Truy cập – Phần cuối


Nhưng cũng có những giới hạn cho độ lớn của một đám mây của một công ty, nên bước tiếp theo trong những thập kỷ tới sẽ là sáp nhập các đám mây thành một liên đám mây. Giống như Internet là mạng lưới của các mạng lưới, liên đám mây là đám mây lớn của các đám mây. Chắc chắn đám mây của Amazon , Google, Facebook và những doanh nghiệp khác sẽ từ từ sáp nhập thành một đám mây khổng lồ và vận hành như một đám mây duy nhất cho mọi người dùng hoặc các công ty. Một yếu tố gây cản trở cho viễn cảnh này chính là một liên đám mây cần những đám mây thương mại hóa chia sẻ dữ liệu (một đám mây là một mạng lưới của những dữ liệu kết nối) và hiện giờ các dữ liệu đang có xu hướng được tích trữ như vàng. Việc tích trữ dữ liệu được xem là lợi thế cạnh tranh, ngược lại, chia sẻ dữ liệu tự do bị pháp luật cấm, nên sẽ phải mất nhiều năm hoặc thập kỷ trước khi các công ty có thể chia sẻ dữ liệu một cách sáng tạo, hiệu quả và có trách nhiệm.

Vẫn còn một  bước cuối nữa trên hành trình kiên định dẫn đến sự truy cập phân tán. Khi tiến đến các liên đám mây, chúng ta cũng cùng lúc tiến đến xu hướng phân tán toàn diện về từng cá nhân. Khi những đám mây khổng lồ của Amazon, Facebook và Google được phân bổ, chúng không được phân tán. Máy móc vẫn vận hành tập trung bởi những công ty lớn, chứ không được vận hành bởi mạng lưới các máy tính chạy bởi người dùng. Nhưng có cách để những đám mây có thể vận hành trên các phần cứng phân tán của cá nhân người dùng. Nhưng có cách để đám mây có thể vận hành trên các phần cứng phân tán của cá nhân người dùng. Chúng ta đều biết rằng một đám mây phân tán vẫn có thể hoạt động, điều này đã xảy ra tại cuộc biểu tình của sinh viên ở Hong Kong năm 2014. Để thoát khỏi sự giám sát của chính Trung Quốc vào các hoạt động truyền thông/giao tiếp của công dân, các sinh viên Hong Kong đã nghĩ ra cách để liên lạc mà không cần gửi tin nhắn đến tháp điện thoại trung tâm hay thông qua máy chủ Weibo (Twitter phiên bản Trung Quốc) hay WeChat (Facebook kiểu Trung Quốc) và email. Thay vào đó, họ tải một ứng dụng nhỏ tên là FireChat vào di động. Hai di động cài đặt FireChat có thể nói chuyện trực tiếp với nhau thông qua wifi mà không thông qua tháp điện thoại. Hơn nữa, cả hai điện thoại này đều có thể gửi lại tin nhắn cho một điện thoại cài FireChat thứ ba. Khi nhiều di động cài FireChat, bạn sẽ có một mạng lưới di động mà không cần tháp trung gian. Các tin nhắn cần chuyển đi sẽ được truyền đến một di động khác cho đến hi tin nhắn đến được người cần nhận. Sự phức tạp của mạng lưới đồng đẳng (peer-to-peer) giữa những người dùng (gọi là mạng lưới – mesh) không hiệu quả mấy nhưng vẫn hoạt động được. Sự chuyển tiếp tin nhắn vướng víu này chính là cách vận hành của Internet ở một cấp độ, và đó là lý do tại sao nó lại hoạt động mạnh mẽ đến vậy. Mạng lưới FireChat cuối cùng đã tạo ra một đám mây radio vô chủ (và do đó cũng khó để phá bỏ). Hoàn toàn dựa vào mạng lưới của các thiết bị cá nhân, FireChat vận hành một hệ thống truyền thông nằm ngoài vòng kiểm soát của chính phủ Trung Quốc trong nhiều tháng. Cấu trúc tương tự như FireChat có thể được nâng cấp để vận hành trên mọi loại đám mây.

Có nhiều lý do hợp lý (và không liên quan đến lý do cách mạng chống đối như đã nói ở trên) để một hệ thống truyền thông phân tán ra đời. Trong tình trạng khẩn cấp quy mô lớn, khi mất điện, mạng lưới di động đồng đẳng có thể sẽ là hệ thống duy nhất còn hoạt động. Mỗi di động cá nhân có thể được sạc bằng năng lượng mặt trời, nên hệ thống truyền thông vẫn vận hành khi không có lưới điện. Một chiếc điện thoại có năng lượng pin giới hạn, nhưng bạn có thể đặt một điện thoại trung gian nhỏ trên mái nhà và cũng sạc bằng năng lượng mặt trời. Điện thoại này sẽ nhắc lại và chuyển tiếp tin nhắn đến một khoảng cách xa hơn phạm vi của di động. Chúng giống như những tháp điện thoại nhỏ, nhưng thuộc sở hữu cá nhân chứ không phải công ty. Một mạng lưới di động trung gian sẽ tạo nên một mạng lưới vô chủ. Một số startup mới đã cung cấp dịch vụ mạng lưới vô chủ này.

Mạng lưới này đã làm rối loạn những khuôn khổ pháp lý và luật pháp ở những cơ sở hạ tầng truyền thông hiện tại. Các đám mây không có vị trí địa lý, vậy thì luật nào sẽ được áp dụng? Luật của chỗ bạn ở, hay luật của chỗ đặt máy chủ hoặc luật trao đổi quốc tế? Ai sẽ nhận thuế bạn trả nếu mọi công việc được thực hiện trên các đám mây. Ai sở hữu dữ liệu trên các đám mây? Là bạn hay đám mây sở hữu? Nếu mọi email và cuộc gọi âm thanh của bạn đi qua đám mây, ai sẽ chịu trách nhiệm cho nội dung các email và cuộc gọi này? Khi bạn có một ý tưởng chưa hoàn thiện hoặc chưa được công nhận, lại dễ dàng được đưa vào đám mây, chúng có nên được đối xử tương tự như những điều bạn đã tin là thật? Bạn sở hữu suy nghĩ của mình, hay bạn chỉ đang truy cập chúng? Đây là những câu hỏi không dành cho đám mây hay mạng lưới của các cá nhân mà dành cho hệ thống phân tán.

Trong 30 năm tới, xu hướng phi vật chất hóa, phân tán hóa, tính đồng thời, sự phát triển của nền tảng và đám mây sẽ mở rộng không ngừng. Nếu chi phí truyền thông và tính toán giảm đi nhờ vào tiến bộ công nghệ, những xu hướng kể trên sẽ là tất yếu. Chúng là kết quả của mạng lưới truyền thông mở rộng cho đến khi phổ biến ở phạm vi toàn cầu, và khi mạng lưới sâu ắc hơn, chúng sẽ dần thay thế vật chất bằng trí thông minh. Cuộc chuyển dịch lớn lao này sẽ xảy ra ở mọi nơi trên thế giới, dù là Mỹ, Trung Quốc hay Timbuktu. Các nền tảng toán học và vật lý học vẫn giữ nguyên. Khi chúng ta gia tăng sự phi vật chất hóa, phân tán hóa, tính đồng thời, các nền tảng và đám mây, thì quyền truy cập sẽ tiếp tục thế chỗ và chiến thắng quyền sở hữu ở hầu hết các phương diện.

Tuy nhiên, chỉ trong phim viễn tưởng con người mới không sở hữu thứ gì. Hầu hết chúng ta đều sở hữu vài thứ và truy cập những thứ khác, tỷ lệ truy cập sẽ khác với từng người. Nhưng viễn cảnh truy cập vào tất cả mà không cần sở hữu thứ gì cũng đáng để tìm hiểu vì nó mở ra chiều hướng rõ ràng cho công nghệ mà chúng ta đang tiến tới. Dưới đây sẽ là viễn cảnh của công nghệ truy cập trong tương lai.

Như nhiều bạn bè, tôi sống trong một khu phức hợp vì nó cung cấp những dịch vụ thuận tiện quanh năm. Căn hộ của tôi có một chiếc hộp làm sạch bốn lần một ngày, nghĩa là tôi có thể cho những thứ muốn làm sạch (như quần áo) vào hộp để làm sạch trong vài giờ. Khu phức hợp này cũng có những Node (nút mạng) riêng và hàng giờ lại có những gói hàng được chuyển đến bằng xe tải tự động, xe đạp tự động và máy bay tự động từ trung tâm sản xuất địa phương. Tôi nói với thiết bị của mình thứ mình cần và thứ đó sẽ được chuyển vào hộp của tôi (ở nhà hoặc ở chỗ làm) trong vòng tối đa hai giờ. Node ở hành lang cũng sẽ có những máy in 3D tuyệt vời để in mọi thứ lên kim loại, composite hoặc giấy. Trong nhà cũng sẽ có phòng lưu trữ đầy các dụng cụ và thiết bị. Một ngày khác, tôi muốn ăn gà rán trong vòng một giờ sẽ có đồ ăn từ Node được chuyển đến cái hộp của tôi. Khi ăn xong tôi cũng không cần dọn rửa vì đồ sẽ được trả lại vào hộp. Khi bạn tôi đến và muốn cắt tóc, trong vòng 30 phút sẽ có một cái kéo cắt tóc xuất hiện trong hộp. Tôi cũng đăng ký một bộ đồ cắm trại chỉ dùng torng vài tuần hoặc vào cuối tuần. Vì các đồ này được nâng cấp rất nhanh nên tôi muốn được dùng những đồ mới nhất và tốt nhất. Máy ảnh và máy tính cũng trở nên lỗi thời nhanh chóng, nên tôi sẽ chỉ đăng ký dùng những cái mới nhất. Quần áo cũng được đăng ký và đây là một thỏa thuận có lợi. Tôi có thể mặc mỗi ngày một bộ quần áo khác nhau trong cả năm và chỉ cần để lại quần áo đã mặc vào hộp lúc cuối ngày. Chúng sẽ được làm sạch và được tái phân bổ và còn được thay đổi khiến người dùng tò mò. Chúng sẽ có nhiều loại quần áo đa dạng gồm cả áo phông vintage mà các công ty khác không có. Một vài áo phông thông minh còn được gắn chíp để chúng quay trở lại với tôi ngày hôm sau khi đã được giặt sạch và gấp gọn.

