Xã hội xét như là thực tại khách quan – Phần cuối


Người trí thức có một số khả năng lựa chọn đáng chú ý trong lịch sử mà anh ta có thể quyết định trong hoàn cảnh của mình. Anh ta có thể rút lui vào một tiểu xã hội trí thức để có nơi ẩn náu về mặt tình cảm và (điều quan trọng hơn) để có một cơ sở xã hội cho việc khách thể hóa các định nghĩa trật đường của anh ta về thực tại. Nói cách khác, người trí thức có thể cảm thấy như “ở nhà” trong cái tiểu xã hội này, điều mà anh ta không có được [khi sống] trong xã hội rộng lớn hơn, và đồng thời, anh ta có thể bảo lưu về mặt chủ quan những quan niệm trật đường của mình mà xã hội rộng lớn hơn phủ nhận, bởi lẽ trong tiểu xã hội này, có những người xem chúng [tức những quan niệm trật đường ấy – ND] là thực tại. Lúc đó, anh ta sẽ khai triển nhiều phương sách đa dạng để bảo vệ cái thực tại mong manh của tiểu xã hội khỏi những mối đe dọa triệt tiêu từ bên ngoài. Trên bình diện lý thuyết, những phương sách này sẽ bao gồm cả những biện pháp phòng thủ mang tính trị liệu mà chúng  ta đã bàn trước đây. Trên bình diện thực tế, phương sách quan trọng nhất sẽ là thu hẹp tất cả các mối liên hệ có-ý-nghĩa vào các thành viên đồng môn trong nội bộ tiểu xã hội mà thôi. Cần xa lánh người ngoài bởi vì người này luôn luôn hiện thân cho mối đe dọa triệt tiêu. Giáo phái tôn giáo có thể được coi là nguyên mẫu của các tiểu xã hội theo dạng này. Trong lòng cộng đồng bảo bọc của giáo phái, ngay cả những quan niệm trật đường một cách hoang dại nhất cũng mang tính chất thực tại khách quan. Mặt khác, sự thoát ly của giáo phái [ra khỏi xã hội rộng lớn – ND] chính là [hiện tượng]  tiêu biểu cho những hoàn cảnh mà trong đó các định nghĩa về thực tại vốn đã được khách thể hóa từ trước đang bị tan rã, nghĩa là đang bị phi khách thể hóa trong xã hội rộng lớn hơn. Các chi tiết của những tiến trình này thuộc về một bộ môn xã hội học lịch sử về tôn giáo, mặc dù cần phải nói thêm rằng những hình thức thế tục hóa đa dạng của xu hướng giáo phái chính là một đặc trưng then chốt của giới trí thức trong xã hội đa nguyên hiện đại.

Lẽ tất nhiên, còn có một khả năng lựa chọn nữa rất quan trọng [đối với người trí thức] trong lịch sử, đó là cách mạng. Trong trường hợp này, người trí thức đứng ra hiện thực hóa bản thiết kế xã hội của mình trong lòng xã hội. Ở đây chúng ta không thể đi sâu vào những hình thức đa dạng của khả năng lựa chọn này trong lịch sử, nhưng có một điểm lý thuyết quan trọng cần được nêu lên. Cũng giống như trường hợp người trí thức thoát ly cần có những người khác trợ giúp mình bảo lưu những định nghĩa trật đường của mình về thực tại với tư cách là thực tại, thì người trí thức cách mạng cũng cần đến những người khác để xác nhận những quan niệm trật đường của anh ta. Nhu cầu này mang tính chất nền tảng hơn nhiều so với sự thật hiển nhiên là không mưu đồ nào có thể thành công nếu không có tổ chức. Người trí thức cách mạng cần phải có những người khác để duy trì cho anh ta cái thực tại (tức là, tính khả tín chủ quan trong ý thức của chính anh ta) của ý thức hệ cách mạng. Toàn bộ các định nghĩa về thực tại có-ý-nghĩa-về-mặt-xã-hội đều cần được khách thể hóa bởi những quá trình xã hội. Vì thế, các tiểu vũ trụ [biểu tượng] cần phải có những tiểu xã hội để làm cơ sở khách thể hóa của chúng, và các định nghĩa đối nghịch về thực tại cần phải có những xã hội đối nghịch. Lẽ đương nhiên, bất cứ sự thành công thực tiễn nào của ý thức hệ cách mạng cũng sẽ củng cố cái thực tại mà nó sở hữu trong lòng tiểu xã hội và trong ý thức của các thành viên của tiểu xã hội này. Thực tại [của ý thức hệ cách mạng] sẽ đạt tới tầm vóc áp đảo khi mà hàng loạt tầng lớp xã hội trở thành những “người chuyên chở” [ý thức hệ cách mạng]. Lịch sử các phong trào cách mạng hiện đại đã cho thấy nhiều trường hợp minh họa cho sự chuyển hóa từ những nhà trí thức cách mạng thành những nhà chính đáng hóa “chính thức” sau khi các phong trào này giành được thắng lợi. Điều này không chỉ cho thấy rằng sự nghiệp xã hội của các nhà trí thức cách mạng hết sức đa dạng trong lịch sử, mà còn cho thấy rằng những khả năng lựa chọn và những khả năng kết hợp khác nhau cũng có thể xảy ra ngay trong tiểu sử của từng cá nhân.

Trong phần bàn luận trên, chúng tôi đã nhấn mạnh đến những khía cạnh cấu trúc trong cuộc sống xã hội của những người đảm nhiệm việc bảo tồn vũ trụ [biểu tượng]. Không có cuộc bàn luận xã hội học đích thực nào có thể làm khác đi được. Các định chế và các vũ trụ biểu tượng được chính đáng hóa bởi những cá nhân đang sống, vốn đang nằm trong những địa điểm xã hội cụ thể và có những lợi ích xã hội cụ thể. Lịch sử của các lý thuyết chính đáng hóa luôn luôn là một phần của lịch sử của toàn bộ xã hội. Không có “lịch sử tư tưởng” nào diễn ra một cách cô lập tách rời khỏi mâu thuẫn và mồ hôi của lịch sử tổng quát. Nhưng một lần nữa chúng tôi phải nhấn mạnh rằng điều này không có nghĩa là những lý thuyết ấy chỉ là những điều phản ánh các quá trình xã hội chống đỡ cho chúng luôn luôn là một mối liên hệ mang tính biện chứng. Đúng là các lý thuyết được chế tạo để chính đáng hóa các định chế xã hội đang tồn tại. Nhưng cũng có khi các định chế xã hội được thay đổi nhằm làm cho chúng được “chính đáng” hơn. Các chuyên gia đảm trách việc chính đáng hóa có thể tác nghiệp như những kẻ biện hộ lý thuyết cho status quo [nguyên trạng]; [nhưng] họ có thể cũng xuất hiện như những nhà ý thức hệ cách mạng. Các định nghĩa về thực tại thường có hiệu năng tự ứng nghiệm. Các lý thuyết có thể được hiện thực hóa trong lịch sử, kể cả những lý thuyết hết sức trừu tượng khi chúng được thai nghén lúc ban đầu bởi những người sáng tạo ra chúng. Karl Marx vốn nghiền ngẫm trong thư viện của Bảo tàng viện Anh Quốc đã trở thành một trường hợp thời danh về khả năng lịch sử này. Vì thế, sự thay đổi của xã hội phải luôn luôn được hiểu như nằm trong một mối liên hệ biện chứng với “lịch sử tư tưởng”. Cả quan niệm “duy tâm” lẫn nquan niệm “duy vật” về mối liên hệ này đều coi nhẹ sự biện chứng ấy, và do đó đã bóp méo lịch sử. Cũng chính sự biện chứng này đã đóng vai trò chủ đạo trong những quá trình chuyển hóa toàn diện của các vũ trụ biểu tượng mà chúng ta đã có dịp xem xét. Điều mấu chốt xét về mặt xã hội học, đó chính là việc nhìn nhận rằng mọi vũ trụ biểu tượng và mọi sự chính đáng hóa đều là những sản phẩm của con người; nền tảng của sự tồn tại của chúng chính là cuộc đời của các cá nhân cụ thể, và sự tồn tại này không có bất cứ vị thế thường nghiệm nào nếu nằm ngoài những cuộc đời ấy.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Advertisements

Xã hội xét như là thực tại khách quan – Phần XXIV


Các tình huống độc tôn có thể thất bại hoặc không được duy trì vì nhiều lý do lịch sử, kể cả những lý do “quốc tế” lẫn “nội địa”. Lúc ấy, cuộc đấu tranh giữa những truyền thống cạnh tranh nhau và giữa những nhóm người quản trị của chúng có thể tiếp diễn lâu dài. Khi một định nghĩa cụ thể về thực tại đi đến chỗ gắn với một lợi ích quyền lực cụ thể, thì chúng ta có thể gọi đây là một ý thức hệ. Cần nhấn mạnh rằng thuật ngữ này hầu như không lợi ích bao nhiêu nếu ứng dụng nó vào dạng tình huống độc tôn bàn luận trên đây. Chẳng hạn, thật là vô nghĩa nếu nói rằng Ki-tô giáo là một ý thức hệ trong thời kỳ trung cổ – cho dù hiển nhiên là nó đã được ứng dụng vào lĩnh vực chính trị bởi những nhóm cầm quyền – vì lý do đơn giản là vũ trụ Ki-tô giáo được “cư ngụ” bởi tất cả mọi người trong xã hội thời trung cổ, bởi cả những người nông nô cũng như bởi các vị lãnh chúa của họ. Tuy nhiên, vào thời kỳ sau cuộc Cách mạng Công nghiệp, có thể hợp lý phần nào khi gọi Ki-tô giáo và nhân sự của Ki-tô giáo trong cuộc đấu tranh của mình chống lại giai cấp công nhân công nghiệp mới, vốn là những người không còn có thể được coi là đang “cư ngụ” trong vũ trụ Ki-tô giáo trong phần lớn các nước châu Âu. Cũng sẽ gần như vô nghĩa khi sử dụng thuật ngữ [ý thức hệ] nếu hai định nghĩa khác nhau về thực tại chạm trán với nhau trong sự tiếp xúc giữa hai xã hội – chẳng hạn, nếu người ta nói về “ý thức hệ Ki-tô giáo” của những người Thập tự chinh và “ý thức hệ Islam giáo” của người Saracen. Đặc điểm phân biệt về ý thức hệ thực ra nằm ở chỗ cùng một vũ trụ tổng thể nhưng lại được lý giải theo những cách thức khác nhau, tùy thuộc vào những lợi ích thiết thân cụ thể bên trong xã hội hữu quan.

