Triển vọng tỷ giá đồng Nhân dân tệ so với đồng USD trong năm 2023 – Phần cuối


Cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý, các công cụ vĩ mô và thận trọng

Báo cáo năm 2021 của IMF đã điều chỉnh cơ chế tỷ giá hối đoái của đồng NDT thành cơ chế tỷ giá hối đoái neo với biên độ điều chỉnh, đặc điểm của cơ chế này là trong xu hướng nhận biết theo thống kê, mức độ biến động của tỷ giá hối đoái cần được duy trì trong phạm vi 2% và kéo dài ít nhất trong 6 tháng; nếu tỷ giá hối đoái tăng hoặc giảm liên tục, và tỷ lệ biến động hàng năm của nó không dưới 1%, thì mới có thể được định nghĩa là cơ chế tỷ giá hối đoái neo với biên độ điều chỉnh.

Báo cáo thực hiện chính sách tiền tệ trong quý 3/2022 của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc cho rằng về lịch sử, cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý đã trải qua thử thách của nhiều cú sốc bên ngoài, tỷ giá của đồng NDT có thể được điều chỉnh linh hoạt, và có thể khôi phục sự cân bằng trong khoảng thời gian tương đối ngắn và phát huy có hiệu quả vai trò làm giảm tác động của các cú sốc bên ngoài. Mặc dù tỷ giá hối đoái của đồng NDT không còn bị ngân hàng nhà nước can thiệp, nhưng vẫn phải duy trì tỷ giá ở mức hợp lý và cân bằng. Do đồng USD chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong rổ tiền tệ, nên tỷ giá của đồng NDT so với đồng USD cũng phải ổn định. Một là, can dự vào tỷ giá hối đoái thông qua công cụ vĩ mô và thận trọng thông dụng trong cộng đồng quốc tế, trong đó có một số công cụ được đưa ra kịp thời trong giai đoạn tỷ giá của đồng NDT so với đồng USD có biến động tương đối lớn. Báo cáo của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc cũng cho rằng cơc hế hình thành giá bình quân của tỷ giá đồng NDT so với đồng USD đang không ngừng được hoàn thiện, mức độ mang tính quy tắc, minh bạch và thị trường hóa được nâng cao. Hai là, sự can thiệp thông qua thị trường ngoại hối. Do tỷ giá hối đoái của đồng NDT là cơ chế tỷ giá hối đoái neo với biên độ điều chỉnh, và Mỹ lại thả nổi hoàn toàn, nên Trung Quốc có thể can thiệp một chiều ở mức độ nhất định nhằm phòng ngừa những tác động tiêu cực từ chính sách tiền tệ cấp tiến của Mỹ, tất nhiên điều này cũng có thể gây bất mãn cho các đối tác thương mại.

Triển vọng xu hướng tỷ giá hối đoái của đồng NDT so với đồng USD trong năm 2023

Về triển vọng xu hướng tỷ giá hối đoái của đồng NDT so với đồng USD trong năm 2023, có thể xem xét hai xu hướng: Một là, dựa trên các yếu tố cơ bản; hai là, dựa trên các đặc điểm của cơ chế tỷ giá hối đoái.

Sự khác biệt cơ bản giữa Trung Quốc và Mỹ: Đồng USD được định giá quá cao và đồng NDT gần ở mức cân bằng

Mục tiêu của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc là duy trì tỷ giá đồng NDT ở mức hợp lý và cân bằng, một mặt, phải thể hiện được sự ổn định của tỷ giá trong rổ tiền tệ, mặt khác thể hiện được mức tỷ giá của các loại tiền tệ trong thị trường gần bằng với mức tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER). Tháng 9/2022, IMF dự đoán đồng USD được định giá quá cao và tỷ giá hối đoái của đồng NDT được định giá coa một chút, đây là yếu tố cơ bản của đồng NDT so với đồng USD.

Về triển vọng xu hướng của đồng NDT so với đồng USD trong năm 2023, tác giả bài viết cho rằng vẫn phải dựa vào đặc điểm cơ chế tỷ giá hối đoái neo với biên độ điều chỉnh và cơ chế tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý. Năm 2023, nền kinh tế thế giới sẽ có nhiều tính khó đoán định do lạm phát cao và rủi ro địa chính trị. Năm 2023, Trung Quốc sẽ tiếp tục thúc đẩy cải cách tỷ giá hối đoái theo định hướng thị trường, tình hình dịch COVID-19, do bất động sản, nhu cầu bên ngoài, tiêu dùng tư nhân và nhu cầu tín dụng có nhiều tính khó đoán định, nên cũng khó có thể dự đoán tỷ giá đồng NDT. Đồng thời, để duy trì tỷ giá của đồng NDT ở mức hợp lý và cân bằng, ngân hàng trung ương cũng tuyên bố sẽ kiên quyết ổn định tỷ giá hối đoái trước những biến động mạnh.

Do đó, tỷ giá hối đoái cân bằng của đồng NDT so với đồng USD trong năm 2023 sẽ tăgn cùng với đồng USD trở lại mức cân bằng, các yếu tố khó đoán định của hai đồng tiền này tăng sẽ khiến tỷ giá của đồng NDT so với đồng USD biến động, mức độ cụ thể sẽ được quyết định bởi sự kịp thời và hiệu quả của chính sách vi mô và thận trọng do ngân hàng trung ương ban hành.

Nguồn: www.ftchinese.com

TLTKĐB – 09/01/2023

Triển vọng tỷ giá đồng Nhân dân tệ so với đồng USD trong năm 2023 – Phần đầu


Đàm Khưu Thái

Do kể từ đầu năm 2022, tỷ giá hối đoái của đồng NDT so với đồng USD đã mất giá mạnh và dao động dữ dội, nên để nhận định xu hướng tỷ giá hối đoái này trong năm 2023, tác giả bài viết cho rằng dưới các cơ chế tỷ giá hối đoái khác nhau, xu hướng tỷ giá hối đoái cũng khác nhau, vì vậy cần phải phân tích xu hướng tỷ giá hối đoái trên cơ sở cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái.

Những thay đổi trong cơ chế hình thành giá hối đoái của đồng NDT

Theo phân loại của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tỷ giá của đồng USD từ lâu đã thuộc kiểu “thả nổi hoàn toàn”. Kể từ khi Trung Quốc thực hiện cải cách tỷ giá hối đoái vào ngày 11/8/2015, cơ chế tỷ giá của đồng NDT có tương đối nhiều thay đổi. Báo cáo hàng năm về cơ chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối (AREAER) do IMF công bố năm 2015 đã điều chỉnh cơ chế tỷ giá đồng NDT thành cơ chế tỷ giá hối đoái neo với biên độ điều chỉnh (crawl-like arrangement), năm 2019 và 2020 điều chỉnh thành cơ chế sắp xếp quản lý khác (other managed arrangement), và đến năm 2021 lại điều chỉnh thành cơ chế tỷ giá hối đoái neo với biên độ điều chỉnh (crawl-like arrangement). Luật pháp Trung Quốc nêu rõ cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, tức là cơ chế hình thành tỷ giá của đồng NDT tuân theo cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý dựa trên cung và cầu của thị trường, được điều chỉnh theo rổ tiền tệ. Vì vậy, để dự đoán xu hướng tỷ giá của NDT so với đồng USD trong năm 2023, cần phân tích từ các góc độ sau: Một là, yếu tố thị trường; hai là, yếu tố quản lý (yếu tố quản lý của chính phủ được thể hiện ở việc phát huy chức năng tự điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô và ổn định cán cân thanh toán quốc tế, tức là chức năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và duy trì sự ổn định giá cả của tỷ giá hối đoái), và ba là, yếu tố điều chỉnh tỷ giá hối đoái (với mấu chốt là tỷ giá của đồng NDT được duy trì ở mức hợp lý và cân bằng thông qua việc quản lý vĩ mô và thận trọng).

Yếu tố thị trường: Từ cơ bản không can thiệp đến hoàn toàn không can thiệp

Kể từ khi Trung Quốc thực hiện cải cách tỷ giá hối đoái năm 2005, đặc biệt là kể từ khi thực hiện cải cách tỷ giá hối đoái ngày 11/8/2015, tỷ giá của đồng NDT so với đồng USD đã không ngừng được nâng cao. Ngày 18/10/2017, ngay trước khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIX Đảng Cộng sản Trung Quốc (Đại hội XIX) khai mạc, Phan Công Thắng, Phó thống đốc Ngân hàng nhân dân Trung Quốc (Ngân hàng trung ương), Cục trưởng Cục quản lý ngoại hối Nhà nước, cho biết tỷ giá hối đoái của đồng NDT đã tương đối ổn định trong thời gian gần đây, hơn nữa có thể nhận thấy tỷ giá hối đoái được thúc đẩy bởi thị trường hàng hóa, về cơ bản ngân hàng trung ương đã không can thiệp ngoại hối và tỷ giá hối đoái của đồng NDT sẽ có cơ sở ổn định hơn sau Đại hội XIX. Kết quả đánh giá từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 8/2018 của IMF cho thấy Ngân hàng nhân dân Trung Quốc hầu như không còn can thiệp vào ngoại hối. Năm 2019, Thống đốc Ngân hàng nhân dân Trung Quốc Dịch Cương cho biết ngân hàng đã không còn can thiệp vào ngoại hối, mức độ thị trường hóa và tính linh hoạt của tỷ giá hối đoái đồng NDT đã được nâng cao đáng kể và nó đã duy trì được vị trí ổn định trong hệ thống tiền tệ quốc tế. Tỷ giá của đồng NDT do cung và cầu thị trường quyết định. Báo cáo thực hiện chính sách tiền tệ trong quý III/2022 của Ngân hàng nhân Trung Quốc tiếp tục cho rằng ngân hàng này đã không còn can thiệp vào ngoại hối và tỷ giá hối đoái của đồng NDT do cung và cầu của thị trường quyết định.

Tỷ giá hối đoái do cung và cầu thị trường quyết định bao gồm cả tỷ giá hối đoái cân bằng do các yếu tố cơ bản quyết định và tỷ giá hối đoái thị trường do các yếu tố gây xáo trộn gây ra. Lý thuyết kinh tế cho rằng các yếu tố cơ bản bao gồm xu hướng giá cả ở hai quốc gia, thay đổi năng suất tương đối, đầu tư quốc tế, điều kiện thương mại, biến số tài chính và chênh lệch lãi suất. Trong khi Ngân hàng nhân dân Trung Quốc cho rằng các yếu tố cơ bản bao gồm một số điểm sau: Một là, kinh tế trong nước ổn định là yếu tố quan trọng nhất để ổn định tỷ giá hối đoái, từ đó khiến các yếu tố cơ bản của nền kinh tế như có khả năng chống chịu, có tiềm năng lớn, tràn đầy sức sống và phát triển tốt trong thời gian dài không thay đổi; hai là, cán cân thanh toán quốc tế có nền tảng vững chắc là cơ sở cho sự hoạt động ổn định của thị trường ngoại hối; ba là, dự trữ ngoại hối đứng đầu thế giới là nền tảng để duy trì ổn định tỷ giá và an ninh tài chính.

