Trung Quốc dè chừng các ông trùm mới – Phần cuối


Ông Guo, người đang chạy trốn các cáo buộc tham nhũng ở Trung Quốc, đã hứa hẹn sẽ tiết lộ nhiều thông tin hơn – như ông đã nói trên YouTube, được chứa trong “91 thư mục và 18 đoạn băng ghi hình” mà ông đã mang ra khỏi Trung Quốc khi ông rời đi vào năm 2015. Tháng 10, Facebook đã chặn hồ sơ trực tuyến của ông, nói rằng nó chứa thông tin cá nhân của người khác mà không được họ cho phép. Khi đó Viện nghiên cứu Hudson, một tổ chức tư vấn ở Washington, đã hoãn một sự kiện có ông Guo tham gia, ông nói rằng ông nghi ngờ đó là do sức ép từ Chính phủ Trung Quốc. (Một phát ngôn viên của Viện nghiên cứu Hudson cho biết đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ đà phàn nàn về sự kiện có ông Guo tham gia nhưng nói rằng nó đã bị hủy bỏ do viện này “lên kế hoạch chưa chu đáo”).

Hiện giờ, ông Guo là một người ngoài cuộc. Không mấy ai trong số các nhà lãnh đạo doanh nghiệp lớn của Trung Quốc – từ những kẻ cướp trong lốt ông trùm cho đến những người nhìn xa trông rộng thực sự – dám thách thức trực tiếp ban lãnh đạo đảng. Đối với nhiều người, tư cách đảng viên và các mối quan hệ của họ đã trở thành những con đường dẫn đến các khoản vay ngân hàng giá rẻ, sự thăng tiến và giàu có.

Theo Barry Naughton, một chuyên gia về kinh tế Trung Quốc thuộc Đại học California, San Diego, “Các công ty tư nhân được trao một sự lựa chọn rất rõ ràng: Anh có thể kiếm tiền, nhưng anh phải thừa nhận uy thế của Đảng Cộng sản”.

ĐCSTQ đã mất một thời gian dài để tuyên bố sự quan tâm của mình dành cho giới kinh doanh. Đầu những năm 1980, một vài năm sau khi Đặng Tiểu Bình phát động các cải cách thị trường mang tính chuyển đổi của mình. Điều lệ đảng vẫn khoe khoang về “ưu thế vượt trội không gì sánh được của chủ nghĩa xã hội so với hệ thống tư bản chủ nghĩa”. Các quan chức địa phương, lo lắng về việc phát hiện ra các doanh nghiệp tư nhân đang phát triển mạnh mẽ giữa họ, đã thường tham vấn Đặng Tiểu Bình trước khi cho phép các doanh nghiệp này tiếp tục kinh doanh.

Đảng đã không vượt quá giới hạn về ý thức hệ cho đến đầu thế kỷ 21, khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận ra rằng họ rất cần giới doanh nghiệp tư nhân để tạo thêm nhiều việc làm hơn khi khu vực nhà nước bị thu hẹp. Giang Trạch Dân, nhà lãnh đạo đảng từ năm 1989 đến 2002, đã đưa ra những sửa đổi trong các văn kiện của đảng để đưa giới doanh nghiệp tư nhân lên một nền tảng chính trị vững chắc hơn. Giang Trạch Dân tuyên bố: “Các doanh nhân đều là những nhà kiến tạo chủ nghĩa xã hội đặc sắc của Trung Quốc”.

Dù vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn thận trọng về chủ nghĩa tư bản không bị ràng buộc. Trong thập kỷ qua, các quan chức Trung Quốc ở mọi cấp bậc đã bị buộc phải tham dự các buổi nghiên cứu về sự sụp đổ của Liên Xô và hậu quả của nó, cùng với sự trỗi dậy của một tầng lớp đầu sỏ chính trị mới của Nga trở nên giàu có nhờ thực sự đánh cắp của cải nhà nước.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã theo dõi trong nỗi kinh hoàng khi Liên Xô tan rã và các tài sản của Liên Xô bị tư hữu hóa. Chứng kiến giới kinh doanh đe dọa tiếp quản nhà nước ở Nga, các quan chức ở Trung Quốc đã quyết định làm điều ngược lại. Trong 2 thập kỷ vừa qua, Bắc Kinh đã cố gắng “thực dân hóa” khu vực tư nhân để đảm bảo các doanh nhân nằm dưới sự kiểm soát.

Theo Jude Blanchette đến từ Trung tâm Kinh tế và Kinh doanh Trung Quốc thuộc tổ chức nghiên cứu kinh tế Conference Board, “đảng đang cố gắng tính toán xem sợ dây kiểm soát nên dài bao nhiêu. Nếu quá ngắn, anh sẽ đè nén tăng trưởng. Nếu quá dài, anh sẽ mất quyền kiểm soát”.

Các doanh nhân được khuyến khích gia nhập đảng, vốn từ lâu đã tự coi mình là mái nhà cho công nhân, binh lính và nông dân. Theo số liệu riêng của họ, năm 2016, khi số lượng đảng viên là doanh nhân tăng vọt, nam và nữ doanh nhân chiếm hơn 8% trong tổng số 89,5 triệu đảng viên. Một nghiên cứu vào năm 2015 của Curtis Milhaupt đến từ Trường Luật Columbia và Wentong Zheng đến từ Trường Luật thuộc Đại học Florida cho thấy 95 người trong số các nhà sáng lập hay người kiểm soát thực tế 100 doanh nghiệp tư nhân hàng đầu và 8 trên 10 lãnh đạo của các công ty Internet hàng đầu của Trung Quốc từng là thành viên của các tổ chức chính trị do đảng lãnh đạo.

Yashung Huang, một chuyên gia về Trung Quốc tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) cho biết đảng “đã tìm ra cách để hợp nhất khu vực tư nhân một cách tương đối hiệu quả”. Ông đã viện dẫn quyền kiểm soát của khu vực nhà nước đối với những lĩnh vực như tài chính, thép và điện lực như một đòn bẩy để áp đặt quyền định giá mạnh mẽ đối với ngành kinh doanh. “Có nhiều công cụ kinh tế mà họ có thể áp dụng đối với khu vực tư nhân”.

Việc đảng nhắm mục tiêu vào các ông trùm không phải chỉ dựa vào các cáo buộc tham nhũng. Với hàng chục tỷ USD chảy ra nước ngoài trong những năm gần đây để tìm kiếm các tài sản nước ngoài, Bắc Kinh lo sợ rằng một sự sụt giảm về dự trữ ngoại hối sẽ gây mất ổn định cho hệ thống tiền tệ Trung Quốc. Các quan chức cấp cao cũng lo ngại rằng cơn sốt giao dịch sẽ kết thúc tương tự như cách mà Nhật bản đã làm vào đầu những năm 1990, với số tiền khổng lồ bị lãng phí vào các tài sản bị đẩy giá.

Bắc Kinh đã nỗ lực đặc biệt để giữ những gã khổng lồ trong ngành công nghiệp Internet của Trung Quốc trong tầm kiểm soát, bao gồm Robin Li của Baidu và đặc biệt là Jack Ma của Alibaba và Pony Ma của Tencent. 3 công ty này – lần lượt là công cụ tìm kiếm, nền tảng thương mại điện tử và dịch vụ gửi tin nhắn và truyền thông xã hội chủ đạo của Trung Quốc – thường được gọi chung ở Trung Quốc bằng tên viết tắt là BAT. Chỉ trong vài năm, nhờ có công cụ tìm kiếm trực tuyến và thanh toán điện tử, các công ty này đã trở thành một kho lưu trữ dữ liệu hiệu quả theo thời gian thực mà bộ máy an ninh nhà nước rộng khắp của Trung Quốc hẳn là chỉ có thể mơ ước được sở hữu.

Các gã khổng lồ công nghệ của Trung Quốc là những nhà lãnh đạo thế giới trong lĩnh vực thanh toán qua điện thoại di động, và họ cũng làm việc với chính phủ về trí tuệ nhân tạo, trao cho nhà nước Trung Quốc nhiều công cụ giám sát hơn, bao gồm cả các công cụ nhận diện khuôn mặt. Các công ty Trung Quốc đang sử dụng trí tuệ nhân tạo để cố gắng lên kế hoạch và dự đoán hành vi của người tiêu dùng; chính phủ muốn sử dụng các công cụ tương tự để đoán trước sự bất đồng chính kiến và ngăn chặn nó. Việc xóa bỏ tiền mặt khiến chính phủ dễ dàng theo dõi các hoạt động thanh toán và người dân của họ hơn.

Cả Baidu và Tencent đều cảm nhận được cơn thịnh nộ của chính phủ gần đây. Năm 2016, Baidu bị điều tra vì bán thứ hạng trên công cụ tìm kiếm của họ; Tencent bị buộc phải đặt giới hạn thời gian cho trò chơi trên điện thoại di động có doanh thu cao nhất của họ sau những chỉ trích của truyền thông nhà nước rằng nó gây nghiện theo hướng có hại. Cả 2 công ty đều bị điều tra vì cáo buộc vi phạm an ninh mạng.

Jack Ma, người thẳng thắn và nổi tiếng nhất trong số những nhà lãnh đạo cao nhất của các công ty công nghệ, hầu như đã tránh xa rắc rối với chính quyền. Người sáng lập Alibaba muốn nói rằng ở Trung Quốc, các doanh nghiệp cần tránh làm ăn với các quan chức chính phủ. Ông nói: “Hãy yêu họ, nhưng đừng kết hôn với họ”.

