Xung đột xã hội: Chiều cạnh triết học – Phần cuối


Kiểu xung đột thứ ba – giữa các tập đoàn xã hội ngay bên trong xã hội. Chủ nghĩa Marx đã chú ý đặc biệt tới kiểu này, vì xung đột giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, theo Marx, là cái mở đường dẫn tới sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội. Nếu như ở phương Tây, nhờ có siêu lợi nhuận do “thế giới thứ ba” đem lại và nhờ sự khôn ngoan của giai cấp tư sản bằng kinh nghiệm lịch sử, cuộc xung đột này đã chuyển sang các hình thức văn minh hơn, chỉ bùng ra thành các cuộc đình công riêng lẻ hay các cuộc biểu tình, thì ở các nước ngoại vi CNTB cuộc xung đột này gắn chặt với cuộc đấu tranh của giải cấp nông dân nghèo chống lại bọn điền chủ quyết định tình thế xã hội và nó bùng lên thành các cuộc nổi dậy có vũ trang (thí dụ như vào đầu năm 1994 ở bang Chiapas của Mexico chống lại nhà nước và các giai cấp cầm quyền).

Ở Nga và ở hàng loạt các nước SNG khác, đã bước vào con đường quá độ lên nền kinh tế thị trường theo các công thức của “trường phái Chicago”, các cuộc xung đột xã hội kiểu đó đang làm rung chuyển xã hội. Cuộc khủng hoảng nợ (15.000 tỷ rúp vào đầu tháng 2 năm 1994) đã dẫn tới sự đình trệ của hàng loạt ngành công nghiệp, ngoài ra không chỉ của các tổ hợp công nghiệp quân sự (VPK) không đủ vốn để chuyển hướng sản xuất, mà là toàn bộ tổ hợp các ngành năng lượng – nguyên liệu, chế tạo máy (những cơ sở sản xuất chính máy nông cụ do khủng hoảng về tiêu thụ, ở nông thôn không có tiền) công nghiệp dệt… Bãi công, tuyên bố sẵn sàng bãi công đã thành chuyện cơm bữa. Đứng về một phía đối lập là công nhân, viên chức, cán bộ, kỹ sư kỹ thuật, tức là bộ phận cơ bản người lao động làm thuê tập trung trong các xí nghiệp nhà nước và bán nhà nước (cách gọi tạm thời để chỉ cán bộ nghiên cứu khoa học các công ty cổ phần mới ra đời trong quá trình tư nhân hóa); còn phía kia là nhà nước và các chủ sở hữu mới. Trong các chủ sở hữu này – các công ty mua bán rất rẻ các túi cổ phiếu (ở Uralmasha từ trước việc bao mua với giá rẻ mạt của cư dân công ty Moscow “Bioprocess” đã có 18,5% toàn bộ các cổ phiếu, các thí dụ tương tự như vậy rất nhiều). Còn ban giám đốc và những người thân ông ta ấn định cho mình mức cao gấp hàng trăm lần so với mức lương trung bình của công nhân viên chức, ngoài ra “những kẻ chụp giật được” một món tiền cổ phiếu kếch xù trong thời gian tư nhân hóa và từ những người điều khiển quán lý đại diện cho xã hội, họ đã chuyển thành những chủ sở hữu vốn. Nếu lưu ý tới sự phụ thuộc hoàn toàn về tài chính của các xí nghiệp vào các ngân hàng thương mại và các thị trường chứng khoán (hàng hóa và vốn), vào thị trường chứng khoán trung gian, thì ở “mặt kia” chúng ta sẽ nhìn thấy một giai cấp tư sản mới đang được bổ sung bằng kiểu rất nhanh từ các nhóm elite kể trên, và liên kết với nó là giới quan chức cao cấp tham nhũng trong bộ máy hành chính ở cả trung ương lẫn địa phương.

Đó là ba lọa hình cơ bản xung đột xã hội trong thời đại chúng ta. Tính chất của các chủ thể tham gia xung đột là cái quyết định các phương thức giải quyết xung đột, các hình thức áp dụng bạo lực cũng như các tiêu chuẩn luật pháp làm cơ sở để các bên đối lập có thể bước vào thương lượng và đạt tới sự thỏa hiệp mà không cần phải dùng tới bạo lực đại trà. Những rắc rối riêng lẻ ở cấp  các nhóm nhỏ và cá nhân trên thực tế không thể tránh khỏi trong mọi trường hợp. Thậm chí các cuộc tranh cãi trong quốc hội, như ta đã biết thường có thể biến thành cuộc ẩu đả, dù là ở Nhật Bản hay nước Nga.

Có ý nghĩa hết sức quan trọng là câu hỏi mà chúng ta đặt ra khi bước vào thảo luận. Sự đụng độ về lợi ích tất yếu đi đôi với sự đụng độ về ý kiến đánh giá lập trường xuất phát đạt được trng tiến trình xung đột và các kết quả cuối cùng khi giải quyết xung đột. Những đánh giá này thường đối lập nhau, bởi vì thắng lợi của bên này tức là thất bại của bên kia và ngược lại. Chính vì vậy các phạm trù đánh giá loại công bằng – bất công ở đây không dùng được. Trong những điều kiện của một xã hội vận hành ổn định, tiêu chuẩn vai trò xã hội của xung đột có thể là tương quan giữa những cái được và những cái mất, hay nói cách khác, cái mà xã hội phải trả cho nó: những mất mát về vật chất, đạo đức, con người khi đối sánh chúng với những bước tiến đạt được và với những triển vọng được mở ra. Chính vì thế ngay cả với một hệ thống hoạt động ổn định, lập trường của thuyết cơ cấu chức năng coi xung đột xã hội là “sự sai lệch bệnh hoạn”, “giải chức năng”, là một quan điểm phiến diện và bởi vậy, không thể chấp nhận được. Các cuộc xung đột xung quanh dân quyền ở Mỹ không tránh khỏi những tổn thất, kể cả vụ sát hại L.M. King, nhưng đồng thời xung đột đã góp phần tạo nên một bước tiến căn bản về số phận của dân da đen ở Mỹ và nhìn chung chúng đã làm cho xã hội ngày càng lành mạnh hơn.

Phức tạp hơn là vấn đề về việc đánh giá các cuộc xung đột xã hội dẫn tới các chuyển biến về chất trong sự phát triển lịch sử của xã hội. Ở đây chúng ta không thấy tiêu chí khác hơn là đánh giá xung đột trên lập trường tiến bộ lịch sử (với tất cả cuộc tranh luận về sự giải thích khái niệm này!). Sự hình thành các nhà nước dân tộc ở châu Âu đã mang lại không gian tự do để khắc phục tình trạng phong kiến cát cứ và để phát triển chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành đó đã kéo theo nhiều cuộc xung đột và chiến tranh, việc đánh giá chúng rất không đơn giản, cần phải có cách tiếp cận ịch sử – cụ thể. Trong chủ nghĩa Marx bị giáo điều hóa thống trị ở nước trong suốt hàng chục năm, nguyên tắc này đã được nêu ra, nhưng không được tuân thủ. Phép biện chứng rất coi trọng ý nghĩa to lớn của vai trò mâu thuẫn trong sự phát triển xã hội, nhưng phải chăng như vậy mâu thuẫn nào và xung đột nào cũng tương ứng với tư cách là sự gay gắt của mâu thuẫn về thực chất, cũng là có lợi? Trong “Từ điển triết học” chúng ta đọc: “Mâu thuẫn là phạm trù, biểu hiện nguồn gốc bên trong của mọi sự phát triển, mọi vận độn”. Từ đó mà có sự đánh giá tích cực một chiều về xung đột xã hội, nhưng nếu áp dụng đối với các đụng độ của các quốc gia và các sắc tộc người ta có phần thận trọng, thì xung đột bên trong một xã hội hoàn toàn phù hợp với định nghĩa như vậy. Ngoài ra, xã hội Xô Viết trong giai đoạn chủ nghĩa xã hội, là trường hợp ngoại lệ của quy tắc chung; sự thống nhất xã hội được công nhận là không có mâu thuẫn bên trong mang tính chất xã hội, tức là giữa giai cấp các tập đoàn xã hội; nhiều lắm cũng chỉ nói về những khác biệt căn bản, và sau đại hội lần thứ XX – về các mâu thuẫn không đối kháng. Để biện minh cho sự khủng bố hàng loạt kéo theo sự hy sinh của hàng triệu người, người ta đã đặt ra công thức “kẻ thù của nhân dân” cần trấn áp vì đó là đại diện của các lực lượng thù địch bên ngoài, gián điệp hay tình báo của nước ngoài. Các mâu thuẫn và các xung đột bên trong đã được “chuyển ra ngoài”, đực xem như là sự biểu hiện của các mâu thuẫn và xung đột, bên ngoài.

Việc phân tích các tác phẩm của Marx và Engels cho thấy rằng không phải xung đột xã hội nào cũng được xem là “động lực của tiến bộ”. Câu danh ngôn của Marx “bạo lực là bà đỡ của bất kỷ xã hội cũ nào, khi nó đang thai nghén cái mới” được dành để nói tới các cuộc cách mạng xã hội, thí dụ Cuộc cách mạng Pháp năm 1789 – 1793. Xin lưu ý rằng, ngay hiện nay vẫn có những người ca ngợi không phải cuộc các mạng vĩ đại này, mà cuộc nổi dậy ở Vandea, cái được coi là biểu tượng của phản cách mạng. Nhân loại kỷ niệm 200 năm cuộc Cách mạng Pháp, bởi vì tiến trình lịch sử của châu Âu và của toàn thế giới đã xác nhận rằng, Cách mạng Pháp đã thúc đẩy tiến bộ xã hội. Điều này, tất nhiên không biện minh cho mọi tham vọng được thực hiện nhân danh nó.

Cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã làm dấy lên trận cuồng phong những phản ứng hân hoan và hằn học, cũng giống như những hoạt động nhân danh những lý tưởng của nó và những hoạt động nhằm mục đích “bóp chết” cuộc cách mạng này “ngay khi còn trong nôi”, như cách của W. Churchill. Ở nước Nga, cuộc cách mạng tháng Mưỡi vĩ đại đã được nghiên cứu xem xét trong nhiều năm, nói theo cách nói của Stalin, nó như là “bước ngoặt căn bản trogn lịch sử toàn thế giới của nhân loại” theo hướng giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Sau đó, khi những kỳ vọng về một cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới không còn nữa nổi lên hàng đầu là việc đánh giá ý nghĩa dân tộc của cuộc cách mạng tháng Mười, cái đã nâng đất nước trong một thời hạn lịch sử ngắn ngủi thoát khỏi nạn mù chữ và cảnh khốn cùng của phần lớn dân cư, lên mức sống khá đầy đủ trên cơ sở những đảm bảo xã hội, tiến tới đỉnh cao của tiến bộ khoa học – kỹ thuật, tình hữu nghị giữa các dân tộc. Không có các thành tưu của những năm 20 – 30, đất nước chắc chắn đã không thể đương đầu nổi sự tấn công ồ ạt của quân xâm lược Đức, và nếu không đạt được thế cân bằng về tên lửa hạt nhân, thì chắc đã không thể đứng vững được trước sự bành trước của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ đã trù tính sự tấn công bằng hạt nhân vào Liên Xô trong những năm 50. Khuynh hướng tâng bốc các thành tựu của mình và chủ nghĩa lạc quan sáo rỗng sống rất dai dẳng ngay cả khi tình hình bắt đầu ngày càng xấu đi, và sự tụt hậu so với phương Tây đã gia tăng. Để làm ví dụ có thể dự báo của viện sĩ A.G. Agenbegjan – vào năm 1988 cho rằng đến dịp kỷ niệm 100 năm cách mạng tháng Mười, tức là vào năm 2017, Liên Xô sẽ vượt Mỹ và Nhật trên tất cả các chỉ tiêu, sẽ đứng vị trí hàng đầu thế giới. “Những dự báo” tương tự càng làm sâu sắc hơn sự không tin tưởng không chỉ đối với chính quyền, mà cả với khoa học bởi vì vào thời gian này đã có một “dự báo” có tính chất toàn cầu – lời hứa của Cương lĩnh của Đảng về việc xây dựng cơ sở của chủ nghĩa cộng sản tới năm 1980 – đã hoàn toàn bị sụp đổ.

Hiện nay đang dâng lên làn sóng ngược lại nảy sinh do sự phá sản của cuộc cải tổ. Liên bang tan rã do sự bần cùng hóa của nhân dân. Thí dụ S.S. Alekseev xem mọi cuộc cách mạng đều là “điều ác tuyệt đối”. Chúng tôi cho rằng đây là hiện tượng nhất thời. Vai trò của cuộc Cách mạng Tháng Mười trogn sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, trong sự hình thành một chính sách nhằm tập trung vào việc kết hợp các nguyên tắc thị trường và kế họach trong việc quản lý nền kinh tế ở phương Tây và phương Đông là điều  hiển nhiên. Thiết nghĩ rằng trước khi đến ngày lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười, nước ta, dựa vào thành quả được tạo ra sau cuộc cách mạng, sẽ khôi phục lại sức mạnh là một cường quốc của mình và rút ngắn về căn bản khoảng cách ngày tăng (tạm thời là thế) về nền kinh tế và điều kiện sống của nhân dân so với các cường quốc đã tiến theo hướng của xã hội hậu công nghiệp trên thế giới. Vai trò tiến bộ của xung đột xã hội mà xét về quy mô là mang tính chất toàn cục này sẽ được lịch sử chiếu rọi sáng không kém gì vai trò của cuộc cách mạng Pháp.

Người dịch: Triệu Thị Ánh

TĐB 94 – 24 & 25

Xung đột xã hội: Chiều cạnh triết học – Phần V


Các kiểu xung đột xã hội và đánh giá vai trò của chúng

Việc phân loại xung đột xã hội không thể tách rời phân định kiểu hình các quan hệ xã hội, bởi vì xung đột là trạng thái cực trị của các quan hệ xã hội và phát sinh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Một trong những sơ đồ có khả năng để phân loại xung đột xã hội là tiếp tục cách phân chia các quan hệ xã hội của Marx thành các quan hệ kinh tế, chính trị, tư tưởng. Tương ứng các xung đột kinh tế, chính trị khác nhau trong lĩnh vực hệ tư tưởng (hiểu với nghĩa rộng của khái niệm này – trong lĩnh vực tư tưởng) cũng có sự khác nhau. Tính quy ước rất rõ của cách phân chia đó, mà chúng ta đã nêu ra ở trên, là do tất cả các lĩnh vực này đều gắn bó chặt chẽ với nhau: cơ sở của xung đột chính trị là sự khác biệt và tính đối lập về lợi ích kinh tế, mà các lợi ích này trước hết có hiệu lực thực tế, thường diễn ra thông qua ý thức và bao trùm cả lĩnh vực tư tưởng, biểu hiện trong xung đột về thế giới quan, tư tưởng và tình cảm. Tuy nhiên, tính độc lập tương đối và logic phát triển riêng biệt phân biệt từng lĩnh vực một trong số này của đời sống xã hội, và do đó có thể áp dụng cách phân loại này, trong một chừng mực nhất định. Xung đột giữa hai nhánh quyền lực ở Liên bang Nga – cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp – đã diễn ra trong suốt những năm 1992 – 1993, bùng lên và lụi đi sau sự thỏa hiệp thường lệ một mặt, giữa Tổng thống, những người thân cận của ông ta và chịu sự ảnh hưởng của chính phủ, mặt khác, giữa Xô viết tối cao, và Đại hội đều bị giải tán. Ngày 12 tháng Chạp năm 1993, Hiến pháp mới đã được thông qua, trao những quyền hạn rất rộng cho Tổng thống và các quyền hạn bị cắt giảm đi rất nhiều cho Quốc hội mới, điều này báo trước cuộc xung đột này sẽ tái diễn, nhưng với một tương quan lực lượng khác: mặc dù phái cấp tiến cánh hữu hay viện Duma là thiểu số, trung tâm quyền lực tập trung trong tay bộ máy của Tổng thống.

Cuộc xung đột thoạt nhìn có vẻ là thuần túy, mang tính chất chính trị: cuộc đấu tranh để phân chia lại quyền lực trong nhà nước, thể hiện một cách tự nhiên qua cuộc đấu tranh giữa các thủ lĩnh. Nhưng nếu nhìn sâu hơn thì hóa ra ở đây, cơ sở là cuộc đấu tranh cho những phương án khác nhau nhằm tiếp tục cải cách nền kinh tế đang trong tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng. Hoặc là tiếp tục chính sách tiền tệ đang đưa tới việc làm xấu đi tình cảnh vật chất của phần đông những người lao động làm thuê, những người hưu trí, sinh viên… dẫn tới việc biến nạn thất nghiệp âm ỉ 8 – 10 triệu người thành tình trạng thất nghiệp công khai do sự phá sản của hàng loạt các ngành công nghiệp và giải thể các cơ quan khoa học, hoặc là chính sách kinh tế quản lý tập trung ôn hòa hơn để ủng hộ người sản xuất và nâng cao mức bảo hiểm xã hội đối với đa số, nhưng phải chịu nguy cơ tốc độ lạm phát cao hơn và không thực hiện được những điều kiện cho vay của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và những tổ chức cho vay vốn khác của phương Tây. Cuộc xung đột này là xung đột về mặt kinh tế, và nói một cách chính xác, là xung đột về mặt kinh tế – xã hội. Đồng thời nó còn là cuộc xung đột về tư tưởng, bởi vì có sự xung khắc ý kiến về đường lối ổn định nền kinh tế và mức sống của cư dân: giữa một bên là các chương trình của nhóm Gaida – Chubajsov và bên kia là quỹ “Cải cách”, của các viện thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga. Nhưng trong những biểu hiện cá biệt của cuộc xung đột chung, trong đó có sự đụng độ về lợi ích sống còn của các tập đoàn xã hội khác nhau, tức là trong các cuộc xung đột riêng lẻ – trong các nhánh nhỏ của dòng sông chính trị thì sự phân chia nói trên có thể chấp nhận được. Thực tế, cuộc xung đột ở khu vực bầu cử giữa các ứng viên hay giữa các phe phái ở Duma về từng vấn đề cụ thể có thể được xem như là xung đột chính trị; giữa ban giám đốc của nhà máy và tập thể người lao động về điều kiện lao động – là xung đột kinh tế, xung đột giữa nhà khoa học có quan điểm khác nhau trên báo chí tranh luận về các chương trình trên – là xung đột về tư tưởng, “nhận thức”.

Sơ đổ được thừa nhận rộng rãi là sơ đồ của nhà xã hội học người Mỹ R. Dale, đề ra. Ngoài cách phân chia và đồng thời có sự chuyển hóa tuyến này thành tuyến khác: xung đột chính trị – kinh tế; xung đột lợi ích – xung đột quan điểm; xung đột có bạo lực – không có bạo lực. Sơ đồ của Dale thiếu quan điểm biện chứng. Đặc biệt, “xung đột về lợi ích” trong sơ đồ của ông đúng hơn có thể coi là dạng xung đột của hoạt động thực tiễn, bởi vì lợi ích thể hiện cả trong các mặt tinh thần, lý luận trong các mặt thực tiễn, vật chất của xung đột. Việc dẫn ra các tiêu chí bạo lực – phi bạo lực là có căn cứ và tất nhiên là rất quan trọng khi phân tích các đường hướng giải quyết xung đột và đánh giá nó.

Nhiệm vụ của bài này không phải tổng quan phê phán nhiều kiến nghị về cách phân loại xung đột nói chung đặc biệt là xung đột xã hội. Chúng ta muốn đưa ra cách phân định kiểu hình dựa trên những khác biệt của các chủ thể xã hội tham gia xung đột đang đại diện cho các quan hệ xung đột với tư cách là biểu hiện cao nhất của quan hệ qua lại của chúng nói chung. Theo sự khẳng định của chúng tôi, các khả năng và những đường lối để giải quyết nó phụ thuộc chủ yếu vào bản chất xã hội của các chủ thể xung đột, đó cũng là cái quyết định “công nghệ” giải quyết xung đột mà các khoa học xã hội đề ra. Cuối cùng, đó cũng là cái trực tiếp quyết định vai trò của xung đột xã hội trong sự phát triển xã hội.

