Tháng bọ cạp, năm rắn đỏ – Phần II


2/ Tử số và mẫu số

Chúng ta hãy đánh giá Cách mạng Tháng Mười theo cách phân nhỏ ra: kết quả thu được và cái giá của nó. CNXH nhà nước ở Nga đã đạt được điều gì? Trước hết là nó đã giữ được tính toàn vẹn của Nhà nước Nga. Đó là một thành tích rất to lớn vì tất cả các đế chế lớn trong thế kỷ XX đều đã sụp đổ.

Thành tích thứ hai gắn liền với cái thứ nhất. Đã bảo vệ được đất nước nhờ đã đưa ra được một giải pháp mới về vấn đề dân tộc cho loài người. Đã tách ra được không phải là một, mà cả một nhóm các dân tộc đi đầu.

Thành tích thứ ba của CNXH nhà nước là trong nước đã tạo ra được một tiềm lực công nghiệp độc lập về mặt quốc phòng.

Nhưng cũng đã phải trả giá cho tất cả những thành quả đó. Cái giá thứ nhất và cũng là quan trọng nhất – đó là số sinh mạng con người lớn khủng khiếp. Hàng chục triệu người đã chết. Trong nội chiến. Trong công cuộc tập thể hóa. Trong đàn áp thanh trừng. Chết vì việc chế tạo tên lửa và bom nguyên tử. Và đơn giản là chết để “làm trong sạch” nhân dân và chuẩn bị cho nó đi tới một tương lai tươi sáng. Các nhân vật trong cuốn “Lũ quỷ” của Dostoevsky: “…cho dù người có chữa trị thế giới này thế nào đi nữa cũng không chữa được, rồi sau khi đã chặt phăng hàng trăm triệu cái đầu để trấn an bản thân trước khi nhảy qua một con mương nhỏ… có gì mà phải sợ nếu như với những ước mơ hão huyền chậm chạp, chế độ chuyên chế trong trăm năm xơi không phải một trăm, năm trăm triệu cái thủ cấp?

Cái giá đắt thứ hai là đã xóa bỏ tầng lớp ưu tú của xã hội – cả của người Nga lẫn của các dân tộc khác. Đồng thời cũng đã phá tan tành các nền văn hóa dân tộc mà trước hết là văn hóa Nga. Kết quả là các phong tục tập quán đạo lý, tư tưởng trật tự pháp luật, tinh thần ý thức của người làm chủ và sở hữu đều tiêu tán.

Cái giá thứ ba là sự mất mát cực kỳ to lớn các nguồn lực không chỉ con người mà là cả tài nguyên thiên nhiên. Người ta đã phung phí không hề xóa xa từ dầu mỏ, rừng cho đến đất đai phì nhiêu.

Cái giá thứ tư là đã phá hủy nghiêm trọng thế cân bằng sinh thái trong nước, gây ra những thảm họa sinh thái.

Kết quả của những phương án phát triển theo con đường CNXH đã chọn là hệ thống đàn áp các quyền tự do công dân trong chính trị và phân phối cào bằng trong kinh tế. Và cái giá thứ năm là tính ỳ củ đại bộ phận người dân.

Đã có mấy thế hệ những kẻ ăn bám sinh ra và lớn lên.

Tiềm lực công nghiệp – quân sự đã độc quyền nền kinh tế, làm méo mó cả cấu trúc của nó, khiến cho các ngành sản xuất phục vụ tiêu dùng chỉ còn có cái xác ngoài. Còn ở nông thôn, nơi trở thành khu vực chu cấp tiền của cho công cuộc công nghiệp hóa, thì lâm vào cơn khủng hoảng triền miên và không cách gì nuôi nổi đất nước nếu không nhập khẩu lương thực “của CNTB”.

Nhưng có lẽ nguy hại nhất là lĩnh vực tiến bộ KHKT. Về thực chất, tất cả các thành tựu KHKT của chúng ta đều là những thứ vay mượn của những nước mà chúng ta vẫn gọi là “thối nát”.

Sự tụt hậu về KHKT có nghĩa là: cả tư tưởng CNXH với tính cách là một chế độ tiến bộ hơn, lẫn tư tưởng bảo vệ nước Nga với tính cách là một nước lớn – đều đang trong tình trạng hết sức nguy ngập. Vấn đề không chỉ là ở những khoản chi phí quá sức cho cuộc thực nghiệm. Vấn đề là ở chỗ nó đã không đạt được mục đích của mình. Chế độ Xô viết, xét cho cùng, đã không giải quyết được một cuộc khủng hoảng nào sinh ra nó. Đó là kết quả mà Cách mạng Tháng Mười đưa lại cho nước Nga. Còn đối với thế giới thì sao?

Có một chuyện tiếu lâm nổi tiếng về mục đích của việc chúng ta sống ở Liên Xô: chúng ta sống ở đó là để phương Tây dễ dàng hơn và có sức thuyết phục hơn trong việc hù dọa công dân các nước bên ấy – trông đấy, chớ dại mà làm như nước Nga.

Nhưng phản ứng đầu tiêncủa phương Tây trước cuộc thực nghiệm XHCN ở nước Nga… cũng lại là một thứ CNXH, có điều không phải là CNXH quốc tế, mà là CNXH dân tộc, cái mâu thuẫn với chủ nghĩa phát xít.

Nếu những người Bolsevich vẫn thường nói rằng CNXH là cái cần cho toàn thể loài người, thì CNXH dân tộc xác nhận rằng cNXH đó là cái chỉ dành riêng cho các dân tộc, chính xác hơn là chủng tộc được tuyển chọn. Còn như ý tưởng về một xã hội được tổ chức theo kiểu tổng tài thì đó là ý tưởng chủ yếu trong cả hai cuộc thực nghiệm.

CNXH dân tộc động viên được nhanh hơn, đạt được thành quả nhanh hơn – cả trong nước lẫn khi bành trướng ra ngoài. Và trong CNXH dân tộc cũng có nhiều mâu thuẫn hơn cũng như nhiều mặt yếu kém hơn. Vì thế nó cũng bị loại khỏi vũ đài lịch sử trước tiên: CNXH Xô viết, rốt cuộc cũng đá phá sản hoàn toàn.

Vậy ai thắgn? Chế độ mới – chế độ hậu công nghiệp. Ra đời cũng với “đường lối mới cả Roosevelt ở Mỹ. Được làm phong phú hơn bằng những biện pháp của Kế hoạch Marshall. Bằng các cải cách dân chủ – xã hội.

Trong kinh tế – chế độ đa nguyên các hình thức sở hữu: 1/4 của nhà nước và cộng đồng, 1/2 – tập thể cổ đông, hợp và 1/4 – sở hữu tư nhân cổ điển. Trong chính trị – các khoản bảo trợ. Đã có lúc trong phút lóe sáng thiên tài, Charles Phurie đã láng máng biết đến chế độ này và đặt tên cho nó là chế độ bảo trợ xã hội.

Thực tế của Liên Xô đã buộ côcng dân các nước phương Tây phải coi trọng tự do và dân chủ. Cũng giống như biết quý nước ăn khi nước mỗi ngày một trở nên khan hiếm hơn.

Các nước phương Tây đã buộc phải – do có sự tác động của Liên Xô – có những cách tân. Tổ hợp các biện pháp xã hội, thực hiện các nguyên tắc chăm sóc sức khỏe và giáo dục không mất tiền.

Sự tác động của CNXH Xô viết tới vai trò của nhà nước, tới lĩnh vực hoạt động và các phương pháp hoạt động của nó cũng rõ nét không kém. Sau nhiều năm nhạo báng các kế hoạch 5 năm của Liên Xô, hết nước này đến nước khác ở phương Tây lần lượt lập ra các ủy ban về kế hoạch hóa.

CNXH đã tô đậm thêm, cho mọi nhược điểm và chỗ tồi tệ CNTB, làm cho chúng càng trở nên gay gắt hơn và vì vậy đã đặt ra một lưỡng đề khắc nghiệt: hoặc là phải đầu hàng CNXH, hoặc là phải tìm cho ra giải pháp cho các vấn đề ấy, những giải pháp vẫn giữ được mặt tích cực của CNXH khi đã phủ định chính thực chất của XHCN nhà nước.

CNXH Xô viết đã có đóng góp rất quan trọng vào việc tổng kết và vượt qua CNTB bằng phương án CNXH dân tộc.

Liên Xô đã là một trong những nhân tố góp phần đẩy nhanh bước quá độ CNTB tiến lên xã hội hậu công nghiệp. Bằng sự tác động trực tiếp và gián tiếp. Tích cực và tiêu cực. Bằng cách làm cho sự cần thiết phải có những giải pháp cấp thời trở nên gay gắt hơn. Bằng cách làm cho các đối án XHCN trở nên mất uy tín trước chủ nghĩa hậu công nghiệp.

Có thể lưu ý ba thành quả chủ yếu của Cách mạng Tháng Mười. Một là, nó đã giúp loài người phủ nhận phương án vượt qua CNTB bằng CNXH dân tộc. Hai là, trên con đường của Cách mạng Tháng Mười đã thử nghiệm và xác nhận thất bại của CNXH nhà nước. Ba là đã góp phần đẩy nhanh bước quá độ của các chế độ không phải cộng sản sang chế độ hậu công nghiệp và ghìm chậm lại nhiều thập niên bước quá độ đó của các nước XHCN.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TĐB 97 – 21

Advertisements

Tháng bọ cạp, năm rắn đỏ – Phần I


Popov Gavrill

Năm 1917 nhằm ngày 14 tháng Bọ cạp năm Rắn đã diễn ra cuộc Cách mạng Tháng mười ở nước Nga. Có hai thứ độc dược nhập lại với nhau: của Rắn và của Bọ cạp. Thêm nữa, theo lịch Trung Hoa thì Rắn năm 1917 là Rắn Hổ lửa.

