Thời loạn lạc, chiến tranh nối tiếp chiến tranh – Phần I


1/ Hỗn loạn

Nước Nga gặp đại họa, phương Tây hoan hỉ

Năm 1991, vì chiến tranh thông tin – tâm lý mà Liên Xô – một quốc gia hùng mạnh, một trong hai siêu cường của thế giới đã tan rã và chấm dứt tồn tại, bị chia thành 15 nước do Mỹ và phương Tây cai quản. Nhưng, điều cốt yếu nhất có lẽ là sự thay đổi căn bản ý thức của người dân Nga, chuyện chưa từng xảy ra trong suốt bề dày lịch sử nước Nga. Các sự kiện năm 1917 và 1991 có sự khác nhau căn bản. Năm 1917 và tiếp đó, tâm trạng dân Nga giữ nguyên không thay đổi, kể cả ý thức của họ, điều có quan hệ chặt chẽ với chính thống giáo từ ngày lập nước. CNCS Nga là người kế thừa các giá trị đó xét về mặt cộng đồng, tính tập thể của các chuẩn mực đạo đức. Năm 1991 đúc kết sự cải cách triệt để ý thức xã hội từ chủ nghĩa tập thể sang chủ nghĩa cá nhân, sang lý tưởng xã hội tiêu dùng, nơi đồng tiền là Chúa trời duy nhất và cái tôi là tất cả.

Kết quả sự cải cách ý thức xã hội là mất phương hướng, đào ngũ, mất khả năng đối kháng. Từng người chết trong cô đơn: tuyệt thực, tự tử, chết vì bần cùng, tuyệt vọng. R. Kocolapov nhận xét sự việc như sau:

Thảm họa lớn nhất của nước Nga hiện nay không phải chỉ là khủng hoảng mọi mặt kéo dài – từ chính trị đến kinh tế, từ xã hội đến đạo đức, mà cả ở chỗ, nước Nga không còn sống, hay đúng hơn, bị ép sống không bằng cái đầu cảu mình. 13 người Mỹ sang Nga sau chính biến tháng Tám 1991 là các chuyên gia nước ngoài đạo diễn sự kiện tháng Mười Đen năm 1993: 6 người Mỹ thay chúng ta chọn cho ta Tổng thống từ 16 tháng 6 đến 3 tháng 7; IMF áp đặt chuyên chế có hệ thống cho chúng ta – đó là dấu hiệu mất chủ quyền của ta trong cái chủ yếu và cơ bản nhất – khả năng tự sắp xếp công việc theo ý mình”.

Nói cách khác, chính quyền bị lệ thuộc vào phương Tây, tuy người cầm lái vẫn là những kẻ từng cầm lái dưới chính quyền Xô Viết: các nhà tư tưởng Đảng Cộng sản Liên Xô và bộ sậu Đảng dị dạng. Có điều giờ đây họ biến chính quyền thành của riêng và dựa vào ngoại bang. Nga trở thành kẻ được phương Tây bảo hộ. Mọi quyết định quan trọng đều phải báo cáo trước hết cho Mỹ. Giống như thời phong kiến loạn lạc, khi các quý tộc Nga phải đi cầu cạnh ngoại bang, giờ đây, các Tổng thống và ứng cử viên Tổng thống các nước cộng hòa cũ sang cầu cạnh Mỹ.

Nhưng té ra chiến tranh thông tin – tâm lý chưa đến hồi kết, tuy sắc lệnh 20/1 của HĐANQG Mỹ “Mục tiêu của Mỹ đối với Nga” ký ngày 18 tháng 8 năm 1948 đã được hoàn thành trọn vẹn. Tạp chí “Tri thức – Quyền lực” đăng những lời “hay” của các lãnh đạo phương Tây đúc kết chiến tranh tâm lý chống Liên Xô;

Thông điệp của Tổng thống Mỹ Clinton “Tình hình quốc gia” ngày 7 tháng 2 năm 1997 viết:

Để chuẩn bị cho Mỹ bước vào thế kỷ XXI, chúng ta phải học được cách điều khiển các thế lực quyết định sự thay đổi của thế giới, đảm bảo cho nước Mỹ lãnh đạo thế giới lâu dài, bền vững. 50 năm trước, Mỹ có tầm nhìn xa khi thành lập các Viện giúp Mỹ thắng cuộc chiến tranh lạnh, vượt qua nhiều trở ngại chia cắt thế giới mà tổ tiên chúng ta từng sinh sống…”.

Ngoại trưởng Baker:

Chúng ta đã bỏ ra hàng ngàn tỷ USD trong vòng 40 năm để giành chiến thắng trong chiến tranh lạnh với nước Nga”.

Giám đốc Trung tâm chính trị và an ninh Gafney:

Thắng lợi của Mỹ trong chiến tranh lạnh là kết quả của chiến lược được hoạch định trước, đa dạng nhằm tiêu diệt Liên Xô. Các sự kiện lịch sử đã được định trước bởi chiến lược của Reagan. Cuối cùng, chiến tranh ngầm chống Liên Xô đã tạo điều kiện đánh bại Liên Xô”.

Thư ký của Ủy ban ba bên Brzezinzski:

Nga là cường quốc bại trận. Nga đã thua cuộc chiến toàn cục. Nếu nói “không phải Nga mà là Liên Xô” chỉ là trốn tránh sự thật. Đó là nước Nga được gọi bằng Liên Xô. Nga đã thách thức Mỹ. Nga đã thua cuộc. Giờ đây không cần ảo tưởng về nước Nga cường quốc. Cần từ bỏ cách tư duy đó… Nga sẽ bị chặt nhỏ và bị đô hộ”.

Tổng thống Nixon:

Phương Tây phải làm hết sức mình,… nếu không Mỹ và phương Tây dễ bỏ tuột chiến thắng trong chiến tranh lạnh, sẽ bị đánh bại… Nga là chìa khóa của thắng lợi. Chính tại Nga cuộc chiến cuối cùng của chiến tranh lạnh sẽ thắng hay thua. Đó là trận cuối”.

Thành viên Ủy ban ba bên, lãnh đạo “Knight Bright” Kissinger:

Rõ ràng, Liên Xô tan rã là sự kiện trọng đại nhất của thời đại và chính quyền Bush thể hiện tài nghệ tuyệt vời trong vụ này… Tôi thích một nước Nga hỗn loạn, chìm trong nội chiến hơn là nhìn thấy nước Nga tái thống nhất thành một quốc gia trung ương vững chắc”.

Thủ tướng Anh John Major:

Nhiệm vụ của Nga sau khi thua chiến tranh lạnh là cung cấp nguyên liệu cho các nước phát triển. Nhưng chỉ cần năm, sáu chục triệu người để làm việc đó”.

Không cần lời bàn. Qua đó thấy rõ, hiểm họa Cộng sản chỉ là sự lừa bịp và Nga đang đứng trước hiểm họa chết người bị đe dọa chia nhỏ, gây hỗn loạn, hút hết tài nguyên, bị phương Tây bảo hộ và số người thừa sẽ bị diệt. Hơn nữa, nhiều kẻ ở phương Tây cho rằng, tinh thần Nga đã bị phát nát, người Nga chỉ là đám nộ lệ sẵn sàng thờ phụng đồng USD.

Thời kỳ loạn lạc

Sự tương đồng giữa các sự kiện cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 với “Thời loạn lạc” cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII thật đáng kinh ngạc. Nếu chỉ dựa vào những nét tổng thể thì sẽ không hiểu đang nói về thời nào: 400 năm về trước, sự kiện xảy ra sau thời kỳ tập trung hóa quá mức. Mâu thuẫn các tầng lớp dân cư đạt đỉnh điểm. Các địa phương đứng lên chống lại chính quyền trung ương làm suy yếu hẳn chính quyền và đất nước hầu như bị tan rã. Nhiều thành phố, tỉnh giành quyền tự quyết. Tội phạm và hiện tượng vô chính phủ nở rộ.

Ngoại bang nắm các thành phố, còn người Nga ở Moskva và khắp cả nước cảm thấy mình là công dân hạng hai”.

Giai đoạn đầu tầng lớp chóp bu đóng vai trò quyết định. Chỉ khi xét đến các tiểu tiết mới thấy sự khác biệt giữa hai thời đại.