Yếu tố chính phủ: Phát huy chức năng tự điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô và ổn định cán cân thanh toán quốc tế

Lý thuyết kinh tế cho rằng cơ chế thuế lũy tiến, cơ chế thanh toán chuyển giao tự động giá cả và tỷ giá hối đoái linh hoạt là những yếu tố tự động ổn định nền kinh tế thị trường, có thể giúp nền kinh tế tự thực hiện sự cân bằng. Cơ chế tự ổn định của tỷ giá hối đoái được thể hiện ở việc đồng nội tệ mất giá sẽ có lợi cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đó, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Quản lý tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của chính phủ. Ví dụ như tỷ giá hối đoái được định giá thấp có thể cải thiện khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trong nước và thúc đẩy việc nâng cao xuất khẩu ròng trong cỗ xe tam mã (đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu). Tỷ giá hối đoái tăng có lợi cho việc chống lại áp lực lạm phát do nhập khẩu và đảm bảo vật giá ổn định. Trong khuôn khổ Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20), hầu hết các quốc gia đã từ bỏ cuộc chiến tỷ giá hối đoái nhằm đẩy tai họa cho nước khác để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong Báo cáo về chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ công bố vào tháng 11/2022, Bộ Tài chính Mỹ đã xác định ba tiêu chí quan trọng đối với các đối tác thương mại chính: (1) Thặng dư thương mại song phương với Mỹ; (2) thặng dư cán cân vãng lai; và (3) can thiệp một chiều và kéo dài trên thị trường ngoại tệ.

Hiện vẫn chưa có chính sách cụ thể về việc chính phủ các nước có can thiệp vào tỷ giá hối đoái để đảm bảo ổn định vật giá hay không. Do Mỹ từ lâu đã kiên trì cơ chế tỷ giá thả nổi hoàn toàn đối với tỷ giá hối đoái của đồng NDT so với đồng USD, nên có ít khả năng can thiệp vào tỷ giá hối đoái để ổn định vật giá. Về phía Trung Quốc, trong Báo cáo thực hiện chính sách tiền tệ quý III/2022, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc hiếm khi đề xuất duy trì sự ổn định cơ bản của giá trị tiền tệ và sức mua của đồng NDT. Vì vậy, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc đã lựa chọn lấy cơ chế tỷ giá hối đoái để bảo vệ sự ổn định của vật giá.

(còn tiếp)

Nguồn: www.ftchinese.com

TLTKĐB – 09/01/2023

Dẫn luận cho Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – Phần cuối


Những chức năng không thể và không nên được chỉ đạo chỉ riêng bởi các lực lượng thị trường bao gồm nhiều trong số những điều quan trọng nhất trong đời sống con người, từ những giá trị đạo đức tới quan hệ gia đình, tới những thành tựu thẩm mỹ và trí tuệ. Nhưng chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đang thường xuyên nỗ lực mở rộng sự thống trị của nó vào các khu vực này, dưới hình thức chủ nghĩa đế quốc về hệ tư tưởng. Theo thuyết nguyên giáo thị trường, nên coi tất cả mọi hoạt động xã hội và tương tác con người là những quan hệ giao dịch buôn bán, dựa trên cơ sở hợp đồng và được đánh giá dưới góc độ một mẫu số chung duy nhất – đồng tiền. Chừng nào có thể, các hoạt động nên được điều chỉnh bởi bàn tay vô hình của cuộc cạnh tranh tối đa hóa lợi nhuận là sức định hướng mạnh mẽ hơn hết. Sự xâm nhập của hệ tư tưởng thị trường vào những lĩnh vực nằm xa bên ngoài kinh doanh và kinh tế đang có những tác động xã hội phá hoại và vô đạo đức hóa. Nhưng chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đã trở nên mạnh mẽ đến mức bất kỳ thế lực chính trị nào dám chống lại nó đề bị quy gán là tình cảm chủ nghĩa, phi logic và ngây thơ.

Nhưng chân lý lại là chính bản thân chủ nghĩa nguyên giáo thị trường là ngây thơ và phi logic. Ngay nếu chúng ta gạt sang một bên các vấn đề luân lý và đạo đức, và tập trung chỉ riêng vào vũ đài kinh tế, thì hệ tư tưởng của chủ nghĩa nguyên giáo thị trường vẫn thiếu sót một cách sâu sắc và không thể cứu vãn được. Nói một cách đơn giản, thì các lực lượng thị trường nếu chúng được trao toàn quyền ngay trên những vũ đài thuần túy kinh tế và tài chính, đều tạo ra hỗn loạn, và rút cục có thể dẫn tới sự suy sụp của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Đây là hệ quả thực tiễn quan trọng nhất của lập luận của tôi trong cuốn sách này.

Người ta tin một cách rộng rãi rằng nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản sát cánh nhau cùng đi. Thực ra mối quan hệ phức tạp hơn nhiều. Chủ nghĩa tư bản cần dân chủ với tư cách một đối trọng vì hệ thống tư bản chủ nghĩa tự nó không hề bộc lộ xu hướng vươn tới sự cân bằng. Những người sở hữu tư bản theo đuổi việc tối ưu hóa lợi nhuận của họ. Nếu được bỏ mặc cho riêng mình, họ sẽ tiếp tục tích lũy tư bản cho đến khi tình hình trở nên không cân bằng. Marx và Engels đã đưa ra một sự phân tích rất tốt về hệ thống tư bản chủ nghĩa 150 năm trước, và tôi phải nói rằng một sự phân tích tốt hơn lý thuyết cân bằng của kinh tế học cổ điển nhiều. Nhưng lý do cơ bản vì sao những tiên đoán kinh khủng của họ không trở thành sự thật là vì có những sự can thiệp chính trị đáp lại một cách tương xứng ở các nước dân chủ.

Thật không may chúng ta lại một lần nữa có nguy cơ rút ra những kết luận sai từ những bài học của lịch sử. Lần này nguy cơ không đến từ chủ nghĩa cộng sản mà từ chủ nghĩa nguyên giáo thị trường. Chủ nghĩa cộng sản xóa bỏ cơ chế thị trường và áp đặt sự kiểm soát tập thể đối với tất cả mọi hoạt động kinh tế. Chủ nghĩa nguyên giáo thị trường mưu toan xóa bỏ việc ra quyết định tập thể, và áp đặt quyền tối cao của các giá trị kinh tế đối với tất cả các mọi hoạt động kinhtế. Chủ nghĩa nguyên giáo thị trường mưu toan xóa bỏ việc ra quyết định tập thể, và áp đặt quyền tối cao của các giá trị kinh tế đối với tất cả các giá trị chính trị và xã hội. Cả hai cực đoan đều sai. Điều chúng ta cần là một sự cân bằng đúng đắn giữa chính trị và thị trường, giữa xác lập quy tắc và chơi theo các quy tắc.

Nhưng ngay cả khi chúng ta thừa nhận nhu cầu này, làm thế nào chúng ta có thể đạt được nó? Thế giới đã bước vào một thời kỳ mất cân bằng sâu sắc, trong đó không một nhà nước riêng lẻ nào có thể chống lại sức mạnh của các thị trường tài chính toàn cầu, và thực tế không có những thiết chế để xác lập quy tắc trên quy mô quốc tế. Không hề có những cơ chế ra quyết định tập thể cho nền kinh tế toàn cầu. Những điều kiện này được tôn vinh rộng rãi như là sự toàn thắng của kỷ luật thị trường, nhưng nếu các thị trường tài chính không ổn định một cách cố hữu, thì áp đặt kỷ luật thị trường nghĩa là áp đặt sự không ổn định, mà xã hội thì có thể dung thứ bao nhiêu sự không ổn định?

Song tình hình hoàn toàn không phải đã tuyệt vọng. Chúng ta phải học cách phân biệt giữa việc ra quyết định cá nhân như nó biểu hiện trong hành vi thị trường và việc ra quyết định tập thể như nó biểu hiện ở hành vi xã hội nói chung và chính trị nói riêng. Trong cả hai trường hợp, chúng ta được chỉ đạo bởi lợi ích bản thân; nhưng trong việc ra quyết định tập thể, chúng ta phải đặt lợi ích chung trước lợi ích bản thân của cá nhân ngay nếu như những người khác không làm được như thế. Đó là cách duy nhất mà lợi ích chung có thể thắng thế.

Ngày nay hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu còn đứng gần đỉnh cao quyền lực của nó. Chắc chắn nó đang bị đe dọa bởi cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay, nhưng ưu thế về hệ tư tưởng của nó không có giới hạn. Cuộc khủng hoảng châu Á đã quét đi các chế độ chuyên quyền vốn đã kết hợp lợi nhuận cá nhân với đạo đức Khổng giáo, và thay chúng bằng những chính phủ dân chủ hơn và có đầu óc cải cách hơn. Nhưng cuộc khủng hoảng cũng xói mòn khả năng của các nhà chức trách tài chính quốc tế trong việc ngăn ngừa và giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính. Còn bao lâu nữa trước khi cuộc khủng hoảng bắt đầu quét sạch cả các chính phủ có đầu óc cải cách? Tôi e rằng những phát triển chính trị do cuộc khủng hoảng tài chính gây ra rút cục có thể quét phăng cả bản thân hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Nó đã từng xảy ra trước đó.

Tôi muốn làm rõ rằng, tôi muốn ngăn hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu khỏi tự hủy hoại chính nó. Vì mục đích này, chúng ta cần khái niệm xã hội mở hơn bao giờ hết.

Hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của xã hội mở. Xã hội mở dựa trên cơ sở sự thừa nhận rằng hiểu biết của chúng ta là không hoàn hảo và hành động của chúng ta có những hậu quả không trù định trước. Tất cả mọi sự sắp xếp về thể chế của chúng ta đều có thể thiếu sót và chính vì chúng ta mong muốn chúng, chúng ta không nên từ bỏ chúng. Đúng hơn chúng ta nên tạo những thể chế gây dựng cho có các cơ chế sửa sai. Các cơ chế này bao gồm cả thị trường và nền dân chủ. Nhưng chẳng yếu tố nào trong số đó sẽ hoạt động, trừ phi chúng ta có ý thức được khả năng có thể sai lầm của chúng ta và sẵn lòng thừa nhận sai lầm của chúng ta.

Hiện nay có một sự mất cân bằng kinh khủng giữa việc ra quyết định cá nhân như nó biểu hiện ở thị trường với việc ra quyết định tập thể như nó biểu hiện ở chính trị. Chúng ta có một nền kinh tế toàn cầu mà không có một xã hội toàn cầu. Tình hình này không thể bào chữa được. Nhưng làm thế nào có thể sửa chữa nó? Cuốn sách này xin đặc biệt xét về những thiếu sót của các thị trường tài chính. Xét về các lĩnh vực đạo đức và tinh thần, nơi chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đang chen lấn vào khu vực phi thị trường, thì những quan điểm của tôi cần phải có tính thử nghiệm nhiều hơn.

Để ổn định và điều tiết một nền kinh tế thực sự toàn cầu, chúng ta cần một hệ thống toàn cầu về việc ra quyết định chính trị. Nói gọn lại, chúng ta cần một xã hội toàn cầu để hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu của chúng ta. Một xã hội toàn cầu không có nghĩa là một nhà nước toàn cầu. Xóa bỏ sự tồn tại của nhà nước là vừa bất khả thi vừa không đáng mong muốn: nhưng chừng nào có những lợi ích tập thể vượt ra ngoài biên giới nhà nước, thì chủ quyền của nhà nước phải đặt dưới luật quốc tế và các thể chế quốc tế. Điều thú vị là sự chống đối lớn nhất đối với ý tưởng này lại đang đến từ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, nước với tư cách là siêu cường duy nhất còn lại, đang rất miễn cưỡng đặt mình dưới sự lãnh đạo của bất kỳ nhà chức trách quốc tế nào. Nước Mỹ đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng bản sắc: Nó muốn là một siêu cường cô độc hay một lãnh tụ của thế giới tự do? Hai vai trò này đã có thể bị xóa mờ chừng nào thế giới tự do còn đối mặt một “đế chế xấu xa”, nhưng sự lựa chọn bây giờ tự bộc lộ ra dưới những ngôn từ trần trụi hơn nhiều. Thật không may chúng ta thậm chí còn chưa bắt đầu xem xét nó. Khuynh hướng phổ biến ở Mỹ là làm một mình. Chủ nghĩa biệt lập chỉ có thể có được biện minh nếu những người theo chủ nghĩa nguyên giáo thị trường là đúng và nền kinh tế toàn cầu có thể tự duy trì mà không cần một xã hội toàn cầu.

