Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần cuối


Homo Sovieticus (Mẫu người Xô Viết)

Daniel Lindenberg: Ông có tin rằng có lẽ còn hai yếu tố nữa có vai trò trong sự sụp đổ mà còn ít nói đến? Yếu tố thứ nhất, đó là sự chấm dứt hiện tượng đóng cửa. Tức là Liên Xô không còn có thể là một hệ thống đóng kín nữa: người ta không thể khóa chặt cửa toàn bộ một đất nước khi ở vào trình độ thông tin, giao thông liên lạc, trao đổi… như hiện nay. Yếu tố thứ hai mà ông ít nói đến là những vấn đề dân tộc. Ông có đề cập đến chúng khi miêu tả quá trình sụp đổ những năm 1989 – 1991, nhưng dường như ông lại nói nhiều hơn về Mẫu người Xô Viết (L’Homo Sovieticus), xuất phát từ ý tưởng rằng dần dần đã hình thành một mẫu người Xô Viết trong đó bản sắc dân tộc không hề còn quan trọng nữa. Có phải đó thực sự là điều ông quan niệm? Ông có nghĩ rằng đã có một Homo Sovieticus?

Martin Malia: Đúng về đại thể. Ngay cả khi anh ta nói tiếng Gruzia thì con người thuộc chủng loại Xô Viết ấy cũng phản ứng – tôi không nói là y hệt – nhưng là phản ứng giống như của một người Nga. Tôi đã biết có những Con người Xô Viết thuộc các dân tộc thiểu số như thế! Còn về những dân tộc thiểu số thì khi xem lại cuốn sách lần cuối cùng, tôi đã bổ sung thêm một vài điều về các dân tộc từ năm 1921, và tôi đã phác thảo sự hình thành của Liên bang Xô Viết, cũng như những diễn biến chính của chế độ Xô Viết ở Ukraine, và đó là vấn đề lớn giữa các dân tộc. Nhưng đơn giản là đứng về kết cấu bố cục của cuốn sách, nếu bàn về mọi vấn đề của Liên bang Xô Viết thì người ta sẽ mất đi sợi chỉ lớn xuyên suốt. Sợ chỉ đó chính là – có thể dùng nhan đề cuốn sách tuyệt vời của Heller và Nekrich để gọi tên nó – khi chính thể không tưởng nắm chính quyền… Và cái cơ sở dân tộc của chính thể không tưởng ấy chính là nước Nga: nếu nắm giữ được nước Nga thì người ta nắm được tất cả các nước còn lại chừng nào người tta còn đủ ý chí cưỡng bức. Breznhev đã bắt giữ những người dân tộc chủ nghĩa ở Ukraine, ở các nước Baltic và ở Gruzia: đó là những người Gamsakhurdia, Tchornovil, và tất cả những người khác.

Daniel Lindenberg: Đã có một hậu quả gậy ông đập lưng ông khoảng 15 hoặc 20 năm sau.

Martin Malia: Đúng vậy, nhưng nếu như Gorbachev vẫn giữ được ý chí cưỡng bức, thì ông ta đã có thể cho bắt giữ những người kế vị và đã có thể bình yên vô sự. Chừng nào họ còn có một lòng tin đủ vững chắc, một niềm tin đủ để đối xử với những đối thủ chính trị như kẻ thù giai cấp, thì họ có thể giữ vững chính quyền.

Daniel Linderberg: Tuy nhiên, có một vấn đề khi dùng thuật ngữ mẫu người Xô Viết đó là vấn đề là nó chưa bao giờ được xác định. Có thể nói rằng đã có một mẫu người Xô Viết ở trình độ giới thương lưu, một cách hoàn toàn, và cả đến bây giờ vẫn có. Vấn đề dân tộc, đó không chỉ là vấn đề của cái ông gọi là những dân tộc thiểu số, mà chính là vấn đề Nhà nước. Theo cách tiếp cận của ông – đối với mô hình cực quyền ở nước Nga, thì đó là một Nhà nước cực kỳ hùng mạnh, tập trung cao độ. Vấn đề đặt ra là, vào thời kỳ Breznhev, bây giờ người ta hiểu rõ điều đó hơn, Nhà nước Liên Xô đã không vững chắc như thế, không tập trung cao như thế. Chính ở đây hiện tượng dân tộc, theo tôi làm cho chúng ta quan tâm hơn trong khuôn khổ cuộc tranh luận của chúng ta. Cũng không phải là như thế nếu với tư cách vấn đề bản sắc dân tộc; mà đây chính là vấn đề Nhà nước. Đó là một Nhà nước được xây dựng vào những năm 1920, dưới một hình thức giả – liên bang, với việc xây dựng một hiến pháp, những văn bản, trái ngược với mọi mong đợi, đã đem lại hình thức cho những thực thể cộng hòa. Giới thượng lưu cộng sản, ở mỗi nước cộng hòa của Liên bang Xô Viết và ở các khu tự trị, bắt đầu tự trị, tức là bắt đầu phát triển những lợi ích riêng và, người ta đã cảm thấy rõ điều đó trong lịch sử những năm 1960 – 1990, đã góp phần vào việc sử dụng một khoảng trống nhất định được tạo ra do một Nhà nước ngày càng kém tập trung hơn trên thực tế, và chiếm lấy khoảng trống đó do giới thượng lưu ở Moskva để lại, một giới thượng lưu mà ông miêu tả như đã suy sụp. Vậy, phải chăng thực ra ông đã tin rằng Nhà nước Xô Viết đã kém hùng mạnh, kém tập trung từ những năm 1950 – 1960 với việc giới thượng lưu ở các nước cộng hòa và các khu tự trị thiết lập một mối quan hệ dọa dẫm với trung ương?

Martin Malia: Về đại thể tôi tán thành bức tranh mà ông vừa phác ra. Và tôi tin rằng thực ra tôi đã nói về những giới thượng lưu địa phương đã đứng tự trị bằng một “quan hệ dọa dẫm” – một công thức tuyệt vời của ông. Nhưng hãy trở lại vấn đề cơ bản: “Nhà nước bá quyền”, tôi tin rằng tôi đã định nghĩa hệ thống cực quyền một các khá rõ ràng trong cuốn sách của tôi: tôi đã không nói rằng chế độ Xô Viết là bá quyền, mà nó “có thẩm quyền ở mọi nơi” trong cấu trúc của nó, nếu không phải là trong công việc hàng ngày. Và cấu trúc đó là như sau: Nhà nước Xô Viết không phải là một Nhà nước thông thường, mà một Nhà nước – đảng, trong đó chính quyền “xô viết” cấu thành một loại dây chuyền cho một hội kín, đó là đảng; và đảng lại còn tập trung hơn cả Nhà nước. Hơn nữa, không có nền kinh tế trong hệ thống này, bởi vì không có thị trường; chỉ có một hệ thống sản xuất theo sự chỉ huy hành chính. Thứ ba, có cổ động tuyên truyền ở khắp nơi. Chỉ có một đường lối tư tưởng duy nhất, tất cả đảng viên, tổ chức thành chi bộ, đều bắt buộc phải học thuộc lòng nó, trong tất cả các nước cộng hòa, và nó có mặt trên tất cả các báo. Cuối cùng là có một hệ thống cảnh sát chính trị ở khắp nơi. Đó chính là kết cấu cơ sở của hệ thống cực quyền. Tất nhiên là hệ thống này không bao giờ có thể kiểm soát toàn bộ mọi mặt đời sống của đất nước. Điều đó đơn giản là không thể làm được. Ví dụ như, cho đến năm 1930, giai cấp nông dân về cơ bản vẫn thoát ra khỏi sự kiểm soát của Nhà nước. Chính sách tập thể hóa, cùng với những chính sách khác, là sự chinh phục nông thôn của Nhà nước – Đảng. Tất nhiên là người nông dân đã đi đến chỗ giành lấy những mảnh đất cho riêng họ từ tay Stalin. Và sức ép của những tù nhân các trại tập trung, sau khi Stalin qua đời, đã buộc đảng phải giải thể hệ thống trại lao động cải tạo. Đó là hai ví dụ lớn về thay đổi do áp lực từ bên dưới. Về sau này, việc dân chúng bất bình đã buộc Khrushev và Breznhev phải đầu tư những món tiền lớn, song lại với kết quả rất nghèo nàn, vào việc cải tiến nông nghiệp.

Vậy, khái niệm “chế độ cực quyền” của tôi không có nghĩa là một Nhà nước bá quyền về thực tế, mà là một hệ thống bao quát về mặt cơ cấu tất cả mọi chức năng của xã hội. Như vậy khái niệm “chế độ cực quyền” của tôi là một kiểu “loại hình lý tưởng”, chưa được thực hiện hoàn hảo trong thực tế kinh nghiệm.

Và cái mô hình chế độ cực quyền đa năng, với tư cách một loại hình lý tưởng, là rất cần thiết để hiểu chế độ xô viết và sự sụp đổ của nó. Bởi vì người ta không thể sửa đổi một hệ thống “tổng thể” vượt ra ngoài một số ranh giới nhất định mà không làm nó sụp đổ hoàn toàn. Nhưng khía cạnh không được phép đụng đến của hệ thống là: vai trò lãnh đạo của Đảng, nói cách khác là bá quyền của Nhà nước – Đảng, kế hoạch hóa kinh tế độc quyền, cảnh sát chính trị và ý thức hệ bắt buộc. Đó là bốn trụ cột thiết yếu của hệ thống. Người ta có thể không cần đến những người dẫn đường cỡ lớn không cần đến Lenin và Stalin, đến hiện thực XHCN, và đến ngay cả trại lao động cải tạo mà hệ thống Nhà nước vẫn tồn tại. Nhưng nay khi người ta đụng đến một trong bốn cây trụ cột kia, thì ba trụ cột còn lại cũng sụp đổ theo.

Daniel Lindenberg: Những điều mà ông lý giải rất hay trong cuốn sách là đã có một bước ngoặt lớn vào thời điểm mà mọi người không còn bị khủng bố nữa. So với điều đó thì mô hình bốn cột trụ mà ông miêu tả trở nên tầm thường. Ngược lại, ông đã gán một tầm quan trọng lớn cho quan niệm về một chỉnh thể không tưởng, về một lý tưởng vẫn tồn tại sau Stalin…

Martin Malia: Đúng vậy, và điều đó rất quan trọng. Chính cái chỉnh thể không tưởng đã tạo ra được một sự cưỡng bức ở quy mô chưa từng thấy. Chính đó là cái phân biệt Liên Xô với một tướng Stroessner ở Paraguay, hoặc một Idé Amin Dada chẳng hạn. Do không có cái chính thể không tưởng ấy, các nhà độc tài kiểu cổ điển này không thể làm được những điều mà Lenin và Stalin đã làm, cũng không thể đứng vững được ba phần tư thế kỷ. Bởi vì một KGB theo nếp cũ đã thay thế cho hệ thống trại lao động cải tạo.

Daniel Lindenberg: Liệu ông có tán thành nói rằng giờ đây chúng ta nhìn thấy thắng lợi gần như ở khắp nơi của tầng lớp thượng lưu cũ không? Phải chăng là tất cả đã thật sự sụp đổ vào năm 1991, phải chăng đó là cuộc cách mạng đã nổ ra trong vài ngày của tháng 8/1991, khi một vài người, chứ không phải là một phong trào quần chúng, cúo cùng đã làm thất bại cú đảo chính của những kẻ thiếu kinh nghiệm mà ông đã miêu tả rất hay trong cuốn sách của ông?

