Báo chí đa nền tảng – Phần I


Trong khi báo chí đa phương tiện vẫn đang được nhắc đến như một xu thế không thể khác đối với báo chí trên toàn thế giới, thì báo chí đa nền tảng (multi platform journalism) đã được dự đoán sẽ trở thành tất yếu trong tương lai. Trước thời điểm báo chí bị tác động mạnh mẽ bởi mạng xã hội và điện thoại thông minh, thuật ngữ báo chí đa nền tảng thường chỉ dùng trong lĩnh vực máy tính hay ngành công nghiệp phần mềm, nó chỉ bắt đầu được nhắc nhiều tại các hội thảo báo chí quốc tế vào khoảng năm 2010, thời điểm mang tính bước ngoặt của báo chí truyền thông thế giới. Giống như Thomas L. Friedman từng thốt lên: “Khi tôi viết “Thế giới phẳng” (2004), Facebook chưa tồn tại, Twitter là một âm thanh; mây thì ở trên trời; 4G là bãi đỗ xe, “ứng dụng” là những gì bạn gửi đến trường đại học, LinkedIn hầu như không ai biết đến và hầu hết mọi người nghĩ rằng đó là nhà tù, Big Data là cái tên hay cho một ngôi sao nhạc rap, và Skype, đối với hầu hết mọi người, là một lỗi đánh máy sai…”, tất cả đã thay đổi chỉ trong vòng 6 năm.

1/ Báo chí đa nền tảng là gì?

Hiểu một cách đơn giản nhất, báo chí đa nền tảng là xu hướng báo chí mà người đọc có thể tiếp cận tin tức trên tất cả các nền tảng khác nhau: Máy tính, thiết bị di động cầm tay (smartphone, iPad, Notebook…); báo giấy, báo mạng điện tử; các ứng dụng xã hội như Facebook, Snapchat, Twitter… Hay nói cách khác, trong tương lai, để có thể tồn tại, một tờ báo buộc phải “biến đổi” để công chúng có thể tiếp cận thông tin bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào họ muốn, trên bất cứ nền tảng nào mà họ có. Thậm chí, các chuyên gia đã đưa ra viễn cảnh, nếu công chúng đang đọc một bài báo trên máy tính xách tay và bỏ dở khi mở điện thoại di động, máy tính bảng, hay chiếc đồng hồ đeo tay có thể đọc tin tức, họ phải đọc tiếp được đúng đoạn đó trên các thiết bị này.

Vì sao báo chí đa nền tảng lên ngôi trong khi báo chí đa phương tiện và báo chí hội tụ vẫn còn đang là câu chuyện nóng bỏng? Có thể thấy rằng, sự phát triển mạnh mẽ của các thiết bị di động cũng như sự lên ngôi của mạng xã hội trong bối cảnh Internet đang phát triển như vũ bão trên toàn cầu đã buộc báo chí phải thay đổi.

Theo bản khảo sát World Press Trend 2016 (Các xu hướng báo chí thế giới thường niên năm 2016) của Hiệp hội Báo chí và các Nhà xuất bản tin tức thế giới (WAN-IFRA), 51% dân số thế giới đang sử dụng điện thoại di động và 31% sử dụng mạng xã hội, 30% dân số thế giới sở hữu một điện thoại thông minh và gần 90% người Mỹ truy cập tin tức bằng điện thoại thông minh và các thiết bị di động khác.

Nghiên cứu này dẫn số liệu của Hiệp hội Báo chí Mỹ cho biết, hơn nửa số công chúng báo mạng điện tử của nước này chỉ sử dụng thiết bị di động để đọc tin hàng ngày. Theo trang cung cấp số liệu ComScore, 37% công chún của 10 hãng truyền thông kỹ thuật số của Mỹ truy cập tin tức bằng thiết bị di động và 31% khác đọc tin bằng cả thiết bị di động lẫn máy tính bàn. Tại các thị trường như Pháp, Đức, Nhật Bản, Australia và Canada, hơn 1/3 số người trưởng thành sử dụng thiết bị di động để đọc tin tức. Đặc biệt, số lượng ngày càng tăng của điện thoại thông minh và máy tính bảng cũng thúc đẩy việc sử dụng ứng dụng dữ liệu lớn trên báo mạng điện tử, ví dụ như video. Theo thống kê, khoảng một nửa người tiêu dùng Internet tải lên video của riêng họ, 8 – 9 tỷ video mỗi ngày được theo dõi trên Facebook, 8 tỷ video/ngày được xem qua Snapchat và 4 tỷ được xem qua YouTube, hơn 50% lượng truy cập YouTube bây giờ là điện thoại di động, tăng từ 6% trong năm 2011. Nhờ xu hướng tiếp cận tin tức qua mạng, phương thức thu lợi nhuận từ phát hành kỹ thuật số cũng phát triển theo. Doanh thu phát hành kỹ thuật số thu tiền từ công chúng tiếp tục tăng trưởng 2 con số, tăng 30% trong năm 2015 và 547% trong 5 năm qua.

Báo cáo Global mobile media consumption: a “new wave” takes shape (Tiêu thụ truyền thông di động toàn cầu: Một làn sóng mới đang hình thành) được tiến hành vào năm 2014 của InMobi – mạng quảng cáo di động độc lập lớn nhất thế giới cũng cho thấy, tính trên toàn cầu, các khách hàng dành trung bình gần 2,2 giờ mỗi ngày dùng điện thoại di động (97 phút) và máy tính bảng (37 phút), chiếm 37% thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông, bỏ xa xử dụng tivi (81 phút), máy tính để bàn (70 phút), radio (44 phút) và báo in (33 phút). Trong đó, có đến 60% người dùng truy cập Internet từ mobile, 30% số đối tượng hàng tháng của các kênh truyền thông là người dùng điện thoại di động.

Cùng với điện thoại di động, vài năm trở lại đây, mạng xã hội đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, theo nghiên cứu của trang ComScore, cứ 5 phút online thì người dùng sẽ dành một phút cho mạng xã hội. Riêng với Facebook, trang này đánh giá, người dùng trên toàn thế giới tiêu tốn đến 35 phút mỗi ngày để lướt Facebook, cứ 3 trong 4 phút truy cập vào mạng xã hội là để dành cho Facebook. Trong khi đó, theo báo cáo của chính Facebook, người Mỹ tiêu tốn đến 50 phút mỗi ngày cho mạng xã hội này.

Không chỉ có tốc độ phát triển đáng kinh ngạc, vượt qua cả yếu tố kết nối đơn thuần, hơn bao giờ hết, các nền tảng xã hội đóng một vai trò quan trọng trong việc phối hợp truyền bá thông tin. Rất nhiều tin tức lan truyền trên mạng xã hội trước khi chính thức có mặt trên mặt báo, rất nhiều bài báo có nguồn tin từ mạng xã hội. Năm 2015, khi xảy ra vụ khủng bố đẫm máu khiến cho hơn 200 người thương vong. Paris sử dụng hashtag Twitter #PorteOuvert (cửa mở) để cung cấp nơi trú ẩn trong khi Facebook triển khai tính năng an toàn (I’m safe) khuyến khích người dân ở Paris thông báo mình an toàn thông qua tài khoản cá nhân của họ – lần đầu tiên ngoài một thảm họa tự nhiên. Đến nay, những tính năng này được sử dụng thường xuyên hơn khi xảy ra các thảm họa, ví dụ như vụ khủng bố ở khu chợ Giáng Sinh Berlin, vụ động đất ở Nepal hay sau cơn bão Dianmu đổ bộ vào Việt Nam tháng 8/2016, Facebook đều tự động kích hoạt tính năng an toàn.

Mạng xã hội cũng tiến đến gần hơn với báo chí, Twitter cho ra mắt ứng dụng xem video trực tiếp có tên Periscope và nó đã nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt từ giới phóng viên. Chưa dừng lại ở đó, mạng xã hội này còn tiếp tục cho ra mắt ứng dụng Project Lightning, một sáng kiến mới được đánh giá là rất hữu ích khi giúp thu thập và sắp xếp một cách có hệ thống các tin tức xung quanh nhiều sự kiện trong đời sống. Facebook cũng giới thiệu thanh trượt mới trên giao dịch có tên Trending Now, là nơi cập nhật những nội dung, tin tức hiện đang được thảo luận nhiều nhất trên Facebook. Cùng với đó là các tính năng như Instant Articles và Live Video giúp truyền tải tin tức gần như ngay lập tức. Ngoài ra còn có thể kể đến các ứng dụng nổi tiếng khác như Snapchat Discover, Apple News, Twitter Moments…

Báo cáo xu hướng truyền thông 2017 của Viện Nghiên cứu Reuters thống kê từ phản hồi của 143 tổng biên tập, CEO và các “nhà lãnh đạo kỹ thuật số” được điều tra trên 24 quốc gia cho thấy những con số đáng suy ngẫm. 70% cho rằng các mối lo ngại về tình trạng lan truyền các tin tức giả/tin không chính xác trên các mạng xã hội sẽ củng cố vị thế của họ, 46% lo ngại nhiều hơn về vai trò của các nền tảng so với năm ngoái, 56% cho biết Facebook Messenger sẽ là một phần quan trọng hoặc rất quan trọng trong các sáng kiến bên ngoài website của họ trong năm nay, 53% nói điều tương tự về WhatsApp và 49% về Snapchat.

Sự lên ngôi của truyền thông xã hội, truyền thông di động trong thời đại của kỹ thuật số đã khiến cho báo chí cũng phải thay đổi, không còn đơn điệu riêng rẽ ở một loại hình, một phương tiện để tiếp cận công chúng, báo chí bắt buộc phải tiến đến hình thức đa nền tảng, trong đó, thứ tự ưu tiên là nền tảng xã hội (social), nền tảng di động (mobile) và cuối cùng mới là web.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nguyễn Thị Trường Giang – Báo chí và truyền thông đa phương tiện – NXB ĐHQG HN 2017

Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần cuối


Kết luận

Rất dễ chỉ ra rằng, với lượng thông tin ồ ạt hiện nay và những quảng cáo cường điệu chứa đầy những thông tin, chúng ta ngày càng dễ bị mờ mắt, chúng ta ngày càng đầu hàng trước những sức mạnh phê bình của chính chúng ta hoặc không bao giờ nghĩ đến nó, coi “tất cả các nhà chính trị đều là những kẻ lừa đảo” hoặc coi “tất cả mọi thứ đều gây ra ung thư”. Nhưng, bất chấp tất cả, mọi người vẫn thấy cuộc sống của họ có ý nghĩa, dù vẫn cảm thấy cáu kỉnh, buồn chán, tức giận và bị thao túng. Sẽ là sai lầm nếu chúng ta chỉ nhận xét thị hiếu mọi người qua cách tiêu dùng của họ. Có một xu hướng tin rằng nếu các đoạn tin ngắn rút ngắn từ một phút xuống 10 giây (và thực tế điều này đã diễn ra được 20 năm), thì khả năng chú ý liên tục của mọi người cũng giảm đi tương ứng. Nhưng điều này không đồng nghĩa với mức độ căng thẳng trong công việc kinh doanh, sự phát triển của kiểu gia đình với hai nguồn thu nhập chính, sức sống của những phong trào ủng hộ và chống đối phá thai, sự quay lại của phục hưng tôn giáo, và thậm chí cả xu hướng tăng điểm SAT.

Vậy thì sự bão hòa truyền thông có nghĩa là gì? Hãy thử dùng phép suy luận tương tự qua đồ ăn nhanh. Hầu hết những người tôi biết đều ăn món Big Macs nhiều hơn cá hồi trong bữa tối ở những nhà hàng sang trọng. McDonald là món ăn nhanh hơn, rẻ hơn, dễ biết trước hơn, để dễ dồn sức vào những phần còn lại của cuộc sống hơn. Điều này không có nghĩa là mọi người thích Big Macs hơn cá hồi. Theo phép lập thừa kinh tế học thì nó cũng không có nghĩa là mọi người “đánh giá” cao Big Macs. Nó cũng không có nghĩa là khẩu vị của mọi người bị nhàm chán. Nó có nghĩa là mọi người đã có những quyết định cho sở thích của mình, và như vậy việc ăn một bữa ăn ngon được lựa chọn sau việc giảm bớt cơn đói. Tôi không cho rằng thành công ngày càng tăng của tờ USD Today nhất thiết phải chỉ ra một sự khác biệt nào đấy; nó không có nghĩa là mọi người coi McPaper là “món ăn” “tốt nhất” hay “món ăn” duy nhất mà họ tìm kiếm; đơn giản chỉ là họ tìm thấy ở nó những gì họ cần ngay ở một tờ báo, vào một thời điểm nào đó với những hạn chế trong cuộc sống thường nhật. Với thời gian và thế giới chung quanh vừa đủ, hay với một vấn đề quan trọng ở địa phương, hay với một cuộc chạy đua vào chiếc ghế tổng thống nóng bỏng, thì lựa chọn của mọi người có thể khác nhau. Lựa chọn của mọi người, trong bất kỳ trường hợp nào, ở bất kỳ thời điểm nào, đều chứa đựng một tập hợp những nguồn thông tin khác nhau.

