụ thuộc vào sự thịnh vượng của quốc gia đó. Sự khác biẹt này chỉ thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa cha mẹ và con cái tại những nền văn hóa có khoảng cách quyền lực nhỏ.

Vì gia đình là khởi nguồn của bước đầu tiên trong quá trình hình thành trí não nên ảnh hưởng của gia đình rất lớn và những gì đã hình thành ở giai đoạn này sẽ rất khó có thể thay đổi. Các nhà tâm thần học và phân tâm học nhận thức được tầm quan trọng của lịch sử gia đình đối với mỗi người không phải lúc nào cũng nhận thức được tầm quan trọng của khung cảnh văn hóa. Tâm thần học giúp đỡ những cá nhân có hành vi khác với chuẩn mực xã hội. Chúng tôi sẽ mô tả sự khác biệt về chuẩn mực giữa các xã hội. Chuẩn mực khác biệt đồng nghĩa với rủi ro trong việc trợ giúp về mặt tâm thần học cho một người đến từ một xã hội khác hoặc một khu vực khác trong cùng một xã hội. Nó đòi hỏi người trợ giúp phải tự nhận thức được khác biệt văn hóa và thành viên của riêng mình đối với khách hàng.

Khoảng cách quyền lực tại trường học

Tại phần lớn xã hội ngày nay, trẻ em đến trường ít nhất vài năm. Tại những xã hội giàu có,thời gian đến trường có thể chiếm hơn 20 năm cuộc đời một người. Tại trường học, trẻ em sẽ phát triển hơn nữa trí não của mình. Giáo viên và bạn cùng lớp khắc sâu những giá trị mới bởi họ là một phần của nền văn hóa trân trọng những giá trị này. Người ta vẫn chưa giải thích được hệ thống giáo dục đóng góp bao nhiêu vào việc thay đổi một xã hội. Liệu trường hợp có thể tạo ra những giá trị mới hay chỉ có thể vô tình củng cố thêm những giá trị đã tồn tại trong một xã hội? Dù thế nào thì trong một so sánh trường học thuộc các xã hội khác nhau cũng xuất hiện những khác biệt tương tự tại gia đình. Vai trò của cha mẹ – con cái nay được thay thế bằng giáo viên – học sinh, tuy nhiên các giá trị và hành vi cơ bản vẫn giữ nguyên trong mọi khía cạnh. Và đương nhiên hầu hết học sinh tiếp tục dành phần lớn thời gian của mình tại gia đình.

Tại những nơi có khoảng cách quyền lực lớn, bất bình đẳng giữa cha mẹ – con cái tiếp diễn với bất bình đẳng giữa giáo viên – học sinh. Điều này phục vụ nhu cầu phụ thuộc vốn đã xuất hiện trong tâm trí học sinh. Giáo viên được kính trọng và thậm chí là sợ hãi (và giáo viên lớn tuổi thì được kính trọng và sợ hãi hơn giáo viên trẻ tuổi), học sinh phải đứng dậy chào khi giáo viên bước vào lớp. Quá trình học tập lấy giáo viên làm trọng tâm, giáo viên vạch ra con đường tri thức cho học sinh đi theo. Trong lớp có một quy tắc là giáo viên chủ động giao tiếp. Học sinh chỉ phát biểu trong lớp khi được cho phép. Học sinh không bao giờ được bất đồng quan điểm hay chỉ trích công khai giáo viên. Giáo viên vẫn được tôn trọng ngay cả ngoài phạm vi trường học. Khi học sinh phạm lỗi, giáo viên mời phụ huynh và muốn phụ huynh giúp đỡ rèn luyện học sinh vào quy củ. Quá trình giáo dục được cá nhân hóa, đặc biệt tại các môn chuyên ngành ở bậc đại học, những kiến thức truyền tải không phải là “sự thật” khách quan mà là kiến thức của cá nhân giáo viên. Giáo viên là một guru, thuật ngữ trong tiếng Phạn có nghĩa là “có uy tín” và “được coi trọng”, và thực tế tại Ấn Độ và Indonesia, đấy là từ dùng để chỉ giáo viên. Thuật ngữ tiếng Pháp là maitre à penser, một “giáo viên tư duy”. Tại hệ thống giáo dục này, chất lượng học tập phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của giáo viên.

