Virus corona chủng mới và những hạn chế của kinh tế học – Phần cuối


Chính sách công để đối phó với đại dịch phải tập trung xây dựng một địa chỉ tin cậy và đảm bảo cho các chủ thể tư nhân. Điều này có thể tạo ra kỳ vọng về sự ổn định để các chủ thể tư nhân tiếp tục chi tiêu và đầu tư, lập kế hoạch chấm dứt tình trạng khẩn cấp về y tế cộng đồng và tránh các hành động có thể gây ảnh hưởng bất lợi ch y tế cộng đồng hoặc hậu quả kinh tế, ví dụ như sa thải công nhân. Chính nỗi hoảng loạn đã là một yếu tố rủi ro và có thể bị các hành vi sai lầm của công chúng kích hoạt và được các hành vi đúng đắn xoa dịu. Chính phủ có thể cung cấp một chốt chặn đảm bảo sự tồn tại của các công ty và tính liên tục của việc làm và thu nhập để duy trì tổng cầu, khả năng thanh toán và tính thanh khoản trên diện rộng. Điều này có thể đòi hỏi các khoản trợ cấp và chuyển nhượng hoàn toàn để hoạt động kinh tế được tiếp tục và tránh thiệt hại không thể đảo ngược. Nhưng đây là những cách đối phó với tính bất định, chứ không xua tan nó. Xác định các biện pháp can thiệp cần thiết cần lưu ý tới sự phụ thuộc lẫn nhau giữa y tế cộng đồng, sự ổn định kinh tế và các yếu tố khác là bản chất của một “vấn đề xấu”, và đòi hỏi vai trò lãnh đạo đặc biệt của công chúng, vào thời điểm niềm tin vào chính phủ giảm sút chưa từng thấy. Hơn nữa, không có công thức cho nó. Mặc dù kinh tế học có thể cung cấp đầu vào cần thiết, nhưng không một ngành học nào, cũng như tất cả các ngành học, đủ đáp ứng để biến nghệ thuật thành khoa học.

Một nền kinh tế là gì?

Thứ ba, xem xét rằng một nền kinh tế không thể tách rời khỏi xã hội: Nó được gắn kết với xã hội. Quan niệm rằng có thể phân tích nền kinh tế độc lập với các quá trình y tế cộng đồng, chính trị hoặc xã hội, thường được đề xướng theo truyền thống chi phối trong kinh tế học và được phản ánh trong lý thuyết cân bằng chung. Song, đại dịch virus corona chủng mới này đã cho thấy quan niệm này không chỉ đơn thuần là dễ bị phản bác mà còn sai lầm.

Một cách để thấy điều này là phản ứng chính sách kinh tế phù hợp với đại dịch phụ thuộc vào những gì được coi là có giá trị và các giá trị được xem là vượt ra ngoài phạm vi kinh tế hẹp. Cựu chiến lược gia trưởng Nhà Trắng Steve Bannon từng nói, “một quốc gia không chỉ là một nền kinh tế”. Ông đã đúng, nếu thoe những lý do không chính xác. Phản ứng toàn cầu đối với đại dịch dường như không thể là chuyện ngày hôm qua: các quốc gia tự cô lập mình, không phải vì mong muốn bảo vệ nền kinh tế của họ mà là bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Ẩn ý trong chuyện lấn át các ưu tiên kinh tế này là tầm quan trọng của một tư tưởng về quyền công dân và số phận chung. Nhiều xã hội ít chú ý đến tư tưởng này trong những khoảng thời gian thông thường. Nhưng đại dịch nhấn mạnh rằng sức khỏe cộng đồng là hệ quả của các quy định, thể chế, chính sách, chuẩn mực, thói quen và sự sắp xếp kinh tế và xã hội. Kết quả là, hành động nhà nước và xã hội, hoặc thiếu vắng hành động này, trở nên tối quan trọng. Tác động của việc nghỉ phép do bệnh nhưng vẫn hưởng lương hoặc khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa lúc lây lan các bệnh truyền nhiễm là các ví dụ về cách thức các lựa chọn chính trị và kinh tế tạo ra vành đai truyền bệnh. Một quan điểm có ảnh hưởng của chính sách kinh tế đó là mỗi mục tiêu đòi hỏi phải có công cụ riêng, nhưng kkhi mối liên kết nhân quả trở nên sâu sắc, thì các công cụ ví dụ như trong trường hợp này là các chính sách kinh tế và y tế cộng đồng phải được phối hợp để đạt được các mục tiêu.

Đại dịch cũng làm mờ ranh giới phân chia giữa tư nhân và công cộng. Mục tiêu làm phẳng đường cong dịch bệnh đã được chấp nhận vì không có đủ giường bệnh, máy thở và các phương tiện khác để chăm sóc tất cả những người có khả năng bị bệnh cùng một lúc. Tuy nhiên, năng lực hạn chế này là hệ quả của các quyết định công và tư trước đó không đầu tư vào những gì mà sau này có vẻ như đối với một số công ty, chứ không phải tất cả, đều là dư thừa năng lực sản xuất. Các biện pháp kiềm chế khắt khe hiện nay đối với các quyền tự do cá nhân, đặc biệt là việc di chuyển và tụ họp đông người, và sự phát vỡ các khuôn mẫu cuộc sống với các hậu quả gây thiệt hại tiềm tàng về kinh tế, xã hội và y tế là kết quả các khoản đầu tư dưới mức trước đó trong quá khứ. Những thay đổi trong cấu trúc của chuỗi cung ứng, một khi được thúc đẩy bởi những cân nhắc về hiệu suất, cũng có thể khiến việc tăng nhanh sản lượng các nhu yếu phẩm trở nên khó khăn hơn, hệ quả gây ra là tính bất hiệu quả rõ rệt. Tư duy kinh tế của Keynes từ lâu đã nhấn mạnh lợi ích xã hội trong đầu tư đầy đủ, cho dù là công cộng hay tư nhân. Đại dịch làm nổi bật vấn đề rằng lợi ích này có thể mở rộng vượt trên câu hỏi đầu tư bao nhiêu sang đầu tư cái gì. Những nỗ lực hiện tại để tăng nhanh nguồn cung cấp các nguồn lực hạn chế có thể cần sự phối hợp cộng đồng và đổi hướng các nguồn lực tư nhân. Một đại dịch, giống như một cuộc chiến tranh, làm cho sự phân tách giữa các lĩnh vực riêng tư và công cộng không còn trở nên quá quan trọng. Nó làm nổi bật rõ nét mối quan hệ tương thuộc trước đây. Đây không chỉ đơn thuần là lý thuyết mà là tư duy có ý nghĩa thực tiễn, đặc biệt không chỉ trong những giai đoạn bất thường.

Một phản ứng lý tính đối với đại dịch đòi hỏi phải nhận ra rằng mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực của cuộc sống là trung tâm của các hiện tượng kinh tế giống như đối với dịch tễ học. Loại kiến thức này là những yêu cầu đòi hỏi sự hợp tác tích cực giữa các ngành khoa học xã hội và tự nhiên khác nhau. Cho dù đó là khái niệm hóa lợi ích công cộng, hiểu được mối quan hệ giữa những gì dựa trên lý trí khi được xem xét riêng lẻ và khi được nhìn nhận khái quát, nhận ra vai trò của tính bất định cơ bản và do đó cần phán đoán và biện minh trong quá trình hoạch định các chính sách công, hiểu về nền kinh tế trong bối cảnh xã hội, hoặc theo những cách thức khác, ngành kinh tế học phải tự cởi mở trước những tri thức mới và truy tìm những tri thức cũ. Việc bắt buộc phải xem xét lại các khái niệm và phương pháp chắc chắn sẽ xảy ra xuất phát từ các yêu cầu giải quyết vấn đề được áp dụng. Những khoảnh khắc khó khăn như hiện tại tạo ra một sự khởi đầu.

Người dịch: Hoàng Nguyễn

Nguồn: Sanjay G. Reddy – Coronavirus and the Limits of Economics – Foreign Policy – 31/03/2020.

TN 2020 – 36

Virus corona chủng mới và những hạn chế của kinh tế học – Phần II


Chỉ có cách tiếp cận toàn diện hơn về lý tính, người ta mới có thể nghiêm túc đưa ra lời kêu gọi tự nguyện tuân thủ các yêu cầu của lợi ích xã hội. Đáng lưu ý là trong mô hình được các nhà hoạch định chính sách sử dụng nhiều nhất để thông báo về phản ứng của họ đối với cuộc khủng hoảng hiện nay, sự tuân thủ các biện pháp kiềm chế xã hội chỉ ở mức cục bộ. Mặc dù việc người dân có thể tuân thủ các biện pháp kiềm chế nói trên bởi họ sợ bị trừng phạt hoặc tôn trọng chính quyền, song cũng có thể xuất phát từ thái độ sẵn sàng liên kết các lựa chọn hợp lý của chính họ với nỗ lực phối hợp xã hội. Dù bằng cách nào, tình hình hiện tại đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải vượt ra khỏi hộp công cụ hạn hẹp của lý thuyết kinh tế chính thống để biện minh và thúc đẩy việc tuân thủ các biện pháp y tế công cộng làm giảm tự do cá nhân.

Tính bất định, phán đoán và biện minh

Lý do thứ hai cho thấy tư duy kinh tế thông thường đưa ra hướng dẫn rất hạn chế trong hoàn cảnh hiện tại là sự hiện diện của tính bất định căn bản. Các nhà kinh tế từ lâu đã phân biệt giữa bất định và rủi ro. Tính bất định thường được hiểu là không thể chỉ định rõ biến cố gì sẽ xảy ra, xác suất xảy ra các biến cố này, khác với rủi ro – là những tình huống có nhiều biến cố có thể xảy ra và có thể chỉ ra xác suất xuất hiện và kết quả của các biến cố này. Kinh tế học cung cấp các nguồn lực hạn chế giúp chúng ta hiểu làm thế nào để đưa ra quyết định trong tình huống bất định cơ bản. Nhưng có một kiểu bất định sâu sắc hơn, đó là chúng ta hoàn toàn không thể dễ dàng dự đoán được kết quả. Một kết quả cực kỳ khó lường như vậy đã được biết đến rộng rãi trong những năm gần đây là sự kiện thiên nga đen.

Đại dịch virus corona chủng mới ban đầu có thể là một sự kiện thiên nga đen như vậy, nhưng nhận định này không thể tồn tại: Các chuyên gia từ lâu đã thừa nhận khả năng xảy ra mối đe dọa như vậy. Sự thừa nhận này đã dẫn đến các kịch bản được thảo luận ở các cấp chính quyền cao nhất. Do đó, khả năng xảy ra đại dịch là “vấn đề chưa xác định đã biết từ trước” chứ không phải “vấn đề chưa xác định không được biết trước”.

Bởi vậy, viễn cảnh về một đại dịch do virus corona chủng mới gây ra liên quan đến tính bất định cơ bản của loại thứ nhất: tình huống có thể dự đoán, thực sự đã được dự đoán trước đó ngay cả khi không thể chỉ định rõ xác suất, cũng không thể biết được liệu nó xảy ra khi nào và như thế nào. Vì điều này, dường như rõ ràng là cơ sở hạ tầng y tế công cộng liên quan đã bị bỏ mặc tới mức nghiêm trọng. Ví dụ, ở cấp độ toàn cầu, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đóng vai trò trung tâm trong việc giám sát và ứng phó với các bệnh mới xuất hiện, có thể đã không được tài trợ đầy đủ. Một vấn đề khác là WHO cũng đã bị cáo buộc có phản ứng ban đầu yếu kém đối với đại dịch. Nhận định tương tự có thể được đưa ra và cơ sở hạ tầng y tế công cộng quốc gia ở nhiều nước trên thế giới.

Bản chất bất định cơ bản của quá trình phát triển đại dịch dẫn đến tình trạng tiến thoái lưỡng nan liên tiếp về cái gọi là phản ứng hợp lý đối với trường hợp khẩn cấp virus corona chủng mới hiện tại. Hãy xem xét phép ẩn dụ về “làm phẳng đường cong dịch”, thể hiện các phản ứng của chính phủ và xã hội đối với đại dịch. Kết quả khả thi của các biện pháp như đóng cửa hệ thống các trường học, các nhà hàng, quán bar, và thực hiện giãn cách xã hội được củng cố nhờ các mô phỏng chắc hẳn dựa trên các giả định cụ thể, chứng cớ hạn chế và chủ yếu tập trung vào một mục tiêu (tránh tử vong do dịch bệnh). Động lực để thực hiện các biện pháp cụ thể dựa trên hướng tác động dự kiến của chúng, nhưng tác động thực tế, liên quan đến sự lây lan của virus, chưa tính đến các hậu quả y tế và phi y tế khác, lại không thể biết được từ các mô hình đã được áp dụng. Điều này được các nhà xây dựng mô hình mặc nhiên thừa nhận, vốn là những người đã nghiên cứu về ảnh hưởng của các biện pháp kiềm chế định kỳ được áp dụng và gỡ bỏ mỗi khi có thông tin về sự thành công hay thất bại của các chính sách.