Thông thường, một ý thức hệ được một nhóm tiếp nhận bởi vì nó có những yếu tố lý thuyết đặc thù phù hợp với những lợi ích của nhóm này. Thí dụ, khi một nhóm nông dân nghèo đấu tranh chống lại một nhóm thương nhân thành thị mà họ bị lệ thuộc về mặt tài chính, thì họ có thể tập hợp lại xung quanh một học thuyết tôn giáo vốn đề cao các đức tính của đời sống nông nghiệp, lên án nền kinh tế tiền tệ và hệ thống tín dụng của nó là vô đạo đức, và nói chung công kích những thứ xa hoa của đời sống thành thị. Cái “lợi” về mặt ý thức hệ của một học thuyết như vậy đối với các nông dân là điều hiển nhiên. Những thí dụ minh họa xác đáng cho điều này có thể được tìm thấy trong lịch sử Do Thái cổ đại. Tuy nhiên, sẽ dễ dàng sai lầm nếu hình dung rằng mối liên hệ giữa một nhóm lợi ích với ý thức hệ của nó lúc nào cũng đi theo logic như vậy. Bất cứ nhóm nào tham gia vào một cuộc xung đột xã hội cũng đều phải có tình liên đới. Các ý thức hệ sản sinh ra tình liên đới. Việc lựa chọn một ý thức hệ cụ thể nào đó không nhất thiết dựa trên những yếu tố lý thuyết nội tại của nó, mà có thể xuất phát từ một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Chẳng hạn, ai cũng thấy rõ là chính những yếu tố nội tại trong Ki-tô giáo đã khiến cho tôn giáo này trở nên “hấp dẫn” về mặt chính trị đối với một số nhóm vào thời [hoàng đế] Constantin. [Nhưng] thực ra dường như Ki-tô giáo (lúc nguyên thủy chỉ là một ý thức hệ của tầng lớp trung lưu bên dưới) đã được khai thác bởi những lợi ích quyền lực nhằm đến các mục đích chính trị, chứ ít có dính dáng tới những nội dung tôn giáo của Ki-tô giáo. Một tình huống khác cũng hoàn toàn có thể xảy ra – Ki-tô giáo đã xuất hiện vào đúng một vài thời điểm then chốt mang tính quyết định. Lẽ dĩ nhiên, một khi ý thức hệ đã được tiếp nhận bởi một nhóm nào đó (nói chính xác hơn, khi một học thuyết cụ thể trở thành ý thức hệ của nhóm này), thì nó sẽ được biến đổi cho phù hợp với những lợi ích mà lúc này nó buộc phải chính đáng hóa. Điều này dẫ đến một quá trình chọn lựa và bổ sung đối với khối mệnh đề lý thuyết nguyên thủy. Nhưng không thể khẳng định rằng những sự biến đổi này sẽ tác động đến tổng thể học thuyết đã được tiếp nhận. Trong một ý thức hệ, có thể có rất nhiều yếu tố không hề liên quan gì đến những lợi ích đã được chính đáng hóa, nhưng lại được khẳng định một cách quyết liệt bởi nhóm “người chuyên chở” đơn giản là vì nhóm này đã dấn thân vào ý thức hệ ấy. Trong thực tế, điều này có thể khiến cho những người cầm quyền ủng hộ các chuyên gia ý thức hệ của họ trong những cuộc tranh cãi lý thuyết lặt vặt vốn không hề có mối liên hệ thiết thân gì với những lợi ích của họ. Sự can dự của [hoàng đế] Constantin vào những cuộc tranh luận đương thời về Ki-tô học là một trường hợp minh họa cho điều này.

Điều quan trọng cần lưu ý là phần lớn các xã hội hiện đại đều mang tính chất đa nguyên. Điều này có nghĩa là các xã hội ấy có một vũ trụ [biểu tượng] cốt tủy mà mọi người đều cùng chia sẻ và đều coi là đương nhiên phải như vậy, và một số vũ trụ [biểu tượng] cục bộ khác đồng tồn tại trong một tình trạng tương nhượng nhau. Những vũ trụ riêng lẻ này có thể có một số chức năng ý thức hệ, nhưng sự xung đột công khai giữa các ý thức hệ đã được thay thế bởi một mức độ ít nhiều bao dung hay kể cả sự hợp tác [giữa chúng với nhau]. Tình huống này, vốn nảy sinh do một loạt nhân tố phi lý thuyết, đặt ra những vấn đề lý thuyết nghiêm trọng cho các chuyên gia truyền thống. Vốn đang quản lý một truyền thống có những tham vọng độc tôn từ lâu đời, họ buộc phải tìm ra những cách thức để chính đáng hóa về mặt lý thuyết sự phi độc tôn hóa đã xảy ra trong thực tế. Đôi khi, họ chọn giải pháp tiếp tục nêu lên những yêu sách toàn trị cũ, làm như thể không có gì xảy ra, nhưng có lẽ rất ít người sẽ coi trọng những yêu sách này. Cho dù các chuyên gia có làm gì đi nữa, thì tình trạng đa nguyên sẽ không chỉ làm thay đổi vị trí xã hội của các định nghĩa truyền thống về thực tại, mà thay đổi cả cách thức mà những định nghĩa này được lưu giữ trong ý thức của các cá nhân.

Tình trạng đa nguyên có tiền đề là một xã hội thành thị có sự phân công lao động phát triển rất cao, đồng thời có sự dị biệt hóa mạnh mẽ trong cấu trúc xã hội, và có thặng dư kinh tế lớn lao. Những điều kiện này, vốn thịnh hành rõ rệt trong xã hội công nghiệp hiện đại, cũng đã từng tồn tại ít ra nơi một số khu vực nào đó của những xã hội thời trước. Các đô thị vào cuối thời kỳ Hy-La có thể là một thí dụ minh họa ở đây. Tình trạng đa nguyên thường xuất hiện sau những hoàn cảnh biến đổi xã hội nhanh chóng, [nhưng] trong thực tế bản thân sự đa nguyên cũng là một nhân tố thúc đẩy [sự biến đổi ấy], chính là bởi vì nó góp phần làm xói mòn hiệu năng cưỡng-lại-sự-thay-đổi của những định nghĩa truyền thống về thực tại. Sự đa nguyên tạo điều kiện thuận lợi cho cả thái độ hoài nghi lẫn sự canh tân, và vì thế, tự nội tại, nó mang tính chất lật đổ đối với thực tại được-coi-là-đương-nhiên của status quo [nguyên trạng] truyền thống. Người ta có thể dễ dàng cảm thông cới những chuyên gia về các định nghĩa truyền thống về thực tại khi học hồi tưởng lại một cách đầy lưu luyến về thời kỳ mà những định nghĩa này còn giữ được một vai trò độc tôn trong thực tiễn.

Một loại chuyên gia quan trọng trong lịch sử, vốn có thể tồn tại trên nguyên tắc trong bất cứ tình huống nào vừa bàn trên, đó là trí thức, người mà chúng ta có thể định nghĩa là một chuyên gia có thứ kiến thức chuyên môn mà không phải ai trong xã hội nói chung cũng đều cần đến. Điều này cho thấy cần phải định nghĩa lại [khái niệm] tri thức/kiến thức [knowledge] và phân biệt nó với [khái niệm] kho kiến thức truyền thống “chính thống” [“official” lore], nghĩa là, tri thức/kiến thức là một cái gì khác hơn chứ không phải chỉ là một cách lý giải ít nhiều lệch lạc so với kho kiến thức truyền thuyết ấy. Như vậy, về mặt định nghĩa, người trí thức là một loại người đứng ở ngoài lề. Ở đây, chúng ta không quan tâm đến việc là liệu anh ta ở ngoài lề trước, rồi sau đó mới trở thành người trí thức (chẳng hạn trường hợp nhiều trí thức Do Thái ở thế giới phương Tây hiện đại), hay liệu tình trạng ở ngoài lề của anh ta có phải là hậu quả trực tiếp của những ý tưởng chệch hướng của anh ta hay không (như trường hợp người lạc giáo bị tẩy chay). Dù ở trường nào đi nữa, tình trạng ở ngoài lề xã hội của anh ta cũng cho thấy anh ta không chịu hội nhập trên phương diện lý thuyết vào trong lòng vũ trụ [biểu tượng] của xã hội anh ta. Anh ta tỏ ra là một chuyên gia đối đầu trong việc định nghĩa thực tại. Tương tự như chuyên gia “chính thức”, anh ta cũng có một bản thiết kế cho xã hội nói chung. Nhưng trong khi bản thiết kế của chuyên gia “chính thức” luôn luôn phù hợp với các chương trình định chế, và được dùng để chính đáng hóa các chương trình này về mặt lý thuyết, thì bản thiết kế của người trí thức lại tồn tại trong một cõi chân không về mặt định chế, nếu có được khách thể hóa về mặt xã hội thì khá lắm cũng chỉ giới hạn trong một tiểu xã hội bao gồm những người trí thức đồng môn mà thôi. Khả năng sống sót được đến đâu của tiểu xã hội này hiển nhiên là phụ thuộc vào những cấu hình cấu trúc trong xã hội rộng lớn hơn. Có thể khẳng định chắc chắn rằng một mức độ đa nguyên nhất định chính là một điều kiện cần thiết [cho khả năng sống sót ấy].

