Tính chính trị của hình thức tường thuật – Phần II


Một công trình nghiên cứu về những phóng sự có đề cập Thông điệp về tình hình liên bang cho thấy những quy ước này, cũng như các quy ước khác, được gắn vào cấu trúc các giả định sống còn của câu chuyện báo chí, tức là các giả định về bản chất của chính trị và vai trò báo chí. Rõ ràng, các nhà báo Mỹ không coi mình là những đảng viên theo các lý tưởng chính trị, mà là các chuyên gia phân tích chính trị. Tuy các nhà báo vẫn giữ lại nguyên tắc phản ánh khách quan, nhưng các quy ước đó cho thấy rõ ràng các nhà báo tự coi vai trò của mình là phải biên dịch hoặc diễn giải một cách cơ bản các hành vi chính trị để công chúng kém hiểu biết có thể nắm bắt được ý nghĩa của nó. Hơn nữa, những quy ước đã thể chế hóa quan điểm của nhà báo cho rằng ý nghĩa không nằm trong đặc điểm của các tổ chức chính trị bền vững, mà nằm trong mục đích chính trị của các nhân vật bên trong các tổ chức đó. Nhà báo tự cho rằng trách nhiệm của mình là khám phá những ý định chứa đựng trong các kế hoạch có ý thức của nhân vật chính trị để tìm ra ý nghĩa chính trị.

Hiến pháp Hoa Kỳ quy định tổng thống “thỉnh thoảng” phải báo cáo Quốc hội về “tình hình liên bang”. Và tất cả các tổng thống Mỹ đều đã chuyển các thông điệp về vấn đề này cho Quốc hội trước mỗi kỳ họp mùa đông, theo truyền thống do Washington khởi lập. Mặc dù bản thân sự kiện này – tức là cách giới thiệu thông điệp hàng năm đó – đã vài lần thay đổi trong hai thế kỷ qua, nhưng những thay đổi này không liên quan gì đến sự biến đổi cách tường thuật những thông điệp đó. Phương cách tường thuật thay đổi theo các quy tắc báo chí về bản chất của chính trị và phụ thuộc vào câu hỏi một câu chuyện báo chí nên là cái gì.

Tường thuật về Thông điệp về tình hình liên bang đã từng được thực hiện dưới ba hình thức: bản ghi chép tốc ký các công việc của Quốc hội từ năm 1790 đến khoảng năm 1850; một bản ghi chép theo thời gian kèm bình luận về các thông lệ của Quốc hội từ năm 1850 đến năm 1900; và tường thuật về thông điệp từ năm 1900 đến nay, đồng thời ngày càng nhấn mạnh đến nội dung và ý nghĩa chính trị dài hạn của nó. Cho dù báo chí thường được ca tụng nhờ tính khách quan, nhưng tường thuật về thông điệp của tổng thống trong mỗi giai đoạn kế tiếp lại có nhiều giải thích hơn, ngày càng xa rời những gì mà nhà quan sát bình thường có thể khẳng định chắc chắn và xa rời những gì bản thân Quốc hội đã nghe thấy. Điều đó không có nghĩa làm cho tường thuật kém trung thực, mà là mở rộng phạm vi các hướng đi của báo chí – chứng tỏ rằng, qua thời gian, chức năng báo chí đã phục vụ nhiều mục đích khác nhau.

Trong giai đoạn đầu, các báo thường tường thuật thông điệp bằng cách in trọn vẹn nó như là một phần trong khuôn khổ các diễn biến của Quốc hội. Ví dụ, bài tường thuật thông điệp của Tổng thống Washington năm 1791 trên tờ tuần báo Boston Gazette xuất hiện trên trang 2 với nhan đề “Quận Columbia, Quốc hội Hoa Kỳ (Kỳ họp thứ I, Khóa II). Hạ viện. Thứ Hai, ngày 24 tháng Mười”. Bài báo ghi chú rằng một ủy ban liên hiệp đã phải hạ mình đợi tổng thống, vì tổng thống đồng ý hẹn gặp Quốc hội vào ngày hôm sau tại Thượng viện. Tiếp đó, trong cùng cột báo, dưới tiêu đề “Thứ Ba, ngày 25 tháng Mười”, có một câu ghi là tổng thống đã đến Hội trường Thượng viện, tiếp câu đó là các diễn biến của Quốc hội trong ngày thứ Tư, 26 tháng Mười. Người đọc phải xem tiếp trang cuối của tờ báo mới thấy nội dung đầy đủ của thông điệp. Mô típ này được tờ Gazette áp dụng cho tất cả các thông điệp của Washington. Tuy nhiều lần nội dung thông điệp cũng được đưa ngay dưới đầu đề, nhưng không bao giờ có một lời bình luận.

Thay đổi đáng kể nhất đối với thông điệp là một sự kiện thực tế do Thomas Jefferson khởi xướng. Ông cảm thấy tổng thống đọc trực tiếp trước Quốc hội là một điệu bộ quá uy nghi, nên đã gửi Thông điệp về tình hình liên bang bằng văn bản. Mô hình này được áp dụng cho đến khi Woodrow Winson quay trở lại tiền lệ của những người theo Chủ nghĩa liên bang (Washington) và xuất hiện trực tiếp trước Quốc hội. Dù có sự thay đổi của Jefferson, song từ trước đến nay thông điệp vẫn luôn được in ấn đầy đủ, dù có lời bình hoặc ghi chép diễn biến hằng ngày của Quốc hội hay không. Tất cả các lời bình về thông điệp đều được đưa hết vào cột xã luận. Từ những năm đầu thập kỷ 1800, cột báo này đã thảo luận nhiều về bản thông điệp, và tuyên bố của tổng thống được ca tụng hoặc phê phán từ những góc nhìn đảng phái mở rộng.

Đến giữa thế kỷ đó, đặc biệt sau Nội chiến, tường thuật báo chí về thông điệp của tổng thống được đặt trong tổng thể tương đối đầy đủ các thảo luận của Quốc hội. Khuôn khổ cho thông điệp vẫn tiếp tục được quy định trong nghi thức của Quốc hội vê việc cử ra một ủy ban để chờ đợi tổng thống, tuyên bố họ sẵn sàng nghe một thư ký đọc văn bản thông điệp của tổng thống. Nhưng có thêm hai yếu tố đã trở thành chuẩn mực. Thứ nhất, phần nội dung chính dành tâm huyết vào việc giới thiệu “hình ảnh” mở màn Quốc hội, thường được đặt làm mở đầu cho câu chuyện báo chí. Ngay từ năm 1852, chúng ta đã đọc thấy trên tờ New York Times: “Đó là một ngày đẹp đẽ tươi sáng, hành lang Hạ viện chật đầy các quý ông, quý bà; tất cả như một hý trường”. Năm 1870, tờ báo này bắt đầu đổi mốt: “Trong nắng đẹp một ngày thu muộn, không gian thơm ngát, hành lang đầy người, ánh cầu vồng sáng sáng tươi của những kiểu trang điểm mỹ miều hớn hở, chào đón Quốc hội trở lại nghị trường”. Báo chí còn ghi chú thêm, đôi lúc rất chi tiết, sự chào mừng nồng nhiệt tới lần lượt các đảng phái khi đại biểu nhóm họp. Tường thuật còn mô tả chi tiết các bó hoa vun đầy trên bàn các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ, quà mừng từ những người ủng hộ trung thành.

Thay đổi thứ hai bắt đầu trở thành chuẩn mực từ năm 1870, vài thập kỷ trước khi nhà báo lãnh trách nhiệm thực sự tường thuật những gì thông điệp đã nêu, và thay đổi này đáng lưu ý hơn so với thay đổi thứ nhất về mặt dài hạn. Đó chính là việc chuyển sự chú ý sang các phản ứng của Quốc hội đối với thông điệp của tổng thống. Đầu tiên, đó chỉ là những phản ứng chung chung ghi chép được trên nghị trường Thượng viện và Hạ viện. Song vào năm 1870, tờ Time cho hay rằng hai hoặc ba thượng nghị sĩ Dân chủ “dường như sắp ngủ gật” khi phần quan hệ đối ngoại trong thông điệp được đọc. Trong thập kỷ 1870, nhà báo thường tự giam mình trong việc quan sát các hành vi của nghị sĩ trên nghị trường, tuy đôi lúc cũng cố gắng đặc trưng hóa phản ứng của nghị sĩ. Ví như năm 1874, tờ Time có viết: “Có thể nói là, về mặt tổng thể, có ít lỗi trong thông điệp của tổng thống, tuy nhiên cũng có một vài quan điểm bị phản đối đặc biệt mạnh mẽ”. Đôi lúc, một số nghị sĩ nổi trội cũng được chỉ tên điểm mặt. Một phóng viên tờ Time năm 1870 đã quan sát thấy rằng, khi thông điệp đề cập cải cách thuế, nhiều người nhìn về phía Carl Schurz “và do am hiểu nhiều về thực trạng này, nên một nụ cười nhạt đã thoáng qua khuôn mặt ông”.. Vào năm 1878, thông điệp có đề cập việc điều tra những người tước quyền bầu cử của cử tri miền Nam “đã khuyến khích những người Cộng hòa, trong khi những người Dân chủ thể hiện những dấu hiệu phản đối không thể chối cãi”; tờ Time tường thuật rằng khi đọc đến đoạn này thì “sự cáu kỉnh… lan rộng trên những khuôn mặt phía Dân chủ”.