Tại những nơi có khoảng cách quyền lực nhỏ, giáo viên đối xử bình đẳng với học sinh và họ cũng mong được học sinh đối xử bình đẳng. Giáo viên trẻ tuổi bình đẳng hơn và vì vậy thường được yêu quý hơn giáo viên lớn tuổi. Quá trình giáo dục lấy học sinh làm trung tâm, học sinh đóng vai trò chủ động và được khuyến khích tự tìm ra con đường tri thức của mình. Học sinh dược cắt ngang giờ học và đặt câu hỏi khi chưa hiểu điều gì. Học sinh tranh luận với giáo viên, thể hiện sự bất đồng quan điểm và phê bình trước mặt giáo viên và không thể hiện lòng kính trọng đối với giáo viên ngoài phạm vi trường học. Khi học sinh phạm lỗi, cha mẹ thường về phe con em mình chống lại giáo viên. Quá trình giáo dục tương đối khách quan, kiến thức truyền tải là “sự thật” hoặc “thực tế” tồn tại không phụ thuộc vào giáo viên. Học tập hiệu quả trong hệ thống này phụ thuộc nhiều vào giao tiếp hai chiều giữa học sinh và giáo viên. Toàn bộ hệ thống dựa vào quá trình phát triển nhu cầu tự do của học sinh. Chất lượng học tập do trình độ của học sinh quyết định.

Phần đầu bài này đã chỉ ra rằng điểm khoảng cách quyền lực thấp đối với những nghề nghiệp cần trình độ giáo dục cao, ít nhất là tại những quốc gia có điểm chỉ số quyền lực tương đối thấp. Điều này có nghĩa là tại các nước còn lại, học sinh sẽ ngày càng ít phụ thuộc vào giáo viên trong quá trình học tập, nhu cầu phụ thuộc ngày càng giảm. Tuy nhiên tại các quốc gia có khảong cách quyền lực lớn, học sinh tiếp tục phụ thuộc vào giáo viên cho dù đã lên đến bậc giáo dục cao hơn.

Các quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ dành một phần tương đối lớn ngân sách giáo dục vào bậc trung học, giúp phát triển tầng lớp trung lưu trong xã hội. Các quốc gia có khoảng cách xã hội lớn dành nhiều vào bậc giáo dục đại học và ít vào bậc trung học nhằm duy trì sự phân cực giữa những người có học thức và những người không có học thức.

Nền văn hóa có khoảng cách quyền lực lớn dễ chấp nhận hình phạt thân thể tại trường học, ít nhất với học sinh chưa đến tuổi dậy thì, hơn nền văn hóa có khoảng cách quyền lực nhỏ. Hình phạt này nhấn mạnh và thể hiện sự bất bình đẳng giữa giáo viên vàhọc sinh và thường được coi là tốt cho quá trình phát triển nhân cách của trẻ. Tại xã hội có khảong cách quyền lực nhỏ, điều này được coi là lạm dụng trẻ em và cha mẹ có thể báo cảnh sát. Tuy nhiên vẫn có một vài ngoại lệ có liên quan đến chiều kích trọng nam (và trọng nữa. Tại các nền văn hóa có khoảng cách quyền lực nhỏ và trọng nam như Anh, không phải tất cả mọi người đều phản đối hình phạt thân thể tại trường học.

Trong trường hợp tại gia đình đã mô tả ở phần trước, hiện thực nằm giữa hai cực. Một điều kiện quan trọng là khả năng của học sinh: tại những nơi có khoảng cách quyền lực nhỏ, trẻ em không có năng khiếu hoặc tàn tật sẽ không phát triển tính tự lập và được đối xử theo cách của nơi có khoảng cách quyền lực lớn. Trẻ em có năng khiếu tại các gia đình thuộc tầng lớp lao động ở những xã hội có khoảng cách quyền lực nhỏ bị đặt vào thế bất lợi tại các tổ chức giáo dục như trường đại học bởi những tổ chức này có quy tắc khoảng cách quyền lực nhỏ: như đã đề cập ở phần trước, gia đình thuộc tầng lớp lao động thường có tiểu văn hóa với khoảng cách quyền lực lớn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Bình đẳng hơn những người khác – Phần III


