Lý thuyết về sự cố – Phần cuối


Nhưng sự phát minh là không thể tiên liệu. Nếu như người ta đã họp ở thế kỷ XVIII một hội nghị cải thiện sự giao thông thì những thảo luận đã nhằm vào cái vỉa hè và lòng đường, các xe song mã và giống ngựa. Nhưng hẳn người ta đã coi ai đó khuyên người ta nên tìm ở phương tiện hơi nước và nhiên liệu hóa thạch là kẻ điên rồ.

Cũng như thế, thời gian của sự phổ biến một phát minh tinh thần là không tiên liệu. Đạo Gia Tô đã phải mất 400 năm mới áp đặt được. Thời gian của đạo Hồi (đúng là dựa trên bạo lực) đã nhanh chóng hơn nhiều. Cũng nhanh chóng là sự truyền bá do từ một “quyết định bắt chước được tiến hành ở cấp cao nhất”. Như chẳng hạn những người truyền bá văn minh phương Tây là Pierre Đại đế, vua đạo hồi Mahmoud, Thiên Hoàng Nhật Bản năm 1868 và Mao Trạch Đông.

Sự phát minh kỹ thuật không chỉ nhằm vào duy nhất các thực thể vạt chất. Luật La Mã, dân luật, các kỹ thuật kinh tế bao gồm sự phát minh tiền tệ, hối phiếu, giấy bạc, séc, tổ chức ngân hàng, sở giao dịch, bảo hiểm, đã cải biến sâu sắc các cấu trúc của các xã hội đã thừa nhận chúng.

Tính nguyên nhân của các sự cố

Khi nghiên cứu nguồn gốc của một sự cố, cần phân biệt giữa động cơ thúc đẩy (motivation) hữu thức của nó với tính nhân quả thực tế của nó.

Động cơ thúc đẩy thường hay gắn liền tất cả hoặc bộ phận với sự lý giải biện minh. Con người không bao giờ chấp nhận rằng họ hành động vô thức như những côn trùng bị điều khiển bởi một bản năng hay một xu thế. Hơn nữa, họ còn chấp nhận những cưỡng chế lớn lao, cái định mệnh của những người xưa hoặc ý chí của thần linh trong định mệnh luận cổ điển và những phục sinh triết học của nó. Động cơ thúc đẩy biểu hiện nhu cầu hợp lý hóa các cấp ứng xử của chúng ta và từ đó, nhu cầu cứu giữ lòng tự trọng và nhân cách chúng ta cũng như lương tâm của chúng ta: động cơ thúc đẩy gắn bó phần lớn với cái chúng ta có thể gọi bằng “một từ có lẽ ác ý nhưng ở đây chúng ta dùng theo nghĩa khách quan” là những kiểu loại trí tuệ (aux modes intellectuelles). Với tư cách là những sự cố lịch sử, các kiểu loại này gắn liền với các giá trị, tức là với nội dung luân lý của tâm cách chúng ta, và cùng với cả những sự biến đổi của ngôn ngữ.

Vico đã chỉ ra tầm quan trọng của ngữ nghĩa học với tư cách là sự diễn đạt những biến đổi của tâm cách (l’expression des variations de mentalité). Các từ cứ tồn tại nguyên như vậy, nhưng ý nghĩa của chúng thì thiên vào bên trong. Các sự kiện xã hội không hiện hữu nếu không có ngôn từ diễn đạt chúng và lập thành chúng. Ngôn từ đánh dấu bằng những biến đổi về ý nghĩa của nó những ý nghĩa của các hiện tượng xã hội mà nó diễn đạt và nó tạo thành “loại biểu đạt” (“l’ordre signifiant”).

Các phái hiện đại của cấu trúc luận đã làm phong phú thêm tầm quan trọng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ đồng thời là ý nghĩa, là hợp lý hóa và biện minh. “Đứa trẻ, Jacques Lacan viết, bị bao bọc, nó được đặt đứng trước các diễn từ của những người giáo dưỡng nó”. “Ước muốn, Lacan nói, không thể được phát âm rõ ràng cách nào khác là trong và bằng ngôn ngữ. Đó cũng là sự khác biệt với nhu cầu hay sự thèm khát (l’appétit) à những cái chỉ thuộc phạm vi sinh lý”.

G. Tarde, về phía mình, nói “ước muốn là sự diễn đạt và là chiều hướng xã hội hóa của nhu cầu”. Vì vậy sự phân tích ký hiệu học và ngôn ngữ học là một sự kiện xã hội thông qua những diễn đạt và những giải thích về chúng (về những diễn đạt – ND) cho chúng ta biết nhiều hơn những cuộc điều tra và những bộ phỏng vấn.

Nhưng sự phân tích xã hội học về tính nhân quả của các sự cố không thể chỉ đóng khung ở phương pháp ngữ nghĩa học và ký hiệu học. Nó cũng cần dựa trên lịch sử và trên sự phân tích các cấu trúc xã hội, vật chất và tinh thần ở các thời đoạn khác nhau của sự thai nghén của chúng.

Mọi sự cố nảy mầm, có thể nói trên miếng đất mang thai nó và trong đó có cắm rễ. Ấy là miếng đất của những nguyên nhân cấu trúc (causes structurelles): Chúng tạo nên những xu hướng thúc đẩy chung nhất, mà bản thân những xu hướng này cũng do từ những thăng bằng xã hội. Chúng biểu thị những nguyên nhân sâu xa nhất và khách quan nhất, được xây dựng trên những dữ kiện thống kê không kém phần hoạt động tích cực khi chúng không được biết đến. Như những biến đổi của các cấu trúc kinh tế, các cấu trúc của công nghiệp, các cấu trúc vũ trang (des armements). Thứ hai là những sự biến đổi của các tâm cách, các giá trị mà người ta tác động tới và người ta phán định.

Sau tính nhân quả cấu trúc, là tính nhân quả tình thế. Nó kém ổn định hơn nhiều, khó tiên liệu và kém sâu xa. Bởi nó do một phần lớn từ sự gặp gỡ của các chuỗi độc lập. Thí dụ như trong lĩnh vực xã hội học chính trị, là những sự liên minh, những cấu kết, những lên xuống của công luận, các đảng phái, sự hoạt động của các hệ tư tưởng và các tín ngưỡng đủ lại. Những tình thế ấy gây nên những cơ hội cung cấp cho các nguyên nhân cấu trúc những động cơ thúc đẩy và những cơ hội cho phép chúng trở thành hiện thực. Như một cấu trúc hiếu động chỉ có thể phát minh tác dụng qua một số nào đó những tình thế chính trị và ý thức hệ. Kẻ này khẩy cười thương hại khi nghĩ đến tổ tiên chúng ta đã bị giết hại lẫn nhau vì một câu nói của thánh Augustine, thì sẽ thấy tự nhiên khi người ta cũng làm như thế vì một câu nói của Marx. Nhưng nếu không có sự hiện hữu một cấu trúc hạ tầng nhân khẩu – kinh tế hiếu động, thì các tín ngưỡng của chúng ta vẫn là những tín ngưỡng khó thành hiện thực, lòng khoan dùng và lòng nhẫn nại vẫn sẽ cứ trị vì.

Trật tự tính nhân quả thứ ba, cái trực tiếp tri giác được nhất bởi nó ở ngay trong sự cố sống động, ấy là tính nhân quả làm cơ hội. Nó tương ứng với những sự kiện bất thân, thường là hoàn toàn cá nhân, với những việc rắc rối. Trong thí dụ một cuộc chiến tranh, nguyên nhân làm cơo hội sẽ là một rắc rối về biên giới, một rắc rối ngoại giao,… Nhưng cả ở đây nữa, nếu không có sự phù hợp của hai trật tự nguyên nhân đã nói trên thì vẫn những rắc rối ấy lại được xem là vô nghĩa và bị dập tắt nhanh chóng.

Lấy một thí dụ khác thuộc các tai nạn xe hơi là cái đã trở thành một trong những thể chế phá hoại chính của nền văn minh hôm nay. Giả định một xe hơi bị hỏng phanh trên một con đường miền núi. Nguyên nhân cấu trúc là sự mất thăng bằng năng lượng (trọng lượng và dốc, khối lượng và gia tốc (masse et accélération) chứa đựng sẵn tại nạn trong đó. Nguyên nhân tình thế làm lớn thêm tính xác suất của tại nạn: sự hỏng phanh. Cuối cùng, nguyên nhân làm cơ hội trực tiếp cho tai nạn trở thành gần như chắc chắn xảy ra (đụng nhau, trượt phanh, đổ…), chỉ còn có tính cách là một tình tiết mà thôi.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Gaston Bouthoul – Các cấu trúc xã hội học – NXB VHTT 2011.

Advertisements

Lý thuyết về sự cố – Phần đầu


Mọi hành động của con người là một sự kiện lặp lại. Không có sự kiện của con người nào là tuyệt đối đơn lẻ. Ngay cả những phiêu lưu hiếm hoi nhất, như của cải con người chinh phục lớn, cũng có tiền bối và tương tự. Hơn nữa, trong mỗi chúng đều đi vào khuôn khổ của một loại hình (typologie).

Đời sống xã hội là một dòng chảy không dừng những sự cố. Người ta có thể nói về chúng như nhà triết học Hy Lạp: “Người ta chẳng bao giờ tắm hai lần trong một dòng sông”. Nhưng tuy nước sông không ngừng đổi mới, nó vẫn chỉ là nó mà thôi. Sự cố cấu thành nguyên liệu thô của sử học và của  xã hội học.

Sự cố của con người là một hành vi hữu thức và ít nhiều đắn đo. Sự đắn đo ấy có thể thực tế là phần lớn ảo tưởng và xảy ra chủ yếu từ cõi vô thức, từ lý luận cảm tính và từ tâm lý các chiều sâu. Nhưng điều đó chẳng ngăn cản gì việ sự đắn đo ấy không phải lúc nào cũng là khả biểu thị và là được hợp lý hóa, dù chỉ bề ngoài.

