Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần cuối


Gà trống báo hiệu ánh sáng bình minh sắp đến, tượng trưng cho việc con người đang đi từ biết đến nhận biết.

Đồng hồ cát cho phép con người được suy nghĩ về thời gian.

Bánh mì là cách con người tự nhận biết từ sống đến chín.

Lửa và nước là yếu tố thiên nhiên sinh động trong vũ trụ, biểu trưng của Tam Điểm, vì lửa thiêu hủy tất cả những điều ác và nước hòa tan tất cả theo thời gian.

Khi trời đất giao hòa, cây sống tươi tốt và đơm hoa kết quả. Cây keo (Acacia) tượng trưng cho sự bất diệt. Theo truyền thuyết, xác Hiram bị chôn dưới gốc cây này. Cây keo là một loại cây có sức sống rất mãnh liệt và tái sinh nhanh ở châu Âu, to như cổ thụ, dù bị chặt sát gốc, cây không chết, hàng loạt chồi từ các rễ phụ mọc lên vô vàn cây con một cách nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ. Thân cây có gai cứng nhọn, việc phá chặt cây không đơn giản, cây có sức chịu đựng mùa đông lạnh giá ở châu Âu. Hoa rất thơm, hương tỏa lan khắp nơi. Acacia tượng trưng cho sự bất diệt của Đại công trình sư Hiram. Thành viên Tam Điểm luôn luôn là những người khát khao đi tìm lại xác của Hiram, tức là đi tìm chân lý và công lý trong cuộc đời. Tờ báo riêng của hội Tam Điểm cũng lấy tên Acacia (Cây keo).

Cây ôliu, theo truyền thống Hy Lạp – La Mã xưa phần thưởng cao quý cho quá trình nỗ lực phấn đấu. Dầu ôliu dùng để thắp và tạo ra ánh sáng. Đối với dân cư đạo Hồi, ôliu mang lại điềm lành, sự giàu có cho con người, là món hàng kinh tế chiến lược của họ. Lá xanh quanh năm tượng trưng sự vĩnh hằng của ánh sáng. Ôliu, lá thơm, lâu héo.

Nguyệt quế cũng là loại cây lá thơm như ôliu.

Ôliu và nguyệt quế, cũng như cây keo, có sức sống mãnh liệt, chịu được thời tiết khắc nghiệt. Mùa đông băng giá, lá nguyệt quết vẫn xanh. Trong các tượng Hy Lạp, La Mã, nhiều bức tượng thần đeo vòng nguyệt quế ở trên đầu, một phần thưởng cao quý dành cho những người chiến thắng trên mọi lĩnh vực.

Hoa hồng tượng trưng cho sự hồi sinh, hiền minh và cái đẹp. Theo truyền thuyết Hy Lạp, loại hoa này trước tiên màu trắng nhưng nữ thần tình yêu Venus trong khi chạy đến cầu cứu Adonis giúp thoát khỏi sự ghen tuông trả thù của thần chiến tranh Mars, chân giẫm phải gai chảy máu, máu của thần tình yêu thấm vào cánh hoa trắng và khiến nó biến thành màu hồng.

Con lừa Apulée ăn hoa hồng này trở lại thành người, nên hoa còn mang nghĩa hồi sinh, tình yêu làm sống lại con người và biến đổi con người từ thú vật thành người. Hoa hồng như ảo thuật, như sự hiền minh, sức mạnh; sắc đẹp làm thay đổi thế giới.

Tổ ong là công trình của thiên nhiên, ong cũng có trật tự tự nhiên nhất định để xây dựng tổ của mình. Ong – những người Thợ cần cù, tượng trưng cho công trình và sự hồi sinh liên tục. Nhiều chi hội Tam Điểm lấy tên tổ ong (Ruche). Ong cũng như những thành viên Tam Điểm cùng nhau xây cất đền thờ, và tổ ong chỉ có một ong chúa, đó là Thầy. Ong có một tổ chức tự nhiên quy củ và tự tạo ra công trình bằng mật hút từ nhụy hoa. Ong chỉ chuyên đi hút sự tinh túy của hoa thơm đem về xây tổ làm ra mật ngọt cho đời. Thành viên Tam Điểm tự ví mình như những con ong đi hút tinh hoa của đời để xây nên trật tự xã hội mới, ngọt ngào như mật ong.

Sàn nhà thờ màu sắc đen trắng đan xen như ngày và đêm, xung quanh lát nhiều màu thể hiện sự đa dạng của cuộc sống con người và họ cũng dựa trên lý thuyết Âm dương của Á Đông để nói về sự tuần hoàn của vũ trụ, sự đối lập đi đến hòa quyện, hài hòa tạo nên vũ trụ. Hai màu trắng đen biểu hiện bóng tối và ánh sáng, đêm và ngày, vật chất và trí tuệ, mà con người sống trong thế giới phải trải qua và nhiều khi còn được giải thích như vòng tròn âm dương của Lão giáo.

Trần nhà trang trí đầy sao. Sao tỏa ánh sáng ra giữa hai dụng cụ chính để giúp con người tài ba xây dựng đền đài vĩ đại. Hình các dụng cụ xây dựng, và ngôi sao ở giữa rất thường gặp trong nhà thờ Tam Điểm. Sao vẽ chi chít trên trần nhà tượng trưng cho nhà thờ không bị che khuất, tạo một cảm giác ở giữa không gian trời đất bao la. Sự hiểu biết chân lý là vô tận, mênh mông như trong vũ trụ. Không phải cứ vào hội Tam Điểm có nghĩa là nắm bắt được hết bí quyết cuộc đời. Tất cả đều vô hạn. Muốn nắm bắt vũ trụ, con người phải tự mình nắm bắt và vươn lên mãi mãi.

Thang vẽ trong những bức tranh trang trí như cấp bậc để con người vươn lên cao tìm sự thật, tìm thấy Thượng đế, tìm thấy chính mình. Cũng như người thợ xây dựng, họ phải leo lên từ bậc thang thấp nhất, tiếp đến lên cao dần mới đạt tới đỉnh. Thang để nhắc cho con người biết mình phải rèn luyện và phấn đấu để tìm được chân lý cuộc sống.

Kiếm để bảo vệ công lý, sự thật, và sự an toàn. Kiếm nhọn là sự tư duy, là sự mài giũa mũi nhọn để xuyên qua được bí mật, huyền bí của ngôn từ, của chữ để ánh sáng trí tuệ từ đấy tràn ra. Kiếm ở đây không phải là vũ khí thuần túy mà là vũ khí ánh sáng. Thời thập tự chinh bên châu Âu, những người lính kỵ mã đeo kiếm để biểu hiện dòng dõi quý tộc. Thành phần hội Tam Điểm ban đầu kết nạp phần đông là tầng lớp quý tộc, kiếm biểu hiện sự cao quý của các thành viên. Lưỡi kiếm ở Tam Điểm mà vị Đại sư đeo uốn lượn như lửa, tượng trưng cho ánh sáng nội lực, lửa, sét và chớp. Khi người mới nhập hội, được Thầy dùng kiếm gõ lên lưng coi như Thầy truyền cho ánh sáng, tức là người Tập sự bắt đầu giác ngộ ánh sáng chân lý. Một số hội Tam Điểm ở Anh và hội dành cho phái nữ không dùng kiếm lưỡi lửa khi làm lễ nhập hội.

Kiếm tượng trưng cho quyền lực thế tục và linh thiêng. Nhà nước và nhà thờ xưa là hai thế lực thường cạnh tranh nhau ở châu Âu. Kiếm biểu trưng cho sự hòa hợp hai quyền lực nhà nước và nhà thờ. Bậc Thầy Tam Điểm bắt buộc phải đeo kiếm, trong các buổi lễ và buổi kết nạp thành viên mới mang ý nghĩa đã được tẩy sạch và sáng tạo. Nhiều thành viên Tam Điểm, trong nhà thường treo thanh kiếm hoặc cái khăn tạp dề để trang trí trên tường.

Tạp dề găng tay bắt buộc dùng khi sinh hoạt hội. Hình thức trang trí, màu sắc tùy từng hội và tùy từng cấp bậc.

Thành viên Tam Điểm coi mình là những người Thợ xây dựng đi xây dựng trật tự xã hội mới, nên đeo tạp dề là thể hiện sự chấp nhận quy luật của một người học nghề thực thụ khi làm việc, chấp nhận làm người học trò của trí tuệ và kiến thức của nhân loại.

Tạp dề màu trắng viền các màu xanh, đỏ, đen, trắng dành cho những cấp bậc khác nhau. Tạp dề có chữ M có nghĩa là Maҫon – tiếng Pháp hay Mason – tiếng Anh (Thợ xây hay Tam Điểm theo tiếng Việt). Khi sinh hoạt hội phải bắt buộc mang tạp dề, còn kiếm thì tùy theo nội quy của mỗi hội.

Chìa khóa mở ra kho báu của nhân loại. Bí mật cuộc đời như kho tàng quý báu, con người phải nắm được chân lý tức là nắm được chiếc chìa khóa để mở được cánh cửa bí mật huyền diệu của sự thật, của ánh sáng. Từ bóng tối, con người tự mày mò ra chiếc chìa khóa để tìm được ánh sáng chân lý.

Sách đem lại kiến thức và sự hiểu biết vô tận. Cuốn sách luôn mở ra, bày trang trọng trên bàn trong nhà thờ, hai bên trang sách có in chữ G – Thượng đế. Chữ G – God để chỉ Thượng đế trong tiếng Anh, G vừa có nghĩa Thượng đế, nhưng cũng có nghĩa Hình học – Géometrie hay Gnose (gốc Hy Lạp là sự hiểu biết). Hội Tam Điểm tự nhận là đứa con mồ côi, cũng có nghĩa không thừa nhận cha, chỉ thừa nhận một đấng sáng tạo duy nhất. Có nhánh không thừa nhận Thượng đế, chỉ thừa nhận đấng sáng tạo ra vũ trụ.

Trong nhà thờ Tam Điểm, cuốn sách thiêng luôn được mở ra, tượng trưng kiến thức luôn mở để đón những người muốn tìm hiểu chân lý qua nhận thức.

Trong nhà thờ Tam Điểm có hai quả cầu tượng trưng cho trời và đất. Mặt trời, mặt trăng đều đem lại ánh sáng. Mặt trời mọc ở phương Đông. Ánh sáng bắt đầu từ Đông. Mặt trời và mặt trăng ngày đêm đem ánh sáng cho nhân loại. Quả địa cầu tượng trưng cho sự liên minh nhân loại trên thế giới.