Những khác biệt về khoảng cách quyền lực trong một quốc gia: tầng lớp xã hội, trình độ giáo dục và nghề nghiệp

Sự bất bình đẳng trong một xã hội tồn tại cùng với sự xuất hiện của các tầng lớp xã hội khác nhau: thượng lưu, trung lưu và hạ lưu, hoặc các kiểu phân chia tầng lớp khác tùy thuộc vào mỗi quốc gia. Các tầng lớp này khác nhau về quyền tiếp cận và cơ hội hưởng các điều kiện thuận lợi từ xã hội, mà một trong số đó là giáo dục. Trình độ giáo dục cao sẽ tự động khiến người ta ít nhất thuộc tầng lớp trung lưu. Đổi lại, giáo dục là một trong những yếu tố quyết định nghề nghiệp mong muốn của một người, như vậy trên thực tế, tại phần lớn các xã hội, tầng lớp xã hội, trình độ giáo dục và nghề nghiệp có mối quan hệ mật thiết. Cả 3 yếu tố này đều được liệt kê như nguồn của phần mềm trí tuệ: văn hóa của chúng ta có tầng lớp, giáo dục và nghề nghiệp nhưng chúng đều phụ thuộc lẫn nhau.

Dữ liệu dùng để tính chỉ số PDI tại IBM được lấy từ nhân viên thuộc nhiều nghề nghiệp khác nhau và nhiều trình độ giáo dục cùng tầng lớp xã hội khác nhau. Tuy nhiên việc kết hợp nghề nghiệp cho mục đích nghiên cứu được giữ nguyên đối với mọi quốc gia. Chúng ta nên so sánh các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ dựa trên người dân thuộc cùng lĩnh vực nghề nghiệp. Chúng ta không nên so sánh kỹ sư người Tây Ban Nha với thư ký người Thụy Điển. Việc kết hợp nghề nghiệp cho mục đích so sánh giữa các công ty con của IBM được thực hiện đối với các phòng dịch vụ và kinh doanh bởi đây là những hoạt động duy nhất có mặt tại mọi quốc gia. Phòng thí nghiệm phát triển sản phẩm của IBM chỉ đặt tại 10 công ty con lớn, còn nhà máy sản xuất đặt tại 13 công ty con.

Nhân viên tại các phòng dịch vụ và kinh doanh đều có trình độ giáo dục đại học hoặc cao học và phần lớn đều được coi là thuộc tầng lớp trung lưu. Các nhân viên trong nghiên cứu sao chép cũng có đặc điểm tương tự. Như vậy điểm PDI ở Bảng 3.1 thật sự thể hiện sự khác nhau giữa những người thuộc cùng tầng lớp trung lưu tại các quốc gia này. Giá trị của tầng lớp trung lưu ảnh hưởng nhiều đến các đơn vị trong quốc gia đó như chính phủ và hệ thống giáo dục hơn giá trị của tầng lớp hạ lưu, như chủ tịch công đoàn, cũng thường được giáo dục tốt hơn và như vậy tức là họ cũng mang những giá trị của tầng lớp trung lưu. Cha mẹ thuộc tầng lớp hạ lưu thường muốn con cái mình tiến lên tầng lớp trung lưu.

Các công ty con của IBM tại 3 quốc gia lớn (Pháp, Đức và Anh) có nhiều hoạt động công nghiệp nhất và điểm PDI của ba quốc gia này được tính dựa trên toàn bộ nghề nghiệp của tập đoàn, bao gồm cả những nghề nghiệp đòi hỏi trình độ giáo dục thấp thường do những người thuộc tầng lớp hạ lưu hoặc tầng lớp lao động đảm nhiệm. Như vậy tại 3 quốc gia này có tới 38 nghề nghiệp khác nhau cần so sánh.

Ba câu hỏi dùng để tính điểm PDI giữa các quốc gia cũng liên bang đến nghề nghiệp vì vậy cũng có thể dùng để tính giá trị PDI nghề nghiệp.

