Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần II


Giá trị đích thực của các xí nghiệp này theo thời giá thị trường không dưới một nghìn tỷ USD. Thế mà các liệu pháp sốc chỉ bán với 7,2 tỷ USD, rẻ hơn 150 lần.

Các tay anh chị địa phương cũng kiếm khá. Xí nghiệp chế bịt Ostankino mua một dây chuyền hiện đại vào năm 91 – 92 với giá 35 triệu USD, được chúng bán lại với giá 3,1 triệu USD.

Nga bị cướp giữa ban ngày, nhưng chỉ mới khởi đầu. Chỉ mấy năm sau cải tổ, cải cách, tư hữu hóa, nền kinh tế Nga từ chỗ đứng thứ 2 thế giới rơi xuống hàng các nước chậm phát triển.

GDP năm 96 kém 3 lần so vớ 85, sản lượng công nghiệp tụt giảm 5,5 lần, nông nghiệp giảm 4 lần, lương thực giảm 5,5 lần, nhập khẩu giảm 2,8 lần, xuất khẩu giảm 1,5 lần, sản lượng Nga trên trường quốc tế giảm 3 lần. Nhưng Nga giành kỷ lục về lạm phát – 1700 lần và về mức sống – giảm hơn 2 lần. Mọi lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đều bị phá hủy.

Chính IMF, cơq uan kiểm soát và chỉ đạo mọi quá trình kinh tế của Nga, là kẻ tòng phạm phá hủy nền kinh tế Nga. Hình 1 nêu biểu đồ hiệu quả kinh tế Nga (đầu tư, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp) lấy từ nghiên cứu. Nó thể hiện rõ thảm họa. Nga bị đẩy lùi về quá khứ 40 năm tính từ thời điểm này. Lịch sử đương đại chưa từng có chuyện đó. Xin dẫn thêm một số số liệu:

Nếu lấy hiệu quả sản xuất làm chỉ số cải cách thị trường thì sản xuất công nghiệp bị giảm sút chưa từng thấy. Tổng sản lượng năm 1995 chỉ đạt 50% năm 1990. Các nhà cải cách đổ lỗi cho kinh tế cạnh tranh kém. Phần nào đúng như vậy, nếu nói về công nghiệp nhẹ, nhưng tổng quát lại, sản xuất giảm ở các ngành có lợi nhuận cao.

Thời kỳ 90 – 95 khai thác dầu giảm 41%, khí đốt giảm 7%, than (cho nhu cầu nội địa) giảm 33%, điện giảm 23%, – tức tất cả các ngành thu ngoại tệ. Xí nghiệp thua lỗ trong công nghiệp chế biến dầu tăng 4,6 lần, khí tăng 2,3 lần, luyện kim tăng 2,1 lần.

Năm 1995 so với năm 1990 sản xuất hàng hóa cạnh tranh đạt (%): – luyện kim và chế máy: thép cán giảm 71%, dây chuyền chế tạo máy giảm 9%, máy đột dập giảm 11%…

Cả những ngành sản xuất được gọi là con gà đẻ trứng vàng như khai thác kim cương, một ngành trước kia mang lại siêu lợi nhuận cho Nga, sau 3 năm cải cách, nó rơi vào nợ nần vô vọng (Báo Tin tức ngày 2 tháng 8 năm 1996). Khai thác vàng cũng bị lỗ.

Sản xuất bia rượu cũng giảm. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 96 đã giảm 45%. Chính mặt hàng này có thời chiếm đến 1/3 số lượng ngân sách Nhà nước thu được”.

Nếu nói đến bức tranh toàn cảnh hoạt động của các “nhà cải cách”, có thể gọi đó là hệ thống phá hủy tổng thể nền kinh tế họ dùng khẩu hiệu cần loại bỏ Nhà nước khỏi quản lý kinh tế quốc dân. Kết quả là kinh tế trở nên hỗn loạn và mất cân đối nghiêm trọng giữa trị giá sản phẩm công nghiệp và giá cả. Sự thua lỗ nhiều ngành tạo ra phản ứng dây chuyền lạm phát và mất khả năng chi trả. Không có đổi mới trang thiết bị. Đầu tư cơ bản chỉ đạt 1/4 so với năm 1991 và đừng nói gì đến hiện đại hóa, ngay cả đảm bảo sản xuất cũng khó.

Nơi bị các nhà “cải cách” đánh tàn tệ nhất là việc sản xuất công nghệ và thiết bị hiện đại nhất, là các cán bộ trình độ giỏi nhất. Phần lớn các tập thể Công nghiệp Quốc phòng giỏi nhất bị giải tán. Thị trường hàng tiêu dùng lệ thuộc nhiều vào phương Tây. Công nghiệp nhẹ và dệt sút giảm hơn 80%. Nhiều nhà máy chế tạo vật liệu chiến lược bị bán thẳng cho phương Tây. Họ hướng tới các ngành khai thác nguyên liệu vốn ít bị sút giảm nhất.

Những năm gần đây, hệ thống giá cả thế giới, trên thực tế là cơ chế thương mại quốc tế nhằm mang lại lợi nhuận một chiều cho phương Tây, ngày càng bành trướng. Khác với giá cả thị trường nội bộ một quốc gia, giá quốc tế nảy sinh không ngẫu nhiên và không liên quan đến chi phí lao động trung bình, mà do các nhà chính trị và áp đặt có chủ định bằng vũ lực. Trong điều kiện đó, tăng trưởng thương mại quốc tế chỉ có lợi cho những nước đủ sức áp đặt giá cả. Như vậy, giá nguyên, nhiên liệu sẽ giảm liên tục, giá lương thực, thực phẩm tăng. Nguyên liệu Nga do nhu cầu trong nước giảm phải bán ra nước ngoài và giá sẽ giảm, mất lợi nhuận. Giá nguyên liệu sẽ xuống gần trị giá và Nga trở thành kẻ lao động nô lệ. Lao động chỉ để nhận được mỗi khoản tiền công. Tất cả điều đó được che giấu bằng các khẩu hiệu “hội nhập kinh tế thế giới”, “buôn bán cùng có lợi”, “thị trường quốc tế tự do”, “toàn cầu hóa kinh tế”.

Thủ tiêu nông nghiệp

Đến thời điểm này, nông nghiệp bị phá tận gốc. Trước 1991, do khô hạn, trình độ cơ giới hóa cao và một vài yếu tố khác, nông nghiệp Liên Xô dù thua kém một số nước về năng suất nhưng hoan toàn không thua kém bất kỳ nước phương Tây nào về hiệu quả nhờ tận dụng tiềm năng đất đai – khí hậu tới 70 – 80%. Bằng hàng loạt biện pháp, các nhà cải cách đã làm cho nông nghiệp phá sản. Có thể coi đó là nạn diệt chủng kinh tế. Bắt đầu từ năm 1992, sản lượng nông nghiệp giảm đều đặn 15 – 20%/năm. Ngũ cốc giảm trong 4 năm từ 130 xuống 63,5 triệu tấn. Máy móc kỹ thuật nông nghiệp thời kỳ 1990 – 1994 giảm: máy kéo 85%, ô tô 91%, gặt đập liên hợp 76%…

Sản xuất tập thể đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm cho đất nước bị phá vỡ. Trước nạn diệt chủng, nông nghiệp Liên Xô đứng thứ hai thế giới, và đứng đầu châu Âu. Liên Xô đứng đầu thế giới về sản lượng lúa mì, củ cải đường, khoai tây, sữa. Theo số liệu của Liên hợp quốc, các nông trường, nông trang Liên Xô đủ sức nuôi 800 triệu người. Giá bánh mình Liên Xô rẻ nhất thế giới. Quá trình tiêu diệt nền nông nghiệp của các nhà cải tổ vẫn còn tiếp tục. Đất tiếp tục thoái hóa do không được bón phân. Thủy lợi bị phá bỏ. Máy móc nông nghiệp hư hỏng dần không có thay thế, sản xuất nông nghiệp giảm sút vì thiếu máy móc và xăng dầu. Đầu tư giảm 7 lần.

An ninh lương thực bị đe dọa nghiêm trọng:

Chúng ta hiểu an ninh lương thực là khả năng nhà nước bảo đảm đầy đủ và ổn định lương thực cho nhân dân không phụ thuộc vào tác động của các ảnh hưởng và đe dọa bên trong và bên ngoài. Khả năng đó là một trong những yếu tố cần thiết của chủ quyền quốc gia và bảo đảm các quyền công dân cơ bản”.

