Nguyên lý hậu hắc – Phần XI


Truyện tập lục còn viết: “Một người học trò hỏi: Muốn lúc ngồi yên tĩnh đem hết nguồn gốc của những thứ ham tiền ham sắc ham danh tìm ra rồi quét sạch, e rằng là việc khoét thịt để chữa vết thương hay sao? Tiên sinh nghiêm sắc mặt đáp: Đây là phương thuốc cứu người của ta, thật sự có thể loại bỏ nguồn gốc căn bệnh của con người. Người có bản lĩnh lớn, sau mười mấy năm nữa vẫn còn dùng tới. Nếu ngươi không dùng thì cứ để đó, chớ có làm hỏng phương pháp của ta”. Chúng ta thử nghĩ xem: Vương Dương Minh là một người rất biết kiềm chế, thường ngày ông giảng bài, bất kỳ người nào nếu có gì nghi vấn, ông đều tận tình trả lời, chưa hề tức giận. Vì sao học trò hỏi câu này, ông lại tức giận, trước sau không nói rõ đạo lý ra? Vì sao lại thừa nhận người nói câu này vẫn biết chút ý nghĩa? Chuyện này rất đáng để nghiên cứu.

Kinh hoàng và trắc ẩn cùng là một vật, thiên lý và nhân dục cũng cùng là một vật, giống như ngọn lửa dùng để thổi cơm, và ngọn lửa cũng có thể đốt cháy căn nhà. Các nhà Nho thời Tống, Minh không hiểu được đạo lý này, coi thiên lý và nhân dục là hai vật khác nhau. Dương Minh có thể kết hợp hai thứ hiểu biết và hành động làm một, có thể kết hợp hai thức minh đức và thân dân làm một, có thể nhìn nhận năm thứ cách vật, chí tri, thành ý, chính tâm, tu thân là một chuyện, chỉ có không thể nhìn nhận thiên lý và nhân dục làm một thứ. Đây là khuyết điểm trong học thuyết của ông, câu hỏi này của học trò ông đã chọc đúng vào điểm yếu của ông, bởi vậy ông mới tức giận.

Rốt cuộc mấy chữ “khoét thịt để chữa vết thương” là nói như thế nào? “Thịt” là thiên lý, “vết thương” là nhân dục, khoét thịt để chữa vết thương tức là coi thiên lý là nhân dục, bỏ đi nhân dục tức là khó tránh khỏi làm tổn hại tới thiên lý. Ý của người học trò là muốn nói: “Nếu chúng ta thấy một đốm lửa mà lập tức dập tắt đi, đương nhiên sẽ không xảy ra chuyện căn phòng bị đốt cháy, nhưng xin hỏi chúng ta biết lấy gì để thổi cơm bây giờ? Nói một cách khác, nếu loại bỏ tận gốc lòng ham vật chất, vậy thì con người sẽ không ăn cơm nữa, há chẳng chết đói hay sao? Loại bỏ tận gốc lòng ham sắc đẹp, sẽ không còn chuyện nam nữ sống chung nữa, nhân loại há sẽ không tuyệt diệt hay sao?” Câu hỏi này lợi hại tới mức nào! Cho nên Dương Minh không có câu trả lời, đành phải làm ra vẻ tức giận mà thôi. Đây là do Dương Minh học theo thuyết của Tống Nho, ra sức công kích Cáo Tử cho nên thiếu sự lĩnh hội đối với hai câu “sống tức là tính” và “ăn uống và chuyện nam nữ là bản tính của con người”.

Dương Minh nghiên cứu học thuyết của hai nhà Mạnh, Tuân cũng chưa triệt để. Truyện tập lục ghi chép lại lời của Dương Minh nói: “Mạnh Tử nói ngọn nguồn, Tuân Tử nói từ thói xấu”. Chúng ta thử nghiên cứu bốn chữ “kinh hoàng trắc ẩn” của Mạnh Tử, do kinh hoàng mà sinh ra trắc ẩn, kinh hoàng là ý niệm của “vì mình”, trắc ẩn là ý niệm của “vì người”, mở rộng “vì mình” thì thành “vì người”. Kinh hoàng là ngọn nguồn, trắc ẩn là dòng chảy. Học thuyết của Tuân Tử xuất phát từ hai chữ “vì mình”, học thuyết của Mạnh Tử xuất phát từ hai chữ “vì người”. Những điều mà Tuân Tử nói có phải là thói xấu hay không, chúng ta không bàn luận kỹ, phía trên kinh hoàng có còn ngọn nguồn nữa hay không, chúng ta cũng không cần tìm hiểu kỹ, chỉ có hai chữ trắc ẩn mà Mạnh Tử đã nói quả thực không phải là ngọn nguồn. Dương Minh nói những lời như vậy cũng là bắt nguồn từ việc đọc sách của Mạnh Tử, quên là bên trên trắc ẩn còn có hai chữ kinh hoàng.

Truyện tập lục là ghi chép lại những lời giảng dạy của Dương Minh khi còn trẻ, đến khi lớn tuổi, cách nói của ông không còn giống như vậy nữa. Sách “Long Khê ngữ lục” chép, Tiền Tự Sơn có nói bốn câu “bản tính vốn không thiện không ác, có thiện có ác tức là tư tưởng đang hoạt động, biết thiện biết ác là lương tri, vì thiện bỏ ác là truy tìm nguồn gốc của sự vật”, là sách đã hiệu đính của sư môn. Vương Long Khê nói: “Nếu ngộ ra được là tâm không thiện cũng không ác, ý tức là ý không thiện cũng không ác, biết từ là biết không thiện cũng không ác, vật tức là vật không thiện cũng không ác”. Khi đó Dương Minh đi chiến đấu ở Quảng Tây, buổi tối ngồi trên cầu Thiên Tuyền, hai người nói chuyện với nhau, Dương Minh nói: “Ý kiến của Nhữ Trung (tên tự của Long Khuê), tôi đã muốn phát biểu từ lâu nhưng sợ mọi người không tin, làm tăng thêm việc có hại, do vậy mới giữ tới ngày nay. Đây là tôi chuyên tâm giữ bí mật không dám nói ra, nay đã nói ra rồi thì cũng là thiên cơ đã đến lúc tiết lộ, há còn giữ bí mật được nữa sao”. Dương Minh đến Hồng Đô, hơn ba trăm học trò đến thỉnh giáo, Dương Minh nói: “Ta còn có một bí mật đã lâu không dám nói ra, để chờ chư vị tự mình ngộ ra. Gần đây bị Vương Nhữ Trung nói ra rồi, cũng là thiên cơ đã đến lúc tiết lộ”. Năm sau Quảng Tây được bình định, Dương Minh quay về, mất trên đường đi. Long Khuê nghe tin liền cho hết thiên lý, nhân dục lại thành một đống. Dương Minh mãi đến những năm cuối đời mới tiết lộ ra, từ đó biết được: Học trò đưa ra câu hỏi khoét thịt để chữa vết thương, Dương Minh bỗng nhiên nổi giận, không phải nói người đó sai mà là sợ người đó vượt bậc.

Tiền Đức Hồng rất giống với Thần Tú của ngũ tổ môn hạ, Vương Long Khê rất giống với Huệ Năng. Những điều mà Đức Hồng nói chính là thuyết “luôn luôn chăm phủi bụi” của Thần Tú, tức là dần dần. Những điều mà Long Khuê nói chính là thuyết  “vốn không có một vật” của Huệ Năng, tức là ngay lập tức. Dương Minh nói: “Nhữ Trung cần phải thực hành công phu của Đức Hồng, Đức Hồng cần phải thấu hiểu ý tứ ban đầu của Nhữ Trung, ý kiến của hai người chỉ có thể bổ sung cho nhau, không thể coi thường nhau”. Đây chính là thuyết “lập tức ngộ ra tu dưỡng dần dần”. Những đạo lý được nói tới trong “Long Khuê ngữ lục” không khác gì “Lục tổ đàn kinh”. Thuyết nói về tâm tính này chỉ có Phật môn là nói một cách tinh túy nhất, do vậy đệ tử của Vương môn phần lớn đều theo Phật môn, cao đồ của Trình môn như Tạ Thượng Sái, Dương Quy Sơn về sau cũng đi theo Phật môn. Phật gia nói về tính cũng nói là không thiện không ác, giống với lời của Cáo Tử. Chân lý của vũ trụ chỉ cần nghiên cứu cho triệt để, tuy thầy dạy của đôi bên là khác nhau nhưng kết quả thu được là giống nhau. Tuy Dương Minh tin theo thuyết tính thiện của Mạnh Tử nhưng vẫn nói ra những lời “bản tính vốn không thiện không ác”, vẫn đi theo con đường của Cáo Tử. Nho gia để duy trì ý kiến ban đầu của môn hộ, hàng ngày đều nói “không thiện không ác, là vì rất thiện”. Như vậy lại rơi vào ngụy biện, vậy sao chúng ta không thể nói “không thiện không ác, là vì rất ác” chứ?

Có người hỏi khó tôi rằng: Cáo Tử nói: “Tính không thiện không ác”. Dương Minh nói: “Không thiện không ác là biểu hiện bên ngoài của bản tâm”. Một người nói tính, một người nói biểu hiện bên ngoài của bản tâm, sao có thể gộp lại làm một mà nói được? Tôi nói: Tính tức là biểu hiện bên ngoài của bản tâm, có lời của Dương Minh làm chứng. Dương Minh nói: “Tác dụng tinh thần của con người bao quát lý tính và tình cảm, tính là biểu hiện bên ngoài của tâm, tình cảm là tác dụng của tâm”. Đây là Dương Minh tự mình giải thích thêm, cho nên tôi nói: Cách nói của Dương Minh chính là cách nói của Cáo Tử.

Nước tôi có rất nhiều người nói về tính, trong đó thuyết không thiện không ác của Cáo Tử là hợp lý nhất. Nếu so sánh với việc chữa bệnh thì hai câu “sinh chi vị tính” và “thực sắc tính dã” là nguồn gốc căn bệnh, hai ví dụ về cây khởi liễu và dòng nước chảy xiết là phương pháp để trị bệnh. Những người Mạnh Tử, Tuân Tử, Dương Tử, Mặc Tử, Thân Bất Hoại, Hàn Phi đều là những thầy thuốc thực hành trị bệnh, có người thích dùng thuốc nóng, có người thích dùng thuốc mát, có người thích dùng thuốc bổ, phương thuốc tuy không giống nhau nhưng tác dụng thu được đều có thể cải tử hồisinh. Thường ngày chúng ta nghiên cứu rõ ràng về nguồn gốc căn bệnh, học được hết các kỹ thuật trị bệnh, xem bệnh tình thế nào mà thay đổi, dùng phương pháp chữa trị phù hợp là được.

Trị quốc trước tiên phải dùng nhân nghĩa để giáo hóa, đây là sử dụng phương pháp của Mạnh Tử khơi gợi ra bản tính tự nhiên có thể làm việc thiện của những người bình thường. Thiện tâm sinh ra thì ác tâm sẽ bị diệt, giống như việc trị thủy, khơi dòng chảy ở hạ lưu đương nhiên sẽ không xảy ra tai họa lũ lụt. Nhưng bản tính tự nhiên của con người lại cũng có thể là ác, vạn nhất cảm hóa không có tác dụng, dám phá hoại tất cả, vậy thì dùng biện pháp củ Thân Hàn để nghiêm trị, việc này giốg như người trị thủy để đắp đê ngăn nước vậy. Người trị thủy sử dụng cả hai cách khơi dòng và đắp đê, tức là trị quốc dùng cả nhân nghĩa và pháp luật. Mạnh Tử nói tính thiện là khuyên con người ta làm việc thiện; Tuân Tử nói tính ác là khuyên con người ta bỏ đi cái ác, vốn là chuyện nhất quán, chúng ta có thể quan sát xuyên suốt được.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Nguyên lý hậu hắc – Phần X


Chu Hi Tự Nguyên Hối, tự khác là Trọng Hối, hiệu Hối Am, Hối Ông, Khảo Đình Tiên Sinh, Thương Châu Bệnh Tẩu, Nghịch Ông… Là người ở Vụ Nguyên, Huy Châu thời Nam Tống (nay là huyện Vụ Nguyên tỉnh Giang Tây). Từng giữ chức Kinh Hồ Nam lộ an phủ sứ, làm quan đến chức Bảo văn các đãi chế. Trong thời gian nắm quyền từng đưa ra sắc lệnh trừng phạt quan lại gian tà, thành tích cai trị hiển hách. Là nhà lý học, nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà giáo dục, nhà thơ nổi danh thời Nam Tống, nhân vật đại biểu của phái Mẫn học, người đời gọi ông là Chu Tử, là bậc đại sứ mở mang Nho học kiệt xuất nhất sau Khổng Tử, Mạnh Tử.

Trong sách của Mạnh Tử có ghi chép lại năm điều Cáo Tử nói về tính: Nói tính giống như cây khởi liễu, nói tính giống như nước chảy xiết, nói tố chất bẩm sinh gọi là bản tính, nói chuyện ham muốn ăn uốn và sắc dục là bản năng của con người, nói tính không thiện cũng không bất thiện, năm điều này vốn là nhất quán. Chu Tử chú thích trong chương về thực sắc: “Biện luận của Cáo Tử thường gượng ép, thường thay đổi để mong được thắng”. Sách gốc vẫn còn, lời nói của Cáo Tử trước sau không thay đổi, mà Mạnh Tử cũng chưa từng khuất phục được ông. Chu Tử chú giải chương Khởi liễu, cho rằng Cáo Tử nói lời nhân nghĩa, phải chờ uốn nắn mới thành được, lời nói này không đúng. Còn khi chú giải chương Công đô tử thì nói: “Tính khí vốn có, tuy có không tốt nhưng không làm hại đến ưu điểm căn bản của tính, tính cách tuy rằng tốt nhưng không thể không quan sát hiệu quả cảu việc sửa chữa uốn nắn”. Bỗng nhiên nhắc đến hai chữ uốn nắn, há chẳng phải là tự thay đổi học thuyết của mình sao?

Chu Tử chú giải chương “Sống tức là tính” có nói: Ví dụ về khởi liễu và dòng nước chảy xiết, thuyết thực sắc không thiện không ác, nhiều mà rối loạn, cái sai của chương này chính là can bản. Không biết rằng Cáo Tử nói về tính có năm điều đều là nói một cách nhất quán, không có gì gọi là “nhiều mà rối loạn”. Chữ “sống” trong “Sống tức là tính” có nghĩa là sống còn. Sống còn là trọng tâm của loài người, là điều mà các học giả trên thế giới đều công nhận. Cáo Tử nói về tính, lấy hai chữ sống còn làm điểm xuất phát, từ đó mà có thuyết “ăn uống và sắc dục là bản tính”, có thuyết “tính không thiện không ác”, lại lấy cây khởi liễu và dòng nước chảy xiết làm ví dụ để so sánh, cách nói của ông là chính xác nhất mà Tống Nho lại cho rằng sai lầm căn bản, đây là sai sót của Chu Tử. Nhưng Chu Tử có thể nhận ra câu “sống tức là tính” là căn bản cho học thuyết của Cáo Tử, cũng không thể nói là không hiểu gì.

