Di sản của Đế chế Ottoman đối với trật tự Trung Đông


Carl Bildt

Nguồn gốc sâu xa của rất nhiều xung đột tại Trung Đông nằm ở sự tan rã của Đế chế Ottoman vào đầu thế kỷ 20, cùng với đó là sự thất bại trong việc xây dựng một trật tự ổn định cho khu vực kể từ thời điểm nói trên. Trong quá trình hướng tới mục tiêu đảm bảo nền hòa bình bền vững cho toàn vùng, các nhà lãnh đạo của cộng đồng quốc tế cần ghi nhớ bài học lịch sử từ Đế chế Ottoman.

Ottoman – một đế chế từng trải dài từ thành phố Bihac của Bosnia ngày nay đến tận Basra, Iraq – là bức tranh đầy màu sắc bởi sự pha trộn văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ dưới quyền cai quản tối cao của vị Sultan[1] ở Istanbul. Đây từng là nơi đặc biệt ổn định, tạo ra nền tảng hòa bình cho toàn khu vực suốt hàng trăm năm. Tuy nhiên, khi sự tan rã bắt đầu nhen nhóm, nó đã khiến tình hình trở nên vô cùng bạo lực.

Vùng Balkan là nơi khởi đầu của quá trình tan rã của Đế chế Ottoman thành các quốc gia – dân tộc. Đó cũng đồng thời là tiến trình mở màn cho những cuộc chiến khốc liệt – lần đầu tiên diễn ra vào đầu thế kỷ 20, lần thứ hai là vào thập niên 1990.

Trong khi đó, ở vùng Lưỡng Hà và Levant (Đông Địa Trung Hải), một loạt các quốc gia mới nổi lên khi các cường quốc bên ngoài vẽ lại bản đồ Ottoman. Syria và Iraq là kết quả của các cuộc đàm phán tranh giành lợi ích giữa Pháp và Anh. Người Hy Lạp đã thực hiện một nỗ lực thất bại nhằm xâm chiếm miền tây Anatolia – rốt cuộc làm nổ ra cuộc cách mạng dẫn tới sự ra đời của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Đồng thời, Tuyên bố Balfour năm 1917 – một cam kết của nước Anh về việc thành lập nhà nước Do Thái trên vùng lãnh thổ Palestine – đã trở thành cơ sở cho sự ra đời của Israel vào năm 1948, kéo theo hàng chục năm xung đột và thương lượng triền miên.

Việc xác định tỉnh Mosul của Đế chế Ottoman sẽ thuộc về nước nào cho thấy là một vấn đề khó khăn, bởi tỉnh này cùng lúc được cả chính quyền mới của Thổ Nhĩ Kỳ lẫn Iraq tuyên bố chủ quyền. Một hội đồng được thành lập bởi Hội Quốc Liên và do một nhà ngoại giao Thụy Điển dẫn đầu đã đi khắp khu vực nhằm tìm kiếm một giải pháp phù hợp nhưng sau cùng đành thất bại trong việc vẽ ra được đường ranh giới thỏa mãn các bên. Rốt cuộc, hội đồng này đề xuất sáp nhập Mosul vào Iraq, nhưng quyết định này được đưa ra là do nước này được cho là sẽ nằm dưới sự ủy trị kéo dài hàng thập niên của Hội Quốc Liên.

Kể từ đó, trải qua các cuộc chiến tranh và cách mạng triền miên, có một chân lý vẫn giữ nguyên giá trị: không một ranh giới nào ở Ottoman đủ rõ ràng để có thể sắp đặt êm thấm một trật tự mới giữa các nhà nước hay thực thể chính trị mà vẫn đảm bảo được sự thuần nhất về sắc tộc, dân tộc cũng như tôn giáo. Thừa nhận thực tế đó quả thực là một nghịch lý, bởi trật tự khu vực được tạo ra sau Thế chiến I có thể là một sự sắp đặt tùy tiện, nhưng bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi trật tự đó lại có thể dẫn đến những hậu quả thậm chí còn đẫm máu hơn.

Một ví dụ điển hình là nếu tách Iraq thành 2 nhà nước theo giáo phái Sunni và Shia sẽ dễ dàng tạo ra phiên bản ở vùng Lưỡng Hà của thảm kịch 1947 tại Nam Á khi hàng triệu người bỏ mạng trong lúc cố gắng trốn chạy sang Pakistan hoặc Ấn Độ sau sự kiện đất nước này tách làm hai. Thực vậy, cuộc xung đột giữa người Ả-rập và người Kurd vốn sẽ nảy sinh nếu Iraq bị chia cắt có lẽ sẽ vô cùng đẫm máu và dai dẳng, đồng thời tạo ra những hệ lụy sâu sắc đối với Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, những nơi có số lượng người Kurd đông đảo. Cuộc chiến giành quyền kiểm soát Baghdad rất có thể cũng sẽ khốc liệt tương tự.

Để tìm ra một giải pháp cho xung đột tại Syria cũng không phải là điều đơn giản. Nhà nước của tộc Alawite (do Assad lãnh đạo) được Nga bảo trợ dọc vùng ven biển có thể sẽ đứng vững, nhưng quyền lực tại Damascus vẫn là một cuộc tranh giành không hồi kết. Nhóm thiểu số đạo Cơ Đốc tại Syria sẽ trở thành nạn nhân của những nỗ lực tranh đoạt nói trên. Quốc gia này vốn là cội nguồn của một vài những cộng đồng Cơ Đốc giáo cổ xưa nhất trên thế giới, những cộng đồng dù quy mô đã bị thu hẹp đi đáng kể so với trước đây nhưng vẫn tiếp tục nắm giữ những quyền lịch sử không thể chối cãi đối với toàn khu vực. Họ là một phần của mảnh ghép nhỏ trong bức tranh về một Ottoman đa dạng được giữ gìn ở Syria ngày nay; và họ sẽ diệt vong nếu bức tranh đa sắc này biến mất hoàn toàn.

Có một điều chắc chắn là bức tranh đa dạng của Ottoman đã bị hủy hoại nghiêm trọng và hiện đang trong tiến trình tan rã. Nhưng dù những thành phố thương nghiệp đa văn hóa cổ xưa như Aleppo và Mosul có thể không bao giờ phục hồi và phồn vinh trở lại, đó cũng không phải là cái cớ để cắt xẻ lãnh thổ khu vực này theo các ranh giới mới, nếu không muốn trả giá bằng một biển máu.

Trong quá trình nỗ lực để chấm dứt sự hỗn loạn và xung đột đang xé nát Trung Đông, đồng thời thiết lập một trật tự khu vực có thể giúp duy trì hòa bình và ổn định dài lâu, các nhà lãnh đạo của cộng đồng quốc tế nên cố gắng làm việc trong các khuôn khổ hiện hữu. Những chiến lược gia ngồi phòng lạnh ở các đất nước xa xôi sẽ chỉ đang tự huyễn hoặc bản thân nếu họ nghĩ rằng các nỗ lực áp đặt các biên giới mới rõ ràng hơn lên vùng đất cổ xưa này sẽ không thất bại trong bối cạnh hiện nay.

Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Carl Bildt, “Preserving the Ottoman Mosaic”, Project Syndicate, 30/11/2015.

Carl Bildt là ngoại trưởng Thụy Điển từ năm 2006 đến tháng 10 năm 2014, và là Thủ tướng trong giai đoạn 1991-1994, khi ông đàm phán cho việc Thụy Điển gia nhập EU. Là nhà ngoại giao quốc tế nổi tiếng, ông từng đảm trách chức vụ Đặc sứ của EU ở Nam Tư cũ, Đại diện cấp cao về vấn đề Bosnia và Herzegovina, Đặc sứ của Liên Hiệp Quốc ở khu vực Balkan, và là Đồng Chủ tịch của Hội nghị Hòa bình Dayton.

Advertisements

Nhìn lại lịch sử Đảng Cộng sản Pháp – Phần cuối


Những hạn chế của cương lĩnh chung

Cương lĩnh chung không chỉ là một « hình thức liên minh » như sau đó người ta đã nói. Đó là một dự án nhất quán, một chiến lược thực sự nhằm ba mục tiêu : phát hiện những con đường cho một sự tăng trưởng khác xung quanh một khu vực công cộng đã được củng cố, gắn chặt toàn bộ giới làm công ăn lương với những tầng lớp trung lưu xung quanh một dự án xã hội và chính trị hiện đại hóa, đem tới một cơ sở chính trị rõ ràng cho những sự tập hợp ở vòng hai, sự tập hợp đã trở nên cần thiết do phương thức bỏ phiếu theo đa số.

