Hứng khởi và ức chế – Phần cuối


Tuy nhiên, trường hợp thể hiện sự chưa hoàn thành là ưu trội hơn so với trường hợp hoàn thành và tạo ra tính tương đối đặc biệt. Bởi vậy, Vương Phu Chi ghi nhận, nếu sự hỗn độn bị đẩy lui, trong cả hai trường hợp, tới cực điểm của nó, quan điểm quẻ này nuôi dưỡng quẻ kia khi đối mặt với nhau là khác biệt: quẻ hoàn thành được nhìn nhận như tình huống khởi đầu mà từ đó ta có thể “xác lập nền tảng”; còn quẻ chưa hoàn thành được thể hiện như tình huống chưa bắt đầu và, từ đó, không đáng tin. Điều này có thể được giải thích từ một khía cạnh khác: bởi vì sự vượt qua của âm là gây tai họa cho nó; theo cách mà, bởi nguyên nhân của sự đứt đoạn, âm không thể được dùng để hoàn thành sự vượt qua của nó (cũng như trong trường hợp hoàn thành). Từ đó rút ra tính chất mơ hồ của quẻ chưa hoàn thành (ta có thể nói, bằng sự khác biệt với tính chất dối trá của quẻ trước đó mà dưới hình thức thích đáng bề ngoài nó cho thấy sự phát triển không tốt): một mặt, ta tìm thấy ở đây, và đi vào vai trò (sau các lời từ), môtip con cáo mà nó là điểm xấu, nhưng cùng lúc một sự luân chuyển còn lại, thì một sự lựa chọn sẽ được hé ra: âm, không còn chuyển qua được nữa, có thể tiếp nhận giữ nguyên vị trí và không tìm cách vượt qua, và trong trường hợp này quẻ không còn đóng vai trò tiêu cực.

Cả hai quẻ này, đều gợi lên về cùng một tình huống, tình huống hết sức hỗn độn, được sinh ra từ sự thiếu vắng khuynh hướng định hướng, nhưng khi mà quẻ hoàn thành không mở ra tương lai, thì quẻ này lại mở ra và xuất hiện sự đình hoãn trong khả năng hiện thực hóa của nó. Cho nên, chỉ với sự khác biệt duy nhất này của cái triển vọng đủ để sinh ra các kết quả hiển nhiên là (phụ trợ) thứ yếu, tuy nhiên chúng dẫn tới sự chuyển hóa các điều kiện của chức năng hành dụng của quẻ, chúng quay lại chống các tiêu chuẩn chung nhất của sự diễn giải. Ta có thể kiểm tra từ điểm sau đây: đây chỉ là đề cập tới quẻ cuối cùng của hai quẻ này vốn nhằm nêu lên sự hiệu quả của sự tương hợp giữa các khoảng cách (cương nhu ứng) (mỗi hào đều tìm được kẻ đồng hành từ loại đối lập từ quẻ đơn khác, hào sơ âm với hào tứ dương, và cứ thế tiếp tục). Cho nên, như Vương Phu Chi đã ghi nhận, mối quan hệ đồng hành này cũng tồn tại, theo cách hệ thống, trong trường hợp “hoàn thành”, nhưng khi đó thành tố tích cực này dường như bị hủy bỏ bởi một dạng thức khác, cũng là tích cực, khi hào nào ở đúng vị trí hào đó: cũng như mỗi một trong hai tác tố hiện diện, âm dương, trở thành bất động và từ đó sống “một cách tự chủ” khi theo đuổi ý hướng duy nhất của mình (các đàn kì sở lợi nhi tư kì tình chi sở yên), mối quan hệ đồng hành này nằm giữa các hào tương ứng (và do vậy, giữa các tác tố đối lập) không phục vụ cho một cái gì cả. Trong khi đó, trong trường hợp “chưa hoàn thành”, nó tạo ra hiệu quả còn hơn thế mà không một hào nào khi đó nằm đúng chỗ của nó (mọi hào âm đều ở vào vị trí số lẻ và ngược lại): do vậy nó dẫn tới khuynh hướng cá nhân (“vị kỉ”) tự do, ở mỗi hào, do vắng mặt khuynh hướng chung (và có định hướng), nhanh chóng bị cản trở bởi tình huống mà ở đó nó gia nhập, nó có mặt ngay từ đầu với khả năng hài hòa tiếp diễn của các tác tố đối lập. Khi dùng lại các thuật ngữ theo mã hóa Trung Hoa: cái “cứng” nằm ở vị trí “cái mềm” cũng không thể “kiêu kì”; cái “mềm” ở vị trí của cái “cứng” cũng không thể rời xa… Một cách thức phối kết mới xuất hiện, giữa hào và vị trí trái ngược mà nó chiếm giữ, bởi nó cắt đứt với chính sách tự cung tự cấp mà tại đó mỗi hào đều bị đóng lại, tiếp theo sự sai lệch với mọi khuynh hướng chủ đạo, chuyển đổi một cách đặc biệt theo hướng tiện lợi mà cho tới khi đó, có nghĩa là cho tới quẻ cuối cùng của cuốn sách, là một tác tố tiêu cực.

Tôi cũng nghĩ rằng ta có thể dễ dàng theo đuổi suy nghĩ được Vương Phu Chi đưa ra về điểm này: trong khi mà sự chồng chéo của các kiểu trật tự khác nhau (mỗi hào đều đúng chỗ của nó, mỗi hào đều có bạn đồng hành…) bắt đầu, trong quẻ trước đó, với sự trùng lặp của sự chân thực tương ứng của chúng, và từ đó, sự bất đồng bị phá vỡ, ngược lại mở ra, khi đề cập đến quẻ này, một kiểu nào đó không thích hợp (tương tự như sự không phù hợp của các hào trong quan hệ với vị trí của chúng) không chỉ đưa ra một cách tốt nhất sự phù hợp với kiểu khác (ở đây, quan hệ đồng hành giữa các quẻ đơn) nhưng, hơn thế, cho phép quẻ này thực hiện và nhìn lại được kết quả lao động của nó. Sự tương thích được xem xét từ mọi điểm, từ mọi cách nhìn, trong trường hợp quẻ trước đó có được kết quả cần thiết mà mỗi tác tố tự rời bỏ khỏi nó, và nó dẫn dắt tới chỗ, dưới hình thức bên ngoài hết sức thuận lợi, với một sự không toàn vẹn được bổ sung, trái lại, sự không tương thích của quẻ này đóng vai trò đầy đủ bởi mọi sự đan kết khác có thẻ tái tạo lại một áp lực giữa các tá tố tương ứng và đưa ra cách thức để bù trừ: nó dẫn tới cùng lúc, bí mật, trong lòng sự hỗn độn ấy, một chức năng điều chỉnh. Chắc chắn, chức năng này không điều khiển ngay lập tức quẻ – bởi vì quẻ này phải chịu, tương tự như quẻ trước, sự thiếu vắng khuynh hướng định hướng – tuy thế nó mở ra, từ chỗ này qua chỗ khác, một sự uống nắn liên tục: vấn đề không còn là cỗ máy điều chỉnh vũ trụ vĩ đại của vũ trụ, ở cấp toàn cầu hay vương triều (như quẻ Thái chỉ sự phồn vinh) mà là quy tắc thuộc cấp độ mang màu sắc cá nhân, hết sức đơn lẻ – của cái thường nhật.

Như vậy các hào khác nhau đã chỉ ra sự sai lệch về khuynh hướng qua các quẻ, như trong trường hợp hoàn thành, nhưng lần này được định hướng về một nghĩa thuận lợi. Tương tự quẻ trước đó cũng được làm sáng tỏ, chỉ duy nhất các hào là bị nghịch chuyển. Hào sơ và hào tam, vốn là âm, muốn tiến lên phía trước để “vượt qua” và hào nhị, hào tứ, vốn là dương, giữ chúng lại trong sự tăng tiến: hào nhị (dương) “kéo lết bánh xe” (kéo lùi lại sau: như hào sơ dương của quẻ trước đó) trong khi hào sơ (âm) con cáo “bị ướt đuôi” (như hào nhị âm của quẻ trước đó). Hào tứ dương lấy lại môtip “phản ứng trừng phạt” (trong phương hướng của sự tiến lên này từ âm) được gợi lại ở hào tam dương chỉ sự “hoàn thành”, nhưng nó cũng sử dụng cùng lúc sự đảo ngược kí hiệu, từ quẻ này sang quẻ khác, để mở ra: không chỉ hào từ đã thêm thắt lời vào hào này mà bởi nó “bao gộp” và là “cát” và “sự tiếc nuối biến mất”; đặc biệt hơn, vào chỗ mà cuộc chinh phạt này kéo dài “ba năm”, bắt đầu, như quẻ trước đó, nhờ sự cạn kiệt của dương, nó kết thúc một cách thuận lợi nhờ ân huệ, để “thưởng công” không ngờ từ “các triều đại lớn”, dấu hiệu của sự thành công không cần nghị bàn.

