Việt Nam và can thiệp nhân quyền sau 40 năm chiến tranh biên giới Tây Nam


Vũ Minh Hoàng

Làm nghiên cứu sinh lịch sử thời đại công nghiệp hóa 4.0, tôi luôn phải giải đáp cho bạn bè, gia đình và các bậc phụ huynh, học sinh về lợi ích của công việc mình làm. Có ba lợi ích chính: thứ nhất, để hiểu biết thêm về bản thân và xã hội; thứ hai, để đánh giá, xem xét lại những hành động của thế hệ trước và nhắc nhủ cho những lãnh đạo đương thời là một ngày, họ cũng sẽ phải chịu phán xét của thế hệ sau; và cuối cùng, để rút ra được những bài học cụ thể cho các nhà hoạch định chính sách ngày nay. So với hai mục đích đầu mà có vẻ ít có giá trị thực tế, thì dường như mục đích thứ ba thực dụng hơn và do đó dễ đạt hơn. Tuy nhiên, trường hợp của cuộc Chiến tranh biên giới Tây Nam là một điển hình tại sao nhiều lúc lại rất khó rút ra được những bài học đúng đắn từ quá khứ. Tại cuộc hội thảo “Bạo lực Quy mô lớn ở Đông Nam Á từ 1945 tới nay” (“Mass Violence in Southeast Asia since 1945”) tại Đại học Yale tháng 11/2018 vừa qua, tôi đã đưa ra kết luận rằng tất cả các nước có liên quan dường như đều đã học những bài học sai từ cuộc chiến tranh này. Bài viết sau được trích một phần từ bài trình bày của tôi tại hội thảo, tập trung vào những bài học mà Việt Nam đã rút ra, và nêu lên một số bài học khác chúng ta có thể nên cân nhắc.

Trong những tuần lễ dẫn tới ngày 7/1/2019 kỷ niệm 40 năm quân tình nguyện Việt Nam đã giúp các thế lực yêu nước Campuchia giải phóng Phnom Penh khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary, tôi đã đọc được nhiều bài hoài niệm của các nhà báo, các cựu chiến binh, các lớp chuyên gia, những người đã dành tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất chiến đấu kiên cường trên đất bạn. Họ hồi tưởng về những hy sinh trong suốt hơn một thập kỷ từ 1977 tới 1989 để bảo vệ chủ quyền biên giới và sau đó là giúp bạn Campuchia dẹp tan chế độ diệt chủng. Là người đi sau, tôi không đủ tư cách và cũng không muốn viết gì để pha loãng đi những lý tưởng của thế hệ anh hùng này. Nhưng Chiến tranh biên giới Tây Nam là một cuộc chiến vô cùng phức tạp, và nếu trong những hoạt động kỷ niệm chúng ta chỉ nhớ lại những hồi ức đẹp và né tránh những câu hỏi hóc búa, thì có lẽ chúng ta đã bỏ phí cơ hội để rút ra những bài học hữu ích mà thế hệ trước đã trả giá bằng xương máu để có được.
Câu hỏi hóc búa nhất nhưng cũng quan trọng nhất là, Việt Nam đã giúp giải phóng Campuchia chủ yếu vì lý do tự vệ hay là can thiệp để giải cứu dân tộc Campuchia khỏi nạn diệt chủng? Trong bối cảnh ở Campuchia vẫn tồn tại những thế lực trong phe đối lập miệt thị và gây khó dễ cho cộng đồng người gốc Việt sinh sống trên đất Campuchia, vu cáo việc Việt Nam thôn tính đất nước, xâm lấn biên giới, cả hai chính phủ Việt Nam và Campuchia đã tích cực dùng mốc kỷ niệm 40 năm giải phóng Phnom Penh để nhấn mạnh công lao của quân tình nguyện Việt Nam giải cứu Campuchia khỏi ách diệt chủng. Tại buổi lễ sáng ngày 4/1/2019 tại Hà Nội, có mặt các lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, nhà nước Việt Nam và Campuchia, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đánh giá cao “lịch sử quan hệ đoàn kết, kề vai sát cánh bên nhau giữa hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Campuchia lúc khó khăn hoạn nạn cũng như trong hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc”. Mục tiêu can thiệp bảo vệ quyền được sống của người dân, chống chế độ diệt chủng tàn bạo, trên cơ sở tình đoàn kết giữa hai dân tộc được đưa lên hàng đầu; mục tiêu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ khỏi những cuộc tập kích, tàn sát của quân Khmer Đỏ tại các tỉnh biên giới như An Giang, Tây Ninh từ tháng 4 năm 1977 cũng được nhắc đến nhưng là yếu tố phụ.
40 năm trước, Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền phát biểu về Chiến tranh biên giới Tây Nam trước Đại Hội đồng Liên hợp quốc vào sáng ngày 28/9/1979 trong một bối cảnh rất khác. Diễn ra chỉ sáu tháng sau khi quân Trung Quốc rút khỏi các tỉnh miền Bắc, tại phiên họp này phế quân Khmer Đỏ, Trung Quốc, Hoa Kỳ, ASEAN đã cáo buộc Việt Nam tội xâm lược đất nước láng giềng, và ngăn chặn không cho đại diện nhà nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia được công nhận tại LHQ. Trước Đại Hội đồng, Thứ trưởng Phan Hiền khẳng định là Việt Nam đã “thực hiện quyền tự vệ, nhân dân chúng tôi đã mạnh mẽ đáp trả [những cuộc công kích của Khmer Đỏ], đập tan quân Pol Pot xâm lược Tây Ninh cuối năm 1978, và bằng cách đó thoát khỏi gọng kìm bao vây của Bắc Kinh và tạo ra điều kiện thuận lợi để chống lại thành công cuộc xâm lược trắng trợn của thế lực bành trướng Bắc Kinh vào ngày 17/2/1979”. Việc giải cứu dân tộc Campuchia khỏi chế độ diệt chủng cũng được nhắc đến, nhưng chưa từng bao giờ chính thức được ngoại giao Việt Nam sử dụng như căn cứ pháp luật cho việc đưa quân tình nguyện vào Campuchia.
Vậy rốt cuộc Việt Nam đã hành động chủ yếu vì lý tưởng bảo vệ nhân quyền, chống tội ác diệt chủng hay vì lợi ích quốc gia? Rõ ràng, hai mục đích này gắn liền với nhau khi quân Việt Nam tiến vào Phnom Penh năm 1979. Nhưng giai đoạn từ tháng 4 năm 1975, khi quân Khmer Đỏ chiếm lĩnh Phnom Penh và ra lệnh dời toàn bộ dân ra nông thôn, khởi xướng chế độ diệt chủng, cho tới cuối năm 1977, Việt Nam vẫn giữ quan hệ với chính quyền Khmer Đỏ, Đại sứ quán Việt Nam tại thành phố ma Phnom Penh vẫn duy trì hoạt động. Những người tị nạn Campuchia đã đổ qua biên giới và cầu xin Việt Nam cứu giúp, và những cán bộ thân Việt Nam đã bị thanh trừng thẳng tay từ những tháng đầu tiên của chế độ Pol Pot nhiều năm trước khi Mặt trận Đoàn kết Cứu nước Kampuchea được thành lập cuối năm 1978 và chính thức thỉnh cầu sự giúp đỡ của quân Việt Nam. Việt Nam có thể giải thích về thái độ và chính sách của mình trước năm 1975 là chưa hiểu rõ bản chất Khmer Đỏ khi ta giúp đỡ những kẻ giả dạng là những nhà Cộng sản chân chính này trước khi chúng nắm được quyền lực, nhưng không thể thanh minh như vậy cho quãng thời gian từ sau tháng 4 năm 1975 cho đến cuối năm 1978. Chúng ta phải thừa nhận rằng Việt Nam, như tất cả các nước khác trên thế giới, đã rơi vào thế bị động trong khi bè lũ Pol Pot – Ieng Sary tiêu diệt gần hai triệu công dân Campuchia bao gồm mọi sắc tộc, trong đó có cộng đồng người Việt, người Chàm, và thậm chí cả người Hoa, hành động mà Tòa án Đặc biệt xét xử tội ác Khmer Đỏ đã phán quyết là chính sách diệt chủng. Phải hơn một năm rưỡi sau khi lãnh thổ Việt Nam bị liên tiếp xâm phạm, và khi Việt Nam đã rơi vào nguy cơ chiến tranh hai mặt trận, chúng ta mới tiến quân vào giải phóng Phnom Penh.
Thái độ này của Việt Nam hoàn toàn dễ hiểu. Cho dù tội diệt chủng thuộc dạng tội nghiêm trọng nhất trong luật quốc tế (violation of peremptory norms), cho đến nay luật quốc tế vẫn thiên về gìn giữ ổn định và hòa bình giữa các quốc gia hơn là bảo vệ nhân quyền. Các Hòa ước Westfalen năm 1648 mà đã kết thúc cuộc Chiến tranh 30 năm giữa các thế lực Công giáo và Tin lành ở Châu Âu đã biến nguyên tắc chủ quyền thành nền tảng của trật tự quốc tế. Nguyên tắc này không cho phép một quốc gia nào can thiệp vào nội bộ của quốc gia khác, bất kể quốc gia kia có những chính sách vô nhân đạo và tồi tệ thế nào trong nội bộ. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 cho phép Hội đồng Bảo an phê chuẩn những biện pháp can thiệp quân sự, tuy nhiên chỉ với mục đích giữ gìn hòa bình. Năm 1979, Hội đồng Bảo an đã cân nhắc can thiệp vào Campuchia, nhưng lại với mục đích bắt Việt Nam phải rút quân, và phải nhờ phiếu phủ quyết của Liên Xô mới không đưa ra nghị quyết chống Việt Nam và CHND Campuchia. Phải đến 2005 thì Liên hợp quốc mới thông qua hai bài báo cáo về Trách nhiệm Bảo vệ (Responsibility to Protect hoặc R2P), khẳng định rằng bảo vệ nhân quyền là nhiệm vụ cơ bản của một nhà nước, và một nhà nước vi phạm nghiêm trọng nhân quyền của nhân dân có thể đánh mất chủ quyền. Tuy nhiên, cả hai báo cáo này đều không đưa ra cơ sở pháp lý mới nào cho việc can thiệp bảo vệ nhân quyền ngoài tầm kiểm soát của Hội đồng Bảo an, và vấn đề can thiệp vào nội bộ với mục đích bảo vệ nhân quyền vẫn còn được tranh cãi nhiều sau khi quân NATO lấy cớ can thiệp nhân đạo để tiếp tay phiến quân ở Libya và Syria.
Để bảo vệ lợi ích quốc gia, Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ 1970 đã cố gắng tìm mọi cách thương lượng với chế độ diệt chủng để tránh phải tái tham chiến khi đang cần cấp bách xây dựng lại đất nước sau 34 năm chiến tranh. Và quả nhiên, khi Việt Nam cuối cùng đã đưa quân vào giúp giải phóng Phnom Penh và ở lại 10 năm giúp bạn xây dựng lại đất nước từ tro tàn và ngăn chặn sự trở lại của chế độ Khmer Đỏ, chúng ta đã bị nhiều nước trên thế giới trừng phạt: Trung Quốc đã tấn công vào biên giới phía Bắc; các nước tư bản chủ nghĩa vừa thiết lập quan hệ với Việt Nam đã rút viện trợ và cắt quan hệ thương mại đầu tư; Mỹ và ASEAN đã chung tay với Trung Quốc giúp khôi phục lực lượng cho Khmer Đỏ và cho chúng thánh địa ở biên giới với Thái Lan để làm quân Việt Nam và CHND Campuchia phải chịu tổn hao kéo dài. Với cái giá rất cao đã một phần ước lượng trước này, việc Việt Nam tìm mọi cách tránh can thiệp vào Campuchia kể cả khi hiểu rõ rằng đây là một chế độ diệt chủng là hoàn toàn có thể hiểu được. Nhưng Việt Nam không thể cùng một lúc thừa nhận điều này mà lại vẫn kiên định rằng mục tiêu chính của quân đội Việt Nam khi giải phóng Phnom Penh là để giúp bạn kết thúc nạn giệt chủng.
Bài học quan trọng nhất mà Việt Nam cũng như các nước trong khu vực đã rút ra từ chiến tranh biên giới Tây Nam là việc can thiệp vào nội bộ nước khác, bất kể chính phủ đó có tồi tàn tới đâu, là không có lợi về mặt đánh giá chi phí và lợi ích thu được, và xét tổng thể thì vượt ra ngoài khả năng của những nước nhỏ và trung bình. Sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia, Việt Nam đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác vào năm 1992 khi trở thành quan sát viên ASEAN. Theo đó, chúng ta đã chấp nhận một trật tự khu vực và thế giới trong đó chủ quyền quốc gia được đề cao hơn hẳn nhân quyền. Khi thảm họa diệt chủng xảy ra ở Rwanda và Bosnia năm 1994, hay khi ngay trong khu vực Đông Nam Á dân quân Indonesia tàn sát dân Đông Timor năm 1999 và quân đội Myanmar cho đến nay vẫn đang có chính sách diệt chủng với dân tộc thiểu số Rohingya theo đánh giá của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc và nhiều nhà quan sát quốc tế trung lập, Việt Nam chỉ dừng lại ở việc nêu quan ngại và không có động thái gì mạnh mẽ cả về lời nói lẫn hành động. Khi Tòa án Hình sự Quốc tế được thành lập năm 1999 để truy tố những tội phạm chiến tranh và vi phạm nhân quyền, Việt Nam đã không ký tham gia. Trong bối cảnh Việt Nam đang phải đấu tranh pháp lý để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông, trong khi đang cần tranh thủ quan hệ với cộng đồng ASEAN láng giềng, và trong một thế giới mà các nước xã hội chủ nghĩa chiếm thiểu số trên trường quốc tế, Việt Nam đã chọn con đường đề cao trên hết bảo vệ lợi ích quốc gia và thể chế, kiên định trong khái niệm chủ quyền tuyệt đối bất khả can thiệp bên ngoài, thay vì theo đuổi những lý tưởng đẹp đẽ nhưng cao xa và khó có cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc như can thiệp vào nội bộ một nước khác để bảo vệ nhân quyền.
Tôi đã giải thích kỹ về bài học “tôn trọng chủ quyền tuyệt đối” mà Việt Nam và các nước khác trong khu vực đã rút ra từ cuộc Chiến tranh biên giới Tây Nam là để làm sáng tỏ vấn đề, chứ không phải vì cá nhân tôi nghĩ đây là bài học đúng đắn. Ngược lại, có ba bài học khác mà theo tôi Việt Nam và các nước khác đáng lẽ phải học từ cuộc Chiến tranh Biên giới Tây Nam:
1. Thế cô lập của Việt Nam trong thập kỷ giúp bạn Campuchia phần lớn là vì bối cảnh Chiến tranh lạnh. Trong thời buổi hiện nay, Việt Nam có thể mạnh dạn hơn trong hợp tác quân sự với các nước khác nhằm giữ gìn hòa bình và chống lại các thế lực diệt chủng trong và ngoài khu vực. Với tư cách là một trong số rất ít đất nước đã từng bằng can thiệp quân sự kết thúc nạn diệt chủng (dù trong đó có một phần vì lợi ích quốc gia) sau Chiến tranh thế giới thứ II, có uy tín trong Hiệp hội Không liên kết, là một mô hình thành công trong vấn đề chung sống hòa bình với các dân tộc thiểu số, và với kinh nghiệm đàm phán nhiều hòa ước song phương và đa phương, Việt Nam có thể tích cực đóng vai trò trung gian, tư vấn, và gìn giữ hòa bình cho những khu vực xung đột trên thế giới. Có những dấu hiệu tích cực theo hướng này. Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ đầu tiên làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ năm 2014-2016, tập trung đẩy mạnh các vấn đề bảo vệ môi trường và quyền người lao động. Tháng 10/2018 vừa qua, Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam đã xuất quân đi làm nhiệm vụ quốc tế, lần này dưới lá cờ Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Mong là trong tương lai, Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam sẽ còn tham gia nhiều hơn nữa vào các chiến dịch giữ gìn hòa bình của LHQ, đảm nhiệm cả những vai trò mang tính chất quân sự nếu cần thiết.
2. Trong buổi tiệc cuối năm học đầu tiên của Harry Potter tại trường Hogwarts, giáo sư Dumbledore đã (tôi tin chắc một phần vì thiên vị) thưởng cho nhà Gryffindor 170 điểm, cho phép nhà này vượt trội từ vị trí thứ tư lên vị trí thứ nhất. 10 điểm quyết định cuối cùng được thưởng vì hành động dũng của Neville Longbottom khi cậu bé ngăn cản bè bạn mình vi phạm nội quy nhà trường. Theo Dumbledore, “Cần rất nhiều can đảm để đối mặt với kẻ thù, nhưng đối mặt với bạn còn cần nhiều can đảm hơn”. Trong những năm cuối thập kỷ 1970, Việt Nam đã tìm mọi cách để tránh phải đối mặt với những người anh em Cộng sản láng giềng là chế độ Khmer Đỏ, kể cả khi đã thừa biết về những tội ác của bè lũ Pol Pot – Ieng Sary. Ngày nay, chúng ta và các nước ASEAN khác đang lặp lại sai lầm này với Myanmar. Như những lá thư từ những người đồng đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình Malala Yousafzai, Mohammad Yunus, và Giám mục Desmond Tutu, và những phát biểu của lãnh đạo Malaysia nêu rõ, họ đang chỉ trích chính phủ của bà Aung San Suu Kyi chính vì họ là những người bạn tốt và không thể cho phép chính phủ của bà tiếp tục gắn kết với những lực lượng quân đội theo chính sách bạo lực chống các sắc tộc thiểu số. Nếu Việt Nam muốn làm láng giềng tốt, nếu chúng ta muốn noi gương thế hệ ông cha đã đấu tranh trường kỳ để xóa bỏ nạn diệt chủng khỏi khu vực Đông Nam Á, chúng ta phải cùng các nước ASEAN khác can đảm đối thoại thẳng thắn hơn với Myanmar để tạo áp lực chấm dứt nạn diệt chủng đang diễn ra ngay dưới mái nhà chung ASEAN.
3. “Lúc đầu chúng tiêu diệt những nhà chính kiến xã hội chủ nghĩa, nhưng tôi im lặng – vì tôi không theo xã hội chủ nghĩa.//Sau đó chúng tiêu diệt những hội viên nghiệp đoàn, nhưng tôi im lặng – vì tôi không phải là hội viên.//Sau đó chúng tiêu diệt người Do Thái, nhưng tôi im lặng – vì tôi không phải là người Do Thái.//Sau đó chúng tới tiêu diệt tôi – và không còn ai đứng lên bảo hộ cho tôi”. Những dòng thơ kinh điển này của mục sư Martin Niemöller nhắc nhở chúng ta rằng gần như tất cả các trường hợp trong cận đại, các chế độ diệt chủng đã liên tục tìm đến những kẻ thù mới. Do vậy, chúng ta không thể để mặc cho một chế độ diệt chủng hoành hành nội bộ, mà bắt buộc phải đối mặt với chúng sớm nhất có thể. Từ 1975 đến 1977, Việt Nam đã rất yêu hòa bình và tìm cách chung sống hòa bình với một chính quyền diệt chủng, nhưng sau khi tàn sát nhân dân Campuchia và khởi chiến với Thái Lan và Lào, cuối cùng thì chính quyền Khmer Đỏ cũng đã quay sang tấn công Việt Nam. Hiện nay, khả năng nổ ra chiến tranh giữa Bangladesh và Myanmar là chưa cao. Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu đáng lo ngại: tháng 3/2018, quan hệ hai nước đã trở nên căng thẳng khi Myanmar tăng cường đáng kể hiện diện quân sự trên biên giới. Tinh thần đoàn kết trong khối ASEAN mà chúng ta muốn gìn giữ bằng sự im lặng cũng đang bị đe dọa, khi những hành động của Myanmar gây phẫn nộ trong những nước đại đa số theo đạo Hồi trong khu vực là Malaysia, Indonesia, và Brunei. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, nếu chúng ta theo đuổi chính sách nhân nhượng với những chế độ tàn bạo để cố gìn giữ hòa bình nhất thời, chúng sẽ càng lấn tới và về lâu dài chúng ta có nguy cơ sẽ đánh mất tất cả.
Tôi mong là trong dịp kỷ niệm 40 năm Việt Nam trở thành đất nước duy nhất gửi quân tình nguyện giải cứu nhân dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, bất chấp cái giá khổng lồ phải trả, chúng ta có thể suy nghĩ và thảo luận thẳng thắn về vai trò bảo vệ nhân quyền của Việt Nam trong khu vực và thế giới, không chỉ những năm cuối thập kỷ 1970 mà cả hiện tại và trong tương lai. Mong là bài viết này đã đóng góp chút nào cho cuộc thảo luận này.

