George Soros và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu


George Soros sinh năm 1930 ở Budapest, Hungary, di cư sang Anh năm 1947, sang Mỹ năm 1956, hiện sống ở New York. Ông là một huyền thoại trong thế giới tài chính. Quỹ Quantum của ông được xem là “quỹ đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử, đã góp phần nhào nặn lại thế giới sau chiến tranh lạnh”.

Một số ít người coi G. Soros như “một nhà đầu cơ thị trường nổi tiếng nhất thế giới”, kẻ can dự vào cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á và trên thế giới hiện nay.

Nhiều người gọi G. Soros là “một trong những nhà từ thiện lớn nhất hiện còn sống”. Ông tài trợ một mạng lưới các quỹ dành để ủng hộ các xã hội mở, đang hoạt động 31 nước trên khắp thế giới từ Đông Âu và Liên Xô (cũ) đến Nam Phi, Haiti, Guatemala, Mông Cổ và Mỹ. Các quỹ trong mạng lưới này đã chi phí một số tiền mỗi năm trên dưới 400 triệu USD (cụ thể là năm 1994 – 300 triệu, 1995 – 350 triệu, 1996 – 362 triệu, 1997 – 428 triệu và năm 1998 cũng duy trì ở mức đó).

Tuy nhiên, còn rất ít người biết đến G. Soros như một người có nhiều ý tưởng khoa học mới mẻ và sâu sắc, đã nhận được các bằng tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học trên thế giới như Trường Nghiên cứu Xã hội mới (the New School for Social Research), trường Đại học Oxford (Anh), Đại học Yale (Mỹ), Đại học kinh tế Budapest (Hungary, quê hương ông). Năm 1995 trường Đại học tổng hợp Bologna (Italy) tặng G. Soros danh hiệu cao nhất của nó – danh hiệu Laurea Honoris Causa để ghi nhận những nỗ lực của ông đề xướng các xã hội mở trên toàn thế giới. G. Soros là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về những biến đổi chính trị và kinh tế ở Đông Âu và Liên Xô, tác giả của nhiều cuốn sách bán rất chạy như cuốn “Giả thuật kim tài chính” (The Alchemy of Finance), “Mở cửa hệ thống Xô Viết” (Opening the Soviet System), “Bảo đảm nền dân chủ” (Underwriting Democracy) và “Soros nói về Soros: Ở lại đằng trước đường cong” (Soros on Soros: Staying Ahead of the Curve).

Trong Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, ông đã vận dụng tất cả sự thông thái, tri thức uyên bác và tầm nhìn sáng suốt của ông để giải thích những gì đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu đang sụp đổ.

Các nền kinh tế (bối cảnh cuối thập kỷ 90) một thời thịnh vượng của Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sụp đổ; nền kinh tế Nga đã và đang suy tàn, dẫn tới lạm phát và khó khăn kinh tế nghiêm trọng; nhiều ngân hàng Nhật Bản rơi vào tình trạng tan rã; Brazil và phần còn lại của châu Mỹ Latinh đã bắt đầu dần dà tiến đến bờ vực suy sụp; ngay cả ở châu Âu và Mỹ, các thị trường cũng chao đảo dữ dội, cứ mỗi tuần qua đi lại mất lợi nhuận. Giờ đây một số nước đã bước ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất. Nhưng không một ai có thể nói rằng những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng đã được loại trừ.

G. Soros đã mổ xẻ tình trạng thời điểm đó của nền kinh tế toàn cầu và chỉ rõ các giả thuyết lý luận đã kết hợp với hành vi con người như thế nào để dẫn tới những tai họa này. Ông nêu rõ niềm tin vào các lực lượng thị trường đã làm chúng ta đui mù như thế nào về những sự bất ổ định cơ bản, và những sự bất ổn định này đã phản ứng dây chuyền ra sao để gây ra tình huống nguy kịch mà chúng ta đang lâm vào hôm nay – một tình huống có tiềm năng trở nên xấu hơn rất nhiều.

Song, như G. Soros viết: “Tình thế hoàn toàn không phải là tuyệt vọng… Có thể tránh được một thảm họa nếu chúng ta thừa nhận những thiếu sót của hệ thống chúng ta và sửa chữa chúng kịp thời… Tôi lập luận rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của một xã hội mở, và những thái quá của nó có thể sửa chữa, nếu những nguyên tắc của xã hội mở được hiểu rõ hơn và được ủng hộ rộng rãi hơn.

Thuật ngữ “Xã hội mở” (Open society) được nhà triết học về khoa học Karl Popper nêu lên trong cuốn sách của ông “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” (xuất bản năm 1944). G. Soros chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng triết học Karl Popper, mặc dù ông có khác với Karl Popper ở một vài điểm quan trọng. Ông hấp thụ những ý tưởng của Karl Popper về tư duy phê phán và phương pháp khoa học, nỗ lực xây dựng lại khái niệm xã hội mở. Trong cuốn sách mới này của ông có phụ đề là “Xã hội mở hiểm nguy”, G. Soros đã “nỗ lực đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu”. Ông viết: “Chúng ta sống trong một nền kinh tế toàn cầu, nhưng tổ chức chính trị của xã hội toàn cuẩ của chúng ta, buồn thay, lại không đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng giữ gìn hòa bình và hành động đáp lại những thái quá của các thị trường tài chính. Nếu không có những sự kiểm soát này, nền kinh tế toàn cầu có thể sụp đổ”. Chính vì vậy “để ổn định và điều tiết một nền kinh tế thực sự toàn cầu, cần một hệ thống toàn cầu về việc ra quyết định chính trị. Nói gọn lại, chúng ta cần một xã hội toàn cầu để hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu của chúng ta… Cần phải cố gắng tạo nên một liên minh với các dân tộc có cùng suy nghĩ để thiết lập các luật và các thiết chế cần thiết cho việc giữ gìn hòa bình, tự do, thịnh vượng và ổn định. Các luật và thiết chế này là gì, điều đó không thể quyết định một lần là xong với mọi người; điều chúng ta cần là đưa vào hoạt động một quá trình hợp tác, lặp đi lặp lại – quá trình sẽ xác định lý tưởng xã hội mở – một quá trình trong đó chúng ta công khai thừa nhận những sự không hoàn hảo của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cố gắng học từ những sai lầm của chúng ta”.

Để đặt nền móng cho xã hội mở toàn cầu phải bắt đầu từ lý luận cơ bản. Trong khung khái niệm (conceptual framework), G. Soros nêu ra ba khái niệm then chốt, ba từ khóa: tính có thể sai (fallibility), tính phản xạ (reflexivity) và xã hội mở (open society). Ông tiến hành phê phán khoa học xã hội nói chung và kinh tế học nói riêng đối với thị trường tài chính, diễn giải thị trường này dưới góc độ tính phản xạ hơn là dưới độ lý luận cân bằng của kinh tế học cổ điển. Ông vạch rõ tính chất sai lầm và nguy hiểm của thuyết nguyên giáo thị trường (market fundamentalism). Chính nó đã đặt chủ nghĩa tư bản tài chính vào địa vị cầm lái, làm méo mó cơ chế thị trường, đẩy xã hội mở vào tình trạng hiểm nguy.

Trong phần “Thời điểm quan trọng của lịch sử” (the present moment in history), tác giả áp dụng cái khuôn khổ quan niệm đã nêu trên để phân tích sâu những đặc điểm chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối thập kỷ 90. Ông đề cập đến sự khác biệt, độ chênh giữa nền kinh tế toàn cầu và tổ chức chính trị, xã hội mà về cơ bản vẫn còn mang quy mô quốc gia. Ông khảo sát tỉ mỉ quan hệ không bình đẳng giữa trung tâm và ngoại vi, sự đối xử không bình đẳng giữa kẻ cho vay và người vay nợ, cũng như việc đưa một cách sai lầm các giá trị tiền tệ thay cho các giá trị nhân bản, các giá trị con người. Ông đề xuất những giải pháp thực tiễn để có thể ngăn ngừa sự tan rã về tài chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu như thế nào, nêu lên những triển vọng cho một hình thức xã hội mở ít méo mó hơn và đầy đủ hơn. Ông bàn về bối cảnh quốc tế và vạch ra một số bước đi thực tiễn để có thể đạt tới xã hội mở toàn cầu, thực hiện triết lý mà ông đã nêu lên.

Để kết luận, G. Soros khẳng định rằng xã hội mở toàn cầu phải được đặt thành “một chương trình nghị sự quốc tế”. Nó không thể được đưa vào cuộc sống bởi nhân dân hoặc các tổ chức phi chính phủ hành động riêng rẽ. Các Nhà nước có chủ quyền cần phải hợp tác về chính trị. Công luận và xã hội dân sự có vai trò quan trọng, bởi vì trong nền dân chủ, các chính khách phải đáp ứng những đòi hỏi của đông đảo dân chúng. “Ở các chính thể dân chủ vận hành tốt, các chính khách thậm chí còn đóng vai trò thủ lĩnh trong việc động viên công luận. Chúng ta cần đến vai trò thủ lĩnh như thế để hình thành một khối liên kết gồm những quốc gia cùng chung khuynh hướng và quyết tâm tạo dựng một xã hội mở toàn cầu”.

Cuốn sách Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu của G. Soros không phải là một cuốn sách kinh tế đơn thuần. Nó cho ta một cái nhìn tổng quát về thế giới hiện đại và xu hướng phát triển của nó. Ở đó thể hiện những suy tư triết học sâu sắc của G. Soros với tính cách một nhà tài chính, đồng thời là một nhà từ thiện, nhà hoạt động xã hội. Mở đầu cuốn sách ông viết: “Mục đích trước sau của tôi khi viết cuốn sách này là làm rõ cái triết lý đã chỉ đạo tôi suốt đời. Tôi được người ta biết đến với tư cách một nhà quản lý tiền tệ thành công và sau đó là một nhà từ thiện. Đôi khi tôi cảm thấy giống như một con đường tiêu hóa khổng lồ: thu nhận tiền vào ở một đầu và đẩy nó ra ở đầu khác, nhưng thực ra một lượng suy tư to lớn đã gắn kết hai đầu với nhau. Một khung khái niệm mà tôi đã hình thành những ngày tôi là sinh viên, rất lâu trước khi tôi bắt đầu tham gia  vào các thị trường tài chính, đã chỉ đạo cả việc kiếm tiền của tôi và các hoạt động từ thiện của tôi”.

Những suy tư, những nhận định của G. Soros trong sách, đương nhiên, không thể không có những khác biệt so với những gì mà lâu nay nhiều người trong chúng ta thường quan niệm. Sự khác nhau đó là chuyện bình thường. Điều đáng quan tâm ở đây chính là việc G. Soros đã phân tích sâu sắc cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và đề ra những giải pháp không phải là không có cơ sở để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách mà cộng đồng quốc tế mong đợi.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Thị trường nguyên liệu: Thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã – Phần cuối


Sự biến động quá lớn ảnh hưởng nặng nề đến những khách hàng có nhu cầu tiêu thụ thực sự cũng như người sản xuất. Xavier Gravelat, Chủ tịch Hiệp hội các nhà xuất khẩu khoáng sản New Caledonia, cho rằng các hiện tượng như trên là “hoàn toàn sai trái, thậm chí đáng ghê tởm”. New Caledonia chiếm từ 6 – 7% nguồn cung nikel của thế giới.

Nguyên nhân xuất phát từ Trung Quốc. Xiang Guangda là tỷ phú sở hữu Tsingshan Holding Group, tập đoàn số một thế giới trong lĩnh vực kinh doanh nikel và thép không gỉ. Trong giới kinh doanh, ông có biệt danh là “Big Shot” và nổi tiếng với những phe đặt cược nhiều rủi ro. Trước chiến tranh Ukraine, Xiang Guangda đã đánh cược giá nikel sẽ giảm. Theo một cuộc điều tra của hãng thông tấn Bloomberg, riêng Xiang Guangda đã nắm trong tay 12% tổng số các hợp đồng mua bán nikel tại LME. Khi giá nikel bắt đầu tăng do chiến tranh và nguồn cung từ Nga bị ảnh hưởng mạnh, Xiang Guangda bắt đầu hoảng sợ. Ông tìm cách mua lại nikel và đẩy giá tăng vọt. Điều đó làm cho vấn đề của ông càng trầm trọng.

