Lời nói gián tiếp, lời nói trực tiếp và các biến thể của chúng – Phần III


Biến thể phân tích – ngôn từ của lời nói gián tiếp

Chúng ta hãy chuyển sang biến thể phân tích – ngôn từ. Nó đưa vào cấu trúc gián tiếp các từ và cụm từ của lời kẻ khắc, đặc trưng cho diện mạo phong cách và chủ quan của phát ngôn của kẻ khác như là một sự biểu đạt. Những từ và cụm từ này được đưa vào theo cách để có thể cảm nhận rõ ràng tính đặc trưng chủ quan và điển hình của chúng, thường xuyên nhất là được đặt trong dấu ngoặc kép. Dưới đây là bốn ví dụ .

1/ « Về Xmerdiakov đã qua đời thì lão (Grigory) vừa làm dấu thánh vừa nói rằng gã trai có khả năng, nhưng đần độn và ốm đau, nhất là vô thần, mà hắn vô thần là do Fedor Pavlovich và người con trưởng dạy cho » (Dostoievski, « Anh em nhà Karamazov »).

2/ « Với những người Ba Lan cũng vậy : họ xuất hiện một cách ung dung, tự hào. Họ nói oang oang rằng thứ nhất, cả hai đều « phụng sự ngai vàng » và « pan » Mitia đề nghị với họ ba ngàn rúp để mua danh dự của họ và chính họ nhìn thấy anh ta cầm trong tay món tiền lớn » (ibid).

3/ « Kraxotkin kiêu hãnh bác bẻ lại rằng « trong thời đại chúng ta » mà chơi trò làm ngựa với các bạn cùng lứa tuổi mười ba thì thật là nhục, nhưng nó chơi trò đó với bọn « nhóc con » vì yêu chúng, không ai có quyền xọc vào tình cảm của nó » (ibid).

4/ « Ngài nhận ra nàng (tức là Nastasia Filippovna) gần như điên loạn : nàng hét, nàng run, nàng kêu lên rằng Rogojin nấp ở ngoài vườn nhà nàng, và rằng nàng vừa thấy gã đây và thế nào đến tốicũng giết nàng, cắt cổ nàng ! » (Dostoievski. « Gã khờ ». Ở đây, trong cấu trúc gián tiếp, tính biểu cảm của phát ngôn của kẻ khác được giữ nguyên).

Được đưa vào lời nói gián tiếp và được cảm nhận với đặc trưng của nó, các từ và thành ngữ của kẻ khác (đặc biệt, khi chúng được để trong dấu ngoặc kép) được « lạ hóa », nói theo cách của các nhà hình thức chủ nghĩa, và được lạ hóa đúng theo hướng cần thiết cho tác giả ; chúng được vật hóa, tính màu mè của chúng thể hiện rực rỡ hơn, nhưng đồng thời chúng cũng biến đổi dưới áp lực của mối quan hệ với tác giả : mỉa mai, hài hước…

Cần phải phân biệt biến thể này của lời nói gián tiếp với những trường hợp chuyển trực tiếp lời nói gián tiếp thành lời nói trực tiếp, mặc dù chức năng của chúng gần như đồng nhất : khi lời nói trực tiếp nối tiếp lời nói gián tiếp, tính chủ quan ngôn từ của nó thể hiện rõ ràng hơn và hteo hướng cần cho tác giả. Ví dụ :

1/ « Trifon Borisovich nói quanh co, nhưng sau khi thẩm vấn hai người nông dân, đành thú nhận sự kiện, chỉ thêm rằng hồi ấy đã thành tâm trả lại hết cho Dmitri Fedorovich « một cách hết sức ngay thực, có điều anh ta đang say khướt, chưa chắc đã nhớ được » (Dostoievski, « Anh em nhà Karamazov »).

2/ « Mặc dù hết sức kính trọng vong linh ông chủ cũ của mình, lão vẫn tuyên bố rằng ông bất công với Mitia và « giáo dục các con không đúng đắn. Hồi còn nhỏ, không có tôi thì cậu ấy đã bị chấy rận ăn thịt rồi ». – Lão nói thêm, khi kể về những năm tháng thơ ấu của Mitia » (ibid).

Trong trường hợp này, lời nói trực tiếp được chuẩn bị bởi lời nói gián tiếp và dường như phát sinh trực tiếp từ lời nói gián tiếp – giống như một hình hài uyển chuyển, chưa hoàn toàn tách ra khỏi khối nguyên liệu trong các tác phẩm điêu khắc của Rodin. Đó là một trong vô số các biến thể của lời nói trực tiếp trong lói lý giải hội họa.

Biến thể phân tích – ngôn từ của cấu trúc gián tiếp là như thế. Nó tạo ra những hiệu ứng hội họa hoàn toàn độc đáo trong sự truyền đạt lời kẻ khác. Biến thể này giả định trước một mức độ cá nhân hóa cao của phát ngôn của kẻ khác trong ý thức ngôn ngữ, năng lực cảm nhận rạch ròi lớp vỏ ngôn từ của phát ngôn và ý nghĩa khách thể của nó. Điều này không phải là đặc trưng vốn có của cả sự tiếp nhận độc đoán lẫn sự tiếp nhận duy lý phát ngôn của người khác. Với tư cách là một thủ pháp phong cách thực dụng, nó chỉ có thể cắm rễ trong ngôn ngữ trên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân hiện thực và phê phán, trong khi biến thể phân tích – khách thể là đặc thù của chủ nghĩa cá nhân duy lý. Trong lịch sử tiếng Nga văn học, giai đoạn này gần như hoàn toàn vắng mặt. Có lẽ đó là lý do tại sao chúng ta thấy sự thống trị tuyệt đối của biến thể phân tích – ngôn từ so với biến thể phân tích khách thể. Việc không có temporum consecutio trong tiếng Nga cũng tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi cho sự phát triển của biến thể phân tích – ngôn từ.

Như vậy, chúng ta đã thấy rằng mặc dù được liên kết bởi cùng một xu hướng phân tích của hình mẫu, hai biến thể của chúng ta phản ánh các ý niệm ngôn ngữ khác nhau sâu sắc về ngôn từ kẻ khác và cá nhân của người nói. Đối với biến thể đầu, cá nhân người nói được đưa ra chỉ như là kẻ giữ một lập trường ý nghĩa nhất định (nhận thức, đạo đức, lối sống, hành vi) ; còn bên ngoài lập trường này (lập trường được truyền đạt một cách khách thể theo nghĩa chặt chẽ), nó không tồn tại đối với người truyền đạt. Ở đây không có chỗ để nó đông kết thành hình ảnh. Trong biến thể thứ hai, ngược lại, cá nhân được đưa ra như là một lối chủ quan (cá nhân và điển hình), lối nghĩ và lối nói, bao gồm cả sự đánh giá của tác giả về lối này. Ở đây, cá nhân người nói đã đông kết thành hình ảnh.

Biến thể ấn tượng của lời nói gián tiếp

Trong tiếng Nga còn có thể xác định biến thể thứ ba, khá quan trọng, của cấu trúc gián tiếp, được sử dụng chủ yếu để truyền đạt ngôn ngữ bên trong, những ý nghĩ và trải nghiệm của nhân vật. Biến thể này diễn giải lời kẻ khác khá tự do, giản lược nó, thường chỉ làm nổi rõ các chủ đề và chủ âm của nó. Do đó nó có thể được gọi là biến thể ấn tượng. Ngữ điệu tác giả hòa vào cấu trúc của nó một cách dễ dàng và tự do. Đây là một ví dụ cổ điển của biến thể ấn tượng như vậy rút từ « Kỵ sĩ đồng » :

« Chàng nghĩ gì ? nghĩ rằng chàng nghèo, phải nỗ lực để đảm bảo cho mình một cuộc sống tự lập và danh dự ; rằng Chúa lẽ ra có thể ban cho chàng thêm trí thông minh và tiền bạc. Rằng trên đời có khối kẻ vô công rồi nghề mà may mắn, chẳng cần thông minh, lại lười biếng, nhưng cuộc đời thì thật an nhàn, dễ chịu ! Rằng chàng mới làm việc được hai năm ; chàng nghĩ, rằng thời tiết vẫn không dịu xuống ; rằng nước sông vẫn lên ; rằng dường như tất cả các cầu trên sông Neva đã cất lên và rằng chàng bị cắt lìa với Parasa hai ba ngày. Đấy, chàng mơ mộng thế… ».

Chúng ta thấy, từ ví dụ này, rằng biến thể ấn tượng của lời nói gián tiếp nằm ở đâu đó giữa biến thể phân tích – khách thể và biến thể phân tích – ngôn từ. Đôi khi sự phân tích khách thể diễn ra ở đây hết sức rõ ràng. Một số từ và cụm từ rõ ràng được sinh ra từ tâm trí của chính Evgheni (tuy vậy, không nhấn mạnh đặc trưng của chúng). Nhưng mạnh mẽ hơn hết, chúng ta nghe thấy sự mỉa mai của tác giả, sự nhấn mạnh của anh ta, tính chủ động của anh ta trong việc sắp xếp, giản lược chất liệu.

Hình mẫu lời nói trực tiếp

Bây giờ chúng ta chuyển sang hình mẫu lời nói trực tiếp. Nó cực kỳ phát triển trong tiếng Nga văn học, với số lượng vô cùng phong phú các biến thể khác nhau căn bản. Trong việc đưa lời kẻ khác vào ngữ cảnh tác giả, từ những khối cồng kềnh, trơ lì và không thể phân tách của lời nói trực tiếp trong các tượng đài văn chương cổ đại đến các phương pháp hiện đại linh hoạt, và thường lưỡng nghĩa, là cả một con đường lịch sử phát triển lâu dài và có nhiều điều để nghiên cứu. Nhưng ở đây chúng ta buộc phải từ chối cả việc xem xét con đường lịch sử ấy lẫn sự mô tả tĩnh tại các biến thể lời nói trực tiếp hiện diện trong ngôn ngữ văn học. Chúng ta tự hạn chế trong những biến thể, trong đó diễn ra sự trao đổi lẫn nhau bằng ngữ điệu, như thể sự lây nhiễm lẫn nhau, giữa ngữ cảnh tác giả và lời kẻ khác. Trong đó, điều chúng ta quan tâm nhất không hẳn là những trường hợp lời tác giả xâm chiếm phát ngôn kẻ khác, xuyên thấu vào nó bằng ngữ điệu, mà là những trường hợp, trong đó, ngược lại, ngôn từ của kẻ khác xâm nhập vào và lan tỏa khắp bối cảnh tác giả, làm cho nó trở thành bất định và mơ hồ. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta cũng có thể vạch một ranh giới rạch ròi giữa hai trường hợp này : sự lây nhiễm đó thường là hai chiều.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Thời loạn lạc, chiến tranh nối tiếp chiến tranh – Phần I


1/ Hỗn loạn

Nước Nga gặp đại họa, phương Tây hoan hỉ

Năm 1991, vì chiến tranh thông tin – tâm lý mà Liên Xô – một quốc gia hùng mạnh, một trong hai siêu cường của thế giới đã tan rã và chấm dứt tồn tại, bị chia thành 15 nước do Mỹ và phương Tây cai quản. Nhưng, điều cốt yếu nhất có lẽ là sự thay đổi căn bản ý thức của người dân Nga, chuyện chưa từng xảy ra trong suốt bề dày lịch sử nước Nga. Các sự kiện năm 1917 và 1991 có sự khác nhau căn bản. Năm 1917 và tiếp đó, tâm trạng dân Nga giữ nguyên không thay đổi, kể cả ý thức của họ, điều có quan hệ chặt chẽ với chính thống giáo từ ngày lập nước. CNCS Nga là người kế thừa các giá trị đó xét về mặt cộng đồng, tính tập thể của các chuẩn mực đạo đức. Năm 1991 đúc kết sự cải cách triệt để ý thức xã hội từ chủ nghĩa tập thể sang chủ nghĩa cá nhân, sang lý tưởng xã hội tiêu dùng, nơi đồng tiền là Chúa trời duy nhất và cái tôi là tất cả.