Chưa thỏa mãn với việc đe dọa các công ty công nghệ, chính phủ hiện đang hối thúc những công ty như Alibaba và Tencent bán cổ phần trong những công ty này và dành một ghế trên bàn đàm phán cho Bắc Kinh khi đưa ra các quyết định kinh doanh. Chính phủ có lẽ cũng sẽ nhận được dòng lợi tức ổn định từ phần vốn của mình.

Bất chấp những lo ngại của Tập Cận Bình về các ông trùm, sự nghiệp của ông hẳn đã giúp ông biết trân trọng vai trò mà giới kinh doanh có thể nắm giữ trong việc làm cho Trung Quốc – và đảng – trở nên vĩ đại một lần nữa. Từ năm 1985 đến năm 2007, ông đã được bổ nhiệm làm việc ở tỉnh Phúc Kiến và Chiết Giang, hai tỉnh ven biển phía Nam Thượng Hải, và là một trong số những nhà lãnh đạo có tinh thần doanh nhân cao nhất ở Trung Quốc. Theo Nicholas Lardy thuộc Viện kinh tế quốc tế Peterson, một cơ quan cố vấn của Washington: “Tôi nghĩ rằng dựa vào những nơi ông từng phục vụ, ông ấy được cho là có một ý tưởng rất tốt về cách thức hoạt động của khu vực tư nhân và tầm quan trọng của nó, nhưng rất khó để thấy điều đó”.

Tầm nhìn của Tập Cận Bình dường như không phải tầm nhìn về hoạt động kinh doanh tự do. Phát biểu gần đây về khu vực tư nhân của Trung Quốc, ông tuyên bố rằng các doanh nhân nợ đất nước của họ một nghĩa vụ chính trị. Ông nói rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần “tăng cường việc tự học hỏi, tự rèn luyện và tự cải thiện”.

Tập Cận Bình nói thêm: “Họ không nên cảm thấy không thoải mái với yêu cầu này. Đảng Cộng sản có những yêu cầu tương tự và nghiêm khắc hơn đối với các nhà lãnh đạo của họ”.

Nguồn: The Wall Street Journal – 13/10/2017

TLTKĐB – 25/10/2017

Advertisements

Việt Nam: Mục tiêu quan trọng trong chính sách “Hướng nam mới” của Đài Loan – Phần cuối


Không gian nỗ lực của “chính sách hướng Nam mới” ở Việt Nam

Mặc dù các doanh nghiệp Đài Loan kinh doanh ở Việt Nam nhiều năm, đầu tư vào Việt Nam vẫn có không gian tăng trưởng nhất định, nhưng cùng với sự thay đổi môi trường kinh doanh của Việt Nam, các doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào Việt Nam sẽ đối mặt với trở ngại nhiều hơn. Tập đoàn Formosa Đài Loan đầu tư vào Việt Nam gặp thất bại bị Chính phủ Việt Nam phạt nặng, cho thấy các loại trở ngại ẩn giấu mà doanh nghiệp Đài Loan phải đối mặt khi đầu tư ở Việt Nam đã hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp Đài Loan một cách nghiêm trọng. Ngay cả đầu tư của doanh nghiệp lớn như tập đoàn Formosa Đài Loan cũng gặp trắc trở, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đài Loan nếu muốn đầu tư ở Việt Nam thì mức độ khó khăn lớn như thế nào có thể tưởng tượng được. Ngoài phương diện đầu tư, mục tiêu mà nhà lãnh đạo Thái Anh Văn có ý đồ dựa vào “chính sách hướng Nam mới” để tăng cường quan hệ thực chất với Việt Nam cũng khó có thể thực hiện được.

Tuy những năm gần đây Trung Quốc và Việt Nam tồn tại tranh chấp trong vấn đề Nam Hải (Biển Đông), nhưng xét về tổng thể phát triển tương đối ổn định. Trung – Việt đã đạt được tiến triển quan trọng trong việc hợp tác “Vành đai và Con đường”. Đầu năm nay hai bên đã ký kết “Thông cáo chung Trung Quốc – Việt Nam”, “Việt Nam khẳng định kiên trì chính sách một nước Trung Quốc; ủng hộ quan hệ hai bờ phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc; kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất kỳ quan hệ chính thức nào với Đài Loan”. Thái độ bày tỏ rõ ràng của Chính phủ Việt Nam đã ngăn chặn khả năng nhà lãnh đạo Thái Anh Văn muốn dựa vào chính sách “hướng Nam mới” để thực hiện sự “đột phá chính trị”. Nhưng xét về xu thế tương lai, “chính sách hướng Nam mới” của nhà cầm quyền Thái Anh Văn vẫn có thể tập trung ở những lĩnh vực sau:

Một là xóa bỏ dần trong tư tưởng của người dân Việt Nam về kết cấu “Một nước Trung Quốc” của Trung Quốc Đại lục. Chuyến thăm Việt Nam lần này, tác giả bài viết đã cảm nhận được rằng Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa truyền thống Trung Quốc rất sâu sắc. Tác giả bài viết đã nói chuyện với một số doanh nhân Đài Loan, họ nói rằng trong sách giáo khoa lịch sử Việt Nam đã ghi chép rõ ràng rằng Đại lục và Đài Loan cùng thuộc một nước Trung Quốc, khiến cho kết cấu “Một nước Trung Quốc” đặt nền tảng khá vững chắc trong tư tưởng người dân Việt Nam. Tháng 5/2014, khi Việt Nam xảy ra làn sóng bạo động chống Trung Quốc, nhiều người Việt Nam cũng có hành động phá phách cướp bóc đối với các doanh nghiệp Đài Loan, khiến cho các doanh nghiệp Đài Loan bị tổn thất nghiêm trọng. Nhà lãnh đạo Quốc dân đảng Đài Loan xuất phát từ suy nghĩ tự bảo vệ mình, đã đưa ra khẩu hiệu và biểu ngữ không vẻ vang như “doanh nghiệp Đài Loan không phải là doanh nghiệp Trung Quốc”, “Đài Loan và Trung Quốc là hai nước khác nhau”… Theo giới thiệu của người nhà doanh nghiệp Đài Loan ở địa phương, kể từ sau sự kiện đó, ngày càng nhiều người Việt Nam “phân biệt rõ ràng 2 bờ eo biển Đài Loan”, nền tảng dư luận “2 bờ eo biển cùng thuộc về một nước Trung Quốc” ở trong nước Việt Nam có sự dao động. Điều có thể thấy trước là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn biết rõ rằng dường như không thể thách thức chính sách “Một nước Trung Quốc” của Chính phủ Việt Nam trong tương lai, rất có thể sẽ tuân theo mô hình này, trên nhiều lĩnh vực xóa bỏ dần nhận thức “Một nước Trung Quốc” của người dân Việt Nam.

Hai là lợi dụng sự liên kết xã hội giữa Đài Loan và Việt Nam để tăng cường giao lưu với người dân Việt Nam. Trải qua hàng chục cuộc giao lưu, sự liên kết văn hóa xã hội giữa Đài Loan và Việt Nam ngày càng mật thiết, đã hình thành “dân tộc Đài – Việt”  với số lượng khả quan. Chẳng hạn như số lượng công nhân Việt Nam ở Đài Loan đã vượt trên 180.000 người, các cô dâu Việt Nam ở Đài Loan cũng vượt trên 100.000 người, những nhóm này đều sẽ trở thành mục tiêu chủ yếu để nhà lãnh đạo Thái Anh Văn tăng cường “chính sách hướng Nam mới”. Đặc biệt là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn trong thời gian tới chắc chắn sẽ tăng cường tác động tới “thế hệ thứ hai Đài – Việt” (thế hệ tiếp nối của đàn ông Đài Loan với cô dâu Việt Nam), lợi dụng họ thông thuộc hai thứ tiếng, mạng lưới quan hệ xã hội ở 2 nơi Đài Loan – Việt Nam để tăng cường mối liên hệ văn hóa xã hội Đài Loan – Việt Nam… Điều đáng quan tâm là trong bối cảnh tỷ lệ sinh ở xã hội Đài Loan hạ thấp, tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình mà đàn ông Đài Loan kết hôn với các cô dâu Đông Nam Á lấy Việt Nam làm đại diện lại tương đối cao, khiến cho tỷ lệ cái gọi là “thế hệ Đài Loan mới” trong cơ cấu dân số, đặc biệt là khu vực Trung, Nam bộ có xu thế tiếp tục tăng lên, được dư luận bên ngoài cho là “nhóm dân tộc thứ 5” chỉ xếp sau người Mân Nam, người Khánh Gia, người ngoại tỉnh và người bản địa. Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến kết cấu xã hội, môi trường chính trị của Đài Loan trong tương lai.