Đối với các nước phát triển, giới hạn nhập lương thực không được vượt quá 25 – 30%. Nga ngay năm 1995 đã phải nhập hơn 40% lương thực. Nga đánh mất an ninh lương thực với đường lối hiện nay sẽ bị lệ thuộc nước ngoài. Quá trình thủ tiêu nông nghiệp vẫn tiếp diễn. Burdukov viết về cơ chế thủ tiêu chăn nuôi như sau:

Chỉ sau 3 năm, nhập khẩu thịt tăng 600%, gia cầm tăng 800%, bơ 320%. Khuynh hướng đó đang tiếp tục tăng. Nông nghiệp chỉ đóng góp ngân sách 3% so với 19% trước kia, tức giảm 6 lần! Té ra, khủng hoảng bơ là nhân tạo. Hàng ngàn tấn bơ do ta sản xuất nằm chết gí trong kho từ năm 1994, không được tiêu thụ. Giá bơ bị thổi phồng, gia súc bị giết mổ. Giờ đây cứ thử nhìn xem, trong các cửa hàng thịt không tìm đâu ra hộp thịt lợn, trong khi thịt bò chất đống. Vì sao? Không có thức ăn, lợn bị bỏ đói, bò bị giết”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Advertisements

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần I


Chia nhỏ Liên Xô và Nga

Bước ngoặt căn bản trong ý thức xã hội, xảy ra dưới tác động thông tin – tâm lý, đã đè bẹp khả năng con người liên kết với nhau trong hoàn cảnh xảy ra để chống lại nó. Các từ – biểu tượng “dân chủ” – bí danh chương trình hủy hoại Nhà nước, “cải cách” – bí danh chương trình phá hủy kinh tế quốc dân được nhồi nhét và nhận thức người dân. Đó là những từ không mang ý nghĩa thực tế (thực ra chúng vẫn chưa được giải thích) và ai muốn hiểu ra sao cũng được. Kết quả thực hiện các chương trình này về sức tàn phá là độc nhất vô nhị trong lịch sử thế giới.

Trên toàn thế giới đang xảy ra quá trình liên kết, nhưng Liên Xô bị xé nhỏ làm 15 phần và bộ máy kinh tế quốc dân thống nhất bị phá hủy. Nó gây ra thảm họa. Trong bài viết Nước Nga có cần siêu lý tưởng của P. Kosolapop (Sự thật, số 133, 22/12/1996) viết như sau:

Chúng ta, và trước hết là người Nga, bị chia cắt nhân tạo. Nhiều chính khách xoay quanh sự thực này như con mèo chạy quanh bát cháo nóng. Họ khóc lóc Liên Xô, thương hại người tị nạn, chửi rủa bọn chia rẽ, nguyền rủa đám hải ly Belovegiơ (những người ký kết hiệp định Belovegiơ giải tán Liên Xô), nhưng họ vẫn không chịu nhận thức rằng, trong lịch sử chưa từng có sự chia cắt quy mô đến thế. Dấu hiệu dân dã đầu tiên của một dân tộc là tiếng mẹ đẻ, nếp sống và văn hóa. Chúng không khác nhau ở người Belarus, đại Nga và tiểu Nga, cả cộng đồng Kazak. Tiếng Nga vĩ đại có hơn 80% người Belarus sử dụng, là tiếng mẹ đẻ cho 28% người không phải người Nga tại Liên bang Nga, toàn bộ dân trung và đông Ukraine đều dùng tiếng Nga”.

Người Nga và các dân tộc khác ở Nga rơi vào tình trạng rất nặng nề. Latvia và Estonia thiết lập chế độ diệt chủng. Dân nói tiếng Nga (họ dùng thuật ngữ này) mất quyền công dân, kể cả quyền bầu cử. Các trường dạy bằng tiếng Nga lần lượt bị đóng cửa. Bằng sự giúp đỡ của phương Tây “người nói tiếng Nga” trên thực tế không được coi là người. Người Nga bị coi khinh cả nhiều nơi khác. Trong bài Những kẻ bị trục xuất “dân chủ” của A. Chichkin (Al Kodx số 7, tháng 3/1994) nêu các số liệu:

Trong số 388 nghìn người nói tiếng Nga số tại Tajighistan trước năm 1989, 200 nghìn người rời đi trong thời gian 89 – 91, 1992 – 75 nghìn, 1993 – 85 nghìn…”. Hãng AF đưa tin 18 tháng 12 năm 1993: “Trên thực tế, tại vùng Trung Á người Nga bị coi là những phần tử không được hoan nghênh. Họ cần phải hoặc theo đạo Hồi, hoặc ra đi”.

“…Đêm đến, người ta đến nhà chúng tôi ở Osa và chửi bới chúng tôi là kẻ ngoại bang, hãy cút về Nga. Chúng bảo: “Ở đó có nhiều loại người như chúng bay”… Sáng hôm sau, họ báo cho chúng tôi biết tàu hàng đã chờ sẵn ngoài ga để đưa chúng tôi về Nga. Chuyện đó xảy ra khắp nơi, không chỉ đối với người Nga, mà cả các dân tộc khác như Ukraine, Belarus…”

Tàu hàng chở chúng tôi đi hàng nghìn cây số trong điều kiện mất vệ sinh như chở súc vật! Còn phương Tây “lịch sự”, “chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho nhân quyền” câm lặng trước sự diệt chủng đó”.

Tai họa đến với mọi dân tộc Liên Xô. Xung đột và căng thẳng sắc tộc được thổi bùng khắp nơi, từ Nagorno-Karabakh đến Nam Osertia, Abkhazia, Pridnextrovie. Quảng đại quần chúng bị phá sản, rơi vào cảnh bần cùng, chết dần mòn. Bước tiếp theo là chia nhỏ nước Nga. Ngay từ đầu cải cách chủ nghĩa ly khai đã được cổ vũ. Các địa phương được khuyến khích giành chủ quyền, càng nhiều càng tốt. Tình hình Bắc Caucasus đặc biệt phức tạp khi cuộc xung đột Cheschnia bùng nổ. Thực chất, cuộc xung đột này được tổ chức tại Moskva, phục vụ cho quyền lợi nhiều nhóm người, từ tranh giành quyền lực đến việc tiêu thụ trang bị vũ khí, thuốc men, quân lương quá hạn. Tình hình Daghestan, Osertia-Ingusetia cũng chẳng kém.

Nhưng những sự kiện chính lại xảy ra tại Siberia và Viễn Đông. Hạ tầng cơ sở tại Bắc Nga bị lần lượt thủ tiêu. Thành phố và làng mạc bị bỏ mặc. Nhu yếu phẩm chỉ được chở đến nhỏ giọt. Dân bỏ nơi sinh sống ra đi cầu thực, chết mòn. Tình hình Viễn Đông thật nặng nề, ngân sách được cấp quá ít so với nơi khác. Đó là sự thực thi chiến dịch giảm dân số Siberia và Viễn Đông, thiết lập sự chiếm đóng (kiểm soát) của Mỹ đối với vùng lãnh thổ mênh mông, không còn dân, nơi tập trung hầu như toàn bộ tài nguyên thiên nhiên phong phú không tưởng tượng nổi.

Quá trình chia vùng lãnh thổ Nga vẫn tiếp tục. Có đến 89 chủ thể được khuyến khích độc lập với hiến pháp riêng, thường đối lập với hiến pháp Nga. Chiến dịch ồn ào của phương tiện thông tin đại chúng hô hào chống Belarus, lá chắn phía Tây cho Nga từ phía NATO, có tính điển hình.

Thủ tiêu nền công nghiệp

Liên Xô là một cường quốc công nghiệp. Các xí nghiệp liên kết với nhau bằng trăm nghìn mối quan hệ và tạo thành một cơ thể sống thống nhất. Có hệ thống năng lượng thống nhất, mạng đường sắt thống nhất, đường không thống nhất, xăng dầu thống nhất. Nhiều xí nghiệp, đặc biệt là Tổ hợp công nghiệp Quốc phòng, rất độc đáo và có trình độ kỹ thuật cao. Hệ thống quản l1y cũng thống nhất – đó là nền kinh tế có kế hoạch.

Nhưng chiến tranh thông tin – tâm lý đã làm cho người dân hiểu sai sự thật. Kinh tế quốc dân được coi là tập hợp các xí nghiệp độc lập như thế kỷ trước. Kinh tế bị đánh tả tơi. Đối với phương Tây, ý thức xã hội của dân Nga như vậy và người dân không còn khả năng đánh giá khách quan tình hình, không còn khả năng chống trả, có nghĩa là Nga trở thành Clondake huyền thoại, cho phép họ xâm chiếm dễ dàng tài nguyên nằm ngay dưới chân: công nghệ hiện đại nhất, thành tựu khoa học cơ bản nhất, các xí nghiệp độc đáo, nguyên, vật liệu chiến lược. Tất cả cái đó là của dân bản xứ – Nga, tựa như người da đỏ thời bị phương Tây cướp bóc, diệt chủng.

Một trong các tác giả của cuốn sách Tư nhân hóa thâm độc (Lixichkin B.A., M.:1997) đã phân tích chi tiết quá trình tiêu diệt nền công nghiệp, cướp bóc tài sản và cơ chế thực hiện các quá trình này. Cái mà phương Tây dùng quá trình tư hữu hóa đã làm ở Nga là độc nhất vô nhị trong lịch sử thế kỷ XX. Xin dẫn một vài số liệu trong quyển sách này:

Tổn thất do quá trình tư hữu hóa lớn hơn hai lần tổn thất do Đại chiến thế giới thứ II (1941 – 1945) gây ra cho Nga và vượt quá mọi sức tưởng tượng.