Sự quan trọng và tầm của một sự cố trình ra hai dạng thái. Thứ nhất là tần số của nó, khả tính đếm theo cách thống kê. Những tổng hợp được tiến hành riêng rẽ bằng rất nhiều cá nhân, hoặc những sự bắt chước, sự ra đời những trào lưu ứng xử hay tư tưởng mới, chỉ ra một sự biến cải xã hội đang hiện hành. Nếu nó lan rộng và tiếp tục, một cách dai dẳng, thì cuối cùng nó in khắc vào tâm cách ta, tức là khiêu khích một sự cải biến về cấu trúc tinh thần của ta. Đó là kết quả của một thứ nguyên tử luận xã hội. Các vận động cá thể bề ngoài vô trật tự, trong đó mỗi hạt khuấy động cho chính phần nó, cuối cùng đi đến gây ra những hiệu quả cố định thường xuyên.

Những thống kê đều đặn là chứng cớ: Có gì có thể tính hơn một đám cưới, một tử vong, một tội phạm? Song tất cả các sự cố ấy được nhóm lại thành những hằng số thống kê. Cũng là như thế đối với những sự cố thuần túy ngoại ý, tức là thiếu sự suy nghĩ, và hư ảo nữa, như gửi một bức thư không tem bưu chính. Thế nhưng con số những sự quên ấy bản thân nó là đều đặn.

Dạng thứ hai gắn liền với các đẳng thái. Một cá nhân càng có trình độ cao thì một quyết định củ anh ta càng có khả năng ảnh hưởng đến một số lớn cá nhân. Xã hội học chính trị chỉ ra rằng ngay cả trong những chế độ dân chủ nhất, một số những quyết định có tầm quan trọng đặc biệt, như những cuộc chiến tranh, được dành riêng cho duy nhất những nguyên thủ quốc gia. Đó rõ ràng là những quyết định mở đầu cho cả một tương lai, những quyết định trong đó kinh nghiệm không thể hướng dẫn chúng ta. Như những quyết định lớn về đường lối đối ngoại mà hậu quả chỉ có thể được thẩm định với sự lùi đi của lịch sử. Thí dụ: các nhà sử học dù sau khi đã đưa Bismarek lên tận mây, ngày nay mới thấy Bismarek đã thực sự là kẻ phá hoại Đế quốc Đức thần thánh và đường lối của ông đã dẫn đến sự kéo lùi quá dài sự tiến lên của nước Đức, đã được thực hiện từ thời kỵ sĩ.

Yếu tố thứ ba để xem xét trong một lý thuyết về sự cố là sự thông tin (l’information) nhờ nó mà sự cố được truyền đến những người khác, được tri giác và bắt chước một cách vị tất bởi họ.

Sự khởi phát của các chuỗi sự cố có thể có hai cội nguồn:

1 – Quyền lực, sự cưỡng chế hay chức năng lập pháp. Trong trường hợp này nó tùy thuộc đẳng thức chính trị, sự tuyển mộ của nó và những quyền hành của nó.

2 – Điểm xuất phát thứ hai này có thể là một sự phát minh đến lượt nó, tùy theo tốc độ của truyền bá, cải biến các cấu trúc vật chất và tinh thần. Như sự phát minh những kháng sinh đã gây nên sự phát triển dân số chưa từng có của thế giới thứ ba. Bởi các kháng sinh đã cho phép ngăn chặn nhanh chóng các lây nhiễm của trẻ em, không nhất thiết phải trước hết tuyên truyền cách nuôi dậy trẻ em và phương pháp vệ sinh hiện đại.

Xã hội học không sử dụng gì mấy những khả năng thí nghiệm. Vậy nó chỉ có thể dựa trên những sự kiện đã trọn vẹn, đã được thực hiện xong hẳn. Ngay cả những sự cố mà chúng ta đương sống cũng chỉ hiện diện trong thời gian rất ngắn ngủi. Phần lớn người ta không có thì giờ để ý thức được rằng chúng đã thuộc về quá khứ.

1 – Những sự cố chức năng

Đại bộ phận các sự cố do từ hoặc bộ phận cấu thành những thăng bằng định kỳ. Chúng tương ứng với những trạng thái thăng bằng ổn định. Tức là sau những dao động các xã hội lại ở trên nền tảng ban đầu của chúng. Chúng cũng thuần túy tính chức năng, tức là chúng tương ứng với sự biến đổi do từ những chu kỳ và thời cơ kinh tế chính trị. Như sự đổi mới bình thường những người lãnh đạo bằng những cuộc bầu cử đều đặn hay bằng sự thừa kế.

2 – Những sự cố lịch sử

Đó là những sự cố đem lại những phút giây thăng bằng không đảo ngược từng phần. Những biến đổi lịch sử không bao hàm những chu kỳ cùng tính nghiêm ngặt ngang như những sự cố chức năng. Tuy nhiên các chu kỳ được nằm trong những nối tiếp đều đặn biểu lộ luôn chịu một tính định kỳ, nhưng bao hàm những trường lề không đều nhau. Vì vậy Volterra và Kostitylu đã đề xuất cho đề tài của họ cái tên là những “hiện tượng định kỳ – hình thái” (“phénomènes périodomorphes”).

Có thể xếp vào đó những chiến tranh, với mọi hậu quả của chúng, như những biến động biên giới, bá quyền và đẳng thứ của các quốc gia bá quyền. Cũng là như thế đối với các biến động lớn về chính trị như sự thay đổi triều đại, chế độ chính trị, giai cấp lãnh đạo, cũng như những biến động bá quyền trong một số vùng hay khu vực địa lý. Thí dụ, thế kỷ XVI châu Âu chứng kiến bá quyền Tây Ban Nha, thế kỷ XVII bá quyền Pháp, thế kỷ XIX bá quyền Anh rồi Đức.

Những sự cố ấy có đặc điểm là không thể (ít nhất cũng trong tình trạng hiện thời của tri thức chúng ta) gắn buộc chúng vào một tính định kỳ nào đấy. Chúng đem lại một sự cấu trúc mới các xã hội, hoặc vật chất hoặc trên bình diện các tâm cách hoặc các thể chế. Một số thể chế là cái tương đương với những biến chuyển (mutations) xã hội thực sự.

Những thay đổi rộng lớn nhất, bởi chúng nhằm vào cái toàn bộ những cấu trúc xã hội, là những thay đổi văn minh. Các nền văn minh gống như các thời kỳ địa chất của lịch sử. Hiếm khi người ta có thể định giới chúng một cách chính xác về sự ra đời và sự kết thúc. Nhưng mỗi nền văn minh đem lại, sau những sự cố hỗn độn và vô số, một kiểu loại mới vừa là homo faber (người chế tác), homo sapiens (người linh trưởng) vừa là homo ludens (người vui chơi).

Những sự cố quan trọng nhất trong các sự cố tầm xã hội học là những phát minh, kỹ thuật hoặc trí tuệ. Thường chúng không được thấy trong những buổi đầu và tác giả của chúng không được biết đến. Chúng lan truyền từ từ, như chân bàn đạp ngựa, đai cổ súc vật kéo xe, bánh lái thuyền, những kỹ thuật luyện kim đầu tiên và ngay cả những bước đầu cách mạng công nghiệp. Nhưng kết quả của chúng tạo thành một biến chuyển của loài người. Quyền năng và đặc điểm của người không còn như cũ nữa.

Cần phân biệt giữa phát minh – hoàn thiện, bao gồm sự rút tỉa các hệ quả hoặc hoàn thiện các nguyên lý hay các kỹ thuật đã hiện hữu và phát minh sáng tạo đúng nghĩa.

Cái thứ nhất, trong một chừng mực rộng rãi, cho phép sự dự liệu.

Cái thứ hai là không dự liệu bởi nó tìm ra những nguyên lý mới và mở ra những bối cảnh từ trước tới nay chưa biết tới. Nó làm mất dấu môi trường xưa và thách thức cái tầm thường. Như Pasteur, Flemming, Pineus…

Những phát minh kỹ thuật khi nhằm vào vũ khí thường ảnh hưởng đến các cấu trúc chính trị. Đế quốc Sonrhai, thuộc Niger, Itubert Desechamfs nói chắc chắn được lập thành nhờ ở sự phát minh ra giáo (sagaie) và nó bị phá hủy bởi một cuộc xâm lược của người Morocco trang bị súng hỏa mai.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Gaston Bouthoul – Các cấu trúc xã hội học – NXB VHTT 2011.

Những đặc tính của thăng bằng xã hội – Phần cuối


Các hình thái kháng lại những đứt gãy thăng bằng

Sinh học cho chúng ta nhiều thí dụ về cách mà các sinh thể sống trong trạng thái thăng bằng với môi trường vừa bên trong vừa bên ngoài. Những cái riêng thuộc của một cơ chế, cái vừa làm thành bản chất và vừa sự tồn tại của nó, là đặc tính duy trì cách tự sinh những đặc điểm của các cấu trúc và sự thăng bằng nội tại của nó. “Tính cố định của một môi trường nội tại, Claude Bernan nói, là điều kiện của đời sống tự do”.

Sinh học hiện đại đã đặt tên là tự điều chỉnh thăng bằng cho đặc tính các cơ chế sống là duy trì tương đối bất biến một tình trạng thăng bằng nào đó. Khi một tổn hại hay một rối loạn nhất thời đến làm nhiễu loạn sự thăng bằng của các cơ chế chúng ta, thì lập tức một số lớn những phân tố được sinh ra từ các chức năng khác nhau của chúng ta bèn liên hợp nhau lại và hỗn hợp hiệu quả của chúng lại để tái lập thăng bằng. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo tình trạng cơ chế,… diện mạo của sự chống đỡ có thể thay đổi rõ rệt.

Cái mới nhất trong số máy điều khiển, cái homéosta của M.H. Ashby, sản xuất lại trong một chừng mực nhất định những cơ cấu (mécanismes) phức tạp hơn rất nhiều của sinh lý học, những cơ chế điều động nhiều điều chỉnh tự động (régulations homéostatiques) mà mỗi điều chỉnh này ảnh hưởng đến điều chỉnh khác. Máy này tự nó tìm ra một thăng bằng được dự định bởi một sự vận động bù trừ, bất kể những nhiễu loạn mà người ta giáng vào nó. Nhưng – và đây chính là cái họ hàng với các cơ chế – nó tự chọn lấy sự phối hợp thích đáng. Chiếc máy sử dụng, tác giả nó nói, một sự lựa chọn từ 390.425 sự phối hợp khả thể về kháng lại trong những chu trình của nó để đạt tới hiệu quả bù trừ cân đối những nhiễu loạn trong một thời gian dài hay ít, có thể kéo dài được trong vài ngày. Như thế, ta thấy hệ số bất định và lựa chọn lớn biết bao nhiêu. Điều này nhắc nhở và xác nhận câu của Bergson: “Một hệ thần kinh là một bình chứa sự bất định”.

