Ý nghĩa đích thực của Lòng yêu nước, có nghĩa là hiểu biết, sống, và giảng dạy về tự do


Lawrence W. Reed

Lòng yêu nước ngày nay giống như lễ Giáng Sinh, nhiều người bị cuốn vào một không khí lễ hội tràn đầy ánh sáng và những màn trình diễn. Chúng ta nghe những lời nhắc nhở về “ý nghĩa thực sự” của lễ Giáng sinh và chúng ta thậm chí có thể lầm bầm một vài từ đầy tội lỗi về những cái đang tác động tới chúng ta, nhưng mỗi người chúng ta lại tốn nhiều thời giờ và bận tâm về tiệc tùng, tặng quà, và những vật dụng linh tinh khác của một ngày lễ đang bị trần tục hóa hơn là suy nghĩ một cách sâu sắc về ý nghĩa thật sự của nó.

Lòng yêu nước thì cũng thế, nhất là vào ngày Chiến sĩ trận vong (Memorial Day) vào tháng Năm, ngày Quốc Kỳ[1] vào tháng Sáu, và ngày lễ Độc lập vào tháng Bảy. Hãy đi xuống Đại lộ America và hỏi từng công dân xem lòng yêu nước có nghĩa là gì, trừ một vài câu ngoại lệ, bạn sẽ nhận được một mớ những câu trả lời đầy tự mãn nhưng hời hợt và thường là sai trầm trọng. Nếu nhìn thấy chúng ta như hiện nay thì những Nhà Lập Quốc của Hoa Kỳ, những người nam và nữ đã cho chúng ta lý do trở thành người yêu nước từ thuở ban đầu, sẽ nghĩ rằng chúng ta đã lạc đường.

Kể từ cuộc tấn công bỉ ổi ngày 11 tháng 9 năm 2001, người Mỹ, hầu như nhất trí với nhau là cảm nhận “thấy” mình yêu nước. Đối với phần lớn dân chúng, thật là buồn thay, vì họ cho rằng cảm giác đó đủ biến người ta thành một người yêu nước chính cống. Nhưng nếu tôi đúng, thì đã đến lúc để người Mỹ phải đi học bổ túc trở lại về thế nào là ái quốc.

Lòng yêu nước không phải là tình yêu đối với đất nước nếu bạn coi “đất nước” có nghĩa là những cánh đồng lúa chín vàng, những dãy núi uy nghi màu tía và những thứ tương tự. Hầu như nước nào cũng có những dãy núi đá, những cảnh sông nước đẹp đẽ, cùng những thứ [hoa màu] để con người trồng trọt làm lương thực. Nếu lòng yêu nước chỉ có thế, thì người Mỹ có rất ít thứ tuyệt đẹp mà chúng ta có thể cho đó là thứ tình yêu độc nhất hay riêng biệt. Và chắc chắn, lòng yêu nước không thể nào có nghĩa là hy sinh mạng sống con người chỉ vì một dòng sông hay một dãy núi nào đó.

Lòng yêu nước không phải là niềm tin mù quáng vào những điều mà các nhà lãnh đạo của chúng ta làm hay nói với chúng ta. Điều đó chỉ là thay thế một vài khái niệm cao thượng bằng những hành động vô ý thức mang tính phô trương như những bước chân cứng ngắc đang đi duyệt binh. Lòng yêu nước không đơn giản là đi bầu cử. Bạn cần phải biết nhiều hơn nữa điều gì thúc đẩy cử tri trước khi đánh giá lòng yêu nước của anh ta. Anh ta có thể bỏ phiếu bởi vì anh ta chỉ muốn được hưởng điều gì đó nhờ sự ngu ngơ của kẻ khác. Có lẽ anh ta cũng chẳng quan tâm lắm về việc chính khách mà anh ta chọn có được lá phiếu từ đâu. Xin nhớ sự khôn ngoan của Tiến sĩ Johnson khi ông nói: “Lòng yêu nước là nơi trú ẩn cuối cùng của một tên vô lại.”

Phất cờ có thể là một dấu hiệu bên ngoài của lòng yêu nước, nhưng hãy đừng làm giảm giá trị từ “yêu nước” đến mức cho rằng nó cũng chẳng hơn gì một dấu hiệu. Và mặc dù khái niệm đó luôn phù hợp để thương tiếc những người đã mất mạng sống đơn giản chỉ vì họ cư trú trên đất Mỹ, thì điều đó cũng không được định nghĩa là lòng yêu nước.

Dân chúng ở mọi quốc gia và trong mọi thời đại đã bày tỏ cảm xúc về điều gì đó mà chúng ta thản nhiên gọi là “lòng yêu nước,” nhưng điều đó đưa đến một câu hỏi. Lòng yêu nước là gì vậy? Nó có thể trở nên quá rẻ rúng và vô nghĩa đến nỗi một vài cử chỉ và cảm xúc cũng khiến cho bạn trở thành yêu nước hay sao?

Không có trong cuốn sách của tôi

Tôi chấp nhận quan điểm lòng yêu nước bắt nguồn từ những tư tưởng và những tư tưởng này tạo ra một quốc gia; chính vì những tư tưởng này và khi nghĩ về chúng mà tôi cảm thấy yêu nước. Tôi là một người Mỹ yêu nước bởi vì tôi kính trọng những tư tưởng đã thôi thúc những Nhà Lập Quốc và, trong nhiều trường hợp, đã buộc họ đánh cược cuộc sống, vận may, và danh dự thiêng liêng của mình.

Đó là những ý tưởng gì vậy? Hãy đọc Tuyên ngôn Độc lập lần nữa. Hoặc, nếu bạn giống như hầu hết người Mỹ hiện nay, hãy đọc bản tuyên bố đó tối thiểu lần đầu tiên. Tất cả nằm ở trong đó cả đấy. Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ được Đấng Tạo hóa, chứ không phải chính quyền, ban tặng những quyền bất khả chuyển nhượng. Đứng đầu trong những quyền đó là quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Chính quyền phải bị giới hạn trong việc bảo vệ hòa bình và gìn giữ các quyền tự do của chúng ta, và hành vi của chính quyền phải được sự đồng ý của người dân. Đó là quyền của một dân tộc tự do để dẹp bỏ đi cái chính quyền đã huỷ hoại những mục đích chính của chính quyền, như những Nhà Lập Quốc của chúng ta đã thực hiện qua một hành động cao cả của dũng khí và thách thức [nước Anh] từ hơn hai trăm năm trước.

Gọi điều đó là sự tự do. Gọi điều đó là quyền tự do. Gọi điều đó là bất cứ điều gì bạn muốn, nhưng đó là nền tảng trên đó quốc gia này được thành lập và chúng ta sẽ gặp nguy hiểm nếu đi ra khỏi nền tảng này; Đó là những điều xác định chúng ta là người Mỹ. Đó là những gì hầu hết những người từng sống trên hành tinh này đã khao khát được hưởng. Nó làm cho cuộc đời này đáng sống, có nghĩa là quyền tự do ấy đáng cho chúng ta chiến đấu để giành lấy và hy sinh mạng sống để gìn giữ.

Khái niệm kiểu Mỹ

Tôi biết rằng khái niệm về lòng yêu nước này là một khái niệm kiểu Mỹ. Nhưng tôi không biết làm thế nào để trở nên yêu nước đối với Uganda hay Paraguay. Tôi hy vọng người Uganda và người Paraguay có lý tưởng cao cả mà họ ca tụng khi họ cảm thấy yêu nước, nhưng họ có lý tưởng hay không lại là một câu hỏi bạn phải hỏi họ mới biết được. Tôi chỉ có thể nói cho bạn biết lòng yêu nước có nghĩa là gì đối với tôi, một người Mỹ.

Tôi hiểu rằng nước Mỹ từ trước tới nay thường không hiểu hết những tư tưởng cao siêu được bày tỏ trong bản Tuyên ngôn. Điều đó không hề làm tôi bớt tôn trọng những tư tưởng đó, cũng chẳng làm lu mờ niềm hy vọng trong tôi rằng những thế hệ tương lai của người Mỹ sẽ tìm lại được nguồn hứng khởi từ những tư tưởng này.

Thực ra, loại chủ nghĩa yêu nước này giúp tôi vượt qua được những thời khắc cam go nhất và hoài nghi nhất. Lòng yêu nước của tôi không bao giờ bị ảnh hưởng bởi thất bại của bất kỳ một chính trị gia nào, hoặc bởi bất kỳ khuyết điểm trong chính sách nào đó của chính phủ, hoặc bởi bất kỳ sự suy thoái nào trong nền kinh tế hoặc thị trường chứng khoán. Tôi chưa bao giờ ngưng cảm giác “phấn khởi” khi nhìn thấy lá Quốc kỳ phất phới bay trong gió, cho dù những thế hệ hôm nay đã hiểu sai ý nghĩa nguyên thủy của những ngôi sao và đường kẻ [trên quốc kỳ] như thế nào. Không có kết quả bầu cử nào, dù tệ đến đâu, làm cho tôi giảm đi nhiệt tình dành cho những lý tưởng mà những Nhà Lập quốc đã viết nên năm 1776. Thật vậy, với nhiều kinh nghiệm của cuộc sống, với tôi, sự thông thái mà những vĩ nhân như Jefferson và Madison ban tặng cho chúng ta trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Tôi được tiếp thêm lửa như chưa từng có để giúp người khác đánh giá đúng những điều tương tự.

Trong một chuyến viếng thăm gần đây tại vùng đất của tổ tiên tôi tại Scotland, tôi tình cờ bắt gặp một vài dòng chữ rất cổ xưa khiến tôi dừng lại. Mặc dù những dòng chữ đó xuất hiện trước bản Tuyên ngôn Độc lập của chúng ta 456 năm, [ở một nơi] cách xa Hoa Kỳ ba ngàn dặm, tôi khó có thể nghĩ được có điều nào viết ra ở đây [mà có thể] làm dấy lên mạnh mẽ hơn nữa trong tôi lòng yêu nước tôi đã định nghĩa ở trên. Năm 1320, trong một lần cố gắng giải thích lý do tại sao tổ tiên tôi đã trải qua trận chiến đẫm máu, vào 30 năm trước, để trục xuất người Anh xâm lược, những nhà lãnh đạo Scotland đã kết thúc Tuyên ngôn Độc lập của Arbroath với dòng chữ này: “Chúng ta chiến đấu không phải vì danh dự hay vinh quang hay sự giàu có mà chỉ vì tự do, không có người tốt nào chịu từ bỏ tự do, trừ phi phải chết.”

Tự do — hiểu biết về nó, sống với nó, dạy về nó, và hỗ trợ những người đang giáo dục người khác về các nguyên tắc của nó. Điều đó, hỡi những đồng bào Mỹ của tôi, mới là ý nghĩa của lòng yêu nước với mỗi người chúng ta hôm nay.

Michelle Phạm chuyển ngữ

© Học Viện Công Dân, Feb 2016

Lawrence W. (“Larry”) Reed trở thành chủ tịch của Tổ chức Giáo dục Kinh tế (FEE) vào năm 2008 sau khi ông giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị của Tổ chức này vào thập niên 1990, ông còn là tác giả của những bài viết và diễn văn cho Tổ chức Giáo dục Kinh tế từ cuối thập niên 1970.

Nguồn: http://fee.org/resources/the-true-meaning-of-patriotism/

—-

[1] Ngày Quốc Kỳ (Flag Day) kỷ niệm ngày Quốc Kỳ Mỹ được quốc hội thứ hai biểu quyết chấp thuận năm 1777.

Vì sao chúng ta không tử tế hơn?


Mùa tốt nghiệp đã qua, năm học mới đang bắt đầu, nhưng bài diễn văn của George Saunders trong lễ bế giảng tại Đại học Syracuse vẫn hết sức đáng đọc.

Dù nội dung không quá mới mẻ nhưng nó được lan truyền nhanh chóng, xuất hiện cả trên trang điện tử của New York Times, và đem lại niềm cảm hứng cho nhiều độc giả.

Theo thời gian, những bài diễn từ như thế này đều rập theo cùng một kiểu khuôn mẫu truyền thống, ấy là: Một gã già nua, với những năm tháng tươi đẹp nhất đã lùi vào dĩ vàng, kẻ đã vấp phải không ít những sai lầm kinh khiếp (chính là tôi đây), đem đến lời khuyên chân thành cho một nhóm các bạn trẻ tuổi sáng lạn nhiệt huyết mà những năm tháng tươi đẹp nhất trong cuộc đời còn đang ở phía trước (chính là các bạn).

Với người già, ngoài chuyện bạn có thể vay tiền họ hay đề nghị họ khiêu vũ một điệu nhảy cổ lỗ sĩ cho các bạn xem và tha hồ cười, họ còn hữu dụng ở một điểm, ấy là bạn có thể hỏi họ: “Nghĩ lại những chuyện ngày xưa, bác có tiếc nuối day dứt điều gì chăng?” Và họ sẽ kể bạn nghe. Đôi khi như bạn biết đấy, họ tự kể ra dù bạn chẳng hỏi. Thậm chí có khi bạn yêu cầu rành rọt là thôi đừng có kể ra, thế mà họ vẫn cứ kể.

Vậy điều gì khiến cho tôi tiếc nuối day dứt?

