Biện chứng pháp Nāgārjuna – Phần IV


II/ Giải đáp

[Bác bẻ về sự phản biện thứ nhất]

XXI. Nếu sự phát biểu của tôi không thật có trong sự kết hợp với nhân và các duyên, hoặc không tùy thuộc chúng, thì không tánh của các pháp được lập bởi sự hiện hữu không có tự tánh của chúng (śūnyatvvam siddham bhāvānām asvabhāvatvāt).

Nếu sự phát biểu của tôi không thật có trong nhân và trong các duyên của nó…, nó là không có tự tánh, và, sự hiện hữu không có tự tánh, thì nó là không. Bây giờ không tánh thuộc sự phát biểu này của tôi được lập bởi sự hiện hữu không có tự tánh của nó. Và cũng như sự phát biểu này của tôi là không bởi sự hiện hữu không tự tánh của nó, cũng vậy là tất cả các pháp bởi sự hiện hữu không có tự tánh của chúng. Trong những trường hợp này, sự phát biểu của bạn: “Bởi không tánh thuộc sự phát biểu của bạn vì nó không thể xảy ra để lập không tánh của tất cả các pháp”, thì không có giá trị.

Xa hơn nữa:

XXII. Tánh của các pháp tùy thuộc được gọi không tánh, vì tánh mà tùy thuộc là không có tự tánh (yaś ca pratītyahbhāvo bhavati hi tasyāsvabhātvam).

Bạn không hiểu nổi nghĩa lý không tánh cảu các pháp. Vì vậy bạn đã bắt đầu phê bình tôi , nói: “Vì sự phát biểu của bạn là không có tự tánh, sự phủ định về tự tánh của các pháp thì không có giá trị”. Tánh của các pháp tùy thuộc là không tánh. Tại sao? Bởi nó là hông có tự tánh. Các pháp đó được bắt nguồn tùy thuộc thì thật sự không được phú bẩm với tự tánh; vì chúng không có tự tánh (ye hi pratītyasamutpannā bhāvās te na sasvabhāvā bahavanti, svabhāvābhāvāt). Tại sao? Bởi chúng tùy thuộc vào nhân và duyên (hetupratyaya-sāpekșatvāt). Nếu các pháp đã là bằng tánh riêng của chúng (svabhāvatah), thì ngay cả chúng sẽ là không có sự tích tập của nhân và duyên (pratyākhyāyāpi hetupratyayam). Nhưng chúng thì không phải vậy. Vì lẽ đó chúng được nói là không có tự tánh, và từ đó là không. Nói khôn khéo hơn, nó dẫn theo sự phát biểu của tôi cũng vậy, được bắt nguồn tùy thuộc (pratītyasamutpannatvāt), là không có tự tánh, và, sự hiện hữu không có tự tánh, là không. Nhưng các pháp thì giống như xe bò/ngựa, cái bình, y phục,… dù không tánh (svabhāvaśūnya) bởi vì được bắt nguồn tùy thuộc, được chiếm giữ bằng các chức năng riêng của chúng, ví như chuyên chở gỗ, cỏ và đất, chứa đựng mật, nước và sữa, và bảo vệ chúng bằng cách tránh lạnh, gió và hơi nóng. Tương tự cách phát biểu của tôi, mặc dù không tánh bởi vì được bắt nguồn tùy thuộc, được liên quan trong sứ mệnh hình thành sự hiện hữu-không-tánh cảu các pháp (nihsvabhāvatvapra-sādhane bhāvānām vartate). Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn: “Cách phát biểu của bạn, sự hiện hữu không tánh, là không, và đang là không, nó không thể phủ định tánh của tất cả các pháp”, thì không có giá trị.

Xa hơn nữa:

XXIII: Giả sử rằng một người, được nhân tạo (nirmitaka), sẽ ngăn cản (pratiședhayeta) người nhân tạo khác, hoặc người có phép thần thông (māyāpurușa) sẽ ngăn cản người khác được tạo ra do phép thần thông riêng của mình (svamāyayāsrștam) [khỏi phải làm điều gì]. Sự phủ định này sẽ thuộc về bản tánh giống nhau (pratiședho ‘yam tathaiva syāt).

Giả sử rằng người do nhân tạo sẽ ngăn cản người do nhân tạo khác bị chiếm đoạt bởi vài vật gì (kasmimścid arthe vartamānam), hoặc người thần thông do người có phép thần thông biến hóa ra (māyākārena srștah) sẽ ngăn cản người thần thông khác do phép thần thông riêng của vị ấy biến hóa ra và bị chiếm đoạt bởi vài vật gì. Có, người nhân tạo bị ngăn cản là không, và kẻ ấy (người nhân tạo) ngăn cản thì cũng không; người có phép thần thông bị ngăn cản là không, và vị ấy (người có phép thần thông) ngăn cản thì cũng không. Giống tích cách này, sự phủ định về tự tánh của tất cả các pháp do cách phát biểu của tôi có thể xảy ra, ngay cả dù sự phát biểu này là không (evam eva madvacanena śūnyenāpi sarvabhāvānām svabhāvapratiședha upapannah). Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn: “bởi vì không tánh thuộc sự phát biểu của bạn, sự phủ định về tánh của tất cả các pháp là không thể xảy ra”, thì không có giá trị. Trong cách này cũng là bị chướng ngại sự bàn luận có thể gây ra tranh luận trong sáu điểm mà bạn đã nói (tatra yo bhavatā satkotiko vāda uktah so ‘pi tenaiva pratișiddhah). Vì, việc này đang là vậy, nó không đúng là sự phát biểu của tôi không được bao gồm trong tất cả các pháp; không có pháp nào là không phải khôn; cũng không phải là tất cả các pháp là không phải không.

Bây giờ về cách phát biểu của bạn [hàm tàng trong v. II ở trên]:

XXIV. Cách phát biểu này thì không được phú bẩm với tự tánh (na svābhāvikam etad vākyam). Vì lý do đó không bỏ mất đi vị trí trên phần của tôi (tasmān na vādahānir me). Không có phù hợp (nāsti ca vaișamikatvam) và [kể từ đó] không có nhân đặc biệt nào được phát biểu (viśeșahetuś ca na nigadyah).

Cách phát biểu này của tôi, được bắt nguồn tùy thuộc, thì không được phú bẩm bằng tự tánh (na svabhāvopapannam). Như đã phát biểu trước đó, vì nó không được phú bẩm bằng tự tánh, nên nó là không. Và vì sự phát biểu này của tôi là không, cũng như tất cả các pháp khác đều là không, thì không có sự phù hợp. Vì, sẽ có sự phù hợp [duy nhất] nếu chúng ta nói: Cách phát biểu này là không phải không (aśūnya), trong khi tất cả các pháp khác là không (śūnya). Thế nhưng, chúng ta không nói điều đó. Vì lẽ đó, không có sự phù hợp. Và vì sự không phù hợp tái diễn, cách phát biểu này là không phải không, trong khi tất cả các pháp khác là không, không hiện hữu, chúng ta không cần phải phát biểu cái nhân đặc biệt này (tasmād asmābhir viśeșahetur na vaktayah): Vì cái nhân này (anena hetunā) sự phát biểu này là không phải không trong khi tất cả các pháp khác là không. Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn: “Có phần của bạn làm bỏ mất vị trí, thì không có sự phù hợp, và bạn phát biểu cái nhân đặc biệt này”, thì không có giá trị.

[Bác bẻ về sự phản biện thứ hai: xem v.III ở trên].

XXV. Ví dụ mà bạn đã đưa ra: “Ví dụ ấy thì giống như “Đừng gây tiếng động””, thì không thích hợp. Có tiếng động bị lấn át bởi tiếng động khác, nhưng trường hợp ở đây thì không giống như vậy (śabdena tac ca śabhasya vāranam naivam evaitat).

Ví dụ này, hơn nữa, không phải là của chúng ta (nāpy ayam asmākam drștāntah). Sự phát biểu “không” đó không ngăn ngại không tánh (na śūyatām pratiședhayati) như một người, khi vị ấy nói: “Đừng gây tiếng động”, thì tạo nên một tiếng động và ở cùng thời gian lấn át tiếng động khác. Tại sao? Bởi vì, trong ví dụ này, một tiếng động bị lấn át bởi tiếng động khác. Nhưng trường hợp ở đây thì không giống như thế. Chúng ta nói: Tất cả các pháp là không có tự tánh, và kể từ đó chúng là không. Tại sao?

XXVI. Bởi vì, nếu các pháp không có tự tánh bị ngăn ngại bởi một vài pháp không có tự tánh (naihsvābhāvyānām cen naihsvābhāvyena vāranam yadi), với sự hủy thể của sự hiện hữu không tánh của chúng sẽ được lập phú bẩm bằng tự tánh [của chúng] (naihsvābhāvyanivrttau svābhāvyam hi prasiddham syāt).

Ví dụ này sẽ phù hợp nếu bởi sự phát biểu không tánh bị ngăn ngại các pháp không tánh – như bởi tiếng động: “Đừng gây tiếng động” bị lấn át tiếng động khác. Thế nhưng, ở đây do sự phát biểu về không tánh bị phủ định tánh của các pháp (iha tu naihsvābhāvyena vacanena bhāvānām svabhāa-pratiședhah kriyate). Nếu do sự phát biểu không tánh đã bị phủ định sự hiện hữu không tánh của các pháp (yadi naihsvābhāvyena vacanena bhāvānām naihsvābhāvyapratiședhah kriyate), các pháp, bởi chính thực tế bị phủ định ở phẩm chất của chúng về sụ hiện hữu không tánh (naihsvābhāvyapratisiddhatvād eva) sẽ được phú bẩm với tự tánh (sasvabhāvā braveyuh). Được phú bẩm với tự tánh, chúng sẽ là không phải không. Thế nhưng, chúng ta tuyên bố rằng các pháp là không, chứ không phải chúng là không phải không (śūnyatām ca vayam bhāvānām ācaksmahe, nāśūnyatām). Vì lý do đó, đây không phải là ví dụ (adrștānta evāyam).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: E.H. Johnston & Arnold Kunst – Biện chứng pháp Nāgārjuan – NXB PĐ 2014

Biện chứng pháp Nāgārjuna – Phần III


Xa hơn nữa:

XI. Vì sự phủ định “khong có cái bình trong nhà này” (nāsti ghato gehe) được thấy chỉ là một sự hiện hữu (sata eva), sự phủ định này thuộc ví dụ của bạn là sự phủ định về tự tánh hiện hữu (satah svabhāvasya).

Nó chỉ là một đối tượng hiện hữu mà bị phủ định, chứ không phải là một đối tượng không hiện hữu. Chẳng hạn, khi người ta nói: “Không có cái bình trong nhà này”, đó là một cái bình thật có mà bị phủ định, chứ không phải là một cái bình không thật có (sato ghatasya pratiședhah kriyate nāsatah). Giống như tính cách này nó dẫn đến sự phủ định “các pháp không có tự tánh” (nāsti svabhāvo dharmānām) là sự phủ định về tự tánh hiện hữu, chứ không phải của tự tánh không hiện hữu. Ở các trường hợp này, sự phát biểu rằng các pháp là không có tự tánh thì không có giá trị. Bởi đúng sự thật này sự phủ định thì có thể xảy ra, còn tự tánh của tất cả các pháp thì không bị phủ định.

Và lại nữa:

XII. Nếu tự tánh không hiện hữu, vậy cái gì, lúc ấy, mà bạn phủ định bởi sự phát biểu này? Sự phủ định về một vật không thật có được lập là vô ngôn (rte vacanāt pratiședhah sidhyate asatah).

Nếu tự tánh không hiện hữu gì cả, vậy cái gì mà bạn phủ định bằng sự phát biểu này: “Tất cả các pháp là không có tự tánh”? Sự phủ định một vật không thật có, ví như sự phủ định về sự mát lạnh của lửa (aganeh śaityasya) hoặc sự phủ định về hơi nóng của nước (apām ausnyasya), mà được thành lập là vô ngôn.

Xa hơn nữa:

XIII. Cũng như người vô minh (bāla) nhận thức sai lầm một tấm gương như nước, [và sự nhận thức sai lầm ấy được chuyển hóa nhờ vài người biết, giống tính cách ấy bạn có thể nghĩ rằng] bạn phủ định một tri giác sai lầm về một cái không có thực thể (evam mithyāgrāhah syāt te pratiședhyato hy asatah).