Cuối thập niên 1870 và trong thập niên 1880, các nhà báo phỏng vấn từng nghị sĩ một. Ví dụ, năm 1878, các nhà báo của tờ Chicago Tribune và tờ Washington Post đã phỏng vấn ngay lúc đọc thông điệp; đồng thời các tờ báo này cùng những tờ báo khác đã đăng những bài khác nhau về các phản ứng khác nhau của nghị sĩ đối với thông điệp. Câu chuyện của tờ Washington Post năm 1886 bắt đầu bằng: “Không nghe một lời. Phải đợi đến khi tôi thấy bản in”. Đó là câu trả lời thường thấy của các nghị sĩ khi được hỏi về thông điệp của tổng thống, dù nó đã được đọc ở cả hai viện”. Đó là đặc trưng thông thường. Ít có nghị sĩ nào trong các bản ghi chép đó coi phỏng vấn như một cơ hội xuất hiện trước công chúng; dường như họ còn nổi quạu vì bị hỏi.

Các câu chuyện về phản ứng của nghị sĩ đối với thông điệp ngày càng trở nên chi tiết trong thập kỷ 1880 và 1890. Đôi lúc có cả các câu chuyện về phản ứng của những người khác, đặc biệt là mục xã luận trên báo chí nước ngoài. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, những chú ý tập trung vào sự tráng lệ của ngày khai phiên Quốc hội, vốn thống trị trong các thập kỷ 1860 và 1870 vẫn khoác lên mình báo chí. Tờ Washington Post quan sát một cách khô khan trên số báo ngày 3 tháng Mười hai 1878, ghi rằng công chúng tò mò về buổi khai phiên Quốc hội, “như thể đó là một cái mới”. Tờ Chicago Tribune trêu đùa trên tít lớn ngày 4 tháng mười hai 1894: “Các nhà thông thái chăm chỉ/ Các nhà làm luật lại bắt đầu làm việc ở Washington”. Rõ ràng là chán nản, và tờ Evening Star của Washington đã loan báo trên câu chuyện của nó vào năm 1890: “Lại bắt đầu rồi đấy!”

Như vậy, cùng với việc bám sát nhịp đập của Quốc hội, và coi ý kiến riêng của các nghị sĩ ngày càng nghiêm túc, mối bận tâm của báo chí về các thông lệ và diễn cảnh giảm xuống, bắt đầu chuyển sang tập trung đả kích các công việc Quốc hội. Thay đổi xuất hiện trong mối quan hệ giữa nhà báo với quan chức đã trở thành một phần quan điểm báo chí mà các nhà báo hướng đến. Họ bắt đầu thiên về truyền thống đưa tin những sự kiện thông thường và diễn biến hàng ngày. Không còn các nhà báo nhẹ nhàng chú tâm đến thủ tục Quốc hội xung quanh việc đọc Thông điệp về tình hình liên bang; họ ngày càng trở nên bứt rứt vì viết đi viết lại một cái gì diễn ra hết năm này qua năm khác. Sự bứt rứt thể hiện bằng những lời lẽ hài hước hoặc những lời tự bình luận về việc tại sao mọi thứ vẫn không thay đổi mà mọi người vẫn nhất mực quan tâm. Quan điểm cho rằng nhà báo nên tường thuật những sự kiện gốc chứ không tường thuật những thể chế, đang trở nên ngày càng mạnh mẽ. Các nhà báo trong những thập niên 1880 và 1890 thấy mình bị giằng xé giữa hai mô hình hoạt động, hay có thể nói là hai kiểu nhận thức.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Shudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tính chính trị của hình thức tường thuật – Phần I


Truyền hình là một tâm điểm của hoạt động văn hóa và chính trị Mỹ. Nó thường được coi là một lực lượng chi phối làm thay đổi cơ cấu chính trị của chúng ta – và làm cho cơ cấu đó tồi tệ thêm. Nhưng truyền hinh không làm thay đổi nhận thức của chúng ta về chính trị; thay vào đó, nó cô đọng và thể hiện sự biến đổi hình thức tường thuật chính trị trưởng thành từ truyền thông in ấn trong nhiều thập kỷ trước khi truyền hình xuất hiện.

Trong những năm 1950, quyết định của Chủ tịch Hạ viện Sam Rayburn không cho máy quay truyền hình vào Hạ viện là một đạo luật có ảnh hưởng rất lớn – hoặc như cách hiểu của David Halberstam thì:

…điều đó làm cho Hạ viện kém khả năng cạnh tranh với nhánh hành pháp, làm cho tầm quan trọng của nó biến mất trong mắt công chúng… Điều đó thể hiện rõ trong những lần duy nhất Quốc hội Mỹ xuất hiện trên truyền hình, đó là khi Tổng thống Mỹ đọc Thông điệp về tình hình liên bang trước Hạ viện. Có thể thấy lúc đó các nghị sĩ vỗ tay đầy trách nhiệm. Thực tế, vai trò của họ đã được người viết diễn văn cho tổng thống định sẵn.

Tuy nhiên, những niềm tin này vào truyền hình làm cho nó có nhiều ảnh hưởng đối với hệ thống chính trị hơn những gì thực có. Đối xử của báo giới với Thông điệp về tình hình liên bang thay đổi chóng mặt, ngày càng nhấn mạnh vai trò của tổng thống và hạ thấp Quốc hội. Nhưng điều đó đã diễn ra từ hơn 80 năm trước, vào thời của Teddy Roosevelt, William Howard Taft và Woodrow Wilson. Thông lệ đưa tổng thống lên trang bìa hình thành từ đó, và tiếp tục ảnh hưởng đến cách bình luận của không chỉ báo viết, mà cả báo hình.

Bằng chứng mà tôi đưa ra trong bài này không thể giải quyết cuộc tranh cãi xung quanh tác động của truyền hình – cuộc tranh cãi giữa những người hãi sợ quyền lực của nó với những người muốn hạ thấp nó. Phải công nhận công nghệ mới đã tạo điều kiện cho chính trị và xã hội, nhưng một công nghệ chỉ xuất hiện và được sử dụng trong những hoàn cảnh chính trị và xã hội nhất định. Và được sử dụng như thế nào còn phụ thuộc vào chính công nghệ đó – tất nhiên không chỉ một yếu tố đó. Trên quan điểm này, có lẽ hơi vượt rào một chút khi đặt câu hỏi về tác động của truyền hình đến địa vị tổng thống, vì không thể nào tìm được câu trả lời thuyết phục. Thay vào đó, chúng ta sẽ hỏi: Tác động của đài truyền hình này, truyền hình của chúng ta, như thế nào? Để trả lời câu hỏi đó, không chỉ cần đến những hiểu biết về phần cứng, thậm chí nắm bắt được vai trò xã hội của máy thu hình trong phòng khách, phòng làm việc và phòng ngủ của người Mỹ vẫn chưa đủ. Còn phải tìm hiểu mạng lưới quốc gia như là những doanh nghiệp kinh doanh; mối quan hệ không êm ả giữa một ngành công nghiệp hữu hình được nhà nước điều tiết với các cơ quan chính phủ; truyền thống của báo chí Mỹ đã định hình nhận thức và ý định của các phòng ban tin tức trong mạng lưới; và mối quan hệ truyền thống qua nhiều thập kỷ giữa tổng thống và báo giới. Truyền hình của chúng ta có cuộc sống riêng, đóng vai trò trong tính chính trị của tổng thống; nó là một phần của môi trường mà mọi diễn biến chính trị Mỹ đều có dính đến. Tuy nhiên, hình thức bình luận về tổng thống của truyền hình đã có điềm báo từ trước, nếu không muốn nói là đã được định trước, từ những thay đổi trong mối quan hệ giữa báo viết với chức vị tổng thống.

Trong bài này, tôi sẽ chỉ ra những thay đổi trong cách báo chí cư xử với chức vị tổng thống từ những ngày đầu của nền cộng hòa, những thay đổi thể hiện sự phát triển của cả chính trị lẫn báo chí. Tôi xin đưa ra luận điểm: quyền lực báo chí không chỉ nằm trong quyền công bố sự thật (thậm chí đây không phải là quyền lực nguyên thủy của nó), mà còn nằm trong quyền cung cấp những hình thức xuất hiện công bố. Tin tức trên báo truyền thống hay truyền hình đều có quan hệ với “thế giới thực”, không chỉ về nội dung mà còn cả hình thức; như vậy, nếu xét trên khía cạnh gắn thế giới với những định ước tường thuật thầm lặng, và biến đổi thế giới đó, thì chúng không còn là đề tài bàn cãi, mà đã trở thành tiền đề của tất cả các cuộc đối thoại.

