Mỹ hời hợt trong việc trấn an các nước ở Biển Đông


Washington không biến những gì đã nói thành hành động, sau khi Bắc Kinh ép Hà Nội từ bỏ dự án khoan dầu trên biển Hoa Nam (Biển Đông). Hàm ý của động thái này rất nghiêm trọng và làm suy yếu những nỗ lực của Mỹ và các đối tác dân chủ đang muốn xây dựng một khu vực “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở”.

Hồi tháng 7/2017, các giám đốc điều hành của tập đoàn Repsol cho biết Trung Quốc đe dọa xung đột quân sự với Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, nếu tập đoàn Tây Ban Nha xúc tiến các hoạt động khoan thăm dò theo kế hoạch ở lô khoan dầu riêng biệt. Tháng 3 năm nay, Trung Quốc cũng làm tương tự với quyết định của tập đoàn Repsol.

Đến nay, vài tuần sau quyết định của Việt Nam, Trung Quốc dường như hoàn toàn thành công trong việc dọa nạt một nước ven biển Hoa Nam tránh xa việc tiếp cận nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Diễn biến này cho thấy rõ rằng những lời trấn an mà Mỹ có thể đưa ra đối với các nước trong khu vực nhìn chung là hời hợt.

Dưới thời Tổng thống Donald Trump, Mỹ tăng tiến độ hoạt động tự do hàng hải ở gần các thực thể tranh chấp trên biển Hoa Nam. Nói chung, cứ hai tháng lại diễn ra một hoạt động tự do hàng hải, thay vì khoảng mỗi quý một lần như dưới thời chính quyền Obama.

Trong khi đó, Hải quân Mỹ cũng mở rộng đáng kể sự hiện diện trên biển Hoa Nam và gửi thông điệp đến Trung Quốc rằng Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương.

Những tuần gần đây, đội tàu tấn công gồm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt tiến hành tập trận để thể hiện với Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc rằng kinh nghiệm và khả năng của Mỹ vượt trội Trung Quốc.

Tuy nhiên, dù có hành động quân sự như vậy, cũng như việc Washington và các nước châu Á dân chủ khác những tháng gần đây đưa ra những cam kết hỗ trợ bằng lời nói, thì chưa một nước nào trong số này lên tiếng khi Việt Nam bị đe dọa bằng vũ lực và bị tước quyền tiếp cận tài nguyên trên biển Hoa Nam.

Ngay cả khi cử đội tấn công gồm tàu sân bay USS Carl Vinson tiến hành chuyến thăm lịch sử tới Đà Nẵng hồi tháng 3 vừa qua, Washington vẫn ở ngoài cuộc khi Trung Quốc ép Việt Nam.

Trong 5 năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và Washington đã cải thiện đáng kể. Đỉnh điểm là trong năm cầm quyền cuối cùng của chính quyền Obama, Mỹ đã dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí kéo dàng hàng thập kỷ đối với Việt Nam. Tuy nhiên, là một trong những nước tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Nam quyết liệt  nhất, hiện Việt Nam có vẻ như bị bỏ mặc.

Thay vì dựa vào luật pháp quốc tế, gồm phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế La Haye hồi tháng 7/2016 trong vụ kiện Trung Quốc của Philippines, Hà Nội đã phải chấp nhận thực tế là mình ở thế yếu khi xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc.

Năm 2017, khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Washington để gặp ông Trump, hai nhà lãnh đạo nhất trí với tuyên bố “quan ngại trước những tác động gây mất ổn định mà việc hạn chế bất hợp pháp quyền tự do trên biển gây ra đối với hòa bình và thịnh vượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.

Gần đây, Đô đốc Harry Harris, Chỉ huy Tư lệnh Thái Bình Dương sắp mãn nhiệm, mô tả Việt Nam là “đối tác táo bạo nhất của Mỹ trong khu vực chống lại hành vi khiêu khích của Trung Quốc trên biển Hoa Nam”.

Không “thể hiện sức mạnh” khi Việt Nam bị dồn vào chân tường, Washington đã thất bại trong việc thúc đẩy các giá trị mà nước này tuyên bố ủng hộ, liên quan đến tương lai của kiến trúc an ninh khu vực ở châu Á.

“Không có công ty nước ngoài nào muốn đầu tư vào dự án ngoài khơi Việt Nam”

Theo đài VOA, sau 2 lần Repsol bị Việt Nam yêu cầu ngừng các dự án khoan dầu trên vùng biển có tranh chấp với Trung Quốc, các chuyên gia cảnh báo sẽ không có công ty nước ngoài nào còn muốn đầu tư vào các dự án ngoài khơi của Việt Nam.

Đây là nhận định của hai chuyên gia Mỹ về Biển Đông: Gregory Poling, Giám đốc chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS), và Alexander Vuving của Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á – Thái Bình Dương, Daniel K. Inouye. Họ cho rằng Việt Nam “không biết phải tiến lên phía trước như thế nào”.

Theo ông Gregory Poling, việc Việt Nam 2 lần yêu cầu Repsol ngừng các dự án khoan dầu cho thấy: “Việt Nam thừa nhận họ không có vùng đặc quyền kinh tế”. Ông nói: “Repsol đã phải 2 lần ngừng dự án và mất hàng trăm triệu USD đầu tư vào việc thăm dò mà không được báo trước chỉ vì áp lực của Trung Quốc. Điều này có thể làm hỏng nhiều kế hoạch thăm dò ngoài khơi của Việt Nam. Không giống bất cứ nước nào khác trên thế giới, Việt Nam không thể dễ dàng và có quyền khai thác các nguồn dầu khí trên biển một cách độc lập”.

Theo báo cáo tài chính năm 2017 của Repsol, hãng này đã chi khoảng 41 triệu USD cho hoạt động thăm dò dầu khí ở Việt Nam trong năm 2017. Nguồn tin của BBC cho biết Repsol mất khoảng 200 triệu USD cho dự án Cá Rồng Đỏ vừa bị ngừng lại trong tháng 3 vừa qua. Ông Poling nhận định: “Tôi không biết (Việt Nam) sẽ tiếp tục thế nào với các dự án thăm dò ngoài khơi, vì không có công ty nước ngoài nào sẽ muốn đầu tư vào bất kỳ một dự án ngoài khơi nào của Việt Nam trên Biển Đông nữa”.

Chuyên gia Vuving có cùng quan điểm với ông Poling khi cho rằng “việc ngưng dự án Cá Rồng Đỏ rõ ràng đã gửi đi một thông điệp ớn lạnh tới các công ty dầu khí muốn đầu tư vào các dự án ngoài khơi Việt Nam”. Ông nghĩ rằng Việt Nam đang lúng túng trong việc “làm thế nào để tiến lên phía trước”.

Trong lịch sử, Trung Quốc đã nhiều lần dùng sức ép để ngăn cản việc khai thác dầu khí trên các vùng biển có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam và nhiều nước khác. Việt Nam chưa bao giờ công khai thừa nhận đã phải dừng các dự án thăm dò dầu khí với Repsol vì sức ép của Trung Quốc. Tuy nhiên, tập đoàn dầu khí quốc gia Petro Vietnam đầu tháng này đã lên tiếng thừa nhận tình hình căng thẳng trên Biển Đông sẽ ảnh hưởng đến hoạt động dầu khí của họ trong năm nay.

Theo Công ty Cổ phần CNG Việt Nam, hiện Việt Nam đang xem xét rút lại một dự án hợp đồng thăm dò khí đốt trị giá 4,6 tỷ USD với tập đoàn ExxonMobil của Mỹ ở ngoài khơi bờ biển miền Trung.

Giáo sư Vuving cho biết Trung Quốc cũng đã gây áp lực buộc Việt Nam trì hoãn dự án khí đốt nhiều tỷ USD với tập đoàn ExxonMobil của Mỹ.

Nguồn: The South China Morning Post – 16/04/2018

TKNB – 17/04/2018

Advertisements

Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần III


Giai đoạn thứ hai: Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, việc xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc thực hiện bước 2 của mục tiêu phát triển chiến lược, với tập thể lãnh đạo Đảng thế hệ thứ ba do đồng chí Giang Trạch Dân chủ xướng, đề ra tư tưởng dân sinh trong thực tiễn lãnh đạo toàn thể nhân dân cả nước thực hiện tổng thể mục tiêu đời sống tiểu khang.

Đầu tiên, Giang Trạch Dân coi cải thiện dân sinh như một tôn chỉ phục vụ nhân dân và sự thể hiện cuối cùng cho tư tưởng “ba đại diện” của Đảng Cộng sản Trung Quốc là đỉnh cao của sự kết hợp cải cách, phát triển và ổn định. Cụ thể là, thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn phải kiên trì tính thống nhất phấn đấu vì lý tưởng cao cả và mưu cầu lợi ích cho quảng đại nhân dân, kiên trì thực hiện sự thống nhất giữa các công việc của Đảng với việc thực hiện lợi ích của nhân dân. “Điểm xuất phát và cơ sở cho hành động chúng ta là sự giải quyết mọi công việc bất luận trước sau đều phải suy nghĩ tới lợi ích cơ bản của quần chúng nhân dân”. Mà lợi ích cơ bản của quần chúng nhân dân, xét đến cùng, thể hiện ở sự cải thiện không ngừng mức sống của dân chúng. Thứ hai, “ba đại diện” là một chỉnh thể thống nhất liên hệ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Phát triển không ngừng sức sản xuất tiên tiến và văn hóa tiên tiến, rốt cuộc là nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất, văn hóa ngày càng tăng của quần chúng nhân dân; thực hiện lợi ích căn bản nhất của đông đảo quần chúng nhân dân, mà biểu hiện cuối cùng của nó là ở sự cải thiện đời sống của nhân dân. Thứ ba, kết hợp một cách thích ứng sức mạnh cải cách, tốc độ phát triển và mức độ ổn định, luôn là vấn đề trọng đại, có ảnh hưởng tới toàn cục mà Đảng Cộng sản Trung Quốc phải quan tâm. Tâm điểm của sự kết hợp trên chính là ở việc không ngừng cải thiện đời sống nhân dân.

