Giá trị bản thân – Phần III


Ý nghĩa của “vốn xã hội”, “mạng xã hội” chính là ở chỗ đó, lấy cá nhân con người, và thậm chí là của cả xã hội là đơn vị của “mạng”, “vốn” đó. Coi trọng giá trị bản thân bao hàm cả trách nhiệm với chính mình, cũng như với cộng đồng, xã hội. Có trách  nhiệm với bản thân, rồi trách nhiệm với gia đình thì mới có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, quốc gia, dân tộc… Đó chính là biểu hiện của nhân cách, trách nhiệm xã hội càng cao, nhân cách càng lớn. Coi trọng con người (và kéo theo là chú ý phát triển giáo dục) là một tiêu chí hết sức tiêu biểu của xã hội trong lịch sử loài người: giáo dục con trẻ có tinh thần coi trọng giá trị chính bản thân mình, dạy trẻ biết tự yêu bản thân, từ vị kỷ đến vị tha, cũng có lý luận giáo dục từ vị tha đến vị kỷ, hay trung dung đồng thời chú ý cả hai, nhưng tựu trung lại, phải biết coi trọng bản thân rồi từ đó coi trọng người khác, hoặc coi trọng người khác và coi trọng bản thân… Muốn vậy, một điều kiện có ý nghĩa quyết định là phải tạo lập được giá trị bản thân – đây là cơ sở để sống và phát triển bền vững con người. Tạo lập giá trị bản thân không phải chỉ là mong muốn hay quyết tâm suông, mà phải bằng hành động, hoạt động để đạt được kết quả cụ thể. Có giá trị bản thân mới có “chính mình”, mới có cái gì để thể hiện hay tự khẳng định mình. Coi trọng giá trị bản thân là lập trường để hình thành và phát triển giá trị bản thân.

2/ Hình thành và phát triển giá trị bản thân

Muốn có ý thức tôn trọng giá trị bản thân – điểm xuất phát của tự ý thức, không đơn thuần là làm cho trẻ có ý thức đó thuần tuýt rên bình diện tinh thần, mà điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là tạo nên cái gì để tự tôn trọng và được người khác tôn trọng. Đó chính là “giá trị bản thân” mà mỗi người phải hình thành cho được. Giá trị bản thân là bản sắc của từng người, là cơ sở để con người có cuộc sống độc lập, là “giá trị sống” của mỗi người. “Giá trị sống” thể hiện kỹ năng sống trong hành vi, hành động, hoạt động. Các nhà triết học kinh điển, như Hegel, K. Marx… đã chỉ ra, và các nhà tâm lý học hoạt động như Vư-gốt-xki, A.N. Leonchi-ép đã chứng minh rằng “hoạt động là bản thể của tâm lý”: thế giới tâm lý, tinh thần được hình thành bằng và trong hoạt động và giao tiếp của bản thân. Cả thuyết hiện sinh, tâm lý học nhân văn cũng khẳng định như vậy: mỗi người tự tạo ra “bản tính thứ hai” – bản thân mình, giá trị bản thân, giá trị sống, và ai hình thành được giá trị bản thân thì người đó mới có “con người riêng” của mình. Theo tinh thần đó, ở tuổi trưởng thành thì “lao động là giá trị gốc” tạo nên mọi giá trị của chính mình. Nói cụ thể, với trẻ mầm non, tiểu học và trung học, đó là hoạt động vui chơi, hoạt động học tập kết hợp với hoạt động lao động, hướng nghiệp, nhằm tạo nên những con người có đạo đức, có tay nghề, có điều kiện để tạo nên cuộc sống tốt đẹp, để trở thành người có trách nhiệm với xã hội, có năng lực tham gia vào nguồn nhân lực của gia đình, cộng đồng, đất nước. Kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như di truyền học, sinh vật học, tâm lý học thần kinh… đã chứng minh năng lượng tâm lý khởi thủy (tiềm năng) của đời sống tinh thần, tâm lý (sức mạnh văn hóa, sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm lý) vốn chứa đựng trong tất cả các tế bào trong cơ thể và tập hợp trong các hệ thống chức năng thần kinh, bắt đầu dưới dạng vô thứcừ khi con người sinh ra. Vấn đề là ở chỗ làm sao để phát huy được các năng lượng tiềm tang này – đây là vấn đề rất hệ trọng đối với sự phát triển con người nói riêng và phát triển cả nền văn minh – văn hóa của từng dân tộc và của cả nhân loại nói chung. Tiềm năng, năng lượng tâm lý dự trữ trong con người là rất lớn, khoa học cho hay, con người mới dùng khoảng 5% các tế bào thần kinh, hoặc có thể sử dụng số lượng neuron thần kinh lớn hơn, nhưng mới dùng với một công suất nhỏ, hoặc lúc dùng số neuron này, lúc dùng số neuron khác… vấn đề còn nhiều điều chưa biết. Vấn đề chính hiện nay là phải phát huy tiềm năng, tức là biến tiềm năng thành khả năng, từ khả năng thành các năng lực chung, năng lực chuyên biệt, năng lực đặc biệt. Các năng lực này đạt chất lượng cao, trở thành tài năng nhân tài. Thông thường, con người trong quá trình trưởng thành, sống, học tập và rèn luyện đều biến tiềm năng thành khả năng – năng lực chunng như năng lực tiếp thu và vận dụng – “vùng phát triển gần”; năng lực giao tiếp…; và có thể một vài năng lực chuyên biệt như năng lực tư duy, năng lực nói, năng lực lao động… ở các mức độ khác nhau. Quá trình hìnht hành và phát triển đó cảu con người phụ thuộc vào lứa tuổi, vào từng người và có yếu tố di truyền, nhưng quyết định là ở hoạt động, sự phấn đấu, rèn luyện, kiên trì, có niềm đam mê…, phụ thuộc vào môi trường xã hội, vai trò của từng thời kỳ khác nhau đem lại. Nhưng nhìn chung, hoạt động giáo dục và tự giáo dục giữ vai trò quyết định giúp con người biến tiềm năng thành khả năng, thành các năng lực. Từ đó dẫn tới kết luận: giá trị bản thân là tổng các năng lực hoạt động của từng người, bao gồm (1) Tâm lực, (2) Trí lực, (3) Thể lực. Vì vậy, nhà trường, gia đình cần có trách nhiệm giúp các em học sinh phát huy tiềm năng để hình thành các giá trị bản thân cho các em.

Phân định rành rọt được như vậy cũng không phải là chuyện dễ làm. Trên thực tế, một hành động, hành vi, hoạt động của con người, từ một lứa tuổi nhất định đều có sự tham gia của cả ba lực đó. Mối tương quan giữa ba miền này khá phức tạp, nhiều khi mỗi trường hợp một khác, mỗi lứa tuổi một cách, tùy hoàn cảnh mỗi miền bộc lộ vai trò muôn hình vạn trạng. Ở đây, chúng tôi nêu “chí” (tâm lực) lên đầu, vì “chí” là đặc trưng rõ nhất của tinh thần, “chí” biểu hiện tập trung của “tâm”. “Tâm lực” là sức mạnh của ý chí, thể hiện trong các hành động, hành vi, hoạt động, vừa là phẩm chất vừa là năng lực chung nhất trong con người.

Cần phải nhấn mạnh rằng, cái chí (tinh thần) phải dựa trên sự hiểu biết (nhận thức), phải nắm được quy luật, duy lý, khoa học, tức là có trí tuệ trong hành động, hành vi, hoạt động, là trí lực. Nếu cái “chí” dựa trên sự thối nát, mù quáng, không thoát khỏi vòng cương tỏa của bản năng thường đồng nghĩa với sự phá hoại, nếu kết hợp với động cơ xấu, ác thì nguy hiểm hơn nhiều. Đó là giá trị bản thân tiêu cực (âm). Có thể nói, mọi sai lầm là do dốt nát, mọi thất bại là do thối chí, mọi xấu xa đều từ động cơ lệch lạc. Trong ba giá trị phổ quát nhất “chân – thiện – mỹ”, loài người đã đúc kết “chân” (nhận thức = trí) là giá trị được đặt lên trước. Mặt khác, phải hiểu cả ba giá trị phổ quát nói lên cả thế giới tinh thần, tâm lý của nhân loại, từng dân tộc, từng con người thường đi với nhau. Theo đó, có thể hiểu “mỹ” nghĩa hẹp là “cái đẹp” hàm chứa cả “cái đẹp” của thân hình con người, lẫn cái đẹp của tâm hồn, thể hiện tấm lòng, cách ứng xử, nói tóm lại, văn hóa – một vẻ đẹp tuyệt vời, không gì sánh bằng.

Và sức mạnh (lực) của con người cũng đượng mang trong một thân thể, nên trong các thành tố của “giá trị bản thân” không thể thiếu “thế lực”, đem thế lực phục vụ cho tâm lực và trí lực. Mỗi “lực” đứng riêng rẽ có một sức mạnh nhất định, tuy có ít trường hợp như vậy, hoặc đặt ra như vậy chỉ để phân tích. Freud cũng đã chỉ ra: có sức mạnh tinh thần, tâm lý tham gia thì sức mạnh cơ thể mới đạt đỉnh cao. Đúng như vậy, với các kỷ lục thể thao như tâm lý học thể thao đã khẳng định. Nhiều trường hợp thành đạt, nhất là những trường hợp thành đạt cao, rất cao cũng vậy, phải có “chí”, có “tâm”. Cho nên có thể ghi kết luận vào công thức sau đây: giá trị bản thân không phải đơn thuần là tính cộng tâm lực + trí lực + thể lực, mà phải là tổng hòa (ensemble) của các “lực” ấy.

Ở trên đã nói, với tư cách là cá thể người, con người thừa hưởng các giá trị loài người thành giá trị cá thể, còn với tư cách cá nhân, con người tiếp thu các giá trị dân tộc thành giá trị cá nhân. Hai nhóm giá trị này làm giá đỡ cho mỗi người hình thành “giá trị nhân cách”. Như vậy, giá trị bản thân của mỗi người gồm ba thành phần gộp thành “Quả cầu giá trị bản thân”:

c/ Giá trị nhân cách,

b/ Giá trị cá nhân,

a/ Giá trị cá thể.

Vấn đề đang bàn là khái niệm “giá trị bản thân” trong giá trị học. Ở đây muốn nói tới cơ chế hình thành “giá trị bản thân” là lực riêng lẻ hay là sự tổng hòa các lực phải qua trải nghiệm. Trải nghiệm là cơ chế hình thành giá trị, nói đơn giản, là chủ thể phải trải qua và nghiệm thấy cái chí (ý định, chủ định, ước muốn, chủ đích…, tức là ăn nhập vào đời thực của chính mình), chứ không phải chỉ quan sát hay học vẹt, cũng không phải học chỉ để đi thi mà những tri thức học được đó phải được lĩnh hội và ứng dụng vào cuộc sống. Chủ thể phải rèn đúc ý chí, học hỏi tri thức chuyển hóa thành thái độ, giá trị, phẩm chất và năng lực, thành vốn liếng của mình, ăn nhập vào chuỗi kinh nghiệm bản thân và vận dụng vào giải quyết các vấn đề, như tâm lý học lâu nay đã khẳng định. Hay nói theo lý luận của giá trị học là ba “lực” đó phải lọt vào trường ý thức, lọt vào tâm thức, chuyển động qua lại giữa vô thức và ý thức, rồi lên bậc cao hơn là tự ý thức được và bộc lộ ra bằng hoạt động có ý thức, cũng có lúc phát ra bằng trực giác, biến nó thành sức mạnh, thành giá trị của chính mình (nội lực) và phải sống bằng chính các giá trị ấy.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị bản thân – Phần II