Mọi lực có xu hướng làm tan vỡ các thăng bằng hiện hữu, đều gây nên những kháng lại hữu thức hay không trong nội tại các nhóm bị đe dọa, ấy là những phản ứng nội tại hay ngoại tạo về phòng thủ hay về tái lập thăng bằng. Cũng như thế, các xu hướng xã hội tự gây ra cho bản thân chúng những trở lực riêng của chúng. Những trở lực ấy có thể đến từ sự kháng lại của sự vật hay của môi trường, như trong kinh tế chính trị học là trường hợp quy luật hiệu suất suy thoái, quy luật địa tô,… Chúng có thể nằm trong sự gây nên các tinh thần những phản bác hay những luận cứ ủng hộ những thể chế điều hòa hay cả ngược lại nữa nhằm để làm đối trọng.

Nhưng cũng rất có thể đi đến chỗ, hoặc do những biến hóa sâu sắc, hoặc do sử dụng sức mạnh, hoặc sử dụng một sự tuyên truyền khẩn thiết và nghiêm ngặt, người ta đi đến cấm chế hay bóp nghẹt những phản ứng tái lập thăng bằng ấy. Khi ấy có thể sản sinh ra tất cả các thứ bậc hướng hay phản ứng nói chung là bất khả tiên liệu. Cũng như có thể xảy ra những bùng nổ đột ngột và tai ương của những xu hướng bị dồn nén và chậm muộn trong các phương tiện biểu thị và phương tiện hành động của chúng.

Khi các lực lập lại thăng bằng và các kháng cự cảm ứng (mà chúng tôi gọi như thế là theo cách loại suy với cảm ứng điện) khôn gđủ để chống giảm những lạc hướng, thì sự thăng bằng bị tan vỡ. Từ đây trở đi, trở thành không thể quay trở lại tình thế dù chỉ xuýt xoát với tình thế gần với điểm xuất phát. Sự dao động không còn là dao động nữa; nó trở thành sự lộn nhào, tức là sự biến diệt một kiểu loại cấu trúc.

Cũng tình thế ấy sẽ trình ra khi một trong những phân tố hợp thành một hệ thống bị biến đổi hay bị phá hoại sâu sắc hoặc ngược lại khi nó bị quá lớn. Trong tất cả các trường hợp ấy, sự vận động bình thường của các dao động và các chu kỳ không thể tiếp tục được nữa. Một sự thay đổi cấu trúc bao hàm một phân bố mới các phân tố và các lực hiện diện, một nhịp độ mới về dao động sẽ sinh ra. Là như thế thí dụ khi trong một xã hội các chỉ số thống kê rất quan trọng thay đổi một cách ổn định hay khi các yếu tố cơ bản của tâm cách thống trị đi đến biến hình.

Các thăng bằng có thể bị đứt gãy vì những nguyên nhân ngoại hay nội tại.

Cần phân biệt giữa các dao động và các đứt gãy thăng bằng. Dao động là một sự thay đổi trong các tỷ lệ tương ứng. Thí dụ, sự sản xuất vượt quá sự tiêu thụ hoặc đổi lại. Trong trường hợp ấy, bằng sự vận động của các hiện tượng bù trừ (cung và cầu, lên giá hay xuống giá, kích thích hay không kích thích sự sản xuất) sự thăng bằng thiên về được lặp lại.

Người ta có thể nói sự đứt gãy thăng bằng khi dao động đạt tới một thời hạn cường độ không bình thường  (amormales). Trong trường hợp ấy, dao động thiên về những cải biến về cấu trúc. Thí dụ sự hạ giá hàng sẽ đến mức không gây ra một sự trì trệ đơn giản của sự sản xuất mà gây ra sự biến diệt đồng thời cho một xí nghiệp. Người ta có thể phân biệt giữa các cuộc chiến tranh, những cuộc có thể tiếp tục vô hạn định như các cuộc chinh phục thuộc địa, với những cuộc gây nên một mất thăng bằng bởi chúng tiêu lớn hơn sự tiết kiệm kinh tế khả dụng và ngốn người hơn sự gia tăng bình thường của dân số, hoặc vì nó áp đặt vào một số nhóm của dân tộc một lao dịch quá sức không thể chịu đựng mãi được.

Trong xã hội hiện đại, những giao thoa và những hệ quả về tan vỡ thăng bằng ngày càng được rộng thêm. Ngày xưa, mỗi cái chỉ ảnh hưởng trên một địa bàn nhỏ. Ngày nay, sự phát minh bởi một nhà hóa học (hơn nữa lại là một nhà hóa học nghiệp dư) Pháp ra tơ nhân tạo đã cuối cùng đi đến gây sự phá sản của nông dân Nhật Bản… Cuộc chiến tranh ly khai đã nhất thời tàn phá kỹ nghệ bông châu Âu… Các thăng bằng xã hội có thể do từ những nguyên nhân tâm lý. Những khó khăn lớn của thời đại ngày nay chắc chắn do từ trong lĩnh vực khoa học, các khả năng về thám cứu của chúng ta hiện vượt khỏi khả năng về lĩnh hội. Cuộc khủng hoảng nặng nề về cấu trúc từ ba chục năm nay trong nền kinh tế các dân tộc do từ chỗ kỹ thuật của sự sản xuất đã vượt qua kỹ thuật của sự phân phối vừa cả các sản phẩm tiêu dùng vừa cả lao động.

Một số tác giả đánh giá rằng mọi thăng bằng xã hội có một tầm cỡ nào đó đòi hỏi một đồng giác tối thiểu (un consensus minimum) của các bộ phận và một tối thiểu nhịp nhàng của các hữu quan, nếu không các giai cấp bị hy sinh sẽ khởi loạn hoặc tàn tạ: như các nhân tố tín ngưỡng và tâm cách.    Chứng cớ tốt nhất là, trong nhiều trường hợp, chính là các giai cấp bị hy sinh hoặc rất bị thiệt thòi là những người sinh đẻ và tăng trưởng nhiều hơn cả.

Thông thường sự dự liệu làm giảm bớt đi và như vậy là đi đến giảm nhẹ kết quả của những mất thăng bằng. Như thị trường dự kiến địa tô và nhập thể trước nó vào giá cả. Ấy cũng là chức năng của sự đầu cơ có hạn kỳ (spéculation à terme), và của sự kế hoạch hóa mà hệ quả là, nói chung, làm giảm nhẹ các dao động giá cả. Những dịp khác sự thăng bằng dự báo (l’esquilibre d’anticipation) gây nên những phản ứng ngược lại với những kết quả tìm kiếm nó. Nó là cội nguồn của nhiều cái vòng luẩn quẩn (cereles vicieux). Thí dụ sự tiên liệu một khủng hoảng kinh tế sẽ tạo trước một khí hậu khủng hoảng. Sự sợ hãi chiến tranh và những chuẩn bị quá đáng do nó kích động cuối cùng sẽ đi đến làm nảy ra một xung đột…

Một dạng thái khác của xu hướng đi tới sự tự điều chỉnh của các hiện tượng, là trong các xã hội, giống như trong các cơ chế, thường hay thấy một bộ phận chịu hy sinh để cứu vãn cái toàn bộ. Sự hy sinh ấy đôi khi dưới hình thức một sự tăng thêm công việc, những thiếu thốn được chấp nhận. Như khi một bộ phận người đảm nhận sự hy sinh đặc biệt nặng nề, như trong các cuộc chiến tranh hay trong các cuộc cách mạng. Đó là những phản ứng tuyệt vọng mà các mất thăng bằng xã hội gây nên.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Gaston Bouthoul – các cấu trúc xã hội hội học – NXB VHTT 2011.

Những đặc tính của thăng bằng xã hội – Phần II


Đặc tính của các tăng trưởng xã hội: sự khác biệt

Các tăng trưởng xã hội, tùy trường hợp được kèm theo hoặc không sự khác biệt. Sự khác biệt này có thể chậm hay chóng. Trong sinh học, thường thường sự tăng trưởng không kèm theo một thay đổi bên ngoài rõ rệt. Sự thay đổi như thế, như trong những biến hình của sâu bọ, diễn ra đột ngột khi nội tại cơ chế đã chịu một biến hóa đầy đủ. Cũng như thế đối với các xã hội. Thường thường những thay đổi bên ngoài, tức những thay đổi về thể chế, chỉ diễn ra khi cấu trúc nội tại đã được biến hóa. Là như thể nhất là những trường hợp trong đó một nhóm đã dần khởi dựng được những thể chế riêng thuộc của nó. Chính trong trường hợp ấy người ta thấy hay xuất hiện những chấn động thích nghi đã nói trong các trang trên. Đó là một sự thích nghi đột biến, được diễn ra bằng một trận biến hình, mỗi trận được đi trước bởi một thời kỳ dài về biến hóa (période de transformation) nội tại về thai nghén.

Trong những trường hợp khác, ngược lại – và đó là cái riêng thuộc của đời sống xã hội – các thể chế hiện hữu trước các cấu trúc. Như khi người ta thành lập một đoàn di dân, hay khi người ta học theo bằng cách bắt chước một pháp chế đi trước rất nhiều các phong tục hay thuộc kiểu loại văn minh khác.

Sự tăng trưởng số học của các nhóm sinh học chịu ảnh hưởng của hai hiện tượng cơ bản: thực phẩm và sự hiện hữu các loài phá hại (prédateurs) hoặc các giống đối nghịch. Các nguồn thực phẩm đặt ra một giới hạn cho sự phát triển của nhóm. Giữa môi trường bên ngoài ấy với các năng lực tái sản sinh của nhóm được thiết lập đều đặn một thăng bằng theo kiểu dao động. Thí dụ, ở Canada các thợ săn mèo rừng đã nhận thấy cứ bốn hay năm năm một, số mèo rừng lại rất nhiều và việc bắt chúng lại rất dễ dàng. Rồi chúng lại đi tới hiếm thấy, thậm chí là không thấy nữa. Sự hiếm dần đi ấy là do nạn đói gây nên bởi chúng đã phát triển quá lớn. Khi nạn đói ấy đã tàn phá vừa đủ, những con vật gặm nhấm nhỏ bé, mà mèo rừng sinh sống bằng, lại đông nhung nhúc thì số mèo rừng sống sót, đến lượt chúng bội tăng rất nhanh. Những dao động loại ấy đã được quan sát bởi các ông Volterra, Lotka, R. Pearl,… trong nhịp độ bội tăng của tất cả các động vật lớn và nhỏ, dù nghiên cứu tự do hay bằng thực nghiệm. Malthus là người khởi đầu lớn của loại nghiên cứu này.