Phân tích sơ bộ 500 xí nghiệp lớn nhất của Nga bị Chubais cho tư hữu hóa bằng chứng khoán dẫn đến những kết luận kinh hoàng sau đây:

Trong số 500 xí nghiệp lớn nhất của nước Nga thì gần 80% các xí nghiệp đó được bán đấu giá với giá dưới 8 triệu USD mỗi xí nghiệp. 324 nhà máy được bán với giá dưới 4 triệu USD. Uralmas với 34 ngàn công nhân giá 7,3 triệu USD. Nhà máy cơ khí Covrov, nơi sản xuất vũ khí bộ binh cho toàn bộ quân đội, Bộ Nội vụ, các đơn vị đặc chủng với 54,3 nghìn công nhân bán 2,2 triệu USD. Để so sánh, một xưởng bánh mì hạng trung ở châu Âu giá khoảng 2 triệu USD, nhà máy chế biến giò hạng trung của Thụy Sĩ giá 3,5 triệu USD. Bè cũ Chubais đổi nhà máy máy kéo Treliabinsk lấy xưởng bánh mì.

500 xí nghiệp bị bán đổ bán tháo. Bọn đầu cơ, hay còn được gọi là chủ sở hữu chiến lược từ lớp “người Nga mới” hoặc ngoại quốc núp bóng các công ty đã mua hết những xí nghiệp lớn nhất. Nhân vật Timophayev ở Tiumen mua 210 triệu cổ phiếu của Liên hiệp “Gazprom” hết 2,2 tỷ USD, còn tay Cakha Bendukidze người Gruzia mua 51% cổ phiếu “Uralmas” và trở thành ông chủ tuyệt đối của xí nghiệp quốc phòng lớn nhất, toàn quyền quyết định vận mệnh 34 ngàn công nhân. Gói cổ phiếu khống chế của các xí nghiệp sản xuất nhôm Vùng Brarxcơ và Crasnoiaxcơ bị đám anh em nhà Triôrnưi di tản từ Liên Xô sang Israel mua trọn. Tư hữu hóa toàn bộ công nghiệp nhôm trở thành vụ scandal lớn ở Nga.

Giá của các xí nghiệp quốc phòng bị các cố vấn Mỹ của Chubais cố tình dìm xuống. Tay chuyên viên người Mỹ D. Hay là người CIA thông qua hãng “Granic” của Nga đã mua nhà máy thử nghiệm của Viện nghiên cứu “Grafit” và 30% cổ phiếu của nhà máy điện cực Moskva, trở thành ông chủ của Tổ hợp công nghiệp quốc phòng đặc biệt, nơi chuyên sản xuất grafit cho tên lửa. Là ông chủ, Hay bắt các xí nghiệp đó phải từ chối các đơn đặt hàng của Bộ đội tên lửa – vũ trụ Nga, phải nhận các đơn đặt hàng của Mỹ. Quá trình tư hữu hóa của Chubais gây tổn thất vô cùng lớn cho khả năng phòng thủ của Nga.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần cuối


4/ Chạy đua vũ trang không có hiệp định hạn chế vũ trang

Tuy vào năm 1976 các nước ASEAN đã ký Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác và Tuyên ngôn Hài hòa ASEAN (Declaration of ASEAN Concord), tuyên bố dùng phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp, nhưng đối với việc xây dựng lực lượng quân sự của các nước thì nó lại giữ thái độ tự do, bởi vì lực lượng quân sự của các nước có sự khác nhau tương đối lớn, hơn nữa các loại vũ khí trang thiết bị hiện đại hóa quan trọng phần lớn lại nhập từ ngoài khu vực quan trọng (Trung Quốc và Nhật Bản) lại không phải là nước thành viên, bởi vậy ít có khả năng ASEAN ký các hiệp định hạn chế vũ trang. Chính vì vậy chạy đua vũ trang của các nước ASEAN là một sự chạy đua nhằm theo đuổi cân bằng lực lượng quân sự, chỉ cần có một nước tăng cường lực lượng quân sự của nó thì sẽ có thể phá vỡ thế cân bằng lực lượng quân sự vốn có. Đặc biệt, quan hệ giữa các nước hạt nhân của ASEAN – Indonesia, Malaysia và Thái Lan -, trong tình hình không có hiệp định hạn chế vũ trang thì chúng chỉ có thể thông qua hợp tác quân sự hai bên để xây dựng tín nhiệm, nhằm ngăn ngừa chạy đua vũ trang vượt ra khỏi phạm vi hợp lý.

5/ Chạy đua vũ trang nhằm hiện đại hóa quốc phòng

Chạy đua vũ trang của ASEAN cũng nhằm hiện đại hóa nền quốc phòng vốn quá phụ thuộc vào sự bảo hộ an ninh của Mỹ, thậm chí nâng cấp nền công nghiệp quốc phòng vốn có của nó. Đặc biệt là Indonesia, Malaysia và Singapore, lợi dụng việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự, đòi nước cung ứng đồng thời tiến hành chuyển giao (trao quyền) kỹ thuật hoặc mua linh kiện vũ khí trang thiết bị quân sự của nước ấy, lấy đó là điều kiện giao dịch (trade-off). Điều quan trọng hơn là không phải các nước này chủ yếu dùng vũ khí và trang thiết bị quân sự của Mỹ, họ còn mở rộng ra các nước phương Tây khác, cho tới các nước thuộc nhóm cộng sản Liên Xô cũ. Việc Malaysia mua máy bay chiến đấu của Nga chính là bước đi tiên phong mở đường, làm cho các nguồn quân bị của ASEAN đa nguyên hóa, nắm quyền chủ đạo, lựa chọn các nước cung ứng có lợi để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng.

6/ Chạy đua vũ trang có xung đột ở cường độ thấp

Chạy đua vũ trang của ASEAN là chạy đua về vũ khí truyền thống (conventional weapons) chứ không phải về vũ khí hạt nhân, do đó tính phá hoại và tính hủy diệt của nó không đến mức quá lớn, mà hạn chế ở phạm vi “xung đột cường độ thấp” (Low intensity conflict). Hơn nữa ASEAN lại có kinh nghiệm thành công trong hợp tác về kinh tế, chính trị và ngoại giao, như Tuyên ngôn về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (Zone of Peace, Freedom and Newtrality) và Khu vực Phi Hạt nhân Đông Nam Á (Southeast Asia Nuclear weapons Free Zone) và các chiến lược an ninh khác, do đó chạy đua vũ trang giữa các nước thành viên ASEAN không đến mức gây ra xung đột quân sự nghiêm trọng. Mặt khác các nước ASEAN đều tương đối nhạy cảm với các công việc quân sự trong khu vực. Gần đây tập trận hai bên giữa các nước có tăng lên. Đó là tập trận có góp phần vào việc xây dựng các giá trị tín nhiệm. Do vậy chạy đua vũ trang tuy có thể gây ra căng thẳng trong quan hệ, nhưng không đến mức phá hoại đoàn kết của ASEAN. Trong thời gian trung và ngắn hạn, không có nhiều khả năng diễn ra đụng độ quân sự trong khu vực này.

Tính chất của chạy đua vũ trang của ASEAN không đến mức làm cho trật tự trị an ninh khu vực Đông Nam Á phải chịu tác động to lớn. Bởi vì trong khi duy trì an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ASEAN đóng vai trò hai tầng: tham gia đồng đều vào quyền lực khu vực và thúc đẩy cơ chế an ninh nhiều bên, và nó đã có đóng góp quan trọng; hơn nữa xét kỷ lục lịch sử là nó đã tồn tại gần 30 năm thì việc duy trì an ninh khu vực cũng là thành tựu cực kỳ nổi bật của nó. Quan trọng hơn là nó vẫn tiếp tục thuận theo thời kỳ sau chiến tranh lạnh mà từng bước thúc đẩy cơ chế an ninh nhiều bên, tăng cường phối hợp và giúp đỡ sự phát triển kinh tế của các nước vốn là mối đe dọa tiềm tàng trong khu vực (như Việt Nam, Campuchia), mở rộng hơn nữa đồng minh, làm cho chúng trở thành đối tác, cùng giữ gìn an ninh khu vực. Đặc biệt là kế hoạch mở rộng sáu nước ASEAN thành mười nước ASEAN trong khu vực và xây dựng các loại cơ chế phi quân sự và phi quan phương nhiều bên ngoài khu vực, thu hút các nước hữu quan khác nhằm xây dựng ý thức tin cậy và nương tựa lẫn nhau, làm cho những xung đột mà ASEAN phải đương đầu có thể được hóa giải bằng phương thức đàm phán hòa bình. Hơn nữa ASEAN còn ra sức đẩy mạh đa phương hóa việc hợp tác quân sự, đưa ra đề nghị liên hợp mua vũ khí và trang thiết bị quân sự, cùng hợp tác sản xuất một phần linh kiện vũ khí và tiêu chuẩn hóa vũ khí. Trên cơ sở hợp tác quân sự hai bên đã có, dần dần tiến hành hợp tác quân sự nhiều bên. Chẳng hạn, tập trận chung giữa Mỹ và Thái Lan, vì cân nhắc đến ngân sách của Mỹ, đã kết hợp tập trận luôn với Singapore. Tương tự, tập trận giữa Mỹ và các nước ASEAN khác cũng có thể được gộp lại. Với sự giúp đỡ của Mỹ, ASEAN cũng có thể dần xây dựng quan hệ hợp tác quân sự nhiều bên. Bởi vì trong báo cáo chiến lược của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương có chỉ ra rằng: “Chiến lược của chúng ta (tức của Mỹ – BT) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trận chủ động hai bên và nhiều bên giữa quân đội Mỹ và quân đội các nước hữu nghị và các nước đồng minh”. Đương nhiên muốn làm cho ASEAN trở thành một “cộng đồng quốc phòng” đơn nhất, triển khai lực lượng quân sự tập thể thì vẫn cần một lộ trình và những thử thách cần khắc phục, cũng cần phải quan sát xem Trung Quốc có xử lý vấn đề Nam Hải bằng vũ lực quân sự hay không.

