Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần XI


Điều đó không có nghĩa là báo chí không tác động đến nền dân chủ; nền dân chủ trong thế giới đương đại khó có thể hình dung và định hình nếu không có nó. Nhưng truyền thông có thể làm tốt hơn cho nền dân chủ hay không?

Vấn đề là phải biết cụ thể hơn những nội dung cần hỏi. Tôi có thể tưởng tượng ít nhất có bảy mục tiêu không hoàn toàn tương thích, mà một hệ thống truyền thông dành trọn phục vụ nền dân chủ có thể hướng đến:

1/ Truyền thông báo chí nên cung cấp cho công dân những thông tin đầy đủ và công bằng, nhờ đó họ mới có thể đưa ra những quyết định đúng đắn thể hiện quyền công dân (nói cách khác, truyền thông nên làm đúng những gì mà đa số các nhà báo cho rằng họ đang cố làm – kể cả gây ra hiệu ứng chẳng vui vẻ gì mà, theo như một số người chỉ trích, đó là làm chán nản và gây nhầm lẫn cho mọi người, đẩy họ quay lưng lại với chính trị).

2/ Truyền thông báo chí nên cung cấp một khuôn khổ chặt chẽ để giúp công dân có một cái nhìn tổng thể về thế giới chính trị phức tạp. Họ nên phân tích và giải thích chính trị học theo hướng sao cho công dân có thể hiểu và hành động được. (Nói cách khác, truyền thông nên làm chính những gì mà mục tiêu khách quan nghề nghiệp bảo họ không nên làm: giải thích tin tức).

3/ Truyền thông nên đóng vai trò làm người chuyển tải chung cho các quan điểm của các nhóm người khác nhau trong xã hội; như lời của Herbert Gans là nó nên “đa quan điểm”. (Nói cách khác, truyền thông không nên cung cấp một sự liên kết bao trùm cho tin tức, tức là trái ngược với mục tiêu 2).

4/ Truyền thông báo chí nên cung cấp số lượng và chất lượng tin tức mà mọi người muốn; tức là thị trường phải là tiêu chí sản xuất tin. (Nói cách khác, truyền thông báo chí nên gắn với nguyên tắc vốn được nhiều nhà phê bình khẳng định là đẩy báo chí đến chỗ giật gân, thỏa mãn dục vọng và tầm thường).

5/ Truyền thông nên đại diện cho công chúng và nói lên tiếng nói của công chúng cũng như nói về lợi ích của công chúng để chính quyền biết đến.

6/ Truyền thông báo chí nên khơi dậy sự cảm thông và hiểu biết sâu sắc, để công dân trên quy mô lớn có thể đánh giá đúng tình hình cuộc sống con người trên thế giới, và nhờ vậy những tầng lớp tinh hoa có thể biết và hiểu thực trạng cuộc sống con người, đặc biệt là những người bình thường, và học cách cảm thông với họ. (Nói cách khác, truyền thông báo chí nên làm chính những gì bị các nhà ngoại giao, những người không tin cảm thông là một cơ sở chính sách đối ngoại, chỉ trích; báo chí đã đưa những hình ảnh khốn cùng của người dân Srajevo và Somalia).

7/ Truyền thông báo chí nên cung cấp một diễn đàn đối thoại giữa những công dân, nó không chỉ thông tin về việc ra những quyết định dân chủ, mà phải là một quá trình, một thành tố trong đó.

Ngày nay, giới truyền thông báo chí nói chung đang cùng nhau làm những việc đó. Thực tế, một tổ chức báo chí đơn lẻ có thể thử làm cả bảy điều không thể đó trước bữa sáng. Nhưng xin lưu ý là một mục đích có thể mâu thuẫn với mục đích tiếp sau. Và vũng xin lưu ý là cung cấp thông tin công bằng và chính xác là chức năng thường được nói đến của báo chí, nhưng chỉ là một trong nhiều mục đích mà báo chí có thể tự đặt ra. Chúng ta đã đi quá xa khỏi lý thuyết chuẩn tắc chặt chẽ của báo chí. Và hầu như chẳng có gì để thúc đẩy các tổ chức báo chí thay đổi điều đó. Không giống công nghiệp ô tô và vi điện tử, báo chí Mỹ không bị thách thức từ nước khác. Không giống giáo dục đại học, nó không được thúc đẩy bởi sự đa dạng của các mô hình hoàn thiện bên trong. Báo chí không khao khát sự đa dạng. Báo chí ngầm, báo chí đảng phái, báo chí thay thế vẫn tồn tại nhưng nói chung bị bỏ qua. Các câu chuyện báo chí rò rỉ từ các luồng thông tin của tầng lớp tinh hoa xuống các tầng lớp khác, nhưng sự “chảy ngược lên” của những câu chuyện quan trọng là hiếm hoi đến mức mỗi lúc xảy ra là rất ấn tượng,t hậm chí có thể đạt giải Pulitzer. Dường như báo chí đã bỏ qua và từ chối những điều có thể trở thành mầm mống quan trọng nhất của sự thay đổi. Nhỏ có thể là đẹp trong nghề làm chăn Amish hay trong giai đoạn khởi sự công ty phần mềm – nhưng không phải trong báo chí. Ngay cả ở các trung tâm nghiên cứu của nó và với những hiệp hội trợ giúp của nó, báo chí dường như thành công với sự quyến rũ của danh tiếng, thành công thương mại, và phạm vi quốc gia.

Dù ở các khía cạnh khác, từ thuốc men đến phúc lợi, công tác xã hội và giáo dục, sự tập trung hình thành các chính sách công cộng, làm suy nghĩ trở nên sắc bén. Nhưng trên truyền thông báo chí, hầu hết các vấn đề chính sách lại hoàn toàn mang tính tự do chủ nghĩa – chỉ cần nhà nước đừng dính vào. Thật dễ cảm thông với suy nghĩ đó. Nhưng điều tiếp sau đó là báo chí không phải nghĩ đến bản thân mình theo cách thức mà hầu hết các thể chế đều phải nghĩ – với tư cách là những thể chế phụ thuộc vào sự đánh giá của công chúng và các chính sách điều tiết chung. Phản ánh của nhà báo về các công việc riêng của họ không được kiểm chứng theo quy tắc phải tác động thực tế đến chính sách thể chế. Ngược lại, ngay cả một giảng viên quê kệch thiết kế các khóa đào tạo cơ bản cho sinh viên năm đầu hoặc sửa đổi các yêu cầu nhập học hay chuẩn bị một báo cáo cho ủy ban chấp chứng chỉ cũng đều có kinh nghiệm mắt thấy tai nghe trong việc đề ra chính sách nhiều hơn nhà báo có kinh nghiệm viết về vấn đề đó.

Truyền thông báo chí Mỹ có thể tốt nhất thế giới – mặc dù tôi ngờ rằng hệ thống chính trị và văn hóa cũng phải tương xứng thì tầm vóc đó mới có ý nghĩa. Báo chí Mỹ ngày nay có thể tốt hơn bất kỳ thời điểm nào trước đây – tôi tin vào điều đó. Nhưng báo chí có phục vụ nền dân chủ tích cực như nó có thể hay không lại là một vấn đề khác; về điều này báo chí rất ít nói theo ngôn ngữ thực dụng, thậm chí làm còn ít hơn. Điều đó có thể thay đổi. Trong báo chí, có một phong trào manh nha hướng đến “báo chí công cộng” đang tìm cách thể chế hóa những cách thức mà trong đó chính công chúng, chứ không phải nhà báo hoặc quan chức nhà nước, định ra các chương trình lịch biểu tin tức. Hiện đang có các cuộc tranh luận nghiêm túc xem phải làm gì khi Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp làm xói mòn nền dân chủ chứ không phải bảo đảm cho nền dân chủ ấy. Cass Sunstein là một trong những học giả về hiến pháp cho rằng quan điểm “thị trường tự do” đối với tự do ngôn luận và báo chí có thể cản trở việc thúc đẩy nền dân chủ chủ định. Ông lấy dẫn chứng các lựa chọn chính sách phù hợp với nền dân chủ. Ông lấy dẫn chứng các lựa chọn chính sách phù hợp với nền dân chủ có thể đem ra thử nghiệm: chẳng hạn dùng luật pháp áp đặt quyền phản hồi trên báo chí, hay thậm chí xây dựng chương trình trợ cấp nhà nước mang nội dung trung hòa cho các tờ báo để băng bài đi sâu vào các vấn đề chính trị.

Đây là những diễn biến đáng khuyến khích. Nếu nó còn có lỗi, đó chỉ là vì nó vẫn coi tin tức báo chí như thông tin. Trong dài hạn, điều này có thể sai lầm giống như việc coi tin tức báo chí là hệ tư tưởng. Báo chí là văn hóa. Để phát triển luận điểm đó một cách nhất quán, thì vấn đề đặt ra không phải chúng ta có nhiều hay ít tin tức, mà chúng ta có loại tin tức gì. Và vấn đề không phải là quyết định của tin tức đến nền dân chủ (hoặc của nền dân chủ lên tin tức), mà là đặc điểm cấu thành tương tác của cả hai.