Martin Malia: Họ xử sự như những kẻ không chuyên bởi vì họ không còn dũng khí nữa, vì họ thiếu một chính thể không tưởng đáng tin cậy. Còn về câu hỏi chính của ông, mặc dầu lớp cán bộ cũ vẫn có mặt ở khắp nơi, song không thể nói tới một sự phục hồi của hệ thống cũ.

Daniel Lindenberg: Chắc chắn là không. Nhưng liệu có phải tất cả đã sụp đổ không?

Martin Malia: Có và không. Cái bản chất cốt yếu của hệ thống cũ đã sụp đổ: Đã không còn nữa một đảng có tổ chức, cũng không còn nữa một Nhà nước – Đảng. Những người cộng sản có mặt ở khắp nơi, nhưng không còn CNCS nữa. Không còn ý thức hệ bắt buộc nữa, cũng không còn nữa một chính thể không tưởng để biện minh và một đội quân cảnh sát chính trị ở khắp nơi nữa. Trái với một số báo chí phương Tây gây lo sợ trong khi trích dẫn các nhà báo Nga bị kích động, đã không có sự phục hồi của KGB. Cơ quan KGB mới rút cục đã có quyền kinh doanh. Và có thể nói chính xác rằng trật tự mới ở nước Nga có thể gọi là một CNTB thực danh, một xã hội thực danh có thị trường và sở hữu tư nhân. Giới thượng lưu cao cấp cũ vẫn nắm chính quyền, nhưng việc họ biến các bộ ngành thành những khối liên kết xung quanh một ngân hàng, và việc thủ tướng Tchernomyrdin giờ đây là một cổ đông chủ chốt trong ngành công nghiệp dầu khí cũ của ông, đã làm biến đổi vai trò và công việc của ông ta. Giờ đây chúng ta có một xã hội xô viết thị trường với một quyền tự do ngôn luận rất rộng rãi ở trong nước.

Daniel Lindenberg: Cũng có một tự do hỗn loạn rất rộng rãi nữa.

Martin Malia: Đúng vậy, hầu như ta có thể nói rằng không có Nhà nước. Nói rằng Elsin là tổng thống một Nhà nước đang cai trọ một cách có hiệu lực lãnh thổ của ông ta là không đúng. Có một chính quyền có một đồng rúp, có một hệ thống đường sắt trong cả nước, có giấy hộ chiếu, nhưng không có một quyền lực Nhà nước thật sự đứng vững. Hơn nữa, đây là một sự hỗn loạn pha trộn những yếu tố xô viết cũ với một CNTB hoang sơ. Hệ thống hiện nay ở nước Nga còn hoang sơ hơn nhiều so với hệ thống đã thấy ở phương Tây, ngay cả ở thời đại kinh tế tự do của thế kỷ 19.

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần III


Nhưng trên thực tế những người lãnh đạo vẫn tin tưởng vào điều đó. Người ta vừa mới công bố những thư gửi Molotov của Stalin, và thật cực kỳ rõ ràng là ông tin vào ý thức hệ trong những năm 1920 – 1930. Niềm tin ấy là như sau : chừng nào CNXH Bonsevich còn giới hạn trong một nước duy nhất, thì nó cần phải hùng mạnh ; chính vì điều đó mà phải công nghiệp hóa hàng loạt. Cần phải xây dựng nên sức mạnh của Nhà nước Xô viết để bảo vệ CNXH, và CNXH là một phương thức làm cho Nhà nước Xô viết trở nên hùng mạnh. Rõ ràng có một sự lộn xộn trong đầu óc ông ta giữa một Nhà nước Nga Xô viết mạnh và thắng lợi trên toàn thế giới của CNXH.

Điều đó không có nghĩa là ông ta suy nghĩ một cách nghiêm túc về điều phải làm nếu nổ ra một cuộc cách mạng ở nơi khác. Nhưng sự thực về việc ông tin vào khả năng của những cuộc cách mạng bên ngoài đã được chỉ rõ bởi chính sách kỳ cục đối với nước Đức vào đêm trước năm 1933. Tôi đang nói về chính sách đấu tranh chống bọn « phát xít – xã hội », chính sách này quay trở lại liên minh, nhiều hay ít, với bọn phát xít để chống lại những người xã hội – dân chủ theo một phép loại suy sai lầm với nước Nga năm 1917 khi vụ Kornilov đã mở đường cho những người Bonsevich và kẻ thù là những người « xã hội – phát xít » thời đó, tức là người Mensevich. Lại một lần nữa Stalin, trong cuốn sách nhỏ cuối cùng của mình, Những vấn đề kinh tế của CNXH, soạn thảo trước khi qua đời, đã nhấn mạnh sự thực là « kế hoạch » (nghĩa là hệ thống chỉ huy hành chính) thì có hiệu năng cao hơn hệ thống TBCN và nó sẽ đem lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh toàn thế giới giữa hai hệ thống. Chúng ta hãy lấy trường hợp đơn giản hơn của Khrushev. Trong cương lĩnh mới của đảng được thông qua năm 1961, ông đã thể hiện thực chất của mình là một người Leninnit vào thời kỳ khởi đầu của chế độ, tin tưởng rằng CNTB đang sắp tàn lụi và CNXH là làn sóng của tương lai : « Chúng tôi sẽ chôn vùi các ông, con cái các ông sẽ sống dưới chế độ CSCN ».

Marie Mendras : Điều này không nói lên rằng ông ta tin vào đó : Ông ta cũng đã khâm phục những cánh đồng ngô ở Mỹ.

Martin Malia : Những cánh đồng ngô ư? Đồng ý, còn cách tổ chức chúng theo phương thức tư bản chủ nghĩa thì không. Tôi trở lại một lần nữa cương lĩnh thứ ba của đảng ở Đại hội XXI, năm 1961, và đó là một văn kiện leninnit ngây thơ. Nó tin thực sự bằng cách nhà nước hóa tất cả người ta sẽ đi tới hình thức cao nhất của kinh tế và đem lại thắng lợi trên toàn thế giới.

Marie Mendras: Ông không tin rằng chuyện đó đã trở thành nghi thức rồi ư?

Martin Malia: Không, chắc chắn không. Và đó không phải duy nhất ý kiến của tôi. Ví dụ như Richard Lowenthal, ông hiện nay đã mất, để nhấn mạnh điều này trong một bài báo nổi tiếng: “Từ không tưởng đến phát triển”. Còn về Breznhev và êkíp của ông ta, những ý kiến, những niềm tin cá nhân của những người lãnh đạo vào thời kỳ đó không còn có tầm quan trọng lớn nữa, bởi vì hệ thống đã được xếp vào đúng vị trí từ lâu và vận hành theo cơ chế điều khiển tự động. Nhưng có những người xung quanh ông ta tin tưởng điều đó: ví dụ Suslov, một lãnh tụ ý thức hệ, đã là một tham gia “Ủy ban nông dân nghèo” năm 1918, đã tham gia “xây dựng CNXH” dưới thời Stalin – và đã trở thành Khrushev, người vệ sĩ dữ dằn của tổ tiên thời kỳ nội chiến và của cả kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Và ngay cả Breznhev cũng là một sản phẩm thuần túy của hệ thống Stalin, người đã khởi đầu công danh của mình như một nhân vật hạng hai của Khrushev. Ở đa số những người có một sự pha trộn của niềm tin với sức ì, nhất là từ năm 1939. Gorbachev không còn tin nhiều nữa vào hệ thống chỉ đạo hành chính mà tin vào “những giá trị nhân bản phổ biến” hơn là tin vào cuộc đấu tranh giai cấp; nhưng ông ta cũng tin rằng Cách mạng tháng Mười đã tạo nên bước ngoặt lịch sử quyết định và không thể đảo ngược được nữa. Vậy là, vẫn còn cái gì đó là tư tưởng tri cho tới giờ phút cuối cùng.

Một thất bại tuyệt đối

Daniel Lindenberg: Ông có ngạc nhiên, giống như François Furet, về sự sụp đổ bất ngờ của CNCS và về một điều là CNCS, với kết cục của nó, đã không để lại một di sản tích cực nào? Ông có cùng một quan điểm ấy không?

Martin Malia: Về đại thể, tôi đồng ý cho rằng thất bại của Liên Xô là mang tính toàn diện. Furet đã lập luận bằng cách so sánh với cách mạng Pháp: nếu như cuộc Cách mạng Pháp phá vỡ nhiều điều thì nó cũng đã tạo ra nhiều điều tích cực, trong khi cuộc Cách mạng Nga, với nhiều đổ vỡ hơn lại không sáng tạo được gì cả: không một thiết chế nào, không một truyền thống nào có thể sử dụng được, không một tuyên ngôn về quyền của người lao động hoặc của người bị bóc lột ở thế giới thứ ba chẳng còn gì để lại cả.

Tôi có bất ngờ vì sự sụp đổ không? Có và không. Về tốc độ phá vỡ nhanh chóng tất cả thì đúng là tôi bị bất ngờ. Nhưng nội dung của những gì đã diễn ra thì không. Tôi đã ở Ba Lan trong thời kỳ của Công đoàn Đoàn kết, nơi mà lần đầu tiên tôi thấy một xã hội XHCN toàn vẹn hầu như đổ nát hoàn toàn, và tôi tự nhủ : Rút cục, những hệ thống này không phải là bất tử ». Khi tôi đi Moskva, lần đầu tiên từ 25 năm nay, đúng vào giữa thời kỳ cải tổ, năm 1988, tôi cũng đã có cùng một ấn tượng như vậy. Trước đó, tôi cũng đã bị thuyết phục chút ít bởi những ông bạn đồng nghiệp vốn là người yêu thích Gorbachev ở Hoa Kỳ, cho rằng ở Nga đang diễn ra một cái mới nào đó, nhưng tôi vẫn không chia sẻ ý kiến của họ cho rằng lần này những người cải cách nhất định đi đến chỗ biến đổi hệ thống mà không phá hủy nó. Tuy nhiên, tôi đã hơi do dự trong niềm bi quan của mình. Nhưng chỉ cần 15 ngày, không hơn, khi tôi ở Moskva, cũng đủ để tôi kết luận rằng Gorbachev là một thầy phù thủy đang học nghề : chính sách công khai đang phá hủy toàn bộ những huyền thoại ý thức hệ của hệ thống và do vậy, đã phi hợp pháp hóa « CNXH hiện thực ». CNCS Xô Viết là một hệ thống mà người ta không thể nói lên được sự thật gì về nó và tuy nhiên vẫn phải duy trì cơ cấu hạ tầng của nó. Vậy thì, cái sự thật về công khai chính là cái hôn của tử thần dành cho hệ thống. Thế là từ đó tôi không còn bị bất ngờ về triển vọng sụp đổ ấy, thậm chí còn coi đó là triển vọng gần : Nhưng khi sụp đổ xảy ra th2i sự nhanh chóng của nó cũng cứ vẫn làm tôi bị bất ngờ.

Daniel Lindenberg : Trong cùng một quan điểm, phải chăng ông cũng như Furet, nhấn mạnh một điều là sự sụp đổ đã đến từ bên trong và thậm chí từ phía những người lãnh đạo ? Furet nhấn rất mạnh một điều là nghịch lý lại ở chỗ sự kết thúc của chế độ là công việc của một bộ phận giới thượng lưu cao cấp của hệ thống. Ông có tán thành với luận điểm ấy không và điều đó sẽ có hậu quả gì về sau ?