Sau Moore, trong lịch sử phát triển giá trị học phải kể đến Hartman (1910 – 1973). Lý thuyết về giá trị là một trong các điểm xuất phát trong các công trình của Hartman, người có công đầu trong xây dựng và phát triển giá trị học nửa sau thế kỷ XX, nhất là trong việc vận dụng giá trị học vào cuộc sống, như điều tra giá trị thế giới và các châu lục, các nước, các vùng lãnh thổ. Theo đó, các kết quả điều tra được lượng hóa bằng phương pháp tính toán, tìm “giá trị trung bình” của một nhóm, một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc (từ các công trình điều tra giá trị thế giới đã phác họa được bản đồ văn hóa thế giới ngày nay), tạo ra một hướng mới rất phát triển trong xã hội học, trong nghiên cứu con người, và sau này vận dụng vào cả tâm lý học, giáo dục học. Hướng phát triển mới này của khoa học về giá trị dựa vào khẳng định (do Hartman là người đầu tiên phát hiện ra) cho rằng: trong đời sống của con người và xã hội, bên cạnh các “thực tiễn” khác còn có “thực tiễn giá trị” là mảnh đất của giá trị học: con người, cộng đồng, xã hội nhận ra các “giá trị” trong thế giới vật chất, gọi chung lại là các giá trị vật chất (trong đó có các “giá trị kinh tế”) thành các “giá trị nội tại” ở trong con người hay cộng đồng, xã hội. Để xác định đối tượng của giá trị học, nhiều nhà nghiên cứu quy các “giá trị kinh tế” vào phạm trù các “giá trị ngoại tại”, và chỉ có các “giá trị” là đối tượng của giá trị học mới gọi là “giá trị nội tại”, và gọi là “giá trị tinh thần” – “giá trị tâm lý”. Hai loại giá trị này, vật chất và tinh thần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Bên cạnh đó, còn có “giá trị công cụ”, như “tiền”, “vàng”, nhiều khi cũng là mối liên hệ giữa “giá trị vật chất” và “giá trị tinh thần”. Có ý kiến cho rằng trong giá trị học cũng có phạm trù “giá trị công cụ”, như các kỹ năng, thói quen… Ví dụ, cây đàn vốn chỉ là một công cụ, một hàng hóa, một vật trao đổi, nhưng qua bàn tay, trí tuệ và tâm hồn người nghệ sĩ đã làm sống lại bản nhạc do nhạc sĩ sáng tác. Năng lực biểu diễn là “giá trị nội tại” của người nghệ sĩ. Hơn nữa, còn thính giả cảm nhận riêng với tâm thế, tâm trạng… cũng tạo nên “giá trị nội tại” – “giá trị tâm lý” ở người nghe. Đó là ví dụ về “thực tiễn giá trị” vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan cho Hartman phát hiện ra, góp phần khẳng định đối tượng của khoa học về giá trị. Ngoài ra, Hartman còn khẳng định ở con người, nhóm người, cộng đồng, xã hội, trong “thực tiễn giá trị” có năng lực “xác định giá trị”, nhận biết và đánh giá các giá trị. Ông cũng nêu một số giá trị cụ thể, như giá trị đồng cảm, giá trị tự tin, giá trị phán đoán… Từ năng lực “xác định giá trị” đi đến “thái độ giá trị” thường có thể đo đạc được trong các cuộc điều tra giá trị. Thái độ giá trị, nhất là thái độ định hướng giá trị là một thành tố nổi bật trong nhân cách, đặc biệt ông nhấn mạnh ý thức về bản thân như là một giá trị: thái độ giá trị có ý nghĩa quan trọng đối với giá trị bản thân. Nghiên cứu ba tác giả và mấy điều vừa trình bày, tác giả đi đến phạm trù “giá trị bản thân” như là một phạm trù trung tâm của tâm lý học giá trị và giáo dục học giá trị.

II/ Giá trị bản thân – khái niệm trung tâm

“Giá trị bản thân” là tổ hợp các giá trị cá thể, cá nhân và nhân cách – các giá trị của từng người do chính người đó hình thành và phát triển, sử dụng, phát huy và tự thể hiện, tự khẳng định trong cuộc sống của mình. Tuy nhiên, phụ thuộc vào nhiều điều kiện bên ngoài thuận lợi hay cản trở  mà “giá trị bản thân” được phát huy hiệu quả. Chúng tôi trình bày đôi điều chủ yếu phục vụ chủ đề của tác phẩm này: tìm hiểu hệ giá trị của loài người, của cộng đồng quốc tế và của dân tộc. Muốn vận dụng vào tâm lý học và giáo dục học, nhất thiết phải đi đến hình thành, phát triển, phát huy giá trị bản thân, tức là phải thành “giá trị tinh thần, tâm lý, nội tại” của chính từng người, thành “bản tính thứ hai”, thành “lực lượng bản chất” người, coi con người như đơn vị của giá trị gia đình, cộng đồng, dân tộc, loài người. Lực lượng bản chất người có lực lượng sinh thể và lực lượng tâm lý, tinh thần, các lực lượng này đều có nguồn gốc ban đầu di truyền, bẩm sinh. Nhưng ở con người, hai lực lượng này rất gắn quyện với nhau. Không nói tới các quan niệm coi con người là công cụ biết nói, lấy sức mạnh cơ bắp của người lao động để làm giàu, tức là nhìn vào con người cốt lấy sức mạnh cơ thể để vận hành các hoạt động kinh tế và các công việc khác trong xã hội, và quan niệm con người chỉ như cái “đinh ốc” trong xã hội, làm tha hóa con người để dễ bề cai trị, bóc lột, thì các tư tưởng tiến bộ từ thời cổ đại, nhất là sau Cách mạng tư sản Mỹ và Pháp cuối thế kỷ XVIII, rồi thế kỷ XX đều đã chỉ ra, hai lực lượng trong con người có quan hệ khăng khít. Qua giáo dục và tự giáo dục đã đi đến khái niệm “phát triển người” vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Từ đó cuộc sống xã hội và khoa học, nhất là triết học và tâm lý học mới đi vào phạm trù “cá nhân” và “nhân cách”. Phát triển cơ thể, phát triển trí tuệ, đạo đức, nhân cách, tinh thần,… nói chung lại là phát triển thế giới tinh thần, tâm lý và các điều kiện xã hội cho sự phát triển đó chính là phát triển “giá trị bản thân”, và là điều kiện quan trọng vào bậc nhất để có một xã hội an bình, phồn vinh, thịnh vượng.

Nêu một ví dụ về phát triển con người bền vững thông qua phát triển trí tuệ – tư duy trong thời địa ngày nay như là một thành phần trong “giá trị bản thân”. Thân hình cơ thể con người là vẻ đẹp hoàn thiện như danh họa người Italy Leonardo da Vinci (1452 – 1519) đã mô tả: hình dạng cơ thể có ý nghĩa nhất định đối với tâm lý, tính cách. Gần đây có một số công trình về vấn đề này đăng trên tạp chí Khoa học tâm lý nghiên cứu tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng trên khuôn mặt, tỷ lệ này trên dưới 2 hay gặp ở những người giỏi giang, tỷ lệ này trên dưới 1,5 hay gặp ở những người có tính cách thẳng thắn và đúng mực. Từ xa xưa, sinh thể con người về đại thể đã hoàn chỉnh đầy đủ, nhưng càng ngày các hệ thống chức năng trong đã trải qua bao đổi thay theo hướng ngày một phức tạp hơn, phong phú hơn, tốc độ nhanh hơn, linh hoạt, hiệu quả hơn,… đưa trình độ tư duy của con người lên các bậc thang mới: tư duy hệ thống, tư duy phức hợp. Nhờ vậy, loài người đã tạo dựng nên các nền văn minh, làm nên các cuộc cách mạng khoa học, cách mạng khoa học – kỹ thuật, và ngày nay là cách mạng công nghệ, tạo nên nền văn minh công nghệ thông tin. Sự phát triển vượt bậc đó là thành quả của quá trình giáo dục và tự giáo dục, làm cho con người biến tiềm năng thành năng lực, thành người có “giá trị bản thân” ngày càng phong phú, tích cựu, hữu ích, với đặc trưng là hoạt động tinh thần, tâm lý ngày càng phát triển, tiềm năng trong cá thể người ngày càng bộc lộ. Trong hoạt động này có hệ giá trị được hình thành và phát triển, vừa là sản phẩm vừa là tiền đề của phát triển văn minh – văn hóa của loài người, của từng quốc gia, dân tộc và sự phát triển bền vững con người.

Thế giới càng văn minh, xã hội càng dân chủ, con người càng tự do, “giá trị bản thân” con người càng được đề cao, được coi là giá trị đặc biệt, đến mức khẳng định “con người là điểm gốc của mọi tọa độ giá trị của dân tộc, của loài người”, nguồn gốc của mọi tiến bộ xã hội. Đó chính là tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn từ thời cổ đại. Ngày nay, với những bước phát triển mới với tốc độ lớn, phổ biến toàn cầu nhanh, trong đó vai trò của hệ giá trị nói chung, giá trị bản thân nói riêng được đánh giá rất cao trong “sức mạnh mềm” của con người, từng cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Vận dụng vào tìm hiểu khái niệm “giá trị bản thân”, cần chú ý bốn điểm như sau:

1/ Coi trọng giá trị bản thân

Trước hết, giá trị trị học thức tỉnh cộng đồng, xã hội coi trọng con người, và mỗi người phải biết giá trị của chính bản thân mình như một con người trong gia đình, cộng đồng, xã hội, biết trọng “giá trị bản thân” mình (self-respect), trọng người khác, trước hết là hiếu thảo trong gia đình, rồi quan hệ tốt đẹp trong cộng đồng, xã hội. Từ “tự trọng” mới có “tự tin” – biết đánh giá đúng mình, đúng người, không kiêu căng, khoe khoang, luôn luôn phải khiêm nhường, luôn phấn đấu để đạt “giá trị bản thân”, để mọi người, cộng đồng và xã hội coi trọng. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào nấc thang phát triển môi trường giá trị xã hội ở mỗi vùng, mỗi nước, tùy theo độ tuổi, giới tính. Chúng ta tuy chống chủ nghĩa cá nhân, nhưng nói chung trong thời đại cách mạng thông tin, kinh tế tri thức, công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế hiện nay, rất cần và phải đánh giá đúng vai trò của cá nhân, kể cả trong mối quan hệ giữa người quản lý, lãnh đạo với các thành viên, trên tinh thần gắn bó với tập thể, con người có ý thức xã hội. Đây là một đặc trưng của chế độ cộng hòa, xã hội dân chủ. Mặt khác, trong các chế độ xã hội này hết sức coi trọng sự cố kết xã hội, “vốn xã hội”. Riêng trong chế độ phong kiến, tâm lý quần chúng và dựa theo lãnh tụ, thủ lĩnh, như nhà tâm lý học người Pháp Le Bon (1841 – 1931) viết trong tác phẩm Tâm lý học đám đông hay Tâm lý học quần chúng (năm 1895). Trong xã hội cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, người ta đặc biệt chú trọng vai trò của từng con người.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị bản thân – Phần I


I/ Giá trị bản thân – giá trị nội tại

Giá trị bản thân là giá trị ở trong mỗi người, nói theo thuật ngữ của giá trị học là “giá trị nội tại” (“intrinsic value”). Hiểu “giá trị nội tại” là để hiểu nội lực của mỗi người. “Giá trị nội tại” là khái niệm công cụ trung tâm của khoa học về giá trị, nhưng là một khái niệm đa nghĩa trong đó có cả nghĩa không thuộc phạm vi của giá trị học. Ví dụ, người ta cũng dùng thuật ngữ “giá trị nội tại” để chỉ “giá trị” của một lĩnh vực cụ thể, như trong các sản vật thiên nhiên, các sản phẩm con người sản xuất đều chứa đựng các “giá trị”, trong kinh tế học dùng khái niệm “giá trị nội tại” để chỉ thương hiệu, không kể giá trị khi đem ra thị trường (giá trị trao đổi), giá trị này sẽ được gọi là “giá trị cơ bản” (fundamental value). Giá trị cơ bản đem ra thị trường trao đổi thông qua tiền (“giá trị công cụ”) (intrumental value). Cùng một thuật ngữ, nhưng trong mỗi khoa học lại mang một nội hàm khác nhau, biểu đạt các khái niệm khác nhau. Ở đây quan tâm khái niệm “giá trị nội tại” là đối tượng của khoa học về giá trị.

