Suy thoái kinh tế do ảnh hưởng của COVID-19 sẽ theo mô hình nào?


Với tựa đề trên, Peter Hoskins, phóng viên phụ trách lĩnh vực kinh tế của BBC nhận định, mặc dù các nước hiện đang tiến tới nới lỏng các hạn chế phong tỏa, đại dịch COVID-19 đã tấn công mạnh vào nền kinh tế toàn cầu. Hàng triệu người không có việc làm, thị trường tài chính đã bị rúng động và chuỗi cung ứng đã phải đối mặt với thực trạng gián đoạn lớn khi các nhà máy trên khắp thế giới phải đóng cửa.

Thế giới đang đối diện với suy thoái ngay cả sau khi chính phủ và các ngân hàng trung ương đã bơm hàng nghìn tỷ USD vào nền kinh tế của họ và cắt giảm lãi suất.

“Tình hình sẽ tệ đến mức nào?” và “Bao lâu chúng ta sẽ phục hồi?” là 2 câu hỏi mà người ta sẽ được nghe rất nhiều trong những tuần và tháng tới. Câu trả lời cho cả 2 câu hỏi này thường sẽ liên quan đến việc sử dụng một trong 4 chữ cái: V, U, W và L. Đó là vì đây là cách các nhà kinh tế thường dùng để mô phỏng cho suy thoái.

Các mô hình này đến từ hình dạng của các biểu đồ thường thấy trong các giai đoạn này, theo đó rà soát các hoạt động kinh tế như việc làm, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) – hoặc tăng trưởng kinh tế và sản lượng công nghiệp.

Ở đây, chúng ta xem xét 4 chữ cái đó và ý nghĩa của chúng đối với hy vọng phục hồi kinh tế.

Hình chữ V

Đây được coi là kịch bản tốt nhất vì kiểu suy thoái này bắt đầu bằng sự sụt giảm mạnh, nhưng  sau đó chạm đáy và rồi nhanh chóng có sự phục hồi kinh tế.

Điều đó có nghĩa là cuộc suy thoái sẽ chỉ kéo dài một vài quý trước khi tăng trưởng nhanh chóng trở lại, đưa nền kinh tế trở lại mốc trước khi xảy ra đại dịch COVID-19.

Một ví dụ kinh điển về suy thoái hình chữ V đã xảy ra ở Mỹ vào năm 1953, khi nền kinh tế bùng nổ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai được vực dậy nhờ lãi suất cao. Sau sự suy giảm, tăng trưởng mạnh mẽ đã trở lại chỉ hơn một năm trước đó.

Hình chữ U

Trường hợp này tương tự như suy thoái hình chữ V nhưng kéo dài lâu hơn. Trong kịch bản này, GDP thường thu hẹp trong vài quý liên tiếp và chỉ từ từ khôi phục trở lại mức tăng trưởng có được trước suy thoái.

Hình chữ W

Đây là khi cuộc suy thoái bắt đầu bằng cách trông giống như nó sẽ là một suy thoái hình chữ V, nhưng sau đó lại rớt xuống sau khi những gì hóa ra là một dấu hiệu sai về phục hồi. Nó còn được gọi là suy thoái kép, vì nền kinh tế suy giảm hai lần trước khi phục hồi trở lại tốc độ tăng trưởng trước đó.

Suy thoái của Mỹ đầu những năm 1980 trên thực tế là hai cuộc suy thoái với nền kinh tế bị tăng trưởng âm từ tháng 1/1980 đến tháng 7/1980. Tiếp theo đó là thời kỳ tăng trưởng dương mạnh mẽ trước khi nền kinh tế rơi vào suy thoái một năm sau, và chỉ hồi phục vào cuối năm 1982.

Hình chữ L

Đây là kịch bản xấu nhất. Nó cũng có một tên khác: “Suy thoái lớn”. Đó là khi một nền kinh tế trải qua một cuộc suy thoái nghiêm trọng và trong vài năm không phục hồi được tốc độ tăng trưởng trước đó.

Cái gọi là “thập niên mất mát” của Nhật Bản những năm 1990 là một ví dụ kinh điển về suy thoái hình chữ L.

Đất nước này đã chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vững chắc từ những năm ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai cho đến cuối những năm 1980. Điều đó dẫn đến những gì mà sau này bị coi là sự định giá quá lớn của tài  sản hoặc “bong bóng”.

Kể từ khi “bong bóng” đó bị nổ vào đầu những năm 1990, Nhật Bản đã tiếp tục có sự tăng trưởng yếu và vẫn chưa trở lại với tốc độ tăng trưởng dương được thấy từ năm 1950 – 1990.

Nguồn: TKNB – 12/05/2020.

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần I


Giới thiệu

Gần đây, dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus corona (COVID-19) bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc và sau đó lây lan ra bên ngoài nước này đã làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng của Trung Quốc và khu vực. Ngày 31/12/2019, các nhà chức trách Trung Quốc thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về một vài trường hợp mắc bệnh viêm phổi ở Vũ Hán, và đã thực hiện những hành động chính sách chưa từng có để khống chế virus này, nhưng dịch bệnh bắt đầu lây lan sang các nền kinh tế khác trong khu vực. Ngày 30/01/2020, WHO tuyên bố dịch COVID-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Giờ đây, cuộc tranh luận xoay quanh mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh này và tác động có khả năng của nó đối với nền kinh tế trong nước và các nước khác.

Dịch bệnh tác động đến hoạt động kinh tế trên nhiều mặt trận khác nhau:

+ Ở Trung Quốc, dịch bệnh này tạo ra sức ép lớn đối với hệ thống y tế, khiến tiền lương sụt giảm và năng suất thấp hơn do người lao động nghỉ ốm và nghỉ làm. Nỗi lo sợ bị lây bệnh và nỗ lực hạn chế tình trạng lây lan có thể dẫn đến những gián đoạn về giao thông vận tải, chuỗi cung ứng trong ngành chế tạo, việc cung cấp hầu hết các dịch vụ, đóng cửa các trường học và doanh nghiệp. Do đó, việc chống lại dịch bệnh có thể có tác động đáng kể đến kinh tế.

+ Bên ngoài Trung Quốc, khả năng lây lan đã gia tăng đáng kể do sự hội nhập và kết nối trong khu vực tăng cao. Ngoài việc lây lan bệnh do lưu lượng di chuyển quốc tế khổng lồ, ngành công nghiệp hàng không, lĩnh vực du lịch và dịch vụ khách hàng, cũng như thương mại, trong đó có các chuỗi cung ứng toàn cầu là những ngành tiêu biểu cảm nhận được tác động của nó.

+ Hành vi tránh lây nhiễm của người dân và các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan có thể gây ra thêm sức ép lớn đối với các nền kinh tế khu vực. Ngoài ra, cảm giác bất trắc và nỗi sợ hãi tràn ngập khắp nơi sẽ làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng, và gia tăng tâm lý sợ rủi ro trong các thị trường tài chính và hàng hóa tiêu dùng.

Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN+3 (gồm các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và 3 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – khiến tăng trưởng giảm tốc rõ rệt, có khả năng sẽ ảnh hưởng lan rộng khắp khu vực và toàn thế giới. Những ước tính về tác động của dịch bệnh này sẽ phụ thuộc vào thời gian kéo dài, tính độc hại và khả năng lây nhiễm. Các dịch bệnh do virus trước đây, đáng chú ý là Hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) vào năm 2003, có thể đưa ra gợi ý về những thiệt hại kinh tế tiềm tàng đối với Trung Quốc, mà sau đó có thể được sử dụng để ước tính tác động đối với các nền kinh tế khác trong khu vực:

+ Tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong năm 2020 sẽ giảm nhiều nhất là 0,5%, xét tới các biện pháp hỗ trợ của chính phủ.