Các mô hình hiện tại không phù hợp dẫn đến sự bất đồng hợp lý về đường lối hành động đúng đắn. Những tác động của việc đóng cửa biên giới nghiêm ngặt và cách ly nhiều hoạt động của cuộc sống hàng ngày, đối với các khía cạnh khác về sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và nỗi cô đơn, hòa nhập xã hội, thịnh vượng và bao trùm về kinh tế, tài chính công, giáo dục và tỷ lệ sinh tử,… khiến các xã hội đối mặt thêm với tính bất định. Mỗi một vấn đề này lại liên quan đến các vấn đề khác theo những cách thức phức tạp. Khó có thể biết rõ những ảnh hưởng của các chính sách nghiêm ngặt như vậy. Một số tác động chính sách có thể dai dẳng hoặc vĩnh viễn, một số khác có thể tạm thời nhưng có tính ảnh hưởng cao. Các chuỗi quan hệ nhân quả hợp lý rất đa dạng. Cần thiết phải nỗ lực lập biểu đồ quan hệ này để giúp chúng ta đưa ra các quyết định công khai thận trọng, nhưng nỗ lực này cũng nhất thiết phải trải qua những kiềm chế nghiêm túc.

Nhà xã hội học quá cố Ulrich Bec đã chính xác khi từng nói về sự xuất hiện của “một xã hội rủi ro” sinh ra cả “những điều xấu” và “những điều tốt”, được phân chia theo các chuỗi nhân quả thường là chưa biết hoặc không thể biết. Yêu cầu thực hiện các biện pháp thích hợp để ngăn chặn dịch bệnh phải được cân bằng với kiến thức mà chúng ta không và chưa thể biết tất cả những gì chúng ta cần phải biết để đưa ra quyết định sáng suốt. Mặc dù một trường hợp khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng đề cao việc cần phải có các quyền hành pháp và trình độ chuyên môn, song nó cũng nhấn mạnh các giới hạn của chúng. Trong bối cảnh dân chủ, các quyết định công phải được dựa trên cơ sở các phán đoán được đưa ra bằng lý trí và được duy trì nhờ sự cân nhắc xã hội. Bởi vậy, phán đoán phải được kết hợp với biện minh.

Bản chất bất định cơ bản của tác động do đại dịch và sự phát triển của nó sẽ ảnh hưởng đến các phản ứng của khu vực tư nhân, và điều này phải được tính đến trong các chính sách công. Nghịch lý Ellsberg [Có thể mô tả nghịch lý này bằng một trò chơi như sau: Giả dụ trước mặt bạn là hai bình đựng bi. Mỗi hình có 100 hòn, đỏ hoặc đen. Bạn được cho biết bình thứ nhất có 50 hòn đỏ, 50 hòn đen. Tỷ lệ đỏ đen trong bình thứ hai thì bạn không được biết. Bạn có thể bốc, nhưng không được nhìn khi bốc, một hòn bi từ một trong hai bình. Nếu bốc đúng bi đỏ, bạn sẽ được 100 USD. Bạn sẽ bốc từ bình nào? Ellseberg nhận ra rằng, dù không có lý do để tiên nghiệm cơ may bốc được bi đỏ ở bình này là cao hơn ở bình kia, đa số chúng ta sẽ chọn bốc từ bình thứ nhất. Chẳng những thế, giả sử người chủ cuộc sẽ bảo: “Như vậy là bạn nghĩ rằng bình ấy có nhiều bi đỏ phải không? Thế thì bây giờ tôi sẽ cho bạn 100 USD nếu bạn bốc được bi đen”. Vì bạn đã chọn bình thứ nhất để bốc bi đỏ, nếu đúng lý, bạn sẽ chọn bình thứ hai nếu muốn được bi đen. Nhưng Ellsberg lại phát hiện ra là đa số chúng ta cũng lại chọn bốc từ bình thứ nhất! Theo Ellsberg, “nghịch lý” này chứng tỏ con người thích có thông tin chắc chắn hơn là mơ hồ, đến độ có những lựa chọn trái luật xác suất, và không nhất quán.] nổi tiếng cho thấy các cá nhân có ác cảm với tính bất định nhiều hơn là ác cảm với rủi ro. Trong một tình huống không xác định được cả “không gian trạng thái” mô tả các sự kiện có thể xảy ra và xác suất gắn với mỗi sự kiện đó, thì yếu tố cảm xúc sẽ chi phối việc ra quyết định; “tinh thần động vật” của nhà đầu tư được chú ý đến. Chẳng hạn, mặc dù có những lý do hợp lý cho sự sụp đổ của tâm lý thị trường do đại dịch, song giá cổ phiếu biến động mạnh hàng ngày dường như là một dạng biến đông thái quá không thể hiểu là hợp lý.

(còn tiếp) 

Người dịch: Hoàng Nguyễn

Nguồn: Sanjay G. Reddy – Coronavirus and the Limits of Economics – Foreign Policy – 31/03/2020.

TN 2020 – 36

Virus corona chủng mới và những hạn chế của kinh tế học – Phần I


Sanjay G. Reddy

Tại sao kinh tế học chuẩn tắc không có câu trả lời cho kiểu khủng hoảng này

Đại dịch virus corona chủng mới đã phá vỡ đáng kể các mô hình kinh tế và xã hội thường nhật của các xã hội trên thế giới. Các nhà kinh tế tập trung xem xét tác động về khía cạnh kinh tế của đại dịch và những việc các ngân hàng trung ương và chính phủ nên thực hiện để đói phó với sự gián đoạn bất thường đồng thời xảy ra ở cả phía cung và cầu. Họ cùng nhất trí rằng các chính phủ sẽ phải hỗ trợ các doanh nghiệp và người lao động đang mất thu nhập – hoặc kiểm soát rủi ro gây ra những phản ứng dây chuyền nguy cấp đối với các ngân hàng và nền kinh tế thực (nền kinh tế hàng hóa) – và tìm cách tài trợ các khoản chi này. Ngoài ra còn có một yêu cầu cấp thiết cần phải tăng cường sản xuất các mặt hàng thiết yếu như máy thở, găng tay và khẩu trang; cung cấp giường bệnh; và đảm bảo rằng đội ngũ nhân sự chủ chốt có thể đến nơi làm việc. Bất kể sự gián đoạn đối với chuỗi cung ứng và kiềm chế đối với dân chúng, chính phủ vẫn phải cung cấp các hàng hóa thiết yếu và  dịch vụ cơ bản, duy trì cho các công ty không bị phá sản và đảm bảo việc làm và thu nhập.

Các trường hợp này đặt ra những câu hỏi cơ bản về vai trò của thị trường và khu vực công trong việc thực hiện những điều cần thiết theo quy mô mong muốn và với tốc độ vừa đủ. Một số nhà kinh tế đang công kích những vấn đề này một cách hợp lý với thái độ khẩn trương.

Nhưgn việc giải quyết các mục đích thực hiễn như vậy đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ lại về những quan điểm kinh tế cơ bản hơn. Kinh tế học cung cấp một khuôn khổ có ảnh hưởng nhất để tư duy xây dựng các chính sách công, nhưng nó đã tỏ ra không thỏa đáng, cả trong việc chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp hiện tại lẫn việc đối phó với tình huống đó. Đại dịch nhấn mạnh tính cấp thiết phải suy nghĩ lại về những quan điểm kinh tế học đã được chấp nhận rộng rãi và một số chiều hướng nên cân nhắc suy nghĩ lại.

Lợi ích công và sự lựa chọn hợp lý

Trước hết, hãy xem xét quan điểm kinh tế học chính thống về mối quan hệ giữa lý tính cá nhân và lý tính tập thể trong một tình huống như đại dịch hiện nay. Quan điểm này cho rằng những hành động có vẻ hợp lý đối với cá nhân có thể cuối cùng là phi lý theo quan điểm tập thể. Các nhà kinh tế học truyền thống quan niệm rằng những hành động của các cá nhân làm lây lan bệnh truyền nhiễm sẽ tạo ra một ảnh hưởng ngoại tác/ngoại ứng dưới dạng nguy cơ lây nhiễm (không chỉ đối với người tiếp xúc gần mà cả những người tiếp xúc thứ cấp), do đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh trong xã hội trên diện rộng. Có thể hợp lý khi một cá nhân nhận định rằng sự tiếp xúc với một cá nhân cụ thể nào đó khác sẽ có nguy cơ bị nhiễm bệnh thấp đối với cả hai người, nhưng nếu nhiều quan hệ tiếp xúc như vậy được nhân lên trong dân số sẽ làm tăng đáng kể tốc độ lây bệnh và nguy cơ lây nhiễm cuối cùng, không chỉ cho người có liên quan mà còn cho những người khác nữa.

Vấn đề tranh luận ở đây không nhiều, rắc rối sau này mới xảy đến. Có hai trường hợp có thể xảy ra, đó là các ngoại ứng có thể gây tổn hại cho một số người hoặc cho tất cả mọi người. Đại dịch hiện nay liên quan đến các khía cạnh của cả hai trường hợp này, nhưng trong cả hai trường hợp, đều cần phải xem xét lại.

Vì tỷ lệ tử vong do đại dịch hiện nay cao hơn nhiều ở nhóm người cao tuổi và những người trẻ tuổi thường bị tổn hại trực tiếp không đáng kể so với những lợi ích họ nhận được từ cuộc sống không bị gián đoạn, nên khuôn khổ cho các lựa chọn về sức khỏe cộng đồng trong đại dịch hiện nay phải vượt ra ngoài câu hỏi về việc liệu tất cả có thể được cải thiện tốt hơn hay không. Và thay vào đó, khuôn khổ này so sánh về trạng thái an lành, hạnh phúc giữa các cá nhân để xác định phải chăng lợi ích của một hành động cụ thể đối với một số người nhiều hơn so với những tổn thất đối với những người khác. Hầu hết các nhà kinh tế truyền thống đều thận trọng né tránh các so sánh như vậy, thay vào đó họ tập trung vào các cân nhắc hiệu quả chỉ xếp hạng kết quả theo việc phải chăng tất cả có thể được cải thiện nhờ một quá trình hành động. Trong tình huống này, cách tiếp cận như vậy sẽ không đưa chúng ta đến đâu. Nhà kinh tế học Lionel Robbins nổi tiếng với thái độ chỉ trích việc so sánh giữa các cá nhân chỉ là những câu hỏi về “máu của bạn hay máu của tôi”. Nhưng trong trường hợp này, đó có thể là những câu hỏi về “máu của bạn hay sinh kế của tôi”. So sánh giữa các cá nhân cho phép chúng ta đánh giá liệu những tổn thất gia tăng trong tương lai của một số người có thể được xem là có nhiều ảnh hưởng hơn so với những bất tiện và tổn hại về kinh tế hoặc xã hội, cũng có thể nghiêm trọng mà những người khác đã trải qua.

Trận đại dịch giúp chúng ta thấy lý do tại sao thực sự cần thiết phải cân đo lợi ích của những người khác nhau, ngay cả khi việc này không dễ thực hiện. Những so sánh như vậy tất nhiên có thể gây băn khoăn, lo lắng. Trong trường hợp thuận lợi nhất, sự cân nhắc công khai nghiêm túc về những so sánh này có thể cung cấp tính hợp pháp về xã hội và chính trị. Những quyết định quyết liệt của các chính phủ châu Âu và Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn đại dịch cho đến nay dường như đã được công chúng ủng hộ, ngay cả khi không có nhiều cuộc thảo luận công khai. Nhưng rốt cuộc, vẫn không thể tránh khỏi sự cân nhắc xã hội về tầm quan trọng được gắn với các lợi ích khác nhau, không chỉ để gắn kết với chúng mà còn để đảm bảo thực hiện những thỏa hiệp chính đáng.

Nếu xảy ra trường hợp thực hiện biện pháp cách ly cuộc sống hàng ngày chỉ tại một địa điểm trong một khoảng thời gian dài, thì phải dựa trên thái độ sẵn sàng cân nhắc lợi ích của những người khác đối với nhau. Tương tự, trường hợp trưng dụng các nguồn lực tư nhân (như cơ sở y tế, tòa nhà hoặc tài sản trí tuệ liên quan đến sản xuất dược phẩm hoặc thiết kế máy thở) để phục vụ mục đích công cộng tức thời chống lại đại dịch có thể được hiểu rõ nhất theo những thỏa hiệp ngoại lệ nhưng hợp lý giữa các lợi ích sống còn của nhiều người và những lợi ích kém quan trọng hơn đối với một số người khác. Tâm thế sẵn sàng và khả năng thực hiện những thỏa hiệp này mang tính cố hữu đối với khái niệm lợi ích công cộng.

Ở cấp độ cơ bản hơn, đại dịch cũng cho thấy sự bất cập trong cách hiểu của nhà kinh tế học thông thường về lý tính cá nhân. Trong chừng mực nhất định, việc kiểm soát đại dịch nh8a2m tránh những hậu quả gây thiệt hại cho tất cả mọi người, ít nhất là trong số những người được xác định giống nhau về nguy cơ lây nhiễm. Theo khung tiêu chuẩn, để đạt được kết quả lý tính tập thể  không cần phải tách rời khỏi lý tính cá nhân (chẳng hạn trong một ví dụ nổi tiếng về tình thế tiến thoái lưỡng nan của người tù). Thay vào đó, nó đòi hỏi phải xem xét lý tính cá nhân theo một cách khác biệt và mở rộng hơn so với khuôn mẫu ưa thích của các nhà kinh tế học. Đây không phải là một ý tưởng mới. Các nhà phê bình sự hiểu biết hẹp hòi về lý tính trong kinh tế học từ lâu đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải nắm bắt tính tương thuộc chiến lược từ góc độ rộng hơn, ví dụ như về tư lợi – một khái niệm được Adam Smith phát triển và được Alexis de Tocqueville công nhận, nhưng gần như thành vô dụng. Tương tự, các nhà triết học đạo đức, đặc biệt là Immanuel Kant, nhấn mạnh rằng cách tiếp cận hợp lý đối với vấn đề đạo đức đòi hỏi phải đánh giá hành động của một người bằng cách xem những người khác đánh giá họ như thế nào. Tất cả các nhà tư tưởng này đều tin rằng lý tính, nếu hiểu được đúng, phải bao gồm những lý do dẫn ra khỏi sự theo đuổi lợi thế cá nhân một cách thiển cận và khắc nghiệt.