Trong nhà thờ có hai cột, cột dựng ở phía bắc khắc chữ J (Jakin), tiếng Do Thái cổ có nghĩa là “người sẽ lập nên”, là chỗ dành cho hạng Tập sự; còn cột phía nam (B – Boaz), nghĩa là sức mạnh. Trên cái tạp dề, đọc từ trái sang phải có nghĩa là người sẽ thiết lập nên sức mạnh; mặt trăng chiếu thẳng vào cột B truyền năng lượng, còn mặt trời chiếu trước cột J. Ánh sáng mặt trăng là ánh sáng phản quang từ mặt trời, con người có hiểu biết sẽ sử dụng ánh sáng hiểu biết mà mình đạt được để phát sáng trí tuệ. Trong nhà thờ Tam Điểm ở Anh, ba cột tượng trưng cho sự Hiền minh, Sức mạnh và Hoàn mỹ. Mỗi cuộc họp đều được thắp sáng để nói lên những gặp gỡ thảo luận trao đổi kiến thức sẽ dẫn con người đạt được Hiền minh, Sức mạnh và Hoàn mỹ. Tại trụ sở một số hội Tam Điểm chỉ đặt tượng trưng trên bàn hai cột nhỏ, trên để hai quả cầu tượng trưng cho trái đất và trời. Khi hội họp, cột địa cầu hạ nằm xuống, cột trời dựng lên, cuối buổi dựng ngược lại.

Rất nhiều hình tượng và con số mang tính huyền ảo bí ẩn trong Tam Điểm, tương tự như trong phim Da Vinci code (Mật mã Da Vinci). Con người có nhiệm vụ phải đi tìm được mật mã để đến được kho báu của nhân loại. Trong Tam Điểm, con người cũng phải tự tìm ra mật mã để mở cánh cửa đến được chân lý sự thật và nói nôm na theo Phật giáo là giác ngộ. Hình tượng trong hội Tam Điểm rất phong phú và đa dạng, mang nhiều ý nghĩa nhằm hướng con người tự vận động không ngừng để nắm bắt trí tuệ và tự nhận thức để hoàn thiện bản thân.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần III


3/ Một số biểu tượng của Hội Tam Điểm

Biểu tượng của hội Tam Điểm dựa trên lòng hiếu học. Khát vọng nắm bắt và chinh phục vũ trụ là nguyên nhân chính đã gắn chặt với ham muốn tồn tại, tình yêu chân lý và cuộc sống. Sự ngu dốt cản trở tự do của con người. Sự hiểu biết giúp con người tự giải phóng chính bản thân ra khỏi sự lệ thuộc. Hiểu biết về sự thật thường biến đổi cũng như lịch sử diễn biến không ngừng. Hôm nay sự khám phá đó chỉ là chân lý tạm thời trong một giai đoạn, ngày mai nó trở nên lỗi thời, con người luôn phải tự trau dồi và khám phá không ngừng. Sự tiến triển không ngừng bao trùm cả tôn giáo, chính trị, thậm chí khoa học.

Khoa học cũng có thể nhầm lẫn, mọi quan niệm tôn giáo, triết lý và chính trị cũng có thể nhầm hoặc thiếu sót, cần được bổ sung và liên tục hoàn chỉnh, phù hợp với từng giai đoạn của cuộc sống. Chính vì thế nên có sự khác biệt, bất đồng về những quan niệm triết lý khác nhau, nhưng các thành viên hội Tam Điểm đều có ý thức tích cực là không thù hận giữa các chi hội, và luôn tìm cách giải quyết mâu thuẫn giúp nhau khi gặp khó khăn. Mỗi thành viên Tam Điểm đều dùng một số biểu tượng chung, cùng với quy định mật khi hoạn nạn, cách bắt tay để nhận biết, ở mọi nơi trên thế giới.

Như huyền thoại, thành viên Tam Điểm là những người thợ xây ngôi đền của vũ trụ, các dụng cụ thợ xây được coi là biểu tượng sức mạnh của họ. Những dụng cụ rất đơn giản, nhưng với trí óc tuyệt vời con người đã làm nên những công trình vĩ đại của thế kỷ. Êke (thước góc vuông), thước thợ, quả dọi, dao bay, compa, búa là những dụng cụ cần thiết tối thiểu của những người thợ để tạo nên những đền đài, nhà thờ hoành tráng khắp nơi trên thế giới. Các dụng cụ được vẽ trong logo biểu tượng là các dụng cụ đơn giản nhưng nói lên những phẩm chất làm nên tất cả sự thật. Tuy nhiên, tùy theo quan niệm của từng chi nhánh và cách vẽ sáng tạo của người họa sĩ, kiến trúc và kiểu trang trí ở các nhà thờ Tam Điểm hơi khác nhau. Hình tam giác, con mắt, chiếc compa, thước thợ, dây dọi là những hình không thể thiếu được trong bất kỳ hội Tam Điểm nào trên khắp thế giới.

Compa tượng trưng cho dương, cho sự đoàn kết, sự kết nối vòng tròn.

Con mắt giữa mặt trăng và mặt trời như cán cân để cân bằng sáng tối, để hài hòa thế giới, mắt tượng trưng cho sự hiện diện thấy được khắp nơi.

Thước vuông êke tượng trưng cho yếu tố âm, biểu tượng của công lý và sự chính xác. Âm dương hòa hợp mang ý nghĩa khi con người biết đoàn kết và theo công lý thì sẽ tìm được chân lý, tức là xây dựng được một trật tự mới. Âm dương kết nối xung quanh Đấng sáng tạo thế giới (G).

Con mắt trong Tam Điểm được giải thích theo con mắt trong thần thoại Hy Lạp. Con mắt của Horus bị Seth lấy mất trong trận chiến trả thù cho cha. Seth cắt con mắt này thành từng miếng thả xuống sông. Thần Zeus vớt lên trả lại con mắt cho Horus, nhưng lại thiếu một mảnh chỉ bằng 1/64 con mắt.

Thần Zeus đã tái tạo tài tình, phù phép nốt ột hần nhỏ bé đó để cho con mắt của Horus hoàn chỉnh hay còn gọi là oudjat (có nghĩa là đầy đủ, hoàn chỉnh). Con mắt Horus tượng trưng cho ánh sáng, sự hiểu biết, sự thấu thị và tìm ra hạnh phúc. Để mãi tưởng niệm cuộc chiến vì nghĩa chống lại điều ác, con người lấy con mắt để biểu tượng cho sự hoàn hảo, nhìn thấu được mọi điều trên thế gian, giúp những người làm điều thiện chống điều ác. Hội Tam Điểm còn dùng những con số bí ẩn để nói lên sự hoàn thiện cuối cùng như mảnh thứ 64, và sự đền đáp của đấng thiêng liêng khi con người có khát vọng thực sự và quyết tâm đạt được ý muốn hoàn thiện của chính mình. Sự tìm tòi những bí ẩn của cuộc đời là hành trình của mỗi cá nhân. Những sự ngẫu nhiên và những con số kỳ diệu đã tạo nên những bí ẩn của cuộc đời. Cuộc đời cũng chẳng có gì là bí ẩn, nếu con người có khát vọng tìm hiểu và đi tìm chân lý, họ sẽ tìm được mảnh thứ 64.

Hình tam giác tượng trưng cho sự hoàn hảo. Theo huyền thoại Tam Điểm, hình tam giác là nơi cất giữ bí quyết của Moses truyền cho con người mà Hiram ném xuống giếng trước khi mất. Theo đạo Công giáo thì hình tam giác là ba dấu thánh nhân danh Cha-Con-Thánh thần. Cả ba đều đóng vai trò chủ thể như nhau trong việc tạo dựng thế giới. Nhiều nhà thờ có con mắt của Chúa, hoặc hình ảnh của Chúa bên trong hình tam giác. Trong đạo Ki-tô cũng có hình tam giác, mắt và Chúa. Trong khi theo Tam Điểm thì hình tam giác mang nhiều ẩn ý khác. Trong biểu tượng Tam Điểm, chỉ có con mắt ở giữa, không có hình đầu Chúa bên trong như bên Ki-tô giáo. Trong biểu tượng Tam Điểm, tam giác còn có nghĩa là ba cấp bậc (Tập sự – Thợ – Thầy), và ba tiêu chí “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”. Tất cả mọi cấp bậc đều bình đẳng dù ở góc độ nào. Con người quyết tâm vươn lên sẽ đứng được ngang tầm. Tập sự giỏi sẽ vươn lên ngang với Thợ và tiếp tục cố gắng sẽ thành Thầy.

Ngược lại, Thầy luôn tiếp tục trau dồi kiến thức như Tập sự để vươn lên thành Thợ và thành Thầy ở mức độ cao hơn. Thầy cũng là Tập sự của nhận thức không ngừng tiến triển. Kiến thức tạo cho con người bình đẳng và vươn lên đỉnh cao. Hai hình tam giác ghép lại mang ý nghĩa khác.

Hình tam giác có đỉnh hướng lên trên tượng trưng cho lửa – dương, ngược lại hình có đỉnh chúc xuống dưới tượng trưng cho nước – âm. Hai hình tam giác úp đáy vào nhau tạo thành một hình thoi tượng trưng cho hòa hợp âm dương. Hai hình đan xen vào nhau thành ngôi sao David trong ấn của Solomon.

Con số 3 luôn được sử dụng như một mật hiệu. Trước khi vào thỉnh Thầy, thành viên Tam Điểm phải gõ cửa ba lần xin phép, Thầy gõ đáp lại là được phép. Ba ngọn nến thắp trong các nhà thờ vào lúc hành lễ và hội họp tượng trưng cho Mặt trời, Mặt trăng và Thầy. Trời trị vị ban ngày, Trăng trị vì ban đêm, Thầy điều khiển toàn bộ hội. Trong một số nhà thờ hội Tam Điểm có dựng ba cột tượng trưng cho sự hiền minh – sức mạnh – hoàn mỹ. Nhờ hiền minh mới tạo ra sức mạnh. Khi con người có sức mạnh, có tiềm lực mới đạt được cái đẹp, cái hoàn thiện. Ba ngạch trong Tam Điểm: Tập sự – Thợ – Thầy, ba luồng ánh sáng vĩ đại là cuốn Luật thiêng, compa, và thước thợ. Trong mỗi luồng ánh sáng có Thầy và hai người trực bên là thư ký và diễn giả. Ba luồng ánh sáng là Mặt trời, Mặt trăng và ánh sáng của Thầy. Thầy cũng như ánh sáng Mặt trời, Mặt trăng, là nguồn kiến thức truyền lại. Tôn sư, trọng đạo chính là nguyên tắc đạo đức căn bản trong Tam Điểm. Ánh sáng ở đây bao hàm nhiều ý nghĩa cũng như tam giác ba cạnh. Cuốn Luật thiêng chính là thánh thư của hội Tam Điểm. Đọc sách tức là con người tự kiểm nghiệm và đón nhận thông điệp. Mỗi cuốn sách mang một thông điệp nội tại và người đọc tự khám phá ra thông điệp. Thông điệp trong sách chính là ánh sáng nuôi từ những ánh sáng khác, tức là mọi tri thức đều bắt nguồn từ những tri thức khác, khám phá tri thức là không ngừng để tìm ra ánh sáng. Con số 3 thiêng liêng, khi viết thư cho nhau thành viên Tam Điểm thường ký hiệu ba chấm như ba góc hình tam giác. Ngoài ra cũng có nhiều con số khác nhau mang tính chất huyền bí. Số 5, năm yếu tố của thiên nhiên làm nên vũ trụ tượng trưng cho sự hòa hợp giữa Trời và Đất, giống như trong triết lý phương Đông.