Nói chung, mọi người không nhìn thấy tin tức khi nó diễn ra, mà họ chỉ nghe hoặc đọc được. Bố mẹ không trực tiếp theo dõi những gì con cái làm ở trường, mà họ chỉ biết được thông qua tường thuật của con cái. Trẻ con biết rằng, khi kể lại những gì đã trải qua, phải có một ý nghĩa hình thức nào đó, cũng giống như những câu chuyện và truyền thuyết chúng nghe kể. Tôi biết một đứa trẻ đã kể với chị của nó câu chuyện sau: “Ngày xửa ngày xưa, có một chú bé đi vào rừng. Bỗng chú nghe thấy một âm thanh, một con sư tử nhảy vồ chú bé và nuốt vào bụng. Nhưng chú bé xé tan dạ dày sư tử, giết chết nó và kéo xác về nhà. Chấm hết”. Lần sau đứa trẻ lại kể câu chuyện đó: “Ngày xửa ngày xưa, có một chú bé đi vào rừng và một con sư tử muốn ăn thịt chú bé. Nhưng chú bé đã giết được con sư tử. Chấm hết”. Lần thứ ba đứa trẻ kể: “Ngày xửa ngày xưa, có một chú bé giết một con sư tử trong rừng. Chấm hết”. Và lần cuối cùng, đứa trẻ kể: “Ngày xửa ngày xưa. Chấm hết”.

Đứa trẻ đã học được đôi điều quan trọng về hình thức. Nhà báo cũng biết điều tương tự. Họ không đưa ra chú bé, rừng, sư tử một cách thô ráp, mà xào nấu nó thành hình thức các câu chuyện. Tin tức báo chí không có tính hư cấu, mà có tính định ước. Các quy ước giúp người đọc hiểu được các thông điệp. Nó phải “khớp” với xã hội người viết và người đọc, quy ước của một xã hội này, một thời kỳ này không giống quy ước của một xã hội khác, một thời kỳ khác. Ngày nay, một số quy ước tin tức thông dụng có vẻ quá hiển nhiên nên nhiều người tưởng rằng nó không có tuổi. Tuy nhiên, những quy ước đó mới được phát hiện gần đây. Cũng giống như nhiều quy ước khác, nhờ chúng mà những thông điệp thuận văn hóa có thể đọc được, và không nói ra những thông điệp nghịch văn hóa. Chức năng của những quy ước này không phải để tăng hay giảm giá trị chân thực của những thông điệp, mà nó thiên về định hình và thu hẹp phạm vi những sự thật được nói ra. Nó củng cố một số giả định nào đó về chính trị.

Tôi muốn xem xét chi tiết sự xuất hiện của một vài quy ước trong số đó:

1/ Cấu trúc tóm tắt và hình chóp ngược được ưa thích hơn cách tường thuật một sự kiện theo trình tự thời gian.

2/ Tổng thống là nhân vật quan trọng nhất trong bất kỳ sự kiện nào có sự tham gia của ông ta.

3/ Một câu chuyện báo chí nên tập trung vào một sự kiện đơn lẻ, không nên nêu những sự việc kéo dài hoặc lặp lại. Hoặc nếu một hành động lặp lại, thì phải tập trung vào tính mới lạ chứ không nên tập trung vào khuôn mẫu của nó.

4/ Một câu chuyện báo chí đề cập một tài liệu hoặc bài phát biểu quan trọng, thì phải trích hoặc nêu ra những điểm nhấn nổi bật của nó.

5/ Khi một câu chuyện báo chí đề cập một sự kiện chính trị, thì nên chuyển tải ý nghĩa của hành động chính trị đó trong một khung thời gian rộng lớn hơn khung thời gian của bản thân hành động đó.

Đó là những quy ước không bàn cãi và cũng thường là bất thành văn của báo chí Mỹ thế kỷ XX; trong thế kỷ XIX, chưa hề có quy ước nào trong số đó, chưa có quy ước nào gần gũi với Horace Greeley, James Gordon Bennett hay Henry Raymond. Khác với nhà báo ngày nay, các nhà báo trong thế kỷ XIX không bắt buộc phải tóm lược các điểm nhấn thành tiêu đề, phải coi tổng thống là nhân vật chính trên sân khấu chính trị Mỹ, phải trích dẫn diễn văn đăng báo, hay phải xác định ý nghĩa chính trị của một sự kiện được đưa lên mặt báo. Vậy thì những quy ước đó xuất hiện như thế nào và tại sao?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Shudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Bên trong cuộc cách mạng số – Phần cuối


Các cơ quan an ninh quả quyết rằng công nghệ và truyền thông số đã dẫn đến một số lượng gia tăng rộng lớn những mối nguy cơ, không phải từ phía chủ nghĩa khủng bố quốc tế, mà cả từ hoạt động thăm dò tình báo công nghiệp, quân sự và nhà nước, từ tội phạm có tổ chức và bóc lột tình dục trẻ em. Theresa May, với tư cách là Bộ trưởng Nội vụ, đã tuyên bố thẳng thừng điều đó trong khi biện luận ủng hộ những quyền lực thăm dò tình báo trực tuyến chưa từng có áp dụng đối với công dân: “Đây đơn giản chỉ là một vấn đề sống còn, một vấn đề an ninh quốc gia. Chúng ta cần phải tiếp tục ủng hộ điều này cho đến khi chúng ta có được những thay đổi cần thiết”. Giám sát đám đông và công chúng đã trở thành một câu trả lời của nhà nước cho vấn đề công nghệ số và tội phạm trực tuyến, và những tiết lộ của Snowden cho thấy rằng các cơ quan tình báo đã không đợi một sự ủy quyền dân chủ để sắp đặt những hệ thống giám sát này. Kết quả là người ta đã lo ngại rằng chúng sẽ vận hành ngoài vòng pháp luật.

Ở nước Anh, câu trả lời cuối cùng của chính phủ dành cho Snowden đã dẫn đến việc đưa ra Dự luật về Quyền lực Điều tra, là cái sau đó sẽ hợp pháp hóa những công việc giám sát đám đông hiện thời. Chính phủ Pháp đã thông qua một đạo luật giám sát rộng vào tháng 5/2015. Năm 2016, Tòa án Tối cao của Nhật Bản đã ủng hộ sự giám sát bao trùm của chính phủ đối với cộng đồng người Hồi giáo ở Nhật.

Hiện đang có những dấu hiệu quan ngại cho tương lai của nền dân chủ, bởi vì một xã hội mà cho phép “gia tăng các hạ tầng cơ sở giám sát không kiểm soát được thì không thể hy vọng sẽ vẫn là một nền dân chủ tự do”. Richards đã xác định hai tác hại chủ yếu rút ra từ việc giám sát: Nó làm nhụt nhuệ khí tư tưởng của con người và dẫn đến sự lạm dụng quyền lực. Các nghiên cứu tâm lý cho thấy rằng người dân đành phải cư xử theo lối tuân thủ và phục tùng khi họ nghĩ là họ đang phải chịu sự giám sát. Hai nghiên cứu gần đây đã cung cấp bằng chứng kinh nghiệm về “tác động nhụt chí” của sự giám sát. Elizabeth Stoycheff đã phát hiện ra rằng đa số những người tham gia, khi có ý thức về sự giám sát của chính phủ, đã rất không muốn nói to trong môi trường dư luận thù địch. Jon Penney cũng phát hiện thấy một sự sụt giảm đáng kể và trực tiếp những quan điểm ủng hộ các bài viết mang tính nhạy cảm cá nhân của Wikipedia sau tháng 6/2013 (là thời điểm công bố các bài viết của Snowden), và sự sụt giảm này diễn ra trong một thời gian dài. Nếu người dân bị ngăn cản không được tự mình tìm hiểu hoặc không được điều tra những vấn đề gây tranh cãi, thì chắc chắn họ sẽ trở nên kém hiểu biết và “những quá trình tranh luận dân chủ rộng rãi hơn của chúng ta sẽ bị suy yếu”.

