Vụ Watergate và giới báo chí – Phần cuối


Cùng lúc đó, Woodward lại đánh giá thấp sức mạnh của những câu chuyện trên báo. Câu chuyện Watergate có thể có ý nghĩa với chúng ta hơn là những thay đổi trong báo giới mà người ta quy là do tác động của vụ Watergate và chỉ tại vụ đó mà thôi. Câu chuyện đã bị bóp méo trong nhiều tình tiết, đã cường điệu hóa quá mức chủ nghĩa anh hùng của những nhà báo và lại đánh giá thấp chủ nghĩa anh hùng của giới quan chức, lờ đi vai trò của những cơ quan khác trong cuộc điều tra và cũng không đề cập những điều tình cờ xảy ra và những may mắn trong quá trình phanh phui vụ Watergate. Nhưng đó không phải là vấn đề. Ngay cả khi những người theo chủ nghĩa xét lại đã đưa ra ý kiến của họ thì những gì mà Woodward và Bernstein mang lại vẫn rất đáng ngạc nhiên. Việc họ đã không thể tự mình khám phá ra vụ Watergate là hoàn toàn đúng. Toàn bộ giới báo chí nói chung trong thời gian xảy ra vụ Watergate, cũng như trước đó và sau đó, chủ yếu chỉ là một thể chế có rất ít tham vọng làm chao đảo các con thuyền quyền lực. Nhưng đó cũng không phải vấn đề. Vấn đề là ở chỗ những sự kiện, tình huống, năng lượng, tham vọng, sự cạnh tranh và lòng can đảm của một số nhà báo và biên tập viên trẻ của họ đã làm sống câu chuyện, làm cho tổng thống phải bãi nhiệm. Và bộ phận chủ yếu của sự thật đó đã duy trì một giai thoại chung và đem đến cho nó, với tất cả những “sự không chính xác của nó”, một sự thật lớn hơn, đó chính là tác dụng của giai thoại: không nói với chúng ta rằng chúng ta là ai, mà nói chúng ta đã từng là thế nào, rằng chúng ta sẽ có thể lại trở thành như thế nào và chúng ta muốn sẽ là như thế nào “nếu như”.

Về khía cạnh đó, Leonard Downie đã đúng khi chống lại chủ nghĩa hoài nghi trong cách tôi dùng thuật ngữ “giai thoại”. Ai sẽ quan tâm nếu trong suốt thời gian xảy ra vụ Watergate báo chí tỏ ra lười biếng? Hay liệu Thẩm phán Sirica hay một vài nhân viên FBI cũng có vai trò lớn như Woodward và Bernstein trong vụ Watergate? Đó không phải là vấn đề bởi vì giai thoại Watergate vẫn tồn tại. Nó tồn tại mà không bị hư hỏng bởi sự chỉ trích. Nó đã ban cho báo chí một đặc quyền, một cảm hứng, một lý do để biện minh cho những sự bảo vệ mang tính cơ cấu mà nó được hưởng.

Một giai thoại không phải khi nào cũng được dẫn chứng. Đó là cái mà phóng viên tờ Los Angeles Times Thomas Rosenstial gọi là một “ký ức thể chế, thỉnh thoảng như mê ngủ, thỉnh thoảng lại không, và đôi khi được đóng góp bởi các sự kiện”. Các nhà báo thường “phô trương” ký ức này “trong trường hợp nó được khấu dậy, khi thích hợp và khi chúng tôi nghĩ nó an toàn, khi chúng tôi không dẫn dắt ý kiến công chúng quá nhiều, khi mọi điều kiện và mọi ngôi sao đứng vào một hàng”. Và nếu giai thoại của báo chí trong vụ Watergate không được viện dẫn, thì giai thoại Watergate trong báo chí có thể, giai thoại đầu có vẻ lãng mạn và giai thoại sau thì phản diện.

Các giai thoại nhất thiết phải có nhiều ý nghĩa, nói cách khác là đa nghĩa. Chúng không nói về những chân lý giản đơn của một nền văn hóa nhiều bằng việc chúng tìm ra những trạng thái khó xử trung tâm của nền văn hóa đó. Chúng cũng sẽ được đọc theo nhiều cách và huyền thoại của báo chí Watergate cũng đã được đọc theo nhiều cách. Giai thoại này đã trao quyền cho những kẻ thù của một báo giới liều lĩnh như thể là nó đã khuyến khích việc làm phóng sự mang tính gây chiến. Giai thoại Watergate của các “phương tiện thông tin”độc lập và vô trách nhiệm là một sự tạo lập có ý của Richard Nixon cũng như một sự sáng tạo tình cơ của Woodward và Bernstein. Bất chấp hậu quả ra sao, đó vẫn là sự kết tinh của những niềm hy vọng, nỗi sợ hãi và bối rối của xã hội Mỹ về sự tăng lên rõ ràng của các phương tiện thông tin.

Khi tôi phỏng vấn nhà phân tích truyền thông Stephen Hess, ông ta phỏng vấn lại tôi, hỏi tôi: Anh có đồng ý với kết luận rằng Watergate không ảnh hưởng đến báo chí? Tôi dông dài một chút, sau đó tỏ vẻ khoa học ở mức độ cao nhất có thể và nói rằng đương nhiên, nếu đó là bằng chứng dẫn dắt tôi, tôi sẵn sàng đồng ý với kết luận đó, chỉ bởi vì tôi tin rằng văn hóa báo chí đã thay đổi ngay cả khi bộ máy thể chế không thay đổi. Điều tôi không nhìn thấy sau đó, và tôi cho là mình có thể tranh luận bây giờ, là chính bản thân giai thoại đó có thể trở thành một phần của bộ máy thể chế, giống như thiện chí đoàn thể, như bất kỳ truyền thống hay ngôn ngữ của nó. Mặc dù đã có một truyền thống về việc xoi mói trước vụ Watergate, nhưng vụ Watergate đã đem đến vấn đề này một sắc thái bản tính con người (Woodward và Bernstein), cũng như một thắng lợi không thể quên (việc Nixon từ chức), tuy có thể được quy một cách không thỏa đáng cho báo giới. Bằng việc làm cho tổng thống phải từ chức, Watergate là một ngôi sao băng nổ trên bầu trời báo chí, xóa sạch mọi kỷ lục phóng sự điều tra trong suốt thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Nó không chỉ rất nổi bật mà còn liên ứng. Việc Seymour Hersh đưa tin về vụ thảm sát Mỹ Lai là một bản báo cáo đẫm máu, tàn phá và gây chia rẽ đã đóng vai trò như một hình ảnh thu nhỏ của báo giới Mỹ. Watergate, dù đã lùi vào dĩ vãng, có thể được chấp nhận rộng rãi như là một chiến thắng không chỉ với báo chí Mỹ mà còn với hệ thống báo chí tự do ở Mỹ.

Điều quan trọng nhất với báo chí không phải là sự tăng lên hay giảm đi của phóng sự điều tra sau vụ Watergate mà là sự phục hồi, tiếp thêm sức lực và sự tái thần thoại hóa công việc xoi mói. Trong vòng một thế kỷ, chủ đề xoi mói đã trở nên phổ biến với báo giới Mỹ, mặc dù việc thực hiện nó là một ngoại lệ, chứ không phải là quy luật. Đó là một công việc rất khó khăn, đau đớn, đắt đỏ và không đáng được khích lệ. Nó trái với khuynh hướng tư tưởng của thái độ trung lập trong nghề nghiệp. Nó có những chủ thể đại diện chính thức trong thế giới báo chí, đặc biệt dưới dạng Giải thưởng Pulitzer danh tiếng dành cho sự tận tụy trong công việc. Tuy nhiên, trong thời gian giữa Lincoln Steffens, Ida Tarbell và Ray Stannard Barker năm 1904 với Woodward và Bernstein năm 1972 và 1973, nó không có đượcnhững bản mẫu hào hùng, gây tiếng vang về phương diện văn hóa. Nhưng Woodward và Bernstein không chỉ đơn giản hồi phục lại nó; họ đã mở rộng thêm quyền lực của hình ảnh điều tra. Trong thời kỳ Steffens, Nhà Trắng tượng trưng cho vị trí trung tâm dường như được loại trừ không bị xoi mói. Steffens đã cố làm điều đó và được uống rượu, ăn tối và được tổng thống Theodore Roosevelt cưng chiều. Thực tế, đối với những người làm công việc xoi mói vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính phủ liên bang là một nguồn để gây áp lực đối với chính quyền bang và chính quyền địa phương, là nơi hủ bại mà Steffens đã khám phá ra, chứ bản thân nó không phải là một địa điểm cho công việc xoi mói.

Nếu Tổng thống Nixon cuối cùng không dính dáng vào vụ Watergate, nếu vụ bê bối chỉ dừng lại với Jeb Magruder, thì sẽ không có ai nhớ đến vụ Watergate. Nếu vụ này chỉ liên quan đến Mitchell, Haldeman, Ehrlichman và Dean thì Watergate có thể được nhớ đến như một cuộc đảo chính báo chí. Nhưng nó sẽ không thể trở thành tâm điểm của giai thoại báo chí Mỹ. Watergate đã khám phá ra sự dối trá của tổng thống và buộc ông ta phải bãi nhiệm. Điều đó đã làm cho Watergate tất yếu trở thành giai thoại trung tâm của báo chí nước Mỹ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần VII


Woodward lại một lần nữa gây tranh cãi khi biên tập một câu chuyện liên quan đến William Tavoulareas, giám đốc điều hành của hãng dầu nhờn Mobil Oil, năm 1979. Khi tôi nói chuyện với Woodward năm 1991, anh ta nói rằng quyết định của Tòa phúc thẩm trong vụ Tavoulareas kiện tội phỉ báng chống lại Washington Post là một bước ngoặt quan trọng hơn vụ Watergate trong lịch sử báo chí.

Phán quyết Tavoulareas thực sự rất thú vị, nhưng quyết định đó và vai trò của Woodward trong đó có thể khẳng định hơn là phủ định tầm quan trọng của vụ Watergate với báo chí. Câu chuyện kể rằng Tavoulareas  đã lập một công ty làm ăn với Mobil Oil cho con trai ông ta là Peter. Tavoulareas kiện tờ Washington Post vì những lời phỉ báng của tờ báo này rằng ông ta đã không thực hiện nghĩa vụ với cổ đông của Mobil Oil trong quyết định liên quan đến con trai ông ta. Tavoulareas đã thắng kiện với ban bồi thẩm ở tòa án năm 1983. Tuy nhiên, thẩm phán đã lật đổ lời phán quyết, yêu cầu được “xét không cần tuyên án”, một quyền lựa chọn được trao cho các thẩm phán liên bang, những người thấy rằng không bồi thẩm đoàn nào có thể đưa ra phán quyết mà không áp dụng sai luật. Quyết định này đã được thay đổi hoàn toàn bởi một ban hội thẩm gồm ba thành viên của một phiên tòa phúc thẩm năm 1985, nhưng phán quyết này bản thân nó đã bị lật lại khi toàn bộ tòa phúc thẩm gặp gỡ để đưa ra phán quyết năm 1987.

Huyền thoại của Watergate được phản ánh trong phán quyết Tavoulareas.Tờ Washington Post đã thuê một công ty tư nhân khảo sát một mẫu bồi thẩm tiềm năng để xem liệu họ thông cảm với Mobil Oil hay với tờ Washington Post. Họ tìm ra khuynh hướng ủng hộ họ; một nguồn tin của tờ Washington Post nói: “Tôi đoán rằng chúung tôi có gắn với sự sụp đổ của Nixon, và những người ở đây phải giúp chúng tôi”.

Vì vậy, tờ Washington Post đòi hỏi một phiên tòa hội thẩm. Trong phiên tòa, luật sư của tòa báo không bao giờ đề cập đến vụ Watergate. Woodward nài nỉ để được hỏi trong vị trí nhân chứng để nêu ra vai trò của anh ta trong vụ Watergate, nhưng luật sư đã nói “không, hãy để họ khám phá ra anh là Robert Redford và Ben là Jason Robards”. Ông ta giả thuyết rằng vai trò của tờ Washington Post trong vụ Watergate có thể nổi tiếng với các quan tòa của Quận Columbia đến nỗi họ có thể chiến thắng lớn hơn mà không cần phải nhấn mạnh điểm đó. Trên thực tế, không ai trong số bồi thẩm đoàn đã từng xem bộ phim Tất cả những người của tổng thống, chỉ có một người biết Woodward hay Bradlee đóng vai trò quan trọng trong vụ Watergate, và không ai trong phòng hội thẩm đề cập đến vụ bê bối Watergate.

Ban bồi thẩm chỉ tập trung vào câu hỏi liệu câu chuyện của tờ Washington Post về Tavoulareas là đúng hay sai mà lờ đi câu hỏi trung tâm là các nhà báo có theo đuổi câu chuyện một cách thiếu thận trọng và “thực ác ý” hay không. Trong khi những quan tòa lờ đi câu hỏi này thì bên nguyên lại không. Bên nguyên đã đặt ra câu hỏi rằng liệu có phải sự ác ý đó là bắt nguồn từ sự nghiệp liên quan đến vụ Watergate của Woodward. Thẩm phán George MacKinnon, người viết ý kiến đa số cho ban bồi thẩm ba người vốn rất chia rẽ, đã thiên rất nhiều đến chứng cứ này. MacKinnon lập luận rằng ba hội thẩm đang ra phải coi xu hướng chung của tờ báo – bao gồm cả danh tiếng của Woodward về “những câu chuyện điều tra có ảnh hưởng lớn” – là việc đặt sức ép với báo chí dưới sự quan sát của ông ta để viết những câu chuyện tương tự như thế.