Brentano (1838 – 1917), nhà tâm lý học người Đức đã có những luận điểm về khái niệm “giá trị nội tại” có ảnh hưởng lớn đối với triết học, tâm lý học, đạo đức học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong khoa học về giá trị, ông được coi là tác giả đầu tiên đề ra lý thuyết giá trị nội tại ở hai tác phẩm chính: Tâm lý học theo quan điểm kinh nghiệm (năm 1874) và Nguồn gốc của các tri thức về Đúng và Sai (năm 1902) và một số bài báo, giúp người đọc hiểu rõ hơn thế nào là “giá trị” trong giá trị học. Brentano có một khẳng định hết sức quan trọng: “hoạt động tinh thần là đối tượng của nhận biết bên trong (inner perception, có thể dịch là “nhận biết nội tại” tức là “nội tâm”, “lòng người”,…). Đi đến luận điểm “chủ ý” (intention) nổi tiếng trong tâm lý học, thông qua một phạm trù quan trọng khác là phạm trù “ý chí, mong muốn, ước muốn” (willing, volition), được xác định là một cái gì đó được chủ thể chấp nhận hay từ chối, rồi đi đến một quyết định nào đó và có một sự nỗ lực nhất định để thực hiện. Ví dụ, giá trị “chân” (trong bộ ba giá trị “chân, thiện, mỹ”) được Brentano chuyển thành “phù hợp” (correctness), nghĩa là không phải chỉ chân lý chung chung, mà phải là thật sự tương ứng với sự vật hay hiện tượng, và thêm vào đó là phù hợp với sự tồn tại của sự vật và hiện tượng (từ đây đã có ý tưởng khẳng định tính khách quan và tính chủ quan của “giá trị”), được chủ thể chấp nhận và yêu thích, rồi vươn tới một chủ đích cụ thể. Luận điểm này hết sức có ý nghĩa với phạm trù “giá trị bản thân”. Nói về “tốt” hay “xấu” là không những bản thân sự vật, hiện tượng tốt hay xấu, mà còn là cảm nhận của con người về việc đó, nếu “tốt” thì ta yêu thích, ủng hộ, và ngược lại, ta ghét hay không ưa, phản đối. Điều này thể hiện rất rõ trong cặp giá trị “thích thú” (pleasure) và “khó chịu” (displeasure), cũng có thể dịch là “thỏa mãn” và “không thỏa mãn”, mà Freud nói tới.  Từ đó có sự “ưu tiên” cho sự vật, hiện tượng này, “không ưu tiên” hay “ít ưu tiên hơn” cho sự vật, hiện tượng khác. Ông gọi cái “tốt” là “tốt nội tại” (intrinsic good), “tốt” và “thích” hay “yêu” là các từ đồng nghĩa, tức là kéo theo một tâm trạng thoải mái hay thanh thản, ở các mức độ khác nhau; ngược lại, “xấu” và “ghét” – là các “giá trị nội tại” (intrinsic value). Trong các trường hợp này, xuất hiện một trạng thái tâm lý tương ứng rất rõ ràng, cho nên công tác tâm lý là hướng tới một trạng thái tâm lý tích cực, cũng có khi phải ngăn ngừa hay vượt qua một trạng thái tâm lý tiêu cực. Từ đó hình thành nên thuyết “giá trị nội tại”. Các giá trị nội tại có logic nội tại là đối tượng nghiên cứu của giá trị học. Lý thuyết này còn dựa vào một luận đề khác: cá thể là một thực thể có thực (entia realia), phán đoán hay niềm tin của chủ thể về cái có thực được gọi là các giá trị nội tại (chúng tôi gọi các “giá trị” thường dùng, như phán đoán hay niềm tin, trong các điều tra giá trị thế giới là “thái độ giá trị”, bộc lộ cách thể hiện “giá trị nội tại” qua việc xếp một giá trị nào đó trong bảng hỏi vào một bậc nào đó trong thang điểm). Mặt khác, ông cũng nhấnt mạnh, các thuật ngữ “tốt”, “xấu”, “tốt hơn” là các phạm trù tổng hợp (syncategorimatic), là các giá trị phổ quát, tức là cả loài người từ xưa đến nay luôn hướng tới. Để các giá trị phổ quát này thành các giá trị nội tại của từng người, như nói ở trên, phải được chủ thể chuyển thành nhận thức bên trong, cảm nhận bên trong. Và ông nói tới quá trình “cảm nghiệm” (sensing), “trải nghiệm” (experiensing): có cảm thấy chất lượng của tác động thì mới thành giá trị nội tại – (Husserl, người sáng lập ra thuyết Hiện tượng luận, tiếp thu ý tưởng này từ Brentano, xây dựng nên lý thuyết về trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng với tâm lý học và giá trị học). Nắm được cơ chế này là rất cần thiết đối với quá trình hình thành “giá trị bản thân”. Theo đó Brentano cho thấy, giá trị học có thể vận dụng sang đạo đức học (ethics). Để làm việc đó, ông đưa ra phạm trù “nghĩa vụ” (requirement, có thể dịch là “đòi hỏi”), mà ngày nay chúng ta gọi là “nghĩa vụ xã hội” hay “tinh thần trách nhiệm xã hội – những giá trị nhất thiết trong “giá trị bản thân”.

Brentano đề ra ba phẩm chất của các giá trị nội tại: (1) Tính phù hợp, (2) Vươn tới đối tượng chủ đích, và (3) Tính chân thật của giá trị. Ông cũng đặt một vấn đề lớn khác cho giá trị học là vấn đề về hệ giá trị: xét một giá trị nào đấy, phải đặt nó vào hệ giá trị nhất định. Có vậy mới thấy giá trị nào đồng đẳng với giá trị nào, hay sự chuyển hóa từ cực này sang cực kia, hay từ ít hơn đến nhiều hơn, và ngược lại, cái này bù cho cái kia, giá trị nào được chú trọng hơn giá trị nào.

Qua đó, có thể nói tóm lại luận điểm của Brentano tập trung vào năm điểm sau: (1) Brentano đi từ tâm lý học đến triết học, trong đó có một số ý kiến tập hợp lại thành lý thuyết về giá trị (theory on value), góp phần quan trọng xây dựng giá trị học (axiology); (2) Lý thuyết về giá trị của ông xuất phát từ hai luận điểm sau: a) trong tâm lý con người không phải chỉ chú ý tới mặt lý trí, mà còn phải rất coi trọng lòng “mong muốn”, nói rộng ra là mong cái gì thì thấy cái đó có ý nghĩa, có giá trị, rồi vươn tới, nhưng vươn tới nhiều khi phải có ý chí, phải vượt qua bản thân, vượt qua chính mình; b) lòng “mong muốn”, “ý chí” phải đặt vào phạm trù “nội tại” (intrinsic), tức là vào phạm trù “tinh thần”, “tâm lý”, như thường nói “tại tâm” hay “từ tâm”, “nội tâm, từ đó đi đến khái niệm “giá trị nội tại”, một lực bên trong – “nội lực” của từng người, từng dân tộc. (3) “Giá trị bản thân” là sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm lý của từng con người của cả cộng đồng, dân tộc, là “sức mạnh mềm”. Gọi là “nội tại” vì quá trình nhận thức đã đi vào sâu hơn trong phạm vi tinh thần con người (hay cộng đồng xã hội), Brentano gọi là quá trình “nhận biết nội tại – nội tâm”. Ví dụ, có một tri giác và con người khi biết về tri giác đó gọi là “cảm nhận”, và quan trọng hơn, ông đã nói đến “cảm nghiệm”, “trải nghiệm” trong giá trị học; “nhận biết”, “cảm nhận” và tư duy hay tình cảm phải vào được trường ý thức, thành vốn sống, thậm chí trở thành triết lý nhân sinh; như vậy, ông đã chỉ ra các thuộc tính của “giá trị nội tại”; (4) Ông cũng đã định hướng suy nghĩ về “hệ giá trị”; (5) Ông đã chỉ ra hướng vận dụng giá trị học, trước hết vào đạo đức học, ngày nay phổ ứng dụng của khoa học này đã mở rộng hơn nhiều. Bài học từ tâm lý học, giá trị học cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX còn nguyên giá trị đối với các nhà tâm lý học và giáo dục học chúng ta ngày nay. Cả năm nội dung này đều có ý nghĩa đối với việc hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”.

Sau Brentano, nhà tâm lý học người Anh Moore đã phát triển lý thuyết “giá trị nội tại”. Công lao đóng góp của Moore với lý thuyết về giá trị trước hết ở chỗ ông đã khẳng định “giá trị nội tại” là  đối tượng của khoa học về giá trị. Thêm vào đó, Moore xác định “giá trị nội tại” là “giá trị bản chất” phản ánh đặc trưng thế giới tâm lý của người mang giá trị ấy: “giá trị” rõ ràng mang tính chủ quan về mặt khách quan. Moore đã chứng minh tính khách quan của “giá trị” thông qua khẳng định đối với một vật thể con người thấy nó đẹp hay xấu, biểu hiện một “thái độ tinh thần” (mental attitude), thái độ ấy nói lên sự ưa thích, mong muốn, như Brentano đã chỉ ra. Trong các công trình của mình, chúng tôi quy về phạm trù “thái độ giá trị” là một cách biểu hiện “giá trị bản chất”, bộc lộ “giá trị nội tại”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần cuối


Cùng với công nghiệp hóa, quá trình đô thị hóa cũng là một tiêu chí của hiện đại hóa. Trong thời đổi mới từ khoảng cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, việc đô thị hóa ở nước ta mới thực sự bắt đầu. Vấn đề chúng ta quan tâm là quá trình đô thị hóa ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm giá trị của con người: đô thị hóa phải đi liền với việc xây dựng văn hóa đô thị với cốt lõi là các giá trị công nghiệp. Theo kết quả điều tra trong những năm 2001 – 2005, trong các nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tiêu cực, nguyên nhân đầu tiên là do thay đổi hoàn cảnh sống, môi trường sống (chiếm 28,2%); một số nguyên nhân khác như: Do khoảng cách giàu nghèo tăng (chiếm 23,57%); do một số truyền thống dân tộc bị xói mòn (chiếm 23,08%); do ảnh hưởng lối sống đua đòi (chiếm 19,78%); các nguyên nhân khác (chiếm 4,75%).

Có thể thấy rõ, từ một xã hội nông nghiệp chuyển sang một xã hội công nghiệp, sẽ có rất nhiều khó khăn, phức tạp. Đó là quy luật phát triển nhưng là quy luật xã hội, cho nên người ta nói đến thể chế, chính sách, tổ chức xã hội, giáo dục theo nghĩa rộng của từ này (bao hàm cả giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội, giáo dục gia đình; giáo dục và tự giáo dục) tác động đến thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan – thang giá trị đảo lộn, thước đo giá trị thay đổi… Xây dựng xã hội công nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế với bốn giá trị phổ quát: hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển là nhiệm vụ hết sức khó khăn, nhưng chúng ta đang vượt qua để tiến tới và đã đạt thành công nhất định. Nhiều thành tựu được bạn bè trong vùng và thế giới công nhận. Ví dụ, tám mục tiêu thiên niên kỷ:

1/ Loại trừ các loại bần cùng và thiếu ăn (xóa đói giảm nghèo bền vững);

2/ Phổ cập giáo dục bắt buộc (phổ thông cơ sở);

3/ Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ;

4/ Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em;

5/ Bảo đảm sức khỏe bà mẹ;

6/ Ngăn chặn HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác;

7/ Giữ gìn môi trường bền vững;

8/ Xây dựng đối tác toàn cầu (để phát triển kinh tế, bảo đảm việc làm, đừng để nợ nần, công nghệ thông tin…).

Các mục tiêu này triển khai từ đầu thế kỷ XXI và phải hoàn thành vào năm 2015. Theo đánh giá hàng năm của các cơ quan Liên hợp quốc, Việt Nam đang đứng vào loại khá, tuy còn phải tiếp tục phấn đấu nhiều, nhất là các chỉ tiêu số (1), (7), (8). Trong nước xuất hiện nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung lại, mối lo lớn nhất là rơi vào “bẫy trung bình”, không vươn lên giàu có, không thực sự thoát cảnh đói nghèo và bảo đảm an sinh xã hội, nhất là đạo đức xã hội. Theo điều tra giá trị học với 146 doanh nhân tiến hành năm 2011, trong tình hình hiện nay có bốn nỗi lo lớn: làm sao giữ được bản sắc dân tộc (chiếm 50%); lo lắng trước tình hình đảo lộn giá trị xã hội (chiếm 49,32%); sợ bị lệ thuộc về chính trị (chiếm 49,32%); phát triển kinh tế có tốt dần lên không (chiếm 14,38%).