Martin Malia : Đúng vậy, khủng hoảng chỉ có thể bắt đầu từ cấp cao. Trong một hệ thống cộng sản tập trung hóa, chính do cấu trúc của nó mà những sáng kiến lớn chỉ có thể xuất phát từ cấp cao. Điều này không ngăn cản việc đôi khi những quyết định của những người đứng đầu của đảng lại do sức ép của cơ sở, ví dụ như những người nông dân đã buộc Lenin phải thực hiện một bước lùi vào năm 1921. Cuộc cải tổ chỉ có thể đến từ cấp cao, và vấn đề là tìm hiểu xem vì sao nó lại được đưa ra.

Tất cả các nhà lãnh đạo Liên Xô – không chỉ Breznhev, Suslov, Ustinov và phe cánh của họ, mà còn cả Gorbachev và ngay cả những người thuộc phái tự do ở Moskva – đều rất thiết tha với « vị trí » siêu cường của Liên Xô. Đồng thời, họ cũng thấy rằng hệ thống chỉ huy hành chính đem lại những kết quả ngày càng không đủ để cung cấp cho những nhu cầu của siêu cường thế giới này. Hơn nữa, tôi nói thêm – và đây không phải ý kiến riêng tôi, mà của nhiều nhà quân sự xô viết – rằng thật là khó nhận lời thách thức của cuộc chiến tranh giữa các vì sao, phần vì tốn kém, phần vì tính phức tạp của nhiệm vụ này. Vậy là những người lãnh đạo cởi mở nhất, Gorbachev và Iacovlev cũng như nhiều nhà chuyên môn trong Ban chấp hành trung ương, đã kết luận rằng cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt trong thời kỳ Breznhev là một sự xa xỉ mà Liên Xô không thể trả giá được. Vì vậy cần phải có một thời kỳ tạm nghỉ ngơi để cho hệ thống có thể thoát ra khỏi tình trạng « trì trệ » về kinh tế của thời kỳ Breznhev, nếu đất nước muốn phát triển mọi khả năng để giữ vững địa vị thế giới của mình.

Nhưng chính quyền đã thật sự không có một chương trình để dẫn đến sự đổi mới nền kinh tế. Tất nhiên những người lãnh đạo biết cần phải có một chút ít thị trường, nhưng đến mức nào ? Họ cũng biết rằng cần phải có một chút tự do hơn nữa, nhưng ở đây cũng thế, đến mức độ nào ? Họ cũng dự kiến được một chút chế độ tham gia chính trị, nhưng điều đó có thể cho phép đi đến đâu – tất cả đều là điều bí ẩn. Vậy là ngòi nổ làm sụp đổ hệ thống chính là sự xuống dốc của nền kinh tế, nó đe dọa làm mất đi vai trò cường quốc quốc tế, điều ấy đã thúc đẩy chế độ này cấp nhận một chút thị trường, chấp nhận tính công khai và dân chủ, và sự thật một khi được giải thoát ấy đã cực kỳ nhanh chóng làm sụp đổ tất cả hệ thống.

Marie Mendras : Tính công khai đã làm sụp đổ cải tổ.

Martin Malia : Đúng vậy, bởi vì tính công khai đã đào chân móng làm đổ cái nền của chế độ, bởi vì rút cục, đó không phải là một chế độ bình thường, hoặc một chế độ chuyên chế thông thường mà là một chế độ tự tuyên bố là « xã hội chủ nghĩa » như vậy là « cao » hơn, tiến bộ hơn CNTB, với một nền kinh tế sản xuất ra nhiều hơn Phương Tây. Nhưng với chính sách công khai, dân chúng được biết rằng tình hình đã trở nên xấu hơn trước đây. Nói ngắn gọn, tất cả những hứa hẹn trước đây của hệ tư tưởng đều là giả dối. Và vì sức mạnh toàn năng của đảng được biện hộ bởi những lời hứa hẹn ấy, và vì chế độ đã dựng nên những kết cấu do học thuyết mang lại từ quá lâu rồi, nên tất cả cùng sụp đổ một lượt. Thiếu vắng hệ tư tưởng thì ý chí cưỡng bức cũng biến mất. Đáng ra Stalin đã phải xử tử hàng loạt « những người dân chủ » ở Hồng trường.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần II


Nói tóm tắt thì chặng đường này là như sau : những người Bonsevich lên nắm chính quyền vào năm 1917, với sơ đồ lịch sử marxist cổ điển trong đầu họ : CNXH kế tiếp sau CNTB. Tuy nhiên, được phép làm một cuộc cách mạng ở Nga bởi vì nước Nga là khâu yếu nhất của hệ thống đế quốc chủ nghĩa thế giới. Và cuộc cách mạng ở phương Tây, nhất là ở Đức, sẽ đến tiếp sau để hợp pháp hóa cuộc cách mạng nổ ra hơi sớm một chút ở Nga. Nhưng sự tiên đoán đã tỏ ra sai lầm. Thế thì người ta đã làm gì trong trường hợp bất ngờ ấy ? Và đây là những người Bonsevich, trong một nước mà nông dân chiếm ưu thế, còn giai cấp vô sản là thiểu số. Vả lại, đảng Bonsevich thực sự không là một đảng vô sản, mà là một đảng trí thức. Thêm vào đó, nước Nga năm 1917 chỉ là một nước ở vào giai đoạn đầu tiên của CNTB, thậm chí người ta còn có thể nói rằng cuộc chiến tranh năm 1914 và cuộc cách mạng đã làm cho sự lạc hậu của nước Nga trầm trọng hơn. Nước Nga vào năm 1914 đã hiện đại hơn nước Nga năm 1917 – 1918. Vậy thì người ta phải làm gì trong tình hình CNXH thắng lợi ở Nga mà không kéo theo một cuộc cách mạng ở phương Tây ? Tất nhiên là những người Bonsevich sẽ không rút lui. Thế là họ áp đặt quyền lực của họ trong thời gian nội chiến 1918 – 1921, và thậm chí lúc đó họ đã có ý định – ngay từ thời Lenin – xây dựng « CNXH trong một nước duy nhất ». Vào thời kỳ đó, họ đã không dùng công thức ấy, nhưng đó thật sự chính là họ đang thử làm trong thực tiễn. Bởi vì họ đã lợi dụng một thực tế là kinh tế và xã hội công dân ở Nga đã bị tiêu tan trong quá trình nội chiến để cố gắng thay thế chúng bằng một hệ thống kinh tế nhà nước : một nền kinh tế chiến tranh dưới sự độc tài của đảng. Nhưng chính sách này chỉ đẩy nhanh thêm sự suy sụp của nền kinh tế và xã hội công dân do cuộc đại chiến gây ra ; kết quả là nước Nga, vào lúc những người Bonsevich giành được thắng lợi hoàn toàn, chỉ còn là một cảnh hoang tàn.

Khi đó vào năm 1921, những người Bonsevich bắt buộc phải thực hiện một bước lùi bằng cách đưa ra chính sách NEP, nghĩa là rút cục họ chấp nhận sẽ xây dựng CNXH trong một nước duy nhất. Song điều đó không hề bao hàm việc từ bỏ chủ nghĩa Marx. Đối với họ, sơ đồ marxist vẫn luôn luôn rất quan trọng, ngay cả đối với Stalin. Sau năm 1921, lập luận của họ là như sau – và vào thời kỳ đó lý lẽ ấy tỏ ra khá hợp lý : CNTB đã được ổn định, nhưng một ngày kia sẽ có một cuộc khủng hoảng mới – và đã có một cuộc khủng hoảng thật vào năm 1929 ; cũng một ngày nào đó sẽ có một cuộc chiến tranh mới – và đã có thật, một cuộc chiến tranh vào năm 1939. Cuộc chiến tranh này không phải là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa theo nghĩa của Lenin nhưng nó đã nổ ra thật sự. CNTB vậy là chỉ có thể ngày càng được ổn định và vững chắc và trong khi chờ đợi thì đảng Bonsevich phải bảo vệ thành quả cách mạng trong một nước duy nhất mà ở đó cách mạng đã thành công, tức là ở nước Nga.

Và hơn nữa, họ đã tin vào điều đó

Và để được như thế, trong hoàn cảnh bị bao vây, thì nước Nga XHCN cần phải hùng mạnh, bởi vì chỉ cần sự tồn tại của nó cũng đã là một thách thức và đe dọa đối với CNTB. Vậy phải đẩy nhanh việc xây dựng CNXH trong một nước duy nhất và đó chính là ý nghĩa của cuộc đại « cách mạng từ bên trên » của những kế hoạch 5 năm của Stalin vào những năm 1930. Điều đó không có nghĩa là Stalin vào những năm 1930 đã từ bỏ cuộc cách mạng thế giới, từ bỏ chủ nghĩa Marx, từ bỏ ảo tưởng ; đúng hơn điều đó có nghĩa là sau 1929 tất cả nghị lực của hệ ý thức không tưởng được hướng vào công cuộc xây dựng đất nước.

Marie Mendras : chúng tôi thích trở lại định đề xuất phát ở cuốn sách của ông mà ông vừa mới khẳng định lại, đó là : những người xô viết là những nhà marxist và vì vậy họ có một ý thức hệ tổng thể. Ông đã sử dụng trong cuốn sách thuật ngữ « CNXH toàn vẹn » mà đối với ông là đồng nghĩa với chế độ cực quyền. Theo ông thì vào cuối những năm 1930, Stalin tin vào cuộc cách mạng thế giới, tin vào Marx. Điều này đáng phải thảo luận kỹ, nhưng chúng tôi muốn trở lại ý tưởng này là vì đã có một sự phân cực trong Xô viết học, đặc biệt Xô viết học Anglo-Saxon, xung quanh mô hình cực quyền và mô hình cải lương – xét lại, và vì mô hình cải lương đã thất bại, nên ông là người có lý : Liên Xô trong 70 năm qua đã là chế độ cực quyền, vì cực kia đã nhầm lẫn. Tôi tin rằng việc cực kia đã tỏ ra sai lầm và việc Liên Xô với tư cách nhà nước Xô viết đã sụp đổ vào năm 1991 không có nghĩa là một cách tự động tất cả những dữ liệu của mô hình cực quyền phải nhất thiết được chấp nhận mà không phải tranh cãi gì. Thật sự ông có nghĩ rằng  những nhà lãnh đạo này – từ những năm 1930, nhưng nhất là từ khi Stalin mất, vào lúc mà còn khá dễ hiểu người ta phản ứng như thế nào, khi chế độ độc tài không còn nữa – tin vào sự không tưởng ? Trong toàn bộ tác phẩm của ông, ông nói về những người lãnh đạo như những người có một lòng tin, tin vào CNXH, tin vào Marx, tin đến cùng vào không tưởng và muốn thực thi nó. Phải chăng chỉ có thể nghĩ rằng bắt đầu từ những năm 1930, người ta đang ở trong một hệ thống ngoại lệ, và rằng trong thực tế không thể nói được Stalin, Béria và những người khác tin vào cái gì, chừng nào hệ thống còn là độc tài ? Từ những năm 1950 và nhất là những năm dưới thời Breznhev mà ông nói đến tương đối ít, người ta có ấn tượng nhiều hơn về một Liên Xô không còn lòng tin nữa, đã phi ý thức hệ hóa và ngay cả đến công thức mà ông dùng rất nhiều, công thức « đảng – ý thức hệ trị » cũng không còn hoàn toàn thích hợp. Phải chăng thực ra là ông đã quá thổi phồng cái ưu thế của ý thức hệ, và niềm tin của những người lãnh đạo vào một chủ nghĩa xã hội toàn vẹn ?