20160530-165332_p0

Bảng 3 – 2 tổng hợp kết quả so sánh giữa 38 nghề nghiệp. Có thể thấy rằng những nghề nghiệp có địa vị và trình độ giáo dục thấp nhất (lao động không chuyên và bán chuyên) có giá trị PDI cao nhất còn những nghề nghiệp có địa vị và trình độ giáo dục cao nhất, (quản lý của lao động chuyên nghiệp như kỹ sư và nhà khoa học) lại có giá trị PDI thấp nhất. Về nghề nghiệp, điểm PDI giữa các cực là khoảng 100 điểm, tức là có cùng mức điểm trong số 76 quốc gia và vùng lãnh thổ (xem Bảng 3.1, tuy nhiên sự khác biệt giữa các quốc gia dựa vào mẫu gồm những người có nghề nghiệp và cấp độ giáo dục như nhau).

Câu hỏi tiếp theo là liệu sự khác biệt về khoảng cách quyền lực giữa nghề nghiệp khác nhau có giống nhau giữa tất cả các quốc gia hay không. Để kiểm chứng điều này, chúng tôi so sánh 4 nghề nghiệp thuộc địa vị xã hội rất khác nhau đến từ 7 quốc gia có công ty con với mức điểm khoảng cách quyền lực khác nhau. Kết quả là sự khác biệt về nghề nghiệp lớn hất tại những quốc gia có điểm PDI nhỏ nhất và tương đối nhỏ tại những quốc gia có điểm PDI cao. Hay nói cách khác, nếu toàn quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn như ở Bảng 3.1 thì khoảng cách này cũng lớn đối với toàn bộ nhân viên ở nghề nhgiệp có địa vị cao lẫn nghề nghiệp có địa vị thấp. Nếu quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ thì khoảng cách này cũng nhỏ đối với phần lớn các nhân viên ở địa vị cao và trung: các nhân viên có trình độ giáo dục và địa vị thấp có điểm khoảng cách quyền lực cao gần bằng các đồng nghiệp của họ ở những quốc gia có PDI cao. Ý nghĩa của sự bất bình đẳng đối với những nhân viên có địa vị cao phụ thuộc nhiều vào quốc tịch, còn đối với nhân viên có địa vị thấp thì ít hơn.

Các nhà xã hội học đã mô tả sự thật rằng những nhân viên có địa vị và trình độ giáo dục thấp tại nhiều quốc gia phương Tây thường có tính “độc đoán” hơn những người đồng hương có địa vị cao. Tính độc đoán này không chỉ biểu hiện ở nơi làm việc mà còn ở gia đình. Một nghiên cứu tại Mỹ và Pháp vào những năm 1960 đã chỉ ra rằng các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp lao động muốn con cái mình phải vâng lời nhiều hơn các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp trung lưu, tuy nhiên sự khác biệt tại Mỹ lớn hơn tại Ý.

Phương pháp đo lường sử dụng khoảng cách quyền lực: cấu trúc bài này và cho những bài tiếp theo

Trong phần tiếp theo của bài này, sự khác nhau về khoảng cách quyền lực của các quốc gia sẽ liên quan tới sự khác nhau về gia đình, trường học, nơi làm việc, bang và tư tưởng trong mỗi quốc gia. Những bài tiếp sau sẽ giải quyết những chiều kích khác chủ yếu có cấu trúc dạng này. Phần lớn các liên kết được mô tả dựa trên kết quả phân tích thống kê. Theo các phân tích này, quốc gia có mối tương quan với kết quả của các nghiên cứu định lượng khác. Bên cạnh đó, thông tin định tính về gia đình, trường học, nơi làm việc… cũng được sử dụng tại nhiều quốc gia. Chúng tôi bỏ qua bằng chứng thống kê. Những độc giả quan tâm có thể tham khảo thêm tại cuốn sách Những hệ quả của nền văn hóa.

Khác biệt về khoảng cách quyền lực giữa các quốc gia: căn nguyên nằm ở gia đình

Phần lớn mọi người trên Trái Đất đều sinh ra trong một gia đình. Tất cả đều bắt đầu hình thành trí tuệ ngay sau khi sinh từ những người lớn tuổi hiện diện trong quá trình trưởng thành của mình và bắt chước mô thức của những người lớn tuổi.