Tương tự hào ngũ không có lí do nào để rút ra các tiện ích từ sự sai lệch khuynh hướng đang ngăn cản nó, trong khi đó hào âm, khi đạt đến đỉnh (ở vị trí thứ 6). Nó được đặt vào giữa hai hào dương ngay trong lòng ngoại quái theo cách như nó tương thích trong quẻ khác, hào nhị âm chỉ sự “hoàn thành” (cũng như quẻ Li); nhưng ở chỗ hành động của nó bị trộn lẫn với hai hào dương mang nghĩa tiêu cực vì thiếu đi sự bẽn lẽn từ phía “người vợ” (đánh mất “tấm màn” xe, ở quẻ trước đó), tình huống “pha tạp” này dần dần được sáng tỏ, bằng sự đảo ngược giá trị của nó, “sự tỏa sáng” của “người quân tử” (sự tỏa sáng này là âm ngay từ trung tâm của nó bởi vì người quân tử ảnh hưởng đến khá nhiều người khác khi nó là “rỗng” với mọi suy đoán, không đặt ra cho người khác cũng không thêm thắt một cái gì cho nó ngoài công trạng). Bởi vì khuynh hướng có thể đưa tới hoàn thành việc “vượt qua” (khi bước lên vị trí số 6) đã bị cản trở, nó “không rời khỏi trung tâm” (của quẻ đơn); và bởi vì nó không rời khỏi vị trí lí tưởng ở trung tâm, nó gắn với “sự tin cẩn” (hữu phù) ở gần không phải với một hào âm khác, gần cạnh nó (bởi vì nó không có các mặt, tiếp theo sự sai lệch của khuynh hướng) còn với hào dương nằm ở vị trí mà nó đạt tới một cách bình thường, vị trí số 6. Từ một bình diện đặc biệt, Vương Phu Chi nhấn mạnh, quan hệ về sự “tin cậy” này luôn luôn là “cát” được nuôi dưỡng cùng một cách (hào âm với hào âm) mà với cả hào khác: trong lòng một sự hỗn độn như vậy, một sự liên kết mới được phản ánh, một kiểu trật tự khác xuất hiện.

Mối quan hệ tin cậy gần gũi được nuôi dưỡng như vậy bằng một cách thức mới, ở cực điểm của cuốn sách, giữa các tác tố đối lập, nó vẫn còn cứng rắn khi được xác nhận qua lại: hào dương cuối cùng, ở đỉnh của quẻ, bắt đầu gợi ra, bằng hình thức hội hè “lòng tin ngự trị giữa mọi người cùng uống rượu” (và, cần thêm vào, là “không có lỗi – nguyên văn: hữu phu vu ẩm tửu, vô cữu – ND). Nhưng một kiểu quan hệ qua lại như vậy không cần phải quên đi sự không đối xứng giữa các vị trí (âm dương như đã biết, không tiếp nhận cùng một sự xác thực): như vậy, khi nó được kéo dài bởi dương và thực hiện đối diện với âm (ở đây hào tam âm tương thích với hào lục dương không bị chối bỏ), không cần dẫn dắt dương để đi vào liên kết với âm và “làm hư hỏng” nó (sự lây nhiễm là quá dễ trong tình huống ở đó diễn ra sự pha tạp lớn). Cho nên nổi lên một cách logic sự mạo hiểm khi bị chìm nghỉm với nó dẫn âm theo đuổi ý hướng của nó: mà nguy hiểm “khi nhô đầu lên” (trên mặt nước), từ đó hoàn thành quẻ trước đó, do vậy, hào cuối cùng này luôn luôn là hiện tại.

Hào cuối cùng của quẻ cuối cùng này, kết thúc cuốn sách bằng một bức tranh mơ hồ: niềm vui được hòa hợp (giữa các tác tố đối lập) – đe dọa sự cập bến. Như vậy có thể nói rằng cuốn sách chưa hoàn thành mà chỉ kết thúc bằng sự đình hoãn. Tương lai được mở ra: từ trong bản thân cái hỗn độn, một sự liên kết mới xuất hiện nhưng đang còn ở dạng thận trọng sự đình hoãn mà từ đó cuốn sách dừng lại là sự đình hoãn mang tính lý thuyết. Vương Phu Chi ghi nhận rằng trong trường hợp hai quả cuối cùng này và trái ngược với những gì mà ta có thể quan niệm khi đề cập tới mọi quẻ khác, hoạt động của các hào không nằm đúng chỗ cho thấy qua đây, mặt tích cực. Tương tự, với hai hào cuối cùng của quẻ cuối cùng, mối quan hệ “tin cậy gần gũi” (theo kiểu phù (fu) đối lập với quan hệ đồng hành theo khoảng cách, kiểu yingứng trong quan hệ với phù) thiết lập bình diện “đặc biệt” không phải cùng với nó mà với cái khác; âm không còn trong quan hệ tương hỗ với âm mà với dương. Những cái đặc biệt này, Vương Phu Chi kết luận, cho thấy Điển thư về sự chuyển hóa không thể dùng cho “bình diện đứng im” (dịch chi bất khả vi điển yếu). Bởi vậy cuốn sách, khi hoàn thành, đã đặt ra vấn đề về các nguyên tắc diễn giải riêng của nó, mà tính hệ thống khi kết thúc, lại thoát khỏi chính nó. Đây là hình thức khá tốt, nhưng hình thức này, để trở nên hiệu quả, không cần thiết phải trở thành rập khuôn máy móc; có một hệ thống khá tốt nhưng hệ thống này – để tránh khỏi việc thực hành một cách cơ giới, và do đó tránh được “sự trống rỗng” – cần phải được đổi mới thêm. Với hình ảnh về thực tại, vốn luôn ở trong quan hệ tương hỗ bền chặt, không ngừng phản ánh khả năng đổi mới của nó, cuốn Điển thư về sự chuyển hóa giải phóng mọi quy tắc về chức năng hành dụng từ mọi sự mã hóa cố định và luôn luôn mở trong bước chuyển vượt của chúng.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về Kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Advertisements

Mối quan hệ biện chứng giữa một số lợi ích chủ yếu với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội – Phần III


Cá nhân bao giờ cũng là thành viên của một cộng đồng hay một nhóm xã hội cụ thể. Bản thân các cộng đồng tồn tại là bởi sự tồn tại của các cá nhân cùng các quan hệ qua lại giữa họ và các cá nhân cùng bị quy định bởi cộng đồng của mình.

Mối quan hệ cá nhân và cộng đồng là hết sức đa dạng. Do đó, mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung cũng rất đa dạng. Đối với mỗi con người, lợi ích riêng của bản thân bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định trực tiếp thôi thúc anh ta hành động. Đối với con người, khi người ta làm một cái gì đó thì thường là cái đó gắn liền với một nhu cầu hay lợi ích cụ thể nào đó của họ.

Con người nói chung là sống thực tế. Đối với con người hiện đại, tính thực tế cập nhật càng đậm nét hơn. Xã hội càng biến động, càng phức tạp, càng bất thường bao nhiêu thì tính hiệu quả trực tiếp nơi hành vi con người càng được đề cao bấy nhiêu. Do vậy, các quan hệ lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế ngày càng trở nên gay gắt, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay.

Trong các loại lợi ích, như đã nói trên, lợi ích kinh tế có tác dụng cuốn hút rất mãnh liệt. Vì vậy, các chủ trương phát triển kinh tế hộ gia đình, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, dân chủ hóa đời sống xã hội, trong mấy năm qua đã tạo nên một diện mạo mới của sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Sở dĩ như thế là vì, nó đáp ứng đúng tâm tư, nguyện vọng của đông đảo nhân dân – cái tâm tư nguyện vọng luôn luôn hiện diện như là lực lượng tinh thần, là động cơ tư tưởng chi phối mọi hành vi của con người. Động cơ ấy không phải là cái gì khác mà chính là sự phản ánh những lợi ích thiết thân và cấp bách của họ.

Con người hoạt động trước hết vì lợi ích của bản thân, của gia đình và người thân của mình, sau đó mới là vì cộng đồng, vì tập thể gần gũi với anh ta, rồi mới đến các cộng đồng, các tập thể lớn hơn, “xa” hơn (xã hội, khu vực, nhân loại…).

Nhưng nếu nhìn từ góc độ chung hơn ta lại thấy, một cá nhân không là gì cả, hơn thế, anh ta sẽ không thể tồn tại được chứ đừng nói là phát triển được nếu không có cộng đồng. Cá nhân bao giờ cũng gắn bó với một cộng đồng nhất định, một mặt, anh ta góp phần tạo nên sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, nhưng mặt khác, đời sống của anh ta cũng bị quy định hết sức chặt chẽ bởi sự tồn tại và phát triển của cộng đồng ấy. Điều này cũng có nghĩa là, việc thực hiện các lợi ích riêng của cá nhân hay lợi ích chung của cộng đồng cũng đều có tác động ảnh hưởng đến nhau.

Dĩ nhiên, lợi ích riêng bao giờ cũng là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất thôi thúc cá nhân hoạt động. Và, nó cũng là nhân tố quyết định trước hết. Vì thế có thể nói, nó là cơ sở để thực hiện lợi ích chung, ngược lại, lợi ích chung với ý nghĩa là những lợi ích hướng vào thỏa mãn những nhu cầu chung của nhiều thành viên hợp thành cộng đồng nên nó lại là điều kiện và đóng vai trò định hướng cho việc thực hiện lợi ích riêng.

Vì những lý do trên nên chỉ khi nào tạo lập được mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng thì mới có thể tạo nên được sự phát triển không những của các cá nhân, mà của cả cộng đồng. Từ đó một yêu cầu được đặt ra là cần tạo lập một cơ chế kích thích sao cho mỗi cá nhân riêng lẻ, mỗi cộng đồng riêng lẻ khi hoạt động thực hiện các lợi ích riêng của mình, nhất là những lợi ích riêng được phản ánh trong các lợi ích chung của xã hội, cũng sẽ đồng thời tạo nên một xu hướng vận động chung của cả cộng đồng theo hướng chúng ta mong muốn. Khi ấy hoạt động của từng cá nhân riêng lẻ nhằm thực hiện các lợi ích riêng của mình cũng đồng thời góp phần thúc đẩy xã hội vận động theo hướng chung.