Nếu chúng ta không thể suy ra thị hiếu cá nhân từ lựa chọn của mọi người thì liệu chúng ta có thể nhìn nhận những gì liên quan đến những giới hạn kho tàng văn hóa hay định hình những cơ hội nhận thức hay không? Có thể, nhưng hãy cẩn thận. Sự phát triển của McDonald buộc các nhà hàng khác phải thay đổi món ăn hoặc đóng cửa. Sự hình thành của McDonald đã giúp các công dân, đặc biệt là giới trẻ, trong vấn đề đồ ăn nào là ngon, thế nào là đồ ăn, thế nào là một bữa ăn. Đây có thể không phải là “người hướng dẫn” mà chúng ta ưa thích nhất cho con cái chúng ta. Đồng thời, người Mỹ ngày nay ăn ít thịt bò hơn trước kia khi McDonald là một tia sáng yếu ớt trong con mắt của Ray Krock: McDonald không phải là “người hướng dẫn” duy nhất trong văn hóa. Bản thân McDonald cũng không được hướng dẫn bởi sự chuyển biến xã hội và văn hóa rộng lớn hơn; hãy nhìn vào sự sẵn có cúa salad và lời tuyên bố rằng món thịt rán sẽ không có mỡ động vật nữa. Một lần nữa, việc đánh giá thói quen hay cơ chế sinh hoạt của người Mỹ từ những yếu tố hiện hữu nhất trong tiêu dùng đại chúng phải được tiến hành thật cẩn thận.

Công dân Mỹ ngày nay có nhiều thông tin hơn so với cách đây một thế hệ. Nhiều thông tin đáng tin cậy hơn. Nhiều nguồn thông tin quốc gia hơn. Nhiều mâu thuẫn được kiểm chứng về thông tin và dư luận hơn. Nhiều thông tin hơn đến với người dân nói chung qua truyền thông chứ không qua chuyên gia trung gian. Nếu tạp chí y học New England Journal of Medecine xuất bản những nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của người dân nói chung thì những nghiên cứu đó không được sàng lọc qua những thầy thuốc gia đình mà đến thẳng báo chí, tạp chí, các phóng viên khoa học phát thanh truyền hình và sau đó nhanh chóng được đăng trên các tạp chí phụ nữ và người tiêu dùng. Chí ít đối với những người trung lưu đọc các tạp chí phụ nữ hay bài viết của Jane Brody trên New York Times và được công nhận bởi trình độ giáo dục và địa vị xã hội để chỉ dẫn bạn bè, gia đình và thuật lại cho bác sĩ của họ, thì loại thông tin này là có ích và được sử dụng.

Từ vấn đề này, tôi không kết luận rằng chúng ta có thông tin cần có vào thời điểm thích hợp hay thông tin sẵn có được phân phối công bằng hoặc công dân có thông tin được thông tin đầy đủ. Thư viện thông tin của chúng ta ngày càng làm hoa mắt và chỉ đem lại một ảo tưởng về tri thức và triển vọng nhầm lẫn về năng lực công dân nếu trật tự xã hội không trang bị cho mọi người đủ để sử dụng thông tin, nếu những người trẻ tuổi hay hoài nghi, nếu người nghèo không có hy vọng, nếu tầng lớp trung lưu quá ích kỷ, và nếu sự cướp phá đời sống xã hội vẫn đang làm nản lòng mọi người và làm cho những theo đuổi cá nhân được tưởng thưởng hơn lợi ích tập thể.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần VI


Sự suy giảm kiểm soát trực tiếp của nhà quảng cáo đối với truyền hình còn nhỏ hơn so với sự mất đi kiểm soát của giới kinh doanh đối với chương trình nghị sự chính trị. Những năm 1960 đã tạo ra một môi trường cho hàng loạt những vấn đề và định chế nhìn giới kinh doanh bằng ánh mắt lạ lùng trong những năm 1970. Bắt đầu từ những năm 1960, Quốc hội, đặc biệt là Thượng viện, đã phải chịu ảnh hưởng của những người Dân chủ miền Bắc, những người đã thách thức một cách thành công những gì thuộc lĩnh vực của những người Dân chủ bảo thủ miền Nam. Điều này đã đẩy nhanh việc thông qua chương trình lập pháp tự do trong giai đoạn cuối những năm 1960 và 1970, bao gồm việc thành lập các cơ quan chính phủ mới để kiểm soát hoạt động kinh doanh – Cơ quan bảo vệ môi trường (năm 1970), Ủy ban cơ hội tuyển dụng công bằng (1965). Ủy ban xem xét an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (1970) và Ủy ban an toàn sản phẩm cho người tiêu dùng (1973), đấy là chưa nói đến một Ủy ban thương mại liên bang mới và có sức chiến đấu. Báo giới, luôn được dùng cho việc ủng hộ chính phủ, đã ủng hộ các cơ quan mới này và do vậy chiếu ánh sáng lên giới kinh doanh với thái độ chỉ trích và theo dõi chặt chẽ hơn so với trước đây.

Sự ác cảm của giới kinh doanh đối với truyền thông cũng là một lời đáp lại cho thành công của Ralph Nader, người đã tạo ra sự đối lập mới của công chúng đối với giới kinh doanh. Nader sử dụng một số phương pháp truyền thông cũ kỹ trong bước đường thăng tiến trở thành nhân vật nổi bật. Đầu tiên ông công bố một bài viết về sự an toàn của ô tô trên tờ The Nation trong năm 1959. Cuốn Không an toàn ở bất kỳ tốc độ nào của ông đã thúc đẩy quá trình lập pháp năm 1966, biến chính quyền liên bang thành người bảo lãnh cho an toàn ô tô và đường cao tốc, và dẫn đến việc “gợi nhớ lại” các ô tô với những khuyết tật về độ an toàn. Trong những năm tiếp theo, Nader đã tạo ra một loạt vận động hành lang vì lợi ích của công chúng và thành lập các tổ chức nghiên cứu ở Washington và khắp đất nước. Chính quyền liên bang, bằng việc thành lập những cơ quan mới để bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp và an toàn cho người tiêu dùng, cùng với các ngành tư hữu, bằng việc tham gia vào xử lý tồi những vụ việc bên bờ thảm họa (Đảo Ba dặm) và những thảm họa nghiêm trọng (Bhopal), đã thực thi phần còn lại. Quốc hội, mặc dù vẫn là trung tâm cho những hoạt động lập pháp ở Washington, ngày càng trở thành “người tiêu thụ” những sáng kiến chính sách không chỉ từ Nhà Trắng mà từ cả một loạt dài những kẻ vận động hành lang. Mặc dù các nhóm công dân và các nhóm lợi ích công chúng vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ nỗ lực vận động hành lang ở Washington, nhưng chúng đã phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1960 – 1980.

Và như vậy truyền thông, tiếp theo Washington, đã chuyển sang cánh tả trong những năm 1970; một lần nữa, theo chân Washington và việc thâu tóm quyền lực của chính quyền Reagan, họ chuyển sang cánh hữu trong những năm 1980. Quá nhiều nhà phê bình truyền thông, thuộc cánh tả hay cánh hữu, đã cường điệu tính độc lập của truyền thông và giảm nhẹ sức mạnh của tập quán truyền thông, xuất hiện lặp đi lặp lại trong những nghiên cứu của Edward Epstein, Herbert Gans, Todd Gitlin, Daniel Hallin, Stephen Hess, Michael Robinson, Leon Sigal, Gaye Tuchman và những người khác. Những gì thay đổi từ những năm 1960 đến những năm 1970 rồi những năm 1980 là môi trường chính trị mang lại xu hướng lập pháp phân biệt cho những nguồn khác nhau. Truyền thông, dường như đóng vai trò trung gian giữa hàng loạt những âm điệu khác nhau, có ít tài nguyên trí tuệ cho phán xét độc lập và không có hậu thuẫn chính trị cho bút chiến độc lập.

 Những năm 1960 đã thay đổi văn hóa bên trong của các nhà báo hoạt động. Các bản tin truyền hình về vận động tranh cử lại tiêu cực hơn những gì chúng đã từng dành cho các ứng viên Cộng hòa cũng như Dân chủ trước đây. Các phóng viên, giống như bệnh nhân tìm sự tư vấn về thuốc men, lại có khả năng tìm những quan điểm nhiều chiều hơn so với trước đây. Những định chế rất thành thạo trong việc đưa ra quan điểm nhiều chiều đã phát triển nhanh chóng và chung quanh Washington. Giờ đây có một “kỹ nghệ phong trào xã hội” (social movement industry), như Mayer Zald và John McCarthy viết, với nhiều nguồn lực hơn bao giờ hết. Trên truyền thông quốc gia, kết quả là một bức tranh thế giới không nghiêng về cánh tả cũng không nghiêng về cánh hữu nhưng lại lộn xộn và đa khuynh hướng hơn (và lạc hậu hơn, nếu quan điểm của bạn trùng với thuật ngữ này).

Sự tồn tại – và phát triển – của in ấn

Vẫn cần phải nói đôi chút về phương tiện không thể bỏ qua mà bài này xuất hiện trong đó – sách. Có một thực tế rất quan trọng trong việc điển hình hóa những thay đổi văn hóa đương đại, đó là thực tế vào năm 1960 chỉ có 41% số người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) tốt nghiệp trung học trong khi năm 1988 là 76%. Năm 1960, 7,7% số người trưởng thành đã học ít nhất 4 năm ở trường cao đẳng: đến năm 1988 con số này tăng vọt lên 20,3%. Mặc dù phần lớn giáo dục cao đẳng là về kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ nhưng nhiều tổ chức nhấn mạnh “giáo dục tự do” và các nhóm “giáo dục tự do” tồn tại ngay ở những trường chuyên về kỹ thuật, tạo ra cơ hội cho điều tra phê bình mà các trường trung học hiếm khi mang lại. Tỷ lệ biết chữ không vì thế mà giảm đi. Trên thực tế, ngày nay sách được xuất bản bởi nhiều nhà xuất bản hơn và được phân phối qua nhiều hiệu sách hơn bao giờ hết. Bất chấp nhiều vụ sáp nhập và mua lại trong ngành xuất bản, tổng số nhà xuất bản vẫn tăng lên – đến mức không gì thuộc về “chế bản văn phòng” mà máy tính cá nhân không thể làm được. Trong năm 1960, khoảng 15.000 cuốn sách và ấn phẩm mới được xuất bản, năm 1970 là 36000, năm 1980 là 42.000 và năm 1990 là 47.000. Năm 1963 có 993 cơ sở xuất bản, con số này tăng lên 2264 trong năm 1987.

Tuy vậy, sách đến với công chúng qua một mạng lưới phân phối ngày càng tập trung. Năm 1980, B. Dalton có hơn 500 hiệu sách và khi Barnes và Noble mua lại năm 1987 thì con số này đã tăng lên gần 1000; Waldenbooks có hơn 700 hiệu sách năm 1980, 1100 năm 1994. Năm dây chuyền của hiệu sách lớn nhất chiếm 34% tổng số sách bán ra và B. Dalton và Waldenboos chiếm được ảnh hưởng cực kỳ to lớn đến toàn bộ ngành sách.