Hãy xem ý nghĩa này để hiểu được những quy ước và thông lệ của báo chí chuyên nghiệp. Nghề truyền thông được định hình không phải trong mối quan hệ với một vài thước đo thống nhất nghề nghiệp trừu tượng, mà là trong mối quan hệ với các cấu trúc chính trị bền vững và nền văn hóa chính trị của một xã hội nhất định. Trái với truyền hình Mỹ, báo chí truyền hình Italy giới thiệu chính trị như là hoạt động đảng phái chứ không phải chính quyền nhà nước hay vận động bầu cử tổng thống. Điều đó có nghĩa là ở nước Mỹ tin tức chính trị thông thường là câu chuyện tổng thống đang cố gắng chi phối, hay đang cố gắng điều hành đất nước theo hướng tối đa hóa khả năng tái cử, Quốc hội ủng hộ hay phá rối, các sự kiện quốc tế làm tăng hay giảm khả năng này, cách thức của ông được tạo điều kiện dễ dàng hay bị làm biến động bởi các lực lượng kinh tế vốn hay vượt quá tầm kiểm soát của tổng thống.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần X


Báo chí với vai trò là kiến thức công cộng

Giả sử chúng ta đặt câu hỏi: Tại sao công chúng biến mất dần (nếu thực tế đó xảy ra)? Tại sao cộng đồng công dân tích cực đã bị tan rã (nếu thực tế đó xảy ra)? Như những gì được nêu ra, tôi không nghĩ đó là những câu hỏi chính đáng. Nhưng chúng lại là những câu hỏi thường gặp trong phê bình xã hội đương đại. Và nếu chúng ta tạm thời chấp nhận những câu hỏi đó, thì sẽ phải giải thích thực trạng ý thức công dân thấp kém hiện nay như thế nào?

Nửa tá lý do quan trọng hàng đầu không dính dáng nhiều đến truyền thông. Trước hết, có sự chuyển đổi từ nhà nước lấy Quốc hội làm trung tâm sang nhà nước lấy hành pháp làm trung tâm từ đầu thế kỷ này; từ một chính phủ quốc gia tập trung vào các vấn đề đối nội tới một chính phủ trong đó các vấn đề quân sự đã chi phối và “tình trạng an ninh quốc gia” có ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống chính trị của chúng ta từ những năm 1940; từ một xã hội của những “cộng đồng ốc đảo” trong chính trị địa phương có vai trò đáng kể và chính quyền liên bang chỉ tác động từ xa và từng đợt lên cuộc sống hàng ngày, sang một thế giới trong đó nhiều vấn đề mang tính liên bang đã làm cho cuộc sống Mỹ không tránh khỏi bị quốc gia hóa. Đó là các vấn đề thuế thu nhập (1913), an sinh xã hội và các chương trình phúc lợi khác (thập kỷ 1930), tài trợ trực tiếp cho giáo dục đại học và sinh viên đại học (1944), sự can thiệp tích cực của chính quyền liên bang vào các công việc địa phương nhằm thực thi Tu chính án thứ mười bốn (thập kỷ 1950), và trách nhiệm thường xuyên của liên bang đối với chính sách việc làm (thập kỷ 1930 và sau đó). Thêm vào đó là quá trình dân chủ hóa các đảng phái chính trị thông qua bầu cử cơ sở đã làm suy yếu quyền lực của nó, và thật nghịch lý là nó cũng làm giảm sức mạnh tham gia của các tổ chức đảng địa phương; cuộc cải cách bầu cử đó giống như một cuộc bỏ phiếu kín và việc đăng ký cử tri đã làm giảm số lượng người đi bầu, cũng như chấm dứt việc các đảng phái nhúng tay vào những cuộc bỏ phiếu; sự tập hợp và vận động đó đã làm cho cuộc sống gia đình có tính riêng tư hơn – ít đi lại ở các quán rượu, công viên, và cửa hàng đại phương, trong khi lại mở rộng quan hệ nhiều hơn với người dân và tổ chức ngoài các cơ sở chính trị theo địa bàn tại địa phương. Tất cả những điều đó liên quan nhiều đến đặc điểm của công chúng, phạm vi công chúng, và triển vọng của quyền công dân, chứ không dính dáng nhiều đến các thiên kiến, tập trung quyền sở hữu, hay chất lượng trí tuệ của truyền thông báo chí.

Tôi không hạ thấp vai trò thực sự của truyền thông báo chí; tôi muốn biết vai trò thực sự đó là gì thông qua việc xem xét truyền thông trong bối cảnh các lực lượng chính trị và xã hội khác như là những bộ phận của “hệ sinh thái” liên lạc công cộng rộng lớn hơn. Các cuộc tranh cãi về vai trò của truyền thông báo chí trong nền dân chủ vẫn liên tục diễn ra độc lập với nhau, như thể là tất cả những gì nền dân chủ cần là báo chí phải chuyển tải những thông tin tốt nhất có thể từ các chuyên gia báo chí, những người có khả năng đánh giá thông tin đó, đến với đại chúng người đọc, tức là người có thể sử dụng thông tin đó. Tất nhiên, bản tin chính trị nên thông itn đầy đủ cho người dân. Nếu không có các thông tin chính xác về quan điểm và giá trị của ứng cử viên, cử tri không thể bỏ phiếu một cách khôn ngoan; nếu không đưa tin đầy đủ về hoạt động của chính quyền giữa các kỳ bầu cử, thì công chúng quan tâm không thể giám sát hiệu quả hoạt động của những đại biểu mà họ đã chọn.

Nhưng một tập thể công dân có thể làm gì nếu họ thực sự có được thông tin? Điều gì sẽ xảy ra nếu các nhà báo chuyên nghiệp được tự do cung cấp những thông tin tốt nhất mà họ có thể, không bóp méo bởi sự cạnh tranh điên cuồng trong việc cấp tin, không tập trung vào những vấn đề không liên quan tới lợi ích của công chúng, không bị những yêu cầu thương mại ảnh hưởng – đó là yêu cầu buộc phải loại tin chính trị để thay thế bởi quảng cáo, thể thao, dạy chế biến món ăn, không bị kiểm duyệt do nỗi lo sợ rằng nếu viết quá sâu về chính trị thực chất sẽ làm công chúng chán ngán và khiến cho những câu chuyện này không được đọc. Nếu nhà báo có thể viết những gì họ muốn theo lý tưởng cao nhất của báo chí, thì có còn nền dân chủ không?

Đặt ra câu hỏi này tức là thừa nhận câu trả lời: tất nhiên là không. Công chúng với những thông tin sẵn có không phải là công chúng được thông tin đầy đủ. Ngay cả công chúng có thông tin trong đầu chưa hẳn là công chúng có các động cơ hoặc khuôn khổ tham khảo hoặc có khả năng hành động trong một nền dân chủ. Có sự khác nhau giữa “công dân thông tin” với công dân được thông tin. “Công dân thông tin” là người bị bão hòa bởi những “byte”, “bit” thông tin, còn công dân được thông tin là người không chỉ có thông tin mà còn có quan điểm và sự ưu tiên để biến thông tin trở nên có ý nghĩa.

Thực tế, một người có thể đưa ra những nhận xét lệch lạc rằng nếu báo chí cung cấp nhiều tin tốt hơn, thì xã hội chính trị càng bị ốm yếu hơn. Michael Robinson đã lý luận rằng: “Sự gia tăng những thông tin có sẵn trong xã hội, đặc biệt là trong xã hội tự do, nhiều khả năng sẽ làm tăng bất mãn và vỡ mộng chính trị  ở một mức độ nào đó”. Robinson cho rằng nếu báo chí càng phê bình và mang tính chiến đấu, thì nhiều khả năng những người thường xuyên xem và đọc tin sẽ thấy chính trị là một món ăn tồi. Những người khác đã cho rằng càng nhiều tin tức khách quan, càng có nhiều khả năng người đọc và người xem sẽ từ chối chính trị do không chịu đựng nổi. Tốt nhất là họ sẽ học cách đánh giá chính trị từ xa, như là các chuyên gia phê bình chứ không phải là các thành viên tích cực tham gia.

Nếu đúng như vậy thì thật thú vị. Nhưng nếu có các hiệu ứng đó, thì cũng hông thể là các hiệu ứng mạnh. Có một khoảng cách lớn giữa tin tức và hành vi chính trị. Tác động của tin tức lên hành vi chính trị luôn luôn khó xác định vì tin tức không phải là một thành tố tự chủ. Nó không tạo nên các cuộc tranh luận chính trị mà là phát lại, lọc ra và dùng lại những tranh luận đó. Do báo chí trở nên tiêu cực và chuyên nghiệp hơn trong một thế hệ qua, nên cánh hữu Mỹ được chính trị hóa nhiều hơn trên phạm vi đại chúng thông qua phong trào phản đối nạo phá thai – có lẽ nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào trong thế kỷ này. Đó không phải là hậu quả mà các nhà phê bình truyền thông có thể đoán trước được. Họ thấy tin tức làm cho chính trị Mỹ trở nên bảo thủ hơn vì làm giảm vai trò của cánh tả, chứ không vì kích hoạt cánh hữu!

Trong khi đó, công dân đã bầu một số lượng đáng kể chính trị gia người da đen, đó là lần đầu tiên kể từ thời kỳ Tái thiết. Phụ nữ đã trở thành một lực lượng chính trị và đã được bầu vào các chức vụ chính trị với số lượng chưa từng có. Một phong trào môi trường rộng lớn và sắc sảo về mặt chính trị đã xuất hiện. Những cái đó không bị ngăn cản bởi quyền lực phá tan của truyền thông. Các hoạt động chính trị đó phải chăng đã phát triển to lớn hơn nhờ các tin tức tốt hơn? Có lẽ như vậy, nhưng tôi không nghĩ có bất kỳ nhà quan sát nào của các phong trào này gán bước thụt lùi hoặc vinh quang của chúng cho truyền thông. Hoạt động chính trị dẫn con người đi theo báo chí, chứ báo chí thường không dẫn con người đến hoạt động chính trị.

