Vấn đề của môn xã hội học nhận thức – Phần III


Mối quan tâm của Scheler đến môn xã hội học nhận thức nói riêng và các vấn đề xã hội học nói chung, về căn bản chỉ là một giai đoạn ngắn ngủi trong sự nghiệp triết học của ông. Mục tiêu cuối cùng của ông là thiết lập một môn nhân học triết học có khả năng vượt qua tính tương đối của những quan điểm vốn nằm trong những bối cảnh lịch sử và xã hội đặc thù. [Đối với ông] môn xã hội học nhận thức là một công cụ phục vụ cho mục tiêu ấy, với chủ đích chính là gạt bỏ những khó khăn do xu hướng tương đối luận [relativism] gây ra để có thể tiến hành công việc triết học thực thụ. Xã hội học nhận thức của Scheler, theo đúng nghĩa của nó, là ancilla philosophie [nàng hầu của triết học], và hơn nữa [là nàng hầu] của một ngành triết học rất chuyên biệt.

Theo chiều hướng này, xã hội học nhận thức của Scheler về căn bản là một phương pháp âm bản. Scheler lập luận rằng mối liên hệ giữa “các nhân tố ý thể” (Idealfaktoren) và “các nhân tố hiện thực” (Realfaktoren) – các thuật ngữ này rõ ràng gợi lại sơ đồ “cơ sở hạ tầng/kiến trúc thượng tầng” của Marx – chỉ là một mối liên hệ điều tiết [regulative]. Nghĩa là, “các nhân tố hiện thực” điều tiết các điều kiện mà theo đó những “nhân tố ý thể” nhất định có thể xuất hiện trong lịch sử, nhưng lại không thể tác động đến nội dung của “các nhân tố ý thể” này. Nói cách khác, xã hội định đoạt sự tồn tại hiện có (Dasein) chứ không định đoạn bản tính (Sosein) của các ý tưởng. Như vậy, môn xã hội học nhận thức là phương sách được dùng để khảo sát cách thức chọn lọc các nội dung ý thể [ideational contents] trong lịch sử xã hội – hiểu theo nghĩa là bản thân các nội dung này độc lập với sự quy định nhân quả của lịch sử xã hội, và do đó chúng nằm ngoài tầm với của sự phân tích xã hội học. Nếu muốn mô tả phương pháp của Scheler một cách hình tượng, thì [chúng ta có thể nói rằng] đây là việc ném một mẩu bánh đỗ dành cho “bà chằng” của tính tương đối, nhưng làm như vậy thì chỉ càng dấn sâu vào phái đài của các kiểu xác tín bản thể luận.

Trong khuôn khổ khiêm tốn một cách chủ ý (và không tránh được) này, Scheler đã phân tích rất chi tiết cách thức mà theo đó kiến thức của con người được xã hội sắp xếp vào trật tự. Ông nhấn mạnh rằng kiến thức mà con người có được trong xã hội là một a priori [tiên thiên] đối với kinh nghiệm cá nhân, cung cấp cho kinh nghiệm cá nhân cái trật tự ý nghĩa của nó. Trật tự này, mặc dù có liên quan tới một hoàn cảnh lịch sử – xã hội đặc thù nào đó, xuất hiện ra trước cá nhân như một lối nhìn tự nhiên về thế giới. Scheler gọi đây là “thế giới quan tự nhiên – tương đối” (relativnatűrliche Weltanschauung) của một xã hội – đây là một khái niệm mà cho đến nay vẫn còn có thể được coi là khái niệm trung tâm của môn xã hội học nhận thức.

Sau khi Scheler “phát minh” ra môn xã hội học nhận thức, ở Đức đã diễn ra một cuộc tranh luận rộng rãi bàn về hiệu lực, phạm vi và khả năng áp dụng bộ môn mới mẻ này. Từ cuộc tranh luận này, đã nảy sinh một công thức diễn đạt mới đánh dấu bước chuyển tiếp của môn xã hội học nhận thức sang một bối cảnh xã hội học hạn hẹp hơn. Chính là với công thức diễn đạt này mà môn xã hội học nhận thức xuất hiện trong thế giới nói tiếng Anh. Đó là công thức diễn đạt của Karl Mannheim. Chúng ta có thể nói một cách chắc chắn rằng khi các nhà xã hội học ngày nay nghĩ về môn xã hội học nhận thức, dù là theo hoặc chống, họ đều thường sử dụng cách diễn đạt của Mannheim về bộ môn này. Trong nền xã hội học Mỹ, đây là điều dễ hiểu vì người ta dễ dàng tiếp cận được hầu hết các công trình của Mannheim bằng tiếng Anh (thực vậy, một số công trình của Mannheim được viết bằng tiếng Anh trong thời kỳ ông giảng dạy ở Anh sau khi xuất hiện chế độ Quốc xã ở Đức, hoặc được xuất bản bằng các phiên bản Anh ngữ đã được ông duyệt lại), trong khi đó, các công trình của Scheler về xã hội học nhận thức đến bây giờ vẫn chưa được dịch [sang tiếng Anh]. Ngoài nhân tố “truyền bá” này, các công trình của Mannheim ít “nặng gánh” triết học hơn so với các công trình của Scheler. Điều này đặc biệt đúng với các công trình thời kỳ sau của Mannheim, và chúng ta cũng có thể thấy rõ điều này nếu so sánh phiên bản Anh ngữ của công trình chính yếu của ông, Ideology and Utopia [Ý thức hệ và sự không tưởng] với nguyên bản bằng tiếng Đức. do vậy, Mannheim đã trở thành một gương mặt “gần gũi” hơn với các nhà xã hội học, kể cả những người phê phán lẫn những người không quan tâm lắm tới lối tiếp cận của ông.

Quan niệm của Mannheim về môn xã hội học nhận thức đã có ảnh hưởng sâu rộng hơn nhiều so với quan điểm của Scheler, có lẽ vì việc đối chất với lý thuyết marxist tỏ ra đậm nét hơn trong công trình của ông. Ở đây, xã hội được coi là định đoạt không chỉ sự xuất hiện, mà định đoạt cả nội dung của sự hình thành ý tưởng [ideation] nơi con người, ngoại trừ ngành toán học và ít ra một vài ngành khoa học tự nhiên. Do vậy, [kể từ Mannheim] môn xã hội học nah65n thức đã trở thành một phương pháp thực chứng nhằm nghiên cứu hầu như mọi góc cạnh của tư duy con người.

Điều đáng nói là mối bận tâm chủ yếu của Mannheim chính là hiện tượng ý thức hệ. Ông phân biệt giữa khía cạnh cá biệt, khía cạnh toàn diện và khía cạnh tổng quát của khái niệm ý thức hệ – [khía cạnh cá biệt]: ý thức hệ xét như là một bộ phận của tư tưởng của một bên đối kháng; [khía cạnh toàn diện]: ý thức hệ xét như là toàn bộ tư tưởng của một bên đối kháng (tương tự như “ý thức lầm lạc” của Marx); và [khía cạnh tổng quát]: (đến đây thì, như Mannheim từng nghĩ, ông đi xa hơn ý tưởng của Marx) ý thức hệ không chỉ là tư tưởng của một bên đối kháng, mà cả của chính cá nhân. Với khái niệm ý thức hệ hiểu theo nghĩa tổng quát này, chúng ta đã đạt tới cấp độ xã hội học nhận thức – đó là quan niệm cho rằng không một tư tưởng nào của con người (chỉ trừ những ngoại lệ đã nêu trên) có thể miễn nhiễm trước những ảnh hưởng ý thức hệ hóa [ideologizing influences] của bối cảnh xã hội của nó. Qua việc mở rộng lý thuyết về ý thức hệ, Mannheim đã tìm cách trừu xuất hóa vấn đề trung tâm của lý thuyết này ra khỏi bối cảnh sử dụng [thuật ngữ ý thức hệ] trong lĩnh vực chính trị, và luận giải như đây là một vấn đề tổng quát của môn nhận thức luận [epistemology] và môn xã hội học lịch sử [historical sociology].

Tuy Mannheim không đồng ý với những tham vọng bản thể luận của Scheler, nhưng ông vẫn cảm thấy không yên tâm trước xu hướng cái gì cũng quy vào ý thức hệ [pan-ideologism] mà lối tư duy của ông có vẻ như đưa đẩy ông tới. [Vì thế] ông đã tạo ra thuật ngữ “tương quan luận” [relationism] (khác với “tương đối luận” [relativism]) để mô tả nhãn quan nhận thức luận của môn xã hội học nhận thức của ông – đây không phải là một sự đầu hàng của tư duy trước các tính tương đối lịch sử – xã hội, mà là một sự thừa nhận điềm tĩnh rằng kiến thức luôn luôn phải là kiến thức xuất phát từ một lập trường nào đó. Về điểm này, có lẽ ảnh hưởng của Dilthey đóng vai trò rất quan trọng trong tư tưởng của Mannheim – vấn đề của lý thuyết marxist được giải quyết nhờ những công cụ của tư tưởng duy sử luận. Dù vậy, Mannheim tin rằng những ảnh hưởng ý thức hệ hóa, tuy không thể loại trừ chúng hoàn toàn, vẫn có thể được giảm nhẹ nhờ sự phân tích có hệ thống về những lập trường khác nhau trong xã hội càng nhiều càng tốt. Nói cách khác, đối tượng của tư duy dần dần trở nên sáng tỏ hơn nhờ quá trình tích lũy các nhãn quan khác nhau về nó. Đây phải là nhiệm vụ của môn xã hội học nhận thức, và nhờ vậy môn này sẽ phải trở thành một trợ thủ quan trọng trong công cuộc truy tầm bất cứ sự hiểu biết đúng đắn nào về các biến cố của con người.