Dù cho nhất quán, chiến lược này vẫn cứ thất bại. Phải chăng là vì nó chỉ nhằm vào những người ở cấp cao nhất ? Như thế chưa đủ. Trong 10 năm (1962 – 1972) những người cộng sản đã phấn đấu để làm cho cương lĩnh chung trở thành một yêu sách rộng rãi, đó là điều mà những người xã hội lúc đầu còn im lặng về sau thì không thể bỏ qua. Nhưng chiến lược của cương lĩnh chung lại có nhiều khiếm khuyết tỏ ra rất tai hại đối với chính nó.

Trước hết, nó ra đời trong một giai đoạn tăng trưởng, khi hoạt động của nhà nước còn có hiệu lực. Lúc đó, không phải là điều vô nghĩa nếu nghĩ đến một chính sách theo kiểu Keynes, mạnh mẽ hơn và mở rộng hơn về mặt xã hội. Nhưng khi cuộc khủng hoảng đã tới, khi vai trò thúc đẩy của nhà nước đã mất đi và sức mạnh của chính sách thay đổi này không còn rõ rệt, như người ta đã thấy vào những năm từ giữa 1981 đến giữa 1983. Phương pháp tiến hành của cương lĩnh hoàn toàn có tính chất nhà nước, điều đó không còn đủ để tư duy về sự biến đổi xã hội và về cách mạng.

Hơn nữa, đảng lại im tiếng trong một thời gian dài. Trong tinh thần những người cộng sản, thắng lợi của cương lĩnh chung mở ra một thời kỳ biến đổi dân chủ. Nhưng làm thế nào để vượt qua những logic kinh tế – xã hội thống trị và nhất là làm thế nào hình dung được chủ nghĩa xã hội mà người ta nói là mục tiêu của những người cộng sản ? Cả ở đây nữa, Đảng Cộng sản Pháp vẫn im tiếng. Hay nói đúng hơn, đảng tiếp tục nghĩ rằng chủ nghĩa xã hội, về bản chất vẫn là sự kế tục những gì đã diễn ra ở Liên Xô bắt đầu từ những năm 1920. Tất nhiên, kể từ những năm 1965 và hơn thế từ 1975, chúng ta đã tách ra xa một cách rõ rệt với những điều tệ hại hiển nhiên nhất của hệ thống. Nhưng sự hình dung xã hội có thể có vẫn được xây dựng dựa trên mô hình ban đầu. Chủ nghĩa cộng sản là gì ? Đó là Liên Xô trừ đi sự thiếu dân chủ. Vì không có sự đoạn tuyệt rõ rệt với mô hình cũ, nên hình ảnh của Đảng Cộng sản Pháp chỉ có thể phụ thuộc vào hình ảnh của Liên Xô và được đánh giá ở mức thấp nhất trong dư luận quần chúng.

Cuối cùng, khi Đảng Cộng sản Pháp đưa ra tư tưởng về cương lĩnh chung thì SFIO đang ở trong một quá trình khủng hoảng liên tục dẫn nó tới bờ vực thẳm vào năm 1969. Vậy mà năm 1971, với sự giúp đỡ của François Mitterrand đối với đảng của Epinay, thì những người xã hội xoay chiều. Họ đổi mới diễn từ của mình, họ biến báo ngôn ngữ và quyết định ký cương lĩnh chung : những người xã hội hoạt động trên mọi lĩnh vực, họ là đồng chủ nhân của cương lĩnh chung, họ nắm lấy những phong trào mới (sinh thái, nữ quyền, tự quản…) và họ phát triển, bên cạnh cương lĩnh, một ngôn ngữ chính trị có dáng dấp ôn hòa và « hiện thực » trên đó họ xây dựng hình ảnh của mình là những người có khả năng quản lý đất nước.

Cùng thời gian đó, Đảng Cộng sản Pháp không bảo vệ cương lĩnh của chính mình mà bảo vệ cương lĩnh chung (với nguyên nhân : đảng đã xây dựng phần chủ yếu trong đó !) ; đảng phê phán những phong trào nảy sinh từ « tinh thần 1968 ». Và trong dư luận đảng vẫn gắn chặt với phe xã hội chủ nghĩa. Như vậy việc xây dựng hình ảnh cộng sản đã trở nên mất cân bằng : hình ảnh đó đã được cải thiện trong những năm 70, nhưng niềm tin tưởng nói chung vào sự án thì bấp bênh. Kết quả : chính là đảng xã hội đã biết lợi dụng được khả năng động viên tăng lên của cánh tả.

Khủng hoảng và đổi mới

Lịch sử hai thập kỷ gần đây đã phần nào chứng minh điều này. Đảng Cộng sản Pháp những năm 80 phải trả giá cho sự thua thiệt hai mặt, đó là những bước chậm trễ để thích nghi rồi cả cách thức khúc mắc mà đảng sử dụng bù đắp sự chậm trễ đó. Vì Đảng Cộng sản Pháp trong những năm khó khăn này không thiếu lòng ham muốn đổi mới. Phong cách của đảng biến đổi, diễn từ của đảng hiện đại hóa và dần dần thoát ra khỏi những trụ cột chủ yếu của hệ thống tư duy cũ : từ bỏ chế độ đảng duy nhất vào đầu những năm 60, từ bỏ « chuyên chính vô sản » vào năm 1976, từ bỏ quan niệm quá gò ép của « phong trào cộng sản quốc tế », giữa 1976 và 1978, cuối cùng là « chủ nghĩa Marx – Lenin » năm 1979. Nhưng những biến đổi đôi lúc đột ngột này không mang lại hiệu quả tức thời, và làm hại đến một chính đảng vẫn muốn rằng nhờ có việc ký cương lĩnh chung được mong đợi từ lâu mà mình sẽ có bước tiến trong bầu cử. Thế nhưng, bước tiến đó đã không diễn ra, mà đúng hơn lại thuộc về phần đảng xã hội.

Phải nói thêm rằng trong giai đoạn không vững chắc này, đảng đã không biết quản lý tình hình đa dạng thực tế trong hàng ngũ mình, bởi vì đảng tiếp tục hoạt động theo những tiêu chuẩn cổ điển của sự nhất trí cộng sản, đúng như thời kỳ Stalin đã ấn định. Sự đa nguyên quan điểm đã làm cho người ta sợ, vì người ta e rằng nó sẽ xâu xé đảng thành nhiều xu hướng. Và như vậy, cuộc khủng hoảng nội bộ bắt đầu từ những năm 78 – 80, sự lùi bước của chủ nghĩa cộng sản châu Âu và những thua thiệt trong bầu cử đã làm mất ổn định chủ nghĩa cộng sản Pháp.

Không có sự quay lại phía sau ; Đảng Cộng sản Pháp không bao giờ rút lui khỏi những bước tiến đã đạt được trước đây, và những phê phán về tình trạng thiếu dân chủ ở Liên Xô. Nhưng công cuộc đổi mới được phác họa trong những năm 60 – 70 đã không được đẩy đến cùng, kể cả về dự án cộng sản, về « chủ nghĩa xã hội hiện thực » và về bản thân đảng. Sự bế tắc không phải là định mệnh, và một ý chí lãnh đạo tập thể hẳn đã có thể cho phép tránh được những hậu quả, giảm nhẹ những rối loạn, những cay đắng và những đau khổ. Cũng phải thấy rằng điều đó đã không diễn ra, tất nhiên vì sự đè nặng ghê gớm của một thứ văn hóa chính trị, sinh ra từ những thập kỷ trước đây, vừa có tầm lớn lao vừa có những hạn chế của nó.

Phải đợi đến sự sụp đổ của Liên Xô và của chủ nghĩa xã hội Đông Âu, sự kết thúc kinh nghiệm Mitterand và nhiều năm rối loạn nội bộ để cho ý muốn làm sáng tỏ mọi chuyện lại được khẳng định và tác động tới quan niệm của đảng. Tháng 6/1993, Georges Marchais đề nghị từ bỏ khái niệm gốc rễ về « tập trung dân chủ » ; tháng Giêng 1994 Đại hội lần thứ 28 thông qua đề nghị này cùng với điều lệ mới, một điều lệ hoàn toàn xây dựng lại. Từ đó « sự chuyển hóa » được đặt vào trung tâm của diễn từ cộng sản.

