Formosa và bài học về năng lực xử lý khủng hoảng của Việt Nam


Có một số điểm cần lưu ý như sau:

1 – Nhà chức trách Việt Nam không thể vội vàng đổ lỗi nguyên nhân gây cá chết hàng loạt cho Công ty Formosa. Công ty này đã hoạt động nhiều năm, nếu nguyên nhân thực sự do chất xả thải trong quá trình vận hành thì hiện tượng cá chết phải xảy ra từ nhiều năm trước. Chưa kể, Formosa là công ty của Đài Loan, nhìn rộng hơn là của Trung Quốc. Việc đổ lỗi khi chưa có chứng cứ xác đáng sẽ gây ảnh hưởng quan hệ hai nước vốn đã rất căng thẳng.

2 – Nguyên nhân gây cá chết cũng không thể do hiện tượng thủy triều đỏ, vì nếu thủy triều đỏ xảy ra, các nhà khoa học và ngư dân sinh sống lâu năm ở Hà Tĩnh đã quan sát được hiện tượng này.

3 – Ít có khả năng, dù không loại trừ, Trung Quốc đã dùng các thiết bị công nghệ cao để bơm chất độc vào sâu trong vùng biển Việt Nam dẫn đến hiện tượng cá chết hàng loạt và đúng thời điểm nhạy cảm đối với Việt Nam hiện nay.

4 – Cách thức nhận biết và xử lý khủng hoảng của hệ thống cơ quan chức năng từ trên xuống thể hiện rõ sự lúng túng, bế tắc và không chuyên nghiệp, càng khiến vấn đề cá chết trở nên nghiêm trọng hơn và kích động tâm lý tức giận trong dân, đồng thời tạo cơ hội cho các lực lượng phản động, chống phá tăng cường kích động thông qua các hệ thống mạng xã hội. Việc các cơ quan chức năng không thể vào ngay khu kỹ nghệ Vũng Áng để lấy mẫu kiểm nghiệm và phải vài tuần sau mới lấy mẫu theo kiểu đối phó càng khiến nhiều người thêm nghi ngờ, bức xúc.

5 – Đặc biệt, cách thức tổ chức họp báo theo kiểu trốn tránh, làm cho có, úp mở. Việc cơ quan chức năng đưa ra lý do giải thích chung chung và thiếu thuyết phục (do hoạt động của con người và hiện tượng thủy triều đỏ) và việc chậm trễ lấy mẫu kiểm nghiệm hay thành lập các đoàn thanh kiểm tra liên ngành vô tình làm trầm trọng thêm vấn đề.

6 – Một số tờ báo vô tình đã tiếp tay cho các lực lượng phản động, chống đối khi liên tục đăng tải các bài viết xoáy sâu vào sự tức giận của dân chúng, sự lúng túng của các cơ quan chức năng, mà không giúp đưa ra các gợi ý về hướng giải quyết hay kêu gọi người dân bình tĩnh trước các âm mưu của thế lực chống đối trong và ngoài nước.

Do vậy, nghi vấn lớn nhất hiện nay tập trung vào một số khả năng:

1 – Sau nhiều năm hoạt động, Công ty Formosa có thể đã bí mật tiến hành súc rửa đường ống xả thải vốn đã tích tụ các chất ô nhiễm trong nhiều năm. Để tiết kiệm chi phí, Formosa đã sử dụng những hóa chất tẩy rửa cực mạnh làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường biển xung quanh.

2 – Không loại trừ khả năng doanh nghiệp nào đó tại Hà Tĩnh, bao gồm cả Formosa đã nhập về các chất gây ô nhiễm môi trường theo các thỏa thuận mua bán chất gây ô nhiễm với các công ty nước ngoài. Do tại nhiều nước có các quy định bảo vệ môi trường rất nghiêm ngặt, việc xử lý chất xả thải rắn đắt đỏ nên một số công ty sẽ tìm cách đưa chất thải ô nhiễm đến các nước khác thông qua nhiều con đường khác nhau.

3 – Đây là âm mưu được các thế lực bên ngoài dàn dựng từ trước nhằm nắn gân Ban lãnh đạo mới, gây khó khăn cho Việt Nam trước thời điểm bầu cử Quốc hội và nhất là chuyến thăm sắp tới của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Các cuộc biểu tình đồng loạt dẫn tới các vụ bắt bớ hay xung đột giữa người biểu tình (dưới mác bảo vệ môi trường) với lực lượng vũ trang sẽ là cái cớ rất tốt để một số thế lực tại Mỹ ép Tổng thống Obama hủy chuyến thăm, hoặc nếu đi thăm sẽ dành nhiều thời gian tiếp xúc với các thành phần bất đồng chính kiến…

Việc xác định rõ nguyên nhân khiến hải sản chết hàng loạt là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết để dập tắt làn sóng tức giận của người dân và ngăn chặn những tác động tiêu cực nảy sinh. Nếu không tìm được đúng nguyên nhân đủ sức thuyết phục khẳng định Formosa là thủ phạm, các cơ quan chức năng sẽ không thể phạt hay buộc công ty này ngừng hoạt động. Khi đó, Formosa sẽ trở thành lãnh địa riêng ở Hà Tĩnh và minh chứng cho thấy sức mạnh (vượt trên cả quy định, luật pháp) của công ty Trung Quốc trên đất Việt Nam.

Còn trong trường hợp không có chứng cứ cụ thể nhưng lại gây áp lực đòi Formosa đóng cửa, Trung Quốc sẽ có cớ làm to chuyện để bảo vệ doanh nghiệp của họ. Một trong các cách thức là rút ồ ạt các công ty của Trung Quốc về nước và ngừng các dự án đầu tư. Khi đó, rất nhiều người lao động se mất việc, giá cả hàng hóa tăng… dẫn đến căng thẳng, biểu tình. Các lực lượng phản động sẽ nhân cơ hội nhảy vào kích động tâm lý phản đối trong dân. Các nguy cơ sẽ còn lớn hơn bây giờ.

Về kẻ chủ mưu gây ra vụ Formosa, một số nguồn tin nhận định nhiều khả năng do Trung Quốc, với sự tiếp tay của thế lực bên trong. Trung Quốc bắn một mũi tên trúng nhiều đích: nắn gân Ban lãnh đạo mới của Việt Nam, gây bất ổn bên trong để Việt Nam lơ là hơn trong vấn đề Biển Đông, làm chậm lại tiến trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Trong khi đó, về phía Mỹ, qua vụ Formosa Mỹ sẽ đánh giá được phần nào năng lực của Ban lãnh đạo mới, gây sức ép để Tổng thống Obama gặp một số nhân vật bất đồng chính kiến trong chuyến thăm Việt Nam, thúc đẩy làn sóng dân chủ ở Việt Nam và nhân cơ hội này tìm kiếm những gương mặt hay tổ chức để thúc đẩy đấu tranh sau này.

Trên cơ sở các phân tích và đánh giá trên, có thể xem xét một số hướng đi sau:

1 – Nhanh chóng triển khai các hoạt động thanh kiểm tra của Đoàn kiểm tra ngành và Hội đồng khoa học – công nghệ cấp quốc gia để phân tích nguyên nhân hải sản chết bất thường ở miền Trung.

2 – Tiến hành đánh giá tác động môi trường trên toàn bộ khu vực Vũng Áng với các số liệu quan trắc và đo lường cụ thể. Việc đánh giá phải được tiến hành toàn diện, có thể kéo dài trong nhiều năm và tốt nhất nên có sự tham gia của một số tổ chức môi trường quốc tế vì nhiều mục đích.

+ Tâm lý trước mắt giải thích phần nào nguyên nhân gây các chết hàng loạt để làm dịu tâm lý tức giận của người dân hiện nay.

+ Về lâu dài, đây sẽ là những số liệu và bằng chứng khoa học để đối chiếu và giả thích khi có những hiện tượng bất thường xảy ra (số liệu cụ thể bao giờ cũng có sức thuyết phục hơn nhiều so với việc chỉ nêu lý do chung chung, mơ hồ). Nó cũng sẽ ngăn các hiện tượng tái diễn trong tương lai.

+ Quan trọng hơn, do có sự tham gia của các yếu tố nước ngoài nên các doanh nghiệp hoạt động tại Vũng Áng sẽ phải chú trọng hơn đến công tác bảo vệ môi trường và ngăn chặn nguy cơ biến các vùng biển Việt Nam thành bãi xả thải của các công ty nước ngoài.

+ Đây sẽ là mô hình thử nghiệm đánh giá tác động môi trường cho các khu công nghiệp, kỹ nghệ để sau đó rút kinh nghiệm và áp dụng cho các KCN khác trên cả nước.

+ Do hiện tượng cá chất hàng loạt đang thu hút sự chú ý rất lớn của dư luận trong và ngoài nước nên sẽ dễ dàng kêu gọi quốc tế hỗ trợ tiến hành Dự án đánh giá tác động môi trường. Nhiều nước và tổ chức môi trường sẵn sàng vào cuộc giúp Việt Nam và coi đây là một “case study” điển hình ở các nước đang phát triển.