Khi người vô minh nhận thức sai một tấm gương như nước, một học giả (panditajātīyena perușena), muốn chuyển hóa tri giác của vị ấy, nói: “Nhưng tấm gương ấy thì không phải là nước” (nirjalā sā mrgtrașnā). Nói khéo hơn, bạn có lẽ nghĩ rằng sự phát biểu “Tất cả các pháp là không có tự tánh” được quyết định nhằm chuyển hóa sự nhận thức của con người về tự tánh trong các pháp là không có tự tánh (evam nihsvabhāveșu yah svabhāve grāhah sattvānām taysa vyāvartanārtham nihsvasvabhāvāh sarvabhāvā ity ucyata iti).

Theo việc này, chúng ta đáp:

XIV. Nhưng việc này đang là như vậy, uẩn của sáu pháp này hiện có: Sự nhận thức (grāha), đối tượng được nhận thức (grāhya), chủ thể nhận thức về đối tượng (tadgrahītr) ấy, sự phủ định (pratiședha), đối tượng bị phủ định (pratiședhya), và người phủ định (pratiședdhr).

Nếu việc này là như vậy, thì sự nhận thức của con người, đối tượng được nhận thức, người nhận thức nó, sự phủ định về sự nhận thức sai lầm, đối tượng bị phủ định, chúng là, sự nhận thức sai lầm, và người như bạn phủ định sự nhận thức này (pratiședdhāro yușmadādayo ‘sya grāhaysa) – tất cả những điều này hiện có. Uẩn của sáu pháp này là, vì lẽ đó, được thành lập (siddham șatkam). [Và] uẩn của sáu pháp này được lập (tasya șatkasya prasiddhatvāt), sự phát biểu của bạn tất cả các pháp là không, thì không có giá trị.

XV. Bạn có thể suy nghĩ rằng không có sự nhận thức, không có đối tượng được nhận thức, và không có chủ thể nhận thức. Nhưng, ở trường hợp đó, không có sự phủ định, không có đối tượng bị phủ định, và không có chủ thể phủ định.

Nếu, để tránh sự lỗi này (mā bhūd eșa doșa iti krtvā), bạn nói rằng không có sự nhận thức, không có đối tượng được nhận thức, và không có chủ thể nhận thức, thì ngay cả sự phủ định của sự nhận thức này, nghĩa là, sự phát biểu tất cả các pháp là không có tự tánh (grāhasya yah pratiședho nihsvabhāvāh sarvabhāvā iti), không hiện hữu. Đối tượng bị phủ định và những chủ thể phủ định, cũng vậy, không hiện hữu.

XVI. Và nếu không có sự phủ định, không có đối tượng bị phủ định và không có chủ thể phủ định và không có chủ thể phủ định, thì tất cả các pháp được thành lập, cũng như tự tánh của chúng (siddhā hi sarvabhāvās teșām eva svabhāvaś ca).

Và nếu không có sự phủ định, không có đối tượng bị phủ định, và không có chủ thể phủ định, thì tất cả các pháp không bị phủ định (apratisiddhāh sarvabhāvāh), và chúng có tự tánh (asti ca sarvabhāvānām svabhāvah).

Xa hơn nữa:

XVII. “Nhân” của bạn [vì lập luận đề của bạn] không thể được thành lập (hetoś ca te na siddhih). Thật vậy làm sao có thể là một “nhân” đối với bạn, khi các pháp là không có tự tánh (naihsvābhāvyāt kuto hi te hetuh)? Và luận đề về các pháp của bạn là không có “nhân”, không thể được lập (nirhetukasya siddhir na copapannāsya te ‘rhasya).

Nhân của bạn đối với luận đề tất cả các pháp là không có tự tánh thì không thể được lập (nihsvabhāvāh sarvabhāvā ity etasminn arthe te hetor asiddhih). Tại sao? Bởi tất cả các pháp, hiện hữu không có tự tánh, là không. Làm thế nào, vì lẽ đó, mà có thể là một nhân (tato hetuh kutah)? [Và] nếu không có nhân (asati hetau), thì làm thế nào có thể thật sự là luận đề không có nhân, chúng là tất cả các pháp là không, được thành lập? Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn tất cả các pháp là không thì không có giá trị.

Hơn nữa:

XVIII. Nếu sự phủ định của bạn về tự tánh được lập mà không có bất kỳ nhân nào (yadi cāhetoh siddhih svabhāvavinivartanasya te bhavati), sự khẳng định của tôi được phú bẩm với tự tánh của các pháp thì cũng được lập mà không có bất kỳ nhân nào (svābhāvyasyāstitvam mamāpi nirhetukam siddham).

[Lời bình này chỉ là một đoạn văn của bài kệ này. Vì một sự tranh luận tương tự cf. Candrakīrti, MKV, tr 55-56 (L. de La Vallée Poussin đã chỉ ra trường hợp này ở ghi chú 1 của ông ở trang 56).]

XIX. Cũng không thể bạn khẳng định rằng sự hiện hữu không có tự tánh của các pháp là sự hiện hữu của nhân này (atha hetor astitvam bhāvāsvābhāvyam ity anupapannam); vì không có một pháp đơn điệu nào trong thế giới này là không có tự tánh và [ở cùng thời gian] hiện hữu (lokeșu nihsvabhāvo na hi kaścana vidyate bhāvah).

Nếu bạn nghĩ rằng thật sự các pháp là không có tự tánh là sự hiện hữu của nhân, [chúng ta trả lời:] sự tranh luận thì không có giá trị. Tại sao? Bởi không có gì trong thế gian này là thật hữu, trong lúc đang hiện hữu không có tự tánh.

Xa hơn nữa:

XX. Nó không thể xảy ra để khẳng định rằng sự phủ định đến trước và lúc ấy pháp này mới bị phủ định. Cũng không phải là nó có thể xảy ra để khẳng định rằng sự phủ định đến sau [pháp bị phủ định], hoặc chúng là đồng thời. Tự tánh [của các pháp] là, vì lẽ đó, hiện hữu (yatah șvabhāvah san).

Nó không thể xảy ra để khẳng định rằng sự phủ định đến trước và lúc ấy pháp này mới bị phủ định. Vì, nếu pháp này bị phủ định mà không hiện hữu (asati hi pratiședhye), vậy thì sự phủ định của pháp gì (kasya pratiședhah)? Cũng không phải là nó có thể xảy ra để khẳng định rằng sự phủ định đến sau pháp bị phủ định. Vì, nếu pháp này bị phủ định [thật sự] được lập (siddhe hi pratiședhye), vậy mục đích gì được phục vụ bởi sự phủ định này (kim pratiședhah karoti)? Bây giờ [nếu bạn nói rằng] sự phủ định và pháp bị phủ định là đồng thời, [chúng ta trả lời]: Ngay cả trong cách ấy, sự phủ định thì không phải là nhân của đối tượng bị phủ định, cũng không phải là đối tượng bị phủ định cái nhân của sự phủ định (na pratiședhah pratiședhyasyārthasya kāranam pratiședhyo na pratiședhasya ca), cũng như nói về hai cái sừng, mọc lên cùng một lần (yugapadutpannayoh), cái sừng bên phải thì không phải là nhân của cái sừng bên trái, cũng không phải là cái sừng bên trái là nhân của cái sừng bên phải. Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn tất cả các pháp là hông thì không có giá trị.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: E.H. Johnston & Arnold Kunst – Biện chứng pháp Nāgārjuan – NXB PĐ 2014

Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần cuối


Thánh Nữ đang được nói đến trong Kinh này vốn thuộc dòng Bà La Môn, tức là ở hàng quý tộc. Xã hội Ấn Độ và Anh Quốc đều chú trọng giai cấp, và cho đến nay họ vẫn còn đặt nặng vấn đề giai cấp. Nước Mỹ là một quốc gia dân chủ, không ai có quan niệm phân chia giai cấp cả, mọi người đều sống rất bình đẳng. Còn Ấn Độ thì lại khác, những người thuộc giai cấp cao không được trò chuyện với người ở giai cấp thấp thua mình. Nếu vi phạm, họ sẽ bị những người thuộc giai cấp cao khinh rẻ, xem như kẻ không có chút giá trị, chẳng ra gì! Quan niệm phân chia giai cấp này rất lợi hại!

Thân phụ tôi hiệu là Thi La Thiện Kiến. Thi La tiếng Phạn và có nghĩa là giới luật, tuy nhiên ở đây thì hàm nghĩa mát mẻ (thanh lương).

Thân mẫu tôi tên là Duyệt Đế Lợi. Duyệt Đế Lợi cũng là Phạn ngữ. Trong kinh Phật, không có cái gì thuyết pháp một cách chánh thức; nên ở đây tôi chú giải thêm chút đỉnh, như duyệt nghĩa là hoan hỷ, vui vẻ; đế là hoàng đế. Vậy hoàng đế vui thích, ý nói người này rất xinh đẹp đến ngay cả hoàng đế cũng phải yêu thích – cũng có thể giải thích như thế.

Thật ra, ý nghĩa của tên gọi thì không nhất định, quý vị muốn giảng nghĩa thế nào cũng được, miễn sao hợp lý thì thôi, nhất là đối với tiếng Phạn. Do đó, sau khi nghe giảng rồi, quý vị xem kinh văn có chỗ nào không hiểu, thì chớ vội nói là mình không biết. Quý vị phải vận dụng trí huệ của chính mình để nghiền ngẫm, suy luận! Trí huệ của quý vị một khi khai mở thì: “Ồ! Tôi biết rồi, thì ra là như vậy!” Hễ nói cho hợp lý thì giảng thế nào cũng được, chỉ cần đừng mắng chửi người khác, đừng nói xấu hoặc bôi nhọ, cũng chớ nên cứng nhắc, cố chấp!

Vô Độc chắp tay thưa Bồ Tát rằng… Quỷ Vương Vô Độc nghe Thánh Nữ Bà La Môn nói xong, liền chắp hai tay lại, biểu thị sự cung kính, và nói với Thánh Nữ rằng: “Xin Thánh Giả hãy trở về và chớ thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Xin Bồ Tát hãy trở về nơi ở của mình và xin Ngài chớ nên lo âu, buồn bã, nhớ thương thân mẫu nữa. Xin Ngài hãy bớt lòng lưu luyến, tiếc thương bởi vì tội nữ Duyệt Đế Lợi được sanh lên cõi trời đến nay đã ba ngày rồi”.

Tại vì sao mà bà Duyệt Đế Lợi lại được sanh lên cõi trời? Vì nghe nói nhờ con trai của bà có lòng hiếu thuận, mặc dù là con gái, nhưng ở đây biểu thị là con trai, vì mẹ mà thiết cúng để tu phước, và bố thí chùa tháp thờ Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Bố thí tức là “trai tăng cúng chúng”, làm cơm chay cúng dường chư tăng. Như vậy, bà Duyệt Đế Lợi này có một người con trai rất hiếu thảo. Y đã bán hết tất cả gia sản để thiết trai tăng, cúng dường đại chúng tại các chùa và tháp thờ Đức Giác Hoa Tự Tại Vương Như Lai, ngõ hầu tu tạo phước lành cho mẫu thân.

Chẳng phải chỉ thân mẫu của Bồ Tát được thoát khỏi địa ngục, mà ngày hôm đó, những tội nhân Vô Gián cũng đều được an lạc, đồng được thác sanh cả. Ngoài ra, cũng trong ngày hôm đó, không riêng gì thân mẫu của Thánh Nữ Bà La Môn, mà vô lượng vô biện tội nhân ở địa ngục Vô Gián lúc bấy giờ cũng đều được thoát khỏi tội khổ, được sự an vui và đều được sanh lên cõi trời. Nói xong, Quỷ Vương chắp tay chào Thánh Nữ mà cáo lui. Quỷ Vương Vô Độc nói xong, liền cung kính chắp tay làm lễ chào Thánh Nữ, rồi rút lui.

Kinh văn:

Thánh Nữ Bà La Môn dường chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết các việc rồi, bèn đối trước tháp tượng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà lập hoằng thệ nguyện rằng: “Tôi nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sanh mắc phải tội khổ mà quảng thiết phương tiện, khiến cho họ đều được giải thoát”.

Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Quỷ Vương Vô Độc ngày trước, nay chính là Tài Thủ Bồ Tát: còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay là Bồ Tát Địa Tạng vậy”.

Lược giảng:

Thánh Nữ Bà La Môn dường chiêm bao chợt tỉnh. Câu này, nguyên văn chữ Hán là “Bà La Môn nữ, tầm như mộng quy”. Chữ tầm vốn có nghĩa là tìm kiếm, nhưng ở đây hàm ý khoảng thời gian không lâu lắm, chỉ trong khoảnh khắc. Cho nên, tầm như một quy tức là dường như vừa tỉnh dậy sau một cơn mơ ngắn ngủi vậy.

Rõ biết các việc rồi. Tỉnh dậy rồi, Thánh Nữ hồi tưởng: “Ồ! Tôi vừa đến một bờ biển và gặp Đại Quỷ Vương Vô Độc. Sau đó, tôi lại còn trông thấy các thú dữ ở địa ngục cùng các tội nhân nữa. Tôi có hỏi về chỗ thác sanh của mẹ tôi, và được Quỷ Vương cho biết là bà đã sanh lên cõi trời rồi!” Thánh Nữ biết rằng mọi việc mình vừa được chứng kiến hoàn toàn không phải là hư dối, mà là nhờ oai thần của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai gia bị, giúp cho mình được thành tựu ý nguyện.

Thánh Nữ bèn đối trước tháp tượng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà lập hoằng thệ nguyện rằng… Hoằng có nghĩa là rộng lớn, to tát. Thánh Nữ Bà La Môn phát thệ nguyện rộng lớn như thế nào? Cô ta nguyện: “Tôi nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sanh mắc phải tội khổ, những kẻ đang trầm luân trong sáu đường, mà quảng thiết phương tiện, lập ra nhiều phương chước, khiến cho họ đều được giải thoát, lìa khổ được vui”.

Tận vị lai kiếp tức là đến tận bao giờ? Khi nào sẽ là lúc cùng tận? Không thể có lúc cùng tận! Do đó, thệ nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng không có lúc cùng tận.

Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Quỷ Vương Vô Độc ngày trước, vị Quỷ Vương đã hỏi đáp cùng với Thánh Nữ Bà La Môn thuở nọ, nay chính là Tài Thủ Bồ Tát”. Như vậy, Bồ Tát Tài Thủ vốn là Vô Độc Quỷ Vương tu tập mà thành. Ngài đã tu pháp Thất Thánh Tài, bảy món của cải quý báu của hàng Thánh giả:

1/ Tín. Đức tin là một báu vật của sự tu hành.

2/ Giới Tài Bảo, Truyền Giới và thọ Giới là những sự kiện hết sức hy hữu (đặc biệt là trong thời Mạt Pháp), mà người xuất gia thì nhất định phải thọ Giới mới là người xuất gia hoàn chỉnh.

3/ Đa Văn Tài Bảo, nghe được hiểu biết rộng cũng là một tài sản quý báu.

4/ Xả. Biết bố thí, biết xả bỏ, cũng là một hạnh quý báu trong sự tu hành.

5/ Trí Huệ. Có trí huệ là điều rất thiết yếu, cho nên trí huệ cũng là báu vật của sự tu hành.

6/ Tàm. Tức là lòng xấu hổ.

7/ Quý. Là lòng hổ thẹn (sợ người chê).

Hai chữ tàm và quý này vốn thường đi chung với nhau, nhưng ở đây thì tách riêng ra. Trên đây là những bảo bối mà người tu hành cần phải có. Do có bảy món tài sản quý báu, thiêng liêng: Tín, Giới, Đa Văn, Xả, Trí Huệ, Tàm, Quý, nên gọi là Tài Thủ Bồ Tát.

Còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay chính là Bồ Tát Địa Tạng vậy. Cho nên, chúng ta cần phải học theo đức hạnh tốt đẹp của tiền thân Bồ Tát Địa Tạng, phải hiếu thảo với cha mẹ, độ thoát cha mẹ.

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.

Biện chứng pháp Nāgārjuna – Phần II


Hơn nữa:

IV. Nếu bạn nghĩ rằng sự giống nhau duy trì đúng sự phủ định của phủ định (pratiședhapratiședha) cũng vậy, đó là sai lầm. Đó là lời đề nghị của bạn mà bằng kết quả đặc tính định rõ của nó thì được giải thích thiếu sót (lakșanato dūsyate), không phải là lời đề nghị của tôi.

Bạn có lẽ nghĩ: “Theo đúng pháp (anenaiva kalpena), sự phủ định của phủ định cũng không thể xảy ra; vậy sự phủ định của bạn về cách phát biểu đang phủ định tự tánh của tất cả các pháp là không thể xảy ra (tatra yad bhavān sarvabhāvasvabhāva-pratiședhavacanam pratiședhayati tad anupapannam iti)”. Theo trường hợp này, chúng ta đáp: sự phủ định này cũng là sai lầm. Tại sao? Bởi kẻ phản biện áp dụng [duy nhất] cho đặc tính định rõ về lời đề nghị của bạn, chứ không phải lời đề nghị của tôi. Đó là do bạn nói rằng tất cả các pháp là không, không phải tôi. Luận đề bắt đầu (pūrvakah pakșah) không phải là luận đề của tôi. Trong những trường hợp này, sự phát biểu của bạn về lời đề nghị đó, vậy là trường hợp (evam sati) sự phủ định của phủ định cũng không thể xảy ra, thì không có giá trị.

Hơn nữa:

V. Bây giờ, nếu [bạn nói rằng] bạn phủ nhận các pháp sau khi đã hiểu chúng xuyên qua sự nhận thức (pratyakșa), [chúng ta đáp:] sự nhận thức xuyên qua các pháp được hiểu thì không hiện hữu (tan nāsti pratyakșam bhāvā yenopalabhyante).

Bạn không thể nói rằng bạn phủ nhận tất cả các pháp bằng cách phát biểu này “Tất cả các pháp là không”, sau khi đã hiểu chúng xuyên qua sự nhận thức. Tại sao? Bởi ngay cả sự nhận thức, công cụ nhận thức đúng (pramāna), là không, được bao gồm trong tất cả các pháp (sarvabhāvān-targatatvāt). Người mà hiểu các pháp này (yo bhāvān upalabhate) cũng là không. Như vậy, không có pháp nào như sự hiểu biết xuyên qua sự nhận thức, công cụ nhận thức đúng (tasmāt pratyakșena pramānena nopalambhabhāvah); và sự phủ định về điều không hiểu nổi thì không có khả năng luận lý (anupalabdhasya ca pratiședhānupapattih). Trong các trường hợp này, sự phát biểu của bạn tất cả các pháp là không thì không có giá trị.

Bạn suy nghĩ, có lẽ (syāt te buddhih), rằng bạn phủ nhận tất cả các pháp (sarvabhāvavyārtanam kriyate) sau khi đã hiểu biết chúng xuyên qua sự suy luận (anumāna), thân chứng (āgama) hoặc so sánh (upamāna).

Theo trường hợp này, chúng ta đáp:

VI. Trong sự bác bẻ của chúng ta về tri giác, chúng ta đã bác bẻ sự suy luận, thân chứng và sự so sánh rồi, cũng như các đối tượng được thiết lập bởi sự suy luận, thân chứng và ví dụ (anumānāgamasādhyā ye ‘rthā drștāntasādhyāś ca).

Chúng ta đã bác bẻ suy luận, sự so sánh và thân chứng rồi, trong sự bác bẻ của chúng ta về “công cụ nhận thức đúng (pramāna)”, tri giác. Chính như tri giác, “công cụ nhận thức đúng”, là không bởi vì tất cả các pháp là không (sarsvabhāvānām śūnyatvāt), vậy cũng là sự suy luận, sự so sánh và thân chứng là không bởi vì tất cả các pháp là không. Những đối tượng đó là được thiết lập bởi sự suy luận, thân chứng và sự so sánh cũng là không, bởi tất cả các pháp là không. Người mà hiểu các pháp xuyên qua sự suy luận, sự so sánh và thân chứng, cũng là không. Như vậy, không có sự hiểu biết về các pháp (tasmād bhāvānām upalambhābhāvah), và sự phủ định về tánh của các pháp mà không hiểu nổi thì không có khả năng luận lý (anupalabhānām ca svabhāvapratiședhānupapattih). Trong những trường hợp này, sự phát biểu của bạn tất cả các pháp là không thì không có giá trị.

Hơn nữa:

VII. Người biết trạng thái của các pháp (dharmāvasthāvido janāh) nghĩ rằng các thiện pháp có tánh thiện (kuśalānām dharmānām manyante kuśulam svabhāvam). Sự phân biệt giống nhau (viniyoga) được thực hiện với số còn lại [của các pháp] cũng vậy (các bất thiện pháp, và vân vân).

Lời bình về kệ này là sự liệt kê dài về 119 thiện pháp (kuśaladharmas) và các pháp (dharmas) khác, mà nó thiên hướng không ưa thích riêng trong luận thuyết về biện chứng pháp. Hoàn toàn là một số thuật ngữ chuyên môn vẫn được dùng, hơn nữa, không chắc chắn. Cf. Text, tr. 167, n. 173, mà nó đề cập đến bài báo của E.H. Johnston “Nāgārjuna “s List of Kuśaladharmas” (Bản liệt kê các thiện pháp của Long Thọ), trong Tạp chí (xuất bản ba tháng một kỳ) Lịch sử Ấn Độ, XIV, tr.314 – 323.

Trong Lời giới thiệu của họ (tr 39-40), những người thu thập và xuất bản quán sát: “Trong khi bản này được chia thành hai phần, 20 bài kệ trình bày những phê bình của kẻ đối lập về quan điểm của ngài Long Thọ và 50 bài kệ đưa ra sự giải đáp của Ngài, những kẻ phản biện không phải thật sự là tất cả đã thực hiện bởi sự phê bình giống nhau này. Những nhà lý luận dharmāvasthāvid về bài kệ 7 rõ ràng là người theo Phật giáo; dẫu khó để xác định được trường phái của họ, những chi tiết ở lời bình này loại trừ khả năng của những người theo Nhất thiếtu hữu bộ, theo họ lý thuyết về các pháp phần nhiều về sự tranh luận ở nơi khác sẽ áp dụng”. Giáo sư Tucci khẳng định cùng quan điểm này (Pre-Dinnāga Buddhist Texts on Logic, tr. Xiii). Với tôi, tôi thiên hướng dùng để nghĩ rằng tác giả của sự phản biện này chính là Naiyāyika, ông sử dụng để phản biện lại Long Thọ, một Phật tử, lập trường của những người theo thuyết duy thật của Phật giáo. Cf infra, tr.68, n 64, ở mục LV.

VIII. Và các pháp ấy dẫn đến sự giải thoát (nairyānika) có tự tánh dẫn đến sự giải thoát (nairyānikasvabhāva). Tương tự với các pháp mà chúng không dẫn đến sự giải thoát, và vân vân (anairyānikādīnām), các pháp đã được đề cập sự liên quan với trạng thái của các pháp (dharmāvasthoktānām).

Lời bình này đưa ra một số pháp và lúc ấy nói, như ở cuối lời bình này trên bài kệ đứng trước: Vậy, vì tự tánh của các pháp đang ở cách này được thấy là những loại (anekaprakāra) khác nhau, sự phát biểu của bạn tất cả các pháp là không có tự tánh và sự hiện hữu không có tự tánh, nên chúng là không (nihsvabhāvāh sarvabhāvā nihsvabhāvatvāc chūnyā iti), thì không có giá trị.

Xa hơn nữa:

IX. Nếu các pháp không có tự tánh, thì ngay cả cái danh “vắng bóng tự tánh” sẽ không hiệu hữu (nihșvabhāva ity evam nāmāpi bhaven naivam); vì không có danh thì không có đối tượng [được đặt tên] (nāma hi nirvastukam nāsti).