Khi toàn bộ tòa án thay đổi ban hội thẩm ba người năm 1987, Thẩm phán Kenneth Starr, người viết ý kiến đa số, quan sát thấy rằng một vài chứng cứ ác ý mà MacKinnon tìm thấy không là gì hơn ngoài lập trường thù địch. Ông viết: “Thật mỉa mai khi những quan tòa đối thủ của chúng ta kết luận rằng lập trường của đối thủ là hai mặt đối nhau của một sự thật”. Với Thẩm phán MacKinnon, đó là một chứng cứ ác ý khi biên tập của tờ báo đã nói “không phải ngày nào bạn cũng có thể đánh bật một trong bảy chị em” (một trong bảy công ty dầu lửa lớn nhất). Nhưng với ý Thẩm phán Starr thì đó không phải là “lối trình bày ác ý trong những hoàn cảnh mà, ở đây, phóng viên chỉ đưa ra một cuộc điều tra cụ thể và viết một câu chuyện mà thực chất là có thật”.

Về cái gọi là chứng cứ ác ý mà Bob Woodward sử dụng trong cụm từ “câu chuyện thần thánh thối tha” để miêu tả loại chuyện mà ông muốn có từ các phóng viên của mình, Thẩm phán Starr cũng không hề xúc động. Ông ta viết rằng chỉ khi nào có áp lực quản lý đối với việc tạo ra “những câu chuyện thần thánh thối tha” mà không cần xem xét đến độ xác thực của chúng thì đây mới là bằng chứng về sự ác ý. Chứng cứ đó không chỉ ra rằng Woodward thờ ơ với độ chính xác.Và thực tế, câu chuyện Tavoulareas là như thế, được nghiên cứu cẩn thận mà “đại thể là chính xác”, Starr nhắc lại. MacKinnon lại không đồng ý và tranh luận rằng vấn đề không phải là có phải tờ báo có mong muốn  chủ quan đưa những câu chuyện sai trái hay không, mà là liệu có “sức ép phải viết những câu chuyện gây xúc động mạnh có thể thúc đẩy phóng viên thổi phồng sự thật”. Nhưng Starr nói rằng việc gây sức ép với công việc điều tra sai trái là rất đáng biểu dương: “Chúng tôi đồng ý với tờ Washington Post rằng Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp đã không ngăn cấm giới báo chí vì đã khuyến khích các phóng viên của mình phơi bày những việc làm sai trái. Hơn nữa, các sức ép này nhằm để giúp họ viết ra những câu chuyện phục vụ một trong những chức năng cao nhất của báo chí trong xã hội chúng ta.

Quyết định của Starr không chỉ hậu thuận cho tờ Washington Post mà còn là một sự bảo vệ chắc chắn của quyền lợi nhà báo trong việc viết phóng sự điều tra tìm ra những việc làm sai trái của những người quyền cao chức trọng. Nhưng tôi nghĩ Woodward phụ thuộc quá nhiều vào luật để gợi ý rằng ý kiến năm 1987 của Starr sẽ có ảnh hưởng với báo chí lớn hơn là những báo cáo về vụ Watergate của Woodward và Bernstein năm 1972 và 1973. Ông ta đánh giá quá cao mỗi quyết định của luật pháp, đặc biệt một quyết định chẳng đề ra một học thuyết pháp lý nào mới.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần VI


Sự phát triển của phóng sự điều tra

Liệu vụ Watergate có dẫn đến một sự gia tăng trong số lượng phóng sự điều tra? Điều đó phụ thuộc vào khái niệm “phóng sự điều tra”là gì? Tất nhiên, Watergate không phải là sự bắt đầu của mối quan hệ thù địch giữa chính phủ và báo giới ở Washington. Sự kiện chính là Việt Nam chứ không phải là Watergate, và “sự bất tín nhiệm” của báo chí với chính quyền bắt đầu từ thời Johnson chứ không phải thời Nixon. Nhưng câu hỏi thực sự ở đây không phải là số lượng phóng sự điều tra có tăng hay không, vì những dấu hiệu đều đã cho thấy có tăng, mà là nó tăng từ khi nào và liệu có phải nó chỉ mang tính nhất thời. Chỉ có một số tờ báo cống hiến nguồn tin tức chủ yếu của mình cho việc điều tra, thậm chí cả sau khi vụ Watergate xảy ra, và nhiều tờ báo đã làm điều đó trước khi xảy ra vụ Watergate. Tờ Newsday thành lập một đội điều tra 1967, hãng tin Associated Press năm 1967, tờ Chicago Tribune năm 1968 và tờ Boston Globe năm 1970. Trong suốt những năm 1960, tờ New York Times đã hoạt động rất tích cực trong mảng phóng sự điều tra. Các tổ chức hỗ trợ được thành lập để kích thích sự phát triển của báo chí phê bình và điều tra: có khoảng hai chục tạp chí (chỉ một ít trong số này tồn tại được đến những năm 1980) bắt đầu với tờ Chicago Journalism Review năm 1968; Quỹ cho báo điều tra (1969), là quỹ đã giúp đỡ về mặt tài chính với những khoản nhỏ dành cho những phóng viên điều tra; và Tổ chức các phóng viên và biên tập viên điều tra (1975), một tổ chức hội viên nhằm khuyến khích phát triển phóng sự điều tra.

Nhưng ngày nay phóng sự điều tra không còn là sự ưu tiên với giới báo chí, và cũng chưa bao giờ nó là sự ưu tiên. Cựu chủ bút của tờ Washington Post Barry Sussman nói với tôi rằng: “Điều quan trọng nhất khi nói về những người biên tập báo là họ không phải là những người tham gia vào những cuộc vận động lớn”. Stephen Hess lại lập luận rằng làm phóng sự điều tra chỉ là theo phong trào “trong một thời gian ngắn”. Các nhà báo “đã tự hài lòng khi nghĩ về mình như những nhà điều tra vĩ đại, nhưng không phải lúc nào cũng thế và không phải báo chí là như thế”. Hess nóir ằng sau khi các chủ bút giao cho phóng viên đi săn những vụ lớn nhưng họ chỉ trở về với những điều rất nhỏ nhặt, thì chỉ có một vài tòa báo có nguồn lực dồi dào mới dám chơi trò mạo hiểm đó một lần nữa.

Ảnh hưởng của vụ Watergate với báo chí điều tra được thể hiện rõ ràng nhất trong thời gian ngay sau vụ Watergate, và trầm trọng nhất, sau một giai đoạn ngắn Ford cầm quyền, đối với Tổng thống Jimmy Carter. Carter đã hợp tác đưa chính quyền của ông ta đến với bất kỳ sự thay đổi nào khỏi tình trạng đạo đức giả và tham nhũng bởi vì ông đã sẵn sàng tiếp quản vụ Watergate như một bài hát ca ngợi trong chiến dịch bầu cử tổng thống của mình. Theo sau vụ Watergate sẽ rất khó khăn cho giới báo chí nếu không coi đó là một thách thức. Các phóng viên ở Washington đều mới nhận ra bề ngoài giả dối của chính phủ và việc mới hứng thú với công việc điều tra. Charles Seib viết trong tờ Washington Post năm 1977 rằng: “Một sản phẩm phụ của cuộc phiêu lưu Watergate là một thứ mốt nhất thời của báo giới: mốt viết phóng sự điều tra”. Ben Bradlee đã nói rằng các phóng viên, đặc biệt là phóng viên trẻ, đã “đưa tin về những vụ hỏa hoạn ở nông thôn cứ như đó là những vụ Watergate mới và sẽ lập luận rằng có xăng trong ngôi nhà và kẻ gây ra đám cháy đó là một người bài Do Thái, và họ thực sự nghĩ rằng đó là một cách để trở nên nổi tiếng.

Ngay trong giai đoạn đầu ở nhiệm sở, Carter đã phải đối mặt với vụ Bert Lance. Vụ đó cũng ảnh hưởng xấu đến chính quyền của Carter như một hiện tượng hậu Watergate. Nhưng với chính quyền Carter thì vụ đó mới chỉ là sự bắt đầu. Những năm của Carter, như Jimmy Carter đã nói, “là thời điểm mà mọi phóng viên nghĩ rằng, kể từ khi họ tìm ra những sự thật xấu xa về tổng thống trong vụ Watergate, sẽ phải còn điều gì đó. Nếu chúng ta tiếp tục đào bới, chúng ta sẽ tìm thấy”. Cả hai thư ký báo chí của Ford và Carter là Ron Nessen và Jody Powell đều phàn nàn rằng các phương tiện thông tin đại chúng nhìn thấy Việt Nam và vụ Watergate ở khắp mọi nơi. Phóng viên viết về Nhà Trắng của tờ St. Louis Post-Dispatch là James Deakin nhất trí với ý kiến này: “Phải rất lâu nữa vụ Watergate mới có thể phai nhạt. Phải mất nhiều thời gian để người Mỹ có thể quên được cuộc suy thoái những năm 1930, và cũng phải như thế với Việt Nam và vụ Watergate. Công chúng bị ảnh hưởng xấu và bắt đầu cảnh giác, các phóng viên cũng vậy”. Bob Woodward nói về quá trình điều tra của các phương tiện truyền thông với nhân viên hàng đầu của Tổng thống Carter, Hamilton Jordan, về việc ông ta đã sử dụng cocaine ở một sàn nhảy ở New Yorkk: “Anh phải nhớ rằng những kinh nghiệm trong vòng 10 đến 15 năm qua chỉ ra rằng cuối cùng quan chức chính phủ sẽ bị buộc tội như họ bị kiện. Chúng tôi không tình cờ gặp những người mà sự biện hộ của họ được xem xét kỹ lưỡng”. Một phóng viên tờ New York Times đã giải thích rằng anh ta tin Jordan có tội bởi vì “trong mọi trường hợp mà tôi có thể nhớ được, những chính trị gia luôn luôn tỏ ra là đang nói dối”.

Dưới thời Reagan, phong trào phóng sự điều tra có vẻ đã hết thời. Một phần là vì phong trào đó không thể kéo dài: không một vụ nao như Watergate được tìm thấy sau nhiều năm điều tra. Các nhà báo thối chí. Phần nữa là chính các nhà lãnh đạo báo chí cũng không còn hăng hái với công việc điều tra như xưa nữa. Phần khác nữa là Ronald Reagan đã hết sức xuất sắc với việc quan hệ với công chúng, ít nhất là trong nhiệm kỳ đầu của ông ta.

Một lý do khác nữa là giai đoạn thứ hai của vụ Watergate và báo chí đã ngự trị. Khi bộ phim Tất cả những người của tổng thống ca ngợi và phổ biến huyền thoại báo chí trong vụ Watergate thì huyện thoại thứ hai, giai đoạn Watergate trong báo chí, đã có được sự ra mắt của bộ phim Không có sự ác tâm (Absence of Malice). Bộ phim được xử lý năm 1981 bởi nhà đạo diễn Sydney Pollack. Nó đã mang lại giải Oscar cho nam diễn viên chính xuất sắc nhất (Paul Newman) và nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất (Melinda Dillon). Mở đầu bộ phim đã được giới thiệu như một bộ phim về báo chí trong thời kỳ hậu Watergate. Trong khi bộ phim Tất cả những người của tổng thống có nhiều những đoạn ngắt âm như của máy đánh điện lỗi thời thì phim Không có sự ác tâm mở đầu với các cảnh phim trình bày công nghệ cao và việc in một trang báo bằng công nghệ in offset hình ảnh. Phim Tất cả những người của tổng thống ngụ ý rằng cách đưa tin lờ mờ không rõ ràng có thể được biện hộ khi báo chí theo đuổi đằng sau một nhà lãnh đạo đầy quyền lực (những người trong thực tế tỏ ra là có tội); bộ phim Không có sự ác tâm lên án những thủ đoạn báo chí trong việc tìm kiếm tin tức của một người đơn lẻ (người có thể trong thực tế là không có tội). Những khán giả xem phim Tất cả những người của tổng thống theo quan điểm của Woodward và Bernstein bị kiềm chế bởi chiếc máy quay phim trong bộ phim Không có sự ác tâm để phải xem hành động đứng trên quan điểm của những người là nạn nhân của báo chí. Có một cảnh khi nạn nhân Michael Gallagher (Paul Newman) bào chữa cho vụ của ông ta trước phóng viên báo chí, biên tập viên và luật sư. Trong một cảnh rất hay có đoạn khán giả ngước lên nhìn khắp bàn, nhìn người phóng viên và biên tập viên, từ góc độ của Gallagher, những người bình thản thờ ơ, không thèm chú ý tới Gallagher và tới khả năng họ có thể đem lại sự bất công cho anh ta. Mặc dù bộ phim không ám chỉ hoàn toàn đến vụ Watergate, nhưng những gì đối ngược với bộ phim Tất cả những người của tổng thống thì không cần phải chỉ ra thêm nữa.