+ Sự giảm tốc của Trung Quốc sẽ khiến tăng trưởng của các nước ASEAN+3 giảm 0,2%. Các kênh tác động chính đối với khu vực này sẽ là thông qua (1) lưu lượng đi lại và du lịch ra nước ngoài của Trung Quốc giảm mạnh; (2) sự sụt giảm trong hoạt động đi lại và du lịch của khu vực phản ánh nỗi lo sợ lây lan dịch bệnh; (3) sụt giảm hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc qua chuỗi cung ứng khi hoạt động chế tạo bị gián đoạn và nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng: và (4) tình trạng lây lan dịch bệnh sang các nền kinh tế khu vực.

Tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc

Trong số các dịch bệnh lớn trong 2 thập kỷ qua, dịch SARS có thể đưa ra chỉ dẫn nào đó về tác động tiềm tàng của COVID-19. Dịch SARS bùng phát vào quý IV/2002, nhưng hầu hết các ca nhiễm bệnh được ghi nhận vào quý I và quý II/2003. Hơn 8000 người nhiễm SARS, chủ yếu ở Trung Quốc, ngoài ra còn ở các nơi khác trong khu vực – tương tự như COVID-19 tính đến nay. Tại thời điểm này, số lượng người nhiễm COVID-19 đã vượt xa tổng số người nhiễm SARS, và con số này dự kiến còn tăng cao hơn nữa. Tỷ lệ tử vong trung bình do SARS là gần 10% so với mức chỉ 2% của COVID-19 cho đến nay. Tuy nhiên, những ước tính ban đầu cho thấy SARS có tỷ lệ lây nhiễm thấp hơn nhiều, có khả năng là vì virus này không lây trong thời gian ủ bệnh. Một kịch bản có khả năng xảy ra là COVID-19 sẽ lây lan trong khoảng 4 tháng, tương tự như SARS; có tỷ lệ tử vong thấp hơn SARS; lây lan rộng hơn SARS, các vùng lây nhiễm chính là những trung tâm kinh tế chính của Trung Quốc.

Tác động của dịch bệnh này đối với Trung Quốc dự kiến sẽ lớn nhưng không kéo dài. Tăng trưởng trong quý I/2020 dự kiến sẽ giảm mạnh, ở cả lĩnh vực chế tạo lẫn dịch vụ. Trong ngắn hạn, những hạn chế đối với hoạt động đi lại của người dân gây tổn hại đến hoạt động sản xuất và nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các địa phương tuyên bố kéo dài kỳ nghỉ Tết Âm lịch thêm khoảng 7 ngày, điều này đồng nghĩa rằng các nhà máy và doanh nghiệp sẽ phải trì hoãn hoạt động sản xuất.

AMRO dự báo COVID-19  sẽ khiến GDP trong năm 2020 của Trung Quốc giảm 0,5%. Các kịch bản sau đây giả định rằng:

+ Trong lĩnh vực chế tạo, chuỗi cung ứng toàn cầu tập trung ở các khu vực chịu ảnh hưởng sẽ bị gián đoạn đáng kể. Tuy nhiên, sau đó, các công ty có khả năng sẽ tìm ra cách để bù đắp hầu hết (dù không phải toàn bộ) hoạt động sản xuất mất đi để đáp ứng nhu cầu, do lĩnh vực chế tạo tương đối ít bị hạn chế bởi năng lực sản xuất hơn. Do đó, lĩnh vực chế tạo có khả năng sẽ phục hồi mạnh mẽ.

+ Trong lĩnh vực dịch vụ, các công ty có khả năng hạn chế trong việc bù đắp lại những ngày nghỉ. Nhu cầu đối với một vài loại hình dịch vụ như du lịch sẽ không phục hồi đáng kể, và việc cung cấp dịch vụ không thể tăng mạnh trong giai đoạn ngắn. Do đó, quá trình phục hồi về mức trước khi xảy ra dịch bệnh sẽ chậm hơn.

Tác động ước tính bao gồm: (1) lĩnh vực chế tạo khiến tăng trưởng giảm 0,15%; và (2) lĩnh vực dịch vụ khiến tăng trưởng giảm 0,35%, cao hơn một chút so với dịch SARS. Những ước tính này đã tính đến giả định của AMRO về sự hỗ trợ của chính quyền đối với nền kinh tế.

Tác động đối với Trung Quốc sẽ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đến việc làm và có khả năng cả sự ổn định tài chính. Với hơn 200 triệu người lao động di cư trên toàn quốc trở về quê nhà nghỉ ết Âm lịch, và nhiều thành phố (gồm khoảng 50 triệu dân) bị cách ly, hầu hết các lao động này không thể quay trở về thành phố nơi họ làm việc như họ thường làm sau khi nghỉ Tết – đặc biệt là những người ở khu vực miền Trung, khu vực chịu nhiều tác động nhất. Khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ chịu tác động nhiều nhất, điều có thể khiến nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Ngoài ra, vụ bùng phát dịch bệnh này có thể khiến giá cả hàng hóa ở địa phương gia tăng trong tương lai gần.

Tác động đối với khu vực ASEAN+3

Hầu hết các nước trong khu vực ASEAN đã bị lây nhiễm do dịch bệnh lây lan, và tăng trưởng của họ cũng có thể bị ảnh hưởng như đang diễn ra ở Trung Quốc. Kênh tác động chính là thông qua vận chuyển hành khách, du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung gian có liên quan đến sản xuất thành phẩm tiêu dùng trong các khu vực chịu nhiều ảnh hưởng ở Trung Quốc. Ngoài ra, các biện pháp trong nước nhằm khống chế dịch bệnh có thể làm gián đoạn sản xuất cũng như đầu tư và tác động đến tiêu dùng. Tác động này có quy mô và cường độ lớn đến mức nào có khả năng sẽ phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của dịch này. Tuy nhiên, nếu trong năm 2020 nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc hơn so với dự kiến, thì những tác động đối với các nền kinh tế khu vực có thể là khốc liệt.

(còn tiếp) 

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

Chìa khóa khôi phục kinh tế Mỹ hậu COVID-19


Sven Steinmo & Mark Blyth

Sau nhiều năm rao giảng với thế giới về những mối nguy hiểm của chi tiêu của chính phủ, Chính phủ Mỹ đột ngột đi theo học thuyết kinh tế Keynes. Giờ đây, hỗ trợ dưới dạng chi phiếu cho các hộ gia đình, các đợt bơm thanh khoản trên quy mô lớn của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ, và các gói cứu trợ doanh nghiệp trở thành điều bình thường – cho đến nay tất cả đều đang diễn ra với cấp độ không ngờ và đều được biện hộ là do mối đe dọa bất thường của cuộc khủng hoảng COVID-19 gây ra.

Chính phủ Mỹ thường không chi tiêu tùy tiện. Thay vào đó, họ có xu hướng thích nghi với các cú sốc kinh tế bằng việc chấp nhận tình trạng thất nghiệp và sử dụng chính sách thắt lưng buộc bụng – đặc biệt là ở cấp bang, theo quy định của pháp luật, các thống đốc phải duy trì ngân sách cân đối. Ngay khi dịch COVID-19 hạ nhiệt, những lời kêu gọi cắt giảm chi tiêu và cân đối ngân sách quen thuộc sẽ quay trở lại. Nợ liên bang sẽ tăng lên mức chưa từng thấy kể từ những năm 1940 – và để ứng phó, những người đề xuất chính sách thắt lưng buộc bụng sẽ yêu cầu khởi động lại thị trường tự do bằng cách cắt giảm cả thuế lẫn chi tiêu.