Tại những nơi có khoảng cách quyền lực lớn, con cái thường phải vâng lời cha mẹ. Đôi khi còn xuất hiện thứ tự quyền lực giữa con cái: em phải vâng lời anh chị. Con cái không được khuyến khích có những hành vi tự lập. Kính trọng cha mẹ và người lớn tuổi là đức tính cơ bản, trẻ em thấy những người khác thể hiện lòng kính trọng và sớm hình thành tính cách đó. Cha mẹ và anh chị đã đối xử với con em ấm áp và cẩn thận, đặc biệt khi con em còn nhỏ. Tuy nhiên khi thật sự được chăm sóc thì họ lại không muốn phải trải nghiệm cảm giác này. Lòng kính trọng cha mẹ và người lớn tuổi kéo dài đến tuổi trưởng thành, chừng nào còn sống thì quyền của cha mẹ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi người. Cho dù con cháu đã thật sự kiểm soát được cuộc sống của chính mình thì họ vẫn kính trọng cha mẹ và ông bà. Sự phụ thuộc vào người lớn tuổi tồn tại trong tất cả các mối quan hệ của con người và trí óc của con người hình thành nhu cầu phụ thuộc này. Khi cha mẹ già yếu, con cái phải hỗ trợ cha mẹ về tài chính và cuộc sống, ông bà thường sống với gia đình con cháu.

Tại những nơi có khoảng cách quyền lực nhỏ, trẻ em thường được đối xử công bằng ngay từ khi bắt đầu biết đi và điều này thể hiện rõ ở cách trẻ em tự xoay sở cách tắm. Mục đích của giáo dục từ cha mẹ là để con cái mình tự kiểm soát mọi việc ngay khi có thể. Trẻ được khuyến khích tự trải nghiệm và được phép bất đồng quan điểm với cha mẹ nên chúng học cách nói “không” từ rất sớm. Cách đối xử với người khác không phụ thuộc vào tuổi tác hay địa vị của họ, hiếm khi có sự thể hiện lòng kính trọng và tôn kính. Các mối quan hệ trong những xã hội như thế này thường coi những người thuộc xã hội khác là thiếu cảm xúc. Khi con cái lớn lên, chúng bắt đầu coi cha mẹ như bạn bè hoặc ít nhất là bình đẳng và chắc chắn một người trưởng thành không phải hỏi ý kiến hoặc lời khuyên của cha mẹ khi quyết định một vấn đề. Trong một gia đình lý tưởng, người lớn không phụ thuộc lẫn nhau. Nhu cầu tự do là cấu thành chính của trí não người lớn. Cha mẹ tự chăm sóc bản thân khi già yếu, họ không thể dựa dẫm vào con cái hoặc mong chờ được sống cùng con cái.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.

Bình đẳng hơn những người khác – Phần II


Định nghĩa khoảng cách quyền lực

Khi nhìn ba câu hỏi tạo nên điểm PDI, có thể bạn sẽ nhận ra một điều bất ngờ: câu hỏi 1 (nỗi sợ hãi của nhân viên) và câu hỏi 2 (tác phong độc đoán hoặc gia trưởng của lãnh đạo) thể hiện nhận thức về môi trường làm việc hằng ngày của đối tượng điều tra. Tuy nhiên câu hỏi (2) lại thể hiện sự yêu thích cảu đối tượng điều tra: họ muốn môi trường làm việc của mình phải như thế nào.

Ba câu hỏi thuộc cùng một cụm cho thấy rằng ở các quốc gia, có mối quan hệ mật thiết giữa thực tế người ta nhận thấy với thực tế người ta mong muốn. Tại những quốc gia nơi nhân viên không cảm thấy sợ hãi và lãnh đạo không độc đoán hay gia trưởng thì nhân viên thường thích tác phong đưa ra quyết định kiểu tư vấn: Một lãnh đạo, theo như mô tả của bảng điều tra, “thường xuyên tham khảo ý kiến của nhân viên trước khi đến đến quyết định”.

Tại những quốc gia nằm ở phía đối diện của thang khoảng cách quyền lực, nhân viên ở đây thường sợ phải bất đồng quan điểm với cách lãnh đạo và lãnh đạo có tính chuyên quyền hoặc độc đoán, vì vậy nhân viên không thích một lãnh đạo theo kiểu tư vấn. Thay vào đó, rất nhiều người lại thích một lãnh đạo đưa ra quyết định theo kiểu chuyên quyền hoặc độc đoán. Tuy nhiên một số ít lại thích chiều trái ngược, tức là thích một lãnh đạo đưa ra quyết định theo số đông,hay nói cách khác là lãnh đạo đó không hề tự quyết định. Thực tế tại phần lớn công ty cho thấy rất khó có thể thực hiện việc bỏphiếu lấy số đông và rất ít người thật sự cho rằng lãnh đạo của mình thuộc tác phong này (những lãnh đạo giả vờ làm việc này thường bị cho là đang cố thao túng nhân viên).