Mặc dù có những ý kiến cho rằng có ảnh hưởng của thời kỳ hậu Watergate đối với giới báo chí, nhưng vẫn có cái gì đó không rõ ràng. “Giả thuyết không”, là giả thuyết cho rằng vụ Watergate không làm thay đổi giới báo chí, có vẻ không được nhiều người ủng hộ. Carl Bernstein đã nghiêng về giả thuyết này trong bài bình luận ở Trường Kennedy năm 1989 như sau: “Watergate không có ảnh hưởng giống như những gì mà mọi người đã hy vọng nó có… chúng tôi không nhìn thấy một sự thay đổi thực sự có ý nghĩa nào trong giới báo chí” từ sau khi Ricahrd Nixon từ chức. Bob Woodward cũng nghiêng về quan điểm này bằng cách phát biểu vài năm trước rằng Watergate là một “đốm sáng” trong lịch sử báo chí, chứ không phải là khoảnh khắc xác lập của một kỷ nguyên mới.

Sau vụ Watergate, Woodward leo lên vị trí biên tập của tờ Washington Post, đã viết hết cuốn sách phóng sự này đến cuốn sách phóng sự khác – sau cuốn Những ngày cuối (với Bernstein) là cuốn Đồng hữu (với Scott Armstrong), Bị chăng lưới thép (về John Belushi), Mạng che mặt (về William Casey và CIA) và Những người chỉ huy (về Lầu Năm Góc). Tất cả những cuốn sách đều là những cuốn bán chạy nhất và vẫn có đầy rẫy những ý kiến chỉ trích các phương pháp của Woodward. Tại sao lại là các đoạn trích dẫn không rõ nguồn gốc? Tại sao là những nguồn tin vô danh? Có sự bảo đảm nào cho việc dựng lại chính xác cuộc hội thoại ở cuộc họp mà Woodward không tham dự và các nhân chứng đó còn nhớ lại những ngày, tuần thậm chí cả những năm sau đó? Kiểu đặt câu hỏi này chỉ có thể dựa trên thực tế là Woodward là biên tập viên của Janet Cooke trong câu chuyện “”Thế giới của Jimmy”, câu chuyện đã được nhận một Giải Pulitzer năm 1980 nhưng sua đó bị mất bởi người ta phát hiện ra rằng đứa trẻ nghiện heroin trong chuyện là một sáng tạo của người phóng viên này. Cooke bị tước giải thưởng, Bob Woodward và tờ Washington Post bị một phen bẽ mặt.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần V


Mỉa mai thay, địa vị đang được cải thiện đó lại nhờ nhiều vào Richard Nixon hơn là vào Woodward và Bernstein. Từ khi bắt đầu nhiệm kỳ, Nixon đã chủ động đối xử với giới báo chí như kẻ thù và coi nó như một trung tâm quyền lực chuyên biệt trong đời sống người dân Mỹ hơn là một đại diện của công chúng hay một phương tiện trung gian mà qua đó các quyền lực khác lên tiếng. William Safire đã viết trong hồi ký của mình về chính quyền của Nixon trước khi vụ Watergate xảy ra như sau: “Trong thế giới của vấn đề “chúng ta chống lại bọn họ”, báo chí là “bọn họ” tinh túy nhất, là nguồn sống và nguồn cứu giúp của những “bọn họ” khác”.

Về mặt quyền lực, “bọn họ” trong giới học thuật là không quan trọng, “bọn họ” trong tầng lớp ưu tú về văn hóa có tác dụng rất hữu ích như một vật làm nền giúp thu hút những người thuộc tầng lớp lao động đến với liên minh ủng hộ cho Nixon; “bọn họ” trong giới chính trị và tư tưởng tự do đang trong quá trình tự phá hoại chính mình bằng cách thu hẹp căn cứ của mình theo những đường lối vô cùng kỳ cục về mặt tư tưởng; nhưng “bọn họ” báo chí rất ghê gớm và khiến người khác phải điên tiết, là một lực lượng mà với quyền năng của riêng nó đã buộc người ta phải nể sợ, nhưgn quan trọng hơn, là một cái kính phóng đại và một hệ thống xưng hô công cộng đã đem lại sức mạnh và sự chú ý cho tất cả các loại “bọn họ” khác.

Nixon nhậm chức khi công chúng đang rơi vào tình trạng bất tín nhiệm với Tổng thống Lyndon Johnson. Đầu tiên ông ta tuyên bố chính sách cởi mở của mình và tìm cách làm mọi việc trái ngược hẳn với chính quyền của Johnson. Giám đốc phụ trách truyền thông của ông ta là Herbert Klein tuyên bố: “Sự thật sẽ là dấu bảo đảm của bộ máy Nixon… Chúng tôi có thể xóa bỏ mọi khả năng xảy ra sự bất tín nhiệm trong chính quyền này”. Nhưng, rất nhanh chóng, Nixon đã coi báo chí như kẻ thù. Mùa thu đầu tiên tại nhiệm sở, ông ta thường chỉ thị cho nhân viên của mình “dồn” phóng viên này hay phóng viên họ hay một tổ chức truyền thông nào đó vào thế bí. Vào tháng Mười một 1969, ông ta đã cử Phó tổng thống Spiro Agnew đến đọc một bài diễn văn ở Des Moines, bang Iowa, với nội dung làm mất mặt giới truyền thông truyền hình. Bài phát biểu tai tiếng của Agnew được viết bởi chính người chuyên viết diễn văn cho tổng thống, Patrick J. Buchanan. Một tuần sau, trong một bài phát biểu khác, Agnew đã thêm tờ New York TimesWashington Post vào danh sách những phương tiện thông tin nguy hiểm. Tẩy chay các phương tiện thông tin đại chúng đã dần trở thành chính sách ở Nhà Trắng.

Có lẽ những gì thực sự quan trọng lại nằm đằng sau những bài phát biểu của Agnew. Nói chung các quan chức Nhà Trắng không hợp tác với giới báo chí. Các phóng viên luôn đứng ngoài những mối quan hệ với tổng thống và những người thân cận của ông ta. Cuộc họp báo ở Nhà Trắng được đổi tên thành “cuộc họp tin tức” để nhấn mạnh rằng nó là của tổng thống, chứ không phải của giới báo chí. Hơn nữa, mối quan tâm của Nixon về sự rò rỉ thông tin – một mối quan tâm luôn có ở các tổng thống – đã khiến ông ta làm những việc bất hợp pháp như nghe trộm điện thoại của một số nhà báo, bao gồm cả nhà bình luận Joseph Kraft, phóng viên Hedrick Smith và William Beecher (New York Times), Marvin Kalb (CBS) và Henry Brandon (London Sunday Times). Chính quyền Nixon đã khởi kiện vụ Các văn bản Lầu Năm Góc, tìm kiếm “quyền ngăn chặn đưa tin trước” (prior restraint) đối với giới báo chí – triệt phá việc xuất bản hơn là kiện tụng sau khi xuất bản – lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ. Chủ tịch Ủy ban thông tin liên lạc liên bang (FCC) do Nixon bổ nhiệm, theo yêu cầu của Nhà Trắng, đã cố gắng hăm dọa những người đưa tin không hợp tác, trong khi chính sách truyền thông Nhà Trắng đã kích động những tổ chức địa phương gây sức ép, buộc hệ thống của họ phải ủng hộ Nixon. Các trạm phát sóng của tờ Washington Post ở Florida đã bị những người được biết đến là bạn của Nixon gây khó dễ trong việc gia hạn giấy phép theo sự cố vấn của tổng thống. Theo yêu cầu của Nhà Trắng, FBI đã điều tra nhà báo Daniel Schorr của CBS. Trước cuộc bầu cử năm 1972, Nhà Trắng đã buộc CBS phải cắt ngắn một bài báo cáo đặc biệt của mình về vụ Watergate.

Mục đích của chính quyền Nixon là không chỉ làm cho tổng thống có một hình ảnh tốt mà còn làm xấu đi hình ảnh của báo chí. Đầu năm 1970, H.R. Haldeman đã viết cho Herb Klein một bản thư báo giục ông này đưa một câu chuyện rằng Nixon đã vượt qua “những cản trở lớn khi bước vào Nhà Trắng”, đó là “giới báo chí chống đối lại chính phủ, tóm gọn lại là những tờ NEW YORK TIME, WASHINGTON POST, TIME, NEWSWEEK,… những bình luận viên truyền hình cáp thù địch, các tổ chức báo chí về Nhà Trắng thù địch, một Quốc hội thù địch…”. Đó là một chủ đề xuyên suốt trong những năm Nixon ở Nhà Trắng. Cuối năm đó, thư ký của Haldeman là Larray Higby đã viết cho Klein rằng “Richard Nixon là vị tổng thống đầu tiên trong thế kỷ đã trở thành tổng thống đối lập với tất cả… mọi quyền lực thông tin chủ yếu”.

Ngay thời điểm cao trào của vụ Watergate, Nixon vẫn lên án báo chí rất mạnh. Sau Vụ thảm bại đêm thứ Bảy, Nixon đã tổ chức một cuộc họp báo truyền hình trực tiếp, trong đó ông ta gọi những tin tức nói về ông ta trên truyền hình là “thái quá, khắc nghiệt và xuyên tạc”. Khi phóng viên Robert Pierpoint của CBS hỏi những tin gì mà báo chí đưa đã làm ông tức giận, Nixon đã trả lời rằng ông ta không tức giận. Pierpoint nói rằng ông ta có cảm giác rằng Nixon có giận. Nixon giải thích: “Anh biết đấy, một người chỉ có thể tức giận với những người mà anh ta tôn trọng”.

Hậu quả những cuộc tấn công có tính toán của chính quyền Nixon vào báo chí là những gì mà phóng viên Peter Lisagor thuộc tờ Chicago Daily News đã gợi ý thời điểm đó – đó là sự thành công của chính quyền Nixon trong việc khoác lên các phương tiện thông tin đại chúng một vỏ bọc khác hẳn với những gì công chúng thấy. Khái niệm “phương tiện thông tin đại chúng” được Nhà Trắng của Nixon dùng thủ đoạn để loại bỏ bởi nó nghe có vẻ khó chịu, lôi cuốn, một khái niệm ít dễ chịu hơn nhiều so với từ “báo chí”. Chính quyền của Nixon khăng khăng cho rằng các phương tiện thông tin đại chúng không phải là tiếng nói của công chúng như họ vẫn thường khẳng định. Và họ cũng không phải tiêu biểu cho một bên là tiếng nói của các nhà xuất bản giàu có và bên kia là các đảng phái chính trị như nhiều người vẫn thường nghĩ. Thay vì đó, họ là những thế lực tắc trách độc lập và nguy hiểm. Sự khiêu khích của tờ Washington Post trong vụ Watergate không chỉ diễn lại và mở rộng một kịch bản cũ về việc xoi mói mà đồng thời còn diễn một kịch bản được thảo ra bởi Nhà Trắng của Nixon.

Không có gì ngạc nhiên, cũng giống như giai thoại báo chí trong vụ Watergate, giai thoại Watergate trong báo chí cũng phục vụ hai đối tượng: chính phủ, những người dùng huyền thoại đó để phác họa họ như những kẻ bị bao vây một cách không thỏa đáng, và giới báo chí, những người nói về mình như một thế lực xã hội dũng cảm và độc lập qua giai thoại đó. Cả hai cách dùng đó đều chỉ ra một thực tế rằng vẫn có một mối quan hệ thoải mái và hợp tác giữa các quan chức chính phủ và giới báo chí ở Washington.

Sự phát triển trào lưu đưa tin đời sống riêng tư

Hai thập kỷ kể từ khi xảy ra vụ Watergate, cuộc sống riêng tư của những nhân vật nổi tiếng được đưa tin nhiều hơn so với hai thập kỷ trước đó. Vụ Watergate đã giúp khơi dậy tình trạng này, đặc biệt khi những bản ghi chép ở Nhà Trắng đã tạo ra một cú sốc rất lớn và làm người ta chú ý tới những thói quen riêng của tổng thống và những cố vấn của ông ta. Sau đó, cuốn Những ngày cuối cùng lại khôi phục tình trạng này. Mặc dù vậy, các nhà báo đương thời lại quan tâm đến việc viết về đời sống riêng tư cảu Edward Kennedy và vụ Chappaquiddickk năm 1969 hơn là Richard Nixon và vụ Watergate năm 1972 – 1974. Điều đó có được là nhờ cách mà Jimmy Carter vẽ mình như một “nhân vật” tiêu chuẩn cho các ứng cử viên tổng thống năm 1976. Đó cũng nhờ vào phong trào phụ nữ và sự nhấn mạnh rằng cuộc sống riêng tư là chính trị, và rằng đường phân chia giữa công khai và riêng tư được cấu tạo bởi ranh giới chính trị. Không nghi ngờ gì nữa, cách đưa tin đời sống riêng tư mới này là nhờ có Theodore White và cách đưa tin chính trị đằng sau hậu trường mới mà ông là người tiên phong, cũng như cách tiếp cận mặt đối mặt trên truyền hình trong chương trình “60 phút”.

