Nhật Bản công khai tài liệu về sự kiện Thiên An Môn – Phần cuối


Hội nghị thượng đỉnh năm 1989: Nhật Bản thỏa hiệp với từng nước để bảo vệ Trung Quốc

Tài liệu ngoại giao được công bốcho biết Nhật Bản đã có những động thái mang tính thỏa hiệp với các nước nhằm đưa vào tuyê bố chính trị của hội nghị thượng đỉnh những lời lẽ ôn hòa hơn khi chỉ trích Chính phủ Trung Quốc.

Pháp, nước chủ trì hội nghị ngày 4/7, cho rằng Chính phủ Trung Quốc đã có hành động đàn áp và hành quyết dã man. Nước này cũng kiến nghị với 4 nước châu Âu khác về các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Nhật Bản lại có ý không chấp nhận các biện pháp trừng phạt nhằm vào Trung Quốc và khẳng định phương châm cơ bản là không nên đề cập đến điều này. Theo Nhật Bản, các nước nên cố gắng thể hiện lập trường cứng rắn, nếu họ thực sự muốn vậy, theo một cách trừu tượng nhất có thể.

Hơn nữa, Nhật Bản cũng tiếp cận và trao đổi riêng với từng nước về cách thức thể hiện ngôn từ trong tuyên bố chính trị trên cơ sở không chỉ trích nặng nề Trung Quốc và không đề cập đến trừng phạt nước này.

Tại cuộc thảo luận cấp chuyên viên diễn ra vào ngày 7/7, Nhật Bản lúc đầu cho rằng không cần thiết phải có một tuyên bố đặc biệt, trong khi tất cả các bên tham gia còn lại đều chor ằng tuyên bố chính trị là cần thiết. Sau đó, Nhật Bản yêu cầu thể hiện một cách trừu tượng nhất có thể các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ lại cho rằng điều này là không thể, trong khi Tây Đức nhấn mạnh rằng một tuyên bố không đề cập đến các biện pháp trừng phạt cụ thể là một tuyên bố vô nghĩa.

Do đó, trong cuộc thảo luận giữa những người phụ trách đàm phán Nhật – Mỹ ngày 11/7, Nhật Bản kiến nghị tuyên bố nên chỉ rõ rằng các biện pháp trừng phạt Trung Quốc chỉ là một giải pháp thỏa hiệp chứ không có ý cô lập Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ phản đối quan điểm đó bằng lập luận hành động này sẽ làm giảm uy lực của tuyên bố.

Ngày 14/7, tức một ngày trước khi tuyên bố chính trị được thông qua, Thủ tướng Nhật Bản Uno đã có cuộc trao đổi riêng với người phụ trách đàm phán phía Pháp Jacques Attali. Ông nói: “Chúng ta cần thúc đẩy cải cách chứ không phải cô lập Trung Quốc”. Jacques Attali đáp lại: “Đó là một cụm từ thông minh và không có vấn đề gì”.

Trong hội nghị ngày 15/7, Thủ tướng Nhật Bản Uno cho biết: “Điều quan trọng chúng ta cần ghi nhớ là Turng Quốc hiện nay là một Trung Quốc “yếu”. Lịch sử Trung Quốc chot hấy khi “yếu” Trung Quốc sẽ thể hiện thái độ bài ngoại vô cùng mạnh mẽ. Do đó, khi công khai tuyên bố chính trị cần hết sức cẩn trọng để không kích động tinh thần dân tộc của người dân Trung Quốc và không nên kích động thái độ cứng rắn của họ”.

Do đó, Tuyên bố cuối cùng đã phản ánh được lập trường quan điểm của Nhật Bản khi nêu rõ: “tạo điều kiện tránh cô lập Trung Quốc và để Trung Quốc mở lại các hoạt động hướng tới cải cách mở cửa về chính trị, kinh tế, hy vọng tạo điều kiện để sớm khôi phục quan hệ hợp tác sớm nhất có thể”.

Sau sự kiện Thiên An Môn, Thủ tướng Anh lo lắng về tương lai của Hong Kong

Tài liệu ngoại giao vừa được công bố cho biết, tháng 9/1989, 5 năm sau thỏa thuận Anh đồng ý trao trả Hong Kong về Đại lục, Thủ tướng Anh khi đó là Magaret Thatcher đã bày tỏ sự lo ngại về lập trường của Đặng Tiểu Bình và tương lai của Hong Kong sau khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn.

Cụ thể, ngày 14/9, 5 ngày trước chuyến thăm Nhật Bản, Thủ tướng Thatcher đã trao đổi trong một bữa ăn tối với Đại sứ Nhật Bản tại Anh là Kazuo Chiba rằng: “Khi tôi nói chuyện với Đặng Tiểu Bình, tôi không thể hiểu được pháp luật của Chính phủ Anh sẽ được tuân thủ như thế nào khi Trung Quốc là nước nếu cần có thể thay đổi cả hệ thống pháp luật”, qua đó bày tỏ quan ngại Đặng Tiểu Bình sẽ thống trị Trung Quốc bằng luật pháp.

Sau đó, khi thăm Nhật Bản, trong trao đổi với Bộ trưởng Ngoại giao Taro Nakayama, Thủ tướng Magaret Thatcher tiếp tục đề cập: “Từ kinh nghiệm qua các cuộc nói chuyện với Đặng Tiểu Bình và Triệu Tử Dương, không thể đoán trước rằng sẽ xảy ra sự kiện gây sốc như sự kiện Thiên An Môn, một sự kiện như vậy không bao giờ được xảy ra một lần nữa”. Bà Thatcher nhấn mạnh Hong Kong có 5 triệu dân, nhưng tôi lo lắng một điều tương tự có thể sẽ xảy đến với người dân Hong Kong vào một thời điểm nào đó”.

Giáo sư Đại học Kyushu Takuma Nakajima, chuyên gia về lịch sử ngoại giao thời hậu chiến cho biết, những gì Thủ tướng Thatcher nói khi đó như thể bà đã tiên đoán được tình trạng khủng hoảng tại Hong Kong hiện nay. Rõ ràng cảm nhận của việc Đặng Tiểu Bình sẽ thống trị Trung Quốc bằng luật pháp đã được minh chứng bằng thực tế ngày nay. Đó cũng là một gợi ý rất tốt cho Nhật Bản khi thể hiện quan điểm lập trường đối với Trung Quốc vào thời điểm hiện nay.

Sự kiện Thiên An Môn là gì?

Tên gọi “sự kiện Thiên An Môn” xuất phát từ sự kiện diễn ra tại quảng trường Thiên An Môn ở thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc vào ngày 4/6/1989. Khi đó Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã dùng vũ lực để đàn áp phong trào đấu tranh đòi dân chủ của sinh viên và người dân Trung Quốc. Hậu quả là một số lượng lớn người đã thiệt mạng hoặc bị thương khi binh lính xả súng vào người dân.

Ngày 15/4/1989, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang từ trần. Hồ Diệu Bang được cho là người theo trường phái cải cách và từng bị cách chức trước sự tấn công của phe bảo thủ. Nhân sự kiện này, liên tục trong nhiều ngày, một lượng lớn sinh viên đã tổ chức biểu tình trước quảng trường Thiên An Môn để đòi khôi phục danh dự cho Hồ Diệu Bang, sau đó phong trào đã chuyển hóa thành biểu tình đòi dân chủ.

Tình hình đột ngột thay đổi vào ngày 26/4 khi tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã đăng một bài xã luận coi phong trào đấu tranh của sinh viên là một hành vi bạo loạn. Bài xã luận đã kích động sự phản đối mạnh mẽ và nhanh chóng lan rộng trong giới sinh viên, họ tiếp tục kêu gọi nhà chức trách Trung Quốc phải rút lại quan điểm này. Phong trào không những mở rộng quy mô lên đến hàng triệu người tham gia mà còn có những hành động quá khích.

Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận thấy tình hình trở nên nghiêm trọng, đã ra lệnh thiết quân luật đối với thủ đô Bắc Kinh vào ngày 20/5. Sau đó, quân đội trong và xung quanh khu vực quảng trường Thiên An Môn được huy động, trong đêm ngày 3/6 rạng sáng ngày 4/6 đã sử dụng vũ lực để đàn áp biểu tình bằng cách xả súng vào người dân. Hậu quả là nhiều sinh viên đã thiệt mạng vào thời điểm này. Chính phủ Trung Quốc bị chỉ trích khi thông báo số người chết chỉ là 319, nhưng con số thực tế có thể còn cao hơn nhiều.

Nguồn: TLTKĐB – 27/12/2020.

Nhật Bản công khai tài liệu về sự kiện Thiên An Môn – Phần đầu


Theo trang tin tức của đài NHK ngày 24/12/2020, tài liệu ngoại giao được công khai hôm 23/12 vừa qua đã tiết lộ thông tin rằng trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định đưa ra phản ứng mềm mỏng đối với Trung Quốc, trái ngược hoàn toàn với phản ứng của các nước phương Tây khi đó. Giới chuyên gia Nhật Bản chỉ trích lập trường yếu đuối của Chính phủ nước này – coi đây chỉ là vấn đề nội bộ của Trung Quốc và ủng hộ chính sách cải cách mở cửa cũng như quan điểm “một Trung Quốc” ổn định sẽ có lợi cho thế giới.

Tài liệu chỉ rõ Nhật Bản chia sẻ các giá trị phổ quát về tự do và dân chủ với các nước phương Tây, đồng thời cho rằng việc Chính phủ Trung Quốc đàn áp sinh viên và người dân bằng vũ lực gây thương vong lớn nhìn từ góc độ nhân đạo là điều không thể chấp nhận được.

Mặt khác, tài liệu cũng đề cập đến lập trường của Chính phủ Nhật Bản khi đó: Theo họ, sự việc này về cơ bản chỉ là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, nước có thể chế chính trị xã hội và quan điểm giá trị khác với Nhật Bản. Do đó, xét một cách tổng thể, việc các nước phương Tây có tạo ấn tượng rằng họ đoàn kết với nhau để theo đuổi chủ trương cô lập Trung Quốc về lâu dài không phải là một ý tưởng hay. Ngoài ra, chính các nước phương Tây cũng muốn Chính phủ Trung Quốc duy trì chính sách cải cách mở cửa. Do đó, họ cũng cần tạo điều kiện để Trung Quốc trở thành một quốc gia được cộng đồng quốc tế chấp nhận và từng bước khôi phục quan hệ với nước này.

Giáo sư Akio Takahara, chuyên gia nghiên cứu về chính trị Trung Quốc đương đại của Viện cao học chính sách công thuộc Đại học Tokyo, cho rằng việc phản đối mạnh mẽ các hoạt động vi phạm nhân quyền là điều nên làm nhưng câu hỏi đặt ra là: Làm vậy để được gì? Chính phủ Nhật Bản cho rằng nên ủng hộ Trung Quốc cải cách mở cửa và một Trung Quốc ổn định sẽ có lợi cho Nhật Bản, khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới. Thế nhưng, Nhật Bản có thay đổi nhận thức này sau sự kiện Thiên An Môn?

Sau sự kiện này, Bộ Ngoại giao Nhật Bản vẫn giữ quan điểm đối lập với Mỹ là duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc. Tài liệu cho biết trước quan ngại từ phía Mỹ về việc Nhật Bản vẫn duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, một quan chức ngoại giao Nhật Bản khi đó đã phản biện: “Điều đó không có nghĩa là Nhật Bản phải cắt đứt một cách máy móc hoạt động hợp tác kinh tế với một nước phi dân chủ”.

Liên quan đến vấn đề hợp tác kinh tế với Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định ngừng cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn tháng 6/1989, nhưng đến tháng 7/1990 lại nối lại nguồn viện trợ này.

Trong một tài liệu ngoại giao công bố ngày 23/6, tức 10 ngày sau sự kiện Thiên An Môn, một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Nhật Bản trong một cuộc hội đàm với Mỹ đã bác bỏ lo ngại của nước này khi Nhật Bản duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ khi đó, Robert Forber, chỉ rõ: “Việc Chính phủ Nhật Bản lần lượt thông qua các dự án hợp tác kinh tế với Trung Quốc có thể sẽ buộc Washington phải hành động”.

Đáp lại, Vụ phó Vụ Châu Á của Bộ Ngoại giao Nhật Bản khi đó Katsuya Suzuki nói: “Chúng tôi cũng lấy làm tiếc về vụ bạo lực ở Thiên An Môn”. Đồng thời, ông khẳng định: “Tuy thế chính trị và quan niệm giá trị của các nước phương Tây khác với của Trung Quốc, nhưng điều đó không thể buộc Nhật Bản phải chấm dứt hợp tác kinh tế một cách máy móc với một quốc gia phi dân chủ”.