IV/ Kết luận

Thời kỳ sau chiến tranh lạnh bắt đầu, ASEAN có cảm giác không xác định và không an toàn ngày càng tăng do Mỹ rút giảm lực lượng quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương. Nó có nhận thức mới về mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và việc nó nâng cấp lực lượng quân sự của mình cũng là biện pháp tự vệ đương nhiên. Đặc biệt, cảm giác về mối đe dọa Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quốc phòng những năm gần đây, sự suy giảm trong hoạt động phiến loạn của Hồi giáo và Cộng sản ở trong nước làm cho ASEAN cần phải nâng cấp việc hiện đại hóa quân sự quốc phòng. Hơn nữa kinh tế của các nước ASEAN cũng đang từng bước tăng trưởng nhanh chóng, các tổ hợp quân sự – công nghiệp của các nước ASEAN lại có sức ảnh hưởng và địa vị nhất định trong nền chính trị trong nước. Kinh tế tăng trưởng nhanh, lại có các nguồn của cải đầy đủ để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng. Hơn nữa thời kỳ chiến tranh lạnh đã kết thúc, thị trường vũ khí trang thiết bị quân sự thế giới cung lớn hơn cầu, là thị trường người mua. Những điều đó làm cho ASEAN đứng trước sự thách đố là các nước thành viên của nó tích cực tiến hành chạy đua vũ trang. Nhưng do việc chạy đua vũ trang của các nước ASEAN là dựa trên thể chất của bản thân ASEAN nên có các tính chất là: không thể tránh khỏi, không có kẻ thù rõ ràng, mua vũ khí và trang thiết bị của nước ngoài, hiện đại hóa quốc phòng, xung đột cường độ thấp và không có hiệp định hạn chế vũ trang. Những tính chất đó làm cho bên cạnh xung đột vũ trang, giữa chúng cũng có quan hệ hợp tác quân sự. Đặc biệt là Mỹ vẫn có lợi ích và sức ảnh hưởng ở khu vực này. Có thể trên cơ sở kinh nghiệm thành công trước đây của ASEAN trong việc giữ gìn an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, giúp ASEAN để trong khi đương đầu với chạy đua vũ trang, nó vận dụng thành công các tổ chức an ninh nhiều bên, từ đó loại bỏ khả năng xảy ra xung đột quân sự hoặc chiến trnah, phá hoại trật tự an toàn khu vực.

Nhưng muốn làm cho ASEAN trở thành một “cộng đồng quốc phòng” đơn nhất, triển khai lực lượng quân sự tập thể, thì vẫn phải có một lộ trình và những thử thách cần khắc phục. Bởi vì khác biệt giữa các nước thành viên bên trong ASEAN là rất lớn. Cũng cần quan sát vai trò lực lượng quân sự của Trung Quốc trong khu vực này. Đặc biệt là trong việc xử lý các vấn đề ở Nam Hải, đương nhiên vấn đề Đài Loan cũng là một giác độ tốt để ASEAN quan sát lực lượng quân sự của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần IV


7/ Tăng trưởng kinh tế liên tục

Nhân tố chủ yếu nhất làm cho các nước ASEAN tích cực tiến hành mau vũ khí và trang thiết bị quân sự không có gì hơn là sự tăng trưởng kinh tế nhanh của các nước đó trong những năm gần đây. Ngoài Philippines, năm nước khác đều duy trì mức tăng trưởng kinh tế tương đối cao, có tương đối nhiều vốn để mua vũ khí và trang thiết bị quân sự. Khoản chi cho quốc phòng và ngân sách quốc phòng tăng lên, việc mua vũ khí trang thiết bị quân sự của nước ngoài cũng tăng lên. Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh nên tỉ lệ chi phí quốc phòng và ngân sách quốc phòng trong tổ sản phẩm quốc dân giảm xuống, nhưng tổng kim ngạch ngân sách quốc phòng vẫn khá lớn. Các nhà khoa học đã phân tích và chỉ ra rằng giữa mức tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN và chi phí uốc phòng của các nước đó có quan hệ tỉ lệ thuận với nhau. Theo thống kê tư liệu của Viện Nghiên cứu chiến lược Quốc tế ở London (Anh) thì tổng sản phẩm trong nước (GDP), tỉ lệ tăng trưởng kinh tế (Rate of Economic Growth, EG), ngân sách quốc phòng (Defense Budget, BG) và chi quốc phòng (Defense Expending, EP) những năm gần đây của các nước ASEAN là như Biểu 3.

Nhờ kinh tế tăng trưởng, ASEAN tích lũy được của cải, trong khi đó thị trường bán vũ khí quốc tế lại tiêu điều. Là thị trường người mua, sẵn có kinh phí, lợi dụng thời cơ, ASEAN đã tiến hành mua vũ khí, trang thiết bị quân sự và xây dựng quân sự. Nhưng các nước ASEAN cũng không muốn ngân sách xây dựng quân sự ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của mình. Họ cũng từng bước tiến hành cắt giảm ngân sách quốc phòng và tái giảm quân bị, nhưng chỉ với tiền đề là lực lượng quân sự của các nước đó đã dần dần hiện đại hóa.

III/ Tính chất và tác động của chạy đua vũ trang

Biểu 3: Thống kê tổng sản phẩm trong nước, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, ngân sách quốc phòng và chi phí quốc phòng những năm gần đây của các nước ASEAN

Nước Năm GDP (100 triệu USD) EG BG (100 triệu USD) BE (100 triệu USD)
Brunei 1993 50,0 4,0%   2,12
1994 53,0 4,0%   2,39
1995     0,48  
Malaysia 1993 644,0 8,3%   26,4
1994 699,0 8,5% 20,5  
1995     24,1  
Indonesia 1993 1447,0 6,5%   20,3
1994 1548,0 7,0% 23,2  
1995     25,7  
Singapore 1993 543,9 2,1%   7,49
1994 638,8 4,3% 8,75  
1995     10,04  
Thái Lan 1993 1220,0 7,8%   31,2
  1994 1324,0 8,5% 36,2  
  1995     40,0  

Nguồn: The International Institute for Strategic Studies, the Military Balance 1995 – 1996 (London: Oxford University Press, 1995), pp 174-195.

Duy trì an ninh khu vực, về mặt chính trị, ngoại giao và kinh tế, các nước ASEAN đều có thể xúc tiến lợi ích của các nước thành viên, nhưng về mặt quân sự thì lại tiến hành với phương thức chạy đua vũ trang. Điều đó tác động như thế nào tới an ninh khu vực? Tính chất chạy đua vũ trang của ASEAN không giống với của châu Âu, làm cho một số học giả không thừa nhận có hiện tượng chạy đua vũ trang ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tính chất việc chạy đua của ASEAN có thể quy thành mấy đặc điểm sau:

1/ Chạy đua vũ trang không thể tránh khỏi

Vừa mới thành lập, ASEAN đã kiên trì lập trường loại trừ việc trở thành một liên minh quân sự, cũng loại trừ các quan hệ hợp tác quân sự theo liên minh quân sự nhiều bên, nhưng cho phép các thành viên kết thành liên minh quân sự theo phương thức hợp tác quân sự song phương với các nước trong và ngoài khu vực, nhưng duy trì tính co giãn và tính lựa chọn. Thứ quan hệ hợp tác quân sự hai bên như vậy có tác dụng quan trọng đối với chính trị và an ninh của toàn ASEAN, góp phần vào việc tạo ra sự tín nhiệm lẫn nhau. Đặc biệt trong tập trận, chủ yếu là dùng không quân và hải quân, như vậy sẽ tránh được sự nghi kị của đối phương. Nhưng đối với các kiến nghị hợp tác quân sự nhiều bên, nó vẫn giữ thái độ cự tuyệt. Indonesia, Malaysia và Singapore đều có các quan hệ hợp tác quân sự hai bên với nhau, vì vậy kiến nghị thành lập Ủy ban Hợp tác Quân sự ba nước (Three Country Military Cooperation Committee) hoặc Ủy ban Hợp tác Quốc phòng (Defense Cooperation Committee) đã gây ra tranh cãi nên phải chuyển sang tiến hành theo phương thức phi chính thức. Ngay cả mối quan hệ hợp tác quân sự nhiều bên lớn nhất – Hiệp định Hợp tác Quân sự Năm nước (Five power Defense Arrangement) – cũng là sự hợp tác giữa Singapore và Malaysia với các nước ngoài khu vực là Anh, New Zealand và Australia; Indonesia thậm chí coi hiệp định này là nhằm vào mình. Có thể thấy, hình thành một liên minh quân sự đơn nhất bên trong ASEAN là điều không thể được. Đặc biệt, việc tranh chấp lãnh thổ và nghi kị giữa các thành viên bên trong nó đã làm cho các nước ASEAN tiến hành chạy đua vũ trang nhằm tự vệ.