Trong bối cảnh đó, sự can thiệp của LME vào phiên giao dịch ngày 8/3 gây nghi ngờ lớn. Với việc ra lệnh hủy khẩn cấp các giao dịch, lãnh đạo thị trường trên thực tế đã hỗ trợ cho Big Shot, quẳng cho ông một chiếc phao cứu sinh đúng lúc. Cơ quan quản lý tài chính Anh phản ứng ra sao? Họ hầu như không có phản ứng gì. Từ trước đến nay, cơ quan này chịu trách nhiệm giám sát các ngân hàng và thị trường chứng khoán vẫn có truyền thống để LME tự hành động. Điều đáng chú ý là từ năm LME rơi vào tay Thị trường chứng khoán Hong Kong, cổ đông lớn nhất của tập đoàn lại là Chính quyền Hong Kong. Liệu có mối liên hệ nào giữa sự cố của Xiang Guangda và điều này hay không?

Giá nguyên liệu từng bị kiểm soát chặt chẽ

Giáo sư Chalmin cho biết: “Trong thập kỷ 1960, mọi người có thể ngủ ngon vì biết chắc ngày mai giá USD, dầu lửa, đồng và lúa mì sẽ không thay đổi. Còn ngày nay thì ia cũng tin rằng tất cả sẽ biến động”. Tương tự như các loại ngoại tệ trước khi xuất hiện hệ thống Bretton Woods năm 1971, giá nguyên liệu được điều tiết chặt chẽ. Dầu lửa là ví dụ điển hình. Cho đến tận những năm 1960, sản xuất vàng đen gần như chịu sự chi phối hoàn toàn của 7 tập đoàn dầu lửa khổng lồ của Mỹ và Anh – tiền thân của BP, Shell và Exxon ngày nay. Họ tiến hành hút dầu thô ở nước ngoài, chủ yếu là ở vùng Vịnh, sau đó tự lọc dầu tại các nhà máy của chính mình và bán ra cũng ở các cây xăng do họ kiểm soát. Hiếm khi các chuyến hàng lớn được giao dịch bên ngoài hệ thống. Ngành công nghiệp dầu mỏ được tổ chức chặt chẽ theo chiều dọc. Không có thị trường, giá dầu được quyết định chủ yếu dựa trên giá thành. Việc Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) giành lại quyền điều hành trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã làm thay đổi cán cân sức mạnh, nhưng không làm thay đổi cơ cấu giá. Sau đó, một số nước đã tiến hành quốc hữu hóa và kiểm soát trữ lượng dầu khí, nhưng giá cả vẫn do các tập đoàn ấn định.

Tất cả chỉ thay đổi sau khi Ronald Reagan lên làm tổng thống Mỹ. Vốn là người ủng hộ tuyệt đối việc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước, nhà lãnh đạonày không chấp nhận việc Chính phủ Mỹ tùy tiện định giá dầu ở mức thấp, thấp hơn nhiều so với mức giá của OPEC, để hỗ trợ người tiêu dùng. Ngày 28/01/1981, Reagan cho phép thả nổi thị trường dầu. Các tập đoàn dầu lửa Mỹ đã lợi dụng cơ hội này để tăng sản lượng, khiến cho giá thị trường sụp đổ. OPEC mất khả năng can thiệp và mất dần thị phần do sản lượng dầu ở Biển Bắc tăng quá nhanh. Sau vài năm, tổ chức này cũng phải bỏ ý định và chấp nhận quy luật cung cầu. Từ đó, OPEC chỉ giới hạn hành động ở việc tăng giảm lượng khai thác để tác động đến xu hướng giá.

Nông nghiệp lại là lĩnh vực khác. Có hàng nghìn nhà sản xuất và họ phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Từ năm 1848, Sàn giao dịch Chicago đã thiết lập những hợp đồng tương lai đầu tiên về việc niêm yết trên thị trường chứng khoán. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, châu Âu định đưa biến động giá cả thị trường vào khuôn khổ. Năm 1957, Chính sách nông nghiệp chung của châu Âu đã ấn định giá cả ở mức cao nhằm khuyến khích các nhà đầu tư và cải thiện năng suất. Tuy nhiên, hệ thống nhanh chóng bộc lộ những bất cập. Đầu năm 1990, giá ngũ công châu Âu tăng gần gấp đôi so với giá bên ngoài. Do đó, ngành chăn nuôi châu Âu ngày càng tiêu thụ ít ngũ cốc do châu Âu sản xuất. Để trợ giá, các chính phủ đã dành một phần lớn ngân sách và kho bãi để tích trữ và kích thích xuất khẩu. Dần dần, chính sách quản lý giá bị bãi bỏ và biến mất hoàn toàn vào năm 2006. Từ đó đến nay, giá cả hoàn toàn do thị trường thế giới quyết định. Theo giáo sư Chalmin, điều này khiến cho kẻ mạnh càng mạnh thêm và kẻ yếu càng yếu đi.

Các trung tâm giao dịch chiếm ưu thế

Với việc tự do hóa giá nguyên liệu, một nghề mới đột nhiên thịnh hành: trung gian môi giới. Rất nhiều nhân tố mới bắt đầu tham gia mua bán khối lượng lớn dầu mỏ, lúa mì và khoáng sản. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ cuối năm 1989, mở toang cánh cửa dẫn tới các nguồn nguyên liệu lớn được đổ vào thị trường thế giới, xu hướng này lại càng tăng, đặc biệt là sau sự bùng nổ của kinh tế Trung Quốc. Hàng loạt tên tuổi mới lộ diện như Glencore, Vitol, Trafigura, Cargill và Louis-Dreyfus. Năm 2019, 4 tập đoàn đứng đầu sàn giao dịch nguyên liệu  đã có doanh số lên đến 725 tỷ USD. Trong ngành nông nghiệp, 7 công ty kiểm soát một nửa thương mại toàn cầu. Các công ty này chủ yếu đặt trụ sở tại Thụy Sỹ, ít khi xuất hiện trên truyền thông và thích đứng trong bóng tối. Theo Blas, họ không ngại đùa giỡn với cái đói của hàng triệu người trên thế giới.

Giữa năm 2010, một vụ hạn hán lớn đã khiến sản lượng lúa mì của Nga giảm mạnh. Nhiều người thắc mắc liệu Moskva có dừng xuất khẩu hay không. Ngày 3/8, Yury Ognev, trung gian cho các giao dịch ngũ cốc của Glencore tại Nga, đã lên truyền hình kêu gọi Moskva phong tỏa xuất khẩu. Ông nói: “Theo quan điểm cá nhân của tôi, chính phủ có mọi lý do để ngừng xuất khẩu”. Để chắc chắn thông điệp được truyền tải, Yury Ognev đã gửi thêm một thông cáo báo chí cho các phóng viên. Hai ngày sau, Nga thông báo ngừng xuất khẩu, khiến giá lúa mì thế giới tăng vọt.

Điều mà Yury Ognev không nói ra là Glencore đã âm thầm mua rất nhiều hợp đồng tương lai tại Sàn chứng khoán Chicago và đánh cược rằng giá lúa mì sẽ tăng mạnh. Tuyên bố của Yury Ognev đã giúp Glencore vớ bẫm. Năm 2010, bộ phận giao dịch nông sản của Glencore đã thu về khoản lợi nhuận 659 triệu USD. Cùng năm, giá lương thực nhảy múa đã góp phần làm bùng phát phong trào Mùa xuân Arab. Theo Blas, các hãng trung gian đã trở thành những “tay buôn quyền lực”.

Thiên nhiên – hàng hóa mới của giao dịch tài chính

Trong khi giá cả đang nhảy múa, một loại nguyên liệu mất giá nhanh chóng: Đó là CO2. Giá CO2 theo Giấy phép ô nhiễm của EU có lúc giảm từ 90 euro/tấn xuống còn 58 euro/tấn, trước khi trở lại mức 80 euro/tấn. Thông thường dầu càng đắt, thì quyền phát thải khí gây ô nhiễm càng tăng giá.

Tại sao lại có xu hướng ngược như vậy? Nhiều nhà phân tích cho rằng đó là bằng chứng của hiện tượng giao dịch theo mô hình thị trường tài chính: Trước cơn bão tài chính, các nhà đầu tư cần tiền và do đó quyết định bán quyền phát thải mà họ nắm giữ. Theo nhận định của Frédéric Hache, nhà hoạt động của Tổ chức quan sát tài chính xanh, thị trường phát thải CO2 đang thay đổi về quy mô. Tương tự như thị trường nguyên liệu đầu những năm 2000, một dòng vốn đầu tư bên ngoài bắt đầu đổ vào “tài sản môi trường”.

Vấn đề là rất nhiều sản phẩm tài chính như vậy có hại cho hành tinh. Đã xuất hiện thêm nhiều dự án bù đắp cho lượng phát thải carbon, chủ yếu là dự án trồng cây theo mô hình độc canh. Những dự án như vậy lấy đi rất nhiều đất đai lẽ ra dành cho nông nghiệp và do đó có nguy cơ đẩy giá lương thực lên cao.

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

Thị trường nguyên liệu: Thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã – Phần đầu


Theo báo Le Monde (Pháp), bão giá hàng hóa nguyên liệu gần đây bắt nguồn chủ yếu từ cuộc chiến tranh Ukraine, đồng thời là hậu quả của việc giao dịch nguyên liệu giống như trên thị trường tài chính và việc buông lỏng quản lý, hiện tượng bắt đầu cách đây 40 năm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trung gian “làm mưa làm gió”.

Trong 3 năm qua, giá dầu tăng 4 lần, giá khí đốt tăng 10 lần và giá lúa mì tăng 2,5 lần. Sau khi Nga phát động cuộc chiến tranh Ukraine ngày 24/2, giá các loại nguyên liệu đã tăng với tốc độ kỷ lục và thế giới bước vào thời kỳ giá cả dao động mạnh. Khủng hoảng giá cả diễn ra đối với nhiều mặt hàng, bắt đầu từ điện và khí đốt. Dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm ít nhất 1% và thế giới có nguy cơ bước vào thời kỳ suy thoái vào năm 2023.

Đó là hậu quả khó tránh khỏi của quy luật thị trường hay dấu hiệu của sự vận hành có vấn đề của nền kinh tế? Thị trường nguyên liệu chưa bao giờ vận hành một cách hỗn loạn như hiện nay. Javier Blas, đồng tác giả cuốn sách được đánh giá cao có nhan đề “Bán cả thế giới” nhận xét: “Điều khó tin nhất liên quan đến hiện tượng này là các chính phủ đã mất khả năng kiểm soát thị trường nguyên liệu từ cách đây 40 năm”. Giáo sư lịch sử kinh tế Philippe Chalmin thuộc Đại học Dauphine (Pháp) cũng có đánh giá tương tự: “Trong 40 năm qua, nguyên liệu đã trở thành hàng hóa giao dịch giống như bất kỳ sản phẩm nào khác”.

Đã qua cái thời mà giá nguyên liệu được điều tiết chặt chẽ. Sự buông lỏng quản lý cùng với xu hướng giao dịch thái quá và thiếu minh bạch giống như trên thị trường tài chính đã tạo ra một thế giới mới chịu sự chi phối của một nhóm nhỏ gồm các công ty có ảnh hưởng lớn. Như lời của Blas, thị trường nguyên liệu là “thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

Giao dịch tài chính thái quá trên thị trường nguyên liệu

Ngày 20/4/2020, trong khi thế giới vẫn đang chìm trong đại dịch COVID-19, một hiện tượng chưa từng có đã xuất hiện và gây sửng sốt cho tất cả các nhà giao dịch dầu mỏ. Trên thị trường thương mại New York, giá dầu đã rơi xuống mức -37,63 USD/thùng. Vì mỗi hợp đồng dầu mỏ phải có số lượng ít nhất 1000 thùng, nên điều đó đồng nghĩa với việc người bán chấp nhận trả cho người mua ít nhất 37.630 USD để thoát nợ. Nguyên nhân của hiện tượng này là sự giao thoa giữa đầu cơ tài chính và hàng hóa thực tế.

Trở lại năm 1983 tại Mỹ, lần đầu tiên dầu mỏ trở thành một loại hàng hóa trong giao dịch tài chính. Hợp đồng dầu tương lai đầu tiên đã được West Texas Intermediate (WTI), hệ thống tiêu chuẩn Mỹ về chất lượng dầu thô, thiết lập. Đối với mỗi hợp đồng, người bán cam kết giao dầu thô tại một thời điểm định trước với mức giá định trước. Nhưng đây không phải là một hợp đồng trừu tượng, mà nó gắn liền với thực tế: Đến kỳ hạn, dầu sẽ được chuyển đến Cushing, bang Oklahoma, nơi đặt nhiều nhà máy lọc dầu của Mỹ.

