Thị trường là động lực tối thượng – Phần II


Hầu hết những ngân hàng lớn tại châu Á hiện đang cung cấp các dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh điện tử (e-banking) hoặc qua môi trường di động (m-banking). Các nhà bán lẻ đang tích cực tung ra các nền tảng trực tuyến như một phương tiện thay thế để thực hiện các hoạt động kinh doanh với khách hàng. Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp ô tô và giao thông vận tải đang cung cấp các ứng dụng trực tuyến và/hoặc ứng dụng di động nhằm mang lại trải nghiệm số cho các khách hàng của họ. Ngay cả khu vực công cũng đang trở nên sôi nổi hơn với dịch vụ quản trị điện tử (e-gorvernance) dựa trên nền tảng kỹ thuật số cho các công dân.

Không cần nói cũng thấy công nghệ đã đặt ra một thách thức lớn cho hầu hết các doanh nghiệp dưới hình thức những xáo trộn thị trường. Nhưng dưới sự đe dọa của những thách thức cũng còn đó những cơ hội cho những doanh nghiệp nào dám đương đầu với tình thế một cách sáng tạo.

Diện mạo mới của cạnh tranh

Những xáo trộn gây ra bởi công nghệ không chỉ giúp loại bỏ ranh giới cạnh tranh giữa các quốc gia như Harold Sirkin đã đề cập. Số hóa cũng làm mất ranh giới giữa các ngành nghề. Cạnh tranh ngày nay có thể xảy ra ở bất kỳ ngành công nghệ hay lĩnh vực nào.

Hãy thử xem qua một ví dụ khác trong ngành khách sạn. Các khách sạn không chỉ cạnh tranh với những đối thủ của mình, mà còn phải đối mặt với những mối đe dọa từ các doanh nghiệp như Airbnb, nơi chỉ đơn giản là tập hợp các danh sách những căn hộ cho thuê tại một thành phố cụ thể. Trang web của doanh này có trên 1.500.000 danh sách ở 190 quốc gia và 34.000 thành phố và cung cấp đủ loại hình lựa chọn cho các khách du lịch dựa trên giá, chất lượng chỗ ở và địa điểm. Được thành lập vào tháng 8/2008 và có trụ sở tại San Francisco, California, Airbnb là một công ty được điều hành và sở hữu tư nhân (Brennan, 2011).

Các công ty vận tải truyền thống dường như đang “hoảng loạn” khi phải đối mặt với mối đe dọa thực sự. Sự nổi lên của các mạng lưới vận tải dựa trên nền tảng trực tuyến như Uber – tương tự như một số loại hình khác tại châu Á – Grab của Malaysia, Didi Chuxing của Trung Quốc (trước đó là Didi Kuaidi), và GoJek của Indonesia – đã tạo nên một làn sóng phản ứng tiêu cực từ các doanh nghiệp vận tải truyền thống, đặc biệt từ những nhà cung cấp dịch vụ taxi. Về phía các chính phủ liên uan cũng đang gánh chịu nhiều áp lực. Họ đang phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan đặc biệt kể từ khi những mạng lưới vận tải với nền tảng trực tuyến ngày càng trở nên phổ biến đối với khách hàng, dù cho vẫn còn tồn tại câu hỏi rằng có nên cho phép những mạng lưới này phát triển mạnh mẽ hay không khi mà chúng đang ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp vận tải truyền thống. Các doanh nghiệp này nhận thấy được tình thế bất lợi vì sự tiện nghi cùng mức giá cả hợp lý mà những công ty vận tải thay thế mang lại thậm chí các công ty này có thể không tuân thủ theo những quy định hoạt động chung.

Những sự xáo trộn tương tự từ lâu đã xuất hiện ở các ngành công nghiệp khác. Craigslist, một trang web quảng cáo rao vặt, nơi liên kết những người mua và người bán địa phương lại với nhau, đã làm cho vị thế của báo chí trở nên lỗi thời. Trang Amazon.com đã gây nên sự xáo trộn đối với các nhà xuất bản và những hiệu sách. Google và Baidu đã làm cho các thư viện trở nên ít được quan tâm hơn. Và danh sách này vẫn còn kéo dài. Trên thực tế, ngay cả những lĩnh vực bảo thủ như ngân hàng cũng không còn tránh được ảnh hưởng từ những sự xáo trộn nữa. Hiện tại, các ngân hàng đang phải cạnh tranh với những đối thủ mới, từ các nhà khai thác viễn thông và các công ty tài chính (Khung 3.1).

Khung 3.1: Các đối thủ mới trong ngành ngân hàng châu Á

Hệ thống tiền di động

Hệ thống tiền di động, còn được biết đến với tên gọi thanh toán di động hay ví điện tử, là các dịch vụ thanh toán hoạt động dưới các quy định, luật lệ về tài chính và được thực hiện từ hoặc thông qua một thiết bị di động. Thay vì phải chi trả bằng tiền mặt, chi phiếu, hoặc thẻ tín dụng, khách hàng có thể sử dụng điện thoại di động để thanh toán cho một loạt các sản phẩm và dịch vụ khác nhau.

Theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2012, các nước có tỷ lệ tài khoản ngân hàng chính thức thấp nhất ở hu vực châu Á lần lượt là: Campuchia đứng đầu với 3,6%, xếp thứ hai là Pakistan với 10% và Indonesia xếp thứ 3 với 19,5%; Việt Nam và Philippines lần lượt chiếm 21 và 26%. Ở khu vực Nam Á, có khoảng 33% người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại một tổ chức tài chính chính thống vào năm 2012, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới. Số liệu này cũng cho thấy rằng 67% dân số tiềm năng chưa có giao dịch tài chính tại các ngân hàng, điều này làm cho Nam Á trở thành một trong những khu vực tăng trưởng tiềm năng nhất trên thế giới đối với ngành công nghiệp thương mại di động.

Sandy Shen, giám đốc nghiên cứu của công ty Gartner cho biết: “Đối với khu vực phi ngân hàng, các ngân hàng không nắm giữ vai trò dẫn dắt. Khu vực này đang được kiểm soát chủ yếu bởi ngành viễn thông với phạm vi phủ sóng rộng hơn về mạng lưới phân phối và có mối quan hệ khách hàng tốt hơn với những người sử dụng dịch vụ di động của họ”.

Cho vay ngang (Peer-to-Peer Lending)

Cho vay ngang hàng (P2P Lending) là việc cung cấp các khoản vay cho các cá nhân hoặc doanh nghiệp thông qua các dịch vụ trực tuyến giúp kết nối người đi vay người cho vay lại với nhau. Do các công ty cho vay theo hình thức P2P cung cấp những dịch vụ này hoàn toàn dựa trên nền tảng trực tuyến nên họ có thể hoạt động với chi phí quản lý thấp hơn và cung cấp các dịch vụ với mức giá rẻ hơn so với các tổ chức tài chính truyền thống. Vì vậy, những người cho vay thường kiếm được phần lợi nhuận cao hơn so với các sản phẩm tiết kiệm và đầu tư mà ngân hàng cung cấp, trong khi người đi vay có thể vay tiền với lãi suất thấp hơn, ngay cả sau khi công ty cho vay P2P đã thu một khoản phí cho việc tìm đối tác cho vay cũng như kiểm tra khả năng trả nợ của người đi vay.

Theo Tổ chức Quốc tế các Ủy ban chứng khoán, Hàn Quốc và Trung Quốc là những quốc gia chiếm thị phần lớn nhất trong thị trường tài chính P2P và thị trường chứng khoán vào năm 2013. Một báo cáo khác từ công ty nghiên cứu và tư vấn Celent đã chỉ ra rằng thị trường cho vay P2P ở Trung Quốc đã đạt đến mức giao dịch 940 triệu USD Mỹ vào năm 2012 và được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng vào những năm sắp tới.

Ngân hàng chỉ hoạt động trực tuyến

Các nhà khởi nghiệp công nghệ ở Trung Quốc là những người tiên phong trong lĩnh vực ngân hàng chỉ hoạt động trực tuyến tại châu Á. Ngân hàng trực tuyến đầu tiên của Trung Quốc là một liên doanh được điều hành bởi tập đoàn Tencent Holdings – nơi sản xuất, phát hành các trò chơi và mạng xã hội. WeBank là một trong năm tổ chức được cấp giấy phép hoạt động theo một chương trình thí điểm của chính phủ nhằm thành lập những ngân hàng do tư nhân điều hành, đây được xem như là một phần trong các động thái mở rộng ngành ngân hàng Trung Quốc. Các ngân hàng được cấp phép trong chương trình này dự kiến sẽ tập trung vào việc mở rộng tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ, cũng như cho các cá nhân.