Tôi cũng đăng ký một vài loại thức ăn và nhận thực phẩm tươi từ một trang trại gần nhà hay một món ăn sẵn nóng hổi được mang đến tận nhà. Node biết rõ lịch trình, vị trí trên đường đi và sở thích của tôi nên nó giao hàng rất chính xác. Nếu tôi muốn tự mình nấu ăn, tôi có thể lấy nguyên liệu cần thiết. Căn hộ phức hợp của tôi đã được sắp xếp để chuẩn bị thực phẩm cần thiết một ngày trước trong tủ lạnh và tủ đồ. Nếu có nhiều tiền mặt, tôi sẽ thuê một căn hộ cao cấp, nhưng tôi cũng có một thỏa thuận tuyệt vời cho căn hộ của mình và cho người khác thuê khi tôi không có nhà. Tôi không bận tậm về điều này vì khi trở về, căn nhà đã được dọn dẹp sạch sẽ hơn cả trước lúc tôi rời đi.

Tôi cũng không sở hữu âm nhạc, phim ảnh, trò chơi, tác phẩm nghệ thuật hay đồ vật thật nào. Tôi chỉ đăng ký sử dụng trên Universal Stuff. Các bức tranh treo tường có thể thay đổi liên tục nên tôi không cần sở hữu chúng. Tôi dùng dịch vụ online đặc biệt để trang trí tường bằng các bức ảnh của tôi trên printerest. Bố mẹ tôi thì đăng ký dịch vụ bảo tàng để lần lượt thuê các tác phẩm nghệ thuật lịch sử về trưng bày và trang trí nhà cửa, nhưng đó không phải là lĩnh vực tôi quan tâm. Tôi sử dụng các bức điêu khắc ảo 3D tự thay đổi mỗi tháng. Kể cả đồ chơi trẻ em tôi từng chơi cũng được đăng ký từ Universal Stuff mà không cần mua. Mẹ tôi từng nói, “Con chỉ chơi chúng có vài tháng, thì việc gì cần sở hữu chúng?” Vậy là cứ mỗi vài tháng trong chiếc hộp nhà tôi lại có món đồ chơi mới mà tôi đăng ký.

Universal thông minh đến nỗi không cần đợi quá 30 giây để lấy được xe, ngay cả lúc có nhiều người dùng yêu cầu. Chiếc xe xuất hiện theo đúng lịch trình tôi yêu cầu và nó cũng có thể đoán kế hoạch của tôi dựa trên các tin nhắn, lịch và cuộc gọi. Để tiết kiệm, tôi đi chung xe với vài người khác. Có đủ băng thông để chúng tôi cùng sử dụng. Để luyện tập thể lực, tôi đăng ký vài phòng tập và dịch vụ xe đạp. Tôi sẽ nhận được chiếc xe đạp mới nhất, và đã được lau sạch sẽ. Khi phải đi xa tôi sẽ sử dụng thiết bị tự lái cá nhân. Vì là phương tiện mới nên sẽ không dễ có được ngay lập tức, nhưng thiết bị này vẫn tiện lợi hơn máy bay thương mại. Khi đến một vùng khác cung cấp các dịch vụ tương tự, tôi không cần mang nhiều đồ đạc vì tôi có thể có được mọi thứ như ở nhà từ mạng lưới Node ở địa phương mà mình đến.

Bố tôi thỉnh thoảng sẽ băn khoăn về việc liệu tôi có thấy vô trách nhiệm khi không sở hữu thứ gì không. Ngược lại, tôi thấy mình có quan hệ sâu sắc với thời tiền sử. Tôi cảm thấy mình như một người thợ săn cổ đại không sở hữu thứ gì khi đang lang thang giữa thiên nhiên, dùng một công cụ tìm được sau đó bỏ nó lại và đi tiếp. Nông dân thì cần kho thóc để tích lũy lương thực, nhưng công nghệ số hóa chỉ cần cứ thế tiến bước và khám phá những điều mới mẻ. Truy cập thay vì sở hữu khiến tôi luôn năng động, tươi mới và sẵn sàng cho mọi thứ phía trước.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Advertisements

Xung đột kinh tế Mỹ – Trung: Tạm ngừng gây chiến, khởi động đàm phán – Phần X


Trung Quốc muốn có các công nghệ của Mỹ, cũng giống như Hàn Quốc trong những năm 1980 và đầu những năm 1990, và trước đó là Nhật Bản. (Điều đáng lưu ý là cả hai nền kinh tế hiện đều đi đầu về công nghệ nhờ nỗ lực của chính mình). Nhưng trong khi Trung Quốc muốn có một số công nghệ của Mỹ, họ không muốn toàn bộ, và một số công nghệ họ muốn thì không thể có được (ngoài cách thông qua hoạt động gián điệp). Vì lý do chính trị và na ninh quốc gia, Trung Quốc đã quyết tâm xây dựng mạng Internet và mạng truyền thông xã hội riêng của mình. Họ chủ động từ chối nhiều công nghệ Mỹ trong ngành này và đã xây dựng mạng Internet cùng các nền tảng truyền thông xã hội riêng, điều vốn chiếm một phần lớn trong nền công nghệ hiện đại của Mỹ. Một phần lớn khác là công nghệ quân sự hoặc công nghệ lưỡng dụng. Mỹ chắc chắn có nhiều công nghệ mà Trung Quốc muốn sở hữu trong lĩnh vực này, nhưng Mỹ vẫn chưa và sẽ không cho phép chuyển giao. Ngoài các lệnh cấm quân sự hoặc bán quân sự. Bộ Thương mại vẫn duy trì một danh sách vài nghìn sản phẩm công nghệ có thể cần đến giấy phép để được xuất khẩu sang Trung Quốc.

Trung Quốc hiện là một nước đổi mới về công nghiệp, cũng như là bên tiếp nhận vô cùng nhanh chóng. Theo Chỉ số đổi mới toàn cầu (GII) năm 2018, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới đã đánh giá Trung Quốc đã trỗi dậy một cách “ngoạn mục” khi nước này vượt qua 5 nước lên vị trí thứ 17 so với kết quả năm 2017. Báo cáo này cho rằng Trung Quốc “là một trong số những bên đóng góp lớn nhất cho thế giới về nhiều sản phẩm đầu ra và đầu vào trong lĩnh vực sáng tạo, bao gồm chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển, số lượng nhà nghiên cứu, các công bố khoa học và công nghệ, và đơn xin cấp bằng sáng chế”. Trong bảng xếp hạng GII, Trung Quốc dành được các vị trí hàng đầu trong một số lĩnh vực quan trọng, trong đó có bằng sáng chế và các mô hình ứng dụng, xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao, mà còn cả thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp và xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Báo cáo này cũng lưu ý rằng Trung Quốc “đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ) về số lượng các khu vực đổi mới sáng tạo”. Về chất lượng của các công bố khoa học và chất lượng của các trường đại học trong nước, “Trung Quốc có thành tích trên mức trung bình trong nhóm thu nhập cao, và tính theo chỉ số sau, có điểm số cao hơn Nhật Bản vốn xếp hạng hàng đầu.

Mỹ có thể ngăn chặn việc chuyển giao một số công nghệ do các công ty Mỹ phát triển gần đây, và tác động của hành động đó có thể làm chậm lại sự tiến triển của Trung Quốc trong một số ngành. Nhưng khi các trở ngại của Mỹ đối với FDI của Trung Quốc tại Mỹ và việc Trung Quốc mua lại công nghệ của Mỹ có thể cản trở Trung Quốc, chúng sẽ không ngăn được nước này phát triển tiến tới mức độ đòi hỏi về công nghệ hiện Hàn Quốc và Nhật Bản đã đạt được. Chúng không thể làm gì hơn ngoài việc buộc Trung Quốc phải dành thêm nhiều nguồn lực của chính mình để phát triển công nghệ.

Đối với Australia và phần còn lại của thế giới, một mục tiêu như vậy đặt ra câu hỏi tại sao mọi người lại quan tâm đến việc kìm hãm sự phát triển công nghệ của Trung Quốc. Chắc chắn sẽ là hữu ích khi buộc Trung Quốc phải tuân thủ các quy tắc công bằng về chuyển giao sở hữu trí tuệ. Tuy vậy, đối với những nền kinh tế hưởng lợi từ sự tăng trưởng nhanh chóng của Trung Quốc – chính là phần lớn các nền kinh tế thế giới, trong đó có cả Mỹ – chẳng có nghĩa lý gì khi cố tình tìm cách cản trở sự phát triển của nước này. Mỹ sẽ tìm kiếm đồng minh trong các đề xuất kỷ luật đối với hoạt động của Trung Quốc trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Trong một chiến dịch rộng lớn hơn nhằm cản trở sự phát triển công nghệ của Trung Quốc, có khả năng Mỹ sẽ nhận ra họ chỉ có một mình.

Phản ứng của Trung Quốc trước mối lo ngại của Mỹ về chuyển giao công nghệ đã rõ ràng. Họ không thể phụ thuộc vào một nguồn cung cấp vi mạch chắc chắn đến từ Mỹ, hoặc robot tiên tiến hay thiết bị tiên tiến để sản xuất. Họ phải mua chúng từ những nơi khác, tự sản xuất, hoặc từ bỏ tham vọng vươn tới mặt trận công nghệ trong ngành sản xuất toàn cầu. Chắc chắn họ sẽ đẩy nhanh nỗ lực phát triển các công nghệ của riêng mình. Không những không ngăn chặn Trung Quốc đi theo con đường được đặt ra trong kế hoạch “Made in China 2025”, các hành động và lập trường của Chính quyền Trump sẽ khuyến khích và xác nhận điều đó.