Để tạo ra sự kết hợp thống nhất và hài hòa giữa lợi ích chung và lợi ích riêng của xã hội ta giai đoạn hiện nay thì cần phải nhận thức được hệ thống các nhu cầu và lợi ích cấp bách mà các cá nhân cũng như các cộng đồng đang theo đuổi thực hiện, trong đó phải đặc biệt làm rõ những lợi ích nào đang là những lợi ích cấp bách nhất.

Chẳng hạn trong giai đạon hiện nay, lợi ích kinh tế đang là lợi ích quan trọng nhất đối với đa số nhân dân ta, bởi vì nó hướng vào thỏa mãn những nhu cầu vật chất tồn tại tối thiểu của mỗi gia đình và cá nhân. Do vậy, lợi ích kinh tế, lợi ích vật chất cũng đang là lợi ích chung của cả xã hội. Từ chỗ xác định được lợi ích cấp bách của các cá nhân, các gia đình riêng lẻ ta có thể thấy được lợi ích cấp bách của các nhóm xã hội. Và, tương tự thế, từ chỗ xác định được lợi ích cấp bách của các nhóm xã hội riêng lẻ khác nhau ta có thể vạch ra lợi ích cấp bách của cả một xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

Ở đây cần lưu ý rằng, lợi ích chung của cộng đồng xã hội không phải là sự phản ánh đơn thuần trực tiếp các lợi ích cấp bách của từng cá nhân như là một tập hợp rời rạc, mà nó là sự phản ánh một cách tổng thể những lợi ích đặc trưng của các nhóm xã hội như là một số thành .

Nhưng khi vạch ra hệ thống lợi ích cấp bách của cá nhân hay của một nhóm xã hội ta cần phải khảo sát nội dung và tính chất của chúng. Đối với hệ thống lợi ích riêng cần phân biệt lợi ích nào mang tính chất riêng tư cá biệt chỉ của một cá nhân hay một nhóm xã hội riêng và lợi ích nào mang tính chất chung của nhiều thành viên hay của cả một cộng đồng, nhiều cộng đồng. Từ sự khảo sát và phân loại này ta mới có thể chỉ ra được những lợi ích nào sẽ trực tiếp tham gia vào việc thúc đẩy sự phát triển chung của cả cộng đồng và xã hội.

Xem xét mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung ta xem xét một trong các mối quan hệ căn bản của một cá nhân (hay một nhóm xã hội) với cả cộng đồng xã hội. Là sản phẩm của các quan hệ con người, xã hộ vừa tồn tại như một cơ thể tự nhiên tự điều chỉnh, vừa tồn tại trên cơ sở được tổ chức và điều hành bởi hệ thống các nguyên tắc được thiết lập bởi sự thỏa thuận hay áp đặt giữa các thành viên. Các nguyên tắc đó được thể hiện dưới hình thức các bộ luật, các lệ, khế ước xã hội hay bằng các hương ước cụ thể.

Trong hệ thống các quan hệ xã hội, ta thấy, quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của cá nhân và cộng đồng (hay của cộng đồng nhỏ với cộng đồng lớn) là quan hệ phản ánh mối tương quan giữa lợi ích riêng và lợi ích chung.

Quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân và cộng đồng như thế nào phụ thuộc vào tính chất của chế độ xã hội. Và, quan hệ này chỉ xuất hiện một cách thực sự ở các xã hội dân chủ – người dân là người chủ xã hội. Đối với những xã hội chuyên chế hay độc tài sẽ không tồn tại quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ. Điều này cũng có nghĩa là, về thực chất cũng sẽ không tồn tại tương quan giữa lợi ích riêng và lợi ích chung.

Mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ không nên quan niệm một cách đơn thuần trong từng quan hệ riêng lẻ. Đành rằng, lợi ích riêng là tối thượng đối với mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội cụ thể, mỗi cộng đồng xã hội cụ thể. Nhưng, như ta vẫn thấy, các lợi ích tối thượng ấy trong rất nhiều trường hợp hoặc không thực hiện được, hoặc nếu có thực hiện được thì cũng sẽ chẳng có ý nghĩa gì nữa nếu các lợi ích chung không được tôn trọng và sự không tôn trọng lợi ích chung đó dẫn đến phá hủy cộng đồng.

Do đó, trong các quan hệ lợi ích, mặc dù chủ thể nào cũng chịu sự dày vò của câu hỏi: ta được cái gì hay mất cái gì trong quan hệ với cộng đồng, nhưng đến một lúc nào đó, nhiều khi cũng xuất phát từ những toan tính riêng tư, họ sẽ nhận ra rằng mình phải có trách nhiệm và nghĩa vụ như thế nào đối với sự tồn tại và phát triển chung của cộng đồng trên cơ sở các nguyên tắc bảo đảm đã được thỏa thuận bởi vì nếu không thế thì bản thân họ cũng không thể tồn tại và phát triển được. Vậy là, không chỉ các quan hệ xã hội khách quan, mà ngay cả những tính toán riêng tư đã buộc họ phải tự giác nhận thức và thực hiện các trách nhiệm và nghĩa vụ nhất định đối với cộng đồng mà anh ta là thành viên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Lời nói gián tiếp, lời nói trực tiếp và các biến thể của chúng – Phần III


Biến thể phân tích – ngôn từ của lời nói gián tiếp

Chúng ta hãy chuyển sang biến thể phân tích – ngôn từ. Nó đưa vào cấu trúc gián tiếp các từ và cụm từ của lời kẻ khắc, đặc trưng cho diện mạo phong cách và chủ quan của phát ngôn của kẻ khác như là một sự biểu đạt. Những từ và cụm từ này được đưa vào theo cách để có thể cảm nhận rõ ràng tính đặc trưng chủ quan và điển hình của chúng, thường xuyên nhất là được đặt trong dấu ngoặc kép. Dưới đây là bốn ví dụ .

1/ « Về Xmerdiakov đã qua đời thì lão (Grigory) vừa làm dấu thánh vừa nói rằng gã trai có khả năng, nhưng đần độn và ốm đau, nhất là vô thần, mà hắn vô thần là do Fedor Pavlovich và người con trưởng dạy cho » (Dostoievski, « Anh em nhà Karamazov »).

2/ « Với những người Ba Lan cũng vậy : họ xuất hiện một cách ung dung, tự hào. Họ nói oang oang rằng thứ nhất, cả hai đều « phụng sự ngai vàng » và « pan » Mitia đề nghị với họ ba ngàn rúp để mua danh dự của họ và chính họ nhìn thấy anh ta cầm trong tay món tiền lớn » (ibid).

3/ « Kraxotkin kiêu hãnh bác bẻ lại rằng « trong thời đại chúng ta » mà chơi trò làm ngựa với các bạn cùng lứa tuổi mười ba thì thật là nhục, nhưng nó chơi trò đó với bọn « nhóc con » vì yêu chúng, không ai có quyền xọc vào tình cảm của nó » (ibid).

4/ « Ngài nhận ra nàng (tức là Nastasia Filippovna) gần như điên loạn : nàng hét, nàng run, nàng kêu lên rằng Rogojin nấp ở ngoài vườn nhà nàng, và rằng nàng vừa thấy gã đây và thế nào đến tốicũng giết nàng, cắt cổ nàng ! » (Dostoievski. « Gã khờ ». Ở đây, trong cấu trúc gián tiếp, tính biểu cảm của phát ngôn của kẻ khác được giữ nguyên).

Được đưa vào lời nói gián tiếp và được cảm nhận với đặc trưng của nó, các từ và thành ngữ của kẻ khác (đặc biệt, khi chúng được để trong dấu ngoặc kép) được « lạ hóa », nói theo cách của các nhà hình thức chủ nghĩa, và được lạ hóa đúng theo hướng cần thiết cho tác giả ; chúng được vật hóa, tính màu mè của chúng thể hiện rực rỡ hơn, nhưng đồng thời chúng cũng biến đổi dưới áp lực của mối quan hệ với tác giả : mỉa mai, hài hước…

Cần phải phân biệt biến thể này của lời nói gián tiếp với những trường hợp chuyển trực tiếp lời nói gián tiếp thành lời nói trực tiếp, mặc dù chức năng của chúng gần như đồng nhất : khi lời nói trực tiếp nối tiếp lời nói gián tiếp, tính chủ quan ngôn từ của nó thể hiện rõ ràng hơn và hteo hướng cần cho tác giả. Ví dụ :

1/ « Trifon Borisovich nói quanh co, nhưng sau khi thẩm vấn hai người nông dân, đành thú nhận sự kiện, chỉ thêm rằng hồi ấy đã thành tâm trả lại hết cho Dmitri Fedorovich « một cách hết sức ngay thực, có điều anh ta đang say khướt, chưa chắc đã nhớ được » (Dostoievski, « Anh em nhà Karamazov »).

2/ « Mặc dù hết sức kính trọng vong linh ông chủ cũ của mình, lão vẫn tuyên bố rằng ông bất công với Mitia và « giáo dục các con không đúng đắn. Hồi còn nhỏ, không có tôi thì cậu ấy đã bị chấy rận ăn thịt rồi ». – Lão nói thêm, khi kể về những năm tháng thơ ấu của Mitia » (ibid).

Trong trường hợp này, lời nói trực tiếp được chuẩn bị bởi lời nói gián tiếp và dường như phát sinh trực tiếp từ lời nói gián tiếp – giống như một hình hài uyển chuyển, chưa hoàn toàn tách ra khỏi khối nguyên liệu trong các tác phẩm điêu khắc của Rodin. Đó là một trong vô số các biến thể của lời nói trực tiếp trong lói lý giải hội họa.