I/ “Nửa đêm Hoàng hậu sinh hạ một đứa trẻ không phải trai, cũng chẳng phải gái…”

Tử thuở nhỏ tôi đã học lịch sử trong đó có ý nói rằng mọi sự trong Cách mạng Tháng Mười đều diễn ra theo đúng hoạch định của ban lãnh đạo Bolsevich. Và như trong sách giáo khoa của Stalin về lịch sử Đảng, tiếng rền vang của đại bác chiến hạm “Rạng Đông” đã báo hiệu sự khởi đầu của một kỷ nguyên mới. Và cả thế giới chỉ còn biết theo Mao Trạch Đông: “Loạt súng của Cách mạng Tháng Mười đã đem đến cho chúng ta Chủ nghãi Marx – Lenin. Phải đi theo con đường của người Nga – kết luận là như vậy”.

Gui Sorman, trong cuốn Ra khỏi chủ nghĩa xã hội đề nghị “phải đánh giá các sự kiện theo một cách khác và khôi phục lại ý nghĩa lịch sử của các sự kiện đó: thủy thủ tàu “Rạng Đông” chỉ là một nhóm “bạo loạn”…, còn Cách mạng Tháng Mười là cuộc đảo chính nhà nước chuyên nghiệp… Tóm lại, đó là sự lắt léo của lịch sử.

Giờ đây, đã 80 năm trôi qua, không ai chối cãi nổi một thực tế là kỷ nguyên CNXH trên hành tinh chúng ta vẫn chưa đến. Nhưng, mặt khác, cũng không ai chứng minh được là còn phải mất bao nhiêu năm và hiến thêm bao nhiêu sinh mạng nữa cho đĩa cân của lịch sử để biết rằng chúng ta có hiểu nổi sự lắt léo của lịch sử không.

Với tôi, cả hai quan niệm đó đều không thể chấp nhận được.

Ngày 25 tháng Mười năm 1917 là đứa con của hai cuộc khủng hoảng: của nước Nga và của thế giới. Vào giữa thế kỷ XIX, nước Nga đã bắt đầu cải cách. Nhưng cải cách ở Nga kém sâu sắc hơn không chỉ so với cải cách của tầng lớp tư sản chủ trại ở Mỹ hay tư sản địa chủ ở Pruss, mà ngay cả khi đem so với cải cách Samurai của Minh Trị ở Nhật Bản. Ở Nga đã xuất hiện một cuộc khủng hoảng bao trùm. Và năm 1917 cũng như năm 1905, chắc hẳn nước Nga đã “xoay xở” được với cuộc cách mạng mới. Nếu như không có cuộc khủng hoảng trên toàn thế giới.

Cuộc khủng hoảng trên toàn thế giới đầu thế kỷ XX là cơn khủng hoảng của CNTB cổ điển, ngay dù là khi chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa cũng đã không giải quyết được những mâu thuẫn của mình. Ngoài một cuộc chiến tranh thế giới, CNTB đã không tìm được lối thoát nào khác. Hàng chục triệu người bị giết, bị tàn phế, bị đầu độc bằng hơi ngạt đã đặt vận mệnh của nền văn minh trước dấu hỏi. Cần phải từ bỏ CNTB cổ điển. Cần phải hạn chế tính tự phát. Phải hạn chế quyền lực của đồng tiền. Tăng cường các nguyên tắc tổ chức. Đề cao vai trò của các giá trị và tiêu chí xã hội.

Việc những người Bolsevich, giành được chính quyền Tháng Mười năm 1917 sẽ vẫn là một sự kiện lịch sử, nếu người ta không nêu ra cho phái Bolsevich giải pháp của mình để giải quyết cuộc khủng hoảng thế giới dưới dạng mô hình XHCN.

Như vậy, Cách mạng Tháng Mười đã ra đời vừa trong dòng nước xiết của thế kỷ, vừa trong dòng chủ lưu của lịch sử nước Nga. Nhưng ngay những bước đi đầu tiên đã khiến những người Bolsevich tin chắc rằng giải pháp mà người ta đưa ra cho họ – CNXH theo tinh thần của Marx – sẽ không thành công.

Đến cuối năm 1917, người ta áp dụng chế độ kiểm soát của công nhân. Chế độ này đã dẫn đến chỗ đuổi hết các chủ nhà máy. Thành thị không biết lấy gì để đổi cho nông thôn lấy bánh mì cả. Người ta trang bị vũ khí và sai công nhân đi cướp phá nông thôn một cách hết sức tàn tệ. Kết quả là nông thôn xa lánh Chính quyền Xô viết và tạo thành cơ sở xã hội để bắt đầu cuộc nội chiến.

Nhưng phe bạch vệ không hiểu sao lại cho rằng phương Tây sẽ giúp họ khôi phục lại Đế chế Nga hùng mạnh. Còn cái mà phương Tây lúc đó muốn thì chẳng khác gì hiện nay – chia rẽ nước Nga để tranh phần. Rồi đến khi hiểu ra rằng không có một viên tướng bạch vệ nào có ý định thực hiện kế hoạch của phương Tây thì họ bị bỏ rơi luôn.

Và những người Bolsevich vẫn không đời nào chiến thắng được trong cuộc nội chiến, ngay dù bên bạch vệ có tan rã hoàn toàn đi nữa, nếu trong số những người theo Lenin phe giành được ưu thế không phải là những người sẵn sàng từ bó ý đồ hiện thực hóa những khuyến cáo của chủ nghĩa Marx và đã làm như vậy trong cái gọi là cương lĩnh thứ hai của Đảng được thông qua tháng Ba năm 1919.

Theo Marx, CNTB đã đưa lực lượng sản xuất đạt đến trình độ khi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trở thành xiềng xích trói buộc nó lại, khi mà chỉ còn có cách là vứt bỏ nó như một thứ hình thức đã lỗi thời.

Trong các trang của bản cương lĩnh thứ hai, lần đầu tiên đã xuất hiện hình ảnh của CNXH mà các nhà kinh điển chưa từng biết tới. Đó là thứ CNXH là kết quả nỗ lực của Quyền lực. Nó đã xuất hiện vì người ta muốn có nó và áp dụng nó.

Dĩ nhiên chính là chính quyền đã “ấn định” ra CNXH, trong cương lĩnh thứ hai đã dành cho nó một vị trí đặc biệt. Nếu nó không thể là kiến trúc thượng tầng của nền kinh tế thì nó cũng không thể là một chế độ chuyên chính độc tài.

Trước đó người ta đề xuất một thứ nhà nước nửa vời mà – đây cũng chính là thực chất của nó – không cần đến “những đội quân vũ trang đặc biệt”. Nó được thay thế bằng chế độ vũ trang phổ biến toàn dân, một hệ thống công an cảnh sát toàn dân. Tiếp nữa, trong một quốc gia như vậy không cần phải chia quyền lực ra thành ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nữa.

Và thế là vào năm 1919, chỉ vẻn vẹn có một năm rưỡi sau Cách mạng Tháng Mười, chúng ta lại thấy trong cương lĩnh của Đảng một sự thay đổi có tính nguyên tắc của chính quan niệm về chuyên chính vô sản: thay cho chế độ vũ trang toàn dân là một quân đội đặc biệt – “với tính cách là công cụ của chuyên chính vô sản”. có một hệ thống đặc biệt của lực lượng vũ trang – đó là các cơ quan VChK (Ủy ban đặc biệt toàn Nga chống phản cách mạng và phá hoại ngầm).

Và cái hoàn tất quan điểm mới về nhà nước là quan niệm về những nguồn lực của nó: “việc trang trải cho các khoản chi phí của nhà nước phải lấy trực tiếp từ một phần thu nhập của các cơ quan nhà nước độc quyền khác nhau bổ sung vào nguồn thu nhập của nhà nước”. Do đó nhà nước mới không phụ thuộc vào tiền của dân. Nó tự nuôi sống bản thân.

Mặc dù trong đảng của Lenin bao giờ cũng có sự chuyên chính, Đại hội VIII đã dự kiến sẽ tăng cường gấp UBTW và thành lập Bộ Chính trị, Ban Bí thư trung ương Đảng. Ở đây đồng thời thậm chí cũng không nói rằng đó là do UBTW Đảng bầu ra họ, mà nói: “Ủy ban Trung ương tổ chức…”

Cái mà Cách mạng Tháng Mười sinh ra không phải là CNXH marxist, mà là CNXH nhà nước Xô viết kiểu độc tài.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TĐB 97 – 21

Vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư và ý nghĩa thời đại của nó – Phần cuối


Thời vua Lê Thánh Tông, năm Tân Mão, Hồng Đức năm thứ 2 (1471), tháng 11, có sắc dụ cho các quan Thừa tuyên phủ, huyện ở Sơn Nam rằng: “Bọn các ngươi là hạng phương diện chức to, thân dân trách trọng, không biết thể theo lòng nhân của triều đình yêu nuôi nhân dân, chỉ chăm làm những việc nhỏ mọn như roi vọt sổ sách. Nay sứ ty và các phủ huyện các người nên phải mau mau đi xét trong hạt, những nơi núi chằm bờ biển, chỗ nào có thể làm ruộng được, các đê đập ngòi cừ, chỗ nào có thể đắp đào được, cùng là chỗ nào có hổ lang làm hại, có kẻ cường hào xui giục kiện tụng, phong tục điêu bạc, nhân dân đau khổ, hết thảy các việc tiện lợi nên làm, những mối tệ hại nên bỏ, trong hạn trăm ngày phải tâu rõ ràng lên, nếu để chậm quá hạn, sai vệ sĩ Cấm y đi xét hỏi ra còn có việc tiện lợi nên làm và mối tệ hại nên bỏ mà các người không tâu đến, thì phủ huyện phải bãi chức sung quân ở Quảng Nam, thừa ty phải giáng chức”.

Những trường hợp tương tự có thể tìm thấy khá nhiều trong Đại Việt sử ký toàn thư, tất cả đều phản ánh sự nỗ lực của các triều đại phong kiến Việt Nam trong việc thực hiện đường lối nhân nghĩa an dân, mà về thực chất là sự quan tâm lớn đến vấn đề dân sinh.

