Tính chính trị của hình thức tường thuật – Phần II


Một công trình nghiên cứu về những phóng sự có đề cập Thông điệp về tình hình liên bang cho thấy những quy ước này, cũng như các quy ước khác, được gắn vào cấu trúc các giả định sống còn của câu chuyện báo chí, tức là các giả định về bản chất của chính trị và vai trò báo chí. Rõ ràng, các nhà báo Mỹ không coi mình là những đảng viên theo các lý tưởng chính trị, mà là các chuyên gia phân tích chính trị. Tuy các nhà báo vẫn giữ lại nguyên tắc phản ánh khách quan, nhưng các quy ước đó cho thấy rõ ràng các nhà báo tự coi vai trò của mình là phải biên dịch hoặc diễn giải một cách cơ bản các hành vi chính trị để công chúng kém hiểu biết có thể nắm bắt được ý nghĩa của nó. Hơn nữa, những quy ước đã thể chế hóa quan điểm của nhà báo cho rằng ý nghĩa không nằm trong đặc điểm của các tổ chức chính trị bền vững, mà nằm trong mục đích chính trị của các nhân vật bên trong các tổ chức đó. Nhà báo tự cho rằng trách nhiệm của mình là khám phá những ý định chứa đựng trong các kế hoạch có ý thức của nhân vật chính trị để tìm ra ý nghĩa chính trị.

Hiến pháp Hoa Kỳ quy định tổng thống “thỉnh thoảng” phải báo cáo Quốc hội về “tình hình liên bang”. Và tất cả các tổng thống Mỹ đều đã chuyển các thông điệp về vấn đề này cho Quốc hội trước mỗi kỳ họp mùa đông, theo truyền thống do Washington khởi lập. Mặc dù bản thân sự kiện này – tức là cách giới thiệu thông điệp hàng năm đó – đã vài lần thay đổi trong hai thế kỷ qua, nhưng những thay đổi này không liên quan gì đến sự biến đổi cách tường thuật những thông điệp đó. Phương cách tường thuật thay đổi theo các quy tắc báo chí về bản chất của chính trị và phụ thuộc vào câu hỏi một câu chuyện báo chí nên là cái gì.

Tường thuật về Thông điệp về tình hình liên bang đã từng được thực hiện dưới ba hình thức: bản ghi chép tốc ký các công việc của Quốc hội từ năm 1790 đến khoảng năm 1850; một bản ghi chép theo thời gian kèm bình luận về các thông lệ của Quốc hội từ năm 1850 đến năm 1900; và tường thuật về thông điệp từ năm 1900 đến nay, đồng thời ngày càng nhấn mạnh đến nội dung và ý nghĩa chính trị dài hạn của nó. Cho dù báo chí thường được ca tụng nhờ tính khách quan, nhưng tường thuật về thông điệp của tổng thống trong mỗi giai đoạn kế tiếp lại có nhiều giải thích hơn, ngày càng xa rời những gì mà nhà quan sát bình thường có thể khẳng định chắc chắn và xa rời những gì bản thân Quốc hội đã nghe thấy. Điều đó không có nghĩa làm cho tường thuật kém trung thực, mà là mở rộng phạm vi các hướng đi của báo chí – chứng tỏ rằng, qua thời gian, chức năng báo chí đã phục vụ nhiều mục đích khác nhau.

Trong giai đoạn đầu, các báo thường tường thuật thông điệp bằng cách in trọn vẹn nó như là một phần trong khuôn khổ các diễn biến của Quốc hội. Ví dụ, bài tường thuật thông điệp của Tổng thống Washington năm 1791 trên tờ tuần báo Boston Gazette xuất hiện trên trang 2 với nhan đề “Quận Columbia, Quốc hội Hoa Kỳ (Kỳ họp thứ I, Khóa II). Hạ viện. Thứ Hai, ngày 24 tháng Mười”. Bài báo ghi chú rằng một ủy ban liên hiệp đã phải hạ mình đợi tổng thống, vì tổng thống đồng ý hẹn gặp Quốc hội vào ngày hôm sau tại Thượng viện. Tiếp đó, trong cùng cột báo, dưới tiêu đề “Thứ Ba, ngày 25 tháng Mười”, có một câu ghi là tổng thống đã đến Hội trường Thượng viện, tiếp câu đó là các diễn biến của Quốc hội trong ngày thứ Tư, 26 tháng Mười. Người đọc phải xem tiếp trang cuối của tờ báo mới thấy nội dung đầy đủ của thông điệp. Mô típ này được tờ Gazette áp dụng cho tất cả các thông điệp của Washington. Tuy nhiều lần nội dung thông điệp cũng được đưa ngay dưới đầu đề, nhưng không bao giờ có một lời bình luận.

Thay đổi đáng kể nhất đối với thông điệp là một sự kiện thực tế do Thomas Jefferson khởi xướng. Ông cảm thấy tổng thống đọc trực tiếp trước Quốc hội là một điệu bộ quá uy nghi, nên đã gửi Thông điệp về tình hình liên bang bằng văn bản. Mô hình này được áp dụng cho đến khi Woodrow Winson quay trở lại tiền lệ của những người theo Chủ nghĩa liên bang (Washington) và xuất hiện trực tiếp trước Quốc hội. Dù có sự thay đổi của Jefferson, song từ trước đến nay thông điệp vẫn luôn được in ấn đầy đủ, dù có lời bình hoặc ghi chép diễn biến hằng ngày của Quốc hội hay không. Tất cả các lời bình về thông điệp đều được đưa hết vào cột xã luận. Từ những năm đầu thập kỷ 1800, cột báo này đã thảo luận nhiều về bản thông điệp, và tuyên bố của tổng thống được ca tụng hoặc phê phán từ những góc nhìn đảng phái mở rộng.

Đến giữa thế kỷ đó, đặc biệt sau Nội chiến, tường thuật báo chí về thông điệp của tổng thống được đặt trong tổng thể tương đối đầy đủ các thảo luận của Quốc hội. Khuôn khổ cho thông điệp vẫn tiếp tục được quy định trong nghi thức của Quốc hội vê việc cử ra một ủy ban để chờ đợi tổng thống, tuyên bố họ sẵn sàng nghe một thư ký đọc văn bản thông điệp của tổng thống. Nhưng có thêm hai yếu tố đã trở thành chuẩn mực. Thứ nhất, phần nội dung chính dành tâm huyết vào việc giới thiệu “hình ảnh” mở màn Quốc hội, thường được đặt làm mở đầu cho câu chuyện báo chí. Ngay từ năm 1852, chúng ta đã đọc thấy trên tờ New York Times: “Đó là một ngày đẹp đẽ tươi sáng, hành lang Hạ viện chật đầy các quý ông, quý bà; tất cả như một hý trường”. Năm 1870, tờ báo này bắt đầu đổi mốt: “Trong nắng đẹp một ngày thu muộn, không gian thơm ngát, hành lang đầy người, ánh cầu vồng sáng sáng tươi của những kiểu trang điểm mỹ miều hớn hở, chào đón Quốc hội trở lại nghị trường”. Báo chí còn ghi chú thêm, đôi lúc rất chi tiết, sự chào mừng nồng nhiệt tới lần lượt các đảng phái khi đại biểu nhóm họp. Tường thuật còn mô tả chi tiết các bó hoa vun đầy trên bàn các thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ, quà mừng từ những người ủng hộ trung thành.

Thay đổi thứ hai bắt đầu trở thành chuẩn mực từ năm 1870, vài thập kỷ trước khi nhà báo lãnh trách nhiệm thực sự tường thuật những gì thông điệp đã nêu, và thay đổi này đáng lưu ý hơn so với thay đổi thứ nhất về mặt dài hạn. Đó chính là việc chuyển sự chú ý sang các phản ứng của Quốc hội đối với thông điệp của tổng thống. Đầu tiên, đó chỉ là những phản ứng chung chung ghi chép được trên nghị trường Thượng viện và Hạ viện. Song vào năm 1870, tờ Time cho hay rằng hai hoặc ba thượng nghị sĩ Dân chủ “dường như sắp ngủ gật” khi phần quan hệ đối ngoại trong thông điệp được đọc. Trong thập kỷ 1870, nhà báo thường tự giam mình trong việc quan sát các hành vi của nghị sĩ trên nghị trường, tuy đôi lúc cũng cố gắng đặc trưng hóa phản ứng của nghị sĩ. Ví như năm 1874, tờ Time có viết: “Có thể nói là, về mặt tổng thể, có ít lỗi trong thông điệp của tổng thống, tuy nhiên cũng có một vài quan điểm bị phản đối đặc biệt mạnh mẽ”. Đôi lúc, một số nghị sĩ nổi trội cũng được chỉ tên điểm mặt. Một phóng viên tờ Time năm 1870 đã quan sát thấy rằng, khi thông điệp đề cập cải cách thuế, nhiều người nhìn về phía Carl Schurz “và do am hiểu nhiều về thực trạng này, nên một nụ cười nhạt đã thoáng qua khuôn mặt ông”.. Vào năm 1878, thông điệp có đề cập việc điều tra những người tước quyền bầu cử của cử tri miền Nam “đã khuyến khích những người Cộng hòa, trong khi những người Dân chủ thể hiện những dấu hiệu phản đối không thể chối cãi”; tờ Time tường thuật rằng khi đọc đến đoạn này thì “sự cáu kỉnh… lan rộng trên những khuôn mặt phía Dân chủ”.

