Trật tự kinh tế thế giới mới – Phần cuối


Sự cân bằng kinh tế đi theo sự phát triển này từ 1945 đến 1970 là kết quả của một nghịch lý: người ta từng tưởng rằng sự phát triển thế giới sẽ đưa tới một sự san bằng giữa các nước nghèo và các nước giàu. Thế nhưng chính điều ngược lại đã xảy ra.

Còn có thêm những yếu tố khác nữa: trước tiên là sự suy thoái của cái được người ta gọi là những “quan hệ thanh toán” (trong thời kỳ nói trên, những sản phẩm tự nhiên đã bị “suy thoái” tới 35%, gây thiệt hại cho những nước không xuất khẩu những sản phẩm chế biến).

Nhân tố thứ hai của sự suy thoái là cái được gọi bằng “các tương quan lực lượng về tiền tệ”. Nó cho phép Mỹ “xuất khẩu sự thiếu vắng của nó”. Bất kể một nước nào khác, đứng trước một sự thiếu hụt của Mỹ, đều buộc phải lập lại sự cân bằng tài chính của mình. Mỹ đã thoát được khỏi “quy tắc” này nhờ có những lợi thế do các hiệp định Bretton-Woods mang lại. Chính sức ép do việc xuất khẩu sự thiếu hụt của Mỹ tạo ra, cũng như quyết định của Nixon đình chỉ khả năng hoán đổi của đồng USD bằng cách thả nổi đồng tiền này, là cơ sở của sự bùng nổ cuộc khủng hoảng.

Một nhân tố thứ ba là việc không thể thống nhất các nước thuộc thế giới thứ ba vào hệ thống kinh tế thế giới; các nước này cảm thấy “bị bỏ qua, bị cô lập, bị thất vọng”, điều này giải thích cho thái độ của họ về sau.

Cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã được dùng làm chất xúc tác cho ba nhân tố mất cân bằng ấy. Quyết định tăng gấp bốn lần giá dầu mỏ là một quyết định có tính chất chính trị. Nếu nó đã loại bỏ được một vài sự mất cân bằng, thì nó lại làm tăng thêm những sự mất cân bằng khác, nhất là trong phe các nước kém phát triển không sản xuất dầu mỏ đã bị thiếu hụt kinh niên về cán cân thanh toán mà trong hai năm (1974 – 1975) mức thiết hụt này đã từ 8 tỷ lên tới 21 tỷ USD.

Trước một tình thế như vậy, rõ ràng là cần phải nghiên cứu việc thiết lập một trật tự kinh tế thế giới mới. Một trật tự, tức là không phải là một loạt những biện pháp hay những quyết định không có sự thỏa thuận chung. Đây là tạo ra một tổ chức có khả năng tránh được trong tương lai những chấn động khiến cho nền kinh tế thế giới hỗn loạn, như trong những năm gần đây. Trật tự đó phải đáp ứng bốn đòi hỏi: “cân bằng về trao đổi, cân bằng về hoạt động, cân bằng về tiền tệ, cân bằng về thu nhập”.

Để thực hiện các tiền đề này, phải thông qua một loạt biện pháp, mà hàng đầu là việc điều tiết giá cả và ổn định thu nhập của một số nước đang phát triển.

Để thực hiện tiền đề thứ hai, có thể nghĩ ra một hệ thống trong đó các nước công nghiệp hóa sẽ phải bảo đảm cho các nước sản xuất một mức thu nhập nào đó, hoặc bằng cách khuyến khích những sự xuất khẩu của các nước này theo một giá biểu ưu đãi, hoặc bằng cách lập ra một quỹ chung để bù đắp mọi sự mất cân bằng quá lớn.

Nhưng việc mở cửa các thị trường của các nước tư bản chủ nghĩa cho những sản phẩm công nghiệp từ các nước thế giới thứ ba đến, trong thời kỳ thiếu việc làm, phải kèm theo một số điều kiện bảo hộ (những điều khoản bảo hộ).

Để cân bằng các trao đổi, phải giúp cho các nước kém phát triển hiện đại hóa nông nghiệp của họ và cho phép họ có được công nghệ hiện đại…

Về cân bằng tiền tệ, tổng thống Pháp cho rằng nó chỉ có thể được thực hiện với điều kiện tôn trọng ba nguyên tắc:

+ Trở lại với những tỉ giá ổn định (những tỉ giá cố định sẽ áp đặt những quy tắc quá chặt chẽ) bằng một hệ thống linh hoạt thay cho một hệ thống tự do hay cố định.

+ Bình đẳng về các quyền và nghĩa vụ của tất cả các nước,

+ Đi tới sự cân bằng về thu nhập bằng một nỗ lực tài chính quốc tế vì sự đoàn kết.

Tổng thống Giscard kết thúc bài phát biểu của mình với việc giải thích rằng sự thiết lập một trật tự kinh tế thế giới mới sẽ không phải là kết quả một quyết định của những nước mạnh, mà là kết quả của một sự đồng thuận thế giới… Diễn giả nói, đó là đối tượng của những nỗ lực của ông ta trong một năm, nhằm tiến hành một cuộc hội nghị hợp tác kinh tế quốc tế ở Paris để bàn về những vấn đề năng lượng, nguyên liệu viện trợ cho sự phát triển, cũng như các mặt tiền tệ và tài chính có liên quan với những vấn đề này.

Hãy chú ý rằng, đối với tổng thống Giscard, mọi việc thật rõ ràng: chính sách kinh tế do ông tiến hành trong nhiều năm, khi ông còn là bộ trưởng tài chính, phải được xem xét lại để cho những bất bình đẳng biến mất hoặc, ít ra, giảm đi. “Phép lạ” phải được thực hiện nhờ vào một “trật tự kinh tế thế giới mới” Nolens volens (muốn hay không), cũng phải nói rằng tổng thống Pháp muốn tự giới thiệu mình như một trong những người khởi xướng ra nó. Cũng cần thấy rằng “trật tự mới” này đã được sinh ra với những khuyết tật có tính bản chất. Diễn giả gọi những khuyết tật này một cách kín đáo là những “chướng ngại bảo hộ”, khi thật ra đó là một thứ chủ nghĩa bảo hộ mà, theo chính ông, nó có thể làm cho “học thuyết mới” hoàn toàn mất hết ý nghĩa.

Cuối cùng, xin nhắc lại rằng sự khẳng định (và làm cho người ta tin) rằng “việc tăng giá dầu mỏ đột ngột” là nguồn gốc của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và rằng các nước không sản xuất bị thiếu hụt cán cân thanh toán bên ngoài là do việc tăng giá ấy, sự khẳng định như vậy đã bị chính những sự kiện bác bỏ. Nhật Bản và Liên bang Đức cả hai đều bị phụ thuộc vào nhập khẩu dầu mỏ hơn Mỹ hay Pháp. Thế nhưng, chỉ sau hai năm, hai nước đó đã khôi phục được sự cân bằng về những trao đổi thương mại của mình. Liên bang Đức năm 1975 rồi 1976, đã có thể tăng thêm xuất khẩu sang các nước thành viên OPEC 59% và 24% tương ứng với hai năm đó. Những ước tính đối với năm 1977 dự báo một mức tăng khoảng 23%. Những sự xuất khẩu này khá quan trọng, chiếm tới 9,2% tổng giá trị ngoại thương của Đức, so với chỉ 4,5% năm 1974.

Thực tế này chứng minh rằng tính năng động của một nền kinh tế không nằm ở những khả năng – tăng trưởng của nó – trái với điều người ta muốn làm cho chúng ta tin như trong quá khứ, mà, trước hết, ở những khả năng thích nghi trong sự bán ra.

Liên Xô đã không thể vắng mặt tại cuộc họp đầy những “thiện chí” ấy. Lợi dụng việc khai mạc kỳ họp bất thường thứ VII của Đại hội đồng Liên hợp quốc, đại diện Liên Xô, ông Malik, tuyên bố chống lại sự phân chia thế giới thành “các nước nghèo và nước giàu” hoặc thành “các nước phương Bắc và các nước tư bản chủ nghĩa bóc lột và các nước xã hội chủ nghĩa” để bằng cách đó, xóa nhòa những sự khác nhau căn bản hiện có giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản:

“Không phải Liên Xô đã từng cướp bóc những tài nguyên quốc gia của các nước thuộc địa trong nhiều thế kỷ (…). Liên Xô không chịu một trách nhiệm nào về sự lạc hậu kinh tế của các nước kém phát triển (…) nhất là hiện nay, khi tình thế của họ nghiêm trọng lên vì cuộc khủng hoảng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

“Liên Xô là người đầu tiên đề nghị giảm bớt 10% về buôn bán vũ khí và chủ trương thêm rằng 10% ấy phải được giành cho các nước đang phát triển (…). Từ năm 1965, Liên Xô đã đáp ứng tích cực với một trong những yêu cầu của các nước thuộc nhóm G77: để cho những sản phẩm của họ đến được các thị trường thế giới dễ dàng hơn. Chúng tôi đã bỏ mọi thứ thuế quan đối với những sản phẩm đến từ các nước kém phát triển”.

Trong phe các nước phát triển phương Tây, tình hình diễn ra một cách khác, ông Malik khẳng định, và ông nói thêm rằng “Các công ty xuyên quốc gia đang tiếp tục cướp bóc và bóc lột nhân dân các nước kém phát triển”. Hoạt động không bị kiểm soát của các công ty đa quốc gia này, cũng như hệ thống hối lộ của chúng, “đang phá hoại các kế hoạch quốc gia và các chương trình phát triển của các nền kinh tế quốc gia, bằng cách làm hỗn loạn hơn nữa thị trường tiền tệ và thị trường sản phẩm cơ sở…”.

“Liên Xô, đại diện Liên Xô nói tiếp – hoàn toàn đồng ý với những đề nghị do các nước thuộc nhóm G77 đưa ra về việc xây dựng một chương trình điều tiết các thị trường sản phẩm cơ sở, để bằng cách đó bảo đảm sự phát triển của khu vực thương mại quốc tế khá quan trọng này và đặc biệt để nhằm củng cố sự độc lập kinh tế và chính trị của các nước đang phát triển”.

Bên cạnh những biện pháp riêng để thiết lập một sự kiểm soát về những nguyên liệu và khuyến khích những mối liên hệ trực tiếp giữa nước sản xuất và nước tiêu dùng, Liên Xô cho rằng yếu tố quan trọng nhất của chương trình này phải là “ký kết những hiệp định quốc tế về những sản phẩm cơ sở, nhằm đưa tới một sự bành trướng năng động và vững chắc của việc mua bán mỗi thứ sản phẩm nhất định bằng cách cho phép duy trì giá cả nguyên liệu ở những mức đúng đắn và cố định”.

Như đã thấy, bất chấp những tuyên bố về nguyên tắc của mình. Liên Xô đã có những mối bận tâm “thương mại” rất giống với các nước “bóc lột”… Cũng theo cách giống như ông Giscard một tháng sau đó, ông Malik coi những hiệp định thuộc loại này chỉ có hiệu quả khi chúng mang tính phổ biến…

Liên Xô, đại diện nước này nói tiếp, cho rằng nếu như không thiết lập trước một trật tự kinh tế quốc tế mới chỉ có thể là bấp bênh mà thôi. Không củng cố hòa bình, không đẩy mạnh sự hòa dịu, không có những biện pháp hữu hiệu nhằm giải trừ vũ trang, thì “sẽ không thể giải quyết những vấn đề như những vấn đề về sự phát triển, về những liên hệ kinh tế công bằng và về việc lập ra một trật tự kinh tế quốc tế mới”…

Cuối cùng, theo ông Malik, Liên Xô hy vọng rằng nhóm G77 đối với vấn đề giải trừ vũ trang cũng tỏ ra có “một sự chú ý và một quyết tâm giống như họ đã cho thấy trong những đề nghị về sự phát triển tại Liên hợp quốc (…), nhất là hiện nay, khi các nước đang phát triển và các nước không liên kết chiếm một đa số áp đảo tại Liên hợp quốc.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Advertisements

Trật tự kinh tế thế giới mới – Phần II


Sau khi phân tích những hậu quả của chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến tranh “chứng tỏ những giới hạn của sức mạnh Mỹ”, tác giả kết luận: “Mỹ vẫn tiếp tục là nước mạnh nhất. Nền an ninh kinh tế, thậm chí cả nền an ninh quân sự của nó, buộc phải đóng một vai trò tích cực trên sân khấu thế giới…”