Bên cạnh đó, còn một lĩnh vực khác nữa cần được đề cập tới, đó là lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội. Nói đến lĩnh vực này, trước hết, chúng ta cần đề cập đến một số phương diện cơ bản của nó trên cơ sở nhận thức luận và xã hội học. Lĩnh vực nhận thức luận có các yếu tố cơ bản như: phản ánh lý tưởng, thế giới khách quan và tồn tại xã hội. Cốt lõi của phương diện này là vấn đề chân lý. Do ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, thế giới khách quan và sự phản ánh đó có mức độ nông, sâu khác nhau, cho nên từ vấn đề chân lý, cần phải làm rõ hai đầu mối của ý thức xã hội là khoa học và tôn giáo. Còn lĩnh vực xã hội học không chỉ dựa vào các yếu tố nói trên, mà còn phải xuất phát từ quan điểm đánh giá vai trò và ý nghĩa của chúng đối với hoạt động của chủ thể xã hội.

Như chúng ta đều biết, mối liên hệ giữa khoa học và triết học ở phương Đông thường không mạnh như ở phương Tây, đó là chưa nói đến truyền thống khoa học kém phát triển trong lịch sử của nước ta. Vì vậy, xét về lưỡng cực “khoa học – tôn giáo”, ý thức xã hội của nước ta trong lịch sử thường thiên về cực thứ hai hơn; ở đó, thế giới khách quan, tồn tại xã hội và lý tưởng xã hội được phản ánh chủ yếu dựa trên kinh nghiệm của ý thức thường nhật và tôn giáo. Về phương diện xã hội, xét trong tiến trình lịch sử mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại, chủ thể xã hội, về cơ bản, được chia một cách ước lệ thành hai đẳng cấp: thống trị và bị trị. Chính vì vậy, theo văn cảnh của vấn đề dân sinh trong bộ sử ký này, chúng tôi chú ý đến lĩnh vực đời sống tâm linh có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của chủ thể xã hội, mà về cơ bản là thái độ của các vương triều đối với con dân của mình, tức là đẳng cấp bị trị.

Điều dễ hiểu là, trong bối cảnh xã hội với nền kinh tế truyền thống chủ yếu là nông nghiệp, khi mọi sự may rủi đều phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên vốn không được giải thích một cách khoa học, mà phần lớn chỉ dựa vào thuyết mệnh trời, thuyết “thiên nhân tương dữ” của Hán Nho, vai trò trung gian của thiên tử trong mối liên hệ trời – người trở nên cực kỳ quan trọng. Nhận sứ mệnh nuôi dạy dân, thiên tử dường như gần gũi với dân hơn, tức là thể hiện tinh thần thế tục cao hơn. Có những ông vua (như Lý Thái Tông) biết chia sẻ niềm vui với dân, cho rằng, “nếu nhân dân đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai?”. Song, như chúng ta thấy, đa phần các sự kiện liên quan tới dân sinh được ghi trong bộ sử mà chúng tôi đang đề cập tới đều chú ý đến những vấn đề an sinh như mất mùa, thiên tai, sâu bệnh,… Khi đó, người đứng đầu một triều đại nào đó trong lịch sử luôn thể hiện tâm trạng lo âu, muốn đi tìm nguyên nhân của vấn đề ở chính bản thân mình và rồi chính họ hoặc những trung thần đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự trừng phạt của trời. Một số dẫn chứgn dưới đây sẽ góp phần làm rõ điều đó.

Thời Lê Sơ, Ấn Sửu, Thái Hòa năm thứ 3 (1445), Mùa đông, tháng 10, vì có tai dị, Nhân Tông Tuyên hoàng đế đã xuống chiếu rằng: “Trẫm là người đứng đầu mà chưa biết việc đời, cho nên liền mấy năm nay tai dị luôn luôn, sấm sét thường phát, mưa dầm quá độ, nước to tràn ngập, đề phòng vỡ lỏ, nhà cửa của dân đổ nát, sâu bọ sinh nhiều, cắn hại lúa má chốn đồng ruộng, đầm và hồ sụt lấp, dâu và rau ngập khô. Hoặc là vì chính sự có thiếu sót mà hại đế hòa khí của trời đất, ngục tụng không công bằng mà khí vận âm dương biến đổi chăng? Muốn tiêu sự trách phạt của trời cao, phải ban rộng ơn huệ cho kẻ dưới. Các điều bớt thuế giảm tội đều có thứ bậc khác nhau”. Nguyên nhân dẫn đến tai họa nói trên được Lê Nhân Tông tìm thấy ở sự biến đổi theo chiều hướng bất lợi của khí âm dương, nhưng suy đến cùng, nguyên nhân ấy lại bắt nguồn từ “chính sự” của triều đình. Việc lý giải như vậy rõ ràng là theo quan điểm của Tống Nho. Còn đoạn trích dưới đây lại thiên về quan niệm tôn giáo thần bí của Hán nho.

Thời Lê Trung Hưng, “Đinh Tỵ năm thứ 18 (1617), mùa Đông tháng 10 ngày mồng 4, Tả thị lang lại bộ là Phú Xuân Hầu Ngô Trí Hòa, Tả thị lang bộ Hộ là Diễn Gia hầu Lê Bật Tứ cùng với bọn Phạm Trân dâng khải lên Bình An Vương rằng: “Trộm thấy năm nay về hạ tuần tháng 9 có sao lạ, đến giờ Dần mọc ra ở phương Đông dài hơn 1 trượng, lại có tiếng sấm trái thì; tháng trước lại mưa ra gạo đen, mưa ra cát vàng, các việc ấy đều là quái dị, chắc có quan hệ với chính sự hiện nay. Những việc trái lẽ hại đạo, khó mà kể hết, kính xin trình bày 6 việc: 1/ Xin sửa đức để cầu mệnh trời; 2/ Ngăn quyền hào để nuôi sức dân; 3/ Cấm phiền hà để dân sống khá; 4/ Cấm xa xỉ để dân phong túc; 5/ Dẹp trộm cướp để dân ở yên; 6/ Sửa quân chính để bảo hộ dân sinh”.

Hữu Thị Lang lại bộ là Nhân Lĩnh hầu Lưu Đình Chất dâng khải lên Bình An vương rằng: “Trộm nghĩ trời xuống tai dị hay điềm lành là do ở sự có đức hay không, làm thiện thì hiện ra điềm lành, làm ác thì răn bằng tai dị… Nay chính sự thi hành không bằng năm trước, mệnh lệnh ban bố đều không thể theo ý khoan hồng của người trên, chỉ chăm làm hà khắc tàn ngược, vét hết tài sản của dân. Những tiếng than sầu khổ cũng đủ cảm động đến trời, mà trời răn bảo bằng điềm quái lạ, người làm chúa trông thấy thế nên phải tự xét. Kính xin sự răn bảo của trời, thương nuôi dân mọn; phàm một tí gì tiện lợi cho dân thì đều làm, một tệ gì có hại cho dân thì đều bỏ. Lại càng phải thi nhân chính cho dân… Như thế thì người dần đội ơn mà vui lòng, người xa nghe tiếng mà kéo đến. Thế là được lòng dân. Lòng dân vui ở dưới thì đạo trời ứng ở trên, sẽ thấy sao tai dị chuyển làm sao sáng lành, mưa tai dị chuyển làm mưa hòa thuận, các thức phúc đều đến cả mà vương đạo đại thành vậy””.

Có thể nói, khái niệm “dân sinh” lần đầu tiên được sử dụng trong Đại Việt sử ký toàn thư theo đúng nghĩa của từ. Trong 6 điều cần sửa, nhà cầm quyền đặt lên hàng đầu là “sửa đức để cầu mệnh trời”, “kính xin sự răn bảo của trời” để “bảo hộ dân sinh”, làm cho “khắp thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán sầu” (Nguyễn Trãi). Nếu ông vua nào biết nghe những lời can gián, biết đi tìm nguyên nhân tự phát, tự nhiên ở chính sự và chính bản thân mình, biết chia sẻ niềm vui và nỗi lo với dân, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, thì triều đại của ông ta sẽ dần được ổn định và được lòng dân, nghĩa là giữ được nước. Ngược lại, những ông vua (theo quan điểm của Mạnh Tử), không ra vua, chỉ là những kẻ tàn tặc, không quan tâm đến dân, đưa ra những chính sách trị dân hà khắc, sớm muộn sẽ bị trời trừng phạt và bị thay thế bởi những ông vua khác, thậm chí thay cả triều đại.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi không đề cập đến mặt trái của vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư. Song, rõ ràng là, mặc dù bộ sử này do sử thần nhà Lê là Ngô Sĩ Liên biên soạn, nhưng tính chính thống của Nho giáo và sự biện hộ cho những tiêu cực xảy ra trong lịch sử tồn tại của nhà Lê vẫn không thể che đậy được những sự kiện có ảnh hưởng tiêu cực đến dân sinh. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, giải quyết vấn đề an sinh xã hội chỉ là những giải pháp tạm thời, mang tính cấp bách do các sự kiện bất khả kháng gây ra làm cho đời sống nhân dân bị cơ nhỡ, thậm chí ảnh hưởng đến cả sinh mạng. Còn vấn đề dân sinh cần được xem xét rộng hơn, ở đó bao hàm cả lĩnh vực chính trị, pháp luật, liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của xã hội. Chính vì vậy, dù các triều đại phong kiến Việt Nam có sự trường tồn khác nhau, có sự suy bại khác nhau, song ở mức độ nhất định, đều tỏ ra quan tâm đến đời sống của nhân dân, luôn lo lắng tới vấn đề có được lòng dân hay không để từ đó đưa ra những quyết sách phù hợp. Đó chính là bài học lịch sử quý giá nhất cho muôn đời, đặc biệt là ở những giai đoạn khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội như hiện nay ở nước ta. Vấn đề lòng tin của nhân dân và sự đồng thuận xã hội từ các cấp lãnh đạo cho đến nhân dân chỉ được thể hiện trong đời sống thực tiễn của xã hội nếu vấn đề dân sinh được xem là quốc sách quan trọng, thậm chí là quốc sách hàng đầu.

Chúng tôi cho rằng, vấn đề dân sinh là tiền đề quan trọng để thực hiện việc xây dựng xã hội phát triển hài hòa. Đó không chỉ là sự hài hòa về lợi ích vật chất và tinh thần, về thực thi dân chủ, mà còn là cả mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên như điều kiện tất yếu để đất nước phát triển bền vững.

