Các mẫu hình biến dịch – Phần cuối


Trong thời cổ đại Trung Quốc thì tám quẻ được xem là đại diện cho tất cả mọi tình hình trong vũ trụ hay nhân sinh. Chúng được mang những tên phản ánh những tính chất cơ bản đó, như Căn (tính mạnh), Không (tính thuận), Chấn (tính động)… và chúng cũng được liên hệ với nhiều hình tượng xuất phát từ thiên nhiên hay từ đời sống xã hội. Thí dụ chúng tượng trưng cho trời (Càn), đất (Khôn), tiếng sấm (Chấn), nước (Khảm)… cũng như trong gia đình gồm có cha (Càn), mẹ (Khôn), ba con trai (Cấn, Khảm, Chấn), bao con gái (Đoài, Ly, Tốn). Hơn thế nữa chúng liên hệ với phương hướng trời đất và bốn mùa trong năm được xếp như sau:Trong cách xếp đặt này, tám quẻ được xếp quanh một vòng trong trật tự tự nhiên, trong đó chúng đã được hình thành, bắt đầu từ đỉnh (là nơi người Trung Quốc luôn luôn xem là hướng Nam) và sau đó đặt bốn quẻ đầu lên phía bên trái vòng tròn, rồi bốn quẻ sau phía bên phải. Cách xếp đặt này cho thấy một mức độ đối xứng cao, các quẻ đối diện trên vòng tròn có sự hoán chuyển của hai vạch âm dương.

Nhằm tăng thêm số lượng khả năng phối hợp, tám quẻ lại được liên kết với nhau từng cặp bang cách chồng lên lẫn nhau. Theo cách này sáu mươi bốn quẻ được sinh ra, mỗi quẻ gồm sáu vạch liền hay đứt. Những quẻ này cũng được xếp trong những cấu trúc khác nhau, trong đó thì hai cách xếp đặt dưới đây là phổ biến nhất; đó là một hình vuông với tám quẻ mỗi cạnh, hay một hình tròn cho thấy tính đối xứng củ tám quẻ bát quái nói trên.Sáu mươi bốn quẻ là những mẫu hình nguyên thủy vũ trụ, trên đó người ta sử dụng Kinh Dịch như một cuốn sách bói toán.

Về ý nghĩa của mỗi quẻ, người ta lấy hai quẻ nhỏ làm cơ sở để tính toán. Thí dụ, khi quẻ Chấn (vận động) nằm trên quẻ Khôn (tính thuận) thì được hiểu là vận động gặp sự thuận hòa và sinh ra quẻ Dự, tượng trưng sự hòa vui.Quẻ Tấn cho ta một thí dụ khác, gồm có quẻ Ly phía trên, quẻ Khôn phía dưới được diễn tả là mặt trời mọc ở trên đất, dấu hiện của Tấn, “sáng tỏ thịnh lớn”.Trong Kinh Dịch, các quẻ ba vạch hay sáu vạch đại diện cho cấu trúc của Đạo, chúng được sinh ra thông qua sự tương tác động của Âm – Dương, chúng được phản ánh trong mọi tình huống của vũ trụ và con người. Tuy thế những tình huống này không được xem là tĩnh, mà là một giai đoạn trong dòng chảy liên tục và biến động. Đó là tư tưởng cơ bản của Kinh Dịch. Tất cả mọi sự vật và tình huống trong thế giới đều đang thay đổi biến hóa, các biểu tượng của chúng là các quẻ cũng thế. Chúng đang vận động liên tục; cái này biến hóa thành cái kia, vạch liền bị kéo giãn ra và vỡ thành hai vạch đứt, vạch đứt tiến lại gần nhau và kết dính với nhau.

Vì nội dung của các cấu trúc động, được hình thành do thay đổi và biến hóa, trong tư tưởng phương Đông, Kinh Dịch có lẽ là sự tương đồng gần nhất với thuyết ma trận S. Trong cả hai hệ thống, người ta nhấn mạnh tính chất tiến trình hơn tính chất vật thể. Trong thuyết ma trận S, tiến trình này là phản ứng hạt lý giải mọi hiện tượng của thế giới hadron. Trong Kinh Dịch, tiến trình cơ bản là biến dịch và được xem là then chốt để hiểu mọi hiện tượng thiên nhiên:

Biến dịch là điều làm thánh nhân đạt tới mọi điều sâu thẳm và nắm được hạt nhân của mọi sự.

Những biến dịch này không phải được xem là quy luật cơ bản được áp đặt lên thế giới vật lý, mà đúng hơn – dùng chữ của Hellmut Wilhelm – là một khuynh hướng nội tại dựa trên đó mà sự phát triển xuất hiện một cách tự nhiên và hồn nhiên”. Điều đó cũng có thể nói cho sự thay đổi trong thế giới hạt. Cũng thế, chúng phản ánh khuynh hướng nội tại của hạt, chúng được diễn tả trong thuyết ma trận S bằng những xác suất phản ứng.

Những thay đổi trong thế giới của hadron cho phép xuất hiện cấu trúc và mẫu hình đối xứng, chúng được biểu hiện bằng các kênh phản ứng. Cấu trúc cũng như tính đối xứng không nên được xem là tính chất cơ bản của hadron mà cần xem chúng là hệ quả của tính chất động của hạt, đó là hệ quả của khuynh hướng sẵn sàng thay đổi và biến hóa của chúng.

Trong Kinh Dịch cũng thế, chính sự biến hóa sinh ra cấu trúc, sinh ra các quẻ. Như những kênh phản ứng, các hình ảnh tượng trưng này đại diện các cách thể thay đổi. Cũng như năng lượng chạy xuyên qua kênh phản ứng thì sự biến dịch chạy xuyên qua các vạch của quẻ:

Dịch là một cuốn sách,

Ta phải biết đến nó

Đạo biến dịch vĩnh viễn

Vận hành không ngừng nghỉ,

Chảy qua sáu khoảng trống;

Xuống lên không nhất định

Mềm cứng chuyển lẫn nhau

Không theo khuôn khổ nào,

Chỉ “Dịch” đang vận hành.

Trong quan điểm Trung Quốc, tất cả mọi sự và hiện tượng quanh ta xuất phát từ những mẫu hình biến dịch và được đại diện bởi các vạch trong các quẻ. Thế nên sự vật trong thế giới vật lý không được xem là tĩnh tại, độc lập mà chỉ là giai đoạn chuyển tiếp trong tiến trình của vũ trụ, tiến trình đó chính là Đạo:

Đạo biến dịch và vận động. Thế nên các vạch được gọi là vạch thay đổi (hào). Hào có từng bậc, vì thế chúng đại diện cho sự vật.Như trong thế giới hạ, các cấu trúc được sinh ra bởi sự biến dịch có thể xếp vào nhiều mô hình đối xứng khác nhau, như dạng bát quái được tạo bởi tám quẻ, trong đó các quẻ đối xứng gồm các ạch âm dương hoán chuyển lẫn nhau. Cấu trúc này thậm chí hơi giống với hình bát giác Meson được thảo luận trước, trong đó hạt và đối hạt antiparticle nằm ở vị trí đối xứng.

Tuy thế, điều quan trọng không phải là sự giống nhau tình cờ này mà điều thực tế là cả vật lý hiện đại lẫn tư tưởng cổ đại Trung Quốc xem sự thay đổi và biến hóa là khía cạnh nguyên thủy của thiên nhiên và xem cấu trúc hay sự đối xứng được sự biến dịch sinh ra chỉ là phụ thuộc. Khi dẫn giải về bản Kinh Dịch của mình, Richard Wilhelm xem ý niệm này là tư tưởng cơ bản của Kinh Dịch:

Tám quẻ… được xem như trong một tình trạng sẵn sàng thay đổi, quẻ này biến hóa thành quẻ kia, biến từ một hiện tượng này qua một hiện tượng khác, liên tục trong thế giới lý tính. Nơi đây ta có tư tưởng cơ bản của Kinh Dịch. Tám quẻ là tám hình ảnh tượng trưng, đại diện cho giai đoạn chuyển đổi: đó là những hình ảnh liên tục chịu sự biến đổi; đó là những hình ảnh liên tục chịu sự biến đổi. Đừng chú ý đến sự vật đang ở trong giai đoạn đó – điều mà tại phương Tây hay xảy ra – mà hãy chú ý sự vận động của chúng trong lúc biến dịch. Vì thế mà tám quẻ không đại diện cho sự vật mà chúng đại diện cho khuynh hướng vận động.