Cựu Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Yuji Miyamoto cho rằng những người thuộc nhóm gọi là “phái cải cách” ở Trung Quốc đã phải hứng chịu sự chỉ trích của dư luận trong nước – họ vừa bắt tay vào cải cách mở cửa thì xảy ra sự kiện Thiên An Môn. Tuy vậy, cải cách mở cửa là một lựa chọn đúng đắn và không có lý do gì để ngừng cấp ODA.

Giáo sư Aiko Takahara cho biết mặc dù Mỹ luôn nhấn mạnh vấn đề nhân quyền và hạn chế trao đổi với Trung Quốc, nhưng cách doanh nghiệp Nhật Bản vẫn duy trì giao thương với nước này. Phải chăng Mỹ lo ngại Nhật Bản và Trung Quốc có thể bắt tay với nhau sau lưng mình?

Hội nghị thượng đỉnh ngay sau sự kiện Thiên An Môn: Nhật Bản nỗ lực tránh đề Trung Quốc bị cô lập

Tài liệu mà Bộ Ngoại giao Nhật Bản vừa công khai cho thấy rõ rằng sau sự kiện Thiên An Môn, một hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo các nước phát triển đã được tổ chức nhằm thông qua một tuyên bố chính trị lên án gay gắt Trung Quốc. Khi đó, Chính phủ Nhật Bản đã đề xuất một tuyên bố với lời lẽ ôn hòa nhằm tránh việc Trung Quốc bị cô lập.

Theo đó, ngay sau sự kiện Thiên An Môn vào tháng 6/1989, Hội nghị thượng đỉnh G7 đã được tổ chức ở ngoại ô thủ đô Paris,Pháp, với mục tiêu lớn nhất là bàn thảo cách thức phản ứng đối với Chính phủ Trung Quốc sau hành động đàn áp dã man sinh viên và người dân Trung Quốc biểu tình đòi dân chủ gây thương vong lớn.

Trong tài liệu được công bố có đề cập rằng khi lãnh đạo Pháp và các nước khác muốn thông qua một tuyên bố chính trị chỉ trích gay gắt Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản lại hướng tới một tuyên bố ôn hòa hơn để tránh cô lập Trung Quốc. Ban đầu, tuyên bố chính trị mà Pháp đề xuất mô tả phản ứng của Chính phủ Trung Quốc là đàn áp và hành quyết dã man, đồng thời kiến nghị các biện pháp trừng phạt như ngừng hoạt động trao đổi cấp cao và hợp tác quân sự và hoãn các khoản vay mới của Ngân hàng Thế giới dành cho Trung Quốc. Trong khi đó, Nhật Bản lại muốn dập tắt những chỉ trích đối với Trung Quốc và không đề cập đến các biện pháp trừng phạt, đồng thời tìm cách tiếp cận từng nước để đưa vào dự thảo tuyên bố chính trị quan điểm không để Trung Quốc bị cô lập và muốn Trung Quốc tự giải quyết vấn đề nội bộ của mình.

Cho dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các nước nhưng Nhật Bản vẫn kiên trì phương châm loại bỏ nội dung cô lập Trung Quốc ra khỏi tuyên bố chính trị. Thủ tướng Nhật Bản khi đó Sosuke Uno đã tiếp cận thuyết phục Jacques Attali, người phụ trách đàm phán phía Pháp. Kết quả là, tuyên bố được đưa ra thể hiện phương châm của Nhật Bản là tạo điều kiện để Trung Quốc không bị cô lập và khôi phục quan hệ hợp tác với nước này trong thời gian sớm nhất có thể.

Nguyên Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Yuji Miyamoto, người đã tham gia các cuộc thảo luận về tuyên bố chính trị khi đó với tư cách nhân viên Bộ Ngoại giao, cho biết cô lập Trung Quốc là việc không nên làm vì hành động này có thể kích động Trung Quốc và khơi dậy tinh thần dân tộc của người dân nước này một cách không cần thiết.

Giáo sư Akio Takahara bình luận rằng nếu xét trong bối cảnh hiện nay, nhiều người có lẽ sẽ đặt câu hỏi vì sao Nhật Bản lại giúp Trung Quốc nhiều đến vậy. Việc ủng hộ chính sách cải cách mở cửa của Trung Quốc dường như sẽ khiến Nhật Bản phải đối mặt với nhiều khó khăn sau này. Lập trường của Nhật Bản khi đó nên bị coi là một quyết định đáng tiếc trong quá trình phát triển lâu dài.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 27/12/2020.

Pháp cần bồi thường cho Việt Nam thời kỳ thực dân hóa


Muhammet Ali Güler

Mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam có từ nhiều thế kỷ trước. Napoleon III được coi là “chủ mưu” đằng sau chính sách thực dân hóa Việt Nam và các khu vực lân cận. Thời kỳ Pháp thuộc tại Việt Nam kéo dài từ năm 1857 đến tận năm 1954, khi Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc theo Hiệp định Geneva. Từ năm 1941 – 1945, Việt Nam bị đế quốc Nhật chiếm đóng. Có hai lý do chính để Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Lý do thứ nhất là Pháp muốn khôi phục danh tiếng đang bị suy giảm và vì vậy đã tìm cách đánh chiếm một quốc gia yếu hơn. Lý do thứ hai là Pháp muốn khai thác các nguồn tài nguyên của Việt Nam.

Kể từ khi bắt đầu chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, luôn có các phong tràoo kháng chiến của người Việt Nam. Một số nhân vật tiêu biểu chống lại sự chiếm đóng của Pháp như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh. Đã có một số hình thức kháng chiến về ý thức hệ, quân sự và xã hội, như là chủ nghĩa yêu nước, mong muốn được độc lập và những điều này đã giúp duy trì việc tuyên truyền chống Pháp kể từ khi Pháp bắt đầu chiếm đóng.

Người Việt Nam đã phải nếm trải những chính sách đàn áp và cứng rắn của thực dân Pháp, bao gồm giáo dục chỉ dành cho một số ít người được hưởng đặc quyền. Đại đa số người Việt Nam bị mù chữ, trong khi những người được giáo dục cũng chỉ nắm giữ các vị trí thấp trong chính quyền chuyên chế của thực dân Pháp. Trong khi đó, có nhiều chính sách phân biệt đối xử về mặt xã hội, chính trị và kinh tế đối với người dân Việt Nam. Những người theo chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam và những người với chương trình tuyên truyền dân tộc chủ nghĩa đã góp phần cho cuộc đấu tranh của những người Cộng sản giành chiến thắng. Vì vậy, có thể nói chủ nghĩa Cộng sản với sự tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc đóng một vai trò quan trọng trong việc giải phóng nhân dân Việt Nam.

Sau thất bại của người Nhật năm 1945, có một cuộc đấu tranh quyền lực giữa người Pháp và người Việt dẫn tới cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất kéo dài từ năm 1946 đến năm 1954. Ở khu vực Đông Dương, ám chỉ ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, cả văn hóa của Ấn Độ và Trung Quốc đều có mặt ở đây. Việt Nam cuối cùng đã biến thành một chiến trờng đối với các ý thức hệ của chủ nghĩa Cộng sản, tự do và sự tái hiện của chủ nghĩa thực dân. Người Pháp đã tìm cách giữ các thuộc địa của mình dưới cái tên liên hiệp Pháp, bao gồm ba quốc gia Đông Dương, trong khi Việt Minh đấu tranh vì tự do. Trong thế kỷ 19, cuộc kháng chiến của Việt Nam đã làm “bẽ mặt” nước Pháp. Người Pháp được cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế từ người Mỹ nhằm tiêu hao và làm suy yếu cuộc kháng chiến của Việt Nam. Tuy nhiên, những người Việt Nam vô tội và dũng cảm đã chống lại mạnh mẽ hơn. Cuối cùng, khi trở thành những kẻ chiếm đóng, người Pháp không thể so về thực lực với nước Anh. Chính tham vọng xâm lược và khai thác tài nguyên khoáng sản đã dẫn Pháp tới các khu vực yếu hơn như Đông Dương.

Phong trào Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đóng một vai trò to lớn trong việc kháng chiến thành công, chấm dứt chiến tranh. Một chiến thắng quan trọng chính là cuộc tấn công quyết định của Việt Minh vào căn cứ của Pháp tại Điện Biên Phủ. Trong khi chiến thắng này đánh dấu kết thúc sự hiện diện của người Pháp tại Việt Nam, người Việt Nam vẫn chưa thể giành độc lập hoàn toàn. Việt Nam phải gánh chịu thêm 20 năm xung đột trong Chiến tranh Việt Nam trước khi có thể hưởng niềm vui thái bình và tái thiết hai miền Nam Bắc, được thống nhất vào năm 1975. Sau Hiệp định Geneva, gần 130.000 binh sĩ Pháp đã từ Bắc chuyển vào miền Nam, trong khi khoảng 50.000 – 90.000 bộ đội Việt Nam chuyển từ Nam ra Bắc. Dự kiến, quá trình thống nhất hai miền Nam Bắc chỉ kéo dài vài năm, nhưng thay vào đó, đã kéo dài hơn 20 năm.

Người Việt Nam xứng đáng với chủ quyền của họ cho dù họ theo đường lối dân chủ hay cộng sản chủ nghĩa. Các lực lượng ở Việt Nam chiến đấu vì nhiều mục đích; người Việt Nam chiến đấu vì tự do, người Mỹ tham chiến nhằm kiềm chế chủ nghĩa cộng sản quốc tế và người Pháp muốn duy trì ưu thế thuộc địa của mình. Cuối cùng, hàng triệu người dân Việt Nam vô tội đã thiệt mạng hoặc mất nhà cử trong suốt những năm tháng đó.

Lòng tham của phương Tây đã đẩy Việt Nam phải tìm kiếm sự hỗ trợ của cả Trung Quốc và Liên Xô trong những năm tháng đó. Điều này sau đó đã tạo ra một cuộc xung đột về quân sự, kinh tế và chính trị giữa người Mỹ và người Việt Nam, trong đó Mỹ nhằm mục tiêu ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, trong khi người Việt Nam muốn loại bỏ tất cả những kẻ thực dân trên mảnh đất của họ. Trong khi cuộc đấu tranh vì tự do bị người Mỹ coi là “nổi dậy”, người Việt Nam được coi là những người cộng sản khi họ tìm đến Trung Quốc và Liên Xô để đề nghị giúp đỡ.

Việt Nam và Pháp không có sự tương đồng về văn hóa, tôn giáo hay ngôn ngữ. Pháp, cũng như các chế độ thực dân châu Âu khác, không có bất kỳ mối liên hệ nào với các thuộc địa của họ, đã xâm chiếm Việt Nam để khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ lợi ích của họ. Sự giàu có của Việt Nam đã bị cướp bóc trong suốt thời kỳ thuộc địa của những kẻ thực dân Pháp tham lam. Không chỉ là vàng, bạc và các kim loại quý hiếm khác là mục tiêu của những kẻ thực dân, người Pháp còn cướp bóc các khu lăng mộ cổ của các hoàng đế Thiệu Trị, Minh Mạng và Gia Long.

Đó là một chiến thuật phổ biến của những kẻ thực dân phương Tây nhằm sử dụng những binh sỹ không phải người Pháp từ các vùng thuộc địa để tấn công các nước thuộc địa khác. Theo “Bách khoa toàn thư về Chiến tranh Việt Nam: Lịch sử chính trị, xã hội và quân sự”, tổng số binh sĩ không phải người Pháp vào khoảng 120.000 người, trong đó 20.000 phục vụ đội ngũ lính lê dương, 30.000 binh sĩ ở Bắc Phi và khoảng 70.000 là lính Việt Nam. Trong khi đó, tổng số binh sĩ Pháp trong Quân đội Pháp chỉ khoảng 54.000 người, gồm 10.000 lính không quân và khoảng 5.000 lính hải quân. Khi Việt Nam đánh bại Pháp năm 1954, có khoảng 20.000 lính châu Phi trên đất Việt Nam. Kết quả là một cuộc chiến xung đột kéo dài hàng thập kỷ, khiến hàng nghìn người thiệt mạng và hàng triệu người phải di tản.

Người dân Việt Nam xứng đáng được yêu cầu bồi thường từ Chính phủ Pháp, Ấn Độ đã làm điều tương tự khi yêu cầu Anh bồi thường vì 200 năm thực dân Anh cai trị đã đánh cắp của cải của Ấn Độ.