(còn tiếp) 

Người dịch: Hoàng Nguyễn

Nguồn: Sanjay G. Reddy – Coronavirus and the Limits of Economics – Foreign Policy – 31/03/2020.

TN 2020 – 36

Dự báo mục tiêu kinh tế mới của Trung Quốc


Năm 2020 quả thực là một năm bất thường. Đối diện với những tác động của dịch COVID-19 và môi trường bên ngoài bất ổn, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra các nhận định quan trọng như “thách thức chưa từng có”, tăng cường “6 ổn định”, thực hiện “6 đảm bảo”… Hiện nay, Trung Quốc đã bước vào trạng thái mới vừa phòng chống dịch bệnh vừa phục hồi kinh tế, thời gian tổ chức kỳ họp Lưỡng hội (Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Hội nghị chính trị hiệp thương nhân dân) đã được xác định, các biện pháp chính sách được thị trường quan tâm trước đó sẽ lần lượt được công bố.

Đáng chú ý là cách thể hiện và biện pháp chính sách của các hội nghị quan trọng gần đây đã phát đi một số tín hiệu. Có tổ chức dự báo rằng trong bối cảnh “6 ổn định” và “6 đảm bảo”, mục tiêu tăng trưởng mang tính giai đoạn có thể sẽ không còn được đề cao như trước, khuyến khích thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đẩy nhanh nâng cấp ngành nghề sẽ là hai vấn đề trọng tâm đáng quan tâm tại kỳ họp Lưỡng hội lần này.

Mục tiêu tăng trưởng mang tính giai đoạn có thể không được đề cao như trước

Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2012 đã đề ra mục tiêu năm 2020 phải thực hiện tổng sản phẩm quốc nội và thu nhập bình quân đầu người tăng gấp đôi so với năm 2010. Từ đầu năm đến nay, cùng với dịch bệnh cơ bản được kiểm soát, chính sách đẩy nhanh phục hồi kinh tế được triển khai, các hội nghị quan trọng cũng đã nhiều lần nhấn mạnh phải đảm bảo thực hiện mục tiêu nhiệm vụ hoàn thành việc xây dựng xã hội khá giả toàn diện. Trong đó, việc hoàn thành mục tiêu kinh tế “tăng gấp đôi” đã mang lại kỳ vọng tương đối cao cho một bộ phận nhà đầu tư. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế suy giảm mạnh, sức ép dịch bệnh bên ngoài tiếp tục lây lan vào trong nước, đã có nhiều cuộc thảo luận sâu rộng về việc làm thế nào thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế này.

Theo Công ty chứng khoán Trường Giang, môi trường kinh tế và chính sách hiện nay đều khác trước rất nhiều, việc phân tích vĩ mô và suy luận chính sách đều phải đặt dưới khung “thay đổi”. Trong bối cảnh đó, việc hạ thấp mục tiêu tổng thể, đẩy nhanh thay đổi kết cấu mới là hướng phát triển.

Công ty cổ phần tài chính quốc tế Trung Quốc (CICC) cho biết Hội nghị Bộ Chính trị vào trung tuần tháng 4 đã lần đầu tiên đưa ra mục tiêu “6 đảm bảo” như đảm bảo việc làm cho người dân, đảm bảo dân sinh cơ bản…, nên mục tiêu tăng trưởng mang tính giai đạn của năm nay có thể sẽ không được đề cao như trước. Sau khi trải qua quý I rất không bình thường, trong bối cảnh khách quan kinh tế toàn cầu vẫn suy giảm nghiêm trọng, các nền kinh tế chủ chốt tăng trưởng âm, CICC dự đoán trọng điểm chính sách của năm nay sẽ tập trung vào các phương diện như thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đảm bảo dân sinh, đảm bảo ổn định việc làm…

Trên thực tế, trước thềm khai mạc Lưỡng hội, Lưỡng hội các địa phương đã lần lượt bế mạc. Theo số liệu thống kê của CICC, 16/29 tỉnh và thành phố đã hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP xác định đầu năm 2019, trong đó 6 tỉnh và thành phố vượt xa mục tiêu đề ra, 13 tỉnh và thành phố không hoàn thành mục tiêu, chiếm 44,83%.

Triển vọng năm 2020, trên cơ sở tốc độ tăng trưởng GDP thực tế năm 2019, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2020 của nhiều tỉnh và thành phố tiếp tục duy trì mức cơ bản của năm 2019, các địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2019 thấp hơn mức bình quân của cả nước như Cát Lâm, Hắc Long Giang, Thiên Tân, Nội Mông Cổ, Sơn Đông… đã điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2020.

Phát triển trong điều kiện bình thường hóa phòng chống dịch bệnh

Hiện nay, mặc dù tình hình dịch bệnh trong nước đã được kiểm soát, song tình hình dịch bệnh ở bên ngoài vẫn đang lây lan, tính đến nay toàn cầu đã có hơn 4 triệu ca được chẩn đoán nhiễm virus SARS-CoV-2. Áp lực ngăn chặn dịch bệnh ở bên ngoài lây lan vào trong nước vẫn rất lớn, hơn nữa cần phải phòng ngừa rủi ro “bùng phát lần hai” của dịch COVID-19 vào mùa Thu và mùa Đông năm nay.

Ngày 9/4, Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia và Quốc vụ viện (Chính phủ) lần lượt công bố văn kiện liên quan đến việc tăng cường đô thị hóa và cải cách thị trường, thúc đẩy cải cách thị trường để hỗ trợ cho việc nâng cấp đô thị hóa. Theo CICC, điều này không chỉ quan trọng trong việc phòng ngừa rủi ro đối với những tác động của dịch bệnh trong ngắn hạn, mà còn có ý nghĩa chiến lược đối với việc ứng phó với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, khai thác và giải phóng tiềm năng nhu cầu trong nước trong trung và dài hạn. Cụ thể trong năm nay, thị trường có thể sẽ quan tâm đến cường độ và biện pháp cụ thể của các chính sách mang tính chu kỳ, bao gồm tổ hợp chính sách tiền tệ, tài chính, ngành nghề, đặc biệt là quy mô thâm hụt ngân sách, nợ quốc gia đặc biệt, nợ đặc biệt của địa phương…, liệu vẫn tiếp tục giảm thuế hạ phí hay không, cũng như các lĩnh vực cụ thể để hỗ trợ tác dụng chính sách, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng mới, cải tạo cơ sở hạ tầng cũ, nâng cấp hệ thống khám chữa bệnh, đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, hỗ trợ đặc biệt đối với việc phục hồi và xây dựng Vũ Hán và Hồ Bắc sau dịch bệnh.

Chuyển đổi và nâng cấp vẫn là vấn đề quan trọng

Những năm gần đây, Trung Quốc đã tiến hành cải cách một số lĩnh vực như thị trường vốn, hệ thống giáo dục… để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, khuyến khích đổi mới sáng tạo, khuyến khích việc hình thành nguồn vốn dài hạn để hỗ trợ cho việc đổi mới sáng tạo và nâng cấp nền kinh tế thực, chẳng hạn như thành lập Ủy ban Sáng tạo Khoa học – Công nghệ (STAR Market) và cải cách cơ chế đăng ký thị trường khởi nghiệp (Second-board Market)…

Hơn nữa, trong số 29 tỉnh và thành phố đã tổ chức Lưỡng hội địa phương hiện nay, có 22 tỉnh và thành phố nhấn mạnh yêu cầu nhiệm vụ trên lĩnh vực kinh tế mới, đổi mới sáng tạo, trọng điểm tập trung vào các lĩnh vực như nghiên cứu thuốc, 5G, chất bán dẫn, năng lượng mới, mạng lưới trao đổi thông tin giữa các phương tiện (Internet of Vehicles), blockchain, mạch tích hợp, truyền thông quang, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp giống sinh học, khoa học biển…

Theo Công ty chứng khoán Quốc Thịnh, kết hợp với phát triển chất lượng cao được nhấn mạnh nhiều lần tại Hội nghị công tác kinh tế Trung ương cuối năm 2019, chẳng hạn như đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ, ngành nghề mang tính chiến lược, ngành sản xuất chế tạo tiên tiến, ngành dịch vụ hiện đại, kinh tế số…, cũng như những biểu hiện tích cực của các thành phần kih tế mới trong giá trị gia tăng công nghiệp và đầu tư của ngành chế biến chế tạo từ quý 3 năm 2019 đến nay, dự báo ngành sản xuất chế tạo công nghệ cao, công nghệ lõi, kinh tế mới sẽ trở thành trọng điểm của năm 2020.

Chính sách tiền tệ dự kiến sẽ được nới lỏng vừa phải, môi trường huy động vốn của doanh nghiệp tư nhân được cải thiện

Cùng với sự lây lan của dịch COVID-19 trên toàn cầu, kinh tế thế giới năm nay có thể tăng trưởng âm, châu Âu và Mỹ đều đưa ra chính sách siêu nới lỏng tiền tệ. Tương tự, Trung Quốc cũng đối diện với áp lực suy giảm kinh tế tương đối lớn, biên độ giảm lãi suất cơ bản được dự kiến sẽ tăng. Kể từ khi cải cách lãi suất cho vay cơ bản/tham chiếu (LPR) vào tháng 8/2019, các lãi suất nghiệp vụ thị trường mở (OMO), lãi suất cho vay trung hạn (MLF), lãi suất tham chiếu đã phối hợp điều chỉnh giảm, lãi suất bình quân gia quyền của các khoản vay đã giảm xuống rõ rệt trong quý 4/2019.

Theo dự báo của Công ty chứng khoán Dân Sinh, trong bối cảnh dư nợ tín dụng chuyển sang LPR được thúc đẩy có trật tự, mức giảm lãi suất được kỳ vọng tiếp tục gia tăng, lãi suất bình quân gia quyền các khoản vay của năm 2020 có thể sẽ giảm hơn nữa. Mặt khác, do việc đơn thuần dựa vào mô hình thu hẹp chênh lệnh biên lãi ròng (NIM) của ngân hàng để “tiếp máu” cho nềnkinh tế thực khó tiếp được thực hiện, dự báo lãi suất cơ bản tiền gửi năm 2020 cũng sẽ giảm xuống, không gian giả khoảng 25-50 BP (điểm phần trăm). So với nước ngoài, chính sách tiền tệ của Trung Quốc vẫn còn không gian tương đối lớn, đủ để ứng phó với một loạt sự kiện “thiên nga đen” có thể xảy ra trong thời gian tới.

Tại Lưỡng hội địa phương năm nay, nhiều nơi đã đề xuất phát triển mạnh kinh tế tư nhân, biện pháp cụ thể bao gồm mở rộng tiêu chuẩn tiếp cận thị trường, mở rộng kênh huy động vốn của doanh nghiệp tư nhân, hỗ trợ các tổ chức tài chính tăng cường huy động vốn trung và dài hạn cho ngành sản xuất chế tạo, xây dựng cơ chế có hiệu quả dài hạn để xử lý nợ của chính phủ, doanh nghiệp nhà nước đối với doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm cải thiện môi trường phát triển khu vực kinh tế tư nhân.

Công ty Chứng khoán Quốc Thịnh dự báo Ngân hàng trung ương sẽ tiếp tục thúc đẩy các tổ chức tài chính tăng cường cấp tín dụng cho doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, cố gắng nâng cao năng lực phục vụ tài chính của ngân hàng đối với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ trên các phương diện như thay đổi quan điểm kinh doanh của các ngân hàng thương mại, xây dựng hệ thống tổ chức, năng lực dịch vụ công nghệ, cơ chế khuyến khích và hạn chế… Tiếp tục cảnh báo có thể sẽ giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất cơ bản, nhưng biên độ và số lần hạn chế; đồng thời, tăng cường huy động vốn trung và dài hạn cho ngành sản xuất chế tạo, giải quyết vấn đề huy động vốn khó và huy động vốn đắt của doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa là trọng điểm của việc khơi thông dòng chảy tiền tệ.

Tuy nhiên, khi nới lỏng tiền tệ, việc giám sát mức độ tập trung tín dụng vẫn là một biện pháp cần thiết. Công ty Chứng khoán Dân Sinh dự báo do cơ chế tương tác mạnh mẽ giữa giá nhà và tín dụng ngân hàng, nên ổn định giá nhà và ổn định kỳ vọng vẫn là biến số then chốt của bất động sản, đồng thời vẫn phải tuân thủ nguyên tắc “không được đầu cơ nhà ở”.

Những lĩnh vực có tác động mạnh đến chính sách có thể thu hút được sự quan tâm của thị trường

Nhìn từ các kỳ Lưỡng hội trong lịch sử, những lĩnh vực có tác động mạnh đến chính sách có thể sẽ thu hút sự quan tâm của dòng vốn trên thị trường, chẳng hạn như Lưỡng hội năm 2019 lần đầu tiên đưa năng lượng Hydrogen vào trong Báo cáo công tác chính phủ.