Cáo Tử không biết là người nào, có người nói là đồ đệ của Khổng môn, tôi thấy không sai. Khổng Tử khen ngợi “Chu Dịch”, nói: “Đức lớn cảu trời đất thì gọi là sống”. Chu Tử dùng chữ “sống” để nói về tính, có thể nói là đích truyền của Khổng môn. Học thuyết của Mạnh Tử tuy hơi khác biệt so với Cáo Tử nhưng chỗ nào cũng không thoát khỏi chữ “sống”, như nói: “Lương thực đã đầy đủ như nước và lửa rồi, lão bách tính còn ai không nhân từ cơ chứ?” Lại nói: “Trong không có gái không chồng, ngoài không có trai không vợ, có gì khác so với đại vương cơ chứ?” Vẫn dùng hai chữ thực, sắc để lập luận, mượn ý của Mạnh Tử và Cáo Tử bàn luận về sự khác nhau và giống nhau của tính, giống như Tử Hạ, Tử Trương bàn luận về sự khác nhau và giống nhau của giao, đại ý không nằm ngoài gia pháp của họ Khổng. Mạnh Tử nói: “Cáo Tử không động tâm trước ta”. Tâm địa ẩn giấu đi cũng biết được, có thể tưởng tượng được mối giao tình giữa hai người sâu sắc thế nào. Sự tranh luận về tính giữa họ cũng chẳng qua là bạn bè giúp nhau sửa chữa, đính chính mà thôi. Tống Nho có hai chữ “đạo thống”, ra sức chê bao Cáo Tử là dị đoan, nhưng học thuyết của chính mình lại cắt bỏ đi lập luận về chữ “sống”, bảo người phụ nữ chết đói để giữ gìn cái mà họ gọi là tiết hạnh, bảo bề tôi vô tội cũng phải chịu chết để giữ gìn cái mà họ gọi là lòng trung, Mạnh Tử có trí tuệ, lưu tâm dẫn Cáo Tử làm người đồng điệu với mình, còn Trình Chu thì bị quẳng ra ngoài cửa.

Tống Nho sùng bái những lời của Nho gia, ra sức loại bỏ học thuyết của Thích gia và Đạo gia, trong sách “Thượng thư” tìm được bốn câu “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, đoán chấp quyết trung”, khoe khoang là “mười sáu chữ tâm truyền của Ngu Đình”.Theo khảo sát của Diêm Bách Thi thờ nhà Thanh, bốn câu này xuất phát từ “Ngụy cổ văn thượng thư”, những tác giả của bản này lại lấy ghi chép từ Tuân Tử, Tuân Tử lại trích dẫn lời lẽ trong “Đạo Kinh”. Cách nói cảu họ Diêm trong giới học thuật được coi như là đã đầy đủ lý lẽ. Mười sáu chữ này là xuất phát điểm của học thuyết Tống Nho, về mặt căn bản có lẫn cả nội dung của Đạo gia và Tuân học, ngược lại muốn mượn Khổng Tử để bài xích Đạo gia, mượn Mạnh Tử để bài xích Tuân Tử, dần dần không tránh khỏi giải thích gượng gạo. Chu Tử nói: “Cái mà khí chất kế thừa, cho dù có cái không tốt nhưng không thể không quan sát hiệu quả của việc sửa chữa uốn nắn”, vừa phải chú trọng tới sự thực, vừa phải bênh vực cho Mạnh Tử, thật đúng là “biết bao nhiêu chỗ rối loạn và không chính xác”.

Tống Nho gọi nhân tâm là nhân dục, chỉ nói về chuyện ăn uống và nam nữ, gọi đạo tâm là thiên lý, chỉ nói về việc kính yêu cha mẹ anh em. Trong sách “Trung dung chương cú tự” của Chu Tử có câu: “Con người không thể không có hình, do vậy tuy có trí tuệ nhưng không thể không có nhân tâm”. Không khác gì nói: Khi còn là đứa trẻ, cho dù là Khổng Tử cũng sẽ giằng miếng bánh trong miệng của mẹ; tôi và đứa trẻ đồng thời bị rơi xuống giếng, cho dù là Khổng Tử cũng sẽ chỉ thấy kinh hoàng mà không thấy trắc ẩn. Giả sử không phải như vậy, đứa trẻ sinh ra đã không biết bú sữa từ người mẹ, sau này lớn lên, nhìn thấy cái giếng sẽ nhảy xuống, trên thế giới này liệu có còn loài người nữa hay không? Đạo lý vốn là đúng, có điều đã xâm nhập vào phạm vi của Tuân Tử. Hơn nữa câu “con người sinh ra vốn tĩnh lặng”, theo các nhà Nho sau này khảo chứng thì là những lời trích dẫn của Lão Tử, Hà Gian Hiến vương đưa vào trong “Nhạc ký”. Cuốn sách “Văn tử” có người nói là ngụy thư, nhưng cũng là do người trong học phái của họ Lão viết ra, có thể thấy được thuyết thiên lý nhân dục của Tống Nho không những xâm nhập vào phạm vi của Cáo Tử, Tuân Tử mà còn phát huy đến tận học thuyết của Lão Tử. Vậy thì Tống Nho sai rồi sao? Không những là không sai mà ngược lại còn có công rất lớn. Giả sử họ quyết tâm muốn kết hợp học thuyết của Khổng Tử và của mấy người Lão Tử, Tuân Tử, Cáo Tử lại làm một, vậy thì sẽ không thấy được chân lý của vũ trụ, chỉ khi họ ra sức phản đối mấy người Lão Tử, Tuân Tử, Cáo Tử, nhưng trên thực tế là kết hợp với những người đó làm một mới đủ để chứng minh học thuyết của mấy người Lão Tử, Tuân Tử, Cáo Tủ không sai, mới đủ để chứng minh chân lý của vũ trụ quả thực là như vậy.

Sách “Trung dung chương cú tự” của Chu Tử còn nói: “Phải khiến đạo tâm thường xuyên làm chủ bản thân, còn nhân tâm phải nghe theo mệnh lệnh”. Người chủ nói với nô bộc, đạo tâm là chủ, nhân tâm làm nô bộc. Đạo tâm là tấm lòng của bậc thánh hiền, nhân tâm là tấm lòng của kẻ tham tiền háo sắc, của kẻ nghe theo mệnh lệnh, nô bộc phải chịu sự sai khiến, chỉ nghe theo mệnh lệnh của chủ nhân.

Xét kỹ ý của Chu Tử có nghĩa là ta muốn làm bậc thánh nhân, hiền nhân thì nhân tâm phải ẩn giấu tiền tài và sắc đẹp đi, ta muốn ăn cơm hoặc muốn “nam nữ chung sống là đạo lý thường tình của con người”, nhân tâm sẽ dân tiền tài và sắc đẹp lên ngay. Nếu như vậy có thể nói rằng: “Phải khiến đạo tâm thường xuyên làm chủ bản thân, còn nhân tâm phải ngheo theo mệnh lệnh”. Như vậy khó tránh khỏi khúc khuỷu khó thông. Nói tóm lại, chân lý của vũ trụ, chân tướng của nhân tính, Tống Nho đã nhìn thấy rõ ràng rồi, chỉ vì muốn kế thừa đạo thống của Mạnh Tử, không thể không ủng hộ thuyết tính thiện của ông. Một mặt muốn quan tâm tới chân lý, mặt khác muốn quan tâm tới Mạnh Tử, dẫn tới rắc rối phức tạp, càng giải thích lại càng khúc khuỷu khó thông. Chúng ta yêu quý Tống Nho, quét sạch hết những thứ cặn bã bên ngoài đi, ý nghĩa tinh túy ở bên trong tự nhiên sẽ xuất hiện.

Cáo Tử nói: “Ăn uống và chuyện nam nữ là bản tính của con người, nhân ở bên trong không phải bên ngoài, nghĩa ở bên ngoài không phải bên trong”. Trong đoạn văn bên dưới, Mạnh Tử chỉ phản bác ông ở mấy chữ “nghĩa ở bên ngoài”, còn về mấy chữ “ăn uống và chuyện nam nữ” thì không hề nhắc tới một lời, có thể thấy được Mạnh Tử đã thừa nhận thuyết “ăn uống và chuyện nam nữ là bản tính của con người”. Ông nói với Tề Tuyên vương rằng: “Đại vương thích tiền của cũng giống với dân chúng, có gì khác đại vương chứ? Đại vương thích sắc đẹp cũng giống với dân chúng, có gì khác đại vương chứ?” Cũng không bảo ông ta phải bỏ đi ham muốn về tiền của và sắc đẹp của mình, chỉ bảo ông ta suy từ mình ra người, khiến người người đều có được tiền của và sắc đẹp của riêng mình. Các nhà Nho sau này thì không như vậy, “Vương Dương Minh truyện tập lục” viết: “Lúc nhàn rỗi lận lượt truy tìm gốc gác của những thứ tư lợi như ham tiền ham sắc ham danh, nhất định phải loại bỏ nguồn gốc căn bệnh, vĩnh viễn không mắc lại, mới bắt đầu thấy vui vẻ. Giống như con mèo bắt chuột, mắt thì nhìn, tai thì nghe mới có ý niệm nảy sinh, lập tức vồ lấy, không thể thả cho nó chạy thoát mới thật sự gắng sức, mới có thể quét sạch”. Cách nói này giống như: Trông thấy ngọn lửa có thể đốt cháy căn nhà liền bảo người khác sua này hễ trông thấy một đốm lửa nào là lập tức dập tắt, đoạn tuyệt với lửa, mới bắt đầu thấy vui vẻ, so với học thuyết của Mạnh Tử khó tránh khỏi cách biệt quá lớn rồi.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Nguyên lý hậu hắc – Phần IX


Cáo Tử nói: “Tính như dòng nước chảy xiết, khơi dòng ở phương Đông thì chảy sang phương Đông, khơi dòng ở phương Tây thì chảy sang phương Tây”. Có nghĩa là: Hướng dẫn theo thiện thì là thiện, dụ dỗ theo ác thì là ác. Cách nói này tức là cách nói “Nghiêu Thuấn lấy nhân ái mà dẫn dắt thiên hạ nên dân chúng đi theo, Kiệt Trụ dùng bạo lực mà cai trị thiên hạ nên dân chúng đi theo” trong “Đại học”. Mạnh Tử bác bỏ luận điểm này, cho rằng đây là một dạng ngụy biện, Tống Nho không ngộ ra sai lầm của Mạnh Tử, cũng ra sức công kích Cáo Tử. Xin hỏi các câu trong “Đại học” có gì khác biệt so với cách nói của Cáo Tử? Trong sách của Mạnh Tử có câu “dân đã giữ được phép thường thì ưa chuộng đức hạnh tốt đẹp”, Tống Nho hết lời khen ngợi, coi là căn cứ cho học thuyết của họ, thế nhưng những câu nói về Nghiêu Thuấn, Kiệt Trụ trong “Đại học” thì lại tiếp tục rằng: “Nhưng mệnh lệnh ban ra ngược lại điều mong muốn của họ nên dân chúng không theo nữa”. Xin hỏi bản tính tự nhiên của dân chúng, nếu chỉ thích đức hạnh tốt đẹp, vậy thì Kiệt Trụ dùng bạo lực mà cai trị thiên hạ là trái ngược với sở thích của họ, đáng lẽ ra dân chúng phải không tuân theo, nay lại vẫn tuân theo, há không phải trở thành “dân đã giữ được phép thường thì ưa chuộng đức hạnh xấu xa” hay sao? Tống Nho ra sức công kích Cáo Tử nhưng lại không hề phản bác “Đại học”, há có thể khiến người khác tin phục được sao?

Toàn bộ học thuyết của Mạnh Tử đều rất tinh túy, chỉ có hai chữ “tính thiện” là lý luận chưa trọn vẹn. Điểm vĩ đại của Tống Nho là nối liền học thuật của Trung Quốc và học thuật của Ấn Độ lại làm một, dùng phép của Thích Ca để cai trị lòng người, dùng phép của Khổng Tử để cai trị thế gian, nhập thế xuất thế gộp lại làm một, mở ra một kỷ nguyên mới cho học thuật, là công lao nghìn năm không phai mờ (nội dung cụ thể xem trong tác phẩm “Xu thế của học thuật Trung Quốc”). Tống Nho có thể tạo ra công lao như vậy, đương nhiên đã nhìn thấy chân lý, những điều Cáo Tử đã nói là chân lý không thể bàn cãi, vì sao lại ra sức phản bác chứ? Nguồn gốc căn bệnh là ở chỗ mù quáng tin theo Mạnh Tử. Tống Nho vì sao lại mù quáng tin theo Mạnh Tử? Đó là do Hàn Xương Lê khởi xướng.

Xương Lê nói: “Nghiên truyền ngôi cho Thuấn, Thuấn truyền ngôi cho Vũ, Vũ truyền ngôi cho Thang, Thang truyền ngôi cho Văn Vũ Chu công, Văn Vũ Chu công truyền cho Khổng Tử, Khổng Tử truyền cho Mạnh Kha, Mạnh Kha chết mà không truyền cho ai”. Đây vốn là chuyện vô căn cứ. Đây là do thời Đường, Phật giáo rất thịnh, có thuyết y bát chân truyền, chúng ta đọc sách “Ngũ đăng hội nguyên” là biết được thời mà Xương Lê sống chính là thời đại mà thuyết này thịnh hành, ông là người phản kháng Phật giáo, bởi vậy sáng tạo ra cách nói “cho rằng như vậy”, ý là: “Nho gia chúng ta có một loại y bát chân truyền”. Không ngờ Tống Nho tin là thật, sáng tạo ra năm thuyết đạo thống, tự mình muốn kế thừa Mạnh Tử, còn học thuyết của Cáo Tử, Tuân Tử khác với Mạnh Tử, do đó bị bài xích. Tăng Tử là người nhận được y bát của Khổng Tử, truyền cho Tử Tư, truyền cho Mạnh Tử, do đ1o những lời trong “Đại học” tuy giống với Cáo Tử nhưng cũng không bị phản bác.

Xương Lê viết văn thích sáng tạo độc đáo. Y Xuyên nói: “Kha chết mà không truyền cho ai, những lời như vậy không phải là bắt chước người đi trước, lại không phải là miễn cưỡng tạo ra, tất có ý kiến riêng”. Nói “không phải là bắt chước người đi trước” là không có căn cứ. Nói “tất có ý kiến riêng” là “cho rằng như vậy”. Lời của Xương Lê, ngay cả Y Xuyên cũng không tìm ra được căn cứ, nên thuyết đạo thống của Tống Nho về căn bản bị lung lay, cho nên học thuyết mà họ sáng tạo ra không thiếu kẽ hở.