Biến thể phân tích – ngôn từ của cấu trúc gián tiếp là như thế. Nó tạo ra những hiệu ứng hội họa hoàn toàn độc đáo trong sự truyền đạt lời kẻ khác. Biến thể này giả định trước một mức độ cá nhân hóa cao của phát ngôn của kẻ khác trong ý thức ngôn ngữ, năng lực cảm nhận rạch ròi lớp vỏ ngôn từ của phát ngôn và ý nghĩa khách thể của nó. Điều này không phải là đặc trưng vốn có của cả sự tiếp nhận độc đoán lẫn sự tiếp nhận duy lý phát ngôn của người khác. Với tư cách là một thủ pháp phong cách thực dụng, nó chỉ có thể cắm rễ trong ngôn ngữ trên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân hiện thực và phê phán, trong khi biến thể phân tích – khách thể là đặc thù của chủ nghĩa cá nhân duy lý. Trong lịch sử tiếng Nga văn học, giai đoạn này gần như hoàn toàn vắng mặt. Có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta thấy sự thống trị tuyệt đối của biến thể phân tích – ngôn từ so với biến thể phân tích khách thể. Việc không có temporum consecutio trong tiếng Nga cũng tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển của biến thể phân tích – ngôn từ.

Như vậy, chúng ta đã thấy rằng mặc dù được liên kết bởi cùng một xu hướng phân tích của hình mẫu, hai biến thể của chúng ta phản ánh các ý niệm ngôn ngữ khác nhau sâu sắc về ngôn từ kẻ khác và cá nhân của người nói. Đối với biến thể đầu, cá nhân người nói được đưa ra chỉ như là kẻ giữ một lập trường ý nghĩa nhất định (nhận thức, đạo đức, lối sống, hành vi) ; còn bên ngoài lập trường này (lập trường được truyền đạt một cách khách thể theo nghĩa chặt chẽ), nó không tồn tại đối với người truyền đạt. Ở đây không có chỗ để nó đông kết thành hình ảnh. Trong biến thể thứ hai, ngược lại, cá nhân được đưa ra như là một lối chủ quan (cá nhân và điển hình), lối nghĩ và lối nói, bao gồm cả sự đánh giá của tác giả về lối này. Ở đây, cá nhân người nói đã đông kết thành hình ảnh.

Biến thể ấn tượng của lời nói gián tiếp

Trong tiếng Nga còn có thể xác định biến thể thứ ba, khá quan trọng, của cấu trúc gián tiếp, được sử dụng chủ yếu để truyền đạt ngôn ngữ bên trong, những ý nghĩ và trải nghiệm của nhân vật. Biến thể này diễn giải lời kẻ khác khá tự do, giản lược nó, thường chỉ làm nổi rõ các chủ đề và chủ âm của nó. Do đó nó có thể được gọi là biến thể ấn tượng. Ngữ điệu tác giả hòa vào cấu trúc của nó một cách dễ dàng và tự do. Đây là một ví dụ cổ điển của biến thể ấn tượng như vậy rút từ « Kỵ sĩ đồng » :

« Chàng nghĩ gì ? nghĩ rằng chàng nghèo, phải nỗ lực để đảm bảo cho mình một cuộc sống tự lập và danh dự ; rằng Chúa lẽ ra có thể ban cho chàng thêm trí thông minh và tiền bạc. Rằng trên đời có khối kẻ vô công rồi nghề mà may mắn, chẳng cần thông minh, lại lười biếng, nhưng cuộc đời thì thật an nhàn, dễ chịu ! Rằng chàng mới làm việc được hai năm ; chàng nghĩ, rằng thời tiết vẫn không dịu xuống ; rằng nước sông vẫn lên ; rằng dường như tất cả các cầu trên sông Neva đã cất lên và rằng chàng bị cắt lìa với Parasa hai ba ngày. Đấy, chàng mơ mộng thế… ».

Chúng ta thấy, từ ví dụ này, rằng biến thể ấn tượng của lời nói gián tiếp nằm ở đâu đó giữa biến thể phân tích – khách thể và biến thể phân tích – ngôn từ. Đôi khi sự phân tích khách thể diễn ra ở đây hết sức rõ ràng. Một số từ và cụm từ rõ ràng được sinh ra từ tâm trí của chính Evgheni (tuy vậy, không nhấn mạnh đặc trưng của chúng). Nhưng mạnh mẽ hơn hết, chúng ta nghe thấy sự mỉa mai của tác giả, sự nhấn mạnh của anh ta, tính chủ động của anh ta trong việc sắp xếp, giản lược chất liệu.

Hình mẫu lời nói trực tiếp

Bây giờ chúng ta chuyển sang hình mẫu lời nói trực tiếp. Nó cực kỳ phát triển trong tiếng Nga văn học, với số lượng vô cùng phong phú các biến thể khác nhau căn bản. Trong việc đưa lời kẻ khác vào ngữ cảnh tác giả, từ những khối cồng kềnh, trơ lì và không thể phân tách của lời nói trực tiếp trong các tượng đài văn chương cổ đại đến các phương pháp hiện đại linh hoạt, và thường lưỡng nghĩa, là cả một con đường lịch sử phát triển lâu dài và có nhiều điều để nghiên cứu. Nhưng ở đây chúng ta buộc phải từ chối cả việc xem xét con đường lịch sử ấy lẫn sự mô tả tĩnh tại các biến thể lời nói trực tiếp hiện diện trong ngôn ngữ văn học. Chúng ta tự hạn chế trong những biến thể, trong đó diễn ra sự trao đổi lẫn nhau bằng ngữ điệu, như thể sự lây nhiễm lẫn nhau, giữa ngữ cảnh tác giả và lời kẻ khác. Trong đó, điều chúng ta quan tâm nhất không hẳn là những trường hợp lời tác giả xâm chiếm phát ngôn kẻ khác, xuyên thấu vào nó bằng ngữ điệu, mà là những trường hợp, trong đó, ngược lại, ngôn từ của kẻ khác xâm nhập vào và lan tỏa khắp bối cảnh tác giả, làm cho nó trở thành bất định và mơ hồ. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng có thể vạch một ranh giới rạch ròi giữa hai trường hợp này : sự lây nhiễm đó thường là hai chiều.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Hứng khởi và ức chế – Phần X


Hào nhị nằm giữa hào sơ và hào tam, là âm, sẵn sàng mang ảo ảnh tư tưởng về “thuần khiết”, về giới tính và đạo đức. Hoàn toàn đúng bởi đây là một hào âm (nữ) nằm giữa hào dương (nam) và, do đó, trong quan hệ hỗn tạp lớn lao với chúng. “Phụ táng kì phất – như người đàn bà đánh mất cái màn xe” – hào từ chỉ ra như vậy. “Cái màn xe này, Vương Phu Chi bình luận, che mặt người vợ và phòng giữ cho sự bẽn lẽn của vợ”. Cho nên, ở đây, âm – người vợ bị “lẫn lộn” giữa hai dương (đàn ông) và hơn thế, hào này “mong muốn bước lên để vượt qua”, người vợ lúc ấy là “không giữ được”” cho nên “bà ta đánh mất tấm màn xe” và “gần như bị chìm đắm trong cái hỗn độn”. Hạnh phúc thay vị trí trung tâm của hào nào trong lòng quẻ đơn, đánh dấu sự đúng đắn (hơn thế, quẻ Li này, biểu tượng cho “Hỏa”, đồng nghĩa với “sáng sủa”) giữ bà ta lại bên bờ vực thẳm: “trong bảy ngày”, nghĩa là khi đó sáu vị trí của quẻ này sẽ tiêu tan đi, tấm màn quý giá che chở bà “sẽ được bà ta tìm lại” (cho nên sẽ là vô ích nếu bà ta vội vã đuổi theo tấm màn, thời kỳ hỗn loạn này là vừa đủ để trôi qua hoàn toàn). Bài học là rõ ràng: sự pha tạp, giữa các hào, giữa các giới, là đối lập với quan hệ cực (từ đây bắt nguồn sự tiện lợi); và như vậy: sự tách biệt giới tính dẫn tới sự thức tỉnh – và là người bảo đảm – cho trật tự của thế giới.

Cuối cùng, toàn bộ tiến trình của quẻ, được điều khiển bằng chủ đề thủy (cách biểu hiện môtip âm tuyệt vời; hơn thế, ngoại quái Khảm cũng biểu thị đồng thời thủy và sự nguy hiểm); còn ở vị trí nó dẫn dắt “sự vượt qua” nó bắt đầu với sự chìm đắm: Ta nhớ lại, từ sau hào sơ, cái đuôi bị ướt của con cáo (hào nhị) kìm giữ cái đà của nó. Ở hào tứ, là hào âm thứ hai, thuyền “bị nước vào” (nghĩa của xu, theo Vương Phu Chi), nhưng còn cần chuẩn bị “giẻ vụn” để bị các lỗ: hào này, trong thực tế, tương tự như hào tứ, giữ vị trí giật lùi; đồng thời nếu nó có mong muốn “vượt qua”, nó không mạo hiểm một cách bộp chộp, mà ở lại “suốt ngày” vì run sợ (nguyên văn: lục tới: Chu hữu y như chung nhật giới – nghĩa là – hào tứ, âm: thuyền bị nước vào, có giẻ để bịt lỗ, phải run sợ cả ngày). Sự cẩn trọng này cứu nó khỏi bị chết đuối và nó đối lập với hào ngũ dương, ở vị trí thống trị và do đó cũng là vị trí trọng tài đối với sự lặn xuống mù quáng của hào cuối cùng (theo Vương Phu Chi, sự hiến tế tầm thường của “hàng xóm bên phía Tây – được lựa chọn – mang lại cho hào tứ trong khi lễ tế của “hàng xóm bên Đông”, hết sức tốn kém, dẫn tới hào lục (nguyên văn hào từ cửu ngũ: đông lân sát ngưu, bất như tây lân chi thược tế, thực thụ kì phúc – ND). Ở hào cuối cùng hào âm trong thực tế đạt tới đỉnh điểm của đường đi của nó và mạnh mẽ bởi sức thăng của nó, nó đâm đầu vào dòng nước: khi đó nó phản ánh một cách dữ dội sự phân rã, mà nó dẫn tới, dưới lớp phủ của “cái cân bằng” được giữ ở vị thế ngang bằng (chấp trung nhi vô quyền), sự bước lên, không thể giữ mãi được cái tác tố tiêu cực.