Kim tự tháp do những hình tam giác ghép tạo thành. Kim tự tháp nói lên khát vọng vươn lên đỉnh cao của con người, thể hiện sức mạnh tài giỏi của Thợ xây (tức là của hội Tam Điểm) và là đỉnh cao ánh sáng. Kim tự tháp Ai Cập là những công trình kiến trúc nổi tiếng với nghệ thuật thiết kế ánh sáng tài tình. Chỉ có một tia sáng xuyên qua một khe hở chiếu thẳng vào mộ khi mặt trời lên. Hội Tam Điểm thường dùng kim tự tháp để làm logo, để nói lên sức mạnh vĩ đại huyền bí của Thượng đế và con người. Không phải vô tình mà trong tờ giấy bạc một dollar của Hoa Kỳ có in hình kim tự tháp chưa xây xong, còn thiếu cái chóp, trên có hình con mắt. Phía dưới con mắt có khẩu hiệu “Novus Ord Sectorum” (Trật tự mới toàn cầu) gần giống như biểu tượng của Illuminati trong hội Tam Điểm. Trong quốc ấn Hoa Kỳ cũng có hình kim tự tháp mất đầu và con mắt soi sáng ở trên, nhìn thấu vạn vật. Con người khi đạt tới đỉnh cao như nắm bắt được ánh sáng. Ánh sáng của trí tuệ, của ý thức, con mắt như mở ra tìm được con đường mới. Đồng một dollar là đồng tiền giấy có giá trị nhỏ nhất, từ cái nhỏ nhất con người có thể đến cái lớn hơn như 1/64 mảnh mắt thiếu tìm được.

Một số con vật cũng mang ý nghĩa tượng trưng trong Tam Điểm, như rắn là tượng trưng cho sự thông minh, sắc sảo, sự bất tử vì lột xác để lớn lên. Con người muốn lớn lên phải biết tự lột xác mình, qua nhận thức học hỏi. Kiến thức sẽ giúp con người lớn lên. Nhưng con người phải tự biết can đảm lột xác thông minh như con rắn.

Bình thường rắn không tấn công đối phương trước, chỉ dùng vũ khí nọc độc tự vệ trong trường hợp gặp nguy hiểm, khi bị động đến, nó sẽ phản ứng, chỉ cần cắn nhẹ cũng đủ gây tổn thương và thiệt mạng cho đối thủ. Nhờ sự thông minh và khôn khéo, rắn trở thành con vật tượng trưng cho Tam Điểm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần II


Khi vua David chiếm được Jérusalem, ông tuyên bố nơi đây là thủ phủ, và thành phố này được đặt tên là thành David. Để tạ ơn thần đã giúp ông ngự trị bình an, ông cho xây đền thờ. Ông đã mất trước khi thực hiện được mong muốn này. Solomon kế ngôi cha, ông bắt đầu thực hiện công trình vĩ đại theo ước nguyện của cha. Đền thờ này được coi như nhà thờ đầu tiên của người Do Thái ở Jérusalem, nằm trên quả đồi Moria, nơi mà theo truyền thuyết, Abraham đã đem con trai Isaac đến để cúng cho Yahvé – thần đã sinh ra con người nhưng cũng đã tức giận trừng phạt con người bằng trận đại hồng thủy. Đại hồng thủy hung dữ đã giết chết hết con người cùng sinh vật, chỉ có chiếc thuyền gỗ duy nhất của Noé sống sót. Để tránh cơn giận của Yahvé, hàng năm con người tổ chức lễ tế thần để cầu mong sự phù trợ của thần. Solomon ra lệnh xây đền thờ làm nơi tế thần và cầu mưa. Đền thờ có chỗ được mạ vàng.

Đền thờ vĩ đại xây ở Jérusalem được hoàn thành khoảng năm 960 TCN. Công trình vững được gần bốn thế kỷ, sau bị vua Nebuchadnezzar phá vào năm 586 TCN. Gần hai mươi năm sau đó, vua Cyrus chiếm được thành Babylone, thả người Do Thái trước đó bị bắt làm nô lệ. Họ trở về Jérusalem và xây lại đền thờ dưới sự chỉ đạo của Zerubbabal. Công trình hoàn tất vào năm 515 TCN, sau đó bị quân La Mã chiếm và phá hủy. Bây giờ chỉ còn bức tường kiên cố, bên trong đã xây lại hai nhà thờ Hồi giáo trên nền đền thờ cũ. Tuy nhiên, Jérusalem vẫn được coi như là thánh địa, hàng nghìn con chiên hành hương mỗi năm tràn về đất tổ.

Truyền thuyết về hội Tam Điểm tuy cũng dựa trên truyền thuyết về lịch sử xây đền này nhưng nhấn mạnh vai trò và tài năng của những người thợ xây, đặc biệt là Hiram, được oci như đại kiến trúc sư, một vĩ nhân mở đầu cho sự ra đời của Tam Điểm. Do đó, câu chuyện xây cất đền thờ này gắn chặt với công lao của vua Solomon và đại kiến trúc sư Hiram. Theo truyền thuyết Tam Điểm, vua Solomon vâng lệnh Thượng đế cho cất đền thờ Jérusalem trên đồi Moria. Hiram do vua Hiram Đệ nhất, vương quốc Tyr, gửi đến để xây đền thờ vĩ đại ở Jérusalem theo lời mời của vua Solomon. Hiram vừa là kiến trúc đại tài, vừa được coi là chuyên gia đúc đồng nổi tiếng được vua Solomon giao cho trang trí “ngôi đền vĩnh cửu” này. Bằng tài năng, trí thông minh và sự hiểu biết, ông đã dựng được hai cột hoành tráng có tên Jachin (cột bên phải) và Boaz (cột bên trái), ngay tiền sảnh nhà thờ. Ông còn cho đúc cái bể rộng, trên có mười hai con bò bằng đồng, nhiều cái chảo lớn và cốc vại. Trong Thánh thư, ông được coi là người nắm mọi bí quyết mỹ thuật và công nghệ. Công trình hoàn thành sau bảy năm, do 217.451 thợ xây dựng. Việc điều khiển được số lượng thợ như vậy trong thời đại không có máy móc và vi tính như ngày nay ngoài mấy dụng cụ đơn sơ như thước thợ, bay, compa, nên đòi hỏi một số lượng nhân công rất lớn và đầu óc thiên tài của người chỉ đạo công trình. Để hoàn thành công việc vĩ đại và khó khăn này, nhà vua chỉ định kiến trúc sư Hiram chỉ huy đội quân gồm ba mươi nghìn thợ luyện kim giỏi, tám mưi nghìn thợ hồ, bảy mươi nghìn phu khuân vác. Kiến trúc sư xuất sắc này đã chia đội quân thành ba cấp theo khả năng của họ để cấp lương nuôi đội quân vĩ đại. Bậc đầu tiên là Tập sự có mật hiệu Jakin, sau đến Thợ chính có mật hiệu là Boaz, bậc cao nhất là Thầy có mật hiệu là Jéhovah. Mọi người nghiêm túc làm việc và nhận biết nhau qua tín hiệu quy định. Hiram nắm được bí quyết xây đền do Moses trao cho. Khi công việc đang tiến hành trôi chảy, ba người thợ chính do ganh tị và muốn thay thế Hiram, âm mưu bắt và dọa giết Hiram nếu không cho họ lên bậc Thầy và truyền bí quyết xây đền. Một đêm khuya vắng, Hiram đi tuần trong đền, ông bị phục kích và giết chết. Chúng đem xác ông chôn dưới gốc cây keo (Acacia). Rất may mắn, trước khi chết Hiram đã kịp ném cái dây chuyền có chiếc tam giác vàng vẫn đeo ở cổ ông xuống giếng sâu. Chiếc tam giác ấy chính là nơi giấu tất cả những bí quyết mà nhà tiên tri Moses đã truyền cho dân Do Thái mà người đại công trình sư Hiram nắm giữ được. Nữ hoàng Saba, người yêu của Hiram, lúc đó đang mang thai không được tin tức gì của Hiram đã đến tận nơi tìm ông.

Vua Solomon ra lệnh cho các Thầy xây dựng đi tìm Hiram. Chín người Thầy đã tìm thấy xác của Hiram chôn dưới cây keo. Ba tên phản tặc bị chặt đầu. Chín người thầy được vua chỉ định thay Hiram làm tiếp công trình vĩ đại. Những người này chính là tiền thân của hội Tam Điểm. Họ thường bí mật họp nhau lại để trao đổi kinh nghiệm và để hoàn thành công trình dở dang của Hiram. Thành viên Tam Điểm tự nhận họ là những đứa con của Hiram – người xây cất “Ngôi đền của Vũ trụ” và cũng tự coi mình là “những đứa con côi của bà mẹ góa, tức là nữ hoàng Saba”.

2/ Xuất xứ của Hội Tam Điểm

Hội ban đầu xuất phát từ những nghiệp đoàn thợ xây dựng, những buổi sinh hoạt ban đầu là bàn làm việc phân công những người đứng đầu phụ trách từng nhóm. Thời đó để xây dựng một công trình vĩ đại như đền thờ và cung điện đòi hỏi một lực lượng lao động chân tay rất đông, và nhiều người chỉ huy phân đội rất giỏi để phối hợp, dưới sự chỉ huy của một công trình sư chính. Nhóm chỉ huy này thường tụ lại với nhau, được nhà vua và giáo hoàng ưu đãi để công trình sớm được hoàn tất. Họ được tự do và không bị ràng buộc bởi những quy định của nhà thờ hay luật lệ của nhà vua đối với dân thường. Do đi xây dựng nhiều công trình khác nhau nên họ được gọi là những người Thợ xây tự do, theo tiếng Pháp là Franc-maҫon và tiếng Anh là Free mason. Tuy nhiên, những người Thợ xây tự do phải tuân thủ rất nghiêm ngặt những quy định của Thầy tức là Thợ cả và chịu sự chỉ đạo chặt chẽ của người Thầy chỉ huy mà vua giao cho toàn quyền. Hội Tam Điểm ra đời. Họ là những người rất từ tâm, hay che giấu giúp đỡ những người hoạn nạn chạy trốn các cuộc thanh trừng tôn giáo như người Do Thái, tín đồ Tin Lành, những người bị coi là tà giáo.