Mannheim cho rằng các nhóm xã hội thường khác biệt nhau lớn lao về khả năng vượt ra khỏi lập trường hạn hẹp của mình. Ông đặt niềm hy vọng chủ yếu của mình vào “giới trí thức không bị ràng buộc về mặt xã hội” (freischewebende Intelligenz, một thuật ngữ bắt nguồn từ Alfred Weber), một loại tầng lớp nằm xen kẽ [giữa các tầng lớp khác] mà ông cho là tương đối độc lập với các lợi ích giai cấp. Mannheim cũng nhấn mạnh đến sức mạnh của tư duy “không tưởng” [utopian] – đây là thứ tư duy (giống như ý thức hệ) sản xuất ra một hình ảnh thiên lệch về thực tại xã hội, nhưng (khác với ý thức hệ) nó có năng lực chuyển hóa thực tại ấy theo hình ảnh của nó.

Khỏi cần phải nói, những nhận xét trên đây không thể trình bày đầy đủ và đúng đắn cả quan niệm của Scheler lẫn quna niệm của Mannheim về bộ môn xã hội học nhận thức. Đây không phải là chủ đích của chúng tôi ở đây. Chúng tôi đã chỉ nêu ra một số đặc điểm then chốt của hai quan niệm này, vốn từng được gọi một cách đúng đắn là một quan niệm “quân bình” và một quan niệm “triệt để” về xã hội học nhận thức. Điều đáng lưu ý là sự phát triển sau đó của môn xã hội học nhận thức, trong phần lớn các trườn ghợp, là những sự phê phán và những sự cải biến đổi với hai quan niệm này. Như chúng tôi đã nói, công thức diễn đạt của Mannheim về xã hội học nhận thức đã đặt ra khuôn khổ quy chiếu cho bộ môn này kể từ đó trở đi, đặc biệt là trong giới xã hội học khối Anh ngữ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger, Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Vấn đề của môn xã hội học nhận thức – Phần II


Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về tính chất và phạm vi của môn xã hội học nhận thức. Quả thực, người ta gần như có thể nói rằng lịch sử của môn này cho đến nay chính là lịch sử của các định nghĩa khác nhau về nó. Tuy vậy, người ta thường đồng ý với nhau rằng xã hội học nhận thức là bộ môn bàn về mối liện giữa tư tưởng của con người với bối cảnh xã hội trong đó nó nảy sinh. Như vậy, người ta có thể nói môn xã hội học nhận thức chính là tiêu điểm xã hội học của một vấn đề tổng quát hơn rất nhiều, đó là tính định đoạt hiện sinh [existential determination] (Seinsgebundenheit) đối với tư tưởng xét với tư cách là tư tưởng. Mặc dù ở đây nhân tố xã hội được tập trung chú trọng, nhưng vẫn có những khó khăn về lý thuyết tương tự như những khó khăn nảy sinh khi người ta đề nghị coi những nhân tố khác (như nhân tố lịch sử, nhân tố tâm lý hay nhân tố sinh học) như những nhân tố mang tính chất định đoạt đối với tư tưởng con người. Trong tất cả các trường hợp này, vấn đề tổng quát chính là [xác định] mức độ phản ánh hoặc mức độ độc lập của tư tưởng đối với những nhân tố được đề xướng là mang tính chất định đoạt ấy.

Có lẽ sự nổi trội của vấn đề tổng quát trong nền triết học Đức gần đây có gốc rễ từ sự tích lũy to lớn của giới nghiên cứu lịch sử vốn là một trong những thành quả tư tưởng lớn lao nhất của thế kỷ 19 ở Đức. Với một cách thức mà không một thời đại lịch sử tư tưởng nào khác có thể sánh kịp, quá khứ, với tất cả sự đa dạng đáng kinh ngạc của các hình thái tư tưởng của nó, đã được “trình diện” ra trước trí tuệ đương đại thông qua những nỗ lực của giới nghiên cứu khoa học lịch sử. Khó mà tranh cãi với lời khẳng định của giới học giả Đức cho rằng họ giữ vị trí tiên phong trong sự nghiệp này. Vì thế, chúng ta không nên ngạc nhiên khi thấy vấn đề lý thuyết do giới học giả Đức tung ra chính là vấn đề được cảm nhận mạnh mẽ nhất ở Đức. Vấn đề này có thể được coi là một sự chóng mặt [hay sự choáng váng – ND] khi đứng trước tính tương đối. Hiển nhiên là vấn đề này có chiều kích nhận thức luận. Trên bình diện thực nghiệm, nó dẫn đến mối quan tâm phải khảo sát càng cẩn thận càng tốt cá mối liên hệ cụ thể giữa tư tưởng và các hoàn cảnh lịch sử của nó. Nếu cách lý giải này là đúng, thì môn xã hội học nhận thức quả là đã tiếp nhận một vấn đề lúc đầu từng được giới nghiên cứu sử học đặt ra – dĩ nhiên với một chủ điểm hẹp hơn, nhưng về cơ bản là quan tâm đến cùng những câu hỏi như nhau.

Cả vấn đề tổng quát lẫn chủ điểm hẹp hơn của nó đều không phải là điều mới mẻ. Vào thời cổ đại, người ta đã thấy xuất hiện mối lưu tâm đến các nền tảng xã hội của các giá trị và các thế giới quan. Ít nhất là từ thời Khai sáng, sự lưu tâm này đã được kết tinh lại trong một chủ đề lớn của tư tưởng phương Tây hiện đại. Như vậy, người ta hoàn toàn có thể lập được những “phả hệ” khác nhau cho vấn đề trung tâm của bộ môn xã hội học nhận thức. Người ta cũng có thể nói rằng vấn đề đã nằm in nuce [dưới dạng sơ khai] trong lời nhận định lừng danh của Pascal rằng chân lý ở bên này dãy Pyrénées là điều sai lầm ở phía bên kia dãy núi ấy. Tuy nhiên, những tiền đề tư tưởng trực tiếp của môn xã hội học nhận thức chính là ba bước tiến triển sau đây trong tư tưởng Đức vào thế kỷ 19: đó là tư tưởng của Marx, tư tưởng của Nietzsche và tư tưởng duy sử luận [historicism].

Chính là nhờ Marx mà môn xã hội học nhận thức đã rút ra được mềnh đề nền tảng của mình, đó là: ý thức của con người được định đoạt bởi sự tồn tại xã hội của mình. Dĩ nhiên, người ta đã tranh luận nhiều riêng chỉ về việc là Marx đã nghĩ đến kiểu định đoạt nào. Chúng ta có thể nói một cách chắc chắn rằng phần lớn cuộc “đấu tranh với Marx”, vốn không chỉ là đặc trưng của thời kỳ ban đầu của môn xã hội học nhận thức ma kể cả của “thời đại cổ điển” của ngành xã hội học nói chung (đặc biệt thể hiện qua các công trình của Weber, Durkheim và Pareto), thực ra là một cuộc đấu tranh với một lối lý giải sai lầm về tư tưởng của Marx bởi những nhà Marxist về sau. Nhận định này trở nên khả tín nếu chúng ta thấy rằng chỉ đến năm 1932, công trình rất ít quan trọng là Bản thảo kinh tế và triết học năm 1844 [của Marx] mới được tìm thấy, và chỉ sau cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai thì toàn bộ các nổi dung có được nhờ sự tái phát hiện này mới có thể được triển khai trong việc nghiên cứu về Marx. Cho dù thế nào đi chăng nữa thì môn xã hội học nhận thức cũng đã thừa hưởng từ Marx không chỉ công thức sắc sảo nhất về vấn đề trung tâm của nó, mà còn thừa hưởng cả một số khái niệm then chốt, trong đó người ta phải đặc biệt kể đến khái niệm “ý thức hệ” (các ý tưởng xét như vũ khí phục vụ cho các lợi ích xã hội) và khái niệm “ý thức lầm lạc” [false consciousness] (thứ tư duy bị tha hóa khỏi sự tồn tại xã hội hiện thực của người tư duy).

Môn xã hội học nhận thức đã bị thu hút một cách đặc biệt bởi cặp khái niệm “cơ sở hạ tầng/kiến trúc thượng tầng” (Unterbau/Űberdau) của Marx. Đặc biệt ở điểm này đã diễn ra cuộc tranh cãi kích liệt về lối lý giải đúng đắn về chính tư tưởng của Marx. Lý thuyết Marxist sau này có xu hướng đồng nhất “cơ sở hạ tầng” với cơ cấu kinh tế tout court [một cách gọn lỏn], còn “kiến trúc thượng tầng” thì được coi là một sự “phản ánh” trực tiếp về nó (chẳng hạn như Lenin). Giờ đây ai cũng thấy rõ là điều này đã diễn đạt sai tư tưởng của Marx, vì thứ quyết định luận kinh tế chủ yếu mang tính chất máy móc chứ không mang tính chất biện chứng đã buộc người ta phải hoài nghi. Điều làm cho Marx bận tâm, đó là sự kiện tư tưởng của con người được hình thành trên cơ sở hoạt động của con người (“lao động” hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này) và các mối quan hệ xã hội do hoạt động này mang lại. “Cơ sở hạ tầng” và “kiến trúc thượng tầng” sẽ được hiểu một cách đúng đắn nhất nếu chúng ta coi chúng, một cách tương ứng, là hoạt động của con người và thế giới được tạo ra bởi hoạt động ấy. Bất luận thế nào thì sơ đồ nền tảng “cơ sở hạ tầng/kiến trúc thượng tầng” đã được môn xã hội học nhận thức tiếp quản dưới nhiều hình thức khác nhau, bắt đầu từ Scheler, luôn luôn với một quan niệm rằng có một kiểu liên hệ nào đó giữa tư duy và một thực tại “nằm bên dưới” vốn không phải là tư duy. Sức quyến rũ của sơ đồ này đã thắng thế, mặc dù trong thực tế phần lớn môn xã hội học nhận thức thường được trình bày một cách minh nhiên là đối lập với lý thuyết marxist, và mặc dù vẫn có những lập trường khác nhau trong nội bộ môn xã hội học nhận thức về bản tính của mối liên hệ giữa hai thành tố của sơ đồ này.

