Các thí dụ của những chiến dịch mạng lưới – Phần XIII


Vào lúc nào đó sau khi Liên Xô sụp đổ, ảnh hưởng của hệ tư tưởng mềm không còn hiệu quả. Dân chúng và giới thượng lưu đã khôn ngoan hơn khi nhận lãnh kinh nghiệm cay đắng và chịu đựng hậu quả. Khi đó quần chúng bắt đầu chống lại sự bành trướng tư tưởng trực tiếp, kháng cự lại nó. Đó là lúc bắt đầu giai đoạn tiếp theo – tác động thông tin hung hãn hơn, tuyên truyền thẳng, lấn át tất cả các quan điểm khác ra ngoài rìa của các luồng thông tin. Khi mà giới tinh hoa còn đứng về phía phương Tây, những cuộc biểu tình của nhân dân còn bị dập tắt bằng thông tin, bị đẩy ra ngoài lề. Nếu áp lực thông tin không tiếp tục và giới thượng lưu được sự ủng hộ của đa số, bắt đầu hành động đứng về phía nhân dân, sẽ tạo ra tiền đề cho những cuộc đấu tranh chính trị mềm, cho những hành động phản kháng, xuống đường của một bộ phận dân chúng bất mãn, cho những cuộc biểu tình, diễu hành, bắt đầu những hành động bất tuân được kích động bởi các khuyết điểm và sai lầm của nhà cầm quyền được phóng đại lên thêm.

Công nghệ phản kháng như thế với sự hỗ trợ của những hành động phi bạo lực đã được mô tả trong quyển sách của Gene Sharp Từ độc tài tới dân chủ  (From Dictatorship to Democracy). Tác giả mô tả công nghệ thực hiện “cách mạng màu”. Nếu phản kháng phi vũ trang không thành công, nếu các cuộc biểu tình chính trị không thắng lợi, nếu các tác động tư tưởng và sức ép từ đường phố không giúp được gì thì ở thời kỳ tiếp theo, giai đoạn tiếp theo, các kịch bản sẽ khắc nghiệt hơn.

Sự thành công của công nghệ này có thể thấy ở Gruzia trong “cách mạng hoa hồng”, trước đó nó đã từng diễn ra ở Serbia, sau ở Ukraine. Với sự ủng hộ của một bộ phận nhân dân bất mãn và các bước công nghệ chính trị khiêm tốn, người ta chuyển hướng vào các lực lượng bất bình trong nước, kẻ đặt hàng những tiến trình này buộc giới lãnh đạo từ bỏ nhiệm vụ điều hành và chuyển quyền lực cho một nhóm thượng lưu chống đối được phương Tây lập nên. Việc thay đổi chế độ bằng áp lực đường phố cũng là một chiến dịch mạng lưới thành công, hơi tốn kém hơn, hơi tích cực hơn so với việc cài đặt lại tư tưởng, nhưng dẫu sao nó cũng dẫn đến kết quả mong muốn tương đối dễ dàng và cũng không đổ máu. Và tiếp đến, theo mức độ tăng dần, là giai đoạn: Nếu các công nghệ “cam” không hiệu quả, mọi người trên quảng trường không thể làm chính quyền rung chuyển và ra đi, thì tham gia vào tiến trình sẽ có những hoạt động phá hoại và khiêu khích, làm tình hình nóng lên, dẫn tới đổ máu, các phe giận dữ buộc chính quyền trả lời cứng rắn hơn. Vào lúc đó xuất hiện thêm một luận cứ bổ sung cho việc giành chính quyền, như chuyện xảy ra với Ai Cập hay Tunisia. Tình hình căng thẳng, có thương vong, nhưng không nhiều. Có đổ máu, nhưng không đáng kể. Tiếp theo, nếu chính quyền trong trường hợp này không chùn bước – độ căng thẳng của kịch bản sẽ tăng.

Và nếu vẫn không hiệu quả thì những hành động bạo lực có tổ chức nào đó sẽ được thực hiện, chẳng hạn như tổ chức các nhóm kháng chiến du kích đô thị, thành lập các nhóm khởi nghĩa, như phương Tây gọi tên. Giờ đã có vũ khí trong tay, họ sẽ nằng nặc đòi những yêu sách chính trị, trước tiên là sự ra đi của lãnh đạo này hay khác, đòi ông ta từ bỏ quyền lực. Ở giai đoạn cuối, nếu những kẻ nổi loạn vũ trang không hoàn thành nhiệm vụ của mình, thí dụ như ở Libya, nơi những người “nổi dậy” được phương Tây bảo trợ đã không kêu gọi chính quyền từ bỏ nhiệm vụ, đất nước nđó sẽ bị không kích, và trong một số trường hợp binh đoàn quốc tế sẽ được đưa vào. Đó có thể là lực lượng của các nước EU, hoặc NATO, hoặc là các nước khác như Arab – bất kỳ cấu hình nào cũng được, để kết thúc những gì đã bắt đầu.

Cùng với đó, việc NATO có thể tiến hành đánh bom các quốc gia có chủ quyền không cần sự ủy nhiệm nào đã trở thành chuyện bình thường. Điều đó (việc được ủy nhiệm – ND) dĩ nhiên là một hình ảnh dễ chịu, cho phép giữ bề ngoài đạo đức, nhưng không còn cần thiết. Trong tình huống Libya, sự ủy nhiệm là Nghị quyết số 1793 do Hội đồng Bảo an thông qua nhờ những nỗ lực của ông Medvedev và tuyệt nhiên không nói gì về việc NATO có thể đánh bom. Tuy nhiên trong đó có điều 9, mã hóa giả thiết về việc có thể đánh bom bất cứ địa điểm nào bằng bất cứ phương tiện nào, không cần chỉ thị, đặc biệt khi nói về Libya “độc tài”. Chính từ đó mà theo logic của NATO, có thể làm bất cứ việc gì. Nhưng nếu không có sự ủy nhiệm của Hội đồng Bảo an, cũng không có gì đáng sợ. Quân đội Hoa Kỳ đã vào Iraq đâu được phép, cũng như cách mà trước đó họ từng ném bom Nam Tư. Và nếu đột nhiên quan hệ giữa Liên hợp quốc và NATO không êm ấm, thì người Mỹ cũng chẳng buồn chú ý đến Liên hợp quốc. Nhưng dù sao, can thiệp quân sự cũng là một biện pháp cực đoan.

Chẳng hạn can thiệp quân sự vào Nga là việc không ai mong muốn khi tính đến việc Nga vẫn còn tiềm năng hạt nhân. Vì thế khả năng duy nhất vào Nga chính là vũ khí meme, công nghệ rối búp bê và cách mạng Twitter. Để làm điều đó cần phải Internet hóa, Twitter hóa, iPhone hóa và iPad hóa. Tất cả tạo một môi trường cần thiết để đặt nước Nga vào sự kiểm soát mà không cần bất cứ vũ khí nào. Tất cả được bắt đầu từ việc hình thành những khuôn mẫu tư tưởng, tiếp đó là theo chuỗi: áp lực thông tin, chính trị trên các quảng trường, sự cứng rắn ngày càng tăng trong các kịch bản phản kháng từ dân chúng, chiến tranh nổi dậy, kết nối đồng minh, và điểm cuối, hợp âm sau cùng – các máy bay ném bom Mỹ sẽ làm nốt việc đã bắt đầu, sau đó Hoa Kỳ sẽ có được tất cả như chiến lợi phẩm quân sự trọn vẹn.

Hoàn tất chiến dịch ạmng là trọng trách của các binh lính, những người giúp “quân nổi dậy” kết thúc cái đã bắt đầu bằng việc tiến hành các chiến dịch quân sự mạng lưới trung tâm, chi tiết sẽ được nói sau. Nếu vì những lý do nào đó không thể thực hiện việc đưa quân đội vào, vì nguy hiểm hay vì rủi ro cho binh đoàn, khi đó không quân Hoa Kỳ sẽ trực tiếp đánh bom. Đặc biệt là đã không cần NATO cũng như những thủ tục hình thức thừa thãi. Chỉ cần tàu sân bay Hoa Kỳ tiếp cận được phạm vi cho phép của hàng không, khi đó không quân sẽ san bằng tất cả nhờ những cuộc oanh kích nhân đạo. Và điều này, lẽ dĩ nhiên, là giai đoạn hoàn thành tốn kém nhất của chiến tranh mạng lưới, cứng rắn nhất và tổn thương nhất nhìn từ góc độ hình ảnh, đánh vào uy tín, nhưng dẫu sao đây cũng là sự kết thúc tất yếu và hợp lý của một quá trình bắt đầu từ tác động tư tưởng. Đó là tất cả các giai đoạn của chiến tranh mạng.

Quan điểm hiện đại “chiến tranh thế hệ thứ sáu” của Hoa Kỳ hiện quy định các giai đoạn này trong một trình tự đã kể. Và giai đoạn nóng – điểm chung cuộc – được ghi nhận như một biện pháp đủ và cần nhất định, hoàn tất quy trình. Theo công thức đã sắp xếp này, người Mỹ đang tiến đến nền độc tài toàn cầu duy nhất. Họ là những người rất thực dụng và có công nghệ tiên tiến, vì thế họ đối với việc hiện thực hóa quyền bá chủ toàn cầu như với một công nghệ, lạnh lùng và thận trọng. Họ hoàn toàn thờ ơ với tương lai của các nước bị xâm chiếm: lịch sử của nó, số phận các dân tộc, sự thăng trầm của những quá trình xã hội nội tại, bi kịch của nhân dân, suy thoái kinh tế, nghèo nàn, đói khát, dịch bệnh, mà sự can thiệp Mỹ dẫn tới, xáo trộn các tầng lớp xã hội, đặc biệt là ở những xã hội truyền thống như thế giới Arab. Tất cả những điều này hoàn toàn chẳng làm họ lo âu. Hoa Kỳ thực dụng tiến tới mục đích của mình trên cơ sở công nghệ đã phát triển. Nếu kế hoạch “A” không hiệu quả, chuyển sang kế họahc “B”. Nếu kết quả không được tới 30% nhiệm vụ đặt ra trong thời hoạn đã hoạch định, chuyển sang kế hoạch “C”. Họ hành động máy móc, theo thuật toán đã sắp xếp, đẩy cái trục lăn toàn cầu hóa của mình từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác, không cảm xúc, một cách thực dụng và máy móc. Trong việc tiến đến mục tiêu này là một logic không thương xót của sự bành trướng Hoa Kỳ mà không ai được bảo hiểm, kể cả các đồng minh, bởi một trong những nguyên tắc chính của chiến tranh mạng là nó được tiến hành chống lại kẻ thù, các lực lượng trung lập và đồng minh. Tức đồng thời, liên tục chống lại tất cả vì lợi ích của sự thống trị toàn cầu.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Advertisements

Các thí dụ của những chiến dịch mạng lưới – Phần XII


Rốt cục thì bản thân việc cung ứng vũ khí cũng chưa phải là cái cớ để cáo buộc cho việc trực tiếp chuẩn bị xâm lăng.