2/ Chạy đua vũ trang không có kẻ thù rõ rệt

Đúng như đã trình bày ở trên, có thể hiểu “kẻ thù” tiềm tàng của ASEAN cũng là “đồng minh” quan trọng (như Mỹ, Nhật Bản Trung Quốc) để nó duy trì an ninh khu vực; còn một số “đồng minh” bên trong của nó lại là “kẻ thù” tiềm tàng của nó (như Malaysia và Singapore, Thái Lan, Philippines và Malaysia). Điều này làm cho việc chạy đua vũ trang của ASEAN không có sự đe dọa của một kẻ thù rõ ràng nhưng khắp nơi lại đều có sự đe dọa của kẻ thù. ASEAN lo ngại vì chiến tranh lạnh kết thúc mà an ninh khu vực, sự cân bằng và ổn định quyền lực vốn có bị phá vỡ, do đó cần phải chuẩn bị chiến tranh trước, đặc biệt là cần phải hiện đại hóa vũ khi và thiết bị quân sự vốn dùng để đối phó với lật đổ bên trong, biến thành vũ khí và thiết bị quân sự (như trang bị hải quân và không quân) dùng để đối phó với chiến tranh xâm phạm lãnh thổ. Hơn nữa, kết thành liên minh quân sự cũng chẳng ích gì cho việc ngăn chặn các mối đe dọa, lại có thể gây ra bạo loạn vì yêu sách dân tộc và sự đối kháng của các cường quốc khác (Trung Quốc và Việt Nma). Do vậy mà có hiện tượng các nước ASEAN tự tiến hành mua vũ khí, thậm chí Malaysia và Singapore còn cạnh tranh lẫn nhau trong việc này. Điều đó nói lên rằng “kẻ thù giả định” trong chạy đua vũ trang của ASEAN vừa là kẻ thù vừa là đồng minh của nó, “kẻ thù” hoàn toàn không rõ ràng.

3/ Chạy đua vũ trang chủ yếu bằng cách mua của nước ngoài

Cùng với tăng trưởng kinh tế từng bước và thuận theo thời cơ của thị trường bán vũ khí quốc tế, ASEAN đã mua ào ạt thiết bị và kỹ thuật quân sự hiện đại để bổ sung vào chỗ thiếu hụt và hạn chế trong năng lực công nghiệp quốc phòng trong nước. Vũ khí trang thiết bị quân sự mà ASEAN mua phần nhiều là vũ khí tiên tiến hiện đại hiện nay (như chiến xa chủ lực T-69 và M60A1; máy bay chiến đấu F-16, Mirage-2000, FXA-18, MiG-29; đạn pháo AIM-9). Đặc biệt là Indonesia với Bộ trưởng Habibie đóng vai trò chủ đạo đã mua hàng loạt vũ khí và kỹ thuật của Nga, Đức, nâng cấp công nghiệp quốc phòng Indonesia. Bởi vậy gia tăng mua từ nước ngoài là con đường ngắn vừa nhanh vừa rẻ để nâng cấp lực lượng quân sự quốc phòng. Ngoài ra lại có thể cải thiện quan hệ ban đầu với các nước Cộng sản (như Nga và Trung Quốc), bởi vì chạy đua vũ trang giữa các nước ASEAN chủ yếu là mua của nước ngoài.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần III


3/ Sự suy giảm hoạt động của chủ nghĩa phục hưng Hồi giáo (Islamic Revivalism) và hoạt động gây rối của đảng Cộng sản ở trong nước

Các nước ASEAN đều có một dân số Hồi giáo nhất định, đặc biệt là dân số Hồi giáo ở Indonesia, Malaysia, Brunei còn chiếm đa số, Thái Lan cũng có 5%, Philippines có 10%, Singapore có 17%. Tín đồ Hồi giáo có sức ảnh hưởng vượt trên tỉ lệ dân số của nó ở ASEAN. Đặc biệt là tổ chức phiến loạn Hồi giáo “mặt trận giải phóng dân tộc Moro” (Moro National Liberation Front) ở miền Nam Philippines luôn dùng lực lượng vũ trang thách thức sự thống trị của chính phủ, đòi độc lập; các tín đồ Hồi giáo dũng mãnh (Shia militants) của Thái Lan cũng chống lại chính sách đồng hóa của chính phủ, cuối cùng chính phủ đã phải đồng ý dựng đền Hồi giáo ở miền Nam để tránh xung đột. Từ những năm 1970 các tín đồ Hồi giáo trong khu vực ASEAN càng có ý đồ xây dựng “hiệp hội các nước Hồi giáo” (Muslim Commonwealth). Đứng trước sự đe dọa nền an ninh trong nước, đặc biệt là yêu sách lập nước hoặc khối tự trị độc lập bắt nguồn từ cuồng nhiệt tôn giáo, ngoài việc đàm phán, tăng cường lực lượng quân sự cũng là biện pháp không thể thiếu. Đặc biệt Philippines đã tăng cường mua vũ khí và trang thiết bị quân sự nhằm đối kháng bằng vũ lực với lực lượng phiến loạn Hồi giáo.

Hoạt động phiến loạn của đảng Cộng sản trong các nước ASEAN từ những năm 1960 đã bắt đầu khá mạnh, đặc biệt là ở Indonesia và Malaysia, tạo ra trở ngại rất lớn cho quan hệ giữa các nước ASEAN và Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc đứng đằng sau ủng hộ và chỉ đạo lực lượng này. Hoạt động phiến loạn của đảng Cộng sản được chi viện của Trung Quốc về lực lượng quân sự. Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore đều từng phải đương đầu với sự thách thức của các cuộc bạo loạn vũ trang của đảng Cộng sản. Bởi vậy nâng cấp lực lượng quân sự là góp phần khống chế hoạt động phiến loạn ở trong nước.

Nhưng cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, hòa đàm được dùng thay thế cho đối kháng. Đặc biệt là trong sự giao thiệp giữa ASEAN và Trung Quốc, Trung Quốc càng cố gắng trút cái gánh nặng lịch sử trước đây, tức là gánh nặng ủng hộ các hoạt động phiến loạn của đảng Cộng sản. Điều đó làm cho hoạt động phiến loạn bên trong các nước ASEAN suy giảm đi, cũng là cho lực lượng vũ trang vốn chủ yếu là chống chiến tranh lật đổ của các nước đó chuyển thành lực lượng vũ trang hiện đại hóa nhằm phối hợp ngăn chặn chiến tranh xâm phạm lãnh thổ và giữ gìn an ninh khu vực. Điều đó cũng làm cho các nước ASEAN tăng lượng mua vũ khí và thiết bị quân sự hiện đại của nước ngoài.

4/ Ảnh hưởng của tổ hợp quân sự – công nghiệp (militaray – industrial complex)

Trong số các nước ASEAN, trừ Brunei không có công nghiệp quốc phòng, còn lại năm nước đều tích cực tiến hành công nghiệp hóa quốc phòng, đặc biệt là Singapore và Indonesia càng đi đầu so với các nước kia. Indonesia chủ yếu có các ngành sản xuất quốc phòng như hàng không vũ trụ, đóng tàu, vũ khí cỡ nhỏ và thuốc nổ… Đặc biệt là máy bay tầm vừa và máy bay lên thẳng của công nghiệp hàng không vũ trụ là khá nổi tiếng trên thị trường quốc tế. Ở Singapore, chủ yếu là các công ty do nhà nước khống chế cổ phần đảm đương các ngành sản xuất công nghiệp quốc phòng, chủ yếu sản xuất các loại vũ khí hạng nhẹ, sản xuất và sửa chữa các linh kiện và phụ kiện tàu và máy bay cỡ nhỏ. Philippines, Thái Lan và Malaysia thì mới có những mầm mống, cũng sản xuất các loại vũ khí cỡ nhỏ, máy bay lên thẳng, tàu thuyền. Tiến hành sản xuất công nghiệp quốc phòng, ngoài mục đích kinh tế, chủ yếu các nước ASEAN nhằm mục đích chính trị: tự cung tự cấp, giảm bớt độ phụ thuộc vào nước ngoài. Bởi vậy các nhà doanh nghiệp trong công nghiệp quốc phòng phần lớn là các nhân vật chính trị có quyền thế lớn mạnh, như Bộ trưởng Nghiên cứu và Kỹ thuật Indonesia B.J. Habibie và Gah Keng Swee, là nhân vật then chốt của công nghiệp quốc phòng nước này. Năm 1992 Habibie đã từng đóng vai trò chủ chốt trong việc Indonesia mua vũ khí và trang thiết bị hải quân của Đông Đức. Ông ta nắm thực quyền mua vũ khí, làm cho phái quân đội khá lúng túng.