Trong bất kỳ trường hợp nào, việc đưa tin đời sống riêng tư luôn đem lại cho báo chí nhiều ý kiến chỉ trích. Khi nói chuyện với Hiệp hội các chủ bút báo Mỹ năm 1983 về việc đưa tin về nhân vật nổi danh trên báo chí, Robert Redford đã đặt câu hỏi rằng có phải những ảnh hưởng mà Watergate gây ra với báo chí là những ảnh hưởng tốt. Mười hay mười hai năm trước đó, có một ranh giới rõ ràng giữa sự riêng tư và những gì công chúng cần được biết. Nhưng điều này không còn như vậy nữa. Watergate là một yếu tố nhưng không phải là một yếu tố chủ chốt trong việc tạo ra các hình thức thẩm vấn riêng tư mới trong hoạt động đưa tin chính trị.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần IV


Mưu cầu sự nổi danh

Có ý kiến cho rằng vụ Watergate đã làm cho nhà báo trở nên nổi tiếng và có một cơ đồ lớn như trường hợp của Woodward và Bernstein. Cuốn sách Tất cả những người của tống thống khi được xuất bản tháng Năm 1974 đã trở thành cuốn sách bìa cứng không phải là tiểu thuyết bán chạy nhất trong lịch sử ngành xuất bản Mỹ. Người ta đã bán được gần 300.000 bản, và bản quyền in bản mềm của nó được bán đấu giá với giá kỷ lục là 1.050.000 USD. Một vài tháng trước khi cuốn sách được xuất bản. Robert Redford, người có được bản quyền phim, đã hỏi nhà viết kịch bản William Goldman xem ông ta có hay biết gì về Carl Bernstein và Bob Woodward không. Ông ta không biết, nhưng ông ta thích bản thảo mà Redford đã đưa, sau đó đã ký hợp đồng mặc dù ông ta biết rằng mọi người đã biết quá đủ về vụ Watergate.

Bộ phim Tất cả những người của tổng thống được khởi chiếu vào mùa xuân năm 1976, trong suốt thời gian diễn ra cuộc bầu cử sơ bộ chọn ứng cử viên tổng thống. Buổi chiếu ra mắt đầu tiên ở Trung tâm Kennedy tại Washington có rất đông phóng viên tờ Washington Post, nhưng theo tin của CBS New thì “những gì được thấy chỉ là một Washington nghiêm túc, với những con người của nó mang áo choàng và caravat rất chân thật”. Cũng như cuốn sách trước đó, bộ phim cũng đã nhận được sự hoan nghênh to lớn. Bộ phim cũng được khen ngợi vì tính hiện thực của nó; Nat Hentoff viết rằng: “Ở một vài nơi sự thân mật có phần bạo dạn trong đó quá hấp dẫn đến nỗi mà một phóng viên đang ngồi xem có thể chiến thắng được cảm giác rằng anh ta đã vượt quá một thời gian cho phép khi ngồi ở đó”. Vincent Canby, nhà phê bình phim của tờ New York Times, thấy rằng đây là một bộ phim thành công nhất của đạo diễn Alan Pakula và nhà biên kịch Goldman và đề cao khả năng “làm cho những người ngoài cuộc hiểu được sự hấp dẫn và các phần thưởng của nghề làm báo Mỹ ở mức tốt nhất”.

Khi bộ phim bắt đầu được chiếu, trước khi phần đề tên những người thực hiện xuất hiện, màn hình để trắng. Có phải bộ phim thực sự đã bắt đầu? Khán giả được quyền e ngại. Sau đó có tiếng gõ máy chữ rất to đánh chữ “J” lên cái mà chúng ta lúc này đã nhận ra là bảng giấy để trắng: các chữ “u” “n” “c” theo sau đó là ngày trong June 1972 [tháng Sáu 1972]. Sau đó, bỗng nhiên, là việc cắt cái gì đó giống như một cảnh thời sự cũ với chiếc máy bay của tổng thống hạ cánh bên ngoài Nhà Trắng và Tổng thống Nixon bước vào trong tiếng thông báo và hoan hô như sấm dậy của Hạ viện. Màn hình chuyển sang màu đen. Hình ảnh chúng ta nhìn thấy tiếp theo là vệ sĩ Frank Wills đang tìm một chiếc cửa được đánh dấu; khám phá về vụ trộm Watergate bắt đầu. Đó là cách bộ phim khởi chiếu như một giai đoạn – trắng và đen, trắng là sự thuần túy trong công việc mà các nhà báo đã làm, đêm đen là nơi những hoạt động trộm cắp đang diễn ra.

Tất cả những người của tổng thống đầy câu chuyện thần thoại David chống lại Goliath của báo chí Watergate lên tới mức cao nhất, nhưng khi làm vậy nó cũng đã tạo nên phản ứng của những người hoài nghi. Nhà báo với tư cách là một địa vị danh tiếng là một nghịch lý. Theo những lý tưởng tự bộc bạch về sự khách quan của nhà báo, khi họ làm công việc của mình, họ đã nằm ở ngoài rìa – những người sao chép lại, có thể là những người bảo vệ, nhưng không phải là diễn viên chính của vở kịch xã hội. Barbara Stubbs Cohen, là biên tập của tờ Washington Star khi xảy ra vụ Watergate, nhớ đã đùa với Carl Bernstein rằng vấn đề của bộ phim Tất cả những người của tổng thống là “trong hầu hết các bộ phim, khi lên tới đỉnh điểm, ai đó đánh ai hoặc một việc đại loại như thế sẽ xảy ra, và trong trường hợp này họ có thể quay lại và đập phá máy vi tính. Nó đã không có ảnh hưởng mạnh mẽ giống như thế”. Nhưng Woodward và Bernstein xuất hiện trong cuốn Tất cả những người của tổng thống (chứ không phản trong bản thân vụ Watergate) như những người nổi tiếng khắp quốc gia. Với một nhà báo năm 1976 thì đó là điều không thích hợp.

Điều đó lại càng không thích hợp bởi vì, khi bộ phim được trình chiếu, Woodward và Bernstein có một tiếng tăm không hay ho gì đối với việc xuất bản một cuốn sách gây chấn động thứ hai, cuốn Những ngày cuối (The Final Days), một cuốn sách nói quá chi tiết và đi sâu vào nội tình về những tuần cuối cùng tại chức của Nixon. Cũng có thêm nhiều chỉ trích nhanh chóng và giận dữ trong giới báo chí. Nhà bình luận tin tức Eric Sevareid của CBS đã phát biểu không ủng hộ cả cuốn sách lẫn bộ phim ngay sau khi bộ phim được khởi chiếu. Trong cái có thể được coi là sự chế nhạo đối với sự “cân bằng” cảu báo chí, ông ta so sánh những sự thái quá của Nixon với những sự thái quá của Woodward và Bernstein như sau: “Ông Nixon và những người thân tín của ông ta không biết khi nào nên dừng việc tìm kiếm quyền lực, còn hai phóng viên thì không biết điểm dừng trong quá trình tìm kiếm sự nổi tiếng và tiền bạc. Ít nhất cũng đã có một sự tạm ngừng. Trong cuộc sống cũng thường có một thời gian ngừng nghỉ”. Ông kết luận với nhận xét rằng Kennedy và Roosevelt đã nằm dưới mộ trước khi những lỗi nhỏ của họ bị khơi ra. “Ngay cả những kẻ ăn thịt người cũng không ăn thịt những gì còn đang sống”.

Phản ứng với những vị anh hùng của giới báo chí trong vụ Watergate cũng đã xuất hiện trong một chừng mực nào đó. Tháng Ba 1974, William B. Arthur, giám đốc của Hội đồng tin tức quốc gia, đã cảnh báo rằng “báo chí phải cẩn trọng với khả năng tàn phá của nó” trong vụ Watergate. Phát biểu với Hiệp hội các nhà xuất bản tạp chí, Katherine Graham lo lắgn rằng, sau vụ Watergate, “sẽ có sự nhấn mạnh mới và bừa bãi hơn trong việc phơi bày những vụ việc như là một chỉ số của sự thích hợp với cương vị lãnh đạo”. Nhưng những lời bình luận mang tính cảnh báo trước này đã trở thành một loạt những lời chỉ trích với sự xuất hiện của cuốn Những ngày cuối và việc chuyển Woodward và Bernstein, những anh hùng của giai thoại báo chí trong vụ Watergate, thành Redford/Woodward và Hoffman/Bernstein, những kẻ lừa đảo trong giai thoại Watergate trong giới báo chí. Tháng Năm 1976, một tháng sau khi Tất cả những người của tổng thống được trình chiếu, giám đốc điều hành của hãng tin Associated Press là Wes Gallagher đã phàn nàn với Hiệp hội các nhà xuất bản báo Mỹ (ANPA) rằng Watergate đã dung túng cho “một cuộc bù khú trong việc đưa tin điều tra với một tỷ lệ vô cùng to lớn”. Ông ta đã mắng mỏ các đồng nghiệp rằng: “Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp không phải là giấy chứng nhận quyền đi săn như một số người ngày nay thường nghĩ”. Chủ tịch ANPA là Harold W. Anderson đã chỉ trích các nhà báo, những người đã đặt mình vào vai trò chống lại các quan chức chính phủ”.

Cuốn Những ngày cuối đã gây rất nhiều tranh cãi. Một số người mà Woodward và Bernstein đã phỏng vấn, bao gồm cả Henry Kissinger, con rể của Nixon là Edward Cox và David Eisenhower, đã phủ nhận một số phần việc mà cuốn sách cho rằng họ đã xác nhận. Một số nhà báo cầm bút để viết ra một bài báo được xây dựng chủ yếu từ những lời phát biểu không được xác định nguồn gốc, bao gồm cả kỹ thuật viện dẫn như những trích dẫn trực tiếp từ hội thoại mà Woodward và Bernstein đã xây dựng lại từ trí nhớ tự thân có thể sai lầm của người cung cấp tin tức. Phóng viên về Nhà Trắng John Osbone đã viết trên tờ New Republic rằng: “Đó là công việc tồi tệ nhất mà tôi đã chứng kiến trong suốt 49 năm làm nghề”. Có một vài bài phê bình báo rất sinh động, một vài bài rất xuất thần nhưng ngay cả những bài phê bình này cũng nhấn mạnh đến những nghi ngại phổ biến về phương pháp báo chí.

Vụ Watergate chắc chắn đã góp phần làm cho các nhà báo nổi tiếng và nổi danh. Tuy nhiên, cũng còn có những yếu tố khác nữa. Sự phát triển của Hệ thống phát sóng công cộng, với nhiều chương trình tin tức khác nhau, và sở thích đang phát triển nhanh chóng của truyền hình cáp đối với việc xây dựng các chương trình tin tức tương đối rẻ tiền và dễ sử dụng, đã tạo ra một nhu cầu mang tính cơ cấu ngày càng tăng của các nhà báo trong việc xuất hiện trên truyền hình. Cho đến những năm 1980, nhu cầu đối với các nhà báo có khả năng xuất hiện trên truyền hình là rất nhiều, từ chương trình “Nightline” đến “The McLaughlin Group”. Theo James Fallows, cả hai chương trình đó đã “thổi phóng sự nổi tiếng của các nhà báo và làm mờ đi sự khác biệt giữa nhà báo và chính trị gia”. Một khi nổi tiếng trên truyền hình, các nhà báo sẽ ngày càng trở nên hùng hồn trong lĩnh vực hùng biện.

Mưu cầu sự nổi tiếng là một phần trong một diễn biến rộng hơn, đó là đại vì ngày càng tăng của báo giới Washington. Tại Washington, mọi người được nhận xét là sang hèn theo gút thắt caravat của mình và sau vụ Watergate, dù đúng hay sai, gút thắt của các nhà báo đã trở nên to hơn bao giờ hết. Lương của nhà báo được tăng lên, trình độ giáo dục cũng tăng, mặc dù những chứng cứ về việc tăng trình độ giáo dục là điều đáng nghi ngờ hơn những gì mà các nhà báo đã giả thiết. Nhưng chắc chắn đã có một sự thay đổi về địa vị của nhà báo. Ben Bradlee nói: “Bạn biết đấy, sẽ không còn những kẻ nghiện rượu trong báo giới nữa. Chúng tôi thực sự đã ăn mặc cực kỳ bảnh bao”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần III


Tôi nghĩ rằng sự phản đối của Downie nghe có vẻ rất hùng biện, nhưng nó chỉ làm mạnh thêm giai thoại Watergate. “Watergate” thực sự là một giai thoại trong báo chí, và tôi nghĩ tác động của nó đối với báo chí có liên quan nhiều hơn đến việc mang lại quyền lực cho giai thoại này so với bất kỳ một sự thay đổi xã hội cụ thể nào của nghề làm báo sau vụ Watergate. Nhưng giai thoại đó trong các nhà báo cũng có nhiều mặt. Downie, do biết rằng mình đang nói trước máy ghi âm của một người ngoài cuộc, đã cố bày ra một giai thoại thật lãng mạn và đầy đủ chứ không phải là một sự xem xét lại mang tính hoài nghi hơn. Nói chuyện với những người trong cuộc, Downie sẵn sàng chỉ trích giới báo chí. Khi được chỉ định là chủ bút điều hành, ông ta thừa nhận với đồng nghiệp của mình về việc đã quyết định tiếp tục tham gia đưa tin điều tra nhưng cũng nói thêm rằng “có một thời kỳ – sau khi Woodward và Bernstein trở nên nổi tiếng – trong đó nhiều nhà báo đã mất đi quan điểm riêng của mình. Nhiều người đã tham gia theo đuổi vụ này và đó là một giai đoạn rất nguy hiểm, khi mà rất nhiều người phải chuốc vạ vào thân.