Khái niệm “xã hội” được dùng để chỉ nhân loại, cũng như một cộng đồng cụ thể, mà trong các thời đại lịch sử khác nhau đại diện là các bộ lạc, sau đó là các bộ tộc, dân tộc hiện đại, được hình thành về mặt chính trị dưới dạng một quốc gia. Quá trình hình thành các dân tộc – quốc gia ở nhiều khu vực thế giới vẫn chưa kết thúc, cả các tập đoàn tộc người thường xuyên có kỳ vọng không chỉ rơi vào quyền tự trị về lãnh thổ, hay về văn hóa – ngôn ngữ, mà còn muốn tách riêng ra và hình thành quốc gia của mình. Mâu thuẫn giữa nguyên tắc không xâm phạm biên giới quốc gia và quyền của các dân tộc, các tập đoàn tộc người về quyền tự quyết, được giải thích như là quyền được tách ra, nó đang làm nhức nhối xã hội hiện nay và là nguồn gốc của nhiều cuộc xung đột. Ở nước ta, mâu thuẫn này đang thể hiện một cách đặc biệt gay gắt.

Kiểu xung đột xã hội thứ nhất – xung đột các xã hội, bắt đầu từ những đụng độ giữa các bộ tộc vào thời xa xưa và kết thúc bằng các cuộc chiến tranh của thế kỷ XX, giữa các khối liên minh quốc gia lợn nhất của thế giới; chủ thể ở đây là các quốc gia. Trong việc giải quyết các cuộc xung đột như vật, đóng vai trò cơ bản là luật pháp quốc tế. Tuy nhiên ở đây phải nói rằng, sức mạnh lại luôn là cái cao hơn cả luật pháp và thường dẫn tới hệ thống quốc gia và các quan hệ mới giữa chúng. Sau các hội nghị ở Wien (1815), Versal (1919), Yalta và Postdam (1945) việc chỉnh lại các đường biên giới ở châu Âu và trên toàn thế giới đã được tiến hành, thiết lập các đường biên giới mới, được luật pháp quốc tế bảo vệ và sau đó được các hiệp ước mới (Helsinki, 1975) xác nhận. Nhưng tất cả những cái đó là trước khi xảy ra “cuộc chiến tranh mới”, một cuộc chiến đảo lộn thế giới bằng “sức mạnh”, để lại một lần nữa đòi hỏi phải áp dụng các quy phạm của luật pháp quốc tế. Sự kết thúc “cuộc chiến tranh lạnh” trong những năm 1989 – 1991 đã dẫn tới những hậu quả tương tự, trong đó có sự sụp đổ của Liên Xô và Nam Tư. Mỹ, NATO, OON đã vội vã thừa nhận các quốc gia mới theo những đường biên giới nguyên là những đường biên giới nội bộ, có tính chất hành chính và ngay lập tức chúng trở thành đường biên giới quốc gia. Các đường biên giới này cũng lập tức được áp dụng nguyên tắc không xâm phạm biên giới – và đó chính là nguồn gốc của các cuộc xung đột gay gắt nhất, phát triển thành các cuộc chiến tranh trên lãnh thổ cả hai nước.

Kiểu xung đột thứ hai – giữa các tập đoàn tộc người bên trong xã hội có thể chế quốc gia. Đối tượng của cuộc tranh cãi có thể là lãnh thổ đang sinh sống và mức độ chủ quyền các đơn vị lãnh thổ hiện có hay muốn có (trong khuôn khổ quốc gia đó) hay thậm chí có thể đòi được tách ra riêng. Các dạng xung đột này được thể hiện rộng khắp ở nước ta: chỉ ở Bắc Kavkaz cũng có đủ mọi dạng thức của kiểu xung đột này.

Một dạng xung đột sắc tộc khác bên trong quốc gia cũng có những dạng thức khác nhau, biểu hiện rõ trên lãnh thổ nước ta sau khi Liên Xô sụp đổ. Đây là cuộc đấu tranh của các dân tộc thiểu số đòi các quyền bình đẳng công dân, và sau đó khi đã đạt được mục tiêu đề ra – lại đòi phải thực hiện các quyền trên trong kinh tế và văn hóa. Nếu như ở Latvia và Estonia cái được nêu lên hàng đầu là vấn đề cấp quốc tịch cho nửa triệu người Nga và những đại diện của các dân tộc khác đã tiếp thụ nền văn hóa Nga, thì ở đa số “các quốc gia độc lập mới” cơ sở của xung đột là sự bất bình đẳng trên thực tế, do luật về ngôn ngữ quốc gia chính thức của dân tộc “có địa vị” quy định và các nguyên tắc bổ nhiệm chức vụ trong bộ máy quản lý, do chính sách trong lĩnh vực giáo dục và văn hóa, cuối cùng, đơn giản là do sự lộng hành của chủ nghĩa sô-vanh trong đời sống hàng ngày. Chẳng hạn, ở Tadzhikistan, Kirgizia, Gruzia, Azerbaijan, Moldovia, có tình trạng “tẩy chay”, bài xích dùng tiếng Nga. Cả ở một số vùng tự trị trước đây của Liên bang Nga (Chechnya, Tuva) cũng vậy. Mặt khác, dọc theo lãnh thổ của nước Nga còn có người Đức, người Do Thái, người Hy Lạp sinh sống, bị các lực lượng bên ngoài xúi giục, cảm thấy bản sắc dân tộc có nguy cơ mất đi, họ ồ ạt kéo nhau tìm về đất nước lịch sử, mà trước đây tổ tiên xa xưa của họ đã rời bỏ. Các quá trình này diễn ra không có các cuộc xung đột đáng kể.

(còn tiếp) 

Người dịch: Triệu Thị Ánh

TĐB 94 – 24 & 25

Xung đột xã hội: Chiều cạnh triết học – Phần IV


Còn có một vấn đề triết học quan trọng nữa – đó là vấn đề sự tương quan của các nhân tố bên trong và bên ngoài trong sự nảy sinh, diễn biến và giải quyết xung đột xã hội. Điều này càng cần thiết hơn vì cách định nghĩa thông thường cho rằng xung đột chỉ là sự đối lập các chủ thể, không nêu bật được vấn đề về những tác động bên ngoài.

Sự tương quan của các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, về thực chất quy về vấn đề triết học cũ về tính toàn vẹn tương đối của sự vật, hay nói theo cách nói hiện nay, của hệ thống. Những mâu thuẫn, là bên ngoài đối với hệ thống này, là những mâu thuẫn bên trong đối với hệ thống thuộc lớp cao hơn, mà hệ thống trên tiểu hệ thống của nó. Chẳng hạn, những mâu thuẫn bên trong nguyên tử giữa hạt nhân và vỏ điện tử là bên ngoài đối với hạt nhân, nơi có mâu thuẫn giữa lực đẩy tĩnh điện và lực hút hạt nhân. Đến lượt mình, các mối liên kết hóa học trong phân tử thể hiện với tính cách là các liên kết bên ngoài đối với nguyên tử với Vũ trụ cũng vậy, với nó, mọi lực tác động và mâu thuẫn đều là mâu thuẫn bên trong gắn bó chặt chẽ với nhau.

Trong xã hội, điều đó còn thể hiện rõ nét hơn: mâu thuẫn giữa các quốc gia phải được xem như là mâu thuẫn bên ngoài đối với sự tồn tại của mỗi quốc gia, nhưng mâu thuẫn này, một mặt, là bên trong đối với cộng đồng khu vực, và mặt khác – chúng lại tác động tới các mâu thuẫn bên trong, khi chúng có những người đại diện cho lợi ích của các tập đoàn xã hội, của giới Elite chính trị các giới cầm quyền riêng của mình. Thí dụ, rõ ràng là ở Nga trong thời kỳ nội chiến 1917 – 1920, chỉ có lực lượng giai cấp bên ngoài, thậm chí nhờ vào sự can thiệp trực tiếp, là ủng hộ kẻ thù của Chính quyền Xô viết – bọn bạch vệ và bọn ly khai dân tộc, chủ nghĩa còn các lực lượng khác – phái Bolsevich, và Hồng Quân.

Để hiểu được mối liên hệ của mâu thuẫn, với tư cách quan hệ bề sâu thường xuyên tác động với xung đột, tới tư cách là sự biểu hiện gay gắt, ác liệt của nó, sự đụng độ trực tiếp của các lực lượng đối lập, thường phải sử dụng bạo lực thì cần phải xem xét thêm một khâu trung gian, đó là tình huống xung đột. Đặc trưng của tình huống xung đột quan hệ ngày càng căng thẳng giữa các lực lượng có mâu thuẫn đối lập và nó có thể dần dần dịu đi, nếu các bên (hay một bên) chịu nhượng bộ, nếu như áp dụng các biện pháp có hiệu quả để dàn xếp cuộc xung đột đang chín muồi, sử dụng các cơ chế pháp luật, chính trị, tư tưởng nhằm đạt được sự thỏa hiệp. Trong trường hợp ngược lại, bùng nổ tự phát hoặc giả có bất mãn, đôi khi chỉ do một nguyên cớ hết sức đơn giản (thí dụ, như việc cảnh sát da trắng đánh đập dã man một người da đen do vi phạm luật giao thông ở California), tình huống xung đột có thể dễ dàng biến thành một cuộc xung đột dùng đến bạo lực của nhiều người.

