Giá trị bản thân – Phần cuối


Tuy đến nay chưa có quan niệm thật tường minh về lương tâm cũng như trong thực tiễn chưa có sự hoàn thiện, hoàn mỹ, nhưng mọi người có thể sống có lương tâm bằng “giá trị bản thân”” theo các mức độ khác nhau. Hành xử theo lương tâm sẽ có một xã hội lành mạnh, an sinh xã hội được bảo đảm, con người mới thực hiện được quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Trong cuộc sống, quan niệm về sống, về tự do, về hành phúc ở mỗi người, mỗi thời, mỗi chính thể một khác với nhiều cấp độ, nhiều dạng thức, nhưng có thể khẳng định, sống tự do, hạnh phúc của từng cá nhân không bao giờ tách khỏi cộng đồng, xã hội. Dưới góc độ của triết lý “giá trị bản thân”, cuốn sách khẳng định: bằng giá trị bản thân, từng người tự làm cho mình hạnh phúc, và làm cho người khác và cộng đồng hạnh phúc dù hạnh phúc đó là nhỏ bé hay lớn lao.

Như vậy, giá trị bản thân tích cực là các giá trị do tự mình tạo ra để tự bảo đảm cho cuộc sống tốt đẹp của bản thân và gia đình, cộng đồng, để có thể làm những việc có ý nghĩa cho mình và cho xã hội, khi đó mới có hạnh phúc thật. Từ đó có thể kết luận: giá trị bản thân chính là bản chất (self-nature) của con người. Cũng có thể nói, giá trị bản thân là bản sắc của từng người (self-identity). Có giá trị bản thân mới có thể thực sự “tự thể hiện mình” (self-identification), “tự khẳng định mình” (self-determination), là một giá trị tâm lý, tinh thần rất đặc trưng của con người. Con người luôn luôn có năng lực và nhu cầu thể hiện bản thân tùy theo những cách thức khác nhau, mức độ khác nhau, tùy lứa tuổi, giới tính, hoàn cảnh. Trong thời đại công nghệ thông tin có thể thể hiện mình bằng nhiều cách, như việc có cá nhân cho rằng cứ nói được trên mạng xã hội, như mạng Faceboo là bản thân đã được thể hiện. Quan điểm đó cũng có ý đúng nếu tiếng nói đó phát huy được giá trị bản thân, để thể hiện đời sống, cách sống của chính mình, và đóng góp, cống hiến cho gia đình, cộng đồng, xã hội. Thang giá trị bản thân cống hiến gọi là giá trị đóng góp đó là các giá trị ở bậc cao. Hai bậc giá trị “sống còn” và giá trị “thể hiện mình” đều có ý nghĩa đáng kể với cuộc sống, cùng với các giá trị ở bậc cao hơn, đó là giá trị “đóng góp”, “cống hiến”… cho gia đình, cộng đồng, dân tộc, nhân loại (xem hình 5). Mức độ cống hiến cccó thể khác nhau, hình thức đa dạng, kết quả, mức độ và thời gian được công nhận cũng không giống nhau, nhưng giá trị “cống hiến” đều đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu cao, sự dấn thân, đam mê, say sưa quên mình của con người. Nhìn nhận con người, đánh giá các thành viên trong tập thể hay cộng đồng thường theo giá trị “đóng góp” và “cống hiến” cho cộng đồng đó. Nhưng mặt khác, sự cống hiến hay đóng góp đó được hay không, nhiều hay ít,… là còn tùy thuộc rất nhiều vào cộng đồng xã hội, các chính sách của quốc gia đó.

Tháp giá trị bản thân được xây dựng từ những điều trình bày ở trên, nói vắn tắt, theo luận điểm hiện thực biện chứng: giá trị bản thân là giá trị sống của từng người, do người đó tự tạo dựng, tự phát huy trong những điều kiện thực tế, nói lên sự gắn quyện, gồm: (1) Giá trị sinh thể và giá trị tâm thể, (2) Giá trị vật chất và giá trị tinh thần, (3) Giá trị cá thể và giá trị cộng đồng, xã hội, (4) Giá trị nhận và giá trị cho, (5) Giá trị tồn tại và giá trị bản chất, (6) Giá trị loài cùng giá trị dân tộc, trong sự vận động giữa bản năng và ý thức, vô thức, tiềm thức và ý thức, tự ý thức, bằng cả con đường nhận thức lý trí và trực giác, qua trải nghiệm, vận động trong cuộc sống thực tiễn. Các bài trước đã đề cập đến các cặp giá trị. Nói chung lại, từ giá trị sinh thể đến các giá trị tâm thể gắn quyện vừa thống nhất nhưng cũng có lúc mâu thuẫn, tạo nên giá trị sống còn mà trong tâm lý học thường nói đây là mối quan hệ giữa cái sinh vật và cái xã hội trong hệ giá trị bản thân. Ở con người bình thường trong điều kiện bình thường, cái sinh vật và cái xã hội không tách biệt nhau, ví dụ, ăn bằng đũa gọi là “”văn hóa đũa”, bản năng dinh dưỡng, và bản năng bảo toàn nòi giống là hai bản năng khởi thủy đều mang tính xã hội, trong triết học gọi là bản năng ý thức hóa, khi vượt qua ngưỡng “xoắn thừng”. Cũng có thể thấy giá trị sinh thể là cơ sở vật chất của các giá trị hoạt động (vui chơi, nhận thức, lao động, nghỉ ngơi…), có hoạt động để bảo đảm giá trị sinh tồn, có hoạt động thể hiện bản thân và các giá trị ở tầm cao, có thể nói, các giá trị ở tầm cao đều có cơ sở là giá trị sống còn, giá trị sống còn vừa mang tính chất của giá trị sinh thể vừa mang tính chất của giá trị tâm thể. Hai sợi thừng xoắn cũng là ranh giới giữa bản năng và ý thức – ranh giới giữa tính tích cực và tính tiêu cực (giá trị và phản giá trị) của các giá trị bản thân với tính xã hội giữ vai trò chủ đạo.

Giá trị: trong tài liệu nước ngoài có hai tác giả người Mỹ trong mục “giá trị học ngày nay”, Clare Graves và Don Beck có một bảng xếp tám giá trị theo màu để dễ khảo sát – không gọi là “Giá trị bản thân” và chưa xếp thành thang giá trị bản thân, tuy các giá trị đều là “Tôi…”. Tám giá trị “Tôi” của hai tác giả như sau: (1) Tôi tồn tại (màu be): các động lực sinh vật và cảm nhận vật lý; (2) Tôi tin (màu tía): niềm tin của tôi; (3) Tôi kiểm soát (màu đỏ): có sức mạnh đủ kiểm soát và hơn người; (4) Tôi thích (màu xanh): phục tùng người trên, tuân theo luật lệ; (5) Tôi đạt thành tựu (màu da cam): dùng các nguồn lực đạt kết quả; (6) Tôi chia sẻ (mày xanh lá cây): quan tâm đến người khác, cuộc sống nhân văn; (7) Tôi học (màu vàng): tự lập, biết mình (self-knowledge), giá trị bản thân (self-worth), thích nghi với cuộc sống; (8) Tôi quan hệ (màu xanh lam): quan hệ nói chung, trong đó có quan hệ với môi trường. Bảng liệt kê này có thể vận dụng vào tìm hiểu hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị và định hướng giá trị. Hai tác giả xếp tám giá trị “Tôi” theo nhứ tự:

8/ Tôi quan hệ,

7/ Tôi học,

6/ Tôi chia sẻ,

5/ Tôi đạt thành tựu,

4/ Tôi thích nghi,

3/ Tôi kiểm soát,

2/ Tôi tin,

1/ Tôi tồn tại.