Việc quân sự hóa (militarization) ở các nước ASEAN đã là hiện tượng lịch sử nhiều năm. Quân đội có sức ảnh hưởng nhất định trong nền chính trị đối nội ở các nước này. Thậm chí sự phát triển an ninh và ổn định của những nước này cũng có quan hệ quan trọng với giới quân sự đặc biệt là Thái Lan, Myanmar, Indonesia và Philippines. Giới quân sự Thái Lan hiện nay vẫn can thiệp vào các quyết sách ngoại giao, các quan chức quân sự cao cấp cũng có người là giám đốc các xí nghiệp quốc doanh; giới quân sự Indonesia là cơ sở của sự ổn định chính trị ở nước này. Địa vị chuyên nghiệp của quân nhân trong các công việc an ninh quốc gia lại được cộng thêm với ảnh hưởng chính trị của họ. Trong số 270 nghị viên do Nhà Vua chỉ định trong thượng nghị viện Thái Lan thì phần lớn là các quân nhân tại ngũ và dự bị, họ có quyền phủ quyết nhất định đối với các nghị quyết của Hạ nghị viện dân cử, làm cho họ có nguồn phân phối khá lớn trong ngân sách nhà nước.

Bởi vậy, do quân nhân có sức ảnh hưởng trong chính phủ và quốc hội, họ lại liên kết với giới doanh nghiệp trong ngành công nghiệp quốc phòng trong nước và phối hợp với sự biến đổi của môi trường quốc tế bên ngoài, để tiến hành việc xây dựng quân sự và mua vũ khí trang thiết bị quân sự, làm cho việc mua vũ khí trang thiết bị quân sự ở các nước ASEAN thu hút sự chú ý và có hiện tượng chạy đua.

5/ Mối đe dọa, nghi kị và tranh chấp trong khu vực

Tuy tháng 9/1989 Việt Nam rút quân khỏi Campuchia nhưng lực lượng quân sự lớn mạnh của Việt Nam vẫn là mối lo ngại của các nước ASEAN. Họ sợ Việt Nam đe dọa tới an ninh của khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt Thái Lan coi Việt Nam là mối đe dọa an ninh chủ yếu của nó. Hơn nữa Việt Nam vẫn là nước Cộng sản lớn mạnh trong khu vực, hệ tư tưởng của nó hoàn toàn khác với hệ tư tưởng của các nước ASEAN, mà ASEAN trước nay lại dùng hệ tư tưởng chống cộng. Dù rằng năm 1992 Việt Nam đã ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác (Treaty of Amity and Cooperation) năm 1976 với ASEAN, tuyên bố sẽ giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình, và trong cùng năm đã trở thành quan sát viên của ASEAN, nhưng các nước vẫn có cảm giá về sự đe dọa không xác định của Việt Nam. Do vậy, ngoài việc từng bước đưa Việt Nam vào cơ chế an ninh khu vực, các nước ASEAN cũng không thể không “làm cho mình có cái gì đó để chống lại”.

Giữa các nước ASEAN lâu nay vẫn có sự tranh chấp về chủ quyền quản lý lãnh thổ và hải phận, đặc biệt, vùng biển kinh tế 200 hải lý (200 mile Exclusive Economic Zone) gây tranh chấp càng lớn hơn. Các vụ tranh chấp khác như giữa Malaysia và Philippines đối với Sabah; Malaysia và Singapore đối với Pedra Branca. Malaysia và Brunei đối với Limbang; Malaysia và Thái Lan cũng có tranh chấp về biên giới lãnh thổ. Tại Vịnh Thái Lan cũng có tranh chấp. Thái Lan và Philippines thậm chí nghi ngờ hoạt động gây rối của Hồi giáo ở miền Nam là do Mayalaysia ủng hộ. Đại sứ Indonesia tại Malaysia nói Singapore nôn nóng phát triển quan hệ mật thiết với Indonesia là cần chống lại Malaysia. Quan chức Malaysia cũng nói Singapore là “con sói đội lốt dê”. Những vụ tranh chấp lãnh thổ này cùng với những nghi kỵ lẫn nhau xuất hiện liên tục không dứt càng cho thấy vấn đề Nam Hải liên quan đến các nước Philippines, Malaysia, Brunei. Các nước tăng cường lực lượng quân sự quốc phòng của mình nhằm quán triệt chủ trương về lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. Do vậy để tìm cách tự vệ, khi các nước khác thực hiện trước việc tăng cường năng lực quân sự thì các nước ASEAN cũng đua nhau tiến hành chạy đua vũ trang.

6/ Thị trường vũ khí và trang thiết bị quân sự quốc tế cung lớn hơn cầu

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, đối kháng Mỹ – Xô dịu đi, giao dịch về vũ khí và trang thiết bị quân sự quốc tế co giảm đi rất nhiều. Các hợp đồng bán vũ khí trước đây buộc phải thủ tiêu hoặc co giảm. Để tìm cách sống còn, giới doanh nghiệp quốc phòng của hai nước Mỹ – Xô phải mở rộng thị trường ở nước ngoài. Đặc biệt Nga càng hi vọng bằng việc bán vũ khí mà có được nguồn vốn cần thiết cho cải cách kinh tế. Bộ trưởng Quốc phòng Nga Pavel Grachev hi vọng năm 94 mức bán vũ khí sẽ tăng 40% và coi châu Á là khu vực ưu tiên để tích cực khai thác. Malaysia bỏ ra 550 triệu USD để mua 18 máy bay chiến đấu MiG-29. Do chiến tranh lạnh kết thúc, phần lớn các nước châu Á không còn phải sợ các nước phương Tây trả đũa, họ đã phát triển quan hệ chặt chẽ với Nga, đặc biệt là trong việc mua phương tiện quân sự của Nga, phá vỡ thị trường mua bán vũ khí của các nước ASEAN do Mỹ chi phối trước đây. Ngoài Nga, các nước Anh, Pháp, Đức cũng tích cực bán vũ khí cho các nước ASEAN, nhờ vậy các nước ASEAN có thể có được vũ khí và kỹ thuật quân sự trình độ cao với giá tương đối thấp, nâng cấp lực lượng quân sự quốc phòng của mình. Vì vậy ASEAN thích lợi dụng thời cơ này để mua vũ khí và thiết bị quân sự với giá rẻ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần II


Vả chăng thời kỳ chiến tranh lạnh kết thúc, thị trường vũ khí và thiết bị quân sự thế giới cung lớn hơn cầu, là thị trường người mua. Tất cả những nhân tố đó đã tạo thuận lợi cho các nước ASEAN tiến hành chạy đua vũ trang. Dù có kiến nghị biến ASEAN thành liên minh quân sự “cộng đồng quốc phòng” (defence community) cũng không thể nào ngăn chặn được xu thế chạy đua vũ trang đó. Việc chạy đua vũ trang cũng thể hiện những tính chất đặc biệt. Dưới đây trình bày mối quan hệ giữa những điều nói trên với việc thúc đẩy chạy đua vũ trang.

1/ Sự biến đổi chiến lược của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Các nước ASEAN coi Mỹ là một đồng minh nguy hiểm nhưng cần thiết (a risky but necessary alliance) – đó là một tâm trạng vừa trông đợi lại vừa sợ bị tổn thất. Tháng 5/1989 tổng thống Mỹ George Bush đưa ra chiến lược đối với Liên Xô là “bước ra ngoài tường vây” (move beyond containment), muốn chuyển từ việc ngăn chặn giản đơn trước kia đối với chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô sang việc làm cho Liên Xô dung hợp vào trong cộng đồng quốc tế, hoan nghênh Liên Xô lại quay về với thời đại mới của trật tự thế giới và hợp tác quốc tế. Trong cuộc chiến tranh quốc tế thứ nhất ở thời kỳ sau chiến tranh lạnh – chiến tranh vùng Vịnh, tổng thống Bush đã công bố trước hội nghị liên tịch của Quốc hội Mỹ bài Tiến tới một trật tự thế giới mới (Toward a New World Order) nói về chiến tranh vùng Vịnh; tại Đại Hội đồng Liên hợp quốc, Bush đã công bố diễn từ tỏ ý muốn thiết lập một liên minh bầu bạn mới vượt ra ngoài khuôn khổ của chiến tranh lạnh, một thứ quan hệ bạn bè dựa trên thương lượng, hợp tác và hành động tập thể, thống nhất theo nguyên tắc và pháp trị, trong đó quan hệ dựa trên việc san sẻ một cách công bằng trách nhiệm và nghĩ vụ; mục đích của nó là thiết lập quan hệ bạn bè nhằm tăng cường dân chủ, thúc đẩy phồn vinh, đẩy tới hòa bình và cắt giảm vũ trang.