Nếu tất cả các pháp là không có tự tánh, hẳn sẽ, tuy nhiên, là sự vắng mặt tự tánh (yadi sarvadharmānā svabhāvo na bhavet tatrāpi nihsvabhāvo bhavet). [Nhưng] lúc ấy, thậm chí cái danh “vắng mặt tự tánh” sẽ không hiện hữu (tatra nihvabhāva ity evam nāmāpi na bhavet). Tại sao? Bởi không có danh thì bất cứ vật gì cũng không có đối tượng [được đặt tên] (nāma hi nirvastukam kincid api nāsti). Như vậy, vì cái danh hiện có (nāmasadbhāvāt), thì có tự tánh của các pháp; và vì chúng có tự tánh, nên tất cả các pháp là không phải không (aśūnya). Sự phát biểu của bạn, vì lẽ đó, tất cả các pháp là không có tự tánh và cách phát biểu ấy là không tánh, nên tất cả các pháp là không, thì không có giá trị.

Hơn nữa:

X. Bây giờ bạn có lẽ nói: Có tự tánh, nhưng tự tánh không thuộc về các pháp (sa ca dharmānām na vidyate). Lúc ấy có tự tánh nhưng không có các pháp (dharmair vinā svabhāvah), và bạn nên giải thích nó thuộc về cái gì (sa yasya tad yuktam upadeștum).

Bây giờ bạn có thể tưởng tượng: cứ cho rằng không có danh thì không có đối tượng; có một tự tánh, nhưng nó không thuộc về các pháp; như vậy, không tánh của các pháp bởi vì là không có tự tánh của chúng sẽ được lập (evam dharmaśūnyatā nihsvabhāatvād dharmānām siddhā bhavișyati), và cái danh sẽ là không có đối tượng [được đặt tên]. Theo trường hợp này, chúng ta đáp: Bạn sẽ giải thích đối tượng ấy, ngoài các pháp ra, bây giờ thuộc về tự tánh ấy như thế (evam yasyedānīm sa svabhāvo dharmavinirmuktasyārthasya sa yuktam upadeștum arthah). Thế nhưng, bạn đã không giải thích trường hợp ấy. Kể từ đó, sự giả định của bạn (kalpanā): “Có tự tánh nhưng không thuộc về các pháp”, thì bị bác bỏ (hīnā).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: E.H. Johnston & Arnold Kunst – Biện chứng pháp Nāgārjuan – NXB PĐ 2014

Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần XXXVII


Thánh Nữ đáp rằng: “Thân mẫu tôi tà kiến. Mặc dù là mẹ của tôi, nhưng tôi không thể che giấu những sai lầm của bà được, mẹ tôi là người tà tri tà kiến”. Tà kiến là một trong năm thứ kiến giải sai lầm (Ngũ Kiến) hoặc năm mối sai khiến (Ngũ Lợi Sử): Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Kiến, Kiến Thủ Kiến và Tà Kiến.

1/ Thân Kiến (chấp là có thân mình). Thân kiến là luôn luôn lo toan tính toán cho cái thân của mình, không muốn nó phải chịu thiệt thòi. Thí dụ, ăn uống thì phải là đồ ngon đồ bổ, như thế mới khỏi lo sợ là sẽ ảnh hưởng không tốt cho cơ thể! Những người có thân kiến cứ muốn bồi bổ thân hình cho mập mạp, béo tốt, không ngại thân mình quá thừa thịt thừa mỡ; bởi họ cho rằng như thế mới là thân thể khỏe mạnh, càng mập càng tốt. Lúc nào họ cũng sẵn sàng vì bản thân mà ưu tư, tính toán, phải ở nơi nhà cao cửa rộng, đầy đủ tiện nghi, ăn uống phủ phê, áo quần sang trọng… từ sáng đến tối chỉ nghĩ tới chuyện hưởng thụ sung sướng và chăm sóc cái thân này từng ly từng tí. Đó là nói về thân kiến, không muốn cho thân thể chịu thiệt thòi, tổn thất.

2/ Biên Kiến (cực đoan, chỉ thấy một bên). Biên kiến tức là nhìn sự việc một cách thiên lệch hoặc quá khích. Thí dụ, hút thuốc lá là có hại, nhưng những kẻ có biên kiến lại nói rằng, hút thuốc thì chẳng có gì là không tốt cả, và còn ngoan cố bảo rằng, làm như thế mới là hay, là tài giỏi nữa! Họ lại còn biện hộ rằng, quý vị sở dĩ chống đối việc hút thuốc là vì quý vị chưa hiểu hết được sự thần diệu của nó, chứ một khi được “nếm” qua sự thần diệu đó rồi thì e rằng ai nấy cũng đều không muốn từ bỏ, và biết đâu lại còn hút nhiều hơn!

Những kẻ có biên kiến thường nói năng rất khéo léo, lưu loát, viện dẫn lý lẽ rất hùng hồn, nhưng thực chất thì chỉ toàn là thành kiến và lệch lạc.

3/ Kiến Thủ Kiến (cố chấp, bám chặt vào kiến giải sai lầm).

4/ Giới Kiến (hiểu sai về giới, trì giữ những giới sai lạc). GIới kiến chính là tà giới. Thí dụ, có những kẻ chỉ thấy người theo đạo Phật thì không ăn thịt, liền nói: “Không ăn thịt thì có gì đáng nói? Quý vị biết không, có người ngay cả muối họ cũng không ăn nữa, như thế mới là có bản lãnh chứ! Nếu không tin thì quý vị thử làm xem!” Và họ cố ý cứ như thế mà đi dần tới việc hủy báng Tam Bảo. Nói chung, cho dù việc quý vị làm rõ ràng là đúng, nhưng những kẻ có giới kiến vẫn bới lông tìm vết, cố tìm cho ra khuyết điểm để phê phán, dèm pha cho bằng được.

5/ Tà Kiến (cái thấy tà vậy). Thí dụ, khi thấy mọi người đều ca ngợi hạnh hiếu thảo, thì kẻ tà kiến lại bảo: “Hiếu thảo cha mẹ để làm gì? Cha mẹ sanh con đẻ cái là hậu quả của lòng ham khoái lạc nhất thời, chứ nào phải tử tế gì đâu?” Và vì thế, họ bỏ mặc, không đoái hoài tới cha mẹ: đến khi cha mẹ già nua rồi qua đời thì họ thở phào nhẹ nhõm: “Cũng tốt thôi! Thế là thế giới bớt được một kẻ ngồi không, ăn bám”.

Những kẻ “tà kiến” thường nói năng dài dòng, viện dẫn lung tung. Như quý vị nói rằng, hiếu thảo cha mẹ là hợp với đạo lý, đúng với lẽ phải, thì họ phản đối và cãi lại: “Thật là ngu xuẩn! Hai ông bà đều già cả, sắp xuống lỗ hết rồi, còn hầu hạ hiếu thuận họ làm gì cho nhọc xác chứ?” Họ bảo quý vị ngu xuẩn, nhưng chính họ mới thực sự ngu xuẩn đến cực điểm! Đó là điển hình của hạng người đầy rẫy tà tri tà kiến.

Khinh chê ngôi Tam Bảo. Câu này nguyên văn chữ Hán là cơ hủy Tam Bảo. Cơ là giễu cợt, hủy là chê bai. Ví như có nhiều người thấy kẻ khác lạy Phật, liền mìa mai: “Xem kìa! Hắn sùng tín đạo Phật đấy. Những người tin Phật thì cái gì cũng làm, xem ra thì họ có gì hay hơn người khác đâu? Không phải là họ cũng chơi bời, cờ bạc rượu chè… như thiên hạ, việc gì cũng tham dự hết sao? Tin Phật thì được lợi ích gì?” Họ gán cho tín đồ Phật giáo cả núi tội, trút lên đầu người Phật tử cả đống lỗi, mà tội nào tội nấy đều nghiêm trọng hơn cả Thập Ác và Ngũ Nghịch rất nhiều, đó là gọi là .

Hủy là chê bai, phỉ báng. Thí dụ có người nói rằng: Quý vị không nên tin Phật, những người theo đạo Phật đều là những kẻ lừa đảo!” Nói như thế tức là chê bai, hủy báng Tam Bảo vậy. Hoặc có người lại nói rằng: “Phật, Pháp, Tăng đều là giả dối. Phật chỉ là tượng đất, Pháp chẳng qua chỉ là chữ viết trên giấy, còn Tu sĩ thì bất quá cũng là con người phàm phu tục tử mà thôi, đâu có gì đặc biệt? Thế thì tại sao mọi người cần phải tin lời Phật nói? Tại sao phải dập đầu quỳ lạy? Các người quả thật là ngu si tột bực!” Họ mắng nhiếc một hồi thậm tệ như thế, khiến cho những người tin Phật cũng sanh lòng hoang mang, ngờ vực, thậm chí có kẻ phải giấu diếm, không dám cho ai biết rằng, mình theo đạo Phật!

Trong số những vị cao niên thường đến đây nghe thuyết Pháp vào ngày Chủ Nhật, có một vị cách đây mấy năm đã từng ngỏ ý muốn được quy y với tôi, nhưng tôi trước sâu vẫn không nhận lời. Vì sao? Vì ông ấy muốn quy y một cách bí mật, không muốn để cho người khác biết! Quý vị xem, quy ý chứ đâu phải đi ăn trộm, thì tại sao phải bí mật, lén lét lút lút chứ? Ông ta muốn bí mật, nhưng ở đây tôi không có thứ “quy y bí mật” đó, cho nên tôi bảo ông ấy nên suy nghĩ lại. Việc này thật kỳ lạ! Ông ấy viện cớ gì? Ông ấy nói rằng ông ấy vốn là tín đồ Thiên Chúa giáo và có quen biết rất nhiều người trong giáo đoàn, bây giờ nếu họ biết ông ta theo đạo Phật thì họ sẽ cho rằng ông ta là kẻ phản đạo, là một tên phản đồ! Nhưng nếu không thú thật tức là ông ta lừa dối mọi người, như thế lại càng tội lỗi hơn nữa! Ông ta lại còn nêu ra nguyên do khác, đó là vì ông còn muốn nhận sự cứu tế từ nhà thờ nọ. Quý vị xem, như thế thì làm sao gọi là tin Phật được chớ! Thật là đáng thương!

Hoặc có lúc tạm tin. Tạm tin, tức là tin tưởng tạm thời, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, chứ chẳng phải mãi mãi tin tưởng. Chúng ta tin Phật, thì cần phải phát nguyện vĩnh viễn tin Phật, không nên chỉ tin tạm thời như bà mẹ của Thánh Nữ Bà La Môn. Thí dụ có nhiều người nói rằng: “Tôi chỉ tin trong vòng một tiếng đồng hồ, quá một tiếng đồng hồ rồi thì tôi không tin nữa”, như thế gọi là tin tạm thời, hay tạm tin. Những người đó không thể nào duy trì lòng tin lâu tới hai tiếng đồng hồ được, họ chỉ tin trong một giờ đồng hồ mà thôi. Có người thì lòng hăng hái và nhiệt tình tin tưởng của họ chỉ kéo dài tối đa là năm phút, quá năm phút thì nguội lạnh hẳn, họ chỉ có thể giữ được tín tâm trong năm phút! Tuy nhiên, chúng ta học Phật thì cần phải tin Phật và cần phải phát nguyện mãi mãi có đức tin.

Vậy thì, có thể là cũng trong năm phút ngắn ngủi nào đó, bà mẹ của Thánh Nữ chịu theo con đi lễ Phật, quy y Tam Bảo, hoặc lạy một vị Sư làm Thầy, nhưng rồi chẳng kính. Khi đối trước tượng Phật thì bà lạy Phật tin Phật, nhưng chỉ vừa quay lưng là lập tức không còn cung kính nữa.

Dầu khuất không bao lâu, mà chưa rõ thác sanh về đâu. Mẹ tôi vừa mới qua đời, nhưng tôi không biết bà phải đầu thai vào chốn nào. Vô Độc hỏi rằng: “Thân mẫu của Bồ Tát tên họ là gì?” Vì Thánh Nữ Bà La Môn chưa cho biết danh tánh của bà mẹ, nên Quỷ Vương không thể không hỏi cho rõ ràng: “Chẳng hay mẹ của Ngài họ tên là gì? Bà cư ngụ nơi đâu? Địa chỉ của Ngài là gì? Xin Ngài hãy kể rõ”.