Nghèo túng ngày này qua tháng khác? Không phải. Hay những công việc tồi tệ, như nghề “bẻ khuỷu chân giò trong lò mổ?” Không, tôi chẳng day dứt chuyện đó. Cởi truồng nhảy lộn đầu xuống sông ở Sumatra, đầu óc choáng váng, rồi nhìn lên thấy khoảng 300 con khỉ ngồi trên một đường ống, đang đại tiện xuống dòng sông mà tôi đang há mồm bơi trần như nhộng? Hay là chuyện bị ốm gần chết sau đó, và dính bệnh tật trong suốt bảy tháng tiếp theo? Không, những chuyện đó chẳng sao cả. Hay là liệu tôi có day dứt về những trường hợp đáng xấu hổ? Như cái lần chơi khúc côn cầu trước một đám đông, trong đó có người con gái tôi thực sự si mê, thế mà chẳng hiểu bằng cách nào tôi bị té xuống, miệng ọe ra một tiếng, lóng ngóng tự làm cho bóng bay vào khung thành của mình, đồng thời đánh văng cây gậy vào đám đông và suýt nữa thì bay trúng người cô ấy? Không. Tôi thậm chí cũng chẳng day dứt gì chuyện đó.

Nhưng có chuyện này làm tôi day dứt:

Hồi tôi học lớp Bảy, có một đứa trẻ mới trong lớp. Để bảo toàn danh tính cho cô ấy, trong diễn từ này tên cô được mặc định là “ELLEN.” ELLEN rất bé, hay xấu hổ. Cô đeo đôi mục kỉnh, loại mà vào thời ấy chỉ những bà già mới đeo. Những khi bối rối hồi hộp, tức là hầu như lúc nào cũng vậy, cô bé có thói quen cho một dẻ tóc vào mồm nhai.

Cô bé nhập trường, đến sống trong khu dân phố của chúng tôi, và hầu như chẳng được ai coi trọng, nhiều khi còn bị trêu chọc (“Tóc mày ngon nhỉ” – kiểu như vậy). Tôi có thể thấy chuyện đó làm cô bé bị tổn thương, và vẫn nhớ hình ảnh của cô sau mỗi lần bị trêu như thế: mắt nhìn xuống, chạnh lòng một chút, như thể nhận ra vị trí nhạt nhòa của mình trong đời sống, và cô chỉ biết ráng hết sức để mình tự biến mất. Một lúc sau cô bé dạt đi chỗ khác, dẻ tóc vẫn còn ngậm trong miệng. Tôi hình dung khi tan trường cô bé về nhà, mẹ cô sẽ hỏi: “Ngày hôm nay thế nào con yêu?” và cô sẽ nói, “Tốt ạ”. Rồi mẹ cô sẽ nói, “Con chơi với nhiều bạn không?” và cô trả lời: “Có ạ, nhiều lắm”.

Có khi tôi thấy cô bé quanh quẩn trước sân nhà, như thể sợ phải rời khỏi đấy.

Và rồi – họ chuyển đi. Chỉ vậy thôi. Chẳng có bi kịch, cũng chẳng xảy ra một vụ bắt nạt gớm ghê cuối cùng.

Hôm trước cô bé còn ở đó, ngày hôm sau đã không còn nữa.

Hết chuyện.

Vì sao tôi day dứt việc này? Vì sao bốn mươi hai năm sau tôi vẫn nghĩ về nó? So với đa số những đứa trẻ khác, thực ra tôi khá tử tế với cô bé. Tôi chưa bao giờ nói điều gì không hay với cô ấy. Thậm chí, đôi khi tôi còn bảo vệ cô ta (một cách vừa phải).

Thế mà. Chuyện ấy vẫn làm tôi băn khoăn.

Vậy nên đây là sự thật mà tôi biết, dù nó có hơi cổ lỗ, và tôi cũng không thật rõ mình phải làm gì với nó.

Đó là, điều khiến tôi tiếc nhất trong đời mình là những lần để lạc mất lòng tốt.

Đó là những khoảnh khắc khi thấy một người nào đó, chịu đau khổ ngay trước mặt mình, và rồi tôi đã hành xử một cách … hợp lý. Dè dặt. Vừa phải.

Nếu ta nhìn qua lăng kính từ phía ngược lại và đặt câu hỏi: Ai, trong cuộc đời bạn, khiến bạn nhớ đến một cách dễ chịu nhất, với cảm giác quý mến thật rõ ràng?

Chắc chắn đó những người đối xử với bạn tốt nhất.

Nói ra thì có phần dễ dãi, và chắc là khó thực hiện, nhưng tôi cho rằng chúng ta nên đặt ra một mục tiêu trong cuộc đời: cố gắng tử tế hơn.

Câu hỏi mấu chốt đầu tiên là: Vấn đề của chúng ta là gì? Vì sao chúng ta không tử tế hơn?

Mỗi người trong chúng ta sinh ra với một chuỗi những mê lầm cố hữu, có lẽ chúng là một phần trong bản năng sinh tồn hình thành do chọn lọc tự nhiên: (1) cho rằng mình là trung tâm vũ trụ (nghĩa là cho rằng câu chuyện đời mình là chính yếu và đáng quan tâm nhất, hay thực chất là duy nhất); (2) cho rằng mình tách biệt khỏi thế giới (kiểu như chúng ta chỉ cần biết là đang sống trong đất nước của mình, còn bên ngoài kia chẳng đáng quan tâm), và (3) cho rằng ta bất diệt (cái chết là có thật, nhưng nó chỉ đến với người khác, còn với ta thì không).

Tuy chúng ta không thực sự tin vào những điều mê lầm này – hiểu biết của chúng ta hẳn là sâu sắc hơn thế – nhưng ta vẫn tin vào chúng một cách âm thầm, và để chúng chi phối lối sống của mình, khiến ta luôn ưu tiên nhu cầu của mình cao hơn nhu cầu người khác, mặc dù điều chúng ta vẫn mong muốn trong thâm tâm là cố gắng trở nên bớt ích kỷ, hiểu biết và tỉnh táo hơn, cởi mở hơn, nhân ái hơn.

Do đó, câu hỏi mấu chốt tiếp theo sẽ là: Ta phải LÀM như thế nào? Làm sao để ta trở nên nhân ái, cởi mở, bớt vị kỷ, tỉnh giác hơn, bớt mê lầm hơn, v.v?

Vâng, đó quả là câu hỏi quan trọng.

Nhưng thật không may, tôi chỉ còn lại ba phút [cho bài diễn từ này].

Vậy nên cho phép tôi nói điều này. Có một số cách. Điều ấy hẳn bạn cũng đã biết, vì trong cuộc sống của mình, bạn đã trải qua những lúc Giàu Nhân ái và cả những lúc Kém Nhân ái, và bạn cũng tự biết điều gì giúp mình đến gần với lòng nhân ái hơn. Giáo dục; đắm mình trong một tác phẩm nghệ thuật; nguyện cầu; thiền định; nói chuyện thẳng thắn với một người bạn thân; tham gia vào những truyền thống tâm linh – qua đó ta nhận ra đã có vô vàn những nhà thông thái để lại những câu trả lời cho các câu hỏi mà ngày nay chúng ta thắc mắc.

Tuy nhiên tử tế thực chất là điều khó – ban đầu thì nó dễ dàng, nhưng rồi nó phức tạp và đòi hỏi ở ta đủ thứ.

Nhưng có một điều giúp ích cho chúng ta: đó là việc “trở nên tử tế” có thể xảy ra tự nhiên theo tuổi tác con người. Có thể đơn giản chỉ vì sự mệt mỏi: khi ta già hơn, ta nhận ra sự ích kỷ thật vô ích – hay thật ra là vô lý. Chúng ta trở nên nhân ái và tự xét lại thói vị kỷ của mình. Chúng ta bị cuộc đời vùi dập, rồi được ai đó bảo vệ, giúp đỡ, và học được rằng chúng ta không tách rời nhau, và cũng không muốn tách rời. Chúng ta chứng kiến những người gần gũi thân thiết với mình rơi rụng đi, và dần dần nhận thấy bản thân ta cũng sẽ một ngày phải rơi rụng. Đa số mọi người khi có tuổi đều bớt ích kỷ và nhân ái hơn. Tôi tin chuyện đó là thật. Nhà thơ Hayden Carruth người Syracuse từng nói trong một bài thơ ông viết lúc gần cuối đời, rằng “bây giờ gần như chỉ còn lại Tình Yêu”.

Cho nên, một dự đoán, cũng là lời chúc chân thành của tôi tới các bạn: khi bạn già đi, cái tôi của bạn sẽ nhỏ lại và bạn sẽ trưởng thành lên trong tình yêu. BẠN sẽ dần dần bị thay thế bởi TÌNH YÊU. Nếu bạn có con, đó sẽ là khoảnh khắc to lớn trên tiến trình tự tiêu trừ cái tôi. Bạn sẽ không còn quá chăm lo cho bản thân BẠN, chỉ cần các con bạn được hưởng điều tốt đẹp là được rồi. Đó cũng là lý do phụ huynh của các bạn tự hào và hạnh phúc biết bao trong ngày hôm nay. Một trong những ước mơ trìu mến nhất của họ đã thành hiện thực: đó là bạn đã đạt được một điều khó khăn và bền vững, nó sẽ giúp bạn trở nên một người lớn hơn và sẽ giúp cuộc đời bạn tốt đẹp hơn, từ nay trở đi và mãi mãi – tiện đây, tôi xin chúc mừng các bạn.

Khi còn trẻ, chúng ta thường lo ngại – cũng là điều dễ hiểu – liệu mình có đủ phẩm chất hay không. Chúng ta có thể thành đạt hay không? Liệu ta có thể dựng xây một cuộc sống đầy đủ cho chính mình? Nhưng chúng ta – đặc biệt là các bạn trong thế hệ ngày nay – chợt nhận ra có một vòng lặp trong sự tham vọng. Bạn cố gắng học giỏi trung học, mong sao được vào một trường đại học tốt, để rồi bạn có thể học giỏi đại học, mong sao tìm được một công việc tốt, để rồi bạn có thể làm tốt công việc, đề rồi …

Điều này thực chất là tốt. Nếu chúng ta trở nên tử tế hơn, tiến trình ấy phải bao gồm cả sự nghiêm túc với chính bản thân mình – trong vai trò là một người làm việc, một người thành đạt, một người mơ mộng. Ta phải như vậy, để đạt đến bản thể tốt đẹp nhất của mình.

Thế nhưng sự thành đạt vốn không bền vững. “Thành công”, trong việc gì cũng vậy, luôn khó, và luôn đặt ra cho ta những đòi hỏi mới (thành công giống như một ngọn núi luôn tự vươn cao trong quá trình bạn trèo lên), và có một nguy cơ rất thật là “thành công” sẽ nuốt trọn toàn bộ cuộc đời bạn, trong khi bạn vẫn để ngỏ những câu hỏi lớn lao trong cuộc đời.

Vì vậy, lời khuyên cuối bài diễn từ của tôi cho bạn: vì với cách nhìn của tôi, cuộc đời bạn là một tiến trình dần dần trở nên tử tế và nhân ái hơn, cho nên bạn hãy: nhanh chân lên. Phải khẩn trương. Bắt đầu ngay từ bây giờ. Có một thứ mê lầm trong mỗi người chúng ta, một thứ bệnh tật: sự ích kỷ. Nhưng cũng tồn tại cả phương thuốc giải. Hãy là một bệnh nhân tích cực và chủ động, thậm chí lo lắng một chút vì chính bản thân mình – nỗ lực tìm ra những liều thuốc chống ích kỷ có hiệu quả nhất, cho toàn bộ phần còn lại cuộc đời mình.

Hãy cứ làm tất cả những đự định khác, những điều to lớn – du lịch, giàu có, trở nên có tên tuổi, sáng tạo, lãnh đạo, yêu đương, kiếm được hay để mất một mớ tiền, hay là cởi truồng bơi trong rừng (sau khi đã kiểm tra và đảm bảo không có phân khỉ)– nhưng đồng thời trong phạm vi khả năng cho phép, hãy hướng mình theo sự tử tế. Làm những điều giúp hướng bạn theo những câu hỏi lớn, và tránh những điều làm bạn nhỏ bé và tầm thường. Phần tỏa sáng trong bạn, nằm sâu hơn cả cá tính – ta có thể gọi là linh hồn – cũng sáng lạn như của bất kỳ ai. Sáng như của Shakespeare, sáng như của Gandhi, sáng như của Mẹ Teresa. Hãy dọn quang mọi thứ ngăn cách bạn với ánh sáng bí mật ấy. Tin rằng nó tồn tại, hiểu về nó nhiều hơn, nuôi dưỡng nó, chia sẻ những quả ngọt của nó một cách không mệt mỏi.

Một ngày kia, 80 năm sau, khi bạn 100 tuổi, còn tôi 134, khi cả hai ta đã tử tế và nhân ái quá mức, hãy viết cho tôi đôi dòng, kể tôi nghe về cuộc đời bạn. Tôi hi vọng bạn sẽ nói: nó quá tuyệt vời.

Thanh Xuânlược dịch

Nguồn:  New York Times – Tuần Việt Nam

George Saunders là một nhà văn nổi tiếng, đồng thời là giáo sư Đại học Syracuse ở Mỹ. Ông viết truyện ngắn, tiểu luận, truyện dài, và truyện cho trẻ em, dành được nhiều giải thưởng uy tín.