Marlin Malia : Tất cả những nhà lãnh đạo Xô viết đều sống trong không tưởng theo nghĩa họ chấp nhận CNXH như đã được Marx định nghĩa. Điều đó không có nghĩa đây là những nhà không tưởng ôn hòa đang mơ tưởng về một xã hội tương lai rực rỡ. Đối với họ, CNXH là sự phủ định CNTB một cách rất cụ thể, mà bản chất của CNTB là sở hữu tư nhân. Đó là định nghĩa của Marx, định nghĩa của mọi CNXH châu Âu cho đến tận sau Đại chiến thế giới thứ II. Công Đảng Anh đã từ bỏ sở hữu xã hội chỉ mới được vài tháng nay. Đảng Xã hội Pháp chưa bao giờ từ bỏ sở hữu xã hội, ít nhất xét về mặt công khai nói ra. Đảng Xã hội Đức chỉ từ bỏ nó vào năm 1954, những người xã hội Tây Ban Nha vào năm 1974. Quan niệm về CNXH này như là một sự kết thúc tuyệt đối của chế độ sở hữu tư nhân, của tiền tệ, thị trường… cũng đúng là quan niệm của Engels, của Marx, của Kautsky và của cả Đệ nhị Quốc tế.

Nhưng học thuyết này chưa bao giờ được các đảng của Đệ nhị Quốc tế áp dụng cả, bởi vì họ muốn có đa số tuyệt đối ở Nghị viện (như Allende) trước khi chuyển từ không tưởng sang hành động thực tế. Khốn nỗi người ta sẽ không bao giờ có được đa số tuyệt đối ở Nghị viện với một chương trình quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế. Và ngay cả khi người ta có được một đa số như thế và thử đem áp dụng chương trình ấy thì người ta sẽ chỉ gây ra một cuộc nội chiến. Lúc đó Lenin đã chọn một chiến lược khác với những người cầm đầu Quốc tế II. Ông đã hiểu rằng không thể chỉ phó thác cho riêng giai cấp công nhân thực hiện việc đoạn tuyệt với CNTB, mà cần phải có một đảng của những người giác ngộ hệ tư tưởng khoa học để đi tới mục đích đó. Và một mục đích như thế, được thực hiện bởi một đảng như thế, đó là đỉnh điểm của chủ nghĩa không tưởng.

Nhưng trong thực tiễn những phương tiện Leninnit không đem lại những kết quả giải phóng đã trù tính trước : trái lại chúng dẫn đến sự cưỡng bức thường xuyên. Và sự cưỡng bức ấy buộc phải là thường xuyên vì thị trường và sở hữu tư nhân có xu hướng quay trở lại không thể cưỡng được. Như thế Đảng phải nắm chính quyền mãi mãi. Lenin tin như đinh đóng cột vào nguyên tắc này : đối với ông, cho phép người nông dân trao đổi, đó chính là tái sản sinh ra CNTB, một điều thật đáng sợ, dường như những người nông dân nghèo là những con « cá mập » của phố Wall.

Tuân theo lập luận mang tính hệ tư tưởng đó, từ 1933 – 1934 Đảng đã thực tế xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân, lợi nhuận thị trường. Kể từ những ngày đó, hạ tầng cơ sở không thay đổi. Cả Stalin lẫn Khrushev và Breznhev không ai có nhu cầu phải tin một cách tích cực vào ý thức hệ : hệ thống tư tưởng trị đã đứng vững và từ đây nó tự mình vận hành độc lập. Chính theo nghĩa này mà hệ thống vẫn mang tính tư tưởng tri cho đến giây phút cuối cùng của nó.

(còn tiếp)

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần I


Martin Malia

Marie Mendras (Me): Thưa ông Martin Malia, cuốn sách gần đây nhất của ông Bi kịch Xô viết – ra đời khi mà giờ đây Liên bang Xô viết không còn tồn tại nữa và đối tượng cuốn sách đã kết thúc rồi – 1917 – 1991 – trình bày một bản tổng kết có tính phê phán cao về khoa Xô viết học nổi bật ở Hoa Kỳ. mong ông cho chúng tôi biết bộ môn Xô viết học nổi bật ấy, nay chắc cũng chết cùng với chủ đề của nó, trước đây là như thế nào?

Martin Malia (Ma): Khi Liên bang Xô viết còn tồn tại, nếu tôi được phép nói thế, chúng ta đã sống trong sự chờ đợi một cái gì đó do “Cuộc thử nghiệm” ấy sẽ mang lại, và sự chờ đợi đó đã phân cực dư luận thế giới. Một mặt, người ta có thể tin rằng do tất cả đã quốc hữu hóa, kế hoạch hóa, hệ thống này một ngày kia sẽ đem lại cái mà vào năm 1968, ở Prague, người ta gọi là “CNXH với bộ mặt nhân bản”. Mặt khác, do Liên Xô là một siêu cường, một trung tâm của phong trào nếu không phải là cách mạng vô sản thế giới, ít nhất cũng là một lực lượng chính trị đối lập với các chế độ dân chủ phương Tây, nên người ta có thể lo sợ về một đế quốc Xô viết. Tôi cho rằng do có sự phân cực ấy nên các trường đại học của phương Tây khó có thể nghiên cứu về Liên Xô một cách hoàn toàn trung lập hoặc hợp lý một cách bình tĩnh. Bằng cách này hay cách khác, ngấm ngầm hay công khai, người ta đều phải xác định cho mình một lập trường. Và điều đó đem lại hai cực đối lập lớn trong cách lý giải về Liên Xô sau chiến tranh.

Trước chiến tranh, nước Nga đại diện cho cuộc cách mạng XHCN ở một nước duy nhất: phái tả khâm phục nó, phái hữu e sợ nó, nhưng CNCS khi đó còn chưa phải là một hiện thực mang tầm cỡ thế giới và trở nên phổ biến như Liên Xô đã trở thành sau chiến tranh thế giới và sau khi nó chiến thắng nước Đức. Chính bắt đầu từ thời điểm đó mà chúng ta có một cực thứ nhất, cực phủ định, đó là quan niệm về “mô hình cực quyền”. Tuy nhiên, mô hình này không phải là một phát minh của cuộc chiến tranh lạnh như hiện nay người ta thường nghĩ, dù rằng chắc chắn nó đã được sử dụng trong việc tuyên truyền của các chính quyền dân chủ trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Mô hình cực quyền có từ những năm 1930, nó đem lại ưu thế trước hết cho hệ tự tưởng và hành động chính trị so với các lực lượng kinh tế và xã hội trong việc lý giải các hiện tượng Xô viết: chính nhà nước, chính xác hơn là nhà nước – đảng, ở nước Nga cộng sản, là người nhào nặn xã hội và hệ thống kinh tế “từ bên trên”. Tất nhiên, trước mắt của dư luận thế giới, mô hình cực quyền này được hình thành từ những điểm giống nhau rõ ràng giữa Stalin và Hitler, giữa chế độ phát xít và cộng sản, sự giống nhau nổi bật hẳn lên do chỗ chỉ có một nhà độc tài duy nhất.

Nhưng khi nhà độc tài duy nhất biến mất ở Liên Xô, thì đối với một số người sự việc trở nên khó khăn hơn khi xem Liên Xô là chế độ cực quyền, hoặc khi so sánh nó với Hitler. Kết quả là nhiều nhà Xô viết học bắt đầu nói về Liên Xô như một hệ thống xã hội và kinh tế liên tục tiến triển. Có những yếu tố khác cũng đẩy tới sự giảm nhẹ của mô hình cực quyền: chế độ chính trị Xô viết đã trở nên mềm mỏng hơn sau chiến dịch bài Stalin của Khrushev. Thêm vào đó, những năm 60 đã chứng kiến sự ra đời của một phái tả mới ở Phương Tây, và cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã cấp tiến hóa các trường đại học của Hoa Kỳ, những hoàn cảnh này đã làm cho dư luận giới đại học trở nên cởi mở hơn đối với cuộc “thử nghiệm Xô viết”.

Thế là người ta đã rút ra kết luận rằng nước Nga cộng sản chưa bao giờ là cực quyền đích thực, và điều này đã đẻ ra cực thứ hai, cực khẳng định của Xô viết học. Trong quan điểm này, nước Nga cộng sản chỉ là một nước chuyên quyền đang phát triển. Như thế, lý thuyết hiện đại hóa đã tiếp tục sự nghiệp của mô hình cực quyền. Ngay từ cuối những năm 60, những người mà sau này sẽ được gọi là “người theo chủ nghĩa xét lại” đã muốn giải thích hiện tượng Xô viết “từ bên dưới”. Hay nói chính xác hơn, trong quan điểm của họ, chế độ Xô viết không được trình bày hoàn toàn như một sản phẩm của xã hội, mà như một “chính phủ” bị buộc phải đáp ứng những sức ép của xã hội. Nền chính trị của chế độ Xô viết được lý giải như một phương thức hơi thô bạo để giải đáp vấn đề về sự lạc hậu của nước Nga, và không phải như một sự thi hành quyền lực vì quyền lực như mô hình cực quyền đòi hỏi. Thậm chí một số người còn cho rằng phương pháp Xô viết hầu như là cách duy nhất đối với một nước nông dân và lạc hậu để tự hiện đại hóa nhanh chóng, một phương pháp siêu tốc và tàn bạo dưới thời Stalin, nhưng lại ôn hòa hơn nhiều sau thời Stalin. Và, một khi xã hội đã trở thành hiện đại – nghĩa là mang tính “công nghiệp, đô thị, và có giáo dục”, thì người ta tin rằng đảng sẽ buộc phải tự biến đổi thành một chế độ tự do hơn, dân chủ hơn, và như thế cuối cùng người ta sẽ có “CNXH với bộ mặt nhân bản”. Tất nhiên những người theo chủ nghĩa xét lại không công khai nói tất cả điều đó, họ chỉ tỏ ra thông cảm với những khuynh hướng cải lương trong nội bộ Liên Xô.

Tuy nhiên, đối với những người phê phán chủ nghĩa xét lại thì vẫn còn vấn đề về hạ tầng cơ sở của hệ thống xô viết, hạ tầng này sau Stalin vẫn không hề thay đổi. Vẫn còn đấy cơ cấu nhà nước – đảng, vẫn còn đấy cái mà trong tiếng Pháp gọi là “kế hoạch hóa độc quyền”, hoặc cuối cùng ở Liên Xô người ta gọi nó một cách đúng hơn là “hệ thống hành chính” đối với kinh tế. Cũng vẫn còn sự có mặt ở khắp nơi của cảnh sát chính trị, và nếu như sự khủng bố hàng loạt chấm dứt, thì KGB vẫn còn tồn tại ở khắp nơi. Vậy là Liên Xô không phải là một xã hội “hiện đại” như những nước khác. Hơn nữa, trong chính sách đối ngoại, Liên Xô cũng không trở thành một nước như những nước khác. Liên Xô khao khát chiếm ưu thế khu vực Á – Âu, nếu không nói là khao khát quyền bá chủ thế giới, và thường xuyên cạnh tranh với các nước dân chủ. Do đó, thật sai lầm khi nói rằng Liên Xô cũ chỉ là một nước đang hiện đại hóa. Nhưng cho đến phút cuối, đa số các nhà Xô viết học vẫn chờ đợi một lối thoát ôn hòa của cuộc thử nghiệm Xô viết. Bởi vì, trên thực tế trong các trường đại học Mỹ, trường phái xét lại đã nắm quyền bá chủ trong những năm 1980.