Nguồn: https://www.facebook.com/huong.tolan.5/posts/10210549393611400

Vũ Minh Hoàng là nghiên cứu sinh Sử học tại Đại học Cornell, Hoa Kỳ.

Advertisements

Khái niệm lịch sử


Harry Ritter

Lịch sử (Anh: history). 1. Theo cách dùng thông thường: quá khứ con người. 2. Theo cách dùng chuyên môn: quá khứ con người hoặc (quan trọng hơn) tra vấn về bản tính của quá khứ con người, với mục đích là chuẩn bị cho sự giải thích xác thực một hay nhiều phương diện của nó. Thuật ngữ này cũng quy chiếu, cả theo cách dùng chuyên môn lẫn cách dùng thông thường, đến các bản văn ghi chép về các sự kiện trong quá khứ. Từ quan điểm lịch sử – nghĩa là, từ lập trường của lịch sử bản thân tư duy lịch sử – về đại thể, lịch sử có thể được định là truyền thống học thuật, ghi chép, xác định niên đại từ thời cổ đại, dựa trên sự tra vấn thuần lý về bản tính sự kiện của quá khứ con người.

Chữ lịch sử trong các ngôn ngữ Âu châu hiện đại có nghĩa hàm hồ: nó có thể dùng để chỉ các biến cố hay sự biến (events) của bản thân quá khứ (res gestae trong tiếng La tinh nghĩa là “việc đã rồi”); hoặc chỉ hoạt độngnghiên cứu và viết về quá khứ (Barzun, [1943] 1950: 31; Rothfels, 1961: 7); hoặc chỉ một văn bản nghiên cứunào đó đã hoàn tất về quá khứ – như trong cụm từ “Lịch sử của Gibbon về sự suy tàn của La Mã”. (Trong tiếng Đức, Geschichte [từ động từ geschehen, xảy ra] cũng có những nét nghĩa hàm hồ như chữ lịch sử. Xuất hiện ở thế kỷ 17, Geschichte được dùng đồng nghĩa với Historie, và khoảng thế kỷ 19, người ta thích dùng nó thay cho chữ Historie,[1] để nói đến việc nghiên cứu về quá khứ [Berr và Febvre, 1932: 357]. Cả ba nghĩa này đều đã có sẵn trong ngôn ngữ Hy Lạp và Latinh thời cổ điển, cho dù chữ historia theo nguyên nghĩa Hy Lạp chỉ có nghĩa là “tra vấn” về bất cứ thứ gì. Trong cách dùng chuyên môn của sử luận (historiography) hiện đại, lịch sử vẫn còn bảo lưu thông điệp cổ đại ấy – đó là hành vi tra vấn qua đó người ta nghiên cứu và truyền thông về quá khứ (ví dụ, Berr và Febvre, 1932: 358; Strayer [1943] 1950: 6). Nhà sử học là người “theo đuổi sự tra vấn này, và nhà sử học giỏi nhất là người theo đuổi nó tốt nhất” (Zagorin, 1956: 9).

Chữ historia trong tiếng Hy Lạp có gốc là động từ “nhìn”, và histor trước hết có nghĩa là “sự chứng kiến bằng mắt”; từ nghĩa này phát triển thành nghĩa: “người khảo sát những sự chứng kiến và biết được sự thật qua việc tra vấn” (Arendt, 1961: 284-85, n. 1; Press, 1977: 284). Herodotus (khoảng 484-425 TCN), người đã xác lập historia như là một từ chuẩn dùng để chỉ việc nghiên cứu về quá khứ, sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa kép là sự chứng thực và tra vấn (Arendt, 1961: 285). Sự chứng thực bao hàm các phán đoán về chân lý sự kiện có liên quan đến các sự biến hiện thực, và nét nghĩa này phân biệt loại hình tra vấn của ông với thần thoại và những thứ mang cảm hứng huyền nhiệm là sử thi và kịch – những loại hình này, bất chấp công cuộc tạo dựng nên lịch sử sự kiện do Herodotus và người kế tục ông là Thucydides (khoảng 460-400 TCN) tiến hành, bao giờ cũng lưu giữ những cách thức diễn giải yêu thích của người Hy Lạp về quá khứ. Như Finley (1964-65: 299) viết: “Sự chấp nhận và lòng tin là những cái được xét tới, và [trong thần thoại] người Hy Lạp có tất cả những tri thức về quá khứ họ cần mà không cần đến sự giúp đỡ của các nhà sử học.”

Ở thời Hy Lạp hóa và La Mã, lịch sử dùng để chỉ tự sự của người tra vấn; một sự thay đổi ngữ nghĩa diễn ra trong đó các ý niệm về sự tìm tòi nghiên cứu và sự chứng thực phụ thuộc vào nghệ thuật trình bày. Từ nghĩa này, chữ lịch sử theo nghĩa “câu chuyện” trở nên thông dụng, nghĩa là nó được dùng để chỉ các tự sự hư cấu và tự sự sự kiện (Press, 1977: 285, 288) – chẳng hạn, Câu chuyện của Tom Jones / History of Tom Jones của Fielding ở thế kỷ 18. Truyền thống tu từ học này – thứ truyền thống đã đi đến chỗ xếp lịch sử vào một nhánh của văn học, như là một phương tiện khai trí và giải trí cũng như là một nguồn nhận thức sự kiện quan trọng – vẫn giữ vị trí tối cao cho đến thế kỷ 18, đêm trước của sự ra đời lịch sử “khoa học” (Johnson, 1926: 21-22; Stromberg, 1951: 297-98).