Ngay vừa chợt khi nghiên cứu các nhóm người liền hiện hữu một nhóm khác biệt cơ bản. Sự phát triển các nhóm động vật cho phép nói chung những đường cong và công thức toán, tức là, rút cục, những luật bất biến. Ngược lại khi sự phát triển người các công thức thu đạt được chỉ có hiệu lực khi tất cả mọi sự vật đều ngang bằng nhau. Chúng sẽ không có một hiệu lực gì nữa nếu như diễn ra một sự cải biến trong các cấu trúc xã hội hay tinh thần.

Bởi thế quy luật do Malthus đề xuất, theo nó dân số tăng tiến theo nhờ trực tiếp vào lương thực, đã không còn là thật nữa đối với một phần suất đáng kể của nhân loại. Nhưng những đường con được lập cho chuột hay ruồi vẫn tiếp tục chính xác và “khả ngoại suy”.

Vậy người ta thấy rằng trong các hiện tượng xã hội các thăng bằng được thiết lập theo cách rất không đồng đều và cách rất khác nhau. Bởi thế, sau những điều đại cương này cần phải đề cập cách cụ thể việc nghiên cứu các dạng thái  của sự thăng bằng trong các hiện tượng xã hội chính. Tùy theo là thăng bằng về kinh tế, dân số, tâm lý xã hội, phương thức tổ chức, mà cách diễn ra của các thăng bằng sẽ trình xuất những đặc tính khác nhau.

Thăng bằng và thích nghi

Chúng ta đã biết trong vật lý học sự diễn đạt một vật thể ở thăng bằng ổn định hay bất ổn định nghĩa là thế nào. Trong trường hợp thăng bằng ổn định, nếu một nỗ lực bên ngoài chuyển vị trí nó, nó có xu hướng trở lại vị trí ban đầu của nó. Trong trường hợp bất ổn định nó có xu hướng xa rời vị trí ban đầu. Song trong các sự kiện xã hội các sự vật phức tạp một cách khác hẳn. Trước hết một nỗ lực định làm cho một nhóm xa rời trạng thái cân bằng của nó ban đầu có thể đến từ bên ngoài (on dehors). Nhưng lại cũng có thể đến từ bên trong (on dedans), các phân tố của biến đổi có thể là vật chất (matériels), như trong trường hợp một sự gia tăng dân số. Nhưng chúng có thể là tâm lý (pychologiques) như trong trường hợp một sự thay đổi về hiến pháp, về tâm các hoặc cả về thời kiểu.

Mọi cải biến thăng bằng đem đến cơ hội cho một công tác tự thích nghi ở bên trong (à l’intérieur) của nhóm, thí dụ, một cách tân kỹ thuật hay sự gia tăng dân số sẽ ảnh hưởng đến phong hóa, luật pháp, sự tổ chức hành chính,… Nhưng đồng thời, chúng cũng ảnh hưởng đến quan hệ của nhóm đối với các nhóm xung quanh. Một gia đình mà số người gia tăng thì phải có những đứa con phải lo liệu xếp đặt, những đứa khác phải lo liệu lấy vợ lấy chồng. Từ đấy sẽ sinh ra mọi sự phối hợp đến lượt chúng, những phối hợp này đem đến những cải biến những gia đình xugn quanh, ở tất cả các bậc thang của những nhóm tụ xã hội, dù là làng, là thành phố, là nông nghiệp, là dân tộc,… người ta đều thấy những ảnh hưởng qua lại ấy hoạt động.

Khi là những hiện tượng xã hội, các phản ứng do những cải biến về thăng bằng gây nên là những phản ứng phức tạp nhất, mà sự phân tích toán học khiến trở thành rất đơn giản khi là những giống cơ bản bất biến dịch. Chúng thường mang hình thức những rẽ dòng (dérivations), những biến hóa về lực lượng, những sự biến chất về giá trị. Tóm lại các giải thăng bằng (les désé quilibres) thực hành chức năng thúc đẩy và sinh sự.

Có thể nói rằng các giống động vật bị diệt vong bởi bản năng của chúng. Bản năng cho phép chúng trong những điều kiện tối ưu đương đầu với một số đặc điểm nào đó của môi trường, nhưng lại để chúng bị mất vũ khí và không thích hợp với sự thích nghi nếu môi trường đi đến thay đổi.

Vậy cái riêng thuộc của người là tính trí xảo của nó (son ingéniosité), năng lực tự thân thích nghi với môi trường tự nhiên và xã hội. Bởi thể mọi quy luật xã hội học diễn đạt mối quan hệ nhân quả chỉ là thật trong một số cấu trúc tinh thần và vật thể.

Ngay ở những người nguyên thủy, cũng hiện hữu một bản chất mềm dẻo được biểu thị khi có dịp. Thí dụ, trong năm 1930 người ta được biết một nạn đói tàn phá một số bộ lạc thuộc phía đông xứ Congo trước thuộc Bỉ. Theo điều tra nhận được, nạn đói ấy được giải thích bởi sự kiện là lối sống và tư tưởng của các bộ lạc ấy chỉ cho phép họ sống bằng máu và sữa. Gia súc mà họ có trở thành không đủ để cho họ một chế độ ăn tốn kém như thế. Đã phải cưỡng bức họ ăn các thức ăn khác, ngay sau đó các bộ lạc của họ lại trở lại đông đúc. Thí dụ này chỉ cho thấy mối liên hệ giữa kinh tế với dân số có thể bị cải biến bởi các tin tưởng chủ quan đến mức nào.

Sự thích nghi với các hoàn cảnh mới là một hiện tượng được biểu thị ở nấc thang. Nhà sử học Bỉ Pierenne đã chỉ ra rằng sự phát triển của các đường giao thông đường sông lớn ở châu Âu, và như vậy là sự phát triển của các thành phố lớn và các xứ tọa lạc trên bờ những đường sông giao thông ấy (trong khi ấy thì đến lúc đó các thành phố lớn của châu Âu đã tuyệt đối là nằm trong vùng Địa Trung Hải), đã được diễn ra vào thời kỳ trong đó, do sự thống trị của hạm đội Hội giáo ở Địa Trung Hải các dân tộc Kitô giáo hầu như bị loại trừ khỏi mọi hàng hải trên biển này. Chính là khi ấy sự giao thông đường sông được mở rộng và các đô thị lớn dần lên như Loudes, Paris, Vienne, các thành phố ở Rhénanie…, được trở thành thủ đô của châu Âu.

Lấy một thí dụ khác: là những hiện tượng lạm phát tiền đặc điểm của những năm theo sau chiến tranh 1914 – 1918. Kinh nghiệm chỉ ra rằng những phản ứng do lạm phát gây ra đã rất khác nhau tùy từng nước và từng thời điểm: khi ở lúc bắt đầu hiện tượng này đã bị hiểu sai, tức là ở những xứ nó diễn ra đầu tiên (nước Nga và nước Đức), giá cả thoạt tiên còn theo kịp sự lạm phát, sự gia tăng số lượng tiền đẩy nhanh sự nâng cao giá. Rồi, khi công chúng bắt đầu được kinh nghiệm về kết quả của lạm phát, sự nâng giá xu hướng đi trước sự phát hành tiền. Cuối cùng, người ta đi đến một tình trạng quá nhạy cảm của dư luận công chúng, trong đó nỗi sợ hãi duy nhất về lạm phát đã đẻ ra một tình trạng không tín nhiệm đồng tiền, được biểu thị bằng sự nâng cao trước giá hàng và công chúng không chịu giữ tiền, họ vội vã đổi thành những giá trị thực tế, hàng hóa, bất động sản,… ấy là cái người ta đã gọi là cuộc chạy trốn trước đồng tiền. Nói cách khác, ý thức (chính xác hay không) của người ta về sự thay đổi cải biến các phản ứng.

Môi trường càng phức tạp tức là nó càng có nhiều phân tố hiện hữu (agissants) và quan trọng, thì mọi vận động xảy ra ở đó chắc chắn càng gây nên sự chống cự. Các chống cự ấy có thể được tính đếm bằng số trước với sự chính xác, bởi cả chúng nữa, khi là những hiện tượng xã hội, cũng tùy thuộc quan niệm (opinious), và trong một số trường hợp, còn tùy thuộc vào những phân tố cá thể.

Trong lý thuyết nguyên tử của ông, Epicure, để giải thích vũ trụ không chỉ đặt mình trong sự lặp lại và có những sự kiện mới đột xuất, đã buộc phải đưa vào một yếu tố cá thể, ấy là cái Lucrère gọi là chinamen, tức là khả năng một số nguyên tử có thể thay đổi chiều hướng một cách tự phát. Trên hướng được chúng lựa chọn, chúng kéo theo nguyên tử khác và cái tổng thể sẽ cho ra đời những phối hợp mới và không dự liệu được.

Bởi thế, trong các phản ứng do những hiện tượng thăng bằng gây ra, phải tính đếm đến, ngoài những luồng đã được xác lập, một số dăm ba cá thể biệt lập đi theo hướng ngược – luồng hoặc đứng ngoài các luồng. Tất cả các con cá mòi cùng một đàn theo cùng một con đường một cách nghiêm ngặt. Nhưng ở người, có những Christopphe Colomb hay những Magellan lao mình vào những con đường không quen thuộc.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Gaston Bouthoul – các cấu trúc xã hội hội học – NXB VHTT 2011.