Đối với các doanh nghiệp phụ thuộc vào dầu lửa, hợp đồng tương lai là điều đáng quý. Nhờ đó, một công ty hàng không có thể đàm phán mua trước nhiên liệu với mức giá phù hợp. Nhưng để cả hệ thống hoạt động, cần phải có sự tham gia của các nhà đầu cơ chấp nhận mua và bán sản phẩm này, đồng thời đóng vai trò trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu thụ.

Những người trung gian này giữ vai trò ngày càng quan trọng. Theo một nghiên cứu của hai giáo sư Michel Robe và John Roberts thuộc Đại học Illinois, lực lượng đầu cơ thuần túy chiếm 50 – 70% khối lượng giao dịch trên thị trường nông sản Mỹ. Đối với lúa mì, chỉ khoảng 24 – 39% giao dịch thuộc về các doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ thực sự, số còn lại thuộc về các nhà đầu tư.

Khi khủng hoảng COVID-19 bùng phát, giá dầu rơi xuống mức thấp nhất. Giới đầu cơ thấp thỏm khi các hợp đồng phải được thực hiện đúng ngày 21/4 nhưng không có người mua nào quan tâm. Họ đứng trước nguy cơ phải ôm rất nhiều dầu sẽ được giao mà không có cách xử lý thỏa đáng. Không thể lập tức mua kho chứa vì tất cả đều đầy trong khi mức tiêu thụ dầu trên thế giới giảm đến một phần tư. Đến ngày 17/4, nỗi hoảng loạn lan rộng khắp thị trường. Cần phải nhanh chóng giải quyết một lượng dầu lớn trong bối cảnh các doanh nghiệp nắm giữ các kho chứa có ưu thế trong đàm phán và do đó có thể mua vào với giá rẻ mạt.

Liệu đây có phải bằng chứng cho thấy thị trường nguyên liệu nằm ngoài vòng kiểm soát? Giáo sư Joĕlle Miffre thuộc Trường kinh doanh Audencia (Pháp) đã theo dõi rất sát thời kỳ giá dầu rơi xuống mức âm như vậy. Bà thừa nhận việc giá dầu từ -37 USD/thùng leo lên 139 USD/thùng trong vòng 2 năm là hiện tượng lạ thường, nhưng cho rằng thị trường có khả năng tự điều tiết và các ngân hàng đầu tư tạo điều kiện cho việc thanh khoản và hình thành giá cả. Các cú sốc năm 1973 và 1979 đã diễn ra trước giai đoạn tài chính hóa thị trường dầu mỏ, khi các hợp đồng tương lai vẫn chưa xuất hiện. Mặt khác, nhiều loại nguyên liệu không được giao dịch dưới hình thức hợp đồng tương lai cũng rơi vào tình trạng bấp bênh. Ví dụ như thị trường lithium, không có các hợp đồng kỳ hạn, nhưng trong vòng một năm, giá cả đã tăng đến 8 lần. Giáo sư Robe cho rằng hiện chưa có dấu hiệu rõ ràng về việc thao túng. Ông cho rằng cuộc chiến Ukraine đã làm thay đổi tình thế và giá cả là sự phản ánh chính xác tình hình thực tế.

Từ năm 2000, các ngân hàng đầu tư đã tạo ra những bộ phận mới để phụ trách thị trường nguyên liệu. Giới đầu tư đánh cược vào biến động giá cả mà không quan tâm tới ảnh hưởng của nó đến đời sống thực. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNECE) đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng này. Trước năm 2000, những diễn biến về giá nguyên liệu độc lập với thị trường tài chính. Nhưng từ năm 2000 trở đi, hai yếu tố này có liên quan đến nhau.

Nikel – một trường hợp kỳ lạ

Sàn giao dịch kim loại London (LME), nằm ở trung tâm thành phố, có bề dày lịch sử đáng tự hào. Nó được thành lập vào năm 1877, sở hữu một mạng lưới kho chứa rộng lớn và vẫn duy trì giao dịch bằng cách hô giá như ở thời điểm cách đây cả trăm năm. Trong tất cả các ngày, một vài nhà giao dịch sẽ tề tựu xung quanh những chiếc bàn đỏ để trao đổi hợp đồng bằng cách hét giá thật to, một cảnh tượng rất lạ với những người không am hiểu.

Thực tế từ rất lâu, giao dịch đã được thực hiện chủ yếu qua máy tính. Đêm 7/3 rạng sáng 8/3 vừa qua là thời điểm đặc biệt. Giá nikel, kim loại quan trọng được sử dụng trong chế tạo ắc quy xe điện và thép không gỉ, bất ngờ vọt lên đến 100.000 USD/tấn, tăng hơn 4 lần so với thời điểm hai ngày trước đó. Đến 8h15’, ban lãnh đạo LME đã đưa ra một quyết định chưa từng có: không chỉ dừng niêm yết, một động thái bình thường khi thị trường hỗn loạn, mà còn hủy một số giao dịch đã được thực hiện trong đêm.

Điều này làm mất lòng tin vào thị trường. Michael Marlowe, Giám đốc Công ty tư vấn kim loại Hythe Bay Metals, cho rằng LME muốn kiếm tiền dễ dàng bằng cách thu hút các giao dịch được thực hiện với tần suất cực ngắn, chỉ vài phần nghìn giây dựa trên thuật toán số học. Ông cho rằng không thể tư vấn chính xác cho khách hàng về những giao dịch vô lý như thế.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

Những bỏ sót của GDP: Đo lường hiệu suất kinh tế bỏ sót về hiệu suất kinh tế – Phần cuối


Các tiêu chuẩn quốc tế mới nhất về hạch toán quốc gia, SNA2008, đã cố gắng để giải quyết vấn đề. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên nghiêm túc đưa vào thực tiễn những đề nghị cải tiến của mình, trong đó bao gồm tính chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển – và ước tính đầu tư trong “các bản gốc nghệ thuật” như các bộ phim của Hollywood và sản phẩm âm nhạc – như đầu tư chứ không phải là chi phí kinh doanh. GDP của Hoa Kỳ đã cho thấy một bước nhảy hơn hai phần trăm trong năm 2007 nhờ vào các phương pháp mới. Một sự tăng lớn hơn 3,4 phần trăm đã được công bố vào giữa năm 2013 một phần là do sự thay đổi này.

Câu hỏi về việc xử lý đầu tư tài sản chỉ là một chiều hướng của phát triển bền vững. Thường xuyên hơn, thuật ngữ “phát triển bền vững” đề cập đến mức độ mà GDP tăng từ năm này sang năm khác làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc làm tổn hại đến môi trường theo những cách khác. Cần phải nói rằng thống kê chính thống đã chú ý nhiều hơn đến các đo lường về môi trường, từ khí thải CO và chất lượng nước tới khối lượng tài nguyên khoáng sản khai thác. Và trong năm 2012, ủy ban thống kê của Liên hợp quốc đã thông qua một tiêu chuẩn thống kê quốc tế mới, hệ thống hạch toán kinh tế môi trường, hoặc SEEA, trong đó liên kết số liệu thống kê môi trường với số liệu thống kê kinh tế.

Song, mặc dù các cơ quan thống kê quốc gia ở nhiều nước đã trở nên chăm chỉ hơn trong việc thu thập số liệu thống kê về môi trường, và những người quan tâm hoặc liên quan có thể tìm thấy chúng, hầu hết mọi người không quan tâm đầy đủ. Nếu các nhà hoạch định chính sách coi trọng các tác động môi trường của tăng trưởng – và mức độ mà tăng trưởng hiện nay đi kèm với các chi phí của sự tăng trưởng trong tương lai – Giá trị hao mòn tự nhiên cần phải được bao gồm trong GDP cùng với khấu hao máy móc và đường giao thông.

Nếu các nhà hoạch định chính sách coi trọng các tác động môi trường của tăng trưởng, chúng cần phải bao gồm giá trị khấu hao tự nhiên trong GDP cùng với khấu hao máy móc và đường giao thông.

Do nếu khấu hao tài sản tự nhiên không đủ phức tạp, có một loại tài sản để xem xét: nguồn nhân lực, hoặc mọi người có thể sử dụng các tài sản khác mà họ có thể làm thế nào theo ý của họ. Nguồn nhân lực phụ thuộc vào giáo dục, đào tạo thực tế và khả năng sáng tạo và đổi mới. Liên quan đến vốn con người là vốn xã hội, một khái niệm khó định nghĩa để cố gắng nắm bắt mọi người có thể tổ chức chung thông qua thể chế chính trị và các tổ chức khác như thế nào. Thật khó để đo lường, nhưng rõ ràng nó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Để đưa ra một ví dụ trong số nhiều ví dụ, các thuộc địa cũ được thừa kế khung pháp lý Anh đã phát triển nhanh hơn và có thu nhập bình quân đầu người cao hơn so với các thuộc địa được thừa hưởng khuôn khổ pháp lý của Pháp. Truyền thống pháp lý sẽ xuất hiện là một yếu tố góp phần vào nguồn vốn xã hội.

Đầu tư vào vốn con người và xã hội là không được đo lường thực sự bằng số liệu thống kê truyền thống, mặc dù có chi tiêu về một số yếu tố đầu vào, chẳng hạn như chi phí giáo dục. Điều này dễ hiểu, các khái niệm rất khó để hiểu ngay từ đầu, nhưng chúng làm được việc. Một quốc gia không phải hối tiếc việc bỏ đi một số tăng trưởng GDP trong năm vì lợi ích của các khoản đầu tư sẽ góp phần vào khả năng làm việc, xây dựng, và phát minh ra sau đó của đất nước. Ngân hàng Thế giới đã bắt đầu công việc đo lường về “sự thịnh vượng toàn diện”, trong đó bao gồm tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng vật chất. Một phương pháp khác là sản phẩm quốc gia thuần (NNP) của nhà kinh tế học Martin Weitzman trường Harvard, xuất phát từ tiêu chuẩn GDP và số liệu thống kê liên quan, đo mức độ bền vững tối đa tiêu dùng của quốc gia. Nhưng ngay cả đo lường này cũng không tính đến đầu tư vào hay sự cạn kiệt của môi trường: ví dụ, tài khoản quốc gia của Vương quốc Anh bao gồm thăm dò khoáng sản dầu mỏ như là một phần của tổng đầu tư nhưng không làm cạn kiệt nguồn dầu khí bằng cách khai thác chúng. Kết quả là, NNP của Vương quốc Anh được phóng đại. Nhưng hệ thống có thể được sửa đổi để khắc phục vấn đề này.

Đo lường tốt hơn?

“GDP” đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc mà không ai mang đến cho nó nhiều suy nghĩ. Song, số liệu thống kê không hoàn thiện – đặc biệt khi nói đến đo lường về đổi mới, chất lượng, tài sản vô hình, và tính bền vững. GDP, do đó, đã đạt đến tới hạn của nó? Các định nghĩa liên quan đến các tài khoản quốc gia đã rối rắm và phức tạp, và mất một lượng thời gian thống kê quốc gia “vật lộn” với nó – ngoại trừ, tất nhiên, ở các nước như Hy Lạp được sử dụng để tạo nên số liệu hoặc các quốc gia châu Phi không bao giờ thu thập số liệu thống kê thô cần thiết. Cơ sở dữ liệu GDP qua nhiều thập kỷ có thể dẫn chúng ta nghĩ rằng GDP là một đối tượng tự nhiên mà chúng ta có thể đo lường với độ chính xác ngày càng tăng. Nhưng độ chính xác là giả mạo. Các đối tượng được đo lường chỉ là một ý tưởng, không điều gì tồn tại độc lập mà được chờ đợi để kiểm tra.

Bộ Thương mại Mỹ từng gọi GDP là một trong những phát minh vĩ đại nhất của thế kỷ XX, và nó là vậy. Và nó vẫn làm một công việc đo lường các nền kinh tế tốt hơn bất kỳ giải pháp thay thế hiện nay. Thay vì tiếp tục đi tìm các định nghĩa và cải tiến luôn là phức tạp hơn, các nhà thống kê và kinh tế nên suy nghĩ sâu sắc hơn về những gì có nghĩa là “nền kinh tế” trong thế kỷ XXI. Có một cơ hội lớn để sử dụng công nghệ kỹ thuật số – và dữ liệu đặc biệt lớn – phải suy nghĩ lại những thông tin được thu thập và những gì chúng ta làm với chúng. Với rất nhiều hoạt động trực tuyến hiện nay, có thể đưa ra được một bức tranh tốt hơn về những khoản người tiêu dùng nhận được mà không được nắm bắt bởi số liệu thống kê kinh tế hiện nay. Có lẽ chúng ta cũng có thể tìm cách làm sáng tỏ để hình dung những gì đang xảy ra trong nền kinh tế.

