Điệu múa vũ trụ – Phần I


Việc nghiên cứu thế giới hạ nguyên tử trong thế kỷ 20 đã phát hiện tính chất động nội tại của vật chất. Nó cho thấy, thành phần của nguyên tử, các hạt, đều là những cơ cấu động; chúng không hiện hữu như những đơn vị độc lập, mà là phần tử không tách rời của một thể thống nhất, với nhiều mối tương quan. Những liên hệ này biểu diễn một dòng năng lượng không ngừng nghỉ, năng lượng đó biểu hiện dưới sự trao đổi hạt; một mối liên hệ động, mà trong đó các hạt cứ được tạo thành và phân hủy vô tận qua những cấu trúc năng lượng. Các hạt tương tác sinh ra những cấu trúc ổn định, chính các cấu trúc đó xây dựng nên thế giới vật chất, rồi thế giới vật chất cũng không nằm yên, nó vận động tuần hoàn. Toàn bộ vũ trụ cứ thế mãi mãi lao vào trong hoạt động và vận hành vô tận, trong điệu múa vĩ mô của năng lượng.

Vũ điệu này bao gồm thiên hình vạn trạng những cấu trúc, nhưng lạ lùng thay chúng cho phép ta phân chia chúng dưới vài loại hình nhất định. Sự nghiên cứu các hạt hạ nguyên tử và tương tác của chúng cho phép phát hiện ra một trật tự lớn. Tất cả mọi nguyên tử, tức là tất cả mọi dạng hình của vật chất của thế giới chúng ta chỉ gồm có ba hạt mang khối lượng cấu thành: proton, neutron, electron. Một hạt thứ tư, photon thì phi khối lượng và là đơn vị của các tia bức xạ điện từ. Proton, photon và electron đều là những hạt ổn định, tức là chúng có thể sống vô tận, nếu chúng không rơi vào một cuộc va chạm có thể tiêu diệt chúng. Còn neutron thì ngược lại, nó có thể thình lình tự phân hủy. Sự tự phân hủy này được gọi là phân hủy beta và là tiến trình cơ bản của một loại hoạt động phóng xạ nhất định. Trong tiến trình đó, neutron tự biến thành proton, đồng thời sinh ra thêm một electron và thêm một loại hạt phi khối lượng mới, mang tên neutrino. Như protn và electron, neutrino cũng ổn định. Nó thường được biểu diễn bằng chữ Hy Lạp v; cách viết của sự tự phân hủy beta này là:

Sự phân hủy củ neutron thành proton trong nguyên tử của một chất phóng xạ làm cho nguyên tử này chuyển hóa thành một nguyên tử hoàn toàn khác. Trong quá trình này lại có thêm electron được sinh ra nên nó phát ra bức xạ mạnh, bức xạ này được áp dụng rộng rãi trong các ngành sinh vật, y khoa và công nghiệp. Còn neutrino thì ngược lại, mặc dù chúng được sinh ra với một số lượng như thế, nhưng rất khó phát hiện ra chúng, vì chúng không có khối lượng, chẳng có điện tích.

Như chúng ta đã biết, cứ mỗi hạt lại có một đối hạt cùng khối lượng nhưng điện tích ngược lại. Đối hạt của photon cũng chính là nó; đối hạt của electron là positron; thế nên ta có đối hạt antiproton; antineutron và antineutrino. Hạt neutrino sinh ra trong phân hủy beta vì không có khối lượng, nói chính xác, không phải là neutrino mà là antineutrino (ký hiệu là –v), cho nên ta phải viết tiến trình này là:

Đến nay, những hạt được nhắc tới chỉ là một phần nhỏ của các hạt được biết tới. Tất cả mọi hạt khác đều bất ổn định và tự phân hủy biến thành hạt khác trong thời gian rất ngắn, trong số đó một phần lại phân hủy tiếp cho đến khi hình thành một nhóm những hạt ổn định. Việc nghiên cứu các hạt bất ổn định rất tốn công, vì mỗi hạt của chúng phải được sinh ra trong các quá trình va chạm, trong đó ta cần đến các thiết bị gia tốc hạt khổng lồ, buồng đo và các thiết bị phức tạp khác nhằm phát hiện hạt.

Phần lớn các hạt bất ổn đều tồn tại hết sức ngắn ngủi, theo khái niệm con người: nhỏ hơn một phần triệu giây đồng hồ. Thế nhưng ta cần xem đời sống đó trong mối tương quan với độ lớn của chúng, độ lớn đó cũng hết sức nhỏ bé. Nếu nhìn như thế, thì nhiều hạt đó sống tương đối lâu dài và một phần triệu giây đồng hồ trong thế giới hạt thật ra là khoảng thời gian rất lớn. Trong một giây, con người có thể đi một đoạn dài gấp vài lần thân thể họ. Thì đó xem như là thời gian mà một hạt đi một đoạn dài gấp vài lần độ lớn của nó: ta có thể xem đơn vị thời gian đó là giây đồng hồ hạt.

Để đi xuyên qua một nhân nguyên tử có độ lớn trung bình, một hạt phải cần khoảng 10 giây đồng hồ hạt đó, trong đó hạt đi với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng, đó là vận tốc khi hạt bị va chạm. Trong một số lượng lớn các hạt phi ổn định thì có khoảng trên hai chục hạt, những hạt này đủ sức xuyên qua nhiều nhân nguyên tử trước khi chúng tự phân hủy. Khoảng cách này như thế dài gấp vài trăm ngàn lần độ lớn của chúng và tương ứng với khoảng thời gian vài trăm giờ đồng hồ hạt. Những hạt này được ghi trong bảng sau đây, chung với các hạt ổn định đã được nhắc đến. Phần lớn các hạt phi ổn định ghi trong bảng này đều đi được gần cả cen-ti-mét, thậm chí và cen-ti-mét trước khi chúng tự phân hủy, và những hạt sống lâu nhất, một phần triệu giây, chúng đi cả vài trăm mét trước khi tự phân hủy, so sánh với độ lớn của chúng thì đó là một đoạn đường khổng lồ.

Tất cả những hạt được biết khác thì thuộc về loại cộng hưởng, trong bài sau sẽ được nói tới kỹ hơn. Đời sống của chúng ngắn hơn nhiều, chỉ vài giây hạt sau là chúng đã phân hủy, chúng chỉ đi được một đoạn dài gấp vài lần độ lớn của chúng. Điều đó có nghĩa là người ta không thể thấy chúng trong buồng đo và chỉ suy đoán gián tiếp sự hiện diện của chúng. Trong buồng đo người ta chỉ vết của các hạt được ghi trong bảng trên.

Bảng này trình bày 13 loại hạt khác nhau, trong đó nhiều hạt xuất hiện dưới những dạng điện tích khác nhau. Thí dụ những pion có thể có điện tích dương (π+) hoặc điện tích âm (π) hay điện tích trung hòa (π0). Có hai loại neutrino, một loại chỉ xuất hiện khi tương tác với electron (ve), loại kia chỉ tương tác với myon (v). Các đối hạt cũng được trình bày, có ba loại hạt (ƴ, π0, ƞ) cũng chính là đối hạt của mình. Các hạt được xếp thứ tự theo khối lượng càng lúc càng tăng của chúng: photon và neutrino là phi khối lượng, electron có khối lượng bé nhất các myon, pion và kaon nặng hơn electron khoảng vài trăm lần, các hạt khác nặng hơn từ một đến ba ngàn lần.

Tất cả các hạt này có thể được sinh ra hay phân hủy trong quá trình va chạm. Mỗi hạt đều có thể được hoán đổi với tính cách là hạt giả và nhờ thế nó tham gia vào sự tương tác giữa những hạt khác. Điều này sinh ra một số lượng lớn tương tác giữa các hạt và may thay, mặc dù ta chưa biết nguyên do thế nào, các tương tác đó được xếp thành bốn loại có độ tương tác khác nhau rõ rệt:

+ tương tác mạnh

+ tương tác điện từ

+ tương tác yếu

+ tương tác trọng trường

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB THTPHCM 2015.