Tiếp đó, Giang Trạch Dân đưa ra suy đoán khoa học về “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang”. Khi bàn về “xã hội tiểu khang”, Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh tới phát triển kinh tế, chủ yếu dùng chỉ tiêu kinh tế để đánh giá “xã hội tiểu khang”; Giang Trạch Dân đã cụ thể hóa “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang” thành “khiến cho kinh tế càng thêm phát triển, dân chủ càng thêm kiện toàn, khoa học – giáo dục càng thêm tiến bộ, văn hóa càng thêm phồn vinh, xã hội càng thêm hài hòa, đời sống nhân dân càng thêm giàu có”. Điều này đòi hỏi sự phát triển hài hòa ở trình độ cao hơn nữa văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần của chủ nghĩa xã hội, đồng thời tác động tích cực tới hơn 1 tỷ người trong cả nước. Từ mục tiêu phấn đấu “xã hội tiểu khang” do Đặng Tiểu Bình đề ra tới những giải thích mới của Giang Trạch Dân về “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang” đã thể hiện sự mở rộng và làm sâu sắc thêm trong việc nhận thức nội hàm xã hội tiểu khang và dân sinh.

Thứ nữa, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của người đi trước về sự phát triển toàn diện của con người, trong điều kiện thời đại mới, Giang Trạch Dân đã chỉ rõ nhu cầu và nhiệm vụ phải bắt đầu xúc tiến sự phát triển toàn diện con người trong giai đoạn hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội ngày nay. Ông khẳng định: “Sự nghiệp mà chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, tất cả những việc chúng ta tiến hành vừa phải để mắt tới nhu cầu đời sống vật chất, văn hóa hiện thực của nhân dân, vừa cần hướng tới sự đề cao việc thúc đẩy tố chất dân chúng, cũng chính là cần nỗ lực xúc tiến sự phát triển toàn diện con người. Đây là đòi hỏi bản chất trong việc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Marx”. “Phát triển toàn diện con người” là sự thống nhất giữa phát triển đời sống vật chất và phát triển đời sống tinh thần, vừa “cần nhanh ch1ong khiến cho nhân dân cả nước đều có đời sống tiểu khang sung túc, đồng thời không ngừng tiên lên tầm cao mới”, vừa “phải nỗ lực nâng cao tố chất đạo đức tưt ưởng và tố chất văn hóa khoa học của toàn dân tộc, thực hiện sự phát triển toàn diện đời sống tư tưởng và itnh thần của con người”. Ông còn phân tích thấu đáo mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển toàn diện con người với sự phát triển xã hội, cải thiện dân sinh. Ông chỉ rõ: “Thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là tiền đề và cơ sở của nhau. Con người càng phát triển toàn diện, sự giàu có vật chất và tinh thần của xã hội càng được sáng tạo nhiều, đời sống nhân dân càng được cải thiện và điều kiện vật chất tinh thần đầy đủ thì càng có thể thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người. Mức độ phát triển sức sản xuất xã hội và kinh tế, văn hóa là quá trình lịch sử dần được nâng cao không ngừng, trình độ phát triển toàn diện con người cũng là quá trình lịch sử dần được nâng cao không ngừng. Hai quá trình lịch sử này kết hợp với nhau, thúc đẩy lẫn nhau tiến về phía trước”.

Giai đoạn thứ ba: Sau khi Đại hội Đảng lần thứ XVI, việc xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc thực thi mục tiêu chiến lược bước ba, với đồng chí Hồ Cẩm Đào là Tổng Bí thư Trung ương Đảng, đưa ra tư tưởng dân sinh trong thực tiễn dẫn dắt nhân dân cả nước xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang.

Những người cộng sản Trung Quốc bước vào giai đoạn mới của thế kỷ mới, đối mặt với thế giới đang có nhiều biến đổi và điều chỉnh lớn, vận mệnh Trung Quốc ngày càng gắn chặt với thế giới; đứng trước một Trung Quốc đang sinh ra những biến đổi rộng lớn và sâu sắc, một số mâu thuẫn và vấn đề tích lũy lâu dài trong phát triển dần bộc lộ rõ. Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổng kết sâu sắc thực tiễn phát triển đất nước, rút ra bài học kinh nghiệm phát triển của nước ngoài, đi sâu phân tích đặc trưng mang tính giai đoạn của sự phát triển ở Trung Quốc, kịp thời và sáng tạo trong việc xây dựng lý luận quan trọng theo quan điểm phát triển khoa học về các vấn đề thành thị, nông thôn, khu vực, kinh tế, xã hội về sự phát triển không cân bằng, không nhịp nhàng giữa con người và tự nhiên trong giai đoạn mới của thế kỷ mới; đồng thời, dựa trên lý luận đó, đưa ra một loạt tư tưởng chiến lược quan trọng về dân sinh. Chủ yếu biểu hiện ở những mặt dưới đây:

Nhìn theo chiều ngang, kết cấu tổng thể của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc phát triển từ lưỡng vị nhất thể sang tứ vị nhất thể, vị trí dân sinh ngày càng nổi trội. Báo cáo tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XII chỉ rõ: cùng với việc xây dựng nền văn minh vật chất trình độ cao, nhất định phải nỗ lự xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trình độ cao. Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định lấy giàu mạnh, dân chủ, văn minh làm mục tiêu phấn đấu hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội Đảng XIV, XV, một lần nữa, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh sự phát triển hài hòa giữa văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Bắt đầu từ Đại hội lần thứ XVI, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh xây dựng toàn diện văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa. Đại hội XVI còn tiến thêm một bước, đề ra nhiệm vụ trọng đại xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự phát triển nhịp nhàng giữa xây dựng xã hội với xây dựng kinh tế, xây dựng chính trị, xây dựng văn hóa, khiến cho mục tiêu xây dựng hiện đại hóa Trung Quốc vốn từ tam vị nhất thể mở rộng thành tứ vị nhất thể. Đại hội Đảng lần thứ XVII đã lần đầu tiên chính thức đưa ra khái niệm “văn minh sinh thái”, khiến cho chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc hình thành một hệ thống văn minh hoàn chỉnh và toàn diện phát triển nhịp nhàng, ảnh hưởng lẫn nhau, chế ước lẫn nhau. Trong đó, văn minh sinh thái là tiền đề, văn minh vật chất là cơ sở, văn minh chính trị là bảo đảm, văn minh tinh thần là linh hồn, văn minh xã hội là mục đích. Bất luận kết cấu tổng thể là tứ vị nhất thể hay sự phát triển nhịp nhàng của năm loại văn minh, dân sinh đều chiếm địa vị quan trọng. Nói cách khác, giải quyết vấn đề dân sinh trở thành trọng điểm xây dựng xã hội. Mở rộng nghề nghiệp, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, quan hệ phân phối phù hợp, tăng nhanh phát triển sự nghiệp xã hội trở thành bốn nội dung trọng tâm cần dốc sức thực hiện trong xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt những vấn đề lợi ích mà quần chúng quan tâm nhất.

Nhìn theo chiều dọc, gắn kết việc phát triển bền vững với dân sinh bền vững.Từ chỗ coi “phát triển mới là đạo lý cứng rắn”, “hai tay bắt, hai tay đều phải cứng”, Đảng Cộng sản Trung Quốc đề xuất “phát triển là nhiệm vụ đầu tiên của việc chấp chính hưng quốc”, “phát triển là sự phát triển toàn diện văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần” xã hội chủ nghĩa, đồng thời xác định “phát triển lấy dân làm gốc, toàn diện, nhịp nhàng, lâu dài”, “phát triển vừa tốt vừa nhanh”, Đảng tiến hành tìm hiểu và trả lời một loạt vấn đề trọng đại phát triển cái gì, phát triển ra sao, phát triển cho ai, phát triển dựa vào ai, thành quả phát triển do ai hưởng thụ?… Từ đó, có thể nhận thấy rõ quỹ đạo nhận thức của Đảng về vấn đề phát triển bước vào giai đoạn mới của thế kỷ mới, ngoài những tiềm lực to lớn và không gian rộng rãi, sự phát triển còn chịu sức ép nặng nề từ vấn đề nhân khẩu, môi trường… cũng như các vấn đề phát triển xã hội theo sau phát triển kinh tế, phát triển kinh tế không cân bằng, mất cân đối trong quan hệ giữa người và tự nhiên, quan hệ lợi ích xã hội không điều hòa,… ngày càng trầm trọng. Căn cứ vào tình hình mới và vấn đề mới của giai đoạn mới trong thế kỷ mới, Đảng Cộng sản Trung Quốc không ngừng làm sâu sắc thêm nhận thức về phát triển, xác định phát triển không chỉ đơn thuần là theo đuổi tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự phát triển toàn diện nhịp nhàng giữa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, là sự phát triển bền vững hài hòa giữa con người với tự nhiên; là sự phát triển mà chữ tốt được đặt lên hàng đầu, vừa tốt vừa nhanh, mục đích của nó là mức sống con người không ngừng được nâng cao. Phát triển bền vững thực chất là dân sinh bền vững. Bởi, con người vừa là một thực thể xã hội, vừa là một thực thể tự nhiên. Con người chỉ có trong quan hệ với tự nhiên, quan hệ với người khác, với xã hội mới đạt tới trạng thái nhịp nhàng hòa hợp, mới có thể có sự phát triển sung mãn của chính mình. Đúng như đồng chí Hồ Cẩm Đào đã nó: “Một cách thẳng thắn, chúng ta không hy vọng cũng không theo đuổi tốc độ quá cao, chúng ta coi trọng hiệu ích và chất lượng của phát triển, càng coi trọng việc chuyển đổi phương thức tăng trưởng, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, càng xem trọng hơn nữa việc cải thiện dân sinh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Tại sao lại là con người ? – Phần I


