Vị Tổng tư lệnh tối cao của tổ quốc – Phần cuối


Năm 1944 Tổng tư lệnh tối cao V.I. Stalin đề xuất một quan điểm mới về việc tiến hành cuộc chiến tranh chống quân đội phát xít Đức trên một địa bàn rộng lớn – từ Barensev đến Hắc Hải – đó là giáng một loạt gồm 10 đòn đột kích chiến lược liên tục làm cho đối phương mất khả năng cơ động và kháng cự. Mười đòn đột kích này của Hồng quân đã vĩnh viễn đi vào lịch sử như mười đòn chí tử của Stalin giáng xuống kẻ thù.

Nhận xét về phạm vi hoạt động rộng lớn và đa dạng của Tổng tư lệnh tối cao V.I. Stalin, nguyên soái G.K. Zhukov viết:

“Trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang nói chung, V.I Stain được sự hỗ trợ của trí thông minh bẩm sinh của ông, trực giác phong phú, kinh nghiệm của việc chỉ đạo chính trị, năng khiếu chiến lược. Chiến lược gần gũi với lĩnh vực chính trị quen thuộc của ông, và những vấn đề chiến lược càng có mối liên hệ trực tiếp với những vấn đề chính trị thì ông càng cảm thấy tự tin ở chúng. Trí thông minh và tài năng của ông cho phép ông trong quá trình diễn biến của chiến cuộc nẵm vững nghệ thuật tác chiến đến mức khi triệu tập các tư lệnh phương diện quân đến chỗ mình và trong khi đàm đạo với họ về những vấn đề có liên quan đến việc mở các chiến dịch, ông bộc lộ mình như một người nắm vững công việc ấy không thua kém gì mà đôi khi còn thành thạo hơn những cán bộ cấp dưới của ông. Hơn nữa, trong một số trường hợp, ông đã tìm ra và gợi ý những cách giải quyết rất hay, rất linh hoạt.

…Uy tín của ông hết sức lớn và bởi vậy, việc bổ nhiệm Stalin làm Tổng tư lệnh tối cao được nhân dân và quân đội rất đồng tình… Rõ ràng ông là vị Tổng tư lệnh tối cao rất xứng đáng” (G.K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ, M.1990, T2, tr.109).

Đô đốc hải quân N.G. Kuznesov nhấn mạnh rằng tất cả các nguyên soái và tướng lĩnh đều tán đồng với cách đánh giá như vậy về Stalin. Vốn là những nhà hoạt động quân sự lỗi lạc, họ thừa nhận uy tín của Stalin không chỉ vì ông là người đứng đầu chính phủ Liên Xô, là nhà lãnh đạo của đảng Bolshevic và trong thời chiến còn là Chủ tịch Hội đồng quốc phòng nhà nước, Chủ nhiệm Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao và Tổng tư lệnh tối cao, đứng đầu Bộ dân ủy quốc phòng, mà trước hết và chủ yếu là vì họ đã nhìn thấy và đánh giá cao ở ông ý chí sắt thép và bản lĩnh kiên định, trí lực cao siêu và sự hiểu biết sâu sắc về nghệ thuật quân sự và việc ông biết coi trọng tài cầm quân của họ, kinh nghiệm chiến đấu và vẻ đặc thù về nhân cách của mỗi người.

Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô được Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ F. Roosevelt đánh giá cao. Đáng chú ý về phương diện này là bức thư chúc mừng tháng 2 năm 1943 của F. Roosevelt nhân dịp kết thúc trận đánh Stalingrad “Kính gửi ngày I.V. Stain, Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên bang Cộng hào xã hội chủ nghĩa Xô Viết”. Trong lời chúc mừng cá nhân có đoạn viết: “Với tư cách là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tôi xin chúc mừng Ngài với chiến thắng oanh liệt mà quân đội Ngài ở Stalingrad đã giành được dưới quyền chỉ huy tối cao của Ngài. Một trăm sáu mươi hai ngày đêm của cuộc chiến đấu mang tính chất sử thi để giành thành phố, cuộc chiến đấu vĩnh viễn vinh danh tên tuổi Ngài cũng như kết quả mang tính chất quyết định mà tất cả những người Mỹ ăn mừng hôm nay, sẽ là một trong những chương tuyệt vời nhất trong cuộc chiến tranh này của các dân tộc đã liên kết lại chống chủ nghĩa quốc xã và những kẻ mô phỏng nó. Các sĩ quan chỉ huy và các chiến sĩ của quân đội Ngài ở ngoài mặt trận, những người nam và phụ nữ hỗ trợ họ bằng cách lao động quên mình trong các nhà máy và trên đồng ruộng, đã chung lưng đấu cật không chỉ để làm rạng rỡ các chiến binh của đất nước mình mà còn để bằng tấm gương của mình khơi gợi ở tất cả các dân tộc đã liên kết lại lòng quyết tâm mới mẻ đem hết toàn bộ nghị lực để dẫn tới thất bại hoàn toàn và sự đầu hàng vô điều kiện của kẻ thù chung” (Trao đổi thư từ giữa Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô với Tổng thống Hoa Kỳ và Thủ tướng Anh trong thời gian chiến tranh vệ quốc 1941 – 1945. M. 1957, TII, tr.52-53).

Thủ tướng Anh W. Churchill nhận xét rằng I.V. Stalin đã “nắm vững vấn đề” chiến dịch “Ngọn đuốc” của các đồng minh: “Chỉ có một số rất ít người hiện đang còn sống là có thể trong dăm phút hiểu được những điều mà chúng ta đã kiên trì vắt óc ra mầy mò trong vòng nhiều tháng trời. Ông ta đã đánh giá được tất cả những điều đó một cách nhanh như chớp” (W.Churchill. Cuộc thế chiến thứ hai. M.1995, TIV, tr.477-478). Trong thời gian Hội nghị Tehran giữa những người đứng đầu các chính phủ Liên Xô, Anh và Mỹ năm 1943, W. Churchill đã nói rằng nguyên soái Stalin “xứng đáng với danh hiệu Stalin vĩ đại”.

Ngày đến Hitler, tuy rất căm ghét chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Marx, đã phát biểu khi ngồi giữa những người thân cận: “Và đối với Stalin tất nhiên phải có một sự kính trọng cần thiết. Trong dòng giống của mình, ông ta quả là một kiểu thiên tài…”. Lại nữa, “Xét theo phẩm chất chính trị và quân sự thì Stalin đã vượt lên trên cả Churchill lẫn Roosevelt. Đây là một chính trị gia duy nhất mang tầm cỡ thế giới, xứng đáng được kính trọng. Nhiệm vụ của chúng ta là nghiền nát dân tộc Nga để những kẻ có tầm cỡ như Stalin sẽ không xuất hiện được nữa”. (Những cuộc trò chuyện của Hitler trong bữa ăn. Smolensk, 1991, tr.450-451).

Trong khi đánh giá hoạt động của I.V. Stalin trên cương vị Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô, trước hết cần phải thấy rằng ông không chỉ biết rõ lịch sử các cuộc chiến tranh và những công trình của các nhà lý luận quân sự nổi tiếng thế giới mà chủ yếu còn nắm vững quan điểm khoa học sâu sắc về bản chất chiến tranh nói chúng và chiến tranh trong thời đại của chủ nghĩa đế quốc nói riêng. Sự am hiểu những quy luật của chiến tranh, chủ yếu là cuộc Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai trong thế kỷ XX và những quy luật của sự phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội đã cho phép ông nhận thức rõ chính sách của giai cấp cầm quyền ở đối thủ phát xít, hành động của các tướng lĩnh của chúng, những chiêu trò của các tư tưởng gia của chúng… Quan điểm khoa học về những điều kiện để chiến thắng một kẻ thù xảo quyệt, tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử trước đây là phát xít Đức và bè lũ tay sai đã tạo cơ hội cho Stalin hoạch định và áp dụng trên thực tế tất cả những biện pháp để giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh giải phóng 1941 – 1945 và tái kiến thiết Tổ quốc thời hậu chiến.

Người dịch: Lê Sơn

Nguồn: TN 2014 – 66

Vị Tổng tư lệnh tối cao của tổ quốc – Phần II


Ủy ban quốc phòng nhà nước thực hiện việc lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang ở tầm chiến lược thông qua Tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao. Cơ quan cao nhất của việc lãnh đạo các lực lượng vũ trang Liên Xô ở tầm chiến lược được thành lập vào ngày thứ hai của cuộc chiến. Đứng đầu Tổng hành dinh là nguyên soái S.K. Tomoshenko, ủy viên Bộ dân ủy quốc phòng. Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng I.V. Stalin tham gia với tư cách là ủy viên của Tổng hành dinh. Để nâng cao hiệu quả và uy tín, ngày 10/07/1941 Tổng hành dinh được chuyển thành Tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao. Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước V. Stalin vẫn là ủy viên của Tổng hành dinh. Cuối cùng, ngày 8/8/1941, để lãnh đạo các lực lượng vũ trang Liên Xô một cách toàn diện về mặt chiến lược, Tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao được đổi tên thành Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao (SVGK), Stalin được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng hành dinh và Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô. Các ủy viên của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao là G.K. Zhukov (từ tháng 8/1942 là phó Tổng tư lệnh tối ca), A.M. Vasilevski, A.I. Antonov, N.A. Bulganin, N.G. Kuznesov.

Thời gian biểu làm việc của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao là suốt ngày đêm – nó được xác định trước hết bởi ngày làm việc của chính V.I. Stalin, ông lao động từ 16 đến 18 giờ một ngày đêm và đôi khi số giờ còn nhiều hơn thế. Để đưa ra một quyết định khác mang tính chất chiến dịch – chiến lược hay để bàn bạc những vấn đề quan trọng khác của cuộc đấu tranh vũ trang với kẻ thù, những cán bộ có trọng trách của các cơ quan quân sự và các cơ quan khác vốn có liên quan trực tiếp đến vấn đề được xem xét, được triệu tập đến Tổng hành di Bộ Tổng tư lệnh tối cao. Nguyên soái A.M. Vasilevski kể lại rằng nhất thiết phải có mặt các ủy viên Bộ chính trị UBTW Đảng, những người lãnh đạo công nghiệp, những tư lệnh được triệu tập từ ngoài mặt trận. Tất cả những gì được vạch ra tại các phiên họp như vậy trong bầu không khí bàn bạc cởi mở, lập tức được đưa vào các chỉ thị của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao và được chuyển ngay ra mặt trận. Việc làm đó, như Vasilevski nhấn mạnh, có hiệu quả và hiệu lực.

Hằng ngày, vào buổi trưa và buổi tối Chủ nhiệm Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao được báo cáo về tình hình ngoài mặt trận và những thay đổi của cục diện chiến cuộc. Những người được ủy quyền của ủy ban quốc phòng nhà nước và những đại diện của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao ngàoi mặt trận phúc trình trước ông. Một lần, khi chủ nhiệm Bộ Tổng tham mưu B.M. Shapozhnikov trong lúc báo cáo đã thú nhận rằng hiện nay ông chưa thể nói điều gì về tình hình ở hia mặt trận bởi lẽ vào thời gian quy định, các tham mưu trưởng chưa chuyển cho ông những tin tức, V.I. Stalin đã nghiêm khắc hỏi:

+ Thế đồng chí đã trừng phạt họ chưa? Không nên bỏ qua hành động không muốn cung cấp kịp thời cho chúng ta những tin tức cần thiết.

+ Họ đã bị trừng phạt một cách nghiêm khắc. Mỗi một tư lệnh phương diện quân đã b5i tôi cảnh cáo – Shapozhnikov đáp.

+ Cảnh cáo à? – Stalin ngạc nhiên – Đối với các vị tướng thì đây không phải là sự trừng phạt. Chỉ ở trong chi bộ mới cảnh cáo thôi.

Shapozhnikov nói rằng trước cách mạng có một tục lệ: sĩ quan nào bị Chủ nhiệm Bộ Tổng tham mưu cảnh cáo thì buộc phải nộp đơn xin từ chức. Sau đó sự cố này không được bàn thảo nữa.