Nguồn: https://www.dailysabah.com/opinion/op-ed/france-should-compensate-vietnam-for-colonization

TKNB – 12/06/2020

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hòa bình thế giới


Theo tạp chí Moderndiplomacy ngày 19/5, thế giới đang tổ chức các hoạt động kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2020). Tên khai sinh của Người là Nguyễn Sinh Cung và người đã chọn tên Hồ Chí Minh (nghĩa là Khai Sáng) vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện khát khao tư tưởng vì lợi ích chung và sự trung thành với dân tộc. Người đề xuất tư tưởng độc lập của toàn xã hội, hơn là độc lập của mỗi cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ cho sự đoàn kết ở châu Á. Trong một thông điệp gửi tới Thủ tướng Ấn Độ Nehru nhân một hội nghị về các mối quan hệ tại châu Á. Người nói rằng đoàn kết sẽ đưa các nước châu Á trở thành những người bảo vệ mạnh mẽ nhất đối với dân chủ thế giới. Người cho rằng gia đình châu Á đóng vai trò quan trọng đối với thống nhất và độc lập, các nước anh em ở châu Á sẽ ủng hộ mục tiêu thống nhất hai miền Nam Bắc sẽ trở thành hiện thực.

Chủ tịch Hồ Chí   Minh cũng rất quan tâm đến hòa bình ở châu Á và trên thế giới. Trong bài diễn văn chào mừng Thủ tướng Nehru tại Hà Nội năm 1954, Người nói rằng để duy trì hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau, nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết tâm thực hiện đúng Hiệp định Hòa bình ký tại Geneva. Người cũng cảm ơn Ủy ban kiểm soát quốc tế, được điều phối bởi các đại biểu đến từ Ấn Độ, Ba Lan và Canada, vì đã làm việc không mệt mỏi và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, đạt được các kết quả tốt đẹp. Trong hầu hết các bức thư của Người liên quan đến thỏa thuận ngừng bắn giữa Pháp với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng các cường quốc đế quốc cần phải thể hiện quyết tâm để duy trì hòa bình. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hãng thông tấn Ấn Độ vào năm 1954 về vấn đề chấm dứt chiến tranh với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng mục tiêu của Người là: “thúc đẩy hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trên toàn đất nước”. Người nhắc lại, để thực hiện những nhiệm vụ này, “chúng tôi sẵn sàng hợp tác một cách chân thành với các tổ chức, cá nhân người Việt, những người ủng hộ các chính sách nói trên, bất kể niềm tin chính trị và tôn giáo của họ như thế nào”.

Tháng 6/1954, Thủ tướng các nước Trung Quốc, Ấn Độ và Myanmar đã ký một tuyên bố chung, theo đó nhấn mạnh 5 nguyên tắc chính, bao gồm tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không xâm phạm lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; đối xử bình đẳng với nhau trên cơ sở đôi bên cùng có lợi và chung sống hòa bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn tán thành năm nguyên tắc chung sống hòa bình này.

Trong các cuộc gặp riêng với các nhà lãnh đạo Trung Quốc (Chu Ân Lai), Ấn Độ (Nehru) và Myanmar (U Nu), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì sự hiểu biết lẫn nhau và hòa bình ở châu Á. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn tuần báo New Age của Ấn Độ về vấn đề xây dựng các căn cứ và liên minh quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng, các căn cứ và các khối quân sự là mối đe dọa đối với hòa bình ở châu Á và trên thế giới. Người cũng thường xuyên đề cập đến phong trào liên kết ngày càng phát triển giữa nhân dân các nước châu Á và châu Phi. Người luôn thể hiện khát vọng về sự thống nhất hòa bình giữa hai miền Nam Bắc của Việt Nam và tổ chức các cuộc bầu cử theo tiến trình dân chủ như đã được đề cập trong Hiệp định Geneva.

Trong bài phát biểu ngày 17/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: “trong thời đại ngày nay, các lực lượng hòa bình đang phát triển, ngày càng có nhiều người lên tiếng yêu cầu giải giáp vũ trang, chấm dứt các vụ thử hạt nhân và bom hạt nhân, phản đối NATO, Baghdad và khối Đông Nam Á, yêu cầu các nhà lãnh đạo thế giới tổ chức các hội nghị để hạn chế các căng thẳng trên khắp thế giới”. Trong một tuyên bố chung nhân chuyến thăm tới Ấn Độ năm 1958, hai nhà lãnh đạo (Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Nehru) đã chỉ rõ rằng: “sự phát triển trong các lĩnh vực chiến tranh hạt nhân, bom hạt nhân… đặt ra yêu cầu đối với hòa bình hơn bao giờ hết”. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí rằng, cần phải tổ chức một hội nghị cấp cao để tìm ra các giải pháp chấm dứt các vụ thử hạt nhân và bom hạt nhân, cần phải tiến hành giải giáp vũ khí dần dần và hạ nhiệt tình hinh thế giới; đồng thời bày tỏ hy vọng rằng hội nghị sẽ sớm được triệu tập. Hai bên nhấn mạnh rằng, các khối quân sự đã làm cho tình hình thế giới trở nên bấp bênh và xác định rằng cần phải duy trì hòa bình thế giới và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.

Chủ tịch Hồ CHí Minh được ảnh hưởng rất nhiều từ các giáo lý Đạo Phật về hòa bình, sự tha thứ, tâm linh, sự tối giản và phi bản ngã như những nhân tố quan trọng của sự sống nhân loại và hòa bình thế giới. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là thúc đẩy tình cảm giữa con người, hy sinh những niềm vui vì người dân, tự hoàn thiện, tu dưỡng đạo đức cá nhân, tăng cường tình đoàn kết giữa mọi người… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhìn vào các tư tưởng đạo Phật, bao gồm các triết lý, để phát triển thế giới quan về hòa bình, sự chân thành, lòng tốt, vẻ đẹp, tình thương. Thậm chí, trong các chuyến thăm tới các nước khác nhau và các bức thư chính thức gửi các nhà lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng hay đề cập đến sự hòa nhập về tinh thần, tình thương yêu, lòng vị tha, đạo đức, phẩm chất con người và sự đồng cảm với đồng loại. Thực tế, một trong những tư tưởng về hòa bình thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ bản chất nhân văn hòa bình của đạo Phật.

Nếu sự phân tích sự cộng hưởng trong các tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ yếu là nhằm mục đích đem lại hòa bình thế giới thông qua việc chống lại chủ nghĩa thực dân và giảm dần ảnh hưởng của các cường quốc đế quốc, để tạo điều kiện cho sự phát triển của các dân tộc độc lập vẫn còn non trẻ. Trong các bức thư của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến Hiệp định Geneva, và nhấn mạnh đến các nguyên tắc dân chủ và tôn trọng ý chí người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ý thức được một thực tế là các cường quốc đế quốc sẽ không dễ dàng trao lại tự do các nước thuộc địa. Chính vì vậy, Người kêu gọi các nước mới giành được độc lập phải tránh các khối liên minh và phấn đầu vì cuộc sống tốt đẹp của người dân. Cam kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với người dân Việt Nam và sự thống nhất đất nước thông qua các biện pháp hòa bình hầu như không được đề cập đến, nhưng nếu xem xét các bức thư mà Người gửi tới các nhà lãnh đạo trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn muốn phấn đấu vì sự phạt triển và hòa bình thế giới.

Nguồn: TKNB – 21/05/2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần cuối


Gà trống báo hiệu ánh sáng bình minh sắp đến, tượng trưng cho việc con người đang đi từ biết đến nhận biết.

Đồng hồ cát cho phép con người được suy nghĩ về thời gian.

Bánh mì là cách con người tự nhận biết từ sống đến chín.

Lửa và nước là yếu tố thiên nhiên sinh động trong vũ trụ, biểu trưng của Tam Điểm, vì lửa thiêu hủy tất cả những điều ác và nước hòa tan tất cả theo thời gian.

Khi trời đất giao hòa, cây sống tươi tốt và đơm hoa kết quả. Cây keo (Acacia) tượng trưng cho sự bất diệt. Theo truyền thuyết, xác Hiram bị chôn dưới gốc cây này. Cây keo là một loại cây có sức sống rất mãnh liệt và tái sinh nhanh ở châu Âu, to như cổ thụ, dù bị chặt sát gốc, cây không chết, hàng loạt chồi từ các rễ phụ mọc lên vô vàn cây con một cách nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ. Thân cây có gai cứng nhọn, việc phá chặt cây không đơn giản, cây có sức chịu đựng mùa đông lạnh giá ở châu Âu. Hoa rất thơm, hương tỏa lan khắp nơi. Acacia tượng trưng cho sự bất diệt của Đại công trình sư Hiram. Thành viên Tam Điểm luôn luôn là những người khát khao đi tìm lại xác của Hiram, tức là đi tìm chân lý và công lý trong cuộc đời. Tờ báo riêng của hội Tam Điểm cũng lấy tên Acacia (Cây keo).

Cây ôliu, theo truyền thống Hy Lạp – La Mã xưa phần thưởng cao quý cho quá trình nỗ lực phấn đấu. Dầu ôliu dùng để thắp và tạo ra ánh sáng. Đối với dân cư đạo Hồi, ôliu mang lại điềm lành, sự giàu có cho con người, là món hàng kinh tế chiến lược của họ. Lá xanh quanh năm tượng trưng sự vĩnh hằng của ánh sáng. Ôliu, lá thơm, lâu héo.

Nguyệt quế cũng là loại cây lá thơm như ôliu.

Ôliu và nguyệt quế, cũng như cây keo, có sức sống mãnh liệt, chịu được thời tiết khắc nghiệt. Mùa đông băng giá, lá nguyệt quết vẫn xanh. Trong các tượng Hy Lạp, La Mã, nhiều bức tượng thần đeo vòng nguyệt quế ở trên đầu, một phần thưởng cao quý dành cho những người chiến thắng trên mọi lĩnh vực.

Hoa hồng tượng trưng cho sự hồi sinh, hiền minh và cái đẹp. Theo truyền thuyết Hy Lạp, loại hoa này trước tiên màu trắng nhưng nữ thần tình yêu Venus trong khi chạy đến cầu cứu Adonis giúp thoát khỏi sự ghen tuông trả thù của thần chiến tranh Mars, chân giẫm phải gai chảy máu, máu của thần tình yêu thấm vào cánh hoa trắng và khiến nó biến thành màu hồng.

Con lừa Apulée ăn hoa hồng này trở lại thành người, nên hoa còn mang nghĩa hồi sinh, tình yêu làm sống lại con người và biến đổi con người từ thú vật thành người. Hoa hồng như ảo thuật, như sự hiền minh, sức mạnh; sắc đẹp làm thay đổi thế giới.

Tổ ong là công trình của thiên nhiên, ong cũng có trật tự tự nhiên nhất định để xây dựng tổ của mình. Ong – những người Thợ cần cù, tượng trưng cho công trình và sự hồi sinh liên tục. Nhiều chi hội Tam Điểm lấy tên tổ ong (Ruche). Ong cũng như những thành viên Tam Điểm cùng nhau xây cất đền thờ, và tổ ong chỉ có một ong chúa, đó là Thầy. Ong có một tổ chức tự nhiên quy củ và tự tạo ra công trình bằng mật hút từ nhụy hoa. Ong chỉ chuyên đi hút sự tinh túy của hoa thơm đem về xây tổ làm ra mật ngọt cho đời. Thành viên Tam Điểm tự ví mình như những con ong đi hút tinh hoa của đời để xây nên trật tự xã hội mới, ngọt ngào như mật ong.

Sàn nhà thờ màu sắc đen trắng đan xen như ngày và đêm, xung quanh lát nhiều màu thể hiện sự đa dạng của cuộc sống con người và họ cũng dựa trên lý thuyết Âm dương của Á Đông để nói về sự tuần hoàn của vũ trụ, sự đối lập đi đến hòa quyện, hài hòa tạo nên vũ trụ. Hai màu trắng đen biểu hiện bóng tối và ánh sáng, đêm và ngày, vật chất và trí tuệ, mà con người sống trong thế giới phải trải qua và nhiều khi còn được giải thích như vòng tròn âm dương của Lão giáo.

Trần nhà trang trí đầy sao. Sao tỏa ánh sáng ra giữa hai dụng cụ chính để giúp con người tài ba xây dựng đền đài vĩ đại. Hình các dụng cụ xây dựng, và ngôi sao ở giữa rất thường gặp trong nhà thờ Tam Điểm. Sao vẽ chi chít trên trần nhà tượng trưng cho nhà thờ không bị che khuất, tạo một cảm giác ở giữa không gian trời đất bao la. Sự hiểu biết chân lý là vô tận, mênh mông như trong vũ trụ. Không phải cứ vào hội Tam Điểm có nghĩa là nắm bắt được hết bí quyết cuộc đời. Tất cả đều vô hạn. Muốn nắm bắt vũ trụ, con người phải tự mình nắm bắt và vươn lên mãi mãi.

Thang vẽ trong những bức tranh trang trí như cấp bậc để con người vươn lên cao tìm sự thật, tìm thấy Thượng đế, tìm thấy chính mình. Cũng như người thợ xây dựng, họ phải leo lên từ bậc thang thấp nhất, tiếp đến lên cao dần mới đạt tới đỉnh. Thang để nhắc cho con người biết mình phải rèn luyện và phấn đấu để tìm được chân lý cuộc sống.