Ngay cả nghiên cứu tốt nhất về truyền thông và phong trào xã hội cũng nói nước đôi. Đó là cuốn sách về phong trào Sinh viên vì một xã hội dân chủ (SDS) trên tâm điểm truyền thông của Todd Gitlin. Một mặt, các bản tin của New York Times về thời kỳ đầu của SDS đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển nhanh chóng của tổ chức. Đó chính là quyền lực của sự khuếch tán thông tin – việc phát hành rộng rãi tin tổ chức được thành lập đã làm cho điện thoại văn phòng SDS bận liên tục. Nhưng với những bài báo tầm thường hóa và hạ thấp những nỗ lực của SDS, truyền thông đã góp phần đáng kể như thế nào vào sự tan rã của phong trào này, một phong trào dựa vào sinh viên và tương đối ít nguồn lực, đã bị suy yếu một phần bởi sự gia tăng của những nỗ lực phản đối được đầu tư nhiều tiền hơn và “hợp pháp” hơn của những người theo phái tự do truyền thống đang tập hợp phản đối Chiến tranh Việt Nam, và đã bị xé tan do cuộc chiến tư tưởng của những tổ chức cánh tả vốn đã nổi tiếng từ lâu? Gitlin cho rằng các bản tin truyền thông góp phần vào sự tan rã của SDS, và có lẽ ông đã đúng. Nhưng dễ thấy những bản tin cảm thông lúc đầu gây tổn hại cho SDS nhiều hơn những bản tin chỉ trích về sau. Những bản tin ban đầu là sự quảng cáo cho SDS, góp phần thu hút các thành viên mới. Các thành viên kiểu “Quyền lực thảo nguyên” này đã hất cẳng những “Lính cận vệ già”, chuyển đường hướng của SDS từ một cơ quan cánh tả có tổ chức sang một trung tâm điều hành một phong trào sinh viên đại chúng. Các thành viên mới thoáng hơn, kém kiên nhẫn hơn, và việc chuyển đổi ban lãnh đạo đã xé lẻ tổ chức. Không khó để có thể khẳng định rằng tác động của những thành viên mới trong SDS vào sự đổ vỡ của nó nhiều hơn tác động về sau của các bản tin báo chí bên ngoài đầy tính tùy tiện và hạ thấp. Phân tích của Gitlin rất thuyết phục đối với cái mà nó gọi là là khuôn khổ chính trị quy ước – hay “bá chủ” – của xu thế chủ đạo truyền thông báo chí, nhưng không có tính thuyết phục đối với việc nó ngụ ý coi báo chí như một lực lượng xã hội nói chung.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần IX


Trong khi đó, trước Tết Mậu Thân, công chúng đã không thể hài lòng với những nỗ lực chiến tranh. Một điều tra năm 1967 cho thấy 50% người Mỹ tin rằng sự dính líu của Mỹ vào Việt Nam là một sai lầm. Khi truyền hình và các phương tiện thông tin khác dần dần chỉ trích cuộc chiến sau Tết Mậu Thân, thực tế điều tra xã hội lại cho thấy tạm thời có sự gia tăng ủng hộ cho cuộc chiến, một kiểu tập hợp dưới cờ trong lúc nguy nan. Đến lúc Walter Cronkite tuyên bố chiến tranh là một thế cờ bí (và ngày 27 tháng Hai 1968), thì thực ra ông chỉ quay lại với quan điểm của lớp người Mỹ trung lưu. Khó có thể không nhất trí với những gì George Moss đã viết: Quan điểm của công chúng tác động lên tin truyền hình về cuộc chiến nhiều hơn là truyền hình tác động lên quan điểm công chúng. Moss kết luận rằng vai trò của truyền thông trong việc quyết định kết quả cho cuộc tính “ngoại vi, nhỏ bé, không đáng kể, thực tế là không quan trọng đến mức không thể đo lường được”.

Nhiều “hiệu ứng” trước đây từng được gán cho quyền lực to lớn của truyền thông hóa ra chỉ được giải thích một cách đơn giản bằng các nhân tố khác. Phải chăng báo chí giật gân đã đẩy nước Mỹ vào cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha? Thực tế, báo chí không nhất quán về vấn đề này. Ít có dấu hiệu cho thấy các tờ báo New York được phát hành rộng khắp và hay đặt điều phỉ báng lại tạo ra tác động đặc biệt nào đối với Quốc hội hay tổng thống. Hầu như không cần lấy chủ nghĩa sô-vanh hiếu chiến bị truyền thông lèo lái ra để giải thích cuộc chiến với Tây Ban Nha, vì các sử gia đã khẳng định xu hướng chủ nghĩa bành trướng bắt rễ trong chính sách đối ngoại Mỹ, và tư tưởng mạnh mẽ của các nhà lãnh đạo chính trị xuất phát từ Học thuyết Monroe cho rằng Mỹ Latinh thuộc tầm ảnh hưởng của nước Mỹ. Những lý giải ban đầu về cuộc chiến không đề cập đặc biệt đến báo chí giật gân. Tuy nhiên, các nhà sử học trong thập niên 1920 và 1930 bị sốc bởi cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và đổ tội cho những nhà tuyên truyền Anh góp phần kéo nước Mỹ vào một cuộc chiến không đem lại lợi ích thực sự cho người Mỹ, đồng thời các phân tích của họ về cuộc Chiến tranh thế giới cũng dẫn chiếu luôn đến cuộc chiến Tây Ban Nha – Mỹ trước đó.

Họ đã hai lần sai. Mỗi một nỗ lực tuyên truyền của Anh ở nước Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất đều được đáp trả bằng một nỗ lực rất bài bản của người Đức; có nhấn mạnh đến từ “tuyên truyền” cũng chẳng giải thích được gì cho sự can thiệp của Mỹ. Những người xét lại trong những năm 30 đã qua đời từ lâu, nhưng câu chuyện truyền thuyết mà họ đặt ra về báo chí giật gân vẫn tồn tại, và tiếng trầm trồ về quyền lực truyền thông vẫn còn tiếp tục. Tất nhiên, bị cáo hiện nay là truyền hình. Không nghi ngờ là truyền hình đã có tác động lớn đối với văn hóa và chính trị Mỹ. Ví dụ, chắc chắn nó đã thay đổi tính chất và kiểu cách của các chiến dịch vận động chính trị, nhưng điều này có lẽ không tác động nhiều đến quyết định của cử tri. Bất chấp những phân tích vô cùng tận về mặt tối của chính trị được tạo ra bởi sự hiển thị trên truyền hình và các thông tin cực ngắn của nó, tất cả những vấn đề được đưa ra trong khoảng thời gian ngắn ngủi tập trung sự chú ý của mọi người, của báo chí truyền hình, tất cả những sai sót khi đưa tin về các cuộc đua ngựa, vân vân và vân vân, một nhà khoa học chính trị sau khi đã rà soát các nghiên cứu về những thay đổi đó đã kết luận: “Tôi không… tìm thấy bất cứ bằng chứng nào cho thấy những thay đổi này đã ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng của nền dân chủ Mỹ”.

Bây giờ, để cho công bằng, có lẽ phải trả lời câu hỏi cái gì được coi là bằng chứng của chất lượng nền dân chủ Mỹ? Nhưng câu hỏi này cần được trả lời bởi cả những người khăng khăng tin vào quyền lực truyền thông, cũng như những người phủ nhận nó. Riêng tôi ít nhất cũng đề xuất được những gì không nên coi là bằng chứng: những lời kêu ca về truyền thông của những ứng cử viên không thắng cử. Thất bại thúc đẩy họ phải tìm một kẻ để trút giận, và truyền thông là đối tượng thường được chọn. Các ứng cử viên thất bại trong bầu cử thường đổ lỗi sự thất bại của mình là do công chúng thiếu ý chí và lầm đường lạc lối, hiện tượng này đã có từ thời kỳ thuộc địa, khi mà những kẻ thất bại thường kêu ca về “tình trạng suy giảm giá trị nền cộng hòa”. Mốt hiện nay hơi khác, họ đổ lỗi cho truyền hình làm suy giảm các giá trị chính trị, làm cho cử tri bị thông tin sai và định hướng sai. Sau cuộc bầu cử năm 1984 mà trước đó đã biết chắc Ronald Reagan sẽ trúng cử vì ông là một tổng thống thời bình được đánh giá cao trong các cuộc thăm dò do làn sóng thịnh vượng kinh tế mới sau thời kỳ suy thoái 1981 – 1982, ứng cử viên thất bại Walter Mondale đã đổ lỗi cho thấy bại của mình trên truyền hình: “Tôi chưa bao giờ thực sự nồng nàn với truyền hình. Và công bằng mà nói, truyền hình cũng chưa bao giờ mặn mà với tôi”. Michael Dukakis sau thất bại trong cuộc chạy đua giành ghế tổng thống năm 1988 đã công kích: “Bản chất nông cạn ngày càng tăng của các chiến dịch tranh cử đã tầm thường hóa các vấn đề quan trọng để phục vụ mục đích tạo dựng hình ảnh”. Ông nói rằng, cuộc bầu cử hóa ra chỉ là “về ngữ cú. Nó là về các bản tin cực ngắn trong 10 giây. Và các phông màn được dựng nên để phục vụ truyền hình. Và sự tiêu cực tiếp diễn”. Ông khẳng định sai lầm lớn nhất của mình là đã không hiểu được thời sự truyền hình.

Tất nhiên người thắng cử không gắn thành công của mình cho những lực lượng giống như nguyên nhân mà người thất bại nói với chúng ta. Mọi người thường tin rằng thành công của họ xuất phát từ năng lực tự thân của mình, trong khi thất bại là sản phẩm của một thế lực bên ngoài. Có lẽ phải tạm ngừng việc các nhà bình luận quá coi trọng nhận xét của các ứng cử viên chiến thắng và thất bại.