Giới quý tộc, từng giúp Dmitri Donski và Ivan III củng cố Nhà nước Nga, dần dà đánh mất lòng yêu nước. Họ lấy làm trọng lợi ích cá nhân và hướng sang phương Tây. S.F. Platonov là người hiểu biết rất tốt “Thời loạn lạc” có viết:

Để chuẩn bị xây dựng các trường học phương Tây tại Moskva, Boris Godunov gửi thanh niên Nga ra nước ngoài học tập (có điều chẳng ai muốn trở về)”.

Đối với tầng lớp chóp bu xã hội, được sinh ra trong quá trình tiến hóa Đảng Cộng sản Liên Xô, lý tưởng là tư lợi, là khả năng sang phương Tây. Giai đoạn 1601 – 1603 mất mùa đói kém, bánh mì trở thành món đầu cơ, còn thời nay, lượng lớn hàng hóa, gồm cả lương thực thực phẩm bị bán rẻ sang phương Tây. Giới chóp bu còn có đặc điểm nữa là vô nguyên tắc. Các cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, các nhà tư tưởng của Đảng đều chối bỏ những gì họ đã quảng bá, kêu gọi, ép buộc người khác làm, nhiều người trong số họ trở thành đám chống cộng điên cuồng. Một số sẵn sàng quay ngoắt 180o thời chính biến tháng 8 năm 1991. Trong quá khứ cũng đã từng như vậy, Platonov viết về hai phe: phe Vor ở Tusino và phe Suixki ở Moskva như sau:

Nhiều nhà buôn và quan chức về Tusino, một số vì căm ghét Suixki, số khác vì hám danh lợi. Cũng có hoặc người thích phiêu lưu chạy đi chạy lại giữa Moskva và Tusino. Mỗi lần đến, họ lại xin xỏ vị vua ở đó thăng chức tước vì có công “đến” và vì họ đã nhận ra vị vua “chân chính” nên đến hầu hạ. Dân Moskva gọi bọn vô lại đó bằng cái tên “di trú””.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TCII 1999.

Advertisements

Phá tan Liên Xô – Phần cuối


Nếu suy nghĩ một chút, thì thời kỳ của Gorbachev – đó là thời kỳ khai quật mồ mả: mồ của thời thành lập chính quyền Xô Viết, mồ của những năm 30 – 40 – 50, mồ của thời mới gần đây, mồ của lịch sử (dân tộc nào sống trước đây trên mảnh đất này). Tạp chí “Tin tức BCH TW”, nơi Gorbachev là tổng biên tập, có tới hai phần ba dành cho việc khai quật mồ mả. Hay là cuộc tranh luận “dân chủ” trên nhiều báo khác nhau và cái xác bị treo cổ của Zoia Kosmodemianskaia, trong đó khẳng định đó không phải là xác của cô. Cuộc giám định được nói tới trong trong bài Đấy có phải là cô ta, Zoia của chúng ta! V. Kozemiako: “Kết luận của các chuyên gia”… trên ảnh xác cô gái bị treo cổ là Zoia Kosmodemianskai”. Trên nền những mồ mả bị khai quật thối rữa là hình ảnh của kẻ ăn xác chết, nhà trí thức Gorbachev.

Còn một điểm liên quan tới phân tích tâm lý. Gorbachev có một sự thăng tiến nhanh tới khó tin, trong khi chẳng có chúng công lao thực tế nào, và chịu sự sỉ nhục thực tế cũng như ảo. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Moskva, ông ta trong thâm tâm tin là mình có sự vượt trội về trí óc so với những người mà ông ta phải tuân lệnh. Dần dần ở ông ta hình thành một tính cách phá hoại. Ông ta cần phải cảm thấy sự vượt trội của mình. Ông ta có được sự thỏa mãn trong phá hoại và lật đổ, cả đối với đất nước nói chung, cũng như với từng con người riêng biệt. Thật kinh tởm khi nghe việc ông ta nói chuyện với những người Pribantich ủng hộ bảo toàn Liên bang, lừa dối họ trong khi hiểu rõ ràng ngày mai ông ta thực tế đẩy Rubiks và Burokiavichus vào tù. Những người đối thoại không hiểu được bản chất thật của ông ta, và đó chính là sức mạnh của ông. Tất nhiên, thảm họa đổ xuống Liên bang Xô Viết là không bất ngờ. Nó xảy ra sau một sự chuẩn bị kỹ càng, và là kết quả của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý. Trong cuộc chiến này, không có Gorbachev thì cũng có người khác, nhưng “thời gian đã lựa chọn ông ta” và rất nhiều chuyện phụ thuộc vào ông. Ngoài ra, trong suy nghĩ của con người, một giai đoạn lịch sử nào đó thường được gắn với hình bóng một nhân vật. Với ý nghĩa, Gorbachev là người đứng đầu đất nước, và trở thành kẻ cầm đầu quá trình phá hoại.

Về kết quả của giai đoạn ba

Giai đoạn ba của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý kết thúc với sự phân rã của Liên bang Xô Viết, người dân mất định hướng và có sự thay đổi cơ bản trong ý thức xã hội. Việc xã hội từ bỏ các lý tưởng trước đây mang tính đột ngột. Chẳng có một sự kháng cự có tổ chức nào. Trong khi “các đốc công của cải tổ” chẳng có một cương lĩnh thực tiễn tích cực nào. Thành công to lớn và bất ngờ của Mỹ cùng đội quân thứ năm do họ điều khiển trong cuộc chiến tranh thông tin chống Liên Xô không chỉ là do chiến lược của Mỹ, mà còn do sự thay đổi khách quan từ trong ý thức con người, rất đặc trưng cho thời đại của chúng ta và đặc biệt rõ nét vào cuối thế kỷ XX.

Xu thế của sự thay đổi này đã được Macs Nordau, học trò của nhà tâm thần học và tội phạm học nổi tiếng Chezar Lombrozo, phát hiện từ đầu thế kỷ XX. Các nghiên cứu của ông có thể coi là cái nhìn của nhà tâm thần học vào ý thức không phải chỉ của một con người riêng biệt, mà là ý thức của một lớp người nhất định trong xã hội. Trên cơ sở những dữ kiện khổng lồ, ông tiến hành phân tích những động cơ đẩy đám đông trí thức từ bỏ cách suy luận tỉnh táo, và theo đuổi các thể hiện khác nhau của người bệnh tâm thần. Từ kết quả nghiên cứu của mình Nordau đưa ra kết luận là, những kẻ có ý nghĩ bệnh hoạn có được sự nổi tiếng là vì chính đám đông cũng bệnh hoạn. Trong cuốn “Thoái hóa” nổi tiếng của mình, ở phần “Thế kỷ XX – Dự báo” ông viết:

Chúng tôi đã kết thúc sự quan sát dài ngày và đáng buồn ở bệnh viện, nơi mà ngày nay nếu không đại diện cho toàn bộ nhân loại văn minh thì ít nhất cũng cho tầng lớp trên của các thành phố lớn. Chúng tôi nghiên cứu các hình thức khác nhau, được thể hiện và lan rộng trong nghệ thuật thơ ca và triết học.

Hiện tượng trục trặc thần kinh chủ yếu của con người đương đại trong lĩnh vực này là: hoang tưởng như là hậu quả của việc không thể tập trung chú ý, suy nghĩ rành mạch , kìm chế cảm xúc, do các trung tâm thần kinh bị suy yếu; tính ích kỷ do tình trạng bất thường của thần kinh cảm xúc, do các cơn của các trung tâm cảm nhận, bản năng lệch lạc, mong muốn có được những cảm giác mạnh; hiện thực giả gây ra bởi những học thuyết mù mờ, thể hiện sự bi quan và mong muốn không thể cưỡng nổi.

Trong tất cả ba thể hiện của bệnh chúng tôi tìm thấy cùng một thành phần: não không thể làm việc bình thường, và hậu quả là ý chí thấp kém, không tập trung, xúc cảm quá mức, không nhận thức hết, thiếu sự cảm thông với thế giới và loài người, và cuối cùng là hiểu lệch lạc về nghĩa vụ và đạo đức.

Thể hiện sự tương đồng khá lớn về mặt bệnh học, tất cả các hình thái bệnh trên chính là các thể hiện khác nhau của cùng một trạng thái chính – sự suy kiệt…

Điên loạn và thoái hóa luôn luôn tồn tại; nhưng trước đây nó xuất hiện đơn lẻ và không có ý nghĩa nhiều trong đời sống xã hội. Chỉ có sự mệt mỏi quá mức, do các đòi hỏi quá sức chịu đựng, tạo sự đổi mới đột ngột với cơ thể, mới tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và lan truyền các bệnh này, đe dọa cho nền văn minh giai đoạn hiện nay.