Các ý tưởng của Nietzsche đã không tiếp tục dòng suy nghĩ xã hội học nhận thức một cách rõ ràng, nhưng chúng vẫn chủ yếu nằm trong bối cảnh tư tưởng chung của dòng suy nghĩ này và vào “tâm trạng” mà trong đó nó nảy sinh. Xu hướng chống duy tâm của Nietzsche – mặc dù có những khác biệt về nội dung, nhưng không phải là không giống với Marx về hình thức – đã đưa thêm những nhãn quan mới về tư duy của con người xét như một công cụ trong cuộc đấu tranh để sinh tồn và giành quyền lực. Nietzschee đã phát triển lý thuyết riêng của ông về “ý thức lầm lạc” khi ông phân tích về ý nghĩa xã hội của sự huyền hoặc và sự tự huyền hoặc, và về sự ảo tưởng xét như một thân phận tất yếu của cuộc đời. Khái niệm “phẫn uất” của Nietzsche xét như một nhân tố tạo sinh cho một số loại hình tư duy nào đó của con người đã được Scheler tiếp quản trực tiếp. Tuy nhiên, một cách tổng quát nhất, chúng ta có thể nói rằng môn xã hội học nhận thức chính là một cách ứng dụng cụ thể điều mà Nietzsche đã gọi một cách xác đáng là “nghệ thuật hoài nghi”.

Tư tưởng duy sử luận [historicism], nhất là qua các công trình của Wilhelm Dilthey, đã xuất hiện ngay trước khi ra đời môn xã hội học nhận thức. Tư tưởng chủ đạo ở đây là một ý thức nổi trội về tính tương đối của mọi nhãn quan về các biến cố của con người, tức là, ý thức về sử tính [historicity] không thể tránh khỏi của tư duy con người. Các nhà duy sử luận nhấn mạnh rằng không thể hiểu được bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào nếu không xét đến chính hoàn cảnh lịch sử ấy – ý tưởng này có lẽ sẽ dễ dàng chuyển thành lập trường nhấn mạnh đến hoàn cảnh xã hội của tư duy. Một số khái niệm duy sử luận như “tính định đoạt của hoàn cảnh” (Standortsgebundenheit) và “chỗ ngồi trong cuộc đời” (Sitz im Leben) có thể trực tiếp chuyển thành “địa điểm xã hội” [social location] của tư duy. Nhìn tổng quát hơn, di sản duy sử luận mà môn xã hội học nhận thức kế thừa đã khiến cho môn này quan tâm mạnh mẽ đến lịch sử và sử dụng một phương pháp chủ yếu mang tính lịch sử – đây cũng là một sự kiện vô tình khiến môn này bị gạt ra ngoài lề nơi giới xã hội học Mỹ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger, Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Vấn đề của môn xã hội học nhận thức – Phần I


Các luận điểm căn bản của luận đề của tập sách này nằm hàm ẩn ngay trong cái tựa chính và tựa phụ của cuốn sách, đó là: thực tại được kiến tạo về mặt xã hội, và môn xã hội học nhận thức cần phân tích tiến trình diễn ra điều này. Những thuật ngữ then chốt trong các luận điểm này là “thực tại” [reality] và “nhận thức/kiến thức” [knowledge]. Các thuật ngữ này không chỉ là những từ thông dụng trong ngôn ngữ đời thường, mà còn mang sau lưng chúng cả một lịch sử khảo cứu triết học lâu dài. Ở đây, chúng tôi không cần phải đi vào bàn luận về sự phức tạp về mặt ngữ nghĩa của cả lối sử dụng đời thường lẫn lối sử dụng triết học đối với các thuật ngữ này. Xét trong khuôn khổ mục tiêu của cuốn sách này, chúng tôi chỉ cần định nghĩa “thực tại” là một tính chất thuộc về những hiện tượng mà chúng ta thừa nhận là có một sự tồn tại độc lập với ý muốn của chúng ta (chúng ta không thể “rũ bỏ chúng đi” được), và định nghĩa “kiến thức” là sự biết chắc rằng các hiện tượng là có thực [real] và chúng có những đặc trưng đặc thù. Chính là theo nghĩa này (quả là quá giản lược) mà cả hai thuật ngữ ấy đều có liên quan tới cả người bình thường lẫn nhà triết học. Người bình thường cư ngụ [inhabit] trong một thế giới “có thực” [real] đối với anh ta, cho dù ở những mức độ khác nhau, và anh ta “biết” [knows], với những mức độ tin tưởng khác nhau, rằng thế giới này có những đặc trưng nào đó. Nhà triết học lẽ tất nhiên sẽ nêu ra những câu hỏi về vị thế tối hậu của cả cái “thực tại” lẫn cái “kiến thức” này. Đâu là cái có thực? Làm sao ta biết được? Đây chỉ là một vài trong số những câu hỏi xa xưa nhất không chỉ của riêng lĩnh vực khảo cứu triết học, mà còn của bản thân tư duy con người. Chính vì lý do này mà sự đột nhập của nhà xã hội học vào lãnh địa tư tưởng vốn được kính trọng từ lâu đời này có thể làm cho người bình thường trố mắt ngạc nhiên và thậm chí còn có thể khiến cho nhà triết học nổi cáu. Do đó, điều quan trọng là chúng tôi cần làm rõ ngay từ đầu ý nghĩa mà theo đó chúng tôi sử dụng những thuật ngữ này trong ngữ cảnh xã hội học, và cần nói rõ rằng chúng tôi bác bỏ ngay từ đầu bất cứ ý định nào cho rằng xã hội học có một câu trả lời cho những mối bận tâm triết học có từ thời xa xưa ấy.

Nếu chúng tôi muốn tỏ ra thật tỉ mỉ trong luận đề của tập sách này, thì chúng tôi sẽ đặt hai thuật ngữ trên trong dấu ngoặc kép mỗi khi sử dụng chúng, nhưng cách làm này ắt sẽ gây phiền toái cho câu văn. Tuy nhiên, khi sử dụng các dấu ngoặc kép, người ta có thể chú ý đến cách thức cá biệt mà các thuật ngữ ấy xuất hiện trong ngữ cảnh xã hội học. Chúng ta có thể nói rằng lối hiểu xã hội học về “thực tại” và “kiến thức” nằm đâu đó giữa lối hiểu của người bình thường và lối hiểu của nhà triết học. Thường thì người bình thường chẳng băn khoăn gì về việc cái gì là “có thực” đối với anh ta và về điều anh ta “biết”, trừ phi anh ta bất chợt gặp phải một vấn đề nào đó. Anh ta xem “thực tại” và “kiến thức” của mình là điều đương nhiên phải như vậy. [Nhưng] nhà xã hội học thì không thể nghĩ như vậy, ít ra là vì anh ta ý thức một cách có hệ thống rằng người bình thường luôn luôn coi “thực tại” [của xã hội của mình] là điều đương nhiên, mặc dù các “thực tại” thường khác xa nhau giữa xã hội này với xã hội khác. Chính cái logic của ngành khoa học của mình buộc các nhà xã hội học ít nhất cũng phải đặt câu hỏi là phải chăng người ta không thể nào hiểu được sự dị biệt giữa hai “thực tại” nếu không đặt nó trong mối quan hệ với những dị biệt đa dạng giữa hai xã hội. Còn đối với nhà triết học thì về mặt nghề nghiệp, anh ta không được phép coi bất cứ điều gì là đương nhiên, và anh ta buộc phải làm sáng tỏ tối đa cái vị thế tối hậu của cái mà người bình thường cho là “thực tại” và “kiến thức”. Nói một cách khác, nhà triết học sẽ đi đến chỗ quyết định xem ở chỗ nào thì cần phải đặt các dấu ngoặc kép và ở chỗ nào thì không, tức là, đi đến chỗ phân biệt được giữa lời khẳng định có căn cứ và lời khẳng định vô căn cứ về thế giới. Điều này thì nhà xã hội học có lẽ không thể làm được. Về mặt logic, nếu không muốn nói về mặt phong cách, nhà xã hội học bó buộc phải dùng đến các dấu ngoặc kép.