Trình Minh Đạo quyết tâm muốn tìm ra thứ gọi là “Khổng Tử truyền cho Mạnh Kha” kia , lúc đầu đọc sách Nho gia không thu được gì, tìm đến Phật giáo, Lão giáo trong mấy chục năm vẫn không thu được gì, ngược lại tìm trong “Lục kinh”, bất ngờ lại có kết quả. Xin hỏi thứ mà Minh Đạo thu được rốt cuộc là thứ gì? Chúng ta phải biết rằng: “Cấu tạo của lòng người tương tự như cấu tạo của Trái đất: Tâm Trái đất có lực hút, có thể hút đất đá cát sỏi, những vật có hình thể lại với nhau tạo nên một Trái đất; lòng người cũng có lực hút, có thể hút những điều mắt thấy tai nghe, những vật không có hình thể lại với nhau tạo nên một tấm lòng”. Minh Đạo ra ra vào vào ba đạo Nho, Phật, Lão, bất tri bất giác hấp thụ ba loại nguyên tố này vào trong mình, dung hợp lại với nhau tạo ra một nguyên lý mới. Đó là kết tinh của tam giáo, là thứ đáng quý nhất. Minh Đạo không biết là mình đã tạo ra được vật chí bảo, ngược lại quay về theo Khổng Tử, tìm ra một số câu từ trong “Lục Kinh”, thêm vào giải thích mới, mượn để phát biểu nguyên lý mới mà mình đã thu được. Đây là chân tướng của toàn bộ Tống học. Công lao lớn nhất của Tống Nho chính là ở đây, mọi rắc rối nảy sinh cũng là ở đây.

Mạnh Tử nói tính thiện, còn đưa ra rất nhiều chứng cứ như trẻ nhỏ yêu thương cha mẹ, đứa trẻ ngã xuống giếng… Tống Nho không tìm chứng cứ khác, tìm một số câu từ trong “Tứ Thư”, “Ngũ Kinh” để nghiên cứu, khắp trang giấy đều là những danh từ như thiên lý, nhân dục, nhân tâm, đạo tâm, tính của nghĩa lý, tính của khí chất…, khiến cho người khác hoa mắt chóng mặt, không biết nói những gì. Chúng ta đọc các sách về Tống Nguyên học án, Minh Nho học án, nên dùng biện pháp đãi cát tìm vàng, quét sạch những danh từ kiểu như vậy đi, chỉ nhìn vào thực chất nội dung của họ mà thôi, sau đó mới có thể tìm ra được điểm vĩ đại của họ, mới có thể nhìn ra được chỗ sai lầm.

Thuyết tính thiện của Mạnh Tử và thuyết tính ác của Tuân Tử hợp lại làm một sẽ hợp với chân lý của vũ trụ. Hai thuyết tương hợp tức là thuyết tính không thiện không ác của Cáo Tử. Có người hỏi: Học thuyết của Mạnh Tử sao có thể kết hợp với của Tuân Tử được? Tôi nói: Mạnh Tử nói “con người khi còn nhỏ thì kính yêu cha mẹ, biết yêu sắc đẹp rồi thì yêu thích thiếu nữ trẻ đẹp, có vợ rồi thì yêu vợ”. Tuân Tử nói: “Có vợ rồi thì bớt hiếu kính với cha mẹ”. Lời nói của hai người há không giống nhau hay sao? Mạnh Tử nói: “Người đại hiếu cả đời yêu quý cha mẹ, năm mươi tuổi vẫn còn yêu quý, ta thấy điều này ở Đại Vũ”. Theo như Mạnh Tử nói, người tròn năm mươi tuổi mà vẫn còn yêu quý cha mẹ, ông chỉ nhìn thấy có một người là Đại Vũ. Xin hỏi: Chân tướng của nhân tính rốt cuộc là như thế nào? Lẽ nào học thuyết của Mạnh Tử, Tuân Tử không thể kết hợp với nhau sao? Từ đó biết được: Điểm tranh luận về tính giữa Mạnh Tử và Tuân Tử chỉ ở chỗ hai tính từ thiện và ác thôi, còn về sự quan sát nhân tính thì hai người không có gì khác biệt cả.

Theo giải thích của Tống Nho, đứa trẻ khi còn nhỏ yêu thương cha mẹ là sự chính trực của tính, khi thành thiếu niên thì háo sắc là cái riêng của hình khí, cách nói này khó tránh khỏi lâm vào khiên cưỡng. Trẻ nhỏ yêu thương cha mẹ không phải vì yêu thương mà yêu người cho nó bú mớm. Đứa trẻ được sinh ra lập tức giao cho nhũ mẫu nuôi dưỡng thì sẽ chỉ yêu nhũ mẫu, không yêu mẹ ruột của mình, đó là minh chứng. Yêu nhũ mẫu và yêu thiếu nữ trẻ đẹp, yêu vợ, về tâm lý vốn là nhất quán, đều là vì mình mà thôi. Vì mình là một hiện tượng tự nhiên của loài người, không thể nói người đó là thiện, cũng không thể nói người đó là ác, thuyết tính không thiện không ác của Cáo Tử là hợp lý nhất. Cáo tử nói: “Chuyện ham muốn ăn uống và sắc dục là bản năng của con người”. Đứa trẻ yêu cha mẹ là ham muốn về ăn uống; yêu thiếu nữ, yêu vợ là ham muốn về sắc dục. Ăn uống và sắc dục là nhu cầu tất yếu cho sự tồn tại của loài người. Do vậy Cáo Tử nói: “Sống chính là tính”.

Cáo Tử quan sát nhân tính đã như vậy, thế việc xử trí đối với nhân tính thì như thế nào? Vậy là Cáo tử đặt ra ví dụ để nói rõ: “Bản tính của con người giống như dòng nước chảy xiết, ở phương Đông có lỗ hổng thì chảy sang phương Đông, ở phương Tây có lỗ hổng thì chảy sang phương Tây”. Lại nói: “Bản tính của con người giống như cây khởi liễu, nghĩa lý giống như cái khay; đem nhân tính đưa vào trong nhân nghĩa giống như dùng cây khơi liễu để chế tạo cái khay”. Chủ trương này của Cáo Tử rất đúng đắn. Bản tính con người không thiện không ác, cũng tức là có thể là thiện, cũng có thể là ác. Giống như nước ở đầm sâu, bình thường khôngn nổi sóng, nhìn không ra có tác dụng gì. Ở phương Đông đào một cái lỗ, vậy là có thể tưới cho đồng ruộng, để thuyền bè đi lại; ở phương Tây đào một cái lỗ, vậy thì có thể cuốn trôi nhà cửa, nhấn chìm người và gia súc. Chúng ta đào lỗ ở phương Đông là được rồi. Lại giống như một khúc gỗ, có thể làm thay cây gậy để đánh người, cũng có thể làm thành mâm bát để đựng đồ ăn. Chúng ta làm nó thành mâm bát thì hơn. Cách nói này quả thật có thể hợp nhất Mạnh Tử và Tuân Tử.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Nguyên lý hậu hắc – Phần VIII


Mặc Tử cố gắng hết sức để làm lợi cho thiên hạ, đạo của ông là làm hại tới mình mà có lợi cho người, không hợp với chữ “nghĩa”của Khổng môn. Chữ “nghĩa” do chữ “dương” và chữ “tôi” hợp thành, do vậy trong chữ “nghĩa” có một chữ “tôi”; “dương” tức là “tốt lành”, chữ “mĩ” và chữ “thiện” đều có bộ “dương”. Do tôi lựa chọn việc đẹp nhất, lương thiện nhất để làm, như vậy gọi là “nghĩa”. Sự việc ở bên ngoài, người lựa chọn là tôi, do vậy nói nghĩa là ở bên trong. Mặc Tử kiêm ái, chỉ biết có người mà không biết có mình, do vậy Mạnh Tử vô cùng bài xích. Nhưng việc Mặc Tử làm tổn hại đến mình là hi sinh một mình mình để cứu tế người trong khắp thiên hạ, biết có cái tôi của mọi người mà không biết cái tôi của mình, đó là tấm lòng của Bồ Tát. Học thuyết của ông chỉ có thể thực hành trong số ít các thánh hiền, không thể thực hành trong đông đảo mọi người, có khác biệt so với đạo Trung dung của Khổng môn, khác biệt với tôn chỉ người và mình cùng có lợi, theo quan niệm của Mạnh tử, học thuyết của ông ngược lại còn ở bên dưới Dương Tử. Vì sao lại như vậy? Bởi vì ông đã đánh mất điểm trung tâm trong hai sơ đồ A và B. Mạnh Tử nói: “Trời sinh ra vạn vật, tất cả mọi vật đều quay về nhất thể”. Nhất thể là gì? Chính là điểm trung tâm. Mặc Tử làm tổn hại đến bản thân mình là tự nguyện, không phải là do người khác can dự vào. Sự cố gắng của Mặc Tử có gì khác biệt so với Đại Vũ “chân không có thịt, bắp chân không có lông” chứ? Có gì khác biệt so với Khổng Tử “bồn chồn không yên, ngồi chưa nóng chiếu” chứ? Mạnh Tử cực lực chê bai Mặc Tử, không gì khác là ý kiến của môn hộ về mặt học thuật mà thôi. Nhưng Mặc Tử vất vả cố gắng, cái tổn hại là ngoại hình, Tống Nho bỏ đi mong muốn của con người thì tổn hại tới nội tâm, học thuyết của họ há chẳng phải còn ở bên dưới Mặc Tử nữa hay sao? Học thuật của Khổng môn suy từ mình ra người, Tống Nho cũng suy từ mình ra người. Mạnh Tử đã chê bai Dương, Mặc là cầm thú, vì sao đối với Tống Nho lại chưa thấy bình luận gì?

Nói tóm lại: Mạnh Tử nói tính thiện, Tống Nho cũng nói tính thiện, trên thực tế thì học thuyết của Tống Nho hoàn toàn trái ngược với Mạnh Tử, điểm khác biệt của họ là ở chỗ: “Học thuyết của Mạnh Tử không làm tổn thuơgn đến chữ tôi, còn học thuyết của Tống nho thì làm tổn thương đến chữ tôi”.

Hơn nữa Tống nho còn chủ trương loại bỏ cái riêng, rốt cuộc cái riêng này là thứ gì mà không nghiên cứu rõ ràng nó thì không được? Ý nghĩa của chữ “riêng” này trong thuyết văn của họ Hứa là dẫn từ giải thích của “Hàn Phi Tử”. Nguyên văn của “Hàn Phi Tử” là “Thương Hiệt viết sách, gọi vòng tròn bao quanh mình là riêng, trái nghĩa với riêng là chung”. Giả sử chúng ta chỉ biết đến bản thân mình, không quan tâm đến vợ con, nghĩa là vẽ một cái vòng tròn bao quanh bản thân mình; vợ con sẽ nói ta chỉ biết tới bản thân, ta liền xóa bỏ cái vòng tròn bao quanh mình đi, vẽ một cái vòng tròn bao quanh vợ con; nhưng anh em ở bên ngoài vòng tròn, anh em lại nói ta chỉ biết tới bản thân, vậy là ta liền xóa bỏ cái vòng tròn bao quanh vợ con, vẽ một cái vòng tròn bao quanh anh em; nhưng láng giềng ở bên ngoài vòng tròn, lại nói ta chỉ biết tới bản thân, vậy là ta liền xóa bỏ cái vòng tròn bao quanh anh em, vẽ một cái vòng tròn bao quanh láng giềng; nhưng người trong nước ở bên ngoài vòng tròn, lại nói ta chỉ biết tới bản thân, vậy là ta liền xóa bỏ cái vòng tròn bao quanh láng giềng, vẽ một cái vòng tròn bao quanh người trong nước; nhưng người nước ngoài ở bên ngoài vòng tròn, lại nói ta chỉ biết tới bản thân,đành phải xóa bỏ cái vòng tròn bao quanh người trong nước, vẽ một cái vòng tròn lớn bao quanh nhân loại, mới có thể gọi là chung. Giả sử các loài động thực vật trên thế giới này đều biết nói, cầm thú nhất định sẽ nói: Loài người các anh vì sao lại muốn giết chúng tôi? Có phần quá ích kỷ rồi!  Cây cối sẽ hỏi cầm thú rằng: Các người vì sao muốn ăn chúng tôi? Các ngươi cũng có phần ích kỷ. Đất đai cát sỏi sẽ hỏi cây cối rằng: Các ngươi vì sao lại muốn hút chất dinh dưỡng của ta? Cây cối các ngươi cũng có phần ích kỷ. Trái đất lại hỏi mặt trời rằng: Vì sao ngươi lại hút ta về phía ngươi? Ngươi cũng có phần ích kỷ. Nói ngược lại thì: GIả sử mặt trời sợ trái đất nói mình vì bản thân, không hút trái đất nữa, trái đất cũng không biết sẽ bay đến chốn nào. Tâm trái đất sợ đất đá cát sỏi nói mình vì bản thân, cũng không hút chúng nữa, những đất đá cát sỏi này lập tức sẽ bay tứ tung, trái đất cũng sẽ lập tức bị hủy diệt.

Chúng ta suy luận như vậy sẽ biết được: Khắp thế giới này không tìm được chữ chung. Cái thường được gọi là chung chỉ là vẽ ra phạm vi mà thôi, người ở trong phạm vi thì gọi là chung, người ở ngoài phạm vi thì gọi là riêng. Lại có thể biết rằng: Cái riêng trong lòng người giống như lực hấp dẫn, không thể loại bỏ chữ riêng giống như không thể loại bỏ lực hấp dẫn, nếu bỏ đi rồi thì sẽ không còn nhân loại, không còn thế giới nữa. Thuyết loại bỏ cái riêng của Tống Nho làm sao có thể thi hành được?

Xin hỏi chữ riêng đã không thể loại bỏ được, mà giữ lại chữ riêng thì lại không tránh được việc hại người, nên xử trí thế nào? Đáp rằng: Việc này vẫn có cách. Cái riêng trong lòng người chính là giống với lực hấp dẫn, chúng ta dùng cách xử trí với lực hấp dẫn để xử trí với cái riêng trong lòng người là được. Sơ đồ C ở bài này cùng với hai sơ đồ A, B, vòng tròn lớn vòng tròn nhỏ, tầng tầng lớp lớp bao lấy nhau, hoàn toàn là hiện tượng lực hút của tâm Trái đất. Chúng ta nên dùng cách này, sắp xếp tất cả mọi sự việc đời theo đúng trật tự, giống như các hành tinh trong vũ trụ hút đẩy lẫn nhau vậy, như vậy thì thế giới con người cũng sẽ bình yên vô sự.

Con người tranh giành lẫn nhau là do xuất phát từ cái riêng trong lòng người; con người thương yêu lẫn nhau cũng là do xuất phát từ cái riêng trong lòng người. Ngăn cản thế giới tiến hóa cố nhiên là do xuất phát từ cái riêng trong lòng người; nhưng thế giới có thể tiến hóa cũng là do xuất phát từ cái riêng trong lòng người. Từ săn bắt hái lượm đến du mục, đến trồng trọt, đến công thương, tạo thành vô số các nền văn minh, cùng hoàn toàn dựa vào cái riêng trong lòng người ở bên trong ngầm động viên. Chúng ta nên coi chữ “riêng” đó giống như điện từ, nắm rõ tính chất của nó, từ đó tận dụng nó, không thể áp dụng cách loại bỏ được. Giả sử các nhà vật lý học vì thấy dòng điện có thể giết người, chỉ nghiên cứu cách để loại bỏ dòng điện, chúng ta lấy đâu ra đèn điện, điện thoại mà sử dụng chứ? Không thể bỏ đi chữ “riêng” đồng nghĩa với việc không thể bỏ đi lực hút của tâm Trái đất, chúng ta chỉ có thừa nhận cái riêng, khiến mọi người ai nấy tuân theo cái riêng của mình, anh không làm tổn hại đến cái riêng của tôi, tôi không làm tổn hại đến cái riêng của anh, như vậy có thể nói là riêng đến cực điểm, cũng tức là chung đến cực điểm. Có người hỏi: Nhân tính là thiện hay ác? Nên đáp rằng: Xin hỏi lực hút của tâm Trái đất là thiện hay ác? Xin hỏi dòng điện là thiện hay ác? Anh trả lời được câu hỏi này đã rồi nói tiếp.