4/ Tính xã hội trong giá trị bản thân

Nói về yếu tố xã hội trong mục “giá trị bản thân”, có hai phía: Thứ nhất, một phía thuộc về chủ thể, tính xã hội, trách nhiệm xã hội tác động như thế nào đối với hệ giá trị ở từng người…, trong các giá trị bản thân. Nền giáo dục của chúng ta có thể đóng góp vào việc này: nhà trường, gia đình, xã hội phải đoạn tuyệt triết lý giáo dục hư văn, khoa cử, ứng thí và quán triệt triết lý thực học, thực nghiệp, giúp mỗi người học mang lại cho mình các giá trị bản thân, hình thành và phát triển năng lực có ích cho mình và thực sự có tính xác hội thì mới hy vọng đổi mới toàn diện và căn bản nền giáo dục nước nhà, như Đại hội XI của Đảng (năm 2011) vừa quyết định. Hy vọng rằng, quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo chuyển mình theo tinh thần đó, và toàn xã hội, nhất là các vị phụ huynh học sinh, sinh viên, các thế hệ học sinh, sinh viên phấn đấu theo hướng đó, phải thật sự đoạn tuyệt tâm lý khoa cử. Bản thân người học phải phấn đấu theo hướng hình thành, phát huy giá trị bản thân. Đồng thời, xã hội, cộng đồng có tôn trọng giá trị của con người không, có tạo điều kiện giáo dục – đào tạo thuận lợi cho các thành viên theo hướng vừa nói không, có tạo điều kiện để con người phát triển bền vững không, có chế độ, chính sách phát triển tài năng không, có trọng dụng nhân tài không… là phụ thuộc vào chế độ, chính sách phù hợp để trọng dụng người tài, để sử dụng tốt được nguồn lực trí tuệ của dân tộc, nhất là thế hệ trẻ. Nếu không có câu trả lời thỏa đáng thì ngay việc hình thành giá trị bản thân vẫn còn rất nhiều khó khăn. Vận dụng những bài học quý báu từ xa xưa của cha ông ta về việc trọng dụng hiền tài vào công cuộc đổi mới, nguồn nhân lực nước ta sẽ được chú trọng hơn, đội ngũ trí thức được trọng dụng, giữ vai trò thiết yếu, góp phần cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng nước nhà giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta có ý chí cách mạng, có quyết tâm chính trị, có giá trị truyền thống, nếu phát huy được trí tuệ của dân ta, tài năng của con người Việt Nam, cũng như “giá trị bản thân” của từng người Việt Nam, nhất định thực hiện được “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” – ba giá trị quốc gia, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra cùng với quốc hiệu nước nhà sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ngày nay vẫn là những đòi hỏi bức xúc. Như vậy, các giá trị của từng người luôn gắn liền với xã hội, thành “vốn người”, “vốn xã hội”, trong hệ giá trị của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Giá trị bản thân thông thường bao gồm một số giá trị, như đã trình bày, ta gọi là hệ giá trị của một con người bao gồm giá trị cá thể, giá trị cá nhân và giá trị nhân cách, đều phải mang tính xã hội, và muốn phát huy đạt hiệu quả, nhất thiết cần một môi trường giá trị xã hội thuận lợi. Tính xã hội càng cao, phục vụ xã hội càng nhiều, giá trị bản thân càng có trọng lượng, nhân cách càng cao.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisements

Giá trị bản thân – Phần V


Tại Hội thảo do Trung ương Đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và báo Thanh niên tổ chức ngày 11/6/2013, đã có nhiều ý kiến phong phú, có ý kiến tập trung vào ba giá trị: hiểu biết, thái độ, kỹ năng. Có ý kiến nhấn mạnh giá trị “lý tưởng” hay giá trị “đạo đức” nói chung, hoặc khái quát hơn, nêu hai giá trị: vừa hồng vừa chuyên; hay năm giá trị là mẫu số chung: yêu nước, học tập, rèn luyện, xung kích, tình nguyện. Có ý kiến cho rằng, bất cứ hình mẫu như thế nào thì mỗi thanh niên đều phải tự mình tạo nên. Các cái “tự” đó là: tự giác, tự học, tự lập, tự thân vận động, tự khẳng định…, tức là mỗi người, nhất là ở tuổi thanh niên, phải tự mình tạo lập nên “giá trị bản thân”; nhà trường, gia đình, xã hội, đoàn thể… chỉ giúp hoàn thiện mình hơn mà thôi.

Loài người trong lịch sử tiến hóa đã tạo nên những giá trị đặc thù, thông qua thế hệ trước để lại cho mỗi cá thể người trong các trường hợp bình thường tiềm năng quý giá, mỗi một người trong chúng ta với sự giúp đỡ của thế hệ trước, qua giáo dục và tự giáo dục đã biến các năng lực tiềm ẩn (tiềm năng) trong sinh thể thành những năng lực sống ở mỗi người – nền tảng ban đầu của “giá trị bản thân”. Chẳng hạn như “tính người, tình người”, quan hệ người – người, trong hệ giá trị quốc gia, dân tộc đúc kết thành giá trị “nhân nghĩa”, giá trị tình nghĩa đồng bào, tình quê hương, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Như vậy, hệ giá trị bản thân có các giá trị của cá thể và các giá trị cá nhân, có sự tiếp thu “giá trị loài” và “giá trị dân tộc” hay “giá trị quốc gia, dân tộc” thành “tâm lực, trí lực, thế lực” của mỗi người, có tác dụng đích thực bảo đảm cuộc sống của mỗi người và đóng góp cho gia đình, xã hội, đất nước, tạo nên sức mạnh và vị thế nói chung, tạo nên “sức mạnh mềm” nói riêng của quốc gia, dân tộc.

Nói tóm lại, mỗi người phải hình thành cho được “giá trị bản thân”, bao gồm “tâm lực, trí lực, thế lực” – được gọi là “giá trị nhân cách”. Giá trị bản thân là hệ giá trị của mỗi người do chính người đó hình thành, với sự trợ giúp của giáo dục. Con người có “chí”, có “tri” và sức khỏe để hình thành “giá trị sống” – “giá trị cốt lõi” – “giá trị gốc”, gộp chung lại thành giá trị tổng lực, và phải đem các giá trị đó vào giải quyết các vấn đề của cuộc sống, đem lại lợi ích cho chính mình, gia đình và xã hội. Lý tưởng, mục đích là động lực chung của “giá trị bản thân” với các giá trị cơ bản cũng như các giá trị khác, tùy theo từng người, từng hoàn cảnh, từng lứa tuổi, nhắm tới các mục tiêu cụ thể hóa mục đích trong các hành động, hành vi, hoạt động. Dựa trên các điều tra giá trị đã tiến hành, có thể đưa ra các giá trị cơ bản sau đây để các bạn tham khảo khi hình thành giá trị bản thân, như là tham gia gốp vào định hướng giá trị:

Định hướng giá trị với thanh niên ngày nay

+ Kiên trì biến tiềm năng thành năng lực (kế thừa giá trị loài).

+ Nêu cao tinh thần dân tộc, tinh thần yêu nước: độc lập, chủ quyền và hội nhập.

+ Chăm học, chăm làm, nhẫn nại, vượt khó, vươn lên.

+ Tăng cường học vấn (trong đó có cả ngoại ngữ, tin học): tri thức, kỹ năng.

+ Nâng cao tay nghề va đạo đức nghề nghiệp.

+ Nâng cao tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, thích nghi và sáng tạo: hành nghề thành thạo, giỏi, hiệu quả cao.

+ Nâng cao văn hóa ứng xử, quan hệ với mọi người tốt đẹp: lương thiên, trung thực.

+ Có tinh thần trách nhiệm với gia đình, cộng đồng, xã hội.

Theo định hướng giá trị như vậy, tùy lứa tuổi, tùy khả năng điều kiện, và quan trọng hơn cả là tùy mục tiêu của từng thời điểm hay mục đích của từng thời kỳ đến lý tưởng của đời người… mà xác định hệ giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị của mình. Đó là đòi hỏi của xã hội với nền kinh tế thị trường, đáp ứng quy luật giá trị, quy luật lợi ích, quy luật cạnh tranh.

3/ Phát huy giá trị bản thân

Phát huy “giá trị bản thân” tức là đem những giá trị mình hình thành được vào cuộc sống, bằng các công việc cụ thể, lao động nghề nghiệp, vốn liếng kinh nghiệm – trải nghiệm của chính mình để trước hết là bảo đảm sự tồn tại của chính mình rồi tự rút kinh nghiệm và đi đến tự lập… Tùy thuộc vào từng lứa tuổi, khả năng thích nghi và sáng tạo, gái trị bản thân có thể thể hiện rất sớm. Đồng thời, tính tự lập của mỗi người luôn theo sát năng lực thích nghi và tiềm năng sáng tạo. Theo tâm lý học trước thế kỷ XX, các phẩm chất “tự” hay thuộc phạm vi “tự ý thức” nằm trong phạm trù ý thức. Từ năm 1900, tâm lý học mới phát hiện ra vô thức, cơ chế “tự lập” mới mở rộng, không phải chỉ trong vùng ý thức và tự ý thức, từ đó, mới hiểu quá trình “tự lập” – tự phát huy tác dụng “giá trị bản thân” diễn ra rất sớm. Từ đó quan niệm về giáo dục và tự giáo dục đã đặt dấu nhấn cho sự phát triển tự nhiên của con người, bắt đầu từ triết lý giáo dục nhân văn. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi các em học sinh” (tháng 9/1945) cũng chỉ ra: nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập phải làm sao phát triển được các năng lực sẵn có của các em. Trào lưu giáo dục nhân văn cùng với trào lưu giáo dục kỹ thuật tổng hợp (giáo dục công nghệ), giáo dục hành dụng đều nhằm mục tiêu thông qua các phương tiện giáo dục để đưa được các giá trị của loài người, của thế giới, của dân tộc đến với người học, để các em phát huy những giá trị ở chính các em. Đó chính là quá trình lảm người bằng cuộc sống thực của chính mình. Ở đây cần nói thêm một ý rất quan trọng rằng: cuộc sống của con người không thể bỏ qua các quan hệ xã hội – quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ luật pháp, quan hệ cộng đồng, quan hệ người – người… K. Marx trong Luận cương về Feuerbach đã đi đến kết luận: “Trong hoạt động thực tiễn, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”, thực chất nhấn mạnh tính xã hội ở con người. Vấn đề là trong quá trình giáo dục và tự giáo dục, qua quá trình sống, từng người tự làm cho các quan hệ xã hội thấm đượm vào các năng lực của mình, phần nào biểu hiện ở năng lực hoạt động nói chung, cụ thể là năng lực học hỏi, năng lực lao động, năng lực giao tiếp, năng lực làm việc nhóm, năng lực xã hội, năng lực quản lý (hay quản trị)…., vào chính cuộc sống của mình, thành giá trị bản thân theo chuẩn mực của cộng đồng, xã hội. Đó chính là hướng tích cực (giảm và triệt tiêu dần tiêu cực, tránh các “phản giá trị”), phát huy “giá trị bản thân” tiếp thu từ xã hội rồi đem lại cho xã hội. Nói cách khác, mỗi người sống bằng các giá trị do mình tạo lập nên, phát triển chúng và phát huy tác dụng của các giá trị ấy trong một môi trường xã hội nhất định từ giá trị sống còn, đến giá trị hoạt động, rồi giá trị chia sẻ, giá trị cống hiến. Nhưng dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào thì chỉ có sống bằng các giá trị bản thân thì con người mới sống thật, sống với chính mình được.