Vào cuối thế kỷ 20 này, vấn đề cộng sản trở nên hiện đại hơn bao giờ hết, và ở nước Pháp, tồn tại một hoạt động theo kiểu cộng sản phân biệt (không có nghĩa là tách biệt) với những thành phần khác của trào lưu tiến bộ, Đảng Cộng sản Pháp là một hình ảnh biến đổi, tiếng tăm của đồng chí Bí thư toàn quốc rất lớn. Nhưng niềm tin vào lợi ích chính trị của đảng còn chưa đầy đủ. Nội dung hiện thời của dự án và của tổ chức phải chăng đã đầy đủ ? Cuộc tranh luận này không còn là cuộc tranh luận giữa các nhà sử học về lịch sử. Nó là sự lựa chọn tương lai, nó thuộc về toàn đảng.

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Roger Martelli – Regard sur l’histoire du Parti Communiste Français – Les Cahiers du communisme – 10/1996, pp38 – 41.

TĐB 97 – 03.

Nhìn lại lịch sử Đảng Cộng sản Pháp – Phần đầu


Roger Martelli

BBT: Trong quá trình đổi mới (được gọi là chuyển hóa) hiện nay của Đảng Cộng sản Pháp, việc nhìn lại lịch sử của bản thân Đảng có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng. Bài viết này tổng kết một số ý kiến chủ yếu về vấn đề này, và đi từ những điểm cơ bản nhất: suy nghĩ về nguồn gốc sự ra đời của Đảng; điểm lại những cái mốc đồng thời cũng là những bài học lớn trong lịch sử Đảng; đánh giá những sai lầm và những nỗ lực khắc phục sai lầm của Đảng, trong đó sự liên minh với Đảng xã hội và sự tan vỡ của liên minh đó được nhìn nhận lại một cách nghiêm khắc. Bài viết toát lên ý chung khẳng định sự lựa chọn cộng sản là đúng, nhưng đồng thời nêu lên phương hướng hành động sắp tới để cho sự lựa chọn đó vẫn tiếp tục được khẳng định.

Giờ đây Đảng Cộng sản Pháp tiếp tục suy nghĩ về bản thân mình, về chặng đường đã qua và chặng đường sẽ tới. Đảng không làm điều đó theo kiểu trước đây. Đảng không phủ nhận quá khứ, Đảng nhất quyết khẳng định những trang sử vinh quang. Nhưng Đảng cố gắng nhìn thẳng vào lịch sử, tất cả lịch sử của mình, kể cả lịch sử những sai lệch, những giờ phút nặng nề và những lầm lỗi. Điều đó là cần thiết, nhưng không phải là dễ dàng

Suy nghĩ về nguồn gốc

Việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp là kết quả của sự lựa chọn của các đại biểu tại Đại hội lần thứ 18 của SFIO [chi nhánh Pháp của Liên hiệp công nhân quốc tế], khi quyết định gia nhập vào Quốc tế Cộng sản. Ngay sau chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, cần phải có một phong trào công nhân vốn đã mất ổn định vì bốn năm trời xung đột phải trả giá quá đắt. Để có được một sinh khí mới, những chiến sĩ đấu tranh kiên quyết nhất phải tận dụng được một sự kiện và nắm lấy một mô hình. Sự kiến đó là – Cách mạng Tháng Mười, mô hình đó là mô hình những người Bonsevich của Lenin.

Sự lựa chọn này rất hợp lý. Cách mạng Tháng Mười Nga là tấm gương của một cuộc cách mạng thành công và nó làm sống lại ở nước Pháp một truyền thống cách mạng vững chắc. Trong một thời kỳ mà lịch sử sôi sục và châu Âu bốc lửa, thì ở nước Pháp người ta tranh cãi về những mô hình có thể. Phải chọn London hay Moskva, chủ nghĩa xã hội đại nghị của Công đảng hay chủ nghĩa Bonsevich? Thiểu số ưa thích London, đa số chọn Moskva vừa rất xa vừa rất gần.

Phải chăng là Đại hội ở Tours đã lựa chọn đúng? Những chiến sĩ cộng sản ngày nay luôn luôn trả lời một cách khẳng định. Người ta có thể bàn cãi về những hình thức có phần thô bạo trong sự đoạn tuyệt vào cuối năm 1920; nhưng, trong khi gia nhập Quốc tế Cộng sản, các chiến sĩ họp mặt ở Tours đã đem lại sự hồi sinh cho phong trào cách mạng. Ngoài ra, họ thuộc về một thuyết nhị nguyên rất lâu đời trong nội bộ của phong trào tiến bộ, đó là thuyết nhị nguyên nói chung chống lại cả khuynh hướng “Cơ hội” lẫn khuynh hướng “Cực đoan”.

Bắt đầu từ năm 1920, sự phân cực của cánh tả trên địa hạt chính trị thể hiện trước hết ở việc phân biệt giữa những người cộng sản và những người xã hội. Chủ nghĩa cộng sản Pháp đặt trong bối cảnh đất nước không phải là một chuyện tình cờ hay một sáng kiến giả tạo. Nó thuộc về một quỹ đạo quốc tế xuất phát từ cội rễ tư tưởng xã hội và chính trị Pháp. Thời cơ năm 1920 đã dẫn đến sự ra đời của một đảng chính trị Pháp, thời cơ đó đã tạo nên cho đảng một hình thức phổ biến, hình thức của phong trào cộng sản thế kỷ 20.

Cắm vào mảnh đất nước Pháp, Đảng Cộng sản Pháp, ngay từ những năm đầu tiên, đã tìm được chỗ đứng không thể nào coi thường. Nhưng, dù sao, lúc đầu chỗ đứng vẫn còn mong manh. Giữa năm 1927 và 1934 Đảng cộng sản Pháp bị gò vào một định hướng hẹp hòi và bè phái theo ý muốn của Quốc tế cộng sản (chiến lược gọi là “giai cấp đấu tranh chống giai cấp”). Chiến lược này trong một thời gian đã cắt đứt đảng khỏi truyền thống dân chủ và bình dân của Pháp. Cho tới năm 1934, Đảng Cộng sản Pháp vẫn được chấp nhận về mặt xã hội, nhưng về mặt chính trị Đảng không được sự thừa nhận của ngay những con người vẫn cho là đảng có ích trên địa hạt hoạt động công đoàn, đô thị, hay hoạt động liên hiệp.

Phải đợi đến bước ngoặt chiến lược những năm 1934 – 1935 với sự thắng lợi của đường lối “Mặt trận bình dân” thì chỗ đứng này mới được củng cố và mở rộng. Trong khi phục hồi cuộc chiến đấu thực sự dân chủ và hiệu lực của sự tập hợp, trong khi thể hiện ý chí đó qua cuộc chiến đấu chống phát xít rồi cuộc kháng chiến, Đảng Cộng sản Pháp đã đẩy lùi những nguy cơ cô lập và trở thành một yếu tố quan trọng trên địa bàn xã hội và chính trị ở Pháp. Còn lực lượng của đảng ở đâu? Đảng đồng thời gánh vác ba chức năng: 1) thể hiện sự đòi hỏi phản kháng và yêu sách của nhân dân, trong khi củng cố vị trí của mình ở công đoàn và ở thành phố; 2) là hiện thân của niềm hy vọng xã hội trong khi dựa vào hình ảnh của Liên bang Xô viết, một hình ảnh vừa có thực vừa tưởng tượng; 3) Đảng xác định một triển vọng hấp dẫn là hiện thực về sự tập hợp, trong khi đề cao mặt trận bình dân và thúc đẩy cuộc kháng chiến trên đất Pháp.

Chính sự kết hợp 3 chức năng này – “bảo vệ nhân dân”, không tưởng và thực sự chính trị – đã tạo nên chủ nghĩa cộng sản ở nước Pháp. Từ đây, Đảng Cộng sản Pháp đã dự phần vào di sản dân tộc.

Những trở lực và những bước tiến lên

Ảnh hưởng của một lực lượng vẫn có thể tồn tại lâu dài và tiếp tục tái sinh ngay khi những hoàn cảnh để nó xuất hiện đã biến đi. Với điều kiện là khuôn khổ chính trị cho hoạt động của nó tiếp tục tương với những chờ đợi, những nhu cầu và những ước mơ của một xã hội. Vấn đề đối với Đảng Cộng sản Pháp là ở chỗ ấy. Trong ba thập kỷ tiếp theo chiến tranh, người ta quen nói rằng xã hội Pháp đã thay đổi nhiều hơn là một thế kỷ rưỡi trước đây, vậy mà trong gần 20 năm từ khi kết thúc chiến tranh cho đến giữa những năm 60, Đảng Cộng sản Pháp vẫn sống trong sự giam hãm của thời kỳ Stalin.