Sự sống thông minh ở một hành tinh sẽ được coi là trưởng thành khi nó lần đầu tiên tìm ra nguyên do cho sự tồn tại của mình. Nếu một sinh vật thượng đẳng từ vũ trụ ghé thăm Trái đất, để đánh giá trình độ nền văn minh của chúng ta, câu hỏi đầu tiên họ sẽ hỏi là : « Họ đã khám phá ra quá trình tiến hóa chưa ? ». Sự sống đã tồn tại trên Trái đất hơn 3000 triệu năm mà không hiểu vì sao chúng tồn tại, trước khi một trong số chúng ta tìm ra lời giải đáp. Người đó chính là Darwin. Công bằng mà nói, trước Darwin đã có những hiểu biết qua loa về sự thật này, nhưng chính Darwin mới là người đầu tiên tập hợp thành một bản tổng kết logic và chặt chẽ lý do tồn tại của chúng ta. Darwin giúp chúng ta có thể đưa ra câu trả lời hợp lý cho câu hỏi của những đứa trẻ tò mò đặt ra ở đầu bài. Chúng ta cũng không còn phải viện dẫn đến những điều mê tín dị đoan khi đối mặt với các vấn đề khó giải thích như : « Cuộc sống có ý nghĩa gì không ? » ; « Chúng ta tồn tại vì cái gì ? » ; « Con người là gì ? ». Sau khi đặt ra câu hỏi cuối cùng trong số các câu hỏi vừa rồi, nhà động vật học nổi tiếng, G.G. Simpson, đã viết : « Tôi muốn chỉ ra rằng tất cả những cố gắng để giải đáp cho câu hỏi đó trước năm 1859 đều không có giá trị và nếu chúng ta lờ hẳn những quan điểm đó đi, chúng ta sẽ thấy thoải mái hơn ».

Ngày nay, thuyết tiến hóa đang xuất hiện nhiều nghi ngờ giống như thuyết Trái đất quay quanh Mặt trời. Nhưng, nếu như giả thuyết Trái đất quay quanh Mặt trời được thấu hiểu hoàn toàn thì nhiều ẩn ý trong cuộc cách mạng của Darwin vẫn chưa được nhận thức rõ ràng, rộng rãi. Động vật học vẫn là một môn học nhỏ trong các trường đại học và thậm chí cả những sinh viên theo học môn này cũng thường đăng ký học mà không nhận thức được ý nghĩa triết học sâu sắc của nó. Triết học và các môn học thuộc khối nhân văn hầu hết vẫn được giảng dạy như thể Darwin chưa bao giờ tồn tại. Chắc chắn rằng, điều này sẽ thay đổi theo thời gian. Tu nhiên, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nội dung này được viết không phải để ủng hộ tích cực cho chủ nghĩa Darwin, thay vào đó, nó sẽ ứng dụng các hệ quả của thuyết tiến hóa vào một vấn đề cụ thể, đó là xem xét bản chất sinh học của tính vị kỷ và tính vị tha.

Ngoài khía cạnh học thuật, vai trò của điều này đối với con người cũng rất rõ ràng. Nó chạm đến mọi khía cạnh trong đời sống xã hội của chúng ta : tình yêu và thù hận, đấu tranh và hợp tác, cho đi và trộm cắp, lòng tham vào sự hào phóng. Những khẳng định này đáng nhẽ phải được dùng làm cơ sở cho các cuốn sách Về tính hiếu chiến của Lorenzt, Khế ước xã hội của Ardrey và Tình yêu và thù hận của Eilb-Eihesfeldt. Trong tất cả các cuốn sách này, các tác giả đã hoàn toàn sai lầm khi bàn đến các khía cạnh xã hội. Họ sai bởi vì họ đã không hình dung đúng quá trình tiến hó. Họ đã đưa ra một giả định hoàn toàn nhầm lẫn khi cho rằng điều quan trọng trong quá trình tiến hóa đó là đặc tính tốt của loài (hay một nhóm cá thể) chứ không phải là đặc tính tốt của một cá thể (hay gen của cá thể). Điều buồn cười là Ashely Montagu đã phê phán Lorenz – hậu duệ của các nhà tư tưởng theo trường phái « tự nhiên, máu đỏ, nanh và vuốt » thế kỷ 19. Theo tôi, quan điểm của Lorenz về tiến hóa cũng giống như quan điểm của Ashley, cả hai đều gạt bỏ những hàm ý trong cụm từ nổi tiếng của Tennyson. Khác với họ, tôi cho rằng cụm từ « Tự nhiên, máu đỏ, nanh và vuốt » đã tổng kết súc tích những hiểu biết hiện nay của chúng ta về chọn lọc tự nhiên.

Trước khi bắt đầu đưa ra lập luận của mình, tôi muốn giải thích ngắn gọn kiểu lập luận mà tôi sẽ đưa ra và những kiểu lập luận mà tôi không đề cập tới. Giả sử rằng, khi nhắc đến một người đàn ông đã từng sống lâu và giàu có trong xã hội gangster ở Chicago, chúng ta có thể dự đoán phần nào kiểu tính cách của người đàn ông ấy. Chúng ta có thể nghĩ người đàn ông đó có những phẩm chất như mạnh mẽ, bắn súng nhanh, và có khả năng thu hút những người bạn trung thành. Đấy có thể không phải là suy luận luôn đúng, nhưng bạn có thể đưa ra những kết luận về tính cách của người đàn ông đó nếu như bạn biết một vài điều về nơi anh ta đã tồn tại và phát triển. Tranh luận của tôi về việc con người cũng như tất cả các động vật khác, đều là những cỗ máy được hình thành nên từ bộ gen. Giống như những gã gangster thành đạt ở Chicago, bộ gen của chúng ta đã sống sót, nhiều trường hợp là hàng triệu năm, trong một thế giới đầy cạnh tranh. Và như vậy, chắc chắn gen của chúng ta có những đặc tính tốt nhất định. Tôi cũng sẽ thuyết phục các bạn rằng đặc tính nổi trội để một gen có thể tồn tại trong tự nhiên đó là tính vị kỷ, vị kỷ đến mức tàn nhẫn. Tính vị kỷ của gen sẽ luôn làm tăng tính vị kỷ trong tập tính của cá thể. Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ thấy có những trường hợp đặc biệt trong đó một gen chỉ có thể biểu hiện tính vị kỷ của nó tốt nhất bằng việc tăng cường một giới hạn của tính vị tha ở mức độ cá thể. Hai từ « đặc biệt » và « hữu hạn » chính là hai từ rất quan trọng trong câu trên. Mặc dù chúng ta có lẽ sẽ muốn tin vào điều ngược lại, nhưng tình yêu bao la và sự bảo vệ các loài nói chung chỉ là những khái niệm chẳng có ý nghĩa gì trong quá trình tiến hóa.

Điều này đưa tôi quay trở lại điểm xuất phát, tôi muốn làm rõ những điều mà cuốn sách này không đề cập đến. Tôi không có ý định rao giảng đạo đức dựa trên quá trình tiến hóa. Tôi chỉ nói về cách mà sự vật tiến hóa. Tôi cũng không đề cập đến việc con người phải cư xử thế nào cho có đạo đức. Tôi nhấn mạnh điều này, bởi vì tôi biết tôi đang ở trong tình trạng dễ bị hiểu lầm bởi những người, mà thực ra là quá nhiều, không thể phân biệt được câu nói tin rằng trường hợp đó sẽ xảy ra với một lời bao biện trường hợp đó phải là như thế này. Tôi cảm thấy rằng xã hội loài người nếu đơn thuần chỉ dựa trên quy luật vị kỷ đến tàn nhẫn của gen có thể là một xã hội đầy ô trọc mà chúng ta đang sống. Tiếc rằng, cho dù chúng ta có phàn nàn điều gì, thì sự phàn nàn đó cũng không thể làm xã hội đó biến mất. Tôi viết nghiên cứu này để tạo sự hứng thú cho bạn đọc, nhưng nếu bạn có thể rút ra được bài học đạo đức nào từ đây, hãy xem nó như một lời cảnh báo. Nên nhớ rằng nếu bạn, cũng như tôi, mong muốn xây dựng một xã hội mà ở đó các cá thể hợp tác với nhau một cách rộng lượng và vô tư để hướng tới những điều tốt đẹp chung, thì bạn có thể học tập được từ sinh vật trong tự nhiên. Hãy cùng giảng dạy tính rộng lượng và lòng vị tha bởi vì chúng ta là những kẻ vị kỷ bẩm sinh. Hãy để chúng ta hiểu gen vị kỷ phụ thuộc vào điều gì, sau đó chúng ta có thể có cơ hội cải tạo nó, một điều mà chưa một loài động vật nào từng khao khát thực hiện.

Như là một hệ quả của những điểm trên, chúng ta cũng nhận thấy sẽ là sai lầm khi cho rằng các tính trạng di truyền là cố định và không thể thay đổi theo định nghĩa, không may đây lại là sai lầm thường gặp. Gen của chúng ta có thể quy định tính vị kỷ, nhưng chúng ta không nhất thiết phải tuân theo quy định đó suốt đời. Thực ra việc tiếp thu lòng vị tha sẽ khó hơn một chút so với việc chúng khi chúng ta đã có sẵn những gen quy định lòng vị tha. Khác với động vật, con người được đặc trưng bởi văn hóa và bởi những ảnh hưởng được học và được truyền đạt. Có người nói rằng văn hóa rất quan trọng và gen dù là vị kỷ hay không thì cũng không liên quan đến sự am hiểu về bản chất con người. Cũng có người sẽ không đồng ý với điều đó. Việc đồng ý hay không đồng ý đều phụ thuộc vào việc bạn đứng trên lập trường nào trong cuộc thảo luận về vấn đề « tự nhiên hay giáo dục » là nhân tố quyết định các thuộc tính của con người. Điều này cũng dẫn tôi đến điều thứ hai mà cuốn sách này không đề cập đến : cuốn sách không phải là một lời biện hộ cho lập trường này hay lập trường khác trong cuộc tranh luận vai trò của tự nhiên với giáo dục. Tất nhiên, tôi có chính kiến của riêng mình, nhưng tôi sẽ không trình bày ở đây trừ một vài ngụ ý trong thảo luận về vai trò của văn hóa mà tôi sẽ trình bày. Nếu gen hoàn toàn không liên quan đến sự hình thành hành vi của con người hiện đại, nếu chúng ta thực sự đặc biệt trong giới động vật trên khía cạnh này, thì ít nhất việc nghiên cứu tỉ lệ khác biệt cũng rất thú vị. Trong trường hợp loài người không phải là ngoại lệ như chúng ta thường nghĩ, chúng ta càng cần phải tìm ra quy luật tiềm ẩn trong đó.