Ví dụ, trong cơ thể chúng ta luôn có tụ cầu trùng và liên cầu trùng. Nhưng để chúng có thể sinh sôi và gây nhiễm trùng nguy hiểm cho tính mạng thì trước hết cần phải có vi khuẩn hình que…”

Nordau đã nói về sự cảm nhận sai lệch hiện thực của một phần đông dân thành phố lớn. Nhiều tác phẩm nghệ thuật và học thuyết thường xô đẩy con người, tìm thấy trong họ sự thể hiện cảm xúc bệnh hoạn của chính mình, vào bào chữa cho các bản năng lệch lạc. Trong khi đó, xu thế bệnh hoạn trong ý thức xã hội được những người hoàn toàn khỏe mạnh cố tình ủng hộ và tăng cường vì lợi ích cá nhân. Nordau viết rằng tình thế có thể trở nên nguy hiểm khi “những người điên đặc biệt, tự chọn cho mình con đường riêng, đầu độc và triệt tiêu sự chống cự của linh hồn thời đại yếu đuối vì mệt mỏi”.

Kết luận chung rút ra từ phân tích của Nordau và những người kế tục ông là – cái ngưỡng ổn định của ý thức xã hội tại các thành phố lớn cực kỳ thấp. Hơn nữa, tại các thành phố đó tập trung sự chỉ đạo, các cán bộ có trình độ, các trung tâm văn hóa. Dân chúng thành thị có quan điểm khác nhiều với quan điểm dân Nga tại làng quê xa xôi. Điều này đóng vai trò quyết định trong các sự kiện của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh thông tin, khi đòn chủ yếu là đánh vào mắt xích kém ổn định nhất – giới trí thức thành phố lớn. Mà lại có thể điều khiển được họ.

Tình trạng bất ổn tiềm tàng của dân thành phố lớn, theo Nordau, tạo nên một xã hội bệnh hoạn. Đó là hiện tượng chung của toàn bộ nền văn minh hiện đại. Thất bại của Liên Xô trong cuộc chiến tranh thông tin là một trong thể hiện của cuộc khủng hoảng đang gia tăng. Tấm gương Liên Xô tan rã cũng cho thấy thế giới hiện nay bất ổn và mong manh thế nào. Cái hệ thống chuyển sang trạng thái bất ổn định trở nên không điều khiển, và dưới tác động có thể trở nên đảo ngược so với dự đoán.

Sau khi kết thúc thắng lợi 50 năm cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý và phân rã Liên Xô, nước Mỹ trở thành bá chủ thế giới, và sự lựa chọn con đường phát triển tiếp theo phụ thuộc vào họ. nhưng chúng ta sẽ thấy ở dưới đây, con đường được chọn là ngõ cụt, không tính đến thực tiễn của thế giới hiện đại.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999. o

Phá tan Liên Xô – Phần XIX


Cái ác đã thắng thế, một điều thật « đen tối » theo logic thông thường. Oleinik cố giải thích các sự kiện xảy ra, theo cách tiếp cận tôn giáo :

« Chúng thừa nhận là có những người, ngoài ý muốn của mình, hay không nhận thức được, đã gây những việc tiêu cực, làm mọi người khó chịu. Nhưng chúng ta cũng biết có những kẻ cố ý gây ra điều ác. Nổi tiếng nhất trong số này là : Cain, Procrustes, Gerostrat, Julian – bỏ đạo…

Gorbachev thuộc loại nào ? Nếu chạm vào loại thứ nhất, thì trường tiêu cực của ông ta chỉ đụng chạm tới số phận những người gần gũi, kể cả đám KGB. Nhưng đây lại là chuyến bay của Rust xuyên qua hệ thống phòng không mà không bị trừng phạt, và cuộc hạ cánh đầy khiêu khích xuống ngay Kremlin, chứ không phải nơi nào khác (        !) : sự giải đáp đơn phương và phá tan quân đội : bí mật bán rẻ cả đất nước ; gây cuộc chiến ở vịnh Persian, may mà không biến thành cuộc đại chiến thế giới thứ ba ; tái lập CNTB ở các nước Đông Âu và biển Baltic ; gây xung đột sắc tộc giữa các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ; Gây cuộc nội chiến ở Moldavia, Gruzia, Armenia, Azerbaizan, Tadzikistan, và cả nước Nga nữa ; Sự phân rã nhà thờ tăng cao, với hậu quả khó đoán trước ; trao (hay bán) cho tình báo nước ngoài toàn bộ hệ thống phòng thủ và bí mật an ninh ; phản bội vô liêm sỉ đối với các đồng minh cũ, kể cả người anh em Slavơ ; tổ chức cuộc « binh biến » tháng Tám, và kết cục là thay đổi chế độ hiện hữu bằng con đường đảo chính Nhà nước trực tiếp. Hậu quả là thả tự do cho một hình thức TBCN điên cuồng và hung dữ nhất, cùng với việc mafia chiếm quyền trong mọi lĩnh vực, kể cả kinh tế và tinh thần, các phương tiện thông tin đại chúng… Tất cả điều này cộng thêm với nạn thất nghiệp, sự bần cùng hóa dân chúng, với sản xuất giảm mạnh như một SỰ DIỆT CHỦNG, và số vụ tự tử tăng cao ; thanh niên bị suy đồi có định hướng bằng tình dục, khiêu dâm, ma túy ; hợp pháp hóa mãi dâm, cho tới việc xuất khẩu « hàng sống » sang các ổ điếm nước ngoài ; tham ô, tham nhũng công khai lan rộng, lây nhiễm cả các cơ quan Nhà nước bảo vệ pháp luật, – tất cả KHÔNG THỂ XẢY RA MỘT CÁCH TỰ NHIÊN, NGOÀI Ý MUỐN CỦA AI ĐÓ.

Không, một lần nữa – không ! Các sự việc và sự kiện đã chứng minh một cách khách quan rằng : đó là hậu quả trực tiếp của một âm mưu và hành động xấu xa, ác quỷ. Con quỷ đã gây ra một thảm họa Chernobyl toàn cầu này thậm chí còn không lọt hạng những kẻ ác đã kể ở trên, bởi vì vượt ra khỏi giới hạn đã biết cho tới nay ».

Đã xảy ra điều không thể giải thích nổi – sự tan rã, sụp đổ hình thái xã hội, tất cả những gì liên kết con người với nhau. Các thế lực ác quỉ thật sự thống trị, Oleinik viết tiếp :

« Trong cái ác không có Tổ quốc : tất cả thế giới tội ác trần tục là lãnh địa của nó. Nếu ai đó tự an ủi mình bằng hy vọng rằng có thể nó chỉ tập trung toàn bộ năng lực phá hoại vào kẻ thù của mình, thì thật tai họa cho anh ta và cả chúng ta nữa !

Chẳng lẽ cái sự kiện là ngay sau khi Gorbachev tới Trung Quốc thì nổ ra cuộc bắn giết đẫm máu ở quảng trường Thiên An Môn không nói lên gì sao ?

Chẳng phải sau cái hôn của ông ta với lãnh tụ các nước XHCN trước đây, thì tất cả họ đều hoặc bị giết như Ceausescu cùng vợ, hoặc chết hay bị điều tra ?

Chẳng phải vào thời điểm chuyến thăm Mỹ của Gorbachev tại Los Angeles bùng nổ cơn cuồng nộ đen tối, để lại sau đó là một sự tàn phá dã man và nhiều người chết.

Chẳng phải… Chẳng phải pháo đài Foross của Gorbachev được xây dựng với tốc độ chóng mặt, tất nhiên là bí mật với dân chúng, cùng lúc với việc xây quách cho tổ máy số 4 nhà máy điện Chernobyl. Để rồi 5 năm sau tháng Tư 1986, và tháng Tám 1991 đã thể hiện bằng một vụ Chernobyl chính trị – xã hội mới, với « đám bụi » vô cùng nguy hiểm đối với toàn bộ nền văn minh ? Chẳng phải… Chẳng phải… Nhiều chỗ chấm chấm sau từ « chẳng phải » ấy đã được điền đầy. Nhưng không có đảm bảo là đã được điền đầy đủ và vẫn còn tiếp diễn…”.