Cuối thập niên 1870 và trong thập niên 1880, các nhà báo phỏng vấn từng nghị sĩ một. Ví dụ, năm 1878, các nhà báo của tờ Chicago Tribune và tờ Washington Post đã phỏng vấn ngay lúc đọc thông điệp; đồng thời các tờ báo này cùng những tờ báo khác đã đăng những bài khác nhau về các phản ứng khác nhau của nghị sĩ đối với thông điệp. Câu chuyện của tờ Washington Post năm 1886 bắt đầu bằng: “Không nghe một lời. Phải đợi đến khi tôi thấy bản in”. Đó là câu trả lời thường thấy của các nghị sĩ khi được hỏi về thông điệp của tổng thống, dù nó đã được đọc ở cả hai viện”. Đó là đặc trưng thông thường. Ít có nghị sĩ nào trong các bản ghi chép đó coi phỏng vấn như một cơ hội xuất hiện trước công chúng; dường như họ còn nổi quạu vì bị hỏi.

Các câu chuyện về phản ứng của nghị sĩ đối với thông điệp ngày càng trở nên chi tiết trong thập kỷ 1880 và 1890. Đôi lúc có cả các câu chuyện về phản ứng của những người khác, đặc biệt là mục xã luận trên báo chí nước ngoài. Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, những chú ý tập trung vào sự tráng lệ của ngày khai phiên Quốc hội, vốn thống trị trong các thập kỷ 1860 và 1870 vẫn khoác lên mình báo chí. Tờ Washington Post quan sát một cách khô khan trên số báo ngày 3 tháng Mười hai 1878, ghi rằng công chúng tò mò về buổi khai phiên Quốc hội, “như thể đó là một cái mới”. Tờ Chicago Tribune trêu đùa trên tít lớn ngày 4 tháng mười hai 1894: “Các nhà thông thái chăm chỉ/ Các nhà làm luật lại bắt đầu làm việc ở Washington”. Rõ ràng là chán nản, và tờ Evening Star của Washington đã loan báo trên câu chuyện của nó vào năm 1890: “Lại bắt đầu rồi đấy!”

Như vậy, cùng với việc bám sát nhịp đập của Quốc hội, và coi ý kiến riêng của các nghị sĩ ngày càng nghiêm túc, mối bận tâm của báo chí về các thông lệ và diễn cảnh giảm xuống, bắt đầu chuyển sang tập trung đả kích các công việc Quốc hội. Thay đổi xuất hiện trong mối quan hệ giữa nhà báo với quan chức đã trở thành một phần quan điểm báo chí mà các nhà báo hướng đến. Họ bắt đầu thiên về truyền thống đưa tin những sự kiện thông thường và diễn biến hàng ngày. Không còn các nhà báo nhẹ nhàng chú tâm đến thủ tục Quốc hội xung quanh việc đọc Thông điệp về tình hình liên bang; họ ngày càng trở nên bứt rứt vì viết đi viết lại một cái gì diễn ra hết năm này qua năm khác. Sự bứt rứt thể hiện bằng những lời lẽ hài hước hoặc những lời tự bình luận về việc tại sao mọi thứ vẫn không thay đổi mà mọi người vẫn nhất mực quan tâm. Quan điểm cho rằng nhà báo nên tường thuật những sự kiện gốc chứ không tường thuật những thể chế, đang trở nên ngày càng mạnh mẽ. Các nhà báo trong những thập niên 1880 và 1890 thấy mình bị giằng xé giữa hai mô hình hoạt động, hay có thể nói là hai kiểu nhận thức.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Shudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Tính chính trị của hình thức tường thuật – Phần I


Truyền hình là một tâm điểm của hoạt động văn hóa và chính trị Mỹ. Nó thường được coi là một lực lượng chi phối làm thay đổi cơ cấu chính trị của chúng ta – và làm cho cơ cấu đó tồi tệ thêm. Nhưng truyền hinh không làm thay đổi nhận thức của chúng ta về chính trị; thay vào đó, nó cô đọng và thể hiện sự biến đổi hình thức tường thuật chính trị trưởng thành từ truyền thông in ấn trong nhiều thập kỷ trước khi truyền hình xuất hiện.

Trong những năm 1950, quyết định của Chủ tịch Hạ viện Sam Rayburn không cho máy quay truyền hình vào Hạ viện là một đạo luật có ảnh hưởng rất lớn – hoặc như cách hiểu của David Halberstam thì:

…điều đó làm cho Hạ viện kém khả năng cạnh tranh với nhánh hành pháp, làm cho tầm quan trọng của nó biến mất trong mắt công chúng… Điều đó thể hiện rõ trong những lần duy nhất Quốc hội Mỹ xuất hiện trên truyền hình, đó là khi Tổng thống Mỹ đọc Thông điệp về tình hình liên bang trước Hạ viện. Có thể thấy lúc đó các nghị sĩ vỗ tay đầy trách nhiệm. Thực tế, vai trò của họ đã được người viết diễn văn cho tổng thống định sẵn.

Tuy nhiên, những niềm tin này vào truyền hình làm cho nó có nhiều ảnh hưởng đối với hệ thống chính trị hơn những gì thực có. Đối xử của báo giới với Thông điệp về tình hình liên bang thay đổi chóng mặt, ngày càng nhấn mạnh vai trò của tổng thống và hạ thấp Quốc hội. Nhưng điều đó đã diễn ra từ hơn 80 năm trước, vào thời của Teddy Roosevelt, William Howard Taft và Woodrow Wilson. Thông lệ đưa tổng thống lên trang bìa hình thành từ đó, và tiếp tục ảnh hưởng đến cách bình luận của không chỉ báo viết, mà cả báo hình.

Bằng chứng mà tôi đưa ra trong bài này không thể giải quyết cuộc tranh cãi xung quanh tác động của truyền hình – cuộc tranh cãi giữa những người hãi sợ quyền lực của nó với những người muốn hạ thấp nó. Phải công nhận công nghệ mới đã tạo điều kiện cho chính trị và xã hội, nhưng một công nghệ chỉ xuất hiện và được sử dụng trong những hoàn cảnh chính trị và xã hội nhất định. Và được sử dụng như thế nào còn phụ thuộc vào chính công nghệ đó – tất nhiên không chỉ một yếu tố đó. Trên quan điểm này, có lẽ hơi vượt rào một chút khi đặt câu hỏi về tác động của truyền hình đến địa vị tổng thống, vì không thể nào tìm được câu trả lời thuyết phục. Thay vào đó, chúng ta sẽ hỏi: Tác động của đài truyền hình này, truyền hình của chúng ta, như thế nào? Để trả lời câu hỏi đó, không chỉ cần đến những hiểu biết về phần cứng, thậm chí nắm bắt được vai trò xã hội của máy thu hình trong phòng khách, phòng làm việc và phòng ngủ của người Mỹ vẫn chưa đủ. Còn phải tìm hiểu mạng lưới quốc gia như là những doanh nghiệp kinh doanh; mối quan hệ không êm ả giữa một ngành công nghiệp hữu hình được nhà nước điều tiết với các cơ quan chính phủ; truyền thống của báo chí Mỹ đã định hình nhận thức và ý định của các phòng ban tin tức trong mạng lưới; và mối quan hệ truyền thống qua nhiều thập kỷ giữa tổng thống và báo giới. Truyền hình của chúng ta có cuộc sống riêng, đóng vai trò trong tính chính trị của tổng thống; nó là một phần của môi trường mà mọi diễn biến chính trị Mỹ đều có dính đến. Tuy nhiên, hình thức bình luận về tổng thống của truyền hình đã có điềm báo từ trước, nếu không muốn nói là đã được định trước, từ những thay đổi trong mối quan hệ giữa báo viết với chức vị tổng thống.

Trong bài này, tôi sẽ chỉ ra những thay đổi trong cách báo chí cư xử với chức vị tổng thống từ những ngày đầu của nền cộng hòa, những thay đổi thể hiện sự phát triển của cả chính trị lẫn báo chí. Tôi xin đưa ra luận điểm: quyền lực báo chí không chỉ nằm trong quyền công bố sự thật (thậm chí đây không phải là quyền lực nguyên thủy của nó), mà còn nằm trong quyền cung cấp những hình thức xuất hiện công bố. Tin tức trên báo truyền thống hay truyền hình đều có quan hệ với “thế giới thực”, không chỉ về nội dung mà còn cả hình thức; như vậy, nếu xét trên khía cạnh gắn thế giới với những định ước tường thuật thầm lặng, và biến đổi thế giới đó, thì chúng không còn là đề tài bàn cãi, mà đã trở thành tiền đề của tất cả các cuộc đối thoại.

Nói chung, mọi người không nhìn thấy tin tức khi nó diễn ra, mà họ chỉ nghe hoặc đọc được. Bố mẹ không trực tiếp theo dõi những gì con cái làm ở trường, mà họ chỉ biết được thông qua tường thuật của con cái. Trẻ con biết rằng, khi kể lại những gì đã trải qua, phải có một ý nghĩa hình thức nào đó, cũng giống như những câu chuyện và truyền thuyết chúng nghe kể. Tôi biết một đứa trẻ đã kể với chị của nó câu chuyện sau: “Ngày xửa ngày xưa, có một chú bé đi vào rừng. Bỗng chú nghe thấy một âm thanh, một con sư tử nhảy vồ chú bé và nuốt vào bụng. Nhưng chú bé xé tan dạ dày sư tử, giết chết nó và kéo xác về nhà. Chấm hết”. Lần sau đứa trẻ lại kể câu chuyện đó: “Ngày xửa ngày xưa, có một chú bé đi vào rừng và một con sư tử muốn ăn thịt chú bé. Nhưng chú bé đã giết được con sư tử. Chấm hết”. Lần thứ ba đứa trẻ kể: “Ngày xửa ngày xưa, có một chú bé giết một con sư tử trong rừng. Chấm hết”. Và lần cuối cùng, đứa trẻ kể: “Ngày xửa ngày xưa. Chấm hết”.