Chắc chắn rằng, việc nghiên cứu những vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư sẽ phải được tiếp tục, bởi tính thời sự cấp bách của nó hiện đang được thể hiện ngày càng rõ nét do chính sách tam nông của Đảng và Nhà nước ta không thể thiếu các luận chứng lịch sử của đất nước. Chúng tôi cho rằng, nếu như nhà nông luôn đi tìm hạt giống tốt để đạt hiệu quả cao trong sản xuất cả về lượng lẫn chất, thì chính sách của Nhà nước cũng cần phải theo con đường chọn giống đó để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó tam nông chiếm tỷ trọng áp đảo về nhiều mặt. Một Nhà nước không thể gọi là mạnh khi đời sống của nhân dân còn nghèo đói, một thể chế không thể gọi là thích hợp khi những vấn đề dân sinh bị lãng quên.

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư và ý nghĩa thời đại của nó – Phần II


Ngoài việc nêu gương nói trên, các quân vương trong lịch sử còn chú trọng đến việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, quyết không để xảy ra tình trạng dân đói khổ. Chẳng hạn, vua Lê Thánh Tông năm Tân Tỵ, Quang Thuận năm thứ 2 (1461), tháng 3, đã chỉ huy cho các quan phủ, huyện, lộ, trấn, xã rằng: “Từ nay về sau, về việc làm ruộng thì nên khuyên bảo quân dân đều chăm nghề nghiệp sinh nhai, đủ để ăn mặc, không nên bỏ nghề gốc theo nghề ngọn, cùng là giả thác buôn bán, kỹ thuật, chơi bời dông dài, người nào có ruộng đất mà không chăm cấy trồng thì quan tư cai quản bắt trình trị tội”. Cũng vào thời Lê Thánh Tông, sử chép rằng: “Mùa thu tháng 8, ngày mồng 4 (Giáp Thìn 1484), định lệnh đắp bờ ruộng để chứa nước. Có sắc chỉ cho hai ty Thừa Hiến các xứ và các quan phủ huyện châu rằng: Từ nay trở đi, trong hạt xứ nào có đê vỡ ngập mất lúa mùa, mà thế có thể chứa nước để cấy chiêm, thì hai ty Thừa Hiến truyền cho các quan phủ huyện châu hà đê và khuyến nông, nên vào lúc nước lụt hơi rút, dự làm kế cứu đói cho dân, xem ngắm địa thế, tùy theo tiện nghi, đốc thúc dân làng bồi đắp bờ ruộng, cần chứa lấy nước, làm mùa chiêm, không nên bỏ phứa chức trách của mình, coi thường đau khổ của dân, ngồi nhìn mà không có kế gì, để dân phải đói.

Thứ hai, trong lĩnh vực chính trị – xã hội, các vương triều đều chú trọng đến sự phát triển bền vững của đất nước, lấy dân sinh làm mục tiêu, lấy hiệu quả thực hiện dân sinh no ấm là sự thể hiện lòng nhân của triều đình. Có thể nói, Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của Lý Công Uẩn là thí dụ điển hình, bởi nó mở ra một triển vọng mới cho sự phát triển của nhà nước phong kiến Việt Nam thời Trung đại.

Với mục đích chọn nơi định đô để làm kế lâu dài cho con cháu muôn đời, Lý Công Uẩn đã quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, đó là nơi “ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Nam – Bắc – Đông – Tây, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, cư dân không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là hơn cả. Thực là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời”. Có thể nói, đây là vấn đề địa – chính trị đầu tiên được đặt ra trong lịch sử nước ta. Trên thực tế, địa – chính trị là bộ môn thuộc chính trị học ra đời vào nửa đầu thế kỷ XX, song những quan điểm về ổn định và phát triển đất nước của Lý Công Uẩn là hoàn toàn phù hợp với chức năng của bộ môn này, đó là nghiên cứu không gian địa lý và xã hội để đề ra chủ trương chính trị đúng đắn. Có thể nói, với năng lực tư duy chính trị siêu việt, Lý Công Uẩn đã thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng trong việc tìm kiếm địa thế cho sự định đô, mà tiêu chí quan trọng của nó là trung tâm của tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa. Chúng tôi cho rằng, vị vua anh minh này muốn thông qua những tiêu chí địa – chính trị đó để xây dựng nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.

Các vị vua thời sau, trong sự nghiệp trị vì thiên hạ của mình, đã chú trọng đến những vấn đề dân sinh cụ thể hơn, đó là vấn đề an dân trên phương diện tình cảm và lý trí. Về phương diện tình cảm, họ đưa ra quan điểm “yêu nuôi nhân dân”, coi dân như những “thần dân”, “con dân”,…, từ đó họ đưa ra những điều chỉnh về mặt pháp lý để trị dân theo tinh thần “thuận ý trời, hợp lòng dân”. Sử chép: Tháng 10, năm 1042, vua Lý Thái Tông đã “Ban sách Hình thư. Trước kia, trong nước việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ luật văn, cất làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng. Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư sửa định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời bấy giờ, chia ra môn loại, biên ra điều khoản, làm sách Hình luật của một triều đại để cho người xem dễ hiểu. Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây, phép xử hình thản nhiên rõ ràng, cho nên có lệnh đổi niên hiệu làm Minh Đạo và đúc tiền Minh Đạo.

Mặc dù nhà Lý chưa đưa ra được bộ luật thành văn hoàn chỉnh, song Hình luật cũng đã góp phần bảo vệ an ninh cho dân. Sử chép: “Quý Mùi, năm Minh Đạo thứ 3, tháng 12, vua đến hành dinh Cổ Lãm, xuống chiếu rằng kẻ nào ăn cướp lúa mạ và tài vật của nhân dân, nếu đã lấy rồi thì xử 100 trượng, nếu chưa lấy được mà làm cho người bị thương thì xử tội lưu”. Không những vậy, Lý Thái Tông còn xem sự an vui cảu dân cũng chính là của mình, cụ thể vào năm Giáp Thân (1044), “mùa đông, tháng 11, vua xuống chiếu rằng: “Đánh dẹp phương xa, tổn hại việc làm nông, ngờ đâu mùa đông năm nay lại được mùa lớn! Nếu nhân dân đã no đủ thì trẫm còn thiếu với ai? Vậy xá cho thiên hạ một nửa tiền thuế năm nay, để yên ủi sự khó nhọc lặn lội””. Điều này làm chúng ta liên tưởng tới chuyện vua nước Lỗ là Lỗ Ai Công đang lo không biết tăng thuế như thế nào để có đủ cho nhà nước chi dùng thì học trò của Khổng Tử là Hữu Nhược nhân đó đã phát biểu ý kiến của mình như sau: “Nếu trăm họ no đủ thì vua thiếu thống với ai? Nếu trăm họ thiếu thốn thì vua no đủ với ai” (Luận ngữ, Nha Uyên 9). Như vậy, cùng một ý, nhưng lại được phát biểu trong hai văn cảnh đối lập nhau.

Vấn đề dân sinh từ thời Lý đã mang nội dung nhân văn rất cao, đó là quan tâm đến con người như một sinh thể cao quý nhất. Chẳng hạn, “Ất Mùi, Long Thụy Thái Bình năm thứ 2 (1055), mùa đông, tháng 10 rét lắm, vua bảo các quan tả hữu rằng: “Trẫm ở trong cung nào lò sưởi ngự, nào áo lót cầu còn rét như thế này, nghĩ đến người tù giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa biết rõ ngay gian, mà ăn không no bụng, áo không kín mình, gió rét khổ thân, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy hạ lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và mỗi ngày hai lần phát cơm”.

Tư tưởng nhân văn này còn có thể tìm thấy trong các chiếu chỉ và lệnh dụ của các vua khác. Chẳng hạn, vua Thần Tông nhà Lý năm Kỷ Dậu (1129) đã “Xuống chiếu rằng, nô tỳ của vương hầu và các quan không được cậy thế đánh quan quân và nhân dân, kẻ nào phạm thì gia chủ phải tội đồ, kẻ nô sung làm quan nô”. Cũng như vậy, vào thời Trần, vua Trần Nhân Tông đã răn các vệ sĩ không được thét đuổi, ức hiếp nô tì, bởi ông nhận thức rất rõ vai trò của người dân và cho rằng: “ngày thường thì có thị vệ hai bên, đến khi nhà nước hoạn nạn thì chỉ có bọn ấy đi theo thôi”. Hay, nhà Lê Sơ đã nhiều lần ra lệnh cho các quan lại cùng người nhà của họ không được cậy quyền thế mà ức hiếp nhân dân, cấm chiến đoạt của cải, ruộng đất hoặc mua rẻ hàng hóa của dân. Đến thời nhà Mạc, để bảo đảm an ninh cho dân khi đi lại và làm ăn sinh sống, triều đình đã cố gắng thiết lập trật tự xã hội như sau: “Nhân Thìn (1532, Mạc Đại Chính thứ 3), Mạc có lệnh cấm các xứ trong ngoài người ta không được cầm giáo mác và binh khí hoành hành ở đường sá, ai trái thì cho pháp ty bắt. Từ đấy người buôn bán và người đi đường đều đi tay không, ban đêm không có trộm cướp, trâu bò thì thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng điểm soát một lần, hoặc có khi sinh đẻ cũng không thể biết là vật của nhà mình. Trong khoảng vài năm, đường sá không nhặt của rơi, cổng ngoài không đóng, thường được mùa to, trong cõi tạm yên. Về phương diện chính trị – xã hội, vua Mạc là Mạc Mậu Hợp năm Quý Dậu (1573), đã ban chiếu mệnh gồm sáu việc, trong đó có hai việc liên quan đến dân sinh như sau: 1) Người dân nào bị nạn binh lửa mà không có hằng sản đều tha tạp dịch; 2) Dân nghèo xiêu giạt cho về bản quán, tha cho thuế dịch.

Từ tình cảm mang nặng tính nhân văn của các quân vương qua một số dẫn chứng nêu trên, đường lối trị nước của các vương triều đã được phát triển lên một tầm mức mới, đó là sự thể chế hóa, luật pháp hóa vấn đề dân sinh. Nhờ đó, các lĩnh vực sản xuất vật chất, chính trị – xã hội, dù trong hoàn cảnh nào, Phật giáo hay là quốc giáo hay Nho giáo được độc tôn, cũng luôn được kết hợp với nhau để việc trị quốc và trì quốc có hiệu quả tốt nhất.