Lấy thí dụ, người bình thường có thể nghĩ rằng anh ta có “tự do ý chí” và do đó anh ta “chịu trách nhiệm” về các hành động của mình, trong khi đó anh ta lại không thừa nhận sự “tự do” và “trách nhiệm” này ở trẻ em và những người mất trí. Còn nhà triết học thì sẽ tra vấn, cho dù theo bất cứ phương pháp gì, về vị thế bản thể luận và nhận thức luận của những quan niệm này. Con người có tự do không? Trách nhiệm là gì? Đâu là những giới hạn của trách nhiệm? Làm sao ta có thể biết được những điều ấy?… Khỏi cần phải nói, nhà xã hội học chẳng có tư cách gì để phải trả lời những câu hỏi như thế. Tuy nhiên, điều anh ta có thể làm và phải làm là nêu ra câu hỏi làm thế nào mà ý niệm về sự “tự do” đi đến chỗ được coi là điều đương nhiên trong xã hội này chứ không phải trong xã hội khác, làm thế nào mà “thực tại” của ý niệm ấy được bảo tồn trong một xã hội nào đó và, thậm chí còn đáng chú ý hơn, làm thế nào mà “thực tại” này lại có thể mất đi một lần nữa đối với một cá nhân hay đối với một cả một tập thể.

Mối quan tâm xã hội học đến vấn đề “thực tại” và vấn đề “kiến thức” vì thế ngay từ đầu được biện minh bởi chính tính tương đối của chúng về mặt xã hội. Cái “có thực” [real] đối với một vị tu sĩ Tây Tạng có thể không “có thực” đối với một nhà doanh nghiệp Mỹ. “Kiến thức” của kẻ phạm pháp khác với “kiến thức” của một nhà tội phạm học. Từ đó, có thể suy ra rằng những tập hợp “thực tại” và “kiến thức” đặc thù luôn luôn gắn liền với những bối cảnh xã hội đặc thù, và các mối liên hệ này sẽ cần được đưa vào một công cuộc phân tích xã hội học thỏa đáng về các bối cảnh này. Như vậy, nhu cầu cần có một môn “xã hội học nhận thức” là điều hiển nhiên khi chúng ta thấy có những sự di biệt có thể quan sát được giữa các xã hội xét theo những điều mà người ta coi là “kiến thức” đương nhiên trong các xã hội ấy. Tuy nhiên, ngoài điều này, một môn tự gọi mình bằng cái tên ấy sẽ còn phải quan tâm đến những phương thức tổng quát mà nhờ đó các “thực tại” được coi là “đã biết rồi” [known] trong các xã hội con người. Nói cách khác, một môn “xã hội học nhận thức” sẽ không những phải bận tâm về sự đa dạng thực tế của “kiến thức” trong các xã hội con người, mà còn phải chú ý đến những tiến trình mà nhờ đó bất cứ khối “kiến thức” nào đó đi đến chỗ được thiết lập về mặt xã hội “thực tại”.

Như vậy, luận điểm của chúng tôi là môn xã hội học nhận thức buộc phải quan tâm đến bất cứ thứ gì được coi là “kiến thức” trong một xã hội, bất luận “kiến thức” này suy cho cùng có căn cứ hay vô căn cứ (cho dù dựa trên bất cứ tiêu chuẩn nào). Và trong chừng mực mà toàn bộ “kiến thức” của con người được phát triển, chuyển giao và bảo tồn trong các hoàn cảnh xã hội, thì môn xã hội học nhận thức phải tìm cách hiểu được các tiến trình diễn ra điều này như thế nào khiến cho một “thực tại” được coi là đương nhiên [taken-for-granted] trở nên lắng đọng chắc nịch dưới mắt người bình thường. Nói cách khác, chúng tôi khẳng định rằng môn xã hội học nhận thức quan tâm đến việc phân tích sự kiến tạo xã hội về thực tại.

Quan niệm này về bản thân phạm vi của môn xã hội học nhận thức rõ ràng khác với quan niệm thông thường cho đến nay về môn này kể từ khi nó được gọi bằng cái tên ấy lần đầu tiên cách đây khoảng bốn mươi năm. Vì thế, trước khi bước vào nội dung luận đề thực thụ của chúng tôi, thiết tưởng chúng tôi cần điểm lại vắn tắt quá trình phát triển trước đây của bộ môn này, và giải thích theo cách nào và tại sao mà chúng tôi lại thấy cần phải đi chệch khỏi quan niệm thông thường ấy.

Thuật ngữ “xã hội học nhận thức” (Wissenssoziologie) được Max Scheler tạo ra. Thời điểm là thập niên 1920, địa điểm là nước Đức, và Scheler là một nhà triết học. Ba sự kiện này đều rất quan trọng để có thể hiểu được sự ra đời và phát triển sau đó của bộ môn mới mẻ này. Môn xã hội học nhận thức phát sinh trong một hoàn cảnh đặc thù của lịch sử tư tưởng Đức và trong một bối cảnh triết học nhất định. Khi mà bộ môn mới mẻ này sau đó được du nhập vào trong chính bối cảnh xã hội học, đặc biệt là trong nền xã hội học của thế giới nói tiếng Anh, nó tiếp tục mang dấu ấn của những vấn đề thuộc về hoàn cảnh tư tưởng đặc thù mà từ đó nó ra đời. Hệ quả là môn xã hội học nhận thức vẫn chỉ là một mối quan tâm ngoại vi nơi các nhà xã hội học nói chung, vốn là những người không bận tâm về các vấn đề đặc thù mà các nhà tư tưởng Đức băn khoăn lo nghĩ trong thập niên 1920. Điều này đặc biệt đúng đối với các nhà xã hội học Mỹ, vốn là những người chủ yếu chỉ coi bộ môn này như một chuyên ngành ngoài lề mang hương vị đặc sệt châu Âu. Nhưng quan trọng hơn, sự bám víu liên tục của môn xã hội học nhận thức vào chùm vấn đề nguyên thủy của nó chính là một điểm yếu về mặt lý thuyết ngay cả đối với những người có quan tâm đến bộ môn này. Nói cụ thể hơn, môn xã hội học nhận thức đã bị cả những người bênh vực nó lẫn giới xã hội học nói chung ít nhiều còn thờ ơ [với nó] xem đây chỉ là một lối giải thích xã hội học về lịch sử tư tưởng. Điều này đã dẫn đến một cái nhìn hết sức thiển cận về ý nghĩa lý thuyết tiềm năng của môn xã hội học nhận thức.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger, Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Giá trị văn hóa, xã hội Việt Nam đang ở đâu?


Trong buổi giải trình trước Quốc hội, Bộ trưởng Văn hóa – Thể thao và Du lịch, ông Nguyễn Ngọc Thiện đưa ra nhận định về thực trạng giá trị văn hóa, đạo đức và xã hội ngày nay ở Việt Nam đang có biểu hiện mai một và chiều hướng đi xuống. Các nhà xã hội học, nghiên cứu văn hóa nhận xét như sau:

Đã dự báo từ lâu!

Lịch sử xã hội đã chứng minh Việt Nam trải qua hàng nghìn năm với những giá trị văn hóa, xã hội biến đổi và phát triển theo từng thời kỳ. Dưới ảnh hưởng của mỗi nền văn hóa, nhân cách, đạo đức, niềm tin, thái độ, hệ thống các giá trị ở mỗi con người được hình thành và phát triển. Nhân cách, đạo đức, lối sống đó được chính ông Bộ trưởng lên tiếng cho rằng nó đang có biểu hiện mai một. Theo Bộ trưởng VHTT – DL Nguyễn Ngọc Thiện thì trong thời kỳ mới, các giá trị đạo đức chưa được quan tâm đúng mức, thậm chí chưa được hình thành đúng với tiêu chí của con người mới, thuộc một thời kỳ mới.

Nhận thức này được Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Minh triết cho rằng “tuy đúng, nhưng chậm quá!”. Đó là chậm về thời gian, chậm về tốc độ phát triển và hình thành một ý thức hệ, một quãng thời gian mà theo ông phải là cách đây khoảng  mấy chục năm trước. Ông Nguyễn Khắc Mai nói: “Nếu tính ra thì nó bắt đầu từ cuộc cải cách ruộng đất. Nó đã làm hư hỏng mối quan hệ truyền thống. Người ta không coi trọng những giá trị đạo đức thiêng liêng, tình cảm của con người, lòng trung tín, sự hiếu thảo. Những điều như thế, ngày xưa đã xây dựng, gây dựng được, nhưng sau này đến Cách mạng thì nó làm hỏng đi rất nhiều”.

Những “cái hỏng” ấy theo ông là những suy đồi đạo đức làm băng hoại các giá trị truyền thống. Ông nhìn thấy trong xã hội hiện tại, quan hệ người với người đã bị hư hỏng đi rất nhiều. Thực tế cho thấy, mỗi ma  một ngày, qua báo chí hoặc mạng xã hội, rất nhiều những câu chuyện xảy ra liên quan trực tiếp đến hành vi, ứng xử giữa người với người. Những câu chuyện, những mảnh đời, những mất mát, những trọng án mà khi đưa ra xã hội, dư luận chỉ có thể đặt ra câu hỏi “Tại sao lại như vậy?”.

Kinh tế thị trường?

Khi Bộ trưởng VHTT – DL, ông Nguyễn Ngọc Thiện đưa ra lý giải là do sự tác động từ mặt trái của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Giáo sư Nguyễn Khắc Mai phản biện cho rằng không hoàn toàn như thế. Ông nói: “Người ta đổ thừa cho kinh tế thị trường, nhưng không hẳn như vậy. Có một phần nào, nhưng không phải tất cả vì nhiều xã hội, kinh tế thị trường và con người vẫn sống với nhau rất tốt đẹp”.