Toàn bộ học thuyết của Mạnh Tử đều là xác định chữ “tôi” làm điểm trung tâm, mở rộng nó ra tầng tầng lớp lớp, từ yêu quý người thân của mình đến nhân từ với dân chúng, từ nhân từ vớid ân chúng đến yêu quý vạn vật. Ông không chủ trương bỏ đi cái riêng có lợi cho mình, chỉ chủ trương mình và người cùng giữ cái riêng của mỗi người: Tôi có được tài sản của riêng mình tức là khiến cho người xung quanh có kho tàng tích trữ, khiến cho người đi đường có khăn gói mang đi; tôi có được sắc đẹp của riêng mình tức là khiến trong không có giá không chồng, ngoài không có trai không vợ. Học thuyết của Tống Nho trái ngược, không chỉ muốn bỏ đi cái riêng của mình mà còn muốn bỏ đi cái riêng của mọi người, mà cái riêng của lòng người giống như lực hấp dẫn, muốn bỏ đi cũng không thể bỏ được, thiên hạ từ đó mà rối loạn. Đọc sách của Mạnh Tử thấy tươi tốt như vật sống trong gió xuân; đọc sách của Tống Nho thấy lãnh lẽo như vật chết trong sương thu. Do vậy mới nói: Học thuyết của Tống Nho hoàn toàn trái ngược với Mạnh Tử.

4. Quan điểm đúng đắn khi nói về tính của Cáo Tử

Nhân tính vốn là không thiện không ác, cũng tức là có thể là thiện, cũng có thể là ác. Cách nói của Cáo Tử xét từ bất kỳ một phương diện nào cũng đều thích hợp. Ông nói: “Tính như dòng nước chảy xiết”. Sự thay đổi của dòng nước chảy xiết tức là sự thay đổi của lực. Chúng ta nói: “Tâm lý thay đổi vận hành theo quy luật chung của lực học”. Cáo Tử ở đây cách hơn hai nghìn năm đã sớm dùng mất chữ “tính như dòng nước chảy xiết” để bao quát hết rồi.

Cáo Tử Không rõ tên thật, có thuyết nói tên là Bất Hại. Nhà tư tưởng thời Chiến Quốc. Từng là môn sinh của Mặc Tử, thích tranh luận, giảng nhân nghĩa. Tác phẩm của ông không được lưu truyền lại. Trong sách “Mạnh Tử chú”, Triệu Kỳ nói, Cáo Tử “kiêm cả đạo Nho và đạo Mặc”. Về sau cùng Mạnh Kha bàn luận về vấn đề nhân tính, cho rằng “sinh chi vị tính”, “thực sắc, tính dã”. Nhân tính giống như nước, “nước không chia ra Đông Tây”, tính cũng “không chia ra thiện ác”. “Lấy nhân tính làm nhân nghĩa”, như “lấy cây khởi liễu làm chén múc canh”. Những lời bàn luận của ông có chương “Cáo Tử” của sách “Mạnh Tử”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Nguyên lý hậu hắc – Phần VII


Mạnh Tử biết rằng: Phàm là con người đều có bản tính tự nhiên là sợ chết, thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng liền phát sinh lòng kinh hoàng, tiếp sau đó mới mở rộng lòng kinh hoàng ra trở thành lòng trắc ẩn, bởi vậy dạy con người ta phải mở rộng lòng này ra khắp bốn biển, đây là tôn chỉ lập thuyết của Mạnh Tử. Kinh hoàng là bản thân mình sợ chết, không thể nói là nhân từ, trắc ẩn là thương xót cái chết của người khác, mới có thể gọi là nhân từ, do vậy đoạn văn bên dưới bỏ đi hai chữ kinh hoàng, chỉ nói lòng trắc ẩn là đầu mối của lòng nhân”. Ở Mạnh Tử vốn không có sai lầm, có điều văn tự lược bớt, nói thiếu một câu “trắc ẩn là từ kinh hoàng mở rộng mà thành”. Không ngờ Tống Nho đọc sách không mong hiểu rõ ràng, thấy một câu “lòng trắc ẩn là đầu mối của lòng nhân”, tưởng rằng bản tính của con người ngay khi bắt đầu phát ra đã là trắc ẩn rồi, quên mất phía trước vẫn còn hai chữ “kinh hoàng”, một nét bút xóa sạch bản tính tự nhiên của người thường là sợ chết. Chúng ta thử đọc toàn bộ các tác phẩm của Tống Nho, nào là ngữ lục, văn tập, tập chú, chỉ phát huy hai chữ trắc ẩn, không hề nhắc tới hai chữ kinh hoàng, đây là điểm sai lầm lớn nhất của họ.

Thế nhưng, Tống Nho dù sao cũng là những người hiếu học, nghĩ thầm: Đức trẻ có thể giằng miếng bánh trong miệng người mẹ, rốt cuộc đạo lý là gì? Một khi đọc phần “Nhạc ký” trong “Lễ ký” thấy có câu “người ta sinh ra thích yên tĩnh, là tính của trời đất, cảm ứng với vật mà động, là ham muốn của tính”, đột nhiên ngộ ra rằng: Miếng bánh là vật, đoạt lấy từ trong miệng của người mẹ là cảm ứng với vật mà động. Vậy là bèn sáng tạo ra thuyết “khứ vật dục”, kêu gọi con người tuyệt đối không được bị cám dỗ bởi vật bên ngoài.

Tống Nho lại tiếp tục nghiên cứu thêm, nghiên cứu về việc tôi và đứa trẻ đồng thời bị rơi xuống giếng, ý niệm đầu tiên phát ra chỉ là một lòng sợ chết trần trụi của bản thân, không có gì gọi là trắc ẩn, nhìn từ một con đường khác, rõ ràng nhìn thấy đứa trẻ sắp bị rơi xuống giếng, vì sao lòng trắc ẩn không hề xuất hiện, ngược lại xuất hiện một ý niệm tự mình sợ chết? Phải nói ý niệm này là vật dục, lúc này không hề có vật từ bên ngoài để cám dỗ, hoàn toàn là phát ra từ nội tâm, đây là đạo lý gì? Sau đó lại ngộ ra rằng: Ý niệm sợ chết là xuất phát từ hai chữ “vì mình”, việc giằng lấy miếng bánh trong miệng người mẹ cũng là xuất phát từ hai chữ “vì mình”, mình là con người, liền dùng hai chữ “nhân dục” để thay thế cho hai chữ “vật dục”. Nói với các đệ tử khác rằng: Bản tính tự nhiên của con người, một khi phát ra chính là trắc ẩn, những người như Nghiêu Thuấn và Khổng Mạnh, trogn lòng tràn đầy trắc ẩn, lúc nào ở đâu cũng đều như vậy, cuộc đời tôi có lúc cùng rơi xuống giếng với đứa trẻ, ý niệm đầu tiên phát ra là lòng sợ chết, không phải lòng trắc ẩn, các người phải dùng một phen công phu “bỏ đi nhân dục, giữ lại thiên lý” thì mới có thể trở thành Khổng Mạnh, thành Nghiêu Thuấn. Thiên lý là gì? Là lòng trắc ẩn, tức là lòng nhân vậy. Cách nói này là chủ đạo trong toàn bộ học thuyết của Trình Chu.

Vậy là môn hạ của Trình Tử, đệ tử cao đồ thứ nhất là Tạ Thượng Thái liền làm theo giáo điều của Trình môn, mỗi ngày chạy đi chạy lại trên thềm, luyện tập chẳng động tâm, cho rằng mình không sợ chết, khi xóa bỏ hết nhân dục thì thiên lý tự nhiên sẽ lưu hành, liền trở thành một người trong lòng chứa đầy trắc ẩn. Cách “bỏ đi nhân dục, giữ lại thiên lý” này của họ rõ ràng là “bỏ đi kinh hoàng, giữ lại trắc ẩn”. Thử nghĩ mà xem: Trắc ẩn là hình phóng to của kinh hoàng, đứa trẻ là hình phóng to của bản thân tôi, đã không có kinh hoàng thì làm sao có trắc ẩn được? Đã không có bản thân tôi thì làm sao có đứa trẻ được? Tôi đã không sợ chết, dù có bảo tôi tự mình nhảy xuống giếng cũng chẳng sao, nhìn thấy đứa trẻ rơi xuống giếng, sao có thể có lòng trắc ẩn được?

Môn nhân của Trình Tử chuyên làm công việc “bỏ đi mong muốn của con người”, tức là chuyên làm công việc “bỏ đi kinh hoàng”. Trong số các môn nhân có Lã Nguyên Minh, ngồi kiệu qua sông bị rơi xuống nước, tùy tùng đi theo bị chết đuối nhưng ông vẫn ngồi yên trong kiệu không hề động đậy, ông là người đã bỏ đi kinh hoàng, cho nên trông thấy tùy tùng chết đuối cũng không hề sinh ra lòng trắc ẩn. Học thuyết của phái Trình Tử truyền đến Nam Độ, bạn tốt của Chu Tử là Trương Nam Hiên, cha ông ta là Trương Ngụy Công, trong trận Phù Li làm mất mấy chục vạn quân, đến đêm đi ngủ vẫn ngáy như sấm Nam Hiên còn khen cha mình rất tinh thông tâm học. Trương Ngụy Công cũng là người đã bỏ đi kinh hoàng, cho nên dù người chết như ngả rạ thì ông ta cũng không hề sinh ra lòng trắc ẩn.

Mạnh Tử nói: “Người trong cùng một nhà tranh đấu, đi ngăn cản họ, cho dù da đầu bị toác ra, mũ bị xô lệch thì cũng là chuyện nên làm”. Tùy tùng của Lã Nguyên Minh, binh sĩ của Trương Ngụy Công há không phải là người cùng một nhà sao? Những hành động này của họ há không phải là trái với gia pháp của Mạnh Tử hay sao? Phàm là những người bỏ đi kinh hoàng thì tất sẽ trở nên tàn nhẫn. Kẻ ác tặc giết người không chớp mắt thường là khi bị đưa đến pháp trường rồi vẫn cười nói như thường, đó là minh chứng cho việc này. Trình Tứ là người đã bỏ đi kinh hoàng cho nên mới đưa ra nghị luận “vợ chết đói là chuyện nhỏ, mất đi tiết tháo mới là chuyện lớn”. Bởi vậy Đới Đồng Nguyên nói: Tống Nho dùng lý để giết người.

Có người hỏi: Không bỏ đi lòng kinh hoàng, khi gặp phải đại họa rơi xuống đầu, tôi chỉ có một tấm lòng sợ chết, sao có thể làm những việc lớn cứu dân cứu nước được chứ? Tôi nói: Việc này cũng chưa chắc, Mạnh Tử đã có biện pháp rồi, biện pháp của ông chỉ là hai chữ “tập nghĩa”, thường ngày bỏ nhiều công sức vào việc tập nghĩa, một khi gặp phải chuyện lớn đã có sẵn nghĩa rồi, tự nhiên sẽ làm những việc xả thân quên mình. Cho nên nói: “Sống là điều ta muốn, nghĩa cũng là điều ta muốn. Nếu trong hai cái đó chỉ chọn một thì ta sẽ chọn nghĩa chứ không chọn sống”. Thường ngày Mạnh Tử tập nghĩa, tu dưỡng loại chính khí tột bậc lớn lao này tới mức hoàn thiện, không hề giống như Tống Nho bỏ đi mong muốn của con người, bình thường khi gặp phải chuyện nguy cấp, loại bỏ sạch sẽ ý niệm sợ chết đó đi. Mạnh Tử không động lòng, Tống nho cũng không động lòng. Mạnh Tử sở dĩ không động lòng là do tích cực tập nghĩa mà có được; Tống Nho sở dĩ không động lòng là do loại bỏ đi mong muốn một cách tiêu cực mà có được, cho nên con đường mà họ đi hoàn toàn trái ngược.

Học thuyết của Mạnh Tử lấy chữ “tôi” làm xuất phát điểm, lòng kính yêu cha mẹ anh em và lòng kinh hoàng trắc ẩn mà ông nói tới, bên trong đều ẩn chứa một chữ “tôi”. Ông nói: “Ta kính trọng cha mẹ ta cũng như kính trọng các cha mẹ của mọi người; ta yêu thương con em ta cũng như yêu thương con em của mọi người”. Lại nói: “Nếu ai cũng thương yêu họ hàng, kính trọng người trên thì thiên hạ thái bình”. Ở đâu cũng không thoát khỏi chữ “tôi”, do Mạnh Tử coi trọng chữ “tôi” nên mới có cách nói “dân là quý trọng, vua là nhẹ”, mới có cách nói “vua coi bề tôi như cỏ rác thì bề tôi coi vua như giặc thù”. Trình Tử đề xướng học thuyết “bỏ đi ham muốn của con người”, chuyên làm công việc bỏ đi chữ “tôi”, cho nên có cách nói “vợ chết đói là chuyện nhỏ, mất đi tiết tháo mới là chuyện lớn”. Mạnh Tử nói: “Người làm hại nhân gọi là tắc, người làm hại nghĩa gọi là tàn, người tàn tặc gọi là kẻ nhất phu. Có nghe sự giết kẻ nhất phu là Trụ, chưa nghe sự giết vua bao giờ”. Đây là quyết định cuối cùng của Mạnh Tử. Hàn Xương Lê nói: “Thần tội đáng chết, thiên vương thánh minh”. Trình Tử cực lực khen ngợi lời này. Ngang nhiên lật đổ quyết định của Mạnh Tử, há không phải là phản đồ của Mạnh môn sao? Họ còn muốn tự xưng là người kế thừa đạo thống của Mạnh Tử, quả thật là khó mà hiểu nổi.