Nhà nước phong kiến nào trong lịch sử cũng đều giương cao ngọn cờ nhân nghĩa an dân, lấy đó làm thước đo sự thịnh trị của đất nước và tính đúng đắn trong đường lối trị nước của triều đại mình. Cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược của nhà Minh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã lấy mục đích an dân làm đầu. Để thực hiện được mục đích ấy, ngay từ đầu, Lê Lợi đã ra lệnh cho quân đội của mình không được xâm phạm bất kỳ thứ gì của dân, phải làm cho dân tin và theo về với đội quân chính nghĩa ấy. Đến khi giành được thắng lợi, Lê Lợi đã quyết định áp dụng luật pháp vào đường lối trị nước, nhưng đó không phải là đường lối pháp trị thuần túy như thời nhà Tần ở Trung Quốc, mà là sự kết hợp đức trị với pháp trị nhằm mục đích trị quốc, an dân theo tinh thần khuyến thiện, phòng ác. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Mậu Thân, Thuận Thiên năm thứ nhất (1428). Hạ lệnh cho các quan Tư không, Tư đồ, Tư mã, Thiếu úy Hành khiển bàn định luật lệnh trị quân và dân, cho người làm tướng biết mà trị quân, người làm quan ở lộ biết mà trị dân, để răn dạy quân dân đều biết là có phép, phàm các công việc đều có phụ trách, dâng lên vua xem”… Hạ lệnh cho các tướng hiệu và các quan rằng: “Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật, người mà không có phép để trị thì loạn. Cho nên bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật, để dạy các quan, dưới đến nhân dân, cho biết thế nào là thiện ác, điều thiện thì làm, điều ác thì lánh, chớ có phạm pháp”.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư và ý nghĩa thời đại của nó – Phần I


Trần Nguyên Việt

Vấn đề dân sinh trong lịch sử phát triển của nhân loại, về thực chất, là vấn đề chính trị được đại đa số các quốc gia trên thế giới quan tâm. Tuy  nhiên, việc giải quyết vấn đề này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trước hết là chủ trương và chính sách của giai cấp thống trị, sau đó đến các tổ chức xã hội khác hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau tạo thành chỉnh thể của một quốc gia. Xét về logic hình thái, khái niệm “dân sinh” có nội hàm rộng hơn khái niệm “an ninh sinh xã hội”; bởi khái niệm thứ hai mang tính cấp thiết nhất thời, nó được dùng để chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình bằng một loạt những biện pháp công cộng, nhằm chống đỡ sự hụt hẫng về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già,… Khái niệm dân sinh bao hàm không chỉ những vấn đề của an sinh xã hội, mà còn cả vấn đề bảo vệ sự ổn định đời sống lâu dài của nhân dân thông qua những chính sách, chủ trương được luật pháp hóa.

Xuất phát từ tính cấp thiết mà Đảng và Chính phủ ta đặt ra hiện nay về vấn đề tam nông (nông dân, nông nghiệp và nông thôn), chúng tôi muốn truy xét vấn đề dân sinh theo dòng lịch sử, xem nó đã từng được các triều đại phong kiến Việt Nam nêu và giải quyết như thế nào qua bộ sử quan trọng của nước ta là Đại Việt sử ký toàn thư. Sở dĩ chúng tôi coi vấn đề dân sinh trong lịch sử luôn gắn liền với nông dân vì nước ta là một nước nông nghiệp. Ở đó, nông dân là lực lượng dân cư luôn chiếm gần 80% dân số cả nước, luôn đóng vai trò quan trọng trong lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thêm nữa, đến nay, nền kinh tế nước ta vẫn coi nông nghiệp là chủ đạo và vì vậy, có thể nói, vấn đề dân sinh trong Đại Việt sử ký toàn thư, về thực chất, là vấn đề “tam nông” trong lịch sử đất nước cần được nghiên cứu.

Đại Việt sử ký toàn thư là một bộ sự lớn, ghi chép lại các sự kiện từ thời Hồng Bàng đến năm Ất Mão (năm 1675), tức là đến đời vua Gia Tông nhà Lê. Như vậy, xét về sử biên niên, bộ sử này đã ghi chép lại những sự kiện của gần 3000 năm; trong đó, đáng để chúng ta chú ý nhất là từ thời kỳ đất nước giành được độc lập năm 938 đến thời Lê Trung Hưng (năm 1675). Trong thời kỳ đó, việc xây dựng Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam (từ thời Lý, Trần đến thời Lê Trung Hưng) đã ít nhiều gắn liền với việc củng cố mối quan hệ quân – dân mà ở đó, vấn đề dân sinh luôn được các triều đại phong kiến chú ý. Mặc dù thước đo thịnh trị của bất kỳ triều đại phong kiến nào cũng lấy tiêu chuẩn lòng dân – ý trời làm cơ sở, song vấn đề dân sinh lại phụ thuộc vào khâu trung gian thực hiện các tiêu chuẩn đó là “thiên tử”, còn bộ máy thống trị quan liêu núp dưới chiêu bài “phụ mẫu của dân” có trách nhiệm thay trời “giáo hóa dân và trị vì thiên hạ”. Chính vì vậy, như chúng tôi đã đề cập ở trên, việc phân tích dựa trên các nguyên tắc của triết học xã hội để làm sóng tỏ vấn đề dân sinh qua từng giai đạn lịch sử được nêu trong Đại Việt sử ký toàn thư là cần thiết, qua đó chỉ ra ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” ở Việt Nam hiện nay.

Để làm rõ hơn khái niệm dân sinh từ góc độ triết học xã hội, chúng tôi cho rằng, không thể bỏ qua việc phân tích các lĩnh vực đời sống xã hội. Thứ nhất, đó là lĩnh vực đời sống sản xuất vật chất xã hội, mà mục đích cao nhất của nó là thỏa mãn các nhu cầu vật chất với tư cách cơ sở phổ biến về tính tất yếu trong hoạt động lao động của con người. Con người khác với động vật trong hoạt động nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ở chỗ, nó không thể giản đơn sử dụng những cái có có sẵn trong tự nhiên như động vật, mà phải cải tạo, chế biến các sự vật tự nhiên, như Karl Marx viết: “Việc tạo một cách thực tiễn ra thế giới vật thể, việc cải tạo giới tự nhiên vô cơ là sự khẳng định của con người với tư cách là một sinh vật có tính loài có ý thức, nghĩa là một sinh vật đối xử với loài như với bản chất của chính mình, hoặc đối xử với bản thân mình như với một sinh vật có tính loài.

Tính chất của việc chế tác sự vật từ giới tự nhiên để đảm bảo cuộc sống của con người cũng thay đổi theo quá trình lịch sử, tùy thuộc vào sự phát triển về nhiều mặt trong đời sống xã hội. Khả năng cải tạo tự nhiên theo chiều hướng tích cực dần dần làm cho con người ít bị lệ thuộc vào tự nhiên hơn, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp đã đáp ứng đáng kể nguồn lương thực cho con người hiện nay. Tuy nhiên, nếu xét lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất cách đây khoảng 2000 năm ở nước ta – một nước nông nghiệp lúa nước vốn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, vấn đề dân sinh lúc đó luôn là vấn đề phức tạp, đòi hỏi không chỉ sự cần cù, sáng tạo của người nông dân, mà cả chính sách cụ thể của Nhà nước về an sinh xã hội trong những trường hợp rủi ro thiên tai gây ra, cũng như những biện pháp liên quan đến sản xuất nông nghiệp. Các chính sách ấy đã được ghi rõ trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Trước hết, chúng tôi đề cập đến vấn đề an sinh xã hội. Đây là vấn đề quan trọng, bởi có thể xem nó là thước đo tính đúng đắn trong đường lối trị nước của mỗi triều đại phong kiến Việt Nam. Như ở trên chúng tôi đã nói, nền nông nghiệp lúa nước của Việt Nam trong lịch sử (thậm chí cả trong giai đoạn hiện nay) bị chi phối đáng kể bởi các yếu tố tự nhiên. Đặc biệt, những vấn đề tự phát, tự nhiên luôn là mối đe dọa đến sinh mật của người dân và điều đó hầu nhưu xảy ra thường xuyên, buộc nhà nước phải có các biện pháp cứu trợ,  từ việc giảm thuế đến trợ cấp lương thực, thuốc men.

Ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn (tức Lý Thái Tổ) đã thực hiện iệc xá thuế cho nhân dân. Điều này ông làm không phải để cứu trợ cho dân trong hoàn cảnh khó khăn do thiên tai gây ra, mà thể hiện sự thông cảm với cuộc sống đang rất khó khăn của nhân dân. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Mùa Đông, tháng 12… đại xá thuế cho thiên hạ 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thốn đã lâu, đều tha cho cả”.

Sang thời Trần, sử chép: “Canh Dần năm thứ 6 (1290), đí to, 3 tháng gạo trị giá 1 quan tiền, nhân dân nhiều người phải bán ruộng đất và bán con trai con gái làm nô tỳ cho người khác, một người trị giá 1 quan tiền. Xuống chiếu phát thóc công để chẩn cấp dân nghèo và miễn thuế nhân đinh. Thậm chí, sự cứu trợ bằng thóc công cũng không đủ, triều đình phải kêu gọi những nhà giàu đem thóc ra cứu dân. Thời Trần Dụ Tông hoàng đế (Mậu Tuất), sử chép: “Đại Trị năm thứ 1 (1358). Từ tháng 3 cho đến mùa thu tháng 7, đại hạn và sâu ăn lúa; cá chết nhiều. Mùa thu, tháng 8, xuống chiếu khuyên các nhà giàu ở các lộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo, quan tư sở tại tính xem số thóc đã quyên ra bao nhiêu trả lại bằng tiền”. Nhà nước còn khuyến khích việc đó bằng cách ban tước phẩm cho những người dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo (năm 1361).

Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi chép nhiều sự kiện tương tự ở thời nhà Lê (từ Lê Sơ đến Lê Trung Hưng), Nhà nước trợ cấp cho dân trong trường hợp thiên tai, mất màu, dẫn đến đói kém trong thiên hạ. Tuy nhiên, đó chỉ là những giải pháp cần kíp trước mắt, còn về lâu dài, các triều đại phong kiến Việt Nam chú ý tới lĩnh vực tổ chức sản xuất vật chất của xã hội.

Trước hết, chúng tôi muốn nói đến tinh thần làm gương của các quân vương qua việc cày ruộng tịch điền, tức là loại ruộng riêng của cung đình. Sử chép: “Đinh Hợi năm thứ 8 (987) (Tống, Ung Hy năm thứ 4). Mùa xuân, vua bắt đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi, được một chĩnh nhỏ vàng, lại cày ở núi Bàn Hải, được một chĩnh nhỏ bạc, vì thế đặt tên là ruộng Kim Ngân”. Nhâm Thân năm thứ 5 (1032), Vua Lý Thái Tông “đến Tín Hương ở Đỗ Động giang cày ruộng tịch điền; nông dân dâng một cây lúa chiêm có chín bông thóc. Xuống chiếu đổi ruộng ấy làm ruộng ứng Thiên”. Năm Bính Thìn (1316), vua Trần Minh Tông còn sai tế thần, tôn thất cùng các quan gặt ruộng tịch điền. Như vậy, các ông vua nói trên và những ông vua khác trong lịch sử Việt Nam đã nêu gương tốt qua việc cày ruộng tịch điền, một mặt, để khích lệ tinh thần lao động của nhân dân, mặt khác, thể hiện tinh thần trọng nông, trọng dân, phần nào đó muốn xóa đi sự cách biệt giữa quân và dân. Điều đó chứng tỏ rằng, nhiều quân vương trong lịch sử Việt Nam có quan niệm khác với mẫu người lý tưởng của Nho gia theo tinh thần Khổng Mạnh (ở đó, các nhà sáng lập Nho gia thể hiện tư tưởng về sự cách biệt giữa kẻ cầm quyền với người lao động, thậm chí cho rằng, người làm ruộng, làm vườn (lão nông) là kẻ tiêu nhân, là kẻ lao lực (kẻ bị trị) phải làm ra của cải để nuôi kẻ lao tâm (kẻ thống trị)).

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Sự sụp đổ Bức tường Berlin khiến tôi sững sờ – Phần cuối


Ngày 19 tháng 12 năm 1989

Thủ tướng Helmut Kohl là vị khách mời danh dự trong một cuộc biểu dương tại Dresden của CHDC Đức.

Khi chúng tôi vừa hạ cánh thì đột nhiên tôi ý thức được một điều: chế độ ở CHDN Đức đang sụp đổ. Sự thống nhất đất nước đang đến gần với người Đức! Toàn bộ sân bay, nhất là các tòa nhà, hàng ngàn người đã chiếm giữ, một biển cờ xí màu đen – đỏ – vàng (biểu tượng quốc kỳ của CHLB Đức) tung bay trong không khí lạnh lẽo của tháng Mười Hai – cùng với thời gian, biểu tượng cờ màu xanh – trắng (màu cờ của CHDC Đức) hầu như bị quên lãng.

Khi tôi bước xuống bậc thang đầu tiên của cầu thang máy bay và khi Modrow đang chờ đón tôi ở dưới đường băng, cách tôi khoảng mươi mét, với một bộ mặt khắc khổ, tôi quay lại phía Rudi Seiters (Bộ trưởng Bộ Nội vụ khi đó) và nói với ông ta: “Vụ việc coi như đã xong”.

Khi chúng tôi đi ô tô vào thành phố, có đôi chỗ phải dừng lại, hàng ngàn người ào ra ngoài đương phố, đứng chật hết cả hè đường, công nhân của hầu hết các xí nghiệp đều ngừng làm việc, tất cả các trường học cho học sinh nghỉ học. Họ hân hoan chào đón chúng tôi. Trên nhiều băng khẩu hiệu, tôi đọc thấy “Kohl, Thủ tướng của người Đức” hoặc “Đông Đức rất mong Thủ tướng đến”. Cho đến thời điểm chính xác này, tôi vẫn hoàn toàn không nghĩ đến việc đọc một bài diễn văn. Thế nhưng, sau tất cả những gì tôi đã chứgn kiến, thì điều hiển nhiên là: tôi cần phải nói gì với mọi người chứ! Thế nhưng nói ở đâu bây giờ? Lúc đó Wolfgang Berghofer, thị trưởng Dresden gợi ý tôi sẽ nói với họ ở ngay trước những đổ nát của Frauenkirede trong cuộc ném bom năm 1945.

Trong khi mọi việc dàn dựng được chuẩn bị cho việc phát biểu của Thủ tướng, Thủ tướng đã có cuộc nói chuyện riêng với Hans Modrow – Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng của CHDC Đức tại lâu đài Bellevue.

Với vẻ bực dọc, Modrow bắt đầu ấp a ấp úng đọc một cách khó khăn bài diễn văn của mình. Tình hình làm cho ông ta lo âu nhiều. Những cuộc thảo luận về sự thống nhất nước Đức đã được tiến hànnh, và theo ý kiến ông ta, một tình huống thái quá sẽ làm cho giới hạn về việc sử dụng vũ lực bị vượt qua. Vào lúc này, điều mà nước Đức cần chính là sự ổn định ở bên trong. Để kết thúc, ông ta đã mô tả tình hình kinh tế hiện nay của CHDC Đức và đề nghị “một sự phân bổ hợp lý những gánh nặng” về một khoản tiền 15 tỷ Mark cho năm tài khóa 1990 – 1991. Đáp lại, tôi nhấn mạnh rằng có quá nhiều điểm khác nhau có tính cơ bản với những tuyên bố của ông Modrow, nhưng cũng có một số điểm chung. CHDC Đức có thể chấp nhận 9 trong tổng số 10 điểm của tôi. Ngya khi tôi được làm cho tin rằng tình hình sẽ có thể tiến triển theo hướng thống nhất đất nước thì rõ ràng là vấn đề thảo luận về mục tiêu thành lập một Liên bang là không còn cần nữa. Về những gì liên quan đến đề nghị giúp đỡ về mặt tài chính, rất cao với con số hàng tỷ Mark, tôi tuyên bố với Modrow rằng trước hết, CHDC Đức cần phải đưa ra những điều kiện cơ bản, thiết yếu.

Trong thời gian này, hàng ngàn người dồn đến trước tòa nhà Bellevue và lớn tiếng đề nghị Kokl hãy xuất hiện ở cửa sổ của tòa nhà.

Ở bên trong, tôi cực kỳ căng thẳng. Thực tế, đối với tôi, rõ ràng đây là một trong những bài phát biểu khó khăn nhất, nếu không muốn nói là khó khăn nhất trong cuộc đời tôi. Đột nhiên tôi đặt ra câu hỏi: Chúng tôi sẽ làm gì nếu bất ngờ đám đông kia hát vang giai điệu Đức và đặc biệt cất tiếng hát đoạn thơ bắt đầu bằng: “Nước Đức, Nước Đức, hãy tiến lên” (giai điệu của Reich). Vào đúng khoảnh khắc này, cả cộng đồng quốc tế đang hướng về Dresden. Trong tình hình này, tất cả nhữgn gì có thể được diễn giải như là một lực đẩy bột phát mang tính dân tộc, đều có nguy cơ làm cho mọi chuyện phức tạp lên đối với người Đức. Thậm chí rất có thể dẫn đến những hậu quả mang tính phá hoại…

Bất chấp sự phấn khích của đám đông, tất cả mọi người đều cố giữ cho mình sự bình tĩnh. Họ hiểu rằng mong muốn mãnh liệt về một Tổ quốc chung giờ đây đang đòi hỏi phải được thực hiện một cách tuần tự và có lý. Thế nhưng không một ai bộc lộ ý định rời bỏ vị trí của mình. Lúc đó, một sự cố đã xảy ra, được coi như là dấu hiệu rằng ai nấy có thể trở về nhà mình. Một phụ nữ leo lên bục danh dự, tiến về phía tôi, ôm tôi trong hai cánh tay của mình và khóc, rồi sau đó bà ta nói rất nhẹ nhàng: “Tất cả chúng tôi đều đã đến đây, chúng tôi xin cảm ơn ngài!”. Lúc ấy, tất cả các micro đều còn đang được nối điện và tất cả mọi người đều có thể nghe được câu nói đó.

Tháng Giêng năm 1990

Trong lúc các phương tiện thông tin tuyên truyền Pháp đang chỉ trích một cách mạnh mẽ chính sách cảu CHLB Đức, thì Thủ tướng Helmut Kohl đến thăm Tổng thống Pháp Franҫois Mitterand tại Latche.

Chúng tôi đã nói với nhau về đường biên giới phía Tây của Ba Lan. Tôi khẳng định rằng đây là vấn đề nằm ngoài vấn đề mà chúng tôi nghi ngại về tính bất khả xâm phạm của đường biên giới này. Do đó, Tổng thống Pháp Mitterand đề nghị tôi nói công khai vấn đề này. Tôi tiếp tục đưa ra gợi ý rằng chúng ta cần phải giúp đỡ Ba Lan theo con đường của Cộng đồng châu Âu. Ông Mitterand giải thích rằng, theo ông ta, có 2 vấn đề: thứ nhất là Nga – hoàn toàn tự ý ông ấy đã không nói đến chữ Liên Xô – và vấn đề còn lại là Đức. Giữa hai nước đang tồn tại một vùng căng thẳng mà các bên không thể để nó bùng nổ vào thời điểm này. Kinh nghiệm Gorbachev sẽ kéo dài thêm một thời gian, ông ta nghĩ vậy và nêu ra câu hỏi hùng hồn: “Điều gì sẽ xảy ra sau đó nếu thất bại?” và trả lời luôn: “Không còn những người cộng sản nữa nhưng sẽ tồn tại một nền độc tài quân sự rất cứng rắn”. Đối với ông Mitterand, chẳng còn gì nghi ngờ là người Nga sẽ không chịu đầu hàng trước vấn đề Đức, và theo ông Mitterand, đó chính là vấn đề lớn nhất. Những tiến bộ đạt được theo chiều hướng thống nhất nước Đức không phải sẽ đặt Gorbachev vào một vị trí khó khăn, nhất là sẽ không thúc đẩy Moscow đi đến quyết định dùng vũ lực. Hiện tại, chúng ta đang đức ở bên bờ của một sự tiến triển như vậy bởi vì mọi chuyện đã tiến triển quá nhanh tại Đức.