Kết luận

Công nghệ có thể được sử dụng để củng cố các giá trị và các quá trình dân chủ hoặc để làm hại chúng. Tất nhiên, thông tin được số hóa sẽ khó kiểm soát hơn, như đã thấy trong cả ba nghiên cứu trường hợp. Tuy nhiên, người ta hoàn toàn có thể có khả năng bắt công nghệ phục vụ các nhu cầu của bộ máy quan liêu và quyền lực, là điều đã được làm rõ thông qua những tiết lộ của Snowden. “Nếu không có một nỗ lực có ý thức và thận trọng để sử dụng công nghệ viễn thông mới nhân danh dân chủ, thì nó rất có thể sẽ được sử dụng theo những cách làm tổn hại đến nền dân chủ”. Điều quan trọng là ai là người minh bạch – những người công dân hay nhà nước. Hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử, nhà nước có thể điều chỉnh ý muốn tìm hiểu của nó cho phù hợp “với các phương tiện thu thập, giám sát và (thậm chí) dự báo những ứng xử của thần dân/công dân của họ”. Liệu cái này có làm cho “chúng ta” an toàn hơn hay không còn phụ thuộc vào việc khái niệm “chúng ta” này dùng để ám chỉ ai và  vào việc chúng ta định nghĩa thế nào là an toàn và tự do.

Một điều cũng quan trọng là phải xem cái gì được làm minh bạch và bối cảnh công  bố nó. Sự minh bạch khi được kết hợp với công nghệ đã tạo ra những rò rỉ ở tầm công nghiệp. Những sự rò rỉ lớn này cho phép công chúng lột bỏ tấm màn che đậy các cơ cấu chop bu của chính phủ. Những gì họ phát hiện ra có thể không đẹp, cũng không có khả năng chịu được sự soi xét của công chúng. Các nghiên cứu trường hợp của chúng tôi cho thấy báo chí là một bộ phận không thể thiếu không chỉ để xác định những thông tin hữu ích cho công dân, như trường hợp chi tiêu của nghị sĩ cho thấy, mà còn để phát huy tối đa lợi ích công từ những thông tin được tiết lộ, trong khi làm giảm đến mức tối thiểu những tác hại của chúng. Các đống dữ liệu không có khả năng làm được điều này. Trong ba nghiên cứu trường hợp nói trên, nội dung và bối cảnh đã có tác động thiết yếu đến dư luận quần chúng về sự rò rỉ. Người dân ủng hộ những thông tin tiết lộ gián tiếp nhiều hơn là đối với các đống dữ liệu thô, và họ ủng hộ những thông tin về việc các quan chức tiêu tiền của công như thế nào hơn là đối với vấn đề an ninh hoặc quốc phòng. Sự trừng phạt chống lại người tiết lộ thông tin đã giảm bớt khi dư luận quần chúng coi những thông tin bị rò rỉ là có tác động mạnh đến lợi ích công.

Minh bạch và công nghệ đã dẫn đến một cuộc cách mạng số, đến lượt mình cách mạng số lại mở ra một hình thức mới của nền dân chủ giám sát. Sự phong phú của truyền thông và sự kết nối toàn cầu có nghĩa là quyền dân chủ có thể phát triển sâu rộng. Khi công nghệ tạo ra những cách thức mới để quyền và lợi ích của công dân được lắng nghe và được đại diện trong cộng đồng, thì điều này sẽ dẫn đến một “cuộc đụng độ giữa những mong đợi với những công nghệ và sự minh bạch của thế kỷ XXI đang thách thức một mô hình dân chủ và tham gia của thế kỷ XIX”. Các thể chế dân chủ của chúng ta cần phải thức tỉnh trước thực tế mới này và cải tổ triệt để theo những mong đợi gia tăng về bình đẳng công dân. Nếu không thành công, các thể chế đó sẽ có nguy cơ làm xói mòn lòng tin của công chúng, và các thể chế dân chủ có thể sẽ không còn được coi là phục vụ lợi ích công mà là lợi ích riêng của một số ít nhân vật chóp bu.

Người dịch: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Heather Brooke – Inside the Digital Revolution – Journal of International Affairs, Winter 2016, Vol 70, No.1, pp.29 – 53.

TN 2017 – 34, 35, 36 & 37.

Bên trong cuộc cách mạng số – Phần VI


Minh bạch và công nghệ như là những công cụ áp bức

Công nghệ có khả năng khuếch trương quyền lực, nhưng tỷ lệ thành công có khác nhau. Các nhóm nhỏ và các cá nhân có thể thích nghi nhanh chóng hơn với công nghệ mới so với các tổ chức lớn, và rồi trong một thời gian công nghệ đã tạo thêm quyền lực cho các nhóm nhỏ và các cá nhân trong mối quan hệ với nhà nước như trong hai trường hợp nói trên. Kỹ sư an ninh Bruce Schneier ước tính rằng phải mất khoảng một thập niên để các thế lực truyền thống thích nghi với công nghệ mới, nhưng một khi họ đã thích nghi, thì quyền lực của sẽ tăng theo cấp số mũ. Tom Steinberg, người sáng lập ra tổ chức công nghệ đô thị ở nước Anh mang tên “Xã hội của tôi” (My Society), đã viết trong một bài luận:

“Ít có người kém hạnh phúc hơn trong những ngày này so với các nhà vận động về quyền riêng tư. Việc mỗi người mang điện thoại di động cảm ứng làm cho các cơ quan an ninh quốc gia trở nên mạnh hơn so với trước đây. Ngay cả khi có tồn tại các công nghệ bảo vệ quyền riêng tư, thì cũng không thể nói là họ bình đẳng và đối lập nhau trong việc tác động đến mạng máy tính có mặt khắp nơi mà trong đó chúng ta đang sống. Mạng máy tính di động luôn là một sức mạnh làm thay đổi công nghệ để nó thường xuyên trao thêm quyền lực cho các cơ quan an ninh”.

Công nghệ giờ đây tồn tại để tạo khả năng cho các công ty và chính quyền giám sát các cuộc chuyện trò của chúng ta, giám sát những giao dịch thương mại và những sự biến động, rồi dựa trên các dữ liệu này để đưa ra những quyết định mang tính dự báo về chúng ta. Không chỉ có thêm nhiều công nghệ giám sát công dân, mà còn có cả các thực thể muốn làm điều đó. Mô hình doanh nghiệp Internet đã trở thành một mô hình dựa trên sự giám sát. Nó thường tiêu tiền và nguồn lực của nhà nước để theo dõi công dân, nhưng giờ đây, nhờ công nghệ, chúng ta đã có một sự đa dạng và phạm vi giám sát “chưa từng có trong lịch sử nhân loại”. Điều này đã được làm sáng tỏ hồi tháng 6/2013 khi tờ báo GuardianWashington Post bắt đầu công bố một loạt bài báo dựa trên những sự tiết lộ của Edward Snowden, một cựu nhân viên quản trị hệ thống của NSA (Hoa Kỳ).

Những tiết lộ của Snowden

Trước Snowden, người ta ít chú ý đến sự nổi lên của việc giám sát nhà nước và việc giữ bí mật chính thức sau vụ khủng bố 11/09/2001, đặc biệt có liên quan đến cơ quan tình báo. Ủy viên thông tin thứ nhất của Anh Richard Thomas, đã cảnh báo rằng đất nước “đang mộng du đi vào một xã hội giám sát”. Còn nhà báo Mỹ Ted Gub thì phê phán truyền thông vì tội đã không báo cáo được về cái đã trở thành “một trong những câu chuyện có ý nghĩa hơn trong cuộc đời của chúng ta – đó là một chế độ “mật trị” đang xuất hiện có nguy cơ làm biến đổi xã hội Mỹ và các thể chế dân chủ”. Một phần lớn của vấn đề đối với các nhà báo, trong đó có cả tôi, là việc khan hiếm thông tin. Ở nước Anh, các cơ quan tình báo được miễn trừ Luật Tự do Thông tin, và ở Hoa Kỳ, nhiều học giả đã nhận thấy có sự nổi lên của quy định giữ bí mật chính thức sau vụ khủng bố 11/09/2001. Hiện đang có rất ít những con đường hợp pháp để tiếp cận những thông tin cần thiết cho việc xác minh để báo cáo một cách có ý nghĩa về các cơ quan an ninh. Sự nổi lên của hoạt động thuê người bên ngoài và tư nhân hóa đang làm xói mòn hơn nữa khả năng tiếp cận thông tin. Thêm vào đó còn có sự xuất hiện đầy kịch tính của tình trạng truy bức những người tố giác và các nhà báo từ phía chính phủ Mỹ.

Mặc dù, hoặc có lẽ là do sự nổi lên của tình trạng giữ bí mật chính thức mà Snowden đã đi gặp hai nhà báo Laura Poitras và Glenn Greenwald đem theo những thông tin mà ông ta đã thu hoạch được trong thời gian làm việc như là một nhà thầu cho Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA). Tiết lộ của Snowden bắt đầu với một bài báo mô tả việc NSA đã truy cập các băng ghi âm điện thoại của hàng triệu khách hàng của tập đoàn viễn thông Verizon Hoa Kỳ bằng cách sử dụng một giấy phép bí mật cho cả gói ra sao. Một ngày sau đó các tài liệu tối mật đã được công bố cho thấy rằng NSA đã được quyền trực tiếp truy cập các hệ thống của Google, Facebook, Apple và các công ty Internet khác của Hoa Kỳ trong một chương trình được gọi là Prism (Lăng Kính), mặc dù các công ty này đều phủ nhận sự tồn tại của các mối quan hệ cửa sau. Một bài báo khác tiết lộ rằng một cơ quan của Anh tương đương NSA, Tổng Hành dinh Truyền thông của Chính phủ (GCHQ), cũng đã tiếp cận Prism và thêm nữa còn bắt trộm điện tín cáp quang để chặn bắt luồng dữ liệu thông qua Internet toàn cầu trong một chương trình được gọi là “Tempora”. Những tiết lộ khác bao gồm việc NSA giám sát các nhà lãnh đạo trên thế giới bằng cách thâm nhập các hoạt động mạng máy tính, chặn bắt dữ liệu điện thoại, và bắt trộm “gần như mọi cái mà người dùng thực hiện trên Internet”.