Công ty Chứng khoán Sơn Đông dự báo trước thềm Lưỡng hội, kỳ vọng chính sách có thể sẽ tiếp tục tăng và dẫn dắt xu hướng vận hành của thị trường, lĩnh vực được chính sách kích thích có thể đạt được lợi nhuận vượt mức. Công ty này kiến nghị cần quan tâm mở rộng nhu cầu trong nước và đầu tư có hiệu quả, tiếp tục bám sát cơ hội đầu tư tương đối chắc chắn trên các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng lớn (xây dựng, vật liệu xây dựng, máy móc), xây dựng cơ sở hạ tầng mới (5G, điện toán đám mây, trung tâm dữ liệu lớn), cũng như thúc đẩy tiêu dùng (ô tô, đồ điện gia dụng, du lịch trong nước)…

Kết hợp giữa việc đánh giá tình hình của các kỳ lưỡng hội trong lịch sử và tình hình đặc thù của năm nay, Công ty Chứng khoán Quốc Thịnh kiến nghị từ nay đến giai đoạn sau khi Lưỡng hội kết thúc cần quan tâm đến hai phương hướng: một là, tăng trưởng khoa học công nghệ vẫn là dòng chảy chủ đạo trong trung và dài hạn, chú ý đến các phân khúc như xây dựng cơ sở hạ tầng mới, chất bán dẫn, điện toán đám mây…; hai là, các nhà kinh doanh bất động sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, chứng khoán nhạy cảm đối với lãi suất suy giảm và sẽ hưởng lợi từ việc phòng ngừa rủi ro của chính sách.

Nguồn: Thời báo chứng khoán (TQ) – 06/05/2020

TLTKĐB – 21/05/2020

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần cuối


Các phản ứng chính sách

Giới chức Trung Quốc đã tiến hành các biện pháp chính sách kinh tế để hỗ trợ nền kinh tế trong ngắn hạn, trong đó có việc hỗ trợ thanh khoản tạm thời, giúp ổn định các thị trường. Nếu dịch bệnh kéo dài, có thể sẽ cần nhiều biện pháp hơn để duy trì niềm tin của người dân và hỗ trợ nền kinh tế. Ở những nơi khác trong khu vực ASEAN+3, không gian chính sách mang lại một “vùng đệm” để thông qua các chính sách tiền tệ và tài chính phù hợp hơn kkhi cần thiết. Nếu dịch bệnh diễn biến xấu đi và các rủi ro bên ngoài trở thành hiện thực, các nền kinh tế trong khu vực cũng có đủ dự trữ và linh hoạt về tỷ giá để chống chọi trước những thách thức này, ít nhất là trong giai đoạn kéo dài.

So sánh các đợt bùng phát virus toàn cầu

Với thông tin mới về dịch COVID-19 và sự lây lan của nó vẫn tiếp tục xuất hiện, các dịch bệnh hiện nay và trước đây có thể giúp xác định các tác động kinh tế tiềm tàng của dịch bệnh hiện nay. Trong khi một số bệnh đặc thù như HIV, sốt rét hay thậm chí cảm cúm thông thường cũng gây ra những nguy cơ kéo dài đối với sức khỏe của người dân trên toàn cầu, thì các dịch bệnh do virus gây ra – có thể chỉ trong một thời gian ngắn – cũng giành được sự chú ý của toàn thế giới do những tác động nhãn tiền của chúng đối với sức khỏe con người và nền kinh tế. Thế giới đã trải qua một số dịch bệnh và đại dịch chỉ trong 2 thập kỷ qua, điều này có thể cung cấp các thước đo để đánh giá mức độ nghiêm trọng của dịch COVID-19 đối với hoạt động kinh tế.

Các dịch bệnh khác biệt lớn về tỷ lệ tử vong tính theo số ca lây nhiễm và tỷ lệ tử vong tính theo dân số trong vùng bị lây nhiễm, cũng như mức độ lây lan:

+ Tỷ lệ tử vong tính theo số ca lây nhiễm cao nhất trong số các dịch bệnh là dịch cúm gia cầm H5N1 (mặc dù có tương đối ít số ca mắc bệnh được ghi nhậ), Ebola và MERS.

+ Tỷ lệ tử vong tính trên tổng số người dân của quốc gia bị ảnh hưởng cao nhất cho đến nay là dịch Ebola – trung bình cứ 100.000 người thì ở Sierra Leone có 57 ca tử vong, ở Liberia là 102 ca, sau đó là dịch H1N1 (cứ 100.000 người thì có 4 ca tử vong) và MERS (100.000 thì có 2 ca tử vong).

+ Cuối cùng, mức độ lây nhiễm được ước tính theo tỷ lệ sinh đôi (số người trung bình bị lây bệnh từ một người bị nhiễm bệnh, ước tính này có thể thay đổi theo thời gian), và dường như mức lây nhiễm nghiêm trọng nhất là virus không gây chết người Zika và MERS.

Tóm lại, các thông số này dườnng như có ảnh hưởng đến tác động kinh tế tổng thể – trực tiếp thông qua ảnh hưởng  đến sức khỏe người dân, và gián tiếp thông qua các biện pháp được thực hiện nhằm kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh, sự mất niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng, hành vi tránh lây nhiễm của người dân, tất cả đều có thể tác động đến hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ, tiêu dùng, đi lại, du lịch và thương mại.

Dịch bệnh hiện nay đã lan nhanh và dự kiến sẽ ngày càng lan rộng, nhưng tỷ lệ tử vong vẫn tương đối thấp. Xét tới sự gia tăng mạnh mẽ trong ngành du lịch ra nước ngoài của Trung Quốc (và các nước bị lây nhiễm khác) kể từ sau dịch SARS, có khả năng dịch COVID-19 đã và có thể lan rộng trên toàn thế giới nhanh hơn so với dịch SARS. Mặt khác, giới chức Trung Quốc đã tiến hành các biện pháp nhanh chưa từng có nhằm ngăn chặn dịch bùng phát, góp phần làm giảm đáng kể sự lây nhiễm mặc dù điều này cũng để lại tác động kinh tế nghiêm trọng trong ngắn hạn.

So sánh tác động của dịch SARS với dịch COVID-19 đối với Trung Quốc

Tại Trung Quốc, cú sốc kinh tế do dịch SARS bùng phát vào năm 2003 gây ra tập trung vào khu vực dịch vụ. Vào thời điểm đó, tăng trưởng GDP và tăng trưởng giá trị gia tăng (so với cùng kỳ) của các ngành thuộc khu vực công nghiệp và dịch vụ giảm khoảng 2,0% mỗi ngành từ quý I đến quý II/2003. Khi dịch bệnh được đẩy lùi, nhu cầu mạnh mẽ từ bên ngoài và sự phục hồi của hoạt động sản xuất đã đảm bảo sự trở lại mạnh mẽ của khu vực công nghiệp, trong khi sự phục hồi của ngành dịch vụ diễn ra chậm hơn.

Trong khu vực dịch vụ, các cú sốc tập trung ở các ngành sử dụng nhiều sức lao động, vốn đòi hỏi phải có những tương tác trực tiếp. Trong giai đoạn bùng phát dịch SARS, các ngành vận tải, lưu trú, ăn uống và dịch vụ tài chính chịu thiệt hại nghiêm trọng nhất. Đối với các ngành này, GDP trong quý II năm 2003 lần lượt giảm 5,4%, 3,6% và 3,6% so với quý I.

Tỉnh Quảng Đông và Bắc Kinh chịu ảnh hưởng lớn nhất. Theo số liệu được báo cáo, hai khu vực này có nhiều bệnh nhân SARS nhất và chịu thiệt hại nhiều hơn các vùng khác ở Trung Quốc. Trong quý II năm 2003, tăng trưởng GDP của Bắc Kinh và Quảng Châu lần lượt là 9,6% và 13,4% lần lượt giảm đi 3,1% và 0,5% so với quý I.

Có một số điểm tương đồng trong sự tiến triển của dịch SARS và dịch COVID-19 ở các khu vực địa lý và khu vực kinh tế:

Cả hai đợt bùng phát dịch đều có thể được mô tả là những sự gián đoạn ngắn hạn ở phía cung và đối với nhu cầu dịch vụ, với một số dịch vụ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Tác động đối với lĩnh vực chế tạo và thương mại ở mức hạn chế và nhất thời hơn, khi các công ty tìm ra các cách để bù đắp cho phần lớn doanh số bị thiệt hại khi nhu cầu gia tăng trở lại. Các dịch vụ chẳng hạn như du lịch, ít có khả năng thay thế theo thời gian hơn do những hạn chế khác nhau.

Cả hai đợt dịch đều bùng phát tại những khu vực phát triển nhất ở Trung Quốc, là nơi có các ngành quan trọng và chiếm phần lớn sức mua của Trung Quốc.

+ Năm 2003, các bệnh nhân SARS tập trung tại hai trung tâm kinh tế lớn là Bắc Kinh và tỉnh Quảng Đông, lần lượt chiếm 47% và 29% tổng số ca nhiễm; có rất ít ca nhiễm ở đồng bằng sông Trường Giang và các vùng khác.

+ COVID-19 bùng phát tại Vũ Hán (có tầm quan trọng tương tự như Chicago ở Mỹ) và vùng Hoa Trung vốn đang trong giai đoạn công nghiệp hóa nhanh chóng. Tỉnh Hồ Bắc, trong đó có Vũ Hán, chiế khoảng 4,6% GDP của Trung Quốc. Ngoài ra, theo một nghiên cứu của Đại học Southampton, vùng Hoa Trung, đồng bằng Châu Giang, đồng bằng Trường Giang và cụm đô thị Bắc Kinh – Thiên Tân – Hà Bắc nằm trong nhóm những vùng dễ bị nhiễm bệnh nhất. Đó là những khu vực phát triển nhất ở Trung Quốc và cũng dễ bị tổn thương nhất trước sự gián đoạn về kinh tế.

+ Cả hai dịch bệnh đều xảy ra trong Tết nguyên đán, khi hàng trăm triệu người Trung Quốc trên cả nước về quê ăn Tết cùng gia đình.

Tuy nhiên, cũng có những điểm khác biệt đáng lo ngại giữa môi trường tài chính vĩ mô của Trung Quốc vào năm 2003 so với hiện nay:

+ Trong thời kỳ dịch SARS, nền kinh tế Trung Quốc được thúc đẩy nhờ sự gia tăng xuất khẩu, việc gia nhập WTO vào năm 2001 và môi trường bên ngoài sôi động, trái với nhu cầu bên ngoài ở mức thấp như hiện nay. Trong giai đoạn 2002 – 2003, nền kinh tế toàn cầu đang trên đà hồi phục sau khi vỡ bong bóng Internet, dẫn tới sự tăng trưởng xuất khẩu nhanh chóng của Trung Quốc (tăng hơn 30% trong năm 2003). Đồng thời, Trung Quốc cũng trải qua tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng. Ngày nay, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc đang chậm lại khi nền kinh tế nước này trở nên phát triển hơn. Ngoài ra, căng thẳng thương mại đang diễn ra với Mỹ đã gây sức ép đối với nền kinh tế Trung Quốc.

+ Khu vực dịch vụ, vốn đang trải qua những sự gián đoạn đáng kể, ngày nay đã trở nên quan trọng hơn. Năm 2003, giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ chiếm 32% GDP của Trung Quốc; năm 2019, con số này là 54% GDP. Để đối chiếu, các ngành  bán lẻ và ăn uống ở Trung Quốc đạt doanh số khoảng 1000 tỷ NDT, hay 1% GDP hằng năm, trong dịp Tết Nguyên đán năm 2019 (4 – 10/2), và doanh thu từ du lịch đạt 514 tỷ NDT, hay 0,5% GDP hàng năm. Do đó, tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán là khá lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với GDP. Phần lớn doanh số bán lẻ bị thiệt hại trong giai đoạn này, chẳng hạn như xe ô tô, có thể thay thế được bằng tiêu dùng trong các tháng tới; tuy nhiên, điều này không có khả năng xảy ra đối với ngành dịch vụ, do nguồn cung bị hạn chế hơn bởi lao động và tính sẵn có của người tiêu dùng.

+ Giờ đây, lĩnh vực tài chính gặp phải rủi ro lớn hơn. Sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, rủi ro tín dụng là rất lớn. Vài năm sau cuộc khủng hoảng này, Chính quyền Trung Quốc đã giúp các ngân hàng xử lý các khoản nợ xấu và tái cấp vốn cho họ, đồng thời xử lý một số rủi ro mang tính hệ thống. Hiện tại, nợ của chính quyền địa phương đã ở mức tương đối cao, và các ngân hàng thương mại nhỏ và vừa phải chịu rủi ro tín dụng ở mức cao trong khi các nỗ lực giảm thiểu rủi ro hệ thống đang được tiến hành.

Về mặt tích cực, các hoạt động kinh tế trực tuyến đang giúp làm giảm bớt tác động của tình trạng phong tỏa và cách ly đối với các doanh nghiệp. Thương mại điện tử chiếm 21% doanh số bán lẻ trong năm 2019, và một phần lớn thiệt hại về doanh thu tại các cửa hàng do dịch COVID-19 gây ra có thể được bù đắp nhờ sự gia tăng hoạt động mua hàng trực tuyến. Đồng thời, trò chơi trực tuyến, các phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến, phát hình trực tuyến, giáo dục và các hình thức giải trí khác – vốn có thể sử dụng bình thường ngay cả trong tình trạng bị cách ly – có thể hỗ trợ cho khu vực dịch vụ.

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần II


Các thị trường tài chính

Các thị trường châu Á phản ứng rất tiêu cực với tin tức về việc bùng phát dịch COVID-19 sau đó mới giảm bớt phần nào. Mặc dù các thị trường ở Trung Quốc và Hong Kong chịu tác động lớn nhất, nhưng chứng khoán và tiền tệ của ASEAN cũng giảm giá trị. Lợi nhuận của toàn bộ thị trường trái phiếu khu vực đã giảm đáng kể, nhìn chung là do lợi nhuận toàn cầu giảm, dù các nhân tố đặc thù cũng có vai trò.