Suốt thời trung đại, lịch sử dần dần mang lấy nét nghĩa là toàn bộ diễn trình của các sự biến của con người, nghĩa này có lẽ không hề có ở thời cổ đại (Press, 1977: 283) nhưng lại trở thành yếu tố giữ  vai trò then chốt trong thần học Kitô, trong triết học tư biện về lịch sử, và trong diễn ngôn đời thường của thời hiện đại. (Nhiều nghiên cứu trước đây về ý thức lịch sử thời cổ đại [ví dụ, Holborn,  1949: 6-7] trái ngược rõ nét với truyền thống cổ điển và truyền thống Do thái-Kitô giáo khi cho rằng người Hy Lạp và La Mã hiểu lịch sử như là một diễn trình tuần hoàn trong khi đó người Hebrew lại coi nó như là một diễn trình phát triển có tính mục đích luận và tiến bộ. Quan điểm này hiện nay bị tranh cãi, hoặc với căn cứ rằng ý niệm về lịch sử như là một diễn trình phát triển không hề tồn tại ở thời cổ đại [Press, 1977: 281-82], hoặc rằng tư tưởng Hy-La và Do thái-Kitô giáo cổ đại cho thấy chúng có cả khái niệm tiến bộ lẫn khái niệm tái diễn [Trompf, 1979).

Ý niệm về lịch sử như là một diễn trình phát triển (có gốc từ công trình của St. Augstine [Press, 1977: 294-95] ngụ ý rằng lịch sử là một loại “câu chuyện chưa kể” (Mink, 1978: 134), một “loạt các diễn biến trong thời gian và không gian [tồn tại] ở bên ngoài sách vở”; nó giả định rằng quá khứ “có một thứ thực tại khách quan mà người nghiên cứu lịch sử có thể dùng để so sánh và kiểm tra các văn tập sử ký theo cách nào đó không thể giải thích được” (Johnson, 1926: 22). Các nhà phê phán truyền thống này cảnh báo rằng “chúng ta có thể biết quá khứ chỉ khi nào nó để lại những dấu vết của nó trong các tập sử ký và các tàn tích. Quá khứ không tồn tại ở đâu khác ngoài ý thức của con người” (Johnson, 1926: 22).

Cách thức và mục đích mà việc nghiên cứu lịch sử hướng đến bao giờ cũng bị tranh cãi. Như Berr và Febvre (1932: 357) nhận xét: “không có lĩnh vực nhận thức nào trong diễn trình tiến hóa của trí tuệ lại bộc lộ ra nhiều tình thái khác nhau và giải đáp cho những quan niệm trái ngược nhau hơn lĩnh vực lịch sử. Không có lĩnh vực nào đã và đang tiếp tục gặp khó khăn hơn lịch sử trong việc tìm ra vị thế xác định của nó.” Lời phát biểu Frederick Jackson Turner ([1891] 1972: 198) rằng “hầu như có bao nhiêu người viết sử là có bấy nhiên quan niệm về lịch sử” rõ ràng là một sự cường điệu, nhưng Johan Huizinga ([1936] 1963: 8-9) đưa ra gợi ý có lý rằng mỗi thời đại và xã hội tạo ra một quan niệm về lịch sử “thỏa ứng” với nó, nghĩa là, quan niệm đáp ứng các nhu cầu trí tuệ của nó. Đối với Herodotus – được Cicero gọi là “cha đẻ của sử học” – lịch sử là vấn đề của việc tạc dựng tượng đài cho những chiến công cao cả; Thucydides hiểu nó là sự phân tích về các sự biến mới xảy ra, sự phân tích ấy (ông tin rằng) sẽ mang lại những chân lý phổ biến về hành vi của con người (Holborn, 1949: 3, 5). Tuy nhiên, theo chương 9 cuốn Thi học của Aristotle, hầu hết các nhà tư tưởng cổ đại đều coi nhẹ tầm quan trọng của lịch sử. Trái với Thucydides, họ tin rằng lịch sử chỉ xét đến cái tầm thường, cái trần tục, và cái đặc thù, chứ không đoái hoài gì đến lĩnh vực cao hơn nằm bên ngoài thời gian, tức chân lý phổ quát (Holborn, 1949: 6; Press: 1977: 287; nhưng xem thêm Fritz, 1958). Những gì người Hy Lạp muốn không phải là các sự kiện mà là các chân lý. Quả thực, ngay cả với Thucydides, “quá khứ không mang lại gì ngoài sự nâng đỡ có tính hệ hình cho các kết luận mà người ta đã rút ra từ hiện tại; quá khứ, nói cách khác, vẫn có thể được xem xét theo lối huyền thoại thiếu vắng tính thời gian” (Finley, 1964-65: 301).

Đối lập với các sử gia cổ đại, các học giả Kitô giáo thời trung đại hiểu lịch sử không phải là sự tra vấn của con người mà như là sự chiêm nghiệm theo lối phúng dụ về ý chí thần linh (White, 1942; Holborn, 1949: 7-8). Tuy nhiên, các sử gia hiện đại thời kỳ đầu được biết đến nhiều nhất – như Machiavelli (1469-1527) và Guicciarndini (1483-1540) – khôi phục lại các mô hình thế tục của thời cổ đại (Weisinger, 1945: 417; Holborn, 1949: 8). Bắt đầu ở thế kỷ 14 và 15, một thái độ mới đối với quá khứ dần dần hình thành, một “cảm thức về viễn tượng thời gian, … ra đời vào khoảng thời gian các họa sĩ Ý bắt đầu thể hiện các hình tượng trong viễn tượng không gian” (Harbison, 1956: 36). Đây là cảm thức về quá khứ như là cái xa lạ, khác một cách cơ bản với cái hiện tại, một định hướng đã đi tiên phong trong tác phẩm của thi sĩ Petrarch và nhà ngữ văn học Lorenzo Valla. Đồng thời, trong lĩnh vực học thuật, mối quan tâm đến các sự kiện của quá khứ vì bản thân chúng được định hình, nhất là gắn với ngữ văn học, luật học, và việc san định các bản viết tay cổ xưa. Những sự phát triển này có tạo nên “cuộc cách mạng” sử luận, như một số người đã yêu sách, hay không là vấn đề hãy còn bàn cãi (xem thêm Preston 1977: 357). Điều chắc chắn đó là nền học thuật cổ đại thoạt đầu đã hề không xét tới lịch sử, vì lịch sử (theo các bộ công cụ tu từ học cổ điển) phải bộc lộ một cấu trúc tự sự (Hay, 1977: 133, 184).

Suốt thế kỷ 18, truyền thống cổ đại xem lịch sử như là tự sự được phối ngẫu với mối quan tâm đến sự kiện ở người sưu tầm cổ vật, và khoảng năm 1800 khái niệm hiện đại là “lịch sử khoa học” được hình thành. Thế thì lịch sử là sự tra vấn về bản tính của quá khứ vì bản thân quá khứ, được tiếp tục với mục đích là xác lập việc ghi chép tự sự về các sự biến như chúng “đã thực sự xảy ra” (Ranke, [1824] 1972: 57).

Tất cả các nhà sử học chuyên nghiệp hiện nay đều đồng ý rằng lịch sử có nghĩa là nghiên cứu học thuật về bản tính sự kiện của quá khứ con người. Từ cuối thế kỷ 18, về đại thể có ba đặc trưng được xem là không thể tránh khỏi đối với nhiệm vụ này: (1) cảm thức phê phán về chứng cứ; (2) cảm thức về sự sai lầm niên đại; và (3) cảm thức về quan hệ nhân quả mang tính thế tục (xem thêm Burke, 1969: 1). Tuy nhiên, vượt lên trên sự đồng thuận cơ bản này, hai thế kỷ vừa rồi có rất nhiều nỗ lực xung đột nhau để ấn định hoạt động nào của lịch sử là nên và hoạt động nào là không nên. Chẳng hạn, nhà sử học Pháp Fustel de Coulanges ([1862] 1972: 179) – như nhiều học giả khác trước ông và từ ông trở đi (ví dụ như Strayer, [1943] 1950: 17) – tin rằng lịch sử nhất thiết phải xem xét sự biến đổi của con người trong quá khứ. Vào cuối thế kỷ 19, người ta trở nên yêu thích ý nghĩ rằng việc nghiên cứu các quy chế xã hội (social regularities) chưa có vị trí chính đáng nào trong sử luận – rằng lịch sử chỉ cần xem xét “diễn biến của các phức hợp-biến cố đặc thù” (Trompf, 1977: 137); quan niệm này, vốn hàm ý một sự khác nhau triệt để giữa các phương pháp của lịch sử với các phương pháp của khoa học tự nhiên, vẫn còn tồn tại ở nhiều nhóm phái.

Một số lý thuyết gia nhấn mạnh những nét tương đồng của lịch sử với văn chương. Triết gia Ý Benedetto Croce (1866-1952), chẳng hạn, nhấn mạnh đến sự phân biệt giữa “lịch sử” đích thực với “ghi chép niên đại” dựa trên cứ sở rằng lịch sử bao hàm câu chuyện tự sự liên tục được xây dựng trên những mối quan hệ nhân quả, còn ghi chép niên đại chỉ gợi ý một loạt các phân mảnh bị gián đoạn (xem thêm Barzun, 1945: 81; Meiland, 1965: 17); tuy nhiên, cách sử dụng của Croce không phải lúc nào cũng hữu ích, vì trên thực tế một số tác phẩm biên niên thời trung đại là các tác phẩm tự sự mạch lạc dựa trên mối quan hệ nhân quả (xem Breisach, 1983: 126-30).

Những cuộc tranh luận về “bản tính” của lịch sử trở nên quyết liệt và mạnh mẽ hơn trong thế kỷ 20; đa phần là những nỗ lực xác định lịch sử hoặc là “nghệ thuật” hoặc là “khoa học” trong các phương pháp và mục đích của nó (ví dụ Hughes, 1964). Ngay từ đầu thế kỷ, nhà sử học Anh G. M. Trevelyan ([1903] 1972: 234) công kích mô hình khoa học bằng cách cho rằng “theo bản chất bất biến của nó, lịch sử là một ‘câu chuyện’” – ý ông muốn nói là “nghệ thuật của lịch sử vẫn luôn là nghệ thuật của tự sự”; quan niệm lịch sử như là “nghệ thuật khai phóng” hay “bộ phận của văn chương của con người” vẫn còn phổ biến (Strayer, [1943] 1950: 3; Bazun, 1945: 81). Mặt khác, một số nhà sử học cương quyết khẳng định rằng lịch sử là một môn khoa học xã hội. Cách thông thường nhất để tránh trách nhiệm trong cuộc tranh luận này là cho rằng lịch sử là sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và khoa học và nói rằng nó giữ vị thế tự trị trong các ngành khoa học nhân văn. Nhưng điều quan trọng hơn cuộc tranh luận này nhiều chính là công việc nghiên cứu đã được mở rộng hơn rất nhiều về phạm vi và phương pháp trong thế kỷ 20 và không còn được đồng nhất một cách hạn hẹp với việc tái dựng lại chế độ chính trị hay các sự vụ của giáo hội trong quá khứ dựa trên các tài liệu viết.

Phần trình bày sơ lược trên đây khó lòng cho thấy được sự đa dạng trong cách xác định đặc trưng của lịch sử; một sự tổng quan chi tiết có thể có được từ các văn bản chuẩn mực như Sterm (1972) hay Briesach (1983). Sự thôi thúc đáng quý muốn mô tả cẩn trọng những ranh giới của bất cứ hoạt động trí tuệ nào dễ dàng được thông hiểu, nhất là từ lập trường mà các nhà chuyên môn muốn biện giải cho tính chính đáng về nhận thức của lĩnh vực của họ và bảo vệ các chuẩn mực của nền học thuật có trách nhiệm. Thế nhưng, từ lập trường lịch sử, quan niệm cho rằng lịch sử nên có một vị thế “xác định” hay một “bản chất bất biến” có vẻ như kỳ lạ. Các hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi qua thời gian và các quan niệm về quá khứ cũng đã thay đổi (xem thêm Huizinga, [1936] 1963: 3). Chữ lịch sử hàm ý toàn bộ các truyền thống tư duy và viết về quá khứ; đối với một số người, nó có thể gợi ra khả thể của một tương lai tương đối để ngỏ cho sự phát triển hơn nữa của bộ môn này. Dường như ai cũng có thể thấy điều này là rõ ràng. Hàm ý nó muốn nói làm nổi bật một nghịch lý thú vị; trong khi nỗ lực xác định bộ môn của mình, các nhà sử học lại vô tình cho ta thấy một điều đáng ngạc nhiên là họ chẳng mấy chú ý đến toàn bộ lịch sử của bản thân lịch sử (Walsh, 1973: 211-12). Đương nhiên, bất cứ nhà sử học có năng lực nào cũng đều thuộc lòng lịch sử nền học thuật trong phân môn chuyên biệt của mình; nhưng sức hiểu tinh tường trong sử luận ấy hiếm khi mở rộng đến bộ môn xét như là một toàn bộ. Vì thế, những nỗ lực xác định đặc trưng của bộ môn nhìn chung thường bị hủy hoại bởi động cơ mô tả mà sự đánh giá đúng đắn về toàn bộ sự tiến hóa của bản thân ý thức lịch sử không biết đến nó. Những nỗ lực như thế là những sự phản tư “phi lịch sử” của quan niệm riêng của người định nghĩa về việc lịch sử nên là gì, chứ không phải lịch sử đang là, hay đã là, hay có thể trở thành cái gì.