Những nền tảng của sự nhận thức trong đời sống thường nhật – Phần cuối


Vì đời sống thường nhật bị thống trị bởi động cơ thực tiễn, nên kiến thức thuộc dạng công thức có sẵn [recipe knowledge], tức là thứ kiến thức hạn hẹp vào năng lực thực tiễn để thực hiện những công việc theo nề nếp hàng ngày, chiếm một vị trí nổi trội trong kho kiến thức của xã hội. Thí dụ, tôi sử dụng điện thoại hằng ngày vì những mục đích thiết thực nhất định của bản thân tôi. Tôi biết sử dụng nó như thế nào. Tôi cũng biết phải làm gì nếu chiếc máy điện thoại bị hư – điều này không có nghĩa là tôi biết cách sửa nó, nhưng tôi biết cách sửa nó, nhưng tôi biết sẽ phải gọi ai đến sửa. Kiến thức của tôi về chiếc điện thoại cũng bao gồm cả loại thông tin rộng hơn về hệ thống truyền thông điện thoại – chẳng hạn, tôi biết rằng có một số người không đưa số điện thoại của mình vào danh bạ, rằng trong những hoàn cảnh đặc biệt nào đó, tôi có thể kết nối điện thoại đường dài cùng lúc với hai số máy khác nhau, rằng tôi buộc phải tính đến thời gian lệch múi giờ nếu tôi muốn gọi đến một người nào đó ở Hong Kong… Toàn bộ sự hiểu biết về điện thoại chính là thứ kiến thức công thức có sẵn bởi vì nó không liên quan đến bất cứ thứ gì khác ngoài những gì tôi phải biết nhằm vào những mục đích thiết thực trong hiện tại và có thể trong tương lai. Tôi không quan tâm đến việc tại sao chiếc điện thoại lại vận hành như thế này, hay đến khối lượng khổng lồ của tri thức khoa học và kỹ thuật để có thể chế tạo ra chiếc điện thoại. Và tôi cũng không quan tâm đến những cách sử dụng điện thoại nằm ngoài mục đích của tôi, chẳng hạn cách kết hợp với đài vô tuyến sóng ngắn nhằm vào mục đích truyền thông hàng hải. Tương tự, tôi có kiến thức công thức có sẵn về cách vận hành của các mối quan hệ giữa con người với nhau. Thí dụ, tôi biết tôi phải làm gì khi xin cấp một tấm thẻ hộ chiếu. Tất cả những gì tôi quan tâm là lấy được tấm thẻ hộ chiếu sau một thời gian chờ đợi nào đó. Tôi không quan tâm, và cũng không biết rằng đơn xin cấp hộ chiếu của tôi được xử lý như thế nào và bởi ai trong các cơ quan công quyền, sau những bước nào thì được chấp thuận, và ai là người đóng dấu lên tấm thẻ hộ chiếu. Tôi sẽ không tiến hành một cuộc khảo sát về bộ máy hành chính của chính phủ – tôi chỉ muốn có một chuyến đi nghỉ ở nước ngoài. Tôi chỉ bắt đầu quan tâm về cách vận hành ẩn khuất trong thủ tục cấp thẻ hộ chiếu nếu tôi không lấy được hộ chiếu khi đến hạn. Lúc này, cũng giống y như khi tôi gọi một chuyên viên sửa điện thoại lúc điện thoại của tôi bị trục trắc, tôi gọi đến một chuyên viên trong lĩnh vực cấp hộ chiếu – chẳng hặn một luật sư, hay vị dân biểu của địa phương tôi, hay Hiệp hội Dân quyền Mỹ [American Liberties Union]. Mutaris mutandis [với một vài thay đổi thích hợp về chi tiết – ND], một phần khá lớn kho kiến thức của xã hội bao gồm những công thức có sẵn để có thể làm chủ được những vấn đề thường gặp hàng ngày. Thông thường, tôi không quan tâm lắm đến những gì nằm ngòa số kiến thức cần thiết thực tiễn này bao lâu mà nhờ đó tôi vẫn có thể làm chủ được các vấn đề ấy.

Kho kiến thức xã hội [giúp tôi] phân biệt thực tại theo những mức độ quen thuộc nhiều hay ít. Nó cung cấp [cho tôi] những thông tin phức tạp và chi tiết liên quan đến những khu vực đời sống thường nhật mà tôi buộc phải xử lý thường xuyên. Nó cung cấp những thông tin tổng quát hơn và ít chính xác hơn về những khu vực xa hơn. Vì vậy, lượng kiến thức của tôi về nghề nghiệp của mình và về thế giới nghề nghiệp này rất dồi dào và cụ thể, trong khi tôi chỉ có kiến thức rất sơ sài về những thế giới nghề nghiệp của tha nhân. Kho kiến thức xã hội còn cung cấp cho tôi những lược đồ điển hình hóa [typificatory schemes] mà tôi cần có cho các nề nếp sinh hoạt chính yếu của đời sống thường nhật, không chỉ những sự điển hình hóa về tha nhân mà chúng ta đã bàn luận trước đây, mà cả những sự điển hình hóa về mọi loại sự kiện và kinh nghiệm, kể cả về mặt xã hội lẫn về mặt tự nhiên. Tôi sống trong một thế giới bao gồm những người họ hàng thân thuộc, những người đồng nghiệp và những người công chức nhà nước mà tôi quen biết. Bởi vậy, trong thế giới này, tôi trải qua những cuộc sum họp gia đình, những cuộc họp ở sở làm, và những lần đối diện với cảnh sát giao thông. “Hậu cảnh” tự nhiên của những sự kiện này cũng đã được điển hình hóa bên trong kho kiến thức. Thế giới của tôi được cấu trúc theo các nề nếp sinh hoạt áp dụng cho ngày trời đẹp hay ngày trời xấu, cho mùa dễ bị cảm cúm, và cho những trường hợp mà mắt tôi bị dính bụi. “Tôi biết phải làm gì” liên quan đến tất cả những người khác và tất cả những sự kiện ấy trong đời sống thường nhật. Khi xuất hiện trước mắt tôi như một tổng thể hội nhập, kho kiến thức của xã hội cũng cung cấp cho tôi những phương tiện để tôi có thể hội nhập vào đấy những yếu tố riêng biệt của kiến thức của chính tôi. Nói cách khác, “điều ai cũng biết” có logic riêng của nó, và chính cái logic này có thể được áp dụng để sắp xếp theo thứ tự những chuyện khác nhau mà tôi biết. Thí dụ, tôi biết rằng bạn tôi Henry là một người Anh, và tôi biết rằng anh ta luôn luôn đúng giờ trong các cuộc hẹn. Vì “ai cũng biết” rằng sự đúng giờ là một nét đặc trưng của người Anh, nên bây giờ tôi có thể hội nhập hai yếu tố này của kiến thức mà tôi có về Henry vào trong một sự điển hình hóa vốn có ý nghĩa trong kho kiến thức của xã hội.

Hiệu lực của kiến thức của tôi về đời sống thường nhật được tôi và những người khác coi như đương nhiên, trừ phi vấp phải vấn đề nào đó, nghĩa là, khi nảy sinh một vấn đề mà tự nó không thể giải quyết được. Bao lâu mà kiến thức của tôi vận hành một cách ổn thỏa, thì nói chung tôi luôn sẵn sàng gạt đi những điều hoài nghi về nó. Trong một số thái độ nào đó tách rời khỏi thực tại thường nhật – như kể một chuyện đùa, ở trong nhà hát hay trong nhà thờ, hay bước vào sự tư biện triết học – tôi có thể nghi ngờ một số yếu tố của nó [tức kiến thức của tôi về đời sống thường nhật]. Nhưng những điều nghi ngờ này thường “không được coi trọng”. Thí dụ, với tư cách là một doanh nhân, tôi biết là tôi sẽ phải trả giá đắt nếu tôi bất cần tha nhân. Tôi có thể cười phá lên khi nghe một câu chuyện đùa mà trong đó quy tắc này dẫn đến sự thất bại; tôi có thể mủi lòng khi một diễn viên hay một nhà thuyết giảng ca ngợi những đặc tính của thái độ ân cầu với tha nhân, và tôi có thể thừa nhận với một thái độ triết lý rằng tất cả các mối quan hệ xã hội cần được chi phối bởi Quy tắc vàng. Sau khi cười, sau khi mủi lòng, và sau khi đã suy luận triết lý, tôi trở lại với thế giới “nghiêm túc” của công việc kinh doanh, nhìn nhận trở lại cái logic của những quy tắc của thế giới này, và hành động tuân theo chúng. Chỉ khi nào những quy tắc của tôi “không giao được hàng” [tức là không có hiệu lực – ND] trong cái thế giới mà chúng nhắm vào, thì lúc đó chúng mới có thể trở nên rắc rối đối với tôi một cách thực sự nghiêm trọng.

Mặc dù kho kiến thức của xã hội phụ hiện cái thế giới thường nhật một cách tích hợp, trong đó chỉ có những khác biệt tùy theo vùng quen thuộc hoặc vùng xa lạ, nhưng nó vẫn để cho tổng thể thế giới này nằm trogn tình trạng mù mờ khó hiểu. Nói một cách khác, thực tại đời sống thường nhật luôn xuất hiện như một vùng sáng mà đằng sau nó là một hậu cảnh mờ tối. Nếu một vài vùng của thực tại được chiếu sáng, thì những vùng khác lại bị chìm vào bóng tối. Tôi không thể biết hết mọi thứ có thể biết được về thực tại này. Thí dụ, cho dù tôi là một kẻ chuyên chế dường như đầy quyền lực trong gia đình tôi, và tôi biết điều này, thì tôi vẫn không thể nào biết được tất cả mọi nhân tố dẫn đến sự thành công liên tục của sự chuyên chế của tôi. Tôi biết là các mệnh lệnh của tôi luôn được tuân phục, nhưng tôi không thể nào biết chắc về tất cả các bước và tất cả các động cơ vốn diễn ra trong khoảng thời gian từ khi tôi ban hành mệnh lệnh cho tới khi các mệnh lệnh này được thi hành. Luôn luôn có những điều nào đó diễn ra “sau lưng tôi”. Điều này đúng a fortiori [tức là lại càng đúng – ND] khi liên quan đến những mối quan hệ xã hội phức tạp hơn so với những mối quan hệ trong gia đình – và nhân tiện nói thêm, điều này cũng giải thích tại sao những kẻ chuyên chế thường hay bồn chồn lo lắng một cách cố hữu. Kiến thức của tôi về đời sống thường nhật có đặc tính là một công cụ [giúp tôi] mở một con đường mòn xuyên qua một khu rừng, và nhờ vậy, nó làm lộ ra một vệt ánh sáng hình nón hẹp lên trên những gì nằm ngay đằng trước tôi và xung quanh sát tôi; nhưng mọi phía khác của con đường mòn vẫn tiếp tục chìm trong bóng tối. Lẽ tất nhiên, hình ảnh này lại càng đúng hơn đối với vô số thực tại vốn liên tục siêu vượt lên khỏi đời sống thường nhật. Nhận định vừa rồi có thể được diễn giải, một cách thi ca nếu không muốn nói là một cách thực sự thấu đáo, bằng cách nói rằng thực tại đời sống thường nhật bị che khuất bởi các bóng râm của các giấc mơ của chúng ta.