Đứa trẻ đã học được đôi điều quan trọng về hình thức. Nhà báo cũng biết điều tương tự. Họ không đưa ra chú bé, rừng, sư tử một cách thô ráp, mà xào nấu nó thành hình thức các câu chuyện. Tin tức báo chí không có tính hư cấu, mà có tính định ước. Các quy ước giúp người đọc hiểu được các thông điệp. Nó phải “khớp” với xã hội người viết và người đọc, quy ước của một xã hội này, một thời kỳ này không giống quy ước của một xã hội khác, một thời kỳ khác. Ngày nay, một số quy ước tin tức thông dụng có vẻ quá hiển nhiên nên nhiều người tưởng rằng nó không có tuổi. Tuy nhiên, những quy ước đó mới được phát hiện gần đây. Cũng giống như nhiều quy ước khác, nhờ chúng mà những thông điệp thuận văn hóa có thể đọc được, và không nói ra những thông điệp nghịch văn hóa. Chức năng của những quy ước này không phải để tăng hay giảm giá trị chân thực của những thông điệp, mà nó thiên về định hình và thu hẹp phạm vi những sự thật được nói ra. Nó củng cố một số giả định nào đó về chính trị.

Tôi muốn xem xét chi tiết sự xuất hiện của một vài quy ước trong số đó:

1/ Cấu trúc tóm tắt và hình chóp ngược được ưa thích hơn cách tường thuật một sự kiện theo trình tự thời gian.

2/ Tổng thống là nhân vật quan trọng nhất trong bất kỳ sự kiện nào có sự tham gia của ông ta.

3/ Một câu chuyện báo chí nên tập trung vào một sự kiện đơn lẻ, không nên nêu những sự việc kéo dài hoặc lặp lại. Hoặc nếu một hành động lặp lại, thì phải tập trung vào tính mới lạ chứ không nên tập trung vào khuôn mẫu của nó.

4/ Một câu chuyện báo chí đề cập một tài liệu hoặc bài phát biểu quan trọng, thì phải trích hoặc nêu ra những điểm nhấn nổi bật của nó.

5/ Khi một câu chuyện báo chí đề cập một sự kiện chính trị, thì nên chuyển tải ý nghĩa của hành động chính trị đó trong một khung thời gian rộng lớn hơn khung thời gian của bản thân hành động đó.

Đó là những quy ước không bàn cãi và cũng thường là bất thành văn của báo chí Mỹ thế kỷ XX; trong thế kỷ XIX, chưa hề có quy ước nào trong số đó, chưa có quy ước nào gần gũi với Horace Greeley, James Gordon Bennett hay Henry Raymond. Khác với nhà báo ngày nay, các nhà báo trong thế kỷ XIX không bắt buộc phải tóm lược các điểm nhấn thành tiêu đề, phải coi tổng thống là nhân vật chính trên sân khấu chính trị Mỹ, phải trích dẫn diễn văn đăng báo, hay phải xác định ý nghĩa chính trị của một sự kiện được đưa lên mặt báo. Vậy thì những quy ước đó xuất hiện như thế nào và tại sao?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Shudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Mạng xã hội Việt Nam những ngày “nóng dịch”


Nguyễn Đức An

(TS, Đại học Boumemouth – Anh)

25 năm làm báo ở Việt Nam rồi nghiên cứu báo chí-truyền thông ở Australia và Anh, chưa bao giờ tôi thấy mình “lực bất tòng tâm” và “vô dụng” như khi chứng kiến dịch thông tin COVID-19 trên mạng xã hội những tuần qua.

“Nghĩa tử là nghĩa tận”, nhưng nghĩa tận chừng như không cùng với nữ bệnh nhân vắn số ở bệnh viện 115 vào cuối tháng 2 rồi. Hãy nhìn cái cách người ta chuyền nhau tờ giấy báo tử, cùng thân nhân và hình ảnh, của cô trên Facebook và các MXH khác. Những dòng trạng thái vô căn cứ-cộng hưởng với sự tắc trách của một số tờ báo “dòng chính” trong nước và hải ngoại – cứ theo những nút bấm like, share và bình luận đến mọi ngõ ngách, gieo thêm hoài nghi và rắc thêm sợ hãi vào một cộng đồng vốn đã hoảng loạn cả từ mấy tuần trước đó.

Hiện tại, trên Facebook lại đang dậy làn sóng mới: sau vài tầm tạm yên, Việt Nam lại phải căng thẳng phong tỏa một khu phố ở Hà Nội, sau khi một cư dân trẻ tại đây, vừa trở về từ châu Âu, bị phát hiện là ca COVID-19 thứ 17 ở Việt Nam. Ngay trong đêm tin được loan, người ta lại thấy một thứ quen thuộc trên Facebook: hết tin bịa này đến lời thêu dệt kia lan đi với tốc độ chóng mặt – lần này về hành trình của cô gái trước và sau khi về Việt Nam. Dĩ nhiên, việc cô gái về sân bay Nội Bài, thấy không khỏe mà không khai báo rõ là hành vi không thể chấp nhận trong thời điểm chống dịch. Nhưng người ta nhân danh cái gì để chà đạp hội đồng một cách tàn bạo lên như thế nhân phẩm một con người, mà suy cho cùng cũng là một nạn nhân đang trên giường bệnh?

Hai câu chuyện trên đặt ra nhiều dấu hỏi về trình độ ứng xử của người Việt trên không gian số.

Từ dịch bệnh đến thông tin

Sự bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm luôn là mảnh đất màu mỡ cho mọi thứ thông tin ô hợp vì nó luôn đi cùng sự bất định rất khó chịu. Cho nên, thông tin đánh vào các tình cảm tiêu cực-như lo âu, sợ hãi-dễ lan truyền theo cấp số nhân. Như cái vòng luẩn quẩn: càng sợ, càng đi tìm “câu trả lời”; càng tìm ra, càng rối, càng sợ, càng hoảng. Đến lúc nào đó, đúng sai, thật giả không còn là tiêu chí tiếp nhận đầu tiên: người ta chỉ muốn nghe những gì họ muốn nghe để củng cố niềm tin và định kiến sẵn có, hơn là cái thật, cái đúng.

COVID-19 vì thế chưa lan vào cuộc sống như đã tràn trên mạng xã hội. Đầu tháng 2/2020, WHO gọi luôn sự nhiễu loạn này là một “dịch thông tin”, tích hợp hai từ “thông tin” và “dịch bệnh” – và công bố nó như một trong những chướng ngại lớn nhất cần giải quyết trong việc chống dịch.

Trăm kiểu tin bịp

Nhìn tổng thể, dịch thông tin COVID-19 hội tụ ba loại tin giả.

Loại thứ nhất là thông tin bịa đặt về nguồn gốc dịch, nhất là trong những ngày đầu. Loại này thường lắp ghép các sự kiện rời rạc và/hoặc bịa thêm thông tin, được xâu chuỗi và thể hiện rất ly kỳ, hấp dẫn nhằm cho đánh lạc hướng lý trí, lừa cảm giác, khiến người đọc/xem/nghe nếu không tin thì cũng không biết đâu mà lần. Hoảng loạn đến một phần từ đó, nhất là trong bối cảnh tâm lý “ghét Tàu” ở Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới.

Loại thứ hai là thông tin về tiến triển của dịch. Loại này có lẽ có sự tham gia tích cực từ đám đông hơn, vì nó là nỗi ám ảnh hàng ngày. Trong bối cảnh Trung Quốc bưng bít thông tin và không cho chuyên gia bên ngoài vào chống dịch, những tin tức ngụy tạo đó như cá dữ gặp đúng nước, vẫy vùng trong sự kinh động của đồng loại xung quanh.

Loại thứ ba là về phương thức phòng chống và chữa trị. Trong khi khoa học còn đang mò mẫm tìm hiểu virus COVID-19 thì trên mạng đã đủ “lời khuyên sức khỏe” để ngăn COVID-19. Rợn người nhất là lời kêu gọi uống nước tiểu, “thần dược” diệt mọi virus, hay uống nước tẩy trắng để ngăn chặn, thậm chí chữa trị, COVID-19…

Bộ lọc nào?

Lịch sử dịch bệnh cho thấy thông tin sai trái, đồn thổi, thuyết âm mưu có thể thắng thế tạm thời, nhưng cuối cùng phải trả lại chỗ cho sự thật. Tuy nhiên, trong trận đồ thông tin chưa có tiền lệ như mạng xã hội, sự thật chỉ được đảm bảo nếu con người chủ động xây dựng được những bộ lọc thông tin hữu hiệu ở mọi cấp độ.

Thứ nhất là một hệ thống truyền thông khoa học thật mạnh và minh bạch, nhất là mảng báo chí y học và sức khỏe, để có thể đương đầu với những thông tin sai trái. Rất tiếc đây là một lĩnh vực đang còn rất yếu ở Việt Nam. Rất may, trong dòng xoáy thông tin hiện tại, vẫn có những cá nhân tự nguyện bỏ thì giờ làm công việc định hướng dư luận bằng những thông tin đã được xác tín hoặc có thẩm quyền chuyên môn, như Bộ Y tế Việt Nam, sau thời gian đầu hơi lúng túng, cũng đã tận dụng được tính năng tương tác của mạng xã hội để lan tỏa những nội dung phù hợp môi trường số (bài nhạc vận động đẩy lùi COVID-19 lên sóng truyền hình Anh – Mỹ là một ví dụ).