Ngày 13 tháng Năm cùng năm đó, đến lượt ông Kissinger phân tích tại Kansas City về “Hoàn cảnh và tương lai nước Mỹ”. Đi từ một sự nhìn lại bao quát tình hình thế giới từ khi thiết lập hệ thống tiền tệ quốc tế (tại hội nghị Bretton-Woods năm 1944) mà ông ta cho rằng những mục tiêu của nó phần lớn đã đạt được. Kissinger nhận định rằng sự đoàn kết là cần thiết để tiếp tục “cùng nhau phát triển” trong một sự lệ thuộc lẫn nhau trên cơ sở hợp tác thành thật của tất cả quốc gia… Khốn thay, nhà ngoại giao Mỹ nó tiếp, “ngày càng xảy ra tình trạng một số nước tiến công vào những cấu trúc cơ sở của sự thông cảm nhau ấy vì cho rằng nó không đáp ứng một cách thích đáng những nhu cầu của họ (…); được thúc đẩy bởi mối thù oán do một quá khứ bóc lột thuộc địa để lại, họ khẳng định rằng hệ thống hiện nay chỉ hướng tới chỗ chống lại những lợi ích quốc gia (…); những mục tiêu mà họ theo đuổi chỉ đơn giản là phân phối lại hàng loạt những tài nguyên thế giới”…

Theo ông Kissinger, Mỹ sẵn sàng nghiên cứu những quan điểm khác nhau, tuy Mỹ tin chắc rằng hệ thống hiện nay đã phục vụ rất nhiều cho thế giới. Mỹ sẵn sàng xem xét mọi “đề nghị thực tế”, nhưng Mỹ tin chắc rằng chỉ có một nền kinh tế thế giới đang bành trướng mới có thể đem lại những lợi thế cho các nước nghèo nhất… Mỹ “vẫn tin chắc rằng một hệ thống quốc tế mà trên đầu nó bay lượn cái bóng đen của một sự tranh chấp giữa các khối hay các quốc gia, chỉ có thể đẻ ra sự bất ổn và sự đối đầu. Tình huống ấy sẽ là tai họa trước hết đối với những nước yếu nhất và nghèo nhất…”

Để kết luận, ông Kissinger chấp nhận khả năng củng cố hệ thống hiện thời (đã tỏ ra là một công cụ hữu hiệu trong nhiều thập kỷ) bằng cách đụng tới những mặt mà sự vận hành của nó không hoàn hảo. Lẽ ra ông ta phải tự hỏi xem những vấn đề của các nước công nghiệp và các nước thuộc thế giới thứ ba “liệu có thể được giải quyết bằng một sự cộng tác sâu sắc hơn hay một cuộc chiến tranh thì hơn”… Thế giới, – ông Kissinger thắc mắc, – sẽ đáp ứng được những đòi hỏi của sự phụ thuộc lẫn nhau hay sẽ sụp đổ bởi cuộc đấu tranh giữa các quốc gia hay khối quốc gia?”

Kissinger, bị tác động bởi những rối ren mới đây mà nước Mỹ của ông ta vừa trải qua (tội ác của CIA, sự can thiệp vào Chille, Watergate…) và cũng là nơi ông ta chắc chắn bị thất bị thất bại nặng nề nhất, đang ra sức “cứu lấy tài sản” của mình bằng một thứ chủ nghĩa cải cách hời hợt và tạm bợ. Đối với ông ta, cũng như những người theo ông ta, “thời điểm này, thật nghiêm trọng nhưng tình thế vẫn chưa đến nỗi tuyệt vọng”…

Ngày 31 tháng Năm, các thành viên của Ba bên tiến hành một cuộc họp trong đó đã xem xét một loạt những nghiên cứu, báo cáo và phân tích, sau đó đã được công bố dưới nhan đề The Crisis of Democracy, Report on the Governability of Democracies to the Trilateral Commission (Cuộc khủng hoảng của chế độ dân chủ). Báo cáo về khả năng cai quản của các chế độ dân chủ. Báo cáo về khả năng cai quản các chế độ dân chủ cho Ủy ban Ba bên, (New York University Press). Hai trăm hai mươi trang in ấy chắc chắn là một hợp đồng tuyển về thói trâng tráo chính trị, nhưng lại có ưu thế là “tố cáo màu sắc” của những kẻ tự tuyên bố là mong muốn nhìn thấy một “trật tự kinh tế thế giới” được thiết lập dựa trên những mối liên hệ giữa các quốc gia có thể “thống nhất những nỗ lực của mình vì hạnh phúc của tất cả các quốc gia, không phân biệt đối xử”…

Ta hãy xem xét vài đoạn trích từ tài liệu này.

“Sự phát triển dần dần của hệ thống dân chủ bị kìm hãm đột ngột vào những năm 70. Những lý do khuyến khích một sự phát triển như vậy đã biến mất vì lỗi lầm của chính bản thân chế độ dân chủ: một hệ thống càng dân chủ, nó càng dễ bị tổn thương (…). Thực tiễn của dân chủ là nguyên nhân đem lại tính vô hiệu của những phương tiện hợp thức của uy quyền chính trị và tăng thêm những đòi hỏi không thể chịu đựng nổi của dân chúng (…). Sự phát triển của các thành phố, việc “các nhóm xã hội mới” đạt tới những mức sống cao hơn là một nguyên nhân khác nữa. Thật vậy, hệ thống chính trị “dân chủ” giả định một cách tất yếu là có tình trạng thờ ơ và không tham gia của một số nhóm ngoài lề: da đen, nhập cư…”

“Trong quá khứ, – các thành viên của Ủy ban Ba bên nói tiếp, – Mỗi xã hội dân chủ đều có một dân cư ngoài lề không tham gia đời sống chính trị của đất nước. Mặc dầu thái độ ấy có vẻ phản dân chủ, nó vẫn cho phép chế độ dân chủ vận hành hoàn hảo.”

“Những nhóm xã hội ngoài lề này, người da đen, chẳng hạn, ngày nay đang tham gia đầy đủ bằng cách đè nặng quá mức lên hệ thống chính trị những yêu cầu khiến cho các nhóm này tăng thêm sức mạnh và uy tín của chính phủ bị xói mòn (…).

Tính dễ tổn thương của các chính phủ dân chủ không phụ thuộc vào một nguy cơ bên trong hay bên ngoài, phía tả hay phía hữu nào, mà là vào tính năng động bên trong của bản thân chế độ dân chủ với tư cách một yếu tố của xã hội có học vấn cao, cơ động và sẵn sàng tham gia (…). Sự ghi nhận một giới hạn cần thiết của sự phát triển kinh tế đi đôi với sự ghi nhận việc giới hạn cần thiết của sự phát triển của bản thân chế độ dân chủ (…)”. Uy quyền dựa vào hệ thứ bậc, thẩm quyền và tài sản bị công kích từ mọi phía (…). Sự công kích nguy hiểm nhất xuất hiện từ giới trí thức. Ít ra về mặt tiềm năng, nó cũng nghiêm trọng như sự công kích của các nhóm quý tộc, trong quá khứ, của các phong trào phát xít và của các đảng cộng sản…”

Nếu giới trí thức là nguy hiểm đến thế, thì đó là vì nó nắm được giáo dục, báo chí, “nguồn gốc quan trọng của sự phá vỡ những hình thức kiểm soát xã hội cũ” và nó có thể (các nhà báo) tự tổ chức để chống lại những sức ép của những lợi ích chính trị, tài chính và của chính phủ”. Bằng cách bàn luận và lựa chọn các chủ đề, các nhà báo tạo ra những thái độ bất lợi đối với những thể chế cũng như một sự mất tin cậy đối với các chính phủ”.

Vấp phải một nguy cơ như vậy, các thành viên của Ba bên kết luận rằng, giống như những luật chống tờ-rớt đang tồn tại, phải bày đặt một cái gì tương tự để cho các chính phủ có thể “có khả năng hợp pháp để kiểm soát thông tin” nhằm qua đó làm cho “uy quyền không thể bị thách thức hay phá hoại”…

“Các vấn đề châu Âu”, đặc biệt là của Pháp và Italy, “những nước mà sự vận hành của chế độ dân chủ không được bình thường do thiếu sự đồng thuận, đang làm lợi cho các đảng cộng sản về mặt chiến thuật. Đối với các thành viên Ba bên, khả năng tham gia của những người cộng sản vào chính phủ nước họ là không thể chấp nhận được, vì “sự có mặt này sẽ là nguồn trở ngại cho sự vận hành bình thường của chế độ dân chủ”. Như vậy, hai trăm trang in này là quá sáng rõ để thấy rằng những sự “khác nhau” giữa các chiến lược đề nghị (và đang được thực hiện) bởi nhóm Bilderberg và các thành viên Ba bên là không có… Đây chỉ là một chiến thuật thay thế, một sự thích nghi lại của chế độ tư bản chủ nghĩa trước sự thức tỉnh của một thế giới ngày càng khao khát công bằng xã hội…”

Trong “bức tranh toàn cảnh năm 1975” của những người muốn kiếm vốn liếng ở “trật tự kinh tế thế giới mới” này, một yếu tố mới nhất đến với chúng ta từ tổng thống nước Cộng hòa Pháp, ông Valéry Giscard d’Estaing. Đó là bài thuyết giảng của ông trước những học sinh Trường Bách khoa tháng Mười 1975.

Theo tổng thống Pháp, sự xuất hiện của một trật tự kinh tế quốc tế mới là một hậu quả logic của “cơn bão táp” mà thế giới phải trải qua. Dù sự phát triển kinh tế thế giới là không bình thương, đó chỉ có thể là kết quả của một loạt những mặt tiêu cực đã tích dồn lại. Với thới gian, những mặt tiêu cực này làm nổ ra một cơn bão táp kinh tế do hai nguyên nhân chính: cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 70 – do sự tăng thêm rất lớn mức thiếu hụt cán cân thanh toán của Mỹ gây ra, tiếp theo chiến tranh Việt Nam – và cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Trật tự kinh tế thế giới mới – Phần I


Năm 1975, Hội nghị Bắc – Nam từ 13 đến 18 tháng Chạp đã kết thúc với cuộc họp ở Paris… Những chủ đề được thảo luận, những mâu thuẫn xuất hiện vào dịp này, cũng như cả một loạt những cuộc họp và những tuyên bố của các nhân vật đại diện cho các xu hướng Bilderberg và Ủy ban Ba bên (những nhân vật thuộc xu hướng thứ nhất cố chiếm lấy các lý thuyết của những nhân vật thuộc xu hướng thứ hai, với ý định “cứu khỏi sự đổ vỡ”), cho phép phân tích sâu hơn hai thứ “triết học” và ý nghĩa của từ ngữ khó hiếu: “Trật tự thế giới mới”, đối với mỗi thứ “triết học” này.

Tháng Ba 1975, giám đốc Ủy ban Ba bên M. Brzezinski, khi phân tích “địa vị nước Mỹ đứng trước thế giới đang biến đổi”, đã chỉ ra rằng năm 1975 sẽ là năm mà Mỹ phải chứng tỏ khả năng thích nghi của mình trong khi không ngừng đương đầu với ba cuộc khủng hoảng đang đe dọa nó: kinh tế, văn hóa quốc tế, “Mỹ đã làm tăng thêm sự suy thoái kinh tế toàn cầu, bằng cách sử dụng chiến lược giảm phát (…) khiến cho một số khu vực trên thế giới có nguy cơ suy thoái toàn bộ (…). Chính sách gây suy thoái này đưa tới những lo ngại và ác cảm ở khắp nơi đối với Mỹ, còn bản thân nước Mỹ thì đang trải qua một cuộc khủng hoảng văn hóa khiến người ta có thể nghĩ rằng hệ thống cai trị của Mỹ đã mất lòng tin vào chính bản thân nó và không còn có thể đáp ứng được với những nhu cầu căn bản của công dân nước mình (…). Cuộc khủng hoảng quốc tế đang gây ra ở Mỹ những sức ép khác nhau nhằm trình bày sự tiến hóa thế giới như một sự liên kết chống Mỹ, điều đó đưa tới chỗ các nhà lãnh đạo chúng ta mất đi sự quan tâm đối với Liên hợp quốc, thậm chí giảm bớt sự đại diện của Mỹ ở các cơ quan quốc tế (…)”.

Phê phán một thái độ như vậy, ông Brzezinski cho rằng Mỹ phải đương đầu với ba nguy cơ nói trên bằng cách coi mục tiêu chính của mình là “giúp cho sự phát triển của một cộng đồng thế giới thật sự, cũng như xây dựng những mô hình mới về các quan hệ giữa các quốc gia”. Giải pháp chỉ có thể được tìm thấy trong việc Mỹ phải tự coi mình lại. Một sự rút lui như vậy chắc chắn sẽ đẻ ra một sự hỗn loạn thế giới. “Trong tình thế hỗn loạn này, – người phụ trách Ủy ban Ba bên nói, – làm sao có thể hy vọng Mỹ thoát khỏi được”.

Ông ta đã phác ra ba hướng ưu tiên như sau: “Một sự hợp tác tốt hơn với châu Âu và Nhật Bản, không một chút mơ hồ và ngập ngừng, đang được xây dựng qua một cuộc họp cấp cao ba bên. Ngoài ra, việc thành lập một ủy ban thường trực chắc chắn sẽ cho phép loại bỏ mọi hiểu lầm và xung đột”.