+ Nếu tìm ra nguyên hân thực sự cá chết do hoạt động súc rửa đường ống xả thải của Công ty Formosa hay do một doanh nghiệp nào đó nhập chất xả thải về rồi bơm xuống biển Việt Nam thì các cơ quan chức năng hoàn toàn có quyền yêu cầu các công ty đó phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả môi trường và xử phạt theo đúng luật pháp quốc tế mà không sợ bị Trung Quốc hay các thế lực khác gây căng thẳng.

Nguồn: TKNB 09/05/2016

Nhân tố CNN


Nguyễn Thị Tâm

Nhân tố CNN là một khái niệm phản ánh tác động của truyền thông đối với việc hoạch định chính sách đối ngoại thông qua việc đưa tin về các cuộc xung đột một cách tập trung và có cảm xúc, qua đó khơi dậy các phản ứng từ công chúng và gây áp lực lên các chính phủ trong việc hành động đối phó với các cuộc xung đột đó.

Khái niệm này gắn liền với vai trò của kênh truyền hình CNN (Cable News Network), một mạng lưới tin tức truyền hình cáp của Mỹ, được thành lập vào năm 1980 bởi Ted Turner. Ngay khi được thành lập, CNN là hệ thống truyền thông đầu tiên cung cấp tin tức 24/24 trên truyền hình, và cũng là kênh truyền hình đầu tiên ở Mỹ chỉ chuyên về tin tức.

Trong khi mạng lưới truyền thông này có chi nhánh ở rất nhiều nước, CNN chủ yếu phát song từ các trụ sở ở Atlanta, New York, và các trường quay ở Washington D.C, và  Los Angeles. CNN được sở hữu bởi công ty mẹ Time Warner. Cho đến tháng 6 năm 2008, CNN có mặt tại hơn 93 triệu gia đình người Mỹ. Trên toàn thế giới, CNN được chuyển tải qua CNN Quốc tế (CNN International), và có mặt trên 212 quốc gia và vùng lãnh thổ. CNN được xếp hạng là mạng lưới tin tức truyền hình cáp đứng thứ 2 của Mỹ, và có số lượng người xem đặc biệt nhất (theo Nielsen Cum Ratings). Kênh CNN International luôn được cập nhật để cung cấp cho người xem những thông tin mới nhất trên toàn thế giới.

Tác động của CNN được nhận thấy rõ nhất thông qua cuộc Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, khi những bản tin chiến sự truyền hình trực tiếp của CNN được đánh giá rất cao. Nhưng điều này cũng đã dẫn đến những cuộc tranh luận về cái gọi là “Nhân tố CNN”, trong đó CNN được cho là đã định hình dư luận về cuộc chiến thông qua cách đưa tin trực tiếp từ chiến trường của mình. CNN xây dựng uy tín của mình với tư cách là một nguồn cung cấp tin quốc tế đáng tin cậy dựa vào việc truyền tải tin từ hiện trường trong những sự kiện nổi tiếng như từ Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh năm 1989, Baghdad trong cuộc bao vây tháng 1 năm 1991, hay từ tòa nhà Quốc hội ở Matxcơva trong sự kiện cuộc đảo chính tháng 8 năm 1991. Những sự kiện trên và những sự kiện khác sau đó đã xây dựng uy tín của CNN như là một công ty truyền thông mà sự có mặt của nó có thể gây ảnh hưởng đến kết qủa của những sự kiện mà nó truyền tải.

Những sự kiện chính của CNN
– Thảm họa tàu vũ trụ Challenger (1986): CNN truyền hình trực tiếp việc phóng tàu vũ trụ Challenger và hình ảnh con tàu bị nổ tung sau đó.

– Giải cứu bé Jessica (1987): Em bé 18 tháng tuổi Jessica McClure bị rơi xuống giếng ở Midland, Texas. CNN nhanh chóng có mặt tại hiện trường, và sự kiện đó đã giúp nâng cao tên tuổi của CNN.

– Chiến tranh vùng Vịnh (1991): Cuộc chiến đánh đấu việc CNN trở thành một trong ba mạng lưới tin tức lớn nhất trong lịch sử của Mỹ. Các hình ảnh trực tiếp về cuộc chiến đã khiến vai trò của “Nhân tố CNN” trở nên nổi trội.

– Sự kiện 11/9: CNN là mạng lưới truyền thông đầu tiên đưa tin về những cuộc tấn công khủng bố này.

– Bầu cử Tống thống Mỹ năm 2008: CNN tổ chức và phát trực tiếp các cuộc tranh luận được đánh giá cao giữa các ứng viên tổng thống.

Nhân tố CNN gây nhiều tranh cải trong hai vấn đề. Vấn đề đầu tiên là sự ảnh hưởng của nó trong các mối quan hệ quốc tế. Một vài nhà quan sát lập luận rằng CNN là nhân tố mấu chốt giải thích cho cách thức và tốc độ kết thúc của cuộc Chiến tranh Lạnh. Vào cuối những năm 1980, những hình ảnh về sự giàu có của chủ nghĩa tư bản đã xâm nhập Đông Âu thông qua truyền hình, làm người dân nhận thức rõ thêm về sự suy thoái kinh tế của các nước này. Vào năm 1989, Bức tường Berlin đã sụp đổ, một sự kiện không ai có thể đoán trước được một vài năm trước đó. Nhờ vào hệ thống thông tin toàn cầu qua vệ tinh, hình ảnh về sự kiện đã được truyền tải khắp nơi trên toàn thế giới. Sau sự tan rã của Liên Xô, các chính quyền ở Đông Âu lần lượt sụp đổ, và hình ảnh sự sụp đổ chính quyền trước lại kích thích sự sụp đổ của các chính quyền tiếp theo. Tương tự như vậy, sau khi sự kiện Thiên An Môn năm 1989 được CNN truyền hình trực tiếp trên toàn thế giới, Mỹ đã ngay lập tức áp đặt lệnh cấm vận thương mại đối với Trung Quốc. Ngược lại, những sự kiện tương tự ở Trung Quốc năm 1986 đã không gây ra phản ứng gì từ các nước phương Tây, phần lớn bởi hình ảnh về các sự kiện này đã không đến được công chúng phương Tây qua truyền hình.

Tuy nhiên, đôi khi ảnh hưởng của nhân tố CNN đối với chính sách đối ngoại rất dễ bị thổi phồng quá mức. Những hình ảnh trên truyền hình về các thảm họa chỉ dẫn tới các quyết định viện trợ nhân đạo trong một số ít trường hợp. Các hình ảnh trên truyền hình cũng không phải luôn thuyết phục được các chính phủ đưa ra các hành động quân sự quan trọng để kết thúc các cuộc đụng độ gây ra các thảm họa nhân đạo đó, ví dụ như cuộc chiến ở Bosnia (1992-95), cho dù những hình ảnh truyền hình cho thấy các cuộc xung đột đó rất thảm khốc và làm lay động người xem.

Vấn đề thứ hai gây tranh cãi là liệu nhân tố CNN nếu có tồn tại thực sự thì gây nên những tác động tích cực hay tiêu cực. Trong khi các nhà lãnh đạo phương Tây hoan nghênh nhân tố CNN trong những sự kiện như sự sụp đổ của Liên Xô thì cũng không ít người không thích tác động của CNN đối với chính chính phủ của họ. Truyền hình có thể giáo dục dân chúng và thu hút sự quan tâm của họ đối với những vấn đề rắc rối mà nếu không có truyền hình thì họ sẽ không quan tâm đến. Nhưng truyền hình cũng khuyến khích các nhà hoạch định chính sách phả ứng một cách nhanh hơn, đôi khi quá nhanh, đối với các cuộc khủng hoảng. Điều này có xảy ra hay không một phần phụ thuộc vào việc chính phủ của các quốc gia có một hệ thống các chính sách rõ ràng hay không. Khi các chính phủ có các chính sách rõ ràng thì họ có thể dùng nhân tố CNN để đem lại lợi ích cho họ. Ví dụ như trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1991, chính quyền Mỹ nhận ra rằng những hình ảnh tin tức trên truyền hình, nếu được kiểm soát và phát sóng một cách có lựa chọn, có thể được dùng để hỗ trợ các chương trình hoạt động của quân đội thay vì gây tác động xấu đối với công luận như trong cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Nguồn: Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, (TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013).

Facebook đang trở thành một con quái vật tuyên truyền thông tin sai lạc


J. Rappoport

Sau hơn 10 năm ra đời, mạng xã hội Facebook đã thu hút hàng tỷ người trên thế giới sử dụng. Cùng với sự phát triển của Facebook, các bàn luận về sự hay – dở của mạng xã hội này cũng ngày càng tăng lên

“Tóm lại, phần lớn các nguồn tin được coi là chính thống hiện nay đều là sản phẩm của sự thêu dệt. Mỗi ngày, họ đăng tải bao thứ giật gân: những câu chuyện bị tách rời bối cảnh, những lời nói dối trắng trợn, những tuyên bố giả mạo về sự đồng thuận của số đông trong nhiều vấn đề. Những thủ đoạn mới tinh vi hơn của sự kiểm duyệt đang được hình thành. Nhiều nguồn tin nặc danh mạo xưng là ý kiến của các đảng phái.