Sách, với tư cách là một hàng hóa, ngày càng chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ về nhu cầu giải trí – không chỉ từ truyền hình mà cả các dịch vụ giải trí gia đình. Số cửa hàng bán video cao hơn hai lần so với số hiệu sách. Nhưng việc sử dụng chữ in ấn vẫn tăng lên. Các báo cáo cho rằng thời đại chúng ta là thời đại của truyền hình đã cường điệu quá mức.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần V


Truyền hình trong hệ thống truyền thông

Kể câu chuyện về những bước tiến nổi bật trong truyền thông tin tức ở thế hệ trước như là một câu chuyện về quốc gia hóa, tin tức hóa, và trọng tâm mang tính biểu tượng ngày càng cao của cái gọi là “tin tức” có nghĩa là phân biệt về bản chất với những bài báo phổ cập khác. Có lẽ câu chuyện phổ biến nhất là câu chuyện kể rằng “truyền hình” là câu trả lời một chữ giản đơn cho câu hỏi: Điều gì đã xảy ra cho truyền thông trong 30 năm qua? Về khía cạnh này, truyền hình đã phổ biến khắp xã hội, thúc đẩy tình trạng suy giảm tỷ lệ biết chữ, sự suy giảm tính nghiêm túc, và sự suy giảm việc tham gia chính trị.

Nhưng hãy thử xem xét cái gì có thể là một ví dụ đơn giản: do tin tức truyền hình đã phát triển và do mức độ phụ thuộc đã được thừa nhận của công chúng vào tin tức truyền hình đã tăng lên, nên sự “thâm nhập” của báo chí đã giảm xuống. Lượng độc giả đọc báo trong giới trẻ đặc biệt thấp. Cái gì có thể là mối quan hệ nhân quả đơn giản hơn? Truyền hình rẻ tiền chính là mối quan hệ trong đó nền báo viết trung thực. Điều này thường dẫn cứ như là bằng chứng không phải bàn cãi cho những hiểm họa của truyền hình. Nhưng trong một so sánh 20 nước phương Tây (và Nhật Bản) từ năm 1964 đến năm 1984, Leo Bogart không tìm thấy mối quan hệ tổng thể giữa sự phát triển của truyền hình và sự thâm nhập của báo chí. Trong khi số tivi màu trên đầu người và tổng thời gian dành để xem truyền hình đều rất lớn trong các nước phương Tây thì lượng báo chí lưu hành trên 1000 người dân lại thay đổi mạnh từ Nhật Bản (562 báo trên 1000 người) sang Thụy Điển (521 báo), Anh (414 báo), Mỹ (268 báo), Canada (220 báo) và Italy (96 báo). Trong thời gian này, khi sự tham nhập của truyền hình tăng lên ở khắp mọi nơi thì lượng báo chí lưu hành tính theo đầu người cũng tăng ở Nhật Bản và Thụy Điển, giảm nhẹ ở Canada (1%), Italy (5%), và giảm mạnh ở Mỹ (16%) và Anh (21%). Truyền hình hiển nhiên có vai trò sống còn đối với tin tức ở Mỹ ngày nay, mặc dù tính trọng yếu của nó có thể (và thường xuyên) được thổi phồng quá đáng. Các nhà báo Mỹ đánh giá thấp lượng thời gian mọi người dành cho đọc báo nhưng lại đánh giá quá cao thời gian mọi người dành để xem tin tức truyền hình. Họ hiểu nhầm rằng càng làm cho báo in giống hơn với truyền hình, với các mục tin ngắn hơn và nhiều câu chuyện hơn, thì càng thu hút được nhiều độc giả. Trên thực tế, trong những năm gần đây, những tờ báo có lượng lưu hành lớn cũng không thể hiện sự khác biệt đáng kể nào về mặt nội dung so với những tờ báo có lượng lưu hành thấp. Công tác phát hành, chứ không phải nội dung, chính là nguyên nhân suy giảm lượng độc giả. Điều này có nghĩa là sự suy giảm chủ yếu trong lưu hành báo ở các khu đô thị lớn nằm ở lượng bán lẻ từng tờ chứ không phải ở số lượng giao tận nhà, và vấn đề ở đây dường như không phải là mọi người cảm thấy thỏa mãn hơn với truyền hình mà ở chỗ việc ngoại ô hóa đời sống Mỹ, sự suy tàn của các khu vực lân cận đô thị và tình trạng thất nghiệp, y tế kém, giáo dục thấp và tâm lý chán nản của người nghèo đô thị đã khiến cho việc tham gia vào một cộng đồng thông qua báo chí trở nên bất hợp lý. Mặt khác của vấn đề này, như Ben Bagdikian đã nghiên cứu, cũng rất quan trọng: tính kinh tế của sản xuất báo đã dẫn đến những tờ báo cạnh tranh trong một thành phố tranh giành cùng một lượng độc giả thượng lưu để thu hút cùng một lượng các nhà quảng cáo. Quá trình này, vốn tạo ra ngày càng nhiều thành phố báo chí độc quyền, làm cho nội dung tin tức ngày một kém phù hợp đối với những người lao động chân tay, những người đã từng là khách hàng mua báo tin cậy.

Truyền hình là phương tiện truyền thông quan trọng hàng đầu trong nền văn hóa Mỹ, nhưng bản thân nó không phải là lời giải thích cho môi trường thông tin đang đổi thay của người dân Mỹ.

Các phương tiện thông tin đại chúng đang dịch chuyển sang tả hay hữu?

Một câu chuyện khác vốn là diễn biến chủ yếu trong các phương tiện thông tin đại chúng chính là sự chuyển biến mạnh mẽ nội dung tin tức sang phía hữu khuynh (một lý thuyết tả khuynh được ưa chuộng), hay các phương tiện truyền thông quốc gia đã bị nắm giữ bởi một tập đoàn được trả lương hậu hĩnh, sung túc, mang tính cách phương Đông, thuộc nhóm các trường đại học danh tiếng và gồm các nhà báo tự do (một lý thuyết hiển nhiên được ưa chuộng ở phía hữu khuynh).

Năm 1969, một nhà kinh tế học làm việc tại Cục dự trữ liên bang tên là Reed Irvine đã sáng lập tổ chức mang tên Độ chính xác trong truyền thông (Accuracy in Media – AIM), một tổ chức với nhiệm vụ chỉ ra mọi định kiến thực tế, suy đoán và nghiêng về cánh tả trong cái mà Irvine gọi là “Truyền thông lớn” (Big Media), nghĩa là các mạng lưới, một số ít tờ báo với ảnh hưởng quốc gia, các tạp chí mới và các dịch vụ truyền hình. Đến năm 1990, AIM có hơn 25000 thành viên, ngân sách hàng năm đạt 1,5 triệu USD, một văn phòng phát ngôn, một bản tin với lượng lưu hành hơn 30.000 bản, một chương trình phát thanh 3 phút hàng ngày được phát trên 200 đài trên toàn quốc và một cột báo tuần trên khoảng 100 tờ báo. Đã có rất nhiều bài phê bình khác của cánh hữu trên các phương tiện truyền thông khi AIM xuất hiện. Chẳng hạn, Robert và Linda Lichter, những học giả truyền thông bảo thủ, đã sáng lập Trung tâm truyền thông và các vấn đề xã hội (Center for Media and Public Affairs) năm 1986 với nhiệm vụ điều tra hoạt động truyền thông và phân tích ảnh hưởng của truyền thông đối với công luận. Năm 1986, Tổ chức về đưa tin công bằng và chính xác (Fairness and Accuracy in Reporting – FAIR), một đối trọng cánh tả của AIM, được thành lập.

Mặc dù các tổ chức cánh hữu có dao động trước quan điểm của truyền thông cánh tả nhưng sự tồn tại vững chắc của chúng cùng với xu thế chung thiên về cánh hữu trong tư tưởng chính trị của tầng lớp tinh hoa trong những năm 1980 đã đẩy nhanh ý tưởng chuyển sang cánh hữu của báo giới. FAIRR đã chuyển sang chương trình danh sách khách mời “Nightline” cho giai đoạn 1985 – 1988 và tìm ra một lượng lớn các quan chức chính phủ mà phần lớn là đàn ông và người da trắng. Như vậy ở đây cái gì là mới? FAIR cũng nghiên cứu sự phát triển mạnh mẽ của các chương trình đối thoại chính trị do những người bảo thủ đạo diễn – chương trình “Firing Line” của William Buckley là chương trình đầu tiên, tiếp theo là các chương trình của John McLaughlin, Patrick Buchanan, Rowland Evans và Robert Novak. Không có chương trình nào trong thời gian nghiên cứu của FAIR do một người tự do đạo diễn.

Nếu truyền thông có sự dịch chuyển sang cánh hữu trong những năm 1980 thì cũng có sự ngạc nhiên trong giới kinh doanh trong những năm 1970 chung quanh thực tế là dường như truyền thông có xu hướng chống lại giới kinh doanh. Hãng Mobil bắt đầu các chương trình quảng cáo trong những năm 1970 trên tờ New York Times [và các thuật ngữ mới là quảng cáo ủng hộ (advocacy advertising) và tin tức mang tính quảng cáo (advertorial) được đưa ra]. Năm 1975, các công ty tốn 100 triệu USD cho quảng cáo ủng hộ, hoàn toàn nhằm mục đích là một phần ba tổng chi phí quảng cáo của họ hướng đến “các công dân” hơn là “người tiêu dùng”. Các tập đoàn kinh doanh bắt đầu tìm mọi cách tác động đến truyền thông tin tức bằng cách đặt ra những giải thưởng cho báo cáo kinh tế, xây dựng các chương trình đào tạo cho báo cáo kinh doanh ở trường đại học, tài trợ các chương trình văn hóa nghệ thuật trên truyền hình, tạo ra thêm hoặc ủng hộ các nhà tư tưởng tân bảo thủ và duy trì các cuộc đàm phán với các nhà báo, và kêu ca ầm ĩ rằng họ bị báo chí “tự do” bôi nhọ.

Có lẽ mong muốn tác động đến truyền thông này đã phần nào làm mất đi sự kiểm soát trực tiếp lên các phương tiện truyền thông, đáng kể nhất là truyền hình. Trong những năm 1950, các nhà tài trợ chương trình truyền hình có ảnh hưởng quan trọng lên nội dung chương trình, đến mức được xét duyệt nội dung trước khi phát. Nhưng sau vụ bê bối chương trình đối vui năm 1959 (khi người ta phát hiện ra rằng các chương trình đố vui đã được “sắp đặt trước”), thì các mạng lưới tự đặt ra sự kiểm soát chặt chẽ hơn. Hơn nữa, do thời lượng quảng cáo ngày càng tăng nên chi phí và sự cạnh tranh trên truyền hình cũng tăng lên, loại chương trình với duy nhất một nhà tài trợ đã biến mất trên màn ảnh. Giữa năm 1967 và 1981, số các chương trình quảng cáo thương mại trên mạng hàng tuần tăng từ 1856 lên 4079, trong khi số các đoạn quảng cáo thương mại giảm từ 60 giây xuống 30 giây. Rõ ràng là gần đây hãng General Motors, và một số hãng khác, đã yêu cầu phải có điều gì mới mẻ cho biệt ngữ quảng cáo – “vỏ bọc che chở” (pod protection). Đó là GM muốn trở thành hãng quảng cáo ô tô duy nhất trong một tập đoàn quảng cáo thương mại được phát sóng liên tục trong một đoạn thời lượng quảng cáo chen vào một chương trình nào đó.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần IV


Nhờ các đạo luật cải cách vận động tranh cử đầu những năm 1970 mà các đảng có được những hình thức mới cho việc huy động tiền cho vận động, nhất là quảng cáo trực tiếp bằng thư. Với danh sách gửi thư được vi tính hóa và định hướng tinh vi vào các địa điểm mã vùng điện thoại có khả năng lớn nhất cung cấp tên của những người quyên góp giàu có, các chuyên gia gửi thư trực tiếp đã làm đổi thay việc huy động tiền vì mục đích chính trị. Một thượng nghị sĩ có 150.000 cái tên trong danh sách được vi tính hóa của mình, chia thành 1000 hạng mục theo các khía cạnh mối quan tâm, lĩnh vực hoạt động hay nghề nghiệp (117 cái tên xuất hiện trên danh sách những người quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ, 8 cái tên trên danh sách những người quan tâm đến phụ nữ trong ngành khai thác mỏ). Những danh sách này được sử dụng vào việc huy động tiền và tự quảng cáo bản thân sao cho thông tin cần gửi được gửi đến đúng người.