Ưu tiên thứ hai là về các quan hệ Bắc – Nam: “Các nước thuộc thế giới thứ ba không còn chịu nổi chính sách can thiệp và bảo hộ nữa…” Mỹ phải thay đổi chiến thuật và ngừng bảo trợ cho những chế độ “mà chính bản thân chúng bị loại trừ” khỏi cộng đồng quốc tế, do những quan niệm chủng tộc chủ nghĩa hay độc tài của chúng… Nói cách khác, Mỹ phải từ bỏ vai trò “sen đầm quốc tế” của mình, để cho những đồng minh của mình gánh lấy nhiệm vụ bạc bẽo ấy… Sự “hợp tác giữa tất cả các nước – Brzezinski nói tiếp – cũng phải được áp dụng vào các vấn đề dầu mỏ cũng như vào việc chuyển hướng những đồng USD dầu mỏ (…) bằng cách từ bỏ mọi ý tưởng hay ý đồ can thiệp quân sự vào Cận Đông (…). Sự cộng tác ấy chắc chắn phải qua một giải pháp nhanh chóng về cuộc xung đột Israel – Arab (…). Giải pháp này phải tạo cho được không khí tin cậy mà việc giải quyết các vấn đề tiền tệ hiện có với các nước sản xuất dầu mỏ phụ thuộc vào đó…”.

Nói tới ưu tiên thứ ba, người phụ trách Ba bên cam đoan rằng “tuy có những sai lầm của Kissinger” trên lĩnh vực hòa giải, vẫn cần phải tiếp tục những nỗ lực của ông ta. Nhưng, trong việc tìm kiếm sự hòa giải (“không có Liên Xô, không thể có giải pháp nào cả”); “Không chỉ tự hạn chế vào vấn đề vũ trang… Quá trình hòa giải phải đưa tới một sự thay đổi chung về ứng xử đối nội và đối ngoại của hai nước lớn”…

“Vấn đề Israel – Arab, – Brzezinski nói thêm, – không thể được giải quyết bằng cách gác Liên Xô sang một bên. Đã tới lúc Mỹ, thay vì trò chơi ú tim, cần phải thông báo cho tất cả các bên hữu quan những khía cạnh khác nhau trong kế hoạch của mình và nhất là phải bày tỏ ý định vững chắc của mình nhằm bảo đảm tất cả các điểm của kế hoạch ấy (…) Làm như vậy, có thể tạo ra sự năng động cần thiết để đi tới một giải pháp (…) mà nếu không có nó thì không một vấn đề nào khác có thể giải quyết được…”.

Để kết thúc bài báo nhấn mạnh tới nghĩa vụ của Mỹ là khôi phục lại uy tín đã mất của mình trong các tổ chức quốc tế, bằng cách “tham gia công việc của Liên hợp quốc với một uy tín đạo đức ngày càng tăng và đóng một vai trò tích cực trong mọi cuộc thảo luận về những cuộc cải cách để thực hiện điều này (…). Mỹ phải nắm lấy sự lãnh đạo đi tới một hình thức phân bố mới về những tiếng nói trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng thế giới (…) và nghiên cứu việc lập ra một cơ chế quy hoạch toàn cầu (…) trong sự trao đổi các tài nguyên quốc gia (…). Mỹ phải nắm chủ động trong việc xây dựng một cộng đồng thế giới lạc quan hơn (…).

Chính phủ phải lập ra trong cơ cấu của nó một công cụ quy hoạch thế giới, vì không thể phối hợp chính sách này từ Bộ Ngoại giao hay Bộ Tài chính”… Brzezinski kết luận rằng Mỹ cần có một nhạc trưởng mà không phải là một nhạc sĩ kỳ tài. Người nhạc trưởng này phải là phó tổng thống”.

Mấy ngày sau, trong Fortune tháng Tư 1975, một bài phân tích dài về chính sách đối ngoại của Mỹ được công bố. Những kết luận của bài này, trừ vài chỗ hơi khác một chút, rất giống với những kết luận của Brzezinski.

“Không từ bỏ những mục tiêu truyền thống, Mỹ phải xây dựng một “chiến lược mới” nhằm hai mục tiêu để đối phó với sự thách thức của thế giới thứ ba và khôi phục lại những liên minh của mình (…). Mỹ không thể và không được làm sen đầm của phần thế giới còn lại (cần nhớ rằng nếu chính sách này đã cho phép tái thiết Nhật Bản và Châu Âu, thì nó đã làm cho Mỹ phải mất hàng nghìn người ở Triều Tiên và Việt Nam; hơn nữa, nó đã buộc Mỹ phải tự đồng nhất với một số chế độ hư hỏng và độc tài), mà ngược lại, phải tìm kiếm sự “hòa giải” qua thương lượng, thậm chí qua sự hợp tác với đối thủ cộng sản”.

Đối với tác giả bài này (ông Reichley), một trong những lý do “suy thoái” của Mỹ là “một số vấn đề hiện nay đã gắn liền với những nước mà cho đến nay không hề đóng một vai trò quan trọng nào trên sân khấu chính trị quốc tế cả, nhưng hiện vẫn tạo thành… một đa số mới (ở Liên hợp quốc) và có thái độ các nước công nghiệp hóa (…). Thành công của OPEC đã làm tăng thêm những cơn thèm muốn của những nước đó”.

Về Kissinger, tác giả nói rằng, mặc dầu ông ta có tài, nhưng ông ta đã thất bại trong sứ mệnh làm người môi giới thế giới, vì ông ta không thể tìm được những giải pháp cho các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội làm nền tảng cho tình trạng bất ổn của thế giới.

Sự phân tích của ông Reichly được tiếp tục với việc đòi xét lại hoàn toàn hay một phần những chiến lược cổ điển: “Chiến tranh Lạnh”, “Mỹ là nước quán quân về dân chủ”, “chủ nghĩa cô lập mới”. Sai lầm chung của những chiến lược đó là không đếm xỉa tới những hiện thực xã hội – kinh tế quy định các quan hệ quốc tế: nạn lạm phát thế giới, những vấn đề về nguyên liệu, thương mại quốc tế, hệ thống tiền tệ và cuối cùng, nạn đói. Đối với tác giả này, chiến lược mới phải “làm cho những định hướng truyền thống thích nghi với các vấn đề hiện thời” và, do đó, đáp ứng được một số đòi hỏi:

+ Về an ninh quân sự, vì một số nước thuộc thế giới thứ ba có thể kiếm được vũ khí hạt nhân và, mặc dầu có sự hòa giải với Liên Xô, một cuộc xung đột có thể nổ ra giữa các “nước lớn” do một trong những khách hàng của họ…

+ Về bảo vệ những lợi ích của Mỹ, tức là việc Mỹ kiếm được các thị trường và nguyên liệu một cách “tự do hợp lý”. Cho tới khi có một thỏa thuận được tất cả các nước hữu quan ký kết, tác giả cho rằng “sự tích trữ những nguyên liệu hiếm và một chính sách bảo quản có hiệu quả hơn sẽ là phương tiện gây sức ép tốt để có thể bảo đảm sự tôn trọng các hợp đồng”…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Việt Nam và can thiệp nhân quyền sau 40 năm chiến tranh biên giới Tây Nam


Vũ Minh Hoàng

Làm nghiên cứu sinh lịch sử thời đại công nghiệp hóa 4.0, tôi luôn phải giải đáp cho bạn bè, gia đình và các bậc phụ huynh, học sinh về lợi ích của công việc mình làm. Có ba lợi ích chính: thứ nhất, để hiểu biết thêm về bản thân và xã hội; thứ hai, để đánh giá, xem xét lại những hành động của thế hệ trước và nhắc nhủ cho những lãnh đạo đương thời là một ngày, họ cũng sẽ phải chịu phán xét của thế hệ sau; và cuối cùng, để rút ra được những bài học cụ thể cho các nhà hoạch định chính sách ngày nay. So với hai mục đích đầu mà có vẻ ít có giá trị thực tế, thì dường như mục đích thứ ba thực dụng hơn và do đó dễ đạt hơn. Tuy nhiên, trường hợp của cuộc Chiến tranh biên giới Tây Nam là một điển hình tại sao nhiều lúc lại rất khó rút ra được những bài học đúng đắn từ quá khứ. Tại cuộc hội thảo “Bạo lực Quy mô lớn ở Đông Nam Á từ 1945 tới nay” (“Mass Violence in Southeast Asia since 1945”) tại Đại học Yale tháng 11/2018 vừa qua, tôi đã đưa ra kết luận rằng tất cả các nước có liên quan dường như đều đã học những bài học sai từ cuộc chiến tranh này. Bài viết sau được trích một phần từ bài trình bày của tôi tại hội thảo, tập trung vào những bài học mà Việt Nam đã rút ra, và nêu lên một số bài học khác chúng ta có thể nên cân nhắc.