Tách nền kinh tế Mỹ ra khỏi Trung Quốc

Mỹ từ lâu đã cấm bán vũ khí tối tân cho Trung Quốc, và công nghệ lưỡng dụng giúp bổ sung cho năng lực quân sự của Trung Quốc. Các đồng minh an ninh của Mỹ cũng áp đặt các lệnh cấm tương tự. Mỹ cũng áp đặt các biện pháp kiểm soát xuất khẩu sang Trung Quốc hàng nghìn sản phẩm công nghệ cao sản xuất tại Mỹ. Mặc dù trong hầu hết các trường hợp xuất khẩu được cấp phép, Bộ Thương mại Mỹ có quyền từ chối. Thông qua Ủy ban đầu tư nước ngoài tại Mỹ (CFIUS), Mỹ có thể và thực sự cấm Trung Quốc đầu tư vào những doanh nghiệp Mỹ sở hữu công nghệ hoặc chuyên môn về ứng dụng quân sự thực tế hoặc tiềm năng. Quân đội hiện nay có thể sử dụng rất nhiều công nghệ, vì vậy CFIUS có quyền kiểm soát quy mô rộng.

Các thành viên trong Chính quyền Trump muốn đi xa hơn nữa. Có lời đồn đoán tại Washington về một kế hoạch lớn hơn về việc tách nền kinh tế Mỹ ra khỏi Trung Quốc. Như tờ Financial Times đưa tin về một hội nghị tại Đại học quốc phòng Mỹ, “có một nhóm ngày càng đông những người thận trọng vốn tin rằng các lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ sẽ đòi hỏi phải tháo gỡ bắt buộc các liên kết đầu tư và chuỗi cung ứng giữa Mỹ và Trung Quốc”. Mục tiêu có lẽ sẽ là kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, đặc biệt là phát triển các sản phẩm công nghệ tiên tiến của nước này. Mỹ có thể làm điều này bằng cách duy trì hoặc tăng thuế đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, cấm các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Mỹ, cũng như cấm các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào Trung Quốc. Để có bất kỳ cơ hội nào để kìm hãm Trung Quốc một cách thành công, Mỹ sẽ phải yêu cầu châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và các đồng minh khác của Mỹ trong đó có cả Australia áp dụng các quy tắc tương tự. Cơ hội thỏa thuận chắc chắn không có nhiều. Phát biểu tại Singapore vào tháng 11/2018, cựu Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson đã chỉ ra rằng ngay cả các đồng minh an ninh của Mỹ ở Đông Á cũng kh1o có khả năng tham gia một nỗ lực của Mỹ nhằm cô lập Trung Quốc về mặt kinh tế.

Tuy nhiên trong chừng mực Mỹ tác khỏi Trung Quốc thành công, họ sẽ không chỉ cần phải chuyển sang các nguồn nhập khẩu đắt đỏ hơn. Họ sẽ phải ngăn các doanh nghiệp Mỹ bán hàng vào một thị trường mà trong nhiều năm tới sẽ dành cho nhiều sản phẩm có giá trị cao hơn thị trường nội địa của Mỹ – hay bất kỳ thị trường nào khác. Như chúng ta đã thấy, đây chính là trường hợp mà doanh số bán hàng từ các công ty Mỹ tại Trung Quốc là vô cùng lớn. General Motors bán nhiều ô tô tại Trung Quốc hơn là tại Mỹ. Hiện là thị trường lớn nhất thế giới dành cho xe ô tô, Trung Quốc có khả năng vẫn duy trì như vậy trong nhiều thập kỷ tới. Đây vẫn là thị trường lớn nhất thế giới dành cho điện thoại thông minh.

Cuối cùng, một nỗ lực nghiêm túc nhằm làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc hay ngăn chặn sự phát triển công nghệ của họ sẽ bị Trung Quốc coi là một hành động thù địch. Như cựu Bộ trưởng Ngoại giao Australia Alex Downer đã lưu ý trong năm 2018, “nếu anh gọi Trung Quốc là kẻ thù, họ sẽ trở thành kẻ thù của anh”.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

CVĐQT số 3/2019

Việt Nam với CPTPP: Thành tựu và thách thức – Phần đầu


Tóm tắt

+ Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), một hiệp định kinh tế khu vực tiêu chuẩn cao mà Việt Nam đã phê chuẩn, được kỳ vọng sẽ mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích, nhưng những thách thức mà Việt Nam phải chật vật đối phó cũng lớn.

+ Xét tới những điều kiện có một không hai của Việt Nam, đất nước hình chữ S này có thể là một ví dụ điển hình cho thấy làm thế nào mà một nước châu Á đang phát triển với khu vực thuộc sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo lại có thể theo đuổi thành công tiến trình hội nhập kinh tế thông qua CPTPP.

+ Đóng góp của Việt Nam vào việc ký kết thành công CPTPP được thể hiện rõ nét tại Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 2017 được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng.

+ Để đáp ứng các yêu cầu của CPTPP, Việt Nam sẽ cần phải nâng cấp đáng kể cơ cấu sản xuất công nghiệp cũng như cải cách các thể chế kinh tế, các quy định trong nước và khu vực doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (SOE) của mình.

Mở đầu

CPTPP nằm trong số các siêu thỏa thuận thương mại tự do đáng chú ý nhất thế giới hiện nay. Mặc dù các nghiên cứu lớn hiện có đã phân tích những lợi ích và thách thức đối với các nước tham gia cũng như vai trò của các nước tham gia chủ chốt như Nhật Bản và Australia trong CPTPP, nhưng hầu như không ai chú ý đến sự tham gia và đóng góp của các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam, một trường hợp nghiên cứu thú vị vì Việt Nam nằm trong số vài nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa duy nhất tham gia CPTPP.

Mục tiêu của bài này là làm rõ hơn quan điểm của Việt Nam về CPTPP, bắt đầu bằng miêu tả khái quát hiệp định này, sau đó là thảo luận về lợi ích và thách thức từ CPTPP đối với Việt Nam. Phần cuối là xem xét những đóng góp của Việt Nam cho CPTPP.

Tổng quan về CPTPP

Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), ban đầu gọi là “thỏa thuận 4 bên” (Brunei, Chile, New Zealand và Singapore) được mở rộng thành thỏa thuận 12 thành viên, sau khi có sự tham gia của Australia, Peru, Việt Nam, Mỹ, Canada, Malaysia, Mexico và Nhật Bản. Sự phô trương ầm ĩ xung quanh TPP giảm đi đáng kể sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi thỏa thuận này. Sau khi vượt qua được trở ngại này, tại hội nghị thượng đỉnh TPP diễn ra ở Chile ngày 14/3/2017, tất cả 11 nước thành viên còn lại của TPP khẳng định TPP sẽ duy trì các tiêu chuẩn cao của mình và có tính toàn diện ở mọi lĩnh vực. Cam kết này được các nước tham gia tái khẳng định bên lề APEC lần thứ 25 diễn ra tại Việt Nam ngày 11/11/2017. Tại hội nghị thượng đỉnh này, TPP được đổi tên thành CPTPP để phản ánh cấu trúc mới sau khi Mỹ rút lui. CPTPP chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018, sau khi được 6 nước Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada và Australia thông qua. Bất chấp việc Mỹ rút lui, CPTPP vẫn là một trong những thỏa thuận thương mại tự do lớn nhất thế giới, chiếm 13,3% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu.

CPTPP nhằm mục đích thiết lập một chuẩn mực mới cho thương mại toàn cầu, và hợp nhất các vấn đề mới xuất hiện bằng cách đưa ra 5 đặc tính then chốt. Một là, CPTPP nhằm tạo ra khả năng tiếp cận thị trường toàn diện để xóa bỏ thuế quan và các rào cản khác đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ và đầu tư. Hai là, CPTPP nhằm tạo ra một thỏa thuận khu vực bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các chuỗi sản xuất và cung ứng giữa các thành viên TPP. Ba là, CPTPP sử dụng một cách tiếp cận đối với các vấn đề thương mại xuyên suốt dựa trên những kết quả đạt được tại APEC và các diễn đàn khác bằng cách hợp nhất 4 vấn đề xuyên suốt mới:: sự cố kết về quy định, tính cạnh tranh và việc tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), và sự phát triển. Bốn là, CPTPP tập trung vào các thách thức thương mại mới bằng cách giải quyết các vấn đề thương mại mới xuất hiện như những vấn đề do công nghệ số gây ra. Năm là, đó là một thỏa thuận hiện hành có thể được cập nhật để đối phó với những vấn đề thương mại tiềm tàng trong tương lai cũng như các vấn đề mới phát sinh từ sự mở rộng thỏa thuận để bao gồm trong đó các thành viên mới.

So với TPP, CPTPP khác biệt ở một vài khía cạnh. Một là, CPTPP trì hoãn việc áp dụng 22 điều khoản từ các chương nói về việc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, đầu tư, dịch vụ, mua sắm công, quyền sở hữu trí tuệ, môi trường và tính minh bạch, vốn được đưa vào TPP theo yêu cầu của Wasington. Đáng chú ý, chương nói về quyền sở hữu trí tuệ được thay đổi nhiều nhất, giảm thời gian bảo hộ quyền tác giả từ 70 năm xuống 50 năm sau khi tác giả qua đời. Tương tự, trong chương nói về đầu tư trong khuôn khổ CPTPP, “khả năng các nhà đầu tư khởi tố tranh chấp theo thỏa thuận đầu tư và giấy phép đầu tư sẽ bị hạn chế hơn so với TPP”. Hai là, CPTPP nhấn mạnh rằng khi hoạch định chính sách, các nước thành viên trước tiên cần xem xét tình hình và những ưu tiên của chính mình, vốn hay thay đổi và mang tính quốc gia. Những điều chỉnh và quy định mới về tính linh hoạt đã được tích hợp trong các điều khoản bổ sung về hiệu lực, cũng như việc rút khỏi, gia nhập và tiếp tục đánh giá CPTPP. Ba là, CPTPP là một thỏa thuận tiến bộ vì nó vượt ra ngoài khuôn khổ của việc cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp. Chẳng hạn, CPTPP bao gồm cả những cam kết bảo vệ các tiêu chuẩn cao về lao động và môi trường trên toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Là một thỏa thuận mở, CPTPP sẽ chấp nhận sự tham gia của các nước khác nếu họ quan tâm và sẵn sàng tuân thủ và thực thi các nguyên tắc và điều khoản được quy định trong thỏa thuận này. Trên thực tế, CPTPP đang thu hút sự chú ý của một vài quốc gia, như Anh, Hàn Quốc và Thái Lan. CPTPP cũng sẽ chào đón sự trở lại của Mỹ nếu nền kinh tế lớn nhất thế giới này chấp nhận các nguyên tắc của thỏa thuận.