Ngoài ra, các quốc gia cần phải hiện đại hóa cách họ thu thập số liệu thống kê. Tài khoản quốc gia và các dữ liệu kinh tế chính thống khác đến từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng các cuộc điều tra về các cá nhân và các doanh nghiệp hình thành trụ cột của chúng. Đây gần như là không thể đối với các phương pháp điều tra truyền thống, trong đó có việc gửi các bảng hỏi cho các doanh nghiệp nhất định hoặc đặt các nhà nghiên cứu thu thập thông tin về giá từ các cửa hàng khác nhau, để cập nhật khi cấu trúc của nền kinh tế thay đổi. Để cung cấp một ví dụ rõ ràng, bảng hỏi điều tra không thực sự tính đến cho việc mua sắm trực tuyến – và giá trực tuyến có thể sẽ thấp hơn.

Vì vậy, bây giờ cũng là thời gian để sử dụng công nghệ mới thu thập dữ liệu kinh tế. Đây có thể là đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển, nơi mà sự phổ biến của điện thoại di động cung cấp một cơ hội chưa từng có để đo lường nền kinh tế của họ. Cũng như nội dung mà người sử dụng tạo ra đã trở thành một nguồn lực quan trọng trong phòng chống thiên tai, kinh doanh, và các phương tiện truyềng thông tin tức, số liệu thống kê được người sử dụng thu thập có thể chứng minh một nguồn dữ liệu kịp thời và chính xác hơn so với các cuộc điều tra doanh nghiệp. Có vẻ như có rất ít thử nghiệm, tuy nhiên – chỉ cần một chút thu thập dữ liệu về sức khỏe. Hiện nay, các nhà thống kê quốc gia trong các nền kinh tế phát triển có ít động cơ để thử nghiệm thu thập dữ liệu thô với điện thoại di động hay trực tuyến.

Hiện nay, chúng ta đang ở trong tình trạng sương mù về thống kê, không có các thông tin cần thiết về các khía cạnh tiêu cực của tăng trưởng khi nó không bền vững và khi nó làm cạn kiệt nguồn tự nhiên và các tài sản sẵn có cho tương lai, hoặc các khía cạnh tích cực, khi nó đưa ra các đổi mới và sáng tạo. GDP, với tất cả các sai sót của nó, vẫn còn là một ánh sáng chiếu qua màn sương mù đó.

Người dịch: Đặng Ngọc

Nguồn: Diane Coyle – Beyond GDP – What the Measure of Economic Performance Misses about Economic Performance – Foreign Affairs – Feb 16, 2014.

TN 2014 – 73

Những bỏ sót của GDP: Đo lường hiệu suất kinh tế bỏ sót về hiệu suất kinh tế – Phần II


Hiệu năng

Năm 1987, nhà kinh tế học nổi tiếng Robert Solow đã châm biếm rằng “bạn có thể thấy thời đại máy tính ở khắp mọi nơi trong các số liệu về năng suất”. Ước tính chính thức về tăng trưởng năng suất đã tăng từ giữa những năm 1990 đến 2001, mặc dù tăng trưởng năng suất đã chậm lại kể từ khi đó. Về phần này, Vương quốc Anh đã nhìn thấy GDP không tăng trưởng nhiều hơn hoặc ít hơn từ năm 2008, nhưng việc làm đã tăng lên. Theo định nghĩa, điều đó hàm ý (tốt nhất) không có tăng về năng suất.

Điều này dẫn đến một vấn đề nghiêm trọng thứ hai đối với GDP như một đo lường của nền kinh tế. Mỗi năm, nền kinh tế chứa đựng nhiều hơn những thứ không đáng kể mà nó làm cho đo lường năng suất khó khăn. Tương đối đơn giản để đo lường về sản lượng kinh tế của mỗi công nhân khi bạn có thể đếm số lượng xe ô tô, hay tủ lạnh hoặc các món ăn vi sóng được vận chuyển từ nhà máy. Nhưng làm thế nào để bạn đo lường sản phẩm của các y tá, kế toán, nhà thiết kế sân vường, nhạc sĩ, nhà phát triển phần mềm, các trợ lý chăm sóc sức khỏe, và công việc tương tự như thế? Cách duy nhất để đếm là có bao nhiêu trong số họ có bao nhiêu khách hàng mà họ cung cấp dịch vụ. Nhưng điều đó hoàn toàn bỏ qua chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp và là quan trọng hơn số lượng trong các ngành nghề của họ.

Năng suất, đến lượt nó, có thể không được xem là một đo lường quan trọng như nó đã từng được xem. Như bậc thầy về công nghệ Kevin Kelly đã viết, “Nói chung bất cứ tác vụ nào cũng có thể được đo lường bằng các số liệu về năng suất – sản lượng trên một giờ – là tác vụ mà chúng ta muốn tự động hóa để thực hiện. Trong ngắn hạn, năng suất là cho robot. Con người dành thời gian cho thí nghiệm, vui chơi, sáng tạo, và khám phá”. Kelly thoải mái với ý tưởng về robot làm việc nhiều hơn cho chúng ta. Một số người thì không. Để phản hồi với “Cuộc đua chống lại máy móc” của Erik Brynjolfsson, giáo sư kinh tế của MIT, và Andrew McAfee, nhà khoa học nghiên cứu chính tại Trung tâm MIT về kinh doanh kỹ thuật số, Paul Krugman đã viết trên New York Times, “Cái đáng chú ý về ví dụ của chúng là nhiều công việc đang bị thay thế là công việc có kỹ năng cao và có mức lương cao; các nhược điểm này của công nghệ không chỉ giới hạn cho người lao động chân tay. Tuy nhiên, đổi mới và tiến bộ có thể thực sự làm tổn thương một số lượng lớn người lao động, thậm chí ngay cả người lao động nói chung? Tôi thường phải khẳng định rằng điều này không thể xảy ra. Nhưng sự thật là nó có thể, và các nhà kinh tế nghiêm túc đã nhận thức được khả năng này trong gần hai thế kỷ”. Krugman đã đúng. Trong cuộc Cách mạng công nghiệp, máy dệt mới và các nhà máy gây thiệt thòi cho các công nhân có tay nghề cao.

Khi nói đến tự động hóa và công việc thay thế, chúng ta có xu hướng không thích tăng năng suất.

Khi nói đến tự động hóa và công việc thay thế, chúng ta có xu hướng không thích tăng năng suất. Tuy nhiên, các chương trình của ngày hôm nay cuối cùng sẽ có tác dụng tương tự tới nền kinh tế như các nhà máy chạy bằng hơi nước trong thế kỷ XIX. Robot là một loại thiết bị của vốn mới, và giá trị của chúng trước tiên sẽ đi đến chủ sở hữu vốn. Song, theo thời gian, mỗi người làm việc sẽ được hưởng lợi từ vốn nhiều để làm công việc của mình, giống như người thợ dệt có thể sản xuất nhiều hơn với một máy dệt cơ khí so với dệt tay trong ngôi nhà mình. Và điều đó sẽ được chuyển trực tiếp vào năng suất lao động cao hơn và – nếu người lao động có được các kỹ năng và xã hội cần thiết có thể điều khiển sự bất bình đẳng về thu nhập – mức lương cao hơn cho tất cả. Hiện nay, sự bất bình đẳng về thu nhập tăng đã đi kèm với tăng năng suất liên quan đến công nghệ kỹ thuật số, cho thấy rằng những khoản lợi ích đã không được chia sẻ rộng rãi, nhưng không có lý do để nghĩ rằng chúng nhất thiết không có thể.

Một vấn đề liên quan là làm thế nào để tính giá trị của một sản phẩm hay dịch vụ phi vật thể, các mặt hàng kỹ thuật số hoàn toàn như công cụ tìm kiếm, ứng dụng, từ điển bách khoa có nguồn gốc từ đông độc giả, và vân vân. Những cái đó thường có giá bằng không và không có giá thị trường, và không được tính trong số liệu thống kê GDP. Như Brynjolfsson và Adam Saunders, của trường Wharton, Đại học Pennsylvania, đưa ra trong một bài báo nhắc lại châm biếm của Solow gần đây, “Chúng ta thấy ảnh hưởng của thời đại thông tin ở khắp mọi nơi, ngoại trừ trong số liệu thống kê GDP”. Vì vậy, ví dụ, doanh số bán hàng sản phẩm âm nhạc của ngành công nghiệp thu âm đã giảm theo đồng dollar, nhưng gần như chắc chắn có nhiều người hơn, chứ không phải là ít đi, nghe nhạc. Khoảng cách giữa những gì một người tiêu dùng trả tiền và giá trị mà họ nhận được từ việc mua được gọi là “thặng dư tiêu dùng”, và sự phổ biến ngày càng tăng của hàng hóa và dịch vụ không có giá dường như làm tăng thặng dư tiêu dùng.

Tất cả cái đó dẫn đến ý nghĩa là có khoảng cách giữa các đo lường GDP và tổng phúc lợi kinh tế đang ngày một tăng lớn một cách khó chịu. Brynjolfsson và JooHee Oh, trợ lý sau tiến sĩ tại MIT, ước tính rằng đã có một khoản lợi không được báo cáo cho người tiêu dùng khoảng 300 tỷ USD mỗi năm trong một thập kỷ từ việc tiếp cận các dịch vụ trực tuyến miễn phí, chẳng hạn như Facebook, Wikipedia, Craiglist, và Google. Hal Varian, nhà kinh tế trưởng tại Google, tính toán rằng dịch vụ tìm kiếm miễn phí của Google trị giá 150 tỷ USD mỗi năm cho người sử dụng, tất nhiên đó là thông tin mà anh ta đưa ra, nhưng tính toán của anh ấy có sự hợp lý. Nhà kinh tế Michael Mandel đã lập luận rằng dữ liệu hoặc thông tin, nên được bổ sung thêm vào như là một loại hình thứ ba đối với hàng hóa và dịch vụ. Ông ước tính rằng loại hình thứ ba sẽ thêm 0,6 điểm phần trăm cho tăng trưởng GDP thực tế của Mỹ vào năm 2012 – một sự khác biệt đáng kể.

Các nhà thống kê cần phải bắt đầu suy nghĩ về cách để đo lường tốt hơn việc sản xuất và tiêu thụ thông tin, sản phẩm kỹ thuật số, mà nó cung cấp giá trị cho người tiêu dùng. Bởi vì GDP chỉ tính giao dịch tiền tệ, các mô hình kinh doanh mới miễn phí chưa được đo lường. Luôn luôn có những hoạt động miễn phí nhưng có giá trị, từ việc sử dụng các thư viện công cộng tới đi dạo ở vùng nông thôn, sự khác biệt bây giờ là quy mô và hoạt động không bằng tiền đan xen với kinh doanh truyền thống được tính như thế nào trong GDP.

Lưu giữ

GDP đo lường sự gia tăng trong sản lượng hàng hóa và dịch vụ theo thời gian mà không được hạch toán đầy đủ cho dù tăng trưởng hiện nay đi kèm với các chi phí của sự tăng trưởng tương lai.

Số liệu thống kê GDP được tính bao gồm đo lường về sự mất giá của tài sản vật chất (“tiêu dùng vốn”). Khấu hao cố định của vốn (máy móc, thiết bị giao thông vận tải, các tòa nhà) phải tăng nhiều hơn so với những gì là cần thiết để bù đắp cho khấu hao, đối với một nền kinh tế tăng trưởng. Các nhà sản xuất cũng cần phải đầu tư thêm để bắt kịp với tốc độ tăng dân số nếu tiêu dùng đầu người được duy trì ổn định, đó là những gì quan trọng hơn so với tổng quy mô của GDP. Ngoài ra, nếu sự đổi mới – tiến bộ kỹ thuật – được tính đến trong tài khoản, điều chắc chắn quan trọng là tính đến một số chỉ số về các nỗ lực nghiên cứu cần thiết để đổi mới.

(còn tiếp)

Người dịch: Đặng Ngọc

Nguồn: Diane Coyle – Beyond GDP – What the Measure of Economic Performance Misses about Economic Performance – Foreign Affairs – Feb 16, 2014.

TN 2014 – 73

Những bỏ sót của GDP: Đo lường hiệu suất kinh tế bỏ sót về hiệu suất kinh tế – Phần I


Diane Coyle

Các phương tiện truyền thông và cộng đồng kinh tế thường xuyên sử dụng Tổng sản phẩm trong nước (GDP), tổng sắp của tất cả các hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian cụ thể, như một đo lường về hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, GDP là một cách tương đối mới được dùng để đánh giá các nền kinh tế. Trong thực tế, khái niệm này chưa được phát minh ra cho đến đầu thế kỷ XX, khi cuộc Đại khủng hoảng và sau đó chiến tranh thế giới lần II đã đẩy Washington phải tính đến chi tiêu của Chính phủ về các dịch vụ và chiến tranh (trước khi được xem như là một tai họa cần thiết làm giảm thu nhập quốc dân) như một đo lường tốt cho nền kinh tế.

