Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới


Rajaram Panda

Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu như toàn bộ không gian Biển Đông và thậm chí đã bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế ở La Hay (Hà Lan) vào tháng 7/2016, trong đó khẳng định các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh không có bất cứ cơ sở pháp lý lịch sử nào. Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, cùng với Tây Tạng và Đài Loan. Trong những năm qua, Trung Quốc gia tăng các hoạt động như xây dựng đảo, tạo ra khu vực đánh bắt cá mới ở Biển Đông nhằm kiểm soát không gian đại dương này và loại bỏ các bên yêu sách khác.

Trung Quốc đã tức giận khi Tòa Trọng tài quốc tế bác bỏ hầu hết các tuyên bố chủ quyền của nước này ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, người nhậm chức một tháng trước khi có phán quyết, đã hạ thấp phán quyết của tòa trọng tài nhằm cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Bất chấp những nỗ lực của ông Duterte để xoa dịu mối quan hệ với Bắc Kinh, Trung Quốc đã phản đối khi các nhà lãnh đạo quân đội Philippines viếng thăm một hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Chính phủ Philippines cho rằng họ sở hữu lãnh thổ nơi mà quân đội và người dân Philippines đã sống trong nhiều thập kỷ.

Để đạt được các mục tiêu của mình, Trung Quốc đã cố gắng tạo ra sự mất đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN. Mặt khác, Trung Quốc đã sử dụng ngoại giao kinh tế để có được một số quốc gia thành viên nhất định của ASEAN vào nhóm của Trung Quốc. Chẳng hạn như, Trung Quốc đã tận dụng tối đa lợi thế của Philippines khi Tổng thống Duterte lên nắm quyền và cố gắng tiếp cận Bắc Kinh. Theo một báo cáo gần đây, Trung Quốc thậm chí đã lắp đặt các thiết bị phóng tên lửa trên Đá Chữ Thập ở Biển Đông, mặc dù Bắc Kinh tuyên bố các cơ sở này sẽ bị giới hạn trong các yêu cầu quốc phòng.

Hành động quân sự hóa của Trung Quốc

Giải quyết các tranh chấp về yêu sách chủ quyền lãnh thổ của một số quốc gia đối với Biển Đông là vô cùng quan trọng vì lợi ích của việc đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực. Nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục đơn phương quân sự hóa vùng lãnh thổ đang tranh chấp mà không để ý đến sự nhạy cảm của các quốc gia nhỏ hơn có những yêu sách chính đáng của họ. Có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã hoàn thành gần hết các công trình nhằm mục đích trang bị các hệ thống tên lửa đất đối không trên 3 tiền đồn lớn nhất của mình trong các khu vực tranh chấp ở Biển Đông như là một phần của mô hình quân sự hóa ổn định. Các cấu trúc như vậy đã xuất hiện ở các đảo đá nhân tạo được nạo vét bởi Trung Quốc như Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Xu Bi và nơi đây cũng đã có các sân bay quân sự. Trung Quốc bắt đầu xây dựng những cấu trúc này vào tháng 9/2016 và đến nay đã xây dựng 8 công trình trên 3 tiền đồn của mình.

Các hành động của Trung Quốc có phải là để đối phó với những nỗ lực của Mỹ trong việc kiềm chế các hành động quyết đoán của Bắc Kinh ở Biển Đông hay không là điều không quan trọng. Vấn đề đáng quan tâm hơn là các hành động trên là một phần chiến lược quân sự hóa có hệ thống được xác định rõ ràng bởi Trung Quốc để tăng cường vị thế vững chắc của nó trong không gian đại dương này. Trung Quốc đã đưa tên lửa HQ-9 SAM với tầm bắt lên đến 200km tới tiền đồn trên quần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Việc triển khai các tên lửa là nhằm mở rộng khả năng phòng thủ của Trung Quốc trong cái gọi là tuyên bố “đường 9 đoạn”. Năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết không “quân sự hóa” các đảo, nhưng Bắc Kinh đã đi trước một bước để bổ sung các hệ thống tên lửa phòng không trên các hòn đảo nhân tạo. Bắc Kinh tuyên bố những biện pháp này là phù hợp với yêu cầu an ninh quốc gia và là quyền hợp pháp của một quốc gia có chủ quyền.

Như dự đoán, các hoạt động của Trung Quốc gây ra sự báo động ở các thủ đô khác ở châu Á, những nước này có tuyên bố tương tự trên các vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Trong khi không có bên tuyên bố yêu sách nào ở trong tình trạng đối đầu quân sự của Trung Quốc, họ lại nhìn Washington và các bên khác không liên quan trực tiếp đến tranh chấp, nhưng tôn trọng các nguyên tắc toàn cầu để đối phó với cách tiếp cận hung hăng của Bắc Kinh. Trong bất kỳ trường hợp nào, không thể có thay thế nào tốt hơn bằng việc theo đuổi các cuộc đối thoại và được coi là lựa chọn duy nhất để giải quyết vấn đề. Cho dù vậy, sự sẵn sàng của quân đội để đối đầu với Trung Quốc cũng không thể bỏ qua Một Bộ quy tắc ứng xử (COC) phải là chìa khóa để giải quyết tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế.

Mỹ phản ứng bằng việc tiến hành các hoạt động quân sự của mình để gửi thông điệp rõ ràng tới Trung Quốc. Mỹ đã cử nhóm tàu chiến gồm tàu sân bay lớp Nimitz USS Carl Vinson tới Biển Đông tham gia “hoạt động thường lệ” trên biển đầu tiên dưới thời chính quyền Tổng thống D. Trump. Mặc dù không đề cập đến hoạt động tuần tra “tự do hàng hải” ở Biển Đông nhưng việc cử các tàu chiến tới khu vực là minh chứng cho ý định của Mỹ nhằm hạn chế các tuyên bố chủ quyền biển quá mức của Bắc Kinh. Bắc Kinh cho thấy động thái của Mỹ là mối đe dọa quân sự lớn hơn đối với hòa bình trên biển. Trung Quốc nhận thức việc triển khai của Mỹ như một mối đe dọa quân sự trực tiếp.

Trong khi Washington nhận thức được rằng cần phải thể hiện cam kết của mình với các đồng minh trong những tình huống nguy kịch. Bắc Kinh luôn hoang tưởng với sự hiện của quân sự của Mỹ và cho rằng các hành động đó chỉ làm gia tăng căng thẳng khu vực. Chính quyền của Tổng thống Trump dường như không thể nới lỏng sự quản lý của nó khi Trung Quốc tiếp tục xây dựng các khu phức hợp quân sự lớn ở giữa Biển Đông. Đáng chú ý, trong động thái mới nhất hồi tháng 5 vừa qua, 2 máy bay chiến đấu J-10 của Trung Quốc đã ngăn chặn hoạt động của một máy bay P-3 của hải quân Mỹ trong khu vực không phận quốc tế ở Biển Đông. Tình huống tương tự đã xảy ra với một tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động tự do hàng hải đầu tiên dưới thời Tổng thống D. Trump ở khu vực Biển Đông, gần đảo nhân tạo được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Lập trường của Việt Nam

Việt Nam không muốn chiến tranh với Trung Quốc và ủng hộ một giải pháp hòa bình cho giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng sẽ không ngần ngại phản công nếu Bắc Kinh áp dụng các biện pháp đơn phương nhằm chống lại các lợi ích an ninh quốc gia của Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam đã đứng vững và đánh bại người Pháp à sau đó là Mỹ. Nhưng Việt Nam không muốn bị ảnh hưởng bởi cái bóng của lịch sử vì họ muốn hòa bình, đó là lý do tại sao chính quyền Obama quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam đã được thực hiện trong một thời gian dài. Việt Nam phản đối khi Bắc Kinh tìm cách thay đổi hiện trạng ở Biển Đông.

Thật không may, không có sáng kiến của bất kỳ nước láng giềng nào của Trung Quốc cho đến nay đã thành công trong việc thuyết phục Bắc Kinh thay đổi vấn đề. Điều này khiến Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tăng cường năng lực quốc phòng, thông qua việc thúc đẩy quan hệ quốc phòng với các nước thân thiện như Nhật Bản và Ấn Độ. Trong khi tìm kiếm một giải pháp cho các tranh chấp Biển Đông theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, Việt Nam gắn liền chính sách xây dựng liên minh với các nước nhưng không phải để chống lại bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam đã phải chịu đựng rất nhiều trong cuộc Chiến tranh Lạnh và không muốn lặp lại một điều tương tự. Đó là điều dễ hiểu.

Sự cần thiết của COC

Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có ý nghĩa chiến lược rất lớn đối với nhiều quốc gia. Bên cạnh những khu vực đánh bắt cá phong phú và tiềm năng giàu có về dầu, khí đốt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác dưới đáy đại dương, ước tính khoảng 5 nghìn tỷ USD thương mại toàn cầu hàng năm đi qua Biển Đông. Các vấn đề liên quan đến tranh chấp gồm tự do và an ninh hàng hải, các quy tắc của luật pháp, các tiêu chuẩn toàn cầu về thương mại quốc tế và COC. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã đồng ý một dự thảo khung về COC nhằm tránh xung đột trong các khu vực tranh chấp Biển Đông. 15 năm trước, Trung Quốc và ASEAN đã cam kết soạn thảo COC, nhưng không thể có kết quả vì những khác biệt.