Trong khi ảnh hưởng bất cân đối của truyền thông và tính đại chúng đương nhiên nằm trong tay những quyền lực vững chắc, thì truyền thông du kích (guerilla media) vẫn được nhiều người tài tình sử dụng. Chương trình “Ngày Trái đất” đầu tiên (năm 1970), một chương trình của Thượng nghị sĩ Gaylord Nelson thuộc bang Wisconsin nhằm thu hút sự chú ý, đặc biệt là thông qua các cuộc hội thảo ở trường đại học (một sáng kiến của phong trào chống chiến tranh), đối với các vấn đề môi trường, là một “sự chắp vá các luận chứng và hoạt động cộng đồng” mặc dù sự chắp vá này thu hút được rất nhiều sự chú ý của truyền thông và sự quan tâm của công chúng. Kế hoạch cho Ngày Trái đất năm 1990 được hai nhóm triển khai, một nhóm với 38 nhân viên, và nhận được hậu thuẫn từ người lao động, các doanh nghiệp và các phương tiện truyền thông. Ngay từ những tuần trước Ngày Trái đất năm 1990, tờ Los Angeles Times đã đăng tải không chỉ về Ngày Trái đất mà còn về việc đưa tin sự kiện này như thế nào. Như trong chiến dịch bầu cử năm 1988, các phương tiện truyền thông bị cuốn vào câu chuyện về tin tức truyền thông với mức độ không kém gì các câu chuyện mà truyền thông đang đăng tải. Nền văn hóa tin tức có xu hướng tự tiêu thụ những sản phẩm của chính mình.

Việc tin tức hóa văn hóa đại chúng

Một hệ quả quan trọng của việc quốc gia hóa tin tức là việc quốc gia hóa các vấn đề công cộng và quốc gia hóa một lượng độc giả cho những vấn đề đó. Hầu hết các nhà nghiên cứu truyền thông đều phàn nàn rằng những định chế tin tức nghiêm túc biến tin tức thành giải trí, nhưng có chiều hướng lớn hơn trong viêc giải trí đã biến thành tin tức. Nếu chương trình “60 phút”minh chứng cho một chiều hướng làm cho tin tức mang tính giải trí, thì chương trình “Donahue” lại là mô hình tạo ra sự giải trí nuôi dưỡng tin tức.

“Donahue” lần đầu tiên được phát ở dạng syndicate ngoài Chicago năm 1979; Chương trình “Oprah Winfrey Show” được phát năm 1984, và trong vòng ít năm qua một vài đối thủ cạnh tranh khác đã nhảy vào cuộc. Những chương trình này đôi khi là những chương trình nhỏ lẻ được phát sóng truyền hình, thể hiện tinh thần nước Mỹ trước chúng ta với sự tự giác bản thân một cách thái quá và đồng bóng. Đồng thời, rẻ hơn tâm lý liệu pháp và luôn sẵn sàng có mặt hơn so với một người bạn thân, những chương trình này thông tin cho mọi người về một phạm vi rộng lớn các vấn đề xã hội, tâm lý, sức khỏe và đôi khi là chính trị (ít nhất là chương trình “Donahue”). Những người sản xuất chương trình “Donahue” nhận thức về chủ đề của họ như là “những vấn đề nghiêm túc”, hay chính xác hơn, “những vấn đề nghiêm túc mà có trong tin tức”. Văn hóa tin tức trở thành kho lưu trữ trọng yếu cho các cuộc đối thoại quốc gia khác nhau trong xã hội Mỹ.

Truyền hình không những không xấu hổ, mà thậm chí thực tế còn lấy làm tự hào, khi phát những chính kịch, hài kịch và những câu chuyện tình ái rẻ tiền, vốn vay mượn những tranh cãi đương thời làm cốt truyện. Điều này không giống các chương trình “gián điệp” đầu những năm 1960 phản ánh lý tưởng chung của cuộc Chiến tranh Lạnh; đây là những chương trình mà người sản xuất thường nghiên cứu cẩn thận để hình tượng hóa một tình tiết cố truyện sau một sự kiện tin tức vừa mới xảy ra hay một tiểu phẩm hài kịch tình huống để bắt chước những luận điệu đang thịnh hành quanh một vấn đề xã hội hiện có. Điều này bắt đầu với chương trình “Tất cả trong gia đình” (All in the Family) năm 1971. Trải qua một quá trình chỉ vài tháng mà những vở hài kịch tình huống sđã đề cập tình dục đồng giới, sống như vợ chồng, nòi giống và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, quyền của phụ nữ và nạo thai. Vào cuối giai đoạn 1971 – 1972, đây là chương trình hàng đầu trên truyền hình và nhà sản xuất Norman Lear đã phát triển đủ mạnh để giữ lại sự độc lập từ các nhà kiểm duyệt mạng lưới. Khi một nhóm người với tên gọi Viện Dân số, một tổ chức vận động hành  lang cho việc nâng cao sự kiểm soát dân số, tổ chức hội nghị năm 1971 với các nhà điều hành truyền hình để khuyến khích họ giải quyết các vấn đề dân số, cá nhân Lear đã trở nên quan tâm đến việc tạo ra một trường đoạn có thể giải quyết vấn đề này. Đoạn “Maude đã nạo thai” trong phim “Maude” (một sản phẩm phụ của chương trình “Tất cả trong gia đình”) năm tiếp theo đã gây rất nhiều tranh cãi. “M.A.S.H” đề cập về cuộc chiến ở Việt Nam (thay cho Triều Tiên), và loạt phim “có vấn đề” được sản xuất cho truyền hình đề cập những vấn đề từ lạm dụng trẻ em đến ô nhiễm hóa chất trong môi trường và vợ giết chồng ngược đãi. “Lou Grant”, một vở kịch nổi tiếng trong những năm 1970 và đầu những năm 1980, được dựng cảnh trong một phòng tin tức ở đô thị và nó trực tiếp vay mượn ý tưởng từ những sự kiện tin tức vừa xảy ra. Tạp chí Mother Jones trở nên nổi tiếng trong việc cho độc giả biết rằng vào ngày 19 tháng Giêng 1981, vở “Lou Grant”, đề cập việc Mỹ bán phá giá các sản phẩm nguy hiểm cho Thế giới thứ ba, được xuất phát từ một số phát hành đặc biệt năm 1979 trên tạp chí, sau đó sử dụng màn ảnh truyền hình để hợp pháp hóa tính báo chí của nó. Năm 1989, sau khi một ban bồi thẩm đưa ra phán quyết có lợi cho các bị cáo trong một vụ dùng sai thuốc ở Florida, luật sư cảu bên nguyên đã yêu cầu xử lại vì, theo ông ta, một đoạn trong phim “Luật pháp Los Angeles” mới được trình chiếu trong đó các bác sĩ thắng trong một vụ kiện dùng sai thuốc đã trở thành “lời tuyên truyền” có thể tác động tới ban bồi thẩm này.

Sự tin tức hóa văn hóa đại chúng này chắc chắn xuất phát từ tính đạo đức chủ nghĩa đã có từ lâu đời, đó là ngờ vực đối với giải trí trừ phi nó mang tính chỉ dẫn. Những sự rò rỉ tin tức trong hài kịch và chính kịch trong những thập kỷ qua cũng bắt nguồn từ lý tưởng mang tính đương thời hơn. Từ những năm 1960 đến nay, các nhà phê bình văn hóa đại chúng đã lập luận một cách thuyết phục rằng giải trí là một hình thức chỉ dẫn, dù nó có nghĩa như vậy hay không. Trước đây đã từng có sự phê phán rằng việc các phương tiện truyền thông miêu tả tội phạm và bạo lực lại khuyến khích tội phạm và bạo lực, và sự phê phán này được thay đổi trong những năm 1960 với truyền hình là đích ngắm. Sẽ là mới mẻ hơn và thách thức hơn khi phàn nàn rằng tình trạng lệ thuộc của phụ nữ và dân tộc thiểu số trong xã hội đương thời được khuyến khích bằng sự rập khuôn của các phương tiện truyền thông. Sự phê bình này được Chương trình hành động vì truyền hình cho trẻ em chuyển hướng một cách hiệu quả sang chính trị bằng các cuộc công kích không ngừng vào việc xây dựng chương trình truyền hình dành cho trẻ em và đã nhận được sự hỗ trợ của Quỹ Ford cho Hội thảo truyền hình cho trẻ em và chương trình “Seasame Street”. Chương trình “Seasame Street” có quan điểm e dè một cách đáng buồn đối với sự rập khuôn về giới tính và chủng tộc và, theo các nhà phê bình, nó không đạt được thái độ tự giác cần thiết khi nó phải phục tùng trước những bước đi quá nhanh và những tia hy vọng của phát thanh truyền hình thương mại. Nhưng nó mang lại cho các bậc cha mẹ một nơi ẩn náu truyền hình an toàn để tránh khỏi những quảng cáo và chương trình bạo lực, tình dục, phân biệt chủng tộc bắt nguồn từ các đài thương mại.

Những ảnh hưởng văn hóa, chứ không phải chính trị, của việc tin tức hóa có thể còn quan trọng hơn. Chúng ta sống với hiểu biết sâu sắc và mạnh mẽ về các sự kiện chung quanh hơn bao giờ hết. Chúng ta sống cuộc sống “thực” của chính mình, ở nhà, nơi làm việc của chúng ta và trên đường phố của chúng ta. Nhưng đồng thời chúng ta cũng sống bên cạnh những siêu thực trên màn ảnh truyền hình, trên sóng phát thanh và trên báo của chúng ta. Cuộc sống đương đại trở thành một loại khoa học viễn tưởng, hai thế giới song song luôn đi cạnh nhau, không nối kết thường xuyên, chỉ đôi khi, và sau đó có lẽ tiếp xúc với nhau đầy mâu thuẫn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần III


Những tờ báo lớn nhất và phát triển nhất cố gắng hết sức đưa ảnh hưởng khu vực vượt ra khỏi những giới hạn thành phố. Los Angeles Times thách thức tờ Orange County Register ở chính Quận Cam. Tại Santa Cruz, California, nhật báo địa phương, tờ Sentinel (do Ottaway Newspapers, một công ty thuộc tập đoàn Dow-Jones, sở hữu), chỉ là một trong số ít các tờ báo có dịch vụ giao tận nhà: ngoài ra còn có New Yor Times, San Francisco Chronicle, San Jose Mercury-News (một tờ báo của Knight-Ridder) và Wall Street Journal.

Tất cả những điều này cần được nhấn mạnh khi tờ báo mang tính quốc gia rõ ràng nhất lại là tờ USA Today lòe loẹt và bị chê bai khắp mọi nơi. Bắt đầu vào năm 1982, đến năm 1987 nó đã lưu hành được hơn 1,5 triệu bản. Được in ấn tại 32 địa điểm khác nhau và khuôn mẫu xuất bản được thực hiện qua đường truyền vệ tinh, tờ báo này là một thành tựu công nghệ chiếm thị phần to lớn. Một số câu hỏi được đặt ra cho thành tựu về mặt báo chí của tờ báo này, mặc dù ít ai bàn cãi về ảnh hưởng của nó đối với hình thức và phong cách của những tờ báo khác trong nước. Chẳng hạn, tờ báo này bắt đầu sử dụng rất nhiều màu sắc. Việc tập trung vào dự báo thời tiết gần như bệnh hoạn của nó đã khuyến khích báo cáo thời tiết toàn diện hơn ở các tờ báo khác.

Trong khi ngày nay một công dân bình thường có thể tiếp cận nhiều nguồn tin tức quốc gia hơn, chính xác hơn, mang tính phê bình hơn và phong phú hơn thế hệ trước, thì điều nghịch lý là việc kiểm soát tin tức lại nằm trong tay của ngày một ít các định chế do ngày càng nhiều kế toán viên điều hành. Báo chí tập đoàn không mang nặng tính bảo thủ chính trị mà thiên về mục đích chống rủi ro kinh tế, dù kết quả hai mục đích đều như như nhau. (Năm 1986 có 1657 nhật báo, giảm một chút từ con số 1763 năm 1960 – và số thành phố có nhật báo tăng mạnh. Nhưng chỉ tính riêng 14 công ty đã chiếm hơn một nửa lượng nhật báo lưu hành). Mặc dù chất lượng về mặt báo chí thường là tăng lên hơn là giảm đi ở những cộng đồng mà các tớ báo độc lập bị các tập đoàn mua đứt, nhưng cơ hội thể hiện bài viết/quan điểm riêng cho một chủ báo có đầu óc độc lập hay một cá nhân lập dị lại ngày càng ít đi. Có sự quan ngại hợp lý rằng sở hữu tập đoàn tất yếu sẽ loại trừ sự đa dạng hóa. Trang phản biện (op-ed page), một bước tiến trởo thành chuẩn mực trong những năm 1970 để nâng cao tính đang dạng của các ý kiến, dường như ngày càng giống nhau giữa các tờ báo. Trong các định chế tin tức hàng đầu, việc dựa vào những nguồn chính thức từ chính phủ ngày một phổ biến, tình trạng thiếu vắng các nhà phê bình hay bình luận của cánh tả vẫn tiếp tục tồn tại, và dù là một tờ báo miền Trung Tây, miền Nam hay miền Tây, thì định hướng hành lang bên trong vùng Đông Bắc là thứ rất khó bỏ qua.