Trong ngành vật lý hiện đại, chúng ta cũng phải thật sự nhìn sự vật trong thế giới hạ nguyên tử theo cách đó, nhấn mạnh vận động, biến dịch và chuyển hóa và xem hạt là những dạng chuyển tiếp trong một tiến trình vũ trụ đang phát triển.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB TH TPHCM 2015.

Advertisements

Các mẫu hình biến dịch – Phần IV


Nguyên lý chung thứ nhất bắt nguồn từ thuyết tương đối và với kinh nghiệm thuộc về giới vĩ mô không gian – thời gian. Nguyên lý đó nói rằng xác suất phản ứng (tức là các yếu tố của ma trận S) phải độc lập với sự xếp đặt thiết bị thí nghiệm trong không gian – thời gian, độc lập với hướng của chúng trong không gian, và đôọc lập với trạng thái di chuyển của người quan sát. Như đã nói, sự độc lập của phản ứng hạt đối với chiều hướng cũng như đối với sự xếp đặt trong không gian – thời gian đã sinh ra luật bảo toàn về độ quay, xung lượng và năng lượng chứa trong phản ứng. Những đối xứng này là then chốt trong công trình khoa học của chúng ta. Nếu kết quả các thí nghiệm mà thay đổi tùy theo không gian và thời gian thực hiện thì không thể có khoa học dưới hình thức như hiện nay. Sau hết, đòi hỏi cuối là kết quả thí nghiệm không được tùy thuộc nơi trạng thái vận động của người quan sát, đó là nguyên lý tương đối, là cơ sở của thuyết tương đối.

Nguyên lý chung thứ hai được đề xuất từ thuyết lượng tử. Nó cho rằng, kết quả của một phản ứng hạt chỉ có thể tiên đoán bằng xác suất, và hơn thế nữa, tổng số xác suất của tất cả mọi khả năng, kể cả khả năng không có sự tương tác nào giữa các hạt, tổng số đó phải bằng một. Nói cách khác, chúng ta chắc chắn một điều rằng, các hạt hoặc sẽ phản ứng với nhau, hoặc không phản ứng với nhau. Câu nói nghe qua tầm thường này thật ra là một nguyên lý đầy uy lực, mang tên Unitarity (đơn nhất), nó là tác nhận hạn chế một cách nghiêm khắc những khả năng hình thành các yếu tố của ma trận S.

Nguyên lý chung thứ ba và cuối cùng là liên hệ đến khái niệm nguyên nhân kết quả và được gọi là nguyên lý nhân quả. Nó chỉ định rằng, năng lượng và xung lượng chỉ được chuyển hóa trong không gian thông qua hạt, rằng sự chuyển dịch này xảy ra trong cách mà một hạt có thể được hình thành trong một phản ứng và phân hủy trong một phản ứng khác, nếu phản ứng sau xảy ra sau phản ứng đầu. Biểu thức toán học của nguyên lý nhân quả làm cho ma trận S phụ thuộc một cách liên tục vào năng lượng và xung lượng của hạt nhân tham gia trong phản ứng, chỉ trừ khi các trị số đó (của năng lượng và xung lượng) đạt đến khả năng hình thành hạt mới. Tại những trị số này thì cấu trúc toán học của S thay đổi thình lình: nó tạo nên những điểm mà nhà toán học gọi là Singularity (điểm kỳ dị). Mỗi kênh phản ứng đều chứa nhiều điểm kỳ dị, đó chính là nơi có nhiều trị số của năng lượng và xung lượng trong kênh, nơi đó hạt mới có thể hình thành. Những năng lượng cộng hưởng đã nói trên là thí dụ cho những trị số này.

Việc ma trận S có những điểm kỳ dị là một hệ quả của nguyên lý nhân quả, nhưng nó không xác định được vị trí của các điểm kỳ dị. Trị số của năng lượng xung lượng, nơi đó hạt được hình thành, là khác nhau trong các kênh khác nhau và phụ thuộc nơi khối lượng và các tính chất khác của hạt được hình thành. Thế nên vị trí các điểm kỳ dị phản ánh tính chất của những hạt đó và vì tất cả hadron đều có thể sinh ra trong các phản ứng hạt, các điểm kỳ dị trong ma trận S phản ánh lại tất cả cấu trúc và tính đối xứng của hadron.

Thành thử, mục đích trung tâm của thuyết ma trận S là suy ra một cơ cấu kỳ dị của ma trận S từ những nguyên lý chung. Tới nay người ta chưa thiết lập được một mô hình toán học thỏa ứng được tất cả ba nguyên lý đó, và rất có thể là ba nguyên lý đó đủ để xác định một cách rõ rệt tất cả tính chất của ma trận S – tức là tất cả tính chất của hadron (giả định này được gọi là giả thiết Bootstrap). Nếu đúng vậy thì hệ quả triết học của một lý thuyết như thế sẽ rất sâu sắc. Tất cả ba nguyên lý chung nói trên đều liên hệ với phương pháp của ta về việc quan sát và đo lường, tức là liên hệ với khuôn khổi của khoa học. Nếu chúng đầy đủ để xác định cơ cấu của hadron thì có nghĩa là cơ cấu cơ bản của thế giới vật lý cuối cùng đã được xác định bằng cách chúng ta nhìn thế giới đó như thế nào. Mỗi một sự thay đổi cơ bản của ta trong cách quan sát sẽ dẫn đến sự thay đổi trong các nguyên lý chung đó và nó lại đưa đến sự thay đổi trong cơ cấu ma trận S và như thế sẽ dẫn đến một cơ cấu khác của hadron.

Một lý thuyết như thế về các hạt hạ nguyên tử phản ánh việc không thể tách rời nhà quan sát khoa học với hiện tượng bị quan sát, điều này đã được bàn tới trong thuyết lượng tử, nhưng ở đây nói một cách khẳng định nhất. Cuối cùng, nó dẫn đến điều là, cơ cấu và hiện tượng mà ta quan sát trong thiên nhiên không gì khác hơn chính là biểu hiện của tư duy đo lường và phân loại của chúng ta.

Đây chính là một trong những pháp môn cơ bản nhất của triết học phương Đông. Nền đạo học phương Đông luôn luôn chỉ cho ta thấy rằng, sự vật và biến cố mà ta cảm nhận chính là sự sáng tạo của tâm, chúng xuất phát từ một dạng ý thức đặc biệt rồi lại tan đi một khi tâm đó biến đổi. Ấn Độ giáo quả quyết rằng tất cả sắc thể và cấu trúc quanh ta đều được hình thành bởi một tâm thức đang chịu sự tác động của ảo giác và khuynh hướng cho chúng một tầm quan trọng sâu xa chính là ảo giác căn bản của con người. Phật giáo gọi sự ảo giác này là vô minh và xem đó là một dạng của tâm ô nhiễm. Hãy nghe lời của Mã Minh:

Khi không nhận rõ sự nhất thể (Chân Như) thì vô mình và phân biệt liền hiện, và tất cả mọi dạng của tâm ô nhiễm liền phát… Tất cả mọi hiện tượng trong thế gian đều do vô mình vọng tâm của chúng sinh mà tồn tại, nên tất cả các pháp đều không có thật thể.

Đó cũng là quan niệm luôn luôn được nêu lên của Duy Thức tông Phật giáo, trong đó mọi sắc thể mà ta cảm nhận chi là thức: là phản chiếu, hay bóng dáng của tâm.

Vô số sự vật xuất phát từ tâm, do trí phân biệt quy định… Người ta xem sự vật này là thế gian bên ngoài… Mọi điều xuất hiện bên ngoài không hề hiện hữu thật có, đó chỉ là tâm hiện ra muôn ngàn sai khác; thành thân thành vật sở hữu mọi thứ – tất cả những thứ đó, ta nói, kh6ong gì khác hơn là thức.

Trong vật lý hạt, việc suy ra được một cấu trúc hadron từ những nguyên lý chung của thuyết ma trận S là một bài toán lâu dài và khó khăn và đến nay cũng mới chỉ đi được từng bước nhỏ cho thành tựu đó. Cũng không phải vì thế mà ta coi nhẹ khả năng một ngày kia, tính chất của các hạt hạ nguyên tử sẽ được suy ra từ những nguyên lý chung, tức là chúng sẽ được xem là phụ thuộc vào khuôn khổ khoa học của chúng ta. Thật là thú vị khi cho rằng nó có thể trở thành tính chất chung của nền vật lý hạt, nó sẽ xuất hiện trong các lý thuyết tương lai nói về tương tác điện tử, tương tác yếu và tương tác trọng trường. Nếu điều này được xác định là đúng thì vật lý hiện đại phải đi con đường hướng tới sự nhất trí với minh triết phương Đông cho rằng, thế giới lý tính chẳng qua là ảo giác, chỉ là thức.