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Xã hội xét như là thực tại khách quan – Phần XXIII


Những nhận xét trên ngụ ý rằng sẽ luôn luôn có một nền tảng cấu trúc-xã hội cho sự cạnh tranh giữa những định nghĩa kình địch nhau về thực tại, và rằng kết cục của sự kình địch này sẽ bị tác động, nếu không phải là luôn luôn hoàn toàn bị quy định, bởi diễn tiến của nền tảng này. Cũng rất có thể là những nội dung lý thuyết khó hiểu sẽ được tạo ra trong tình trạng gần như hoàn toàn cô lập khỏi những sự vận hành lớn lao của cấu trúc xã hội, và trong những trường hợp này, sự cạnh tranh giữa các chuyên gia kình địch nhau có thể diễn ra trong một thứ chân không về mặt xã hội. Thí dụ, hai phái ẩn sĩ đạo Islam có thể tiếp tục tranh luận nhau về bản chất tối hậu của vũ trụ ở giữa sa mạc, mà hoàn toàn không có người ngoài nào tỏ ra mảy may quan tâm đến cuộc tranh luận này. Tuy nhiên, ngay khi mà quan điểm này hay quan điểm kai được xã hội xung quanh nghe biết đến, [thì] chính những lợi ích hoàn toàn nằm ngoài lý thuyết sẽ định đoạt kết cục của cuộc kình địch ấy. Những nhóm xã hội khác nhau sẽ có những sự tương hợp khác nhau với những lý thuyết đang cạnh tranh nhau, và vì thế sẽ trở thành những “người chuyên chở” các lý thuyết này. Như vậy, lý thuyết của phái ẩn sĩ A có thể thu hút tầng lớp thượng lưu, và lý thuyết của phái ẩn sĩ B thì thu hút tầng lớp trung lưu của xã hội hữu quan, vì những lý do không dính dáng gì tới những cảm xúc say sưa nơi những nhà sáng tạo nguyên thủy của những lý thuyết này. Khi ấy, các phái chuyên gia cạnh tranh nhau sẽ đi đến chỗ gắn bó chính mình với những nhóm “người chuyên chở” [lý thuyết của mình], và số phận sau đó của họ sẽ tùy thuộc vào kết cục của những lý thuyết tương ứng. Như vậy, những cách định nghĩa thực tại kình địch nhau sẽ được định trên bình diện các lợi ích xã hội kình địch nhau, và sự kình địch giữa  những lợi ích xã hội này, đến lượt nó, sẽ được “phiên dịch” lại theo những ngôn từ mang tính lý thuyết. Liệu những chuyên gia kình địch nhau và những người ủng hộ tương ứng của họ có “thành thật” trong mối quan hệ chủ quan của họ với những lý thuyết hữu quan hay không, điều này chỉ có tầm quan trọng thứ yếu trong việc khảo cứu xã hội học về những quá trình này.

Khi mà sự cạnh tranh không chỉ về mặt lý thuyết mà cả về mặt thực tiễn nảy sinh giữa những nhóm chuyên gia đảm trách việc đưa ra những định nghĩa tối hậu về thực tại, thì quá trình phi thực tiễn hóa lý thuyết bị đảo lại, và hiệu năng thực tiễn của những lý thuyết này trở thành một thứ hiệu năng ngoại tại; nghĩa là, một lý thuyết sẽ được “chứng minh” là ưu trội hơn về mặt thực tiễn không phải do những đặc tính nội tại của nó, mà do khả năng ứng dụng của nó vào những lợi ích xã hội của nhóm nào đã trở thành “người chuyên chở” của nó. Do đó, chúng ta thấy trong lịch sử có rất nhiều dạng tổ chức xã hội của các chuyên gia lý thuyết. Mặc dù hiển nhiên là không thể đưa ra một bảng phân loại đầy đủ ở đây, nhưng sẽ thật hữu ích nếu chúng ta xem xét một số loại hình tổng quát nhất.

Trước hết, có lẽ xét về mặt hệ hình, có thể có những chuyên gia về vũ trụ [biểu tượng] nắm giữ được một quyền lực độc tôn thực sự trên toàn bộ các định nghĩa tối hậu về thực tại trong một xã hội. Tình huống này có thể được xem như mang tính hệ hình vì có nhiều lý do hợp lý để coi đấy là trường hợp điển hình cho những giai đoạn ban đầu của lịch sử nhân loại. Quyền độc tôn này có nghĩa là một truyền thống biểu tượng đơn nhất [sẽ giữ vai trò] bảo tồn vũ trụ [biểu tượng] hữu quan. Như vậy, sống trong xã hội mặc nhiên có nghĩa là chấp nhận truyền thống này. Các chuyên gia của truyền thống này được thừa nhận là chuyên gia bởi hầu như toàn bộ các thành viên của xã hội, và họ không có những đối thủ cạnh tranh thực sự để phải đối phó. Tất cả các xã hội nguyên thủy mà chúng ta có thể khảo sát được về mặt thường nghiệm dường như đều nằm trong loại hình này, và với một vài sự khác biệt nhỏ nhoi, phần lớ những nền văn minh cổ xưa cũng đều như vậy. Điều này không ngụ ý rằng những xã hội ấy không có những người hoài nghi, rằng mọi người, không trừ một ai, đều nội tâm hóa truyền thống một cách trọn vẹn, nhưng thực ra chỉ ngụ ý rằng sự hoài nghi nếu có cũng không được tổ chức về mặt xã hội đủ để trở thành một sự thách thức đối với những kẻ đang nắm giữ truyền thống “chính thức”.

Trong một tình huống như vậy, truyền thống mang tính chất độc tôn và những chuyên gia quản trị của nó được duy trì bởi một cấu trúc quyền lực thống nhất. Những người giữ vị trí quyền lực then chốt luôn sẵn sàng sử dụng quyền lực của mình để áp đặt các định nghĩa truyền thống về thực tại lên dân cư dưới quyền của mình. Những nỗ lực xây dựng lý thuyết vũ trụ có tiềm năng cạnh tranh sẽ bị thủ tiêu ngay khi chúng xuất hiện – hoặc là bị tiêu diệt về mặt thể xác (“ai không thờ các vị thần sẽ phải chết”), hoặc là bị hội nhập vào chính truyền thống (các chuyên gia về vũ trụ [biểu tượng] lập luận rằng các vị thần Y mang tính chất cạnh tranh “thực ra” chỉ là một khía cạnh khác hay một cách gọi tên khác cho những vị thần thuộc truyền thống X). Trong trường hợp này, nếu các chuyên gia thành công nhờ các lập luận của mình và nếu sự cạnh tranh gần như bị thủ tiêu bằng sự “sáp nhập”, thì truyền thống sẽ trở nên phong phú hơn và đa dạng hơn. Sự cạnh tranh cũng có thể bị cách ly bên trong xã hội và nhờ đó trở nên vô hại đối với sự độc tôn của truyền thống – thí dụ, không thành viên nào của nhóm chinh phục hay nhóm cai trị được phép tôn thờ những vị thần thuộc loại hình Y, nhưng tầng lớp bị trị hay tầng lớp bên dưới thì được tôn thờ. Sự cách ly mang tính phòng vệ tương tự cũng có thể được áp dụng cho những người ngoại quốc hoặc “lưu dân”.

Cộng đồng Ki-tô giáo thời trung cổ (chắc chắn không thể được coi là mang tính chất nguyên thủy hay cổ xưa, nhưng vẫn là một xã hội có một sự độc tôn biểu tượng thực thụ) cho chúng ta thấy những thí dụ minh họa rất sinh động về cả ba phương sách thủ tiêu [nêu trên]. Sự lạc giáo công khai đã từng phải bị tiêu diệt về mặt thể xác, cho dù nó hiện thân nơi một cá nhân (chẳng hạn, một người phù thủy) hay nơi một tập thể (chẳng hạn, cộng đồng tôn giáo Albigeois). Cũng trong lúc ấy, Giáo hội, với tư cách là người bảo vệ độc tôn của truyền thống Ki-tô giáo, lại tỏ ra khá mềm dẻo trong việc sáp nhập vào trong truyền thống của mình nhiều tín ngưỡng và tập tục dân gian, miễn là những thứ này không tích tụ thành những thách thức mang tính lạc giáo công khai đối với bản thân vũ trụ [biểu tượng] Ki-tô giáo. Sẽ không sao cả nếu các nông dân lấy một trong những vị thần cổ của họ, “rửa tội” cho vị thần này để biến thành một vị thánh Ki-tô giáo, và tiếp tục kể lại những tích xưa và tổ chức những cuộc lễ hội đã có từ lâu đời để tôn kính vị thần này. Và ít ra thì một số định nghĩa mang tính cạnh tranh về thực tại cũng có thể bị cách ly bên trong cộng đồng Ki-tô giáo mà không bị coi là mối đe dọa đối với cộng đồng này. Trường hợp quan trọng nhất trong chuyện này, lẽ tất nhiên, là trường hợp các tín đồ Do Thái giáo, mặc dù những tình huống tương tự cũng đã nảy sinh khi các tín đồ Ki-tô giáo và các tín đồ Islam giáo buộc phải sống bên cạnh nhau trong những thời hòa bình. Dạng cách ly này cũng đã vô hình chung bảo vệ các vũ trụ [biểu tượng] của các tín đồ Do Thái giáo và Islam giáo khỏi sự “tiêm nhiễm” của Ki-tô giáo. Bao lâu mà các định nghĩa cạnh tranh về thực tại có thể bị cách ly về mặt tư tưởng và về mặt xã hội xét như là những định nghĩa chỉ phù hợp cho những kẻ xa lạ, và ipso facto [do chính điều này] không thiết thân với mình, thì người ta vẫn có thể có mối liên hệ khá thân thiện với những kẻ xa lạ này. Tình trạng rắc rối chỉ bắt đầu nảy sinh khi mà tính chất “xa lạ” không còn nữa và vũ trụ trật đường tỏ ra là một nơi mà người dân của chính mình có thể cư trú được. Đến lúc này, các chuyên gia truyền thống có thể sẽ cần đến ngọn lửa và thanh gươm – hoặc là, thay vào đó, nhất là khi không thể sử dụng lửa và gươm, họ có thể sẽ bước vào những cuộc thương lượng đại kết với những kẻ đối thủ cạnh tranh.

Những tình huống độc tôn theo kiểu này thường có tiền đề là một mức độ ổn định vững chắc về mặt cấu trúc xã hội, và chính chúng cũng khiến cho cấu trúc này được ổn định. Các định nghĩa truyền thống về thực tại thường ngăn cản sự biến đổi xã hội. Ngược lại, sự sụp đổ của thái độ chấp nhận sự độc tôn như một điều đương nhiên thường thúc đẩy sự biến đổi xã hội. Vì thế, chúng ta không có gì phải ngạc nhiên khi thấy có một sự tương hợp sâu sắc giữa những người có lợi trong việc duy trì các vị trí quyền lực hiện hành với nhóm nhân sự chuyên quản trị những truyền thống bảo tồn vũ trụ [biểu tượng] mang tính độc tôn. Nói cách khác, những thế lực chính trị bảo thủ thường có xu hướng ủng hộ các yêu sách độc tôn của các chuyên gia về vũ trụ, và những tổ chức độc tôn của những chuyên gia này, đến lượt mình, cũng thường có xu hướng bảo thủ về mặt chính trị. Trong lịch sử, lẽ tất nhiên, phần lớn những sự độc tôn này đều thuộc về các tôn giáo. Vì thế, có thể nói rằng các giáo hội, hiểu như là những tổ hợp độc tôn bao gồm các chuyên gia dành toàn thời gian cho một định nghĩa mang tính tôn giáo về thực tại, thường bảo thủ một cách cố hữu một khi những giáo hội này đã thành công trong việc thiết lập được sự độc tôn của mình trong một xã hội nào đó. Ngược lại, những nhóm cai trị nào có lợi trong việc duy trì status quo [nguyên trạng] chính trị thì thường đều gắn bó với giáo hội một cách cố hữu trong định hướng tôn giáo của họ, và cũng chính vì thế mà họ thường tỏ ra ngờ vực đối với mọi sự cách tân trong truyền thống tôn giáo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Xã hội xét như là thực tại khách quan – Phần XXII