Thành phần của hội đều là những người xuất sắc và quyền quý, những người ưu tú được chọn lọc trong xã hội. Do đó chữ “Thợ nề tự do” có ý nghĩa tượng trưng khác. Hội nhiều phen bị triệt phá, do hiềm khích, tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng, nên danh sách thành viên thường không bao giờ công khai để bảo vệ sự an toàn của họ trong khi tham gia sinh hoạt ở các nơi khác. Nguyên tắc của hội nhằm bảo vệ sự bí mật và tính huyền bí cho nên các thành viên của hội không công khai nhận mình là thành viên Tam Điểm, họ chỉ được phát tín hiệu nhận nhau qua cách bắt tay, hoặc mật khẩu riêng dùng khi gặp hoạn nạn.

Hội Tam Điểm còn gọi là Illuminati, tiếng Latin có nghĩa là những người được thần linh khai sáng, còn có nghĩa là ánh sáng lan tỏa. Vì thế các chi nhánh của hội thường mang tên như Ánh Sáng, Phương Đông (nơi mặt trời mọc, bình minh, nơi ánh sáng đầu tiên đến trái đất, cũng mang nghĩa khác là phương hướng), thức tỉnh, báo thức, sao, trăng, đèn pha… Ánh sáng là biểu tượng quan trọng trong Tam Điểm. Con người với những công cụ đơn giản đã tìm ra chân lý tức là tìm ra ánh sáng. Ánh sáng soi đường cho con người đi tiếp được. Từ bóng tối, con người khám phá ánh sáng để vượt qua được mọi thử thách của cuộc đời và đạt được chân lý.

Ba dấu chấm (.﮲.) chính thức dùng từ năm 1775, tượng trưng cho ba câu hỏi thường phải trả lời khi vào hội, cũng có nghĩa là ba nghĩa vụ mà thành viên Tam Điểm không thể quên: tự hướng về chính bản thân mình, về đồng loại, về Thượng đế, nói ngắn gọn là Cá nhân – Đồng loại – Thượng đế. Trong thư tín gởi cho nhau, họ thường viết tắt ba chấm thay thế hình tam giác đều như F.﮲. (Frère – hiền huynh hay hiền đệ), M.﮲. (Maȋtre – Thầy). Việt Nam vốn đơn giản hóa cách gọi cho tiện, tiếng Việt là  ngôn ngữ đơn âm, việc dịch tên “Hội Thợ nền tự do” dễ bị hiểu nhầm là những người trong nghề xây dựng. Thợ xây ở đây có nghĩa là những người muốn xây dựng một trật tự mới trong xã hội. Người Việt Nam thông mih, lấy đặc trưng  nổi bật của hội qua mỗi lần ký văn thư của thành viên để đặt tên.

Chân lý đơn giản nhưng không phải ai cũng nắm bắt được. Chân lý đó chính là tự do, công bằng, huynh đệ bác ái.

Tự do, công bằng, huynh đệ bác ái – khát vọng muôn thủa của con người, trở thành ba nguyên tắc chính của hội Tam Điểm. Ba nguyên tắc chính là đòn bẩy để thu hút tất cả mọi người, mọi nơi, mọi chính kiến khác nhau, đến với nhau trong hội. Hội Tam Điểm có thể chia làm hai thành phần, ban đầu là những người “kiến trúc sư” tài năng, sau này hội kết nạp những thành phần không cùng nghề nghiệp, trong mọi lĩnh vực. Ngày nay, hội Tam Điểm chủ yếu là những thành viên lý thuyết có mặt trong mọi lĩnh vực: văn hóa, kinh tế và chính trị. Hội Tam Điểm trở thành một hội triết lý và bác ái.

Tam Điểm sử dụng lịch khác với lịch dương, thường cộng thêm bốn nghìn năm vì họ quan niệm con người bắt đầu tính từ thiên niên kỷ ánh sáng chân lý. Ngày nay, để tiện việc liên lạc, một số chi hội Tam Điểm không sử dụng lịch này mà tính như lịch dương. Nhiều thành viên truyền thống sang đến Đông Dương vẫn sử dụng cỗ lịch này khi viết báo cáo về trụ sở chính ở Pháp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần I


Theo lịch sử do các thành viên Tam Điểm cung cấp, hội Tam Điểm có từ thời xây cất đền thờ Solomon, thậm chí còn trước nữa, vì trong truyền thuyết và khảo cổ đều có dấu ấn của Tam Điểm. Mặc dù vậy, thực chất, hội Tam Điểm phát sinh từ châu Âu chỉ hơn ba thế kỷ trước. Truyền thuyết La Mã và Hy Lạp là cái nôi của nền văn minh châu Âu. Tất cả đều dựa trên những hiểu biết ghi lại trong truyền thuyết và thần thoại của mỗi dân tộc, rồi cộng với hiện thực, họ huyền thoại hóa thêm lịch sử mới tiếp theo. Hội Tam Điểm mang tính chất huyền bí, nên nhiều chi tiết về nguồn gốc Tam Điểm cũng mang tính huyền thoại. Hội Tam Điểm xuất hiện ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVII. Thời Trung cổ, giáo hội và nhà vua là hai thế lực mạnh nhất. Những người xây dựng đền đài cung điện, nhà thờ, luôn luôn được nhà vua và giáo hội ân sủng vì họ là những người tài giỏi, đóng vai trò kiến tạo nên những công trình kiến trúc hoành tráng. Các kiến trúc sư giỏi thường được vua và giáo hội cho phép hành nghề tự do. Họ thành lập những hội đoàn sinh hoạt riêng, lấy tên “những người tự do nghề nghiệp”. Họ cũng tham gia sinh hoạt của nhà thờ và còn được nhà vua mời tham dự các buổi yến tiệc. Do bí mật nghề nghiệp, ban đầu họ họp hội kín đáo, không công khai và chỉ gồm toàn những người hành nghề xây dựng, sau này được gọi là Tam Điểm thực hành để phân biệt với thành viên Tam Điểm xuất thân từ nghề nghiệp khác. Họ hội họp vì nhiều mục đích, trao đổi kiến thức bí mật và giúp đỡ nhau. Hơn nữa, vì hầu hết họ phải di chuyển sau những công trình lớn, nên việc tụ hội để chia sẻ và tương trợ là nhu cầu tất yếu. Sự tự tập lập hội kín được vua và những người có thế lực cho phép vì lợi ích của triều đình. Những công trình vĩ đại, những lâu đài nguy nga cần những khối óc thiên tài của những người Thợ cả với vai trò tương tự những kiến trúc sư và công trình sư ngày nay. Chính vì vậy, vua chúa đặc âncho họ quyền tự do hội họp.

Trong những buổi giải trí, sinh hoạt dần dần bắt đầu có sự tham gia của tầng lớp tăng lữ, quý tộc, thậm chí cả nhà vua. Nhờ thế lực và sức mạnh tài chính do có sự tham gia của tầng lớp quý tộc, hội phát triển và mở rộng. Những thành phần không phải là những người trực tiếp điều khiển công trình như quý tộc, tăng lữ được gọi là những thành viên Tam Điểm lý thuyết (Franc-maҫon spéculatifs). Với sự có mặt của quý tộc và các thành viên hoàng gia như gia đình Napoléon, hội phát triển nhanh chóng và nắm giữ quyền lực trên mọi lĩnh vực. Nhưng chỉ đến đầu thế kỷ XVIII, các thành viên Tam Điểm khắp nơi mới tụ tập về Anh, lập hội đầu tiên, chính thức đặt tên là Đại đường London (Grande Loge de Londres). Đến năm 1723, các hội thống nhất cho công bố bản Hiến pháp chung cho Tam Điểm với mục tiêu để phục vụ nhân loại, và yêu cầu thành viên Tam Điểm phải là những người tốt, không bị chính quyền kết án, chân thật và tôn trọng tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân. Họ có bổn phận liên kết tất cả các hộ viên trên thế giới, không phân biệt tôn giáo, và tất cả hội viên, vì đều là huynh đệ, sẽ tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau. Để đạt được điều này, mỗi thành viên Tam Điểm luôn phải tự hoàn thiện mình bằng phương pháp “suy tư”, giống như thiền của đạo Phật. Quá trình luôn luôn tiến hóa và không ngừng hoàn thiện. Và giống như đạo Phật chính thống, thành viên Tam Điểm suy tư để hành động, để cải thiện xã hội đang tồn tại mà trong đó mỗi thành viên Tam Điểm như một mắt xích chính kết nối để xây dựng xã hội hoàn thiện. Họ phải luôn tự tìm hiểu, tự khám phá và trau dồi bản thân qua các dụng cụ xây dựng hàng ngày. Những dụng cụ tưởng tầm thường, đơn giản, thậm chí thô sơ như thước thợ bằng gỗ, dây dọi đã làm nên những công trình vĩ đại của nhân loại qua bao thế kỷ.

Hiện nay, hội Tam Điểm ở Anh và Pháp có ảnh hưởng lớn đối với các hội Tam Điểm tại các quốc gia khác trên thế giới. Một số hội ở các quốc gia tồn tại độc lập như Đức, Thụy Sĩ… Số lượng người theo Tam Điểm trên thế giới không đông, nhưng họ lại nằm trong bộ máy chủ chốt của chính quyền ở nhiều nước. Nhiều người nắm chức vụ quan trọng trong mọi lĩnh vực.