Thuyết ma trận S đến rất gần với tư tưởng phương Đông không phải chỉ trong kết luận cuối cùng của nó, mà cũng trong quan điểm chung về sự vật. Nó mô tả thế giới của những hạt hạ nguyên tử như một mạng lưới động gồm toàn biến cố và nhấn mạnh đến sự thay đổi và chuyển hóa hơn là đến cấu trúc cơ bản hay những đơn vị nào đó. Tại phương Đông, sự nhấn mạnh này đặc biệt rõ nét trong tư tưởng Phật giáo, trong đó mọi vật đều được xem là động, vô thường và chỉ là ảo giác. Thế nên S. Radhakrishnan viết:

Sao ta lại nghĩ về sự vật, thay vì nghĩ về tiến trình trong dòng chảy tuyệt đối này được? Bằng cách nhắm mắt lại trước những biến cố nối tiếp lẫn nhau. Đó là một thái độ giả tạo nhằm cắt dòng chảy của sự biến đổi ra từng miếng và gọi chúng là sự vật… Khi đã biết sự thật của vật thể, ta sẽ thấy rằng thật vô lý khi tôn thờ các sản phẩm cô lập của dòng chảy không ngừng nghỉ của sự biến hóa, làm như chúng là vĩnh cửu và đích thực. Đời sống không phải là vật thể hay là dạng của vật thể mà là một sự vận động liên tục hay chuyển hóa.

Cả hai, nền vật lý hiện tại và đạo học phương Đông đều nhìn nhận tất cả mọi hiện tượng của thế giới đầy đổi thay và biến hóa này đều tương quan lẫn nhau trong nguyên lý động. Ấn Độ giáo và Phật giáo xem sự tương quan này là quy luật vũ trụ, luật của Nghiệp, nhìn chung họ không mấy quan tâm đến cấu trúc đặc trưng nào của mạng lưới hiện tượng vĩ mô. Mặt khác, triết lý Trung Quốc cũng nhấn mạnh đến tính vận động và thay đổi, đã đề ra một khái niệm của cấu trúc vận hành, chúng liên tục sinh thành và lại hoạt diệt trong dòng chảy vũ trụ, của Đạo. Trong Kinh Dịch, những cấu trúc này được xếp đặt trong một hệ thống của mẫu hình tượng trưng, được gọi là Bát quái.

Nguyên lý cơ bản của cấu trúc trong Kinh Dịch là sự tương tác giữa hai cực Âm Dương. Dương được biểu thị bằng một vạch liền (-), âm bằng một vạch đứt (- -) và toàn bộ hệ thống bát quái được xây dựng trên hai vạch này. Khi xếp chúng trong từng cặp thì ta có bốn loại hình sau đây:và nếu thêm một vạch thứ ba nữa thì có tám “quẻ” như sau:(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB TH TPHCM 2015.

Các mẫu hình biến dịch – Phần III


Sự mô tả này của hadron trong nền vật lý hạt nhắc ta lại những lời của D.T. Suzuki nói cuối chương 13: “Phật tử xem vật thể là một tiến trình chứ không phải là một vật hay một chất”. Điều mà Phật tử đã nhận ra bằng kinh nghiệm đạo học của họ về thế giới tự nhiên nay đã được phát hiện lại bằng thực nghiệm và bằng lý thuyết toán học của khoa học hiện đại.

Nhằm mô tả tất cả hadron trong giai đoạn chuyển tiếp của chúng trong một hệ thống lưới đầy phản ứng, ta phải quan tâm đúng mức đến các lực mà xuyên qua đó chúng tương tác với nhau. Đó là những lực của tương tác mạnh, chúng tách – hay tung ra xa – các hadron đang lao vùn vụt, giải thể chúng rồi lại xếp chúng theo những khuôn mẫu khác nhau, rồi lại kết chúng lại để đạt tới trạng thái liên kết chuyển tiếp. Trong thuyết ma trận S cũng như trong lý thuyết trường, lực tương tác có liên quan tới hạt, thế nhưng khái niệm của hạt giả không được sử dụng. Thay vào đó mối liên hệ giữa lực và hạt được đặt trên tính chất đặc biệt của ma trận S, được gọi là “crossing” (tác động giao nhau). Nhằm minh họa tính chất này, hãy xem hình dưới đây về tương tác giữa một proton và một p.Nếu hình được quay 90o và ta giữ quy ước như cũ, những mũi tên hướng xuống chỉ các đối hạt, thì biểu đồ mới sẽ biểu diễn một phản ứng giữa một đối hạt antiproton (-p) và một proton (p), từ đó sinh ra một cặp pion, π+ là đối hạt của π- trong phản ứng nguyên thủy.

Bây giờ, tính chất chéo của ma trận S dựa trên thực tế là hai tiến trình kể trên được mô tả chỉ bằng một yếu tố của ma trận S. Điều đó có nghĩa là hai biểu đổ trên chỉ đại diện hai khía cạnh, hay hai kênh của một phản ứng duy nhất. Nhà vật lý nay đã quen đổi từ kênh này qua kênh kia trong bài toán của mình, và thay vì quay biểu đồ, họ chỉ việc đọc từ dưới lên hay trừ trái qua phải và gọi chúng là kênh trục dọc hay kênh ngang. Thế nên phản ứng trong thí dụ chúng ta được đọc trong kênh dọc là p + π -> p + π, trong kênh ngang là –p + p -> π + π+Mối liên hệ giữa lực và hạt được thiết lập thông qua giai đoạn chuyển tiếp trong hai kênh. Trong kênh dọc của thí dụ này, proton và π có thể tạo nên một neutron chuyển tiếp, trong lúc đó, ở kênh ngang một pion trung gian π0 có thể xuất hiện.Pion trung gian trong giai đoạn chuyển tiếp của kênh ngang này có thể được xem là biểu trưng của lực, lực đó tác động trong kênh dọc, nối proton và π với nhau để tạo thành neutron. Thế nên hai kênh này đều được cần đến để liên kết lực và hạt với nhau, cái xuất hiện dưới dạng lực ở một kênh này lại là biểu trưng cho hạt chuyển tiếp ở một kênh kia.

Mặc dù tương đối dễ dàng khi đổi từ kênh này qua kênh kia về mặt toán học, nhưng lại hết sức khó – nếu không muốn nói là không thể – có một hình ảnh trực tiếp về tình trạng này. Điều đó là vì crossing (tác động giao nhau) chủ yếu là một phương thức xuất phát từ hệ bốn chiều của thuyết tương đối và vì thế mà rất khó có hình ảnh về nó. Một tình trạng tương tự xảy ra trong lý thuyết trường là nơi mà lực tương tác được xem là sự hoán chuyển các hạt giả. Thực tế là, biểu đồ trình bày các pion chuyển tiếp trong kênh ngang nhắc ta rất nhiều đến các biểu đồ Feynman cũng vẽ nên sự hóa chuyển hạt và ta có thể nói giản đơn, rằng proton và π đã tương tác “thông qua một hoán chuyển một π0”. Những chữ này được nhà vật lý sử dụng, nhưng họ không mô tả hết tình trạng này. Một sự mô tả hợp lý chỉ có thể có được bằng cách trình bày kênh dọc và kênh ngang, tức là phải chịu một khái niệm trừu tượng mà phần lớn chúng ta không tưởng tượng ra được.

Mặc dù có hình thái khác nhau, nội dung chung của một lực tương tác trong thuyết ma trận S rất giống với lực trong lý thuyết trường. Trong cả hai lý thuyết thì lực biểu trưng cho hạt mà khối lượng của hạt nói lên sức mạnh của lực và trong cả hai thuyết chúng được nhận ra là tính chất nội tại của hạt đang tương tác; chúng phản ánh cấu trúc của đám mây hạt giả trong lý thuyết trường và trong thuyết ma trận S thì chúng được sinh ra ở trạng thái liên kết của hạt tương tác. Sự song hành với quan điể phương Đông về lực đã được bàn đến, sự song hành này được áp dụng cho cả hai thuyết. Hơn thế nữa, quan điểm về lực tương tác đưa đến một kết luận quan trọng rằng tất cả các hạt được biết phải có một cấu trúc nội tại nào đó, vì chỉ như thế chúng mới có thể tương tác với người quan sát và vì thế mà bị phát hiện. Hãy nghe những lời của Geoffrey Chew, một trong những kiến trúc sư chính của thuyết ma trận S:

Một hạt cơ bản đích thực – tức là không hề còn có một cơ cấu nội tại nào cả – thì không thể là đối tượng của một lực nào, lực đó cho phép chúng ta phát hiện sự hiện hữu của nó. Chỉ duy việc biết đến sự hiện hữu của một hạt là đã nói được rằng hạt đó phải có một cơ cấu nội tại!