Người Mỹ sẵn sàng bác bỏ những yêu cầu này. Ngay cả những người quan ngại về tình hình nợ cũng không cần phải tìm kiếm một lựa chọn thay thế đâu xa ngoài đường hướng mà các nhà lãnh đạo Mỹ đã lựa chọn trong hia cuộc khủng hoảng lớn vào giữa thế kỷ 20: Đại khủng hoảng và Chiến tranh thế giới thứ hai. Để ứng phó với những cú sốc này, Chính phủ Mỹ đã gạt bỏ chính sách thắt lưng buộc bụng và tăng thuế để cấp vốn cho Đạo luật hỗ trợ quân nhân giải ngũ (G.I) và chương trình cơ sở hạ tầng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Lúc này, Mỹ áp dụng lại chính sách đó, lần này dùng tiền để tái thiết hệ thống y tế quốc gia.

Kế hoạch hành động

Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đắc cử vào năm 1932, lúc đỉnh điểm của cuộc Đại khủng hoảng, một phần vì người Mỹ tìm kiếm một nhà lãnh đạo sẽ gạt bỏ chính sách thắt lưng buộc bụng và mang đến niềm hy vọng. Roosevelt đã làm được điều đó. Trong bài diễn văn nhậm chức đầu tiên của mình ông tuyên bố: “Nhiệm vụ chính lớn nhất của chúng tôi là tạo công ăn việc làm cho người dân. Không có vấn đề này là không thể giải quyết nếu chúng ta đối mặt với chúng một cách khôn ngoan và dũng cảm. Có thể hoàn thành nhiệm vụ này một phần nhờ việc chính phủ trực tiếp tuyển dụng người lao động, xem đây là một nhiệm vụ khẩn cấp như một cuộc chiến tranh, nhưng đồng thời qua việc tuyển dụng này để hoàn thành các dự án hết sức cần thiết nhằm kích thích và tái tổ chức việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên”.

Trong 100 ngày đầu tiên cầm quyền, Roosevelt đã ký 15 đạo luật, mở rộng đáng kể vai trò của chính phủ đối với đời sống của hàng triệu người Mỹ. Cơ quan quản lý tiến độ công trình (WPA) có lẽ là chương trình tiêu biểu nhất trong nhiệm kỳ đầu tiên của Roosevelt, tạo việc làm cho gần 8 triệu lao động trong các công trình xây dựng cầu đường, trường học, bưu điện, bảo tàng, bể bơi, công viên, trung tâm công cộng, sở thú, vườn bách thảo, phòng tập thể hình, trường đại học… Hầu như mọi cộng đồng ở đất nước này đều được hưởng những lợi ích rõ ràng và ngay tức thì từ quyết sách hành động của chính phủ. Năm 1938, Mỹ chi tiêu cho phúc lợi xã hội nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, kể cả Anh hay thậm chí là Thụy Điển. Chính phủ đã trả tiền cho các chương trình này bằng cách nào? Bằng cách tăng thuế và vay tiền. Trở lại  năm 1931, mức thuế cao nhất (đánh vào các mức thu nhập cao hơn 100.000 USD) không cách biệt so với mức 25% hiện nay. Nhưng ngay khi nhậm chức, Roosevelt đã nâng mức thuế đối với người có thu nhập trên 1 triệu USD lên 63%. Năm 1932, ông đã nâng tỷ lệ đó lên 79%.

Khi Mỹ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai, hầu như không ai ủng hộ việc cắt giảm thuế hoặc hạn chế quyền hạn của chính phủ. Trái lại, số tiền chi tiêu thâm hụt đã tăng vọt, đạt mức đỉnh điểm là hơn 26% GDP vào năm 1943 và nợ công tăng lên hơn 100% GDP. Để tài trợ cho tất cả những chi tiêu này, thuế lại một lần nữa bị tăng lên. M4y đã bắt tay vào chiến dịch nổi tiếng “Thuế đánh bại phe Trục” và giới thiệu hệ thống thuế làm đâu trả đó PAYG (khoản thuế nhà tuyển dụng giữ lại trích từ lương của người lao động). Để giành chiến thắng, tất cả mọi người đều phải đóng góp.

Đến năm 1944, ngay cả những người có thu nhập thấp nhất ở Mỹ cũng phải đóng mức thuế 23% và những người có thu nhập cao nhất phải đóng mức thuế đáng kinh ngạc là 94%. Charles Wilson, khi đó là người đứng đầu tập đoàn lớn nhất thế giới General Motors, đã nói một câu rất nổi tiếng: “Nhiều năm qua, tôi đã nghĩ rằng những gì tốt đẹp cho đất nước chúng ta cũng là tốt đẹp đối với General Motors và ngược lại”. Wilson cũng cảm thấy đóng thuế là nghĩa vụ của mình. Năm 1949, Wilson kiếm được 586.100 USD từ tiền lương, tiền thưởng và cổ phiếu. Trong đó, ông đã trả 430.350 USD tiền thuế.

Tư duy kinh tế thời đó là Mỹ sẽ chìm vào một cuộc suy thoái nghiêm trọng khi chiến tranh kết thúc. Nhà kinh tế học Paul Samuelson dự đoán rằng hàng triệu người sẽ phải cạnh tranh để có chỗ đứng trên thị trường lao động. Samuelson cảnh báo nếu không có kế hoạch và sự quản lý kinh tế liên tục của chính phủ, thì Mỹ sẽ rơi vào thời kỳ thất nghiệp và rối loạn công nghiệp lớn nhất mà bất kỳ nền kinh tế nào từng phải đối mặt.

Bốn năm sau, Mỹ đã bầu Tổng thống thuộc đảng Cộng hòa đầu tiên kể từ thời Herbert Hoover, Dwight Eisenhower. Nhiều người Mỹ tin rằng các chương trình mở rộng của chính phủ trong kỷ nguyên Roosevelt và Truman cuối cùng sẽ chấm hết. Tuy nhiên, Eisenhower  không làm điều đó. Ông viết: “Nếu bất kỳ chính đảng nào nỗ lực xóa bỏ chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm  thất nghiệp cùng với các luật lao động và các chương trình nông nghiệp, thì đảng đó sẽ không còn xuất hiện một lần nào nữa trong lịch sử chính trị của chúng ta. Dĩ nhiên, có một nhóm nỏ tin rằng họ có thể làm được điều này… Số này không đáng kể, và họ thật ngu ngốc”. Do đó, thay vì hạn chế sức ảnh hưởng của chính phủ, Eisenhower đã mở rộng chính sách An sinh xã hội, bắt tay vào thực hiện chương trình chi tiêu công thời bình lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ – Chương trình cao tốc liên bang – và từ chối cắt giảm thuế cho người giàu. Thuế ở mức cao nhất là 91% trong suốt 8 năm ông cầm quyền và nền kinh tế Mỹ tiếp tục bùng nổ.