Nhiều Tổng thống Mỹ là thành viên của hội như Washington, Thomas Jefferson, Grant, Abraham Lincoln, Franklin Roosevelt, G. Bush (cha) cũng như các Tổng thống Pháp Franҫois Mitterrand và Jacques Chirac…. Nhiều Thủ tướng, Bộ trưởng trên thế giới như Winston Churchill, Allende, La Fayette, Mirabeau, Sieyès, gia đình Napoléon; nhiều nhà văn nổi tiếng như Voltaire, Montesquieu, Fichte, Rudyard, Kipling, Mark Twain, Poushkin, Stendhal…; nhiều tài tử nổi tiếng như Clark Gable, John Wayne; phi hành gia Gordon Cooper; nhiều nhạc sĩ như Mozart, Haydn, Louis Amstrong, Rouget de Lisle cũng là thành viên Tam Điểm. Trong khoa học có Alexander Fleming, Laplace, Lumière – ông tổ ngành điện ảnh thế giới – tham gia hội. Tóm lại, hội thu hút được nhiều thành phần ưu tú trong xã hội. Những người ưu tú lại trở thành hạt nhân thu hút những người tài giỏi khác vây quanh quỹ đạo của họ. Sự lựa chọn kỹ lưỡng thành viên tốt vào hội, cộng thêm tinh thần huynh đệ cao, giải thích việc nhiều thành viên của hội tham gia nắm chính quyền và đóng vai trò cao cấp, quan trọng trong cơ chế kinh tế và xã hội của quốc gia. Nhiều người nhầm lẫn và đồng hóa Tam Điểm với tôn giáo. Tam Điểm không phải là tôn giáo. Các tin đồ tôn giáo chỉ theo tôn giáo của họ. Họ không thể cùng một lúc vừa là tín đồ Phật giáo vừa là Công giáo, đạo Hồi, đạo Tin Lành… Thành viên của Hội Tam Điểm được quyền theo bất kỳ tôn giáo nào. Họ có thể là tín đồ Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo hay tôn giáo khác. Tam Điểm cũng không phải là một đảng phái. Thành viên Tam Điểm có thể sinh hoạt ở bất kỳ tổ chức chính trị nào mà họ thấy phù hợp. Tôn trọng sự nhận thức của mỗi cá nhân, thành viên Tam Điểm có mặt ở khắp các tổ chức chính trị khác nhau và theo tôn giáo khác nhau. Song, vì là một hội kín mang tính chất huyền bí không mở rộng cửa như các đoàn thể khác nên nhiều người nghĩ nhầm hội Tam Điểm là một hình thức tôn giáo hay là một giáo phái. Theo sách vở và tài liệu về lịch sử hội Tam Điểm, hội có từ thuở khai thiên lập địa như các tôn giáo trên thế giới vì biểu tượng Con mắt có mặt trong một số tôn giáo khắp nơi từ Á đến Âu, cũng như Thiên Chúa giáo La Mã, các tôn giáo châu Âu, hay Phật giáo đều có truyền thuyết và sự tích giải thích việc hình thành của đạo. Cây có gốc, nước có nguồn. Thời kỳ đại đa số người không biết chữ, những câu chuyện được vẽ trên tường hoặc kính cửa sổ, trần nhà thờ nhằm truyền lại sự tích và nguồn gốc của đạo. Riêng hội Tam Điểm, vì trong thực tế, chính thức ra đời khoảng thế kỷ XVII và XVIII ở châu Âu, và hội viên là những người xuất sắc, ban đầu, họ không cần vẽ tranh để miêu tả tích các chuyện trong nhà thờ của hội, tuy nhiên mỗi hình vẽ trang trí đều mang ý nghĩa tượng trưng cho huyền thoại về xuất xứ của Tam Điểm.

Giống như hầu hết những câu chuyện về nguồn gốc các tôn giáo ở châu Âu đều dựa theo truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp và La Mã, Tam Điểm cũng dựa vào truyền thuyết, thần thoại xây dựng đền thời Solomon. Tổ sư của hội là kiến trúc sư Hiram Abiff từ thời vua Solomon (Do Thái) khoảng 900 năm trước Công nguyên (TCN).

1/ Huyền thoại Hiram

Huyền thoại Hiram, kiến trúc sư xây đền thờ Solomon, có một số dị biệt, tuy nhiên về nội dung chính thì tương đồng. Tìm hiểu kỹ huyền thoại Hiram sẽ thấy rõ lý do đặt tên của nhiều hội Tam Điểm trên thế giới và mật khẩu giữa những thành viên Tam Điểm khi hoạn nạn.

Theo kinh Cựu ước, Solomon là con của David và Bethsabée, vua Israel từ năm 970 đến năm 931 TCN. Ông nổi tiếng về sự thông thái và công bằng trong các cuộc phán xử. Ông cho xây đền thờ đầu tiên ở Jérusalem. Solomon được cha truyền ngôi khi còn trẻ. Ông luôn cầu nguyện Thượng đế cho mình một trái tim biết lắng nghe. Truyền thuyết về sự phán xử thông thái của ông được ghi lại nhiều trong Thánh thư. Một câu chuyện nổi tiếng kể lại hai người đàn bà sinh con cùng một lúc, chẳng may một đứa bé bị chết, và tranh nhau nhận đứa còn sống là con mình. Vua Solomon cho gọi hai bà đến và trao cho một thanh kiếm rồi ra lệnh chia đứa trẻ làm đôi, mỗi người một phần đem về nuôi. Một bà từ chối, khóc và nói: “Thưa Đức vua anh minh, tôi thà bỏ con còn hơn giết đứa bé như thế”. Vua Solomon biết đó mới là người mẹ đích thực. Mọi người mẹ mang nặng đẻ đau đều được quyền nuôi dưỡng con. Từ đó sinh ra thành ngữ “phán xử của Solomon” nói lên công lý, bình đẳng và sự thông thái của người phán xử. Solomon là hiện thân của sự anh minh và công bằng, là nhà vua trị vì đem lại thịnh vượng và hòa bình cho vương quốc. Ông cũng đượoc mệnh danh là vua xây dựng, vì đương thời ông cho xây cất nhiều đền đài, thành quách. Thánh thư viết nhiều về câu chuyện của ông và bà hoàng Saba.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

20 năm phá hoại CCCP – Phần cuối


Krotov: Thêm nữa, bước đi đầu tiên (cải tổ) đã thực hiện dưới thời Andropov. Tôi được những người rất thân cận với ông ta kể. Đầu tiên, sau Hội nghị tháng 10 1982, ông ta cho gọi Bộ trưởng lãnh đạo kinh tế đến và chỉ đạo: Hãy nghĩ ra bất cứ sự thay đổi nào để cải tổ kinh tế. Cho đến khi đó quyết định đơn giản (cả bây giờ cũng thế) là thiết lập các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Avtobank, nhìn chung là được lập ra trên cơ sở của bộ về công nghiệp ô tô đã có khi đó, bước đi đầu tiên đã được tiến hành. Còn ở Krasnodar là thử nghiệm dạng đầu tiên tựa như ngân hàng trên cơ sở tín dụng phi lợi nhuận của tổ hợp nông nghiệp lớn, để nó hoạt động không còn qua cấu trúc ngân hàng nhà nước, và qua đó nó cũng bỏ qua tất cả hệ thống tài chính. Thử nghiệm như thế đã thực sự diễn ra.

Fursov: Nói cách khác, chóp bu Xô viết đến cuối 60 và càng về sau càng không tin tưởng vào hệ thống Xô viết mà họ lẽ ra phải bảo vệ và phát triển. Về nguyên tắc, họ đã ngầm từ bỏ hệ thống này. Còn nói như Tacitus là đã thua ngay khi cúi nhìn xuống. Trong mối liên hệ, Hội nghị tháng 6 1987 là sự hoàn thành 1 cách logic với cách mà các quan chức đã tham dự Hội nghị tháng 6 năm 1967.

Ở đây có sự ngạc nhiên trên quan điểm đồng điệu, 1 thực tế là dường như thập kỷ 70, chúng ta đạt đến sự đồng đẳng chiến lược, quân sự-chính trị với Mỹ, chúng ta tham gia tích cực (ngân hàng quốc gia Moskva) vào việc lập ra đồng eurodollars, có vẻ như là Lenin đọc ra từ sách thánh cho Sen đầm: “Bức tường đã mục ruỗng, hãy đập đi và nó sẽ sụp đổ”. Tất cả điều này theo nguyên tắc thông thường là nói về Xô viết chống CNTB. Liệu có vận hội nào năm 1967 để có thể lao qua nút thắt và tiến đến chỗ mà Strugatsky gọi là “Đứng bóng” của thế kỷ XXII?

Krotov: Không thực sự có vận hội nào như thế khi đó, hãy chú ý là ngoài Egorychev, không thực sự là tầng lớp trên chóp bu dạng này, để mà có thể bảo vệ.

Fursov: Giới chóp bu – là những kẻ tư lợi?

Krotov: Theo mức độ nào đó – đúng.

Fursov: Vẫn còn 1 điều quan trọng – những kẻ có tầm nhìn hạn hẹp. Như cậu bé gỗ Buratino nói trong “Chiếc chìa khóa vàng” là gần với nghĩa của cậu. Tôi bị thuyết phục hoàn toàn rằng, không cả Brezhnev, không cả Andropov, không cả Kosygin, tất cả bọn họ không muốn hủy hoại CNXH. Chỉ có điều họ tưởng, họ sẽ vẫn ngồi ghế mãi mãi.

Krotov: Tôi nghĩ, Gorbachev ban đầu cũng tưởng thế…

Fursov: Ban đầu – đúng. Nhưng Gorbachev, tôi nghĩ, ông ta chỉ quan tâm đến quyền lực và không có gì hơn.

Krotov: Nếu ông ta định thực hiện nó trong một hệ thống khác…

Fursov: Tôi nhớ ai đó trong hồi ức, trong số các nhà báo lớn của chúng ta thời Xô viết, viết rằng Nikolai Podgorny hởi lòng hởi dạ bởi giá cả phi đại năm 1973-1974. Ông ta nói với Kosygin đó là Domino của Podgorny (bởi ông ta rất thích trò chơi, và cho đó là đẳng cấp trí tuệ của ông ta). Ông ta nói giờ nhìn chung chúng ta chẳng cần cải tổ nào cả. Như nhân vật Emelya trong truyện cổ tích chui vào bếp lò và rõ là những kẻ như thế không thể nào giành phần thắng trong thế giới cạnh tranh này. Tôi không có ý lý tưởng hóa và đánh giá quá cao mức độ trí tuệ và bản lĩnh chính trị của những kẻ như (diều hâu) Kissinger và (giáo chủ áo xám) Brzezinski, nhưng nếu ít nhất phải đặt Kissinger và Brzezinski vào bàn cờ, còn phía kia là những kẻ đứng cùng “Hợp tác xã” Lenin, khi Vysotsky cất lên “như học sinh đánh nhau với đám lêu lổng hư hỏng”. Đám lêu lổng hư hỏng thắng. Nhưng quan trọng nhất, là dù ai thắng, ai muốn cũng đều biến thành kẻ khác, chỉ có điều họ nghĩ, họ thắng và sẽ như lãnh đạo Xô viết chơi trò chơi trong thế công bằng, như họ ngồi quanh 1 cái bàn. Ở đây, không thể nào gọi đó là sự nhầm lẫn 1 cách lạ lùng về thế giới và trong vấn đề này, lãnh đạo Xô viết dù có muộn màng hơn cũng không thể không biết những kẻ dốt nát theo nghĩa La tinh Hy lạp “idiot” chính là kẻ sống như thể thế giới xung quanh chẳng hề tồn tại. Hai nghị quyết 1967 và 1987, 2 biểu tượng vô nghĩa kỳ lạ của giới chóp bu Liên xô đã dìm chết, giết chết cuộc thử nghiệm xã hội tạo ra xã hội XHCN đúng đắn gây chấn động. Vấn đề là họ muốn, có 1 số thứ phải được “đúng đắn” hơn thứ khác trong xã hội này.