Nguồn: Harry Ritter, “Lịch sử”, Đinh Hồng Phúc** dịch, Thông tin Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương, số 41, tháng 1-2016, tr. 60-63. Bản gốc tiếng Anh: Harry Ritter, “History”, in Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, 1986. pp. 193-199.

———

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Arendt, Hannah. 1961. “The concepts of history: ancient and modern”. Trong Hannah Arendt, Between past and future: Eight exercises in political thought. New York: 41-90.
  2. Barzun, Jacques. 1945. “History as a liberal art”. Journal of the History of Ideas 6: 81-88.
  3. Barzun, Jacques. [1943] 1950. “History, popular and unpopular”. Trong Strayer: 27-57.
  4. Barzun, Jacques. 1974. Clio and the doctors: psycho-history, quanto-history, and history. Chocago.
  5. Berr, Henri, and Febvre, Lucien. 1932. “Hisroty and historiography: hisroty”. Encyclopedia of social sciences 7: 357-68.
  6. Breisach, Ernst. 1983. Historiography: ancient, medieval and modern. Chicago.
  7. Burke, Peter. 1969. The renaissance sense of the past. London.
  8. Croce, Benedetto. [1919] 1960. History: its theory and practice. New York.
  9. Finley, M. I. 1964-65. “Myth, memory, and history”. History and Theory 4: 281-302.
  10. Fritz, Kurt von. 1958. Aristotle’s contribution to the practice and theory of historiography. Berkeley, Calif.
  11. Fustel de Coulanges, N. D. [1862] 1972. “An inaugural lecture” trong Stern: 179-88.
  12. Harbison, E. Harris. 1956. The Cristian scholar in the Age of Reformation. New York.
  13. Hay, Denys. 1977. Annalists and historians: western historiography from the eighth to the eighteenth century. London.
  14. Holborn, Hajo. 1949. “Greek and modern concepts of history”.  Journal of the History of Ideas 10: 3-13.
  15. Hughes, H. Stuart. 1964. History as art and as science: twin vistas on the past. New York.
  16. Huizinga, Johan. [1936] 1963. “A definition of concept of history”. Trong Raymond Klibansky and H. J. Paton, ed., Philosophy and history: essays presented to Ernst Cassier. New York: 1-10.
  17. Johnson, Allen. 1926. The historian and historical evidence. New York.
  18. Meiland, Jack W. 1965. Scepticism and historical knowledge. New York.
  19. Mink, Louis O. 1978. “Narrative form as a cognitive instrument”. In Canary and Kozicki: 129-49.
  20. Press, Gerald A. 1977. “History and development of the idea of history in antiquity.” History and Theory 16: 280-96.
  21. Preston, Joseph H. 1977. “Was there an historical revolution?”  Journal of the History of Ideas 38: 353-64.
  22. Ranke, Leopold von. [1824] 1972. Preface to Histories of the Latin and Germanic nations from 1494-1514.In Stern: 55-58.
  23. Rothfels, Hans. 1961. “Einleitung”. In Waldemar Besson, ed., Geschichte: das Fischer Lexikon. Frankfurt.
  24. Stern, Fritz. 1972. The varieties of history. New York.
  25. Strayer, Joseph R. [1943] 1950. “Introduction”. In Strayer: 3-26.
  26. Stromberg, R. N. 1951. “History in the eighteenth century”. Journal of the History of Ideas 12: 295-304.
  27. Trevelyan, George Macaulay. [1903] 1972. “Clio, a muse”. In Stern: 227-45.
  28. Trompf, G. W. 1977. “Social science in historical perspective”. Philosophy of the social sciences 7: 113-38.
  29. Trompf, G. W. 1979. The idea of historical recurrence in western thought: from Antiquity to the Reformation. Berkeley, Calif.
  30. Turner, Frederich Jackson. [1891] 1972. “The significance of history” In Stern: 194-208.
  31. Walsh, W. H. 1973. “History as science and history as more than science”. Virginia Quarterly Review 49: 196-212.
  32. Weisinger, Herbert. 1945. “Ideas of history during the Renaissance”. Journal of the History of Ideas 6: 415-35.
  33. White, Lynn. 1942. “Christian myth and Christian history”. Journal of the History of Ideas 3: 145-58.
  34. Zagorin, Perez. 1956. “Carl Becker on history. Professor Becker’s two histories: a skeptical fallacy”. The Americain Historical Revew 62: 1-11.

—–

(*) Giáo sư sử học, Trường Đại học Western Washington.

** Thạc sĩ Triết học. Trưởng Ban Biên dịch, Trường Đại học Thủ Dầu Một.

[1] Geschichte (Lịch sử) là một chữ thuần Đức, còn Historie là một chữ Đức vay mượn – ND.

Các vùng lãnh thổ được mua bán ra sao?


ĐỨC HOÀNG

Quốc tịch giờ đã là một món hàng có thể mua bán dễ dàng, điều không có gì phải ầm ĩ bởi lẽ xét cho cùng, ý niệm công dân, không giống như dân tộc, rốt cuộc chỉ là nhân tạo. Nhưng ngay chính nhà nước, và cả quốc gia nữa, cũng chỉ là những khái niệm mới mẻ của thời hiện đại. Các đường biên giới có thể thay đổi dễ dàng, không chỉ bởi hậu quả của những cuộc chiến tranh mà nhiều khi chỉ là sự đổi chác thuần túy.

Trong lịch sử thế giới, chủ quyền lãnh thổ từng là một món hàng dễ dàng mua bán giữa các đế quốc. Ngay cả trong thế kỷ 21, hiện tượng này vẫn tiếp diễn, dù dưới những hình thức phức tạp hơn. Và lời buộc tội “đồ bán nước” thật ra đã được nhiều lần thực hiện, theo đúng nghĩa đen, và hoàn toàn hợp pháp theo công pháp quốc tế.

Những món hàng đặc biệt

“Ồ! Ồ! Nam Kỳ! Đó thật là một miếng béo bở với chúng tôi. Nhưng chúng tôi không đủ giàu để duy trì thứ xa xỉ như một thuộc địa” – Otto von Bismarck, thủ tướng Phổ, nói với nước Pháp năm 1871. Đó là tháng 5-1871, trên bàn đàm phán của Hiệp định Frankfurt.

Sau cuộc chiến tranh chóng vánh Pháp – Phổ, nước Pháp thua trận nặng nề và đứng trước yêu sách cay đắng của thủ tướng Von Bismarck: nhượng lại vùng Alsace-Lorraine để đế chế Đức mới thành lập làm tiền đồn của họ.

Alsace-Lorraine khi đó là một vùng rộng tới 1,4 triệu ha, với 1.694 ngôi làng và gần 1,6 triệu dân. Đặc biệt, khu vực này chiếm tới 20% trữ lượng khoáng sản (quặng sắt, than) của nước Pháp. Mất Alsace-Lorraine là quá khó chấp nhận. Đó là chưa kể 5 tỉ đồng vàng chiến phí mà Pháp phải thanh toán với tư cách nước thua trận.

Họ đề xuất với Bismarck một giải pháp khác: nhượng lại cho Đức thuộc địa trù phú ở vùng Viễn Đông, Nam Kỳ, hay Cochinchina, vùng đất Pháp vừa chiếm được một thập kỷ trước. Nhưng trong suốt sự nghiệp chính trị của mình, Bismarck không thích các thuộc địa.

Ông cho rằng người Đức, với vị thế kẹp giữa hai đế quốc mạnh là Pháp và Nga, không có điều kiện để duy trì thuộc địa. Phổ chỉ có vài thuộc địa ở châu Phi, ít hơn hẳn so với các cường quốc châu Âu khác.

Chính triết lý ấy đã giúp Bismarck đánh bại những người Pháp: trong khi quá nửa quân Pháp đang phải làm nhiệm vụ tại các thuộc địa ở châu Phi và Viễn Đông thì Đức có thể huy động toàn bộ quân lực để chiến đấu tại châu Âu. Với vùng Alsace-Lorraine, Đức còn có động cơ khác ngoài các lợi ích vật chất, bởi đây là vùng đất với cộng đồng người nói tiếng Đức rất lớn.

Cuối cùng thì Bismarck lấy Alsace-Lorraine, và phải tới tận năm 1918, sau khi Đức thua trận trong Thế chiến thứ nhất, dưới sức ép của Mỹ, Pháp mới đòi lại được vùng đất này.

Đã từng có thời các vùng lãnh thổ được mua bán, đổi chác một cách dễ dàng như vậy. Tình trạng đó cũng mới chỉ vãn đi từ đầu thế kỷ trước, khi chủ nghĩa thực dân bị xô đổ.

“Nhượng địa” (cession) là một khái niệm phổ biến và hoàn toàn hợp pháp trong công pháp quốc tế, để chỉ những vùng đất được chuyển giao theo hiệp ước chính thức giữa hai nhà nước, vĩnh viễn hoặc có thời hạn.

Có hai nguyên nhân phổ biến: một hiệp ước để chấm dứt chiến tranh, như trong trường hợp Nam Kỳ (suýt) được san nhượng cho người Đức; hoặc thông qua hợp đồng mua bán.

Alaska có lẽ là vùng đất nổi tiếng nhất được san nhượng thông qua mua bán. Alaska là lãnh thổ chủ quyền của Nga từ thế kỷ 17. Nhưng đến cuối thế kỷ 19, người Nga nhận thấy vùng đất này rất khó phòng thủ: nếu đế quốc Anh quyết định gây chiến tranh, đây sẽ là nơi bị chiếm dễ dàng nhất. Cộng thêm tình hình khó khăn tài chính, Sa hoàng Alexander II quyết định bán Alaska.

Và nước Mỹ trở thành người mua. Thời đó, theo các nhà sử học, dư luận Mỹ cũng cực kỳ chia rẽ: một nhóm báo chí phản đối quyết liệt việc này khi tin rằng “tiền thuế của người dân bị phung phí vào việc mua một chuồng gấu Bắc Cực”; nhóm kia lại tin rằng Alaska sẽ mang lại cho họ cả lợi ích kinh tế lẫn ngoại giao, bởi mối quan hệ với Nga thời đó rất quan trọng.

Cuối cùng, ngày 30-3-1867, Mỹ chính thức sở hữu Alaska với giá 7,2 triệu USD, tức 4,24 USD/km2. Cho đến nay, có lẽ không còn ai tranh cãi về quyết định này nữa.

Cần làm một phép so sánh nhỏ: chiến phí mà Pháp phải bồi thường cho Phổ sau chiến tranh năm 1871 là 5 tỉ franc, tương đương hơn 900 triệu USD theo thời giá cuối thế kỷ 19.

Một vùng đất rộng lớn như Alaska được bán vĩnh viễn chỉ với 7,2 triệu USD, cho thấy thời đó việc “bán nước” không chỉ là quá thường, mà giá bán còn có thể rẻ tới bèo bọt. Nhiều vùng đất thuộc nước Mỹ ngày nay đến sau một thỏa thuận mua bán.

Tiêu biểu là vùng Louisiana được Mỹ mua từ tay Pháp vào năm 1803 với giá 68 triệu franc (tương đương khoảng 500 triệu USD năm 2016), ngày nay vùng đất đó là 15 bang của Hoa Kỳ.

Nếu ai đã từng đọc A matter of honour (tạm dịch: Vấn đề thể diện) của Jeffrey Archer, chính trị gia và tiểu thuyết gia danh tiếng người Anh, sẽ hiểu rằng việc mua bán một vùng lãnh thổ đơn giản tới mức độ nào.

Một vùng đất, ngoài ý nghĩa chính trị còn mang các yếu tố lịch sử, văn hóa và chủng tộc, vốn rất thiêng liêng với những người bản địa, nhưng nếu đã trở thành một phần của một hợp đồng kinh tế thì cũng chỉ tương đương một món hàng.

Trong sách, Archer đặt ra giả thiết Sa hoàng Alexander II đã “thòng” một điều kiện rằng nước Nga có thể lấy lại Alaska vào năm 1966, tức 99 năm sau khi bán.

Thỏa ước này được ghi trong một văn bản giấu ở Cung điện Mùa Đông, và nếu tìm lại được văn bản này, Matxcơva chỉ cần chồng đủ tiền chuộc thì Mỹ sẽ mất Alaska. Cuốn sách kể về hành trình giả tưởng đi tìm lại văn bản chuộc đất giữa các điệp viên Nga và Mỹ.

Dù là tiểu thuyết, nhưng trong sách, Alaska với hàng ngàn năm lịch sử của những thổ dân châu Mỹ hiện lên hoàn toàn như một món hàng mà số phận được định đoạt bằng một tờ khế ước viết tay, phản ánh đúng tính chất của việc mua – bán vùng đất này trong lịch sử.