Bản thân cuộc xung đột 2008 ở Nam Ossetia được xác định bằng khái niệm reality check, tức soát lại thực tế, thử nghiệm lại nó. Người Mỹ vào lúc nào đó phát hiện giới tinh hoa chính trị Nga hiện nay mong muốn chủ quyền thật sự: Putin tuyên bố sự tồn tại của chủ quyền, lợi ích quốc gia, lợi ích chiến lược. Để hiểu điều đó nghiêm túc đến đâu, nước Nga có bao nhiêu tiềm năng và khả năng để đòi hỏi chủ quyền thật sự và thực hiện những điều này, người ta tiến hành kiểm tra thực tế: tuyên bố về chủ quyền của Nga được hỗ trợ bằng bao nhiêu khả năng thực tế. Để thử nghiệm, họ chọn Nam Ossetia và “cuộc chiến bách thắng nhỏ” của Saakashvili liên quan đến Nam Ossetia. Ở đây người Mỹ khá thực dụng, như họ vẫn làm thế ở mọi nơi – thử giải quyết vài nhiệm vụ cùng lúc: Thứ nhất, tháo gỡ vấn đề “chủ nghĩa ly khai Gruzia” để mở đường cho nước này gia nhập khối NATO. Thứ hai, thúc đẩy bàn đạp địa chính trị của mình xa hơn về phương bắc, gần hơn với nước Nga, tức xê dịch vùng ảnh hưởng của mình sâu hơn vào lục địa Á – Âu, ngay biên giới của Nga và cùng với đó kiểm tra tính nhất quán của Nga xem Nga có trách nhiệm thế nào với lời của mình. Đó ít nhất là ba nhiệm vụ lớn và vô số nhiệm vụ nhỏ được giải quyết trong chiến dịch này, và Saakashvili ở đây đơn giản chỉ là một con búp bê bằng vải vụn mang trên tay người Mỹ, còn bản thân Gruzia trở thành vật hy sinh cho lợi ích Hoa Kỳ.

Số phận của những thành viên nhỏ nói chung chẳng bao giờ được Hoa Kỳ quan tâm. Thậm chí nếu như hậu quả thí nghiệm này của Hoa Kỳ là sử hủy diệt hoàn toàn Gruzia, tổn thất lớn trong thường dân và quân đội, nếu như kết quả là việc đánh mất hoàn toàn chủ quyền cảu Gruzia nếu xe tăng của Nga không dừng lại ở biên giới Nam Ossetia và Gruzia mà tiến sâu hơn vào Tbilisi và lật đổ chế độ thân Mỹ… Thì sao? Điều đó sẽ được ghi nhận như những chi phí được phép, những tổn thất quân sự tất yếu. Người Mỹ sẽ thản nhiên ghi lại nó như một khoản quyết toán âm, nhặt nhạnh mớ “tờ xanh” rồi bắt đầu tính xem sẽ làm gì tiếp theo. Họ chẳng hề quan tâm chuện gì sẽ xảy ra với người dân và nền kinh tế, với những quá trình xã hội, liệu ở đó có bình ổn hay bất an, đó là điều cuối cùng Hoa Kỳ lo ngại mà chỉ nhằm cho chiến dịch thông tin che đậy. Tất cả những thứ còn lại, trong đó có số phận Gruzia, người Mỹ chẳng lưu tâm, cũng như số phận người Ossetia và nhân dân Nam Ossetia nói chung. Vì thế khi ông Saakashvili đưa kế hoạch hủy diệt toàn bộ người dân Nam Ossetia khi thực hiện chiến dịch “Cánh đồng trong sạch”, ông ta ngầm ý là diệt chủng hoàn toàn, trục xuất hay tiêu diệt, thanh lọc khỏi lãnh thổ này những người dân không dung hòa được với quốc gia Gruzia và chủ nghĩa dân tộc Gruzia. Không phải với nhân dân Gruzia và các dân tộc đang cư trú ở Gruzia, mà là không dung hòa được với những cách tiếp cận thống nhất mà quốc gia dân tộc Gruzia thực hiện, áp dụng cho tất cả các dân tộc và sắc tộc cư trú ở Gruzia, Nam Ossetia và Abkhazia.

Và như thế, trong quá trình chiến dịch 080808 người Mỹ hiểu ra Nga quả có một nguồn dự trữ nào đó, trong đó có nguồn lực sức mạnh, để khẳng định quyền chủ quyền đối với ảnh hưởng chiến lược của mình trong khu vực này. Nga đã đưa Nam Ossetia và Abkhazia ra khỏi sự kiểm soát chiến lược của Hoa Kỳ đang đe dọa họ, chứng minh tính nhất quán của mình, thừa nhận chủ quyền của họ bằng việc bồi thường những tổn thất quân sự, vật chất và tinh thần phát sinh. Về nguyên tắc, Nga đã có thể tiến xa hơn và thậm chí đưa Gruzia vào thành phần của khối chính trị quân sự chiến lược Nga ở Kavkaz. Nhờ đó có thể có nhiều cơ hội hơn để đưa nam Kavkaz ra khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Nhưng sự thiếu kiên quyết của tổng thống Nga khi đó là ông Dmitry Medvedev đã không cho phép làm việc này. Đơn giản là ông không có đủ ý chí lịch sử để thực hiện bước đi này. Trong những hoàn cảnh lịch sử khác, Gruzia lẽ ra đã trở thành chiến lợi phẩm của binh đoàn 58 chịu trách nhiệm đáp trả thách thức này, hành vi đểu cáng của giới cầm quyền Gruzia. Và khi đó tổn thất đối với Hoa Kỳ vốn coi Gruzia như là bàn đạp của mình, trong đó có bàn đạp quân sự, nơi đã sẵn có các căn cứ quân đội Mỹ, sẽ đáng kể hơn.

Dẫu sao đó cũng là thắng lợi quân sự thực sự đầu tiên của Nga trong hai thập niên qua, có một chút đáng kể về thành quả. Tuy nhiên không nên dừng lại ở đây, bởi bất cứ chặng dừng nào trong địa chính trị đều có nghĩa là bắt đầu chuẩn bị thoái lui. Để duy trì những gì đang có, cần tiếp tục – bành trướng về địa chính trị để đẩy biên giới ra xa hơn, khi đó chúng ta mới có thể giữ lấy những gì đang có, hay ít ra, cố định được ở một điểm nào đó. Nhưng sự định hình này, sự tạm dừng một lần nữa lại có nghĩa là bắt đầu đếm ngược đến đợt triệt thoái mới. Xung đột 2008 có tính lịch sử và thật sự khẳng định ở một giai đoạn tính chủ thể địa chính trị, ít ra là tính chủ thể khu vực của Nga.

Gia tăng sức ép: Từ kế hoạch A đến kế hoạch B

Người ta được biết chính xác rằng trong cuộc xung đột 2008, phía Gruzia có sự tham gia trực tiếp của Hoa Kỳ, các nhà cố vấn quân sự, các chuyên gia bên cạnh ông Saakashvili, họ giúp đỡ chuyên môn, huấn luyện quân đội sẵn sàng cho cuộc chiến tranh. Nói chi đến việc cung cấp cho quân đội Gruzia kỹ thuật quân sự, vũ khí và binh phục do Mỹ sản xuất. Vì sao chiến tranh mạng lưới từ giai đoạn ẩn lại chuyển sang giai đoạn công khai?

Vấn đề là ở chỗ các chiến dịch mạng lưới được thực hiện theo cường độ ngày càng tăng – từ các chiến dịch quyền lực mềm đến quyền lực cứng. Đầu tiên người ta thử làm những chuyện vô thưởng vô phạt nhất để thiết lập sự kiểm soát từ bên ngoài, khởi đi từ ảnh hưởng về tư tưởng bằng việc lập ra các trung tâm tư tưởng, đặc biệt thân Mỹ, thân phương Tây, những tổ chức phi chính phủ nào đó, các NGO, những cấu trúc xã hội, văn hóa, nhân đạo chính thức tiến hành những chương trình nhân đạo nào đó với tài trợ từ phương Tây. Không phải trực tiếp từ Hoa Kỳ, mà qua những nhà điều hành giả danh. Tài trợ có thể đến từ các nước châu Âu, hay nói chung từ các khu vực, nhưng chúng thực sự nhắm tới việc thực hiện các nhiệm vụ Mỹ thiết lập ảnh hưởng tư tưởng ở quốc gia này hay khác.