Ba là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn có thể thúc đẩy ký kết thỏa thuận kinh tế thương mại mang tính chức năng, tính cục bộ với Việt Nam. Trước tình hình ký kết hiệp định thương mại tự do với Việt Nam về cơ bản vô vọng, Chính quyền Thái Anh Văn xuất phát từ suy nghĩ thúc đẩy doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào Việt Nam, đi sâu hợp tác kinh tế song phương…, thúc đẩy có trọng điểm thỏa thuận kinh tế thương mại mang tính chức năng với Việt Nam. Tuy vào thập niên 90 của thế kỷ 20, Đài Loan và Việt Nam đã ký kết một thỏa thuận mang tính chức năng như đảm bảo đầu tư…, nhưng một số thỏa thuận cần thay đổi nâng cấp, năm 2014 sau khi các doanh nghiệp Đài Loan bị ảnh hưởng bởi “cuộc bạo động chống Trung Quốc”, Chính phủ Việt Nam vẫn chưa có sự đền bù hợp lý cần có, dự kiến trong tương lai việc thúc đẩy ký kết các thỏa thuận như đảm bảo đầu tư phiên bản nâng cấp… sẽ trở thành trụ cột để Chính quyền Thái Anh Văn tăng cường hợp tác kinh tế với Việt Nam.

Xây dựng “Vành đai và Con đường” có sức hút khá mạnh đố với các doanh nghiệp Đài Loan ở Việt Nam

Qua chuyến thăm Việt Nam, tác giả bài viết phát hiện ra rằng các doanh nghiệp Đài Loan ở nơi đó, đặc biệt là các doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch từ Trung Quốc Đại lục sang có tình cảm rất sâu sắc đối với Trung Quốc Đại lục, vẫn có mối liên hệ kinh tế khá mạnh với Đại lục. Nhiều doanh nghiệp Đài Loan sau khi sang Việt Nam đầu tư vẫn thuê một số lượng lớn cán bộ quản lý quốc tịch Đại lục, đồng thời đặt các bộ phận cốt lõi như nghiên cứu phát triển, thiết kế, mua sắm… ở Đại lục. Có thể nói những doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch sang Việt Nam này không phải là các doanh nghiệp Đài Loan đơn thuần, ở mức độ nào đó đã trở thành “hiệp hội doanh nghiệp hai bờ eo biển”. Những doanh nghiệp này kỳ vọng rất lớn đối với việc xây dựng “Vành đai và Con đường”, hy vọng dựa vào việ xây dựng “Vành đai và Con đường” để tiến vào khu công nghiệp mà Đại lục thành lập ở Việt Nam, đồng thời mong muốn có thể được sự bảo hộ lãnh sự và ủng hộ chính sách của Đại lục. Nhiều doanh nghiệp Đài Loan cho rằng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc Đại lục ở Việt Nam rất lớn, “chính sách hướng Nam mới” của Chính quyền Thái Anh Văn và việc xây dựng “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc Đại lục hoàn toàn không phải là cùng cấp độ, triển vọng tương lai của các doanh nghiệp Đài Loan đáng lo ngại.

Xét về tổng thể, trong bối cảnh quan hệ Trung – Việt duy trì ổn định và việc xây dựng “Vành đai và Con đường” tăng cường thúc đẩy, Chính quyền Thái Anh Văn ra sức thúc đẩy “chính sách hướng Nam mới” ở Việt Nam khó có thể đạt được hiệu quả thực chất trên phương diện chính trị và “ngoại giao”. Nhưng cùng với nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phát triển nhanh chóng, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam tuy đối mặt với ngày càng nhiều trở ngại, mà khó có thể tái hiện được tình hình phát triển tốc độ cao như trước đây, nhưng vẫn có không gian tăng trưởng khá lớn, quan hệ kinh tế Đài Loan – Việt Nam trong tương lai có hy vọng tiếp tục phát triển sâu sắc. Dựa vào đó, nhà lãnh đạo Thái Anh Văn rất có thể sẽ dựa vào hoạt động của các doanh nghiệp thị trường đầu tư vào Việt Nam để rêu rao thành tích chính trị “chính sách hướng Nam mới” của bà ở Đài Loan nhằm dựa vào đó để đạt được nhiều lợi ích hơn trên các phương diện như bầu cử… Đồng thời, Chính quyền Thái Anh Văn rất có thể dựa vào “chính sách hướng Nam mới” để thúc đẩy hợp tác giao lưu trên một loạt phương diện như văn hóa, giáo dục, y tế…, ở Việt Nam, nhằm từng bước xóa bỏ nhận thức “Một nước Trung Quốc” của người dân Việt Nam. Đối với vấn đề này, phía Đại lục cần phải coi trọng và đề phòng cao độ.

Nguồn: Tạp chí “Tri thức thế giới” (TQ), số 19/2017

TLTKĐB – 04/11/2017

Những đặc tính của thăng bằng xã hội – Phần cuối


Các hình thái kháng lại những đứt gãy thăng bằng

Sinh học cho chúng ta nhiều thí dụ về cách mà các sinh thể sống trong trạng thái thăng bằng với môi trường vừa bên trong vừa bên ngoài. Những cái riêng thuộc của một cơ chế, cái vừa làm thành bản chất và vừa sự tồn tại của nó, là đặc tính duy trì cách tự sinh những đặc điểm của các cấu trúc và sự thăng bằng nội tại của nó. “Tính cố định của một môi trường nội tại, Claude Bernan nói, là điều kiện của đời sống tự do”.

Sinh học hiện đại đã đặt tên là tự điều chỉnh thăng bằng cho đặc tính các cơ chế sống là duy trì tương đối bất biến một tình trạng thăng bằng nào đó. Khi một tổn hại hay một rối loạn nhất thời đến làm nhiễu loạn sự thăng bằng của các cơ chế chúng ta, thì lập tức một số lớn những phân tố được sinh ra từ các chức năng khác nhau của chúng ta bèn liên hợp nhau lại và hỗn hợp hiệu quả của chúng lại để tái lập thăng bằng. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo tình trạng cơ chế,… diện mạo của sự chống đỡ có thể thay đổi rõ rệt.

Cái mới nhất trong số máy điều khiển, cái homéosta của M.H. Ashby, sản xuất lại trong một chừng mực nhất định những cơ cấu (mécanismes) phức tạp hơn rất nhiều của sinh lý học, những cơ chế điều động nhiều điều chỉnh tự động (régulations homéostatiques) mà mỗi điều chỉnh này ảnh hưởng đến điều chỉnh khác. Máy này tự nó tìm ra một thăng bằng được dự định bởi một sự vận động bù trừ, bất kể những nhiễu loạn mà người ta giáng vào nó. Nhưng – và đây chính là cái họ hàng với các cơ chế – nó tự chọn lấy sự phối hợp thích đáng. Chiếc máy sử dụng, tác giả nó nói, một sự lựa chọn từ 390.425 sự phối hợp khả thể về kháng lại trong những chu trình của nó để đạt tới hiệu quả bù trừ cân đối những nhiễu loạn trong một thời gian dài hay ít, có thể kéo dài được trong vài ngày. Như thế, ta thấy hệ số bất định và lựa chọn lớn biết bao nhiêu. Điều này nhắc nhở và xác nhận câu của Bergson: “Một hệ thần kinh là một bình chứa sự bất định”.

Mọi lực có xu hướng làm tan vỡ các thăng bằng hiện hữu, đều gây nên những kháng lại hữu thức hay không trong nội tại các nhóm bị đe dọa, ấy là những phản ứng nội tại hay ngoại tạo về phòng thủ hay về tái lập thăng bằng. Cũng như thế, các xu hướng xã hội tự gây ra cho bản thân chúng những trở lực riêng của chúng. Những trở lực ấy có thể đến từ sự kháng lại của sự vật hay của môi trường, như trong kinh tế chính trị học là trường hợp quy luật hiệu suất suy thoái, quy luật địa tô,… Chúng có thể nằm trong sự gây nên các tinh thần những phản bác hay những luận cứ ủng hộ những thể chế điều hòa hay cả ngược lại nữa nhằm để làm đối trọng.

Nhưng cũng rất có thể đi đến chỗ, hoặc do những biến hóa sâu sắc, hoặc do sử dụng sức mạnh, hoặc sử dụng một sự tuyên truyền khẩn thiết và nghiêm ngặt, người ta đi đến cấm chế hay bóp nghẹt những phản ứng tái lập thăng bằng ấy. Khi ấy có thể sản sinh ra tất cả các thứ bậc hướng hay phản ứng nói chung là bất khả tiên liệu. Cũng như có thể xảy ra những bùng nổ đột ngột và tai ương của những xu hướng bị dồn nén và chậm muộn trong các phương tiện biểu thị và phương tiện hành động của chúng.

Khi các lực lập lại thăng bằng và các kháng cự cảm ứng (mà chúng tôi gọi như thế là theo cách loại suy với cảm ứng điện) khôn gđủ để chống giảm những lạc hướng, thì sự thăng bằng bị tan vỡ. Từ đây trở đi, trở thành không thể quay trở lại tình thế dù chỉ xuýt xoát với tình thế gần với điểm xuất phát. Sự dao động không còn là dao động nữa; nó trở thành sự lộn nhào, tức là sự biến diệt một kiểu loại cấu trúc.

Cũng tình thế ấy sẽ trình ra khi một trong những phân tố hợp thành một hệ thống bị biến đổi hay bị phá hoại sâu sắc hoặc ngược lại khi nó bị quá lớn. Trong tất cả các trường hợp ấy, sự vận động bình thường của các dao động và các chu kỳ không thể tiếp tục được nữa. Một sự thay đổi cấu trúc bao hàm một phân bố mới các phân tố và các lực hiện diện, một nhịp độ mới về dao động sẽ sinh ra. Là như thế thí dụ khi trong một xã hội các chỉ số thống kê rất quan trọng thay đổi một cách ổn định hay khi các yếu tố cơ bản của tâm cách thống trị đi đến biến hình.