Trong những tuần lễ dẫn tới ngày 7/1/2019 kỷ niệm 40 năm quân tình nguyện Việt Nam đã giúp các thế lực yêu nước Campuchia giải phóng Phnom Penh khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary, tôi đã đọc được nhiều bài hoài niệm của các nhà báo, các cựu chiến binh, các lớp chuyên gia, những người đã dành tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất chiến đấu kiên cường trên đất bạn. Họ hồi tưởng về những hy sinh trong suốt hơn một thập kỷ từ 1977 tới 1989 để bảo vệ chủ quyền biên giới và sau đó là giúp bạn Campuchia dẹp tan chế độ diệt chủng. Là người đi sau, tôi không đủ tư cách và cũng không muốn viết gì để pha loãng đi những lý tưởng của thế hệ anh hùng này. Nhưng Chiến tranh biên giới Tây Nam là một cuộc chiến vô cùng phức tạp, và nếu trong những hoạt động kỷ niệm chúng ta chỉ nhớ lại những hồi ức đẹp và né tránh những câu hỏi hóc búa, thì có lẽ chúng ta đã bỏ phí cơ hội để rút ra những bài học hữu ích mà thế hệ trước đã trả giá bằng xương máu để có được.
Câu hỏi hóc búa nhất nhưng cũng quan trọng nhất là, Việt Nam đã giúp giải phóng Campuchia chủ yếu vì lý do tự vệ hay là can thiệp để giải cứu dân tộc Campuchia khỏi nạn diệt chủng? Trong bối cảnh ở Campuchia vẫn tồn tại những thế lực trong phe đối lập miệt thị và gây khó dễ cho cộng đồng người gốc Việt sinh sống trên đất Campuchia, vu cáo việc Việt Nam thôn tính đất nước, xâm lấn biên giới, cả hai chính phủ Việt Nam và Campuchia đã tích cực dùng mốc kỷ niệm 40 năm giải phóng Phnom Penh để nhấn mạnh công lao của quân tình nguyện Việt Nam giải cứu Campuchia khỏi ách diệt chủng. Tại buổi lễ sáng ngày 4/1/2019 tại Hà Nội, có mặt các lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, nhà nước Việt Nam và Campuchia, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đánh giá cao “lịch sử quan hệ đoàn kết, kề vai sát cánh bên nhau giữa hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Campuchia lúc khó khăn hoạn nạn cũng như trong hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc”. Mục tiêu can thiệp bảo vệ quyền được sống của người dân, chống chế độ diệt chủng tàn bạo, trên cơ sở tình đoàn kết giữa hai dân tộc được đưa lên hàng đầu; mục tiêu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ khỏi những cuộc tập kích, tàn sát của quân Khmer Đỏ tại các tỉnh biên giới như An Giang, Tây Ninh từ tháng 4 năm 1977 cũng được nhắc đến nhưng là yếu tố phụ.
40 năm trước, Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền phát biểu về Chiến tranh biên giới Tây Nam trước Đại Hội đồng Liên hợp quốc vào sáng ngày 28/9/1979 trong một bối cảnh rất khác. Diễn ra chỉ sáu tháng sau khi quân Trung Quốc rút khỏi các tỉnh miền Bắc, tại phiên họp này phế quân Khmer Đỏ, Trung Quốc, Hoa Kỳ, ASEAN đã cáo buộc Việt Nam tội xâm lược đất nước láng giềng, và ngăn chặn không cho đại diện nhà nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia được công nhận tại LHQ. Trước Đại Hội đồng, Thứ trưởng Phan Hiền khẳng định là Việt Nam đã “thực hiện quyền tự vệ, nhân dân chúng tôi đã mạnh mẽ đáp trả [những cuộc công kích của Khmer Đỏ], đập tan quân Pol Pot xâm lược Tây Ninh cuối năm 1978, và bằng cách đó thoát khỏi gọng kìm bao vây của Bắc Kinh và tạo ra điều kiện thuận lợi để chống lại thành công cuộc xâm lược trắng trợn của thế lực bành trướng Bắc Kinh vào ngày 17/2/1979”. Việc giải cứu dân tộc Campuchia khỏi chế độ diệt chủng cũng được nhắc đến, nhưng chưa từng bao giờ chính thức được ngoại giao Việt Nam sử dụng như căn cứ pháp luật cho việc đưa quân tình nguyện vào Campuchia.
Vậy rốt cuộc Việt Nam đã hành động chủ yếu vì lý tưởng bảo vệ nhân quyền, chống tội ác diệt chủng hay vì lợi ích quốc gia? Rõ ràng, hai mục đích này gắn liền với nhau khi quân Việt Nam tiến vào Phnom Penh năm 1979. Nhưng giai đoạn từ tháng 4 năm 1975, khi quân Khmer Đỏ chiếm lĩnh Phnom Penh và ra lệnh dời toàn bộ dân ra nông thôn, khởi xướng chế độ diệt chủng, cho tới cuối năm 1977, Việt Nam vẫn giữ quan hệ với chính quyền Khmer Đỏ, Đại sứ quán Việt Nam tại thành phố ma Phnom Penh vẫn duy trì hoạt động. Những người tị nạn Campuchia đã đổ qua biên giới và cầu xin Việt Nam cứu giúp, và những cán bộ thân Việt Nam đã bị thanh trừng thẳng tay từ những tháng đầu tiên của chế độ Pol Pot nhiều năm trước khi Mặt trận Đoàn kết Cứu nước Kampuchea được thành lập cuối năm 1978 và chính thức thỉnh cầu sự giúp đỡ của quân Việt Nam. Việt Nam có thể giải thích về thái độ và chính sách của mình trước năm 1975 là chưa hiểu rõ bản chất Khmer Đỏ khi ta giúp đỡ những kẻ giả dạng là những nhà Cộng sản chân chính này trước khi chúng nắm được quyền lực, nhưng không thể thanh minh như vậy cho quãng thời gian từ sau tháng 4 năm 1975 cho đến cuối năm 1978. Chúng ta phải thừa nhận rằng Việt Nam, như tất cả các nước khác trên thế giới, đã rơi vào thế bị động trong khi bè lũ Pol Pot – Ieng Sary tiêu diệt gần hai triệu công dân Campuchia bao gồm mọi sắc tộc, trong đó có cộng đồng người Việt, người Chàm, và thậm chí cả người Hoa, hành động mà Tòa án Đặc biệt xét xử tội ác Khmer Đỏ đã phán quyết là chính sách diệt chủng. Phải hơn một năm rưỡi sau khi lãnh thổ Việt Nam bị liên tiếp xâm phạm, và khi Việt Nam đã rơi vào nguy cơ chiến tranh hai mặt trận, chúng ta mới tiến quân vào giải phóng Phnom Penh.
Thái độ này của Việt Nam hoàn toàn dễ hiểu. Cho dù tội diệt chủng thuộc dạng tội nghiêm trọng nhất trong luật quốc tế (violation of peremptory norms), cho đến nay luật quốc tế vẫn thiên về gìn giữ ổn định và hòa bình giữa các quốc gia hơn là bảo vệ nhân quyền. Các Hòa ước Westfalen năm 1648 mà đã kết thúc cuộc Chiến tranh 30 năm giữa các thế lực Công giáo và Tin lành ở Châu Âu đã biến nguyên tắc chủ quyền thành nền tảng của trật tự quốc tế. Nguyên tắc này không cho phép một quốc gia nào can thiệp vào nội bộ của quốc gia khác, bất kể quốc gia kia có những chính sách vô nhân đạo và tồi tệ thế nào trong nội bộ. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 cho phép Hội đồng Bảo an phê chuẩn những biện pháp can thiệp quân sự, tuy nhiên chỉ với mục đích giữ gìn hòa bình. Năm 1979, Hội đồng Bảo an đã cân nhắc can thiệp vào Campuchia, nhưng lại với mục đích bắt Việt Nam phải rút quân, và phải nhờ phiếu phủ quyết của Liên Xô mới không đưa ra nghị quyết chống Việt Nam và CHND Campuchia. Phải đến 2005 thì Liên hợp quốc mới thông qua hai bài báo cáo về Trách nhiệm Bảo vệ (Responsibility to Protect hoặc R2P), khẳng định rằng bảo vệ nhân quyền là nhiệm vụ cơ bản của một nhà nước, và một nhà nước vi phạm nghiêm trọng nhân quyền của nhân dân có thể đánh mất chủ quyền. Tuy nhiên, cả hai báo cáo này đều không đưa ra cơ sở pháp lý mới nào cho việc can thiệp bảo vệ nhân quyền ngoài tầm kiểm soát của Hội đồng Bảo an, và vấn đề can thiệp vào nội bộ với mục đích bảo vệ nhân quyền vẫn còn được tranh cãi nhiều sau khi quân NATO lấy cớ can thiệp nhân đạo để tiếp tay phiến quân ở Libya và Syria.
Để bảo vệ lợi ích quốc gia, Việt Nam trong những năm cuối thập kỷ 1970 đã cố gắng tìm mọi cách thương lượng với chế độ diệt chủng để tránh phải tái tham chiến khi đang cần cấp bách xây dựng lại đất nước sau 34 năm chiến tranh. Và quả nhiên, khi Việt Nam cuối cùng đã đưa quân vào giúp giải phóng Phnom Penh và ở lại 10 năm giúp bạn xây dựng lại đất nước từ tro tàn và ngăn chặn sự trở lại của chế độ Khmer Đỏ, chúng ta đã bị nhiều nước trên thế giới trừng phạt: Trung Quốc đã tấn công vào biên giới phía Bắc; các nước tư bản chủ nghĩa vừa thiết lập quan hệ với Việt Nam đã rút viện trợ và cắt quan hệ thương mại đầu tư; Mỹ và ASEAN đã chung tay với Trung Quốc giúp khôi phục lực lượng cho Khmer Đỏ và cho chúng thánh địa ở biên giới với Thái Lan để làm quân Việt Nam và CHND Campuchia phải chịu tổn hao kéo dài. Với cái giá rất cao đã một phần ước lượng trước này, việc Việt Nam tìm mọi cách tránh can thiệp vào Campuchia kể cả khi hiểu rõ rằng đây là một chế độ diệt chủng là hoàn toàn có thể hiểu được. Nhưng Việt Nam không thể cùng một lúc thừa nhận điều này mà lại vẫn kiên định rằng mục tiêu chính của quân đội Việt Nam khi giải phóng Phnom Penh là để giúp bạn kết thúc nạn giệt chủng.
Bài học quan trọng nhất mà Việt Nam cũng như các nước trong khu vực đã rút ra từ chiến tranh biên giới Tây Nam là việc can thiệp vào nội bộ nước khác, bất kể chính phủ đó có tồi tàn tới đâu, là không có lợi về mặt đánh giá chi phí và lợi ích thu được, và xét tổng thể thì vượt ra ngoài khả năng của những nước nhỏ và trung bình. Sau khi giải quyết xong vấn đề Campuchia, Việt Nam đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác vào năm 1992 khi trở thành quan sát viên ASEAN. Theo đó, chúng ta đã chấp nhận một trật tự khu vực và thế giới trong đó chủ quyền quốc gia được đề cao hơn hẳn nhân quyền. Khi thảm họa diệt chủng xảy ra ở Rwanda và Bosnia năm 1994, hay khi ngay trong khu vực Đông Nam Á dân quân Indonesia tàn sát dân Đông Timor năm 1999 và quân đội Myanmar cho đến nay vẫn đang có chính sách diệt chủng với dân tộc thiểu số Rohingya theo đánh giá của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc và nhiều nhà quan sát quốc tế trung lập, Việt Nam chỉ dừng lại ở việc nêu quan ngại và không có động thái gì mạnh mẽ cả về lời nói lẫn hành động. Khi Tòa án Hình sự Quốc tế được thành lập năm 1999 để truy tố những tội phạm chiến tranh và vi phạm nhân quyền, Việt Nam đã không ký tham gia. Trong bối cảnh Việt Nam đang phải đấu tranh pháp lý để bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông, trong khi đang cần tranh thủ quan hệ với cộng đồng ASEAN láng giềng, và trong một thế giới mà các nước xã hội chủ nghĩa chiếm thiểu số trên trường quốc tế, Việt Nam đã chọn con đường đề cao trên hết bảo vệ lợi ích quốc gia và thể chế, kiên định trong khái niệm chủ quyền tuyệt đối bất khả can thiệp bên ngoài, thay vì theo đuổi những lý tưởng đẹp đẽ nhưng cao xa và khó có cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc như can thiệp vào nội bộ một nước khác để bảo vệ nhân quyền.
Tôi đã giải thích kỹ về bài học “tôn trọng chủ quyền tuyệt đối” mà Việt Nam và các nước khác trong khu vực đã rút ra từ cuộc Chiến tranh biên giới Tây Nam là để làm sáng tỏ vấn đề, chứ không phải vì cá nhân tôi nghĩ đây là bài học đúng đắn. Ngược lại, có ba bài học khác mà theo tôi Việt Nam và các nước khác đáng lẽ phải học từ cuộc Chiến tranh Biên giới Tây Nam:
1. Thế cô lập của Việt Nam trong thập kỷ giúp bạn Campuchia phần lớn là vì bối cảnh Chiến tranh lạnh. Trong thời buổi hiện nay, Việt Nam có thể mạnh dạn hơn trong hợp tác quân sự với các nước khác nhằm giữ gìn hòa bình và chống lại các thế lực diệt chủng trong và ngoài khu vực. Với tư cách là một trong số rất ít đất nước đã từng bằng can thiệp quân sự kết thúc nạn diệt chủng (dù trong đó có một phần vì lợi ích quốc gia) sau Chiến tranh thế giới thứ II, có uy tín trong Hiệp hội Không liên kết, là một mô hình thành công trong vấn đề chung sống hòa bình với các dân tộc thiểu số, và với kinh nghiệm đàm phán nhiều hòa ước song phương và đa phương, Việt Nam có thể tích cực đóng vai trò trung gian, tư vấn, và gìn giữ hòa bình cho những khu vực xung đột trên thế giới. Có những dấu hiệu tích cực theo hướng này. Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ đầu tiên làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ năm 2014-2016, tập trung đẩy mạnh các vấn đề bảo vệ môi trường và quyền người lao động. Tháng 10/2018 vừa qua, Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam đã xuất quân đi làm nhiệm vụ quốc tế, lần này dưới lá cờ Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Mong là trong tương lai, Lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam sẽ còn tham gia nhiều hơn nữa vào các chiến dịch giữ gìn hòa bình của LHQ, đảm nhiệm cả những vai trò mang tính chất quân sự nếu cần thiết.
2. Trong buổi tiệc cuối năm học đầu tiên của Harry Potter tại trường Hogwarts, giáo sư Dumbledore đã (tôi tin chắc một phần vì thiên vị) thưởng cho nhà Gryffindor 170 điểm, cho phép nhà này vượt trội từ vị trí thứ tư lên vị trí thứ nhất. 10 điểm quyết định cuối cùng được thưởng vì hành động dũng của Neville Longbottom khi cậu bé ngăn cản bè bạn mình vi phạm nội quy nhà trường. Theo Dumbledore, “Cần rất nhiều can đảm để đối mặt với kẻ thù, nhưng đối mặt với bạn còn cần nhiều can đảm hơn”. Trong những năm cuối thập kỷ 1970, Việt Nam đã tìm mọi cách để tránh phải đối mặt với những người anh em Cộng sản láng giềng là chế độ Khmer Đỏ, kể cả khi đã thừa biết về những tội ác của bè lũ Pol Pot – Ieng Sary. Ngày nay, chúng ta và các nước ASEAN khác đang lặp lại sai lầm này với Myanmar. Như những lá thư từ những người đồng đoạt giải thưởng Nobel Hòa bình Malala Yousafzai, Mohammad Yunus, và Giám mục Desmond Tutu, và những phát biểu của lãnh đạo Malaysia nêu rõ, họ đang chỉ trích chính phủ của bà Aung San Suu Kyi chính vì họ là những người bạn tốt và không thể cho phép chính phủ của bà tiếp tục gắn kết với những lực lượng quân đội theo chính sách bạo lực chống các sắc tộc thiểu số. Nếu Việt Nam muốn làm láng giềng tốt, nếu chúng ta muốn noi gương thế hệ ông cha đã đấu tranh trường kỳ để xóa bỏ nạn diệt chủng khỏi khu vực Đông Nam Á, chúng ta phải cùng các nước ASEAN khác can đảm đối thoại thẳng thắn hơn với Myanmar để tạo áp lực chấm dứt nạn diệt chủng đang diễn ra ngay dưới mái nhà chung ASEAN.
3. “Lúc đầu chúng tiêu diệt những nhà chính kiến xã hội chủ nghĩa, nhưng tôi im lặng – vì tôi không theo xã hội chủ nghĩa.//Sau đó chúng tiêu diệt những hội viên nghiệp đoàn, nhưng tôi im lặng – vì tôi không phải là hội viên.//Sau đó chúng tiêu diệt người Do Thái, nhưng tôi im lặng – vì tôi không phải là người Do Thái.//Sau đó chúng tới tiêu diệt tôi – và không còn ai đứng lên bảo hộ cho tôi”. Những dòng thơ kinh điển này của mục sư Martin Niemöller nhắc nhở chúng ta rằng gần như tất cả các trường hợp trong cận đại, các chế độ diệt chủng đã liên tục tìm đến những kẻ thù mới. Do vậy, chúng ta không thể để mặc cho một chế độ diệt chủng hoành hành nội bộ, mà bắt buộc phải đối mặt với chúng sớm nhất có thể. Từ 1975 đến 1977, Việt Nam đã rất yêu hòa bình và tìm cách chung sống hòa bình với một chính quyền diệt chủng, nhưng sau khi tàn sát nhân dân Campuchia và khởi chiến với Thái Lan và Lào, cuối cùng thì chính quyền Khmer Đỏ cũng đã quay sang tấn công Việt Nam. Hiện nay, khả năng nổ ra chiến tranh giữa Bangladesh và Myanmar là chưa cao. Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu đáng lo ngại: tháng 3/2018, quan hệ hai nước đã trở nên căng thẳng khi Myanmar tăng cường đáng kể hiện diện quân sự trên biên giới. Tinh thần đoàn kết trong khối ASEAN mà chúng ta muốn gìn giữ bằng sự im lặng cũng đang bị đe dọa, khi những hành động của Myanmar gây phẫn nộ trong những nước đại đa số theo đạo Hồi trong khu vực là Malaysia, Indonesia, và Brunei. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, nếu chúng ta theo đuổi chính sách nhân nhượng với những chế độ tàn bạo để cố gìn giữ hòa bình nhất thời, chúng sẽ càng lấn tới và về lâu dài chúng ta có nguy cơ sẽ đánh mất tất cả.
Tôi mong là trong dịp kỷ niệm 40 năm Việt Nam trở thành đất nước duy nhất gửi quân tình nguyện giải cứu nhân dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot, bất chấp cái giá khổng lồ phải trả, chúng ta có thể suy nghĩ và thảo luận thẳng thắn về vai trò bảo vệ nhân quyền của Việt Nam trong khu vực và thế giới, không chỉ những năm cuối thập kỷ 1970 mà cả hiện tại và trong tương lai. Mong là bài viết này đã đóng góp chút nào cho cuộc thảo luận này.