Tuy nhiên, sau khi dự thảo COC được thông qua có những mối quan ngại trong khối ASEAN về việc liệu Trung Quốc có thành thật hay liệu ASEAN có đủ đòn bẩy để buộc Bắc Kinh cam kết với loạt quy tắc hay không. Dự kiến, khuôn khổ dự thảo sẽ được đệ trình lên cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Manila vào tháng 8 tới để xem xét. Philippines tổ chức các cuộc họp của ASEAN vào năm nay và bắt đầu tham vấn lần đầu tiên với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Philippines đã chọn một lập trường chủ động sau khi bắt đầu quan hệ nồng ấm với Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nhà phân tích bày tỏ sự thất vọng khi cho rằng các quốc gia ASEAN đã khá mềm yếu đối với các hoạt động hiếu chiến của Trung Quốc trên biển. Họ lo ngại rằng Bắc Kinh có thể sẽ đẩy mạnh cuộc tấn công vào khu vực và điều này có thể làm suy yếu trung tâm của ASEAN. Việc không đưa ra được tuyên bố chung trong cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc tại Côn Minh tháng 6/2016 được trích dân như là kết quả của một áp lực mà Trung Quốc áp dụng đối với các nhà lãnh đạo ASEAN.

Kể từ thời điểm La Hay ra phán quyết, nhóm ASEAN đã khôi phục lại các cuộc đối thoại và tham vấn với Trung Quốc với sự tự tin, nhưng không phải là “mở ra trang mới” về giải quyết vấn đề Biển Đông. Việc ngư dân Philippines được tiếp cận bãi cạn Scarborough sau nhiều năm bị các tàu Trung Quốc ngăn chặn phần nào đã làm giảm căng thẳng quan hệ song phương. Nhưng sự thiếu tin tưởng đã không biến mất. Phải mất 15 năm để đạt được một dự thảo, tuy nhiên, COC vẫn chưa được hoàn thiện, dẫn đến sự mở rộng những khác biệt khi Trung Quốc cứng rắn hơn. Trong khi đó, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đóng vai trò là một điểm tham chiếu khi xuất hiện vấn đề và căng thẳng và là cơ sở để đàm phán một COC chính thức.

Philippines sẽ tổ chức cuộc họp cấp cao lãnh đạo lần thứ hai vào tháng 11 tới cùng với các đối tác đối thoại ASEAN như Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ. Nó được kỳ vọng sẽ đạt được sự nhất trí và tìm thấy hướng mới cho giải quyết vấn đề Biển Đông. Mặc dù bản dự thảo COC đến nay vẫn được giữ kín, nhưng COC sẽ không hoàn chỉnh nếu không có cơ chế giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, thiếu tính hợp pháp và cam kết của Trung Quốc về phi quân sự hóa các đảo tranh chấp. COC chính thức và có tính ràng buộc nên được thảo luận và hoàn tất khi Manila tổ chức cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN vào tháng 8 tới.

Nguồn: Eurasia Review (Ấn Độ) – 31/5/2017

TKNB – 02/06/2017

Phá tan Liên Xô – Phần XI


Tranh luận. Vài người tranh luận về con đường phát triển tiếp theo của đất nước. Với ý kiến cho rằng thị trường tự do, cạnh tranh lành mạnh – đó là quay lại thế kỷ trước, lập tức có câu trả lời : « Ừ thì sao, chúng ta sẵn sàng. Chúng ta còn chưa thể vươn lên hàng đầu được. Nếu cần chúng ta sẽ quay lại thế kỷ 18, nhưng sau 100 hay 150 năm chúng ta từ tình trạng chệch hướng hiện nay sẽ trở lại con đường đúng ». Nhà hùng biện này là một chuyên gia chuyên cần và có khả năng. Nhưng anh ta lại tiết lộ với người khác về các mặt tiêu cực trong đời sống của ông sếp trực tiếp, và thế là đời anh ta nhiều cái không được ổn. Khi nói về « sẵn sàng », ánh mắt anh ta cháy lên. Mọi nỗi khổ đều do chế độ. Anh ta như mới hồi sinh.

Gặp gỡ. « Chào ! Tôi thấy ai thế này. Anh vẫn chưa sang phương Tây à ? » – « Tôi không định đi”. – “Có thể làm gì được ở cái nước này. Còn anh với trình độ của mình thì người ta nhận ngay”. Đó là cháu của một trong những đồng chí của Lenin nói. Anh ta làm việc nhiều, đã 35 năm nghiên cứu tác phẩm của các lãnh tụ, nhưng là nhà khoa học chẳng có thành quả gì. Cuộc sống chẳng sung sướng gì. Lỗi lại là do chế độ.

Viếng thăm. Một người trong áo may ô lưới ngồi trước tivi. Người ta đang chiếu phim tài liệu từ những năm 30 – người đi trên đường phố, biểu tình, trên mặt họ sáng niềm vui. Anh ta chỉ vào màn hình, thậm chí không nói được lời nào, cười phá lên trước những thằng ngốc của Stalin.

Tìm lại chính mình. Một con người sáng tạo, sẵn sàng kiếm tiền. Vào thời Xô Viết đã khôn khéo xin mượn thiết bị để dùng cho việc riêng. Khi bị điều tra đã né sang một bên và đẩy ông sếp trực tiếp vào. Giờ đã tìm được chỗ trong cuộc sống mới, đứng đầu tổ chức những người dân chủ trong viện.

Xã hội sinh thái học. Cuộc gặp với đoàn đại biểu Mỹ. Có vài chiếc bàn. Sau mỗi bàn có một người Mỹ, nói được tiếng Nga. Thành viên phong trào sinh thái dường như xưng tội trước đại diện của thế giới văn minh. Toàn những lời về thảm họa sinh thái đang lan tràn ở Liên Xô. Trên nét mặt của những người Mỹ thể hiện sự khinh miệt và buồn chán.

Trong một phần dân chúng thành thị, thái độ đối với kẻ thù của « các nhà dân chủ » đã đi tới mức căm ghét cùng cực. Sau sự kiện Ủy ban Nhà nước về tình trạng khẩn cấp, phổ biến câu nói « đùa » : « tôi bắn phát đạn vào Pugo ». Còn trong sự kiện 1993, khi xe tăng bắn vào cửa sổ Tòa nhà Quốc hội, trong đám đông người tuổi từ 30 – 35 đứng trước Nhà Trắng có tiếng nói : « Chúng bị nướng khá kỹ ». Trong khi đó cũng có một số đông người sẵn sàng đấu tranh bảo vệ chế độ Xô Viết. Nhưng họ đã bị nhóm Gorbachev vô hiệu hóa.

Chiến dịch « Bầu cử »

Bước ngoặt xảy ra trong ý thức xã hội cần phải được củng cố. Muốn làm vậy phải thay đổi chính quyền ở tất cả các cấp. Trong điều kiện toàn dân mất phương hướng và chuyển sang một đức tin mới, có thể sử dụng các cuộc bầu cử. Trước đây, các đại biểu nhân dân được bầu trên cơ sở không có lựa chọn. Mặc dù có đại diện của đủ các nhóm xã hội, của mọi sắc tộc, có cả phụ nữ và thanh niên, nó không chỉ xưa cũ, mà còn tiêu cực, gây sự chống đối nội tâm ở phần đông dân chúng.

Mùa xuân năm 1988, lúc này sau vụ Nina Andreeva nhóm Gorbachev đã thống trị hoàn toàn BCH TW, chỉ trong một tháng đã đưa ra luật bầu cử mới, dù trên thực tế chưa được thảo luận trong quần chúng. Khi bắt đầu chiến dịch bầu cử, thì Đảng Cộng sản Liên Xô thực tế đã bị loại ra khỏi việc tham gia vào việc đấu tranh chính trị. Tại bất cứ nước nào, trong những điều kiện như vậy sẽ có một sự gia tăng tích cực hoạt động của Đảng. Còn ở đây mọi việc diễn ra ngược lại. Mà chính trong giai đoạn đấu tranh trước bầu cử sẽ quyết định vấn đề về chính quyền trong nước, bởi vì tất cả các chức năng điều hành sẽ được trao cho ủy ban. Chúng ta hãy xem xét các sự kiện được mô tả trong cuốn Cảnh báo của E.K. Ligachôp – Sự thật International, 1998 :

« Từ BCH TW liên tục có các chỉ thị xuống địa phương : không can thiệp, không can thiệp ! Phải giữ khoảng cách ! Trong nhiều Đảng bộ rất bối rối. Họ thấy rằng trong số ứng cử viên có nhiều kẻ không xứng đáng, thậm chí có tội phạm cũ, đã nhận án tù về những tội nghiêm trọng, kể cả giết người. Còn đám hùng biện và mỵ dân, xây dựng chương trình bầu cử của mình dựa hoàn toàn vào chủ nghĩa chống cộng, chống Xô Viết, thì quá là nhiều. Đáng ra, như trong điều kiện ấy thì cần phải triển khai tuyên truyền cho Đảng rộng rãi, cổ động cho các ứng cử viên của mình, vạch trần tính thiếu thực tế, thiếu cơ sở của những lời hứa chính trị.