Không đưa ra những phân tích dựa trên yếu tố kinh tế thị trường, nhà xã hội học, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, hiện công tác tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, cho rằng nguyên nhân là do con người đã không thực hiện đúng những giá trị do chính con người đặt ra. Bà nói: “Có thể là những điều mà người ta nói ra, là phải có lòng nhân ái, cần phải công bằng chẳng hạn, nhưng đấy là những điều người ta nói ra có vẻ là một thứ được người ta cho là có giá trị và được tôn trọng. Tuy nhiên, trên thực tế thì người ta lại không hành xử theo điều người ta đưa ra. Nhiều khi những ứng xử trong xã hội cũng không theo cái người ta tưởng là được xã hội công nhận như công bằng, nhân ái”.

Phân tích sâu xa hơn, bà Quỳnh Hương cho rằng do những lợi ích khác nhau, và có những giá trị khác nhau, gây ra những xung đột không chỉ về mặt lợi ích kinh tế mà còn về mặt giá trị của từng cá nhân hoặc từng nhóm xã hội.

Những giá trị khác nhau đó dẫn đến sự lựa chọn không đồng nhất, khiến cho nhóm xã hội này ảnh hưởng không tốt đến nhóm xã hội khác. Theo bà Quỳnh Hương, khi bản chất của những giá trị và lợi ích hình thành nên đặc thù riêng của từng nhóm xã hội hoặc từng cá nhân, thì đó là nguyên nhân của những xung đột về giá trị xã hội mà ông Bộ trưởng Nguyễn Ngọc Thiện đã nói đến.

Biến đổi

Văn hóa của một dân tộc, một xã hội sẽ thay đổi theo từng thời kỳ. Từ đó, Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương cho rằng giá trị xã hội cũng sẽ biến đổi và luôn biến đổi: “Biến đổi là đương nhiên và cần thiết. Vì chúng ta không biến đổi, đứng ì ra thì có nghĩa là chúng ta đã suy thoái rồi. Mà biến đổi ấy, nó thể hiện luôn ra trong lòng xã hội ấy, mỗi cá nhân cũng biến đổi. Giá trị của xã hội cũng biến đổi theo”.

Ngày nay, trên những bài báo hoặc bài viết cá nhân đăng trên mạng xã hội, có một từ ngữ rất thường được dùng để ám chỉ về cách hành xử con người trong xã hội hiện tại đó là từ “vô cảm”.

Chính Bộ VHTT – DL cũng đã đưa ra những hiện tượng vô cảm, bàng quan, thờ ơ trước nỗi đau do gặp hoạn nạn đang tạo nên những bức xúc và lo lắng. Khi giá trị xã hội và niềm tin xã hội đã bị suy giảm thì vô cảm đương nhiên sẽ xuất hiện và tồn tại. Không những thế, nó đã và đang dần hiện hữu, len lỏi ngày một sâu hơn vào ý thức giá trị cuộc sống của con người.

Ý thức này, theo Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, đã thấy quá rõ. Ông nói: “Rất nhiều dấu hiệu để thấy sự tin cậy lẫn nhau đã mất đi rất nhiều. Chúng tôi gọi là quan hệ người với người hư hỏng đi rất nhiều. Nó có vấn đề văn hóa xuống cấp, chân lý không được tôn trọng, sự thật không được tôn trọng, sự thật không được tôn trọng, những tuyên truyền láo đã quá dài quá lâu, làm cho con người quen với thói dối trá, lừa bịp. Đấy là một sự thật đau lòng”. Ông nói thêm rằng sự vô cảm này, ngày xưa, thế hệ của ông hoàn toàn không tồn tại.

Ngày nay, trên những trang mạng xã hội, thỉnh thoảng, người ta vẫn nhìn thấy những chia sẻ ngắn của một ai đó, kể lại khi đang chạy xe trên đường, thấy một không quen biết té ngã, nhưng không dám dừng lại cứu giúp vì sợ những câu chuyện dàn cảnh cướp giật được đăng tải mỗi ngày trên báo chí.

Giá trị văn hóa truyền thống

Cũng chính Bộ VHTT – DL đã đề cập vấn đề này với ngụ ý đạo đức truyền thống giàu giá trị nhân văn, yêu thương, giúp đỡ, đùm bọc con người trong hoạn nạn, khó khăn đang suy giảm. Tính cộng đồng “tối lửa tắt đèn có nhau” bị rạn nứt.

Giáo sư Nguyễn Khắc Mai cho rằng nguyên nhân là do xã hội đã quá đề cao giá trị giai cấp, một giá trị nhất thời, mà không coi trọng giá trị văn hóa truyền thống.

Nhấn mạnh giá trị văn hóa truyền thống ở đây không phải là lễ nghĩa phong kiến của thời “trọng nam khinh nữ” hoặc “quân tử thần tử, thần bất tử bất trung”. Ông chia sẻ những điều mà ông cho rằng đó là quy luật muôn đời, như “Thương người như thể thương thân”, hoặc “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

Đó là những quy luật, những giá trị mà theo ông, nó đã được xây dựng và có giá trị tốt đẹp qua mọi thời kỳ phát triển của con người, và rộng hơn là xã hội.

Nguồn: RFA

TKNB – 19/06/2017

Chính sách xã hội và các vấn đề phát triển xã hội: Kinh nghiệm của các nước phương Tây – Phần cuối


Kinh nghiệm lâu năm của nền văn minh hiện đại cho thấy một số quy luật cơ bản và những quyết định chính sách quản lý thực tế bắt nguồn từ đó. Và, chẳng hạn, quy tắc quan trọng sau đây. Theo mức độ phức tạp hóa của phát triển kinh tế thì chi tiêu xã hội cần tăng lên nhằm mục đích bình ổn. Hơn nữa, trong trường hợp này, ý nghĩa của bình ổn vừa là duy trì tăng trưởng (hoặc làm giảm suy thoái và ngăn chặn kịch bản khủng hoảng) vừa là bảo đảm ổn định xã hội. Hai nhiệm vụ có ý nghĩa lớn như nhau và gắn bó mật thiết với nhau. Không một chính phủ có trách nhiệm nào có thể bỏ qua hai nhiệm vụ này.

Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, vai trò điều tiết của nhà nước đã yếu đi, chẳng hạn mức độ lũy tiến thuế giảm, việc bảo đảm hưu trí đặt trọng tâm vào hệ thống các khoản phí theo quy định đã có sự thay đổi. Không phụ thuộc vào mô hình chính sách xã hội, các quá trình này ở mức độ này hay khác đã lan rộng khắp nơi, kể cả Hoa Kỳ và các nước Liên minh châu Âu. Kết quả là, nguy cơ mất cân bằng kinh tế – xã hội nghiêm trọng có thể xảy ra. Chẳng hạn, sự suy yếu của các “yếu tố ổn định tự động” và hệ thống bảo đảm xã hội ở Hoa Kỳ diễn ra suốt mấy thập niên đã gây thiệt hại đáng kể cho phần lớn người dân (giảm giá trị tiền tiết kiệm hưu trí và kinh phí dành cho giáo dục trẻ em, giảm giá nhà ở của họ xuống 20 – 30%, và trong một số trường hợp xuống 50%). Do đó đã có những thay đổi đáng kể trong nhu cầu chung và sự cắt giảm chi tiêu thường ngày, dẫn đến kinh tế toàn cầu suy yếu. Theo các nhà khoa học phương Tây thì một trong số những nguyên nhân chính của tình trạng này là thiếu một chính sách xã hội bảo đảm cho mức bảo đảm cao và do đó tránh được những nguy cơ tương tự cũng như có khả năng ngăn chặn sự gia tăng bất bình đẳng kéo dài suốt hai thập kỷ ở phần lớn các nước. Hơn nữa, sự gia tăng đó vẫn diễn ra dù trong thực tế chưa hề có bất cứ sự thay đổi nào về mức độ các khoản chi tiêu xã hội – các khoản chi tiêu đó vẫn rất cao.

Phương án phát triển nào được ưa chuộng hơn, mức độ bất bình đẳng theo quan điểm thúc đẩy và ổn định có thể như thế nào – đây là vấn đề cơ bản cần có giải pháp chính trị. Về nguyên tắc, cả mức độ bất bình đẳng cao lẫn mức độ bất bình đẳng thấp đều có thể mang lại hiệu quả. Nhiều thứ được quyết định bởi tình hình đã được hình thành cụ thể trong xã hội. Tiêu chí chủ yếu khi thông qua các quyết sách chính trị về những vấn đề được nêu ra là nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội.

Chính sách cho phép mức độ bất bình đẳng cao có thể được xem là phương tiện cho tích lũy và đầu tư bởi ngày càng xuất hiện nhiều nguồn lực tự do cần được sử dụng một cách hiệu quả. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường, nhiều thứ phụ thuộc vào tính chất của tính tích cực đầu tư. Nếu nó mang bản chất sản xuất thì các phương tiện thừa dư sẽ tập trung vào phát triển khu vực thực tế nhằm hạn chế hoạt động đầu cơ. Bằng chứng rõ ràng là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008 – 2009, nó cho thấy những khoản đầu tư không hiệu quả với quy mô lớn đã trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với sự phát triển của văn minh thế giới. Về mặt này, mức độ bất bình đẳng cao đáp ứng lợi ích của các nhóm xã hội khá giả có xu hướng tích lũy cao có thể biến thành các khoản đầu tư không cân đối có tính chất đầu cơ tạo ra nguy cơ bất ổn cao.