Thánh Nữ đáp rằng: “Thân phụ và thân mẫu tôi đều dòng dõi Bà La Môn”. Xã hội Ấn Độ thời bấy giờ có bốn chủng tánh (những người có nghiên cứu về Ấn Độ phải biết bốn chủng tánh này là gồm những gì):

1/ Bà La Môn (tức là tịnh duệ, dòng dõi thanh tịnh).

2/ Sát Đế Lợi (dòng dõi vua chúa).

3/ Phệ Xá (hạng người hành nghề thương cổ, thương là đem hàng hóa đi bán, cổ là ngồi bán. Hành thương tọa cổ là chỉ cho nghề buôn bán).

4/ Chiên Đà La (giai cấp hạ tiện, thấp kém nhất trong xã hội, như hàng đồ tể chuyên giết heo, giết bò…). Tại Ấn Độ, những kẻ làm nghề đồ tể lúc đi đường đều phải nép sang một bên, không được đi chung hoặc ngnag hàng với người thuộc ba giai cấp trên; và cũng không được đi cùng một con đường với hàng quý tộc. Trên thân những người đồ tể đều có đánh dấu, ai trông thấy thì liền biết đó là hạng Chiên Đà La. Đồ tể là một công việc rất thấp hèn, nên những người hành nghề này đều bị liệt vào giai cấp thấp hèn nhất trong xã hội.

(còn tiếp)

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.

Biện chứng pháp Nāgārjuna – Phần I


I/ Những sự phản biện

I. Nếu những tự tánh (svabhāva) của các pháp (bhāva), bất cứ cái gì mà chúng có lẽ là, hiện hữu không nơi nào (sarvatra na vidyate), thì sự phát biểu [thực sự] của bạn chắc hẳn là không tánh (asvabhāva). Nó là không, vì lẽ đó, tại một vị trí để phủ nhận tự tánh [của các pháp].

Dù trong nhân (hetu), trong duyên (pratyava), trong sự kết hợp cả nhân và duyên (hetupratyaya-sāmāgrī), hay trong một vật khác nhau, không nơi nào hiện hữu tự tánh của các pháp, bất cứ cái gì mà chúng có lẽ là Trên nền tảng này, người ta nói rằng tất cả các pháp là không (śūnyāh sarvabhāvah). Chẳng hạn, cái mầm thì cũng không phải ở trong hạt giống, nhân của nó, cũng không phải ở trong các pháp được biết như là duyên của nó, chúng là, đất, nước, lửa, gió,… đưa ra từng duyên một, cũng không phải ở trong toàn bộ các duyên, cũng không phải trong sự kết hợp cả nhân và duyên, cũng không phải nó là bất cứ cái gì khác biệt với nhân và duyên (na hetupratyayavinirmuktah prthag eva ca). Vì không nơi nào có tự tánh, cái mầm thì không có tự tánh (nihsvabhāva). Hiện hữu không có tự tánh, nên nó là không (śūnya). Và cũng như cái mầm này là không có tự tánh và do đây là không, cũng vậy là tất cả các pháp không bởi vì đang hiện hữu không có tự tánh.

Ở đây chúng ta quán sát: Nếu việc này là vậy, sự phát biểu của bạn mà tất cả các pháp là không, thì cũng phải là không. Tại sao? Vì sự phát biểu của bạn cũng không phải là ở trong nhân của nó – bốn đại chúng (mahābhūta), đem tập họp lại, hoặc tách riêng (samprayukteşu viprayukteşu vā); cũng không phải ở trong các duyên của nó, những cố gắng thực hiện trong lồng ngực, trong cuống họng, trên đôi môi, trong lưỡi, trong chân răng, trên nóc họng, trong mũi, trên đầu,… (urahkanthausthajihvādantam ūlatālunāsikām ūrdhaprabhrtisu yatnesu), cũng không phải trong sự kết hợp của cả hai [nhân và các duyên]; lại cũng không phải là nó mà bất kỳ pháp nào ngoài nhân và các duyên. Vì nó là vô trú, nó là không có tự tánh, [và] vì nó là không có tự tánh, nên nó là không. Vì lý do này, nó không có khả năng phủ nhận tự tánh của tất cả các pháp. Một đốm lửa không hiện hữu thì không thể đốt cháy, một vũ khí không hiện hữu thì không thể cắt xén, nước mà không hiện hữu thì không thể làm ẩm ướt; tương tự một sự phát biểu không hiện hữu thì không thể phủ nhận tự tánh của tất cả các pháp. Trong những trường hợp này, sự phát biểu của bạn mà tự tánh của tất cả các pháp đã bị phủ nhận, thì không có giá trị.

II. Bây giờ, nếu câu này (vākya) được phú bẩm bằng tự tánh (sasvabhāva), lời đề nghị trước đây của bạn (pūrvā pratijñā) bị hủy (hatā). Có một điều không phù hợp, và bạn nên phát biểu chứng nhận đặc biệt cho nó (tasmin viśeșahetuś ca vaktavyah).

Bây giờ bạn có lẽ nghĩ rằng, để tránh nhược điểm này (mā bhūd eșa doșa iti): Câu này được phú bẩm bằng tự tánh, và đang được phú bẩm bằng tự tánh, thì nó không phải là không (aśunya); vậy tự tánh của tất cả các pháp đã bị phủ nhận bởi nó. Theo điều này chúng ta đáp: Nếu vậy, thì lời đề nghị trước đây của bạn “Tất cả các pháp là không” thì bị hủy diệt.

Xa hơn nữa:

Sự phát biểu của bạn được bao gồm trong tất cả các pháp (sarvabhāvāntargata). [Bây giờ] nếu tất cả các pháp là không, vì chứng nhân gì mà sự phát biểu của bạn là không phải không, sự phát biểu đó đã phủ nhận tự tánh của tất cả các pháp bởi vì nó là [chính nó] không phải không (yenāśūnyatvāt sarvabhāvasvabhāvah pratișiddhah). Vậy sinh khởi một sự đàm luận tranh biện trong sáu điểm (șatkotiko vādah). Nó là thế nào? – Vâng.

(1) Nếu tất cả các pháp là không, thì sự phát biểu của bạn là không, được bao gồm trong tất cả các pháp. [Và] một phủ định bởi sự [phát biểu] đó là không thì không có khả năng luận lý (tena śūnyena pratiședhānupapattih). Trong những trường hợp này, sự phủ định tất cả các pháp là không thì không có giá trị (aupapanna).

(2) Nếu, mặt khác, sự phủ định tất cả các pháp là không mà có giá trị, thì cách phát biểu của bạn là không phải không. [Nhưng] sự phủ định đó nó hình thành bởi nó là không phải không, thì không có giá trị (aśūnyatvād anena pratiședho ‘nupapannah).

(3) Bây giờ, nếu tất cả các pháp là không, nhưng cách phát biểu của bạn nhờ đó được có hiệu quả sự phủ định (yena pratiședhah) là không phải không, thì cách phát biểu của bạn không được bao gồm trong tất cả các pháp (sarvatrāsamgrhītam). Lời đề nghị của bạn, lúc ấy, bị mâu thuẫn bởi ví dụ này.

(4) Nếu, ngược lại, sự phát biểu của bạn được bao gồm trong tất cả các pháp, và nếu tất cả các pháp là không, thì sự phát biểu của bạn cũng là không. [Và] vì nó là không, nên nó không thể hình thành một sự phủ định (śūnyatvād anena nāsti pratiședhah).

(5) Chúng ta hãy giả sử rằng nó là không và bởi nó có sự phủ định (atha śūnyam asti cānena pratiședhah): “Tất cả các pháp là không”. Nhưng, trong trường hợp đó, tất cả các pháp, dù là không, sẽ có khả năng thực hiện các hành động (śūnyā api sarvabhāvāh kāryakriyāsamarthā bhaveyuh) là ngớ ngẩn.

(6) Hãy để nó được thừa nhận, lúc ấy, tất cả các pháp là không và chúng không có khả năng thực hiện các hành động (atha śūnyāh sarvabhāvā na ca kāryakriyāsamarthā bhavanti); hãy để lời đề nghị này không bị mâu thuẫn bởi ví dụ này (mā bhūd drștāntavirodhah). Trong trường hợp đó, tuy nhiên, sự phủ định về tự tánh của tất cả các pháp bởi cách phát biểu “không” của bạn thì không có giá trị.

Xa hơn nữa:

Vậy, nếu sự phát biểu của bạn hiện hữu (tadastitvāt), sẽ sinh khởi sự không phù hợp dưới đây: Một số pháp là không, và một số pháp khác thì không phải không (kimcic chūyam kimcid aśūnyam). Và bạn nên phát biểu nguyên nhân đặc biệt cho sự phù hợp đó, giải thích tại sao một số pháp là không, trong khi một số pháp thì không phải là không. Thế nhưng, bạn đã không phát biểu nguyên nhân đó. Trong những trường hợp này, cách phát biểu của bạn tất cả các pháp là không thì không có giá trị.

Hơn nữa:

III. Nếu bạn nghĩ rằng nó giống như nói “đừng gây ra tiếng động”, thì [chúng ta đáp:] điều này cũng không có giá trị. Vì một âm thanh ở đây mà vang lên sẽ lấn át âm thanh khác (śabdena hy atra satā bhavișyato vāranam tasya).

Bạn có lẽ nghĩ: khi vài người nói: “Đừng gây ra tiếng động”, thì chính anh ta gây ra tiếng động, và tiếng động ấy lấn át tiếng động khác; vừa đúng cách giống nhau, sự phát biểu không: “Tất cả các pháp là không” lấn át tự tánh của tất cả các pháp. – Theo điều này chúng ta đáp: Sự phát biểu ấy cũng là không có giá trị. Tại sao? Bởi một âm thanh ở đây vang lên phủ định âm thanh kế tiếp. Thế nhưng, ở trường hợp của bạn, nó không phải là sự phát biểu vang lên mà nó phủ định tự tánh của tất cả các pháp. Vì, trong ý kiến của bạn (tava hi matena), sự phát biểu này là không hiện hữu. Tự tánh của tất cả các pháp thì không hiện hữu (vacanam apy asat sarvabhāvasvabhāvo ‘py asan). Vậy, “nó thì giống như “Đường gây ra tiếng động”” là lời đề nghị có khuyết điểm (defective proposition) (vișamopanyāsa).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: E.H. Johnston & Arnold Kunst – Biện chứng pháp Nāgārjuan – NXB PĐ 2014

Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần XXXVI


Phía Đông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ ở đó càng trội hơn, càng nhiều hơn so với biển trước”. Do nguyên nhân nào mà có những biển này? Do ác nhân của Tam Nghiệp cảm vời ra và gọi chung là biển nghiệp, chính là chốn này vậy”.

Tam Nghiệp tức là ba nghiệp: thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Thân có ba nghiệp ác: sát, đạo, dâm là sát sanh, trộm cắp, và tà dâm không giữ quy củ. Ý có ba nghiệp ác là lòng tham, lòng sân hận, lòng si mê, (tham, sân, si). Miệng (khẩu) có bốn nghiệp ác là ỷ ngữ, vọng ngữ, ác khẩu, và lưỡng thiệt.

Ỷ ngữ là nói những chuyện trai gái không chánh đáng. Vọng ngữ là chuyên nói những lời gian dối, nói láo. Ác khẩu là dùng lời hung dữ mắng chửi người.

Lưỡng thiệt là nói lưỡi đôi chiều, gặp Trương Tam thì nói xấu Lý Tứ, gặp Lý Tứ thì nói xấu Trương Tam, để gây xích mích lẫn nhau. Một người mà nói hai lời trái nghịch nhau, như đi với Giáp thì nói Ất thế này thế nọ, còn đi với Ất thì lại nói Giáp thế nọ thế kia. Một cái lưỡi mà nói hai lời đâm thọc nhau, chẳng khác nào có hai cái lưỡi, cho nên gọi là lưỡng thiệt.

Miệng có bốn nghiệp ác, thân có ba nghiệp ác, ý có ba nghiệp ác, gọi chung là mười điều áp (Thập Ác), hoặc Tam Nghiệp Ác Nhân, tức là những chủng tử hoặc mầm mống gây tạo tội ác qua thân, khẩu và ý.