Trong thời kỳ này, với những cuộc đối đầu dữ dội (“chiến tranh lạnh”) cùng thái độ cứng rắn một chiều ở Đông Âu, thì mọi ý đồ làm cho chủ nghĩa cộng sản thích nghi với hoàn cảnh riêng đều bị coi là sự đầu hàng trước kẻ thù, thậm chí coi như sự chối bỏ. Đảng Cộng sản Pháp không biết đến tấn bi kịch của chủ nghĩa cộng sản cầm quyền, nhưng ở nước Pháp, Đảng đã phải trả giá cho những hậu quả của sự mù quáng đó.

Năm 1956, vào dịp Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, một cơ hội đã mở ra ở Moskva để cho chủ nghĩa cộng sản có thể thích nghi với thế giới đang vận động. Ban lãnh đạo Pháp đã không muốn rút ra những bài học cho chính mình bởi vì họ tự giam hãm mình trong việc từ chối phê phán Stalin. Quá trình đổi mới đã ngừng lại giữa đường từ 1945 đến 1947 và rồi bị bác bỏ vào năm 1956. Đảng Cộng sản Pháp vẫn luôn luôn có ích trong những cuộc đấu tranh về tiền lương hay chống chủ nghĩa thực dân, nhưng hiệu quả của nó đã giảm bớt. Và ảnh hưởng của nó lại một lần nữa bị tổn hại khi De Gaulle lên cầm quyền vào năm 1958.

Sự thực là vấn đề đã bắt đầu được sáng tỏ từ những năm 60, do sự thúc đẩy của Waldeck Rochet, rồi của Georges Marchais. Trong vài năm, Đảng Cộng sản Pháp có chuyển biến, theo một sự vận động phức tạp lên đến đỉnh cao vào năm 1976, khi Đại hội lần thứ 22 thông qua đề nghị của Georges Marchais là từ bỏ quan niệm “chuyên chính vô sản” về mặt lý luận và thực tiễn. Nhưng tất cả điều đó diễn ra trong một khuôn khổ chiến lược bị cương lĩnh chung khống chế và trong một hình thức chính trị không muốn đoạn tuyệt với mô hình ban đầu về “tập trung dân chủ”.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Roger Martelli – Regard sur l’histoire du Parti Communiste Français – Les Cahiers du communisme – 10/1996, pp38 – 41.

TĐB 97 – 03.

Tranh chấp biển Nam Trung Hoa: Các triển vọng ngoại giao phòng ngừa – Phần cuối


Những điều liên can đến chính sách của Mỹ đối với Biển Nam Trung Hoa

Trong điều kiện phức tạp của cuộc tranh chấp ở Biển Nam Trung hoa và những khó khăn trong việc đánh giá cơ sở pháp lý và lịch sử của các yêu sách đòi hỏi chủ quyền, thì những điều liên can đến chính sách của Mỹ đối với Biển Nam Trung Hoa là gì? Vì đã có những phương án lựa chọn khả dĩ được đưa ra trong các cuộc thương lượng chính trị khởi đầu giữa chính các bên đòi hỏi chủ quyền, vậy Mỹ có thể đóng vai trò gì trong việc ủng hộ một giải pháp hòa bình?

Một chính sách chặt chẽ và có hiệu quả của Mỹ đối với Biển Nam Trung Hoa phải có hai yếu tố cấu thành: a) chính sách ấy phải tích cực ủng hộ một giải pháp thương lượng hòa bình cho cuộc tranh chấp, phù hợp với lợi ích của Mỹ; b) chính sách ấy phải ngăn chặn việc sử dụng lực lượng quân sự và duy trì lòng tin về vai trò của Mỹ với tư cách là người giữ cân bằng và bảo đảm sự ổn định ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Những mối quan tâm trước mắt của Mỹ trong cuộc tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa bao gồm việc duy trì tự do hàng hải và tôn trọng luật quốc tế trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển. Những điểm này đã được nhấn mạnh trong tuyên bố ngày 10/5/1995 của Bộ Ngoại giao Mỹ về quần đảo Trường Sa và Biển Nam Trung Hoa. Trong khi giữ quan điểm trung lập về giá trị pháp lý của các yêu sách chủ quyền lãnh thổ khác nhau, Mỹ đã bày tỏ mối lo ngại về các hành động đơn phương gây mất ổn định trong khu vực, tuyên bố cho rằng việc duy trì tự do hàng hải là lợi ích cơ bản của Mỹ và kiên quyết thuyết phục các bên tranh chấp hãy giải quyết cuộc tranh chấp một cách hòa bình phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển.

Những phản ứng ban đầu của người phát ngôn báo chí chính phủ Trung Quốc về tuyên bố của Mỹ là tiêu cực, nhưng những tuyên bố của Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham tại cuộc họp của Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) ở Brunei vào tháng 8 sau đó thì bề ngoài tỏ ra cam kết với đường hướng mà chính phủ Mỹ đã đưa ra. Thể thức này cho thấy rằng Mỹ nên liên tục thể hiện mối quan tâm đến việc giúp đỡ cho một giải pháp hòa bình mau lẹ để giải quyết tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa mới có thể ngăn chặn được các hành động đơn phương của các bên đòi hỏi chủ quyền và tối đa hóa khả năng của một giải pháp thương lượng, hơn là trông chờ tất cả các bên tiếp tục làm cứng rắn thêm quan điểm của họ. Đồng thời, Mỹ cũng nên nhấn mạnh lập trường trung lập của mình và không nên ra sức hòa giải cuộc tranh chấp hay ủng hộ bất cứ một bên nào.

Nhiều chuyên gia cho rằng vai trò đi đầu của Mỹ trong nỗ lực giải pháp tranh chấp ở quần đảo Trường Sa có thể làm cho tình hình thêm phức tạp bằng cách tạo thêm những vấn đề khác cho mối quan hệ Mỹ – Trung Quốc vốn đã quá nặng nề. Một vai trò như vậy cũng sẽ được Trung Quốc coi là sự can thiệp của một bên không có đòi hỏi chủ quyền nhằm mục đích quốc tế hóa vấn đề tranh chấp. Đồng thời, việc Trung Quốc đáp lại phiên họp của ARF ở Brunei trước những mối lo ngại lớn của Mỹ được nêu lên trong bản tuyên bố về quần đảo Trường Sa ngày 10/5/1995 cho thấy Mỹ có khả năng sử dụng ảnh hưởng gián tiếp của mình để đưa các bên khiếu nại đi theo hướng xây dựng, trong khi Mỹ vẫn có thể có những hành động nhằm ngăn chặn khả năng sử dụng sách lược hăm dọa trong thương lượng hòa bình.

Sự có mặt của hải quân Mỹ trong khu vực là yếu tố cơ bản trong việc thực thi khía cạnh thứ hai của chính sách của Mỹ đối với Biển Nam Trung Hoa bằng cách ngăn chặn việc sử dụng lực lượng quân sự của bất cứ bên liên quan nào. Sự có mặt thường xuyên của hải quân Mỹ trong khu vực Biển Nam Trung Hoa nhấn mạnh mối quan tâm của Mỹ đến sự ổn định và củng cố quan điểm phổ biến cho rằng một phần quan trọng của Biển Nam Trung Hoa nằm ngay ngoài khu vực quần đảo Trường Sa được coi là hải phận quốc tế, nơi mà không bên nào có quyền tài phán về lãnh thổ.

Trong trường hợp một bên tranh chấp Trường Sa nào đó có các hoạt động đơn phương gây mất ổn định thì hải quân Mỹ có thể đóng vai trò cân bằng ở châu Á – Thái Bình Dương bằng cách gia tăng sự có mặt của hải quân trong hải phận quốc tế tương xứng với mức độ nghiêm trọng của bất cứ sự khiêu khích đơn phương nào.

Một phản ứng như vậy sẽ nhấn mạnh sự cam kết của Mỹ muốn giúp giải quyết cuộc tranh chấp một cách phi bạo lực, trong khi tránh cho Mỹ phải đứng về một bên hoặc trở thành một bên tranh chấp. Phản ứng gần đây của hải quân Mỹ trước các cuộc tập trận tên lửa của Trung Quốc ở Eo biển Đài Loan cho thấy sự có mặt quân sự tăng lên của Mỹ nhằm đáp lại các hoạt động hiếu chiến đơn phương có tầm quan trọng nhất định nhằm đảm bảo với các đồng minh châu Á rằng Mỹ vẫn quyết tâm ngăn chặn các hoạt động đơn phương gây mất ổn định đe dọa hiện trạng châu Á.