Advertisements

Vận dụng biện chứng pháp – Phần VIII


4/ Phê phán pháp hữu vi (samskŗta) và lý duyên khởi (Pratȋtya-Samutpāda)

Giống như các mẫu tự trong bảng học vần, các nguyên tố tối hậu của tồn tại – hay các pháp – đều được xác định về nội dung và số lượng. Chúng ta phải giải thích về các thể cách mà các mẫu tự kết hợp nhau để tạo nên thế giới hiện tượng (các pháp hữu vi); tứ là tạo nên các từ, các câu để tiếp tục chức năng biểu đạt của các mẫu tự. Vấn đề đặt ra là động lực chuyển hóa của cõi thế, cách thức vạn vật sinh sôi phát triển rồi hoại diệt. Đức Thế Tôn đã từng tuyên thuyết: “Nhất thiếu hữu vi pháp, bất ly sinh, trụ, diệt” (Tất cả các pháp hữu vi đều không lìa các tướng sinh, trụ, diệt”. Pháp tắc này, do chính kim khẩu của đức Phật tuyên thuyết, được các tông phái lãnh hội theo nhiều cách khác nhau. Dù có một điểm nhất trí giữa các tông phái, đó là pháp tắc này phủ nhận sự tồn tại của một bản thể thường hằng bất biến ở đằng sau các hiện tượng biến đổi vô thường; thế nhưng kiến giải của tông phái về số lượng, bản chất của các nguyên tố cùng thể cách tương tác giữa chúng lại khác nhau đáng kể. Không thể nào và cũng chẳng có lợi gì khi khẳng định lý luận về các nguyên tố uẩn-giới-xứ, mà Trung quán tông đã trực tiếp phê phán. Có thể sự phê phán này nhằm vào Vaibahāşika, hoặc rất có thể là Sautrāntika. Cốt tủy của học thuyết này là vậy: có những thực thể tối hậu, vô thường, không thể so sánh, chỉ tồn tại như tia chớp lóe trong một sát na rồi lập tức biến mất vào hư vô. Dòng chảy của các thực thể đó trong pháp hữu lậu (sāsrava dharma) bị chi phối bởi vô minh (avidyā) nên sinh ra hữu thân kiến (satkāya-drşti), cùng các vệ tinh của nó là sinh tử luân hồi (samsāra). Vạn pháp (vật lý lẫn tâm lý) đều là sự chi phối của luật nhân quả trong vòng sinh diệt. Vạn pháp đều vô thường (anitya), vô ngã (anātman) và khổ (duhkha). Vô thường được hiểu là vạn pháp chỉ sinh, trụ trong một sát na rồi sau đó bị hoại diệt.

Trung quán tông phê phán rằng mỗi tướng trong các tướng sinh, trụ, diệt đều chưa phải là một định nghĩa hoàn hảo về pháp hữu vi (samskŗta), bởi vì có những biện pháp bất thường, như sinh mà không trụ, diệt; hoặc diệt mà không sinh, diệt; hoặc diệt mà không sinh. Để tránh vấn nạn này, ta nên hiểu cả ba tướng (trikşanȋ) đều xác định bản chất của hiện tượng giới. Nhưng ba chức năng – sinh, trụ, diệt – không thể áp dụng lên sự vật một cách đồng thời (yugapad) và tương tục (kramaśah). Hiển nhiên ba chức năng này không thể đồng thời tác động lên sự vật, bởi vì bản chất của chúng đối kháng lẫn nhau. Chúng cũng không thể tác động tương tục lên sự vật, bởi vì điều này có nghĩa là: tại thời điểm sinh khởi thì sự vật thường hằng, chỉ sau đó nó mới hoại diệt, và ngược lại.

Do định nghĩa cho pháp hữu vi được áp dụng chung cho tất cả các pháp hòa hợp [compounded things], nên cũng có lý khi đặt câu hỏi định nghĩa có áp dụng cho từng tướng sinh, trụ, diệt hay không, bởi vì các pháp hòa hợp cũng là các pháp nên chúng cũng phải thỏa mãn được định nghĩa về pháp hữu vi. Bản thân của sinh có đủ ba tướng sinh-trụ-diệt, như các thực thể và các lực khác, hay không? Nếu không, thì ắt hẳn phải có những sự vật ngoại lệ đối với pháp tắc phổ quát này; như vậy pháp tắc “Nhất thiết hữu vi pháp, bất ly sinh, trụ, diệt”, được xem như có giá trị chân thực tuyệt đối với nhất thiết pháp, sẽ mất đi sức hấp dẫn. Còn nếu có, thì dẫn đến hiện tượng sinh lại có sinh, nghĩa là sinh sinh vô tận. Một vài tông phái – như Sammitȋya – chấp nhận thuyết sinh sinh, và thật khó mà hiểu được làm sao nó có thể thoát khỏi lý luận hồi quy [regress] này. Rất có thể, Sammitȋya chủ trương rằng sự sinh sinh khởi từ tự thể, theo nghĩa tự sinh, giống như ngọn đèn tự chiếu sáng bản thân nó và các vật khác. Không nên xem sự tự chiếu đó là một thực thể cùng lúc vừa làm chủ thể, vừa làm đối tượng.

Khái niệm pháp hữu vi còn vướng một vấn nạn nghiêm trọng hơn nữa, đó là: chúng ta quan niệm sinh-trụ-diệt như thế nào? Các pháp đã hiện hữu trong pháp tướng tự nhiên của chúng, hoặc các pháp chưa tồn tại, có sinh khởi hay không? Khi một pháp đã tồn tại rồi và đang hiện hữu trong pháp tướng tự nhiên nó, thì vì với gì nó lại phải sinh khởi và làm thế nào để sinh khởi? Còn như nếu nó chưa tồn tại, thì làm thế nào nó có thể sinh khởi được? Khi không có một thực thể trước và sau thì “nó” không thể sinh khởi được. Không có một chủ thể nào, mà ta xác định là “”, đã sinh khởi. Chỉ là sự sinh khởi, nhưng không thể gán sự sinh khởi đó cho bất kỳ đối tượng nào. Vấn nạn này không chỉ liên quan đến vấn đề ngôn ngữ, mà là một vấn nạn cơ bản đối với bất kỳ sự quán chiếu nào về vạn pháp, dù là theo quan niệm sát na hay dạng thức. Nếu bất kỳ một sự vật tồn tại nào cũng chỉ là một pháp thể ấy, không có gì trước hay sau, thì lam sao có thể nói rằng “nó” có sinh-trụ-diệt được? Dù ta có phân tích một sự vật thành nhiều pháp thể tế vi hơn nữa, thì mỗi pháp thể [moment] cũng là một thực thể tự mãn tục rời rạc [discrete self-contained entity], và không có gì có thể chuyển hóa nó thành một pháp thể khác hay sang một trạng thái khác được. Mỗi trạng thái khác biệt đều là một thực thể, và không có vị ngữ nào có thể xác định được “nó”. Trên thực tế, không hề có cái gọi là “nó” – tức sự vật hay pháp – chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác; tất cả mọi trạng thái đều thực hữu, thậm chí cũng không thể so sánh các trạng thái đó với nhau. Chúng rời rạc và phân tán đến mức giữa chúng không thể có bất kỳ một mối tương quan nào. Đây là một vấn nạn trầm trọng mà Nāgārjuna, theo nhiều phương pháp khác nhau, đã khai trí cho các luận sư Vaibhāşika bằng cách đặt câu hỏi: cái gì sinh? Không phải là cái đã hiện hữu, cũng không phải là cái chưa hiện hữu, cũng không phải à cái thứ ba là gồm cả hai, hay cái thứ tư là không gồm cả hai; trụ và dị cũng đều bất khả ngữ giải như nhau. Không nên hiểu diệt là sự hủy diệt tự thể hay là sự hoại diệt do ngoại lực tác động, hoặc gồm cả hai, hoặc không gồm cả hai.

Từ kết quả của việc phê phán các pháp hữu vi (samskŗta), cả Nāgārjuna lẫn Āryadeva đều đến kết luận: sinh-trụ-diệt cũng bất khả ngữ giải giống như huyễn (māyā), như mộng, như lâu đài giữa hư không. Các pháp hữu vi đã vô thường biến ảo như vậy thì các pháp vô vi (samskŗta) cũng chẳng thường hằng, bởi vì cả hai đều nương vào nhau mà tồn tại.

Học phái Ābhidharmika có thể trách cứ Trung quán tông phê phán lý luận sinh-trụ-diệt của các pháp hữu vi quá mức, có thể làm hủy hoại cả lý duyên khởi là giáo nghĩa tinh yếu của đức Phật. Các luận sư Trung quán tông phản bác lại bằng cách chứng minh rằng các luận sư Vaibhāşika do trì độn nên không thể lĩnh hội được giáo pháp chân thực của đấng Đạo Sư. Đức Thế Tôn khi tuyên thuyết rằng “có cái này nên có cái kia, cái này dựa vào cái kia mà sinh khởi” thì rõ ràng Ngài muốn nói “vạn pháp đều vô tự tính”.