Tencent nắm quyền quản lý WeChat – ứng dụng nhắn tin di động và mạng xã hội rất phổ biến và là một trong những mạng xã hội lớn nhất tại Trung Quốc, với 549 triệu người dùng hoạt động hàng tháng (tính đến quý I năm 2015). WeChat hiện đã cung cấp các dịch vụ tài chính cho người dùng dưới dạng thẻ ngân hàng kết nối với tài khoản WeChat của họ cùng với nền quản lý tài sản của Tencent, mang đến cho khách hàng cơ hội đầu tư vào các sản phẩm đầu tư của bên thứ bên thứ ba thông qua điện thoại thông minh của họ.

WeBank phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt đến từ tập đoàn mua sắm trực tuyến Alibaba Group Holding Ltd. và đối tác tài chính – dịch vụ của tập đoàn này là Ant Financial Services Group. Tập đoàn Ant Financial điều hành một ngân hàng trực tuyến với tên gọi Mybank và đã bắt đầu đợt huy động vốn lần thứ hai vào năm 2016. Một năm trước đó, Ant Financial đã huy động được hơn 12 tỷ NDT (1,82 tỷ USD) trong đợt huy động vốn đầu tiên từ các nhà đầu tư bên ngoài.

Mức độ mà những đối thủ trực tuyến có thể thâm nhập và làm xáo trộn ngành ngân hàng Trung Quốc phần nào vẫn còn phụ thuộc vào những quy định của chính phủ Trung Quốc. WeBank và Mybank có thể chưa phải là mối đe dọa đối với các ngân hàng Trung Quốc hiện tại, nhưng trong tương lai có thể thấy rằng những đối thủ mới sẽ bắt đầu thay đổi viễn cảnh về ngành ngân hàng ở Trung Quốc.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Advertisements

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần IV


Hoa Kỳ cũng có thể hoàn tất những cam kết liên minh của mình bằng cách chuyển giao ưu thế thông tin chứ không cần thiết phải triển khai quân đội. Đặc biệt là cách viện trợ này có thể nới lỏng việc hợp nhất các quốc gia mới gia nhập các liên minh của Hoa Kỳ. Thật vậy, Hoa Kỳ đã nhấn mạnh sẽ cung cấp cho các quốc gia là “đối tác vì Hòa Bình” các hệ thống dựa trên cơ sở tình báo, coi đó là một bước nhằm tiến tới nhất thể hóa hàon toàn. Khác với việc quan hệ với các thành viên của liên minh, viện trợ thông tin có thể được cung cấp theo mức độ khác nhau cho từng nước cụ thể, tùy theo sự sẵn sàng của nước đó tiến tới thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ hơn (thí dụ Cộng hòa Czech so với Tajikistan có thể được giúp đỡ tốt hơn). Những dữ liệu thu lượm từ xa (mỗi năm một thêm đáng giá) có thể thay thế công việc tuần tiễu biên giới vốn tốn kém và mạo hiểm. Được trang bị như vậy, các đồng minh có thể không cần phải xâm phạm qua bên kia biên giới mà vẫn có thể bảo vệ biên giới của mình chống lại mọi sự xâm nhập (chẳng hạn như cuộc truy quét năm 1995 của Thổ Nhĩ Kỳ đối với phiến loạn PKK người Kurd và Iraq).

Tương tự như trên, chuyển giao ưu thế thông tin có thể giúp phát triển an ninh khu vực. Các quốc gia cũng chỉ vì nghi kị các nước láng giềng, nên thường chuyển sang tích trữ quân bị, rồi chuyển thành xúc tiến chạy đua vũ trang. Nay nếu mọi nước đều có thể thấy rõ ý đồ của nước láng giềng muốn làm gì (nhờ có “dòng bits” do Hoa Kỳ cung cấp) và nếu mỗi nước cũng hiểu rằng việc tiếp cận với thông tin của Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào việc quốc gia đó từ bỏ vũ khí tiến công và giữ vững một tư thế tốt, thì mọi việc khích lệ tìm kiếm vũ khí cũng sẽ được giảm đi. Thí dụ tại châu Á, nơi có các nước tuy về mặt chính thức thì liên kết với Hoa Kỳ (Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia) nhưng lại vẫn nhìn nhau với con mắt nghi kị, thì việc viện trợ được tiến hành như trên có thể làm dịu đi các mối lo sợ cũ, đồng thời không gây thêm những mối lo âu mới.

Gìn giữ Hòa Bình có thể là một ứng dụng khác nữa. Hiệp nghị Sinai giữa Israel và Ai Cập được tăng cường bởi các hệ thống cảm ứng của Hoa Kỳ, cho phép mỗi bên theo dõi những cuộc chuyển quân có thể là dấu hiệu về một cuộc tiến công của phía bên kia. Các hệ thống thông tin đến một lúc nào đó trong tương lai sẽ được người ta triển khai trên khu vực cao nguyên Golan, có thể cung cấp các thông tin không những chỉ rõ các cuộc tấn công sắp xảy ra, mà còn cả thông tin phát hiện mục tiên – khiến bất kỳ người xâm phạm khu phi quân sự đều là nguy hiểm. Hai thí dụ về an ninh khu vực và gìn giữ hòa bình trên đây đủ minh họa việc Hoa Kỳ không cần phải cung cấp một “con người cầm một khẩu súng đứng trên mặt đất” mà vẫn có thể có tác động ảnh hưởng đến các vùng xa xôi, vì lợi ích ổn định và hòa bình.

Để phát triển và duy trì một năng lực như thế cần có một số đổi mới về trang bị lực lượng. Trong danh mục khí tài của Hoa Kỳ vốn sẵn có các hệ thống cảm ứng có năng lực nhất (như tuần dương hạm Aegis và máy bay AWACS và JSTARS) như mọi người đều thấy rõ. Năng lực đó cần được phân bổ cho các mục tiêu, làm sao có thêm nhiều đối tượng được cung cấp, bao gồm những đối tượng ít có giá trị. Cần thiết nữa là những kỹ thuật tích hợp “dòng bits” với các hệ thống tác chiến đạn dược và chỉ huy xạ kích của các nước khác và với hệ thống cảm ứng của bản thân các nước đó. Bởi lẽ các đồn gminh ngày mai có thể bao gồm cả những nước thoạt đầu còn có ý nghi ngại (như Kuwait năm 1990) hoặc những nước vốn ở bên ngoài trách nhiệm phòng vệ của Hoa Kỳ (như Hàn Quốc năm 1950), việc tích hợp cần thực hiện sao cho đạt thời gian gần thực.

Nếu chuyển giao ưu thế thông tin trở thành phương thức có ích giúp đỡ được các nước khác, thì nó có thể tác động tương đối trực tiếp đến địa chiến lược. Thí dụ, cho một “dòng bits” phải đi qua không gian, nên việc nhận “dòng bits” ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng phải chi phí tốn kém như nhau. Vì vậy trên thực tế, người ta không cần thiết phải đến tận nước Mỹ mới nhận được viện trợ.

Tuy nói như thế nhưng nhân tố địa lý vẫn là quan trọng đối với việc thu thập thông tin. Không gian tác chiến càng gần đất bạn, hoặc ít ra gần lãnh hải quốc tế, sẽ càng thuận tiện cho việc sử dụng khí cụ cảm ứng không vận hoặc đặt ở biển xanh. Xây dựng và thử nghiệm các phần mềm mô phỏng nếu không có kiến thức dựa trên quan sát trực tiếp chiến trường, sẽ trở thành một công việc khó khăn. Cũng như người ta từng ghi nhận rằng một biện pháp thuần túy chỉ dựa vào “dòng bits” thường là không thực tế. Công việc chuyển giao khoản mục cùng với việc cử nhân viên liên lạc – đó đúng là những việc có tính liên kết cụ thể. Do vậy khái niệm cho rằng viện trợ có thể được thực hiện, bất chấp địa lý, là lời nói thái quá và mỗi năm qua đi người ta càng ít nói những lời lẽ như thế.

Điều khiển học không gian xúc tiến ổn định như thế nào

Trao ưu thế thông tin cho đồng minh khiến các cường quốc lớn có thể tác động ảnh hưởng đến các sự kiện mà không mấy quan tâm đến địa lý. Và trên thực tế, kể từ năm 1945, Hoa Kỳ đã tỏ rõ năng lực sử dụng lực lượng vũ trang tại những nơi xa xôi nhất và thực hiện việc chỉ huy lực lượng với thời gian thực. Nhưng đạt tới việc chỉ đạo lực lượng của các quốc gia khác với thời gian thực – đó mới thật sự là một chiến tích. Nhưng bản thân việc đó vẫn không làm thay đổi tính toán cơ bản của một quốc gia dân tộc về an ninh quân sự.

Cái có khả năng làm thay đổi những tính toán này – đó chính là năng lực điều khiển học không gian tạo điều kiện để có thêm nhiều vai mới tham dự trò chơi an ninh, bao gồm cả những quốc gia dân tộc kém sung túc cũng như các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xuyên quốc gia, thậm chí cả các cá nhân hữu quan.