Một người chủ bút có trách nhiệm như Downie có thể nhấn mạnh đến nhiều mặt của giai thoại Watergate theo những mục đích và đối tượng khán giả khác nhau. Thực sự rất công bằng khi nói rằng có hai giai thoại về vụ Watergate và báo chí, và Downie đã đưa ra được cả hai giai thoại đó. Nếu có một giai thoại về báo chí trong vụ Watergate, thì cũng có một giai thoại vụ Watergate trong giới báo chí. Đó là một giai thoại xoay quanh một giai thoại khác, một tập hợp các câu chuyện và cảm giác về việc báo chí đã thay đổi thế nào trong những thập kỷ qua được thể hiện như một tập hợp những gợi ý về việc Watergate đã thay đổi báo chí như thế nào. Huyền thoại thứ hai, vụ Watergate trong báo chí, là việc vụ Watergate đã làm cho báo chí trở nên nhiều quyền lực hơn, nổi tiếng hơn và xông xáo hơn. Điều đó được ủng hộ bởi một loạt những ý kiến mang tính thực nghiệm: (1) Watergate làm tăng một cách đáng kể số người quan tâm đến báo chí như một nghề nghiệp; (2) Watergate đã gây ra bất hòa chưa từng có giữa tổng thống và báo chí viết về Nhà Trắng; (3) Watergate làm cho các nhà báo nổi tiếng hơn; (4) Watergate kích thích sự quan tâm khác thường (và có thể nói là thái quá) của các phương tiện thông tin đại chúng đối với những công việc cá nhân của những người nổi tiếng; (5) Watargate cũng làm tăng đáng kể (và nhiều khi là thái quá) số lượng báo chí điều tra. Rất nhiều người tin vào những ý kiến nhận xét này về báo chí sau vụ Watergate, nhưng liệu những điều đó có thực sự đúng? Nếu thực sự có những thay đổi này, liệu chúng có tồn tại lâu? Và nếu thế, có thể quy cho vụ Watergate?

Cuộc đổ xô đến với báo chí

Watergate đã không khơi nên trào lưu học báo chí trong sinh viên. Một số liệu tin cậy chỉ ra rằng con số sinh viên học báo chí và truyền thông bắt đầu tăng lên vào giữa và cuối những năm 1960. Số người học đại học ngành báo chí tăng gấp đôi vào thời điểm năm 1967 và 1972. Xu hướng này tiếp tục tăng lên trong suốt những năm giữa thập kỷ 1970 với tốc độ như cuối những năm 1960. Mọi người thường lập luận rằng không có vụ Watergate thì có thể số lượng sinh viên học báo chí sẽ giảm đi nhanh chóng (số người học cao nhất là vào cuối những năm 1970 nhưng tiếp tục tăng lại trong những năm 1980). Nhưng rõ ràng không phải Watergate bắt đầu cho một xu hướng đổ xô đến với báo chí.

Vậy thì tại sao mọi người lại nghĩ điều ngược lại? Có lẽ mọi người còn nhớ tờ Atlantic đã đưa một câu chuyện của Ben Bagdikian tháng Ba 1977 mang tên “Woodstein U.: Những ghi chép về sự sản xuất hàng loạt và sự giáo dục đáng ngờ của các nhà báo”. Câu chuyện này đã cung cấp tư liệu về sự phát triển nhanh chóng của số lượng sinh viên theo học nghề báo chí ở các trường đại học và cao đẳng quốc gia. Nhưng những số liệu đó không thể chứng tỏ được rằng Watergate hay ngay cả cuốn Tất cả những người của tổng thống (All the President’s Men) là nguyên nhân. Trên thực tế, câu chuyện của Bagdikian đã bày tỏ một mối quan ngại thực sự rằng chuyên đề quảng cáo trong trường báo đang tăng lên, chiếm một phần lớn trong tỷ lệ tăng lên của sinh viên học báo chí và truyền thông. Bài luận của Bagdikian không bao giờ nhằm mục đích giải thích sự tăng lên của sinh viên học báo, và trang báo nổi bật trên tờ Atlantic, trang có hình không phải của Woodward và Bernstein mà là Robert Redford và Dustin Hoffman, ngôi sao trong phim Tất cả những người của tổng thống, đã không có chỗ nào được chứng minh bởi bài báo này cả. Các biên tập của tờ Atlantic đã lợi dụng sự phổ biến của giai thoại báo chí Watergate.

Tôi không nói rằng Watergate không hề ảnh hưởng đến cách mà các nhà báo trẻ nghĩ về báo chí. Nó đã có ảnh hưởng. Tôi cũng nhận ra rằng số chuyên đề ở dạng biểu đồ không phải là con số đầy đủ những người quan tâm đến báo chí như một nghề nghiệp. Sinh viên học chuyên về sử, văn học hay kinh tế có thể quan tâm đến báo chí nhiều hơn trước đây sau vụ Watergate. Nhưng ngay cả khi điều đó là đúng, chắc chắn rằng bất kỳ những thay đổi nào của báo chí không chỉ được gây ra bởi vụ Watergate mà còn bởi chủ nghĩa đạo đức của những năm 1960 và chiều hướng chung quan tâm đến các vấn đề công cộng. Nếu xem vụ Watergate như là nội dung và bản chất của cái đã mang mọi người đến với báo chí thì thật là sai lầm. Nhưng đó là sai lầm có tính giai thoại; sức hút kỳ diệu của vụ Watergate như là chìa khóa cho báo chí hiện đại đã làm sao lãng sự chú ý từ những nguồn khác giải thích tại sao báo chí đương đại lại làm như họ đã làm.

Không thể phân biệt một ảnh hưởng của vụ Watergate tới sự tăng lên của số người theo học báo chí với một ảnh hưởng quan trọng của những yếu tố khác: cảm xúc còn nóng hổi sau cuộc họp báo truyền hình trực tiếp của John Kennedy; sự nổi bật ngày càng tăng của tin tức đó với những con người trẻ tuổi sẽ phải đi quân dịch; cơ hội ngày càng lớn của phụ nữ trong báo giới; sự tăng lương cho những người làm báo, ít nhất với những ấn phẩm quốc gia; lợi nhuận tăng lên của các chương trình phát thanh truyền hình địa phương; và trên tất cả là ảnh hưởng của những sự kiện trongn hững năm 1960 – vụ ám sát John Kennedy và trước đó là những vụ ám sát Martin Luther King và Robert Kennedy; sự nối tiếp nhau của những bản báo cáo gây choáng váng về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, không chỉ những tin tức về tiến độ chậm chạp của cuộc chiến tranh mà là sự phi lý về mặt đạo đức của nó.

Báo chí về Nhà Trắng và tổng thống

Một số nhà báo và nhà quan sát báo chí đã đồng ý với nhau rằng, sau khi vụ Watergate xảy ra, sự thân mật giữa giới báo chí về Nhà Trắng và nhân viên Nhà Trắng không còn nữa. Trước lúc đó, giới báo chí về Nhà Trắng là những bộ phận tiêu cực; sau vụ Watergate, nó trở nên mạnh mẽ hơn nhưng vẫn không kém phần tiêu cực. Ron Nessen, thư ký báo chí của Tổng thống Ford, quy điều đó cho sự thất vọng mà các phóng viên viết về Nhà Trắng cảm thấy khi bị gạt ra ngoài lề bởi Woodward và Bernstein, những người “đã khám phá ra câu chuyện mà không cần phải vào tới cổng Nhà Trắng”. Các phóng viên viết về Nhà Trắng đã quyết định trở thành những phóng viên điều tra, nhưng “họ nghĩ con đường trở thành phóng viên điều tra là đánh vào thư ký báo chí hay đặt những câu hỏi khó chịu… về tổng thống”. David Broder viết rằng các phóng viên viết về Nhà Trắng sau khi bị đánh bại bởi hai người không tên tuổi đã lập ra một “cuộc báo thù chuyên môn” và một cách chất vấn các vấn đề về Nhà Trắng mà đã trở nên “mang tính khởi tố hơn là thẩm vấn”.

Sự thân mật giữa giới báo chí về Nhà Trắng và nhân viên Nhà Trắng lại trở lại dưới thời Reagan, có lẽ không phải bởi vì giới báo chí trở nên dễ chịu hơn, mà bởi vì Nhà Trắng đã có cách quản lý khôn khéo hơn. “Quy tắc Deaver”, được đặt theo tên người phụ tá của Reagan là Michael Deaver, là như sau: các phóng viên đi tới đi lui và la hét trong cuộc họp báo sẽ không được chấp nhận. Deaver một mực yêu cầu phóng viên “nên ngồi trên ghế của họ và giơ tay hoặc không nên có một cuộc họp báo nào nữa”. Nhưng mối quan hệ giữa họ vẫn không thể được như trước. John Chancellor, cựu chủ nhiệm của NBC News, nhớ lại:”Tôi lớn lên tại một nước Mỹ nơi bạn có thể chiến thắng trong những cuộc tranh luận ở trường học bằng cách xỏ tay vào túi và đọc tên các nhân vật của chính phủ. Trong thời gian xảy ra vụ Watergate, điều đó không còn nữa (chính xác hơn là trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam điều đó không đúng nữa). Tôi nghĩ Reagan đã phần nào khôi phục lại điều đó. Nhưng không nhiều, và sự ngờ vực vẫn tồn tại”.

Sự ngờ vực ấy lớn đến mức nào? Điều mà Watergate đáng ra có thể gây ra trong các cuộc họp báo ở Nhà Trắng là nhu cầu phải có các mối quan hệ công của các nhà báo để tỏ ra mang tính thù địch chứ không phải là một nỗ lực có động cơ thúc đẩy để thực sự trở nên thù địch. Leonard Downie khẳng định rằng vụ Watergate không làm giảm sự thân mật giữa báo chí và chính phủ, chỉ trừ trong những cuộc họp báo. Ông nói: “Thật là sai lầm khi coi những cuộc họp báo là đại diện cho một sự tương tác thật sự. Báo chí có thể tập hợp rất ít thông tin từ những cuộc họp báo. Đó chỉ là những trò hề kệch cỡm”. Nhưng Gerald Warren, thư ký trợ lý cho Nixon và bây giờ đang là chủ bút tờ San Diego Union, nhớ lại sự việc theo cách khác. Ông thấy quan hệ đó giảm sút mạnh không chỉ trong những cuộc họp báo ở Nhà Trắng mà cả trong những buổi tổng kết báo chí đơn lẻ khác, không chỉ ở Nhà Trắng mà cả ở Bộ Ngoại giao Mỹ, nơi mà theo truyền thống phóng viên có cách xử sự ngoại giao hơn cả các nhà ngoại giao.

Khi tôi nói chuyện với Ben Bradlee năm 1991, ông ta đã cho rằng giới báo chí trở nên quá dễ chịu. “Tôi lo sợ về việc thiếu đi tính không dễ chịu. Câu lạc bộ Gridiron? Đó là một sự lúng túng, cái cách báo chí mong mỏi có được một vị thế và thực ra đã có được”. Sự thân thiện không phải là cái gì đó có thể dễ dàng đo được, nhưng rõ ràng rằng vụ Watergate có làm cho một quan hệ thân thiện giữa báo chí và chính phủ giảm đi ở Nhà Trắng và những nơi khác ngay cả khi báo chí về cơ bản không trở nên thù địch hơn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần II


Quan điểm hoài nghi của giai thoại Watergate này được nhiều người trong giới báo chí tánt hành, trong đó có Katherine Graham. Graham đã quan sát và chỉ ra rằng báo chí không hạ bệ tổng thống. Mùa xuân năm 1974, khi Nixon vẫn đang đương chức ở Nhà Trắng, Graham đã phát biểu tại Trường cao đẳng Colby, khẳngđịnh rằng Woodward và Bernstein đã thành công là nhờ một số người, bao gồm “nhiều người trong chính phủ và hầu hết là người của Đảng Cộng hòa”, sẵn sàng ra ngoài và nói chuyện với họ và rằng thẩm phán Sirica, ủy ban Thượng viện về vụ Watergate, bồi thẩm đoàn và những cơ quan điều tra khác đã tiết lộ “rất nhiều những tin quan trọng”.

Cuối cùng, những người hoài nghi lập luận rằng đó không phải là sự tận tâm của báo chí với sự thật mà chính sự không ưa của tờ Washington Post và những phương tiện thông tin đại chúng tự do khác đối vói Richard Nixon đã làm cho họ theo đuổi câu chuyện Watergate. Washington Post là một tờ báo tự do và đã từ lâu là một cơ quan tự do, nếu xét theo thể chế. Ben Bradlee đã từng là một người thân tín của Kennedy. Phóng viên tờ Washington Post Thomas Edsall đã nói với tôi rằng: “Báo chí là một thực thể tự do, cam kết bảo đảm các giá trị tự do và “cuộc cách mạng về quyền lợi””. Ông cũng nói, đó là “điều vốn thuộc về báo chí – mở ra mọi việc”. Larry Sabato lập luận rằng thực tế báo chí là tự do, dù trên nguyên tắc nó có như thế nào đi chăng nữa. Đương nhiên, những người chỉ trích các phương tiện thông tin bảo thủ đã phàn nàn về điều này trong nhiều năm.