Mối bận tâm hiện nay về truyền thông đã nhầm lẫn phòng khách công cộng, nơi mọi người tự do trò chuyện, với trung tâm của xã hội. Cuộc sống trong một gia đình thường diễn ra trong phòng bếp và phòng ngủ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn luôn tự đánh giá và bị người khác đánh giá dựa trên chất lượng và cách nói chuyện tại phòng khách công cộng. Phòng khách là bộ mặt của gia đình trước thế giới, là điểm giao nhau giữa cá nhân và cộng đồng xã hội. Mọi người hầu như không sống trong đó, nhưng nó là nơi họ gặp mặt người ngoài; nó là chân dung tự họa mang tính biểu tượng của họ về thế giới bên ngoài.

Bản thân tính hiển thị cũng có tầm quan trọng. Hiệu ứng truyền thông lớn nhất có thể không phải là những tác động đo đếm được đối với các quan điểm và niềm tin do truyền thông thiên lệch tạo ra, mà chính là phạm vi tin tức được truyền thông đem đến cho đầu óc của mỗi người, một loạt các mối liên hệ mà nó đưa ra ánh sáng, các thông lệ xã hội cụ thể và các quy tắc tập thể mà thông qua đó truyền thông đã tổ chức cuộc sống hàng ngày và cách thức của chúng ta. Tôi nghĩ truyền thông quan trọng hơn, chứ không phải kém quan trọng hơn, những gì mà công chúng vẫn nghĩ, nhưng không phải theo cách mà mọi người vẫn giả định. Truyền thông không chỉ tổ chức thông tin, mà còn tổ chức khán thính giả. Nó không chỉ hợp pháp hóa sự kiện và nguồn tin, mà còn hợp pháp hóa người đọc và các quan điểm. Khả năng bao quát toàn bộ công chúng của nó có lẽ là đặc điểm quan trọng nhất của truyền thông. Thực tế là bạn và tôi đọc cùng một trang nhất hoặc xem cùng một bản tin truyền hình như tổng thống Mỹ và chủ tịch hãng IBM đã đem lại sức mạnh cho truyền thông; ấn tượng về sự bình đẳng và tương đồng mà nó tạo ra, cho dù là ảo tưởng, đã nuôi dưỡng hy vọng về cuộc sống dân chủ. Hơn nữa, tính hiển thị – tức là hiển thị trước công chúng – có tầm quan trọng hết sức to lớn, ngay cả nếu không có nhiều người chịu khó đọc và xem thời sự. Chừng nào tin tức vẫn được đưa đến cho đại chúng, thì các diễn viên trên sân khấu chính trị vẫn phải hành động như thể là có ai đó trong công chúng đang nhìn mình. Nếu truyền thông báo chí là dịch vụ chuyển tin cho giới tinh hoa chính trị, thì chúng không phải là dịch vụ chuyển tin cá nhân, và đây là một yếu tố cốt lõi của thông điệp được chuyển. (Ngược lại, trong báo chí Trung Quốc, có hai hệ thống đưa tin cùng tồn tại, các tin tức công cộng được in hằng ngày trên báo chí, và hệ thống thứ hai là các tài liệu nội bộ của các nhà báo nếu tin tức đó có thể ảnh hưởng xấu đến Đảng Cộng sản hoặc các nhân vật chủ chốt của Đảng). Báo chí Hoa Kỳ đương đại giả định rằng công chúng đang nghe trộm; ngay cả khi công chúng vắng mặt, thì giả định về sự hiện diện của công chúng cũng làm mọi thứ khác đi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần VIII


Khuếch đại công chúng cũng là một kiểu chứng nhận cho tầm quan trọng. Tôi còn nhớ tầm vóc của anh trai trong mắt mình lớn lên như thế nào khi tờ nhật báo hàng ngày đăng bảng điểm bóng rổ của đội bóng trường trung học anh đang chơi. Nhiều năm sau, tôi còn nhớ giảng viên và sinh viên trường Đại học Chicago đã tự hào như thế nào khi chủ tịch mới của trường, ông Hannah Gray, được Dick Cavett phỏng vấn trên truyền hình quốc gia. Đó chỉ là những vấn đề nhỏ, nhưng những hiện tượng tương tự có thể xuất hiện với ý nghĩa lớn hơn nhiều. Aliche Walker hồi tưởng thời kỳ trưởng thành ở miền Nam trong phong trào nhân quyền. Lúc đó là năm 1960, gia đình cô lần đầu tiên mua tivi, và “khuôn mặt của Tiến sĩ Martin Luther King, Jr. là khuôn mặt da đen đầu tiên tôi thấy trên màn hình chiếc ti vi mới. Và chuyện này có vẻ khó tin, nhưng thực sự linh hồn tôi được khơi dậy bởi sứ mạng của ông có ý nghĩa như thế nào đối với tôi… Tôi thấy ông là người anh hùng mà tôi đã chờ đợi từ lâu”.

Trong nền dân chủ chính trị, truyền thông là một lực lượng rất quan trọng giữ cho mối quan tâm của nhiều người trong tầm mắt của một số ít người nắm quyền lực nhà nước. Amartya Sen, một nhà kinh tế học viết nhiều về nạn đói, đã nhận xét: “Chưa từng có nạn đói lớn nào xảy ra ở một đất nước có mô hình nhà nước dân chủ và một nền báo chí tương đối tự do”. Đây là một dấu ấn rất đặc biệt. Và Sen còn thêm rằng, điều đó đúng với cả các nhà nước dân chủ nghèo luôn bị mất mùa. Dân chủ trong bầu cử, với sự giúp đỡ của truyền thông, đã ngăn cản nạn đói. Khi phạm vi khán giả của truyền thông được mở rộng, mô hình chính trị cũng thay đổi.

Đó là sự khuếch đại, và còn hơn thế nữa; nó là một loại khuếch đại đạo đức và tổ chức đạo đức. Tin tức trên truyền hình, truyền thanh, hoặc ấn phẩm do các nhà báo tạo ra, khác với những thông điệp mà một quan chức nhà nước hay nhà quản trị doanh nghiệp có thể gửi thẳng đến công chúng bằng Internet hoặc bằng thư trực tiếp. Sự khác nhau ở đây không chỉ là nhà báo có cơ hội, và trên thực tế là một nghĩa vụ nghề nghiệp, phải nghĩ ra thông điệp. Mà sự khác nhau còn là một câu chuyện báo chí hay một chương trình truyền hình biến một sự kiện hoặc một phát biểu thành một yếu tố văn hóa gọi là tin tức báo chí. Một câu chuyện báo chí là một thông cáo có tầm quan trọng và lợi ích đặc biệt. Nó là một tuyên bố của một thực thể cá nhân (hoặc đôi lúc là thực thể công cộng) quen thuộc và thường là thực thể chuyên môn (thỉnh thoảng cũng có thể thực thể chính trị) tại một diễn đàn công cộng; nó tuyên bố rằng một sự kiện nào đó đáng được lưu ý. Nó khuyến cáo rằng những gì được xuất bản là một lời kêu gọi sự chú ý của công chúng. Việc đặt nó lên trang báo hoặc trên sóng truyền thông thể hiện nó đáng được lưu ý như thế nào; người đọc và người xem hiểu được thứ bậc về tầm quan trọng mà điều đó tạo ra. Đó là cấu trúc thứ bậc về tầm quan trọng đạo đức. Chẳng có gì lạ là công việc long trọng nhất trong ngày của một tờ báo là lúc ban biên tập họp quyết định những câu chuyện nào đưa lên trang một, và sẽ đặt vào chỗ nào trên trang một đó.

Báo chí có được quyền lực không phải nhờ tác động trực tiếp của nó lên khán thính giả, mà là nhờ niềm tin rằng kiến thức của công dân đôi lúc cũng tạo ra ảnh hưởng: niềm tin này được minh chứng trong các nền dân chủ bền vững. Quyền lực của báo chí ngày càng lớn mạnh trong một nền văn hóa chính trị đặc trưng bởi niềm tin này.

Như vậy, với tư cách là những người phân phối và trình bày tin tức, là những nhà tổ chức va khuếch đại có đạo đức, truyền thông đại chúng là thể chế trung tâm của cuộc sống hiện đại. Nhưng khẳng định điều đó không giúp nhiều trong việc xác định tác động của khuynh hướng báo chí nghiêng về cánh tả hoặc cánh hữu, việc tổ chức tin tức theo đảng phái hoặc theo quy tắc chuyên môn, hay việc “thiết lập chương trình nghị sự” của tin tức theo chọn lựa của phường hội báo chí.

Hãy xem xét nghiên cứu thực nghiệm rất đáng quan tâm của Donald Kinder và Shanto Iyengar. Nó cho thấy con người phản ứng lại thông tin trogn bối cảnh phòng thí nghiệm. Nếu mọi người xem nhiều chuyện thất nghiệp trên truyền hình, họ sẽ đánh giá thất nghiệp là một vấn nạn cấp bách của quốc gia. Chỉ cần gia tăng một lượng tương đối nhỏ các câu chuyện về một đề tài nào đó trên truyền hình, thì sẽ xuất hiện những hiệu ứng của truyền hình đối với quan điểm, các hiệu ứng đó tương đối dai dẳng và có ý nghĩa về mặt thống kê (theo tiêu chuẩn tâm lý xã hội – hiệu ứng xuất hiện khi các đề tài được thử lại sau một tuần). Hầu như tất cả các nhà phê bình đều rất ấn tượng với kết quả này.