Cách tổ chức xã hội nhằm bảo tồn vũ trụ

Bởi vì mọi vũ trụ [biểu tượng] đã-được-kiến-tạo về mặt xã hội đều là những sản phẩm lịch sử của hoạt động con người, cho nên chúng [sẽ] biến đổi, và sự biến đổi này xuất phát từ các hoạt động cụ thể của con người. Nếu người ta chỉ mải mê chú ý tới những điều rối rắm của những bộ máy tư tưởng mà nhớ đó mọi vũ trụ [biểu tượng] đặc thù được bảo tồn, thì người ta thường dễ bỏ quên sự kiện xã hội học nền tảng ấy. Thực tại [luôn luôn là thực tại] được định nghĩa về mặt xã hội. Nhưng các định nghĩa này luôn luôn được hiện thân [trong những con người cụ thể -ND], nghĩa là, chính những cá nhân và những nhóm cá nhân cụ thể nào đó là những kẻ định nghĩa về thực tại. Để hiểu được tình trạng của vũ trụ đã-được-kiến-tạo về mặt xã hội vào một thời điểm nào đó, hay sự biến đổi của nó theo thời gian, người ta phải hiểu được cái tổ chức xã hội vốn đã cho phép những kẻ định nghĩa tiến hành được việc định nghĩa của mình. Nói một cách nôm na hơn, chúng ta cần phải tiếp tục đặt ra các câu hỏi về những quá trình xây dựng lý thuyết về thực tại mà người ta có thể chứng kiến trong lịch sử, đi từ câu hỏi “Cái gì?” mang tính trừu tượng cho đến câu hỏi cụ thể về mặt xã hội học là “Ai đã nói điều đó?”.

Như chúng ta đã thấy, sự chuyên biệt hóa về mặt kiến thức và kèm theo đó việc tổ chức nhân sự để quản trị những khối kiến thức chuyên biệt ấy sẽ tiến triển như một hệ quả của sự phân công lao động. Chúng ta có thể mường tượng ra một giai đoạn ban đầu của tiến trình phát triển này, lúc chưa có sự cạnh tranh giữa các chuyên gia khác nhau. [Ở giai đoạn này] mỗi lĩnh vực kiến thức chuyên biệt đều được xác định bởi tình hình phân công lao động trong thực tiễn. Chuyên gia să bắn sẽ không tự nhận là mình có kiến thức chuyên môn về việc đánh cá, và do đó sẽ không có lý do gì để cạnh tranh với người tự coi mình có kiến thức chuyên môn này.

Khi ra đời những kiến thức phức tạp hơn và khi đã có một sự thặng dư kinh tế, các chuyên gia sẽ hiến thân toàn thời gian vào những đối tượng thuộc kiến thức chuyên môn của mình; theo dòng phát triển của các bộ máy tư tưởng, những đối tượng này có thể ngày càng tách xa khỏi những nhu cầu thực tiễn của đời sống thường nhật. Những chuyên gia về những khối kiến thức hiếm hoi này thường đòi phải có một vị thế mới. Họ không chỉ là chuyên gia trong địa hạt này hay địa hạt kia của kho kiến thức của xã hội, mà họ còn đòi hỏi phải có quyền hạn tối hậu trên tổng thể kho kiến thức này. Họ là chuyên gia về vũ trụ [biểu tượng] theo đúng nghĩa của từ này. Điều này không có nghĩa là họ tự nhận mình biết hết mọi thứ, mà thực ra họ tự coi là họ biết ý nghĩa tối hậu của những cái mọi người đều biết và làm. Những người khác có thể vẫn tiếp tục dành riêng cho mình những địa hạt cụ thể nào đó của thực tại, nhưng họ [tức các chuyên gia về vũ trụ biểu tượng – ND] thì tự nhận là họ tinh thông về những định nghĩa tối hậu về thực tại với tư cách là thực tại.

Giai đoạn phát triển kiến thức này có một số hệ quả. Hệ quả đầu tiên mà chúng ta đã từng bàn luận, đó là sự nảy sinh của lý thuyết thuần túy. Bởi vì các chuyên gia về vũ trụ [biểu tượng] hoạt động trên một cấp độ trừu tượng lớn lao vượt ra khỏi những sự thăng trầm của đời sống thường nhật, nên cả những người khác lẫn chính họ đều có thể kết luận rằng các lý thuyết của họ không hề có mối liên hệ nào với đời sống xã hội đang diễn ra, nhưng tồn tại trong một dạng thiên giới của Platon trong đó các ý niệm được hình thành [ideation] một cách phi lịch sử và phi xã hội. Đây là một ảo ảnh, dĩ nhiên, nhưng nó có thể có một quyền năng lịch sử-xã hội to lớn, do mối quan hệ giữa quá trình định nghĩa thực tại với quá trình sản xuất ra thực tại.

Một hệ quả thứ hai, đó là củng cố óc truyền thống trong những hoạt động đã-được-định-chế-hóa và do vậy đã-được-chính-đáng-hóa, nghĩa là, củng cố xu hướng đi đến sự quán tính vốn là thuộc tính nội tại của quá trình định chế hóa. Sự tập quán hóa và sự định chế hóa tự thân chúng sẽ làm hạn chế tính linh hoạt của các hoạt động của con người. Các định chế luôn có xu hướng tồn tại dai dẳng trừ phi chúng trở nên “gặp vấn đề rắc rối”. Những sự chính đáng hóa tối hậu chắc chắn càng củng cố cho xu hướng này. Sự chính đáng hóa càng trừu tượng bao nhiêu, thì định chế càng khó bị biến đổi theo những yêu cầu của thực tiễn biến dịch bấy nhiêu. Nếu [định chế] có xu hướng tiếp diễn y như trước, thì hiển nhiên là xu hướng này sẽ được củng cố bởi những lý do hết sức đúng đắn để phải làm như thế. Điều này có nghĩa là các định chế có thể vẫn tồn tại dai dẳng ngay cả khi mà, dưới con mắt một người quan sát từ bên ngoài, chúng đã mất đi tính chức năng hay tính thực tiễn nguyên thủy của chúng. Có những việc mà người ta làm không phải bởi vì chúng có hiệu quả, mà bởi vì chúng là điều đúng đắn – tức là đúng đắn xét trên bình diện của những định nghĩa tối hậu về thực tại mà các chuyên gia về vũ trụ [biểu tượng] đã ban bố.

Sự xuất hiện của nhóm người dành trọn thời gian cho việc chính đáng hóa nhằm-bảo-tồn-vũ-trụ cũng có thể gây ra những duyên cớ khiến xảy ra những sự xung đột xã hội. Trong đó có sự xung đột giữa những chuyên gia với những người thực hành. Những người thực hành, vì những lý do mà chúng ta không cần đi vào chi tiết, có thể trở nên bực bội trước những lời khoa trương vĩ đại của các chuyên gia và những đặc quyền xã hội cụ thể của những người này. Điều có lẽ đặc biệt gây khó chịu chính là việc các chuyên gia tự nhận là mình hiểu biết về ý nghĩa tối hậu của hoạt động của những người thực hành một cách sâu sắc hơn so với chính những người thực hành. Những cuộc nổi loạn kiểu này nơi những “người phàm” có thể dẫn đến chỗ nảy sinh những định nghĩa mang tính cạnh tranh về thực tại, và cuối cùng có thể đi đến chỗ xuất hiện những chuyên gia mới phụ trách việc đưa ra những định nghĩa mới. Ấn Độ cổ đại có thể cho chúng ta thấy một số thí dụ minh họa sắc sảo nhất trong lịch sử về điều này. Những người Bà-la-môn, với tư cách là những chuyên gia về thực tại tối hậu, đã thành công ở một cấp độ đáng kinh ngạc trong việc áp đặt các định nghĩa của họ về thực tại lên toàn xã hội. Cho dù có cội nguồn từ đâu đi chăng nữa, thì chính với tư cách là một công trình kiến tạo của người Bà-la-môn mà hệ thống đẳng cấp đã bành trướng trong suốt nhiều thế kỷ cho đến khi nó bao phủ hầu hết tiểu lục địa Ấn Độ. Thực vậy, những người Bà-la-môn được hết tiểu vương này đến tiểu vương khác mời ra làm “nhà thiết kế xã hội” để thiết lập hệ thống ấy trong những lãnh thổ mới (một phần bởi vì hệ thống này được coi như thuộc về một nền văn minh cao hơn, và một phần khác chắc hẳn cũng do các vị tiểu vương hiểu được năng lực vĩ đại của hệ thống này trong việc điều hành xã hội). Bộ luật Manu cho chúng ta thấy rất rõ cả bản thiết kế xã hội của người Bà-la-môn lẫn những lợi thế rất trần tục đổ dồn về người Bà-la-môn một khi họ được thừa nhận là những nhà thiết kế đã được tấn phong ở cấp độ hoàn vũ. Tuy nhiên, điều không thể tránh khỏi là xung đột có thể nảy sinh giữa các lý thuyết gia với những kẻ thực thi quyền lực là những người thuộc đẳng cấp Kshatriya, tức đẳng cấp chiến binh và hoàng tộc. Văn học sử thi của Ấn Độ cổ đại, như hai bộ Mahabharata và Ramayana, đã cho thấy những bằng chứng hùng hồn về sự xung đột này. Không phải ngẫu nhiên mà hai cuộc nổi loạn vĩ đại về mặt lý thuyết chống lại vũ trụ của người Bà-la-môn, [đó là] Kỳ-na giáo và Phật giáo, đều xuất phát từ các địa điểm xã hội của chúng trong đẳng cấp Kshatriya. Lẽ tất nhiên, các quá trình định nghĩa thực tại của cả Kỳ-na giáo và Phật giáo đều sản sinh ra những nhóm chuyên gia riêng của mình; điều tương tự có lẽ cũng đã xảy ra nơi những thi sĩ sử thi vốn đã thách thức vũ trụ Bà-la-môn một cách ít triệt để hơn và ít phức tạp hơn.