Kết quả sự cải cách ý thức xã hội là mất phương hướng, đào ngũ, mất khả năng đối kháng. Từng người chết trong cô đơn: tuyệt thực, tự tử, chết vì bần cùng, tuyệt vọng. R. Kocolapov nhận xét sự việc như sau:

Thảm họa lớn nhất của nước Nga hiện nay không phải chỉ là khủng hoảng mọi mặt kéo dài – từ chính trị đến kinh tế, từ xã hội đến đạo đức, mà cả ở chỗ, nước Nga không còn sống, hay đúng hơn, bị ép sống không bằng cái đầu cảu mình. 13 người Mỹ sang Nga sau chính biến tháng Tám 1991 là các chuyên gia nước ngoài đạo diễn sự kiện tháng Mười Đen năm 1993: 6 người Mỹ thay chúng ta chọn cho ta Tổng thống từ 16 tháng 6 đến 3 tháng 7; IMF áp đặt chuyên chế có hệ thống cho chúng ta – đó là dấu hiệu mất chủ quyền của ta trong cái chủ yếu và cơ bản nhất – khả năng tự sắp xếp công việc theo ý mình”.

Nói cách khác, chính quyền bị lệ thuộc vào phương Tây, tuy người cầm lái vẫn là những kẻ từng cầm lái dưới chính quyền Xô Viết: các nhà tư tưởng Đảng Cộng sản Liên Xô và bộ sậu Đảng dị dạng. Có điều giờ đây họ biến chính quyền thành của riêng và dựa vào ngoại bang. Nga trở thành kẻ được phương Tây bảo hộ. Mọi quyết định quan trọng đều phải báo cáo trước hết cho Mỹ. Giống như thời phong kiến loạn lạc, khi các quý tộc Nga phải đi cầu cạnh ngoại bang, giờ đây, các Tổng thống và ứng cử viên Tổng thống các nước cộng hòa cũ sang cầu cạnh Mỹ.

Nhưng té ra chiến tranh thông tin – tâm lý chưa đến hồi kết, tuy sắc lệnh 20/1 của HĐANQG Mỹ “Mục tiêu của Mỹ đối với Nga” ký ngày 18 tháng 8 năm 1948 đã được hoàn thành trọn vẹn. Tạp chí “Tri thức – Quyền lực” đăng những lời “hay” của các lãnh đạo phương Tây đúc kết chiến tranh tâm lý chống Liên Xô;

Thông điệp của Tổng thống Mỹ Clinton “Tình hình quốc gia” ngày 7 tháng 2 năm 1997 viết:

Để chuẩn bị cho Mỹ bước vào thế kỷ XXI, chúng ta phải học được cách điều khiển các thế lực quyết định sự thay đổi của thế giới, đảm bảo cho nước Mỹ lãnh đạo thế giới lâu dài, bền vững. 50 năm trước, Mỹ có tầm nhìn xa khi thành lập các Viện giúp Mỹ thắng cuộc chiến tranh lạnh, vượt qua nhiều trở ngại chia cắt thế giới mà tổ tiên chúng ta từng sinh sống…”.

Ngoại trưởng Baker:

Chúng ta đã bỏ ra hàng ngàn tỷ USD trong vòng 40 năm để giành chiến thắng trong chiến tranh lạnh với nước Nga”.

Giám đốc Trung tâm chính trị và an ninh Gafney:

Thắng lợi của Mỹ trong chiến tranh lạnh là kết quả của chiến lược được hoạch định trước, đa dạng nhằm tiêu diệt Liên Xô. Các sự kiện lịch sử đã được định trước bởi chiến lược của Reagan. Cuối cùng, chiến tranh ngầm chống Liên Xô đã tạo điều kiện đánh bại Liên Xô”.

Thư ký của Ủy ban ba bên Brzezinzski:

Nga là cường quốc bại trận. Nga đã thua cuộc chiến toàn cục. Nếu nói “không phải Nga mà là Liên Xô” chỉ là trốn tránh sự thật. Đó là nước Nga được gọi bằng Liên Xô. Nga đã thách thức Mỹ. Nga đã thua cuộc. Giờ đây không cần ảo tưởng về nước Nga cường quốc. Cần từ bỏ cách tư duy đó… Nga sẽ bị chặt nhỏ và bị đô hộ”.

Tổng thống Nixon:

Phương Tây phải làm hết sức mình,… nếu không Mỹ và phương Tây dễ bỏ tuột chiến thắng trong chiến tranh lạnh, sẽ bị đánh bại… Nga là chìa khóa của thắng lợi. Chính tại Nga cuộc chiến cuối cùng của chiến tranh lạnh sẽ thắng hay thua. Đó là trận cuối”.

Thành viên Ủy ban ba bên, lãnh đạo “Knight Bright” Kissinger:

Rõ ràng, Liên Xô tan rã là sự kiện trọng đại nhất của thời đại và chính quyền Bush thể hiện tài nghệ tuyệt vời trong vụ này… Tôi thích một nước Nga hỗn loạn, chìm trong nội chiến hơn là nhìn thấy nước Nga tái thống nhất thành một quốc gia trung ương vững chắc”.

Thủ tướng Anh John Major:

Nhiệm vụ của Nga sau khi thua chiến tranh lạnh là cung cấp nguyên liệu cho các nước phát triển. Nhưng chỉ cần năm, sáu chục triệu người để làm việc đó”.

Không cần lời bàn. Qua đó thấy rõ, hiểm họa Cộng sản chỉ là sự lừa bịp và Nga đang đứng trước hiểm họa chết người bị đe dọa chia nhỏ, gây hỗn loạn, hút hết tài nguyên, bị phương Tây bảo hộ và số người thừa sẽ bị diệt. Hơn nữa, nhiều kẻ ở phương Tây cho rằng, tinh thần Nga đã bị phát nát, người Nga chỉ là đám nộ lệ sẵn sàng thờ phụng đồng USD.

Thời kỳ loạn lạc

Sự tương đồng giữa các sự kiện cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 với “Thời loạn lạc” cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII thật đáng kinh ngạc. Nếu chỉ dựa vào những nét tổng thể thì sẽ không hiểu đang nói về thời nào: 400 năm về trước, sự kiện xảy ra sau thời kỳ tập trung hóa quá mức. Mâu thuẫn các tầng lớp dân cư đạt đỉnh điểm. Các địa phương đứng lên chống lại chính quyền trung ương làm suy yếu hẳn chính quyền và đất nước hầu như bị tan rã. Nhiều thành phố, tỉnh giành quyền tự quyết. Tội phạm và hiện tượng vô chính phủ nở rộ.

Ngoại bang nắm các thành phố, còn người Nga ở Moskva và khắp cả nước cảm thấy mình là công dân hạng hai”.

Giai đoạn đầu tầng lớp chóp bu đóng vai trò quyết định. Chỉ khi xét đến các tiểu tiết mới thấy sự khác biệt giữa hai thời đại.

Giới quý tộc, từng giúp Dmitri Donski và Ivan III củng cố Nhà nước Nga, dần dà đánh mất lòng yêu nước. Họ lấy làm trọng lợi ích cá nhân và hướng sang phương Tây. S.F. Platonov là người hiểu biết rất tốt “Thời loạn lạc” có viết:

Để chuẩn bị xây dựng các trường học phương Tây tại Moskva, Boris Godunov gửi thanh niên Nga ra nước ngoài học tập (có điều chẳng ai muốn trở về)”.

Đối với tầng lớp chóp bu xã hội, được sinh ra trong quá trình tiến hóa Đảng Cộng sản Liên Xô, lý tưởng là tư lợi, là khả năng sang phương Tây. Giai đoạn 1601 – 1603 mất mùa đói kém, bánh mì trở thành món đầu cơ, còn thời nay, lượng lớn hàng hóa, gồm cả lương thực thực phẩm bị bán rẻ sang phương Tây. Giới chóp bu còn có đặc điểm nữa là vô nguyên tắc. Các cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, các nhà tư tưởng của Đảng đều chối bỏ những gì họ đã quảng bá, kêu gọi, ép buộc người khác làm, nhiều người trong số họ trở thành đám chống cộng điên cuồng. Một số sẵn sàng quay ngoắt 180o thời chính biến tháng 8 năm 1991. Trong quá khứ cũng đã từng như vậy, Platonov viết về hai phe: phe Vor ở Tusino và phe Suixki ở Moskva như sau:

Nhiều nhà buôn và quan chức về Tusino, một số vì căm ghét Suixki, số khác vì hám danh lợi. Cũng có hoặc người thích phiêu lưu chạy đi chạy lại giữa Moskva và Tusino. Mỗi lần đến, họ lại xin xỏ vị vua ở đó thăng chức tước vì có công “đến” và vì họ đã nhận ra vị vua “chân chính” nên đến hầu hạ. Dân Moskva gọi bọn vô lại đó bằng cái tên “di trú””.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TCII 1999.

Liệu việc kinh doanh với lợi nhuận khổng lồ của ngành xuất bản khoa học có tổn hại cho khoa học? – Phần II


Khi Butterworths quyết định từ bỏ dự án non trẻ này năm 1951, Maxwell đề nghị mua lại với giá 13,000 bảng Anh (khoảng chừng £420,000 ngày nay) cho cả cổ phần của Butterworth lẫn Springer để nắm quyền kiểm soát công ty. Rosbaud ở lại với vai trò giám đốc khoa học. Công ty được đổi tên thành Pergamon Press, sau khi một đồng xu của thành phố cổ Pergamon của Hy lạp, trong đó có nữ thần thông thái Athena được chọn làm logo – một đường nối đơn giản tiêu biểu cho cả hai: kiến thức và tiền.

Trong một môi trường mới đầy lạc quan hy vọng, Rosbault chính là người tiên phong thực hiện một phương pháp đã đem lại thành công cho Pergamon. Khi khoa học mở rộng, anh ta nhận ra nhu cầu có những tập san mới để đảm nhiệm những lĩnh vực chuyên ngành mới. Cộng đồng khoa học có truyền thống tạo ra các tập san vừa to vừa nặng, nhiều khi cản trở tiến bộ bởi các tranh luận nội bộ giữa các thành viên về ranh giới chuyên ngành của họ. Rosbaud không bị hạn chế nào như thế. Tất cả những gì anh ta cần làm là thuyết phục các nhà khoa học lỗi lạc rằng chuyên ngành cụ thể của họ cần có một tập san riêng để trình bày các công trình của họ một cách thích hợp, và đặt một người vào vị trí kiểm soát tập san ấy. Pergamon bắt đầu bán các tập san ấy cho các thư viện trường đại học, thời đó các thư viện thình lình có cả đống tiền nhà nước cấp cho để phát triển.

Maxwell học rất nhanh. Năm 1955, anh ta và Rosbaud dự Hội nghị Thụy Sĩ về Sử dụng Năng lượng Hạt nhân một cách Hòa bình. Maxwell thuê một văn phòng gần nơi tổ chức hội thảo và bước vào hội thảo với vẻ thảnh thơi không mục đích, đề nghị sẽ xuất bản bất cứ báo cáo khoa học nào các nhà khoa học mang tới hội thảo để trình bày, và đề nghị họ ký một hợp đồng độc quyền biên tập cho các tập san của Pergamon. Các nhà xuất bản khác quá sốc trước phong cách táo tợn của anh ta. Daan Frank, người của nhà xuất bản North Holland Publishing (giờ đây do Elsevier làm chủ) sau đó phàn nàn là Maxwell đã “không trung thực” về việc hứa hẹn xuất bản công trình của các nhà khoa học mà không cần biết nội dung cụ thể.