Kiến thức của tôi về đời sống thường nhật được cấu trúc hóa căn cứ trên những gì có liên hệ thiết thân [relevances] [đối với tôi]. Trong đó có những cái được định đoạt bởi những mối quan tâm thực tiễn trực tiếp của tôi, và có những cái khác thì được định đoạt bởi hoàn cảnh tổng quát của tôi trong xã hội. Cách thức mà vợ tôi nấu món ra-gu Hungary [goulash] mà tôi ưa thích không thiết thân đối với tôi, bao lâu mà tôi vẫn còn thích món này. Chuyện xuống giá cổ phiếu của một công ty cũng không thiết thân đối với tôi, nếu tôi không sở hữu cổ phiếu của công ty đó; hay chuyện những người Công giáo đang hiện đại hóa học thuyết của họ cũng thế, nếu tôi là một người vô thần; hay chuyện bây giờ có thể bay thẳng đến châu Phi cũng vậy, nếu tôi không có ý định đi đến đó. Tuy nhiên, những cấu trúc có liên hệ thiết thân với tôi [my relevance structures] có thể giao thoa với những cấu trúc có liên hệ thiết hân của những người khác ở nhiều điểm, và hệ quả là chúng tôi có một số điều “lý thú” để nói chuyện với nhau. Một yếu tố quan trọng của kiế thức của tôi về đời sống thường nhật chính là kiến thức về những cấu trúc thiết thân của những người khác. Do vậy, tôi tự mình “biết rõ” hơn là đi kể cho bác sĩ của tôi nghe về những vấn đề đầu tư của tôi, hay kể cho luật sư của tôi về những cơn đau do tôi bị ung nhọt, hay kể cho nhân viên kế toán của tôi về công cuộc tìm kiếm chân lý tôn giáo của tôi. Những cấu trúc thiết thân căn bản [đối với tôi] trong đời sống thường nhật được trình diện ra trước mắt tôi như những cái đã được sắp sẵn bởi chính kho kiến thức của xã hội. Tôi biết rằng chuyện ngồi lê đôi mách của đàn bà là chuyện không thiết thân với tôi vì tôi là đàn ông, rằng chuyên tư biện viển vông là chuyện không thiết thân với tôi vì tôi là con người hành động,… Cuối cùng, kho kiến thức của xã hội xét như một tổng thể cũng có cấu trúc thiết thân của chính nó. Chẳng hạn, nếu căn cứ trên kho kiến thức đã được khách thể hóa trong xã hội Mỹ, thì sẽ không thích đáng nếu đi khảo sát sự chuyển động của các vì sao để dự báo thị trường chứng khoán, nhưng sẽ là điều thích đáng nếu khảo sát những điều lỡ lời của một cá nhân để hiểu về đời sống tình dục của anh ta,… Ngược lại, trong một số xã hội khác, thuật chiêm tinh có thể có mối liên hệ hết sức thiết thân với ngành kinh tế học, nhưng việc phân tích lời nói thì lại hoàn toàn không dính dáng gì đến óc hiếu kỳ tình dục,…

Một điểm cuối cùng cần được nêu ra ở đây là về sự phân bố kiến thức trong xã hội. Tôi đối diện với kiến thức trong đời sống thường nhật như là cái đã được phân bố về mặt xã hội, nghĩa là, như là cái được sở đắc một cách khác nhau bởi những cá nhân khác nhau và những điển hình [types] cá nhân khác nhau. Tôi không có cùng một kiến thức giống như tất cả những người đồng loại, và tôi có thể có những kiến thức mà không ai có. Tôi chia sẻ những kiến thức chuyên môn của mình với các đồng nghiệp, chứ không phải với gia đình, và tôi có thể không chia sẻ với bất kỳ ai những kiến thức mà tôi có về cách đánh bài bịp. Cách phân bố kiến thức trong xã hội về một số yếu tố nhất định của thực tại thường nhật có thể trở nên hết sức phức tạp và thậm chí rối rắm đối với người bên ngoài. Tôi không chỉ không kiến thức được coi là cần thiết để chữa tôi khỏi bị đau bệnh về thể chất, mà tôi có thể còn không biết rằng trong vô số những chuyên viên y khoa đông đến mức khiến cho người ta phải bối rối, thì người nào tự nhận là mình có đủ thẩm quyền đối với căn bệnh của tôi. Trong những trường hợp như thế, tôi không chỉ cần có lời khuyên của các chuyên gia, mà trước hết còn cần lời khuyên của những chuyên gia về các chuyên gia. Sự phân bố kiến thức trong xã hội vì thế khởi sự từ sự kiện đơn giản là tôi không biết tất cả những điều mà những người đồng loại đã biết và ngược lại, và sự phân bố này lên đến cực điểm trong những hệ thống kiến thức chuyên ngành cực kỳ phức tạp và kỳ bí. Kiến thức về cách thức phân bố kho kiến thức khả dụng trong xã hội, ít nhật một cách đại thể, là một yếu tố quan trọng của chính cái kho kiến thức này. Trong đời sống thường nhật, tôi biết ít ra một cách đại khái rằng tôi có thể che giấu ai cái gì, rằng tôi có thể tìm đến ai để có thông tin về điều mà tôi không biết, và nói chung, tôi biết với những loại người nào thì tôi có thể kỳ vọng có được những loại kiến thức nào.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015.

Những đặc tính của thăng bằng xã hội – Phần I


Các thí dụ từ các khoa học tự nhiên chỉ ra các dạng thái chính mà ý niệm thăng bằng mang khoác trong những môn học đơn giản hơn xã hội học.

Người ta thấy trong các thăng bằng xã hội tất cả những đặc tính của các thăng bằng được nghiên cứu bởi vật lý học, hóa học và sinh vật học. Nhưng còn thêm vào một số yếu tố mang tính xã hội riêng biệt, tức không hề quy giản vào những loại suy với khoa học khác, và chúng ta sẽ thử liệt kê.

Những dạng thái toán học

Một trong những mục hấp dẫn nhất của các khoa học xã hội là mục đã được mở ra bởi những nghiên cứu về sinh vật học toán. Những nghiên cứu ấy, mà người khởi xướng là nhà thông thái Bỉ Quételet với cuốn Vật lý học xã hội (1821), đã nhận được một kích thích mới với các công trình của Galton và Verhulst hồi giữa thế kỷ trước. Chúng được đổi mới trong những năm gần đây bằng các công trình phân tích toán học các hiện tượng sinh vật, do các ông Lotka và Volterra khởi dựng và bằng các nghiên cứu nữa – sinh vật học nữa – thực nghiệm của ông Pearson.

Cái riêng của những nghiên cứu ấy, mà Quételet đã chỉ ra phương pháp, là chúng xuất phát trước hết từ cơ sở thực nghiệm, tức là thống kê học. Nhưng một khi đã tập hợp các dữ kiện thống kê, sự phân tích toán học cho phép “mổ xẻ” (disséquer) các đường con và các biểu đồ đạt được một cách thực nghiệm và biết được các tình trạng khác nhau về thăng bằng mà một hệ thống xác định tiên quyết có thể trải qua.

Những thí dụ đơn giản nhất mà các phân tích ấy dự vào là được rút ra từ những quá trình phát triển khác nhau. Các đường cong dùng để hình dung chúng thoạt tiên đạt được bằng những biện pháp thống kê. Thí dụ người ta đo lường sự tăng tiến của một bào thai hay một con vật theo những khoảng cách đều đặn. Như Quételet đã dựng bảng, rồi đường con của sự tăng trưởng người ở các tuổi khác nhau.

Hiện tượng ấy tương đối dễ nghiên cứu, chỉ ra các quá trình sinh học khác như thế nào các hiện tượng vật lý. Phân tố chất lượng ở đó chiếm một vị trí ngày càng lớn, thí dụ, sự tăng trưởng người không theo tuyến thẳng. Nó được chia nhỏ thành nhiều giai đoạn, mỗi đoạn được đặc định bởi tính bất biến của những hệ số sống còn. Nhưng ở một số thời điểm, diễn ra sự biến đổi đột ngột những hệ số. Về phương diện phát triển, đó là cái tương đương với cái biến hình thực sự (véritables métamorphoses).

Đường cong do Quételet xây dựng đã chỉ ra sự tăng trưởng (của một đứa trẻ) trong 18 tháng đầu là rất nhanh. Nó chậm dần đi trong những tháng kế tiếp và gần như ở nguyên một mức độ đến năm thứ chín. Sự nhanh chóng ấy lại bắt đầu rõ rệt đến năm 15 hay 16 tuổi. Từ đây trở đi nó giảm dần để trở thành âm tính sau ba mươi tuổi. Như vậy người ta thấy, khi là những hiện tượng sinh học dựa trên cơ sở một thời hạn nào đó, người ta không thể nói đến quy luạt về tính liên tục bất biến (loi de continuité constante).

Các phương trình tính toán, biểu thị sự tăng trưởng, thay đổi tùy theo các thời kỳ được xem xét. Wells đã nói rằng nếu Adam muốn ngoại suy (extrapoler) sự tăng trưởng của đứa con đầu lòng của ông ngay từ năm thứ nhất thì ba mươi năm sau sự tăng trưởng này hẳn sẽ cao bằng núi Himalaya.

Cũng là như thế đối với sự phát triển số học của các loài sinh vật.

Nhưng chừng nào giống loài càng lên cao trong thang động vật, người ta càng thấy tăng số phân tố cần xem xét khi dựng lập những đường con phát triển của chúng. Đối với các giống giản đơn nhất cái duy nhất quan trọng là trình độ bão hòa của môi trường sống như các loài vi khuẩn. Với các giống khác nhau, như các động vật có vú, lại phải tính đến những phân tố địa lý (nhiệt độ, chất đất, thảo mộc), các thứ đồ ăn và các thứ đồ uống, các giống phá hại, các xung đột với các nhóm kình địch cùng giống loài, những di trú… Cái riêng thuộc của sự phá triển người là sau sự dừng lại của sự tăng trưởng tự nhiên khối lượng, sự “tăng trưởng tâm lý” chất lượng vẫn tiếp tục. Nói cách khác, sau khi có ngừng lớn lên và to ra, con người tiếp tục học tập và sáng tạo.