Hậu cuộc chiến COVID-19

Điều trớ trêu là việc giãn cách xã hội giúp mọi người nhận ra họ cần nhau nhiều như thế nào. Trên khắp thế giới, mọi người đang hy sinh vì lợi ích của người khác. Ngay cả ở Mỹ, một quốc gia vốn đề cao chủ nghĩa cá nhân và các thị trường tự do hơn bất kỳ nước nào khác, thì hầu hết mọi người đều hiểu rằng tất cả đều đang cùng nhau đối mặt với nghịch cảnh. Bằng cách nào Mỹ có thể tái tạo cơ hội thoát khỏi cuộc khủng hoảng này?

Giải pháp thứ nhất là tăng thuế. Mỹ không cần quay trở lại áp đặt mức thuế của những năm Eisenhower cầm quyền. Tuy nhiên, kể cả việc quay trở lại mức thuế của những năm 1980 cũng đồng nghĩa với một sự tiến bộ to lớn. Những người chưa phải đóng thuế đủ sẽ lập luận rằng với khoản nợ công ngày càng tăng, quốc gia này không thể tăng thuế mà thay vào đó nên cắt giảm thuế. Tuy nhiên, kể từ năm 1981, Mỹ đã 10 lần cắt giảm thuế thu nhập, và tất cả những lần cắt giảm thuế đó mang lại điều gì? Chúng là nguyên nhân gốc rễ khiến nợ công tăng đáng kể, kéo theo đó là thâm hụt gia tăng. Năm 1980, nợ công ở mức 930 tỷ USD, tương đương 23% GDP. Sau 10 đợt cắt giảm thuế được cho là để cấp vốn cho chính phủ, nợ công đã tăng lên 22.300 tỷ USD, tương đương 106% GDP – đơn giản bởi vì trong 40 năm qua, Mỹ đã thu ít thuế hơn mức chi tiêu mỗi năm ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn từ năm 1998 đến năm 2000.

Tất cả mọi người đều nên đóng nhiều thuế hơn, đặc biệt là người giàu. Mức thuế cao nhất áp dụng đối với các triệu phí giàu có nhất lên tới 94%. Đến năm 1980, mức thuế này giảm còn 70%. Hiện nay, mức thuế trên thực tế mà 400 người giàu nhất nước Mỹ phải đóng chỉ là 23%, trong khi những người có thu nhập trung bình phải đóng hơn 25% tiền thuế. Chỉ cần tăng 5% mức thuế trung bình đối với nhóm người giàu có nhất sẽ tạo ra hơn 140 tỷ USD/năm. Làm tương tự như vậy đối với nhóm những người có thu nhập trung bình (55.000 đến 88.000 USD) sẽ tạo ra hơn 115 tỷ USD. Chỉ cần tăng 5% thuế đối với tất cả các hạng thu nhập sẽ mang lại ít nhất 820 tỷ USD.

Chính phủ có thể làm được rất nhiều điều với số tiền đó. Cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy rõ rằng hệ thống y tế của Mỹ là một thảm họa. Dường như một bệnh nhân tiểu đường 93 tuổi có thể được phẫu thuật thay khớp háng dễ dàng hơn so với việc một nhân viên cửa hàng tạp hóa 23 tuổi được làm xét nghiệm COVID-19. Việc cung cấp dịch vụ y tế chất lượng cho tất cả mọi người không vượt quá khả năng hay là quá tốn kém đối với một trong những nước giàu nhất thế giới

Viện nghiên cứu Đô thị có khuynh hướng thiên tả đã tính toán rằng một hệ thống y tế một người (chính phủ) chi trả sẽ tiêu tốn 34.000 tỷ USD trong 10 năm. Tuy nhiên, những dự đoán này giả định một hệ thống như vậy sẽ không tạo ra doanh thu mới. Trái lại, chỉ riêng việc loại bỏ khoản khấu trừ bảo hiểm y tế do chủ sử dụng lao động chi trả sẽ tạo ra hơn 2.786 tỷ USD trong 10 năm và chủ sử dụng lao động sẽ được giảm số thuế tương đương đáng kể bằng việc không phải đóng thêm gần 1/3 số tiền lương chi trả cho nhân viên vào quỹ phúc lợi như hiện nay. Do hệ thống y tế của Mỹ quá cồng kềnh với nhiều bên chi trả, nên 30% chi tiêu y tế là dành cho chi phí hành chính. Do đó, trung bình hiện nay một gia đình ở Mỹ chi hơn 5.700 USD/năm chỉ riêng chi phí cho bộ máy hành chính của hệ thống y tế, chưa kể chi phí thêm cho các dịch vụ y tế thực tế. Những chi phí này cộng lại thành một con số đáng kể. Hiện nay, chi phí y tế cho mỗi người mà Mỹ chi trả nhiều hơn gấp đôi so với mức trung bình của các nước thành viên Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) – tuy nhiên, theo hầu hết mọi cách đánh giá, người Mỹ được hưởng dịch vụ y tế với chất lượng kém hơn.

Giờ đây, một hệ thống y tế cho tất cả mọi người là điều khả thi hơn. Chính quyền đương nhiệm đã làm nợ quốc gia tăng thêm 1500 tỷ USD do quyết định cắt giảm thuế vào năm 2017, và nếu Tổng thống Donald Trump tái cử vào tháng 11, ông sẽ cần phải trả lại tiền cho những người ủng hộ mình, vốn nằm trong số những người bị dịch COVID-19 ảnh hưởng nhiều hơn và tình trạng suy thoái kinh tế mà nó gây ra. Giống như việc chỉ có Tổng thống Richard Nixon có thể đến Trung Quốc, có lẽ Trump là người duy nhất có thể đưa ra quyết định không thể thay đổi liên quan đến vấn đề thuế. Ông rất muốn tìm phương án thay thế chương trình Obamacare, và xét tới thiệt hại mà dịch COVID-19 gây ra đối với hệ thống y tế hiện tại, tái thiết tổng thể là điều cần phải làm bất luận ông có thích hay không. Trong khi đó, ứng cử viên đảng Dân chủ, Joe Biden, chỉ có thể giành chiến thắng nếu huy động được nền tảng cử tri của cựu ứng cử viên Thượng nghị sĩ Bernie Sanders – và việc cam kết xây dựng hệ thống y tế quốc gia sẽ chính là cách để giành chiến thắng. Người dân cũng đứng về phía Biden: Đa số người Mỹ đều ủng hộ một kiểu hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia nào đó kể từ khi Truman đưa ra ý tưởng này vào năm 1947. Và ngày nay, 75% người Mỹ cũng ủng hộ việc tăng thuế đối với người giàu.

Dù bằng cách nào, Mỹ cũng chỉ có một sự lựa chọn. Khi đại dịch này kết thúc, họ có thể quay trở về chính trường chia rẽ và chính sách thắt lưng buộc bụng và tuyên bố rằng họ không thể chi trả cho bất cứ điều gì khác, cho dù nếu không thì cũng đã được chứng minh một cách rõ ràng qua cách đối phó với cuộc khủng hoảng COVID-19. Mỹ có thể bước vào những cuộc tranh cãi quen thuộc về việc ai sẽ trả tiền, được che đậy bằng những quan ngại về thâm hụt, và điều này làm suy yếu kết cấu xã hội và các thể chế kinh tế đến mức có thể phá vỡ chúng. Hoặc Mỹ có thể làm tăng thuế và cấp vốn cho hệ thống y tế phục vụ cho tất cả mọi người, điều mà nước này đang rất cần. Tất cả các nền kinh tế phát triển khác đều đã lựa chọn cách thứ hai và giờ đến lượt Mỹ.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/2020-04-22/can-pandemic-defeat-politics-austerity

TLTKĐB – 07/05/2020

Học cách nói dối


Việc xem xét lại lịch sử phát triển kinh tế Đông Á đã cho thấy công thức của thành công đơn giản như sau: nông nghiệp hộ gia đình, sản xuất định hướng xuất khẩu và tài chính được kiểm soát chặt chẽ để hỗ trợ hai hoạt động trước. Công thức này phát huy tác dụng là vì nó cho phép những quốc gia nghèo khai thác được nhiều tiềm năng từ nền kinh tế hơn so với những việc mà người dân với kỹ năng sản xuất thấp có thể làm được ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Các chính phủ thao túng những nền kinh tế, thứ tạo ra tiến bộ nhanh chóng và của cải để trợ cấp cho người dân – những người không thể được chuyển đổi nhanh chóng bằng chính sách của chính phủ – để bắt kịp.