Việc xây dựng các số liệu thống kê GDP là không đơn giản, ngay cả trong những ngày đầu tiên khi nền kinh tế ít phức tạp hơn bây giờ. Phải mất nhiều thập kỷ trong một số ít các quốc gia mới tạo ra các tài khoản quốc gia và cho các nhà kinh tế và thống kê tạo ra các phương pháp so sánh GDP theo thời gian và giữa các quốc gia. Và công việc tiếp tục cho đến ngày nay. Một minh họa ở đây là việc hiệu chỉnh tổng mức USD lạm phát để có được GDP “thực tế”. Song việc không ngừng cải tiến chất lượng sản phẩm, và sự ra đời của hàng hóa và dịch vụ mới theo thời gian, đã làm khó khăn hơn cho việc tính toán sự thay đổi của giá. Ví dụ, một máy tính xách tay năm 2013 là một máy rất khác so với một máy tính xách tay năm 2004, ngay cả khi bảng giá của chúng là gần như nhau. Một vài thập kỷ trước đây, khi đó, giá của máy tính là vô giá, bởi vì máy tính không tồn tại. Thật khó để nắm bắt sự chuyển đổi này trong một chỉ số giá duy nhất.

Hơn nữa, mặc dù có những tiến bộ, vẫn còn khó khăn để thực hiện so sánh quốc tế, với sự khác biệt đáng kể trong cấu trúc kinh tế trên thế giới và trong những gì mà người tiêu dùng chi tiêu thu nhập của họ. Mặc dù các nhà kinh tế không ngần ngại để tổng quát hóa, ấn tượng của chúng ta về tăng trưởng trong nền kinh tế khác nhau vào những thời điểm khác nhau phụ thuộc vào các phương pháp thống kê. Ví dụ, việc đưa ra những điều chỉnh để cải thiện chất lượng của các máy tính trong những năm 1990 đã làm tăng trưởng kinh tế Mỹ mạnh hơn rất nhiều so với các nước khác.

Có những cái mà GDP đã bỏ sót hoàn toàn. GDP không nói gì về những thiệt hại môi trường mà sản xuất hàng hóa và dịch vụ gây ra. Và, mặc dù tăng trưởng GDP được lấy làm đại diện cho sự tiến bộ, nó không bao giờ có ý định để đo lường hạnh phúc hay phúc lợi. Cuối cùng, khi các quốc gia thoát ra khỏi suy thoái toàn cầu năm 2007 – 2008, một số câu hỏi nghiêm túc được đặt ra liệu mô hình có ước tính vượt trội đóng góp của các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế.

Tính đa dạng thông qua đổi mới liên tục có thể được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng của phát triển kinh tế.

Với tất cả những vấn đề này, một số người đề xuất mổ xẻ GDP hoàn toàn ủng hộ các đo lường mới, chẳng hạn như chỉ số hạnh phúc quốc gia. Họ không nhận được sự cần thiết phải có một đo lường về hoạt động kinh tế. Nhưng sự thật là đặc trưng của nền kinh tế – và cái người dân định giá trị vượt quá GDP – đang thay đổi, và rằng cách chúng ta đo lường nền kinh tế sẽ phải bắt kịp nó. Đặc biệt, các nhà kinh tế sẽ phải vật lộn với ba vấn đề. Đầu tiên là sự phức tạp về kinh tế, được định hướng bởi sự đổi mới, sự ra đời liên tục của các sản phẩm và dịch vụ mới, và toàn cầu hóa của chuỗi sản xuất ngày càng tăng. Thứ hai là phần đóng góp ngày càng tăng trong các nền kinh tế tiên tiến của dịch vụ và tài sản vô hình, bao gồm cả các hoạt động trực tuyến không có giá. Thứ ba là câu hỏi cấp bách của sự phát triển bền vững – cho dù sự suy giảm của các nguồn tài nguyên và tài sản sẽ làm suy yếu tăng trưởng GDP tiềm năng trong tương lai.

Tính đa dạng

Năm 1998, Hoa Kỳ đã cung cấp 185 kênh truyền hình, 141 loại thuốc giảm đau, và 87 nhãn hiệu nước giải khát. Vào năm 1970, chỉ có năm kênh truyền hình, năm loại thuộc giảm đau, và 20 loại nước giải khát. Nổi bật hơn, trong khi đó có 400 loại máy tính và gần năm triệu trang web trong năm 1998, mà thập kỷ trước đó đã không có. Tất cả điều này là tuyệt vời: tính đa dạng thông qua đổi mới liên tục có thể được coi là một trong những chỉ tiêu quan trọng của sự phát triển kinh tế. Song, khó khăn lớn để tìm kiếm số liệu thống kê kinh tế có tính đến số lượng sản phẩm khác nhau sẵn có. (Báo cáo thường niên năm 1998 của Ngân hàng Dự trữ Liên bang Dallas, ở đó các số liệu này được thực hiện, là một trong số ít các nguồn có sẵn ngay bây giờ). Chỉ đơn giản là bởi cơ quan chính thống không yêu cầu. Trong các cuộc điều tra, họ hỏi các nhà sản xuất giày về khối lượng – số lượng các đôi giày được làm – và giá cả, nhưng không phải là số liệu về kiểu dáng. Họ đếm các đôi bối đi bộ công nghệ cao, các đôi giàu chạy đệm đầu gối và mắt cá nhân, giày dép thuần chủng, giày định hình bắp đùi khi đi bộ, giày cao gót màu đỏ đẹp, dép cực kỳ thoải mái nhưng xấu xí, và giày thể thao được thiết kế trực tuyến chỉ đơn giản là “giày”.

Nhưng tại sao điều này ảnh hưởng đến GDP? Do không nắm bắt đầy đủ các phạm vi ngày càng tăng của các sản phẩm trong nền kinh tế, GDP thiếu báo cáo về đổi mới. Nó cũng không tính đến phúc lợi của người tiêu dùng. Ví dụ, xe ô tô không người lái. Một chiếc xe không người lái sẽ làm tăng GDP bởi có cùng một số tiền như bất kỳ loại xe khác, hoặc có thể hơn một chút. Các nhà thống kê có thể tính toán chỉ số giá hưởng thụ để tính đến một thực tế là chủ sở hữu của chiếc xe có thể ngồi và thư giãn khi lái xe. Nhưng GDP sẽ không bao giờ nắm bắt những gì xe ô tô không người lái đóng góp vào sự an toàn – giảm số vụ tai nạn như xe không người lái truyền dẫn.

Các đo lường cũng bỏ qua các giá trị được đưa ra bởi đặc chế (những đôi giày được cá nhân thiết kế trực tuyến): Như nhà kinh tế Dallas Fed đã viết vào năm 1998: “Chúng ta có thể không thấy tốc độ tăng trưởng nhanh hơn hoặc sự tăng vọt về năng suất, nhưng đa số các đặc chế sẽ thanh toán hết cho nước Mỹ. Các nguồn lực bị lãng phí đang phỏng đoán cái mà khách hàng muốn. Khi nhiều sản phẩm được đặc chế, chúng ta sẽ không lãng phí tiền bạc và các bộ quần áo cất trong tủ vì chúng không phù hợp hay các đãi compact nhỏ gọn chỉ với một hoặc hai bài hát mà chúng ta thực sự yêu thích. Và hàng hóa sẽ không bị lãng quên trên các kệ đại lý. Đạt được một tiêu chuẩn cao hơn của cuộc sống với nhu cầu ít hơn về nguồn lực tự nhiên và lao động sẽ giúp giảm bớt áp lực giá cả và tiếp tục tin tốt lành về lạm phát trong thập niên này”. Những hứa hẹn về “đa số các đặc chế” treo lửng lơ trước mắt độc giả trong năm 1998 đang sắp phải vượt qua, bao gồm các chương trình truyền hình theo yêu cầu và quần áo được đo may tại các chợ, không chỉ cho những người giàu.

Tính phức tạp vượt ra ngoài phạm vi số lượng sản phẩm. Hầu hết các mặt hàng hiện nay đều được sản xuất thông qua các chuỗi cung ứng toàn cầu. Các linh kiện thành phần được sản xuất tại một số quốc gia, được vận chuyển trên toàn thế giới để được lắp ráp ở một nơi, và sau đó vận chuyển đến thị trường tiêu thụ chúng. Điều này đúng với hàng giản đơn, chẳng hạn như áo sơ mi, và của những hàng hóa tinh vi, chẳng hạn như iPhone. Chỉ số giá, và do đó GDP, không nắm bắt được sự giảm giá lớn đi kèm với gia công thuê ngoài. Đổi lại, giá nhập khẩu đã bị phóng đại rất nhiều và khối lượng nhập khẩu được ghi thấp. Ngoài ra, thống kê thương mại truyền thống không kết nối các giá trị tăng thêm theo từng giai đoạn trung gian: số liệu cán cân thanh toán của Mỹ chỉ ghi lại toàn bộ giá trị cuối cùng của iPhone khi nó được nhập khẩu từ Trung Quốc. Theo Yuqing Xing, một giáo sư tại Viện nghiên cứu quốc gia về nghiên cứu chính sách ở Tokyo, “Phương pháp truyền thống ghi chép thương mại đã không phản ánh sự phân bố chuỗi giá trị thực tế và vẽ ra một bức tranh bị bóp méo về quan hệ thương mại song phương. Sự mất cân bằng thương mại song phương Trung – Mỹ đã được thổi phồng rất nhiều”. Thống kê giá trị tăng thêm của thương mại sẵn có vừa mới có, và nghiên cứu chúng có thể thay đổi những gì chúng ta nghĩ về trạng thái của các nền kinh tế thế giới.

(còn tiếp)

Người dịch: Đặng Ngọc

Nguồn: Diane Coyle – Beyond GDP – What the Measure of Economic Performance Misses about Economic Performance – Foreign Affairs – Feb 16, 2014.

TN 2014 – 73

Ứng phó với cú sốc kép giá dầu và lạm phát


Từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, nhiều chính phủ đã cạn kiệt và thâm hụt ngân sách quốc gia. Đối phó với tác động từ giá dầu và lạm phát tăng trong bối cảnh dịch bệnh chưa thực sự chấm dứt cùng ảnh hưởng của xung đột Nga – Ukraine sẽ là câu hỏi hóc búa cho các nhà hoạch định chính sách.

Theo Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu kinh tế-xã hội Malaysia (SERC) Lee Heng Guie, giá dầu và hàng hóa tăng mạnh sau khi xung đột Nga – Ukraine xảy ra đã gợi lại ký ức về những đợt sốc giá dầu trước đây. Cuộc chiến Yom Kippur diễn ra năm 1973 đã tạo ra cơn sốc giá dầu đầu tiên khi giá dầu tăng gấp 3 lần trong giai đoạn 1973 – 1974 và khiến kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái. Tiếp đến, cách mạng Iran vào năm 1978 – 1979 là nguyên nhân của đợt sốc giá dầu lần thứ hai, hệ quả là sự suy thoái kinh tế không chỉ ở Mỹ và trên phạm vi toàn cầu vào những năm 1980 – 1981. 10 năm sau, kinh tế Mỹ lại một lần nữa rơi vào suy thoái (1990 – 1991) mà nguyên nhân một phần bắt nguồn từ giá dầu tăng vọt sau khi Iraq xâm lược Kuwait giữa năm 1990.

Hiện tại, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp, biến thể Omicron rất dễ lây lan và tốc độ tiêm chủng không đồng đều trên toàn thế giới, kinh tế toàn cầu vẫn chưa được phục hồi hoàn toàn sau cuộc suy thoái do đại dịch COVID-19 gây ra. Nhiều lĩnh vực tiêu dùng vẫn đang hồi phục trong bối cảnh lạm phát tiêu dùng dai dẳng và áp lực chi phí kinh doanh.

Xung đột Nga – Ukraine bùng nổ đã gây ra cú sốc lớn về nguồn cung năng lượng trong nền kinh tế toàn cầu vốn vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi những cú sốc không mong muốn. Lạm phát và giá dầu tăng cao đang tác động đan xen vào nhau.

Tình hình giá dầu diễn biến cực kỳ sôi động. Giá dầu thô Brent có thời điểm đạt mức cao gần 140 USD/thùng và cao nhất kể từ tháng 7/2008 trước khi lùi về mức 128 USD/thùng.