Điều này dẫn chúng ta đến với một khả năng xung đột khác, cũng quan trọng không kém – đó là xung đột giữa những phe nhóm chuyên gia cạnh tranh nhau. Bao lâu mà các lý thuyết còn tiếp tục được ứng dụng trực tiếp vào thực tiễn, thì sự cạnh tranh, nếu xảy ra, thường dễ dàng được giải quyết thông qua việc kiểm nghiệm thực tiễn. [Chẳng hạn] có thể có những lý thuyết cạnh tranh nhau về việc săn heo rừng, trong đó các phe chuyên gia săn bắn kình địch nhau đều có lợi thiết thân của mình. Vấn đề này có thể được giải quyết tương đối dễ dàng khi người ta nhìn xem lý thuyết nào dẫn đến việc giết được heo rừng nhiều nhất. [Nhưng] người ta không thể làm như vậy khi phải quyết định chọn lựa, chẳng hạn, giữa một lý thuyết vũ trụ đa thần và một lý thuyết vũ trụ độc thần. Các lý thuyết gia tương ứng sẽ bị buộc phải thay thế việc kiểm nghiệm thực tế bằng việc lập luận trừu tượng. Việc lập luận này tự nó không mang khả năng thuyết phục nội tại về sự thành công trong thực tiễn. Điều có sức thuyết phục đối với người này lại có thể tỏ ra không thuyết phục đối với người khác. Thực ra, chúng ta không thể trách cứ những lý thuyết gia này nếu như họ phải viện dẫn đến những phương tiện khác mạnh bạo hơn để hỗ trợ cho quyền lực yếu ớt của sự lập luận đơn thuần – chẳng hạn như khi họ nhờ các nhà cầm quyền sử dụng sức mạnh vũ khí để ép các lý thuyết gia cạnh tranh của mình phải chấp nhận một lý lẽ nào đó. Nói cách khác, các định nghĩa về thực tại có thể được áp đặt bởi cảnh sát. Tuy nhiên, điều này không có nghĩ là những định nghĩa này sẽ ít có sức thuyết phục hơn so với những định nghĩa đã được chấp nhận “một cách tự nguyện” – quyền lực trong xã hội thường bao hàm cả quyền lực định đoạt những phương thức xã hội hóa then chốt, và vì thế [bao hàm cả] quyền lực sản xuất ra thực tại. Dù gì đi chăng nữa, những sự biểu tượng hóa hết sức trừu tượng (nghãi là, những lý thuyết đã tách rời rất xa ra khỏi kinh nghiệm cụ thể của đời sống thường nhật) thường trở nên có hiệu lực nhờ vào chỗ dựa xã hội hơn là chỗ dựa thực tế. Có thể nói chính là theo cách thức này mà một thứ óc thực dụng trá hình xuất hiện trở lại. Các lý thuyết [lúc này] có thể được coi là có sức thuyết phục trở lại bởi vì chúng có hiệu quả – tức là có hiệu quả theo nghĩa là đã trở thành một thứ kiến thức mẫu mực và được-coi-là-đương-nhiên trong xã hội hữu quan.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Xã hội xét như là thực tại khách quan – Phần XXI


Điều chắc chắn là các loại hình bộ máy tư tưởng xuất hiện trong lịch sử dưới vô số dạng cải biến và kết hợp, và những loại hình mà chúng ta đã bàn luận không nhất thiết đã bao gồm đầy đủ. Nhưng có hai cách ứng dụng bộ máy tư tưởng bảo-tồn-vũ-trụ vẫn còn cần được bàn luận trong bối cảnh lý thuyết tổng quát, đó là: sự trị liệu [therapy] và sự triệt tiêu [nihilation].

Sự trị liệu đòi hỏi phải vận dụng bộ máy tư tưởng nhằm đảm bảo rằng những người đang đi trật đường hay có thể đi trật đường [deviants] tiếp tục tin vào những định nghĩa định chế hóa về thực tại, hay nói cách khác, nhằm ngăn ngừa những “cư dân” của một vũ trụ [biểu tượng] nào đó không “di cư” đi nơi khác. Nó làm điều  này bằng cách áp dụng guồng máy chính đáng hóa đối với từng “trường hợp” cá nhân. Bởi vì, nhưng chúng ta đã thấy, xã hội nào cũng phải đối diện với nguy cơ trật đường của các cá nhân, nên chúng ta có thể khẳng định rằng sự trị liệu dưới hình thức này hay hình thức khác là một hiện tượng xã hội toàn cầu. Những phương sách trù liệu đặc thù về mặt định chế, từ việc trừ tà cho đến việc phân tích tâm lý, từ việc cai quản mục vụ cho đến những chương trình tham vấn cá nhân, dĩ nhiên tất cả đều thuộc về phạm trù kiểm soát xã hội. Tuy nhiên, điều mà chúng tôi quan tâm ở đây là khía cạnh tư tưởng của sự trị liệu. Bởi vì sự trị liệu tự nó phải có liên quan đến những sự trật đường ra khỏi những định nghĩa “chính thức” về thực tại, nên nó phải phát triển một bộ máy tư tưởng để giải thích những sự trật đường này và để bảo tồn những thực tại đang bị thách thức. Điều này đòi hỏi khối kiến thức phải bao hàm một lý thuyết về sự trật đường, một guồng máy chuẩn đoán, và một hệ thống tư tưởng nhằm “chăm sóc các linh hồn”.

Lấy thí dụ, trong một tập thể vốn đã định chế hóa mối quan hệ tình dục đồng tính trong quân đội, thì cá nhân nào cứ bướng bỉnh đi theo xu hướng tình dục khác giới chắc chắn sẽ là một ứng viên cần được trị liệu, không phải chỉ vì ý thích tình dục của anh ta hiển nhiên đe dọa hiệu quả chiến đấu của đơn vị chiến-binh-nhân-tình của anh ta, mà còn bởi vì sự trật đường của anh ta sẽ phá hoại sự cường tráng nam tính tự phát của những người khác về mặt tâm lý. Nhưng dù gì đi nữa, một vài người trong số họ, có lẽ một cách “tiềm thức”, có thể bị cám dỗ đi theo cái gương của anh ta. Trên một bình diện căn bản hơn, cách xử sự của người đi trật đường thách thức ngay chính cái thực tại xã hội, đặt thành vấn đề đối với những quy trình vận hành đang-được-coi-là-đương-nhiên về mặt tri nhận (“đàn ông cường tráng yêu nhau là lẽ tự nhiên”) cũng như về mặt chuẩn mực (“đàn ông cường tráng phải yêu nhau”). Thực vậy, người đi trật đường có vẻ xuất hiện như một sự lăng mạ bằng xương bằng thịt đối với các vị nam thần, vốn đang yêu nhau ở trên trời cao, điều mà những kẻ sùng kính họ cũng đang làm dưới trần thế. Sự trật đường tận gốc đòi hỏi phải có một phương pháp trị liệu dựa vững chắc trên lý thuyết trị liệu. Cần phải có một lý thuyết về sự trật đường (tức là, một môn “bệnh lý học”) có khả năng giải thích hoàn cảnh chướng tai gai mắt này (chẳng hạn, coi kẻ trật đường như bị ma quỷ nhập). cần phải có một khối khái niệm chuẩn đoán (chẳng hạn, một môn triệu chứng học, với những kỹ năng thích hợp có thể áp dụng được cho những phiên xét xử bằng cách thử tội); những khái niệm chẩn đoán này không chỉ giúp người ta xác định chính xác những hoàn cảnh nghiêm trọng, mà còn giúp người ta phát hiện ra xu hướng “tình dục khác giới tiềm tàng” và nhanh chóng áp dụng các biện pháp ngăn ngừa. Cuối cùng, cần phải xây dựng lý thuyết cho chính tiến trình chữa trị (chẳng hạn, một tập liệt kê các kỹ thuật trừ tà, mỗi kỹ thuật có một nền tảng lý thuyết thỏa đáng).

Một bộ máy tư tưởng như vậy sẽ giúp các chuyên viên tương ứng áp dụng vào việc trị liệu, và cũng có thể được nội tâm hóa bởi cá nhân đang bị lâm vào hoàn cảnh trật đường. Sự nội tâm hóa tự nó sẽ có hiệu năng trị liệu. Trong thí dụ của chúng tôi, bộ máy tư tưởng có thể được thiết kế như thế nào đó để gợi lên một mặc cảm tội lỗi nơi cá nhân (chẳng hạn, một nỗi “khiếp sợ đối với tình dục khác giới”) – [đây là] một thành quả không quá khó nếu quá trình xã hội hóa sơ cấp của anh ta diễn ra thành công cho dù chỉ ở mức tối thiểu. Dưới áp lực của mặc cảm tội lội này, cá nhân sẽ đi đến chỗ chấp nhận về mặt chủ quan cách lý giải lý thuyết về hoàn cảnh của mình mà những nhà trị liệu đã dùng để đối phó với anh ta; [khi ấy] anh ta sẽ trở nên “sáng ra”, và việc chẩn đoán trở nên có thực một cách chủ quan đối với anh ta. Bộ máy tư tưởng có thể còn được phát triển xa hơn nữa để giúp cho người ta có thể hình thành lý thuyết (và nhờ đó thủ tiêu về mặt tư tưởng) về bất cứ sự ngờ vực nào liên quan đến sự trị liệu mà nhà trị liệu hay “bệnh nhân” có thể cảm thấy. Thí dụ, có thể có một lý thuyết về sự “chống cự” để giải thích cho những sự ngờ vực của “bệnh nhân”, và một lý thuyết về “đối chuyển cảm” để giải thích cho những sự ngờ vực của nhà trị liệu. Một cuộc trị liệu thành công sẽ thiết lập một sự đối xứng giữa bộ máy tư tưởng và việc tiếp nhận bộ máy này về mặt chủ quan vào trong ý thức của cá nhân; nó sẽ tái xã hội hóa kẻ lệch lạc vào trong cái thực tại khách quan của vũ trụ biểu tượng của xã hội. Cá nhân, lẽ tất nhiên, sẽ cảm thấy vô cùng hài lòng khi quay trở lại với trạng thái “bình thường”. Cá nhân lúc này có thể trở lại ôm say đắm vị chỉ huy trung đội của mình với sự nhận thức mừng rỡ là anh ta đã “tìm ra chính mình” và rằng anh ta lại cư xử đúng đắn dưới mắt các vị thần.