Vì sao lại có biển nước sôi sùng sục, cùng nhiều thú dữ và quỷ Dạ Xoa như thế? Đây đều là do những nghiệp nhân xấu ác của con người tạo ra mà chiêu cảm lấy quả báo. Trồng nhân lành thì gặt quả lành, gieo ác nhân thì chịu ác báo, nghĩa là bụng làm dạ chịu, nghiệp tội đều do mình tự gây ra và tự chuốc lấy.

Vậy ba cái biển này được gọi chung là biển nghiệp (nghiệp hải) và đều do nghiệp lực của con người cảm vời ra.

Kinh văn:

Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc rằng: “Địa ngục ở đâu?” Vô Độc đáp rằng: “Ở trong ba cái biển đó đều là đại địa ngục, nhiều đến số trăm ngàn, mỗi cái ngục đều khác nhau. Về địa ngục lớn thì có mười tám chỗ; bực kế đó có năm trăm chỗ, đủ sự khổ sở khôn lường; bực kế nữa có đến ngàn trăm, cũng đầy sự thống khổ khôn lường”.

Thánh Nữ lại hỏi Đại Quỷ Vương rằng: “Thân mẫu tôi mới mất gần đây, song không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào?”

Lược giảng:

Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc rằng: “Địa ngục ở đâu? Ngài nói có địa ngục, vậy chẳng hay địa ngục rốt cuộc ở nơi đâu?” Quỷ Vương Vô Độc đáp rằng: “Ở trong ba cái biển đó đều là đại địa ngục”.

Tại sao gọi là biển nghiệp (nghiệp hải)? Biển nghiệp tức là cái biển do nghiệp lực của chúng sanh tập hợp lại mà thành. Chữ “biển” còn ngụ ý rộng lớn, dồi dào; chứ không nhất thiết là một biển nước thật sự. Do đó, biển nghiệp ám chỉ nghiệp lực của chúng sanh nếu dồn lại, kết nhóm lại, thì cũng rộng lớn vô lượng vô biên như biển cả vậy.

Ba cái biển vừa kể này cũng có thể gọi là biển nghiệp, do ba nghiệp thân, khẩu, ý của con người tạo thành. Cho nên Quỷ Vương Vô Độc mới nói với Thánh Nữ Bà La Môn rằng: “Ở trong ba cái biển đó đều là đại địa ngục, nhiều đến số trăm ngàn, mỗi ngục đều khác nhau”.

Có bao nhiêu địa ngục? Có đến hàng ngàn hàng vạn địa ngục, và mỗi ngục mỗi có những thiết bị khác nhau, không ngục nào giống với ngục nào. Có thể nói rằng mỗi người gây mỗi nghiệp, chẳng ai giống ai, cho nên mỗi người tự tạo mỗi địa ngục cho chính mình. Địa ngục hoàn toàn không phải được xây sẵn hoặc chuẩn bị sẵn cho con người trước khi chết. Không phải thế! Địa ngục là do tự nghiệp của mỗi người chiêu cảm mà hiện ra, tự mình tạo nghiệp tội gì, thì phải gánh chịu quả báo tương ứng với tội lỗi đó, gây vô số ác nghiệp tất gặp vô số ác báo.

Thí dụ, có một nơi gọi là địa ngục “bào lạc”, cột đồng nung. Ở địa ngục này có cây cột làm bằng đồng, rỗng ruột nên có thể đốt lửa ở bên trong. Hạng người nào phải đọa vào địa ngục này? Đó là những người háo sắc đa dâm, chuyên làm điều bất chánh; bởi địa ngục cột đồng nung nóng này là do nghiệp lực của họ cảm vời mà ra! Họ nhìn cột đồng, song đối với họ thì đó không phải là một cột đồng rực lửa, mà là hình dáng của một con người – người nam thì thấy đó là một mỹ nữ, nên liền mừng rỡ nhào tới ôm chầm lấy, và vì thế bị lửa thiêu đốt đến bỏng da cháy thịt, muốn gỡ cũng gỡ không ra; còn người nữ nhìn cột đồng nóng thì lại thấy đó là một người nam khôi ngô tuấn tú, hoặc là bạn trai cũ của mình, liền vui mừng cho rằng “đất khách gặp cố nhân”, bèn hớn hở chạy ào đến ôm chầm lấy, nhưng tới nơi thì liền bị lửa dục (dục hỏa) này thiêu chết.

Tội nhân bị chết rồi, thì sau đó trong địa ngục có một ngọn gió tinh xảo (xảo phong), do một thứ diệu pháp tạo thành, thổi lướt qua. Ngọn gió này thổi đến thì họ đều sống trở lại, nhưng sau khi sống lại, họ lại quên mất hình phạt vừa mới thọ nhận, mà chỉ nhớ điều ưa thích trước, nên cứ chứng nào tật nấy, do đó lại phải tiếp tục chịu khổ báo, và các hình phạt tại địa ngục cột đồng nung cứ thế mà tái diễn. Ngoài ra còn có rất nhiều loại địa ngục, mỗi loại đều có những đặc điểm riêng; do đó nói là mỗi địa ngục đều rất khác nhau.

 Về địa ngục lớn thì có mười tám chỗ. Có tất cả mười tám đại địa ngục, trong mỗi địa ngục ấy lại ngăn thành mười tám gian, mười tám gian này chính là mười tám chỗ riêng biệt.

Bực kế đó có năm trăm chỗ, đủ sự khổ sở khôn lường. Thứ đến lại có năm trăm địa ngục, mà sự khổ sở ở nơi này nhiều đến đếm không xuể, kể không xiết.

Bực kế nữa có đến ngàn trăm, cũng đầy sự thống khổ khôn lường. Kế nữa thì lại có đến hàng trăm nghìn địa ngục, sự khổ sở ở những ngục này so với năm trăm địa ngục trên tuy có phần nào nhẹ hơn, nhưng nói chung thì vẫn là vô lượng vô biên.

Thánh Nữ lại hỏi Đại Quỷ Vương rằng: “Xin Ngài mở lòng từ bi mà chỉ bày cho. Thân mẫu tôi mới mất gần đây song không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào? Mẹ tôi vừa mới qua đời, tính đến nay cũng chưa được bao lâu, song tôi nóng lòng muốn biết linh hồn của mẹ tôi hiện đương phiêu bạt phương nào, xin Quỷ Vương làm ơn chỉ giúp cho.

Kinh văn:

Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: “Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen làm những nghiệp gì?” Thánh Nữ đáp rằng: “Thân mẫu tôi tà kiến, khinh chê ngôi Tam Bảo, hoặc có tạm tin, nhưng rồi chẳng kính; dầu khuất không bao lâu, mà chưa rõ thác sanh về đâu”. Vô Độc hỏi rằng: “Thân mẫu của Bồ Tát tên họ là gì?”

Thánh Nữ đáp rằng: “Thân phụ và thân mẫu của tôi đều dòng dõi Bà La Môn. Thân phụ tôi hiệu là Thi La Thiện Kiến, thân mẫu tôi tên là Duyệt Đế Lợi”.

Vô Độc chắp tay thưa Bồ Tát rằng: “Xin Thánh Giả hãy trở về, và chớ thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Tội nữ Duyệt Đế Lợi được sanh lên cõi trời đến nay đã ba ngày rồi. Nghe nói nhờ con của bà có lòng hiếu thuận, vì mẹ mà thiết cúng để tu phước, và bố thí chùa tháp thờ Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng phải chỉ thân mẫu của Bồ Tát được thoát khỏi địa ngục, mà ngày đó, những tội nhân Vô Gián cũng đều được an lạc, đồng được thác sanh cả”. Nói xong, Quỷ Vương chắp tay chào Thánh Nữ mà cáo lui.

Lược giảng:

Nghe Thánh Nữ nói muốn biết thân mẫu mình thác sanh vào chốn nào trong sáu nẻo luân hồi, Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: “Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen làm những nghiệp gì? Bà sinh sống bằng nghề gì? Thuở sinh tiền bà thích làm những việc gì?” Vì thấy Thánh Nữ Bà La Môn đến được địa ngục, thì nhất định là nhờ ở sức mạnh của oai đức nguyện lực, cho nên Quỷ Vương mới gọi Thánh Nữ là “Bồ Tát”.

(còn tiếp)

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.

Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần XXXV


Kinh văn:

“Rồi chúng lại tự chụp bắt, túm quắp đầu chân lại với nhau, hình trạng muôn thứ, chẳng dám nhìn lâu. Khi ấy, Thánh Nữ Bà La Môn nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ. Có một Quỷ Vương tên là Vô Độc, đến cúi đầu nghênh tiếp, hỏi Thánh Nữ rằng: “Lành thay, Bồ Tát! Do duyên sự gì mà Ngài đến chốn này?”

Bấy giờ, Thánh Nữ Bà La Môn hỏi Quỷ Vương rằng: “Đây là chốn nào?”

Vô Độc đáp rằng: “Đây là tầng biển thứ nhất ở phía Tây núi Đại Thiết Vi”.

Thánh Nữ hỏi rằng: “Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thật chăng?”

Vô Độc đáp rằng: “Thật có địa ngục!”

Thánh Nữ hỏi rằng: “Nay tôi làm sao được đến chốn địa ngục?”

Vô Độc đáp rằng: “Nếu không phải sức oai thần, cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này ra, ắt không bao giờ có thể đến được”.

Thánh Nữ lại hỏi: “Do duyên cớ gì mà nước trong biển này sôi sùng sục và có những người tội cùng các thú dữ như thế?”

Vô Độc đáp rằng: “Đây là những chúng sanh tạo ác ở cõi Diêm Phù Đề mới chế, quá bốn mươi chín ngày không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, họ lại không làm được nhân lành nào cả; vì thế nên cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm lấy địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này trước.

Cách biển này mười vạn do tuần về phía Đông lại có một cái biển, những sự thống khổ ở đó còn gấp bội chốn này Phía Đông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ ở đó càng trội hơn. Do ác nhân của Tam Nghiệp cảm vời ra và gọi chung là biển nghiệp, chính là chốn này vậy”.

Lược giảng:

Rồi chúng, tất cả những thú dữ và quỷ Dạ Xoa này, lại tự chụp bắt, túm quắp đầu chân lại với nhau, hình trạng muôn thứ, chẳng dám nhìn lâu. Những ác thú và quỷ Dạ Xoa này hè nhau túm lấy tội nhân, rồi bẻ quặp đầu và chân tội nhân lại. Hoặc có lúc quỷ Dạ Xoa túm lấy ác thú rồi bẻ quặp đầu và chân của ác thú; hoặc ác thú chụp bắt Dạ Xoa rồi cũng bẻ quặp đầu và chân của Dạ Xoa lại; hoặc quỷ Dạ Xoa và ác thú cùng bắt tội nhân rồi bẻ quặp đầu và chân của tội nhân lại với nhau. Nói chung là ai nấy đều bị bẻ vặn thành muôn hình vạn trạng, toàn là những hình thù rất ghê rợn, khủng khiếp, đến nỗi người thường chẳng dám nhìn lâu.

Khi ấy, Thánh Nữ Bà La Môn nhờ nương sức niệm Phật, Nam Mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, nên tự nhiên không kinh sợ trước những cảnh tượng hãi hùng đó.

Có một Quỷ Vương tên là Vô Độc, đến cúi đầu nghênh tiếp. Bấy giờ, thủ lãnh của loài quỷ là Quỷ Vương Vô Độc tiến đến lạy chào Thánh Nữ Bà La Môn, ròi hỏi Thánh Nữ rằng: “Lành thay, Bồ Tát! Do duyên sự gì mà Ngài đến chốn này?” Thưa vị Bồ Tát có thiện tâm, chẳng hay vì duyên cớ gì mà Ngài lại đến nơi đây?”

Bấy giờ, Thánh Nữ Bà La Môn hỏi Quỷ Vương rằng: “Tôi không rõ làm thế nào tôi lại đến được nơi này nữa, chẳng hay đây là chốn nào?”

Quỷ Vương Vô Độc đáp rằng: “Đây là tầng biển thứ nhất ở phía Tây núi Đại Thiết Vi”. Núi Đại Thiết Vi là một trong những hòn núi lớn ở bên ngoài núi Tu Di.