Kiếm để bảo vệ công lý, sự thật, và sự an toàn. Kiếm nhọn là sự tư duy, là sự mài giũa mũi nhọn để xuyên qua được bí mật, huyền bí của ngôn từ, của chữ để ánh sáng trí tuệ từ đấy tràn ra. Kiếm ở đây không phải là vũ khí thuần túy mà là vũ khí ánh sáng. Thời thập tự chinh bên châu Âu, những người lính kỵ mã đeo kiếm để biểu hiện dòng dõi quý tộc. Thành phần hội Tam Điểm ban đầu kết nạp phần đông là tầng lớp quý tộc, kiếm biểu hiện sự cao quý của các thành viên. Lưỡi kiếm ở Tam Điểm mà vị Đại sư đeo uốn lượn như lửa, tượng trưng cho ánh sáng nội lực, lửa, sét và chớp. Khi người mới nhập hội, được Thầy dùng kiếm gõ lên lưng coi như Thầy truyền cho ánh sáng, tức là người Tập sự bắt đầu giác ngộ ánh sáng chân lý. Một số hội Tam Điểm ở Anh và hội dành cho phái nữ không dùng kiếm lưỡi lửa khi làm lễ nhập hội.

Kiếm tượng trưng cho quyền lực thế tục và linh thiêng. Nhà nước và nhà thờ xưa là hai thế lực thường cạnh tranh nhau ở châu Âu. Kiếm biểu trưng cho sự hòa hợp hai quyền lực nhà nước và nhà thờ. Bậc Thầy Tam Điểm bắt buộc phải đeo kiếm, trong các buổi lễ và buổi kết nạp thành viên mới mang ý nghĩa đã được tẩy sạch và sáng tạo. Nhiều thành viên Tam Điểm, trong nhà thường treo thanh kiếm hoặc cái khăn tạp dề để trang trí trên tường.

Tạp dề găng tay bắt buộc dùng khi sinh hoạt hội. Hình thức trang trí, màu sắc tùy từng hội và tùy từng cấp bậc.

Thành viên Tam Điểm coi mình là những người Thợ xây dựng đi xây dựng trật tự xã hội mới, nên đeo tạp dề là thể hiện sự chấp nhận quy luật của một người học nghề thực thụ khi làm việc, chấp nhận làm người học trò của trí tuệ và kiến thức của nhân loại.

Tạp dề màu trắng viền các màu xanh, đỏ, đen, trắng dành cho những cấp bậc khác nhau. Tạp dề có chữ M có nghĩa là Maҫon – tiếng Pháp hay Mason – tiếng Anh (Thợ xây hay Tam Điểm theo tiếng Việt). Khi sinh hoạt hội phải bắt buộc mang tạp dề, còn kiếm thì tùy theo nội quy của mỗi hội.

Chìa khóa mở ra kho báu của nhân loại. Bí mật cuộc đời như kho tàng quý báu, con người phải nắm được chân lý tức là nắm được chiếc chìa khóa để mở được cánh cửa bí mật huyền diệu của sự thật, của ánh sáng. Từ bóng tối, con người tự mày mò ra chiếc chìa khóa để tìm được ánh sáng chân lý.

Sách đem lại kiến thức và sự hiểu biết vô tận. Cuốn sách luôn mở ra, bày trang trọng trên bàn trong nhà thờ, hai bên trang sách có in chữ G – Thượng đế. Chữ G – God để chỉ Thượng đế trong tiếng Anh, G vừa có nghĩa Thượng đế, nhưng cũng có nghĩa Hình học – Géometrie hay Gnose (gốc Hy Lạp là sự hiểu biết). Hội Tam Điểm tự nhận là đứa con mồ côi, cũng có nghĩa không thừa nhận cha, chỉ thừa nhận một đấng sáng tạo duy nhất. Có nhánh không thừa nhận Thượng đế, chỉ thừa nhận đấng sáng tạo ra vũ trụ.

Trong nhà thờ Tam Điểm, cuốn sách thiêng luôn được mở ra, tượng trưng kiến thức luôn mở để đón những người muốn tìm hiểu chân lý qua nhận thức.

Trong nhà thờ Tam Điểm có hai quả cầu tượng trưng cho trời và đất. Mặt trời, mặt trăng đều đem lại ánh sáng. Mặt trời mọc ở phương Đông. Ánh sáng bắt đầu từ Đông. Mặt trời và mặt trăng ngày đêm đem ánh sáng cho nhân loại. Quả địa cầu tượng trưng cho sự liên minh nhân loại trên thế giới.

Trong nhà thờ có hai cột, cột dựng ở phía bắc khắc chữ J (Jakin), tiếng Do Thái cổ có nghĩa là “người sẽ lập nên”, là chỗ dành cho hạng Tập sự; còn cột phía nam (B – Boaz), nghĩa là sức mạnh. Trên cái tạp dề, đọc từ trái sang phải có nghĩa là người sẽ thiết lập nên sức mạnh; mặt trăng chiếu thẳng vào cột B truyền năng lượng, còn mặt trời chiếu trước cột J. Ánh sáng mặt trăng là ánh sáng phản quang từ mặt trời, con người có hiểu biết sẽ sử dụng ánh sáng hiểu biết mà mình đạt được để phát sáng trí tuệ. Trong nhà thờ Tam Điểm ở Anh, ba cột tượng trưng cho sự Hiền minh, Sức mạnh và Hoàn mỹ. Mỗi cuộc họp đều được thắp sáng để nói lên những gặp gỡ thảo luận trao đổi kiến thức sẽ dẫn con người đạt được Hiền minh, Sức mạnh và Hoàn mỹ. Tại trụ sở một số hội Tam Điểm chỉ đặt tượng trưng trên bàn hai cột nhỏ, trên để hai quả cầu tượng trưng cho trái đất và trời. Khi hội họp, cột địa cầu hạ nằm xuống, cột trời dựng lên, cuối buổi dựng ngược lại.

Rất nhiều hình tượng và con số mang tính huyền ảo bí ẩn trong Tam Điểm, tương tự như trong phim Da Vinci code (Mật mã Da Vinci). Con người có nhiệm vụ phải đi tìm được mật mã để đến được kho báu của nhân loại. Trong Tam Điểm, con người cũng phải tự tìm ra mật mã để mở cánh cửa đến được chân lý sự thật và nói nôm na theo Phật giáo là giác ngộ. Hình tượng trong hội Tam Điểm rất phong phú và đa dạng, mang nhiều ý nghĩa nhằm hướng con người tự vận động không ngừng để nắm bắt trí tuệ và tự nhận thức để hoàn thiện bản thân.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần III


3/ Một số biểu tượng của Hội Tam Điểm

Biểu tượng của hội Tam Điểm dựa trên lòng hiếu học. Khát vọng nắm bắt và chinh phục vũ trụ là nguyên nhân chính đã gắn chặt với ham muốn tồn tại, tình yêu chân lý và cuộc sống. Sự ngu dốt cản trở tự do của con người. Sự hiểu biết giúp con người tự giải phóng chính bản thân ra khỏi sự lệ thuộc. Hiểu biết về sự thật thường biến đổi cũng như lịch sử diễn biến không ngừng. Hôm nay sự khám phá đó chỉ là chân lý tạm thời trong một giai đoạn, ngày mai nó trở nên lỗi thời, con người luôn phải tự trau dồi và khám phá không ngừng. Sự tiến triển không ngừng bao trùm cả tôn giáo, chính trị, thậm chí khoa học.

Khoa học cũng có thể nhầm lẫn, mọi quan niệm tôn giáo, triết lý và chính trị cũng có thể nhầm hoặc thiếu sót, cần được bổ sung và liên tục hoàn chỉnh, phù hợp với từng giai đoạn của cuộc sống. Chính vì thế nên có sự khác biệt, bất đồng về những quan niệm triết lý khác nhau, nhưng các thành viên hội Tam Điểm đều có ý thức tích cực là không thù hận giữa các chi hội, và luôn tìm cách giải quyết mâu thuẫn giúp nhau khi gặp khó khăn. Mỗi thành viên Tam Điểm đều dùng một số biểu tượng chung, cùng với quy định mật khi hoạn nạn, cách bắt tay để nhận biết, ở mọi nơi trên thế giới.

Như huyền thoại, thành viên Tam Điểm là những người thợ xây ngôi đền của vũ trụ, các dụng cụ thợ xây được coi là biểu tượng sức mạnh của họ. Những dụng cụ rất đơn giản, nhưng với trí óc tuyệt vời con người đã làm nên những công trình vĩ đại của thế kỷ. Êke (thước góc vuông), thước thợ, quả dọi, dao bay, compa, búa là những dụng cụ cần thiết tối thiểu của những người thợ để tạo nên những đền đài, nhà thờ hoành tráng khắp nơi trên thế giới. Các dụng cụ được vẽ trong logo biểu tượng là các dụng cụ đơn giản nhưng nói lên những phẩm chất làm nên tất cả sự thật. Tuy nhiên, tùy theo quan niệm của từng chi nhánh và cách vẽ sáng tạo của người họa sĩ, kiến trúc và kiểu trang trí ở các nhà thờ Tam Điểm hơi khác nhau. Hình tam giác, con mắt, chiếc compa, thước thợ, dây dọi là những hình không thể thiếu được trong bất kỳ hội Tam Điểm nào trên khắp thế giới.

Compa tượng trưng cho dương, cho sự đoàn kết, sự kết nối vòng tròn.

Con mắt giữa mặt trăng và mặt trời như cán cân để cân bằng sáng tối, để hài hòa thế giới, mắt tượng trưng cho sự hiện diện thấy được khắp nơi.

Thước vuông êke tượng trưng cho yếu tố âm, biểu tượng của công lý và sự chính xác. Âm dương hòa hợp mang ý nghĩa khi con người biết đoàn kết và theo công lý thì sẽ tìm được chân lý, tức là xây dựng được một trật tự mới. Âm dương kết nối xung quanh Đấng sáng tạo thế giới (G).

Con mắt trong Tam Điểm được giải thích theo con mắt trong thần thoại Hy Lạp. Con mắt của Horus bị Seth lấy mất trong trận chiến trả thù cho cha. Seth cắt con mắt này thành từng miếng thả xuống sông. Thần Zeus vớt lên trả lại con mắt cho Horus, nhưng lại thiếu một mảnh chỉ bằng 1/64 con mắt.

Thần Zeus đã tái tạo tài tình, phù phép nốt ột hần nhỏ bé đó để cho con mắt của Horus hoàn chỉnh hay còn gọi là oudjat (có nghĩa là đầy đủ, hoàn chỉnh). Con mắt Horus tượng trưng cho ánh sáng, sự hiểu biết, sự thấu thị và tìm ra hạnh phúc. Để mãi tưởng niệm cuộc chiến vì nghĩa chống lại điều ác, con người lấy con mắt để biểu tượng cho sự hoàn hảo, nhìn thấu được mọi điều trên thế gian, giúp những người làm điều thiện chống điều ác. Hội Tam Điểm còn dùng những con số bí ẩn để nói lên sự hoàn thiện cuối cùng như mảnh thứ 64, và sự đền đáp của đấng thiêng liêng khi con người có khát vọng thực sự và quyết tâm đạt được ý muốn hoàn thiện của chính mình. Sự tìm tòi những bí ẩn của cuộc đời là hành trình của mỗi cá nhân. Những sự ngẫu nhiên và những con số kỳ diệu đã tạo nên những bí ẩn của cuộc đời. Cuộc đời cũng chẳng có gì là bí ẩn, nếu con người có khát vọng tìm hiểu và đi tìm chân lý, họ sẽ tìm được mảnh thứ 64.

Hình tam giác tượng trưng cho sự hoàn hảo. Theo huyền thoại Tam Điểm, hình tam giác là nơi cất giữ bí quyết của Moses truyền cho con người mà Hiram ném xuống giếng trước khi mất. Theo đạo Công giáo thì hình tam giác là ba dấu thánh nhân danh Cha-Con-Thánh thần. Cả ba đều đóng vai trò chủ thể như nhau trong việc tạo dựng thế giới. Nhiều nhà thờ có con mắt của Chúa, hoặc hình ảnh của Chúa bên trong hình tam giác. Trong đạo Ki-tô cũng có hình tam giác, mắt và Chúa. Trong khi theo Tam Điểm thì hình tam giác mang nhiều ẩn ý khác. Trong biểu tượng Tam Điểm, chỉ có con mắt ở giữa, không có hình đầu Chúa bên trong như bên Ki-tô giáo. Trong biểu tượng Tam Điểm, tam giác còn có nghĩa là ba cấp bậc (Tập sự – Thợ – Thầy), và ba tiêu chí “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”. Tất cả mọi cấp bậc đều bình đẳng dù ở góc độ nào. Con người quyết tâm vươn lên sẽ đứng được ngang tầm. Tập sự giỏi sẽ vươn lên ngang với Thợ và tiếp tục cố gắng sẽ thành Thầy.