Vấn đề này được bàn một cách sâu sắc trong cuốn sách mới đây của R. Darendorf. Sau 30 năm lại quay trở lại vấn đề xung đột, bây giờ không phải trong xã hội công nghiệp, mà trong xã hội hậu công nghiệp của các nước được ưu đãi của phương Tây (“tỷ phú vàng”), mà cụ thể là các nước thành viên OECD, tác giả khẳng định rằng “Còn có đủ dấu vết của các cuộc xung đột cũ. Ở đây muốn nói đến các dạng thức đấu tranh giai cấp những năm xưa”. Vậy là, Darendorf đang từ giã vấn đề xung đột giai cấp. Theo quan điểm của chúng tôi, trong trường hợp này, ông ta đã tỏ ra vội vàng – bên ngoài phạm vi OECD vẫn còn bốn phần năm nhân loại đang sống, ngoài ra, ông xem xét mâu thuẫn với tư cách mâu thuẫn cơ bản của phương Tây hiện đại: “giữa giai cấp đa số và thiểu số không còn là giai cấp nữa” vẫn tồn tại một cơ sở giai cấp nhất định, bên cạnh cơ sở tộc người mà tác giả rất chú trọng xem xét. Ở Mỹ, một bộ phận cơ bản của cư dân da đen v à “những người thuộc châu Mỹ Latinh”, những người da trắng nghèo ở một số vùng nông nghiệp, những người thường xuyên thất nghiệp, những người lang thang và những đại diện cho lớp người “dưới đáy xã hội” khác thực sự thiểu số mất địa vị giai cấp. Ở Tây Âu, đó là các kiều dân, trong số đó từ các thuộc địa trước đây (và bây giờ cả từ Đông Âu và Liên Xô cũ), các dân tộc thiểu số cũng như công dân bình thường đã rơi xuống đáy xã hội và không đủ sức để thoát ra nữa. Cuộc đấu tranh giữa người giàu mới và người nghèo mới (ở châu Âu giàu có con số người nghèo là 50 triệu, trừ khu vực Bắc Âu, người nghèo chiếm đến đến 1/3 cư dân), thường xuyên sống trong tình huống xung đột. Nếu như không tính các trường hợp đặc biệt, khi xung đột giữa các dân tộc thiểu số và nhà nước kéo dài nhiều thế kỷ và sự có mặt của tổ chức khủng bố hiếu chiến (người Ai Len ở Ol’ster, những người Bask ở Tây Ban Nha và…), dân tộc thiểu số bị đè đầu cưỡi cổ, tuy vẫn có các quyền công dân, nhưng không đủ sức thành lập ra một tổ chức lãnh đạo họ và đủ sức đương đầu trong cuộc xung đột với nhà nước. Nhưng khi tình huống xung đột chuyển một cách tự phát thành xung đột, tổ chức ấy dễ dàng bị “lực lượng trật tự” dẹp yên. Những mâu thuẫn – và do đó cả tình huống xung đột – đã tồn tại trong quan hệ giữa Liên Xô và Mỹ trong suốt các thập niên sau chiến tranh, đã biến thành xung đột, thường là ở ngoại vi các khu vực ảnh hưởng: ở Trung Cận Đông, châu Á, cũng như trong lòng các nước thuộc khối Hiệp ước Warsawa (năm 1953 – Berlin, 1956 – Hungary, 1968 – Czech & Slovakia…). Các bên đã cố gắng tránh xung đột công khai, bởi vì luôn đứng trước nguy cơ tiêu diệt lẫn nhau bằng vũ khí nguyên tử, chính bởi vậy cuộc khủng Caribean năm 1962 là cuộc khủng hoảng duy nhất đã vượt qua được. Lịch sử về sự mâu thuẫn của hai cường quốc thế giới còn được minh chứng rõ ràng qua ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài tới cuộc xung đột bên trong cho đến mức các cuộc xung đột này là do các lực lượng bên ngoài gây nên và làm hậu thuẫn.

Sự đối đầu này kết thúc, như chúng ta đều biết, bằng sự sụp đổ của “khối phương Đông”, bằng sự thất bại của Liên Xô và bằng sự chia nhỏ nó. Các lực lượng bên ngoài mà đại diện là Mỹ và khối NATO đã tổ chức và ủng hộ các lực lượng bên trong của sự tan rã. Chính họ đã nói một cách công khai về điều này, bắt đầu từ A. Dalles. Trong các công trình chính trị học của H. Kissinger và Z. Brezinsky đã “dàn dựng” nên mọi kịch bản. Ảnh hưởng của chúng tới chính sách thực tế là rất rõ, ảnh hưởng này được nhấn mạnh bởi ý nghĩa của các chức vụ Quốc vụ khanh và cố vấn Tổng thống về an ninh quốc gia. Khi “công việc đã được làm xong” với sự giúp đỡ của các lực lượng nhất định nội ứng ở Moskva và ở các nước cộng hòa trong liên bang. Tổng thống Bush đã có thể công khai phát biểu tại Đại hội của Đảng Cộng hòa ngày 20/8/1992: “Thưa các ngài, xin các ngài đừng nghi ngờ gì nữa, sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản không phải là một cái gì đó đương nhiên tự nó xảy ra. Để làm được điều này cần phải có sự lãnh đạo cương quyết của chủ tịch cả hai đảng”.

Tất nhiên, cuộc xung đột giữa trung ương và các lực lượng chia rẽ thông qua khối liên minh của giới Elite dân tộc đã đóng vai trò của mình. Thật đáng tiếc việc tham gia vào khối liên minh này của các nhà cầm quyền nước Nga. Họ đã làm tất cả những gì có thể để phá nát một quốc gia đã được tạo dựng nên bao thế kỷ, quốc gia này ngay từ thời Chính quyền Xô viết vẫn là một nước Nga vĩ đại, ở đó, tất cả các dân tộc đã tồn tại một cách thanh bình và chính sau năm 1917, họ đã có khả năng để phát triển nhanh chóng nền kinh tế và văn hóa. Tất nhiên, không phải là ngẫu nhiên mà có việc những người tham gia mật ước Belonezh đã báo tin trước tiên về nó cho Tổng thống G. Bush, và sau đó cho M. Gorbachev. Hiện nay Mỹ và NATO đã làm tất cả mọi thứ theo sức của họ để không cho các quốc gia mới xích lại gần nhau, làm cho chúng không liên kết với nước Nga, cũng như ủng hộ chủ nghĩa phân lập bên trong liên bang Nga. Những tình huống xung đột tại các vùng biên giới của liên bang trước đây (Tadzhikistan, Prdinestrob’e, Crimea), tại các vùng biên giới của Liên bang Nga (Abkhazia) và bên trong nó (Chechnya và toàn bộ khu vực Bắc Kavkaz), đang chuyển thành các cuộc đụng độ vũ trang gay gắt, do Mỹ và các đồng minh đạo Hồi của chúng khởi xướng. Hơn nữa, Mỹ và các tổ chức quốc tế (SBSE, CON) đang chịu ảnh hưởng của chúng ngày càng cố giành cho được vai trò người trọng tại trong tất cả các cuộc xung đột này, mà lại là một trọng tài rõ ràng không vô tư.

Mức độ thiên kiến chính trị phải thế nào, nếu nó đã loại trừ từ trước cách tiếp cận khách quan, để trong các công trình khoa học “không nhận thấy” vai trò của các lực lượng bên ngoài trong sự tan rã của Liên Xô? Chúng tôi chỉ dẫn ra một, mặc dù có cả ngàn thí dụ – một cuốn sách của các nhà sử học Viện Marx – Lenin trực thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây, nay là Viện nghiên cứu độc lập các vấn đề xã hội và dân tộc của Nga nhan đề “Lễ kỷ niệm không thành. Tại sao Liên Xô không tổ chức kỷ niệm 70 năm của mình?”. Ở đây  đã thu thập không ít tài liệu lý thú, chứng minh về những mâu thuẫn bên trong gay gắt và về các cuộc xung đột diễn ra trong toàn bộ lịch sử của Liên bang: xung đột giai cấp – xã hội, dân tộc – tộc người, chính trị – giữa các tập đoàn của giới elite cầm quyền… Nhưng cả trong nội dung cuốn sách, lẫn trong lời giới thiệu (của A.P. Nenarokov) không hề nói điều gì về các nguyên nhân đích thực của “Lễ kỷ niệm không được tổ chức”, những nguyên nhân được quyết định bởi các lực lượng bên ngoài, bởi những mâu thuẫn giữa Liên Xô và vòng vây của CNTB trước chiến tranh, không hề nói về các mâu thuẫn và xung đột của thời kỳ sau chiến tranh trên vũ đài quốc tế trong những điều kiện của thế giới hai cực.

(còn tiếp) 

Người dịch: Triệu Thị Ánh

TĐB 94 – 24 & 25

Xung đột xã hội: Chiều cạnh triết học – Phần III


Biểu hiện đầy đủ nhất, theo quan điểm của chúng tôi, mối liên hệ của xung đột với sự mâu thuẫn là trong công thức nổi tiếng của Hegel – Marx về thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Xung đột ở đây trực tiếp gắn với cuộc “đấu tranh” giữa các lực lượng và của những khuynh hướng phát triển đối lập nhau với mâu thuẫn giữa chúng. Nhưng những đối lập đây không phải là các lực lượng bên ngoài. Chúng thuộc về khối thống nhất, một chính thể nhất định dù đó là gia đình hay đội sản xuất trong cuộc xung đột của cá thể hay của các nhóm nhỏ, hay đó là xã hội (bộ lạc, bộ tộc, hay một dân tộc hiện đại, thông thường được tổ chức và tự đồng nhất thông qua nhà nước) trong cuộc xung đột của các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các tập đoàn tộc người hay nhân khẩu học, của những người lao động của các ngành khác nhau của các nền kinh tế… Ở đây không chỉ nói về các mặt đối lập, mà cả về sự thống nhất về lợi ích, là cái tạo ra cơ sở khách quan để giải quyết xung đột.

Tất nhiên, sự bất đồng của các lợi ích thường nghiêm trọng đến mức sự thống nhất “không chịu đựng nổi” sức ép và bị phá vỡ. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là sự thống nhất mất đi hoàn toàn. Thay thế các gia đình tan vỡ, những gia đình mới được thành lập từ những mảnh vỡ ấy. Sự sụp đổ của nhà nước diễn ra trong khuôn khổ của cộng đồng khu vực rộng lớn hơn và nó được hoàn tất bằng việc xây dựng các quốc gia mới từ những bộ phận hợp thành đó. Kết cục, khi đã chấm dứt một hình thái nhất định thì cuộc đấu tranh của các giai cấp có thể được kết thúc bằng sự diệt vong của các giai cấp (như khi La Mã sụp đổ), nhưng chính từ những con người, trong cuộc cải tổ các quan hệ kinh tế, các giai cấp mới dần dần được hình thành. Theo ý kiến của chúng tôi, việc hình thành các giai cấp mới đang diễn ra ở Nga. Sự hình thành này bắt đầu ngay từ lúc cuộc cải tạo “dân chủ” thành thời kỳ “cải tổ”, nhưng nó thật sự triển khai ngay sau khi Liên bang bị tan rã và đường lối tư bản hóa nhanh chóng đất nước bằng các phương pháp “liệu pháp sốc” được thông qua vào tháng giêng 1992. Xã hội với tư cách là một chỉnh thể vẫn được bảo toàn, và đồng thời một sự thống nhất nào đó về lợi ích vẫn còn, và đó là cơ sở bùng nổ các xung đột.