Điều thứ ba mà cuốn sách này sẽ không đề cập đến : cuốn sách sẽ không miêu tả cụ thể hành vi ứng xử của con người hoặc tập tính bất kỳ của một loài động vật cụ thể nào. Tôi sẽ chỉ sử dụng các dẫn chứng thực tế trong các ví dụ minh họa. Và tôi cũng không nói « Nếu bạn để ý đến tập tính của khỉ đầu chó » bạn sẽ thấy vị kỷ ; do đó, sự thay đổi trong hành vi của con người cũng có thể là vị kỷ ». Logic trong lập luận của tôi về « gã xã hội đen Chicago » thực ra không phải như vậy, mà là con người và khỉ đầu chó đã tiến hóa nhờ chọn lọc tự nhiên. Khi bạn xem xét cách thức tác động của chọn lọc tự nhiên, bạn sẽ tìm ra mọi thứ tiến hóa do chọn lọc tự nhiên tạo nên đều vị kỳ. Do đó, chúng ta phải lường trước được rằng khi xem xét tập tính của khỉ đầu chó, hành vi của con người hay tập tính của các loài sinh vật khác, chúng ta sẽ thấy tất cả những hành vi đó là vị kỷ. Và nếu chúng ta nhận thấy sự kỳ vọng đó không đúng, nếu chúng ta phát hiện ra hành vi ứng xử của con người thực sự đầy tính vị tha, và như vậy chúng ta sẽ đối mặt với một vài điều khó hiểu và cần được giải thích.

(còn tiếp)

TH : T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo : Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần cuối


Mặt khác, di sản của Chính quyền Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo làm cho chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân lẫn thị trường của Kim Jong-un có thể trở thành hiện thực. Năm 2005, chuyến thăm Triều Tiên của Hồ Cẩm Đào nhận được sự đón tiếp trọng thể, sua khi về nước lập tức xây dựng Triều Tiên thành kiểu mẫu ý thức hệ trong nước, bổ sung cho sự thiếu hụt về tính hợp pháp ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2008, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã chọn Triều Tiên trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên chính là dựa trên nhu cầu về ý thức hệ như vậy. Năm 2009, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đến thăm Triều Tiên, đã ký một loạt dự án viện trợ và hợp tác kinh tế trị giá khoảng 1 tỷ NDT, kỳ vọng vừa có thể duy trì chính quyền vừa giúp đỡ Triều Tiên mạnh dạn tiến hành cải cách thị trường hóa. Tuy mọi việc không được hoàn toàn thực hiện, sau khi cầu hữu nghị Trung – Triều được xây dựng, do Triều Tiên không làm đồng bộ đường giao thông nên không thể sử dụng, nhưng vẫn là tài sản quý giá mà Kim Jong-il để lại. Ví dụ các kiến trúc tương đối mới ở ven bờ sông Áp Lục dường như đều được Triều Tiên tận dụng xây dựng từ nguồn vốn và vật liệu giành được trong dự án của Ôn Gia Bảo; Triều Tiên cử các nhà quản lý doanh nghiệp sang Trung Quốc học tập kinh tế thị trường giống như Trung Quốc cửa cán bộ sang Đại học Harvard và Singapore học tập. Sau khi lên cầm quyền, Kim Jong-un có thể đã sửa đổi chiến lược tiên quân của cha mình, áp dụng chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân và thị trường, từ đó bên cạnh việc củng cố quyền lực vẫn có thể duy trì ổn định xã hội và kinh tế, và giành được sự ủng hộ của tầng lớp tinh hoa chính trị Triều Tiên.

Nhưng quan sát của tác giả tại Triều Tiên cũng cho thấy mức độ thị trường hóa của nền kinh tế nước này tương đối cao, đã gây dựng được tầng lớp trung lưu mới nổi thế tục, rất giống “vương quốc ẩn dật” như học giả Ralph Hassig và Kongdan Oh thuộc Viện Brookings từng mô tả. Đằng sau nó là một nền kinh tế xám khổng lồ, theo tính toán của giáo sư Kim Byung-Yeon thuộc Đại học Quốc gia Seoul, chiếm khoảng 70% GDP, gần như hoàn toàn thay thế hệ thống phân phối công cộng truyền thống, chiếm trên một nửa thu nhập quốc dân Triều Tiên. Năm 2015, GDP của Triều Tiên vào khoảng 16 tỷ USD, kim ngạch thương mại với Trung Quốc là 5,4 tỷ USD, ngoại thương với Trung Quốc chiếm tỷ lệ gần 70% kim ngạch ngoại thương của Triều Tiên, có thể nhận thấy kinh tế Triều Tiên phụ thuộc gần 50% vào bên ngoài. 70% là một con số lớn bí ẩn của nền kinh tế Triều Tiên, ví dụ như dưới thời Kim Nhật Thành, vì các cơ sở điện kém chất lượng nên tổn thất điện năng lên đến 70% tổng công suất phát điện, và ngay nay 70% lại đại diện cho mức độ thị trường hóa của nền kinh tế: như Triều Tiên dùng 3% đất đai để cung cấp gần 70% các sản phẩm nông nghiệp, và hơn 70% lực lượng lao động Triều Tiên đang làm việc cho một nền kinh tế thị trường.

Trong 6 năm qua, mặc dù nội bộ Triều Tiên có sự thay đổi quyền lực, các công ty Triều Tiên tham gia ngoại thương và xuất khẩu lao động cũng đã trải qua nhiều thay đổi, tuy hiên, trong các điểm mù chiến lược của Tập Cận Bình, dưới chiến lược mơ hồ của Tập Cận Bình đối với Triều Tiên, các công ty và người dân Triều Tiên dường như đã đầu tư vào toàn cầu hóa lấy Trung Quốc làm trung gian theo kiểu sùng bái họ Kim. Trong các nhà hàng nhỏ ở Đan Đông, chủ nhà hàng hàng ngày xử lý các đơn hàng đến từ Nghĩa Ô, sau đó chuyển giao cho thương nhân Triều Tiên và chịu trách nhiệm vận chuyển; trong các khu kinh tế, hàng chục nghìn công nhân và nông dân Triều Tiên làm việc miệt mài trong nhà máy sản xuất quần áo và phần mềm, khách hàng của họ đến từ khắp nơi trên thế giới. Đầu tháng 3/2017, lệnh cấm vận nghiêm ngặt được thực thi đã làm gián đoạn việc buôn bán than và xuất khẩu lao động đến từ Triều Tiên, nhưng các chuyến xe hàng qua lại như con thoi ở cảng Đan Đông không giảm đáng kể. Mặc dù phải đối mặt với áp lực rất lớn của cộng đồng quốc tế, nhưng chiến lược mơ hồ của Trung Quốc lại khiến các quan chức và người dân Triều Tiên dần dần thích ứng với sự chuyển đổi mô hình của thị trường, không chỉ để nuôi quốc gia, mà còn hỗ trợ các chương trình hạt nhân và cho phép Kim Jong-un thử hạt nhân, cũng giành được thời gian quý báu để chính thức thúc đẩy cải cách toàn diện theo định hướng thị trường.

Thứ hai, từ lập trường và cách sắp đặt của Trung Quốc trong mối quan hệ với Triều Tiên cho thấy quan hệ Trung – Triều vẫn còn giới hạn ở mối quan hệ liên đảng truyền thống, mà không phải mối quan hệ giữa các quốc gia bình thường. Về mặt truyền thống, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn coi Triều Tiên như một chính đảng anh em của phong trào cộng sản quốc tế và không phân biệt giữa đảng và nhà nước. Cho dù là thời kỳ liên quân kháng Nhật Đông Bắc hay là cuộc nội chiến sau năm 1946 cũng như trong mối quan hệ ba bên Xô – Trung – Triều sau năm 1949, dù liên quan đến vấn đề phân chia biên giới hay vấn đề chủ quyền vùng Đông Bắc, hoặc vấn đề quân nhân Triều Tiên và vấn đề kiều dân quay trở lại, hay các vấn đề ngoại giao thì quan hệ song phương luôn lấy mối quan hệ đặc biệt giữa hai đảng làm chủ đạo, mà không phải là chủ nghĩa quốc gia, vượt qua mối quan hệ bình thường giữa hai nước. Mối quan hệ đặc biệt này độc đáo ngay cả khi so sánh quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác. Trên thực tế, trong hầu hết cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này đều có sự tham gia của ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị phụ trách ngoại giao liên đảng Vương Hộ Ninh, đồng thời nhân vật này còn tiễn Kim Jong-un ở ga tàu Bắc Kinh; thành viên phái đoàn Trung Quốc tại cuộc gặp cũng ưu tiên nêu trước chức danh trong đảng. Trong thái độ đó với Triều Tiên, Tập Cận Bình kế thừa nguyên tắc quan hệ liên đảng, và không có ý định thay đổi việc này, điều này giống với đường lối nhấn mạnh sự lãnh đạo của đảng đối với đất nước của Tập Cận Bình kể từ Đại hội XIX tới nay.