Nhưng điều đó là đáng ngạc nhiên hay đáng thất vọng? Mọi người theo sự chỉ dẫn của truyền hình là sai hay sao? Những chỉ dẫn đó có thể được coi là một chức năng của việc trình bày trên truyền thông ở mức độ nào? Phóng về Đảo Ba Dặm đã đẩy mạnh phong trào chống hạt nhân của Mỹ năm 1979. Nhưng đây là một hiệu ứng truyền thông hay là hiệu ứng của Đảo Ba Dặm? Iyengar và Kinder giải thích thêm rằng tin tức truyền hình tạo ra hiệu ứng “khơi gợi”, không phải tác động lên những gì mọi người nghĩ về một ứng cử viên, mà theo hướng đưa ra các tiêu chuẩn để đánh giá ứng cử viên đó. Điều đó có đúng không? Và ta lặp câu hỏi tương tự, đây là hiệu ứng của truyền thông hay hiệu ứng của một sự kiện theo cách diễn giải của giới tinh hoa quốc gia?

Nếu hiện tượng được giải thích đủ lớn và đủ lan tỏa, thì truyền thông có thể phải nhận trách nhiệm bất kể đặc điểm của truyền thông như thế nào. Ví dụ, nếu chúng ta muốn giải thích sự bàng quan chính trị của người Mỹ (mộ thiện tượng mà các nhà phê bình đã rất lo ngại dưới hình thức này hay hình thức khác trong hai trăm năm qua), thì bất kỳ đặc điểm nào của truyền thông cũng bị coi là một nhân tố góp phần tạo ra hiện tượng đó. Phải chăng truyền thông là những người điều tra và phê bình nhiệt thành vì lợi ích công chúng? Nếu vậy thì tin tức sẽ toàn màu xám và làm vỡ mộng toàn thể công dân. Phải chăng truyền thông quy phục và đồng lõa với quyền lực? Nếu vậy thì công chúng bị ru ngủ trong tính tự mãn và chán ngắt. Phải chăng truyền thông hay hoài nghi, châm biếm và vô tư? Nếu vậy thì nó sẽ khuyến khích sự vô tư trong công chúng. Phải chăng truyền thông quá đầy rẫy những lời tán dương và tin tức hân hoan? Nếu vậy, nó chỉ còn là những bản tin địa phương tốt lành có tác dụng như một liều thuốc an thần hiệu quả. Phải chăng truyền thông rất giật gân? Nếu vậy nó sẽ làm khán thính giả sao nhãng các vấn đề chính trị và cộng đồng.

Có thể hình dung các hình thức báo chí trong đó thiếu vắng các bài báo cho những đảng cách mạng, và không góp phần ly gián chính trị? (Tất nhiên, tất những luận điểm tương tự đó đều dựa trên một giả định là nước Mỹ có một sự thờ ơ của dân chúng đối với chính trị cao đến mức bất thường. Nhưng kết quả điều tra về mức độ “tin tưởng vào chính quyền” của người dân thì cho thấy không hẳn vậy).

Những người có niềm tin tự nhiên vào quyền lực to lớn cảu truyền thông chắc hẳn sẽ ngạc nhiên không hiểu tại sao việc đo lường tác động của truyền thông lại khó khăn đến vậy. Thậm chí cả ở những khu vực, nơi mà các động lực kinh tế đáng kể lẽ ra đã phải mang đến sự nắm bắt tường tận các tác động văn hóa – liên quan đến nghệ thuật biện hộ trong xét xử sơ thẩm hoặc phương pháp thuyết phục trong quảng cáo – những hướng dẫn đáng tin cậy nhưng vượt quá cách nhìn thông thường (hãnh tính đến yếu tố khán thính giả, hãy đơn giản và rõ ràng) vẫn khó có thể có được. Các nhà tư vấn chính trị nhan nhản khắp nơi và luôn tự cho mình là các chuyên gia, nhưng lại đưa ra những lời khuyên đá chéo lẫn nhau và thay đổi lời khuyên sau mỗi kỳ bầu cử. “Chúng tôi vẫn là những nghệ sĩ, cố gắng phát triển một phương cách thu hút sự chú ý và truyền sự quyết tâm một cách ấn tượng”, một nhà tư vấn đã nói. “Nhưng chúng tôi thực sự không biết nhiều lắm. Nếu chúng tôi biết nhiều hơn, chúng tôi có thể sẽ bị nguy hiểm”.

Nhiều tác động giả định của truyền thông đã bị mờ nhạt hoặc biến mất khi được xem xét kỹ lưỡng hơn. Trong giai đoạn cuối thập kỷ 1960 đầu thập kỷ 1970, ai cũng tin rằng các chương trình truyền hình về sự tàn khốc của cuộc Chiến tranh Việt Nam đã đẩy người Mỹ đến chỗ chống chiến tranh, củng cố phong trào phản chiến, gây ấn tượng buộc Washington phải suy nghĩ đây là một cuộc chiến không được lòng dân, và đẩy nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến. Khắp nơi đều thấy người ta nói như vậy. Chỉ có điều là không có bằng chứng nào chứng minh điều đó. Tin tức truyền hình ra sức ủng hộ những nỗ lực chiến tranh của người Mỹ cho đến trước Tết Mậu Thân 1968. Chẳng hề thể hiện sự tàn khốc của chiến tranh, truyền hình tránh nói đến sự căng thẳng của xung đột, và các mạng lưới truyền thông miễn cưỡng đăng tin lính Mỹ bị thương hoặc bị giết trên chiến trường.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần VII


Bản thân truyền thông không đến mức quan trọng như những gì thể hiện trong truyền thông, văn hóa truyền thông, cách thức tiến hành các chương trình đối thoại giữa chính trị gia và công chúng, và hình ảnh trong công chúng. (Làm thế nào mà một nửa người dân Mỹ có thể tin vào ma quỷ, trong khi không tìm thấy dấu vết ma quỷ trong dòng truyền thông trường kỳ dai dẳng?). Về phương diện tác động lên cấu trúc xã hội, chúng không quan trọng hơn những yếu tố như gia đình, trường học, hệ thống pháp luật hình sự, và cũng không quan trọng hơn một số thể chế hoàn toàn không mang tính văn hóa trong văn hóa đại chúng và văn hóa truyền thông – đó là các chính quyền tiểu bang và cơ quan điều tiết liên bang.

Có phải tôi thực sự nghĩ như vậy không? Đúng vậy. Hầu như không có chương trình truyền hình hay câu chuyện báo chí nào được thực hiện từ trước đến nay có thể tạo ra sự tàn nhẫn trực tiếp, hiển nhiên, không thương xót như các đạo luật mang tính áp đặt gia trưởng, các chính sách trường học, và các quy định của các cơ quan nhà nước thường xuyên đánh vào đầu mọi người.

Nếu xét trên phương diện là các chủ thể kinh tế và xã hội, thì các tổ chức báo chí có tác động to lớn đến lợi ích của người lao động làm việc trong tổ chức đó. Bản thân chúng hoặc đại diện của chúng cũng có thể là những chủ thể chính trị có trọng lượng. Ví dụ, trong các cuộc bầu cử sơ bộ chọn ứng cử viên tổng thống, các nhà báo có thể tìm cách cải thiện hoặc làm tê liệt triển vọng của một ứng cử viên nào đó bằng cách đối đáp qua lại với nhau; bút phê của báo chí có tác động hết sức to lớn đối với những cuộc bầu cử địa phương trong đó cử tri không có nhiều thông tin về ứng cử viên. Nhưng sự đóng góp chủ yếu, thường nhật của truyền thông đối với xã hội ở quy mô tổng thể chính là vai trò của nó như các chủ thể văn hóa – tức là người sản sinh và chuyển tải những ý nghĩa, biểu tượng, thông điệp. Văn hóa, theo quan sát của Clifford Geetz, tự thân nó không phải là “một quyền lực, yếu tố do các sự kiện, hành vi, thể chế và các quá trình xã hội tạo ra”, mà thay vào đó, văn hóa là “một khung cảnh, trong đó các sự kiện, hành vi, thể chế và các tiến trình xã hội có thể được mô tả… một cách trí tuệ”.

Tôi ủng hộ quan điểm này ở một mức độ nào đó. Tôi không nghĩ vai trò và ý nghĩa trong cuộc sống lúc nào cũng có thể phân tích theo luật nhân quả một cách máy móc. Văn hóa là thứ ngôn ngữ trong đó hành động được cấu thành, chứ không phải là nguyên nhân gây ra hành động đó. Do đó, chẳng có gì ngạc nhiên khi không có lý thuyết khả dĩ nào về cơ chế tác động của văn hóa lên hành động. Các học giả truyền thông đã quá thấu hiểu vấn đề này. Trên cơ sở giả định về tác động áp đảo của “các cơ cấu rời rạc” đối với việc hình thành bản ngã và xã hội, và để cụ thể hóa cái mà nhiều người theo tư tưởng hậu cấu trúc gọi là “lý thuyết quyền làm chủ”, một số nhà tư tưởng tìm thấy trong các quảng cáo, câu chuyện báo chí, hoặc lời các bài hát được nhiều người ưa thích sự lặp lại và phảng phất hơi hướng có ý thức hệ của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính và các chủ nghĩa khác của Mỹ trong phạm vi chủ nghĩa tư bản và hệ tư tưởng phương Tây. Họ cho rằng những hình thức văn hóa này không chỉ thể hiện, mà còn duy trì chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính, và các kiểu hành xử khác. Tuy nhiên, các nhà tư tưởng khác, những người tự xưng là theo chủ nghĩa duy thực tâm lý, lại cho rằng mỗi cá nhân đều có năng lực đặc biệt để biên giải, cưỡng lại, hay phá vỡ các thông điệp truyền thông, dù cho chúng độc hại về tư tưởng như thế nào hay được che giấu tinh vi đến mức nào. Họ đưa ra những số liệu hoặc giai thoại thuyết phục: trẻ con đã biến giải các “bài hát chửi nhau” bằng cách hát lời xuyên tạc; phụ nữ tìm thấy những mảnh đất độc lập trong khi vẫn ngấu nghiến các tiểu thuyết lãng mạn coi phụ nữ là phái yếu thế; những người mang nặng định kiến thì đọc các hài kịch tình huống có nội dung phân biệt chủng tộc theo một cách, còn những người khoan dung cũng đọc chính những câu chuyện đó nhưng lại hiểu theo nghĩa hoàn toàn ngược lại. Cuộc chiến học thuật diễn ra giữa những nhà đạo đức diễn dịch coi phân tích chữ nghĩa là một nghệ thuật biểu diễn, với những người tự coi mình là người lính bảo vệ tự do cá nhân dưới danh nghĩa nhân quyền và bằng vũ khí khoa học xã hội.