Xung đột xã hội. Cho đến nay, chúng ta mới xem xét xung đột “nói chung”.. Xung đột có thể gọi là xung đột “về mặt xã hội” nếu như vẫn giữ được ý nghĩa cơ bản của thuật ngữ này, nó đồng  nghĩa với thuật ngữ “xung đột của xã hội”. Trong trường hợp này bất kỳ cuộc xung đột nào giữa con người với nhau đều là xung đột xã hội. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ, khái niệm “xã hội” ngay từ thế kỷ thứ XIX có nghĩa khác, hẹp hơn. Công nhân của Paris nổi dậy khởi nghĩa vào năm 1848 họ đã đề ra yêu cầu phải có một cuộc cách mạng xã hội, không chỉ dừng lại ở việc thiết lập sự bình đẳng chính trị, mà còn phải đảm bảo được sự công bằng xã hội, tuy sự công bằng đó được Proudon và Balanc giải thích theo các cách khác nhau. Marx và Engels đã dùng từ này theo nghĩa lúc ấy, “Tuyên ngôn cộng sản” đã xuất hiện ngay trước khi xảy ra cách mạng. Trong tác phẩm “Góp phần phê phán kinh tế học chính trị” (1859) Marx quan niệm cách mạng xã hội là cuộc cách mạng làm thay đổi tận gốc rễ chế độ kinh tế của xã hội, thành phần giai cấp của nó, đánh dấu sự quá độ từ một hình thái xã hội này sang một hình thái xã hội khác. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là dạng của cách mạng xã hội. Trong lời nhuận xét chủ chốt của Marx: “Phương thức sản xuất ra đời sống vật chất quyết định các quá trình xã hội, chính trị và tinh thần của đời sống nói chung” – cái xã hội rõ ràng được tách ra khỏi cái kinh tế, cái chính trị và cái tinh thần.

Có rất nhiều cách lý giải giáo điều về mối liên hệ các kiểu quan hệ xã hội trên sách báo khoa học Xô viết. Việc phân tích các quan điểm khác nhau đã được trình bày trong một trong những công trình của chúng tôi, ở đây chúng tôi sẽ chỉ nêu lên thực chất. Các quan hệ xã hội theo Marx (và trong sách báo marxist sau này), – là các quan hệ giữa các tập đoàn người, trước hết giữa các giai cấp. Các quan hệ này không được đặt cùng hàng với các quan hệ kinh tế, chính trị, tinh thần, mà là một “lát cắt”, một “khía cạnh”, một “hợp phần” quan trọng nhất của chúng. Chính với nghĩa đó, khái niệm này, khi kết hợp với khái niệm “xung đột”, có nghĩa là xung đột giữa các tập đoàn xã hội các kiểu nói chung.

Xung đột xã hội là đối tượng nghiên cứu xã hội học lý luận, nó thường được định nghĩa là “khoa học về các cộng đồng xã hội, về các cơ chế hình thành, vận hành và, phát triển chúng”. Các cộng đồng như vậy được hiểu trước hết là các tập đoàn xã hội lớn bên trong một cấu thể tộc người hay một cấu thể nhà nước dân tộc, cũng như chính các cấu thể đó. Vì thế, xung đột giữa các cá thể và các tập đoàn xã hội nhỏ nằm ngoài phạm vi đó, chúng thuộc trước hết về tâm lý học, và ở một mức độ nhất định, thuộc luật học, bởi vì chúng phá vỡ các chuẩn mực của lĩnh vực này.

Tất nhiên, ở đây không có ranh giới tuyệt đối. Chúng ta hãy xét ba trường hợp có tính giáp ranh. Trường hợp thứ nhất rất rõ: Xung đột giữa các giai cấp biểu hiện qua sự đối lập giữa chủ xí nghiệp với người công nhân bị sa thải. Nếu như anh ta không vi phạm nội quy và thực hiện tốt các nhiệm vụ sản xuất, thì sự đối lập đó được chuyển thành quan hệ giữa nhà kinh doanh và nghiệp đoàn và do đó sự đối lập này có các nét xung đột giai cấp. Tương tự điều này, cuộc chiến đấu giữa hai người lính trên chiến trường là một phần của cuộc xung đột chung hơn giữa các quốc gia đang giao chiến với nhau… Theo quan điểm của chúng tôi, những chỉ dẫn phương pháp hệ mà các nhà tâm lý học đưa ra để phân tích những tình huống xung đột có tính chất giữa các cá nhân với nhau và những tìm tòi để giải quyết các cuộc xung đột này (kể cả mục đích nhằm để giảng dạy cho sinh viên) có giá trị không nhỏ, nhưng rõ ràng chúng chưa bắc được “chiếc cầu nối” từ xung đột giữa các cá thể hay trong một nhóm nhỏ sang xung đột xã hội thực sự.

Trường hợp thứ hai liên quan tới sự ô nhiễm môi trường và sự tồi tệ của các điều kiện sinh sống. Mô tả tình trạng này như sự xung đột giữa xã hội và thiên nhiên là thí dụ có tính quy giản đi vì giới tự nhiên không biết nói và không thể phát biểu với tư cách là một chủ thể của xung đột. Xung đột nảy sinh giữa con người với nhau trong việc sử dụng môi trường thiên nhiên xung quanh, từ lâu không phải là “hoang dại”. Xung đột có thể mang tính chất cá biệt (thí dụ, giữa người chủ nhà nghỉ cuối tuần ở trong rừng vứt đồ hộp trong rừng, và người gác rừng khiển khách anh ta), và khi đó các cuộc xích mích nhỏ giữa hai người phản ánh cuộc xung đột xã hội thật sự, trong đó các mặt đối lập là các tập đoàn xã hội nhất định và các thiết chế do họ lập ra. Trong điều kiện hiện nay của chúng ta, các cuộc xung đột về mặt sinh thái nảy sinh do sự quản lý vô trách nhiệm của các ngành chủ quản như Bộ Thủy lợi, Bộ Dầu khí, Bộ Năng lượng nguyên tử… là xung đột giữa cư dân của các khu vực bị thiệt hại về mặt sinh thái và nhà nước. Tiếc rằng, cư dân, thậm chí, đã gánh chịu thảm họa Chernobyl chủ yếu vẫn là bên bị động, bị thiệt hại.

Tình huống thứ ba – cuộc xung đột ngay trong tâm hồn con người là dạng xung đột giữ vị trí trung tâm trong các học thuyết tôn giáo và trong nghệ thuật. Tính chất xã hội của nó được các phương hướng khác nhau trong tâm lý học nhấn mạnh. Chẳng hạn theo Freud, giữa các niềm ham muốn say mê của con người và các chuẩn mực xã hội hạn chế chúng, có xung đột và nó chi phối toàn bộ hành vi cá nhân. Do những chuẩn mực đạo đức và quy tắc ứng xử của xã hội ấy trong thời gian ấy là do chế độ xã hội quy định, xung đột này xét về căn  bản là xung đột về mặt xã hội: các hình thức của nó được xác định bởi địa vị của tập đoàn trong hệ thống các quan hệ xã hội.

Luận điểm này được minh chứng rõ nét nhất qua văn học nghệ thuật, trong đó những tính cách và hành vi của các nhân vật là sự tập hợp các nét điển hình của các tầng lớp xã hội nhất định, và các đặc trưng cá tính cụ thể. Số phận của các nhân vật “Sông Đông êm đềm” Grigorij Malekhov, tên sĩ quan – địa chủ Lisnickij và đảng viên Bolsevich Bunchuk thể hiện quan hệ giữa các tập đoàn xã hội khác nhau trong những năm nội chiến, và cả trong những dao động nội tâm và trong những hoài nghi nội tâm của Grigorij cũng thể hiện bản chất xã hội hai mặt của Ca-dắc lao động.

Các tình huống “giáp ranh” trên đây chứng minh tính chất sai lầm của cả quan niệm thiển cận về xung đột xã hội, lẫn hạn chế nguồn tài liệu được thu thập trong khi nghiên cứu nó. Ở đây, rõ ràng là: xã hội học, chính trị học, luật học, dân tộc học, tâm lý học và khoa học kinh tế, kinh nghiệm, là những nơi “cung cấp” trực tiếp tài liệu để khái quát lý luận các xung đột hiện thực giữa các giai cấp, các tập đoàn xã hội, giữa các tầng lớp và các tổ chức do họ tạo nên bên trong xã hội đó, cũng như các cuộc xung đột giữa các xã hội, giữa các quốc gia với nhau.

(còn tiếp) 

Người dịch: Triệu Thị Ánh

TĐB 94 – 24 & 25

Xung đột xã hội: Chiều cạnh triết học – Phần II


Trước hết cần phải làm rõ có tồn tại hay không mối liên hệ giữa xung đột với tư cách là một phạm trù xã hội học với mâu thuẫn với tư cách là một phạm trù triết học, phản ánh không chỉ đời sống xã hội, mà cả tự nhiên và tư duy của chính chúng ta nữa. Nhưng khi vận dụng vào xã hội, thì khái niệm “xung đột”, tất nhiên, hẹp hơn nhiều so với khái niệm “mâu thuẫn”. Các thuật ngữ nêu ra ở trên, nhờ chúng mà các tác giả định diễn ra sự thu hẹp ấy (“sự trầm trọng”, “giai đoạn đặc biệt”, “đạt đến cao điểm”…) có một nội dung nhất định, nhưng chúng rõ ràng là không đủ và “gượng ép”. Có lẽ hiệu quả hơn là dự định phân loại các mâu thuẫn trong “Tự điển xã hội học” đang được phổ biến rộng rãi ở các nước nói tiếng Anh. Xung đột ở đó được phân biệt trước hết với cuộc ganh đua: “Khi mà hai cá nhân cùng ganh đua một cách hòa bình để kiểm soát các nguồn dự trữ hữu hạn, thì đó là ganh đua đúng hơn là xung đột…” Và, tiếp nữa, khi cùng hai cá nhân này “với những lợi ích xung đột họ sẽ tiến hành việc mặc cả qua các từ ngữ trao đổi, chúng ta thường nói đó là tranh cãi nhau”. Chẳng hạn, tính xung đột các lợi ích được các tác giả đáng kính giải thích rộng hơn nhiều so với xung đột hiểu theo đúng nghãi vốn có của nó, và “tình huống thị trường” được hiểu rộng hơn so với “tình huống xung đột”. Tình huống đầu (tức là sự cạnh tranh) theo ý kiến của các tác giả trên chuyển thành tình huống xung đột chỉ khi có những hạn chế nào đó không cho cạnh tranh tự do. Sơ đồ này đáng chú ý ở chỗ nó đưa ra một sự phân biệt giữa cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hóa tự do và sự tranh cãi giữa họ, giữa tình huống xung đột và chính sự xung đột. Nhưng trong sơ đồ này vẫn có sự thiếu sót rất rõ, cụ thể là: cạnh tranh luôn luôn tiềm ẩn xung đột, bởi vì một mặt nó chính là sự mâu thuẫn giữa những người bán và những người mua, mặt khác là sự cạnh tranh giữa chính những người bán với nhau.