Phản ứng của thị trường chứng khoán là khác nhau trong các ngành. Không bất ngờ khi cổ phiếu của các ngành liên quan đến du lịch và năng lượng giảm mạnh nhất, trong khi cổ phiếu ngành y tế tăng. Hiệu quả của thị trường chứng khoán suy giảm theo ngành cho thấy tâm lý đề phòng của các thị trường đối với ngành mà hoạt động kinh tế có thể bị ảnh hưởng. Sự sụt giảm trong ngành du lịch sẽ tác động đến lĩnh vực hàng tiêu dùng không thiết yếu – bao gồm khách sạn và các hoạt động giải trí – trong khi sự suy giảm của toàn bộ hoạt động kinh tế và do đó là nhu cầu năng lượng sẽ có tác động đến cổ phiếu trong lĩnh vực năng lượng. Ngành nguyên vật liệu cũng phản ứng tiêu cực với dịch bệnh này vì nhu cầu từ Trung Quốc dự kiến sẽ giảm.

Hoạt động thị trường của các nước cũng khác nhau, với Hong Kong, Hàn Quốc và Thái Lan là những nơi chịu tác động tồi tệ nhất. Bên ngoài Trung Quốc, giá cổ phiếu của Hong Kong giảm mạnh nhất, có khả năng là do quan hệ mật thiết của họ với Đại lục, tình trạng bất ổn xã hội đang diễn ra và ký ức tồi tệ về dịch SARS, khi Hong Kong chiếm khoảng 22% ca nhiễm bệnh này trên toàn cầu. Trong số các đồng nội tệ khu vực, đồng won Hàn Quốc và đồng Baht Thái mất giá nhiều nhất, một phần bởi sự yếu kém của thị trường chứng khoán. Bên cạnh tác động đối với ngành du lịch và năng lượng, sự sụt giảm mạnh trong các ngành cụ thể như hàng tiêu dùng thiết yếu (gồm thực phẩm, nhà ở và các đồ dùng cá nhân) ở Hàn Quốc và Singapore, và lĩnh vực sản xuất nguyên vật liệu (gồm khai mỏ, kim loại và chất dẻo) ở Malaysia và Indonesia, dẫn đến những dự đoán rằng nhu cầu từ Trung Quốc và khu vực sẽ giảm đáng kể.

Tác động kinh tế

Ngoài tác động lây nhiễm người qua người, dịch bệnh này còn ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế trong khu vực thông qua một số kênh chính. Các kênh này bao gồm việc các hoạt động du lịch bị tạm dừng, nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc rõ rệt, các chuỗi cung ứng khu vực bị gián đoạn, hành vi tránh tiếp xúc lây nhiễm trong dân chúng và các biện pháp trong nước nhằm kiểm soát dịch bệnh:

+ Các nền kinh tế khu vực hiện ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào ngành du lịch của Trung Quốc so với thời điểm dịch SARS bùng phát, do đó ngay cả một lệnh cấm vận tương đối ngắn ngủi đối với hoạt động đi lại của Trung Quốc cũng sẽ có tác động lớn hơn nhiều. Quả thực, các hoạt động đi lại và ngành du lịch của Trung Quốc giảm sút đã gây tác động đến toàn khu vực.

+ Nhu cầu của Trung Quốc về việc nhập khẩu hàng hóa giảm cũng có thể tác động đặc biệt nghiêm trọng đối với khu vực nếu tình trạng suy thoái kkinh tế trở nên tồi tệ hơn, do chuỗi cung ứng khu vực có mức độ hội nhập cao.

+ Nếu dịch bệnh lan rộng hơn nữa trong khu vực hay nỗi lo sợ lây nhiễm gia tăng, các nền kinh tế khu vực có thể bị ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh cũng như gián tiếp từ việc thực hiện hoặc tăng cường các biện pháp nhằm khống chế loại virus này. Điều này có thể gây phương hại cho hoạt động kinh tế giống như những gì đang diễn ra tại Trung Quốc – mặc dù có khả năng ở mức độ thấp hơn – do những gián đoạn trong hoạt động sản xuất và tiêu dùng nội địa.

Mặc dù tác động của dịch SARS đối với ngành du lịch Trung Quốc trong khu vực là rõ ràng vào đầu những năm 2000, nhưng các tác động lần này sẽ còn tồi tệ hơn nhiều. Số du khách Trung Quốc tới khu vực đã tăng gấp nhiều lần trong 20 năm qua, từ mức gần 20% tổng số du khách năm 2002 lên hơn 40% năm 2018, tương đương khoảng từ 10 triệu người lên hơn 80 triệu người. Các quốc gia trong khu vực đã hưởng lợi từ số lượng ngày càng lớn du khách từ Trung Quốc, vốn chiếm 80% tổng lượng khách du lịch tại Hong Kong trong năm 2018, hơn 30% ở Campuchia, Hàn Quốc và Việt Nam, và khoảng 30% ở Thái Lan và Nhật Bản. Trườc khi dịch SARS bùng phát, năm 2002, tỷ lệ này thấp hơn nhiều – chỉ khoảng 41% ở Hong Kong và chưa đến 10% tại các nước còn lại trong khu vực.

Cũng theo đó, ngành du lịch ngày càng đóng góp nhiều hơn cho GDP của các nền kinh tế khu vực. Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới ước tính rằng trong khu vực này, ngành du lịch mang lại lợi nhuận trực tiếp lớn nhất cho Campuchia và Thái Lan, đóng góp tương ứng 14% và 10% GDP của hai nước. Mức đóng góp tổng thể thậm chí còn cao hơn nhiều – hơn 30% đối với Campuchia, hơn 20% đối với Thái Lan và Philippines. Nhìn chung, ngành du lịch đã đóng góp ngày càng nhiều cho GDP của hầu hết các nước trong khu vực ASEAN+3 kể từ đầu những năm 2000.

Do đó, các nền kinh tế khu vực có ngành du lịch phát triển và tiếp nhận lượng du khách lớn đến từ Trung Quốc dự kiến sẽ bị tác động nặng nề do dịch COVID-19 gây ra. Ngành du lịch bị ảnh hưởng gần như ngay lập tức do Trung Quốc hạn chế các nhóm du lịch ra nước cũng như do những hạn chế, khuyến cáo du lịch và yêu cầu đình chỉ chuyến bay của các nước trong khu vực (như Malaysia và Singapore) và nhiều nước khác trên thế giới đối với chính công dân của họ và du khách từ Trung Quốc. Trong số các nước ASEAN+3, Campuchia và Thái Lan dự kiến sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, Việt Nam và Hong Kong ở mức thấp hơn (mặc dù Hong Kong đã chịu tổn thất từ lượng du khách giảm sút do tình trạng bất ổn xã hội đang diễn ra). Ngoài ra, những tác động tiêu cực có thể xuất phát từ việc sụt giảm lượng du khách từ các khu vực khác, đặc biệt là nếu dịch bệnh tiếp tục lây lan trong khu vực ASEAN+3, hoặc đơn giản là do cảm giác e ngại rủi ro khi đi du lịch ngày càng tăng.

Sự sụt giảm rõ rệt của ngành du lịch trong thời gian dịch SARS bùng nổ năm 2003 là một mốc so sánh tương ứng. Vào thời điểm đó, lượng du khách từ Trung Quốc tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore và Indonesia đã giảm mạnh vào tháng 5 – 6/2003 – dao động trong khoảng 50 – 90% so với cùng kỳ năm trước, nhưng đã dần hồi phục trong năm 2004. Do đó, nếu dịch bệnh hiện nay chỉ diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, thì một sự hồi phục tương tự cũng sẽ phần nào giảm thiểu tác động nghiêm trọng ban đầu.

Trong khi đó, thương mại hàng hóa nội khối cũng sẽ bị ảnh hưởng mạnh mẽ do những gián đoạn về nhu cầu hàng hóa cũng như hoạt động sản xuất ở Trung Quốc. Nhiều nền kinh tế khu vực mở cửa và hội nhập tốt vào các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, trong đó Trung Quốc là một mắt xích quan trọng. Thương mại hàng hóa giữa Trung Q        uốc và khu vực ASEAN đã gia tăng đáng kể trong 2 thập kỷ qua, và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa từ hầu hết các nền kinh tế khu vực sang Trung Quốc đã găng tăng, chiếm hơn 1/4 GDP của Việt Nam, và hơn 10% GDP của Malaysia, Hàn Quốc và Lào. Tuy nhiên, theo những giả định về thời gian dịch bệnh kéo dài, những gián đoạn trong chuỗi cung ứng dự kiến chỉ mang tính nhất thời và thương mại dự kiến sẽ phục hồi theo nhu cầu của Trung Quốc đối với hàng hóa trung gian và thành phẩm.

Đánh giá tác động về kinh tế qua các chỉ số

Tác động kinh tế của dịch COVID-19 được định lượng bằng cách sử dụng mô hình tự hồi quy toàn cầu (GVAR). Mô hình này mô phỏng hai kịch bản riêng biệt: (1) một cú sốc gây bất an lan truyền tới khu vực và phần còn lại của thế giới thể hiện qua chỉ số bất ổn trong chính sách kinh tế toàn cầu (GEPU); và (2) tác động bên lề của tăng trưởng giảm tốc ở Trung Quốc đối với khu vực và thế giới. Các kết quả thu được cung cấp hướng dẫn chung về những tác động tiềm tàng đối với nền kinh tế khu vực, nhưng không thể tính đến các kênh cụ thể như ngành du lịch đã thảo luận ở trên.

Các kết quả cho thấy rằng một cú sốc trực tiếp đối với tăng trưởng của Trung Quốc có tác động lớn hơn nhiều đến khu vực, trong khi tình trạng bất ổn toàn cầu gia tăng dù ở mức độ nào cũng sẽ làm suy yếu tăng trưởng kinh tế.

+ GEPU tăng 25% kết hợp với mức tăng GEPU hàng năm của Hong Kong giai đoạn dịch SARS bùng phát năm 2003 sẽ được phản ánh thông qua các mức giá trên thị trường tài chính. Dao động tỷ giá hối đoái sẽ ngay lập tức dẫn đến xu hướng đầu tư an toàn, khi đồng Yen Nhật tăng giá và các đồng tiền khác (trừ HKD vốn gắn với đồng USD) mất giá so với đồng USD, Ngoài ra, đường cong lợi suất sẽ có xu hướng đi ngang tại các nền kinh tế phát triển và hầu hết các nền kinh tế châu Á mới nổi.

+ Tăng trưởng dự kiến bị tác động trực tiếp bởi một cú sốc đối với tình trạng không chắc chắn. Mô hình GVAR chủ yếu thể hiện tác động gián tiếp, trong đó sự sụt giảm mạnh trong các thị trường tài chínhs ẽ dẫn đến mức tăng trưởng thấp hơn. Trung Quốc sẽ nằm trong số những quốc gia ít bị ảnh hưởng nhất, trong khi Indonesia gần như miễn nhiễm hoàn toàn do nhu cầu lớn hơn ở trong nước.

+ Hoạt động kinh tế của Trung Quốc giảm 1% cũng sẽ tác động đến Hong Kong và Singapore theo những cách khác nhau, trong khi tác động tới tăng trưởng của Thái Lanc ũng sẽ gần như tương đương với Trung Quốc. Các tác động tiêu cực đối với Malaysia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines ở mức tương đối ngang nhau, trong khi Indonesia dường như ít chịu tác động nhất.

(còn tiếp)

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

Suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của COVID-19 sẽ theo mô hình nào?


Với tựa đề trên, Peter Hoskins, phóng viên phụ trách lĩnh vực kinh tế của BBC nhận định, mặc dù các nước hiện đang tiến tới nới lỏng các hạn chế phong tỏa, đại dịch COVID-19 đã tấn công mạnh vào nền kinh tế toàn cầu. Hàng triệu người không có việc làm, thị trường tài chính đã bị rúng động và chuỗi cung ứng đã phải đối mặt với thực trạng gián đoạn lớn khi các nhà máy trên khắp thế giới phải đóng cửa.

Thế giới đang đối diện với suy thoái ngay cả sau khi chính phủ và các ngân hàng trung ương đã bơm hàng nghìn tỷ USD vào nền kinh tế của họ và cắt giảm lãi suất.

“Tình hình sẽ tệ đến mức nào?” và “Bao lâu chúng ta sẽ phục hồi?” là 2 câu hỏi mà người ta sẽ được nghe rất nhiều trong những tuần và tháng tới. Câu trả lời cho cả 2 câu hỏi này thường sẽ liên quan đến việc sử dụng một trong 4 chữ cái: V, U, W và L. Đó là vì đây là cách các nhà kinh tế thường dùng để mô phỏng cho suy thoái.

Các mô hình này đến từ hình dạng của các biểu đồ thường thấy trong các giai đoạn này, theo đó rà soát các hoạt động kinh tế như việc làm, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) – hoặc tăng trưởng kinh tế và sản lượng công nghiệp.

Ở đây, chúng ta xem xét 4 chữ cái đó và ý nghĩa của chúng đối với hy vọng phục hồi kinh tế.

Hình chữ V

Đây được coi là kịch bản tốt nhất vì kiểu suy thoái này bắt đầu bằng sự sụt giảm mạnh, nhưng  sau đó chạm đáy và rồi nhanh chóng có sự phục hồi kinh tế.

Điều đó có nghĩa là cuộc suy thoái sẽ chỉ kéo dài một vài quý trước khi tăng trưởng nhanh chóng trở lại, đưa nền kinh tế trở lại mốc trước khi xảy ra đại dịch COVID-19.

Một ví dụ kinh điển về suy thoái hình chữ V đã xảy ra ở Mỹ vào năm 1953, khi nền kinh tế bùng nổ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai được vực dậy nhờ lãi suất cao. Sau sự suy giảm, tăng trưởng mạnh mẽ đã trở lại chỉ hơn một năm trước đó.