Vấn đề là Hội nghị 1987 – như chiến dịch có tính lịch sử mạnh. Nó không chỉ là kinh tế. Hơn nữa, A. Yakovlev trước khi chết thú nhận điều này. Ông ta kể rằng, CHÚNG TÔI CẢI TỔ KHÔNG CHỈ ĐẬP VỠ LIÊN XÔ, CHÚNG TÔI ĐẬP VỠ MÔ HÌNH LỊCH SỬ NGA NGÀN NĂM. Về điều này Yakovlev (Do thái) là kẻ hiểu rõ các kế hoạch nếu được thực hiện sẽ gây ra rắc rối, rắc rối rất nghiêm trọng. Vấn đề còn lại, theo cách cực đoan, là người đứng đầu kế hoạch, tôi nghĩ, người ta sử dụng kẻ đen tối. Dĩ nhiên, ngoài Yakovlev còn có kẻ thứ 2, thứ 3, đã xếp chỗ đầy đủ từ lâu.

Krotov: Shevarnadze, Cũng như Vadim Medvedev…

Fursov: Nhưng đây là những kẻ rất nhỏ mọn.

Krotov: Gvishiani …

Fursov: Gvishiani là kẻ nguy hiểm hơn. Shevarnadze và Vadim Medvedev thậm chí không phải con tốt, đó là đội chó chiến. Như Solonevich kể chế độ Nga Liên xô: là cái xác đã thối rữa. mà khi thối rữa, nó bỏ lại tất cả khoảng trống cho những tên trộm cướp đổ xô đến trong thập kỷ 90.

Krotov: Chú ý là số phận của những kẻ đã tổ chức tất cả điều này, Yakovlev và Gorbachev. Chúng đã bị đẩy đi, khi không còn cần đến nữa.

  1. Fursov, tháng 7 2016

Nguồn: FB Trần Vinh

20 năm phá hoại CCCP – Phần III


Fursov: Án tử hình bị bãi bỏ khoảng giữa Hội nghị đảng XIX vào tháng 6 1987 như 1 kết quả logic với những gì xảy ra vào năm 1967. Tình trạng là như thế này, một trong những yếu đuối của hệ thống Xô viết là phủ nhận CNTB ở mức độ quan hệ sản xuất, tức là chống CNTB, nhưng hệ thống Xô viết ở mức quan hệ sản xuất là hệ thống công nghiệp tương tự như của phương Tây, chỉ có điều yếu hơn. Có khu vực công nghiệp quân sự là mạnh, tất cả còn lại là yếu hơn. Còn chuyển đổi thực sự từ chống tư bản sang hậu tư bản – như ngôn ngữ tư tưởng đảng trình bày là sang CNCS, mô hình có mức độ phát triển lực lượng sản xuất cao hơn, có hệ thống sản xuất khác hơn. Cần cái gì để biến mục tiêu này thành hiện thực? Đó là cần thiết lập nền tảng khác cho hệ thống quản lý và sản xuất. Đầu tiên là quản trị, với ưu tiên là thông tin, cái mà hiện nay được gọi 1 cách tuyệt đối đúng là xã hội thông tin. Đột phá trong lĩnh vực năng lượng cần là loại bỏ phụ thuộc dầu mỏ! Cũng cần có sự bảo đảm không bị giới tư bản tấn công trong thời kỳ này, do đó, nền công nghiệp quân sự hùng mạnh, chất lượng, hiệu quả là cần thiết. Xô viết đã có tất cả những điều này trong nửa đầu thập kỷ 60 hay chưa? Dĩ nhiên đã có.

Cái lõi của hệ thống quản lý mới trên thực tế đã được Viện sĩ Glushkov thiết kế, nó được gọi là ОГАС (Hệ thống tự động hóa chung nhà nước – Обще Государственная Автоматизированная Система) (***)

*** Thực tế là OGAS đã không được Liên xô áp dụng, giới cầm quyền CS không thích điều này bởi nó hạn chế, giám sát quyền lực – quyền lợi của họ. Liên xô tan rã còn OGAS đã được các nước phương Tây như Nhật, Mỹ, Đức, Phần Lan, Thụy điển sao chép thành hệ thống tương tự và sử dụng ở mức độ nào đó. Ví dụ như thu thuế ở các nước tư bản –trốn thuế họ biết ngay lập tức và công lực đến đập cho vỡ mặt (trừ khi có quyền lực mạnh để trốn). Hay có 1 ví dụ rất thời sự: thu phí tự động các trạm BOT, mặc dù đã có quyết định từ chính phủ, nhưng họ cố trì hoãn bởi hàng chục trạm BOT là hàng trăm tỷ doanh thu mỗi ngày rất khó kiểm soát, là chia chác, là cổ phần cổ phèo với đám quan lại CS thối nát đang ngồi mát ở đâu đó. Đừng bảo tôi thù ghét CS, thù bọ CS giả đấy chứ, nói chung thù ghét bọn cặn bã thối nát là bản năng của kẻ làm người!

Krotov: Ở đây vẫn có Anatoly Ivanovich Kitov làm lãnh đạo Trung tâm máy tính BQP…

Fursov: OGAS là cái gì? Đó là 1 kiểu mô hình xã hội thông tin. Nó làm minh bạch tuyệt đối toàn bộ hệ thống. Quản trị trở thành rõ ràng như soi dưới kính lúp: anh không thể gian lận được nữa. Đó là đột phá trong xã hội thông tin.

Krotov: Đó là đột phá thì tương lai. Tôi sợ máy tính không đủ mạnh để thực hiện tất cả những điều này.

Fursov: Vấn đề là ở chỗ, về máy tính thập kỷ 60, chúng ta đã vượt Mỹ ở nhiều phương diện. Sau đó thì có quyết định ở cấp cao nhất đưa ra trong các năm 1968-1973, chúng ta dừng các công trình này lại. Logic là như thế này: Tất cả, cái gì cần thì chúng ta đi ăn cắp, do đó không phí tiền làm gì. Đó là đột phá tương lai, nhưng người ta rất sợ hãi, còn phía khác là người Mỹ. Từ thời Lyndon Johnson thậm chí họ còn lập nhóm để ngăn chặn Glushkov và công bố rút lui nếu Liên xô hiện thực hóa xong chương trình này, nói vậy nhưng đến 1970 nhóm này đã hoạt động hoàn toàn độc lập. Nhưng có phe thứ 2 lại có lợi ích ở chỗ làm sao để Glushkov không thành công, đó là giới quan chức Liên xô. Trước tiên, là giới quản trị kinh tế, những kẻ như Kosygin. Ngoài ra, quan điểm tư tưởng (thịnh hành) của CPSU với hệ thống như OGAS là không ủng hộ vì nó sẽ dẫn đến sự nổi lên của cái mà họ gọi là kỹ trị (technocrat) làm mất đi quyền lực đảng. Nói cách khác là ngoài quản trị và đảng trị, còn có cả kỹ trị, đó là 1 xu thế.

Về lĩnh vực năng lượng, Ivan Stepanovich Filimonenko đã thiết lập ra nền tảng nguyên lý mới về tổng hợp hạt nhân lạnh. Ban đầu, Ủy ban công nghiệp-quân sự CPSU ghi nhận nó như tiến hộ năng lượng và y tế, tuy nhiên sau đó, Filimonenko bị sa thải và tống cổ vào trại tâm thần.

Cuối cùng, thiên tài thiết kế hàng không Vladimir Chelomey, người phát triển động cơ phản lực đầu tiên của Liên xô, tên lửa hành trình chống tàu và ICBM, ví như “Bashmak” của ông hay còn gọi là “Zakat” như nay xuất hiện cả trong game máy tính của Mỹ, chỉ có điều ông bị Khrushchev không ưa (vì gã con hoang Do thái này thích dừng ICBM để đổi lấy hòa hoãn với Mỹ).

Nói cách khác, hiện thực hóa những điều này, 3 dự án lớn sẽ đưa Liên xô đến hậu CNTB. Chỉ có điều tất cả đã bị hủy hoại bởi đám quan lại thoái hóa biến chất. OGAS bị từ bỏ. Nhà vật lý hạt nhân, viện sĩ và cựu chiến binh WW-2 nhiều chiến công Filimonenko bị sa thải, bị thu giữ căn hộ và tống vào trại tâm thần, ông chỉ sống sót được nhờ mảnh vườn ở quê và tận năm 1994 mới được khôi phục danh dự khi đã là 1 lão già tàn tạ. Filimonenko chết 2013, còn các công trình nghiên cứu của ông thì đã mất tích khỏi mọi lưu trữ. Một ứng dụng nho nhỏ từ nghiên cứu của Filimonenko vẫn đang sử dụng: phun nước vào động cơ phản lực làm tăng công suất của nó lên 10-15%. Sau này, cả Kosygin và Brezhnev đều không ủng hộ các dự án nghiên cứu kiểu như vậy, phát triển khoa học-kỹ thuật Liên xô đã dừng lại, hoang vu, xơ xác, tụt hậu xa phương Tây.

Năm 1967, Hội nghị đảng đặt dấu chấm hết cho cơ hội đưa Liên xô từ quốc gia chống CNTB thành hậu TB. Điều này thật ngạc nhiên, khi ngay cả Trotsky cũng đã từng nói trước về sự thoái hóa biến chất của giới quan chức đảng Xô viết (mặc dù ông ta đổ lỗi này cho Stalin), ông ta viết rằng tính giai cấp (vô sản ban đầu) của họ đã biến chất và chỉ còn lại giai cấp vì chính họ. Còn Stalin thì viết rất nhiều, thí dụ, trong luận văn “Theo mức độ tiến gần đến CNXH, đấu tranh giai cấp sẽ gia tăng”. Stalin rất thường nói về đạo đức, tinh thần của cán bộ, thậm chí đặt nó lên hàng đầu và “cán bộ quyết định tất cả”. Nhưng dường như không có ai lắng nghe, hư hỏng đã xảy ra ngay khi Stalin chết, còn đến thời Gorbachev thì nó đã phô trương giữa ban ngày, chẳng còn phải vụng trộm hay giấu diếm.