Chính bởi vậy Dahrendorf và những người kế tục ông phải thừa nhận sự hiện diện xung đột tiềm tàng và ẩn, trong những điều kiện nhất định sẽ chuyển thành xung đột thực, không chỉ đúng với thị trường như đã nêu, mà còn đúng với cả các quan hệ giữa các giai cấp cơ bản của xã hội tư sản, giữa người bán và người mua nhân lực, chính là giữa giai cấp công nhân và giai cấp các ông chủ tư bản. Xung đột này tồn tại một cách tiềm ẩn, theo Darendorf, trong quá trình hình thành các giai cấp và trong tình trạng “ngừng chiến”, “không chuyển thành một cuộc đấu tranh công khai” (Dahrendorf, 1959).

Khái niệm “tình huống xung đột” “tiềm ẩn”, “ẩn”… cũng như bản thân “xung đột” thực ra được mượn ở Marks, là cách diễn đạt khác đi các khái niệm “giai cấp tự nó” và “giai cấp cho mình”. Nhưng sự phân biệt này, tất nhiên có phạm vi sử dụng rộng hơn, bởi vì nó được nâng lên tầm vấn đề về mối tương quan giữa các mặt chủ thể và khách thể trong mâu thuẫn, và vì vậy, cũng là tương quan giữa hai mặt này trong cả xung đột.

Hoạt động của con người khác với hoạt động của tổ tiên gần gũi của họ ở ý thức và ý chí. Do đó, khi định nghĩa xung đột với tư cách là sự chống đối giữa con người với nhau nhất thiết phải chỉ ra tính chất đã được ý thức của mâu thuẫn về lợi ích. Thông thường cho như thế là đủ. Nhưng nếu xem xét kỹ hơn thì tất phải nêu ra được vấn đề về sự hiện diện của các điều kiện tồn tại khách quan khác nhau hoặc thậm chí đối lập nhau, không phụ thuộc vào ý thức của những người tham gia xung đột, các điều kiện này quyết định những lợi ích của họ.

Đối với xã hội học thiên về chủ nghĩa duy vật, thì điều này không còn nghi ngờ gì nữa. Những phương hướng khác dưới hình thức này hay hình thức khác, cũng thừa nhận sự thật này, bởi lẽ không thể không nhận thấy những nguyên nhân của xung đột do bất bình đẳng về của cải vật chất, trong cuộc đấu tranh để sở hữu đất đai hay các nguồn lợi khác. Những mâu thuẫn khách quan giữa các dân tộc, các giai cấp, các cá nhân được quy định trước hết bởi sự khác nhau về vị trí của họ trong hệ thống các quan hệ kinh tế. Những mâu thuẫn này trong thời gian nào đó có thể còn chưa ý thức được; ngoài ra, sự giác ngộ không phải luôn có ý nghĩa là đã sẵn sàng để đối địch. Kẻ nô lệ có thể ý thức được mình là nô lệ, nhưng không định thay đổi tình trạng nô lệ của mình. Chú ý tới điều nêu trên, chúng tôi nghiêng về cách giải thích xung đột tiềm tàng như là sự tích lũy và sự bùng lên của những mâu thuẫn đang tồn tại khách quan về lợi ích, việc ý thức được chúng và việc biến ý thức thành yếu tố kích thích hành động.

Thí dụ, rõ ràng là có mâu thuẫn khách quan giữa lợi ích của giới giáo viên và các phạm trù người lao động khác được gọi là “những người làm công ăn lương” với các giới cầm quyền nhà nước Nga hiện nay. Trái với Sắc lệnh số 1 của Tổng thống Liên bang Nga, trong đó đã tuyên bố rằng tiền lương của các giáo viên sẽ không được thấp hơn mức lương trung bình của nền kinh tế quốc dân; vào cuối năm 1993 nó là 150 nghìn rúp, thế mà lương giáo viên chưa bằng một nửa. Trong các ngành sản xuất vật chất có mức thu nhập tương đối khá tiền lương tăng theo giá thành của sản phẩm, và trong thương mại có khoản phụ cấp, hiện nay nó được TOO quy định theo cách tính riêng, nên giá bán lẻ cao hơn giá bán buôn từ gấp rưỡi – đến gấp đôi. Trong khu vực ngân sách chưa có được mức lương đầy đủ phù hợp với việc nâng giá, các khảon phụ cấp chậm và “đảm bảo” cho việc lương ngày càng lạc hậu so với khu vực sản xuất vật chất, chứ chưa nói đến ngành thương mại và khu vực tư nhân. Đời sống buộc những người giáo viên phải ý thức được xu hướng này là 1 thực tế khách quan, nhưng có nhiều nhân tố, trước hết tình cảm trách nhiệm trước trẻ em và xã hội, họ vẫn đang kiềm chế các hoạt động đáp lại. Tuy vậy ở nhiều khu vực đã có các cuộc đình công của giáo giới mà chính quyền muốn dập bằng cách trợ cấp thêm trích từ ngân quỹ địa phương vốn đã quá eo hẹp. Còn về phần các cơ quan khoa học hàn lâm, ở đó giáo sư, tiến sĩ khoa học có mức lương bậc thứ 17 của hệ thang lương thống nhất, chỉ bằng một nửa mức lương trung bình trong nền kinh tế quốc dân và ít hơn hàng chục lần so với một người buôn bán nhỏ, thì những ý đồ đình công làm sao khiến chính quyền quan tâm được.

Việc đưa tính tự giác hành động của chủ thể vào định nghĩa về xung đột gặp phải sự phản đối từ hai phía. Thứ nhất, xung đột giữa các cá thể, mà nhất là giữa các tập đoàn (các cuộc ẩu đả “của những cổ động viên cuồng tín” ở các sân vận động, các cuộc đụng độ của những người biểu tình với cơ quan công an, lực lượng cảnh sát đặc nhiệm…) có thể được kích động bởi những xúc động mạnh hay, như từ xưa người ta đã nói, do “máu quá” chính là các xung tiềm thức hay vô thức. Puskin đã gọi cuộc bạo động Nga là “vô nghĩa và tàn nhẫn”, tu nhiên trong “Người con gái và viên đại úy” và “Lịch sử cuộc bạo động của Pugachev” ông đã nhận định đúng những lời kêu gọi của kẻ mạo xưng “sa hoàng nông dân” Emel’jan Pugachev là một người chống địa chủ, đồng thời thừa nhận rằng có yếu tố ý thức trong xung đột của quần chúng khởi nghĩa và chính phủ Ekaterina đệ nhị. Như vậy là các xung vô thức và tiềm thức trong hoạt động cơ hoạt động của con người, kể cả trong các tình huống gay cấn nhất – xung đột – không thể là cơ sở bác bỏ việc cho ý thức là đặc điểm nổi bật của xung đột. Do đó, việc dùng trong tập tính học và trong tâm lý học động vật thuật ngữ “xung đột”” đối với các cuộc giao tranh giữa các động vật cấp cao là thuật ngữ mang tính ẩn dụ.

Thứ hai, xung đột thường được hiệu chỉ là sự đụng độ, xô xát chân tay giữa các bên. Ở đây không nói đến việc tìm hiểu tình huống xung đột,  dự kiến ứng xử trong thời kỳ chuẩn bị cho những hành động thực tế. Chẳng hạn, các tác giả của công trình “Dẫn luận về lý thuyết chung về sự xung đột” nói trên, tuy có công nhận là có “xung đột nhận thức” tức là sự đụng độ về tư tưởng, các cuộc tranh luận trong khoa học, chính trị, song vẫn khẳng định “các hoạt động tư tưởng dù thế nào cũng không thể hiện hữu hình bộc lộ ra thành một yếu tố của sự xung đột đã được bắt đầu, là cái được hiểu là sự đối chọi trên thực tế, chứ không phải là sự đối chọi tưởng tượng” giữa các bên. Trong các cách lập luận như vậy, mối liên hệ qua lại biện chứng giữa cái tinh thần và cái vật chất trong hoạt động của mỗi con người đã không được xem xét một cách thích đáng.

Thực ra, cuộc xung đột nổi tiếng năm 1989 giữa những người thợ mỏ ở Kuzbasz và Chính phủ Liên Xô lúc đó đã bắt đầu chính là vào thời điểm nào? Khi những người thợ mỏ đã “chui” sâu và đáy mỏ hay trước đó, khi đưa ra yêu sách (rõ ràng đã không được đáp ứng hoàn toàn)? Mà cũng có thể là khi đó ban lãnh đạo Nga đã có kế hoạch bãi công nhằm đấu tranh với Trung ương và đã phái đến Siberia các nhà tổ chức như B. Denisenko và các “nhà dân chủ khác”? Không thể được hiểu đúng cuộc xung đột này nếu không tìm hiểu mọi hoạt động chuẩn bị trước, thiếu việc lập kế hoạch cuộc đình công và dự báo những kết quả của nó, không đặt trong mối liên hệ với cuộc xung đột chung hơn – đó là cuộc đấu tranh của hai phe nhóm Moskva đang tranh giành quyền lực.

(còn tiếp) 

Người dịch: Triệu Thị Ánh

TĐB 94 – 24 & 25

Xung đột xã hội: Chiều cạnh triết học – Phần I


M.N. Rutkevich

Một trong những vấn đề cấp bách nhất của khoa học xã hội hiện nay là xung đột xã hội dưới mọi biến thể, chiều và khía cạnh của mình. Tài liệu kinh nghiệm to lớn về các nguyên nhân, sự phát triển và các đường lối giải quyết xung đột xã hội không ngừng được bổ sung, mà chính trên cái nền này đặc biệt thấy rõ rằng lý luận chung về xung đột xã hội còn chưa được nghiên cứu đến mà như bất kể lý luận chung nào, nó nhất thiết cần được xác định kiểu hình hiện tượng nghiên cứu. Vì các cuộc xung đột xã hội cũng như bản thân các quan hệ xã hội cực kỳ đa dạng, nên việc nghiên cứu chúng là nhiệm vụ chung của toàn bộ các ngành khoa học xã hội, tức nghiên cứu liên ngành. Trong mức độ nào đó nhiệm vụ này thậm chí vượt ra khỏi khuôn khổ khoa học xã hội, nó đòi hỏi phải lôi cuốn được, một mặt là bộ môn sinh lý học, tập tính học, sinh thái học, những tri thức về cơ cấu kỹ thuật; và mặt khác, nghệ thuật, văn nghệ, chúng là nguồn rất cần thiết để nhận thức các xung đột giữa con người với nhau và trong chính mỗi con người là những xung đột mang bản chất xã hội.