Rõ ràng là chúng ta đang bị phụ thuộc quá nhiều vào nguồn tin từ “các chuyên gia” và yên tâm đó là sự thật. Không ngờ, những người này chỉ đang “sản xuất sự thật” theo yêu cầu của Chính phủ, các tập đoàn hay những kẻ có quyền lực. Bởi lẽ, rất nhiều tờ báo đang chìm ngập trong nợ nần. Họ đang phá sản.

Ngay cả các tờ báo lớn như New York Times cũng rơi vào cảnh này. Các thế lực này đã cứu những kênh thông tấn chính thống cốt để họ tiếp tục xuyên tạc sự thật bằng việc gieo rắc những hình ảnh sai lạc. Và ai đang điều hành báo in? Câu trả lời có lẽ là những “con quái vật” mạng xã hội đang liên kết với CIA” (ý kiến của J. Rappoport đã đăng trên The Underground).

Ngày 15/11/2013, theo thống kê của trang softonic.com: “Chỉ có 3% số người Mỹ sử dụng mạng xã hội Reddit (mạng này gần như đứng cuối bảng xếp hạng). Facebook (FB) đứng đầu danh sách khi có tới 64% số người Mỹ truy cập. Đáng chú ý, 30% số người dùng FB chỉ đọc tin tức từ các nguồn chia sẻ trên mạng xã hội này. Bạn đọc có thể tham khảo qua bài viết có nhan đề News Use Across Social Media Platforms (tạm dịch: Sử dụng tin tức trên các diễn đàn truyền thông xã hội) đăng trên journalism.org.

Nếu các thống kê ấn tượng kia chưa đủ làm bạn bận tâm thì con số 1,25 tỷ người trên khắp thế giới sử dụng FB trên điện thoại di động đủ khiến giật mình. Và giờ đây, FB đã chính thức lao vào ngành kinh doanh báo chí với một chương trình có tên là Instant Articles.

Chương trình này dựa trên các thiết lập cơ bản: các hãng truyền thông chính thống đăng tải những tin tức mới của họ trên FB, sau đó hơn một tỷ người dùng FB sẽ đọc chúng. FB trở thành huyết mạch liên kết độc giả với các tờ báo và hãng tin truyền thống. The New York Times, BuzzFeed đã liên minh với FB, sau đó tiếp đến The National Geographic, NBC News, BBC News, The Guardian, The Atlantic, Spiegel, Bild. Và sẽ còn nhiều tờ báo khác có mặt trên FB.

Một người dùng FB thừa nhận: “Vâng, tôi là một người sử dụng FB. Tôi chẳng mất thời gian tìm kiếm một tờ báo mạng để đọc bài viết của họ. Nhưng giờ mọi thứ rất tuyệt. Chỉ với FB, tôi có thể đọc được mọi tin tức cần thiết. Tôi cũng không rõ FB là gì? Nó không hẳn là Internet mà là thế giới ảo của tôi – nơi tôi đang sống”.

FB đã “giải cứu” các hãng tin chính thống bằng cách cho phép họ liên tục xả ra các thông tin sai lệch (Tương tự là Apple. Để hiểu thêm về tập đoàn này, các bạn có thể xem bài Apple – mind control News App is on the way – tạm dịch: ứng dụng tin tức mang tính kiểm soát tâm trí của Apple sắp ra mắt, trên blog của tôi).

Vậy chính xác thì FB là gì? Mạng xã hội này bắt đầu được quan tâm từ năm 2004. Thời điểm ấy, tập đoàn Accel Partners (tập đoàn chuyên đầu tư vào các công ty tiềm năng) đã tài trợ một khoản tiền lớn cho công ty non trẻ của M. Zuckerberg (người sáng lập FB). Theo đó, người đứng đầu Accel là ông J. Breyer đã “bơm” cho FB một “quả bom” tiền lên tới 13 triệu USD.

Đến giờ, chưa công ty nào được biệt đãi như vậy. Nhưng có một việc mà ít ai chú ý: trước đó ít lâu, một người đàn ông tên là G. Louie bỗng có mặt trong hội đồng quản trị NVCA (Quỹ đầu tư các dự án mạo hiểm về khoa học – công nghệ của Chính phủ Mỹ). Càng bất ngờ hơn khi biết rằng G. Louie là giám đốc điều hành đầu tiên cho In-Q-Tel, một dự án quan trọng của CIA. In-Q-Tel thành lập năm 1999 với mục đích tài trợ cho các công ty phát triển công nghệ “thu thập dữ liệu” CIA sẽ sử dụng trong tương lai.

J. Breyer không chỉ thân với cựu nhân viên CIA G. Louie (năm 2004, Louie đã có thời gian ngắn làm việc tại tập đoàn công nghệ BBN do chính Breyer điều hành). Một đồng sự khác của Louie cũng gia nhập BBN là Tiến sĩ A. Jonesv.

Giống như Louie, Jones từng làm việc tại In-Q-Tel và là cố vấn của DARPA – bộ phận công nghệ của Lầu Năm Góc có nhiệm vụ hỗ trợ sự phát triển Internet. Có các mối quan hệ phức tạp với cả CIA và DARPA, không ai ngạc nhiên khi Breyer góp một khoản đầu tư lớn cho FB như vậy, nhưng chưa bao giờ được nhắc đến trong sự nghiệp “huyền thoại” của M. Zuckerberg. Và ông ta cũng biết rằng tốt nhất là lờ việc này đi. Có ai dại gì mà thừa nhận FB với các dữ liệu đời tư cá nhân bất tận, một công cụ theo dõi người sử dụng chính là một tài sản lý tưởng của CIA?

Chúng ta còn nhớ thời điểm FB bắt đầu chào bán cổ phiếu công khai. Đến tháng 5/2012 cổ phiếu FB đã xuống giá. Và ngày 17/8/2012 nó sụt giảm nghiêm trọng từ 42,05 USD xuống 21,81 USD. Trong lần xuống giá này, nhiều người góp vốn cho FB đã bán tống, bán tháo cổ phiếu của họ, đó là một sai lầm tai hại.

Thời điểm ấy, tôi đã bình luận: “Phi vụ FB dường như có sự can thiệp và ép giá của giới đầu cơ. Đó là cách các đại gia lớn dùng để thâu tóm các công ty nhỏ. Ban đầu, các nhà đầu tư hạ giá cổ phiếu xuống thấp, sau đó mua cổ phiếu vào một cách nhỏ giọt từ những tay buôn non gan, thậm chí là những người cộng tác với họ. Khi các cổ phiếu có dấu hiệu biến động, họ sẽ lặng lẽ mua về nhiều cổ phiếu nhất có thể. Cuối cùng, khi cổ phiếu chạm đáy, họ làm mọi cách để thổi giá và thắng lớn (…).

Công ty FB là một tài sản quan trọng khi nó là cơ sở dữ liệu của cơ quan tình báo, và chẳng có lý do gì để nó rơi vào khủng hoảng hay hỗn loạn. CIA làm vậy cốt để bảo vệ và tăng cường thế lực cho FB mà thôi. Đấy là những gì mà họ mong muốn nhất”. Đó là dự đoán của tôi. Và ngày hôm nay, sau một thời gian tăng giá dài, cổ phiếu FB được niêm yết trên thị trường với giá 87,88 USD, gấp bốn lần khi nó rớt giá thê thảm vào năm 2012. FB đã được “cứu sống” như thế đó và đằng sau nó còn nhiều chuyện khác.

M. Zuckerberg bắt đầu được chú ý khi còn là một đứa bé đến tham dự trại hè dành cho trẻ em đặc biệt CTY – một dự án của Đại học John Hopkins. CTY cũng theo dõi nhiều học viên khác. Một số sau này trở thành người nổi tiếng như: S. Brin (người đồng sáng lập Google), hay L.Gaga (nữ ca sĩ nổi tiếng).

Như nhiều trại hè tương tự trên đất Mỹ, CTY được mở ra nhằm phát hiện, hỗ trợ những tài năng đặc biệt. Nhiều cơ quan của Mỹ, như CIA, thường xuyên theo dõi sự tiến bộ trong học tập, đời sống của các trẻ em đặc biệt này để tuyển chọn người phù hợp với các hoạt động của họ.

Khi Zuckerberg mới chỉ sáng lập một mạng xã hội nội bộ tẻ nhạt của Đại học Havard và có ý định kinh doanh, ngay lập tức các nhân viên CIA đã nhận ra khả năng đánh cắp dữ liệu ưu việt của nó. Bằng các tiểu xảo được tôi mô tả trong phần trước, CIA đã nhúng tay vào FB với các hình thức cho vay, tài trợ.

Và giờ, FB tiếp tục bành trướng thế lực khi vươn tay ra cứu vớt các hãng tin chính thống bằng cách cho phép họ lừa cư dân toàn cầu với những thông tin sai lệch. Thực ra, việc làm này khá phổ biến trong giới tình báo. Từ những ngày đầu thành lập, CIA đã triển khai Operation Mockingbird (chiến dịch Chim nhại) nhằm lợi dụng các kênh truyền thông chính thống để cổ động, che giấu nhiều hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc Chính phủ.