Rosbaud, cũng thế, được biết là đã trì hoãn cơn khát lợi nhuận của Maxwell. Không giống một nhà khoa học khiêm tốn trước đây, Maxwell thích những bộ cánh đắt tiền và tóc chải đen mượt. Với chất giọng Tiệp Khắc trong vẻ ngoài mạnh mẽ, sang trọng, như một phát thanh viên truyền hình với giọng trầm thấp, anh ta có vẻ ngoài với phong cách giàu có, đầy quyền lực như anh ta thường ao ước. Năm 1955, Rosbaud nói với nhà vật lý đoạt giải Nobel Nevill Mott rằng các tập san khoa học là “con cừu cái bé nhỏ” mà anh ta rất yêu, còn Maxwell là ông vua David trong Kinh Thánh, chỉ muốn xẻ thịt nó bán lấy tiền kiếm lời. Năm 1956 quan hệ của cặp đôi này tan vỡ và Rosbaud rời công ty.

Tới lúc đó, Maxwell đã kịp học được mô hình kinh doanh của Rosbaud và biến nó thành thứ của riêng mình. Các hội nghị khoa học thường có xu hướng nhàm chán nhưng khi Maxwell quay lại hội nghị Geneva năm đó, anh ta thuê một căn nhà gần Collonge-Bellerive, một thành phố đẹp như tranh bên bờ hồ, nơi anh ta tận hưởng tiệc tùng với khách khứa, rượu ngon, xì gà và du thuyền. Các nhà khoa học chưa từng nhìn thấy những thứ như anh ta. “Anh ta nói chúng tôi không cạnh tranh về việc bán hàng, chúng tôi cạnh tranh về tác giả”. Albert Henderson, nguyên phó giám đốc Pergamon, kể với tôi như thế. “ Chúng ta sẽ dự các hội thảo đặc biệt là để tìm kiếm biên tập viên cho các tập san mới”. Có nhiều câu chuyện về những bữa tiệc trên tầng thượng của khách sạn hạng sang Athens Hilton, hay quà tặng là những chuyến bay hãng Concorde, hay các nhà khoa học được mời đi trên những du thuyền qua các đảo của Hy Lạp để lập kế hoạch ra các tập san mới.

Đến năm 1959 Pergamon đã xuất bản được 40 tập san. Sáu năm sau, con số này là 150. Điều này khiến Maxwell vượt lên phía trước rất xa trong cuộc cạnh tranh (Năm 1959, đối thủ của Pergamon là Elsvier, mới chỉ có 10 tập san xuất bản bằng tiếng Anh và công ty này phải mất thêm một thập kỷ để lên tới con số 50). Đến năm 1960, Maxwell đã có xe hơi Rolls-Royce với tài xế riêng, và chuyển nhà, chuyển hoạt động của Pergamon từ London đến Headington Hill Hall ở Oxford, một khu cực kỳ to đẹp và sang trọng, và cũng đồng thời là thủ phủ của nhà xuất bản Anh Blackwell.

Các hiệp hội khoa học chẳng hạn Hội Lưu biến học Anh, thấy tương lai mờ mịt của mình, thậm chí đã bắt đầu giao tập san của mình cho Pergamon với một khoản phí nhỏ. Leslie Iversen, nguyên tổng biên tập của tập san Journal of Neurochemistry, nhớ lại Maxwell đã cám dỗ mình như thế nào trong một bữa tối hoành tráng ở nhà riêng. “Ông ta gây ấn tượng mạnh mẽ, một nhà khởi nghiệp vĩ đại”. Iversen nói thế. “Chúng tôi ăn tối với rượu vang tuyệt hảo, và cuối cùng, anh ta chìa ra tấm séc – vài ngàn bảng cho hiệp hội. Số tiền đó còn nhiều hơn những gì các nhà khoa học nghèo túng bọn tôi đã từng nhìn thấy trước giờ”.

Maxwell thuyết phục họ về những cái tên nghe rất vĩ đại – “Tập san khoa học quốc tế …” là cụm từ mở đầu rất được ưa chuộng cho tên tập san. Nguyên phó giám đốc Pergamon, Peter Ashby, miêu tả việc đó với tôi như là một “thủ thuật quảng cáo”, nhưng nó cũng đồng thời phản ánh một hiểu biết sâu về việc bản thân khoa học và thái độ của xã hội đối với khoa học đã thay đổi như thế nào. Hợp tác nghiên cứu và làm cho công trình của bạn được biết tới trên trường quốc tế đang trở thành một hình thức mới của uy tín trong giới hàn lâm, và trong nhiều trường hợp, Maxwell đã chiếm được cái góc thị trường này trước khi bất cứ ai khác nhận ra nó. Khi Liên bang Sô viết phóng đi con tàu vũ trụ Sputnik, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người năm 1959, các nhà khoa học phương Tây cuống lên đuổi cho kịp ngành nghiên cứu không gian của Nga, và rất ngạc nhiên khi biết rằng Maxwell đã thương lượng được độc quyền làm ấn bản tiếng Anh tập san của Viện Hàn lâm Khoa học Nga từ cả thập kỷ trước.

“Anh ta có lợi ích ở tất cả những chỗ đó. Tôi tới Nhật Bản, anh ta đã có một người Mỹ vận hành một văn phòng ở đó. Tôi tới Ấn độ, cũng đã có người ở đây. Asby cho biết. Thị trường quốc tế quả là rất hấp dẫn. Ronald Suleski, người đã phụ trách văn phòng Pergamon ở Nhật trong thập kỷ 70, nói rằng các hiệp hội khoa học ở Nhật, trong tình cảnh tuyệt vọng không biết làm cách nào để công trình của họ có thể được xuất bản bằng tiếng Anh, đã cho không Maxwell quyền công bố các kết quả nghiên cứu của thành viên hiệp hội.

Trong một lá thư chúc mừng kỷ niệm sinh nhật thứ 40 của Pergamon, Eiichi Kobayashi, giám đốc của cơ quan phát hành Pergamon ở Nhật trong nhiều năm, đã nói về Maxwell như sau: “Mỗi lần tôi có vinh hạnh được gặp ông ta, tôi thường nhớ lại những lời của F Scott Fitzgerald: một ông triệu phú không phải là một người bình thường”.

Các bài báo khoa học về bản chất đã trở thành cách duy nhất để khoa học được trình bày một cách có hệ thống trong thế giới ngày nay. (Như Robert Kiley, trưởng bộ phận dịch vụ số hóa của thư viện Wellcome Trust, nhà tài trợ lớn thứ hai trên thế giới cho các nghiên cứu y sinh, đã nói: “Chúng tôi tiêu cả tỉ bảng hàng năm để đổi lại các bài báo khoa học”). Đó là nguồn lực chính của những tri thức chuyên môn đáng được kính trọng nhất. “Ấn phẩm khoa học là cách diễn đạt công trình nghiên cứu của chúng tôi. Một ý tưởng hay, một cuộc trao đổi thảo luận đầy hứng khởi ngay cả của những người thông minh nhất trên thế giới…sẽ chẳng là cái gì trừ khi bạn xuất bản nó”. Neal Young của Viện Nghiên cứu Y khoa Quốc gia nói. Nếu bạn kiểm soát việc tiếp cận tư liệu thành văn của khoa học, điều đó có nghĩa là, cho dù với ý định và mục đích nào đi nữa, chẳng khác nào kiểm soát sự phát triển của chính khoa học”.

Thành công của Maxwell được xây dựng dựa trên những hiểu biết sáng suốt của ông ta về bản chất của các tập san khoa học, đó là điều phải mất nhiều năm nữa để người khác có thể hiểu và sao chép được. Trong khi các đối thủ cạnh tranh của ông than phiền là ông làm loãng thị trường, Maxwell biết rõ là thực ra chả có giới hạn nào đối với thị trường này hết. Tạo ra một Tập san Khoa học về Năng lượng Nguyên tử chẳng hề lấy mất công việc của Tập san Vật lý Hạt nhân của nhà xuất bản đối thủ North Holland. Các bài báo khoa học là những khám phá độc nhất: một bài báo không thể giả mạo hay thay thế một bài khác. Nếu một tập san nghiêm túc mới ra đời, các nhà khoa học sẽ yêu cầu thư viện đăng ký mua nó, chỉ đơn giản thế thôi. Nếu Maxwell tạo ra số tập san nhiều gấp ba lần so với đối thủ, anh ta sẽ kiếm gấp ba số tiền.

Giới hạn duy nhất có thể có, là tài trợ của chính phủ chậm lại, nhưng có ít dấu hiệu là nó có thể xảy ra. Trong những năm 60, Kennedy đã hỗ trợ tài chính cho các chương trình nghiên cứu không gian, và trong những năm 70, Nixon tuyên bố “cuộc chiến chống ung thư” trong khi chính phủ Anh xây dựng chương trình hạt nhân của riêng họ với sự trợ giúp của Mỹ. Chả có vấn đề gì với không khí chính trị, vì kiểu gì thì khoa học cũng sẽ được nhà nước tài trợ.

Trong những ngày đầu, Pergamon là trọng tâm của cuộc tranh luận quyết liệt về tính chất đạo đức trong việc cho phép những lợi ích thương mại chen vào thế giới coi nhẹ lợi nhuận của khoa học thuần túy. Trong một bức thư vào dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Pergamon, John Coales của Cambridge University nói rằng thoạt đầu nhiều bạn bè của ông “coi Maxwell là một nhân vật phản diện vĩ đại vẫn còn chưa bị treo cổ”.

Nhưng đến cuối thập kỷ 60, xuất bản có tính chất thương mại đã được coi như một hiện trạng, và các nhà xuất bản được coi như những đối tác cần thiết trong việc tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học. Pergamon đã giúp kích hoạt sự mở rộng mạnh mẽ của lĩnh vực xuất bản khoa học bằng cách tăng tốc quá trình xuất bản và trình bày nó trong một hình thức trọn gói rất có phong cách. Mối quan ngại của các nhà khoa học về việc ký giấy từ bỏ bản quyền của mình đã bị chìm đi trong sự tiện lợi của những thỏa thuận với Pergamon, ánh sáng lấp lánh nó đem lại cho công trình của họ, và sức mạnh trong tính cách của Maxwell. Các nhà khoa học có vẻ như rất hài lòng với con cáo mà họ đã để nó thò chân vào cửa.

“Ông ta khá là “đầu gấu”, nhưng tôi thích ông ta”. Denis Noble, nhà sinh lý học ở Oxford University và tổng biên tập của tập san Những tiến bộ trong Sinh lý học và Sinh học phân tử cho biết như thế. Thỉnh thoảng Maxwell would gọi Noble đến nhà để họp. “Thường là có tiệc tùng sau đó, rồi trình diễn hòa nhạc. Không có rào cản nào giữa đời sống công việc và đời sống cá nhân của ông ta”. Noble nói. Maxwell sau đó sẽ hoặc hăm dọa hoặc dụ dỗ ông biến tờ tập san ra hai số một năm thành ra tờ tập san ra mỗi tháng hoặc hai tháng một số, và điều này dĩ nhiên làm tăng số tiền chui vào túi Maxwell.