Tại sao người Nhật mê đọc sách? – Phần cuối


Phạm Xuân Xanh

……

Phát triển giáo dục

Văn hóa đọc sách gắn liền với giáo dục. Tokugawa là thời kỳ của sự bùng nổ giáo dục, hệ thống trường học, phục vụ cho nhiều đối tượng, nhiều đẳng cấp, trường trung ương của shogun, trường phiên của các daimyō, trường tư, cho dân thường và trường hỗn hợp cho cả samurai và dân thường. Vài con số dưới đây sẽ làm chúng ta thêm ngạc nhiên để thấy mối tương quan giữa văn hóa đọc và giáo dục.

Ngoài những trường chính thống dành cho giai cấp samurai của Mạc phủ, như “Hàn lâm Khổng giáo”, Shōheikō, thành lập năm 1630, và trường của các phiên, còn có các loại trường như trường terakoya cho thường dân; trường gōgakudành cho cả con em samurai lẫn thường dân học chung, được chính thức hỗ trợ từ nhà nước, báo trước loại giáo dục hiện đại phi đẳng cấp sẽ ra đời thời Minh Trị. Ngoài ra có loại trường tư thục, shijuku, private academies, với khoảng 1.500 trường, từ qui mô nhỏ vài ba chục đến qui mô lớn cả ngàn sinh viên, cạnh tranh với các trường trung ương hay trường phiên, dành cho cả samurai và thường dân mọi tầng lớp.

Tại phiên Chōshū, một trong những phiên quan trọng trong việc lật đổ Mạc phủ để phục hồi Thiên hoàng, nhiều samurai nổi loạn và trở thành lãnh đạo của Chính phủ Minh Trị đã từng là học trò của nhà yêu nước Yoshida Shōin (1830-1859) tại trường tư thục do ông thành lập. Shijuku thường phục vụ cho giáo dục cao cấp (advanced education), đi vào nghiên cứu, là trường của những người muốn tiến thân vào học thuật. Đó là loại trường “vườn ươm nhân tài”, bất kể từ đâu đến, samurai hay thương gia, thầy tu, tạo nguồn nhân lực quốc gia, jinzai (nhân tài, human resource), điều cũng được các giới chính quyền Trung ương và địa phương ủng hộ. Theo tinh thần của jinzai, việc tuyển mộ nhân sự được dựa trên cơ sở tài năng hơn là nguồn gốc thân thế, và tài năng có thể đi từ phiên này sang phiên khác sống. Ngoài ra còn các trường dạy nghề và trường tôn giáo.

Năm 1868 khi Nhật Bản Minh Trị bắt đầu cuộc duy tân, cả nước đã có 17.000 trường đủ mọi loại! Đây cũng là một con số ‘khủng’ nữa. Hàng triệu người đã được học hành. [Việt Nam có được bao nhiêu trường học và học sinh lúc đó? Nam Kỳ lúc đó vừa trở thành thuộc địa Pháp.] Có một ước tính theo đó cuối thời Tokugawa Nhật Bản có khoảng trên 40 phần trăm con trai và 10 phần trăm con gái nhận được giáo dục ngoài gia đình. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, và dân chúng cũng đồng tình để cải thiện vị trí xã hội của mình. Phát triển đất nước cần những người có học. “Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học” như học giả Khổng giáo Dazai Jun (1686-1747) viết.

Qui mô của trường Nhật cũng không kém phần ngạc nhiên. Trường Shōheikō được xây dựng lại năm 1799 thực tế không phải là một ngôi trường, mà là một campus to lớn, nhiều dãy nhà ngang dọc, nhiều đường phố trong đó, với một đền thờ Khổng tử lớn tại trung tâm, nó là một cái làng học thuật và đào tạo đúng hơn là một cái trường đơn giản theo quan niệm của chúng ta. Trường Nisshinkan tuy có thể nhỏ hơn nhưng cũng rất lớn. Chúng ta biết rằng tại Hoa Kỳ, các đại học dạng campus hình thành chủ yếu từ Luật giao đất Morrill năm 1862 trước khi cuộc nội chiến chấm dứt. Phải chăng, xét về qui mô, các trường của Nhật Bản thời Tokugawa đã đi trước các Đại học campus của Mỹ gần cả trăm năm?

Nước Nhật bước vào hiện đại hóa không phải từ tro tàn của chế độ cũ, mà ngược lại, được xây dựng trên một nền móng văn hóa đã phát triển cao, đa dạng về nội dung học, và vững chắc. Năm 1872 (cũng là năm sinh của cụ Phan Châu Trinh), tức chỉ bốn năm sau khi vua Minh Trị được phục hồi, một chế độ giáo dục cưỡng bách toàn dân được thực hiện trên khắp nước Nhật, một kỳ công. Điều này sẽ khó có thể được nếu Nhật Bản Tokugawa không có gì cả. Năm 1900 Nhật Bản có tỉ lệ người biết chữ cao hơn tỉ lệ của Anh. Đó là một môi trường văn hóa tốt và thiết yếu cho sự phát triển mạnh của khoa học và kỹ thuật.

Nếu đầu thời kỳ Tokugawa lưỡi gươm là quan trọng, thì vào cuối thời Tokugawa thì quyển sách là quan trọng hơn.

Trước áp lực của nguy cơ nước ngoài sự học cổ điển dần dần được hiện đại hóa bằng các môn học phương Tây. Các môn tri thức quân sự, luyện kim, vẽ bản đồ, y khoa, hóa học…, cũng như các môn học về các thể chế chính trị, kinh tế các quốc gia phương Tây có sức hút mạnh mẽ. Các daimyō biết nhìn xa gửi sinh viên tài năng đi học tại Nagasaki hay tại những trường Lan học tại Edo và Osaka. Và trong những năm 1850, 1860 họ thành lập các trung tâm Tây học tại các phiên của họ. Các nhà lãnh đạo của Minh Trị Duy Tân như Saigō của phiên Satsuma, Kido, Itō và Inoue của Chōshū, Soejima và Okuma của Saga, Gotō, Sakamoto và Sasaki của Tosa, Yuri của Fuki, Mutsu và Katsu của Mạc phủ, tất cả đều đã một lần học tại Nagasaki, trung tâm Lan học hiện đại của cả đất nước.

Sự phát triển giáo dục thời Tokugawa gắn liền với sự phát triển văn hóa Edo. Edo là thời kỳ của nghệ thuật và học thuật. Tokugawa chọn con đường đóng kín không phải để suy tàn, mà ngược lại, để phát triển bản sắc Nhật Bản không bị phá rầy, đưa sức sống của dân tộc lên đỉnh cao văn hóa và nghệ thuật, vun xới đạo đức và bản sắc. Đó là thời kỳ của sự tự tôi luyện, sự quyết tâm tự khẳng định mình, biến đổi miếng đất hoang sơ thành một vườn hoa sặc sỡ, phát triển các hình thái nghệ thuật lên cao nhất, để bản sắc Nhật Bản trở thành nền tảng không lung lay được trong thời mở cửa xáo trộn sau, để tài năng Nhật Bản được tinh luyện làm niềm tin của dân tộc. Khi mở cửa, nghệ thuật Nhật Bản đã chinh phục được các quốc gia phương Tây và quốc gia được nể phục.

Lan học, cuộc dịch thuật vĩ đại

Còn một sự kiện ‘khủng’ khác cần được nói lên ở đây. Đó là cuộc dịch thuật vĩ đại hai thế kỷ của giới trí thức Nhật Bản trong thời Tokugawa tự đóng cửa. Sáu năm sau khi Copernicus qua đời (1543) và tác phẩm cách mạng Về chuyển động quay của các thiên thể xuất bản, Nhật Bản tiếp xúc với những người phương Tây đầu tiên. Nhưng năm mươi năm sau, Nhật Bản, như chúng ta biết, chọn con đường đóng kín cửa, “toả quốc”, sakoku, từ 1640 (Việt Nam từ 1630), khi thấy sự phát triển của Kitô giáo là nguy hiểm cho tinh thần dân tộc và cho quyền lực. Nhật Bản chỉ chừa một cửa thông thương duy nhất với Hà Lan tại Dejima, Nagasaki. Sự đóng kín này kéo dài cho đến hết thời Tokugawa năm 1868. Vậy mà trong điều kiện đó, đây là điều Việt Nam không có, trí thức Nhật Bản đã làm một cuộc dịch thuật vĩ đại sách vở phương Tây. Tuy không quyển sách nào thóat khỏi bàn tay kiểm duyệt nghiêm ngặt của Mạc phủ, tuy giới học giả phải làm việc trong điều kiện khó khăn, đôi khi phải trả giá bằng tính mệnh, nhưng họ đã làm nên một cuộc dịch thuật vĩ đại từ cái được gọi là Lan học, rangaku, Dutch learning (“Lan” là gọi tắt của Hà Lan), bắt cầu cho khai trí, khoa học, kỹ thuật để Minh Trị Duy Tân bước tới mạnh mẽ.

Trí thức Nhật, nhất là giới bác sĩ, đặc biệt chú ý đến khoa học kỹ thuật từ châu Âu qua các tác phẩm dịch từ tiếng Hà Lan. Họ nhìn thấy trong đó một nền văn minh mới xuất hiện, và ý thức rằng, nếu một ngàn năm trước Nhật Bản đã từng gửi học giả và tăng lữ sang Trung Hoa để học văn hóa, thì nay, họ cũng đang đứng trước một nền văn minh mới đồ sộ cần phải học hỏi, và họ phải tự học trong sự dè chừng của Mạc phủ. Qua Lan học- hay Tây học qua tiếng Hà Lan – người Nhật học hầu như tất cả các môn khoa học và công nghệ phương Tây: y khoa, sinh học, thiên văn, toán học, vật lý, hóa học, điện, cơ học, máy bơm, đồng hồ, máy hơi nước, kính thiên văn, kính hiển vi, luyện kim, đúc súng, đóng tàu…Họ thường xuyên theo dõi sự tiến bộ khoa học công nghệ châu Âu. Các thương nhân Hà Lan ngay từ đầu được Mạc phủ yêu cầu hằng năm viết báo cáo (fūsetsugaki) cho chính phủ tướng quân về tình hình thế giới, và về cuộc cách mạng công nghệ và khoa học ở châu Âu.

Chỉ có đọc sách với tinh thần người Nhật là muốn hiểu biết thế giới đã, đang nghĩ gì, làm gì để tái tạo tinh hoa thế giới và sáng tạo cái mới làm giàu đất nước Việt Nam, mới giúp cho chúng ta đọc sách mãi mãi không thôi, đọc cuồng nhiệt trong thế giới tri thức vô tận. Và chỉ trên cơ sở đó, văn hoá đọc mới có thể thăng hoa. Từ thế kỷ 18, tức khoảng một thế kỷ sau tác phẩm Principia của Newton, các học giả Lan học đã nắm bắt được vật lý Newton, họ đã dịch được các khái niệm như “trọng lực” (jūryoku), “lực hút” (inryoku), “lực ly tâm” (enshinryoku), “khối tâm” (jūten, centre of mass) vẫn còn được sử dụng ngày nay. Các học giả Lan học đã hiểu các hiện tượng điện, tĩnh điện, hiểu nguyên lý ắc-quy của Volta đầu thế kỷ 19, chỉ mấy năm sau khi Volta phát minh ở châu Âu. Họ hiểu hóa học của Lavoisier, có thể chế tạo kính thiên văn không lâu sau Hans Lippershey và Galilei đầu thế kỷ 17; chế tạo đồng hồ, máy bơm, súng hơi, chế tạo những con búp bê cơ khí tự động phục vụ trà. Đặc biệt máy hơi nước được Nhật Bản chế tạo lần đầu tiên năm 1853. Người Nhật đã đóng được tàu chiến chạy hơi nước chỉ hai năm sau cuộc gặp gỡ lịch sử với Commodore Perry 1853. Tất cả cũng chỉ dựa trên bản vẽ. Một quan chức Hà Lan bình luận rằng “Tuy có những sự không hoàn chỉnh về chi tiết, nhưng tôi phải ngả mũ trước dân tộc thiên tài có khả năng chế tạo những thứ này mà họ không hề thấy một chiếc máy thực ngoài đời, chỉ dựa trên các bản vẽ đơn thuần”.

Cuộc dịch thuật diễn ra trong hai thế kỷ với hàng ngàn cuốn sách được xuất bản và truyền bá trong giới học thuật, làm cho người ta nhớ đến cuộc dịch thuật vĩ đại văn minh Hy Lạp cổ đại và Ả Rập vào châu Âu hai thế kỷ 11 và 12 đúng lúc đại học châu Âu đang hình thành, làm cho đại học và khoa học châu Âu phát triển mạnh mẽ. Chỉ có khác một điều: trong khi cuộc dịch thuật ở châu Âu được phần lớn các học giả Ả Rập thực hiện thì ở Nhật Bản cuộc dịch thuật được do chính người Nhật thực hiện, những người được đào tạo từ một nền văn hóa rất khác. Phương Đông chưa có cuộc dịch thuật nào như cuộc dịch thuật Nhật Bản phản ảnh trung thực nền khoa học kỹ thuật phương Tây. (Cuộc dịch thuật ở Trung Hoa bởi các nhà truyền giáo bóp méo một phần khoa học vì mục tiêu truyền giáo, và gặp sức ỳ mãnh liệt của sự tự mãn văn hóa Trung Hoa). Đây là một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử giữa Tây và Đông. Hai trăm năm dịch thuật ở Nhật Bản Tokugawa cũng là thời gian tại châu Âu diễn ra các cuộc cách mạng khoa học, công nghiệp dữ dội, tạo nên sự mất cân bằng lực lượng nghiêm trọng trên thế giới dẫn tới thay đổi lớn lao chưa từng có trong lịch sử loài người. Người Nhật đã biết tiếp cận các cuộc cách mạng đó từ xa để chuẩn bị mình.