Học thuyết của Khổng môn là “những gì mình muốn lập thì cũng nên lập cho người khác, những gì mình muốn đạt thì cũng nên cho người khác đạt được”, lợi mình lợi người, hợp lại thành một chuyện. Dương Tử vì mình, chuyện nói tới chuyện lợi mình, Mặc Tử kiêm ái, chuyên nói tới chuyện lợi người. Đây đều là che mất một nửa của một đạo lý hoàn chỉnh, chỉ nói có một nửa. Quy luật chung của giới học thuật là: “Học thuyết càng thiên lệch thì càng mới lạ, càng được mọi người hoan nghênh”. Mạnh Tử nói: “Lời nói trong thiên hạ không thuộc về Dương Tử thì thuộc về Mặc Tử”. Sau khi Khổng Tử qua đời, chưa đến một trăm năm, những chỗ mà ông dạy học đều bị Dương Mặc đoạt mất, Mạnh Tử xắn tay áo đứng lên, ra sức bài xích Dương Mặc, phát huy học thuyết suy từ mình ra người của Khổng Tử. Theo chúng ta thấy, Dương Tử vì mình, chỉ biết có lợi cho mình, Mặc Tử kiêm ái, chuyên môn kiếm lợi cho người, giá trị của Mặc Tử dường như cao hơn Dương Tử. Nhưng Mạnh Tử nói: “Rời khỏi Mặc Tử tất sẽ theo Dương Tử, rời khỏi Dương Tử tất sẽ theo Nho gia”, ngược lại đặt Dương Tử ở trên Mặc Tử, cho rằng đến với Nho gia là gần nhất, từ đó có thể thấy được việc Mạnh Tử coi trọng chữ “tôi”.

Dương Tử nhổ một sợi lông mà có lợi cho thiên hạ cũng không làm, tôn trọng chữ tôi một cách cực đoan, nhưng Dương Tử đồng thời cũng tôn trọng cái tôi của người khác. Ông nói: “Trí tuệ sở dĩ đáng quý là vì giữ gìn được bản thân mình, khí lực sở dĩ thấp hèn là vì xâm phạm đến ngoại vật”. Không cho phép người khác nhổ một sợi lông của mình, đồng thời mình cũng không nhổ một sợi lông của người khác, cách nói này là tinh tế nhất, do vậy Mạnh Tử cho rằng Dương Tử ở trên Mặc Tử. Nhưng do cách nói của Dương Tử chỉ có thể làm được việc có lợi cho mình mà không tổn hại tới người, không hợp với chữ “nhân” của Khổng môn. Chữ “nhân” gồm có hai người, là công việc giữa mình và người. Học thuyết của Dương Tử đánh mất đi mối liên quan giữa người với mình, do vậy bị Mạnh Tử bài xích.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Nguyên lý hậu hắc – Phần VI


Lúc nhìn thấy đứa trẻ sắp bị rơi xuống giếng, tổng cộng có ba vật: Một là tôi, hai là đứa trẻ, ba là cái giếng. Chúng ta vẽ thành hình vẽ: Vòng tròn thứ nhất là tôi, vòng tròn thứ hai là đứa trẻ, vòng tròn thứ ba là cái giếng. Tôi và đứa trẻ cùng loài người, cái giếng là sự vật vô tri vô giác.

Nhìn thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng, đột nhiên có một chữ “chết” hiện ra trước mắt tôi, cho nên sẽ thấy kinh hoàng, ngay lập tức biểu lộ sự đồng tình đối với đứa trẻ, sinh ra lòng trắc ẩn, muốn đi cứu giúp nó. Bởi vậy, Mạnh Tử nói: “Lòng trắc ẩn là đầu mối của lòng nhân”. Chúng ta cần biết rằng: Người kinh hoàng là bản thân mình sợ chết, người trắc ẩn thương xót trước cái chết của người khác, cho nên trắc ẩn có thể gọi là nhân từ, kinh hoàng không thể gọi là nhân từ, bởi vậy Mạnh Tử mới bỏ đi hai chữ kinh hoàng. Nhưng có một vấn đề, giả sử tôi và đứa trẻ đồng thời bị rơi xuống giếng, xin hỏi lúc đó tâm trạng sẽ thế nào? Trong khoảnh khắc đó, chỉ có kinh hoàng mà không có trắc ẩn, chỉ có thể lo cho cái chết của mình mà không thể lo cho đứa trẻ. Không phải là tôi không yêu thương đứa trẻ mà là trong lúc vội vàng không thể lo kịp. Phải khi bản thân tôi thoát khỏi nguy hiểm rồi, thân trí ổn định lại thì lòng trắc ẩn mới có thể xuất hiện. Tiếc rằng khi đó Mạnh Tử chưa nghiên cứu ra được tới điểm này, để lại kẽ hở, dần dần mới sinh ra một phái học lý Tống Nho, tạo ra rất nhiều những nghị luận hoang đường.

Mạnh Tử nói tới yêu thương cha mẹ kính trọng anh em, nói tới kinh hoàng trắc ẩn, bên trong đều giấu đi một chữ “tôi”, nhưng ông đều là bắt đầu nói từ vòng tròn thứ hai, đối với cái “tôi” trong vòng tròn thứ nhất đều bỏ qua không nói tới. Dương Tử vì mình, coi như là đã tìm ra được vòng tròn thứ nhất, nhưng ông lại chỉ dành công sức vào vòng tròn thứ nhất, còn các vòng tròn từ thứ hai trở đi thì lại bỏ qua không nói tới. Mặc Tử vì người quên mình, bỏ qua cái tôi ở vòng tròn thứ nhất, ôngc hủ trương tình yêu không phân chia thứ bậc, nghĩa là không phân chia vòng tròn to vòng tròn nhỏ, chỉ vẽ một vòng tròn thật lớn là xong. Dương Tử có cái vòng tròn nhỏ rồi liền không quan tâm tới vòng tròn lớn nữa; Mặc Tử có vòng tròn lớn rồi liền không quan tâm tới vòng tròn nhỏ nữa. Hai nhà bọn họ đều không biết: Hiện tượng tự nhiên là vòng tròn to vòng tròn nhỏ tầng tầng lớp lớp bao bọc lấy nhau. Hai người Mạnh Tử và Tuân Tử đã nhìn ra được hiện tượng tầng lớp bao bọc, nhưng Mạnh Tử nói là phóng to từng tầng, Tuân Tử nói là thu nhỏ từng tầng, không tránh khỏi bỏ qua mất một phía. Chúng ta lấy chữ “tôi” của Dương Tử làm điểm trung tâm, ở bên ngoài thêm một tình yêu phân chia thứ bậc, sẽ phù hợp với hiện tượng tự nhiên.

Chúng ta tổng hợp thuyết của Mạnh Tử và Tuân Tử để đoán định rằng: Những lời Mạnh Tử nói như “trẻ con khi còn nhỏ biết yêu thương cha mẹ mình, khi tưởng thành đều biết kính trong anh em của của mình”, cũng không sai, nhưng không thể nói là tính thiện, chỉ có thể nói là hiện tượng tự nhiên trong bản tính của con người; những lời Tuân Tử nói như “có vợ con rồi thì sự hiếu kính đối với cha mẹ sẽ giảm bớt, sở thích dục vọng được thỏa mãn rồi thì việc giữ chữ tín đối với bạn bè sẽ giảm bớt” cũng không sai, nhưng không thể nói là tính ác, chỉ có thể nói là hiện tượng tự nhiên trong bản tính con người. Vậy thì các học giả biết làm thế nào? Đáp: Chúng ta biết rằng bản tính tự nhiên của con người có thể yêu thương cha mẹ khi còn nhỏ, lớn lên một chút thì kính trọng anh em, liền mở rộng loại tâm lý này ra, thích hợp dùng cách nói “ta kính trọng cha mẹ ta cũng như kính trọng các cha mẹ của mọi người; ta yêu thương con em ta cũng như yêu thương con em của mọi người”. Chúng ta lại biết rằng: Bản tính tự nhiên của con người có thể hiếu kính với cha mẹ, giữ chữ tín với bạn bè, liền sửa chữa loại tâm lý này, thích hợp dùng cách nói “cây cong thì phải chặt bớt đi, rồi uốn nắn cho thẳng lại, vũ khí cùn thì phải mài cho sắc lại”.

Cuộc tranh luận giữa Mạnh Tử và Tuân Tử chỉ là tranh luận về danh từ tính thiện và tính ác, trên thực tế đạo lý mà hai người đã nói đều không sai, đều có thể áp dụng vào thực tế. Tôi cho rằng chúng ta không cần phải hỏi bản tính của con người là thiện hay ác, chỉ cần tạo ra một điều luật chung: “Tâm lý thay đổi vận hành theo quy luật chung của lực học”. Gộp hết định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, thuyết tương đối của Einstein ứng dụng vào tâm lý học, tâm lý vật lý gộp lại làm một để nghiên cứu, há chẳng đơn giản mà rõ ràng hay sao? Hà tất phải khổ sở tranh luận mãi không thôi về mấy danh từ tính thiện tính ác này chứ.

3/ Sai lầm trong quan điểm của Tống Nho

Chiến Quốc là thời đại học thuật của Trung Quốc phát triển nhất, khi đó phong trào du thuyết thịnh nhất, thường nhờ lời nói mà có được chức quan, họ đi du thuyết quân chủ các nước giống như các mưu sĩ thời sau này, có điều chỉ là đấu khẩu chứ không phải đấu bằng ngòi bút. Các mưu sĩ thông thường đều quan với thuật phỏng đoán, trước tiên bỏ một phen công phu để nghiên cứu thấu đáo sự việc đã, sau đó đi du thuyết, thường là che đi một nửa chân lý, chỉ nói có một nửa, trở thành cách nghị luận cực đoan, càng cực đoan thì lại càng mới mẻ, càng thu hút người nghe. Tô Tần du thuyết giảng hòa sáu nước, nói ra một đạo lý, vang danh khắp thiên hạ: Trương Nghi giải tán sáu nước, ngược lại nói ra một đạo lý cũng vang danh khắp thiên hạ. Mạnh Tử, Tuân Tử sinh ra vào thời đó, bị nhiễm loại thói quen này, bản tính con người vốn là không thiện không ác, cũng tức là “có thể là thiện, có thể là ác”. Mạnh Tử cắt ra một nửa của nhân tính để lập luận, nói là tính thiện, thuyết này mới mẻ đáng mừng, vậy là dựng lên riêng một ngọn cờ trong giới học thuật; Tuân Tử xuất hiện, lấy một nửa do Mạnh Tử để lại, tiết lộ ra nói là tính ác, lại trở thành một thuyết mới mẻ, cũng dựng lên một ngọn cờ trong giới học thuật. Từ đó thuyết tính thiện và thuyết tính ác dần trở thành hai học thuyết đối lập nhau. Tống Nho tin vào học thuyết của Mạnh Tử, về căn bản là sai lầm. Thế nhưng Mạnh Tử vẫn chưa sai lầm, còn Tống Nho thì sai lầm rất lớn, Tống Nho nói về tính hoàn toàn trái ngược với Mạnh Tử.

Xin hỏi: Học thuyết của Tống Nho chính là dựa trên hai căn cứ mà Mạnh Tử đã nói: (1) Trẻ con khi còn nhỏ đều biết yêu thương cha mẹ của mình”; (2) “Nay người chợt thấy đứa bé bị ngã xuống giếng đều có lòng kinh hoàng trắc ẩn” làm xuất phát điểm, vì sao lại có thể hoàn toàn trái ngược với học thuyết của Mạnh Tử được? Xin được nói rõ như sau:

Giữa đứa trẻ và người mẹ phát sinh quan hệ, có tổng cộng là ba trường hợp: (1) Một đứa trẻ, một người mẹ, một người ngoài ở cùng một chỗ, đứa trẻ đối với mẹ hết sức yêu thương. Lúc đó có thể nói là đứa trẻ yêu thương mẹ mình; (2) Một đứa trẻ, một người mẹ cùng ở một chỗ, đứa trẻ đối với mẹ yêu thương không nỡ rời. Lúc đó có thể nói là đứa trẻ yêu thương mẹ mình; (3) Một đứa trẻ, một người mẹ ở cùng một chỗ, xảy ra xung đột dữ dội, ví dụ như: Có một miếng bánh, người mẹ ăn rồi, đứa trẻ không được ăn, người mẹ đưa bánh vào trong miệng, đứa trẻ liền thò tay giật lấy, bỏ vào trong miệng mình. Mạnh Tử nói thiện, bỏ đi trường hợp thứ ba không nói, chỉ nói hai trường hợp trước, nói mạch lạc rõ ràng đâu ra đấy. Tuân Tử nói tính ác, bỏ đi hai trường hợp trước không nói, chỉ nói trường hợp thứ ba, cũng nói mạch lạc rõ ràng đâu ra đấy. Cho nên học thuyết của hai người họ về bản thân là không phát sinh xung đột. Tống Nho đồng thời nói cả hai trường hợp đầu và trường hợp thứ ba, lại không thể xuyên suốt làm một, vậy là học thuyết của họ về bản thân liền phát sinh xung đột.

Tống Nho hết lòng tin vào thuyết trẻ nhỏ yêu thương cha mẹ của Mạnh Tử, bỗng nhiên phát hiện ra đứa trẻ giằng lấy miếng bánh trong miệng của mẹ, mà trẻ con trên đời này không đứa nào là không như vậy, cũng không thể không nói là bản tính của con người, muốn tìm hiểu nguyên nhân mà không được, bèn sáng tạo ra một danh từ là “tính của khí chất”. Giả sử có người hỏi: Đứa trẻ vì sao có thể yêu thương cha mẹ? Đáp rằng đó là “tính của nghĩa lý”. Hỏi: Đã yêu thương cha mẹ rồi, vì sao lại có thể giằng lấy miếng bánh trong miệng của mẹ? Đáp rằng đó là “tính của khí chất”. Một phần nhân tính đang yên lành thì vô duyên vô cớ bị chia ra làm hai, bởi vậy toàn bộ Tống học liền trở nên rối rắm, xuất hiện nhiều cách nói hoang đường. Chu Tử xuất hiện, chú ý tới mục trời sinh ra dân chúng trong sách của Mạnh Tử, nói một cách đơn giản rõ ràng rằng: “Thuyết của Trình Tử cùng Mạnh Tử, dùng lý luận sự việc để khảo nghiệm thì Trình Tử chu đáo tỉ mỉ hơn”. Tự trong phái của họ còn nói như vậy, lẽ nào không phải là rõ ràng trái ngược với Mạnh Tử hay sao?

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Nguyên lý hậu hắc – Phần V


Chúng ta vẽ lại những sự thật nói trên thành sơ đồ B. Vòng tròn thứ nhất là tôi, vòng tròn thứ hai là bạn bè, vòng tròn thứ ba là người khác, vòng tròn thứ tư là chó, vòng tròn thứ năm là hoa, vòng tròn thứ sáu là đá, quy luật của nó là “cách tôi càng xa thì tình cảm càng giảm, tình cảm và khoảng cách tỉ lệ nghịch với nhau”, giống với sơ đồ A. Phạm vi mà sơ đồ B đặt ra không giống với sơ đồ A, nhưng kết quả thu được hoàn toàn như nhau, đủ để chứng minh nguyên lý tự nhiên quả thực là như vậy. Có thể khái quát lại rằng: Phàm có hai vật đồng thời hiện ra trước mắt tôi, trong lòng tôi không cần sắp xếp, tự nhiên sẽ lấy tôi làm trung tâm dựa theo khoảng cách với tôi xa hay gần mà định ra tình cảm nhiều hay ít, không có gì khác biệt so với lực hút của tâm Trái đất hay lực hút của điện từ.