Hình chữ U

Trường hợp này tương tự như suy thoái hình chữ V nhưng kéo dài lâu hơn. Trong kịch bản này, GDP thường thu hẹp trong vài quý liên tiếp và chỉ từ từ khôi phục trở lại mức tăng trưởng có được trước suy thoái.

Hình chữ W

Đây là khi cuộc suy thoái bắt đầu bằng cách trông giống như nó sẽ là một suy thoái hình chữ V, nhưng sau đó lại rớt xuống sau khi những gì hóa ra là một dấu hiệu sai về phục hồi. Nó còn được gọi là suy thoái kép, vì nền kinh tế suy giảm hai lần trước khi phục hồi trở lại tốc độ tăng trưởng trước đó.

Suy thoái của Mỹ đầu những năm 1980 trên thực tế là hai cuộc suy thoái với nền kinh tế bị tăng trưởng âm từ tháng 1/1980 đến tháng 7/1980. Tiếp theo đó là thời kỳ tăng trưởng dương mạnh mẽ trước khi nền kinh tế rơi vào suy thoái một năm sau, và chỉ hồi phục vào cuối năm 1982.

Hình chữ L

Đây là kịch bản xấu nhất. Nó cũng có một tên khác: “Suy thoái lớn”. Đó là khi một nền kinh tế trải qua một cuộc suy thoái nghiêm trọng và trong vài năm không phục hồi được tốc độ tăng trưởng trước đó.

Cái gọi là “thập niên mất mát” của Nhật Bản những năm 1990 là một ví dụ kinh điển về suy thoái hình chữ L.

Đất nước này đã chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vững chắc từ những năm ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai cho đến cuối những năm 1980. Điều đó dẫn đến những gì mà sau này bị coi là sự định giá quá lớn của tài  sản hoặc “bong bóng”.

Kể từ khi “bong bóng” đó bị nổ vào đầu những năm 1990, Nhật Bản đã tiếp tục có sự tăng trưởng yếu và vẫn chưa trở lại với tốc độ tăng trưởng dương được thấy từ năm 1950 – 1990.

Nguồn: TKNB – 12/05/2020.

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần I


Giới thiệu

Gần đây, dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus corona (COVID-19) bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc và sau đó lây lan ra bên ngoài nước này đã làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng của Trung Quốc và khu vực. Ngày 31/12/2019, các nhà chức trách Trung Quốc thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về một vài trường hợp mắc bệnh viêm phổi ở Vũ Hán, và đã thực hiện những hành động chính sách chưa từng có để khống chế virus này, nhưng dịch bệnh bắt đầu lây lan sang các nền kinh tế khác trong khu vực. Ngày 30/01/2020, WHO tuyên bố dịch COVID-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Giờ đây, cuộc tranh luận xoay quanh mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh này và tác động có khả năng của nó đối với nền kinh tế trong nước và các nước khác.

Dịch bệnh tác động đến hoạt động kinh tế trên nhiều mặt trận khác nhau:

+ Ở Trung Quốc, dịch bệnh này tạo ra sức ép lớn đối với hệ thống y tế, khiến tiền lương sụt giảm và năng suất thấp hơn do người lao động nghỉ ốm và nghỉ làm. Nỗi lo sợ bị lây bệnh và nỗ lực hạn chế tình trạng lây lan có thể dẫn đến những gián đoạn về giao thông vận tải, chuỗi cung ứng trong ngành chế tạo, việc cung cấp hầu hết các dịch vụ, đóng cửa các trường học và doanh nghiệp. Do đó, việc chống lại dịch bệnh có thể có tác động đáng kể đến kinh tế.

+ Bên ngoài Trung Quốc, khả năng lây lan đã gia tăng đáng kể do sự hội nhập và kết nối trong khu vực tăng cao. Ngoài việc lây lan bệnh do lưu lượng di chuyển quốc tế khổng lồ, ngành công nghiệp hàng không, lĩnh vực du lịch và dịch vụ khách hàng, cũng như thương mại, trong đó có các chuỗi cung ứng toàn cầu là những ngành tiêu biểu cảm nhận được tác động của nó.

+ Hành vi tránh lây nhiễm của người dân và các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan có thể gây ra thêm sức ép lớn đối với các nền kinh tế khu vực. Ngoài ra, cảm giác bất trắc và nỗi sợ hãi tràn ngập khắp nơi sẽ làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng, và gia tăng tâm lý sợ rủi ro trong các thị trường tài chính và hàng hóa tiêu dùng.

Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN+3 (gồm các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và 3 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – khiến tăng trưởng giảm tốc rõ rệt, có khả năng sẽ ảnh hưởng lan rộng khắp khu vực và toàn thế giới. Những ước tính về tác động của dịch bệnh này sẽ phụ thuộc vào thời gian kéo dài, tính độc hại và khả năng lây nhiễm. Các dịch bệnh do virus trước đây, đáng chú ý là Hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) vào năm 2003, có thể đưa ra gợi ý về những thiệt hại kinh tế tiềm tàng đối với Trung Quốc, mà sau đó có thể được sử dụng để ước tính tác động đối với các nền kinh tế khác trong khu vực:

+ Tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong năm 2020 sẽ giảm nhiều nhất là 0,5%, xét tới các biện pháp hỗ trợ của chính phủ.

+ Sự giảm tốc của Trung Quốc sẽ khiến tăng trưởng của các nước ASEAN+3 giảm 0,2%. Các kênh tác động chính đối với khu vực này sẽ là thông qua (1) lưu lượng đi lại và du lịch ra nước ngoài của Trung Quốc giảm mạnh; (2) sự sụt giảm trong hoạt động đi lại và du lịch của khu vực phản ánh nỗi lo sợ lây lan dịch bệnh; (3) sụt giảm hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc qua chuỗi cung ứng khi hoạt động chế tạo bị gián đoạn và nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng: và (4) tình trạng lây lan dịch bệnh sang các nền kinh tế khu vực.

Tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc

Trong số các dịch bệnh lớn trong 2 thập kỷ qua, dịch SARS có thể đưa ra chỉ dẫn nào đó về tác động tiềm tàng của COVID-19. Dịch SARS bùng phát vào quý IV/2002, nhưng hầu hết các ca nhiễm bệnh được ghi nhận vào quý I và quý II/2003. Hơn 8000 người nhiễm SARS, chủ yếu ở Trung Quốc, ngoài ra còn ở các nơi khác trong khu vực – tương tự như COVID-19 tính đến nay. Tại thời điểm này, số lượng người nhiễm COVID-19 đã vượt xa tổng số người nhiễm SARS, và con số này dự kiến còn tăng cao hơn nữa. Tỷ lệ tử vong trung bình do SARS là gần 10% so với mức chỉ 2% của COVID-19 cho đến nay. Tuy nhiên, những ước tính ban đầu cho thấy SARS có tỷ lệ lây nhiễm thấp hơn nhiều, có khả năng là vì virus này không lây trong thời gian ủ bệnh. Một kịch bản có khả năng xảy ra là COVID-19 sẽ lây lan trong khoảng 4 tháng, tương tự như SARS; có tỷ lệ tử vong thấp hơn SARS; lây lan rộng hơn SARS, các vùng lây nhiễm chính là những trung tâm kinh tế chính của Trung Quốc.

Tác động của dịch bệnh này đối với Trung Quốc dự kiến sẽ lớn nhưng không kéo dài. Tăng trưởng trong quý I/2020 dự kiến sẽ giảm mạnh, ở cả lĩnh vực chế tạo lẫn dịch vụ. Trong ngắn hạn, những hạn chế đối với hoạt động đi lại của người dân gây tổn hại đến hoạt động sản xuất và nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các địa phương tuyên bố kéo dài kỳ nghỉ Tết Âm lịch thêm khoảng 7 ngày, điều này đồng nghĩa rằng các nhà máy và doanh nghiệp sẽ phải trì hoãn hoạt động sản xuất.

AMRO dự báo COVID-19  sẽ khiến GDP trong năm 2020 của Trung Quốc giảm 0,5%. Các kịch bản sau đây giả định rằng:

+ Trong lĩnh vực chế tạo, chuỗi cung ứng toàn cầu tập trung ở các khu vực chịu ảnh hưởng sẽ bị gián đoạn đáng kể. Tuy nhiên, sau đó, các công ty có khả năng sẽ tìm ra cách để bù đắp hầu hết (dù không phải toàn bộ) hoạt động sản xuất mất đi để đáp ứng nhu cầu, do lĩnh vực chế tạo tương đối ít bị hạn chế bởi năng lực sản xuất hơn. Do đó, lĩnh vực chế tạo có khả năng sẽ phục hồi mạnh mẽ.

+ Trong lĩnh vực dịch vụ, các công ty có khả năng hạn chế trong việc bù đắp lại những ngày nghỉ. Nhu cầu đối với một vài loại hình dịch vụ như du lịch sẽ không phục hồi đáng kể, và việc cung cấp dịch vụ không thể tăng mạnh trong giai đoạn ngắn. Do đó, quá trình phục hồi về mức trước khi xảy ra dịch bệnh sẽ chậm hơn.

Tác động ước tính bao gồm: (1) lĩnh vực chế tạo khiến tăng trưởng giảm 0,15%; và (2) lĩnh vực dịch vụ khiến tăng trưởng giảm 0,35%, cao hơn một chút so với dịch SARS. Những ước tính này đã tính đến giả định của AMRO về sự hỗ trợ của chính quyền đối với nền kinh tế.

Tác động đối với Trung Quốc sẽ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đến việc làm và có khả năng cả sự ổn định tài chính. Với hơn 200 triệu người lao động di cư trên toàn quốc trở về quê nhà nghỉ ết Âm lịch, và nhiều thành phố (gồm khoảng 50 triệu dân) bị cách ly, hầu hết các lao động này không thể quay trở về thành phố nơi họ làm việc như họ thường làm sau khi nghỉ Tết – đặc biệt là những người ở khu vực miền Trung, khu vực chịu nhiều tác động nhất. Khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ chịu tác động nhiều nhất, điều có thể khiến nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Ngoài ra, vụ bùng phát dịch bệnh này có thể khiến giá cả hàng hóa ở địa phương gia tăng trong tương lai gần.

Tác động đối với khu vực ASEAN+3

Hầu hết các nước trong khu vực ASEAN đã bị lây nhiễm do dịch bệnh lây lan, và tăng trưởng của họ cũng có thể bị ảnh hưởng như đang diễn ra ở Trung Quốc. Kênh tác động chính là thông qua vận chuyển hành khách, du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung gian có liên quan đến sản xuất thành phẩm tiêu dùng trong các khu vực chịu nhiều ảnh hưởng ở Trung Quốc. Ngoài ra, các biện pháp trong nước nhằm khống chế dịch bệnh có thể làm gián đoạn sản xuất cũng như đầu tư và tác động đến tiêu dùng. Tác động này có quy mô và cường độ lớn đến mức nào có khả năng sẽ phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của dịch này. Tuy nhiên, nếu trong năm 2020 nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc hơn so với dự kiến, thì những tác động đối với các nền kinh tế khu vực có thể là khốc liệt.

(còn tiếp) 

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

Chìa khóa khôi phục kinh tế Mỹ hậu COVID-19


Sven Steinmo & Mark Blyth

Sau nhiều năm rao giảng với thế giới về những mối nguy hiểm của chi tiêu của chính phủ, Chính phủ Mỹ đột ngột đi theo học thuyết kinh tế Keynes. Giờ đây, hỗ trợ dưới dạng chi phiếu cho các hộ gia đình, các đợt bơm thanh khoản trên quy mô lớn của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ, và các gói cứu trợ doanh nghiệp trở thành điều bình thường – cho đến nay tất cả đều đang diễn ra với cấp độ không ngờ và đều được biện hộ là do mối đe dọa bất thường của cuộc khủng hoảng COVID-19 gây ra.

Chính phủ Mỹ thường không chi tiêu tùy tiện. Thay vào đó, họ có xu hướng thích nghi với các cú sốc kinh tế bằng việc chấp nhận tình trạng thất nghiệp và sử dụng chính sách thắt lưng buộc bụng – đặc biệt là ở cấp bang, theo quy định của pháp luật, các thống đốc phải duy trì ngân sách cân đối. Ngay khi dịch COVID-19 hạ nhiệt, những lời kêu gọi cắt giảm chi tiêu và cân đối ngân sách quen thuộc sẽ quay trở lại. Nợ liên bang sẽ tăng lên mức chưa từng thấy kể từ những năm 1940 – và để ứng phó, những người đề xuất chính sách thắt lưng buộc bụng sẽ yêu cầu khởi động lại thị trường tự do bằng cách cắt giảm cả thuế lẫn chi tiêu.

Người Mỹ sẵn sàng bác bỏ những yêu cầu này. Ngay cả những người quan ngại về tình hình nợ cũng không cần phải tìm kiếm một lựa chọn thay thế đâu xa ngoài đường hướng mà các nhà lãnh đạo Mỹ đã lựa chọn trong hia cuộc khủng hoảng lớn vào giữa thế kỷ 20: Đại khủng hoảng và Chiến tranh thế giới thứ hai. Để ứng phó với những cú sốc này, Chính phủ Mỹ đã gạt bỏ chính sách thắt lưng buộc bụng và tăng thuế để cấp vốn cho Đạo luật hỗ trợ quân nhân giải ngũ (G.I) và chương trình cơ sở hạ tầng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Lúc này, Mỹ áp dụng lại chính sách đó, lần này dùng tiền để tái thiết hệ thống y tế quốc gia.