Không có con đường thứ ba

Khi ấy Gorbachev bỗng xuất hiện. Một mặt những kẻ không khoan nhượng của quan niệm về mô hình cực quyền bắt đầu lên tiếng, ít nhất là trong một số bọn họ: “Đấy chỉ là sự lòe bịp, họ chẳng thay đổi gì cả, đó chỉ là một chiến thuật mới để lừa bịp chúng ta”. Mặt khác, những người theo chủ nghĩa xét lại thì ca ngợi: “Đây rồi, Gorbachev, đó là Bukharin của ngày hôm nay, ông ta sẽ dỡ bỏ nốt những di vật của chủ nghĩa Stalin, trở lại với nền kinh tế hỗn hợp của chính sách NEP, và như thế là đi tới CNXH có bộ mặt nhân bản”. Những người này đã gặp vận may, nhất là trong những năm 1986 – 1990. Ngay cả sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, họ vẫn nghĩ rằng đó là thắng lợi – và Gorbachev chính là một trong số người đó, đối với ông ta sự sụp đổ của Bức tường Berlin là một sự kiện lớn của cải tổ, một sự kiện mà khi ấy nó tỏ ra không thể tưởng tượng nổi như ngày nay. Những người xét lại tin rằng cuộc thử nghiệm Xô viết cuối cùng đang đi tới thành công.

Cá nhân tôi đã không bao giờ tin vào điều đó. Và lập trường của tôi là khá kiên định: giữa sự duy trì của hệ thống cộng sản và sự sụp đổ của nó sẽ không có gì cả. Không có “con đường thứ ba”, cũng không có một CNCS cải cách thành công: nếu người ta thử cố gắng cải cách hệ thống cộng sản một cách sâu sắc thì điều đó sẽ gây ra nạn hồng thủy và những người lãnh đạo sẽ tụt lại phía sau, giống như năm 1964 với sự sụp đổ của Khrushev. Như vậy là vào năm 1988 – 1989, tôi đã nghĩ rằng nếu một khi nạn hồng thủy xảy ra thì đảng sẽ tụt hậu. Nhưng, tôi thật ngạc nhiên là phái cứng rắn trong đảng thậm chí đã không thử sức trước tháng 8/1991. Vậy là, họ đã thử sức quá muộn: Cơn hồng thủy đã cuốn đi mất cái chủ chốt. Và những kẻ làm đảo chính tháng 8/1991 cũng đã không thực hiện cú đảo chính một cách đáng tin tưởng, các bạn thấy đấy, dũng khí ở đây không còn nữa.

Tôi tin rằng sự không tồn tại của con đường thứ ba được chứng minh bằng thất bại của Gorbachev đã đem lại lời giải đáp cho cuộc tranh luận lớn giữa những người đứng về phía mô hình cực quyền và những người xét lại. Do đó, trong cuốn sách của tôi, lần đầu tiên tôi đã muốn viết lịch sử Xô viết theo chiều hướng kết thúc của nó. Bởi vì, như Hegel đã nói, con cú ủa nữ thần Manerve chỉ cất cánh vào buổi hoàng hôn. Chỉ khi một giai đoạn lịch sử đã kết thúc chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của nó. Như vậy, lần đầu tiên chúng ta ở trong hoàn cảnh hiểu được ý nghĩa của chặng đường Xô viết. Điều đó không nói lên rằng chúng ta sẽ hiểu được tất cả và ngay lập tức. Công việc tìm hiểu thật sự không bao giờ kết thúc: mỗi thế hệ, mỗi phân môn của lịch sử đều buộc phải lý giải lại một lần nữa về quá khứ, trong khi công trình lịch sử vẫn tiếp diễn. Nhưng giờ đây chúng ta đang có khả năng để đưa ra một bản tổng kết tổng thể (nếu tôi dám nói như vậy) về “cuộc thử nghiệm này”, và tách riêng kết cấu hạ tầng của hệ thống ấy. Đó chính là điều tôi đã muốn thực hiện trong cuốn sách của tôi.

Và tất nhiên, kết luận mà tôi rút ra từ cuộc tranh luận lớn này là ý kiến cho rằng kết cấu của hệ thống Xô viết trên thực tế phù hợp với mô hình cực quyền. Ở điểm này tôi không hiểu “cực quyền” theo nghĩa hẹp kinh nghiệm – một nhà độc tài, độc quyền nhà nước về tuyên truyền, về lực lượng vũ trang, quốc hữu hóa nền kinh tế…, theo kiểu mô hình của Brzezinski đưa ra và nói chung của chính trị học Mỹ vào những năm 1950. Tôi hiểu cực quyền chủ yếu theo nghĩa “lý tưởng – điển hình”, tức là như một ưu thế của hệ tư tưởng và của chính trị đối với các lực lượng kinh tế và xã hội trong mọi hoạt động của xã hội. Nói vậy tức là phải triển khai về mặt lịch sử cái mô hình cực quyền lý tưởng – điển hình.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Hòa giải Trung – Nhật khó tạo được đột phá


Zhang Yun

Cuối năm 2016 vừa qua, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đến thăm Trân Châu Cảng, tưởng niệm những người thiệt mạng tại Đài tưởng niệm USS Arizona, xây trên xác tàu chiến USS Arizon. Sau đó ông Abe và Tổng thống Mỹ Barack Obama cùng có bài phát biểu, trong đó hai bên đều nhắc đến cụm từ mang ý nghĩa then chốt “sức mạnh hòa giải”.. Mặc dù Nhật Bản và Mỹ đều đánh giá cao ý nghĩa của việc hòa giải lịch sử, nhưng đối với Trung Quốc, hành động này của Abe chỉ mang tính nhất thời, không đồng nghĩa với việc hòa giải vấn đề lịch sử với tất cả các quốc gia châu Á. Ngay trong ngày ông Abe tới thăm Trân Châu Cảng (28/12), Bộ trưởng Tái thiết các khu vực thảm họa của Nhật Bản, ông Masahiro Imamura, đã đến thăm đền Yasukuni. Tiếp đó, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tomomi Inada ngay sau khi tháp tùng ông Abe trong chuyến công du tới Trân Châu Cảng trở về cũng viếng thăm ngôi đền chiến tranh nhiều tranh cãi này.

Sự tiếp nối của thể chế San Francisco

Với Nhật Bản và Mỹ, Trân Châu Cảng và Hiroshima là hai địa danh nhạy cảm nhất trong lịch sử chiến tranh hai nước. Tháng 5/2016, ông Barack Obama trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên tới thăm Hiroshima và lần này là chuyến công du của ông Shinzo Abe. Đây được xem như là những hành động ngoại giao mang tính biểu tượng của Mỹ và Nhật Bản trong vấn đề lịch sử để chứng tỏ hai bên đã vượt qua mọi cấm kỵ, hòa giải thành công, từ kẻ thù trở thành đồng minh. Có thể nhận thấy rằng ý tưởng và cách thức hòa giải lịch sử của ông Abe gồm ba bước: Bước thứ nhất, thông qua chuyến thăm Trân Châu Cảng nhổ đi “cái gai” cuối cùng trong ký ức chiến tranh hai nước Mỹ – Nhật, thể hiện quyết tâm đoạn tuyệt chiến tranh của Tokyo, trên cơ sở đó củng cố vững chắc quan hệ đồng minh chiến lược với Washington. Bước thứ hai, sau khi củng cố vững chắc quan hệ đồng minh Nhật – Mỹ, Tokyo sẽ dựa vào Washington để giải quyết dứt điểm vấn đề lịch sử với Hàn Quốc. Bước thứ ba, lấy kết quả đạt được của hai bước kể trên làm hậu thuẫn để tiến tới hòa giải vấn đề lịch sử với Nga và Trung Quốc. Trên phương diện hành động cụ thể cũng hoàn toàn như vậy, ông Abe muốn thông qua việc giải quyết thành công vấn đề lịch sử với Mỹ bằng con đường ngoại giao để xây dựng mô hình giải quyết vấn đề lịch sử với Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc. Năm 2015, khi phát biểu tại Thượng viện cũng như Hạ viện Mỹ, ông Abe đều nhấn mạnh sự thương tâm và đau khổ bởi chiến tranh, nhưng không đưa ra lời xin lỗi. Tương tự, nhiều năm qua, ông Abe trong thông điệp kỷ niệm ngày kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai (15/8) cũng chỉ nhấn mạnh tới sự bi thảm của chiến tranh, không hề đề cập đến khái niệm “xin lỗi”. Cuối năm 2015, Nhật Bản và Hàn Quốc đạt được nhận thức chung về việc giải quyết vấn đề phụ nữ mua vui trong chiến tranh, nhưng cơ bản cũng chỉ xuất phát từ quan điểm nhân đạo không hề có ý đề cập đến sự hối hận hay xin lỗi. Việc Tổng thống Mỹ Barack Obama thăm Hiroshima cũng như việc ông Obama và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cùng thăm Trân Châu Cảng cho thấy Washington cơ bản đồng ý với mô hình giải quyết vấn đề lịch sử của ông Abe. Nhưng vấn đề quan trọng đặt ra là liệu mô hình này của người đứng đầu Chính phủ Nhật bản có được Trung Quốc chấp nhận hay không. Nội dung chủ yếu trong vấn đề lịch sử giữa Mỹ và Nhật Bản cơ bản đã được quyết định khi Hòa ước San Francisco được ký kết. Do đó, việc nguyên thủ hai nước thăm Hiroshima hay Trân Châu Cảng xét trên khía cạnh ngoại giao có thể coi là một bước đột phá, nhưng thực chất vẫn chỉ là sự tiếp nối của thể chế San Francisco. Ngày 15/8/1945, Nhật Hoàng Hirohito tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sau đó trong thời gian Mỹ chiếm đóng Nhật Bản, Tướng Douglas MacArthur đã nhiều lần cùng Nhật Hoàng thảo luận về các vấn đề chính trị. Trên thực tế, hai người đã thông qua một loạt cơ chế và điều ước, đồng thời đạt được sự hiểu biết nhất định trong vấn đề lịch sử giữa hai nước, loại bỏ trở ngại cho con đường phát triển đất nước của Nhật Bản sau chiến tranh. Tòa án tội ác chiến tranh Tokyo năm 1946 là cơ chế chính để Mỹ và Nhật Bản giải quyết vấn đề lịch sử. Washington quy kết trách nhiệm gây ra cuộc chiến tại châu Á – Thái Bình Dương cho Hideki Tojo, Thủ tướng Nhật Bản khi đó, còn Nhật Hoàng được bảo lưu địa vị và miễn ra tòa.