Ai đúng, ai sai? Tôi nghĩ đến câu chuyện của người Idit kể rằng có hai người phụ nữ mang tranh chấp đến xin Giáo sĩ phân xử. Người thứ nhất kể câu chuyện theo cách của mình. Giáo sĩ bảo: “Cô đúng”. Người phụ nữ thứ hai kể chuyện theo cách của mình. Giáo sĩ lại bị thuyết phục và tuyên bố: “Cô đúng”. Vợ Giáo sĩ nghe lỏm được câu chuyện và hỏi: “Làm sao cả hai đều đúng được?” Giáo sĩ trả lời bình thản: “Cô cũng đúng”.

Nhưng vẫn không thể bỏ ngoài lề vấn đề quan hệ nhân quả. Truyền thông có “gây ra” cái gì không? Truyền hình có làm cho xã hội có nhiều bạo lực và đáng sợ hơn không? Các tiểu thuyết tình cảm lãng mạn có xoa dịu được những náo loạn tiềm tàng của những người theo chủ nghĩa bình quyền? Quảng cáo có làm vật chất hóa con người hay không? Harriet Beecher Stowe có góp phần làm bùng phát Nội chiến hay không? Wagner có trợ giúp hay tạo điều kiện cho sự phát triển của nghĩa phát xít hay không? Những câu hỏi đó có vẻ ngờ nghệch, nhưng lại luôn được đặt ra và không thể tránh khỏi, thậm chí nó còn trở thành những vấn đề chính sách công cộng. Có nên cấm quảng cáo trên các chương trình truyền hình trẻ em hay không? Có nên cấm sách báo khiêu dâm hay không? Giáo dục giới tính học đường làm nảy sinh các hành vi tình dục của giới trẻ, hay đóng vai trò giúp đỡ giới trẻ khôn khéo hơn trong quan hệ tình dục mà trước sau gì họ cũng sẽ tham gia? Tác động của quảng cáo thuốc lá là gì? Tác động của dòng cảnh báo ghi trên vỏ bao thuốc? Tác động của tờ hướng dẫn sử dụng trong hộp dược phẩm?

Truyền thông là một “nguyên nhân”. Phân phối thông tin gây ra những hậu quả hữu hình và đo đếm được. Một số loại tội phạm bắt chước mù quáng đã không diễn ra nếu không có truyền thông. Nghi phạm bị bắt vì mọi người nhận ra chúng trên chương trình “American’s Most Wanted” (Tội phạm truy nã đặc biệt của Mỹ). Mọi người tranh nhau đi kiểm tra ung thư (đến cả triệu người) sau khi xem tin tổng thống phải điều trị ung thư. Mọi người đăng quảng cáo rao bán gara hoặc bán thanh lý trên báo địa phương, và sáng hôm sau đã có người đến gõ cửa. Mọi người đọc tin trên trang kinh doanh và gọi điện yêu cầu nhà môi giới chứng khoán của họ mua hoặc bán cổ phiếu. Mọi người xem tin về bão lớn ở Florida và thay đổi kế hoạch đi lại của mình. Mưa dầm thấm lâu, việc chuyển tải các thông tin hữu ích tạo ra sự khác biệt. Thông điệp vẫn là thông điệp. “Giá trị gia tăng” được thêm vào theo những cách thức làm biến đổi thông tin mà nó chuyển tiếp – và đây chính là điểm tập trung hầu hết sự chú ý của những lời chỉ trích. Đó chỉ là sự gia tăng rất nhỏ vào ảnh hưởng tuyệt đối của truyền bá thông tin đại chúng. Truyền thông báo chí, như lời nhà xã hội học Herbert Gans bình luận, “vẫn chủ yếu là truyền tin… Ví dụ, nếu nó đưa tin về thất nghiệp gia tăng, thì tác động mà nó tạo ra xuất phát từ bản thân tình hình thất nghiệp chứ không phải do nó đăng bản tin đó”. Chúng là người chuyển tin của các nguồn chủ yếu chứ không phải là người chủ động đặt ra các chương trình nghị sự chính trị.

Nhưng truyền thông có thêm một chút vào tất cả những câu chuyện được đăng. Khi truyền thông đem tới cho công chúng một tin là khi đó truyền thông tham khảo công chúng về tính hợp pháp chung. Chúng đưa tin đó lên diễn đàn chung của công chúng, và trên đó nó được công chúng thảo luận. Truyền thông không chỉ phân phối bản tường thuật về một sự kiện hoặc một tuyên bố cho nhiều người biết, mà nó còn khuếch đại lên. Mọi sự kiện, bài phát biểu, hay một tài liệu ở một chỗ nào đó được đưa đến hàng triệu người trong khu vực, trong quốc gia hoặc trên thế giới ngay trong một ngày, trong vài giờ, hoặc tức thì. Điều đó có tác động to lớn.

Một trong những tác động là thúc đẩy sự tương tác xã hội trên một phạm vi khác. Đầu thế kỷ XIX, khuếch đại qua truyền thông đã đưa những người sống ở nông thôn Mỹ tiếp cận với cộng đồng địa phương của mình và với thế giới rộng lớn. Chẳng có gì ngoài truyền thông tạo được tác động to lớn đó. Cuối thế kỷ XIX, khuếch đại qua truyền thông cho phép phát triển các trung tâm kinh doanh và siêu thị lớn tại các trung tâm đô thị. Quảng cáo cho các siêu thị lớn giúp báo chí xán lạn hơn, và sự phổ biến của quảng cáo báo chí tạo điều kiện cho các siêu thị lớn thịnh vượng hơn, làm thay đổi mô hình bán hàng và dân cư ở các khu vực đô thị.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần VI


James Carey đã biện luận rất thông minh rằng tin tức gắn liền với một số mô hình giải thích nhất định – và loại bỏ hoặc hạn chế các mô hình khác. Mô hình giải thích chủ yếu củ đa số tin tức báo chí là “động cơ”. Hành vi có chủ thể, chủ thể có mục đích, mục đích giải thích cho hành vi. Đối với các bản tin chính trị, chủ thể thường là một chính trị gia hoặc ứng cử viên, động cơ thường là lợi thế hoặc quyền lực chính trị. Nếu mô hình giải thích này không đủ để hiểu một hành vi hoặc một sự kiện nào đó, nhà báo cũng có thể tìm đến các “nguyên nhân”, cơ chế hoạt động của các lực lượng xã hội hoặc thể chế rộng lớn hơn. Có một quy ước bất thành văn là nhà báo có thể gán các động cơ theo các căn cứ riêng của mình, nhưng nếu họ căn cứ vào các “nguyên nhân”, thì phải tìm đến các “chuyên gia” – khi đó vấn đề mới trở nên hoàn chỉnh.

Tin tức về “cái gì” cũng là một sản phẩm của các giả định văn hóa. Báo chí ở trung tâm đô thị đang ngày càng lệ thuộc vào độc giả ở vùng phụ cận, đôi khi nó còn trực tiếp phục vụ những nhu cầu và lợi ích giả định của họ. Nhưng một công trình nghiên cứu quan trọng về báo chí địa phương ở Philadelphia của Phyllis Kaniss cho thấy thành phố trung tâm vẫn là trái tim của các bản tin báo chí địa phương. Dù phần lớn bạn đọc không sống, làm việc, hoặc bỏ phiếu ở đó, nhưng “những tin tức về chính quyền và các cơ quan thành phố… chiếm vị trí hàng đầu, bỏ xa các vấn đề chính sách mà các cộng đồng phụ cận phải đối mặt”. Sự phát triển của các khu công nghiệp ở ngoại ô ít khi được chú ý, trong khi sự phát triển ở trung tâm thành phố hay cải tạo nhà ga cũ lại được đề cập liên tục. “Các dự án này chiếm vị trí thượng phong trên phương tiện thông tin địa phương không phải vì nó quan trọng đối với bạn đọc trong vùng, mà vì nó là trung tâm có tính biểu tượng”. Phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải rất nhiều nội dung mang tính biểu tượng đặc trưng của đô thị hoặc vùng địa phương, nhiều hơn cả những gì bản thân phương tiện truyền thông có thể biết, và chắc chắn là nhiều hơn cả những gì mà nó có thể tự giác sắp đặt. Nó giúp thiết lập một thực thế có uy lực về tâm lý – một “cộng đồng” – và trong ý thức của mọi người, thực thể đó không hề tồn tại trên mặt đất. Về mặt này, tin tức báo chí là con rối của các giả định chung, hơn là người cung cấp các thông điệp một cách tự giác.