Văn hóa tin tức quốc gia

Song song với việc quốc gia hóa các định chế tin tức là việc quốc gia hóa văn hóa trong phòng tin tức. Các nhà quản lý những chương trình tin tức nhỏ trên báo hay truyền hình khắp đất nước hơn bao giờ hết nhận thức được điều gì đang diễn ra trên các mạng lưới, trong tờ USA Today, trong tờ New York Times. Nhân viên của họ cũng vậy. Kết quả là người da đen và phụ nữ, và trong một số trường hợp là các cộng đồng thiểu số khác (chẳng hạn người gốc Mexico ở Los Angeles), có thể gây sức ép lên các định chế của họ, buộc chúng phải đối xử công bằng hơn trong phòng tin tức và được thể hiện hợp lý hơn trên các trang tin tức đối với các nhóm mà họ thuộc về. Có thể là khó tìm lại những thay đổi như vậy trong thời gian gần đây. Trước những năm 1960, các nhà báo nữ viết về thời trang và xã hội – và hiếm khi viết những thứ khác. Câu lạc bộ báo chí quốc gia chỉ chấp nhận phụ nữ trong năm 1971. Năm 1966, trưởng văn phòng Chicago của Newsweek có thể loại bỏ công việc của một phóng viên nữ từ UPI với giải thích rằng: “Tôi cần một người mà tôi có thể phái đi bất cứ nơi nào, kể cả tới những vụ bạo loạn. Và ngoài ra, cô sẽ làm gì nếu đội tượng mà cô đang viết lại lẩn ngay vào phòng vệ sinh?” Ngày nay vẫn chưa thể vứt bỏ suy nghĩ này.

Tuy nhiên, sự đa dạng hóa phòng tin tức lại có thể có mức độ không lớn như bề ngoài của nó. Trong tin tức truyền hình, phụ nữ và các nhóm người thiểu số thường xuất hiện trong các chương trình cuối tuần, mà trong nghề gọi là “mớ lụp xụp cuối tuần” (weekend ghetto). Mặc dù Max Robinson và Barbara Walters nằmt rong số những người đồng dẫn chương trình tại trường quay của ABC giữa những năm 1970, nhưng không một phụ nữ hay nhóm người thiểu số nào khác thường xuyên được bổ nhiệm là người dẫn chương trình trên một chương trình thời sự buổi tối của lưới truyền hình cho đến khi có Connie Chung năm 1993. Vậy mà có bằng chứng giai thoại chỉ ra rằng phụ nữ (và trong chừng mực nhỏ hơn là nhóm người thiểu số) trong phòng tin tức đã tạo nên sự khác biệt thực sự trong việc quyết định tin gì được đưa và nên nhấn mạnh vào cái gì. Các nhân viên nữ ở tờ Los Angeles Times đã trở thành những nhà báo xung kích trong một serie phóng sự 10 kỳ về lao động nữ năm 1984; một cây bút nữ đã viết xã hội ở Seattle Times khẳng định rằng hầu hết các bài xã luận về những chủ đề liên quan đến trẻ em đều được thực hiện “vì tôi ở đây”.

Những tờ báo ở các định chế tin tức quốc gia được đào tạo tốt hơn bao giờ hết, thường xuất phát từ những nền tảng giáo dục được ưu tiên hơn so với trước đây và được trả lương tương đối ưu đãi hơn. Họ ngày càng chịu ảnh hưởng về quan điểm từ những nhà báo khác, chứ không chỉ từ chủ bút hay chủ báo của họ. Họ có thể chia sẻ cái mà Herb Gans gọi là quan điểm “Cấp tiến” – một niềm tin vào hệ thống hai đảng, chủ nghĩa tư bản có trách nhiệm, những điều tốt đẹp của cuộc sống tỉnh lẻ, chủ nghĩa cá nhân, các biện pháp dung hòa trong mọi hoàn cảnh và một vài khái niệm mơ hồ về lợi ích công cộng. Độ vững chắc của những giá trị này ngày càng tăng khi có ngày càng nhiều tin tức được đưa ra từ một địa điểm duy nhất – Washington, D.C. Tại Washington có nhiều cái gọi là diễn đàn chính trị cho văn hóa viết báo hơn bao giờ hết. Năm 1961 có khoảng 1500 nhà báo làm việc ở Washington – nhưng đến năm 1987 con số này đã là hơn 5300. Các nhà báo có thể đối thoại với nhau và hiển nhiên đã làm như vậy.

Đây không phải để nói rằng giờ đây chúng ta đã có một nền văn hóa viết báo quốc gia không chắp vá và gắn kết chặt chẽ. Chẳng hạn, hãy thử nhìn vào sự phát triển của truyền thông băng tiếng Tây Ban Nha. Năm 1974, có 55 trạm phát thanh bằng tiếng Tây Ban Nha; ngày nay là hơn 200. Năm 1970, chỉ có một vài trạm truyền hình phát các chương trình bằng tiếng Tây Ban Nha. Ngày nay, Univision, mạng lưới truyền hình bằng tiếng Tây Ban Nha lớn nhất, nắm giữ hơn 600 công ty con về phát thanh và truyền hình cáp trong khi con số này của Telemundo là hơn 500. HIện nay có hàng trăm tờ báo bằng tiếng Tây Ban Nha, với hơn 80 tờ tập trung tại “10 thành phố có tỷ lệ người gốc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cao nhất”: Los Angeles, New York, San Francisco, Houston, Dallas, San Diego, Brownsville-McAllen, San Atonio, Miami và Chicago.

Sự đa dạng về chủng tộc và ngôn ngữ thể hiện khá rõ trong truyền thông ở Mỹ, cả in ấn lẫn phát sóng. Các phương tiện truyền thông phát triển rực rỡ cũng đã thu hút các nhóm tôn giáo khác nhau, rõ ràng nhất là sự gia tăng các “nhà truyền đạo trên phát thanh truyền hình” (televangelists). Những khả năng về công nghệ tạo nên một nền văn hóa tin tức quốc gia nổi trội cũng là nhân tố then chốt cho quyền lực lớn mạnh của “những cộng đồng tiêu dùng” mang tính chất tôn giáo nhiều hơn nhưng dựa trên nền tảng quốc gia. Việc quốc gia hóa các phương tiện truyền thông không có nghĩa là đồng nhất hóa kinh nghiệm truyền thông mà là tạo ra một tập hợp các diễn đàn quốc gia mới cho hàng loạt thị hiếu dưới cấp độ văn hóa khác nhau. Chẳng hạn, một phần nhờ máy tính và chế bản văn phòng mà có khoảng 100.000 bản tin (ước tính) ở trong nước được lưu hành miễn phí hoặc chỉ là một phần trong hoạt động của các tổ chức, hiệp hội hay doanh nghiệp. Thậm chí có cả một ngành công nghiệp bản tin với các hiệp hội công đoàn của riêng nó; Cuốn Các bản tin in ấn (Newsletters in Print) có liệt kê hơn 10.000 loại bản tin. Chủ nghĩa đa nguyên không phải là không có vấn đề. Những trường hợp như Klu Klux Klan sử dụng việc dễ dàng truy cập bản tin trên máy tính hay những kẻ truyền giáo vô đạo đức trên các chương trình cáp của riêng họ làm nảy sinh những vấn đề khó khăn. Các phương tiện truyền thông quốc gia mới làm tăng khả năng xảy ra chủ nghĩa đa nguyên hơn là nó nhấn mạnh vào việc đồng nhất hóa.

Trong thế giới thông tin, người nghèo trở nên giào có nhưng người còn giàu có nhanh hơn (giả thuyết “chênh lệch kiến thức”, như các nhà nghiên cứu truyền thông gọi). Người giàu có nhiều thông tin hơn và có nhiều động lực hơn trong việc thu thập và sử dụng hiệu quả thông tin. Chẳng hạn, lấy ví dụ của nhóm nghiên cứu đối lập năm 1984 của Ủy ban quốc gia Đảng Cộng hòa. Nhóm này bắt đầu thu thập dữ liệu và trích dẫn về các đối thủ đảng Dân chủ hàng đầu ngay từ những cuộc bầu cử sơ bộ. Vào thời điểm mà đại hội Đảng Dân chủ khai mạc thì máy tính của phe Cộng hòa đã có 75.000 mục thông tin về Walter Mondale, gồm 45.000 trích dẫn trong suốt sự nghiệp của ông ta. Cơ sở dữ liệu được cập nhật hàng ngày trong suốt thời gian vận động tranh cử. Có thể truy cập dữ liệu qua một từ điển tham khảo, và máy tínhđược kết nối với 50 văn phòng đảng bộ ban, 50 trụ sở vận động tranh cử ở các bang và những người phát ngôn của Đảng Cộng hòa ở tất cả 208 thị trường xếp hạng trên phát thanh truyền hình (broadcast rating markets). Điều này thật ấn tượng. Nhưng ấn tượng hơn là các hệ thống tương tự được lắp đặt sẵn sàng cho tất cả ứng cử viên Đảng Cộng hòa chạy đua vào Hạ viện năm 1986 thông qua Mạng lưới thông tin của Đảng Cộng hòa (Republican Information Network). Nếu một ứng cử viên đang vận động chống lại một người đương nhiệm thuộc Đảng Dân chủ thì anh ta ngay lập tức có thể tìm hiểu được hồ sơ bỏ phiếu của người đương nhiệm đó ngược trở về năm 1974 về bất cứ vấn đề gì. Giờ đây, việc này không làm thay đổi kết quả bầu cử năm 1984; những người Cộng hòa vẫn chỉ là một bộ phận thiểu số trong Hạ viện, thậm chí cả sau năm 1986. Nhưng nó mang lại cảm giác về mức độ tinh vi của những công nghệ thông tin mới trong các vấn đề liên quan chặt chẽ đến trọng tâm của tiến trình dân chủ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần II


Quốc gia hóa các phương tiện thông tin đại chúng, 1960 – 1990

“Quốc gia hóa” không phải lúc nào cũng diễn ra cùng một lúc. Trên thực tế, Godfrey Hodgson đã lập luận rằng việc “quốc gia hóa nhận thức của người dân Mỹ” là chiều hướng đầu tiên của truyền thông trong những năm 1950 và đầu những năm 1960. Nhưng trong năm 1960 và kể cả năm 1963, cơ chế quốc gia hóa chỉ diễn ra một phần, những hậu quả chính trị và xã hội của việc quốc gia hóa văn hóa vẫn chỉ dừng ở bên lề của sự hiểu biết, và cảm giác là người dân biết rất nhiều về những thứ mà họ hầu như không thể tác động vẫn chưa được trải nghiệm.

Một hệ thống tin tức truyền hình quốc gia, xuất hiện trong những năm 1950, đã chứng tỏ được tầm quan trọng mới trong những năm 1960 và sau đó. Dạng chương trình dài 30 phút (thay vì 15 phút) đã trở thành dạng chuẩn trong năm 1963. Cũng trong năm này, cuộc thăm dò ý kiến Roper lần đầu tiên đã phát hiện ra rằng có nhiều người dân Mỹ đòi hỏi truyền hình chứ không phải báo chí phải là nguồn thông tin cơ bản cho họ. Ba hệ thống chương trình điểm tin tối được cộng thêm chương trình “60 Phút” (năm 1968) và các chương trình bắt chước theo như chương trình “20/20” (năm 1978) và các chương trình khác. Hãng tin ABC bắt đầu chương trình điểm tin đêm năm 1979 với tên gọi “Con tin Mỹ bị cầm giữ” (American Held Hostage), cập nhật hàng ngày tin tức về cuộc khủng hoảng bắt cóc con tin ở Iran. Năm 1980, chương trình này được đổi tên thành “Tín điện đêm” (Nightline) và nó trở thành một thực đơn không thể thiếu trong chương trình tin tức phát thanh.