Cùng với đó, sự gián đoạn chuỗi cung ứng kéo dài, các đợt tăng giá và chi phí kinh doanh tăng do giá năng lượng và hàng hóa cũng như chi phí đầu vào, nguyên liệu và hậu cần cao đã càng trở nên tồi tệ hơn do nguồn cung bị ảnh hưởng tiêu cực từ tác động của cuộc chiến Nga – Ukraine gây ra cũng như từ cú sốc giá.

Suy thoái kinh tế trong bối cảnh lạm phát toàn cầu

Lạm phát cao liên tục và các cú sốc giá dầu mang lại tác động kép tới kinh tế thế giới, làm suy giảm thêm triển vọng tăng trưởng và đẩy lạm phát cao hơn vào thời điểm mà dự báo về lạm phát đã trở nên thiếu chính xác.

Các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là Mỹ và châu Âu, phải đối mặt với cú sốc kép do lạm phát và giá dầu tăng cao. Theo thống kê, thực phẩm và phương tiện đi lại chiếm 27,9% tỷ trọng chi tiêu của người tiêu dùng vào năm 2020. Lạm phát và giá nhiên liệu đắt đỏ làm giảm sức mua thực tế của các hộ gia đình. Chi phí kinh doanh tăng và tình trạng thiếu công nhân đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp, dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm đáng kể. Trong khi đó, một số doanh nghiệp không thể hấp thụ được khoản tăng chi phí này và đã chuyển phần tăng cho người tiêu dùng, chính vì vậy, việc tăng giá cũng có giới hạn.

Các biện pháp trừng phạt kinh tế và tài chính khắc nghiệt đối với nền kinh tế Nga sẽ có tác động lan tỏa tiêu cực tới các nước châu Âu – những khách hàng mua dầu và khí đốt tự nhiên của Nga, cũng như kinh tế Mỹ thông qua kênh tài chính.

Ông Lee Heng Guie dự báo sẽ có những thay đổi liên tục trên thị trường tài chính toàn cầu khi các nhà đầu tư tiếp tục đánh giá sự sụt giảm kinh tế và tài chính trực tiếp và gián tiếp do giá năng lượng, hàng hóa và vật liệu công nghiệp tăng cao cũng như cuộc chiến Nga – Ukraine.

Theo chuyên gia này, nguy cơ xảy ra suy thoái kinh tế và lạm phát toàn cầu nếu các cú sốc giá dầu và lạm phát cao kéo dài, trong đó kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng chậm lại, nghiêng về tình trạng suy thoái. Cùng với đó, các điều kiện tài chính thắt chặt hơn và sự điều chỉnh mạnh mẽ của thị trường chứng khoán cũng như các tác động dẫn đến sự tự tin và tâm lý kinh doanh, người tiêu dùng và nhà đầu tư sẽ làm trầm trọng thêm những hậu quả tiêu cực đối với kinh tế toàn cầu.

Tình huống lưỡng nan

Liệu Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, có thể giải cứu? Kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng chậm lại trong những quý gần đây do phải hứng chịu nhiều luồng gió suy thoái từ tài sản bị thổi phồng quá ức, cuộc đàn áp nợ rủi ro, các biện pháp ứng phó với ô nhiễm môi trường khắc nghiệt hơn và chiến lược kiểm soát Zero-COVD đã khiến tiêu dùng giảm.

CEO của SERC cho rằng kịch bản suy thoái lạm phát đình trệ toàn cầu là một rủi ro chính sách đáng lo ngại đối với Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) và các ngân hàng trung ương khác khi họ phải đối mặt với một hành động cân bằng tinh vi để kiềm chế áp lực giá mạnh nhất trong nhiều thập kỷ mà không làm nền kinh tế “trật bánh”.

Ông chỉ ra, những sai lầm về chính sách của các ngân hàng trung ương sẽ không chỉ gây tốn kém mà còn mang lại nhiều bất lợi cho kinh tế toàn cầu. Hành động hay không hành động cứng rắn với lạm phát là vấn đề mấu chốt mà các ngân hàng trung ương cần phải giải quyết. Nếu các thể chế tài chính này hoãn việc tăng lãi suất hoặc chọn từ từ thắt chặt tốc độ chính sách tiền tệ để cứu vãn tăng trưởng, điều này sẽ đẩy nhanh tốc độ lạm phát và làm trầm trọng thêm lạm phát đình trệ.

FED đã báo hiệu sắp có động thái tăng lãi suất ngắn hạn bằng cách duy trì lập trường “diều hâu” để kiềm chế lạm phát gia tăng nếu được bảo đảm. Trong khi đó, giới đầu tư đang lo ngại sâu sắc về một cuộc suy thoái tiềm ẩn trong nền kinh tế Mỹ do FED quyết tâm giảm lạm phát thông qua việc tăng lãi suất tích cực kết hợp với tác động từ các cú sốc về nguồn cung và giá dầu.

Trong lịch sử, FED đã có các “động thái diều hâu” nhằm ngăn chặn áp lực lạm phát gia tăng và gây ra suy thoái nghiêm trọng trong các cú sốc giá dầu lần thứ nhất và thứ hai vào các năm 1973 – 1974 và 1978 – 1979.

Câu hỏi đặt ra hiện nay là cách thức sử dụng chính sách tài khóa (các gói kích thích kinh tế lớn) để khắc phục các tác động làm giảm tăng trưởng của các cú sốc liên quan đến cuộc chiến Nga – Ukraine? Kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, nhiều chính phủ đã cạn kiệt nguồn tài chính, chi tiêu quá mức trong cán cân ngân sách với thâm hụt lớn và nợ nần chồng chất. Về bản chất, chính sách tài khóa có những hạn chế để chống lại cúc sốc lạm phát và bắt nguồn từ nguồn cung và chi phí thúc đẩy trong khi cần có thời gian để tăng sản ượng và tổng cung để đáp ứng nhu cầu.

Nguồn: TKNB – 14/03/2022

Biến động của thị trường tài chính trong bối cảnh giá cả tăng mạnh – Phần cuối


So sánh tốc độ tăng giá trong khoảng thời gian 10 năm/lần 60 năm qua với mức bình quân trong lịch sử, có thể thấy thời kỳ lạm phát kèm suy thoái từ năm 1973 – 1982 có tính đặc thù rõ rệt, chỉ số giá của tất cả các nền kinh tế thật không những tăng lên cao nhất trong lịch sử, mà còn tăng hơn gấp đôi so với mức bình quân trong lịch sử. Xét từ biểu hiện của giá tài sản, tốc độ tăng trưởng hàng năm kép của chỉ số S&P 500 trong tài sản có rủi ro là 9%, chỉ số tổng lợi nhuận từ trái phiếu doanh nghiệp là 7,6%, cao hơn khoảng 80 điểm cơ bản so với chỉ số tổng lợi nhuận của trái phiếu chính phủ; chỉ số tổng lợi nhuận của vàng và trái phiếu chính phủ gần bằng nhau, tốc độ tăng trưởng hàng năm kép thấp hơn 7% có thể coi là sự phản hồi mang tính đại diện để tránh rủi ro. Xét từ tỷ lệ lợi nhuận thu được giữa các khoảng thời gian 10 năm/lần, vàng và cổ phiếu có đặc điểm lâu dài và ổn định nhất, trong một nửa thời kỳ của giai đoạn 1963 – 1972, 1973 – 1982, 2003 – 2012 khi mà tỷ lệ lợi nhuận của vàng tăng lên rõ rệt, tốc độ tăng trưởng hàng năm kép của chỉ số S&P 500 thấp hơn 8%.

Thị trường vốn trong thời kỳ lạm phát cao trước hết phải tránh rủi ro, dự báo sẽ bị thu hẹp, sự phân phối giữa chiến lược Barbell và ngành sản xuất chế tạo sẽ chiếm ưu thế.

Trong 3 quý đầu năm 2021, lạm phát mang tính cơ cấu với đặc trưng chủ yếu là chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng vọt đã trở thành một trong những đặc điểm chính của sự phục hồi không đồng đều trong nền kinh tế toàn cầu, trong đó biến động chỉ số PPI thành phẩm, PPI nguyên liệu của Mỹ lần lượt lên tới 13,8% và 46,3%, cao hơn mức bình quân trong 10 năm kinh tế đình trệ do lạm phát. Cân nhắc đến lạm phát với đặc trưng chủ yếu là cú sốc cung hiện nay có tính chất giống với giai đoạn từ năm 1973 – 1982 và dịch COVID-19 là yếu tố tác động chủ yếu cũng có tính khó đoán định tương đối lớn, cho nên xem xét biểu hiện giá tài sản của chu kỳ lạm phát cao có ý nghĩa tham khảo nhất định.

Trên thị trường trái phiếu, trong thời kỳ chỉ số PPI của doanh nghiệp tăng cao, Mỹ thường có hiện tượng chênh lệch lãi suất kỳ hạn bị thu hẹp và tín dụng tăng cao. Cụ thể, do thắt chặt chính sách tiền tệ và tình hình lạm phát trong ngắn hạn xấu đi, nên chênh lệch lãi suất giữa trái phiếu chính quyền địa phương kỳ hạn 20 năm với trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm, giữa lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm và lãi suất ngắn hạn đang bị thu hẹp, khi đó ưu thế của chiến lược Barbell trở nên nổi bật hơn. Tức là cùng với việc nắm giữ trái phiếu dài hạnh giành được sự chênh lệch giữa giá mua vào và giá bán, thông qua việc nắm giữ và tái đầu tư trái phiếu ngắn hạn giành được trái phiếu giảm giá hoặc bán khống trái phiếu ngắn hạn để giành lấy lợi tức vốn nhằm bổ sung lãi suất tăng lên, khiến giá trái phiếu dài hạn giảm xuống; giá cả các loại hàng hóa tín dụng cao có thuộc tính tránh rủi ro tăng lên, chênh lệch về tỷ lệ lợi nhuận giữa trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ sẽ được thu hẹp, cho thấy sức ép kép giữa lợi nhuận doanh nghiệp và rủi ro tín dụng trong môi trường kinh tế đình trệ do lạm phát.

Về thị trường chứng khoán, việc đánh giá thời kỳ cùng tồn tại tình trạng lạm phát cao và thắt chặt tiền tệ trong lịch sử đã giảm xuống rõ rệt, hệ số giá lợi nhuận trên một cổ phiếu (P/E) trong giai đoạn 1973 – 1982 của chỉ số S&P 500 đã giảm xuống từ 18,71 xuống còn 8,47 gần mức thấp nhất trong lịch sử, giá cả sau khi điều chỉnh lạm phát cũng giảm gần 50%. Khi so sánh theo chiều ngang, lấy Mỹ làm tham chiếu, chỉ số cổ phiếu của những doanh nghiệp có mức vốn hóa cao và trugn bình sau khi điều chỉnh lạm phát ở ba nước là Nhật Bản, Đức, Anh, có giá trị gia tăng của ngành sản xuất chế tạo chiếm tỷ trọng tương đối cao trong GDP, lần lượt là 25,5%, 10,6% và 11,9% trong khoảng thời gian 10 năm kinh tế đình trệ do lạm phát, trong khi Pháp, quốc gia có tỷ trọng ngành sản xuất chế tạo khá thấp, lại là -9,2%.

Kinh nghiệm cho thấy niềm tin của người tiêu dùng là chỉ số nhận định tương lai trong thời kỳ lạm phát kém suy thoái.

Nhìn chung, sự liên kết giữa thị trường tài chính trong thời kỳ lạm phát cao và tình hình của nền kinh tế thật khá chặt chẽ. Xét từ số liệu thống kê của Mỹ trong lịch sử, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng là thước đo để đánh giá thị trường chứng khoán và chỉ số trái phiếu của Mỹ trong thời kỳ kinh tế đình trệ do lạm phát, đặc biệt là chỉ số tổng thu nhập của S&P 500, trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp đã trải qua hai lần chạm đáy sau đó đi lên vào cuối năm 1974 và nửa cuối năm 1982, trong khi chỉ số niềm tin của người tiêu dùng (đặc biệt là dự báo) đều phát huy vai trò chỉ báo rõ rệt. Ngược lại, tình hình khởi sắc của ngành sản xuất chế tạo tại Mỹ lại chậm hơn so với biến động của chỉ số trái phiếu và cổ phiếu sau khi điều chỉnh PPI. Cho dù là dùng sản phẩm tiêu dùng ngành sản xuất chế tạo và đơn đặt hàng nguyên liệu mới hay tỷ lệ sử dụng năng lực sản xuất của toàn ngành để đánh giá, chỉ số của nền kinh tế thật trong thời kỳ kinh tế đình trệ do lạm phát đều kém hơn so với chỉ số mang tính đại diện của trái phiếu và cổ phiếu lần lượt là khoảng ba quý và hai quý.