Người Nhật không thể yêu nước trong sự mê muội, vô minh, lại càng không yêu nước bằng những nội dung khuôn sáo không thực chất. “Chúng ta cảm thấy xấu hổ làm sao khi khám phá ra sự ngu dốt của mình” với tư cách là người phục vụ đại danh và đất nước, như một lời tự thú của Sugita Gempaku (1733-1817), một bác sĩ tên tuổi và là người đã tạo cú hích quan trọng cho Lan học cuối thế kỷ 18, sau khi ông chứng kiến rằng cấu trúc của cơ thể con người không giống như sách vở của Trung Hoa hay Nhật Bản bấy lâu nay, mà giống chính xác các bản vẽ cơ thể học của một quyển sách từ phương Tây (Tafel Anatomia), sau đó được Gempaku và các đồng nghiệp dịch ngay sang tiếng Nhật tạo cú hích mạnh mẽ cho phong trào Lan học.

Kết luận

Nói tóm lại, Nhật Bản là một dân tộc có óc tò mò không bao giờ nguôi, tinh thần khao khát học hỏi cái mới mãnh liệt không bao giờ tắt, và khả năng hiểu biết nhanh chóng, để hoàn thiện mình, để bảo vệ đất nước, để “kiểm soát những người man di bằng tri thức của họ”, và vì thế họ đọc sách dữ dội, và đã thành công dữ dội. Thế kỷ thứ bảy và tám họ đã từng vượt biển trong hiểm nguy để học văn hóa Trung Hoa đem về xây dựng nền tảng văn hóa riêng của họ. Rồi một ngàn năm sau, cũng trong khó khăn và nguy hiểm, giới trí thức đã tiến hành cuộc dịch thuật văn hóa phương Tây hai thế kỷ liền, và từ 1868 trở đi một cách bùng nổ, để có thể nhanh chóng hiện đại hóa đất nước với mục tiêu trở thành ngang bằng với các cường quốc phương Tây. Đó là hai sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử văn hóa nước Nhật. Và họ đã thành công. Họ bỏ lại Trung Hoa từng là trung tâm văn hóa đối với họ, để rồi chính Trung Hoa sau đó phải học lại họ. Nhật Bản đã từng trở thành trung tâm văn hóa mới và niềm hy vọng ở phương Đông, thay thế cho cái trung tâm Trung Hoa cũ đang rệu rã.

Nhật Bản là tấm gương “tổng hợp văn hóa Đông Tây” của thế giới mà không mất đi bản sắc sâu đậm của mình. Họ là một tấm gương tuyệt vời của sự tự-khai trí vươn lên. Họ đóng cửa mà không hư hỏng hay hỗn độn. Ngược lại, họ đóng cửa để phát triển các tố chất dân tộc thành tinh hoa, làm bước chuẩn bị cho giai đoạn phát triển tiếp vững chắc, không chao đảo khi mở cửa ồ ạt thời Minh Trị. Họ là một dân tộc văn hóa đáng kính phục.

Charles Darwin nói đâu đó trong lá thư gửi cho một người bạn, rằng đối với ông Nhật Bản là một kỳ quan trong những kỳ quan của thế giới, nếu không muốn nói là kỳ quan lớn nhất.

Người Việt Nam chúng ta nên học văn hóa đọc sách độc đáo của người Nhật, óc tò mò của họ, học để sáng tạo cho đất nước. Nếu chỉ học với mục đích có có được một nghề để sống, điều đó quý cho bản thân, gia đình, nhưng dễ dẫn đến sự tự mãn làm cho người ta không đọc sách nữa khi đã đạt được mục đích. Với tinh thần đó, Việt Nam chỉ có  cá nhân chứ không có quốc gia. Chỉ có đọc sách với tinh thần người Nhật là muốn hiểu biết thế giới đã, đang nghĩ gì, làm gì để tái tạo tinh hoa thế giới và sáng tạo cái mới, làm giàu đất nước Việt Nam, điều đó mới giúp cho chúng ta đọc sách mãi mãi không thôi, đọc cuồng nhiệt trong thế giới tri thức vô tận. Và chỉ trên cơ sở đó, văn hóa đọc mới có thể thăng hoa. Không phải chỉ vài ngàn, mà hàng triệu các bản sách hay mới có thể được độc giả hâm mộ và háo hức đón nhận. Và cũng chỉ trên cơ sở đó, nhân dân mới nhanh chóng ấm no, đất nước mới phú cường, giang sơn mới bền vững.

Nguồn: http://sociallife.vn/

Tại sao người Nhật mê đọc sách? – Phần đầu


Nguyễn Xuân Xanh

Không có thú vui nào trên thế giới có thể so sánh được với thú vui đọc sách. Khi người ta cảm nhận được sự đàm thoại riêng tư với thế giới người hiền, thì đó là thú vui duy nhất không lệ thuộc vào người khác…

                                                                        – Kaibara Ekken (1630-1714)

Tóm tắt: Những lý do nào khiến dân tộc Nhật đã có một văn hoá đọc có thể nói vào bậc nhất thế giới? Văn hoá đọc này không phải chỉ bỗng dưng bùng nổ vào thời Minh Trị Duy Tân 1868 khi đất nước được mở cửa, hướng về phương Tây, mà có gốc rễ sâu xa từ thời Tokugawa 1600-1868, từ lúc dân tộc chỉ có văn hoá võ sĩ trên chiến trường, từ lúc thầy tu khoẻ mạnh cũng muốn ra trận để thi thố tài năng đi tìm hạnh phúc. Cách đây 300 năm Nhật Bản đã có những con số “khủng” về giáo dục và văn hoá đọc.

Những lý do nào khiến cho một dân tộc võ sĩ lại trở thành mê đọc sách như thế? Và đọc sách để làm gì? Tại sao không phải các dân tộc có truyền thống văn sâu đậm như Trung Hoa hay Việt Nam mà lại một dân tộc có truyền thống võ như Nhật Bản? Hai trăm sáu mươi năm tự đóng kín cửa như “hến” sau khi đuổi hết người truyền giáo phương Tây khỏi nước (cùng thời với Việt Nam), nhưng tại sao mảnh đất Nhật Bản lại “ngậm” được viên ngọc ‘Tây học’ (Western learning, thông qua ‘Lan học’, Rangaku) hình thành bên trong, từ chất “nọc độc của người man di”, để rồi viên ngọc khai minh đó biến thành quốc sách thời Minh Trị? Một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử: châu Âu đã từng có cuộc dịch thuật vĩ đại thế kỷ 11 và 12 lúc đại học châu Âu ra đời để làm nền tảng phát triển khoa học và văn hoá, thì tương tự, ở phương Đông, Nhật Bản cũng đã có cuộc dịch thuật vĩ đại của mình trong hai thế kỷ thời đóng cửa, giúp chuyển hệ hình tư duy kiểu phong kiến Trung Hoa sang hệ hình khoa học hiện đại phương Tây dù tầng lớp trí thức ở Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của Khổng giáo, có thể sâu đậm hơn cả giới trí thức Việt Nam cùng thời.

Cuộc dịch thuật là khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, nhưng trí thức Nhật Bản đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh. Đọc sách là việc làm của lòng yêu nước, không phải chỉ để thưởng ngoạn, mà để khai minh và khai sinh một thời đại mới cho đất nước. Đọc sách là thuộc tính của một dân tộc văn hoá có ý thức. Họ không sợ học của kẻ thù, chỉ sợ ngu muội vì không học. Và họ đã thành công.

Người ta đã từng nghe nói về sự đọc sách khủng của người Nhật thời Minh Trị Duy Tân, cách chúng ta hôm nay ngót một thế kỷ rưỡi. Thí dụ minh hoạ thường là quyển sách Bàn về Tự do, On Liberty, của John Stuart Mill. Sách được xuất bản ở Anh năm 1859, cùng năm với tác phẩm “Thuyết tiến hoá” của Charles Darwin. Bàn về Tự do là một quyển sách rất có ảnh hưởng ở phương Tây, và ngày nay vẫn còn tiếp tục được đọc. Khi được dịch sang tiếng Nhật quyển sách đã bán trên triệu bản.

Một quyển sách khác, có lẽ ít được biết hơn đối với độc giả Việt Nam, là Tự lo, Self-Help của Samuel Smiles. Quyển sách này là best-seller ở phương Tây, đến cuối thế kỷ 19 bán được số lượng 250.000 ở Anh Mỹ, nhưng khi được Nakamura Masanao, một học giả Khổng giáo từng học bên Anh, dịch sang tiếng Nhật những năm đầu của thời Minh Trị thì quyển sách bán đến một triệu bản! (Nakamura cũng là người dịch quyển Bàn về Tự do) Một con số thật “khủng” nếu ta biết rằng thời đó dân số Nhật Bản chỉ khoảng trên 30 triệu thôi. Self-Help là một trong ba quyển sách được gọi là “Bộ kinh thánh Minh Trị” có sức hút mãnh liệt đối với người Nhật, nhất là giới trẻ, trong giai đoạn đất nước đổi mới của Nhật Bản. Cuốn sách Tự lo thể hiện tinh thần độc lập tự chủ của các cá nhân, và từ đó làm cho quốc gia độc lập và tự chủ. Cuốn sách mượn lời của J.S. Mill ngay trang đầu: “Giá trị của nhà nước, xét lâu dài, là giá trị của các cá nhân cấu thành.” Đó là tín hiệu mà quyển sách muốn truyền đạt: Muốn có một đất nước mạnh, độc lập, phải có những cá nhân mạnh và độc lập, thông qua tự rèn luyện, tự lo. Đó là điều kiện tiên quyết.

Nói chung vào thời mở cửa Minh Trị Duy Tân, dân tộc Nhật lên cơn sốt đọc sách nước ngoài để biết phương Tây đã làm gì và đang làm gì mà “nước giàu quân mạnh” như thế. Họ muốn biết và muốn học, để xây dựng đất nước hùng mạnh như các cường quốc phương Tây. Chỉ có được một nền văn hoá lớn, một xã hội phú cường, khi nào mọi người được học như nhau, khi mọi người có quyền ao ước và có điều kiện vươn lên khỏi chức phận cũ của mình. Tinh thần này, ethos, được diễn tả mạnh mẽ trong tác phẩm “Khuyến học”, Gakumon no susume, của nhà khai minh Fukuzawa Yukichi (1835-1901): “Con người không sinh ra cao quý hay thấp hèn, giàu sang hay nghèo khó. Chính những ai lao động siêng năng ở những công việc tìm tòi của họ, và học nhiều, sẽ trở thành cao quý và giàu có, trong khi những ai biếng nhác sẽ trở thành nghèo khó, thấp hèn.”

Hai sự kiện sau đây ở thế kỷ 20 minh hoạ thêm óc tò mò học hỏi đặc biệt của người Nhật, điều mà các nhà truyền giáo phương Tây đã ghi nhận khi tiếp xúc với những dân tộc này, so sánh với các dân Trung Hoa hay Hàn Quốc mà họ biết trước đó. Năm 1922 khi Einstein thực hiện lời mời sang thăm và diễn thuyết khoa học tại Nhật thì nước Nhật vừa có ngay một tuyển tập Einstein gồm bốn quyển. Lúc đó không đâu ở châu Âu hay ở Mỹ có tuyển tập này. Tương tự, ba năm trước đó, 1919, Nhật Bản cũng là nước đầu tiên xuất bản tuyển tập Các Mác, Ăng-Ghen. Cũng không đâu trên thế giới, kể cả Nga, Đức là những nơi có phong trào xã hội chủ nghĩa mạnh nhất thế giới có tuyển tập này. Người Nhật quả muốn biết hết những nghĩ gì thế giới trước đó.

Công ty ra đời đầu tiên thời Minh Trị Duy Tân kinh doanh gì? Được sách sử ghi lại, đó là công ty nhập khẩu và kinh doanh sách Maruzen của Hayashi Yuteki. Năm 1869 ông Hayashi Yuteki mở công ty đầu tiên tại Yokohama có tên Maruya, và năm sau mở thêm cửa hàng thứ hai tại Nihonbashi, khu phố cổ trung tâm sầm uất và thời trang nhất của Tokyo lúc bấy giờ! Năm 1880 Hayashi chuyển doanh nghiệp chính thức thành công ty TNHH Maruzen. Sách là mặt hàng đi đầu trong “cuộc chấn hưng dân khí”. Phần lớn các học giả và nhà văn đều là khách hàng của Maruzen, trong đó có hai nhà văn lớn Akutagawa Ryunosuke và Natsume Sōseki. Hayashi Yuteki vốn là một thầy thuốc hành nghề rồi sau đó trở thành học trò của nhà khai minh Fukuzawa Yukichi. Ngoài các hiệu sách, Maruzen còn xuất bản một nguyệt san cho giới văn sĩ, học thuật có tên “Ánh sáng của Khoa học”, Gakutō. Một thời gian dài Maruzen là cửa sổ duy nhất nhìn ra phương Tây. [Công ty sách này ngày nay vẫn còn tồn tại, hoạt động rộng rãi, có doanh số năm 1996 hơn một tỉ Euro với 2.100 nhân viên. Khách hàng của họ là nhiều đại học, cơ quan chính quyền và viện nghiên cứu.]