Bất kỳ pháp nào sinh khởi cũng phải nương vào pháp khác. Một thực thể tồn tại tự nó theo bản chất thì sẽ duy trì trạng thái và hình thức tự nhiên trong tự thể. Vì đã hiện hữu rồi, nó sẽ không nương tựa vào thực thể khác nữa, nên nó không sinh khởi. Do đó, nếu thấy rằng các pháp đều có tự tính, là trái ngược với lý duyên khởi. Như vậy là các ông hủy báng toàn bộ Phật pháp. Kinh điển dạy rằng kẻ nào thấy được duyên khởi là thấy Pháp, thấy được Pháp là thấy Phật”.

Lý duyên khởi không phải là hệ quả tạm thời về sự sinh diệt của vạn pháp vô thường, mà là hệ quả về sự hỗ tương tồn tại của vạn pháp, về bản chất vô thực tại tính hay không ya Deva càcó sự vật tính [thinghood] của chúng. Điều này tương đương với Vô Tự Tính hay Tánh Không (nihsvabhāvata hay śūnyatā) của vạn pháp. Đây là cuộc cách mạng tư tưởng do Trung quán tông khởi xướng.

IV/ Khảo cứu về tự ngã (ātman)

Thực thể thực tại luận hay hữu ngã luận (ātmadŗşti) cũng vướng những vấn nạn tuyệt trù vô tỷ, không khác gì Dạng thức thực tại luận của các luận sư Phật giáo. Tất cả các hệ thống triết học Bà-la-môn giáo, như ta đã chứng minh, đều quan niệm thực tại theo mô thức có một cái nhân cốt lõi hay linh hồn thường tồn bất biến, được gán cho nhiều trạng tháng biến dịch theo cách này hay cách khác. Sự phê phán toàn triệt hữu ngã luận không chỉ bóc trần những giảkā thiết cơ bản của học thuyết đó, mà còn phải quan tâm đến một số cấu trúc đặc thù của nó nữa. Sự kiện các đại luận sư Trung quán tông nối tiếp nhau vận dụng biện chứng pháp đã chứng minh được điều này một cách rõ ràng. Tự ngã là một phần của vấn đề lớn hơn của khái niệm xem Thực Tướng là một Hằng Hữu tĩnh tại [static Being]. Những luận sự kế tục Nāgārjuna như Ārya Deva và các luận sư khác đã tập trung đáng kể vào các phạm trù pháp hữu vi (samskŗta) và thường hằng (nitya) của Vaibhāşika và Vaiśeşika. Việc phê phán tự ngã như thế một mặt đưa chúng ta đến với vấn đề phổ quát hơn về Hằng Hữu thường tồn [permanent Being], mặt khác lại đưa chúng ta đến với vấn đề cấu trúc đặc thù của khái niệm về tự ngã.

Các yếu tố bất biến, theo quan niệm của một số hệ thống triết học, được chia thành bốn loại cụ thể: 1/ không gian (ākāśa và dik), 2/ thời gian (kāla), 3/ cực vi hay nguyên tử (paramāņu), và 4/ tự ngã (ātman). Hai loại đầu (ākāśa và kāla) cung cấp một công cụ tiếp nạp vô sở bất tại, trong đó những sự vật hữu hạn tồn tại và biến hóa: tự thân không gian và không gian thì bất biến, chúng chỉ tạo được những chuyển động và biến chuyển khả dĩ. Cực vi (paramāņu) là nguyên tố cực vi tối hậu để tạo nên sự vật; và tự ngã là tinh thần, làm chủ thể cho kinh nghiệm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy triết học của Phật giáo  NXB HĐ 2013.

Về thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay – Phần đầu


Sau Đại hội XIX (tháng 10/2017) và nhất là sau kỳ họp “Lưỡng hội” (tháng 3/2018), dựa vào bố trí nhân sự và cải cách cơ quan Đảng và Nhà nước, Tập Cận Bình đã hình thành thế trận ngoại giao hoàn toàn mới. Trong đó, không chỉ bộc lộ phương hướng chiến lược ngoại giao của Trung Quốc, mà còn cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu tập trung cho lĩnh vực ngoại giao, coi ngoại giao là “mặt trận thứ hai” của Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sau chiến dịch chống tham nhũng.

Thế trận tổng thể ngoại giao của Trung Quốc hiện nay

Dư luận và truyền thông Hong Kong cho rằng, điểm nổi bật trong thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là thể hiện sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong công tác ngoại giao, đồng thời xác lập thể chế Đảng quản ngoại giao, còn Chính phủ, Nhân đại (Quốc hội) chỉ là cơ quan phối hợp chấp hành.

Từ góc độ cơ chế và tổ chức, tờ Đông phương, nhật báo có quan điểm trung lập của Hong Kong, phân tích: Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác đối ngoại thay đổi thành Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, bản chất là trở thành cơ cấu tầng cao thống lĩnh công tác ngoại giao. Văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương trở thành khu vận hành trung ương, đứng trên chỉ đạo các đơn vị liên quan đến ngoại giao như Bộ Ngoại giao, Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương, Hiệp hội hữu nghị đối ngoại, Nhà sử học, chuyên gia về vấn đề chính trị Trung Quốc, Chương Lập Phàm nêu rõ, từ Tiểu ban lãnh đạo Trung ương về công tác bảo vệ quyền lợi biển đã không còn là cơ quan riêng rẽ, mà sáp nhập với Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, mọi chức trách liên quan của Tiểu ban này do Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương và văn phòng ủy ban này đảm nhận. Trong Văn phòng Ủy ban ngoại sự Trung ương thiết lập văn phòng công tác bảo vệ quyền lợi biển. Đây là bước đi của Trung ương Đảng nhằm tập trung thống nhất hơn nữa tài nguyên và nguồn lực ngoại giao, đồng thời mở rộng quyền lực của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Theo đó, mọi công tác liên quan bảo vệ quyền lợi biển đều do Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương thống nhất vạch kế hoạch và đưa ra bố trí tổng thể, các cơ quan liên quan trong hệ thống Quốc Vụ viện và Nhân đại chịu trách nhiệm thực thi.

Từ góc độ bố trí nhân sự, nguyệt san Minh kính, có trụ sở tại New York (Mỹ), bản tiếng Trung phát hành tại Hong Kong, dẫn lời chuyên gia về vấn đề chính trị Trung Quốc sống ở Mỹ, Hà Tần phân tích, trong 5 năm qua, thể chế lãnh đạo ngoại giao của Trung Quốc là 2 cấp. Tức phía dưới lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình là ủy viên Quốc vụ phụ trách ngoại giao Dương Khiết Trì. Khi đó, Dương Khiết Trì cùng với Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Lật Chiến Thư và Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu chính sách Trung ương Vương Hộ Ninh tạo thành “cỗ xe tam mã” hộ tống lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình trong các trường hợp ngoại giao quốc tế. Tuy nhiên, từ sau Đại hội XIX đến tháng 3/2018, cục diện này đã có sự thay đổi lớn, Dương Khiết Trì được đưa vào Bộ Chính trị, trở thành quan chức ngoại giao đầu tiên vào Bộ Chính trị trong 15 năm qua. Ngoại trưởng Vương Nghị kế nhiệm chức Ủy viên Quốc vụ, Vương Kỳ Sơn là Phó Chủ tịch nước, hỗ trợ lãnh đạo tối cao xử lý công việc ngoại giao. Vì thế, thế trận ngoại giao hình thành cơ chế 4 cấp Tập – Vương – Dương – Vương (Tập Cận Bình – Vương Kỳ Sơn – Dương Khiết Trì – Vương Nghị). Như vậy, là trong các trường hợp ngoại giao lớn như lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un thăm Trung Quốc, chính là 4 cấp cùng tham gia.

Theo chuyên gia Hà Tần, điểm đáng chú ý là Dương Khiết Trì, với vị thế ủy viên Bộ Chính trị giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, chứng tỏ Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương chính thức trở thành tầng quyết sách ngoại giao tối cao của Trung Quốc. Còn Vương Nghị sau khi được đưa lên chức Ủy viên Quốc vụ, kết cấu 2 thủ trưởng, tức “thể chế nhị nguyên” gồm Bộ trưởng Ngoại giao và Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao riêng rẽ, cùng ngang hàng đến nay đã bị phá vỡ. Bộ trưởng do lãnh đạo cấp nhà nước (Ủy viên Quốc vụ) kiêm nhiệm, tự nhiên cao hơn Bí thư Đảng ủy. Thế nhưng, để cân bằng quyền lực này, Tập Cận Bình đã nhanh chóng điều động Phó Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương, Lạc Ngọc Thành giữ chức thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao. Như vậy, Lạc Ngọc Thành cùng với Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao Trương Nghiệp Toại đều là quan chức cấp hàm bộ trưởng. Sự bố trí nhân sự này đã hình thành thể chế mới “một chính” là Vương Nghị và “hai phụ” là Trương Nghiệp Toại và Lạc Ngọc Thành của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hiện nay.