Cái mà ta có thể nắm bắt được nguyên trạng (Statu quo) lí tưởng của sự “hoàn thành” chỉ đưa tới một “chỗ dừng giả tạo” (cẩu an) và thoát được vào trong một sự hỗn độn mới. Sự phân chia cân bằng của các sức mạnh, giữa các tác tố đối lập, nếu nó làm bất động một thời điểm của quá trình trong quan hệ bình đẳng, dẫn tới sự hỗn loạn một cách thảm hại. Tương tự, sự không thỏa đáng còn cần hơn nữa sự thỏa mãn giả vờ này. Nó sáng tạo ít ra cũng là một cái mới cho phép và ngăn cản xảy ra sự phát triển mang tính tiêu cực.

VII/ Sự “chưa hoàn thành” và việc đình hoãn cuối cùng (quẻ Thủy hỏa Vị tế  – quẻ thứ 64)

Từ hình thức còn cụ thể hơn (theo cách nói hình thức) như các cặp quẻ trước đó, quẻ này biểu trưng sự “chưa hoàn thành”, Thủy hỏa Vị tế, quẻ 64, giúp ta nghĩ tới mặt trái – vừa đồng nhất vừa đối lập. Có nghĩa là mối liên hệ đồng nhất được thu hẹp lại tại đây, vượt qua đồng thời sự đối lập: nếu quẻ xuất phát là, như mọi lần, sự đối lập của quẻ trước đó, ở đây không còn là quẻ Thái, chỉ thăng mà là quẻ Bĩ, chỉ sự tàn tạ, theo cách hoán vị được tạo ra từ hai hào trung gian của quẻ. Như vậy quan điểm, từ quẻ này sang quẻ kia, là như nhau. Sự vượt qua vốn được “hoàn thành” như trong trường hợp quẻ 63, hay ngược lại “chưa hoàn thành” như quẻ này, chỉ đều cập tới một tác tố âm. Trong thực tế, Vương Phu Chi chỉ ra, đây là sự thỏa thuận để đọc quẻ cuối cùng này: âm “bắt đầu” ở vị trí số 1, “trèo lên” vị trí số 3 và “đạt đích” ở vị trí số 5, ở mỗi một vị trí của chúng, lại bị “che bọc” bởi một hào dương ngăn cản bước chuyển qua và ngăn chặn nó đạt tới vị trí muốn đến (vị trí của số lẻ ở trên: vị trí số 2, 4, 6). Sự chưa hoàn thành này được làm nổi bật trên bình diện biểu trưng. Quẻ được tạo ra bởi các quẻ đơn như quẻ trước đó, bằng “thủy” và “hỏa”, nhưng được sắp đặt ngược lại: hỏa (ở trên) cháy và tiêu tan, thủy (ở dưới) chảy đi và đất trở nên khô cằn. Cả hai thành tố này “theo đuổi ý hướng riêng của chúng” không gặp nhau, không theo đuổi bất cứ một chức năng hành dụng qua lại lẫn nhau nào, và sự chuyển hóa của tự nhiên dừng lại “chưa hoàn thành”.

Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra: vì sao, trong trường hợp này, người ta không nói tốt về sự “hoàn thành” của dương, cũng như sự “chưa hoàn thành” của âm, bởi lẽ dương hiện tại đều chiếm giữ các vị trí cao nhất (2 – 4 – 6) mà âm trước đó chiếm giữ (để kết thúc sự “vượt qua” của nó)? Hoặc trái lại, trong trường hợp này, tại sao người ta không nói tới sự “chưa hoàn thành” của dương cũng như sự “chưa hoàn thành” của âm, bởi vì, nếu như âm, ở đây, không phải đổi chỗ mỗi lần, nó sẽ đạt tới chính xác tương tự đối với dương (mỗi lần như vậy nó lại nằm ở vị trí số chẵn thay vì vị trí số lẽ mà nó đạt tới). Người ta tìm kiếm một cách vô ích vấn đề được đặt ra này bởi nhà bình chú, nó chỉ được sáng tỏ khi nó liên kết bằng hành động với một vấn đề cơ bản không ngừng ám ảnh suy tư: chuẩn mực nào đồng ý cho kẻ đồng hành của dương, biết rằng nó được đặt ra từ sự xuất phát mà dương là một tác tố hoàn toàn tích cực? Trong thực tế, tạo thành một song đề: nếu chuẩn mực này của kẻ đồng hành là tích cực giống như kẻ đồng hành của dương, âm sẽ hòa trộn khi đó với nó và xóa đi tính chất hai mặt; và trái lại, nếu nó là tiêu cực, âm không thể sử dụng cho người đồng hành với dương (khi bước vào trong quan hệ phối kết có lợi cho nó) và xóa bỏ khi ấy mối quan hệ tương hỗ. Cho nên, tính chất hai mặt mà mối quan hệ tương hỗ là hai điều kiện mang tính khả thể đối cực. Cho nên, đã đến lúc phải định nghĩa về sự khác biệt tương đối giữa hai quẻ này. Vương Phu Chi nói, dương lộ ra bản thân nó trong mọi ý nghĩa để khởi động thực tại và làm cho thực tại hoạt động, và hoạt động của nó mỗi lần lại thêm hiệu quả, bởi vậy nó là hằng số thích đáng. Cũng như vậy không thể nói, trong trường hợp này là “hoàn thành” hay “chưa hoàn thành” bởi vì nó đề cập ở đây một sự chuyển dời (khi thì cái đó bắt đầu, khi thì cái đó chưa bắt đầu) vốn không đặt ra với nó (sự hoàn thành tự nó được dựa trên khả năng của sự chưa hoàn thành, hoặc một sự chưa hoàn thành trước đó, khi đó dương luôn luôn nằm trong quan hệ với tính hiện tại hoàn hảo trong tiến trình vận hành). Trong trường hợp của âm, trái lại, nếu dương không “thâm nhập” vào để “kích thích” nó, cái cuối cùng này sẽ hướng tới sa lầy và “không còn khả năng cung cấp” cho cội nguồn các sinh thể. Giải pháp cho song đề trước đó, do vậy, là âm phải trở thành tích cực nhờ dương. Cho nên, từ quẻ này, dương bao phủ âm từ phía trên và “không lay động” để làm nó lớn lên” (so sánh trường hợp tương đồng của quẻ được rút ra từ quẻ này và tại đây mọi hào dương là ở bên trên, mọi hào âm ở bên dưới), vì vậy, âm trong các điều kiện này, không thể bắt đầu “sự vượt qua” của nó được.

Như vậy, khi đề cập đến sự hoàn thành hay chưa hoàn thành, logic cơ bản là như nhau; và sự sai lệch khuynh hướng, do đó, được tìm ra, ở quẻ này lẫn quẻ khác; trong quẻ “hoàn thành”, chính dương bị phân mảnh để có thể ngăn cản sự trèo lên của âm; trong quẻ chưa hoàn thành, chính âm  bị phân mảnh để có thể đạt tới đỉnh (như hào từ đã chỉ ra: “không có sự tiếp tục không được phép đi tới đầu” (bất tục chung). Trong hai trường hợp này, thực tại là khởi đầu, với các phần ngang nhau, giữa các tác tố đối lập của chúng, vốn không so sánh được, Vương Phu Chi nhấn mạnh, với sự quản lý khéo léo toàn bộ thiên hạ, và hiện thực trở nên có thể can thiệp được. Tương tự, cả hai quẻ đều mang lại hình ảnh hết sức hỗn độn (đồng thời vừa “pha tạp” vừa “vô trật tự”), từ đó rút ra một triển vọng về toàn thể được soi sáng ngược với sự tổ chức của cuốn sách: ngay từ đầu Điển thư, hai quẻ đầu, bằng sự “thuần khiết” của chúng (hoặc toàn âm, hoặc toàn dương) hiện thân thành tột đỉnh của sự “dễ dãi” và “đơn giản” (Càn Khôn chi dịch giảm) theo đó chúng có thể triển khai mọi quá trình; theo cách nói của cuốn sách, các quẻ “hoàn thành” và “chưa hoàn thành” thể hiện sự trái ngược, bởi sự chồng chéo cực đại của các hào của chúng, một giai đoạn cực kỳ “phức tạp” và tại đó “khó khăn” (hiểm trở chi cực chí) là hết sức lớn lao.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về Kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Mối quan hệ biện chứng giữa một số lợi ích chủ yếu với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội – Phần II


Trong hoàn ảnh của nước ta hiện nay, mặc dù công cuộc đổi mới đã làm tăng mức sống của hầu hết các gia đình, nhưng với thực trạng chỉ có 10 – 15% số hộ gia đình khá giả, rõ ràng, đa số nhân dân ta mới ở mức sống nghèo đói và tạm đủ ăn. Đủ ăn nghĩa là, đời sống kinh tế của các gia đình ấy còn hết sức bấp bênh, chưa có tích lũy bảo đảm, chỉ cần một sự rủi ro nhỏ các gia đình đủ ăn này sẽ dễ dàng rơi xuống nghèo đói. Vì thế, các lợi ích vật chất đang là mối qua tâm trước hết, đang đóng vai trò quan trọng nhất, bởi lẽ, các nhu cầu tồn tại tối thiểu đang là những nhu cầu cấp bách nhất của đa số nhân dân ta hiện nay.