Điều chúng ta cần là đưa vào hoạt động một quá trình hợp tác, lặp đi lặp lại – quá trình sẽ xác định lý tưởng xã hội mở – một quá trình trong đó chúng ta công khai thừa nhận sự không hoàn hảo của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cố gắng học từ những sai lầm của chúng ta.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Thị trường mới nổi chưa từng có: Tại sao các dự báo phát triển kinh tế đều sai – Phần cuối


Tình hình hiện nay

Thật vậy, mặc dù các nhà dự báo không thừa nhận một điều là trong thập kỷ tới không có gì giống như thập kỷ đã qua, các ngôi sao kinh tế của thập kỷ tiếp theo chỉ là thứ bỏ đi của thập kỷ trước. Ví dụ, trước đây Mexico là một nền kinh tế trì trệ, thì hiện nay quốc gia này đã trở thành một trong những nền kinh tế triển vọng nhất ở Mỹ Latinh. Và Philippines, đã từng bị cười nhạo, bây giờ là một trong những nền kinh tế nóng nhất trên thế giới, với tốc độ tăng trưởng vượt 7%. 5 năm trước đây, trên trang bìa của The Economist, Pakistan được gọi là “nơi nguy hiểm nhất trên thế giới”, hiện nay quốc gia này bất ngờ có dấu hiệu ổn định tài chính. Pakistan là một trong những thị trường chứng khoán có tốc độ tăng trưởng hàng đầu trên thế giới vào năm ngoái, mặc dù vẫn đứng sau Hy Lạp, một quốc gia có tốc độ tăng trưởng đáng ngạc nhiên hơn. Một loạt các số liệu kinh tế gần đây cho thấy Hy Lạp bị hạ bậc từ “thị trường phát triển” xuống thành “thị trường mới nổi”, nhưng quốc gia này đã cắt giảm rất mạnh chi tiêu ngân sách chính phủ, cũng như về giá cả và tiền lương, giúp cho xuất khẩu có sức cạnh tranh lớn.

Những kinh nghiệm của các nước này cho thấy rõ chu kỳ chính trị đóng vai trò quan trọng đối với triển vọng của một quốc gia không kém gì chu kỳ kinh tế. Các cuộc khủng hoảng và suy thoái thường dẫn đến cải cách, có thể dẫn đến sự phục hồi hoặc bùng nổ về kinh tế. Nhưng thành công như vậy thì có thể dẫn đến kiêu ngạo và tự mãn – và tiếp theo là suy thoái. Sự bùng nổ của thập kỷ qua dường như lặp lại kịch bản này, vì gần như tất cả các quốc gia mới nổi tăng trưởng đồng loạt và suy thoái hoàn toàn cùng lúc. Song, khủng hoảng tài chính năm 2008 đã đẩy các nước mới nổi quay trở lại chu kỳ cũ. Các ngôi sao kinh tế trước đây như Brazil, Indoneisa và Nga đang mở dần do quản lý kém hoặc tự mãn. Theo Bộ trưởng Tài chính Indonesia, Muhammad Chatib Basri “thời kỳ tồi tệ làm nảy sinh ra những chính sách tốt, và thời kỳ thuận lợi làm cho chính sách kém hiệu quả”.

Bí quyết để thoát khỏi cái bẫy này là các chính phủ phải duy trì chính sách đúng đắn ngay cả trong lúc thuận lợi – đây là cách duy nhất một thị trường mới nổi chớp lấy cơ hội để bắt kịp với các nước phát triển. Nhưng làm như vậy quả là rất khó khăn. Trong thời kỳ sau chiến tranh, chỉ khoảng một chục quốc gia – một số nước ở nam châu Âu (như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) và Đông Á (như Singapore và Hàn Quốc) – đã đạt được điều này, đó là lý do tại sao chỉ 35 quốc gia trên thế giới được coi là “các nước phát triển”.

Trong khi đó, có rất nhiều khó khăn mà các quốc gia phải đối mặt để gia nhập hàng ngũ những nước phát triển do khó tăng năng suất lao động và đẩy mạnh cải cách. Điều này tương tự như con người trở nên béo phì khi giàu có và nghĩ rằng thời kỳ thịnh vượng mới chỉ bắt đầu. Thường thì sự thành công này chỉ là thoáng qua. Trong thế kỷ trước, các nước Argentina, Hy Lạp và Venezuela đều đạt mức thu nhập như phương Tây nhưng sau đó giảm trở lại.

Hiện nay, cùng với Mexico và Philippines, Peru và Thái Lan cũng đang trên đà phát triển. Bốn quốc gia này đã có chung một đặc điểm của các ngôi sao kinh tế trong thập kỷ gần đây: một nhà lãnh đạo chính trị uy tín, am hiểu về cải cách kinh tế và được đa số ủng hộ. Tuy nhiên, sự phấn khích cần phải được kiềm chế. Giai đoạn cải cách như vậy thường kéo dài từ 3 – 5 năm. Vì vậy, thế kỷ tiếp theo sẽ không phải là của Philippines hay Mexico.

Biện pháp cân bằng

Nếu các nhà dự báo không cần phải tính toán nhiều về thời gian, thì họ vẫn cần phải chú ý tới những vấn đề phức tạp sẽ nảy sinh. Để duy trì tăng trưởng nhanh chóng, các nhà lãnh đạo phải cân bằng một loạt các yếu tố, và tính đến nhiều thay đổi khi đất nước trở nên thịnh vượng hơn. Các dự án đơn giản, chẳng hạn như làm đường, có thể thúc đẩy một nền kinh tế yếu kém hơn là đẩy mạnh sự phát triển công nghệ tiên tiến quá sớm, do việc phát triển cơ sở hạ tầng cơ bản sẽ nhanh chóng mang lại lợi ích.

Hàng loạt các yếu tố này sẽ thay đổi theo điều kiện kinh tế. 5 năm sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, bùng nổ tăng trưởng tín dụng vẫn là một vấn đề nan giải, đặc biệt khi nó tăng trưởng nhanh hơn so với GDP.

Trên thực tế, tăng trưởng tín dụng quá mức là gánh nặng cho các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc – quốc gia dựa vào tín dụng để duy trì tăng trưởng kinh tế. Khi được coi là một Trung Quốc tiếp theo, Việt Nam thậm chí còn vượt Trung Quốc trong lĩnh vực này, nhưng kết quả đã không như mong muốn: Việt Nam đã phải chịu suy thoái kinh tế do nợ và bây giờ quốc gia này bắt đầu tái cơ cấu hệ thống tài chính và đóng cửa các ngân hàng yếu kém.

Để giữ cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, các nhà lãnh đạo cần phải đảm bảo tăng trưởng dựa trên sự cân bằng các tài khoản quốc gia (không quá phụ thuộc vào vay nợ), cân bằng lợi ích của các tầng lớp xã hội (không tập trung trong tay một vài tỷ phú), phát triển đồng đều các khu vực địa lý (không tập trung vào thủ đô), các ngành công nghiệp sản xuất (không tập trung vào các ngành công nghiệp dễ tham nhũng như dầu khí).

Và những nước mới nổi phải cân bằng tất cả những yếu tố này trên cơ sở phù hợp với mức thu nhập của nước họ. Ví dụ, Brazil đang chi tiêu quá nhiều để xây dựng một nhà nước phúc lợi quá lớn đối với một quốc gia có thu nhập trung bình là 11.000 USD. Trong khi đó, Hàn Quốc – một đất nước có thu nhập trung bình gấp 2 lần Brazil – lại chi quá ít cho các chương trình phúc lợi xã hội.

Nhiều nhà lãnh đạo coi suy thoái kinh tế là ở thời nào cũng có, và là vấn đề tất yếu của sự phát triển, nhưng trong thực tế, đây là vấn đề cân bằng ngay cả đối với tham nhũng và hối lộ. Bất bình đẳng có xu hướng xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế và sau đó sẽ tăng cao và giảm xuống khi thu nhập đầu người vào khoảng 5000 USD.

Kiến thức địa phương

Không có một lý thuyết nào bao gồm hết kiến thức của địa phương. Người dân địa phương thường biết trước nền kinh tế đi về hướng nào trước khi các dự báo được đưa ra. Ngay cả trước khi nền kinh tế Ấn Độ bắt đầu chậm lại, doanh nhân Ấn Độ đã biết trước sụt giảm tăng trưởng kinh tế do hàng loạt các vụ hối lộ ở nước này. Tăng chi phí hối lộ quan chức chính phủ trogn nước khiến họ phải đầu tư ra nước ngoài, mặc dù các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đổ tiền vào Ấn Độ.

Điều này cho thấy cần phải nghiên cứu kỹ thực tế của từng đại phương. Các nhà phân tích tập coi Trung Quốc như là một trường hợp điển hình về mức đầu tư quá cao vào các thị trường mới nổi, do đầu tư chiếm gần 50% GDP, một mức độ chưa từng có ở bất kỳ quốc gia phát triển nào. Nhưng sự rủi ro chỉ được thấy rõ khi nhà đầu tư tới Trung Quốc và thấy tiền đầu tư được đổ vào các thị trấn không có người dân và các tòa nhà không có người ở.

Nhà kinh tế có xu hướng không nghiên cứu kỹ yếu tố con người và chính trị, những yếu tố này không thể định lượng và đưa vào các mô hình dự báo. Thay vào đó, họ nghiên cứu chính sách thông qua số liệu kinh tế, chẳng hạn như chi tiêu chính phủ hoặc lãi suất. Nhưng, những con số đó không thể nổi lên được sự năng nổ của Tổng thống Mexico, Enrique Pena Nieto, hoặc của Philippines, Benigno Aquino III, khi họ xóa bỏ độc quyền, hối lộ và sa thải các quan chức yếu kém.

Bất kỳ phương pháp tiếp cận thực tế nào để dự báo sự thành công của nền kinh tế mới nổi phản ánh được thực tế này và trạng thái thường xuyên thay đổi của cạnh tranh toàn cầu. Một nhà dự báo tương lai cần phải theo dõi một loạt các yếu tố từ chính trị  tới tín dụng và đầu tư, để đánh giá triển vọng tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia mới nổi trong 3 – 5 năm tới – khung thời gian hợp lý duy nhất cho các nhà lãnh đạo chính trị, doanh nhân, nhà đầu tư.

Đây là một phương pháp dự báo thiết thực về sự thăng trầm của các nền kinh tế trong thời điểm hiện tại và trong tương lai gần: trong thập kỷ này, chứ không phải là thập kỷ tiếp theo hoặc xa hơn nữa. Nó có thể không quá ảm đạm. Nhưng sự suy thoái gần đây cho thấy bức tranh có thể còn ảm đạm hơn nữa.

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Ruchir Sharma – The Ever-Emerging Markets. Why Economic Forecast Fail – Foreign Affairs, January/February 2014

TN 2014  – 72

Dẫn luận cho Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – Phần II


Sự phê phán của tôi về hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu nhằm vào hai tiêu đề chính. Một tiêu đề quan tâm đến những khuyết tật của cơ chế thị trường. Ở đây tôi chủ yếu nói về những sự bất ổn dựng lên trong các thị trường tài chính. Tiêu đề khác quan tâm đến những thiếu sót của cái mà tôi phải gọi – do không có một cái tên hay hơn – là khu vực phi thị trường. Dùng tên này, tôi chủ yếu muốn nói sự thất bại của chính trị và sự xói mòn của các giá trị đạo đức ở cả cấp độ quốc gia lẫn quốc tế.