Phải nói thêm rằng, chúng ta xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại, hội nhập quốc tế, nên việc nhiều người lo lắng đến vấn đề làm sao giữ được bản sắc dân tộc là một xu hướng tích cực. Hội nhập quốc tế là đường lối đúng đắn trong xu thế toàn cầu hóa, có thuận lợi, có khó khăn, riêng về mặt văn hóa – giáo dục lại càng rất phức tạp, trong đó có vấn đề về mối quan hệ giữa giá trị dân tộc ta và các hệ giá trị của thế giới hay hệ giá trị của nước này, nước khác, như Hội đồng Lý luận Trung ương đã nhận định: tận dụng tác động tích cực của hội nhập quốc tế, cần “…chung tay sáng tạo những giá trị chung của nhân loại,… tiến hành đối thoại giữa các nền văn hóa, tìm kiếm những giá trị chung, đồng thời tôn trọng, đề cao đa dạng văn hóa”. Cuốn sách này có thể phần nào có vai trò quan trọng đối với phát triển đất nước: muốn cùng tìm kiếm, sáng tạo những giá trị chung của thế giới ngày nay, phải nghiên cứu, tìm hiểu, khẳng định hệ giá trị quốc gia, dân tộc của chúng ta, và mục tiêu quan trọng là mỗi người phải hình thành, phát triển, phát huy “hệ giá trị bản thân”.

Hệ thống lại các giá trị tạo nên sức mạnh tinh thần của quốc gia, dân tộc đã ghi trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013, như bảo vệ chế độ “dân chủ cộng hòa”, bảo vệ và thực hiện tốt các giá trị “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, tạo mọi điều kiện phát huy giá trị trí tuệ (tư duy), khoa học, giáo dục đắc lực phục vụ sự nghiệp “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, kinh tế thị trường, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tập trung vào giá trị nổi bật đã ghi trong “Lời nói đầu” của Hiến pháp sửa đổi năm 2013: yêu nước; đoàn kết; nhân nghĩa,\; kiên cường; bất khuất.

Năm giá trị dân tộc này được xây đắp từ cách đây hàng nghìn năm và được phát huy rõ nét qua quá trình lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống nhất của dân tộc; đến ngày nay được Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định lại, được kế thừa và là mạch chảy xuyên suốt trong dòng giá trị quốc gia. Tháng 5/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) họp Nghị quyết về văn hóa và con người đã chỉ ra các giá trị bền vững tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam là:

+ Yêu nước nồng nàn;

+ Tự tôn, tự cường dân tộc;

+ Tinh thần cộng đồng gắn kết hài hòa giữa cá nhân – gia đình – cộng đồng – Tổ quốc;

+ Nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý;

+ Cần cù, sáng tạo trong lao động;

+ Hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân;

+ Ứng xử văn minh, lịch sự;

+ Giản dị và trong sạch trong lối sống.

Các giá trị quốc gia, dân tộc đó phải trở thành giá trị bản thân của từng người để mỗi người dựa trên cơ sở đó tự hoàn thiện nhân cách của mình.

Hệ giá trị quốc gia, dân tộc gắn bó với hệ giá trị của loài người, của cộng đồng khu vực và thế giới, của thời đại công nghiệp. Hệ giá trị quốc gia đó phải triển khai thành hệ giá trị các địa phương, các đơn vị, các cơ quan, doanh nghiệp, các trường học…, vận dụng xây dựng thành thước đo giá trị để tuyển và sử dụng nhân sự các cấp. Một việc rất quan trọng là mọi người, mọi cấp, các nhà trường phải tham gia định hướng giá trị từ trong gia đình, từ cộng đồng tới toàn xã hội với các lứa tuổi, đặc biệt với tuổi học sinh, sinh viên, thanh niên để thực hiện được nhiệm vụ cực kỳ quan trọng  của nhà trường, của nền giáo dục nước nhà theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI là phải hình thành được “giá trị bản thân” ở mỗi người.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần IV


Về vấn đề này, các ngành xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, nhất là giá trị học đang rất quan tâm, trong đó có quan niệm thế nào là “hạnh phúc” và “con đường đạt được hạnh phúc”. Phổ hạnh phúc rất rộng, mức độ rất khác nhau, tính chất cũng nhiều vẻ, trường độ dài ngắn cũng khác nhau với nhiều cách thức đạt hạnh phúc. Thông thường nhất có thể hiểu, hạnh phúc như là một sự vui sướng khi đạt được một thỏa mãn một nhu cầu nào đó, thỏa mãn một giá trị trong “giá trị bản thân” mỗi người. Cảm nhận hạnh phúc cả ở cấp độ bản năng lẫn cấp độ lý trí, hay bản năng được lý trí hóa, như K. Marx trong Hệ tư tưởng Đức đã nhận xét, bắt đầu từ thỏa mãn các nhu cầu sống còn của con người và tồn tại loài người, như dinh dưỡng, tình dục, cư trú…, cho đến bình diện tâm lý, tinh thần, như đạt được một mục đích đã đặt ra, nhỏ như đạt điểm cao trong kiểm tra hay thi, cao hơn như trúng tuyển vào đại học… Từ cảnh nô lệ lầm than, đất nước được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh có ham muốn tột bậc là mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc và được học hành chính là hạnh phúc lớn nhất của Người. Ngày nay, xã hội còn phân biệt giàu nghèo quá lớn, mâu thuẫn nảy sinh nhiều, an sinh xã hội còn phức tạp, đạo đức xã hội còn rối ren, hệ giá trị đảo lộn, tình trạng tội phạm, tham nhũng, quan liêu… còn nhiều, mục tiêu hạnh phúc cho con người và xã hội nhìn tổng thể và nói chung còn đầy chướng ngại. Nhưng con ngườic ùng xã hội phải tồn tại và phát triển, vẫn đi tìm và ở một mức độ nhất định, một thời điểm hay giai đoạn trong cuộc đời, bình thường vẫn đạt được và cảm nhận thấy hạnh phúc. Vậy nên, trong tâm lý học hay xác định hạnh phúc theo năm bậc nhu cầu theo Tháp nhu cầu của con người do nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Maslow (1908 – 1970) đề ra năm 1943 trong bài “Một lý thuyết về động cơ của con người” (A Theory of Human Motivation):Chúng tôi xác định 5 mức độ hạnh phúc: (1) Thích thú, khoái lạc khi thỏa mãn các nhu cầu bản năng, bảo đảm sự sống còn, tồn tại trên đời, có thể coi đây là hạnh phúc sống còn ở mức bản năng; (2) Sung sướng khi thỏa mãn nhu cầu yên thân, vượt qua mức bấp bênh, tồn tại chắc chắn, không bị đe dọa, có thể coi là hạnh phúc tâm lý; (3) Vui vẻ khi thỏa mãn nhu cầu chuyển từ phạm vi tồn tại bản thân sang tham gia vào các quan hệ gần gũi trong nhà, bạn hữu, có thể gọi là hành phúc quá độ mở rộng tâm lý cá nhân; (4) Hân hoan, vinh hạnh khi thỏa mãn nhu cầu làm việc gì đấy theo yêu cầu của tập thể, cộng đồng, xã hội tín nhiệm giao cho, có thể coi đây là hạnh phúc xã hội; (5) Vinh quang, hoàn thiện, hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu trong cuộc đời của con người với tư cách là con người đối với chính mình, cũng như với tập thể, cộng đồng, xã hội, có thể coi đây là hạnh phúc nhân cách, là đỉnh cao của Tháp. Như vậy, có thể xếp hạnh phúc theo thang bậc sau đây:

Thang bậc hạnh phúc

Mức độ

5/ Vinh quang, hoàn thiện

4/ Hân hoan, vinh hạn

3/ Vui vẻ

2/ Sung sướng

1/ Thích thú, khoái lạc

Phạm trù

Nhân cách

Xã hội

Tâm lý cá nhân

Tâm lý

Sống còn (sinh thế)

Ở đây phải nhấn mạnh lại một lần nữa tính chủ quan của hạnh phúc: Tháp nhu cầu của Maslow kê ra những nhu cầu của con người, tức là có sự cảm nhận của chính chủ thể. Tuy vậy, chưa nói lên hết được tính đa dạng, đặc thù phong phú trong đời sống con người và loài người, nhất là các dạng hạnh phúc thuộc phạm trù xã hội, tinh thần, tâm lý. Phải chăng, tâm lý học và giáo dục học ở nước ta cần phải tổ chức các chuyên đề về các phạm trù này trong các giáo trình. Cuốn sách này vận dụng nội dung tháp nhu cầu và thang bậc hạnh phúc vào xây dựng thang bậc giá trị bản thân để mỗi người xây dựng hạnh phúc cho mình, qua đó xây dựng hạnh phúc gia đình, cộng đồng, xã hội. Xã hội dân chủ là một điều kiện quan trọng của môi trường tạo dựng hạnh phúc. Chế độ cộng hòa mở ra một chân trời mới của môi trường đó.

Ngày nay, cả thế giới đã thừa nhận vai trò kinh tế thị trường, dân chủ, pháp quyền là kiềng ba chân đưa đất nước tới chỗ giàu mạnh, văn minh với sự mở đầu của các nước phương Tây từ cuối thế kỷ XVIII. Thế kỷ XXI, nhiều nước trên thế giới bước vào quy luật này với sự dẫn dắt của công nghệ thông tin, kinh tế tri thức… Nền kinh tế thị trường ở nước ta từ thời kỳ đổi mới (năm 1986), lúc đầu chuyển từ thời kinh tế bao cấp sang kinh tế nhiều thành phần, dần dần mới chính thức tuyên bố đường lối xây dựng “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, nghĩa là xây dựng một nền kinh tế theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lợi ích, quy luật cạnh tranh, có sự quản lý của nhà nước. Các quy luật này làm cho cả xã hội và từng con người tích cực học hành, làm ăn, năng động, thông minh, sáng tạo, làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả mọi hoạt động, tất nhiên, cần trong điều kiện của một xã hội lành mạnh, nghĩa là không bị nạn tham nhũng, quan liêu trong bộ máy cầm quyền. Mặt khác, kinh tế thị trường cũng có những mặt trái như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, lợi ích kinh tế trước mắt, gây ảnh hưởng xấu đối với các vấn đề xã hội, thậm chí băng hoại đạo đức, xói mòn lý tưởng, tệ nạn xã hội, nhất là tệ tham nhũng, quan liêu có nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Vì vậy, cần vận dụng đúng quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo mà trước hết là phải tuyệt đối tránh thương mại hóa giáo dục. Để làm được điều này, vai trò lãnh đạo , quản lý của Đảng và Nhà nước có ý nghĩa quyết định. Cần nói thêm về vấn đề quản lý nhà nước đối với kinh tế nói chung và kinh tế quốc doanh nói riêng. Quản lý nhà nước hiện nay đang có nhiều vấn đề gây trở ngại cho sự phát triển; chẳng hạn, hiện nay nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn trong nước đều là của Nhà nước, Nhà nước chi 2/3 tổng ngân sách cho các doanh nghiệp này, nhưng các doanh nghiệp này mới chỉ đóng góp được 1/3 GDP dẫn đến thất thoát rất nhiều. Các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa, Nhà nước vẫn giữ hơn 50% vốn doanh nghiệp. Năm 2014, Chính phủ đã quyết định phải cổ phần hóa 500 doanh nghiệp… Trong quá trình cổ phần hóa, xã hội đang đòi hỏi phải thực hiện một cách công khai, minh bạch, tránh thất thoát, làm giàu cho một số rất ít người. Vì vậy, cần phải tháo gỡ mọi rào cản để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay:

+ Tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn: hơn 70%.

+ Lực lượng lao động:

Nông nghiệp: 48%

Công nghiệp: 21%

Dịch vụ: 31%

+ Đóng góp vào GDP

Nông nghiệp: 21,5%

Công nghiệp: 40,7%

Dịch vụ: 37,7%.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần III


Kết quả của đổi mới tư duy từ năm 1986 đã mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới, bắt đầu xây dựng một nước Việt Nam mới là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tôn chỉ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, ba giá trị vô cùng thiêng liêng của cả dân tộc và của mỗi người Việt Nam. Ba giá trị này là mục đích phấn đấu tối cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đặc điểm lớn nhất của xã hội ta khi bước vào thế kỷ XXI là công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế trong điều kiện kinh tế thị trường. Như vậy, nghiên cứu các giá trị xã hội thời nay ở nước ta có thể tập trung vào tìm hiểu các giá trị: cộng hòa, dân chủ, kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thuật ngữ “cộng hòa” (republic) dùng để chỉ một chế độ, một chính thể chính trị, Quốc hội do cử tri bầu ra. Thuật ngữ này do Platon và sau là Aristotle đưa ra đầu tiên, sau này dùng nhiều từ thời Phục hưng. Chính thể mang nội hàm chủ ý tới lợi ích chung của công dân, quyền dân chủ và thịnh vượng chung. Chế độ cộng hòa và nhà nước cộng hòa bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, phát triển mạnh ở thế kỷ XX, hiện nay có 135 trong 206 quốc gia theo chế độ cộng hòa, đại thể giống nhau về chính thể nhưng cũng có nhiều khác biệt ở một số chính thể như Cộng hòa nhân dân, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa và một số hình thức khác ở một số nước khác.