Tuy nhiên, thái độ của Triều Tiên lại hoàn toàn khác, nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc trong quan hệ song phương. Ví dụ, sau khi Chiến tranh Triều Tiên bùng phát năm 1950, Triều Tiên luôn giữ sắc thái quốc gia dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ trong việc xử lý vấn đề thay đổi đảng tịch và quân tịch của quân nhân Triều Tiên quốc tịch Trung Quốc, nhấn mạnh sự thừa nhận dân tộc và khác biệt quốc tịch đối với quân nhân Triều Tiên có quốc tịch Trung Quốc, chứ không phải là mối quan hệ chính đảng anh em, hạn chế nghiêm ngặt việc họ trở về nước. Về vấn đề lãnh thổ và biên giới, trong khi tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, Triều Tiên tương tự lợi dụng lập trường liên đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự khác biệt tế nhị về lập trường quốc gia dân tộc của Triều Tiên để giành được lợi ích tối đa, đặc biệt là lợi dụng các cuộc tranh luận về ý thức hệ giữa chính đảng Trung – Xô để họ viện trợ cho Triều Tiên. Sau khi lên nắm quyền, Đặng Tiểu Bình ngừng xuất khẩu cách mạng, làm phai nhạt ý thức hệ, làm nhạt mối quan hệ liên đảng, quan hệ Trung – Triều cũng rơi vào lạnh nhạt trong thời gian dài. Sau Đại hội 6 năm 1980, Đảng Lao Động Triều Tiên không tổ chức đại hội trong 36 năm, chủ nghĩa Marx bị loại bỏ, Triều Tiên diễn biến thành đất nước do một người cai trị, và cuối cùng rơi vào nạn đói sau Chiến tranh Lạnh. Xét theo nghĩa này, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên không phải là bình thường từ đầu đến cuối, và nó không phải là mối quan hệ giữa hai quốc gia bình thường.

Trục mới

Nếu thế giới bên ngoài coi mối quan hệ Trung – Triều trong tương lai là một “trục mới” vượt trên mối quan hệ quốc gia bình thường thì không có gì đáng ngạc nhiên, sự tiếp nối của mối quan hệ chính đảng Trung – Triều truyền thống cũng là sự liên tưởng tự nhiên tới việc Tập Cận Bình, Kim Jong-un có thể cầm quyền suốt đời. Ngoài ra, mong muốn đối thoại trực tiếp giữa Triều Tiên và Mỹ quá mạnh, gần như có thể được xem như Triều Tiên hoặc Kim Jong-un muốn sớm thoát khỏi mối quan hệ nhà nước không bình thường này dù phải đợi hơn 30 năm sau Chiến tranh Lạnh mới có cơ hội.

Ngay cả khi nhìn lại lịch sử cũng không thấy có gì lạ. Sau binh biến Nhâm Ngọ năm 1882, (tương đương với các cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay), vua Cao Tông của Triều Tiên năm 1887 đã cử Bak Jeongyang làm công sứ đầu tiên tại Mỹ, và sau đó còn xảy ra tranh chấp ngoại giao với Nhà Thanh xung quanh việc Nhà Thanh là thuộc quốc hay là chủ thể tự do hoàn toàn, cuối cùng đã diễn biến thành Chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Kết cục như vậy là điều nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày nay không mong muốn nhìn thấy, cũng chưa có sự chuẩn bị sẵn sàng, bao gồm sẵn sàng chấp nhận Triều Tiên là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân để làm sự kiềm chế đối với bên thứ ba – đây là sự đảo lộn cơ bản hệ thống Yalta và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Bắc Kinh đang chịu mối đe dọa của cuộc chiến thương mại của Trump, nhưng không ai dám thách thức trật tự quốc tế lấy WTO và toàn cầu hóa theo chủ nghĩa tự do làm cơ sở. Điều này về cơ bản cũng đã phủ nhận khả năng Trung Quốc và Triều Tiên sẽ hình thành một “trục mới” trên cơ sở là “các nước sở hữu hạt nhân”. Sau cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un, Trung Quốc đã nhanh chóng thông báo tình hình cho Mỹ và Hàn Quốc.

Đối với Triều Tiên, tất nhiên một mặt họ đang cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng của nước mẹ hàng nghìn năm này, tìm kiếm tính chủ thể mới trên vũ đài thế giới; mặt khác, nếu Triều Tiên vượt qua cuộc khủng hoảng hạt nhân thuận lợi, tìm được giải pháp, thì cũng sẽ thu hoạch được lợi ích kinh tế từ trong chiến lược “tống tiền hạt nhân”. Sau tất cả, trong tương lai liệu Triều Tiên có thực sự từ bỏ chương trình hạt nhân, bàn về thời gian biểu cho việc từ bỏ hạt nhân hay không thì còn nhiều tính khó lường. Kim Jong-un có thể tận dụng tính khó lường của chủ nghĩa cơ hội để biến “khoản hoa hồng từ sự tống tiền hạt nhân” thành hiện thực, sử dụng chính sách song phương giành được lợi ích tối đa từ Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, giống như Trung Quốc thực hiện cải cách và mở cửa và giành được “lợi ích từ Chiến tranh Lạnh” theo đường lối chủ nghĩa thực dụng.

Tuy nhiên, về mặt dài hạn, sự mơ hồ chiến lược của Triều Tiên, Trung Quốc và chủ nghĩa cơ hội lại có thể kiềm chế sự bình thường hóa quan hệ Triều – Mỹ trong thời gian dài, cản trở Triều Tiên gạt Trung Quốc sang một bên, ôm lấy toàn cầu hóa và trật tự quốc tế. Chu dù là trục cũ hay mới, có tồn tại hay không, sự kiên trì đối với mối quan hệ liên đảng đặc biệt giữa Trung Quốc và Triều Tiên đều đã cản trở Trung Quốc từ bỏ gánh nặng Triều Tiên, hoặc cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” thậm chí “quan hệ nuôi dưỡng” với hệ tư tưởng của Triều Tiên, về cơ bản cản trở việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cũng cản trở tiến trình Trung Quốc và Triều Tiên là quan hệ bình thường trong con mắt của cộng đồng quốc tế.

Có lẽ giải pháp duy nhất để cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” giữa Trung Quốc và Triều Tiên, giúp Trung Quốc loại bỏ sự mơ hồ chiến lược, đạt được bình thường hóa hoàn toàn quan hệ song phương, chính là thống nhất bán đảo Triều Tiên. Ví dụ, trong khi Trung Quốc thực hiện sự phục hưng quốc gia, giúp người dân ở Bắc – Nam bán đảo Triều Tiên đạt được sự thống nhất và hòa giải dân tộc. Đây mới là ý nghĩa thực tế nhất của cái được gọi là “cộng đồng chung vận mệnh của con người”.

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Nhất âm nhất dương chi vị đạo, hay còn đường của sự điều chỉnh – Phần VI


Cái thiện, như ta đã nói từ đầu, là cái “tiếp nối” ở cấp độ con người con đường của sự điều chỉnh tự nhiên, không cần sự can thiệp của bất cứ bình diện nào ngoài bình diện này của logic tiến trình; và hiện tại bản tính con người hiện ra như là cái liên kết tạo sinh ta với con đường này (và bởi nó ta trở nên “gắn chặt” với Đạo). Thiên chức đạo của con người (khi tiếp nhận như mọi biểu hiện tồn tại của đại tiến trình được điều chỉnh của thực tại), do đó nằm ở dạng được vận dụng ngay từ đầu trong ta; nội dung của nó được xác định bởi chính nó: nó chỉ là sự tiếp nối tạo ra “tồn tại” từ ứng xử của chúng ta cái mà qua nó chính ta tồn tại và tại đó ta ở dạng bị vây hãm (investis) như những gì tiếp nhận cuộc sống chúng ta. Có nghĩa nó chỉ bảo tồn tích cực trong ta cái bản tính của ta – ngay cả khi bản tính bị đánh mất hoặc tàn tạ đi (so sánh biểu thức thứ bảy: “thành tín tồn tại, đạo nghĩa chi môn” (không ngừng tạo ra tồn tại những gì tồn tại trong ta như bản tính tạo sinh của ta, cái đó là cánh cửa của đạo đức). Cũng như vậy ta hiểu vì sao, trên bình diện không chỉ có đạo đức mà cả nhân loại học, “đạo hiếu” đã xuất hiện với một tầm quan trọng như vậy trong cách nhìn của người Trung Hoa: đạo hiếu là biểu hiện cụ thể của hóa thân đạo đức từ quan điểm về các quan hệ giữa người và người, tương tự là ý nghĩa của sự tiếp nối.

Điều còn lại cần tìm hiểu là ý nghĩa cụ thể nào qua thuật ngữ “tiếp nối” này. Bởi vì khi ta nói: cái thiện mang tính đạo đức tiếp nối con đường điều chỉnh tự nhiên, thì điều đó không có nghĩa là qua đó ta có thể đồng nhất tất cả mọi người. Chắc chắn nó đề cập đến cùng một sự vật – tính xác thực trong lòng thực tại – nhưng được quan niệm dưới hai cấp độ khác nhau. Cho nên vì vậy ta tìm thấy cái ta tưởng đã bị mất đi, con đường tạo ra, khi tiếp nối logic chung nhất của sự điều chỉnh: tính đặc thù trên bình diện con người. Bởi thế, tính đặc thù này tiếp tục ẩn chứa một cách cụ thể trong sự sai lệch mà sự tiếp nối, khi tất cả được khôi phục, giả định ra: cái thiện mang tính đạo đức và tính xác thực tự nhiên là đồng chất nhưng cái thứ nhất phản chiếu cái thứ hai trên bình diện cá biệt, và nếu, từ bản tính của nó, con người “thông tin” trực tiếp với Trời, nó sẽ không được định vị từ đầu với cấp độ của nó, mà nó liên lạc với Trời. Không có sự thể hiện theo kiểu tôn giáo khi chia tách bằng nguyên tắc các trật tự tạo thành của sáng tạo, một sự phân biệt các bình diện như vậy nhằm xác lập một cách tiết: ở cấp độ của Thiên, Vương Phu Chi nói, sự điều chỉnh đồng nhất với “nguyên lý bên trong” của Nhân và Thiên, do đó, không “bắt buộc” bởi tính chất được làm cho phù hợp của “phân – hợp” nhờ chúng thực tại lộ diện (tôi hiểu rằng: sự tương đương này không phải gây áp lực như một sự cần thiết cho sự lưu tâm của nó); khi với các sinh thể khác ngoài con người, chúng “tận dụng sự chuyển hóa lớn lao nơi đó sự điều chỉnh đi ra theo cách thức thuần túy “ngẫu phát” và do đó không dẫn tới việc “gặp gỡ” tính chất được làm cho phù hợp của những hoạt động tương tự. Một mặt, khả năng thực hiện là hết sức tự nhiên để hiển xuất như một sự rằng buộc; mặt khác, nó là sự sống thực hoàn toàn vô thức để phảng phất nhận ra tính đúng đắn của nó. Chỉ có cấp độ trung gian (ở đó sinh thể có được một nhiệm vụ) là cấp độ đạo đức.