Cuối cùng, tuy hầu như bao giờ cũng trì hoãn nhưng Maxwell vẫn đáp ứng những ước muốn của các nhà khoa học, và họ đâm ra coi trọng tính cách mạnh thường quân của ông ta. “Tôi phải thú nhận rằng, tôi đã nhanh chóng nhận ra tham vọng khởi nghiệp và khai thác người khác của Maxwell, nhưng tôi vẫn thích ông ấy”. Arthur Barrett, tổng biên tập của tập san Vacuum, viết như thế năm 1988 trong một bài nói về những ngày đầu của tập san. Và tình cảm đó là có qua có lại. Maxwell để lại một dấu ấn trong quan hệ của ông ta với các nhà khoa học lừng danh, những người được đối xử với sự tôn trọng và khiêm tốn. “Ông sớm nhận ra tầm quan trọng sống còn của các nhà khoa học. Ông sẽ làm bất cứ điều gì họ muốn. Chuyện đó làm tất cả nhân viên của ông phát điên”. Richard Coleman, người đã làm việc cho Pergamon vào cuối những năm 60 cho tôi biết như thế. Khi Pergamon là mục tiêu của một cuộc thôn tính, một bài báo trên Guardian năm 1973 cho biết các tổng biên tập đã đe dọa sẽ bỏ đi, để lại vườn không nhà trống thay vì làm việc cho một ông chủ mới.

Maxwell đã làm biến đổi công nghệ xuất bản, nhưng công việc hàng ngày của khoa học thì vẫn thế không gì thay đổi. Các nhà khoa học hầu hết là đưa công trình của họ cho tập san nào thích hợp nhất với chuyên ngành – và Maxwell rất vui lòng xuất bản bất cứ thứ gì và tất cả những gì mà các biên tập viên khe khắt của ông đồng ý. Tuy vậy, vào khoảng giữa những năm 70, các nhà xuất bản bắt đầu can thiệp vào những việc lý ra không phải của họ, mở ra một con đường có thể chặn lối các nhà khoa học tiếp cận với hệ thống xuất bản, và áp đặt các tiêu chuẩn của thế giới kinh doanh lên hướng đi của nghiên cứu. Có thể xem xét một trường hợp tiêu biểu minh họa cho nhận định này.

“Lúc tôi khởi đầu sự nghiệp, không ai chú ý nhiều tới việc bạn công bố/xuất bản công trình ở đâu, và rồi tất cả đã thay đổi với sự xuất hiện của tạp chí Cell năm 1974”. Randy Schekman, nhà sinh học phân tử của Trường Đại học Berkeley từng chiếm giải Nobel nói với tôi như thế. Tập san Cell (giờ đây do Elsevier là chủ sở hữu) là một tập san do trường Massachusetts Institute of Technology (MIT) khởi xướng nhằm trình diễn một lĩnh vực mới vừa nảy sinh và có ảnh hưởng quan trọng của sinh học phân tử. Người phụ trách biên tập là nhà sinh học trẻ tuổi Ben Lewin, người đã đạt được công trình của mình với một nỗ lực mạnh mẽ, hầu như đã tạo ra một bước ngoặt trong chuyên ngành. Công trình dài được thực hiện với những tiêu chuẩn khoa học nghiêm ngặt và được giải của của Ben đã trả lời những câu hỏi lớn– tiêu biểu cho những nghiên cứu kéo dài nhiều năm vốn có thể tạo ra nhiều bài báo khoa học đăng ở nhiều nơi– và biết rằng các tập san là những công cụ tiêu cực để truyền thông khoa học, số bài mà ông từ chối nhiều hơn hẳn số bài mà ông chấp nhận đăng.

Thứ mà ông tạo ra là một nơi dành cho khoa học đỉnh cao, và các nhà khoa học bắt đầu định hình lại công việc của họ theo cách định nghĩa của ông. “Lewin quả là thông minh. Ông nhận ra rằng giới khoa học rất thường có thái độ phụ thuộc vào sự đánh giá quá cao của ai đó về khả năng, hay mức độ đáng giá của mình, và muốn mình là một phần của cái nhóm cực kỳ chọn lọc này. Cell chính là một chỗ như thế, và bạn phải bằng mọi cách để có công trình đăng ở đó”, Schekman nói. “Tôi cũng bị áp lực như thế”. Cuối cùng thì ông cũng in một vài phần trong công trình đạt giải Nobel của mình trên tập san này.

Thình lình, nơi mà bạn công bố ấn phẩm khoa học trở nên cực kỳ quan trọng. Các tổng biên tập khác bắt đầu hành động theo con đường tương tự với hy vọng lặp lại thành công của Cell. Các nhà xuất bản cũng bắt đầu vận dụng một thứ thước đo gọi là “chỉ số tác động”, được Eugene Garfield (một nhà ngôn ngữ và chuyên gia thư viện) phát minh trong những năm 1960, như một thứ thước đo thô thiển cho thấy các bài báo trong một tập san nào đó thường được các bài báo khác trong những tập san khác trích dẫn thường xuyên ở mức độ nào. Đối với các nhà xuất bản, nó trở thành cách để xếp hạng và quảng cáo cho những sản phẩm của họ. Các tập san có một vẻ ngoài mới mẻ, nhấn mạnh vào kết quả to lớn của nó tiến lên hàng đầu trong các bảng xếp hạng, và các nhà khoa học có bài trên những tập san “có chỉ số ảnh hưởng cao” được ban thưởng với công việc hấp dẫn và tài trợ nghiên cứu hậu hĩ. Hầu như chỉ qua một đêm, một “đơn vị tiền tệ mới” nhằm đánh giá uy tín được tạo ra trong thế giới của khoa học (Garfield sau này nói về sáng tạo của anh ta như là một thứ chẳng khác nào “năng lượng nguyên tử”, một thứ ân sủng bị pha trộn).

Khó mà nói quá lên hơn nữa về mức độ quyền lực mà tổng biên tập các tập san ngày nay có được trong việc định hình sự nghiệp của các nhà khoa học và bản thân hướng đi của khoa học. “Các bạn trẻ lúc nào cũng nói với tôi rằng, nếu các bạn không đăng được bài trên CNS [tên tắt của Cell/Nature/Science, những tập san có uy tín bậc nhất) thì không mong gì kiếm được việc làm”. Schekman cho biết. Ông so sánh việc theo đuổi công bố khoa học trên các tập san có chỉ số tác động cao với hệ thống khích lệ cực đoan của tiền thưởng trong hoạt động ngân hàng. Ông nói, “Nó có một ảnh hưởng to lớn với con đường phát triển của khoa học”.

Và vì thế khoa học trở thành một sản phẩm lạ kỳ do các nhà khoa học và các biên tập viên tập san cùng tạo ra, trong đó các nhà khoa học ra sức theo đuổi những khám phá có thể gây ấn tượng cho các biên tập viên khoa học. Ngày nay, trước sự lựa chọn nhiều dự án khác nhau, một nhà khoa học sẽ hầu như luôn luôn từ chối cả những công việc chẳng lấy gì làm thơ mộng là khẳng định hay phản bác những nghiên cứu đã có trước đây, cũng như những nghiên cứu kéo dài nhiều thập kỷ đầy rủi ro kiểu như tìm đường đi lên mặt trăng, mà sẽ thiên về những thứ thực tế hơn: một chủ đề quen thuộc với các biên tập viên và có khả năng sản xuất ra càng nhiều bài báo khoa học càng tốt. “Giới khoa học được khích lệ tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu này”. Nhà khoa học đạt giải Nobel Sinh học Sydney Brenner trả lời trong một cuộc phỏng vấn năm 2014 và gọi đây là một hệ thống “thối nát”.

(còn tiếp)

Người dịch: Phạm Thị Ly (2017)

Nguồn:  “Is the staggeringly profitable business of scientific publishing bad for science?” Tác giả: Stephen Buranyi. Đăng trên Guardian ngày 27.06.2017

Xu hướng tương lai và lựa chọn hiện nay về văn hóa – Phần II


III/ Quy luật phát triển của văn hóa

Sự phát triển của xã hội là có quy luật, nhưng quy luật này lại do loài người tuân thủ, thể hiện ra thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Nếu cái gì cũng không cân nhắc, cái gì cũng không lựa chọn, chỉ theo đó mà đi, thì lại biến thành thuyết định mệnh, con người sẽ chẳng làm gì, chỉ “Kim triêu hữu tửu kim triêu túy Minh nhật vô tửu minh nhật hưu” [Hôm nay có rượu hôm nay say Ngay mai không rượu ngày mai nghỉ], buông trôi theo số phận, chìm nổi tùy đời. Con người tự giác, con người sáng tạo lịch sử có tính năng động chủ quan. Thực tiễn của con người là sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, giữa tính quy luật và tính lựa chọn. Sự cao thấp của lựa chọn là ở đâu? Nếu nhận thức được quy luật, tuân theo quy luật thì lựa chọn sẽ đúng đắn, sẽ thành công; ngược lại, nếu không nhận thức quy luật, làm ngược lại quy luật thì lựa chọn sẽ sai lầm, sẽ bị trừng phạt, sẽ thất bại, dẫn tới mù quáng. Lúc bấy giờ trị thủy, Vũ đã lựa chọn cách khai thông nguồn nước, khai thông thành công, chính là do Đại Vũ đã tuân thủ quy luật trị thủy.

Vì vậy, khi thảo luận hướng đi tương lai của văn hóa, chúng ta không thể không bàn tới việc lựa chọn, bàn tới lựa chọn thì phải bàn tới quy luật, bàn tới quy luật thì phải bàn tới khoa học, cần phải duy vật, cần phải theo đuổi chân lý, cần phải thực sự cầu thị. Về sự phát triển của văn hóa, tác giả cho rằng ít nhất có mấy quy luật dưới đây:

Quy luật thứ nhất: Từ tính đơn nhất  tới tính đa dạng

Từ đơn nhất tới đa dạng, từ giản đơn tới phức tạp, từ cấp thấp tới cấp cao, giống như tiến hóa sự sống, từ đơn bào tới song bào, từ song bào tới đa bào. Sự phát triển trí lực của con người cũng từ tư duy giản đơn tới tư duy phức tạp, văn hóa cũng như vậy.

Nho gia nhận thức được tính đa dạng của tự nhiên, Lão Tử cũng nhận thức được tính đa dạng của tự nhiên, đề xướng đạo pháp tự nhiên. Tự nhiên tức là tính đa dạng. Trong bài viết “Bàn về pháp lệnh kiểm duyệt sách báo gần đây nhất của Phổ” của mình Marx có một đoạn rất chính xác: “Các bạn ca ngợi sự đa dạng thiên hình vạn trạng và kho báu phong phú vô cùng vô tận khiến người ta thích thú của tự nhiên, các bạn không đòi hỏi hoa hồng tỏa ra hương thơm giống như violet, nhưng tại sao các bạn lại đòi hỏi cái thứ phong phú nhất trên thế giới là tinh thần chỉ có thể có một hình thức tồn tại?” Sâu sắc biết bao! Tính phong phú là bổ sung cho nhau, một loại sự vật không thể có nhiều loại tính chất, mướp đắng là mướp đắng, là trữ nhiệt; dưa hấu là ngọt, là mát; ớt là cay nóng; mơ thì chua. Ngọt, đắng, chua, cay đều có, chúng bổ sung cho nhau, người ta chỉ có mướp đắng thì sống không nổi, chỉ có dưa hấu cũng sống không nổi, chỉ có đủ các loại mùi vị, loài người mới có thể sống tốt. Giới tự nhiên có núi cao, gò nổi và đồng bằng, có ao hồ và biển rộng, có cây cao chọc trời và cỏ dại bé nhỏ, có mẫu đơn bông to và hoa nhài bông nhỏ… Tính đa dạng là một trong những quy luật của văn hóa.