Việc trị liệu sử dụng một bộ máy tư tưởng để giữ mọi người ở lại trong vũ trụ [biểu tượng] có liên quan. Còn sự triệt tiêu [nihilation], tới lượt nó, cũng sẽ sử dụng một bộ máy tương tự để thủ tiêu về mặt tư tưởng tất cả những gì nằm bên ngoài vũ trụ này. Có thể coi phương sách này là một dạng chính đáng hóa theo kiểu phủ định [negative legitimation]. Sự chính đáng hóa bảo tồn cái thực tại của vũ trụ đã-được-kiến-tạo về mặt xã hội; còn sự triệt tiêu thì phủ nhận cái thực tại của bất cứ hiện tượng nào hay bất cứ cách lý giải nào về những hiện tượng không ăn khớp với vũ trụ đó. Điều này có thể được tiến hành theo hai cách. Trước hết, những hiện tượng trật đường có thể bị gán cho một vị thế bản thể luận mang tính tiêu cực, với một ý định trị liệu hoặc không với ý định này. Việc ứng dụng bộ máy tư tưởng vào việc triệt tiêu thường phần lớn được thực hiện đối với những cá nhân hay những nhóm người xa lạ đối với xã hội và do vậy không đáng để trị liệu. Cách vận hành về mặt tư tưởng ở đây khá đơn giản. Mối đe dọa đối với những định nghĩa của xã hội về thực tại bị vô hiệu hóa bằng cách gán cho tất cả những định nghĩa nằm bên ngoài vũ trụ biểu tượng một vị thế bản thể luận thấp kém hơn, tức là một vị thế tri nhận không-đáng-coi-là-nghiêm-túc. Như vậy, mối đe dọa của những nhóm người láng giềng chống lại quan điểm tình dục đồng tính có thể bị thủ tiêu về mặt tư tưởng đối với xã hội đồng tính của chúng ta bằng cách coi những người láng giềng ấy như những kẻ thấp kém hơn con người, bị đần độn bẩm sinh vì không tuân theo trật tự đúng đắn của sự vật, và là những kẻ sống trong một cõi u mê vô vọng về mặt tri nhận. Tam đoạn luận căn bản diễn ra như sau: Những kẻ láng giềng là một bộ lạc mọi rợ. Những kẻ láng giềng chống lại tình dục đồng tính. Vì thế, thái độ chống lại tình dục đồng tính của họ là điều phi lý mọi rợ, không đáng coi là nghiêm túc bởi những ai hiểu biết lẽ phải. Phương sách tư tưởng tương tự, dĩ nhiên, cũng có thể được áp dụng đối với những người trật đường bên trong xã hội. Liệu lúc đó người ta có chuyển từ [phương sách] triệt tiêu sang [phương sách] trị liệu hay không, hay là liệu người ta có đi tiếp đến chỗ thủ tiêu về mặt thể xác cái mà họ đã thủ tiêu về mặt tư tưởng hay không, thì đây là một vấn đề thực tiễn thuộc về chính sách. [Tuy nhiên] quyền lực vật chất của nhóm bị thủ tiêu về mặt tư tưởng không phải là một nhân tố không quan trọng trong phần lớn các trường hợp. Than ôi, đôi khi có những hoàn cảnh buộc người ta phải tiếp tục duy trì những mối liên hệ thân thiện với những kẻ man rợ.

Kế đến, [phương sách] triệt tiêu còn bao hàm cả một nỗ lực mang nhiều tham vọng hơn nữa, đó là tìm cách giải thích toàn bộ các định nghĩa trật đường về thực tại dựa trên những khái niệm thuộc về vũ trụ [biểu tượng] của chính mình. Trong khuôn khổ thần học, điều này dẫn đến chỗ chuyển từ môn lạc giáo học [heresiology] sang môn hộ giáo học [apologetics]. Các quan niệm trật đường không chỉ đơn thuần bị gán cho một vị thế tiêu cực, mà còn bị mổ xẻ chi li về mặt lý thuyết. Mục đích cuối cùng của phương sách này là để tháp nhập các quan niệm trật đường vào trong vũ trụ của chính mình, và nhờ đó cuối cùng là thủ tiêu chúng. Vì vậy, các quan niệm trật đường phải được phiên dịch ra thành những khái niệm bắt nguồn từ vũ trụ của chính mình. Theo cách này, việc phủ định vũ trụ của mình trở thành một sự khẳng định về nó một cách tinh tế. Tiền đề là luôn luôn kẻ phủ định không thật sự biết anh ta đang nói gì. Những lời phát biểu của anh ta chỉ trở nên có ý nghĩa khi chúng được phiên dịch ra thành những thuật ngữ “đúng đắn” hơn, nghĩa là, những thuật ngữ bắt nguồn từ vũ trụ mà anh ta phủ định. Thí dụ, các lý thuyết gia về tình dục đồng tính của chúng ta có thể lập luận rằng tất cả mọi người đàn ông đều có bản chất tình dục đồng tính. Những ai chối bỏ điều này, do bị quỷ ám hay đơn giản do họ là những người man rợ, thì đều đang chối bỏ bản chất của chính họ. Sâu thẳm trong tâm can họ, họ biết rằng điều này là như vậy. Vì thế, người ta chỉ cần xem xét một cách cẩn thận những lời phát biểu của họ để khám phá ra thái độ chống cự và ý định xấu xa trong lập trường của họ. Bất cứ điều gì họ nói ra về chuyện này đều có thể vì thế mà được chuyển dịch thành một sự thừa nhận về vũ trụ tình dục đồng tính, thứ mà họ làm ra vẻ phủ nhận. Trong lĩnh vực thần học, chính phương sách [triệt tiêu] này đã chứng minh rằng ma quỷ [cũng] làm vinh danh Thượng đế ngoài ý muốn [của chúng], rằng mọi sự hoài nghi [đối với Thượng đế] đều chỉ là sự dối lòng một cách vô thức, và ngay cả kẻ vô thần thực ra cũng là một tín đồ.

Việc ứng dụng các bộ máy tư tưởng vào việc trị liệu và việc triệt tiêu đều nằm nội tại ngay trong lòng vũ trụ biểu tượng. Nếu vũ trụ biểu tượng được hiểu là bao phủ toàn bộ thực tại, thì không có bất cứ cái gì được phép nằm bên ngoài phạm vi tư tưởng của nó. Trên nguyên tắc, trong bất cứ trường hợp nào, các định nghĩa của nó về thực tại phải bao trùm lên toàn thể những cái đang tồn tại. Những bộ máy tư tưởng, mà nhờ đó người ta cố gắng thực hiện việc toàn thể hóa này, có nhiều hình thức đa dạng trong lịch sử tùy theo mức độ phức tạp của chúng. In nuce [nói tóm lại], chúng xuất hiện ngay khi một vũ trụ biểu tượng đã được kết tinh.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Xã hội xét như là thực tại khách quan – Phần XX


Điều quan trọng cần nhấn mạnh là các bộ máy tư tưởng nhằm-bảo-tồn-vũ-trụ tự chúng đều là sản phẩm của hoạt động xã hội, cũng giống như tất cả các dạng chính đáng hóa, và người ta khó lòng hiểu được chúng nếu tách chúng ra khỏi các hoạt động khác của tập thể hữu quan. Hơn nữa, sự thành công của các bộ máy tư tưởng cụ thể thường có liên quan đến quyền lực nằm trong tay những người vận hành chúng. Sự đối đầu giữa những vũ trụ biểu tượng khác nhau mặc nhiên là một vấn đề quyền lực: trong số các định nghĩa đối nghịch nhau về thực tại, định nghĩa nào sẽ “trụ” lại được [made to stick] trong xã hội? Cả hai xã hội đang đối đầu nhau với những vũ trụ [biểu tượng] đối nghịch nhau sẽ đồng thời phát triển những bộ máy tư tưởng mà chúng thiết kế ra nhằm bảo tồn vũ trụ [biểu tượng] tương ứng của mình. Xét từ góc độ khả tính nội tại, cả hai hình thức xây dựng quan niệm này đều tỏ ra khó lựa chọn đối với người quan sát ở bên ngoài. Tuy nhiên, cái nào sẽ thắng tùy thuộc vào quyền lực nhiều hơn là vài tài năng sáng tạo lý thuyết của những nhà chính đáng hóa tương ứng. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng các đạo sĩ ngang tài ngang sức của phái Olympian và phái Chthonic gặp gỡ nhau trong những cuộc tham vấn đại kết để thảo luận về giá trị của hai vũ trụ tương ứng của họ một cách sine ira et studio [không giận mà cũng không thương, tức là một cách trung lập – ND], nhưng có nhiều khả  năng là câu chuyện sẽ ngã ngũ chủ yếu trên bình diện sức mạnh quân sự. Kết cục lịch sử của các cuộc chạm trán giữa các vị thần được định đoạt bởi những ai có vũ khí mạnh hơn, chứ không phải bởi những ai có lý lẽ giỏi hơn. Dĩ nhiên, điều này cũng đúng khi nói đến những xung đột theo kiểu này bên trong xã hội. Ai có cây gậy lớn hơn thì có nhiều cơ may hơn để áp đặt các định nghĩa của mình về thực tại. Có thể khẳng định điều này đối với bất cứ tập thể nào lớn hơn mà không sợ sai lầm, mặc dù luôn luôn có thể có những lý thuyết gia vô tư về mặt chính trị thường tìm cách thuyết phục nhau mà không cậy vào những phương tiện thuyết phục thô bạo.

Những bộ máy tư tưởng nhằm-bảo-tồn-vũ-trụ-biểu-tượng dẫn đến chỗ hệ thống hóa những điều đã được chính đáng hóa về mặt tri nhận và về mặt chuẩn mực, vốn đã tồn tại sẵn trong xã hội theo một dạng hồn nhiên hơn, và vốn được kết tinh trong vũ trụ biểu tượng hữu quan. Nói cách khác, vật liệu mà dựa trên đó người ta kiến tạo những điều đã được chính đáng hóa nhằm-bảo-tồn-vũ-trụ phần lớn đều là một bước phát triển xa hơn của việc chính đáng hóa một số định chế, ở một cấp độ tích hợp lý thuyết sâu sắc hơn. Do vậy, thường có một sự nối tiếp liên tục giữa những lược đồ giải thích và cổ súy (nhằm chính đáng hóa ở cấp độ lý thuyết thấp nhất) với những công trình kiến tạo tư tưởng đồ sộ (nhằm diễn giải thế giới hoàn vũ). Mối liên hệ giữa việc xây dựng quan niệm về mặt tri nhận với việc xây dựng quan niệm về mặt chuẩn mực, ở đây cũng như ở những lĩnh vực khác, thường rất linh hoạt trong thực tế, việc xây dựng quan niệm về mặt chuẩn mực luôn luôn dựa trên một số tiền đề tri nhận nào đó. Tuy vậy, sự phân biệt trên bình diện phân tích vẫn hữu ích, nhất là bởi vì nó thu hút sự chú ý vào những mức độ biệt dị hóa khác nhau giữa hai lĩnh vực quan niệm này.