Một giải pháp chính trị

Việc bán các thuộc địa giữa những đế quốc, các mảnh đất vốn được xác lập chủ quyền bởi chiếm đóng, tất nhiên sẽ dễ dàng hơn việc tự cắt một mảnh đất có chủ quyền lịch sử, tức có gắn bó về cả mặt lịch sử, văn hóa, chủng tộc với một quốc gia.

Nhưng trên thực tế, thỉnh thoảng có những nước vẫn làm như vậy để giải quyết vấn đề chính trị trước mắt. Trung Quốc đã hơn một lần nhượng đất để đổi lấy hòa bình. Đảo Hong Kong đã được nhượng lại cho đế quốc Anh vào năm 1841, sau khi nhà Thanh thua trận trong Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất; nối tiếp là các đảo Cửu Long (1860) và bán đảo Tân Giới (1898), tạo thành lãnh thổ của đặc khu kinh tế Hong Kong ngày nay.

Hong Kong chỉ quay về với Trung Quốc sau Tuyên bố Anh – Trung năm 1984, rồi nữ hoàng Anh trả lại vùng đất này cho Bắc Kinh vào năm 1997.

Sau Thế chiến thứ hai, các vùng lãnh thổ thường được “sang tên đổi chủ” vì mục tiêu chính trị nhiều hơn mục tiêu kinh tế. Năm 1975, người dân Vương quốc Sikkim chấp nhận trở thành một phần của Ấn Độ sau trưng cầu ý dân.

Sikkim đã không chịu gia nhập Ấn Độ sau khi đánh đổ chế độ thuộc địa của Anh năm 1947, và tiếp tục duy trì chế độ quân chủ riêng. Nhưng tháng 4-1975, sau khi Ấn Độ chiếm thủ đô Gangtok và giải giáp ngự lâm quân của nhà vua, một cuộc trưng cầu ý dân đã được tiến hành và 97,5% người dân Sikkim quyết định trở thành bang thứ 22 của Ấn Độ.

Hoặc một trường hợp khá phức tạp khác, một nhóm đại diện của người Palestine đã đồng ý nhượng lại khu Bờ Tây cho Jordan vào năm 1948.

Thời điểm đó, nhiều người Palestine hi vọng việc “nương nhờ” vào vua Abdullah của Jordan, một nước có quân đội mạnh, có thể giúp họ giữ được đất đai của tổ tiên trước sự xâm lấn của nhà nước Israel mới thành lập. Mặc dù việc sáp nhập này rất gây tranh cãi và không được nhiều nước thừa nhận, nhưng Jordan đã đối xử với Bờ Tây như một phần lãnh thổ của mình tới tận năm 1967.

Người Palestine ở đây có quyền công dân Jordan, được đi bầu cử, có ghế ở Quốc hội Jordan (cho tới tận năm 1988). Tới năm 1967, sau cuộc chiến tranh sáu ngày, Israel dùng vũ lực chiếm đóng Bờ Tây và bắt đầu kiểm soát vùng đất này. Kể từ đó, Bờ Tây sa sút trong sự kiểm soát ngặt nghèo của chính quyền Do Thái.

Đảo của ai?

Trong thế kỷ 21, vụ “bán lãnh thổ quốc gia” nổi tiếng nhất phải kể đến việc chính quyền Ai Cập quyết định chuyển nhượng hai hòn đảo có vị trí chiến lược quan trọng ở biển Đỏ cho Saudi Arabia.

Vụ việc gây xôn xao dư luận Ai Cập và cả thế giới Ả Rập hồi tháng 4 vừa rồi. Hai hòn đảo Tiran và Sanafir nằm ngay cửa eo biển Tiran, án ngữ đường hàng hải huyết mạch Hồng Hải – vịnh Aqaba, cũng là tuyến đường biển vào các bến cảng quan trọng nhất của vùng Trung Đông như cảng Aqaba của Jordan hay cảng Eilat của Israel. Nằm dưới quyền kiểm soát của Ai Cập từ năm 1950, khi đó cả hai hòn đảo này đều không có dân cư.

Nhiều thế hệ học sinh Ai Cập đã được dạy rằng hai hòn đảo này là lãnh thổ quê hương. Nhưng bất ngờ, tháng 4-2016, chính quyền của Tổng thống Abdel Fattah al-Sisi tuyên bố rằng hai đảo này thực chất thuộc chủ quyền Saudi Arabia, và Ai Cập chỉ “kiểm soát giùm” theo yêu cầu của nước bạn từ năm 1950.

Ngay lập tức, trên mạng xã hội, người dân Ai Cập tỏ thái độ bất bình. Chỉ trong vòng một ngày, từ khóa #Tiran_Sanafir được nhắn 28.000 lần trên Twitter. Báo chí mô tả đây là một hành động “bán nước”.

Tổ chức Anh em Hồi giáo khẳng định rằng các hòn đảo này đã được san nhượng “vì một nắm đôla, hoặc là để đổi lấy sự ủng hộ cho chính sách giết người, bắt giữ, bạo lực ngoài vòng pháp luật của chính phủ”. Iran, một nước đang có mâu thuẫn với Saudi Arabia, cũng bày tỏ sự bất bình với Ai Cập khi báo chí nước này gọi đây là hành vi “bán nước”.

Cùng với việc chuyển nhượng hai đảo Tiran và Sanafir, Ai Cập nhận được rất nhiều ưu đãi kinh tế từ nước láng giềng bên kia bờ biển Đỏ, vốn là một cường quốc khu vực với trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới. Song song với lễ ký kết “nhượng đảo”, vua Salman của Saudi Arabia ký một hợp đồng phát triển hạ tầng trị giá 1,5 tỉ USD trên bán đảo Sinai và cho Ai Cập vay tiền phát triển ngành hóa dầu trong 5 năm với lãi suất ưu đãi.

Có thể dễ dàng nhận thấy qua vụ đảo Tiran và Sanafir và nhiều ví dụ khác, rằng trong tiến trình phát triển của lịch sử thế giới, với rất nhiều biến động trong biên giới của các quốc gia, “chủ quyền” của một số vùng lãnh thổ trở nên chồng chéo và có thể được tính toán theo nhiều cách. Chính vì vậy, ngay cả khi chủ nghĩa thực dân cũ đã chết, các vùng lãnh thổ vẫn có thể được đem lên bàn thương lượng cho những mục tiêu khác nhau.

Nguồn: https://tuoitre.vn/cac-vung-lanh-tho-duoc-mua-ban-ra-sao-1144957.htm

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần cuối


Con đường tơ lụa nối liền Trung Quốc với Trung Á và phương Tây

Ở Trung Quốc người ta đang nhiều lần kêu gọi, tái lập con đường tơ lụa thời xưa theo kiểu thời đại ngày nay nối liền Trung Quốc với Trung Á và phương Tây. Thoạt đầu nghe ra nó có vẻ lãng mạn, cũng tựa như mô hình một phi thuyền từng gây ấn tượng mạnh đối với mọi người, song dầu sao đi nữa “hào ngôn tráng ngữ” của Trung Quốc vẫn rất có ý nghĩa. Trung Quốc nhìn thấy một con đường tơ lụa mới cùng các tuyến đường sắt, đường bộ hiện đại có thể đưa giàu sang và ảnh hưởng của nó ra xa mãi tới phương Tây, không chỉ qua Trung Á, mà còn đi nữa, đến Iran và Trung Đông. Hầu hết các cuộc tranh cãi về các mối liên hệ cụ thể có hình thù trong tương lai của Trung Á với thế giới bên ngoài cho đến nay đều tập trung vào những liên hệ bắc – nam mà bỏ qua logic của mối liên hệ đông – tây. Mắt xích liên hệ này có thể bao gồm việc thiết lập tuyến đường sắt hiện đại, nối trực tiếp vùng Trung Á với thị trường Trung Quốc rộng lớn và đang phát triển, rồi sau cùng đi đến các cảng biển nước sâu ven biển phía đôngg của Trung Quốc. Một con đường tơ lụa mới với đường sắt, đường bộ hiện đại chắc chắn tạo cho Trung Quốc một tuyến đường lục địa xa mãi tới phương Tây, sau hết đến châu Âu và Iran trên vịnh Persian và sẽ đem lại những kết quả có tính chiến lược rất lớn. Người ta có thể tin rằng nó có thể sánh được với ảnh hưởng từng có của Kênh đào Suez và Panama lúc mới ra đời.

Các mục tiêu của Trung Quốc tại Trung Á được phô diễn vào tháng 4/1994 khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng thăm chính thức Turmenistan, Uzbekistan, Kazakhstan và Kyrgyzstan. Việc đón tiếp Lý Bằng tại 4 nước Cộng hòa, theo diễn tả của một nhà quan sát độc lập diễn ra “cực kỳ thân mật”. Tổng thống Uzbekistan Islam  Karimov hoan nghênh Lý đúng nghi thức, nói “ghi nhận Trung Quốc là một nước lớn và đóng góp tiềm năng lớn cho ổn định của Trung Á”. Thủ tướng Lý gợi lên con đường tơ lụa, đạt thỏa thuận với Tổng thống Turmenistan, Sarparmurad Niyarov, về nghiên cứu “khả thi” đối với tuyến đường sắt mới chạy qua Trung Á và một đường ống dẫn dầu, sẽ đưa dầu từ khu vực này đến Trung Quốc. Lý gọi đường ống dẫn dầu ước tính 20 tỷ USD này là “Công trình thế kỷ”.

Tham vọng của Trung Quốc đối với Trung Á – nhất là một đường ống dẫn dầu như thế sẽ có ý nghĩa chiến lược lớn – không tránh khỏi sẽ mâu thuẫn với quan điểm về sở hữu của Nga đối với các nước Cộng hòa Trung Á một thời thuộc Liên Xô. Mâu thuẫn sẽ đẩy một Trung Quốc sôi động về kinh tế chống một nước Nga đang suy thoái nhưng vẫn còn có một đòn bẩy quân sự quan trọng tại Trung Á. Rõ ràng trước mắt Nga vẫn còn thế mạnh nhưng vì kinh tế ốm yếu, nên vị trí của nó tại khu vực này không được vững chắc về lâu dài.

Lúc này Nga đang bảo vệ chặt chẽ những đặc quyền về chính trị và quân sự của mình tại khu vực Trung Á. Thí dụ, đài phát thanh Almaty cuối năm 1992 đưa tin “người ta chờ đón một Hiệp ước về hợp tác và viện trợ quân sự giữa Kazakhstan và Trung Quốc sẽ được ký trong tương lai gần”. Nhưng rồi người ta không còn nghe thấy nói gì hơn về một hiệp ước như thế. Lời giải thích là, Nga hiển nhiên đòi quyền phê chuẩn bất kỳ quan hệ quân sự nào giữa Trung Quốc với các nước Cộng hòa Trung Á. Thí dụ, khi Trung Quốc thảo luận với các nước Cộng hòa Trung Á về việc xác định đường biên giới, giảm số quân và các biện pháp xây dựng lòng tin, thì Nga khăng khăng đòi được có mặt. Thế là Trung Quốc phải gặp một đoàn đại biểu hỗn hợp bao gồm cả ba nước láng giềng Trung Á lẫn Nga mà thực tế nước Nga là nước dẫn đầu đoàn đại biểu và có thể ngăn cản bất kỳ thỏa thuận nào giữa Trung Quốc với các nước Cộng hòa Trung Á mà họ phản đối. Đó là thông lệ từ 1993 cho tới gần đây nhất vào tháng 3/1994. Chỉ mãi đến tháng 1/1994 Bộ trưởng Quốc phòng Kazakhstan mới thu xếp được việc viếng thăm Trung Quốc.

Theo các phương tiện thông tin tiếng Nga thì, lo lắng của nước Nga về vai trò của Trung Quốc ở Trung Á đang tăng lên. Trong mấy tháng vừa qua đã có nhiều bài viết công kích sự có mặt gia tăng của Trung Quốc, đặc biệt tại Kazakhstan. Hầu hết những công kích đó dường như xuất phát từ phía người Nga chứ không phải từ phía người Kazakh. Các bài viết vẫn mang giọng văn kiểu cũ, một kiểu tuyên truyền về chủng tộc da vàng. Điển hình có một bài, trừ một điều là nó được đăng trên tạp chí tiếng Kazakh, tuyên bố: “Không còn là điều bí mật, những người Trung Quốc đang tràn vào Kazakhstan như trở về nhà tương lai của họ và đang mua… đàn bà Kazakh… Người Trung Quốc… đặc biệt quỷ quyệt, khách sáo giả dối, (và)… đang thận trọng thực hiện các kế hoạch đã được định ra cho hàng bao thế kỷ. Mọi dấu hiệu đều cho thấy là Trung Quốc sẽ rất thận trọng làm sao không hành động quá tay hoặc sử dụng ồn ào đòn bẩy kinh tế nhằm đạt tới những lợi ích chính trị hoặc chiến lược rõ ràng. Thay vào đó, họ dường như sẵn sàng để mặc cho mâu thuẫn giữa sức mạnh kinh tế của Trung Quốc với yếu kém về kinh tế của Nga diễn tiến theo trình tự của nó. Thí dụ, đề nghị của Trung Quốc về xây dựng đường ống dẫn dầu để đưa dầu từ Trung Á vào Trung Quốc hầu như chắc chắn sẽ bị cản lại bởi một nước Nga lo ngại Trung Quốc và từ lâu vẫn coi dự trữ dầu lửa Trung Á là sở hữu của mình. Nhưng nếu Nga cản trở việc này cũng như các dự án khác về “con đường tơ lụa” thì sẽ làm cho các nhà lãnh đạo Trung Á xa lánh hơn nữa, vì đương nhiên họ ủng hộ bất kỳ dự án nào có thể thúc đẩy kinh tế trong nước của họ tăng trưởng. Bởi vậy cho dù các dự án được đề xuất có được thực hiện hay không thì Trung Quốc vẫn cứ cải thiện được vị trí của họ ở Trung Á và Liên Xô dường như sẽ thua.