Cuối cùng, đối với con người, còn phải có sự can thiệp của cac tâm cách với tất thảy các thành phần hợp thành nó. Tùy theo tâm cách của một nhóm người, các cấu trúc xã hội của nó khác đi. Sự thăng bằng của các xã hội người ngày càng tùy thuộc vào kỹ thuật và những tin tưởng trên đó các thể chế của họ được xây dựng.

Các hình thái của những thăng bằng xã hội

Các hiện tượng xã hội có thể trình xuất những thăng bằng dao động. Chúng có thể chu kỳ tính; chúng có thể đơn giản hay phức hợp.

Phương thức thăng bằng đơn giản nhất là thăng bằng hai sự hạng (l’équililere à deux termes). Nhưng thăng bằng ấy thực tế là một sự trừu suất; trong đời sống xã hội không có sự thăng bằng hai sự hạng tuyệt đối độc lập. Sự biệt lập một hệ thống bao giờ cũng chỉ là xấp xỉ. Cũng như chúng ta không thể miêu tả hay liệt kê tất cả những phân tố có thể tác động đến toàn xã hội. Cần phải lựa chọn những phân tố chủ yếu, những phân tố luôn luôn hiện diện. Vậy chúng ta sẽ phân biệt chúng trong phần tiếp theo đây bốn nhóm chính:

+ Nhóm dân số;

+ Nhóm kinh tế;

+ Nhóm tâm lý;

+ Nhóm kỹ thuật.

Trong mỗi hệ thống trên, hiện hữu một số nào đấy những hiện tượng chu kỳ và dao động. Nhưng lại cũng gặp ở đấy một số hiện tượng tái thăng bằng đột nhiên, tương tự cái mà các nhà toán học, trên đây đã nói tới, gọi là những hiện tượng truy toán (les phénomènes de récurrence). Chúng gồm một chấn động đột ngột (brusqque commotion) là kết quả của một tích tụ chậm chạp tiên quyết.

Những hiện tượng phản hồi (récurrence) và tháo gỡ (décharge) đột ngột là đặc tính của những hiện tượng sinh học. Bergson thấy ở đấy cái riêng thuộc, cũng là tiêu chuẩn của đời nữa: “Tôi nói có đời sống mỗi khi có một đời sống thể (me système de corps) có thể tích tụ năng lượng của một nguồn, thí dụ như mặt trời, rồi trả lại năng lượng giải phóng ấy theo cách gần như nổ phá (quasiment explosive)” (Trích dẫn của Dahamel, thuật lại một cuộc trò chuyện với Bergson).

Trong các hiện tượng phản hồi xã hội ấy, một số như các cuộc khủng hoảng kinh tế và chiến tranh dường như trình ra một tính cách định kỳ hay gần như định kỳ, ít nhát trong một số cấu trúc xã hội. Một số khác là một số hiện tượng tái tăng bằng đột ngột, không định kỳ, như các cuộc cách mạng và chiến tranh thuộc địa.

Cần ghi chú rằng phân tố tâm lý nhập vào tất cả các thăng bằng của xã hội ấy. Không một thăng bằng nào có thể loại trừ yếu tố tâm lý. Sự tái lập thăng bằng và sự thích nghi được làm nên không chỉ với yếu tố vật chất mà còn và chủ yếu là đối phó với phân tố tâm thần. Ngoài ra, về khoa học xã hội, người ta có thể tính đến một thăng bằng dự định (équilibre d’anticipation), được thiết lập giờ giờ khắc khắc giữa các hình thái xã hội với các tín tưởng, và như vậy là với các lý tưởng và các cứu cánh được suy diễn từ các hình thái xã hội ấy. Bởi nếp ứng xử của con người bị ảnh hưởng không chỉ bởi quá khứ của hắn và hiện tại của hắn, mà còn bởi cái hắn dự kiến và ao ước trong tương lai. Mọi sự cố gắng của khoa học được thu lại từ sự đeo đuổi một thăng bằng giữa thế giới bên ngoài với sự diễn giải hữu thức mà chúng ta tiến hành về nó. Rồi đến nỗ lực làm hài hòa cuộc sống của chúng ta với tri thức của chúng ta. “Tất thảy những gì mà chúng ta đang làm, một nhà triết học Ấn Độ nói, là kết quả của cái chúng ta đang suy nghĩ”.

Sự phối hợp giữa phân tố tâm lý với các phân tố vật chất như vậy giải thích tại sao phần lớn các chu kỳ xã hội là không thể đánh giá bằng số được. Bởi trong những mục chúng bị ảnh hưởng bởi các tín tưởng và các tư tưởng của chúng ta thì có sự can thiệp của thời hạn tâm lý, bên cạnh thời gian, vào các hiện tượng xã hội, và thời hạn tâm lý hiểu theo nghĩa Bergson đã định cho nó. Nơi nào thời hạn tâm lý can thiệp tới, các hiện tượng không bao giờ có thể có tính định kỳ nghiêm ngặt, vật chất. Chúng chỉ có thể là định kỳ hình thái (périodomorphes).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Gaston Bouthoul – các cấu trúc xã hội hội học – NXB VHTT 2011.

Những nền tảng của sự nhận thức trong đời sống thường nhật – Phần VII


Trong tình huống trực diện, ngôn ngữ có một đặc tính nội tại là mối liên hệ hỗ tương [reciprocity]; đặc tính này làm cho nó khác với mọi hệ thống tín hiệu khác. Quá trình sản xuất ra những tín hiệu ngôn thanh trong cuộc đàm thoại có thể diễn ra đồng bộ một cách nhạy bén với những ý định chủ quan mà những người đàm thoại đang có trong đầu. Tôi nói giống như điều tôi nghĩ, và người đối thoại với tôi cũng thế. Cả hai chúng tôi đều nghe thấy gần như cùng một lúc những gì mỗi người nói, điều này làm cho hai chủ thể tính của chúng tôi có thể tiếp cận lẫn nhau liên tục và đồng bộ – đây là một sự gần gũi liên chủ thể trong tình huống trực diện mà không một hệ thống tín hiệu nào khác có thể sao chép được. Hơn thế nữa, tôi nghe chính tôi lúc tôi nói; những ý nghĩa chủ quan của chính tôi được đưa ra hiện diện một cách khách quan và liên tục trước mắt tôi, và ipso facto [chính vì điều này] chúng trở nên “có thực hơn” đối với tôi. Chúng ta có thể diễn tả điều này một cách khác bằng cách nhắc lại điểm mà chúng tôi đã từng nêu về chuyện tôi “biết rõ hơn” về tha nhân so với việc biết về chính mình trong tình huống trực diện. Sự kiện có vẻ nghịch lý này đã được giải thích ở một đoạn trên bởi sự hiện diện lù lù, liên tục và mang tính tiền phản tư của tha nhân trong tình huống trực diện, khác với yêu cầu phải phản tư nếu tôi muốn cảm nhận được sự hiện diện của chính mình. Tuy nhiên, vì bây giờ tôi khách thể hóa con người của chính tôi bằng phương tiện ngôn ngữ, nên con người của tôi trở nên hiện diện lù lù và liên tục đối với tôi và đồng thời đối với anh ta, và tôi có thể thoải mái xử trí với nó mà không cần có sự “gián đoạn” [interruption] khi phải cố tình phản tư. Vì thế, có thể nói rằng ngôn ngữ làm cho chủ thể tính của tôi “có thực hơn” không chỉ đối với người đàm thoại với tôi mà kể cả đối với chính tôi. Khả năng làm kết tinh và làm ổn định cái chủ thể tính của chính tôi thông qua ngôn ngữ sẽ được duy trì (mặc dù cũng có những sự cải biến nào đó) khi ngôn ngữ bị tách khỏi tình huống trực diện. Có thể thấy rõ đặc trưng rất quan trọng này của ngôn ngữ qua câu ngạn ngữ nói rằng con người phải nói về chính mình cho đến khi họ biết chính mình.

Ngôn ngữ bắt nguồn từ trong đời sống thường nhật, và qui chiếu chủ yếu về đời sống thường nhật; nó qui chiếu trước hết đến cái thực tại mà tôi trải qua với ý thức hoàn toàn tỉnh táo – đây là cái thực tại bị chi phối bởi động cơ thực tiễn (tức là nhóm ý nghĩa có liên quan trực tiếp đến những hành động hiện tại hoặc tương lai) và cũng là cái thực tại mà tôi chia sẻ cùng với tha nhân theo cách thức được coi là đương nhiên. Mặc dù ngôn ngữ cũng có thể được sử dụng để quy chiếu về những thực tại khác, điều mà lát nữa sẽ được bàn luận, nhưng nó vẫn luôn luôn giữ lại gốc gác của nó trong thực tại hiểu theo lý lẽ thông thường của đời sống thường nhật. Với tư cách là một hệ thống tín hiệu, ngôn ngữ có đặc tính là mang tính khách quan. Tôi đối diện với ngôn ngữ như một kiện tính ở bên ngoài tôi, và nó có tác động cưỡng chế đối với tôi. Ngôn ngữ buộc tôi phải tuân theo các khuôn mẫu của nó. Tôi không thể sử dụng những quy tắc của cú pháp tiếng Đức khi tôi nói tiếng Anh; tôi không thể sử dụng những từ được phát minh bởi đứa con ba tuổi của tôi nếu tôi muốn giao tiếp với những người ngoài gia đình tôi; tôi buộc phải lưu tâm đến những chuẩn mực đang thịnh hành về cách ăn nói thích hợp với những hoàn cảnh khác nhau, cho dù tôi có thể thích những chuẩn mực “không thích hợp” của riêng cá nhân tôi nhiều hơn. Ngôn ngữ cung cấp cho tôi một khả năng có sẵn để tôi có thể tiến hành liên tục việc đối vật hóa các kinh nghiệm mà tôi lần lượt trải qua. Nói cách khác, ngôn ngữ có khả năng rộng rãi đủ để cho phép tôi đối vật hóa rất nhiều dạng kinh nghiệm mà tôi sẽ bắt gặp trong dòng đời của tôi. Ngôn ngữ cũng [giúp tôi] điển hình hóa các kinh nghiệm, cho phép tôi xếp chúng vào những phạm trù bao quát mà nhờ đó chúng có ý nghĩa không chỉ với tôi mà cả với những người đồng loại. Khi nó điển hình hóa, nó cũng nặc danh hóa các kinh nghiệm, bởi vì kinh nghiệm một khi đã được điển hình hóa về nguyên tắc, nó có thể được lặp lại bởi bất cứ ai nằm trong phạm trù có liên quan. Thí dụ, tôi có cuộc cãi nhau với mẹ vợ tôi. Kinh nghiệm cụ thể và độc nhất vô nhị về mặt chủ quan này được điển hình hóa về mặt ngôn ngữ dưới phạm trù “chuyện phiền toái với mẹ vợ”. Trong sự điển hình hóa này, cụm từ này có ý nghĩa đối với tôi, những người khác và có lẽ cả mẹ vợ tôi. Tuy nhiên, sự điển hình hóa dẫn đến sự nặc danh. Không chỉ tôi mà bất kỳ ai (chính xác hơn, bất kỳ người nào trong phạm trù con rể) đều có thể có chung những “sự phiền toái với mẹ vợ”. Theo chiều hướng này, những kinh nghiệm trong cuộc đời tôi lần lượt được xếp vào trong những trật tự ý nghĩa tổng quát có thực cả về mặt khách quan lẫn về mặt chủ quan.