Sống bằng giá trị bản thân là sống thanh thản. Sống thật là cách thể hiện bản thân chính đáng, là tự mình quyết định sinh mệnh, “số phận” mình. Đó là hành trình vươn tới các giá trị phổ quát chân, thiện, mỹ, là hướng theo lẽ phải, hướng thiện, chăm chút vẻ đẹp cơ thể và tâm hồn, vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp xã hội…Khi sống thật với mình và với người khác, ta mới có thể tiệm cận với phạm trù lương tâm, một phạm trù rất phức tạp, có thể coi là đỉnh điểm đạo đức trong tâm thức, trong ý thức và tự ý thức, có khi cảm nhận đạt được một cách tự nhiên, có khi có sự soi rọi rất tập trung của ý thức và tự ý thức hướng thiện, từ giá trị bản thân, trong đó lấy tính người, tình người, các giá trị dân tộc, làm thước đó và định hướng suy nghĩ, tình cảm và hành động. Cuộc sống của cá thể người từ lúc mới sinh ra bắt đầu từ giá trị bản năng. Nếu đặt “lương tâm” và “bản năng” vào “quả cầu” – “giá trị bản thân”, thì phạm trù lương tâm đứng ở đỉnh cao và phạm trù bản năng ở dưới đáy (xem hình 6). Nếu sống trái với lương tâm thì tự mình sẽ thấy xấu hổ. Xấu hổ là một trạng thái tâm lý chỉ con người mới có và khá phức tạp, cơ chế nảy sinh và diễn biến rất rắc rối, có thể có nhiều cấp độ biểu hiện, vừa là biểu hiện đặc thù của tự ý thức soi rọi, vừa từ ngoại cảnh, vừa từ sâu thẳm của tâm hồn.(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị bản thân – Phần IV


Ngày nay, mạng xã hội ngày càng phát triển, nên “giá trị bản thân” là bộ lọc của chính mình, không a dua nhẹ dạ, thậm chí là mù quáng, dại dột. Trước đây, giáo dục học thường vận dụng phương pháp tiếp cận “nội dung”, tức là chỉ tập trung vào truyền tải tri thức sách vở một cách thuần túy hay quá thiên về lý thuyết. Điều này phải được thay đổi để tri thức hình thành được năng lực. Hai phương pháp tiếp  cận này không mâu thuẫn nhau, trong phương pháp sau có tiếp cận phương pháp trước, đem những điều học hỏi được thông qua luyện tập dưới nhiều hình thức khác nhau, trong các hoàn cảnh khác nhau, trải nghiệm khác nhau, thành kỹ năng, thái độ, giá trị, tức là thành các nhân cách khác nhau của con người. Khắc phục lối dạy và học lỗi thời, trong thời đại công nghiệp, nhất là từ khi đi vào thời kỳ thế giới mạng và kinh tế tri thức cần đặc biệt chú trọng giúp người học hiểu sức mạnh của nội lực ở con người nói chung, ở chính bản thân mình nói riêng, chú trọng khâu thực hành, vận dụng tri thức vào cuộc sống – đó chính là hình thành “giá trị bản thân”. Triết lý “giá trị bản thân” nảy sinh trong trào lưu tư tưởng đó. Vào thế kỷ XXI, nhiều nước chủ trương dạy các môn như kế hoạch tương lai, địa lý tương lai, xã hội tương lai, điều khiển học, phân tích giá trị, tâm lý học… nhằm giúp người học hiểu mình hơn và hình thành đạo đức và tay nghề là hai bộ phận lớn cực kỳ quan trọng trong “giá trị bản thân”, phát huy tiềm năng vô cùng phong phú của con người.

Hình thành, vận dụng và phát triển “giá trị bản thân” theo lứa tuổi là vấn đề phức tạp. Chẳng hạn, một số công trình tâm lý cho rằng trẻ từ ba đến năm tuổi có thể bắt đầu có khả năng hình thành và phần nào thể hiện giá trị bản thân. Phức tạp hơn, như Freud đã chứng minh: từ tiềm năng thành khả năng, năng lực phải qua cơ chế trải nghiệm từ trong vô thức, rồi sau vào ý thức, lại có lúc xuống “dưới ý thức” hay “vô thức” (ví dụ, lúc ngủ mê), rồi qua “tiềm thức” lại “trườn” lên “ý thức”,…, bắt đầu từ tuổi ấu thơ đến khi trưởng thành. Như vậy, thế giới nội tâm nói chung, quá trình hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân” nói riêng, trừ rất ít trường hợp không diễn ra theo đường thẳng, mà quanh co khúc khuỷu, Freud gọi đó là một “chiến trường” với rất nhiều mâu thuẫn đòi hỏi con người phải có nỗ lực, phấn đấu, hay nói dung dị hơn là sự chăm chỉ, chịu khó, nhẫn nại, hình thành cho được giá trị bản thân. Trong cuộc sống, mỗi người mang giá trị bản thân ra giải quyết vấn đề, các mâu thuẫn mình gặp phải, để vượt qua ngưỡng “bấp bênh”, đạt tới thang bậc “sống còn”, bậc “hoạt động” nói chung, và các thang bậc tiếp theo cao hơn trong tháp giá trị bản thân. Quá trình đó gọi là quá trình “vượt qua chính mình”, “vượt qua bản thân”, hay khắc phục “hoàn cảnh”, khắc phục khó khăn để sốg, chia sẻ, đóng góp và cống hiến.

Có khi tiềm năng phát triển thành năng lực rất sớm, có khi nằm mãi trong cơ thể, trong não bộ, đến tuổi trưởng thành hoặc chậm hơn mới được khai mở. Có trường hợp tiềm năng biến thành một khả năng đặc biệt mà ngày nay ta hay nói tới là năng lực ngoại cảm, thấu thị, dự báo… Nói chung, tiềm năng trong sinh thể, trong não bộ dần dần có thể chuyển thành năng lực, thành “giá trị bản thân” mà điều quan trọng để đáh thức tiềm năng đó vẫn là giáo dục và tự giáo dục, trong đó, cơ chế trải nghiệm bộc lộ rõ nhất là thực hành, là sống với chính mình: chỉ có thông qua thực tế mới luyện được “chí”; lý luận học được phải vận dụng vào thực hành, thực tập, giải quyết vấn đề, mới thành “trí”; với sức khỏe là sức bền, sức chịu đựng, tức là thành lực hỗ trợ cho cái “chí” và các hoạt động khác. Nói chung lại, việc cần thiết là phải rèn luyện ý chí, cải thiện sức khỏe, học tập nâng cao tri thức và tất cả phải chuyển thành kỹ năng, đồng thời vận dụng cả ba năng lực vào đời sống, tạo ra hệ giá trị cho bản thân.

Trong phạm vi cuốn sách này, vấn đề muốn nhấn mạnh ở đây là hình thành giá trị bản thân bằng giáo dục và tự giáo dục thông qua giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, kết hợp lý thuyết sách vở và bài học thực tiễn. Không đi sâu vào lứa tuổi, nhưng tính từ phổ thông cơ sở, các nhà trường phải hướng nghiệp, sau cấp học này là tuổi “phân hóa phát triển năng lực” khá rõ nên cần tổ chức “phân luồng” thực hiện hướng học và hướng nghiệp cho phù hợp với từng học sinh, với từng gia đình và theo yêu cầu của thị trường lao động ở địa phương, từng vùng trong nước và ngoài nước. Đến tuổi thành niên, con người đã hoàn thiện dần nhân cách, có tay nghề và lương tâm nghề, có thể tự tạo lập cuộc sống của mình và góp phần vào sự phát triển của đất nước. Quá trình chuyển hóa tiềm năng thành kỹ năng, hành vi, hành động, hoạt động, nhất là hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống xã hội chính là quá trình trải nghiệm, biến các thứ học được thành kinh nghiệm bao gồm kỹ năng, thái độ và giá trị. Mỗi người bằng những bài học kinh nghiệm rút ra trong đời sống hằng ngày, để trở thành con người từng trải, biết mình, biết người, có văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, có trách nhiệm gia đình, trách nhiệm xã hội sẽ là những nhân tố tốt cho một xã hội phát triển trong tương lai.

