Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần III


Quan hệ cạnh tranh – hợp tác trong thời kỳ mới dẫn đến sự chuyển hướng trọng tâm được chú ý

Những năm 1990, đóng góp của MỸ đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 29,1%, tổng lượng của các nền kinh tế phát triển phương Tây với G7 làm đại diện là 76%, khi so sánh, đóng góp cảu Trung Quốc là 9% và của những nền kinh tế mới nổi và phát triển là 36,3%. Từ năm 2008 đến 2016, đóng góp của Mỹ và các nước phát triển đối với kinh tế thế giới giảm xuống mức 7,4% và 23,9%, còn đóng góp của Trung Quốc là 35,6% và các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển là 77,7%, thể hiện rõ xu thế phương Đông tiến lên, phương Tây thụt lùi. Năm 2005, tổng lượng GDP của Trung Quốc đã vượt qua Anh, năm 2007 vượt qua Đức, năm 2010 đã thay thế Nhạt Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2012, tổng lượng kinh tế Trung Quốc đạt đến một nửa của Mỹ, năm 2017 đã lên tới mức 2/3 tổng lượng kinh tế của Mỹ. Ngay từ năm 2011, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố một dự báo tính toán GDP trên cơ sở thuyết sức mua tương đương (PPP) cho rằng GDP của Trung Quốc có thể ngang bằng, thậm chí vượt qua Mỹ sau năm 2020. Báo cáo mới nhất của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và thế giới thuộc Đại học Thanh Hoa dự báo Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới sau năm 2025.

Tuy xem xét về mặt mức thu nhập bình quân đầu người của một nước, giữa Trung Quốc và Mỹ còn có khoảng cách khá lớn, tổng lượng kinh tế giữa hai nước xích lại gần nhau, sự phát triển công nghệ của Trung Quốc đang trong quá trình rượt đuổi Mỹ và ảnh hưởng của Trung Quốc không ngừng gia tăng trên vũ đài quốc tế đều có dấu ấn cạnh tranh quyết liệt về tâm lý của giới tinh hoa, dân chúng Mỹ và quan hệ Trung – Mỹ. Chắc chắn, Trung Quốc đã bị Mỹ coi là đối thủ cạnh tranh chủ yếu, từ “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” công bố vào ngày 18/12/2017, “Báo cáo chiến lược quốc phòng” được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố vào ngày 19/1/2018 đến “Chương trình chính sách thương mại năm 2918 và Báo cáo hàng năm năm 2017” do Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ công bố tháng 2/2018 đều nâng vấn đề thương mại với Trung Quốc lên tầm cao của an ninh quốc gia Mỹ. Trong báo cáo điều tra liên quan đến Mục 301 của Đạo luật thương mại Mỹ năm 1974 dài 184 trang, từ “nhập siêu” chỉ xuất hiện một lần, mục tiêu liên quan đến Mục 301 mà Đại diện thương mại Mỹ công khai tuyên bố chính là chĩa mũi nhọn vào chiến lược “Made in China 2025”. Ngày 8/11/2017, Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã lần lượt đề xuất một dự thảo “Luật hiện đại hóa đánh giá rủi ro từ đầu tư của nước ngoài”, một trong những người khởi xướng đạo luật này là hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Robert Pittenger cho biết bộ luật sẽ đảm bảo khoa học công nghệ Mỹ duy trì vị trí đứng đầu.

Thái độ của Chính phủ Mỹ đối với chiến tranh thương mại thể hiện rất đa dạng

Nghị sỹ hai đảng của Mỹ đưa ra tiếng nói phản đối tại Quốc hội

Ngày 11/7/2018, với 88 phiếu thuận/11 phiếu chống, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết hạn chế quyền áp thuế của Tổng thống Donald Trump. Đây là lần hiếm hoi hai đảng thể hiện lập trường đồng nhất. Tuy là nghị quyết không mang tính ràng buộc, nhưng việc hai đảng có tư tưởng thống nhất và cùng hành động trong cơ chế lập pháp chung lần này, đã truyền đi tín hiệu rằng thể chế chính trị của Mỹ bắt đầu quan ngại đối với chính sách thương mại cấp tiến của Chính quyền Donald Trump. Ngày 18/7/2018, tiếp tục có 140 nghị sĩ cùng lên tiếng phản đối việc chính phủ áp thuế ô tô, cho rằng việc áp thuế đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, thực hiện hạn ngạch thương mại hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khác sẽ làm tổn hại sự phát triển của ngành ô tô Mỹ. Việc Donald Trump gây sức ép với Trung Quốc là có cơ sở quần chúng, ví dụ như cuộc thăm dò dư luận do Trung tâm nghiên cứu Pew công bố ngày 19/7 cho thấy 49% người Mỹ được hỏi cho rằng việc áp thuế đối với các đối tác thương mại không có lợi cho Mỹ, trái lại 40% số người được hỏi cho rằng hành động này có lợi cho Mỹ, chỉ có 11% số người được hỏi không biết Mỹ sẽ phải chịu những ảnh hưởng nào. Nếu sự ủng hộ đối với chính sách thương mại của Donald Trump được duy trì ổn định, thì vì sao người của đảng Cộng hòa lại không đoàn kết xung quanh Donald Trump, trái lại còn gây khó khăn cho tổng thống?

Nội bộ đội ngũ của Donald Trump cũng có bất đồng

Đầu tháng 5/2018, Nhà Trắng cử phái đoàn thương mại Mỹ gồm 7 người đến Bắc Kinh đàm phán. Học giả của Đại học Phúc Đán Trung Quốc phân tích, từ góc độ thực dụng cho thấy đội ngũ đàm phán là “tổ hợp của phe diều hâu và phe bồ câu”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross được xem là người của phe bồ câu, vì ông – một người am hiểu tình hình Trung Quốc – từng đầu tư xưởng lắp ráp linh kiện ô tô ở Quảng Đông vào những năm 1990, năm 2005 tập đoàn may mặc quốc tế của ông đầu tư 100 triệu USD vào thành phố Gia Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông cũng là nạn nhân trong cuộc chiến thương mại gang thép của Mỹ, nhưng vì những kinh nghiệm nàyên ông từng bị Donald Trump công khai phê phán là mềm yếu trong chính sách đối với Trung Quốc, sau này thái độ của ông đối với Trung Quốc cũng dần trở nên cứng rắn. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Terry Branstad được coi là người thuộc phe bồ câu thân Trung Quốc chủ yếu là vì ông đến từ bang xuất khẩu nông nghiệp sang Trung Quốc luôn có quan hệ hữu nghị với giới kinh doanh và giới chính trị Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin từng làm việc cho ngân hàng Goldman Sachs là người ủng hộ dự luật cải cách thuế và kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, từng phản đối việc đưa Trung Quốc vào danh sách các nước thao túng tỷ giá hối đoái, đượ ccho là người thuộc phe trung gian. Điều thú vị là trong tuyên bố được đưa ra sau đàm phán, Nhà Trắng đã nhấn mạnh chủ trương của Mỹ là nhận thức chung của đội ngũ đàm phán, điều này đã làm cho bên ngoài suy đoán về những bất đồng trong đàm phán. Theo quan sát của học giả Derek Scissors thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), sở dĩ hiện nay Donald Trump chưa có chiến lược trong chính sách thương mại đối với Trung Quốc là vì nội bộ chính phủ có những ý kiến khác nhau.