Nguồn: https://www.facebook.com/huong.tolan.5/posts/10210549393611400

Vũ Minh Hoàng là nghiên cứu sinh Sử học tại Đại học Cornell, Hoa Kỳ.

Khái niệm lịch sử


Harry Ritter

Lịch sử (Anh: history). 1. Theo cách dùng thông thường: quá khứ con người. 2. Theo cách dùng chuyên môn: quá khứ con người hoặc (quan trọng hơn) tra vấn về bản tính của quá khứ con người, với mục đích là chuẩn bị cho sự giải thích xác thực một hay nhiều phương diện của nó. Thuật ngữ này cũng quy chiếu, cả theo cách dùng chuyên môn lẫn cách dùng thông thường, đến các bản văn ghi chép về các sự kiện trong quá khứ. Từ quan điểm lịch sử – nghĩa là, từ lập trường của lịch sử bản thân tư duy lịch sử – về đại thể, lịch sử có thể được định là truyền thống học thuật, ghi chép, xác định niên đại từ thời cổ đại, dựa trên sự tra vấn thuần lý về bản tính sự kiện của quá khứ con người.

Chữ lịch sử trong các ngôn ngữ Âu châu hiện đại có nghĩa hàm hồ: nó có thể dùng để chỉ các biến cố hay sự biến (events) của bản thân quá khứ (res gestae trong tiếng La tinh nghĩa là “việc đã rồi”); hoặc chỉ hoạt độngnghiên cứu và viết về quá khứ (Barzun, [1943] 1950: 31; Rothfels, 1961: 7); hoặc chỉ một văn bản nghiên cứunào đó đã hoàn tất về quá khứ – như trong cụm từ “Lịch sử của Gibbon về sự suy tàn của La Mã”. (Trong tiếng Đức, Geschichte [từ động từ geschehen, xảy ra] cũng có những nét nghĩa hàm hồ như chữ lịch sử. Xuất hiện ở thế kỷ 17, Geschichte được dùng đồng nghĩa với Historie, và khoảng thế kỷ 19, người ta thích dùng nó thay cho chữ Historie,[1] để nói đến việc nghiên cứu về quá khứ [Berr và Febvre, 1932: 357]. Cả ba nghĩa này đều đã có sẵn trong ngôn ngữ Hy Lạp và Latinh thời cổ điển, cho dù chữ historia theo nguyên nghĩa Hy Lạp chỉ có nghĩa là “tra vấn” về bất cứ thứ gì. Trong cách dùng chuyên môn của sử luận (historiography) hiện đại, lịch sử vẫn còn bảo lưu thông điệp cổ đại ấy – đó là hành vi tra vấn qua đó người ta nghiên cứu và truyền thông về quá khứ (ví dụ, Berr và Febvre, 1932: 358; Strayer [1943] 1950: 6). Nhà sử học là người “theo đuổi sự tra vấn này, và nhà sử học giỏi nhất là người theo đuổi nó tốt nhất” (Zagorin, 1956: 9).

Chữ historia trong tiếng Hy Lạp có gốc là động từ “nhìn”, và histor trước hết có nghĩa là “sự chứng kiến bằng mắt”; từ nghĩa này phát triển thành nghĩa: “người khảo sát những sự chứng kiến và biết được sự thật qua việc tra vấn” (Arendt, 1961: 284-85, n. 1; Press, 1977: 284). Herodotus (khoảng 484-425 TCN), người đã xác lập historia như là một từ chuẩn dùng để chỉ việc nghiên cứu về quá khứ, sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa kép là sự chứng thực và tra vấn (Arendt, 1961: 285). Sự chứng thực bao hàm các phán đoán về chân lý sự kiện có liên quan đến các sự biến hiện thực, và nét nghĩa này phân biệt loại hình tra vấn của ông với thần thoại và những thứ mang cảm hứng huyền nhiệm là sử thi và kịch – những loại hình này, bất chấp công cuộc tạo dựng nên lịch sử sự kiện do Herodotus và người kế tục ông là Thucydides (khoảng 460-400 TCN) tiến hành, bao giờ cũng lưu giữ những cách thức diễn giải yêu thích của người Hy Lạp về quá khứ. Như Finley (1964-65: 299) viết: “Sự chấp nhận và lòng tin là những cái được xét tới, và [trong thần thoại] người Hy Lạp có tất cả những tri thức về quá khứ họ cần mà không cần đến sự giúp đỡ của các nhà sử học.”

Ở thời Hy Lạp hóa và La Mã, lịch sử dùng để chỉ tự sự của người tra vấn; một sự thay đổi ngữ nghĩa diễn ra trong đó các ý niệm về sự tìm tòi nghiên cứu và sự chứng thực phụ thuộc vào nghệ thuật trình bày. Từ nghĩa này, chữ lịch sử theo nghĩa “câu chuyện” trở nên thông dụng, nghĩa là nó được dùng để chỉ các tự sự hư cấu và tự sự sự kiện (Press, 1977: 285, 288) – chẳng hạn, Câu chuyện của Tom Jones / History of Tom Jones của Fielding ở thế kỷ 18. Truyền thống tu từ học này – thứ truyền thống đã đi đến chỗ xếp lịch sử vào một nhánh của văn học, như là một phương tiện khai trí và giải trí cũng như là một nguồn nhận thức sự kiện quan trọng – vẫn giữ vị trí tối cao cho đến thế kỷ 18, đêm trước của sự ra đời lịch sử “khoa học” (Johnson, 1926: 21-22; Stromberg, 1951: 297-98).

Suốt thời trung đại, lịch sử dần dần mang lấy nét nghĩa là toàn bộ diễn trình của các sự biến của con người, nghĩa này có lẽ không hề có ở thời cổ đại (Press, 1977: 283) nhưng lại trở thành yếu tố giữ  vai trò then chốt trong thần học Kitô, trong triết học tư biện về lịch sử, và trong diễn ngôn đời thường của thời hiện đại. (Nhiều nghiên cứu trước đây về ý thức lịch sử thời cổ đại [ví dụ, Holborn,  1949: 6-7] trái ngược rõ nét với truyền thống cổ điển và truyền thống Do thái-Kitô giáo khi cho rằng người Hy Lạp và La Mã hiểu lịch sử như là một diễn trình tuần hoàn trong khi đó người Hebrew lại coi nó như là một diễn trình phát triển có tính mục đích luận và tiến bộ. Quan điểm này hiện nay bị tranh cãi, hoặc với căn cứ rằng ý niệm về lịch sử như là một diễn trình phát triển không hề tồn tại ở thời cổ đại [Press, 1977: 281-82], hoặc rằng tư tưởng Hy-La và Do thái-Kitô giáo cổ đại cho thấy chúng có cả khái niệm tiến bộ lẫn khái niệm tái diễn [Trompf, 1979).

Ý niệm về lịch sử như là một diễn trình phát triển (có gốc từ công trình của St. Augstine [Press, 1977: 294-95] ngụ ý rằng lịch sử là một loại “câu chuyện chưa kể” (Mink, 1978: 134), một “loạt các diễn biến trong thời gian và không gian [tồn tại] ở bên ngoài sách vở”; nó giả định rằng quá khứ “có một thứ thực tại khách quan mà người nghiên cứu lịch sử có thể dùng để so sánh và kiểm tra các văn tập sử ký theo cách nào đó không thể giải thích được” (Johnson, 1926: 22). Các nhà phê phán truyền thống này cảnh báo rằng “chúng ta có thể biết quá khứ chỉ khi nào nó để lại những dấu vết của nó trong các tập sử ký và các tàn tích. Quá khứ không tồn tại ở đâu khác ngoài ý thức của con người” (Johnson, 1926: 22).

Cách thức và mục đích mà việc nghiên cứu lịch sử hướng đến bao giờ cũng bị tranh cãi. Như Berr và Febvre (1932: 357) nhận xét: “không có lĩnh vực nhận thức nào trong diễn trình tiến hóa của trí tuệ lại bộc lộ ra nhiều tình thái khác nhau và giải đáp cho những quan niệm trái ngược nhau hơn lĩnh vực lịch sử. Không có lĩnh vực nào đã và đang tiếp tục gặp khó khăn hơn lịch sử trong việc tìm ra vị thế xác định của nó.” Lời phát biểu Frederick Jackson Turner ([1891] 1972: 198) rằng “hầu như có bao nhiêu người viết sử là có bấy nhiên quan niệm về lịch sử” rõ ràng là một sự cường điệu, nhưng Johan Huizinga ([1936] 1963: 8-9) đưa ra gợi ý có lý rằng mỗi thời đại và xã hội tạo ra một quan niệm về lịch sử “thỏa ứng” với nó, nghĩa là, quan niệm đáp ứng các nhu cầu trí tuệ của nó. Đối với Herodotus – được Cicero gọi là “cha đẻ của sử học” – lịch sử là vấn đề của việc tạc dựng tượng đài cho những chiến công cao cả; Thucydides hiểu nó là sự phân tích về các sự biến mới xảy ra, sự phân tích ấy (ông tin rằng) sẽ mang lại những chân lý phổ biến về hành vi của con người (Holborn, 1949: 3, 5). Tuy nhiên, theo chương 9 cuốn Thi học của Aristotle, hầu hết các nhà tư tưởng cổ đại đều coi nhẹ tầm quan trọng của lịch sử. Trái với Thucydides, họ tin rằng lịch sử chỉ xét đến cái tầm thường, cái trần tục, và cái đặc thù, chứ không đoái hoài gì đến lĩnh vực cao hơn nằm bên ngoài thời gian, tức chân lý phổ quát (Holborn, 1949: 6; Press: 1977: 287; nhưng xem thêm Fritz, 1958). Những gì người Hy Lạp muốn không phải là các sự kiện mà là các chân lý. Quả thực, ngay cả với Thucydides, “quá khứ không mang lại gì ngoài sự nâng đỡ có tính hệ hình cho các kết luận mà người ta đã rút ra từ hiện tại; quá khứ, nói cách khác, vẫn có thể được xem xét theo lối huyền thoại thiếu vắng tính thời gian” (Finley, 1964-65: 301).