Những lợi ích và thách thức đối với Việt Nam

Việt Nam đã tham dự các cuộc đàm phán về CPTPP vào năm 2008. Có nhiều động lực thúc đẩy Việt Nam tham gia thỏa thuận này. Nhờ sự cắt giảm thuế quan mà Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc gia tăng xuất khẩu sang các thị trường trong khuôn khổ CPTPP, nhất là những nước hiện không có thỏa thuận thương mại tự do với Việt Nam như Canada, Mexico và Peru, và đặc biệt là với những hàng hóa mà Việt Nam có lợi thế so sánh như hàng dệt may, giày dép, điện tử và nông sản. Cụ thể, Việt Nam được dự đoán là nước hưởng lợi nhiều nhất, với tăng trưởng ngoại thương và đầu tư được kỳ vọng sẽ đạt mức tương ứng là 30,1% và 14,4% vào năm 2030. Bằng việc gia nhập các mạng lưới sản xuất giữa các thành viên CPTPP, Việt Nam có thể hội nhập hơn nữa vào các chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo. Cụ thể, theo Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, ngay cả với những giả định mang tính bảo thủ, báo cáo năm 2018 của Ngân hàng Thế giới “ước tính CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam năm 2030 tăng 1,1%. Giả sử năng suất có sự gia tăng vừa phải, thì GDP ước tính sẽ tăng tới 3,5% nhờ CPTPP”. Đồng thời, việc gia tăng xuất khẩu sang các thị trường CPTPP có thể tạo ra trung bình khoảng 20.000 – 26.000 việc làm mỗi năm cho Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất như ngành dệt may, qua đó giúp giảm bớt gần 1 triệu người sống dưới mức nghèo đói vào năm 2030.

Thêm vào đó, những cam kết về dịch vụ và đầu tư trong thỏa thuận này có thể giúp Việt Nam cải thiện môi trường và thu hút thêm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ những nước trong và ngoài khuôn khổ CPTPP, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Hơn nữa, việc Việt Nam tham gia CPTPP có thể khuyến khích tiến trình tái cơ cấu kinh tế trong nước, nhất là việc cải cách các thể chế kinh tế và các SOE, đồng thời tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn cho khu vực tư nhân và các SME.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore) – 24/05/2019

TLTKĐB – 04/06/2019

Quan điểm địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển của một số quốc gia và khu vực chủ chốt trên thế giới – Phần XI


V/ Quan điểm địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển của Nhật Bản

1/ Nhật Bản – một quốc đảo lênh đênh

Với tư cách là một cường quốc nằm ở miền cực Đông châu Á, Nhật Bản là một nước có một vị trí địa chính trị rất đặc biệt. Quốc đảo hình cánh cung này gần như nằm trơ trọi giữa Thái Bình Dương: phía Tây ngăn cách với cường quốc Trung Hoa bởi một vùng biển tương đối rộng và chắn giữa hai cường quốc này là bán đảo Triều Tiên; phía Tây Bắc cũng cách lục địa nước Nga qua một vùng biển không nhỏ; còn ở phía Đông và Đông Nam chỉ có Thái Bình Dương. Vì thế người ta còn gọi đất nước này là “quốc đảo lênh đênh”.

Đất nước này còn có một điều đặc biệt nữa là, nó là một đất nước núi non, xa cách với đất liền, luôn phải hứng chịu bão tố, động đất và núi lửa, đất nông nghiệp ít, tài nguyên thiên nhiên hiếm hoi… Với hoàn cảnh như vậy, tưởng chừng như Nhật Bản không trở thành một cường quốc trên thế giới. Vậy mà, như nhóm nghiên cứu Startfor (Hoa Kỳ) cho thấy, Nhật Bản đã làm được điều đó “từ bàn tay trắng” trong khoảng 150 năm. Giờ đây, Nhật Bản đang thực hiện chiến lược khai thác nguồn lực từ bên ngoài để thúc đẩy đất nước phát triển.

Nhật Bản là một quần đảo gồm 4 hòn đảo lớn và khoảng 6800 hòn đảo nhỏ. Đảo Honshu là hòn đảo trung tâm có hình vòng cung hướng ra biển, là hòn đảo có diện tích lớn nhất, nó chiếm tới khoảng 60% diện tích đất nước và có hơn một nửa dân số nước Nhật sinh sống ở đó.

Đặc điểm nổi bật nhất của địa lý Nhật Bản là nó thiếu khả năng cung cấp đất ở và đất trồng trọt. Với diện tích 378.000 km2, Nhật Bản có lãnh thổ lớn hơn so với lãnh thổ nước Anh hoặc nước Đức ngày nay. Tuy nhiên, mặc dù có diện tích lớn như vậy nhưng 3/4 diện tích của Nhật Bản lại bao gồm núi non dốc đứng, hẻm suối, rừng cây và hoang mạc, không thuận lợi cho cuộc sống con người. Những ngọn núi tạo thành hình xương sống chạy lên chạy xuống ở giữa trung tâm của mỗi hòn đảo, còn dãy núi cao nhất của Nhật Bản thì nằm ở trung tâm đảo lớn Honshu, chiếm phần lớn diện tích của hòn đảo có khả năng chứa một lượng dân cư lớn của đất nước. Ngọn núi Fuji [Phú Sĩ], một ngọn núi lửa đã ngừng hoạt động kể từ năm 1707, là ngọn núi cao nhất của Nhật Bản với độ cao 3776m. Theo nhóm nghiên cứu Stratfor, địa hình núi non đã làm cho Nhật Bản, trên thực tế, nhỏ hơn rất nhiều so với vẻ ngoài của nó và xã hội Nhật Bản chỉ giới hạn ở những dải đất hẹp chạy dài ven biển bao quanh các hòn đảo lớn. Trên thực tế, Nhật Bản chỉ có khoảng 12% diện tích đất trồng trọt, so với 13% ở Indonesia, 16% ở Hàn Quốc, và khoảng 28% ở bang California (Hoa Kỳ), một bang có diện tích tương đương với diện tích Nhật Bản.

Đa số người dân Nhật Bản sống ở phía dưới đường ranh giới phía Bắc phân chia sự canh tác theo mùa, đó là đường ranh giới chạy xuyên qua giữa đảo Honshu, ở phía Bắc Kyoto và Nagoya kết thúc tại Tokyo. Nhật Bản có ba khu vực đồng bằng chính và là nơi tập trung dân cư đông nhất của đất nước này, mà cả ba khu vực đồng bằng đó đều nằm ở trung tâm đảo Honshu. Đồng bằng rộng lớn nhất là đồng bằng Kanto, trong đó có thành phố Tokyo, một thành phố đông dân nhất trên thế giới với khoảng 35 triệu người. Đồng bằng lớn thứ hai là đồng bằng Yamato hay Kinki, nó bao gồm phần chủ yếu của khu vực Kansai, trong đó có cả cố đô Kyoto lẫn thành phố lớn thứ hai là Osaka. Khu vực đồng bằng thứ ba nằm giữa hai khu vực đồng bằng kia, là đồng bằng Nobi với thành phố lớn thứ ba là Nagoya.

Theo nhóm Stratfor, trong suốt chiều dài lịch sử của Nhật Bản, ba khu vực đồng bằng nói trên đã cung cấp tiềm lực nông nghiệp lớn nhất cho đất nước và trở thành các trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của hòn đảo lớn Honshu, với đồng bằng Yamato là trung tâm quyền lực ban đầu và sau đó vị trí này đã bị đồng bằng Kanto thay thế. Cả ba đô thị chính – Tokyo, Osaka và Nagoya – không chỉ có vị trí trên các miền đất có tầm quan trọng hàng đầu, mà chúng còn trông ra những cửa vịnh rộng lớn và vì thế, chúng ta những hải cảng quan trọng. Ngày nay, tổng cộng cả ba thành phố này có dân số chiếm 45% dân số Nhật Bản, trong khi đó chúng chỉ chiếm 6% diện tích đất đai của đất nước. Những thành phố lớn khác của Nhật Bản có vị trí tại những đồng bằng nhỏ hơn chạy dọc theo bờ biển của nước này.

Nhật Bản không có hệ thống sông ngòi liên kết với nhau. Với địa hình nhiều núi đồi và có lượng mưa cao, Nhật Bản có rất nhiều sông. Nhưng, cũng do địa hình hẹp và bị chia cắt với đất liền lục địa nên sông ngòi của Nhật Bản là những con sông ngắn và không có sự kết nối với nhau, chúng chảy xiết thẳng từ trên núi xuống bờ biển gần nhất. Điều đó có nghĩa là, những con sông này rất có ích cho việc tưới tiêu, còn về khả năng phục vụ giao thông thì chúng chỉ có ích ở vùng hạ lưu.

Chính vì thế mà để tạo ra được sự kết nối xuyên quốc gia, Nhật Bản đã phát triển một hệ thống giao thông đường biển rất sôi động. Đây chính là một phương tiện giao thông chủ chốt lâu đời được sử dụng để kết nối giữa các khu vực trong một đất nước nhiều nghìn đảo này.

Một đặc điểm địa lý quan trọng nữa của Nhật Bản là quần đảo này nằm cách xa lục địa châu Á. Khoảng cách gần nhất giữa hòn đảo Kyushu với điểm cuối phía Nam của Bán đảo Triều Tiên là vào khoảng 190 km. Khoảng cách này lớn hơn 1/4 so với khoảng cách giữa bang Florida của Hoa Kỳ với Cuba và lớn hơn 5 lần so với khoảng cách giữa nước Anh với nước Pháp. Trung Quốc lại còn ở cách xa Nhật Bản hơn nữa: 800 km. Giữa hai nước này chỉ có những hòn đảo nhỏ trên Biển Đông Trung Hoa làm cầu nối. Hòn đảo Hokkaido ở phía Bắc tiếp giáp gần với hòn đảo Sakhalin của nước Nga trên  biển Okhotsk, nhưng khu vực Sibiri này của Nga hầu như không có người sinh sống. Những người láng giềng khác của Nhật Bản thậm chí còn ở cách xa hơn nữa. Sự liên lạc bằng đường biển giữa Nhật Bản với Đông Nam Á diễn ra khó khăn và hiếm hoi. Những hòn đảo nhỏ và đảo san hô của Nhật Bản có vẻ như nằm trơ trọi trên Thái Bình Dương mênh mông. Sự xa cách giữa Nhật Bản với vùng đất liền của lục địa Á – Âu làm cho phần lớn lịch sử của Nhật Bản không được các nước láng giềng biết đến.