Dư luận quần chúng đối với việc rò rỉ thông tin này tỏ ra lẫn lộn, với 45% nói rằng việc đó phục vụ cho lợi ích công, trong khi 43% cho rằng nó đã làm hại lợi ích công. Đa số, chiếm 56%, cho rằng cần tiến hành một vụ kiện hình sự chống lại Snowden, trong khi 32% phản đối. Chính phủ Mỹ buộc tội Snowden với tội danh ăn cắp tài sản của chính phủ, cộng với hai cáo buộc theo Luật Hoạt động Tình báo 1917, tất cả có thể làm cho anh ta phải gánh chịu một bản án cao nhất là 30 năm tù giam. Luật Hoạt động Tình báo không tính đến việc bảo vệ cho lợi ích công hoặc cho người tố giác. Thêm nữa, Hoa Kỳ đã có yêu cầu dẫn độ gửi cho nhiều quốc gia. Cuối cùng, Snowden đã phải tìm nơi ẩn náu ở nước Nga.

Những điều tiết lộ của Snowden đã dẫn đến một kết quả là công chúng có nhận thức hơn về quyền riêng tư trên mạng và về sự giám sát của chính phủ, và rằng giờ đây đã có một số phóng viên chuyên môn đang nhằm vào các cơ quan an ninh. Thậm chí còn có một tổ chức được tài trợ chu đáo đã chuyên tâm cho việc theo dõi này, đó là tổ chức Intercept (Bắt chặn tin), nó sử dụng một số nhà báo đã từng làm việc với Snowden. Các công ty công nghệ bắt đầu xây dựng mật mã cho sản phẩm của mình, và đến 2/6/2015, Luật Tự do Thông tin của Hoa Kỳ đã được thông qua, chấm dứt việc thu thập trực tiếp của NSA đối với khối lượng lớn các dữ liệu về cuộc gọi điện thoại. Tuy nhiên, các công ty điện thoại vẫn phải giữ lại các siêu dữ liệu này, và chỉ đến bây giờ chính phủ mới phải có được sự chấp thuận của Tòa án Giám sát Tình báo Nước ngoài, ở nước Anh, có ba cuộc xem xét đã được lãnh nhiệm vụ thực hiện và giám sát an ninh. Tôi đã tham gia một cuộc, đó là cuộc của Ban Xem xét Giám sát Độc lập, và từ tháng 6/2014 cho đến khi báo cáo của chúng tôi được công bố vào ngày 14/7/2015, chúng tôi đã gặp gỡ, đã lấy bằng chứng, đã thực hiện những cuộc viếng thăm đến nhiều địa điểm để giúp cho cuộc điều tra của chúng tôi. Theo quan điểm của tôi, bản báo cáo của chúng tôi đã không nhấn mạnh đầy đủ đến sự thiệt hại được dẫn đến từ việc giám sát quần chúng, tức giám sát đám đông, và tôi không đồng ý với lời tuyên bố rằng “chúng tôi đã không thấy có bằng chứng nào về việc chính phủ Anh cố ý hành động một cách phi pháp trong việc bắt chặn truyền thông cá nhân”. Điều này chỉ là vì chúng ta không có khả năng thấy đủ bằng chứng để đưa ra phán đoán bằng  bất cứ cách nào. Đây là khó khăn của việc giữ tình trạng bí mật để giải trình. Những điều khẳng định và bằng chứng là những cái không thể xác minh hoặc kiểm nghiệm được.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Heather Brooke – Inside the Digital Revolution – Journal of International Affairs, Winter 2016, Vol 70, No.1, pp.29 – 53.

TN 2017 – 34, 35, 36 & 37.

Trung Quốc tung chiến dịch tuyên truyền về “cuộc chiến” chống virus


Theo AP, giữa lúc cả thế giới đang vật lộn chống dịch bệnh bùng phát, Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa cho ra mắt chương trình tuyên truyền mô tả ban lãnh đạo của mình là người nắm quyền, lãnh đạo một đội quân nhân viên y tế trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh.

Các tin tức chính vào buổi tối trên truyền hình nhà nước thường xuyên chiếu hình ảnh Chủ tịch Tập Cận Bình và các thuộc hạ đưa ra hướng dẫn về dịch bệnh hoặc các chuyến thăm đến các cơ sở liên quan. Những phóng sự về các bác sĩ và y tá ở tuyến đầu, theo truyền thống đề cao các công nhân kiểu mẫu và tầm quan trọng của sự hy sinh nhân danh Đảng và nhân dân.

Theo AP, đối với Đảng Cộng sản, dịch bệnh vừa là rủi ro vừa là cơ hội. Đảng tìm cách tránh  bị đổ lỗi về bất kỳ xử lý sai nào về dịch bệnh, trong đó đáng chú ý là phản ứng ban đầu chậm chạp khiến cho virus lây lan. Đảng lại tìm cách để được ghi công trong nỗ lực vượt qua khủng hoảng, nhằm tăng cường tính chính danh của mình.

Truyền thông nhà nước, vốn bị kiểm soát chặt chẽ, và các chiến dịch huy động lớn đều đã được khai thác cho nỗ lực này.

AP dẫn lời ông Ashley Esarey, một chuyên gia về truyền thông Trung Quốc tại Đại học Albert, nói: “Thông điệp nhà nước để lại ấn tượng về những công dân hy sinh, sự đoàn kết dân tộc và lãnh đạo sáng suốt chắc chắn sẽ giành chiến thắng ở Trung Quốc, khi cuộc chiến chống virus đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia”.

Công thức đúng và đã được thử nghiệm có vẻ vẫn hiệu quả đối với các sự kiện của đảng, mặc dù sự nổi lên của truyền thông xã hội là một thách thức chưa từng có. Một nhóm thiểu số ngày càng tăng từ lâu đã đặt câu hỏi về đảng Cộng sản, nhưng nhiều người trong số họ vẫn chấp nhận đảng theo thói quen hoặc do thiếu lựa chọn thay thế.

Steve Tsang, Giám đốc Viện Trung Quốc tại Đại học Nghiên cứu phương Đông và châu Phi của Đại học London, nói hầu hết vẫn thụ động chấp nhận một câu chuyện được lặp đi lặp lại nhiều lần.

Li Desheng, một sinh viên 22 tuổi, nói rằng các trang tin tức, nguồn thông tin chính của anh, khen ngợi phản ứng của đảng và chính phủ, nói họ đã chứng minh được sự hiệu quả trong việc ngăn chặn lây lan của coronavirus.

Theo AP, đây không chỉ là vấn đề về những gì truyền thông đăng lên, còn là những gì họ bỏ qua.

Truyền thông nhà nước đã thổi phồng việc tung ra các cơ sở y tế mới chỉ trong một hai tuần, lại không đưa tin về những người không thể tìm thấy một chiếc giường bệnh khi cần.

Truyền thông Trung Quốc tung hô các cuộc đàn áp ở các chợ bán động vật hoang dã và có kế hoạch đóng cửa chúng, nhưng lại không đặt câu hỏi tại sao chúng vẫn hoạt động kể từ đợt dịch SARS vào năm 2002 – 2003.

Zhou Songyi, một sinh viên 22 tuổi khác nói, cô không tìm thấy bất kỳ thông tin hữu  ích nào về dịch bệnh từ tờ nhật báo chính thức, Nhân dân Nhật báo, hay trên đài truyền hình nhà nước.

Mạng xã hội mang đến cho thế hệ hiểu biết kỹ thuật số như cô gần như ngay lập tức phản hồi về những báo cáo của truyền thông nhà nước, mặc dù những bình luận quan trọng thường bị xóa do tình trạng kiểm duyệt Internet ở Trung Quốc.

Bà Elizabeth Economy, Giám đốc nghiên cứu châu Á tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại ở New York, nhận xét, “cuộc chiến nói sự thật trên Internet là một dấu hiệu khác cho thấy mọi người không đơn giản chỉ tin vào chính quyền”. Bà nói thêm, việc tuyên truyền có tác dụng với những người tin vào đảng và muốn có cảm giác dễ chịu và thuyết phục.