Ngược lại, Thầy luôn tiếp tục trau dồi kiến thức như Tập sự để vươn lên thành Thợ và thành Thầy ở mức độ cao hơn. Thầy cũng là Tập sự của nhận thức không ngừng tiến triển. Kiến thức tạo cho con người bình đẳng và vươn lên đỉnh cao. Hai hình tam giác ghép lại mang ý nghĩa khác.

Hình tam giác có đỉnh hướng lên trên tượng trưng cho lửa – dương, ngược lại hình có đỉnh chúc xuống dưới tượng trưng cho nước – âm. Hai hình tam giác úp đáy vào nhau tạo thành một hình thoi tượng trưng cho hòa hợp âm dương. Hai hình đan xen vào nhau thành ngôi sao David trong ấn của Solomon.

Con số 3 luôn được sử dụng như một mật hiệu. Trước khi vào thỉnh Thầy, thành viên Tam Điểm phải gõ cửa ba lần xin phép, Thầy gõ đáp lại là được phép. Ba ngọn nến thắp trong các nhà thờ vào lúc hành lễ và hội họp tượng trưng cho Mặt trời, Mặt trăng và Thầy. Trời trị vị ban ngày, Trăng trị vì ban đêm, Thầy điều khiển toàn bộ hội. Trong một số nhà thờ hội Tam Điểm có dựng ba cột tượng trưng cho sự hiền minh – sức mạnh – hoàn mỹ. Nhờ hiền minh mới tạo ra sức mạnh. Khi con người có sức mạnh, có tiềm lực mới đạt được cái đẹp, cái hoàn thiện. Ba ngạch trong Tam Điểm: Tập sự – Thợ – Thầy, ba luồng ánh sáng vĩ đại là cuốn Luật thiêng, compa, và thước thợ. Trong mỗi luồng ánh sáng có Thầy và hai người trực bên là thư ký và diễn giả. Ba luồng ánh sáng là Mặt trời, Mặt trăng và ánh sáng của Thầy. Thầy cũng như ánh sáng Mặt trời, Mặt trăng, là nguồn kiến thức truyền lại. Tôn sư, trọng đạo chính là nguyên tắc đạo đức căn bản trong Tam Điểm. Ánh sáng ở đây bao hàm nhiều ý nghĩa cũng như tam giác ba cạnh. Cuốn Luật thiêng chính là thánh thư của hội Tam Điểm. Đọc sách tức là con người tự kiểm nghiệm và đón nhận thông điệp. Mỗi cuốn sách mang một thông điệp nội tại và người đọc tự khám phá ra thông điệp. Thông điệp trong sách chính là ánh sáng nuôi từ những ánh sáng khác, tức là mọi tri thức đều bắt nguồn từ những tri thức khác, khám phá tri thức là không ngừng để tìm ra ánh sáng. Con số 3 thiêng liêng, khi viết thư cho nhau thành viên Tam Điểm thường ký hiệu ba chấm như ba góc hình tam giác. Ngoài ra cũng có nhiều con số khác nhau mang tính chất huyền bí. Số 5, năm yếu tố của thiên nhiên làm nên vũ trụ tượng trưng cho sự hòa hợp giữa Trời và Đất, giống như trong triết lý phương Đông.

Kim tự tháp do những hình tam giác ghép tạo thành. Kim tự tháp nói lên khát vọng vươn lên đỉnh cao của con người, thể hiện sức mạnh tài giỏi của Thợ xây (tức là của hội Tam Điểm) và là đỉnh cao ánh sáng. Kim tự tháp Ai Cập là những công trình kiến trúc nổi tiếng với nghệ thuật thiết kế ánh sáng tài tình. Chỉ có một tia sáng xuyên qua một khe hở chiếu thẳng vào mộ khi mặt trời lên. Hội Tam Điểm thường dùng kim tự tháp để làm logo, để nói lên sức mạnh vĩ đại huyền bí của Thượng đế và con người. Không phải vô tình mà trong tờ giấy bạc một dollar của Hoa Kỳ có in hình kim tự tháp chưa xây xong, còn thiếu cái chóp, trên có hình con mắt. Phía dưới con mắt có khẩu hiệu “Novus Ord Sectorum” (Trật tự mới toàn cầu) gần giống như biểu tượng của Illuminati trong hội Tam Điểm. Trong quốc ấn Hoa Kỳ cũng có hình kim tự tháp mất đầu và con mắt soi sáng ở trên, nhìn thấu vạn vật. Con người khi đạt tới đỉnh cao như nắm bắt được ánh sáng. Ánh sáng của trí tuệ, của ý thức, con mắt như mở ra tìm được con đường mới. Đồng một dollar là đồng tiền giấy có giá trị nhỏ nhất, từ cái nhỏ nhất con người có thể đến cái lớn hơn như 1/64 mảnh mắt thiếu tìm được.

Một số con vật cũng mang ý nghĩa tượng trưng trong Tam Điểm, như rắn là tượng trưng cho sự thông minh, sắc sảo, sự bất tử vì lột xác để lớn lên. Con người muốn lớn lên phải biết tự lột xác mình, qua nhận thức học hỏi. Kiến thức sẽ giúp con người lớn lên. Nhưng con người phải tự biết can đảm lột xác thông minh như con rắn.

Bình thường rắn không tấn công đối phương trước, chỉ dùng vũ khí nọc độc tự vệ trong trường hợp gặp nguy hiểm, khi bị động đến, nó sẽ phản ứng, chỉ cần cắn nhẹ cũng đủ gây tổn thương và thiệt mạng cho đối thủ. Nhờ sự thông minh và khôn khéo, rắn trở thành con vật tượng trưng cho Tam Điểm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần II


Khi vua David chiếm được Jérusalem, ông tuyên bố nơi đây là thủ phủ, và thành phố này được đặt tên là thành David. Để tạ ơn thần đã giúp ông ngự trị bình an, ông cho xây đền thờ. Ông đã mất trước khi thực hiện được mong muốn này. Solomon kế ngôi cha, ông bắt đầu thực hiện công trình vĩ đại theo ước nguyện của cha. Đền thờ này được coi như nhà thờ đầu tiên của người Do Thái ở Jérusalem, nằm trên quả đồi Moria, nơi mà theo truyền thuyết, Abraham đã đem con trai Isaac đến để cúng cho Yahvé – thần đã sinh ra con người nhưng cũng đã tức giận trừng phạt con người bằng trận đại hồng thủy. Đại hồng thủy hung dữ đã giết chết hết con người cùng sinh vật, chỉ có chiếc thuyền gỗ duy nhất của Noé sống sót. Để tránh cơn giận của Yahvé, hàng năm con người tổ chức lễ tế thần để cầu mong sự phù trợ của thần. Solomon ra lệnh xây đền thờ làm nơi tế thần và cầu mưa. Đền thờ có chỗ được mạ vàng.

Đền thờ vĩ đại xây ở Jérusalem được hoàn thành khoảng năm 960 TCN. Công trình vững được gần bốn thế kỷ, sau bị vua Nebuchadnezzar phá vào năm 586 TCN. Gần hai mươi năm sau đó, vua Cyrus chiếm được thành Babylone, thả người Do Thái trước đó bị bắt làm nô lệ. Họ trở về Jérusalem và xây lại đền thờ dưới sự chỉ đạo của Zerubbabal. Công trình hoàn tất vào năm 515 TCN, sau đó bị quân La Mã chiếm và phá hủy. Bây giờ chỉ còn bức tường kiên cố, bên trong đã xây lại hai nhà thờ Hồi giáo trên nền đền thờ cũ. Tuy nhiên, Jérusalem vẫn được coi như là thánh địa, hàng nghìn con chiên hành hương mỗi năm tràn về đất tổ.

Truyền thuyết về hội Tam Điểm tuy cũng dựa trên truyền thuyết về lịch sử xây đền này nhưng nhấn mạnh vai trò và tài năng của những người thợ xây, đặc biệt là Hiram, được oci như đại kiến trúc sư, một vĩ nhân mở đầu cho sự ra đời của Tam Điểm. Do đó, câu chuyện xây cất đền thờ này gắn chặt với công lao của vua Solomon và đại kiến trúc sư Hiram. Theo truyền thuyết Tam Điểm, vua Solomon vâng lệnh Thượng đế cho cất đền thờ Jérusalem trên đồi Moria. Hiram do vua Hiram Đệ nhất, vương quốc Tyr, gửi đến để xây đền thờ vĩ đại ở Jérusalem theo lời mời của vua Solomon. Hiram vừa là kiến trúc đại tài, vừa được coi là chuyên gia đúc đồng nổi tiếng được vua Solomon giao cho trang trí “ngôi đền vĩnh cửu” này. Bằng tài năng, trí thông minh và sự hiểu biết, ông đã dựng được hai cột hoành tráng có tên Jachin (cột bên phải) và Boaz (cột bên trái), ngay tiền sảnh nhà thờ. Ông còn cho đúc cái bể rộng, trên có mười hai con bò bằng đồng, nhiều cái chảo lớn và cốc vại. Trong Thánh thư, ông được coi là người nắm mọi bí quyết mỹ thuật và công nghệ. Công trình hoàn thành sau bảy năm, do 217.451 thợ xây dựng. Việc điều khiển được số lượng thợ như vậy trong thời đại không có máy móc và vi tính như ngày nay ngoài mấy dụng cụ đơn sơ như thước thợ, bay, compa, nên đòi hỏi một số lượng nhân công rất lớn và đầu óc thiên tài của người chỉ đạo công trình. Để hoàn thành công việc vĩ đại và khó khăn này, nhà vua chỉ định kiến trúc sư Hiram chỉ huy đội quân gồm ba mươi nghìn thợ luyện kim giỏi, tám mưi nghìn thợ hồ, bảy mươi nghìn phu khuân vác. Kiến trúc sư xuất sắc này đã chia đội quân thành ba cấp theo khả năng của họ để cấp lương nuôi đội quân vĩ đại. Bậc đầu tiên là Tập sự có mật hiệu Jakin, sau đến Thợ chính có mật hiệu là Boaz, bậc cao nhất là Thầy có mật hiệu là Jéhovah. Mọi người nghiêm túc làm việc và nhận biết nhau qua tín hiệu quy định. Hiram nắm được bí quyết xây đền do Moses trao cho. Khi công việc đang tiến hành trôi chảy, ba người thợ chính do ganh tị và muốn thay thế Hiram, âm mưu bắt và dọa giết Hiram nếu không cho họ lên bậc Thầy và truyền bí quyết xây đền. Một đêm khuya vắng, Hiram đi tuần trong đền, ông bị phục kích và giết chết. Chúng đem xác ông chôn dưới gốc cây keo (Acacia). Rất may mắn, trước khi chết Hiram đã kịp ném cái dây chuyền có chiếc tam giác vàng vẫn đeo ở cổ ông xuống giếng sâu. Chiếc tam giác ấy chính là nơi giấu tất cả những bí quyết mà nhà tiên tri Moses đã truyền cho dân Do Thái mà người đại công trình sư Hiram nắm giữ được. Nữ hoàng Saba, người yêu của Hiram, lúc đó đang mang thai không được tin tức gì của Hiram đã đến tận nơi tìm ông.

Vua Solomon ra lệnh cho các Thầy xây dựng đi tìm Hiram. Chín người Thầy đã tìm thấy xác của Hiram chôn dưới cây keo. Ba tên phản tặc bị chặt đầu. Chín người thầy được vua chỉ định thay Hiram làm tiếp công trình vĩ đại. Những người này chính là tiền thân của hội Tam Điểm. Họ thường bí mật họp nhau lại để trao đổi kinh nghiệm và để hoàn thành công trình dở dang của Hiram. Thành viên Tam Điểm tự nhận họ là những đứa con của Hiram – người xây cất “Ngôi đền của Vũ trụ” và cũng tự coi mình là “những đứa con côi của bà mẹ góa, tức là nữ hoàng Saba”.

2/ Xuất xứ của Hội Tam Điểm

Hội ban đầu xuất phát từ những nghiệp đoàn thợ xây dựng, những buổi sinh hoạt ban đầu là bàn làm việc phân công những người đứng đầu phụ trách từng nhóm. Thời đó để xây dựng một công trình vĩ đại như đền thờ và cung điện đòi hỏi một lực lượng lao động chân tay rất đông, và nhiều người chỉ huy phân đội rất giỏi để phối hợp, dưới sự chỉ huy của một công trình sư chính. Nhóm chỉ huy này thường tụ lại với nhau, được nhà vua và giáo hoàng ưu đãi để công trình sớm được hoàn tất. Họ được tự do và không bị ràng buộc bởi những quy định của nhà thờ hay luật lệ của nhà vua đối với dân thường. Do đi xây dựng nhiều công trình khác nhau nên họ được gọi là những người Thợ xây tự do, theo tiếng Pháp là Franc-maҫon và tiếng Anh là Free mason. Tuy nhiên, những người Thợ xây tự do phải tuân thủ rất nghiêm ngặt những quy định của Thầy tức là Thợ cả và chịu sự chỉ đạo chặt chẽ của người Thầy chỉ huy mà vua giao cho toàn quyền. Hội Tam Điểm ra đời. Họ là những người rất từ tâm, hay che giấu giúp đỡ những người hoạn nạn chạy trốn các cuộc thanh trừng tôn giáo như người Do Thái, tín đồ Tin Lành, những người bị coi là tà giáo.