Dưới mắt một số nhà bảo thủ, thế là đủ để giải thích sự theo đuổi của tờ Washington Post trong vụ Watergate, nhưng không ai trong giới báo chí mà tôi đã nói chuyện hay không một sinh viên báo chí nào mà tôi biết tin điều đó. “Sự thiên lệch theo hướng tự do” không giải thích nhiều lý do tại sao mà tờ Washington Post kiên trì theo đuổi mọi luận điệu họ nghe được từ chiến dịch của những người Dân chủ chống lại những người Cộng hòa, tại sao phóng viên của tờ Washington Post không bằng lòng với những người ủng hộ McGovern, những người nói với họ về công việc vĩ đại mà họ đang làm, hay tại sao những biên tập viên làm về vụ Watergate luôn lo lắng và nghi ngờ chính họ. Barry Sussman, người giám sát trực tiếp của Woodward và Bernstein, đã viết: “Tôi luôn thấy lo âu qua từng câu chuyện, khi có phóng viên và biên tập viên trên đầu tôi. Tất cả chúng tôi đều muốn đưa tin tức của mình nhiều nhất có thể, nhưng chỉ thế không hơn, và chúng tôi không muốn trở thành công cụ trong chiến dịch tranh cử của bất kỳ ai.” Còn Ben Bradlee, ông ta đã hậu thuẫn những đồng nghiệp trẻ và chủ bút của họ bởi vì ông ta đang theo đuổi một câu chuyện hay, chứ không phải theo đuổi Richard Nixon. Ben Bagdikian, một học giả thông tin và cựu chủ bút của tờ Washington Post, nhớ lại lời nói của Bradlee rằng “tôi muốn những bữa tiệc cocktail chết tiệt ở Georgetown đều bàn đến chuyện đó”. Bradlee “trở nên kích động trước một câu chuyện mà sẽ làm nên sự khác biệt”.

Nhưng tờ Washington Post cũng là một tờ báo luôn thận trọng ở mức cao nhất. Ban quản lý đã phải đấu tranh về quyết định xuất bản tập Các văn bản Lầu Năm Góc năm 1971, và cuối cùng đã đi đến quyết định xuất bản bất chấp sự khuyên can của các luật gia đại diện. Tờ New York Times là tờ báo đầu tiên xuất bản tập Các văn bản Lầu Năm Góc. Điều đó làm Bradlee day dứt, và có một sự trả thù ngọt ngào trong việc tờ Washington Post theo đuổi vụ Watergate. Nếu Bradlee kiếm ai đó để trả thù, thì đó là tờ New York Times chứ không phải là Richard Nixon. Có tin nói rằng, vào thời điểm giữa vụ Watergate, ông ta đã đi quanh phòng tin của tờ Washington Post và hét lên “Tôi đi guốc trong bụng ông rồi, Abe!” Abe Rosenthal, người tương nhiệm của Bradlee ở tờ New York Times, thực sự là địch thủ của Bradlee.

Nixon từ lâu cũng đã có bạn bè và cả đối thủ trong giới báo chí, và khởi nghiệp của ông ta được tờ Los Angeles Times đầy quyền lực bảo trợ, nhưng ông ta cảm thấy bị báo chí đối xử tệ và phản bội năm 1960 khi họ không ủng hộ ông ta như đã ủng hộ Kennedy. (Giới quản lý báo chí có xu hướng tốt đẹp hơn: 54% tán thành Nixon, 15% ủng hộ Kennedy và những người khác không tán thành ai). Sau thất bại trong cuộc tranh cử vào chức thống đốc bang California năm 1962, Nixon đã lên án báo chí, mặc dù một số nhà sử học nghi ngờ việc ông ta đã bị đối xử không ra gì. Trong những năm phải hứa hẹn nhiều ở cương vị tổng thống của Nixon, các năm 1968 và 1972, một số nhà phân tích chỉ ra rằng báo chí đối xử với ông ta rất tốt, thậm chí quá tốt, không điều tra gắt gao và, vào năm 1972, không gây sức ép đủ mạnh để lôi ông ta ra khỏi cuộc từ chức an toàn ở Vườn Hồng. Sáu mươi mốt phần trăm số tờ báo Mỹ đã ủng hộ Nixon so với 14% ủng hộ Humphrey, trong khi năm 1972 có 71% ủng hộ Nixon so với 5% của McGovern. Sự ủng hộ của báo chí có liên quan đáng kể đến việc đưa tin vụ Watergate. Theo một nghiên cứu về 30 tờ báo hàng ngày trên cả nước đại diện cho khoảng 23% lượng báo chí lưu hành, Ben Bagdikian nhận thấy rằng nhiều tờ báo không đưa những thông tin về vụ Watergate có sẵn trong các dịch vụ điện báo, và khi họ đưa thì những câu chuyện đó cũng không có gì nổi bật. Các tờ báo ủng hộ Nixon đã đưa ra những câu chuyện về vụ Watergate trên trang nhất, với mức độ chỉ bằng một nửa so với những báo không ủng hộ.

Vì vậy, Nixon không thể có nhiều nguyên nhân để kết tội báo chí như ông ta tưởng. Ông ta nhận thấy rằng những tờ báo hàng đầu miền Đông – Times, Washington Post và thậm chí cả tạp chí Times – đã chỉ trích chính sách của ông ta trong Chiến tranh Việt Nam và nghi ngờ sâu sắc những tuyên bố chính thức của chính phủ về vấn đề Việt Nam. Mặc dù vậy, như một nhà báo Anh là Godfrey Hodgson đã quan sát thấy, các nhà báo hàng đầu đãkhông đến nơi họ cần đến “bằng việc trở nên viển vông hay ủy mị. Công việc của họ là hợp tác ăn ý với những người có khả năng tiếp cận các câu chuyện, nghĩa là những người có quyền lực. Họ đã làm tốt điều đó”. Nixon có thể đã tìm thấy sự thông cảm ở báo chí, Hodgson nghĩ: “Cái giá của việc này có thể chỉ là một chút tài ứng biến, một chút thẳng thắn. Đó là cái giá quá đắt mà Nixon không thể trả”. Có thể Nixon muốn được đối xử bằng sự khác biệt mà Eisenhower đã từng được hưởng, nhưng ông ta không có sự hòa nhã của Ike, một đội ngũ nhân viên giỏi, hay may mắn vì đã không nắm quyền trong thời điểm diễn ra một cuộc chiến tranh gây chia rẽ và không được ủng hộ. Hơn nữa, Nixon nắm quyền sau một vị tổng thống mà bộ máy của ông ta luôn nói dối công chúng về diễn biến cuộc chiến tranh. Lyndon Johnson đã bị báo chí lên án về vấn đề đó, và thuật ngữ “sụt giảm lòng tin” trở nên phổ biến trong lối nói chính trị.

Thậm chí ngay cả khi khái niệm “báo chí tự do” chỉ là một cuộc tấn công yếu ớt vào huyền thoại báo chí trong vụ Watergate, thì rõ ràng giai thoại này, dưới dạng thuần khiết không pha trộn của nó, đã bị thổi phồng quá mức. Tuy nhiên, nó vẫn là lực lượng đầy quyền lực trong các phương tiện thông tin đại chúng. Khi tôi phỏng vấn Leonard Downie, người kế vị của Bradlee ở tờ Washington Post và là một trong số các biên tập viên cùng làm việc với Woodward và Bernstein khi xảy ra vụ Watergate, tôi đã phân biệt giữa “cái gì tờ Washington Post đã làm trong vụ Watergate và… giai thoại về nó, hai nhà báo đơn độc chống lại chính quyền”. Downie phản đối:

Tôi muốn sửa cách nói của anh một chút về giai thoại đó. Câu chuyện đó cũng khá chính xác nhưng nó đã tập trung quá mức vào hai phóng viên. Rõ ràng là có công lao của những người khác, những biên tập giúp họ phanh phui sự việc, những đồng nghiệp làm những việc khác hỗ trợ họ. Nhưng đó chỉ là một số người dám chống lại chính phủ. Và cũng như một ai đó biên tập trực tiếp bài của Carl và Bob ở nửa phía bên kia của vấn đề, câu hỏi liệu tổng thống có phải sắp mất chức hay không được chúng tôi coi là chuyện nhỏ. Chúng tôi không cảm thấy nó to lớn và có quyền lực. Chúng tôi không khoác lác. Trách nhiệm của chúng tôi quá lớn. Chúng tôi thực sự không tin rằng tổng thống sắp từ chức.Hầu hết chúng tôi đều cảm thấy bị tê liệt vào cái đêm mà tổng thống tuyên bố từ chức bởi vì vai trò của chúng tôi trong đó quá lớn. Chúng tôi luôn quan tâm đến việc làm đúng và quan tâm đến những đánh giá mà chúng tôi đưa ra. Và chúng tôi chỉ là một nhóm người nhỏ. Như Ben [Bradlee] từng ưa nói, chúng tôi thậm chí không có quyền đưa ra trát đòi hầu tòa. Chúng tôi cũng không có lực lượng như FB. Chỉ có một nhóm người nhỏ làm việc đó… Đó vẫn là những gì liên quan đến công việc này. Đó vẫn là những gì làm nên sự khác biệt. Đó là một bài học về vụ Watergate mà tôi muốn mọi người luôn nhớ đến. Nó thật khắc nghiệt và không quyến rũ chút nào vào thời điểm đó. Sau đó nó đã trở nên quyến rũ khi trở thành chủ đề của phim ảnh và của các buổi chiếu tại Trung tâm Kennedy, nhưng vào thời điểm đó nó có cái gì đó bẩn thỉu. Mọi người không ngủ, không tắm, chiếc bàn của Bernstein bừa bộn bẩn thỉu, anh ta và Woodward đang chiến đấu vào mọi lúc, chống lại cả những người biên tập bài của họ, họ bị đặt dưới một sức ép vô cùng lớn. Rất khó để chỉ ra điều gì đang xảy ra vì tất cả mọi người đều chống lại chúng tôi, bởi vì có ai đó thì thầm với Katherine Graham rằng họ sẽ làm cho tòa báo của bà ấy phá sản, và anh biết đó là những gì tôi muốn nói tới, sáng kiến, sự gan dạ và táo bạo. Đó là điều làm nên sự khác biệt.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Vụ Watergate và giới báo chí – Phần I


Vụ Watergate tràn ngập trên khắp các mặt báo nước Mỹ. Theo một người quan sát thân cận về báo chí, Watergate “có một ảnh hưởng sâu sắc nhất của bất kỳ một sự kiện hiện đại nào tới phong cách và bản chất của đạo đức báo chí”. Theo một người quan sát khác, ấn phẩm Các văn bản Lầu Năm Góc của tờ New York Times và phần đưa tin của tờ Washington Post về vụ Watergate “đã truyền cảm hứngđể một thế hệ phóng viên trẻ đào sâu xuống dưới bề mặt các sự kiện”. Chưa có một câu chuyện nào trong lịch sử nước Mỹ mà báo chí lại có một vai trò nổi bật và hào hùng như thế. Các sinh viên có thể học trong những bài học lịch sử ở trường rằng John Peter Zenger dũng cảm dám đứng lên chống lại vị thống đốc của New York hay tờ New York Times bám theo gót Boss Tweed hay “những kẻ xoi mói” vào hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã phơi bày vấn đề tham nhũng của các chính trị gia, nhưng những câu chuyện đó hầu như không phải là một sản phẩm của truyền thuyết lâu dài. Nếu một cây bút có sức mạnh hơn các ngôn từ trong lịch sử nước Mỹ, thì đó có thể là cây bút của một tiểu thuyết gia hơn là chiếc máy chữ của một phóng viên – Harriet Beecher Stowe khơi dậy phong trào chống chế độ nô lệ hay Uption Sinclair giành được cảm tình của công chúng trong việc chống lại ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. Có thể câu chuyện kéo dài nhất (nhưng không chính xác) trong giới báo chí Mỹ là về việc báo giật gân đẩy quốc gia vào một cuộc chiến chống lại Tây Ban Nha năm 1898; đó không phải là một sự cố gắng đấu tranh hào hùng tìm ra sự thật, mà là một trường hợp kinh điển của những nhà tư bản không có đạo đức sẵn sàng làm mọi việc miễn sao kiếm được nhiều tiền.

Câu chuyện về BobWoodward và Carl Bernstein trong việc theo đuổi thủ phạm trong vụ Watergate rất có quyền lực trong cả thế giới báo chí lẫn thế giới văn hóa nói chung. Tờ Washington Post đã nhận được Giải thưởng Pulitzer cho việc họ đã đưa tin về vụ Watergate. Phần tường thuật của Woodward và Bernstein trong vai trò của những điều tra viên là việc cuốn Tất cả những người của tổng thống (All the President’s Men) của họ đã trở thành cuốn sách cực kỳ ăn khách và bộ phim cùng tên cũng gây xúc động mạnh. Hơn cả cuốn sách, bộ phim làm cho những báo cáo điều tra có trọng lượng hơn và làm cho những nhà báo trở thành những người anh hùng. Câu chuyện về vụ Watergate của báo chí Mỹ đã phát triển thành một câu chuyện có ý nghĩa quốc gia, một câu chuyện không chỉ là vụ Watergate mà còn là những gì Nixon đã làm hay không làm.