Như vậy, lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế của các cá nhân, gia đình, cũng như của xã hội đang trở thành động lực mạnh mẽ nhất thôi thúc mọi người hành động. Sự hoạt động của mỗi cá nhân, mỗi gia đình vì mục đích hết sức cụ thể là để làm sao nhanh chóng thoát khỏi được sự nghèo khổ của bản thân mình, thế nhưng nó cũng sẽ tạo nên những xu hướng vận động nhất định của xã hội. Rõ ràng, trong giai đoạn hiện nay, mục đích của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, các nhóm xã hội về cơ bản là phù hợp với mục đích chung của đất nước. Nghĩa là, các hoạt động này có thể là không tự giác nhưng đều tập trung hướng vào đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu hiện tại, đều hướng vào một mục đích chung là dân giầu nước mạnh.

Thực tế cuộc sống cho thấy, các lợi ích kinh tế, các lợi ích vật chất đang chi phối hết sức mạnh mẽ cả nhận thức và hành động của các cá nhân và cộng đồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với hoạt động căn bản của xã hội ta trong giai đoạn hiện nay là lao động sản xuất và kinh doanh. Sự thay đổi nhu cầu và lợi ích đã dẫn đến sự thay đổi hoạt động và ngược lại.

Thế nhưng, mục đích của chúng ta không phải chỉ là dân giàu nước mạnh, chúng ta mong muốn xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa hiện thực. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và gia đình hạnh phúc. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, mặc dù tính tất yếu kinh tế đang chi phối mạnh mẽ nhận thức và hành động của các cá nhân cũng như toàn xã hội nhưng Đảng và Chính phủ ta chủ trương không chỉ tập trung phát triển kinh tế một cách phiến diện, mà đang chủ động tập trung đầu tư phát triển văn hóa – xã hội.

Quan điểm này rất phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Khác với con người của một số xã hội phương Tây, nơi chủ nghĩa cá nhân được đề cao, nơi các lợi ích vật chất của các cá nhân luôn là tối tượng, ở con người Việt Nam, bên cạnh niềm khao khát có một cuộc sống vật chất đầy đủ là lòng mong mỏi có một quan hệ gia đình đầm ấm, anh em và cộng đồng hòa thuận, thân ái. Nhân tố tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng chi phối hết sức mạnh mẽ các ham muốn cũng như các hành vi ứng xử của con người Việt Nam.

Qua tình hình thực tế ở các nước tư bản đã phát triển ta có thể thấy ở đó mặc dù đời sống vật chất của con người đã đạt tới một mức độ cao, nhưng nhìn chung, các vấn đề văn hóa – xã hội ở không ít nước, chẳng hạn, các vấn đề hôn nhân và gia đình, vấn đề người già, tình trạng mại dâm, tội phạm, các vấn đề môi trường… đang hết sức nhức nhối. Có thể nói, lĩnh vực văn hóa – xã hội ở đó đang ở trong tình trạng khủng hoảng hết sức gay gắt. Điều đó chứng tỏ, không phải cứ có đời sống vật chất dư thừa thì con người sẽ hạnh phúc, xã hội sẽ tốt đẹp. Nhiều khi lại ngược lại, sự ham mê đời sống vật chất, đời sống tiêu dùng sẽ dẫn đến những lệch lạc, những dị tật trong quan hệ giữa con người và con người.

Trong giai đoạn hiện nay, ở nước ta, cơ chế thị trường và chính sách mở cửa đang tác động hết sức mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Về mặt kinh tế, đường lối đổi mới đang từng ngày từng giờ nâng cao mức sống của mỗi gia đình, tạo ra một sự tăng trưởng kinh tế rất đáng phấn khởi trong toàn xã hội (Mức độ tăng trưởng kinh tế trong mấy năm qua là: 1991: 6%; 1992: 8,6%; 1993: 8,4%; 1994: 8,8%; 1995: 9,5%; 1996: 9,34% và 1997: 9%).

Về mặt văn hóa – tinh thần cũng đang diễn ra một sự chuyển đổi không chỉ phương thức sinh hoạt mà cả nội dung sinh hoạt văn hóa – tinh thần mang tính tự phát. Đó trước hết là sự thay đổi phương thức sinh hoạt văn hóa – tinh thần từ mô hình hành chính bao cấp sang phương thức sinh hoạt mang tính hộ gia đình, tầng lớp xã hội (giàu – nghèo, nông thôn – thành thị, lao động chân tay – lao động trí óc…) và mang tính cộng đồng quần cư. Sở dĩ có sự thay đổi này là do mô hình sinh hoạt văn hóa – tinht hần theo cơ chế hành chính bao cấp trước đây đã tan rã và đang có sự phục hồi các sinh hoạt theo mô hình cộng đồng làng – xã truyền thống cũng như đang có sự phát triển mạnh mẽ các phương tiện nghe nhìn hiện đại.

Tuy nhiên, cùng với những chuyển biến tích cực trên đây, trong xã hội hình như cũng đang diễn ra một sự khủng hoảng giá trị nào đó, nhất là đối với lớp trẻ. Điều này được biểu hiện rõ rệt ở sự xuất hiện nhiều hiện tượng thuộc về tệ nạn xã hội mà nhiều chục năm qua trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa ta đã khắc phục được như: trẻ em lang thang, mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, tội phạm, buôn lậu, tham nhũng… Những hiện tượng này có chiều hướng ngày càng gia tăng và đang làm vẩn đục, ô nhiễm đời sống xã hội ta.

Hiện trạng đó đang đặt chúng ta trước một yêu cầu cấp bách: cùng với các chính sách kinh tế mới cần sớm có những chính sách cụ thể, sát hợp cũng như có những biện pháp kịp thời trong giám sát và thực thi pháp luật nhằm quản lý và thúc đẩy sự phát triển văn hóa – xã hội theo hướng lành mạnh, tiến bộ. Chúng ta không thể dừng lại ở các chiến lược phát triển văn hóa – xã hội mang tính chất định hướng, mà cần cụ thể hóa chiến lược đó cho từng nơi, từng lúc nhằm tổ chức lại, điều chỉnh và hạn chế những lệch lạc và tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa – xã hội mà cơ chế thị trường làm nảy sinh. Ở đây thiết nghĩ, luật pháp sẽ đóng vai trò quan trọng nhất. Giáo dục, hướng dẫn, điều chỉnh và kiểm soát mọi người sống và làm việc theo đúng pháp luật hiện hành chắc chắn sẽ là biện pháp thích hợp nhất trong giai đoạn hiện nay.

II/ Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích chung và lợi ích riêng

Trong các quan hệ xã hội, lợi ích đóng vai trò là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất thúc đẩy con người hoạt động. Thế nhưng, mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội khác nhau lại theo đuổi những lợi ích riêng của mình, từ đó mà lôi kéo xã hội vận động theo những xu hướng khác nhau. Vậy làm thế nào để tạo lập nên một xu hướng vận động chung của toàn xã hội theo hướng chúng ta mong muốn? Giải quyết chúng một cách đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng sẽ góp phần trả lời cho câu hỏi này.

Lợi ích chỉ tồn tại trong đời sống xã hội và luôn gắn liền với các chủ thể nhất định. Các chủ thể này có thể là các cá nhân riêng lẻ cũng có thể là các nhóm xã hội hay cả một cộng đồng xã hội. So với từng cá nhân riêng lẻ thì nhóm là một tập thể, một “cái chung”, trong đó mỗi cá nhân riêng lẻ chỉ là một “cái riêng”, một bộ phận hợp thành của nó. Tuy nhiên, nếu so với cả cộng đồng xã hội thì nhóm lại là một “cái riêng”, một bộ phận của “cái chung” lớn hơn là cả cộng đồng xã hội. Vì vậy, sự phân biệt chung hay riêng ở đây chỉ mang tính tương đối và chúng chỉ có nghĩa là chung hay riêng trong một tương quan rất cụ thể với nhau.

Nếu ký hiệu một cộng đồng xã hội nhất định (cộng đồng đó có thể là một nhóm, một tập thể, một giai cấp, một dân tộc,… hay toàn xã hội) là A và các bộ phận hợp thành của nó (bộ phận hợp thành ấy có thể là một cá nhân trong một nhóm nhất định, một nhóm trong một tập thể gồm nhiều nhóm,…) là A1 thì lợi ích riêng là lợi ích gắn liền với từng chủ thể A1 và hướng vào thỏa mãn nhu cầu riêng của chính A1đó, còn lợi ích chung là lợi ích gắn liền với chủ thể A và hướng vào thỏa mãn các nhu cầu chung của tất cả các A1 hợp thành A.

Có thể diễn đạt theo cách khác là, lợi ích riêng là những lợi ích gắn liền với từng chủ thể cụ thể và dùng để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư cụ thể của chủ thể đó, còn lợi ích chung là những lợi ích của một nhóm chủ thể hay của cả một cộng đồng xã hội nhất định và dùng để thảo mãn những nhu cầu chung hay cả một hệ thống nhu cầu của các chủ thể.