Các giới kinh tế, ngành nghề của Mỹ đưa ra lời cảnh báo

Trước khi cuộc chiến thương mại diễn ra, có phương tiện truyền thông đưa tin 1140 nhà kinh tế học của Mỹ, trong đó có 14 người từng đoạt giải Nobel, cùng gửi thư cho Donald Trump, khẩn cầu tổng thống không nên phạm sai lầm dẫn tới cuộc đại suy thoái của Mỹ. Không lâu trước đó, 25 nhà bán lẻ nổi tiếng của Mỹ gồm Walmart, Macy’s, Best Buy… cùng gửi thư cho Donald Trump, kêu gọi Chính phủ Mỹ không nên áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc để tránh làm tổn hại người tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của người làm công ăn lương, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. 45 hiệp hội ngành nghề đại diện cho lợi ích của ngành bán lẻ, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp và hàng tiêu dùng khác cũng bày tỏ áp thuế sẽ làm cho chi phí của ngành sản xuất Mỹ tăng lên, làm rối loạn chuỗi cung ứng hiện có, và làm giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến việc làm của Mỹ. Tháng 5/2018, khi Bộ Thương mại Mỹ khởi động cuộc điều tra theo điều 232 của Luật Thương mại Mỹ đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, có phương tiện truyền thông cho rằng “những người chỉ trích đang xếp hàng” để kêu gọi chính phủ từ bỏ áp thuế tại phiên điều trần. Hàng nghìn công nhân Mỹ được các nhà sản xuất ô tô nước ngoài thuê cũng biểu tình ở Capitol Hill, khoảng 150 nghị sĩ của hai đảng cũng lên tiếng phản đối việc áp thuế ô tô, phiên điều trần đã trở thành “cuộc bao vây tấn công” để các bên cùng lên tiếng phê phán. Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung Quốc (USCBC) đưa ra công văn cho rằng USCBC đồng ý với Chính quyền Donald Trump – hiện trạng chuyển giao công nghệ của Trung Quốc và sự bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ quả thực cần được chú trọng, nhưng doanh nghiệp Mỹ vẫn hy vọng nhìn thấy phương án giải quyết những vấn đề này, chứ không chỉ là đơn phương áp thuế trừng phạt cuối cùng có thể gây ra tổn thất lớn hơn. Chủ tịch Hiệp hội thương mại Mỹ tại Trung Quốc William Zarit cho biết các đoàn thể thương mại tỏ ra rất quan ngại trước sự đáp trả do các biện pháp áp thuế của Chính quyền Donald Trump và hạn chế Trung Quốc đầu tư ở Mỹ có thể gây ra cũng như những tổn thương có thể gây ra đối với kinh tế Mỹ và thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Advertisements

Trình chiếu – Phần III


Việc đọc dần mang đậm tính xã hội. Với các màn hình, chúng ta không chỉ có thể chia sẻ nhan đề cuốn sách mà còn chia sẻ cả các ghi chú và bình luận khi đọc sách. Ngày nay, chúng ta có thể tô đậm một đoạn văn, nhưng đến ngày mai, chúng ta còn có thể liên kết một đoạn văn. Chúng ta sẽ có thể liên kết một đoạn văn trong cuốn sách đang đọc với một đoạn văn có nội dung trái ngược trong một cuốn sách khác đã đọc để so sánh, cũng như liên kết một từ trong đoạn với từ điển, một cảnh được mô tả trong sách với một cảnh được diễn xuất trong phim. (Và tất cả những thủ thuật này đều đòi hỏi những công cụ tìm kiếm đoạn văn tương đương). Chúng ta có thể đăng ký để được đọc các ghi chú của người mà mình quan tâm, ngưỡng mộ, từ đó ta không chỉ xem được danh sách đọc của họ mà còn cả những ghi chú, đánh dấu, câu hỏi và cảm nghĩ.

Trên thực tế, những đường liên kết dày đặc trên các cuốn sách sẽ khiến mỗi cuốn sách là một mạng lưới. Trước kia, người ta từng nhận định rằng sách trong tương lai vẫn sẽ là những vật thể độc lập nằm im lìm trên giá sách trong các thư viện công. Ở đó, gần như các cuốn sách không được liên kết với những cuốn sách bên cạnh. Khi tác giả viết xong một cuốn sách, đó là một tác phẩm hoàn thành và bất di bất dịch. Sự chuyển động của nó chỉ xảy đến khi một độc giả đọc sách và làm nó sống động bằng trí tưởng tượng. Trước đây, người ta từng cho rằng lợi thế lớn nhất của thư viện điện tử là tính di động, bởi nó giống như một bản dịch tiện lợi từ chữ trên giấy thành các bit trên màn hình để người đọc có thể đọc từ các màn hình. Nhưng cuộc cách mạng về sách điện tử còn mở ra một thư viện toàn cầu, nơi không có quyển sách nào độc lập mà chúng đều được kết nối.

Khi đọc những cuốn sách này, bạn sẽ có cảm giác như mình đang ở Wikipedia, một cuốn sách lớn và là một bách khoa thư duy nhất. Phần lớn trong 34 triệu trang của Wikipedia là những từ ngữ màu xanh chen chúc vì được dẫn link để liên kết đến nội dung liên quan trong bách khoa thư. Mạng lưới các mối quan hệ chằng chịt này chính là những gì làm nên động lực tồn tại và phát triển của Wikipedia và web Wikipedia là cuốn sách được liên kết đầu tiên. Theo thời gian, mỗi trang Wikipedia sẽ bão hòa với các đường link màu xanh khi mọi câu trên trang đều được tham chiếu chéo. Kết quả là, một trí tuệ tập thể của thư viện siêu kết nối cho phép chúng ta thấy được những thứ mình không thể biết khi chỉ có một cuốn sách đơn lẻ.

Giấc mơ về một thư viện toàn cầu không phải là điều gì mới mẻ: đó chính là giấc mơ gom được mọi kiến thức từ quá khứ đến hiện tại vào một chỗ. Tất cả sách vở, tài liệu, các công trình mang tính khái niệm ở mọi ngôn ngữ đều được kết nối. Đây là một kỳ vọng quen thuộc của loài người, vì khoảng năm 300 TCN thư viện Alexandria đã được xây dựng để lưu giữ những cuộn giấy ghi lại mọi kiến thức thu thập được trên thế giới. Đã có lúc, trong thư viện có đến nửa triệu cuộn giấy, ước tính bằng 30% đến 70% sách trên thế giới lúc bấy giờ. Nhưng kể cả trước khi thư viện sụp đổ, khoảnh khắc mà toàn bộ kiến thức của nhân loại được lưu giữ trong một thư viện cũng chưa đạt được. Kể từ đó, sự mở rộng không ngừng của thông tin đã làm con người không đủ sức để lưu giữ nó. Trong suốt 2000 năm, thư viện toàn cầu cùng với những mong muốn khác như áo choàng tàng hình, giày chống trọng lực và các văn phòng không dùng giấy tờ đã thành những giấc mơ xa vời mà chúng ta không dám nghĩ tới. Nhưng liệu một thư viện vĩ đại chứa đựng toàn bộ thế giới mà chúng ta đã cố thực hiện và mơ ước từ lâu có thể ở trong tầm tay?

Brewster Kahle, nhà hoạt động ủng hộ Internet trong mọi lĩnh vực của đời sống, nói rằng thư viện toàn cầu là điều khả thi. “Đây là cơ hội của chúng ta để vượt qua nền văn minh Hy Lạp!” Ông khẳng định, “Chúng ta có thể làm được với khả năng công nghệ ngày nay, chứ đừng chờ đến ngày mai. Nhờ có thư viện toàn cầu, chúng ta có thể cung cấp mọi sản phẩm trí tuệ của loài người cho mọi người trên thế giới. Đây sẽ là một thành tựu đáng nhớ mọi thời đại, giống như việc loài người đặt chân lên Mặt Trăng”. Và không giống như những thư viện xưa cũ chỉ dành cho giới tinh hoa, thư viện số hóa toàn cầu kiểu mới này sẽ thực sự dân chủ, nó cung cấp mọi đầu sách viết bằng mọi ngôn ngữ cho mọi người trên hành tinh này.