Cơ chế cơ bản của nó rất đơn giản: chỉ riêng các quốc gia dân tộc mới có quyền hợp pháp về sử dụng lực lượng vũ trang và chỉ những quốc gia giàu có mới đủ khả năng chi phí cho các hệ thống phức tạp phục vụ việc sử dụng lực lượng. Những thông tin quan trọng nhất – cơ sở của mọi tác chiến quân sự tương lai được toàn cầu hóa một cách nhanh chóng. Mọi việc trở nên minh bạch rõ ràng khiến tiến công là công việc khó khăn hơn so với việc phòng ngự và cũng khiến thách thức đối với hiện trạng là khó khăn hơn so với duy trì nó. Như vậy cũng có nghĩa là thông tin toàn cầu hóa đã bắt đầu chi phối việc sử dụng thuần túy lực lượng quân sự.

Dễ hiểu nguyên nhân vì sao lại như thế, chúng ta hãy xem xét “Mạng thế giới” (World Wide Web), sự vụ Rodney King, cuộc tiến công của Croatia vào Krajina và tàu vũ trụ Clementine là những báo hiệu về các nhân tố tác động ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu trong thế kỷ XXI.

a/ Mạng Web giờ đây đã là yếu tố quen thuộc trong đời sống văn hóa đại chúng Mỹ, nó trở thành một khí cụ để bất kỳ ai cũng có thể dùng nó nhắn tin vào vũ trụ. Người ta không cần biết phải chăng nó có thể trở thành thư viện lớn nhất, hoặc là tấm biển quảng cáo lớn nhất của thế giới về lĩnh vực thông tin, nhưng rõ ràng ngày càng có thêm nhiều người nhận thức rằng người ta có thể dễ dàng có được điện tín toàn cầu, đi đôi với sự xuất hiện phần mềm có khả năng dạo quanh khắp nơi để thu lượm những “sợi nhung – điện toán” đủ để may nên một bộ đồ thời trang. Trường hợp một sự thật bất kỳ, nếu có thể trình bày được, thì sẽ có thể đưa được vào mạng. Và một khi sự thật đã có mặt mà bất kỳ ai thấy hứng thú và chăm chú theo dõi thì rốt cuộc cũng đều có thể tìm thấy được.

b/ Sự vụ Rodney King chứng tỏ rõ là người ta có thể dễ dàng biến đổi đời sống đường phố trở thành một khu hành chính, ở đó khắp mọi nơi đều có mặt sự giám sát tư nhân. Trong một thành phố lớn với số dân hàng triệu của châu Á ngày mai phải chăng rồi cũng có cơ may có một sự giám sát tương tự như thế? Sự kết hợp giữa giao thông trên đường phố tấp nập với chi phí gia tăng của mọi người mua các mặt hàng tiêu phí như máy quay camera video và các hệ thống điện thoại số, chứng tỏ người ta chỉ còn trải qua một vài bước nhảy cóc nữa thôi là có thể tiến tới bước tiến vọt từ sự kiện đến hình ảnh, “dòng bits” và điện tín toàn cầu. Đương nhiên hầu hết những gì người ta thu lượn được có thể còn vụt vặt. Nhưng sau khi có đủ số lượng, chọn mẫu một cách rộng rãi, sàng lọc kỹ lưỡng, tổng hợp một cách thông minh, sẽ đủ bảo đảm rằng không một điều có ý nghĩa nào lại không được đưa vào quan sát.

Những gì con người “tài tử” bỏ qua, thì các nhà báo chuyên nghiệp sẽ nắm bắt được. Những ỹ thuật như vệ tinh truyền phát trực tiếp (đi đôi với nén ép mã số để nén tín hiệu nhiều gấp bốn đến mười lần trên mỗi kênh), cộng với cạnh tranh toàn cầu làm sao tranh thủ được nhiều hơn nữa các nhà báo đi tới nhiều vũ đài khác nhau, đều nhằm bảo đảm phổ cập thông tin rộng khắp hơn nữa. Tại một hội nghị mùa hè năm 1995 do Hội đồng chiến lược quốc gia tài trợ nhóm họp ở ngoại ô Chicago, người ta đã rõ được rằng các nhà quân sự Hoa Kỳ thừa nhận sự có mặt phổ biến của báo chí trong các cuộc xung đột ngày mai. Và người ta cũng kết luận không thể có cách gì che mắt báo chí, không cho họ biết các công việc được tiến hành.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Thị trường là động lực tối thượng – Phần I


Mọi người đang có sự chuyển dịch toàn bộ hành vi của mình, từ thế giới phi kỹ thuật số sang môi trường điện thoại di động, từ việc đặt xe taxi đến mua sắm, thanh toán cho các dịch vụ, xe video hay liên lạc với gia đình.

Mod Khairil Abdullah, Tổng giám đốc nhánh Dịch vụ Kỹ thuật số tại Công ty Axiata

Thị trường là nơi mà các tác lực cung và cầu hoạt động. Đây là nơi mà các công ty – những nhà cung cấp giá trị – cạnh tranh với nhau để chiếm lĩnh được tâm trí cũng như chinh phục được trái tim của khách hàng – những người đòi hỏi giá trị. Trong thế giới kinh doanh, thị trường đóng vai trò như một cửa sông tập trung những dòng thay đổi xảy ra ở tầm vĩ mô chảy về. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghệ cũng thúc đẩy những sự thay đổi về mặt kinh tế, chính trị – luật pháp và văn hóa – xã hội, tất cả những thay đổi đó đều có ảnh hưởng đến thị trường.

Một vài quốc gia tại châu Á đã trải qua sự thay đổi trong cơ cấu thị trường, điều này chắc chắn dẫn đến những cuộc cạnh tranh lớn hơn. Công nghệ phát triển, theo đó tính hiện hữu của thông tin ngày càng cao, đã thúc đẩy những sự thay đổi sâu sắc trong hệ thống chính trị tại một số quốc gia. Một nền kinh tế mở như vậy đồng nghĩa với việc ranh giới của những rào cản độc quyền đã bị suy giảm đáng kể. Trong một số ngành công nghiệp quan trọng như viễn thông và ngân hàng, chúng ta chứng kiến sự đổ xô của những nhà đầu tư cá nhân, cả trong và ngoài nước, tham gia vào thị trường. Môi trường kinh doanh với cường độ cạnh tranh ngày một tăng buộc những bên tham gia phải liên tục đổi mới và nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của mình. Khách hàng là người hưởng lợi nhiều từ sự phát triển này, không chỉ đơn thuần ở việc lựa chọn đa dạng hơn sản phẩm và dịch vụ.

Bên cạnh đó, công nghệ cũng không ngừng có những bước tiến mới. Sự nổi lên của Internet cùng với các công nghệ liên quan đã làm cho “thế giới phẳng”, như Friedman (2005) đã tuyên bố trong quyển sách The World id Flat (Thế giới phẳng) của mình. Các rào cản giữa các quốc gia dường như đã bị nhấn chìm trong làn sóng thay đổi được biết đến với tên gọi Toàn cầu hóa 3.0. Trong bối cảnh này, Sirkin và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng thế giới kinh doanh sẽ phải đối mặt với một hiện tượng gọi là “tính toàn cầu”, theo đó một công ty sẽ phải cạnh tranh với mọi đối thủ ở khắp mọi nơi, về mọi mặt. Ông viết, “Bạn đang nhìn vào tương lai, khi mà các công ty Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và các công ty từ những thị trường bão hòa khác không chỉ cạnh tranh với nhau, mà còn cạnh tranh với các công ty Trung Quốc và các công ty có khả năng cạnh tranh cao đến từ mọi nơi trên thế giới: Argentina, Brazil, Chile, Ai Cập, Hungary, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mexico, Ba Lan, Nga, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam và cả những nơi bạn không ngờ tới được”.

Tuy nhiên, điều duy nhất bất biến chính là sự thay đổi. Cuộc cách mạng công nghệ hiện tại tiếp tục tạo ra những biến động thị trường mới, đặc biệt là ở khu vực châu Á. Bài này tập trung thảo luận về vấn đề cuộc cách mạng kỹ thuật số đã thay đổi bộ mặt của những lực lượng thị trường như thế nào. Cạnh tranh đang ngày càng trở nên sôi nổi hơn trong khi khách hàng ngày càng trở nên gắn kết. Tất yếu, thị trường tự bản thân nó phải đặt ra yêu cầu cho sự ra đời của một mô hình tiếp thị mới.

Khi Công nghệ gây xáo trộn Thị trường

Christensen (1997, giáo sư của Trường Kinh doanh Harvard, trong tác phẩm Tình thế lưỡng nan của nhà cải cách: Khi công nghệ làm cho những công ty vĩ đại nhất thất bại của mình đã giới thiệu thuật ngữ công nghệ gây xáo trộn, mà trước đó thuật ngữ này đã được ông sử dụng nhưng với một cái tên khác – cách tân xáo trộn. Tuy nhiên, xuất phát điểm của thuật ngữ công nghệ gây xáo trộn có lịch sử lâu đời hơn, thuật ngữ này được Schumpeter sử dụng lần đầu tiên vào năm 1942. Trong quyển sách của mình, tác giả đã miêu tả công nghệ xáo trộn là sự đổi mới về công nghệ, sản phẩm hoặc dịch vụ áp dụng một “chiến lược gây xáo trộn” chứ không phải một chiến lược “mang tính cách mạng” hay “duy trì” để lật đổ các công nghệ đang chiếm ưu thế hiện tại hoặc các sản phẩm hiện có trên thị trường. Bảng 3.1 chỉ ra một số ví dụ về công nghệ gây xáo trộn.