Tháng 2 năm 1990

Mikhail Gorbachev tuyên bố với Hans Modrow, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng CHDC Đức rằng Liên Xô, về mặt nguyên tắc, không có ý kiến gì chống lại sự thống nhất của CHLB Đức và CHDC Đức, nên lúc đó, Modrow lao vào với vế kế hoạch có tên gọi: “Vì một Tổ quốc Đức thống nhất”.

Sự khởi đầu của Modrow đã cho chúng tôi thấy một điều là: Liên Xô không biết phải làm gì để tránh cho CHDC Đức khỏi bị sụp đổ. Những gì mà CHDC Đức đề xuất về vấn đề cực kỳ quan trọng này như Modrow đã chỉ rõ khi trở lại Đông Berlin ngày 1/2/1990, là khác hẳn với “chương trình 10 điểm” của chúng tôi. Đó là: nước Đức thống nhất sẽ phải là một nước trung lập. Nếu như khi đó, Gorbachev đề nghị đánh đổi sự thống nhất nhanh chóng nước Đức với việc CHLB Đức rút khỏi khối quan sự NATO và đứng trung lập, thì đề nghị đó có thể đã gặp được một sự tán thành thuận lợi trong dư luận công chúng ở cả hai nước Đức. Những sức ép, có thể là kết quả có được từ đề nghị đó, về mặt chính trị, có thể đã để lại những hậu quả nguy hại. Tôi hoàn toàn tin rằng bất kỳ sự trung lập nào của Đức đều sẽ là một sai lầm tiên định, cả đối với chúng tôi cũng như toàn bộ châu Âu, cùng với nhiều hậu quả cũng nguy hại như là sự cô lập nước Đức bởi Hiệp ước Versailles trước kia.

Hans Modrow đã thú nhận với Helmut Kohl, trong cuộc họp tại Davos, về sự hỗn loạn cả về chính trị và kinh tế hiện nay ở CHDC Đức. Lúc đó, Helmut Kohl đã nghĩ đến kế hoạch trả đồng Mark Tây Đức cho người Đông Đức.

Cho đến lúc đó, một cách có ý thức, chúng tôi đã cố tránh thúc đẩy nhanh động lực đi tới sự thống nhất nước Đức. Thế nhưng, trong thời gian đó, tình hình đã nảy sinh một tình huống bi quan đến nỗi mọi sự giữ gìn ý tứ, từ nay trở đi, đều không thể tiếp tục được nữa. Nói cách khác: nếu chúng tôi muốn ngăn cản các công dân của Leipzig đổ xô vào đồng tiền Mark, thì bắt buộc là đồng tiền Mark phải đến với họ. Theo các thuật ngữ về chính trị và kinh tế thì điều đó có nghĩa là chúng tôi đã sẵn sàng mang đến cho những sự kiện đặc biệt, thậm chí mang tính cách mạng ở CHDC Đức, một sự đáp ứng cũng đặc biệt, thậm chí cũng có tính cách mạng.

Công thức “1 Mark Tây Đức đổi 1 Mark Đông Đức” đương nhiên có một ảnh hưởng to lớn trên phương diện chính trị và tâm lý: nó khiến cho người Đông Đức hiểu rằng đó là một cử chỉ của tình đoàn kết giữa những con người bình đẳng với nhau về mặt pháp luật, chứ không cử chỉ ban ơn cảu kẻ giầu đối với người anh em nghèo khó. Tôi hoàn toàn hiểu rằng đó là một sự dâng tặng đặc biệt mà trước đó chưa bao giờ tồn tại trong các cuốn sách về kinh tế. Đồng Mark, với tư cách là một trong những đồng tiền ổn định nhất trên thế giới, được coi là nền tảng của sự giàu có của chúng ta. Chính vì vậy mà chúng ta phải xử sự với nó một cách thận trọng. Tuy nhiên, tôi cho rằng cần phải tiến hành theo cách đó vì lợi ích của sự ổn định xã hội ở CHDC Đức. Nhưng điều mà khi đó chúng ta không hề có lấy một chút kiến thức là phạm vi thảm hại của nền kinh tế nghèo nàn ở Đông Đức.

Do vậy, trong các cuộc hội đàm về sự thống nhất tiền tệ, kinh tế và xã hội, chúng tôi đã tin rằng có thể thanh toán được những khoản nợ của CHDC Đức bằng việc bán đi các “xí nghiệp quốc doanh” cũ thông qua các Tờ-rớt. Sau đó, tôi thường xuyên tự hỏi làm thế nào chúng ta lại có thể đánh giá thấp, vào thời điểm này, khả năng kinh tế của CHDC Đức. Theo tôi, đơn giản vì chúng ta biết quá ít về nó. Ngay cả những nghiên cứu về CHDC Đức cũng không được báo trước sớm hơn chúng tôi. Chung quy lại, đó là do sự lừa gạt trong tuyên truyền được tung ra một cách khéo léo bởi những chuyên gia phá hoại tư tưởng của các cơ quan an ninh và đảng SED. Cuối cùng, điều chắc chắn là chế độ ở CHDC Đức đã đạt được một trong những thủ đoạn đánh lạc hướng trong toàn bộ thời gian tồn tại của nó.

Người dịch: Phạm Hồng Quân

Nguồn: Helmut Kohl – La chute du Mur m’a coupé le souffle – Courrier International, No.312 từ 24 – 30/10/1996.

TĐB 97 – 17

Sự sụp đổ Bức tường Berlin khiến tôi sững sờ – Phần đầu


Helmut Kohl

Hơn 14 năm đứng đầu nước Đức, một thời gian trị vì dài hơn cả thời gian trị vì đất nước của Konrad Adenauer. Người ta ngưỡng mộ ý chí chính trị của Helmut Kohl. Người ta sẽ xem xét vai trò lịch sử của ông, sẽ còn quan tâm đến con người cá nhân của ông. Thế nhưng, ngay từ khi bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình con người có cái đầu “quả táo” – biệt danh mà mọi người tự ý gán ghép cho ông – đã chỉ được đánh giá là một người thực dụng, không có gì xuất sắc và đặc biệt chỉ ở tầm cỡ hàng tỉnh. Thậm chí ông Josel Strauss, lãnh tụ đảng CSU xứ Bavie còn nhẫn tâm cho rằng: “sẽ chẳng bao giờ anh ta trở thành Thủ tướng. Anh ta hoàn toàn không có khả năng, anh ta thiếu tất cả các yếu tố để trở thành Thủ tướng”.

Là một người có ý chí bền bỉ, nhận nại và công việc, trong đầu óc cũng phảng phát ý thức hiềm thù, Helmut Kohl đã làm được một điều kỳ diệu: đó là sự thống nước Đức vào đầu năm 1990 – sự kiện đã khiến ông được kính trọng, nếu không muốn nói là yêu mến.

Chính những giờ phút này của lịch sử, đã được ông kể lại trong một cuốn sách, đã biến những ngày này thành chuỗi những sự kiện quan trọng ở nước Đức.

Dưới đây là trích dịch một số trang được đăng tải trong tuần báo “Tấm gương” và được đăng lại trên tờ “Thông tin quốc tế” số 312 từ ngày 24 – 30/10/1996.

Ngày 12 tháng 6 năm 1989

Hôm đó Mikhail Gorbachev đang thăm chính thức Bonn. Vị Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đã có một cuộc trao đổi với Thủ tướng Helmut Kohl và theo Helmut Kohl, cuộc trao đổi này phải trở thành một cuộc trao đổi có tầm quan trọng hàng đầu đối với sự nghiệp của nhiều người Đức.

Lúc đó đã quá 12 giờ đêm, tôi và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô quyết định đi dạo thêm một lát trên con đường dẫn đến bờ sông Rhein. Lúc đó chỉ có phiên dịch đi cùng. Khi đến nơi, chúng tôi ngồi nghỉ chân trên một bức tường thấp và từ nơi này chúng tôi có thể nắm nhìn dòng sông và phóng tầm mắt đến khu đồi Siebengebrige. Thời điểm thật lý tưởng để có một cuộc trao đổi hết sức thẳng thắn và thân mật. Cả hai chúng tôi đều nhất trí rằng cần phải tái xác lập những cơ sở cho mối quan hệ giữa Đức với Liên Xô, nếu như tình hình ở châu Âu thật sự đang trên đường cải thiện. Lúc đó, ý nghĩ chợt đến với chúng tôi là cần phải ký kết một Hiệp ước, không phải để cho người Đức và người Liên Xô bắn vào quá khứ của mình, mà là để tạo ra một triển vọng mới cho tương lai. Một Hiệp ước như vậy – hai chúng tôi gọi là “Hiệp ước khổng lồ” – chắc chắn sẽ được đón nhận một cách thuận lợi ở cả hai nước… Khoát một cử chỉ về phía dòng sông, tôi nói với Gorbachev: “Ngài hãy nhìn kìa, dòng nước chảy dưới chân chúng ta! Nó tượng trưng cho LỊCH SỬ: nó chẳng có gì tĩnh lặng cả. Ngài có thể xây một con đập chặn lại. Về phương diện kỹ thuật thì việc đó có thể làm được, thế nhưng rồi dòng nước chảy sẽ kết thúc bằng việc tự vượt ra khỏi “cái guồng của mình” và tự mở ra một con đường cho mình ra biển. Việc thống nhất nước Đức cũng vậy. Sau câu nói của tôi, Gorbachev tỏ vẻ xúc động rõ rệt. Đối với hai chúng tôi, Hòa Bình không chỉ đơn thuần là một ngôn từ mà là cả một nhu cầu thiết yếu, một nhu cầu thực tại. Khi vợ chồng Gorbachev rời khỏi ngôi nhà nhỏ một tầng, kết thúc chuyến thăm, chúng tôi chia tay nhau với cái ôm hôn thắm thiết. Đối với riêng tôi, cuộc gặp gỡ này là một sự kiện then chốt.