Đến năm 1953, Allen Dulles, Cord Meyer và Frank Wisner đã chi phối được ít nhất 25 tờ báo và dịch vụ tin tức. Trong số này, có cả: The New York Times, CBS, Time, Life, Newsweek, Washington Post, Copley New Service và Christian Science Monitor.

CIA không chỉ thao túng các phóng viên. Trong danh sách của chiến dịch Chim nhại có cả những “ông trùm truyền thông” của các hãng CBS, Time, Life, The New York Times, Copley và ông chủ bút tờ Washington Post. Những cái tên được tiết lộ gồm: B. Paley, H. Luce, A. Sulzberger, J. Copley và A. Friendly. Đó là các tờ báo và nhân vật nổi tiếng từng bị CIA nhúng tay can thiệp.

Và bây giờ, trong thời đại kỹ thuật số, khi chiến dịch Chim nhại trong ngành công nghiệp truyền thông tỏ ra thiếu hiệu quả, họ lại có FB. Một lần nữa, CIA đã nắm cương được nó. Hãy xem xét những thí dụ nhảm nhí từ các phương tiện truyền thông sai sự thật trong 7 – 8 năm qua đã bị lật tẩy trên internet về: phim Fast and Furious 7, dịch cúm lợn, bảo hiểm Obamacare, thực phẩm biến đổi gen, các hiệp ước thương mại, thuốc an thần, chương trình khởi nghiệp cho trẻ em, sự nóng lên toàn cầu, NATO, vũ trang hóa cho lực lượng cảnh sát…

Danh sách thực tế còn dài hơn nhiều. Sự bóc mẽ này quả thực đã gây choáng váng nhất trong thời đại xã hội thiếu niềm tin vào truyền thông. Họ phải chờ một thời gian dài để phản công. Và FB với những nô lệ của nó đang tấn công lại chúng ta. Đây là “sản phẩm” mới nhất của chiến dịch Chim nhại.

Nhìn bề ngoài, thì FB có vẻ lành tính so với các phương tiện báo chí chính thống. Nhưng đó vẫn chỉ là thứ bình mới rượu cũ (cung cấp thông tin sai sự thật cho công chúng). FB có hơn một tỷ người sử dụng. Phần lớn họ chỉ dành thời gian để đăng tải những bức ảnh của mình và tán dóc những chuyện hời hợt. Họ dễ dàng bị thôi miên bởi những dòng thông tin sai sự thật. Cuối cùng, những tâm hồn thụ động đó không còn phân biệt được đâu là thế giới thực, đâu là thế giới ảo.

Lược dịch: Nhân dân online

Jon Rappoport là nhà báo Hoa Kỳ, từng được đề cử giải thưởng Pulitzer. Trước khi nghỉ hưu, Jon là phóng viên điều tra. Suốt 30 năm làm việc, ông có nhiều bài viết về chính trị, y học và sức khỏe cho nhiều tờ báo. Ông cũng là diễn giả tại nhiều hội thảo trên thế giới về các chủ đề chính trị toàn cầu, sức khỏe, logic, sức mạnh của sự sáng tạo. Trên trang jonrappopor, ông thường xuyên đăng tải các bài bình luận về nước Mỹ và thế giới. Bài viết Facebook đang trở thành một con quái vật tuyên truyền thông tin sai lạc (Facebook becomes Godzilla news outlet for disinformation) được Jon Rappoport đăng tải trên blog của ông ngày 24-6-2015.

Trung Quốc tiến hành chiến tranh truyền thông nhằm vào đồng minh Mỹ – Nhật


Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ Thôi Thiên Khải (Cui Tiankai) đã đưa ra cảnh báo rằng các liên minh của Mỹ tại châu Á đang được hiểu là “chống Trung Quốc” vì một bộ phận người dân Trung Quốc không coi các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực là lý do để hình thành các liên minh quân sự, do đó điều này gây bất lợi cho lợi ích của Mỹ vì người dân Trung Quốc hiểu là Mỹ chống lại họ. Lời cảnh báo được đưa ra từ một quan chức Trung Quốc đặt ra câu hỏi về việc Trung Quốc nghĩ gì về các liên minh của Mỹ trong khu vực, và quan trọng hơn là Trung Quốc làm gì để gây ảnh hưởng đến các liên minh này thông qua các hoạt động chính trị?

Ngoài việc không thừa nhận các hoạt động gây bất lợi cho môi trường an ninh khu vực, chẳng hạn như việc cải tạo đất ở Biển Đông và tăng cường trang bị quân sự dọc theo eo biển Đài Loan, Trung Quốc còn không ngừng tiến hành chiến tranh tâm lý để định hướng dư luận trong và ngoài nước đối với các sự kiện quốc tế. Một mục tiêu ưa thích của các phương tiện truyền thông Trung Quốc là đồng minh Mỹ – Nhật Bản. Năm 2015, trong dịp kỷ niệm 70 năm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ Hai, Trung Quốc đã tăng cường triển khai các chiến dịch thông tin sử dụng phương tiện truyền thông nhằm xóa mờ các tiến bộ đã đạt được giữa Nhật Bản và các đối tác của mình kể từ năm 1945. Trung Quốc đã tổ chức kỷ niệm kết thúc “cuộc chiến tranh chống phát xít trên thế giới” torng đó cố ý nhấn mạnh đến các di sản thời chiến của Nhật Bản thay vì các tiến bộ của họ. Để thể hiện quyền lực chính trị, sức mạnh mềm và sức mạnh cứng nhằm tạo ra ảnh hưởng chính trị như mong muốn, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc diễn tập quân sự. Với Trung Quốc, điều này là không phù hợp.

Trong khi các yếu tố tâm lý – chính trị vốn có trong mỗi công cụ ngoại giao, kinh tế và quân sự của một cường quốc, nhưng Trung Quốc vẫn sử dụng một chiến dịch thông tin thời bình nhằm vào tiềm thức của các cá nhân, bao gồm cả công dân của mình, để định hình quan điểm của họ đối với thế giới. Trong một số loại hình “chiến tranh” gồm chiến tranh truyền thông, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý, chiến tranh mang màu sắc chính trị của Trung Quốc được thực hiện bởi một nhóm “diễn viên” kết nối chặt chẽ với nhau trong việc tạo ra và truyền tải thông tin đến với khán giả được xác định trước. Chiến tranh truyền thông là một công cụ của Trung Quốc và là một công cụ chính trị quyền lực được thiết kế để định hướng suy nghĩ của “khán giả” đối với một câu chuyện được xây dựng theo đường hướng có lợi cho Trung Quốc.

Có thể tìm thấy các chuyên đề đăng tải trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc trong khung các sự kiện liên quan đến liên minh Mỹ – Nhật. Việc đưa tin của Trung Quốc theo các chủ đề cụ thể nhằm gây ảnh hưởng và tác động nhận thực của khán giả trong nước. Các chiến thuật tác động nhận thức bao gồm:

Nhấn mạnh quan điểm của các chuyên gia trong khu vực ủng hộ Trung Quốc. Để phê bình liên minh Mỹ – Nhật Bản, phương tiện truyền thông Trung Quốc thường sử dụng ý kiến của các chuyên gia hoặc các phóng viên của Nhật Bản và khu vực có quan điểm phù hợp với lợi ích Trung Quốc. Ví dụ, truyền thông Trung Quốc đã đưa tin nêu bật những lời chỉ trích của chuyên gia Australia, Hugh White dối với các nỗ lực của Nhật Bản trong việc cải cách chính sách an ninh, cho rằng nếu Nhật Bản gây chiến với Trung Quốc, Nhật Bản sẽ không giành được một chiến thắng quyết định vì không chắc chắn liệu Mỹ có thực hiện cam kết quốc phòng đối với Nhật trong thời chiến hay không.

Sử dụng những ý kiến đối lập trong xã hội dân chủ của Nhật Bản để giành lợi thế chính trị cho mình. Xã hội dân chủ của Nhật Bản được hậu thuẫn bởi các tổ chức chính trị phát triển và xã hội dân sự. Với sự tự do ngôn luận, người dân Nhật Bản có diễn đàn và có quyền để thể hiện quan điểm chính trị của mình. Phương tiện truyền thông Trung Quốc thường lợi dụng các quan điểm chính trị có lợi cho họ để phục vụ công tác tuyên truyền. Khi phân tích các động cơ của Thủ tướng Abe trong các chính sách của ông ta, phương tiện truyền thông Trung Quốc luôn nhấn mạnh các quan điểm đối lập của những người Nhật Bản để hợp pháp hóa những lời cáo buộc của mình đối với các dự định của ông Abe.

Kiểm soát việc đưa tin các sự kiện quốc tế liên quan theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Phương tiện truyền thông Trung Quốc thường xuyên đưa tin các sự kiện quốc tế có liên quan đến lợi ích của Trung Quốc theo cách một chiều, như là khi đưa tin đến khán giả trong nước của họ. Ví dụ, một tuyên bố của hội nghị thượng đỉnh G7 bày tỏ quan ngại về căng thẳng leo thang ở Biển Đông đã được các phương tiện truyền thông Trung Quốc đưa tin như là một “nỗ lực của Nhật Bản” để “bôi nhọ” Trung Quốc thông qua một diễn đàn đa phương. Thủ đoạn này thường được sử dụng để định hình nhận thức của người dân Trung Quốc và được xem như là một phần của chiến tranh tâm lý chung của Trung Quốc. Để giành chiến thắng các cuộc chiến tranh trong tương lai, các nhà lãnh đạo Trung Quốc biết rằng họ phải huy động được đông đảo quần chúng, và việc phổ biến thông tin thời bình như thế này có thể giúp họ chuẩn bị tư thế tâm lý sẵn sàng khi cuộc chiến nổ ra.