Thánh Nữ hỏi rằng: “Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thật chăng? Tôi thường nghe người ta nói rằng bên trong núi Thiết Vi có địa ngục, chẳng hay có thật như thế chăng? Có nhiều người không tin là có địa ngục, thế thì có thật là có địa ngục hay không?”

Vô Độc đáp rằng: “Thật có địa ngục! Quả thật có địa ngục, đây chẳng phải là do con người tưởng tượng ra, mà đích thực là có địa ngục!”

Thánh Nữ lại hỏi: “Nay tôi làm sao được đến chốn địa ngục? Do duyên cớ gì mà bây giờ tôi lại đến địa ngục này?”

Vô Độc đáp rằng: “Nếu không phải sức oai thần, cần phải do nghiệp lực; ngoài hai điều này ra, ắt không bao giờ có thể đến được”. Có hai nguyên nhân dẫn dắt đến chốn địa ngục Thứ nhất, là phải có oai thần, sức thần thông, đức hạnh, mới có thể đến được nơi này. Thứ hai, là do nghiệp lực, tức là vì có nghiệp tội nên mới bị đọa vào địa ngục. Như vậy, nếu không do oai thần hoặc nghiệp lực dẫn dắt, thì không thể nào đến được địa ngục.

Thánh Nữ lại hỏi: “Do duyên cớ gì mà nước trong biển này sôi sùng sục và có những người tội cùng các thú dữ như thế? Vì sao nước trong biển này nóng dữ dội như thế? Vì sao lại có nhiều tội nhân bị dìm trong nước sôi, và vì sao lại có đông đảo ác thú đến thế?”

Vô Độc đáp rằng: “Đây là những chúng sanh tạo ác ở cõi Diêm Phù Đề mới chết, quá bốn mươi chín ngày, tức là bảy tuần lễ, thường dọi là thất tuần hoặc bảy thất, không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, họ lại không làm được nhân lành nào cả…”

Diêm Phù Đề là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là thắng kim. Bởi vì lá của cây Diêm Phù Đàn Kim rụng xuống sông thì biến thành vòng ròng; thứ vàng này là thù thắng nhất, đặc biệt nhất, nên gọi là thắng kim. Thế giới mà chúng ta đương sống được gọi là cõi Nam Diêm Phù Đề.

Chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Đề khởi tâm động niêm đều là tội, đều là nghiệp, chúng ta thường xuyên tạo tác nghiệp tội. Những tội nhân trong biển này chính là những chúng sanh đã từng gây tạo ác nghiệp ở cõi Diêm Phù Đề vừa mới chết hoặc mới chết gần đây.

Đối với người đã chết, nếu quý vị muốn làm việc công đức để giúp cho họ được siêu thoát, cần phải làm trước ngày thứ 49 kể từ ngày họ chết. Bởi vì trước ngày thứ 49, nghiệp tội của người chết vẫn chưa được xét xử, quý vị có thể kịp thời vì họ mà làm công đức, để họ được hưởng sự lợi ích. Nếu để quá 49 ngày thì khi ấp nghiệp tội của họ đã được phán định xong xuôi, cũng như tòa án đã kết án định tội rồi vậy, không thể nào thay đổi được nữa. Vì thế, trong vòng 49 ngày này, nếu quý vị có thể tụng Kinh tụng Chú hồi hướng cho họ, thì có thể giúp họ được siêu độ, khiến họ đạt được sự lợi ích.

Thế thì, nếu sau 49 ngày, nghiệp tội của người quá vãng đã được xét xử xong, mà quý vị mới tụng Kinh siêu độ cho họ, thì họ có được hưởng công đức gì không? Tất nhiên là có, nhưng công đức mà họ được hưởng có ít bớt, năng lực có yếu hơn; tuy là không lớn lao, song chẳng thể nói là hoàn toàn không có. Do đó, từ rày về sau, nếu quý vị muốn làm công đức để hồi hướng cho những người quá vãng, thì tốt nhất là nên làm trước kỳ hạn 49 ngày sau khi họ qua đời.

Vậy những chúng sanh đang trôi nổi trong biển nước sôi là những kẻ mà lúc còn ở cõi Diêm Phù Đề đã trót gây tạo nhiều ác nghiệp, không hề làm việc thiện, chưa từng trồng nhân lành và chết đã quá 49 ngày mà vẫn không có ai làm thiện sự để hồi hướng công đức ngõ hầu giải bớt khổ nạn cho; vì thế nên cứ theo bổn nghiệp mà chiêu cảm lấy địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này trước. Căn cứ vào nghiệp tội trước đây họ đã tạo tác mà cảm thọ quả báo địa ngục, tự nhiên trước hết họ phải lội qua cái đại khổ hải này, nhận lãnh nghiệp báo mà họ đáng phải nhận lãnh”.

Quỷ Vương Vô Độc lại nói tiếp: “Cách biển này mười vạn do-tuần về phía Đông lại có một cái biển. Ở phía Đông của biển nước sôi này lại có một biển lớn khác; biển ấy cách biển này mười vạn do-tuần và những thống khổ ở đó còn gấp bội chốn này. Thấy những người trong biển này bị ác thú và quỷ Dạ Xoa xua đổi, rượt bắt. Quý vị cho rằng như thế là thống khổ, nhưng khi đến biển kia thì quý vị sẽ thấy rằng ở đó còn khổ sở và lợi hại hơn ở biển này rất nhiều!

(còn tiếp)

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.

Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần XXXIV


Kinh văn:

“Thánh Nữ Bà La Môn nghe nói xong liền nhảy chồm lên và bị té rớt xuống, các khớp tay chân đều bị tổn thương; những người ở cạnh bên liền đỡ dậy. Một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại, rồi bạch cùng trên hư không rằng: “Cúi xin Đức Phật từ bi thương xót, bảo ngay cho con rõ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!”

Lược giảng:

Đức Phật kể tiếp: Thánh Nữ Bà La Môn nghe nói xong liền nhảy chồm lên và bị té rớt xuống, các khớp tay chân đều bị tổn thương. Lúc bấy giờ, tinh thần của Thánh Nữ vô cùng căng thẳng, có thể nói là hầu như không còn lý trí nữa, chẳng nghĩ ngợi suy tính gì cả, nên mới nhổm dậy và lao mình nhảy phóc lên không trung như thế! Khi biết được tiếng nói từ trên hư không vọng xuống là của Đức Phật quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, Thánh Nữ vì nóng lòng muốn được gặp Ngài ngay lập tức, bèn ngoài người nhảy chồm lên hư không và bị té rất nặng. Tôi tin rằng, Thánh Nữ Bà La Môn này không biết “kung fu” mà cũng chẳng rành võ thuật, nên khi bị rớt xuống, cô không biết cách chống đỡ, vì thế tay chân mình mẩy đều bị tổn thương, có thể là bị trật khớp hoặc gãy xương, nên không tự đứng dậy được.

Những người ở cạnh bên liền đỡ dậy. Những người ở cạnh bên có thể là bà con thân thích hoặc bạn bè cùng đi với Thánh Nữ đến cúng dường Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, hoặc cũng có thể là các vị Sư hoặc Ni Sư trong chùa, vì trông thấy cô té nặng đến thế kia, nên bèn vội vàng chạy lại giúp đỡ.

Một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại, rồi bạch cùng trên hư không rằng… Bấy giờ, vì bị té quá đau đớn nên Thánh Nữ bị ngất xỉu, chẳng còn hay biết gì nữa, phải một lúc lâu cô ta mới hồi tỉnh; và nhớ lại việc mình phóng mình lên không trung vừa rồi, cô liền hướng lên hư không mà bạch rằng: “Cúi xin Đức Phật từ bi thương xót, bảo ngay cho con rõ chỗ thác sanh của mẹ con”. Hiện nay con chỉ có một nguyện vọng duy nhất là xin Ngài, Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, hãy rũ lòng từ bi thương xót mà mau nói cho con biết, chẳng hay mẹ con phải đầu thai vào chốn nào? Cúi xin Ngài hãy cho con biết mau lên, kẻo nay thân tâm con sắp chết mất! Con giờ đây đã bị té đến nông nỗi như thế này rồi, thân thể và tâm trí con đều rã rời, kiệt quệ.

Kinh văn:

Lúc ấy, Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: “Cúng dường xong, ngươi hãy mau trở về nhà, rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta, thời sẽ biết được chỗ thác sanh của mẹ ngươi”.

Bấy giờ, lễ Phật xong Thánh Nữ Bà La Môn liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Trải suốt một ngày một đêm, Thánh Nữ bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia, nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhảy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia; và thấy những trai cùng gái, số nhiều đến trăm ngàn muôn, thoạt chìm thoạt nổi trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt; lại thấy các Dạ Xoa hình thù khác nhau, hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu… răng nanh chìa ra ngoài miệng, bén nhọm dường gươm, đang lùa những người tội đến gần thú dữ.

Lược giảng

Lúc ấy, Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: “Cúng dường xong, ngươi hãy mau trở về nhà. Vì người vừa bị té, thân thể bị nhiều thương tích, vậy sau khi cúng dường ở đây xong thì ngươi nên sớm trở về nhà. Về đến nhà rồi thì thế nào? Rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta. Mặc dù tay chân ngươi đều bị tổn thương, nhưng ngươi hãy cố gắng ngồi cho ngay thẳng đoan chánh mà tưởng niệm đến danh hiệu của Ta, Nam Mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, thời sẽ biết được chỗ thác sanh của mẹ ngươi”.

Bấy giờ, lễ Phật xong Thánh Nữ Bà La Môn liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, lòng quá chân thành thiết tha nghĩ đến mẫu thân, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng, quên hết mọi đau đớn, cũng chẳng nhớ là tay chân mình đang bị thương, chỉ một lòng một dạ chuyên chú niệm danh hiệu của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai.

Trải suốt một ngày một đêm. Trong suốt quãng thời gian lâu như thế, Thánh Nữ tuyệt nhiên không nghỉ ngơi, chẳng ăn chẳng uống, cũng không đi tiêu đi tiểu. Thánh Nữ ngồi ngay thẳng, chứ không phải quỳ, mà ngồi suốt 24 tiếng đồng hồ, và chỉ chuyên tâm chí thành niệm Phật, ngoài ra không làm việc gì khác.

Bấy giờ, sau một đêm kiên trì niệm Phật, “Thánh Nữ bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia”. Trạng thái này gọi là gì? Đây không phải là cô ta nằm mộntg, mà là do thành tâm đến cực điểm cho nên “linh tánh” của cô ta xuất khỏi thân thể.

Linh tánh này, còn gọi là thần thức hoặc hồn phách, danh xưng tuy nhiều như vậy, nhưng cũng chỉ là một, chính là “thức thứ tám” của con người. Khi Thánh Nữ ngồi quá lâu, lại quên cả đau đớn, thì tất cả đều như ngừng lại, chỉ còn duy nhất một niệm là tưởng nghĩ đến danh hiệu của Đức Phật. Bởi một niệm này rất chân thành, khiến thức thứ tám có thể lìa khỏi thân thể để đi đến nơi khác, do đó Thánh Nữ thấy mình bỗng dưng lại ở tại một bờ biển xa lạ.

Những người ngồi Thiền mà nếu định thần ngồi được lâu, thì cũng có thể thấy được một vài cảnh giới nào đó. Ấy là vì lúc bấy giờ thức thứ tám của họ có thể rời khỏi thể xác, cho nên họ có thể thấy được cảnh giới khác.

Nếu quý vị được khai mở Ngũ Nhãn thì có thể nhìn thấy quỷ, thần, Bồ Tát, Phật… còn chưa mở Ngũ Nhãn thì không thể nào thấy được. Linh tánh (thức thứ tám) của người tu Đạo cũng có Ngũ Nhãn; khi linh tánh tách ra khỏi nhục thể, thì Ngũ Nhãn khai mở, do đó họ có thể trông thấy vô số cảnh giới. Thánh Nữ Bà La Môn này nhất định là có tu Đạo từ lâu, nên mặc dù Ngũ Nhãn của nhục thể chưa được khai mở, nhưng khi thức thứ tám rời khỏi xác thân, thì cô ta liền có thể thấy được các cảnh giới, và biết được rằng mình bỗng nhiên ở tại một bờ biển xa lạ.