Kế hoạch hành động

Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đắc cử vào năm 1932, lúc đỉnh điểm của cuộc Đại khủng hoảng, một phần vì người Mỹ tìm kiếm một nhà lãnh đạo sẽ gạt bỏ chính sách thắt lưng buộc bụng và mang đến niềm hy vọng. Roosevelt đã làm được điều đó. Trong bài diễn văn nhậm chức đầu tiên của mình ông tuyên bố: “Nhiệm vụ chính lớn nhất của chúng tôi là tạo công ăn việc làm cho người dân. Không có vấn đề này là không thể giải quyết nếu chúng ta đối mặt với chúng một cách khôn ngoan và dũng cảm. Có thể hoàn thành nhiệm vụ này một phần nhờ việc chính phủ trực tiếp tuyển dụng người lao động, xem đây là một nhiệm vụ khẩn cấp như một cuộc chiến tranh, nhưng đồng thời qua việc tuyển dụng này để hoàn thành các dự án hết sức cần thiết nhằm kích thích và tái tổ chức việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên”.

Trong 100 ngày đầu tiên cầm quyền, Roosevelt đã ký 15 đạo luật, mở rộng đáng kể vai trò của chính phủ đối với đời sống của hàng triệu người Mỹ. Cơ quan quản lý tiến độ công trình (WPA) có lẽ là chương trình tiêu biểu nhất trong nhiệm kỳ đầu tiên của Roosevelt, tạo việc làm cho gần 8 triệu lao động trong các công trình xây dựng cầu đường, trường học, bưu điện, bảo tàng, bể bơi, công viên, trung tâm công cộng, sở thú, vườn bách thảo, phòng tập thể hình, trường đại học… Hầu như mọi cộng đồng ở đất nước này đều được hưởng những lợi ích rõ ràng và ngay tức thì từ quyết sách hành động của chính phủ. Năm 1938, Mỹ chi tiêu cho phúc lợi xã hội nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, kể cả Anh hay thậm chí là Thụy Điển. Chính phủ đã trả tiền cho các chương trình này bằng cách nào? Bằng cách tăng thuế và vay tiền. Trở lại  năm 1931, mức thuế cao nhất (đánh vào các mức thu nhập cao hơn 100.000 USD) không cách biệt so với mức 25% hiện nay. Nhưng ngay khi nhậm chức, Roosevelt đã nâng mức thuế đối với người có thu nhập trên 1 triệu USD lên 63%. Năm 1932, ông đã nâng tỷ lệ đó lên 79%.

Khi Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu như không ai ủng hộ việc cắt giảm thuế hoặc hạn chế quyền hạn của chính phủ. Trái lại, số tiền chi tiêu thâm hụt đã tăng vọt, đạt mức đỉnh điểm là hơn 26% GDP vào năm 1943 và nợ công tăng lên hơn 100% GDP. Để tài trợ cho tất cả những chi tiêu này, thuế lại một lần nữa bị tăng lên. M4y đã bắt tay vào chiến dịch nổi tiếng “Thuế đánh bại phe Trục” và giới thiệu hệ thống thuế làm đâu trả đó PAYG (khoản thuế nhà tuyển dụng giữ lại trích từ lương của người lao động). Để giành chiến thắng, tất cả mọi người đều phải đóng góp.

Đến năm 1944, ngay cả những người có thu nhập thấp nhất ở Mỹ cũng phải đóng mức thuế 23% và những người có thu nhập cao nhất phải đóng mức thuế đáng kinh ngạc là 94%. Charles Wilson, khi đó là người đứng đầu tập đoàn lớn nhất thế giới General Motors, đã nói một câu rất nổi tiếng: “Nhiều năm qua, tôi đã nghĩ rằng những gì tốt đẹp cho đất nước chúng ta cũng là tốt đẹp đối với General Motors và ngược lại”. Wilson cũng cảm thấy đóng thuế là nghĩa vụ của mình. Năm 1949, Wilson kiếm được 586.100 USD từ tiền lương, tiền thưởng và cổ phiếu. Trong đó, ông đã trả 430.350 USD tiền thuế.

Tư duy kinh tế thời đó là Mỹ sẽ chìm vào một cuộc suy thoái nghiêm trọng khi chiến tranh kết thúc. Nhà kinh tế học Paul Samuelson dự đoán rằng hàng triệu người sẽ phải cạnh tranh để có chỗ đứng trên thị trường lao động. Samuelson cảnh báo nếu không có kế hoạch và sự quản lý kinh tế liên tục của chính phủ, thì Mỹ sẽ rơi vào thời kỳ thất nghiệp và rối loạn công nghiệp lớn nhất mà bất kỳ nền kinh tế nào từng phải đối mặt.

Bốn năm sau, Mỹ đã bầu Tổng thống thuộc đảng Cộng hòa đầu tiên kể từ thời Herbert Hoover, Dwight Eisenhower. Nhiều người Mỹ tin rằng các chương trình mở rộng của chính phủ trong kỷ nguyên Roosevelt và Truman cuối cùng sẽ chấm hết. Tuy nhiên, Eisenhower  không làm điều đó. Ông viết: “Nếu bất kỳ chính đảng nào nỗ lực xóa bỏ chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm  thất nghiệp cùng với các luật lao động và các chương trình nông nghiệp, thì đảng đó sẽ không còn xuất hiện một lần nào nữa trong lịch sử chính trị của chúng ta. Dĩ nhiên, có một nhóm nỏ tin rằng họ có thể làm được điều này… Số này không đáng kể, và họ thật ngu ngốc”. Do đó, thay vì hạn chế sức ảnh hưởng của chính phủ, Eisenhower đã mở rộng chính sách An sinh xã hội, bắt tay vào thực hiện chương trình chi tiêu công thời bình lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ – Chương trình cao tốc liên bang – và từ chối cắt giảm thuế cho người giàu. Thuế ở mức cao nhất là 91% trong suốt 8 năm ông cầm quyền và nền kinh tế Mỹ tiếp tục bùng nổ.

Hậu cuộc chiến COVID-19

Điều trớ trêu là việc giãn cách xã hội giúp mọi người nhận ra họ cần nhau nhiều như thế nào. Trên khắp thế giới, mọi người đang hy sinh vì lợi ích của người khác. Ngay cả ở Mỹ, một quốc gia vốn đề cao chủ nghĩa cá nhân và các thị trường tự do hơn bất kỳ nước nào khác, thì hầu hết mọi người đều hiểu rằng tất cả đều đang cùng nhau đối mặt với nghịch cảnh. Bằng cách nào Mỹ có thể tái tạo cơ hội thoát khỏi cuộc khủng hoảng này?

Giải pháp thứ nhất là tăng thuế. Mỹ không cần quay trở lại áp đặt mức thuế của những năm Eisenhower cầm quyền. Tuy nhiên, kể cả việc quay trở lại mức thuế của những năm 1980 cũng đồng nghĩa với một sự tiến bộ to lớn. Những người chưa phải đóng thuế đủ sẽ lập luận rằng với khoản nợ công ngày càng tăng, quốc gia này không thể tăng thuế mà thay vào đó nên cắt giảm thuế. Tuy nhiên, kể từ năm 1981, Mỹ đã 10 lần cắt giảm thuế thu nhập, và tất cả những lần cắt giảm thuế đó mang lại điều gì? Chúng là nguyên nhân gốc rễ khiến nợ công tăng đáng kể, kéo theo đó là thâm hụt gia tăng. Năm 1980, nợ công ở mức 930 tỷ USD, tương đương 23% GDP. Sau 10 đợt cắt giảm thuế được cho là để cấp vốn cho chính phủ, nợ công đã tăng lên 22.300 tỷ USD, tương đương 106% GDP – đơn giản bởi vì trong 40 năm qua, Mỹ đã thu ít thuế hơn mức chi tiêu mỗi năm ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn từ năm 1998 đến năm 2000.

Tất cả mọi người đều nên đóng nhiều thuế hơn, đặc biệt là người giàu. Mức thuế cao nhất áp dụng đối với các triệu phí giàu có nhất lên tới 94%. Đến năm 1980, mức thuế này giảm còn 70%. Hiện nay, mức thuế trên thực tế mà 400 người giàu nhất nước Mỹ phải đóng chỉ là 23%, trong khi những người có thu nhập trung bình phải đóng hơn 25% tiền thuế. Chỉ cần tăng 5% mức thuế trung bình đối với nhóm người giàu có nhất sẽ tạo ra hơn 140 tỷ USD/năm. Làm tương tự như vậy đối với nhóm những người có thu nhập trung bình (55.000 đến 88.000 USD) sẽ tạo ra hơn 115 tỷ USD. Chỉ cần tăng 5% thuế đối với tất cả các hạng thu nhập sẽ mang lại ít nhất 820 tỷ USD.

Chính phủ có thể làm được rất nhiều điều với số tiền đó. Cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy rõ rằng hệ thống y tế của Mỹ là một thảm họa. Dường như một bệnh nhân tiểu đường 93 tuổi có thể được phẫu thuật thay khớp háng dễ dàng hơn so với việc một nhân viên cửa hàng tạp hóa 23 tuổi được làm xét nghiệm COVID-19. Việc cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cho tất cả mọi người không vượt quá khả năng hay là quá tốn kém đối với một trong những nước giàu nhất thế giới

Viện nghiên cứu Đô thị có khuynh hướng thiên tả đã tính toán rằng một hệ thống y tế một người (chính phủ) chi trả sẽ tiêu tốn 34.000 tỷ USD trong 10 năm. Tuy nhiên, những dự đoán này giả định một hệ thống như vậy sẽ không tạo ra doanh thu mới. Trái lại, chỉ riêng việc loại bỏ khoản khấu trừ bảo hiểm y tế do chủ sử dụng lao động chi trả sẽ tạo ra hơn 2.786 tỷ USD trong 10 năm và chủ sử dụng lao động sẽ được giảm số thuế tương đương đáng kể bằng việc không phải đóng thêm gần 1/3 số tiền lương chi trả cho nhân viên vào quỹ phúc lợi như hiện nay. Do hệ thống y tế của Mỹ quá cồng kềnh với nhiều bên chi trả, nên 30% chi tiêu y tế là dành cho chi phí hành chính. Do đó, trung bình hiện nay một gia đình ở Mỹ chi hơn 5.700 USD/năm chỉ riêng chi phí cho bộ máy hành chính của hệ thống y tế, chưa kể chi phí thêm cho các dịch vụ y tế thực tế. Những chi phí này cộng lại thành một con số đáng kể. Hiện nay, chi phí y tế cho mỗi người mà Mỹ chi trả nhiều hơn gấp đôi so với mức trung bình của các nước thành viên Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) – tuy nhiên, theo hầu hết mọi cách đánh giá, người Mỹ được hưởng dịch vụ y tế với chất lượng kém hơn.

Giờ đây, một hệ thống y tế cho tất cả mọi người là điều khả thi hơn. Chính quyền đương nhiệm đã làm nợ quốc gia tăng thêm 1500 tỷ USD do quyết định cắt giảm thuế vào năm 2017, và nếu Tổng thống Donald Trump tái cử vào tháng 11, ông sẽ cần phải trả lại tiền cho những người ủng hộ mình, vốn nằm trong số những người bị dịch COVID-19 ảnh hưởng nhiều hơn và tình trạng suy thoái kinh tế mà nó gây ra. Giống như việc chỉ có Tổng thống Richard Nixon có thể đến Trung Quốc, có lẽ Trump là người duy nhất có thể đưa ra quyết định không thể thay đổi liên quan đến vấn đề thuế. Ông rất muốn tìm phương án thay thế chương trình Obamacare, và xét tới thiệt hại mà dịch COVID-19 gây ra đối với hệ thống y tế hiện tại, tái thiết tổng thể là điều cần phải làm bất luận ông có thích hay không. Trong khi đó, ứng cử viên đảng Dân chủ, Joe Biden, chỉ có thể giành chiến thắng nếu huy động được nền tảng cử tri của cựu ứng cử viên Thượng nghị sĩ Bernie Sanders – và việc cam kết xây dựng hệ thống y tế quốc gia sẽ chính là cách để giành chiến thắng. Người dân cũng đứng về phía Biden: Đa số người Mỹ đều ủng hộ một kiểu hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia nào đó kể từ khi Truman đưa ra ý tưởng này vào năm 1947. Và ngày nay, 75% người Mỹ cũng ủng hộ việc tăng thuế đối với người giàu.

Dù bằng cách nào, Mỹ cũng chỉ có một sự lựa chọn. Khi đại dịch này kết thúc, họ có thể quay trở về chính trường chia rẽ và chính sách thắt lưng buộc bụng và tuyên bố rằng họ không thể chi trả cho bất cứ điều gì khác, cho dù nếu không thì cũng đã được chứng minh một cách rõ ràng qua cách đối phó với cuộc khủng hoảng COVID-19. Mỹ có thể bước vào những cuộc tranh cãi quen thuộc về việc ai sẽ trả tiền, được che đậy bằng những quan ngại về thâm hụt, và điều này làm suy yếu kết cấu xã hội và các thể chế kinh tế đến mức có thể phá vỡ chúng. Hoặc Mỹ có thể làm tăng thuế và cấp vốn cho hệ thống y tế phục vụ cho tất cả mọi người, điều mà nước này đang rất cần. Tất cả các nền kinh tế phát triển khác đều đã lựa chọn cách thứ hai và giờ đến lượt Mỹ.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/2020-04-22/can-pandemic-defeat-politics-austerity

TLTKĐB – 07/05/2020

Học cách nói dối


Việc xem xét lại lịch sử phát triển kinh tế Đông Á đã cho thấy công thức của thành công đơn giản như sau: nông nghiệp hộ gia đình, sản xuất định hướng xuất khẩu và tài chính được kiểm soát chặt chẽ để hỗ trợ hai hoạt động trước. Công thức này phát huy tác dụng là vì nó cho phép những quốc gia nghèo khai thác được nhiều tiềm năng từ nền kinh tế hơn so với những việc mà người dân với kỹ năng sản xuất thấp có thể làm được ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Các chính phủ thao túng những nền kinh tế, thứ tạo ra tiến bộ nhanh chóng và của cải để trợ cấp cho người dân – những người không thể được chuyển đổi nhanh chóng bằng chính sách của chính phủ – để bắt kịp.