Chúng ta tự hỏi vì đâu mà người Nhật lại có cái đam mê đọc sách cuồng nhiệt và sự đánh giá cao sách vở như thế? Có phải dân tộc này chỉ mê đọc sách thời Minh Trị khi bừng tỉnh sau ‘cơn ngủ đông’ mấy trăm năm trước đó không? Dân tộc Trung Hoa cũng từng ngủ đông dài như thế, và một số dân tộc khác cùng dòng văn hoá Khổng Mạnh, nhưng tại sao không có cái đam mê đọc sách như dân Nhật?

Một truyền thống lâu đời

Thực ra người Nhật đã có truyền thống đọc sách khủng lâu đời, ít ra từ thời Tokugawa 1600-1686. Trong thời đầu của Tokugawa Ieyasu, người thống nhất đất nước và lập nên triều đại Tokugawa hoà bình 265 năm lâu dài nhất lịch sử, thì chuyện một samurai có thể diễn đạt được ý tưởng của mình một cách mạch lạc trên giấy trắng mực đen là điều hi hữu, và tình trạng mù chữ là bình thường. Văn hoá Nhật Bản trước 1600 là văn hoá võ sĩ. Nhưng vào cuối thế kỷ 18, có thể nói một samurai mù chữ là một điều hụt hẫng đáng buồn, và tới giữa thế kỷ 19, tình hình lại khác nhau một trời một vực.

Trong thời Genroku (1688-1704), được xem là thời vàng son của Tokugawa với kinh tế ổn định, nghệ thuật và văn chương phát triển, Nhật Bản đã có một hệ thống xuất bản sách hiện đại đáng ngạc nhiên, đặc trưng bởi sự hiện hữu của nhiều nhà xuất bản lớn, nhiều nhà minh hoạ sách có tiếng và nhiều nhà văn tên tuổi. Sách thường được xuất bản với số lượng đến hơn 10.000 bản! Đây là một con số “khủng” thời đó; Nhật Bản lúc đó chỉ có chừng 20 triệu người, vì thời Minh Trị dân số Nhật Bản khoảng 30 triệu. Năm 1692 Nhật Bản cũng đã từng có những bộ danh mục hàng chục tập về các sách in dành cho công chúng sử dụng. (Hiện nay VN chưa có được những bộ danh mục như thế tại các nhà sách).

Con số phát hành 10.000 bản là rất đáng ghen tị cho những nhà xuất bản và tác giả Việt Nam hiện nay, đất nước với gần 90 triệu dân. Trong gần mười năm qua từ khi loại sách khai trí bắt đầu xuất hiện, có mấy tác giả nào có số ấn bản tương đương như thế? Cho nên số ấn bản 10.000 của người Nhật thời Tokugawa cách đây 300 năm quả là con số “khủng”! [Việt Nam lúc bấy giờ đang trong giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh, không hiểu giáo dục và văn hoá đọc sách ra sao.]

Thương mại sách ở Nhật bắt đầu phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 17. Giới đọc sách truyền thống như quý tộc, tu sĩ và thượng lưu trong thành phố được mở rộng sang các giới đại chúng. Mặc dù số lượng phát hành cao, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu đọc sách của các tầng lớp dân chúng, văn hoá đọc sách thuê, ra đời trong thời Kan’ei (1624-44), trở nên phổ biến, đặc biệt tại các thành phố lớn như Edo, Kyoto và Nagoya. Các cửa hàng cho thuê sách, kashihonya, đóng vai trò quan trọng ở đây. Cuối thế kỷ 18 các cửa hàng cho thuê sách có mặt khắp nơi ở Edo (tức Tokyo) và các tỉnh. Khách hàng được phục vụ bởi những người đi rong mang thùng sách trên lưng. Sách vở có thể đi đến tận các hải đảo xa xôi. Edo có 650 cửa hàng cho mượn sách năm 1808, nhưng đến 1832 đã có tới 800. Edo có dân số khoảng hơn triệu, và tỉ lệ biết chữ lên đến 70%. Một cửa hàng cho mượn sách ở Nagoya, tên Daisō của Sōhachi, như lịch sử còn ghi, được thành lập năm 1767 và hoạt động 132 năm liền, đến khi chấm dứt hoạt động có một danh mục đến 26.768 quyển sách cho mượn.

Nhật Bản thế kỷ 18 có những thành phố lớn phát triển với dân số tập trung cao như châu Âu. Edo có trên một triệu dân, nhất thế giới, hơn cả Paris. Các thành phố khác như Osaka có con số non một triệu. Nhật Bản có văn hoá thành thị, có cả văn hoá salon (zashiki), đời sống sung túc rõ nét như ở châu Âu thời Trung cổ. Và đó cũng là điểm hấp dẫn đối với giới thương nhân nước ngoài khi họ kêu gọi Nhật Bản mở cửa. [Việt Nam lúc đó chưa được như thế về mặt phát triển kinh tế.]

Chúng ta hỏi: Từ đâu người Nhật có sự đam mê đọc sách như thế? Động lực nào?

Nguồn gốc đọc sách: văn đi trước võ

Sự học tại Nhật Bản trước 1600 là độc quyền của giới quý tộc và tăng lữ, nhưng đến thời Tokugawa trở thành công việc của cả nước. Năm 1615 tướng quân Tokugawa Ieyasu, sau khi đã bình định được gần ba trăm phiên trấn (han), thiết lập nên một thể chế chính trị gần như liên bang, phát đi mệnh lệnh như một ‘big bang’ cho các đại danh, daimyō, chủ phiên trấn và các võ sĩ, samurai: Điều 1 của mệnh lệnh nói: “bun bên tay trái, bu bên tay phải”. Bun là văn, sự học, là cây bút, trong khi bu là võ, nghệ thuật chiến tranh, từ đó chữ bushi là võ sĩ, bushido là võ sĩ đạo. Như thế Điều 1 nói “quyển sách bên tay trái, thanh gươm bên tay phải”, và văn đi trước võ, để có thể trị nước lâu bền. Các võ sĩ Nhật dần dần trở thành giai cấp cầm quyền có học. Ở Nhật Bản, cầm quyền là việc của giai cấp samurai, cha truyền con nối, không phải việc của các Khổng nho như ở Trung Hoa hay Việt Nam, Triều Tiên. Khổng nho cao lắm chỉ được làm tư vấn với đồng lương thấp. Nhật Bản cũng có xếp hạng “sĩ, nông, công, thương” (shi, nō, kō, shō) dưới ảnh hưởng của Khổng giáo Trung Hoa, nhưng ở đây sĩ không phải là nho sĩ, mà là võ sĩ.

Các daimyō giờ đây phải học văn hóa, các loại khoa học và nghệ thuật quản lý đất nước. Một daimyō có học phải đọc sách hằng ngày. Để phục vụ cho việc học tập của daimyō, và các gia thần, thư viện được thành lập, sách vở được sưu tầm một cách qui mô, và trở thành biểu tượng cho tri thức. Thư viện bao gồm các loại sách về lịch sử Nhật Bản và Trung Hoa, các sách về Khổng giáo, Phật giáo và Thần giáo; sách về nghệ thuật quân sự, chiến lược quân sự, địa lý, thiên văn, kinh tế, toán học, y khoa và vô số sách về văn chương cổ điển. Bản thân tướng quân Ieyasu từng lập thư viện cho mình. Nhật Bản mỗi thời đều có những thư viện nổi tiếng, nhưng vào thời Tokugawa, Nhật Bản có nhiều thư viện nhất chưa bao giờ thấy trước đó.

(còn tiếp)

Nguồn: http://sociallife.vn/

Lương Kim Định và lời cảnh tỉnh “Đạo mất trước, nước mất sau”


Ngô Sĩ Thuyết

Sinh thời Triết gia Lương Kim Định đã không ít lần cảnh báo rằng “Đạo mất trước, Nước mất sau”. Tưởng niệm 100 năm ngày sinh của Kim Định, chúng ta không khỏi rùng mình khi nghĩ về điều này!. Theo ông, Đạo ở đây là Việt Đạo, tức nền đạo lý mà tổ tiên ta đã sáng nghĩ ra và duy trì qua nhiều ngàn năm để kiến quốc và bảo quốc. Đạo đó đã được kết tinh trong nhiều điển chương văn hóa, mà nổi vượt hơn hết là Trống Đồng Đông Sơn. Đó là một lâu đài văn hóa hàm tàng tất cả đạo lý tiên tổ. Muốn cứu Nước, phải cứu Đạo.

Lương Kim Định, người làm những công việc của bậc thánh

Sách Trung dung viết: ”Duy thiên hạ chí thành, vi năng kinh luân thiên hạ chi đại kinh, lập thiên hạ chi đại bản. Tri thiên địa chi hóa dục, phù yên hữu sở ỷ?. Chuân chuân kỳ nhân; uyên uyên kỳ uyên; hạo hạo kỳ thiên. Cẩu bất cố thông minh thánh trí, đạt thiên đức giả, kỳ thục năng tri chi?”. (Chương 32, Trung dung Tân khảo).

Nghĩa là: Chỉ những đấng chí thánh trong thiên hạ mới có thể vì đời mà sang sửa đại kinh; mới có thể xây căn bản cho xã hội quần sinh; mới thấu rõ luật đất trời sinh hóa; những bậc ấy hết cần nương tựa. Đức nhân ngài tuyệt thế. Trí tuệ ngài thâm uyên. Tâm hồn ngài mang nhiên. Nên trừ phi là bậc thông minh thánh trí, trừ những ai đạt mức trời tuyệt mỹ mới có thể là người rõ được khúc nhôi, mới hiểu được thánh nhân – bậc đại trí và hoàn hảo.

Chưa có ai, chưa ở đâu “phong thánh“ cho Lương Kim Định nhưng đứng trước cái tâm, cái tầm và trước những công trình đồ sộ của ông chúng ta phải nghiêng mình kính nể. Hiểu được và nhất là vận dụng, thực hành được tư tưởng và mong ước của ông không dễ bởi đó là những ước vọng, khát khao vô cùng cao đẹp cho một dân tộc một thời từng là “văn hiến chi bang”.

Cả cuộc đời ông rõ ràng là chuyên đi làm cái việc của những bậc thánh trí: sang sửa đại kinh, dựng nền Triết Việt, lập thuyết An Vi cùng với việc xây dựng nền tảng phát triển cho xã hội (là lâu đài văn hoá dân tộc) và đề xướng “hiến chương giáo dục”. Bên cạnh đó, là một triết gia ông còn phát biểu rằng: “Vũ trụ quan Dịch Kinh xoay vần theo những luật tắc bất dịch gọi là “Thiên tắc”. Thiên tắc có nhiều nhưng có thể rút gọn vào ba luật lớn. Ba luật đó là Biến động, Loại tụ và Giá sắc“ (Lạc thư Minh triết). Muôn sự, vạn vật biến động không ngừng nghỉ, nhờ vật chuyển động, nhờ những thay đổi trước sau mà chúng ta thấy được, cảm nhận được thời gian. Sự biến thiên, vận động muôn hình vạn trạng, tưởng như ngẫu nhiên, như vô thường song lại thành những dòng, những loại kiểu “đồng thanh tương ứng, đồng khí lương cầu” hoặc “thủy lưu thấp, hoả tựu táo”: nước chảy về chỗ thấp, lửa đi đến chỗ nóng, hoặc “vân tòng long, phong tòng hổ” Mây theo rồng, gió theo hổ. Đó là luật Loại tụ với những lớp, những lang, những giống, những loài,… được hình thành phát triển. Luật Giá sắc (gieo gặt) được xem là tối quan trọng, là thổ viên giá sắc, được đặt ở trung cung hành thổ. Với một nền văn minh nông nghiệp như Việt Nam thì gieo gặt quan trọng và ý nghĩa biết dường nào. Không chỉ vậy, nếu tiếp tục đi sâu phân tích tới bản thể tận cùng thì dường như gieo gặt là hình thái phát triển của vạn vật, đến nỗi vũ trụ này có thể xem như một cái cây, một sinh thể sống vậy.

Đó là chuyện trời, chuyện đất, về người, không chỉ có “Nhân chủ”, xem con người là chủ nhân, là trung tâm của sự tiến hoá, hầu như các tác phẩm, công trình của Gs Kim Định đều nhằm vào việc cứu cánh con người. Ông đưa ra khẩu hiệu “Người ơi hãy đoàn kết lại”, ông viết: “Vì là nhân chủ nên sẽ không nói “hỡi các công nhân hãy đoàn kết lại”, hoặc “hỡi các người da trắng, hay hỡi các người da vàng, hay hỡi những người nghèo, hỡi những người đang bị đàn áp bóc lột hãy đoàn kết lại”. Mà chỉ nói có một tiếng Người tinh ròng không gì ngoại lai pha vào đó”. Toàn những việc tầm cỡ, lớn lao, to tát và sâu sắc đến như vậy, đó chẳng phải là những việc của những người đã “thấu rõ luật đất trời sinh hoá” mà Trung dung gọi là bậc thánh sao?.