Vậy là, nhóm Stratfor kết luận, với một địa hình núi non, với hệ thống sông ngòi rời rạc, với những khu vực đồng bằng duyên hải kéo dài, và với việc đi lại nguy hiểm bằng đường biển như là mối liên lạc chủ yếu giữa Nhật Bản với các nước láng giềng, xã hội Nhật Bản đã phát triển như là một chuỗi đảo trong quần đảo – nghĩa là giống như các hòn đảo xã hội nhỏ nằm giữa những hòn đảo chỉ lớn hơn một chút.

2/ Những cuộc tranh chấp địa chính trị nội bộ

Chính vì Nhật Bản là những hòn đảo xã hội nhỏ cho nên phần lớn lịch sử của nó liên quan đến cuộc đấu tranh nội bộ khi đất nước này muốn xây dựng một quốc gia thống nhất và tập quyền. Lịch sử xung đột nội bộ của nó còn là kết quả của tình trạng thiếu đất ở và đất trồng trọt. Tình trạng này làm cho cuộc tranh giành đất đai trở nên tàn khốc và không thể tránh khỏi. Ngành nông nghiệp của Nhật Bản cung cấp cho đất nước chủ yếu là lúa gạo, và ở mức độ ít hơn là lúa mì và lúa mạch. Khí hậu ôn hòa và đất đai mầu mỡ đã giúp cho ngành nông nghiệp Nhật Bản có cơ hội phát triển và đem lại năng suất cao. Nhưng sự hiếm hoi của đất trồng trọt trong khi đất trồng trọt lại cho năng suất rất cao đã làm cho tình trạng tranh chấp đất đai trở nên quyết liệt và diễn ra thường xuyên. Kể từ khi ngành trồng lúa nước xuất hiện từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên cho đến thế kỷ 19, hệ thống xã hội và chính trị của Nhật Bản đã được xây dựng dựa trên một nền kinh tế lúa gạo. Quyền lực chính trị thuộc về những người có khả năng kiểm soát đất nông nghiệp và các kho lương thực, và những người có khả năng điều hành việc nộp thuế nông nghiệp.

Trước hết, điều đó có nghĩa là các phe phái đã tranh đấu với nhau để giành quyền kiểm soát các vùng đồng bằng chính – đó là đồng bằng Yamato (còn được gọi là đồng bằng Kinki) và đồng bằng Kanto. Tại khu vực đồng bằng Yamato, bộ tộc Yamato đã xuất hiện và định cư ở đây từ thế kỷ 7 trước Công nguyên. Từ đó, nhờ làm chủ được những vùng đất trồng trọt màu mỡ, bộ tộc này đã nắm được quyền cai quản đất nước Nhật Bản. Các thủ lĩnh dòng họ Yamato là những người đã gây dựng nên một dòng dõi đế vương cha truyền con nối – một dòng họ cai trị lâu đời nhất trên thế giới mà về mặt hình thức, nó vẫn còn trị vì đến ngày hôm nay.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Văn Dân – Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia – NXB KHXH 2011.

Khâu giao tiếp trong phương thức quản lý kiểu Trung Quốc – Phần cuối


Tin tưởng và ủng hộ, dùng hành động để thể hiện

Phương thức giao tiếp của Trung Quốc rất coi trọng hiệu quả giao tiếp, còn thách thức để đạt hiệu quả rất đa dạng. Giao tiếp kiểu Trung Quốc còn chú trọng việc hai bên bỏ qua mọi trở ngại, đối thoại thẳng thắn. Chính vì vậy, trong quá trình trao đổi, người Trung Quốc nhấn mạnh: “Phải cẩn trọng khi nói câu thứ nhất, lấy lời lẽ chân thành để làm yên lòng đối phương, khiến cho họ hiểu chúng ta sẽ không dùng thái độ thù địch hoặc có ý gây mất mặt họ khi giao tiếp”. Như thế, đối tượng cần giao tiếp sẽ dần dần cởi mở và thoải mái hơn, giúp cho quá trình trao đổi giữa hai bên diễn ra suôn sẻ.

Trong giai đoạn đầu Lưu Tú đứng ra thống nhất thiên hạ, Phùng Dị ở Dĩnh Xuyên đã đến đầu quân làm thuộc hạ của Lưu Tú và được phong giữ chức Chủ Bộ. Phùng Dị vốn là người Dĩnh Xuyên, đã từng có công giúp Lưu Tú trấn yên Hà Bắc, Phùng Dị chọn đầu quân cho Lưu Tú vì nghĩ rằng Lưu Tú là một vị minh quân khai quốc, có thể đứng ra trị vì đất nước, chính vì vậy luôn rất trung thành, tận tụy, dẫu chết cũng không từ.

Thời kỳ đầu, binh lực của Lưu Tú không mạnh, lương thảo cung ứng rất hạn chế, đến cơm ăn cũng không đủ no. Có một lần, Lưu Tú dẫn binh đi đột kích Nhiêu Dương vào đúng đợt rét đậm, hai hôm liền quân lính không được ăn cơm nên vừa đói vừa rét. Lúc đó, Lưu Tú thèm biết bao nhiêu một bát cơm canh nóng!

Trong tất cả các tướng quân dưới trướng của Lưu Tú, Phùng Dị là người vừa biết cách cai quản quân đội, vừa thương yêu binh sĩ, giành được sự ủng hộ và yêu mến của thuộc hạ. Chính vì vậy, các binh sĩ đều nguyện tham chiến dưới sự chỉ đạo của ông. Sau mỗi trận đánh lớn, Lưu Tú luôn xem xét công trạng và ban thưởng cho các tướng. Khi đó, các tướng vì muốn tranh công lấy thưởng nên đều nói ra thành tích cảu mình, chỉ vì giành cho được cây kích hay thanh kiếm mà cãi nhau đến mức không can ngăn nổi. Phùng Dị chưa bao giờ làm vậy. Mỗi lần như thế, ông đều ngồi một mình yên lặng dưới gốc cây lớn, tùy ý cho Hán Quang Vũ Đế (tức Lưu Tú) định đoạt. Do vậy, mọi người liền gán cho ông một biệt danh là “Tướng quân đại thụ”, trong quân không ai là không biết biệt hiệu đó của ông.

Sau khi Lưu Tú xưng đế, ở khắp các vùng vẫn còn chiến tranh loạn lạc chưa yên, nhưng đại cục đã được bình ổn. Lưu Tú vạch ra sách lược, lấy việc bình định thiên hạ, làm yên lòng dân trăm họ làm chủ trương chính. Sau khi suy tính kỹ càng, ông giao cho Phùng Dị dẫn binh tiến vào từ phía tây Lạc Dương, bình định khu vực Quan Trung và Tam Phụ. Lưu Tú phong Phùng Dị làm Chinh Tây Đại Tướng Quân và cử ông đi trấn áp quân khởi nghĩa Xích Mi. Phùng Dị thống lĩnh đại binh, suốt dọc đường đi luôn tìm cách làm yên lòng dân trăm họ, ca ngợi uy đức của Lưu Tú. Do đi đến đâu bách tính cũng quy thuận nên chỉ sau mấy tháng, ông đã hoàn toàn bình định được khu vực Quan Trung và Tam Phụ, lại một lần nữa lập được công lớn. Chẳng bao lâu sau, Phùng Dị được Lưu Tú trọng dụng, giao cho đảm nhiệm nhiều trọng trách lớn và phong chức Chinh Tây Đại Tướng Quân.

Vốn ghen ghét với thành công và sự hậu đãi của Lưu Tú với Phùng Dị, một số gian thần đã dùng kế ly gián, nói khích trước mặt Lưu Tú rằng: “Hiện nay, Phùng Dị thường xuyên ở bên ngoài, danh tiếng lẫy lừng. Dân chúng khắp khu vực Hàm Dương đều gọi hắn là Hàm Dương Vương. Hoàng thượng nên lưu ý đề phòng hắn!”. Lưu Tú nghe xong những câu gièm pha đó đều chỉ cười đáp lại, trong lòng có sự tự phán đoán riêng rất rạch ròi. Ông rất hiểu rằng trong triều có một số viên đại thần luôn sẵn lòng ganh ghét, đố kỵ, thích nội bộ đấu đá nhau. Họ thấy việc chính sự do mình đảm nhiệm lại không được vua quan tâm đến, nên ngày nào cũng tung tin thất thiệt, làm lung lạc lòng người. Nếu như nghe theo những lời đàm tiếu nói không thành có của chúng mà trách nhầm Phùng Dị, thì chẳng những sẽ mất đi ột vị tướng tài mà còn đánh mất luôn cả lòng người trong thiên hạ. Hơn nữa, Phùng Dị lại là người đã trấn thủ được khu vực Quan Trung, bình định được bọn phản loạn, công lao hiển hách, nếu không có người này thì không thể giúp ích cho việc bình định đất nước.

Lưu Tú cho người đem những câu nói của mấy viên quan đại thần trong triều truyền đến tai Phùng Dị. Sau khi biết chuyện, Phùng Dị vô cùng lo lắng, vội vàng viết sớ tự bạch dâng lên cho Lưu Tú, mong Lưu Tú đừng nghe theo những lời sàm tấu. Hán Quang Vũ Đế quả thật không hổ danh là ông vua hiền đức một thời trong lịch sử Trung Quốc, sau khi nhận được thư tự bạch của Phùng Dị, ông liền viết ngay thư trả lời rằng: “Nếu nói chuyện tướng quân như thế nào với đất nước và với trẫm thì phải xét về mặt đạo nghĩa là mối quan hệ quân thần, nếu nói về cái đức và cái tình thì giống như mối quan hệ cha con, do vậy ngươi không cần phải để tâm nhiều đến những lời gièm pha của đám Hán gian ấy”. Để thể hiện thành ý của mình, ông còn cho vợ và con trai Phùng Dị chuyển đến sống tại Hàm Dương, đồng thời ban cho ông nhiều bổng lộc và quyền lực hơn nữa. Do vậy, trong suốt cuộc đời mình cho đến tận lúc chết, Phùng Dị luôn trung thành với vua, hơn thế còn chưa bao giờ xảy ra chuyện Phùng Dị chiếm hết công trạng về mình.