Về phạm trù “dân chủ”, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta xóa bỏ chế độ thực dân – phong kiến, bắt tay vào xây dựng chế độ chính trị dân chủ, theo chế độ cử tri bầu ra Quốc hội. Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước và Chính phủ. Lúc này, nhân dân mới thực sự được làm chủ vận mệnh đất nước. Chính nhờ yếu tố này mà chúng ta đã chiến thắng tất cả các kẻ thù xâm ược trong thế kỷ XX. Thuật ngữ “dân chủ” khởi xuất từ tiếng Hy Lạp “demokratia”, nghĩa là “quyền lực thuộc về con người” (“demo” là người, “kratia” là “quyền lực”) hay “quyền lực thuộc về nhân dân”, chứ không thuộc một người hay một nhóm người, được thực hiện dưới hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Dân chủ trước hết để bảo đảm quyền tự do, quyền bình đẳng nói chung và quyền bình đẳng trước pháp luật nói riêng, trong đó có quyền con người. Nhiều khi “quyền con người” (nhân quyền) được hiểu là nằm trong “quyền công dân”. Đến năm 2013, trong Hiến pháp sửa đổi (chương II) của nước ta đã ghi rõ hai quyền này. Để phát huy sức mạnh của con người, phải bảo đảm cho họ quyền tự do, bình đẳng – một mốc lớn nhất trong lịch sử tiến hóa dứt khoát ra khỏi giới động vật ngu muội, bước vào thế giới văn minh. Đến thế kỷ XX, sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1941 – 1945), loài người đi vào một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới về quyền con người với dấu mốc năm 1948, Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn nhân quyền, sau đó một số châu lục và một số nước cũng có tuyên ngôn tương tự. Ở Việt Nam, quyền con người gắn liền với quyền dân tộc có giải phóng dân tộc, con người mới có các quyền như quyền sống, quyền học tập, quyền phát triển…

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc là ba giá trị quốc gia vô cùng thiêng liêng, cao quý của dân tộc ta, là thành quả của bao thế hệ nối tiếp nhau chiến đấu, hy sinh để có được nước Việt Nam như ngày hôm nay. Ngày nay, các nhà khoa học, các nhà giáo có trách nhiệm trọng đại là kế thừa và truyền đạt cho thế hệ trẻ tiếp tục bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của đất nước, và mỗi người cùng cả dân tộc xây dựng cuộc đời tự do, hạnh phúc. Ngày nay, trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ gìn độc lập dân tộc gắn liền với hội nhập quốc tế (trên thế giới trong một số văn bản hay dùng hai thuật ngữ “independence” là “độc lập” và “independence” là “phụ thuộc lẫn nhau”). Hội nhập quốc tế dựa trên cơ sở độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền, bảo toàn lãnh thổ, giao lưu văn hóa đi liền với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nước ta hiện nay, hội nhập quốc tế chẳng những về kinh tế mà còn hội nhập toàn diện, tình hình có phức tạp hơn các giai đoạn trước của cách mạng Việt Nam, nhất là trước quy luật cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Từ năm 1979, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã điều tra và công bố “Báo cáo cạnh tranh toàn cầu”, nhằm đánh giá khả năng cung cấp mức độ thịnh vượng cao hay thấp của nhân dân ở mỗi quốc gia, thông qua đo lường các thể chế, chính sách và các chỉ số khác về kinh tế, như lạm phát, cơ sở hạ tầng, lao động có trình độ đào tạo, mức độ tham nhũng, qua đó có thể đánh giá môi trường kinh doanh, vốn đầu tư, tổng quát, đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế bền vững. Báo cáo đánh giá hơn 130 quốc gia, Việt Nam xếp thứ hạng trung bình: năm 2008, Việt Nam xếp thứ 70/134; năm 2013 – 2014: xếp thứ 70/148. Bước vào thế kỷ mới, trong năng lực cạnh tranh rất chú ý tới “sức mạnh mềm”, tức sức mạnh văn hóa, trong đó có hệ giá trị nhấn mạnh nhân tố con người – dân trí, nhân lực, nhân tài, quan tâm hàng đầu đến phát triển giáo dục (bao gồm cả đào tạo) là một nhân tố quan trọng trong kết cấu hạ tầng xã hội – kinh tế. Chính nhân tố này có vai trò quyết định đối với giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong hội nhập quốc tế, tiếp biến văn hóa.

Ba phạm trù “độc lập”, “tự do”, “hạnh phúc”, là ba phạm trù khoa học khá phức tạp, cũng là ba phạm trù rất hệ trọng trong nội hàm “lý tưởng” của loài người và con người, đồng thời thường đi liền với cuộc sống thực của con người, các tộc người. Các dân tộc ở các thời đại khác nhau lại có các quan niệm khác nhau về các phạm trù này. Cần nhấn mạnh tính thời sự của các phạm trù này, riêng “tự do” và “hạnh phúc” là hai phạm trù rất cơ bản trong quyền con người, được con người đặc biệt quan tâm hiện nay. Quan niệm về phạm trù “tự do” bắt đầu tư việc thoát khỏi chế độ nô lệ, chế độ thực dân, thuộc địa. Có nhiều tiêu chí khác nhau về tự do như tự do kinh tế, trong đó có tự do về sở hữu, tự do về trách nhiệm, tự do hôn nhân… Có khi nói về “tự do học thuật” hay còn gọi là “tự do hàn lâm” là một giá trị không thể thiếu đối với các trường đại học và các viện nghiên cứu; “tự do cá nhân” trong khoa học, chính trị, như tự do tư tưởng (tự do suy nghĩ); tự do ngôn luận, tự do sống, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do tham gia các hội đoàn… là các vấn đề rất thời sự với cả thế giới hiện đại và hậu hiện đại. Ở đây, trình độ hiện đại không phải chi đánh giá qua các phương tiện kỹ thuật, mà còn được đo bằng mức độ tự do trong xã hội, cộng đồng, của từng con người, bàn bạc rất nhiều trong chủ đề “xã hội hóa”, “xã hội mở, vai trò của các tổ chức quần chúng, triết học hiện sinh… Từ năm 1990, Tổ chức Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cũng quan niệm tự do quan trọng nhất là “tự do lựa chọn”. Ở nước ta, các quyền tự do cơ bản của con người và công dân đều đã có trong Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp sửa đổi năm 2013. Đó là thành quả của cách mạng, là sự đóng góp sức người và sức của của toàn dân tộc để đem lại cuộc sống tự do. Về phương diện xã hội, cộng đồng, để xây dựng xã hội tự do phải có lộ trình cụ thể như Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện, phụ thuộc vào nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, tự do trong khuôn khổ luật pháp, quy chế, nội quy. Trong quá trình thực hiện, chúng ta đã rút ra bài học: một cá nhân hay một tập thể, không nên tạo ra những rào cản không cần thiết, có hại cho sự phát triển con người, dân trí, nhân lực, nhân tài, từ đó, phương hại đến cả sự phát triển xã hội – kinh tế. Đó là bài học của quá khứ và hiện tại. Mục tiêu của cách mạng và đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là hướng tới một xã hội tự do, phồn vinh, tốt đẹp với những con người tự do, được tự do phát triển bền vững, chính trực, chân thành, sẵn sàng góp sức xây dựng xã hội đó. Con người tự do sống trong xã hội tự do là niềm hạnh phúc lớn lao. Đó là lý tưởng của loài người bao thế kỷ nay, đòi hỏi phải có sự hy sinh, nỗ lực thực hiện từng bước.

Quyền con người ngày nay là chỉ số quan trọng của chế độ dân chủ, chứ không phải chỉ dựa vào chỉ số kinh tế tổng sản phẩm trong nước hay chỉ số phát triển người. Theo Cơ sở dữ liệu Thế giới Hạnh phúc điều tra chỉ số hạnh phúc, Việt Nam được xếp vào loại rất cao. Có thể giải thích hiện tượng này như sau: từ tình cảnh chiến tranh sang hòa bình, từ cảnh ngộ đất nước chia cắt đến thống nhất, từ cuộc sống kinh tế cực kỳ khốn khó thời chiến và khủng hoảng đến kinh tế thị trường nên phần lớn người dân đều thấy sung sướng hơn, hài lòng hơn trước.

Phạm trù “hạnh phúc” gắn liền với phạm trù “tự do”. Cũng như phạm trù “tự do”, phạm trù “hạnh phúc” rất phức tạp về mặt khao học lẫn về mặt thực tiễn, lại mang đậm nét chủ quan của mỗi người, mỗi hoàn cảnh. Theo điều tra tiến hành từ năm 2001 đến năm 2005 với 328 công nhân, 306 nông dân, 139 doanh nhân và 326 trí thức, kết quả do các nghiệm viên tự đánh giá không hạnh phúc hay có hạnh phúc, xếp theo 10 bậc, nếu lấy từ bậc 6 trở lên, tức là mức hạnh phúc trên trung bình trở lên, tỷ lệ đạt đến 91%.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần II


II/ Công nghiệp hóa, xã hội công nghiệp, văn minh công nghiệp

Quá trình công nghiệp hóa bắt đầu bằng cơ khí hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, tự động hóa, điều khiển từ xa, tin học hóa… vận dụng vào nông nghiệp, công nghiệp nhẹ (dệt may, giấy, in, ngành da…). Ngày nay, các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp phụ trợ, giao thông…, đã làm thay đổi hẳn bộ mặt xã hội, bắt đầu một xã hội công nghiệp.

Xã hội công nghiệp trước hết biểu hiện ở việc xuất hiện các nhà máy, các khu công nghiệp đi liền với đội ngũ kỹ sư, công nhân có trình độ cao, và các đô thị (quá trình đô thị hóa). Quá trình đô thị hóa diễn ra rõ rệt ở khoảng thế kỷ XIX, bắt đầu từ nước Anh. Năm 1801, dân cư đô thị nước Anh mới có 17% tổng dân cư của cả nước, sau 90 năm, đến năm 1891 tăng lên 72%; cùng thời đó ở Pháp là 37%, ở Đức là 41%, ở Mỹ là 28%. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (khoảng giữa thế kỷ XX), các nức này đã hoàn thành quá trình đô thị hóa. Trên phạm vi toàn thế giới, trong thế kỷ XX, quá trình đô thị hóa tăng lên rõ rệt: đầu thế kỷ có 15% dân cư sống ở đô thị, đến năm 2007, theo số liệu của Liên hợp quốc, đã tăng lên 50%, dự báo đến năm 2050 sẽ tăng lên 64%, rồi 85,9%. Sự phát triển đó là tất yếu trong xã hội công nghiệp, tuy có sản sinh nhiều vấn đề xã hội, từ vấn đề môi trường đến vấn đề tổ chức xã hội…

Từ cách mạng khoa học, cách mạng kỹ thuật đi đến công nghiệp hóa, xây dựng xã hội công nghiệp bao gồm những biến đổi kinh tế là những biến đổi cơ sở, và các biến đổi to lớn khác, như biến đổi về chính trị, luật pháp, giáo dục, văn hóa với cốt lõi là các giá trị từ giá trị bản thân, giá trị gia đình, giá trị cộng đồng, giá trị quốc gia, dân tộc. “Các phương thức sinh hoạt”, trong đó có những biến động trong phong tục, tập quán, biến động về đời sống xã hội đã tạo lập nên nền văn minh công nghiệp là nền văn minh đang hiện hữu của loài người. Ở nước ta hiện nay đang nói nhiều tới văn hóa đô thị. Văn hóa đô thị biểu hiện cụ thể qua tác phong công nghiệp, cần hình thành từ rất sớm trong phát triển tâm lý cá nhân. Tác phong công nghiệp có nội hàm rất phong phú, mỗi đối tượng lại có một loạt yêu cầu riêng. Trước hết, cần thống nhất quan nhiệm rằng tác phong này chủ yếu dựa trên cơ sở khoa học, như tính kế hoạch, tính chính xác, tính hợp lý, tính hiệu quả. Một điều hiển nhiên rằng, sản xấut công nghiệpđòi hỏi phải có tác phong công nghiệp theo quy trình công nghệ nghiêm ngặt, tuân thủ giờ làm, có kỹ năng làm việc theo nhóm, chấp hành kỷ luật lao động và cuối cùng là huởgn thụ theo kết quả lao động… Các hoạt động trong nhà trường cơ bản theo tác phong công nghiệp. Vấn đề của các nhà giáo là giáo dục các em học sinh sinh sống, học tập ở nhà hay ở ngoài xã hội cũng cần phải theo tác phong công nghiệp, như giữ gìn vệ sinh môi trường, giữ gìn trật tự nơi công cộng, có kế hoạch làm việc, giờ nào việc nấy, vật dụng trong nhà, nơi sinh hoạt, tập sắp xếp ngăn nắp… Tác phong công nghiệp hỗ trợ rất nhiều cho lối sống và cách sống ở đô thị, cũng như sản xuất công nghiệp và xây dựng được nên những đô thị văn minh.