Có hai loại lực là lực li tâm và lực hướng tâm, các tầng của sơ đồ A phát triển ra bên ngoài là hiện tượng lực li tâm; các tầng của sơ đồ B thu hẹp vào bên trong là hiện tượng lực hướng tâm. Mạnh Tử đứng ở bên trong sơ đồ A nhìn ra bên ngoài, cảm thấy bản tính tự nhiên của người thường đều là trẻ nhỏ yêu thương cha mẹ, lớn lên một chút thì yêu thương anh em, tiếp đến thì yêu thương láng giềng, yêu thường người cùng tình, yêu thương người cùng nước, mở rộng theo từng tầng; nếu tiếp tục mở rộng ra nữa, còn có thể đến tận yêu thương loài người, yêu thường loài vật mới dừng lại, do đó đoán định tính thiện của con người. Bởi vậy ta nói: “Ta kính trọng cha mẹ ta cũng như kính trọng các cha mẹ của mọi người; ta yêu thương con em ta cũng như yêu thương con em của mọi người”. Lại nói: “Cất nhắc lòng mình rồi thêm cất nhắc lòng người”. Đều là kêu gọi người khác mở rộng và bổ sung tính thiện vốn có này. Mạnh Tử thích nói về “thi”, thi là để dẫn dắt ý chí của con người, người thường chỉ cần quen với thi, tự nhiên sẽ có thể phát huy được tính thiện này, đây chính là tôn chỉ cho Mạnh Tử lập thuyết. Cho nên có thể coi như sơ đồ A là sơ đồ thuyết tính thiện của Mạnh Tử.

Tuân Tử đứng ở bên ngoài sơ đồ B nhìn vào bên trong, thấy được bản tính tự nhiên của người thường đều là nhìn thấy bông hoa thì quên hòn đá, nhìn thấy con chó thì quên bông hoa, nhìn thấy người thì quên con chó, nhìn thấy bạn bè thì quên người lạ, dần dần thu hẹp lại, đến khi căn phòng đổ sụp xuống, chỉ còn lại trần trũi có một mình ta, ngay cả bạn thân cũng quên mất, do vậy đoán định về tính ác của con người. Do vậy nói: “Có vợ con rồi thì sự hiếu kính đối với cha mẹ sẽ giảm bớt; sở thích dục vọng được thỏa mãn rồi thì việc giữ chữ tín đối với bạn bè sẽ giảm bớt; tước vị bổng lộc như ý rồi thì sự trung thành đối với quân chủ sẽ giảm bớt”. Lại nói: “Cây cong thì phải chặt bớt đi rồi uốn nắn cho thẳng lại, vũ khí cùn thì phải mài cho sắc lại”. Đều là bảo người khác phải kiềm chế tính ác vốn có này lại. Tuân Tử thích nói về “lễ”, lễ là phạm vi cho hành vi của con người, người thường chỉ cần quên thì tính ác này tự nhiên sẽ không xuất hiện nữa. Đây chính là tôn chỉ cho Tuân Tử lập thuyết. Cho nên có thể coi như sơ đồ B là sơ đồ thuyết tính ác của Tuân Tử.

Hai sơ đồ A và B vốn là như nhau, từ trong mắt của Mạnh Tử, Tuân Tử nhìn ra liền trở thành tính thiện và tính ác, la hai cách nói hoàn toàn đối lập với nhau, há chẳng phải là chuyện kỳ lạ hay sao? Hơn nữa đôi lúc cùng là một chuyện, Mạnh Tử nhìn thấy là thiện, Tuân Tử nhìn thấy là ác, vậy thì lại càng kỳ lạ hơn. Ví dụ tôi nghe nói người bạn của tôi đang đánh nhau với người khác, tôi chỉ mong sao cho bạn tôi đánh thắng, xin hỏi loại tâm lý này là thiện hay ác?

Giả sử chúng ta đi hỏi Mạnh Tử, Mạnh Tử nhất định sẽ nói: Đây rõ ràng là biểu hiện của tính thiện, vì sao lại nói như vậy ư? Bạn của ông ta đánh nhau với người khác, chẳng có quan hệ gì với ông cả, nhưng ông muốn bạn của mình đánh thắng, tấm lòng yêu thương bạn bè này bất tri bất giác được biểu lộ ra ngoài từ bản tính tự nhiên, các bậc thánh hiền thời xưa không ai là không xuất phát từ nhất niệm yêu thương mà thôi. Cho nên tấm lòng yêu thương bạn bè này của ông cần phải được mở rộng ra.

Giả sử tôi đi hỏi ông Tuân Tử, Tuân Tử sẽ nhất định sẽ nói: Đây rõ ràng là biểu hiện của tính ác, vì sao lại nói như vậy ư? Bạn của ông là người, người khác cũng là người, ông không cứu người khác mà lại cứu bạn mình, đây chính là lòng ích kỷ, bất tri bất giác được biểu lộ ra ngoài từ bản tính tự nhiên. Wilhelm đệ nhị gây ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất, Đức, Italy, Nhật gây ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai, không ai không xuất phát từ nhất niệm ích kỷ. Cho nên loại tấm lòng ích kỷ này của ông cần phải được kiềm chế lại.

Ví dụ được đưa ra ở trên cùng là một chuyện, nhưng lại có hai cách nói hoàn toàn trái ngược với nhau, hai cách nói này đều là không thể bàn cãi, đây là đạo lý gì chứ? Chúng ta muốn giải quyết vấn đề này, chỉ cần vẽ hình ra nhìn là tự nhiên sẽ hiểu rõ. Như hình vẽ: Vòng tròn thứ nhất là tôi, vòng tròn thứ hai là bạn bè, vòng tròn thứ ba là người khác, xin hỏi vòng tròn có chữ “bạn bè” này to hay nhỏ? Mạnh Tử vẽ một vòng tròn nhỏ có chữ “tôi” ở bên trong, so sánh với nó, liền nói rằng vòng tròn thứ hai là to. Tuân Tử vẽ một vòng tròn to có chữ “người khác” ở bên ngoài, so sánh với nó, liền nói rằng vòng tròn thứ hai là nhỏ. Nếu hỏi lý do của hai người, Mạnh Tử nói: Vòng tròn có chữ “bạn bè” là do mở rộng vòng tròn nhỏ của chữ “tôi” mà thành, sao có thể không phải là vòng tròn to được? Thuận theo xu thế này, tất sẽ càng mở rộng càng to, bởi vậy nên mở rộng ra, khiến cho nó tiếp tục to hơn nữa. Tuân Tử nói: Vòng tròn có chữ “bạn bè” là do thu hẹp vòng tròn to có chữ “người khác” mà thành, sao có thể không phải là vòng tròn nhỏ được? Thuận theo xu thế này, tất sẽ càng thu hẹp càng nhỏ, bởi vậy nên ngăn lại, không để cho nó tiếp tục nhỏ hơn nữa. Cuộc tranh luận giữa Mạnh Tử và Tuân Tử là như thế.

Việc cứu người bạn, Mạnh Tử đưa ra một chữ “tôi” để so sánh với chữ “bạn bè”, nói là biểu hiện của tính thiện; Tuân Tử đưa ra một chữ “người khác” để so sánh với chữ “bạn bè”, nói là biểu hiện của tính ác. Chúng ta vẽ sơ đồ quan sát, vòng tròn chứa chữ “bạn bè” chỉ có thể nói đó là một vòng tròn, không thể nói đó là một vòng tròn lớn, cũng không thể nói đó là một vòng tròn nhỏ. Cho nên việc cứu người bạn chỉ có thể nói là một loại hiện tượng tự nhiên trong bản tính con người, không thể nói người đó là thiện, cũng không thể nói người đó là ác. Mạnh Tử nói tính thiện, Tuân Tử nói tính ác, đều là một dạng ngụy biện, hai người sinh ra vào thời Chiến Quốc, bị nhiễm chút thói quen ngụy biện của các mưu sĩ, chúng ta không thể không biết.

Từ sau Tuân Tử, có rất ít người chủ trương tính ác. Còn thuyết tính thiện của Mạnh Tử rất có thế lực ở Trung Quốc, chúng ta có thể nghiên cứu thêm về học thuyết của ông. Ông nói: “Nay người chợt thấy đứa bé bị ngã xuống giếng đều có lòng kinh hoàng trắc ẩn”. Cách nói này cũng là một căn cứ quan trọng của thuyết tính thiện. Nhưng chúng ta cũng phải hỏi rằng: Chương sách này, đoạn trên rõ ràng là bốn chữ kinh hoàng trắc ẩn, vìsao đoạn bên dưới chỉ nói “không có lòng trắc ẩn thì không phải là người”, “lòng trắc ẩn là đầu mối của lòng nhân”, vô duyên vô cớ bỏ mất hai chữ “kinh hoàng”, vậy là đạo lý gì? Thuyết tính thiện sở dĩ có kẽ hở chính là ở chỗ này.

Kinh hoàng là có ý sợ hãi, là biểu hiện của bản thân sợ chết. Giả sử trong lúc chúng ta cùng ngồi trò chuyện, chợt thấy trước mặt có một người cầm con dao sáng loáng đuổi giết một người khác, chúng ta đều kinh hoàng, trong lòng mỗi người đều sẽ giật mình thon thót. Hiện tượng này tức là kinh hoàng. Đó là bởi vì mỗi người bẩm sinh đều sợ chết, nhìn thấy con dao tưởng như là muốn giết mình vậy, cho nên tim sẽ giật thon thót, cho nên sẽ kinh hoàng. Tôi quan sát qua một lượt, biết rằng không phải muốn giết tôi mà là giết người khác, ngay lúc đó sẽ phóng to ý niệm sợ chết, biến bản thân tôi thành người đang bị đuổi theo, nảy sinh sự đồng tình đối với người đó, muốn cứu lấy anh ta. Đây chính là lòng trắc ẩn. Phải kinh hoàng trước rồi sau mới có lòng trắc ẩn, đó là thứ tự của tự nhiên, không phải là do con người sắp xếp. Từ đó có thể biết được: Trắc ẩn được sinh ra từ sự kinh hoàng, nếu không kinh hoàng thì sẽ không có lòng trắc ẩn, có thể nói rằng hai chữ “trắc ẩn” này vẫn bắt nguồn từ chỗ “tôi”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Nguyên lý hậu hắc – Phần IV


Chúng ta giả định “tính linh do điện từ chuyển biến mà thành”, vậy thì những lời Phật nói với quốc vương Ba Tư và A Nan, cùng những lời của Tống Nho như “như cá ở trong nước, nước bên ngoài chính là nước trong bụng cá, nước trong bụng cá mè và nước trong bụng cá chép đều chỉ là một loại”, những lời của Minh Nho như “phủ khắp thiên hạ, đều là tâm”…, đều có thể giải thích được dễ dàng. “Trung dung” nói: “Vui buồn hờn giận đều không biểu lộ ra ngoài, đó là trung”. Lục Tổ nói: “Lúc mà không nghĩ thiện, không nghĩ ác, lúc đó bộ mặt lộ rõ nhất”. Quảng Thành Tử nói: “Chỗ tinh túy nhất của đạo, sâu xa tăm tối, chỗ cao nhất của đạo, mờ mờ mịt mịt”. Trang Tử nói: “Tâm không vui buồn, cái đức đến vậy, một mà không động, cái tĩnh đến vậy”. Đó đều là hiện tượng Alaya, cũng tức là hiện tượng trung hòa điện từ. Trung hòa điện từ phát động ra, gây tác dụng hút đẩy lẫn nhau thì sự việc cũng đua nhau nổi lên. Do vậy chúng ta muốn nghiên cứu những biến đổi của đời người thì đầu tiên phải tạo ra một giả thuyết nói rằng: “Tính linh do điện từ chuyển biến mà thành”. Nghiên cứu điện từ không thể xa rời lực học, chúng ta lại tạo ra một giả thuyết khác rằng: “Tâm lý thay đổi vận hành theo quy luật chung của lực học”. Có được hai giả thuyết này rồi, những biến đổi lũ lượt xảy ra sẽ phải tuân theo quỹ đạo, mà các học thuyết bất đồng trên thế giới cũng có thể quy về làm một, học thuyết của ba nơi là Trung Quốc, phương Tây và Ấn Độ cũng có thể hợp lại làm một.

Phật nói: Tất cả mọi sự vật trong tự nhiên và thế giới của con người đều là huyễn tưởng. Newton tạo ra ba định luật, cho nên nghiên cứu sự huyễn tưởng của vật lý; chúng ta tạo ra hai giả thuyết, cho nên nghiên cứu sự huyễn tưởng của con người. Tất cả mọi điều nói tới trong chương này đều là để nói rõ lý do tạo ra hai giả thuyết này. Chương thứ hai bên dưới là dựa vào hai giả thuyết này để nói rõ sự thay đổi trong thế giới của con người không liên quan tới bản thể. Phật nói bản thể, chúng ta nói hiện tượng, lấy Hồng Câu làm ranh giới. Độc giả đối với Phật học và khoa học về căn bản đều là người ngoài ngành. Tất cả mọi cách nói đều là những gì tôi cho là đúng, trong lòng có cách nghĩ này liền viết ra, tự biết chỉ xuất phát từ giả thuyết, dựa vào quy luật của Phật học và khoa học, đương nhiên có nhiều chỗ không hợp, tôi chẳng qua là nói bừa mà thôi, độc giả cũng cứ nghe bừa là được.

2. Quan điểm đối lập của Mạnh Tử và Tuân Tử

Thuyết tính thiện của Mạnh Tử và thuyết tính ác của Tuân Tử là vụ án dang dở chưa giải quyết được trong lịch sử học thuật của nước tôi, hai thuyết đối lập nhau đã hơn hai nghìn năm, không phân biệt thắng thua. Mạnh Tử nói: Bản tính của con người vốn là thiện, chủ trương dùng nhân nghĩa để giáo hóa dân chúng; Tống Nho kế thừa học thuyết của ông, mở ra một phái lý học, tạo ra không ít nghị luận viển vông. Tuân Tử sinh ra sau Mạnh Tử, phản đối học thuyết của ông, nói rằng bản tính của con người là ác, chủ trương dùng lễ để ngăn cấm; học trò của ông là Hàn Phi cho rằng sức mạnh ngăn cấm của lễ quá yếu, chi bằng dùng pháp luật có sức ngăn cấm mạnh hơn, dần dần trở thành học thuyết hình danh, khuyết điểm của thuyết này là hà khắc vong ân. Vậy là hai nhà Nho Pháp bài xích lẫn nhau, tạo ra rất nhiều xung đột cả về mặt học thuyết lẫn chính trị. Rốt cuộc hai thuyết Mạnh Tuân ai đúng ai sai? Chúng ta không thể không nghiên cứu triệt để rõ ràng.