Tôi muốn nói ngay từ đầu rằng tôi coi những thất bại của chính trị là bao trùm và lan tràn rộng hơn, và gây kiệt quệ hơn là những thất bại của cơ chế thị trường. Việc ra quyết định cá nhân, như nó được thể hiện qua cơ chế thị trường. Việc ra quyết định cá nhân, như nó được thể hiện qua cơ chế thị trường, có hiệu quả hơn nhiều so với việc ra quyết định tập thể, như nó được thực hiện trong chính trị. Điều này đặc biệt đúng trên vũ đài quốc tế. Sự thất vọng với chính trị đã nuôi dưỡng chủ nghĩa nguyên giáo thị trường, và đến lượt nó, sự nổi lên của chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đã góp phần vào sự thất bại của chính trị. Một trong những khuyết tật lớn nhất của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là nó đã cho phép cơ chế thị trường và động cơ lợi nhuận thâm nhập vào những lĩnh vực hoạt động mà chúng không sở thuộc một cách thích hợp.

Phần đầu tiên trong sự phê phán của tôi đề cập đến sự bất ổn cố hữu của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Những người theo thuyết nguyên giáo thị trường có một quan niệm về cơ bản là sai sót về cách các lực lượng thị trường hoạt động. Họ tin rằng các lực lượng thị trường có xu hướng vươn tới sự cân bằng. Lý thuyết cân bằng trong kinh tế học dựa trên cơ sở một sự tương đồng giả tạo với vật lý học. Các đối tượng vật lý chuyển động theo cách chúng chuyển động, bất kể ai đó nghĩ gì. Nhưng các lực lượng thị trường nỗ lực tiên đoán một tương lai vốn phụ thuộc vào những quyết định mà người ta đưa ra trong hiện tại. Thay vì chỉ thụ động phản ánh hiện thực, các thị trường tài chính đang tích cực tạo ra cái hiện thực mà đến lượt chúng, cúng lại phản ánh. Có một mối liên hệ hai chiều giữa các quyết định hiện tại và các sự kiện tương lai mà tôi gọi là “tính phản xạ”.

Cũng cơ chế liên hệ ngược đó xen vào tất cả các hoạt động khác vốn liên quan tới những người tham dự có ý thức. Con người đáp lại các lực lượng chính trị, kinh tế và xã hội trong môi trường của họ, nhưng khác với các hạt vô tri vô giác của các khoa học vật lý, con người có tri giác và thái độ – những thứ cũng đồng thời biến đổi các lực lượng đang tác động đến chúng. Sự tương tác phản xạ hai chiều này giữa điều mà những người tham gia vẫn chờ đợi và điều thực sự xảy ra là có tầm quan trọng trung tâm để hiểu tất cả các hiện tượng kinh tế, chính trị và xã hội. Khái niệm “tính phản xạ” này nằm ở trung tâm của những lập luận trình bày ở đây.

Tính phản xạ không hiện diện ở khoa học tự nhiên, nơi mối liên hệ những giải thích của các nhà khoa học và những hiện tượng mà họ đang giải thích chỉ đi theo một chiều. Nếu một tuyên bố phù hợp với các sự kiện, nó là đúng; nếu không, nó là sai. Các nhà khoa học có thể xác lập tri thức theo cách này. Nhưng những người tham dự thị trường không có sự xa xỉ là đặt các quyết định của họ trên cơ sở tri thức. Họ phải phán đoán về tương lai, và sự thiên hướng mà họ mang theo sẽ ảnh hưởng đến những kết quả. Đến lượt mình, các thiên hướng này tăng cường hay làm suy yếu các thiên hướng khởi đầu, nơi những người tham dự thị trường xuất phát.

Tôi công nhận khái niệm tính phản xạ là thích hợp với các thị trường tài chính (và với nhiều hiện tượng kinh tế và xã hội khác nữa) hơn nhiều so với khái niệm cân bằng đang làm cơ sở cho kinh tế học quy ước. Thay vì tri thức, những người tham dự thị trường khởi đầu với một thiên hướng. Hoặc là tính phản xạ sẽ hoạt động để sửa chữa sự thiên hướng, trong trường hợp đó các bạn có một xu hướng tiến tới cân bằng, hoặc là sự thiên hướng có thể bị tăng cường bằng một liên hệ ngược mang tính phản xạ, trong trường hợp đó các thị trường có thể chuyển động rất xa khỏi trạng thái cân bằng mà không bộc lộ xu hướng nào trở lại xuất phát điểm nơi chúng khởi đầu. Các thị trường tài chính mang đặc điểm là có những những sự bùng nổ và đổ vỡ, và thật kỳ quặc là lý thuyết kinh tế vẫn tiếp tục dựa vào khái niệm cân bằng, một khái niệm vốn phủ nhận khả năng của các hiện tượng này ngay cả khi có bằng chứng rành rành. Tiềm năng cho sự mất cân bằng là sẵn có trong hệ thống tài chính: nó không chỉ là kết quả của cú sốc từ bên ngoài. Việc khăng khăng vin vào các cú sốc ngoại sinh với tư cách là một loại phép màu (“deus ex machina”) để lý giải biện bạch cho sự thường xuyên chối bỏ lý thuyết kinh tế trong các hành vi của các thị trường tài chính đã gợi tôi nhớ lại những thủ đoạn ranh ma về các “quyển” trong lòng các “quyển” và các lực thần thánh mà các nhà thiên viên học trước Copernic dùng để lý giải vị trí của các hành tinh, thay vì chấp nhận rằng trái đấy quay xung quanh mặt trời.

Tính phản xạ không phải là khái niệm được chấp nhận rộng rãi, ít nhất trong dòng tư duy chủ đạo, và nó sẽ đòi hỏi nhiều giấy mực để thám sát tất cả mọi hàm ý của nó. Nó sẽ chiếm nhiều chỗ trong cuốn sách. Tôi sẽ dùng khung khái niệm này để rút ra một số kết luận thực tiễn – về các thị trường tài chính: về nền kinh tế thế giới; và về những vấn đề rộng hơn như chính trị quốc tế, sự cố kết xã hội, và sự bất ổn định của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu với tư cách một chỉnh thể.

Tuyến lập luận chính thứ hai của tôi phức hợp hơn và khó tóm tắt hơn. Tôi tin rằng những thất bại của cơ chế thị trường trở nên không có ý nghĩa so với thất bại của cái mà tôi gọi là khu vực phi thị trường của xã hội. Khi tôi nói về khu vực phi thị trường, tôi ngụ ý những lợi ích tập thể của xã hội, những giá trị xã hội vốn không biểu hiện ở thị trường. Có những người đặt câu hỏi liệu có hay không những lợi ích tập thể như vậy. Họ quả quyết rằng xã hội bao gồm các cá nhân, và lợi ích của họ được biểu hiện tốt nhất bởi các quyết định của họ với tư cách những người tham gia thị trường. Chẳng hạn nếu họ sẵn tấm lòng hảo tâm thương người, họ có thể biểu hiện nó bằng cách trao tặng một số tiền. Theo cách này, mọi thứ đều có thể quy về các giá trị tiền tệ.

Gần như chẳng cần phải nói rằng quan điểm này là sai. Có những điều mà chúng ta có thể quyết định một cách riêng lẻ; có những điều khác mà chỉ có thể được đề cập một cách tập thể. Với tư cách một người tham dự thị trường, tôi cố gắng tối đa hóa lợi nhuận của tôi. Với tư cách một công dân, tôi quan tâm đến các giá trị xã hội: hòa bình, công lý, tự do, hay đại loại như vậy. Tôi không thể biểu hiện các giá trị đó với tư cách một người tham dự thị trường. Ta hãy giả định rằng các quy tắc chỉ đạo các thị trường tài chính phải thay đổi. Tôi không thể thay đổi chúng một cách đơn phương. Nếu tôi áp đặt các quy tắc cho bản thân tôi, nhưng không cho những người khác, nó sẽ tác động đến hoạt động của chính tôi trên thị trường, nhưng nó sẽ chẳng có tác động gì đến những gì xảy ra trên các thị trường, vì không một người tham dự đơn lẻ nào sẽ có khả năng ảnh hưởng đến kết quả.

Chúng ta phải phân biệt giữa xác lập các quy tắc và chơi theo các quy tắc này. Xác lập các quy tắc đòi hỏi các quyết định tập thể, hay chính trị. Chơi theo các quy tắc đòi hỏi các quyết định cá nhân, hay hành vi thị trường. Thật không may là hiếm khi người ta theo sự phân biệt này. Xem ra người ta phần lớn bầu cho ví tiền của họ, và họ vận động hành lang cho việc lập pháp phục vụ lợi ích riêng của họ. Điều tệ hơn nữa là những đại biểu được bầu ra cũng thường đặt lợi ích riêng của họ trước lợi ích chung. Thay vì bênh vực các giá trị cố hữu nhất định, các lãnh tụ chính trị lại muốn được bầu bằng bất cứ giá nào – và dưới hệ tư tưởng của chủ nghĩa nguyên giáo thị trường đang thịnh hành, hay chủ nghĩa cá nhân đang được tha hồ vùng vẫy, điều này được coi như một cách tự nhiên, hợp lý, và có lẽ thậm chí đang mong đợi để các chính khách ứng xử. Thái độ này đối với chính trị đã xói mòn cái định làm nền xây dựng nguyên tắc dân chủ đại diện. Đương nhiên luôn luôn có mâu thuẫn giữa những lợi ích riêng của các chính khách và lợi ích công, nhưng nó đã trở nên trầm trọng hơn rất nhiều bởi thái độ thịnh hành vốn đặt thành công – đo bằng tiền – lên trước các giá trị bản chất như sự trung thực. Vậy là uy thế của động cơ lợi nhuận và sự giảm sút hiệu quả của quá trình ra quyết định tập thể đã tăng cường lẫn nhau theo cách phản ngược nhau. Việc đề cao lợi ích bản thân lên thành một nguyên tắc đạo đức đã làm đồi bại chính trị, và sự thất bại của chính trị đã trở thành luận chứng mạnh nhất để ủng hộ việc cho thị trường được tự do hơn nữa.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999

Thị trường mới nổi chưa từng có: Tại sao các dự báo phát triển kinh tế đều sai – Phần đầu


Ruchir Sharma

Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình tại các thị trường kinh tế mới nổi đến giữa thập niên vừa qua lần đầu tiên đạt mức hơn 7% năm và các nhà dự báo được dịp phóng đại quá mức về mối tương quan ảnh hưởng của nó. Theo dự báo, Trung Quốc không bao lâu sẽ là cường quốc vượt qua của Mỹ, và Ấn Độ có số dân khổng lồ hoặc Việt Nam sẽ là Trung Quốc tiếp theo trong tương lai. Theo kết quả thăm dò, các chuyên gia tiên đoán rằng Bắc Kinh sẽ sớm dẫn đầu nhóm BRIC – Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc – sẽ trở thành siêu cường duy nhất trong khi vai trò của phương Tây mờ nhạt dần. Điều này dẫn tới sự phổ biến của cụm từ viết tắt CIVET – Colombia, Indonesia, Việt Nam, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Phi xuất phát từ cụm từ MIST (Mexico, Indonesia, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ).

Năm năm sau khi cuộc khủng hoảng tài chính 2008 nổ ra, phần lớn sự phấn chấn và những cụm từ viết tắt nêu trên đã trở nên lỗi thời. Tốc độ tăng trưởng trung bình của các nền kinh tế mới nổi đã giảm xuống 4% trong năm 2013 lúc BRIC đang tan vỡ. Nước nào cũng có lý do riêng của nó và tuy những cuộc họp thượng đỉnh vẫn diễn ra như thường lệ song chúng chỉ nhằm làm rõ thêm những khó khăn trong việc tạo dựng một khối thật sự có ý nghĩa từ các chính thể chuyên chế và chính thể dân chủ vốn có những lợi ích kinh tế xung đột. Khi dự báo thổi phồng mất dần, các nhà dự báo phải xem xét lại những sai lầm trong dự đoán của mình vào thời điểm đỉnh cao của sự bùng nổ các nước BRIC.