Một ưu điểm đặc biệt của dạng ma trận S là nó có khả năng mô tả sự hoán chuyển của toàn bộ cả họ hadron. Như đã nói, hầu nhưu tất cả hadron đều nằm trong những chuỗi mà các phân tử của chúng có những tính chất đồng nhất với nhau, chỉ trừ khối lượng và spin của chúng. Có một mô hình được Tullio Regge đề xuất đầu tiên, nó giúp ta xem mỗi chuỗi này chỉ là một hạt hadron đơn nhưng hiện hữu ở những trạng thái kích thích khác nhau. Trong những năm gần đây, người ta đã đưa mô hình Regge vào trong khuôn khổ ma trận S, nhờ đó ta có thể mô tả phản ứng của hadron một cách rất thành công. Đó là một sự phát triển quan trọng của thuyết ma trận S và được xem là bước đầu tiến tới một lý giải động cho cấu trúc hạt.

Khuôn khổ của ma trận S giờ đây đã đủ khả năng mô tả cấu trúc của hadron, các lực tương tác giữa chúng, và một số cấu trúc của chúng được xem là một phần không thể tách rời của một mạng lưới đầy những phản ứng, trong một cách nhìn động. Thách thức chính yếu đặt ra cho thuyết ma trận S là sử dụng cách mô tả động này mà lý giải được tính đối xứng, là tính chất đã dẫn đến các cấu trúc hadron và luật bảo toàn đã nói. Trong một thuyết như thế, tính chất đối xứng của hadron sẽ phản ánh lại trong cơ cấu toán học của ma trận S dưới dạng là ma trận đó chỉ chứa những yếu tố liên quan đến những phản ứng mà luật bảo toàn cho phép. Các luật bảo toàn này sẽ không có tính chất thực nghiệm nữa mà là hệ quả của cơ cấu ma trận S và đó là một hệ quả của tính chất động của hadron.

Để đạt đượoc mục đích đầy tham vọng này, nhà vật lý phải giả định nhiều nguyên lý chung, nhằm hạn chế bớt các khả năng xây dựng yếu tố của ma trân S và nhờ đó mà cho ma trận S một cấu trúc xác định. Tới nay thì có ba nguyên lý chung đó được hình thành.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB TH TPHCM 2015.

Các mẫu hình biến dịch – Phần II


Mỗi hạt đầu tiên hay cuối cùng của tiến trình vừa kể lại có thể tham gia trong những phản ứng khác; thí dụ proton có thể sinh ra từ một tương tác của một K+ và một ʌ (xem hình b). Sau đó K+ của hình a lại có thể xem là nối với một K và một π0; π với ba pion khác nữa (xem hình bên dưới.

Thế là neutron nguyên thủy có thể được xem là một phân tử của một mạng lưới toàn sự tương tác; của một mạng lưới biến cố, tất cả được mô tả trong ma trận S. Mối tương quan trong mạng lưới đó không thể được xác định một cách chắc chắn, chúng chỉ liên hệ với xác suất. Mỗi phản ứng có thể xảy ra với một xác suất nào đó, nó tùy thuộc vào năng lượng hiện diện và vào những đặc trưng của phản ứng và những xác suất này được nhiều yếu tố của ma trận S chỉ rõ.

Phép tính này cho phép ta xác định cấu trúc của một hadron trong một cách thể trước sau đều động. Thí dụ hạt neutron trong một mạng lưới này có thể xem là trạng thái liên kết của một proton và π, từ đó nó sinh ra; cũng là trạng thái liên kết của π+ và một K+, trong đó nó tự hủy. Cả hai trạng thái liên kết này cũng như các cách khác đều có thể hình thành một neutron và vì thế mà ta có thể nói chúng là phần tử của một “cơ cấu” neutron. Cấu trúc của hadron vì thế không nên hiểu là một sự xếp đặt rõ rệt của những thành phần mà là được sinh ra bởi hạt mà chúng có thể tương tác với nhau để tạo thành hadron đó. Thế nên proton có thể hiện hữu như là một cặp neutron-pion, cặp kaon-lambda,…Proton lại có thể tự hủy để chuyển thành những hạt khác khi có đầy đủ năng lượng. Những khuynh hướng của một hadron có thể hiện hữu trong những trạng thái khác nhau được biểu thị bằng xác suất xảy ra của những phản ứng liên hệ, tất cả những thứ đó có thể xem là các khía cạnh của cơ cấu nội tại của hadron.

Khi xác định cấu trúc của một hadron bằng khuynh hướng của nó đối với các phản ứng, lý thuyết ma trận S đã cho khái niệm cơ cấu một nội dung động chủ yếu. Đồng thời, nội dung này của cấu trúc cũng phù hợp một cách toàn hảo với các yếu tố thực nghiệm. Cứ mỗi khi hadron bị vỡ ra trong các quá trình va chạm cao năng lượng, thì chúng tự phân hủy thành những liên kết của những hadron khác; thế nên có thể nói là chúng có khả năng chứa những mối liên kết đó, đến phiên mình lại chịu nhiều phản ứng, xây dựng nên cả một mạng lưới biến cố có thể chụp lại trong buồng đo. Hình bên dưới là những ví dụ của một loạt những phản ứng đó:

Trong một thí nghiệm, mặc dù một mạng lưới sinh ra do sự ngẫu nhiên, thế nhưng nó cũng có cấu trúc theo quy luật nhất định. Quy luật này chính là luật bảo toàn đã được nói tới: các phản ứng chỉ có thể khả dĩ khi các trị số lượng tử đã định được bảo toàn. Trước hết, tổng số năng lượng phải được bảo toàn trong mỗi phản ứng. Điều này có nghĩa là mỗi nhóm hạt nhất định chỉ có thể sinh ra từ một phản ứng nếu năng lượng tác động vào đủ cao để tạo ra khối lượng đòi hỏi. Hơn thế nữa, nhóm hạt sinh ra phải mang đúng tổng trị số lượng tử đã đượ cmang lại trong phản ứng với các hạt ban đầu. Thí dụ, một proton và một p mang một điện tích tổng thể bằng không, có thể vỡ ra trong va chạm và sinh ra một neutron và một π0, chúng không thể sinh ra neutron và một π+ vì cặp sau này sẽ có điện tích là +1.

Thế nên, phản ứng hadron đại diện một dòng chảy năng lượng, trong đó hạt được hình thành và phân hủy, nhưng năng lượng hầu như được chảy trong một kênh có đặc trưng là những trị số lượng tử được bảo toàn trong tương tác mạnh. Trong thuyết ma trận S, khái niệm kênh phản ứng là cơ bản hơn khái niệm hạt. Khái niệm đó được định nghĩa là một nhóm trị số lượng tử, nó có thể phù hợp với một số khác nhau hadron và có khi chỉ cho một hadron duy nhất. Nhóm hadron nào sẽ chảy xuyên qua kênh đó, đó là vấn đề của xác suất, nhưng chủ yếu nó tùy thuộc vào năng lượng dành cho tiến trình. Thí dụ hình dưới chỉ sự tương tác giữa một proton và một π trong đó một neutron được sinh ra ở đoạn giữa. Thế là kênh phản ứng được xây dựng nên trước hết bằng hai hadron, sau bằng một hadron duy nhất và cuối cùng một cặp hadron.

Nếu có nhiều năng lượng hơn thì kênh đó có thể được làm thành từ một cặp ʌ – K0, một cặp ∑ – K+ và từ những liên hợp khác.