Sau văn minh công nghiệp là văn minh hậu công nghiệp, có tác giả cho đây là thời kỳ thứ ba của nền văn minh công nghiệp (còn gọi là hậu hiện đại) với phát kiến vĩ đại ra máy vi tính. Từ những năm 1930 đã phát minh ra máy tính đồ sộ (đặt trong không gian với diện tích 1800 m2), cho đến sự ra đời của máy tính xách tay và được dùng phổ biến trên toàn thế giới (nhiều tài liệu lấy năm 1970 – năm ra đời của Apple là năm mở đầu nền văn minh hậu công nghiệp hay văn minh máy tính, văn minh thông tin). Công nghệ phần mềm của máy vi tính phát triển rất nhanh chóng và nahnh được hiện đại hóa. Cho đến nay, nhiều chương trình của máy vi tính đã giải quyết nhiều vấn đề khoa học và thực tiên trong đời sống của con người và của xã hội. Năm 1990 mở ra mạng máy tính toàn cầu, bắt đầu một giai đoạn mới trong phát triển thông tin. Năm 1995, mạng xã hội bắt đầu xuất hiện như Blog, Facebook…, mở ra một thực tiễn gọi là “thực tiễn mạng”, giúp con người có thể tự do trao đổi mọi thông tin, có thể tiến tới “xã hội mở”, như nhà triết học, tâm lý học, người Hungary Popper (1902 – 1994) viết năm 1945 trong tác phẩm Xã hội mở và kẻ thù của nó đưa ra triết lý xây dựng xã hội dân chủ tự do. Vận dụng công nghệ thông tin vào kinh tế trở thành một nhân tố quyết định tạo nên một loại hình kinh tế mới gọi là “nền kinh tế tri thứ”. Các nước đã và đang phát triển đã bắt đầu xây dựng nền kinh tế tri thức với nền văn minh máy tính, cách ạmng thông tin, xây dựng xã hôi thông tin, xã hội tri thức, xã hội học tập (có rất nhiều phát minh khoa học mới, như công nghệ di truyền – công nghệ gen phần nào thay đổi lý thuyết hoạt động, công nghệ nano, rất nhiều chương trình máy tính dùng trong giáo dục…). Từ cuối thế kỷ XX, một số nước, bắt đầu là Mỹ, tiếp theo là cộng đồng châu Âu, Australia, Nhật và cả Hàn Quốc đã cải cách giáo dục phục vụ nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức, và xã hội học tập.

Văn minh công nghiệp đã đưa trình độ văn hóa của cá nước công nghiệp rất phát triển lên một nấc thang mới, tất nhiên, chưa đạt tới mức “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” mà vẫn còn nhiều “khuyết tật”, như theo Edgar Morin nói năm 1990 trong tác phẩm Nhập môn tư duy phức hợp…: Ý tưởng ho rằng tiến bộ của văn minh tất phải kéo theo tiến hóa của dã man là một ý tưởng hoàn toàn chấp nhận được nếu người ta hiểu biết chút ít về tính phức hợp của thế giới lịch sử xã hội. Nói đơn giản là đến nay, văn minh còn đi liền với dã man, như bạo lực gia đình, bạo lực học đường, bạo lực đường phố, giết người, cướp của, và nhiều tật xấu ở con người và xã hội… E. Morin nêu vài ví dụ về các hành động dã man, như hành động đàn áp, man rợ và thái độ thờ ơ, vô cảm. Ngay nước Mỹ cùng còn một bộ phận người có cuộc sống bấp bênh, tồi tệ. Tuy vậy, phần lớn thế giới phải công nhận các thành tựu mà họ đạt được, nhất là về kinh tế, là do hệ giá trị từ cuộc cách mạng kinh tế năm 1776 đã giữ vai trò tích cực vô cùng quan trọng, đứng đầu là giá trị “cần cù lao động” và giá trị “tự do sáng tạo” trong một xã hội hết sức coi trọng các giá trị, nhằm thúc đẩy con người, nhân lực, nhân tài phát triển. Một điều đáng lưu ý là via trò của môi trường xã hội, môi trường văn hóa, môi trường giá trị – môi trường tự do, dân chủ, bao trùm là tư tưởng coi trọng con người, con người phải được hưởng quyền bình đẳng, quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phú của con người, tạo ra một đất nước văn minh, phồn thịnh. Quan điểm tư tưởng đó là sản phẩm của tư duy, của lý trí hết sức linh hoạt, khai mở, không bảo thủ, không trì trệ. Dấu mốc thời đại lý trí hiện đại bắt đầu từ một nhân vật rất quan trọng trong lịch sử là tâm lý học Descartes. Thời đại văn minh tin học có nhiều đặc trưng mới đòi hỏi luôn phải đổi mới tư duy, như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã khẳng định. Sự vận động xã hội, vận động của con người nói chung phụ thuộc rất nhiều vào sự năng động, kịp thời đổi mới tư duy của các cơ quan làm chính sách.

Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, tư duy loài người mang đặc trưng mới gọi là tư duy phứ hợp, một chủ đề không thể thiếu đối với các ngành khoa học nhân văn, trong đó có tâm lý học và giáo dục học ngày nay. Xã hội công nghiệp có tiếp tục phát triển hay không, văn minh công nghiệp có tiến lên cá bậc thang mới hay không đều trông chờ vào phát triển năng lực nói chung, đặc biệt là năng lực tư duy phức hợp của từng con người nói riêng (do trình độ thông minh ngày nay không chỉ có chỉ số trí tuệ IQ, mà còn có chỉ số trí tuệ cảm xúc EQ, chỉ số đam mê PQ, chỉ số sáng tạo CQ…). Theo Morin, con người đang tiến tới tư duy phức hợp. Tư duy phức hợp, nói vắn tất là tư duy hệ thống, “hệ thống mở”, tức là xem xét hệ thống luôn trong quan hệ với môi trường của nó (phương pháp tiếp cận này rất quan trọng trong nghiên cứu phát triển bền vững con người, như trí tuệ, tài năng, nhân cách…). Tiếp theo, Morin đi vào tính phức hợp trong tư duy. Vấn đề này được nên thành vấn đề khoa học từ nhà sáng lập ra điều khiển học Wiener (1894 – 1964) đã phát minh ra khái niệm “Liên hệ ngược”, Ashby (1903 – 1972), người Mỹ gốc Hungary… Tính phức hợp là đặc trưng của mọi hệ thống bao giờ cũng có nhiều thành tố, nhất là hệ thống sinh vật sống, hệ giá trị và hệ thống xã hội, bao giờ cũng chứa đựng vô vàn mối quan hệ phức tạp, hơn nữa, các mối quan hệ này luôn vừa lĩnh vừa động, trật tự và không trật tự, nhiều khi lại xảy ra một cách ngẫu nhiên (ngày nay có các khoa học về cái không chính xác như toán học tập M…), nhất là nghiên cứu não người, tâm lý người, thế giới tâm linh và xã hôi, thậm chí ông còn đề xuất một khái niệm then chốt mới “siêu phức hợp – hypercomplicite” để xe xét vấn đề con người. Nghiên cứu giá trị học – hệ giá trị, thước đo giá trị, định hướng giá trị, nhất thiết phải có phương pháp tiến cận hệ thống và phức hợp.

III/ Công nghiệp hóa ở Việt Nam

Nước ta bắt đầu công nghiệp hóa ở miền Bắc từ năm 1960, và tiến hành trong cả nước từ thời đổi mới (năm 1986). Trước đó, chế độ đô hộ của thực dân Pháp chỉ nhằm khai thác thuộc địa, chủ yếu là mở mang ngành mỏ, giao thông với quy mô nhỏ như: xây dựng đường sắt Mỹ Tho – Sài Gòn năm 1885, Hà Nội – Hải Phòng năm 1902, Hà Nội – Lào Cai năm 1906. Đến năm 1936, hoàn thành đường sắt Bắc – Nam,…; xây dựng thành phố Sài Gòn và Hà Nội cuối thế kỷ XIX, một số công trình điện, nước chủ yếu phục vụ bọn quan lại cai trị, như Nhà máy điện Bờ Hồ (năm 1902), Nhà máy điện Yên Phụ (năm 1930), Nhà máy nước Yên Phụ (năm 1906); một số công trình văn hóa, như Trường Viễn Đông Bác cổ (năm 1894), Nhà hát Thành phố Hà Nội, Trường Đại học Đông Dương (1909 – 1911). Thực dân Pháp biến nước ta thành một nước nông nghiệp cực kỳ lạc hậu, một xã hội nghèo nàn và bị đàn áp vô cùng dã man với chỉ 5% dân cư biết chữ, cả nước phải dồn toàn lực, sức người, sức của vào kháng chiến. Đến thời kỳ đổi mới từ năm 1986, sau gần 30 năm, nước ta mới có điều kiện thực sự bắt tay vào xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế trong phạm vi toàn quốc.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần I


Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp ở đầu thế kỷ XXI. Việc tìm hiểu các giá trị trong văn minh công nghiệp trên thế giới nói chung và xây dựng các giá trị này trong xã hội ta là chủ đề mang tính thời sự hàng đầu mà các khoa học nhân văn, trong đó có tâm lý học và giáo dục học có trách nhiệm tham gia, góp phần thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chúng tôi đã đề cập nền văn minh nguyên thủy kéo dài khoảng 2 triệu năm, nền văn minh nông nghiệp kéo dài 60 – 70 thế kỷ, nền văn minh công nghiệp kéo dài hơn 2 thế kỷ và nền văn minh hậu công nghiệp dự báo sẽ kéo dài hơn 1 thế kỷ.

Nền văn minh công nghiệp bắt nguồn từ cách mạng khoa học và cách mạng kỹ thuật.

I/ Cách mạng khoa học và cách mạng kỹ thuật

Văn minh công nghiệp chủ yếu dựa vào nền sản xuất công nghiệp. Nền sản xuất này đánh dấu một bước tiến nhảy vọt trong văn minh nhân loại nên gọi là cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng này dựa vào tiền đề của hai cuộc cách mạng là cách mạng khoa học và cách mạng kỹ thuật. Cách mạng khoa học tiến hành sau thời kỳ Phục hưng, từ giữa thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVII (thuật ngữ “cách mạng khoa học” xuất hiện vào giữa thế kỷ XVIII), kéo dài khoảng 150 năm (1550 – 1700); với mốc là năm 1543 với phát minh của Copernicus (1472 – 1543) được công bố trong tác phẩm Về cuộc cách mạng trên bầu trời chứng minh trái đất tự chuyển động xung quanh trục trái đất trong một ngày và chuyển động xung quanh mặt trời trong một năm. Cùng năm đó, Vesalius (1514 – 1564) xuất bản tác phẩm Bàn về kiến tạo thân thể con người; Descartes (1596 – 1650) xuất bản tác phẩm Suy ngẫm năm 1641, tác phẩm Mô tả thân thể con người năm 1648; và năm 1687 là năm Newton (1643 – 1727) xuất bản tác phẩm Nguyên lý bàn về luật chuyển động và luật hấp dẫn…, là những thành tựu lớn trong cuộc cách mạng này. Cách mạng khoa học ra đời đã sản sinh các quan niệm khoa học mới về tự nhiên, xã hội và con người ở châu Âu, làm thay đổi hẳn tư duy và niềm tin so với thời cổ Hy Lạp của Platon và Aristotle, cũng như thời trung cổ của tín ngưỡng tôn giáo: tôn giáo, mê tín dị đoan, sự khiếp sợ trước thiên nhiên hay một “Đấng” tối cao, được thay thế bằng lý trí và tri thức – các phương pháp khoa học do Bacon (1561 – 1626) và Descartes xây dựng năm 1620 và năm 1637. Cách mạng khoa học đã sản sinh ra các khoa học mới như toán học, thiên văn học, vật lý, hóa học…, làm thay đổi tư duy của con người, bắt đầu một thời đại tâm lý hiện đại của con người và xã hội loài người. Lý trí và tri thức (học vấn) là hai giá trị rất tiêu biểu của văn minh công nghiệp.