Những chuyên gia kinh tế tân tự do không thích chính phủ can thiệp vào thị trường. Họ tuyên bố rằng thị trường tự thân nó đã hiệu quả. Nhưng lịch sử cho thấy sẽ xuất hiện những thị trường – với những ngoại lệ nguyên thủy được chuyên gia kinh tế thể chế Ronald Coase mô tả là những “cá thể đổi đậu lấy trái sơ ri ở bìa rừng”. Có nghĩa là trong một xã hội đang vận hành, các thị trường được định hình và tái định hình bằng quyền lực chính trị. Nếu không có hành động tịch thu đất đai ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc, sẽ không tồn tại thặng dư nông nghiệp gia tăng để chuẩn bị cho quá trình công nghiệp hóa. Nếu không đặt trọng tâm và sản xuất cho xuất khẩu, sẽ chẳng có cách nào sử dụng hàng chục triệu người trước đó là nông dân vào nền kinh tế hiện đại. Và nếu không có hoạt động kìm chế tài chính, sẽ không đủ tiền để chi trả cho quá trình học tập kinh tế đang tăng tốc. Trong tất cả những tình huống trên, thị trường và sự cạnh tranh đều phải phục vụ phát triển.

Thông điệp mà Đông Á – và thực chất là cái nhìn lịch sử về phát triển trên toàn thế giới – gửi đến các kinh tế gia là không có một mô hình kinh tế học duy nhất nào. Ít nhất cũng có hai mô hình. Mô hình đầu tiên là kinh tế học phát triển, cái gần giống với quá trình đào tạo. Đây là nơi con người – chính xác hơn là tất cả mọi người – hình thành một nền kinh tế thu nhận được những kỹ năng cần thiết để cạnh tranh với những người đồng trang lứa trên toàn thế giới. Kinh tế học phát triển đòi hỏi sự nuôi dưỡng, bảo hộ và cạnh tranh. Sau đó là kinh tế học hiệu quả, ứng dụng vào giai đoạn sau của phát triển. Ngành học này đòi hỏi chính phủ can thiệp ít hơn, bãi bỏ quy định nhiều hơn, các thị trường tự do hơn và những trọng tâm tiến gần hơn đến lợi nhuận ngắn hạn. Vấn đề không phải là liệu có tồn tại hai loại kinh tế học ở những giai đoạn phát triển khác nhau hay không. Vấn đề là liệu hai giai đoạn này có gặp nhau hay không. Đây là chủ đề khó khăn và thú vị để các kinh tế gia có thể áp dụng hiệu quả hơn trong quá trình nghiên cứu của chính bản thân họ.

Không may, sự chuyên chế trí tuệ của những kinh tế gia “hiệu quả” tân tự do – vấn đề tự nhiên của những quốc gia giàu có – đồng nghĩa với việc không thể nào thảo luận trung thực về phát triển kinh tế. Các quốc gia nghèo chỉ có thể thành công bằng cách nói dối. Họ phải công khai đồng ý với các kinh tế gia “thị trường tự do” được những nước giàu giới thiệu trong khi theo đuổi các chính sách mang tính can thiệp, vốn thực sự cần thiết để trở nên giàu có. Khuyến khích nói dối là rất không nên, nhưng trong trường hợp này chúng ta phải làm vậy. Giải pháp chửi bới nhóm quyền lực lãnh đạo đầy trí tuệ của phương Tây và phản kháng công khai lãnh đạo của nó – Hoa Kỳ – như Mao, Sukarno và Mahathir đã làm, là một giải pháp ngu xuẩn. Sẽ tốt hơn nhiều nếu học từ Park Chung Hee hay sách Lịch sử Trung Quốc đương đại: công khai tuyên bố về tầm quan trọng của thị trường tự do và sau đó âm thầm tiếp tục những hoạt động kinh doanh theo phong cách dirgiste.

Tuy nhiên, phải nói là cả hai mặt của lập luận về chính sách phát triển kinh tế phù hợp đều có vấn đề. Ở các quốc gia thành công trong việc kết hợp giữa nông nghiệp hộ gia đình, sản xuất và kìm chế tài chính từ Thế chiến Thứ hai, xuất hiện thái độ không sẵn sàng hay tình trạng không thể nhận ra các giới hạn của mô hình này. Ở những quốc gia giàu có nhất sử dụng cách tiếp cận một, hai, ba sau năm 1945 – Nhật Bản ở Đông Á và Italy ở châu Âu – tồn tại một xu hướng phản đối việc bãi bỏ quy định kinh tế trong một thời gian rất dài sau thời điểm hoạt động này trở nên cần thiết. Ở Hàn Quốc, cần cả một cuộc khủng hoảng châu Á và sự can thiệp đúng thời điểm một cách tình cờ của IMF mới kích hoạt được những cải cách này. Cách tiếp cận một, hai, ba chỉ đưa một nền kinh tế – chứ chưa nói đến một xã hội – đi xa được tới vậy. Nếu các chính sách không thay đổi, sự xơ cứng kinh tế của Nhật Bản hay Italy đươgn đại sẽ vẫy gọi.

Thứ hai, các chính phủ sử dụng cách tiếp cận một, hai, ba để phát triển ở Đông Á thường, và một cách không thành thật, giả vờ rằng phát triển kinh tế là yếu tố duy nhất định hình tiến bộ xã hội. Luận điểm này gắn chặt với những biện luận về giá trị “châu Á” cho rằng những người “châu Á” (họ là ai?) không có cùng nhu cầu với những người dân ở các quốc gia giàu có. Thật nhảm nhí! Phát triển kinh tế chỉ là một phần của phát triển xã hội. Những phần khác, liên quan đến tự do và quyền cá nhân, cũng quan trọng không kém. Ở Trung Quốc ngày nay, chính phủ lại đang tuyên bố về một chủ nghĩa chủng tộc dị thường để biện hộ cho sự tụt hậu thể chế một cách có chủ tâm. Trung Quốc đã bác bỏ sự hình thành của hệ thống pháp luật độc lập và một chính phủ cởi mở và mang tính đại diện hơn rất lâu sau, cho đến khi những thứ này được đảm bảo. Đây không phải là điều người Trung Quốc muốn. Việc bạn mua được một chiếc ô tô nhỏ hay một chiếc xe máy cũng sẽ chẳng quan trọng, nếu người bạn hay người họ hàng của bạn biến mất vào một trong những “nhà tù đen” ngoài pháp luật. Một nhà bếp mới cũng chẳng thể nào mang lại cảm giác thoải mái nếu thức ăn bị nhiễm độc vì thiếu kiểm soát môi trường, hay bởi được làm từ những nguyên liệu giá rẻ nhưng độc hại được các quan chức ngấm ngầm cho phép. Những quốc gia mới nổi có thể tự mình xây dựng một cuộc tranh luận trung thực hơn về phát triển kinh tế, bằng cách thiết lập và đáp ứng được những quy chuẩn chung cho các cấu phần khác của phát triển kinh tế. Trong trường hợp của Trung Quốc, chính thái độ không sẵn sàng tích cực thảo luận về tiến bộ chính trị và xã hội của đất nước này đã khiến các quốc gia giàu có và tự do cảm thấy quá sợ hãi, đến nỗi việc thảo luận hợp lý về các yêu cầu phát triển kinh tế là không còn khả thi.

Liệu chúng ta có được chứng kiến một sự chuyển đổi kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Trung Quốc một lần nữa không? Đáp án nhiều khả năng là không, vì một lý do đơn giản. Nếu không có cải cách đất đai hiệu quả, rất khó tồn tại con số tăng trưởng bền vững 7 – 10% một năm mà không phải trải qua những cuộc khủng hoảng nợ chế người ở những nước nghèo. Và một cuộc cải cách đất đai cấp tiến, kết hợp với những hỗ trợ nông nghiệp và tiếp thị cho công dân, không nằm trong chương trình nghị sự chính trị. Kể từ những năm 1980, Ngân hàng Thế giới, thay vào đó, đã thúc đẩy tài chính vi mô, khuyến khích những người nghèo nông thôn xây dựng những quầy hàng trên đường phố bán các sản phẩm cho nhau, cái mà họ hầu như không có tiền để trả. Đây là chính sách phát triển kiểu băng dính kinh điển. Tổ chức phi chính phủ dẫn đầu trong việc thúc đẩy cải cách đất đai, Landesa của Hoa Kỳ, ngay nay đã quá bi quan về những viễn cảnh tương lai của các cải cách cấp tiến ở những quốc gia nghèo trên thế giới, đến nỗi nó tập trung vào những nỗ lực vận động hành lang để chia đất đai thành những miếng nhỏ chỉ vài mét vuông. Những mảnh đất này hỗ trợ bữa ăn và thu nhập cho nông dân trong các khu vực nông nghiệp chưa được cải cách. Tuy nhiên, câu chuyện thần kỳ về kinh tế không đến từ những can thiệp kinh tế vi mô.

Đông Nam Á (cũng giống Ấn Độ) là một khu vực mà cải cách đất đai nghiêm túc không nằm trong chương trình nghị sự chính trị, thậm chí dù chương trình cải cách Philippines đang diễn ra. Trong bối cảnh này, liệu Philippines, Indonesia, Malaysia và Thái Lan có thể làm bất cứ điều gì khác để cải thiện kết quả kinh tế của chúng không? Dễ thấy nhất là chúng có thể biến ASEAN thành một công cụ chính sách công nghiệp hiệu quả. Chẳng có lý do gì mà bốn nền kinh tế lớn cảu ASEAN (và thực tế có cả Việt Nam) không thể vận hành một chính sách công nghiệp sản xuất non trẻ hiệu quả trong một thị trường có 500 triệu người. Nhưng có vẻ như điều đó đang không xảy ra. Thay vì dựng các rào cản và thúc đẩy xuất khẩu để nuôi dưỡng doanh nghiệp sản xuất địa phương, ASEAN lại ký kết các thỏa thuận thương mại tự do với những quốc gia phát triển hơn về công nghiệp bao gồm Trung Quốc. Có rất ít sự cố kết, hay những buổi đối thoại quan trọng, giữa các lãnh đạo chính trị Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Và tầm ảnh hưởng đáng kể của trung tâm tài chính hải ngoại Singapore ở ASEAN là cực kỳ vô ích về mặt phát triển. Tình huống này chẳng khác gì Thụy Sĩ hay Monaco được trao một ghế trong hội đồng hoạch định chính sách công nghiệp hậu chiến châu Âu vào những năm 1950. Đông Nam Á là kim chỉ nam cho những gì không nên làm nếu bạn muốn chuyển đổi kinh tế thành công. Chấp thuận chế độ điền chủ và nông nghiệp quy mô lớn bất chấp sự tồn tại của rất nhiều nông dân thất nghiệp trong khi những người này thực sự có thể trồng trọt nhiều hơn. Không cần quá lo lắng về việc sản xuất hướng đến xuất khẩu vì hoạt động này có thể được các công ty đa quốc gia vui vẻ đảm nhận. Hãy để các doanh nghiệp tự lo thân mình. Và hãy nhanh chóng bãi bỏ quy định ngân hàng, thị trường chứng khoán và các dòng vốn quốc tế, những “biểu tượng thực” của một quốc gia hiện đại. Đó là cách những chính trị gia dẫn các quốc gia Đông Nam Á đến thất bại.

Thế giới của những quốc gia giàu có sẽ không cứu rỗi những quốc gia nghèo khỏi các chính trị gia xấu xa. Nhưng những người như Mahathir và Suharto cũng không quá khủng khiếp. Sai lầm lớn nhất là các quốc gia giàu có, và những định chế kinh tế mà chúng tạo ra như Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, mang đến những lời khuyên phát triển tệ hại không dựa trên dữ liệu lịch sử cho các nước nghèo. Xin nhắc lại một lần nữa là: Không có một nền kinh tế lớn nào có thể phát triển dựa trên các chính sách thương mại tự do và bãi bỏ quy định từ khi mới khởi đầu. Luôn cần những can thiệp chủ động – hiệu quả nhất là ở khu vực nông nghiệp và sản xuất – để nuôi dưỡng quá trình tích lũy vốn và học tập công nghệ. Việc không sẵn sàng nhìn thẳng vào lịch sử khiến chúng có rất nhiều quốc gia nghèo khổ; và, tương tự như những người bị đàn áp ở các quốc gia Đông Nam Á, cái nghèo nông thôn sinh ra các nhóm khủng bố có thể trực tiếp đe dọa cư dân của những nước giàu. Sẽ không dễ để triển khai các chính sách được thảo luận ở đây, đặc biệt là cải cách ruộng đất. Tuy nhiên, tôi xin lặp lại kết luận của những người khác sau Thế chiến Thứ hai: Từ bỏ những chính sách đó có nghĩa là chúng ta có thể chấp nhận được thực trạng hiện tại của thế giới. Hãy nhìn Nam Á, Trung Đông, châu Phi, và hỏi bản thân mình liệu chúng ta có chấp nhận thực trạng này không.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Joe Studwell – Châu Á vận hành như thế nào? – NXB ĐHKTQD 2017.