Đầu tiên là sự chuẩn bị tư tưởng. Nếu thành công, dân chúng sẽ bị chi phối bởi những mô hình tư tưởng đã được giới thiệu – bản thân xã hội và giới tinh hoa bắt đầu xoay theo hướng đó. Trong trường hợp này, xã hội đã tự nguyện từ bỏ ý thức hệ của mình và chấp nhận ý thức hệ khác. Thí dụ như vào lúc Liên Xô sụp đổ, các giá trị phương Tây về văn hóa, mã văn minh đã trở nên hấp dẫn với dân chúng đến độ diễn cú quay ngược tự nguyện của xã hội về phía họ. Dĩ nhiên chúng được tạo điều kiện do tình trạng kinh tế khó khăn, như khi đó mọi người nghĩ thế, nhưng dẫu sao vào thời điểm đó những mã văn hóa phương Tây, các yếu tố thông tin văn hóa đã lấn át các mã văn hóa Xô viết. Cuộc cách mạng tự do xảy ra vào 1991 – 1993 đã diễn ra với sự công nhận từ phía quần chúng. Người dân Liên Xô chờ đợi điều đó, nhưng trước tiên các giới tinh hoa và những tầng lớp văn hóa, giới trí thức đã sẵn sàng và về mặt tư tưởng đã giải giáp nhanh hơn những người còn lại. Họ hoan nghênh sự thay đổi các khuôn mẫu tư tưởng, từ bỏ những hình mẫu Xô viết mà vào lúc đó đã là những mô hình tư tưởng thoái hóa, để tiếp nhận những giá trị phương Tây. Việc này đã tạo tiền đề cho sự thay đổi chính quyền nhẹ nhàng – “nhung lụa”: chính quyền từ một nhóm thượng lưu Xô viết bảo thủ nào đó đã được chuyển sang cho nhóm tư tưởng tự do, những nhà Tây học, Mỹ học điên cuồng với sự ủng hộ của giới trí thức và một bộ phận dân chúng. Đó là sự giao nộp tự nguyện, là thí dụ của chiến dịch mạng lưới thành công, được tiến hành bằng cách thức điêu luyện nhất, hoàn toàn ở mức độ tư tưởng và đánh tráo các giá trị. Sự cài đặt tư tưởng đã diễn ra thành công, dẫu rằng đã được chuẩn bị không phải chỉ một thập niên, và đã dẫn đến sự chuyển đổi lớn có lợi cho Mỹ. Đó là chiến dịch mạng lưới lý tưởng. Bởi vì chiến dịch mạng lưới càng không đổ máu bao nhiêu thì càng thành công bấy nhiêu, càng rẻ tiền và hiệu quả bao nhiêu thì càng ít đau đớn bấy nhiêu: chi phí tối thiểu, hiệu quả tối đa – đó là tiêu chí chính của thành công.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Các thí dụ của những chiến dịch mạng lưới – Phần XI


Các blogger ở bắc Kavkaz

Càng ngày, các blogger địa phương càng gây ảnh hưởng nhiều hơn lên tình hình Bắc Kavkaz nhờ sự phổ biến rộng rãi cảu mạng Internet. Do đó, chính quyền các cộng hòa Bắc Kavkaz đã giành cho họ ngày càng nhiều quan tâm, tổ chức những tour báo chí đặc biệt, tiến hành các diễn đàn blogger thường xuyên. Nhiệm vụ của nó: huy động các blogger – người dẫn dắt ý kiến xã hội – vào việc giữ gìn sự toàn vẹn của nước Nga và vào sự phổ biến của các phiên bản Hồi giáo truyền thống, xây dựng chúng một cách đúng đắn. Điều này trước nhất cần để chống lại cuộc tấn công mạng lưới, được các kỹ thuật viên Hoa Kỳ thực hiện qua công cụ blog bằng cách kết nối với một số lượng lớn blogger hoạt động phá hoại. Rất nhiều tiền đã được đổ vào để mua những thành viên tích cực nhất trong thế giới blog cũng như trong việc lập những tài khoản ảo và các người máy mạng, được nhân bản trên mạng theo các đề tài Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đặt hàng.

Việc phát tán các nội dung phá hoại của bên ngoài đã chèn lấn các khối thông tin tích cực ủng hộ sự toàn vẹn của Kavkaz và Nga hay các phiên bản Hồi giáo truyền thống. Nó còn tạo ra một bối cảnh thiếu xây dựng mà nhìn vào đó, những người dùng mạng trung lập sẽ cho rằng thái độ phá hoại này chiếm ưu thế ở Bắc Kavkaz hay thậm chí là duy nhất.

Trong tương quan này, từ phía chúng ta cần phải lôi kéo những người thật sự chia sẻ những quan điểm tích cực, ủng hộ Hồi giáo truyền thống và phát triển bắc Kavkaz trong thành phần của Liên bang Nga. Nếu tập hợp được họ, có thể tạo ra một làn sóng đáng kể trong phân khúc này của Internet, vốn đang nằm ở trung tâm chú ý của giới trẻ bắc Kavkaz. Họ đang rất nhạy cảm với những mô hình được các điệp viên của mạng lưới Hoa Kỳ xúc tiến trên Internet, những kẻ đang phát tán những quan điểm ly khai, Wahhabism và nhà nước giáo quyền.

Cách thức tiếp theo để tập hợp các blogger tích cực của bắc Kavkaz chủ yếu nằm trong quan điểm “hiện đại hóa mà không Tây hóa” – một mô hình xã hội mà trong khuôn khổ đó, nếp sống truyền thống được duy trì, các công nghệ tiên tiến nhất được lĩnh hội dễ dàng. Trong trường hợp này không phải là mục tiêu, mà là phương tiện. Và ở đây chỉ cần xây dựng những mục tiêu đúng đắn.

Ở những người thế hệ lớn tuổi, ý thức gia trưởng là một bộ lọc giúp họ ném bỏ tất cả những thông tin tiêu cực và tiếp nhận chỉ những gì tương ứng với các khuôn mẫu truyền thống. Nhưng giới trẻ thì bị những ý tưởng phá hoại tác động ở một mức độ lớn hơn, bởi Wahhabism chủ yếu lôi kéo giới trẻ, những người bị ảnh hưởng truyền thống thì ít mà chịu tác động của truyền hình thì nhiều.

Cho đến nay, các blogger ở bắc Kavkaz đang phân tán, cái nhìn của họ khá lỏng lẻo, họ không thể hình dung toàn bộ khung cảnh một cách hệ thống, hành động có tính cục bộ. Họ cần được chú ý nhiều hơn để tạo điều kiện hình thành quan điểm chủ quyền quốc gia, giúp họ nhìn ra hình ảnh kẻ thù và có thể phát hiện nó trong bất cứ binh đoàn mạng nào một cách rõ ràng, có căn cứ.

Công nghệ tuyên truyền Đại Tây Dương của phương Tây rất công kích, hiệu quả, mạnh mẽ, chất lượng, giới thiệu những hình ảnh sống động. Nó xâm chiếm đầu óc con người, nếu người đó trung lập – thường là thiếu niên hoặc trẻ em. Chúng nhạy cảm với những gì mạnh mẽ, nhất là khi những tiền đề cơ bản đã được ti vi hình thành.

Một đặc trưng địa phương nữa: khác với nhiều nơi ở nước Nga, làm blogger ở Kavkaz khá nguy hiểm – đó là một khu vực đặc biệt, vì vậy cần có cách tiếp cận đặc biệt. Bắc Kavkaz ngày nay đã bị đưa ra khỏi trạng thái cân bằng xã hội. Ổn định xã hội không thể có được bằng tác động vũ lực, mà từ đầu óc con người, và ở đây nội dung, suy nghĩ, ý tưởng đóng vai trò chủ đạo.

Nam Ossetia 2008: Giai đoạn thông tin của chiến tranh mạng lưới

Không chỉ bắc, mà nam Kavkaz cũng là đối tượng quan tâm đặc biệt của các nhà chiến lược Đại Tây Dương không chỉ một thế kỷ qua. Trong mưu toan đẩy nước Nga khỏi Kavkaz lùi sâu hơn vào lục địa, phương Tây luôn dùng những công nghệ mới nhất cho đến lúc đó. Chính vì thế mà Kavkaz nhìn chung là đối tượng tác động mạng thường trực, và các công nghệ thông tin được áp dụng ở đây một cách trực tiếp, liên tục khẳng định tính hiệu quả của mình. Những sự kiện ở Nam Ossetia vì thế không là ngoại lệ.

Ở đây nói về chính những sự kiện tháng 8/2008, cựu chủ biên chi nhánh Nga của tờ báo Anh The Financial Times Charles Clover đã đề cập ở trên chỉ ra rằng khi G. Bush con nói chuyện với dân chúng Mỹ để biện luận cho sự dính líu của quân đội Hoa Kỳ với Gruzia trong xung đột Gruzia – Ossetia và việc tàu chiến Hoa Kỳ đi vào biển Đen, ông ta đã sử dụng khái niệm report (thường thuật – ND). Trong phát biểu của mình, ông ta đã viện dẫn chính từ đó. Ông ta không nói – “theo báo cáo của tình báo Mỹ” hay “của Lầu Năm góc, người Nga đã tấn công Gruzia, vì thế chúng ta phải bảo vệ dân chủ”. Ông ta hiểu nó không phải vậy, rằng không ai đã và sẽ báo cáo vì sẽ phải chịu trách nhiệm cho việc đó. Nhưng cùng lúc, ban lãnh đạo Hoa Kỳ cần phải biện minh cho việc các đơn vị hải quân của mình xâm nhập biển Đen.

Đưa hạm đội Hoa Kỳ vào khu vực có thể tấn công trực diện lãnh thổ Nga được biện hộ không chỉ về chiến thuật, tác chiến hay thậm chí nhu cầu quân sự, mà trước tiên nó cần thiết nhìn từ quan điểm địa chính trị. Người Mỹ dù sao cũng cần phải vào biển Đen, thể hiện việc đứng về phía Gruzia, tạo ra yếu tố răn đe đối với nước Nga, thay đổi cán cân lực lượng và, có thể cuối cùng là thay đổi tiến trình lịch sử. Để thực hiện bước đi này cần những cơ sở nghiêm túc. Nhưng không thể viện dẫn vào dữ liệu tình báo, hoặc vì không có chúng hoặc có thể chúng nói ngược lại. Cũng như khi quân đội Hoa Kỳ đã vào Iraq, thông tin tình báo cho biết Iraq không có vũ khí hóa học. Kết quả là tất cả kết thúc bằng một scandal. Vì thế lần này trong phát biểu của mình Bush đã dùng từ report – đơn giản là tường thuật: “CNN nói người Nga đã tấn công Gruzia” – họ dã tường thuật như thế cho nên tôi – lãnh đạo Hoa Kỳ – quyết định ủng hộ Gruzia.