Theo quan điểm của Oleinik thì Gorbachev trở thành biểu tượng của cái ác trên hành tinh. Quan điểm này có cơ sở là sự đột ngột của thảm họa đổ xuống Liên bang Xô Viết, và không thể giải thích được sự tin cậy của quần chúng đối với Gorbachev trong thời gian dài như vậy.

Trong nhiều cuốn sách có cách tiếp cận mô tả đối với sự kiện. Ví dụ trong các cuốn sách của E.K. Ligachev, N.I. Rưzkov, V.I. Iliukhin. Trong hai cuốn đầu mô tả các mối quan hệ gần gũi, tin cậy với Gorbachev hồi đầu cải tổ, và sự phản bội, không thương sót của ông ta vào lúc cuối. Trong cuốn sách của V.I. Iliukhin có nhiều sự quan sát thú vị, Ilikhuin nói về ba bộ mặt của Gorbachev:

Bề ngoài ông ta luôn để lại một ấn tượng dễ chịu về sự nhẹ nhàng, trí thức, và hòa đồng của mình. Mặc dù qua những người khác tôi biết là trong phòng làm việc của mình ông thường sử dụng những câu gắt gỏng, không có trong từ điển giải nghĩa.

Nhưng về con người, nhất là về một tổng thống, thì cần phải đánh giá không phải qua lời nói, mà qua việc làm.

Gorbachev có ít nhất là ba bộ mặt: Gorbachev của thời đầu cải tổ, Gorbachev thời cực thịnh của nó, và Gorbachev của sự tan rã thực tế Liên bang Xô Viết.

Bộ mặt thứ nhất – thật sự khuấy động đất nước, cả thế giới, với tuyên bố đường lối đổi mới, được hầu như tất cả tiếp nhận một cách tích tực.

Bộ mặt thứ hai – sau khi quần chúng đông đảo đã bắt đầu chuyển động, nó chợt nhận thấy rằng không biết dẫn họ đi đâu, cũng có thể là không muốn hay không biết. Thời gian hành động được thay bằng lời nói trống rỗng, lắc qua lắc lại, dẫm chân tại chỗ, còn nên kinh tế và nhà nước thì tan rã.

Bộ mặt thứ ba – rơi vào tình trạng chán nản, không còn chỗ dựa vào quần chúng, hoàn toàn buông tay lái điều khiển đất nước. Trượt nhanh xuống dốc, tới đoạn kết thúc sự nghiệp, nhưng khi trượt xuống vẫn tiếp tục phá hoại đất nước một thời rất hùng mạnh”.

Quả thật Gorbachev có ba bộ mặt, nhưng không chỉ trong các giai đoạn tương ứng của cải tổ, mà trong tất cả các hành động phá hoại của mình, được thực hiện theo bộ ba: cải tổ – đi sâu – phá hoại. Vẻ “nhẹ nhàng” và “chán nản” như Iliukhin viết chỉ là mặt nạ cần thiết, che đậy thực chất hành động. Trong giai đoạn chuyển từ đi sâu sang phá hoại, ở Gorbachev thể hiện một tính cứng rắng và kiên quyết. Cách tiếp cận thứ ba để hiểu được tình hình – đó là phân tích tâm lý, cố gắng hiểu hành động của Gorbachev từ bên trong. Ở nước ta, phương pháp phân tích tâm lý để tái tạo nhân vật được sử dụng chưa lâu. Trong khi đó, các nghiên cứu của phương Tây theo hướng này có rất nhiều điều lý thú. Eric Fromm, một chuyên gia uy tín trong lĩnh vực liên kết phân tích tâm lý với môn xã hội, đã cho ra một hình ảnh phân tích tâm lý của Hitler khá thuyết phục.

Nói chuyện với các nhà phân tích tâm lý về nhân cách của Gorbachev, đã cho một bức tranh sau. Cũng như Hitler, Gorbachev là một kẻ ăn xác chết đặc trưng. Chúng ta thường gặp những câu như thế này trên báo chí:

Gorbachev khi “đào những nấm mồ cũ”, quên rằng chúng bốc mùi hôi thối, làm những người xung quanh có thể chết ngạt. Dưới sự cầm quyền của ông, toàn bộ Liên bang biến thành công trường khảo cổ. Thật ra chẳng ai buồn nghĩ rằng kho báu nằm ở đâu. Sau đó là vạch ra ranh giới; chia cắt lãnh thổ và người dân có sắc tộc và tín ngưỡng khác nhau, đã từ lâu hòa quyện vào nhau”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Phá tan Liên Xô – Phần XVIII


Một hành động tương tự được tiến hành chống các cận vệ thanh niên, trước hết là đối với Elena Nikolaievna Kosevoi – mẹ của Oleg Kosevoi, chính ủy của đội Cận vệ thanh niên. Trong báo « Kurant » đã đăng một bài dài của Volina « Mẹ của Kosevoi khóc ai », trong đó viết rằng Kosevoi còn sống :

« Tại Rovenka, người ta đào lên từ nấm mồ chung các xác chết đã gần thối rữa của những người bị bọn Đức bắn. Elena Andreevna cũng ở đó, bà ôm lấy xác của một ông già đầu bạc, gào lên « Olezka ! Olezka ! ». Mọi người đều thấy : trước bà ta là một ông già đầu bạc, thế mà bà lại gào « Olezka ! ». Người ta chẳng buồn tranh cãi… và chôn ông già vô danh đó lần thứ hai như là Oleg Kosevoi. Nhà văn Fadeev trên cơ sở đó đã bịa ra là cậu bé 16 tuổi do bị tra tấn trong nhà tù Rovenka nên trong một đêm tóc đã bạc trắng ! Thế là Oleg Kosevoi trở thành nhân vật chính của tiểu thuyết, còn Elena Andreevna trở thành mẹ anh hùng… ».

Vài ngày sau khi bài báo được đăng trên báo « Kurant », tại thành phố Lugansk bọn côn đồ đã ném tượng của các anh hùng cận vệ thanh niên từ trên bục xuống. Nhưng điều quan trọng ở đây là Volina chẳng dựa vào một tài liệu lịch sử nào. Điều này được chỉ ra trong bài cũng với cái tên ấy, phân tích cụ thể những gì đăng trên báo Kurant. Tác giả của nó là Ivanov – diễn viên đóng vai Oleg Kosevoi trong phim « Đội cận vệ thanh niên », đã nhiều lần tới Krasnodon. Ông viết rằng bài của Volina có nhiều chỗ sai thô thiển. Bà Kosevoi – là Elena Nikolaievna, chứ không phải như Volina gọi là bà Elena Andreevna. Còn nhiều điểm sai lầm khác. Ivanov đã kể lại những gì Elena Nikolaievna đã phải gánh chịu. Sau khi tổ chức này bị khám phá, bọn chúng đưa bà tới cảnh sát trước tiên. Bọn Gestapo đã đánh bà gần chết, gãy hai xương quai xanh. Chính vì vậy mà bà bị tàn tật vĩnh viễn. Bệnh tình ngày càng năng, và mười năm cuối đời bà không ra khỏi nhà được. Bọn Hitler tống bà vào ngục tối, tra tấn vài lần một tuần, đánh đập rất dã man, tới lúc bà ngất xỉu, hòng moi các thông tin cần thiết. Vào thời gian này bà đã gãy hầu hết răng. Vladimir Ivanov phân tích chi tiết thiếu tính cơ sở của Volina, chỉ dựa trên tin đồn mà khẳng định là tiểu thuyết của Fadeev « đầy những dối trá ».

Ivanov kết thúc bài báo với lời lẽ sau :

« Chúng ta hiện nay có xu hướng quay ngược các tấm bia mộ, như nhà báo Volina đã làm. Những người đã chết không thể nói được điều gì để tự bảo vệ !… Cần phải nhớ câu trong Kinh thánh : « Đừng nói dối ! Xã hội không thể tồn tại trên lời nói dối – nó sẽ chết ».