Thành phần của hội đều là những người xuất sắc và quyền quý, những người ưu tú được chọn lọc trong xã hội. Do đó chữ “Thợ nề tự do” có ý nghĩa tượng trưng khác. Hội nhiều phen bị triệt phá, do hiềm khích, tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng, nên danh sách thành viên thường không bao giờ công khai để bảo vệ sự an toàn của họ trong khi tham gia sinh hoạt ở các nơi khác. Nguyên tắc của hội nhằm bảo vệ sự bí mật và tính huyền bí cho nên các thành viên của hội không công khai nhận mình là thành viên Tam Điểm, họ chỉ được phát tín hiệu nhận nhau qua cách bắt tay, hoặc mật khẩu riêng dùng khi gặp hoạn nạn.

Hội Tam Điểm còn gọi là Illuminati, tiếng Latin có nghĩa là những người được thần linh khai sáng, còn có nghĩa là ánh sáng lan tỏa. Vì thế các chi nhánh của hội thường mang tên như Ánh Sáng, Phương Đông (nơi mặt trời mọc, bình minh, nơi ánh sáng đầu tiên đến trái đất, cũng mang nghĩa khác là phương hướng), thức tỉnh, báo thức, sao, trăng, đèn pha… Ánh sáng là biểu tượng quan trọng trong Tam Điểm. Con người với những công cụ đơn giản đã tìm ra chân lý tức là tìm ra ánh sáng. Ánh sáng soi đường cho con người đi tiếp được. Từ bóng tối, con người khám phá ánh sáng để vượt qua được mọi thử thách của cuộc đời và đạt được chân lý.

Ba dấu chấm (.﮲.) chính thức dùng từ năm 1775, tượng trưng cho ba câu hỏi thường phải trả lời khi vào hội, cũng có nghĩa là ba nghĩa vụ mà thành viên Tam Điểm không thể quên: tự hướng về chính bản thân mình, về đồng loại, về Thượng đế, nói ngắn gọn là Cá nhân – Đồng loại – Thượng đế. Trong thư tín gởi cho nhau, họ thường viết tắt ba chấm thay thế hình tam giác đều như F.﮲. (Frère – hiền huynh hay hiền đệ), M.﮲. (Maȋtre – Thầy). Việt Nam vốn đơn giản hóa cách gọi cho tiện, tiếng Việt là  ngôn ngữ đơn âm, việc dịch tên “Hội Thợ nền tự do” dễ bị hiểu nhầm là những người trong nghề xây dựng. Thợ xây ở đây có nghĩa là những người muốn xây dựng một trật tự mới trong xã hội. Người Việt Nam thông mih, lấy đặc trưng  nổi bật của hội qua mỗi lần ký văn thư của thành viên để đặt tên.

Chân lý đơn giản nhưng không phải ai cũng nắm bắt được. Chân lý đó chính là tự do, công bằng, huynh đệ bác ái.

Tự do, công bằng, huynh đệ bác ái – khát vọng muôn thủa của con người, trở thành ba nguyên tắc chính của hội Tam Điểm. Ba nguyên tắc chính là đòn bẩy để thu hút tất cả mọi người, mọi nơi, mọi chính kiến khác nhau, đến với nhau trong hội. Hội Tam Điểm có thể chia làm hai thành phần, ban đầu là những người “kiến trúc sư” tài năng, sau này hội kết nạp những thành phần không cùng nghề nghiệp, trong mọi lĩnh vực. Ngày nay, hội Tam Điểm chủ yếu là những thành viên lý thuyết có mặt trong mọi lĩnh vực: văn hóa, kinh tế và chính trị. Hội Tam Điểm trở thành một hội triết lý và bác ái.

Tam Điểm sử dụng lịch khác với lịch dương, thường cộng thêm bốn nghìn năm vì họ quan niệm con người bắt đầu tính từ thiên niên kỷ ánh sáng chân lý. Ngày nay, để tiện việc liên lạc, một số chi hội Tam Điểm không sử dụng lịch này mà tính như lịch dương. Nhiều thành viên truyền thống sang đến Đông Dương vẫn sử dụng cỗ lịch này khi viết báo cáo về trụ sở chính ở Pháp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần I


Theo lịch sử do các thành viên Tam Điểm cung cấp, hội Tam Điểm có từ thời xây cất đền thờ Solomon, thậm chí còn trước nữa, vì trong truyền thuyết và khảo cổ đều có dấu ấn của Tam Điểm. Mặc dù vậy, thực chất, hội Tam Điểm phát sinh từ châu Âu chỉ hơn ba thế kỷ trước. Truyền thuyết La Mã và Hy Lạp là cái nôi của nền văn minh châu Âu. Tất cả đều dựa trên những hiểu biết ghi lại trong truyền thuyết và thần thoại của mỗi dân tộc, rồi cộng với hiện thực, họ huyền thoại hóa thêm lịch sử mới tiếp theo. Hội Tam Điểm mang tính chất huyền bí, nên nhiều chi tiết về nguồn gốc Tam Điểm cũng mang tính huyền thoại. Hội Tam Điểm xuất hiện ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVII. Thời Trung cổ, giáo hội và nhà vua là hai thế lực mạnh nhất. Những người xây dựng đền đài cung điện, nhà thờ, luôn luôn được nhà vua và giáo hội ân sủng vì họ là những người tài giỏi, đóng vai trò kiến tạo nên những công trình kiến trúc hoành tráng. Các kiến trúc sư giỏi thường được vua và giáo hội cho phép hành nghề tự do. Họ thành lập những hội đoàn sinh hoạt riêng, lấy tên “những người tự do nghề nghiệp”. Họ cũng tham gia sinh hoạt của nhà thờ và còn được nhà vua mời tham dự các buổi yến tiệc. Do bí mật nghề nghiệp, ban đầu họ họp hội kín đáo, không công khai và chỉ gồm toàn những người hành nghề xây dựng, sau này được gọi là Tam Điểm thực hành để phân biệt với thành viên Tam Điểm xuất thân từ nghề nghiệp khác. Họ hội họp vì nhiều mục đích, trao đổi kiến thức bí mật và giúp đỡ nhau. Hơn nữa, vì hầu hết họ phải di chuyển sau những công trình lớn, nên việc tụ hội để chia sẻ và tương trợ là nhu cầu tất yếu. Sự tự tập lập hội kín được vua và những người có thế lực cho phép vì lợi ích của triều đình. Những công trình vĩ đại, những lâu đài nguy nga cần những khối óc thiên tài của những người Thợ cả với vai trò tương tự những kiến trúc sư và công trình sư ngày nay. Chính vì vậy, vua chúa đặc âncho họ quyền tự do hội họp.

Trong những buổi giải trí, sinh hoạt dần dần bắt đầu có sự tham gia của tầng lớp tăng lữ, quý tộc, thậm chí cả nhà vua. Nhờ thế lực và sức mạnh tài chính do có sự tham gia của tầng lớp quý tộc, hội phát triển và mở rộng. Những thành phần không phải là những người trực tiếp điều khiển công trình như quý tộc, tăng lữ được gọi là những thành viên Tam Điểm lý thuyết (Franc-maҫon spéculatifs). Với sự có mặt của quý tộc và các thành viên hoàng gia như gia đình Napoléon, hội phát triển nhanh chóng và nắm giữ quyền lực trên mọi lĩnh vực. Nhưng chỉ đến đầu thế kỷ XVIII, các thành viên Tam Điểm khắp nơi mới tụ tập về Anh, lập hội đầu tiên, chính thức đặt tên là Đại đường London (Grande Loge de Londres). Đến năm 1723, các hội thống nhất cho công bố bản Hiến pháp chung cho Tam Điểm với mục tiêu để phục vụ nhân loại, và yêu cầu thành viên Tam Điểm phải là những người tốt, không bị chính quyền kết án, chân thật và tôn trọng tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân. Họ có bổn phận liên kết tất cả các hộ viên trên thế giới, không phân biệt tôn giáo, và tất cả hội viên, vì đều là huynh đệ, sẽ tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau. Để đạt được điều này, mỗi thành viên Tam Điểm luôn phải tự hoàn thiện mình bằng phương pháp “suy tư”, giống như thiền của đạo Phật. Quá trình luôn luôn tiến hóa và không ngừng hoàn thiện. Và giống như đạo Phật chính thống, thành viên Tam Điểm suy tư để hành động, để cải thiện xã hội đang tồn tại mà trong đó mỗi thành viên Tam Điểm như một mắt xích chính kết nối để xây dựng xã hội hoàn thiện. Họ phải luôn tự tìm hiểu, tự khám phá và trau dồi bản thân qua các dụng cụ xây dựng hàng ngày. Những dụng cụ tưởng tầm thường, đơn giản, thậm chí thô sơ như thước thợ bằng gỗ, dây dọi đã làm nên những công trình vĩ đại của nhân loại qua bao thế kỷ.

Hiện nay, hội Tam Điểm ở Anh và Pháp có ảnh hưởng lớn đối với các hội Tam Điểm tại các quốc gia khác trên thế giới. Một số hội ở các quốc gia tồn tại độc lập như Đức, Thụy Sĩ… Số lượng người theo Tam Điểm trên thế giới không đông, nhưng họ lại nằm trong bộ máy chủ chốt của chính quyền ở nhiều nước. Nhiều người nắm chức vụ quan trọng trong mọi lĩnh vực.

Nhiều Tổng thống Mỹ là thành viên của hội như Washington, Thomas Jefferson, Grant, Abraham Lincoln, Franklin Roosevelt, G. Bush (cha) cũng như các Tổng thống Pháp Franҫois Mitterrand và Jacques Chirac…. Nhiều Thủ tướng, Bộ trưởng trên thế giới như Winston Churchill, Allende, La Fayette, Mirabeau, Sieyès, gia đình Napoléon; nhiều nhà văn nổi tiếng như Voltaire, Montesquieu, Fichte, Rudyard, Kipling, Mark Twain, Poushkin, Stendhal…; nhiều tài tử nổi tiếng như Clark Gable, John Wayne; phi hành gia Gordon Cooper; nhiều nhạc sĩ như Mozart, Haydn, Louis Amstrong, Rouget de Lisle cũng là thành viên Tam Điểm. Trong khoa học có Alexander Fleming, Laplace, Lumière – ông tổ ngành điện ảnh thế giới – tham gia hội. Tóm lại, hội thu hút được nhiều thành phần ưu tú trong xã hội. Những người ưu tú lại trở thành hạt nhân thu hút những người tài giỏi khác vây quanh quỹ đạo của họ. Sự lựa chọn kỹ lưỡng thành viên tốt vào hội, cộng thêm tinh thần huynh đệ cao, giải thích việc nhiều thành viên của hội tham gia nắm chính quyền và đóng vai trò cao cấp, quan trọng trong cơ chế kinh tế và xã hội của quốc gia. Nhiều người nhầm lẫn và đồng hóa Tam Điểm với tôn giáo. Tam Điểm không phải là tôn giáo. Các tin đồ tôn giáo chỉ theo tôn giáo của họ. Họ không thể cùng một lúc vừa là tín đồ Phật giáo vừa là Công giáo, đạo Hồi, đạo Tin Lành… Thành viên của Hội Tam Điểm được quyền theo bất kỳ tôn giáo nào. Họ có thể là tín đồ Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo hay tôn giáo khác. Tam Điểm cũng không phải là một đảng phái. Thành viên Tam Điểm có thể sinh hoạt ở bất kỳ tổ chức chính trị nào mà họ thấy phù hợp. Tôn trọng sự nhận thức của mỗi cá nhân, thành viên Tam Điểm có mặt ở khắp các tổ chức chính trị khác nhau và theo tôn giáo khác nhau. Song, vì là một hội kín mang tính chất huyền bí không mở rộng cửa như các đoàn thể khác nên nhiều người nghĩ nhầm hội Tam Điểm là một hình thức tôn giáo hay là một giáo phái. Theo sách vở và tài liệu về lịch sử hội Tam Điểm, hội có từ thuở khai thiên lập địa như các tôn giáo trên thế giới vì biểu tượng Con mắt có mặt trong một số tôn giáo khắp nơi từ Á đến Âu, cũng như Thiên Chúa giáo La Mã, các tôn giáo châu Âu, hay Phật giáo đều có truyền thuyết và sự tích giải thích việc hình thành của đạo. Cây có gốc, nước có nguồn. Thời kỳ đại đa số người không biết chữ, những câu chuyện được vẽ trên tường hoặc kính cửa sổ, trần nhà thờ nhằm truyền lại sự tích và nguồn gốc của đạo. Riêng hội Tam Điểm, vì trong thực tế, chính thức ra đời khoảng thế kỷ XVII và XVIII ở châu Âu, và hội viên là những người xuất sắc, ban đầu, họ không cần vẽ tranh để miêu tả tích các chuyện trong nhà thờ của hội, tuy nhiên mỗi hình vẽ trang trí đều mang ý nghĩa tượng trưng cho huyền thoại về xuất xứ của Tam Điểm.