Có lẽ thật phi lý nếu chúng ta cố gắng bàn luận chi tiết ở đây về các bộ máy tư tưởng bảo-tồn-vũ-trụ khác nhau mà chúng ta có thể biết được trong lịch sử. Nhưng chỉ cần êu ra sau đây vài nhận xét về một số loại bộ máy tư tưởng dễ nhận biết nhất, xếp theo thứ tự sau: thần thoại, thần học, triết học và khoa học. Nếu không ghép những loại hình này vào một lược đồ mang tính tiến hóa, thì chúng ta có thể hoàn toàn yên tâm nói rằng thần thoại chính là dạng cổ xưa nhất củ việc bảo tồn vũ trụ, và nó cũng thực sự là dạng chính đáng hóa cổ xưa nhất nói chung. Rất có thể thần thoại là một chặng cần thiết trong sự phát triển của tư duy con người xét như là tư duy. Dù sao đi nữa thì những quá trình xây dựng quan niệm nhằm-bảo-tồn-vũ-trụ cổ xưa nhất mà chúng ta biết được cho đến nay đều nằm dưới dạng thần thoại. Do mục tiêu của tập khảo luận này, ở đây chúng tôi chỉ cần định nghĩa thần thoại là một quan niệm về thực tại vốn khẳng định rằng các sức mạnh thiêng liêng luôn luôn thâm nhập không ngừng vào thế giới kinh nghiệm thường nhật. Quan niện này đương nhiên cho rằng có sự nối tiếp hết sức chặt chẽ giữa trật tự xã hội với trật tự hoàn vũ, cũng như giữa toàn bộ những sự chính đáng hóa tương ứng của hai trật tự ấy; toàn bộ thực tại xuất hiện giống như thể nó được làm ra từ cùng một tấm vải.

Xét với tư cách là một bộ máy tư tưởng, thần thoại [hay huyền thoại, mythology – ND] nằm gần nhất với cấp độ ngây thơ hồn nhiên của vũ trụ biểu tượng – đây là cấp độ thấp nhất của nhu cầu bảo tồn vũ trụ về mặt lý thuyết, bên cạnh việc đặt định vũ trụ [biểu tượng] như một thực tại khách quan trong thực tế. Điều này giải thích [tại sao lại có] hiện tượng lặp đi lặp lại trong lịch sử là có những truyền thống thần thoại không ăn khớp với nhau nhưng vẫn tiếp tục tồn tại bên cạnh nhau mà không hề tích hợp với nhau về mặt lý thuyết. Tình trạng không ăn khớp này thường chỉ được cảm nhận sau khi các truyền thống gặp vấn đề rắc rối và [sau khi] đã diễn ra một dạng tích hợp nào đó. Việc “khám phá” ra sự không ăn khớp ấy (hay như việc khẳng định nó ex post facto [sau khi xảy ra sự kiện], nếu người ta muốn nói như vậy) thường là do các chuyên viên của truyền thống, vốn cũng thường là những người tích hợp các chủ đề truyền thống riêng lẻ lại với nhau. Một khi người ta cảm thấy nhu cầu cần phải tích hợp, thì việc kiến tạo lại thần thoại tiếp theo sau có thể trở nên hết sức cầu kỳ về mặt lý thuyết. Homer có lẽ là một trường hợp đủ để nói lên điều này.

Thần thoại cũng nằm gần cấp độ hồn nhiên ở chỗ là, mặc dù vẫn có các chuyên viên về truyền thống thần thoại, nhưng kiến thức của những người này không vượt xa khỏi những điều mà mọi người đều biết. Việc khai tâm vào truyền thống do các chuyên viên này quản trị có thể hết sức khó khăn về cách thức ngoại tại. Nó có thể chỉ hạn hẹp vào số ứng viên được sàng lọc, vào những dịp hoặc những thời điểm đặc biệt, và nó có thể đòi hỏi phải chuẩn bị gắt gao về mặt nghi thức. Tuy nhiên, rất hiếm khi nó gặp khó khăn xét về mặt tính chất nội tại của bản thân khối kiến thức, vốn không khó để nắm bắt được. Để bảo vệ yêu sách độc tôn của các chuyên viên, người ta cần thiết lập thế nào đó về mặt định chế để người thường không thể với tới được những kiến thức mà họ có. Nghĩa là, một “bí mật” sẽ được đặt định, và một khối kiến thức tự nó thông thường sẽ được định nghĩa về mặt định chế bằng những thuật ngữ bí truyền. Chỉ cần nhìn qua những cách “giao tế công cộng” của những bè phái lý thuyết gia đương đại thì người ta sẽ thấy ngay là cái trò mưu mẹo lừa phỉnh cổ xưa hoàn toàn chưa hề biến mất trong thời đại ngày nay. Dù vậy, vẫn có những sự khác biệt lớn lao về mặt xã hội học giữa những xã hội mà trong đó toàn bộ các quá trình xây dựng quan niệm nhằm-bảo-tồn-vũ-trụ đều dựa trên thần thoại, so với những xã hội không làm như vậy.

Những hệ thống thần thoại cầu kỳ phức tạp thường cố gắng loại bỏ những sự bất nhất và bảo tồn vũ trụ thần thoại một cách tích hợp về mặt lý thuyết. Có thể nói những thần thoại mang tính chất “chính điển” [canonical] ấy thường chuyển sang những quá trình hình thành tư tưởng thần học thực thụ. Trong phạm vi của tập khảo luận này, chúng ta có thể phân biệt một cách đơn giản tư duy thần học với tư duy thần thoại tiền thân của nó là ở chỗ nó có mức độ hệ thống hóa lý thuyết cao hơn. Các khái niệm thần học vượt xa khỏi cấp độ hồn nhiên ngây thơ. Thế giới hoàn vũ có thể vẫn còn được quan niệm dưới góc độ của những lực lượng thần thánh và những nhân vật thần thoại cổ xưa, nhưng những thực thể thần thánh này đã được tách ra xa hơn. Tư duy thần thoại vận hành trong khuôn khổ của sự tiếp nối giữa thế giới con người với thế giới của những vị thần. [Còn] tư duy thần học [thì] đóng vai trò trung giới giữa hai thế giới này, chính vì sự nối tiếp nguyên thủy của chúng lúc này tỏ ra đã bị đứt gãy. Với bước chuyển từ thần thoại sang thần học, đời sống thường nhật dường như bị thâm nhập bởi những lực lượng thần thánh ít thường xuyên hơn. Hệ quả là khối kiến thức thần học tách ra xa khỏi kho kiến thức chung của xã hội, và do vậy tự nội tại nó trở nên khó thủ đắc hơn. Ngay cả khi nó không bị cố tình định chế hóa theo dạng bí truyền, thì nó vẫn mang tính chất “bí mật” bởi đặc tính khó hiểu của nó đối với quảng đại dân chúng. Điều này còn dẫn đến một hệ quả nữa là dân chúng có thể tiếp tục không bị tác động một cách tương đối bỏi những lý thuyết bảo-tồn-vũ-trụ phức tạp mà các chuyên viên thần học đã chế tạo ra. Tình trạng cùng tồn tại của kho thần thoại hồn nhiên nơi đại chúng và một nền thần học phức tạp nơi một giới tinh hoa lý thuyết gia, trong khi cả hai đều nhằm bảo tồn cùng một vũ trụ biểu tượng – đây là một hiện tượng thường gặp trong lịch sử. Chỉ khi nào lưu ý về hiện tượng này thì chúng ta mới có thể, chẳng hạn, gọi những xã hội cổ truyền ở vùng Viễn Đông là “Phật giáo”, hay gọi xã hội [Tây Âu] thời trung cổ là “Ki-tô giáo”.

Thần học [là một dạng] có tính hệ hình đối với những quá trình xây dựng quan niệm triết học và khoa học về thế giới hoàn vũ sẽ xuất hiện sau này. Trong khi thần học có thể gần gũi hơn với thần thoại trong những nội dung tôn giáo của các định nghĩa của nó về thực tại, thì nó lại gần gũi hơn với những quá trình hình thành nhữung ý tưởng đã-được-thế-tục-hóa nói trên trong địa điểm xã hội của nó. Không giống như thần thoại, cả ba dạng bộ máy tư tưởng thống soái còn lại trong lịch sử [tức thần học, triết học và khoa học – ND] đều đã trở thành tài sản của những nhóm chuyên viên ưu tú – các khối kiến thức của những nhóm này ngày càng tách rời khỏi kiến thức thông thường của xã hội nói chung. Khoa học hiện đại chính là một bước tột cùng trong quá trình phát triển này, cũng như trong quá trình thế tục hóa và quá trình tinh tế hóa việc bảo tồn vũ trụ [biểu tượng]. Khoa học không chỉ hoàn tất việc tách rời cái thiêng liêng ra khỏi thế giới đời sống thường nhật, mà còn tách rời ngay cả kiến thức bảo-tồn-vũ-trụ ra khỏi thế giới ấy. Đời sống thường nhật đâm ra mất đi cả sự chính đáng hóa thiêng liêng lẫn tính khả niệm lý thuyết vốn có thể kết nối nó [tức đời sống thường nhật – ND] với vũ trụ biểu tượng trong tổng thể mà nó nhắm đến. Nói một cách đơn giản hơn, thành viên “phàm tục” của xã hội sẽ không còn biết được làm thế nào mà vũ trụ của mình được bảo tồn về mặt tư tưởng, mặc dù, dĩ nhiên, anh ta vẫn biết những ai được coi là chuyên viên bảo-tồn-vũ-trụ. Những vấn đề lý thú do tình huống này đặt ra thuộc về một bộ môn xã hội học nhận thức thực nghiệm về xã hội đương đại và không thể được bàn luận sâu hơn trong bối cảnh ở đây.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Xã hội xét như là thực tại khách quan – Phần XIX


Cũng giống như trường hợp các định chế, câu hỏi nảy sinh ở đây là trong những hoàn cảnh nào thì cần phải chính đáng hóa các vũ trụ biểu tượng bằng những bộ máy tư tưởng đặc thù [có chức năng] bảo tồn vũ trụ [biểu tượng]. Và một lần nữa, câu trả lời cũng tương tự như câu trả lời đã có trong trường hợp các định chế. Những phương sách đặc thù nhằm bảo tồn vũ trụ trở nên cần thiết khi vũ trụ biểu tượng trở thành một vấn đề. Bao lâu mà không rơi vào trường hợp ấy [thì] vũ trụ biểu tượng sẽ tự nó bảo tồn chính mình, nghĩa là, tự chính đáng hóa chính mình bằng chính kiện tính của sự tồn tại khách quan của nó trong xã hội đang được đề cập. Người ta có thể hình dung về một xã hội trong đó điều này có thể xảy ra. Xã hội này sẽ là một “hệ thống” hài hòa, tự khép kín, vận hành một cách hoàn hảo. Thực ra, không có xã hội nào như vậy. Do những sự căng thẳng không thể tránh khỏi của những quá trình định chế hóa, và do chính sự kiện là toàn bộ các hiện tượng xã hội đều là những công trình kiến tạo được sản sinh trong lịch sử thông qua hoạt động của con người, nên không có xã hội nào được coi như hoàn toàn đươnng nhiên, và vì thế a fortiori [lại càng] không có xã hội nào không có vũ trụ biểu tượng. Bất cứ vũ trụ biểu tượng nào cũng đều gặp vấn đề rắc rối vào lúc ban đầu. Như vậy, câu hỏi đặt ra là nó gặp vấn đề rắc rối đến mức độ nào.