Tuy nhiên, chuyên gia Hà Tần cho rằng, phía sau bố cục này vẫn còn một vai trò quan trọng hơn, đó chính là Phó Chủ tịch Vương Kỳ Sơn. Có thể khẳng định, Vương Kỳ Sơn được giao phụ trách lĩnh vực ngoại giao và nội chính, trong đó ngoại giao là chủ yếu. Theo uy tín công tác, địa vị chính trị, ảnh hưởng quốc tế, Vương Kỳ Sơn là khâu quyết sách mấu chốt ở tầng quyết sách, Dương Khiết Trì và Vương Nghị ở vị trí bổ trợ quan trọng và tầng nấc thực thi. Như vậy, bố trí thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là rất rõ ràng: Tập Cận Bình là lãnh đạo tối cao đưa ra chủ trương, sự chỉ đạo thống nhất và đưa ra quyết sách cuối cùng. Vương Kỳ Sơn là cố vấn cấp cao, cùng Tập Cận Bình đưa ra quyết sách ngoại giao cụ thể. Dương Khiết Trì tổ chức thực hiện các quyết sách ngoại giao của Tập Cận Bình. Vương Nghị có vai trò chấp hành và triển khai từng nhiệm vụ ngoại giao cụ thể.

Tờ Minh báo, nhật báo có quan điểm trung lập của Hong Kong, cho rằng, theo bố trí nhân sự ngoại giao hiện nay, Tập Cận Bình đứng trên thống lĩnh toàn cục, Vương Kỳ Sơn có kinh nghiệm trong xử lý quan hệ với Mỹ tham gia quyết sách, Dương Khiết Trì từng là Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ tổ chức thực hiện, Vương Nghị từng là Đại sứ Trung Quốc tại Nhật triển khai nhiệm vụ cụ thể, còn Lạc Ngọc Thành xuất thân với chuyên môn là tiếng Nga, trong mấy chục năm công tác đều liên quan đến xử lý công việc trong quan hệ Trung – Nga đã phản ánh phươong hướng chiến lược ngoại giao của Trung Quốc trong những năm tới. Đó chính là ưu tiên xử lý quan hệ với Mỹ, tập trung giải quyết quan hệ với Nhật Bản và duy trì củng cố quan hệ với Nga, hình thành thế trận ngoại giao “cận giao viễn công”.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Thị trường là động lực tối thượng – Phần I


Mọi người đang có sự chuyển dịch toàn bộ hành vi của mình, từ thế giới phi kỹ thuật số sang môi trường điện thoại di động, từ việc đặt xe taxi đến mua sắm, thanh toán cho các dịch vụ, xe video hay liên lạc với gia đình.

Mod Khairil Abdullah, Tổng giám đốc nhánh Dịch vụ Kỹ thuật số tại Công ty Axiata

Thị trường là nơi mà các tác lực cung và cầu hoạt động. Đây là nơi mà các công ty – những nhà cung cấp giá trị – cạnh tranh với nhau để chiếm lĩnh được tâm trí cũng như chinh phục được trái tim của khách hàng – những người đòi hỏi giá trị. Trong thế giới kinh doanh, thị trường đóng vai trò như một cửa sông tập trung những dòng thay đổi xảy ra ở tầm vĩ mô chảy về. Bên cạnh đó, cuộc cách mạng công nghệ cũng thúc đẩy những sự thay đổi về mặt kinh tế, chính trị – luật pháp và văn hóa – xã hội, tất cả những thay đổi đó đều có ảnh hưởng đến thị trường.

Một vài quốc gia tại châu Á đã trải qua sự thay đổi trong cơ cấu thị trường, điều này chắc chắn dẫn đến những cuộc cạnh tranh lớn hơn. Công nghệ phát triển, theo đó tính hiện hữu của thông tin ngày càng cao, đã thúc đẩy những sự thay đổi sâu sắc trong hệ thống chính trị tại một số quốc gia. Một nền kinh tế mở như vậy đồng nghĩa với việc ranh giới của những rào cản độc quyền đã bị suy giảm đáng kể. Trong một số ngành công nghiệp quan trọng như viễn thông và ngân hàng, chúng ta chứng kiến sự đổ xô của những nhà đầu tư cá nhân, cả trong và ngoài nước, tham gia vào thị trường. Môi trường kinh doanh với cường độ cạnh tranh ngày một tăng buộc những bên tham gia phải liên tục đổi mới và nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động của mình. Khách hàng là người hưởng lợi nhiều từ sự phát triển này, không chỉ đơn thuần ở việc lựa chọn đa dạng hơn sản phẩm và dịch vụ.

Bên cạnh đó, công nghệ cũng không ngừng có những bước tiến mới. Sự nổi lên của Internet cùng với các công nghệ liên quan đã làm cho “thế giới phẳng”, như Friedman (2005) đã tuyên bố trong quyển sách The World id Flat (Thế giới phẳng) của mình. Các rào cản giữa các quốc gia dường như đã bị nhấn chìm trong làn sóng thay đổi được biết đến với tên gọi Toàn cầu hóa 3.0. Trong bối cảnh này, Sirkin và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng thế giới kinh doanh sẽ phải đối mặt với một hiện tượng gọi là “tính toàn cầu”, theo đó một công ty sẽ phải cạnh tranh với mọi đối thủ ở khắp mọi nơi, về mọi mặt. Ông viết, “Bạn đang nhìn vào tương lai, khi mà các công ty Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và các công ty từ những thị trường bão hòa khác không chỉ cạnh tranh với nhau, mà còn cạnh tranh với các công ty Trung Quốc và các công ty có khả năng cạnh tranh cao đến từ mọi nơi trên thế giới: Argentina, Brazil, Chile, Ai Cập, Hungary, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mexico, Ba Lan, Nga, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Việt Nam và cả những nơi bạn không ngờ tới được”.

Tuy nhiên, điều duy nhất bất biến chính là sự thay đổi. Cuộc cách mạng công nghệ hiện tại tiếp tục tạo ra những biến động thị trường mới, đặc biệt là ở khu vực châu Á. Bài này tập trung thảo luận về vấn đề cuộc cách mạng kỹ thuật số đã thay đổi bộ mặt của những lực lượng thị trường như thế nào. Cạnh tranh đang ngày càng trở nên sôi nổi hơn trong khi khách hàng ngày càng trở nên gắn kết. Tất yếu, thị trường tự bản thân nó phải đặt ra yêu cầu cho sự ra đời của một mô hình tiếp thị mới.

Khi Công nghệ gây xáo trộn Thị trường

Christensen (1997, giáo sư của Trường Kinh doanh Harvard, trong tác phẩm Tình thế lưỡng nan của nhà cải cách: Khi công nghệ làm cho những công ty vĩ đại nhất thất bại của mình đã giới thiệu thuật ngữ công nghệ gây xáo trộn, mà trước đó thuật ngữ này đã được ông sử dụng nhưng với một cái tên khác – cách tân xáo trộn. Tuy nhiên, xuất phát điểm của thuật ngữ công nghệ gây xáo trộn có lịch sử lâu đời hơn, thuật ngữ này được Schumpeter sử dụng lần đầu tiên vào năm 1942. Trong quyển sách của mình, tác giả đã miêu tả công nghệ xáo trộn là sự đổi mới về công nghệ, sản phẩm hoặc dịch vụ áp dụng một “chiến lược gây xáo trộn” chứ không phải một chiến lược “mang tính cách mạng” hay “duy trì” để lật đổ các công nghệ đang chiếm ưu thế hiện tại hoặc các sản phẩm hiện có trên thị trường. Bảng 3.1 chỉ ra một số ví dụ về công nghệ gây xáo trộn.