Đối lập với các sử gia cổ đại, các học giả Kitô giáo thời trung đại hiểu lịch sử không phải là sự tra vấn của con người mà như là sự chiêm nghiệm theo lối phúng dụ về ý chí thần linh (White, 1942; Holborn, 1949: 7-8). Tuy nhiên, các sử gia hiện đại thời kỳ đầu được biết đến nhiều nhất – như Machiavelli (1469-1527) và Guicciarndini (1483-1540) – khôi phục lại các mô hình thế tục của thời cổ đại (Weisinger, 1945: 417; Holborn, 1949: 8). Bắt đầu ở thế kỷ 14 và 15, một thái độ mới đối với quá khứ dần dần hình thành, một “cảm thức về viễn tượng thời gian, … ra đời vào khoảng thời gian các họa sĩ Ý bắt đầu thể hiện các hình tượng trong viễn tượng không gian” (Harbison, 1956: 36). Đây là cảm thức về quá khứ như là cái xa lạ, khác một cách cơ bản với cái hiện tại, một định hướng đã đi tiên phong trong tác phẩm của thi sĩ Petrarch và nhà ngữ văn học Lorenzo Valla. Đồng thời, trong lĩnh vực học thuật, mối quan tâm đến các sự kiện của quá khứ vì bản thân chúng được định hình, nhất là gắn với ngữ văn học, luật học, và việc san định các bản viết tay cổ xưa. Những sự phát triển này có tạo nên “cuộc cách mạng” sử luận, như một số người đã yêu sách, hay không là vấn đề hãy còn bàn cãi (xem thêm Preston 1977: 357). Điều chắc chắn đó là nền học thuật cổ đại thoạt đầu đã hề không xét tới lịch sử, vì lịch sử (theo các bộ công cụ tu từ học cổ điển) phải bộc lộ một cấu trúc tự sự (Hay, 1977: 133, 184).

Suốt thế kỷ 18, truyền thống cổ đại xem lịch sử như là tự sự được phối ngẫu với mối quan tâm đến sự kiện ở người sưu tầm cổ vật, và khoảng năm 1800 khái niệm hiện đại là “lịch sử khoa học” được hình thành. Thế thì lịch sử là sự tra vấn về bản tính của quá khứ vì bản thân quá khứ, được tiếp tục với mục đích là xác lập việc ghi chép tự sự về các sự biến như chúng “đã thực sự xảy ra” (Ranke, [1824] 1972: 57).

Tất cả các nhà sử học chuyên nghiệp hiện nay đều đồng ý rằng lịch sử có nghĩa là nghiên cứu học thuật về bản tính sự kiện của quá khứ con người. Từ cuối thế kỷ 18, về đại thể có ba đặc trưng được xem là không thể tránh khỏi đối với nhiệm vụ này: (1) cảm thức phê phán về chứng cứ; (2) cảm thức về sự sai lầm niên đại; và (3) cảm thức về quan hệ nhân quả mang tính thế tục (xem thêm Burke, 1969: 1). Tuy nhiên, vượt lên trên sự đồng thuận cơ bản này, hai thế kỷ vừa rồi có rất nhiều nỗ lực xung đột nhau để ấn định hoạt động nào của lịch sử là nên và hoạt động nào là không nên. Chẳng hạn, nhà sử học Pháp Fustel de Coulanges ([1862] 1972: 179) – như nhiều học giả khác trước ông và từ ông trở đi (ví dụ như Strayer, [1943] 1950: 17) – tin rằng lịch sử nhất thiết phải xem xét sự biến đổi của con người trong quá khứ. Vào cuối thế kỷ 19, người ta trở nên yêu thích ý nghĩ rằng việc nghiên cứu các quy chế xã hội (social regularities) chưa có vị trí chính đáng nào trong sử luận – rằng lịch sử chỉ cần xem xét “diễn biến của các phức hợp-biến cố đặc thù” (Trompf, 1977: 137); quan niệm này, vốn hàm ý một sự khác nhau triệt để giữa các phương pháp của lịch sử với các phương pháp của khoa học tự nhiên, vẫn còn tồn tại ở nhiều nhóm phái.

Một số lý thuyết gia nhấn mạnh những nét tương đồng của lịch sử với văn chương. Triết gia Ý Benedetto Croce (1866-1952), chẳng hạn, nhấn mạnh đến sự phân biệt giữa “lịch sử” đích thực với “ghi chép niên đại” dựa trên cứ sở rằng lịch sử bao hàm câu chuyện tự sự liên tục được xây dựng trên những mối quan hệ nhân quả, còn ghi chép niên đại chỉ gợi ý một loạt các phân mảnh bị gián đoạn (xem thêm Barzun, 1945: 81; Meiland, 1965: 17); tuy nhiên, cách sử dụng của Croce không phải lúc nào cũng hữu ích, vì trên thực tế một số tác phẩm biên niên thời trung đại là các tác phẩm tự sự mạch lạc dựa trên mối quan hệ nhân quả (xem Breisach, 1983: 126-30).

Những cuộc tranh luận về “bản tính” của lịch sử trở nên quyết liệt và mạnh mẽ hơn trong thế kỷ 20; đa phần là những nỗ lực xác định lịch sử hoặc là “nghệ thuật” hoặc là “khoa học” trong các phương pháp và mục đích của nó (ví dụ Hughes, 1964). Ngay từ đầu thế kỷ, nhà sử học Anh G. M. Trevelyan ([1903] 1972: 234) công kích mô hình khoa học bằng cách cho rằng “theo bản chất bất biến của nó, lịch sử là một ‘câu chuyện’” – ý ông muốn nói là “nghệ thuật của lịch sử vẫn luôn là nghệ thuật của tự sự”; quan niệm lịch sử như là “nghệ thuật khai phóng” hay “bộ phận của văn chương của con người” vẫn còn phổ biến (Strayer, [1943] 1950: 3; Bazun, 1945: 81). Mặt khác, một số nhà sử học cương quyết khẳng định rằng lịch sử là một môn khoa học xã hội. Cách thông thường nhất để tránh trách nhiệm trong cuộc tranh luận này là cho rằng lịch sử là sự kết hợp độc đáo giữa nghệ thuật và khoa học và nói rằng nó giữ vị thế tự trị trong các ngành khoa học nhân văn. Nhưng điều quan trọng hơn cuộc tranh luận này nhiều chính là công việc nghiên cứu đã được mở rộng hơn rất nhiều về phạm vi và phương pháp trong thế kỷ 20 và không còn được đồng nhất một cách hạn hẹp với việc tái dựng lại chế độ chính trị hay các sự vụ của giáo hội trong quá khứ dựa trên các tài liệu viết.

Phần trình bày sơ lược trên đây khó lòng cho thấy được sự đa dạng trong cách xác định đặc trưng của lịch sử; một sự tổng quan chi tiết có thể có được từ các văn bản chuẩn mực như Sterm (1972) hay Briesach (1983). Sự thôi thúc đáng quý muốn mô tả cẩn trọng những ranh giới của bất cứ hoạt động trí tuệ nào dễ dàng được thông hiểu, nhất là từ lập trường mà các nhà chuyên môn muốn biện giải cho tính chính đáng về nhận thức của lĩnh vực của họ và bảo vệ các chuẩn mực của nền học thuật có trách nhiệm. Thế nhưng, từ lập trường lịch sử, quan niệm cho rằng lịch sử nên có một vị thế “xác định” hay một “bản chất bất biến” có vẻ như kỳ lạ. Các hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi qua thời gian và các quan niệm về quá khứ cũng đã thay đổi (xem thêm Huizinga, [1936] 1963: 3). Chữ lịch sử hàm ý toàn bộ các truyền thống tư duy và viết về quá khứ; đối với một số người, nó có thể gợi ra khả thể của một tương lai tương đối để ngỏ cho sự phát triển hơn nữa của bộ môn này. Dường như ai cũng có thể thấy điều này là rõ ràng. Hàm ý nó muốn nói làm nổi bật một nghịch lý thú vị; trong khi nỗ lực xác định bộ môn của mình, các nhà sử học lại vô tình cho ta thấy một điều đáng ngạc nhiên là họ chẳng mấy chú ý đến toàn bộ lịch sử của bản thân lịch sử (Walsh, 1973: 211-12). Đương nhiên, bất cứ nhà sử học có năng lực nào cũng đều thuộc lòng lịch sử nền học thuật trong phân môn chuyên biệt của mình; nhưng sức hiểu tinh tường trong sử luận ấy hiếm khi mở rộng đến bộ môn xét như là một toàn bộ. Vì thế, những nỗ lực xác định đặc trưng của bộ môn nhìn chung thường bị hủy hoại bởi động cơ mô tả mà sự đánh giá đúng đắn về toàn bộ sự tiến hóa của bản thân ý thức lịch sử không biết đến nó. Những nỗ lực như thế là những sự phản tư “phi lịch sử” của quan niệm riêng của người định nghĩa về việc lịch sử nên là gì, chứ không phải lịch sử đang là, hay đã là, hay có thể trở thành cái gì.

Nguồn: Harry Ritter, “Lịch sử”, Đinh Hồng Phúc** dịch, Thông tin Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương, số 41, tháng 1-2016, tr. 60-63. Bản gốc tiếng Anh: Harry Ritter, “History”, in Dictionary of concepts in history. New York: Greenwood Press, 1986. pp. 193-199.

———

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Arendt, Hannah. 1961. “The concepts of history: ancient and modern”. Trong Hannah Arendt, Between past and future: Eight exercises in political thought. New York: 41-90.
  2. Barzun, Jacques. 1945. “History as a liberal art”. Journal of the History of Ideas 6: 81-88.
  3. Barzun, Jacques. [1943] 1950. “History, popular and unpopular”. Trong Strayer: 27-57.
  4. Barzun, Jacques. 1974. Clio and the doctors: psycho-history, quanto-history, and history. Chocago.
  5. Berr, Henri, and Febvre, Lucien. 1932. “Hisroty and historiography: hisroty”. Encyclopedia of social sciences 7: 357-68.
  6. Breisach, Ernst. 1983. Historiography: ancient, medieval and modern. Chicago.
  7. Burke, Peter. 1969. The renaissance sense of the past. London.
  8. Croce, Benedetto. [1919] 1960. History: its theory and practice. New York.
  9. Finley, M. I. 1964-65. “Myth, memory, and history”. History and Theory 4: 281-302.
  10. Fritz, Kurt von. 1958. Aristotle’s contribution to the practice and theory of historiography. Berkeley, Calif.
  11. Fustel de Coulanges, N. D. [1862] 1972. “An inaugural lecture” trong Stern: 179-88.
  12. Harbison, E. Harris. 1956. The Cristian scholar in the Age of Reformation. New York.
  13. Hay, Denys. 1977. Annalists and historians: western historiography from the eighth to the eighteenth century. London.
  14. Holborn, Hajo. 1949. “Greek and modern concepts of history”.  Journal of the History of Ideas 10: 3-13.
  15. Hughes, H. Stuart. 1964. History as art and as science: twin vistas on the past. New York.
  16. Huizinga, Johan. [1936] 1963. “A definition of concept of history”. Trong Raymond Klibansky and H. J. Paton, ed., Philosophy and history: essays presented to Ernst Cassier. New York: 1-10.
  17. Johnson, Allen. 1926. The historian and historical evidence. New York.
  18. Meiland, Jack W. 1965. Scepticism and historical knowledge. New York.
  19. Mink, Louis O. 1978. “Narrative form as a cognitive instrument”. In Canary and Kozicki: 129-49.
  20. Press, Gerald A. 1977. “History and development of the idea of history in antiquity.” History and Theory 16: 280-96.
  21. Preston, Joseph H. 1977. “Was there an historical revolution?”  Journal of the History of Ideas 38: 353-64.
  22. Ranke, Leopold von. [1824] 1972. Preface to Histories of the Latin and Germanic nations from 1494-1514.In Stern: 55-58.
  23. Rothfels, Hans. 1961. “Einleitung”. In Waldemar Besson, ed., Geschichte: das Fischer Lexikon. Frankfurt.
  24. Stern, Fritz. 1972. The varieties of history. New York.
  25. Strayer, Joseph R. [1943] 1950. “Introduction”. In Strayer: 3-26.
  26. Stromberg, R. N. 1951. “History in the eighteenth century”. Journal of the History of Ideas 12: 295-304.
  27. Trevelyan, George Macaulay. [1903] 1972. “Clio, a muse”. In Stern: 227-45.
  28. Trompf, G. W. 1977. “Social science in historical perspective”. Philosophy of the social sciences 7: 113-38.
  29. Trompf, G. W. 1979. The idea of historical recurrence in western thought: from Antiquity to the Reformation. Berkeley, Calif.
  30. Turner, Frederich Jackson. [1891] 1972. “The significance of history” In Stern: 194-208.
  31. Walsh, W. H. 1973. “History as science and history as more than science”. Virginia Quarterly Review 49: 196-212.
  32. Weisinger, Herbert. 1945. “Ideas of history during the Renaissance”. Journal of the History of Ideas 6: 415-35.
  33. White, Lynn. 1942. “Christian myth and Christian history”. Journal of the History of Ideas 3: 145-58.
  34. Zagorin, Perez. 1956. “Carl Becker on history. Professor Becker’s two histories: a skeptical fallacy”. The Americain Historical Revew 62: 1-11.