Một vấn đề nội tại, tương tự như vấn đề mà chúng ta đã bàn liên quan đến truyền thống nói chung, sẽ xuất hiện trong quá trình lưu truyền vũ trụ biểu tượng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sự xã hội hóa không bao giờ thành công trọn vẹn. Một số cá nhân “cư ngụ” [inhabit] trong vũ trụ được truyền lại một cách vững chắc hơn so với những người khác. Ngay cả nơi những, “cư dân” [inhabitants] ít nhiều đã được chứng thực, vẫn luôn luôn có những sự biến thể về mặt phong cách trong cách thức mà họ quan niệm về vũ trụ. Chính vì vũ trụ biểu tượng không thể được trải nghiệm như là chính nó trong đời sống thường nhật, mà luôn siêu vượt lên trên đời sống thường nhật do chính bản chất của nó, nên người ta không thể “giảng dạy” ý nghĩa của nó theo cách thức trực tiếp giống như khi người ta giảng dạy các ý nghĩa của đời sống thường nhật. Những câu hỏi của trẻ con về vũ trụ biểu tượng phải được trả lời bằng một cách thức phức tạp hơn so với những câu hỏi của chúng về những thực tại định chế của đời sống thường nhật. Còn những câu hỏi của những người lớn có tư chất thì đòi hỏi phải khai triển kỹ lượng hơn về mặt ý tưởng. Trong thí dụ trước, ý nghĩa của tình anh em họ luôn luôn được thể hiện qua những người anh em họ cùng máu mủ vốn đóng vai anh em họ trong những nề nếp sinh hoạt trải nghiệm qua đời sống thường nhật. Những người anh em họ luôn luôn có mặt trong thực tế. Nhưng đáng tiếc là anh em họ thiêng liêng [divine cousins] thì lại không như vậy. Điều này đặt ra một vấn đề nội tại đối với những nhà mô phạm về tình anh em họ thiêng liêng. Mutatis mutandis [với một vài thay đổi thích hợp về chi tiết – ND], điều này cũng đúng đối với việc lưu truyền các vũ trụ biểu tượng khác.

Vấn đề nội tại này trở nên trầm trọng nếu xảy ra tình trạng là có một số nhóm “cư dân” lại tin theo những phiên bản đi trật đường [deviant] về vũ trụ biểu tượng. Trong trường hợp ấy, vì những lý do hiển nhiên nằm trong bản chất của sự khách thể hóa, phiên bản trật đường sẽ tự nó kết tụ vào trong một thực tại, và vì thực tại này tồn tại trong lòng xã hội, nên nó sẽ thách thức vị thế thực tại của vũ trụ biểu tượng hình thành từ khởi thủy. Nhóm [cư dân] nào đã khách thể hóa cái thực tại trật đường này sẽ trở thành “người chuyên chở” [carrier] một định nghĩa thay thế khác về thực tại. Có lẽ không cần nhấn mạnh rằng những nhóm lạc giáo này [heretical] sẽ không chỉ trở thành một mối đe dọa về mặt lý thuyết đối với vũ trụ biểu tượng, mà còn là một mối đe dọa về mặt thực tiễn đối với trật tự định chế vốn đã được chính đáng hóa bởi vũ trụ biểu tượng hữu quan. Lúc này, chúng ta chưa cần quan tâm tới những phương sách trấn áp mà những người canh giữ các định nghĩa “chính thức” về thực tại thường sử dụng để chống lại những nhóm ấy. Điều quan trọng mà chúng ta quan tâm ở đây chính là nhu cầu cần phải chính đáng hóa sự trấn áp này – lẽ dĩ nhiên, sự trấn áp này bao hàm việc huy động những bộ máy tư tưởng khác nhau mà người ta đã thiết kế để bảo tồn vũ trụ “chính thức” nhằm chống lại sự thách thức của những kẻ lạc giáo.

Xét về mặt lịch sử, vấn đề lạc giáo thường là động lực đầu tiên thúc đẩy việc hình thành một cách có hệ thống các quan niệm lý thuyết của các vũ trụ biểu tượng. Sự phát triển của tư tưởng thần học Ki-tô giáo xét như là kết quả của một loạt những mối thách thức lạc giáo đối với truyền thống “chíh thức” có thể cho ta thấy những thí dụ minh họa lịch sử tuyệt diệu cho quá trình này. Cũng tựa như mọi quá trình tạo lập lý thuyết, những ý tưởng lý thuyết mới nằm bên trong bản thân truyền thống sẽ xuất hiện trong suốt quá trình này, và bản thân truyền thống này sẽ bị đẩy vượt ra khỏi hình thức nguyên thủy của nó để đi đến chỗ hình thành những quan niệm mới. Chẳng hạn, những nội dung trình bày tỉ mỉ về Ki-tô học của những hội nghị đầu tiên trong giáo hội Ki-tô giáo đã buộc phải ra đời không phải bởi bản thân truyền thống, mà bởi những mối thách thức của những kẻ lạc giáo đối với truyền thống. Một khi những nội dung ấy đã được soạn thảo ra, thì truyền thống sẽ được duy trì và đồng thời được khuếch trương. Chính do vậy đã xuất hiện, bên cạnh những điểm cách tân khác, một quan niệm lý thuyết về Thiên Chúa ba ngôi mà trong cộng đồng Ki-tô giáo tiên khởi không những không cần thiết mà thực ra còn chưa có. Nói cách khác, vũ trụ biểu tượng không chỉ được chính đáng hóa mà còn được cải biến bởi những bộ máy tư tưởng mà người ta kiến tạo nhằm phòng ngừa sự thách thức của những nhóm lạc giáo trong lòng xã hội.

Một cơ hội quan trọng khiến dễ xảy ra quá trình xây dựng quan niệm nhằm-bảo-tồn-vũ-trụ [biểu tượng], đó là khi một xã hội phải đương đầu với một xã hội khác vốn có một lịch sử hết sức khác biệt. Vấn đề đặt ra do sự đương đầu này thường gai góc hơn so với vấn đề đặt ra do những xu hướng lạc giáo trong nội bộ xã hội, bởi vì ở đây có một vũ trụ biểu tượng thay thế khác, vốn cũng có một truyền thống “chính thức” mà tính khách quan được-coi-la-đương-nhiên của nó cũng ngang hàng với cái [khách quan được-coi-là-đương-nhiên] của chính cá nhân. Vị thế thực tại của vũ trụ [biểu tượng] của xã hội của cá nhân sẽ ít gặp sốc hơn nhiều khi phải đối phó với những nhóm người thiểu số đi trật đường – sự đối nghịch của những nhóm người này ipso facto [tự bản thân nó] bị coi là dại dột hoặc độc hại -, so với khi phải đương đầu với một xã hội khác vốn coi những định nghĩa của cá nhân mình về thực tại như những thứ ngu dốt, điên khùng hay hoàn toàn xấu xa. Có một vài cá nhân ở xung quanh là một chuyện, cho dù những người này kết thành một nhóm thiểu số không thể hoặc sẽ không tuân theo những quy tắc định chế của tình anh em họ. [Nhưng] sẽ làm một chuyện hoàn toàn khác nếu người ta bắt gặp cả một xã hội chưa bao giờ nghe biết về những quy tắc này, thậm chí cũng có thể không có một từ nào để chỉ “anh em họ”, ấy thế mà xã hội này có vẻ như vẫn đang vận hành rất tốt đẹp. Người ta phải đương đầu với vũ trụ [biểu tượng] thay thế khác của xã hội kia bằng những lý lẽ tốt nhất có thể có nhằm chứng tỏ tính ưu việt của vũ trụ [biểu tượng] của mình. Điều cần kíp này đòi hỏi phải có một bộ máy tư tưởng hết sức tinh tế.

Sự xuất hiện của một vũ trụ biểu tượng thay thế khác đặt ra một mối đe dọa bởi vì chính sự hiện diện của nó chứng tỏ về mặt thức tế rằng vũ trụ [biểu tượng] của cá nhân không phải là điều tất yếu phải như vậy. Như bây giờ ai cũng biết, xét cho cùng thì người ta vẫn có thể sống trong thế giới này mà không cần có định chế tình anh em họ. Và người ta có thể phủ nhận hay thậm chí chế nhạo các vị thần linh của tình anh em họ mà chẳng hề khiến cho trời sập. Sự kiện đáng kinh ngạc này phải được tính đến, ít ra về mặt lý thuyết. Dĩ nhiên, cũng có thể xảy ra [trường hợp là] vũ trụ thay thế có một sức hút truyền giáo. Những cá nhân hay những nhóm người trong xã hội của cá nhân có thể bị dụ dỗ “di cư” [emignate] ra khỏi vũ trụ truyền thống, hay thậm chí nguy cơ nghiêm trọng hơn, thay đổi trật tự cũ theo hình ảnh của trật tự mới. Chẳng hạn, chúng ta dễ dàng hình dung rằng sự xuất hiện của những người Hy Lạp gia trưởng chắc hẳn đã gây phiền hà như thế nào đối với vũ trụ [biểu tượng] của những xã hội mẫu quyền lúc ấy còn tồn tại dọc phía đông bờ Địa Trung Hải. Vũ trụ [biểu tượng] Hy Lạp chắc hẳn đã có sức hấp dẫn lớn lao đối với những người đàn ông luôn bị vợ xỏ mũi trong những xã hội này, và chúng ta biết rằng [hình ảnh] Đại mẫu đã gây ấn tượng rất mạnh nơi chính người Hy Lạp. [Chính vì thế] huyền thoại Hy Lạp chứa đầy những ý tưởng chi tiết chứng minh rằng cần phải cẩn thận với vấn đề này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.