Ở đây, triết học có cần đến hay không, nói một cách khác, có tồn tại “chiều cạnh triết học hay không trong hiện tượng này, và tương ứng, cả trong lý thuyết xung đột với tư cách là trạng thái đặc biệt của xã hội và con người xã hội? Theo quan điểm của chúng tôi, tất nhiên là có. Đồng thời, ở đây, thứ nhất, cần phải nói tới triết học xã hội, cái trực tiếp gắn với xã hội học lý luận (hay nói cách khác là xã hội học vĩ mô), trong lòng của nó lý thuyết chung về xung đột đã xuất hiện với tính cách là một trong những hướng nghiên cứu, và, thứ hai, về cách tiếp cận phương pháp luận được thể hiện ở tính biện chứng. Trong việc nghiên cứu các cuộc xung đột xã hội, một cách tiếp cận như vậy là cần thiết, trước hết do tính chất phức tạp của hiện tượng được nghiên cứu mà trong đó có sự kết hợp rất chặt chẽ của các nhân tố kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, đạo đức và các nhân tố khác của đời sống xã hội.

Mâu thuẫn và xung đột

Quan niệm về xung đột với tính cách là sự chống đối lại, sự xung đối (con-flictus theo tiếng latinh – sự xung đột) xuất hiện ở thời kỳ đầu phát triển tiếng nói – ngôn ngữ, cùng với các phạm trù “chúng ta” và “họ”, phản ánh những thực tế các xung đột hàng ngày giữa con người và giữa các bộ lạc. Việc chuyển khái niệm này thành thế giới và sự tương quan các lực lượng trên thế giới đặc trưng cho những học thuyết triết học khởi thủy. Chẳng hạn, theo Emfedocl các lực lượng bạn và thù liên tục “giằng kéo” nhau chính điều này quyết định sự quay vòng của các trạng thái vũ trụ. Trong triết học Trung Quốc cổ đại âm và dương, là trung tâm các nguyên tắc nữ, và nam, là hai yếu tố quy định trào lưu của tất cả các quá trình phát triển thế giới. Tư tưởng của Heraclite nói chung bàn về sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, trong đó bàn không chỉ về đấu tranh, xung đột, mà cả về sự thống nhất, hài hóa. Sau này một số trường phái và khuynh hướng lại chú ý tới sự đấu tranh, đến sự ganh đua, còn các trường phái và các khuynh hướng khác lại chú ý tới sự đồng thuận, hài hòa. Hình mẫu cổ điển thuộc nhóm thứ nhất là học thuyết của D. Hobbs về “cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”, coi đó là tình trạng tự nhiên của xã hội loài người, là cuộc chiến tranh, có thể kiềm chế nó chỉ bằng sức mạnh nhà nước. Quan niệm về sự hài hòa như là trạng thái quyết định thế giới, đạt tới mức phi lý là học thuyết của G. Leibniz về sự hài hòa được xác lập từ trước, đòi hỏi cần phải đạt được cái ác tối thiểu, bởi vì cái ác không thể hoàn toàn mất đi được. Giải pháp hài hòa các quan hệ xã hội này đã bị Voltaire phê phán trong “Candid” nhưng đến ngày nay nó vẫn còn sống trong giáo lý Cơ đốc giáo.

Những ý đồ kết hợp các mặt đối lập thiên về một trong số các mặt kể trên đã có được hình thức cụ thể hơn trong xã hội học nửa cuối thế kỷ XIX, khi nó bắt đầu được tách ra khỏi bộ môn triết học xã hội. Nếu như các nhà theo thuyết Darwin – xã hội đã vận dụng những tư tưởng của Darwin vào các quan hệ xã hội, thiên về sự cạnh tranh các đại diện của loài homo-sapiens (người tinh khôn) thì Durkheim trong quan niệm xã hội học của mình lại coi là cái có ý nghĩa quyết định sự đoàn kết của quần xã hội bộ lạc. Hơn nữa, ông còn cho rằng “tăng tính đoàn kết tích cực” là tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội.

Đến giữa thế kỷ này, xung đột trong xã hội học mặc dù vẫn được giới nghiên cứu (thí dụ nó được G. Zimmel, nghiên cứu), tuy nhiên không thành một hướng nghiên cứu đặc biệt, coi xung đột là trọng tâm chú ý. Phương hướng đặc biệt này đã xuất hiện vào những năm 50 ở Mỹ và ở Tây Âu và nhanh chóng có tỷ trọng đáng kể trong lý luận xã hội học. Ở Mỹ, phương hướng này là sự đáp lại địa vị thống trị của chủ nghĩa chức năng cơ cấu (T Parsons và…). Hệ thống xã hội với cơ cấu nhất định về nguyên tắc có được tính ổn định, là cái được đảm bảo bởi hoạt động của các thiết chế xã hội và của các chuẩn mực hành vi cá nhân. Các cuộc xung đột giữa các cá nhân cũng như giữa các nhóm được xem xét theo quan điểm như là rối loạn về mặt chức năng “phá vỡ chức năng” cục bộ, chỉ khắc phục được nhờ hoạt động của các thiết chế ổn định. Như vậy, xung đột được coi là tiêu cực. Trong các công trình của L. Coser và hàng loạt các công trình của các nhà xã hội học khác đã đặt cơ sở ban đầu cho xung đột học, lối giải thích hạn hẹp tương tự như vậy đã bị phê phán. Theo ý kiến của họ, xung đột không phải là “hiện tượng bệnh lý”, mà là người bạn đồng hành tất yếu của đời sống xã hội, đóng vai trò tích cực với tư cách là đòn bẩy, giúp sửa chữa những thiếu sót và khẳng định những thay đổi có tính tiến bộ.

Ở châu Âu người đại diện nổi tiếng nhất của lý luận về xung đột (mà chính là giữa các tập đoàn xã hội lớn) là P. Darendorf. Công trình rất cơ bản của ông “Các giai cấp và xung đột giai cấp trong xã hội công nghiệp” nhằm trực tiếp chống lại học thuyết marxist về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đồng thời, Darendorf chịu ảnh hưởng của Marks. Chứng cớ cụ thể về điều này: ông coi xung đột là yếu tố tất yếu phát triển các quan hệ xã hội.

Những nguyên nhân ra đời xung đột học với tư cách là một trong những phương hướng chủ đạo của xã hội học phương Tây không đơn giải là cần phát triển lý luận. Cần phải tìm nguồn gốc sâu hơn – cần phải giải thích rõ ràng các cuộc xung đột xã hội, tộc người, quốc gia, đã làm chấn động hành tinh của chúng ta trong Chiến tranh thế giới lần thứ II và tiếp đó chúng còn được kéo dài. Tiếc rằng, xã hội học trong nước, được phục hồi vào cuối những năm 50 theo lập trường chính thống ca ngợi sự thống nhất xã hội và dân tộc của nhân dân Xô viết, đàn áp tàn bạo các cuộc xung đột có thực ngay từ khi chúng còn trứng nước, thì xung đột học được tiếp nhận chủ yếu là đối tượng nghiên cứu khoa học, hơn nữa nghiên cứu phê phán một cách thô bạo “lý thuyết về tính phi xung đột” lừng danh đã thống trị cả trong lý luận nghệ thuật. Và chỉ có nhờ sự chuyển biến căn bản của những năm gần đây, các công trình của những người ủng hộ khuynh hướng này đã bắt đầu được nghiên cứu một cách thi tiết. Ở đây không ít những ý kiến và các công trình soạn thảo tốt được phát hiện đã được sử dụng để xây dựng lý thuyết chung về xung đột, nhằm khái quát trước hết là kinh nghiệm lịch sử của chính chúng ta, đặc biệt là các cuộc xung đột đang làm chấn động đời sống các dân tộc trên lãnh thổ Liên Xô trước đây.

Cách giải thích về xung đột, tương tự như nó được trình bày trong “Từ điển sơ lược xã hội học” là cách giải thích được dư luận nói chung thừa nhận trên sách báo chúng ta. Sau khi dịch thuật ngữ từ tiếng latinh (“Sự đụng độ của các phía, các tư tưởng, các lực lượng”) có đưa ra định nghĩa như sau: “giai đoạn phát triển cao nhất của các mâu thuẫn trong hệ thống các quan hệ giữa con người, các tập đoàn xã hội, các thiết chế xã hội, xã hội nói chung, được đặc trưng bằng sự đẩy mạnh các khuynh hướng và các lợi ích đối lập nhau giữa các cộng đồng xã hội và các cá nhân với nhau”. Chúng ta lượng thứ cho các tác giả về việc quy “các khuynh hướng” vào hành vi của các cá nhân cũng như việc không nhắc tới các kiến giải về xung đột trong các khoa học giáp ranh. Trong “Từ điển thuật ngữ xã hội học” quốc tế, trong đó có đưa ra các định nghĩa, được các lĩnh vực khác của khoa học xã hội chấp nhận có nhấn mạnh: “Trong xã hội học – sự đụng độ những lợi ích, các cách mục đích, các quan điểm, các hệ tư tưởng đối lập nhau giữa các cá thể, các tập đoàn và các giai cấp”). Mối liên hệ giữa xung đột với mâu thuẫn đối lập các lợi ích… cũng được ghi nhận trong các kiến giải trên và tương tự với tư cách là khởi điểm. Nhận xét này đúng, song nó cần có sự phân tích mở rộng.