Mạnh Tử nói: “Trẻ con khi còn nhỏ đều biết yêu thương cha mẹ của mình, khi trưởng thành đều biết kính trọng anh em của mình”. Cách nói này có kẽ hở. Chúng ta gọi bất kỳ một người mẹ nào, bảo bà bế đứa con ruột của mình ra làm thí nghiệm trước mặt mọi người, bà mẹ vừa bế đứa trẻ vừa ăn cơm, đứa trẻ sẽ giơ tay ra giằng lấy cái bát của mẹ, nếu không đề phòng còn có thể rơi xuống đất vỡ tan. Xin hỏi hiện tượng này có phải là yêu thương cha mẹ không? Lại đặt vào tay người mẹ một miếng bánh, đứa trẻ trông thấy liền đưa tay giật lấy, nếu người mẹ không đưa cho nó mà đút vào miệng mình, nó lập tức sẽ đưa tay vào miệng người mẹ để lấy miếng bánh ra, bỏ vào trong miệng mình. Lại xin hỏi hiện tượng này có phải là yêu thương cha mẹ không? Đứa trẻ nằm trong lòng mẹ bú sữa hoặc ăn bánh, anh trai nó đi tới gần, nó liền đưa tay ra đẩy anh, đánh anh. Xin hỏi hiện tượng này có phải là kính trọng anh em không? Trẻ con trên khắp thế giới này không đứa nào không như vậy. Trên thực tế đã có hiện tượng này rồi, thuyết tính thiện của Mạnh Tử há chẳng phải lộ rõ sơ hở hay sao? Tất cả những nghị luận xuất phát từ thuyết tính thiện, những chế độ pháp lệnh đã được ban bố đều tồn tại không ít khuyết điểm.

Thế nhưng Mạnh Tử nói “trẻ con khi còn nhỏ đều biết yêu thương cha mẹ của mình, khi trưởng thành đều biết kính trọng anh em của mình”, rốt cuộc được sinh ra từ đâu? Chúng ta muốn giải thích được câu hỏi này, đành phải dùng phương pháp nghiên cứu vật lý để tiến hành nghiên cứu Bản tính tự nhiên của con người là lấy mình làm trung tâm, nếu so sánh giữa mình và mẹ thì đứa trẻ chỉ biết có mình, do đó mới giật lấy miếng bánh từ trong miệng của mẹ để đút vào miệng mình. Mẹ là người cho ta bú mớm, anh là người tranh gianh sữa của ta, tranh giành bánh của ta, cho nên so sánh giữa mẹ và anh thì đứa trẻ chỉ yêu mẹ mà lại đánh anh, đẩy anh ra. Sau khi lớn thêm chút nữa, đi ra bên ngoài, gặp gỡ hàng xóm láng giềng, so sánh giữa anh và hàng xóm thì đứa trẻ yêu anh hơn. Đi đến làng khác, so sánh giữa láng giềng và người ở làng khác thì yêu láng giềng hơn. Đi ra ngoại tỉnh, so sánh giữa người trong tỉnh mình và người tỉnh khác thì yêu người trong tỉnh mình hơn. Đi ra nước ngoài, so sánh người nước mình với người nước ngoài thì yêu người nước mình hơn. Chúng ta nghiên cứu kỹ hơn sẽ biết được việc yêu thương cha mẹ, kính trọng anh em mà Mạnh Tử nói đều được bộc lộ ra ngoài từ lòng vì bản thân mình.

Thử vẽ thành sơ đồ, như sơ đồ A: Vòng tròn thứ nhất là tôi, vòng tròn thứ hai là cha mẹ, vòng tròn thứ ba là anh em, vòng tròn thứ tư là hàng xóm, vòng tròn thứ năm là người trong tỉnh, vòng tròn thứ sáu là người trong nước, vòng tròn thứ bảy là người nước ngoài. Xem xét kỹ sơ đồ này có thể tìm ra được quy luật nhất định: “Cách tôi càng gần thì tình cảm càng sâu sắc, tình cảm và khoảng cách tỉ lệ nghịch với nhau”. Quy luật này giống với lực hút của Trái đất, hơn nữa hiện tượng này rất giống hiện tượng từ trường. Từ đó biết được: Tính linh của con người giống với điện từ, giống với lực hút của tâm Trái đất, do vậy quy luật chung do Newton tạo ra có thể áp dụng đối với tâm lý học. Sơ đồ A được vẽ ở trên có chính xác hay không, chúng ta vẫn cần phải khảo nghiệm thêm: Giả sử vào tháng ba màu xuân, chúng ta hẹn hai ba người bạn ra ngoài dạo chơi, đi đến một nơi sơn thanh thủy tú thì trong lòng cảm thấy vô cùng vui vẻ, đi đến nơi phong cảnh xấu xí thì trong lòng sẽ cảm thấy không vui, đó là do duyên cớ gì? Bởi vì phong cảnh là vật, chúng ta cũng là vật, vật và ta vốn là một thể, cho nên loại vật tốt thì trong lòng sẽ thấy vui vẻ, loại vật không tốt thì trong lòng sẽ thấy không vui. Chúng ta lại đi tới một nơi, thấy trên mặt đất có rất nhiều đá vụn, trên lớp đá vụn là cánh hoa rơi tan tác, trong lòng chúng ta liền cảm thấy bi thương thay cho cánh hoa rơi nhưng lại chẳng có cảm giác gì đối với đá vụn, nguyên nhân là vì sao? Bởi vì đá là vật không có sự sống, còn hoa và chúng ta đều là vật có sự sống, cho nên đối với hoa rơi càng cảm thấy quan tâm hơn. Giả sử trên những cánh hoa rơi có một con chó đang nằm chờ chết, cất tiếng rên ư ử, âm thanh đó sau khi lọt vào tai sẽ khiến tấm lòng thương cảm trước cánh hoa rơi chuyển sang chỗ con chó. Vì sao lại như vậy? Bởi vì hoa là thực vật, còn con chó và chúng ta đều là động vật, đương nhiên sẽ có lòng thương xót. Chúng ta đi chơi xong quay về, trên đường về trông thấy một con chó chặn một người đi đường lại, con chó cắn sủa điên cuồng, người kia thì lấy gậy đánh trả, người vào chó giao chiến bất phân thắng bại, chúng ta trông thấy thì đều sẽ tới giúp người kia chứ sẽ không giúp con chó. Bởi vì con chó là loài thú, còn người kia và chúng ta đều là loài người, tình cảm đối với người đương nhiên phải khác biệt. Giả sử chúng ta quay lại, vừa bước vào cửa liền có người nói với tôi rằng, người bạn kia của tôi đang đi trên đường thì đánh nhau với người khác, đang bất phân thắng bại. Tôi nghe tin này sẽ lập tức chạy tới giúp, vốn là đánh nhau với người khác, do quan hệ bạn bè nên tôi chỉ có thể đi giúp bạn của mình mà không thể đi giúp người kia. Tôi dẫn người bạn về thư phòng của mình, hỏi xem nguyên nhân đánh nhau là gì,tôi đang lắng nghe bỗng nhiên mái nhà bị đổ sụp xuống, tôi liền chạy ngay ra ngoài cửa, quay đầu lại gọi bạn mình: Anh còn không chạy đi à? Xin hỏi vừa thấy mái nhà đổ xuống, vì sao không gọi bạn trước rồi mới chạy, mà phải đợi mình chạy ra ngoài cửa rồi mới quay đầu lại gọi chứ? Đây chính là bản tính tự nhiên của con người, là chứng minh cho việc lấy mình là trung tâm.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Nguyên lý hậu hắc – Phần III


Những người thành tiên thành phật được nói tới trong cuộc đời này có lẽ đã dùng một loại khả năng tự tu dưỡng nào đó, có thể ngưng tụ điện từ lại không bị phân tán đi. Tục ngữ có câu “oan hồn bất tán”, nghĩa là một kiểu tính linh oán hận ngưng tụ điện từ lại, cho đến tận khi oán thù đã được báo, lòng căm hận mất đi, điện từ không có chỗ để ngưng tụ nữa thì oan hồn đó mới bị tiêu diệt.

Có được giả thuyết “tính linh do điện từ chuyển biến mà thành”này rồi thì vấn đề linh hồn có tồn tại hay không đã có thể có câu trả lời. Con người chết đi, vật chất trong cơ thể trở về với Trái đất, tính linh hóa thành điện từ, vậy thì linh hồn coi như bị tiêu diệt. Tuy nhiên nếu cơ thể chúng ta chết đi mà vật chất vẫn còn tồn tại, điện từ vẫn còn tồn tại, cũng có thể nói là linh hồn vẫn còn tồn tại. Đây là điều mà Trang Tử đã nói: “Trời đất vói ta cùng sinh ra; vạn vật với ta là một”.

Nhà Phật coi trọng nhất là bốn chữ “liễu liễu thường tri”, khi con người tĩnh tâm thì lòng dạ minh mẫn, nhưng khi sự việc liên tiếp xảy ra thì lòng dạ không còn minh mẫn nữa. Những người có học vấn cao thâm thì nhiều sự việc liên tiếp xảy ra, lòng dạ vẫn minh mẫn, đó gọi là “động tĩnh như một”. Tuy nhiên ban ngày thì lòng dạ minh mẫn mà đêm đến khi nằm ngủ lại mê muội. Người có học vấn cao thâm thì khi nằm ngủ vẫn minh mẫn, đó gọi là “thức ngủ như một”. Người có học vấn rất cao thâm, chết rồi vẫn minh mẫn, đó gọi là “sống chết như một”. Sau khi chết rồi vẫn minh mẫn thì gọi là linh hồn tồn tại vĩnh viễn.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Chữ vạn từ trong lồng ngực của Như Lai tỏa ra ánh hào quang, ánh sáng này rực rỡ trăm nghìn sắc, chiếu khắp thập phương, Phật truyền thế giới trong chốc lát”. Hào quang quý này chính là ánh sáng của điện. A Nan nói về Phật rằng: “Ta thấy Như Lai có ba mươi hai tướng, đẹp đẽ tuyệt trần, hình thể lấp lánh giống như ngọc lưu ly. Thường ngồi tư duy, tướng ấy không phải do lòng dục ái sinh ra, vì sao lại như vậy? Dục khí vẩn đục, tạp chất giao nhau, huyết dịch hỗn loạn, không thể tĩnh tâm minh mẫn được, kim quang không thể ngưng tụ thoát ra được”. Thích Ca tu dưỡng công đức thâm sâu, đã đem máu thịt của mình biến thành thể ngưng tụ của điện từ, do đó phát ra ánh hào quang quý báu, chiếu khắp thế giới thập phương. Phật có mắt trời nhìn khắp mọi nơi, tại trời nghe khắp mọi lời, ngày nay việc phát minh ra vô tuyến điện đã chứng minh điều đó không phải là không đúng. Bản thân Thích Ca chính là một đài vô tuyến điện, sau này ngành điện học tiến bộ, tất sẽ có thể chứng minh được những điều Thích Ca đã nói không có gì là hư ảo, mà giả thuyết “tính linh do điện từ chuyển biến mà thành” có lẽ cũng có thể chứng minh không phải là hư ảo.

Lão Tử nói về Đạo, nhiều lần lấy nước để so sánh, Phật nói về Pháp cũng thường lấy nước để so sánh, chúng ta không ngại lấy không khí để so sánh. Cái gọi là không sinh không diệt, không bẩn không sạch, không tăng không giảm, không cổ kim, không biên giới, không trong ngoài, mọi loại hiện tượng, không khí đềucó đủ cả. Nếu tiến thêm một bước nữa, dùng trung hòa điện từ làm ví dụ thì lại càng chuẩn xác. Nếu tiến thêm một bước nữa, giả định: “Tính linh do điện từ chuyển biến mà thành”. Dùng để đọc sách của Lão Phật, cảm thấy chỗ nào cũng có thể giải quyết dễ dàng.

Con người vẫn tưởng rằng mình cao quý hơn vạn vật, đây chẳng qua là những lời loài người tự khen mình mà thôi, trên thực tế thì người và vật đều được sinh ra từ Trái đất, các nguyên tố trong cơ thể không có cái gì không phải là vật chất của Trái đất. Đứng từ góc nhìn của Trái đất thì con người và vật không có gì khác biệt cả, giống như cha mẹ sinh ra hai người con, đứa lớn là người, đứa nhỏ là vật, có điều đứa lớn thông minh, đứa nhỏ mắc bệnh đần độn mà còn câm điếc nữa. Chúng ta làm thí nghiệm lý hóa, nhiệt độ thay đổi hoặc đưa vào một loại vật chất nào đó, hình dạng và tính chất đều sẽ thay đổi. Con người gặp sự thay đổi lớn về khí hậu, tâm trạng cũng trở nên buồn bực, đó là quan hệ về nhiệt độ; uống rượu vào, tính tình cũng sẽ thay đổi, đó là đưa một loại dược phẩm vào người, tạo ra tác dụng hóa học. Khảo sát từ góc độ này, người và vật có gì khác biệt chứ.

Vật chất của cơ thể con người và vật chất của Trái đất đều được cấu thành bởi điện từ. Con người có linh hồn, Trái đất cũng có linh hồn, điện từ chính là linh hồn của Trái đất, lực hút của Trái đất mà chúng ta thường nói tới chính là biểu hiện của lực hút điện từ. Vật chất của Trái đất biến thành thực vật, đồng thời điện từ của Trái đất biến thành sức sống của thực vật. Con người ăn thực vật, vật chất biến thành da tóc xương thịt của cơ thể chúng ta, đồng thời điện từ cũng biến thành tính linh của con người. Từ đất đá cát sỏi biến thành thực vật, biến thành da tóc xương thịt, càng ngày càng cao cấp hơn. Đồng thời điện từ của Trái đất biến thành sức sống của thực vật, biến thành tính linh của con người, cũng là càng ngày càng cao cấp hơn. Tuy trải qua nhiều lần biến đổi nhưng tính linh vốn có vẫn tồn tại, do vậy nguyên tố trong cơ thể con người giống với nguyên tố của Trái đất, cảm ứng của tâm lý giống với cảm ứng của từ trường, cho nên hai sơ đồ A và B, hiện tượng đó giống với từ trường, giống với lực hút của tâm Trái đất. Tuy nhiên trải qua nhiều lần biến đổi, da tóc xương thịt của cơ thể người không giống với đất đá cát sỏi của Trái đất, tính linh của con người cũng không giống với điện từ của Trái đất. Vì sao lại như vậy? Ở Trái đất là vật chết, ở cơ thể con người thì là vật sống. Cho nên dùng quy luật lực học để khảo sát việc đời, chúng ta nên dùng một cách linh hoạt chứ không nên cứng nhắc.

Lão Tử nói: “Có một vật hỗn độn mà nên, sinh trước trời đất, yên lặng trống không, đứng một mình mà chẳng đổi, đi khắp nơi mà không mỏi, có thể làm mẹ thiên hạ. Ta không biết tên, đặt tên chữ đó là Đạo, gượng gọi tên đó là Lớn”. Đạo mà Lão Tử nói chính là “Chân như” mà Thích Ca nói: Núi sông đất đai, mặt trăng mặt trời các vì sao, nội thân ngoại khí, đều là do chân như không giữ tính của nó, thay đổi hiện ra, cách nói này giống với của Lão Tử. Chân như không phải nói là có, thực chất không phải là không. Đột nhiên chân như không giữ tính của mình mà thay đổi trung hòa điện từ, từ đó biến thành thể khí, lượn vòng trong không trung, sau vài lần biến đổi mà Trái đất được sinh ra. Từ đó sinh ra thực vật, sinh ra động vật, sinh ra loài người. Cái mà đức Phật gọi là trạng thái Alaya giống với trạng thái của trung hòa điện từ. Cả hai đều trống vắng vô hình, biến động vô phương, cũng tức là lặng yên mà không động, cảm thấy thì dần thông. Chúng ta có thể nói: Chân như thay đổi biểu hiện ra, ở vật là trung hòa điện từ, ở người là trạng thái Alaya, đều là cùng một vật chất, ở Trái đất là đất đá cát sỏi, ở người là lông tóc xương thịt.