Thứ hai là bộ lọc công nghệ đi kèm với hệ thống thông tin trên. Những tuần qua Facebook, Twitter, YouTube và các mạng xã hội khác đã làm việc cật lực để kiểm soát lưu lượng thông tin sai trái, như xóa bỏ tin bịa đặt, dán nhãn tin khả nghi, treo/ngưng các tài khoản chuyên tung tin thất thiệt và dùng thuật toán để giúp người dùng tăng tiếp xúc với các nguồn tin đáng cậy.

Bộ lọc cuối cùng và quan trọng nhất không ai khác hơn cá nhân từng người sử dụng mạng xã hội. Khi đối đầu với một nguy cơ như dịch bệnh, hãy bình tĩnh mở lòng và vận trí mình để tiếp nhận những thông tin và dữ kiện có thẩm quyền, ngay cả khi nó trái ý hay ngoài mong đợi.

Ở một số nước, học sinh được dạy sàng lọc thông tin kiểu này – gọi là dân trí truyền thông (media literacy), gần đây là dân số trí (digital literacy) – cũng như phát  huy những khía cạnh tích cực của truyền thông. Dân trí đó không giải quyết hết nạn tin giả, cũng không ngăn chặn hoàn toàn sự hoảng loạn, nhưng cùng thời gian, nó giúp dân chúng sống bản lĩnh hơn, biết đương đầu dư luận hơn, góp phần giảm thiểu nhiều thiệt hại do thông tin sai trái gây nên. Ở Việt Nam, mảng này gần như bỏ trống, trừ vài dự án nhỏ do nước ngoài tài trợ. Việt Nam cần được đầu tư vào đó hơn bao giờ hết, không chỉ để đối phó dịch bệnh mà cả tình trạng thông tin số hỗn độn và ngày càng phức tạp.

Nguồn: BBC – 10/03/2020

TKNB – 12/03/2020

Ba trăm năm báo chí Mỹ – Phần cuối


Phóng sự báo chí, cùng với thẩm tra tín dụng và thám tử tư, đã trở thành một nghề thu thập thông tin chuyên nghiệp từ giữa thế kỷ XIX. Chúng là những hình thức theo dõi chuyên môn hóa cao, có hệ thống, một chiều và phi đạo lý một cách kỳ quặc. Tức là mối quan hệ giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn mang tính phi đạo lý. Đối với người phỏng vấn thì người được phỏng vấn chỉ là phương tiện để đạt được mục đích, không hơn không kém. Điểm khác nhau giữa phóng sự báo chí và thám tử tư là đối tượng và khách hàng của chúng. Đối tượng theo dõi của phóng sự báo chí là một con người công quyền, hoặc một con người trên khía cạnh quan hệ công chúng. Khách hàng của phóng sự báo chí không phải là một người mà là một công chúng độc giả, một thực thể cùng những giá trị đạo đức và yêu sách chính trị của nó. Những người phỏng vấn phục vụ người đọc trên một tập hợp nhất định những mong muốn về đời tư và quan hệ công chúng, trong đó nhà báo giống như một ghi chép và đưa ra các ghi chép, các chuyên gia giống như những người đại diện và châm biếm được sử dụng như một hình thức khẳng định. Trong đó, họ cũng nịnh bợ công chúng, tạo ra cảm giác quá quan trọng, khuyến khích các nhà lãnh đạo không chỉ nhạy cảm với công chúng mà còn phải đưa ra những phương sách nịnh bợ ý thích công chúng. Tôi không cho rằng tất cả những hình thức báo chí mới trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đều tiến bộ; đơn giản chúng là một phát minh sống còn mang đặc trưng văn hóa và một lực lượng văn hóa.

Đối với người ngoài nghề, “truyền thông” (media) hay “báo chí” (press), như cách gọi của chúng ta ngày nay, là một nguồn nguy hiểm, một tác động ngoại lai, một rủi ro lớn khó lường trước. Ngày nay, người ta thường phàn nàn về truyền hình đưa trẻ em đến với bạo lực, biến đồng bào ta quy phục chính sách mị dân và làm cho chúng ta không phân biệt được sự thật với giả tưởng. Một thế kỷ trước, Charles Beard theo dõi thấy báo in là nguyên nhân chính gây suy nhược thầnkinh, và Liên minh chống uống rượu Cơ đốc giáo phụ nữ Iowa lo ngại rằng “những tác động đẩy ngã thanh thiếu niên chúng ta ngày nay mạnh mẽ hơn nhiều so với những gì mà thế hệ trước phải đối mặt, tỷ lệ thuận với tốc độ cuộc sống và giao tiếp ngày càng tăng và tỷ lệ thuận với việc sử dụng báo chí quá rộng rãi”. Họ lo ngại rằng, “trong thời đại hối hả của điện thoại và máy chữ”, lối sống thô tục của thành thị sẽ dễ dàng tiếp cận các làng mạc cách biệt của Iowa. Báo cáo của họ còn thêm rằng: “Thực ra, chúng ta không có làng mạc cách biệt. Thông qua những dây thần kinh sắt thép, khắp nơi đều có thể cảm nhận được những xung động háo hức của thời đại”. Ba phần tư thế kỷ trước đó, Thomas Jefferson đã than rằng bản thân sự thật lại trở nên đáng ngờ khi được in trên báo. Ông tin rằng tin tức báo chí không ghi chép trung thực những diễn biến của thế giới. Thực tế, ông cảm thấy thương hại cho những công dân nghĩ rằng có thể học được điều gì đó về thế giới xung quanh từ báo chí, bởi vì “những tường thuật họ đọc trên báo đúng cho cả hiện tại lẫn bất cứ một giai đoạn lịch sử nào của thế giới, có khác chăng là chuyện cổ tích đó được gắn thêm một ngày giờ cụ thể”. Ông thúc giục tổ chức báo chí theo một mô hình mới, chia tờ báo thành bốn chương: Sự thật, Khả năng hiện hữu, Tiềm năng và Chuyện bịa. Nhưng ông chỉ sợ rằng thực tế Chương Một sẽ rất ngắn.

Nhưng báo chí không chỉ là một lực lượng bên ngoài cùng những đoạn văn quý giá về khoa học hay những tin tức nguy hiểm. Nó còn rất gần gũi với chúng ta. Chúng ta ném bỏ nó rất dễ. Giống như vợ Emerson đã dùng báo để lót bánh nướng, ít nhất là theo các nói ẩn dụ. Trong thế kỷ XVIII, người đọc báo cũng thường chính là người viết báo, và điều này cũng thường gặp trong mô hình báo chí liên kết của thế kỷ XIX. Ngay cả trong báo chí đô thị, ý kiến độc giả cũng thường chiếm phần lớn mặt báo. Trong thập kỷ 1870, ấn bản nông thôn của tờ New York Tribune thường dành hẳn một trên mười sáu trang hoặc nhiều hơn cho những thư từ về nông nghiệp, một kiểu cột báo giúp nhau trao đổi trong làng xã, với tựa “Phương pháp bón phân của tôi” hay “Những con ngựa khó thuần dưỡng” (30 tháng giêng 1878). Không có kiểu trugn gian như của Ann Landers – ở đây là những cộng tác viên viết bài trực tiếp đăng phục vụ lợi ích của những bạn đọc và cộng tác viên khác. Nhưng khi báo chí các trugn tâm đô thị ngày càng tự chủ hơn, kiên quyết hơn và kinh doanh béo bở hơn, thì nó cũng dần xa rời độc giả. Khi mối quan hệ giữa báo chí và đảng phái yếu đi, thì tiếng nói báo chí thậm chí không còn là một khế ước chính trị rộng rãi với người đọc. Dần dần, tiếng nói của báo chí chuyên nghiệp ngày càng tách xa khỏi tiếng nói của người đọc. Khi hai thứ quá giống nhau, nó sẽ chia rẽ sâu sắc.

Dù không tham gia viết, nhưng theo David Paul Nord, việc đọc báo của bạn đọc vẫn là “một hình thức quyền công dân tích cực, một cách tham gia vào cuộc trò chuyện hàng ngày trong cộng đồng. Có thể tham gia trạng thái cô độc, nhưng là cô độc trong đám đông”. Nhưng tôi sẽ không tiếp tục diễn nghĩa với cụm từ “cuộc trò chuyện của cộng đồng” để tránh ý nghĩa coi thường báo chí, coi nó chỉ như những cuộc trò chuyện bám theo một cái gì đó. Vẫn còn mục thư bạn đọc. Một người công dân bình thường cũng có thể viết một bức thư, thậm chí một bài báo cho địa phương hoặc cộng đồng, và không ít trường hợp đã được đăng. Vẫn còn những cột báo kiểu như “Chuyện kín” trên tờ Boston Globe, vẫn giữa tính chất người-đến-người như cột báo nông nghiệp trên tờ New York Tribune. Nhưng báo chí ngày nay, cũng như từ lâu, không phải là những chuyện trò đối thoại, thậm chí còn phải đối thoại. Nhưng chẳng có gì phải tiếc nuối khi chuyển từ truyền thông giữa người này với người khác sang truyền thông đại chúng; đó là điều có thể hiểu được. David Fisher đã chỉ ra rằng phong trào chuyển sang bầu cử phổ thông sau năm 1800 là một diễn biến bị những người theo trường phái Jefferson phản đối kịch liệt, còn những người theo chủ nghĩa liên bang chỉ chấp nhận miễn cưỡng. Những người theo chủ nghĩa liên bang thủ cựu coi quá trình bầu cử là một công việc tương đối mang tính cá nhân, và cho rằng cách vận động bầu cử tốt nhất là viết thư tới từng người chứ không phải là những bài báo. Những người theo chủ nghĩa liên bang trẻ hơn thì phản đối ý kiến đó. “Họ viết thư riêng. Cho ai? Cho nhau. Nhưgn họ chẳng làm được gì để định hướng tư tưởng quần chúng một cách đúng đắn. Nói chung, ngay cả trong những trao đổi của mình, họ luôn thận trọng dè dặt, khó có thể coi là phát tán thông tin, chuẩn bị quần chúng để đạt được kết quả tốt”.