Khi phát triển khái niệm báo chí như là một loại hình văn hóa, tôi không có ý định thay thế thuyết quyết định của xã hội và kinh tế chính trị bằng một ngành khoa học cứng nhắc tương tự – ngành “văn hóa học”. Nếu sử dụng “văn hóa học” kiểu đó, thì nhà báo sẽ trở thành một bánh răng nhỏ bé trong cỗ máy khổng lồ tái sản xuất ra những logic tượng trưng bất biến. Trái lại, tôi coi kinh tế chính trị học, địa lý học, các hệ thống xã hội và văn hóa tương tác với nhau theo những phương thức phức hợp điển hình mà dường như chỉ có lịch sử tường thuật tốt nhất mới nắm bắt được.

Tất nhiên, sự tương tác diễn ra theo thời gian. Văn hóa báo chí Mỹ thay đổi. Nó đã biến đổi trong hàng trăm năm qua theo một số chiều hướng đáng ngạc nhiên. Hai trong số các xu hướng biến đổi đó là “tựa đề tóm tắt” và “phỏng vấn báo chí”. Cả tựa đề tóm tắt và phỏng vấn báo chí, dù với tư cách là một hoạt động xã hội hay viết lách, đều là những hoạt động nền tảng của công tác báo chí ngày nay. Đó là các hoạt động mà những biên tập viên và phóng viên trước Nội chiến chưa thể hình dung. Cả hoạt động xã hội và quy ước viết lách báo chí đều bắt nguồn từ lịch sử. Các hình thức văn hóa không chui ra từ kẽ nứt mà đều có lịch sử hình thành của nó. Chúng phản ánh, gắn bó và củng cố các cấu trúc và giá trị của một xã hội cụ thể, theo những đường   hướng có thể minh chứng cho cả các cấu trúc và giá trị của báo chí, lẫn cho “thế giới” mà nó muốn đề cập.

Ngành báo chí với tư cách một hệ thống văn hóa chưa hẳn đã là hoàn hảo. Nếu đứng quá gần nhà báo là một mối nguy hiểm, thì đứng xa họ cũng là một nguy cơ. Mỗi nhà báo có một tiếng nói khác nhau. Về vấn đề này, tôi đã cố gắng ghi nhận trong khi khắc họa “Phóng viên là gì?”. Văn hóa báo chí không giống nhau giữa các phòng ban trong mỗi tòa soạn, giữa các loại hình phương tiện truyền thông khác nhau, và giữa các tổ chức báo chí khác nhau. Các nhà xuất bản cóo thể tạo ra những khác biệt to lớn. “Nếu bạn chỉ cho tôi một nhà biên tập tốt, tôi sẽ chỉ cho bạn một nhà xuất bản tốt”, Ben Bradlee – cựu chủ bút tờ Wahsington Post nói, “nhà xuất bản đó chính là ông chủ đã khuyến khích người biên tập này và cho họ các công cụ”. Các tờ báo khác nhau cũng hình thành các truyền thống lịch sử khác nhau. Tờ New York Times được coi là tờ báo của biên tập, tờ Washington Post được coi là tờ báo của người viết; các hãng khác nhau có các văn hóa tập đoàn khác biệt. Thậm chí chỉ một tổ chức báo chí cũng là bến đỗ của nhiều kiểu văn hóa khác nhau, và chiến tranh văn hóa có thể diễn ra – giữa các thế hệ khác nhau (cuộc chiến này diễn ra khắp mọi nơi), giữa người Do Thái và người bài Do Thái, giữa những ngườit heo học trường bình thường (City College) và những người theo học trường danh tiếng (Ivy League) trong tòa báo New York Times, giữa những người theo chủ nghĩa tinh hoa và những người theo chủ nghĩa đại chúng ở tờ Boston Globe.

Báo chí ở các thể loại khác nhau cũng khác nhau. Chỉ riêng tin tức chính trị cũng đã có sự khác nhau giữa tin sốt dẻo với phân tích báo chí mang tính suy ngẫm, với loạt bài điều tra chạy suốt ba số báo, với bài viết tạp chí, hay khác với các bài viết dài bình luận sâu hơn  về những vấn đề đã được đưa trước đó như là tin nóng. Ngay cùng một câu chuyện, cũng có những biến dị khác nhau, từ tiêu đề và bình luận chính mà các ấn bản có uy tín thường có xu hướng tôn trọng các nguồn tin chính thức, đến phần thân câu chuyện, trong đó có thể có nhiều cách giải thích khác nhau và một nội dung nào đó xuất hiện có thể trực tiếp đánh đổ cơ sở của một ấn bản chính thức (như câu chuyện về Reagan ở Louisiana trên tờ Los Angeles Times).

Như vậy, dù chưa đầy đủ, nhưng ít nhất bước đầu có thể khắc họa báo chí như là một thể chế văn hóa xã hội. Nó là một thể chế phức tạp hơn nhiều, chứ không đơn giản là một ý thức hệ chính trị trơn tru. Báo chí là một loại hình văn hóa; nhưng đặc trưng riêng của nó – cái mà tôi gọi là “tri thức chung” – thì vẫn cần phải trao đổi thêm.

Truyền thông có gây ra điều gì không?

Báo chí là một phần thông tin cơ bản để con người suy nghĩ thông qua nó và cùng với nó. Nó cũng là một trong những sự vật hiện tượng mà con người nghĩ về nó – tức là báo chí hoặc “giới truyền thông” nói chung. Khi xem xét một số niềm tin của mọi người đối với báo chí hiện nay, tôi cho đó là những niềm tin khá sai lầm. Tôi khẳng định, tính hiển thị của truyền hình được đánh giá quá cao như là một trong những nguồn gốc quyền lực của nó. Elliot King và tôi cho rằng báo chí đã liên tục thổi phồng tính đại chúng của Ronald Reagan trong năm đầu tiên trên cương vị tổng thống. Sự thổi phồng đó một phần vì niềm tin hăng hái của những người ở Washington cho rằng bất kỳ người nào có một hình ảnh đẹp trên truyền hình đẹp như Reagan thì đều phải gần gũi với công chúng. Và cuối cùng, tôi xem xét các di sản mà vụ Watergate để lại cho bái chí, xin ghi nhận tầm quan trọng của nó đối với văn hóa báo chí, nhưng đồng thời cũng xin lưu ý là cả nội các Nixon lẫn các chuyên gia truyền thông đều đã quá thổi phồng tác động của báo chí trong việc đánh đổ một tổng thống.

Những nội dung trên đều nhấn mạnh truyền thông như là một chủ đề trung tâm trong đời sống chính trị và văn hóa của chúng ta [nước Mỹ], và việc ước lượng quyền lực của nó thường bị thổi phồng quá đáng. Các nhà phê bình báo chí và thấy Siêu nhiên, trong khi thực tế đó chỉ là Clark Kent. Đáng buồn là nhận thức sai lầm đó không phải không có hại. Jeff Greenfield, một nhà bình luận thời sự của hãng tin ABC, đã cảnh báo nếu các công dân tin rằng sự “thần bí” của quyền lực truyền thông (đặc biệt là quyền lực truyền hình) là có thật, “thì điều đó sớm muộn gì cũng xảy ra một cách đương nhiên bởi vì nó sẽ làm cho các công dân xa rời các quá trình chính trị”. Không phải quyền lực truyền thông làm cho người dân bị tách rời, mà chính niềm tin của họ vào truyền thông và niềm tin về sự bất lực của họ khi đối mặt với phương tiện truyền thông đã làm việc đó. Niềm tin đó cũng gặm nhấm những người ưu tú theo các y hệt. Mọi người uống cạn nền văn hóa thống trị Washington. Như nhà báo Michael Kelly của tờ New York Times đã nêu, “tin vào điều tra xã hội. Họ tin vào truyền hình; họ tin và đối thoại; đặc biệt tin tưởng sâu sắc vào đối thoại truyền hình. Họ tin những lời châm biếm. Họ tin rằng không điều gì mà một nhà chính trị làm trước công chúng có thể được coi là giá trị bề ngoài của họ, mà tất cả những gì họ làm đều là biểu hiện của những gì họ che dấu… Trên tất cả, họ tin vào quyền lực của những gì do chính họ tạo ra, tin vào tính chủ quan của thực tiễn và thực tiễn của nhận thức, tin vào hình ảnh”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tin tức với vai trò là kiến thức công cộng – Phần V


Tiêu cực, vô tư, thiên về tính kỹ thuật chuyên môn, và chính thức – theo cách nhìn này, vấn đề đối với báo chí chính là xu hướng chuyên nghiệp hóa, chứ không phải là ngược lại. Xu hướng chuyên nghiệp hóa tạo ra góc nhìn mang đặc tính của riêng nó, góc nhìn mà trong việc đưa tin về chính phủ có thể tạo ra một sản phẩm tin tức giúp củng cố quan điểm của công dân về chính trị như một môn thể thao có người xem.

Tập trung vào xu hướng chuyên nghiệp hóa các phương tiện truyền thông để hiểu biết về tin tức thường mang lại nguy cơ nhìn nhận báo chí như cách mà bản thân các nhà báo vẫn nhìn. Khi các nhà báo phác thảo chân dung mình như những chuyên gia chăm làm, thạo tin, những người mà tính cách và sự tận tâm vì chân lý của họ chỉ có thể bị mài mòn bởi áp lực cạnh tranh, thời hạn chót, chủ sở hữu bảo thủ và lòng trung thành đối với các quy tắc chuyên môn, là khi đó họ đang khoe tính toàn vẹn với tư cách là các nhà chuyên môn của mình. Điều này thể hiện kinh nghiệm chủ quan của họ, nhưng đồng thời nó lại hiểu sai về báo chí như một ngành tổng thể. Báo chí không phải là sự tổng hòa của các kinh nghiệm chủ quan cá nhân của các phóng viên và biên tập viên, mà là nguyên nhân hay cơ cấu tạo điều kiện cho sự hình thành những kinh nghiệm này. Chính ma trận của các thể chế và quan điểm đã tạo ra những người nhìn nhận tình cảnh của mình theo cách này.