Những chuyên gia kinh tế tân tự do không thích chính phủ can thiệp vào thị trường. Họ tuyên bố rằng thị trường tự thân nó đã hiệu quả. Nhưng lịch sử cho thấy sẽ xuất hiện những thị trường – với những ngoại lệ nguyên thủy được chuyên gia kinh tế thể chế Ronald Coase mô tả là những “cá thể đổi đậu lấy trái sơ ri ở bìa rừng”. Có nghĩa là trong một xã hội đang vận hành, các thị trường được định hình và tái định hình bằng quyền lực chính trị. Nếu không có hành động tịch thu đất đai ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc, sẽ không tồn tại thặng dư nông nghiệp gia tăng để chuẩn bị cho quá trình công nghiệp hóa. Nếu không đặt trọng tâm và sản xuất cho xuất khẩu, sẽ chẳng có cách nào sử dụng hàng chục triệu người trước đó là nông dân vào nền kinh tế hiện đại. Và nếu không có hoạt động kìm chế tài chính, sẽ không đủ tiền để chi trả cho quá trình học tập kinh tế đang tăng tốc. Trong tất cả những tình huống trên, thị trường và sự cạnh tranh đều phải phục vụ phát triển.

Thông điệp mà Đông Á – và thực chất là cái nhìn lịch sử về phát triển trên toàn thế giới – gửi đến các kinh tế gia là không có một mô hình kinh tế học duy nhất nào. Ít nhất cũng có hai mô hình. Mô hình đầu tiên là kinh tế học phát triển, cái gần giống với quá trình đào tạo. Đây là nơi con người – chính xác hơn là tất cả mọi người – hình thành một nền kinh tế thu nhận được những kỹ năng cần thiết để cạnh tranh với những người đồng trang lứa trên toàn thế giới. Kinh tế học phát triển đòi hỏi sự nuôi dưỡng, bảo hộ và cạnh tranh. Sau đó là kinh tế học hiệu quả, ứng dụng vào giai đoạn sau của phát triển. Ngành học này đòi hỏi chính phủ can thiệp ít hơn, bãi bỏ quy định nhiều hơn, các thị trường tự do hơn và những trọng tâm tiến gần hơn đến lợi nhuận ngắn hạn. Vấn đề không phải là liệu có tồn tại hai loại kinh tế học ở những giai đoạn phát triển khác nhau hay không. Vấn đề là liệu hai giai đoạn này có gặp nhau hay không. Đây là chủ đề khó khăn và thú vị để các kinh tế gia có thể áp dụng hiệu quả hơn trong quá trình nghiên cứu của chính bản thân họ.

Không may, sự chuyên chế trí tuệ của những kinh tế gia “hiệu quả” tân tự do – vấn đề tự nhiên của những quốc gia giàu có – đồng nghĩa với việc không thể nào thảo luận trung thực về phát triển kinh tế. Các quốc gia nghèo chỉ có thể thành công bằng cách nói dối. Họ phải công khai đồng ý với các kinh tế gia “thị trường tự do” được những nước giàu giới thiệu trong khi theo đuổi các chính sách mang tính can thiệp, vốn thực sự cần thiết để trở nên giàu có. Khuyến khích nói dối là rất không nên, nhưng trong trường hợp này chúng ta phải làm vậy. Giải pháp chửi bới nhóm quyền lực lãnh đạo đầy trí tuệ của phương Tây và phản kháng công khai lãnh đạo của nó – Hoa Kỳ – như Mao, Sukarno và Mahathir đã làm, là một giải pháp ngu xuẩn. Sẽ tốt hơn nhiều nếu học từ Park Chung Hee hay sách Lịch sử Trung Quốc đương đại: công khai tuyên bố về tầm quan trọng của thị trường tự do và sau đó âm thầm tiếp tục những hoạt động kinh doanh theo phong cách dirgiste.

Tuy nhiên, phải nói là cả hai mặt của lập luận về chính sách phát triển kinh tế phù hợp đều có vấn đề. Ở các quốc gia thành công trong việc kết hợp giữa nông nghiệp hộ gia đình, sản xuất và kìm chế tài chính từ Thế chiến Thứ hai, xuất hiện thái độ không sẵn sàng hay tình trạng không thể nhận ra các giới hạn của mô hình này. Ở những quốc gia giàu có nhất sử dụng cách tiếp cận một, hai, ba sau năm 1945 – Nhật Bản ở Đông Á và Italy ở châu Âu – tồn tại một xu hướng phản đối việc bãi bỏ quy định kinh tế trong một thời gian rất dài sau thời điểm hoạt động này trở nên cần thiết. Ở Hàn Quốc, cần cả một cuộc khủng hoảng châu Á và sự can thiệp đúng thời điểm một cách tình cờ của IMF mới kích hoạt được những cải cách này. Cách tiếp cận một, hai, ba chỉ đưa một nền kinh tế – chứ chưa nói đến một xã hội – đi xa được tới vậy. Nếu các chính sách không thay đổi, sự xơ cứng kinh tế của Nhật Bản hay Italy đươgn đại sẽ vẫy gọi.

Thứ hai, các chính phủ sử dụng cách tiếp cận một, hai, ba để phát triển ở Đông Á thường, và một cách không thành thật, giả vờ rằng phát triển kinh tế là yếu tố duy nhất định hình tiến bộ xã hội. Luận điểm này gắn chặt với những biện luận về giá trị “châu Á” cho rằng những người “châu Á” (họ là ai?) không có cùng nhu cầu với những người dân ở các quốc gia giàu có. Thật nhảm nhí! Phát triển kinh tế chỉ là một phần của phát triển xã hội. Những phần khác, liên quan đến tự do và quyền cá nhân, cũng quan trọng không kém. Ở Trung Quốc ngày nay, chính phủ lại đang tuyên bố về một chủ nghĩa chủng tộc dị thường để biện hộ cho sự tụt hậu thể chế một cách có chủ tâm. Trung Quốc đã bác bỏ sự hình thành của hệ thống pháp luật độc lập và một chính phủ cởi mở và mang tính đại diện hơn rất lâu sau, cho đến khi những thứ này được đảm bảo. Đây không phải là điều người Trung Quốc muốn. Việc bạn mua được một chiếc ô tô nhỏ hay một chiếc xe máy cũng sẽ chẳng quan trọng, nếu người bạn hay người họ hàng của bạn biến mất vào một trong những “nhà tù đen” ngoài pháp luật. Một nhà bếp mới cũng chẳng thể nào mang lại cảm giác thoải mái nếu thức ăn bị nhiễm độc vì thiếu kiểm soát môi trường, hay bởi được làm từ những nguyên liệu giá rẻ nhưng độc hại được các quan chức ngấm ngầm cho phép. Những quốc gia mới nổi có thể tự mình xây dựng một cuộc tranh luận trung thực hơn về phát triển kinh tế, bằng cách thiết lập và đáp ứng được những quy chuẩn chung cho các cấu phần khác của phát triển kinh tế. Trong trường hợp của Trung Quốc, chính thái độ không sẵn sàng tích cực thảo luận về tiến bộ chính trị và xã hội của đất nước này đã khiến các quốc gia giàu có và tự do cảm thấy quá sợ hãi, đến nỗi việc thảo luận hợp lý về các yêu cầu phát triển kinh tế là không còn khả thi.