Trong những năm chiến tranh vệ quốc V.I. Stalin đã phái ra ngoài mặt trận 60 vị đại diện của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao với nhiệm vụ theo dõi kỹ lưỡng tình hình ngoài mặt trận, phản ứng nhanh nhạy và kịp thời đối với sự thay đổi cục diện, đảm bảo việc giải quyết những nhiệm vụ chiến lược đề ra. A.M. Vasilevski, G.K. Zhukov, S.T. Timoshenko, N.N. Voronov, G.M. Malenkov và các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự khác đã từng làm đại diện của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao suốt mấy tháng trời sống trong các đơn vị quân đội. V.I. Stalin không khoan nhượng nếu như vào thời gian quy định ông không nhận được báo cáo từ người đại diện của Tổng hành dinh Bộ tổng tư lệnh tối cao. Và ông chỉ rõ rằng trong trường hợp nếu đại diện của Tổng hành dinh quên mất bổn phận của mình trước Tổng hành dinh thì anh ta sẽ bị cách chức và được triệu hồi từ mặt trận.

Cơ quan hoạt động tác chiến chủ yếu của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao là Bộ Tổng tham mưu. Tổng hành dinh và Bộ Tổng tham mưu phối hợp những lực của các phương diện quân với các binh đoàn và các binh chủng của các lực lượng vũ trang. Các Tổng tham mưu trưởng của Hồng quân hàng ngày và thường là mấy lần trong một ngày đêm có mặt ở chỗ Stalin. Chẳng hạn, B.M. Shaposhnikov vào nửa sau năm 1941 đến 5/1942 đã ở chỗ Stalin 98 lần, G.K. Zhukov chỉ trong 1 tháng và 7 ngày đã gặp Stalin 16 lần, A.M. Vasilevski trong thời kỳ hơn 30 tháng trên cương vị Tổng tham mưu trưởng – 199 lần, A.I. Antonov, người giữ chức Tổng tham mưu trưởng sau Vasilevski, đã tiếp kiến Stalin 238 lần. Stalin cũng thường gặp gỡ với các phó Tổng tham mưu trưởng, các cục trưởng và đơn thuần với các cán bộ của Bộ Tổng tham mưu.

Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô V.I Stain trực tiếp làm việc với tất cả các tổng tư lệnh, các tư lệnh phương diện quân và các binh chủng của Hồng quân trong thời kỳ Chiến tranh vệ quốc.

Trong tất cả những năm Chiến tranh vệ quốc của Liên Xô, đã được thành lập 35 phương diện quân và vùng phòng thủ Moskva, phương diện quân dự bị Moskva. Cụ thể là:

+ Trong những tháng đầu tiên của chiến tranh – 5 phương diện quân – phương diện quân Karel, phương diện quân Tây Bắc, phương diện quân phía Tây, phương diện quân Tây Nam và phương diện quân phía Nam.

+ Tiếp sau đó, nhân việc mở rộng vùng chiến sự và các chiến dịch khác nhau, có lúc số lượng phương diện quân lên tới 15, chẳng hạn trong trận đánh ở Stalingrad, vào các thời gian khác nhau, có sự tham gia của các phương diện quân Stalingrad, Đông Nam, Tây Nam, Sông Đông, Voronezh và Thảo nguyên.

+ Ở giai đoạn kết thúc chiến tranh có sự tham gia của các phương diện quân Karel, Leningrad, vùng ven Baltic-1, Belarussia-3, Belaurussia-2, Belarussia-1, Ukraine-1, Ukraine-2, Ukraine-3, Ukraine-4.

Trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật năm 1945 đã được thành lập 3 phương diện quân: Ngoại Baikan, Viễn Đông – 1 và Viễn Đông – 2.

Tổng tư lệnh tối cao I.V Stalin làm việc với tất cả các tư lệnh phương diện quân. Trong những năm Chiến tranh vệ quốc có tất cả 45 tư lệnh phương diện quân, trong số đó có 11 nguyên soái Liên Xô và 34 vị tướng. Stalin cũng làm việc với các tư lệnh tập đoàn quân, đích thân biết rõ nhiều tướng lĩnh, cho tới các tư lệnh quân đoàn và sư đoàn. Tổng tư lệnh tối cao Stalin đã làm việc với các tư lệnh hạm đội Baltic, Bắc Cực, Hắc Hải, Thái Bình Dương, trong số đó có 7 đô đốc…

Trong 4 năm Chiến tranh vệ quốc, Hồng quân đã thực hiện 51 chiến dịhc mang tầm chiến lược, hơn 250 chiến dịch cỡ phương diện quân và gần 1000 chiến dịch cỡ tập đoàn quân, trong số đó gần 2 phần 3 mang tính chất tiến công. Tất cả những chiến dịch ấy được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao do I.V. Stalin đứng đầu. Với sự tham gia trực tiếp của ông và dưới sự kiểm tra nghiêm ngặt của ông, việc đảm bảo cho các chiến dịch ấy về mặt tổ chức, động binh, vật chất kỹ thuật, kinh tế, chính trị – tư tưởng, và ngoại giao đã được thực hiện một cách nghiêm túc. Những vấn đề chỉ đạo chiến sự được quyết định bởi V.I Stalin “trong những cuộc tiếp xúc chính thức cũng như trong bữa ăn trưa” (G.K. Zhukov).

Ở đây Stalin rao đổi với các tư lệnh phương diện quân, tập đoàn quân, với các ủy viên Hội đồng quân sự, với các nhà chế tạo những loại vũ khí chủ yếu, với các vị lãnh đạo kinh tế quốc dân, các giám đốc nhà máy quốc phòng, các nhà khoa học. Stalin đích thân gặp gỡ nhiều người hoặc thảo luận theo đường dây thông tin bảo mật mà máy móc đặt trong phòng làm việc ở điện Kremlin và ở ngôi biệt thự cận kề.

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Sơn

Nguồn: TN 2014 – 66

Vị Tổng tư lệnh tối cao của tổ quốc – Phần I


Vladimir Sukhodeev

Vừa qua, nhân dịp kỷ niệm 135 năm ngày sinh của I.V. Stalin (1879 – 1953), cùng với cuốn Stalin thuộc tủ sách Danh nhân của nhà văn, nhà sử học và nhà chính trị học Nga svjatoslav Rybas, cùng với bộ sách nhiều tập Stalin – Những công trình (một dạng mới kiểu Stalin toàn tập) do Richard Kosolapov chủ biên (đã ra được 3 tập trong năm 2013), nhà chính luận, nhà nghiên cứu Vladimir Sukhodeev đã cho ra mắt cuốn “I.V.Stalin và các tướng lĩnh” nhằm phục dựng bức chân dung đích thực của lãnh tụ Stalin trên cương vị Tổng tư lệnh tối cao trong cuộc chiến tranh vệ quốc chống phát xít qua cách đánh giá của các chiến hữu gần gũi của Người. Chúng tôi xin giới thiệu một số trang trong cuốn sách mới xuất bản này.

Tình trạng chiến tranh đòi hỏi phải cải tạo tất cả hệ thống quyền lực tối cao của Liên bang Xô viết đang chiến đấu…

Trong vòng một tháng rưỡi sau khi cuộc Chiến tranh vệ quốc bắt đầu, nói chính xác hơn, sau 48 ngày chiến tranh, Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô, Hội đồng dân ủy Liên Xô và Ủy ban TW Đảng Cộng sản (bolsevich) toàn Liên Bang đã thành lập hệ thống các cơ quan Xô viết tối cao trực thuộc Ban chỉ đạo chiến tranh về mặt chiến lược của Liên Xô chống phát xít Đức. Hệ thống này bao gồm: ủy ban quốc phòng nhà nước, Bộ Tổng tư lệnh tối cao và cương vị Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô, Bộ dân ủy quốc phòng Liên Xô.

Cho đến nay, không hiểu tại sao các nhà sử học đã giấu kín một điều: Ai là người đề nghị thành lập ủy ban quốc phòng nhà nước. Lúc thì người ta gán cho Molotov, lúc thì gán cho Beria, lúc thì nói mập mờ là Khruschev. Nhưng kỳ thật thì không một ủy viên nào của Bộ Chính trị UBTW Đảng đề nghị cả.

Ngày 29/6/1941 ban bố chỉ thị của Hội đồng dân ủy Liên Xô và ủy ban TW Đảng Cộng sản (Bolsevich) toàn Liên bang yêu cầu các tổ chức đảng, chính quyền, công đoàn và đoàn Thanh niên Cộng sản và những người lãnh đạo các tổ chức này huy động tất cả sức lực của nhân dân cho cuộc đấu tranh chống phát xít Đức xâm lược.

Ngày 30/6/1941 I.V. Stalin cho mời các ủy viên Bộ Chính trị đang ở Moskva đến ngôi biệt thự gần nhất và công bố quyết định về việc thành lập một cơ quan đặc biệt để lãnh đạo công việc quốc phòng của đất nước – ủy ban quốc phòng nhà nước – và chỉ định những ủy viên đầu tiên của nó. Về thực chất, đó là sự khôi phục Hội đồng quốc phòng Công Nông của Lenin ở thời kỳ có cuộc can thiệp quân sự của nước ngoài và cuộc Nội chiến ở Nga. Do đó mọi cái đều được kế thừa về mặt lịch sử và đều hợp hiến. Sau đó, đề nghị của Stalin được hợp thức hóa với tư cách là Quyết định của Chủ tịch đoàn Xô Viết tối cao Liên Xô, Hội đồng dân ủy Liên Xô và ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản (bolsevich) toàn Liên bang.

… Ngày 31/6/1941 Stalin được bổ nhiệm làm Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước, từ ngày 19/7 ông là ủy viên Bộ dân ủy quốc phòng Liên Xô, từ ngày 8/8 là Chủ tịch Bộ tư lệnh tối cao, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Liên Xô.

“Vào thời kỳ hết sức khó khăn này – nguyên soái A.M. Vasilevski nhấn mạnh -, học tập kinh nghiệm vĩ đại của Lenin trong thời kỳ Nội chiến, việc tập trung ở một người những chức năng lãnh đạo về mặt đảng, nhà nước, kinh tế và quân sự là một quyết định đúng đắn nhất. Chúng ta chỉ có một khả năng: ngay lập tức biến đất nước thành doanh trại quân sự, quy tụ hậu phương và tiền tuyến thành một thể thống nhất, huy động tất cả sức lực của chúng ta để thực hiện nhiệm vụ đánh bại bọn xâm lược phát xít Đức. Và khi Stalin với tư cách là Tổng bí thư, Chủ tịch Hội đồng dân ủy, Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước, lại đảm nhiệm thêm cương vị Tổng tư lệnh tối cao, ủy viên Bộ dân ủy quốc phòng, thì đã mở ra những khả năng thuận lợi hơn cho cuộc đấu tranh giành thắng lợi một cách có kết quả.

Sự tập trung ở I.V. Stalin những chức năng lãnh đạo về mặt đảng, nhà nước và quân sự không có nghĩa là ông trong những năm chiến tranh một mình quyết định mọi vấn đề” (A.M. Vasilevski. Sự nghiệp của cả cuộc đời. M. 1975, tr.540 – 541).

Đôi khi người ta viết rằng: ủy ban quốc phòng nhà nước (GKO) đó là Stalin. Và điều này là đúng, bởi vì việc ông biết cách giải quyết tức thời những công việc hàng ngày, biết phân tích cặn kẽ tình hình chiến sự đang thay đổi nhanh chóng, biết đánh giá đúng tình hình đó và đưa ra những biện pháp cụ thể, có tầm nhìn xa, có tính mục đích rõ ràng và sự dũng cảm của ông, ý chí và tài năng của ông đã in dấu sâu đậm lên hoạt động của ủy ban quốc phòng nhà nước. Hơn nữa, các buổi họp của GKO được tiến hành trong phòng làm việc ở điện Kremlin, tại ngôi biệt thự gần nhất hoặc trong một boongke, ủy ban quốc phòng nhà nước – trước hết là một cơ quan mang tính chất tập thể, gồm: phó chủ tịch V.M. Molotov các ủy viên của ủy ban: K.E. Voroshilov, G.M. Malenkov, L.P. Beria, sau này có thêm A.I. Mikojan, N.A Voznesenski, L.M. Kaganovich và N.A. Bulganin (thay K.E. Voroshilov). Những nhà lãnh đạo cấp cao của Liên Xô là sự thể hiện sức làm việc phi thường, trình độ nghiệp vụ sâu sắc và lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp xã hội chủ nghĩa và lợi ích của nhân dân Liên Xô  trong cuộc đấu tranh chống bọn phát xít xâm lược.

Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước I.V. Stalin giao cho mỗi ủy viên của ủy ban nắm một số vấn đề nhất định có liên quan đến việc củng cố và trang bị tất cả những thứ cần thiết cho các lực lượng vũ trang, đến công việc liên tục ở hậu phương. Chẳng hạn, V.M. Molotov phụ trách việc trang bị xe tăng cho Hồng quân và theo dõi công việc của ngành công nghiệp xe tăng; G.M. Malenkov phụ trách việc đảm bảo kỹ thuật chiến đấu hiện đại cho không quân, N.A. Voznesenski – phụ trách việc cung cấp vũ khí và đạn dược cho quân đội, A.I. Mikojan – tổ chức việc cung cấp thực phẩm cho quân đội, L.P. Beria – thực hiện những nghiên cứu trong lĩnh vực chế tạo tên lửa và năng lượng nguyên tử, L.M. Kaganovich – phụ trách việc điều chỉnh vận chuyển hàng hóa, K.E. Voroshilov phụ trách việc thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng. Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước đòi hỏi việc thực hiện đúng đắn các nhiệm vụ được giao.

Các cán bộ đảng, chính quyền và quân sự, các nhà khoa học và chuyên gia nào cần cho việc nghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ cấp bách của chiến tranh đều được mời đến dự các phiên họp của ủy ban quốc phòng nhà nước. Nguyên soái G.K. Zhukov đã nhận xét: “Tại các phiên họp của GKO rất hay nổ ra những cuộc tranh cãi căng thẳng, hơn nữa, những ý kiến được nêu lên một cách dứt khoát và gay gắt. Stalin thường đi đi lại lại bên chiếc bàn, chăm chú lắng nghe những người tranh luận. Bản thân ông rất kiệm lời và không ưa lối diễn giải dài dòng văn tự của những người khác. Ông thường ngắt lời những người đang nói bằng những nhận xét: “Nói ngắn hơn!”, “Rõ ràng hơn!”. Ông mở đầu những  phiên họp mà không cần đến những lời nhập đề vòng vo, ông nói nhỏ nhẹ, tự nhiên, cô đọng, đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề, trình bày những ý nghĩa một cách rõ ràng”. (G.K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. M 1990, T2, tr.71-72).

Trong cuốn ủy ban quốc phòng nhà nước ra quyết định, đại tướng Ju.A. Gorkov viết rằng trong những năm chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ủy ban quốc phòng nhà nước đã thông qua 9971 quyết định, chưa kể vô số bức điện, nghị quyết về các văn kiện, những chỉ thị miệng. Trong số đó, I.V. Stalin ký 2256 quyết định có liên quan tới các lực lượng vũ trang. Và không chỉ đặt bút ký. Ông đích thân thảo một số quyết định, còn một số quyết định khác thì ông đọc cho viết, có những quyết định được ông sửa lại một cách cơ bản, bổ sung và làm rõ thêm một vài điều gì đó. Nhiều văn kiện của Bộ chính trị, ủy ban TW đảng, Hội đồng dân ủy Liên Xô, Bộ dân ủy quốc phòng, gần 1000 mệnh lệnh và chỉ thị của Tổng hành dinh được ông ký duyệt. Và trên mỗi văn kiện đó thấy rõ nét chữ của Stalin, văn phong của ông: các ý kiến ngắn gọn về dung lượng nhưng có tầm rộng rãi về ý nghĩa (Ju.A. Gorkov, ủy ban quốc phòng nhà nước ra quyết định (1941 – 1945); Các số liệu và tư liệu, M. 2002, tr80-81).

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Sơn

Nguồn: TN 2014 – 66

Hồ sơ Lầu Năm Góc về chiến tranh Việt Nam: Lịch sử được viết bởi bên thất bại


Báo The New York Times mới đây có bài viết liên quan đến Chiến tranh Việt Nam với tiêu đề: “Tại Việt Nam, Hồ sơ Lầu Năm góc được viết bởi bên thất bại” của bà Lien Hang T Nguyen, Giáo sư gốc Việt chuyên nghiên cứu lịch sử Mỹ và Đông Á tại Đại học Columbia (New York).

Theo bài báo, Việt Nam chưa bao giờ công bố tài liệu lịch sử nào tương tự như Hồ sơ Lầu Năm Góc mà dựa chủ yếu và chính tài liệu của Mỹ để viết sử của họ.

Cách đây đúng 50 năm, Hồ sơ Lầu Năm Góc xuất hiện kín các mặt báo tại Mỹ, nhưng ở Hà Nội thì chẳng ai biết tới tài liệu này vào thời điểm đó vì Việt Nam đang còn phải đối mặt với các cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, chính nội dung Hồ sơ Lầu Năm Góc lại tái khẳng định chính những quan niệm đã ăn sâu bén rễ từ lâu của họ.

Khi tài liệu quốc phòng của Mỹ có tiêu đề “Vietnam Archive: Pentagon Study traces Three Decades of Growing US Involvement” (Tư liệu Việt Nam: Nghiên cứu của Lầu Năm Góc lần theo dấu 3 thập kỷ về sự gia tăng can dự của Mỹ) xuất hiện lần đầu tiên trên trang nhất tờ New York Times vào ngày 13/6/1971, thì trước đó mấy năm, chính quyền miền Bắc Việt Nam đã đưa ra nhận định sự can dự quân sự của Mỹ vào Việt Nam là bất hợp pháp.

Tiến sĩ Vũ Minh Hoàng, chuyên gia nghiên cứu sử học tại ĐH Fulbright Việt Nam ở TPHCM cho rằng: “điều khiến người Mỹ lúc đó sốc choáng váng thì lại chả có gì mới đối với người Việt Nam”.

Đến tận tháng 8/1971, TTXVN, cơ quan ngôn luận của nhà nước Việt Nam, và giới báo chí Việt Nam lúc đó mới đánh giá thông tin về Hồ sơ Lầu Năm Góc là phù hợp và cho đăng tải.

Tuy nhiên, tình hình đã xoay chuyển một cách ngoạn mục trong mấy thập kỷ sau đó. Hồ sơ mà ít người Việt Nam biết đến sau này lại gây ra ảnh hưởng tới mức chấn động ở Việt Nam, bởi nó giúp củng cố thêm bằng chứng cho quân đội và nhân dân Việt Nam tin rằng cuộc chiến chống Mỹ của họ là cuộc chiến chính nghĩa. Chính Hồ sơ Lầu Năm Góc đã cung cấp những số liệu đầy đủ về cuộc chiến của người Mỹ, giúp Việt Nam dựa vào đó để viết nên lịch sử cho chính họ trong nhiều thập kỷ sau này.

Xưa nay, người ta nói rằng lịch sử thường được viết nên bởi những người chiến thắng, nhưng trong trường hợp cuộc chiến Việt Nam, chính bên thua cuộc lại không còn niềm tin vững chắc khi nghĩ về lý do vì sao họ tham chiến trong tài liệu lịch sử của họ. Hồ sơ Lầu Năm Góc đã cho thấy rõ sự lung lay niềm tin đó khi tường thuật lại thất bại của nước Mỹ.

Nhà nghiên cứu Mỹ, Daniel Ellsberg là người đã cho, phát tán tài liệu Hồ sơ Lầu Năm Góc lên báo chí vào năm 1971. Nhờ những tài liệu đó, các học giả ở cả hai chiến tuyến đã có thể phân tích chính sách của Mỹ ở Việt Nam ngay lập tức thay vì phải chờ tới vài thập kỷ đến khi tài liệu được giải mật hay bị quên lãng phủ đầy bụi trên các kệ sách.

Sau khi chiến tranh kết thúc, những tài liệu lịch sử đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam viết về cuộc chiến được xuất bản ở Hà Nội đã sao chép khá nhiều nội dung Hồ sơ Lầu Năm Góc và có ghi nguồn trích dẫn ở cuối trang.

Từ những bản tài liệu lịch sử ban đầu đó cho tới những bản lưu hành hiện nay, luận điểm của phía Việt Nam vẫn nhất quán rằng: theo nghiên cứu nội bộ của chính quyền Mỹ, Mỹ không có quyền can dự vào cuộc chiến ở Việt Nam và không có cách nào có thể thắng được cuộc chiến Việt Nam một khi đã nhúng chân vào.

Cuốn “Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975” xuất bản năm 2015 của Việt Nam viết rằng “Chiến thắng của chúng ta phản ánh thành tựu lớn lao của một nước nhỏ và nghèo đã biết cách chiến đấu và đánh bại sự xâm lược của người Mỹ”.

Đại tá Nguyễn Mạnh Hà, một sĩ quan quân đội Việt Nam đã về hưu, đồng thời, cũng là học giả nghiên cứu về các cuộc chiến tranh ở Việt Nam sau năm 1945, nhớ lại rằng ông đã đọc bản dịch tiếng Việt một số phần trong Hồ sơ Lầu Năm Góc trong các bản tin hồi ông còn học trung học vào đầu năm 1972. Đại tá Hà nhớ lại rằng chính tài liệu đó đã thôi thúc lớp thanh niên trẻ miền Bắc Việt Nam như ông xung phong nhập ngũ, phụng sự đất nước: “Đọc tài liệu đó xong, tôi hiểu ra rằng nước Mỹ đã quá sai khi can dự vào cuộc chiến tại Việt Nam và đó là lý do vì sao phía chúng tôi quyết đánh đến cùng”.

Sau chiến tranh, ông Hà được thăng chức và trở thành một trong các sử gia quân đội hàng đầu của Việt Nam. Trên cương vị Phó giám đốc Viện Lịch sử Quân đội, ông Hà và nhóm biên tập của ông đã xem lại Hồ sơ Lầu Năm Góc để hiệu đính cho tài liệu lịch sử chính thức của Bộ Quốc phòng Việt Nam về chiến tranh.

Bộ sách lịch sử gồm 9 tập, xuất bản năm 2015, cho thấy rõ tầm quan trọng của Hồ sơ Lầu Năm Góc trong tài liệu chính thức của Việt Nam khi nói về chiến tranh. Hồ sơ Lầu Năm Góc được trích dẫn rất nhiều ở những tập đầu tiên là phần nói về nguyên nhân gốc rễ của cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam và ở tập cuối, khi đưa ra các bài học lịch sử cho độc giả Việt Nam.

Đại tá Hà cho rằng chỉ cần đọc Hồ sơ Lầu Năm Góc năm 1971, lãnh đạo và quân đội Việt Nam đã có thể nắm bắt được các chính sách và động thái của chính phủ Mỹ và rằng chính bản rò rỉ, được phát tán không chính thức đó đã hé lộ mức độ tâm lý phản chiến của chính các chính trị gia, các nhà hoạt động và nhân dân Mỹ thời đó.

Giáo sư Phạm Quang Minh (vào thời điểm Hồ sơ Lầu Năm Góc xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam ông mới 9 tuổi), suy đoán rằng tài liệu của phía Mỹ đã có tác động gián tiếp tới giới lãnh đạo của chính quyền miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ, những người lúc đó đang suy tính tới các giải pháp đàm phán hòa bình và Hồ sơ Lầu Năm Góc chắc hẳn đã hé lộ cho họ thấy những điểm yếu của nước Mỹ và cả đường hướng làm sao để có thể tận dụng được những điểm yếu đó.

Giáo sư Minh cũng khẳng định hơn khi nói về tầm quan trọng của Hồ sơ Lầu Năm Góc bị rò rỉ đối với nghiên cứu học thuật của phía Việt Nam. Từng là Hiệu trưởng Đại học KHXHNV ở Hà Nội, giáo sư Minh cho rằng chính ông và nhiều đồng nghiệp đã hiểu được cuộc chiến của người Mỹ tại Việt Nam thông qua tài liệu của Lầu Năm Góc. Thực sự, không có nguồn tài liệu nào khác có thể sánh bằng. Ông cho biết việc Lầu Năm Góc soạn thảo một tài liệu tuyệt mật trong thời kỳ chiến tranh, rồi lại để bị rò rỉ ra ngoài một cách hết sức giật gân như thế và sau đó được đăng tải trên một tờ báo quan trọng nhất của nước Mỹ, đã không qua được mắt các sử gia người Việt Nam. “Chính tài liệu đó đã giúp chúng tôi xây dựng lịch sử của mình và tránh cho sử sách chúng tôi viết chỉ mang tính phiến diện một chiều”, ông khẳng định.