Cần phải đặc biệt nhấn mạnh đức tính “cần” – chăm chỉ, nhẫn nại, tự thân vận động, bởi nó hết sức có ý nghĩa với cuộc đời mỗi người. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đặt đức tính “cần” ở vị trí đầu tiên trong tư cách con người. Chăm chỉ lao động là điều kiện quan trọng nhất để thành người chân chính. Tóm lại, mỗi con người phải làm sao hình thành cho mình có được hệ giá trị bản thân, rồi liên tục phát triển, thể hiện được bản lĩnh, tự tin, để tự vươn lên. Ở đây, giá trị “tự tin” có ý nghĩa đặc biệt. Có tự tin con người mới có tự trọng đúng đắn, không bao giờ tự ti. Tự ti khiến cho con người mất hết phấn khích, không vươn lên được. Tự tin và tự trọng gần như là nguồn động lực tinh thần quan trọng nhất, giúp mỗi người hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”, khắc phục tâm trạng chán chường, đánh mất sự cố gắng vươn lên, sự hưng phấn như hiện nay một số nam nữ thanh niên, sinh viên đang mắc phải. Tự tin sẽ tạo cho con người khả năng sáng tạo rất đáng quý trong “giá trị bản thân”. Mặt khác, cần chú ý đến một xu hướng khác cũng rất nguy hiểm ngày nay là không ít bạn trẻ ảo tưởng, tự thổi phồng giá trị bản thân mà không biết điều này sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy. Trong công trình nghiên cứu kiểm tra chỉ số IQ của thanh niên tại Việt Nam, có 3,6% thanh niên đạt 110 điểm (100 điểm là thang bậc trung bình). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thang điểm IQ thấp, trong đó có nguyên nhân về chính sách, điều kiện làm việc, nhưng có nguyên nhân đáng kể là từ chính chúng ta,… Như vậy, vấn đề có ý nghĩa rất quan trọng, trong nhiều trường hợp, quyết định đối với sự hình thành và phát triển giá trị bản thân là sử dụng, phát huy giá trị bản thân.

Hình thành giá trị bản thân chính là vấn đề hình thành năng lực và phẩm chất của người học. Hiện nay, Nhà nước ta đang tiến tới đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục và Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cụ thể hóa những đổi mới đó tới từng cấp học, trước hết thể hiện ở chuẩn kiến thức, chương trình và sách giáo khoa ở phổ thông và các bậc học khác. Theo đó, nhà trường, gia đình, xã hội, các đoàn thể… phải ra sức chung tay giúp các em hình thành giá trị bản thân. Về phần gia đình, mỗi gia đình có hệ giá trị riêng, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển giá trị bản thân của thành viên gia đình đó. Về phần nhà trường, nhiều trường có nội quy, có khẩu hiệu; các nội quy hay khẩu hiệu này thường nêu một số giá trị (phẩm chất) để học sinh, sinh viên hướng tới… Nói chung, ở Việt Nam chưa có thông lệ đặt ra hệ giá trị chung cho các thành viên một tổ chức, trừ một vài tổ chức, như thiếu nhi, ngành công an…, để các thành viên tham khảo, vận dụng vào “giá trị bản thân”. Năm 2013, Trung ương Đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam có đặt vấn đề “tìm mẫu hình thanh niên thời đại mới”; nhiều ý kiến ở Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng không nên đặt ra “mẫu hình thanh niên”, mà chỉ nên “xác lập các tiêu chí cần có của một thanh niên để tạo động lực phấn đấu”, tức là định hướng giá trị cho các thành viên hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”. Chẳng hạn, thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận tạm đúc kết thành tám giá trị cơ bản, có ý kiến gọi là giá trị cốt lõi; yêu nước, khát vọng, đạo đức, trách nhiệm, tri thức, sáng tạo, năng động, văn minh. Đây là những giá trị hết sức cần thiết.

Thanh niên ngày nay nếu theo đuổi được các giá trị này, vận dụng vào cuộc sống, bản thân sẽ là tiền đề để có cuộc sống tốt cho bản thân và cho cộng đồng, đất nước. Thật vậy, thế hệ trẻ từ rất sớm phải nung nấu tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, tự hào dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Trong tình hình phức tạp hiện nay, thế hệ trẻ nước nhà đều một lòng để giá trị “yêu nước” lên trên các giá trị cốt lõi, có ý nghĩa trọng đại. Giá trị “yêu nước” là giá trị tổng hợp trong các giá trị bản thân. Bốn giá trị “khát vọng”, “đạo đức”, “trách nhiệm” và “năng động, có thể đưa vào phạm trù của giá trị chung gọi là “tâm lực”; hai giá trị “tri thức” và “sáng tạo” thuộc phạm trù các giá trị “trí”; còn giá trị “văn minh” cũng nên xếp vào phạm trù các giá trị tổng hợp, cần cụ thể hơn, như tác phong công nghiệp, văn hóa ứng xử… Như vậy, vấn đề chỉ còn là quyết định ở mỗi người chọn cho mình những giá trị nào để phát triển bản thân mà thôi!

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị bản thân – Phần III


Ý nghĩa của “vốn xã hội”, “mạng xã hội” chính là ở chỗ đó, lấy cá nhân con người, và thậm chí là của cả xã hội là đơn vị của “mạng”, “vốn” đó. Coi trọng giá trị bản thân bao hàm cả trách nhiệm với chính mình, cũng như với cộng đồng, xã hội. Có trách  nhiệm với bản thân, rồi trách nhiệm với gia đình thì mới có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, quốc gia, dân tộc… Đó chính là biểu hiện của nhân cách, trách nhiệm xã hội càng cao, nhân cách càng lớn. Coi trọng con người (và kéo theo là chú ý phát triển giáo dục) là một tiêu chí hết sức tiêu biểu của xã hội trong lịch sử loài người: giáo dục con trẻ có tinh thần coi trọng giá trị chính bản thân mình, dạy trẻ biết tự yêu bản thân, từ vị kỷ đến vị tha, cũng có lý luận giáo dục từ vị tha đến vị kỷ, hay trung dung đồng thời chú ý cả hai, nhưng tựu trung lại, phải biết coi trọng bản thân rồi từ đó coi trọng người khác, hoặc coi trọng người khác và coi trọng bản thân… Muốn vậy, một điều kiện có ý nghĩa quyết định là phải tạo lập được giá trị bản thân – đây là cơ sở để sống và phát triển bền vững con người. Tạo lập giá trị bản thân không phải chỉ là mong muốn hay quyết tâm suông, mà phải bằng hành động, hoạt động để đạt được kết quả cụ thể. Có giá trị bản thân mới có “chính mình”, mới có cái gì để thể hiện hay tự khẳng định mình. Coi trọng giá trị bản thân là lập trường để hình thành và phát triển giá trị bản thân.

2/ Hình thành và phát triển giá trị bản thân

Muốn có ý thức tôn trọng giá trị bản thân – điểm xuất phát của tự ý thức, không đơn thuần là làm cho trẻ có ý thức đó thuần tuýt rên bình diện tinh thần, mà điều quan trọng hơn, có ý nghĩa quyết định là tạo nên cái gì để tự tôn trọng và được người khác tôn trọng. Đó chính là “giá trị bản thân” mà mỗi người phải hình thành cho được. Giá trị bản thân là bản sắc của từng người, là cơ sở để con người có cuộc sống độc lập, là “giá trị sống” của mỗi người. “Giá trị sống” thể hiện kỹ năng sống trong hành vi, hành động, hoạt động. Các nhà triết học kinh điển, như Hegel, K. Marx… đã chỉ ra, và các nhà tâm lý học hoạt động như Vư-gốt-xki, A.N. Leonchi-ép đã chứng minh rằng “hoạt động là bản thể của tâm lý”: thế giới tâm lý, tinh thần được hình thành bằng và trong hoạt động và giao tiếp của bản thân. Cả thuyết hiện sinh, tâm lý học nhân văn cũng khẳng định như vậy: mỗi người tự tạo ra “bản tính thứ hai” – bản thân mình, giá trị bản thân, giá trị sống, và ai hình thành được giá trị bản thân thì người đó mới có “con người riêng” của mình. Theo tinh thần đó, ở tuổi trưởng thành thì “lao động là giá trị gốc” tạo nên mọi giá trị của chính mình. Nói cụ thể, với trẻ mầm non, tiểu học và trung học, đó là hoạt động vui chơi, hoạt động học tập kết hợp với hoạt động lao động, hướng nghiệp, nhằm tạo nên những con người có đạo đức, có tay nghề, có điều kiện để tạo nên cuộc sống tốt đẹp, để trở thành người có trách nhiệm với xã hội, có năng lực tham gia vào nguồn nhân lực của gia đình, cộng đồng, đất nước. Kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như di truyền học, sinh vật học, tâm lý học thần kinh… đã chứng minh năng lượng tâm lý khởi thủy (tiềm năng) của đời sống tinh thần, tâm lý (sức mạnh văn hóa, sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm lý) vốn chứa đựng trong tất cả các tế bào trong cơ thể và tập hợp trong các hệ thống chức năng thần kinh, bắt đầu dưới dạng vô thứcừ khi con người sinh ra. Vấn đề là ở chỗ làm sao để phát huy được các năng lượng tiềm tang này – đây là vấn đề rất hệ trọng đối với sự phát triển con người nói riêng và phát triển cả nền văn minh – văn hóa của từng dân tộc và của cả nhân loại nói chung. Tiềm năng, năng lượng tâm lý dự trữ trong con người là rất lớn, khoa học cho hay, con người mới dùng khoảng 5% các tế bào thần kinh, hoặc có thể sử dụng số lượng neuron thần kinh lớn hơn, nhưng mới dùng với một công suất nhỏ, hoặc lúc dùng số neuron này, lúc dùng số neuron khác… vấn đề còn nhiều điều chưa biết. Vấn đề chính hiện nay là phải phát huy tiềm năng, tức là biến tiềm năng thành khả năng, từ khả năng thành các năng lực chung, năng lực chuyên biệt, năng lực đặc biệt. Các năng lực này đạt chất lượng cao, trở thành tài năng nhân tài. Thông thường, con người trong quá trình trưởng thành, sống, học tập và rèn luyện đều biến tiềm năng thành khả năng – năng lực chunng như năng lực tiếp thu và vận dụng – “vùng phát triển gần”; năng lực giao tiếp…; và có thể một vài năng lực chuyên biệt như năng lực tư duy, năng lực nói, năng lực lao động… ở các mức độ khác nhau. Quá trình hìnht hành và phát triển đó cảu con người phụ thuộc vào lứa tuổi, vào từng người và có yếu tố di truyền, nhưng quyết định là ở hoạt động, sự phấn đấu, rèn luyện, kiên trì, có niềm đam mê…, phụ thuộc vào môi trường xã hội, vai trò của từng thời kỳ khác nhau đem lại. Nhưng nhìn chung, hoạt động giáo dục và tự giáo dục giữ vai trò quyết định giúp con người biến tiềm năng thành khả năng, thành các năng lực. Từ đó dẫn tới kết luận: giá trị bản thân là tổng các năng lực hoạt động của từng người, bao gồm (1) Tâm lực, (2) Trí lực, (3) Thể lực. Vì vậy, nhà trường, gia đình cần có trách nhiệm giúp các em học sinh phát huy tiềm năng để hình thành các giá trị bản thân cho các em.