Có một cụm từ rất có ý nghĩa được dùng, đó là “chuẩn bị quần chúng”, ở đây được dùng theo nghĩa kém lạc quan hơn. Chuẩn bị quần chúng nghĩa là “chuẩn bị một tập hợp đại chúng nhân dân”, khác với “chuẩn bị tư tưởng cho quần chúng”, theo cách nói của Franklin. Quan điểm về báo chí của chúng ta ngày nay cũng có phạm vi tương tự, từ báo chí như là phương tiện tuyên truyền đến báo chí như là giáo dục và tự giáo dục; từ báo chí đóng vai trò định hướng đến báo chí với vai trò tạo điều kiện; từ báo chí như một ngành kinh doanh đến báo chi như là người giám hộ; từ báo chí như là người khuấy các tác động từ bên ngoài đến báo chí như là phương tiện làm chủ cốt yếu của người dân, mặc dù chưa hoàn hảo; từ chỗ nhân dân như là một đám đông cần được định hình đến nhân dân như là những tư tưởng cần được thông tin.

T.S. Eliot đã nói: “Không có nhiều cái có ý nghĩa với một quốc gia hơn việc phát minh ra một hình thức diễn xướng mới”. Còn Jacob Bronowski, khi bảo vệ những ngành khoa học trong các cuộc tranh luận về khoa học trong thế kỷ XVII, đã thêm rằng: “Không có nhiều điều có ý nghĩa với thế giới hơn việc phát minh ra một cách viết mới”. Tôi muốn bổ sung vào những thành ngữ trên đây rằng ít có thứ gì tiêu biểu hơn và bộc lộ rõ hơn văn hóa hiện đại so với việc phát minh và thay đổi phương cách tự thể hiện cập nhật hàng ngày qua báo chí. Thế giới có thể là “ở ngoài kia”, như nhiều người trong chúng ta vẫn nghĩ. Nhưng không có người nào và phương tiện nào có thể trực tiếp thấu hiểu nó. Chúng ta biến tự nhiên thành văn hóa khi nói, đọc và tường thuật nó. Chúng ta nhân cách hóa nó, như Hannah Arendt đã nói, nhưng chúng ta chỉ nhân cách hóa một phần của chúng  chứ không phải chung chung. Sinh ra và lớn lên, chúng ta không chỉ là một con người mà còn là người dân của một đất nước, được đặt trong một thời điểm lịch sử cụ thể, và cách chúng ta nhân cách hóa nói lên thời điểm và địa điểm của chúng ta, vào năm 1690, 1790, 1890 hay là 1990. Chẳng ở đâu nói nhiều và rõ rệt về chuẩn bị tư tưởng con người như ở báo chí.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Ba trăm năm báo chí Mỹ – Phần IV


Thời kỳ đó, báo chí trước hết là một loại quảng cáo định kỳ phục vụ cho mục đích kinh doanh của nhà in, một hình thức giải trí và để cập nhật một cái gì đó. Chứ trong 75 năm đầu của báo chí Mỹ, hiếm thấy một nhà thực dân nào chạy đến phòng thông tin để thu thập “tin tức”. Samuel Sewall, với tư cách là một độc giả thường xuyên trong đầu thế kỷ XVIII, hầu như chẳng bao giờ nhận được “tin tức” từ ấn bản Boston News-Letter của ông. Ông đọc trực tiếp báo chí London, và sử dụng Boston News-Letter như là “một nguồn tin tham khảo ghi lại những văn bản chính trị như các bài phát biểu và thông cáo của hoàng gia hoặc thủ hiến”. Và ông ghi rõ trong nhật ký và các bức thư là đã sử dụng tờ báo đó để tham khảo. Trong giai đoạn 75 năm tiếp theo, nếu thấy ai chạy đến văn phòng nhà in, thì đó là vì các quan điểm gây tranh cãi, chứ không phải vì các tin tức đáng tin cậy. Xin lưu ý là nghị viện thuộc địa thường họp kín. Khi một tờ báo ở Nam Carolina in một tin chính xác về thủ tục trong nghị viện thuộc địa, do một thành viên nghị viện gửi đến năm 1773, thì nhà in đã được cảm ơn cho nỗ lực của mình bằng lệnh bỏ tù. Quốc hội lục địa và Quốc hội được thành lập theo Hiến pháp hợp bang đã cấm báo chí. Sử gia Thomas Leonard viết: “Trong suốt thập kỷ 1780, khi mọi người tìm được một bài phát biểu trên báo thì có nhiều khả năng đó là bài phát biểu tại Nghị viện của vương quốc mà họ đã từ bỏ, chứ không phải tại các nghị viện của quốc gia mới thành lập”. Trong những ngày đầu, Quốc hội luôn thù địch với báo chí. Thượng viện hoàn toàn họp kín trong 6 năm đầu. Trước thập niên 1820, Quốc hội không ghi chép nhiều về các tranh luận nghị trường. Trong suốt một thế hệ của quốc gia mới thành lập, tất cả các tờ báo bên ngoài Washington không hề có cộng tác viên ở thủ đô.

Và để mô tả về hình ảnh của báo chí Washington trong giai đoạn đầu, Leonard đã vẽ một bức chân dung đầy nhạo báng về một thế giới trong đó các nhà báo coi nhiệm vụ của mình là biến các diễn thuyết thô ráp thành thứ tiếng Anh có thể chấp nhận được. Theo Leonard, bức chân dung nhạo báng đó không hẳn bịa đặt hoàn toàn, mà là “một quá trình kết hợp tương đối phức tạp trong đó nhà lãnh đạo và nhà báo cùng lãnh trách nhiệm ghi chép các nghị luận chính trị cho công chúng”. Các chính trị gia và nhà báo ngồi với nhau đọc kiểm tra cẩn thận các ghi chép và trau chuốt theo quan điểm của họ trước khi in ấn. Thông thường, họ trì hoãn phát hành cho đến khi ký ức về những gì họ nói không quá chói tai và thô ráp khi xuất hiện trên giấy trắng mực đen (và họ muốn chắc chắn những thứ giấy trắng mực đen này đến được với cử tri của mình).

Báo chí trong đầu thế kỷ XIX, đặc biệt là sau khi được công nghệ làm báo vì tiền thúc đẩy, đã chuyển từ hỗn hợp của những thực tế và tưởng tượng về những người lạ xa lắc xa lơ, những thông tin thực tế về kinh doanh, những bài viết chính trị hiếm hoi và một chút truyền thống dân gian, sang một thứ hỗn hợp về cộng đồng cụ thể của chính họ, cả những bày tỏ nội bộ cộng đồng đó lẫn những mối liên hệ với bên ngoài. Chính tại đó, báo chí trở thành một kiểu kiến thức có vị thế và giá trị mới, một phần quan trọng của chính trị và quyền công dân. Tin tức báo chí không còn là những câu chuyện phiếm mà đã trở thành một thứ hàng hóa trao đổi đầy cạnh tranh và có tổ chức. Nó cũng trở thành thứ hàng hóa công cộng, tập thể và hữu hình. Nó quan trọng là vì nó không giống lời đồn, được chuyển từ người này sang người khác, mà là như những chỉ dẫn thần thánh được chuyển từ một bản in đến hàng trăm người một lúc.

William Gilmore viết rằng báo chí đã giúp phôi thai một lý tưởng mới coi trọng “ý thức công dân” trong khu vực nông thôn ở New England trong đầu thế kỷ XIX, và ông cũng lưu ý đến một thói quen thời thượng là “theo kịp thế giới xung quanh”. Chẳng lẽ trước đó mọi người không hề quan tâm đến những gì xảy ra xung quanh hoặc ngoài tầm mắt của họ hay sao? Chẳng lẽ họ không khát tin tức hay sao? Trái với những giả định thông thường, tôi cho rằng những câu hỏi đó là hoàn toàn chính xác. Điều đó không có nghĩa trí tò mò là một tính cách mới của loài người. Hàm ý ở đây là tính sẵn có của một thứ sản phẩm, trong trường hợp này là tin tức báo chí, sẽ thúc đẩy mong muốn có được nó. Và chính mong muốn này là động lực để đưa sản phẩm ra thị trường. Ngay từ năm 1548, một cuốn sách thông tin của Anh đã tuyên bố nó có thể thỏa mãn “những mong muốn, khát khao mà tất cả những đứa trẻ của chúng ta đều phải biết”. Nhưng tôi ngờ rằng tác giả của cuốn sách muốn thể hiện hy vọng của mình cho lòng khát khao đó được lan tỏa khắp nơi; có lẽ tác giả muốn phổ biến những gì ông đã khám phá. Báo chí trong thế kỷ XIX thì ngược lại, không chuyên chở những chất men say đắm vĩnh hằng, mà người bán thứ rượu mới lên men của văn hóa dân chủ đại chúng.