Lời cảnh tỉnh “Đạo mất trước, Nước mất sau”

Có thể kể ra dưới đây một số nguyên nhân chính dẫn đến mất nước (theo nghĩa đen) là:

– Do bị cướp, bởi lũ giặc ngoại xâm;

– Do bị bán, bởi bè lũ tay sai, phản động;

– Do người dân bị dối lừa, lường gạt, bị ru ngủ trong cơn u mê.

Tưởng nhớ Lương Kim Định, không hiểu sao những ngày này trong tôi lại vang lên lời cảnh tỉnh “Đạo mất trước, Nước mất sau”của ông. Đau xót thay, mới đây thôi, chúng ta long trọng kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước (30.4.1975-30.4.2015) thì điều chúng ta không mong muốn nhất lại hiện về không chỉ như một bóng ma, một cơn ác mộng mà lại là một nguy cơ mất nước thật sự. Hoà bình ổn định, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đang bị đe doạ nghiêm trọng, cả bên trong lẫn bên ngoài, cả nạn nội xâm và lũ giặc ngoại xâm.

Nỗi đau “vong quốc”, mất nước với một người luôn đau đáu tình yêu đối với đất nước, dân tộc như Gs Lương Kim Định thì không có gì lạ bởi chính ông cũng không được sống và chết trên Đất Mẹ quê hương. Cả đời hy sinh, cống hiến của ông là để trả lời câu hỏi “Tại sao phải trở về Văn hoá Dân tộc?” các tác phẩm trong công trình đồ sộ của ông đều không rời xa mục đích làm cho người Việt hiểu thế nào là Văn hoá Việt Tộc và tại sao mỗi người phải vận động cho sự lớn mạnh của nền Văn hoá Dân tộc. Ông luôn nhấn mạnh rằng, một đất nước, một dân tộc phải có một Đạo chủ của mình, và lời của ông vẫn văng vẳng đâu đây: “Đạo mất trước, Nước mất sau”. Đây là một lời cảnh tỉnh, một lời tiên tri, hay một tiếng kêu thống thiết của một người yêu nước Việt đến cực đoan, cực độ?. Ông nói rằng:

“Đạo đây là Việt đạo, tức nền đạo lý mà tổ tiên ta đã sáng nghĩ ra và duy trì qua nhiều ngàn năm để kiến quốc và bảo quốc. Đạo đó đã được kết tinh trong nhiều điển chương văn hóa, mà nổi vượt hơn hết là Trống Đồng Đông Sơn. Đó là một lâu đài văn hóa hàm tàng tất cả đạo lý tiên tổ ta”. “Chính chữ Trống mà tổ tiên ta đã dùng để chỉ di vật tàng chứa phần sâu xa nhất về Đạo Việt, cả Không lẫn Có, cả Tiên lẫn Rồng, cả Vô lẫn Hữu. Và quả đã thể hiện tuyệt vời là trên Vô dưới Hữu, trên Tiên dưới Rồng”.

Ông nói: “Văn hoá tạp nham có nhiều tiểu loại, nên ta cũng cần biết văn hoá nước ta hiện nay thuộc loại nào. Muốn nhận diện một nền văn hoá thì có hai tiêu chuẩn khá trung thực:

– Một là xét nội dung chương trình giáo dục.

– Hai là xét việc đánh giá các thành phần xã hội”.

Cứ xem bức tranh giáo dục của chúng ta sau bao lần cải tiến, cải lui, đổi mới ít nhiều rồi lại “đổi mới căn bản và toàn diện” thì sẽ thấy được rằng công cuộc “trồng người” của chúng ta bi đát đến dường nào. Không có Đạo chủ, không nơi bám víu nên trong não trạng của các vị đứng đầu ngành giáo dục (cũng như các ngành khác nữa) luôn chỉ xem/ mong mình như một “tư lệnh” đứng trước một “cuộc chiến” hay “một trận đánh lớn” thì không bao giờ ngành đó, lĩnh vực đó khá lên được. Cái tư duy thời chiến của người đứng đầu, bất chấp pháp luật và đạo lý, tôn sùng sức mạnh tiền bạc, vật chất, sính dùng “binh pháp”, ưa dùng thủ đoạn, miễn là giành chiến thắng thì làm sao có chỗ cho những tư tưởng cao đẹp của một dân tộc ngàn năm văn hiến.

Việc đánh giá các thành phần xã hội (sĩ, nông, công, thương và “quan chức”) chỉ làm cho chúng ta thêm đau xót bởi sự phân hoá, chia rẽ. Quan chức chính quyền thì ảo tưởng là “tầng lớp tinh hoa”, là “đỉnh cao trí tuệ” coi thường dân chúng, đến nỗi cứ mở miệng ra là “dân trí nước ta còn thấp!”, bọn họ hẳn đã quên rằng “ý dân là ý trời”, dân mới là vạn đại, là trí tuệ và là sức mạnh của cả dân tộc, là nâng thuyền cũng là lật thuyền. Dân mới là quý.

An Vi hay Vô Vi

Cố Gs Kim Định đã có nhận định rằng:

“Nhìn lại hậu quả của cảnh đa phương thì như Việt ngày nay đã mất nước. Rõ ràng đã mất nước chính bởi mất đạo, “Đạo mất trước, Nước mất sau”. Cũng phải nói như thế về Tàu và cả Tây Âu nữa. Tàu tuy không mất đất đai, nhưng bị hướng dẫn do triết ngoại lai thì còn tệ hơn xưa khi Mãn Châu bắt Tàu để đuôi sam. Nước Tàu lớn là thế mà có cái đầu không giữ được: hết Mãn bắt để đuôi sam thì đến Các Mác bắt phải đội đất (duy vật). Hậu quả là người dân Trung Quốc bị mất hết tự do, không được suy tư như tiên tổ. Như vậy có nước cũng kể như mất nước.

Tây Âu cũng vậy, tuy đất nước không mất, nhưng chỉ còn đó như một thực thể kinh tế, chính trị, chứ thiếu đạo lý để làm thành: “quê hương tinh thần”.

Nỗi đau “mất nước” của triết gia mới sâu sắc và thâm thuý làm sao, thiếu đạo lý thì bất cứ quốc gia nào cũng không thể được gọi là quê hương tinh thần trọn vẹn. Tuy là một Linh mục công giáo nhưng Cố Gs Lương Kim Định và các học trò của ông lại chủ trương phục hoạt Việt đạo, tức nền đạo lý mà tổ tiên ta đã “sáng nghĩ” ra và duy trì qua nhiều ngàn năm xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Việt đạo đó còn gọi là thuyết An Vi hoặc Triết lý An Vi hiện có các chi nhánh trong cộng đồng người Việt hải ngoại tại Anh quốc, Hoa Kỳ, Úc và một số nước khác.

Triết lý An Vi, đưa ra nhận thức dung hòa giữa Hữu Vi và Vô Vi. Chấp nhận hữu thể giới hạn, chấp nhận phần vật thể, An Vi tìm cách thực hiện một đời sống thích hợp với yêu cầu thực tế của con người, và tìm về chiều hướng Tâm linh, để con người có đường về Bản Ngã Siêu Nhiên qua đường lối Quy Tâm. An Vi muốn thoát khỏi, muốn vượt qua chủ nghĩa duy vật trần trụi cực đoan của Hữu Vi nhưng cũng không muốn rơi vào cái quá lý tưởng, hoàn thiện, khó thực hiện được của Vô Vi. Tư tưởng “Tham thiên, lưỡng địa” với 3 dương 2 âm thể hiện rất rõ trong thuyết An Vi.

Dù đã từng đề xuất hẳn một “Đạo trường chung cho Đông Á”, song chúng tôi hiểu rằng Cố Gs Kim Định và các học trò chọn An Vi để không rơi vào cái mênh mông, trừu tượng của Vô Vi, có lẽ cũng bởi vì ông chỉ hy vọng và cũng chỉ mong rằng với gia tài đồ sộ và độc đáo của Việt tộc, chúng ta sẽ cứu được Việt đạo (đã mất), hòng cứu lấy Việt quốc trước hết.

Thế nhưng, thiên, địa, nhân và đạo là hợp nhất, là Một, thì hà cớ gì chúng ta phải “kính nhi viễn chi” Vô vi ? Bản thân An vi cũng chẳng chủ trương thực thi “Cái khéo léo, khéo nghĩ là phải nghĩ sao cho có cả Trời lẫn Đất, cả Có lẫn Không như trong Đạo Trống” là gì. Chúng tôi tin rằng, trong sâu thẳm tâm hồn, Gs Kim Định vẫn mong mỏi về một Đạo trường chung không chỉ cho Đông Á mà cho cả thế giới, bởi thế ông mới kêu gọi “Người ơi hãy đoàn kết lại” hoặc cho rằng cả Tàu lẫn Tây đều rơi vào cảnh “vô đạo” như đã dẫn ở trên.

Để tiếp tục con đường tìm Đạo, cứu Đạo nhằm “cứu Nước”, chúng ta hãy thử tìm tòi, suy tư để có thể hiểu rõ hơn về Vô vi – Đạo Vô vi. Bởi có lẽ trong bối cảnh mới của thế giới, nhân loại bước vào kỷ nguyên tri thức, của máy tính và Internet, thế giới trở nên “phẳng hơn” và thay đổi nhanh hơn thì một An vi đậm chất Việt tộc có lẽ chưa là đủ.

Chúng ta biết rằng, Vô vi được xem là tư tưởng của Lão Tử và những người chịu ảnh hưởng của Đạo Lão. Đạo Đức kinh có 10 trong tổng số 81 chương có mặt chữ Vô Vi (無 為), nhiều chương khác cũng thấp thoáng ẩn hiện hồn cốt của Vô vi. Vậy Vô vi là gì?. Các học giả bình giải Đạo Đức kinh thường cho rằng Vô vi là sống thuận theo tự nhiên. Liệt tử cho rằng: “Lời nói cao siêu nhất là sự thầm lặng, việc làm cao siêu nhất là vô vi”.

Trang tử cho rằng: “Vô vi là đường lối của trời đất”, “Vô vi là công việc của Trời,“Tịch mịch vô vi là căn bản của vạn vật” , “Vô vi để trở về với bản căn, bản tính, để thành thần”, (Nam Hoa kinh). Chương 37 Đạo Đức kinh cũng cho rằng Vô vi là hoạt động của Đạo. Tóm lại, ta có thể nói rằng theo đạo Lão thì: Ở cõi hữu vi là cõi Người; lên cõi vô vi là lên cõi Trời.

Trở lại, câu hỏi Đạo là gì?. Lão tử viết “Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh. Vô danh thiên địa chi thuỷ. Hữu danh vạn vật chi mẫu” (Đạo mà có thể gọi ra được thì không phải là Đạo thường hằng cửu. Tên mà có thể gọi lên được, không còn là tên thường hằng cửu. Không tên là gốc của trời đất, có tên là mẹ của muôn vật, Chương 1, DDK). Nhưng nếu chỉ có vậy thì thật khó, do đó, ở chương 25, DDK, Lão tử viết về Đại Đạo như sau:

“Có một Đấng an nhiên tự hữu,

Trước đất trời, vĩnh cửu tự thành.

Tịch liêu, vắng ngắt, vắng tanh,

Một mình mình biết, một mình mình hay.

Muôn vàn chẳng chút đổi thay,

Đó đây quanh quất, đó đây chẳng chồn,

Sinh muôn vật, mẹ muôn thiên hạ.

Tính danh người ta há biết sao,

Tên Ngài phải gọi thế nào,

Gọi liều là Đạo, xưng ào là To”.

Trong cuốn sách nổi tiếng “Hành trình về phương Đông” của Baird T. Spalding, có kể về việc người ta tìm ra được những tấm tài liệu cổ vô cùng quý giá, một trong những tấm đó viết rằng:

“Có một Tinh thần toàn trí sáng suốt, rằng trí tuệ này là Thiêng liêng và vô tận, thấm nhuần vào tất cả mọi thứ, không thể phủ nhận được. Bởi vì trí tuệ này thấm nhuần tất cả mọi thứ nên nó vô tận và là nguồn gốc của tất cả. Nó Thiêng liêng và sự Thiêng liêng của nó đã tạo ra thể xác có thể suy nghĩ hay thể xác hữu hình, tạo ra thực tế hay chân lý của tất cả mọi thứ.

Các bạn có thể đặt tên cho Tinh thần toàn trí, thông thái này là Thượng Đế hay sự tốt lành hoặc bất cứ cái tên nào các bạn muốn, vì con người phải đặt tên cho mọi thứ. Khi con người đặt tên cho một thứ nào đó, anh ta có quyền cho nó tồn tại. Nếu con người đặt tên cho bất cứ thứ gì thông qua sự tôn kính, tôn thờ và tán dương thực sự, họ có thể và đã trở thành thứ mà họ đặt tên.

… Trí tuệ này luôn là nơi lĩnh hội và chỉ huy kế hoạch lý tưởng thiêng liêng hoàn hảo của nó”.

Những trang tài liệu được chế tác tinh xảo trên những tấm đá quý giát vàng, được giữ gìn, bảo quản, bị thất lạc và được tìm thấy một cách đầy bí ẩn, hiện lưu trữ trong cung điện của Đức Lạt Ma vĩ đại tại Shamballa (Tây Tạng) được chứng minh là những bản sao của những ghi chép từ xa xưa, được tạo ra để bảo vệ những tấm tài liệu gốc.