Đây quả thực là một thư viện đồ sộ. Từ thời kỳ bảng chữ cái viết trên đất sét của người Sumer đến nay, con người đã “xuất bản” ít nhất 310 triệu cuốn sách, 1,4 tỷ bài viết và bài luận, 180 triệu bài hát và 3,5 nghìn tỷ hình ảnh, 330 nghìn bộ phim, 1 tỷ giờ video, chương trình tivi, phim ngắn và 60 nghìn tỷ trang web. Tất cả những tư liệu này đang được lưu trữ trong thư viện và các danh mục trên thế giới. Khi tất cả được số hóa, với trình độ công nghệ hiện tại, chúng sẽ được nén thành 50 petabyte đĩa cứng. Mười năm trước, bạn cần một tòa nhà lớn bằng cả một thư viện của một thị trấn nhỏ đế chứa 50 petabyte. Nhưng ngày nay, một thư viện toàn cầu chỉ lớn bằng phòng ngủ của bạn. Với công nghệ trong tương lai, tất cả sẽ được chứa vừa trong chiếc di động của bạn. Nhưng những công nghệ mang đến cho chúng ta mọi tư liệu cũng sẽ thay đổi bản chất của những thứ chúng ta vẫn gọi là “sách” và “thư viện”. Thư viện toàn cầu và “sách” sẽ không giống với thư viện và sách mà chúng ta đã biết, thay vì đọc, chúng ta trình chiếu nó trên màn hình. Trước thành công của mạng lưới liên kết khổng lồ trên Wikipedia, nhiều kẻ mọt sách đã tin rằng một tỷ người đọc có thể cùng nhau tạo nên các trang của những cuốn sách cũ với nhiều đường link khác nhau. Những người có niềm đam mê với những chủ đề mới lạ, những tác giả ít tiếng tăm và những cuốn sách yêu thích có thể dần dần kết nối các bộ sưu tập của chính họ lại với nhau. Khi sự kết nối và chia sẻ được nhân rộng giữa hàng triệu độc giả, thư viện toàn cầu sẽ được tích hợp đầy đủ bởi chính các fan hâm mộ và cũng để phục vụ chính họ.

Bên cạnh những đường link kết nối từ, câu hoặc một quyển sách đến một từ, câu hoặc quyền sách khác, độc giả còn có thể thêm nhãn.

Đường link và nhãn (tag) có lẽ là hai trong số những phát minh quan trọng nhất trong 50 năm qua. Bạn có thể tự do đánh dấu các trang web và làm cho nó thông minh hơn khi gắn link và nhãn vào nó. Những bit mà bạn quan tâm được thu thập và phân tích bởi các công cụ tìm kiếm và các AI để củng cố mối quan hệ giữa các đầu nút của mọi đường link và củng cố sự liên kết được tạo ra bởi các nhãn. Loại trí thông minh này vốn quen thuộc với web, nhưng lại lạ lẫm với thế giới sách vở khi nó mới xuất hiện. Các đường link và các nhãn đang làm cho việc trình chiếu thư viện toàn cầu trở nên khả thi và đầy mạnh mẽ.

Một khi sách được tích hợp vào thư viện số bằng cách kết nối này, các con chữ của những cuốn sách khác nhau cũng được liên kết. Ví dụ, một cuốn sách thường sẽ có một danh mục tham khảo hoặc chú thích. Khi các cuốn sách được liên kết chặt chẽ, bạn sẽ có thể click vào tiêu đề trong danh mục tham khảo và chú thích để tìm ra cuốn sách nguồn được nêu trong đó. Cuốn sách nguồn được nêu ra trong phần danh mục tham khảo cũng có thể được tìm thấy và bạn có thể truy cập vào thư viện bằng một cách nhanh chóng, đơn giản như khi truy cập vào một link và đọc hết chú thích này đến chú thích khác cho đến khi bạn đào sâu vấn đề liên quan một cách chi tiết nhất.

Tiếp đến là các từ. Một bài báo trên mạng đã nói, san hô cũng có thể được liên hệ với định nghĩa về các thuật ngữ liên quan đến cá. Tương tự, bất kỳ hoặc tất cả các từ trong một cuốn sách kỹ thuật số đều có thể được liên kết với các phần khác của cuốn sách khác. Sách, bao gồm cả tiểu thuyết viễn tưởng, sẽ trở thành một mạng lưới gồm các tên gọi và một cộng đồng của nhiều ý tưởng. (Tất nhiên bạn cũng có thể nén link lại nếu bạn không muốn nhìn thấy nó khi đang đọc tiểu thuyết. Nhưng tiểu thuyết vốn đã là tập con của những ý tưởng được viết ra).

Kể cả khi phần trọng tâm của cuốn sách được sáng tác bởi chỉ một mình tác giả (nhất là đối với các sách viễn tưởng), mạng lưới phụ trợ của các tài liệu tham khảo, thảo luận, phê bình, danh mục tham khảo và các đường link về cuốn sách sẽ đóng vai trò hợp tác. Nếu thiếu đi những thứ này, cuốn sách sẽ trở nên trần trụi vô cùng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018

Dư luận Trung Quốc về Thông điệp Liên bang 2019 của Trump


Tổng thống Mỹ Donald Trup đã đọc Thông điệp Liên bang năm 2019 tại phiên họp chung của lưỡng viện Quốc hội vào tối 5/2/2019 theo giờ Mỹ (tức sáng 6/2/2019 theo giờ Việt Nam). Đây là một hoạt động thường niên quan trọng của người đứng đầu Nhà Trắng, trong đó đưa ra tầm nhìn, phương hướng và chính sách đối nội cũng như đối ngoại của chính phủ trong năm.

Về sự chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ

Nhìn lại năm 2018, các chương trình nghị sự chính của Nhà Trắng cơ bản đều vấp phải sự ngăn cản mạnh mẽ của Quốc hội. Trong Thông điệp Liên bang, Tổng thống Trump khẳng định Mỹ có nền kinh tế và quân đội mạnh nhất thế giới, là nước sản xuất dầu mỏ, khí đốt lớn nhất thế giới… Tuy nhiên, trên chính trường Mỹ hiện nay, đoàn kết đang trở thành sự thiếu thốn lớn nhất. Bức tường dọc biên giới Mỹ – Mexico khó được thúc đẩy, việc đóng cửa chính phủ Mỹ đã lập nên kỷ lục lịch sử, truyền thông chính thống của Mỹ cơ bản đứng về phe đối lập với tổng thống nước này.

Đoàn kết cần dựa trên nền tảng của thành tích chính trị. Thành tích chính trị bình thường chưa đủ, mà phải có cả những thành tích nổi bật. Trong Thông điệp Liên bang này, Tổng thống Trump nhấn mạnh vấn đề kinh tế, tức là trong 2 năm qua Mỹ đã tăng 600.000 việc làm trong lĩnh vực chế tạo, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng cao gấp đôi so với Chính quyền tiền nhiệm, tỉ lệ thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 20 năm qua.

Mặc dù Tổng thống Trump tuyên bố đây không phải là thắng lợi của một đảng mà là của cả quốc gia, nhưng những người thuộc đảng Dân chủ lại thấy được những con số khác. Trong khi Tổng thống phát biểu thì một số người thuộc giới tinh hoa bình luận trên mạng xã hội rằng những thứ đó đều do vay nợ mang lại, bao gồm việc “vay tiền của Trung Quốc” để đổi lấy “triển vọng tốt trong ngắn hạn”. Hiện nay Mỹ thâm hụt ngân sách khoảng 1000 tỷ USD, “con số này thế hệ sau sẽ phải trả”.

Trước đó, Trung tâm nghiên cứu Pew công bố số liệu điều tra cho thấy, mặc dù kinh tế là chủ đề được công chúng Mỹ quan tâm nhiều nhất, nhưng chỉ có 40% số người được hỏi cho rằng kinh tế nước Mỹ được cải thiện kể từ khi Tổng thống Trump lên cầm quyền. Thực tế mà Tổng thống Trump đang phải đối mặt là triển vọng về sự “đoàn kết” không đáng lạc quan. Nước Mỹ vẫn rơi vào tình trạng chia rẽ sâu sắc, những vấn đề không đạt được sự đồng thuận trong hai năm qua trở nên khó tìm tiếng nói chung. Nguyên tố quan trọng nhất trong thể chế hai đẳng ở Mỹ là sự thỏa hiệp chính trị dường như đang bị phân tách. Chiến dịch bầu cử tổng thống tại Mỹ ngày càng đến gần, cạnh tranh chính trị ngày càng trở nên gay gắt. Điều tra của Trung tâm nghiên cứu Pew cũng cho thấy 71% người được hỏi cho rằng sự chia rẽ giữa Đảng Dân chủ và Cộng hòa sẽ ngày càng gia tăng trong năm 2019.