Bảng 3.1 Các ví dụ về công nghệ gây xáo trộn
Công nghệ gây xáo trộn Sản phẩm bị đào thải hoặc lỗi thời
Nhiếp ảnh kỹ thuật số Máy ảnh cơ
Điện thoại di động Thư, điện tín, điện thoại truyền thống
Máy tính xách tay, máy tính bảng Máy tính để bàn
Tải nhạc Các loại đĩa nén, CD
Sách điện tử Sách giấy
Internet Xuất bản truyền thống, báo chí, tạp chí in…

Đối mặt với những xáo trộn diễn ra ngày càng nhanh này, các doanh nghiệp cần phải hành động nhanh chóng để xác định và thích nghi với những sự thay đổi công nghệ chính yếu, từ đ1o tránh được rủi ro bị đào thải khỏi thị trường do cạnh tranh. Ngành công nghiệp dịch vụ bưu chính tại châu Á với tuổi đời gần một thế kỷ có lẽ đang cảm nhận được mối đe dọa ngày càng rõ ràng từ công nghệ di động. Tuy nhiên, việc triển khai các chiến lược đa dạng hóa trong vài năm qua đã mang lại những kết quả khích lệ rất đáng ngạc nhiên. Báo cáo của ngành bưu chính toàn cầu năm 2013 chỉ ra rằng tổng doanh thu ngành tại châu Á đã tăng 10,8% trong giai đoạn 2011 – 2012. Chiều hướng tích cực này chủ yếu là kết quả của sự tăng trưởng doanh số các hình thức phi thư tín với mức tăng trung bình là 56,4%. Do đó, trong thời kỳ mà lượng thư từ giảm 3,1%, các công ty dịch vụ bưu chính vẫn có thể bù đắp được từ các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt là lượng giao dịch các bưu kiện đã tăng lên đến 4% (theo tổ chức International Post Corporation, 2013).

Mặc dù sự phát triển của công nghệ di động và công nghệ kỹ thuật số đã làm cho các dịch vụ thư tín thông thường từng là trụ cột của các công ty dịch vụ bưu chính trở nên ít phổ biến hơn, nhưng các công ty vẫn có thể tận dụng và khai thác các cơ hội nảy sinh từ tiến bộ công nghệ. Chẳng hạn, sự tăng trưởng nhanh chóng của các giao dịch thương mại điện tử ở châu Á đã làm gia tăng đáng kể lượng hàng hóa vận chuyển. Điều này có ý nghĩa tích cực đối với việc kinh doanh vận chuyển bưu kiện do các công ty dịch vụ bưu chính quản lý. Sự đa dạng hóa cũng có thể được triển khai dưới hình thức các dịch vụ tài chính được cung cấp cho khách hàng. Khả năng kết nối rộng lớn hơn thông qua dịch vụ bưu chính tại các khu vực nông thôn tỏ ra đặc biệt hữu ích vì nó có thể được sử dụng làm kênh trung gian cho các giao dịch tài chính, bao gồm việc thanh toán, nhờ sự hợp tác với khu vực ngân hàng.

Để xây dựng một doanh nghiệp bền vững trong kỷ nguyên kết nối hiện nay, một cách khác là áp dụng công nghệ rộng rãi hơn. Cứ theo đuổi các phương thức kinh doanh cũ sẽ chỉ khiến các khách hàng ngoảnh mặt lại với mình. Ngày nay, tất cả những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau đang mở rộng việc sử dụng công nghệ số và di động trong kinh doanh với mức độ áp dụng khác nhau: một số doanh nghiệp chỉ đơn giản sử dụng mạng xã hội để tương tác với khách hàng trong khi một số khác đang cung cấp các ứng dụng hoặc dịch vụ di động riêng như các giá trị phụ trội hay xây dựng những nền tảng giao dịch trực tuyến riêng cho mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần III


Một đối thủ tiềm tàng làm thế nào có thể chống lại một hệ thống các hệ thống như thế? Hiển nhiên nó cần phải kiềm chân các lực lượng can thiệp ở cách xa chiến trường, xa chừng nào tốt chừng nấy. Sử dụng vũ khí giết người hàng loạt cũng có thể là một biện pháp, và cách sử dụng tốt nhất là không nhằm đe dọa quân can thiệp mà nhằm vào các quốc gia chủ nhà có thể sẽ chứa chấp quân can thiệp. Nhưng dù sao đi nữa, ở vào kỷ nguyên phổ cập kỹ thuật thông tin và phát triển mạnh mẽ các thị trường vũ khí, thì một đối tượng cạnh tranh tuy không có những vũ khí như thế (cũng như mối nguy hiểm do các loại vũ khí đó gây nên) vẫn có khả năng kiềm chế không cho Hòa Kỳ tiếp cận. Bởi vì người ta có thể tổ hợp một hệ thống các hệ thống với giá thành tương đối thấp và không tốn mấy công sức bằng cách sử dụng kỹ thuật của nước (hoặc các bên) thứ ba về ảnh vệ tinh, khí cụ hàng không không người lái, máy ảnh số, hệ thống liên lạc tế bào và kỹ thuật ảnh địa   hình chi tiết trên CD-ROM. Dựa vào những phương tiện đó, các nước chưa phải là giàu có vẫn có thể phát hiện, trông thấy được tài sản của Mỹ và do đó uy hiếp số tài sản đó ở ngay bên trong hoặc ở gần các chiến trường xung đột.

Buộc Hoa Kỳ phải hoạt động ở ngoài xa không đến nỗi làm cho tài sản của đối phương khó bị phát hiện, song nó tăng thêm tầm xa cần thiết và do vậy tăng giá chi phí đánh phá những tài sản đó – vấn đề chính là ở đó. Chống lại một kẻ địch đã phân bố thành công lực lượng quân sự của nó trong nhiều đơn vị, thì một đòn đánh từ cự ly xa là tốn kém, buộc phải tốn phí những tên lửa hành trình trị giá hàng triệu USD để tiến công một quân đội bao gồm những “kỹ thuật” quân sự (những xe tải nhẹ với vũ khí tự động). Có như thế mới đủ làm kiệt quệ một cuộc can thiệp.

Như vậy Colin đúng hay sai khi ông nói: yếu tố quyết định cuối cùng trong chiến tranh là “con người cầm súng” trên chiến trường? Câu trả lời là đúng và cũng không đúng. Đối với Hoa Kỳ, người ta có thể nói rằng trong bối cảnh thường quy của tương lai, Hoa Kỳ có thể giải giáp vũ khí hạng nặng của đối phương. Nhờ vậy, các đồng minh sở tại của Hoa Kỳ lúc ấy vẫn tiếp tục duy trì được lực lượng hạng nặng của mình, dựa vào đó sẽ có thể chi phối chiến trường, mặc dù lúc đầu họ ở vào thế yếu. Còn trong trường hợp thay vào một sự lựa chọn khác, cả hai đều không có lực lượng hạng nặng, thì vẫn cái kiến trúc đã tạo nên “dòng bits” thắp sáng chiến trường, lại được sử dụng để giúp các đồng minh. Thực hiện được như vậy, đối với Hoa Kỳ, có nghĩa là vai trò của vũ lực và địa lý càng thêm được biến đổi.

Trang bị thông tin cho đồng minh

Trong thế kỷ này Hoa Kỳ đã năm lần tiến hành các cuộc chiến tranh lớn ở ngoài nước, nhằm bảo vệ một hoặc nhiều nước đồng minh: Pháp và Anh trong chiến tranh thế giới I, Anh trong chiến tranh thế giới II và sau đó là Triều Tiên, Nam Việt Nam và Saudi Arabia. Một cách dàn xếp như thế trong điều kiện vắng mặt một đối thủ cạnh tranh tương xứng, thậm chí vẫn là một đặc điểm trong 20 năm sắp đến. Và mục đích chính hàng đầu của cuộc chiến tranh can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ, sẽ nhằm che chở, bảo vệ các quốc gia khác. Khi cuộc chiến đấu kết thúc thì an ninh tương đối của các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ là điều kiện quyết định các mục tiêu trước mắt của cuộc can thiệp.