Trái lại, gắn liền với các khoản thu nhập không cao, xu hướng tiêu dùng cao đặc trưng cho các nhóm xã hội có mức thu nhập trung bình và thấp lại có tính chất sản xuất, kích thích phát triển khu vực thực tế và gia tăng phúc lợi và, xét cho cùng, là nhân tố phát triển đầu tư. Việc phân phối lại trong các điều kiện đó đóng vai trò tích cực do mức độ bất bình đẳng cao đang phá vỡ sự cân bằng xã hội có hiệu quả cần thiết cho việc hình thành tiềm lực đầu tư. Đồng thời việc phân phối lại quá mức có thể gây ra những hậu quả tiêu cực vì nó có khả năng làm giảm động cơ và làm “mất tính năng động kinh doanh và đổi mới”. Bằng cách này hay cách khác, chính sách xã hội mạnh dựa trên hệ thống bảo trợ xã hội hùng mạnh là nhân tố quan trọng trong phát triển và gia tăng phúc lợi xã hội, vì khu vực tư nhân theo đuổi những mục tiêu “vị kỷ” – thu lợi nhuận, còn các vấn đề xã hội về bản chất là xa lạ với nó. Bảo đảm xã hội là một trong các nhân tố của tăng trưởng bởi ở mức độ nhất định nó phòng được rủi ro.

Chính vì vậy, tính đến đặc thù của tình hình xã hội, nhà nước cần trực tiếp hoặc gián tiếp ủng hộ các quá trình tích lũy, đầu tư và tăng trưởng và đồng thời – sự cân bằng động giữa các nhóm xã hội. Tiếc là việc tìm phương án tối ưu để “phối hợp” các mục tiêu này không hề đơn giản, và thường thì các chính phủ phải lựa chọn giữa các mục tiêu đa dạng kể trên nhằm đạt được kết quả tích cực trong các lĩnh vực cơ bản quyết định phúc lợi của xã hội và sự ổn định chính trị – xã hội của nó.

Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng mức độ bất bình đẳng cao có tác động tiêu cực tới sự gắn kết chính trị và xã hội và các tiêu chí phúc lợi và tiến bộ. Người ta cho rằng, cơ chế điều tiết bất bình đẳng hiệu quả nhất (ở mức độ mà sự điều tiết này được coi là như mong muốn) là chế độ thuế khi nó bao trùm ở mức độ như nhau tất cả các loại thu nhập và mang tính chất lũy tiến. Ngoài ra, ở các nước phương Tây, sự gia tăng tiền lương cao đi đôi với sự giảm thấp thuế suất cận biên. Một số chuyên gia cho rằng, nếu không có gì thay đổi, bất bình đẳng ở các nước hàng đầu đến năm 2030 sẽ tăng khoảng một nửa so với mức các năm 1992 – 2009. Và ngăn chặn tình trạng này là khá khó vì cơ chế phát triển đã thay đổi: các nhóm giàu có thể tránh mức thuế cao bằng cách di chuyển tài sản.

Các vấn đề đảm bảo công bằng và chống lại bất bình đẳng tưởng như đã lùi vào quá khứ lại chuyển lên vị trí hàng đầu trong chính sách xã hội. Trên thực tế sau một chu trình phát triển lâu dài mà đỉnh cao của nó là đạt được sự đồng thuận và công bằng tương đối, thể hiện trên thực tế qua hệ thống bảo trợ xã hội toàn diện, tình hình đã quay trở lại điểm xuất phát. Sự khác biệt duy nhất và đúng là rất cơ bản là: bối cảnh xã hội và khoa học – công nghệ toàn cầu mới.

Bất kỳ thay đổi nào trong chính sách xã hội, cho dù là những thay đổi nhỏ, nhất thời hay những thay đổi sâu sắc và cơ bản đều phản ánh những thay đổi trong tương quan giữa các lực lượng chính trị. Ở các nước có chế độ dân chủ phát triển, những bất đồng về các vấn đề chiến lược phát triển xã hội đang tăng lên, chẳng hạn ở Hoa Kỳ, cải cách y tế do những người dân chủ khởi xướng bị những người cộng hòa phong tỏa về nhiều mặt. Ở Pháp, sau khi giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống, Đảng Xã hội đã nỗ lực thực hiện một số luận điểm cơ bản của cương lĩnh nhằm tạo ra bình đẳng xã hội và chống đói nghèo bằng cách tăng mức lũy tiến của thang thuế (đánh thuế 75% đối với thu nhập đặc biệt cao) nhưng bị Hội đồng Hiến pháp ngăn chặn.

Như những người theo Đảng Tự do chứng minh, các khoản chi tiêu xã hội cao từ phía nhà nước đang tạo ra “bẫy” trợ giúp xã hội, gây phá giá và làm cho các mục tiêu đề ra không đạt được. Lối thoát là làm sao giảm mạnh sức hấp dẫn của trợ giúp xã hội, trước hết là thông qua việc cắt giảm các khoản kinh phí và trợ cấp được phân bổ, mà điều chủ yếu là phải quy định việc trợ giúp bằng cách thu xếp việc làm bắt buộc. Hơn nữa, tình trạng thị trường lao động, triển vọng tìm kiếm việc làm thực sự và mức độ thất nghiệp không được quan tâm. Trong khi đó, một trong những nhân tố chủ yếu hình thành nên hệ thống bảo trợ xã hội toàn diện là nạn thất nghiệp đã trở thành nhân tố nghiêm trọng không chỉ về kinh tế mà còn về chính trị – xã hội suốt nhiều thập kỷ, gây ra tình trạng căng thẳng quá mức.

Các yếu tố của quan niệm quản lý nhà nước kiểu mới đã thực sự được phổ biến cả trong thực tiễn chính trị Nga. Bằng chứng của điều này là chiến lược hướng vào tư nhân hóa, ít nhất là bộ phận dịch vụ xã hội, vào việc cải tổ thiết chế hệ thống trợ giúp xã hội khi các cơ chế tác động cơ bản không hẳn là tham gia vào quá trình mà đúng hơn là kiểm soát kết quả và giám sát ngân sách.

Nhiệm vụ then chốt là hình thành nên công thức thống nhất quản lý về mặt chính trị đối với những lĩnh vực cơ bản khác nhau của đời sống nhằm bảo đảm kết quả tích cực. Cần có sự san bằng nhất định phúc lợi và quyền sở hữu, khắc phục tình trạng bất công xã hội xuất hiện vào những năm 1990. Chỉ những thiết chế chính trị nhận được sự tác động tích cực của công dân mới có thể khởi xướng quá trình này. Vì vậy chính sách xã hội có thể trở thành nhân tố gắn kết xã hội nếu các lực lượng chính trị “tuân theo ý chí” của cử tri ở mức độ đầy đủ, cố gắng thông qua đối thoại để tìm kiếm các giải pháp chính trị dựa trên cơ sở hiệu quả và công bằng.

Người dịch: Đoàn Tâm

Hiệu đính: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TN 2014 – 1 & 2

V.V. Ljublinskij là Tiến sĩ khoa học chính trị, Trưởng ban Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga.

Chính sách xã hội và các vấn đề phát triển xã hội: Kinh nghiệm của các nước phương Tây – Phần III


Cuộc cách mạng “tự do” đang diễn ra hiện nay gắn liền với ý định phục thù xã hội, với ý đồ lấy lại những vị thế chủ chốt đã bị mất thông qua việc giảm vai trò của nhà nước, thu hẹp quy mô phân phối lại tài sản và thu nhập.

Trong những điều kiện đó, vị thế của lao động làm thuê đang yếu đi do tác động khách quan của sự gia tăng tình trạng thất nghiệp cơ cấu và gắn liền với áp lực này đối với tiền lương, với sự tồi tệ đi của các dịch vụ xã hội. Đồng thời khủng hoảng phong trào công đoàn truyền thống cũng đang diễn ra, còn những triển vọng xây dựng một cấu trúc mới hùng mạnh có khả năng liên kết mọi người và đề xuất những yêu cầu có tính chất xây dựng đang trở nên có vấn đề. Về nhiều mặt, điều này gắn liền với sự giảm sút vai trò điều tiết của nhà nước trong lĩnh vực lao động – xã hội.

Một trong những yếu tố quan trọng đó là mong muốn cải tổ tính chất của nhà nước, làm thế nào để nhà nước ngừng tham gia rộng rãi và tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, hạn chế vai trò của mình bằng cách tham gia ít nhất. Nhiều mục tiêu trong số này đã được thực hiện. Ở Anh, từ những năm 1980, nhà nước đã nỗ lực để các nhà sản xuất chịu trách nhiệm nhiều hơn về quản lý và cấp kinh phí cho các khoản chi khác nhau: từ các khoản chi liên quan đến bệnh tật và sinh đẻ đến các khoản trợ cấp hưu trí và tín dụng thuế. Kết quả là các khoản chi xã hội trong cơ cấu chi cho lao động đã giảm đáng kể. Theo các đánh giá, năm 2000, trong cơ cấu chi cho lao động của chủ lao động, phần chi dành cho tiền lương và tiền công là 82% ở Anh, 72% ở Cộng hòa Liên bang Đức, dưới 70% ở Pháp, còn ở Anh số lao động được hưởng bảo hiểm y tế riêng lẻ tăng 7 – 8% vào cuối những năm 1990 và từ đó cho tới nay ít thay đổi. Tuy nhiên, phần lớn các khoản chi theo luật định, bảo hiểm riêng lẻ chủ yếu tập trung vào những người lao động có địa vị cao. Nói chung, chi tiêu xã hội chiếm tới 25 – 30% chi trả lương cho người lao động. Bằng cách này hay cách khác, trong điều kiện hiện nay, khi chính sách nhà nước định hướng dài hạn vào việc thắt lưng buộc bụng và được áp dụng trên toàn Liên minh châu Âu (không ngoại trừ các nước hàng đầu), vai trò của “tiền lương xã hội” ở đó đang thay đổi cơ bản.