Trong phạm vi rộng nhất của nó, giai thoại của báo chí trong vụ Watergate xác nhận rằng hai phóng viên trẻ của tờ Washington Post đã hạ bệ Tổng thống Mỹ. Đó là thần thoại về David và Goliath, của những cá nhân không có quyền lực đã lật đổ một thể chế có sức mạnh áp đảo. Đó là thời điểm giữa trưa ở Washington, với hai phóng viên trẻ đội mũ trắng ở một đầu phố và vị tổng thống đội mũ đen ở cuối phố, được bảo vệ bởi các đoàn tùy tùng. Và cuối cùng những chàng trai tốt đã chiến thắng. Báo chí, với sự thật là vũ khí duy nhất, đã chiến thắng ngày hôm đó.

Đó là một giai thoại ở hình thức chung chung nhất của nó, nhưng đây chỉ là một phần nhỏ trong một bối cảnh rộng lớn hơn các chủ đề rất phức tạp mà câu chuyện về vụ Watergate mở ra. Watergate là vụ làm cho người ta phải bình luận và chỉ trích, chứ không chỉ gây chú ý, và cách đặt vấn đề lãng mạn ban đầu về câu chuyện huyền thoại này đã bị thử thách qua ít nhất ba điểm. Đầu tiên, có phải “báo chí” với tư cách là một thể chế đã can đảm hành động để kiểm soát quyền lực? Hay đó chỉ là một tờ báo đơn lẻ hay một vài cá nhân hành động đơn lẻ trong tờ báo đơn lẻ đó theo cách không mang đặc thù của báo chí nói chung.

Thứ hai, có phải báo chí không được trợ giúp trong cuộc chiến chống lại những điều xấu xa trong vụ Watergate? Hay có phải báo chí là một thể chế và một tập hợp các cá nhân, với Quốc hội và các tòa án đứng vững chắc bên cạnh và những bên điều tra khác, bao gồm cả FBI, đều có những đóng góp quan trọng không kém?

Thứ ba, có phải báo chỉ hoàn toàn mang tính thuần túy về đạo đức, nghĩa là không thiên vị về chuyên môn, trong việc theo đuổi vụ Watergate, làm theo trách nhiệm của họ trong việc đem lại hạnh phúc cho công chúng? Hay có phải báo chí mang tư tưởng bè phái, rất thích thú với việc hạ bệ người đàn ông mà các nhà báo từ lâu đã rất không ưa?

Với từng quan điểm, một ý kiến chỉ trích giai thoại của báo chí trong vụ Watergate cũng đem lại những điều chỉnh đang ghi nhận. Đầu tiên, “báo chí” nói chung không theo đuổi vụ Watergate, ít nhất không tham gia từ đầu – chỉ có tờ Washington Post làm việc này mà thôi. Từ cuộc công kích tháng Sáu 1972 cho tới sau cuộc bầu cử tháng Mười một, tờ Washington Post thường cảm thấy họ đơn độc trong câu chuyện mà rất nhiều nhà báo hàng đầu coi là một điều bịa đặt từ những tưởng tượng trong năm bầu cử sôi động, không khác hơn là sự lừa dối về chính trị mà Nixon đã gọi. Katherine Graham, chủ bút của tờ Washington Post, nhớ lại lời đãnói với biên tập viên Ben Bradlee như sau: “Nếu đó là một câu chuyện vớ vẩn đến như vậy, thì những người khác ở đâu?”.

Thực ra họ đã ở đâu? Trong số 433 nhà báo ở Washington năm 1972, có khoảng 15 người làm việc toàn phần thời gian về vụ Watergate trong 5 tháng đầu tiên sau khi vụ việc xảy ra, và vài người trong số họ chỉ làm qua loa. Tờ Washington Post đăng tải vụ Watergate dưới những bức điện, nhưng chỉ có một số ít tờ báo đăng tin đó? Thậm chí ngay tại tờ Washington Post cũng tồn tại thái độ hoài nghi. Các phóng viên của tờ Washington Post viết về Nhà Trắng đã nhiều lần ngăn cản Woodward và Bernstein và chủ bút của họ trong việc tiếp tục theo đuổi vụ Watergate. Nhân viên quốc gia thì rất thô bạo. Bởi vì mọi thứ bắt đầu và phát triển một cách rất tình cờ và không thể đoán trước, nên điều đó đã làm cho những người chủ tờ Washington Post rất lo lắng. Katherine Graham nhớ lại rằng quyết định xuất bản Các văn bản Lầu Năm Góc năm 1971 được đưa ra một cách thăm dò và cẩn thận. Nhưng với vụ Watergate “thực sự là không có một quyết định nào”. Khi câu chuyện bắt đầu, “nó là câu chuyện nhỏ và có phần thêm mắm thêm muối… Nó có vẻ điên rồ và trình tự thì không được hợp lý cho lắm”. Mặc dù chỉ có một số tờ báo hàng đầu khác cạnh tranh với tờ Washington Post, góp phần tạo ra những cách đặt vấn đề và tiết lộ mới – nổi bật là các tờ Los Angeles Times, New York Times và tạp chí Time – nhưng giới báo chí nói chung hầu như không làm gì đóng góp vào công tác điều tra và tỏ ra không có lòng dũng cảm.

Thứ hai, các nhà báo không thể khám phá vụ Watergate mà không có sự giúp đỡ. Trong một bài phê bình báo chí, Edward Jay Epstein đã đặt câu hỏi trên tờ Commentary rằng: “Có phải báo chí đã phanh phui vụ Watergate?” và trả lời là không. Epstein đã đúng khi chỉ ra rằng cuốn Tất cả những người của tổng thống (All the President’s Men) nói rất ít về việc thực ra vụ Watergate đã bị phanh phui thế nào. Những đóng góp điều tra của FBI, ủy viên công tố liên bang, ban bồi thẩm và các ủy ban của Quốc hội “đã bị Bernstein và Woodward cố tình lờ đi hay đánh giá thấp một cách hệ thống”. Thay vào đó, những gì họ đã đưa là “tin tức rò rỉ từ những vụ kiện tụng của ủy viên công tố, điều tra của ban bồi thẩm, và báo cáo của FBI”. Chính điều đó làm người ta chú ý đến hai chỗ khiếm khuyết trong giai thoại báo chí Watergate. Đầu tiên, bên cạnh báo chí, các cơ quan cũng đã có đóng góp trong việc theo đuổi vụ Watergate. Những đóng góp của báo chí chỉ là một trong nhiều đóng góp khác, và có thể tổng thống sẽ không từ chức nếu không có thẩm phán John Sirica, ủy ban Ervin, những băng cassette thu được ở Nhà Trắng và những yếu tố khác. Ngay cả vấn đề “làm câu chuyện sinh động” cũng không phải là một chức năng dành riêng cho báo chí: ứng cử viên tổng thống George McGovern luôn nói đến vụ Watergate trong chiến dịch tranh cử của mình; Văn phòng kế toán tổng hợp, tổ chức Common Cause, Ủy ban dân chủ quốc gia và những vụ kiện tụng của họ chống lại chiến ịch của Nixon đều góp phần đưa vụ Watergate ra ánh sáng. Hơn nữa, bản thân các đóng góp của báo chí cũng phụ thuộc vào các quan chức chính phủ, những người có thể gặp rủi ro trong công việc và sự nghiệp nếu rò rỉ thông tin với báo chí. Epstein nhấn mạnh rằng vai trò của báo chí không lớn hơn vai trò của “chính những cơ quan của chính phủ trong việc phơi bày vụ Watergate”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Ảo tưởng về uy tín đại chúng của Ronald Reagan – Phần cuối


Một minh họa tốt nhất cho vấn đề này là sự xác nhận thường xuyên ở Washington rằng “công chúng” hay “nhân dân” muốn tổng thống thành công bởi vì họ đã mệt mỏi vì những sự thất bại của các tổng thống trước đó. Lou Cannon viết: “Tất cả mọi người đều muốn tổng thống của mình phải có cái gì đó cao hơn mức bình thường một chút”; Meg Greenfield viết: “Mọi người muốn phá vỡ trạng thái bị phù phép của một loạt các tổng thống chịu số phận bi đát”; Haynes Johnson viết: “Công chúng Mỹ không muốn chứng kiến một tổng thống thất bại nữa”. John Herber cũng cho hay rằng nhân dân muốn vị tổng thống này thành công sau một chuỗi thất bại.

Mặc dù tất cả những điều trên có vẻ là sự thật hợp lý, nhưng không có một nhà bình luận nào đưa ra chứng cứ cho khát vọng này của người dân, và ít nhất cũng có lý khi nghi ngờ rằng cộng đồng Washington, chứ không phải “công chúng”, muốn tổng thống thành công và cộng đồng này đã hướng suy nghĩ của mình về phía công chúng. Cho dù công chúng cảm thấy thế nào thì các phương tiện thông tin cũng có khát khao lớn là “quay ngược xu hướng thất bại của tổng thống”, theo nhận xét của Laurence Barret. Công chúng không do dựtrong việc đánh giá thấp các chính sách của Reagan thậm chí ngay cả khi báo chí và Quốc hội do dự làm điều đó; và nếu họ có ý định đánh giá tư cách cá nhân của Reagan cao hơn những chính sách mà ông đã đưa ra, thì họ vẫn đánh giá nó thấp hơn tư cách cá nhân của những người tiền nhiệm Reagan. Nếu công chúng tích cực ủng hộ Reagan, thì họ đã không nói điều đó cho những người tổ chức thăm dò ý kiến. Tháng Tám 1982, Richard E. Meyer của tờ Los Angeles Times viết một bài báo mang tên “Một phần ba số người từng bỏ phiếu ủng hộ Reagan sẽ không làm lại điều đó nữa”. Đó là một đầu đề có lời lẽ bảo thủ: chưa đầy một nửa (49%) số người bỏ phiếu ủng hộ Reagan năm 1980 quả quyết rằng họ muốn ông ta tái đắc cử, 35% muốn ông ta thất bại, và 16% không có ý kiến.

Kết luận

Chúng tôi tin tưởng vào chứng cứ chỉ ra rằng Ronald Reagan được miêu tả như một nhà truyền đạt vĩ đại không phải bởi vì ông ta có khả năng đặc biệt trong việc giao tiếp trực tiếp với công chúng Mỹ, mà bởi vì khả năng liên kết với những yếu tố quan trọng, trong đó có cả các phương tiện thông tin. Trong nỗ lực cố gắng đánh giá ấn tượng cá nhân của họ với Reagan, với những chiến thắng về lập pháp của ông ta và những thông tin mà họ nhận được từ những người bảo thủ, các phương tiện thông tin quốc gia đã xác định rằng Reagan có thể liên kết với công chúng cực kỳ hiệu quả. Trong hai năm đầu ở nhiệm sở, thời gian mà báo chí tự đưa ra kết luận này, không có chứng cứ nào chỉ ra rằng công chúng đồng ý với những đánh giá đó. Thời kỳ trăng mật của Reagan ít căng thẳng hơn so với những tổng thống khác; tỷ lệ ủng hộ cá nhân ông cao nhưng không cao hơn các tổng thống trước; và tỷ lệ phần trăm người không ủng hộ các chính sách của ông ta (chứ không phải là không có ý kiến) thì lại cao hơn so với những người tiền nhiệm.

Có phải là sáng suốt khi dựa vào tỷ lệ phiếu bầu thăm dò ý kiến trong những vấn đề này? Chúng tôi không muốn lập luận rằng đó là thước đo ý kiến công chúng duy nhất, hoặc đó là một thuớc đo “đích thực”. Những kết quả bỏ phiếu là một sự dàn dựng, chỉ là đánh giá có cơ sở nhưng không chính thức của các học giả ở Washington. Chúng là thước đo vô tri và thầm lặng hơn so với các thước đo khác – và những người chỉ trích việc thăm dò ý kiến cho rằng điều này khiến họ đi lầm đường khi đo lường “ý kiến”, giống với đánh giá của chúng tôi. Chúng tạo ra “các ý kiến” khi mà mọi người không có ý kiến nào hay không có ý kiến rõ rệt nhưng cảm thấy buộc phải nói điều gì đó. Vì lý do này hay lý do khác, những cuộc bỏ phiếu còn rất nhiều khiếm khuyết. Mặc dù vậy, nếu đó không phải là những từ cuối cùng của ý kiến công chúng, thì chắc chắn đó là những từ đầu tiên. Và rất nhiều báo cáo về uy tín tuyệt đối của Reagan sẽ làm cho các cuộc thăm dò ý kiến trở thành điểm chuẩn của uy tín, tiêu chuẩn của sự hiệu quả của Reagan với tư cách là một nhà truyền đạt vĩ đại với công chúng.