Trong thế kỷ XIX, thói quen đọc báo trở thành  một phần văn minh nước Mỹ, các biên tập viên hiểu được chức năng xã hội của mình khi cấp tin cho công chúng. Năm 1869, khi John Bigelow nắm vị trí chủ biên tờ New York Times trong một thời gian ngắn, ông vẫn phải yêu cầu mọi người coi tin tức là trụ cột của báo chí. Cùng thời gian đó, một nhà báo người Anh là Edward Dicey đã gọi người Mỹ là “một loài động vật đọc báo”. John đã viết trong bài xã luận đầu tiên: “Tin tức là một nhân tố gây ra sự thu hút trong báo chí. Và đến nay, tin tức đã vượt mặt tất cả những cái khác. Nhờ sự phát triển của điện tín, nên phần lớn nhân lực của một tờ báo tập trung vào phòng tin tức”.

Quá trình “tham khảo ý kiến” dông dài trong giai đoạn trước Nội chiến đã được giảm bớt do những biên bản ghi chép sẵn có hơn. Nhưng một quá trình tham khảo ý kiến mới được hình thành, dưới hình thức này hay hình thức khác, và vẫn tồn tại đến ngày nay: đó là phỏng vấn. Cho đến cuối thế kỷ XIX phỏng vấn mới trở nên gần gũi. Thực tế là, trước những năm 1850, người ta vẫn chưa quen thấy các phóng viên phỏng vấn các chính trị gia hoặc một nhân vật công quyền nào đó để thu thập những bình luận nóng về một ghi chép nào đó. Khi Horace Greeley phỏng vấn Brigham Young năm 1859, nó có vẻ kỳ quặc, nên Greeley đã phải giải thích với độc giả về những gì ông đã làm. Nhưng cho đến những năm 1880, phát minh quan trọng của người Mỹ về phỏng vấn báo chí mới lan rộng ở châu Âu. Một nhà văn người Pháp đã lên án những người nông thôn “chịu hiện diện và hớ hênh trước một số phóng viên nước ngoài”. Trong những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chính các nhà báo Mỹ là người đầu tiên phỏng vấn Giáo hoàng, quan chức nội các Anh và các bộ trưởng Đức. Ngược lại, ở Mỹ, từ những năm 1890 phỏng vấn đã trở nên quá phổ biến đến nỗi ở New York bản thân việc một nhân vật chính trị từ chối trả lời phỏng vấn cũng được đưa lên báo. Đến những năm 1930, phỏng vấn đã trở thành một bộ phận phát triển mạnh của ngành báo chí và các nhà báo có thể đưa ra những lời khuyên về các mánh khóe phỏng vấn. Một nhà báo nổi tiếng của châu Âu sẽ bị người khác cảnh giác khi ghi chép phỏng vấn, nhưng theo một cuốn sổ tay báo chí của Anh, thì Mỹ là “quê hương của phỏng vấn”. Ở Mỹ, ghi chép phỏng vấn là một phương pháp hiệu quả vì người Mỹ “sẵn sàng trở thành nạn nhân của phỏng vấn hơn chúng ta. Nói chung, ở Anh, mọi người bảo thủ hơn và không thích xuất hiện trước công chúng”.

Vấn đề phỏng vấn khơi gợi một số vấn đề về báo chí Mỹ. Thứ nhất, nó thể hiện sự thay đổi vị thế của nhà báo và báo chí. Một cuộc phỏng vấn là một sự kiện truyền thông và thu hút sự chú ý đến người phỏng vấn cũng như người được phỏng vấn. Nhà báo ở cuối thế kỷ XIX nhận trách nhiệm diễn giải các vấn đề trong đời sống công cộng. Địa vị mới đó không chỉ nhờ gia tăng phỏng vấn, mà còn nhờ sự phát triển của những câu chuyện báo chí trực tiếp theo mô-típ tổng hợp chứ không phải theo mô-tip thời gian. Mô-típ tổng hợp, như hiện nay mọi người vẫn công nhận, là một phát minh về phương pháp viết cho phép nhà báo được quyền cung cấp cho bạn đọc những yếu tố chủ chốt nhất của một sự kiện báo chí. Tất nhiên, phỏng vấn đã làm được việc đó, và còn hơn thế nữa. Nó khẳng định quyền của nhà báo được xây dựng sự kiện báo chí, được tổ chức một cuộc đấu trí và biến nó thành tin tức báo chí. Xét trên khía cạnh báo chí với tư cách là một nhân tố đạo đức cộng đồng và là một hình thức kiểm soát văn hóa, thì thiết lập thói quen phỏng vấn còn cho thấy nó đang giới thiệu một mô hình mới về quan hệ con người. Nó thúc đẩy một hình thức giao tiếp mới lạ giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn, trong đó người kiểm chứng quan trọng nhất là công chúng thì chỉ hiện hữu trong tưởng tượng. Cấu trúc công chúng tưởng tượng mà câu chữ phỏng vấn phải hướng tới đã giúp thiết lập và định hình bản thân khái niệm công chúng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Ba trăm năm báo chí Mỹ – Phần III


Gilmore cho rằng phổ biến thói quen đọc sẽ làm hiện đại hóa và đời sống hóa kiến thức của công dân. Một vấn đề rất quan trọng của hiện đại hóa là “khả năng chấp nhận những thay đổi như một phần của đời sống hàng ngày”. Các tờ báo tuần đã làm công cụ điều tiết và tự nhiên hóa những thay đổi. Tất nhiên, nó còn là công cụ thúc đẩy “tư tưởng coi trọng tính cập nhật kiến thức”, nhờ đó đã “đem lại ý nghĩa to lớn cho tính kịp thời và chính xác của công tác truyền bá thông tin”.

Đồng thời, cùng với các phương tiện truyền thông in ấn khác, báo chí đã thúc đẩy viễn cảnh khu vực hóa, quốc gia hóa và quốc tế hóa, chứ không nghiêng về địa phương hóa. Như Richard Kielbowicz đã nói, điều này không có gì lạ, nó đơn giản và rõ ràng. Những người đến từ châu Âu thường bị sốc trước mức độ phổ biến của báo chí và cho rằng báo chí đã “giải thoát” người nông dân Mỹ khỏi “không khí bàng quan và chất phác là đặc trưng của phần lớn nông dân châu Âu”. Tất nhiên không chỉ báo chí làm việc đó. Nhưng cũng phải thừa nhận một ví dụ gây ấn tượng lớn là trong thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, chỉ riêng một quán cà phê ở Lexington, bang Kentucky, đã tập hợp và duy trì ấn bản của 42 tờ báo từ khắp nước Mỹ.

Trong thập kỷ 1830, những người theo trường phái Jackson đã kiên quyết duy trì bưu chính báo chí, trong khi phe đối lập lại muốn giảm bớt hoặc thậm chí loại bỏ. (Nỗ lực của họ đã bị thất bại khi không được Thượng viện thông qua năm 1832 với chỉ một phiếu chênh lệch). Mục đích của những người theo phe Jackson là ngăn cản báo chí của thành phố không được lưu hành rộng rãi ra ngoài phạm vi thành phố. Báo chí ở thành phố đã tìm đến độc giả nông thôn, đồng thời xuất bản các ấn phẩm đặc biệt cho cả nước. Tờ New York Tribune của Greeley có đến khảong một triệu độc giả trên toàn quốc, và nhiều biên tập viên nông thôn đổ lỗi những vấn đề kinh doanh của mình là do cạnh tranh của báo chí thành phố (Will Rogers đã phát biểu trong một chuyến đi giảng năm 1925, thể hiện phong cách cách ngôn nổi tiếng của ông. “Tất cả những gì tôi từng biết chính là những gì tôi đọc trên báo chí. Nhưng đó là khi tôi bị “cưỡng bức” ở New York. Vì ở New York, mọi người chỉ biết những gì viết trên báo chí. Nhưng bây giờ, tất cả những gì tôi biết chính là những gì tôi tự nhận thấy”. Tất nhiên, trốn chạy khỏi New York không phải dễ, trước đây cũng vậy mà nay cũng vậy).

Chính sự cạnh tranh mạnh mẽ này đã thúc đẩy các tờ báo nông thôn buộc phải viết về những vấn đề nội bộ địa phương, chứ không nên tập trung vào các phóng sự quốc tế, quốc gia, tiểu bang như họ vẫn quen làm trước đó. Nhưng không thể ngăn cản mong muốn có được những “đoạn tin quý giá về khoa học” từ các thành phố. Đến giữa thế kỷ, một số tờ báo đã phát hành ấn bản cho Bờ Thái Bình Dương, và phân phối bằng tàu hơi nước. Một số ít tờ báo ở Bờ Tây phát hành ấn bản chở bằng tàu hơi nước cho các cư dân miền Đông, như tờ Alta California for the Steamer năm 1849.