—–

(*) Giáo sư sử học, Trường Đại học Western Washington.

** Thạc sĩ Triết học. Trưởng Ban Biên dịch, Trường Đại học Thủ Dầu Một.

[1] Geschichte (Lịch sử) là một chữ thuần Đức, còn Historie là một chữ Đức vay mượn – ND.

Các vùng lãnh thổ được mua bán ra sao?


ĐỨC HOÀNG

Quốc tịch giờ đã là một món hàng có thể mua bán dễ dàng, điều không có gì phải ầm ĩ bởi lẽ xét cho cùng, ý niệm công dân, không giống như dân tộc, rốt cuộc chỉ là nhân tạo. Nhưng ngay chính nhà nước, và cả quốc gia nữa, cũng chỉ là những khái niệm mới mẻ của thời hiện đại. Các đường biên giới có thể thay đổi dễ dàng, không chỉ bởi hậu quả của những cuộc chiến tranh mà nhiều khi chỉ là sự đổi chác thuần túy.

Trong lịch sử thế giới, chủ quyền lãnh thổ từng là một món hàng dễ dàng mua bán giữa các đế quốc. Ngay cả trong thế kỷ 21, hiện tượng này vẫn tiếp diễn, dù dưới những hình thức phức tạp hơn. Và lời buộc tội “đồ bán nước” thật ra đã được nhiều lần thực hiện, theo đúng nghĩa đen, và hoàn toàn hợp pháp theo công pháp quốc tế.

Những món hàng đặc biệt

“Ồ! Ồ! Nam Kỳ! Đó thật là một miếng béo bở với chúng tôi. Nhưng chúng tôi không đủ giàu để duy trì thứ xa xỉ như một thuộc địa” – Otto von Bismarck, thủ tướng Phổ, nói với nước Pháp năm 1871. Đó là tháng 5-1871, trên bàn đàm phán của Hiệp định Frankfurt.

Sau cuộc chiến tranh chóng vánh Pháp – Phổ, nước Pháp thua trận nặng nề và đứng trước yêu sách cay đắng của thủ tướng Von Bismarck: nhượng lại vùng Alsace-Lorraine để đế chế Đức mới thành lập làm tiền đồn của họ.

Alsace-Lorraine khi đó là một vùng rộng tới 1,4 triệu ha, với 1.694 ngôi làng và gần 1,6 triệu dân. Đặc biệt, khu vực này chiếm tới 20% trữ lượng khoáng sản (quặng sắt, than) của nước Pháp. Mất Alsace-Lorraine là quá khó chấp nhận. Đó là chưa kể 5 tỉ đồng vàng chiến phí mà Pháp phải thanh toán với tư cách nước thua trận.

Họ đề xuất với Bismarck một giải pháp khác: nhượng lại cho Đức thuộc địa trù phú ở vùng Viễn Đông, Nam Kỳ, hay Cochinchina, vùng đất Pháp vừa chiếm được một thập kỷ trước. Nhưng trong suốt sự nghiệp chính trị của mình, Bismarck không thích các thuộc địa.

Ông cho rằng người Đức, với vị thế kẹp giữa hai đế quốc mạnh là Pháp và Nga, không có điều kiện để duy trì thuộc địa. Phổ chỉ có vài thuộc địa ở châu Phi, ít hơn hẳn so với các cường quốc châu Âu khác.

Chính triết lý ấy đã giúp Bismarck đánh bại những người Pháp: trong khi quá nửa quân Pháp đang phải làm nhiệm vụ tại các thuộc địa ở châu Phi và Viễn Đông thì Đức có thể huy động toàn bộ quân lực để chiến đấu tại châu Âu. Với vùng Alsace-Lorraine, Đức còn có động cơ khác ngoài các lợi ích vật chất, bởi đây là vùng đất với cộng đồng người nói tiếng Đức rất lớn.

Cuối cùng thì Bismarck lấy Alsace-Lorraine, và phải tới tận năm 1918, sau khi Đức thua trận trong Thế chiến thứ nhất, dưới sức ép của Mỹ, Pháp mới đòi lại được vùng đất này.

Đã từng có thời các vùng lãnh thổ được mua bán, đổi chác một cách dễ dàng như vậy. Tình trạng đó cũng mới chỉ vãn đi từ đầu thế kỷ trước, khi chủ nghĩa thực dân bị xô đổ.

“Nhượng địa” (cession) là một khái niệm phổ biến và hoàn toàn hợp pháp trong công pháp quốc tế, để chỉ những vùng đất được chuyển giao theo hiệp ước chính thức giữa hai nhà nước, vĩnh viễn hoặc có thời hạn.

Có hai nguyên nhân phổ biến: một hiệp ước để chấm dứt chiến tranh, như trong trường hợp Nam Kỳ (suýt) được san nhượng cho người Đức; hoặc thông qua hợp đồng mua bán.

Alaska có lẽ là vùng đất nổi tiếng nhất được san nhượng thông qua mua bán. Alaska là lãnh thổ chủ quyền của Nga từ thế kỷ 17. Nhưng đến cuối thế kỷ 19, người Nga nhận thấy vùng đất này rất khó phòng thủ: nếu đế quốc Anh quyết định gây chiến tranh, đây sẽ là nơi bị chiếm dễ dàng nhất. Cộng thêm tình hình khó khăn tài chính, Sa hoàng Alexander II quyết định bán Alaska.

Và nước Mỹ trở thành người mua. Thời đó, theo các nhà sử học, dư luận Mỹ cũng cực kỳ chia rẽ: một nhóm báo chí phản đối quyết liệt việc này khi tin rằng “tiền thuế của người dân bị phung phí vào việc mua một chuồng gấu Bắc Cực”; nhóm kia lại tin rằng Alaska sẽ mang lại cho họ cả lợi ích kinh tế lẫn ngoại giao, bởi mối quan hệ với Nga thời đó rất quan trọng.

Cuối cùng, ngày 30-3-1867, Mỹ chính thức sở hữu Alaska với giá 7,2 triệu USD, tức 4,24 USD/km2. Cho đến nay, có lẽ không còn ai tranh cãi về quyết định này nữa.

Cần làm một phép so sánh nhỏ: chiến phí mà Pháp phải bồi thường cho Phổ sau chiến tranh năm 1871 là 5 tỉ franc, tương đương hơn 900 triệu USD theo thời giá cuối thế kỷ 19.

Một vùng đất rộng lớn như Alaska được bán vĩnh viễn chỉ với 7,2 triệu USD, cho thấy thời đó việc “bán nước” không chỉ là quá thường, mà giá bán còn có thể rẻ tới bèo bọt. Nhiều vùng đất thuộc nước Mỹ ngày nay đến sau một thỏa thuận mua bán.

Tiêu biểu là vùng Louisiana được Mỹ mua từ tay Pháp vào năm 1803 với giá 68 triệu franc (tương đương khoảng 500 triệu USD năm 2016), ngày nay vùng đất đó là 15 bang của Hoa Kỳ.

Nếu ai đã từng đọc A matter of honour (tạm dịch: Vấn đề thể diện) của Jeffrey Archer, chính trị gia và tiểu thuyết gia danh tiếng người Anh, sẽ hiểu rằng việc mua bán một vùng lãnh thổ đơn giản tới mức độ nào.

Một vùng đất, ngoài ý nghĩa chính trị còn mang các yếu tố lịch sử, văn hóa và chủng tộc, vốn rất thiêng liêng với những người bản địa, nhưng nếu đã trở thành một phần của một hợp đồng kinh tế thì cũng chỉ tương đương một món hàng.

Trong sách, Archer đặt ra giả thiết Sa hoàng Alexander II đã “thòng” một điều kiện rằng nước Nga có thể lấy lại Alaska vào năm 1966, tức 99 năm sau khi bán.

Thỏa ước này được ghi trong một văn bản giấu ở Cung điện Mùa Đông, và nếu tìm lại được văn bản này, Matxcơva chỉ cần chồng đủ tiền chuộc thì Mỹ sẽ mất Alaska. Cuốn sách kể về hành trình giả tưởng đi tìm lại văn bản chuộc đất giữa các điệp viên Nga và Mỹ.

Dù là tiểu thuyết, nhưng trong sách, Alaska với hàng ngàn năm lịch sử của những thổ dân châu Mỹ hiện lên hoàn toàn như một món hàng mà số phận được định đoạt bằng một tờ khế ước viết tay, phản ánh đúng tính chất của việc mua – bán vùng đất này trong lịch sử.

Một giải pháp chính trị

Việc bán các thuộc địa giữa những đế quốc, các mảnh đất vốn được xác lập chủ quyền bởi chiếm đóng, tất nhiên sẽ dễ dàng hơn việc tự cắt một mảnh đất có chủ quyền lịch sử, tức có gắn bó về cả mặt lịch sử, văn hóa, chủng tộc với một quốc gia.

Nhưng trên thực tế, thỉnh thoảng có những nước vẫn làm như vậy để giải quyết vấn đề chính trị trước mắt. Trung Quốc đã hơn một lần nhượng đất để đổi lấy hòa bình. Đảo Hong Kong đã được nhượng lại cho đế quốc Anh vào năm 1841, sau khi nhà Thanh thua trận trong Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất; nối tiếp là các đảo Cửu Long (1860) và bán đảo Tân Giới (1898), tạo thành lãnh thổ của đặc khu kinh tế Hong Kong ngày nay.

Hong Kong chỉ quay về với Trung Quốc sau Tuyên bố Anh – Trung năm 1984, rồi nữ hoàng Anh trả lại vùng đất này cho Bắc Kinh vào năm 1997.

Sau Thế chiến thứ hai, các vùng lãnh thổ thường được “sang tên đổi chủ” vì mục tiêu chính trị nhiều hơn mục tiêu kinh tế. Năm 1975, người dân Vương quốc Sikkim chấp nhận trở thành một phần của Ấn Độ sau trưng cầu ý dân.

Sikkim đã không chịu gia nhập Ấn Độ sau khi đánh đổ chế độ thuộc địa của Anh năm 1947, và tiếp tục duy trì chế độ quân chủ riêng. Nhưng tháng 4-1975, sau khi Ấn Độ chiếm thủ đô Gangtok và giải giáp ngự lâm quân của nhà vua, một cuộc trưng cầu ý dân đã được tiến hành và 97,5% người dân Sikkim quyết định trở thành bang thứ 22 của Ấn Độ.

Hoặc một trường hợp khá phức tạp khác, một nhóm đại diện của người Palestine đã đồng ý nhượng lại khu Bờ Tây cho Jordan vào năm 1948.

Thời điểm đó, nhiều người Palestine hi vọng việc “nương nhờ” vào vua Abdullah của Jordan, một nước có quân đội mạnh, có thể giúp họ giữ được đất đai của tổ tiên trước sự xâm lấn của nhà nước Israel mới thành lập. Mặc dù việc sáp nhập này rất gây tranh cãi và không được nhiều nước thừa nhận, nhưng Jordan đã đối xử với Bờ Tây như một phần lãnh thổ của mình tới tận năm 1967.

Người Palestine ở đây có quyền công dân Jordan, được đi bầu cử, có ghế ở Quốc hội Jordan (cho tới tận năm 1988). Tới năm 1967, sau cuộc chiến tranh sáu ngày, Israel dùng vũ lực chiếm đóng Bờ Tây và bắt đầu kiểm soát vùng đất này. Kể từ đó, Bờ Tây sa sút trong sự kiểm soát ngặt nghèo của chính quyền Do Thái.

Đảo của ai?

Trong thế kỷ 21, vụ “bán lãnh thổ quốc gia” nổi tiếng nhất phải kể đến việc chính quyền Ai Cập quyết định chuyển nhượng hai hòn đảo có vị trí chiến lược quan trọng ở biển Đỏ cho Saudi Arabia.

Vụ việc gây xôn xao dư luận Ai Cập và cả thế giới Ả Rập hồi tháng 4 vừa rồi. Hai hòn đảo Tiran và Sanafir nằm ngay cửa eo biển Tiran, án ngữ đường hàng hải huyết mạch Hồng Hải – vịnh Aqaba, cũng là tuyến đường biển vào các bến cảng quan trọng nhất của vùng Trung Đông như cảng Aqaba của Jordan hay cảng Eilat của Israel. Nằm dưới quyền kiểm soát của Ai Cập từ năm 1950, khi đó cả hai hòn đảo này đều không có dân cư.