Vương Phu Chi được dẫn dắt tới điểm này khi ông bình giải định thức theo đó con đường của sự điều chỉnh, từ một vài đường hướng xa hơn, không hề “chia sẻ” “nỗi lo âu” của nhà Minh Triết. Bởi lẽ sự lo lắng này của nhà Minh Triết thể hiện khá rõ tình cảm của nhà sáng lập đạo đức; và đây chỉ là cấp độ con người mà khái niệm thiện (và cả khái niệm bất thiện) có nghĩa (ví dụ nó có thể là phi lý – hay bị tước bỏ mọi ý nghĩa – để nói rằng tiến trình tự nhiên là “tốt lành”). Trong thực tế, ta suy xét thêm về mối quan hệ tiếp nối này nhưng ở nghĩa ngược lại, được soi sáng bình diện xuất phát, bình diện của bản tính, từ đây – và cả trong viễn cảnh nữa – của bình diện con người đang diễn ra. Ở giai đoạn “tiếp tục tiến lên” (giai đoạn của Thiên: của bản tính), viễn cảnh thể hiện qua rộng khắp để tạo chỗ cho năng lực phân biệt khả biến giữa “cái tính cực” và “cái tiêu cực”: bản tính lan truyền bất chấp “trời nắng hay mưa”, bản tính tạo ra trong đạo đức logic tiến trình duy nhất; trong khi đó, ở giai đoạn “tiếp nối” của sự điều chỉnh, ở cấp độ con người, “sau khi con người chệch hướng cái thiện bớt đi, đó là cái bất thiện”. Điều minh chứng cho sự “lo lắng” (của nhà Minh Triết) là ở đây sự công nhận của ông không trái ngược gì với sự khẳng định trước đây mà theo đó nhà Minh Triết, tin tưởng vào sự điều chỉnh, “không còn lo lắng nữa”: bởi vì mối quan hệ nhân quả không còn là cái liên kết nhà Minh Triết với số phận của ông ta – số phận mà ông ta gắn bó một cách vui vẻ bởi vì ông đã hiểu được logic của nó, nhưng các số phận mà nhà Minh Triết nắm giữ đối với người khác như nó vẫn là như vậy trên đời, khi tìm kiếm để khởi động sự điều chỉnh từ đây và chưa hoàn toàn đạt được. Giữa bình diện tự nhiên và bình diện con người, sự tiếp nối do đó được khẳng định vĩnh viễn, Vương Phu Chi nói, về cùng một khái niệm vượt qua từ bình diện này sang bình diện khác, tỏ ra thích đáng từ hai mặt: mặt của “con đường” (cửa sự điều chỉnh) cụ thể, Đạo (ta cũng thường nói: “con đường của Thiên”, “con đường của nhân” (tức: Thiên đạo – nhân đạo – ND). Nhưng con đường Thiên “không phải chọn lựa” trong khi con đường của người lại “phân biệt” (Thiên đạo vô trạch nhi nhân đạo hữu biện). Một mặt, chỉ có một con đường đã đi (và đó là thực tại), mặt khác, có một con đường phải theo – đó là đạo đức.

V/ Ý thức nào được chúng ta nhận biết từ cơ sở của cái nội tại?

Từ phương diện phổ quát nhất cái hiện thân cho con đường của sự điều chỉnh của âm dương, tương tự nó mở ra từ cấp độ của nó, sự dẫn dắt đạo đức con người, chính là cái mà ta đã định danh là khả năng “chủ động” của thực tại: khả năng liên kết tự thân quá trình mà tự nhiên mời gọi ta đi theo, khôn gbao giờ chệch hướng khỏi logic tạo sinh này – vì vậy không bao giờ đánh mất tiềm năng mà tại đây không có nguy cơ sa lầy trong con đường này – và do đó, dần dần theo đuổi một quá trình tương tự càng ngày càng xa hơn (“tiến” như vậy sẽ đối lập với “thoái”, so sánh với những điều ta đã nói ở trên về nhận thức chủ động). Tên gọi khác của nó, nếu ta biểu hiện qua các phạm trù, ta đã có được một sự tích góp phong phú, đó chính là “cái nội tại”.

Từ đây, – một viễn cảnh mới được đưa ra là có thể. Bởi vì nếu, bên cạnh nó, truyền thống triết học phương Tây ít lo lắng giải thích cái nội tại, thì trái lại, ta biết khá rõ là nền triết học ấy lại suy tư về con đường để đi tới cái siêu việt – bằng “khoa học” (Platon, đã làm: phép “biện chứng”( hoặc bằng “sự thần khải”. Do đó vấn đề có thể đặt lại với tư duy Trung Hoa: ý thức nào khiến ta nắm bắt được “khả năng” này, khả năng vốn không ngừng tác động từ bên trong đại tiến trình vận động của thế giới và dẫn dắt cuộc đời chúng ta?

Sự nhận biết này là nghịch lý đầu tiên: phẩm chất này của cái nội tại diễn ra khắp nơi; vì vậy ít nhiều phải tính đến. Theo câu văn tiếp theo của đoạn trích đã nêu (vốn tiếp tục là khách thể của quá trình được điều tiết của âm dương, đang kéo dài, ở cấp độ của nó, cái Thiện của con người):

Nhân giả kiến chi vi chi nhân

Trí giả kiến chi vị trí.

Bách tính dung chi nhi bất tri

Cố quân tử chi đạo tiển hỉ.

(Nghĩa là: Người nhân thấy nó nhân, gọi nó là đạo nhân

Người trí thấy nó trí, gọi nó là trí

Còn trăm họ ngày nào cũng dùng nó mà chẳng biết

(Cho nên) đạo người quân tử (gồm cả nhân lẫn trí) ít người có được.

Sự vô tâm của ta đối diện với khả năng tiến mà nó không ngừng được sử dụng – được xác lập từ hai cấp độ: sự vô tâm hoàn toàn hoặc sự thiên vị này chỉ là phụ: ta nhận ra khả năng này trong chức năng từ chính cái đang tàn tạ: có nghĩa là khi ta “nhìn” chức năng đó từ điểm nhìn riêng biệt của nó – hoặc là âm, hoặc là dương, tương tự hoặc là “tình cảm nhân đạo”, phẩm chất của âm (dẫn tới sự ngưng nghỉ), Vương Phu Chi nói, hoặc như là khả năng “nhận thức”, phẩm chất của dương (dẫn tới vận động). Như vậy, đây không còn là “cách định danh” “con đường”, Đạo (so sánh biểu thức xuất phát của đoạn văn: Nhất âm nhất dương chi vị đạo), mà ta gọi nó, gọi cái này hay cái kia từ các tên riêng vốn phân chia hay xé lẻ nó: “Nhận thức” hoặc “tình cảm nhân đạo”. Cái này cũng có giá trị như cái kia; nhưng cái này cũng làm ta sai lạc như là cái kia. Bởi vì khi đó ta thiếu đi cái vốn có ý nghĩa trong định thức mở đầu: nhất – nhất, đồng thời với âm dương, ta đánh mất cái vốn là nền tảng của khả năng chủ động này: sự đối lập vốn không phải là bao hàm mà là một sự tương hỗ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: François Jullien – Các biểu tượng của nội giới hay cách đọc triết học về kinh dịch – NXB ĐN 2007.

Họa đồ phức hợp và ý hướng phức hợp – Phần VIII


Sự nhất quán và sự mở cửa về tri thức luận

Nỗ lực về mặt lý thuyết mà những động thái của nó được chúng ta nói tới ở đây trong khi được dồn một cách tự nhiên vào mối quan hệ chủ thể – đối tượng, cũng đồng thời được dồn vào mối quan hệ giữa nhà nghiên cứu (ở đây là tôi) với đối tượng nhận thức của anh ta : bằng việc mang lại, theo lối đồng thể, một nguyên lý về sự bất định và sự tự quy chiếu, anh ta đồng thời mang trong mình một nguyên lý tự phê phán và tự suy ngẫm ; thông qua hai đặc điểm đó, anh ta đã mang trong mình tiềm năng tri thức luận riêng.

Tri thức luận cần tìm được một quan điểm có khả năng coi tri thức của bản thân chúng ta như đối tượng của tri thức, tức là một siêu quan điểm, như trong trường hợp một siêu ngôn ngữ được xây dựng để suy xét thứ ngôn ngữ đã trở thành đối tượng. Cùng lúc, siêu quan điểm này phải tạo được sự tự suy xét mang tính phê phán của tri thức, đồng thời vừa làm giàu tính phản chiếu của chủ thế tri thức.

Ở đây có thể phác họa quan điểm tri thức luận cho phép kiểm tra, tức là cho phép phê phán, vượt qua và suy ngẫm lý thuyết của chúng ta.