Cách mạng khoa học đưa loài người đến cách mạng kỹ thuật. Ví dụ, nhà khoa học người Italy Galilei (1564 – 1642) – người được mệnh danh là “cha đẻ” của khoa học hiện đại đã có công lớn trong ứng dụng khoa học và công nghệ thông qua lý thuyết chuyển động học; hay có sáng chế ra nồi hơi có động cơ hơi nước của D. Papin (1647 – 1712), người Pháp, về sau được T. Newcomen (1664 – 1792) hoàn thiện động cơ hơi nước để bơm nước, rồi được T. Savery (1650 – 1715) sáng chế ra một đầu máy hơi nước. Sáng chế động cơ hơi nước này được coi là mở đầu cách mạng công nghiệp. Cùng với đó là sáng chế của nhà khoa học người Anh A. Darby (1678 – 1717) sáng chế ra lò than; A. Lavoisier (1743 – 1794) người Pháp đã chứng minh cháy là quá trình oxy hóa; năm 1774, J. Priestley (1733 – 1804) người Anh phát hiện ra oxy; H. Cavendish (1731 – 1810) phát hiện ra hydro… là những phát minh quan trọng trong cách mạng công nghiệp. Suốt gần hai thế kỷ, cách mạng khoa học đó là sự chuẩn bị cho cách mạng kỹ thuật bắt đầu từ thế kỷ XIX, dẫn đến cách mạng công nghiệp.

Cách mạng công nghiệp (công nghiệp hóa) là sự thay đổi quá trình sản xuất, giao thông… sang một chất lượng mới, số lượng mới, tốc độ mới, nói tổng quát là sức lao động mang một chất lượng mới, từ lao động cơ bắp sang quá trình sản xuất bằng máy móc (cơ khí hóa), với phát minh đầu tiên là máy hơi nước và than đá. Cách mạng công nghiệp (thuật ngữ “cách mạng công nghiệp” do Louis-Guillaume Otto (1754 – 1817) người Pháp đề ra năm 1799, đến năm 1830 bắt đầu được sử dụng rộng rãi) là điều kiện quan trọng đầu tiên để chuyển sang xã hội công nghiệp, với các thiết chế xã hội mới, cơ cấu lao động mới, dân số tăng thu nhập bình quân đầu người tăng, làm thay đổi cuộc sống thường ngày. F. Engels (1820 – 1895) trong tác phẩm Tình cảnh của giai cấp công nhân Anh năm 19844 viết: cuộc cách mạng công nghiệp dã thay đổi toàn bộ xã hội công dân. Ở phương Tây, Mỹ và một số nước, cách mạng công nghiệp đi liền với sự xuất hiện phương thức sản xuất tư bản với kinh tế thị trường.

Trong lịch sử loài người đã diễn ra ba cuộc cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất từ Anh sang Pháp, Đức, Mỹ… (còn gọi là bắt đầu thời kỳ hiện đại trong lịch sử văn minh loài người), cùng với Thế kỷ Ánh sáng và cách mạng Mỹ và Pháp… Cuộc cách mạng công nghiệp thứ hai tiến hành từ năm 1840 đến khoảng năm 1970. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba (còn gọi là hậu hiện đại) bắt đầu sau năm 1970. Công cuộc công nghiệp hóa theo hướng hiện đại ở nước ta, tuy đi sau các nước công nghiệp gần hai thế kỷ, nhưng ta đã biết tận dụng các thành tựu của cả ba cuộc cách mạng công nghiệp để đạt được những thành tựu tốt nhất. Nói đúng hơn, nước ta đang ở cả trình văn minh nông nghiệp, đang chuyển sang văn minh công nghiệp với cả ba mức, như Nghị quyết Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã nói, đến năm 2020 nước ta sẽ cơ bản công nghiệp theo  hướng hiện đại.

Ba trình độ phát triển hiện nay trên thế giới

Theo trình độ phát triển, các nước trên thế giới hiện nay được chia làm 3 nhóm: (1) Các nước đã phát triển: gồm hơn 40 nước và khu vực, như Mỹ, Australia, New Zealand, Nhật bản, Hàn Quốc, Hồng Kông (Trung Quốc), một số nước trong cộng đồng châu Âu…; (2) Các nước đang phát triển: gồm hơn 130 nước gồm Nga, Trung Quốc, một số nước Đông Âu, Việt Nam…; (3) Các nước kém phát triển với khoảng hơn 10 nước, một vài nước châu Phi, Mỹ Latinh và một số đảo quốc.

Sự phân chia ra nhóm các nước này dựa theo các tiêu chí: phát triển người (a) HDI: thu nhập bình quân/đầu người, tuổi thọ (tuổi thọ bình quân ở nước ta hiện nay là 73,6 tuổi), giáo dục, xóa mù chữ, phổ cập phổ thông cơ sở. HDI nói chung nước ta hiện đang thuộc nhóm trung bình trên thế giới. (b) Việc làm (nguồn nhân lực); (c) Y tế; (d) Thực phẩm; (đ) Nước sạch; (e) Nhà ở.

Để minh họa cho dễ hiểu, lấy ví dụ qua phương tiện giao thông – sản xuất và sử dụng:

1/ Đi bộ tương ứng với sản xuất nông nghiệp kéo dài cả triệu năm;

2/ Xe đạp đại diện cho phương tiện bán cơ khí, bắt đầu từ năm 1790, do Sivrac (Pháp) sáng chế;

3/ Xe lửa: xuất hiện năm 1830. Vận dụng phát minh máy hơi nước, công nhân mỏ Stephenson (Anh) đã sáng chế ra xe lửa, là biểu tượng khá điển hình cho cách mạng công nghiệp;

4/ Xe máy do Lenoir (Pháp) sáng chế năm 1860, đại diện cho cơ khí hóa, dấu hiệu đặc trưng cho sản xuất công nghiệp.

5/ Ô tô ra đời theo sáng chế của Benz (Đức) vào năm 1896;

6/ Máy bay ra đời năm 1903 theo sáng chế của hai anh em nhà Wright (Mỹ);

7/ Tàu vũ trụ ra đời nửa sau những năm 1950 theo thiết kế của Karaliôp (Liên Xô cũ) và nằm 1957 lần đầu tiên đưa nhà du hành Gagarin bay vào vũ trụ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị xã hội trong xã hội nông nghiệp – Phần cuối


II/ Những điều cần khắc phục trong tâm lý tiểu nông

+ Biểu hiện rõ nhất của tư tưởng tiểu nông là thiếu khoa học, chủ quan, duy ý chí, phiến diện, giản đơn, nặng về cảm tính và cảm tình.

+ Tác phong nông nghiệp biểu hiện khá rõ là tính tùy tiện (ví dụ, giờ giấc ít khi chính xác, tính kế hoạch kém, cẩu thả).

+ Hết sức bảo thủ, trì trệ, không năng động, thiếu sáng tạo, không nhạy cảm với cái mới, kém tính thích ứng.

+ Cục bộ, địa phương chủ nghĩa, gia đình chủ nghĩa, đặt họ hàng thân thích trên quyền lợi chung còn nặng nề.

Đến Đại hội IX (năm 2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn nhận định về “tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm…” là những rào cản trên đường xây dựng một xã hội mới. Theo đó, chương sách này muốn nêu lên vấn đề rằng: giá trị học, các nhà khoa học nói chung, nhất là khoa học xã hội, nhân văn, trong đó có tâm lý học và giáo dục học cần có trách nhiệm khắc phục những rào cản đó trong các giá trị của xã hội và con người Việt Nam. Được như vậy, xã hội chúng ta mới thực sự phát triển đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người, và thành công trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là người rất coi trọng vai trò của tâm lý học với việc xây dựng văn hóa dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: phải chống những cái gì trở ngại ta, phải chấm dứt những tệ nạn xấu xa do xã hội cũ để lại. Ở đây tập trung trích mấy điều cần khắc phục trong tâm lý tiểu nông, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là tâm lý thủ cựu, rời rạc, tư hữu…, thiếu quyết tâm, thiếu đoàn kết, thiếu tư tưởng lâu dài…, chỉ thấy lợi trước mắt, không thấy lợi lâu dài…, chủ quan… đồng bào và cán bộ phải đánh lui tư tưởng bảo thủ… Xã hội cũ chính là xã hội tồn tại bằng kinh tế tiểu nông với thiết chế làng xã bị phong kiến thống trị và thực dân đô hộ, bên cạnh mặt mạnh trong giữ gìn bản sắc dân tộc, chiến thắng thiên tai, chiến thắng các kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần, giành độc lập dân tộc, đồng thời đã để lại nhiều nét tâm lý xã hội cản trở sự phát triển xã hội công nghiệp, hiện đại. Từ xa xưa, tổ tiên ông cha vẫn dạy dỗ nâng niu những điều tốt lành theo hướng chân, thiện, mỹ là ba giá trị phổ quát của loài người và răn đe ngăn ngừa những điều sai, ác, xấu.

Đó là nhiệm vụ của các nhà chính trị và các nhà văn hóa. Chẳng thế mà Nguyễn Văn Huyên từ những năm 40 của thế kỷ XX, khi xã hội nông nghiệp nước ta còn chìm đắm trong chế độ thực dân – phong kiến, đã lên án thói hư tật xấu của người Việt Nam. Bên cạnh những ưu điểm trong đời sống tinh thần của nhân dân ta, ông cũng đã chỉ ra những điều cần khắc phục với lời khuyên đề phòng xu hướng “khái quát hóa quá mức”. Người ta hay nhận xét, và chẳng phải không có lý khi nói rằng nhược điểm lớn nhất của người Việt Nam là lười biếng, hay ít nhất cũng dễ có khuynh hướng buông trôi. Nguyên nhân chủ yếu của “bệnh” này là phương thức sản xuất nông nghiệp, như tác giả nhận định: “sống ngày nào biết ngày ấy”. Tất nhiên, ông còn chỉ ra một phần là do một nền giáo dục truyền thống chưa bao giờ có phương pháp… Thành ra ở người Việt có sự lười biếng về trí óc. Nói chung người Việt có chất nghệ sĩ nhiều hơn chất khoa học. Từ sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra thời đại sáng sáng, trí tuệ Việt Nam có bước tiến nhảy vọt, như lịch sử hơn nửa thế kỷ qua của dân tộc đã thể hiện. Qua các học sinh, sinh viên ta sang học ở Singapore, ông Lý Quang Diệu, cố thủ tướng nước này đã nhận xét: Người Việt Nam rất thông minh và rất nghị lực. Nghị lực là một giá trị tạo ra sức mạnh tinh thần để vượt qua khó khăn, một yếu tố rất cần thiết để đi đến thành công. Thông minh phải đi liền với chăm chỉ và nghị lực mới có kết quả cao trong lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc ta. Tính lười biếng giảm dần theo tiến độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nhưng trong suy nghĩ cũng như trong hành động của người Việt còn cảm tính nhiều hơn duy lý, nói đơn giản, nhiều khi tư duy còn nửa vời, suy nghĩ sáng tạo còn thiếu nhiều.

Bước vào thế kỷ XXI, nhiều tác giả đã quan tâm tới vấn đề đạo đức xã hội, nhân cách con người. Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu tập thể do GS.TS. Ngô Đức Thịnh chủ biên nêu 13 yếu tố được xem là 13 thói hư tật xấu đã và đang xuất hiện (tuy không nêu rõ có phải từ kinh tế tiểu nông hay không), trong đó vẫn còn tính “lười biếng” cần cải tạo mạnh mẽ hơn, tuy nhiều tác giả, khẳng định tính cần cù là một nét rất đặc trưng của người Việt Nam qua bao đời. 13 tật xấu đó là:

Vụ lợi/ham tiền Tò mò/thọc mạch
Giả dối Chuộng ngoại
Tự ti Tham vặt
Thực dụng Cậy thần cậy thế
Vô kỷ luật Lười biếng
Thích hưởng thụ Thụ động/ít sáng tạo
Mê tín dị đoan

Chúng tôi đồng tình rằng đó là những tính xấu cần khắc phục, tuy nhiên, có thể nêu vài điều, ví dụ, đôi chữ, từ ngữ có khác nhau, nhưng cũng có chỗ nội hàm có thể gặp nhau. Ví dụ, “vô kỷ luật” và “tùy tiện” có nội dung gần nhau, tuy có khác về mức độ chất lượng; nên hiểu “thực dụng” như thế nào cho đúng và có thời gian tính, chứ không theo một định kiến (xem lịch sử tư tưởng ở Mỹ có thể thấy, triết lý thực dụng ra đời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã phát huy tác dụng thúc đẩy tính tích cực lao động như thế nào suốt hơn một thế kỷ qua, đạt được những kết quả ngoạn mục cả thế giới phải khâm phục. “Thực dụng” trong tiếng Anh là “pragmatism”, “pragma” có nghĩa là “hành động”); “tò mò” và “thọc mạch” có lẽ không nên xếp cùng loại với nhau bởi có sự “tò mò” tích cực là tò mò khoa học, thích tìm hiểu, có “tò mò” xấu, còn “thọc mạch” là xoi mói, thích tìm cái xấu của người khác;… Tất nhiên, đây là vấn đề phức tạp, cần làm sáng tỏ dần, nhất là cùng với biến động thực tiễn.