Sự tín nhiệm cũng như mối quan hệ giữa Lưu Tú và Phùng Dị là ví dụ kinh điển về các bước tiến hành trong giao tiếp theo kiểu Trung Quốc. Trước hết, Lưu Tú đã không tin vào những lời đàm tiếu của các quan đại thần khác đối với Phùng Dị, đồng thời cũng không quên việc trao đổi thông tin nhiều hơn nữa với Phùng Dị nhằm giải tỏa những hiểu lầm giữa hai bên. Thông qua việc trao đổi và giao tiếp với Phùng Dị, Lưu Tú còn nhắc nhở Phùng Dị cần phải chú ý, tất nhiên cách nhắc nhở của Lưu Tú không phải theo cách cảnh báo hay răn dạy quở mắng, mà chuyển nguyên lời của những tên buông lời sàm tấu cho Phùng Dị nghe. Như thế, một mặt thể hiện rõ Lưu Tú thực sự tin tưởng Phùng Dị, mặt khác còn có tác dụng cảnh tỉnh Phùng Di, nhắc nhở ông không nên bước chân vào con đường sai lầm.

Có thể thấy, cách quản lý khách quan nhìn theo đúng sự thực mà không dựa vào kết luận chủ quan và ước đoán bằng cảm tính để đánh giá về nhân viên là phương pháp quản lý hiệu quả, giúp đảm bảo sự đoàn kết trong tập thể, ngăn chặn việc nảy sinh những hoài nghi và xét đoán lẫn nhau trong nội bộ. GIữa các thành viên trong một tổ chức nếu như suốt ngày chỉ tập trung vào việc suy xét, bới móc đồng nghiệp của mình, kết bè phái để đấu đá nhau, thì sẽ làm cho sức mạnh của cả tổ chức đó bị xé lẻ ra, khiến mối quan hệ giữa các thành viên trở nên căng thẳng. Do vậy, nhà lãnh đạo phải tuân thủ từ đầu đến cuối nguyên tắc đã dùng người thì không được nghi ngờ, không nên nghe và tin theo những lời đàm tiếu, đồng thời phải thường xuyên giao tiếp và trao đổi với nhân viên, cổ vũ họ, thả lỏng cho họ đi giải quyết các vấn đề và hoàn thành trách nhiệm được giao.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Cuộc luận đàm về thương chiến Mỹ – Trung – Phần cuối


Ngày 5.10.2018, một ngày sau khi Phó tổng thống Mỹ Mike Pence có bài phát biểu nổi tiếng về Trung Quốc ở Viện Hudson, cựu chiến lược gia trưởng của Nhà Trắng Steve Bannon có một cuộc phỏng vấn ít được chú ý tại một địa điểm bí mật ở bang Texas với người dẫn chương trình và nhà quản lý quỹ đầu tư phòng hộ người Mỹ Kyle Bass.

….

KB : Chúng ta không muốn chiến đấu.

SB : Và một trong những khái niệm cốt lõi của Trump là không can thiệp. Tuy nhiên, những gì “nước Mỹ trên hết” bảo vệ – an ninh quốc gia – là những nơi nằm trong lợi ích an ninh quốc gia quan trọng của Hoa Kỳ. Nó sẽ là lợi ích an ninh quốc gia quan trọng của các đối tác địa phương của chúng ta. Đó là ý nghĩa của nước Mỹ trên hết. Trump không vác cây gậy to đi vòng quanh thế giới để gây chiến.

Ông ấy đang cố gắng hạ nhiệt quan hệ với Nga. Ông ấy đang cố gắng hạ nhiệt tình hình ở Syria. Ông ấy đang cố gắng tìm một giải pháp ở Afghanistan. Ông ấy đang cố gắng tìm một giải pháp ở Triều Tiên. Ông ấy đang cố gắng tìm một giải pháp ở Venezuela. Và người xem của anh nên hiểu Donald Trump đã không tạo ra bất kỳ chuyện nào trong số này.

Đó là Richard Haas và tất cả những thiên tài chó chết của Đảng Davos. Họ là những kẻ bỏ rơi Hàn Quốc. Họ là những kẻ bỏ rơi Afghanistan, Venezuela và đội Trung Quốc lên đầu. Điều Trump nói là các đồng minh của chúng ta – đó cũng sẽ là lợi ích an ninh quốc gia quan trọng của họ. Và anh hãy đi xung quanh và nói chuyện với Singapore, với Thái Lan, với Indonesia, và Úc và hỏi họ: hey, một sự hiện diện của Hải quân Mỹ trong khu vực này là một điều tốt hay một điều xấu?

Và họ sẽ nói với anh, không, đó là một điều quan trọng. Chúng tôi cần nước Mỹ. Chúng tôi cần nước Mỹ ở đây vì nếu chúng tôi mất Biển Đông, chúng tôi sẽ mất mọi loại hình thương mại. Trung Quốc sẽ kiểm soát toàn bộ nơi này. Và người Trung Quốc hiểu điều đó. Đó là nơi họ đang cố đẩy chúng ta ra. Và họ bắt đầu tiến hành chiến tranh tâm lý về chính xác chuyện đó. Hey, nó cách 12.000 dặm. Nó thực sự là châu Á. Chúng ta ở đây để làm gì nhỉ? Đây là một thất bại lớn khác.

KB : Anh đã nghe người ta nói rồi.

SB : Đây là một thất bại lớn khác như Iraq và Afghanistan. Nhìn xem, tôi là người đề xuất nước Mỹ trên hết. Việc chúng ta đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông là tuyệt đối quan trọng.

KB : Thật thú vị. Ok. Tôi có thêm hai câu hỏi cho anh. Một là tại sao Mỹ không có quy trình quản lý nhân sự ở Mỹ? Và điều tôi muốn nói là anh đã đọc báo cáo DIUX (Đơn vị Thử nghiệm đổi mới quốc phòng). Họ nói nó đã được giải mật. Trên thực tế, nó chưa bao giờ được xếp loại mật. Báo cáo của Bộ Quốc phòng về sự xâm nhập của Trung Quốc vào các trường đại học nghiên cứu và các phòng thí nghiệm của chúng ta.

SB : Và phòng thí nghiệm vũ khí của chúng ta.

KB : Phòng thí nghiệm vũ khí được tài trợ bởi DARPA và Không quân. Tại sao chúng ta không đưa vào một quy trình quản lý con người phù hợp?

SB : Tôi muốn anh quay trở lại với các báo cáo vì tôi không nghĩ mọi người hiểu những báo cáo này. Các báo cáo này, chủ yếu là các báo cáo được giải mật cho thấy 300.000 sinh viên đang ở đây với thị thực sinh viên và 10.000 nhà thầu làm việc tại các phòng thí nghiệm vũ khí mà tôi nghĩ 2/3 có thể là tài sản tình báo. Và một số phần trăm là nhân viên tình báo hoặc mật vụ.

KB : Và họ đang làm việc trong phòng thí nghiệm của chúng ta, về công nghệ vũ khí được tài trợ bởi chính phủ của chúng ta.

SB : Đây là chính trị xuôi dòng và sự tham lam, thấy lợi quên nghĩa. Làm thế nào các nhà thầu – và chúng ta hãy vạch mặt họ – Booz Allen và tất cả những nhà thầu này – làm thế nào những nhà thầu này và những chương trình lớn của chính phủ nhận quá nhiều công dân Trung Quốc làm việc trong phòng thí nghiệm vũ khí của chúng ta? Phòng thí nghiệm vũ khí của chúng ta đang ở nơi tối tân của an ninh quốc gia. Chuyện đó đã xảy ra như thế nào?

Và điều này phải được thực hiện ngay lập tức. Tôi không biết tại sao nó lại là vấn đề bất đồng lớn trong chính quyền. Chính trị xuôi dòng của tất cả – tờ Financial Times of London rò rỉ tin rằng đồng nghiệp của tôi, Stephen Miller, một người đàn ông trẻ tuyệt vời, thực sự đã có kế hoạch để trục xuất tất cả 300.000 sinh viên Trung Quốc ra khỏi nước Mỹ bằng cách cắt thị thực ngay lập tức. Chúng ta chưa thực hiện nó, nó thậm chí mới đang cân nhắc. Nhưng rõ ràng, nó đã bị rò rỉ, trê tờ Times, đi vòng quanh Bộ Ngoại giao, vân vân.

Nhìn vào tất cả những người theo chủ nghĩa nhân nhượng, tôi thấy rất vui. Tôi hết sức tự hào khi một người như Susan Thornton (cựu quyền Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương) hiện sở hữu một trang trại ở Maine vì cô ta là một phần của kiểu thỏa hiệp lý tính. Thái độ ôn hòa này trong Bộ Quốc phòng, trong Bộ Ngoại giao, trong các cơ quan tình báo của chúng ta về cơ bản là chấp nhận những gì Trung Quốc muốn làm và nhắm mắt làm ngơ.

KB : Tôi không phải là người đề xuất ném tất cả – có 340.000 sinh viên ở đây.

SB : Tôi không phải là người đề xuất. Đây là những gì tôi đề xuất. Tôi đề xuất nếu họ là tài sản tình báo, tôi muốn biết điều đó. Chương trình của Miller là: hey, nếu chúng ta có thể chứng minh điều này, họ phải về nước. OK?

KB : Và tôi thậm chí không tập trung trực tiếp vào Trung Quốc, hay Ấn Độ, hay bất cứ nơi nào cụ thể. Nhưng tại sao chúng ta không thể có một chính sách với chủ quyền và an ninh quốc gia của đất nước chúng ta? Tại sao chúng ta không thể nói nếu đó là một chương trình vũ khí, bạn chỉ cần là một công dân Mỹ và có lẽ nên là một công dân Mỹ sinh ra tự nhiên?