Cũng có sự ồn ào xung quanh tên tuổi Fuxich, tác giả cuốn sách nổi tiếng « Phóng sự viết dưới giá treo cổ », được viết khi đang chờ đợi chết. Cả trong trường hợp này cũng sử dụng một loạt các suy diễn, được nói trong cuốn Tên danh dự của Fuxich của I. Phonhiakop – Báo văn học số 26/12/1990 :

« Ví dụ, xuất hiện giả thuyết – lúc đầu là trên một số đài truyền thanh, sau đó trên báo không chính thức ở Praha, trên báo của các đảng mới, – rằng Fuxich không bị tử hình. Rằng ông không những là chỉ điểm của Đức, mà sau này chúng còn đưa ông qua Bolivia, ông chết ở đó cách đây không lâu. Có cả những tấm ảnh của cái xác nào đó… Một số khác tin vào giả thiết « Bolivia », nhưng cũng khẳng định kẻ phản bội chỉ điểm là có thật. Phóng sự nổi tiếng không phải là do ông ta viết, mà là các đồng chí trong Đảng của Fuxich bịa ra sau này… ».

Tất cả loạt suy diễn bịa đặt này chỉ nhằm một mục tiêu là – bằng mọi cách bôi nhọ người anh hùng dân tộc Tiệp Khắc Julius Fuxich, một trong những người lãnh đạo hoạt động bí mật của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, một người bạn của Liên Xô, bị tử hình năm 1942 tại nhà tù Pletsenzee ở Đức.

Một loạt sự bịa đặt không kém phần ác liệt được triển khai chống lại một trong những người lãnh đạo phong trào du kích nổi tiếng, hai lần anh hùng Liên Xô Aleksei Fodorovich Fedorov, đã từng trải qua các cuộc chiến đấu từ Chernigovsina tới Bolinư. Trong bài do các đội viên du kích từng chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Fedorov nay đã khuyết có viết :

« Những người báo thù nhân dân đã tiêu diệt ở Chernigovsina hơn 5 nghìn binh lính và sĩ quan địch, phá hơn 65 cầu đường sắt và đường bộ, làm lật 1025 toa tàu, phá hủy 1255 xe ô tô, 461 km đường điện thoại ».

Cái cớ để bôi nhọ tên tuổi của Fedorov là một bài viết đăng trên báo « Sự thật Desnhan », theo đó « trong cuộc họp cái gọi là bộ ba ủy viên Dân ủy nội vụ tỉnh Chernigov ngày 21 tháng 9 năm 1938, có sự tham gia của Fedorov, đã kết án vô căn cứ 4 người là dân Chernigovsina ».

Một trong số này bị kết án tử hình. Trong Chúng ta bảo vệ tên tuổi của Fedorov huyền thoại của V. Anhismop, P.Timoshenko và những người khác – Công khai 11/3/1993 nhắc lại là tại Chernigovsina, bọn Hitler với sự giúp sức của lũ phản quốc, đã xóa sạch 51 khu dân cư, tổng cộng có 120 nghìn người Xô Viết chết vì tay bọn phát xít. Bài báo này cũng kết thúc bằng lời kêu gọi các cựu chiến binh, những người tham gia phong trào du kích hãy bảo vệ danh dự và phẩm giá của Fedorov.

Không chỉ thời kỳ chiến tranh, mà toàn bộ lịch sử 70 năm của Liên Xô dần dần bị bao phủ bởi những vết đen loang rộng. Nhiều cái trong số này thật nực cười. Đó là chuyện với các nhà văn lớn ủng hộ chính quyền Xô Viết. Theo các bài báo : A. Tolstoi là người nghiện rượu, Gorki là nhân vật thiếu trung thực, Maiakovski là con người thoái hóa, Solokhov là kẻ ăn cắp. Thật khó đếm hết những lời tấn công vào tác giả của « Sông Đông êm đềm ». Cả nhà thơi nổi tiếng Evtusenko cũng cố gắng thể hiện mặt « dân chủ » của mình, đóng góp vào lời bình phẩm Solokhov :

« Đó là tòa nhà to lớn với những cây cột, có hàng rào bao quanh (đây là tòa nhà ở Veska, nơi nhà văn sống), và một hệ thống canh gác phức tạp (vợ, cảnh sát, viên thư ký). Toàn bộ tiểu sử của Solokhov có thể lộn mặt trái ra và trưng bày phía không đẹp. « Trong thời gian cuộc thanh trừng của Stalin ông ta phát biểu ủng hộ các cuộc đàn áp tàn bạo… Sự biến chất nghề nghiệp của Solokhov – một bài học nhớ đời cho tất cả các nghệ sĩ, rằng sự vô đạo đức trong nghệ thuật sẽ biến thành sự suy giảm nghề nghiệp ». Sau đó nhà thơ còn cho tác giả của « Sông Đông êm đềm » một nhận xét thế này : « vênh váo kiểu nhà quê đối với kẻ yếu, và luôn cúi trước kẻ mạh, được đẩy tới mức thật sự kêu gọi giết người ».

Không hiểu sao, « những người dân chủ » đặc biệt căm ghét Aleksei Nikolaievich Tolstoi. Có thể là do họ không thể tha thứ cho ông về bài « Kẻ thù đe dọa Moskva » và « Tính cách Nga », được viết trong thời điểm khó khăn nhất của chiến tranh, và thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của con người Nga. Nhưng đó chưa phải là hết. Bắt đầu một sự chửi bới toàn bộ lịch sử Nga, kể cả thời Piot Đệ nhất và Ekaterina Đệ nhị, những người như đã biết là không ở trong Đảng Bonsevich. Về mặt này, lời nhận xét của Zirinovski thật chính xác : « dân chủ cấp tiến – đó là tư tưởng phản bội Tổ quốc ».

Trong thời gian cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại, bọn Hitler để lại sau lưng đất đai bị đốt cháy, nhà đổ nát. Chúng gây ra sự tàn phá hoàn toàn về giá trị vật chất. Còn đám dân chủ giả dối để lại sau lưng quá khứ bị đốt cháy. Chúng hủy hoại tâm hồn con người. Về bản chất chúng là kẻ thừa kế tư tưởng của bọn Hitler. Khi hiểu về những gì xảy ra, thì bạn càng thấm thía lời của Fedor Mikhailovich Dostoievski về quỷ dữ. Nhưng đằng sau quỷ dữ là bá tước của bóng tối, như Boris Oleinik đã viết.

Bá tước của bóng tối

Khi cầm trong tay các tác phẩm cuối 80 đầu 90, thì có cảm giác là bạn đã rơi vào một thế giới bất hợp lý – thế giới của sự chà đạp lên lịch sử của đất nước, lên những người đã hy sinh ở chiến trường, lên sự vinh quang và đau khổ của nước Nga. Nhiều người tự hỏi : Ai đã làm cho cường quốc với nghìn năm lịch sử bị tan rã ? Đó là ai, ai thực hiện điều này, có phải là người hay không ? Nhiều không có được câu trả lời hợp lý. Nhà văn Boris Oleinik đã tiếp xúc với Gorbachev và tin vào ông ta, đã viện dẫn tới bài viết và lới giáo lý của các cha nhà thờ :

« Ông ta tới, Cha Efrem Sirin nói – với bộ dạng làm vừa lòng tất cả : một người hữu hảo, lịch thiệp, căm ghét dối trá (như tự nói về mình), tốt bụng, yêu quý cấp dưới, trung thực, dịu dàng với tất cả… áp dụng các biện pháp lấy lòng mọi người, để trong thời gian ngắn nhân dân yêu mến ông ta, không nói một cách giận dữ, không thể hiện bực bội, mà với vẻ ngoài lịch sự lấy lòng thế giới, cho tới khi lên được ngôi ».

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Phá tan Liên Xô – Phần XVII


Chiến dịch chống Lenin được tiến hành có tầm cỡ, tác động vào nhận thức của con người. Kết quả là rất nhiều người, nhất là trong giới thanh niên và một phần trí thức không chỉ hình thành thái độ rất tiêu cực đối với Lenin, mà còn coi con người đã chết 70 năm trước đó có lỗi trong những tai họa ở nước Nga hiện nay. Trong bài Lenin nằm ở đâu ? trong Báo Luận chứng và sự kiện số 35, tháng 9/1991 đưa ra câu trả lời của những kẻ qua đường cho câu hỏi « Lenin nên chôn ở đâu ? ». Đây là hai trong số ấy :

« E. Golotsvan, nhà tâm thần học, 31 tuổi, Moskva : « Trước đây tôi luôn muốn tới thăm lăng, cảm thấy như là điều gì đó thiêng liêng. Còn bây giờ thì chỉ còn lại nỗi thất vọng và bực tức. Các con tôi chỉ biết Lenin qua những biếm họa trên tạp chí, trong đó ông được thể hiện lúc thì có mào, khi thì với cái đầu to đùng. Chúng lúc nào cũng kéo đòi tới lăng, chúng muốn xem ông ta thực ra thế nào.