Quy luật thứ hai: Từ tập quyền tới dân chủ

Tập quyền có tính tất yếu lịch sử, là một giai đoạn lịch sử. Học giả phương Tây Karl A. Wittfogel viết một cuốn sách nhan chề Chủ nghĩa chuyên chế phương Đông – Nghiên cứu so sánh về lực lượng cực quyền, cho rằng môi trường địa lý Trung Quốc thiếu nước, thiếu nước thì phải trị thủy, trị thủy thì phải làm những công trình to lớn, công trình to lớn cần có thiên binh vạn mã, muốn có thiên binh vạn mã thì phải tập quyền. Ngược lại, chỉ có tập quyền mới có thể có thiên binh vạn mã; chỉ có thiên binh vạn mã mới có thể làm những công trình to lớn; chỉ có làm những công trình to lớn mới có thể trị thủy thành công; trị thủy thành công, người Trung Quốc mới có thể sinh tồn và phát triển. Đây là quyết định luận môi trường địa lý. Nhưng xã hội không ngừng tiến bộ, phương thức sản xuất, lối sống cũng đòi hỏi đa dạng hóa. Sau khi có đồ sắt, quan hệ sản xuất của chế độ nô lệ tan rã, xuất hiện sản xuất cá thể lấy gia đình làm đơn vị, không còn cần đến chế độ công xã nguyên thủy nữa. Cá thể có thể độc lập sinh tồn phát triển, sẽ dẫn đến đa dạng hóa sản xuất, có thể trồng lúa nước, cũng có thể trồng tiểu mạch, cũng có thể trồng bông. Chúng ta hiện nay thực hiện khoán sản phẩm theo hộ, thực hiện dân chủ kinh tế, không còn nghe theo sự chỉ huy của một người đội trưởng nữa, có quyền tự quyết định việc canh tác, cũng có thể không canh tác, ra ngoài làm công. Từ tập quyền tới dân chủ, đến nay dân chủ vẫn đang tiếp tục phát triển. Cải cách thể chế chính trị hiện nay của Trung Quốc, có một số mặt đang tiến triển, một số mặt đang đình trệ, tổng thể đang phát triển. Muốn dừng lại cũng không được. Như mạng, chính là tự do, mở ngỏ, mọi người đều là thành viên, mọi người đều là phóng viên. Tự do ngôn luận đã phát triển, có người nói đây là thách thức, tôi nói đây là tiến bộ. Không nên cái gì cũng nói là thách thức, nó là tiến bộ, đối với cái cũ, nó là một sự phủ định, nói nó là thách thức thì dường như là nó không thể sống với anh, không thể không đội trời chung. Chúng ta cần thích ứng với sự tiến bộ này, sua đó sẽ tăng cường quản lý, thì sẽ sống mà không hỗn loạn.

Quy luật thứ ba: từ trói buộc tới tự do

Theo đuổi tự do là thiên hướng của con người, giới sinh vật là tự do, chim di trú có thể từ nam bay ra bắc, cũng có thể từ bắc bay vào nam, cá trong nước cũng tự do, chim trong rừng cũng tự do. Người là linh trưởng trong vạn vật, phải tự do. Nhưng trong chế độ nô lệ, trong chế độ phong kiến, người không tự do, ngay cả tư tưởng cũng không tự do, đây là chỗ bi ai của con người. Đến thời đại tư bản chủ nghĩa, con người có tự do về nhân dân, có quyền tự do bán sức lao động của mình, có thể làm việc ở xưởng này, cũng có thể làm việc ở xưởng khác, so với chế độ phong kiến, đó là tiến bộ lịch sử. Ngày nay nhân tài lưu động, cũng tương đối tự do rồi. Ngày nay công nhân viên chức nhiều đơn vị thực hiện chế độ bổ nhiệm, anh ta tìm được đơn vị tốt, nói muốn đi, thì có thể đi. Đương nhiên anh có thể dựa vào sự nghiệp để giữ người, dựa vào môi trường để giữ người, dựa vào đãi ngộ thích đáng để giữ người. Nếu công nhân viên chức tìm được đơn vị và công việc tốt hơn, anh không thể cản trở, cũng không cản trở nổi. Người đi tới chỗ cao, nước chảy tới chỗ thấp, đó là quy luật, vậy thì hoan tiễn anh ta đi, mong anh ta phát triển càng tốt hơn, nếu ở đó không tốt, hoan nghênh anh ta lại trở lại. Đó chính là từ trói buộc tới tự do. Rất nhiều cải cách hiện nay của chúng ta đang trở nên ngày càng tự do.

Quy luật thứ tư: Từ đẳng cấp tới bình đẳng

Đẳng cấp cần thiết, có tính hợp lý, nhưng tuyệt đối hóa chế độ đẳng cấp, tất cả đều là vì đẳng cấp, thì là đi tới cực đoan, sẽ cản trở tiến bộ xã hội. Như trước đây chúng ta nói chế độ tập trung dân chủ, từ trong quần chúng đến với quần chúng, cuối cùng là tập trung, lãnh đạo quyết định. Trước khi quyết định thì có trao qua đổi lại, quá trình trao đổi là quá trình thực hiện dân chủ. Nhìn sự biến đổi lối sống của người ta thì thấy sự phát triển của bình đẳng. Trước đây hội họp chia ghế trên ghế dưới, ghế trên là lãnh đạo, ghế dưới là quần chúng, bây giờ là hội nghị bàn tròn, hội nghị bàn tròn thì nhìn không ra đẳng cấp, không ai lớn hơn ai. Trước đây ăn cơm là ngồi theo bàn, quan tâm đến trình tự chỗ ngồi, đồng thời ăn. Bây giờ có buffet, buffet thể hiện sự bình đẳng và tự do. Trương Tam có thể ăn cơm, Lý Tứ có thể ăn bánh bao, Vương Nhị có thể ăn mì sợi, cũng không phân biệt trình tự chỗ ngồi, thế là đã bình đẳng tự do. Ngoài ra, việc truyền bá thông tin hiện nay có Internet, thế giới trở nên phẳng, không còn là kiểu bảo tháp cũ nữa rồi, rất nhiều thông tin ngày nay không phải là trước hết từ bộ trưởng tới vụ trưởng, vụ trưởng tới trưởng phòng, mà là đồng thời nhận được, thậm chí một người bình thường có thể nhận được nhanh hơn bộ trưởng. Đây là sự biến đổi của văn hóa, sự biến đổi của thông tin, sự phát triển do khoa học kỹ thuật mang lại, không thể nào cản trở.

(còn tiếp) 

Người dịch: Sái Phu

Nguồn: TN 2014 – 6 & 7

Liệu chủ nghĩa tư bản phúc thiện có làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo nghèo hơn? – Phần cuối


Khi nói đến quy mô, trong khi số lượng cụ thể thì khó nắm bắt được, rõ ràng rằng hoạt động phúc thiện toàn cầu đang ở trong giai đoạn vàng. Gần một nửa trong số 85.000 quỹ tư nhân tại Hoa Kỳ đã được hình thành chỉ trong vòng 15 năm qua. Mỗi năm lại có thêm hàng nghìn quỹ phúc thiện tư nhân được thành lập.

Các chuyên gia có quan điểm khác nhau về sự phát triển của các quỹ riêng lẻ có thực sự làm tăng đáng kể các hoạt động từ thiện trong tương quan so sánh với các thập niên trước đây. Ray Madoff, giáo sư luật tại Đại học Boston, chỉ ra rằng tại Mỹ, tổng số hoạt động từ thiện chiếm 2% GDP từ những năm 1970, và đóng góp của các cá nhân vẫn dừng lại ở con số này trong suốt 40 năm qua, chiếm 2% tổng thu nhập khả dụng.

Mở rộng tầm nhìn ra khỏi nước Mỹ, những tuyên bố rõ ràng về sự gia tăng trong hoạt động phúc thiện toàn cầu được thực hiện dễ dàng hơn. Các học giả về phúc thiện David Moore và Douglas Rutzen cho rằng hoạt động phúc thiện toàn cầu gia tăng đáng kể trong những năm qua, một sự gia tăng “tương ứng với sự gia tăng của cải tư nhân tại Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, và những quốc gia khác”.

Sự tăng trưởng trong hoạt động phúc thiện toàn cầu bắt nguồn từ sự gia tăng tập trung của cải và sự mở rộng bất bình đẳng kinh tế – cần phải có một cái gì đó để làm dồi dào khả năng người giàu có chi ra một con số đáng kể. Sự hoan nghênh của Warren Buffett vào năm 2006 hiến tặng 30 tỷ USD cho Quỹ Gates chỉ là một ví dụ gần đây.

Nhưng cuối cùng là gì?

Điều đáng chú ý là việc gia tăng số lượng các quỹ phúc thiện trong suốt hai thập kỷ qua là việc gia tăng sự hỗ trợ không làm giảm sự bất bình đẳng về kinh tế. Trong thực tế lại xuất hiện trường hợp ngược lại. Điều gì là nguyên nhân của việc gia tăng hoạt động phúc thiện và gia tăng bất bình đẳng kinh tế lại đi cùng với nhau? Liệu phúc thiện có thực sự làm cho người giàu ngày càng giàu thêm và người nghèo ngày càng nghèo hơn?

Những nhận định thẳng thắng về nguyên nhân khá khó thực hiện, khi nhiều yếu tố góp phần gia tăng sự mở rộng phân cách giàu có. Nhưng có một số lý do tại sao mức độ tăng trưởng hoạt động phúc thiện có thể làm trầm trọng hơn sự gia tăng bất bình đẳng hơn là làm giảm nhẹ nó. Thứ nhất là các khoản tài trợ từ thiện làm giảm ngân quỹ từ thuế thu nhập mà nó có thể chi cho các chính sách phúc lợi tái phân phối.

Thứ hai là một tỷ lệ nhỏ đáng ngạc nhiên của ngân quỹ hỗ trợ được nhằm mục đích hỗ trợ kinh tế cho các cá nhân có thu nhập thấp. Báo cáo hàng năm từ các tổ chức như Viện Trợ giúp (Giving Institute) cho thấy rằng thường chỉ có một tỷ lệ phần trăm nhỏ dưới 10% một năm, được chi cho các sáng kiến gắn với « lợi ích xã hội công cộng » và ngược lại chi tiêu nhiều hơn cho các mục đích tôn giáo hay biếu tặng cho các trường đại học giàu có.

Một mối quan tâm khác là các hoạt động phúc thiện được sử dụng để ngăn chặn các đòi hỏi về thuế cao hơn, bảo vệ và mở rộng tài sản hơn là tái phân phối lại của cải. Phúc thiện thường mở ra các thị trường cho các tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ hay Châu Âu là đối tác của các tổ chức như Quỹ Bill and Melinda Gates để tiếp cận những người tiêu dùng mới. Cho đi nhiều hơn là một chiến lược để nhận lại nhiều hơn, trợ giúp việc tập trung của cải vào một số ít hạt nhân hẹp của những nhà môi giới quyền lực với sự tăng cường ảnh hưởng lên việc hoạch định chính sách của những tổ chức như Tổ chức Y tế Thế giới (WTO).

Các nhà phúc thiện thường chính là những người đầu tiên thừa nhận rằng hoạt động phúc thiện của họ là để nhắm đến việc bảo tồn hơn là tái phân phối của cải. Carlos Slim có lẽ là người thẳng thắn nhất thừa nhận thực tế này, tóm tắt các tiếp cận của mình đối với hoạt động từ thiện với bình luận : « Của cải cũng giống như một vườn cây ăn trái. Bạn chia sẻ trái cây, chứ không phải cái cây ».