Giáo sư Minh rất ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng các nhà hoạch định chính sách của Mỹ phần lớn đều không biết hoặc không để tâm tới những căng thẳng trong mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Liên bang Xô viết lúc bấy giờ. Chính Hồ sơ Lầu Năm Góc đã cho ông thấy giới chức Mỹ chỉ nhìn thấy một mối nguy hiểm toàn màu đỏ tại Việt Nam. Ông nhận định: “Và điều đó đã khiến họ không thấy được những bất đồng giữa những người cộng sản Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô trong thời chiến để có thể lợi dụng những bất đồng đó”.

Tuy nhiên, mặc dù Hồ sơ Lầu Năm Góc cực kỳ có giá trị đối với thế hệ các nhà sử học đầu tiên của Việt Nam chuyên nghiên cứu thời kỳ chiến tranh, tài liệu này lại không có được vai trò trọng yếu như vậy đối với giới nghiên cứu của Việt Nam những năm sau này. Tiến sĩ sử học Vũ Minh Hoàng, hiện công tác tại Đại học Fulbright Việt Nam nhận xét rằng: “Hồ sơ Lầu Năm Góc bây giờ thậm chí không được đề cập đến trong sách giáo khoa ở Việt Nam”.

Với Tiến sĩ Hoàng, một người trẻ lớn lên ở Hà Nội sau khi cuộc chiến chống Mỹ đã chấm dứt từ lâu, ông không thấy có bản dịch tiếng Việt nào hoàn chỉnh về Hồ sơ Lầu Năm Góc còn tồn tại. Thậm chí, sau năm 2011, khi chính quyền Mỹ công bố công khai toàn bộ 7000 trang tài liệu của Hồ sơ Lầu Năm Góc thì các nhà xuất bản ở Việt Nam cũng không xuất bản lại bằng tiếng Việt. Thay vào đó, năm 2006, họ dịch và xuất bản cuốn: “Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers” (Những điều bí mật: Hồi ức về Việt Nam và tài liệu Lầu Năm Góc) của Daniel Ellsberg, sau đó tái bản năm 2018 và phân loại cuốn sách này là giáo trình tham khảo.

Gần đây, 50 năm sau khi Hồ sơ Lầu Năm Góc được xuất bản, Việt Nam đã có một vị thế mạnh hơn nhiều với một nền kinh tế đang lên, tầm ảnh hưởng ngày càng lớn trong khu vực và được cả thế giới ngưỡng mộ vì cách thức họ kiểm soát đại dịch COVID-19. Với những yếu tố như vậy và mối quan hệ đối tác lớn mạnh giữa Mỹ và Việt Nam hiện nay, rất có thể Việt Nam đang cởi mở hơn với lịch sử.

Trên thực tế, có những dấu hiệu cho thấy sự cởi mở này. Nhờ có những tài liệu lịch sử công bố gần đây về cuộc chiến của Việt Nam mà chúng ta biết rằng có những tranh luận căng thẳng trong nội bộ Đảng đã hé lộ về mối quan hệ của Hà Nội với Bắc Kinh và Moskva. Tất cả những thông tin này đều được giữ bí mật ở miền Bắc Việt Nam thời chiến tranh.

Nguồn: TKNB – 24/06/2021.

Những quan niệm sai lầm về Việt Nam


Theo bài viết trên trang www.theconversation.com ngày 30/03, cuốn sách “Những quan niệm sai lầm về Việt Nam” (Idées reҫues sur le Viet Nam, bản tiếng Pháp) nghiên cứu về xã hội, văn hóa cũng như lịch sử chính trị và kinh tế của Việt Nam, đồng thời giúp hiểu về nhà nước Việt Nam không giống với các nhà nước khác. Nội dung chính của bài viết như sau:

Nhiều ý kiến cho rằng khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam cùng với Trung Quốc, Triều Tiên, Lào và Cuba là những nước cộng sản cuối cùng.

Thứ nhất, không nên nhầm lẫn chủ nghĩa cộng sản với Đảng Cộng sản Việt Nam, thực chất là đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam, với gần 5,2 triệu đảng viên và năm 2019, tức khoảng 5% dân số. Về lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết xã hội dựa trên việc xóa bỏ tư hữu cá nhân và gộp mọi phương tiện sản xuất, tìm cách thay thế xã hội tư bản bằng xã hội dựa trên sự bình đẳng và cùng chí hướng. Trên thực tế, trong hệ thống chính trị một đảng của Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản với tư cách là học thuyết và hành vi chính trị đang trải qua một quá trình cải tổ phức tạp. Ngày nay, không còn tồn tại vấn đề về đấu tranh giai cấp mà thay vào đó, “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” chính thức thay thế kinh tế kế hoạch tập trung. Hơn nữa, chưa bao giờ tài sản tư nhân lại được coi trọng như hiện nay với vai trò là động lực thúc đẩy quá trình phát triển đất nước. Vậy di sản cộng sản để lại là gì và chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã bắt rễ sâu đến mức nào.

Đại hội VI năm 1986 thừa nhận sự cần thiết phải “cải cách”, vừa để khắc phục nền kinh tế kiệt quệ, vừa tìm lối thoát khỏi môi trường quốc tế thù địch cho Việt Nam mà nguyên nhân là do xung đột ở Campuchia. Sự lựa chọn của Việt Nam rất sáng suốt, ít nhất là trong thời kỳ đó. Mong muốn duy trì cán cân quyền lực, củng cố tính hợp pháp chính trị của chế độ song trùng với ưu tiên thúc đẩy phát triển kinh tế. Nhìn chung, một chế độ không thể hợp pháp về mặt chính trị nếu không có sức mạnh kinh tế, nhưng đồng thời, mọi nỗ lực thúc đẩy phát triển kinh tế cũng sẽ vô ích nếu không đi kèm với môi trường chính trị ổn định.

Vì vậy, kể từ sau Đại hội VI, ĐCSVN đã sẵn sàng không đặt nặng vấn đề kiểm soát đất nước mà chú trọng hơn việc sửa chữa những sai lầm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây chính xác là những gì mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi đó tuyên bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos hồi tháng 2/1990 rằng đổi mới không có nghĩa là rũ sạch quá khứ, cũng không có nghĩa là từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà là tìm cách hiểu rõ hơn về một chủ nghĩa xã hội nhân văn, hoàn thiện.

Trên thực tế, điều này có nghĩa là khuyến khích vận động chính trị trong chiến dịch phê bình và tự phê bình, nhưng không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên. Các loại cải cách vẫn được Đảng kiểm soát chặt chẽ. Mô hình “Đổi mới” của Việt Nam gần với thực tiễn của Trung Quốc hơn so với mô hình “perestroika” của Nga. Đối với ĐCSVN, những điểm cốt yếu vẫn còn nguyên vẹn: Chủ nghĩa Marx-Lenin, nguyên tắc tập trung dân chủ và hệ thống chính trị nhất nguyên. Cái tên “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” vẫn được giữ lại dù chấp nhận rằng chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô đã hết thời và thuật ngữ chủ nghĩa xã hội cần phải được định nghĩa lại.

Như vậy, ở Việt Nam, thực hiện “Đổi mới” nhưng không kém phần trung thành với Đảng ngay cả khi chính bản thân Đảng cần phải đổi mới, hiện đại hóa và dân chủ hóa. Cần lưu ý rằng, năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khi đó đã đặt câu hỏi về chiến lược kinh tế “bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”, theo ông là phi thực tế và có hại. Đã từng có tiền lệ, đó là Luận cương chính trị do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trần Phú trình bày vào tháng 10/1930 tại Hong Kong. Những thay đổi trong học thuyết cũng được củng cố bởi kinh nghiệm của một nền kinh tế chiến tranh.

Sau khi Việt Nam thống nhất, Kế hoạch lần thứ 4 năm 1977 đã hệ thống hóa những thay đổi này và hợp thức hóa các cơ sở khái niệm về sự phát triển xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với những luận điểm chính trị ban đầu, Đảng đã tự đưa ra định hướng kinh tế dựa trên mô hình tuyến tính “phát triển theo từng giai đoạn” của Liên Xô. Như nhà lịch sử dân tộc học Pierre-Richard Féray lập luận, trong số các mô hình, mô hình này đề xuất “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” và tiến lên mà không quá độ từ phương thức sản xuất “phong kiến” và “thuộc địa” sang phương thức sản xuất “xã hội chủ nghĩa”. Hơn nữa, ở châu Á hình thành tư tưởng chủ đạo của Mao Trạch Đông là: hệ tư tưởng đóng vai trò nòng cốt trong kiểm soát kinh tế. Tuy nhiên, chính cải cách từ năm 1986 của Việt Nam đã đảo ngược xu hướng này.

Tư duy quan hệ quốc tế của Việt Nam là dựa trên tầm nhìn về thế giới được định hình qua duy nhất lăng kính ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Lâu nay, tư duy này cho phép các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận được viện trợ quốc tế dưới hình thức hỗ trợ từ “các nước anh em”. Sự sụp đổ của Liên Xô vào cuối những năm 1980 cho thấy nhu cầu nhận được hỗ trợ từ bên ngoài, không chỉ với các đối tác mới mà còn là sự đánh giá lại các tiêu chí đã ban hành. Tuy nhiên, để đảm bảo không chỉ sự phát triển của Việt Nam mà còn cả sự bền vững của quyền lực mà họ đại diện, các cựu chiến binh trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc không từ bỏ sứ mệnh bảo vệ “an ninh và độc lập” của đất nước. Họ chỉ đơn giản là cố gắng tính đến bối cảnh mới để hưởng lợi từ “các điều kiện quốc tế thuận lợi”. Dù chủ nghĩa thực dụng là cần thiết, song một số nhà lãnh đạo dường như cũng tin rằng sự thất bại của chủ nghĩa xã hội không phải do sự khủng hoảng của học thuyết Marx-Lenin, mà là do những sai sót trong “nhận thức” và “ứng dụng”.

Chiến lược được đưa ra tại Đại hội X của Đảng (2006) với các điều khoản rõ ràng: tiếp tục và đẩy mạnh “đổi mới”, hoàn thiện “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và “hội nhập kinh tế quốc tế”. Chiến lược toàn cầu này được thực hiện thông qua hành động kép, cả bên trong và bên ngoài. Tuy nhiên, chiến lược này hơi mơ hồ và có vấn đề vì nó được xác định là điều kiện chính để tạo dựng ý thức đoàn kết dân tộc mạnh mẽ và một môi trường chính trị ổn định và an toàn.

Có 2 câu hỏi lớn đặt ra cho Đảng Cộng sản Việt Nam để duy trì chế độ độc đảng. Việt Nam nên quản lý như thế nào để đón đầu các cơ hội phát triển, song song với việc bảo vệ chủ quyền và bản sắc quốc gia? Làm thế nào để tận dụng những “điểm tích cực” của chủ nghĩa tư bản để theo đuổi công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa? Trong cuộc trò chuyện với cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara vào ngày 9/11/1995 tại Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhắc lại quyết tâm của Việt Nam không để chủ quyền của mình bị suy giảm do toàn cầu hóa. Đại tướng không giấu giếm thực tế nguy hiểm mà Việt Nam phải đối mặt: “Ngày nay, Việt Nam đang tiến hành chính sách đối ngoại đa phương. Chúng tôi có bản sắc văn hóa và học thuyết riêng, song trình độ công nghệ và quản lý kinh tế của chúng tôi vẫn còn nhiều điều phải học hỏi. Chúng tôi muốn hưởng lợi từ kiến thức và kinh nghiệm quý báu của tất cả các nước mà không làm ảnh hưởng đến văn hóa, tinh thần độc lập tự chủ và những nét tính cách Việt Nam của chúng tôi”.

Nhà văn hóa Hữu Ngọc sử dụng những từ ngữ rõ ràng hơn để miêu tả về những mối đe dọa đối với Việt Nam: “Khi đối thoại văn hóa với phương Tây, chúng ta không ở vị thế bình đẳng vì trình độ phát triển kinh tế của chúng ta. Điều này đồng nghĩa với việc giữ gìn bản sắc dân tộc không phải là điều dễ dàng”.