Tiếp theo đó Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thực sự đưa tàu chiến của mình vào biển Đen. Nhưng khi chiến dịch kết thúc – năm ngày chiến tranh cộng với vài ngày nữa, khi thế giới vẫn đang trong cơn sốt, người ta hỏi Hoa Kỳ: Nó là gì, ngài Bush con kính mến, các tàu chiến để làm gì? Và ông ta đã trả lời, đừng hỏi tôi mà hãy hỏi CNN, họ sai lầm khi chiếu những cảnh nói đó là Gruzia bị đánh bom. Chúng tôi mới đưa tàu vào. Hóa ra đó là đánh bom “Tskhinvali” chứ không phải Gori.

Khi đó CNN mới sực nhớ: “Vâng đúng là chúng tôi bị nhầm băng, đấy chúng tôi sẽ chiếu cảnh đánh bom Gori. Còn thì vâng, chúng tôi đã chiếu cảnh Tskhinvali”. Và rồi họ chiếu lại cảnh Tskhinvali với dòng tít Tskhinvali bị đánh bom, còn đây là Gori bị đánh bom. Chúng tôi đã sửa chữa sai lầm, xin thứ lỗi, đơn giản là chúng tôi lắp ghép câu chuyện không chính xác, vì các tay máy đã viết sai tên băng, xin lỗi. Nhưng tàu chiến Mỹ thì đã ở biển Đen. Nếu tình hình phát triển khác đi, nếu như binh đoàn 58 (của Liên bang Nga – ND) sợ tàu chiến NATO, không đi qua đường hầm Roki vào Nam Ossetia; nếu như ban lãnh đạo chính trị (Nga – ND) lưỡng tự, phân tích những hậu quả của cuộc va chạm có thể với tàu chiến Hoa Kỳ ở biển Đen, thì đường hầm chắc đã bị nổ tung và chắc Tskhinvali đã bị đánh bom tan tành. Lúc đó chắc Gruzia đã có thể chiếm Nam Ossetia, thực hiện những nhiệm vụ quân sự, tác chiến và chiến lược, lập ra được một căn cứ Hoa Kỳ vững chãi ở nam Kavkaz, tăng biên giới kiểm soát từ phía dãy núi Kavkaz và tìm được lối ra mênh mông tới biển Đen. Nga lúc đó chắc sẽ đứng bên bờ thảm họa. Mà tất cả vì cái gì? Vì CNN “nhầm băng” và Bush vịn vào tường thuật này đưa hạm đội Hoa Kỳ vào. Tức là vì một “sai lầm vô tội” của một nhân viên kỹ thuật, nhiệm vụ chiến lược nghiêm túc nhằm thiết lập kiểm soát trực tiếp của Hoa Kỳ ở nam Kavkaz đã có thể thực hiện, tăng cường ảnh hưởng của Hoa Kỳ lên Kavkaz thông qua Gruzia. Nam Ossetia và Abkhazia có thể cũng đã bị chiếm đóng hoàn toàn, thực hiện diệt chủng toàn bộ các dân tộc. Kết quả là kiểm soát vùng bờ Biển Đen trực tiếp từ biên giới Nga, tàu chiến Hoa Kỳ thường trực trong vùng biển Nga, căn cứ quân sự NATO ở Sukhumi – tất cả những điều này khiến chúng ta như chỉ mành treo chuông… Và đó là một bên bàn cân. Còn bên kia là “nhầm băng”.

Nảy sinh câu hỏi: người Mỹ có tình cờ nhầm băng không? Có tình cờ không khi Bush đưa ra tuyên bố lịch sử dựa vào phóng sự của CNN chứ không phải vào báo cáo chính thức của Bộ trưởng Quốc phòng, khi đó là Robert Micheal Gates, người đã viết một hồi ký cởi mở sau khi về hưu? Tất cả chính là một chiến dịch mạng lưới kinh điển. Xung đột tháng 8/2009 là thí dụ của một hoạt động mạng lưới do Hoa Kỳ thực hiện, nhưng bạn sẽ không tìm ra những người chịu trách nhiệm cho việc thực hiện này: không thể xác định được phía đặt hàng xung đột, cũng không rõ phía thừa hành. Và người ta có hỏi Saakashvili ông ta cần gì để giải quyết những vấn đề của mình và gia nhập NATO. Ông ta đáp cần có vũ khí Mỹ. Lời đáp chính thức cho câu hỏi này có thể tìm thấy rất nhiều – từ ước muốn vũ trang quân đội cho đến mưu toan sử dụng chúng như yếu tố răn đe khi tiến hành các cuộc thương lượng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Các thí dụ của những chiến dịch mạng lưới – Phần X


Còn ở Nga, chuyện gì xảy ra vào thời điểm này? Xã hội Nga đơn giản là vô cùng “khó ở”, bởi đã lộ rõ việc thiếu kiểm soát hoàn toàn tình hình của Trung tâm liên bang. Sự phá hoại của các quan chức tham nhũng, truyền thông tự do – được hình thành theo mã mạng phương Tây để tạo điều kiện cần thiết cho trường thông tin Nga – làm việc hết công suất. Các phương tiện truyền thông “gầm rú” theo mỗi tình huống ầm ĩ ở Chechnya, theo bất cứ hoạt động thành công nào của các lực lượng liên bang, một cơn cuồng loạn chung, các nhà bảo vệ nhân quyền thì “đấu trong cơn phê thuốc”, chính quyền chán nản và bối rối. Điều đó làm xã hội xuống tinh thần, trên màn ảnh truyền hình thường xuyên thấy các tử thi, quan tài, những bà mẹ khóc than. Yeltsin gầm gừ say xỉn. Rõ ràng chính phủ không kiểm soát được bất cứ thứ gì. Trong bối cảnh đó, các nhà tài phiệt “ăn chơi”. Các vị tướng bán vũ khí cho các tay súng, tổng tham nhũng, các quan chức phân hóa, tình hình bộc lột toàn bộ tất cả các vết áp xe đã có vào thời điểm đó, mưng mủ trong xã hội Nga, trong hệ thống thối rữa của cuộc chè chén linh đình của Yeltsin. Những ai am hiểu tình hình, có mã mạng được hình thành chính xác: những nhà báo tự do, giới tài phiệt nhắm tới phương Tây biết làm gì và làm thế nào trong mỗi tình huống cụ thể – sẽ kiểm soát tình hình chính trị của đất nước.

Vì sao tất cả những chuyện này lại xảy ra? Bởi vì ở Chechnya đang có chiến tranh mạng lưới của Hoa Kỳ chống lại Nga, và tất cả những gì xảy ra trong xã hội Nga và trong chính quyền – hậu quả trực tiếp của nó – là một chiến dịch mạng lưới tiêu biểu. Ai tính đúng mã mạng, người đó sẽ điều khiển các quá trình và động cơ của người Chechnya, khiêu khích xung đột bằng cách nhắc về việc mọi người đang chiến đấu với kẻ chiếm đóng, công thức của họ rất đơn giản: chúng tôi đấu tranh cho độc lập và tự do. Kremlin trong khi đó lại chẳng hiểu gì, bởi tự do thì tốt, theo cách hiểu của cánh tự do. Các vị tướng nhìn vào điện Kremlin, tham nhũng lên ngôi, xã hội ngả lòng, phương Tây và bọn tay sai của họ, những nhà tài phiệt, đang làm chủ đất nước. Động lực của phía Nga mờ mịt. Tất cả là kết quả của việc thực hiện thành công một giai đoạn của chiến tranh mạng lưới. Mục tiêu cuối cùng của giai đoạn này là sự phân hóa hoàn toàn dẫn tới tiêu diệt tính nhà nước Nga, và hậu quả là sự tan rã của Nga và thắng lợi cuối cùng trong chiến tranh địa chính trị giữa các lục địa này thể hiện ở sức mạnh thế giới độc tôn của Hoa Kỳ.

Nhưng ở đây giai đoạn nóng đã dừng lại, phía Nga không chịu nổi căng thẳng, đã đầu hàng. Không phải đầu hàng các băng nhóm Chechnya ly khai – đó là vật hy sinh của chiến tranh mạng lưới, các nhà chiến lược mạng không tính tới lợi ích của chúng, mà nước Nga đầu hàng nước Mỹ khi bại trận trong chiến dịch mạng lưới. Đó là cái giá cho việc quá thờ ơ với logic địa chính trị của lịch sử và của các chiến lược mạng lưới, khi đó người ta đã không tính đến cả cái nọ lẫn cái kia đơn giản vì họ chưa bao giờ nghe thấy.

Giai đoạn lạnh: Chiến tranh mạng lưới của những chủ đích

Nước Nga bị đánh bại, chiến tranh dừng lại theo điều kiện của phe ly khai được kiểm soát trọn vẹn lãnh thổ, nơi không có cơ quan đại diện chính quyền liên bang nào nên có thể thản nhiên bỏ qua HIến pháp Liên bang Nga mà vì nó xảy ra tất cả mọi chuyện, bỏ qua các luật lệ Nga, được làm tất cả những gì họ muốn. Còn điều kiện duy nhất từ phía Nga – tạm thời chưa chính thức tuyên bố tách Chechnya khỏi thành phần Nga. Ở giai đoạn đó, việc tách khỏi Nga chưa cần thiết bởi trong điều kiện đang hình thành lúc ấy, (việc ly khai – ND) có thể dẫn tới sự sụp đổ đất nước không sao kiểm soát được mà ở thời điểm đó Hoa Kỳ vẫn chưa chuẩn bị cho sự kiện này.

Nhưng rồi sau đó lại xuất hiện những mâu thuẫn trong chính xã hội Chechnya. “Chiến thắng” và việc kẻ thù bên ngoài tự biến mất đã dẫn tới khủng hoảng động lực. Vào lúc mà người Chechnya bắt đầu thảo ra Hiến pháp đầu tiên của quốc gia được cho là “độc lập”, họ phát hiện rằng xã hội Chechnya truyền thống, những phong tục của tổ tiên hoàn toàn mâu thuẫn với những mô hình Wahhabism du nhập từ bên ngoài. Bắt đầu cuộc xung đột nội tại giữa những người theo Wahhabism và những nhà truyền thống; động cơ của người Chechnya chao đảo. Nga vào thời điểm đó đã dàn xếp ổn thỏa cho động lực của mình: tầm quan trọng của Hiến pháp Nga mà trước đó mọi người căm ghét, giờ đây được nâng lên bằng cái giá uy tín riêng của Vladimir Putin, người ngay từ đầu đã đặt Hiến pháp lên cao hơn khả năng ở lại làm tổng thống bao lâu cho đến khi mà nhân dân còn ủng hộ ông. Việc giữ gìn sự toàn vẹn của nước Nga thời Putin đã trở thành lý tưởng quốc gia, đối lập với chủ nghĩa Yeltsin, bất đồng khu vực của Hội đồng Liên bang Nga được xoa dịu, các thống đốc bị giải tán, các lãnh thổ gắng kết với Trung tâm nhờ định chế đại diện tổng thống. Chủ nghĩa yêu nước trở thành một trong những khoảnh khắc quyết định để hình thành mô hình mới tự do – yêu nước của Putin.