Khái niệm về những kênh phản ứng lại càng phù hợp hơn để làm việc với những quá trình cộng hưởng, đó là những hạt hadron sống cực ngắn, chúng là đặc trưng của tất cả mọi tương tác mạnh. Chúng sống ngắn đến mức các nhà vật lý mới đầu ngại xem chúng là những hạt và ngày nay việc lý giải tính chất của chúng vẫn là một trong những trách nhiệm chính của ngành vật lý thực nghiệm cao năng lượng. Cộng hưởng xảy ra trong các cuộc va chạm hadron và tự phân hủy hầu như ngay sau khi chúng sinh ra. Chúng không thể được thấy trong buồng đo, nhưng chúng có thể được phát hiện vì một tính chất rất đặc biệt của xác suất phản ứng. Xác xuất để cho hai hadron đang di động phản ứng được với nhau – tức là tương tác lên nhau – tùy thuộc vào năng ượng chứa sẵn trong sự va chạm. Nếu trị số năng lượng này biến đổi thì xác suất cũng thay đổi theo; năng lượng tăng thì xác suất có thể tăng hay giảm, tùy theo chi tiết của phản ứng. Tuy thế, người ta quan sát rằng tại một trị số nhất định của năng lượng thì xác suất phản ứng gia tăng rõ rệt, một phản ứng dễ xảy ra tại trị số này hơn bất kỳ tại trị số năng lượng khác. Sự tăng vọt này của xác suất liện hệ với sự hình thành của một đời sống ngắn tạm bợ của hadron với một khối lượng tương tự của năng lượng tại nơi tăng vọt xác suất.

Lý do mà những giai đoạn ngắn ngủi này của hadron được gọi tên là resonance (cộng hưởng) xuất phát từ sự tương đồng với hiện tượng cộng hưởng trong sự dao động. Thí dụ trong âm thanh, không khí trong một lỗ trống thuờgn dội lại một cách yếu ớt với âm thanh đến từ bên ngoài, nhưng nó sẽ bắt đầu cộng hưởng hay dao động mạnh mẽ khi sóng âm thanh đạt đến một tần số nhất định được gọi là tần số cộng hưởng. Kênh của phản ứng hadron cũng có thể so sánh như một lỗ trống cộng hưởng, vì năng lượng của hạt hadron đang di động liên quan đến tần số của sóng xác suất liên hệ. Khi năng lượng này, hay tần số, đạt tới một trị số nhất định thì kênh này bắt đầu cộng hưởng; sự dao động của sóng xác suất bỗng nhiên trở nên mãnh liệt và sinh ra sự tăng vọt trong xác suất phản ứng. Phần lớn kênh phản ứng đều có vài năng lượng cộng hưởng, mỗi trị số của chúng liên hệ với khối lượng của một hadron tạm bợ sống ngắn ngủi, chúng sẽ hình thành khi năng lượng của những hạt đang va chạm đó đạt tới trị số cộng hưởng.

Trong khuôn khổ của thuyết ma trận S, vấn đề liệu là có thể gọi những cộng hưởng là hạt hay không, không được đặt ra. Tất cả mọi hạt đều được xem là giai đoạn chuyển tiếp cả trong một tấm lưới của phản ứng, và việc các resonance tồn tại rất ngắn so với các hadron khác không hề làm cho chúng có sự khác biệt căn bản với các hạt khác. Thực tế là từ resonance (cộng hưởng) là một từ rất thích hợp. Nó được áp dụng cho cả hai trường hợp, cho kênh phản ứng và cho hadron được sinh ra trong hiện tựng này, nên có chỉ rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa hạt và phản ứng. Một resonance là một hạt, không phải là một vật thể. Tốt hơn ta gọi nó là một biến cố, một sự việc xảy ra.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB TH TPHCM 2015.

Các mẫu hình biến dịch – Phần I


Lý giải tính đối xứng trong thế giới hạt bằng mô hình động, tức là bằng cách mô tả sự tương tác giữa các hạt với nhau, đó là một trong những thách thức chủ yếu của vật lý ngày nay. Cuối cùng thì vấn đề đặt ra là làm sao cùng một lúc mà nối kết cả thuyết lượng tử lẫn thuyết tương đối. Những cấu trúc hạt dường như phản ánh tính lượng tử của hạt, vì mẫu hình tương tự như thế đã xảy ra trong thế giới nguyên tử rồi. Thế nhưng trong vật lý hạt, chúng không thể được lý giải bằng mô hình sóng trong khuôn khổ thuyết lượng tử, vì năng lượng tham gia vào đây quá cao nên thuyết tương đối phải được áp dụng đến. Vì thế chỉ có một lý thuyết lượng tử-tương đối cho hạt là có hy vọng chuyên chở được tính đối xứng đã được quan sát.

Thuyết trường lượng tử là mô hình đầu tiên của loại này. Nó cho ta một sự mô tả xuất sắc về sự tương tác điện từ giữa electron và photon, nhưng nó không phù hợp lắm để mô tả loại tương tác mạnh. Khi các hạt của loại này ngày càng được phát hiện, nhà vậy lý sớm nhận ra rằng thật khó lòng liên hệ mỗi một hạt đó với một trường cơ bản, và khi thế giới hạt cho thấy rằng nó là hiện thân của tấm lưới dệt ngày càng phức tạp gồm toàn sự tương tác, thì nhà vật lý thấy phải tìm những mô hình khác để biểu diễn cho được thực tại động và luôn thay đổi này. Cái cần thiết là một mô hình toán học đủ sức mô tả ở dạng động một số lớn hình thái của cấu trúc hadron, đó là sự chuyển hóa lẫn nhau liên tục của chúng từ hạt này qua hạt khác, sự tương tác giữa chúng bằng cách hoán chuyển hạt, sự hình thành các trạng thái liên kết của hai hay nhiều hadron, và sự tự phân hủy để thành những liên hợp khác của hạt. Tất cả những tiến trình này, có lúc được gọi chung là phản ứng hạt, là tính chất chủ yếu cảu tương tác mạnh và phải được lưu ý trong một mô hình lượng tử tương đối của hadron.

Khuôn khổ xem ra phù hợp nhất để mô tả hadron và tương tác của chúng được gọi là thuyết ma trận S. Cơ sở then chốt của nó, ma trận S, nguyên được Heisenberg đề xuất năm 1943 và được phát triển trong suốt hai thập kỷ qua, thành một cơ cấu toán học phức tạp, có thể xem là thích hợp nhất để mô tả tương tác mạnh. Ma trận S là tập hợp các xác suất của tất cả phản ứng có thể có với hadron. Tên của nó xuất phát từ điều mà toàn bộ phản ứng khả dĩ của hadron được xếp trong trận đồ vô tận mà nhà toán học gọi là ma trận. Chữ S đại diện cho tên nguyên là scattering matrix (ma trận phân tán), nó nói lên các tiến trình va chạm – hay phân tán, đó là phần đa số của phản ứng các hạt.

Tất nhiên, trong thực tế không ai quan tâm đến toàn bộ tập hợp của các tiến trình hadron, mà chỉ một ít phản ứng đặc biệt. Thành thử, không bao giờ ta xem xét toàn bộ ma trận S, mà chỉ một phần của nó, hay các yếu tố liên quan đến tiến trình đang xét. Những yếu tố này được biểu diễn tượng trưng bằng biểu đồ như hình sau đây, nói lên phản ứng đơn giản nhất và cũng chung nhất của hạt.

Hai hạt A và B chịu một lực va chạm để sinh ra hai hạt khác C, D. Tiến trình phức tạp hơn có thể chứa nhiều hạt hơn và được đại diện bởi các hình sau đây.

Cần nhấn mạnh rằng biểu đồ ma trận S rất khác với biểu đồ Feynman của lý thuyết trường. Nó không minh họa cơ chế cơ lý chi tiết của phản ứng mà chỉ định những hạt đầu tiên và cuối cùng. Thí dụ tiến trình cơ bản A + B -> C + D có thể diễn tả trong lý thuyết trường như một sự hoán chuyển của một hạt giả V (xem hình dưới), trong lúc thuyết ma trận S, tiến trình đó chỉ được vẽ bằng một vòng tròn mà không ghi rõ trong đó xảy ra những gì.

Hơn nữa biểu đồ ma trận S không hề là biểu đồ về không gian – thời gian, nó chỉ là sự biểu diễn tiêu biểu chung của phản ứng hạt. Những phản ứng này cũng không được giả định là xảy ra tại một điểm nhất định nào trong không gian – thời gian, mà chỉ được mô tả với trị số vận tốc (hay chính xác hơn, với trị số xung lượng) của các hạt đến và các hạt đi.