Thông tin có thể giúp cho một cuộc can thiệp như thế được thực hiện một cách dễ dàng hơn và làm giảm đi các trở ngại về mặt địa lý vốn tồn tại rất lớn đối với những hoạt động viện trợ thông thường. Nếu cuộc chiến đấu diễn biến trở thành cuộc “trốn-và-tìm” và cùng lúc các hệ thống săn tìm có thể tách rời các lực lượng mà chúng phục vụ, thì Hoa Kỳ có thể thực hiện công việc viện trợ không những đầy đủ như bây giờ họ vẫn đang làm về trợ giúp vũ khí và nhân viên thường quy, mà sự giúp đỡ sẽ được thực hiện thường xuyên hơn, thời gian kéo dài hơn và bằng viện trợ gián tiếp chứ không phải là trực tiếp. Bằng cách cung cấp ưu thế thông tin cho đồng minh, Hoa Kỳ có thể không bộc lộ mình mà vẫn nhân gấp bội sức mạnh của đồng minh trên một số mặt tăng gấp 10, hoặc gấp 100 lần. Hoa Kỳ sẽ thực hiện như vậy bằng cách gửi cho đồng minh của mình những “dòng bits”: chủ yếu là thông tin thời gian thực về không gian tác chiến, gồm cả hồ sơ bối cảnh (thí dụ như tư liệu bản đồ) và phần mềm tích hợp, mô phỏng và bảo trì các hệ thống. Người ta cho rằng để sử dụng được những viện trợ đó, trường hợp tốt nhất đó sẽ là một đồng minh có vũ khí chính xác, yêu cầu định vị mục tiêu được đưa vào chương trình vi tính. Tuy nhiên, nếu là trường hợp đồng minh có trang bị kém hơn, thì họ vẫn có được cái lợi lớn là nắm bắt được xác thực tài sản của đối phương trong thời gian thực.

Xét trên một số mặt thì việc chuyển giao ưu thế thông tin là một biến thể của việc cung cấp vũ khí truyền thống. Nhưng so với tiếp tế vũ hí thì cung cấp “dòng bits” không để lại dấu tay như vũ khí. Hai là “dòng bits” nhân lực lượng lên gấp bội, còn vũ khí chỉ cộng thêm vào. Ba là “dòng bits” dễ dàng được chuyển giao và cũng dễ dàng được cắt bỏ (nào có ai dám chắc rằng tên lửa Stinger tiếp tế cho quân phiến loạn Afghanistan cuối cùng không rơi vào tay bọn khủng bố). Bốn là một khi “dòng bits” được sinh ra, thì một bản sao thứ hai sẽ rẻ tiền hơn, còn chiếc xe tank gửi ra nước ngoài cũng là chiếc xe tank mà không bao giờ người ta còn có nữa. Và sau hết, cung cấp cho đồng minh một hình ảnh được rọi sáng về không gian tác chiến so với sự tiếp tế về vật chất, thì chúng ta đạt được hiệu quả lớn hơn trong việc làm cho họ hiểu cách nhìn nhận của chúng ta đối với cuộc xung đột. Vả chăng trong thực tế không phải Hoa Kỳ chỉ giúp đồng minh có được các “dòng bits” chứ không giúp sức người và vật chất. Bởi vì ngay cả các đồng minh có vũ khí tinh vi, họ vẫn cần đến những đầu đạn PGM (khí tài điều khiển chính xác) thông minh và các bộ cảm ứng mặt đất. Sĩ quan liên lạc và tác chiến đặc biệt sẽ phải giúp các đồng minh về phần tích hợp ấy.

Cũng nên ghi nhận thêm một kiểu thị trường nữa tương tự thị trường vũ khí: tuy Hoa Kỳ có thể sẽ là nước đầu tiên có khả năng cung cấp viện trợ thật sự mà không bộc lộ mình trên thực tế, song phần lớn những thứ có thể tạo nên ưu thế về thông tin đều xuất xứ từ thị trường thương mại, rất ít thứ chịu sự kiểm soát chặt chẽ về công nghệ. Những năng lực này vì vậy cũng nằm trong tầm tay của nhiều cường quốc lớn tiềm tàng khác.

Để minh họa thêm về khả năng ứng dụng ưu thế thông tin được chuyển giao, ta hãy nhìn qua “Chiến dịch chiến sĩ cảnh giác”. Tháng 10/1994, Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc tập trận công khai cùng với Kuwait, nhằm phản ứng đối với Iraq dường như chuyển quân về phía Nam. Cuộc tập trận này biểu thị khả năng của Hoa Kỳ sẵn sàn ngăn chặn một cuộc xâm lược có thể có. Cuộc tập trận tốn phí tới 1 tỷ USD (chống lại một việc mới chỉ là giả thiết của phía Iraq với chi phí ít tốn kém hơn nhiều). Và bây giờ ta lại xem thử cũng với 1 tỷ USD được dùng theo cách khác. Kuwait sẽ mua vài nghìn tên lửa chống thiết giáp và đem chôn rải rác trong hầm với số lượng nhiều hơn gấp 10 lần số tên lửa. Nếu thiết giáp vượt qua biên giới, các ký hiệu mục tiêu bổ sung ứng với thời gian thực do một hệ thống các hệ thống của Hoa Kỳ thực hiện, sẽ thay thế các ký hiệu mục tiêu giả trong những tên lửa đó, nhờ vậy một phần lớn lực lượng tiến công có thể bị phá hủy và bị loại bỏ khỏi vòng chiến. Việc chống thiết giáp trên đây có lẽ là thí dụ thích hợp nhất biểu hiện năng lực này, nhưng tư tưởng cơ bản của nó còn có thể được ứng dụng bằng cách sử dụng kỹ thuật để chống lại một cuộc uy hiếp đến từ trên không, hoặc chống lại các hoạt động lật đổ có thể được tiến hành một cách bí mật hơn tại các khu vực đồi núi. Với cách làm gửi “dòng bits” cho các lực lượng phòng ngự được chuẩn bị chu đáo, Hoa Kỳ sẽ không phải mạo hiểm đưa lực lượng vào mà vẫn đạt được mục đích đề ra và còn có thể hành động tự do hơn nhiều. Chưa kể như vậy Hoa Kỳ còn mở rộng hơn không gian hữu ích giữa tiếp xúc với quan sát thụ động.

Vũ trang thông tin cho đồng minh còn có những ứng dụng khác nữa. Chẳng hạn Hoa Kỳ muốn ủng hộ một phía trong cuộc xung đột không rõ rệt – như những người Hồi giáo Bosnia – mà không cần mạo hiểm đưa quân vào, hoặc không khiến các cường quốc khác phải can thiệp. Trong trường hợp này cung cấp “dòng bits” một cách bí mật có thể nhân hiệu quả tác chiến và vũ khí của phía được Hoa Kỳ giúp đỡ. Dù cho các cường quốc lớn thân hữu với phía bên kia trong cuộc xung đột có thể nghi Hoa Kỳ đang thực hiện sự viện trợ đó, song do tính chất của viện trợ là bí mật nên nó cũng ít gây phản ứng so với phản ứng do một sự viện trợ công khai gây ra.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Chính trị – pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội là những động lực chính – Phần cuối


Số hóa và xu hướng văn hóa – xã hội mới

Châu Á có nhiều loại hình di sản văn hóa khác nhau của nhiều quốc gia, xã hội và các nhóm dân tộc trong khu vực. Về mặt địa lý, châu Á không phải là một lục địa riêng biệt, và về mặt văn há, có rất ít sự thống nhất hay lịch sử chung giữa nhiều nền văn hóa và dân tộc Á châu. Vùng này thường được chia thành các tiểu vùng địa lý và văn hóa, bao gồm Trung Á, Đông Á, Nam Á, Đông Nam Á và Tây Á.

Đông Á bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Hàn Quốc. Các đặc điểm chính của khu vực này gồm có chữ viết bắt nguồn từ Hán tự, cũng như những tôn giáo chung như Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo. Ở Nam Á, bốn tiểu bang Nam Ấn và các vùng khác ảnh hưởng di sản của người Indo-Aryan (nền văn minh Vệ Đà). Văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á cũng đa dạng không kém, từ văn hóa bộ tộc đến các nền văn minh đã tạo nên những kỳ quan kiến trúc như Quần thể đền Angkor của Campuchia và Đền Borobudur của Indonesia. Ngoài ra, nghệ thuật và văn học của Đông Nam Á rất đặc biệt vì một số đã bị ảnh hưởng bởi văn học Hồi giáo, Ấn Độ, Hindu, Trung Quốc và Phật giáo.

Mặc dù châu Á có nền văn hóa khá đa dạng nhưng chúng tôi tin rằng có ba tiểu văn hóa mới đang đóng vai trò quan trọng trong khu vực này, đó là tiểu văn hóa thanh niên (để phân biệt với cao niên), nữ giới (để phân biệt với nam giới), và cư dân mạng (để phân biệt với công dân bình thường) (xem hình 2.1).