Rõ ràng, các chương trình xã hội riêng lẻ đang được mở rộng tại Hoa Kỳ ở mức độ lớn nhất. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên nếu tính đến mô hình chính sách xã hội dựa trên hệ tư tưởng của chủ nghĩa tự do mà Hoa Kỳ luôn tự hào và tích cực phổ biến khắp thế giới. Trong hệ thống cảu Mỹ có rất nhiều yếu tố tích cực, nó đóng vai trò quan trọng với tính cách là nhân tố của phúc lợi. Tuy nhiên, mặc dù có những khoản chi lớn như vậy nhưng hệ thống y tế vẫn có không ít mặt tiêu cực do mức độ thương mại hóa cao và tiêu dùng quá mức, điều này thường không phù hợp với sự trợ giúp y tế có chất lượng. Người ta ước tính Mỹ có thể tiết kiệm 10 – 30% chi phí y tế nếu loại bỏ các đơn thuốc và phương pháp điều trị không cần thiết và tốn kém. Không có gì đáng ngạc nhiên khi theo các nghiên cứu xã hội học, đánh giá của công dân Mỹ là tốt. Trong khi đó, 52% không hài lòng với chất lượng dịch vụ, 25% cho rằng hệ thống hoạt động tốt và chỉ cần những thay đổi nhỏ, 40% ủng hộ những thay đổi căn bản, còn 29% coi việc cải tổ toàn diện hệ thống là cần thiết. Vấn đề chủ yếu là chi phí khám chữa bệnh cao (60% người được hỏi) cũng như phần lớn người dân bị tước bảo hiểm y tế, không được hưởng sự trợ giúp có chất lượng (30%). Thêm vào đó, chỉ 20% (ngược với 60%) đồng ý nâng bảng giá dịch vụ và tăng thuế nếu điều đó cần thiết cho việc tiến hành cải cách dịch vụ y tế. 32% cho rằng họ có thể nhận sự trợ giúp y tế tốt nhất ở Canada, 24% ở Anh, 22% ở Cộng hòa Liên bang Đức và Pháp, 19% ở Nhật Bản và 8% ở Mexico.

Do đó, nhiều chuyên gia cho rằng hệ thống hoạt động không hiệu quả lắm vì nó tạo ra hiệu quả quá nhỏ trên một đơn vị đầu tư và tiêu dùng quá nhiều nguồn lực. Điều này dẫn đến việc thông qua đạo luật theo sáng kiến của các nhà dân chủ nhằm đảm bảo quyền phổ biến về bảo hiểm y tế được nhà nước bảo đảm, một việc đã gây ra sự phản kháng gay gắt. Về nhiều mặt, chương trình xã hội mà B. Obama dùng để tranh cử và giành chiến thắng trong tranh cử xem ra có tính chất tuyên ngôn, dân túy và không thể thực hiện vì sự chia rẽ của xã hội Mỹ. Còn nếu xét theo những mục tiêu đã tuyên bố thì thoạt đầu B. Obama có ý định cải tổ nghiêm túc xã hội thông qua việc thực hiện các mục tiêu cao cả về đạo đức và xã hội, đi vào lịch sử Mỹ giống như là F.D. Roosevelt. Ý định này nói chung đã thành công, ông ta đã tạo được sự đoàn kết của xã hội và đồng thuận chính trị trong những điều kiện mà đất nước đang bị kìm kẹp bởi các vấn đề trong và ngoài nước phức tạp nhất.

Một trong những vấn đề xã hội nghiêm trọng của các nước phương Tây là thay đổi kết cấu dân số. Sự cân bằng giữa các thế hệ thay đổi. Ở các nước phát triển, tỷ lệ nhóm người già đang tăng lên do tuổi thọ tăng và tỉ lệ sinh giảm. Do đó dẫn đến tình trạng tăng tuyệt đối và tương đối số lượng người nghỉ hưu. Các cải cách trong lĩnh vực xã hội liên quan đến việc xem xét lại mô hình nghỉ hưu (độ tuổi hưu trí, các quyền khi hưu trí) vẫn chưa đem lại kết quả căn bản trong việc giải quyết vấn đề cân bằng tài chính. Nhưng có một điều là các cuộc cải cách đã giúp làm giảm phần nào áp lực của vấn đề này và ghìm chậm sự gia tăng chi tiêu xã hội. Hiệu quả của các cải cách trong lĩnh vực xã hội đầy vấn đề và chậm. Ở các nước Liên minh châu Âu người ta hiểu rất rõ vấn đề này, vì vậy mà các chương trình thích hợp luôn mang tính chất dài hạn. Những mục tiêu ngắn hạn nhất được xác định đến năm 2020, những mục tiêu trung hạn – đến năm 2030, một số mục tiêu – đến năm 2050. Trước đây người ta đã từng lo ngại rằng, các quá trình này có thể dẫn đến thiếu hụt nhân lực và điều này hiện đang xảy ra ở một số nước. Chẳng hạn, ở Cộng hòa Liên bang Đức năm 2007 thiếu 70 nghìn kỹ sư, nếu so sánh với năm trước đó thì con số này tăng đột biến. Biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này là tuyển dụng các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao thuộc nhóm người lớn tuổi. Và các nhà kinh tế Đức xác nhận rằng, các công ty tư nhân bắt đầu tuyển dụng các kỹ sư ở độ tuổi trên 50.

Nhiều nước đã thông qua các đạo luật ngăn chặn phân biệt độ tuổi khi tuyển dụng người vào làm việc. Luật này đã được thông qua tại Hoa Kỳ vào năm 1967 nhằm tạo cơ hội ngang bằng cho những người trên 40 tuổi và những người trẻ tuổi. Ngoài ra, luật còn cấm ghi độ tuổi trong các thông báo tuyển dụng. Từ khi luật được bổ sung, những người sử dụng lao động bị cấm ép buộc người lao động nghỉ hưu với lý do tuổi tác trong phần lớn các lĩnh vực hoạt động. Cũng hành động theo hướng này, năm 2000 Liên minh châu Âu đã thông qua chỉ thị yêu cầu các nước cấm phân biệt đối xử trong lĩnh vực việc làm với nhiều lý do, kể cả tuổi tác. Những phương sách này phù hợp với chính sách nâng cao độ tuổi nghỉ hưu. Hơn nữa, theo một số nghiên cứu, 45 – 60% người được hỏi tại các nước châu Âu lớn nhất muốn kéo dài thời gian làm việc để được nhận mức lương hưu cao hơn (Cộng hòa Liên bang Đức – 25%) [ibidem]. Đồng thời, sự thật là họ bày tỏ mong muốn giảm lượng công việc – dựa trên quy tắc làm việc một phần thời gian. Những mong muốn chủ quan đó không phù hợp với điều kiện khách quan, tình hình thị trường lao động và chính sách của người sử dụng lao động. Nhân tố động lực không ổn định đang tác động nghiêm trọng đến phát triển xã hội. Ví dụ, từ cuối năm 2008, số chủ lao động thực hiện việc cắt giảm lương và ngày nghỉ phép ở Hoa Kỳ đã tăng lên đáng kể. Hơn nữa, tâm lý phản kháng đối với việc giảm lương đã yếu đi trong trường hợp sự tồn tại của doanh nghiệp bị nghi ngờ. Chẳng hạn như, vào tháng 1 năm 2009, công đoàn lái xe vận tải gồm 40 nghìn đoàn viên đã tán thành việc cắt giảm 10% lương. Không có gì ngạc nhiên khi thực tế giao việc cho những người cao tuổi có mong muốn được tiếp tục làm việc đã không được phổ biến rộng rãi ở các nước phát triển.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đoàn Tâm

Hiệu đính: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TN 2014 – 1 & 2

V.V. Ljublinskij là Tiến sĩ khoa học chính trị, Trưởng ban Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga.

Chính sách xã hội và các vấn đề phát triển xã hội: Kinh nghiệm của các nước phương Tây – Phần II


Thành thử, sự biến đổi của chính sách xã hội đa phần được quyết định bởi những thay đổi về cấu trúc trong quá trình phát triển kinh tế – chính trị của nền văn minh thế giới. Gắn liền với các nhân tố toàn cầu, sự thỏa hiệp lâu dài và “quy tắc ứng xử” giữa chủ thể các quá trình chính trị phù hợp với thời đại trước đã không còn nữa. Kết quả là, đồng thuận chính trị – xã hội chính thức và không chính thức, đặc biệt là các vấn đề chính sách xã hội, đã “đổ vỡ”. Các nhân tố kinh tế đối ngoại đã đặt ra nghi vấn đối với việc cấp kinh phí quy mô lớn cho các chương trình xã hội. Trong điều kiện xã hội mở và biên giới mở, các quốc gia dân tộc không thể chống lại các quá trình này một cách hiệu quả bởi các chủ tư ban có thể ngay lập tức chuyển tài sản sang các nước và các khu vực tạo điều kiện thuận lợi cho họ.