Tất nhiên, điều đó có nghãi là biểu đồ ma trận S không mang nhiều lượng thông tin như biểu đồ của Feyman. Mặt khác, thuyết ma trận S lại tránh được khó khăn xảy ra trong lý thuyết trường. Các hiệu ứng liên hợp của thuyết lượng tử và tương đối không cho phép ta xác định một cách chính xác sự tương tác giữa các hạt cho sẵn. Vì nguyên lý bất định, trạng thái bất định của vận tốc hạt sẽ tăng trong khu vực tương tác được quy định rõ ràng hơn, và vì thế trị số của động năng của nó cũng bất định hơn. Tới lúc nào đó thì năng lượng này đủ lớn để sinh ra hạt mới, theo thuyết tương đối, lúc đó ngừi ta không còn chắc chắn liệu mình đang xét hạt nguyên thủy nữa hay không. Vì thế, trong một thuyết bao gồm cả thuyết lượng tử và thuyết tương đối, người ta không thể chỉ định được vị trí của các hạt một cách rõ ràng. Nếu điều này vẫn cứ xảy ra như trong lý thuyết trường, thì người ta phải đối phó với những mâu thuẫn toán học, mà đó chính là khó khăn then chốt của mọi lý thuyết trường lượng tử. Thuyết ma trận S tránh khỏi khó khăn này bằng cách chỉ định xung lượng của hạt và chấp nhận sự nhất định về vị trí, nơi đó phản ứng xảy ra.

Điều quan trọng của thuyết ma trận S là nhấn mạnh đến biến cố, chứ không quan tâm đến vật thể, không quan tâm chủ yếu về hạt mà về phản ứng của chúng. Sự dời chuyển đó từ hạt lên biến cố đều được cả hai thuyết lượng tử và tương đối đòi hỏi. Một mặt, thuyết lượng tử đã nói rõ một hạt cơ bản chỉ có thể được hiểu như là dạng xuất hiện của sự tương tác giữa các tiến trình đo lường khác nhau. Nó không phải là một vật thể độc lập mà là một sự xảy ra, một biến cố, nó nối những biến cố khác với nhau trong một cách thế đặc biệt. Hãy nghe Heisenberg nói:

Trong vật lý hiện đại, người ta không thể chia thế giới thành những nhóm vật thể mà thành những nhóm của sự liên hệ… Điều cần phân biệt là cách liên hệ, đây là yếu tố quan trọng nhất trong một số hiện tượng… Thế nên thế giới hiện ra như một tấm lưới dệt toàn những biến cố, trong đó có những mối liên hệ của nhiều cách thể khác nhau, xúc tác hay đan lẫn hay nối kết lẫn nhau và qua đó mà xác định toàn bộ tấm lưới.

Mặt khác, thuyết tương đối cũng buộc ta phải xem hạt trong tiến trình cảu không gian – thời gian: là một cấu trúc bốn chiều, phải xem là tiến trình hơn là vật thể. Giả thuyết ma trận S vì thế nối kết cả hai quan điểm này. Dùng phép toán học bốn chiều của thuyết tương đối, nó mô tả được tất cả tính chất của hadron theo nghĩa phản ứng (hay nói chính xác hơn theo nghĩa khả năng phản ứng) và nhờ thế mà tạo dựng một gạch nối chặt chẽ giữa hạt và tiến trình. Mỗi phản ứng của hạt đều nối hạt đó với những phản ứng khác và như thế mà xây dựng một mạng lưới của những quá trình.

Thí dụ, một neutron n có thể tham gia vào hai phản ứng theo sau nhau, bao gồm hai hạt khác nhau; phản ứng đầu tiên là một proton và một π, và phản ứng thứ hai là một ∑ và một K+. Thế nên neutron đã nối kết hai phản ứng đó và hòa nhập chúng trong một tiến trình lớn hơn (xem hình a).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB TH TPHCM 2015.

Tri thức luận về tính phức hợp – Phần cuối


Sự di cư các khái niệm

Các khái niệm vẫn du hành, và hẳn sẽ tốt đẹp hơn nếu chúng du hành mà biết rõ đang du hành. Cũng tốt đẹp hơn nếu chúng không du hành kiểu lén lút. Cũng tốt khi chúng du hành mà không bị nhân viên hải quan phát hiện! Trên thực tế, sự lưu chuyển ngấm ngầm như kiểu “buôn lậu” của các khái niệm còn cho phép các bộ môn khoa học giải tỏa khỏi tình trạng bản thân bị ngột ngạt, bị đút nút cổ chai. Ví thử các khái niệm không lén lút di cư, rằng khoa học sẽ hoàn toàn bị trút gọn vào chiếc vỏ chai. Mendelbrot đã từng nói những khám phá vĩ đại là kết quả của những sai lầm trong việc chuyển rời các khái niệm từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, và ông nói thêm rằng phạm những sai lầm ấy là những nhà nghiên cứu tài năng. Nhất thiết phải do tài năng thì sai lầm mới trở thành nhiều hiệu lực “phồn thực”. Điều này cũng chứng tỏ tính chất tương đối của vai trò sai lầm và chân lý.

Các vị có ý kiến ám chỉ xu hướng thích “trò chơi chữ” của tôi, chẳng hạn câu “những giới hạn của ý thức và ý thức về những giới hạn”. Xin thưa: Hegel, Marx, Heidegger đều ưu ái những trò chơi chữ như vậy. Iệc này mang lại thích thú cho tôi. Nhiều bạn thân thiết của tôi khi đọc bản thảo đã ân cần khuyên tôi: “Dẹp hết những thú nói năng hóm hỉnh này đi, bạn ạ, các nhà khoa học không nghĩ rằng bạn phát biểu nghiêm chỉnh đâu!” Tôi cũng cố làm theo lời khuyên của bạn hữu, nhưng rồi tôi đành phải nói: không dẹp được đâu, tôi sẽ thấy kém thoải mái. Quả thật tôi muốn dành cho mình một chút vui chủ quan kèm theo đó. Nhưng liệu có gì nghiêm trọng chăng? Tôi nghĩ không chỉ riêng tác giả, mà cả đến ngôn từ nữa, chúng cũng chơi đùa với nhau. Như một nhà thơ đã nói, ngôn từ tạo nên tình yêu. Trong công thức vừa dẫn ra về giới hạn của ý thức, có một nét lý thú, đó là cán cân và phản hồi: xin các bạn đảo ngược lại đi, các bạn hoán vị các từ, vị từ biến thành chủ từ, chủ từ biến thành vị từ. Cũng chính tại đó, bạn vận hành một chuyển động của mạch vòng, tư duy lại tái khởi động theo kiểu đệ quy. Ta thấy “quả” tác động trở ngược “nhân”, sản phẩm trở ngược về nhân tố sản sinh. Chính ý thức này về mạch vòng đệ quy cũng có thể diễn tả bằng thi ca. Ông Gérard de Nerval đã nói: “Cái thứ 13 bao giờ cũng là cái đầu tiên”. Bạn chớ nên nói “Thưa ông, tại sao ông lại nói vậy? Có thể nói giản dị, ngắn gọn rằng lúc 13 giờ tức là 1 giờ, có hơn không”. Đành thế, nhưng bạn đã đánh mất cái mạch vòng rồi. Hoặc như câu nói của Elliot: “Chỗ kết thúc là nơi ta xuất phát”. Người ta hiểu rất rõ ông muốn nói gì. Cần biết rõ ẩn dụ là bộ phận của tình thân mật, thông cảm, hiếu khách của ngôn ngữ cũng như của tư tưởng.

Lý trí

Lý trí ư? Tôi tự cho mình là con người duy lý, nhưng tôi xuất phát từ ý tưởng xem lý trí là tiến hóa, lý trí mang trong chính nó kẻ thù tệ hại của nó! Thật vậy, đó là sự “hợp lý hóa” với khả năng gây nguy cơ bóp ngẹt nó. Hết thảy mọi điều đã viết về lý trí của các tác giả Horkheimer, Adorno hay Marcuse, hẳn là phải có ý thức về thực trạng đó. Lý trí đâu phải đã cho sẵn rồi, lý trí không lăn bánh trên đường ray, lý trí có thể tự động tàn phá bản thân bởi những quá trình nội tại là việc “hợp lý hóa”. Đó là sự xảo trá logic, xảo trá của tính nhất quán chặt chẽ khi không còn chịu sự kiểm soát của lý trí thực nghiệm.