Để thuận tiện, ở đây chúng tôi chỉ xem xét mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích riêng và lợi ích chung khi các lợi ích này có cùng một tính chất, một bản chất, hay nói chung hơn, là nằm trên cùng một tuyến, mặt khác, sẽ chỉ xem xét một trường hợp đại diện rất điển hình của mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích riêng của cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng mà cá nhân đó là thành viên. Trong trường hợp đó, cơ sở để xem xét mối quan hệ giữa lợi ích chung (của cộng đồng) và lợi ích riêng (của cá nhân) là sự tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố và hệ thống trong cấu trúc hệ thống của cơ thể xã hội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.

Lời nói gián tiếp, lời nói trực tiếp và các biến thể của chúng – Phần II


Xu hướng phân tích của lời nói gián tiếp được thể hiện trước hết ở chỗ, tất cả các yếu tố tình cảmcảm xúc, do không được thể hiện trong nội dung mà qua hình thức của phát ngôn, không giữ nguyên hình thức khi di chuyển vào lời nói gián tiếp. Chúng được phiên dịch từ hình thức lời nói thành nội dung của nó, và chỉ dưới dạng này chúng mới được đưa vào cấu trúc gián tiếp hoặc thậm chí được chuyển vào mệnh đề chính, như là sự phát triển bổ nghĩa cho động từ dẫn, động từ mang lời nói vào.

Ví dụ, lời nói trực tiếp:

“Tốt quá! Làm ra làm!”

không thể truyền đạt thông qua lời nói gián tiếp như sau:

“Anh ta nói rằng tốt quá và rằng làm ra làm!”

hay là:

“Anh ta nói rằng điều này rất tốt và rằng việc này thực sự làm ra làm »

hoặc:

« Anh ta hân hoan nói rằng điều này tốt và rằng điều nay thực sự làm xong ».

Tất cả những sự rút gọn, nói tắt… có thể có trong lời nói trực tiếp dựa trên nền tảng hiệu ứng tình cảm đều không thể sử dụng được trong xu hướng phân tích của lời nói gián tiếp và chúng chỉ có thể đi vào cấu trúc của lời nói gián tiếp dưới dạng triển khai và đầy đủ. Trong ví dụ của Peshkovski, tiếng kêu của con lừa: « Được đấy » không thể chuyển trực tiếp vào lời nói gián tiếp:

« Lừa nói rằng được đấy… »

mà chỉ có thể thành:

« Nó nói rằng hát được đấy… »

hoặc thậm chí là:

« Nó nói rằng chim sơn ca hát được đấy… ».

Câu « Không nói ngoa » cũng vậy, không thể đưa trực tiếp vào lời nói gián tiếp. Cũng vậy, câu « thật tiếc, chưa quen »… không thể chuyển thành « Nhưng thật đáng tiếc, rằng chưa quen »…

Hiển nhiên, mọi sự biểu đạt ý định của người nói mang tính cấu trúc và cấu trúctrọng âm đều không thể đưa nguyên dạng vào lời nói gián tiếp. Do đó, các đặc trưng cấu trúc và trọng âm của câu nghi vấn, cảm thán và mệnh lệnh không thể giữ nguyên trong lời nói gián tiếp, mà chỉ có nội dung của nó được lưu lại.

Lời nói gián tiếp « nghe » lời kẻ khác theo cách khác, tiếp nhận nó một cách tích cực và, trong khi truyền đạt nó, cụ thể hóa những yếu tố và sắc thái khác so với các hình mẫu khác. Vì vậy, cũng không thể chuyển dịch trực tiếp, chuyển dịch từng từ của phát ngôn từ các hình mẫu khác thành gián tiếp. Việc chuyển dịch như thế chỉ có thể chấp nhận được trong những trường hợp, khi phát ngôn trực tiếp tự nó đã được cấu tạo theo một cách ít nhiều phân tích, tất nhiên trong chừng mực có thể của tính phân tích của lời nói trực tiếp. Phân tích – đó là linh hồn của lời nói gián tiếp.

Nghiên cứu kỹ lưỡng các « thí nghiệm » của Peshkovski, chúng ta nhận thấy rằng sắc thái từ vựng của những từ như « được đấy », « nét » – không thật hài hòa với linh hồn phân tích của lời nói gián tiếp. Các từ này quá nhiều màu sắc ; chúng vẽ nên kiểu cách ngôn ngữ (cá nhân hoặc điển hình) của nhân vậtcon lừa, chứ không chỉ truyền đạt chính xác ý nghĩa khách thể của phát ngôn. Ta có thể muốn thay thế chúng bởi các từ có nghĩa tương đương (« tốt », « hoàn hảo »), hoặc để nguyên những « từ phụ » này trong một cấu trúc gián tiếp, trong dấu ngoặc kép. Và cả trong việc đọc thành tiếng một lời nói gián tiếp, chúng ta cũng phát âm những từ này khác đi một chút, dường như bằng ngữ điệu của mình thông báo rằng những sự biểu đạt này được lấy trực tiếp từ lời nói của nhân vật, rằng chúng ta tự tác mình ra khỏi chúng.

Nhưng ở đây chúng ta đến sát sự cần thiết phải phân biệt hai hướng của xu hướng phân tích lời nói gián tiếp, và tương ứng là hai biến thể chính của nó.

Thật vậy, sự phân tích cấu trúc gián tiếp có thể đi theo hai hướng, hoặc, nói chính xác hơn, có thể quy về hai đối tượng khác nhau căn bản. Phát ngôn của kẻ khác có thể được tiếp nhận như là một lập trường ngữ nghĩa nhất định của người nói, và trong trường hợp này bằng cách sử dụng cấu trúc gián tiếp, thành phần khách thể chính xác (điều người nói đã nói) được truyền đạt lại một cách phân tích. Như vậy, trong trường hợp của chúng ta, sự truyền đạt chính xác ý nghĩa khách thể của sự đánh giá của con lừa về tiếng hát của sơn ca là có thể. Nhưng chúng ta cũng có thể cảm nhận và truyền đạt một cách phân tích phát ngôn của kẻ khác như là một sự biểu đạt, thể hiện những đặc trưng không chỉ của chủ đề lời nói (hoặc thậm chí chủ yếu không phải là chủ đề của lời nói), mà còn về bản thân người nói : nó thể hiện cung cách nói cá nhân hoặc theo dạng điển hình (hay cả hai) cùng trạng thái tâm hồn của anh ta, được thể hiện không phải trong nội dung, mà trong hình thức lời nói (như : sự lắp bắp, sự sắp đặt các từ, ngữ điệu biểu cảm…) ; khả năng hoặc không có khả năng của anh ta…

Hai đối tượng của sự truyền đạt gián tiếp có phân tích nói trên khác nhau sâu sắc và có tính nguyên tắc. Trong một trường hợp, ý nghĩa được chia nhỏ thành các yếu tố ngữ nghĩa khách thể cấu thành, trong trường hợp kia – phát ngôn tự thân nó dường như phân tách ra thành những vỉa phong cách – ngôn từ. Giới hạn logic của xu hướng thứ hai dường như phải là sự phân tích phong cách – ngôn ngữ học. Tuy nhiên, đồng thời với sự phân tích dường như là về phong cách như vậy, ở loại hình truyền đạt gián tiếp này còn diễn ra sự phân tích khách thể lời kẻ khác, và kết quả là sự phân biệt ý nghĩa khách thể và lớp vỏ ngôn từ hiện thân của nó.

Chúng ta hãy gọi biến thể thứ nhất của hình mẫu lời nói gián tiếp là biến thể phân tích – khách thể, biến thể thứ hai – là biến thể phân tích – ngôn từ. Biến thể phân tích – khách thể tiếp nhận lời kẻ khác ở bình diện thuần túy chủ đề, còn tất cả những gì không có ý nghĩa chủ đề, nó đơn giản là không nghe thấy, không nắm bắt được. Vẫn những khía cạnh ấy của cấu trúc hình thức – ngôn từ, những khía cạnh có ý nghĩa chủ đề, tức là cần thiết để hiểu lập trường ý nghĩa của người nói, được biến thể của chúng ta truyền đạt lại về mặt chủ đề (chẳng hạn, trong ví dụ của chúng ta, cấu trúc cảm thán và biểu hiện của sự thán phục có thể được truyền đạt bằng từ « rất »), hoặc được đưa trực tiếp vào ngữ cảnh tác giả như là đặc trưng của tác giả.

Biến thể phân tích – khách thể của lời nói gián tiếp

Biến thể phân tích – khách thể mở ra những cơ hội rộng lớn cho các xu hướng hồi đáp và chú giải của lời tác giả, trong khi vẫn bảo tồn một khoảng cách rõ ràng nghiêm ngặt giữa lời tác giả và lời kẻ khác. Nhờ vậy, nó là một công cụ tuyệt vời cho phong cách tuyến tính của sự truyền đạt lời kẻ khác. Biến thể này, không tranh cãi gì nữa, có đặc điểm cố hữu là xu hướng chủ đề hóa phát ngôn kẻ khác, trong khi vẫn giữ nguyên tính cố kết và độc lập của nó, không hẳn chỉ về cấu trúc mà hơn thế nữa là về ý nghĩa (chúng ta đã thấy cấu trúc diễn cảm bên trong nó được chủ đề hóa như thế nào). Tất nhiên, điều này chỉ đạt được với cái giá là sự phi cá nhân hóa lời nói được truyền đạt.