Sai lầm của họ rất nhiều. Các nhà tiên đoán không coi các thị trường mới nổi như những câu chuyện cá nhân, và họ bắt đầu gộp chúng vào một nhóm vô danh với từ viết tắt dễ nhớ nhưng vô nghĩa. Họ quá tin tưởng vào tuyên bố của các lãnh đạo chính trị, những người chịu trách nhiệm về sự bùng nổ và bỏ qua các lực lượng toàn cầu khác, chẳng hạn như gói kích thích kinh tế của Mỹ và châu Âu đã giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các nhà dự báo cũng đưa ra dự đoán dựa trên một yếu tố duy nhất – nhân khẩu học. Trong khi nghiên cứu cho thấy một loạt các yếu tố phức tạp khác cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tóm lại, các nhà dự báo đã mắc lỗi khi thực hiện phương pháp ngoại suy. Họ cho rằng xu hướng gần đây sẽ tiếp tục vô thời hạn và các nền kinh tế nóng sẽ tiếp tục phát triển nóng, bỏ qua bản chất vốn có tính chu kỳ của sự phát triển chính trị và kinh tế. Sự phấn chấn vượt qua tính khả thi – một quá trình làm sai lệch dự báo kinh tế.

Hội chứng đơn tử (Lý thuyết một yếu tố)

Lịch sử cho thấy phương pháp ngoại suy tuyến tính hầu như bao giờ cũng sai. Tuy thế, các chuyên gia bị thu hút bởi ý tưởng mơ mộng và ám ảnh của phương pháp này dường như không thể không áp dụng nó. Trong thập niên 1960, Philippines đã giành quyền đăng cai trụ sở chính của Ngân hàng Phát triển châu Á vì cho rằng sự tăng trưởng nhanh chóng của quốc gia này vào thời điểm đó sẽ đưa Philippines trở thành ngôi sao của khu vực trong nhiều năm tới. Điều đó đã không xảy ra bởi trong thập kỷ tiếp theo, tăng trưởng kinh tế đã bị đình trệ do chính sách sai lầm của nhà độc tài Ferdinand Marcos (nhưng Ngân hàng Phát triển châu Á vẫn giữ nguyên dự báo). Tuy nhiên, phương pháp ngoại suy vẫn tiếp tục tồn tại, và trong những năm 1970, suy nghĩ như vậy đã dẫn các học giả Mỹ và cơ quan tình báo dự đoán tương lai thuộc về Liên Xô, và trong những năm 1980 sẽ thuộc về Nhật Bản. Sau sự bùng nổ thị trường mới nổi của thập kỷ qua, phương pháp ngoại suy ngày càng thêm bất hợp lý. Dự báo cho rằng các sức mạnh kinh tế trong thế kỷ XVII của Trung Quốc và Ấn Độ là bằng chứng cho thấy hai quốc gia này sẽ thống trị trong thập kỷ tới, và thậm chí trong những thế kỷ tới.

Sự bùng nổ cũng cho thấy rõ một lỗi dự báo thường gặp khác: các dự đoán dựa vào các lý thuyết đơn tử. Sự bùng nổ của Trung Quốc một phần nhờ vào lao động giá rẻ của một quốc gia có dân số đang trẻ hóa, các nhà dự báo bắt đầu tìm kiếm các nền kinh tế phát triển nóng tiếp theo ở một quốc gia với đặc điểm dân số tương tự – mà bỏ qua thách thức trong việc phát triển một ngành sản xuất tiên tiến để tạo việc làm cho tất cả mọi người. Đã từng có những người theo trường phái kinh tế tự do cho rằng một nhà nước minh bạch khuyến khích đầu tư là yếu tố quyết định, tuy nhiên dù là chính phủ dân chủ hay độc tài thì tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng không khác gì nhau trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Những người theo trường phái đạo đức kinh doanh cho rằng nợ luôn luôn là xấu (quan niệm này càng được củng cố sau cuộc khủng hoảng tín dụng năm 2008), mặc dù tăng trưởng kinh tế và tín dụng đi đôi với nhau.

Hạn chế của lý thuyết đơn tử là không theo sát các sự kiện đang diễn ra hoặc đánh giá quá cao những yếu tố tạo nên sự khác biệt cho mỗi quốc gia. Một mặt, thể chế nhà nước và đặc điểm về dân số thay đổi quá chậm để có thể dự đoán rõ ràng về hướng đi của nền kinh tế. Mặt khác, những người dự báo – những người cho rằng thay đổi về văn hóa và tăng trưởng kinh tế có cùng tốc độ mà không tính đến tốc độ thay đổi rất nhanh của văn hóa. Lấy Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ làm ví dụ, các nền dân chủ Hồi giáo lớn, nơi kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ đã phản bác lại quan điểm cho rằng Hồi giáo cản trở sự phát triển kinh tế.

Lý thuyết tổng quát thường không dự đoán được những gì sắp xảy ra. Những người theo quan điểm địa lý là yếu tố quan trọng không thể lường trước được sự phát triển mạnh mẽ trong thập kỷ qua của một số quốc gia có vị trí địa lý không thuận lợi, như các quốc gia giáp biển như Armenia, Tajikistan và Uganda. Ở Kazakhstan, giá dầu tăng cao đã giúp cho nền kinh tế thoát ra khỏi tình trạng kinh tế trì trệ kéo dài suốt thời kỳ hậu Xô Viết.

Tính chất rõ ràng mạch lạc của lý thuyết đơn tử đã tạo nên sức hấp dẫn của nó. Nhưng do những thuyết này bỏ qua những thay đổi nhanh chóng của cạnh tranh toàn cầu, tạo ra bức tranh kém thuyết phục để dựa vào đó mà lập kế hoạch cho 5 – 10 năm tới. Sự thật là các chu kỳ kinh tế ngắn, thường chỉ kéo dài 3 – 5 năm từ đỉnh tới đáy. Tình hình cạnh tranh có thể thay đổi hoàn toàn trong thời gian đó, dù thông qua đổi mới công nghệ hay thay đổi chính trị.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Ruchir Sharma – The Ever-Emerging Markets. Why Economic Forecast Fail – Foreign Affairs, January/February 2014

TN 2014  – 72

Dẫn luận cho Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – Phần I


Cuốn sách này nỗ lực đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu. Chúng ta sống trong một nền kinh tế toàn cầu, nhưng tổ chức chính trị của xã hội toàn cầu chúng ta, buồn thay, lại không đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng gìn giữ hòa bình và hành động đáp lại những thái quá của các thị trường tài chính. Nếu không có những sự kiểm soát này, nền kinh tế toàn cầu có thể sụp đổ.

Nền kinh tế toàn cầu có đặc điểm không chỉ ở tự do buôn bán hàng hóa và dịch vụ, mà thậm chí hơn thế nữa, ở sự vận động tự do của vốn. Lãi suất, tỉ giá hối đoái, và giá chứng khoán ở các nước khác nhau có liên quan qua lại mật thiết, và các thị trường tài chính toàn cầu có ảnh hưởng cực lớn tới các điều kiện kinh tế. Nếu xét vai trò quyết định mà tư bản toàn cầu quốc tế đang đóng trong vận may rủi của các nước riêng lẻ, thì không phải là không thích hợp nếu nói đến một hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu.

Tư bản tài chính được hưởng một địa vị đặc quyền. Vốn cơ động hơn các nhân tố khác của sản xuất, và tư bản tài chính thậm chí còn cơ động hơn cả đầu tư trực tiếp. Tư bản tài chính lưu chuyển tới nơi nào nó được bồi hoàn tốt nhất: vì nó là dấu hiệu báo trước sự thịnh vượng, các nước cạnh tranh nhau để thu hút nó. Do những ưu thế này, vốn ngày càng được tích lũy nhiều hơn ở các thiết chế tài chính và các công ty công chúng đa quốc gia: quá trình này diễn ra thông qua sự trung gian của các thị trường tài chính.

Sự phát triển của các nền kinh tế toàn cầu không được đi kèm bởi sự phát triển song hành của một xã hội toàn cầu. Đơn vị cơ bản của đời sống chính trị và xã hội vẫn là nhà nước – dân tộc. Luật quốc tế và các thể quốc tế dù có, vẫn không đủ mạnh để ngăn ngừa chiến tranh hay vi phạm quyền con người trên quy mô lớn ở các nước riêng lẻ. Các đe dọa về sinh thái không được giải quyết đầy đủ. Các thị trường tài chính toàn cầu phần lớn ở ngoài tầm kiểm soát của các nhà chức trách quốc gia hay quốc tế.

Tôi cho rằng tình trạng hiện nay là không lành mạnh và không thể tiếp tục. Các thị trường tài chính mang tính không ổn định cố hữu, và có những nhu cầu xã hội không thể được đáp ứng bằng cách để cho các lực lượng thị trường tự do hoành hành. Thật không may, những thiếu sót này lại không được thừa nhận. Thay vào đó, có một niềm tin rộng rãi rằng các thị trường mang khả năng tự sửa chữa, và một nền kinh tế toàn cầu có thể nảy nở mà không cần một xã hội toàn cầu. Người ta tuyên bố rằng lợi ích chung sẽ được phục vụ tốt nhất bằng cách cho phép mọi người chăm lo cho lợi ích riêng của chính anh ta hay chị ta, và rằng những nỗ lực bảo vệ lợi ích chung bằng việc ra quyết định tập thể sẽ làm méo mó cơ chế thị trường. Ý tưởng này được gọi là tự do kinh doanh (“laissez faire”) ở thế kỷ XIX nhưng nó có thể không phải là một cái tên hay ngày nay, vì nó là một từ Pháp và hầu hết những người tin ở phép màu của thị trường không nói tiếng Pháp. Tôi đã tìm ra một cái tên hay hơn cho nó: thuyết nguyên giáo thị trường (market fundamentalism).

Chính thuyết nguyên giáo thị trường đã khiến cho hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu không lành mạnh và không thể tiếp tục được. Đây là một tình cảnh tương đối mới đây. Vào cuối thế chiến thứ hai, sự lưu động quốc tế của vốn còn hạn chế và các thiết chế Bretton Woods được thành lập để tạo điều kiện dễ dàng cho thương mại khi sự lưu động vốn còn chưa có. Các hạn định đã được gỡ bỏ dần dần, và chỉ khi Margaret Thatcher và Ronald Reagan lên cầm quyền khoảng năm 1980 chủ nghĩa nguyên giáo thị trường mới trở thành một hệ tư tưởng thống trị. Chính thuyết nguyên giáo thị trường đã đặt tư bản tài chính vào địa vị cầm lái.

Đương nhiên đây không phải lần đầu tiên chúng ta có một hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu. Những đặc điểm chính của nó lần đầu tiên được nhận dạng khá tiên tri bởi Karl Marx và Friedrich Engels trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản công bố năm 1848. Cái hệ thống thịnh hành ở nửa sau thế kỷ 19 bằng cách nào đấy lại ổn định hơn cái biến thể hiện nay. Thứ nhất, có những cường quốc đế quốc mà Vương quốc Anh là nổi bật trước hết trong đó; các cường quốc này thu được lợi nhuận đủ lớn từ vị trí ở trung tâm của hệ thống để thấy cần giữ gìn nó. Thứ hai, có một đồng tiền quốc tế duy nhất dưới hình thức vàng; ngày nay có ba đồng tiền chủ yếu – đồng USD, đồng Mark Đức mà sớm trở thành đồng tiền chung châu Âu (Euro); và đồng Yen – cả ba đang cọ xát nhau như những vỉa kiến tạo, thường gây nên động đất, xô đẩy làm tan vỡ các đồng tiền thiết yếu trong quá trình đó. Thứ ba và quan trọng nhất là đã từng có những niềm tin và quy chuẩn đạo đức chung, không nhất thiết được thực thi, song được chấp nhận rất phổ biến là đáng mong muốn. Các giá trị này kết hợp một đức tin vào lý trí và một sự kính trọng khoa học với truyền thống đạo đức Do Thái – Cơ Đốc giáo, và nói chung cung cấp một sự chỉ dẫn đáng tin cậy hơn về điều gì đúng và điều gì sai so với những giá trị thịnh hành ngày nay. Các giá trị tiền tệ và thị trường giao dịch không tạo một cơ sở đầy đủ cho sự cố kết xã hội. Mệnh đề này có thể không nhiều ý nghĩa lắm đối với độc giả như nó vốn có, nhưng nó sẽ được nêu rõ ra trong cuốn sách này.