Các thăng bằng có thể bị đứt gãy vì những nguyên nhân ngoại hay nội tại.

Cần phân biệt giữa các dao động và các đứt gãy thăng bằng. Dao động là một sự thay đổi trong các tỷ lệ tương ứng. Thí dụ, sự sản xuất vượt quá sự tiêu thụ hoặc đổi lại. Trong trường hợp ấy, bằng sự vận động của các hiện tượng bù trừ (cung và cầu, lên giá hay xuống giá, kích thích hay không kích thích sự sản xuất) sự thăng bằng thiên về được lặp lại.

Người ta có thể nói sự đứt gãy thăng bằng khi dao động đạt tới một thời hạn cường độ không bình thường  (amormales). Trong trường hợp ấy, dao động thiên về những cải biến về cấu trúc. Thí dụ sự hạ giá hàng sẽ đến mức không gây ra một sự trì trệ đơn giản của sự sản xuất mà gây ra sự biến diệt đồng thời cho một xí nghiệp. Người ta có thể phân biệt giữa các cuộc chiến tranh, những cuộc có thể tiếp tục vô hạn định như các cuộc chinh phục thuộc địa, với những cuộc gây nên một mất thăng bằng bởi chúng tiêu lớn hơn sự tiết kiệm kinh tế khả dụng và ngốn người hơn sự gia tăng bình thường của dân số, hoặc vì nó áp đặt vào một số nhóm của dân tộc một lao dịch quá sức không thể chịu đựng mãi được.

Trong xã hội hiện đại, những giao thoa và những hệ quả về tan vỡ thăng bằng ngày càng được rộng thêm. Ngày xưa, mỗi cái chỉ ảnh hưởng trên một địa bàn nhỏ. Ngày nay, sự phát minh bởi một nhà hóa học (hơn nữa lại là một nhà hóa học nghiệp dư) Pháp ra tơ nhân tạo đã cuối cùng đi đến gây sự phá sản của nông dân Nhật Bản… Cuộc chiến tranh ly khai đã nhất thời tàn phá kỹ nghệ bông châu Âu… Các thăng bằng xã hội có thể do từ những nguyên nhân tâm lý. Những khó khăn lớn của thời đại ngày nay chắc chắn do từ trong lĩnh vực khoa học, các khả năng về thám cứu của chúng ta hiện vượt khỏi khả năng về lĩnh hội. Cuộc khủng hoảng nặng nề về cấu trúc từ ba chục năm nay trong nền kinh tế các dân tộc do từ chỗ kỹ thuật của sự sản xuất đã vượt qua kỹ thuật của sự phân phối vừa cả các sản phẩm tiêu dùng vừa cả lao động.

Một số tác giả đánh giá rằng mọi thăng bằng xã hội có một tầm cỡ nào đó đòi hỏi một đồng giác tối thiểu (un consensus minimum) của các bộ phận và một tối thiểu nhịp nhàng của các hữu quan, nếu không các giai cấp bị hy sinh sẽ khởi loạn hoặc tàn tạ: như các nhân tố tín ngưỡng và tâm cách.    Chứng cớ tốt nhất là, trong nhiều trường hợp, chính là các giai cấp bị hy sinh hoặc rất bị thiệt thòi là những người sinh đẻ và tăng trưởng nhiều hơn cả.

Thông thường sự dự liệu làm giảm bớt đi và như vậy là đi đến giảm nhẹ kết quả của những mất thăng bằng. Như thị trường dự kiến địa tô và nhập thể trước nó vào giá cả. Ấy cũng là chức năng của sự đầu cơ có hạn kỳ (spéculation à terme), và của sự kế hoạch hóa mà hệ quả là, nói chung, làm giảm nhẹ các dao động giá cả. Những dịp khác sự thăng bằng dự báo (l’esquilibre d’anticipation) gây nên những phản ứng ngược lại với những kết quả tìm kiếm nó. Nó là cội nguồn của nhiều cái vòng luẩn quẩn (cereles vicieux). Thí dụ sự tiên liệu một khủng hoảng kinh tế sẽ tạo trước một khí hậu khủng hoảng. Sự sợ hãi chiến tranh và những chuẩn bị quá đáng do nó kích động cuối cùng sẽ đi đến làm nảy ra một xung đột…

Một dạng thái khác của xu hướng đi tới sự tự điều chỉnh của các hiện tượng, là trong các xã hội, giống như trong các cơ chế, thường hay thấy một bộ phận chịu hy sinh để cứu vãn cái toàn bộ. Sự hy sinh ấy đôi khi dưới hình thức một sự tăng thêm công việc, những thiếu thốn được chấp nhận. Như khi một bộ phận người đảm nhận sự hy sinh đặc biệt nặng nề, như trong các cuộc chiến tranh hay trong các cuộc cách mạng. Đó là những phản ứng tuyệt vọng mà các mất thăng bằng xã hội gây nên.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Gaston Bouthoul – các cấu trúc xã hội hội học – NXB VHTT 2011.

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần I


Chia nhỏ Liên Xô và Nga

Bước ngoặt căn bản trong ý thức xã hội, xảy ra dưới tác động thông tin – tâm lý, đã đè bẹp khả năng con người liên kết với nhau trong hoàn cảnh xảy ra để chống lại nó. Các từ – biểu tượng “dân chủ” – bí danh chương trình hủy hoại Nhà nước, “cải cách” – bí danh chương trình phá hủy kinh tế quốc dân được nhồi nhét và nhận thức người dân. Đó là những từ không mang ý nghĩa thực tế (thực ra chúng vẫn chưa được giải thích) và ai muốn hiểu ra sao cũng được. Kết quả thực hiện các chương trình này về sức tàn phá là độc nhất vô nhị trong lịch sử thế giới.

Trên toàn thế giới đang xảy ra quá trình liên kết, nhưng Liên Xô bị xé nhỏ làm 15 phần và bộ máy kinh tế quốc dân thống nhất bị phá hủy. Nó gây ra thảm họa. Trong bài viết Nước Nga có cần siêu lý tưởng của P. Kosolapop (Sự thật, số 133, 22/12/1996) viết như sau:

Chúng ta, và trước hết là người Nga, bị chia cắt nhân tạo. Nhiều chính khách xoay quanh sự thực này như con mèo chạy quanh bát cháo nóng. Họ khóc lóc Liên Xô, thương hại người tị nạn, chửi rủa bọn chia rẽ, nguyền rủa đám hải ly Belovegiơ (những người ký kết hiệp định Belovegiơ giải tán Liên Xô), nhưng họ vẫn không chịu nhận thức rằng, trong lịch sử chưa từng có sự chia cắt quy mô đến thế. Dấu hiệu dân dã đầu tiên của một dân tộc là tiếng mẹ đẻ, nếp sống và văn hóa. Chúng không khác nhau ở người Belarus, đại Nga và tiểu Nga, cả cộng đồng Kazak. Tiếng Nga vĩ đại có hơn 80% người Belarus sử dụng, là tiếng mẹ đẻ cho 28% người không phải người Nga tại Liên bang Nga, toàn bộ dân trung và đông Ukraine đều dùng tiếng Nga”.

Người Nga và các dân tộc khác ở Nga rơi vào tình trạng rất nặng nề. Latvia và Estonia thiết lập chế độ diệt chủng. Dân nói tiếng Nga (họ dùng thuật ngữ này) mất quyền công dân, kể cả quyền bầu cử. Các trường dạy bằng tiếng Nga lần lượt bị đóng cửa. Bằng sự giúp đỡ của phương Tây “người nói tiếng Nga” trên thực tế không được coi là người. Người Nga bị coi khinh cả nhiều nơi khác. Trong bài Những kẻ bị trục xuất “dân chủ” của A. Chichkin (Al Kodx số 7, tháng 3/1994) nêu các số liệu:

Trong số 388 nghìn người nói tiếng Nga số tại Tajighistan trước năm 1989, 200 nghìn người rời đi trong thời gian 89 – 91, 1992 – 75 nghìn, 1993 – 85 nghìn…”. Hãng AF đưa tin 18 tháng 12 năm 1993: “Trên thực tế, tại vùng Trung Á người Nga bị coi là những phần tử không được hoan nghênh. Họ cần phải hoặc theo đạo Hồi, hoặc ra đi”.

“…Đêm đến, người ta đến nhà chúng tôi ở Osa và chửi bới chúng tôi là kẻ ngoại bang, hãy cút về Nga. Chúng bảo: “Ở đó có nhiều loại người như chúng bay”… Sáng hôm sau, họ báo cho chúng tôi biết tàu hàng đã chờ sẵn ngoài ga để đưa chúng tôi về Nga. Chuyện đó xảy ra khắp nơi, không chỉ đối với người Nga, mà cả các dân tộc khác như Ukraine, Belarus…”

Tàu hàng chở chúng tôi đi hàng nghìn cây số trong điều kiện mất vệ sinh như chở súc vật! Còn phương Tây “lịch sự”, “chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho nhân quyền” câm lặng trước sự diệt chủng đó”.