Nhưng BCH TW không đưa ra các định hướng chính trị, tổ chức Đảng ở địa phương như bị tước vũ khí. Đó là một tình thế mới : lần đầu tiên từ trung ương không đưa ra những chỉ dẫn cụ thể, cần phải hành động như thế nào. Cái « lần đầu tiên » ấy lại rơi vào giai đoạn đấu tranh trước bầu cử, khi quyết định vấn đề về chính quyền ! Các Xô Viết là nền tảng chính trị của chế độ chúng ta. Vấn đề là phải kiên quyết củng cố vai trò của nó, trao toàn bộ chức năng điều hành cho nó. Thế mà Đảng lại giảm một cách đột ngột sự tích cực của mình.

Hơn nựa, sự không can thiệp của Đảng vào các cuộc bầu cử được một số người ca tụng như là biểu hiện của dân chủ. Ý tưởng đấu tranh với chủ nghĩa hình thức được đưa lên hàng đầu, nhưng cùng với nước người ta hắt đi cả em bé : Đảng thực tế đã bị loại không cho tham dự vào cuộc đấu tranh trước bầu cử.

Sự việc nghiêm trọng tới mức mà các ứng cử viên Cộng sản đấu lẫn nhau, giúp cho kẻ thù lý tưởng có thêm khả năng giành phần thắng. Không bị đánh lại, nên trong làn sóng mít tinh tự phát, các lực lượng gọi là dân chủ đã tung ra các khẩu hiệu chống cộng, bôi nhọ toàn bộ lịch sử, như là « chiến thuật trước bầu cử » của mình.

Hơn nữa, khi kết thúc việc đăng ký danh sách ứng cử viên, mới thấy là có quá ít đại diện của nông dân và công nhân.

Trong các cuộc họp của Bộ Chính trị vấn đề này được nói tới nhiều hơn. Chính Gorbachev cũng vài lần nói về chủ đề này. Nhưng chẳng có gì hơn ngoài câu than phiền… Có lần Gorbachev bay tới Leningrad, trong một cuộc gặp ngay tại xưởng, công nhân đã đặt thẳng vấn đề với ông ta về việc bầu cử không chỉ tiến hành theo địa phương, mà còn phải theo khu vực sản xuất, để đảm bảo tính đại diện của công nhân trong các Xô Viết. Mikhail Sergeevich ủng hộ tư tưởng đó của Lenin, và việc này đã được viết trong thông báo về chuyến thăm của Tổng Bí thư tới Leningrad.

Nhưng sau đó vài ngày, cái gọi là báo chí cấp tiến như theo hiệu lệnh đã đồng loạt chĩa mũi dùi vào « nguyên tắc bầu cử theo sản xuất ». Nổi lên một trận lốc phản đối trên báo chí và tivi, đòi phải tiến hành bầu cử chỉ theo địa phương, và lên án những người Leningrad là cố « kéo » vào Xô Viết những quan chức Đảng. Sự điên cuồng tiếp diễn ở nhiều nhà xuất bản.

Gorbachev không một lần nào công khai ủng hộ đề xuất ở Leningrad thêm nữa.

Thế là một khởi đầu lành mạnh đã bị thất bại. Kẻ thù của nguyên tắc bầu cử Xô Viết theo sản xuất, sử dụng báo chí cấp tiến, đã chôn vùi đề xuất quan trọng này. Quan điểm không can thiệp vào cuộc đấu tranh trước bầu cử đã thắng ».

Như vậy, ta có thể chỉ ra ba điểm quyết định.

1/ Tập đoàn Gorbachev đã loại Đảng ra khỏi cuộc đấu tranh trước bầu cử, nhân danh Đảng Cộng sản Liên Xô ra lệnh không can thiệp.

2/ Các kẻ thù của CNXH và Liên Xô đã được hoàn toàn tự do hành động, phương tiện thông tin đại chúng thực tế làm việc cho chúng.

3/ Bản thân Gorbachev không phát biểu trên phương tiện thông tin đại chúng một lời kiên quyết nào (khác với Bộ Chính trị). Hơn nữa, ông ta trên lời nói thường ủng hộ CNXH và những đề xuất cụ thể theo hướng như vậy (như đã nói ở trên), nhưng chẳng làm gì để thực hiện chúng, làm như quên mất.

Nói cách khác, trong chiến dịch bầu cử này không thể nói về các khả năng ngang bằng – trận đấu chỉ về một phía cầu môn. Đảng Cộng sản Liên Xô từng bước bị loại khỏi đời sống chính trị. Các hành động tiếp theo của Gorbachev theo hướng tiếp tục phá vỡ cơ cấu quyền lực. Vai trò của các Xô Viết bị giảm sút nghiêm trọng, đưa vào chức vụ Tổng thống Liên Xô, và năm 1991 bắt đầu chuẩn bị cái gọi là Hiệp ước Liên bang và sẵn sàng cho sự phân chia Liên bang Xô viết.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999.

Tổng quan về tri thức – Phần II


1.3/ Tri thức

Hầu hết chúng ta đều có một cảm nhận trực quan rằng tri thức rộng hơn; sâu hơn dữ liệu và thông tin. Chúng ta thường dùng thuật ngữ “người có tri thức” để ám chỉ một người uyên thâm về một lĩnh vực, một người vừa có học vị cao vừa thông minh. Tuy nhiên, tất cả mọi người đều không nói “một mẩu tin nhắn đầy tri thức” hay “một cơ sở dữ liệu thông thái” kể cả khi đó là kết quả làm việc của những người hoặc nhóm những người có tri thức.

Hiểu tri thức là gì vốn là đề tài nguyên thủy của triết học. Ở đây và trong khuôn khổ của quản trị tri thức, chúng tôi sẽ tập hợp và đưa ra một định nghĩa dễ hiểu, thực tế giúp người đọc nhận định; sau đó cùng bàn luận về tri thức trong tổ chức. Định nghĩa sẽ thiên về mô tả các đặc tính riêng, có giá trị của tri thức, cũng như những đặc tính làm cho việc quản trị tri thức trở nên khó khăn nhưng cần thiết.

Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức nảy sinh trong bộ não của con người. Trong các tổ chức, tri thức thường thể hiện trong các tài liệu nhưng cũng có thể ẩn trong các tập quán, các quy trình, nguyên tắc thực hiện công việc hay những chuẩn mực chung.

Như vậy, rõ ràng tri thức không hề rõ ràng và đơn giản. Tri thức là một dạng tổng hợp của rất nhiều các thành tố, nó vừa có cấu trúc lại thể hiện sự linh hoạt trong kết hợp các thành tố. Đồng thời, tri thức là trực quan nên khó có thể nắm bắt, thể hiện ra thành lời hoặc hiểu trọn vẹn. Tri thức tồn tại trong con người, là một phần tạo nên tính phức tạp và khó nắm bắt của con người. Mặc dù chúng ta vẫn nghĩ rằng tài sản là cái gì có thể định nghĩa được, nắm bắt được, song tài sản tri thức lại không như thế.

Tri thức được tạo nên từ thông tin, giống như thông tin được hình thành từ dữ liệu. Thông tin trở thành tri thức thông qua các quá trình sau:

+ So sánh (Comparison): thông tin về hoàn cảnh hay sự việc này so với hoàn cảnh và sự việc khác mà chúng ta đã biết.

+ Đúc rút (Consequense): những bài học gì mà thông tin mang lại hỗ trợ cho các quyết định và hành động của chúng ta.

+ Kết nối (Connection): tri thức này liên hệ với tri thức khác như thế nào.

+ Hội thoại (Conversation): những người khác nghĩ gì về thông tin này.

Tiếp ví dụ 1 về trạm xăng ở mục 1.1/ Dữ liệu và 1.2/ Thông tin. Sau khi có được các thông tin có ý nghĩa, người quản lý trạm xăng có thể dựa thêm vào những kiến thức, kinh nghiệm có sẵn của mình để phân tích rằng khách hàng đến trạm xăng phần nhiều vào khoảng thời gian sáng hoặc chiều muộn, trùng với thời điểm họ đi làm và tan sở. Thời điểm này ai cũng rất vội và không kiên nhẫn. Do vậy, anh ta quyết định sẽ tăng cường nhân viên phục vụ, gồm cả nhân viên bơm xăng, nhân viên thu đổi tiền, nhân viên hướng dẫn khách hàng để đảm bảo việc bán hàng được nhanh chóng thuận lợi và làm khách hàng hài lòng.

Rõ ràng những hoạt động sáng tạo tri thức diễn ra trong và giữa con người với con người. Khi tìm kiếm dữ liệu trong các bản ghi hoặc các giao dịch, tìm kiếm thông tin trong các thông điệp, chúng ta thu được tri thức từ các cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoặc thông qua các thói quen, tập quán của tổ chức. Tri thức được chuyển qua những phương tiện như sách, tài liệu, quan hệ người – người, từ những trao đổi thông thường đến những trao đổi mang tính chính thống hơn.