Chỉ trong những năm 1970 tin tức trên truyền hình mới chiếm một vị trí trọng tâm trong suy nghĩ của bản thân các tập đoàn phát sóng do chương trình “60 phút” trở thành chương trình được đánh giá cao nhất trong nước và các đài tin tức địa phương bắt đầu kiếm được nhiều tiền. Chương trình “60 Phút” làm cho tin tức truyền hình trở nên thú vị và mang lại lợi nhuận. Việc tin tức truyền hình bắt đầu mang lại lợi ích kinh tế này trùng hợp với thời đại chính trị của nó. Kkhi Tổng thống Kennedy bắt đầu chủ trì các cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp thì truyền hình, với tư cách là một nguồn tin tức thường xuyên, đã chính thức giành được sự thừa nhận (các chương trình Murrow nói về McCarthy nổi tiếng đầu những năm 1950 là một ngoại lệ; tin tức truyền hình nhìn rất hời hợt, không nhìn thấy và quá ngắn). Không phải đến khi có cuộc Chiến tranh Việt Nam thì các chương trình tin tức trên truyền hình mới chiếm vị trí trung tâm đối với cả giới tinh hoa Washington lẫn đại bộ phận công chúng. Khi đó tin tức buổi tối trở thành trọng tâm mang tính biểu trưng cho chương trình nghị sự quốc gia và ý thức quốc gia. Các nhà vận động chính trị đánh giá thành công của mình bằng thời gian xuất hiện trên bản tin tối cũng chính xác như bằng số phiểu ủng hộ trong các cuộc thăm dò ý kiến; các vị tổng thống – đáng chú ý là Johnson và Nixon – trở nên bị ám ảnh bởi màn ảnh truyền hình.

Trong khoảng thời gian hai thập kỷ khi mà mạng lưới tin tức truyền hình đóng vai trò chủ đạo trong đời sống nước Mỹ thì việc nắm giữa mạng lưới này trở nên một thách thức lớn. Các mạng lưới trong năm 1970 không có sự cạnh tranh; chỉ số 10% số gia đình ở Mỹ có truyền hình cáp. Đến năm 1989 con số này là 53%. Tỷ lệ người xem truyền hình của các mạng lưới giảm dần, đến mức trong năm 1990 các mang lưới này phải thành lập các công ty phụ trách dân vận riêng để cùng nhau chống lại sự cạnh tranh của truyền hình cáp (và các loại truyền hình khác). Trong việc thu thập tint ức trong những năm gần đây, những công nghệ mới đã khéo léo giúp các đài địa phương giành được vị thế trên các mạng lưới. Khả năng của các đài địa phương hàng đầu, được trang bị bằng địa vệ tinh kết hợp với chi phí ngày một tăng cho các chương trình tin tức dạng syndicate,… đã tạo ra một vài consotium nối với vệ tinh của các đài địa phương để phát các sự kiện tin tức quốc gia trên các đài đó. Toàn bộ lượng khán giả của ba chương trình tin tức buổi tối nói trên đã giảm gần 25% kể từ năm 1980.

Năm 1979, ngành công nghiệp truyền hình cáp bắt đầu chương trình C-SPAN như là một động thái để phục vụ công chúng. Lượng khán giả ít ỏi của C-SPAN trong Quốc hội đã tác động đến việc hành xử các công việc công cộng. Hạ viện xuất hiện trên C-SPAN trong Quốc hội đã tác động đến việc hành xử các công việc công cộng. Hạ viện xuất hiện trên C-SPAN ngay từ buổi ban đầu; Thượng viện tiếp theo đó vào năm 1986. Mạng tin tức truyền hình cáp (Cable News Network – CNN) bắt đầu hoạt động từ năm 1980; nó cung cấp tin tức 24/24 giờ và nhanh chóng gây dựng được uy tín về việc đưa tin đầy trách nhiệm. Cũng không được nhắc đến dưới thời Tổng thống Kennedy là tin tức truyền hình trên truyền hình công cộng; cho đến năm 1975. Hệ thống phát thanh truyền hình công cộng đã đem chương trình MacNeil-Lehrer đến với hầu hết các cộng đồng.

Do tin tức truyền hình phát triển nên tin thức trên phát thanh cũng một phần có được uy tín. Năm 1970, những người được cấp phép hoạt động phát thanh vì mục đích phi thương mại và giáo dục đã thành lập Đài phát thanh công cộng quốc gia (National Public Radio – NPR) và một năm sau đó đưa vào hoạt động chương trình tin tức trên mạng đầu tiên của mình mang tên “Mọi thứ đều được xem xét” (All Things Considered). Lượng thính giá của NPR tương đối nhỏ (khoảng 7 triệu người) nhưng rất hết lòng; đối với những người thuộc giới học thuật, nhắc đến một cuộc phỏng vấn trên chương trình “Mọi thứ đều được xem xét” thời gian vừa qua cũng phổ biến như nhắc đến một sự thành công ở Hollywood.

Tin tức đồng nghĩa với tiền bạc trên phát thanh cũng như trên truyền hình. Đã có một số cuộc điều tra thực nghiệm về hình thức mọi tin tức (all-news format) trong những năm 1950 nhưng chỉ đến năm 1964, khi WINS ở New York trở thành trạm phát mọi tin tức (all-news station), thì hiện tượng này mới thu hút được sự chú ý rộng rãi. Năm 1967, WCBS gia nhập để trở thành trạm phát mọi tin tức thứ hai ở New York. Hàng chục thành phố nhanh chóng có trạm phát mọi tin tức. Một nhà quản lý trạm nói: “Khi bạn muốn nước, bạn vặn vòi. Khi bạn muốn tin tức, hãy bật đài của chúng tôi”.

Cũng quan trọng như vậy, “phát thanh đối thoại” được phát trực tiếp và trở nên phổ biến. Năm 1978, chương trình dạnh syndicate trên phạm vi quốc gia của Larry King khởi đầu trên 28 trạm nhưng cuối cùng đã phục vụ hơn 350 trạm. Năm 1985 CNN chấp nhận truyền hình chương trình này và đến năm 1990 chương trình được phát cả đêm trênn cả sóng phát thanh lẫn sóng truyền hình. Trước chương trình của Larry King cũng có những chương trình phỏng vấn nhưng phát minh của ông ta (bắt đầu ở Miami năm 1960) là bổ sung các cuộc điện thoại đặt câu hỏi cho hình thức phỏng vấn. Tin tức, hay “làm chương trình cho thực tế” (reality programming), đã trở thành một thói quen văn hóa rộng rãi.

Trong những năm 1990, nếu tôi muốn có một tờ New York Times hay Wall Street Journal ở quên hương San Diego thì tôi chỉ việc mở cửa trước và nhặt lấy bản giao tận nhà trên đường lái xe vào nhà. Cuối năm 1971, khi Anthony Russo có động lực mạnh mẽ đọc New York Times vì thời báo này đang phát hành Các văn bản Lầu Năm Góc mà ông đã giúp Daniel Ellsberg sao chụp, có thể tìm thấy những tài liệu đó tại rất ít địa điểm ở Los Angels. Vượt ra khỏi quy mô rộng lớn của đất nước, công nghệ truyền thông qua vệ tinh và các hệ thống in ấn được vi tính hóa đã làm cho tờ báo khu vực và quốc gia này trở thành điều trong tầm tay.

Wall Street Journal đã xuất hiện trên khắp đất nước từ lâu nhưng ở thế hệ trước tạp chí này chỉ tăng mạnh lượng ấn bản với danh nghĩa là một tờ báoo tổng hợp chứ không phải là một bản tin kinh doanh độc quyền. Năm 1980, nó phát triển thành hình thức hai phần. Tờ Los Angeles Times, khi Otis Chandler trở thành chủ báo năm 1960, có một văn phòng ở nước ngoài và hai phóng viên ở văn phòng Washington. Đây là một tờ tin tức tỉnh lẻ, bảo thủ mà trong vòng một thập kỷ đã phát triển thành một tờ báo chuyên ngành nổi bật. Điều tương tự cũng xảy ra với tờ Washington Post. Khi Howard Simons (quá cố) gia nhập tờ báo này vào đầu những năm 1960 thì nó mới chỉ có một phóng viên thường trú ở nước ngoài và một phóng viên kinh doanh duy nhất. Theo chủ bút Ben Bradlee, mãi đến khi phát hành Các văn bản Lầu Năm Góc thì tờ báo này mới tạo ra được “một hình thức cam kết cuối cùng nào đó để trở thành tờ báo hạng nhất”.

Một dấu hiệu nữa của việc quốc gia hóa là dịch vụ tin tức của các tờ báo hàng đầu bắt đầu cạnh tranh với các dịch vụ tiêu chuẩn của các hãng tin Associated Press (AP) và United Press Internationa (UPI). Dịch vụ tin tức của Los Angeles TimesWashington Post bắt đầu năm 1961 và đến năm 1980 có được hơn 350 khách hàng. Dịch vụ tin tức của New York Times bắt đầu trong Chiến tranh thế giới thứ nhất nhưng mãi đến cuối năm 1960 mới có 50 khách hàng; đến năm 1980 có 500 khách hàng. Các dịch vụ tin tức này không phải là những sự thay thế bằng sợi bậc cao cho các dịch vụ hữu tuyến truyền thống mà chỉ là sự bổ sung các chất độn, thêm vào những tin tức chi tiết và có phân tích cho người mua báo địa phương. Do vậy, trong khi các nhật báo đô thị tiếp tục biến mất thì những nguồn tin tức quốc gia mới lại trở nên sẵn có. TimeNewsweek phát triển thành những ấn bản chuyên ngành và các tạp chí khác mang đến những nguồn tin tức xã hội mới, và cả bình luận, trong đó có ấn bản hàng tuần quốc gia của tờ Washington Post (năm 1983) và một vài tạp chí có được thị trường rộng lớn – đáng chú ý là Rolling Stone Mother Jones.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần I


Nếu việc được thông tin đầy đủ có nghĩa là có trong tay những thông tin tin cậy về cộng đồng và quốc gia, về thế giới toàn cầu như nó ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, thế giới tự nhiên và thế giới nghệ thuật, thì trước đây người dân Mỹ chưa bao giờ được thông tin đầy đủ và phục vụ chu đáo bởi các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí và xuất bản đến như vậy.

Tuy nhiên, nếu việc được thông tin đầy đủ có nghĩa là có một thế giới quan đủ vững chắc để sắp đặt trật tự đống thông tin bề bộn chung quanh chúng ta và có đủ mối liên quan cá nhân với mọi người, các ý tưởng và sự việc ngoài thế giới riêng của chúng ta để tiếp nhận và sử dụng thông tin, thì có rất ít lý do để tự mãn. Ý nghĩa thứ hai này gần hơn với cái mà chúng ta muốn đề cập, hay nên đề cập, khi nói đến cụm từ “công dân được thông tin đầy đủ”. Công dân được thông tin đầy đủ được định nghĩa không phải bằng sự quen thuộc của một người tiêu dùng đối với danh mục hiện hành những thông tin sẵn có, mà bằng tập hợp được định hình những mối quan tâm của một công dân mà sử dụng danh mục đó không phải như một nỗ lực ngẫu nhiên. Các phương tiện truyền thông càng ngày càng có khả năng cung cấp tư liệu cho công dân có thông tin nhưng chúng không và không thể tạo ra một công dân được thông tin. Công dân được thông tin xuất hiện trong một xã hội mà trong đó việc được thông tin là một lợi thế và đó chính là một chức năng không phải của đặc tính cá nhân hay chất lượng truyền thông mà của văn hóa chính trị, theo nghĩa rộng.

Những thông tin đưa một cách chính xác, không bị kiểm duyệt, cũng không mang lại sự dân chủ. Đưa tin đầy đủ và chính xác về hồ sơ và vị thế chính sách của các ứng cử viên, ngay cả khi chúng ta có được nó, cũng không giúp cho cử tri được thông tin đầy đủ. Vậy thì tác động của tất cả những thông tin chung quanh chúng ta là gì? Đối với loại người nào chúng có thể tạo ra hay chí ít là tạo điều kiện thuận lợi? Chúng ta là ai, những người có thông tin, những người hàng ngày phải tiêu hóa các vụ bê bối chính trị ở nơi này và một trận động đất ở nơi khác, một làn sóng tội phạm ở quê hương chúng ta và một phong trào du kích ở El Salvado, một lệnh cấm rượu ở bãi biển địa phương và một báo cáo của bộ trưởng y tế cộng đồng về hút thuốc thụ động, một kháng nghị đối với những phát triển địa phương và một báo cáo đáng lo ngại về hiện trạng nợ của thế giới thứ ba? Phải chăng chúng ta bất lực với sự bão hòa truyền thông? Phải chăng chúng ta lú lẫn hay u mê hay ít nhất là tụt hậu do sự tràn ngập thông tin?