Ngày nay có người nói tinh thần của con người không giống với điện từ, đặc biệt là những người không có kiến thức khoa học, thấy lông tóc xương thịt bèn cho rằng không giống với đất đá cát sỏi. Trung hòa điện từ là vật biểu hiện ra sớm nhất của chân như, chân như không thể nhìn thấy được, chúng ta đọc sách của Phật Lão, dùng trung hòa điện từ làm hình thái của đạo và chân như, cảm thấy chỗ nào cũng hợp lý.

Lão Tử viết sách, đoạn mở đầu là: “Đạo có thể coi là đạo thì không là đạo vĩnh viễn”. Thích Ca thuyết pháp bốn mươi chín năm, kết quả tự nhấn thấy còn chưa nói một chữ, quy về bất khả đạo, bất khả thuyết mà thôi. Tô Tử Do nói: “Đạo không thể dùng lời lẽ để biểu đạt, thứ có thể biểu đạt đều là lý luận bề ngoài để nhận thức phương pháp, còn người không hiểu thì bám vào lý luận bề ngoài, cho bên bị trói buộc trong phương pháp giả”. Đạo và chân như là thứ không thể tưởng tượng nổi, trạng thái Alaya và trung hòa điện từ là thứ có thể tưởng tượng được, mượn thứ có thể tưởng tượng được để nói rõ cho thứ không thể tưởng tượng được, đây chính là nói về sự tương đồng.

Lão Tử nói: “Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật”. Chúng ta có thể giải thích lời nói của ông, tức là đạo không có gì cả, một là trung hòa điện từ, trung hòa điện từ phát ra thì có hai tác dụng đẩy và hút, gọi là hai. Từ hai loại tác dụng này sinh ra loại tác dụng thứ ba, rồi từ đó sinh ra hàng nghìn hàng vạn sự việc. Lão Tử nói: “Ôm giữ cái Một để làm mẫu mực cho thiên hạ”. Lại nói: “Vạn vật có nguồn gốc, nguồn gốc đó là mẹ của vạn vật. Nắm được mẹ là biết được con; đã biết được con mà lại giữ được mẹ thì suốt đời không nguy”. Do vậy nói; “Thấp thoáng mập mờ; sâu xa tăm tối”. Lại nói: “Đạo sâu xa như là tổ tông vạn vật”. Lão Tử truyền thụ Alaya, cho nên sách mà ông viết có thể thông suốt các học giả thời Chu Tần, có thể thông suốt các nhà Nho thời Triệu Tống, có thể thông suốt “Dịch Kinh”, thông suốt Phật học, lại làm chỗ dựa cho thần tiên phương sĩ hậu thế, lại có thể thông suốt học thuyết phương Tây (thuyết này có thể đọc trong tác phẩm “Xu thế của học thuật Trung Quốc”). Một cuốn “Đạo đức kinh” không có gì là không chứa đựng trong đó, chính là vì Alaya không gì là không có. Đức Phật lại đánh bại thuyết này, vì đại viên kính trí, lấy “không có thứ gì” làm chỗ đứng. Đó là do đức Phật lập giáo coi trọng việc xuất thế, do vậy lấy “không có thứ gì” làm chỗ đứng. Lão Tử lập giáo, coi trọng việc kết hợp nhập thế xuất thế lại làm một, do vậy lấy Alaya làm chỗ đứng. Từ Alaya mà hướng ra bên ngoài làm việc thì có thể thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đây là chỗ đứng của hai phái, cho nên không giống nhau.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc học toàn tập – NXB VH 2020.

Thế giới mạng lưới – Phần cuối


2

Có sự khác biệt rất lớn giữa cậu nhóc MafiaBoy và Thánh Paul: hành động của MafiaBoy chỉ nhằm mục đích phá hoại. Còn Thánh Paul, cho dù những ý định ban đầu của ông rất khác thì sau này ông vẫn trở thành người xây những cây cầu kết nối những cộng đồng Ki-tô giáo. Nhưng hai người có một điểm chung vô cùng quan trọng. Họ đều là những chuyên gia về mạng lưới. Có lẽ, cả hai người đều không ý thức được điều này, nhưng rõ ràng, chìa khóa cho thành công của họ là sự tồn tại của một mạng lưới tạo ra môi trường hỗ trợ tích cực cho những việc làm của họ. MafiaBoy lợi dụng mạng lưới các máy tính – Internet, sử dụng cách thức nhanh nhất và hiệu quả nhất để tiếp cận với một lượng lớn người trong thời khắc bước sang thiên niên kỷ thứ ba. Thánh Paul nằm lòng những quan hệ xã hội và tôn giáo ở thế kỷ thứ nhất, mạng lưới duy nhất vào giai đoạn đầu của kỷ nguyên hiện đại có thể lưu trữ và truyền bá niềm tin tôn giáo. Cả hai người họ cũng không hoàn toàn hiểu những nguồn lực đã hỗ trợ những hành động của mình. Nhưng sau 2000 năm kể từ thời của Paul, chúng ta mới đặt những bước chân đầu tiên lên con đường thấu hiểu nguyên nhân thật sự khiến Paul và MafiaBoy thành công. Giờ đây, chúng ta biết câu trả lời nằm ở chính cấu trúc và topo của mạng lưới mà họ hoạt động, ở khả năng điều hướng trong những mạng lưới đó.

Paul và MafiaBoy thành công bởi loài người luôn kết nối với nhau. Cơ thể của chúng ta, xã hội, nền kinh tế, các truyền thống tôn giáo đều kể cho ta những câu chuyện về sự tương liên. Giống như tác giả Jorge Luis Borges người Argentina đã viết,”mọi thứ đều liên quan đến nhau”.

3

Những người làm bản đồ xưa kia thường đánh dấu những vùng đất đáng sợ chưa được khám phá là “vùng đất có rồng”. Khi những người ưa thích thám hiểm đi đến khắp mọi nơi trên địa cầu, từng điểm có đánh dấu quái vật như vậy dần biến mất. Nhưng vẫn còn rất nhiều vùng đất có rồng trong bản đồ tâm trí của chúng ta, ta không hiểu tại sao những phần khác nhau của thế giới này có thể tương thích với nhau, từ một tiểu vũ trụ khóa kín trong một tế bào đến thế giới Internet mở rộng đến vô cùng. Tin tốt là, gần đây có nhiều nhà khoa học nghiên cứu để vẽ sơ đồ sự tương kết của chúng ta. Những “bản đồ” này sẽ rọi thêm ánh sáng vào vũ trụ đan cài như mạng nhện của chúng ta, mang đến bao bất ngờ và thử thách chưa từng được biết đến. Các sơ đồ Internet chi tiết hé mở tính dễ bị tổn thương của Internet với các hacker. Sơ đồ các công ty kết nối qua hoạt động thương mại hoặc quyền sở hữu cho phép ta lần tìm dấu vết quyền lực và tiền bạc ở Thung lũng Silicon. Sơ đồ tương tác giữa các loài trong hệ sinh thái hé mở cho ta về tác động hủy diệt của môi trường của loài người. Sơ đồ các gen hoạt động trong tế bào cho ta hiểu biết về bệnh ung thư. Nhưng điều bất ngờ thực sự đến khi ta đặt những sơ đồ này cạnh nhau: chúng giống nhau như những bộ xương người, giống đến mức hầu như không thể phân biệt, như có chung một bản thiết kế. Một loạt những khám phá gây sửng sốt gần đây buộc chúng ta phải nhận thức rằng, những quy luật tự nhiên vô cùng đơn giản nhưng phổ quát, chi phối cấu trúc và sự tiến hóa của tất cả những mạng lưới phức tạp xung quanh ta.

4

Bạn đã bao giờ thấy một em bé tháo tung món đồ chơi ưa thích ra chưa? Sau đó, bạn có thấy em bé đó khóc òa sau khi nhận ra rằng, bé không thể lắp lại nguyên vẹn như cũ được nữa? Đây là bí mật mà ta phải khắc cốt ghi tâm: chúng ta đã “tháo tung” cả vũ trụ nhưng không biết “lắp ráp” mọi thứ lại như thế nào. Suốt nhiều thế kỷ qua, tốn hao vô kể tiền tài và công sức, con người chúng ta phân giải thế giới tự nhiên, cuối cùng, đến nay lâm vào cùng đường, không thấy manh mối nào để tiếp tục, ngoại trừ việc tiếp tục “chẻ nhỏ” thế giới thêm nữa.

Động lực đằng sau các công trình nghiên cứu khoa học trong thế kỷ XX là nguyên lý quy giảm (reductionism). Để thấu hiểu vũ trụ, tự nhiên mách bảo chúng ta rằng, ta phải giải mã mọi thành phần của nó trước tiên. Giả định rằng, một khi ta đã hiểu mọi bộ phận cấu thành, ta sẽ dễ dàng nắm được toàn thể. Chia nhỏ và khám phá, “nghệ thuật nằm ở trong chi tiết”. Vì thế, trong nhiều thập kỷ, ta buộc phải nhìn thế giới qua những thành phần của nó. Ta được đào tạo, học về những nguyên tử và các siêu sợi (superstring) để thấu hiểu vũ trụ, học về phần tử để hiểu về sự sống, học về gen để hiểu các hành vi phức tạp của con người, học về các giáo đồ để tìm hiểu nguồn gốc của các tín ngưỡng và tôn giáo.

Giờ đây, con người chúng ta có vẻ như thấu hiểu mọi thành phần cấu tạo của mọi thứ, nhưng chúng ta còn xa mới hiểu toàn bộ tự nhiên. Thật ra, việc “lắp ráp” khó hơn rất nhiều so với những gì các nhà khoa học kỳ vọng. Lý do rất đơn giản: khi cứ tiếp tục quy giảm mọi thứ, ch1ung ta va vào bức tường của sự phức tạp. Chúng ta đã học được rằng tự nhiên không phải là một phép đố hóc búa với duy nhất một phương án giải đố. Trong các hệ thống phức tạp, có vô vàn các cách khác nhau để “lắp ráp”, con người có lẽ cần hàng tỉ năm để thử nghiệm mọi phương án. Thế mà, tự nhiên đã “lắp ráp” mọi mảnh ghép sự sống với độ tinh tế và chính xác cao suốt hàng triệu năm qua. Tự nhiên làm điều đó qua những quy luật tự tổ chức phổ quát, nhưng nguồn gốc của những quy luật đó vẫn mãi là bí ẩn với con người chúng ta.

Ngày nay, ta ngày càng nhận ra rằng, không có thứ gì xảy ra một cách độc lập. Hầu hết các biến cố, hiện tượng đều kết nối với nhau do sự tương tác của vô vàn những mảnh ghép của một bức tranh vũ trụ vô cùng phức tạp. Chúng ta dần hiểu rằng ta sống trong một thế giới nhỏ, nơi mọi thứ đều kết nối với nhau. Chúng ta chứng kiến một cuộc cách mạng đang nở rộ: các nhà khoa học từ mọi ngành dần khám phá rằng bản thân sự phức tạp có một cấu trúc chặt chẽ. Chúng ta dần hiểu tầm quan trọng của các mạng lưới.

Khi Internet dần thống lĩnh đời sống, từ “mạng lưới” là từ cửa miệng của mỗi người, có trong tên các công ty hay những tin báo “hot”. Sau sự kiện 11 tháng 9, chứng kiến sức mạnh bạo tàn của mạng lưới khủng bố, chúng ta buộc phải quen với nghĩa khác nữa của từ này. Tuy nhiên, rất ít người nhận ra sự phát triển nở rộ của khoa học mạng lưới đang hé mở những hiện tượng thú vị và hấp dẫn hơn từ “mạng lưới” mà ta vẫn sử dụng thường nhật rất nhiều. Một số khám phá còn quá mới, vẫn chưa được xuất bản, nhưng nhiều kết quả then chốt của chúng đã lan truyền trong cộng đồng khoa học. Những khám phá này mở ra một góc nhìn mới về thế giới tương kết quanh ta, cho thấy các mạng lưới sẽ thống trị thế kỷ mới ở mức độ cao hơn mức mà hầu hết mọi người sẵn sàng tiếp nhận. Chúng sẽ khiến ta đặt ra những câu hỏi quan trọng, giúp hình thành thế giới quan của ta trong kỷ nguyên mới.

Chúng ta sẽ học cách tư duy về các mạng lưới, về sự hình thành, diện mạo, và sự tiến hóa của các mạng lưới. Nó sẽ giúp bạn quan sát các hiện tượng tự nhiên, xã hội, kinh doanh bằng thế giới quan mạng lưới; cung cấp một nền tảng mới để thấu hiểu các vấn đề, từ dân chủ trên Web cho đến tính dễ tổn thương của Internet và sự lan truyền của những virus nguy hiểm chết người.

Các mạng lưới có mặt ở khắp mọi nơi. Ta chỉ cần chú ý là sẽ thấy. Bạn cần học cách nhìn xã hội dưới dạng một mạng lưới xã hội phức tạp và hiểu sự bé nhỏ của thế giới muôn màu, nhiều vẻ mà chúng ta đang chung sống. Bạn sẽ hiểu tại sao Thánh Paul thành công, hiểu sự tương đồng giữa môi trường xã hội trong thời của ông với xã hội ngày nay của chúng ta, mặc dù tồn tại những khác biệt rõ rệt. Bạn sẽ thấy rằng khi các bác sĩ chỉ tập trung vào một phân tử hay một gen, không đếm xỉa đến sự tương kết phức tạp trong một cơ thể sống, việc chữa trị sẽ gặp phải những khó khăn rất lớn. Bạn sẽ nhớ lại rằng MafiaBoy không phải là người duy nhất tấn công những mạng lưới. Bạn sẽ nhận thức rằng, dù Internet vốn được coi là sản phẩm nhân tạo, nó đang dần tiến hóa giống với một cơ thể sống hay một hệ sinh thái, chứng minh cho quyền năng của những quy luật cơ bản chi phối tất cả các mạng lưới. Bạn sẽ thấy, sự xuất hiện của chủ nghĩa khủng bố cũng bị chi phối bởi quy luật hình thành mạng lưới. Bạn sẽ thấy, sự xuất hiện của chủ nghĩa khủng bố cũng bị chi phối bởi quy luật hình thành mạng lưới; thấy cách thức những tổ chức cực đoan này tận dụng sự bền vững căn bản của những mạng lưới tự nhiên. Bạn sẽ thấy ngạc nhiên trước nhiều điểm tương đồng thú vị giữa những hệ thống rất khác biệt như kinh tế, tế bào, Internet, có thể dùng hệ thống này để điều khiển hệ thống kia. Chúng ta sẽ đi một hành trình xuyên qua nhiều lĩnh vực, hối thúc bạn bước qua cái hộp tư duy quy giảm, cơ giới thông thường để khám phá cơ sở chung cho nhận thức mới: tân khoa học về mạng lưới.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Albert-László Barabási – Thế giới mạng lưới – NXB DT 2017.