1.4/ Tri thức trong hành động

Một trong những lý do khẳng định tri thức có giá trị hơn là vì tri thức gần hành động hơn dữ liệu và thông tin. Tri thức có thể và nên được đánh giá bằng các quyết định hành động mà nó dẫn tới. Chúng ta có thể sử dụng tri thức để đưa ra các quyết định hợp lý và hiệu quả hơn về chiến lược kinh doanh, đối thủ, khách hàng, kênh phân phối, chu kỳ sống của sản phẩm và dịch vụ. Tất nhiên, do tri thức và quyết định thường nằm trong bộ óc con người, rất khó có thể nhận định được đường dẫn cụ thể từ tri thức tới hành động.

Hiện nay nhiều tổ chức đang rất nỗ lực quản trị tri thức. Các nhà quản trị đều đưa ra câu hỏi “Làm thế nào để phân biệt được dữ liệu, thông tin và tri thức?” Họ thường khích lệ các sáng kiến nhằm cộng thêm giá trị vào dữ liệu và thông tin có thể tạo được tri thức.

Ví dụ 2: Hãng sản xuất ô tô Chrysler đã lưu giữ tri thức về việc phát triển một mẫu xe mới trong một series sách với nhan đề “Bộ sách kỹ thuật tri thức” (Engineering Books of Knowledge). Mục tiêu của “bộ sách” này, thực chất là các tệp tin trên máy tính, là tạo ra một “bộ nhớ điện tử” để lưu giữ tri thức của đội phát triển xe. Cuốn sách là kết quả tập hợp dữ liệu va chạm thử nghiệm của xe. Tác giả cuốn sách phân loại các kết quả đó như dữ liệu và động viên người nộp kết quả cộng thêm giá trị cho dữ liệu đó. Ngữ cảnh của các kết quả đó là gì? Tại sao các thử nghiệm va chạm lại được thực hiện? Việc so sánh kết quả của mẫu xe mới với các mẫu xe trước và các mẫu xe đối thủ ra sao? Những kết quả này có gợi ý gì liên quan tới thiết kế lại thanh chống va đập trước xe? Rất khó có thể xác định được chính xác ở mức nào thì dữ liệu trở thành thông tin và thông tin trở thành tri thức, tuy vậy, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ ràng chuỗi giá trị cộng thêm trong từng bước công việc thực hiện.

Tri thức cũng có thể giảm giá trị, chuyển về trạng thái của thông tin và dữ liệu. Lý do điển hình nhất cho quá trình này thường là sự quá tải. Khi con người bị quá tải tri thức, họ không dùng đến nữa, tri thức với họ trở thành dữ liệu.

Do tính phức tạp và khó nắm bắt của tri thức, có rất nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra. Hộp 1.1 tập hợp một số định nghĩa để người đọc tham khảo. Việc sử dụng định nghĩa nào còn phụ thuộc vào ý tưởng và mục tiêu sử dụng của người dùng. Tuy vậy, nếu xét một cách tổng quát thì các định nghĩa tri thức đều nhấn mạnh ở các từ khóa chung như “kinh nghiệm”, “học tập”, “ngữ cảnh”, “hành động” và cũng phù hợp với khái niệm đã được dẫn ở trên. Như vậy, ta có thể hiểu về tri thức như sau:

Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức dẫn dắt hành động của chủ thể. Tri thức có thể là tri thức cá nhân nhưng cũng có thể là tri thức của tổ chức. Tri thức cá nhân nảy sinh trong bộ não con người. Trong các tổ chức, tri thức thường thể hiện trong các tài liệu nhưng cũng có thể ẩn trong các tập quán, các quy trình, nguyên tắc thực hành công việc hay những chuẩn mực chung.

Hộp 1.1 Các định nghĩa về tri thức

Tri thức là sự hiểu biết về một sự vật mà con người có được thông qua kinh nghiệm hoặc học tập. Tri thức có thể là của cá nhân một người, học một nhóm người nói chung.

Nguồn: http://dictionary.cambridge.org/dictionary/british/knowledge

Tri thức là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội.

Nguồn: http://vdict.com/tri+th%E1%BB%A9c,3,0,0.html

Tri thức là hệ thống thông tin. Tri thức liên quan tới các sự kiện, sự thật, các nguyên tắc có được thông qua quá trình học hoặc tự tìm hiểu, nghiên cứu và trải nghiệm

Nguồn: www.seattlecentral.org/library/101/textbook/glossary.html

Tri thức là thông tin đã được đánh giá và tổ chức trong trí óc con người để phục vụ cho một mục đích nhất định.

Nguồn: www.aslib.co.uk/info/glossary/html

Tri thức là thông tin liên quan tới các quy luật cho phép hiểu thông tin và sử dụng thông tin vào các mục đích có ý nghĩa.

Nguồn: www.seanet.com/daveg/glossary/htm

Tri thức là sự quen thuộc, sự nhận thức hoặc những hiểu biết thu được thông qua quá trình trải nghiệm hoặc học tập.

Nguồn: www.ifcom.mil/about/glossary.htm

Tri thức là thông tin trong ngữ cảnh, là sự hiểu về ý nghĩa của thông tin.

Nguồn: www.cio.gov.bc.ca/other/daf/IRM_Glossary.htm

Tri thức là niềm tin đã được kiểm chứng, làm tăng khả năng hoạt động hiệu quả của một tổ chức (Nonaka).

Nguồn: www.sims.berkeley.edu/courses/is213/s99/Projects/P9/web_site/glossary.htm

Tri thức là thông tin cộng với ý nghĩa của nó.

Nguồn: www.wotug.ukc.ac.uk/parallel/acronyms/hpccgloss/all.html

Tri thức là sự hiểu biết và trí nhớ (recall) về thông tin được đánh giá bằng độ sâu, độ rộng và khả năng nghiên cứu để giải quyết các vấn đề.

Nguồn: www.csufresno.edu/humres/Classification.Compensation/Glossary%20of%20Terms.htm

Tri thức là thông tin mà con người sử dụng cùng với các quy luật và ngữ cảnh để sử dụng các thông tin ấy.

Nguồn: www.vnulearning.com/kmwp/glossary.html

Tri thức là thông tin cần thiết để phát triển các kỹ năng. Tri thức để thực hiện công việc gồm các khái niệm hoặc quy luật liên quan tới công việc đó (tri thức mô tả) và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng (tri thức cấu trúc). Tri thức chứa đựng nội dung hoặc thông tin về một công việc cụ thể mà một người tiếp thu được thông qua quá trình đào tạo, giáo dục hoặc làm việc. Tri thức được xây dựng dựa trên nền tảng khả năng nhận thức mà một người đưa vào hoàn cảnh làm việc cụ thể.

Nguồn: www.eurocontrol.int/eatmp/glossary/terms/terms-11.htm

Tri thức là một phần trong hệ thống thứ bậc gồm dữ liệu, thông tin và tri thức. Dữ liệu là những sự việc nguyên bản. Thông tin là dữ liệu trong hoàn cảnh. Tri thức là thông tin với các hướng dẫn hành động dựa trên hiểu biết và kinh nghiệm.

Nguồn: www.itilpeople.com/Glossary/Glossary_k.htm

Thông tin định nghĩa sự việc (A là B). Tri thức định nghĩa những việc mà một người cần làm khi một sự việc nhất định xảy ra. Vì vậy, nếu A là B, thì hãy làm C. Tri thức có thể được mã hóa theo nhiều cách khác nhau. Các chính sách hay các quy tắc kinh doanh là những dạng phổ biến của tri thức.

Nguồn: www.bptrends.com/resources_glossary.cfm

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp, NXB TTTT 2016.

Kinh tế thị trường kiểu Việt Nam có giúp phát triển “ngoạn mục”?


Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, kiêm Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trương Minh Tuấn vừa có bài viết đăng trên báo Thanh niên hôm 6/6 nói rằng kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã tạo ra những phát triển ngoạn mục cho đất nước. Giới quan sát nghĩ gì về nhận định này?

Phát triển là nhờ KTTT định hướng XHCN?

Trong bài viết, Bộ trưởng Trương Minh Tuấn nhận định: “Thực tế cho thấy hơn 30 năm vận hành của KTTT định hướng XHCN đã tạo ra sự phát triển ngoạn mục của đất nước. Công cuộc Đổi mới nhanh chóng đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, duy trì tốc độ tăng trưởng vào hàng cao trên thế giới”.

Bộ trưởng TTTT còn đưa ra số liệu cho thấy GDP Việt Nam tăng 37 lần, từ 5,5 tỷ USD năm 1988 lên 205,32 tỷ USD năm 2016. Cũng theo ông, từ năm 1993 đến năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã giảm từ 58% xuống chỉ còn 8,3%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Philippines, Ấn Độ và thấp hơn cả Thái Lan, Indonesia.

Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) đã giải thể, công nhận rằng nền kinh tế Việt Nam trong 30 năm qua đạt được một số bước phát triển mà ông đánh giá là khá. Nhưng ông không cho rằng đó là công lao của nền KTTT định hướng XHCN. Ông nói: “Toàn bộ cái gọi là công cuộc Đổi mới trong thời gian vừa qua thực chất không có gì là đổi mới cả. Đảng Cộng sản Việt Nam đã buộc phải trả lại cho người dân một số quyền về kinh tế của họ, nhưng không phải là tất cả. Đấy là động lực chính cho sự phát triển kinh tế trong thời gian 30 năm qua ở Việt Nam. Hay nói cách khác là tiềm năng, lòng hăng say của người Việt Nam đã bị tước đoạt một thời gian dài. Đến khi họ nhận thấy rằng nếu tiếp tục như vậy thì bản thân họ không còn đường mà sống nên họ trả lại cho người dân những quyền làm kinh tế, từ nông nghiệp cho đến quyền làm kinh doanh”.

Trong bài viết của mình, ông Trương Minh Tuấn nói rằng yếu tố quan trọng nhất của định hướng XHCN trong KTTT là vai trò lãnh đạo của Đảng. Theo ông Đảng đại diện cho lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân và không có lợi ích riêng mình. Tuy nhiên, trong một bài viết có tựa “Cần hiểu đúng để không làm sai” đăng trên VietnamNet hô 5/5, Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó ban Tuyên giáo Trung ương, nói: “Sự lãnh đạo và quản lý chưa thể là một đặc điểm của nền kinh tế sẽ hình thành trong thực tế một cách khách quan, nó không phải là sự lãnh đạo và quản lý của ai, mà là kết quả của sự lãnh đạo và quản lý ấy thế nào”.

Ông nói rõ vai trò của Nhà nước trong nền KTTT không phải là để kinh doanh, cũng như không để các cơ quan hành chính tham gia kinh doanh. Mà theo ông, nhiệm vụ của Nhà nước là “tạo điều kiện cho mọi chủ thể trong xã hội được kinh doanh thuận lợi, bình đẳng thật sự, không bị thị trường ngầm, không có buôn gian bán lận, càng không để cho cán bộ nhà nước và các “nhóm lợi ích” tham gia hoạt động”.

“Tốt khoe, xấu che”?

Ông Trương Minh Tuấn đánh giá cao vai trò kinh doanh của nhà nước mà đại diện là khối doanh nghiệp nhà nước. Ông nói: “Để đảm bảo định hướng XHCN đạt tới mục tiêu, trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta, doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Cũng trong bài viết này, ông Trương Minh Tuấn chỉ nói chung chung rằng KTTT định hướng XHCN của Việt Nam còn nhiều vấn đề cần hoàn thiệ mà không nêu rõ đó là những vấn đề gì hay hoàn thiện bằng cách nào. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một trong những “vấn đề” lớn nhất của KTTT định hướng XHCN chính là việc các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) làm chủ đạo là một đường lối sai lầm của Việt Nam.

Ông Nguyễn Quang A nêu rõ : DNNN đã gây ra những hậu quả tai hại cho đất nước này. Không biết bao nhiêu cái gọi là tập đoàn kinh tế nhà nước đã thật sự phá sản. Chuyện Vinashin, Vinaline giờ đã vào quên lãng nhưng còn hàng chục tập đoàn với hàng chục dự án mười mấy nghìn tỷ do Nhà nước làm chủ, đều đang sắp phá sản.

Khu vực quốc doanh này chỉ tạo ra khoảng 25 – 26% GDP, nhưng rất đáng tiếc là DNNN lại sử dụng đến khoảng một nửa nguồn lực của đất nước. Đó là những tài nguyên thiên nhiên như hầm mỏ, đất đai… và chèn ép các doanh nghiệp tư nhân mà đáng lẽ phải đóng vai trò chủ đạo”.

Tại Diễn đàn Kinh tế tư nhân trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội đất nước lần thứ nhất diễn ra sáng 26/4, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình cho biết, hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đã tạo việc làm cho trên 85% lao động đang làm việc của nền kinh tế. Tỷ trọng đóng góp GDP của kinh tế tư nhân luôn lớn hơn so với các thành phần kinh tế khác và duy trì ổn định ở mức 39 – 40% từ năm 2003 – 2015. Như vậy, tỷ trọng đóng góp GDP của kinh tế nhà nước hiện tại đã đứng sau kinh tế tư nhân mặc dù nhiều năm qua, DNNN được đánh giá là nòng cốt của nền kinh tế.

Nguồn: TKNB – 09/06/2017

Điều gì đe dọa tại Hội nghị thượng đỉnh G20? – Phần II


G20 đứng giữa ngã tư đường

Sunjoy Joshi, Giám đốc, và Samir Saran, Phó Chủ tịch, Quỹ nghiên cứu người quan sát (New Delhi, Ấn Độ)

Bất chấp những thay đổi địa chính trị rõ ràng trên khắp thế giới và tình trạng rối loạn chính trị trong số các nước thành viên, G20 vẫn là một trong số các tổ chức quan trọng trong cấu trúc quản trị toàn cầu. Các tiến triển toàn cầu gần đây đem lại cả cơ hội lẫn thách thức đối với G20 nếu tổ chức này vẫn muốn duy trì ảnh hưởng của mình.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của G20 là đảm bảo rằng tổ chức này tiếp tục trung thành với sự ủy nhiệm cốt lõi của nó, đó là duy trì sự ổn định tài chính toàn cầu và quản lý các cải cách cơ cấu trong một thế giới được hội nhập chặt chẽ. G20 dựa trên nền tảng và được thúc đẩy bởi nhận thức rằng cách tiếp cận “một quốc gia, một lá phiếu” của Liên hợp quốc không phải cách thức hữu hiệu nhất để đối phó với các vấn đề then chốt mà đòi hỏi những phản ứng thời gian thực. Cuộc khủng hoảng tín dụng 2007 – 2008 cho thấy một số thách thức quốc tế nhất định cần được giải quyết một cách hiệu quả và nhanh chóng, mà trên thực tế đã làm chất xúc tác cho tính vượt trội về mặt thể chế của G20.

Vào một thời điểm khi mà nhiều thành viên G20 thấy bản thân đang bị mắc kẹt bởi các áp lực trong nước mà đang buộc các nước này phải xem xét lại sự ủy nhiệm cốt lõi của G20, người ta cần phải kháng cự lại sức cám dỗ của G20 duy trì tính thích đáng của mình bằng cách bám chặt vào một nghị trình khác.

Nền kinh tế toàn cầu hầu như chưa thoát khỏi khó khăn. G20 là một diễn đàn chính sách có mục tiêu đặc biệt được thành lập để đối phó với các vấn đề thảm họa toàn cầu bởi các quốc gia có năng lực và nguồn lực. Đây hoàn toàn không phải là lúc G20 mở rộng số thành viên của mình bằng cách kêu gọi có các quan hệ đối tác mới, chẳng hạn với các quốc gia châu Phi. Mở rộng các quan hệ đối tác của nhóm vào thời điểm này sẽ chỉ tạo ra một G77 khác – và cho mục đích gì?

Cũng đã đến lúc phải thừa nhận rằng một vài trong số các thách thức cơ bản về cơ cấu mà G20 đang nỗ lực giải quyết không thể được xử lý thỏa đáng trừ phi các vấn đề nhỏ hơn nhiều cũng được giải quyết. Các vấn đề nhỏ hơn này, chẳng hạn như sự biến đổi đang diễn ra trong các hệ thống năng lượng toàn cầu, sự ổn định của không gian mạng trong các cấu trúc tài chính, và tác động của công nghệ đối với công ăn việc làm, trong số các vấn đề khác, cần xuất hiện trên bàn hội nghị, nhưng người ta phải kháng cự lại sức hút của việc biến mọi vấn đề mà thế giới quan ngại trở thành một phần trong nghị trình của G20. Việc này sẽ chỉ làm giảm khả năng của G20 phục vụ mục tiêu khi thành lập của tổ chức này. Các vấn đề tốt nhất nên được đưa ra tại Đại hội đồng Liên hợp quốc và tại các thể chế đa phương khác không nên nằm trong phạm vi ảnh hưởng của G20.

Thay vào đó, G20 nên thu hẹp phạm vi của mình xuống những lĩnh vực tác động tới các hệ thống thương mại và tài chính toàn cầu, và ngoài ra chỉ tập trung vào các vấn đề có liên quan tới những xu hướng gây gián đoạn về chính trị trên toàn cầu.

G20 đang đứng giữa ngã tư đường. Nhóm này nên chọn con đường mà sẽ cho phép nó tiếp tục trung thành với mục tiêu cốt lõi, mục tiêu đã khiến các nước thành viên trước hết tập hợp lại.

Các kỳ vọng của Trung Quốc đối với G20

Ye Yu, Trợ lý giám đốc, Viện nghiên cứu kinh tế thế giới tại Thượng Hải thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế (Thượng Hải, Trung Quốc)

Kể từ khi Trung Quốc lần đầu tiên tham gia hội nghị thượng đỉnh G20 vào năm 2008, các mối quan tâm của nước này về diễn đàn và quản trị toàn cầu đã mở rộng từ các vấn đề mang tính thủ tục sang các vấn đề thực chất hơn: thúc đẩy sự bình đẳng giữa các nước thành viên, tái phân bổ quyền lực bỏ phiếu trong các thể chế tài chính quốc tế, và các thách thức toàn diện mà toàn cầu hóa phải đối mặt, chẳng hạn như biến đổi khí hậu và chủ nghĩa cực đoan.