(còn tiếp) 

Người dịch: Triệu Thị Ánh

TĐB 94 – 24 & 25

Giá trị bản thân – Phần cuối


Tuy đến nay chưa có quan niệm thật tường minh về lương tâm cũng như trong thực tiễn chưa có sự hoàn thiện, hoàn mỹ, nhưng mọi người có thể sống có lương tâm bằng “giá trị bản thân”” theo các mức độ khác nhau. Hành xử theo lương tâm sẽ có một xã hội lành mạnh, an sinh xã hội được bảo đảm, con người mới thực hiện được quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong cuộc sống, quan niệm về sống, về tự do, về hành phúc ở mỗi người, mỗi thời, mỗi chính thể một khác với nhiều cấp độ, nhiều dạng thức, nhưng có thể khẳng định, sống tự do, hạnh phúc của từng cá nhân không bao giờ tách khỏi cộng đồng, xã hội. Dưới góc độ của triết lý “giá trị bản thân”, cuốn sách khẳng định: bằng giá trị bản thân, từng người tự làm cho mình hạnh phúc, và làm cho người khác và cộng đồng hạnh phúc dù hạnh phúc đó là nhỏ bé hay lớn lao.

Như vậy, giá trị bản thân tích cực là các giá trị do tự mình tạo ra để tự bảo đảm cho cuộc sống tốt đẹp của bản thân và gia đình, cộng đồng, để có thể làm những việc có ý nghĩa cho mình và cho xã hội, khi đó mới có hạnh phúc thật. Từ đó có thể kết luận: giá trị bản thân chính là bản chất (self-nature) của con người. Cũng có thể nói, giá trị bản thân là bản sắc của từng người (self-identity). Có giá trị bản thân mới có thể thực sự “tự thể hiện mình” (self-identification), “tự khẳng định mình” (self-determination), là một giá trị tâm lý, tinh thần rất đặc trưng của con người. Con người luôn luôn có năng lực và nhu cầu thể hiện bản thân tùy theo những cách thức khác nhau, mức độ khác nhau, tùy lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh. Trong thời đại công nghệ thông tin có thể thể hiện mình bằng nhiều cách, như việc có cá nhân cho rằng cứ nói được trên mạng xã hội, như mạng Faceboo là bản thân đã được thể hiện. Quan điểm đó cũng có ý đúng nếu tiếng nói đó phát huy được giá trị bản thân, để thể hiện đời sống, cách sống của chính mình, và đóng góp, cống hiến cho gia đình, cộng đồng, xã hội. Thang giá trị bản thân cống hiến gọi là giá trị đóng góp đó là các giá trị ở bậc cao. Hai bậc giá trị “sống còn” và giá trị “thể hiện mình” đều có ý nghĩa đáng kể với cuộc sống, cùng với các giá trị ở bậc cao hơn, đó là giá trị “đóng góp”, “cống hiến”… cho gia đình, cộng đồng, dân tộc, nhân loại (xem hình 5). Mức độ cống hiến cccó thể khác nhau, hình thức đa dạng, kết quả, mức độ và thời gian được công nhận cũng không giống nhau, nhưng giá trị “cống hiến” đều đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao, sự dấn thân, đam mê, say sưa quên mình của con người. Nhìn nhận con người, đánh giá các thành viên trong tập thể hay cộng đồng thường theo giá trị “đóng góp” và “cống hiến” cho cộng đồng đó. Nhưng mặt khác, sự cống hiến hay đóng góp đó được hay không, nhiều hay ít,… là còn tùy thuộc rất nhiều vào cộng đồng xã hội, các chính sách của quốc gia đó.

Tháp giá trị bản thân được xây dựng từ những điều trình bày ở trên, nói vắn tắt, theo luận điểm hiện thực biện chứng: giá trị bản thân là giá trị sống của từng người, do người đó tự tạo dựng, tự phát huy trong những điều kiện thực tế, nói lên sự gắn quyện, gồm: (1) Giá trị sinh thể và giá trị tâm thể, (2) Giá trị vật chất và giá trị tinh thần, (3) Giá trị cá thể và giá trị cộng đồng, xã hội, (4) Giá trị nhận và giá trị cho, (5) Giá trị tồn tại và giá trị bản chất, (6) Giá trị loài cùng giá trị dân tộc, trong sự vận động giữa bản năng và ý thức, vô thức, tiềm thức và ý thức, tự ý thức, bằng cả con đường nhận thức lý trí và trực giác, qua trải nghiệm, vận động trong cuộc sống thực tiễn. Các bài trước đã đề cập đến các cặp giá trị. Nói chung lại, từ giá trị sinh thể đến các giá trị tâm thể gắn quyện vừa thống nhất nhưng cũng có lúc mâu thuẫn, tạo nên giá trị sống còn mà trong tâm lý học thường nói đây là mối quan hệ giữa cái sinh vật và cái xã hội trong hệ giá trị bản thân. Ở con người bình thường trong điều kiện bình thường, cái sinh vật và cái xã hội không tách biệt nhau, ví dụ, ăn bằng đũa gọi là “”văn hóa đũa”, bản năng dinh dưỡng, và bản năng bảo toàn nòi giống là hai bản năng khởi thủy đều mang tính xã hội, trong triết học gọi là bản năng ý thức hóa, khi vượt qua ngưỡng “xoắn thừng”. Cũng có thể thấy giá trị sinh thể là cơ sở vật chất của các giá trị hoạt động (vui chơi, nhận thức, lao động, nghỉ ngơi…), có hoạt động để bảo đảm giá trị sinh tồn, có hoạt động thể hiện bản thân và các giá trị ở tầm cao, có thể nói, các giá trị ở tầm cao đều có cơ sở là giá trị sống còn, giá trị sống còn vừa mang tính chất của giá trị sinh thể vừa mang tính chất của giá trị tâm thể. Hai sợi thừng xoắn cũng là ranh giới giữa bản năng và ý thức – ranh giới giữa tính tích cực và tính tiêu cực (giá trị và phản giá trị) của các giá trị bản thân với tính xã hội giữ vai trò chủ đạo.

Giá trị: trong tài liệu nước ngoài có hai tác giả người Mỹ trong mục “giá trị học ngày nay”, Clare Graves và Don Beck có một bảng xếp tám giá trị theo màu để dễ khảo sát – không gọi là “Giá trị bản thân” và chưa xếp thành thang giá trị bản thân, tuy các giá trị đều là “Tôi…”. Tám giá trị “Tôi” của hai tác giả như sau: (1) Tôi tồn tại (màu be): các động lực sinh vật và cảm nhận vật lý; (2) Tôi tin (màu tía): niềm tin của tôi; (3) Tôi kiểm soát (màu đỏ): có sức mạnh đủ kiểm soát và hơn người; (4) Tôi thích (màu xanh): phục tùng người trên, tuân theo luật lệ; (5) Tôi đạt thành tựu (màu da cam): dùng các nguồn lực đạt kết quả; (6) Tôi chia sẻ (mày xanh lá cây): quan tâm đến người khác, cuộc sống nhân văn; (7) Tôi học (màu vàng): tự lập, biết mình (self-knowledge), giá trị bản thân (self-worth), thích nghi với cuộc sống; (8) Tôi quan hệ (màu xanh lam): quan hệ nói chung, trong đó có quan hệ với môi trường. Bảng liệt kê này có thể vận dụng vào tìm hiểu hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị và định hướng giá trị. Hai tác giả xếp tám giá trị “Tôi” theo nhứ tự:

8/ Tôi quan hệ,

7/ Tôi học,

6/ Tôi chia sẻ,

5/ Tôi đạt thành tựu,

4/ Tôi thích nghi,

3/ Tôi kiểm soát,

2/ Tôi tin,

1/ Tôi tồn tại.

4/ Tính xã hội trong giá trị bản thân

Nói về yếu tố xã hội trong mục “giá trị bản thân”, có hai phía: Thứ nhất, một phía thuộc về chủ thể, tính xã hội, trách nhiệm xã hội tác động như thế nào đối với hệ giá trị ở từng người…, trong các giá trị bản thân. Nền giáo dục của chúng ta có thể đóng góp vào việc này: nhà trường, gia đình, xã hội phải đoạn tuyệt triết lý giáo dục hư văn, khoa cử, ứng thí và quán triệt triết lý thực học, thực nghiệp, giúp mỗi người học mang lại cho mình các giá trị bản thân, hình thành và phát triển năng lực có ích cho mình và thực sự có tính xác hội thì mới hy vọng đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục nước nhà, như Đại hội XI của Đảng (năm 2011) vừa quyết định. Hy vọng rằng, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo chuyển mình theo tinh thần đó, và toàn xã hội, nhất là các vị phụ huynh học sinh, sinh viên, các thế hệ học sinh, sinh viên phấn đấu theo hướng đó, phải thật sự đoạn tuyệt tâm lý khoa cử. Bản thân người học phải phấn đấu theo hướng hình thành, phát huy giá trị bản thân. Đồng thời, xã hội, cộng đồng có tôn trọng giá trị của con người không, có tạo điều kiện giáo dục – đào tạo thuận lợi cho các thành viên theo hướng vừa nói không, có tạo điều kiện để con người phát triển bền vững không, có chế độ, chính sách phát triển tài năng không, có trọng dụng nhân tài không… là phụ thuộc vào chế độ, chính sách phù hợp để trọng dụng người tài, để sử dụng tốt được nguồn lực trí tuệ của dân tộc, nhất là thế hệ trẻ. Nếu không có câu trả lời thỏa đáng thì ngay việc hình thành giá trị bản thân vẫn còn rất nhiều khó khăn. Vận dụng những bài học quý báu từ xa xưa của cha ông ta về việc trọng dụng hiền tài vào công cuộc đổi mới, nguồn nhân lực nước ta sẽ được chú trọng hơn, đội ngũ trí thức được trọng dụng, giữ vai trò thiết yếu, góp phần cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước nhà giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta có ý chí cách mạng, có quyết tâm chính trị, có giá trị truyền thống, nếu phát huy được trí tuệ của dân ta, tài năng của con người Việt Nam, cũng như “giá trị bản thân” của từng người Việt Nam, nhất định thực hiện được “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” – ba giá trị quốc gia, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra cùng với quốc hiệu nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày nay vẫn là những đòi hỏi bức xúc. Như vậy, các giá trị của từng người luôn gắn liền với xã hội, thành “vốn người”, “vốn xã hội”, trong hệ giá trị của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Giá trị bản thân thông thường bao gồm một số giá trị, như đã trình bày, ta gọi là hệ giá trị của một con người bao gồm giá trị cá thể, giá trị cá nhân và giá trị nhân cách, đều phải mang tính xã hội, và muốn phát huy đạt hiệu quả, nhất thiết cần một môi trường giá trị xã hội thuận lợi. Tính xã hội càng cao, phục vụ xã hội càng nhiều, giá trị bản thân càng có trọng lượng, nhân cách càng cao.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.