Bình luận của Slim đã nhắc lại một niềm tin mà nó đã tạo nền tảng cho sự hào phóng của các nhà hảo tâm trước đây như Andrew Carnegie, ông vua thép. Trong những tiểu luận ảnh hưởng của mình về giá trị của việc thực hiện các hoạt động từ thiện, xuất bản trong những năm 1880 và 1890, Carnegie đã cho thấy rõ ràng rằng các hành vi phúc thiện là quan trọng trong việc cho phép người giàu củng cố của cải và đảm bảo các tiến trình sản xuất không bị đe dọa bởi sự gia tăng chiến đấu của một tầng lớp lao động đòi hỏi sự thay đổi tổ chức.

Ông đề xuất vào năm 1889 rằng phúc thiện có thể cho phép « vấn đề giàu và nghèo được giải quyết. Các quy luật về sự tích lũy sẽ được cởi trói, các quy luật về phân phối được tự do. Chủ nghĩa cá nhân sẽ tiếp tục, nhưng những triệu phú sẽ là sự ủy thác của người nghèo, được giao phó trong một thời kỳ với phần lớn sự gia tăng của cải của cộng đồng, nhưng phải quản lý nó để cho cộng đồng tốt hơn có thể hay được thực hiện tự chính nó.

Carnegie đã viết vào thời điểm bất ổn lao động lớn tại Mỹ. Rất ít người lao động của ông đã bị ảnh hưởng bởi đề xuất về cái gọi là « các quy luật tích lũy » mà nó cần phải được giữ nguyên để ông và một số người khác có thể kiểm soát không giới hạn của cải dành cho các lý do được lựa chọn.

Một số nhà viết tiểu thuyết của nữ hoàng Victoria và đầu thế kỷ 20 đã viết những lời châm biếm nền tảng tư tưởng này của Carnegie và những nhà từ thiện đi cùng. Tác phẩm Những nhà phúc thiện mặc đồ rách (The Ragged Trousered Philanthropists) của Robert Tressell, một tiểu thuyết trong một nhóm các tác phẩm của các họa sĩ gia đình, đã mở rộng châm biếm gắn nhãn hiệu « những nhà phúc thiện »  với một nhóm công nhân chấp nhận một cách nhã nhặn các yêu cầu của các ông chủ. Với sự láu cá, Tressel gợi ý rằng sự sẵn lòng của họ ban phát cho người lao động của họ thì cũng rẻ tiền như một hành động phúc thiện căn bản.

Ngày nay, hoạt động phúc thiện hầu hết đã được « làm vệ sinh » của các hiệp hội trào phúng trước đó. Từ các buổi hòa nhạc như Live Aid tới những chương trình phổ biến như The Secret Millionaire, một chương trình truyền hình nổi tiếng của Anh nơi các nhà hảo tâm ẩn mình trong các cộng đồng nghèo khó để tìm kiếm những người xứng đáng nhận từ thiện, đã đạt được một sự nổi tiếng phổ thông mà nó khiến cho hành động cho đi khó bị chỉ trích hay đặt thành vấn đề.

Ngày nay, sự hoan nghênh của công chúng, thậm chí là sự tôn kính đối với những nhà phúc thiện được thúc đẩy bởi truyền thông đa dạng và phổ rộng, làm cho người ta dễ chấp nhận và khẳng định rằng có một cái gì đó chưa từng có về phúc thiện « mang tính chiến lược » mới tại các tổ chức như Quỹ Gates.

Một số kỹ thuật đo lường có thể mới, như thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên mà nó đã xuất hiện từ những năm 1920 nhưng đã trở nên nổi bật trong giới phát triển 20 năm qua. Nhưng nỗ lực để đánh giá tác động thì không.

Tuy nhiên, nhiều lần, các nhà khoa học phúc thiện ngày nay có khuynh hướng bỏ qua những tiền nhân lịch sử. Một ví dụ điển hình là một bài báo của đồng sáng lập Napster Sean Parker trên tờ Wall Street Journal. Parker cho rằng điều bất thường đối với giới tinh hoa toàn cầu mới là tinh thần « hacker » của họ. Nói theo cách của ông ta, rằng « tầng lớp tinh hoa mới có tinh thần hacker là một sai lầm trong lịch sử của sự sáng tạo của cải ». Để chứng minh điều này, ông đã chỉ ra độ tuổi trẻ của giới tinh hoa ngày nay : thực tế là nhiều tỷ phú công nghệ đã đạt được thành công trước tuổi 40. Sau đó, ông đối sánh giới tinh hoa « hacker » mới với các quỹ phúc thiện truyền thống « trước đây » mà ông khẳng định, không quan tâm đến việc đánh giá hiệu quả.

Tuy nhiên cả hai cách đánh giá trên đều sai lầm. Carnegie và Rockeffeller từng tích lũy nhiều của cải vào những năm tuổi 30 của họ, và mỗi người đều là « hacker » trong thời đại của họ, bỏ lại đằng xa cuộc đấu tranh cho hoạt động từ thiện của mình thông qua các bố thí để cho thấy hoạt động từ thiện như một việc làm đức hạnh mà chính họ không thèm đếm xỉa đến hiệu quả thực tiễn. Trái ngược với đề xuất của Parker trong bài báo – lập luận của ông cho rằng « tuổi tác trẻ và hoạt động phúc thiện không thể được lẫn lộn về mặt lịch sử » – Rockefeller và Carnegie đã hào phóng trong suốt cuộc đời của họ nhưng không đơn thuần chỉ là niềm say mê của họ. Rockefeller đã bắt đầu nhường lại một cách có hệ thống một phần thu nhập đáng kể của mình khi ông vẫn là một người trẻ tuổi.

Rất ít bài báo gần đây của Parker trên Wall Street Journal có tính chính xác về lịch sử, một số bài được các chuyên gia chỉ ra trên website của họ như HistPhil, một trang chuyên về lịch sử của hoạt động từ thiện quy mô lớn. Tuy nhiên, Parker đã nhận được sự ủng hộ của báo chí chủ lưu, bao gồm một bài phê bình sáng lạn trên Intercept, một diễn đàn trực tuyến được tài trợ bởi Pierre Omidyar, xem cách tiếp cận của Parker thực sự mang tính đổi mới và chưa có tiền lệ như ông nói.

Omydiar, người sáng lập eBay, là một người không bình thường trong số những nhà tư bản phúc thiện bởi việc thừa nhận sự liên quan của các nhà kinh tế chính trị ban đầu trong cách tiếp cận của ông tới phúc thiện và kinh doanh ; ông đã ca ngợi Smith đã thắp sáng lên cho ông niềm tin rằng doanh nghiệp tư nhân, dưới những điều kiện thích hợp, tự do kinh doanh sẽ đem đến những lợi ích tập thể.

Nhưng đó chỉ là bức tranh ở một phần trong tác phẩm của Smith. Trong một dịp hiếm hoi khi những nhà phúc thiện mới nói về những người đi trước của mình, họ có khuynh hướng lựa chọn những phần văn bản thích hợp giúp tuyên truyền những bức họa thích hợp của các nhà kinh tế chính trị ban đầu.

Lấy bài viết của Mandeville, một nhà triết học người Hà Lan sinh năm 1670, người đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở Anh. Nhiều người tin rằng Adam Smith là nguồn gốc của ý tưởng rằng các cá nhân, lao động để đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của mình, sẽ mang lại lợi ích công cho cộng đồng. Nhưng nguồn gốc xa hơn của ý tưởng này thì thực sự được bắt nguồn từ Mandeville. Nó nằm trọn trọng tiểu luận có ảnh hưởng của ông, Chuyện Tưởng tượng về những Con ong (The Fable of the Bees).

Trong tiểu luận này, Mandeville áp dụng phép ẩn dụ về một tổ ong. Trong cái tổ, ông viết, có rất nhiều con ong siêng năng và tháo vát, và cũng có nhiều con không có đạo đức – chúng là những con giả dối, vô tích sự, hay thay đổi – và rồi mong muốn của chúng là tạo nên « một khối tổng thể như một Thiên đường ». Tuy nhiên, kế hoạch khéo léo của chúng, đã bắt nguồn từ thói xấu, đã giúp tạo ra một ngành công nghiệp năng động, tạo ra những thứ giúp yên phận như « Người nghèo/Liv’d Tốt hơn là Người giàu».

Tiến bộ, nói theo một cách khác, bắt nguồn từ sự tham lam về kinh tế hơn là sự kiêng khem. Trong mong muốn có được ; hơn là hạn chế chống lại sự nhận được. Ý tưởng cho rằng lợi ích tự thân có một chức năng kinh tế và đạo đức quan trọng trong dòng truyền thừa trực tiếp từ Mandeville và Smith, thông qua các nhà công nghiệp thế kỷ XIX như Carnegie và Rockefeller, tới những nhà vô địch phúc thiện ngày hôm nay.

Lấy ví dụ những người nam và nữ được phỏng vấn bởi nhà nhân học người Mỹ Karen Ho trong những nghiên cứu của mình về giới ngân hàng đầu tư trẻ Phố Wall. Các nhà ngân hàng cô gặp cho thấy họ cảm thấy thực sự trở ngại khi nhiều người bên ngoài lĩnh vực của họ nhận thấy sự thiếu vắng đạo đức trong các hoạt động của họ. Xa hơn nữa, họ tự tin rằng họ đang thực hiện những dịch vụ công căn bản. Họ nhìn thấy hình ảnh « sự phá hủy sáng tạo » của Schumpeter như một sự cần thiết để đảm bảo cho những doanh nghiệp nhỏ hơn có thể phát triển và cạnh tranh. Cũng như Mandeville, họ nhấn mạnh rằng lợi ích cá nhân tạo ra những phần thưởng công cộng.

Nhưng có một khía cạnh quan trọng trong lập luận của Mandeville thường bị bỏ quên. Trong Chuyện Tưởng tượng về những Con ong, ông viết câu sau đây :

Vì vậy Thói xấu đặt nền tảng cho lợi ích.

Khi đó, Sự công bằng bị bóp méo và ràng buộc.

Trong một phần khác, ông nhấn mạnh rằng « Thói xấu cá nhân được Quản trị khéo léo bởi một Chính trị gia có năng lực có thể chuyển thành Những lợi ích Công ». Sự tôn trọng của Mandeville đối với lợi ích kinh tế, nói cách khác, nhấn mạnh nhu cầu quản lý của chính phủ và những hạn chế về mặt pháp lý để đảm bảo rằng lợi ích công được tạo ra, thay vì, đưa đến phần thưởng công.

Cái còn thiếu trong sự nhiệt thành đầy hăng hái của các nhà tư bản phúc thiện ngày nay đó là sự thừa nhận một cách đầy đủ những cuộc đấu tranh trong lịch sử giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công đã định hình các mối quan hệ lao động chí ít từ thời của Mandeville. Khi họ thừa nhận lịch sử, vốn không thường có, các nhà tư bản phúc thiện ngày nay đã khen ngợi một phiên bản vô thừa nhận của kinh tế chính trị buổi ban đầu, một phiên bản mà nó bỏ qua sự nhấn mạnh mà Mandeville và sau đó là Adam Smith đặt ra một đòi hỏi về sự điều tiết của chính phủ.

Doanh nghiệp tư nhân có thể có được lợi ích công cộng. Như chỉ khi các nhân tố nhà nước, thông qua « Sự quản trị khéo léo », có thể quản trị sự giàu có theo cách mà nó đảm bảo rằng những lợi ích công được đáp ứng cũng như các lợi ích tư. Mandeville, người anh hùng buổi ban đầu của chủ nghĩa tư bản phúc thiện, đã thực sự là một nhà vô địch của một chính quyền can thiệp, quyền lực. Không có gì ngạc nhiên khi những nhà tư bản phúc thiện ngày nay có khuynh hướng bỏ qua ông.