Một số nhà phân tích cho rằng Mỹ nên khuyến khích sự công khai hơn nữa ở Biển Nam Trung Hoa bằng cách sử dụng do thám vệ tinh nhằm tích cực kiểm soát và có báo cáo công khai về các hoạt động trong khu vực. Nếu như những thông tin trên được truyền cho một cơ quan trung gian phi chính phủ và được các bên tranh chấp ở khu vực Trường Sa tôn trọng thì một khả năng khác có thể sẽ là việc tìm cách hỗ trợ kỹ thuật cho các cuộc thương lượng về “vùng phụ cận” bằng việc sử dụng ảnh chụp qua vệ tinh, tương tự như những gì cơ quan bản đồ quốc phòng đã cung cấp cho các cuộc đàm phán “vùng phụ cận” ở Bosnia.

Rất ít có khả năng sự trợ giúp trực tiếp của Mỹ là hữu ích hoặc được chấp nhận trong việc giải quyết tranh chấp ở quần đảo Trường Sa. Xét cho cùng, vẫn có một loạt cơ chế có thể được sử dụng để giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp mà không cần có sự can dự của Mỹ. Vai trò mang tính chất xây dựng nhất của Mỹ có thể là thúc giục các bên có những quyết tâm chính trị cần thiết để tìm ra các giải pháp hòa bình, đồng thời tiếp tục ngăn chặn một giải pháp quân sự cho các cuộc tranh chấp tương lai. Quan trọng hơn cả là Mỹ nên ủng hộ chính sách ngoại giao phòng ngừa của các bên hữu quan bằng cách nhấn mạnh những tiền lệ tích cực chẳng hạn như Anh và Argentina quyết định thương lượng về đường biên giới trên đảo Falkland (Malvinas) mà không làm thiệt hại đối với các yêu sách của các bên tranh chấp khác. Một chính sách “trung lập tích cực” kiên định của Mỹ, kết hợp với việc tăng cường ủng hộ một giải pháp hòa bình và mau lẹ đối với các yêu sách mâu thuẫn nhau của các bên có tranh chấp phù hợp với luật biển, là dấu hiệu chắc chắn nhất thể hiện sự ủng hộ chính sách ngoại giao phòng ngừa mà Mỹ có thể đưa ra nhằm ngăn chặn một cuộc xung đột tiềm tàng ở Biển Nam Trung Hoa.

Người dịch: Nguyễn Văn Thuộc

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Scott Snyder – The South China sea dispute: prospets for preventive diplomacy – Báo cáo đặc biệt của Viện Hòa bình (Mỹ) – Tháng 05/1996.

TĐB 97 – 01 & 02

Tranh chấp biển Nam Trung Hoa: Các triển vọng ngoại giao phòng ngừa – Phần V


Giải quyết các vấn đề song phương trước, sau đó mới theo đuổi các cuộc thương lượng đa phượng  – Theo truyền thống, những nước nhỏ có yêu sách chủ quyền ở quần đảo Trường Sa thường có sự miễn cương khi theo đuổi các cuộc thương lượng song phương với các nước lớn hơn, vì họ sợ rằng nước lớn hơn sẽ áp đảo về mặt ngoại giao đối với các nước láng giềng nhỏ hơn, và sẽ tạo nên những tiền lệ không thỏa đáng cho các cuộc thương lượng song phương khác. Mặt khác, Trung Quốc đã chính thức phản đối việc kêu gọi đàm phán đa phương về vấn đề quần đảo Trường Sa, khăng khăng đòi thương lượng song phương đối với những trường hợp có liên quan đến Trung Quốc trong khi lại lên án các cuộc thương lượng song phương của các nước khác.

Tuy nhiên, sự bất hòa do có sự hiện diện quân đội Trung Quốc trong vụ đảo Vành Khăn đã trở thành chất xúc tác thúc đẩy sự tiến bộ trong việc đặt các vấn đề về quần đảo Trường Sa ở cả cấp song phương lẫn đa phương tại cuộc họp của Diễn đàn khu vực ASEAN ở Brunei tháng 8/1995, và tại cuộc thương lượng về “các nguyên tắc song phương cho một giải pháp hòa bình” giữa Việt Nam và Philippines.

Do mức độ liên kết tăng lên giữa các bên đòi hỏi chủ quyền thuộc khối ASEAN sau sự kiện đảo Vành Khăn (và kể từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN màu hè năm 1995), có lẽ bây giờ là thời điểm để bắt đầu các cuộc thương lượng song phương nhằm giải quyết tranh chấp trong các khu vực ở Biển Nam Trung Hoa, nơi không có nhiều bên tranh chấp. Nếu các cuộc thương lượng song phương thành công ở những khu vực chỉ có hai nước tranh chấp thì những hiệp định như vậy sẽ có tác dụng thu hẹp đáng kể toàn bộ khu vực tranh chấp. Hơn nữa, việc ký kết những hiệp định giải quyết tranh chấp ở những khu vực chỉ có hai nước đòi hỏi chủ quyền sẽ tạo đà cần thiết để hướng đến một giải pháp đa phương cho khu vực tranh chấp có nhiều yêu sách chồng lấn. Cần phải nghiên cứu kỹ ý nghĩa của các khu vực có các yêu sách song phương chồng lấn, nghiên cứu tiềm năng tài nguyên của các khu vực này cùng những hậu quả chiến lược của cuộc đàm phán song phương nhằm tạo đà để giải quyết tranh chấp.

Một mối quan tâm có liên quan đến biện pháp tiếp cận này là khả năng của các giải pháp song phương trong việc có thể trở thành một tiền lệ cho các cuộc thương lượng tiếp theo nhằm thừa nhận những yêu sách bành trướng của những nước yêu sách có thế lực nhất trong cuộc tranh chấp này. Nếu như giữa các bên đòi hỏi chủ quyền là thành viên của ASEAN có một cơ chế phối hợp chặt chẽ thì có thể “chặn đứng” được một quá trình thương lượng song phương bằng các cuộc hội đàm đa phương giống như việc triển khai một lập trường phối hợp giữa các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ trong các cuộc thương lượng hạt nhân với CHDCND Triều Tiên. Một cơ sở tư vấn giữa các nước ASEAN hiện đã được hình thành, và một lập trường phối hợp của ASEAN sẽ cung cấp cho các nước Đông Nam Á nhỏ bé lực đòn bẩy đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của các thành viên ASEAN trong cuộc thương lượng với Trung Quốc. Một biện pháp tiếp cận như vậy là phù hợp với nỗ lực của ASEAN nhằm theo đuổi việc “hòa nhập” của Trung Quốc vào khu vực hơn là mưu toan thi hành chính sách kiềm chế đối với Trung Quốc.

Xây dựng ý chí chính trị để hỗ trợ cho giải pháp hòa bình

Đảo Vành Khăn đã đánh dấu một giai đoạn mới trong cuộc tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa. Nó đã huy động các bên đòi hỏi chủ quyèn thuộc khối ASEAN phối hợp với nhau phản ứng lại việc Trung Quốc chiếm một bãi đá ngầm nằm ngay trong vùng EEZ của Philippines. Sự kiện này đã buộc Trung Quốc phải đồng ý cho phép đưa cuộc tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa vào chương trình  nghị sự chính thức của Diễn đàn khu vực ASEAN tổ chức ở Brunei tháng 8/1995. Tại cuộc họp này, Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham đã trả lời bằng cách tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ theo đuổi một giải pháp cho cuộc tranh chấp phù hợp với Công ước về Luật biển của Liên hợp quốc, và ông tuyên bố rằng yêu sách của Trung Quốc không mâu thuẫn với quyền an toàn qua lại hay tự do hàng hải qua các tuyến đường biển quốc tế ở Biển Nam Trung Hoa. Trung Quốc cũng đã nhất trí đàm phán song phương với Philippines và Việt Nam để thành lập một “quy tắc chỉ đạo” ở Biển Nam Trung Hoa, thực tế dựa vào bản tuyên bố Manila của ASEAN năm 1992.

Tuy nhiên, nếu thiếu một giải pháp cho cuộc tranh chấp thì giai đoạn tiếp theo có thể sẽ có nhiều trắc trở. Các bên đòi hỏi chủ quyền đang muốn củng cố các yêu sách của mình có thể sẽ tìm cách để đóng vai “ông vua trên quả đồi” bằng cách dùng sức mạnh chiếm lại các khu vực hiện đang bị các bên khác chiếm chứ không muốn chiếm thêm các hòn đảo không có người ở. Các tiền đồn ở Biển Nam Trung Hoa là trở ngại đáng chú ý cho giải quyết tranh chấp vì bên nào đơn phương rút khỏi các khu vực này sẽ mất thể diện và sẽ gặp khó khăn hơn trong thương lượng. Việc tranh chấp trong thăm dò khai thác dầu và đánh cá có thể làm tăng khả năng xung đột đang tiềm ẩn ở khu vực, đồng thời làm cho các công ty dầu khí lớn có thể sẽ lo ngại không muốn đầu tư những khoản tiền đáng kẻ vào khu vực đang tranh chấp.