Về quan hệ Trung – Mỹ

Thông điệp Liên bang năm 2019 của Mỹ nhắc đến Trung Quốc một cách “có tính toán”. Mặc dù Tổng thống Trump chủ yếu nhắc đến chính sách thương mại nhưng không quên liên kết vấn đề chính trị. Ông nhấn mạnh việc tăng thuế nhằm làm giảm nhập siêu thương mịa của Mỹ, qua đó bảo vệ vấn đề việc làm, đồng thời nhấn mạnh việc yêu cầu Trung Quốc phải thay đổi về cơ cấu. Xét về tổng thể, Tổng thống Trump khẳng định sự đồng thuận tính đến nay Trung – Mỹ đã đạt được trong lĩnh vực thương mại.

Trong vòng 1 năm qua, nhận thức về nhau của từng nước đã có thay đổi to lớn. Mặc dù lập trường đối với Trung Quốc của hai đảng ở Mỹ có sự khác nhau, nhưng sự khác biệt đó nhỏ hơn rất nhiều so với các vấn đề chính trị khác, chỉ thể hiện ở trọng tâm của chính sách và mức độ thực thi. Sự đồng thuận (trong lập trường đối với Trung Quốc của hai đảng ở Mỹ) đó dần phát triển thành hành động thống nhất trong các cơ quan, ban ngành của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc. Trong tương lai gần, quan hệ Trung – Mỹ sẽ tiếp tục trạng thái cọ sát, căng thẳng. Sự đọ sức giữa hai bên sẽ xuất hiện trên càng nhiều lĩnh vực với mức độ khác nhau, tuy nhiên Mỹ sẽ chĩa mũi nhọn nhiều hơn vào vấn đề cấu trúc chính trị tại Trung Quốc. Giữa hai nước vẫn có hợp tác, nhưng hai bên chỉ tìm kiếm, lựa chọn cơ hội và phương thức hợp tác dựa trên nền tảng nhận thức mới.

Về một số vấn đề khác

Trong Thông điệp Liên bang năm 2019, Tổng thống Trump còn tuyên dương những thành tích khác trong lĩnh vực ngoại giao, từ việc Mỹ rút khỏi Hiệp ước Các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) – Hiệp định cắt giảm tên lửa tầm trung, tầm ngắn do Mỹ và Liên Xô ký kết năm 1987 – đến Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều lần thứ hai sắp diễn ra tại Việt Nam, Tổng thống Trump đều nhấn mạnh đến vai trò giương cao ngọn cờ của Mỹ. Tuy nhiên, một nước Mỹ ngày càng chuyên quyền độc đoán làm sao có thể tạo ra một thế giới đoàn kết? Hai năm qua, cộng đồng quốc tế cũng đang tìm tòi phương thức, con đường thích ứng với sự thay đổi của Mỹ, sự kinh ngạc trước việc Nhà Trắng sẵn sàng “đi chệch khỏi quỹ đạo” (rút khỏi các hiệp ước, hiệp định, tổ chức quốc tế khác nha) ngày càng giảm bớt. Tiến trình tìm kiếm hệ thống có thể thay thế hoặc cân bằng khu vực hoặc hệ thống đa nguyên hóa đang bắt đầu tăng tốc.

Nguồn: Thời báo Hoàn cầu (TQ) – 06/02/2019

TKNB – 12/02/2019

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần cuối


Kết luận

Có ba bài học có thể rút ra từ các cuộc luận bàn này của Trung Quốc về Nhật Bản và “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Trước hết, đa số áp đảo các tư liệu học thuật, các phát ngôn chính thống và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đều không đề cập đến Nhật Bản khi xét đến tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Điều này chứng tỏ ý niệm của Trung Quốc dành rất ít không gian cho các quốc gia hàng đầu châu Á như Nhật Bản, và người Trung Quốc xem mối quan hệ Trung – Mỹ là khác biệt so với các mối quan hệ cường quốc khác trong khu vực. Mỹ nên lưu tâm tới thực tế này, cũng nên xem xét tầm nhìn của mình về trật tự châu Á – Thái Bình Dương liệu có phù hợp với ý niệm của Trung Quốc.

Thứ hai, ở tất cả các tài liệu của Trung Quốc có bàn đến Nhật Bản trong bối cảnh “quan hệ cường quốc kiểu mới”, các quan điểm về Nhật Bản đều được hiểu một cách hết sức hẹp hòi Nhật Bản được mô tả lần lượt là một cường quốc đang suy yếu và là điểm tham chiếu tương phản để đánh giá sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia mà bản thân sự trỗi dậy quyền lực kiểu gây hấn của họ là một điểm đối sánh tiêu cực với tương lai trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia có quan hệ song phương không ngang tầm với Mỹ, và vì vậy là một mẫu hình kém thuyết phục cho tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ; cũng là một quốc gia ngày càng quân phiệt và cánh hữu, đang nỗ lực kích động tình trạng bất ổn ở khu vực trong vấn đề tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Thấy rất ít sự tích cực trong những mô tả này về Nhật Bản. Hơn thế, những quan điểm này lại hoàn toàn trái ngược với những gì người Trung Quốc nhận thức về Nhật Bản ở những giai đoạn trước trong lịch sử. Chứng cứ lưu trữ hiện thời của Trung Quốc cho thấy, trong những năm 1950 – 1960, giới chức Trung Quốc đã mô tả Nhật Bản không chỉ là một kẻ xâm lược thời chiến, mà còn là một mẫu hình quốc gia hiện đại, công nghiệp hóa và đầy quyền lực, cũng là một đối tác kinh tế quan trọng đối với Trung Quốc. Mặc dù hai nước không có quan hệ ngoại giao, song các quan chức hàng đầu Trung Quốc như Thủ tướng Chu Ân Lai và Thống đốc Ngân hàng Trung Quốc Nam Hán Thần đã hoan nghênh rất nhiều nhóm các nhà tư bản công nghiệp và doanh nghiệp Nhật Bản đến Trung Quốc hồi những năm 1950, 1960 và 1970 để tư vấn giải pháp cho nền kinh tế thời hậu chiến đang phát triển của Trung Quốc. Cuối những năm 1980, vai trò của Nhật Bản với tính cách là một đối tác kinh tế đã trở nên quan trọng hơn, nhưng Trung Quốc cũng lo ngại về sức mạnh trỗi dậy của Nhật Bản, một mối lo ngại sớm muộn cũng không còn được giảm thiểu bởi bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn, trong đó Trung Quốc và Nhật Bản cùng sát cánh chống lại mối đe dọa Xô Viết. Sự hẹp hòi trong các quan điểm của Trung Quốc về Nhật Bản càng trở nên sâu sắc hơn trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh lạnh, khi các nhà lãnh đạo cộng sản ở Trung Quốc bắt đầu tiến trình “tái ghi nhớ” những hành động tàn bạo của người Nhật trong suốt Thế chiến thứ hai. Đến giữa những năm 1990, nghị trình chính thống đã đặt trọng tâm lớn vào những sai phạm chết người trong lịch sử của Nhật Bản, và chỉ trích cao độ việc tăng cường liên minh Mỹ – Nhật và mối quan hệ Nhật Bản – Đài Loan. Nghị trình này cổ vũ cho tinh thần chống Nhật mạnh mẽ trogn số đông dân chúng, dẫn đến những cuộc biểu tình quy mô lớn hồi đầu những năm 2000 liên quan đến những vấn đề như việc Nhật Bản được đề nghị một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuy nhiên, ngay tại cao trào của những tình huống căng thẳng này, nghị trình của Trung Quốc về Nhật Bản hồi đầu những năm 2000 vẫn hàm chứa rất nhiều quan điểm khác nhau. Minh chứng đáng chú ý nhất ở đây là sự hiện diện của “các nhà tư tưởng mới” – như Shi Yinhong và Ma Licheng – những người thẳng thắn nêu tranh luận cho rằng, Trung Quốc không thể hy vọng Nhật Bản mãi mãi là một quốc gia “phi chuẩn” không có quyền lực quân sự.