Phân định rành rọt được như vậy cũng không phải là chuyện dễ làm. Trên thực tế, một hành động, hành vi, hoạt động của con người, từ một lứa tuổi nhất định đều có sự tham gia của cả ba lực đó. Mối tương quan giữa ba miền này khá phức tạp, nhiều khi mỗi trường hợp một khác, mỗi lứa tuổi một cách, tùy hoàn cảnh mỗi miền bộc lộ vai trò muôn hình vạn trạng. Ở đây, chúng tôi nêu “chí” (tâm lực) lên đầu, vì “chí” là đặc trưng rõ nhất của tinh thần, “chí” biểu hiện tập trung của “tâm”. “Tâm lực” là sức mạnh của ý chí, thể hiện trong các hành động, hành vi, hoạt động, vừa là phẩm chất vừa là năng lực chung nhất trong con người.

Cần phải nhấn mạnh rằng, cái chí (tinh thần) phải dựa trên sự hiểu biết (nhận thức), phải nắm được quy luật, duy lý, khoa học, tức là có trí tuệ trong hành động, hành vi, hoạt động, là trí lực. Nếu cái “chí” dựa trên sự thối nát, mù quáng, không thoát khỏi vòng cương tỏa của bản năng thường đồng nghĩa với sự phá hoại, nếu kết hợp với động cơ xấu, ác thì nguy hiểm hơn nhiều. Đó là giá trị bản thân tiêu cực (âm). Có thể nói, mọi sai lầm là do dốt nát, mọi thất bại là do thối chí, mọi xấu xa đều từ động cơ lệch lạc. Trong ba giá trị phổ quát nhất “chân – thiện – mỹ”, loài người đã đúc kết “chân” (nhận thức = trí) là giá trị được đặt lên trước. Mặt khác, phải hiểu cả ba giá trị phổ quát nói lên cả thế giới tinh thần, tâm lý của nhân loại, từng dân tộc, từng con người thường đi với nhau. Theo đó, có thể hiểu “mỹ” nghĩa hẹp là “cái đẹp” hàm chứa cả “cái đẹp” của thân hình con người, lẫn cái đẹp của tâm hồn, thể hiện tấm lòng, cách ứng xử, nói tóm lại, văn hóa – một vẻ đẹp tuyệt vời, không gì sánh bằng.

Và sức mạnh (lực) của con người cũng đượng mang trong một thân thể, nên trong các thành tố của “giá trị bản thân” không thể thiếu “thế lực”, đem thế lực phục vụ cho tâm lực và trí lực. Mỗi “lực” đứng riêng rẽ có một sức mạnh nhất định, tuy có ít trường hợp như vậy, hoặc đặt ra như vậy chỉ để phân tích. Freud cũng đã chỉ ra: có sức mạnh tinh thần, tâm lý tham gia thì sức mạnh cơ thể mới đạt đỉnh cao. Đúng như vậy, với các kỷ lục thể thao như tâm lý học thể thao đã khẳng định. Nhiều trường hợp thành đạt, nhất là những trường hợp thành đạt cao, rất cao cũng vậy, phải có “chí”, có “tâm”. Cho nên có thể ghi kết luận vào công thức sau đây: giá trị bản thân không phải đơn thuần là tính cộng tâm lực + trí lực + thể lực, mà phải là tổng hòa (ensemble) của các “lực” ấy.

Ở trên đã nói, với tư cách là cá thể người, con người thừa hưởng các giá trị loài người thành giá trị cá thể, còn với tư cách cá nhân, con người tiếp thu các giá trị dân tộc thành giá trị cá nhân. Hai nhóm giá trị này làm giá đỡ cho mỗi người hình thành “giá trị nhân cách”. Như vậy, giá trị bản thân của mỗi người gồm ba thành phần gộp thành “Quả cầu giá trị bản thân”:

c/ Giá trị nhân cách,

b/ Giá trị cá nhân,

a/ Giá trị cá thể.

Vấn đề đang bàn là khái niệm “giá trị bản thân” trong giá trị học. Ở đây muốn nói tới cơ chế hình thành “giá trị bản thân” là lực riêng lẻ hay là sự tổng hòa các lực phải qua trải nghiệm. Trải nghiệm là cơ chế hình thành giá trị, nói đơn giản, là chủ thể phải trải qua và nghiệm thấy cái chí (ý định, chủ định, ước muốn, chủ đích…, tức là ăn nhập vào đời thực của chính mình), chứ không phải chỉ quan sát hay học vẹt, cũng không phải học chỉ để đi thi mà những tri thức học được đó phải được lĩnh hội và ứng dụng vào cuộc sống. Chủ thể phải rèn đúc ý chí, học hỏi tri thức chuyển hóa thành thái độ, giá trị, phẩm chất và năng lực, thành vốn liếng của mình, ăn nhập vào chuỗi kinh nghiệm bản thân và vận dụng vào giải quyết các vấn đề, như tâm lý học lâu nay đã khẳng định. Hay nói theo lý luận của giá trị học là ba “lực” đó phải lọt vào trường ý thức, lọt vào tâm thức, chuyển động qua lại giữa vô thức và ý thức, rồi lên bậc cao hơn là tự ý thức được và bộc lộ ra bằng hoạt động có ý thức, cũng có lúc phát ra bằng trực giác, biến nó thành sức mạnh, thành giá trị của chính mình (nội lực) và phải sống bằng chính các giá trị ấy.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị bản thân – Phần II


Sau Moore, trong lịch sử phát triển giá trị học phải kể đến Hartman (1910 – 1973). Lý thuyết về giá trị là một trong các điểm xuất phát trong các công trình của Hartman, người có công đầu trong xây dựng và phát triển giá trị học nửa sau thế kỷ XX, nhất là trong việc vận dụng giá trị học vào cuộc sống, như điều tra giá trị thế giới và các châu lục, các nước, các vùng lãnh thổ. Theo đó, các kết quả điều tra được lượng hóa bằng phương pháp tính toán, tìm “giá trị trung bình” của một nhóm, một cộng đồng, một quốc gia, dân tộc (từ các công trình điều tra giá trị thế giới đã phác họa được bản đồ văn hóa thế giới ngày nay), tạo ra một hướng mới rất phát triển trong xã hội học, trong nghiên cứu con người, và sau này vận dụng vào cả tâm lý học, giáo dục học. Hướng phát triển mới này của khoa học về giá trị dựa vào khẳng định (do Hartman là người đầu tiên phát hiện ra) cho rằng: trong đời sống của con người và xã hội, bên cạnh các “thực tiễn” khác còn có “thực tiễn giá trị” là mảnh đất của giá trị học: con người, cộng đồng, xã hội nhận ra các “giá trị” trong thế giới vật chất, gọi chung lại là các giá trị vật chất (trong đó có các “giá trị kinh tế”) thành các “giá trị nội tại” ở trong con người hay cộng đồng, xã hội. Để xác định đối tượng của giá trị học, nhiều nhà nghiên cứu quy các “giá trị kinh tế” vào phạm trù các “giá trị ngoại tại”, và chỉ có các “giá trị” là đối tượng của giá trị học mới gọi là “giá trị nội tại”, và gọi là “giá trị tinh thần” – “giá trị tâm lý”. Hai loại giá trị này, vật chất và tinh thần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Bên cạnh đó, còn có “giá trị công cụ”, như “tiền”, “vàng”, nhiều khi cũng là mối liên hệ giữa “giá trị vật chất” và “giá trị tinh thần”. Có ý kiến cho rằng trong giá trị học cũng có phạm trù “giá trị công cụ”, như các kỹ năng, thói quen… Ví dụ, cây đàn vốn chỉ là một công cụ, một hàng hóa, một vật trao đổi, nhưng qua bàn tay, trí tuệ và tâm hồn người nghệ sĩ đã làm sống lại bản nhạc do nhạc sĩ sáng tác. Năng lực biểu diễn là “giá trị nội tại” của người nghệ sĩ. Hơn nữa, còn thính giả cảm nhận riêng với tâm thế, tâm trạng… cũng tạo nên “giá trị nội tại” – “giá trị tâm lý” ở người nghe. Đó là ví dụ về “thực tiễn giá trị” vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan cho Hartman phát hiện ra, góp phần khẳng định đối tượng của khoa học về giá trị. Ngoài ra, Hartman còn khẳng định ở con người, nhóm người, cộng đồng, xã hội, trong “thực tiễn giá trị” có năng lực “xác định giá trị”, nhận biết và đánh giá các giá trị. Ông cũng nêu một số giá trị cụ thể, như giá trị đồng cảm, giá trị tự tin, giá trị phán đoán… Từ năng lực “xác định giá trị” đi đến “thái độ giá trị” thường có thể đo đạc được trong các cuộc điều tra giá trị. Thái độ giá trị, nhất là thái độ định hướng giá trị là một thành tố nổi bật trong nhân cách, đặc biệt ông nhấn mạnh ý thức về bản thân như là một giá trị: thái độ giá trị có ý nghĩa quan trọng đối với giá trị bản thân. Nghiên cứu ba tác giả và mấy điều vừa trình bày, tác giả đi đến phạm trù “giá trị bản thân” như là một phạm trù trung tâm của tâm lý học giá trị và giáo dục học giá trị.