Về lâu dài, thu nhập thực tế của Mỹ đánh giá theo chi phí lao động trên một đơn vị của ngành sản xuất chế tạo sẽ có tính thuận chu kỳ, phần lớn thời gian đều thay đổi cùng với các đơn đặt hàng chưa hoàn thành trong ngành sản xuất chế tạo (chậm khoảng 1 quý). Tuy nhiên, niềm tin của người tiêu dùng và dự báo lạm phát xấu đi do hai cú sốc cung vào năm 1973 và năm 1980 đã làm gia tăng sức ép phải tăng thu nhập cho người lao động, tiếp đó thúc đẩy đường cong Phillips lên, dẫn đến mối quan hệ đảo chiều trong ngắn hạn giữa thu nhập thực tế và các đơn đặt hàng chưa hoàn thành, và ảnh hưởng của nó cũng khiến giá cả của ngành dịch vụ tăng mạnh. So sánh sau khi dịch COVID-19 bùng phát năm 2020 với hai cú sốc cung trong thời kỳ kinh tế đình trệ do lạm phát từ lịch sử, có thể thấy chi phí lao động của ngành sản xuất chế tạo do dịch bệnh gây ra tăng lên sẽ tiếp tục trong ngắn hạn. Mặc dù mức độ suy giảm của những đơn đặt hàng chưa hoàn thành trong ngành sản xuất chế tạo tương đương với giai đoạn 1980 – 1982, nhưng sự thay đổi của chi phí lao động trên một đơn vị sản xuất sẽ vượt qua trước kia; hai cú sốc cung trong lịch sử lần lượt kéo dài trong khoảng 24 và 15 tháng, nhưng chỉ 8 tháng sau cú sốc lần này tốc độ tăng của chi phí lao động trong ngành sản xuất chế tạo đã trở về mức trước dịch COVID-19, giá cả ngành dịch vụ cũng không tăng vọt.

Nguồn: www.ftchinese.com

TLTKĐB – 11/12/2021

Biến động của thị trường tài chính trong bối cảnh giá cả tăng mạnh – Phần đầu


Thành Thực

Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ICBC

Vương Vũ Triết

Chuyên gia kinh tế Ngân hàng ICBC

Hiện nay, cú sốc cung do dịch COVID-19 gây ra vẫn đang gây sức ép với chuỗi cung ứng và giá cả hàng hóa toàn cầu, trong khi chính sách thắt chặt tiền tệ mà các ngân hàng trung ương chủ chốt trên thế giới sắp thực hiện có thể sẽ làm thay đổi thị trường tài chính.

Triển vọng năm 2022, dự đoán quan hệ cung cầu dần quay lại trạng thái bình thường sẽ không thể tách rời nhận thức của quy luật về chu kỳ dài hạn, phản ứng của thị trường trong thời kỳ kinh tế đình trê do lạm phát, kinh nghiệm lịch sử từ các giai đoạn đặc biệt và việc nắm bắt bước ngoặt từ những thay đổi bất thường hay bình thường. Điều này phụ thuộc vào sự hiểu biết đối với trạng thái tương tác giữa các thực thể và tài chính trong thời kỳ quá độ.

Thông qua sự điều chỉnh đối với hàng hóa theo sóng Kondratieff (chu kỳ kinh tế dài hạn về giá cả hàng hóa và các loại giá khác, thường được cho là kết quả của sự cải tiến công nghệ, theo sau là một thời kỳ thịnh vượng xen kẽ với suy giảm kinh tế – ND) của Mỹ trong thời gian gần đây và biểu hiện của tài sản tài chính, cũng như những nghiên cứu đối với đặc trưng của thị trường lạm phát, người viết cho rằng: Thứ nhất, trước xu thế rút khỏi của các chính sách tiền tệ phi truyền thống, ngoài giá cả của ngành sản xuất chế tạo, có nhiều khả năng chỉ số của nhiều mặt hàng khác sẽ cao hơn tốc độ tăng trưởng nguồn cung tiền; thứ hai, so với biểu hiện của giá trị trung bình trong lịch sử, giá cả hàng hóa trong thời kỳ lạm phát kèm suy thoái cao hơn giá trị tài sản tài chính, mức độ cộng hưởng của năng lượng – là trung tâm của các bất ổn trên thị trường tài chính – với giá cả các loại hàng hóa khác nhau đều đáng để quan tâm; thứ ba, do được hưởng lợi từ chênh lệch lãi suất kỳ hạn đang thu hẹp và tín dụng tăng cao, nên ưu thế từ chiến lược Barbell (chiến lược Barbell đặc trưng bao gồm việc lựa chọn trái phiếu với thời gian đáo hạn ngắn và rất dài hạn. Cấu trúc kỳ hạn của một danh mục đầu tư có thể kéo dài hoặc thu ngắn tùy theo lượng chứng khoán ở cả 2 cực của phạm vi đáo hạn) của thị trường trái phiếu trong môi trường lạm phát cao và sách lược tín dụng cao sẽ rất nổi bật; thứ tư, trong bối cảnh lạm phát vẫn tiếp diễn và thắt chặt tiền tệ, thị trường chứng khoán có hy vọng chào đón thời kỳ thu hẹp giá trị về tổng thể, năng lực cung ứng của ngành sản xuất chế tạo có thể trở thành nguồn gốc tỷ suất sinh lời bất thường; thứ năm, niềm tin của người tiêu dùng (dự báo) có thể là chỉ số tiềm năng để nắm bắt tình trạng kinh tế đình trệ do lạm phát, phản ứng của thị trường tài chính thường đi trước những thay đổi và khởi sắc của khâu sản xuất; thứ sáu, nếu dịch COVID-19 vẫn tiếp diễn và diễn biến hình thái do cú sốc nguồn cung khó có thể dự đoán, thì sự dịch chuyển trong ngắn hạn của đường cong Philips (biểu thị quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát – ND) lại càng quan trọng hơn so với hình trạng của nó trong quá trình phát đoán tính liên tục và tác động của lạm phát.

Giá hàng hóa/tài sản chủ yếu của Mỹ trong thời gian dài đều tăng nhanh hơn so với tốc độ bơm tiền, nguồn cung năng lượng sẽ chi phối sự biến động của các loại hàng hóa chiến lược.

Trong sóng Kondratieff gần 60 năm qua, Mỹ có nguồn số liệu về giá tài sản và tài sản tài chính tương đối hoàn chỉnh, điều này cung cấp tài liệu nghiên cứu thực tế cho việc phân tích xu hướng trong dài hạn và sự thay đổi trong ngắn hạn của nhiều loại tài sản. So sánh các chỉ số giá cả mang tính đại diện như từ cao đến thấp, từ sản xuất chế tạo đến dịch vụ, từ tiền tệ đến tài sản, từ né tránh rủi ro đến rủi ro… có thể phát hiện, lấy tăng trưởng M2 (lượng tiền mặt trong lưu thông + tiền gửi của dân cư và doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng; trong đó bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm) của Mỹ làm thước đo (đã gấp hơn 7 lần kể từ năm 1963 đến nay), về lâu dài chỉ có chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm của ngành chế tạo và giá thành sản phẩm chưa thể tăng mạnh, tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ và giá tiêu dùng nhìn chung đều ổn định trên chỉ số M2. Về tài sản, lợi nhuận của chỉ số S&P 500 tăng 160 lần, các chỉ số trái phiếu chính và hoàn trả bằng vàng tăng hơn 20 lần, giá nhà ở tăng hơn 10 lần.

So với các chỉ số khác, mặc dù biểu hiện lâu dài của giá sản xuất nguyên liệu thô tương đương với M2, nhưng lại có mức biến động lớn nhất, chủ yếu bắt nguồn từ sự thay đổi mang tính chu kỳ của giá cả các hàng hóa chiến lược. Năm 2021, giá cả các hàng hóa chiến lược trên thế giới tăng vọt, giá năng lượng và phi năng lượng trong quý III lần lượt tăng lên 68,5% và 14,5%, đây cũng là hình ảnh thu nhỏ của nguồn gốc biến động giá cả các hàng hóa chiến lược trong chu kỳ lâu dài. Từ năm 1960 đến nay, giá năng lượng toàn cầu tăng gần 50 lần, nhưng biên độ tăng thấp nhất mang tính giai đoạn tính đến tháng 4/2020 chưa đến 13 lần; giá hàng hóa phi năng lượng trong cùng kỳ tăng chưa đến 5 lần, trong đó có phân bón, kim loại, quặng sắt có biên độ tăng tương đối cao cũng thấp hơn 10 lần. Xét từ sự biến động giá cả các hàng hóa chiến lược, các loại hàng hóa chủ yếu có đặc điểm cộng hưởng mang tính chu kỳ tương tự, trong khi giá dầu thô, khí đốt và vàng luôn đi đầu trong thời gian dài.

Tốc độ tăng của giá cả hàng hóa thời kỳ lạm phát kèm suy thoái đều cao gấp đôi bình thường, tài sản tài chính cũng thể hiện sự suy yếu tương đối.

Để tìm kiếm một số chi tiết mang tính giai đoạn từ sự thay đổi lâu dài của chu kỳ sóng Kondratieff, chúng ta sẽ tháo gỡ chu kỳ trong khoảng 10 năm/lần đối với số liệu thống kê giá cả nhiều loại hàng hóa của Mỹ trong gần 60 năm qua, nhằm vạch rõ một số phương hướng khác thường trong ngắn hạn. Từ lâu nay, tốc độ tăng giá cả trong nền kinh tế thật sự ở Mỹ có ba đặc điểm chính: tốc độ tăng trưởng hàng năm kép (CAGR) của M2 (3,7%) được coi là “mỏ neo” giữ ổn định của giá cả phần lớn các loại hàng hóa, trong khi chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm của ngành chế tạo (1,8%) chênh lệch khá rõ rệt so với giá trung bình của bất động sản (5,5%).

(còn tiếp)

Nguồn: www.ftchinese.com

TLTKĐB – 11/12/2021

Phỏng vấn William Easterly – Phần cuối


AN: Có những điều kiện về thể chế nhất định nào cần thiết để những “người tìm kiếm” có thể hoạt động hiệu quả? Nói cách khác, cần phải có những thứ tương tự như quyền sở hữu tài sản, luật pháp và giảm thiểu tham nhũng để những người tìm kiếm mà ông nói đến hoạt động được hay không? Hay ông thậm chí không cần cả những điều đó?

WE: Phương tiện quyết định để thoát nghèo là một thị trường tự do hoạt động tốt, tạo ra nhiều “người tìm kiếm” ở địa phương, giải quyết tất cả các vấn đề cho người nghèo, giúp người nghèo làm điều họ muốn, tạo việc làm cho họ, giúp họ có thể kiếm được thu nhập và thoát nghèo. Và tất nhiên, để thị trường tự do có thể hoạt động, bạn cần có quyền sở hữu tài sản, luật pháp, sự hòa bình tối thiểu ở địa phương, sự kiểm soát tội phạm và tình trạng vô luật pháp,… Tất nhiên điều đó không có nghĩa là nếu không có các thể chế này thì người nghèo không có hy vọng gì. Tôi nghĩ rằng vẫn có cách giải quyết ngay cả khi Chính phủ và các thể chế hoàn toàn hoạt động không hiệu quả. Trước hết, người nghèo không nhìn nhận đầy đủ về khả năng sáng tạo của họ trong việc hình thành các hiệp hội nhỏ và đưa ra các giải pháp chi tiết trong các xã hội đơn thuần và vô luật pháp.

Bạn biết đấy, người dân ở các nước nghèo đã hình thành các tổ chức khu phố để giải quyết tình trạng tội phạm. Họ hình thành các hiệp hội luân chuyển tiết kiệm và tín dụng, ngay cả khi hoàn toàn không có thị trường tài chính, để cung cấp các chức năng giống như thị trường tài chính. Người dân nghèo rất khéo léo trong việc vượt qua những thể chế chưa có và đối mặt với tình trạng vô luật pháp.