Điểm có vẻ khác biệt trong nghị trình hiện thời của Trung Quốc về Nhật Bản chính là sự thiếu vắng của số nhiều các quan điểm. Thay vì thế, ta sẽ nhận ra một sự thu hẹp đáng lo ngại những ý niệm của Trung Quốc về Nhật Bản. Đôi khi vẫn có những tham chiếu đến mối quan hệ kinh tế trọng yếu ràng buộc Trung Quốc và Nhật Bản, như sự kiện hồi tháng 9/2012, ở thời điểm cao trào của những cuộc biểu tình phản kháng và tẩy chay chống Nhật đang lan rộng ở Trung Quốc, tờ Nhân dân Nhật báo đã nhắc nhở độc giả của mình rằng “bất cứ một sự đổ vỡ nghiêm trọng nào trong quan hệ thương mại song phương [giữa Trung Quốc và Nhật Bản] đều có thể gây tổn hại cho cả hai quốc gia”. Song những tham chiếu như vậy đang ngày càng trở nên hiếm hoi. Hiện nay, những nhãn mác đáng chú ý nhất trong nghị trình học thuật và chính thống của Trung Quốc về Nhật Bản là những thuật ngữ kiểu như “quyền lực suy giảm”, “xâm lược lịch sử”, “cánh hữu” và “chủ nghĩa thân tộc”, cùng với những biểu trưng của tiến trình giải trừ quân bị của Nhật Bản từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai như các Phiên tòa Tokyo, Tuyên bố Cairo, và Tuyên bố Potsdam. Những nhãn mác này đã mô tả một hình ảnh hết sức phiến diện về Nhật Bản. Dù là công cụ hay là gì khác nữa, chúng đều tạo thành quan điểm cho rằng Nhật Bản thua kém Trung Quốc, rằng lịch sử xâm lược đã khiến Nhật Bản không đủ tư cách nắm giữ vai trò cường quốc “quy chuẩn”, và hành vi “phi pháp” và “dân tộc chủ nghĩa” của Nhật Bản – chứ không phải là bất cứ hành động nào từ phía Trung Quốc – đang thách thức hiện trạng ở châu Á. Quan trọng không kém, những nhãn mác này cũng giúp giới chức và các nhà khoa học Trung Quốc đặt tương lai của Trung Quốc bên cạnh quá khứ của Nhật Bản; họ cho rằng, bởi lẽ Trung Quốc không quân phiệt và dân tộc chủ nghĩa như Nhật Bản, nên thế giới không cần phải e sợ và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Sau cùng, nghị trình này về Nhật Bản đã đặt ra những vấn đề quan trọng sống còn đối với việc trị lý hòa bình tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Như Evelyn Goh mới đây đã nhận định, “bước chuyển tiếp trật tự đang diễn ra đòi hỏi một sự tính toán cho nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản về những điều kiện để Nhật Bản tái hòa nhập với cộng đồng khu vực hiện thời” ở châu Á. Song, như đã thấy rõ từ phân tích này, những quan niệm của Trung Quốc vẫn là những quan điểm nhận thức hẹp hòi về Nhật Bản với tính cách là một thế lực gây hấn, quân phiệt và bất hợp pháp. Mọi sự tính toán cho nhau đều có vẻ như bất khả thi. Điều này có nghĩa Mỹ sẽ tiếp tục là một “nhân tố trung lập” giữa một Trung Quốc đầy năng lực cạnh tranh và Nhật Bản, từ đó dần phong hóa những nỗ lực của Trung Quốc nhằm tạo dựng một trật tự mới ở châu Á, trong đó sức mạnh và uy quyền được chia sẻ ngang bằng hơn giữa Mỹ và Trung Quốc. Tháng 10/2013, ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc đã tổ chức một hội nghị công tác quan trọng về vấn đề ngoại giao khu vực, một hội nghị có vẻ nhằm tìm cách tái thiết và phục hồi các mối quan hệ trong khu vực của Trung Quốc sau một thời kỳ khó khăn kéo dài 3 – 4 năm. Chủ tịch Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc củng cố “mối quan hệ bạn hữu” với các quốc gia láng giềng, nhận định “khu vực châu Á – Thái Bình Dương là đủ lớn để tất cả các quốc gia cùng phát triển”, đồng thời thúc giục Trung Quốc thực hiện những bước tiến tiên phong để tăng cường an ninh khu vực. Nghị trình mới này của Trung Quốc tuy có liên quan đến Nhật Bản song vẫn chưa rõ ràng. Từ trước đến nay, ta vẫn chỉ có chút ít dẫn chứng từ Trung Quốc chứng minh tư duy sáng tạo về vai trò mà một Nhật Bản đầy quyền năng có thể nắm giữ bên cạnh một Trung Quốc đầy quyền năng. Trong khi một số người, như Yuan Peng, đã thừa nhận ý nghĩa quan trọng của việc tăng cường mối quan hệ ba bên Trung – Nhật – Mỹ với tính cách là một “điều kiện tiên quyết” để đạt được “quan hệ cường quốc kiểu mới”, thì cách tư duy kiểu này vẫn là hiếm thấy. Trừ khi Trung Quốc suy xét lại vai trò của Nhật Bản ở châu Á, và việc làm thế nào để quá trình chuyển tiếp quyền lực có thể diễn ra theo cách chấp nhận được cho cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản, bằng không ta sẽ khó có thể chứng kiến thành tựu lớn từ “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc.

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần IV


Về vấn đề này, các ngành xã hội học, tâm lý học, giáo dục học, nhất là giá trị học đang rất quan tâm, trong đó có quan niệm thế nào là “hạnh phúc” và “con đường đạt được hạnh phúc”. Phổ hạnh phúc rất rộng, mức độ rất khác nhau, tính chất cũng nhiều vẻ, trường độ dài ngắn cũng khác nhau với nhiều cách thức đạt hạnh phúc. Thông thường nhất có thể hiểu, hạnh phúc như là một sự vui sướng khi đạt được một thỏa mãn một nhu cầu nào đó, thỏa mãn một giá trị trong “giá trị bản thân” mỗi người. Cảm nhận hạnh phúc cả ở cấp độ bản năng lẫn cấp độ lý trí, hay bản năng được lý trí hóa, như K. Marx trong Hệ tư tưởng Đức đã nhận xét, bắt đầu từ thỏa mãn các nhu cầu sống còn của con người và tồn tại loài người, như dinh dưỡng, tình dục, cư trú…, cho đến bình diện tâm lý, tinh thần, như đạt được một mục đích đã đặt ra, nhỏ như đạt điểm cao trong kiểm tra hay thi, cao hơn như trúng tuyển vào đại học… Từ cảnh nô lệ lầm than, đất nước được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh có ham muốn tột bậc là mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc và được học hành chính là hạnh phúc lớn nhất của Người. Ngày nay, xã hội còn phân biệt giàu nghèo quá lớn, mâu thuẫn nảy sinh nhiều, an sinh xã hội còn phức tạp, đạo đức xã hội còn rối ren, hệ giá trị đảo lộn, tình trạng tội phạm, tham nhũng, quan liêu… còn nhiều, mục tiêu hạnh phúc cho con người và xã hội nhìn tổng thể và nói chung còn đầy chướng ngại. Nhưng con ngườic ùng xã hội phải tồn tại và phát triển, vẫn đi tìm và ở một mức độ nhất định, một thời điểm hay giai đoạn trong cuộc đời, bình thường vẫn đạt được và cảm nhận thấy hạnh phúc. Vậy nên, trong tâm lý học hay xác định hạnh phúc theo năm bậc nhu cầu theo Tháp nhu cầu của con người do nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ Maslow (1908 – 1970) đề ra năm 1943 trong bài “Một lý thuyết về động cơ của con người” (A Theory of Human Motivation):Chúng tôi xác định 5 mức độ hạnh phúc: (1) Thích thú, khoái lạc khi thỏa mãn các nhu cầu bản năng, bảo đảm sự sống còn, tồn tại trên đời, có thể coi đây là hạnh phúc sống còn ở mức bản năng; (2) Sung sướng khi thỏa mãn nhu cầu yên thân, vượt qua mức bấp bênh, tồn tại chắc chắn, không bị đe dọa, có thể coi là hạnh phúc tâm lý; (3) Vui vẻ khi thỏa mãn nhu cầu chuyển từ phạm vi tồn tại bản thân sang tham gia vào các quan hệ gần gũi trong nhà, bạn hữu, có thể gọi là hành phúc quá độ mở rộng tâm lý cá nhân; (4) Hân hoan, vinh hạnh khi thỏa mãn nhu cầu làm việc gì đấy theo yêu cầu của tập thể, cộng đồng, xã hội tín nhiệm giao cho, có thể coi đây là hạnh phúc xã hội; (5) Vinh quang, hoàn thiện, hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu trong cuộc đời của con người với tư cách là con người đối với chính mình, cũng như với tập thể, cộng đồng, xã hội, có thể coi đây là hạnh phúc nhân cách, là đỉnh cao của Tháp. Như vậy, có thể xếp hạnh phúc theo thang bậc sau đây:

Thang bậc hạnh phúc

Mức độ

5/ Vinh quang, hoàn thiện

4/ Hân hoan, vinh hạn

3/ Vui vẻ

2/ Sung sướng

1/ Thích thú, khoái lạc

Phạm trù

Nhân cách

Xã hội

Tâm lý cá nhân

Tâm lý

Sống còn (sinh thế)

Ở đây phải nhấn mạnh lại một lần nữa tính chủ quan của hạnh phúc: Tháp nhu cầu của Maslow kê ra những nhu cầu của con người, tức là có sự cảm nhận của chính chủ thể. Tuy vậy, chưa nói lên hết được tính đa dạng, đặc thù phong phú trong đời sống con người và loài người, nhất là các dạng hạnh phúc thuộc phạm trù xã hội, tinh thần, tâm lý. Phải chăng, tâm lý học và giáo dục học ở nước ta cần phải tổ chức các chuyên đề về các phạm trù này trong các giáo trình. Cuốn sách này vận dụng nội dung tháp nhu cầu và thang bậc hạnh phúc vào xây dựng thang bậc giá trị bản thân để mỗi người xây dựng hạnh phúc cho mình, qua đó xây dựng hạnh phúc gia đình, cộng đồng, xã hội. Xã hội dân chủ là một điều kiện quan trọng của môi trường tạo dựng hạnh phúc. Chế độ cộng hòa mở ra một chân trời mới của môi trường đó.

Ngày nay, cả thế giới đã thừa nhận vai trò kinh tế thị trường, dân chủ, pháp quyền là kiềng ba chân đưa đất nước tới chỗ giàu mạnh, văn minh với sự mở đầu của các nước phương Tây từ cuối thế kỷ XVIII. Thế kỷ XXI, nhiều nước trên thế giới bước vào quy luật này với sự dẫn dắt của công nghệ thông tin, kinh tế tri thức… Nền kinh tế thị trường ở nước ta từ thời kỳ đổi mới (năm 1986), lúc đầu chuyển từ thời kinh tế bao cấp sang kinh tế nhiều thành phần, dần dần mới chính thức tuyên bố đường lối xây dựng “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”, nghĩa là xây dựng một nền kinh tế theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lợi ích, quy luật cạnh tranh, có sự quản lý của nhà nước. Các quy luật này làm cho cả xã hội và từng con người tích cực học hành, làm ăn, năng động, thông minh, sáng tạo, làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả mọi hoạt động, tất nhiên, cần trong điều kiện của một xã hội lành mạnh, nghĩa là không bị nạn tham nhũng, quan liêu trong bộ máy cầm quyền. Mặt khác, kinh tế thị trường cũng có những mặt trái như chạy theo lợi nhuận đơn thuần, lợi ích kinh tế trước mắt, gây ảnh hưởng xấu đối với các vấn đề xã hội, thậm chí băng hoại đạo đức, xói mòn lý tưởng, tệ nạn xã hội, nhất là tệ tham nhũng, quan liêu có nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ. Vì vậy, cần vận dụng đúng quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo mà trước hết là phải tuyệt đối tránh thương mại hóa giáo dục. Để làm được điều này, vai trò lãnh đạo , quản lý của Đảng và Nhà nước có ý nghĩa quyết định. Cần nói thêm về vấn đề quản lý nhà nước đối với kinh tế nói chung và kinh tế quốc doanh nói riêng. Quản lý nhà nước hiện nay đang có nhiều vấn đề gây trở ngại cho sự phát triển; chẳng hạn, hiện nay nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn trong nước đều là của Nhà nước, Nhà nước chi 2/3 tổng ngân sách cho các doanh nghiệp này, nhưng các doanh nghiệp này mới chỉ đóng góp được 1/3 GDP dẫn đến thất thoát rất nhiều. Các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa, Nhà nước vẫn giữ hơn 50% vốn doanh nghiệp. Năm 2014, Chính phủ đã quyết định phải cổ phần hóa 500 doanh nghiệp… Trong quá trình cổ phần hóa, xã hội đang đòi hỏi phải thực hiện một cách công khai, minh bạch, tránh thất thoát, làm giàu cho một số rất ít người. Vì vậy, cần phải tháo gỡ mọi rào cản để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay:

+ Tỷ lệ dân cư sống ở nông thôn: hơn 70%.

+ Lực lượng lao động:

Nông nghiệp: 48%

Công nghiệp: 21%

Dịch vụ: 31%

+ Đóng góp vào GDP

Nông nghiệp: 21,5%

Công nghiệp: 40,7%

Dịch vụ: 37,7%.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Mối quan hệ gen – người – Phần cuối


Nếu C là anh em sinh đôi cùng trứng với tôi thì tôi sẽ quan tâm đến anh ta gấp đôi so với sự quan tâm của tôi với con tôi, thực tế là tôi nên đánh giá mạng sống của anh ta không hề kém hơn mạng sống của tôi. Nhưng liệu tôi có thể chắc chắn về anh ta? Anh ta chắc chắn trông giống tôi, nhưng cũng có thể rằng chúng tôi chỉ có chung những gen quy định các đặc điểm của khuôn mặt. Không, tôi sẽ không hi sinh cuộc sống của tôi cho anh ta, vì ch dù anh ta có thể mang trong mình 100% gen của tôi, nhưng tôi biết chắc chắn rằng tôi có 100% gen cảu tôi, vì vậy bản thân tôi đáng giá với tôi hơn so với anh ta. Tôi là cá thể duy nhất mà bất kỳ gen vị kỷ nào của tôi cũng có thể chắc chắn. Và mặc dù nói một cách lý tưởng, một gen quy định cho tính vị kỷ cá nhân có thể bị thay thế bởi một gen cạnh tranh quy định hành động cứu giúp mang tính vị tha ít nhất một người anh em sinh đôi cùng trứng, hai đứa con hoặc anh/em, hoặc ít nhất bốn đứa cháu… Gen quy định sự vị kỷ cá nhân vẫn có lợi thế cực kỳ lớn của độ chắc chắn về nhận dạng cá thể. Gen cạnh tranh mang hành động vị tha cho họ hàng sẽ gặp rủi ro trong việc tạo ra những nhầm lẫn về nhận dạng, dù thực sự là tình cờ hoặc được tạo ra một cách có chủ ý bởi những kẻ lừa dối và ký sinh. Vì vậy, chúng ta phải thấy rằng trong tự nhiên, sự vị kỷ cá nhân chiếm một phần lớn hơn rất nhiều so với sự dự đoán chỉ dựa trên những cân nhắc về độ thân thuộc di truyền.

Trong nhiều loài, một cá thể mẹ có thể chắc chắn về con của nó hơn một người cha. Cá thể mẹ đẻ trứng ra có thể nhìn, sờ thấy được, hoặc đẻ ra những đứa con. Nó có cơ hội tốt để biết chắc chắn về kẻ mang gen của nó. Cá thể cha tội nghiệp dễ bị lừa dối hơn rất nhiều. Do đó, người ta cho rằng những cá thể cha sẽ bỏ ít nỗ lực hơn những cá thể mẹ vào việc chăm sóc con non. Chúng ta sẽ thấy rằng có nhiều lý do khác dẫn tới cùng kết luận như vậy. Tương tự, những cá thể bà ngoại có thể chắc chắn về cháu của họ hơn là những cá thể bà nội, và có thể sẽ thường thể hiện tính vị tha nhiều hơn so với những cá thể bà nội. Điều này là do những cá thể bà ngoại có thể chắc chắn về những đứa con của con gái mình, trong khi con trai của chúng có thể bị cắm sừng. Những cá thể ông ngoại cũng chỉ chắc chắn về cháu của họ như những cá thể bà nội bởi cả hai có thể nhận ra một thế hệ có sự chắc chắn và thế hệ có sự không chắc chắn. Tương tự, những người bác/cậu bên mẹ sẽ quan tâm hơn đến cuộc sống của các cháu trai và cháu gái hơn là những người bác/chú bên bố, và nói chung, sẽ thể hiện tính vị tha như những người cô. Thực tế, trong xã hội với những cuộc hôn nhân có độ phản bội cao, những người bác/cậu bên mẹ sẽ có tính vị tha nhiều hơn so với “những người cha” vì họ có nhiều cơ sở cho sự tự tin vào độ thân thuộc của họ với đứa trẻ. Họ biết rằng mẹ của đứa trẻ ít ra cũng là chị/em gái cùng mẹ hoặc cha của họ. Những người cha “hợp pháp” chẳng biết gì cả. Tôi không biết bất cứ bằng chứng nào liên quan đến những dự đoán này, nhưng tôi đưa ra những dự đoán này với hi vọng rằng những người khác có thể hoặc có thể bắt đầu tìm kiếm những bằng chứng. Cụ thể là, các nhà nhân chủng học xã hội có thể có nhiều điều thú vị để nói.