Ngày 9 tháng 11 năm 1989

Buổi tối mà Bức tường Berlin sụp đổ, vị đứng đầu Chính phủ ở Bonn đó đang đi thăm chính thức Ba Lan, ở đây ông đang dự một bữa tiệc.

Thưa Thủ tướng, bức tường đang đổ rồi! Eduard Ackermann (người phát ngôn riêng của Thủ tướng) phấn chấn reo lên qua điện thoại. Tôi hỏi lại: “Anh chắc chắn đấy chứ?” và tôi sững sờ về sự kiện đó, quyết định cắt ngang chuyến đi này để quay về chuẩn bị cho việc đọc một bài diễn văn vào sáng ngày mai tại Tòa thị chính quận Schoneberg ở Berlin. Thế nhưng, vì máy bay của lực lượng không quân Tây Đức không được phép bay trên lãnh thổ Đông Đức cũng như không được hạ cánh ở Berlin, nên trước hết chúng tôi phải bay về Hambourg qua Thụy Điển. Chuyến bay kéo dài 1 giờ 30 phút. Tôi chuẩn bị bài diễn văn của mình ngay trên đường bay. Về đến nơi, tôi bước vội vào Tòa thị chính quận Schoneberg, các cộng sự vây quanh lấy tôi và từ từ đẩy tôi ra nơi ban công chật chội của tòa nhà. Hans – Dietrich Genscher (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao), Willy Brandt (cựu Thủ tướng của Đảng Dân chủ Xã hội Đức), Hans – Jochen Vogel (đương kim Chủ tịch đảng SPD), Walter Momper (Thị trưởng Tây Berlin) và nhiều người khác nữa đã đứng cả ở đó. Ở phía dưới, trên quảng trưởng John F. Kennedy, một đám đông những người cánh tả chống đối, đang chờ đợi tôi trong tiếng la ó đinh tai. Trước lúc phát biểu, Horst Telschik, một trong những cố vấn chính của tôi, mang đến cho tôi một bức điện khẩn của TBT ĐCSLX Mikhail Gorbachev. Trong nội dung bức điện, vị TBT ĐCSLX gợi đến tình hình ở Berlin và đề nghị tôi làm dịu dư luận: các nhà lãnh đạo CHDC Đức đã quyết định cho phép các công dân ở Đông D(ức tự do chạy sang Tây Đức và Tây Berlin. Quyết định này, TBT ĐCSLX nói rõ, không dễ gì được chấp thuận ở Đông Berlin.

Mặt khác Gorbachev muốn biết, liệu có đúng là – như người ta đã báo cáo lại với ông ta – tình hình đã trở nên không thể kiểm soát được Berlin không. Thậm chí, việc một đám đông những người nổi dậy đang tấn công vào các căn cứ của Quân đội Liên Xô là có thật hay không. Sau tôi biết rằng, lúc đó, Gorbachev hoàn toàn bị thông tin sai lệch: những người chống đối cải cách trong KGB và trong STASI (Cơ quan an ninh quốc gia CHDC Đức) muốn khêu gợi một sự can thiệp của lực lượng Quân đội Liên Xô đang đóng tại CHDC Đức.

Tôi đứng ở ban công của tòa nhà Thị chính quận Schoneberg, tứ bề bị “phong tỏa” và tôi không thể nào đi gọi điện cho Gorbachev. Hơn nữa, nếu tôi rời khỏi ban công, sự việc đó ngay lập tức có thể sẽ được lý giải như là một sự rút lui trước đám đông la ó. Tôi nhờ người nói lại với Gorbachev rằng những lo lắng này là không có cơ sở.

Ngay sau đó, Gorbachev đã để lộ rằng ông đã hành động để các nhà lãnh đạo CHDC Đức hiểu rằng Liên Xô có thể sẽ không can thiệp bằng việc gửi xe bọc thép sang như đã làm trong cuộc nổi loạn của dân chúng Đông Berlin ngày 17/6/1953. Đến tận bây giờ, tôi vẫn rất biết ơn Gorbachev về việc ông ta đã bỏ ngoài tai những lời đồn đại, nhưng lại rất nhạy cảm với những lý lẽ logic của sự việc.

Ngày 11 tháng 11 năm 1989

Lời đầu tiên Helmut Kohl và Egon Krenz đàm thoại với nhau. Vị chủ tịch Hội đồng Nhà nước của CHDC Đức huênh hoang rằng việc khai thông bức tường Berlin là một minh chứng của “chính sách đổi mới vì lợi ích của tất cả mọi người”.

Với chính giọng điệu này, ông ta khẳng định rằng, từ nay trở đi, tất cả mọi người ở khắp mọi nơi, đều có thể thấy rõ sự khách quan, khả năng dự báo trước và sự mong muốn chung. Bởi vì, giống như trước đây, đường biên giới vẫn đang còn đó. Tuy nhiên, đường biên giới có thể sẽ “bị thủng” rộng hơn. Tôi nghe được điều này và, sau khi khen ngợi thái độ của Krenz về việc khai thông bức tường, tôi đã dẫn lại điều đó trong các diễn văn, phát biểu của mình tại Berlin, đồng thời trong các phát biểu của mình tôi nhắc đi nhắc lại rằng mọi hình thức cấp tiến đều là nguy hiểm. Một lần nữa Krenz ép tôi phải cam kết. Xuất phát từ nguyên tắc là chúng ta hoàn toàn nhất trí nhau về một thực tế là: lúc này vấn đề thực hiện sự thống nhất nước Đức chưa hề được đưa vào “Chương trình nghị sự”. Đối với vấn đề này, rõ ràng tôi không thể tán thành. Chính là vì những nguyên tắc cơ bản mà tôi đã tuyên thệ khi nhậm chức mà tôi có một ý kiến hoàn toàn khác đối với vấn đề này.

Cuối tháng 11 năm 1989

Đáp lại đề nghị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng CHDC Đức ông Hans Modrow về việc thiết lập một cộng đồng bằng một Hiệp ước ký với CHDC Đức, Helmut Kohl tìm một giải pháp khác.

Tại Dinh Thủ tướng, tôi đã tổ chức nhiều cuộc thảo luận. Trước tiên, tôi và các cố vấn thân cận tranh luận về chủ đề đã dự kiến từ đầu và tìm cách làm thế nào để cải thiện công việc của chúng tôi trước dư luận công chúng. Chúng tôi không phải để cho Modrow khởi xướng. Đề xuất của ông ta về một “Cộng đồng” gắn bó với nhau bằng một Hiệp định có lẽ cũng tốt, nhưng đề xuất này là một thủ đoạn đánh lạc hướng, bằng cách này ông ta hy vọng làm giảm bớt những sức ép có lợi cho sự thống nhất đất nước đang đè nặng lên SED (Đảng Cộng sản Đông Đức). Tiếp đó, chúng tôi đề cập đến vấn đề là liệu chúng tôi có thể chống lại mưu mô của Modrow, khi phân tích xa hơn ý kiến về việc thành lập “Liên bang hỗn hợp”. Một vài ngày trước đó, về phía Liên Xô, có những tín hiệu cho thấy là Moscow không phản đối lại ý đồ đó. Thế nhưng, tôi cứ bị vương vấn bởi thực tế là chính sự tồn tại của hai nước Đức đã được thừa nhận bằng giấy tờ.

Lúc đó, Thủ tướng đã quyết định thành lập một nhóm công tác dưới sự lãnh đạo của ông Horst Telsfchik, cố vấn chính của Thủ tướng. Nhóm này đã đưa ra “Chương trình 10 điểm”, ngày 26/11/1989, mở đường đi tới sự thống nhất nước Đức.

Ngày 8 tháng 12 năm 1989

Thủ tướng đi Strasbourg, ở đó các vị đứng đầu Nhà nước và Chính phủ của các nước trong Cộng đồng châu Âu đang thảo luận tình hình mới.

Kể từ khi tôi lên làm Thủ tướng, chưa bao giờ tôi thấy một Hội nghị Thượng đỉnh lại chìm trong bầu không khí lạnh lẽo như vậy. Dĩ nhiên là tôi đã ý thức được điều mà người Đức, trước con mắt cảu phần lớn những người châu Âu, sẽ phải vượt lên để trở thành những người có khả năng và có khả năng thực hiện tốt, mặc dù họ không phải là những người được mến mộ một cách đặc biệt. Điều này có nguyên nhân từ lịch sử của thế kỷ này. Thế nhưng tôi có cố gắng để biết tất cả những điều này cũng vô ích. Dù thế nào tôi cũng thấy sửng sốt bởi “sự chất vấn” đáng có của một “Tòa án” mà tôi đang phải đương đầu ở Strasbourg này. Mọi người hỏi tôi điều gì đã diễn ra trong đầu óc tôi khi tôi giới thiệu “Chương trình 10 điểm”? Làm thế nào tôi lại có ý nghĩ đọc bài diễn văn như vậy?… mọi người hỏi tôi đủ thứ. Nhưng những điều còn chưa được nói ra, được coi là đáng chú ý nhất, là của bà Margaret Thatcher. Tuy nhiên, hoàn toàn ngược lại với một số lời xì xào đồn đại, tôi tỏ ra rất có thiện cảm và kính trọng bà Margaret Thatcher. Mặc dù trong khá nhiều lĩnh vực, tôi luôn có ý kiến hoàn toàn khác với bà ấy. Bà Thatcher là người nuôi dưỡng một tình cảm bất tín khá sâu sắc đối với người Đức, giống như phần lớn những người cùng thế hệ của bà ấy. Khi đó tôi đã cố gắng nhìn nhận mọi việc với thái độ chấp nhận quan điểm của bà. Điều thật khó có thể được chấp nhận đối với bà Thatcher là nước Đức, một nước đã từng chịu thất bại trong cả 2 cuộc chiến tranh thế giới vào cuối thế kỷ này, lại có thể xuất hiện như một người chiến thắng vĩ đại.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phạm Hồng Quân

Nguồn: Helmut Kohl – La chute du Mur m’a coupé le souffle – Courrier International, No.312 từ 24 – 30/10/1996.

TĐB 97 – 17