Có một sự trùng hợp kỳ lạ về “Đấng an nhiên tự hữu” của Lão Tử và “Tinh thần toàn trí sáng suốt” được ghi tạc trong các tấm tài liệu nói trên, cho dù cả hai xuất hiện ở những thời gian và địa điểm hoàn toàn khác nhau, cả hai đều thể hiện rằng Thiên địa vạn vật đồng nhất thể và đó cũng là quan điểm chủ đạo của thuyết Phiếm Thần. Phiếm Thần coi Thượng Đế là chính vũ trụ này, hay nói đúng hơn, Thượng Đế là Đại Ngã, là Chân Tâm vũ trụ. Phiếm Thần không bao giờ coi Thượng Đế là vũ trụ hình danh, sắc tướng bên ngoài mà chỉ coi Ngài là Chân tâm vũ trụ. Tại sao?. Vì Vũ trụ hình danh sắc tướng bên ngoài là cái gì biến thiên, còn Chân tâm mới là cái gì vĩnh cửu, bất biến. Phiếm thần dạy chúng ta muốn tìm Thượng Đế phải tìm Ngài trong thâm tâm ta, vì Ngài chính là Bản Thể ta. Chúng ta là hình hiện của Ngài.

Và giờ đây, đến thời đại của máy tính và Internet, với tư duy “lập trình”, chúng ta có thể hình dung, tưởng tượng rằng Tinh thần toàn trí sáng suốt chính là “Chương trình Tạo hoá”, là Đạo, Thiên Đạo. Khái niệm “Chương trình” được hiểu như là một phần mềm tin học (software), một khái niệm không xa lạ gì trong thời đại Công nghệ Thông tin ngày nay. Đạo rõ ràng phải có tính xuyên suốt, nhất quán từ thuở khai thiên lập địa tới nay, và phải là nguyên lý đúng đắn nhất cho dù ở bất kỳ đâu, ở thời điểm nào trong vũ trụ này. Chúng tôi tin rằng, chỉ có thể hình dung về Ông Trời, Thượng Đế như là Nhà Lập trình vĩ đại nhất, là tác giả của Chương trình Tạo hoá – Chương trình tạo dựng vũ trụ đã và đang “chạy” ổn định, bền bỉ một cách “Vô vi” hàng chục tỉ năm qua mới có thể giải thích về một vũ trụ biết tự sinh, tự phát triển, biết tự điều chỉnh để tồn tại.

Cái mà Lão Tử gọi là Đạo chính là Chương trình Tạo hoá – cái có trước đất trời, cái được thiết kế, lập trình , “thử nghiệm” để hoàn thiện ở một thời điểm nào đó trước Bigbang và ở đâu đó trong một thế giới khác, trước vũ trụ của chúng ta. “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa cứ tiếp nối, vạn vật cứ sinh hoá. Trời có nói gì đâu?” (lời Khổng Tử), là hình ảnh của Vô vi. Khi Chương trình Tạo hoá “chạy” thì mọi thứ cứ thế mà vận hành một cách tự động thì cần chi phải nói, phải hét. Vô vi mà Lão Tử nói đến chính là việc không được tuỳ tiện can thiệp một cách thô bạo, bị động vào các tiến trình diễn ra, vào Chương trình Tạo hoá cho dù người đó có quyền năng tối thượng. Cũng bởi Vô vi là nguyên tắc tối thượng nên nhiều khi chúng sinh oán thán, trách móc Trời còn nhiều hơn việc xướng danh, ca tụng Ngài!.

Hiểu rõ được Vô Vi chúng ta có thể ứng dụng rất nhiều vào cuộc sống hiện tại. Chẳng hạn, với các nước phát triển ở Tây Âu hay Mỹ Châu, tinh thần thượng tôn pháp luật và thực thi nền quản trị quốc gia một cách văn minh, hiện đại, được tin học hoá, tự động hoá đã tạo ra sự phồn vinh, giàu có vượt bậc. Hình ảnh chung của một đất nước giàu có, văn minh là mọi thứ đều minh bạch, rõ ràng, thông tin số liệu chính xác, đầy đủ,…. giống như cả xã hội đều được vận hành trong một hệ thống chương trình máy tính vậy!. Dĩ nhiên, với đà phát triển đó, việc các nước giàu càng giàu, đã văn minh càng văn minh, đã dân chủ càng dân chủ hơn là điều dễ hiểu.

Hiểu rõ được Vô vi chúng ta có thể có được vị thế mà người Tàu đã từng đạt được, bởi chính Lão tử là tác giả của Đạo Vô vi và các nhà tư tưởng của Trung Hoa nhiều thời kỳ đã hết lòng muốn Đạo này được thực thi nhưng bất thành. Thật may, trước khi đi ở ẩn, Lão Tử đã gặp Huyện lệnh Doãn Hỷ ở Hàm Cốc quan, Ngài lưu lại đây, viết cuốn Đạo Đức Kinh và để lại cho hậu thế, xong, Lão Tử cưỡi trâu đi biệt tích. Có lẽ, Đạo, từ đó đã theo Ngài về … phương Nam, bởi vậy mà người phương Bắc bao đời sau vẫn đau đáu hướng về Nam nuối tiếc, mong ngóng, bái vọng Lão Tử và Đạo Vô vi của ông.

Triết gia Kim Định khẳng định người Tàu cũng bị mất Đạo là vì vậy; họ đã từng có rồi đánh mất. Tìm lại được Đạo cho người Tàu sẽ là bậc “chí thánh” với “thanh danh dương dật hồ Trung Quốc, thi cập Man Mạch” – Ai tìm lại được Đạo cho người Tàu thì “Thanh danh Ngài vang lừng Trung Quốc, vượt biên cương lan tới các nước ngoài” (Trung dung tân khảo, ch.31).

Đạt được Đạo Vô vi, hiểu rõ được sự thành công cũng như sự bất toàn của phương Tây; giúp người Tàu lấy lại được báu vật đã mất, chắc hẳn Việt Nam chúng ta xứng đáng được hưởng một vị thế hết sức là sang cả và ơn ích cho nhân loại. Giúp người cũng chính là giúp ta, Đạo là của chung của nhân loại, đã là Thiên Đạo thì không của riêng ai, Đạo cần thiết cho mọi người. Cứu được Đạo sẽ cứu được Nước, thành công được thì cũng là Ý Trời muốn vậy. Mọi sự có lẽ đều đã được “lập” trong “Chương trình Tạo hoá” rồi. Chuyện mất còn của Đạo, của Nước có lẽ là việc của … Ông Trời và chúng ta, trong khi hy vọng và chờ đợi hãy hiểu và tin rằng “Duy thiên hạ chí thánh; Duy thiên hạ chí thành…”./.

Nguồn: http://www.chungta.com/

Về đọc sách


Có phải cứ đọc nhiều sách là tốt không? Một quốc gia cứ có nhiều sách xuất bản tất sẽ thịnh vượng không?

Sách thực sự là một vật mang tri thức có tác động đa chiều. Nhờ nó con người có thể phổ biến và truyền đi tri thức của mình đến rất nhiều người, việc tiếp nhận những tri thức này đã làm cho xã hội ngày một phát triển hơn. Nhưng sách cũng sẽ trở thành “hiểm họa” khi mà việc tiếp nhận nó không đúng cách, nó không những không tạo ra những nền tảng cho sự phát triển thịnh vượng bền vững mà có khi lại trở thành nguồn gốc gây nên những “bệnh hoạn về mặt tinh thần” làm rối loạn xã hội, làm cản trở sự tiến bộ của xã hội. Vấn đề về tính hai mặt của sách xuất phát từ tính chủ quan hay cái có thể gọi là “tri thức cá nhân” của những tác giả. Bản thân tác giả của các cuốn sách khi viết những cuốn sách đó đã áp đặt những quan điểm chủ quan, từ góc nhìn hạn hẹp của mình về thế giới hiện thực, thông qua lăng kính nhận thức và sự phát triển tư duy của mình hình thành nên những tri thức mới. Người đọc cũng góp phần tiếp theo làm khúc xạ hơn nữa thế giới hiện thực khi tiếp nhận những tri thức đó thông qua lăng kính nhận thức của mình. Nếu lăng kính của tác giả và lăng kính của người đọc hạn chế tối đa được sự khúc xạ, làm méo ít nhất có thể bản chất thực của thế giới hiện thực, sự đồng điệu giữa hai cái nhìn – của tác giả và người đọc – thì chúng ta càng có cơ hội tiệm cận hơn đến bản chất thực của thế giới hiện thực, ngược lại, nó đẩy chúng ta ra xa khỏi cái bản chất thực này.

Tiếp đến, con người luôn là một chủ thể hướng đích. Một cách có ý thức hay vô thức, quá trình tiếp nhận và xử lý tri thức của con người luôn là một quá trình hướng đích. Mục đích có thể là rõ ràng hay không rõ ràng, nhưng cả tác giả và người đọc khi viết ra hay tiếp nhận tri thức đó đều hướng đến một mục đích nào đó. Cái mục đích vô tình hay hữu ý đó, rõ ràng hay không rõ ràng nó, như một khuynh hướng tự nhiên điều hướng dòng suy nghĩ của chúng ta, áp đặt lên đó sự chủ quan trong nhận thức, những định kiến, thiên kiến và nó khiến cho cách chúng ta diễn giải về ngữ nghĩa của thông điệp rất khác nhau. Bối cảnh, thời điểm, vị trí của người đọc, vai trò của người đọc trong một cấu trúc xã hội cũng tạo nên những hoàn cảnh mang tính điều kiện khiến người đọc có những cách hiểu khác nhau, cùng một người, cùng một nội dung, nhưng trong những hoàn cảnh điều kiện khác nhau. Tri thức khi được tiếp nhận trở thành một thứ tài sản mới của người đọc, tính “sở hữu” là một thuộc tính mới của những tri thức này và nó được cá nhân hóa bởi mỗi người đọc/tiếp nhận. Không có thứ tri thức phổ quát giống nhau ở tất cả mỗi người đọc, mặc dù về mặt hình thức, chúng đều được thể hiện một nội dung dưới một “hình ảnh ngôn ngữ” cụ thể nào đó giống nhau. Bởi, mỗi con người đều khác nhau về những hoàn cảnh điều kiện. Điều đó tạo ra sự giao thoa của những vùng tri thức tương đồng được mỗi cá nhân “sở hữu” được hiểu “giống nhau”.

Vai trò của giáo dục có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc gia tăng vùng giao thoa này ngày một rộng hơn. Người ta có thể bàn rất nhiều về những vai trò và ý nghĩa của giáo dục, nhưng theo quan điểm cá nhân của tôi, giáo dục có một vai trò duy nhất đó là giúp con người có thể “hiểu nhau” để có thể “giao tiếp hiệu quả” với nhau. Tức là nó giúp con người có thể hiểu “giống nhau” ở một tỷ lệ nhiều nhất có thể một nội dung thông điệp nào đó. Giáo dục, hiểu theo ý nghĩa này tạo nên “tính thanh khoản” cho tri thức, làm cho nó trở nên có thể phổ biến được và từ đó tạo ra giá trị của tri thức, khi nó được hiểu để được “sử dụng” một cách hiệu quả.

Trở lại vấn đề đọc sách, nếu như nền tảng căn bản của một người chưa đủ năng lực để tiếp nhận, tức là sự mơ hồ về mục đích đọc sách và năng lực để có sự “hiểu đúng” giữa thông điệp mà tác giả muốn truyền đạt và người đọc có thể hiểu được đúng là như vậy ở mức độ tỷ lệ cao nhất thì việc đọc sách trở thành một vấn đề rủi ro rất lớn đối với người đọc. Nó tạo ra một sự ngộ nhận, ảo giác về những tri thức được tiếp nhận, nó làm cho người đọc bị “say” tri thức, vừa không thực sự hiểu được giá trị thực của nội dung tri thức ấy, vừa không thể áp dụng một cách hiệu quả tri thức ấy, nhưng những cơn say này lại tạo ra một cái “tôi” có tính cách tiêu cực. Cái tôi của “sự biết nửa vời”, tưởng là biết rất nhiều, nhưng thực sự lại chẳng biết là bao. Và đây chính là cái mầm mống tạo nên cái tôi gọi là những “bệnh hoạn về mặt tinh thần”. Sách vô tình, thay vì tạo nên những con người có khả năng tri nhận xã hội đúng bản chất của xã hội, tiệm cận gần nhất bản chất thực của xã hội để cải tạo và biến đổi xã hội theo chiều hướng tích cực, thì lại tạo nên những con người thao thao bất tuyệt về những điều xa vời, sáo rỗng về mặt thực tế nhưng lại đầy khoa trương về ngôn từ, với những trích dẫn từ hết quyển sách này đến quyển sách nọ. Với họ, thế giới như tất cả đã “nằm trong đầu”, họ như “đã thấu hiểu” hết tất cả.