Bất cứ sự phát triển đủ rộng lớn và căn bản nào của biến thể phân tích – khách thể cũng chỉ có thể có được trong một ngữ cảnh tác giả ít nhiều duy lý và giáo điều, trong đó, trong mọi trường hợp, trọng âm chú ý là ngữ nghĩa, nơi mà tác giả, bằng ngôn từ của chính mình, nhân danh chính mình, giữ một lập trường ngữ nghĩa nào đó. Ở đâu thiếu điều này, ở đâu lời tác giả tự nó đã nhiều mắc sắc và được vật hóa, hay ở đâu một người kể chuyện thuộc một kiểu tương ứng được đưa vào, nơi đó biến thể này chỉ có thể có một ý nghĩa thứ cấp, thoáng qua (như ở Gogol, Dostoievski và những tác giả khác).

Trong tiếng Nga, biến thể này nói chung kém phát triển. Ta chủ yếu gặp chúng trong các ngữ cảnh nhận thức và tu từ (khoa học, triết học, chính trị…), trong đó cần phải diễn giải các ý kiến của người khác về chủ đề, so sánh và khu biệt chúng. Trong lời nói nghệ thuật, nó rất hiếm gặp. Nó chỉ có ý nghĩa như trên ở những tác giả không chịu từ bỏ lời nói của mình về định hướng và trọng lượng ngữ nghĩa, chẳng hạn như Turgenev và đặc biệt là Tolstoi. Nhưng cả ở đây chúng ta cũng không tìm thấy những gì chúng ta thấy trong tiếng Pháp và tiếng Đức.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Mối quan hệ biện chứng giữa một số lợi ích chủ yếu với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội – Phần I


Lợi ích chỉ xuất hiện và tồn tại trong đời sống xã hội. Nhưng các quan hệ giữa con người và con người vô cùng phong phú và đa dạng. Do vậy, các lợi ích và các mối quan hệ giữa chúng cũng được biểu hiện ra hết sức phong phú và đa dạng. Vì vậy, để khảo sát sự hiện diện của chúng, ta có thể phân loại các lợi ích theo một số cơ sở sau: theo lĩnh vực của đời sống xã hội ta có: lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; theo tính chất của chủ thể ta có: lợi ích của cá nhân và lợi ích của cộng đồng (trong đó có lợi ích tập thể, lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, lợi ích của toàn xã hội…) hay lợi ích riêng và lợi ích chung; theo thời gian tồn tại của lợi ích: lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài; theo tính chất của các biện pháp thực hiện lợi ích: lợi ích chính đáng và lợi ích không chính đáng…

Sự phân loại lợi ích phụ thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau và theo các khía cạnh khác nhau. Ở đây chỉ xin trình bày mối quan hệ qua lại giữa một số loại lợi ích chủ yếu.

I/ Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần

Con người là một sinh vật – xã hội. Do đó, để tồn tại và phát triển con người không những phải thực hiện những nhu cầu vật chất mà cả những nhu cầu tinh thần. Lợi ích với tư cách là các phương thức, phương tiện hướng vào sự thỏa mãn các nhu cầu của con người trong đời sống xã hội. Vì thế, các lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần cũng gắn bó với nhau hết sức chặt chẽ trong sự hình thành và phát triển hai mặt thống nhất của con người.

Lợi ích vật chất là những lợi ích dùng để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển đời sống sinh học của con người. Còn, lợi ích tinh thần là những lợi ích dùng để thỏa mãn các nhu cầu tinh thần, nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển đời sống tinh thần của con người. Do sự thống nhất giữa hai mặt sinh học và xã hội nơi bản thân con người mà có thể nói rằng, các lợi ích vật chất có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc bảo đảm sự tồn tại của con người còn lợi ích tinh thần lại có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc phát triển nhân tính và văn hóa của con người và xã hội loài người.

Cũng bởi sự thống nhất giữa hai mặt sinh học và xã hội nơi bản thân con người nên ta không thể khẳng định một cách chung chung rằng giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, cái nào quan trọng hơn cái nào, hay lợi ích nào có ý nghĩa động lực mạnh mẽ hơn lợi ích nào. Để khẳng định những điều đó cần phải xem xét tương quan giữa chúng trong sự tồn tại hiện thực ở những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Nói chung, lợi ích nào đang hướng vào thỏa mãn những nhu cầu cấp bách nhất của chủ thể hoạt động thì nó trở thành quan trọng nhất và cũng đóng vai trò động lực mạnh mẽ hơn cả.

Chẳng hạn, trong mấy chục năm qua, mục đích giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước đã lôi cuốn cả dân tộc ta lao vào hành động. Mục đích đó là sự phản ánh nhu cầu và lợi ích cấp bách của cả dân tộc trong suốt giai đoạn lịch sử ấy. Về mặt xã hội, rõ ràng đó là những nhu cầu và lợi ích mang tính chất chính trị và tinh thần. Nhưng, như thực tế lịch sử đã chứngt ỏ chúng là nguồn động lực vô cùng mạnh mẽ, tạo nên một sức mạnh tổng hợp kỳ diệu của cả dân tộc ta. Vào thời kỳ ấy, lẽ sống của mỗi người Việt Nam là “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

Sau năm 1975, những nhu cầu và lợi ích cấp bách ấy đã được thỏa mãn. Lịch sử đã thay đổi. Con người đã thay đổi. Và, những lợi ích trước đây ở vị trí thứ yếu, bị lu mờ thì nay lại nổi lên là cấp bách và ở vị trí số một. Đồng thời, những chuẩn mực giá trị của xã hội cũng thay đổi. Nếu trước đây những giá trị đạo đức – tinh thần, những giá trị tập thể và phẩm chất tập thể của con người được tôn vinh và đề cao thì nay, trong cơ chế thị trường, những giá trị vật chất, những phẩm chất cá nhân và tự chủ lại hấp dẫn mọi người.

Thực là, cuộc sống như một dòng sông chảy liên tục, nó diễn ra chẳng theo ý chí của một cá nhân riêng lẻ nào nhưng hầu như lại phú hợp với đa số. Cứ thế, các quan hệ tất yếu quy định  đời sống con người như thể có bàn tay định mệnh dẫu rằng nó chính là kết quả của sự hoạt động của chính mọi người. Trong quá trình sinh sống của xã hội loài người sự chuyển đổi vị trí của các lợi ích của họ có lẽ là một sự biến thiên không ngừng.

Dĩ nhiên, trong tính tổng thể của sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người thì, xét đến cùng, lợi ích vật chất bao giờ cũng quan trọng hơn lợi ích tinh thần bởi lẽ nó trực tiếp hướng vào thỏa mãn các nhu cầu mang tính chất quyết định sự tồn tại cái cơ chất mà trên cơ sở đó cái tinh thần nảy nở và phát triển. Đúng như Karl Marx đã từng chỉ rõ, “Con người trước hết cần phải ăn, uống, ở và mặc đã, rồi mới có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…”.

Lợi ích vật chất do nhằm vào thỏa mãn những nhu cầu tồn tại thiết yếu của con người nên đối với những xã hội mới hoặc đang phát triển nó bao giờ cũng có ý nghĩa động lực mạnh mẽ nhất, có tác động chi phối những hoạt động căn bản của đời sống xã hội. Thế nhưng, một khi cả xã hội đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói, đời sống vật chất của các gia đình và xã hội nhìn chung đã ở mức cao thì lợi ích tinh thần sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn. Đó là do các nhu cầu vật chất đã được thỏa mãn ở một mức độ nhất định rồi nên tính chất cấp bách của nó không còn nữa và khi đó lại nảy sinh những nhu cầu mới – các nhu cầu tinh thần. Và các nhu cầu này lại trở nên là nhu cầu cấp bách hơn. Vì vậy, các lợi ích hướng vào thực hiện các nhu cầu này lại trở nên quan trọng hơn cả và mang ý nghĩa động lực mạnh mẽ hơn cả. Chẳng hạn, ở nước ta iện nay những gia đình có đời sống kinh tế ổn định, đủ ăn và có một chút dư thừa thì thường họ đầu tư cho con cái học hành, cho chăm sóc sức khỏe cũng như mua sắm các phương tiện nghe nhìn (tivi, radio, cassette…) nhằm thỏa mãn đời sống tinh thần của các thành viên gia đình.

Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, ta có thể thấy, quá trình thực hiện các lợi ích vật chất là từng bước tạo cơ sở và điều kiện để thực hiện các lợi ích tinh thần. Nhưng, như đã nói ở trên, các lợi ích tinh thần có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người. Chính nó tạo nên một môi trường sinh sống lành mạnh, con người được bình yên lao động và hưởng thụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu của mình. Chắc chắn là không ai có thể sống giầu sang phú quý và hạnh phúc trong một môi trường bất ổn, tính mạng luôn bị đe dọa.

Ở một khía cạnh khác, ta sẽ thấy, thỏa mãn những lợi ích tinh thần ở những trình độ nhất định sẽ có tác động đến chủ thể trong việc hạn chế hay tăng cường những ham muốn vật chất theo những chuẩn mực giá trị nhân văn và tiến bộ của xã hội loài người. Nghĩa là, thực hiện các lợi ích tinh thần, nâng cao đời sống văn hóa sẽ tác động một cách tích cực đến quá trình nảy sinh và thực hiện các lợi ích vật chất theo xu hướng tiến bộ và phát triển xã hội văn minh.

Như vậy, trong sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân cũng như của cả xã hội, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau. Có thể nói, các lợi ích vật chất hướng vào thỏa mãn các nhu cầu về cuộc sống đầy đủ và ấm no của con người, còn các lợi ích tinh thần lại hướng vào xây dựng nhân cách, xây dựng một cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc của họ.

Dĩ nhiên, nếu xét đến cùng thì các lợi ích vật chất đóng vai trò quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi ích tinh thần. Và, thực hiện các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới trong sự nảy sinh cũng như làm xuất hiện những phương thức thực hiện các lợi ích vật chất mới.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.