Giữa 1967 và 1987 là 20 năm. Quãng thời gian này ý chí hệ thống vẫn còn thắng cái chết. Năm 1967, lãnh đạo Liên xô đã chọn từ bỏ con đường đến hậu CNTB (hay CNCS như họ vẫn khoa trương, tuyên truyền tận sau này). Một lẽ tự nhiên quãng thời gian đó đủ dài để người ta nhận ra, chỉ có những kẻ vẫn còn mơ mộng thời “Hợp tác xã Lenin” mới không thấy được đâu là hiện thực, nhưng họ lại hiểu rõ đâu là quyền lợi ích kỷ của họ, quyền lợi đó là động cơ để họ bảo toàn thực tại ảo của họ, họ không cần 1 hệ thống như OGAS của Glushkov nào cả, đơn giản là OGAS sẽ tước bỏ quyền lực độc tôn của họ. Vì nó, họ có thể mất vị trí và biểu tượng giai cấp vô sản giả của mình. Họ đã ngăn chặn Glushkov hay bất cứ sự tiến bộ xã hội-khoa học kỹ thuật nào bằng mọi cách, kể cả tống người ta vào trại tâm thần (còn người Mỹ đã học Glushkov). Không cần phải quá thông minh hay hiểu biết để nhận ra, ngay cả như là Trotsky, chỉ cần không dính dáng quyền lợi.

Cỗ máy Stalin đã tạo ra vẫn chạy sau khi ông chết, nó chạy bằng quán tính, chậm dần. Liên xô đã đạt được nhiều thành tựu ngay cả phương Tây thù địch cũng phải công nhận: chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, chiến thắng phát xít, năng lượng nguyên tử, bay vào vũ trụ, hay phá các kỷ lục thế giới. Nhưng sau tất cả, tình trạng này giống như 1 quả bom đã được hẹn giờ và chắc chắn sẽ nổ tung làm sụp đổ tất cả, còn trong khi nó chưa phát nổ, thế hệ Xô viết mới ra đời, không còn là tiên phong khám phá, phát minh khoa học kỹ thuật, hay đi đầu tiến bộ xã hội – họ chỉ còn là những chủ tiệm nhỏ mọn không tinh thần và ý chí.

Krotov: Tôi từng viết một số hồi ký cho con cháu các nhân vật nổi tiếng. Rõ ràng người ta giáo dục họ theo 1 dạng nào đó, không phải là giáo dục Xô viết gì hết. Đó là giáo dục hoàn toàn đặc biệt.

Fursov: Đó là con cái quan chức Xô viết?

Krotov: Đúng. Còn những gì hoàn toàn truyền thống thì đã biến thành trò hề. Có nghệ sĩ Anastas Mikoyan cháu của Mikoyan được biết nhiều hơn với cái tên Stas Namin, ngay khi Liên xô sụp đổ đã bắt đầu nói về việc đem xác Lenin ra khỏi lăng, anh ta đề nghị kinh doanh cái xác, cho anh ta 3 năm trưng bày ở châu Âu sẽ kiếm được 3 tỷ USD.

Fursov: Về việc này, thì những đứa trẻ thời Stalin cũng có chuyện năm 1941 khi miệt thị “đẳng cấp bẩn”. Chúng kể điều này trong hoàn cảnh nào. Khi 1 phần chính phủ Liên xô sơ tán về thành phố Kuibyshev (giờ là Samara), đã có xung đột bởi vì cha mẹ giới quan chức không muốn con cái họ đến trường học cùng con cái những người lao công ở thành phố Kuibyshev. Stalin biết được, ông lên cơn giận và lệnh cấm được nói “đẳng cấp bẩn”. Nhưng cha mẹ các quan chức vẫn lén lút nói thế rồi cho con cái họ học riêng. Nhưng cần nhắc cậu là năm 1939-1940 đã xuất hiện trường học đặc biệt đầu tiên, quá trình như thế tiếp tục thì không có gì ngạc nhiên khi con cháu quan chức phản bội lại sự nghiệp của cha ông họ.

Năm 1967, hệ thống đã từ chối đột phá đến tương lai… Ngoài ra, cũng là từ chối đột phá được ghi nhận rất chính xác trên tạp chí “Kỹ thuật-Tuổi trẻ”, từ chối cả điều kỳ diệu của chúng ta, nửa sau thập kỷ 60 cũng đã trở thành rất trì trệ. Nói thẳng theo lối lạc quan nửa đầu 60. Điều kỳ diệu của chúng ta đã biến điệu. Nói thật những thứ trước kia gọi là của Strugatsky: “Sự trở lại”, “Đứng bóng”, “Con người thế kỷ XXII” và cả Strugatsky sau này cũng đã hoàn toàn khác. Efremov viết “Tinh vân Andromedy”, còn nửa sau thập kỷ 60 ông viết “Một giờ của bò đực”, thì cuốn sách bắt đầu bị rút bỏ khỏi các thư viện. Theo lẽ tự nhiên, khi từ bỏ hướng đến tương lai thì ý tướng cải tổ XHCN Perestroika làm “hài hòa đồng điệu” với CNTB sẽ đến. Nhưng trước tiên là cải cách Liberman-Kosygin. Chỉ có điều rõ ràng, điều kiện kinh tế Liên xô XHCN không thích hợp với cái giá của TB, nó sớm thất bại để rồi cuối cùng Gorbachev xuất hiện và cải tổ 1 lần nữa cho đến sụp đổ hẳn. Liberman-Kosygin đã làm 2 việc, một là tạo ra tầng lớp lắm tiền là giới chủ tiệm (nhắc đến ở trên), và hai là, phô trương ra 1 điều rất đơn giản rằng, CNXH có thể đi trên đường ray TBCN. Chương trình của Glushkov là thiết lập CNXH ở mức độ cao hơn còn những kẻ ủng hộ cải tổ lại ưa thích CNTB hơn. Rất nhiều trong số đó đã đến phương Tây, Birman chẳng hạn, ông ta nói chúng ta chẳng cần kinh tế có kế hoạch, ở đó phương Tây kế hoạch không hoạt động và kế hoạch thực sự có “50 năm” cũng không kết quả. Từ bỏ kế hoạch hóa (aka từ bỏ kinh tế Stalin) phép màu Xô viết kết thúc. Cần tiến lên trong tương lai – là đề nghị của Glushkov. Cái khác phải chọn là cải tổ thị trường, thứ đem đến cái gì chúng ta đang đề cập bây giờ.

(còn tiếp)

A. Fursov, tháng 7 2016

Nguồn: FB Trần Vinh

20 năm phá hoại CCCP – Phần II


Fursov: Tại sao khi đó ông ta cắp nách cuốn sách Lenin?

Krotov: Để chứng tỏ lòng trung thành của ông ta, mặt khác cũng là để bổ xung thêm giá trị mỗi lời của ông ta. Thời đó người ta rất thường hay dùng trích dẫn Lenin trong mọi trường hợp. Gennady Melikyan kể cho tôi năm 1990, ông ta là Bộ trưởng lao động khi đó và viết luật về cổ phần, còn trong BCT và bộ, họ báo cáo ông ta đã đạt được gì. Luật là ngắn và đơn giản. Khi đó chẳng ai trong chúng ta đưa ra cổ phần như thế. Và bỗng nhiên thư ký Biryukova đến hỏi: Tại sao các vị đưa vào luật của mình cổ phần có đặc quyền? Mikhail Gorbachev luôn luôn tỏ ý chống lại đặc quyền, vậy thì ai cho phép các vị? Giải thích nó, cổ phần đặc quyền là không thể trong thực tế thông thường ở phương Tây.

Fursov: Đó là theo nguyên tắc: cánh cửa là vật đệm vì nó được đặt vào đó.

Krotov: Hãy quay lại Hội nghị. Hội nghị đã làm 1 số thứ, Đầu tiên, sau Hội nghị theo qui định luôn luôn phải thông qua Hội đồng Xô viết tối cao, đó là theo luật về Hoạt động nhà nước phải phê chuẩn quyết định của Hội nghị, sau 1 thời gian, đã có 11 nghị quyết được thông qua, trong đó có 1 số là cực kỳ quan trọng. Đó là Nghị quyết về cải tổ Ủy ban kế hoạch nhà nước. Nhìn chung ý tưởng là nghiêm trọng, nó đề nghị loại bỏ kế hoạch hóa có tính chỉ đạo ra khỏi hệ thống và đưa vào 1 số chỉ tiêu kiểm soát có tính chất chìa khóa, cần thiết để thi hành. Hơn nữa, Nghị quyết này trên thực tế đề nghị bãi bỏ Ủy ban phân phối vật tư-kỹ thuật nhà nước và chuyển sang hệ thống giao dịch hàng hóa. Khi không có Ủy ban phân phối, việc cung ứng khi đó thực tế được chuyển cho Ủy ban kế hoạch nhà nước, đây là bước tiếp theo 1 cách tự nhiên. Vấn đề quan trọng là sự thay đổi trong lĩnh vực cải cách Bộ tài chính.

Trước thời Ryzhkov làm lãnh đạo và Hội nghị tháng 6 thì hệ thống tài chính được xây dựng theo cách để doanh nghiệp bất kỳ nào cũng nằm ngoài sự phụ thuộc vào các chỉ số kinh tế và số thuế qui định phải thu cũng như ngay cả vốn lưu động. Do đó, ngân sách luôn luôn là cố định. Thời Ryzhkov sau Hội nghị, thì hệ thống trở thành phụ thuộc vào các chỉ số kinh tế. Sau đó thì vấn đề làm đầy ngân sách xuất hiện. Sự thay đổi nghiêm trọng đã bị Gvishiani đẩy đến trong mối liên quan với Ủy ban khoa học kỹ thuật. Quyền hành của nó bị phóng đại, rồi thay đổi rất nghiêm trọng xảy ra trong cải tổ hệ thống ngân hàng. Quyết định thành lập 6 ngân hàng đặc biệt được đưa ra: Ngân hàng tiết kiệm (Gostrudsberkassy) bị chuyển cho Sberbank, Vnesheconombank thành lập trên cơ sở của Vneshtorgbank, Promstroibank lập trên cơ sở của Stroybank, Zhilsotsbank và Rosagrobank ra đời. Hệ thống cấu trúc bên trong thay đổi hoàn toàn.

Cho đến trước khi bị thay đổi thì hệ thống ngân hàng như thế nào? Đó là Ngân hàng nhà nước thống nhất với 5500 chi nhánh và hệ thống MFO duy nhất (quan hệ với tài chính quốc tế), hệ thống luân chuyển phân nhánh. Trong hệ thống này có cái tủ lớn toàn liên bang. Chẳng có gì có thể biến mất từ đó. Hàng năm mỗi chi nhánh tiến hành xử lý số liệu thu chi. Hệ thống hoạt động theo cách để nếu như ai đó cần tiền, thì họ có thể cầm tiền từ cái tủ này, và sau đó trả lại. Khi không có ngân hàng đặc biệt, thì họ có tài chính riêng. Ngân hàng đưa ra chế độ hạch toán. Và kết quả là, quanh cái tủ này cộng đồng trở thành một gia đình. Thế rồi bắt đầu có những kẻ chui vào cái tủ này, chúng làm trung gian quan hệ. Còn nếu như kể đến, thì theo luật “Về hợp tác xã”, ngân hàng thương mại đầu tiên đã được lập ra tháng 8 1988, rồi cuối cùng hệ thống ngân hàng đã bị xới tung lên.