Tất cả các nhân tố gây bất ổn định tiềm tàng này cho thấy rằng không có một cơ chế cho giải pháp lâu dài đối với các cuộc tranh chấp tiềm tàng ở Biển Nam Trung Hoa vừa được trình bày ở trên có thể thực hiện được nếu tất cả các bên không có ý chí quyết tâm chính trị đi đến bàn thương lượng và mong muốn tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Sự kiện đảo Vành Khăn đã tập trung sự chú ý của khu vực vào những nguy cơ kéo theo đối đầu quân sự ở Biển Nam Trung Hoa và làm tăng thêm mối nghi ngờ của ASEAN về những ý đồ và sách lược lâu dài của Trung Quốc. Sự kiện này cũng phác họa một bức tranh rõ nét hơn về những chi phí quá lớn cho việc áp đặt một giải pháp quân sự. Nhưng những thuận lợi của việc cùng hợp tác so với những tốn kém của sự đối đầu vẫn không đủ sức mạnh cần thiết để khắc phục những phản ứng về vấn đề tranh chấp chủ quyền. Hơn nữa, cuộc khủng hoảng tức thì trong quan hệ giữa Philippines và Trung Quốc đã phai nhạt đi theo thời gian. Người ta lại chú ý hơn đến sự leo thang căng thẳng giữa Trung Quốc và Đài Loan, làm mất đi cái đà cần thiết cho việc tiến tới hình thành một giải pháp thương lượng ở quần đảo Trường Sa. Sự thất bại trong việc tìm hiểu các vấn đề cốt lõi đã làm tăng khả năng về việc xảy ra một cuộc khủng hoảng khác trước khi các bên tìm thấy quyết tâm chính trị để bước vào bàn thương lượng.

Một số nhà phân tích cho rằng gần đây do có sự chuyển giao chính trị trong nội bộ Trung Quốc, và nhu cầu tập trung vào các mối căng thẳng cấp bách hơn trong quan hệ qua hai eo bờ biển Đài Loan, nên không có một dấu hiệu trước mắt nào chứng tỏ các bên đang sẵn sàng đi đến một giải pháp qua thương lượng. Theo phân tích của họ, hy vọng tốt đẹp nhất trong hoàn cảnh hiện nay là các cuộc tranh chấp tiềm tàng có thể được kìm nén và các quốc gia đòi hỏi chủ quyền có khả năng tránh cách hành động hiếu chiến hay các cuộc khủng hoảng mới có thể lại gây nên đối đầu.

Một số người khác cho rằng hiện nay là thời điểm để theo đuổi một giải pháp chính trị cho vấn đề tranh chấp. Theo phân tích của họ thì chủ nghĩa dân tộc đang lên và sự chuyển giao chính trị từ chế độ chuyên quyền sang chế độ dân chủ sẽ khó tập trung được sự ủng hộ chính trị cho các thỏa hiệp khó khăn về các vấn đề nhạy cảm như vấn đề chủ quyền. Hơn nữa, việc khám phá ra tiềm năng mới của nguồn tài nguyên thiên nhiên, các khuynh hướng tiêu cực lâu dài nhằm tạo thế cân bằng quân sự ở khu vực đảo Trường Sa, hay những căng thẳng giữa các bên đòi hỏi chủ quyền về các vấn đề của bên không liên quan sẽ có thể tạo nền tảng cho một cuộc xung đột khó giải quyết hơn so với tình trạng hiện nay. Không cần biết đến liệu tương lai cuộc tranh chấp sẽ dễ hay khó giải quyết hơn, tất cả các bên nên tìm kiếm cơ hội để xây dựng quyết tâm chính trị cần thiết cho việc giảm bớt khả năng xảy ra xung đột nghiêm trọng ở Biển Nam Trung Hoa.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Thuộc

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Scott Snyder – The South China sea dispute: prospets for preventive diplomacy – Báo cáo đặc biệt của Viện Hòa bình (Mỹ) – Tháng 05/1996.

TĐB 97 – 01 & 02

Tranh chấp biển Nam Trung Hoa: Các triển vọng ngoại giao phòng ngừa – Phần IV


Các biện pháp tiếp cận nhằm giải quyết tranh chấp

Sự phức tạp và không rõ ràng của các yêu sách mâu thuẫn ở Biển Nam trung Hoa đã được trích dẫn như là các yếu tố đã làm vô hiệu nhiều ý đồ trước đây nhằm đạt tới một giải pháp lâu dài cho vấn đề này, nhưng việc không phải tất cả các lập trường đều có cơ sở vững chắc cũng có thể tạo cơ hội cho sự uyển chuyển trong các cuộc đàm phán trong tương lai. Một loạt biện pháp tiếp cận đã được đưa ra để xem xét nếu các bên có thể phát triển một ý chí chính trị muốn giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng.

Các cơ chế để duy trì đối thoại

Các cuộc gặp không chính thức về Biển Nam Trung Hoa – Cuộc hội thảo hàng năm nhằm giải quyết những xung đột tiềm tàng ở Biển Nam Trung Hoa tại Indonesia được bắt đầu tại bali năm 1990. Tới dự các cuộc họp này bao gồm các quan chức chính phủ với những khả năng cá nhân của họ cùng các chuyên gia kỹ thuật trong lĩnh vực hợp tác, an ninh và phát triển nguồn tài nguyên biển ở Biển Nam Trung Hoa. Đại diện của CHND Trung Hoa và Đài Loan đã tham gia từ năm 1991.

Một đặc điểm quan trọng của các cuộc hội thảo do Indonesia chủ trì là việc thành lập các nhóm chuyên gia về vấn đề đánh giá các nguồn tài nguyên, về các vấn đề khoa học về biển, về an toàn hàng hải, về giao thông liên lạc và về các vấn đề pháp lý. Tầm quan trọng của các nhóm làm việc là ở nỗ lực của họ nhằm thiết lập các lĩnh vực hợp tác và tiếp xúc mang tính thực tế giữa các bên tranh chấp ngay cả khi vấn đề chủ quyền chưa được giải quyết. Các biện pháp xây dựng lòng tin cũng chiếm một phần trong chương trình nghị sự của các cuộc hội thảo với thành công to lớn trong việc đưa ra các ý kiến tuy mới được ít người nhất trí về việc làm thế nào để có thể áp dụng vào thực tiễn các biện pháp xây dựng lòng tin.

Trong khi các cuộc họp ở Indonesia đã mang lại các cuộc tiếp xúc hữu ích và một cách tiếp cận sâu sắc hướng đến việc tạo nền tảng cho sự hợp tác thì một số nhà chỉ trích lại phân vân không biết liệu các cuộc họp này có thể cung cấp cơ sở để thương lượng về chính trị nhằm giải quyết tranh chấp hay không. Cách tiếp cận này đã ủng hộ hiện trạng nhưng không tìm ra được một phương thức để tạo đà chính trị cần thiết nhằm đạt được giải qua thương lượng. Hơn nữa, những cuộc họp này đã không ngăn chặn được những cuộc đối đầu hay sự leo thang của các mối căng thẳng song phương giữa một số bên đòi hỏi chủ quyền, chẳng hạn như sự kiện đảo Vành Khăn tháng 3/1995. Do các dự tính rất khác nhau về nguồn dự trữ dầu và khí đốt ở quần đảo Trường Sa, nên một số bên đòi hỏi chủ quyền có ý muốn trì hoãn một giải pháp chính trị để chờ đợi những thông tin cuối cùng về tiềm năng kinh tế của khu vực.

Thành lập nhóm các cá nhân có uy tín – Có ý kiến gợi ý rằng để tạo ra được sự đột phá về chính trị cần thiết cho việc đặt nền móng cho các cuộc thương lượng chính thức và cơ bản, ta có thể thành lập một nhóm cá nhân có uy tín nhằm bổ sung cho các cuộc hội thảo ở Indonesia. Một nhóm, các đại diện cao cấp của các nước không có tranh chấp thuộc khối ASEAN (Singapore, Indonesia và Thái Lan) có thể được triệu tập để đóng vai trò trung gian hòa giải giữa các bên tranh chấp. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể ngần ngại trước thể thức này vì như vậy chẳng khác nào sẽ đưa Bắc Kinh ra đối chọi với khối ASEAN. Một thể thức khác trong cách tiếp cận này là đề nghị các nhân vật cao cấp của các bên tranh chấp cùng tham gia bàn bạc, với sự trợ giúp tiềm tàng của các đại diện có uy tín của cộng đồng quốc tế với vai trò cá nhân nhằm tạo ra những động lượng chính trị cần thiết cho việc đặt nền móng cho các cuộc thương lượng.