Mặc dù có tính ổn định tương đối của nó, hiện thân thế kỷ 19 của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu đã bị phá hủy bởi cuộc Thế chiến thứ nhất. Sau cuộc chiến tranh, đã có một nỗ lực yếu ớt nhằm tái dựng nó, nhưng nỗ lực đó đã đi đến một kết thúc tồi tệ trong cuộc sụp đổ năm 1929 và cuộc Đại suy thoái tiếp theo. Nếu xét rằng những yếu tố của tính ổn định đã từng có ở thế kỷ 19 mà nay lại không có, thì sẽ có khả năng tới đâu là biến thể hiện nay của chủ nghĩa tư bản toàn cầu cũng đi đến một kết thúc tồi tệ?

Tuy vậy có thể tránh được một thảm họa nếu chúng ta thừa nhận những thiếu sót của hệ thống chúng ta và sửa chữa chúng kịp thời. Những thiếu sót này xuất hiện như thế nào và làm thế nào có thể sửa chữa chúng? Đây là những câu hỏi mà tôi đề xướng để xem xét. Tôi lập luận rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của một xã hội mở, và những thái quá của nó có thể sửa chữa nếu những nguyên tắc của xã hội mở được hiểu rõ hơn và được ủng hộ rộng rãi hơn.

Thuật ngữ “xã hội mở” được lưu hành bởi Karl Popper trong cuốn sách của ông Xã hội mở và những kẻ thù của nó. Vào thời điểm cuốn sách được công bố năm 1944, xã hội mở bị đe dọa bởi các chế độ cực quyền là những chế độ dùng quyền lực của nhà nước để áp đặt ý chí của họ lên dân chúng. Khái niệm xã hội mở có thể dễ hiểu hơn nếu tương phản nó với các xã hội đóng mà các hệ tư tưởng cực quyền nuôi dưỡng. Điều này vẫn đúng đến tận khi sụp đổ hệ thống Xô viết năm 1989. Các xã hội mở – thường được nói đến bằng tên chung là phương Tây – đã bộc lộ sự cố kết đáng kể khi đối mặt một kẻ thù chung. Nhưng sau sự sụp đổ của hệ thống Xô viết, xã hội mở với sự nhấn mạnh của nó vào tự do, dân chủ, và sự thống trị của pháp luật, đã mất đi nhiều sức thu hút của nó với tư cách một nguyên tắc tổ chức, và chủ nghĩa tư bản toàn cầu nổi lên toàn thắng. Chủ nghĩa tư bản với việc nó dựa chỉ riêng vào các lực lượng thị trường, cũng đặt ra một nguy cơ loại khác cho xã hội mở. Nội dung trung tâm của cuốn sách này là chủ nghĩa nguyên giáo thị trường ngày nay là một mối đe dọa lớn cho xã hội mở, hơn bất kỳ hệ tư tưởng cực quyền nào.

Lời tuyên bố này hẳn gây choáng khá lớn. Nền kinh tế thị trường là bộ phận hợp thành của xã hội mở. Friedrich Hayek, nhà tư tưởng lớn nhất thế kỷ 20 của kinh tế học “laissez-faire”, là một người vững tin vào khái niệm xã hội mở. Làm thế nào một chủ nghĩa nguyên giáo thị trường có thể đe dọa xã hội mở?

Cho phép tôi tự làm rõ ý kiến của mình. Tôi không nói rằng thuyết nguyên giáo thị trường hoàn toàn đối lập với ý tưởng về xã hội mở theo cách thức mà chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản đã làm. Rất trái ngược với điều đó là đằng khác. Các khái niệm xã hội mở và nền kinh tế thị trường gắn chặt với nhau, và thuyết nguyên giáo thị trường có thể coi như chỉ là một sự bóp méo ý tưởng về xã hội mở. Điều đó không hề làm nó kém nguy hiểm hơn chút nào. Thuyết nguyên giáo thị trường gây nguy hiểm cho xã hội mở một cách không cố ý bằng cách diễn giải sai về cách các thị trường hoạt động và dành cho chúng một vai trò quá lớn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

George Soros và khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu


George Soros sinh năm 1930 ở Budapest, Hungary, di cư sang Anh năm 1947, sang Mỹ năm 1956, hiện sống ở New York. Ông là một huyền thoại trong thế giới tài chính. Quỹ Quantum của ông được xem là “quỹ đầu tư xuất sắc nhất trong lịch sử, đã góp phần nhào nặn lại thế giới sau chiến tranh lạnh”.

Một số ít người coi G. Soros như “một nhà đầu cơ thị trường nổi tiếng nhất thế giới”, kẻ can dự vào cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á và trên thế giới hiện nay.

Nhiều người gọi G. Soros là “một trong những nhà từ thiện lớn nhất hiện còn sống”. Ông tài trợ một mạng lưới các quỹ dành để ủng hộ các xã hội mở, đang hoạt động 31 nước trên khắp thế giới từ Đông Âu và Liên Xô (cũ) đến Nam Phi, Haiti, Guatemala, Mông Cổ và Mỹ. Các quỹ trong mạng lưới này đã chi phí một số tiền mỗi năm trên dưới 400 triệu USD (cụ thể là năm 1994 – 300 triệu, 1995 – 350 triệu, 1996 – 362 triệu, 1997 – 428 triệu và năm 1998 cũng duy trì ở mức đó).

Tuy nhiên, còn rất ít người biết đến G. Soros như một người có nhiều ý tưởng khoa học mới mẻ và sâu sắc, đã nhận được các bằng tiến sĩ danh dự của nhiều trường đại học trên thế giới như Trường Nghiên cứu Xã hội mới (the New School for Social Research), trường Đại học Oxford (Anh), Đại học Yale (Mỹ), Đại học kinh tế Budapest (Hungary, quê hương ông). Năm 1995 trường Đại học tổng hợp Bologna (Italy) tặng G. Soros danh hiệu cao nhất của nó – danh hiệu Laurea Honoris Causa để ghi nhận những nỗ lực của ông đề xướng các xã hội mở trên toàn thế giới. G. Soros là tác giả của nhiều bài nghiên cứu về những biến đổi chính trị và kinh tế ở Đông Âu và Liên Xô, tác giả của nhiều cuốn sách bán rất chạy như cuốn “Giả thuật kim tài chính” (The Alchemy of Finance), “Mở cửa hệ thống Xô Viết” (Opening the Soviet System), “Bảo đảm nền dân chủ” (Underwriting Democracy) và “Soros nói về Soros: Ở lại đằng trước đường cong” (Soros on Soros: Staying Ahead of the Curve).

Trong Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, ông đã vận dụng tất cả sự thông thái, tri thức uyên bác và tầm nhìn sáng suốt của ông để giải thích những gì đang diễn ra trong nền kinh tế toàn cầu đang sụp đổ.

Các nền kinh tế (bối cảnh cuối thập kỷ 90) một thời thịnh vượng của Thái Lan, Malaysia, Indonesia đã sụp đổ; nền kinh tế Nga đã và đang suy tàn, dẫn tới lạm phát và khó khăn kinh tế nghiêm trọng; nhiều ngân hàng Nhật Bản rơi vào tình trạng tan rã; Brazil và phần còn lại của châu Mỹ Latinh đã bắt đầu dần dà tiến đến bờ vực suy sụp; ngay cả ở châu Âu và Mỹ, các thị trường cũng chao đảo dữ dội, cứ mỗi tuần qua đi lại mất lợi nhuận. Giờ đây một số nước đã bước ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất. Nhưng không một ai có thể nói rằng những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng đã được loại trừ.

G. Soros đã mổ xẻ tình trạng thời điểm đó của nền kinh tế toàn cầu và chỉ rõ các giả thuyết lý luận đã kết hợp với hành vi con người như thế nào để dẫn tới những tai họa này. Ông nêu rõ niềm tin vào các lực lượng thị trường đã làm chúng ta đui mù như thế nào về những sự bất ổ định cơ bản, và những sự bất ổn định này đã phản ứng dây chuyền ra sao để gây ra tình huống nguy kịch mà chúng ta đang lâm vào hôm nay – một tình huống có tiềm năng trở nên xấu hơn rất nhiều.

Song, như G. Soros viết: “Tình thế hoàn toàn không phải là tuyệt vọng… Có thể tránh được một thảm họa nếu chúng ta thừa nhận những thiếu sót của hệ thống chúng ta và sửa chữa chúng kịp thời… Tôi lập luận rằng hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu là một hình thức méo mó của một xã hội mở, và những thái quá của nó có thể sửa chữa, nếu những nguyên tắc của xã hội mở được hiểu rõ hơn và được ủng hộ rộng rãi hơn.

Thuật ngữ “Xã hội mở” (Open society) được nhà triết học về khoa học Karl Popper nêu lên trong cuốn sách của ông “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” (xuất bản năm 1944). G. Soros chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng triết học Karl Popper, mặc dù ông có khác với Karl Popper ở một vài điểm quan trọng. Ông hấp thụ những ý tưởng của Karl Popper về tư duy phê phán và phương pháp khoa học, nỗ lực xây dựng lại khái niệm xã hội mở. Trong cuốn sách mới này của ông có phụ đề là “Xã hội mở hiểm nguy”, G. Soros đã “nỗ lực đặt nền móng cho một xã hội mở toàn cầu”. Ông viết: “Chúng ta sống trong một nền kinh tế toàn cầu, nhưng tổ chức chính trị của xã hội toàn cuẩ của chúng ta, buồn thay, lại không đầy đủ. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng giữ gìn hòa bình và hành động đáp lại những thái quá của các thị trường tài chính. Nếu không có những sự kiểm soát này, nền kinh tế toàn cầu có thể sụp đổ”. Chính vì vậy “để ổn định và điều tiết một nền kinh tế thực sự toàn cầu, cần một hệ thống toàn cầu về việc ra quyết định chính trị. Nói gọn lại, chúng ta cần một xã hội toàn cầu để hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu của chúng ta… Cần phải cố gắng tạo nên một liên minh với các dân tộc có cùng suy nghĩ để thiết lập các luật và các thiết chế cần thiết cho việc giữ gìn hòa bình, tự do, thịnh vượng và ổn định. Các luật và thiết chế này là gì, điều đó không thể quyết định một lần là xong với mọi người; điều chúng ta cần là đưa vào hoạt động một quá trình hợp tác, lặp đi lặp lại – quá trình sẽ xác định lý tưởng xã hội mở – một quá trình trong đó chúng ta công khai thừa nhận những sự không hoàn hảo của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cố gắng học từ những sai lầm của chúng ta”.

Để đặt nền móng cho xã hội mở toàn cầu phải bắt đầu từ lý luận cơ bản. Trong khung khái niệm (conceptual framework), G. Soros nêu ra ba khái niệm then chốt, ba từ khóa: tính có thể sai (fallibility), tính phản xạ (reflexivity) và xã hội mở (open society). Ông tiến hành phê phán khoa học xã hội nói chung và kinh tế học nói riêng đối với thị trường tài chính, diễn giải thị trường này dưới góc độ tính phản xạ hơn là dưới độ lý luận cân bằng của kinh tế học cổ điển. Ông vạch rõ tính chất sai lầm và nguy hiểm của thuyết nguyên giáo thị trường (market fundamentalism). Chính nó đã đặt chủ nghĩa tư bản tài chính vào địa vị cầm lái, làm méo mó cơ chế thị trường, đẩy xã hội mở vào tình trạng hiểm nguy.