Chúng ta, đến đây có thể nhận thức một cách rõ ràng rằng, việc đọc sách và theo đó là việc xuát bản sách không phải là một việc cứ làm càng nhiều càng tốt. Việc căn bản đầu tiên cần thiết là phải xác định “năng lực nền tảng” đối với cả từ từng cá nhân, cả ở cấp độ quốc gia, để rồi từ đó xác định, trước hết là mục đích của việc đọc sách. Việc đọc sách sẽ trở thành vô nghĩa khi ta mơ hồ về mục tiêu, nó càng trở thành vấn đề khủng hoảng hơn nếu xem xét trong bối cảnh bùng nổ xuất bản hiện nay trên thế giới, khi sách và tri thức được tạo ra mỗi ngày một lớn hơn theo cấp số nhân. Việc đọc khi mơ hồ về mục đích và theo đó là mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn sẽ khiến cho tri thức ta tiếp nhận trở nên manh múm, vừa thừa vừa thiếu và càng đọc càng mù mờ, càng chẳng thực sự biết gì. Ở cấp độ quốc gia cũng vậy, việc không xác định các mục tiêu xuất bản sẽ khiến việc xuất bản hết sức lộn xộn, cái cần thì không xuất bản, cái không cần xuất bản thì tràn lan. Thực trạng xuất bản hiện nay ở Việt Nam là một minh chứng hùng hồn cho vấn đề này. Việc xuất bản sách tại Việt Nam nếu không xác định một cách căn bản thì càng xuất bản nhiều chỉ càng làm cho việc phổ biến tri thức thêm loạn xạ. Chúng ta thực sự thiếu một chiến lược trong việc xuất bản. Chúng ta lao vào việc xuất bản những sách kinh điển chẳng hạn, trong khi tất cả những sách nhập môn, những sách dẫn nhập, tham khảo về chủ đề đó lại hoàn toàn thiếu vắng, thì việc xuất bản sách kinh điển đó hoàn toàn trở nên vô nghĩa. Làm sao có thể hiểu được thực sự những thứ “cao vời vợi đó” khi không xếp những bậc thang để bước tới đó? Hay trong nhiều lĩnh vực, việc xuất bản bị lủng lỗ, bởi việc đọc sách này phải tham chiếu được một số sách nhất định thì việc sử dụng mới hiệu quả, nhưng những sách đó lại không được xuất bản cùng.

Đọc sách, xuất bản sách chỉ thực sự trở nên có giá trị, tức là tạo ra “tính thanh khoản” cho tri thức đó khi tri thức do sách mang lại phải có “giá trị trao đổi” hay điều đó chỉ thực sự xảy ra và được đẩy mạnh khi tri thức có “giá trị sử dụng” thực sự. Việc này thì phụ thuộc vào công tác giáo dục. Khi sự giáo dục hướng dẫn con người ta tới việc sử dụng sách như một công cụ để tìm kiếm tri thức, dạy cho con người ta biết cách khai thác tri thức một cách hiệu quả bằng công cụ “sách”, truyền đạt hiệu quả khả năng “giao tiếp” để con người ta có thể hiểu và tiếp thụ ở được ở tỷ lệ giao thoa “cái hiểu phổ quát” cao nhất của những tri thức này, khi đó giá trị tri thức từ sách và bản thân sách mới có giá trị. Sẽ lại là một bài ca muôn thuở nếu ta đặt vấn đề “giáo dục” đó cho một ai đó ngoài bản thân ta, như một đòi hỏi rằng “một ai đó” phải chịu trách nhiệm về điều này. Nhưng đó là một suy nghĩ sai lầm.

Mỗi người đều có thể tự tạo ra một cuôc cách mạng về giáo dục và theo đó là một cuộc cach mạng về việc biến “sách” trở thành một “vũ khí hiệu dụng” cho sự phát triển thịnh vượng của cá nhân, nếu chúng ta thực sự biết đặt ra cho mình mục đích và tự rèn luyện cho mình cho mình thông qua việc đọc sách từng bước để đạt mục đích đó. Đó chính là tự rèn luyện năng lực tự học và học tập suốt đời. Có thể là khó với rất rất nhiều người, nhưng dù là ít, dù là đơn giản hãy bắt đầu chỉ bằng một ít mỗi ngày, bằng những thứ đơn giản nhất. Ví dụ như ta thích một cái gì đó, hãy đọc sách để hiểu rõ hơn về nó. Bóng đá chẳng hạn, hãy đọc sách về bóng đá để tìm hiểu về những lối chơi, về những cách thức tổ chức các giải đấu bóng lớn… Chỉ có điều hãy đọc nó để tự làm cho mình “phát triển” về mặt tri thức để rồi qua đó giúp cho mình trưởng thành một bước, chứ đừng đọc để sinh ra những “bệnh hoạn về mặt tinh thần” bằng việc đọc để “chém gió” lung tung và ảo tưởng về “năng lực”.

Hàng ngày trên Facebook có thể thấy rõ sự “bệnh hoạn về mặt tinh thần” đang trở thành một căn bệnh không thể phủ nhận của xã hội Việt Nam hiện nay. Chúng ta ào ạt bàn tán, phê phán, tranh luận… về tất cả mọi vấn đề từ trên trời xuống tới đất, từ ở cái ngõ xóm nhà ta đến những chuyện của Obama hay Tập Cận Bình, Putin ở những nơi xa lắc xa lơ, về nền hòa bình của thế giới… nhưng lại hầu như chẳng thực sự chịu tìm hiểu kỹ càng về các vấn đề đó. Giá như để có thể tranh luận một cách hiệu quả, để thực sự biết về những vấn đề đó nghiêm túc, chúng ta “đọc sách” thì tôi tin xã hội Việt Nam sẽ tiến bộ không ngừng với tính tích cực về chính trị và xã hội này. Việc xuất bản sách ở Việt Nam và theo đó là việc đọc sách sẽ không còn là một vấn đề phải “hô hào” nữa. Tất cả sẽ cùng tiến đến thịnh vượng nhờ sách được xuất bản nhiều hơn, người viết có cơ hội tìm thấy bạn đọc, bạn đọc có thể tìm được những gì mình muốn hiểu nhờ sự phong phú của sách.

T.Giang – SCDRC

Xã hội Việt Nam có những khát vọng cấp tiến ghê gớm


70 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – bản tuyên ngôn đầu tiên về nhân quyền của VN, đất nước đã có những bước phát triển đặc biệt trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Và theo nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Bạt: Muốn có nhà nước pháp quyền, phải xây dựng được văn hóa pháp quyền.

* Năm nay chúng ta kỷ niệm 70 năm ngày Quốc khánh và thời điểm này cũng đánh dấu 30 năm đất nước đổi mới. Ông nghĩ thế nào về ý kiến cho rằng nếu như chúng ta có những cải cách, đột phá trong xây dựng nền dân chủ (pháp quyền XHCN) một cách thực chất hơn thì đây là sẽ yếu tố quan trọng thúc đẩy nguồn nội lực của dân tộc được phát huy tốt nhất cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước?

– Tôi không đồng ý với cách đặt vấn đề nếu cởi mở hơn, nếu tự do hơn, nếu cải cách nhiều hơn thì sẽ có một xã hội tốt hơn hoặc có một năng lực phát triển lớn hơn. Tôi hoàn toàn không nghĩ như thế. Về chuyện này tôi có trao đổi với nhà báo, nhà nghiên cứu, tiến sĩ Nguyễn Phương Mai hiện là giảng viên Trường đại học Amsterdam (Hà Lan). Chị ấy có nói với chúng tôi về câu chuyện các cuộc cách mạng ở Trung Đông, nó không nhung lụa giống như một loạt các tuyên truyền. Đã có thời kỳ một số trí thức của chúng ta nói đến việc chúng ta không dũng cảm bằng người Myanmar, vì Myanmar trong vài ba năm là họ dân chủ hóa được xã hội ngay, nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra rằng thực tế không phải như thế.

Cho nên trong tất cả các quá trình cải cách thì sự lựa chọn giữa cấp tiến và ổn định là sự lựa chọn vô cùng quan trọng. Cấp tiến nghe thì sướng, nhưng sức chịu đựng cần phải bỏ ra vô cùng lớn. Bởi hầu hết các khái niệm hiện nay đều không có chuẩn mực. Chúng ta cứ tưởng rằng độc lập – tự do – hạnh phúc là những khái niệm đã được chuẩn hóa, đã là những phổ quát. Có những lúc tôi cũng đã từng nghĩ như vậy. Nhưng cho đến bây giờ tôi thấy rằng không phải thế, mọi khái niệm đều có tính đặc thù liên quan đến các điều kiện kinh tế chính trị và xã hội của từng quốc gia một.

Mọi cuộc cải cách bây giờ không đơn thuần là cuộc cải cách của các yếu tố trong nước với nhau, mà tất cả các yếu tố đều được quốc tế hóa vì chúng ta đã hội nhập rồi.

* Ông nhìn nhận thế nào về quá trình xây dựng pháp luật trong thời gian gần đây, đặc biệt sau khi có Hiến pháp mới?

– Tôi nghĩ xã hội VN có những khát vọng cấp tiến ghê gớm, những đòi hỏi mạnh bạo nhất được thể hiện đặc biệt trong thời kỳ sửa đổi Hiến pháp. Tại một buổi thảo luận về sửa đổi Hiến pháp của Hội Luật gia, tôi có phát biểu rằng có lẽ những người cộng sản đang tính đến chuyện cải cách theo hướng dân chủ hóa, và họ có thể yên tâm làm nếu giới trí thức VN có một thái độ hợp lý. Còn nếu nhân dịp này chúng ta đòi những điều lớn hơn sức chịu đựng của họ thì họ sẽ co lại. Một dân tộc trưởng thành là một dân tộc ý thức được sức chịu đựng của mình. Một dân tộc đòi hỏi những điều kiện lớn hơn sức chịu đựng của mình là một dân tộc chưa trưởng thành. Giới trí thức đòi hỏi những điều lớn hơn sức chịu đựng của cả xã hội là giới trí thức chưa trưởng thành. Hiện tượng chưa trưởng thành của xã hội hoặc của giới trí thức người ta gọi là trạng thái vị thành niên (tôi dùng chữ của Kant).

Tôi sợ rằng trạng thái vị thành niên về chính trị của một số lực lượng xã hội đã ngăn cản các quá trình cải cách. Những người cầm quyền là người ta phải cân đong đo đếm từng tí một tất cả các nguyện vọng. Nhiều người kêu ca rằng so với Thái Lan chúng ta chậm quá, nhưng bây giờ nhìn Thái Lan chúng ta hiểu rằng sự cẩn thận của người Việt đã làm chúng ta tránh được những rắc rối mà người Thái đang vấp phải.

* Vậy để xây dựng được nhà nước pháp quyền đúng nghĩa, phải bắt đầu từ việc gỡ nút thắt nào, thưa ông?

– Bắt đầu từ kiên nhẫn. Dân tộc chúng ta cần phải có kinh nghiệm về pháp quyền, cần phải có văn hóa pháp quyền, cần phải nhận thức pháp luật là một cách thức để điều chỉnh xã hội, để quản trị xã hội. Chúng ta có hai cách, bảo nhau là đức trị, còn ràng buộc nhau bằng pháp luật là pháp trị. Với văn hóa hiện nay của người Việt, chúng ta không lấy vợ bằng hợp đồng được.

Tôi nhớ trong tiểu thuyết Đời tỷ phú của Piere Rey có nói đến nhân vật tỷ phú Hy Lạp Onassis. Khi Onassis kết hôn của với một cựu phu nhân nổi tiếng, ông ấy có một hợp đồng hôn nhân, trong đó có điều khoản là bà ấy không được đẻ bất kỳ người thừa kế nào đối với tài sản của ông ấy.

Chúng ta không thể làm vậy, chúng ta gọi những hợp đồng là thứ sống sượng. Người VN có chấp nhận lấy nhau bằng sự sống sượng như thế không và bao giờ người VN vượt qua cái ranh giới của sự sống sượng ấy để thừa nhận pháp luật có quyền trong đời sống cá nhân. Chúng ta cãi nhau với nhà nước và tưởng rằng quan hệ giữa người dân với nhà nước là tất cả 100% nội dung pháp quyền, không phải như vậy. Pháp quyền có trong tất cả các mối quan hệ giữa người dân với nhà nước, giữa nhà nước và nhà nước và giữa người dân với nhau.

* Theo ông, nhà nước nên đóng vai trò như thế nào trong quá trình xây dựng văn hóa pháp quyền đó? Hay cứ để mặc xã hội tự hình thành nên văn hóa pháp quyền khi đến một mức phát triển nào đó?

– Bao giờ nhà nước cũng phải hướng dẫn, nhà nước sinh ra để hướng dẫn. Ví dụ trong quá trình thảo luận xây dựng luật pháp, các thông tin từ các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội, các quan điểm tranh luận, cọ xát với nhau và được báo chí đưa ra ngoài. Đó chính là một cách xây dựng thói quen văn hóa về sử dụng pháp luật. Tôi nghĩ nó có nhiều cách khác nữa mặc dù chúng ta không nói ra nhưng tôi hiểu là chúng ta đã làm rất nhiều cách và tôi hoan nghênh tất cả những cách thức làm không nói ra ấy. Đấy chính là cách thức để biến pháp luật thành văn hóa. Bộ luật nào không biến thành văn hóa được thì nó không có năng lực điều chỉnh xã hội, tức là pháp quyền không có ý nghĩa trên thực tế. Pháp quyền chỉ có ý nghĩa trên thực tế khi nó có năng lực biến thành văn hóa.

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/