Tấn công thông tin nhằm vào các lãnh đạo Mỹ và Nhật Bản. Bên cạnh việc đưa tin chỉ trích mạnh mẽ ông Abe, Trung Quốc cũng đã huy động các cuộc tấn công thông tin nhằm vào Đô đốc Harry Harris, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ (PACOM). Truyền thông Trung Quốc đưa tin về các tuyên bố của quân đội Mỹ và việc quân đội nước này giám sát các hoạt động tôn tạo của Trung Quốc ở Biển Đông như là sự kích động chủ nghĩa sắc tộc Nhật Bản vì đã thúc đẩy các chính sách hiếu chiến nhằm gia tăng các hoạt động chống Trung Quốc. Sự hợp tác giữa Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ và các lực lượng Nhật Bản đã bị Trung Quốc đưa tin với một ngụ ý rằng ông Harris có thù hằn cá nhân đối với quân đội của Trung Quốc. Việc tấn công vào các nhà lãnh đạo chủ chốt của Mỹ cho thấy lợi ích chính trị của Trung Quốc trong việc tác động nhận thức trong nước thông qua các cuộc chiến tranh tâm lý.

Thực hiện các chiến thuật tác động nhận thức trên, Trung Quốc đã sử dụng các cơ quan truyền thông nhà nước như là một phần của chiến tranh tâm lý – chính trị nhằm vào liên minh Mỹ – Nhật Bản thông qua việc tác động nhận thức các “khán giả” trong nước. Các chiến thuật này, ở góc độ nào đó rõ ràng không phù hợp, nhưng trong tương lai gần sẽ không giảm. Mỹ sẽ đủ khôn ngoan để đối phó lại các chiến thuật chiến tranh trên của Trung Quốc đồng thời sẽ luôn chuẩn bị, đề phòng các hoạt động tấn công mang màu sắc chính trị không mong muốn nhằm làm suy yếu quan hệ đối tác liên minh.

Nguồn: AsiaEye

TKNB 11/08/15

Surkov: Ông trùm tuyên truyền của Điện Kremlin


Nina L. Khrushcheva

Tại nước Nga Xô-viết, mọi người đều biết rằng mình đang bị theo dõi. Bất kỳ sự khác biệt nào so với hành vi được chính quyền cho phép sẽ bị nghi kỵ và rất có thể sẽ phải chịu sự trừng phạt. Liên bang Xô Viết coi mọi thứ  – từ  gián điệp nước ngoài, kẻ thù giai cấp, những người mặc quần jean hoặc chơi nhạc jazz –  đều là kẻ thù của nó. Hệ tư tưởng thống trị của chế độ này không phải là chủ nghĩa Mác-Lênin, mà là sự nghi kỵ và thù oán.

Kể từ những năm đầu của thập niên 1980, trước khi những tia sáng đầu tiên của chính sách công khai hóa (glasnost) xuất hiện tại Nga cho đến nay, chưa khi nào những giai đoạn đen tối như vậy lại cận kề như lúc này. Bảo vệ xã hội khỏi những kẻ thù ở cả trong và ngoài nước lại một lần nữa là vấn đề trọng tâm của chế độ.  Thực tế, đặc tính cảnh giác cố hữu của dân tộc này là yếu tố chính giúp duy trì tỉ lệ ủng hộ cao của quần chúng dành cho Tổng thống Vladimir Putin. Và không ai đóng vai trò quan trọng hơn Vladislav Surkov trong việc tạo ra bầu không khí xã hội cần thiết đó.

Từng một thời là chánh văn phòng Tổng thống của Putin, Surkov tiếp tục giữ chức Phó thủ tướng từ năm 2011 đến 2013. Hiện giờ ông ta trên danh nghĩa là cố vấn về các vấn đề đối ngoại cho Putin, nhưng thực chất chính là trưởng ban tuyên truyền của chế độ này. Ông được biết đến với tư cách là người giới thiệu khái niệm “dân chủ có sự quản lý” (managed democracy) tại Nga, và đóng vai trò hàng đầu trong việc kích động sự ly khai của Abkhazia và Nam Ossetia khỏi Gruzia. Gần đây nhất, ông ta là một trong những người điểu khiển cuộc xâm lược của Nga ở Ukraine và vụ sát nhập Crimea bằng cách truyền cảm hứng cho những chiến dịch truyền thông cuồng nhiệt, kêu gọi được sự ủng hộ gần như của toàn dân đối với những động thái kể trên.

Surkov là người chịu trách nhiệm chính trong việc nuôi dưỡng tâm lý ủng hộ Putin, điều đang ngày càng giống với tệ sùng bái cá nhân kiểu Stalin. Là một người gốc Chechnya, Surkov thấm nhuần tư tưởng hiếu chiến của vùng Cáp-ca-dơ như Stalin. Dưới sự kiểm soát của Surkov, trọng tâm của chiến lược truyền thông của điện Kremlin là duy trì quan niệm rằng phương Tây muốn phá hủy nước Nga. Vì thế, mâu thuẫn tại Ukraine được tuyên truyền như một cuộc đấu tranh mới với chủ nghĩa phát xít và nhằm bảo vệ bản sắc chân chính và trái ngược phương Tây của nước Nga. Những điều được cho là sự đe dọa đối với nước Nga ngày nay này đã được nhấn mạnh trong dịp kỷ niệm 70 năm kết thúc Thế Chiến II, với những bảng hiệu mọc lên khắp Moskva để gợi người dân Nga nhớ về những hy sinh cần thiết để có được chiến thắng.

Giống như bộ trưởng tuyên truyền của đảng Quốc xã, Joseph Goebbels, Surkov không quá quan tâm đến thực tế. Cảm xúc là cốt lõi trong thông điệp của điện Kremlin; thực tế, chúng là mối dây ràng buộc Putin với những người dân của ông ta. Đây là lý do tại sao Surkov khắc họa Putin – người mà gần đây vừa ly dị người vợ đã gắn bó 30 năm với ông và nghe đồn là có vài người con riêng với một cựu vận động viên Olympic môn thể dục dụng cụ – như một hiện thân của các giá trị thủ cựu, với Giáo trưởng Giáo hội chính thống luôn sát cánh bên mình. Chiến dịch của điện Kremlin nhằm chống lại quyền của người đồng tính đã nhận được sự ủng hộ của nhà thờ, đồng thời nhắc nhở dân thường nước Nga rằng nhà nước luôn cẩn thận theo dõi đời sống của họ.

Công tác tuyên truyền của nước Nga ngày nay kết hợp cả sự độc đoán đặc thù kiểu Xô-viết và những kỹ thuật tiên tiến nhất. Cho tới nay vẫn chưa có cuộc thanh trừng tập thể nào và rất ít các cuộc tuần hành quy mô lớn. Các giá trị phương Tây có thể bị công kích, nhưng hàng hóa phương Tây thì lại được chào đón. Cảnh tượng thường thấy ở Nga là một chiếc xe hơi bóng loáng sản xuất tại Đức với nhãn dán ở đuôi xe gợi nhớ lại ánh hào quang của Thế Chiến II như “Tiến về Berlin” hay “Cảm ơn ông vì chiến thắng và cám ơn bà vì những viên đạn giết thù!”

Trong suốt hai thập niên qua, người Nga có thể đi lại ở nước ngoài mà không bị hạn chế. Tuy vậy, giờ đây rất nhiều người dường như sẵn sàng từ bỏ quyền lợi này. Tháng trước, điện Kremlin đã cảnh báo công dân nước này rằng Hoa Kỳ đang “săn lùng” người Nga ở nước ngoài. Một vài người Nga trên thực tế đã bị truy nã và dẫn độ về Hoa Kỳ, ví dụ như nhà môi giới vũ khí Viktor Bout, người bị buộc tội trợ cấp cho những kẻ khủng bố, hay hacker Vladimir Drinkman, người bị cáo buộc đánh cắp hàng triệu số thẻ tín dụng. Không có một mối đe dọa khả tín nào đối với dân thường Nga, nhưng chiến dịch của Surkov vẫn đang có một tác động sâu sắc.

Thay vì  liều lĩnh đưa ra những tuyên bố kỳ quặc để bị cười nhạo – điều thường thấy ở những nhà tuyên truyền Xô-viết –  rằng nước Nga một ngày nào đó sẽ vượt qua phương Tây về mặt kinh tế, Surkov đã lợi dụng một cảm xúc sâu sắc và an toàn hơn: nỗi sợ. Cho dù người Nga nghĩ gì về tình trạng bất ổn kinh tế ở nước này – trong bối cảnh GDP kỳ vọng sẽ giảm khoảng 3,8% trong năm nay, đồng thời lạm phát có thể chạm ngưỡng 15% – thì họ vẫn tin rằng họ sẽ còn trở nên khổ sở hơn nếu không có Putin.