Bảng 3.1 Các ví dụ về công nghệ gây xáo trộn
Công nghệ gây xáo trộn Sản phẩm bị đào thải hoặc lỗi thời
Nhiếp ảnh kỹ thuật số Máy ảnh cơ
Điện thoại di động Thư, điện tín, điện thoại truyền thống
Máy tính xách tay, máy tính bảng Máy tính để bàn
Tải nhạc Các loại đĩa nén, CD
Sách điện tử Sách giấy
Internet Xuất bản truyền thống, báo chí, tạp chí in…

Đối mặt với những xáo trộn diễn ra ngày càng nhanh này, các doanh nghiệp cần phải hành động nhanh chóng để xác định và thích nghi với những sự thay đổi công nghệ chính yếu, từ đ1o tránh được rủi ro bị đào thải khỏi thị trường do cạnh tranh. Ngành công nghiệp dịch vụ bưu chính tại châu Á với tuổi đời gần một thế kỷ có lẽ đang cảm nhận được mối đe dọa ngày càng rõ ràng từ công nghệ di động. Tuy nhiên, việc triển khai các chiến lược đa dạng hóa trong vài năm qua đã mang lại những kết quả khích lệ rất đáng ngạc nhiên. Báo cáo của ngành bưu chính toàn cầu năm 2013 chỉ ra rằng tổng doanh thu ngành tại châu Á đã tăng 10,8% trong giai đoạn 2011 – 2012. Chiều hướng tích cực này chủ yếu là kết quả của sự tăng trưởng doanh số các hình thức phi thư tín với mức tăng trung bình là 56,4%. Do đó, trong thời kỳ mà lượng thư từ giảm 3,1%, các công ty dịch vụ bưu chính vẫn có thể bù đắp được từ các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt là lượng giao dịch các bưu kiện đã tăng lên đến 4% (theo tổ chức International Post Corporation, 2013).

Mặc dù sự phát triển của công nghệ di động và công nghệ kỹ thuật số đã làm cho các dịch vụ thư tín thông thường từng là trụ cột của các công ty dịch vụ bưu chính trở nên ít phổ biến hơn, nhưng các công ty vẫn có thể tận dụng và khai thác các cơ hội nảy sinh từ tiến bộ công nghệ. Chẳng hạn, sự tăng trưởng nhanh chóng của các giao dịch thương mại điện tử ở châu Á đã làm gia tăng đáng kể lượng hàng hóa vận chuyển. Điều này có ý nghĩa tích cực đối với việc kinh doanh vận chuyển bưu kiện do các công ty dịch vụ bưu chính quản lý. Sự đa dạng hóa cũng có thể được triển khai dưới hình thức các dịch vụ tài chính được cung cấp cho khách hàng. Khả năng kết nối rộng lớn hơn thông qua dịch vụ bưu chính tại các khu vực nông thôn tỏ ra đặc biệt hữu ích vì nó có thể được sử dụng làm kênh trung gian cho các giao dịch tài chính, bao gồm việc thanh toán, nhờ sự hợp tác với khu vực ngân hàng.

Để xây dựng một doanh nghiệp bền vững trong kỷ nguyên kết nối hiện nay, một cách khác là áp dụng công nghệ rộng rãi hơn. Cứ theo đuổi các phương thức kinh doanh cũ sẽ chỉ khiến các khách hàng ngoảnh mặt lại với mình. Ngày nay, tất cả những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau đang mở rộng việc sử dụng công nghệ số và di động trong kinh doanh với mức độ áp dụng khác nhau: một số doanh nghiệp chỉ đơn giản sử dụng mạng xã hội để tương tác với khách hàng trong khi một số khác đang cung cấp các ứng dụng hoặc dịch vụ di động riêng như các giá trị phụ trội hay xây dựng những nền tảng giao dịch trực tuyến riêng cho mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hermawan Kartajaya, Philip Kotler, Hooi Den Huan – Marketing để cạnh tranh – NXB Trẻ 2018.

Vụ Huawei tạo cơ hội cho Tập Cận Bình củng cố quyền lực?


Tờ Bình quả, nhật báo có quan điểm chống Đảng Cộng sản Trung Quốc của Hong Kong, ngày 11/12 cho rằng vụ Giám đốc Tài chính Công ty Huawei Mạnh Vãn Chu (Meng Wanzhou) bị bắt tại Canada tiếp tục trở thành tiêu điểm báo chí của ngoại giao Trung Quốc. Trên thực tế, trước khi diễn ra cuộc gặp Tập – Trump bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Argentina hôm 1/12 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã sớm biết được thông tin Mạnh Vãn Chu bị bắt, nhưng tại cuộc gặp, Tập Cận Bình đã không đưa ra bất kỳ ý kiến liên quan nào.

Giới phân tích chính trị Trung Quốc cho rằng, sở dĩ Tập Cận Bình làm như vậy là để tránh vụ việc này ảnh hưởng đến đàm phán thương mại Trung – Mỹ, nhưng cũng cho thấy Trung Quốc có thể tiếp tục nhượng bộ để nhanh chóng kết thúc chiến tranh thương mại Trung – Mỹ. Cho nên, ngay cả khi Mỹ vừa đám vừa “đâm dao” phía sau lưng, Trung Quốc vẫn tạm thời nén giận. Đương nhiên, một loạt vấn đề như đàm phán Trung – Mỹ trong thời gian 3 tháng tới liệu sẽ có được tiến triển như thế nào, Mạnh Vãn Chu liệu có bị dẫn độ sang Mỹ và còn những tư liệu nào được công khai,… vẫn tồn tại rất nhiều biến số.

Theo giới phân tích Trung Quốc, vụ Mạnh Vãn Chu bị bắt liệu có gắn với đàm phán thương mại Trung – Mỹ, giữa hai vấn đề liệu có ảnh hưởng lẫn nhau, hiện nay đưa ra phán đoán vẫn còn quá sớm. Nhưng một điều có thể xác định là vụ Mạnh Vãn Chu bị bắt đã đem đến cho Tập Cận Bình cơ hội dựa vào cổ súy chủ nghĩa dân tộc, dân túy để củng cố quyền lực. Tập Cận Bình tất nhiên sẽ không bỏ lỡ cơ hội này để chuyển hướng dư luận trong nước Trung Quốc vốn đang tập trung vào hàng loạt quyết sách sai lầm của Tập Cận Bình và kinh tế Trung Quốc xuất hiện nguy cơ suy thoái hiện nay.

Giới phân tích Trung Quốc nêu rõ, bất kể nhân vật nào hay đảng nào nắm quyền cũng đều có những lý do để giải thích với người dân về tính chính đáng nắm quyền chấp chính của mình, chế độ dân chủ hay chuyên chế cũng đều như vậy. Khi ĐCSTQ mới thành lập, lấy chủ nghĩa cộng sản, quốc gia bình đẳng làm lý tưởng. Thời kỳ nội chiến, ĐCSTQ lấy việc đánh đổ Quốc Dân Đảng, thực hiện một đảng chuyên chế làm khẩu hiệu. Nhu cầu bình đẳng và dân chủ của người dân đã đưa ĐCSTQ lên địa vị nắm quyền chấp chính, nhưng trong tình trạng không có quyền lực cân bằgn đã rất nhanh chóng khiến những chí sỹ cách mạng hủ bại. Trung Quốc đã thử nghiệm mô hình Stalin suốt 30 năm, kết quả là không thể thực hiện bình đẳng, càng không thể thực hiện dân chủ, đất nước suy yếu, tính chính đáng nắm quyền chấp chính của ĐCSTQ bị nghi ngờ. Đến khi Đặng Tiểu Bình thúc đẩy cải cách mở cửa, vứt bỏ lý tưởng chủ nghĩa cộng sản trống rỗng, chuyển sang lấy phát triển kinh tế làm mục tiêu nắm quyền chấp chính duy nhất của ĐCSTQ. Trải qua 40 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc với hơn một tỷ dân đã thóa khỏi nghèo đói, kinh tế phồn vinh. Chính điều này đã trở thành tính chính đáng nắm quyền chấp chính của ĐCSTQ, thậm chí trở thành lý do để ĐCSTQ từ chối cải cách chính trị.

Đương nhiên trong bối cảnh kinh tế phồn vinh không thể bảo đảm lâu dài, lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ hiểu rất rõ cần phải tìm kiếm tính chính đáng nắm quyền chấp chính khác để bổ sung. Vậy là từ thời kỳ Hồ Cẩm Đào vào Ôn Gia Bảo nắm quyền, tiếng nói “nước lớn trỗi dậy” và “cường quốc” xuất hiện mọi lúc mọi nơi, từ tổ chức Thế vận hội (Olympic 2008) đến công trình thám hiểm không gian vũ trụ, đều được ĐCSTQ gắn mác “nước lớn trỗi dậy” và “cường quốc”. Điều này đã khiến ĐCSTQ tiếp tục nắm quyền chấp chính được hợp lý hóa. Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền càng thúc đẩy “giấc mộng cường quốc” và “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” mạnh mẽ hơn, biểu hiện cụ thể là “Vành đai và con đường”, được triển khai ở khắp mọi nơi, “giấc mộng cường quốc” và “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” trở thành tính chính đáng chủ yếu của ĐCSTQ trong nắm quyền chấp chính. Theo đó, át chủ bài phát triển kinh tế của Đặng Tiểu Bình do không hợp với tư duy cánh Tả của Tập Cận Bình nên được xếp vào vị trí thứ yếu, thậm chí Tập Cận Bình còn muốn thay thế bằng tư tưởng Mao Trạch Đông.