Theo logic trên, sau khi di chuyển hài cốt các tội phạm chiến tranh đến đền Yasukuni, Nhật Hoàng đã dừng hẳn việc đến thăm ngôi đền này. Đây thực ra chính là hành động thực hiện cam kết ngầm về vấn đề lịch sử giữa Nhật Bản và Mỹ. Bản Hiến pháp hòa bình do Mỹ đề quy định Nhật Bản phải từ bỏ quyền phát động chiến tranh, nhưng giữ lại chế độ quân chủ nên Nhật Hoàng rất tích cực ủng hộ. Những năm 70 của thế kỷ trước, khi bị truy vấn về việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima, Nhật Hoàng Hirohito thường nói rằng trong bối cảnh chiến tranh lúc đó cũng không có biện pháp nào khác. Điều này cho thấy sự việc được cho là “cái gai” lớn nhất trong vấn đề lịch sử giữa Mỹ và Nhật Bản cơ bản đã được giải quyết ở tầng cao. Chỉ có điều khác là lòng dân khi đó chưa chín muồi để nguyên thủ hai nước đi thăm Hiroshima hay Trân Châu Cảng.

Hòa giải lịch sử Trung – Nhật khó tạo được đột phá

So với việc hòa giải lịch sử Nhật – Mỹ như đã đề cập ở trên, tiến trình hòa giải lịch sử giữa Nhật Bản và các quốc gia châu Á hơn 70 năm qua không mấy tiến triển. Xét theo khía  cạnh bên ngoài, Trung Quốc thường cho rằng do thế lực cánh hữu của Nhật Bản cản trở và gây rối. Ngược lại, Nhật Bản lại cho rằng Trung Quốc và các nước luôn lợi dụng “con bài lịch sử”. Tuy nhiên, do vấn đề tồn tại giữa hai nước, trong đó bao gồm cả vấn đề chủ quyền lãnh thổ vẫn chưa được giải quyết nên ảnh hưởng đến tầm sâu quan hệ, tạo ra mâu thuẫn cả về tư duy lẫn cơ chế để xem xét vấn đề lịch sử.

Thứ nhất, Nhật Bản cho rằng mình đã chấp nhận Hiến pháp hòa bình do Mỹ đề ra, đi theo con đường hòa bình và tích cực gia nhập trật tự thế giới do Mỹ làm chủ đạo, đồng nghĩa với việc đã giải quyết xong vấn đề lịch sử. Theo Nhật Bản, châu Á – Thái Bình Dương là chiến trường chủ yếu của Chiến tranh thế giới thứ hai và Nhật Bản bị Mỹ đánh bại trong cuộc chiến trên biển. Kết quả là Nhật Bản đã đầu hàng, tham gia thể chế San Francisco do Mỹ làm chủ đạo và trở thành đồng minh của Washington. Trong khuôn khổ đó, Nhật Bản cũng từng bước quay lại Liên hợp quốc, tham gia Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế…, đồng thời cùng các quốc gia Đông Nam Á bàn thảo việc bồi thường chiến tranh. Năm 1965, Nhật Bản và Hàn Quốc tuyên bố bình thường hóa quan hệ, nhưng trên thực tế là do Mỹ tích cực thúc đẩy nên việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước mới trở thành hiện thực. Điều này cho thấy buộc phải có sự vào cuộc của Mỹ thì Nhật Bản mới giải quyết được vấn đề đặt ra. Nói một cách khách quan, Nhật Bản chưa đủ động lực để tự mình làm chủ trong việc giải quyết vấn đề lịch sử với các quốc gia châu Á.

Thứ hai, Trung Quốc không tham gia sáng lập thể chế San Francisco. Cho dù Bắc Kinh có ủng hộ Hiến pháp hòa bình do Washington đề ra thì cũng cảm thấy bất mãn trước việc Mỹ vì lợi ích chiến lược của mình mà dung túng Nhật Bản trong vấn đề lịch sử, hoặc cần phải cảnh giác và đề phòng trước những yếu tố đối đầu với Trung Quốc của liên minh Mỹ – Nhật. Trung Quốc là lực lượng chủ yếu đương đầu với quân Nhật trên chiến trường châu Á trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phải gánh chịu nhiều tổn thất nên vấn đề lịch sử của Nhật Bản trước tiên phải là vấn đề giữa Trung Quốc và Nhật Bản, sau đó mới đến vấn đề giữa Mỹ và Nhật Bản. Thứ ba, do khác biệt về tư duy trong vấn đề hòa giải lịch sử nên sự tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngày càng sụt giảm. Một hiện tượng kỳ lạ là sự tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản không hề được củng cố và tăng cường qua các hoạt động giao lưu, đối thoại. Ngược lại, hai bên càng giao lưu, càng đối thoại nhiều thì sự tin tưởng lẫn nhau càng sụt giảm. Dự án nghiên cứu sách giáo khoa lịch sử chung giữa Bắc Kinh và Tokyo rốt cuộc cũng “đường ai nấy đi”. Điều đáng buồn cũng như thất vọng hơn đối với cả hai, Trung Quốc và Nhật Bản trong chính sách của mình luôn áp dụng lấy giải pháp quan hệ ngoại giao với Mỹ để điều tiết quan hệ song phương. Con đường hòa giải lịch sử của ông Shinzo Abe trên thực tế cho thấy người đứng đầu Chính phủ Nhật Bản chưa đủ tự tin để trực tiếp giải quyết vấn đề lịch sử với Trung Quốc, nên mới lấy thành tựu ngoại giao với Mỹ để khích lệ. Trung Quốc hoàn toàn không thể chấp nhận mô hình của Abe, “hòa giải mà không xin lỗi”. Do đó, con đường hòa giải giữa Trung Quốc và Nhật Bản không phải ngày một gần hơn mà ngược lại có thể sẽ ngày càng xa hơn. Tương tự, trong bối cảnh chính trường Hàn Quốc đang có sự biến động, Nhật Bản đang lo ngại rằng chính quyền mới có thể sẽ thay đổi nhận thức chung về vấn đề phụ nữ mua vui trong chiến tranh mà Tokyo và Seoul dưới thời bà Park Geun-hye đã đạt được, đồng thời bắt tay với Trung Quốc để chống lại Nhật Bản trong vấn đề lịch sử. Thêm vào đó, những dấu hiệu về cải thiện quan hệ Nga – Mỹ khi Donald Trump lên nắm quyền cũng đang phủ bóng đen lên ý tưởng dựa vào Mỹ để giải quyết vấn đề quần đảo Kuril với Nga của Nhật Bản.

Tựu chung lại, toan tính lấy việc hòa giải với Mỹ làm cơ sở để thúc đẩy tiến trình hòa giải với các nước Đông Bắc Á của ông Abe là một ý tưởng không tồi. Tuy nhiên, nếu Tokyo không xuất phát từ tư duy chiến lược, đồng thời nhận thức rõ rằng hòa giải lịch sử với các nước Đông Bắc Á là yêu cầu đòi hỏi của việc đảm bảo lợi ích quốc gia thì rốt cuộc vấn đề chủ quyền lãnh thổ sẽ không vượt ra khỏi thể chế San Francisco, còn hòa giải lịch sử sẽ khó lòng tạo ra bước đột phá.

Nguồn: Liên hợp Buổi sáng (Sing) – 12/01/2017

TLTKĐB – 18/01/2017

Những kẻ thao túng kí ức ở Trung Quốc – Phần cuối


Tấm bích chương trứ danh nhất của Giấc mộng Trung Quốc khắc hoạ một bức tượng nhỏ của Nê Nhân Trương mang hình hài một cô bé mũm mĩm, đang tựa đầu mơ mộng. Bên dưới là bài thơ kết hợp giấc mộng cá nhân với giấc mộng đất nước:[1]

A Trung Quốc

Giấc mộng của tôi

Giấc mộng ngát thơm

Tác giả bài thơ này là Nhất Thanh (一清), bút danh của Tạ Liễu Thanh (谢柳青). Tạ là biên tập viên của tờ tạp chí Thế Giới Hoa Văn và đứng đầu trang Trung Quốc Danh Bác Sa Long (中国名博沙龙), một trang blog chuyên bàn các vấn đề dân tộc chủ nghĩa và được đăng kí theo chủ quản là trang web chính thức của bộ tuyên truyền. Tạ còn viết kịch và nhạc kịch, tất cả đều ca tụng đảng và đặc biệt là Mao. Hàng tá tác phẩm của ông ta vốn dựa trên những sự kiện lịch sử lớn đều đã được xuất bản, dựng thành phim hay làm thành chương trình truyền hình, hoặc được dàn dựng trên sân khấu. Một số bài blog của ông ấy đã được xuất bản trên tờ tạp chí tư tưởng chính của đảng, tờ Cầu Thị (求是).

Ở một mức nào đó thì Tạ có thể đơn giản được coi là công cụ tay sai của chính quyền, đẻ ra phần nguyên liệu cho chiến dịch mới nhất của nhà nước. Nhưng khi tôi ghé thăm ông ta năm 2013, câu chuyện của ông hoá ra đáng lưu tâm hơn thế, và hé lộ các kĩ thuật tuyên truyền tinh vi được Đảng cộng sản sử dụng trong suốt thập niên 2010 nhằm tạo ra một ý thức hệ vốn có thể liên kết chủ nghĩa cộng sản truyền thống với các giá trị truyền thống.

Tạ mời tôi đến văn phòng của ông. Văn phòng này hoá ra là một phòng tại Khách sạn Ordos ở Bắc Kinh. Tôi ngạc nhiên khi biết rằng Tạ không có văn phòng chính phủ đàng hoàng do ông không phải là quan chức chính phủ như tôi đã hình dung trước đó, mà chỉ là dân làm nghề tự do. Chúng tôi tán gẫu một đỗi và ông ta bảo tôi rằng ông đến từ tỉnh Hồ Nam (湖南), quê của Mao Trạch Đông (毛澤東). Đa số tác phẩm của Tạ là về Mao, người mà theo ông là vị anh hùng của Trung Quốc hiện đại. “Anh có thể chỉ trích ông ta nhưng đâu thể phủ nhận chuyện ông ấy quan trọng”, Tạ cho biết. “Đây là điều tôi luôn tin.”

Tham gia buổi nói chuyện hôm đó còn có Trương Gia Bân (张嘉斌), biên tập viên của Nhà xuất bản Hồng Kỳ, một công ti thuộc Đảng cộng sản, trước đó vừa xuất bản bộ sưu tập các bích chương, và cả tập thơ của Tạ nữa. Tạ cho chúng tôi xem đoạn video ngắn về một buổi lễ vinh danh các tấm bích chương Giấc mộng Trung Quốc. Trong đoạn phim ngắn, Tạ giải thích rằng ông đã thấy bức tượng cô bé mũm mĩm đặc trưng trong lúc tham dự buổi triển lãm ở khu Hoài Nhu (懷柔) vùng ngoại ô Bắc Kinh. Ông ta đăng lên mạng mấy bức ảnh kèm theo một vài cặp thi cú.

Đầu năm 2013, khi Ban văn minh (文明办), một cơ quan chính phủ, đang hoạch định một chiến dịch nhằm quảng bá ý tưởng của Tập Cận Bình về một Giấc mộng Trung Quốc, thì họ thấy những bài thơ của Tạ cùng mấy bức tranh vẽ các nhân vật. Ông ta gặp các quan chức và họ hội ý với nhau, nảy ra ý tưởng mở rộng chiến dịch để gộp vào nhiều hình thức thể hiện văn hoá truyền thống, bao gồm những bức hoạ vẽ nông dân cùng những bức tranh khắc gỗ.