Vì những động lực của người Chechnya trong bối cảnh này, ngược lại, đang lung lay nên ở những người xây dựng mã mạng từ phía họ (phương Tây – ND) nảy sinh nhu cầu hành động tinh tế hơn. Trong việc phát triển chiến lược mạng lưới giai đoạn tiếp theo, họ kết nối với các cộng đồng sắc tộc ở Kavkaz và các nhóm sắc tộc ở Nga, họ làm việc với cộng đồng người Chechnya ở Moskva… Chiến tranh mạng lưới tiếp diễn, nhưng chuyển sang cấp độ tinh vi hơn. Bắt đầu công việc chuẩn bị cho các định chế tư tưởng Chechnya có khả năng thành lập và biện giải những động cơ mới, hiệu chỉnh cái cũ. Ở giai đoạn này có thêm các điệp viên trực tiếp của tình báo Anh kết nối vào. Nếu như trước đây không cần họ bởi mọi thứ diễn ra thuận lợi trơn tru, thì nay, lúc người Chechnya bắt đầy quay lại với nguyên mẫu sắc tộc truyền thống của họ, cần có sự tham gia trực tiếp, chặt chẽ của các chuyên gia Anh để đưa tình hình Chechnya vàoo guồng điều khiển của mình. Chính vào thời điểm này cạnh ban lãnh đạo Chechnya xuất hiện doanh nhân Anh gốc Ba Lan Mansour Yahimchik, vào thời cảu mình từng là thành viên tích cực của phong trào chống cộng và là một trong các thủ lĩnh công đoàn “Đoàn kết” Ba Lan ở Krakow. Ông ta đột ngột thể hiện mối quan tâm bất ngờ tới phiên bản Hồi giáo mật tông ở Chechnya, nhập tịch Cộng hòa Chechnya Ichkeria, trở thành cố vấn tổng thống về các vấn đề kinh tế đối ngoại. Với sự cống hiến của ông ta, quan hệ của các thủ lĩnh Chechnya với giới tài chính Anh được dàn xếp suôn sẻ, ông ta tổ chức cuộc gặp của các lãnh đạo Chechnya với các huân tước Anh, với Margaret Thatcher vào lúc đó là cố vấn cho tập đoàn Bristish Petroleum, với các giám đốc những tập đoàn lớn khác. Tức chỉ cần người Chechnya bắt đầu nghiêm túc bắt tay vào hồi phục các nguyên mẫu Hồi giáo truyền thống của riêng mình, sắc tộc mình, chứ không phải Wahhabism mà vào lúc đó đã bị chối bỏ khá nghiêm trọng, họ đã lôi kéo sự chú ý sâu sắc, ngay lập tức xuất hiện người Anh gốc Ba Lan quan tâm đến Hồi giáo Chechnya.

Chính nhờ sự tham dự trực tiếp của ông ta mà vào tháng 4/1997, Quỹ đầu tư Kavkaz được thành lập, Viện Thương mại Công nghiệp Hoa Kỳ – Kavkaz được đăng ký ở Washington, còn huân tước McAlpine – đại diện tập đoàn tài chính Goldsmith hứa đầu tư vào công nghiệp dầu Chechnya 3 tỷ USD, nhưng với điều kiện ông ta phải được quyền thuê không giới hạn toàn bộ ngành công nghiệp dầu Chechnya – tức ở đây thật sự đã có thể nói về việc mua nó.

Hoạt động mạng lưới ở Chechnya bắt đầu chuyển sang giai đoạn nóng, xuyên qua hai cuộc chiến Chechnya và tiếp tục đến tận bây giờ. Trong bối cảnh Chechnya tồn tại những lỗ hổng mà các nhà chiến lược phương Tây sử dụng chống nước Nga tới ngày nay. Thế chênh vênh của sự yên tĩnh hiện thời là ở chỗ hòa bình Chechnya được hình thành trên cơ sở sự thống trị của một bộ phận thế tục của xã hội Chechnya, bộ phận này thiết lập một hệ thống thế tục nghiêm ngặt của thiết chế xã hội, áp đặt bởi Nga nhờ con đường bạo lực. Và một lần nữa, cũng như trước đây, ở Chechnya đã loại trừ hoàn toàn các mô hình truyền thống. Hiện giờ những mô hình này, cũng như thời Xô viết, đang bị trấn áp hoàn toàn, không có sự cân bằng nào tính đến yếu tố truyền thống. Mô hình thế tục đã chiến thắng và được duy trì nhờ áp lực Trung tâm. Trong bối cảnh này vẫn luôn còn dư địa để nhắm đến những cộng đồng dân tộc Chechnya đang bị trấn áp, có thể kích động tình hình vào bất cứ lúc nào. Xung đột Chechnya được đóng băng một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, được rót tài trợ hào phóng từ Trung tâm liên bang, nhưng cũng không nên phá hủy sự ổn định trong những điều kiện hiện nay. Chỉ cần một lần nữa giảm nhẹ sức ép – thay đổi chiến lược chính trị đối ngoại có lợi cho phương Tây, đặt những nhân vật khác vào Chechnya, giảm nhẹ dòng tài trợ hay bất cứ gì nữa thì tất cả sẽ lặp lại từ đầu. Cái im ắng tạm thời chủ yếu đến từ sự mệt mỏi chung. Chiến tranh mạng lưới không thể bị ngăn lại, Nhưng có thể đảo ngược hướng đi của nó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Các thí dụ của những chiến dịch mạng lưới – Phần IX


Mã mạng của cuộc chiến Chechnya

Để mô tả việc hình thành cách hiểu “chính xác” tình hình và những quá trình diễn ra tiếp theo trong những cuộc chiến tranh mạng lưới, người ta dùng khái niệm “mã mạng”. Đó là một mê cung mà thông qua nó các thành viên đánh giá những sự kiện đang diễn ra. Mã mạng dự đoán trước các phản ứng đòi hỏi từ các phía, những ai lập ra nó quan tâm đến nhiều yếu tố giúp họ tính được các thành viên của tiến trình phản ứng thế nào đối với sự kiện này hay khác.

Nắm được mã mạng nhất định, thành viên của chiến dịch mạng sẽ hiểu “chính xác” phải đánh giá thông tin thế nào, sau đó hành xử ra sao, những quyết định nào cần được thông qua. Tức sự “chính xác” đó đã được thiết lập trước. Để bắt đầu chiến dịch mạng lưới ở Kavkaz, người ta khiến tình hình quanh Chechnya gia tăng căng thẳng. Hoa Kỳ bắt đầu lập ra mã mạng cần thiết cho họ.

Ngoài mã mạng đã được thiết lập, trên lãnh thổ Chechnya còn hiện diện một mã mạng được hình thành trên cơ sở những quá trình lịch sử cần thiết phải tính đến khi chuẩn bị chiến dịch mạng lưới. Một trong những nhân tố hình thành mã mạng hiện hành là, thí dụ như, tâm trạng ly khai ở Chechnya, xuất hiện khá lâu trước khi bắt đầu cuộc xung đột Chechnya làn thứ nhất bởi Trung tâm Xô viết đã trấn áp bất cứ biểu hiện bản sắc truyền thống Chechnya nào vì chủ nghĩa vô thần nhà nước, không để người Chechnya thể hiện bản sắc dân tộc, văn hóa và truyền thống.

Khi áp lực của Trung tâm đã nới lỏng, ý thức về bản sắc từng bị trấn áp của người Chechnya trỗi dậy, điều tự nhiên đối với một dân tộc có truyền thống. Điểm này của mã mạng đang tồn tại sẽ được nắm bắt khi chuẩn bị cho điểm xuất phát đầu tiên của chiến dịch mạng. Thêm vào đó Chechnya thật sự là một cộng đồng đơn sắc tộc bởi đa số dân cư là dân tộc Chechen, chỉ phân chia trong nội bộ gia tộc. Đó chính là xuất phát điểm thứ hai được mã mạng đang hiện diện tính đến bằng cách thổi phồng đề tài sự chiếm đóng của Nga ở Chechnya.

Điểm thứ ba tính tới việc người Chechnya không có điều kiện xây dựng mô hình xã hội của riêng mình dựa trên cách thức truyền thống. Các xuất phát điểm này đều được đưa vào tính toán cho mã mạng hiện có. Như thế, hoạt động mạng lưới ở Chechnya được chuẩn bị trên cơ sở mã mạng được hình thành có tính đến mã mạng đang tồn tại. Tất cả các bước đi này được lên kế hoạch sao cho phản ứng đối với chúng đều tiên đoán được đối với các nhà chiến lược – Hoa Kỳ, tính dự báo xuất phát từ hiểu biết mã mạng, tức hiểu thấu đáo xuất phát điểm của các phía tham gia xung đột.

Đồng thời người ta cũng phải tính trước được những kết luận và bước đi nào sẽ được chính người Chechnya quyết định dựa trên những mã mạng của họ, đang tồn tại, và mã ạmng được Hoa Kỳ thành lập. Tất cả chúng cho phép các nhà kịch bản chiến tranh mạng lưới chuẩn bị những điều kiện đủ, chính xác và lường định tình hình sắp tới.