Trở lại với thực tế là tính vị tha của cha mẹ/con cái phổ biến hơn so với tính vị tha của anh/chị/em, điều này có vẻ hợp lý để giải thích dưới khía cạnh “vấn đề nhận dạng”. Nhưng nó không thể giải thích tính bất đối xứng cơ bản trong bản thân mối quan hệ cha mẹ/con cái. Những cá thể bố mẹ quan tâm nhiều hơn đến con cái của họ so với những đứa con đối với bố mẹ chúng, mặc dù mối quan hệ di truyền là đối xứng, và tính chắc chắn của sự thân thuộc của cả hai hướng đều lớn như nhau. Một lý do là những cá thể cha mẹ có vị trí thực tế tốt hơn để giúp đỡ con cái họ, chững chạc và thành thạo hơn trong các vấn đề của cuộc sống. Cho dù nếu một đứa trẻ muốn chăm sóc cha mẹ nó, nó cũng không được trang bị đầy đủ để làm điều đó trong thực tế.

Có một sự bất đối xứng nữa trong mối quan hệ cha mẹ/con cái mà không áp dụng được trong mối quan hệ anh/chị/em. Những đứa con luôn trẻ hơn cha mẹ chúng. Điều này thường có nghĩa, dù không phải lúc nào cũng đúng, là chúng có kỳ vọng sống lớn hơn. Như tôi đã nhấn mạnh ở trên, kỳ vọng sống là một biến quan trọng, mà trong những thế giới lý tưởng, sẽ nhập vào “sự tính toán” của một cá thể động vật khi nó đang “quyết định” liệu có nên cư xử một cách vị tha hay không. Trong một loài mà những đứa con có kỳ vọng sống trung bình lớn hơn của cha mẹ, bất kỳ gen nào quy định cho tính vị tha của con cái sẽ hoạt động dưới điều kiện bất thuận lợi. Nó có thể xây dựng nên tính vị tha quên mình cho lợi ích của những cá thể cận kề cái chết vì tuổi già hơn là bản thân người có hành động vị tha. Mặt khác, một gen quy định tính vị tha của bố mẹ sẽ có những lợi thế tương ứng cho đến chừng nào những thuật ngữ về kỳ vọng sống trong công thức này còn được xem xét.

Đôi khi, người ta nghe nói rằng sự chọn lọc theo họ hàng là rất tốt về mặt lý thuyết, nhưng có rất ít ví dụ về tác động của nó trong thực tế. Sự phê phán này chỉ có thể được đưa ra bởi một người không hiểu sự chọn lọc theo họ hàng nghĩa là gì. Sự thật là tất cả những ví dụ về sự bảo vệ con, sự chăm sóc của bố mẹ và tất cả những cơ quan liên quan đến nhau trong cơ thể, các tuyến sữa, những chiếc túi nhỏ của loài chuột túi, vân vân, là những ví dụ về tác động trong tự nhiên của nguyên lý chọn lọc theo họ hàng. Những người chỉ trích tất nhiên là quen thuộc với sự tồn tại rộng rãi của sự chăm sóc của bố mẹ, nhưng họ không hiểu được rằng sự chăm sóc của bố mẹ cũng chỉ là một ví dụ về sự chọn lọc theo họ hàng như là tính vị tha của anh/chị. Khi họ nói họ muốn có các ví dụ, ý của họ là họ muốn những ví dụ khác ngoài sự chăm sóc của bố mẹ, và sự thực là những ví dụ đó ít phổ biến hơn. Tôi đã đưa ra lý do giải thích điều đó. Tôi có thể xa rời đường lối của mình để trích dẫn những ví dụ về tính vị tha của anh/chị,những điều mà rất ít có trong thực tế. Nhưng tôi không muốn làm như vậy, bởi vì nó sẽ củng cố thêm cho những ý tưởng sai lầm (như chúng ta thấy, được Wilson ưa thích) rằng chọn lọc theo họ hàng là sự đặc trưng về các mối quan hệ khác ngoài mối quan hệ cha mẹ/con cái.

Lý do mà các lỗi này vẫn phát triển phần lớn mang tính lịch sử. Lợi thế tiến hóa của sự chăm sóc của cha mẹ là rõ ràng đến mức mà chúng ta không phải đợi đến lúc Hamilton chỉ ra điều đó. Nó đã được hiểu từ thời Darwin. Khi Hamilton giải thích tính tương đồng di truyền của các mối quan hệ khác và ý nghĩa tiến hóa của chúng, tất nhiên ông đã phải nhấn mạnh các mối quan hệ khác này. Cụ thể là, ông đã đưa ra các ví dụ từ các loài côn trùng xã hội như kiến và ong mà trong đó mối quan hệ chị/em đặc biệt quan trọng, như chúng ta sẽ biết. Tôi thậm chí đã từng nghe người ta nóio rằng họ nghĩ học thuyết của Hamilton chỉ áp dụng đối với các loài côn trùng xã hội!

Nếu ai đó không muốn thừa nhận rằng sự chăm sóc của cha mẹ là một ví dụ của chọn lọc theo họ hàng trong hoạt động thì nhiệm vụ của anh ta là xây dựng nên một lý thuyết đại cương về chọn lọc tự nhiên và có thể dự đoán tính vị tha của cha mẹ, nhưng lại không dự đoán tính vị tha giữa những người họ hàng thân thuộc. Tôi nghĩ rằng anh ta sẽ thất bại.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Đông Nam Á năm 2019 – Phần I


Trung tâm nghiên cứu ASEAN tại Viện ISEAS-Yusof Ishak đã thực hiện cuộc khảo sát trực tuyến về “Tình trạng Đông Nam Á: 2019” từ 18/11 đến 5/12/2018 để tìm kiếm những quan điểm của người Đông Nam Á về các vấn đề khu vực. Cuộc khảo sát đã sử dụng phương pháp lấy mẫu có chủ đích, thu thập những quan điểm từ tổng số 1008 người Đông Nam Á là các chuyên gia khu vực và những người có lợi ích liên quan từ các cộng đồng chính sách, nghiên cứu, kinh doanh, xã hội dân sự và truyền thông. Do đó, kết quả của cuộc khảo sát này không có nghĩa là mang tính đại diện. Thay vào đó, nó nhằm mục đích trình bày một quan điểm chung về thái độ phổ biến giữa những người ở vào vị thế đưa ra thông tin hoặc gây ảnh hưởng đến chính sách đối với các vấn đề và các mối quan ngại chính trị, kinh tế và xã hội khu vực.

Cộng đồng học giả và tư vấn tạo thành nhóm người tham gia khảo sát lớn nhất với tỷ lệ 42%. Gần 1/3 số người tham gia khảo sát (32,9%) đến từ chính phủ, nhóm tổ chức liên chính phủ và quốc tế, mà mang lại một cơ hội hiếm hoi để tiếp cận các quan điểm từ các giới thường kín tiếng này. Cộng đồng doanh nghiệp và tài chính (10,4%), xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ (NGO) (8%), và giới truyền thông (6,7%) tạo thành 25,1% số người tham gia khảo sát còn lại.