Nhiều thế hệ học sinh Ai Cập đã được dạy rằng hai hòn đảo này là lãnh thổ quê hương. Nhưng bất ngờ, tháng 4-2016, chính quyền của Tổng thống Abdel Fattah al-Sisi tuyên bố rằng hai đảo này thực chất thuộc chủ quyền Saudi Arabia, và Ai Cập chỉ “kiểm soát giùm” theo yêu cầu của nước bạn từ năm 1950.

Ngay lập tức, trên mạng xã hội, người dân Ai Cập tỏ thái độ bất bình. Chỉ trong vòng một ngày, từ khóa #Tiran_Sanafir được nhắn 28.000 lần trên Twitter. Báo chí mô tả đây là một hành động “bán nước”.

Tổ chức Anh em Hồi giáo khẳng định rằng các hòn đảo này đã được san nhượng “vì một nắm đôla, hoặc là để đổi lấy sự ủng hộ cho chính sách giết người, bắt giữ, bạo lực ngoài vòng pháp luật của chính phủ”. Iran, một nước đang có mâu thuẫn với Saudi Arabia, cũng bày tỏ sự bất bình với Ai Cập khi báo chí nước này gọi đây là hành vi “bán nước”.

Cùng với việc chuyển nhượng hai đảo Tiran và Sanafir, Ai Cập nhận được rất nhiều ưu đãi kinh tế từ nước láng giềng bên kia bờ biển Đỏ, vốn là một cường quốc khu vực với trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới. Song song với lễ ký kết “nhượng đảo”, vua Salman của Saudi Arabia ký một hợp đồng phát triển hạ tầng trị giá 1,5 tỉ USD trên bán đảo Sinai và cho Ai Cập vay tiền phát triển ngành hóa dầu trong 5 năm với lãi suất ưu đãi.

Có thể dễ dàng nhận thấy qua vụ đảo Tiran và Sanafir và nhiều ví dụ khác, rằng trong tiến trình phát triển của lịch sử thế giới, với rất nhiều biến động trong biên giới của các quốc gia, “chủ quyền” của một số vùng lãnh thổ trở nên chồng chéo và có thể được tính toán theo nhiều cách. Chính vì vậy, ngay cả khi chủ nghĩa thực dân cũ đã chết, các vùng lãnh thổ vẫn có thể được đem lên bàn thương lượng cho những mục tiêu khác nhau.

Nguồn: https://tuoitre.vn/cac-vung-lanh-tho-duoc-mua-ban-ra-sao-1144957.htm

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần cuối


Con đường tơ lụa nối liền Trung Quốc với Trung Á và phương Tây

Ở Trung Quốc người ta đang nhiều lần kêu gọi, tái lập con đường tơ lụa thời xưa theo kiểu thời đại ngày nay nối liền Trung Quốc với Trung Á và phương Tây. Thoạt đầu nghe ra nó có vẻ lãng mạn, cũng tựa như mô hình một phi thuyền từng gây ấn tượng mạnh đối với mọi người, song dầu sao đi nữa “hào ngôn tráng ngữ” của Trung Quốc vẫn rất có ý nghĩa. Trung Quốc nhìn thấy một con đường tơ lụa mới cùng các tuyến đường sắt, đường bộ hiện đại có thể đưa giàu sang và ảnh hưởng của nó ra xa mãi tới phương Tây, không chỉ qua Trung Á, mà còn đi nữa, đến Iran và Trung Đông. Hầu hết các cuộc tranh cãi về các mối liên hệ cụ thể có hình thù trong tương lai của Trung Á với thế giới bên ngoài cho đến nay đều tập trung vào những liên hệ bắc – nam mà bỏ qua logic của mối liên hệ đông – tây. Mắt xích liên hệ này có thể bao gồm việc thiết lập tuyến đường sắt hiện đại, nối trực tiếp vùng Trung Á với thị trường Trung Quốc rộng lớn và đang phát triển, rồi sau cùng đi đến các cảng biển nước sâu ven biển phía đôngg của Trung Quốc. Một con đường tơ lụa mới với đường sắt, đường bộ hiện đại chắc chắn tạo cho Trung Quốc một tuyến đường lục địa xa mãi tới phương Tây, sau hết đến châu Âu và Iran trên vịnh Persian và sẽ đem lại những kết quả có tính chiến lược rất lớn. Người ta có thể tin rằng nó có thể sánh được với ảnh hưởng từng có của Kênh đào Suez và Panama lúc mới ra đời.

Các mục tiêu của Trung Quốc tại Trung Á được phô diễn vào tháng 4/1994 khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng thăm chính thức Turmenistan, Uzbekistan, Kazakhstan và Kyrgyzstan. Việc đón tiếp Lý Bằng tại 4 nước Cộng hòa, theo diễn tả của một nhà quan sát độc lập diễn ra “cực kỳ thân mật”. Tổng thống Uzbekistan Islam  Karimov hoan nghênh Lý đúng nghi thức, nói “ghi nhận Trung Quốc là một nước lớn và đóng góp tiềm năng lớn cho ổn định của Trung Á”. Thủ tướng Lý gợi lên con đường tơ lụa, đạt thỏa thuận với Tổng thống Turmenistan, Sarparmurad Niyarov, về nghiên cứu “khả thi” đối với tuyến đường sắt mới chạy qua Trung Á và một đường ống dẫn dầu, sẽ đưa dầu từ khu vực này đến Trung Quốc. Lý gọi đường ống dẫn dầu ước tính 20 tỷ USD này là “Công trình thế kỷ”.

Tham vọng của Trung Quốc đối với Trung Á – nhất là một đường ống dẫn dầu như thế sẽ có ý nghĩa chiến lược lớn – không tránh khỏi sẽ mâu thuẫn với quan điểm về sở hữu của Nga đối với các nước Cộng hòa Trung Á một thời thuộc Liên Xô. Mâu thuẫn sẽ đẩy một Trung Quốc sôi động về kinh tế chống một nước Nga đang suy thoái nhưng vẫn còn có một đòn bẩy quân sự quan trọng tại Trung Á. Rõ ràng trước mắt Nga vẫn còn thế mạnh nhưng vì kinh tế ốm yếu, nên vị trí của nó tại khu vực này không được vững chắc về lâu dài.

Lúc này Nga đang bảo vệ chặt chẽ những đặc quyền về chính trị và quân sự của mình tại khu vực Trung Á. Thí dụ, đài phát thanh Almaty cuối năm 1992 đưa tin “người ta chờ đón một Hiệp ước về hợp tác và viện trợ quân sự giữa Kazakhstan và Trung Quốc sẽ được ký trong tương lai gần”. Nhưng rồi người ta không còn nghe thấy nói gì hơn về một hiệp ước như thế. Lời giải thích là, Nga hiển nhiên đòi quyền phê chuẩn bất kỳ quan hệ quân sự nào giữa Trung Quốc với các nước Cộng hòa Trung Á. Thí dụ, khi Trung Quốc thảo luận với các nước Cộng hòa Trung Á về việc xác định đường biên giới, giảm số quân và các biện pháp xây dựng lòng tin, thì Nga khăng khăng đòi được có mặt. Thế là Trung Quốc phải gặp một đoàn đại biểu hỗn hợp bao gồm cả ba nước láng giềng Trung Á lẫn Nga mà thực tế nước Nga là nước dẫn đầu đoàn đại biểu và có thể ngăn cản bất kỳ thỏa thuận nào giữa Trung Quốc với các nước Cộng hòa Trung Á mà họ phản đối. Đó là thông lệ từ 1993 cho tới gần đây nhất vào tháng 3/1994. Chỉ mãi đến tháng 1/1994 Bộ trưởng Quốc phòng Kazakhstan mới thu xếp được việc viếng thăm Trung Quốc.

Theo các phương tiện thông tin tiếng Nga thì, lo lắng của nước Nga về vai trò của Trung Quốc ở Trung Á đang tăng lên. Trong mấy tháng vừa qua đã có nhiều bài viết công kích sự có mặt gia tăng của Trung Quốc, đặc biệt tại Kazakhstan. Hầu hết những công kích đó dường như xuất phát từ phía người Nga chứ không phải từ phía người Kazakh. Các bài viết vẫn mang giọng văn kiểu cũ, một kiểu tuyên truyền về chủng tộc da vàng. Điển hình có một bài, trừ một điều là nó được đăng trên tạp chí tiếng Kazakh, tuyên bố: “Không còn là điều bí mật, những người Trung Quốc đang tràn vào Kazakhstan như trở về nhà tương lai của họ và đang mua… đàn bà Kazakh… Người Trung Quốc… đặc biệt quỷ quyệt, khách sáo giả dối, (và)… đang thận trọng thực hiện các kế hoạch đã được định ra cho hàng bao thế kỷ. Mọi dấu hiệu đều cho thấy là Trung Quốc sẽ rất thận trọng làm sao không hành động quá tay hoặc sử dụng ồn ào đòn bẩy kinh tế nhằm đạt tới những lợi ích chính trị hoặc chiến lược rõ ràng. Thay vào đó, họ dường như sẵn sàng để mặc cho mâu thuẫn giữa sức mạnh kinh tế của Trung Quốc với yếu kém về kinh tế của Nga diễn tiến theo trình tự của nó. Thí dụ, đề nghị của Trung Quốc về xây dựng đường ống dẫn dầu để đưa dầu từ Trung Á vào Trung Quốc hầu như chắc chắn sẽ bị cản lại bởi một nước Nga lo ngại Trung Quốc và từ lâu vẫn coi dự trữ dầu lửa Trung Á là sở hữu của mình. Nhưng nếu Nga cản trở việc này cũng như các dự án khác về “con đường tơ lụa” thì sẽ làm cho các nhà lãnh đạo Trung Á xa lánh hơn nữa, vì đương nhiên họ ủng hộ bất kỳ dự án nào có thể thúc đẩy kinh tế trong nước của họ tăng trưởng. Bởi vậy cho dù các dự án được đề xuất có được thực hiện hay không thì Trung Quốc vẫn cứ cải thiện được vị trí của họ ở Trung Á và Liên Xô dường như sẽ thua.

Kết luận

Tháng 9/1993 có cuộc họp của những người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Chính quyền thuộc năm đơn vị cấp tỉnh vùng Tây Bắc trung Quốc, được tổ chức ở Urumchi. Tin tức cho biết các nhà lãnh đạo được thúc giục bởi hàng loạt cơ hội tại tiền duyên Tây Bắc Trung Quốc: phát triển thương mại và giao thông quốc tế, ký kết các hợp đồng dự án và lao động tại các nước láng giềng và lập doanh nghiệp cũng như phát triển các phương tiện du lịch ở nước ngoài. Có báo cáo nói rằng, “các nhà lãnh đạo nhất trí rằng khu Tây Bắc cần phát huy hết lợi thế vị trí địa lý của nó, thực hiện mở cửa đối với các nước, các khu vực phía Tây cảu miền Tây Bắc Trung Quốc, liên kết xây dựng một hành lang quốc tế vĩ đại tại miền Tây Bắc và liên kết tiến về phía Tây”. Đó là tư thế lạc quan, có khát vọng và hướng ngoại đồng thời cũng tiêu biểu cho những biện pháp tiếp cận của một Trung Quốc ngày thêm hung mạnh đối với các nước láng giềng, không riêng ở Trung Á, mà gồm cả Nam và Đông Nam Á.

Kết quả cho thấy Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng ảnh hưởng của nó đối với cả ba khu vực láng giềng. Và điều đặc biệt đáng ghi nhận là những bước tiến của Trung Quốc ở cả ba khu vực đều mang tính hòa bình, kinh tế, không cưỡng chế. Thực vậy, các nước láng giềng nhiệt thành với thành quả mà Trung Quốc thu được trong phát triển kinh tế nhiều khi còn tỏ ra hăng hái hơn so với bản thân Trung Quốc trong việc xúc tiến xu thế này. Vào thời điểm hiện thời, các phần tử quân sự của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc trong các khu vực nói trên chỉ là thấp thoáng, không lộ mặt. Trước hết, Trung Quốc đang tăng cường quan hệ với các nước như Myanmar và Thái Lan thông qua việc bán cho họ trang thiết bị quân sự với điều kiện rất thuận tiện. Hai là, Trung Quốc tiếp tục công cuộc phát triển nhanh chóng về quân sự, nhằm giúp vào việc ngăn cản các nước khác thự chiện phản ứng  bằng quân sự đối với sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc.

Điều chúng ta có thể được chứng kiến là những giai đoạn đầu của bước chuyển phần lớn lục địa châu Á về với một trạng thái “tự nhiên” hơn đã từng thịnh hành qua các thế kỷ trước. Vào lúc cực thịnh, các triều đại thống trị Trung Quốc trị vì một hệ thống các quốc gia chư hầu. Dưới chế độ đó, các nước láng giềng cơ bản là độc lập và không có quân lính Trung Quốc chiếm đóng vẫn phải dâng “cống vật” lên Bắc Kinh để thừa nhận bá quyền của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09