Các nhân viên viện trợ cũng cần sáng tạo trong việc vượt qua những rào cản của các thể chế đang trục trặc. Một trong những sai lầm đáng lo ngại nhất của ngành công nghiệp viện trợ là nhất định phải viện trợ thông qua Chính phủ của quốc gia có chủ quyền. Hầu hết Chính phủ các nước nghèo sẽ không sử dụng tiền viện trợ theo cách mang lại kết quả cho người nghèo. Tôi nghĩ mọi việc sẽ tốt hơn nhiều nếu các nhân viên cứu trợ bỏ qua các Chính phủ và các thể chế không thực hiện tốt chức năng; và nghĩ đến những chương trình có thể mang tiền trực tiếp đến cho người nghèo. Họ có thể mang hàng hóa đến trực tiếp cho người nghèo – thuốc men, màn ngủ, vaccine. Để khoan giếng cho người nghèo có thể tiếp cận với nước sạch, bạn không nhất thiết phải nhờ đến Chính phủ. Điều đó có thể được thực hiện bởi một tổ chức viện trợ hoặc một tổ chức phi chính phủ.

Rất nhiều thứ có thể được thực hiện từ dưới lên. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã quá chú trọng cố gắng làm việc thông qua Chính phủ và làm cho Chính phủ hoạt động tốt hơn. Tôi không cho đó là điều mà những người từ bên ngoài có thể thực hiện hiệu quả. Tôi không nghĩ có điều kiện nào đi kèm với viện trợ có hiệu quả trong việc khiến cho các chính phủ hoạt động kém hiệu quả ở các nước nghèo có thể hành xử tốt hơn so với việc không có những điều kiện đó.

Và tôi ước rằng các cơ quan viện trợ sẽ sáng tạo hơn, không phải lúc nào cũng phải nhất định làm việc thông qua tổ chức mà họ gọi một cách sùng bái là chính quyền quốc gia có chủ quyền. Chính phủ ở các nước nghèo thường khả yếu và không thật sự ảnh hưởng nhiều đến đời sống của dân nghèo, họ biến mất chẳng thấy tăm hơi khi cần đến, họ không hình thành các thể chế và dịch vụ công chính thức như Chính phủ của các nước giàu có đã làm.

AN: Theo kinh nghiệm của ông, lịch sử văn hóa đóng vai trò quan trọng như thế nào trong sự phát triển kinh tế? Liệu có thể tạo ra một xã hội có tinh thần kinh doanh thích hợp cho cách tiếp cận tìm kiếm bằng việc đơn giản thay đổi các đặc điểm của Chính phủ và hệ thống hành chính không? Hay cần có những thay đổi sâu sắc hơn về văn hóa?

WE: Các giá trị văn hóa và các chuẩn mực về hành vi, các chuẩn mực xã hội, rất quan trọng trong việc thị trường hoạt động hiệu quả hay không, và từ đó quyết định thị trường tự do có phát triển thịnh vượng hay không. Hầu hết các giao dịch thị trường đòi hỏi một mức độ tin tưởng nhất định giữa các bên thực hiện giao dịch. Liệu người ta có tin tưởng vào nhau không, liệu người ta có hành xử một cách đáng tin cậy không, liệu người ta có giữ lời hứa không, liệu người ta có thực hiện lời nói không, liệu họ có xuất hiện đúng giờ không – đó là những yếu tố rất quan trọng trong việc thị trường tự do hoạt động tốt đến đâu, và từ đó có thể thành công đến đâu.

Nhưng tôi không nghĩ rằng có ai đó đã tìm cách tạo ra hoặc thay đổi giá trị, hoặc thậm chí là chỉ hiểu được rõ ràng nguồn gốc của các hệ thống giá trị khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Tại sao một số xã hội lại có niềm tin niều hơn ở các xã hội khác? Rõ ràng là có nhiều tiêu chuẩn khác đóng vai trò trong đó, chẳng hạn như làm việc chăm chỉ, như việc bạn hy sinh đến đâu cho tương lai và con cái. Nhưng vấn đề này rõ ràng là có liên quan, nhưng tôi nghĩ các nhà khoa học xã hội đang thực sự ở giai đoạn sơ khai về kiến thức cũng như các yếu tố quyết định của các giá trị này và cách thay đổi chúng.

Chúng tôi nhận thấy sự khác biệt lớn về chuẩn mực xã hội (social norm) giữa các xã hội, nhưng không thực sự giải thích được. Và chúng tôi thực sự không biết điều gì dẫn tới chuẩn mực nào. Có thể đói nghèo tạo ra chuẩn mực giá trị, chứ không phải ngược lại – rằng nếu bạn đang nghèo và phải sống trong một xã hội kém phát triển, thì mức lương nhận được cho công việc nặng nhọc không phải là quá cao. Do đó bạn có thể không đánh giá cao công việc nặng nhọc. Đó có thể là một ví dụ cho thấy đói nghèo tạo ra chuẩn mực giá trị như thế nào, rằng bạn không đánh giá cao công việc nặng nhọc.

Tôi nghĩ rằng bạn phải bắt đầu với niềm tin cơ bản rằng con người khá giống nhau ở mọi nơi, ở mọi điểm chung: họ đều có động lực muốn có cuộc sống tốt hơn. Một số người không đủ may mắn nên bị mắc kẹt trong các xã hội hoạt động kém, có thể bao gồm các giá trị xấu và những hạn chế về văn hóa. Những người khác thì may mắn được sống trong những xã hội hoạt động hiệu quả.

AN: Nghiên cứu nào về kinh tế phát triển đã giúp nâng cao hiểu biết của chúng ta nhiều nhất trong ba mươi năm qua? Và theo ông, vấn đề nổi bật nhất vẫn cần có thêm nghiêm cứu là gì?

WE: Tôi nghĩ rằng sự khám phá về thể chế của các nhà kinh tế học đã là một bước tiến to lớn, bắt đầu bằng những người như Douglas North. Và sau đó là làn sóng nghiên cứu của một thế hệ các nhà kinh tế học trẻ hơn đã cố gắng chứng minh trong thống kê và kinh tế lượng về những ý tưởng sáng suốt của North, rằng các thể chế thực sự đã giải thích rất nhiều cho sự khác biệt trong kết quả phát triển – các thể chế như quyền sở hữu tài sản và luật pháp, không có tham những… Tôi nghĩ rằng sự khác biệt đó là rất lớn.

Toàn bộ lĩnh vực kinh tế chính trị đã trở thành một bước nhảy vọt trong phát triển; Khi tôi bắt đầu làm việc tại Ngân hàng Thế giới, mọi người sẽ tham gia vào sự cổ súy dựa vào đạo đức một cách thiếu suy nghĩ để các Chính phủ hành xử tốt hơn mà không hiểu được những yếu tố quyết định của các nhà lãnh đạo tồi tệ đã được lựa chọn, hoặc không hiểu tại sao các nhà lãnh đạo tồi tệ vẫn nắm giữ quyền lực. Và khi không hiểu đâu là nguyên nhân khiến các Chính phủ tồi tệ ngày càng củng cố được quyền lực, cổ súy dựa vào đạo đức để có các chính sách và thể chế kinh tế tốt hơn sẽ không ích lợi gì.

AN: Trong các lĩnh vực mà ông nghĩ cần có nhiều nghiên cứu hơn, có lĩnh vực nào nổi bật không, thưa ông?

WE: Tôi nghĩ vấn đề về các chuẩn mực giá trị mà chúng ta vừa nói đến chắc chắn là một lĩnh vực cần nhiều nghiên cứu hơn. Mặc dù chắc chắn các Chính phủ sẽ là nguyên nhân cho nhiều trường hợp cực đoan về quản lý kém, như Robert Mugabe của Zimbabwe, tôi nghĩ rằng người ta hơi quá chú trọng đến Chính phủ trong các thảo luận về phát triển. Chúng ta không hiểu một cách đầy đủ về những gì diễn ra bên dưới, nơi mà cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng nhiều bởi các quy tắc, định kiến và hành vi của hàng xóm, hơn là bởi một vài quan chức Chính phủ ở xa. Điều gì khiến cho các xã hội tuân theo một số quy tắc nhất định một cách không chính thức, dẫn đến một số xã hội thịnh vượng, một số xã hội khác lại không được như thế – đó là điều mà chúng ta vẫn chưa hoàn toàn hiểu rõ. Đó chính là một lĩnh vực mà tôi nghĩ còn có thể đẩy mạnh việc nghiên cứu. Chúng ta đã thực hiện một số cuộc thăm dò có giá trị, nhưng còn có thể làm được nhiều hơn nữa để hiểu được những gì đang quyết định trật tự tự phát của xã hội – xã hội dưới hình thức một hệ thống phân quyền, mọi người ở đó tuân theo các quy tắc nhất định chỉ vì họ chịu áp lực xã hội! Nhưng các quy tắc ở mỗi xã hội đều khác nhau.

Đó là một lý do khác khiến tôi là người hâm mộ Friedrich Hayek; ông ấy đã đi trước thời đại một cách đáng ngạc nhiên trong sự hiểu biết của ông về nền kinh tế như một dạng trật tự tự phát. Ngày nay, rất nhiều người trong chúng ta rất phấn khởi về phong cách phi tập trung mà Internet đã phát triển, và những người này đang có những nghiên cứu về sự xuất hiện của trật tự tự phát và những điều tương tự. Đó là thứ mà Hayek tiên đoán từ 50 năm trước, điều đó cho thấy trí tuệ vượt thời đại đáng kinh ngạc của ông ta. Và câu hỏi đó đang quay lại trong kinh tế học hiện nay – cố gắng hiểu trật tự tự phát đó và điều gì làm cho nó xảy ra.

AN: Khi nhìn vào các nước đang phát triển và vấn đề tăng trưởng kinh tế, ông lạc quan hay bi quan, và tại sao, thưa ông?

WE: Tôi là một người lạc quan và không quá cấp tiến. Tôi nghĩ rằng sự kỳ vọng quá cao đối với sự phát triển đã được tạo ra bởi các phiên bản giả khoa học trong kinh tế học phát triển, nó cho rằng các quốc gia có thể vượt qua đói nghèo, trở nên thịnh vượng trong một thời gian rất ngắn. Điều này hóa ra là những kỳ vọng hoàn toàn không thực tế. Thật sự chúng ta không thể thực hiện liệu pháp sốc, giống như những gì mọi người cố gắng thực hiện ở các nước theo chủ nghĩa cộng sản trước đây, hoặc để thực hiện những gì được gọi là “cú đẩy khổng lồ” (big push) bằng viện trợ nước ngoài, khi đó bạn sẽ đưa các xã hội thoát khỏi đói nghèo, tiến đến thịnh vượng trong một thời gian rất ngắn. Tôi nghĩ rằng điều đó là không thể, không bao giờ có thể làm được! Ai đó sẽ cho rằng tôi là người bi quan, nếu xét theo những kỳ vọng ban đầu về sự phát triển. Nhưng tôi nghĩ rằng đó chỉ là những kỳ vọng sai lầm.

Một kỳ vọng mang tính thực tế là một số, không phải tất cả, các xã hội nghèo sẽ có sự gia tăng dần dần về mức sống, điều mà các quốc gia giàu có hiện nay đã đạt được ở Bắc Mỹ và Tây Âu. Chưa bao giờ có sự nhảy vọt ở Mỹ; chưa bao giờ có liệu pháp sốc ở Mỹ! Chỉ có sự dò tìm từng bước, từ từ tiến lên theo hướng tự do cá nhân nhiều hơn, thị trường tự do hơn, chính sách dân chủ hơn và Chính phủ tốt hơn. Và khi điều đó xảy ra, đã có một sự tăng trưởng ổn định về mức sống. Trải qua nhiều thế hệ, mọi người đã thoát nghèo, trở nên thịnh vượng. Tôi nghĩ rằng quá trình tương tự đang xảy ra ở nhiều nước đang phát triển và sẽ tiếp tục xảy ra. Nhưng nó sẽ tự phát triển trong từng quốc gia, chứ không phải do các quan chức viện trợ ở New York hay Washington thiết kế.

Theo nghĩa đó, tôi nghĩ tôi là người lạc quan. Tôi nghĩ rằng quá trình đã đưa các nước giàu thoát khỏi đói nghèo sẽ khả thi ở nhiều nước nay vẫn còn nghèo. Nhưng nó không phải là điều hiển nhiên; điều đó sẽ không diễn ra ở mọi nơi. Không có những quy luật cứng nhắc rằng tất cả các sẽ hội rồi sẽ thoát khỏi đói nghèo, trở nên thịnh vượng một cách tự nhiên. Tôi nghĩ rằng sẽ luôn có những xã hội hoạt động kém hiệu quả, bị mắc kẹt trong các Chính phủ tồi tệ, bị mắc kẹt với các thể chế tồi tệ có vẻ như không thể cải thiện, hoặc mắc kẹt trong những giá trị xấu và kết quả tồi tệ của trật tự tự phát mà chúng ta vừa nói đến.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling & Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB TH TPHCM.