Vai trò hòa giải của bên thứ ba – Song song với việc thành lập nhóm cá nhân có uy tín có thể sẽ là việc dàn xếp một giải pháp với vai trò hòa giải của bên thứ ba. Tòa án Quốc tế (ICJ) sẽ thi hành các quyết định trong trường hợp các bên đều bằng lòng tuân thủ những quyết định của tòa án, nhưng thật khó có thể đoán trước được liệu ICJ sẽ có thể điều hành như thế nào trong trường hợp phức tạp, và có thể Trung Quốc sẽ không chấp nhận phạm vi quyền hạn của ICJ ở Biển Nam Trung Hoa vì làm như vậy là “quốc tế hóa” cuộc trnah chấp và đi ngược lại chiến lược của Trung Quốc muốn giải quyết song phương với từng bên khiếu nại.

Giáo sư Ji Guoxing thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế Thượng Hải đề xuất rằng một tòa án đặc biệt hay một bên thứ ba không chính thức có thể đóng vai trò trung gian hòa giải mà không cần “thể chế hóa” cuộc thương lượng hoặc “quốc tế hóa” cuộc tranh chấp vì đây là hai mối lo ngại lớn của Trung Quốc. Sự trung gian hòa giải của bên thứ ba đã từng đóng một vai trò nhất định trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh hải khác, chẳng hạn như Hiệp định Thềm lục địa Iceland và trong việc giải quyết tranh chấp giữa Argentina và Chile ở Eo biển Beagle. Cùng với việc thành lập nhóm cá nhân có uy tín, việc dàn xếp trung gian của bên thứ ba sẽ là chất xúc tác cho các cuộc thương lượng chính trị ở cấp cao nhất. Có lẽ, một thể thức hữu ích để tiến hành các cuộc thương lượng như vậy có thể là việc quan tâm đến những cuộc đàm phán “vùng phụ cận” do một bên thứ ba không chính thức chủ trì, tương tự như vai trò của Mỹ trong các cuộc đàm phán Dayton về Bosnia (Trong trường hợp này, Mỹ đã cung cấp các phương tiện thông tin và kỹ thuật để kiểm tra các cuộc thương lượng phức tạp về biên giới).

Thành lập một cơ quan có thẩm quyền phối hợp phát triển nguồn tài nguyên – Quan điểm đặt các yêu sách chủ quyền sang một bên để tiến tới phối hợp phát triển nguồn tài nguyên đã được các đại diện của Trung Quốc nhiều lần phát biểu… Tuy nhiên khái niệm của Trung Quốc về “phối hợp phát triển nguồn tài nguyên” được xác định như là sự hợp tác song phương trong các khu vực tranh chấp, trong khi các bên đòi hỏi chủ quyền thuộc khối ASEAN lại nghiêng về kế hoạch phối hợp phát triển đa phương. Quả thực, một loạt hiệp định phát triển song phương có thể sẽ mở rộng yêu sách của Trung Quốc đến những vùng tài nguyên trong khu vực tranh chấp mà rất có thể chúng sẽ không cho Trung Quốc được tham gia theo giải pháp cuối cùng.

Quan điểm phối hợp phát triển nguồn tài nguyên được đưa ra dưới nhiều thức, kể cả việc nó được coi là một phần trong cuộc hội thảo ở Indonesia. Các nhà nghiên cứu Mark Valenera, John Van Dyke và Noel Ludwig thuộc trường Đại học Tổng hợp Hawaii và Trung tâm Đông – Tây đã đưa ra những phương án lựa chọn khả dĩ để cân nhắc về việc thành lập một cơ quan có thẩm quyền phối hợp phát triển nguồn tài nguyên, tương tự như Hiệp ước Nam Cực, là một hiệp ước đa phương nhằm chia sẻ tài nguyên ở Nam Cực. Hiệp ước Timor (Timor Gap Treaty) giữa Australia và Indonesia cùng các hiệp nghị ở vùng Vịnh Persian và các hiệp nghị phát triển nguồn tài nguyên song phương khác sẽ cung cấp những tiền lệ để xem xét biện pháp tiếp cận này; tuy nhiên, một cơ quan có thẩm quyền phát triển biển đa phương nếu được thực hiện sẽ là cơ quan đầu tiên thuộc dạng này.

Theo đuổi các cuộc đàm phán đa phương giữa ASEAN và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ­– Việc Việt Nam gia nhập ASEAN mùa hè năm 1995 cùng với sự khích lệ của các thành viên ASEAN trong việc ủng hộ quan điểm của Philippines sau sự kiện đảo Vành Khăn đã khuyến khích triển vọng về một hành động phối hợp của các nước ASEAN đối với tranh chấp ở Biển Nam Turng Hoa, ít nhất là trong thời điểm hiện tại. Nếu quả thực ASEAN có khả năng tiến đến một quan điểm chung về Biển Nam Trung Hoa (và thống nhất được với các yêu sách của Đài Loan và CHND Trung Hoa) thì theo ý kiến của các giáo sư David Denoon và Steven J. Brams thuộc trường Đại học Tổng hợp New York, thì “sự phân chia công bằng ấy” sẽ được coi là một biện pháp tiếp cận mới để thương lượng về một giải pháp hợp tình hợp lý cho cuộc tranh chấp ở quần đảo Trường Sa.

“Sự phân chia công bằng” là một phương pháp thương lượng trong đó mỗi bên được ấn định một số điểm tùy ý trong hình thức thương lượng hai chiều. Mỗi bên sẽ được thầu một số phần nhỏ trong khu vực tranh chấp phù hợp với các quyền lợi được ưu tiên. Biện pháp tiếp cận này gọi là biện pháp “người chiến thắng do dàn xếp”, có thể được sử dụng để phân chia một vật theo các giá trị đã được cân nhắc mà các bên dành cho các bộ phận của vật được đem chia, sao cho mỗi bên đều nhận được nhiều hơn những gì họ muốn trong khi vẫn duy trì được một chế độ đảm bảo sự phân chia công bằng. Mặc dù biện pháp tiếp cận này chưa được sử dụng trong các cuộc thương lượng quốc tế nhưng đã từng được áp dụng một cách có hiệu lực để đánh giá “sự sòng phẳng” trong các giải pháp được thương lượng trước đây. Biện pháp này đáng được coi là một biện pháp có thể dùng trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ vì nó có thể được sử dụng để mang lại một giải pháp “ai cũng có phần thắng” một cách công bằng và hợp lý.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Thuộc

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Scott Snyder – The South China sea dispute: prospets for preventive diplomacy – Báo cáo đặc biệt của Viện Hòa bình (Mỹ) – Tháng 05/1996.

TĐB 97 – 01 & 02

Hồi ức chiến dịch Mậu thân qua lời kể của phóng viên Mỹ – Phần cuối


Huế, ngày 2/2/1968

John Legend

Bốn tiểu đoàn của lực lượng Cộng sản đã kiểm soát hầu hết các đường phố tại Huế. Họ chống cự lực lượng đồng minh bằng súng máy, súng cối và tên lửa.

Quân Cộng sản chống cự quyết liệt tới mức hai máy bay trực thăng của Mỹ đã bị bắn hạ khi đang nỗ lực giải cứu các binh sỹ bị thương. Lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ cùng bộ binh và quân đội của chính quyền miền Nam đã phải chiến đấu vất vả để bảo vệ các cứ điểm của mình, chứ chưa nói đến việc đánh bật đối phương.

Việt Cộng – lực lượng miền Bắc Việt Nam đã được triển khai trên khắp thành phố đã chiếm đóng phần lớn kinh thành Huế – nơi giờ đây đã trở thành một đống đổ nát, và các trụ sở của Sư đoàn Bộ binh số 1 của quân đội miền Nam Việt Nam.

Lực lượng miền Nam Việt Nam chỉ nắm giữ một phần nhỏ của Kinh thành Huế. Trong khi đó, quân đội Mỹ phải chiến đấu bảo vệ khu vực đặt trụ sở cố vấn.

Thành phố đang trải qua ngày 4 bị bao vây. Số lượng người chạy nạn ngày càng tăng, trong khi số dân thường thương vong được cho là ở mức cao chưa từng có.

Quân đồng minh cũng nắm quyền kiểm soát chiếc cầu bắc qua sông Hương giữa lòng thành phố Huế.