Tóm lại: điểm PDI cho ta thấy mối quan hệ phụ thuộc tại một quốc gia. Tại những quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ thì nhân viên ít phụ thuộc vào lãnh đạo và thích được tham khảo ý kiến, tức là lãnh đạo và nhân viên phụ thuộc lẫn nhau. Khoảng cách cảm xúc giữa họ tương đối nhỏ, nhân viên tiếp cận và đưa ra ý kiến trái ngược với lãnh đạo khác dễ dàng. Tại những quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn thì nhân viên phụ thuộc đáng kể vào lãnh đạo. Nhân viên hoặc thích sự phụ thuộc này (đối với lãnh đạo độc đoán hoặc chuyên quyền) hoặc hoàn toàn phản đối (tâm lý học gọi hiện tượng này là phản phụ thuộc, tức là phụ thuộc với dấu trái ngược). Như vậy, ở những quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn xuất hiện sự phân cực giữa phụ thuộc và phản phụ thuộc. Trong trường hợp này, khoảng cách cảm xúc giữa nhân viên và lãnh đạo cũng lớn: nhân viên không thể trực tiếp tiếp cận và đưa ra ý kiến trái ngược với lãnh đạo.

Như vậy có thể định nghĩa khoảng cách quyền lực là mức độ mà những thành viên ít quyền lực của các tổ chức hoặc đơn vị trong một quốc gia hi vọng và chấp nhận sự bất bình đẳng trng phân chia quyền lực. Đơn vị là yếu tố cơ bản của xã hội như gia đình, trường học và cộng đồng, còn tổ chức là nơi làm việc.

Như vậy, khoảng cách quyền lực được mô tả dựa vào hệ giá trị của những thành viên ít quyền lực. Cách phân chia quyền lực có thể được giải thích dựa vào hành vi của những thành viên nhiều quyền lực, những người lãnh đạo chứ không phải người bị lãnh đạo. Lý thuyết quản lý phổ biến về lãnh đạo thường bỏ quên một sự thật rằng lãnh đạo tồn tại để bổ sung cho nhân viên. Quyền lực chỉ tồn tại nếu có sự phục tùng. Vấn đề của Bernadotte không phải do ông thiếu sự lãnh đạo, người Thụy Điển có quan niệm tôn trọng người trị vì khác với người Pháp và Bernadotte lại là người Pháp.

Các dự án nghiên cứu so sánh giá trị lãnh đạo giữa các quốc gia đã chỉ ra sự khác biệt giữa tư duy của người lãnh đạo và tư duy của người bị lãnh đạo, tuy nhiên các báo cáo thu được từ những người bị lãnh đạo lại phản ánh khác biệt rõ hơn báo cáo thu được từ những người lãnh đạo. Đó là vì chúng ta quan sát hành vi lãnh đạo của cấp trên tốt hơn là chúng ta quan sát hành vi của chính mình. Bên cạnh những câu hỏi về tác phong lãnh đạo thực tế và tác phong lãnh đạo mong muốn của câu hỏi 2 và 3 trong PDI, bản điều tra IBM còn yêu cầu nhà quản lý tự đánh giá tác phong của mình. Kết quả tự đánh giá của nhà quản lý gần giống với tác phong mà họ mong muốn ở lãnh đạo của ình nhưng lại không phải tác phong mà nhân viên cho rằng họ đang thể hiện. Trên thực tế, các nhân viên nhìn nhận quản lý tương tự với cách quản lý nhìn nhận lãnh đạo. Bài học đối với nhà quản lý là: nếu bạn muốn biết nhân viên nhìn nhận mình thế nào, đừng cố tự nhìn vào gương bởi đó chỉ là suy nghĩ mong muốn. Hãy quay 180 độ và đối diện với chính lãnh đạo của mình.