Người dịch: T.Giang – SCDRC

Nguồn: http://evonomics.com/does-philanthropy-actually-make-the-rich-richer-and-the-poor/

Hứng khởi và ức chế – Phần X


Hào nhị nằm giữa hào sơ và hào tam, là âm, sẵn sàng mang ảo ảnh tư tưởng về “thuần khiết”, về giới tính và đạo đức. Hoàn toàn đúng bởi đây là một hào âm (nữ) nằm giữa hào dương (nam) và, do đó, trong quan hệ hỗn tạp lớn lao với chúng. “Phụ táng kì phất – như người đàn bà đánh mất cái màn xe” – hào từ chỉ ra như vậy. “Cái màn xe này, Vương Phu Chi bình luận, che mặt người vợ và phòng giữ cho sự bẽn lẽn của vợ”. Cho nên, ở đây, âm – người vợ bị “lẫn lộn” giữa hai dương (đàn ông) và hơn thế, hào này “mong muốn bước lên để vượt qua”, người vợ lúc ấy là “không giữ được”” cho nên “bà ta đánh mất tấm màn xe” và “gần như bị chìm đắm trong cái hỗn độn”. Hạnh phúc thay vị trí trung tâm của hào nào trong lòng quẻ đơn, đánh dấu sự đúng đắn (hơn thế, quẻ Li này, biểu tượng cho “Hỏa”, đồng nghĩa với “sáng sủa”) giữ bà ta lại bên bờ vực thẳm: “trong bảy ngày”, nghĩa là khi đó sáu vị trí của quẻ này sẽ tiêu tan đi, tấm màn quý giá che chở bà “sẽ được bà ta tìm lại” (cho nên sẽ là vô ích nếu bà ta vội vã đuổi theo tấm màn, thời kỳ hỗn loạn này là vừa đủ để trôi qua hoàn toàn). Bài học là rõ ràng: sự pha tạp, giữa các hào, giữa các giới, là đối lập với quan hệ cực (từ đây bắt nguồn sự tiện lợi); và như vậy: sự tách biệt giới tính dẫn tới sự thức tỉnh – và là người bảo đảm – cho trật tự của thế giới.

Cuối cùng, toàn bộ tiến trình của quẻ, được điều khiển bằng chủ đề thủy (cách biểu hiện môtip âm tuyệt vời; hơn thế, ngoại quái Khảm cũng biểu thị đồng thời thủy và sự nguy hiểm); còn ở vị trí nó dẫn dắt “sự vượt qua” nó bắt đầu với sự chìm đắm: Ta nhớ lại, từ sau hào sơ, cái đuôi bị ướt của con cáo (hào nhị) kìm giữ cái đà của nó. Ở hào tứ, là hào âm thứ hai, thuyền “bị nước vào” (nghĩa của xu, theo Vương Phu Chi), nhưng còn cần chuẩn bị “giẻ vụn” để bị các lỗ: hào này, trong thực tế, tương tự như hào tứ, giữ vị trí giật lùi; đồng thời nếu nó có mong muốn “vượt qua”, nó không mạo hiểm một cách bộp chộp, mà ở lại “suốt ngày” vì run sợ (nguyên văn: lục tới: Chu hữu y như chung nhật giới – nghĩa là – hào tứ, âm: thuyền bị nước vào, có giẻ để bịt lỗ, phải run sợ cả ngày). Sự cẩn trọng này cứu nó khỏi bị chết đuối và nó đối lập với hào ngũ dương, ở vị trí thống trị và do đó cũng là vị trí trọng tài đối với sự lặn xuống mù quáng của hào cuối cùng (theo Vương Phu Chi, sự hiến tế tầm thường của “hàng xóm bên phía Tây – được lựa chọn – mang lại cho hào tứ trong khi lễ tế của “hàng xóm bên Đông”, hết sức tốn kém, dẫn tới hào lục (nguyên văn hào từ cửu ngũ: đông lân sát ngưu, bất như tây lân chi thược tế, thực thụ kì phúc – ND). Ở hào cuối cùng hào âm trong thực tế đạt tới đỉnh điểm của đường đi của nó và mạnh mẽ bởi sức thăng của nó, nó đâm đầu vào dòng nước: khi đó nó phản ánh một cách dữ dội sự phân rã, mà nó dẫn tới, dưới lớp phủ của “cái cân bằng” được giữ ở vị thế ngang bằng (chấp trung nhi vô quyền), sự bước lên, không thể giữ mãi được cái tác tố tiêu cực.

Cái mà ta có thể nắm bắt được nguyên trạng (Statu quo) lí tưởng của sự “hoàn thành” chỉ đưa tới một “chỗ dừng giả tạo” (cẩu an) và thoát được vào trong một sự hỗn độn mới. Sự phân chia cân bằng của các sức mạnh, giữa các tác tố đối lập, nếu nó làm bất động một thời điểm của quá trình trong quan hệ bình đẳng, dẫn tới sự hỗn loạn một cách thảm hại. Tương tự, sự không thỏa đáng còn cần hơn nữa sự thỏa mãn giả vờ này. Nó sáng tạo ít ra cũng là một cái mới cho phép và ngăn cản xảy ra sự phát triển mang tính tiêu cực.

VII/ Sự “chưa hoàn thành” và việc đình hoãn cuối cùng (quẻ Thủy hỏa Vị tế  – quẻ thứ 64)

Từ hình thức còn cụ thể hơn (theo cách nói hình thức) như các cặp quẻ trước đó, quẻ này biểu trưng sự “chưa hoàn thành”, Thủy hỏa Vị tế, quẻ 64, giúp ta nghĩ tới mặt trái – vừa đồng nhất vừa đối lập. Có nghĩa là mối liên hệ đồng nhất được thu hẹp lại tại đây, vượt qua đồng thời sự đối lập: nếu quẻ xuất phát là, như mọi lần, sự đối lập của quẻ trước đó, ở đây không còn là quẻ Thái, chỉ thăng mà là quẻ Bĩ, chỉ sự tàn tạ, theo cách hoán vị được tạo ra từ hai hào trung gian của quẻ. Như vậy quan điểm, từ quẻ này sang quẻ kia, là như nhau. Sự vượt qua vốn được “hoàn thành” như trong trường hợp quẻ 63, hay ngược lại “chưa hoàn thành” như quẻ này, chỉ đều cập tới một tác tố âm. Trong thực tế, Vương Phu Chi chỉ ra, đây là sự thỏa thuận để đọc quẻ cuối cùng này: âm “bắt đầu” ở vị trí số 1, “trèo lên” vị trí số 3 và “đạt đích” ở vị trí số 5, ở mỗi một vị trí của chúng, lại bị “che bọc” bởi một hào dương ngăn cản bước chuyển qua và ngăn chặn nó đạt tới vị trí muốn đến (vị trí của số lẻ ở trên: vị trí số 2, 4, 6). Sự chưa hoàn thành này được làm nổi bật trên bình diện biểu trưng. Quẻ được tạo ra bởi các quẻ đơn như quẻ trước đó, bằng “thủy” và “hỏa”, nhưng được sắp đặt ngược lại: hỏa (ở trên) cháy và tiêu tan, thủy (ở dưới) chảy đi và đất trở nên khô cằn. Cả hai thành tố này “theo đuổi ý hướng riêng của chúng” không gặp nhau, không theo đuổi bất cứ một chức năng hành dụng qua lại lẫn nhau nào, và sự chuyển hóa của tự nhiên dừng lại “chưa hoàn thành”.

Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra: vì sao, trong trường hợp này, người ta không nói tốt về sự “hoàn thành” của dương, cũng như sự “chưa hoàn thành” của âm, bởi lẽ dương hiện tại đều chiếm giữ các vị trí cao nhất (2 – 4 – 6) mà âm trước đó chiếm giữ (để kết thúc sự “vượt qua” của nó)? Hoặc trái lại, trong trường hợp này, tại sao người ta không nói tới sự “chưa hoàn thành” của dương cũng như sự “chưa hoàn thành” của âm, bởi vì, nếu như âm, ở đây, không phải đổi chỗ mỗi lần, nó sẽ đạt tới chính xác tương tự đối với dương (mỗi lần như vậy nó lại nằm ở vị trí số chẵn thay vì vị trí số lẽ mà nó đạt tới). Người ta tìm kiếm một cách vô ích vấn đề được đặt ra này bởi nhà bình chú, nó chỉ được sáng tỏ khi nó liên kết bằng hành động với một vấn đề cơ bản không ngừng ám ảnh suy tư: chuẩn mực nào đồng ý cho kẻ đồng hành của dương, biết rằng nó được đặt ra từ sự xuất phát mà dương là một tác tố hoàn toàn tích cực? Trong thực tế, tạo thành một song đề: nếu chuẩn mực này của kẻ đồng hành là tích cực giống như kẻ đồng hành của dương, âm sẽ hòa trộn khi đó với nó và xóa đi tính chất hai mặt; và trái lại, nếu nó là tiêu cực, âm không thể sử dụng cho người đồng hành với dương (khi bước vào trong quan hệ phối kết có lợi cho nó) và xóa bỏ khi ấy mối quan hệ tương hỗ. Cho nên, tính chất hai mặt mà mối quan hệ tương hỗ là hai điều kiện mang tính khả thể đối cực. Cho nên, đã đến lúc phải định nghĩa về sự khác biệt tương đối giữa hai quẻ này. Vương Phu Chi nói, dương lộ ra bản thân nó trong mọi ý nghĩa để khởi động thực tại và làm cho thực tại hoạt động, và hoạt động của nó mỗi lần lại thêm hiệu quả, bởi vậy nó là hằng số thích đáng. Cũng như vậy không thể nói, trong trường hợp này là “hoàn thành” hay “chưa hoàn thành” bởi vì nó đề cập ở đây một sự chuyển dời (khi thì cái đó bắt đầu, khi thì cái đó chưa bắt đầu) vốn không đặt ra với nó (sự hoàn thành tự nó được dựa trên khả năng của sự chưa hoàn thành, hoặc một sự chưa hoàn thành trước đó, khi đó dương luôn luôn nằm trong quan hệ với tính hiện tại hoàn hảo trong tiến trình vận hành). Trong trường hợp của âm, trái lại, nếu dương không “thâm nhập” vào để “kích thích” nó, cái cuối cùng này sẽ hướng tới sa lầy và “không còn khả năng cung cấp” cho cội nguồn các sinh thể. Giải pháp cho song đề trước đó, do vậy, là âm phải trở thành tích cực nhờ dương. Cho nên, từ quẻ này, dương bao phủ âm từ phía trên và “không lay động” để làm nó lớn lên” (so sánh trường hợp tương đồng của quẻ được rút ra từ quẻ này và tại đây mọi hào dương là ở bên trên, mọi hào âm ở bên dưới), vì vậy, âm trong các điều kiện này, không thể bắt đầu “sự vượt qua” của nó được.