Tiểu văn hóa đầu tiên là thanh niên giới trẻ. Cộng động này đang ngày càng thách thức sự ảnh hưởng của người cao niên, những người trước đây là baby boomers (những người sinh ra vào Thời kỳ bùng nổ trẻ sơ sinh sau Thế chiến thứ hai) nhưng giờ đang suy giảm số lượng trên khắp thế giới. Thanh niên đóng một vai trò quan trọng trong việc “dẫn dắt tâm trí”. Và họ có thể làm như vậy bởi vì họ quen “nhận biết và phản ứng” hơn là “chỉ huy và kiểm soát” như thế hệ người lớn tuổi. Sự phát triển của công nghệ thông tin (ICT) thực sự đòi hỏi khả năng nhận biết tốt hơn những thay đổi chóng mặt và phản ứng nhanh nhạy hơn một cách hợp lý. Nếu không, đối thủ có phản ứng nhanh hơn sẽ đánh bại chúng ta. Một đặc điểm khác của thanh niên là sự năng động; họ nhanh chóng thích ứng với những thay đổi trong môi trường bên ngoài ngày càng khó dự đoán và kiểm soát. Chính giới trẻ sẽ dẫn dắt sự thay đổi ở châu Á trong tương lai. Hong Kong vào năm 2014 là một ví dụ điển hình. Một loạt các cuộc phản đối trên đường phố – được gọi là Umbrella Revolution (Cách mạng Dù) – diễn ra từ ngày 26/9 đến ngày 15/12 chủ yếu là do lực lượng sinh viên trẻ dẫn dắt.

Phụ nữ là nhóm tiểu văn hóa thứ hai. Các tiến bộ văn hóa và xã hội đã cho thấy tầm quan trọng ngày càng lớn của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Trong gia đình, phụ nữ ngày càng có quyền chi phối việc ra quyết định, đặc biệt là khi mua hàng hóa và dịch vụ. Một báo cáo của EIU (Cơ quan nghiên cứu kinh tế toàn cầu) về “Người tiêu dùng nữ châu Á năm 2014” cho thấy sự gia tăng tính độc lập của phụ nữ trong việc xử lý tài chính. Hơn hai phần ba số người cho biết họ có tài khoản ngân hàng riêng của mình (ở mức cao đến 76% ở Trung Quốc hay thấp khoảng 47% ở Ma Cao) và 48% có thẻ tín dụng riêng. Hầu hết phụ nữ cho biết họ phụ trách các quyết định ngân sách về hàng tạp hóa, quần áo, phụ kiện và sản phẩm dành cho trẻ em và ít nhất là đồng quyết định trong hầu hết các loại sản phẩm khác như điện tử và dịch vụ du lịch.

Ngoài xã hội, sự ảnh hưởng của phụ nữ tăng lên là do họ có thể đưa ra ý kiến rộng rãi nhờ thông tin truyền miệng, bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của họ trong việc chia sẻ thông tin với bạn bè và người quen. Khi mà việc quảng cáo truyền miệng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định của người tiêu dùng thì vai trò của phụ nữ vì vậy cũng ngày càng trở nên quan trọng. Thật không sai khi nói rằng phụ nữ đóng vai trò “quản lý thị trường”.

Tiểu văn hóa thứ ba là của cư dân mạng. Cộng đồng mạng đang làm biến đổi đáng kể vai trò của công dân trong thế giới thực. Xét về sự thâm nhập của Internet và điện thoại di động ở các nước châu Á, ý kiến dư luận không còn bị dẫn dắt bởi các phương tiện truyền thông chính thống nữa mà bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các phương tiện truyền thông xã hội và sự tham gia tích cực của cư dân mạng. Công nghệ Internet cho phép cư dân mạng xử lý thông tin “sâu và rộng”. Bằng cách đó, họ có thể truyền bá những ý kiến có thể tác động đến hàng triệu người. Điều đó đủ để nói rằng cư dân mạng đóng một vai trò trong việc “hình thành tâm lý” đám đông.

Sự nổi lên của bộ phận tiểu văn hóa thứ ba cần sự chú ý mạnh mẽ từ các nhà tiếp thị ở châu Á. Họ nên thiết kế những chiến lược và các chương trình tiếp thị nào có thể thu hút cư dân mạng tích cực tham gia. Sự phát triển của công nghệ số ngày càng giúp công ty và tiêu văn hóa cư dân mạng hợp tác với nhau dễ dàng hơn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Philip Kotler, Hermawan Kartajaya, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần II


Khi thông tin thay thế vũ lực

Sự biến đổi của địa lý về mặt quân sự có căn nguyên của nó, đó là sự phát triển của khí tài điều khiển chính xác có tính năng được xác định là phối chuẩn tọa độ của vũ khí với mục tiêu. Ngày nay các kho vũ khí hiện đại nói chung bao gồm ba loại vũ khí điều khiển chính xác (PGMs): vũ khí có người chủ động điều khiển (thí dụ, vũ khí chống tank điều khiển hữu tuyến và bằng tín hiệu laser phản hồi); vũ khí săn đuổi mục tiêu theo ký hiệu đã cho (thí dụ, tên lửa hồng ngoại và ngư lôi âm thanh) và lớp vũ khí mới có gần đây nhất phóng tới các tọa độ cụ thể (thí dụ, tên lửa hành trình theo bản đồ, tên lửa đạn đạo hoa tiêu theo quán tính và các loại vũ khí tương lai điều khiển theo tọa độ). Vũ khí điều khiển chính xác (PGMs) được phát triển để có thể phá hủy các mục tiêu di động bằng cách tự điều khiển đường bay của chúng hợp theo các tọa độ không ngừng được điều chỉnh bổ sung. Cũng bởi việc chuyển đổi từ vũ khí do con người điều khiển sang vũ khí điều khiển bằng tín hiệu khiến người ta không còn cần đến sự điều khiển tại chỗ nữa, cho nên bước chuyển đổi tiếp thêm nữa từ vũ khí điều khiển bằng tín hiệu sang vũ khí điều khiển bằng tọa độ, khiến người ta có thể chuyển “mạng thông minh” của bản thân vũ khí điều khiển chính xác sang hệ thống xây dựng đường bay của nó.

Và ở những nơi nào có đầy đủ đến mức dồi dào vũ khí điều khiển chính xác, thì những gì bị phát hiện và bị nhận dạng trên chiến trường có nghĩa là chúng sẽ bị phá hủy hoặc bị sát thương. Tuy nói thế nhưng đương nhiều người ta vẫn có thể bảo vệ các mục tiêu tránh khỏi bị phá hủy, bằng cách nghi trang (như tạo ra các dấu hiệu giả, những dấu hiệu gây nhiễu), tạo vỏ bọc thép, thực hiện lẩn tránh và bắn lại. Như thế cuộc giao tranh giữa người lùng sục và những kẻ bị săn đuổi còn xa mới đi đến kết thúc, nhưng hiển nhiên thời gian mỗi năm qua đi, phía những người lùng sục ngày càng giành thêm nhiều lợi thế.

Loại công nghệ trên đây về phần nó, đã làm thay đổi toàn bộ những tính toán trong các cuộc xung đột thông thường. Tức là trước kia thắng lợi phần lớn được quyết định bởi ai sẽ là người tung ra trước số lượng lớn lực lượng được đưa vào sử dụng. Còn ngày nay xung đột thông thường có nghĩa gần như là một cuộc đi trốn và đi tìm.

Kỹ thuật tìm kiếm đang tiến bước nhanh chóng, bởi vì nó sử dụng điện tử và các vi khí cụ khác, tương tự như các thứ ra đời trong cuộc cách mạng điện tử thương mại toàn cầu. Thế mạnh tương đối của Hoa Kỳ cho đến nay vẫn là ở năng lực của nó: một là Hoa Kỳ đã quân sự hóa việc ứng dụng các phương tiện đó, hai là đã hợp nhất chúng vào một hệ thống mà toàn bộ thì hoàn hảo hơn từng bộ phận một. Và sau hết, đã kết hợp chúng với các hệ thống tiến công tầm rất xa (thí dụ, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo, máy bay oanh kích có thể tiếp dầu và các tàu chiến đại dương với những đợt hoạt động dài ngày tại các vị trí trực chiến.