Cốt lõi của cách tiếp cận là dập tắt mọi chỉ trích trong khi cung cấ những hình mẫu tích cực và thể hiện rằng chỉ có đảng là niềm hy vọng thực sự của Trung Quốc.

Trung Quốc đã cấm các nhà báo công dân trên các nền tảng mạng xã hội phổ biến, sau khi họ tường thuật về tình trạng quá tải bệnh viện và những vấn đề khác.

AP dẫn lời ông Anthony Saich, một chuyên gia về Trung Quốc tại Đại học Harvard nói: “Các nhân viên y tế được miêu tả như những anh hùng không phải vì sự cống hiến của họ trong tư cách là chuyên gia y tế, bởi vì họ là đảng viên”.

Ông Anthony Saich tin cuộc khủng hoảng đã làm tổn hại niềm tin vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Tập Cận Bình ở một mức độ nào đó, nhưng không có tác động lâu dài.

Một chương trình tin tức buổi tối CCTV phát sóng gần đây cho thấy ông Tập đã đến thăm các đơn vị y tế quân đội. Mọi người đều duy trì khoảng cách an toàn với nhau, tuân theo giao thức do chính phủ chỉ đạo, dùng mặt nạ che miệng và mũi.

Theo ông David Bandurski của Dự án Truyền thông Trung Quốc tại Đại học Hong Kong, “Chiến tranh tạo ra anh hùng – và anh hùng là chủ đề cho tuyên truyền”.

Hơn 3000 người đã chết vì chủng virus corona mới có nguồn gốc từ Vũ Hán, Trung Quốc. Ông Bandurski nói: “Giới lãnh đạo đang rất háo hức viết ra một kết thúc có hậu cho câu chuyện này, trước khi người ta thực sự biết thế giới đang đối phó với điều gì”.

Nguồn: TKNB – 11/03/2020.

Bên trong cuộc cách mạng số – Phần V


Tổ chức WikiLeaks

Tự do thông tin tồn tại trong một thể liên tục với những rò rỉ ở mức còn xa mới kết thúc, và tôi đã nghĩ vấn đề chỉ là thời gian cho đến khi các hệ thống chính trị khác bị đánh trúng bởi những vụ rò rỉ số hóa lớn giống như vụ bê bối về chi tiêu của nghị sĩ Anh. Tôi đã bắt đầu nghiên cứu để viết cuốn sách tiếp theo của tôi là Cuộc cách mạng sẽ được số hóa (The Revolution will be digitised), và đến tháng 3/2010 tôi đã gặp người sáng lập ra tổ chức WikiLeaks Julian Assange tại một cuộc hội nghị báo chí điều tra của Na Uy. Trong bữa ăn trưa, ông ta đã kể cho tôi nghe về một cảnh phim bí mật mà ông có được, cảnh đó kể về một vụ án mạng song song do một chính phủ lớn phương Tây thực hiện, và về sau ông ta nói chính phủ đó chính là Hoa Kỳ. Đây là một bộ phim video “án mạng song song”. Lúc bấy giờ tôi còn đang có ấn tượng với WikiLeaks bởi vì việc họ công bố những thông tin trước đây là bí mật đã chứng tỏ họ sẵn sàng và dũng cảm phá bỏ những giới hạn của sự minh bạch. Tuy nhiên tôi đã đi đến kết luận rằng Assange là một nguồn tin không nhất quán và không đáng tin, và những hành động của ông ta, và những hành động của ông ta, như tôi đã chứng kiến, đi ngược lại hệ tư tưởng công khai của ông ta. Tôi liền tập trung công việc làm báo cáo của tôi vào chỗ khác và chính nhờ một người tình nguyện khác của WikiLeaks mà tôi được tiết lộ một bản sao toàn bộ tập dữ liệu chưa biện tập của các bức điện tín ngoại giao Hoa Kỳ, được mô tả lúc bấy giờ là “tập tài liệu bí mật lớn nhất từ trước đến nay được công bố cho công chúng”. Ban đầu tôi đã thử tự mình phân tích bộ dữ liệu này, nhưng đến 1/4 triệu tài liệu thì tôi thấy quá mênh mông. Lại nữa, khối tư liệu này mang một tính chất nhạy cảm, như thế tôi thấy cần có sự trợ giúp về pháp lý, về biên tập và có tính tổ chức. Vì vậy tôi đã cộng tác với tờ Guardian và chúng tôi đã tiến hành một công việc điều tra nhiều tháng với cao trào là một loạt bài báo đăng từ 28/11/2010 đến tháng 1/2011. Bộ dữ liệu cũng được chia sẻ cho tờ New York Times để nó đăng tin song song.

Sự rò rỉ thường được thực hiện với hy vọng “làm mất ổn định không gian tri thức. Chúng tạo ra một sự thách thức hiện sinh cho nhà nước bí mật, nhưng lại có tính phục hồi cho nền dân chủ. Chúng có thể làm nổ bật tư duy ba phải của nhà nước khi chủ trương công khai và tiếp cận thông tin được áp dụng trực tiếp. Điều này được thể hiện rõ ràng khi ngoại trưởng Hillary Clinton đưa ra một bài phát biểu vào tháng 1/2010 dành cho tự do Internet:

“Một mình chúng thì các công nghệ mới không tham gia đấu tranh vì tự do và sự tiến bộ, nhưng Hoa Kỳ sẽ làm vậy. Chúng tôi ủng hộ một mạng Internet duy nhất trong đó toàn nhân loại có quyền bình đẳng tiếp cận tri thức và ý tưởng”.

Bà đã mô tả một kiểu “bức màn thông tin” đang được buông xuống ở nhiều nơi trên thế giới, nơi mà nhiều nước đã dựng lên những hàng rào để ngăn cản công dân của họ tiếp cận với các mạng thế giới. Bà động viên các công ty tư nhân hãy dũng cảm đương đầu với những chính phủ nước ngoài nào muốn tìm cách kiểm soát Internet và bà hứa rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ ủng hộ các nhà thiết kế công nghệ phá các phần mềm ngăn chặn và tường lửa. Tuy nhiên, kkhi có chuyện thông tin của chính phủ Hoa Kỳ bị nhân bản và phát tán, thì lại có một câu trả lời hoàn toàn khác. Các quan chức Hoa Kỳ đã tuyên bố mở một cuộc điều tra WikiLeaks, và bà Clinton đã nói là chính phủ sẽ thực hiện những “bước tấn công” để bắt những ai “ăn cắp” dữ liệu phải chịu trách nhiệm. Nhà phân tích tình báo của quân đội Mỹ Chelsea Manning (khi đó nữ binh nhì chuyển giới Manning có tên khai sinh là Bradley Manning) đã bị bắt giam ngày 27/5/2010 vì có liên quan đến vụ rò rỉ tài liệu và ngày 29/7/2010 bị chuyển đến căn cứ thủy quân lục chiến ở Quantico thuộc bang Virginia. Việc đối xử tồi tệ đối với Manning đã được người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philip Crowley mô tả là “lố bịch, tác dụng ngược và ngớ ngẩn”. Sự chân thành này của Crowley đã gây ra vụ từ chức của ông hai ngày sau, trong khi Manning bị chuyển đến một nhà tù có mức độ an ninh cấp trung tại pháo đài Leavenworth thuộc bang Kansas. Tháng 7/2013, nữ quân nhân Manning đã bị một thẩm phán quân sự cáo buộc 17 trong 22 tội, trong đó có tội vi phạm Luật Hoạt động Tình báo, vì đã sao chép và phát tán các báo cáo quân sự được coi là tài liệu mật, các bức điện tín của Bộ Ngoại giao, và những đánh giá về người bị tạm giữ tại Vinh Guantanamo, Cuba. Tuy nhiên, chị được tha cho tội danh nghiêm trọng nhất là tội giúp đỡ kẻ thù. Tháng 8/2013 Manning bị kết án 35 năm tù giam với khả năng tạm tha sau tám năm. Trong quá trình xét xử, Manning đã đọc bản tường trình 35 trang, trong đó chị nói chị tiết lộ các bức điện tín là “để cho thấy cái giá thật sự của cuộc chiến tranh”.

Trong trường hợp này người tiết lộ thông tin đã không được dư luận quần chúng bảo vệ. Một nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center) tháng 12/2010 đã cho thấy rằng 60% những người quan tâm đến câu chuyện về điện tín ngoại giao tin rằng việc tiết lộ điện tín của Bộ Ngoại giao đã làm tổn hại đến lợi ích công. Và 31% số người cho rằng nó phục vụ lợi ích công. Một điều lý thú là công chúng đã phân biệt giữa bản thân công ty WikiLeaks với việc báo chí sử dụng dữ liệu của nó, 39% số người nói rằng truyền thông đã làm cân bằng cán cân quyền hành khi báo cáo về sự rò rỉ, và 14% nói rằng người ta đã giữ bí mật quá nhiều.