Trung Quốc muốn thấy các nước G20 làm việc với nhau để kiềm chế tình cảm chống toàn cầu hóa. Một liên minh toàn cầu chống Mỹ không phải là lựa chọn tốt nhất. Thay vào đó, Trung Quốc kỳ vọng G20 sẽ kéo Mỹ quay trở lại tìm kiếm một lợi ích cho bản thân được khai sáng, hơn là theo đuổi một lập trường “Nước Mỹ trước hết” với thiệt hại dành cho tất cả các nước còn lại. Như tạp chí Economist đã lưu ý, các chính sách kinh tế của Trump là thiển cận, lỗi thời, coi “thương mại công bằng” đồng nghĩa với việc giảm thâm hụt ngành chế tạo là điều đương nhiên, và phớt lờ những thách thức tàn phá mà thế giới sẽ phải đối mặt khi công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển. G20 nên truyền tải một thông điệp toàn diện hơn về những xu hướng của toàn cầu hóa và định hình sự luận bàn của công chúng về những hạn chế của các biện pháp bảo hộ thương mại.

Trung Quốc cũng sẽ muốn thấy các nước thành viên G20 ủng hộ nhiều hơn sáng kiến của nước này để kích thích sức đẩy của toàn cầu hóa. Được khuyến khích bởi thành công lớn của nước này khi khởi động Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) năm 2013 và tổ chức hội nghị thượng đỉnh G20 năm 2016, Trung Quốc đã tự tin hơn trong quản trị toàn cầu, cho dù không phải bởi bản thân nước này, Trung Quốc đã khởi động sáng kiến “Vành đai và Con đường” năm 2013, cùng với AIIB, để đem lại một cách tiếp cận thay thế cho toàn cầu hóa. Khác với một cách tiếp cận từ trên xuống đối với đàm phán tự do hóa thương mại, sáng kiến “Vành đai và Con đường” đặt trọng tâm được làm mới vào sự kết nối cơ sở hạ tầng trong khu vực và trên toàn cầu. Trung Quốc nhấn mạnh tính cởi mở của sáng kiến và kêu gọi tất cả các nước tham gia tùy theo các chiến lược phát triển của riêng họ. Cơ sở hạ tầng đã là một ưu tiên của G20 trong nhiều năm, nhưng Trung Quốc muốn thấy sự hợp tác cụ thể hơn về các dự án và ít sự ngờ vực hơn về các ý đồ của nước này.

Tìm kiếm tình đoàn kết giữa các nước lớn tại G20

Sook Jong Lee, Chủ tịch, Viện nghiên cứu Đông Á (Seoul, Hàn Quốc)

Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg là một địa điểm đúng lúc cho các nhà lãnh đạo của các nước lớn thể hiện cam kết của họ đối với trật tự quốc tế tự do. Theo sau sự nhiễu loạn toàn cầu do Brexit gây ra, chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Mỹ Donald J. Trump có khả năng làm suy yếu quản trị toàn cầu. Việc Trump khôi phục các biện pháp bảo hộ thương mại, giảm sự sẵn sàng hỗ trợ an ninh tập thể và quyết định rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris về khí hậu đang đe dọa tới trật tự tự do và cởi mở. giờ đã đến lúc các cường quốc khác đóng vai trò lãnh đạo bổ sung để đối phó với nhiều thách thức xuyên quốc gia, bao gồm hòa bình và an ninh, khủng bố, người tị nạn và các vấn đề môi trường.

Trước bối cảnh này, Thủ tướng Đức Angela Merkel cam kết chớp lấy cơ hội bằng việc tổ chức hội nghị thượng đỉnh, với hy vọng củng cố nền kinh tế thế giới và nâng cao sự ổn định và sự chống chịu của nó thông qua hợp tác đa phương. 15 mục trong nghị trình mà nằm dưới các mục tiêu rộng hơn là xây dựng một nền kinh tế có sức chống đỡ, cải thiện tính bền vững và đảm nhận trách nhiệm đối với an ninh vật chất và con người, đều xứng đáng được xem xét nghiêm túc và đòi hỏi nỗ lực tập thể để đạt được tiến bộ có ý nghĩa. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được trông đợi đảm nhận một vai trò lớn hơn bằng việc lấp đầy khoảng trống do hành động rút lui của Mỹ bỏ lại. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron nhiều khả năng sẽ đem đến một tinh thần của chủ nghĩa tiến bộ tự do gắn với mục tiêu hiện nay của G20 là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và mang tính toàn diện. Để hội nghị thượng đỉnh này thành công, điểu then chốt là các nhà lãnh đạo phải thể hiện tình đoàn kết và sự sẵn sàng cùng nhau hành động chống lại các mối đe dọa kinh tế và chính trị xã hội. Đồng thời, các nhà lãnh đạo nên phát triển các khuôn khổ hợp tác có sức chống chịu mà có thể đem lại cho các thành viên sự linh hoạt lớn hơn khi xem xét các lựa chọn chính sách đối nội.

Với 7 quốc gia châu Á trong G20, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản được chờ đợi tăng cường vai trò của họ bằng cách đảm nhận các trách nhiệm phù hợp với các lợi thế tương đối tương ứng của từng nước. Các cường quốc bật trung như Hàn Quốc và Indonesia cũng có thể thúc đẩy các mục tiêu của G20 bằng cách tích hợp chúng vào các sáng kiến đa phương trong khu vực của họ. Các quốc gia châu Á đã và đang được cách ly tương đối khỏi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy cực đoan và tin rằng tương lai của họ nằm ở một thế giới mở và kết nố hơn. Các thành viên châu Á nên đóng góp nhiều hơn cho G20 để củng cố hơn nữa diễn đàn này.

G20 được thành lập để đưa quan trị kinh tế toàn cầu trở nên dân chủ và hiệu quả hơn. Các nước lớn nên đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn trong việc khiến thế giới trở nên an toàn hơn, cũng như toàn diện hơn về kinh tế và hòa hợp hơn về chính trị. Mỗi nước thành viên phải nhớ rằng sức mạnh và vị thế quốc tế mà họ có được không chỉ là do các thành tựu quốc gia, mà còn nhờ vào thế cộng đồng quốc tế. Do không có quốc gia riêng lẻ nào có thể thay thế Mỹ, nước đã đem lại điều tốt đẹp chung trong 25 năm qua, tất cả các thành viên G20 nên đảm nhận phần trách nhiệm của họ để quản lý các thách thức toàn cầu.

(còn tiếp) 

Nguồn: Council on foreign relations – 05/07/2017

TLTKĐB – 08/07/2017

Một tương lai không chắc chắn – Phần XI


Nếu như chỉ cần Mỹ dùng khoản tiền đã chi cho việc chiếm đóng Iraq để chi cho cuộc chiến chống hiệu ứng nhà kính, thì tất cả chúng ta sẽ cảm thấy an toàn hơn. Nếu như các quốc gia khác cắt giảm chi phí cho quốc phòng và duy trì quân đội của mình để chi cho việc mua sắm thiết bị bảo vệ môi trường và tuyển dụng đội ngũ nhân viên lành nghề cho lĩnh vực này, thì không những kinh tế của nước họ phát triển tốt hơn, mà tình hình những cơ sở chế tạo thiết bị bảo vệ môi trường cũng sáng sủa hơn nhiều, còn tình hình khí hậu chung – nói theo nghĩa đen và nghĩa bóng – sẽ (tạo) thuận lợi hơn nhiều cho phát triển kinh tế – xã hội.

Các nhà tư bản cũng rất phấn khởi khi đạt được lợi nhuận từ lĩnh vực kinh doanh, mà được công chúng hoan nghênh – giống như trường hợp chế tạo máy bay Boeing 787 – hơn là cứ rúc đầu trong cát mà nói rằng, chế tạo thiết bị quân sự là phục vụ cho sự nghiệp cao cả. Chỉ cần một điều nhỏ nhoi là làm sao việc chế tạo máy bay Deamliner và những thiết bị khác cùng với các dịch vụ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thu được lợi nhuận không thấp hơn việc các nhà sản xuất khổng lồ, như công ty Northrop Grumman chế tạo những phi cơ ném bom chiến lược B-2 hay làm dịch vụ đẩy thanh niên ra bãi chiến trường.

Tất cả những giải pháp đó còn quá ít, chưa thể đủ. Cần phải tiến hành một cuộc cách mạng. Trong đó có cuộc cách mạng các sắc thuế. Ngoài việc hát mãi bài ca rằng, cần phải áp dụng thuế ưu đãi đối với doanh thu từ các ngành ít gây ô nhiễm môi trường, cần phải có biện pháp cao hơn, như trong giai đoạn cuối thế kỷ XXI, đầu thế kỷ XXII, thuế doanh thu đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình không còn là hàm số của doanh thu (và một phần của tài sản) như hiện nay, mà nó lệ thuộc vào việc tham gia của các chủ thể cụ thể trong việc tiêu thụ năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Những khoản thuế này sẽ được các nước và các nhóm quốc gia hội nhập nộp vào một kho bạc chung. Sẽ phải xây dựng thể chế như là ngân sách môi trường toàn cầu. Tất nhiên chẳng ai muốn nộp khoản thuế này, chỉ muốn nhận từ ngân sách mà thôi. Lúc đó chúng ta có thể nhanh chóng và chính xác nhận mặt chỉ tên những ai và họ gây ô nhiễm như thế nào và dễ dàng áp mức thuế và tiến hành thu thuế. Cùng với những sự thay đổi trong lĩnh vực ý thức toàn xã hội, việc thu thuế môi trường sẽ dẫn tới những sự biến đổi to lớn trong phương thức sản xuất và tiêu dùng và – kết quả đạt được là – tạo những biến đổi cần thiết trong quá trình trao đổi vật chất giữa con người và bà Mẹ Trái Đất.