Bởi vì ngôn ngữ có khả năng siêu vượt ra khỏi cái “ở đây và bây giờ”, nên ngôn ngữ có thể bắc chiếc cầu nối kết những vùng khác nhau trong thực tại đời sống thường nhật, và hội nhập chúng vào trong một tổng thể có ý nghĩa. Những sự siêu vượt này [transcendences] có những chiều kích không gian, thời gian và xã hội. Thông qua ngôn ngữ, tôi có thể siêu vượt qua cái hố cách biệt giữa vùng hành xử của tôi với vùng hành xử của người khác; tôi có thể đồng bộ hóa chuỗi thời gian dòng đời của tôi với chuỗi thời gian dòng đời của anh ta; và tôi có thể trò chuyện với anh ta về những cá nhân và những tập thể vắng mặt trong cuộc tương giao trực diện của chúng tôi. Chính nhờ những sự siêu vượt này mà ngôn ngữ có khả năng “làm hiện diện” trước mắt tôi không chỉ những người đồng loại đang vắng mặt lúc đó, mà kể cả những người đồng loại thuộc về một quá khứ được hồi niệm hay tái hiện, cũng như những người đồng loại mà tôi phóng chiếu như những nhân vật tưởng tượng trong tương lai. Tất cả những sự “hiện diện” này đều có thể có ý nghĩa lớn lao, lẽ dĩ nhiên, trong thực tại luôn tiếp diễn của đời sống thường nhật.

Hơn nữa, ngôn ngữ còn có khả năng siêu vượt lên khỏi toàn bộ thực tại đời sống thường nhật. Nó có thể quy chiếu về những kinh nghiệm thuộc về những địa hạt ý nghĩa hữu hạn, và nó cũng có thể bao trùm cả những phạm vi riêng biệt của thực tại. Thí dụ, tôi có thể diễn giải “ý nghĩa” của một giấc mơ bằng cách hội nhập nó về mặt ngôn ngữ vào trong trật tự của đời sống thường nhật. Sự hội nhập này chuyển dịch cái thực tại riêng biệt của giấc mơ vào bên trong thực tại đời sống thường nhật bằng cách biến nó thành một cái lõm [enclave] trong lòng thực tại đời sống thường nhật. Lúc này, giấc mở trở nên có ý nghĩa xét về mặt thực tại đời sống thường nhật hơn là về mặt thực tại riêng biệt của nó. Những cái lõm vốn được sản sinh bởi sự chuyển dịch này theo một nghĩa nào đó thuộc về cả hai lĩnh vực của thực tại. Chúng được “định vị” vào trong một thực tại này, nhưng lại “qui chiếu” về một thực tại khác.

Bất cứ chủ đề nào có ý nghĩa trải rộng và bao trùm lên nhiều khu vực khác nhau của thực tại đều có thể được định nghĩa là một biểu tượng [symbol], và hình thái ngôn ngữ dùng để diễn đạt sự siêu vượt này có thể được gọi là ngôn ngữ biểu tượng. Lúc đó, ở cấp độ biểu tượng, sự tín hiệu hóa bằng ngôn ngữ đạt tới mức độ tách rời tối đa khỏi cái “ở đây và bây giờ” của đời sống thường nhật, và ngôn ngữ vươn lên tới những vùng không chỉ không hiện diện de facto [trên thực tế] mà còn không hiện diện a priori [một cách tiên nghiệm] trong kinh nghiệm thường nhật. Bấy giờ, ngôn ngữ sẽ kiến tạo nên những tòa dinh thự quan niệm biểu tượng đồ sộ có vẻ như vượt hẳn lên trên thực tại đời sống thường nhật tựa như những thực thể vĩ đại đến từ một thế giới khác. Tôn giáo, triết học, nghệ thuật và khoa học là những hệ thống biểu tượng quan trọng nhất thuộc loại này trong lịch sử. Sở dĩ kể ra những lãnh vực này là để nói rằng, mặc dù chúng tách rời tối đa khỏi kinh nghiệm thường nhật vì việc kiến tạo nên những hệ thống này đòi hỏi phải như thế, nhưng chúng vẫn có thể thực sự hết sức quan trọng đối với thực tại đời sống thường nhật. Ngôn ngữ không chỉ có khả năng kiến tạo nên những biểu tượng vốn được trừu tượng hóa cao độ từ kinh nghiệm thường nhật, mà còn có khả năng “mang trở lại” [bringing back] những biểu tượng này vào trong đời sống thường nhật, và làm cho chúng phụ hiện như những yếu tố có thực một cách khách quan trong đời sống thường nhật. Theo cách này việc sử dụng biểu tượng và ngôn ngữ biểu tượng trở thành những thành tố thiết yếu của thực tại đời sống thường nhật và của cách lãnh hội thực tại này theo lý lẽ thông thường. Tôi sống hàng ngày trong một thế giới của các tín hiệu và  các biểu tượng.

Ngôn ngữ đã dần dần xây dựng những trường hay vùng ngữ nghĩa của ý nghĩa [semantic fields or zones of meaning] vốn được hạn định về mặt ngôn ngữ. Từ vựng, ngữ pháp và cú pháp được ráp vào với nhau để tạo thành những trường ngữ nghĩa này. Như vậy, ngôn ngữ sẽ xây dựng những lược đồ phân loại để [có thể] phân biệt các đối vật theo “giới [gender] (đây là chuyện hoàn toàn khác với giới tính, dĩ nhiên) hoặc theo số lượng; những hình thức phát ngôn để nói về hành động, khác với những hình thức phát ngôn để nói về sự tồn tại; những cách thức diễn đạt các mức độ thân mật trong xã hội… Thí dụ, trong những ngôn ngữ có sự phân biệt giữa lối diễn ngôn thân thiện với lối diễn ngôn trịnh trọng thôn qua các đại từ (như tu và vous trong tiếng Pháp, hoặc du và Sie trong tiếng Đức), sự phân biệt này đánh dấu các tọa độ của một trường ngữ nghĩa mà chúng ta có thể gọi là vùng thân mật [zone of intimacy]. Ở đây, chúng ta thấy xuất hiện thế giới củ hiện tượng tutoiement hay hiện tượng Bruderschaft [cách xưng hô “anh em” hay “mày tao” kiểu thân mật – ND], với cả một tập hợp ý nghĩa dồi dào mà tôi liên tục có thể sử dụng để sắp xếp kinh nghiệm xã hội của tôi theo một trật tự nhất định. Lẽ dĩ nhiên, trường ngữ nghĩa này cũng tồn tại đối với người nói tiếng Anh, mặc dù nó có hạn chế hơn về mặt ngôn ngữ. Hay một ví dụ khác, tổng cộng của những điều đã được đối vật hóa về mặt ngôn ngữ liên quan đến công ăn việc làm của tôi cấu thành một trường nghữ nghĩa khác, vốn săp xếp tất cả mọi sự kiện theo nề nếp thông thường mà tôi bắt gặp trong công việc hàng ngày vào một trật tự có ý nghĩa. Trong khuôn khổ của những trường ngữ nghĩa đã được hình thành ấy, cả kinh nghiệm tiểu sử lẫn kinh nghiệm lịch sử đều có thể được đối vật hóa, được lưu giữ và được tích lũy. Dĩ nhiên, quá trình tích lũy này mang tính chọn lọc và trong đó các trường ngữ nghĩa sẽ định đoạt cái gì cần được lưu giữ và cái gì cần được “quên lãng” trong toàn bộ kinh nghiệm của cá nhân lẫn của xã hội. Chính nhờ sự tích lũy này mà một kho kiến thức của xã hội được tạo thành, cái kho này được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và có sẵn đó để cá nhân có thể tiếp cận và sử dụng trong đời sống thường nhật. Tôi sống trong thế giới đời thường của đời sống thường nhật trong đó đã trang bị sẵn những khối kiến thức đặc thù. Hơn nữa, tôi biết là những người khác cũng có ít nhất một phần kiến thức này giống như tôi, và họ cũng biết tôi biết điều này. Vì thế, sự tương giao của tôi với những người khác trong đời sống thường nhật thường xuyên chịu tác động bởi sự cùng tham gia của chúng tôi vào cái kho kiến thức đang có trong xã hội.

Kho kiến thức của xã hội bao gồm cả sự hiểu biết về hoàn cảnh của tôi và những giới hạn của nó. Thí dụ, tôi biết là tôi nghèo và vì thế, tôi không thể hy vọng sống trong một khu ngoại ô cao cấp. Dĩ nhiên, sự hiểu biết này được chia sẻ bởi cả bản thân những người nghèo lẫn những người có hoàn cảnh ưu thế hơn. Như vậy, sự tham gia vào kho kiến thức của xã hội giúp cho người ta xác định được “địa điểm của các cá nhân trong xã hội và “đối xử” với họ một cách thích hợp. Điều này không thể xảy ra đối với người nào không tham gia vào kho kiến thức này, chẳng hạn một người nước ngoài có thể hoàn toàn không hề nhận ra rằng tôi nghèo, có lẽ do tiêu chuẩn nghèo khổ ở xã hội của anh ta hoàn toàn khác – tôi nghèo thế nào được, khi tôi đi giày và tôi không có vẻ gì là đang bị đói?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Peter L. Berger & Thomas Luckmann – Sự kiến tạo xã hội về thực tại – NXB TT 2015