Việc công bố các bức điện tín ngoại giao Hoa Kỳ đã đánh dấu một bước chuyển quyết định sang cái mà một số người gọi là “minh bạch triệt để” và những người khác gọi là “tiết lộ thận trọng hàng loạt”. Một số người đã gán cuộc nổi dậy ở Tunisia hồi tháng 1/2011 – một sự kiện đã dẫn đến phong trào Mùa xuân Arab – cho việc công bố điện tín này. Một bài báo trên tờ Foreign Policy, “Cuộc cách mạng WikiLeaks đầu tiên chăng?”, đã cho rằng việc tiết lộ trang địa chỉ “đã hành động như một chất xúc tác: nó cung cấp cả cò súng lẫn công cụ cho sự la hét chính trị”. Tuy nhiên, bản thân WikiLeaks ít báo cáo về dữ liệu. Đó là công việc của các nhà báo. Và nó là cái nguồn đã cung cấp thông tin và phải đương đầu với hậu quả. Một số người đã liên hệ vụ bắt giữ Assange sau đó vào tháng 12/2010 với việc công bố các bức điện tín ngoại giao, trong khi trên thực tế việc đó lại là kết quả của sự cáo buộc cưỡng hiếp do hai người phụ nữ Thụy Điển đưa ra.

Cuối cùng, sự thổi phồng về địa chỉ tiết lộ mới này đã được thay thế bằng một quan điểm ôn hòa hơn: “WikiLeaks chỉ tạo ra ảo tưởng về một kỷ nguyên minh bạch mới”, Roberts nói, và những người ủng hộ đã sớm “cường điệu quy mô và ý nghĩa của sự tiết lộ thông tin”. Vai trò tự thân WikiLeaks đã luôn được cường điệu, tuy nhiên những thông tin bị rò rỉ cùng với các bài báo sau đó đã cho phép hiểu rõ hơn về thực trạng của chính trị, ngoại giao và tham nhũng. Vì lý do này, người ta có thể lập luận rằng sự tiết lộ thông tin đã tác động trực tiếp đến những cuộc phản đối Mùa xuân Arab, đặc biệt là ở Tunisia, bởi vì nó cung cấp cho người dân một bộ mặt không tô vẽ của những người cầm quyền như là những con người thực, có thể mắc lỗi. Tổng thư ký Tổ chức Ân xá Quốc tế đã nói:

“Năm 2010 rất có thể được ghi nhớ như là một năm bước ngoặt, khi mà các nhà hoạt động xã hội và các nhà báo đã sử dụng công nghệ mới để nói nên sự thật cho giới quyền lực, và, làm như thế, họ đã đẩy nhanh sự tôn trọng hơn nữa đối với quyền con người”.

Có nhiều hệ thống chính trị chóp bu phụ thuộc vào một ảo tưởng về tính không thể mắc sai lầm và tính ưu việt của chúng. Trong số những điều tiết lộ đăng trên báo Guardian, có nhiều trường hợp trong đó giới chóp bu hiện ra như là những con người có thể mắc lỗi, hành động theo những cách ngây ngô, trái đạo đức và đồi bại. Những bức điện tín cũng tiết lộ nhiều trường hợp trên thế giới trong đó một số chóp bu được hưởng lợi cho riêng mình từ các nguồn lực công. Tôi cho rằng những điều tiết lộ này đã làm sáng tỏ cái giá của việc giữ bí mật, và cho thấy tại sao việc giữ bí mật đó lại giúp cho các cơ cấu cai trị chóp bu và cản trở trách nhiệm giải trình đối với các nguồn lực công. Việc công bố tài liệu cũng đã thách thức các quan điểm chuyên quyền có xu hướng phóng đại những nguy cơ của việc tiết lộ trong khi giảm đến mức tối thiểu những nguy cơ của việc giữ bí mật. Các quan chức quả quyết rằng việc tiết lộ công khai sẽ dẫn đến kết quả là sự “thiệt hại” không thể tính được đối với nhân sự quân sự, an ninh quốc gia và những nỗ lực ngoại giao”, tuy nhiên, do không có những bằng chứng rõ ràng về thiệt hại đáng kể nào, họ đã phải rút khỏi lập trường này. Có lẽ kết quả là tòa án có thể sẽ tỏ ra hoài nghi hơn trong tương lai đối với những khẳng định về hậu quả tai hại của việc tiết lộ thông tin.

Trong hai nghiên cứu trường hợp nói trên, chúng ta có thể thấy rằng số hóa là một phương tiện làm lung lay các trụ cột của chế độ cai trị chóp bu, không chỉ ở nước Anh mà cả ở Hoa Kỳ, Trung Đông và khắp nơi trên thế giới. Những nỗ lực này đã đạt được thành công như thế nào vẫn còn là một đề tài phải tranh cãi rất nhiều. Có một điều chắc chắn là giới chóp bu chính trị ngày càng cảm thấy bị thách thức, và, khi nào mà dư luận quần chúng nhằm vào họ, thì họ phản công bằng cách sửu dụng các thể chế nhà nước. Trong một số trường hợp, như phong trào Mùa xuân Arab, thách thức thành công của chế độ chuyên quyền đã không dẫn đến mở rộng quyền bầu cử dân chủ như đã hứa. Thay vào đó nó đã dẫn đến kết quả là chuyển quyền lực sang một nhóm chóp bu khác vẫn vận hành theo một truyền thống chuyên quyền tương tự.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Heather Brooke – Inside the Digital Revolution – Journal of International Affairs, Winter 2016, Vol 70, No.1, pp.29 – 53.

TN 2017 – 34, 35, 36 & 37.

Bên trong cuộc cách mạng số – Phần IV


Tôi tiếp tục hành động và yêu cầu được tiếp cận các kiểu trợ cấp khác, đặc biệt là Trợ cấp Chi phí Bổ sung (ACA), là cái có nhiệm vụ “hoàn trả toàn bộ các khoản chi tiêu mà các nghị sĩ phải gánh chịu riêng và nhất thiết khi họ phải ngủ qua đêm bên ngoài nơi ở chính của họ trong nước Anh…, phục vụ cho việc thực hiện các nghĩa vụ của nghị viện.” Vào thời gian đó ACA là 23.000 bảng Anh một năm thêm vào cho lương cơ bản 60.000 bảng Anh của một nghị sĩ. Yêu cầu này của tôi cũng bị từ chối và tôi đã kháng cáo lên ủy viên thông tin rồi sau đó lên Tòa án Thông tin. Đến ngày 26/2/2008, sau hai ngày tranh tụng trong đó vị trưởng Văn phòng Lệ phí được thẩm vấn, tòa đã phán quyết có lợi cho tôi rằng hệ thống chi tiêu nghị viện là “vô cùng bất cập”, và rằng:

“Tình trạng thiếu nghiêm tục và thiếu rõ ràng của các quy tắc dành cho ACA có mang tính chất của một thứ văn hóa rất khác biệt so với văn hóa trong lĩnh vực thương mại hoặc trong hầu hết các tổ chức công ngày nay… Trong phán quyết của chúng tôi, những đặc điểm này, cộng với bản chất rất hạn chế của những tờ hóa đơn, là một cách làm ăn mơ hồ, không nhất quán và nguy cơ dẫn đến sự lạm dụng… Sự giảm sút cả trong tính minh bạch lẫn trách nhiệm giải trình là nghiêm trọng.”

Các thẩm phán đã ra lệnh phải tiết lộ công khai hoàn toàn. Tuy nhiên đến ngày cho phép cuối cùng, Nghị viện đã kháng cáo phán quyết của tòa lên Tòa án Tối cao. Tôi đã bảo vệ vụ kiện của tôi và đến 16/5/2008, Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng Nghị viện phải tiết lộ công khai thông tin. Các khoản chi tiêu của 14 nghị sĩ trong trường hợp kiểm tra đã được công bố, nhưng phán quyết của tòa yêu cầu Nghị viện phải công bố hồ sơ của tất cả 646 nghị sĩ. Một thời hạn cuối cùng được đặt ra là tháng 10/2008, nhưng thời hạn đến rồi qua đi, giống như thời hạn được gia hạn đến tháng 12 cũng thế. Quy mô của việc công bố đã được trình bày trong câu trả lời thay mặt Nghị viện sau đây của Nick Harvey khi trả lời câu hỏi về quá trình số hóa:

“Như vậy kế hoạch đã được lập ra là việc scan khoảng 1,3 triệu tài liệu và việc biên tập giai đoạn đầu để loại bỏ những chi tiết như địa chỉ, số điện thoại, chi tiết về ngân hàng và số tài khoản, tất cả sẽ được đảm nhiệm với những điều kiện an toàn bởi một nhà thầu đã quen với việc cung cấp dịch vụ cho Chính phủ và Nghị viện mà nhân viên của họ đã được kiểm tra trong sạch về an ninh.”