Và vậy là người Nga đã quy phục. Một vài năm trước đây, có vẻ như cứ 10 người thì 1 người đeo một dải ruy băng trắng, biểu tượng của sự phản đối Putin. Ngày nay, người ta có ấn tượng rằng cứ 3 người Nga thì lại có 1 người đeo ruy băng của thánh George, một biểu tượng màu đen và da cam thể hiện lòng yêu nước và trung thành với điện Kremlin. Những người không đeo ruy băng có thể sẽ bị hỏi lý do theo một cách không lịch sự lắm.

Đây là một chiến thuật xảo quyệt và có hiệu quả, một chiến thuật gạt ra lề những kẻ chống đối và tạo ra ấn tượng về sự ủng hộ gần như tuyệt đối với chế độ này. Trong chuyến thăm gần đây nhất của tôi tới Moskva, tôi để ý thấy một người bạn, một ca sỹ opera của Nhà hát Lớn (Bolshoi Theater), đã buộc một dải ruy băng thánh George nhỏ vào chiếc xe Mercedes trắng của cô. Mặc dù không phải là người hâm mộ Putin, cô không muốn bị nổi bật một cách không cần thiết.

Chính từ những sự đầu hàng nho nhỏ như của cô mà những kẻ như Surkov cuối cùng cũng chiến thắng. Các công dân giả vờ tỏ ra trung thành đang xây dựng nên một văn hóa tuân thủ. Khi mà bất đồng quan điểm đã bị đàn áp thì việc lòng trung thành của các công dân có phải là thật hay không trở nên vô nghĩa. Trên thực tế, giống như Goebbels, Surkov hiểu rằng khi đời sống cộng đồng và sự thể hiện của mỗi cá nhân có thể bị biến thành một sân khấu, sẽ không còn sự khác biệt nào giữa diễn xuất và hiện thực.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Xuân Hùng

Nguồn: Nina L. Khrushcheva, “The Goebbels of the Kremlin”, Project Syndicate, 22/06/2015.

Nghiencuuquocte.net

Nina L. Khrushcheva là trưởng khoa thuộc trường Đại học The New School tại New York, và là nhà nghiên cứu cao cấp tại Viện Chính sách thế giới, nơi bà quản lý Dự án nghiên cứu nước Nga (the Russia Project). Trước đây bà từng dạy học tại Trường Chính sách công và Ngoại giao thuộc Đại học Columbia và là tác giả của các cuốn sách “Hình dung Nabokov: Nước Nga giữa Nghệ thuật và Chính trị” (Imagining Nabokov: Russia Between Art and Politics) và cuốn “Người họ Khrushchev chưa được biết đến: Hành trình tới trại Gulag trong Tâm thức Nga” (The Lost Khrushchev: A Journey into the Gulag of the Russian Mind).

Biên giới của Nghệ thuật và Tuyên truyền


George Orwell

Tôi đang bàn về phê bình văn học, và trong thế giới chúng ta sống, điều đó cũng vô vọng không kém gì bàn về hòa bình. Đây không phải là thời đại hòa bình, cũng không phải là thời đại phê bình (critical age). Ở châu Âu trong mười năm qua, phê bình văn chương kiểu cũ — phê bình thực sự sáng suốt, thận trọng, công bằng, coi tác phẩm nghệ thuật như những thứ có giá trị tự thân (value in itself ) — gần như là bất khả.

Nếu nhìn lại nền văn học Anh trong mười năm qua, không hẳn văn chương mà là quan điểm văn chương đang thịnh hành, điều khiến chúng ta ngạc nhiên là nó gần như không còn tính thẩm mỹ. Văn chương đã bị tuyên truyền nuốt gọn. Tôi không có ý nói tất cả những cuốn sách ra đời trong thời gian trên đều là tệ hại. Nhưng các tác gia tiêu biểu như [Wystan Hugh] Auden, [Stephen] Spender, và [Louis] MacNeice đều là những nhà văn mô phạm (didactic), [quan tâm đến/dấn thân vào] chính trị, dĩ nhiên là nhận thức được tính thẩm mỹ (aesthetically conscious), lại quan tâm nhiều đến đề tài hơn là kỹ thuật sáng tác. Và gần như các tác phẩm phê bình nổi bật/sống động nhất lại là của những tác giả [theo chủ nghĩa] Marxist, những người như Christopher Caudwell, Philip Henderson và Edward Upward, tất cả đều coi cuốn sách nào cũng là sách chính trị và quan tâm đến việc đào xới những ý nghĩa chính trị và xã hội hơn là những giá trị văn chương của chúng, theo nghĩa hẹp của từ này.

Điều này còn đáng ngạc nhiên hơn nữa bởi nó tạo ra sự tương phản rõ rệt và đột ngột so với giai đoạn ngay trước đó. Những tác gia tiêu biểu của những năm 1920 — ví dụ như T. S. Eliot, Ezra Pound, Virginia Woolf — đều là những tác gia đặt trọng tâm vào kỹ thuật sáng tác. Họ cũng có niềm tin và định kiến riêng, dĩ nhiên, nhưng họ quan tâm đến cải tiến kỹ thuật (technical innovation) hơn bất cứ đạo đức, ý nghĩa, hay hàm ý chính trị nào mà tác phẩm của họ có thể chứa đựng. Nổi bật hơn hết là James Joyce, một chuyên gia, gần như một nhà văn nghệ sĩ “thực thụ.” Ngay cả D. H. Lawrence, dẫu là “nhà văn có mục đích” hơn bất kỳ ai khác trong thế hệ ông, cũng không có nhiều cái mà hiện nay chúng ta gọi là ý thức xã hội (social consciousness). Và dù tôi thu hẹp trong những năm 1920, tình hình đã diễn ra tương tự từ những năm 1890 trở đi. Trong suốt giai đoạn đó, khái niệm hình thức quan trọng hơn nội dung, khái niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật (art for art’s sake)” được coi là hiển nhiên. Tất nhiên cũng có những nhà văn phản đối — chẳng hạn như Benard Shaw — nhưng đó vẫn là quan điểm thịnh hành. Nhà phê bình quan trọng nhất trong giai đoạn này, George Saintsbury, dù đến những năm 1920 tuổi đã cao nhưng ông vẫn có sức ảnh hưởng mạnh đến tận những năm 1930, luôn kiên quyết ủng hộ quan điểm kỹ thuật đối với nghệ thuật. Ông tuyên bố rằng ông có thể và chỉ đánh giá một cuốn sách theo cách thể hiện, theo bút pháp (manner), chứ gần như không để ý đến quan điểm của tác giả.

Vậy thì, tại sao lại có sự thay đổi quan điểm đột ngột như thế? Cuối những năm 1920, ta có những cuốn sách như của Edith Sitwell viết về Giáo hoàng, hoàn toàn nhấn mạnh kỹ thuật, coi văn chương như họa tiết thêu thùa, gần như từ ngữ chẳng hề nghĩa lý: mà chỉ vài năm sau đó ta lại có những nhà phê bình như Edward Upward, cho rằng chỉ những sách vở mang xu hướng Marxist mới có thể “tốt đẹp” được. Có thể nói cả Edith Sitwell và Edward Upward đều là những đại diện cho thế hệ của họ. Vấn đề là tại sao quan điểm của họ lại khác nhau đến thế?

Tôi nghĩ ta phải tìm lí do trong những hoàn cảnh bên ngoài. Cả quan điểm duy mỹ và chính trị với văn chương đều được sản sinh, hay ít nhất được định hình bởi điều kiện xã hội trong những giai đoạn nhất định. Giờ đây khi một giai đoạn nữa chấm dứt — cuộc tấn công Ba Lan của Hitler năm 1939 đã chấm dứt một giai đoạn, hiển nhiên như cuộc đại suy thoái năm 1931 từng chấm dứt một giai đoạn khác — ta có thể móc xích lại và nhìn nhận rõ hơn trước cách những sự kiện bên ngoài ảnh hưởng tới quan niệm văn chương. Một điều mà bất cứ ai nhìn lại một trăm năm qua cũng thấy là phê bình văn chương không đáng bận tâm, và quan điểm phê bình văn học gần như không tồn tại ở Anh những năm 1830-1890. Thế không có nghĩa những cuốn sách hay không ra đời trong giai đoạn đó. Một số tác gia trong giai đoạn này, [Charles] Dickens, [William Makepeace] Thackeray, [Anthony] Trollop, và một số người khác có thể sẽ được nhớ đến hơn bất cứ ai sau này. Nhưng chẳng có nhà văn nào ở nước Anh thời Victoria sánh được với [Gustave] Flaubert, [Charles] Baudelaire, [Théophile] Gautier, và rất nhiều người khác. Nhưng thứ là [thái độ] tận tâm với mỹ học (aesthetic scrupulousness) đối với chúng ta thì lại gần như không tồn tại. Đối với một nhà văn giữa thời Victoria, sách vở một phần đem đến tiền bạc cho anh ta, một phần là phương tiện tải đạo (preaching sermons). Nước Anh đã thay đổi nhanh chóng, tầng lớp giàu có mới xuất hiện trên tàn tích của tầng lớp quý tộc cũ, mối liên hệ với châu Âu bị gián đoạn, và truyền thống nghệ thuật lâu đời bị phá vỡ. Những tác gia giữa thế kỷ 19 là những kẻ man di (barbarian), ngay cả khi họ là những nhà văn thiên phú, như Dickens.