Tôi không cho rằng đó là những gì đang diễn ra. Ngày nay, mọi người có thể lú lẫn suốt cả cuộc đời họ như trước kia đã từng như vậy (mặc dù điều này có thể không đúng với những cư dân nghèo nhất ở những khu da đen ở đô thị). Thật vậy, sự lú lẫn của họ có thể có một chút tia sáng hơn với suy nghĩ rằng thế giới này nằm trong sự điều khiển của họ. Những vấn đề căn bản về sinh sản, nạo thai, thỏa mãn tình dục, giảm nhẹ nỗi đau và mối liên hệ từ xa với những người khác hơn bao giờ hết là tất cả những gì nằm ngoài khả năng của con người, kể cả sự kiểm soát cá nhân. Đồng thời, những nhóm người khác nhau trong xã hội cảm thấy họ được trao quyền mới để kiểm soát cuộc sống của mình – nổi bật là người da đen và phụ nữ – và họ tìm thấy sự hỗ trợ rộng lớn về chính trị cho cảm giác được trao quyền đó.

Sự phát triển của truyền thông, sự bùng nổ của thông tin và sự đau đầu nhức óc của công chúng không ngan cản điều đó mà trái lại giúp cho nó trở nên trôi chảy hơn. Các nhà bình luận truyền thông lo lắng và sợ tận thế nhất đã quên mất những điều này và cả những thực tế căn bản khác. Không đặt dấu chân mình một cách vững chắc trên mảnh đất xã hội học, họ nhìn nhận truyền thông ngoài ngữ cảnh xã hội, tự tô điểm mình như những kỹ nghệ độc lập chứ không phải là những tập quán xã hội lỗ chỗ, và họ thường tự hỏi vu vơ rằng phải chăng “nghệ thuật” hay “sự thật” bắt nguồn từ truyền thông.

Thường thì những người chỉ trích tìm thấy nguyên nhân chủ yếu cho sự báo động trong một khuynh hướng hay một diễn biến trong một năm, năm năm hay một thập kỷ qua mặc dù, trong một phạm vi nào đó rộng hơn, môi trường truyền thông của chúng ta không thay đổi. Truyền thông ở Mỹ trong những năm 1990, cũng như trong những năm 1960, được các tập đoàn tư nhân kiểm soát một cách hoàn hảo hơn truyền thông ở bất kỳ nước công nghiệp nào khác trên thế giới. Phạm vi của quan điểm chính trị trong truyền thông đại chúng ở Mỹ nhỏ hơn hầu hết các nước Tây Âu; điều này không chỉ đúng ở thế hệ trước mà còn xuyên suốt phần lớn lịch sử nước Mỹ. Đồng thời, sự tự do điều tra và xuất bản của truyền thông Mỹ được nguồn lực của các định chế hỗ trợ và hiến pháp bảo vệ nhiều hơn ở bất kỳ nước nào khác, cả ngày nay cũng như ba mươi năm về trước.

Bất chấp những tính liên tục căn bản này trong truyền thông ở Mỹ, những thay đổi trong ba mươi năm qua đã làm đổi thay sâu sắc kinh nghiệm của một người bình thường về văn hóa phổ cập và đại chúng và chắc chắn đã nhân rộng vai trò của truyền thông, đặc biệt là các phương tiện thông tin đại chúng. Một bằng chứng cho sự thay đổi đó là bản thân khái niệm “truyền thông” đã trở nên không thể bỏ qua được. Thuật ngữ truyền thông (đặc biệt là các phương tiện thông tin đại chúng) không được sử dụng nhiều trước những năm 1970. Tôi cho rằng nó được đưa vào sử dụng một phần là do thuật ngữ báo chí, dùng để chỉ cả báo in lẫn báo hình, báo tiếng, dường như đã trở nên hạn chế (mặc dù thuật ngữ này vẫn tồn tại trong cách sử dụng như vậy). Thuật ngữ truyền thông bùng nổ nhờ sự bất hòa kéo dài của chính quyền Nixon đối với “các phương tiện thông tin”. Nixon thừa hưởng từ cuộc Chiến tranh Việt Nam và “sự mất tín nhiệm” của Lyndon Johnson. Ông ta và Phó Tổng thống Spiro Agnew  tuyên chiến với các phương tiện thông tin đại chúng, tranh luận công khai và riêng tư rằng các định chế thông tin hàng đầu của đất nước là một nguồn độc lập cho quyền lực chính trị do những người tự do mềm lòng và những người ghét Nixon đến tận xương tủy quản lý. Sự công kích mạnh mẽ này đã giúp tạo ra đối tượng công kích mà báo chí tìm cách mô tả. Nó hiển nhiên đặt cho đối tượng đó một cái tên.

Tương tự như vậy, Việt Nam và Watergate là những sự kiện dẫn đến cái mà Hedrick Smith mô tả như là “sự chấn động chính trị” của năm 1974. Do sự kiện Việt Nam đã phá vỡ sự đồng thuận giữa nhánh hành pháp và Quốc hội về việc tiến hành chính sách đối ngoại, giữa phái diều hâu và bồ câu trong Quốc hội, giữa các bậc phụ huynh và con cái ngay cả trong những gia đình mà bố mẹ là quan chức trong Nội các hay biên tập của tờ New York Times, nên các phương tiện truyền thông đã giật lấy cơ hội để chỉ ra những bất hòa này. Khi các nhà lãnh đạo chính quyền phát ngôn một cách thống nhất thì báo chí cũng vậy, còn khi sự mâu thuẫn trở nên gay gắt ở Thượng viện thì nó làm bùng nổ truyền thông. Nếu truyền thông theo sau chứ không phải là dẫn đến việc chia rẽ sự đồng thuận, thì tức là truyền thông học hỏi từ kinh nghiệm một phong cách báo chí mới. Nhắc đến sự kiện Việt Nam và Watergate, các nhà báo không từ bỏ “tính khách quan” tới mức có thể nhận thức ra bóng đen ảm đạm của báo cáo khách quan mà họ đã trung thành với nó trong cả một thế hệ. Báo chí tìm cách, đôi khi lúng túng, đôi khi vô trách nhiệm, đôi khi dũng cảm và thông minh, để tạo ra sự độc lập mà nó hằng đòi hỏi từ lâu. Điều này cũng giúp tạo ra “truyền thông” như là một thể chế khác biệt.

Cảm giác bất an hiện nay về sự bùng nổ rộng khắp của truyền thông và quá tải thông tin bắt nguồn một phần từ sự xuất hiện mạnh mẽ, hữu hình này của truyền thông với tư cách à một thể chế. Nó cũng xuất phát từ việc gia tăng quốc gia hóa các phương tiện thông tin đại chúng và việc đồng nhất bản thân đất nước như là một “cộng đồng tưởng tượng”, theo cách gọi của Benedict Anderson, với tin tức quốc gia. Nó cũng xuất phát từ những chuyển biến khác trong đặc tính của thông tin được truyền thông đại chúng hóa – xóa mờ ranh giới giữa tin tức và giải trí, sự kết hợp giữa công và tư và sự chính trị hóa của những vấn đề mà trước đây chỉ mang tính cá nhân, và việc nâng  cao hiệu quả của các tổ chức “hướng” những thông điệp đến độc giả chuyên biệt. Tất cả những điều này làm cho người dân Mỹ trở thành họ hàng với nhau về mặt thông tin, ngay cả khi chúng ta không phải là một gia đình gắn bó. Đó chính là những đặc điểm của sự chuyển biến văn hóa mà tôi muốn trao đổi trong những phần tiếp theo.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần cuối


Cùng lúc đó, Woodward lại đánh giá thấp sức mạnh của những câu chuyện trên báo. Câu chuyện Watergate có thể có ý nghĩa với chúng ta hơn là những thay đổi trong báo giới mà người ta quy là do tác động của vụ Watergate và chỉ tại vụ đó mà thôi. Câu chuyện đã bị bóp méo trong nhiều tình tiết, đã cường điệu hóa quá mức chủ nghĩa anh hùng của những nhà báo và lại đánh giá thấp chủ nghĩa anh hùng của giới quan chức, lờ đi vai trò của những cơ quan khác trong cuộc điều tra và cũng không đề cập những điều tình cờ xảy ra và những may mắn trong quá trình phanh phui vụ Watergate. Nhưng đó không phải là vấn đề. Ngay cả khi những người theo chủ nghĩa xét lại đã đưa ra ý kiến của họ thì những gì mà Woodward và Bernstein mang lại vẫn rất đáng ngạc nhiên. Việc họ đã không thể tự mình khám phá ra vụ Watergate là hoàn toàn đúng. Toàn bộ giới báo chí nói chung trong thời gian xảy ra vụ Watergate, cũng như trước đó và sau đó, chủ yếu chỉ là một thể chế có rất ít tham vọng làm chao đảo các con thuyền quyền lực. Nhưng đó cũng không phải vấn đề. Vấn đề là ở chỗ những sự kiện, tình huống, năng lượng, tham vọng, sự cạnh tranh và lòng can đảm của một số nhà báo và biên tập viên trẻ của họ đã làm sống câu chuyện, làm cho tổng thống phải bãi nhiệm. Và bộ phận chủ yếu của sự thật đó đã duy trì một giai thoại chung và đem đến cho nó, với tất cả những “sự không chính xác của nó”, một sự thật lớn hơn, đó chính là tác dụng của giai thoại: không nói với chúng ta rằng chúng ta là ai, mà nói chúng ta đã từng là thế nào, rằng chúng ta sẽ có thể lại trở thành như thế nào và chúng ta muốn sẽ là như thế nào “nếu như”.

Về khía cạnh đó, Leonard Downie đã đúng khi chống lại chủ nghĩa hoài nghi trong cách tôi dùng thuật ngữ “giai thoại”. Ai sẽ quan tâm nếu trong suốt thời gian xảy ra vụ Watergate báo chí tỏ ra lười biếng? Hay liệu Thẩm phán Sirica hay một vài nhân viên FBI cũng có vai trò lớn như Woodward và Bernstein trong vụ Watergate? Đó không phải là vấn đề bởi vì giai thoại Watergate vẫn tồn tại. Nó tồn tại mà không bị hư hỏng bởi sự chỉ trích. Nó đã ban cho báo chí một đặc quyền, một cảm hứng, một lý do để biện minh cho những sự bảo vệ mang tính cơ cấu mà nó được hưởng.

Một giai thoại không phải khi nào cũng được dẫn chứng. Đó là cái mà phóng viên tờ Los Angeles Times Thomas Rosenstial gọi là một “ký ức thể chế, thỉnh thoảng như mê ngủ, thỉnh thoảng lại không, và đôi khi được đóng góp bởi các sự kiện”. Các nhà báo thường “phô trương” ký ức này “trong trường hợp nó được khấu dậy, khi thích hợp và khi chúng tôi nghĩ nó an toàn, khi chúng tôi không dẫn dắt ý kiến công chúng quá nhiều, khi mọi điều kiện và mọi ngôi sao đứng vào một hàng”. Và nếu giai thoại của báo chí trong vụ Watergate không được viện dẫn, thì giai thoại Watergate trong báo chí có thể, giai thoại đầu có vẻ lãng mạn và giai thoại sau thì phản diện.

Các giai thoại nhất thiết phải có nhiều ý nghĩa, nói cách khác là đa nghĩa. Chúng không nói về những chân lý giản đơn của một nền văn hóa nhiều bằng việc chúng tìm ra những trạng thái khó xử trung tâm của nền văn hóa đó. Chúng cũng sẽ được đọc theo nhiều cách và huyền thoại của báo chí Watergate cũng đã được đọc theo nhiều cách. Giai thoại này đã trao quyền cho những kẻ thù của một báo giới liều lĩnh như thể là nó đã khuyến khích việc làm phóng sự mang tính gây chiến. Giai thoại Watergate của các “phương tiện thông tin”độc lập và vô trách nhiệm là một sự tạo lập có ý của Richard Nixon cũng như một sự sáng tạo tình cơ của Woodward và Bernstein. Bất chấp hậu quả ra sao, đó vẫn là sự kết tinh của những niềm hy vọng, nỗi sợ hãi và bối rối của xã hội Mỹ về sự tăng lên rõ ràng của các phương tiện thông tin.