Với bối cảnh là quan điểm “trật tự thế giới mới” của Mỹ, khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng mong muốn dùng các biện pháp ngoại giao và quân sự để xây dựng nên “một trật tự khu vực mới” (A New Regional Order), mà theo đó thì nước Mỹ vẫn đóng vai trò quan trọng ở khu vực này, nhưg Mỹ không còn là người bảo vệ khu vực Đông Nam Á, Mỹ hy vọng giao thiệp với ASEAN theo quan điểm “dính líu” (engagement), để cho ASEAN đóng vai trò dẫn đầu (Let ASEAN take the lead!) và chia sẻ trách nhiệm ở khu vực này, đặc biệt là trong việc xử lý quan hệ với Trung Quốc. Đúng như cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từng nói: “Nếu không có Mỹ thì giữa Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á khác khó hoặc không thể có sự cân bằng chiến lược”; “Nếu không có Mỹ, chúng ta sẽ có một sự cân bằng vô cùng lỏng lẻo tại Đông Á, điều đó bất lợi cho an ninh (khu vực)”. Trong Báo cáo về chiến lược của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương (United States Security Strategy for the East Asia – Pacific Region) công bố hồi tháng 2/1995 Bộ Quốc phòng Mỹ đã chỉ ra rằng lợi ích của Mỹ tại châu Á là hòa bình và an nình, thông thương mậu dịch, tự do vận tải và ngăn chặn sự trỗi dậy của bất kỳ quyền lực hay liên minh chúa tể nào. Ổn định và phồn vinh của khu vực Thái Bình Dương có liên quan mật thiết đến lợi ích của Mỹ, Mỹ cần liên tục sử dụng chiến lược “dính líu” và “khuếch trương” (enlargement) để xử lý. “Dính líu” là chỉ việc Mỹ hợp tác và giúp đỡ các đồng minh của mình hiện đại hóa và tăng cường tình hữu nghị lẫn nhau; “khuếch trương” là vượt qua phạm vi đồng minh truyền thống, đưa cả những “kẻ thù” trước đây (Nga, Trung Quốc, Việt Nam) vào cơ chế an ninh đối thoại nhiều bên. Tuy Mỹ vẫn giữ lại một lực lượng quân sự cần thiết để góp phần vào an ninh khu vực, nhưng đã cắt giảm nhiều lực lượng quân sự và chuyển thành “dính líu về quốc phòng” (defence engagement), tức là cử đại biểu lực lượng quân sự đồn trú, cho các nhân viên quân sự cấp cao thăm viếng lẫn nhau, mở các cuộc đối thoại và hội nghị quân sự, giáo dục và đào tạo, thăm hỏi lẫn nhau giữa các hải cảng để hỗ trợ và phối hợp với hiện đại hóa quân sự của các nước ASEAN và biểu đạt sự chấp nhận của Mỹ đối với an ninh khu vực Đông Nam Á. Bởi vì Mỹ cũng biết rằng các nước ASEAN cần lực lượng quân sự Mỹ để đối kháng với các cường quốc khác (như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản,…). Đương nhiên để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ cũng phải làm như vậy.

2/ Tác động của việc hiện đại hóa quốc phòng của Trung Quốc và của việc tăng cường quốc phòng của Nhật Bản

Đối với lãnh tụ của các nước ASEAN, Trung Quốc vừa là đồng minh vừa là kẻ thù. Hội nghị toàn thể III BCHTW khóa 11 ĐCS Trung Quốc năm 1978 đã xác định phương hướng cải cách, kiên trì bốn hiện đại hóa, trong đó hiện đại hóa quốc phòng là bộ phận quan trọng, cũng là bảo đảm đáng tin cậy của việc thực hiện bốn hiện đại hóa này. Qua hơn 10 năm nỗ lực, lực lượng quân sự quốc phòng của Trung Quốc đã có bước tiến bộ dài. Đặc biệt, sự phát triển quan hệ quân sự giữa Trung Quốc và Nga (Liên Xô cũ) cũng có ảnh hưởng to lớn tới an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc mua của Nga máy bay chiến đấu SU-27, MiG-31, máy bay oanh kích tầm vừa TU-22, hệ thống kiểm soát dự báo phòng không IL-76 và máy bay lên thẳng không kích tiến công, máy bay chiến đấu hải quân Yak-141 VSTOL, chiến xa chủ lực T-72M2, máy bay vận tải Varyag, đạn pháo không đối đất và đất đối đất; và dự định mua của Nga và Ukraine hàng không mẫu hạm và kí nhiều kế hoạch hợp tác quân sự. Những việc trên tuy trong một thời gian ngắn chưa gây ra sự đe dọa lập tức và rõ rệt đối với an ninh khu vực, nhưng các nước ASEAN lại lo ngại Trung Quốc sẽ dùng lực lượng quân sự hiện đại hóa của mình vào việc tranh chấp các đảo ở Hải Nam.

Tuy có học giả cho rằng việc hiện đại hóa quốc phòng của Trung Quốc là nhằm đổi mới và nâng cấp lực lượng quốc phòng vốn đã không đủ của Trung Quốc, ngoài việc có thể tạo ra chạy đua vũ trang ở khu vực, nó tuyệt nhiên không phá vỡ cân bằng lực lượng, cũng không dùng vũ lực để tranh chấp ở Hải Nam. Nhưng trong thực tế, “học thuyết về mối đe dọa của Trung Quốc” đã ảnh hưởng rộng rãi tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương, dù rằng Trung Quốc không ngớt đề xướng “năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” hay các quan chức cấp cao như Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Tiền Kì Tham không ngừng biểu thị rằng Trung Quốc sẽ mãi mãi là lực lượng tích cực của hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương; sẽ không tìm kiếm bá quyền ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc cố thuyết phục quốc tế và các nước trong khu vực về điều trên nhưng không ít học giả cho rằng Trung Quốc có ý trở thành một nước cường quyền ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Thượng tướng hải quân, Tư lệnh khu vực Thái Bình Dương của Mỹ là Richard C. Macke nói rằng các nước châu Á và phương Tây cần phải tiếp nhận một thực tế là Trung Quốc sẽ phát triển một hải quân hiện đại mạnh để bảo vệ lực lượng và lợi ích của nó ở nước ngoài, việc Trung Quốc tăng cường xây dựng quân sự là kết quả không thể tránh khỏi của sự tăng trưởng nhanh kinh tế của nó. Đứng trước lực lượng quân sự hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử của Trung Cộng, ngoài việc hợp tác về kinh tế, khoa học – kỹ thuật và văn hóa, thậm chí cả các cuộc hội nghị và đi thăm lẫn nhau của các quan chức quân sự, các nước ASEAN còn có nhiều tổ chức đối thoại hai bên hoặc nhiều bên về an ninh, chẳng hạn như “Diễn đàn khu vực ASEAN”, cho tới các “tổ chức phi chính phủ” (Non-Gorvernmental Organizations) như Hội đồng An ninh châu Á – Thái Bình Dương (the Council for Security Cooperation in the Asia Pacific), xây dựng sự tin cậy và tín nhiệm song phương hòng làm cho lực lượng quân sự lớn mạnh của Trung Quốc không đến nỗi phá vỡ trật tự khu vực. ASEAN cũng hi vọng việc cải cách kinh tế của Trung Quốc có thể phần nào giúp đỡ cho kinh tế của các nước ASEAN, nhưng ASEAN cũng không thể không lo ngại mà tiến hành chạy đua vũ trang, tăng cường năng lực của vũ khí truyền thống và hiện đại hóa. Điều đó làm cho số lượng mua vũ khí và thiết bị quân sự của các nước ASEAN tăng lên.

Do kinh nghiệm lịch sử, ASEAN trước sau vẫn mang tâm lý lo sợ trước việc Nhật Bản chỉnh đốn lại lực lượng quân sự. Nhật Bản tuy bị Hiến pháp chế ước, ngân sách quốc phòng không thể vượt quá 1% tổng sản phẩm trong nước, nhưng do lực lượng sản xuất kinh tế của Nhật Bản mạnh, tổng mức của nó cũng tương đối lớn, hơn nữa Nhật Bản vốn có công nghiệp quốc phòng lớn mạnh lâu đời trong lịch sử, làm cho ASEAN có phần nghi ngại đối với Nhật Bản. Nhưng an ninh và ổn định của khu vực Đông Nam Á rất có quan hệ với lợi ích quốc gia của Nhật Bản, bởi vì đối với nó, khu vực Đông Nam Á là khu vực nhập khẩu chủ yếu nguyên liệu và khu vực xuất khẩu thành phẩm, cũng là khu vực đầu tư quan trọng của nó. Đường hàng hải Đông Nam Á cũng là con đường xung yếu trong thương mại quốc tế của Nhật Bản, đặc biệt là dầu mỏ của Nhật Bản có tới khoảng 60% được nhập khẩu qua đây. Nhật Bản cũng biết rõ giao lưu với các nước ASEAN cần giới hạn trong phạm vi phi quân sự, như kinh tế chẳng hạn, nhưng cùng với việc Mỹ dần rút khỏi khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đòi hỏi Nhật Bản phải gánh vách một phần nghĩa vụ an ninh khu vực. Nhật Bản dần tăng chi phí quốc phòng của nó. Nhưng Nhật Bản cũng biết rõ mối lo ngại của các nước châu Á – Thái Bình Dương, nó luôn tỏ ra không có ý trở thành cường quốc quân sự. Lãnh đạo các nước ASEAN cũng có cách nhìn khác nhau về vai trò của Nhật Bản trong an ninh khu vực này, nhưng đều không đồng ý Nhật bản xuất hiện ở khu vực Đông Nam Á bằng lực lượng quân sự. Nhật Bản đã đưa quân đội tham gia duy trì hòa bình ở Campuchia là muốn chứng minh lực lượng phòng vệ của Nhật Bản không phải là đội quân của chủ nghĩa quân phiệt.