Còn mã mạng nào của phía Nga hiện diện tại thời điểm đó? Nước Nga phản kháng thế nào cuộc chiến vừa được bắt đầu chống lại Nga? Nga nêu lý do phải gìn giữ trật tự hiến pháp trên lãnh thổ Chechnya. Mọi người đều nhớ năm 1996, và thái độ thế nào của công dân Nga khi đó đối với Hiến pháp của Yeltsin. 98% người dân Nga công khai căm ghét Yeltsin và bản Hiếp pháp của ông ta cùng với tất cả các quan chức, các nhà tự do và những cải tổ của họ. Hiến pháp đó được đưa ra như động lực chính để đảm bảo đẩy lùi chủ nghĩa ly khai Chechnya, cho dù tính hợp lệ của nó – tức sự ủng hộ của nhân dân – lúc đó thật sự bằng không.

Động cơ tiếp theo của phía Nga là giữ gìn sự toàn vẹn của nước Nga. Mà có thể nói gì về sự toàn vẹn của nước Nga và những giá trị của nó trên nền tuyên bố của Yeltsin gửi các khu vực “hãy lấy bao nhiêu chủ quyền mà các bạn muốn” chứ? Vậy mà ở đây bất ngườ người ta nhớ ra sự toàn vẹn, vang lên vào thời điểm hoàn toàn không thuyết phục. Về chủ nghĩa yêu nước thì chẳng còn gì để nói, bởi chủ nghĩa yêu nước bị cấm dưới thời Yeltsin, và nếu anh là người yêu nước, có nghĩa anh là đồ hèn mạt hoặc kẻ ra rìa, ngồi yên ở tầng hầm và chớ thò mũi vào, tốt hơn là chết đi mà bảo vệ Xô viết tối cao. Vậy thì còn động cơ yêu nước nào ở đây được chứ?

Động cơ duy nhất còn lại từ phía Nga là trả thù cho những người bạn đã chết. Nhưng đó là động lực của một hành động có thể hoãn lại. Như thế, những động lực đáp trả phía Nga có được thời điểm đó thật thảm hại, còn mã mạng tồn tại của họ thì chán nản và chủ bại. Tất cả những gì diễn ra được xã hội tiếp nhận chính qua mã mạng đó.

Bất cứ biện minh nào từ phía Trung tâm liên bang chống lại người Chechnya, những người có lập luận chặt chẽ và minh định hơn, đơn giản là nói nhảm thảm hại. Sự thua cuộc của chúng ta trong giai đoạn đầu cuộc chiến tranh mạng lưới ở Chechnya đã được lập trình bằng chính mã mạng của chúng ta. Họ có thể bắt đầu.

Giai đoạn nóng: Hoa Kỳ bắt đầu và chiến thắng

Xây dựng xong mã mạng cần thiết và lập ra bối cảnh cho chiến dịch đã hoạch định, người Mỹ bắt đầu ra đòn. Quá trình được khởi sự: kết nối Wahhabism – Arab Saudi, kết nối các nguồn lực tài chính của người Anh, mở ra các kênh vận chuyển vũ khí từ Thổ Nhĩ Kỳ về Azerbaijan. Cũng lúc đó người Ba Lan bắt đầu “hú”, các nước Đông Âu “phụ họa” theo. Từ tiếng “hú” này cả phần còn lại của châu Âu thức tỉnh, các phái bộ OSCE nhốn nháo, người Anh nhớ lại những lợi ích kinh tế của mình, về những đồng tiền đã mất của mình từng được đầu tư từ khi nào đó, về những “ngôi nhà Anh” ở ngoại ô Groznyi xây hồi cuối thế kỷ 19.

Toàn bộ cơ chế mạng lưới mà người Mỹ lập nên hôm trước được khởi động. Trong khi đó bản thân người Mỹ dường như ở ngoài cuộc, không chỉ thị gì trực tiếp cho bất cứ ai. Họ đã làm xong việc của mình, đã tạo ra bối cảnh, đã hình thành những điều kiện đủ và đã chọn xong các tham dự viên của chiến tranh mạng, bố trí họ theo cách mà mỗi người kết nối vào mạng lưới hiểu rõ công việc của mình, vị trí của mình, sứ mệnh của mình, nhiệm vụ của mình và bắt đầu làm việc đúng hướng. Giờ đây tất cả những gì được làm tiếp sau theo mô hình này đều diễn ra đáp ứng lợi ích của sức mạnh Mỹ. Bất kỳ hành động của một trong các đấu thủ nào đều nhằm mang lợi cho Hoa Kỳ và làm suy yếu nước Nga.

Bước tiếp theo, người Mỹ kết nối sự ủng hộ ngoại giao và chính trị của phương Tây vào quá trình. Tổng thống CRI (Cộng hòa Chechnya Ichkeria) Aslan Maskhadov đến London được đội vệ binh danh dự, các tiểu đội pháo binh và cận vệ hoàng gia chào đón, được các cộng đồng Hồi giáo ở thủ đô Anh chào mừng bằng đuốc, bằng tiếng kèn túi và trống. Và thế, lòng căm thù Nga đã được mua với giá bèo.

Toàn bộ quá trình này đương nhiên cần có tài trợ. Nhưng chiến tranh mạng lưới, một lần nữa, không tính tới việc tài trợ trực tiếp từ chủ đặt hàng. Hoa Kỳ không tài trợ trực tiếp bất cứ gì, bởi điều đó sẽ làm lộ mặt thật của họ ngay lập tức. Bất cứ đồng tiền nào được phân bổ đều rất dễ theo dấu, vì thế các phương thức tài trợ gián tiếp, tiền từ các trung tâm khác – cũng được kết nối vào chiến dịch. Thí dụ nhà tài chính Anh James Goldsmith kiếm tiền nhờ đầu cơ các cổ phiếu của các công ty dầu khí. Đặc biệt những công ty đầu tư vốn vào việc phát triển dầu Caspian. Nhà tài chính Anh này cũng quan tâm tới tình hình Chechnya. Ông để ý tới việc hình thành thị trường chứng khoán của các công ty tham gia phát triển Caspian. Ông ta xem xét những công ty nào khai thác thềm lục địa Caspian ở Baku, những công ty nào có tầm nhìn phát triển ở Chechnya, công ty nào huớng đến tuyến đường nào – ngang qua Chechnya đến Novorossisk hay đi vòng qua Nga, công ty nào đặt trên tuyến đường nào. Tùy vào tình hình lúc đó mà cổ phiếu lên giá hay hạ giá. Tài trợ cho băng nhóm gây bất ổn tình hình ở Chechnya thì cổ phiếu của những công ty đặt trên tuyến Baku – Tbilisi – Ceyhan tăng lên, còn những công ty đi qua Novorossisk bị sụt giảm, có thể mua. Tiếp theo mọi việc tạm lắng, ngừng bắn, cổ phiếu tăng vọt, những ai đầu tư vào tuyến Baku – Tbilisi – Ceyhan, cổ phiếu giảm. Và như thế, tùy vào tình hình Chechnya mà trò chơi chứng khoán được tiến hành, mang tới những món lợi khổng lồ, vì thế Goldsmith tích cực kết nối vào quá trình Chechnya và nhờ quá trình này ông ta hình thành tình hình chứng khoán, và lẽ đương nhiên đầu tư để tăng lợi nhuận bằng việc tài trợ cho các tay súng, gửi tiền khi thì vào phân khúc này, khi thì vào phân khúc kia của cuộc chiến.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Các thí dụ của những chiến dịch mạng lưới – Phần VIII


Kavkaz và nam nước Nga: Cắt đứt khỏi Iran

Mạng Đại Tây Dương như đã nhận thấy, được thành lập không chỉ trên lãnh thổ Nga, mà còn trên lãnh thổ các nước SNG: Ukraine, Gruzia, Moldova, Uzbekistan, Kyrgyzstan. Nhưng đầu tiên lẽ dĩ nhiên là ở Bắc Kavkaz, ở phía nam nước Nga, tức là trên những lãnh thổ mà Hoa Kỳ có lợi ích chiến lược đặc biệt. Chính ở những khu vực này của nước Nga mà những mạng lưới Đại Tây Dương được tích cực cài cắm, nơi chúng được thành lập đầu tiên. Mục tiêu nhằm để không hình thành liên kết chiến lược Nga và Iran. Chính vì thế mà bắc Kavkaz đầy những điệp viên của mạng lưới, còn ban lãnh đạo các nước nam Kavkaz trực tiếp dính líu với ban lãnh đạo Hoa Kỳ.

Sau khi Liên Xô tan rã, lối ra Ấn Độ Dương bằng cách xích gần với Ấn Độ đã trở nên bất khả, bởi ngoài Pakistan trên con đường này còn Afghanistan bị chúng ta bỏ lại và chẳng bao lâu sau đã bị Hoa Kỳ chiếm đóng, và cả nhóm các quốc gia độc lập muốn chứng tỏ lòng trung thành với chủ nhân mới bên kia đại dương.

Vì vậy, việc phủ mạng bắc Kavkaz và nam Nga là việc tiếp tục chiến lược tách rời Nga khỏi phía nam lục địa Á – Âu. Đó là lý do vì sao chúng tôi liên kết đề tài chiến tranh mạng lưới với đề tài thách thức địa chính trị Nga, bởi các cuộc chiến tranh mạng lưới này tiếp tục thực hiện chiến lược địa chính trị kinh điển truyền thống về việc mở rộng Rimland, tách các lãnh thổ và chuyển chúng vào sự kiểm soát của nền văn minh biển.

Chiến tranh Chechnya là một chiến dịch mạng lưới tiêu biểu mà người đặt hàng ai cũng biết. Thế nhưng người Mỹ không tham gia trực tiếp vào chiến dịch này. Ngay cả tiền bạc của Mỹ cũng không tham gia trực tiếp. Nhưng tiền của Anh thì có, chúng xuất hiện ở đây bởi vì người Anh muốn lấy lại ảnh hưởng trong kinh doanh dầu Chechnya, Arab Saudi tham gia về nhân sự; mạng lưới Hồi giáo cung ứng vật liêu con người. Người Ba Lan thì tham gia chiến tranh thông tin, tổ chức cuộc vận động bài Nga rộng khắp châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ cung cấp vũ khí qua Azerbaijan. Người Mỹ nào ở đây chứ?