Tai họa đến với mọi dân tộc Liên Xô. Xung đột và căng thẳng sắc tộc được thổi bùng khắp nơi, từ Nagorno-Karabakh đến Nam Osertia, Abkhazia, Pridnextrovie. Quảng đại quần chúng bị phá sản, rơi vào cảnh bần cùng, chết dần mòn. Bước tiếp theo là chia nhỏ nước Nga. Ngay từ đầu cải cách chủ nghĩa ly khai đã được cổ vũ. Các địa phương được khuyến khích giành chủ quyền, càng nhiều càng tốt. Tình hình Bắc Caucasus đặc biệt phức tạp khi cuộc xung đột Cheschnia bùng nổ. Thực chất, cuộc xung đột này được tổ chức tại Moskva, phục vụ cho quyền lợi nhiều nhóm người, từ tranh giành quyền lực đến việc tiêu thụ trang bị vũ khí, thuốc men, quân lương quá hạn. Tình hình Daghestan, Osertia-Ingusetia cũng chẳng kém.

Nhưng những sự kiện chính lại xảy ra tại Siberia và Viễn Đông. Hạ tầng cơ sở tại Bắc Nga bị lần lượt thủ tiêu. Thành phố và làng mạc bị bỏ mặc. Nhu yếu phẩm chỉ được chở đến nhỏ giọt. Dân bỏ nơi sinh sống ra đi cầu thực, chết mòn. Tình hình Viễn Đông thật nặng nề, ngân sách được cấp quá ít so với nơi khác. Đó là sự thực thi chiến dịch giảm dân số Siberia và Viễn Đông, thiết lập sự chiếm đóng (kiểm soát) của Mỹ đối với vùng lãnh thổ mênh mông, không còn dân, nơi tập trung hầu như toàn bộ tài nguyên thiên nhiên phong phú không tưởng tượng nổi.

Quá trình chia vùng lãnh thổ Nga vẫn tiếp tục. Có đến 89 chủ thể được khuyến khích độc lập với hiến pháp riêng, thường đối lập với hiến pháp Nga. Chiến dịch ồn ào của phương tiện thông tin đại chúng hô hào chống Belarus, lá chắn phía Tây cho Nga từ phía NATO, có tính điển hình.

Thủ tiêu nền công nghiệp

Liên Xô là một cường quốc công nghiệp. Các xí nghiệp liên kết với nhau bằng trăm nghìn mối quan hệ và tạo thành một cơ thể sống thống nhất. Có hệ thống năng lượng thống nhất, mạng đường sắt thống nhất, đường không thống nhất, xăng dầu thống nhất. Nhiều xí nghiệp, đặc biệt là Tổ hợp công nghiệp Quốc phòng, rất độc đáo và có trình độ kỹ thuật cao. Hệ thống quản l1y cũng thống nhất – đó là nền kinh tế có kế hoạch.

Nhưng chiến tranh thông tin – tâm lý đã làm cho người dân hiểu sai sự thật. Kinh tế quốc dân được coi là tập hợp các xí nghiệp độc lập như thế kỷ trước. Kinh tế bị đánh tả tơi. Đối với phương Tây, ý thức xã hội của dân Nga như vậy và người dân không còn khả năng đánh giá khách quan tình hình, không còn khả năng chống trả, có nghĩa là Nga trở thành Clondake huyền thoại, cho phép họ xâm chiếm dễ dàng tài nguyên nằm ngay dưới chân: công nghệ hiện đại nhất, thành tựu khoa học cơ bản nhất, các xí nghiệp độc đáo, nguyên, vật liệu chiến lược. Tất cả cái đó là của dân bản xứ – Nga, tựa như người da đỏ thời bị phương Tây cướp bóc, diệt chủng.

Một trong các tác giả của cuốn sách Tư nhân hóa thâm độc (Lixichkin B.A., M.:1997) đã phân tích chi tiết quá trình tiêu diệt nền công nghiệp, cướp bóc tài sản và cơ chế thực hiện các quá trình này. Cái mà phương Tây dùng quá trình tư hữu hóa đã làm ở Nga là độc nhất vô nhị trong lịch sử thế kỷ XX. Xin dẫn một vài số liệu trong quyển sách này:

Tổn thất do quá trình tư hữu hóa lớn hơn hai lần tổn thất do Đại chiến thế giới thứ II (1941 – 1945) gây ra cho Nga và vượt quá mọi sức tưởng tượng.

Phân tích sơ bộ 500 xí nghiệp lớn nhất của Nga bị Chubais cho tư hữu hóa bằng chứng khoán dẫn đến những kết luận kinh hoàng sau đây:

Trong số 500 xí nghiệp lớn nhất của nước Nga thì gần 80% các xí nghiệp đó được bán đấu giá với giá dưới 8 triệu USD mỗi xí nghiệp. 324 nhà máy được bán với giá dưới 4 triệu USD. Uralmas với 34 ngàn công nhân giá 7,3 triệu USD. Nhà máy cơ khí Covrov, nơi sản xuất vũ khí bộ binh cho toàn bộ quân đội, Bộ Nội vụ, các đơn vị đặc chủng với 54,3 nghìn công nhân bán 2,2 triệu USD. Để so sánh, một xưởng bánh mì hạng trung ở châu Âu giá khoảng 2 triệu USD, nhà máy chế biến giò hạng trung của Thụy Sĩ giá 3,5 triệu USD. Bè cũ Chubais đổi nhà máy máy kéo Treliabinsk lấy xưởng bánh mì.

500 xí nghiệp bị bán đổ bán tháo. Bọn đầu cơ, hay còn được gọi là chủ sở hữu chiến lược từ lớp “người Nga mới” hoặc ngoại quốc núp bóng các công ty đã mua hết những xí nghiệp lớn nhất. Nhân vật Timophayev ở Tiumen mua 210 triệu cổ phiếu của Liên hiệp “Gazprom” hết 2,2 tỷ USD, còn tay Cakha Bendukidze người Gruzia mua 51% cổ phiếu “Uralmas” và trở thành ông chủ tuyệt đối của xí nghiệp quốc phòng lớn nhất, toàn quyền quyết định vận mệnh 34 ngàn công nhân. Gói cổ phiếu khống chế của các xí nghiệp sản xuất nhôm Vùng Brarxcơ và Crasnoiaxcơ bị đám anh em nhà Triôrnưi di tản từ Liên Xô sang Israel mua trọn. Tư hữu hóa toàn bộ công nghiệp nhôm trở thành vụ scandal lớn ở Nga.

Giá của các xí nghiệp quốc phòng bị các cố vấn Mỹ của Chubais cố tình dìm xuống. Tay chuyên viên người Mỹ D. Hay là người CIA thông qua hãng “Granic” của Nga đã mua nhà máy thử nghiệm của Viện nghiên cứu “Grafit” và 30% cổ phiếu của nhà máy điện cực Moskva, trở thành ông chủ của Tổ hợp công nghiệp quốc phòng đặc biệt, nơi chuyên sản xuất grafit cho tên lửa. Là ông chủ, Hay bắt các xí nghiệp đó phải từ chối các đơn đặt hàng của Bộ đội tên lửa – vũ trụ Nga, phải nhận các đơn đặt hàng của Mỹ. Quá trình tư hữu hóa của Chubais gây tổn thất vô cùng lớn cho khả năng phòng thủ của Nga.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Hạn chế của chủ nghĩa tư bản mang đặc sắc cộng sản


Brahma Chellaney

Khi Tổng thống Mỹ Barack Obama chuẩn bị cho chuyến thăm lịch sử tới Cuba, tương lai của đảo quốc cộng sản này đang là chủ đề đồn đoán của nhiều người. Một số nhà quan sát hy vọng rằng sự thay đổi hướng về chủ nghĩa tư bản, vốn đã diễn ra từ từ trong suốt 5 năm Raul Castro cầm quyền, sẽ tự nhiên dẫn Cuba tiến tới dân chủ. Nhưng kinh nghiệm lại cho thấy điều ngược lại.

Thực tế, tự do hóa kinh tế khác xa với con đường chắc chắn dẫn đến dân chủ. Không có gì minh họa cho điều này rõ hơn chế độ chuyên chế lớn nhất và lâu đời nhất của thế giới, Trung Quốc, nơi mà Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) duy trì quyền thống trị của mình ngay cả khi các cải cách theo hướng thị trường đã làm nền kinh tế tăng trưởng mạnh. (Một người hưởng lợi chính từ quá trình này là quân đội Trung Quốc.)

Niềm tin rằng chủ nghĩa tư bản sẽ tự động mang lại dân chủ bao hàm một sự kết nối về ý thức hệ giữa hai khái niệm này. Nhưng sự thống trị của ĐCSTQ – hiện đang có 88 triệu thành viên, nhiều hơn cả tổng dân số Đức – không còn bắt nguồn từ ý thức hệ. Đảng, đại diện bởi một nhóm lãnh đạo khép kín, duy trì quyền lực bằng cách sử dụng một loạt các công cụ – cưỡng chế, tổ chức, và khen thưởng – để ngăn cản sự xuất hiện của một tổ chức đối lập.

Trong một chỉ thị vào năm 2013, được gọi là “Tài liệu số 9”, bảy mối đe dọa đến sự lãnh đạo của ĐCSTQ mà Chủ tịch Tập Cận Bình có ý định loại bỏ đã được liệt kê ra, bao gồm: việc ủng hộ “nền dân chủ lập hiến phương Tây,” thúc đẩy “các giá trị phổ quát” về nhân quyền, khuyến khích “xã hội dân sự”, những lời chỉ trích phủ nhận sạch trơn về quá khứ của đảng, và tán thành “các giá trị truyền thông phương Tây.”