Theo David Paul Nord, trong một số trường hợp, bản thân báo chí cũng là một loại liên kết. Hàng trăm tờ báo tôn giáo, chính trị, và báo chí mang tính liên kết trực tiếp khác tường thuật những nhu cầu và mối quan tâm cụ thể của công chúng độc giả. Ngay cả những tờ báo tìm đến đối tượng độc giả rộng lớn hơn và công bố một cách tự hào rằng họ không biết cũng không quan tâm đến đối tượng độc giả rộng lớn hơn và công bố một cách tự hào rằng họ không biết cũng không quan tâm đến việc biết được các độc giả như tờ New York Herald của Gordon Bennett cũng phải thiết lập cái mà Daniel Boorstin gọi là “một cộng đồng tiêu thụ”. Đó là một tập hợp những người không phải ở một địa phương nào, thậm chí đôi khi cũng chẳng phải của một khu vực nào, mà là một nhóm độc giả trung thành mới trong một xã hội đang học cách sử dụng quyền lực của truyền thông và vận tải, những ngành phát triển mạnh nhờ công nghệ in ru-lô, đường sắt, tư bản hóa thương nhân và điện tín.

Báo chí thực sự rất hiệu quả đối với những kiểu chức năng xây dựng cộng đồng tinh vi đó. Tuy nhiên, thật khó nhìn nhận cụ thể vấn đề này. Chúng làm cho sự chú ý của chúng ta chuyển từ những gì báo chí làm – tức là tác động của báo chí lên quan điểm và hành động – sang báo chí là gì – tức là các chức năng xã hội, nội dung và viễn cảnh văn hóa của báo chí.

Báo chí là gì mà không được quyết định bởi bản chất con người hay bản chất của “tin tức” với tư cách là một thể loại xã hội hoặc liên quan đến con người. Thực tế, tôi hết sức cẩn thận khi dùng từ “tin tức” để diễn tả những gì đã xuất hiện trên báo chí trong giai đoạn thuộc địa và thời kỳ đầu lập quốc, vì một lý do rất chính đáng là khái niệm này không phải là nội dung tổng quát và thực chất, thậm chí cũng chẳng phải mục đích chính, của các tập san đó. Tờ báo Mỹ đầu tiên, tờ Public Occurences, khẳng định rằng nó chỉ có thể phát hành hàng tháng hoặc thường xuyên hơn nếu “có nhiều sự việc xảy ra” – với lời giải thích rất trung thực “những việc đáng lưu tâm như vậy đã được đưa ra trong Thông báo của chúng tôi”. Biên tập viên Benjamin Harris không có ý định tường thuật về bất cứ thứ gì. Ông hông có ý định khẳng định việc thu thập thông tin. Cái đó không nằm trong kế hoạch của ông, cũng như bất kỳ người nào khác trong khoảng một thế kỷ tới. Ông hứa sẽ cung cấp những thông báo về “Các sự kiện đáng nhớ của Chúa linh thiêng” và “Các sự việc chung của cộng đồng, cả trong nước lẫn ngoài nước”. Nhưng Ngài Harris quên xin phép chính phủ, và tờ báo của ông chỉ phát hành được một số duy nhất. Tờ báo đầu tiên sống lâu hơn là tờ Boston Newsletter do John Campbell xuất bản. Campbell cũng ý thức về báo chí rất khác với chúng ta ngày nay. Ông coi nhiệm vụ của mình là ghi chép lịch sử trong thời kỳ đó. Ông muốn xếp các bài báo của mình theo trình tự niên đại, nhưng do ít chỗ và thường xuyên đình bản, nên ông đã không đăng hết những tin nhận được từ London. Ông ngày càng bị tụt lại. Cho đến năm 1718, ông đã đăng những tin cũ mất một năm, và ông bắt đầu xuất bản thường xuyên hơn để theo kịp tin nhận được. Ý tưởng bỏ qua một số tin để theo kịp sự kiện cập nhật không đến với ông. Chắc chắn ông cũng không nghĩ đến việc tập trung vào tin tức địa phương mà vẫn cứ đăng các tin từ London. Ông nhận được sự phê chuẩn chính thức trước các kỳ ra báo hàng tuần, nhưng xét trong bối cảnh ít đăng tin địa phương, chính quyền địa phương không có cơ sở để phản đối các bài báo của ông.

Khi tờ New England Courant của James Franklin bắt đầu xuất bản năm 1721, nó đã châm biếm các tờ báo đối thủ, đúng kiểu một tờ báo thực thụ. Đồng thời, nó đăng đầy những quảng cáo giả và “xem xét một cách vừa hài hước vừa nghiêm túc về các chủ đề tầm thường”. Trong 5 năm hoạt động, nó thường bắt đầu bằng một bài viết văn học, và Charles Clark đã xếp tờ báo này cùng một vài tờ theo đuôi khác ở Boston vào loại “báo chí văn học”. Đặc trưng chính của nó không phải là tin tức, mà là “những mẩu sáng tác văn học của địa phương đóng vai trò làm tiếng nói của tờ báo”.

Tờ báo mà Benjamin Franklin đến làm việc tại Philadelphia năm 1729, tờ Pennsylvania Gazette của Samuel Keimer, lại có quan điểm khác về sản xuất báo chí. Tên đầy đủ của tờ báo này là The Universal Instructor in All Arts and Science and Pennsylvania (Người hướng dẫn vạn năng về mọi nghệ thuật, khoa học và công báo Pennsylvania). Nó cho biết Keimer có kế hoạch đăng nhiều kỳ cuốn Cyclopaedia (Bách khoa toàn thư) của Epharaim Chambers, từ A đến Z. Tờ báo của Keimer bắt đầu xuất bản năm 1728, và đến khi Franklin mua nó năm 1729, nó vẫn đang còn ở vần A. Và mục từ “air” (khí) chiếm hầu như toàn bộ tờ báo trong 2 tháng phát hành.

Thật ngạc nhiên là những mục đích và hình thức hổ lốn đó lại chính là khởi đầu của lịch sử báo chí Mỹ. Nhưng chưa dừng lại ở đó. Khi phân tích về báo chí trong thời kỳ thuộc địa, Stephen Botein bối rối không hiểu những thứ báo chí đó để là gì. Nội dung thì lặt vặt, và loại tin đó còn xa mới thu hút được sự quan tâm của những người tới định cư ở thuộc địa. Botein kết luận có hai khả năng. Một là, đây hoàn toàn không phải tin tức về thế giới trần tục, mà như Benjamin Harris đã đặt giả thuyết là tin về Chúa linh thiêng. Nếu bạn coi lịch sử thế giới giai đoạn thế kỷ XVIII là cuộc chiến tranh giữa những con chiên tốt với những con quỷ Thiên chúa, thì báo chí Mỹ đã tạo ra “quan điểm địa chính trị cổ xưa của những người Tin lành thống nhất khi đối mặt kẻ thù truyền kiếp của họ”. Tuy nhiên, Botein lại đưa ra giải thiết này một cách tương đối rụt rè, ông cũng cho rằng “khó có thể nêu chính xác bức tranh thế giới mà các nhà in trong thời kỳ thuộc đại đã truyền đạt đến những người láng giềng thông qua việc phát hành tin tức nước ngoài”. Ông tự tin hơn khi cho rằng báo chí hoạt động theo logic kinh tế chứ không phải logic chính trị trong việc quyết định nội dung. Về mặt này, ông lý luận rằng đối tượng lựa chọn tin tức là không rõ ràng. Nhà in thường in những tin không ai có thể phản ứng. Càng kém thu hút càng tốt – ít nhất cũng không gây tranh cãi. Tránh tranh cãi, chứ không phải tường thuật tin tức, chính là nhiệm vụ của báo chí thời kỳ thuộc địa trước năm 1765. Nhưng ở ranh giới của độc lập, tách khỏi nước Anh sau cuộc tranh cãi về Đạo luật tem phiếu, báo chí bị đặt giữa ngã ba đường. Và họ đã chọn con đường của mình, dù phần lớn chẳng vui vẻ gì. Từ thời điểm đó, báo chí mang nặng tính chính trị.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Ba trăm năm báo chí Mỹ – Phần II


Tại sao ngành báo chí lại mờ nhạt trong lịch sử nước Mỹ như vậy? Khi chúng ta đang viết về sự phát triển của một xã hội dân chủ một cách đặc biệt, một đất nước tổ chức hệ thống chính trị thông qua các đảng phái và các đảng phái thông qua báo chí trong hơn một thế kỷ, khi chúng ta đang viết về một đất nước mà ít nhất là về mặt câu chữ, đã coi Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp như là đặc trưng hiến định nổi bật nhất và coi Hiến pháp như là văn bản pháp lý chính trị nổi bật nhất, tại sao sau ba trăm năm báo chí Mỹ và sau hai trăm năm ra đời Tuyên ngôn nhân quyền, chúng ta vẫn có thể bỏ quên nền báo chí khi viết lịch sử Mỹ?

Tất nhiên, không thể để như vậy, và phải viết theo cách viết lịch sử đã được định hình trong các trường đại học Mỹ. Nhưng đồng thời cũng phải tính đến khoảng cách lớn giữa chức năng xã hội của truyền thông với các quy ước của sử học. Chúng ta phải mượn đến dấu hiệu phân  biệt hữu ích của James Carey, phải làm việc với hai mô hình truyền thông là gì và cơ chế hoạt động của nó như thế nào. Thứ nhất là mô hình chuyển tải, coi truyền thông là việc truyền đạt ý kiến hoặc thông tin từ người gửi đến người nhận. Đây là định nghĩa học thuật thông thường và quen thuộc. Tuy nhiên, còn có một mô hình nghi thức coi truyền thông là một chức năng xã hội xây dựng sự đoàn kết và tái khẳng định các giá trị chung của một cộng đồng. Truyền thông tạo ra một cộng đồng nhiều hơn là chỉ chuyển tải một thông điệp. Khi giấy bút tường thuật những gì một thị trưởng làm ngày hôm qua, tức là nó đã chuyển tải thông tin. Nhưng khi đưa tin về hoạt động ngày hôm qua của thị trưởng, báo chí cũng khẳng định mối liên hệ giữa người đọc với thành phố nơi họ đang sống hoặc ở gần đó. Trong mô hình chuyển tải, một phương tiện truyền thông kể với chúng ta những gì đã xảy ra; còn trong mô hình nghi thức, một phương tiện truyền thông lại nói cho chúng ta biết chúng ta là ai. Tôi muốn nêu một luận điểm là mô hình thứ nhất phù hợp với giả định của việc viết sử nhưng theo một cách thức bỏ qua yếu tố báo chí. Mô hình nghi thức không phù hợp với nhận thức luận hoặc quy ước của sử học theo nghĩa hẹp, nhưng nó phù hợp hơn cho việc nắm bắt vai trò của truyền thông trong quá khứ của đất nước.