Gần đây, tinh thần trách nhiệm về hiện trạng môi trường đang có những biến chuyển tích cực, không chỉ do những phong trào rầm rộ mang màu sắc chính trị do các giới ý thức được quy mô của nguy cơ – đứng ra tổ chức, mà còn do các ngành như xuất bản sách văn học và truyền hình đóng góp.  Bằng những tác phẩm của mình dưới dạng tiểu thuyết science fiction (khoa học viễn tưởng), những bộ phim về thảm họa, những bộ phim gay cấn liên quan đến môi trường, nhiều khi đã rất có tác dụng buộc các chính khách hành động hơn là những chứng cứ khoa học khô cứng. Bởi dân chúng có những phản ứng tức thì khi xem những chương trình hay cuốn sách nói về mối đe dọa môi trường, còn với các chính khách – là những lý lẽ để thuyết phục cử tri. Có thể là, mối lo sợ thái quá đem lại kết quả nhiều hơn so với những luận cứ hợp lý chứng minh về hiểm họa do thay đổi khí hậu gây ra. Đúng như thế đấy, trong vòng bốn năm gần đây, số người Mỹ, nhìn nhận thấy được những lý do của « sự lo ngại sâu sắc » đã nhảy từ 28% lên 41%. Điều đáng ngạc nhiên là vẫn còn khoảng một nửa số người theo đảng cộng hòa, bị ảnh hưởng bởi học thuyết kinh tế tự do mới vẫn cho rằng, môi trường đang nằm trong tình trạng tốt. Qua đây cũng đủ thấy rằng, họ xem và đọc những gì khác hẳn so với những người theo đảng dân chủ, mà chỉ chiếm có 9% trong hàng ngũ của mình. Một điều đáng mừng là họ sẽ là người điều hành nước Mỹ trong những năm 2009 – 2017. Nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, thì họ sẽ tiếp tục điều hành sau thời gian kể trên.

Tất cả – chính sách dân tộc mang tính hiệu quả cao và sự điều phối nhuần nhuyễn trên phạm vi xuyên quốc gia, những thay đổi về văn hóa và đặc biệt là những tiến bộ khoa học – kỹ thuật cùng với cơ chế kinh tế – tài chính ngày càng hoàn thiện và phương thức quản lý hoàn hảo – ít nhất cũng không tạo ra được thêm nguồn dự trữ tài nguyên ở cấp độ có thể đẩy thế giới vào việc tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu ngang bằng với mức của Bắc Mỹ và Tây Âu. Không thể có trong tương lai gần, cũng như sau đó. Chúng ta nhớ rằng, điều đó đòi hỏi thêm một khối lượng dự trữ tương đương với của hai trái đất gộp lại. Tuy nhiên, về lâu dài – tiến bộ thông qua các biện pháp tiết kiệm và các cuộc cách mạng công nghệ, đặc biệt là kỹ thuật nano, công nghệ vật liệu và công nghệ sinh học, có thể tạo ra cho chúng ta trữ lượng như một Trái đất thứ hai. Sức mạnh trí tuệ con người – mặc dù không phải là vô biên – nhưng giới hạn cuối cùng của nó là rất xa và chưa được biết đến.

* * *

Thứ bảy, nếu dự báo dân số mới nhất của Tổ chức Liên Hợp Quốc là chính xác, thì chẳng mấy chốc – vào năm 2050 – sẽ có 9,3 tỷ người chúng ta đi lại trên hành tinh này. Lúc đó, sẽ vẫn còn một số người thuộc thế hệ chúng ta, còn lại đa số là những người được sinh ra trên mặt đất này để rồi suốt cuộc đời sẽ cùng chu du với nó. Điều đó có nghĩa là dân số thế giới nhiều hơn so với một nghìn năm trước đây là 96,7%. Người ta sẽ muốn hét lên « đã đến ngày tận thế ! », song vẫn chưa phải là lúc này và cũng chắc chắn là không phải đối với tất cả mọi người. Khi tôi được 1 tuổi, lúc đó dân số thế giới là 2,5 tỷ người, khi tôi hoàn thành cuốn sách này, thì đã là 6,5 tỷ người. Khi tôi sang thế giới bên kia, sẽ thêm 3 tỷ. Thế giới – cho dù nó có thế nào đi nữa – vẫn cứ tự xoay sở mà không có tôi. Nhưng còn tôi, sẽ xoay sở sao đây khi không có thế giới này ?…

Con số hàng tỷ đồng nghĩa với nhiều lắm. Sự biến động dân số đa chiều là vấn đề lớn của tương lai. Bên cạnh vấn đề của sự gia tăng dân số không ngừng và nhanh chóng của nhân loại, đang đặt ra những vấn đề đặc biệt :

+ Sự gia tăng dân số tự nhiên rất khác nhau về cấp độ,

+ Sự quá tải về dân số ở một số vùng,

+ Già hóa dân số,

+ Di cư ồ ạt.

Hàng năm trên thế giới có thêm khoảng 80 triệu người – gần bằng với dân số của Đức, Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Ai Cập – nó diễn ra tại nhiều nơi với những nhịp độ khác nhau. Nhanh nhất tại vùng ngoại vi sa mạc Sahara ở Châu Phi, ở vùng Trung Đông và cùng với Đông Nam Á, chậm hơn ở châu Mỹ Latinh, và chậm nhất là ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Hiện nay có 80% dân số thế giới đang sống ở những nước kém phát triển. Đến giữa thế kỷ này sẽ là 90%.

Những thay đổi mang tính cơ bản. Nếu như trong năm 1900 số dân tại Châu Âu nhiều hơn gấp 3 lần số dân tại Châu Phi (tương ứng là 408 triệu và 133 triệu), thì theo dự báo, vào năm 2050 tình hình sẽ ngược lại. Số dân tại Châu Phi sẽ cao hơn Châu Âu 3 lần (tương ứng 1766 và 628 triệu). Sau một thế kỷ nữa, vào năm 2150 tỷ lệ sẽ là khoảng 5 : 1 (tương ứng 2380 và 517). Mặc dù trong thời gian đó, sẽ có rất nhiều người dân Châu Phi di cư sang Châu Âu hơn là ngược lại. Tỷ lệ dân số thuộc « cựu thế giới » và « tân thế giới » trong tổng dân số toàn thế giới sẽ giảm từ 28,5% (21,7% ở Châu Âu và 6,8% ở Bắc Mỹ) trong năm 1950 xuống còn 9,4% (tương ứng 5,4% và 4,1%) vào năm 2150.

Tổ chức Liên Hợp Quốc dự đoán rằng, dân số vào năm 2013 sẽ là 7 tỷ người. Có nghĩa là để dân số tăng thêm 1 tỷ người chúng ta phải chờ đợi 14 năm (có lẽ không phải là chờ đợi, mà là nỗ lực, vì gia tăng sinh đẻ không lệ thuộc vào sự chờ đợi). Chúng ta đã đạt được mốc 6 tỷ vào năm 1999 và 8 tỷ vào năm 2028. Còn 9 tỷ – lệ thuộc vào từng dự báo – sẽ đạt được vào khoảng năm 2050. Theo một số dự báo, ngay trong năm 2046 dân số sẽ đạt tới mức này, theo dự báo khác, thì mãi tới 2054. Sự vênh nhau không nhiều. Còn sau đó. Sau đó sẽ phải khác hơn.