Luận điểm này cần phải được minh họa. Sự tự nghiệm của các nhà báo là chưa đủ. Chẳng hạn, hãy xem xét câu này: “Chúng ta đưa câu chuyện đi theo cách này bởi vì nhà xuất bản/chủ bút/người sản xuất phải để mắt dè chứng đến đường giới hạn”. “Đường giới hạn” là m6o5t trong những cấu trúc văn hóa mang tính bốc đồng nhất trong thế giới hiện đại. Không phải là không có những hạn chế về tài chính – các doanh nghiệp cũng thường thất bại. Nhưng kế toán là một nghệ thuật hơn là một lĩnh vực khoa học. Điều này đặc biệt đúng với các tổ chức đưa tin vốn thường hoạt động với biên độ lợi nhuận cao và một mức độ “chùng” về tổ chức cao, vì vậy việc cắt giảm được giá thành hoặc coi một ngân sách không phải là một sự giải thích đầy đủ, hay thậm chí là thực chất, cho việc tại sao tin tức lại được đưa theo cách này hay cách khác.

Hoặc hãy xem xét kiểu giải thích này: “Chúng tôi không đưa tin X hay tin Y hay hơn được bởi vì chúng tôi đang phải chịu áp lực về thời hạn chót”. Trong hơn 30 năm qua, các nhà báo viết luôn nói rằng họ không thể cạnh tranh với báo hình trong việc trở thành một “dịch vụ hàng đầu”. Và trong 30 năm qua họ vẫn bảo vệ công việc chất lượng kém của mình bằng áp lực thời hạn chót. Tờ Wall Street Journal không phát hành vào thứ Bảy hay Chủ nhật. Tại sao mọi báo khác vẫn phát hành vào các ngày này. Áp lực về thời hạn chót, giống như áp lực kinh tế, vẫn còn tồn tại nhưng nó mang cơ cấu xã hội, có thể điều khiển được và có thể sửa đổi được.

Các nhà báo đã hiểu lầm về bản thân mình (và nói công bằng là tất cả các nhóm chuyên môn khác, như các giáo sư, cũng nhầm như vậy). Bị mắc kẹt ở trung tâm của nền chính trị và tính cách cá nhân kiểu văn phòng, có xu hướng giải thích những thăng trầm của việc đưa tin bằng các áp lực kinh tế, động cơ và sự thiên lệch cá nhân, hay ảnh hưởng mạnh của các cá nhân có quyền lực, họ nhìn thấy có những khác biệt và thường không lưu ý đến lý do khiến họ đang đứng vững. Các nhà báo không chỉ làm việc trong các loại tổ chức cụ thể nào đó, mà công việc của họ còn dựa dẫm và phụ thuộc vào các truyền thống văn hóa cụ thể. Các truyền thống này liên quan đến nhiều điều, trong đó có việc làm thế nào để biết được điều gì hấp dẫn hay khác thường, làm thế nào để một lời khẳng định trở nên hợp lý, làm thế nào để thể hiện tính hợp thức của bản thân, làm thế nào để viết một tiêu đề lôi cuốn, làm thế nào để giành được một giải thưởng báo chí, làm thế nào để xây dựng một câu chuyện tin tức như một câu chuyện kể chấp nhận được về mặt đạo đức. Các truyền thống văn hóa, ở dạng bất thành văn, thường được cảm nhận bằng bản năng (“một cái mũi ngửi tin”) hay chỉ được nhận thức được bằng kinh nghiệm lâu năm trong nghề (“phán tin”) là bộ dàn khung về văn học, tri thức và văn hóa để từ đó xây dựng tin tức.

Nhận thức rõ được các quy tắc chính thức và không chính thức trong việc hành nghề, các nhà báo ít quan tâm hơn đến các truyền thống văn hóa đã nêu rõ khi nào và bằng cách nào phát huy các tiêu chuẩn chuyên nghiệp hóa. Daniel Hallin viết về ba lĩnh vực đưa tin, một trong số đó vận hành theo các quy tắc báo chí khác nhau. Trong lĩnh vực “tranh cãi hợp pháp”, việc thừa nhận một cuộc xung đột được chấp nhận về mặt văn hóa (giống như bất cứ điểm khác nhau nào giữa hai đảng phái chính trị hàng đầu) bảo đảm có được một xu hướng chuyên nghiệp hóa đại diện cho cả hai phía. Trong lĩnh vực của sự đi sai đường có việc đưa tin về các vấn đề, chủ đề hay các nhóm nằm ngoài tầm với của các nghĩa vụ đưa tin thông thường đối với tính cân đối và công bằng. Chúng có thể bị nhạo báng, gạt ra ngoài lề hay tầm thường hóa mà không phải cân nhắc đến cụm từ “cả hai phía” bởi vì các phóng viên bằng bản năng đã cảm nhận được rằng họ nằm ngoài vùng cấm – giống như là phong trào phụ nữ trong những năm trứng nước.

Lĩnh vực thứ ba là việc đưa tin về các chủ đề trong đó các giá trị được chia sẻ. Nó bao gồm hầu hết các bài viết đề cao, tin tức vì lợi ích nhân bản, tin thể thao và tin hóc búa nhân dịp đặc biệt mà có thể tin vào một sự cảm thông nhân bản được coi là mặc nhiên giữa phóng viên và độc giả. Chẳng hạn, về lý thuyết có thể hiểu được hi mà gặp phải tình trạng những ngôi nhà đắt tiền được xây dựng trên các sườn núi bị phá hủy bởi các dòng lũ bùn ở California hay khi các khu nhà nghỉ sang trọng nằm nép mình trong vùng đồng bằng bị lũ quét sạch, các phóng viên sẽ chất vấn người sở hữu nhữung ngôi nhà bị phá hủy về việc tại sao họ lại ngu ngốc đến nỗi lại xây nhà ở đó (hoặc, theo cách khác, họ có thể chất vấn cơ quan quản lý xây dựng địa phương về việc tại sao họ lại cho phép điều này). Nhưng bằng sự hiểu biết bất thành văn, không hề có hai phía trong một bi kịch với cong người. Cũng sẽ không có công dân nào bị thẩm vấn bằng kiểu câu hỏi mà các quan chức công quyền thường nhận được. Không ai dạy điều này tại trường báo chí, nhưng ai cũng biết. Nó là một phần trong văn hóa thu thập tin tức, một phần trong quy ước của nghề.

Một nét đặc trưng văn hóa quan trọng nữa trong nghề báo là đã chia tin tức thành các mục – địa phương, quốc gia và nước ngoài; hay thông tin chung, kinh doanh, thể thao hay tin đề cao. Đây là những cách thức rất mạnh mẽ và hợp logic trong việc chia lĩnh vực đưa tin báo chí.

Hãy phân biệt giữa bản tin báo chí nói chung, tập trung vào chính trị, với bản tin kinh doanh. Dù các nhà quản trị doanh nghiệp lớn có thể ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống hàng ngày cảu người dân hơn các quan chức nhà nước, nhưng trên tin tức báo chí nói chung, họ luôn ít xuất hiện hơn. Tên tuổi của họ có thể thấy trên các trang kinh doanh – nhưng cách đề cập hoàn toàn khác. Trên trang bìa, nhà báo phải viết theo mong đợi của người đọc, những người sẽ đặt câu hỏi: “Với tư cách là một công dân của cộng đồng, quốc gia, và của thế giới, tôi cần biết những gì đang diễn ra trên thế giới ngày hôm nay?”. Trên trang kinh doanh, nhà báo đặt ra giả thuyết là người đọc sẽ hỏi: “Với tư cách là một nhà đầu tư, tôi cần biết những gì đang diễn ra trên thế giới ngày hôm nay để bảo vệ và phát triển những lợi ích tài chính của mình?”. Người làm báo có thể là một chuyên gia tỉ mỉ và chính xác trong cả hai trường hợp, nhưng chỉ có quy ước về thể loại mới quyết định cái gì có thể đăng và cái gì không, dưới góc độ nào thì có ý nghĩa; chứ năng lực của người viết không phải là nhân tố quyết định.

Như vậy, tin tức báo chí thường được tạo ra một cách tự nhiên, không cố ý. Những người tạo ra tin tức là những người điều khiển một tập hợp các ý nghĩa văn hóa và các hình thức diễn thuyết trong một hệ thống văn hóa nào đó. Nó được tổ chức theo các quy ước nguồn tin – có thể là nguồn hợp pháp, hay người nói hoặc chuyển tin cho nhà báo. Nó tồn tại được nhờ các định kiến trước về độc giả, dù không nói ra một cách cụ thể – khán giả là ai không quan trọng, mà quan trọng là hình ảnh mô phỏng thế giới xã hội của chính nhà báo. Tin tức báo chí là một loại hình văn hóa, bao hàm các giả định về vấn đề cần quan tâm, vấn đề có ý nghĩa, thời điểm và địa điểm chúng ta đang sống, và một loạt những suy xét mà chúng ta cho là nghiêm túc. Một câu chuyện báo chí thường nhằm trả lời những câu hỏi: “ai?”, “cái gì?”, “khi nào?”, “ở đâu?”, và “tại sao?” về đối tượng của nó. Nhưng để hiểu tin tức với tư cách là văn hóa thì cần đặt câu hỏi: tin tức viết về loại người nào được coi là “ai”, về loại sự vật hiện tượng nào được gọi là “cái gì” (sự thật khách quan), về đối tượng địa lý và ý nghĩa thời gian nào được gọi là “ở đâu” và “khi nào”, và cái gì được coi là để giải thích cho câu hỏi “tại sao”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.