Như vậy, khi đề cập đến sự hoàn thành hay chưa hoàn thành, logic cơ bản là như nhau; và sự sai lệch khuynh hướng, do đó, được tìm ra, ở quẻ này lẫn quẻ khác; trong quẻ “hoàn thành”, chính dương bị phân mảnh để có thể ngăn cản sự trèo lên của âm; trong quẻ chưa hoàn thành, chính âm  bị phân mảnh để có thể đạt tới đỉnh (như hào từ đã chỉ ra: “không có sự tiếp tục không được phép đi tới đầu” (bất tục chung). Trong hai trường hợp này, thực tại là khởi đầu, với các phần ngang nhau, giữa các tác tố đối lập của chúng, vốn không so sánh được, Vương Phu Chi nhấn mạnh, với sự quản lý khéo léo toàn bộ thiên hạ, và hiện thực trở nên có thể can thiệp được. Tương tự, cả hai quẻ đều mang lại hình ảnh hết sức hỗn độn (đồng thời vừa “pha tạp” vừa “vô trật tự”), từ đó rút ra một triển vọng về toàn thể được soi sáng ngược với sự tổ chức của cuốn sách: ngay từ đầu Điển thư, hai quẻ đầu, bằng sự “thuần khiết” của chúng (hoặc toàn âm, hoặc toàn dương) hiện thân thành tột đỉnh của sự “dễ dãi” và “đơn giản” (Càn Khôn chi dịch giảm) theo đó chúng có thể triển khai mọi quá trình; theo cách nói của cuốn sách, các quẻ “hoàn thành” và “chưa hoàn thành” thể hiện sự trái ngược, bởi sự chồng chéo cực đại của các hào của chúng, một giai đoạn cực kỳ “phức tạp” và tại đó “khó khăn” (hiểm trở chi cực chí) là hết sức lớn lao.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về Kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Mối quan hệ biện chứng giữa một số lợi ích chủ yếu với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội – Phần II


Trong hoàn ảnh của nước ta hiện nay, mặc dù công cuộc đổi mới đã làm tăng mức sống của hầu hết các gia đình, nhưng với thực trạng chỉ có 10 – 15% số hộ gia đình khá giả, rõ ràng, đa số nhân dân ta mới ở mức sống nghèo đói và tạm đủ ăn. Đủ ăn nghĩa là, đời sống kinh tế của các gia đình ấy còn hết sức bấp bênh, chưa có tích lũy bảo đảm, chỉ cần một sự rủi ro nhỏ các gia đình đủ ăn này sẽ dễ dàng rơi xuống nghèo đói. Vì thế, các lợi ích vật chất đang là mối qua tâm trước hết, đang đóng vai trò quan trọng nhất, bởi lẽ, các nhu cầu tồn tại tối thiểu đang là những nhu cầu cấp bách nhất của đa số nhân dân ta hiện nay.

Như vậy, lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế của các cá nhân, gia đình, cũng như của xã hội đang trở thành động lực mạnh mẽ nhất thôi thúc mọi người hành động. Sự hoạt động của mỗi cá nhân, mỗi gia đình vì mục đích hết sức cụ thể là để làm sao nhanh chóng thoát khỏi được sự nghèo khổ của bản thân mình, thế nhưng nó cũng sẽ tạo nên những xu hướng vận động nhất định của xã hội. Rõ ràng, trong giai đoạn hiện nay, mục đích của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, các nhóm xã hội về cơ bản là phù hợp với mục đích chung của đất nước. Nghĩa là, các hoạt động này có thể là không tự giác nhưng đều tập trung hướng vào đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu hiện tại, đều hướng vào một mục đích chung là dân giầu nước mạnh.

Thực tế cuộc sống cho thấy, các lợi ích kinh tế, các lợi ích vật chất đang chi phối hết sức mạnh mẽ cả nhận thức và hành động của các cá nhân và cộng đồng. Điều này hoàn toàn phù hợp với hoạt động căn bản của xã hội ta trong giai đoạn hiện nay là lao động sản xuất và kinh doanh. Sự thay đổi nhu cầu và lợi ích đã dẫn đến sự thay đổi hoạt động và ngược lại.

Thế nhưng, mục đích của chúng ta không phải chỉ là dân giàu nước mạnh, chúng ta mong muốn xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa hiện thực. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và gia đình hạnh phúc. Do vậy, trong giai đoạn hiện nay, mặc dù tính tất yếu kinh tế đang chi phối mạnh mẽ nhận thức và hành động của các cá nhân cũng như toàn xã hội nhưng Đảng và Chính phủ ta chủ trương không chỉ tập trung phát triển kinh tế một cách phiến diện, mà đang chủ động tập trung đầu tư phát triển văn hóa – xã hội.

Quan điểm này rất phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Khác với con người của một số xã hội phương Tây, nơi chủ nghĩa cá nhân được đề cao, nơi các lợi ích vật chất của các cá nhân luôn là tối tượng, ở con người Việt Nam, bên cạnh niềm khao khát có một cuộc sống vật chất đầy đủ là lòng mong mỏi có một quan hệ gia đình đầm ấm, anh em và cộng đồng hòa thuận, thân ái. Nhân tố tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng chi phối hết sức mạnh mẽ các ham muốn cũng như các hành vi ứng xử của con người Việt Nam.

Qua tình hình thực tế ở các nước tư bản đã phát triển ta có thể thấy ở đó mặc dù đời sống vật chất của con người đã đạt tới một mức độ cao, nhưng nhìn chung, các vấn đề văn hóa – xã hội ở không ít nước, chẳng hạn, các vấn đề hôn nhân và gia đình, vấn đề người già, tình trạng mại dâm, tội phạm, các vấn đề môi trường… đang hết sức nhức nhối. Có thể nói, lĩnh vực văn hóa – xã hội ở đó đang ở trong tình trạng khủng hoảng hết sức gay gắt. Điều đó chứng tỏ, không phải cứ có đời sống vật chất dư thừa thì con người sẽ hạnh phúc, xã hội sẽ tốt đẹp. Nhiều khi lại ngược lại, sự ham mê đời sống vật chất, đời sống tiêu dùng sẽ dẫn đến những lệch lạc, những dị tật trong quan hệ giữa con người và con người.

Trong giai đoạn hiện nay, ở nước ta, cơ chế thị trường và chính sách mở cửa đang tác động hết sức mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Về mặt kinh tế, đường lối đổi mới đang từng ngày từng giờ nâng cao mức sống của mỗi gia đình, tạo ra một sự tăng trưởng kinh tế rất đáng phấn khởi trong toàn xã hội (Mức độ tăng trưởng kinh tế trong mấy năm qua là: 1991: 6%; 1992: 8,6%; 1993: 8,4%; 1994: 8,8%; 1995: 9,5%; 1996: 9,34% và 1997: 9%).

Về mặt văn hóa – tinh thần cũng đang diễn ra một sự chuyển đổi không chỉ phương thức sinh hoạt mà cả nội dung sinh hoạt văn hóa – tinh thần mang tính tự phát. Đó trước hết là sự thay đổi phương thức sinh hoạt văn hóa – tinh thần từ mô hình hành chính bao cấp sang phương thức sinh hoạt mang tính hộ gia đình, tầng lớp xã hội (giàu – nghèo, nông thôn – thành thị, lao động chân tay – lao động trí óc…) và mang tính cộng đồng quần cư. Sở dĩ có sự thay đổi này là do mô hình sinh hoạt văn hóa – tinht hần theo cơ chế hành chính bao cấp trước đây đã tan rã và đang có sự phục hồi các sinh hoạt theo mô hình cộng đồng làng – xã truyền thống cũng như đang có sự phát triển mạnh mẽ các phương tiện nghe nhìn hiện đại.

Tuy nhiên, cùng với những chuyển biến tích cực trên đây, trong xã hội hình như cũng đang diễn ra một sự khủng hoảng giá trị nào đó, nhất là đối với lớp trẻ. Điều này được biểu hiện rõ rệt ở sự xuất hiện nhiều hiện tượng thuộc về tệ nạn xã hội mà nhiều chục năm qua trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa ta đã khắc phục được như: trẻ em lang thang, mại dâm, nghiện hút, cờ bạc, tội phạm, buôn lậu, tham nhũng… Những hiện tượng này có chiều hướng ngày càng gia tăng và đang làm vẩn đục, ô nhiễm đời sống xã hội ta.

Hiện trạng đó đang đặt chúng ta trước một yêu cầu cấp bách: cùng với các chính sách kinh tế mới cần sớm có những chính sách cụ thể, sát hợp cũng như có những biện pháp kịp thời trong giám sát và thực thi pháp luật nhằm quản lý và thúc đẩy sự phát triển văn hóa – xã hội theo hướng lành mạnh, tiến bộ. Chúng ta không thể dừng lại ở các chiến lược phát triển văn hóa – xã hội mang tính chất định hướng, mà cần cụ thể hóa chiến lược đó cho từng nơi, từng lúc nhằm tổ chức lại, điều chỉnh và hạn chế những lệch lạc và tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa – xã hội mà cơ chế thị trường làm nảy sinh. Ở đây thiết nghĩ, luật pháp sẽ đóng vai trò quan trọng nhất. Giáo dục, hướng dẫn, điều chỉnh và kiểm soát mọi người sống và làm việc theo đúng pháp luật hiện hành chắc chắn sẽ là biện pháp thích hợp nhất trong giai đoạn hiện nay.

II/ Mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích chung và lợi ích riêng

Trong các quan hệ xã hội, lợi ích đóng vai trò là động lực trực tiếp và mạnh mẽ nhất thúc đẩy con người hoạt động. Thế nhưng, mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội khác nhau lại theo đuổi những lợi ích riêng của mình, từ đó mà lôi kéo xã hội vận động theo những xu hướng khác nhau. Vậy làm thế nào để tạo lập nên một xu hướng vận động chung của toàn xã hội theo hướng chúng ta mong muốn? Giải quyết chúng một cách đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng sẽ góp phần trả lời cho câu hỏi này.

Lợi ích chỉ tồn tại trong đời sống xã hội và luôn gắn liền với các chủ thể nhất định. Các chủ thể này có thể là các cá nhân riêng lẻ cũng có thể là các nhóm xã hội hay cả một cộng đồng xã hội. So với từng cá nhân riêng lẻ thì nhóm là một tập thể, một “cái chung”, trong đó mỗi cá nhân riêng lẻ chỉ là một “cái riêng”, một bộ phận hợp thành của nó. Tuy nhiên, nếu so với cả cộng đồng xã hội thì nhóm lại là một “cái riêng”, một bộ phận của “cái chung” lớn hơn là cả cộng đồng xã hội. Vì vậy, sự phân biệt chung hay riêng ở đây chỉ mang tính tương đối và chúng chỉ có nghĩa là chung hay riêng trong một tương quan rất cụ thể với nhau.

Nếu ký hiệu một cộng đồng xã hội nhất định (cộng đồng đó có thể là một nhóm, một tập thể, một giai cấp, một dân tộc,… hay toàn xã hội) là A và các bộ phận hợp thành của nó (bộ phận hợp thành ấy có thể là một cá nhân trong một nhóm nhất định, một nhóm trong một tập thể gồm nhiều nhóm,…) là A1 thì lợi ích riêng là lợi ích gắn liền với từng chủ thể A1 và hướng vào thỏa mãn nhu cầu riêng của chính A1đó, còn lợi ích chung là lợi ích gắn liền với chủ thể A và hướng vào thỏa mãn các nhu cầu chung của tất cả các A1 hợp thành A.

Có thể diễn đạt theo cách khác là, lợi ích riêng là những lợi ích gắn liền với từng chủ thể cụ thể và dùng để thỏa mãn các nhu cầu riêng tư cụ thể của chủ thể đó, còn lợi ích chung là những lợi ích của một nhóm chủ thể hay của cả một cộng đồng xã hội nhất định và dùng để thảo mãn những nhu cầu chung hay cả một hệ thống nhu cầu của các chủ thể.

Để thuận tiện, ở đây chúng tôi chỉ xem xét mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích riêng và lợi ích chung khi các lợi ích này có cùng một tính chất, một bản chất, hay nói chung hơn, là nằm trên cùng một tuyến, mặt khác, sẽ chỉ xem xét một trường hợp đại diện rất điển hình của mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích riêng của cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng mà cá nhân đó là thành viên. Trong trường hợp đó, cơ sở để xem xét mối quan hệ giữa lợi ích chung (của cộng đồng) và lợi ích riêng (của cá nhân) là sự tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố và hệ thống trong cấu trúc hệ thống của cơ thể xã hội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Linh Khiếu – Lợi ích, động lực phát triển xã hội – NXB KHXH 1999.