Mai đây việc tìm kiếm sẽ được thực hiện bằng phương tiện mà phó tham mưu trưởng liên quân – đô đốc Williams Owen gọi là một “hệ thống các hệ thống” phức tạp và gồm nhiều lớp. Lớp trên cùng của hệ thống này bay trên quỹ đạo không gian. Những vệ tinh của ngày hôm nay là những vệ tinh vài ngày một lần thu lượm hình ảnh, sẽ được thay thế dần bằng một hệ thống được trang bị tốt hơn nhằm thực hiện các công việc đúng thời gian thực. Lớp nữa là hệ thống không vận với một hệ thống tốn kém có người điều khiển của ngày hôm nay sẽ phải nhường chỗ cho những đám mây dày đặc hơn rất nhiều hợp thành bởi những khí cụ bay không người lài (UAVs – hầu hết sẽ bay và có thể gồm một số trôi). Lớp đáy sẽ bao gồm các thiết bị thám trắc ngoài biển (sử dụng cho săn – chống ngầm kiểu truyền thống và săn mìn, thám trắc không gian ven biển) và thám trắc bên trên mặt đất. Bộ phận thứ hai nói trên đây bao gồm các thiết bị quang học, các thiết bị đọc radar phản hồi, các thiết bị thám trắc cải tiến về nhiệt, áp suất, từ tính, sinh hóa và có lẽ bao gồm cả thám trắc hiện tượng trọng lực; thiết bị thám trắc địa chấn và âm thanh tầm gần và ngoài khơi xa bờ biển. Thêm vào đó là những thiết bị bức xạ, tạo hồi âm, thiết bị xử lý các dữ kiện tổng hợp và thiết bị truyền thông có thể đưa thông tin đến bất kỳ nơi nào cần thiết. Rồi trải qua một thời gian nữa, một số lượng lớn các thiết bị thám trắc, bức xạ và xử lý sẽ được cấu thành để làm việc trực tiếp với nhau: một khí cụ thám trắc không gian khi phát hiện một hiện tượng nghi vấn, có thể yêu cầu một khí cụ thám trắc không gian không người lái thu thập thêm tư liệu; và những tư liệu ấy có thể gợi ý cho nhiều khí cụ thám trắc trên mặt đất kéo dài thêm thời gian hoạt động, để tiếp sau đó thể tạo ra cho chúng có được một “khoảng không điện từ” quý báu, báo cáo thêm nhiều các phát hiện chi tiết, mà nếu chỉ sử dụng các khí cụ thông thường sẽ không thể nào tìm kiếm được.

Người ta có thể đặt câu hỏi vì sao phải nêu lên tường tận các chi tiết trên đây? Chỉ với một lý do, đó là nhằm khắc họa những thông số mới của sự liên kết, nhất thể hóa. Colin Gray lập luận rằng mặc dù “các phương tiện tiến hành chiến tranh trên đất liền, trên biển, trên không và trong không gian đang được cải tiến mạnh mẽ, nhưng điều đáng ghi nhận là chiến tranh vẫn được tiến hành trong môi trường”. Tuy vậy chúng ta cứ thử xem xét hàng loạt thiết bị sau đây gồm các bộ cảm ứng, bức xạ, liên lạc, điều chỉnh hướng, phát ký hiệu, sàng lọc, xác định, phân loại và tạo ra những quyết định về mục tiêu. Rồi chúng ta định ra những đường nhân tạo phân ranh giới giữa chúng với nhau, tách bạch chúng ra đưa vào làm tài sản riêng của không lực, hải quân, hải quân lục chiến và của lục quân; sau đó từng bộ phận một sẽ báo cáo lên những mắt xích chỉ huy riêng rẽ. Như thế rõ ràng là phức tạp, nhưng dù sao đi nữa, trải qua bao nhiêu năm tranh cãi, những sự liên kết mà người ta mong muốn đạt tới được như ngày hôm nay, chung quy vẫn là làm sao xác định cho được một phương thức, khiến các thiết bị đó một khi có lệnh là có thể nói chuyện trực tiếp với nhau được. Colin đưa ra một giả thiết: vấn đề không phải ở chỗ bất kỳ phần công việc nào muốn được hoàn thành tốt trong tác nghiệp liên hợp thì trước hết nó phải được hoàn thành tốt trong môi trường riêng của nó; vấn đề lại là khi đứng trước các loại vũ khí với đủ loại tầm xa gần và các mối quan hệ giữa các loại vũ khí và các khí cụ cảm ứng ngày nay, người ta không còn có thể xác định được một môi trường nào là độc đáo, riêng biệt.

Chi tiết được nêu ra trên đây cũng có tác dụng giúp vào việc minh họa một số khác biệt giữa từng khí cụ cảm ứng khi được đưa vào không gian tác chiến. Những khí cụ cảm ứng được đặt tại không gian vũ trụ, trên biển xanh hoặc ngang qua biên giới (thí dụ, radar vượt quá đường chân trời) có thể được sử dụng cả trong hòa bình cũng như trong chiến tranh. Những khí cụ cảm ứng đặt ngang qua đất liền, không phận, hoặc vùng ven biển của một quốc gia khác có lẽ cần phải được quốc gia bị quan sát cho phép. (Hậu quả về việc bắt giữ một khí cụ cảm ứng không người lái đặt tại không gian của một quốc gia, mãi cho đến nay vẫn còn là vấn đề chưa được phân xử). Tuy Hiệp nghị về khoảng không mở có thừa nhận lợi ích quốc tế trong việc quan sát không vực, song các hiệp nghị đó mới chỉ là sự bày tỏ chưa chín muồi về các điều khoản mới của “buôn bán thông tin” tại một quốc gia khác.

Nếu “hệ thống các hệ thống” hoạt động, thì một cuộc xâm lược cổ điển vượt qua biên giới được công nhận sẽ là một việc làm tự sát trước Hoa Kỳ, hoặc trước bất kỳ một lực lượng nào khác được trang bị tương tự. Các mục tiêu di động tự chúng tạo ra nhiều tín hiệu phong phú mà một lực lượng được trang bị tốt đứng ngoài (hoặc một lực lượng khó bị phát hiện như máy bay tàng hình) có thể tóm bắt được chúng một cách khá dễ dàng. Tiếp tế hậu cần trong nhiều trường hợp khẩn cấp có thể được giảm đi ghê gớm. Khoảng 93% tiếp tế của Hoa Kỳ cho Vùng Vịnh được chuyển bằng đường biển – Colin Gray suy ngẫm lại nhận thấy nếu đem so sánh thì sức chuyên chở của một chiếc máy bay sẽ là nhỏ nhoi biết nhường nào. Song vấn đề là ở chỗ rút cuộc thì hầu hết những hàng tiếp tế đi lại được chuyển ngược trở về trước. Nghĩa là nếu thực hiện được sự tiếp tế đi trước một cách chính xác, người ta sẽ có thể giảm nhu cầu về quân khí. Trong trường hợp năng lực vận tải đường không không bị cắt giảm nhiều, cộng với việc nắm bắt mục tiêu chính xác, đi đôi với việc sử dụng điều khiển học không gian nhằm mục đích kiểm soát từ xa và sử dụng khí cụ cảm ứng mà không sử dụng người thám trắc tại chỗ, thì đối với việc tiếp tế cho một cuộc chiến tranh tương đương, người ta có thể thực hiện hầu hết bằng vận tải đường không.

Mặc dù giờ đây việc tiến công qua biên giới chỉ tạo nên những uy hiếp nhỏ đối với an ninh, nhưng người ta vẫn cứ nên ghi lại khả năng nó sẽ mất đi không còn là công cụ của chính trị dựa trên sức mạnh nữa, ít nhất là trên một số phương diện. Bởi vì nó chính là bối cảnh mà hầu hết các nước đã căn cứ vào đó để tổ chức lực lượng của mình. Một hệ thống các hệ thống nếu ở vào tình huống chưa rõ ràng hoặc trong tình hình khó khăn, (thí dụ như đối với Bosnia trước khi có thỏa thuận Dayton) thì sẽ phải đảm nhận thêm nhiều công việc nữa. Các đối tượng đến rồi lại đi và ít bị nhận dạng. Do vậy quan sát cần đi đôi với tiếp xúc, song mức độ tiếp xúc trên thực tế không cần phải nhiều. Thí dụ, vị trí và đặc điểm của các thiết bị đối địch mộit khi bị phát hiện tức sẽ được truyền đi – và chỉ sau đó chúng mới bị tiến công. Trong tương lai, khi người ta có thể biểu thị đầy đủ mối tương quan đối chiếu giữa hình ảnh được trông thấy và hình ảnh bị phá hủy, thì việc truyền lệnh trong tương lai người ta sẽ đòi được trông thấy tận mắt mục tiêu đối kháng bị loại khỏi vòng chiến. Như vậy sự tiết kiệm trong hậu cần (chưa kể trận chiến đấu còn được truyền hình tại chỗ) sẽ loại bỏ thêm nữa một hàng rào về địa lý đối với sự can thiệp của Hoa Kỳ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Chính trị – pháp luật, kinh tế, văn hóa xã hội là những động lực chính – Phần II


Việc quần chúng có khả năng tụ tập lớn và nhanh chóng như vậy – gần bảy triệu tin nhắn được gửi đi trong tuần đó – khiến các nhà lập pháp của nước này hoảng sợ và quyết định chuyển hướng, cho phép đưa ra bằng chứng chống lại tổng thống. Số phận của Estrada đã được quyết định: vào ngày 20/01, ông ta ra đi. Sự kiện này đánh dấu việc lần đầu tiên phương tiện truyền thông xã hội đã giúp cách chức một nhà lãnh đạo quốc gia. Estrada đổ lỗi cho “thế hệ nhắn tin ngắn” đã gây ra sự thất bại của mình.