Trên thực tế lựa chọn phù hợp duy nhất là tập trung các chiến lược chính trị vào năng lực cạnh tranh cấu trúc. Ở đây đang nói về việc trợ giúp toàn diện không chỉ đối với kinh tế với tính cách là một tổ hợp thống nhất mà còn đối với năng lực cạnh tranh của xã hội và hệ thống chính trị. Kết quả là lợi ích của doanh nghiệp đã được đặt lên hàng đầu, còn doanh nghiệp, do những mong muốn và bản chất vốn có của mình cũng như do những điều kiện quốc tế mới, rất tán thành những hạn chế chặt chẽ trong chính sách xã hội, cố gắng đặt nó lệ thuộc vào lợi ích hiện tại và lâu dài của mình. Chẳng hạn, từ lâu doanh nghiệp đã muốn chấm dứt tình trạng chi tiêu xã hội ngày một tăng và giảm tham gia đầu tư cho các chương trình xã hội bắt buộc.

Trong điều kiện sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin trong các lĩnh vực tài chính và kinh tế, tính tự chủ và độc lập của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Phần lớn các công ty xuyên quốc gia đều xây dựng mạng lưới các trung tâm căn cứ địa phương ở các khu vực khác nhau trên thế giới nhằm đơn giản hóa việc thâm nhập các thị trường địa phương và khu vực với mong muốn có được những đặc quyền về lao động giá rẻ và mức thuế ưu đãi, chưa kể đến mong muốn ngăn chặn và giảm bớt các rủi ro chính trị trong hoạt động của mình. Nói cách khác, tính cơ động cao của tư bản quốc tế đặc trưng cho nền văn minh hiện đại bảo đảm cho ảnh hưởng về cấu trúc và tính độc lập về chính trị của nó, mặc dù nhà nước vẫn có khả năng lớn trong việc quản lý các quá trình kinh tế – xã hội.

Dẫu sao thì nhiều vấn đề của chính sách xã hội trên thực tế đã chuyển sang cấp độ mà khả năng của các quốc gia riêng lẻ và thậm chí là của các liên minh khu vực của chúng đều trở nên hạn chế. Cần phải thường xuyên tính đến cấp độ cao hơn, cấp độ toàn thế giới mà từ đó những xung lực mạnh diễn ra. Bối cảnh mới về nguyên tắc này mặc dù mới được hình thành vào thế kỷ XX nhưng đã trở nên rõ ràng vào thế kỷ XXI. Đồng thuận chính trị ở cấp độ quốc gia chỉ có thể bảo đảm một phần việc giải quyết các vấn đề xã hội.

Trong những điều kiện đó, tư tưởng đồng thuận chính trị ở cấp độ quốc tế đã được phổ biến. Thoạt nhìn, nó có vẻ không tưởng và không thể thực hiện. Nhưng xét toàn diện thì xu thế đang phát triển theo phương hướng này, các nhân tố khách quan đang thúc đẩy tới đó. Chẳng hạn J. Stiglitz từ lâu đã bảo vệ quan điểm về sự cần thiết của các biện pháp kích thích toàn cầu đối với việc khôi phục nền kinh tế thế giới. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, trung tâm thông qua các quyết sách chính trị lại vẫn nằm ở cấp độ quốc gia. Những tác nhân kích thích yếu ở cấp độ toàn cầu sẽ được duy trì cho đến khi nào sự phối hợp toàn cầu về chính sách kinh tế được thực hiện. Nhưng sự phối hợp này sẽ được thực hiện như thế nào nếu thiếu một cấp độ cấu trúc tích hợp mà các cơ quan quyền lực chính trị trao cho? Do đó, trên thực tế vấn đề xây dựng chính phủ thế giới và đồng thuận chính trị đã được nâng lên tầm thế giới.

Cách tiếp cận khái niệm mới và thực tiễn chính trị

Các quá trình nêu trên gây nghi ngờ đối với những nguyên tắc lãnh đạo chính trị cũ, tạo ra nguy cơ “đoạn tuyệt” với những ưu tiên trước đây trong lĩnh vực xã hội và rời bỏ mô hình bình quân phúc lợi toàn xã hội. Chính sách xã hội “lớn” trước đây đã xuất hiện như là công cụ giải cứu và ủng hộ chính trị cho lợi ích của các chủ thể kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nhưng mô hình này từ lâu đã trở nên nặng nề và không cần thiết đối với giai cấp tư sản, hoàn toàn tốn kém và mâu thuẫn với mục tiêu thường xuyên của nó là tăng lợi nhuận tài chính. Một thời gian dài ý định “bỏ” mô hình này đã không thành công vì nó mâu thuẫn với lợi ích của đa số khi nó được củng cố. Nhưng thời gian đã làm thay đổi tính chất của xã hội, cải tổ cấu trúc xã hội, phân hóa lợi ích xã hội, điều đó khiến có thể đặt ra vấn đề hạn chế các khoản chi tiêu xã hội lớn và nhà nước phúc lợi toàn dân.

Lợi ích của giới tinh hoa kinh tế vẫn cấu thành chương trình nghị sự và chiến lược chính trị. Các chính phủ chỉ tiến hành các cải cách xã hội khi những vấn đề liên quan đến sự tác động tích cực hay tiêu cực vào các nhân tố phát triển kinh tế như năng suất, lợi nhận và sức cạnh tranh nhận được sự quan tâm thỏa đáng.

Khái niệm nhà nước “sản xuất” hay nhà nước “cạnh tranh” chính là thứ mà giai cấp cầm quyền đã và đang hướng tới và định dùng nó để thay thế cho nhà nước phúc lợi. Theo quan điểm này, nhà nước cần phải thực hiện chức năng nâng đỡ năng lực cạnh tranh, đồng hành và bảo vệ lợi ích kinh tế đối ngoại, tăng thêm ưu tiên cho các nhà sản xuất nước ngoài. Do đó, chỉ có nhà nước phúc lợi có hiệu quả với chức năng chính là tạo ra sự nâng đỡ trong điều kiện các thị trường bị sụp đổ ở chính những nơi mà khu vực tư nhân không “đứng vững” được mới có thể tương hợp với chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Thứ logic chi phối mà trên cơ sở đó chính là nhà nước, chính sách xã hội và chính sách kinh tế hiện đại ở phương Tây được hình thành là như vậy.

Cũng cần tính đến vấn đề bảo vệ lợi ích người tiêu dùng trong nước cũng như chú ý đến những vấn đề phát triển xã hội mà tư bản ít quan tâm nhưng quan trọng với tính cách là những yếu tố thúc đẩy sự phát triển và những nhân tố liên kết hay làm tan rã xã hội. Thi đua giữa các hệ thống chính trị đang tăng lên ở cấp độ toàn cầu theo quan điểm bảo đảm những điều kiện hoạt động tốt nhất trong và ngoài nước cho các nhà sản xuất trong nước. Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, các thể chế chính trị mong muốn xây dựng một mô hình mà trong đó có thể dung hòa được lợi ích xã hội (hoặc của phần lớn công dân) và của giai cấp nhà tư bản – lợi ích xã hội thể hiện qua chính sách xã hội, còn lợi ích của giai cấp nhà tư bản thể hiện qua chính sách nâng đỡ năng lực cạnh tranh.

Theo quan điểm của đại tư bản, trước hết là của bộ phận hoạt động trong những lĩnh vực đi đầu và đổi mới của nó, thì điều kiện đặc biệt quan trọng là nhà nước thông qua chính sách xã hội để thực hiện việc đầu tư vào vốn con người (lĩnh vực giáo dục và y tế) nhằm bảo đảm điều kiện cho tái sản xuất thông qua việc nâng đỡ tính năng động và tính ổn định trong hoạt động của các tập đoàn.

Như vậy, trong bối cảnh hiện nay, mục tiêu hài hòa hóa các quan hệ xã hội đặc trưng cho mô hình chính sách xã hội trước đây đã bị chuyển xuống bình diện thứ hai, nhường chỗ cho các vấn đề kinh tế. Xu hướng này xuất hiện vào những năm 1990 và phát triển vào đầu những năm 2000. Khủng hoảng kinh tế – tài chính thế giới và sự phục hồi chậm chạp và không bền vững sau đó với nguy cơ suy thoái mới lại đang tiếp tục xu hướng này.

Trước đây, vào thời kỳ nhà nước xã hội được hình thành một cách tích cực với việc cào bằng tiềm lực của các nhóm xã hội – nghề nghiệp, quyền lực cấu trúc của tư bản công nghiệp và tài chính thời đại công nghiệp đã thực sự yếu đi. Đã xuất hiện nền kinh tế hỗn hợp có khu vực nhà nước to lớn và các khoản đầu tư của nhà nước – hệ thống sản xuất phù hợp với nhiệm vụ bảo đảm các quyền không chỉ chính trị mà cả xã hội – các quyền của “công dân xã hội”. Khu vực nhà nước có thể xem như là cơ sở của nhà nước phúc lợi và khu vực tư nhân phải thích nghi với những điều kiện này, trong đó cả trên bình diện xã hội. Khi đó một trong những nhân tố then chốt của quyền lực cấu trúc tư bản tài chính – công nghiệp – quản lý quá trình đầu tư – bắt đầu bị hoài nghi.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đoàn Tâm

Hiệu đính: Nguyễn Như Diệm

Nguồn: TN 2014 – 1 & 2

V.V. Ljublinskij là Tiến sĩ khoa học chính trị, Trưởng ban Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm Khoa học Nga.