Diana, 15 tuổi, Moskva : « Ông ta nằm đó làm gì ? Cần phải ném ông ta ra khỏi đó… Không ném thì cũng nên chở đi. Ông ta có làm điều gì tốt đâu ? Phá tan cả một đất nước, bây giờ thì nằm đó. Cứ để người ta chôn ông ở một nghĩa trang nào đó ».

Một nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô (trước đây) và sau này là một chiến sĩ nhiệt thành chống « nền độc tài » là Volkogonov, đã có vị trí nổi bật trong cuộc bôi nhọ Lenin của đám « dân chủ ». Trên bìa cuốn sách của mình đánh vào Lenin, để tăng tác động tiêu cực lên độc giả, ông ta đặt hình ảnh một con người ốm yếu, gần như sắp chết, với khuôn mặt méo vì đau đớn. Chẳng bao lâu sau khi cuốn sách phát hành, Volkogonov ốm nặng và chết. Một trong những tác giả nhớ tới lời của một người dự hội thảo về vai trò của chính thống giáo trong đời sống hiện đại :

« Câu chuyện về Volkogonov là một sự thúc đẩy đối với tôi khi xem lại mối quan hệ của mình với thế giới. Bìa của cuốn sách là một sự nhục mạ với người đã chết (không phụ thuộc vào thái độ đối với Lenin) và sự trừng phạt đã xảy ra ».

Những kẻ kế tục Smerdiakov

Dostoievski trong tiểu thuyết « Anh em nhà Karamazov » đã đưa ra hình ảnh Smerdiakov, người đã định nghĩa quan điểm của mình như sau :

« Tôi không chỉ không muốn trở thành sĩ quan, mà trái lại, còn muốn tiêu diệt hết lính tráng, Maria Kondrachievna ạ.

+ Thế thì ai sẽ bảo vệ chúng ta khi có kẻ thù ?

+ Chẳng cần thiết. Hồi năm 20 ở nước Nga đã có một cuộc hành quân vĩ đại của hoàng đế Pháp Napoleon đệ nhất, cha của ông bây giờ. Thật tốt nếu như lúc đó những người Pháp ấy chinh phục được chúng ta : một dân tộc thông minh chinh phục một dân tộc khá ngu xuẩn và liên kết nó vào với mình. Lúc đó đã có một trật tự khác ».

Những kẻ kế tục Smerdiakov đã chửi rủa thậm tệ cái dân tộc ngu xuẩn cùng các anh hùng của nó. Những người tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại là được chú ý nhiều nhất. Chúng ta lấy bừa vài tài liệu trong đống tích cóp lại. Trong báo « Luận chứng và sự kiện » một người tên Zovtis đã viết về Zoia Kosmodemianskai. Đầu bài viết nói rằng, tác giả kể lại chính xác từng lời của nhà văn đã chết N.I. Anov (Ivanov), người đã tới làng Petrisevo và thấy rằng dân làng lẩn tránh không nói về Zoia. Tiếp theo là lời Zovtis :

« Nghe này. Nikolai Ivanovich nói, – tôi cảm thấy có gì đó bí mật sau chuyện này. Hãy kể cho tôi tất cả sự thật.

Chỉ có một bà giáo viên, sau một hồi lưỡng lự, bắt Anov phải thề rằng « chuyển này chỉ có giữa chúng ta », và kể :

+ Bọn Đức chiếm Petrisevo trong thời gian cuộc tổng tấn công vào Moskva. Chúng chỉ định trưởng làng, rồi bỏ đi. Trưởng làng giữ liên hệ với chính quyền chiếm đóng, nằm ở một khu dân cư khác. Có lần vào ban đêm, trong làng có vụ cháy nhà, thiêu rụi căn nhà đó. Mọi người kết luận là có người đốt, và từ đêm hôm sau người ta cắt cử gác. Sau đó một, hai ngày đã bắt được quả tang kẻ đốt nhà : một cô gái không rõ tung tích, với miếng dẻ tẩm dầu đang định đốt một căn nhà khác. Mùa đông rất khắc nghiệt, một gia đìh bị mất nhà phải trú nhờ bên hàng xóm, dân làng rất bực tức và căm phẫn. Những người gác đã đánh cô gái rất tàn nhẫn, sau đó tống cô vào căn lều gần Luker, và buổi sáng thì trưởng làng đi báo cáo chính quyền về sự việc xảy ra. Ngay này hôm đó, cô gái bị treo cổ bởi đám lính mật vụ được gửi tới Petrisove… Bọn Đức không ở lại đây, vậy nên cũng chẳng có chuồng ngựa nào, mà theo thông báo chính thức, cô du kích đã đốt.

Sau khi quân ta tới, nhiều người trong làng bị bắt và chở đi đâu không biết. Do đó mà những người còn lại sợ có thể sẽ bị đàn áp…

Thảm kịch ở ngôi làng ngoại ô Moskva là kết quả của việc gấp rút thành lập các đội du kích từ những cô bé, cậu bé sẵn sàng hy sinh vì việc nghĩa. Họ được chỉ đạo thực hiện chiến thuật « vườn không nhà trống ».

P. Lidov có lầm không, hay bị những người dân làng sợ đến chết vẫn nói dối. Hay là ông tự tạo ra giả thiết có lợi cho sự tuyên truyền của Stalin, và chính giả thuyết đó đã được công nhận và « đi vào lịch sử » ».

Ở ví dụ trên thấy rõ thủ thuật của những kẻ bắt chước Smerdiakov. Cơ sở của nó là cái sự kiện « thuyết phục » – lời kể của một bà giáo không rõ tung tích cho nhà văn Anov nay đã chết, rồi ông này lại kể cho tác giả bài báo Zvotis. Trong bài báo ngắn đó có thấy cả tính công bằng của bọn Hitler, sự chăm lo của chúng đối với dân làng, có cả nỗi sợ hãi của dân làng khi quân đội Xô Viết chiếm lại làng Petrisevo, và còn vạch trần cả người theo Stalin là Lidov. Chỉ bằng một mũi tên, Zvotis và ban biên tập đã hạ được 4 mục tiêu.

Sự hành hạ sau khi chết của Zoia Kosmodemianskaia được tiếp tục trên các báo dân chủ khác. Có người còn khẳng định là cái xác trong ảnh không phải là của Zoia, mà là đồ giả. Cuối cùng đã tiến hành một cuộc khảo nghiệm, kết quả của nó được đăng trong bài Đấy có phải là cô ta, Zoia của chúng ta ? trên báo Sự thật số 65 – 7/5/1992 :

« Do có nhiều vấn đề tranh cãi xung quanh chiến công và tên tuổi của Zoia Kosmodemianskaia (đăng trên tuần báo « Luận chứng và Sự kiện » số 38, 43 năm 1991). Lưu trữ trung ương Đoàn thanh niên đã yêu cầu Viện nghiên cứu khoa học giám định của tòa án, Bộ tư pháp CHLB Nga tiến hành giám định về nhân thân của người đã chết. Các tấm ảnh của Kosmodemianskaia, Azolia, và cô gái bị treo cổ được gửi tới để giám định. Có tất cả 9 tấm ảnh.

Kết luận của các chuyên gia : « …trên tấm ảnh xác của cô gái bị treo cổ là Zoia Kosmodemianskaia ».

Cũng trong bài trên đã trích hai bức thư :

« Sibalis, cựu ban biên tập báo « Tấn công » của sư đoàn bộ binh 132, Minsk : « Sự lăng mạ đối với ký ức về các anh hùng như Zoia là không thể chấp nhận ! Trong thời gian chiến tranh tôi đã từng viết về nhiều người đồng trang lứa với cô. Họ đã sẵn sàng bảo vệ tổ quốc với tâm hồn trong sáng nhiệt thành biết bao ! Và họ đã sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc ».

Belov, Giáo sư, Chủ tịch Hội đồng Đạo đức y tế của Liên đoàn các nhà tâm thần học : « Hội đồng chúng tôi nhất trí cho rằng các bài trên báo « Luận chứng và Sự kiện » về Zoia Kosmodemianskaia là sự vi phạm trắng trợn các nguyên tắc đạo đức thầy thuốc và tài liệu thông thường. Các cố gắng của chúng tôi tìm hiểu làm rõ nguồn gốc các thông tin này qua tòa soạn báo đã không nhận được kết quả ».