Kết luận

Tháng 9/1993 có cuộc họp của những người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Chính quyền thuộc năm đơn vị cấp tỉnh vùng Tây Bắc trung Quốc, được tổ chức ở Urumchi. Tin tức cho biết các nhà lãnh đạo được thúc giục bởi hàng loạt cơ hội tại tiền duyên Tây Bắc Trung Quốc: phát triển thương mại và giao thông quốc tế, ký kết các hợp đồng dự án và lao động tại các nước láng giềng và lập doanh nghiệp cũng như phát triển các phương tiện du lịch ở nước ngoài. Có báo cáo nói rằng, “các nhà lãnh đạo nhất trí rằng khu Tây Bắc cần phát huy hết lợi thế vị trí địa lý của nó, thực hiện mở cửa đối với các nước, các khu vực phía Tây cảu miền Tây Bắc Trung Quốc, liên kết xây dựng một hành lang quốc tế vĩ đại tại miền Tây Bắc và liên kết tiến về phía Tây”. Đó là tư thế lạc quan, có khát vọng và hướng ngoại đồng thời cũng tiêu biểu cho những biện pháp tiếp cận của một Trung Quốc ngày thêm hung mạnh đối với các nước láng giềng, không riêng ở Trung Á, mà gồm cả Nam và Đông Nam Á.

Kết quả cho thấy Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng ảnh hưởng của nó đối với cả ba khu vực láng giềng. Và điều đặc biệt đáng ghi nhận là những bước tiến của Trung Quốc ở cả ba khu vực đều mang tính hòa bình, kinh tế, không cưỡng chế. Thực vậy, các nước láng giềng nhiệt thành với thành quả mà Trung Quốc thu được trong phát triển kinh tế nhiều khi còn tỏ ra hăng hái hơn so với bản thân Trung Quốc trong việc xúc tiến xu thế này. Vào thời điểm hiện thời, các phần tử quân sự của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc trong các khu vực nói trên chỉ là thấp thoáng, không lộ mặt. Trước hết, Trung Quốc đang tăng cường quan hệ với các nước như Myanmar và Thái Lan thông qua việc bán cho họ trang thiết bị quân sự với điều kiện rất thuận tiện. Hai là, Trung Quốc tiếp tục công cuộc phát triển nhanh chóng về quân sự, nhằm giúp vào việc ngăn cản các nước khác thự chiện phản ứng  bằng quân sự đối với sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc.

Điều chúng ta có thể được chứng kiến là những giai đoạn đầu của bước chuyển phần lớn lục địa châu Á về với một trạng thái “tự nhiên” hơn đã từng thịnh hành qua các thế kỷ trước. Vào lúc cực thịnh, các triều đại thống trị Trung Quốc trị vì một hệ thống các quốc gia chư hầu. Dưới chế độ đó, các nước láng giềng cơ bản là độc lập và không có quân lính Trung Quốc chiếm đóng vẫn phải dâng “cống vật” lên Bắc Kinh để thừa nhận bá quyền của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần VI


Hơn nữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc thở phào nhẹ nhõm vào đầu năm 1992 khi đi đến kết luận rằng chủ nghĩa dân tộc đại Turkic cũng như Hồi giáo hiếu chiến xem chừng đều không thể lan tràn khắp các nước Cộng hòa Trung Á. Như vậy có nghĩa không còn lực lượng nào là mối đe dọa nghiêm trọng và trực tiếp đối với Tân Cương. Tầng lớp lãnh đạo chóp bu “thế tục” của năm nước Cộng hòa đã tỏ rất rõ thái độ thù địch đối với Hồi giáo hiếu chiến.

Ngay cả lúc nỗi lo của Trung Quốc đối với Trung Á lên cao vào thời kỳ 1989 – 1991, thì các nhà chức trách Tân Cương cũng đã phát triển từ từ và vững chắc mậu dịch biên giới cùng các quan hệ khác với các nước Cộng hòa Trung Á, lúc ấy còn là một bộ phận không thể chia cắt của Liên Xô. Nhưng một khi các nước Cộng hòa đó hoàn thành độc lập và chủ quyền có tính pháp lý vào cuối năm 1991, thì một giai đoạn đã mở ra cho Bắc Kinh thiết lập mối quan hệ nhà nước với nhà nước và hình thành một chính sách Trung Á có tham vọng hơn và tiến xa hơn. Tin tưởng rằng vào lúc này Trung Quốc không còn gáip mặt với bất kỳ mối nguy nghiêm trọng và trực tiếp nào đến từ Trung Á, Trung Quốc nhận định rằng dầu sao đi nữa họ vẫn có lợi ích quốc gia trong việc gia tăng ổn định lâu dài và phát triển kinh tế của các nước Cộng hòa Trung Á. Bắt đầu vào thập kỷ 90, sau hơn một thập kỷ kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao, Trung Quốc giờ đây đã có thể cung cấp cho các nước Cộng hòa Trung Á yếu kém về kinh tế, các cơ may về thương mại lớn cũng như các số lượng vừa phải về vốn và công nghệ. Với cách làm đó Trung Quốc đang tăng cường nền kinh tế của các nước Cộng hòa và đáp ứng điều mà các nhà lãnh đạo Trung Á coi là nhu cầu cơ bản nhất của họ. Tầng lớp thượng lưu Trung Á không khao khát viện trợ văn hóa, ngôn ngữ hoặc tôn giáo mà cần phát triển kinh tế, Trung Quốc rõ ràng cũng đồng ý rằng phát triển kinh tế tạo cho khu vực cơ hội tốt nhất để hạn chế xung đột sắc tộc và tôn giáo trong tương lai.

Đương nhiên Trung Quốc có ý định xử sự tốt bằng cách làm lợi. Gia tăng mậu dịch và đầu tư ở Trung Á cũng có nghĩa gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc. Hơn nữa, do lợi ích chung vốn sẵn có ở trong giao dịch thị trường cho nên tất cả những cái đó đều có lợi cho inh tế nội địa Trung Quốc, nhất là cho Tân Cương ở kề bên. Thật vậy nhà cầm quyền trung ương nhận định rằng Tân Cương với vị trí chiến lược của nó là một trung tâm phát triển quan trọng. Tháng 9/1992, Thủ tướng Lý Bằng chủ trì lễ khai mạc Hội chợ thương mại lớn tại Urumchi, thủ phủ Tân Cương. Tuy thu hút 10000 nhà doanh nghiệp của 38 nước nhưng Hội chợ tập trung vào việc phát triển mậu dịch và các mối quan hệ khác giữa Tân Cương với các nước láng giềng Trung Á.

Tân Cương đang hấp dẫn sự quan tâm của cả các nhà đầu tư Hong Kong và Đài Loan. Có tin cho hay là một nhà doanh nghiệp Hong Kong đã xây dựng ở Horgos, thị trấn biên giới của Tân Cương, một trung tâm thương mại Quốc tế, trị giá 55 triệu USD, khoản đầu tư đó là một thí dụ nữa về lợi thế Trung Quốc sẵn có đối với Trung Á: Nó không chỉ có thể lợi dụng tài nguyên của kinh tế phồn vinh của đại lục, mà còn tiếp cận được vốn, công nghệ, và nguồn lực kinh doanh của Hong Kong và Đài Loan. Và không chỉ có thế, giới kinh doanh Hong Kong và Đài Loan còn có thể là cái cầu nối liền với thị trường tư bản thế giới và các công ty đa quốc gia.

Biện pháp tiếp cận lấy kinh tế làm cơ sở mới có của Trung Quốc có thể được người ta hiểu được đúng hơn, bằng cách trước hết xem xét những phát triển mạnh mẽ trong mối quan hệ của Trung Quốc với Kazakhstan và Kyrgyzstan, kể từ năm 1991. Chúng ta cũng sẽ xem qua mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với nước láng giềng Trung Á trực tiếp thứ ba là Tajikistan. Mối quan hệ của Trung Quốc với Kazakhstan và với Kyrgyzstan đang được mọi người chú ý sát sao, không chỉ vì đó là mối quan hệ tiến bộ và rộng rãi nhất, mà còn vì các mối quan hệ đó cung cấp cho chúng ta những minh họa sâu rộng về toàn bộ phương pháp tiếp cận của Trung Quốc đối với Trung Á.

Kazakhstan

Tuy các số liệu thống kê còn xa mới gọi là đạt yêu cầu, song không còn gì khiến người ta nghi ngờ việc mậu dịch song phương của Trung Quốc với Kazakhstan đã tăng cao kể từ đầu năm 1992. Mặc dầu kinh tế của Kazakhstan vẫn còn suy thoái nhưng buôn bán song phương với Trung Quốc đã tăng trong năm 1993 từ 360 triệu USD năm 1992 lên 434 triệu USD và được gọi là năm cất cánh. Hãng Xinhua (Tân Hoa xã) đưa tin rằng cuối năm 1992, 50% hàng tiêu dùng nhập khẩu của Kazakhstan – chủng loại rộng rãi bao gồm thực phẩm, quần áo và đồ dùng gia đình – đều từ Trung Quốc đến (Mùa Xuân năm 1993 phương tiện thông tin của Nga có những xác nhận bực dọc đối với sự kiện này). Những mặt hàng cơ bản nhất của Trung Quốc – như xà phòng, diêm, nồi nấu ăn được người dân châu Á nghèo ưa thích vì chất lượng và giá tiền.

Bằng chứng thêm nữa về mối quan hệ thương mại của Trung Quốc phát triển đối với Kazakhstan đã xuấ hiện trong một bản báo cáo 5/1992 cho biết “một mạng lưới các cửa hàng Trung Quốc đã được khai trương tại Kazakhstan”. Tháng 4 năm 1993, hãng Xinhua đưa tin rằng Trung Quốc đã thiết lập tại Kazakhstan 150 liên doanh nhỏ. Tháng 6/1992, người ta chứng kiến đoàn tầu đầu tiên chạy suốt chiều dài tuyến đường sắt nối Urumchi, thủ phủ Tân Cương với Alma Ata, thủ đô Kazakhstan. Việc xây dựng tuyến đường sắt đó đã bắt đầu từ năm 1956! Tháng 11 năm 1993 Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbayev nói rằng năm ngoái đã có 15.000 đoàn tàu (có thể là 15.000 toa tàu) đã chạy từ Kazakhstan tới Trung Quốc và ngược lại. Có nghĩa là khoảng 2 triệu tấn hàng và tổng số 670.000 hành khách. Cũng trong lần trả lời phỏng vấn đấy ông còn nói một cách sôi nổi về một tuyến gồm hai làn đường nối Trung Quốc qua Kazakhstan tới phương Tây.

Hiển nhiên có nhiều cử tri ở cả Trung Quốc lẫn ở Kazakhstan ủng hộ mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa hai nước trên hầu hết các lĩnh vực. Bằng chứng về việc này xuất hiện sau cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Lý Bằng và Thủ tướng Kazakhstan Tereshchenko tại Bắc Kinh vào tháng 2 năm 1992. Thông cáo chung ghi nhận rằng các Hiệp nghị đã được ký thuộc các lĩnh vực mậu dịch, hợp tác khoa học và công nghệ, giao thông và vận tải, trao đổi nhân sự và thành lập ủy ban liên hợp phát triển hơn nữa các mối quan hệ.

Kyrgyzstan

Sự hiện diện về kinh tế của Trung Quốc ở Kyrgyzstan còn lớn hơn nữa. Kyrgyzstan cũng có chung biên giới với Tân Cương. Bốn tháng sau khi Trung Quốc và Kyrgyzstan thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 1/1992, Tổng thống Askar Akayev thăm Bắc Kinh. Hiện nay Trung Quốc đã có sứ quán chính thức ở Bishkek. Mùa hè năm 1993 các quan chức cấp cao Trung Quốc và Kyrgyzstan viếng thăm thủ đô của nhau.

Nhưng chính bình diện kinh tế mới là nơi có các mối quan hệ giữa hai bên phát triển mạnh mẽ. Thực vậy có thể nhận định rằng nền kinh tế Kyrgyzstan sẽ do Trung Quốc chi phối vào trước cuối thập kỷ này. Trung Quốc đã thiết lập một khu thương mại tự do tại thành Naryn. Tại thủ đô Bishkek, người Trung Quốc mua một số lượng đáng kể bất động sản. Trung Quốc cũng cử chuyên gia nông nghiệp và các ngành khác làm việc tại Kyrgyzstan.