Trước tiên, đó là quan điểm đặt chúng ta vào một hệ sinh thái, buộc ta phải ý thức được những « quyết định/điều tiết » của môi trường. Cần xem xét :

a/ quan điểm đặt chúng ta trong hệ sinh thái tự nhiên, đây là quan điểm đòi hỏi ta phải xem xét những đặc tính sinh học của tri thức ; nhiệm vụ của sinh học tri thức hiển nhiên là nghiên cứu các dạng thức tiên nghiệm của não bộ với tư cách là những yếu tố cấu thành tri thức con người, đồng thời nghiên cứu những phương thức học hỏi thông qua đối thoại với môi trường.

b/ quan điểm đặt chúng ta trong hệ sinh thái xã hội hic et nunc [ngay đây và bây giờ] của mình, quan điểm này sản sinh ra những « quyết định/điều tiết » mang tính hệ tư tưởng củ tri thức chúng ta.

Như thế, việc xem xét, nghiên cứu hệ sinh thái sẽ cho phép chúng ta đứng xa mình ra để có thể quan sát chính mình từ bên ngoài, khách thể hóa bản thân, tức là đồng thời thừa nhận tính chủ quan của mình.

Nỗ lực tư duy này tuy cần thiết nhưng lại chưa đầy đủ. Giữa hệ thống thần kinh não con người và môi trường của nó còn có một sự bất định căn bản, không thể lấp đầy : môn sinh học tri thức chỉ ra rằng trong não người không hề có một bộ phận nào cho phép phân biệt tri giác với ảo giác, cái thực và cái tưởng tượng ; bên cạnh đó còn có một sự bất định trong đặc tính của tri thức về thế giới bên ngoài, do chỗ thế giới đó được gi khắc vào những « mô hình » tổ chức phần lớn là bẩm sinh. Về mặt xã hội học tri thức, chúng ta cũng đạt đến một sự bất định tối giản : xã hội học tri thức cho phép ta liên hệ các khái niệm của mình với nhau, cho phép ta tham gia vào các lực lượng xã hội, nhưng không cho ta biết điều gì chắc chắn về tính hữu hiệu vốn có của lý thuyết của chúng ta.

Do đó, cần có một siêu hệ thống khác, mang tính logic, xem xét lý thuyết dưới góc độ tính nhất quán nội tại của nó. Ở đây, chúng ta bước vào phạm trù tri thức luận cổ điển, hưng lại vấp phải vấn đề của Gödel về tính không thể chứng minh. Tuy có vẻ hạn chế trong lĩnh vực toán logic, nhưng định lý Gödel cũng có thể a fortiori [dư sức] áp dụng cho mọi hệ thống lý thuyết : ông chứng minh rằng, trong một hệ thống hình thức hóa, ít nhất có một mệnh đề không chứng minh được : tính không thể chứng minh tạo ra một lỗ hổng trong hệ thống làm cho nó trở nên bất định. Đúng là mệnh đề không thể chứng minh có thể được chứng minh trong một hệ thống khác, chẳng hạn như một siêu hệ, nhưng dẫu sao đó vẫn là một lỗ hổng về mặt logic.

Điều này như một rào chắn không thể vượt qua để tiến đến một tri thức hoàn chỉnh. Nhưng sự vươn lên của tri thức vẫn tìm thấy ở đó sự khích lệ qua việc thiết lập siêu hệ thống, mà lần lượt từ siêu hệ này đến siêu hệ khác, động thái ấy thúc đẩy sự tiến bộ của tri thức, nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện một sự ngu dốt mới, một cái chưa biết mới.

Đến đây, ta có thể thấy sự bất định ấy gắn kết với lý thuyết hệ mở ở chỗ nào. Quả vậy, bản thân siêu hệ của một hệ mở cũng chỉ có thể là một hệ mở, đến lượt mình lại cần đến một siêu hệ. Như vậy là có sự tương xứng giữa quan điểm mở làm cơ sở cho lý thuyết hệ mở và lỗ hổng vô tận do định lý Gödel tạo ra ở trên chóp của mọi hệ thống nhận thức.

Tất cả những điều đó khiến ta phải tìm đến một tri thức luận mở. Trong thời đại mà tri thức luận mang tính sen đầm như hiện nay, phải nhấn mạnh rằng tri thức luận không phải là một cứ điểm chiến lược cần chiếm lĩnh nhằm đặt mọi tri thức dưới quyền kiểm soát tối cao, loại bỏ mọi lý thuyết đối nghịch, và nắm độc quyền về kiểm chứng và do đó cả về chân lý. Tri thức luận không phải là giáo chủ mà cũng không là tòa án ; nó cùng lúc là nơi trú ngụ của cái bất định và của đối hợp logic. Thực vậy, tất cả những bất định được chúng ta đề cập đều phải được mang ra đối chứng với nhau, chỉnh lý lẫn nhau, từng cái một đối thoại với nhau, mặc dù chớ bao giờ hy vọng dùng thứ băng keo tư tưởng để bịt kín hết đến lỗ hổng cuối cùng.

Qua đó ta thấy được toàn bộ ý nghĩa tri thức luận và lý thuyết của câu mà Niels Bohr nói vừa được trích dẫn ở phần trên : một sự giới hạn tri thức biến thành một sự mở rộng tri thức.

Mọi tiến bộ quan trọng của tri thức, như Kuhn đã chỉ ra, đều cần được thực hiện thông qua những vết rạn nứt và đứt đoạn của các hệ thống khép kín, không có khả năng tự vượt lên chính mình. Khi một lý thuyết bắt đầu tỏ ra không đủ khả năng tích hợp những quan sát ngày càng trọng yếu, một cuộc cách mạng đích thực sẽ nổ ra trong hệ thống từng mang lại cho nó đồng thời cả sự nhất quán lẫn tính khép kín. Một lý thuyết thay thế cho lý thuyết cũ và thường tích hợp cả lý thuyết cũ bằng cách biến nó thành một biệt khu và một trường hợp gần đúng của mình.

Quan điểm về tiến hóa dựa trên sự vượt lên của một hệ thống và sự tạo dựng một siêu hệ – mà bản thân siêu hệ ấy cũng sẽ bị vượt qua – như vậy không những áp dụng đúng cho các ý tưởng khoa học mà còn cho các hệ thống tự-tổ-chức-sinh-thái sống. Và một lần nữa ở đây lại bắt gặp một sự trùng hợp cần cho mối liên « nhận thức – lý thuyết » [épistémo-théorique] của chúng ta. Lý thuyết tự-tổ-chức lẽ tự nhiên chứa đựng trong nó nguyên lý và khả năng của một tri thức luận không hề khép kín theo lối duy ngã, một nguyên lý nhằm khẳng định và nhấn mạnh hai khía cạnh cơ bản của nó : tính hướng mở và tính (tự) phản tư cũng như hai mối quan hệ cơ bản : quan hệ sinh thái hệ và quan hệ siêu hệ.

Như vậy, dù không tham vọng có được một sự thống nhất bền vững, chúng ta vẫn có thể bảo đảm được một mối liên kết mềm dẻo, nhưng tối cần thiết, giữa sự hướng mở mang tính hệ thống và lỗ hổng của Gödel, giữa tính bất định kinh nghiệm và tính không thể chứng minh về mặt lý thuyết, giữa sự hướng mở « vật lý/nhiệt động học » và sự hướng mở « nhận thức/lý thuyết ».

Giờ đây, chúng ta có thể đưa lại cho quan niệm mở của mình về mối quan hệ « chủ thể – đối tượng » một ý nghĩa tri thức luận. Mối quan hệ này cho chúng ta biết rằng phải xem xét đối tượng trong hệ sinh thái của nó và rộng hơn là trong một thế giới mở (mà tri thức không thể lấp đầy), và trong một siêu hệ, một lý thuyết đang cần được xác lập mà chủ thể và đối tượng được tích hợp với nhau.

Một chủ thể cô lập sẽ tự khép mình vào những khó khăn không gì khắc phục nổi của thuyết duy ngã. Khái niệm chủ thể chỉ có ý nghĩa trong một hệ sinh thái (tự nhiên, xã hội, gia đình…) và cần phải được tích hợp vào một siêu hệ. Chừng nào chủ thể và đối tượng còn biểu hiện như những khái niệm tuyệt đối, mỗi khái niệm đều để lộ một lỗ thủng lớn, lố bịch, không gì che lấp được. Nhưng, nếu chúng thừa nhận lỗ thủng đó thì lỗ thủng lại trở thành một sự hướng mở, từ cái này tới cái kia, sự hướng mở ra thế giới, sự hướng tới một bước tiến bất ngờ vượt qua được sự đối chọn, tới một tiến bộ không ngờ về tri thức.

Có thể tóm tắt như sau : quan niệm phức hợp mà ta đang nỗ lực xác lập kêu gọi và đưa lại những phương tiện tự phê phán. Trong sự phát triển tự nhiên của mình, nó trông cậy một tầm nhìn tri thức luận khác ; nó chứa những chân lý khả hoại sinh học [biodégradables], tức là những chân lý sẽ phải chết, đồng thời là những chân lý đang sống.

(còn tiếp)

TH : T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo : Edgar Morin – Nhập môn tư duy phức hợp – NXB TT 2009.

Các nhân tố con người và bảo mật thông tin: Cá nhân, văn hóa và môi trường bảo mật – Phần V


2.9/ Ảnh hưởng của việc hình dung rủi ro

Cách mà theo đó rủi ro được mô tả hay được hình dung cũng có thể ảnh hưởng tới nhận thức rủi ro của các cá nhân. Ví dụ như, khi một rủi ro được nói rõ nhấn mạnh tới những tổn thất có thể có, chiến lược chấp nhận rủi ro là khá phổ biến, trong khi đó chiến lược không chấp nhận rủi ro có nhiều khả năng được thực hiện hơn khi rủi ro được mô tả liên quan tới những lợi ích có thể có (Kahneman & Tversky, 1979). Điều này dựa trên lý thuyết triển vọng với ý niệm cho rằng mọi người có nguyên tắc mang tính chủ quan về các tổn thất và lợi ích (Schneier, 2003).