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Phá tan Liên Xô – Phần XVI


Từ bỏ quá khứ Xô Viết

Điểm đặc trưng trong phần cuói của cải tổ – đó là sự chối bỏ hoàn toàn quá khứ Xô Viết, chối bỏ sự nghiệp của ông cha, của những người chiến đấu ngoài mặt trận vì tương lai, cống hiến toàn bộ sức lực và cả mạng sống của mình. Chính các nhà tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô – những chiến sĩ nhiệt thành đấu tranh cho CNCS trước đây, các quan chức cao cấp của Đảng, phương tiện thông tin đại chúng đã thể hiện sự tích cực đặc biệt, lên án cái quá khứ độc tài ấy. Dần dần, chiến dịch này mang hình thức một cuộc điên loạn tập thể.

Có thời nhà văn – nhà châm biếm vĩ đại Iaroslav Gasek trong chuyện « Bài thơ trong hầm rượu » mô tả bốn khách quen của hầm rượu, trao đổi với nhau về sự kiện Bonsevich :

« Chủ nhà máy đồ thủy tinh bổ sung vào các sự kiện ấy thông tin về việc Bonsevich ở nước Nga đối xử với các nhà văn và nhà báo của mình thế nào. Người ta lột da sống Gorki và ném ông ta vào thùng tôi vôi. Averchenko bị lột trần truồng trong tuyết âm 40 độ và tưới nước cho tới khi ông hóa thành khối băng to. Teffy bị rán trong mỡ ngựa, rồi tẩm dấm. Boris Sokolov bị nạp vào khẩu thần công vua trong điện Kremlin và bắn về phía Khodưnka. Nếu bọn Bonsevich làm điều ấy với những người của mình, nếu họ nướng bà quả phụ Tolstoi, và cho dòng điện hai triệu volt chạy qua Merezkovski làm ông ta phát điên, thì chẳng có gì phải ngạc nhiên việc chúng gây ra tại Kharkov với ba người cháu của Bozena Nemtsova.

Một ông già ngồi bàn bên cạnh, đứng dậy và đi tới gần bốn nhà thông thái về đời sống nước Nga.

+ Thưa các ngài, – ông nói với giọng run run, – các ngài… đó… là sai lầm…. Tôi chính… chính là cháu… của Bozena Nemtsova. Chúng tôi… mới về… hôm qua từ… nước Nga. Chúng tôi… đều sống… Người ta… không làm… gì chúng tôi… Cho phép… tôi được ngồi… với các ông và… tôi….

Không cần biết ông là ai, – ông nhân viên bảo hiểm nói, – Cái bàn này là dành cho những người bạn của chúng ta, chứ không phải cho bọn ủng hộ Bonsevich ».

Câu chuyện này được Gasek viết năm 1921. Nhưng thực tế của năm 1991 cho thấy sự tiến bộ sau 70 năm, và vượt xa so với trí tưởng tượng của Iaroslav Gasek. Về Stalin, người ta viết đủ thứ, không biết còn gì có thể nghĩ ra được nữa. Giống như phát hiện của Khrushev, rằng Béria từ 1918 (khi ông mới 18 tuổi) đã là điệp viên của tình báo Anh (đồng thời lại tổ chức ngành tình báo Xô Viết ở Anh và là nhà tổ chức chính của lá chắn nguyên tử – tên lửa cho đất nước), trên phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện nhiều bài báo buộc tội Stalin từng là điệp viên mật thám Sa hoàng. Cũng có thông báo là Koba bị tù có tất rất thối, ông ta có đủ thứ bệnh tâm thần, rằng ông ta vô học – chỉ qua trường dòng… Từ Bonsevich trở thành câu chửi, kể cả trong phe đối lập, trong nhiều Đảng viên Đảng Cộng sản Liên bang Nga. Vào cuối 80 đầu 90, người đi mít tinh với ảnh của Stalin được coi là thằng ngố, và phương tiện thông tin đại chúng lập tức soi mói những người mang ảnh, để biến họ thành kẻ thô thiển.

Nhưng ngoài những phương pháp tiêu chuẩn, còn có những « phát hiện » đích thực, và những nhân vật trong hầm rượu của Gasek phải ghen tị. Một « phát hiện » tư tưởng được nói tới trong cuốn sách Cội nguồn tư duy của CNCS Nga của N.A. Berdiaep (1990) :

« Cái thông báo « động trời » này bay khắp đất nước vào năm 1988 : tại Kuropat, ở ngoại ô Minsk, đã phát hiện mồ chôn tập thể những nạn nhân của khủng bố thời Stalin, do cơ quan Bộ Nội vụ gây ra từ 1937 tới tháng 6 năm 1941. Như phương tiện thông tin đại chúng thông báo, số người chết đếm được lên tới hàng trăm nghìn người. Các phương tiện thông tin đại chúng nước ngàoi cũng không tiếc sức thổi phồng tin giật gân này.

Tất nhiên người dân Xô Viết nóng lòng chờ đợi các giải thích chính thức của chính quyền về việc này ».

Sau khi tiến hành điều tra kỹ lưỡng đã phát hiện rằng :

« …các cơ quan Bộ Nội vụ không liên quan gì tới các nạn nhân ở Kuropat. Trong khu đồi giữa đường vòng cung Zaclavski và Minsk, tại làng Gotisa, yên nghỉ khoảng 30 nghìn nạn nhân của bọn diệt chủng Hitler…. ».

Tác giả bài viết trong báo tin tức của Đảng năm 1990 nói với bạn đọc :

« Mọi người, hãy nhớ tới chúng tôi… ». Đã bao lần phải nghe những tiếng kêu này. Thế chúng ta, những người còn sống, sẽ cứ ở vạch cuối cùng của đạo đức con người cho đến bao giờ ? Chúng ta sẽ tiếp tục nhảy nhót vô đạo đức trên đống xương của các tù nhân bị phát xít diệt chủng, làm lợi cho một số nhà chính trị kiểu như Pozniak cho tới bao giờ ? Hãy hổ thẹn với những người đã chết… ».

Thông tin giả về Kuropat đã được chuẩn bị, theo đúng các tiêu chuẩn của chiến tranh tâm lý. Ngay cả cái tên Kuropat chưa từng có trên bản đồ Belorusia. Mục đích của việc bịa đặt tên là tác động tâm lý, rằng Stalin đã bắn người ở đây như bắn chim (kuropat là một loại chim đa đa –ND). Phương pháp hình thành huyền thoại Kuropat đã được mô tả chi tiết trong bài viết Sự giả dối của thế kỷ ? của Kuropatư trong Tạp chí Lịch sử quân sự 1991, số 6, tr50. Kuropat chỉ là một ví dụ trong cả hệ thống tin tức bịa đặt.

Chiến dịch bôi nhọ Lenin có tầm mức đặc biệt lớn. Cảm tưởng chung về chuyến bay tư tưởng « dân chủ » theo hướng này cho ra những mảnh vụn sau. Trong vài số của tờ « thời báo Baltic » có đăng bài của Mikhail Vaiskopf, mô tả Lenin :

« Năm 1924 hệ thoát nước cho điện Kremlin bị hỏng, không chịu nổi sức ép của Bonsevich. Lăng Lenin đầy những thứ bẩn thỉu, và một cha cố nào đó (hình như chính tổng giám mục) đã nói : « Đầy cứt và nước đái ».

Từ từ, từng bước một, những người nhiệt tình nhất đã tìm được một người mẫu đứng đầu. Khi vừa mới tìm được, đã thể hiện bằng những động tác ngớ ngẩn, bậy bạ, như kẻ sau. « Ông nổi lên… như cây cỏ trên đất khô : trong ông chẳng có chút hình bóng, thiên tài nào ».

Volodia cũng dẫn đầu trong các môn khoa học thế giới. Chẳng có một chút khả năng nào về thơ ca, khi giáo viên ra lệnh, anh lập tức sẵn sàng « dịch thơ Gomer ».