Dù chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu được khẳng định nhiều lần trong các văn kiện quan trọng của Đảng, một kiểu chủ nghĩa thực dụng kinh tế đã được đề xuất. Về mặt tu từ, đây là cách khiến hệ tư tưởng hiện tại trở nên mạch lạc hơn, bằng cách “tiêm” một liều thuốc chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ. Quả thật, trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài, chủ nghĩa dân tộc của Việt Nam hiện đã tìm được động lực và nguồn cảm hứng mới. “Dân giàu, nước mạnh” là khẩu hiệu lặp lại “công thức” nổi tiếng “Làm giàu để làm giàu cho đất nước” được Đặng Tiểu Bình đề xuất ở Bắc Kinh vào tháng 01/1992. “Dân giàu, nước mạnh” đã trở thành khẩu hiệu thể hiện tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam ngày nay.

Bước ngoặt mang tính biểu tượng thể hiện trong các quyết định được đưa ra tại Đại hội X của Đảng, sau cuộc tranh luận sôi nổi suốt nhiều năm về khả năng và quyền lợi của mọi đảng viên, với tư cách là một công dân, được “thịnh vượng”. Đại hội nhất trí cho rằng sự thịnh vượng của cá nhân sẽ đóng góp vào sự thịnh vượng của tập thể, có nghĩa là “chủ nghĩa tư bản”. Trong mọi trường hợp, các đảng viên hiện nay có thể “có hoạt động kinh doanh tư nhân”, nhưng vẫn giữ được “phẩm chất của người đảng viên và bản chất của Đảng”.

Ngày nay, khái niệm toàn diện về an ninh tập trung vào trục xoay kinh tế này, sự đoàn kết dân tộc, ý thức tập thể của quốc gia, được hỗ trợ bởi vai trò củng cố nhà nước và Đảng, vẫn là phương tiện chủ chốt để ngăn chặn cái mà giới tinh hoa chính trị  gọi là “các thế lực thù địch” gây nguy hiểm cho chủ nghĩa xã hội. Tháng 2/2007, trích lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã không ngần ngại lên án chủ nghĩa cá nhân gây mất đoàn kết dân tộc, thực sự là “có hại cho lợi ích của cách mạng và nhân dân”.

Theo nhà trí thức Hữu Ngọc, ở Việt Nam, tinh thần cộng đồng, trái với chủ nghĩa cá nhân của phương Tây, được “hiểu theo nghĩa là tinh thần dânt ộc, tình yêu quê hương, đất nước”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Đoàn kết, tinh thần đại đoàn kết, đặc trưng của văn hóa Việt Nam, đã đem lại cho dân tộc sức sống mãnh liệt”.

Tuy nhiên, ở đất nước mà thành tựu kinh tế được quy cho cái gọi là các giá trị Á Đông – ví dụ như tính siêng năng, ý thức cộng đồng, ổn định gia đình,… – một số giá trị phương Tây được nhìn nhận là toàn cầu và cần thiết. Tại hội thảo quốc tế về “Các giá trị Á Đông và sự phát triển của Việt Nam dưới góc nhìn so sánh”, được tổ chức vào tháng 3/1999 tại Hà Nội, cách tiếp cận kết hợp của Việt Nam được đặc biệt khen ngợi vì khả năng duy trì sự ổn định nhất định trong bối cảnh “kinh tế xã hội quốc tế và quốc gia biến động”. Một số quan điểm cho rằng, điều này không chỉ là do “việc duy trì một phần các giá trị truyền thống”, mà còn do sự “chấp nhận một số giá trị phương Tây như quyền cá nhân, dân chủ, bình đẳng giới…”.

Nguồn: www.theconversation.com

TKNB – 01/04/2021

Nhật Bản công khai tài liệu về sự kiện Thiên An Môn – Phần cuối


Hội nghị thượng đỉnh năm 1989: Nhật Bản thỏa hiệp với từng nước để bảo vệ Trung Quốc

Tài liệu ngoại giao được công bốcho biết Nhật Bản đã có những động thái mang tính thỏa hiệp với các nước nhằm đưa vào tuyê bố chính trị của hội nghị thượng đỉnh những lời lẽ ôn hòa hơn khi chỉ trích Chính phủ Trung Quốc.

Pháp, nước chủ trì hội nghị ngày 4/7, cho rằng Chính phủ Trung Quốc đã có hành động đàn áp và hành quyết dã man. Nước này cũng kiến nghị với 4 nước châu Âu khác về các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Nhật Bản lại có ý không chấp nhận các biện pháp trừng phạt nhằm vào Trung Quốc và khẳng định phương châm cơ bản là không nên đề cập đến điều này. Theo Nhật Bản, các nước nên cố gắng thể hiện lập trường cứng rắn, nếu họ thực sự muốn vậy, theo một cách trừu tượng nhất có thể.

Hơn nữa, Nhật Bản cũng tiếp cận và trao đổi riêng với từng nước về cách thức thể hiện ngôn từ trong tuyên bố chính trị trên cơ sở không chỉ trích nặng nề Trung Quốc và không đề cập đến trừng phạt nước này.

Tại cuộc thảo luận cấp chuyên viên diễn ra vào ngày 7/7, Nhật Bản lúc đầu cho rằng không cần thiết phải có một tuyên bố đặc biệt, trong khi tất cả các bên tham gia còn lại đều chor ằng tuyên bố chính trị là cần thiết. Sau đó, Nhật Bản yêu cầu thể hiện một cách trừu tượng nhất có thể các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ lại cho rằng điều này là không thể, trong khi Tây Đức nhấn mạnh rằng một tuyên bố không đề cập đến các biện pháp trừng phạt cụ thể là một tuyên bố vô nghĩa.

Do đó, trong cuộc thảo luận giữa những người phụ trách đàm phán Nhật – Mỹ ngày 11/7, Nhật Bản kiến nghị tuyên bố nên chỉ rõ rằng các biện pháp trừng phạt Trung Quốc chỉ là một giải pháp thỏa hiệp chứ không có ý cô lập Trung Quốc. Tuy nhiên, Mỹ phản đối quan điểm đó bằng lập luận hành động này sẽ làm giảm uy lực của tuyên bố.

Ngày 14/7, tức một ngày trước khi tuyên bố chính trị được thông qua, Thủ tướng Nhật Bản Uno đã có cuộc trao đổi riêng với người phụ trách đàm phán phía Pháp Jacques Attali. Ông nói: “Chúng ta cần thúc đẩy cải cách chứ không phải cô lập Trung Quốc”. Jacques Attali đáp lại: “Đó là một cụm từ thông minh và không có vấn đề gì”.

Trong hội nghị ngày 15/7, Thủ tướng Nhật Bản Uno cho biết: “Điều quan trọng chúng ta cần ghi nhớ là Turng Quốc hiện nay là một Trung Quốc “yếu”. Lịch sử Trung Quốc chot hấy khi “yếu” Trung Quốc sẽ thể hiện thái độ bài ngoại vô cùng mạnh mẽ. Do đó, khi công khai tuyên bố chính trị cần hết sức cẩn trọng để không kích động tinh thần dân tộc của người dân Trung Quốc và không nên kích động thái độ cứng rắn của họ”.

Do đó, Tuyên bố cuối cùng đã phản ánh được lập trường quan điểm của Nhật Bản khi nêu rõ: “tạo điều kiện tránh cô lập Trung Quốc và để Trung Quốc mở lại các hoạt động hướng tới cải cách mở cửa về chính trị, kinh tế, hy vọng tạo điều kiện để sớm khôi phục quan hệ hợp tác sớm nhất có thể”.

Sau sự kiện Thiên An Môn, Thủ tướng Anh lo lắng về tương lai của Hong Kong

Tài liệu ngoại giao vừa được công bố cho biết, tháng 9/1989, 5 năm sau thỏa thuận Anh đồng ý trao trả Hong Kong về Đại lục, Thủ tướng Anh khi đó là Magaret Thatcher đã bày tỏ sự lo ngại về lập trường của Đặng Tiểu Bình và tương lai của Hong Kong sau khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn.

Cụ thể, ngày 14/9, 5 ngày trước chuyến thăm Nhật Bản, Thủ tướng Thatcher đã trao đổi trong một bữa ăn tối với Đại sứ Nhật Bản tại Anh là Kazuo Chiba rằng: “Khi tôi nói chuyện với Đặng Tiểu Bình, tôi không thể hiểu được pháp luật của Chính phủ Anh sẽ được tuân thủ như thế nào khi Trung Quốc là nước nếu cần có thể thay đổi cả hệ thống pháp luật”, qua đó bày tỏ quan ngại Đặng Tiểu Bình sẽ thống trị Trung Quốc bằng luật pháp.

Sau đó, khi thăm Nhật Bản, trong trao đổi với Bộ trưởng Ngoại giao Taro Nakayama, Thủ tướng Magaret Thatcher tiếp tục đề cập: “Từ kinh nghiệm qua các cuộc nói chuyện với Đặng Tiểu Bình và Triệu Tử Dương, không thể đoán trước rằng sẽ xảy ra sự kiện gây sốc như sự kiện Thiên An Môn, một sự kiện như vậy không bao giờ được xảy ra một lần nữa”. Bà Thatcher nhấn mạnh Hong Kong có 5 triệu dân, nhưng tôi lo lắng một điều tương tự có thể sẽ xảy đến với người dân Hong Kong vào một thời điểm nào đó”.

Giáo sư Đại học Kyushu Takuma Nakajima, chuyên gia về lịch sử ngoại giao thời hậu chiến cho biết, những gì Thủ tướng Thatcher nói khi đó như thể bà đã tiên đoán được tình trạng khủng hoảng tại Hong Kong hiện nay. Rõ ràng cảm nhận của việc Đặng Tiểu Bình sẽ thống trị Trung Quốc bằng luật pháp đã được minh chứng bằng thực tế ngày nay. Đó cũng là một gợi ý rất tốt cho Nhật Bản khi thể hiện quan điểm lập trường đối với Trung Quốc vào thời điểm hiện nay.

Sự kiện Thiên An Môn là gì?

Tên gọi “sự kiện Thiên An Môn” xuất phát từ sự kiện diễn ra tại quảng trường Thiên An Môn ở thủ đô Bắc Kinh, Trung Quốc vào ngày 4/6/1989. Khi đó Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã dùng vũ lực để đàn áp phong trào đấu tranh đòi dân chủ của sinh viên và người dân Trung Quốc. Hậu quả là một số lượng lớn người đã thiệt mạng hoặc bị thương khi binh lính xả súng vào người dân.

Ngày 15/4/1989, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Diệu Bang từ trần. Hồ Diệu Bang được cho là người theo trường phái cải cách và từng bị cách chức trước sự tấn công của phe bảo thủ. Nhân sự kiện này, liên tục trong nhiều ngày, một lượng lớn sinh viên đã tổ chức biểu tình trước quảng trường Thiên An Môn để đòi khôi phục danh dự cho Hồ Diệu Bang, sau đó phong trào đã chuyển hóa thành biểu tình đòi dân chủ.

Tình hình đột ngột thay đổi vào ngày 26/4 khi tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã đăng một bài xã luận coi phong trào đấu tranh của sinh viên là một hành vi bạo loạn. Bài xã luận đã kích động sự phản đối mạnh mẽ và nhanh chóng lan rộng trong giới sinh viên, họ tiếp tục kêu gọi nhà chức trách Trung Quốc phải rút lại quan điểm này. Phong trào không những mở rộng quy mô lên đến hàng triệu người tham gia mà còn có những hành động quá khích.

Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận thấy tình hình trở nên nghiêm trọng, đã ra lệnh thiết quân luật đối với thủ đô Bắc Kinh vào ngày 20/5. Sau đó, quân đội trong và xung quanh khu vực quảng trường Thiên An Môn được huy động, trong đêm ngày 3/6 rạng sáng ngày 4/6 đã sử dụng vũ lực để đàn áp biểu tình bằng cách xả súng vào người dân. Hậu quả là nhiều sinh viên đã thiệt mạng vào thời điểm này. Chính phủ Trung Quốc bị chỉ trích khi thông báo số người chết chỉ là 319, nhưng con số thực tế có thể còn cao hơn nhiều.