Nhưng từ nửa sau thế kỷ 19, quan hệ với châu Âu được tái thiết lập thông qua Matthew Arnold, [Walter] Pater, Oscar Wilde, và rất nhiều người khác, và thái độ tôn trọng hình thức và kỹ thuật văn chương cũng quay trở lại. Chính từ đó khái niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật” — một thành ngữ có vẻ không còn hợp thời, nhưng tôi nghĩ dù sao vẫn là hợp lý nhất — thực sự xuất hiện. Giai đoạn 1890-1930 là giai đoạn an ninh và thỏa thuê hiếm có, đó là lí do tại sao nó có thể nở rộ trong thời gian dài, có thể được coi là mặc nhiên như thế. Chúng ta có thể gọi giai đoạn đó là một chiều vàng son của thời kỳ chủ nghĩa tư bản. Ngay cả cuộc Đại Chiến (tên gọi khi đó của chiến tranh thế giới thứ nhất – ND) cũng không thực sự nhiễu loạn được nó. Cuộc Đại Chiến giết chết mười triệu người, nhưng không làm rung chuyển thế giới được như cuộc chiến hiện nay (chiến tranh thế giới thứ hai – ND) đã và sẽ làm. Gần như mọi người châu Âu trong giai đoạn 1890-1930 đều sống trong niềm tin thầm kín rằng nền văn minh đó sẽ kéo dài mãi mãi. Cá nhân anh có thể gặp may hoặc chẳng, nhưng sâu thẳm trong anh là cảm giác mọi thứ về cơ bản sẽ không bao giờ đổi thay. Trong hoàn cảnh đó trí thức độc lập (detachment) và cả trí thức tài tử (dilettantism) trở nên khả dĩ. Chính cảm giác về tính liên tục (continuity) và an ninh đã tạo điều kiện cho những nhà phê bình như Saintsbury, một người bảo thủ kiên định (crusted Tory) và trung thành với Giáo hội (High Churchman), có thể tuyệt đối công bình với những cuốn sách của các tác giả mà ông khinh miệt cả quan điểm chính trị cũng như đạo đức của họ.

Nhưng từ năm 1930 cảm giác an ninh đó hoàn toàn không còn tồn tại. Hitler và cuộc suy thoái đã đảo lộn nó, điều mà ngay cả cuộc Đại Chiến và thậm chí là Cách mạng Nga cũng không làm được. Những nhà văn xuất hiện sau năm 1930 phải sống trong một thế giới mà không chỉ cuộc sống, cả hệ thống giá trị của con người cũng bị đe dọa. Trong những hoàn cảnh như vậy, [thái độ] độc lập là không thể. Anh không thể quan tâm đến mỹ học thuần túy trong căn bệnh đang giết chết anh; anh không thể thản nhiên với kẻ đang sắp cắt cổ anh. Trong thế giới mà chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa xã hội đối chọi lẫn nhau, bất cứ con người duy lý nào cũng phải chọn một bên, tình cảm của anh ta phải tìm đường thể hiện không chỉ trong các tác phẩm mà còn trong những đánh giá về văn học. Văn học phải trở thành chính trị, bởi mọi thứ khác sẽ dẫn đến bất lương về mặt tri thức (mental dishonesty). Tình yêu và hận thù nằm quá gần bề mặt của ý thức đến nỗi chúng không thể bị lờ đi. Những thứ cuốn sách viết về dường như đặc biệt quan trọng đến mức thủ pháp có vẻ gần như là vô nghĩa.

Và giai đoạn mười năm gần đây, giai đoạn mà văn chương, thậm chí cả thơ ca, bị trộn lẫn với các tác phẩm tuyên truyền, tác động rất tốt tới phê bình văn chương, bởi nó đập tan ảo tưởng về chủ nghĩa duy mỹ thuần túy. Nó nhắc nhở chúng ta rằng tuyên truyền bằng cách này hay cách khác luôn ẩn náu trong mọi cuốn sách, rằng mọi tác phẩm nghệ thuật đều có ý nghĩa và mục đích — mục đích chính trị, xã hội, và tôn giáo — rằng những đánh giá mỹ học của chúng ta luôn nhuốm màu định kiến và đức tin. Nó hạ bệ quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật. Nhưng nó cũng dẫn đến ngõ cụt bởi nó khiến vô số nhà văn trẻ tìm cách gắn mình với phép tắc chính trị nào đó, mà một khi mắc kẹt trong đó, trung thực tri thức là không thể. Chủ nghĩa duy nhất mở cửa đối với họ khi đó là chủ nghĩa Marx, nó đòi hỏi lòng trung thành dân tộc (nationalistic loyalty) đối với nước Nga và buộc những nhà văn tự nhận mình là Marxist trong sự bất lương của quyền lực chính trị. Dù có như thế thì những quan điểm mà các nhà văn này dựa vào cũng đột ngột bị Hiệp ước Xô-Đức đảo lộn. Cũng như nhiều nhà văn những năm 1930 nhận ra rằng ta không thể thực sự dửng dưng trước những sự kiện đương thời, nhiều nhà văn những năm 1939 nhận ra rằng ta không thể hi sinh sự chính trực trí thức cho tín điều chính trị — hay ít nhất là ta không thể làm thế mà vẫn còn là một nhà văn. Tận tâm với mỹ học thôi chưa đủ, thái độ chính trị đúng đắn cũng thế. Những sự kiện trong mười năm qua đã đánh động chúng ta, chúng khiến nước Anh không có một xu hướng văn học đáng chú ý nào, nhưng chúng cũng giúp chúng ta xác định rõ ràng hơn trước đây biên giới của nghệ thuật và tuyên truyền.

Nguyễn Huy Hoàng dịch.

Nguồn: The Frontiers of Art and Propaganda © George Orwell 1941

Cẩn trọng trong việc truyền bá tri thức


Cách đây không lâu, người xem truyền hình đã rất ngạc nhiên khi thấy biên tập viên một đài truyền hình nói rằng, Trần Hưng Ðạo là một trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian (!) Những tưởng vấn đề sẽ được rút kinh nghiệm thì mới đây, một tác giả khác tiếp tục lặp lại sai sót này trên một phương tiện truyền thông. Từ đó nhìn rộng ra, việc một số tác giả đưa ra tri thức thiếu chính xác không phải là cá biệt, và đây là hiện tượng phải lưu ý, vì có thể làm sai lệch hiểu biết của người đọc…

Tháng 8-2013, câu chuyện người thân và chính quyền huyện Tây Trà (Quảng Ngãi) đưa cha con ông Hồ Văn Thanh (82 tuổi) và Hồ Văn Lang (41 tuổi) sau hơn 40 năm sống biệt lập trong rừng sâu trở về tái hòa nhập cộng đồng đã trở thành một trong các tâm điểm chú ý của báo chí và dư luận. Dù rất chia sẻ với quan điểm nhân văn của một tác giả cho rằng việc đưa cha con ông Hồ Văn Thanh về với cộng đồng là “không thể làm khác”, thì vẫn khó có thể đồng tình với lý giải của ông. Ðó là, trả lời câu hỏi: “Gần đây dư luận đang xôn xao về vụ việc “người rừng” trở về, dưới góc độ của một nhà nghiên cứu văn hóa, Giáo sư nhận định như thế nào về trường hợp này?”, ông nói: “Hiện tượng một người đang sống trong thế giới bình thường rồi vì một lý do nào đó mà bị tách biệt khỏi thế giới bên ngoài luôn là những trường hợp cá biệt, nhưng đây đó trong lịch sử nhân loại không phải là không có. Những trường hợp kinh điển mà mọi người đều biết có thể kể đến là trường hợp cậu bé Tarzan hoặc Robinson Crusoe”! Thật là một nhầm lẫn đáng tiếc. Vì nếu có thể coi là “kinh điển” thì Tarzan và Robinson Crusoe có ý nghĩa kinh điển trong nghệ thuật (với Tarzan trong điện ảnh, với Robinson Crusoe trong văn học). Là sản phẩm từ hư cấu nghệ thuật, trong phạm vi nhất định, Tarzan và Robinson Crusoe có thể mang ý nghĩa như “biểu tượng”, song không thể coi đây là những câu chuyện có thực, rồi lấy đó làm tiêu chí để so sánh và định tính hành động của con người trong cuộc sống thực.