Liệu chúng ta có được chứng kiến một sự chuyển đổi kinh tế như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan hay Trung Quốc một lần nữa không? Đáp án nhiều khả năng là không, vì một lý do đơn giản. Nếu không có cải cách đất đai hiệu quả, rất khó tồn tại con số tăng trưởng bền vững 7 – 10% một năm mà không phải trải qua những cuộc khủng hoảng nợ chế người ở những nước nghèo. Và một cuộc cải cách đất đai cấp tiến, kết hợp với những hỗ trợ nông nghiệp và tiếp thị cho công dân, không nằm trong chương trình nghị sự chính trị. Kể từ những năm 1980, Ngân hàng Thế giới, thay vào đó, đã thúc đẩy tài chính vi mô, khuyến khích những người nghèo nông thôn xây dựng những quầy hàng trên đường phố bán các sản phẩm cho nhau, cái mà họ hầu như không có tiền để trả. Đây là chính sách phát triển kiểu băng dính kinh điển. Tổ chức phi chính phủ dẫn đầu trong việc thúc đẩy cải cách đất đai, Landesa của Hoa Kỳ, ngay nay đã quá bi quan về những viễn cảnh tương lai của các cải cách cấp tiến ở những quốc gia nghèo trên thế giới, đến nỗi nó tập trung vào những nỗ lực vận động hành lang để chia đất đai thành những miếng nhỏ chỉ vài mét vuông. Những mảnh đất này hỗ trợ bữa ăn và thu nhập cho nông dân trong các khu vực nông nghiệp chưa được cải cách. Tuy nhiên, câu chuyện thần kỳ về kinh tế không đến từ những can thiệp kinh tế vi mô.

Đông Nam Á (cũng giống Ấn Độ) là một khu vực mà cải cách đất đai nghiêm túc không nằm trong chương trình nghị sự chính trị, thậm chí dù chương trình cải cách Philippines đang diễn ra. Trong bối cảnh này, liệu Philippines, Indonesia, Malaysia và Thái Lan có thể làm bất cứ điều gì khác để cải thiện kết quả kinh tế của chúng không? Dễ thấy nhất là chúng có thể biến ASEAN thành một công cụ chính sách công nghiệp hiệu quả. Chẳng có lý do gì mà bốn nền kinh tế lớn cảu ASEAN (và thực tế có cả Việt Nam) không thể vận hành một chính sách công nghiệp sản xuất non trẻ hiệu quả trong một thị trường có 500 triệu người. Nhưng có vẻ như điều đó đang không xảy ra. Thay vì dựng các rào cản và thúc đẩy xuất khẩu để nuôi dưỡng doanh nghiệp sản xuất địa phương, ASEAN lại ký kết các thỏa thuận thương mại tự do với những quốc gia phát triển hơn về công nghiệp bao gồm Trung Quốc. Có rất ít sự cố kết, hay những buổi đối thoại quan trọng, giữa các lãnh đạo chính trị Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Và tầm ảnh hưởng đáng kể của trung tâm tài chính hải ngoại Singapore ở ASEAN là cực kỳ vô ích về mặt phát triển. Tình huống này chẳng khác gì Thụy Sĩ hay Monaco được trao một ghế trong hội đồng hoạch định chính sách công nghiệp hậu chiến châu Âu vào những năm 1950. Đông Nam Á là kim chỉ nam cho những gì không nên làm nếu bạn muốn chuyển đổi kinh tế thành công. Chấp thuận chế độ điền chủ và nông nghiệp quy mô lớn bất chấp sự tồn tại của rất nhiều nông dân thất nghiệp trong khi những người này thực sự có thể trồng trọt nhiều hơn. Không cần quá lo lắng về việc sản xuất hướng đến xuất khẩu vì hoạt động này có thể được các công ty đa quốc gia vui vẻ đảm nhận. Hãy để các doanh nghiệp tự lo thân mình. Và hãy nhanh chóng bãi bỏ quy định ngân hàng, thị trường chứng khoán và các dòng vốn quốc tế, những “biểu tượng thực” của một quốc gia hiện đại. Đó là cách những chính trị gia dẫn các quốc gia Đông Nam Á đến thất bại.

Thế giới của những quốc gia giàu có sẽ không cứu rỗi những quốc gia nghèo khỏi các chính trị gia xấu xa. Nhưng những người như Mahathir và Suharto cũng không quá khủng khiếp. Sai lầm lớn nhất là các quốc gia giàu có, và những định chế kinh tế mà chúng tạo ra như Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế, mang đến những lời khuyên phát triển tệ hại không dựa trên dữ liệu lịch sử cho các nước nghèo. Xin nhắc lại một lần nữa là: Không có một nền kinh tế lớn nào có thể phát triển dựa trên các chính sách thương mại tự do và bãi bỏ quy định từ khi mới khởi đầu. Luôn cần những can thiệp chủ động – hiệu quả nhất là ở khu vực nông nghiệp và sản xuất – để nuôi dưỡng quá trình tích lũy vốn và học tập công nghệ. Việc không sẵn sàng nhìn thẳng vào lịch sử khiến chúng có rất nhiều quốc gia nghèo khổ; và, tương tự như những người bị đàn áp ở các quốc gia Đông Nam Á, cái nghèo nông thôn sinh ra các nhóm khủng bố có thể trực tiếp đe dọa cư dân của những nước giàu. Sẽ không dễ để triển khai các chính sách được thảo luận ở đây, đặc biệt là cải cách ruộng đất. Tuy nhiên, tôi xin lặp lại kết luận của những người khác sau Thế chiến Thứ hai: Từ bỏ những chính sách đó có nghĩa là chúng ta có thể chấp nhận được thực trạng hiện tại của thế giới. Hãy nhìn Nam Á, Trung Đông, châu Phi, và hỏi bản thân mình liệu chúng ta có chấp nhận thực trạng này không.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Joe Studwell – Châu Á vận hành như thế nào? – NXB ĐHKTQD 2017.

Phỏng vấn Robert Solow


Robert Solow bắt đầu sự nghiệp giảng dạy vào năm 1949 tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và được phong Giáo sư tại đó vào năm 1958. Ông hiện là giáo sư danh dự (professor emeritus) tại MIT. Ông là thành viên Hội đồng Cố vấn Kinh tế (Council of Economic Advisers) trong những năm 1961 – 1962 và trở thành cố vấn cho Hội đồng từ năm 1962 – 1968. Trong một nghiên cứu được đăng vào năm 1957, “Technical change and the Aggregate Production Function”, Solow quan sát thấy rằng một phần đáng kể trong tăng trưởng kinh tế không được tạo ra bởi sự gia tăng vốn và lao động. Ông cho rằng phần chưa được giải thích này thuộc về đổi mới công nghệ – hiện nay phần này được gọi là “thặng dư Solow” (Solow residual). Solow được trao giải Nobel về kinh tế học vào năm 1987 cho công trình của ông về lý thuyết tăng trưởng kinh tế.