Giống như hầu hết những câu chuyện về nguồn gốc các tôn giáo ở châu Âu đều dựa theo truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp và La Mã, Tam Điểm cũng dựa vào truyền thuyết, thần thoại xây dựng đền thời Solomon. Tổ sư của hội là kiến trúc sư Hiram Abiff từ thời vua Solomon (Do Thái) khoảng 900 năm trước Công nguyên (TCN).

1/ Huyền thoại Hiram

Huyền thoại Hiram, kiến trúc sư xây đền thờ Solomon, có một số dị biệt, tuy nhiên về nội dung chính thì tương đồng. Tìm hiểu kỹ huyền thoại Hiram sẽ thấy rõ lý do đặt tên của nhiều hội Tam Điểm trên thế giới và mật khẩu giữa những thành viên Tam Điểm khi hoạn nạn.

Theo kinh Cựu ước, Solomon là con của David và Bethsabée, vua Israel từ năm 970 đến năm 931 TCN. Ông nổi tiếng về sự thông thái và công bằng trong các cuộc phán xử. Ông cho xây đền thờ đầu tiên ở Jérusalem. Solomon được cha truyền ngôi khi còn trẻ. Ông luôn cầu nguyện Thượng đế cho mình một trái tim biết lắng nghe. Truyền thuyết về sự phán xử thông thái của ông được ghi lại nhiều trong Thánh thư. Một câu chuyện nổi tiếng kể lại hai người đàn bà sinh con cùng một lúc, chẳng may một đứa bé bị chết, và tranh nhau nhận đứa còn sống là con mình. Vua Solomon cho gọi hai bà đến và trao cho một thanh kiếm rồi ra lệnh chia đứa trẻ làm đôi, mỗi người một phần đem về nuôi. Một bà từ chối, khóc và nói: “Thưa Đức vua anh minh, tôi thà bỏ con còn hơn giết đứa bé như thế”. Vua Solomon biết đó mới là người mẹ đích thực. Mọi người mẹ mang nặng đẻ đau đều được quyền nuôi dưỡng con. Từ đó sinh ra thành ngữ “phán xử của Solomon” nói lên công lý, bình đẳng và sự thông thái của người phán xử. Solomon là hiện thân của sự anh minh và công bằng, là nhà vua trị vì đem lại thịnh vượng và hòa bình cho vương quốc. Ông cũng đượoc mệnh danh là vua xây dựng, vì đương thời ông cho xây cất nhiều đền đài, thành quách. Thánh thư viết nhiều về câu chuyện của ông và bà hoàng Saba.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

20 năm phá hoại CCCP – Phần cuối


Krotov: Thêm nữa, bước đi đầu tiên (cải tổ) đã thực hiện dưới thời Andropov. Tôi được những người rất thân cận với ông ta kể. Đầu tiên, sau Hội nghị tháng 10 1982, ông ta cho gọi Bộ trưởng lãnh đạo kinh tế đến và chỉ đạo: Hãy nghĩ ra bất cứ sự thay đổi nào để cải tổ kinh tế. Cho đến khi đó quyết định đơn giản (cả bây giờ cũng thế) là thiết lập các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Avtobank, nhìn chung là được lập ra trên cơ sở của bộ về công nghiệp ô tô đã có khi đó, bước đi đầu tiên đã được tiến hành. Còn ở Krasnodar là thử nghiệm dạng đầu tiên tựa như ngân hàng trên cơ sở tín dụng phi lợi nhuận của tổ hợp nông nghiệp lớn, để nó hoạt động không còn qua cấu trúc ngân hàng nhà nước, và qua đó nó cũng bỏ qua tất cả hệ thống tài chính. Thử nghiệm như thế đã thực sự diễn ra.

Fursov: Nói cách khác, chóp bu Xô viết đến cuối 60 và càng về sau càng không tin tưởng vào hệ thống Xô viết mà họ lẽ ra phải bảo vệ và phát triển. Về nguyên tắc, họ đã ngầm từ bỏ hệ thống này. Còn nói như Tacitus là đã thua ngay khi cúi nhìn xuống. Trong mối liên hệ, Hội nghị tháng 6 1987 là sự hoàn thành 1 cách logic với cách mà các quan chức đã tham dự Hội nghị tháng 6 năm 1967.

Ở đây có sự ngạc nhiên trên quan điểm đồng điệu, 1 thực tế là dường như thập kỷ 70, chúng ta đạt đến sự đồng đẳng chiến lược, quân sự-chính trị với Mỹ, chúng ta tham gia tích cực (ngân hàng quốc gia Moskva) vào việc lập ra đồng eurodollars, có vẻ như là Lenin đọc ra từ sách thánh cho Sen đầm: “Bức tường đã mục ruỗng, hãy đập đi và nó sẽ sụp đổ”. Tất cả điều này theo nguyên tắc thông thường là nói về Xô viết chống CNTB. Liệu có vận hội nào năm 1967 để có thể lao qua nút thắt và tiến đến chỗ mà Strugatsky gọi là “Đứng bóng” của thế kỷ XXII?

Krotov: Không thực sự có vận hội nào như thế khi đó, hãy chú ý là ngoài Egorychev, không thực sự là tầng lớp trên chóp bu dạng này, để mà có thể bảo vệ.

Fursov: Giới chóp bu – là những kẻ tư lợi?

Krotov: Theo mức độ nào đó – đúng.

Fursov: Vẫn còn 1 điều quan trọng – những kẻ có tầm nhìn hạn hẹp. Như cậu bé gỗ Buratino nói trong “Chiếc chìa khóa vàng” là gần với nghĩa của cậu. Tôi bị thuyết phục hoàn toàn rằng, không cả Brezhnev, không cả Andropov, không cả Kosygin, tất cả bọn họ không muốn hủy hoại CNXH. Chỉ có điều họ tưởng, họ sẽ vẫn ngồi ghế mãi mãi.

Krotov: Tôi nghĩ, Gorbachev ban đầu cũng tưởng thế…

Fursov: Ban đầu – đúng. Nhưng Gorbachev, tôi nghĩ, ông ta chỉ quan tâm đến quyền lực và không có gì hơn.

Krotov: Nếu ông ta định thực hiện nó trong một hệ thống khác…

Fursov: Tôi nhớ ai đó trong hồi ức, trong số các nhà báo lớn của chúng ta thời Xô viết, viết rằng Nikolai Podgorny hởi lòng hởi dạ bởi giá cả phi đại năm 1973-1974. Ông ta nói với Kosygin đó là Domino của Podgorny (bởi ông ta rất thích trò chơi, và cho đó là đẳng cấp trí tuệ của ông ta). Ông ta nói giờ nhìn chung chúng ta chẳng cần cải tổ nào cả. Như nhân vật Emelya trong truyện cổ tích chui vào bếp lò và rõ là những kẻ như thế không thể nào giành phần thắng trong thế giới cạnh tranh này. Tôi không có ý lý tưởng hóa và đánh giá quá cao mức độ trí tuệ và bản lĩnh chính trị của những kẻ như (diều hâu) Kissinger và (giáo chủ áo xám) Brzezinski, nhưng nếu ít nhất phải đặt Kissinger và Brzezinski vào bàn cờ, còn phía kia là những kẻ đứng cùng “Hợp tác xã” Lenin, khi Vysotsky cất lên “như học sinh đánh nhau với đám lêu lổng hư hỏng”. Đám lêu lổng hư hỏng thắng. Nhưng quan trọng nhất, là dù ai thắng, ai muốn cũng đều biến thành kẻ khác, chỉ có điều họ nghĩ, họ thắng và sẽ như lãnh đạo Xô viết chơi trò chơi trong thế công bằng, như họ ngồi quanh 1 cái bàn. Ở đây, không thể nào gọi đó là sự nhầm lẫn 1 cách lạ lùng về thế giới và trong vấn đề này, lãnh đạo Xô viết dù có muộn màng hơn cũng không thể không biết những kẻ dốt nát theo nghĩa La tinh Hy lạp “idiot” chính là kẻ sống như thể thế giới xung quanh chẳng hề tồn tại. Hai nghị quyết 1967 và 1987, 2 biểu tượng vô nghĩa kỳ lạ của giới chóp bu Liên xô đã dìm chết, giết chết cuộc thử nghiệm xã hội tạo ra xã hội XHCN đúng đắn gây chấn động. Vấn đề là họ muốn, có 1 số thứ phải được “đúng đắn” hơn thứ khác trong xã hội này.

Vấn đề là Hội nghị 1987 – như chiến dịch có tính lịch sử mạnh. Nó không chỉ là kinh tế. Hơn nữa, A. Yakovlev trước khi chết thú nhận điều này. Ông ta kể rằng, CHÚNG TÔI CẢI TỔ KHÔNG CHỈ ĐẬP VỠ LIÊN XÔ, CHÚNG TÔI ĐẬP VỠ MÔ HÌNH LỊCH SỬ NGA NGÀN NĂM. Về điều này Yakovlev (Do thái) là kẻ hiểu rõ các kế hoạch nếu được thực hiện sẽ gây ra rắc rối, rắc rối rất nghiêm trọng. Vấn đề còn lại, theo cách cực đoan, là người đứng đầu kế hoạch, tôi nghĩ, người ta sử dụng kẻ đen tối. Dĩ nhiên, ngoài Yakovlev còn có kẻ thứ 2, thứ 3, đã xếp chỗ đầy đủ từ lâu.

Krotov: Shevarnadze, Cũng như Vadim Medvedev…

Fursov: Nhưng đây là những kẻ rất nhỏ mọn.

Krotov: Gvishiani …

Fursov: Gvishiani là kẻ nguy hiểm hơn. Shevarnadze và Vadim Medvedev thậm chí không phải con tốt, đó là đội chó chiến. Như Solonevich kể chế độ Nga Liên xô: là cái xác đã thối rữa. mà khi thối rữa, nó bỏ lại tất cả khoảng trống cho những tên trộm cướp đổ xô đến trong thập kỷ 90.

Krotov: Chú ý là số phận của những kẻ đã tổ chức tất cả điều này, Yakovlev và Gorbachev. Chúng đã bị đẩy đi, khi không còn cần đến nữa.

  1. Fursov, tháng 7 2016

Nguồn: FB Trần Vinh

20 năm phá hoại CCCP – Phần III


Fursov: Án tử hình bị bãi bỏ khoảng giữa Hội nghị đảng XIX vào tháng 6 1987 như 1 kết quả logic với những gì xảy ra vào năm 1967. Tình trạng là như thế này, một trong những yếu đuối của hệ thống Xô viết là phủ nhận CNTB ở mức độ quan hệ sản xuất, tức là chống CNTB, nhưng hệ thống Xô viết ở mức quan hệ sản xuất là hệ thống công nghiệp tương tự như của phương Tây, chỉ có điều yếu hơn. Có khu vực công nghiệp quân sự là mạnh, tất cả còn lại là yếu hơn. Còn chuyển đổi thực sự từ chống tư bản sang hậu tư bản – như ngôn ngữ tư tưởng đảng trình bày là sang CNCS, mô hình có mức độ phát triển lực lượng sản xuất cao hơn, có hệ thống sản xuất khác hơn. Cần cái gì để biến mục tiêu này thành hiện thực? Đó là cần thiết lập nền tảng khác cho hệ thống quản lý và sản xuất. Đầu tiên là quản trị, với ưu tiên là thông tin, cái mà hiện nay được gọi 1 cách tuyệt đối đúng là xã hội thông tin. Đột phá trong lĩnh vực năng lượng cần là loại bỏ phụ thuộc dầu mỏ! Cũng cần có sự bảo đảm không bị giới tư bản tấn công trong thời kỳ này, do đó, nền công nghiệp quân sự hùng mạnh, chất lượng, hiệu quả là cần thiết. Xô viết đã có tất cả những điều này trong nửa đầu thập kỷ 60 hay chưa? Dĩ nhiên đã có.