Trên một số phương tiện truyền thông, đôi khi vẫn bắt gặp một số sai sót tri thức, và nếu không kịp thời điều chỉnh, sẽ ít nhiều dẫn tới tình trạng ngộ nhận đối với bạn đọc. Bởi, nếu công chúng cũng mặc nhiên coi điều được đề cập trên báo là chính xác, thì sẽ nói sao đây khi có nhà báo cho rằng “Tây du ký là bản trường ca dài nhất của đạo Phật”; hay gần đây trong một bài báo có thầy giáo nói rằng: “Tôi ngẫm thấy Nguyễn Trãi viết rất đúng: “Giặc tan muôn thuở thái bình; Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao”…”, thật ra đó là hai câu kết bài Bạch Ðằng giang phú của Trương Hán Siêu! Vài năm trước, trên báo Tết, đề cập tới Phật mẫu Man nương, một nhà nghiên cứu văn hóa kể rằng, cao tăng Khâu Ðà La đến tá túc ở nhà bà và một sự kiện hệ trọng đã xảy ra, trong khi truyền thuyết lại kể sự kiện ấy xảy ra khi bà tới học đạo ở chùa Linh Quang (thuộc Tiên Du – Bắc Ninh ngày nay). Cũng nhà nghiên cứu văn hóa này, trong một bài khác, sau khi phân tích về quan hệ giữa toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc, ông viết: “Trong hơn thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã có những tiếp biến văn hóa Tây – Ðông thành công trong khung cảnh toàn cầu hóa. Múa rối nước của ta, nghệ thuật dân gian hầu như bị lãng quên, đã sống lại và đi vòng quanh thế giới…” và phải khẳng định tác giả đã có sự nhầm lẫn giữa giao lưu văn hóa với tiếp biến văn hóa. Tiếp biến văn hóa là quá trình tiếp nhận – biến đổi các giá trị văn hóa trong quan hệ văn hóa giữa các cộng đồng, đó là một (các) quá trình thường diễn ra lâu dài, có khi vài ba năm, nhưng có khi lại tới hàng trăm năm. Không nắm bắt được đặc điểm này, sẽ không lý giải được tại sao chỉ sau thời gian ngắn, Valentine’s Day trở nên phổ biến trong giới trẻ ở Việt Nam, trong khi phải hàng trăm năm sau khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, bộ quần áo gọi là complet mới có khả năng thay thế khăn xếp, áo the trở thành lễ phục của người Việt. Tuy nhiên, sự thú vị cũng vừa là sự phức tạp ở đây là tiếp biến văn hóa phải bắt đầu từ tiếp xúc – giao lưu, nhưng không phải có tiếp xúc – giao lưu là tiếp biến văn hóa sẽ diễn ra, vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, đặc biệt là chủ thể tiếp nhận. Biểu diễn múa rối, tuồng, chèo và nghệ thuật dân gian của Việt Nam ở nước ngoài là giao lưu, quảng bá văn hóa chứ không phải là tiếp biến văn hóa. Viết như vậy, vừa cho thấy tác giả hiểu sai một khái niệm, vừa làm ảnh hưởng tới tính chuẩn xác của khái niệm khi truyền bá trong sinh hoạt xã hội.

Và hẳn nhiều người chưa quên sự kiện xảy ra mấy năm trước, một tờ báo đã làm dư luận xôn xao khi công bố “những phát hiện lịch sử chấn động” của một tác giả. Bài báo có đoạn: Triệu Ðà chưa từng xâm lược Việt Nam nên thời đại An Dương Vương chỉ là hư cấu lịch sử; triều đại Hùng Vương kéo dài tới năm 43 sau công nguyên, triều đại này rất phát triển, có chữ viết riêng, có luật pháp riêng, sự nghiệp của Hai Bà Trưng là vương triều cuối cùng của triều đại Hùng Vương, không phải là một cuộc khởi nghĩa! Ðáng tiếc, hình như không khảo sát và đánh giá nghiêm cẩn, một số người lại làm nhiễu dư luận bằng cách tán dương tác giả trên “đưa ra một loạt những kết luận với các “chứng cứ không thể phản bác…”, “chứng cứ đanh thép…”. Với các khám phá của ông, chúng ta có đủ tài liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân tộc ta từ hai ngàn năm trước”, rồi “bổ nhát cuốc đầu tiên để khai phá rồi ươm trồng những hạt giống nhận thức mới về lịch sử… đã buộc tất cả những nhà nghiên cứu lịch sử nước ta và cả những ai quan tâm đến lịch sử phải có một thay đổi thật sự trong cách tiếp cận, cách hiểu và diễn giải lịch sử”! Ðến nay, “phát hiện” kia không còn chút dư âm trong sinh hoạt tri thức của xã hội, đã được chứng minh là kết quả của quá trình nghiên cứu sai lầm về phương pháp, hời hợt, khảo chứng theo lối tư biện, chủ quan, cực đoan,… Và dù sự kiện đã lui vào dĩ vãng thì vẫn cần nhắc lại, vì tình trạng sai sót về tri thức trên hệ thống truyền thông xem chừng chưa suy giảm, thí dụ điển hình là gần đây, trước con mắt của hàng triệu người, tác giả A đã thản nhiên khẳng định: Trần Hưng Ðạo là một trong “tứ bất tử” của văn hóa Việt Nam truyền thống (!). Trong khi sự cố chưa được đính chính, thì trên Facebook diễn ra một cuộc tranh luận nhỏ, với sự tham gia của một số nhà báo chuyên về văn hóa. Ðọc các dòng do mấy nhà báo bảo vệ quan điểm “Trần Hưng Ðạo là một trong “tứ bất tử” của văn hóa Việt Nam truyền thống” mà lại e ngại. Thí dụ, một người viết: “Chử Ðồng Tử là tướng của Trần Hưng Ðạo, ông cùng Trần Hưng Ðạo là người thực chứ không phải hư cấu, có chăng hư cấu dừng lại ở góc gặp Tiên Dung”, còn người khác quả quyết: “Tứ bất tử là của dân gian (dã sử), còn tứ bất tử của cụ A là tứ bất tử của chính sử, nhầm là nhầm thế nào”! Từ đây, không khó để đặt câu hỏi: khi một nhà báo có thể biến Chử Ðồng Tử – nhân vật truyền thuyết tương truyền ở thời Hùng Vương, thành một người cụ thể sống cùng thời với Trần Hưng Ðạo; hay khi một nhà báo có thể bịa ra khái niệm “tứ bất tử của dân gian” và “tứ bất tử của chính sử”,… thì liệu có thể đặt niềm tin vào điều họ đã và sẽ viết, chí ít cũng ở sự nghiêm cẩn khi tra cứu tài liệu để xác minh một nghi vấn đang được đặt ra!?

Hạn chế đến mức thấp nhất các sai sót, và khi vì lý do nào đó mà sai sót xảy ra thì cố gắng rút kinh nghiệm, khắc phục hậu quả, đó là mục đích lành mạnh của con người trong sinh tồn xã hội. Với nghề làm báo cũng vậy, làm thế nào để một tác phẩm báo chí, một phát ngôn trong tác phẩm báo chí hấp dẫn, chính xác, thuyết phục, mang lại những điều dù rất nhỏ nhưng có ý nghĩa thiết thực với người đọc, người xem, người nghe,… luôn được mỗi người làm báo, mỗi nhà nghiên cứu hướng tới. Hơn nữa, số bạn đọc tiếp xúc với sai sót trong một cuốn sách thường ít hơn như số bạn đọc tiếp xúc với sai sót trong tác phẩm báo chí (ví như không có báo chí thì mấy ai biết nhà nghiên cứu nọ xếp trường ca Ði đánh thần hạn của nhà thơ Trần Ðăng Khoa vào kho tàng văn học dân gian Bạc Liêu!), nên ảnh hưởng của sai sót trong các tác phẩm báo chí thường rộng hơn. Có thể có nhiều nguyên nhân khách quan – chủ quan khác nhau làm ảnh hưởng tới chất lượng một tác phẩm báo chí hay một phát ngôn trên báo chí, nhưng sai sót về tri thức trong một tác phẩm báo chí, trong một phát ngôn trên báo chí trước hết là thuộc về yếu tố chủ quan, không thể quy ngay cho nguyên nhân khách quan.

Trong quy trình xuất bản tác phẩm báo chí, các sai sót không chỉ thể hiện năng lực nghề nghiệp, trình độ hiểu biết của phóng viên, mà còn liên quan tới các công đoạn trình duyệt quyết định xuất bản. Quy trình này đưa tới yêu cầu hết sức quan trọng là sự nghiêm cẩn kiểm chứng thông tin, tri thức trước khi công bố. Thiết nghĩ, cần quan niệm một cách rành mạch rằng, nếu sai sót của nhà báo có thể đưa tới ngộ nhận, nhầm lẫn cho người đọc, người xem, người nghe đã là nỗi quan ngại, thì sự nhầm lẫn, ngộ nhận từ sai sót của một tác giả nổi tiếng trong một lĩnh vực tri thức nào đó còn đáng quan ngại hơn nhiều. Báo chí có vị trí quan trọng trong việc góp phần phổ biến và nâng cao trình độ tri thức của xã hội. Tuy nhiên, xã hội tri thức không chỉ phong phú, đa dạng về tri thức, mà còn phải là tri thức có chất lượng, có chiều sâu để vừa nâng cao hiểu biết trong xã hội, vừa tác động tích cực tới hành vi sáng tạo của người tiếp nhận. Ðó à cơ sở để mọi nghề nghiệp xã hội nói chung, nghề làm báo nói riêng, cần hết sức cẩn trọng trong quá trình truyền bá tri thức đến với công chúng.

Nguyễn Hòa

Nguồn: Nhân dân