Nước trong biển đó sôi sùng sục. Nước trong biển ấy không phải mát lạnh mà là rất nóng, nước đang sôi sùng sục. Trong biển nước sôi ấy, Thánh Nữ nhìn thấy có rất nhiều thú dữ. Có bao nhiêu thú dữ? Quý vị cũng không cần biết là bao nhiêu, nói chung là trong biển đó có rất nhiều thú dữ chứ chẳng phải ít! Các ác thú này, thân thể toàn bằng sắt, cứng chắc kiên cố, bay nhảy trên mặt biển. Chúng bay qua bay lại trên mặt biển với tốc độ rất nhanh, hết chạy rảo bên này, lại xua đuổi bên kia, chạy qua chạy lại, rượt bắt lẫn nhau.

Thánh Nữ lại còn thấy những trai cùng gái, số nhiều đến trăm ngàn muôn, thoạt chìm thoạt nổi trong biển. Số người này hết trồi lên thì lại hụp xuống, rồi lại bị các thú dữ giành nhau ăn thịt. Những ác thú nói trên ở trong biển nước sôi này để làm gì? Để ăn thịt những người nam kẻ nữ đang ngoi ngóp dật dờ đó! Đây đều là những ác thú hết sức hung dữ, mạnh mẽ; miệng chúng rất to, bụng cũng rất lớn, cho nên chúng có thể há miệng nuốt chửng từng người một.

Thánh Nữ lại thấy các Dạ Xoa hình thù khác nhau. “Dạ Xoa” tức là quỷ Dạ Xoa, vốn có tên là “quỷ Tiệp Tật”, vì chúng có thể bay và chạy vô cùng mau lẹ. Hình dạng của loài quỷ Dạ Xoa này rất kỳ dị và không giống nhau. Chúng trông như thế nào? Hoặc nhiều tay, có quỷ Dạ Xoa có tới mấy chục cánh tay; nhiều mắt, có quỷ Dạ Xoa thì chỉ có hai cánh tay nhưng lại rất nhiều mắt, trông xấu xí kỳ quái, lại rất hung ác dữ tợn; cũng có quỷ Dạ Xoa thì tay không nhiều, mắt cũng không nhiều, nhưng lại mọc rất nhiều chân; nhiều đầu.

Răng nanh chìa ra ngoài miệng, bén nhọn dường gươm. Miệng của quỷ Dạ Xoa giống như bồn máu, há ra có thể lớn bằng cái thúng, có thể nuốt chửng rất nhiều người trong cùng một lúc. Răng chúng thì lợi hại như đao kiếm, đã nhọn lại sắc bén vô cùng.

Các quỷ Dạ Xoa đó đang lùa những người tội đến gần thú dữ. Chúng xua đuổi các tội nhân, đẩy họ đến gần bọn ác thú như thế để làm gì? Đó là chúng giúp cho những con thú dữ kia kiếm mồi! Có lúc, vì loài người thì khôn ngoan hơn loài thú, nên tội nhân cũng trốn chạy ra xa được, nhưng rồi lại bị quỷ Dạ Xoa đón đường, chặn lại. Cho nên, đằng sau thì có thú dữ rượt đuổi, phía trước lại gặp quỷ Dạ Xoa cản đường; quả là tiền vô khứ lộ, hậu hữu truy binh. Các tội nhân ở đó đúng là bị dồn vào bước đường cùng, không còn lối thoát, trời trên đất dưới, chẳng trốn đi đâu được cả! Cho dẫu muốn tìm một người bạn để tới nhà lánh tạm một đêm cũng không được!

(còn tiếp)

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.

Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần XXXIII


Bởi biết rằng, mẹ mình sinh thời đã tạo nhiều ác nghiệp, sau khi chết tất phải bị đọa vào đường ác, nên Thánh Nữ “bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa, cũng những đồ lễ cúng, trái cây, đèn đuốic, tràng phản, bảo cái… rồi đem đến chùa tháp thờ tiên Phật mà làm đại lễ cúng dường”. Ở đây, “chùa tháp thờ tiên Phật” tức là nội viện chùa tháp của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai.

Kinh văn:

Trong một ngôi chùa kia, trông thấy hình tượng của Đức Giác Hoa Định Tự tại Vương Như Lai đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm, Thánh Nữ Bà La Môn chiêm lễ tôn dung, lòng càng bội phần kính ngưỡng, thầm nghĩ rằng: Đức Phật là đấng Đại Giác đầy đủ mọi trí huệ. Nếu Đức Phật còn tại thế, thì sau khi mẹ tôi mất, thảng như tôi đến bạch hỏi Phật, tất biết được nơi mẹ tôi thác sanh!

Lược giảng:

Trong một ngôi chùa kia, Thánh Nữ trông thấy hình tượng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm… Pho tượng này làm bằng đất sét, dung mạo Ngài được tô vẽ trông rất trang nghiêm, đầy uy đức, và đủ cả 32 tướng tốt cùng 80 vẻ đẹp, vô cùng viên mãn.

Bấy giờ, Thánh Nữ Bà La Môn chiêm lễ tôn dung, lòng càng bội phần kính ngưỡng. Càng ngắm nhìn dung mạo uy nghi của tượng Phật, Thánh Nữ càng thêm sanh lòng cung kính, ngưỡng mộ, và thầm nghĩ rằng: “Đức Phật là đấng Đại Giác đầy đủ mọi trí huệ. Nếu Đức Phật còn tại thế, còn trụ ở đời, thì sau khi mẹ tôi mất, thảng như tôi đến bạch hỏi Phật, tất biết được nơi mẹ tôi thác sanh!” Chắc chắn là Đức Phật biết rõ mẹ tôi hiện đang ở nơi đâu.

Phật là một người đã đại giác đại ngộ, Ngài có đủ cả ba thứ trí huệ: Đạo Chủng Trí, Nhất Thiết Trí và Nhất Thiết Chủng Trí.

Thảng có nghĩa là nếu, nếu như, giả sử.

Có một vấn đề mà nay tôi muốn nêu ra để mọi người cùng suy nghĩ. Đành rằng chúng ta tu hành thì không nên nghĩ ngợi nhiều, nhưng bây giờ mọi người hãy thử suy nghĩ về một vấn đề; là vấn đề gì? Đó là, “loài người chúng ta đến thế gian này là để ăn mà sống, hay sống để mà ăn?”

Kinh văn:

Lúc ấy, Thánh Nữ Bà La Môn cúi đầu khóc rất lâu, rồi lại chiêm luyến tôn tượng của Như Lai, bỗng nghe trên không trung có tiếng bảo rằng: “Này Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay Ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi!”

Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư không mà bạch rằng: “Chẳng hay đức thần nào đã giải bớt lòng sầu lo của tôi như thế? Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi ngày đêm thương nhớ, không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào”.

Bấy giờ, trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: “Ta là Đức Phật quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà người đương chiêm lễ đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh, nên Ta đến chỉ bảo”.

Lược giảng:

Bấy giờ, cô gái thuộc dòng Bà La Môn quỳ trước tôn gương của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai trầm tư nghĩ ngợi: “Đức Phật là bậc Đại Giác Ngộ có đầy đủ trí huệ nhất, tiếc thay nay Ngài đã vào cõi Niết Bàn rồi! Giá như Đức Phật còn tại thế, thì sau khi mẹ tôi qua đời, tôi có thể đến thưa hỏi Phật. Ngài nhất định biết rõ mẹ tôi phải đầu thai về chốn nào!”

Lúc ấy, suy nghĩ đến đó, Thánh Nữ Bà La Môn cúi đầu khóc rất lâu, rồi lại chiêm luyến tôn tượng của Như Lai. Chiêm là chiêm ngưỡng, ngắm nhìn; luyến là quyến luyến, không đành lòng rời xa, tưởng chừng như bị níu kéo bởi một sợi dây vô hình vậy. Thánh Nữ này chiêm luyến tôn tượng của Như Lai tức là cô ta đăm đăm ngắm nhìn, và trong lòng cứ thấy quyến luyến, không muốn xa rời tôn tượng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai.

Lúc bấy giờ, thân tâm Thánh Nữ Bà La Môn đang chuyên chú, trong lòng không có một vọng tưởng nào khác, ngoại trừ một niệm chí thành chiêm ngưỡng tượng Phật, một tấm lòng thiết tha nhớ nghĩ đến Phật tánh. Do đó, có thể nói rằng đây là lúc mà tâm của Thánh Nữ hết sức thuần thành, thanh tịnh. Bấy giờ, cô ta bỗng nghe trên không trung có tiếng bảo rằng: “Này Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay Ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi. Vậy ngươi chớ nên khóc lóc sầu thảm như thế nữa!” Mặc dù bà mẹ của cô ta có tội, nhưng bản thân cô ta có căn lành nên vẫn được gọi là Thánh Nữ.

Thánh Nữ Bà La Môn chắp tay hướng lên hư không mà bạch rằng: “Chẳng hay đức thần nào đã giải bớt sâu lo của tôi như thế?” Chẳng hay Ngài là vị Bồ Tát nào, thần tiên nào, mà từ bi chiếu cố, đến an ủi khiến cho tôi được khuây khỏa, không còn bi ai thống khổ nữa thế?” Chữ đức ở đây là chỉ về đức hạnh từ bi.

Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi ngày đêm thương nhớ. Thánh Nữ nói tiếp rằng: Kể từ khi mẹ tôi qua đời, tôi ngày nào đêm nào cũng nhớ nghĩ đến người. Bởi thân thể này của tôi là nhờ mẹ tôi mà có; người đã khó nhọc sanh ra tôi, thì tôi cần phải hiếu thảo với người. Song, tôi chưa tròn hiếu thuận, thì mẫu thân tôi đã vội qua đời! Vì thế, tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn và lại càng đau xót, tiếc thương hơn nữa! Có câu:

Thụ dục tĩnh nhi phong bất chỉ,

Tử dục dưỡng nhi thân bất tại.

Nghĩa là:

Cây muốn lặng, gió chẳng ngừng,

Con muốn phụng dưỡng, cha mẹ không còn.

Thế nào là cây muốn lặng, gió chẳng ngừng? Có những lúc, cây chỉ muốn đứng lặng yên, không thích lay động nữa: nhưng gió lại chẳng chịu để yên, cứ thổi đến làm cho cành lá cứ lắc lư xào xạc. Đó gọi là cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng.

Con muốn phụng dưỡng, cha mẹ không còn. Nghĩa là con cái muốn phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ để đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục, nhưng tiếc thay, bấy giờ cha mẹ đã không còn ở đời nữa!

Không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào. Ý của Thánh Nữ Bà La Môn muốn nói rằng: Công ơn của cha mẹ cao hơn trời, dày hơn đất. Bởi tôi ăn ở không tròn hiếu thuận với mẹ, nên nay tôi cảm thấy đau khổ và hối hận khôn nguôi. Tôi muốn biết tin tức của mẹ tôi, nhưng chẳng có nơi nào để có thể dò hỏi được cả. Không biết mẹ tôi được sanh lên cõi trời hay bị đọa vào địa ngục?

Bấy giờ, trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: Ta là Đức Phật quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm lễ đó… Thánh Nữ vừa dứt lời thì kỳ diệu thay, từ không trung vọng xuống tiếng trả lời rằng: “Ngươi muốn biết Ta là đức thần nào đến giải bớt lòng sầu lo của ngươi ư? Ta chính là Đức Phật quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, là đức Phật mà ngươi hiện đang chiêm ngưỡng, lễ bái đó!

Vì sao Thánh Nữ Bà La Môn có thể cảm động đến Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, khiến Ngài thị hiện từ trên hư không để nói chuyện với cô ta như thế? Câu trả lời hết sức rõ ràng: Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh nên Ta đến chỉ bảo. Bởi Ta thấy ngươi thương nhớ mẫu thân quá thiết tha, không giống như những người bình thường khác. Lẽ thường, người ta thương nhớ cha mẹ được mười phần, thì ngươi lại có đến 20 phần, bởi nhiều hơn bội phần nên mới đặc biệt, khác thường. Chính vì ngươi quá sức thiết tha, thành khẩn, nên mặc dù đã nhập Niết Bàn, Ta cũng phải cảm động mà đến để chỉ bảo cho ngươi!

(còn tiếp)

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.