Từ sau khi lên nắm quyền, Tập Cận Bình tìm mọi cách tạo dựng bản thân mình trở thành “Hoàng đế phục hưng Trung Quốc”, nhưng tác phong chuyên quyền và hành xử kiêu ngạo của Tập Cận Bình đã dẫn đến việc Mỹ dùng chiến tranh thương mại để chèn ép Trung Quốc. Hệ quả là nền kinh tế Trung Quốc vốn đã tồn tại nhiều ẩn họa, dưới sự tác động của chiến tranh thương mại càng trở nên mờ mịt hơn, theo đó, kế hoạch phục dụng Chủ nghĩa Mao Trạch Đông, quốc tiến dân lui của Tập Cận Bình buộc phải gác lại. Hiện nay trong ĐCSTQ, thế lực ủng hộ đường lối của Đặng Tiểu Bình bày tỏ bất bình trước việc Tập Cận Bình đi ngược thời đại khiến Mỹ bao vây, còn dân chúng trong nước do một loạt quyết sách sai lầm của Tập Cận Bình như nhấn mạnh chuyên chế, vung tiền khắp nơi dẫn đến kinh tế suy thoái, tham nhũng tràn lan… đã không còn ủng hộ Tập Cận Bình chống tham nhũng như hồi mới lên nắm quyền. Tình trạng này với Tập Cận Bình có thể nói là trong ngoài khó khăn, thậm chí dẫn đến xuất hiện thông tin quyền lực của Tập Cận Bình đã bị lung lay.

Trong lúc này, Tập Cận Bình củng cố quyền lực, củng cố tính hợp lý nắm quyền chấp chính của mình, bất kể là quay trở lại tư tưởng Mao Trạch Đông khi xưa, hay tiếp tục đường lối của Đặng Tiểu Bình là lấy phát triển kinh tế làm át chủ bài đều đã không còn tác dụng. Hiện nay, “giấc mộng cường quốc” mà Tập Cận Bình ra sức tuyên truyền đã liên tiếp vấp phải sự tấn công của Mỹ, buộc phải chững lại. Câu hỏi đặt ra là Tập Cận Bình còn lại “quân bài” gì trong tay? Giữa sáng tạo công nghệ của Trung Quốc, bị bắt, đã vô tình tạo cơ hội cho Tập Cận Bình khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy để ngưng tụ sự ủng hộ của dân chúng. Thực tế cho thấy, sau khi Mạnh Vãn Chu bị bắt, Bộ Ngoại giao, truyền thông chính thống của Trung Quốc đồng loạt lên tiếng, yêu cầu thả người vô điều kiện. Rõ ràng là đơn giản mà trực tiếp, không cần phải động não, Tập Cận Bình đã có thể đổ hết tội lỗi lên đầu thế lực bên ngoài chống Trung Quốc, muốn Trung Quốc diệt vong. Như vậy, Tập Cận Bình đã có thể che đậy được những sai lầm trong các quyết sách nắm quyền chấp chính của mình. Vấn đề là ở chỗ chủ nghĩa dân tộc, dân túy có thể chuyển hướng dư luận, nhưng cũng khiến Tập Cận Bình rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Một khi Tập Cận Bình không có được công trạng gì nổi bật, thì sẽ càng bộc lộ sự bất tài của mình, và theo đó tính chính đáng nắm quyền chấp chính của Tập Cận Bình cũng như của ĐCSTQ sẽ không còn chỗ dựa.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần III


Một đối thủ tiềm tàng làm thế nào có thể chống lại một hệ thống các hệ thống như thế? Hiển nhiên nó cần phải kiềm chân các lực lượng can thiệp ở cách xa chiến trường, xa chừng nào tốt chừng nấy. Sử dụng vũ khí giết người hàng loạt cũng có thể là một biện pháp, và cách sử dụng tốt nhất là không nhằm đe dọa quân can thiệp mà nhằm vào các quốc gia chủ nhà có thể sẽ chứa chấp quân can thiệp. Nhưng dù sao đi nữa, ở vào kỷ nguyên phổ cập kỹ thuật thông tin và phát triển mạnh mẽ các thị trường vũ khí, thì một đối tượng cạnh tranh tuy không có những vũ khí như thế (cũng như mối nguy hiểm do các loại vũ khí đó gây nên) vẫn có khả năng kiềm chế không cho Hòa Kỳ tiếp cận. Bởi vì người ta có thể tổ hợp một hệ thống các hệ thống với giá thành tương đối thấp và không tốn mấy công sức bằng cách sử dụng kỹ thuật của nước (hoặc các bên) thứ ba về ảnh vệ tinh, khí cụ hàng không không người lái, máy ảnh số, hệ thống liên lạc tế bào và kỹ thuật ảnh địa   hình chi tiết trên CD-ROM. Dựa vào những phương tiện đó, các nước chưa phải là giàu có vẫn có thể phát hiện, trông thấy được tài sản của Mỹ và do đó uy hiếp số tài sản đó ở ngay bên trong hoặc ở gần các chiến trường xung đột.

Buộc Hoa Kỳ phải hoạt động ở ngoài xa không đến nỗi làm cho tài sản của đối phương khó bị phát hiện, song nó tăng thêm tầm xa cần thiết và do vậy tăng giá chi phí đánh phá những tài sản đó – vấn đề chính là ở đó. Chống lại một kẻ địch đã phân bố thành công lực lượng quân sự của nó trong nhiều đơn vị, thì một đòn đánh từ cự ly xa là tốn kém, buộc phải tốn phí những tên lửa hành trình trị giá hàng triệu USD để tiến công một quân đội bao gồm những “kỹ thuật” quân sự (những xe tải nhẹ với vũ khí tự động). Có như thế mới đủ làm kiệt quệ một cuộc can thiệp.

Như vậy Colin đúng hay sai khi ông nói: yếu tố quyết định cuối cùng trong chiến tranh là “con người cầm súng” trên chiến trường? Câu trả lời là đúng và cũng không đúng. Đối với Hoa Kỳ, người ta có thể nói rằng trong bối cảnh thường quy của tương lai, Hoa Kỳ có thể giải giáp vũ khí hạng nặng của đối phương. Nhờ vậy, các đồng minh sở tại của Hoa Kỳ lúc ấy vẫn tiếp tục duy trì được lực lượng hạng nặng của mình, dựa vào đó sẽ có thể chi phối chiến trường, mặc dù lúc đầu họ ở vào thế yếu. Còn trong trường hợp thay vào một sự lựa chọn khác, cả hai đều không có lực lượng hạng nặng, thì vẫn cái kiến trúc đã tạo nên “dòng bits” thắp sáng chiến trường, lại được sử dụng để giúp các đồng minh. Thực hiện được như vậy, đối với Hoa Kỳ, có nghĩa là vai trò của vũ lực và địa lý càng thêm được biến đổi.

Trang bị thông tin cho đồng minh

Trong thế kỷ này Hoa Kỳ đã năm lần tiến hành các cuộc chiến tranh lớn ở ngoài nước, nhằm bảo vệ một hoặc nhiều nước đồng minh: Pháp và Anh trong chiến tranh thế giới I, Anh trong chiến tranh thế giới II và sau đó là Triều Tiên, Nam Việt Nam và Saudi Arabia. Một cách dàn xếp như thế trong điều kiện vắng mặt một đối thủ cạnh tranh tương xứng, thậm chí vẫn là một đặc điểm trong 20 năm sắp đến. Và mục đích chính hàng đầu của cuộc chiến tranh can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ, sẽ nhằm che chở, bảo vệ các quốc gia khác. Khi cuộc chiến đấu kết thúc thì an ninh tương đối của các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ là điều kiện quyết định các mục tiêu trước mắt của cuộc can thiệp.