Mậu dịch giữa hai nước phát triển mạnh. Các mặt hàng tiêu dùng cơ bản của Trung Quốc – như thực phẩm, quần áo và hàng điện tử đơn giản – tràn vào Kyrgyzstan. Nhằm khích lệ xu thế này, Trung Quốc đã cho vay tín dụng 5,7 triệu USD. Có thời kỳ Trung Quốc nhập khẩu các mặt hàng công nghiệp như thép cán, thép tấm, phân bón và đồng. Số các phương tiện thông tin đại chúng bằng tiếng Nga tại Moscow, buộc tội rằng có nhiều thứ trong số các mặt hàng đó thực tế là các mặt hàng tái xuất, vốn mua được với giá hạ tại một nơi nào trong cộng đồng các quốc gia độc lập, rồi sau đó bán lại cho Trung Quốc với giá thị trường thế giới. Trung Quốc cũng mua điện của Kyrgyzstan.

Tháng 8/1992, Trung Quốc đề nghị thăm dò khả năng khai thác bốn con song mà Tân Cương với Kyrgyzstan cùng chia nhau nguồn nước. Tới tháng 1/1993 hai nước đạt Hiệp nghị cùng xây dựng công trình chứa nước trên song Horgos dọc biên giới. Văn kiện có ý nói, cần phải theo đuổi mọi lợi ích tiềm tang của dòng song – tưới, thủy điện, kiểm soát lũ và vận chuyển. Tất cả các đề nghị đó đều phải được xem xét kỹ lưỡng về các mặt có liên quan đến chính trị. Nước là nguồn quý hiếm, cốt tử tại Trung Á và mâu thuẫn giữa những người sử dụng trên thượng nguồn và hạ lưu luôn là vấn đề nghiêm trọng. Trên thực tế vào lúc đó chỉ tồn tại một vấn đề tức thời, Trung Quốc có thể mâu thuẫn với một hoặc hơn trong số các nước Trung Á. Các nhà phân tích tin rằng một căn nguyên mâu thuẫn có thể xuất phát từ một thỏa thuận phát triển dòng song giữa Trung Quốc và Kazakhstan hoặc Kyrgyzstan, vì nó sẽ làm tổn hại lợi ích cảu những người sử dụng ở hạ lưu như Uzbekistan.

Tajikistan

Tuy một phần đất của Tajikistan vẫn đang còn trong rối loạn, buôn bán với Trung Quốc từ điểm khởi đầu ít ỏi đã được gia tăng nhanh chóng. Tổng doanh số buôn bán hai chiều năm 1992 chỉ vỏn vẹn 2,7 triệu USD nhưng bốn tháng đầu năm 1993 tăng tới 4,4 triệu USD. Có thể hiểu được, khi người lãnh đạo cấp cao của Tajikistan – Emmamali Rakhmanov thăm chính thức Trung Quốc tháng 3/1993, rằng hầu như hết thảy những tham khảo chính thức về mối quan hệ kinh tế giữa hai nước đều được viết ở thể tương lai. Trung Quốc cho Tajikistan vay một khoản nhân dân tệ trị giá 5 triệu USD để mua các mặt hàng thực phẩm và tiêu dùng. Trung Quốc còn cho Tajikistan vay một khoản NDT trị giá 5 triệu USD để mua các mặt hàng thực phẩm và tiêu dùng. Trung Quốc còn cho Tajikistan thực phẩm nhân đạo và viện trợ y tế trị giá xấp xỉ 500.000 USD. Khoảng thời gian 1992 – 1993 hai nước đã ký 10 Hiệp định hợp tác. Trong số các điều khoản của hiệp định có điều khoản đề nghị thành lập các liên doanh Tajik – Trung Quốc chế biến bông. Có một hiệp định được k1y về việc thành lập một xưởng nhuộm Trung Quốc tại một nhà máy dệt của Tajikistan.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần V


Hiệp định đưa đến một số bất trắc mới. Một số quan chức và trí thức tại hai nước kêu gọi Trung Quốc và Ấn Độ hãy phát triển lập trường chung đối với các vấn đề quốc tế, hàm ý trong hầu hết trường hợp sẽ chống chính sách của Mỹ. Tuy nhiên do lịch sử nghi kỵ lâu dài giữa Trung Quốc và Ấn Độ, triển vọng trông chừng cũng chỉ vừa phải.

Hiệp định Trung Quốc – Ấn Độ gây nỗi lo lắng cho các nước láng giềng của Ấn Độ. Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham viếng thăm ba nước láng giềng Nam Á quan trọng nhất của Ấn Độ – Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka – vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 1994 trong một hành trình bao gồm cả Iran và Maldives. Hiển nhiên mục đích đầu tiên của ông nhằm làm yên lòng ba nước láng giềng trực tiếp của Ấn Độ là hòa giải của Trung Quốc với Ấn Độ không có nghĩa Trung Quốc ủng hộ bá quyền của Ấn Độ đối với Nam Á. Việc này hiển nhiên cũng thúc giục Bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ, Dinesh Singh, hối hả đến Tehran, gặp Tiền vào trước lúc ông này quay trở về Bắc Kinh. Tóm lại, dường như Trung Quốc đang ở vào địa vị có thế lực được mọi nước Nam Á lấy lòng!

Hiệp định Trung – Ấn tháng 9 có thể bao gồm một số giao dịch phụ không công bố. Chẳng hạn, Ấn Độ dường như chấp thuận ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng ở Nepal, một điểm gay cấn từ nhiều năm nay. Một tháng sau Hiệp định, người ta thông báo: Trung Quốc mở thêm ba cửa khẩu tại biên giới Tây Tạng – Nepal, nhằm phát triển mậu dịch biên giới và du lịch. Trước đó ở đấy chỉ có một cửa khẩu như vậy, Tây Tạng, trong một động tác cũng có thể có liên quan, trước thời điểm đó đã mở một văn phòng liên lạc thương mại tại Kathmandu.

Tại Bangladesh vào năm 1994, Trung Quốc bày tỏ họ có nguồn lực kinh tế để xây dựng một dự án viện trở nước ngoài theo kiểu Nhật Bản. Và Trung Quốc sẽ bỏ ra 200 triệu USD để xây dựng ở Bangladesh một mỏ than được lắp đặt toàn bộ thiết bị khai thác mỏ của Trung QUốc. Đây là loại dự án mà người ta từng trông đợi ở người láng giềng kề bên Bangladesh là Ấn Độ tài trợ, giá như Ấn Độ đã có thể phát triển được một nền kinh tế mạnh mẽ và hướng ngoại

Mối quan hệ của Trung Quốc với Pakistan đã được người ta viết tới từ nhiều năm nay. Ở đây không cần thiết điểm lại lịch sử mối quan hệ đó, trải qua những thay đổi hay thăng trầm của chính trị hai quốc gia. À cũng sẽ chưa chin muồi để đánh giá tác động của Hiệp định Trung – Ấn ký tháng 9/1993 đối với Pakistan. Mối quan hệ về quân sự vẫn được duy trì chặt chẽ, mặc dầu chưa mang đặc trưng là một liên minh. Người ta có thể giả thiết, dựa trên những bằng chứng sẵn có cùng với những tố cáo của chính phủ Hoa Kỳ, Trung QUốc qua nhiều năm vẫn tiếp tục trợ giúp chương trình vũ khí hạt nhân và kỹ thuật tên lửa cho Pakistan. Bằng chứng cho thấy mối quan hệ quân sự giữa hai bên vẫn được duy trì chặt chẽ sau khi có Hiệp định Trung – Ấn là thông báo được công bố vào tháng 3/1994 về việc Trung Quốc thỏa thuận chuyển giao cho Pakistan “năng lực chế tạo xe tăng hiện đại như MBT-2000 và pháo tăng nòng trơn 125 mm”.

Trung Quốc và Pakistan vẫn phát triển từ từ một mối quan hệ kinh tế trong lĩnh vực quân sự. Trong hầu hết trường hợp, hợp tác của họ có ảnh hưởng cụ thể về chiến lược. Thí dụ, Trung Quốc cam kết chi 40 triệu USD để xây dựng trường trục tại Pakistan. Và người ta đưa tin rằng hai bên cùng cam kết phát triển đường trục Karakoram ở độ cao, nối liền Pakistan với Tân Cương (Trung Quốc) làm thành tuyến đường trong mọi thời tiết. Tuyến đường này tiềm tang ý nghĩa quân sự quan trọng.

Sau hết, Trung Quốc đưa ra đề nghị tham dự trong các liên doanh chế tạo hàng công nghiệp nhẹ tại Pakistan, sản xuất đồ điện, máy bơm và thực phẩm đóng gói. Trung Quốc “gợi ý” sản phẩm làm ra sẽ được xuất khẩu và ngoại tệ thu về sẽ được “đầu tư cho khu vực quốc phòng” – nói cách khác, để mua trang thiết bị quân sự hoặc công nghệ sản xuất của Trung Quốc. Một lần nữa điều đáng chú ý ở đây là Trung Quốc có cơ sở công nghiệp và của cải khiến các đề nghị kiểu như thế trở thành thực tế và có khả năng thực hiện.

Lợi ích của Trung Quốc tại Trung Á

Chính Trung Á là nơi hội tụ của hai sự kiện có tính lịch sử to lớn đang diễn ra tại Đại lục Á – Âu. Một là đế chế Nga và chế độ Cộng sản Xô viết tiếp tục sụp đổ, hai là kinh tế Trung Quốc cùng với lực lượng quân sự tăng trưởng nhanh chóng – một xu thế dường như chắc chắn biến Trung Quốc thành một siêu cường phát triển đầy đủ vào đầu thế kỷ tới. Ảnh hưởng của sự kiện thứ nhất đối với Trung Á được người ta thảo luận rộng rãi và xem xét kỹ càng. Trong khi đó, ảnh hưởng của sự kiện thứ hai đối với khu vực này chỉ mới đây mới được người ta nói đến. Quả thực, đợt phân tích thứ nhất về hậu quả quốc tế của sự xuất hiện “năm nước châu Á mới độc lập” chỉ mới được bàn đến qua loa, nếu không nói là không hề, trong mối quan hệ với Trung Quốc. Nhưng giờ đây, rõ ràng một Trung Quốc năng động về kinh tế, đang lên về quân sự, cần phải được coi là một vai chính trong khu vực chỉ sau nước Nga.

Kể từ lúc Liên Xô bắt đầu tan rã, lợi ích của Trung Quốc ở Trung Á đã được người ta nhiều lần xác định đúng, như một nhà quan sát khái quát, “chủ yếu nhằm phòng ngừa, ngăn không cho sự bất ổn tràn vào vùng Turkestan của Trung Quốc”, là khu tự trị Uighur Tân Cương mà bất chấp tên gọi của nó, nó vẫn là một khu vực của Trung Quốc do Bắc Kinh kiểm soát chặt chẽ. Theo nghĩa hẹp thì việc miêu tả đặc điểm của mối quan tâm của Trung Quốc đối với Trung Á như đã được nêu là chính xác. Các nhà cai trị Trung Quốc qua các thế kỷ đều coi Tân Cương là một vấn đề toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong thế kỷ này người ta đã chứng kiến nhiều lần những người Hồi giáo Turkic Tân Cương mưu toan giành độc lập thực sự khỏi Trung Quốc. Mới đây nhất từ 1989 đến 1991, tình trạng bất ổn thỉnh thoàng đạt tới mức nghiêm trọng, và đôi khi dẫn đến những cuộc khởi nghĩa, trong số các thành phần Hồi giáo Turkic.

Chỉ đến khi nhìn lại sự việc mới có thể thấy là nhà đương cục Trung Quốc cũng như các nhà phân tích có thể đã đánh giá quá mức ý nghĩa của những vụ bạo loạn đó. Hiện giời người ta không còn nghi ngờ nhiều về việc người dân Trung Quốc đã phản ứng quá mức. Nhưng nếu cộng với các sự kiện khác xảy ra đồng thời với các vụ bạo loạn, thì phản ứng của Trung Quốc lại là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Mùa Xuân 1989, có một sự kiện nổi bật là các cuộc biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn và chúng kết thúc bằng bạo lực ngày 4 tháng 6. Và bây giờ chúng ta được biết, chỉ đến cuối 1991 lãnh đạo Trung Quốc mới thật sự khôi phục được thăng bằng và lòng tự tin. Đồng thời Liên Xô tiếp tục tan rã, dẫn tới các tiên đoán: chủ nghĩa Lenin bại vong khắp mọi nơi, kể cả ở Trung Quốc. Cùng với việc Liên Xô chính thức tan vỡ vào tháng 12/1991 tiếp theo thất bại của cuộc đảo chính do những người theo đường lối cứng rắn khởi sự vào tháng 8 trước đó, rồi 5 nước Cộng hòa Trung Á rút cuộc tách ra. Sự thể diễn ra như vậy khiến các nhà phân tích trong phạm vi thế giới có ý kiến cho rằng tình hình Trung Á không chỉ bất ổn mà còn biến hóa khôn lường. Trung Quốc cũng không thể tránh khỏi bị tác động bởi tin tức đó, nhất là vào lúc bạo loạn ở Tân Cương ngầm cho thấy các lực lượng nhiễu loạn ở Liên Xô trước đây dầu sao cũng đã nhảy cóc, vượt sang biên giới. Quan chức Tân Cương công khai thừa nhận rằng họ lo ngại về ảnh hưởng của việc Liên Xô tan rã, vì vậy binh lính Trung Quốc được đưa lên tăng cường biên giới Tân Cương, lúc ấy còn là với Trung Á của Xô viết.