Trong mô hình chuyển tải, báo chí đáng ra phải có chỗ đứng nhất định, vì nó có thể đứng biệt lập làm người sản sinh hoặc người truyền bá độc tôn và thống trị mỗi một ý tưởng, chương trình, hoặc mẫu thông tin tác động lên cách nghĩ của mọi người. Mô hình chuyển tải thu hút sự chú ý của chúng ta đến với báo chí, nếu báo chí hoạt động một cách có định hướng nhắm đến những kết quả rõ ràng. Truyền thông có thể tìm cách cổ xúy, tập hợp hoặc tổ chức. Tuy nhiên, khi nó thực hiện việc cổ xúy, tập hợp hoặc tổ chức, ta khó có thể nhìn nhận một cách rõ ràng các hậu quả của hoạt động đó. Ngay cả trong vụ Watergate, nhiều người có thể cho rằng trong quá trình phát hiện ra việc làm sai trái, thì Woodward, Bernstein, Graham và Bradlee ít có vai trò hơn so với cận vệ Frank Wills, cảnh sát quận, thẩm phán Sirica, Cục điều tra liên bang, Bộ Tư pháp và Thượng viện Hoa Kỳ. Phần lớn các nhà nghiên cứu ngày nay đã nhất trí từ bỏ ý tưởng cho rằng các phương tiện truyền thông phải chịu trách nhiệm trực tiếp và chủ động trong việc giáo huấn công chúng. Các học giả truyền thông ít viết về các tác động trực tiếp mà thiên về chức năng định hướng, cách thức phương tiện truyền thông giúp định hình đối tượng suy nghĩ của mọi người chứ không phải bản thân suy nghĩ của mọi người. Họ nói nhiều đến việc khơi gợi, không phải nghĩ về cái gì, mà là nghĩ như thế nào về cái gì. Ví dụ, trong các cuộc tranh cử tổng thống, chúng ta biết, mà không cần tới truyền thông, rằng chúng ta cần nghĩ tới việc đánh giá các ứng cử viên, nhưng giả thuyết khơi gợi lại cho rằng các phương tiện truyền thông nên khơi gợi chúng ta nghĩ nhiều đến các chính sách kinh tế hơn là các chính sách đối ngoại, hoặc đánh giá các nhân vật đối thủ. Thậm chí tinh vi hơn, phương tiện truyền thông không mách bảo chúng ta phải nghĩ cái gì, nghĩ về cái gì, nghĩ như thế nào về cái gì, mà là lúc nào thì phải nghĩ về những cái nhất định đã có sẵn trong đầu chúng ta. Lúc này, phương tiện truyền thông trở thành người ra hiệu, chỉ cho chúng ta con đường nào sẽ tới trong số những con đường mà ta đã biết. Thậm chí ngoài việc tái hiện những ý tưởng và thông tin mà chúng ta đã biết, phương tiện truyền thông hầu như không giúp gì thêm. Điều này có vẻ vô nghĩa – một việc thừa, nhưng chúng ta phải biết là công việc thừa đó có tác dụng. Những câu chuyện mà chúng ta kể với nhau hoặc trao đổi với nhau đóng vai trò nhắc nhở chúng ta là ai, chúng ta sắp làm gì. Vì vậy những câu chuyện đó, thể loại văn hóa đó đóng vai trò như một hệ thống nhắc nhở, làm thay đổi mạnh mẽ các hoạt động và cuộc sống của chúng ta.

Chính tại điểm đó chúng ta đã chuyển từ mô hình chuyển tải sang mô hình nghi thức. Chức năng “thể hiện lại” của báo chí nối giữa hai mô hình. Trong quá trình chuyển tải các ý tưởng của người khác, phương tiện truyền thông đang làm công tác phát ngôn. Theo cách nói của Mikhail Bakhtin, thì chúng ta “nói không máy môi”. Ngay cả các bài xã luận dường như cũng chỉ thấy nói với hoặc nói cho cộng đồng về một quan điểm, chứ ít khi thấy ai nói – ít khi thể hiện giọng của một con người cụ thể. Nó thể hiện trực tiếp đến công chúng. Báo chí chuyển tải thông tin khi nó kể với chúng ta về một người cụ thể nào đó chế vì bệnh AIDS. Nhưng khi nó dùng câu nói mới trở nên quen thuộc gần đây “Anh ấy vẫn sống mãi bên cạnh chúng ta”, thì báo chí đã thể hiện một cái gì đó cho biết chúng ta là ai.

Nếu theo mô hình chuyển tải của truyền thông, chúng ta gần như có thể khẳng định chắc chắn rằng báo chí sẽ vắng mặt trong lịch sử phổ thông của nước Mỹ. Bởi vì mối quan hệ nhân quả trong nghiên cứu truyền thông thể hiện quá rõ. Nếu chúng ta thừa nhận quyền lực mang tính nghi thức nhiều hơn là quyền lực nhân quả của báo chí, và bỏ qua kiểu tường thuật nguyên nhân – kết quả của viết sử đương đại, thì chúng ta có thể tiếp cận gần hơn đến vai trò trung tâm của truyền thông đối với cuộc sống Mỹ.

Tôi nghĩ vấn đề này cũng đã được Benjamin Franklin đánh giá cao khi ông sử dụng báo chí theo kiểu truyền chuyển để thúc đẩy những thay đổi xã hội nào đó. Ông không tìm cách đẩy in ấn vào làm chính trị. Nó không tập hợp. Không thuyết phục. Mà đơng ỉan và quan trọng là nó chỉ làm việc “chuẩn bị tinh thần cho mọi người”, theo như cách nói của Franklin. Do đó ông đã viết báo về lợi ích của việc xây dựng bệnh viện cho người nghèo ở Philadelphia trước khi tiến hành cổ động kêu gọi ủng hộ và trước khi mặc cả và vận động các nghị sĩ để xin trợ cấp của chính phủ cho công tác từ thiện tư nhân. Ông không dựa hoàn toàn vào báo chí mà chỉ dùng nó để gieo hạt giống ủng hộ trong công chúng.

Truyền thông là một định chế trung tâm, thậm chí có người còn coi truyền thông là định chế trung tâm duy nhất, trong cấu trúc văn hóa của toàn nước Mỹ, của từng địa phương và cộng đồng. Báo chí trong thế kỷ XVIII là phương tiện chủ chốt giúp nhất thể hóa thương mại, và tiếp đó là chính trị. Báo chí trong thế kỷ XIX là phương tiện chủ chốt giúp đô thị hóa, nó không chỉ là diễn đàn quản cáo khiến cho các loại hình mới như các siêu thị lớn trở thành hiện thực. Nó cũng tạo ra những đặc tính của cộng đồng làm cho cộng đồng địa phương đoàn kết hơn, đặc biệt đối với kiểu cộng đồng ít giao thiệp trực tiếp hoặc “thành phố di động” như ngày nay. Còn báo chí trong nửa cuối thế kỷ XIX thì, theo như cách nói của Gunther Barth, “đã thể hiện phản ứng của một loại phương tiện giao tiếp với thị trường mới được tạo ra nhờ sự khao khát những đặc tính riêng biệt của công chúng thành thị”. Báo chí giúp tạo ra những đặc tính riêng biệt này, nhưng tôi cũng xin lưu ý là điều này không chỉ đúng với những khu vực thành thị.

Nghiên cứu tuyệt vời của William Gilmore có nhan đề Đọc trở thành nhu cầu thiết yếu của cuộc sống đã đưa ra nhiều thông tin bổ ích về vai trò của báo chí ở khu vực nông thôn. Gilmore đã theo dõi thói quen đọc của khu vực Thượng Thung lũng sông Connecticut trong khoảng từ năm 1780 – 1835. Các tuần báo khu vực nông thôn đã thúc đẩy quá trình thương mại hóa. Gần như tất cả các tin tức viết về sản xuất công nghiệp đều theo hướng tích cực, và phần lớn những bài thơ, bức thư và bài viết về cuộc sống kinh tế đều cho thấy niềm tin đối với ngành công nghiệp và thương mại. Ở các quận mà Gilmore đã khảo sát, báo chí cùng các phương tiện truyền thông in ấn khác đã giúp “tăng cường mạnh mẽ sự tham gia của mọi người vào đời sống chung”. Theo quan điểm của ông, nếu mạng lưới truyền thông in ấn càng tăng cường, thì sẽ giúp tăng cường và thúc đẩy các giá trị của “ý thức công dân được đề cao – ý thức đó được xác định bằng tốc độ chính xác, tính đều đặn, và sự cập nhật kiến thức của một người nào đó về thế giới xung quanh”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.