Đến 15/01/2009, lãnh đạo Hạ viện Harriet Harman tuyên bố rằng có thể sẽ đưa các bản kiến nghị vào ngày 22/01 xin miễn áp dụng Luật Tự do Thông tin cho Nghị viện. Điều đó có nghĩa là sẽ không hề có công bố chi tiêu nữa. Điều đó có nghĩa là sẽ không hề có công bố chi tiêu nữa. Dư luận công chúng ồn ào nổi lên và lời đề nghị đó nhanh chóng bị lật úp dưới sức nặng phản đối của quần chúng. Nhưng vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy khi nào thì Nghị viện công bố thông tin. Cuối cùng thì toàn bộ tập dữ liệu đã được số hóa và chưa được biên tập, rồi chúng được cóp vào một đĩa cứng và bị rò rỉ. John Wick, người môi giới thực hiện vụ thỏa thuận giữa một người trong cuộc giấu mặt của Nghị viện với nhiều tờ báo, đã giải thích động cơ rò rỉ của nguồn tin:

“Thông tin then chốt – đặc biệt là việc xóa địa chỉ khỏi hồ sơ – có thể dẫn đến nhiều mưu đồ chưa bao giờ được tiết lộ công khai. Nguồn tin có tính cương quyết đến mức điều chủ chốt là cả thông tin lẫn cái cách xử lý thông tin đều có thể thuộc lĩnh vực công, và vì thế việc công bố nó nằm trong mối quan tâm của công chúng.”

Có một số tờ báo đã chọn ra một hoặc hai mục dữ liệu, nhưng chỉ đến khi tờ báo Daily Telegraph trả 110.000 bảng Anh để mua toàn bộ tập dữ liệu đó và tiến hành công bố trên mục “Câu chuyện hằng tuần” công việc điều tra này, thì vụ bê bối mới đạt tới mức nguy kịch. Các phương tiện truyền thông và sự chú ý của công chúng đã tập trung vào những yêu sách nổi tiếng và bất thường như việc xây một nhà nuôi vịt và việc dọn dẹp con hào xung quanh nhà của nghị sĩ Douglas Hogg, tuy nhiên còn có nhiều sự lạm dụng nghiêm trọng hơn như vụ gian lận đã làm cho 5 hạ nghị sĩ và 2 thượng nghị sĩ bị vào tù. Một cuộc kiểm toán chính thức đối với hệ thống chi tiêu đã báo cáo rằng hệ thống này đã mắc phải “sai lầm nghiêm trọng” và tổng số có tới 398 nghị sĩ bị buộc phải hoàn trả 1,3 triệu bảng Anh.

Cuộc cách mạng số đã đạt được sự tiến bộ như thế nào? Mấu chốt của sự rò rỉ là nếu không có tự do thông tin và những cuộc đấu tranh tiếp theo tại tòa án, thì dữ liệu chắc là đã không được số hóa. Nếu không được số hóa thì sẽ chẳng có gì để rò rỉ. “Chỉ có toàn bộ phiếu yêu cầu của mỗi nghị sĩ là được giữ dưới định dạng điện tử”, viên phụ trách tự do thông tin của Hạ viện Bob Castle đã tuyên bố như vậy trong một bức thư gửi ủy viên thông tin. Nếu không bị rò rỉ, Nghị viện Anh có thể đã có khả năng bí mật mở rộng và diễn giải lại cái quyền miễn trừ hạn hẹp dành cho những thông tin nhạy cảm cá nhân. Quả thực, phiên bản chính thức cuối cùng đã được công bố vào tháng 6/2009 đã cắt xén hết tất cả những vụ lạm dụng xấu xa nhất.

Như đã xảy ra, sự rò rỉ bộ dữ liệu số chưa biên tập đã ngăn không cho Nghị viện diễn giải và kiểm duyệt dữ liệu và thay vào đó các phóng viên và người dân đã được nhìn thấy nó ở dạng chưa qua xử lý. Những bản trình bày sự kiện đã trở thành nguyên nhân “làm cho chính phủ bị mất ổn định”, dẫn đến một làn sóng từ chức (Chủ tịch Hạ viện cộng với 6 bộ trưởng), và gần 1/5 số nghị sĩ (120 người) bị rớt trong cuộc bầu cử năm 2010. Trong những ngày đầu tiên khi tài liệu được công bố, các nghị sĩ đã yêu cầu cảnh sát đô thành mở một cuộc điều tra tội phạm đối với tờ Daily Telegraph vì tội sở hữu tài sản bị đánh cắp, nhưng điều này không đi đến đâu, phần lớn là do sức nặng của dư luận quần chúng chống lại các nghị sĩ. Một nghiên cứu về bầu cử Quốc hội Anh từ tháng 6/2009 cho thấy có tới 95% công chúng biết về vụ bê bối, 91% tỏ ra rất tức giận về chuyện đó, và 82% nói rằng những nghị sĩ nào lạm dụng hệ thống thì nên từ chức ngay.

Vụ bê bối được mô tả bằng những lời đao to búa lớn vì cả tác động báo chí lẫn tác động chính trị của nó. Nó là “một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất trong lịch sử nước Anh hiện đại”, là cái “đã làm rung chuyển các lĩnh vực văn hóa, chính trị và báo chí”. Về mặt chính trị, nó là “một thiết bị cháy được quăng trực tiếp vào thiết chế chính trị”, và gây ra một vụ bê bối “làm lung lay tận gốc lâu đài Westminster”. Nó đã dẫn đến việc cải cách hệ thống trợ cấp nghị sĩ, và, cùng với Đạo luật Tiêu chuẩn Nghị viện năm 2009, nó dẫn đến việc thiết lập Thẩm quyền Tiêu chuẩn Độc lập. Theo Worthy và Hazell cùng những người khác, vụ bê bối cũng đã dẫn đến “cuộc tranh luận gay gắt về sửa đổi hiến pháp” với Gordon Brown và David Cameron về việc ai có thể đưa ra một cuộc cải tổ triệt để nhất khi họ ganh đua trong cuộc tổng tuyển cử năm 2010. Diễn đàn của ông Cameron bao gồm quyền triệu hồi công khai các nghị sĩ mà sau đó đã trở thành Luật Triệu hồi Nghị sĩ năm 2015. Một chính phủ mới đã được bầu vào tháng 5/2010 với một sự ủy nhiệm minh bạch, và nước Anh đã đi từ tình trạng là một vùng yên tĩnh về dữ liệu công khai đến vị thế lãnh đạo thế giới đầy tham vọng. Tờ [London] Times tổng kết những thay đổi với một bài trên trang nhất có đầu đề “Trật tự mới”.

“Nghị viện đã buộc phải từ bỏ cái quyền lâu đời của mình đối với việc thực hiện các nghĩa vụ riêng của mình trong một ngày trọng yếu, khi mà Chủ tịch Hạ  viện Michael Martin đã phải trả giá bằng việc làm của mình cho vụ bê bối về chi tiêu của nghị sĩ. Thủ tướng đã tuyên bố rằng các vụ việc tài chính của nghị sĩ sẽ được tiếp quản bởi những người điều chỉnh độc lập”.

Tuy nhiên, những cuộc cải tổ gần như không được thực hiện đủ mức triệt để. Điều quan trọng là công chúng vẫn không được tiếp cận trực tiếp thông tin về chi tiêu của nghị sĩ, mà đúng hơn là họ vẫn phải tiếp cận gián tiếp thông qua một bộ máy quan liêu mới được lập ra. Kết quả có lẽ là giới truyền thông vẫn tiết lộ đều đặn dòng tin công khai về chi tiêu lạm dụng của nghị sĩ và danh tiếng của Nghị viện trở nên tồi tệ hơn. Một cuộc thăm dò ý kiến năm 2012 của công ty nghiên cứu thị trường YouGov cho thấy rằng có 26% số người được hỏi cho rằng phần lớn các nghị sĩ là người trung thực, giảm so với 34% vào năm 2010. Chỉ có 13% số người được thăm dò năm 2012 cho rằng phần lớn các nghị sĩ có quan hệ với cuộc sống hằng ngày của cử tri, và tỷ lệ những người tin rằng nghị sĩ có nguyên tắc đã giảm 6 điểm xuống còn 26%. Đa số người dân, chiếm 72%, đồng ý với quan điểm cho rằng “chúng ta chưa làm đủ để ngăn chặn những chi tiêu sai trái của nghị sĩ, và mức độ lạm dụng của nghị sĩ có lẽ vẫn như trước”, so với 13% số người cho rằng Nghị viện đã rút ra được bài học từ vụ bê bối và các nghị sĩ mới sẽ cư xử tốt hơn.

(còn tiếp ) 

Người dịch: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Heather Brooke – Inside the Digital Revolution – Journal of International Affairs, Winter 2016, Vol 70, No.1, pp.29 – 53.

TN 2017 – 34, 35, 36 & 37.