II/ Giá trị bản thân – khái niệm trung tâm

“Giá trị bản thân” là tổ hợp các giá trị cá thể, cá nhân và nhân cách – các giá trị của từng người do chính người đó hình thành và phát triển, sử dụng, phát huy và tự thể hiện, tự khẳng định trong cuộc sống của mình. Tuy nhiên, phụ thuộc vào nhiều điều kiện bên ngoài thuận lợi hay cản trở  mà “giá trị bản thân” được phát huy hiệu quả. Chúng tôi trình bày đôi điều chủ yếu phục vụ chủ đề của tác phẩm này: tìm hiểu hệ giá trị của loài người, của cộng đồng quốc tế và của dân tộc. Muốn vận dụng vào tâm lý học và giáo dục học, nhất thiết phải đi đến hình thành, phát triển, phát huy giá trị bản thân, tức là phải thành “giá trị tinh thần, tâm lý, nội tại” của chính từng người, thành “bản tính thứ hai”, thành “lực lượng bản chất” người, coi con người như đơn vị của giá trị gia đình, cộng đồng, dân tộc, loài người. Lực lượng bản chất người có lực lượng sinh thể và lực lượng tâm lý, tinh thần, các lực lượng này đều có nguồn gốc ban đầu di truyền, bẩm sinh. Nhưng ở con người, hai lực lượng này rất gắn quyện với nhau. Không nói tới các quan niệm coi con người là công cụ biết nói, lấy sức mạnh cơ bắp của người lao động để làm giàu, tức là nhìn vào con người cốt lấy sức mạnh cơ thể để vận hành các hoạt động kinh tế và các công việc khác trong xã hội, và quan niệm con người chỉ như cái “đinh ốc” trong xã hội, làm tha hóa con người để dễ bề cai trị, bóc lột, thì các tư tưởng tiến bộ từ thời cổ đại, nhất là sau Cách mạng tư sản Mỹ và Pháp cuối thế kỷ XVIII, rồi thế kỷ XX đều đã chỉ ra, hai lực lượng trong con người có quan hệ khăng khít. Qua giáo dục và tự giáo dục đã đi đến khái niệm “phát triển người” vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Từ đó cuộc sống xã hội và khoa học, nhất là triết học và tâm lý học mới đi vào phạm trù “cá nhân” và “nhân cách”. Phát triển cơ thể, phát triển trí tuệ, đạo đức, nhân cách, tinh thần,… nói chung lại là phát triển thế giới tinh thần, tâm lý và các điều kiện xã hội cho sự phát triển đó chính là phát triển “giá trị bản thân”, và là điều kiện quan trọng vào bậc nhất để có một xã hội an bình, phồn vinh, thịnh vượng.

Nêu một ví dụ về phát triển con người bền vững thông qua phát triển trí tuệ – tư duy trong thời địa ngày nay như là một thành phần trong “giá trị bản thân”. Thân hình cơ thể con người là vẻ đẹp hoàn thiện như danh họa người Italy Leonardo da Vinci (1452 – 1519) đã mô tả: hình dạng cơ thể có ý nghĩa nhất định đối với tâm lý, tính cách. Gần đây có một số công trình về vấn đề này đăng trên tạp chí Khoa học tâm lý nghiên cứu tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng trên khuôn mặt, tỷ lệ này trên dưới 2 hay gặp ở những người giỏi giang, tỷ lệ này trên dưới 1,5 hay gặp ở những người có tính cách thẳng thắn và đúng mực. Từ xa xưa, sinh thể con người về đại thể đã hoàn chỉnh đầy đủ, nhưng càng ngày các hệ thống chức năng trong đã trải qua bao đổi thay theo hướng ngày một phức tạp hơn, phong phú hơn, tốc độ nhanh hơn, linh hoạt, hiệu quả hơn,… đưa trình độ tư duy của con người lên các bậc thang mới: tư duy hệ thống, tư duy phức hợp. Nhờ vậy, loài người đã tạo dựng nên các nền văn minh, làm nên các cuộc cách mạng khoa học, cách mạng khoa học – kỹ thuật, và ngày nay là cách mạng công nghệ, tạo nên nền văn minh công nghệ thông tin. Sự phát triển vượt bậc đó là thành quả của quá trình giáo dục và tự giáo dục, làm cho con người biến tiềm năng thành năng lực, thành người có “giá trị bản thân” ngày càng phong phú, tích cựu, hữu ích, với đặc trưng là hoạt động tinh thần, tâm lý ngày càng phát triển, tiềm năng trong cá thể người ngày càng bộc lộ. Trong hoạt động này có hệ giá trị được hình thành và phát triển, vừa là sản phẩm vừa là tiền đề của phát triển văn minh – văn hóa của loài người, của từng quốc gia, dân tộc và sự phát triển bền vững con người.

Thế giới càng văn minh, xã hội càng dân chủ, con người càng tự do, “giá trị bản thân” con người càng được đề cao, được coi là giá trị đặc biệt, đến mức khẳng định “con người là điểm gốc của mọi tọa độ giá trị của dân tộc, của loài người”, nguồn gốc của mọi tiến bộ xã hội. Đó chính là tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa nhân văn từ thời cổ đại. Ngày nay, với những bước phát triển mới với tốc độ lớn, phổ biến toàn cầu nhanh, trong đó vai trò của hệ giá trị nói chung, giá trị bản thân nói riêng được đánh giá rất cao trong “sức mạnh mềm” của con người, từng cộng đồng, quốc gia, dân tộc.

Vận dụng vào tìm hiểu khái niệm “giá trị bản thân”, cần chú ý bốn điểm như sau:

1/ Coi trọng giá trị bản thân

Trước hết, giá trị trị học thức tỉnh cộng đồng, xã hội coi trọng con người, và mỗi người phải biết giá trị của chính bản thân mình như một con người trong gia đình, cộng đồng, xã hội, biết trọng “giá trị bản thân” mình (self-respect), trọng người khác, trước hết là hiếu thảo trong gia đình, rồi quan hệ tốt đẹp trong cộng đồng, xã hội. Từ “tự trọng” mới có “tự tin” – biết đánh giá đúng mình, đúng người, không kiêu căng, khoe khoang, luôn luôn phải khiêm nhường, luôn phấn đấu để đạt “giá trị bản thân”, để mọi người, cộng đồng và xã hội coi trọng. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào nấc thang phát triển môi trường giá trị xã hội ở mỗi vùng, mỗi nước, tùy theo độ tuổi, giới tính. Chúng ta tuy chống chủ nghĩa cá nhân, nhưng nói chung trong thời đại cách mạng thông tin, kinh tế tri thức, công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế hiện nay, rất cần và phải đánh giá đúng vai trò của cá nhân, kể cả trong mối quan hệ giữa người quản lý, lãnh đạo với các thành viên, trên tinh thần gắn bó với tập thể, con người có ý thức xã hội. Đây là một đặc trưng của chế độ cộng hòa, xã hội dân chủ. Mặt khác, trong các chế độ xã hội này hết sức coi trọng sự cố kết xã hội, “vốn xã hội”. Riêng trong chế độ phong kiến, tâm lý quần chúng và dựa theo lãnh tụ, thủ lĩnh, như nhà tâm lý học người Pháp Le Bon (1841 – 1931) viết trong tác phẩm Tâm lý học đám đông hay Tâm lý học quần chúng (năm 1895). Trong xã hội cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, người ta đặc biệt chú trọng vai trò của từng con người.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Giá trị bản thân – Phần I