Arnold Kling & Nick Schulz (AN): Trên một số phương diện, quan niệm mới về vai trò của thị trường có thể được xem là khởi nguồn từ bài nghiên cứu vào năm 1957 của ông.

Thứ nhất, chúng ta đã thấy một sự tiến hóa trong suy nghĩ về phát triển kinh tế: đây là một quy trình thể chế (institutional process) chứ không phải là một quá trình hình thành vốn. Gần đây, vào tháng 12 năm 2005, Ngân hàng Thế giới đã công bố một nghiên cứu cho rằng hơn 80% sự giàu có của các nước giàu là “vô hình”. Nghiên cứu này cho rằng giáo dục và thượng tôn luật pháp là những yếu tố có thể được xem là “thặng dư” (residual) trong ước tính của họ.

Thứ hai, sự tập trung vào những thay đổi về kỹ thuật và tăng trưởng kinh tế đã thúc đẩy sự quan tâm đến tiến trình đổi mới, cách tân (innovation). Một số nhà kinh tế học xem việc gia nhập và từ bỏ thị trường là các yếu tố quan trọng trong việc phổ biến sự đổi mới và tăng trưởng năng suất. Điều này khiến họ hoài nghi về các chính sách của Chính phủ, vốn bảo vệ các công ty đang tồn tại.

Vậy việc tập trung vào các yếu tố vô hình trong phát triển kinh tế đã giúp nâng cao hiểu biết về quá trình phát triển như thế nào?

Robert Solow (RS): Từ rất lâu trước đây, khi tôi bắt đầu suy nghĩ về những câu hỏi này, quan điểm “chuẩn” lúc đó là các nền kinh tế đang phát triển bị ảnh hưởng chủ yếu từ việc tiết kiệm và đầu tư quá ít. Khi nói tới “đầu tư” nghĩa là trang bị thêm nhà máy và các thiết bị truyền thống. Phương thuốc truyền thống cho vấn đề này là bổ sung phần tiết kiệm ít ỏi trong nước bằng cách nhận viện trợ nước ngoài để tài trợ cho đầu tư. Ngày nay chúng ta biết được rằng trong câu chuyện được giản lược này có nhiều hạn chế. Nếu không có cơ sở hạ tầng về thể chế thích hợp, không có sự ủng hộ phù hợp của địa phương, không có nguồn nhân lực bổ sung, thì viện trợ và đầu tư sẽ bị lãng phí, và sự tăng trưởng bền vững sẽ ít khi diễn ra, hoặc thậm chí không diễn ra. Nói tóm lại, các nước nghèo không chỉ nghèo về vốn, mà họ còn nghèo nàn về các yếu tố tạo nên “năng suất nhân tố tổng hợp” (total factor productivity – TFP).

AN: Mọi người vẫn còn ít am hiểu về điều gì trong phát triển kinh tế, thưa ông?

RS: Câu trả lời của tôi gần như tiếp nối câu trước đó. Chúng ta cần hiểu thêm về các yếu tố tạo nên năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) cao và gia tăng hơn nữa. Chúng ta không thể nói chung một cách rập khuôn rằng các yếu tố đó là luật pháp, quyền sở hữu tài sản hay các ưu đãi, khích lệ (incentive). Một số phiên bản của luật, quyền sở hữu tài sản và các hình thức ưu đãi, khích lệ đã trực tiếp dẫn đến những việc tiêu cực như lấy cắp thông tin thẻ tín dụng (skimming), bảo mật cho khách hàng tại các tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ và việc tiêu dùng phô trương. Tôi không nghi ngờ gì về việc các nước đang phát triển cần cả ba yếu tố này, nhưng tôi không tin rằng việc sử dụng cùng một phiên bản của cả ba yếu tố sẽ phù hợp cho mọi quốc gia. Có thể nói chúng ta hiểu quá ít về kinh tế học thể chế trong phát triển kinh tế. Phương Tây thụ hưởng sự thuận lợi của các khái niệm phát triển như thượng tôn luật pháp (rule of law), quyền sở hữu tài sản và các ưu đãi hữu ích qua nhiều thế kỷ, với nhiều bước thụt lùi và không có gì đảm bảo rằng thậm chí lúc này chúng ta đã đi đúng hướng. Các nước nghèo không thể chờ đợi, nhưng họ cũng không thể sao chép các giải pháp của chúng ta.

AN: Ông nghĩ sao về những nỗ lực để liên hệ sự phát triển kinh tế với những thứ như chỉ số tự do kinh tế, các thước đo về thời gian mở một doanh nghiệp mới, các thước đo tham nhũng hoặc các chỉ số khác về sự hỗ trợ của thể chế đối với doanh nghiệp tư nhân?

RS: Tôi cho rằng trên nguyên tắc việc nêu ra những mối tương quan này là vô hại. Nhưng sự nguy hại có thể xảy ra nếu người ta quên đi sự khác biệt giữa mối tương quan (correlation) và quan hệ nhân quả (causation). Gần như chắc chắn rằng mối quan hệ nhân quả hai chiều sẽ xảy ra giữa sự tăng trưởng kinh tế thành công và các thể chế lành mạnh. Hơn nữa, để trở lại những nhận xét trước đây, một cụm từ như “sự hỗ trợ của thế đối với doanh nghiệp tư nhân” không nói lên được bất cứ điều gì cụ thể hay độc đáo. Câu đó có thể được hiểu theo nhiều cách, và những cách đó có thể dẫn tới các kết quả khác nhau về cả sự thịnh vượng và công bằng. Những mối tương quan này không phải là công cụ nghiên cứu yêu thích của tôi.

AN: Khi các nhà kinh tế học tập trung vào quyền sở hữu tài sản và các nguồn lực phát triển tự do khác, có thể họ đã không chú ý tới điều gì, thưa ông?

RS: Trên hết, họ đang bỏ qua tác động liên quan về mặt phân phối của các giải pháp thay thế cho vấn đề quyền sở hữu tài sản hữu hiệu và các công cụ “thuộc chủ nghĩa tự do” khác, và họ quên rằng những tác động mang tính phân phối này có thể chi phối loại hình phát triển sau đó. Để lấy ví dụ gần đây, chúng ta có thể đã biến nước Nga thành một phiên bản của một xã hội “tư bản” đang phát triển chứ không phải thành một nơi đáng sinh sống của những ông bà cụ. Chúng ta đã có thể cố gắng xây dựng một phiên bản tốt hơn của một nền kinh tế thị trường đang phát triển.

AN: Ông có chú ý đến sự bất đồng ý kiến giữa Jeff Sachs và William Easterly về chính sách phát triển không? Ông có nhận xét gì về điều đó?

RS: Tôi không theo dõi chi tiết, mặc dù tôi đã đọc nhiều tác phẩm của Jeff Sachs và quyển sách của Bill Easterly. Tôi nghĩ rằng Sachs thiên về các giải pháp lớn từ trên xuống (mặc dù ông ấy có thể bác bỏ điều gì), và tôi thích lối tiếp cận từng phần, thận trọng và hoài nghi hơn, của Easterly. Có thể có một sự kết hợp: nhiều nguồn lực hơn và nhiều sự khác biệt mang tính địa phương hơn.

AN: Ông nghĩ gì về quan điểm cho rằng sự cạnh tranh mạnh mẽ là cần thiết cho việc áp dụng những cải tiến, đổi mới nâng cao năng suất?