SB : Anh đang hỏi những câu hỏi cơ bản, căn bản.

KB : Thật đơn giản.

SB : Tôi nghĩ thực sự có quy định và họ nhận được những sự miễn trừ mà tôi tin rằng về mặt kỹ thuật, khi anh nhìn vào các chi tiết, thực tế là có loại miễn trừ được cấp bởi vì người ta nhắm mắt làm ngơ.

KB : OK. Một vấn đề nữa là Viện Khổng Tử. Viện Khổng Tử đang ở trong nhiều trường đại học của chúng ta. Chúng được tài trợ trực tiếp bởi PLA. Tại sao các trường đại học của chúng ta cho phép Viện Khổng Tử hiện diện trong khuôn viên trường?

SB : Không thể chấp nhận được. Giống như ở Trung Quốc có một cái gì đó được CIA tài trợ trực tiếp –

KB : Hoặc Giáo hội Công giáo.

SB : Hoặc Giáo hội Công giáo. Nhưng không phải Giáo hội Công giáo bởi vì Giáo hội Công giáo vừa ký một thỏa thuận cho phép Trung Quốc – không, nhưng đây là một vấn đề lớn. Đức Giáo Hoàng Phanxicô vừa đạt một thỏa thuận cho phép kẻ vô thần điều hành chế độ ở Bắc Kinh thực sự chọn ra các giám mục của chúng ta. Vì vậy, Giáo hội Công giáo sẽ không phải là một ý tưởng tốt vì họ đã quỳ gối. Nó sẽ tương đương với việc CIA hoặc DNI có một trung tâm sinh viên quảng bá văn hóa CIA ở Trung Quốc.

OK. Điều đó không xảy ra. OK. Anh biết tại sao nó không xảy ra? Bởi vì người Trung Quốc nói: hey, điều đó sẽ không xảy ra bởi vì điều đó có thể ảnh hưởng đến chủ quyền của chúng tôi. Anh phải khiến họ cuốn gói.

KB : Làm thế nào?

SB : Tôi nghĩ anh chỉ ngồi đó và đóng cửa họ. Đúng không?

KB : Theo luật nào?

SB : Chờ đã. Toàn bộ điều này là chuyện mọi người nói, ồ, họ không tệ đến vậy. Họ đang thúc đẩy văn hóa. Và họ đang giúp học sinh học tiếng phổ thông. Hey, chúng được tài trợ bởi PLA.

KB : Họ có phòng máy chủ ở Viện Khổng Tử. Cái quái quỷ gì đang xảy ra?

SB : Tất cả những điều này sẽ gây sốc cho người dân Mỹ. Đây là lý do tại sao người Mỹ không biết điều này. Bởi vì không ai đưa tin. Đã bao giờ Chương trình 60 Minutes tìm hiểu và thực hiện một chương trình về Viện Khổng Tử?

KB : Họ nên làm thế.

SB : Họ nên làm điều đó 20 năm trước. Lý do điều này được đặt ra bây giờ là có những người hiện đã chán với điều này. Và đó là lý do tại sao trong phong trào Trump này, đó là Donald Trump. Và khi ông ấy bước vào chính phủ thay đổi nó, thì hiện tại những người khác và những tiếng nói khác đang đến, và anh đang thấy một sự phản kháng thực sự. Nhưng cho phép điều này xảy ra tại các trường đại học của chúng ta? -Hãy huỵch toẹt ra. Tại sao luôn là Viện Hudson mời Miles Kwok (tỷ phú Trung Quốc lưu vong Quách Văn Quý), hoặc đêm qua là Mike Pence, và Tiến sĩ Pillsbury? Tại sao luôn là Viện Hudson? Tại sao không phải là các viện khác tổ chức các loại hội nghị như thế này?

KB : Vâng, bởi vì Trung Quốc đã trả tiền cho nhiều trong số họ.

SB : Điều cuối cùng có lẽ tôi sẽ kết thúc là Lưu Hạc, nhà chiến lược kinh tế cho Chủ tịch Tập. Và tôi đã có cơ hội biết ông ta và xây dựng một chút mối quan hệ. Ông ta là một người rất thông minh. Khi ông ta đến để tiến hành một cuộc đàm phán lớn nhưng không có kết quả vào tháng 6 năm ngoái, và ngay ngày đầu tiên, ông ta đã không đến Nhà Trắng lúc đầu. Ông ta cũng không đến Bộ Tài chính trước.

Ông xuất hiện, và ngay ngày đầu tiên, ông đã đến Đồi Capitol với “những nhât vật mậu dịch tự do” trong Đảng Cộng hòa. Hãy nhớ rằng, sự đả kích lớn nhất mà Trump nhận được trong chuyện này là từ đảng Cộng hòa. Chính đảng Cộng hòa đã phát điên. Ồ, bạn phải giao dịch tự do. Bạn phải làm thương mại tự do.

Tất cả các danh pháp mà chúng tôi đã sử dụng liên quan đến Trung Quốc luôn luôn bị bác bỏ kiểu như oh, đó là Trung Quốc. Và vì vậy tất cả các danh pháp chỉ là nói chuyện vô thưởng vô phạt. Và những từ đó không thực sự được hiểu đúng theo nghĩa của chúng.

Và chính những ngươi như anh, những người như Miles Kwok, những người như Tiến sĩ Pillsbury hiện bắt đầu đặt câu hỏi này. Và tôi nghĩ rằng anh thấy toàn bộ điều này: từ “tương tác đến đối đầu”.

Những gì họ đang ghim chúng ta lúc này là tương tác đối lại đối đầu. Và chúng ta đang được tô vẽ như là một bên chiến tranh, đúng không? Chúng ta là những kẻ điên rồ muốn gây chiến. Không. Điều chúng ta muốn kết thúc là một cuộc chiến kinh tế chống lại Hoa Kỳ.

Và nếu anh nhìn vào nhóm đang trong quá trình tương tác, tất cả những gì họ đang tương tác là bị lợi dụng bởi Trung Quốc trong các cuộc đối thoại kinh tế chiến lược vốn không dẫn đến đâu trong 25 hoặc 30 năm qua và đưa chúng ta vào tình thế nơi chúng ta bị phi công nghiệp hóa bởi một cường quốc bóc lột. Và chủ nghĩa tư bản bóc lột của Trung Quốc là những gì họ sẽ kiên trì theo đuổi.

Vì vậy, tôi không thể tự hào hơn về Tổng thống Trump.

Và đối với những người không nhìn thấy bài phát biểu đó, bài phát biểu đó sẽ đi vào lịch sử như một điểm uốn vì Mike Pence ngày hôm qua về cơ bản đã ném găng tay xuống và nói: Hey, không còn mấy trò tháu cáy nữa. Chúng tôi hiểu những gì các anh đang làm. Chúng tôi hiểu những mưu mô của các anh. Chúng tôi hiểu các anh có toàn lực của chính phủ chống lại chúng tôi. Và chúng tôi sẽ phản kích. Và chúng tôi sẽ thắng.

KB : Tôi đánh giá cao điều đó. Khi anh vào Bộ Thương mại, ngay phía trên lối vào nơi anh lái xe qua, có một câu trích dẫn từ Benjamin Franklin. Nó nói, thương mại phải công bằng và công chính. Và tôi nghĩ đó là điều chúng ta cần. Tôi không nghĩ chúng ta nên trừng phạt thái quá. Tôi không nghĩ chúng ta nên thù địch.

Tôi nghĩ chúng ta nên nói rằng chúng ta chỉ cần công bằng và thành thật trong mọi chuyện. Và những gì anh đang nói là chúng ta chưa thấy cái đó. Và đó cũng là điều chúng tôi tin. Và tin tốt là tôi nghĩ từ sáu tháng qua đến một năm qua, đỉnh điểm là bài phát biểu của Pence cách đây một ngày, xu hướng suy nghĩ đang thay đổi bất chấp mọi nỗ lực từ những người ở Trung Quốc. Cảm ơn anh vì đã đến đây hôm nay!

SB : Cảm ơn! Cảm ơn vì đã mời tôi! Thật tuyệt vời!

Cuộc chiến giữa các thế hệ – Phần III


Sự bất đồng giữa một cá thể mẹ và đứa con không phải là tuyệt đối mà mang tính định lượng, trong trường hợp này là sự bất đồng về vấn đề thời gian. Cá thể mẹ muốn nuôi dưỡng đứa con hiện tại của mình đến thời điểm mà sự đầu tư cho nó đã đạt đến phần “công bằng”, liên quan đến kỳ vọng sống của đứa con và mức độ cá thể mẹ đã đầu tư vào nó. Cho đến điểm này thì chưa có sự bất đồng nào. Tương tự như vậy, cả cá thể mẹ và đứa con đều đồng ý không muốn tiếp tục cho đứa con bú sau thời điểm mà cái chi phí cho những đứa trẻ tương lai nhiều hơn hai lần lợi ích dành cho nó. Nhưng sẽ có sự bất đồng giữa mẹ và con trong các giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn mà người mẹ thấy đứa con lấy nhiều hơn phần được chia của nó, tuy nhiên cái giá phải trả của những đứa trẻ khác vẫn ít hơn hai lần lợi ích nó được nhận.

Thời gian cai sữa chỉ là một ví dụ của vấn đề tranh cãi giữa mẹ và con. Nó cũng có thể được coi như sự tranh luận giữa một cá thể và tất cả những anh chị em chưa sinh của nó với người mẹ đảm nhận phần những đứa con chưa sinh của mình. Trực tiếp hơn, có thể sẽ có sự cạnh tranh giữa những đối thủ cùng thời để giành lấy sự đầu tư của cá thể mẹ, giữa những đứa trẻ cùng lứa hoặc cùng tổ. Ở đây, một lần nữa, cá thể mẹ lại phải lo lắng cho việc thực thi công bằng.