Nguồn: TLTKĐB – 27/12/2020.

Nhật Bản công khai tài liệu về sự kiện Thiên An Môn – Phần đầu


Theo trang tin tức của đài NHK ngày 24/12/2020, tài liệu ngoại giao được công khai hôm 23/12 vừa qua đã tiết lộ thông tin rằng trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định đưa ra phản ứng mềm mỏng đối với Trung Quốc, trái ngược hoàn toàn với phản ứng của các nước phương Tây khi đó. Giới chuyên gia Nhật Bản chỉ trích lập trường yếu đuối của Chính phủ nước này – coi đây chỉ là vấn đề nội bộ của Trung Quốc và ủng hộ chính sách cải cách mở cửa cũng như quan điểm “một Trung Quốc” ổn định sẽ có lợi cho thế giới.

Tài liệu chỉ rõ Nhật Bản chia sẻ các giá trị phổ quát về tự do và dân chủ với các nước phương Tây, đồng thời cho rằng việc Chính phủ Trung Quốc đàn áp sinh viên và người dân bằng vũ lực gây thương vong lớn nhìn từ góc độ nhân đạo là điều không thể chấp nhận được.

Mặt khác, tài liệu cũng đề cập đến lập trường của Chính phủ Nhật Bản khi đó: Theo họ, sự việc này về cơ bản chỉ là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, nước có thể chế chính trị xã hội và quan điểm giá trị khác với Nhật Bản. Do đó, xét một cách tổng thể, việc các nước phương Tây có tạo ấn tượng rằng họ đoàn kết với nhau để theo đuổi chủ trương cô lập Trung Quốc về lâu dài không phải là một ý tưởng hay. Ngoài ra, chính các nước phương Tây cũng muốn Chính phủ Trung Quốc duy trì chính sách cải cách mở cửa. Do đó, họ cũng cần tạo điều kiện để Trung Quốc trở thành một quốc gia được cộng đồng quốc tế chấp nhận và từng bước khôi phục quan hệ với nước này.

Giáo sư Akio Takahara, chuyên gia nghiên cứu về chính trị Trung Quốc đương đại của Viện cao học chính sách công thuộc Đại học Tokyo, cho rằng việc phản đối mạnh mẽ các hoạt động vi phạm nhân quyền là điều nên làm nhưng câu hỏi đặt ra là: Làm vậy để được gì? Chính phủ Nhật Bản cho rằng nên ủng hộ Trung Quốc cải cách mở cửa và một Trung Quốc ổn định sẽ có lợi cho Nhật Bản, khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới. Thế nhưng, Nhật Bản có thay đổi nhận thức này sau sự kiện Thiên An Môn?

Sau sự kiện này, Bộ Ngoại giao Nhật Bản vẫn giữ quan điểm đối lập với Mỹ là duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc. Tài liệu cho biết trước quan ngại từ phía Mỹ về việc Nhật Bản vẫn duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, một quan chức ngoại giao Nhật Bản khi đó đã phản biện: “Điều đó không có nghĩa là Nhật Bản phải cắt đứt một cách máy móc hoạt động hợp tác kinh tế với một nước phi dân chủ”.

Liên quan đến vấn đề hợp tác kinh tế với Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định ngừng cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn tháng 6/1989, nhưng đến tháng 7/1990 lại nối lại nguồn viện trợ này.

Trong một tài liệu ngoại giao công bố ngày 23/6, tức 10 ngày sau sự kiện Thiên An Môn, một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Nhật Bản trong một cuộc hội đàm với Mỹ đã bác bỏ lo ngại của nước này khi Nhật Bản duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ khi đó, Robert Forber, chỉ rõ: “Việc Chính phủ Nhật Bản lần lượt thông qua các dự án hợp tác kinh tế với Trung Quốc có thể sẽ buộc Washington phải hành động”.

Đáp lại, Vụ phó Vụ Châu Á của Bộ Ngoại giao Nhật Bản khi đó Katsuya Suzuki nói: “Chúng tôi cũng lấy làm tiếc về vụ bạo lực ở Thiên An Môn”. Đồng thời, ông khẳng định: “Tuy thế chính trị và quan niệm giá trị của các nước phương Tây khác với của Trung Quốc, nhưng điều đó không thể buộc Nhật Bản phải chấm dứt hợp tác kinh tế một cách máy móc với một quốc gia phi dân chủ”.

Cựu Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Yuji Miyamoto cho rằng những người thuộc nhóm gọi là “phái cải cách” ở Trung Quốc đã phải hứng chịu sự chỉ trích của dư luận trong nước – họ vừa bắt tay vào cải cách mở cửa thì xảy ra sự kiện Thiên An Môn. Tuy vậy, cải cách mở cửa là một lựa chọn đúng đắn và không có lý do gì để ngừng cấp ODA.

Giáo sư Aiko Takahara cho biết mặc dù Mỹ luôn nhấn mạnh vấn đề nhân quyền và hạn chế trao đổi với Trung Quốc, nhưng cách doanh nghiệp Nhật Bản vẫn duy trì giao thương với nước này. Phải chăng Mỹ lo ngại Nhật Bản và Trung Quốc có thể bắt tay với nhau sau lưng mình?

Hội nghị thượng đỉnh ngay sau sự kiện Thiên An Môn: Nhật Bản nỗ lực tránh đề Trung Quốc bị cô lập

Tài liệu mà Bộ Ngoại giao Nhật Bản vừa công khai cho thấy rõ rằng sau sự kiện Thiên An Môn, một hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo các nước phát triển đã được tổ chức nhằm thông qua một tuyên bố chính trị lên án gay gắt Trung Quốc. Khi đó, Chính phủ Nhật Bản đã đề xuất một tuyên bố với lời lẽ ôn hòa nhằm tránh việc Trung Quốc bị cô lập.

Theo đó, ngay sau sự kiện Thiên An Môn vào tháng 6/1989, Hội nghị thượng đỉnh G7 đã được tổ chức ở ngoại ô thủ đô Paris,Pháp, với mục tiêu lớn nhất là bàn thảo cách thức phản ứng đối với Chính phủ Trung Quốc sau hành động đàn áp dã man sinh viên và người dân Trung Quốc biểu tình đòi dân chủ gây thương vong lớn.

Trong tài liệu được công bố có đề cập rằng khi lãnh đạo Pháp và các nước khác muốn thông qua một tuyên bố chính trị chỉ trích gay gắt Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản lại hướng tới một tuyên bố ôn hòa hơn để tránh cô lập Trung Quốc. Ban đầu, tuyên bố chính trị mà Pháp đề xuất mô tả phản ứng của Chính phủ Trung Quốc là đàn áp và hành quyết dã man, đồng thời kiến nghị các biện pháp trừng phạt như ngừng hoạt động trao đổi cấp cao và hợp tác quân sự và hoãn các khoản vay mới của Ngân hàng Thế giới dành cho Trung Quốc. Trong khi đó, Nhật Bản lại muốn dập tắt những chỉ trích đối với Trung Quốc và không đề cập đến các biện pháp trừng phạt, đồng thời tìm cách tiếp cận từng nước để đưa vào dự thảo tuyên bố chính trị quan điểm không để Trung Quốc bị cô lập và muốn Trung Quốc tự giải quyết vấn đề nội bộ của mình.

Cho dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các nước nhưng Nhật Bản vẫn kiên trì phương châm loại bỏ nội dung cô lập Trung Quốc ra khỏi tuyên bố chính trị. Thủ tướng Nhật Bản khi đó Sosuke Uno đã tiếp cận thuyết phục Jacques Attali, người phụ trách đàm phán phía Pháp. Kết quả là, tuyên bố được đưa ra thể hiện phương châm của Nhật Bản là tạo điều kiện để Trung Quốc không bị cô lập và khôi phục quan hệ hợp tác với nước này trong thời gian sớm nhất có thể.

Nguyên Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Yuji Miyamoto, người đã tham gia các cuộc thảo luận về tuyên bố chính trị khi đó với tư cách nhân viên Bộ Ngoại giao, cho biết cô lập Trung Quốc là việc không nên làm vì hành động này có thể kích động Trung Quốc và khơi dậy tinh thần dân tộc của người dân nước này một cách không cần thiết.

Giáo sư Akio Takahara bình luận rằng nếu xét trong bối cảnh hiện nay, nhiều người có lẽ sẽ đặt câu hỏi vì sao Nhật Bản lại giúp Trung Quốc nhiều đến vậy. Việc ủng hộ chính sách cải cách mở cửa của Trung Quốc dường như sẽ khiến Nhật Bản phải đối mặt với nhiều khó khăn sau này. Lập trường của Nhật Bản khi đó nên bị coi là một quyết định đáng tiếc trong quá trình phát triển lâu dài.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 27/12/2020.

Pháp cần bồi thường cho Việt Nam thời kỳ thực dân hóa


Muhammet Ali Güler

Mối quan hệ giữa Pháp và Việt Nam có từ nhiều thế kỷ trước. Napoleon III được coi là “chủ mưu” đằng sau chính sách thực dân hóa Việt Nam và các khu vực lân cận. Thời kỳ Pháp thuộc tại Việt Nam kéo dài từ năm 1857 đến tận năm 1954, khi Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc theo Hiệp định Geneva. Từ năm 1941 – 1945, Việt Nam bị đế quốc Nhật chiếm đóng. Có hai lý do chính để Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa. Lý do thứ nhất là Pháp muốn khôi phục danh tiếng đang bị suy giảm và vì vậy đã tìm cách đánh chiếm một quốc gia yếu hơn. Lý do thứ hai là Pháp muốn khai thác các nguồn tài nguyên của Việt Nam.

Kể từ khi bắt đầu chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, luôn có các phong tràoo kháng chiến của người Việt Nam. Một số nhân vật tiêu biểu chống lại sự chiếm đóng của Pháp như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh. Đã có một số hình thức kháng chiến về ý thức hệ, quân sự và xã hội, như là chủ nghĩa yêu nước, mong muốn được độc lập và những điều này đã giúp duy trì việc tuyên truyền chống Pháp kể từ khi Pháp bắt đầu chiếm đóng.

Người Việt Nam đã phải nếm trải những chính sách đàn áp và cứng rắn của thực dân Pháp, bao gồm giáo dục chỉ dành cho một số ít người được hưởng đặc quyền. Đại đa số người Việt Nam bị mù chữ, trong khi những người được giáo dục cũng chỉ nắm giữ các vị trí thấp trong chính quyền chuyên chế của thực dân Pháp. Trong khi đó, có nhiều chính sách phân biệt đối xử về mặt xã hội, chính trị và kinh tế đối với người dân Việt Nam. Những người theo chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam và những người với chương trình tuyên truyền dân tộc chủ nghĩa đã góp phần cho cuộc đấu tranh của những người Cộng sản giành chiến thắng. Vì vậy, có thể nói chủ nghĩa Cộng sản với sự tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc đóng một vai trò quan trọng trong việc giải phóng nhân dân Việt Nam.

Sau thất bại của người Nhật năm 1945, có một cuộc đấu tranh quyền lực giữa người Pháp và người Việt dẫn tới cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất kéo dài từ năm 1946 đến năm 1954. Ở khu vực Đông Dương, ám chỉ ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, cả văn hóa của Ấn Độ và Trung Quốc đều có mặt ở đây. Việt Nam cuối cùng đã biến thành một chiến trờng đối với các ý thức hệ của chủ nghĩa Cộng sản, tự do và sự tái hiện của chủ nghĩa thực dân. Người Pháp đã tìm cách giữ các thuộc địa của mình dưới cái tên liên hiệp Pháp, bao gồm ba quốc gia Đông Dương, trong khi Việt Minh đấu tranh vì tự do. Trong thế kỷ 19, cuộc kháng chiến của Việt Nam đã làm “bẽ mặt” nước Pháp. Người Pháp được cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế từ người Mỹ nhằm tiêu hao và làm suy yếu cuộc kháng chiến của Việt Nam. Tuy nhiên, những người Việt Nam vô tội và dũng cảm đã chống lại mạnh mẽ hơn. Cuối cùng, khi trở thành những kẻ chiếm đóng, người Pháp không thể so về thực lực với nước Anh. Chính tham vọng xâm lược và khai thác tài nguyên khoáng sản đã dẫn Pháp tới các khu vực yếu hơn như Đông Dương.