Thông tin có thể giúp cho một cuộc can thiệp như thế được thực hiện một cách dễ dàng hơn và làm giảm đi các trở ngại về mặt địa lý vốn tồn tại rất lớn đối với những hoạt động viện trợ thông thường. Nếu cuộc chiến đấu diễn biến trở thành cuộc “trốn-và-tìm” và cùng lúc các hệ thống săn tìm có thể tách rời các lực lượng mà chúng phục vụ, thì Hoa Kỳ có thể thực hiện công việc viện trợ không những đầy đủ như bây giờ họ vẫn đang làm về trợ giúp vũ khí và nhân viên thường quy, mà sự giúp đỡ sẽ được thực hiện thường xuyên hơn, thời gian kéo dài hơn và bằng viện trợ gián tiếp chứ không phải là trực tiếp. Bằng cách cung cấp ưu thế thông tin cho đồng minh, Hoa Kỳ có thể không bộc lộ mình mà vẫn nhân gấp bội sức mạnh của đồng minh trên một số mặt tăng gấp 10, hoặc gấp 100 lần. Hoa Kỳ sẽ thực hiện như vậy bằng cách gửi cho đồng minh của mình những “dòng bits”: chủ yếu là thông tin thời gian thực về không gian tác chiến, gồm cả hồ sơ bối cảnh (thí dụ như tư liệu bản đồ) và phần mềm tích hợp, mô phỏng và bảo trì các hệ thống. Người ta cho rằng để sử dụng được những viện trợ đó, trường hợp tốt nhất đó sẽ là một đồng minh có vũ khí chính xác, yêu cầu định vị mục tiêu được đưa vào chương trình vi tính. Tuy nhiên, nếu là trường hợp đồng minh có trang bị kém hơn, thì họ vẫn có được cái lợi lớn là nắm bắt được xác thực tài sản của đối phương trong thời gian thực.

Xét trên một số mặt thì việc chuyển giao ưu thế thông tin là một biến thể của việc cung cấp vũ khí truyền thống. Nhưng so với tiếp tế vũ hí thì cung cấp “dòng bits” không để lại dấu tay như vũ khí. Hai là “dòng bits” nhân lực lượng lên gấp bội, còn vũ khí chỉ cộng thêm vào. Ba là “dòng bits” dễ dàng được chuyển giao và cũng dễ dàng được cắt bỏ (nào có ai dám chắc rằng tên lửa Stinger tiếp tế cho quân phiến loạn Afghanistan cuối cùng không rơi vào tay bọn khủng bố). Bốn là một khi “dòng bits” được sinh ra, thì một bản sao thứ hai sẽ rẻ tiền hơn, còn chiếc xe tank gửi ra nước ngoài cũng là chiếc xe tank mà không bao giờ người ta còn có nữa. Và sau hết, cung cấp cho đồng minh một hình ảnh được rọi sáng về không gian tác chiến so với sự tiếp tế về vật chất, thì chúng ta đạt được hiệu quả lớn hơn trong việc làm cho họ hiểu cách nhìn nhận của chúng ta đối với cuộc xung đột. Vả chăng trong thực tế không phải Hoa Kỳ chỉ giúp đồng minh có được các “dòng bits” chứ không giúp sức người và vật chất. Bởi vì ngay cả các đồng minh có vũ khí tinh vi, họ vẫn cần đến những đầu đạn PGM (khí tài điều khiển chính xác) thông minh và các bộ cảm ứng mặt đất. Sĩ quan liên lạc và tác chiến đặc biệt sẽ phải giúp các đồng minh về phần tích hợp ấy.

Cũng nên ghi nhận thêm một kiểu thị trường nữa tương tự thị trường vũ khí: tuy Hoa Kỳ có thể sẽ là nước đầu tiên có khả năng cung cấp viện trợ thật sự mà không bộc lộ mình trên thực tế, song phần lớn những thứ có thể tạo nên ưu thế về thông tin đều xuất xứ từ thị trường thương mại, rất ít thứ chịu sự kiểm soát chặt chẽ về công nghệ. Những năng lực này vì vậy cũng nằm trong tầm tay của nhiều cường quốc lớn tiềm tàng khác.

Để minh họa thêm về khả năng ứng dụng ưu thế thông tin được chuyển giao, ta hãy nhìn qua “Chiến dịch chiến sĩ cảnh giác”. Tháng 10/1994, Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc tập trận công khai cùng với Kuwait, nhằm phản ứng đối với Iraq dường như chuyển quân về phía Nam. Cuộc tập trận này biểu thị khả năng của Hoa Kỳ sẵn sàn ngăn chặn một cuộc xâm lược có thể có. Cuộc tập trận tốn phí tới 1 tỷ USD (chống lại một việc mới chỉ là giả thiết của phía Iraq với chi phí ít tốn kém hơn nhiều). Và bây giờ ta lại xem thử cũng với 1 tỷ USD được dùng theo cách khác. Kuwait sẽ mua vài nghìn tên lửa chống thiết giáp và đem chôn rải rác trong hầm với số lượng nhiều hơn gấp 10 lần số tên lửa. Nếu thiết giáp vượt qua biên giới, các ký hiệu mục tiêu bổ sung ứng với thời gian thực do một hệ thống các hệ thống của Hoa Kỳ thực hiện, sẽ thay thế các ký hiệu mục tiêu giả trong những tên lửa đó, nhờ vậy một phần lớn lực lượng tiến công có thể bị phá hủy và bị loại bỏ khỏi vòng chiến. Việc chống thiết giáp trên đây có lẽ là thí dụ thích hợp nhất biểu hiện năng lực này, nhưng tư tưởng cơ bản của nó còn có thể được ứng dụng bằng cách sử dụng kỹ thuật để chống lại một cuộc uy hiếp đến từ trên không, hoặc chống lại các hoạt động lật đổ có thể được tiến hành một cách bí mật hơn tại các khu vực đồi núi. Với cách làm gửi “dòng bits” cho các lực lượng phòng ngự được chuẩn bị chu đáo, Hoa Kỳ sẽ không phải mạo hiểm đưa lực lượng vào mà vẫn đạt được mục đích đề ra và còn có thể hành động tự do hơn nhiều. Chưa kể như vậy Hoa Kỳ còn mở rộng hơn không gian hữu ích giữa tiếp xúc với quan sát thụ động.

Vũ trang thông tin cho đồng minh còn có những ứng dụng khác nữa. Chẳng hạn Hoa Kỳ muốn ủng hộ một phía trong cuộc xung đột không rõ rệt – như những người Hồi giáo Bosnia – mà không cần mạo hiểm đưa quân vào, hoặc không khiến các cường quốc khác phải can thiệp. Trong trường hợp này cung cấp “dòng bits” một cách bí mật có thể nhân hiệu quả tác chiến và vũ khí của phía được Hoa Kỳ giúp đỡ. Dù cho các cường quốc lớn thân hữu với phía bên kia trong cuộc xung đột có thể nghi Hoa Kỳ đang thực hiện sự viện trợ đó, song do tính chất của viện trợ là bí mật nên nó cũng ít gây phản ứng so với phản ứng do một sự viện trợ công khai gây ra.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần III


Các hành động của Nga ở Ukraine cho thấy Điện Kremlin nhìn nhận NATO và các đảm bảo an ninh của nó đối với các thành viên của mình nghiêm túc đến mức nào. Việc Nga sáp nhập Crimea và xâm lược miền Đông Ukraine là nhưng bước đi được tính toán để ngăn Ukraine tiến tới trở thành thành viên NATO và thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Nga – một diễn tiến có lẽ đã đánh dấu một thất bại chiến lược lớn đối với Nga và sự lúng túng đối với Putin, xét việc Điện Kremlin coi Ukraine như một vòng đệm thiết yếu để chống lại một NATO thù địch và bành trướng. Hơn nữa, Moskva sẽ khó có thể tái lập các hoàn cảnh có lợi trong khu vực Baltic như Nga đã có ở Crimea. Các lực lượng của Nga đã có mặt trên bán đảo này từ trước cuộc khủng hoảng và đang hoạt động từ một cơ sở hạ tầng vững chắc. Hơn nữa, như nhiều nhà quan sát đã chỉ ra, hoạt động tại Crimea chủ yếu do các đơn vị lực lượng tinh nhuệ đặc biệt của Nga tiến hành và do đó, không phản ánh đúng tình trạng chung của các lực lượng chiến đấu trên bộ của Nga. Nói một cách đơn giản, các nước Baltic đã về phe với NATO. Một cuộc tấn công quân sự thẳng thừng vào các nước này sẽ có nguy cơ dẫn đến một cuộc chiến tranh toàn lực với NATO.