Hiệu quả củ việc hình dung về rủi ro được chứng minh rõ ràng trong một nghiên cứu của McNeil, Pauker, Sox và Tversky (1982). Những người tham gia vào nghiên cứu này được yêu cầu hình dung là họ mắc ung thư phổi, và sau đó được cung cấp các liệu pháp điều trị. Khi những người tham gia được thông tin cho biết về các khả năng được vạch ra dưới dạng khả năng có thể chết (32%) hơn là khả năng có thể sống sót (68%), thì tỷ lệ phần trăm những người chọn cách điều trị giảm từ 44% xuống chỉ còn 18% (Slovic, 1986). Điều này mang những hàm ý quan trọng đối với việc bảo mật thông tin, vì nó cho thấy mọi người có thể bị tác động mạnh mẽ bởi cách mà theo đó rủi ro được thông báo. Chẳng hạn như, điều này ám chỉ là mọi người có thể có nhiều khả năng đi theo các hướng dẫn bảo mật thông tin nếu hậu quả được mô tả nhấn mạnh đến những lợi ích có thể có. Điều này sẽ được đề cập chi tiết hơn trong phần thông tin rủi ro tiếp theo.

2.10/ Tính cách và kiểu nhận thức

Những khác biệt cá nhân liên quan đến những yếu tố như tính cách và kiểu nhận thức cũng có thể ảnh hưởng tới nhận thức (và xu hướng chấp nhận) rủi ro (Lion & Meertens, 2005). O’Neil (2004) cho rằng, có thể phân loại mọi người dựa trên cách họ giải quyết rủi ro, từ những người không thích rủi ro cho tới những người tìm kiếm rủi ro. Những khác biệt này có thể ảnh hưởng tới cách mà mọi người nhận biết về thông tin xung quanh họ, điều đó, đến lượt nó, có khả năng ảnh hưởng tới hành vi của họ. Một nghiên cứu của Lion & Meertens (2001) khảo sát về lượng thông tin mà những người tham gia tìm kiếm liên quan tới một loại thuốc, và thấy rằng có những khác biệt đáng kể giữa những người chấp nhận rủi ro và những người tránh rủi ro.

Những người tìm kiếm cảm giác, tức là những người tìm kiếm rủi ro, thường sẽ chấp nhận rủi ro nhằm duy trì sự kích thích sinh lý học, và có nhiều khả năng tập trung vào những phần thưởng gắn với hành vi mạo hiểm hơn (Horvath & Zuckerman, 1993). Ngược lại, những ai sợ mạo hiểm hơn hay có ý thức chấp hành hơn có nhiều khả năng tập trung vào những tổn thất gắn với việc chấp nhận rủi ro, và họ thường “ngoan” hơn, và ít có khả năng bỏ qua các thủ tục bảo mật (Lion & Meertens, 2005). Tuy nhiên, đây là những giả định mang nặng tính lý thuyết trái ngược với những đặc điểm vững chắc được chứng minh về mặt kinh nghiệm.

2.11/ Ảnh hưởng của các nhân tố xã hội

Các quy tắc nhóm cũng có thể ảnh hưởng tới hành vi bảo mật của các cá nhân. Mọi người thường đi theo các quy tắc nhóm, và bởi vậy, nếu nhóm đó coi bảo mật thông tin là vấn đề quan trọng và nghiêm túc, thì có nhiều khả năng là các cá nhân trong nhóm đó sẽ tôn trọng và tuân theo các chính sách bảo mật. Ngược lại, nếu việc chấp nhận rủi ro được chấp nhận trong nhóm, khi đó có khả năng là các rủi ro lớn hơn sẽ được chấp nhận.

Các quy tắc nhóm cũng có thể tác động tới hành vi lập mật khẩu của các cá nhân. Ví dụ như, theo McIlwraith (2006), việc chia sẻ mật khẩu có thể được coi là biểu hiện của sự tin tưởng vào đồng nghiệp, và vì vậy, việc từ chối cho mật khẩu có thể bị coi là biểu hiện mọi người không tin tưởng các đồng nghiệp của mình. Nếu những tiêu chí như vậy có trong một tổ chức, thì cần phải giáo dục nhiều hơn nhằm thay đổi những hành vi này.

Ngoài ra, một tác động nữa của xã hội được biết đến là hiệu ứng người ngoài cuộc có thể ảnh hưởng tới cách mà theo đó mọi người đối phó lại, tức là nhận thức về rủi ro. Hiệu ứng này dựa trên ý niệm cho rằng khi số người hiện diện tăng lên, mọi người sẽ chuyển trách nhiệm của họ, sao cho khả năng phải thực hiện bất kỳ hành động đối phó nào đó của bản thân giảm xuống. Do đó, trong các nhóm lớn, các cá nhân có thể cảm thấy ít phải chịu trách nhiệm cá nhân hơn về vấn đề bảo mật. Các nhân tố xã hội và nhóm này có liên quan chặt chẽ với văn hóa của tổ chức – một vấn đề sẽ được định nghĩa và giải thích một cách cặn kẽ ngay sau đây.

3/ Văn hóa bảo mật của tổ chức

Không thể đánh giá văn hóa bảo mật một cách riêng rẽ với toàn bộ văn hóa bên trong môi trường làm việc; điều này là bởi văn hóa của một tổ chức/cơ quan có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự an toàn của tổ chức (Ruighaver, Maynard & Chang, 2007). Bởi vậy, để hiểu được văn hóa bảo mật, điều quan trọng đầu tiên là phải nắm vững tài liệu rộng hơn về văn hóa tổ chức.

3.1/ Các định nghĩa và lý thuyết về văn hóa tổ chức

Khái niệm văn hóa được hiểu không rõ ràng; trên thực tế không có hai lý thuyết hay hai nhà nghiên cứu định nghĩa theo cùng một cách (Ivanchevich, Olekalns & Matterson, 2000). Văn hóa được định nghĩa khác nhau, được đo lường khác nhau và được đánh giá khác nhau (Schein, 1985). Sự thiếu thống nhất này về cấu trúc văn hóa đã dẫn tới rất nhiều tranh cãi và tranh luận (Needle, 2000).

Chính định nghĩa của Schein về văn hóa là định nghĩa được chấp nhận rộng rãi nhất (Huczynski & Buchanan, 20010). Schein định nghĩa văn hóa tổ chức là:

Mô hình gồm những quy ước cơ bản – được nghĩ ra, được khám phá, hay được triển khai bởi một nhóm nhất định khi nhóm này học cách đối phó với những vấn đề thích ứng với bên ngoài và hòa nhập bên trong – có tác dụng đủ để được coi là có giá trị, và vì vậy, được dạy cho những thành viên mới như là cách thức đúng đắn để nhận biết, suy nghĩ và cảm nhận về những vấn đề này” (Schein, 1985, p9).

Mô hình văn hóa của Schein bao gồm ba cấp độ: đồ tạo tác và các sáng tạo, các giá trị và niềm tin, các quy tắc cơ bản (Schein, 1985). Đồ tạo tác và các sáng tạo gồm cấp độ đầu tiên và tiêu biểu cho những khía cạnh dễ thấy nhất và rõ ràng nhất của một tổ chức. Theo Schein (1985), cấp độ này bao gồm những yếu tố văn hóa có thể thấy được và nghe được và dễ giải thích bởi người lao động, khách hàng và công chúng, bao gồm đồ đạc nội thất và quần áo, biểu tượng, các đồ vật, ngôn ngữ được sử dụng bên trong nơi làm việc, cũng như các khẩu hiệu, các nghi thức và các câu chuyện (Huczynski & Buchanan, 2001; Schein, 1985).

Cấp độ thứ hai của văn hóa bao gồm các giá trị và niềm tin làm cơ sở cho các đồ tạo tác và các sáng tạo (Schein, 1985). Các giá trị là những mong muốn và khát vọng dẫn dắt hành vi; chúng được người quản lý cấp cao nghĩ ra nhằm đưa ra phương hướng và những nguyên tắc chỉ đạo đối với hành vi của người lao động của họ (Huczynski & Buchanan, 2001). Peters & Waterman (1982) nhấn mạnh tầm quan trọng của các giá trị trong một tổ chức, khi lập luận rằng các giá trị gắn kết tất cả các yếu tố khác của văn hóa lại với nhau và là chìa khóa cho sự thực hiện của một tổ chức lớn. Các giá trị chung được cho là cần thiết bởi nếu những người lao động không có chung các giá trị, thì tổ chức đó không thể vận hành một cách hiệu quả (Ivancevich et al., 2000). Tuy nhiên, Buono, Bowditch và Lewis (1985) lại nói rằng, sức mạnh của giá trị là đáng ngờ, phần lớn là bởi nhà quản lý cấp cao tạo ra các giá trị, và kết quả là chúng không nhất thiết ảnh hưởng tới hành vi trên thực tế của người lao động.

Theo Schein (1985), chính cấp độ thứ ba của văn hóa – những quy ước cơ bản – mới thực sự tiêu biểu cho và nắm giữ văn hóa của một tổ chức. Các quy ước cơ bản được giữ kín, khó xác định và vô hình, khiến cho những khái niệm cốt lõi về văn hóa trở nên không chỉ khó hiểu mà còn khó tiếp cận (Schein, 1985). Các quy ước cơ bản này bao gồm “những quy ước mà các cá nhân hiểu về tổ chức và cách mà nó vận hành, chúng liên quan tới những khía cạnh hành vi của con người, bản chất hiện thực của mối quan hệ của tổ chức đó với môi trường của nó” (Huczynski & Buchanan, 2001, p.633). Văn hóa tiến hóa và phát triển dần qua thời gian và điều phức tạp này là nhân tố góp phần vào cuộc tranh luận về những gì mà cấu trúc văn hóa thực sự đại diện cho (Huczynski & Buchanan, 2001).

(còn tiếp) 

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: www.dtic.mil

TN 2014 – 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26