Nhiều con chim non được bố mẹ cho ăn trong tổ. Chúng đều há to miệng kêu gào, và bố mẹ chúng sẽ thả một con giun hoặc mẩu thức ăn khác vào cái mỏ đang há ra của một trong số chúng. Một cách lý tưởng, tiếng kêu của mỗi con non sẽ tỉ lệ thuận với mức độ đói của nó. Vì vậy, nếu chim bố mẹ luôn cung cấp thức ăn cho đứa kêu to nhất, chúng sẽ có xu hướng nhận những phần chia công bằng bởi vì khi một con non đã đủ no, nó sẽ không kêu to nữa. Ít nhất, đó cũng là điều sẽ xảy ra trong một thế giới lý tưởng nếu không có cá thể nào gian lận. Nhưng theo quan điểm của học thuyết gen vị kỷ, chúng ta phải lường trước được rằng sẽ có những cá thể gian lận, sẽ nói dối về mức độ đói của chúng. Điều này sẽ ngày càng gia tăng, lộ liễu và không có điểm dừng, bởi dường như nếu chúng đều lừa dối bằng cách kêu quá to, mức độ ầm ĩ này sẽ trở thành bình thường và kết quả là sẽ dừng việc nói dối. Tuy nhiên tiếng kêu sẽ không thể giảm xuống, bởi vì bất kỳ cá thể nào giảm âm lượng trong tiếng kêu của mình đầu tiên sẽ bị trừng phạt bằng cách bị cho ăn ít đi và có thể sẽ chết đói. Tiếng kêu của chim non không thể to mãi vì còn nhiều điều khác phải tính đến. Ví dụ, tiếng kêu to sẽ có thể thu hút vật ăn thịt và chính chúng cũng sẽ bị cạn kiệt năng lượng.

Đôi khi như chúng ta đã thấy, một cá thể còi cọc – thành viên của một lứa, thường nhỏ hơn nhiều so với những cá thể còn lại. Nó không thể đấu tranh giành thức ăn mạnh mẽ như những thành viên kia và thường sẽ chết. Chúng ta đã xem xét các điều kiện mà theo đó một cá thể mẹ thực chất sẽ có lợi khi để một cá thể còi cọc chết đi. Bằng trực giác, chúng ta giả định rằng cá thể còi cọc nên tiếp tục đấu tranh đến phút cuối cùng, nhưng về mặt lý thuyết thì không cần thiết phải dự tính điều này. Ngay khi cá thể còi cọc trở nên quá nhỏ bé và yếu đuối đến mức khả năng sống của nó giảm xuống điểm mà lợi ích thu được từ nó qua sự đầu tư của cha mẹ nhỏ hơn một nửa lợi ích mà sự đầu tư đó có thể đem lại cho những đứa con khác, cá thể còi cọc nên chết một cách tự hào và tự nguyện. Nó có thể đem lại lợi ích tốt nhất cho các gen của nó khi làm như vậy. Từ đây có thể nói, một gen mà đưa ra hướng dân “Cơ thể,nếu người quá nhỏ bé so với những cá thể đồng lứa, đừng cố gắng đấu tranh và hãy chết đi” sẽ có thể thành công trong vốn gen, bởi vì nó có 50% cơ hội có mặt trong các cơ thể của mỗi người anh chị em được cứu sống và dù sao thì cơ hội sống sót của nó trong cơ thể còi cọc là rất nhỏ. Có một điểm quyết định trong cuộc đời của một cá thể còi cọc. Trước khi đạt đến điểm đó, nó nên tiếp tục đấu tranh. Nhưng ngay khi tới điểm ấy, nó nên từ bỏ và tốt hơn cả là để những kẻ đồng lứa hoặc cha mẹ ăn thịt nó.

Tôi đã không đề cập đến điều này khi chúng ta thảo luận học thuyết về kích thước ổ của Lack, nhưng dưới đây là một chiến thuật hợp lý cho cá thể bố mẹ nào không quyết định được kích thước ổ tối ưu cho năm hiện tại. Cá thể mẹ có thể đẻ thêm một quả trứng so với số lượng mà nó “nghĩ” là mức tối ưu thực sự. Sau đó, nếu nguồn thức ăn cho năm đó tốt hơn mong đợi, cá thể mẹ sẽ nuôi thêm con. Nếu không, cá thể mẹ có thể cắt giảm mức thiệt hại của nó. Bằng việc luôn cẩn thận cho các con non ăn theo cùng một thứ tự, chẳng hạn như thứ tự về kích thước, kkhi cá thể mẹ thấy một đứa con, có thể là con còi cọc có thể sẽ nhanh chóng bị chết, con mẹ sẽ không phải tiêu tốn quá nhiều thức ăn cho nó ngoài những đầu tư về noãn trứng hoặc tương đương. Xét từ quan điểm của cá thể mẹ, đây có thể là sự giải thích cho hiện tượng con còi cọc. Nó đại diện cho sự nước đôi trong suy nghĩ của cá thể mẹ. Điều này đã được quan sát trong nhiều loài chim.

Sử dụng phép ẩn dụ các cá thể động vật như một cỗ máy sống, loại hành động như thể có “mục đích” để bảo tồn các gen của nó, chúng ta có thể nói về sự xung đột giữa cha mẹ và con cái, một cuộc chiến của các thế hệ. Một cuộc chiến tinh vi và không bên nào bị ngăn chặn bởi bên nào. Đứa con sẽ không mất cơ hội để gian lận. Nó sẽ cố tình tỏ ra đói hơn, có lẽ bởi những đứa nhỏ hơn đang ở trong tình trạng nguy hiểm hơn là tình trạng thực của nó. Do quá nhỏ và yếu đuối nên đứa trẻ không thể bắt buộc bố mẹ nó bằng sức mạnh. Tuy nhiên nó sử dụng tất cả những vũ khí tâm lý mà nó có: nói dối, lừa gạt, lợi dụng cho đến trước khi bắt đầu gây hại cho những họ hàng của nó nhiều hơn mức độ thân thuộc về di truyền cho phép. Mặt khác, các cá thể bố mẹ phải cảnh giác với sự dối trá và lừa gạt, và phải cố để không bị qua mặt. Điều này có vẻ như là một nhiệm vụ dễ dàng. Nếu bố mẹ biết rằng con cái của chúng sẽ nói dối về mức độ đói của chúng, nó có thể áp dụng chiến thuật cho ăn một lượng nhất định không hơn không kém, cho dù đứa con vẫn tiếp tục kêu. Vấn đề là con nó có thể không nói dối, và nếu nó chết vì không được ăn, cá thể bố mẹ sẽ mất đi một số gen quý. Các loài chim hoang đã có thể bị chết chỉ sau vài giờ bị bỏ đói.

A. Zahavi đã đưa ra một dạng đe dọa đặc biệt nham hiểm của đứa con: nó kêu gào như thể muốn thu hút những kẻ ăn thịt tìm đến tổ một cách có chủ ý. Đứa con “kêu lên”: “Cáo, cáo, hãy đến và ăn thịt ta”. Chỉ có một cách mà cha mẹ có thể ngăn nó kêu gào là cho nó ăn. Vì vậy, đứa con có thể hưởng nhiều hơn phần thức ăn công bằng của nó, nhưng cũng phải trả giá cho một số hiểm nguy đối với chính bản thân nó. Nguyên tắc của chiến thuật độc ác này cũng giống như chiến thuật của kẻ không tặc đe dọa cho nổ máy bay, với bản thân hắn trên đó, trừ khi hắn nhận được một khoản tiền chuộc. Tôi nghi ngờ liệu chiến thuật này có từng được ưa chuộng trong quá trình tiến hóa hay không, không phải bởi vì nó quá độc ác, mà bởi tôi nghi ngờ liệu nó có thực sự đem lại lợi ích cho đứa con thực hiện việc đe dọa. Nó bị mất quá nhiều nếu một kẻ ăn thịt đến thật. Điều này là rõ ràng đối với đứa con duy nhất, trường hợp mà Zahavi xem xét. Hông quan trọng việc mẹ nó đã đầu tư bao nhiêu vào nó, đứa con vẫn nên quý trọng mạng sống của mình nhiều hơn người mẹ bởi vì mẹ nó chỉ có một nửa gen của nó. Hơn thế nữa, chiến thuật này có thể sẽ không có lợi dù cho kẻ đe dọa là một trong những con non đang chịu nguy hiểm, tất cả cùng trong một tổ, bởi vì kẻ đe dọa cũng có 50% “tiền cược” di truyền trong mỗi anh chị em đang chịu nguy hiểm của nó, cũng như 100% tiền cược trong bản thân nó. Tôi giả sử rằng lý thuyết này sẽ ứng dụng được nếu kẻ ăn thịt có thói quen chỉ ăn con non lớn nhất trong một tổ. Lúc ấy, con nhỏ hơn sẽ có thể có lợi khi sử dụng sự đe dọa để gọi kẻ ăn thịt đến, vì nó sẽ không gây ra nguy hiểm nhiều cho chính ình. Điều này cũng tương tự với việc gí một khẩu súng lục vào đầu người anh của bạn thay vì đe dọa sẽ cho nổ tung bản thân bạn lên.

Hợp lý hơn, chiến thuật đe dọa có thể có lợi cho chim cu non. Như chúng ta đã biết rõ, các con cu cu mái đẻ trứng vào “tổ nuôi” và sau đó để cho những bố mẹ nuôi ngẫu nhiên, một loài hoàn toàn khác biệt, nuôn nấng chim cu cu non. Vì vậy, mỗi con chim cu cu non sẽ không có chung một phần di truyền nào với các anh chị em nuôi của nó (Chim cu cu non của một số loài sẽ không có bất kỳ anh chị em nuôi nào, vì một kế hoạch nham hiểm mà chúng ta sẽ đề cập đến. Hiện tại, tôi giả sử rằng chúng ta đang nói đến một trong những loài mà anh chị em nuôi cùng tồn tại với chim cu cu non). Nếu một con chim cu cu non kêu to đến mức đủ để thu hút những kẻ ăn thịt, nó sẽ mất rất nhiều thứ – mạng sống của nó – nhưng chim mẹ nuôi sẽ còn mất nhiều hơn, có lẽ là cả bốn con chim non. Vì vậy, chim mẹ sẽ có thể có lợi nếu cho chim con ăn nhiều, và lợi ích này sẽ cao hơn những hiểm nguy mà nó phải đối mặt.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.