Cũng quan trọng là phải hiểu rằng quyết định của Điện Kremlin đi đến chiến tranh với NATO sẽ mang tính chính trị – được thúc đẩy bởi không chỉ một số lượng nhỏ xe tăng, binh lính và máy bay. Lo ngại lớn nhất của giới tinh hoa Nga là sự sống còn của họ và hệ thống họ đã xây dựng và đầu tư; Nga có một nỗi sợ hãi sâu xa đối với bất ổn chính trị và cái được cho là những kế hoạch thay đổi chế độ của Mỹ. Như một trong những cố vấn thân cận nhất của Putin đã nói: “Mỹ đang cố gắng gây ra thay đổi chế độ ở Nga và cuối cùng sẽ chia cắt đất nước của chúng ta thông qua các sự kiện ở Ukraine”. Sẽ là cực kỳ mạo hiểm nếu Điện Kremlin đặt cược rằng các lực lượng Nga có thể tấn công liên minh quân sự hùng mạnh nhất thế giới và chiếm ưu thế trong một cuộc xung đột; vì những hậu quả của việc thua cuộc – hay thậm chí chiến thắng – ván cược đó sẽ là thảm khốc đối với giới tinh hoa của Nga và cả đất nước nói chung.

Nói cách khác, quyết định của Putin tiến hành một cuộc chiến tranh thông thường với NATO sẽ liên quan đến việc đánh giá tầm quan trọng của các mục tiêu chính trị đạt được từ một chiến thắng quân sự bất chấp những tính toán về phí tổn và rủi ro của hành động quân sự. Tất nhiên có khả năng Putin tính toán sai lầm hay đánh giá sai ý định chính trị của NATO tôn trọng cam kết trong Điều 5 của mình. Nhưng ông có thể kết luận rằng Nga cuối cùng sẽ đối mặt với toàn bộ sức mạnh của cỗ máy quân sự NATO trong việc đối phó với một cuộc tấn công của Nga – một tính toán dựa trên đánh giá của ông rằng các nhà lãnh đạo NATO và đặc biệt là tổng thống Mỹ sẽ không muốn gánh chịu những hậu quả vô cùng tiêu cực nếu liên minh này không thể thực hiện được đảm bảo an ninh của nó – sự kết thúc của liên minh và một đòn nặng nề đối với vận mệnh chính trị của các nhà lãnh đạo NATO.

Các khả năng quân sự thông thường

Nga có vị trí địa lý thuận lợi và lợi thế về mặt số lượng so với NATO về cả nhân lực và trong mỗi hạng mục lớn về vũ khí và trang thiết bị chiến đấu mà sẽ được sử dụng trong cuộc tấn công quân sự ban đầu chống lại các quốc gia Baltic. Cũng vậy ngay cả khi xem xét các lực lượng thường trực của các quốc gia Baltic, những lực lượng mà các nước thành viên NATO khác sẽ triển khai trong thời bình hoặc dựa trên cơ sở luân chuyển trong lãnh thổ Baltic (và Ba Lan), và các lực lượng triển khai sớm mà NATO đã chỉ định để tăng cường sườn phía Đông của mình nhằm đối phó lời cảnh báo chiến lược về một cuộc tấn công.

Nhân lực

Nga có 22 tiểu đoàn cơ động được triển khai tại Quân khu phía Tây và 3 tiểu đoàn ở Kaliningrad – mặc dù một vài trong số các đơn vị thiện chiến nhất ở khu vực này được giao nhiệm vụ bảo vệ các lực lượng Nga trong và xung quanh Ukraine và đóng quân ở đây trong thời bình. Hiện nay, các lực lượng của các quốc gia Baltic và các lực lượng NATO khác có thể sẵn sàng vào mở màn cho chiến dịch phòng thủ phía trước ban đầu bảo vệ lãnh thổ Baltic có tổng cộng xấp xỉ 17 tiểu đoàn; trong khi Mỹ và các đồng minh NATO thực hiện các kế hoạch cải thiện lực lượng của họ ở sườn phía Đông trong vòng 2 năm tới, liên minh này sẽ có thêm bốn tiểu đoàn đa quốc gia để triển khai luân phiên tại các quốc gia Baltic và Ba Lan. Ngoài ra, tùy thuộc vào độ dài của thời gian cảnh báo một cuộc tấn công, Mỹ có thể triển khai thêm hai đội chiến đấu lữ đoàn thiết giáp khác. Đây không phải là một lợi thế về số lượng nghiêng hẳn về phía Nga, nhưng nó không tính đến những khác biệt đáng kể về chất lượng giữa loại hình các đơn vị của mỗi bên.

Vũ trang hạng nặng

Ba nước Baltic có 11 tiểu đoàn bộ binh hoặc các tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ; trong một kịch bản cảnh báo hạn chế, Mỹ có lữ đoàn chiến đấu Stryker được triển khai sớm tới sườn phía Đông. Ngược lại, Nga có bố trí mạnh hơn – 22 tiểu đoàn ở Quân khu phía Tây, 13 tiểu đoàn là các đơn vị bộ binh xe tăng, cơ giới hóa hoặc cơ khí hóa, cùng với sơ đồ tổ chức và trang thiết bị có hỏa lực chiến đấu mạnh hơn nhiều.

Pháo binh và tên lửa đất đối đất

Các lực lượng Nga có thể sử dụng nhiều hệ thống hỏa lực trực tiếp và gián tiếp hơn, gây sức ép đáng kể cho khả năng của các lực lượng NATO ngăn chặn cuộc tấn công ban đầu của Nga và giữ vững lãnh thổ. Nga có 10 tiểu đoàn pháo binh ở Quân khu phía Tây, và hầu hết các hệ thống này có phạm vi và tốc độ khai hỏa lớn hơn so với các đối tác NATO của họ. Ngoài ra, 5 tiểu đoàn tên lửa đất đối đất (SSM) cũng hỗ trợ cho các đội hình pháo binh này. Đặt trong tương quan so sánh, các lực lượng NATO phải chịu thâm hụt nghiêm trọng về pháo ống, súng phóng tên lửa, và SSM. Nói tóm lại, các lực lượng hạng nhẹ hơn của NATO đang thua Nga về hỏa lực.

Máy bay chiến đấu và trực thăng tấn công

Nga có 27 phi đội chiến đấu trên hông được triển khai tại Quân khu phía Tây và 6 tiểu đoàn trực thăng tấn công – hầu hết đều là những máy bay tân tiến nhất sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu của Nga. Các lực lượng không chiến của NATO có thể có mặt ngay từ khi bắt đầu chiến sự hoặc trong vòng 7 ngày kể từ khi bắt đầu cuộc chiến có tổng cộng gần 19 phi đội (nếu, và đây là trường hợp dễ xảy ra, Thụy Điển từ bỏ thái độ trung lập và cho phép một vài trong số các đơn vị này hoạt động từ các căn cứ của Thụy Điển). Giống như Nga, các đơn vị này thường có máy bay hiện đại và thiện chiến nhất của liên minh. Đây không phải một lợi thế về mặt số lượng trên giấy tờ của các lực lượng Nga, nhưng các lực lượng không quân của NATO sẽ hoạt động trong một môi trường vô cùng cạnh tranh trên chiến trường.

Tóm lại, Nga sẽ tấn công với một lực lượng lớn và trang bị hạng nặng hơn nhiều, được hỗ trợ thiết giáp, vũ khí và cảm biến tân tiến và một hệ thống phòng không tinh vi cùng các hệ thống khai hỏa trực tiếp tầm xa. Cho đến khi Mỹ và NATO thực hiện kế hoạch cải thiện lực lượng trong vòng vài năm tới, liên minh này sẽ phải đẩy lùi cuộc tấn công ban đầu bằng một lực lượng yểm trợ hạng nhẹ. Máy bay chiến đấu, các khả năng tên lửa tầm xa, và khả năng tăng viện cho các quốc gia Baltic trên không, trên biển và trên đất liền của liên minh này sẽ ngày càng bị thách thức bởi các khả năng chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập khu vực (A2/AD) của Nga trong và xung quanh Kaliningrad.

Tình hình này đã dẫn đến việc chuyên gia quốc phòng phương Tây chấp nhận đánh giá của một nghiên cứu của RAND gần đây rằng NATO bị Nga “lấn át về số lượng, tầm bắn và hỏa lực” ở vùng ngoại vi phía Đông của liên minh. Theo các tác giả của nghiên cứu này, “nếu Nga tiến hành một cuộc tấn công không báo trước vào các nước Baltic, các lực lượng của Moskva có thể tràn xuống vùng ngoại ô thủ đô Talinn của Estonia và thủ đô Riga của Latvia trong vòng 36 đến 60 tiếng”. Hành lang Suwalki – một dải lãnh thổ dài 65 dặm trên biên giới phía Đông của Ba Lan, nằm giữa Kaliningrad và Belarus và đóng vai trò kết nối đất liền duy nhất giữa Estonia, Latvia, Litva và phần còn lại của NATO – là một mối lo ngại đặc biệt đối với các nhà lập kế hoạch của NATO.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018