Nhưng tất cả 3 luật lớn mà theo quan điểm của tôi, đã hủy diệt hệ thống của chúng ta nhiều hơn cả, là như sau:

1.Luật về doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp đã không còn lập kế hoạch, để định hướng tất cả các chỉ tiêu như trước kia, họ chọn 1 số chỉ tiêu, trong đó có đơn đặt hàng nhà nước. Tự nó là kế hoạch cho tất cả những gì còn lại. Vấn đề quan trọng thứ 2. là hạch toán đầy đủ và tự chủ tài chính hoàn toàn. Vorotnikov đã rất phẫn nộ, nhưng họ chẳng nghe ông ta. Ông là Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng RSFSR, hiểu rõ vị trí thật của nhiều doanh nghiệp, ông hiểu rằng, nếu đem các doanh nghiệp thua lỗ vào hạch toán, thì sẽ dẫn đến hoặc phá sản, hoặc tăng giá dữ dội, vì thể mà đẩy doanh nghiệp này ra tự chủ tài chính. Thứ 3. là tự chủ CNXH. Nó ngụ ý là, bắt đầu từ doanh nghiệp và kết thúc ở tổ đội, họ bắt đầu đưa vào nền dân chủ sản xuất. Đó là lựa chọn của các giám đốc, etc. Ở đó có khả năng các tổ chức cao hơn dừng lại, nhưng sợ dùng điều này. Quan hệ với tổ chức cao hơn là như sau: quan hệ chiều đứng mất đi, quản trị chiều đứng sụp đổ, hỗn loạn bắt đầu. Sau đó, sự cung ứng là theo quan hệ trực tiếp và cả một chuỗi những thứ khác.

Fursov: Nikolay Ivanovich, thế là cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu ra thế giới…

Krotov: Khi đó vẫn chưa. Quan hệ kinh tế với nước ngoài chỉ dành cho các doanh nghiệp rất lớn. Họ có thể xuất khẩu theo sự cho phép, độc quyền (nhà nước) vẫn chưa bị phá bỏ. Lỗ hổng ở dạng doanh nghiệp liên doanh đã được tạo ra.

Fursov: Vào thời điểm nào đó, trong năm 1989 thực sự đã bắt đầu có sự xuất khẩu của doanh nghiệp ra thị trường thế giới, đô la quay về thay cho đồng rub và 1 số lớn rub chẳng mua được cái gì, còn dân chúng mua những thứ có thể tồn trữ lâu dài để tránh mất giá: muối, bột giặt, xà phòng, thâm hụt bắt đầu giết chết thị trường tiêu dùng.

Krotov: Thâm hụt đã bắt đầu năm 1988. Điều này trước tiên liên quan đến luật doanh nghiệp. Điều này đã xảy ra sau khi áp dụng luật này và luật sau đó về hợp tác xã tháng 5 1988. Người ta đã đặt các hợp tác xã vào trong điều kiện rất kỳ lạ. Đó là các doanh nghiệp không phải nhà nước và họ có thể không chú ý đến các chỉ đạo, đến tình hình hạn chế mà doanh nghiệp nhà nước cần phải tuân thủ. Họ không có trách nhiệm báo cáo, hay giữ giá cả. Do đó khi tất cả doanh nghiệp được lập ra, như đã đề cập hiện nay, các doanh nghiệp con, mà bấy giờ là hợp tác xã. Lãnh đạo doanh nghiệp lập ra cả loạt hợp tác xã, qua đó họ bán những đơn hàng quan trọng nhất, tốt nhất. Sau điều này, giá cả tăng vọt cộng thêm 1 điều là các hợp tác xã bắt đầu rút hàng hóa ra khỏi việc trao đổi với nhà nước, họ chế biến và làm hàng riêng, sau đó, thâm hụt nổi tiếng xuất hiện giữa năm 1988. Còn nếu chúng ta xét đến cuộc đấu tranh vì sự lành mạnh vẫn tiếp tục và sự sụt giảm giá dầu, nó gần như đã hoàn thành cấu trúc.

Vẫn còn 1 vấn đề quan trọng cần chú ý là luật về cho thuê được thông qua. Nó trông như vô hại. Cho đến lúc đó chúng ta có doanh nghiệp cho thuê, một loạt doanh nghiệp cho thuê cho đến 1987. Đặc điểm phá hoại nằm ở đâu? Abalkin bị coi là 1 trong những tác giả chính của luật này. Yasin: “Chúng ta trong những năm cải tổ cần điều khác. Cần giữ khuân phép XHCN, đó là sở hữu công nhà nước về phương tiện sản xuất để tăng cường động lực cho những người sử dụng nó, cho tập thể lao động. Trao nó cho doanh nghiệp trên thực tế là việc làm bất hợp pháp. Bởi vì doanh nghiệp được xác định như phức hợp tài sản (sau đó đã xảy ra không ít đau khổ), khi đó sự toàn vẹn của nó có thể bị đem cho thuê. Làm xuất hiện khái niệm doanh nghiệp cho thuê.” Đó là thời kỳ thay đổi, trên thế giới không ở đâu có điều này, đem cho thuê doanh nghiệp, khi đó 1 công ty có thể bị đem cho 1 công ty khác. Vì thế người ta đã nghĩ ra các tổ hợp quản lý tài sản. Đồng thời viết luật rằng, các đại diện pháp nhân có quyền cho thuê. Thế là các doanh nghiệp vận dụng, khi đó họ tính giá trị còn lại chỉ vài copek và cho các pháp nhân mới thuê. Đó là trong thời Xô viết. Nhờ điều này mà tư nhân hóa đã thực sự diễn ra. Tư nhân hóa thực sự. Một số lượng lớn các doanh nghiệp như thế, khoảng vài nghìn, có hàng triệu lao động làm việc ở đó. Cho thuê tạo ra khả năng lý tưởng mà không bị rắc rối để nắm lấy cái mỏ tuyệt vời mà để thực hiện nó, theo nguyên tắc là cần có kế hoạch.

Fursov: Có luật về Hợp tác xã, luật cho thuê và luật về xí nghiệp nhà nước. Theo quan điểm của cậu, bộ 3 luật này đã bẻ gãy xương sống nền kinh tế Xô viết cùng đời sống xã hội, kinh tế Xô viết. Tôi nghĩ rằng, không Gorbachev, cũng chẳng Ryzhkov hiểu được hậu quả hành động của họ.

Krotov: Có lẽ người ta đã giải thích cho Gorbachev điều này nghĩa là gì. Bởi vì nhớ rằng mùa thu tháng 10 (người ta đã tạo ra cái gì đó và sau đó đi đến các vùng để quan sát), Gorbachev đến Leningrad, ở đó ông ta nói rằng, chúng ta đang đợi một thời kỳ khó khăn và chúng ta như người bảo vệ cần trải qua nhiều điều, cần chịu đựng. Ngay sau đó là Hội nghị XIX vào năm sau, nó đã giết chết mọi ý tưởng…

Fursov: Và tổ chức đảng, thực tế thì cho đến khi bỏ điều 6 (**), đã tước đoạt của CPSU rất nhiều chức năng.

** Điều 6 Hiến pháp 1976 qui định đảng CPSU là lực lượng lãnh đạo, dẫn dắt Xô viết…

Krotov: Đúng. Ở đây có khẩu hiệu đẹp đẽ: “Tất cả chính quyền thuộc về Xô viết”, Xô viết đã được tạo ra…

Fursov: Và vẫn, nếu cậu nhớ, có chủ đề như thế này: tại Hội nghị, người ta khuyến nghị Bí thư thứ nhất làm Chủ tịch Xô viết. Mánh khóe gì ở đây? Đầu tiên người ta chọn cậu làm chủ tịch vùng, hay hội đồng thành phố, nhưng cậu được chọn không chỉ trong đảng, mà cả ngoài đảng. Đảng nắm từ trên xuống dưới.

Krotov: Anh nhớ câu nổi tiếng thời đó, khi Gorbachev diễn thuyết ở Novosibirsk: “Tất cả những điều tồi tệ đang xảy ra, xảy ra trên tầm trung của đảng, các bạn gây áp lực với nó từ bên dưới, còn chúng tôi sẽ thúc ép từ bên trên”. Sự phá hoại trên thực tế là có cấp bậc. Tại Hội nghị là Đại hội, như hoạt động thường lệ. Ở đó có các bầu chọn trên cơ sở thay thế, đề cử các ứng cử viên vào các tổ chức xã hội. Thực sự là chúng ta chọn tất cả, nhưng lại làm mình thành cái bậc thềm cửa hậu nào đó. Nhóm quốc tế được chấp nhận vào các tổ chức xã hội. Cộng thêm việc bỏ phiếu thuận bí mật cho chức vụ Chủ tịch Xô viết tối cao. Ông ta không quyết định tổ chức bầu cử trực tiếp. Đó là bầu Xô viết tối cao, nhưng sẽ diễn ra sớm. Năm 1987 và đầu 1988 là năm chìa khóa.

Fursov: Đó là lúc mà đất nước đi qua điểm không thể quay lại.

Krotov: Đó là trạng thái tê liệt gì đó. Cả 1 đội ngũ lớn đã được lập ra, những kẻ này không cho phép quay lại. Cơ sở xã hội cũng đã được tạo ra. Đầu tiên là các ngân hàng, một số lượng lớn các doanh nghiệp, НТТМ (ban Khoa học kỹ thuật đoàn viên Komsomol) được rót 1 lượng lớn tiền mặt – thực sự là cỗ máy rửa tiền cỡ lớn. Giới bề trên kinh tế trong tương lai cũng đã được tạo ra trong thời gian này. Smolensky xuất thân từ doanh nghiệp xây dựng, Khodorkovsky nhuộm quần jeans, Prokhorov và Khloponin có doanh nghiệp hóa chất lớn cho thuê và thuê các sinh viên trường tài chính. Thực sự tất cả đều bắt đầu như thế và là những tư sản đầu tiên khi đó, còn thuế thì rất dễ chịu chỉ có 3%, trong khi có vô số kinh doanh ngầm để kiếm tiền và rửa tiền. Họ bỏ vốn kiếm lời, trả 3% và tiền được rửa sạch sẽ.

(còn tiếp)

A. Fursov, tháng 7 2016

Nguồn: FB Trần Vinh