“Họ nói, này chúng tôi cần thêm nhiều bài thơ nữa, do vậy tôi làm thật nhanh mấy bài thơ và giờ chúng ở trên kia đó”, ông nói khi đoạn video kết thúc. “Chiến dịch đó cần trải dài 60.000 km. Đó là số km đường cao tốc ở Trung Quốc – chúng tôi nói đùa rằng mỗi mét ở mỗi con đường đều có bích chương phủ lên”.

Đó quả thật không phải là điều nói quá. Thật khó lòng tránh được mấy tấm bích chương kia. Lúc thì họ cổ xuý các giá trị truyền thống như hiếu đạo (“trung hậu truyền muôn đời”), lúc thì ca tụng hết lời Đảng cộng sản (“chân bị xích, tay bị còng / Gió thì to, cỏ cứng cỏi / Đảng viên trên con đường mơ ước / Núi có thể rung, chí vẫn không lay / nhiệt huyết cùng hoa xuân viết nên khúc sử ngày nay”). Đôi khi họ chỉ cổ xuý chủ nghĩa ái quốc hay chủ nghĩa dân tộc (“Sông núi Trung Quốc thật đẹp” và “Tương lai tổ quốc ngập tràn mùa xuân”). Tất cả đều cho thấy làm thế nào mà đối với chính phủ [Trung Quốc] ngày nay, không có đồng minh nào tốt hơn lịch sử.

Lịch sử được phục hồi

Đôi khi đó chỉ là chuyện ngẫu nhiên và phi chính trị khi mà lịch sử lại trồi lên xuất hiện trong ý thức công chúng. Tôi nhận thấy điều này vào một ngày kia của năm 2014 khi đi nghe buổi nói chuyện tại văn phòng chính của Cục Lưu trữ Quốc gia bên cạnh công viên Bắc Hải (北海 ) ở Bắc Kinh. Diễn giả là Lưu Quốc Trung (刘国忠), giáo sư tại trường Đại học Thanh Hoa, với chất giọng nặng và đôi mắt nhỏ thường biến mất khi ông cất tiếng cười. Lưu nói tự do mà không cần bản ghi chép nào trong 90 phút về một thứ trông có vẻ mịt mờ nhưng lại dần dần làm sửng sốt giới trí thức Trung Quốc: việc khám phá ra các văn bản có từ 2500 năm trước vốn đã bị thất lạc bấy lâu.

Những văn bản Trung Quốc được biết đến sớm nhất được gọi là giáp cốt văn (甲骨文 – oracle bone). Được viết trên mai rùa, những bản văn này thường bàn về một nhóm các chủ đề hạn chế: liệu các cây trồng có nên được gieo trồng vào thời điểm này kia trong ngày, liệu hoàng đế có nên phát động chiến tranh? Chuyện lập gia thất ra sao? Chuyện đi lại thế nào? Qua đó, người ta có thể thăm dò được những mối quan tâm căn cốt trong đời sống của vị hoàng đế.

Những bản văn mà chúng tôi ở đây để tìm hiểu là những cái được viết một nghìn năm sau đó trên những thẻ tre phẳng, có kích cỡ bằng mấy chiếc đũa. Những tài liệu này không miêu tả chuyện vụn vặt nơi đời sống triều đình – mà chúng là những văn bản gốc của văn hoá Trung Quốc. Hơn 20 năm qua, ba lô thẻ tre từ thời đại này đã được khai quật. Lưu ở đấy để giới thiệu lô thứ ba – lô nhiều nhất – trong số những lô được phát hiện, một kho 2500 thẻ vốn đã được hiến cho Đại học Thanh Hoa hồi năm 2008.

Lí Học Cần (李学勤), sử gia trứ danh nhất Trung Quốc, là người lãnh đạo dự án lập danh mục và nghiên cứu những thẻ tre này. Lí đã đứng đầu vô số dự án lớn, trong đó có nỗ lực hồi đầu thập niên 1990 nhằm xác định niên đại của những triều bán huyền thoại từ khoảng 5000 năm trước, chẳng hạn triều Hạ và triều Thương, vốn được xem là những triều đại sớm sủa nhất của nền văn minh Trung Quốc. Trong nhiều nghìn năm, người ta mặc nhiên công nhận sự tồn tại của những triều đại đó, cho dù không thể lần ra được bất kì văn bản hay tư liệu khảo cổ nào liên quan đến họ (tính chất lịch sử của triều Hạ đặc biệt vẫn còn đáng ngờ). Vào đầu thế kỉ 20, các sử gia ở Trung Quốc bắt đầu một phong trào “nghi cổ (疑古)” vốn là phong trào chất vấn sự tồn tại của những triều đại này, cho rằng những triều đại đó chỉ là thần thoại. Phong trào này còn hơn một cuộc tranh cãi trí thức; nó chất vấn điều xác tín mà người Trung Quốc đã nuôi dưỡng trong lòng khi cho rằng nền văn minh của họ là nền văn mình xưa nhất trên hành tinh, xưa ngang với Ai Cập cổ đại. Những nỗ lực của Lí về căn bản là đẩy lùi lại tinh thần hoài nghi này, tập trung bằng chứng cho thấy những triều đại này quả thực có tồn tại.

Những thẻ tre mà Lí miêu tả đến từ niên đại sau đó nhiều, nhưng chúng chất vấn những điều xác tín của văn hoá Trung Quốc theo cách khác, có lẽ sâu sắc hơn. Những văn bản bắt nguồn từ thời Chiến-quốc (戰國 – Warring States), thời đại nhiễu nhương ở Trung Quốc trải dài từ thế kỉ thứ 7 đến thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên. Tất cả các trường phái tư tưởng chính yếu của Trung Quốc mà tồn tại đến ngày nay đều bắt nguồn từ thời đại này, đặc biệt Đạo giáo và Nho giáo, vốn là hệ tư tưởng chính trị chi phối nước này xưa nay, đưa đường dẫn lối nhiều vị vua và hoàng đế – ít nhất là về lí thuyết – cho đến tận thế kỉ 20.

Những thẻ tre này đã thay đổi cách chúng ta nhận thức về thời đại này. Một số người đem tác động của thời đại này lên nhận thức của Trung Quốc về quá khứ để so với cách nhìn vào quá khứ trong thời Khai minh của châu Âu, thời kì mà những bản văn cốt lõi của phương Tây lần đầu tiên được phân tích dưới dạng tài liệu lịch sử thay vì văn bản được truyền lại nguyên vẹn từ thời cổ đại. “Cứ như thể đột nhiên bạn có những văn bản bàn về Socrates và Platon mà bạn không biết chúng từng tồn tại”, theo Sarah Allan, giáo sư trường đại học Dartmouth, người làm việc với Lưu và Lí trong dự án này, khi cô nói với tôi vài tháng trước khi tôi nghe Lưu nói chuyện. “Người ta cũng nói rằng nó giống như các cuộn sách vùng Biển chết (Dead Sea scrolls), nhưng chúng còn quan trọng hơn thế. Đây không phải bản nguỵ tạo. Những văn bản này đến từ thời kì mà phần cốt lõi của triết học Trung Quốc đang được luận bàn. Chúng sẽ làm biến đổi nhận thức của chúng ta về lịch sử Trung Quốc.”

Một trong những ý tưởng gây kinh ngạc hiện ra qua những văn bản mới này là những ý tưởng vốn chỉ được hàm ý trong văn bản kinh điển Nho giáo, thì giờ đây được biểu lộ như là những trường phái tư tưởng được phát triển toàn diện vốn sẽ chất vấn các ý tưởng truyền thống then chốt. Chẳng hạn có một văn bản biện luận thiên về chế độ tinh anh trị (meritocracy) theo cung cách mạnh mẽ hơn nhiều so với các ý được tìm thấy trong những văn bản Nho giáo phổ biến hiện tại. Cho đến nay, các văn bản Nho giáo chỉ chấp thuận việc thoái vị hoặc thay thế người cai trị như một ngoại lệ hiếm hoi; bằng không ngôi vua vẫn theo lối thừa tự – một lập trường thiên về giới thống trị (pro-establishment) và phản cách mạng (anti-revolution) hơn nhiều. Văn bản mới biện luận chống lại điều này. Đối với một nhà nước chuyên chế tự bọc mình trong “truyền thống” nhằm biện minh cho sự cai trị bất tận của mình, thì những hàm ý của trường phái mới này là những điều tuy tinh tế mà đáng lưu tâm. “Đây không phải kêu gọi dân chủ”, Allan bảo tôi, “nhưng nó có những biện luận mạnh mẽ hơn trong việc ủng hộ sự cai trị xét theo phẩm hạnh thay vì quyền cai trị theo lối thừa tự.”

Trở lại giảng đường kế bên công viên Bắc Hải, Lưu tiếp tục nói về những phát hiện mới. Ông chiếu nhanh các đầu đề báo chí trên màn hình. Giới truyền thông Trung Quốc đang có sự lưu tâm mãnh liệt tới vụ này, ông cho biết. Sau khi công bố mỗi quyển sách, giới truyền thông Trung Quốc lao vào thảo luận những phát hiện đó, đồng thời các trang blog và những nhà nghiên cứu nghiệp dư cũng thử sức diễn giải những phát hiện mới này. Khán giả chăm chú lắng nghe Lưu khi ông phác ra lịch biểu xuất bản của đội ngũ trường Thanh Hoa.

“Chúng tôi nghĩ sẽ có thêm 15 quyển nữa, vậy là thêm 15 năm nữa – cho đến khi tôi nghỉ hưu”, Lưu cho biết, và cười to. “Nhưng sau đó các bạn cùng những người khác sẽ tranh luận chuyện này cho đến hết thế kỉ. Việc nghiên cứu này không có hồi kết đâu.”

Lưu kết lời và cúi đầu chào khán thính giả. Ông đã đi quá 90 phút cho phép và ban bảo vệ hăm hở chuẩn bị về nhà. Ngay khi ông rời bục diễn thuyết, họ bắt đầu tắt hết đèn. Nhưng khán giả đã ùa lên bệ diễn thuyết, dội hàng mớ câu hỏi vào Lưu. Có một người đàn ông đến từ Hội Nghiên cứu Kinh dịch hỏi cách xử lí văn bản mới cho việc bói toán. Một sinh viên đã tốt nghiệp từ Đại học Bắc Kinh hăm hở hỏi về những hàm ý chính trị của việc thoái vị. Lưu trả lời hết mọi câu hỏi, đồng thời tay phát danh thiếp. Khi chồng danh thiếp phát hết, mọi người bắt đầu chuyền chúng vòng vòng, dùng điện thoại di động chụp ảnh với danh thiếp của ông Giờ đây chỉ có ánh mặt trời lờ mờ của mùa đông soi sáng căn phòng. Những người bảo vệ ở cuối phòng đứng chờ để khoá cửa, nhưng đám đông cả mấy chục người đã không để Lưu rời khỏi phòng. Đối với họ, ông nắm giữ trong tay chiếc chìa khoá cho hiện tại: thời quá khứ.