1008 người tham gia khảo sát đã là những người ở tất cả 10 nước thành viên ASEAN nhằm đảm bảo rằng cuộc khảo sát phản ánh chính xác quan điểm khu vực. Các nước có tỷ lệ trả lời cao nhất là Myanmar (16,9%), tiếp theo là Malaysia (14,5%), Singapore (12,7%), Việt Nam (12,3%), Indonesia (11,4%), Thái Lan (11,4%), Philippines (11%), Brunei  Darussalam (4,5%), Lào (2,9%) và Campuchia (2,4%).

I/ Các quan điểm và tiến triển khu vực

Bức tranh lớn

Tâm trạng chung của khu vực là bi quan với 42,5% số người tham gia khảo sát dự đoán khu vực này sẽ gặp phải một giai đoạn không chắc chắn và một tỷ lệ nhỏ (2,2%) tỏ ra có những quan ngại về một năm đầy biến động ở phía trước. Mặt khác, 32,3% cho rằng khu vự này “ổn định” (30,3%) hoặc “rất ổn định” (2%). Gần 1/4 số người tham gia khả sát (23%) cho rằng các nguyên tắc cơ bản của khu vực “không thay đổi”. Lạc quan nhất là Lào với 68,9% người tham gia khảo sát cho rằng khu vực “ổn định” hoặc “rất ổn định”, trong khi người Singapore thì bi quan nhất, với 66,9% dự đoán năm 2019 sẽ được đánh dấu bởi những sự không chắc chắn và thậm chí là rối loạn.

Những triển vọng kinh tế

Ở tất cả các nước thành viên ASEAN, quan điểm tích cực (55,4%) về nền kinh tế khu vực vượt xa các phản ứng tiêu cực (21,3%). Hơn một nửa số người tham gia khảo sát (55,4%) mong đợi rằng khu vực này sẽ có sự tăng trưởng, dù ở mức vừa phải (49,9%) hay mạnh mẽ (5,5%). Gần 1/4 (23,3%) dự đoán một năm ổn định ở phía trước. Sự khẳng định mạnh mẽ về kinh tế có phần đáng ngạc nhiên khi có những trở ngại hiện tại từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đang diễn ra.

Mặt khác, 21,3% số người tham gia khảo sát nhận thấy khu vực này đang hướng tới sự suy giảm vừa phải (19,9%) hoặc suy giảm mạnh (1,4%). Có thể thấy những quan điểm lạc quan nhất (tăng trưởng vừa phải đến mạnh) là ở Lào (86,2%), Campuchia (66,7%) và Brunei (64,4%). Ở Malaysia (34,9%), Singapore (33,5%) và Thái Lan (32,2%) là những quan điểm bi quan nhất (giảm vừa phải đến giảm mạnh) trong khu vực.

Sự không chắc chắn về việc ký kết RCEP và tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung

Các quan điểm tích cực về khả năng phục hồi của nền kinh tế khu vực không tiếp nối tới Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Khi được hỏi về quan điểm của họ về việc kết thúc các cuộc đàm phán RCEP, “47,1% cho rằng không thể bình luận”. Điều này có thể được hiểu là không có đủ thông tin để đưa ra ý kiến, cho thấy cần phải nỗ lực nhiều hơn để đưa các bên lợi ích liên quan tham gia cuộc thảo luận này.

Nhìn chung, 29,2% số người tham gia khảo sát trả lời “tin tưởng” (27%) hoặc “rất tin tưởng” (2,2%) rằng RCEP sẽ được ký vào năm 2019. Ngược lại, 23,7% cho rằng các cuộc đàm phán RCEP là một vấn đề kéo dài mà “không có khả năng” (21,3%) hoặc “rất không có khả năng” (2,4%) được hoàn tất trong năm 2019. Những người tham gia khảo sát ở Campuchia là những người lạc quan nhất với 45,8% bỏ phiếu “tin tưởng” đối với một kết thúc nhanh chóng và cuối cùng, tiếp theo là Thái Lan (34,8%) và Indonesia (33,4%). Mức độ hoài nghi cao nhất là từ Singapore (35,2%), Việt Nam (30,7%) và Malaysia (30,1%) – 3 trong số 4 nước ASEAN ký kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Cũng có rất nhiều sự không chắc chắn xoay quanh những rối loạn (và lợi ích) có thể xảy ra do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung khi 39,7% số người tham gia khảo sát không rõ về tác động cảu cuộc chiến tranh thương mại đối với các nước tương ứng của họ. Tuy nhiên, nhiều người tham gia khảo sát hơn nghĩ rằng đất nước của họ sẽ phải chống chọi lại những tổn thất do cuộc chiến tranh thương mại này thay vì gặt hái được bất kỳ lợi ích nào. Gần 1/5 số người tham gia khảo sát (19,9%) chia sẻ rằng “nền kinh tế của nước họ sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực vì cuộc chiến tranh thương mại sẽ phá vỡ chuỗi cung ứng trong khu vực”. Những người tham gia khảo sát ở Singapore có cảm giác mạnh mẽ nhất về điềm gở này với 29,7% có quan điểm tiêu cực. Cảm giác lo lắng này cũng xuất hiện ở Thái Lan (27,2%) và Indonesia (21,8%). Đồng thời 13,7% số người tham gia khảo sát nhận thấy đất nước của họ “được hưởng lợi từ sự chuyển hướng đầu tư và thương mại sang khu vực này”, với Campuchia dẫn đầu sự lạc quan (29,2%), tiếp theo là Malaysia (19,9%) và Việt Nam (17%).

Một số ít người tham gia khảo sát (8,5%) cho rằng cuộc chiến thương mại sẽ dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ và chống thương mại gia tăng trong khu vực. Chỉ có 18,2% số người tham gia khảo sát thực tế coi Cộng đồng kinh tế ASEAN, RCEP và CPTPP là những nơi trú ẩn an toàn để vượt qua được cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

CPTPP có thể mở rộng?

CPTPP có hiệu lực từ ngày 30/12/2018, sau khi được 7 thành viên – Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand, Singapore và Việt Nam – đảm bảo thông qua, 4 nước ký kết còn lại – Brunei Darussalam, Chile, Malaysia và Peru – dự kiến sẽ làm theo đúng trình tự. Cuộc khảo sát đã nêu lên những quan điểm của những người tham gia khảo sát từ 6 nước thành viên ASEAN không tham gia CPTPP (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines và Thái Lan) về việc nước họ có thể gia nhập hiệp định thương mại này hay không. Trong câu hỏi nhiều câu trả lời này, phần lớn số người tham gia khảo sát (53,6%) cho rằng “tốt hơn là nên áp dụng cách tiếp cận chờ xem để xác định khả năng tồn tại của CPTPP”.

Trong khi đó, sự ủng hộ dành cho CPTPP không phải là không đáng kể với hơn 1/3 số người tham gia khảo sát (36,4%) có khuynh hướng tích cực đối với hiệp định thương mại. Trong nhóm này, 26,6% ủng hộ nước họ tham gia CPTPP khi hiệp định được thiết lập như hiện tại và 9,8% muốn nước họ tham gia lại “chỉ khi Mỹ tham gia hiệp định thương mại này”. Nước ủng hộ CPTPP dưới hình thức hiện nay mạnh mẽ nhất là Campuchia (39,1%), Philippines (38,1%) và Thái Lan (33,6%). Một số ít người tham gia khảo sát (10%) cho rằng đất nước của họ “tốt hơn hết là không gia nhập CPTPP”.

Trong câu hỏi rộng hơn về CPTPP, bao gồm các câu trả lời từ cả 10 nước thành viên ASEAN, hầu hết những người tham gia khảo sát (46,1%) đồng ý rằng CPTPP là “quan trọng trong việc giữ đà hướng tới một chế độ thương mại khu vực dựa trên quy tắc và có chất lượng cao”. 20,2% số những người tham gia khảo sát đều ủng hộ tính hữu ích của RCEP so với CPTPP; mức độ ủng hộ cao hơn dành cho RCEP so với CPTPP đến từ Lào (39,3%) và Indonesia (35,1%). Nhìn chung, 28,4% số người tham gia khảo sát nghĩ rằng CPTPP sẽ có tác động hạn chế vì không bao gồm Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ; những người tham gia khảo sát ở Campuchia tỏ ra bi quan hơn với 43,5% số người tham gia khảo sát cùng có quan điểm này.

(còn tiếp)

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019