I/ Giá trị bản thân – giá trị nội tại

Giá trị bản thân là giá trị ở trong mỗi người, nói theo thuật ngữ của giá trị học là “giá trị nội tại” (“intrinsic value”). Hiểu “giá trị nội tại” là để hiểu nội lực của mỗi người. “Giá trị nội tại” là khái niệm công cụ trung tâm của khoa học về giá trị, nhưng là một khái niệm đa nghĩa trong đó có cả nghĩa không thuộc phạm vi của giá trị học. Ví dụ, người ta cũng dùng thuật ngữ “giá trị nội tại” để chỉ “giá trị” của một lĩnh vực cụ thể, như trong các sản vật thiên nhiên, các sản phẩm con người sản xuất đều chứa đựng các “giá trị”, trong kinh tế học dùng khái niệm “giá trị nội tại” để chỉ thương hiệu, không kể giá trị khi đem ra thị trường (giá trị trao đổi), giá trị này sẽ được gọi là “giá trị cơ bản” (fundamental value). Giá trị cơ bản đem ra thị trường trao đổi thông qua tiền (“giá trị công cụ”) (intrumental value). Cùng một thuật ngữ, nhưng trong mỗi khoa học lại mang một nội hàm khác nhau, biểu đạt các khái niệm khác nhau. Ở đây quan tâm khái niệm “giá trị nội tại” là đối tượng của khoa học về giá trị.

Brentano (1838 – 1917), nhà tâm lý học người Đức đã có những luận điểm về khái niệm “giá trị nội tại” có ảnh hưởng lớn đối với triết học, tâm lý học, đạo đức học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trong khoa học về giá trị, ông được coi là tác giả đầu tiên đề ra lý thuyết giá trị nội tại ở hai tác phẩm chính: Tâm lý học theo quan điểm kinh nghiệm (năm 1874) và Nguồn gốc của các tri thức về Đúng và Sai (năm 1902) và một số bài báo, giúp người đọc hiểu rõ hơn thế nào là “giá trị” trong giá trị học. Brentano có một khẳng định hết sức quan trọng: “hoạt động tinh thần là đối tượng của nhận biết bên trong (inner perception, có thể dịch là “nhận biết nội tại” tức là “nội tâm”, “lòng người”,…). Đi đến luận điểm “chủ ý” (intention) nổi tiếng trong tâm lý học, thông qua một phạm trù quan trọng khác là phạm trù “ý chí, mong muốn, ước muốn” (willing, volition), được xác định là một cái gì đó được chủ thể chấp nhận hay từ chối, rồi đi đến một quyết định nào đó và có một sự nỗ lực nhất định để thực hiện. Ví dụ, giá trị “chân” (trong bộ ba giá trị “chân, thiện, mỹ”) được Brentano chuyển thành “phù hợp” (correctness), nghĩa là không phải chỉ chân lý chung chung, mà phải là thật sự tương ứng với sự vật hay hiện tượng, và thêm vào đó là phù hợp với sự tồn tại của sự vật và hiện tượng (từ đây đã có ý tưởng khẳng định tính khách quan và tính chủ quan của “giá trị”), được chủ thể chấp nhận và yêu thích, rồi vươn tới một chủ đích cụ thể. Luận điểm này hết sức có ý nghĩa với phạm trù “giá trị bản thân”. Nói về “tốt” hay “xấu” là không những bản thân sự vật, hiện tượng tốt hay xấu, mà còn là cảm nhận của con người về việc đó, nếu “tốt” thì ta yêu thích, ủng hộ, và ngược lại, ta ghét hay không ưa, phản đối. Điều này thể hiện rất rõ trong cặp giá trị “thích thú” (pleasure) và “khó chịu” (displeasure), cũng có thể dịch là “thỏa mãn” và “không thỏa mãn”, mà Freud nói tới.  Từ đó có sự “ưu tiên” cho sự vật, hiện tượng này, “không ưu tiên” hay “ít ưu tiên hơn” cho sự vật, hiện tượng khác. Ông gọi cái “tốt” là “tốt nội tại” (intrinsic good), “tốt” và “thích” hay “yêu” là các từ đồng nghĩa, tức là kéo theo một tâm trạng thoải mái hay thanh thản, ở các mức độ khác nhau; ngược lại, “xấu” và “ghét” – là các “giá trị nội tại” (intrinsic value). Trong các trường hợp này, xuất hiện một trạng thái tâm lý tương ứng rất rõ ràng, cho nên công tác tâm lý là hướng tới một trạng thái tâm lý tích cực, cũng có khi phải ngăn ngừa hay vượt qua một trạng thái tâm lý tiêu cực. Từ đó hình thành nên thuyết “giá trị nội tại”. Các giá trị nội tại có logic nội tại là đối tượng nghiên cứu của giá trị học. Lý thuyết này còn dựa vào một luận đề khác: cá thể là một thực thể có thực (entia realia), phán đoán hay niềm tin của chủ thể về cái có thực được gọi là các giá trị nội tại (chúng tôi gọi các “giá trị” thường dùng, như phán đoán hay niềm tin, trong các điều tra giá trị thế giới là “thái độ giá trị”, bộc lộ cách thể hiện “giá trị nội tại” qua việc xếp một giá trị nào đó trong bảng hỏi vào một bậc nào đó trong thang điểm). Mặt khác, ông cũng nhấnt mạnh, các thuật ngữ “tốt”, “xấu”, “tốt hơn” là các phạm trù tổng hợp (syncategorimatic), là các giá trị phổ quát, tức là cả loài người từ xưa đến nay luôn hướng tới. Để các giá trị phổ quát này thành các giá trị nội tại của từng người, như nói ở trên, phải được chủ thể chuyển thành nhận thức bên trong, cảm nhận bên trong. Và ông nói tới quá trình “cảm nghiệm” (sensing), “trải nghiệm” (experiensing): có cảm thấy chất lượng của tác động thì mới thành giá trị nội tại – (Husserl, người sáng lập ra thuyết Hiện tượng luận, tiếp thu ý tưởng này từ Brentano, xây dựng nên lý thuyết về trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng với tâm lý học và giá trị học). Nắm được cơ chế này là rất cần thiết đối với quá trình hình thành “giá trị bản thân”. Theo đó Brentano cho thấy, giá trị học có thể vận dụng sang đạo đức học (ethics). Để làm việc đó, ông đưa ra phạm trù “nghĩa vụ” (requirement, có thể dịch là “đòi hỏi”), mà ngày nay chúng ta gọi là “nghĩa vụ xã hội” hay “tinh thần trách nhiệm xã hội – những giá trị nhất thiết trong “giá trị bản thân”.

Brentano đề ra ba phẩm chất của các giá trị nội tại: (1) Tính phù hợp, (2) Vươn tới đối tượng chủ đích, và (3) Tính chân thật của giá trị. Ông cũng đặt một vấn đề lớn khác cho giá trị học là vấn đề về hệ giá trị: xét một giá trị nào đấy, phải đặt nó vào hệ giá trị nhất định. Có vậy mới thấy giá trị nào đồng đẳng với giá trị nào, hay sự chuyển hóa từ cực này sang cực kia, hay từ ít hơn đến nhiều hơn, và ngược lại, cái này bù cho cái kia, giá trị nào được chú trọng hơn giá trị nào.

Qua đó, có thể nói tóm lại luận điểm của Brentano tập trung vào năm điểm sau: (1) Brentano đi từ tâm lý học đến triết học, trong đó có một số ý kiến tập hợp lại thành lý thuyết về giá trị (theory on value), góp phần quan trọng xây dựng giá trị học (axiology); (2) Lý thuyết về giá trị của ông xuất phát từ hai luận điểm sau: a) trong tâm lý con người không phải chỉ chú ý tới mặt lý trí, mà còn phải rất coi trọng lòng “mong muốn”, nói rộng ra là mong cái gì thì thấy cái đó có ý nghĩa, có giá trị, rồi vươn tới, nhưng vươn tới nhiều khi phải có ý chí, phải vượt qua bản thân, vượt qua chính mình; b) lòng “mong muốn”, “ý chí” phải đặt vào phạm trù “nội tại” (intrinsic), tức là vào phạm trù “tinh thần”, “tâm lý”, như thường nói “tại tâm” hay “từ tâm”, “nội tâm, từ đó đi đến khái niệm “giá trị nội tại”, một lực bên trong – “nội lực” của từng người, từng dân tộc. (3) “Giá trị bản thân” là sức mạnh tinh thần, sức mạnh tâm lý của từng con người của cả cộng đồng, dân tộc, là “sức mạnh mềm”. Gọi là “nội tại” vì quá trình nhận thức đã đi vào sâu hơn trong phạm vi tinh thần con người (hay cộng đồng xã hội), Brentano gọi là quá trình “nhận biết nội tại – nội tâm”. Ví dụ, có một tri giác và con người khi biết về tri giác đó gọi là “cảm nhận”, và quan trọng hơn, ông đã nói đến “cảm nghiệm”, “trải nghiệm” trong giá trị học; “nhận biết”, “cảm nhận” và tư duy hay tình cảm phải vào được trường ý thức, thành vốn sống, thậm chí trở thành triết lý nhân sinh; như vậy, ông đã chỉ ra các thuộc tính của “giá trị nội tại”; (4) Ông cũng đã định hướng suy nghĩ về “hệ giá trị”; (5) Ông đã chỉ ra hướng vận dụng giá trị học, trước hết vào đạo đức học, ngày nay phổ ứng dụng của khoa học này đã mở rộng hơn nhiều. Bài học từ tâm lý học, giá trị học cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX còn nguyên giá trị đối với các nhà tâm lý học và giáo dục học chúng ta ngày nay. Cả năm nội dung này đều có ý nghĩa đối với việc hình thành, phát triển, phát huy “giá trị bản thân”.