Tóm lại, chủ nghĩa cộng sản hiện nay ít tập trung vào bản chất – tức ý thức hệ của nó – và tập trung nhiều hơn vào những điều khác. Các đại diện của nó đều cam kết ưu tiên giữ vững quyền lực chính trị – một nỗ lực được hỗ trợ bởi sự thịnh vượng kinh tế mà chủ nghĩa tư bản mang lại – bằng cách giúp ngăn chặn nhu cầu đòi thay đổi.

Câu chuyện ở Việt Nam và Lào cũng tương tự như vậy. Cả hai đều bắt đầu phi tập trung hóa nền kinh tế và khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân ngay từ những năm cuối thập niên 1980, và giờ đây đã thuộc vào hàng những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á. Việt Nam thậm chí còn là một thành viên của Hiệp định TPP. Nhưng nhà nước độc đảng vẫn giữ vững quyền lực và tiếp tục kiểm soát chính trị.

Mọi thứ dường như sẽ không thay đổi trong tương lai gần. Tại Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, vị thủ tướng có đầu óc cải cách, gần đây đã thất bại trong nỗ lực trở thành Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản (lãnh đạo tối cao của đất nước); Tổng Bí thư đương nhiệm Nguyễn Phú Trọng đã tái đắc cử trong Đại hội Đảng lần thứ 12.

Ngoài việc cung cấp đầy đủ lợi ích vật chất để giữ cho người dân hài lòng, chủ nghĩa tư bản còn tăng cường khả năng đàn áp nội bộ và kiểm soát thông tin của các nhà nước cộng sản. Một ví dụ là “Vạn Lý Tường Lửa” (Great Firewall) khét tiếng của Trung Quốc, một công cụ của chính phủ nhằm kiểm soát và ngăn chặn nội dung trên mạng Internet, tạo ra một khu vực thông tin chính trị “sạch” cho công dân. Trung Quốc là nước lớn duy nhất trên thế giới có ngân sách dành cho an ninh nội bộ còn lớn hơn ngân sách chính thức cho quốc phòng.

Đối mặt với bất ổn kinh tế hiện nay tại Trung Quốc, việc kiểm soát thông tin trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để ngăn chặn mọi nguy cơ, lãnh đạo Trung Quốc ngày càng bịt miệng giới báo chí, nhất là hạn chế các báo cáo hoặc bình luận có thể ảnh hưởng xấu đến giá cổ phiếu hay tiền tệ. Ông Tập đã yêu cầu các nhà báo hứa “trung thành tuyệt đối” với ĐCSTQ, và theo sát sự lãnh đạo của Đảng trong “tư tưởng, chính trị và hành động.” Một tờ báo của nhà nước khi cảnh báo “tính chính danh của Đảng có thể suy giảm” đã lập luận rằng “phương tiện truyền thông quốc gia đóng vai trò thiết yếu đối với sự ổn định chính trị.”

Rõ ràng, ở những nơi mà những người cộng sản nắm quyền, sự phát triển thị trường tự do cho hàng hóa và dịch vụ không nhất thiết dẫn đến sự xuất hiện của một thị trường các tư tưởng (marketplace of ideas). Ngay cả Nepal, một nước do những người cộng sản chi phối nhưng có tổ chức bầu cử, cũng không thể biến tự do hóa kinh tế thành một quá trình chuyển đổi dân chủ đáng tin cậy. Thay vào đó, chính trị của nước này vẫn biến động, khủng hoảng chính trị và khủng hoảng hiến pháp đang phá hoại danh tiếng của họ như là một vùng đất yên bình và đe dọa biến họ trở thành một quốc gia thất bại.

Có vẻ như dân chủ và chủ nghĩa cộng sản loại trừ lẫn nhau. Nhưng chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản rõ ràng không như vậy – và điều này có thể rất nguy hiểm.

Thực tế, “cuộc hôn nhân” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, dẫn đầu bởi Trung Quốc, đã sinh ra một mô hình chính trị mới – tạo ra thách thức trực tiếp đầu tiên đối với nền dân chủ tự do kể từ thời chủ nghĩa phát xít: đó là chủ nghĩa tư bản chuyên chế. Với sự tăng trưởng ngoạn mục để trở thành một cường quốc hàng đầu thế giới chỉ trong thời gian ít hơn một thế hệ, Trung Quốc đã thuyết phục được các chế độ chuyên quyền ở khắp mọi nơi rằng chủ nghĩa tư bản chuyên chế – hoặc, như các nhà lãnh đạo Trung Quốc gọi là “chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc” – là con đường nhanh nhất và bằng phẳng nhất để đến với thịnh vượng và ổn định, tốt hơn nhiều so với những cuộc bầu cử chính trị lộn xộn. Điều này có thể giúp giải thích tại sao sự mở rộng của dân chủ trên toàn thế giới gần đây đã bị đình trệ.

Chuyến thăm Cuba sắp tới của Obama nên được xem là dấu hiệu của sự kết thúc chính sách cô lập Cuba không khôn ngoan của Mỹ – một bước tiến có thể sẽ mở đường cho việc dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại đã kéo dài 55 năm qua đối với Cuba. Nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu cho rằng sự mở cửa kinh tế của Cuba, được đẩy mạnh nhờ động thái xích lại gần do Obama khởi xướng, nhất thiết sẽ mở ra một kỷ nguyên chính trị mới ở nước này.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Brahma Chellaney, “The Limits of Capitalism with Communist Characteristics”, Project Syndicate, 04/03/2016.

Nghiencuuquocte.org

Brahma Chellaney, giáo sư ngành Nghiên cứu Chiến lược tại Trung tâm Nghiên cứu Chính sách ở New Delhi, học giả tại Viện Robert Bosch ở Berlin, là tác giả của chín cuốn sách, bao gồm: Asian Juggernaut, Water: Asia’s New Battleground và Water, Peace and War: Confronting the Global Water Crisis.

Hoạt động kinh tế siêu vĩ mô – Phần V


Nước Mỹ mua tài sản của các nước khác để bảo đảm tiến trình tiền ảo của họ biến thành tư bản được diễn ra thuận lợi. Các nhà tư bản Mỹ tìm người bản địa để giao quyền cho họ. Việc sản xuất ra tiền ảo dẫn tới sự thống nhất của các nhóm tư bản lại thành một khối duy nhất vì như vậy mới bảo đảm được sự gia tăng, ổn định, bành trướng liên tục tư bản, mới bảo đảm được sự gia tăng khủng khiếp của tư bản, trong đó mức siêu lợi nhuận vẫn được người ta quan niệm thật ra chẳng thấm tháp vào đâu, và mở rộng sự thống trị, gây ảnh hưởng của tư bản đó ra tầm quốc tế và với những nước đang phát triển nhất thì mở rộng ra toàn cầu. Điều dễ hiểu là tư bản ở các nước phát triển nhất không dễ đầu tư vào các nước đang phát triển ở trình độ còn thấp vì không bõ công phải làm như vậy. Vì thế dù có mời gọi đầu tư, dù có ưu đãi này nọ thì không bao giờ là đủ hấp dẫn đối với các nhà đầu tư ở các nước phát triển cả. Chỉ khi nào nước đang phát triển ở trình độ còn thấp sản xuất ra cơ hội để tiến trình sản xuất ra tiền ảo của các tư bản nước ngoài đủ lớn thì mới có cơ may thu hút được dòng đầu tư từ các nước phát triển nhất.

Các nhóm tư bản trong một nước đều có khả năng sản xuất ra tiền ảo bằng việc cấp tràn lan các loại tín dụng không có bảo chứng. Cuộc khủng hoảng 1929 – 1933 thể hiện rằng tiến trình làm tiền ảo vô tổ chức dẫn đến tai họa cho tất cả. Việc cung cấp tiền ảo trong xã hội không phải là một lượng vô hạn mà chỉ là có hạn nên cần có sự điều tiết. Thứ quyền lợi vô cùng to lớn là vị thế sản xuất được tiền ảo này vô cùng hấp dẫn. Đó là nhu cầu để thống nhất các nhóm tư bản trong một nước lại để phân chia tài sản xã hội, để tránh được tai họa chung cho tất cả. Người ta đã phân chia sẵn tài sản trước khi tài sản đó có thật. Điều này đòi hỏi một động thái hoàn toàn khác với suy nghĩ thông thường. Vấn đề hàng hóa biến thành tiền là một bước nhảy chết người, theo như cách nói của Marx, mà không phải hàng hóa nào cũng vượt qua được, mà đó là nhu cầu thiết yếu để một loại tư bản nào đó duy trì sức sống và sự tồn tại của mình, thì nay các nhà tư bản đã làm được điều này trước khi mà các hàng hóa đó ra đời.