Biên dịch: Đoàn Khương Duy

Nguồn: Ian Johnson, “China’s memory manipulators”, The Guardian, 08/06/2016

Bài tiểu luận này được cải biên từ cuốn The Oxford Illustrated History of Modern China (Lịch sử minh hoạ của Oxford về Trung Quốc hiện đại), xuất bản ngày 23/6/2016 của nhà Oxford University Press.

—-

[1]呵/中國,/我的夢,/夢正香  ( A, Trung Quốc, ngã đích mộng, mộng chính hương)

Những kẻ thao túng kí ức ở Trung Quốc – Phần II


Ian Johnson

…..

Một khác biệt nữa là những nỗ lực tưởng nhớ quá khứ thường sai lạc hoặc quá vụn vặt đến mức vô nghĩa. Ví dụ như hầu hết các tấm biển đá tại những địa điểm lịch sử đều biên những thông tin lịch sử thiên lệch hoặc những lời dối trá trắng trợn. Ví dụ như đi vài bước về phía tây Bộ Ngoại giao, bạn sẽ gặp Đông Nhạc Miếu (東嶽廟). Ngay trước cổng là một phiến đá, biên rằng kể từ năm 1961 đây là công trình được nhà nước bảo hộ. Tấm biển đá thứ nhì trên tường cho biết thêm chi tiết, giải thích làm thế nào miếu này được xây dựng dưới triều nhà Nguyên (1271-1368) và là một ngôi miếu then chốt của Đạo giáo.

Thực tế thì ngôi miếu này hoàn toàn bị rút ruột trong cuộc Cách mạng Văn hoá, các bức tượng bị thiêu rụi hoặc bị chở đi đến các nhà kho để người ta tiêu huỷ tại đó. Trong số khoảng 50 bức tượng hiện nay trong miếu, ngoại trừ 5 cái thì còn lại đều là tượng mới. Năm bức tượng cổ xưa này thuộc về ngôi miếu khác, Tam Quan Miếu (三官廟). Sau khi kết thúc thời đại Mao vào cuối thập niên 1970 và các ngôi miếu được mở cửa lại, người ta không tìm được các bức tượng của Đông Nhạc Miếu, nên họ đưa vào miếu này các bức tượng từ Tam Quan Miếu, vốn vẫn còn bị một văn phòng chính phủ chiếm chỗ.

Du khách cũng không tìm hiểu được gì về chuyện làm thế nào mà khu vực của ngôi miếu này lại bị thu hẹp nhiều phần trong suốt thời Cách mạng Văn hoá bởi vì nơi này từng bị các cơ quan quân sự và công an chiếm dụng. Khi thời đại Mao kết thúc, họ rời bỏ khu vực trung tâm của ngôi miếu – ba sân trong và những khu nhà mà ta thấy ngày nay. Phần còn lại bị Cục Công an (公安局) chiếm dụng cho đến thập niên 1990, và sau rốt bị giật sập và bị biến thành khu bất động sản thương mại vào đầu thập niên 2000. Các công trình còn lại hiếm khi hoạt động như một ngôi miếu. Khi quân đội và công an dời chỗ khác, Bộ Văn hoá chuyển vào và biến ngôi miếu thành viện bảo tàng văn hoá dân gian. Chỉ sau một quãng thời gian dài đấu tranh thì Hiệp hội Đạo giáo Trung Quốc (中国道教协会) mới lấy lại một phần kiểm soát ngôi miếu vào đầu thập niên 2000, nhưng họ vẫn còn phải chia sẻ không gian nơi này.

Tất nhiên là mấy tấm biển đá không giải thích điều nào trong số này. Thay vào đó, ta có ấn tượng là ngôi miếu cứ ở đó như nào giờ – một di tích 800 tuổi thuộc về quá khứ vĩ đại của Trung Quốc. Mảng lịch sử mà tôi vừa phác ra ở trên không phải chắc chắn cũng chẳng dựa vào bằng chứng tài liệu vững chắc, mà thay vào đó là thứ mà tôi đã tái dựng lại bằng cách quan sát ngôi miếu suốt hơn hai thập kỉ và nói chuyện với các tu sĩ Đạo giáo hiện làm việc ở đó. Nhưng cho đến khi kho lưu trữ thành phố mở cửa, đây có lẽ là thông tin tốt nhất mà ta có thể hi vọng vào.

Lịch sử được tái tạo

Đảng Cộng sản không chỉ bưng bít lịch sử, mà còn tái tạo lịch sử nhằm phục vụ thời hiện tại. Ở Trung Quốc, điều này tiếp theo sau sự việc đảng gần như tự diệt mình trong cuộc Cách mạng Văn hoá, dẫn đến việc tìm kiếm vô vọng về tính chính danh cho ý thức hệ. Thoạt đầu, điều này chủ yếu là về kinh tế, nhưng tiếp theo vụ thảm sát những người phản kháng đòi dân chủ trong sự kiện Quảng trường Thiên An Môn vào tháng Sáu năm 1989, thì đảng bắt đầu hung hăng hơn trong việc tự nâng mình lên vai trò bảo hộ văn hoá và truyền thống Trung Hoa.

Một cách mà đảng đã bắt đầu thực hiện việc này là đặt chính họ làm người bảo vệ “di sản văn hoá phi vật thể”, một cụm từ do UNESCO dùng đến, giúp giữ cho danh sách các truyền thống của từng nước luôn quan trọng đối với các quốc gia cụ thể Trái ngược với các địa điểm di sản thế giới, vốn là những công trình vật chất chẳng hạn như Vạn Lí Trường Thành hoặc Tử Cấm Thành, thì di sản phi vật chất bao gồm âm nhạc, ẩm thực, sân khấu và các nghi lễ.

Đến cuối thập niên 1990, một số truyền thống thế này vẫn còn được gắn nhãn “mê tín thời phong kiến”, một cụm từ mạ nhục theo từ điển cộng sản đồng nghĩa với những tập tục văn hoá hủ lậu. Ví dụ như các buổi tang lễ truyền thống từng bị bài bác khắp nơi, nhưng giờ nằm trong danh sách văn hoá phi vật thể của chính quyền. Tương tự là nhạc đạo vốn được trình diễn riêng trong nghi lễ ở các miếu Đạo giáo.

Kể từ khi nắm quyền vào tháng 11 năm 2012, Tập Cận Bình đã khoác lên mình tấm áo truyền thống theo cách triệt để hơn bất kì lãnh đạo Trung Quốc nào khác kể từ lúc sụp đổ chế độ đế quốc năm 1911. Phát triển dựa trên công việc của những người tiền nhiệm, đặc biệt là Hồ Cẩm Đào (胡錦濤) và lời kêu gọi cho một “xã hội hài hoà” mang âm hưởng Đạo giáo, cương lĩnh ý thức hệ của Tập bao gồm việc tiếp nhận tường minh các hình tượng đạo đức và tín ngưỡng theo truyền thống.

Năm 2013, theo một bản tin ngày 5 tháng 12 cùng năm, Tập viếng thăm quê hương Khổng Tử là Khúc Phụ (曲阜), cầm lấy quyển Luận ngữ (論語) – cuốn sách về những câu châm ngôn và ý tưởng của bậc đại hiền triết này – và một quyển tiểu sử về ông, rồi tuyên bố: “Tôi muốn đọc hai cuốn này thật tử tế.” Ông còn tự nặn ra câu cách ngôn kiểu Khổng giáo – “Nước không có đức thì không thể hưng” (国无德不兴 – quốc vô đức bất hưng). Năm tiếp sau đó, ông trở thành lãnh đạo đầu tiên của Đảng cộng sản từng tham gia buổi lễ kỉ niệm ngày sinh Khổng tử. Phát biểu ở Mạng Nho học Quốc tế, Tập nói, “để nhận thức được Trung Quốc và nhân dân Trung Quốc ngày nay, ta cần phải thâm nhập văn hoá và huyết mạch của Trung Quốc, và phải tư dưỡng cho người Trung Quốc nắm chắc phần thổ nhưỡng văn hoá của mình.” Những lời ám chỉ kinh điển của ông đã xuất hiện quá nhiều đến mức vào ngày 8 tháng 5 năm 2014, tờ Nhân dân Nhật báo đăng đầy hai trang báo liền mặt để giải thích chúng.

Ngay khi bước vào giai đoạn Tập giữ vị trí lãnh tụ của đảng, lối nói tu từ truyền thống bắt đầu chi phối vùng không gian công ở các thành phố Trung Quốc. Ví dụ như giữa năm 2013, nhiều tấm bích chương bắt đầu mọc lên khắp Trung Quốc, trong đó nghệ thuật truyền thống Trung Quốc được khéo léo chiếm dụng, đi kèm những hình ảnh này là các tham chiếu về “Giấc mộng Trung Quốc” (中国梦 – China Dream).

Giấc mộng Trung Quốc là cái mà Tập Cận Bình góp vào kho khẩu hiệu của đất nước – mọi lãnh đạo hàng đầu đều phải có ít nhất một cái. Hầu hết đều chỉ đến các học thuyết bí truyền, chẳng hạn thuyết “Ba đại diện” (三個代表 – Three Represents) của Giang Trạch Dân (江泽民), một thuyết liên quan đến việc đảng đại diện cho mảng xã hội rộng lớn hơn so với thời quá khứ. Tương phản với ý đó là ý tưởng của Tập, vốn dễ nắm bắt hơn – ai mà chẳng có ước mơ? Khẩu hiệu này được liên hệ với nhiều mục tiêu, bao gồm chủ nghĩa dân tộc và việc Trung Quốc trỗi lên nổi bật trên toàn cầu, nhưng ở trong nước thì hình tượng của nó luôn được liên kết với văn hoá và phẩm hạnh truyền thống.

Ở Trung Quốc, đa số các tuyên truyền theo truyền thống đều có vẻ chán chường: thường là các biểu ngữ màu đỏ với chữ trắng hoặc vàng, hô hào người dân hãy đi theo chính sách của Đảng cộng sản, hãy thuận theo việc điều tra nhân khẩu, hoặc hãy biến khu phố địa phương trở nên đẹp đẽ hơn. Tuy nhiên, những tấm bích chương Giấc mộng Trung Quốc lại đầy màu sắc, sáng rỡ và khả ái. Nhiều tấm chứa các bức tranh vẽ những bức tượng nhỏ bằng đất sét, tác phẩm của “Nê Nhân Trương” (泥人张 – Niren Zhang – người đất sét họ Trương), một nghệ sĩ nổi danh trong quần chúng và nổi danh ở Trung Quốc giống như Norman Rockwell ở Hoa Kỳ vậy. Theo truyền thống, những tượng nhỏ đất sét này biểu hiện các cảnh quan từ đời sống thường nhật và đời sống tín ngưỡng, hoặc từ khung cảnh tiêu khiển, chẳng hạn như các nhân vật từ Kinh kịch hoặc các vị thần như Quan Công. Những bộ tượng như thế được gửi đến các hội chợ trên thế giới trong suốt những năm cuối triều Thanh (1644-1911) để làm minh hoạ cho nghệ thuật Trung Quốc.

 

(còn tiếp)

Biên dịch: Đoàn Khương Duy

Nguồn: Ian Johnson, “China’s memory manipulators”, The Guardian, 08/06/2016

Bài tiểu luận này được cải biên từ cuốn The Oxford Illustrated History of Modern China (Lịch sử minh hoạ của Oxford về Trung Quốc hiện đại), xuất bản ngày 23/6/2016 của nhà Oxford University Press.