Nhưng đứng trước lực lượng quân sự quốc phòng lớn mạnh của Trung Quốc và Nhật Bản, các nước ASEAN không thể không cảm thấy có mối đe dọa. Đặc biệt trong vấn đề Nam Hải, sợ Trung Quốc sử dụng lực lượng quân sự để giải quyết tranh chấp, Malaysia, Thái Lan, Brunei và Philippines vì vậy mà tăng cường mua vũ khí và trang thiết bị không quân và hải quân, lấy đó làm biện pháp đối phó lại.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần I


Mo Dahua

I/ Mở đầu

Năm 1989, việc Liên Xô tan rã làm cho kẻ thù tiềm tàng của Mỹ mất đi, sự đối kháng về hệ tư tưởng chấm dứt và chiến tranh lạnh kết thúc. Điều đó làm cho công chúng Mỹ có sự ưa thích mới đối với ngân sách quốc phòng, cũng làm cho về mặt ngân sách quốc phòng, chính phủ Mỹ bắt đầu thay đổi xu thế mở rộng vũ trang trước đây của tổng thống Ronald Reagan. Cắt giảm chi phí quốc phòng là một xu thế lớn. Các học giả và chuyên gia quốc phòng đua nhau đưa ra sách lược, hi vọng ngân sách quốc phòng được cắt giảm sẽ mang lại khoản “lợi nhuận hòa bình” (peace dividends) to lớn. Người ta mong đợi khoản kinh phí quân sự phí tổn trong thời chiến tranh lạnh sẽ được giảm đi và chuyển cho các ngành sản xuất kinh tế liên quan đến đời sống và sinh mệnh của loài người. Khu vực Đông Nam Á lại là một trong số ít khu vực mà ở đó đầu tư quân sự và mua vũ khí tăng lên mạnh mẽ. Ngân sách quốc phòng và việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự của các nước ASEAN không ngừng tăng lên, kim ngạch nhập khẩu vũ khí và trang thiết bị quân sự chiếm tỉ lệ khá lớn trên toàn cầu. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (Stockholm International Peace Research Institute) của Thụy Điển năm 1992, thì kim ngạch mua vũ khí nước ngoài và tỉ lệ của nó trong chi phí quốc phòng từ năm 1986 đến năm 1990 của các nước ASEAN như là biểu 1:

Biểu 1: Kim ngạch mua vũ khí nước ngoài và tỉ lệ của nó trong chi phí quốc phòng của các nước ASEAN (1986 – 1990)

Nước Kim ngạch (1 tỷ USD) Tỷ lệ trong chi quốc phòng
Brunei 0,44 NA
Malaysia 0,52 5,62
Indonesia 1,75 18,27
Philippines 0,13 4,56
Singapore 1,67 25,38
Thái Lan 2,23 20,16

Nguồn: Bilveer Singh, “ASEAN’s Arms Procurements: Challenge of the Security Dilemma in the Post Cold War Era”, Comparative Strategy, Vol.12, No.2 (April – June 1993), p206.

Viện nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (The International Institute for Strategics Studies) London (Anh) đã chỉ ra chi phí quốc phòng của các nước ASEAN và tỉ lệ của nó trong tổng sản phẩm trong nước là như biểu sau:

Nước Kim ngạch (1 triệu USD) Tỷ lệ trong GDP
1985 1993 1994 1985 1993 1994
Brunei 269 212 223 6,0 4,3 4,5
Malaysia 2318 2642 2652 5,6 4,1 3,9
Indonesia 3076 2031 2256 2,8 1,4 1,4
Philippines 623 749 855 1,4 1,4 1,4
Singapore 1561 2442 2982 6,7 4,4 4,8
Thái Lan 2462 3118 3313 5,0 2,6 2,6

Nguồn: The International Institute for Strategics Studies, the Military Blance 1995 – 1996 (London: Oxford University Press, 1995), p266.

ASEAN vốn nhấn mạnh việc dùng các biện pháp phi quân sự như chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội và hợp tác văn hóa để xây dựng cơ chế an ninh trong khu vực, nhưng vào thời kỳ sau chiến tranh lạnh nó lại tích cực phát triển lực lượng quân sự, thậm chí tiến hành chạy đua vũ trang giữa các nước thành viên. Trước đây trong thời kỳ chiến tranh lạnh, do có mối đe dọa từ bên ngoài nên nó đã có thể hội tụ, điều chỉnh những bất đồng giữa các nước thành viên, không đến nỗi để xảy ra xung đột ảnh hưởng đến sự sống còn và phát triển của ASEAN, phá vỡ an ninh khu vực. Bài này nhằm tìm hiểu những biến đổi mà các nước ASEAN gặp phải trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh, nguyên nhân diễn ra chạy đua vũ trang giữa các nước thành viên, tính chất của chạy đua và triển vọng phát triển của nó trong tương lai.

II/ Nguyên nhân chạy đua vũ trang giữa các nước thành viên ASEAN

Xét điều kiện hình thành và phát triển của các tổ chức có tính khu vực Đông Nam Á phải đương đầu với môi trường chính trị và nhân văn phân rẽ đa nguyên, làm cho các nước trong khu vực ít có khái niệm chủ nghĩa khu vực, càng thiếu kinh nghiệm tụ tập một nhà, cùng tồn tại hòa bình. Nhưng việc thành lập ASEAN quả là đã xác lập cho khu vực Đông Nam Á một trật tự an ninh khu vực ổn định và hòa bình. Đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á, trong những năm 70, các nước Việt Nam, Lào, Campuchia ở bán đảo Trung Nam lần lượt rơi vào sự thống trị của Đảng Cộng sản, nhất thời học thuyết Domino nghiễm nhiên sắp trở thành hiện thực. Nhưng từ Hội nghị Thượng đỉnh Bali (Bali Summit Meeting) tháng 2/1976, các nước ASEAN áp dụng chính sách coi trọng thực tế, và nhờ sự giúp đỡ của Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu và Trung Cộng, thông qua tổ hợp chính trị, kết hợp thành cộng đồng ngoại giao (diplomatic community), chuyển hóa thành công thành cơ chế an ninh không có liên minh hay hợp tác quân sự chính thức, thiết lập cơ chế đối thoại với các nước thuộc ASEAN, thảo luận các vấn đề chính trị và kinh tế mà hai bên cùng quan tâm, tạo ra cho khu vực Đông Nam Á một trật tự khu vực ổn định. Nhưng trong thực tế, an ninh quốc phòng của các nước Đông Nam Á chủ yếu dựa vào sự bảo hộ quân sự của Mỹ: Mỹ và Philippines có quan hệ liên minh quân sự, Mỹ và Thái Lan hàng năm đều tiến hành tập trận chung, đặc biệt là căn cứ không quân Clark (Clark Air Field) và căn cứ hải quân ở vịnh Subic (Subic Bay Naval Base) ở Philippines là căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ ở nước ngoài. Lực lượng Mỹ đồn trú tại đó đã ngăn chặn hữu hiệu Trung Cộng hay Việt Nam mở rộng thế lực. Ngoài việc bảo vệ về quân sự, điều quan trọng hơn là Mỹ đã cung cấp cho khu vực Đông Nam Á một thị trường xuất khẩu kích thích kinh tế phát triển. Bởi vậy, với sự hiệp trợ của Mỹ, các nước ASEAN chủ yếu dùng lực lượng quốc phòng của mình vào việc ngăn chặn và trấn áp phiến loạn trong nước chứ không dùng làm công cụ chính sách ngoại giao để đối phó với những biến động của tình hình quốc tế. Vì vậy, ASEAN dùng các nguồn lực của mình vào việc xây dựng kinh tế xử lý trị an trong nước, ngăn chặn thành công Đảng Cộng sản mở rộng thế lực.

Nhưng khi thời kỳ sau chiến tranh lạnh bắt đầu, các nước ASEAN có cảm giác không xác định và không an toàn ngày càng tăng do Mỹ rút giảm lực lượng quân sự tại châu Á – Thái Bình Dương. Ngoài việc tăng cường hợp tác quân sự hai bên hoặc ba bên, đối với ASEAN, việc nâng cấp lực lượng quân sự của mình cũng là biện pháp tự bảo vệ hợp lý, bởi vì điều đó góp phần ngăn chặn sự đe dọa có thể có. Vậy là tạo ra cục diện chạy đua vũ trang, tích cực mở rộng lực lượng quân sự của các nước ASEAN trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Ngoài ra, cảm giác về mối đe dọa do những năm gần đây Trung Quốc tiến hành hiện đại hóa quốc phòng và sự suy giảm hoạt động bạo loạn của Hồi giáo và đảng Cộng sản ở trong nước càng làm cho các nước ASEAN phải nâng cấp việc hiện đại hóa quốc phòng. Trong khi đó, kinh tế của các nước ASEAN cũng đang dần tăng trưởng nhanh chóng, lại cộng thêm các tổ hợp quân sự – công nghiệp của các nước ASEAN cũng có sức ảnh hưởng và địa vị nhất định trong chính trị đối nội, có đủ các nguồn lực để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23