Trong phần “Thời điểm quan trọng của lịch sử” (the present moment in history), tác giả áp dụng cái khuôn khổ quan niệm đã nêu trên để phân tích sâu những đặc điểm chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào cuối thập kỷ 90. Ông đề cập đến sự khác biệt, độ chênh giữa nền kinh tế toàn cầu và tổ chức chính trị, xã hội mà về cơ bản vẫn còn mang quy mô quốc gia. Ông khảo sát tỉ mỉ quan hệ không bình đẳng giữa trung tâm và ngoại vi, sự đối xử không bình đẳng giữa kẻ cho vay và người vay nợ, cũng như việc đưa một cách sai lầm các giá trị tiền tệ thay cho các giá trị nhân bản, các giá trị con người. Ông đề xuất những giải pháp thực tiễn để có thể ngăn ngừa sự tan rã về tài chính của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu như thế nào, nêu lên những triển vọng cho một hình thức xã hội mở ít méo mó hơn và đầy đủ hơn. Ông bàn về bối cảnh quốc tế và vạch ra một số bước đi thực tiễn để có thể đạt tới xã hội mở toàn cầu, thực hiện triết lý mà ông đã nêu lên.

Để kết luận, G. Soros khẳng định rằng xã hội mở toàn cầu phải được đặt thành “một chương trình nghị sự quốc tế”. Nó không thể được đưa vào cuộc sống bởi nhân dân hoặc các tổ chức phi chính phủ hành động riêng rẽ. Các Nhà nước có chủ quyền cần phải hợp tác về chính trị. Công luận và xã hội dân sự có vai trò quan trọng, bởi vì trong nền dân chủ, các chính khách phải đáp ứng những đòi hỏi của đông đảo dân chúng. “Ở các chính thể dân chủ vận hành tốt, các chính khách thậm chí còn đóng vai trò thủ lĩnh trong việc động viên công luận. Chúng ta cần đến vai trò thủ lĩnh như thế để hình thành một khối liên kết gồm những quốc gia cùng chung khuynh hướng và quyết tâm tạo dựng một xã hội mở toàn cầu”.

Cuốn sách Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu của G. Soros không phải là một cuốn sách kinh tế đơn thuần. Nó cho ta một cái nhìn tổng quát về thế giới hiện đại và xu hướng phát triển của nó. Ở đó thể hiện những suy tư triết học sâu sắc của G. Soros với tính cách một nhà tài chính, đồng thời là một nhà từ thiện, nhà hoạt động xã hội. Mở đầu cuốn sách ông viết: “Mục đích trước sau của tôi khi viết cuốn sách này là làm rõ cái triết lý đã chỉ đạo tôi suốt đời. Tôi được người ta biết đến với tư cách một nhà quản lý tiền tệ thành công và sau đó là một nhà từ thiện. Đôi khi tôi cảm thấy giống như một con đường tiêu hóa khổng lồ: thu nhận tiền vào ở một đầu và đẩy nó ra ở đầu khác, nhưng thực ra một lượng suy tư to lớn đã gắn kết hai đầu với nhau. Một khung khái niệm mà tôi đã hình thành những ngày tôi là sinh viên, rất lâu trước khi tôi bắt đầu tham gia  vào các thị trường tài chính, đã chỉ đạo cả việc kiếm tiền của tôi và các hoạt động từ thiện của tôi”.

Những suy tư, những nhận định của G. Soros trong sách, đương nhiên, không thể không có những khác biệt so với những gì mà lâu nay nhiều người trong chúng ta thường quan niệm. Sự khác nhau đó là chuyện bình thường. Điều đáng quan tâm ở đây chính là việc G. Soros đã phân tích sâu sắc cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu và đề ra những giải pháp không phải là không có cơ sở để giải quyết những vấn đề vừa cơ bản vừa cấp bách mà cộng đồng quốc tế mong đợi.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Thị trường nguyên liệu: Thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã – Phần cuối


Sự biến động quá lớn ảnh hưởng nặng nề đến những khách hàng có nhu cầu tiêu thụ thực sự cũng như người sản xuất. Xavier Gravelat, Chủ tịch Hiệp hội các nhà xuất khẩu khoáng sản New Caledonia, cho rằng các hiện tượng như trên là “hoàn toàn sai trái, thậm chí đáng ghê tởm”. New Caledonia chiếm từ 6 – 7% nguồn cung nikel của thế giới.

Nguyên nhân xuất phát từ Trung Quốc. Xiang Guangda là tỷ phú sở hữu Tsingshan Holding Group, tập đoàn số một thế giới trong lĩnh vực kinh doanh nikel và thép không gỉ. Trong giới kinh doanh, ông có biệt danh là “Big Shot” và nổi tiếng với những phe đặt cược nhiều rủi ro. Trước chiến tranh Ukraine, Xiang Guangda đã đánh cược giá nikel sẽ giảm. Theo một cuộc điều tra của hãng thông tấn Bloomberg, riêng Xiang Guangda đã nắm trong tay 12% tổng số các hợp đồng mua bán nikel tại LME. Khi giá nikel bắt đầu tăng do chiến tranh và nguồn cung từ Nga bị ảnh hưởng mạnh, Xiang Guangda bắt đầu hoảng sợ. Ông tìm cách mua lại nikel và đẩy giá tăng vọt. Điều đó làm cho vấn đề của ông càng trầm trọng.

Trong bối cảnh đó, sự can thiệp của LME vào phiên giao dịch ngày 8/3 gây nghi ngờ lớn. Với việc ra lệnh hủy khẩn cấp các giao dịch, lãnh đạo thị trường trên thực tế đã hỗ trợ cho Big Shot, quẳng cho ông một chiếc phao cứu sinh đúng lúc. Cơ quan quản lý tài chính Anh phản ứng ra sao? Họ hầu như không có phản ứng gì. Từ trước đến nay, cơ quan này chịu trách nhiệm giám sát các ngân hàng và thị trường chứng khoán vẫn có truyền thống để LME tự hành động. Điều đáng chú ý là từ năm LME rơi vào tay Thị trường chứng khoán Hong Kong, cổ đông lớn nhất của tập đoàn lại là Chính quyền Hong Kong. Liệu có mối liên hệ nào giữa sự cố của Xiang Guangda và điều này hay không?

Giá nguyên liệu từng bị kiểm soát chặt chẽ

Giáo sư Chalmin cho biết: “Trong thập kỷ 1960, mọi người có thể ngủ ngon vì biết chắc ngày mai giá USD, dầu lửa, đồng và lúa mì sẽ không thay đổi. Còn ngày nay thì ia cũng tin rằng tất cả sẽ biến động”. Tương tự như các loại ngoại tệ trước khi xuất hiện hệ thống Bretton Woods năm 1971, giá nguyên liệu được điều tiết chặt chẽ. Dầu lửa là ví dụ điển hình. Cho đến tận những năm 1960, sản xuất vàng đen gần như chịu sự chi phối hoàn toàn của 7 tập đoàn dầu lửa khổng lồ của Mỹ và Anh – tiền thân của BP, Shell và Exxon ngày nay. Họ tiến hành hút dầu thô ở nước ngoài, chủ yếu là ở vùng Vịnh, sau đó tự lọc dầu tại các nhà máy của chính mình và bán ra cũng ở các cây xăng do họ kiểm soát. Hiếm khi các chuyến hàng lớn được giao dịch bên ngoài hệ thống. Ngành công nghiệp dầu mỏ được tổ chức chặt chẽ theo chiều dọc. Không có thị trường, giá dầu được quyết định chủ yếu dựa trên giá thành. Việc Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) giành lại quyền điều hành trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 đã làm thay đổi cán cân sức mạnh, nhưng không làm thay đổi cơ cấu giá. Sau đó, một số nước đã tiến hành quốc hữu hóa và kiểm soát trữ lượng dầu khí, nhưng giá cả vẫn do các tập đoàn ấn định.

Tất cả chỉ thay đổi sau khi Ronald Reagan lên làm tổng thống Mỹ. Vốn là người ủng hộ tuyệt đối việc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước, nhà lãnh đạonày không chấp nhận việc Chính phủ Mỹ tùy tiện định giá dầu ở mức thấp, thấp hơn nhiều so với mức giá của OPEC, để hỗ trợ người tiêu dùng. Ngày 28/01/1981, Reagan cho phép thả nổi thị trường dầu. Các tập đoàn dầu lửa Mỹ đã lợi dụng cơ hội này để tăng sản lượng, khiến cho giá thị trường sụp đổ. OPEC mất khả năng can thiệp và mất dần thị phần do sản lượng dầu ở Biển Bắc tăng quá nhanh. Sau vài năm, tổ chức này cũng phải bỏ ý định và chấp nhận quy luật cung cầu. Từ đó, OPEC chỉ giới hạn hành động ở việc tăng giảm lượng khai thác để tác động đến xu hướng giá.

Nông nghiệp lại là lĩnh vực khác. Có hàng nghìn nhà sản xuất và họ phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Từ năm 1848, Sàn giao dịch Chicago đã thiết lập những hợp đồng tương lai đầu tiên về việc niêm yết trên thị trường chứng khoán. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, châu Âu định đưa biến động giá cả thị trường vào khuôn khổ. Năm 1957, Chính sách nông nghiệp chung của châu Âu đã ấn định giá cả ở mức cao nhằm khuyến khích các nhà đầu tư và cải thiện năng suất. Tuy nhiên, hệ thống nhanh chóng bộc lộ những bất cập. Đầu năm 1990, giá ngũ công châu Âu tăng gần gấp đôi so với giá bên ngoài. Do đó, ngành chăn nuôi châu Âu ngày càng tiêu thụ ít ngũ cốc do châu Âu sản xuất. Để trợ giá, các chính phủ đã dành một phần lớn ngân sách và kho bãi để tích trữ và kích thích xuất khẩu. Dần dần, chính sách quản lý giá bị bãi bỏ và biến mất hoàn toàn vào năm 2006. Từ đó đến nay, giá cả hoàn toàn do thị trường thế giới quyết định. Theo giáo sư Chalmin, điều này khiến cho kẻ mạnh càng mạnh thêm và kẻ yếu càng yếu đi.

Các trung tâm giao dịch chiếm ưu thế

Với việc tự do hóa giá nguyên liệu, một nghề mới đột nhiên thịnh hành: trung gian môi giới. Rất nhiều nhân tố mới bắt đầu tham gia mua bán khối lượng lớn dầu mỏ, lúa mì và khoáng sản. Sau khi bức tường Berlin sụp đổ cuối năm 1989, mở toang cánh cửa dẫn tới các nguồn nguyên liệu lớn được đổ vào thị trường thế giới, xu hướng này lại càng tăng, đặc biệt là sau sự bùng nổ của kinh tế Trung Quốc. Hàng loạt tên tuổi mới lộ diện như Glencore, Vitol, Trafigura, Cargill và Louis-Dreyfus. Năm 2019, 4 tập đoàn đứng đầu sàn giao dịch nguyên liệu  đã có doanh số lên đến 725 tỷ USD. Trong ngành nông nghiệp, 7 công ty kiểm soát một nửa thương mại toàn cầu. Các công ty này chủ yếu đặt trụ sở tại Thụy Sỹ, ít khi xuất hiện trên truyền thông và thích đứng trong bóng tối. Theo Blas, họ không ngại đùa giỡn với cái đói của hàng triệu người trên thế giới.