Việc chuyển tiền ảo cho các doanh nghiệp là điều không đơn giản. Không có lý do gì một doanh nghiệp được nhận tiền, nếu không có những lý do đặc biệt vì điều này là vấn đề rất nhạy cảm trong xã hội, sẽ gây ra những xáo động, bất công cho xã hội, và các thế lực chính trị lợi dụng. Tiến trình này phải trải qua nhiều bước mới dẫn đến sự hoàn thiện về sau. Đầu tiên là người ta dùng nhà nước để làm các công việc sản xuất, kiểm soát và phân phối tiền ảo. Nhưng khi phát minh ra các tạo phẩm phi vật thể có giá của chúng, khi mà xã hội chấp nhận rằng giá trị thương hiệu của một hãng có giá hơn tất cả các giá trị tài sản vật chất hữu hình của một hãng thì tổ chức của các trùm tư bản mới tìm ra cách thức chuyển tiền ảo cho các doanh nghiệp được, từ đó tổ chức này trực tiếp làm được công việc sản xuất, kiểm soát và điều phối tiền ảo, không cần qua trung gian là nhà nước nữa. Thông qua thị trường chứng khoán, tổ chức của các trùm tư bản bơm tiền vào doanh nghiệp. Vì thế các doanh nghiệp mới có khả năng cạnh tranh, mới chống được việc làm hàng nhái, hàng giả. Việc một hàng hóa của doanh nghiệp làm ăn có uy tín bị làm nhái, làm giả thì những sản phẩm bị làm nhái, làm giả đó vẫn đem lại cho doanh nghiệp giá trị thương hiệu. Giá trị đó cần phải được đánh giá và được tính đến và chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô làm việc đó. Đó chính là cách thức bảo vệ được các doanh nghiệp có cơ hội phát triển thành các tập đoàn kinh doanh mạnh trong tương lai.

Trong nước đang phát triển, chỉ riêng việc các doanh nghiệp tìm ra cách chống lại các loại hàng nhái hàng giả đã là rất vất vả. Kinh tế siêu vĩ mô trang bị cho các doanh nghiệp đạt được hiệu quả bằng cách tạo ra được những cách thức bơm tiền vào cho doanh nghiệp đó qua việc thúc đẩy thị giá chứng khoán cao lên và do đó có những hoạt động thúc đẩy doanh nghiệp đó phát triển. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có cách bù đắp doanh thu của các doanh nghiệp bị mất do hàng hóa của họ bị làm giả, làm nhái bằng việc kích cho cổ phiếu của các công ty đó tăng lên. Hàng nhái, hàng giả trong một nước không làm cho GDP chính thức của nước đó tăng lên, vì người ta không thể đưa các số liệu đó vào thống kê chính thức được, trong khi đó nước bị làm hàng giả hàng nhái cũng không làm gia tăng số liệu GDP chính thức được. Nhưng chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô lại làm được việc bổ sung vào xã hội các khoản tiền mà ngân sách thất thu, bổ sung vào xã hội các khoản tiền mà lẽ ra xã hội thu được từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ chưa bị đánh thuế. Chủ thể loại trừ tham nhũng bằng cách làm cho tham nhũng trở nên quá nhỏ bé với việc làm đàng hoàng, đồng thời khiến cho tham nhũng phải tính đến sự đối mặt với nhiều nguy cơ.

Trong hoạt động kinh tế siêu vĩ mô, che đậy thực chất sản xuất ra tiền ảo có tầm quan trọng không kém việc sản xuất ra tiền ảo. Trong những nước sản xuất được tiền ảo, người dân vẫn phải đóng thuế và điều đó tạo nên nghĩa vụ gắn kết xã hội. Để hấp dẫn được công chúng, khi phát hành lần đầu cổ phiếu của các hãng đầu tư thì chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô sản xuất ra tiền để kích giá cổ phiếu lên cao. Khi cổ phiếu đi vào ổn định, tự thân vận động được thì chủ thể không còn bơm tiền để giữ giá nữa, thậm chí rút tiền đã bơm vào.

Khi tiến hành phân bố tiền ảo, việc đầu tư ra nước ngoài là một hướng được ưu tiên. Định hướng xuất khẩu nhằm mục tiêu sản xuất ra tiền ảo của nước khác, và biến các tiền ảo đó thành tư bản bổ sung cho loại tư bản còn thiếu trong nước. Các công ty của Nhật có vốn vài chục nghìn USD đầu tư vào Việt Nam là để Nhật Bản không muốn mất đi những đồng USD thật. Sở dĩ đầu tưv ào Việt Nam là thay thế nhập khẩu vì đó là các hành vi biến tiền ảo thành tư bản.

Khi tiền ảo biến thành tài sản thật thì tiền ảo đó đã biến thành tiền thật, từ đó tạo ra vòng quay mới của tiền tệ. Tiền ảo nhưng có giá trị thanh toán thật. Chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có biện pháp giành độc quyền cho mình làm các công việc đó và dùng các công cụ mà mình chi phối trong tay để hạn chế các thế lực khác sản xuất ra tiền ảo của nước mình.

Những lĩnh vực nào mà tiền ảo dễ biến thành tiền thật, như vốn lưu động cho những doanh nghiệp chịu sự điều phối của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô thường được ưu tiên phân phối tiền ảo.

Có các đại công ty có thể sản xuất ra tiền ảo như “bốc phét doanh thu”, sử dụng các công ty kiểm toán để hợp thức hóa những số liệu ma, và nhiều thủ thuật khác, nhưng chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có biện pháp đưa vào trật tự. Một khi bị loại khỏi guồng bơm tiền ảo, không còn nhận được tiền ảo, bất kỳ doanh nghiệp nào, dù to lớn đến đâu, cũng bị sụp đổ.

Sản xuất ra tiền ảo là giải phóng các sức mạnh bị kìm giữ, do đó tạo nên những sức mạnh kinh tế mới của xã hội. Việc biến tiền ảo thành tư bản cần phải có rất nhiều thứ bổ trợ như tri thức khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý, bí quyết nghề nghiệp,…

Các nước phương Tây muốn biến tiền ảo thành tư bản thì cần phải có những thứ bổ trợ là công nghệ cao, công nghệ nguồn là những thứ mà họ không dễ dàng đưa đến các không gian địa lý khác vì nỗi lo bị mất cắp các bí quyết công nghệ, bí mật kinh doanh. Các công nghệ cao và công nghệ nguồn phục vụ cho việc sản xuất ra các kết hợp vĩ mô và siêu vĩ mô. Các ngành công nghiệp quốc phòng sản xuất ra các tạo phẩm phi vật thể và vật thể để tạo nên được các kết hợp vĩ mô, duy trì được các kết hợp vĩ mô.

c/ Các giới hạn

Hoạt động của chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô có những giới hạn nhất định. Một xã hội có thể sản xuất ra một lượng rất lớn tiền ảo và có cách đưa vào nền kinh tế mà không gây ra phản ứng tiêu cực trong xã hội, nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó. Điểm hạn chế của tư bản do tiền ảo mà một chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô nào đó tạo ra không thể cao hơn trình độ tư bản mà chủ thể đó chi phối, kể cả việc chủ thể đó sản xuất ra được những đồng tiền của những nước có trình độ phát triển tư bản đẳng cấp cao hơn. Việc sản xuất tiền ảo không thể cao hơn trình độ chung của khoa học công nghệ nước đó, và không thể cao hơn tình trạng chung của nền kinh tế nước đó. Có nghĩa là nếu một chủ thể điều hành kinh tế siêu vĩ mô của một nước đang phát triển có thể sản xuất ra đồng USD ảo thì tư bản của đồng USD ảo đó chỉ có thể là tư bản ở đẳng cấp của nước đang phát triển đó thôi, chứ không thể đạt được bằng các loại tư bản ở đẳng cấp của nước Mỹ được. Tình trạng này xảy ra với Nhật Bản, nước có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới. Ngay cả với đồng tiền thật thì tùy theo chủ thể sở hữu mà đồng tiền đó có đẳng cấp khác nhau. Đồng USD do Trung Quốc sở hữu có đẳng cấp thấp hơn đồng USD do Pháp sở hữu, và đồng USD do Pháp sở hữu có đẳng cấp thấp hơn đồng USD do Mỹ sở hữu. Đồng USD do Trung Quốc sở hữu không thể mua được những bí quyết công nghệ cao, thiết bị công nghệ nguồn cao do tư bản Pháp sở hữu. Đồng USD do Pháp sở hữu không thể mua được những bí quyết công nghệ cao, thiết bị công nghệ nguồn cao do tư bản Mỹ sở hữu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tống Quốc Đạt & Nguyễn Bình Giang – Kinh tế học siêu vĩ mô – NXB GTVT 2006.