Tác giả Hương Thủy khẳng định: “Người Việt có nhiều phẩm chất tốt đẹp, nhưng cũng có nhiều cái xấu, cái dở trong thời đại công nghiệp hóa, toàn cầu hóa…”, “do dân trí thấp”, “do trình độ văn hóa chung của xã hội và hiệu quả của hệ thống pháp luật”; nêu nhận xét của các em lưu học sinh Việt Nam về các hạn chế của người Việt, như thiếu tính cộng đồng, mạnh ai nấy sống, người ta hơn mình thì ghen tị, nhiều người giỏi nhưng tập thể thì lại không mạnh, rụt rè, thiếu tự tin, hay tự hào quá mức, theo cảm tính chủ quan nhiều hơn tư duy biện chứng – đều là thiếu khoa học. Ngoài ra còn những ý kiến nhận xét khác như nặng về tình hơn về lý với quan niệm: “Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”; tính khôn vặt; có người lại nói cảnh tượng nói to, ồn ào hoặc “gì cũng cười”; tính “liều”, “ẩu”, “tò mò”; tật khoe khoang, nói khích; “thiếu ý thức pháp luật”; tật không chính kiến, không dám sống thật là vấn đề được các nhà tâm lý học, xã hội học, văn hóa học quan tâm nhiều. Ngược lại, một số lại có lối sống thực dụng, ích kỷ với một “cái tôi quá lớn”. Tất cả những nhận xét này đều có cơ sở, nhằm chỉ ra những “tính xấu” cần khắc phục để cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh, xây dựng hình ảnh con người Việt Nam luôn tốt đẹp, văn minh, góp phần chuyển từ “văn hóa nông nghiệp” sang “văn hóa công nghiệp” trong tâm lý người Việt Nam. Ở đây cần nhắc lại rằng “đừng khái quát quá mức”, đặt vấn đề trong phạm trù “cá biệt và phổ biến”…, nhằm loại bỏ tình trạng “con sâu bỏ rầu nồi canh”, những tính xấu của một số rất nhỏ làm ảnh hưởng đến giá trị của cả một dân tộc.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị xã hội trong xã hội nông nghiệp – Phần đầu


I/ Các giá trị tích cực trong xã hội nông nghiệp Việt Nam

Các giá trị dân tộc luôn tồn tại và phát triển trong điều kiện sinh hoạt thực tiễn của cộng đồng trên từng vùng và của cả nước trong một không gian, thời gian cụ thể, thành các giá trị xã hội. Nếu không gian xã hội khoanh lại một trong phạm vi vùng miền, ta có giá trị vùng miền, ví dụ, giữa ba miền Bắc, Trung và Nam có một số khác biệt trong một số giá trị. Các giá trị xã hội của vùng miền có thể tác động trực tiếp, có thể qua tổ chức hay gia đình tới từng người (tâm lý học gọi là quá trình “xã hội hóa” và “nhập tâm”) thành “giá trị cá nhân” – “giá trị bản thân” – “giá trị nhân cách”. Cùng là qua quá trình “nhập tâm” nhưng mỗi người tiếp thu, lĩnh hội một cách khác nhau. Kết quả là bức tranh “giá trị xã hội” rất đa dạng, nhiều mức độ thể hiện những giá trị của thời trước để lại gọi là giá trị truyền thống, những giá trị mới hình thành gọi là giá trị hiện đại, một số giá trị gọi là giá trị truyền thống hiện đại hóa (truyền thống hiện hữu trong hiện tại), có khi gọi là “giá trị quá độ”; và giá trị xã hội, vùng miền, gia đình nội tâm hóa vào từng người thành “giá trị cá nhân”, “giá trị nhân cách”, “giá trị bản thân” thể hiện một cách cụ thể trong cuộc sống bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực, tiến bộ và phản tiến bộ… Mặt tốt, tích cực, tiến bộ gọi là “giá trị”, còn ngược lại là “phản giá trị”, hay gọi đơn giản là những thói hư tật xấu. Vì vậy, xã hội nào cũng phải duy trì việc giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, với nhiều hình thức khác nhau, để bảo tồn và phát huy các giá trị vốn có đề phòng, ngăn ngừa, uốn nắn, cải tạo các phản giá trị. Trong bài này nói về các giá trị xã hội ở nước ta, chú ý cả những “phản giá trị” cần khắc phục trong môi trường Việt Nam đang từ xã hội nông nghiệp chuyển sang xã hội công nghiệp theo hướng hiện đại, là đặc điểm lớn nhất cảu xã hội đương thời ở nước ta.

Các tài liệu nghiên cứu lịch sử, triết học, xã hội học, tâm lý học đã cho thấy từ khi có nhà nước Văn Lang, dân tộc ta đã sinh sống bằng nền kinh tế nông nghiệp. Có nhiều cách để tính lịch sử văn minh loài người như: theo công cụ lao động (đồ đá, đồ đồng, đồ sắt… đến nay là điện khí hóa, hóa học hóa, đặc biệt là sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin). Cũng có cách tính khác là theo nhiều nhà khoa học, văn minh loài người bắt đầu từ khi có kinh tế nông nghiệp đã đạt tới một trình độ phát triển nhất định được gọi là văn minh nông nghiệp, bắt đầu khoảng 10000  7000 năm trước. Ở nước ta, văn minh nông nghiệp, cụ thể là văn minh lúa nước cũng có tuổi đời từ rất sớm. Khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy hạt thóc hóa thạch ở tỉnh Hòa Bình với niên đại cách đây khoảng 9260 – 7620 năm. Như vậy, văn minh nông nghiệp bắt đầu từ văn hóa Đông Sơn, Hòa Bình. Lao động nông nghiệp ở nước ta từ xưa và nay phần nhiều vẫn là lao động nông nghiệp sản xuất nhỏ (tiểu nông) trong cộng đồng làng xã với những điều kiện thiên nhiên không phải hoàn toàn thuận lợi, nhiều thiên tai, lũ lụt, giặc ngoại xâm…, nhưng mặt khác đã, tạo lập dần những giá trị tốt đẹp, có tác dụng tích cực cho sự tiến bộ xã hội. Những giá trị cụ thể đó là:

+ Cần cù, nhẫn nại, chịu đựng trong lao động. Các nhà nghiên cứu đều có nhận xét về sự chăm chỉ của người Việt, một đức tính thường trực, thường xuyên, nhiều khi rơi vào tình trạng khốn khó vẫn gắng sức vượt qua.

+ Gắn bó với nhau trong cộng đồng, chống chọi với thiên nhiên, giành giật sự sống còn (tinh thần cộng đồng, tinh thần dân tộc từ thuở lập nước): con người sinh ra đã sống trong tình người, quan hệ người – người trong nhóm người, tập thể người, dần dần trong cuộc sống thường ngày, trong lao động kiếm sống, đặc biệt trong phòng chống thiên tai… thành tình xóm giềng, tính cộng đồng.

+ Quá trình gắn bó dần hình thành tình đoàn kết dân tộc, ý thức dân tộc một cách rõ nét. Tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng đấu tranh, chiến đấu giữ gìn nền độc lập của Tổ quốc, làm rạng rỡ non sông (thể hiện rõ từ thế kỷ thứ X và đạt đỉnh cao từ giữa thế kỷ XX, đặc biệt nhất là vào nửa sau thế kỷ XX). Có nhận xét rằng, nhiều trường hợp tinh thần dân tộc có sức sống mạnh hơn tính cộng đồng khi thoát khỏi cộng đồng làng xã.

+ Quan hệ gia đình bền chặt của thế hệ trước với thế hệ sau, từ quá khứ (thờ cúng tổ tiên), hiện tại đến tương lai, gia tộc và dòng họ và quốc tổ.

+ Tinh thần hiếu học, học bằng mọi hình thức, từ truyền miệng, giáo dục trong gia đình, cộng đồng, đến giáo dục chính quy trong các thiết chế xã hội và qua đó đến toàn xã hội.

Tóm lại, tiếp nối ý tưởng của các học giả nghiên cứu văn hóa, văn minh, giá trị học ở nước ta cần nhấn mạnh một số giá trị xã hội Việt Nam (giá trị dân tộc trong thời nay): hoạt động lao động, giáo dục; tinh thần cộng đồng, tinh thần dân tộc, ý thức dân tộc, lòng yêu nước… là những yếu tố tạo nên sức mạnh tinh thần của xã hội và con người Việt Nam hôm nay và mai sau. Đó là các giá trị bền vững trong đời sống tinh thần dân tộc ta, cần kế thừa thông qua giáo dục và tự giáo dục, là những giá trị cốt lõi của sức mạnh tinh thần giữ nước và dựng nước. Trong tác phẩm Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập của nhiều tác giả đã nêu 19 yếu tố được xem là giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống.

Anh hùng Cần cù
Chí công vô tư Chịu khó/nhẫn nhục
Đoàn kết Giản dị trong lối sống
Hiếu học Khoan dung tôn giáo
Lạc quan Rộng lượng/mến khách
Sáng tạo Thương người
Tinh tế trong ứng xử Trung thực
Vì nghĩa Ý chí tự cường
Ý thức cộng đồng Yêu gia đình làng xóm
Yêu nước  

Trong 19 yếu tố này, có một số yếu tố trùng hợp với bảng giá trị xã hội như đã nêu, như tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng (tinh thần cộng đồng), vì nghĩa, hiếu học, đoàn kết; giá trị cần cù và giá trị chịu khó/nhẫn nhục được ghép làm một, tuy thuật ngữ đầu khái quát hơn; cũng có yếu tố cần thảo luận thêm, như tinh tế trong ứng xử, sáng tạo…

Tuy nhiên, điều kiện xã hội hiện nay chưa thỏa mãn mọi nhu cầu của con người theo ý muốn, lao động lại tùy theo năng lực và ý thức, nên bên cạnh giá trị có phản giá trị, bên cạnh những nét tâm lý tích cực, còn có những tiêu cực. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (năm 1981) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi: “Nền kinh tế sản xuất nhỏ và chiến tranh du kích kéo dài đã để lại trong nhiều cán bộ, đảng viên những dấu ấn tiêu cực về cách suy nghĩ, những thói quen và tập quán lạc hậu, cách làm việc tùy tiện, tính bản vị, cục bộ, địa phương chủ nghĩa…”. Hai đặc điểm lớn nhất của nước ta trong nửa sau thế kỷ XX là kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ và chiến tranh kéo dài đã ảnh hưởng sâu đậm tới tâm lý xã hội và con người. Do vậy, hạn chế lớn nhất ảnh hưởng đến việc phát huy các giá trị tích cực của con người Việt Nam là tính khoa học quá yếu (lạc hậu, tùy tiện).

Hiện nay, các văn kiện chính trị cũng như các tài liệu khoa học đều nói: Việt Nam vẫn là nước nông nghiệp với 60% – 70% dân cư sống bằng nông nghiệp, tuy nhiên đóng góp của nông nghiệp vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) cũng còn thấp (chỉ 12% – 13%). Vấn đề chủ yếu cần bàn ở đây là nền sản xuất tiểu nông còn thiếu tiến bộ, đóng góp của khoa học vào đời sống và hoạt động của người dân chưa đáng kể, mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tràn lan và duy ý chí; thêm vào đó, các điều kiện sinh hoạt của đời sống hàng ngày còn thiếu thốn nhiều, phần nhiều còn chạy theo giá trị sống còn, chưa phá rỡ nhiều rào cản tâm lý chuyển sang kinh tế nông nghiệp công nghiệp hóa và cách sinh hoạt tương ứng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.