Cái lõi của hệ thống quản lý mới trên thực tế đã được Viện sĩ Glushkov thiết kế, nó được gọi là ОГАС (Hệ thống tự động hóa chung nhà nước – Обще Государственная Автоматизированная Система) (***)

*** Thực tế là OGAS đã không được Liên xô áp dụng, giới cầm quyền CS không thích điều này bởi nó hạn chế, giám sát quyền lực – quyền lợi của họ. Liên xô tan rã còn OGAS đã được các nước phương Tây như Nhật, Mỹ, Đức, Phần Lan, Thụy điển sao chép thành hệ thống tương tự và sử dụng ở mức độ nào đó. Ví dụ như thu thuế ở các nước tư bản –trốn thuế họ biết ngay lập tức và công lực đến đập cho vỡ mặt (trừ khi có quyền lực mạnh để trốn). Hay có 1 ví dụ rất thời sự: thu phí tự động các trạm BOT, mặc dù đã có quyết định từ chính phủ, nhưng họ cố trì hoãn bởi hàng chục trạm BOT là hàng trăm tỷ doanh thu mỗi ngày rất khó kiểm soát, là chia chác, là cổ phần cổ phèo với đám quan lại CS thối nát đang ngồi mát ở đâu đó. Đừng bảo tôi thù ghét CS, thù bọ CS giả đấy chứ, nói chung thù ghét bọn cặn bã thối nát là bản năng của kẻ làm người!

Krotov: Ở đây vẫn có Anatoly Ivanovich Kitov làm lãnh đạo Trung tâm máy tính BQP…

Fursov: OGAS là cái gì? Đó là 1 kiểu mô hình xã hội thông tin. Nó làm minh bạch tuyệt đối toàn bộ hệ thống. Quản trị trở thành rõ ràng như soi dưới kính lúp: anh không thể gian lận được nữa. Đó là đột phá trong xã hội thông tin.

Krotov: Đó là đột phá thì tương lai. Tôi sợ máy tính không đủ mạnh để thực hiện tất cả những điều này.

Fursov: Vấn đề là ở chỗ, về máy tính thập kỷ 60, chúng ta đã vượt Mỹ ở nhiều phương diện. Sau đó thì có quyết định ở cấp cao nhất đưa ra trong các năm 1968-1973, chúng ta dừng các công trình này lại. Logic là như thế này: Tất cả, cái gì cần thì chúng ta đi ăn cắp, do đó không phí tiền làm gì. Đó là đột phá tương lai, nhưng người ta rất sợ hãi, còn phía khác là người Mỹ. Từ thời Lyndon Johnson thậm chí họ còn lập nhóm để ngăn chặn Glushkov và công bố rút lui nếu Liên xô hiện thực hóa xong chương trình này, nói vậy nhưng đến 1970 nhóm này đã hoạt động hoàn toàn độc lập. Nhưng có phe thứ 2 lại có lợi ích ở chỗ làm sao để Glushkov không thành công, đó là giới quan chức Liên xô. Trước tiên, là giới quản trị kinh tế, những kẻ như Kosygin. Ngoài ra, quan điểm tư tưởng (thịnh hành) của CPSU với hệ thống như OGAS là không ủng hộ vì nó sẽ dẫn đến sự nổi lên của cái mà họ gọi là kỹ trị (technocrat) làm mất đi quyền lực đảng. Nói cách khác là ngoài quản trị và đảng trị, còn có cả kỹ trị, đó là 1 xu thế.

Về lĩnh vực năng lượng, Ivan Stepanovich Filimonenko đã thiết lập ra nền tảng nguyên lý mới về tổng hợp hạt nhân lạnh. Ban đầu, Ủy ban công nghiệp-quân sự CPSU ghi nhận nó như tiến hộ năng lượng và y tế, tuy nhiên sau đó, Filimonenko bị sa thải và tống cổ vào trại tâm thần.

Cuối cùng, thiên tài thiết kế hàng không Vladimir Chelomey, người phát triển động cơ phản lực đầu tiên của Liên xô, tên lửa hành trình chống tàu và ICBM, ví như “Bashmak” của ông hay còn gọi là “Zakat” như nay xuất hiện cả trong game máy tính của Mỹ, chỉ có điều ông bị Khrushchev không ưa (vì gã con hoang Do thái này thích dừng ICBM để đổi lấy hòa hoãn với Mỹ).

Nói cách khác, hiện thực hóa những điều này, 3 dự án lớn sẽ đưa Liên xô đến hậu CNTB. Chỉ có điều tất cả đã bị hủy hoại bởi đám quan lại thoái hóa biến chất. OGAS bị từ bỏ. Nhà vật lý hạt nhân, viện sĩ và cựu chiến binh WW-2 nhiều chiến công Filimonenko bị sa thải, bị thu giữ căn hộ và tống vào trại tâm thần, ông chỉ sống sót được nhờ mảnh vườn ở quê và tận năm 1994 mới được khôi phục danh dự khi đã là 1 lão già tàn tạ. Filimonenko chết 2013, còn các công trình nghiên cứu của ông thì đã mất tích khỏi mọi lưu trữ. Một ứng dụng nho nhỏ từ nghiên cứu của Filimonenko vẫn đang sử dụng: phun nước vào động cơ phản lực làm tăng công suất của nó lên 10-15%. Sau này, cả Kosygin và Brezhnev đều không ủng hộ các dự án nghiên cứu kiểu như vậy, phát triển khoa học-kỹ thuật Liên xô đã dừng lại, hoang vu, xơ xác, tụt hậu xa phương Tây.

Năm 1967, Hội nghị đảng đặt dấu chấm hết cho cơ hội đưa Liên xô từ quốc gia chống CNTB thành hậu TB. Điều này thật ngạc nhiên, khi ngay cả Trotsky cũng đã từng nói trước về sự thoái hóa biến chất của giới quan chức đảng Xô viết (mặc dù ông ta đổ lỗi này cho Stalin), ông ta viết rằng tính giai cấp (vô sản ban đầu) của họ đã biến chất và chỉ còn lại giai cấp vì chính họ. Còn Stalin thì viết rất nhiều, thí dụ, trong luận văn “Theo mức độ tiến gần đến CNXH, đấu tranh giai cấp sẽ gia tăng”. Stalin rất thường nói về đạo đức, tinh thần của cán bộ, thậm chí đặt nó lên hàng đầu và “cán bộ quyết định tất cả”. Nhưng dường như không có ai lắng nghe, hư hỏng đã xảy ra ngay khi Stalin chết, còn đến thời Gorbachev thì nó đã phô trương giữa ban ngày, chẳng còn phải vụng trộm hay giấu diếm.

Giữa 1967 và 1987 là 20 năm. Quãng thời gian này ý chí hệ thống vẫn còn thắng cái chết. Năm 1967, lãnh đạo Liên xô đã chọn từ bỏ con đường đến hậu CNTB (hay CNCS như họ vẫn khoa trương, tuyên truyền tận sau này). Một lẽ tự nhiên quãng thời gian đó đủ dài để người ta nhận ra, chỉ có những kẻ vẫn còn mơ mộng thời “Hợp tác xã Lenin” mới không thấy được đâu là hiện thực, nhưng họ lại hiểu rõ đâu là quyền lợi ích kỷ của họ, quyền lợi đó là động cơ để họ bảo toàn thực tại ảo của họ, họ không cần 1 hệ thống như OGAS của Glushkov nào cả, đơn giản là OGAS sẽ tước bỏ quyền lực độc tôn của họ. Vì nó, họ có thể mất vị trí và biểu tượng giai cấp vô sản giả của mình. Họ đã ngăn chặn Glushkov hay bất cứ sự tiến bộ xã hội-khoa học kỹ thuật nào bằng mọi cách, kể cả tống người ta vào trại tâm thần (còn người Mỹ đã học Glushkov). Không cần phải quá thông minh hay hiểu biết để nhận ra, ngay cả như là Trotsky, chỉ cần không dính dáng quyền lợi.

Cỗ máy Stalin đã tạo ra vẫn chạy sau khi ông chết, nó chạy bằng quán tính, chậm dần. Liên xô đã đạt được nhiều thành tựu ngay cả phương Tây thù địch cũng phải công nhận: chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, chiến thắng phát xít, năng lượng nguyên tử, bay vào vũ trụ, hay phá các kỷ lục thế giới. Nhưng sau tất cả, tình trạng này giống như 1 quả bom đã được hẹn giờ và chắc chắn sẽ nổ tung làm sụp đổ tất cả, còn trong khi nó chưa phát nổ, thế hệ Xô viết mới ra đời, không còn là tiên phong khám phá, phát minh khoa học kỹ thuật, hay đi đầu tiến bộ xã hội – họ chỉ còn là những chủ tiệm nhỏ mọn không tinh thần và ý chí.

Krotov: Tôi từng viết một số hồi ký cho con cháu các nhân vật nổi tiếng. Rõ ràng người ta giáo dục họ theo 1 dạng nào đó, không phải là giáo dục Xô viết gì hết. Đó là giáo dục hoàn toàn đặc biệt.

Fursov: Đó là con cái quan chức Xô viết?

Krotov: Đúng. Còn những gì hoàn toàn truyền thống thì đã biến thành trò hề. Có nghệ sĩ Anastas Mikoyan cháu của Mikoyan được biết nhiều hơn với cái tên Stas Namin, ngay khi Liên xô sụp đổ đã bắt đầu nói về việc đem xác Lenin ra khỏi lăng, anh ta đề nghị kinh doanh cái xác, cho anh ta 3 năm trưng bày ở châu Âu sẽ kiếm được 3 tỷ USD.

Fursov: Về việc này, thì những đứa trẻ thời Stalin cũng có chuyện năm 1941 khi miệt thị “đẳng cấp bẩn”. Chúng kể điều này trong hoàn cảnh nào. Khi 1 phần chính phủ Liên xô sơ tán về thành phố Kuibyshev (giờ là Samara), đã có xung đột bởi vì cha mẹ giới quan chức không muốn con cái họ đến trường học cùng con cái những người lao công ở thành phố Kuibyshev. Stalin biết được, ông lên cơn giận và lệnh cấm được nói “đẳng cấp bẩn”. Nhưng cha mẹ các quan chức vẫn lén lút nói thế rồi cho con cái họ học riêng. Nhưng cần nhắc cậu là năm 1939-1940 đã xuất hiện trường học đặc biệt đầu tiên, quá trình như thế tiếp tục thì không có gì ngạc nhiên khi con cháu quan chức phản bội lại sự nghiệp của cha ông họ.

Năm 1967, hệ thống đã từ chối đột phá đến tương lai… Ngoài ra, cũng là từ chối đột phá được ghi nhận rất chính xác trên tạp chí “Kỹ thuật-Tuổi trẻ”, từ chối cả điều kỳ diệu của chúng ta, nửa sau thập kỷ 60 cũng đã trở thành rất trì trệ. Nói thẳng theo lối lạc quan nửa đầu 60. Điều kỳ diệu của chúng ta đã biến điệu. Nói thật những thứ trước kia gọi là của Strugatsky: “Sự trở lại”, “Đứng bóng”, “Con người thế kỷ XXII” và cả Strugatsky sau này cũng đã hoàn toàn khác. Efremov viết “Tinh vân Andromedy”, còn nửa sau thập kỷ 60 ông viết “Một giờ của bò đực”, thì cuốn sách bắt đầu bị rút bỏ khỏi các thư viện. Theo lẽ tự nhiên, khi từ bỏ hướng đến tương lai thì ý tướng cải tổ XHCN Perestroika làm “hài hòa đồng điệu” với CNTB sẽ đến. Nhưng trước tiên là cải cách Liberman-Kosygin. Chỉ có điều rõ ràng, điều kiện kinh tế Liên xô XHCN không thích hợp với cái giá của TB, nó sớm thất bại để rồi cuối cùng Gorbachev xuất hiện và cải tổ 1 lần nữa cho đến sụp đổ hẳn. Liberman-Kosygin đã làm 2 việc, một là tạo ra tầng lớp lắm tiền là giới chủ tiệm (nhắc đến ở trên), và hai là, phô trương ra 1 điều rất đơn giản rằng, CNXH có thể đi trên đường ray TBCN. Chương trình của Glushkov là thiết lập CNXH ở mức độ cao hơn còn những kẻ ủng hộ cải tổ lại ưa thích CNTB hơn. Rất nhiều trong số đó đã đến phương Tây, Birman chẳng hạn, ông ta nói chúng ta chẳng cần kinh tế có kế hoạch, ở đó phương Tây kế hoạch không hoạt động và kế hoạch thực sự có “50 năm” cũng không kết quả. Từ bỏ kế hoạch hóa (aka từ bỏ kinh tế Stalin) phép màu Xô viết kết thúc. Cần tiến lên trong tương lai – là đề nghị của Glushkov. Cái khác phải chọn là cải tổ thị trường, thứ đem đến cái gì chúng ta đang đề cập bây giờ.

(còn tiếp)

A. Fursov, tháng 7 2016

Nguồn: FB Trần Vinh