Quân Cộng sản tiến vào Huế từ 4 ngày trước. Những người Mỹ tại trụ sở cho rằng cả Tỉnh trưởng Tỉnh Thừa Thiên, Trung tá Phan Văn Khoa, lẫn một cố vấn dân sự cấp cao người Mỹ có thể đã bị Việt Cộng bắt làm con tin.

Một trung đội lính thủy đánh bộ Mỹ đã tìm cách tiến gần tới nhà của vị cố vấn này từ 3 ngày trước, song quân Việt Cộng đang bao vây tòa nhà.

Ngày hôm nay, máy bay của Mỹ và chính quyền miền Nam Việt Nam đã oanh tạc các cứ điểm của quân Cộng sản trong thành phố Huế. Có tin nói rằng chỉ huy ra lệnh các máy bay này không được ném bom do lo ngại trúng phải dân thường.

Trong buổi chiều, lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ cùng các cố vấn quân đội đã tìm cách hướng làn khói từ một đám lửa được đốt từ tòa nhà ba tầng này về phía Tây thành phố. Họ muốn ngụy trang cho 4 xe thiết giáp đang làm nhiệm vụ giải cứu các binh sĩ Mỹ được tàu đưa về bờ sông Hương.

Bên cạnh vị cố vấn nói trên bị bắt giữ, nhiều người còn lo ngại cho số phận của 9 người Mỹ khác cũng đang ở trong thành phố.

Một số đại đội của lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ được cho là đã chịu thiệt hại lớn về người. Ít nhất 10 binh sĩ đã thiệt mạng trong khi 108 người khác bị thương. Các cố vấn Mỹ cho biết quân đội miền Nam Việt Nam cũng bị thương vong lớn.

Không bên nào thực sự kiểm soát thành phố Huế. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa vẫn phản công, mạnh mẽ trong lúc Việt Cộng cũng thể hiện sức bền của mình.

Sài Gòn, ngày 21/2/1968

Peter Arnett

Bỗng nhiên, chẳng còn nơi nào an toàn.

Sài Gòn đã trở thành một nơi nguy hiểm giống như Mũi Cà Mau. Một khu nghỉ dưỡng yên tĩnh trên Đà Lạt ở vùng Tây Nguyên trở thành nơi giam cầm những người đang đi du lịch khi Việt Cộng hứng chịu thiệt hại nghiêm trọng vê 2nguo72i ngay ngày đầu tiên của năm mới tính theo Âm lịch.

Gần 140.000 người chết chỉ trong 10 ngày, một con số thương vong có thể được xếp ngang hàng những cuộc chiến có số người chết kỷ lục trong lịch sử 4000 năm của Việt Nam.

Một phần lý do dẫn tới con số thương vong lớn đến mức này là chiến dịch tấn công của quân Cộng sản nhằm vào tất cả các cứ điểm tính từ phía bên này vĩ tuyến 17.

Xung đột đã thay đổi cục diện chiến tranh.

Giao tranh ban đầu từ những địa điểm như rừng núi, đầm lầy và các làng mạc trong suốt nhiều năm, nay đã lan sang các thành phố. Những dân quân ngụy trang và lẩn trốn trong các khu rừng nhiệt đới thuộc phe Cộng sản đã vượt qua các cánh đồng và các thôn xóm, những nơi không được đề phòng, để tràn vào Sài Gòn.

Hoảng loạn và đổ nát đã xâm nhập vào nhà của hàng trăm nghìn người dân từng nghĩ rằng họ “miễn nhiễm” trước những lo ngại về chiến tranh nhờ an ninh được đảm bảo tại các thành phố lớn.

Hai tuần giao chiến khốc liệt cho thấy tất cả những bình yên này đã chấm dứt trước cả khi các cuộc tấn công chính thức mở màn. Quân Cộng sản tràn vào Sài Gòn khi thành phố này vẫn đang say sưa ngủ yên trong dịp nghỉ lễ lớn nhất của cả năm.

Điều trớ trêu là bộ chỉ huy cấp cao của quân đồng minh đã biết được lực lượng Cộng sản đang chuẩn bị cho một chiến dịch tấn công. Những thông tin tình báo nhỏ giọt thu thập từ khắp mọi nơi trên cả nước cho thấy nhiều đơn vị Cộng sản đang tiến về các thành phố.

Tuy nhiên, không mấy ai chú ý tới điều này. Tâm trạng phấn khích cảu những ngày Tết đã choán hết tâm trí của người dân, ngoại trừ lực lượng Mỹ vẫn đang bám trụ trên các trận địa, và những người Cộng sản, không hề có khái niệm về Tết hay ngừng bắn. Họ bắt đầu cuộc tấn công của mình khi Sài Gòn bắn pháo hoa mừng năm mới và người dân ăn mừng kỳ nghỉ.

Những người lính Cộng sản vốn chỉ quen với rừng và chưa từng biết thế nào là giày, đã biết xỏ chân vào những đôi dép cao su để bảo vệ chân mình khi di chuyển trên các con đường nhựa cứng trong thành phố. Vũ khí và đạn dược lén giấu trong những chiếc quan tài được chôn ở nghĩa địa sau các lễ tang gải vài tuần trước đã được đào lên. Những “cơ sở” cộng sản, những người bề ngoài luôn tỏ ra mình trung thành với chính quyền, đã giúp họ tới được các điểm tập hợp được giấu kín của Việt Cộng.

Các cuộc tấn công được phối hợp theo một kế hoạch quy mô. Trước tiên, lính công binh tiến hành các vụ tấn công liều chết nhằm vào những tòa nhà quan trọng. Sau đó, quân xung kích tràn vào các cứ điểm quân sự. Chiến sự nổ ra ở Sài Gòn, Mỹ Tho, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và vùng duyên hải. Tất cả các thành phố và thị trấn còn lại đều bị tấn công trong những ngày sau đó.

Cái chết không từ một ai. Nhiều người thậm chí thiệt mạng vì sai lầm của những người quá sợ hãi.

Một nhà nhập khẩu vũ khí giàu có người Trung Quốc vẫn cố lái chiếc xe hơi đời cũ của Pháp đi qua giao lộ thay vì dừng lại theo còi lệnh của một sỹ quan cảnh sát Mỹ. Ông ta ngay lập tức bị bắn chết bởi một lính gác đang hoảng hốt.

Hai nhân viên Mỹ làm việc cho cơ quan Kiến trúc và Cơ khí Thái Bình Dương, Doyle V. Clark, 33 tuổi, tới từ Covina và Billy C. Stein từ Scaramento, California, là những nhà nghiên cứu côn trùng học, đã nhanh chóng nhảy lên một chiếc xe Jeep khi giao tranh nổ ra gần nhà họ bên ngoài trường đua ngựa. Cả hai thiệt mạng cách cổng nhà chỉ 20 yard (gần 20m).

Mike Mealey, hàng xóm cạnh đó, chọn cách nằm im trên giường suốt 29 giờ đồng hồ. Mealey bình an vô sự.

Nhiều người thiệt mạng dưới làn đạn của quân Cộng sản một cách vô tình. Tại thành phố Buôn Mê Thuột, Tây Nguyên, Việt Cộng đã giết 5 nhà truyền giáo người Mỹ, trong đó có 3 người đàn ông và 2 người phụ nữ khi đi ngang qua trụ sở của Giáo hội Truyền giáo và Cơ đốc giáo. Song cũng tại thành phố này, họ đã để chuyên gia giáo dục Jane Ford được sống và trưng dụng nhà của bà làm sở chỉ huy.

Tại thị trấn đồng bằng Châu Phú, Việt Cộng đã nhốt 6 y tá người Mỹ trong một nhà vệ sinh suốt 36 giờ khi chiếm giữ tòa nhà của họ. Gần đó, chuyên gia Hugh Lobit, một người đàn ông gày gò và cao lớn hơn 30 tuổi, đã bị bắn chết ngay tại một ngôi làng yên ả mà ông yêu mến.

Nhiều người nước ngoài khác thì chỉ đơn giản là biến mất không chút dấu vết, chẳng hạn như triệu phú người Australia Keith Hyland, chuyên kinh doanh lông vịt. Ông Hyland, 54 tuổi, bị Việt Cộng bắt giữ khi đang trên đường đi thăm nhà máy của mình tại Chợ Lớn. Sau đó, người ta không bao giờ thấy ông trở lại.

Mike Benge, từ Heepner, Oregon, một chuyên gia về cộng đồng người Thượng, đã mất tích sau khi bị Việt Cộng bắt giữ ở Tây Nguyên.

Nguồn: AP – 31/01/2018

TLTKĐB – 02/02/2018