Theo ý riêng tôi, lý trí được định nghĩa bằng một loại hình đối thoại, trong đó nó trò chuyện với một ngoại giới chống lại nó; rốt cuộc cái lý tính đích thực nhận dạng rõ ràng cái phi-lý tính, và đối thoại với cái “không thể phi-lý tính được”. Xin nhắc lại rằng, trong lịch sử tư duy, các tư tưởng gia phi-lý luận nhiều lần dùng cái lý tính để sửa chữa các phép “hợp lý hóa” rất vô lý. Kierkegaard đã nói về Hegel rằng: “Ngài giáo sư biết hết thảy mọi chuyện trong vũ trụ, chỉ đơn giản là đã quên mất bản thân là ai đây”. Cần phải có một tín hữu bí hiểm như thế mới đưa ra được nhận định duy lý trên đây. Niels Bohn đã rất duy lý trong việc làm cho chúng ta chấp nhận điều nghi nan về sóng và hạt, chí ít cũng ở mức ta chưa thể đi vượt lên xa hơn. Lại nói về Piaget. Lý trí là tiến hóa và vẫn cứ tiến hóa.

Tôi tin rằng lý tính đích thực là rộng lượng bao dung rất sâu xa đối với những điều kỳ bí (mystère). Cái lý tính giả bao giờ cũng miệt thị là “nguyên thủy”, “ấu trĩ”, “tiền-logic” những cư dân đã từng có được tính phức hợp về tư duy, không chỉ trong kỹ thuật, tri thức về tự nhiên, mà cả trong các thần thoại nữa. Vì mọi lý do đó, tôi tin rằng chúng ta đang ở bước đầu của cuộc hành trình phiêu lưu rất dài rộng. Trong cuốn “Le paradigme”, tôi đã nói rằng nhân loại có nhiều sự khởi đầu. Loài người chẳng phải chỉ sinh ra một lần, loài người đã sinh ra nhiều lần rồi, và tôi thuộc vào những ai đang kỳ vọng một lần khai sinh mới.

Bây giờ tôi muốn diễn giải về chữ “thời đại đồ sắt của hành tinh”. Thời đại đồ sắt của hành tinh chỉ rõ là chúng ta đã bước vào kỷ nguyên hành tinh mà mọi nền văn hóa, mọi nền văn minh từ nay sẽ thường trực liên kết qua lại với nhau. Đồng thời nó cũng chỉ rõ là mặc dù đã có bao thứ giao lưu qua lại, nhưng con người vẫn trong tình trạng hoàn toàn man rợ trong những quan hệ giữa các chủng tộc, giữa các nền văn hóa, giữa các siêu cường. Chúng ta đang ở trong thời đại đồ sắt hành tinh và không một ai biết rồi đây liệu chúng ta có ra khỏi không. Có sự trùng khớp giữa tư tưởng thời đại đồ sắt hành tinh với tư tưởng coi chúng ta đang ở giai đoạn tiền sử của trí tuệ loài người, trong kỷ nguyên man rợ của ý tưởng, tình trạng trùng khớp này đâu phải ngẫu nhiên.

Nói “tiền sử của trí tuệ loài người” là muốn nói rằng trên mặt bằng tư duy hữu thức, chúng ta chỉ mới ở bước đầu. Chúng ta vẫn còn phải khuất phục trước những phương thức gây tổn thương và ngăn chia phân cách của tư duy, vẫn còn rất khó khăn để tư duy theo cách phức hợp.

Tính phức hợp chẳng phải là thứ “toa thuốc” tôi mang lại, mà là lời hiệu triệu tiến tới nền văn minh về tư tưởng. Thói man dã tư tưởng cũng có nghĩa là các hệ thống tư tưởng đối xử với nhau theo lối man dã. Các học thuyết không biết thông cảm nhau và hòa hiếu với nhau. Trên mặt bằng tư tưởng, chúng ta không biết thế nào là đích thực đồng cảm, hòa hiếu. Từ man dã định nói gì đây? Nó muốn nói đến cái không bị kiểm soát. Chẳng hạn, ý tưởng cho rằng tiến bộ của văn minh tất phải kéo theo tiến bộ của man dã là một ý tưởng hoàn toàn chấp nhận được nếu người ta hiểu biết chút ít tính phức hợp của thế giới lịch sử-xã hội. Chắc chắn rằng, chẳng hạn trong nền văn minh đô thị với biết bao phúc lợi, phát triển kỹ thuật và bao lĩnh vực khác, thì các quan hệ con người bị chia vụn ra như giữa các “nguyên tử” dẫn đến những hành động đàn áp, man rợ và thái độ vô cảm không thể tưởng tượng được.

Chúng ta phải thấu hiểu những hiện tượng đó, và chớ nên vì thế mà hoảng hốt. Tôi tin rằng đó là một thái độ nhận thức, một lập trường ý thức. Thái độ này lại càng thêm hệ trọng vì lẽ cho đến một thời gian rất gần đây, người ta vẫn sống với một ý tưởng nghĩ rằng sắp làm xong lịch sử rồi, rằng nên khoa học của chúng ta đã chiếm lĩnh được tố chất bản tính các nguyên lý và kết quả, rằng rốt cuộc thế là lý trí của chúng ta đã tới đích rồi, rằng xã hội công nghiệp sẽ chạy trên đường ray, rằng những cái kém phát triển sẽ tự phát triển, rằng những cái phát triển chẳng phải là kém phát triển, con người lúc ấy mang ảo giác hân hoan cho rằng gần như sắp sửa cáo chung các thời đại. Ngày nay, không thể cứ đắm chìm trong hy vọng khải huyền và thuyết thiên niên kỷ, mà phải nhìn nhận rằng có lẽ chúng ta ở điểm chót của một thời kỳ nào đó, và kỳ vọng đang ở bước khởi đầu của những thời kỳ mới.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Edgar Morin – Nhập môn tư duy phức hợp – NXB TT 2009.

Tri thức luận về tính phức hợp – Phần VI


Hôm nay đây, cũng diễn ra một “nút Gordien”, một cuộc cách mạng đang trong tiến trình với những trận chiến rất khó khăn. Không có tình trạng trùng khớp giữa ý thức của nhà khoa học với những việc ông ta đang thật sự làm… Chắc các vị bảo tôi rằng nhà khoa học vẫn có lý. Thế nhưng thử hỏi ông ta có biết rõ những việc đang làm không? Khoa học có ý thức về công cuộc cải biến của mình không? Điều đó không tuyệt đối chắc chắn. Ý thức được bản thân chẳng phải đã là thái độ bảo lãnh được cho tính “cực kỳ sáng suốt”. Điều đó, chúng ta phải không ngừng kiểm chứng hàng ngày.

Theo ý riêng tôi, việc ý thức được bản thân nhất thiết cần có thái độ tự phê bình, nhưng thái độ này lại có nhu cầu được kích thích bằng việc phê phán. Thật đáng buồn, trong vũ trụ, các khoa học gia đang diễn ra một thái độ tùy thời, một tâm trạng mãn nguyện càng thêm rộng lớn khi các vị ấy càng bị che giấu một câu hỏi mỗi lúc mỗi tăng sức hù dọa khủng khiếp: khoa học đi tới chỗ nào đây? Một câu hỏi đặt ra ở bên ngoài sau thảm họa Hiroshima, rồi ở nội bộ ý thức lương tâm nhà bác học năng lượng nguyên tử; việc quan liêu hóa-kỹ thuật đối với khoa học đặt ra cho mỗi công dân cũng như người làm khoa học, vấn đề của khoa học với tính cách hiện tượng xã hội.

Khoa học và xã hội

Quan hệ khoa học-xã hội rất phức hợp, vì lẽ khoa học vốn là một bộ phận của ngoại vi xã hội, sau nhờ có một số trí tuệ độc lập, đã trở thành thiết chế xuyên suốt các hiệp hội khoa học, các viện hàn lâm. Ngày nay, khoa học đang đặt bản doanh ở trái tim của xã hội. Khi phát tán thế lực khắp xã hội, bản thân khoa học lại gánh chịu sức quyết định quan liêu-kỹ thuật của tổ chức xã hội. Cũng phải có một môn xã hội học phức hợp, một tri thức phức hợp để sẽ cho phép hiểu thấu được những quan hệ đó. Người ta đặt những câu hỏi ấy thật quá chậm trễ. Chẳng hạn ở nước Pháp chỉ mới rất gần đây, chừng hai năm trước, mới thành lập một ủy ban mang tên STS, tức là “Science, Technique, Société” [Khoa học, Kỹ thuật và Xã hội], nhằm làm sáng tỏ những vấn đề này, vì không một bộ môn định chế nào cho phép soi sáng những loại tương tác đó. Nhưng công việc này khởi động rất kém và rất khó khăn chừng nào vẫn chưa kiến tạo được một bộ khung quan niệm xuyên-bộ môn.