Giữa năm 2010, một vụ hạn hán lớn đã khiến sản lượng lúa mì của Nga giảm mạnh. Nhiều người thắc mắc liệu Moskva có dừng xuất khẩu hay không. Ngày 3/8, Yury Ognev, trung gian cho các giao dịch ngũ cốc của Glencore tại Nga, đã lên truyền hình kêu gọi Moskva phong tỏa xuất khẩu. Ông nói: “Theo quan điểm cá nhân của tôi, chính phủ có mọi lý do để ngừng xuất khẩu”. Để chắc chắn thông điệp được truyền tải, Yury Ognev đã gửi thêm một thông cáo báo chí cho các phóng viên. Hai ngày sau, Nga thông báo ngừng xuất khẩu, khiến giá lúa mì thế giới tăng vọt.

Điều mà Yury Ognev không nói ra là Glencore đã âm thầm mua rất nhiều hợp đồng tương lai tại Sàn chứng khoán Chicago và đánh cược rằng giá lúa mì sẽ tăng mạnh. Tuyên bố của Yury Ognev đã giúp Glencore vớ bẫm. Năm 2010, bộ phận giao dịch nông sản của Glencore đã thu về khoản lợi nhuận 659 triệu USD. Cùng năm, giá lương thực nhảy múa đã góp phần làm bùng phát phong trào Mùa xuân Arab. Theo Blas, các hãng trung gian đã trở thành những “tay buôn quyền lực”.

Thiên nhiên – hàng hóa mới của giao dịch tài chính

Trong khi giá cả đang nhảy múa, một loại nguyên liệu mất giá nhanh chóng: Đó là CO2. Giá CO2 theo Giấy phép ô nhiễm của EU có lúc giảm từ 90 euro/tấn xuống còn 58 euro/tấn, trước khi trở lại mức 80 euro/tấn. Thông thường dầu càng đắt, thì quyền phát thải khí gây ô nhiễm càng tăng giá.

Tại sao lại có xu hướng ngược như vậy? Nhiều nhà phân tích cho rằng đó là bằng chứng của hiện tượng giao dịch theo mô hình thị trường tài chính: Trước cơn bão tài chính, các nhà đầu tư cần tiền và do đó quyết định bán quyền phát thải mà họ nắm giữ. Theo nhận định của Frédéric Hache, nhà hoạt động của Tổ chức quan sát tài chính xanh, thị trường phát thải CO2 đang thay đổi về quy mô. Tương tự như thị trường nguyên liệu đầu những năm 2000, một dòng vốn đầu tư bên ngoài bắt đầu đổ vào “tài sản môi trường”.

Vấn đề là rất nhiều sản phẩm tài chính như vậy có hại cho hành tinh. Đã xuất hiện thêm nhiều dự án bù đắp cho lượng phát thải carbon, chủ yếu là dự án trồng cây theo mô hình độc canh. Những dự án như vậy lấy đi rất nhiều đất đai lẽ ra dành cho nông nghiệp và do đó có nguy cơ đẩy giá lương thực lên cao.

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022

Thị trường nguyên liệu: Thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã – Phần đầu


Theo báo Le Monde (Pháp), bão giá hàng hóa nguyên liệu gần đây bắt nguồn chủ yếu từ cuộc chiến tranh Ukraine, đồng thời là hậu quả của việc giao dịch nguyên liệu giống như trên thị trường tài chính và việc buông lỏng quản lý, hiện tượng bắt đầu cách đây 40 năm và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trung gian “làm mưa làm gió”.

Trong 3 năm qua, giá dầu tăng 4 lần, giá khí đốt tăng 10 lần và giá lúa mì tăng 2,5 lần. Sau khi Nga phát động cuộc chiến tranh Ukraine ngày 24/2, giá các loại nguyên liệu đã tăng với tốc độ kỷ lục và thế giới bước vào thời kỳ giá cả dao động mạnh. Khủng hoảng giá cả diễn ra đối với nhiều mặt hàng, bắt đầu từ điện và khí đốt. Dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm ít nhất 1% và thế giới có nguy cơ bước vào thời kỳ suy thoái vào năm 2023.

Đó là hậu quả khó tránh khỏi của quy luật thị trường hay dấu hiệu của sự vận hành có vấn đề của nền kinh tế? Thị trường nguyên liệu chưa bao giờ vận hành một cách hỗn loạn như hiện nay. Javier Blas, đồng tác giả cuốn sách được đánh giá cao có nhan đề “Bán cả thế giới” nhận xét: “Điều khó tin nhất liên quan đến hiện tượng này là các chính phủ đã mất khả năng kiểm soát thị trường nguyên liệu từ cách đây 40 năm”. Giáo sư lịch sử kinh tế Philippe Chalmin thuộc Đại học Dauphine (Pháp) cũng có đánh giá tương tự: “Trong 40 năm qua, nguyên liệu đã trở thành hàng hóa giao dịch giống như bất kỳ sản phẩm nào khác”.

Đã qua cái thời mà giá nguyên liệu được điều tiết chặt chẽ. Sự buông lỏng quản lý cùng với xu hướng giao dịch thái quá và thiếu minh bạch giống như trên thị trường tài chính đã tạo ra một thế giới mới chịu sự chi phối của một nhóm nhỏ gồm các công ty có ảnh hưởng lớn. Như lời của Blas, thị trường nguyên liệu là “thành lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản hoang dã”.

Giao dịch tài chính thái quá trên thị trường nguyên liệu

Ngày 20/4/2020, trong khi thế giới vẫn đang chìm trong đại dịch COVID-19, một hiện tượng chưa từng có đã xuất hiện và gây sửng sốt cho tất cả các nhà giao dịch dầu mỏ. Trên thị trường thương mại New York, giá dầu đã rơi xuống mức -37,63 USD/thùng. Vì mỗi hợp đồng dầu mỏ phải có số lượng ít nhất 1000 thùng, nên điều đó đồng nghĩa với việc người bán chấp nhận trả cho người mua ít nhất 37.630 USD để thoát nợ. Nguyên nhân của hiện tượng này là sự giao thoa giữa đầu cơ tài chính và hàng hóa thực tế.

Trở lại năm 1983 tại Mỹ, lần đầu tiên dầu mỏ trở thành một loại hàng hóa trong giao dịch tài chính. Hợp đồng dầu tương lai đầu tiên đã được West Texas Intermediate (WTI), hệ thống tiêu chuẩn Mỹ về chất lượng dầu thô, thiết lập. Đối với mỗi hợp đồng, người bán cam kết giao dầu thô tại một thời điểm định trước với mức giá định trước. Nhưng đây không phải là một hợp đồng trừu tượng, mà nó gắn liền với thực tế: Đến kỳ hạn, dầu sẽ được chuyển đến Cushing, bang Oklahoma, nơi đặt nhiều nhà máy lọc dầu của Mỹ.

Đối với các doanh nghiệp phụ thuộc vào dầu lửa, hợp đồng tương lai là điều đáng quý. Nhờ đó, một công ty hàng không có thể đàm phán mua trước nhiên liệu với mức giá phù hợp. Nhưng để cả hệ thống hoạt động, cần phải có sự tham gia của các nhà đầu cơ chấp nhận mua và bán sản phẩm này, đồng thời đóng vai trò trung gian giữa nhà sản xuất và người tiêu thụ.

Những người trung gian này giữ vai trò ngày càng quan trọng. Theo một nghiên cứu của hai giáo sư Michel Robe và John Roberts thuộc Đại học Illinois, lực lượng đầu cơ thuần túy chiếm 50 – 70% khối lượng giao dịch trên thị trường nông sản Mỹ. Đối với lúa mì, chỉ khoảng 24 – 39% giao dịch thuộc về các doanh nghiệp có nhu cầu tiêu thụ thực sự, số còn lại thuộc về các nhà đầu tư.

Khi khủng hoảng COVID-19 bùng phát, giá dầu rơi xuống mức thấp nhất. Giới đầu cơ thấp thỏm khi các hợp đồng phải được thực hiện đúng ngày 21/4 nhưng không có người mua nào quan tâm. Họ đứng trước nguy cơ phải ôm rất nhiều dầu sẽ được giao mà không có cách xử lý thỏa đáng. Không thể lập tức mua kho chứa vì tất cả đều đầy trong khi mức tiêu thụ dầu trên thế giới giảm đến một phần tư. Đến ngày 17/4, nỗi hoảng loạn lan rộng khắp thị trường. Cần phải nhanh chóng giải quyết một lượng dầu lớn trong bối cảnh các doanh nghiệp nắm giữ các kho chứa có ưu thế trong đàm phán và do đó có thể mua vào với giá rẻ mạt.

Liệu đây có phải bằng chứng cho thấy thị trường nguyên liệu nằm ngoài vòng kiểm soát? Giáo sư Joĕlle Miffre thuộc Trường kinh doanh Audencia (Pháp) đã theo dõi rất sát thời kỳ giá dầu rơi xuống mức âm như vậy. Bà thừa nhận việc giá dầu từ -37 USD/thùng leo lên 139 USD/thùng trong vòng 2 năm là hiện tượng lạ thường, nhưng cho rằng thị trường có khả năng tự điều tiết và các ngân hàng đầu tư tạo điều kiện cho việc thanh khoản và hình thành giá cả. Các cú sốc năm 1973 và 1979 đã diễn ra trước giai đoạn tài chính hóa thị trường dầu mỏ, khi các hợp đồng tương lai vẫn chưa xuất hiện. Mặt khác, nhiều loại nguyên liệu không được giao dịch dưới hình thức hợp đồng tương lai cũng rơi vào tình trạng bấp bênh. Ví dụ như thị trường lithium, không có các hợp đồng kỳ hạn, nhưng trong vòng một năm, giá cả đã tăng đến 8 lần. Giáo sư Robe cho rằng hiện chưa có dấu hiệu rõ ràng về việc thao túng. Ông cho rằng cuộc chiến Ukraine đã làm thay đổi tình thế và giá cả là sự phản ánh chính xác tình hình thực tế.

Từ năm 2000, các ngân hàng đầu tư đã tạo ra những bộ phận mới để phụ trách thị trường nguyên liệu. Giới đầu tư đánh cược vào biến động giá cả mà không quan tâm tới ảnh hưởng của nó đến đời sống thực. Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNECE) đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng này. Trước năm 2000, những diễn biến về giá nguyên liệu độc lập với thị trường tài chính. Nhưng từ năm 2000 trở đi, hai yếu tố này có liên quan đến nhau.

Nikel – một trường hợp kỳ lạ

Sàn giao dịch kim loại London (LME), nằm ở trung tâm thành phố, có bề dày lịch sử đáng tự hào. Nó được thành lập vào năm 1877, sở hữu một mạng lưới kho chứa rộng lớn và vẫn duy trì giao dịch bằng cách hô giá như ở thời điểm cách đây cả trăm năm. Trong tất cả các ngày, một vài nhà giao dịch sẽ tề tựu xung quanh những chiếc bàn đỏ để trao đổi hợp đồng bằng cách hét giá thật to, một cảnh tượng rất lạ với những người không am hiểu.

Thực tế từ rất lâu, giao dịch đã được thực hiện chủ yếu qua máy tính. Đêm 7/3 rạng sáng 8/3 vừa qua là thời điểm đặc biệt. Giá nikel, kim loại quan trọng được sử dụng trong chế tạo ắc quy xe điện và thép không gỉ, bất ngờ vọt lên đến 100.000 USD/tấn, tăng hơn 4 lần so với thời điểm hai ngày trước đó. Đến 8h15’, ban lãnh đạo LME đã đưa ra một quyết định chưa từng có: không chỉ dừng niêm yết, một động thái bình thường khi thị trường hỗn loạn, mà còn hủy một số giao dịch đã được thực hiện trong đêm.

Điều này làm mất lòng tin vào thị trường. Michael Marlowe, Giám đốc Công ty tư vấn kim loại Hythe Bay Metals, cho rằng LME muốn kiếm tiền dễ dàng bằng cách thu hút các giao dịch được thực hiện với tần suất cực ngắn, chỉ vài phần nghìn giây dựa trên thuật toán số học. Ông cho rằng không thể tư vấn chính xác cho khách hàng về những giao dịch vô lý như thế.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 29/04/2022