Phong trào Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đóng một vai trò to lớn trong việc kháng chiến thành công, chấm dứt chiến tranh. Một chiến thắng quan trọng chính là cuộc tấn công quyết định của Việt Minh vào căn cứ của Pháp tại Điện Biên Phủ. Trong khi chiến thắng này đánh dấu kết thúc sự hiện diện của người Pháp tại Việt Nam, người Việt Nam vẫn chưa thể giành độc lập hoàn toàn. Việt Nam phải gánh chịu thêm 20 năm xung đột trong Chiến tranh Việt Nam trước khi có thể hưởng niềm vui thái bình và tái thiết hai miền Nam Bắc, được thống nhất vào năm 1975. Sau Hiệp định Geneva, gần 130.000 binh sĩ Pháp đã từ Bắc chuyển vào miền Nam, trong khi khoảng 50.000 – 90.000 bộ đội Việt Nam chuyển từ Nam ra Bắc. Dự kiến, quá trình thống nhất hai miền Nam Bắc chỉ kéo dài vài năm, nhưng thay vào đó, đã kéo dài hơn 20 năm.

Người Việt Nam xứng đáng với chủ quyền của họ cho dù họ theo đường lối dân chủ hay cộng sản chủ nghĩa. Các lực lượng ở Việt Nam chiến đấu vì nhiều mục đích; người Việt Nam chiến đấu vì tự do, người Mỹ tham chiến nhằm kiềm chế chủ nghĩa cộng sản quốc tế và người Pháp muốn duy trì ưu thế thuộc địa của mình. Cuối cùng, hàng triệu người dân Việt Nam vô tội đã thiệt mạng hoặc mất nhà cử trong suốt những năm tháng đó.

Lòng tham của phương Tây đã đẩy Việt Nam phải tìm kiếm sự hỗ trợ của cả Trung Quốc và Liên Xô trong những năm tháng đó. Điều này sau đó đã tạo ra một cuộc xung đột về quân sự, kinh tế và chính trị giữa người Mỹ và người Việt Nam, trong đó Mỹ nhằm mục tiêu ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản, trong khi người Việt Nam muốn loại bỏ tất cả những kẻ thực dân trên mảnh đất của họ. Trong khi cuộc đấu tranh vì tự do bị người Mỹ coi là “nổi dậy”, người Việt Nam được coi là những người cộng sản khi họ tìm đến Trung Quốc và Liên Xô để đề nghị giúp đỡ.

Việt Nam và Pháp không có sự tương đồng về văn hóa, tôn giáo hay ngôn ngữ. Pháp, cũng như các chế độ thực dân châu Âu khác, không có bất kỳ mối liên hệ nào với các thuộc địa của họ, đã xâm chiếm Việt Nam để khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ lợi ích của họ. Sự giàu có của Việt Nam đã bị cướp bóc trong suốt thời kỳ thuộc địa của những kẻ thực dân Pháp tham lam. Không chỉ là vàng, bạc và các kim loại quý hiếm khác là mục tiêu của những kẻ thực dân, người Pháp còn cướp bóc các khu lăng mộ cổ của các hoàng đế Thiệu Trị, Minh Mạng và Gia Long.

Đó là một chiến thuật phổ biến của những kẻ thực dân phương Tây nhằm sử dụng những binh sỹ không phải người Pháp từ các vùng thuộc địa để tấn công các nước thuộc địa khác. Theo “Bách khoa toàn thư về Chiến tranh Việt Nam: Lịch sử chính trị, xã hội và quân sự”, tổng số binh sĩ không phải người Pháp vào khoảng 120.000 người, trong đó 20.000 phục vụ đội ngũ lính lê dương, 30.000 binh sĩ ở Bắc Phi và khoảng 70.000 là lính Việt Nam. Trong khi đó, tổng số binh sĩ Pháp trong Quân đội Pháp chỉ khoảng 54.000 người, gồm 10.000 lính không quân và khoảng 5.000 lính hải quân. Khi Việt Nam đánh bại Pháp năm 1954, có khoảng 20.000 lính châu Phi trên đất Việt Nam. Kết quả là một cuộc chiến xung đột kéo dài hàng thập kỷ, khiến hàng nghìn người thiệt mạng và hàng triệu người phải di tản.

Người dân Việt Nam xứng đáng được yêu cầu bồi thường từ Chính phủ Pháp, Ấn Độ đã làm điều tương tự khi yêu cầu Anh bồi thường vì 200 năm thực dân Anh cai trị đã đánh cắp của cải của Ấn Độ.

Nguồn: https://www.dailysabah.com/opinion/op-ed/france-should-compensate-vietnam-for-colonization

TKNB – 12/06/2020

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về hòa bình thế giới


Theo tạp chí Moderndiplomacy ngày 19/5, thế giới đang tổ chức các hoạt động kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2020). Tên khai sinh của Người là Nguyễn Sinh Cung và người đã chọn tên Hồ Chí Minh (nghĩa là Khai Sáng) vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện khát khao tư tưởng vì lợi ích chung và sự trung thành với dân tộc. Người đề xuất tư tưởng độc lập của toàn xã hội, hơn là độc lập của mỗi cá nhân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ cho sự đoàn kết ở châu Á. Trong một thông điệp gửi tới Thủ tướng Ấn Độ Nehru nhân một hội nghị về các mối quan hệ tại châu Á. Người nói rằng đoàn kết sẽ đưa các nước châu Á trở thành những người bảo vệ mạnh mẽ nhất đối với dân chủ thế giới. Người cho rằng gia đình châu Á đóng vai trò quan trọng đối với thống nhất và độc lập, các nước anh em ở châu Á sẽ ủng hộ mục tiêu thống nhất hai miền Nam Bắc sẽ trở thành hiện thực.

Chủ tịch Hồ Chí   Minh cũng rất quan tâm đến hòa bình ở châu Á và trên thế giới. Trong bài diễn văn chào mừng Thủ tướng Nehru tại Hà Nội năm 1954, Người nói rằng để duy trì hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau, nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết tâm thực hiện đúng Hiệp định Hòa bình ký tại Geneva. Người cũng cảm ơn Ủy ban kiểm soát quốc tế, được điều phối bởi các đại biểu đến từ Ấn Độ, Ba Lan và Canada, vì đã làm việc không mệt mỏi và phối hợp chặt chẽ với Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, đạt được các kết quả tốt đẹp. Trong hầu hết các bức thư của Người liên quan đến thỏa thuận ngừng bắn giữa Pháp với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng các cường quốc đế quốc cần phải thể hiện quyết tâm để duy trì hòa bình. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn hãng thông tấn Ấn Độ vào năm 1954 về vấn đề chấm dứt chiến tranh với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng mục tiêu của Người là: “thúc đẩy hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ trên toàn đất nước”. Người nhắc lại, để thực hiện những nhiệm vụ này, “chúng tôi sẵn sàng hợp tác một cách chân thành với các tổ chức, cá nhân người Việt, những người ủng hộ các chính sách nói trên, bất kể niềm tin chính trị và tôn giáo của họ như thế nào”.

Tháng 6/1954, Thủ tướng các nước Trung Quốc, Ấn Độ và Myanmar đã ký một tuyên bố chung, theo đó nhấn mạnh 5 nguyên tắc chính, bao gồm tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không xâm phạm lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; đối xử bình đẳng với nhau trên cơ sở đôi bên cùng có lợi và chung sống hòa bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn tán thành năm nguyên tắc chung sống hòa bình này.

Trong các cuộc gặp riêng với các nhà lãnh đạo Trung Quốc (Chu Ân Lai), Ấn Độ (Nehru) và Myanmar (U Nu), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh sự cần thiết phải duy trì sự hiểu biết lẫn nhau và hòa bình ở châu Á. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn tuần báo New Age của Ấn Độ về vấn đề xây dựng các căn cứ và liên minh quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng, các căn cứ và các khối quân sự là mối đe dọa đối với hòa bình ở châu Á và trên thế giới. Người cũng thường xuyên đề cập đến phong trào liên kết ngày càng phát triển giữa nhân dân các nước châu Á và châu Phi. Người luôn thể hiện khát vọng về sự thống nhất hòa bình giữa hai miền Nam Bắc của Việt Nam và tổ chức các cuộc bầu cử theo tiến trình dân chủ như đã được đề cập trong Hiệp định Geneva.

Trong bài phát biểu ngày 17/2/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng: “trong thời đại ngày nay, các lực lượng hòa bình đang phát triển, ngày càng có nhiều người lên tiếng yêu cầu giải giáp vũ trang, chấm dứt các vụ thử hạt nhân và bom hạt nhân, phản đối NATO, Baghdad và khối Đông Nam Á, yêu cầu các nhà lãnh đạo thế giới tổ chức các hội nghị để hạn chế các căng thẳng trên khắp thế giới”. Trong một tuyên bố chung nhân chuyến thăm tới Ấn Độ năm 1958, hai nhà lãnh đạo (Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Nehru) đã chỉ rõ rằng: “sự phát triển trong các lĩnh vực chiến tranh hạt nhân, bom hạt nhân… đặt ra yêu cầu đối với hòa bình hơn bao giờ hết”. Hai nhà lãnh đạo cũng nhất trí rằng, cần phải tổ chức một hội nghị cấp cao để tìm ra các giải pháp chấm dứt các vụ thử hạt nhân và bom hạt nhân, cần phải tiến hành giải giáp vũ khí dần dần và hạ nhiệt tình hinh thế giới; đồng thời bày tỏ hy vọng rằng hội nghị sẽ sớm được triệu tập. Hai bên nhấn mạnh rằng, các khối quân sự đã làm cho tình hình thế giới trở nên bấp bênh và xác định rằng cần phải duy trì hòa bình thế giới và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc.

Chủ tịch Hồ CHí Minh được ảnh hưởng rất nhiều từ các giáo lý Đạo Phật về hòa bình, sự tha thứ, tâm linh, sự tối giản và phi bản ngã như những nhân tố quan trọng của sự sống nhân loại và hòa bình thế giới. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là thúc đẩy tình cảm giữa con người, hy sinh những niềm vui vì người dân, tự hoàn thiện, tu dưỡng đạo đức cá nhân, tăng cường tình đoàn kết giữa mọi người… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhìn vào các tư tưởng đạo Phật, bao gồm các triết lý, để phát triển thế giới quan về hòa bình, sự chân thành, lòng tốt, vẻ đẹp, tình thương. Thậm chí, trong các chuyến thăm tới các nước khác nhau và các bức thư chính thức gửi các nhà lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng hay đề cập đến sự hòa nhập về tinh thần, tình thương yêu, lòng vị tha, đạo đức, phẩm chất con người và sự đồng cảm với đồng loại. Thực tế, một trong những tư tưởng về hòa bình thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ bản chất nhân văn hòa bình của đạo Phật.

Nếu sự phân tích sự cộng hưởng trong các tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ yếu là nhằm mục đích đem lại hòa bình thế giới thông qua việc chống lại chủ nghĩa thực dân và giảm dần ảnh hưởng của các cường quốc đế quốc, để tạo điều kiện cho sự phát triển của các dân tộc độc lập vẫn còn non trẻ. Trong các bức thư của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần đề cập đến Hiệp định Geneva, và nhấn mạnh đến các nguyên tắc dân chủ và tôn trọng ý chí người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ý thức được một thực tế là các cường quốc đế quốc sẽ không dễ dàng trao lại tự do các nước thuộc địa. Chính vì vậy, Người kêu gọi các nước mới giành được độc lập phải tránh các khối liên minh và phấn đầu vì cuộc sống tốt đẹp của người dân. Cam kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với người dân Việt Nam và sự thống nhất đất nước thông qua các biện pháp hòa bình hầu như không được đề cập đến, nhưng nếu xem xét các bức thư mà Người gửi tới các nhà lãnh đạo trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn muốn phấn đấu vì sự phạt triển và hòa bình thế giới.

Nguồn: TKNB – 21/05/2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần cuối


Gà trống báo hiệu ánh sáng bình minh sắp đến, tượng trưng cho việc con người đang đi từ biết đến nhận biết.

Đồng hồ cát cho phép con người được suy nghĩ về thời gian.

Bánh mì là cách con người tự nhận biết từ sống đến chín.