Không có người Mỹ, mà nếu có cũng không tìm thấy bằng chứng bởi trong kế hoạch này không có dấu vết Hoa Kỳ. Nhưng chiến dịch này được thực hiện đáp ứng lợi ích Mỹ, vì quốc gia Nga trong cuộc chiến Chechnya đứng bên bờ vực sống còn – tham nhũng, phân hóa, Yeltsin không biết gì, ban lãnh đạo mất tinh thần. Nước Nga tan rã bởi Chechnya, bởi một lãnh thổ nhỏ bé, không phải vì người Chechnya quá mạnh, họ cũng mạnh nhưng chỉ đến một mức độ nào thôi, mà bởi vì Hoa Kỳ thực hiện chiến tranh mạng lưới chống lại Nga. Kết quả là Chechnya phải được độc lập, chủ quyền, điều sẽ khiêu khích làn sóng đòi chủ quyền nổi dậy, Bashkortostan, Tatarstan, Yakutia, mà Yakutia là Lenaland, dải đất nơi có thể xảy ra sự trưng thu vùng Viễn Đông và một phần Siberia khỏi phần còn lại của nước Nga. Liên bang Nga bên bờ vực tan rã. Thí dụ điển hình của chiến dịch mạng lưới: không có kẻ đặt hàng trực tiếp, khi chiến dịch mạng lưới được thực hiện chỉ có những dấu hiệu gián tiếp về sự tham gia của chủ đặt hàng. Nhưng mục tiêu cuối cùng đúng là nghiêm ngặt về địa chính trị: từ định hướng về Á – Âu của Iran, biến nó thành bàn đạp để triển khai ở đó các căn cứ quân sự Hoa Kỳ, đưa khu vực này vào sự kiểm soát của họ để loại bỏ cơn đau đầu chính trong khu vực. Chính Iran là một trong những vấn đề then chốt cho việc thiết lập quyền bá chủ thế giới của Hoa Kỳ. Sau đó, khép lại vòng “Anaconda”, cắt đứt hoàn toàn lối ra biển ấm của nước Nga.

Để ngăn chặn thực hiện kịch bản này, chúng ta cần phát triển tích cực mối quan hệ Nga – Iran và gắn kết nhiều hơn hai đất nước. Trước tiên ở đây nói về các xúc tiến địa chính trị, về quan hệ đối tác chiến lược Nga – Iran trong tất cả các lĩnh vực. Không chỉ trong lĩnh vực năng lượng, đầu tiên là năng lượng hạt nhân, điều hiện nay đang diễn ra. Mà còn trong lĩnh vực kinh tế, chiến lược quân sự. Lý tưởng hơn là tiến tới việc Iran và Nga ký kết liên minh chiến lược quân sự, tiến hành tập trận chung và cùng tham gia giải quyết những xung đột địa phương và khu vực. Ngoài ra, Iran đã gia nhập vào khối CSTO đang tồn tại. Nga và Iran phải cùng nhau tiến hành kiể soát phân khúc Ấn Độ Dương tiếp giáp trực tiếp với Iran. Ở đây nói về quan hệ đối tác quân sự, chính trị, chiến lược mà hiệu quả của nó là đối tác toàn diện, bởi nhìn từ quan điểm địa chính trị Iran là đồng minh chính của Nga ở Trung Đông. Nhưng chính sự kiện này cũng đặt Iran vào nguy cơ bị tấn công, sau nhiều nỗ lực “cách mạng màu” không thành công, hiện nay người ta đang chuẩn bị tấn công quân sự trực tiếp.

Tất cả đều quan tâm: địa chính trị, ảnh hưởng, dầu và tiền bạc

Ngay từ buổi đầu thực hiện chiến dịch mạng lưới của Chechnya, nhiều trung tâm quyền lực đã cùng lúc tham gia. Đầu tiên kết nối vào mạng lưới là người Anh, vốn tham gia phát triển các mỏ dầu trên lãnh thổ Chechnya từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi mà Groznyi được xem như trung tâm tâm khai thác dầu thứ hai sau Baku. Ngay lúc đó người Anh đã đầu tư những phương tiện đáng kể vào ngành dầu Kavkaz, bỏ ra cho dự án này nhiều sức lực, nguồn lực, thời gian và năng lượng. Vì thế nên sau quốc hữu hóa của Liên Xô, rồi sau đó là sự tan ra của chính Liên Xô, người Mỹ lần nữa nhắc lại Anh Quốc về lợi ích của họ ở Kavkaz. Như thế người Anh kết nối vào chiến dịch mạng lưới của Hoa Kỳ vì những toan tính thực tiễn riêng của mình, để lấy lại những gì đã mất, khôi phục ảnh hưởng kinh tế tài chính, nhận được hợp đồng, mua lại công nghiệp khai thác dầu vốn đã trở thành vô chủ. Người Mỹ thì cần tiền của người Anh, một lần nữa được đưa vào Kavkaz, để tài trợ cho chiến dịch mạng lưới.

Đấu thủ thứ hai của chiến dịch mạng lưới Kavkaz là Arab Saudi, mà qua họ toàn bộ thế giới Arab được kết nối và đầu tiên là mạng lưới Wahhabism. Người Saudi quan tâm nhất việc làm sao để phổ biến rộng rãi phiên bản Wahhabism của Hồi giáo, xuất khẩu phong trào Wahhabism ra ngoài thế giới Arab, đó là mối lợi ích của ảnh hưởng, thuần túy thực dụng. Và người Mỹ đã kín đáo chỉ cho họ Chechnya, nơi Hồi giáo nhiều năm bị đàn áp, nơi vào thời Xô viết Hồi giáo truyền thống hoàn toàn bị diệt trừ nên ở đó rất dễ và rất nhanh có thể áp đặt các hình mẫu Wahhabism, tìm được cơ hội tiếp cận với Hồi giáo Nga ở khu vực Volga. Người Mỹ thì nhận được sự kết nối của nguồn lực con người vô tận, những mạng lưới Wahhabism quốc tế và sự tài trợ của họ.

Thêm vào đó, Wahhabism là mô hình mạng lưới sử dụng đông đảo tín đồ Hồi giáo, dễ hiểu và thuận tiện cho phương Tây: các trung tâm Wahhabism sẵn có, có thể điều hướng được, đã tồn tại khắp thế giới. Đó là mạng lưới được lập nên từ sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, được kiểm soát và dễ hiểu đối với Hoa Kỳ, được tài trợ bởi Arab Saudi, một đồng minh quan trọng của Mỹ trong thế giới Arab. Thêm vào đó Wahhabism, trên bề mặt là một phiên bản đơn giản, dễ hiểu cảu Hồi giáo như một hệ tư tưởng chính trị, không có “rắc rối”, có thể lĩnh hội nó dễ dàng, trong khi Hồi giáo truyền thống khá phức tạp, dựa trên những hiểu biết thấu đáo về văn hóa truyền thống của nó, khó tiếp nhận sau những thập niên của lãng quên và chủ nghĩa vô thần nhà nước. Cùng lúc đó Wahhabism phá hủy những hình mẫu truyền thống của Hồi giáo, phủ nhận hiện tượng Sufism – Hồi giáo mật tông vốn là nền tảng của Hồi giáo Chechnya. Và như thế, Wahhabism thay thế Hồi giáo truyền thống, dễ lĩnh hội và nhờ đó được kiểm soát, tức có nghĩa nó đáp ứng tất cả các tiêu chí cần thiết để tạo ra một bối cảnh rõ ràng, dễ điều khiển đối với phía Hoa Kỳ.

Để chiến dịch thành công, người Mỹ yêu cầu kết nối bộ máy tuyên truyền mạnh mẽ của việc gây sức ép và làm nóng thông tin thường trực. Để làm việc này, trung tâm quyền lực thứ ba – các nước Đông Âu, đã cứng rắn từ bỏ quá khứ Xô viết, từ bỏ nước Nga và hiện nay đang sử dụng bất cứ nguyên cớ nào để biểu lộ thái độ tiêu cực của mình, trong mọi vấn đề họ đều giữ quan điểm thân Mỹ. Chechnya là cái cớ tốt để họ thể hiện sự hăng hái chống Nga và một lần nữa sự luồn cúi trước người Mỹ. Trong đội tiên phong của cơn kích động chống Nga có Ba Lan, các nước Baltic và một số nước Đông Âu khác, luôn cố bằng mọi phương tiện và mọi nguyên cớ thể hiện sự căm thù của họ đối với Nga. Và cuối cùng, để tăng cường ảnh hưởng của mình đối với Azerbaijan, trực tiếp giáp giới với Chechnya, Thổ Nhĩ Kỳ cũng tỏ sự quan tâm.

Không cần giải thích cho ai trong số những thành viên kể trên của quá trình, tất cả họ đều hiểu những lợi ích cục bộ của mình, thế nhưng người tiêu dùng cái kết quả toàn cầu cuối cùng chính là người Mỹ. Thêm vào đó người Mỹ không trực tiếp chỉ ra cho ai – “các người, người Thổ, hãy thu xếp các kênh cung cấp vũ khí và tay súng qua Azerbaijan, còn các người, các Wahhabist, hãy tài trợ và tuyển mộ các thành viên mới của kháng chiến, còn các người, Ba Lan, hãy hét to khắp thế giới rằng người Nga diệt chủng công dân mình, giết người Chechnya vô tội, cả người già và trẻ em”. Không có gì kiểu đó vang lên, không một chỉ thị trực tiếp nào từ Washington mặc dù lẽ đương nhiên, tiến trình chung của chiến dịch được hiệu chỉnh ở những giai đoạn khác nhau với sự hỗ trợ trực tiếp của tình báo Hoa Kỳ. Thế nhưng nhìn chung, dù tất cả các thành viên của chiến tranh mạng lưới dường như hoạt động cho lợi ích của mình, kịch bản toàn cầu vẫn do chính Hoa Kỳ thảo ra. Bản chất của chiến tranh mạng lưới là ở đó, không có sụ điều khiển từng bước trực tiếp, mà tạo ra những điều kiện đủ ban đầu, trong trường hợp này là quanh Chechnya, vốn đã buộc tất cả các đấu thủ cần thiết phải tham gia vào tình hình này để bảo đảm thực hiện nó thành công.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Quan điểm chú trọng khách hàng: Kết nối với người tiêu dùng số – Phần cuối


Trong tác phẩm Customer Intimacy on Steroids: Why B2B Firms Need Online Communities (2011), Buday và Dimauro đã đúc kết được 3 đặc điểm chính của cộng đồng người tiêu dùng trực tuyến.