Trong căn phòng của anh sạch sẽ như tu viện. Những nét chữ nhỏ chân thật, suy nghĩ thoáng đãng, chàng trung học viết vào cuốn vở, suy tư nhìn vào bức tường, vào tấm bản đồ và tưởng tượng ra quốc huy Liên bang Xô Viết…

Đó là mẫu tiêu biểu cho phần lớn các bài báo. Sáng tạo của a. Ivanov cũng rất ấn tượng :

« Báo Kurani » thêm một đóng góp của mình vào bôi nhọ Lenin. Ngày 22 tháng 4 bình luận viên chính trị của báo, nhà thơ châm biếm A. Ivanov đã kiểm tra những bức thư độc giả viết về đề tài Lenin, và trao giải nhất cho bức thư của một người nghỉ hưu, trong đó Lenin được gọi là kẻ phản bội tổ quốc và kẻ giáo điều. Đứng thứ hai là bức thư của nữ học sinh lớp tám Masa : « Em đọc về một vụ việc xảy ra với một nữ giáo sư khảo cổ học Thụy Sĩ là Renata Schapaul. Cô ta bị xác ướp của thủ lĩnh Inka, chết cách nay 500 hãm hiếp. Cô gái đáng thương đã có bầu. Giờ đây em rất sợ không dám tới thăm Lăng ở Quảng trường Đỏ nữa. Thế mà bạn học của em lại muốn có con với lãnh tụ của cách mạng ». A. Ivanov trả lời em học sinh : « Em sợ là đúng Masenka ạ. Hãy thuyết phục bạn gái của mình. Theo những gì được biết thì « người thầy và lãnh tụ » của chúng ta chết vì bệnh giang mai đấy ».

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Các ví dụ về thành công và thất bại trong việc phản ứng trước khủng bố – Phần cuối


Một trong những bài học thú vị mà CDC đã học được từ kinh nghiệm với bệnh than là không nên đưa ra các phát biểu trấn an quá đáng và quá chắc chắn. Giáo sư Gerberding đã học cách bàn luận về các căn bệnh mới một cách công bằng, miêu tả những gì đã biết và những gì chưa biết. Bà nhấn mạnh rằng SARS là một căn bệnh mới và còn rất nhiều điều chưa biết:

Bây giờ, chúng tôi biết rằng, những cá nhân mắc bệnh SARS có thể làm lây nhiễm rất nặng trong quá trình xuất hiện triệu chứng của bệnh. Tuy nhiên, chúng tôi không biết quá trình lây sẽ kéo dài bao lâu sau khi họ đã khỏi bệnh, và chúng tôi không biết liệu họ có thể làm lây virus trước khi họ trải qua các triệu chứng hay không (Gerberding, 2003).

Các phản ứng của Giáo sư Gerberding trước bệnh SARS đã giúp bù lại các ấn tượng xấu gây ra sau vụ bệnh than.

Bạn là người quyết định

Sau khi nghiên cứu trường hợp này, đã đến lúc bạn xác định xem liệu CDC đã thể hiện khả năng lãnh đạo có hiệu quả và các chiến thuật truyền đạt thông tin trong khủng hoảng dựa trên những kinh nghiệm học được từ vụ khủng hoảng bệnh than hay chưa. Đặc biệt là, liệu Giáo sư Gerberding đã thể hiện sự lãnh đạo có hiệu quả trong việc kiểm soát sự bùng phát của dịch SARS hay chưa. Đầu tiên, hãy dành một chút thời gian để khơi lại trong trí nhớ của bạn các bài học về khả năng lãnh đạo đã miêu tả. Các bài học này sẽ hướng dẫn bạn trong việc đánh giá các điểm mạnh và điểm yếu trong phản ứng trước khủng hoảng của giáo sư Gerberding. Khi bạn trả lời các câu hỏi sau đây, hãy cân nhắc xem liệu giáo sư Gerberding đã có hiệu quả hay chưa có hiệu quả khi phản ứng trước những nhu cầu và mối quan tâm của quần chúng.

Các thành công và thất bại về sự lãnh đạo trong sức khỏe cộng đồng: Các bài học về vai trò của người lãnh đạo trong tình trạng khủng hoảng

Bài học 1: Khả năng lãnh đạo có hiệu quả là rất quan trọng trong việc vượt qua một cuộc khủng hoảng.

Hãy nêu lên những điểm khác nhau trong sự lãnh đạo và truyền đạt thông tin của CSC trong bệnh than và vụ bùng phát SARS.

Bài học 2: Những nhà lãnh đạo nên sẵn sàng tiếp chuyện mọi người trong một cuộc khủng hoảng.

Trong bệnh than, nhiều người đã phát ngôn cho CDC. Việc này có hiệu quả hay không?

Bài học 3: Những người lãnh đạo nên cố gắng xây dựng một danh tiếng tốt cho công ty trong thời bình để xây dựng một nguồn thiện chí.

Danh tiếng của CDC đã bị ảnh hưởng như thế nào bởi bệnh than, và phản ứng của CDC trước bệnh SARS đã ảnh hưởng đến danh tiếng của tổ chức này như thế nào?

Bài học 4: Những người lãnh đạo nên cởi mở và trung thực sau một cuộc khủng hoảng.

Bạn có nghĩ rằng CDC đã cởi mở và trung thực hơn khi phản ứng trước bệnh SARS hơn là bệnh than không? Tại sao?

Bài học 5: Những người lãnh đạo kiểm soát các cuộc khủng hoảng một cách thành công có thể tạo ra các cơ hội đổi mới.

Bệnh than cho thấy rằng CDC và các viên chức sức khỏe cộng đồng có vai trò trong việc phản ứng trước một cuộc khủng hoảng hoặc thảm họa. Bạn có tán thành quan điểm này không.

Bài học 6: Những người lãnh đạo nên hợp tác với những người có liên quan trong một cuộc khủng hoảng và nên làm việc để đi đến một sự thống nhất.

Một vấn đề đối với ệnh than là quá nhiều chuyên gia truyền đạt thông tin về cuộc khủng hoảng. Bạn sẽ đưa ra gợi ý giải quyết vấn đề này như thế nào?

Bài học 7: Sự lãnh đạo tồi có thể làm cho một cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn nhiều.

Phản ứng của CDC trước bệnh than có làm cho cuộc khủng hoảng tồi tệ hơn không?

Bài học 8: Những người lãnh đạo phải làm thích ứng phong thái lãnh đạo và sự ngẫu nhiên của họ trong các cuộc khủng hoảng.

Giáo sư Gerberding đã làm thích ứng phong thái lãnh đạo và sự ngẫu nhiên của bà trong trường hợp bệnh SARS như thế nào?

Bài học 9: Một phản ứng có đức hạnh trong một cuộc khủng hoảng bời những người lãnh đạo một công ty có thể có hiệu quả nhất trong việc gây dựng sự ủng hộ và làm mới.

Giáo sư Gerberding đã thể hiện các đức hạnh về khả năng lãnh đạo như thế nào?

Bài học 10: Các nhà lãnh đạo có các trách nhiệm nhất định về truyền đạt thông tin để kiểm soát và học hỏi từ các cuộc khủng hoảng.

Bạn có cho rằng CDC đã học hỏi được từ bệnh than không? Nếu có, họ đã học được điều gì?

Tóm tắt

Truyền đạt thông tin về một căn bệnh đang phát sinh là một nhiệm vụ rất phức tạp và đầy khó khăn. CDC đã học từ các cuộc khủng hoảng trước đây về lãnh đạo và truyền đạt thông tin có hiệu quả. Từ các bài học này, tổ chức này đã có thể phản ứng một cách hợp lý trước vụ bùng phát bệnh SARS và xây dựng lại độ tin cậy. Thay vì truyền đạt thông tin với sự chắc chắn không có lý do xác đáng và trấn an một cách thái quá. Giáo sư Gerberding đã truyền đạt thông tin một cách trung thực và cởi mở về sự không chắc chắn với các căn bệnh mới và đang phát sinh. Cách tiếp cận này xây dựng được các mong chờ có tính thực tế của những người có liên quan và sự tin tưởng vào CDC với tư cách một tổ chức. Giáo sư Gerberding không chỉ cởi mở và trung thực trong cuộc khủng hoảng SARS, bà còn luôn luôn sẵn sàng nói chuyện với những người có liên quan về cuộc khủng hoảng này. Rõ ràng là CDC đã áp dụng các bài học về lãnh đạo có hiệu quả sau một cuộc khủng hoảng.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Robert R. Ulmer, Timothy L. Sellnow, Matthew W. Seeger – Truyền thông hiệu quả trong khủng hoảng – NXB TT 2009