Khoảng cách quyền lực trong các nghiên cứu về sao chép

IBM có 6 nghiên cứu xuất bản từ năm 1990 đến 2002 và sử dụng các câu hỏi IBM hoặc phiên bản mới hơn với các tập hợp xuyên quốc gia khác. 5 trong số 6 nghiên cứu này, bao gồm từ 14 đến 28 quốc gia thuộc tập hợp IBM, có điểm PDI khá cao so với điểm IBM ban đầu. Nghiên cứu thứ 6 lấy dữ liệu từ những người tiêu dùng không có quan hệ với quyền lực, đó là những người có công việc khác như sinh viên và nội trợ hoặc không có việc làm. Chúng tôi đã nghiên cứu xem liệu điểm mới có thể thay đổi một vài điểm IBM ban đầu hay không, tuy nhiên điểm mới không đủ nhất quán để thực hiện mục đích này. Không tập hợp mới nào bao gồm nhiều dữ liệu và sử dụng mẫu hợp lý như tập hợp IBM ban đầu. Mối quan hệ giữa điểm IBM ban đầu và các dữ liệu khác, như sức mua của người tiêu dùng, trở nên lỏng lẻo hơn theo thời gian. Nên nhớ rằng điểm chỉ đo sự khác nhau giữa các nền văn hóa quốc gia chứ không đo được bản thân các nền văn hóa đó. Nền văn hóa có thể thay đổi, nhưng nếu nếu chúng thay đổi cùng nhau dưới ảnh hưởng của những tác động toàn cầu như nhau thì điểm vẫn có giá trị.

Như đã đề cập, nghiên cứu về giá trị Trung Hoa của Bond trong số những sinh viên đến từ 23 quốc gia đem lại một quy luật đạo đức mà các quốc gia dùng để định vị bản thân, tương tự như cách các quốc gia trong nghiên cứu IBM sử dụng đối với khoảng cách quyền lực (theo thuật ngữ thống kê, quy tắc đạo đứccó mối tương quan đáng kể với PDI). Sinh viên tại những quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn trả lời rằng những điều sau đây đặc biệt quan trọng:

+ ít ước muốn;

+ điều độ;

+ giữ bản thân thuần khiết và không vụ lợi.

Tại những xã hội bất bình đẳng,người dân thường như sinh viên cảm thấy họ không nên có những ham muốn vượt quá địa vị của mình.

Thay vào đó, sinh viên tại những quốc gia có khoảng cách quyền lực nhỏ trả lời rằng những điều sau đặc biệt quan trọng:

+ thích nghi;

+ cẩn trọng.

Tại những quốc gia quân bình hơn, vấn đề không được giải quyết bằng cách khoa trương về quyền lực. Ở đây sinh viên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc trở nên linh hoạt để đạt được một vị trí nhất định.

Nghiên cứu GLOBE bao gồm các mục dùng để đo khoảng cách quyền lực. Như chúng tôi đã đề cập, câu hỏi của GLOBE được soạn khác với câu hỏi của chúng tôi. Thay vì sử dụng ngôn ngữ hằng ngày cảu đối tượng điều tra, họ sử dụng biệt ngữ của giới nghiên cứu khiến đối tượng điều tra khó có thể đoán được ý nghĩa của câu trả lời. Từ 18 chiều kích của GLOBE (9 chiều kích yêu cầu đối tượng điều tra mô tả văn hóa thật sự của họ và 9 chiều kích còn lại mô tả nền văn hóa họ mong muốn), không ít hơn chín chiều kích có mối tương quan đáng kể với chỉ số PDI của chúng tôi. Mối tương quan giữa khoảng cách quyền lực thực tế của PDI và GLOBE khá nhỏ và không tồn tại mối tương quan giữa khoảng cách quyền lực mong muốn của PDI và GLOBE. Trên thực tế, khoảng cách quyền lực thực tế và mong muốn của GLOBE đèu có mối tương quan mạnh với Chỉ số tránh bất định UAI của chúng tôi. Khoảng cách quyền lực của GLOBE không thể dùng để thay thế chỉ số PDI của chúng tôi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Geert Hofstede, Gert Jan Hofstede & Micheal Minkov – Văn hóa và tổ chức, phần mềm tư duy – NXB ĐHQG HN 2013.