Một số lý thuyết về phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội và việc vận dụng ở Việt Nam hiện nay – Phần VIII


Ngoài ra, ở các nước đang phát triển đã và đang thịnh hành một số lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế sau đây:

đ/ Lý thuyết cất cánh của W.W. Rostow

Lý thuyết này do nhà kinh tế Mỹ, Giáo sư W.W. Rostow đưa ra trong tác phẩm Các giai đoạn tăng trưởng kinh tế  (1961), nhằm nhấn mạnh các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Theo Rostow, quá trình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phải trải qua năm giai đoạn là: Xã hội truyền thống – Tiền cất cánh – Cất cánh – Xã hội trưởng thành – Tiêu dùng cao. Trong mỗi giai đoạn phát triển, tác giả chỉ ra những đặc điểm kinh tế – xã hội và những điều kiện ràng buộc phải giải quyết để chuyển sang giai đoạn sau. Theo sơ đồ của Rostow, “cất cánh” là giai đoạn trung tâm, giống như chiếc phi cơ chỉ cất cánh được khi đạt tốc độ giới hạn. Rostow cho rằng, nền kinh tế của một quốc gia chỉ bước vào giai đoạn “cất cánh” khi các giai đoạn trước đó đã cung cấp cho nó một xung lực nhất định. Theo ông, điều kiện để một nền kinh tế cất cánh là: 1 – Tỷ lệ đầu tư mới đạt trên 10% thu nhập quốc dân; 2 – Khu vực chế tạo, “lĩnh vực đầu tầu” phát triển với tỷ lệ tăng trưởng cao; 3 – Có một cơ cấu chính trị – xã hội cho phép khai thác các xung lực phát triển trong khu vực kinh tế hiện đại và đảm bảo một sự tăng trưởng liên tục. Trong giai đoạn “tiền cất cánh” sẽ tồn tại một sự bất bình đẳng lớn trong thu nhập như là một sự “tạo điều kiện” cho sự tích lũy và hình thành tư bản. Sự cất cánh của nền kinh tế được thúc đẩy bởi những “khu vực đầu tầu” như một thị trường xuất khẩu phát triển nhanh hay một ngành công nghiệp hiện đại có hiệu quả kinh tế trên quy mô lớn… Khi những khu vực đầu tư này đã phát triển thì sẽ xuất hiện một quá trình tăng trưởng tự thân – nền kinh tế bắt đầu cất cánh – tăng trưởng đưa lại lợi nhuận – lợi nhuận được tái đầu tư tư bản – năng suất và thu nhập tăng vọt – sự phát triển kinh tế đã diễn ra. Theo Rostow, động lực của quá trình này là quá trình công nghiệp hóa, là cái đã được thử nghiệm và chứng minh thành công ở Bắc Mỹ và Tây Âu cuối thế kỷ XIX. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Rostow là người theo thuyết quyết định luận kinh tế và kỹ thuật và sự phát triển trong mô hình hiện đại hóa hay lý thuyết cất cánh của ông về bản chất là sản phẩm của sự tăng trưởng kinh tế với những chỉ số như tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập bình quân đầu người, lượng tiết kiệm, mức độ đầu tư… Tuy nhiên, trên thực tế, Rostow vẫn cho rằng, động lực kinh tế không hoàn toàn là đơn nhất và quan trọng nhất đối với lịch sử. Ông nhấn mạnh: “Sự biến đổi kinh tế có căn nguyên từ chính trị và xã hội. Và về động lực con người thì rất nhiều sự thay đổi kinh tế căn bản là kết quả của các động cơ kinh tế”. Đối với ông, sự phát triển kinh tế không chỉ đòi hỏi các điều kiện kinh tế, kỹ thuật mà còn cần có các điều kiện khác như dân chủ và các thể chế xã hội và hệ thống giá trị thích hợp.

Dù sơ đồ phân kỳ của W.W. Rostow có đúng hay không, nhưng khái niệm “tiền cất cánh” và “cất cánh” của ông đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến các nghiên cứu về sự phát triển kinh tế, đồng thời phản ánh nội dung hiện thực trong quá trình phát triển, có giá trị tham khảo đối với những nước đang phát triển hiện nay, trong đó có Việt Nam.

e/ Lý thuyết về cái vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài

Đây là do nhiều nhà kinh tế học tư sản đưa ra, trong đó có A. Gershon và Paul A. Samuelson (1915 – 2009). Theo lý thuyết này, để tăng trưởng kinh tế nói chung phải bảo đảm bốn nhân tố là: nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản và kỹ thuật.

+ Về nhân lực: Ở những nước nghèo có tuổi thọ trung bình thấp khảong 57 – 58 tuổi, trong khi ở các nước tiên tiến là 72 – 75 tuổi. Vì vậy, phải kiểm soát bệnh tật, cải thiện điều kiện sức khỏe và dinh dưỡng để người lao động làm việc có năng suất lớn. Điều đó đòi hỏi phải xây dựng bệnh viện và hệ thống bảo vệ sức khỏe, coi đó là những vốn xã hội mang lợi ích sống còn, chứ không phải là hàng xa xỉ. Ở các nước đang phát triển, số người lớn biết chữ chỉ chiếm từ 32 – 52%. Do đó, cần phải đầu tư cho chương trình xóa nạn mù chữ, trang bị cho con người những kỹ thuật mới trong nông nghiệp, công nghiệp, đồng thời phải gửi những người thông minh ra nước ngoài để học hỏi, mang về những kiến thức và lý thuyết kinh doanh tiên tiến. Đặc biệt, phần lớn lực lượng lao động của các nước đang phát triển (70%) làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Do vậy, phải chú ý tới tình trạng “thất nghiệp trá hình”, tức lao động ở nông thôn có năng suất không cao, sử dụng thời gian lao động lãng phí, nên tìm cách tạo điều kiện cho lao động nông thôn chuyển nhiều sang lĩnh vực công nghiệp.

+ Về tài nguyên thiên nhiên: Những nước đang phát triển cũng thường là những nước nghèo tài nguyên thiên nhiên và sử dụng nó kém hiệu quả. Đất đai chật hẹp, khoáng sản ít ỏi so với số dân đông đúc, tỷ lệ tăng dân số cao. Tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất ở đây là đất nông nghiệp. Việc sử dụng có hiệu quả đất đai sẽ có tác dụng làm tăng sản lượng quốc dân. Muốn vậy, phải có chính sách bảo vệ đất đai, đầu tư phân bón, canh tác phù hợp, thực hiện tư nhân hóa đất đai để kích thích chủ trang trại đầu tư vốn, kỹ thuật.

+ Về cơ cấu tư bản: Ở các nước nghèo, người sản xuất kinh doanh có rất ít tư bản, do đó không có điều kiện tăng năng suất. Muốn có tư bản phải có tích lũy vốn, song đây lại là cái khó vì ở những nước nghèo năng suất lao động thấp, chỉ đảm bảo được cuộc sống tối thiểu cho người dân, không có tiết kiệm, tích lũy, do đó cũng không có vốn để phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng. Muốn có tư bản phải vay nước ngoài. Trước đây, các nước giàu đầu tư vào nước nghèo, mang lại lợi ích cho cả hai bên. Nhưng gần đây do lo ngại phong trào giải phóng dân tộc ở những nước đang phát triển đe dọa sự an toàn của tư bản đầu tư nên nhiều nhà tư bản ngại đầu tư vào khu vực này. Thêm vào đó, hầu hết những nước đang phát triển cũng là những con nợ lớn, không có khả năng trả nợ gốc và lãi. Vì vậy, đối với những nước này, tư bản vẫn là vấn đề nan giải.

+ Về kỹ thuật: Các nước đang phát triển có trình độ kỹ thuật yếu kém, nhưng lại có lợi thế là có thể bắt chước về kỹ thuật và công nghệ của các nước đi trước. Đây là con đường ngắn nhất và hiệu quả để nhanh chóng nắm bắt được khoa học, công nghệ hiện đại, lý thuyết quản lý và kinh doanh tiên tiến phục vụ cho phát triển.

Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, bốn nhân tố trên rất khan hiếm và việc kết hợp chúng nhằm tạo xung lực cho sự phát triển gặp rất nhiều trở ngại. Điều đó làm cho những nước khó khăn lại càng thêm khó khăn, bị lâm vào “cái vòng luẩn quẩn” của sự nghèo khó không lối thoát là: Tiết kiệm và đầu tư thấp – tốc độ tích lũy vốn thấp – tiết kiệm và đầu tư thấp… Để phát triển cần phải có “cú huých” từ bên ngoài, nhằm phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” đó, nghĩa là phải có sự đầu tư của các nước phát triển. Muốn vậy, phải tạo ra môi trường và những điều kiện thuận lợi nhằm thu hút và kích thích sự đầu tư của tư bản nước ngoài.

g/ Lý thuyết về mô hình kinh tế nhị nguyên

Lý thuyết này được Athur Lewis (1915 – 1991) – nhà kinh tế học Jamaica (được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1979) nêu lên trong tác phẩm Lý thuyết về phát triển kinh tế (1955), sau đó được John Fei và Gustar Ranis phát triển. Nội dung cơ bản của lý thuyết mô hình kinh tế nhị nguyên bàn về sự phát triển ở những nước nghèo có tỷ trọng nông nghiệp lớn. Để phát triển, vấn đề có tính chất quyết định là chuyển lao động nông nghiệp thành lao động công nghiệp có năng suất cao. Điều kiện để thực hiện là duy trì một chế độ tiền lương thấp trong công nghiệp (nhưng có khá hơn so với lao động nông nghiệp) để trợ giúp tích lũy mở rộng sản xuất cho nông nghiệp, tạo nên chu trình liên tục, cho đến khi lao động nông nghiệp được sử dụng tương đó đầy đủ, công nghiệp và nông nghiệp phát triên cân đối, hiệu quả. Tuy nhiên, đồng thời với việc giải quyết tương quan giữa phát triển nông nghiệp và công nghiệp, cần phải kết hợp với việc giảm tốc độ gia tăng dân số.

(còn tiếp) 

Nguồn: Ngô Ngọc Thắng & Đoàn Minh Huấn (đcb) – Một số lý thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội – NXB CTQG 2014.