Khi tôi phỏng vấn nhà phân tích truyền thông Stephen Hess, ông ta phỏng vấn lại tôi, hỏi tôi: Anh có đồng ý với kết luận rằng Watergate không ảnh hưởng đến báo chí? Tôi dông dài một chút, sau đó tỏ vẻ khoa học ở mức độ cao nhất có thể và nói rằng đương nhiên, nếu đó là bằng chứng dẫn dắt tôi, tôi sẵn sàng đồng ý với kết luận đó, chỉ bởi vì tôi tin rằng văn hóa báo chí đã thay đổi ngay cả khi bộ máy thể chế không thay đổi. Điều tôi không nhìn thấy sau đó, và tôi cho là mình có thể tranh luận bây giờ, là chính bản thân giai thoại đó có thể trở thành một phần của bộ máy thể chế, giống như thiện chí đoàn thể, như bất kỳ truyền thống hay ngôn ngữ của nó. Mặc dù đã có một truyền thống về việc xoi mói trước vụ Watergate, nhưng vụ Watergate đã đem đến vấn đề này một sắc thái bản tính con người (Woodward và Bernstein), cũng như một thắng lợi không thể quên (việc Nixon từ chức), tuy có thể được quy một cách không thỏa đáng cho báo giới. Bằng việc làm cho tổng thống phải từ chức, Watergate là một ngôi sao băng nổ trên bầu trời báo chí, xóa sạch mọi kỷ lục phóng sự điều tra trong suốt thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Nó không chỉ rất nổi bật mà còn liên ứng. Việc Seymour Hersh đưa tin về vụ thảm sát Mỹ Lai là một bản báo cáo đẫm máu, tàn phá và gây chia rẽ đã đóng vai trò như một hình ảnh thu nhỏ của báo giới Mỹ. Watergate, dù đã lùi vào dĩ vãng, có thể được chấp nhận rộng rãi như là một chiến thắng không chỉ với báo chí Mỹ mà còn với hệ thống báo chí tự do ở Mỹ.

Điều quan trọng nhất với báo chí không phải là sự tăng lên hay giảm đi của phóng sự điều tra sau vụ Watergate mà là sự phục hồi, tiếp thêm sức lực và sự tái thần thoại hóa công việc xoi mói. Trong vòng một thế kỷ, chủ đề xoi mói đã trở nên phổ biến với báo giới Mỹ, mặc dù việc thực hiện nó là một ngoại lệ, chứ không phải là quy luật. Đó là một công việc rất khó khăn, đau đớn, đắt đỏ và không đáng được khích lệ. Nó trái với khuynh hướng tư tưởng của thái độ trung lập trong nghề nghiệp. Nó có những chủ thể đại diện chính thức trong thế giới báo chí, đặc biệt dưới dạng Giải thưởng Pulitzer danh tiếng dành cho sự tận tụy trong công việc. Tuy nhiên, trong thời gian giữa Lincoln Steffens, Ida Tarbell và Ray Stannard Barker năm 1904 với Woodward và Bernstein năm 1972 và 1973, nó không có đượcnhững bản mẫu hào hùng, gây tiếng vang về phương diện văn hóa. Nhưng Woodward và Bernstein không chỉ đơn giản hồi phục lại nó; họ đã mở rộng thêm quyền lực của hình ảnh điều tra. Trong thời kỳ Steffens, Nhà Trắng tượng trưng cho vị trí trung tâm dường như được loại trừ không bị xoi mói. Steffens đã cố làm điều đó và được uống rượu, ăn tối và được tổng thống Theodore Roosevelt cưng chiều. Thực tế, đối với những người làm công việc xoi mói vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính phủ liên bang là một nguồn để gây áp lực đối với chính quyền bang và chính quyền địa phương, là nơi hủ bại mà Steffens đã khám phá ra, chứ bản thân nó không phải là một địa điểm cho công việc xoi mói.

Nếu Tổng thống Nixon cuối cùng không dính dáng vào vụ Watergate, nếu vụ bê bối chỉ dừng lại với Jeb Magruder, thì sẽ không có ai nhớ đến vụ Watergate. Nếu vụ này chỉ liên quan đến Mitchell, Haldeman, Ehrlichman và Dean thì Watergate có thể được nhớ đến như một cuộc đảo chính báo chí. Nhưng nó sẽ không thể trở thành tâm điểm của giai thoại báo chí Mỹ. Watergate đã khám phá ra sự dối trá của tổng thống và buộc ông ta phải bãi nhiệm. Điều đó đã làm cho Watergate tất yếu trở thành giai thoại trung tâm của báo chí nước Mỹ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần VII


Woodward lại một lần nữa gây tranh cãi khi biên tập một câu chuyện liên quan đến William Tavoulareas, giám đốc điều hành của hãng dầu nhờn Mobil Oil, năm 1979. Khi tôi nói chuyện với Woodward năm 1991, anh ta nói rằng quyết định của Tòa phúc thẩm trong vụ Tavoulareas kiện tội phỉ báng chống lại Washington Post là một bước ngoặt quan trọng hơn vụ Watergate trong lịch sử báo chí.

Phán quyết Tavoulareas thực sự rất thú vị, nhưng quyết định đó và vai trò của Woodward trong đó có thể khẳng định hơn là phủ định tầm quan trọng của vụ Watergate với báo chí. Câu chuyện kể rằng Tavoulareas  đã lập một công ty làm ăn với Mobil Oil cho con trai ông ta là Peter. Tavoulareas kiện tờ Washington Post vì những lời phỉ báng của tờ báo này rằng ông ta đã không thực hiện nghĩa vụ với cổ đông của Mobil Oil trong quyết định liên quan đến con trai ông ta. Tavoulareas đã thắng kiện với ban bồi thẩm ở tòa án năm 1983. Tuy nhiên, thẩm phán đã lật đổ lời phán quyết, yêu cầu được “xét không cần tuyên án”, một quyền lựa chọn được trao cho các thẩm phán liên bang, những người thấy rằng không bồi thẩm đoàn nào có thể đưa ra phán quyết mà không áp dụng sai luật. Quyết định này đã được thay đổi hoàn toàn bởi một ban hội thẩm gồm ba thành viên của một phiên tòa phúc thẩm năm 1985, nhưng phán quyết này bản thân nó đã bị lật lại khi toàn bộ tòa phúc thẩm gặp gỡ để đưa ra phán quyết năm 1987.

Huyền thoại của Watergate được phản ánh trong phán quyết Tavoulareas.Tờ Washington Post đã thuê một công ty tư nhân khảo sát một mẫu bồi thẩm tiềm năng để xem liệu họ thông cảm với Mobil Oil hay với tờ Washington Post. Họ tìm ra khuynh hướng ủng hộ họ; một nguồn tin của tờ Washington Post nói: “Tôi đoán rằng chúung tôi có gắn với sự sụp đổ của Nixon, và những người ở đây phải giúp chúng tôi”.

Vì vậy, tờ Washington Post đòi hỏi một phiên tòa hội thẩm. Trong phiên tòa, luật sư của tòa báo không bao giờ đề cập đến vụ Watergate. Woodward nài nỉ để được hỏi trong vị trí nhân chứng để nêu ra vai trò của anh ta trong vụ Watergate, nhưng luật sư đã nói “không, hãy để họ khám phá ra anh là Robert Redford và Ben là Jason Robards”. Ông ta giả thuyết rằng vai trò của tờ Washington Post trong vụ Watergate có thể nổi tiếng với các quan tòa của Quận Columbia đến nỗi họ có thể chiến thắng lớn hơn mà không cần phải nhấn mạnh điểm đó. Trên thực tế, không ai trong số bồi thẩm đoàn đã từng xem bộ phim Tất cả những người của tổng thống, chỉ có một người biết Woodward hay Bradlee đóng vai trò quan trọng trong vụ Watergate, và không ai trong phòng hội thẩm đề cập đến vụ bê bối Watergate.

Ban bồi thẩm chỉ tập trung vào câu hỏi liệu câu chuyện của tờ Washington Post về Tavoulareas là đúng hay sai mà lờ đi câu hỏi trung tâm là các nhà báo có theo đuổi câu chuyện một cách thiếu thận trọng và “thực ác ý” hay không. Trong khi những quan tòa lờ đi câu hỏi này thì bên nguyên lại không. Bên nguyên đã đặt ra câu hỏi rằng liệu có phải sự ác ý đó là bắt nguồn từ sự nghiệp liên quan đến vụ Watergate của Woodward. Thẩm phán George MacKinnon, người viết ý kiến đa số cho ban bồi thẩm ba người vốn rất chia rẽ, đã thiên rất nhiều đến chứng cứ này. MacKinnon lập luận rằng ba hội thẩm đang ra phải coi xu hướng chung của tờ báo – bao gồm cả danh tiếng của Woodward về “những câu chuyện điều tra có ảnh hưởng lớn” – là việc đặt sức ép với báo chí dưới sự quan sát của ông ta để viết những câu chuyện tương tự như thế.

Khi toàn bộ tòa án thay đổi ban hội thẩm ba người năm 1987, Thẩm phán Kenneth Starr, người viết ý kiến đa số, quan sát thấy rằng một vài chứng cứ ác ý mà MacKinnon tìm thấy không là gì hơn ngoài lập trường thù địch. Ông viết: “Thật mỉa mai khi những quan tòa đối thủ của chúng ta kết luận rằng lập trường của đối thủ là hai mặt đối nhau của một sự thật”. Với Thẩm phán MacKinnon, đó là một chứng cứ ác ý khi biên tập của tờ báo đã nói “không phải ngày nào bạn cũng có thể đánh bật một trong bảy chị em” (một trong bảy công ty dầu lửa lớn nhất). Nhưng với ý Thẩm phán Starr thì đó không phải là “lối trình bày ác ý trong những hoàn cảnh mà, ở đây, phóng viên chỉ đưa ra một cuộc điều tra cụ thể và viết một câu chuyện mà thực chất là có thật”.

Về cái gọi là chứng cứ ác ý mà Bob Woodward sử dụng trong cụm từ “câu chuyện thần thánh thối tha” để miêu tả loại chuyện mà ông muốn có từ các phóng viên của mình, Thẩm phán Starr cũng không hề xúc động. Ông ta viết rằng chỉ khi nào có áp lực quản lý đối với việc tạo ra “những câu chuyện thần thánh thối tha” mà không cần xem xét đến độ xác thực của chúng thì đây mới là bằng chứng về sự ác ý. Chứng cứ đó không chỉ ra rằng Woodward thờ ơ với độ chính xác.Và thực tế, câu chuyện Tavoulareas là như thế, được nghiên cứu cẩn thận mà “đại thể là chính xác”, Starr nhắc lại. MacKinnon lại không đồng ý và tranh luận rằng vấn đề không phải là có phải tờ báo có mong muốn  chủ quan đưa những câu chuyện sai trái hay không, mà là liệu có “sức ép phải viết những câu chuyện gây xúc động mạnh có thể thúc đẩy phóng viên thổi phồng sự thật”. Nhưng Starr nói rằng việc gây sức ép với công việc điều tra sai trái là rất đáng biểu dương: “Chúng tôi đồng ý với tờ Washington Post rằng Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp đã không ngăn cấm giới báo chí vì đã khuyến khích các phóng viên của mình phơi bày những việc làm sai trái. Hơn nữa, các sức ép này nhằm để giúp họ viết ra những câu chuyện phục vụ một trong những chức năng cao nhất của báo chí trong xã hội chúng ta.

Quyết định của Starr không chỉ hậu thuận cho tờ Washington Post mà còn là một sự bảo vệ chắc chắn của quyền lợi nhà báo trong việc viết phóng sự điều tra tìm ra những việc làm sai trái của những người quyền cao chức trọng. Nhưng tôi nghĩ Woodward phụ thuộc quá nhiều vào luật để gợi ý rằng ý kiến năm 1987 của Starr sẽ có ảnh hưởng với báo chí lớn hơn là những báo cáo về vụ Watergate của Woodward và Bernstein năm 1972 và 1973. Ông ta đánh giá quá cao mỗi quyết định của luật pháp, đặc biệt một quyết định chẳng đề ra một học thuyết pháp lý nào mới.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.