Khung 2.1: Sự chuyển dịch chính trị của Sri Lanka và vai trò của công nghệ

Nằm ở phía nam của Ấn Độ, hòn đảo nhiệt đới Sri Lanka thu hút du khách trong nhiều thế kỷ bằng vẻ đẹp tự nhiên của mình. Nhưng đất nước này cũng phải chịu vết sẹo là cuộc nội chiến đau thương dai dẳng phát sinh từ sự căng thẳng sắc tộc giữa tộc Sinhalese chiếm đa số và tộc thiểu số Tamil ở phía đông bắc. Sau hơn 25 năm bạo lực, cuộc xung đột kết thúc vào tháng 5 năm 2009 khi lực lượng chính phủ giành được khu vực cuối cùng bị kiểm soát bởi quân nổi dậy Tamil Tiger (Những con hổ giải phóng Tamil). Chiến thắng đã đem lại cho tổng thống Mahinda Rajapakssa nhiều quyền lực chính trị hơn.

Vào tháng 1/2015, Sri Lanka tổ chức thăm dò cho một cuộc bầu cử lịch sử. Lần đầu tiên kể từ khi hòn đảo được độc lập vào năm 1948, một vị tổng thống đương nhiệm đã bị bãi nhiệm. Cuộc bầu cử được khởi xướng  bởi chính tổng thống Rajapaksa. Ban đầu, động thái này được tính toán là để gia hạn nhiệm kỳ của ông trước khi tình hình kinh tế xấu đi bắt đầu “ăn” vào đa số phiếu đại cử tri của ông. Vì phe đối lập không thể đưa ra được một ứng cử viên sáng giá vào thời điểm đó, nên Rajapaksa chắc chắn mình sẽ giành chiến thắng.

Nhưng hai ngày sau khi công bố bầu cử, Rajapaksa đã bị sốc. Bộ trưởng Y tế của ông, Maithripala Sirisena, tuyên bố từ chức và ra tranh cử với sự ủng hộ của phe đối lập. Trong suốt chiến dịch ngắn, Sirisena đã tập hợp lượng đồng minh lớn không ngờ. Và sau đó Maithripala Sirisena đã gây bất ngờ cho thế giới khi ông đánh bại ông chủ cũ Mahinda Rajapaksa trong cuộc bầu cử tổng thống của nước này. Quốc gia này giờ đang đặt trọng tâm vào một chương trình cải cách rộng khắp.

Điều thú vị đằng sau sự chuyển đổi chính trị của Sri Lanka là việc ứng cử viên Sirisena đã được dàn xếp bằng điện thoại vệ tinh để tránh bị giám sát. Truyền thông vệ tinh là một phương tiện giao tiếp toàn cầu thông qua vệ tinh. Một vệ tinh phóng lên không gian cho mục đích viễn thông sẽ nhận và truyền các tín hiệu được gửi từ điện thoại vệ tinh về Trái Đất. Khu vực mặt đất nhận tín hiệu được truyền lại này gọi là vùng vệ tinh phủ sóng.

Do đó, thay vì sử dụng điện thoại di động, thiết bị dễ bị theo dõi bởi công nghệ hiện đại, Sirisena và liên minh của ông đã sử dụng điện thoại vệ tinh, rất khó để theo dõi và đánh chặn, đặc biệt nếu các cơ quan chức năng không có công nghệ cần thiết. Kết quả đúng như mong đợi: phần lớn các thành viên của Đảng Tự do Sri Lanka (SLFP) không biết rằng Sirisena đã được cho phép rời khỏi chính phủ cùng với một số Bộ trưởng Chính phủ quan trọng. Sau đó, ông có thể tham gia tranh cử thực sự để phản đối Tổng thống Rajapaksa trong cuộc bầu cử tổng thống và giành chiến thắng.

Nhà tiếp thị nên quan tâm đến những thay đổi chính trị ở châu Á nếu muốn phát triển kinh doanh trong khu vực này. Mọi quá trình dẫn tới sự chuyển đổi chính trị ở châu Á cần được theo dõi sát sao để nhận thức kịp thời nhữung mối đe dọa và cơ hội đang nổi lên. Ví dụ điển hình về một thị trường đang mở ra và khiến nhiều người phấn khích là Myanmar. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài quyết định đầu tư vào nước này, tiến bộ mà Myanmar đã thực hiện được xem như là một điều tích cực (Kotler & cộng sự, 2014). Nếu doanh nghiệp không xác định nhanh chóng những cơ hội xuất hiện từ bối cảnh chính trị đang thay đổi này, các đối thủ cạnh tranh sẽ chiếm trước lợi thế cạnh tranh của họ.

Số hóa và những thách thức kinh tế của châu Á

Con lắc kinh tế bắt đầu quay về phía Đông vào nửa sau của thế kỷ 20 khi Nhật Bản phát triển như một thế lực công nghiệp mới. Quyền lực chính trị từng tập trung ở phương Tây dần chuyển sang châu Á nhờ vào điều kiện kinh tế của các nước đang phát triển. Trong nhiều thập kỷ, nền kinh tế của các nước trong khu vực này đã có sự tăng trưởng ấn tượng và phát triển nhanh chóng. Xu hướng này được Zakaria (2008) gọi là “sự đi lên của phần còn lại”.

Nhưng những gì chúng ta quan sát trong 10 năm qua thậm chí còn ngoạn mục hơn nữa. Trung tâm kinh tế của thế giới đã chuyển sang Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế mới nổi khác với tốc độ chưa từng thấy. Người Anh đã mất 150 năm để tăng gấp đôi sản lượng đầu người; Trung Quốc và Ấn Độ sau công nghiệp hóa đạt được thành tích này chỉ trong 12 và 16 năm. Sự tăng tốc này nhanh gấp 10 lần tốc độ sau Cách mạng Công nghiệp Anh (Thompson & cộng sự, 2015).

Châu Á tiếp tục được xem là động cơ tăng trưởng chính của thế giới vào năm 2016 giống như trong vài năm qua. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng nằm của thế giới vẫn ở nguyên mức 4%, trong đó các nước đang phát triển ở châu Á đóng góp 2,3%, tức khoảng 60%. Đối với châu Á nói chung, tăng trưởng được dự báo ở mức 6,3% vào năm 2016 (ADB, 2015). Nhưng nếu chúng ta nhìn kỹ, có một khoảng cách đáng kể trong tăng trưởng kinh tế giữa các nước châu Á (Bảng 2.1). Khoảng cách này chỉ là một trong số các vấn đề kinh tế lớn khác đe dọa khu vực châu Á

Mặc dù số liệu cho thấy sự tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc, châu Á vẫn là một khu vực phải đối mặt với nhiều vấn đề kinh tế vẫn chưa được giải quyết. Những thách thức kinh tế ở châu Á là những thách thức điển hình của nền văn minh hiện đại; đói nghèo, tỷ lệ thất nghiệp cao và bất bình đẳng về thu nhập. Trong nỗ lực giải quyết những vấn đề này, cả chính phủ và các khu vực tư nhân ở châu Á đã liên tục thực hiện nhiều sáng kiến. Và các công nghệ kỹ thuật số, cả Internet và điện thoại di động, là những nhân tố quyết định để hỗ trợ sự thành công của các sáng kiến này.

Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey (2015) đã chỉ ra rằng việc truy cập Internet là một động lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Phân tích năm 2011 của tổ chức này về tác động kinh tế của Internet tại 13 nền kinh tế lớn nhất thế giới cho thấy Internet đã tạo ra 21% tăng trưởng GDP trong năm năm qua. Báo cáo tiếp theo năm 2012 về 30 “quốc gia và vùng lãnh thổ đang lên” (gồm cả Malaysia, Đài Loan và Việt Nam) đã thấy rằng số lần truy cập Internet tăng 25% mỗi năm trong 5 năm vừa rồi.

Vào năm 2014, các công ty và dịch vụ di động tạo ra 4,7% GDP ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, một đóng góp tri giá hơn một nghìn tỷ USD trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Con số này không bao gồm các tác động kinh tế xã hội gia tăng như tiếp cận với giáo dục và dịch vụ y tế được cải thiện nhờ vào ứng dụng di động. Đến năm 2020, sự đóng góp của điện thoại di động dự kiến sẽ tăng trưởng nhanh hơn so với phần còn lại của nền kinh tế, chiếm 5,9% GDP của khu vực (GSM Association, 2015).

Mối liên hệ giữa hiệu quả kinh tế và số hóa, đặc biệt ở châu Á, là dấu hiệu sớm cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà tiếp thị thấy được tầm quan trọng của công nghệ và vai trò của nó trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế trong khu vực. Sự hợp tác hỗ trợ bởi công nghệ giữa hai bên sẽ tiến một bước dài trong việc giúp những người nghèo tiếp cận nguồn tài chính, hỗ trợ cộng đồng nông thôn tiếp cận với thông tin, tạo việc làm, và giải quyết các thách thức kinh tế khác. À khi công nghệ đi kèm với sáng tạo, những vấn đề này có thể được giải quyết nhanh hơn nữa, đồng thời tạo ra những ảnh hưởng đáng kể về tài chính đối với các doanh nghiệp liên quan.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Philip Kotler, Hermawan Kartajaya, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.