Số dân trong nửa cuối thế kỷ XXI và cả thế kỷ XXII phải tăng rất chậm, chậm hơn 10 lần so với hiện nay, bởi mức trung bình khoảng 6 – 7 triệu người/năm. Một trạng thái đình trệ. Theo các dự báo, để sinh ra thêm 1 tỷ người cần đến 150 năm. Trong năm 2200 số dân phải là khoảng trên 10 tỷ và ở ổn định ở mức đó. Cũng là dự báo của Liên Hợp Quốc, 15 năm trước đây (trong thời gian đó xảy ra nhiều sự kiện) cho rằng, dân số sẽ ổn định sau năm 2200 ở mức khoảng 11,6 tỷ người. Cho đến thời gian đó sẽ còn xảy ra nhiều sự kiện, trong đó sẽ rất nhiều sự kiện xảy ra cùng lúc. Chúng ta cố sống để chứng kiến…

Như vậy nhịp độ gia tăng dân số trên trái đất sẽ giảm đi. Và đấy là tin tốt lành. Chúng ta ngày càng đông đảo, nhưng tổng dân số của thế giới gia tăng ngày càng chậm. Nhịp độ tăng trung bình hàng năm giảm từ mức rất cao 2,2% vào giữa những năm 60 xuống còn 1,2% trong nửa thập niên này. Thật tuyệt vời, vì với nhịp độ 2,2% thì số dân thế giới cứ sau 32 năm sẽ tăng gấp đôi. Thật là kinh khủng, bởi với nhịp độ 1,2% thì cứ sau 58 năm số dân lại tăng gấp đôi. Trái đất sẽ không chịu thấu ! Cần phải tiếp tục giảm nhịp độ gia tăng này. Phải có ngay giải pháp cơ bản tạo quy mô khác nhau tại nhiều vùng khác nhau. Đấy là thách thức to lớn của thế kỷ XXI và những thế kỷ tiếp theo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Mô tả vấn đề “lời kẻ khác” – Phần II


Tính năng động của mối tương quan giữa bối cảnh tác giả và lời kẻ khác

Tất cả những gì cốt yếu trong sự tiếp nhận có đánh giá phát ngôn của người khác, tất cả những người gì có thể có một ý nghĩa tư tưởng nào đó đều được thể hiện trong chất liệu của lời nói bên trong. Bởi lẽ, phát ngôn của người khác được tiếp nhận không phải bởi một sinh vật câm, phi ngôn ngữ, mà bởi một con người với đầy đủ ngôn từ bên trong. Toàn bộ trải nghiệm của anh ta – cái gọi là nền tổng giác – được mã hóa bằng lời nói bên trong của anh ta, và bằng cách ấy nó tiếp xúc với lời nói được tiếp nhận từ bên ngoài. Từ tiếp xúc với từ. chính trong bối cảnh của lời nói bên trong này diễn ra sự tiếp nhận phát ngôn của người khác, sự hiểu và đánh giá nó, nghĩa là, sự định hướng chủ động của người nói. Sự tiếp nhận nội – ngôn, chủ động này đi theo hai hướng: thứ nhất, phát ngôn của người khác bị đóng khung bởi bối cảnh chú giải thực tế (trùng một phần với cái được gọi là nền tỏng giác của từ), tình trạng (bên trong và bên ngoài), và sự biểu đạt trực quan…; thứ hai, chuẩn bị lời đáp (Gegenrede). Tất nhiên, cả sự chuẩn bị lời đáp – sự hồi đáp bên trong – lẫn sự chú giải thực tế đều gắn kết hữu cơ vào thể thống nhất của hoạt động tiếp nhận chủ động và chỉ có thể phân tách một cách trừu tượng. Cả hai hướng tiếp nhận đều được thể hiện, được khách quan hóa trong ngữ cảnh “tác giả” bao quanh lời người khác. Bất kể định hướng mục đích của ngữ cảnh ấy là gì – dù đó là một truyện ngắn nghệ thuật, một bài tranh luận, hay một bài biện hộ của luật sư… – chúng ta có thể phân biệt rõ ràng trong đó hai xu hướng: chú giải thực tế hồi đáp; và thường là một trong hai xu hướng áp đảo. Giữa lời kẻ khác và bối cảnh truyền đạt nó ngự trị các mối quan hệ năng động, phức tạp và căng thẳng. Nếu không tính đến các mối quan hệ này, chúng ta sẽ không thể hiểu được hình thức truyền đạt lời kẻ khác.

Sai lầm cơ bản của các nhà nghiên cứu trước đây về hình thức truyền đạt lời kẻ khác là ở sự cắt đứt nó gần như hoàn toàn khỏi bối cảnh truyền đạt. Do đó mà có tính chất tĩnh, bất động trong định nghĩa các hình thức này (tính chất tĩnh này là đặc điểm của toàn bộ cú pháp học nói chung). Trong khi đó, đối tượng nghiên cứu thực sự chính là mối tương tác năng động của hai đại lượng này – của lời nói được truyền đạt (lời “kẻ khác”) và lời truyền đạt (“lời tác giả”). Bởi lẽ, trên thực tế chúng chỉ tồn tại, sống và hình thành trong mối tương tác này, chứ không phải tự thân và biệt lập. Lời kẻ khác và bối cảnh truyền đạt – đó là những thuật ngữ của một mối tương tác năng động. Tính năng động này, đến lượt nó, lại phản ánh sự năng động của sự định hướng xã hội lẫn nhau giữa những người tham gia giao tiếp tư tưởng – lời nói (tất nhiên, trong những xu hướng chủ yếu và bền vững của giao tiếp này).

Tính năng động của mối quan hệ tương hỗ giữa lời tác giả và lời người khác có thể phát triển theo những hướng nào?

Chúng ta quan sát thấy có hai hướng chính của tính năng động này.

“Phong cách tuyến tính” của sự truyền đạt lời kẻ khác (hướng thứ nhất của tính năng động)

Thứ nhất, xu hướng cơ bản của phản ứng chủ động đáp lại lời kẻ khác có thể là xu hướng duy trì tính toàn vẹn và xác thực của nó. Ngôn ngữ có thể hướng tới việc tạo ra những ranh giới rạch ròi và ổn định của lời kẻ khác. Trong trường hợp này, các hình mẫu và biến thể của chúng giúp khu biệt lời kẻ khác một cách rạch ròi và chặt chẽ hơn, bảo vệ nói khỏi sự xâm nhập của ngữ điệu tác giả, để cô đọng và phát triển cá tính ngôn ngữ của nó.

Đó là hướng đầu tiên. Trong khuôn khổ của nó, cần phải xác định rõ, sự tiếp nhận xã hội của lời kẻ khác trong một nhóm ngôn ngữ nhất định khu biệt đến mức nào, sức biểu cảm xã hội, các đặc điểm phong cách lời nói và sắc thái ngữ nghĩa… được cảm nhận đến đâu. Hay là, lời kẻ khác chỉ được tiếp nhận đơn thuần như là một hành động xã hội trọn vẹn, một thứ lập trường ngữ nghĩa không thể phân tách của người nói, tức là, chỉ có “cái gì” được cảm nhận, còn “như thế nào” thì bị bỏ qua. Lối tiếp nhận và truyền đạt lời kẻ khác mang tính ngữ nghĩa – khách thể và phi cá nhân về mặt ngôn ngữ học như vậy chiếm ưu thế trong tiếng Pháp cổ và trung cổ  (ở tiếng Pháp trung cổ, các biến thể phi cá nhân của lời nói gián tiếp có sự phát triển đáng kể). Trong các văn bản văn học Nga cổ chúng ta cũng gặp dạng này, nhưng gần như hoàn toàn không gặp các hình mẫu lời nói gián tiếp. Dạng thống trị ở đây là lối nói trực tiếp phi cá nhân hóa (theo nghĩa ngôn ngữ học).

Trong khuôn khổ hướng thứ nhất này còn phải phân biệt mức độ tiếp nhận từ ngữ một cách độc đoán, mức độ tự tin và giáo điều về tư tưởng của nó. Từ càng giáo điều, người hiểu và đánh giá nó càng ít có khả năng để nhận biết bất kỳ sự chuyển tiếp nào giữa sự thật và lừa dối, giữa thiện và ác. Khi đó, các hình thức truyền đạt lời kẻ khác càng phi cá nhân hóa nhiều hơn. Bởi lẽ, một khi tất cả các đánh giá xã hội thay đổi toàn diện và triệt để thì không có chỗ cho một thái độ tích cực và quan tâm đến tất cả các yếu tố cá nhân hóa của phát ngôn của kẻ khác. Tính giáo điều độc đoán như vậy rất đặc trưng cho các văn bản tiếng Pháp trung cổ và cho văn học cổ của chúng ta. Đối với thế kỷ XVII ở Pháp và thế kỷ XVIII ở nước ta – đặc trưng là chủ nghĩa giáo điều duy lý. Chủ nghĩa giáo điều duy lý cũng giảm bớt sự cá nhân hóa lời nói, tuy theo các hướng khác. Thống trị trong khuôn khổ của chủ nghĩa giáo điều duy lý là những biến thể phân tích – khách thể của lời nói gián tiếp và những biến thể tu từ của lời nói trực tiếp. Tính rõ ràng và bền vững của ranh giới giữa lời tác giả và lời kẻ khác đạt đến giới hạn cao nhất chính ở đây.

Sử dụng thuật ngữ nghệ thuật học của Wolfflin, chúng ta sẽ gọi xu hướng thứ nhất trong tính năng động của sự định hướng lẫn nhau bằng lời nói giữa lời tác giả và lời kẻ khác là phong cách tuyến tính  (der lineare Stil) của sự truyền đạt lời kẻ khác. Xu hướng căn bản của phong cách này là tạo ra những đường viền rạch ròi bên ngoài lời kẻ khác, đồng thời giảm thiểu tính cá nhân hóa bên trong của nó. Khi toàn bộ ngữ cảnh hoàn toàn đồng nhất về phong cách (tác giả và tất cả các nhân vật nói cùng một ngôn ngữ), thì về mặt ngữ pháp và cấu trúc, lời kẻ khác bị đóng kín tối đa với mức độ cá nhân hóa tối thiểu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.