Khoa học và tâm lý học

Ông Jorge Correia Jesuino đã phát hiện rằng tôi ít chú ý đến công trình nghiên cứu của ông Piaget. Tôi đồng ý với nhận xét đó. Vì những lý do vừa bất ngờ và ngẫu nhiên nên quả thật tôi đã dành một vị trí riêng quá nhỏ bé cho thành tựu của Piaget. Trước tiên, trong công việc của tôi, các tác giả được trích dẫn nhiều và những vị tôi phát hiện sau những năm 1968 và những  trường hợp mà tôi khai thác tư liệu để phục vụ cho việc soạn thảo bộ La Méthode. Tôi vốn quen ông Piaget từ trước, và sau đó ít đọc lại công trình của ông. Tôi có đọc lại công trình tập thể của Piaget trong bộ La Pléiade sur l’epistémologie [Hợp tuyển về tri thức luận] trong đó có nhữung bài rất quan trọng. Thành thử, có vẻ như Piaget không được thật trọng thị tại mấy tập sách của tôi, trong khi trên thực tế ông là một tác giả chiếm vị trí chủ chốt. Ông đứng ở ngã tư giao lộ giữa các khoa học nhân văn, sinh học, tâm lý học và tri thức luận. Tôi tin rằng trong tập La connaissance de là connaissance [Tri thức về tri thức], tôi không đánh giá thấp tri thức luận sinh thành. Hơn nữa, khi đọc lại hợp tuyển La Pléiade, tôi thấy rõ ông Piaget đã có ý tưởng về “mạch vòng các khoa học”, mạch liên kết các khoa học đó, đó chính là ý tưởng về chủ thể tri thức mà tôi nhận ra rằng rất nhiều hiệu quả. Tôi thật sự là cốt cán trung kiên của thuyết kiến tạo luận Piaget, nhưng vấn đề dè dặt ở chỗ trong thuyết này  còn thiếu vắng tác nhân kiến tạo. Ông Piaget đã bỏ qua một điều là rất cần phải có những lực lượng phức hợp tổ chức bẩm sinh mới xuất hiện được những bản lĩnh rất hùng hậu để nhận biết và học tập. Rất cần có thật nhiều chất “bẩm sinh hồn nhiên” hiểu theo nghĩa xuất phát từ những cấu trúc bẩm sinh đủ năng lực lĩnh hộ, chứ không phải từ chương trình tự nhiên các ứng xử.

Cuộc đối thoại Piaget-Chomski thể hiện đôi nét gần giống đối thoại giữa người điếc, tựa như một khía cạnh “dữ dằn” trong cuộc tranh cãi giữa hai trí tuệ văn minh. Ông Piaget tỏ ra vấp phải cái nan giải rất lớn khi thừa nhận vai trò mạnh mẽ của những cái có thể gọi là “cấu trúc bẩm sinh của tiếp nhận, của kiến tạo”. Còn ông Chomski thì đã tỏ thái độ khăng khăng đối với thuyết bẩm sinh đó mà không tự đặt cho mình một câu hỏi ông Piaget nêu lên: thế nhưng sự kiến tạo của những cấu trúc bẩm sinh là xuất phát từ đâu? Kiến tạo này chỉ có thể là kết quả của một thứ đối hợp logic với ngoại giới, nhưng hiện trạng các tri thức lại không cho phép đưa ra bất cứ điều lý giải nào. Chính vì vậy nên ông Piaget đã gắng công tìm được một sáng kiến coi như chìa khóa, đó là thuyết “sao chép kiểu hình” (phénocopie).

Sau cùng, tôi cũng nhất trí với ông Piaget về nguồn gốc sinh học của tri thức. Tuy thế, qua những phát hiện sau đó của bản thân, tôi đã cảm thấy ngạc nhiên cớ sao ông cứ trụ vững mãi ở cấp độ ý tưởng tổ chức và điều chỉnh mà không tiến vào hệ thống đề tài phức hợp của tự-tổ chức.

Ở đây, tôi không có chủ định biện minh cho bản thân, sở dĩ cần trình bày như trên chính là nhằm giải thích hoàn cảnh của mình và cũng tỏ ra tiếc nuối về một thái độ lặng lẽ thiếu công bằng. Các ngài cũng rất có lý khi nhận xét công việc của tôi có vẻ thiếu vắng chiều cạnh tâm lý học, tuy rằng tôi có nghĩ tới sự hội nhập nó vào cuốn sách biên soạn. Tôi cũng xin lưu ý quý vị trong những nghiên cứu của tôi để viết cuốn L’homme et la mort [Con người và cái chết] và cuốn L’homme imaginaire [Con người tưởng tượng], đã hiện diện đầy đủ chiều cạnh này.

Năng lực nhận biết và giới hạn

Tôi xin nói đến vấn đề chìa khóa về các giới hạn: do những giới hạn về nhận biết, vậy có cách nào ta tư duy khi dùng sức hỗ trợ của các mâu thuẫn? Những nghi nan triết lý vốn ngăn cấm ta tư duy, thì bây giờ bằng phương cách nào chúng lại có thể kích thích ta tư duy, phải chăng chúng có thể? Ta nhắc lại mấy nghi nan triết lý ai cũng rõ. Cách nào có thể học nếu trước đó chưa biết? Nếu đã biết rồi, thì chẳng có gì phải học nữa. Ấy thế mà ta vẫn phải học bơi lội, học lái xe, học cách học tập. Vậy nên chớ để bản thân bị kẹt cứng vì những mâu thuẫn logic, song đương nhiên cũng chớ để rơi vào cuộc diễn ngôn thiếu nhất quán.

Một tác giả không “giấu mình”

Nên chăng tôi cần trả lời quý vị về những câu hỏi gắn với nhân thân mình? Xin lưu ý rằng tôi sẽ không trả lời về những điều mang tính chủ quan hơn hết, mặc dù chất chủ thể của tôi vẫn đang còn ước ao làm việc đó. Nhưng dù sao chăng nữa, có lẽ tôi vẫn cần biểu đạt ý thức tồn tại nhân thân riêng biệt của mình trong sự nghiệp học thuật. Tôi là một tác giả không “giấu mình”. Chữ này tôi muốn dùng để nói tôi khác xa những người đứng khuất hẳn phía sau tính khách quan ngoại hình của những tư tưởng bản thân, làm như lấy ngòi bút của họ nói lên chân lý vô danh.

Là tác giả, ắt phải tự mình đảm nhiệm tư tưởng bản thân là có thể hay nhất hoặc dở nhất. Thêm nữa, tôi còn là tác giả tự chỉ định đích danh nữa. Tôi xin nói việc trình diễn như vậy có thể cũng bao gồm cả thái độ tự hạ. Tôi đưa ra khía cạnh chủ quan, đặt lên tấm thảm trải bàn họp, mang lại cho độc giả khả năng phát hiện và kiểm soát tính chủ quan của tôi. Tự mình tôi, tôi gắng thể hiện mọi dấu hiệu bằng cách trình bày những định nghĩa mà tôi xác định mọi khái niệm tôi đề xuất. Nhưng một khi đã có câu định nghĩa rồi, thì tôi chiều theo hướng đi của ngôn ngữ với tất cả những gì mà nội dung ký hiệu mang lại những cộng hưởng và gợi mở.

Tôi rất nhạy cảm với sức mạnh và sức cám dỗ của nội dung ký hiệu. Tôi nhân nhượng nó, nhưng cũng tìm được cách dùng nó. Về vấn đề vận dụng tính chất tương tự, có người chê trách tôi về các ẩn dụ. Trước tiên, tôi đề ra các hình tượng ẩn dụ, nhưng vẫn biết rõ đó chỉ là ẩn dụ thôi. Quả thật nó chẳng mấy nghiêm trọng so với việc đặt ra ẩn dụ mà không hay biết gì. Hơn nữa, ta đã rõ lịch sử khoa học được tiến hành bằng cách “di cư”” các khái niệm, tức là về ngôn từ là di cư các ẩn dụ. Khái niệm “lao động” với cội nguồn nhân học-xã hội học, đã trở thành khái niệm vật lý học, tức là khái niệm “công””. Khái niệm khoa học về thông tin, với xuất xứ là điện thoại, đã trở thành khái niệm vật lý học, rồi di cư đến sinh học, tại đó các gen trở thành phần tử mang thông tin.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Edgar Morin – Nhập môn tư duy phức hợp – NXB TT 2009.