Sau Brentano, nhà tâm lý học người Anh Moore đã phát triển lý thuyết “giá trị nội tại”. Công lao đóng góp của Moore với lý thuyết về giá trị trước hết ở chỗ ông đã khẳng định “giá trị nội tại” là  đối tượng của khoa học về giá trị. Thêm vào đó, Moore xác định “giá trị nội tại” là “giá trị bản chất” phản ánh đặc trưng thế giới tâm lý của người mang giá trị ấy: “giá trị” rõ ràng mang tính chủ quan về mặt khách quan. Moore đã chứng minh tính khách quan của “giá trị” thông qua khẳng định đối với một vật thể con người thấy nó đẹp hay xấu, biểu hiện một “thái độ tinh thần” (mental attitude), thái độ ấy nói lên sự ưa thích, mong muốn, như Brentano đã chỉ ra. Trong các công trình của mình, chúng tôi quy về phạm trù “thái độ giá trị” là một cách biểu hiện “giá trị bản chất”, bộc lộ “giá trị nội tại”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần cuối


Cùng với công nghiệp hóa, quá trình đô thị hóa cũng là một tiêu chí của hiện đại hóa. Trong thời đổi mới từ khoảng cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, việc đô thị hóa ở nước ta mới thực sự bắt đầu. Vấn đề chúng ta quan tâm là quá trình đô thị hóa ảnh hưởng rất lớn đến quan niệm giá trị của con người: đô thị hóa phải đi liền với việc xây dựng văn hóa đô thị với cốt lõi là các giá trị công nghiệp. Theo kết quả điều tra trong những năm 2001 – 2005, trong các nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tiêu cực, nguyên nhân đầu tiên là do thay đổi hoàn cảnh sống, môi trường sống (chiếm 28,2%); một số nguyên nhân khác như: Do khoảng cách giàu nghèo tăng (chiếm 23,57%); do một số truyền thống dân tộc bị xói mòn (chiếm 23,08%); do ảnh hưởng lối sống đua đòi (chiếm 19,78%); các nguyên nhân khác (chiếm 4,75%).

Có thể thấy rõ, từ một xã hội nông nghiệp chuyển sang một xã hội công nghiệp, sẽ có rất nhiều khó khăn, phức tạp. Đó là quy luật phát triển nhưng là quy luật xã hội, cho nên người ta nói đến thể chế, chính sách, tổ chức xã hội, giáo dục theo nghĩa rộng của từ này (bao hàm cả giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội, giáo dục gia đình; giáo dục và tự giáo dục) tác động đến thế giới quan, nhân sinh quan và giá trị quan – thang giá trị đảo lộn, thước đo giá trị thay đổi… Xây dựng xã hội công nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế với bốn giá trị phổ quát: hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển là nhiệm vụ hết sức khó khăn, nhưng chúng ta đang vượt qua để tiến tới và đã đạt thành công nhất định. Nhiều thành tựu được bạn bè trong vùng và thế giới công nhận. Ví dụ, tám mục tiêu thiên niên kỷ:

1/ Loại trừ các loại bần cùng và thiếu ăn (xóa đói giảm nghèo bền vững);

2/ Phổ cập giáo dục bắt buộc (phổ thông cơ sở);

3/ Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao vị thế của phụ nữ;

4/ Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em;

5/ Bảo đảm sức khỏe bà mẹ;

6/ Ngăn chặn HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch khác;

7/ Giữ gìn môi trường bền vững;

8/ Xây dựng đối tác toàn cầu (để phát triển kinh tế, bảo đảm việc làm, đừng để nợ nần, công nghệ thông tin…).

Các mục tiêu này triển khai từ đầu thế kỷ XXI và phải hoàn thành vào năm 2015. Theo đánh giá hàng năm của các cơ quan Liên hợp quốc, Việt Nam đang đứng vào loại khá, tuy còn phải tiếp tục phấn đấu nhiều, nhất là các chỉ tiêu số (1), (7), (8). Trong nước xuất hiện nhiều luồng ý kiến khác nhau, nhưng tựu trung lại, mối lo lớn nhất là rơi vào “bẫy trung bình”, không vươn lên giàu có, không thực sự thoát cảnh đói nghèo và bảo đảm an sinh xã hội, nhất là đạo đức xã hội. Theo điều tra giá trị học với 146 doanh nhân tiến hành năm 2011, trong tình hình hiện nay có bốn nỗi lo lớn: làm sao giữ được bản sắc dân tộc (chiếm 50%); lo lắng trước tình hình đảo lộn giá trị xã hội (chiếm 49,32%); sợ bị lệ thuộc về chính trị (chiếm 49,32%); phát triển kinh tế có tốt dần lên không (chiếm 14,38%).

Phải nói thêm rằng, chúng ta xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại, hội nhập quốc tế, nên việc nhiều người lo lắng đến vấn đề làm sao giữ được bản sắc dân tộc là một xu hướng tích cực. Hội nhập quốc tế là đường lối đúng đắn trong xu thế toàn cầu hóa, có thuận lợi, có khó khăn, riêng về mặt văn hóa – giáo dục lại càng rất phức tạp, trong đó có vấn đề về mối quan hệ giữa giá trị dân tộc ta và các hệ giá trị của thế giới hay hệ giá trị của nước này, nước khác, như Hội đồng Lý luận Trung ương đã nhận định: tận dụng tác động tích cực của hội nhập quốc tế, cần “…chung tay sáng tạo những giá trị chung của nhân loại,… tiến hành đối thoại giữa các nền văn hóa, tìm kiếm những giá trị chung, đồng thời tôn trọng, đề cao đa dạng văn hóa”. Cuốn sách này có thể phần nào có vai trò quan trọng đối với phát triển đất nước: muốn cùng tìm kiếm, sáng tạo những giá trị chung của thế giới ngày nay, phải nghiên cứu, tìm hiểu, khẳng định hệ giá trị quốc gia, dân tộc của chúng ta, và mục tiêu quan trọng là mỗi người phải hình thành, phát triển, phát huy “hệ giá trị bản thân”.

Hệ thống lại các giá trị tạo nên sức mạnh tinh thần của quốc gia, dân tộc đã ghi trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013, như bảo vệ chế độ “dân chủ cộng hòa”, bảo vệ và thực hiện tốt các giá trị “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, tạo mọi điều kiện phát huy giá trị trí tuệ (tư duy), khoa học, giáo dục đắc lực phục vụ sự nghiệp “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, kinh tế thị trường, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tập trung vào giá trị nổi bật đã ghi trong “Lời nói đầu” của Hiến pháp sửa đổi năm 2013: yêu nước; đoàn kết; nhân nghĩa,\; kiên cường; bất khuất.

Năm giá trị dân tộc này được xây đắp từ cách đây hàng nghìn năm và được phát huy rõ nét qua quá trình lịch sử đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống nhất của dân tộc; đến ngày nay được Hiến pháp sửa đổi năm 2013 khẳng định lại, được kế thừa và là mạch chảy xuyên suốt trong dòng giá trị quốc gia. Tháng 5/2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) họp Nghị quyết về văn hóa và con người đã chỉ ra các giá trị bền vững tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam là:

+ Yêu nước nồng nàn;

+ Tự tôn, tự cường dân tộc;

+ Tinh thần cộng đồng gắn kết hài hòa giữa cá nhân – gia đình – cộng đồng – Tổ quốc;

+ Nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý;

+ Cần cù, sáng tạo trong lao động;

+ Hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân;

+ Ứng xử văn minh, lịch sự;

+ Giản dị và trong sạch trong lối sống.

Các giá trị quốc gia, dân tộc đó phải trở thành giá trị bản thân của từng người để mỗi người dựa trên cơ sở đó tự hoàn thiện nhân cách của mình.

Hệ giá trị quốc gia, dân tộc gắn bó với hệ giá trị của loài người, của cộng đồng khu vực và thế giới, của thời đại công nghiệp. Hệ giá trị quốc gia đó phải triển khai thành hệ giá trị các địa phương, các đơn vị, các cơ quan, doanh nghiệp, các trường học…, vận dụng xây dựng thành thước đo giá trị để tuyển và sử dụng nhân sự các cấp. Một việc rất quan trọng là mọi người, mọi cấp, các nhà trường phải tham gia định hướng giá trị từ trong gia đình, từ cộng đồng tới toàn xã hội với các lứa tuổi, đặc biệt với tuổi học sinh, sinh viên, thanh niên để thực hiện được nhiệm vụ cực kỳ quan trọng  của nhà trường, của nền giáo dục nước nhà theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI là phải hình thành được “giá trị bản thân” ở mỗi người.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.