Đã có nhiều yếu tố cộng thêm sự việc những người ủng hộ công cuộc cải cách được phục hồi về chính trị đã giúp vào việc làm sáng tỏ lý do vì sao nhà cầm quyền Trung Quốc không kéo dài thêm nữa cảnh giác đề phòng trước tình hình Tân Cương và Trung Á. Một là làn sóng bạo loạn Hồi giáo giảm đi. Tình hình này có lẽ phần lớn nhờ ở Trung Quốc từng có chính sách lâu dài đối với vấn đề dân tộc thiểu số. Kể từ năm 1949, trừ thời kỳ cuộc đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa, thì chính sách dân tộc thiểu số của Trung Quốc đã được người ta đưa ra thảo luận, xem như không phải là vấn đề êm dịu nhất mà thuộc số các vấn đề phức tạp nhất trên thế giới. Bắc Kinh một mặt cố tình không để ai nghi ngờ họ sẵn sàng sử dụng vũ lực dập tắt bất kỳ cái gì có hơi hướng ly khai dân tộc, mặt khác Bắc Kinh tiếp tục vận động người Hán di chuyển lên Tân Cương và các vùng dân tộc thiểu số khác, nhằm làm cho tỉ lệ số dân nghiêng về phía ngườI Hán. Tuy điều tra dân số chính thức của Trung Quốc công bố rằng người Hồi giáo Turkic chiếm 60% số dân, nhưng thực tế bây giờ họ chỉ bao gồm một nửa cư dân Tân Cương.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần IV


Việt Nam

Là nước duy nhất ở Đông Nam Á bán đảo có các đảo trong vùng Biển Nam Trung Hoa, Việt Nam do vậy phải đối mặt với mối quan hệ chưa được giải quyết với Trung Quốc một cách chính thức, năm 1993 quan hệ với Trung Quốc vẫn còn gây cấn, với vấn đề quần đảo ở vùng Biển Nam Trung Hoa thỉnh thoảng vài ba tháng lại nổi lên. Nhưng đồng thời quan hệ trao đổi kinh tế vãn tiếp tục tăng. Qua hơn một năm sau khi mở lại ba cửa khẩu biên giới vào cuối năm 1992, mậu dịch chính thức cũng như buôn lậu cả hai bên đều tăng lên. Tác động của việc gia tăng buôn bán của Trung Quốc mới chỉ tập trung vào miền Bắc, là nói một số nhà sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam đang bị cạnh tranh bởi các sản phẩm hàng hóa của Trung Quốc giá rẻ hơn mà chất lượng tốt hơn.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam đứng trước một điều nan giải là nếu họ tiếp tục tự do hóa và thị trường hóa nền kinh tế, thì sẽ dẫn đến một kết quả là làm tăng quyền lực của tầng lớp doanh nghiệp Việt Nam gốc Trung Quốc với các thành viên có lợi ích vật chất trong việc tăng cường quan hệ với Trung Quốc. Thực vậy, tính quả quyết tăng lên rõ rệt của giới các nhà kinh doanh và chính trị Việt Nam người gốc Trung Quốc có lẽ cũng là một dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc.

Trung Quốc không ngừng thực hiện mưu đồ nhắc nhở Việt Nam rằng giờ đây họ có sức mạnh kinh tế và quân sự để quyết định tiến trình quan hệ. Thí dụ, Trung Quốc cho phép thăm dò dầu khí ngay tại các khu vực đã có các nhà thăm dò khác được Việt Nam cho phép đang tiến hành công việc. Xem ra Trung Quốc cũng ngầm đồng tình với việc những người có vũ trang trên các con tàu Trung Quốc hoạt động trên vùng biển quốc tế tiến hành quấy rối các tàu chở hàng chạy trên tuyến Hong Kong – Việt Nam. Trên thực tế, vị trí chiến lược của Việt Nam quá yếu, đến mức khiến Trung Quốc có thể hành động từ từ, và nếu muốn, có thể khá nhẹ nhàng, trong mưu toan không thể ngăn cản được, thiết lập bá quyền đối với Việt Nam. Trung Quốc có thể tiếp tục chi cho việc phát triển lực lượng quân sự trên chiến trường biển Nam Trung Hoa, dựa vào kinh tế phồn vinh của mình và nguồn vốn quốc tế mà họ đang không ngừng được tiếp cận. Ngược lại, một Việt Nam bị cô lập gặp khó khăn bởi nền kinh tế eo hẹp và thiếu bảo trợ quốc tế, đang buộc phải xoay xở với một lực lượng quân sự đang giảm về quy mô và không thể mua sắm trang bị mới.

Trong phần này chúng tôi chủ yếu tránh không đưa ra số lượng mậu dịch của Vân Nam với Đông Nam Á bán đảo. Bởi vì các số liệu lưu hành không đủ tin cậy và ở mức thấp hơn nhiều so với con số thực. Nguyên nhân vì phần đáng kể hàng xuất khẩu của Trung Quốc là theo đường bộ, gồm hàng buôn lậu hoặc khai bớt giá trị để trốn thuế Trung Quốc và thuế quan cao cùng các hàng rào thương mại khác do các nước nhập khẩu hàng định ra. Vân Nam mới đây đã đưa tin rằng mậu dịch biên giới hai chiều của họ với Myanmar, Lào và với Việt Nam năm 1993 là khoảng 400 triệu USD, tăng 27% so với 1992. Riêng con số đó cũng đã là đáng kể, nhưng con số thực rất có thể là 1 tỷ USD. Và “mậu dịch biên giới” theo định nghĩa của Trung Quốc vốn chỉ bao gồm một phần trong toàn bộ thương mại đi qua một biên giới cụ thể. Chẳng hạn, xấut khẩu, nhập khẩu do một Công ty thương mại nhà nước bảo trợ sẽ không bao gồm trong đó. Hơn nữa các thương nhân Trung Quốc tại Đông Nam Á vốn giữ bí mật về các hoạt động và của cải của họ – và chắc chắn cũng bao gồm cả đầu tư của họ ở nước ngoài. Tại Trung Quốc, các quan chức địa phương đồng tình, ủng hộ họ giữ gìn bí mật. Do vậy chúng tôi không dám chắc được số lượng vốn của Thái Lan dựa vào Trung Quốc là bao nhiêu.

Các mối quan hệ của Trung Quốc với Nam Á

Kinh tế đang trỗi dậy của Trung Quốc cũng được chứng minh là có ý nghĩa chiến lược đối với cả Nam Á. Tuy nhiên cho đến nay, ảnh hưởng của sức mạnh kinh tế Trung Quốc đối với Nam Á là rất khác về tính chất so với ảnh hưởng của nó đối với Đông Nam Á. Nói chung các mối quan hệ về mậu dịch và kinh tế khác giữa Trung Quốc với hầu hết Nam Á từ lâu nay tối đa chỉ đạt mức khiêm tốn. Đúng chú ý hơn cả là tình hình thiếu các mối quan hệ kinh tế lớn do hai nước khổng lồ châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ bị ngăn cách bởi dãy Himalayas và bởi ký ức cay đắng về cuộc chiến tranh năm 1962. Thực tế, trong tương lai gần vẫn chưa có triển vọng gì về bất kỳ một quốc gia Nam Á nào có năng lực phát triển sự trao đổi kinh tế sâu rộng giống như mối quan hệ hiện thời của Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á bán đảo. Mặc dầu có một số phát triển lý thú trong mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với Pakistan, Bangladesh (xem phần dưới) nhưng mối quan hệ này vẫn còn thua kém nhiều về tầm cỡ.

Tuy nhiên một Trung Quốc năng động về kinh tế với một Ấn Độ yếu kém về kinh tế được đặt nổi bật bên cạnh nhau tự nó đã trở thành cốt lõi của sự thay đổi lớn, có tính lịch sử trong mối quan hệ của Trung Quốc với Nam Á mới được bắt đầu. Ở đây chưa phải dịp điểm lại những lựa chọn chính sách kinh tế tai hại của Ấn Độ trong thời gian 40 năm qua, chưa kể những lựa chọn chính sách xã hội và đối ngoại cũng không kém phần tai hại. Nhưng khi Trung Quốc và Ấn Độ bước vào thế giới sau Chiến tranh Lạnh, thì cũng là lúc sự đối chọi ầm ĩ một thời gian giữa hai nước khổng lồ châu Á, từng tiêu biểu nổi bật cho các chiến lược chính trị, kinh tế khác nhau cũng qua đi. Trung Quốc thắng. Trung Quốc đã vượt trước Ấn Độ về mọi số đo phát triển kinh tế và xã hội. Và mặc dầu Ấn Độ có thể tự hào với nền Dân chủ tuyển cử của mình, song vẫn còn điều tranh luận: giữa một dân thường người Ấn Độ và một dân thường người Trung Quốc so với nhau thì ai được hưởng các quyền tự do hàng ngày nhiều hơn?

Tuy Trung Quốc không tuyên bố công khai thắng lợi, nhưng đối mặt với sự dẫn đầu của nó thì chưa ai vượt hơn được về mặt phát triển kinh tế cũng như về ưu thế quân sự. Trung Quốc bọc sườn Ấn Độ tại Myanmar (xem phần trên) và tại Pakistan là nơi Trung Quốc lâu nay vẫn cung cấp vũ khí cho kẻ thù chủ yếu của Ấn Độ. Thêm nữa, Ấn Độ còn bị giáng một đòn mạnh bởi sự sụp đổ của Liên Xô và chiến tranh lạnh kết thúc. Ấn Độ không còn được hưởng mọi lợi ích là đồng minh chiến lược trên thực tế với Liên Xô, như việc mua vũ khí hiện đại mà Ấn Độ được thanh toán bằng ngoại tệ yếu và hưởng một thị trường ưu tiên cho các mặt hàng xuất khẩu thiếu tính cạnh tranh của Ấn Độ. Và nó cũng không còn được trông mong ở Moscow là người bảo đảm tối hậu về an ninh cho mình đối với Trung Quốc. Tóm lại, Ấn Độ ở vào hoàn cảnh khó khăn cả về kinh tế, ngoại giao cũng như về quân sự, nên đã sững sờ khi được biết Trung Quốc tranh thủ được một khả năng mới: dựa vào kinh tế phát triển nhanh chóng của mình và nhân lúc Moscow thiếu hụt lớn về ngoại tệ, Trung Quốc mua được các hệ thống vũ khí chính xác của Xô viết, như máy bay quân sự Sukhoi-27 của Nga. Đồng minh trước kia của Ấn Độ cũng sẵn sàng bán các loại vũ khí đó cho Ấn Độ, hiềm nỗi Ấn Độ không có ngoại tệ mạnh.

Ấn Độ bị cô lập buộc phải tìm cách hòa giải với Trung Quốc – có lẽ “yêu sách hòa bình” mới là cách diễn tả chính xác hơn. Bởi vì người ta được biết trong một sự kiện có ý nghĩa mà nhiều người đã bỏ qua, đó là Ấn Độ rút cuộc ký một hiệp ước hòa bình vào tháng 9 năm 1993, chấp nhận thành quả lãnh thổ Trung Quốc thu được trong chiến tranh Trung – Ấn năm 1962. Ấn Độ thừa nhận trên thực tế họ không còn đủ sức mạnh kinh tế và quân sự để thách thức Trung Quốc. Không một quan chức nào của Ấn Độ cũng như của Trung Quốc tuyên bố công khai hoặc có lời nói bóng gió ám chỉ sự việc này. Ý kiến gần nhất với sự thật nghiệt ngã này là nhận xét của tờ India Today, một tập bán nguyệt san có tính độc lập và có uy tín, cho rằng: “Ấn Độ phải từ bỏ ảo tưởng duy trì một quân đội trên hai trận tuyến”.

Các nhà lãnh đạo Ấn Độ và Trung Quốc ngày 7/9/1993 ký tại Bắc Kinh một văn kiện có đầu đề: “Gìn giữ hòa bình và yên tĩnh dọc tuyến kiểm soát”. Văn kiện đề cập tới việc giảm quân số và tới các biện pháp xây dựng lòng tin dọc tuyến kiểm soát hiện tại ở các khu vực Aksai Chin và Arunachai Pradesh trên tiền duyên. Tuy hiệp định có một điều khoản, nhằm giữ thể diện, có nói tới các vòng đám phán trong tương lai, nhằm thiết lập một biên giới vững bền, nhưng một chuyên gia Ấn Độ có tiếng là thẳng thắn, tuyên bố Hiệp định đã thiết lập một biên giới thực tế nửa pháp lý và sẽ tồn tại ổn định không thời hạn. Công việc thương thuyết để phê chuẩn Hiệp định và làm rõ các chi tiết vẫn đang tiến hành, song cốt lõi của Hiệp định coi như không thay đổi.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09