Lửa và nước là yếu tố thiên nhiên sinh động trong vũ trụ, biểu trưng của Tam Điểm, vì lửa thiêu hủy tất cả những điều ác và nước hòa tan tất cả theo thời gian.

Khi trời đất giao hòa, cây sống tươi tốt và đơm hoa kết quả. Cây keo (Acacia) tượng trưng cho sự bất diệt. Theo truyền thuyết, xác Hiram bị chôn dưới gốc cây này. Cây keo là một loại cây có sức sống rất mãnh liệt và tái sinh nhanh ở châu Âu, to như cổ thụ, dù bị chặt sát gốc, cây không chết, hàng loạt chồi từ các rễ phụ mọc lên vô vàn cây con một cách nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ. Thân cây có gai cứng nhọn, việc phá chặt cây không đơn giản, cây có sức chịu đựng mùa đông lạnh giá ở châu Âu. Hoa rất thơm, hương tỏa lan khắp nơi. Acacia tượng trưng cho sự bất diệt của Đại công trình sư Hiram. Thành viên Tam Điểm luôn luôn là những người khát khao đi tìm lại xác của Hiram, tức là đi tìm chân lý và công lý trong cuộc đời. Tờ báo riêng của hội Tam Điểm cũng lấy tên Acacia (Cây keo).

Cây ôliu, theo truyền thống Hy Lạp – La Mã xưa phần thưởng cao quý cho quá trình nỗ lực phấn đấu. Dầu ôliu dùng để thắp và tạo ra ánh sáng. Đối với dân cư đạo Hồi, ôliu mang lại điềm lành, sự giàu có cho con người, là món hàng kinh tế chiến lược của họ. Lá xanh quanh năm tượng trưng sự vĩnh hằng của ánh sáng. Ôliu, lá thơm, lâu héo.

Nguyệt quế cũng là loại cây lá thơm như ôliu.

Ôliu và nguyệt quế, cũng như cây keo, có sức sống mãnh liệt, chịu được thời tiết khắc nghiệt. Mùa đông băng giá, lá nguyệt quết vẫn xanh. Trong các tượng Hy Lạp, La Mã, nhiều bức tượng thần đeo vòng nguyệt quế ở trên đầu, một phần thưởng cao quý dành cho những người chiến thắng trên mọi lĩnh vực.

Hoa hồng tượng trưng cho sự hồi sinh, hiền minh và cái đẹp. Theo truyền thuyết Hy Lạp, loại hoa này trước tiên màu trắng nhưng nữ thần tình yêu Venus trong khi chạy đến cầu cứu Adonis giúp thoát khỏi sự ghen tuông trả thù của thần chiến tranh Mars, chân giẫm phải gai chảy máu, máu của thần tình yêu thấm vào cánh hoa trắng và khiến nó biến thành màu hồng.

Con lừa Apulée ăn hoa hồng này trở lại thành người, nên hoa còn mang nghĩa hồi sinh, tình yêu làm sống lại con người và biến đổi con người từ thú vật thành người. Hoa hồng như ảo thuật, như sự hiền minh, sức mạnh; sắc đẹp làm thay đổi thế giới.

Tổ ong là công trình của thiên nhiên, ong cũng có trật tự tự nhiên nhất định để xây dựng tổ của mình. Ong – những người Thợ cần cù, tượng trưng cho công trình và sự hồi sinh liên tục. Nhiều chi hội Tam Điểm lấy tên tổ ong (Ruche). Ong cũng như những thành viên Tam Điểm cùng nhau xây cất đền thờ, và tổ ong chỉ có một ong chúa, đó là Thầy. Ong có một tổ chức tự nhiên quy củ và tự tạo ra công trình bằng mật hút từ nhụy hoa. Ong chỉ chuyên đi hút sự tinh túy của hoa thơm đem về xây tổ làm ra mật ngọt cho đời. Thành viên Tam Điểm tự ví mình như những con ong đi hút tinh hoa của đời để xây nên trật tự xã hội mới, ngọt ngào như mật ong.

Sàn nhà thờ màu sắc đen trắng đan xen như ngày và đêm, xung quanh lát nhiều màu thể hiện sự đa dạng của cuộc sống con người và họ cũng dựa trên lý thuyết Âm dương của Á Đông để nói về sự tuần hoàn của vũ trụ, sự đối lập đi đến hòa quyện, hài hòa tạo nên vũ trụ. Hai màu trắng đen biểu hiện bóng tối và ánh sáng, đêm và ngày, vật chất và trí tuệ, mà con người sống trong thế giới phải trải qua và nhiều khi còn được giải thích như vòng tròn âm dương của Lão giáo.

Trần nhà trang trí đầy sao. Sao tỏa ánh sáng ra giữa hai dụng cụ chính để giúp con người tài ba xây dựng đền đài vĩ đại. Hình các dụng cụ xây dựng, và ngôi sao ở giữa rất thường gặp trong nhà thờ Tam Điểm. Sao vẽ chi chít trên trần nhà tượng trưng cho nhà thờ không bị che khuất, tạo một cảm giác ở giữa không gian trời đất bao la. Sự hiểu biết chân lý là vô tận, mênh mông như trong vũ trụ. Không phải cứ vào hội Tam Điểm có nghĩa là nắm bắt được hết bí quyết cuộc đời. Tất cả đều vô hạn. Muốn nắm bắt vũ trụ, con người phải tự mình nắm bắt và vươn lên mãi mãi.

Thang vẽ trong những bức tranh trang trí như cấp bậc để con người vươn lên cao tìm sự thật, tìm thấy Thượng đế, tìm thấy chính mình. Cũng như người thợ xây dựng, họ phải leo lên từ bậc thang thấp nhất, tiếp đến lên cao dần mới đạt tới đỉnh. Thang để nhắc cho con người biết mình phải rèn luyện và phấn đấu để tìm được chân lý cuộc sống.

Kiếm để bảo vệ công lý, sự thật, và sự an toàn. Kiếm nhọn là sự tư duy, là sự mài giũa mũi nhọn để xuyên qua được bí mật, huyền bí của ngôn từ, của chữ để ánh sáng trí tuệ từ đấy tràn ra. Kiếm ở đây không phải là vũ khí thuần túy mà là vũ khí ánh sáng. Thời thập tự chinh bên châu Âu, những người lính kỵ mã đeo kiếm để biểu hiện dòng dõi quý tộc. Thành phần hội Tam Điểm ban đầu kết nạp phần đông là tầng lớp quý tộc, kiếm biểu hiện sự cao quý của các thành viên. Lưỡi kiếm ở Tam Điểm mà vị Đại sư đeo uốn lượn như lửa, tượng trưng cho ánh sáng nội lực, lửa, sét và chớp. Khi người mới nhập hội, được Thầy dùng kiếm gõ lên lưng coi như Thầy truyền cho ánh sáng, tức là người Tập sự bắt đầu giác ngộ ánh sáng chân lý. Một số hội Tam Điểm ở Anh và hội dành cho phái nữ không dùng kiếm lưỡi lửa khi làm lễ nhập hội.

Kiếm tượng trưng cho quyền lực thế tục và linh thiêng. Nhà nước và nhà thờ xưa là hai thế lực thường cạnh tranh nhau ở châu Âu. Kiếm biểu trưng cho sự hòa hợp hai quyền lực nhà nước và nhà thờ. Bậc Thầy Tam Điểm bắt buộc phải đeo kiếm, trong các buổi lễ và buổi kết nạp thành viên mới mang ý nghĩa đã được tẩy sạch và sáng tạo. Nhiều thành viên Tam Điểm, trong nhà thường treo thanh kiếm hoặc cái khăn tạp dề để trang trí trên tường.

Tạp dề găng tay bắt buộc dùng khi sinh hoạt hội. Hình thức trang trí, màu sắc tùy từng hội và tùy từng cấp bậc.

Thành viên Tam Điểm coi mình là những người Thợ xây dựng đi xây dựng trật tự xã hội mới, nên đeo tạp dề là thể hiện sự chấp nhận quy luật của một người học nghề thực thụ khi làm việc, chấp nhận làm người học trò của trí tuệ và kiến thức của nhân loại.

Tạp dề màu trắng viền các màu xanh, đỏ, đen, trắng dành cho những cấp bậc khác nhau. Tạp dề có chữ M có nghĩa là Maҫon – tiếng Pháp hay Mason – tiếng Anh (Thợ xây hay Tam Điểm theo tiếng Việt). Khi sinh hoạt hội phải bắt buộc mang tạp dề, còn kiếm thì tùy theo nội quy của mỗi hội.

Chìa khóa mở ra kho báu của nhân loại. Bí mật cuộc đời như kho tàng quý báu, con người phải nắm được chân lý tức là nắm được chiếc chìa khóa để mở được cánh cửa bí mật huyền diệu của sự thật, của ánh sáng. Từ bóng tối, con người tự mày mò ra chiếc chìa khóa để tìm được ánh sáng chân lý.

Sách đem lại kiến thức và sự hiểu biết vô tận. Cuốn sách luôn mở ra, bày trang trọng trên bàn trong nhà thờ, hai bên trang sách có in chữ G – Thượng đế. Chữ G – God để chỉ Thượng đế trong tiếng Anh, G vừa có nghĩa Thượng đế, nhưng cũng có nghĩa Hình học – Géometrie hay Gnose (gốc Hy Lạp là sự hiểu biết). Hội Tam Điểm tự nhận là đứa con mồ côi, cũng có nghĩa không thừa nhận cha, chỉ thừa nhận một đấng sáng tạo duy nhất. Có nhánh không thừa nhận Thượng đế, chỉ thừa nhận đấng sáng tạo ra vũ trụ.

Trong nhà thờ Tam Điểm, cuốn sách thiêng luôn được mở ra, tượng trưng kiến thức luôn mở để đón những người muốn tìm hiểu chân lý qua nhận thức.

Trong nhà thờ Tam Điểm có hai quả cầu tượng trưng cho trời và đất. Mặt trời, mặt trăng đều đem lại ánh sáng. Mặt trời mọc ở phương Đông. Ánh sáng bắt đầu từ Đông. Mặt trời và mặt trăng ngày đêm đem ánh sáng cho nhân loại. Quả địa cầu tượng trưng cho sự liên minh nhân loại trên thế giới.

Trong nhà thờ có hai cột, cột dựng ở phía bắc khắc chữ J (Jakin), tiếng Do Thái cổ có nghĩa là “người sẽ lập nên”, là chỗ dành cho hạng Tập sự; còn cột phía nam (B – Boaz), nghĩa là sức mạnh. Trên cái tạp dề, đọc từ trái sang phải có nghĩa là người sẽ thiết lập nên sức mạnh; mặt trăng chiếu thẳng vào cột B truyền năng lượng, còn mặt trời chiếu trước cột J. Ánh sáng mặt trăng là ánh sáng phản quang từ mặt trời, con người có hiểu biết sẽ sử dụng ánh sáng hiểu biết mà mình đạt được để phát sáng trí tuệ. Trong nhà thờ Tam Điểm ở Anh, ba cột tượng trưng cho sự Hiền minh, Sức mạnh và Hoàn mỹ. Mỗi cuộc họp đều được thắp sáng để nói lên những gặp gỡ thảo luận trao đổi kiến thức sẽ dẫn con người đạt được Hiền minh, Sức mạnh và Hoàn mỹ. Tại trụ sở một số hội Tam Điểm chỉ đặt tượng trưng trên bàn hai cột nhỏ, trên để hai quả cầu tượng trưng cho trái đất và trời. Khi hội họp, cột địa cầu hạ nằm xuống, cột trời dựng lên, cuối buổi dựng ngược lại.

Rất nhiều hình tượng và con số mang tính huyền ảo bí ẩn trong Tam Điểm, tương tự như trong phim Da Vinci code (Mật mã Da Vinci). Con người có nhiệm vụ phải đi tìm được mật mã để đến được kho báu của nhân loại. Trong Tam Điểm, con người cũng phải tự tìm ra mật mã để mở cánh cửa đến được chân lý sự thật và nói nôm na theo Phật giáo là giác ngộ. Hình tượng trong hội Tam Điểm rất phong phú và đa dạng, mang nhiều ý nghĩa nhằm hướng con người tự vận động không ngừng để nắm bắt trí tuệ và tự nhận thức để hoàn thiện bản thân.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.