Khách hàng: Kiểu cộng đồng trực tuyến này sẽ tập trung vào việc thỏa mãn mục tiêu của các khách hàng. Trước kiểu cộng đồng này, các doanh nghiệp B2B đã thiết lập nhiều hình thái cộng đồng trực tuyến khác nhau như cộng đồng nội bộ (với mục đích hỗ trợ lẫn nhau giữa các nhóm làm việc), cộng đồng nhà cung cấp và đối tác phân phối… Tuy nhiên, các mục đích chính của cộng đồng khách hàng trực tuyến là giải quyết được các vấn đề trong kinh doanh mà nhờ đó khách hàng mới mua và sử dụng sản phẩm/dịch vụ của một doanh nghiệp B2B.

Cộng tác: Cộng đồng khách hàng trực tuyến sẽ tạo ra 2 dạng cộng tác: giữa chính công ty B2B và khách hàng của mình, và giữa các khách hàng với nhau. Nhưng xin nhắc lại rằng lý do mà các bên cộng tác trực tuyến với nhau chính là để cùng nhau tìm ra cách giải quyết các vấn đề trong kinh doanh mà khách hàng bận tâm đến. Nhưng doanh nghiệp khéo léo trong khía cạnh này, tránh lạm dụng cộng đồng này để giải quyết các vấn đề riêng của doanh nghiệp mình mà xem nhẹ các mối bận tâm khác của khách hàng. Nếu không, khách hàng sẽ rời khỏi cộng đồng. Trong một nghiên cứu năm 2010, có đến 95% giám đốc điều hành cho biết rằng lý do lớn nhất họ sử dụng cộng đồng trực tuyến là để được thông tin về mối quan tâm của các cộng đồng này (Dimauro và Bulmer, 2010).

Chia sẻ lợi ích: Những vấn đề nào không mang lại lợi ích tốt nhất cho cả hai bên (doanh nghiệp B2B và khách hàng) thì không đáng được đưa vào cộng đồng trực tuyến. Ví dụ: một doanh nghiệp B2B muốn sử dụng cộng đồng khách hàng cho mục đích tuyển dụng và bán trực tiếp, có thể việc này sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp ấy, nhưng, dĩ nhiên, khách hàng không thấy lợi ích gì nhiều từ đấy. Hay nói khác đi, cộng đồng khách hàng của B2B không phục vụ bạn (doanh nghiệp), mà phục vụ chính họ (người tiêu dùng).

Các cộng đồng khách hàng trực tuyến ngày càng trở nên quan trọng trong nhiều ngành, ví dụ như Công nghệ thông tin. Gần hai phần ba (65%) trong số 207 các tổ chức được công ty nghiên cứu khảo sát ITSMA khảo sát vào năm 2010 cho biết họ được kết nối với các cộng đồng trực tuyến riêng tạo lập bởi các công ty bán cho họ các phần cứng, phần mềm máy vi tính, và các dịch vụ (Schwartz & cộng sự, 2010). Các doanh nghiệp kinh doanh phần mềm như là SAP và các công ty cung cấp thông tin kinh doanh như LexisNexis chính là các nhà tiên phong trong mối quan hệ doanh nghiệp – khách hàng kỹ thuật số. Các cộng đồng trực tuyến này giúp họ có thêm được nhiều lợi thế cạnh tranh: khả năng tiến gần hơn khách hàng – một cách có lý có tình – và trở nên kết nối nhiều hơn với các khách hàng bất kể ngày đêm.

Tìm lại khách hàng đã mất trong thời đại kỹ thuật số

Kinh doanh không lúc nào có thể hoàn hảo được. Đôi khi sơ sót có thể xảy ra dẫn đến mất mát, gây thất vọng cho khách hàng và họ rời đi. Không phải lúc nào lỗi cũng từ doanh nghiệp mà đôi khi thuộc về khách hàng, nhưng khách hàng nhanh chóng bị thất vọng vì cách xử lý tình huống không được khéo léo của đội ngũ chăm sóc. Đặc biệt là trong các trường hợp lỗi phát sinh từ dịch vụ thì bắt buộc các doanh nghiệp phải đề cao sự chú ý quan tâm tới khách hàng đó lên hàng đầu, cố gắng lấy lại được khách hàng đã mất ấy bằng phản ứng nhanh nhạy và hiệu quả. Do đó, việc phát triển các chính sách khắc phục dịch vụ một cách hiệu quả đã và đang trở thành một phần không thể thiếu cho nhiều dự án giữ chân khách hàng. Trong các chính sách khắc phục dịch vụ này, nhà cung cấp dịch vụ phải nhanh chóng sửa chữa lại lỗi lầm cho những lần làm dịch vụ thất bại trước đó (Johnston và Mehra, 2002).

Sửa sai điều gì (ví dụ như khắc phục và bồi thường) và sửa sai như thế nào (cách nhân viên tương tác với khách hàng) là hai bước ảnh hưởng đến nhận định của khách hàng về chính sách khắc phục (Andreassen, 2000). Có rất nhiều doanh nghiệp tại châu Á vẫn chưa nhận ra rằng quá trình xử lý khiếu nại cũng quan trọng không kém kết quả được xử lý sau cùng. Đó là lý do vì sao một đoạn hội thoại hay trao đổi kém của trung tâm tư vấn khách hàng có thể bị lan truyền nhanh chóng. Việc khách hàng than phiền về việc đơn khiếu nại của họ được/chưa được xử lý có giá trị lấn át hơn cả nội dung của lời khiếu nại ấy.

Giải quyết tốt các yêu cầu và khiếu nại, tất nhiên, là một năng lực cốt lõi trong tương tác với khách hàng của các doanh nghiệp châu Á. Chúng ta đang sống trong thời đại kỹ thuật số, không thể nào chính sách khắc phục và xử lý khiếu nại lại thiếu đi sự tham gia của các phương thức trực tuyến hiệu quả. Nhưng chúng ta cũng không nên bỏ quên những phương pháp phi trực tuyến. Điều hoàn toàn khác với 10 năm về trước chính là, đối với các doanh nghiệp thực sự lấy khách hàng làm trung tâm, thì sự minh bạch và tốc độ xử lý các yêu cầu của khách hàng cũng quan trọng không kém việc tương tác với họ. Để có được một chính sách khắc phục hiệu quả, thấu tình đạt lý, doanh nghiệp cần kết hợp trực tuyến – phi trực tuyến ở một số vấn đề sau (Ollila, 2016):

1/ Kiểm soát vấn đề: Thiết lập một hệ thống

Các doanh nghiệp nên thiết lập một kế hoạch thực tiễn về một cơ chế kiểm soát được những lời phàn nàn được đăng lên các diễn đàn trực tuyến từ khách hàng của mình. Tất cả các kênh kỹ thuật số nên  được giám sát định kỳ, lập nên một đội chuyên phụ trách việc tìm ra các khách hàng chưa hài lòng, cùng với đó là đưa ra một quy trình từng bước trong khắc phục sơ sót.

Công nghệ số hiện tại cho phép các doanh nghiệp cài đặt lệnh thông báo mỗi khi tên của doanh nghiệp mình được đề cập trên mạng. Sau đây là một vài kênh kỹ thuật số mà các doanh nghiệp nên giám sát thường xuyên:

+ Các trang mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google+, LinkedIn, Reddit, và Quora.

+ Các trang đánh giá sản phẩm như Yelp, Zillow, Google, Amazon, và các trang mang tính chuyên ngành (Ví dụ: Tripadvisor là trang đánh giá nhà hàng khách sạn)

+ Email phản hồi của khách hàng

+ Blog và các người dùng mạng xã hội có tầm ảnh hưởng lớn.

2/ Quản lý thời gian: Phản hồi nhanh chóng

Doanh nghiệp càng chậm xử lý các than phiều khiếu nại thì hậu quả càng tồi tệ. Một đánh giá xấu hay một dòng tweet tiêu cực có thể được hàng trăm người bình luận và chia sẻ. Việc phản hồi nhanh chóng là hành động hết sức cấp thiết nhằm xoa dịu các vị thượng đế đang bất mãn. Những người này khi nhận được phản hồi nhanh chóng từ doanh nghiệp có thể chuyển sang đánh giá cao doanh nghiệp đó.

Một khi doanh nghiệp đã liên hệ riêng với khách hàng rồi thì họ cần dành thời gian để tìm hiểu nắm rõ toàn bộ câu chuyện để từ đó xác định vấn đề khách hàng đang đối mặt và giải quyết một cách hiệu quả.

3/ Đưa ra cách giải quyết: Khắc phục vấn đề trong vòng 24 giờ

Sau khi nhanh chóng phản hồi khiếu nại của người tiêu dùng, việc doanh nghiệp ngay lập tức hành động để giải quyết vấn đề cũng quan trọng không kém. Bạn càng khắc phục vấn đề sớm bao nhiêu thì khả năng người tiêu dùng mất đi ấn tượng xấu về doanh nghiệp của bạn càng cao bấy nhiêu.

Nếu doanh nghiệp giám sát các kênh truyền thông kỹ thuật số đúng cách thì không đầy 24 giờ sau họ đã có thể giải quyết khiếu nại của khách hàng.

4/ Tiếp tục theo sát: Sử dụng cách tiếp cận phi trực tuyến

Cuối cùng, sau khi vấn đề đã được giải quyết, doanh nghiệp cần tiếp tục duy trì cung cách phục vụ đã hứa hẹn. Việc tương tác người-với-người (H2H) phi trực tuyến đôi khi mang lại hiệu quả cao hơn. Một vài công ty viết thư tay gửi đến khách hàng. Trong khuôn hổ B2B, gặp mặt trực tiếp trong quá trình chăm sóc khách hàng có thể tạo nên ấn tượng cảm xúc kéo dài lâu hơn. Nói chung, công nghệ máy-với-máy (M2M) cùng với H2H sẽ là một kết hợp lý tưởng cho ra hiệu quả tốt hơn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.