Trong năm mươi năm qua, quan hệ trực tiếp giữa tổng thống và công chúng đã rất phát triển. Tuy nhiên, báo chí đãđánh giá quá cao mức độ “thân thiện” của mối quan hệ này, thậm chí ngay cả trong thời đại của vô tuyến truyền hình và những cơ hội hình ảnh. Thomas Griffith viết trong tờ Time năm 1982 rằng Tổng thống Reagan thương phát biểu trên truyền hình vào giờ cao điểm hơn bất kỳ tổng thống nào khác và họp báo nhiều gấp ba lần Jimmy Carter. “Là một diễn viên, Reagan học được rằng “nơi bán vé trước cổng rạp” quan trọng hơn những lời chỉ trích”.

Không, đó là điều đã thuyết phục Washington tin rằng tổng thống đã học được điều đó. Nhưng Reagan đã rất siêng năng trong việc nịnh bợ Quốc hội và các phương tiện thông tin đại chúng; công chúng không phải là mối quan tâm đầu tiên và duy nhất của ông ta. Chúng tôi đã từng lập luận ở trên rằng điều quan trọng trong những đánh giá về hình ảnh của tổng thống là khả năng của ông ta trong việc liên kết trực tiếp với những lực lượng chủ chốt. Giới báo chí về Nhà Trắng đã giao tiếp với tổng thống trên các phương diện cơ thể, cá tính, tình cảm. Tuy nhiên, bởi vì quy tắc của báo chí khách quan ngăn cấm sự biểu lộ công khai của những ấn tượng cá nhân trong hầu hết mọi tin bài, nên bản chất của sựgiao tiếp gần gũi phải được đặt trong sự kiểm soát hoặc gán cho một nơi nào đó. Trong trường hợp này, chúng tôi tin rằng cảm giác của giới báo chí rằng Ronald Reagan là một người để gần – một cảm giác mà những người khác ở Washington cũng cảm thấy – đã được quy cho toàn thể công chúng.

Quả thực, có vẻ như cộng đồng duy nhất không bị quyến rũ bởi thành tích những năm đầu của Reagan là những gã quê mùa ở Nam Succotash, những người mà với họ Reagan thừa nhận là đã giao tiếp theo cấp bộ lạc. Nhưng thay vì gán cho vị tổng thống này cái danh nhà bảo thủ vĩ đại – sự miêu tả được đưa ra bởi một nhà phân tích các chính sách của ông – hay là gọi ông ta là một tổng thống hiện đại gây nhiều tranh cãi nhất – theo kết quả những cuộc bỏ phiếu – báo bạnchí lại gán cho tổng thống cái danh là người truyền đạt vĩ đại nhất, sự miêu tả dựa phần lớn vào kinh nghiệm của những nghị sĩ và phóng viên về một vị tổng thống dễ gần.

Báo chí ở Washington là một thứ văn hóa truyền miệng ở trung tâm của một mạng lưới quốc gia về in ấn và phát sóng. Phóng viên ở Washington không dùng tài liệu gì trong 75% bài viết của họ, trừ những thông cáo báo chí. Khi họ sử dụng tài liệu đó, thì một phần ba là những “tài liệu” lấy từ những tờ báo khác. Phỏng vấn là cơ sở chính của phóng viên ở Washington, mặt đối mặt, người với người. Những người trong giới chính trị ở Washington nói với nhau nhiều hơn là nói với những người khác, nhưng có nguy cơ là thói quen này có thể đem đến tình trạng tự cô lập. Nhà phân tích chính trị Stephen Hess viết: “Buồng nhại tiếng vang của thế giới này đã tạo ra một sự cộng hưởng âm thanh đặc biệt, như ở hành lang của một bệnh viện hay một cơ quan hình sự”. Stev Issacs, cựu chủ bút của tờ Minneapolis Star, viết: “Nếu bạn cử một phóng viên đến Washington, người phóng viên đó có chiều hướng được làm quen với những giá trị của các tầng lớp ưu tú trong xã hội và giác quan tin tức ngốc nghếch ở đó”. Có thể đó là một đánh giá tàn nhẫn, nhưng trong trường hợp này, đó là những gì mà nghiên cứu của chúng tôi ủng hộ.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Ảo tưởng về uy tín đại chúng của Ronald Reagan – Phần V


Một sự thành công về lập pháp dẫn tới một sự thành công khác, mỗi thành công được thúc đẩy bởi thành công trước. Những tin tức báo chí hàng ngày cũng làm phóng đại thêm những thành công trước. Báo chí muốn đánh giá khả năng của tổng thống như một chính trị gia và như một hình ảnh có thể bán được trong suốt nhiệm kỳ hơn là đánh giá sự ủng hộ của công chúng đối với những chính sách của tổng thống. Nhân vật Reagan rất phù hợp với xu hướng của phương tiện thông tin đại chúng trong việc đánh giá thành quả một cách văn vẻ hơn là thực chất. Kết quả, trong những tờ báo đưa tin về Reagan, là việc xoa dịu các yếu tố trong cương vị tổng thống của Reagan – các chính sách của ông ta – vốn trên thực tế không phát huy hiệu quả lắm ở Peoria và thổi phồng các yếu tố đang tràn vào Washington như một cơn bão – bất kể ảnh hưởng của nó ở Peoria như thế nào đi chăng nữa.

Khi đó báo chí tin rằng Reagan thắng lợi vì ông ta la một nhà truyền đạt vĩ đại. Ở khía cạnh nào đó, điều ngược lại cũng đúng: hình ảnh của Reagan như một nhà truyền đạt vĩ đại được khẳng định bởi vì ông ta đã có những thắng lợi về mặt lập pháp. Hiện tượng thoáng qua của chiến thắng đã mang theo tấm lá chắn bảo vệ có thể làm cho cả những kẻ chống lại Quốc hội và các phương tiện thông tin đại chúng sợ phải chỉ trích tổng thống. Chủ tịch Quốc hội Anthony Lewis đã viết đầu năm 1982 rằng: “Ông ta thắng lớn trong chiến dịch bầu cử năm 1980. Năm ngoái ông ta lại thắng lớn trong cuộc tranh cãi với Quốc hội về chính sách thuế và ngân sách. Ông ta có một quan điểm chính trị chính thống, điều đã làm cho giới báo chí kiêng dè”.

Vì vậy, với người Mỹ, nhận thức về sự thành công vang dội của Reagan theo một khía cạnh nào đó là một sự suy diễn của công chúng về sự nổi tiếng của ông ta như một chính trị gia và một nhân vật ở Washington, một sự suy diễn từ khả năng hoạt động hiệu quả của ông ta với Quốc hội và một kết quả của khả năng thu hút những người ủng hộ mới từ phe cánh hữu. Nhân tố cuối cùng làm nên sự nổi tiếng của Reagan là niềm tin ở Washington rằng chính trị ngày nay là trên truyền hình và rằng một người đàn ông có vẻ quyến rũ như Reagan có một sức mạnh mà công chúng không thể cưỡng lại được. Mọi người không cần phải nhìn vào tỷ lệ phiếu bầu mà chỉ cần tập trung chú ý vào bản tin tối trên truyền hình và theo dõi cái cách mà tổng thống thắng lợi trên truyền hình.

Trong việc hưởng ứng điều này, các phương tiện thông tin đã tỏ ra quá ư thông minh. Không muốn nhẫm lẫn hình ảnh với thực chất, một thập kỷ qua các phương tiện thông tin đại chúng càng ngày càng trở nên tinh tế và khéo léo trong việc tìm hiểu những vấn đề đằng sau những hình ảnh mà tổng thống và ứng cử viên tổng thống đã tạo cho mình trên truyền hình. Nếu truyền hình cho phát các mẩu hình ảnh đầy mánh khóe và các báo cũng theo sau bằng các bức ảnh tin tức mang tính bắt buộc, thì đồng thời các bình luận viên trên báo in và đôi khi cả trên  truyền hình nữa nhận thấy ngay rằng đây là những cơ hội tạo hình ảnh được tính toán rất kỹ. (Việc thuật ngữ “cơ hội tạo hình ảnh” đã trở thành lối nói phổ biến trong những năm Reagan nắm quyền không phải là một sự tình cờ). Tất cả các tổng thống đều cố gắng thao túng giới báo chí và điều khiển hình ảnh của chính họ, nhưng những cố vấn của Reagan dường như đặc biệt khéo léo khi thực hiện nhiệm vụ này, và báo chí dường như rất sợ cỗ máy tạo hình ảnh của họ. Mùa thu năm 1981, khi Sid Blumental của tờ New York Times Magazine gán cho Reagan cái tên “Người thủ lĩnh về truyền đạt” (Communicator in chief), đã có rất nhiều tin chú ý tới “nhóm trợ giúp tiếp thị hình ảnh” của Reagan. James Baker, David Gergen, Larry Speakes và những người khác  được đánh giá rất cao về tính chuyên  nghiệp và óc sáng tạo trong việc tiếp thị những hình ảnh của tổng thống. Nhưng các phương tiện thông tin đại chúng đã giả thiết rằng nếu đầu tư quá nhiều thời gian và tiền bạc vào một cái gì đó – việc tô điểm hình ảnh – thì thời gian và tiền bạc chắc chắn sẽ đưa đến những kết quả có tác động trực tiếp tới ý kiến công chúng.

Laurence Barret, phóng viên về Nhà Trắng của báo Time,  đã lập luận trong cuốn sách xuất bản năm 1982 về Reagan rằng khả năng của Nhà Trắng trong việc tô điểm hình ảnh của tổng thống đã trở thành một “giai thoại thứ yếu” ở Washington. Ông quy cái mà ông gọi là “chuyện cổ tích” về sức mạnh vô hạn của các phương tiện thông tin về Nhà Trắng cho sự trái ngược giữa Nhà Trắng được điều hành một cách có hiệu quả của Reagan và sự bất lực của Nhà Trắng thời Carter. Ông ta cũng lưu ý rằng khả năng của các nhân viên thân cận của tổng thống được đánh giá quá cao bởi vì chính những người này là nguồn cho những câu chuyện “đằng sau hậu trường về việc tạo dựng hình ảnh ở Nhà Trắng” – khác xa với việc trở thành một ví dụ của việc đưa tin năng nổ, xoi mói, những mẩu chuyện này chỉ phục vụ cho những mục đích tự đề cao của những người bên trong Nhà Trắng.

Các phóng viên báo viết có xu hướng đánh giá cao quyền lực của những hình ảnh trên truyền hình. Thomas Griffith viết trên tờ Time rằng: “Hơn bất kỳ chính quyền nào, bộ máy của Reagan nhắm tới số lượng lớn khán giả xem truyền hình chứ không chú ý nhiều lắm tới những người xem báo”. Ông cũng viết rằng đây là “một tổng thống truyền hình và một sự buôn bán nhân cách rất khéo léo”. Mark Crispin Miler viết một mục tin rất giận dữ và có chỗ rất sáng suốt trên tờ The New Republic về các phóng viên tin tức truyền hình. Ông ta khẳng định: “Báo chí và  truyền hình nói  riêng đã bỏ phiếu cho Reagan… Reagan giành chiến thắng bởi vì ông ta là một hình ảnh hoàn hảo trên truyền hình… Truyền hình đã làm giảm văn hóa chính trị của chúng ta, làm chúng ta chỉ còn nghĩ đến sự thành công của những điệu bộ, cử chỉ, tư thế và những khuôn mặt tự động. Nhưng cũng không có chứng cớ nào cho thấy rằng sự sáng chói trên truyền hình của Reagan hay rắc rối của Carter trong vụ bắt cóc con tin ở Iran và một nền kinh tế sút kém quyết định kết  quả cuộc bầu cử.

Liệu có chứng cứ nào cho thấy mọi thứ trong nền chính trị Mỹ đều đi theo những hình ảnh trên truyền hình –  cụ thể, có phải ý kiến công chúng chỉ là con tốt trong chính trị truyền hình? Khi liên quan đến vấn đề này thì không có nhiều bằng chứng lắm. Giới báo chí truyền thông không chỉ có ảo giác về quyền lực của phương tiện thông tin mà còn về quyền lực của công chúng. Tin rằng câu chuyện về những quan điểm chính trị hiện đại là câu chuyện về khả năng xuất hiện trực tiếp trước công chúng của ứng cử viên và quan chức, các phương tiện thông tin đã đem lại thêm quyền lực cho “ý kiến công chúng”.Tuy nhiên, “ý kiến công chúng” đó chỉ có thể được biết thông qua tỷ lệ phiếu bầu hay cuộc bầu cử.  Nếu không, nó cần phải được các giới lãnh đạo thuộc đủ loại tán dương mới có thể tồn tại – được các đảng phái và các nhóm lợi ích sử dụng khéo léo, được các phong trào xã hội huy động, được các phóng viên và trợ lý trong Quốc hội thăm dò khi nói về những người lái  taxi hay các phần tử giận dữ. Ý kiến công chúng không phải là cái gì đó tồn tại như xác thịt. Đó cũng không  phải là cái gì đó giật đổ các cánh cửa hay những chướng ngại trên đường phố. Thay vào đó, nó là một tập hợp các niềm tin trong đầu những người ra quyết định chủ chốt về cái mà những người hiếm khi đề nghị bày tỏ  ý kiến cá nhân của mình tin tưởng.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.