RS: Tôi rất đồng tình với ý kiến này. Đó là một trong những kết luận chính của Viện Nghiên cứu Toàn cầu McKinsey, trong đó tôi là một người tích cực tham gia.

AN: Ngoài sự cạnh tranh mạnh mẽ, những yếu tố nào khác có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự đổi mới như vậy, thưa ông?

RS: Tôi tin tưởng rằng sự đổi mới không nở rộ trong một nền kinh tế yếu kém về mặt vĩ mô. Một nền kinh tế chậm chạp nhiều khả năng tạo điều kiện cho chủ nghĩa bảo hộ, tình trạng độc quyền và các chiến lược phòng thủ. Một thị trường lao động yếu kém cũng có tác động tương tự, khiến tăng cường các chính sách nơi làm việc mang tính hạn chế, trong cả lĩnh vực công và tư nhân. Vì vậy, tôi là một người tin tưởng mạnh mẽ vào việc xã hội có việc làm đầy đủ (full employment, hay “toàn dụng lao động”) và sử dụng toàn bộ năng lực. Điều đó không tự động xảy ra. Làm thế nào để có được những điều này mà không có lạm phát (vốn là điều xấu đốiv ới sự đổi mới, cách tân) thì không rõ ràng, nhưng để cho nền kinh tế trì trệ thì đó không phải là giải pháp!

AN: Chính sách của Chính phủ có thể làm giảm nhẹ những hậu quả xấu nào của tiến trình cải tiến/đổi mới, thưa ông?

RS: Có thể giảm nhẹ những hậu quả thông thường, ví dụ như củng cố quyền lực độc quyền, suy thoái môi trường, sự bất bình đẳng quá mức, Chính phủ bị chi phối bởi những người chiến thắng… Tổng quát hơn, tính công bằng là một vấn đề xã hội, không phải luôn luôn được quan tâm trong một xã hội mang tính cá nhân. Đổi mới có thể mang tính trung lập hay hữu ích về mặt này, nhưng không có sự bảo đảm đương nhiên nào rằng nô sẽ không gây bất lợi.

AN: Nếu có ai đó nói rằng chìa khóa của sự thịnh vượng là áp dụng sự đổi mới, và chìa khóa của sự đổi mới là cạnh tranh, và rằng điều tốt nhất mà Chính phủ có thể làm để thúc đẩy cạnh tranh là để khu vực kinh tế tư nhân tự điều chỉnh, thì ông sẽ nói gì với người đó?

RS: Tôi thấy rất mơ hồ khi phát biểu rằng muốn thúc đẩy cạnh tranh thì nên để khu vực kinh tế tư nhân tự điều chỉnh. Khu vực kinh tế tư nhân không giống như cạnh tranh; nó có những cách riêng để tạo ra sức mạnh độc quyền, hạn chế việc tiếp cận với cơ hội làm giàu (từ đó hạn chế quyền lực về chính trị), và bảo vệ những lợi ích thâm căn cố đế. Xã hội không dễ dàng có được lợi ích của sự cạnh tranh mà không đi kèm với những bất lợi kèm theo từ những nhóm thiểu số thao túng nền kinh tế (oligarchy), và không có lý do gì để tin rằng chỉnh sách thị trường tự do (laissez-faire) – bỏ mặc cho khu vực kinh tế tư nhân tự điều chỉnh – sẽ làm được điều đó.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019

Phỏng vấn Robert Fogel – Phần cuối


AN: Vậy tất cả các giáo viên đó đều là triệu phú à?

RF: Nếu họ vẫn còn sống. Không phải tất cả họ đều còn sống. Nhưng làm theo kiểu này thì tỷ lệ lợi nhuận luôn cao hơn 10%/năm, và điều đó kéo dài trong nhiều thập niên. Hãy thử tính mà xem: cứ sau mỗi bảy năm thì giá trị đã được tăng gấp đôi. Vì vậy, đó là một khoản đầu tư rất thành công.

AN: Và ông nhận thấy đó là một mô hình tiềm năng cho Bảo hiểm Xã hội hoặc các chương trình hưu trí công?

RF: Phải. Hiện nay đang có một tranh cãi rằng nó không an toàn như chương trình được Chính phủ bảo đảm. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng cuối cùng, những gì mà Chính phủ có thể chi trả lại phụ thuộc vào việc nền kinh tế phát triển như thế nào. Nếu nước Mỹ tiếp tục tăng trưởng như hiện nay, tức là GDP trên đầu người tăng khoảng 2%/năm như trong suốt 50 năm qua, chúng ta sẽ không gặp khó khăn gì trogn việc trả tiền hưu trí, cho dù như là một chươgn trình của Chính phủ hoặc chương trình tư nhân. Nhưng nếu nền kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ dài hạn thì Chính phủ sẽ không thể duy trì được điều này, vì nguồn chi hình thành từ thuế không còn đủ nữa. Vì vậy, bạn cần phải có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng và thành công để cải thiện mức sống của người già.

Tôi nghĩ rằng khả năng điều đó xảy ra sẽ rất cao. Dường như chúng ta đang đánh giá hơi thấp khả năng đó. Khi đưa ra tỷ lệ tăng trưởng 2%/năm, tôi chưa tính đến các cải thiện về chất lượng chăm sóc sức khỏe hoặc chất lượng giáo dục, hoặc chất lượng của nhiều hàng hóa tự chế tạo. Vì vậy, nếu bao gồm cả những cải thiện về chất lượng này như tôi đã cố gắng làm một cách ước lượng trong một bài nghiên cứu, tỷ lệ tăng trưởng thật sự phải là 3,1% chứ không phải chỉ là 2%.

AN: Ông đề cập nhiều đến công nghệ kỹ thuật và công nghệ sinh học trong sách. Đã có lo ngại về việc con người đang cải thiện bản thân quá mức, và chúng ta thấy điều này trong các cuộc tranh luận về chất kích thích trong bóng chày hay sự lo lắng của ông Leon Kass về đổi mới y tế. Các nhà kinh tế học có đóng góp gì cho những  cuộc tranh luận đạo đức này không, thưa ông?

RF: Có rất nhiều vấn đề về đạo đức khác nhau. Cuộc tranh luận về việc chúng ta có nên nghiên cứu tế bào gốc từ bào thai hay không chỉ là một trong số đó. Điều đó sẽ xảy ra; dù chúng ta có tiến hành hay không thì nó cũng sẽ xảy ra. Người Trung Quốc đang làm việc đó. Các quốc gia khác đang theo đuổi nó, vì vậy những lĩnh vực nghiên cứu khoa học này sẽ diễn ra.

Nước Mỹ có chương trình nghiên cứu khoa học được đầu tư lớn nhất trong các lĩnh vực y sinh học, và chúng ta đang “trợ giá” cho toàn thế giới trong lĩnh vực này. Trong tương lai gần chúng ta cũng sẽ tiếp tục làm như vậy. Tôi không quá lo lắng về tiến bộ khoa học; chúng ta đang dẫn đầu ở hầu hết các mặt. Nhưng sẽ thật đáng kinh ngạc nếu chúng ta đứng đầu ở tất cả mọi mặt. Chưa từng có quốc gia nào làm được điều đó!

AN: Khi ông nghiên cứu lịch sử của nó, những lo ngại liên quan đến tiến bộ công nghệ như thế này – ông đã từng thấy tiền lệ nào chưa, hay chúng ta đang ở trong một giai đoạn chưa ai biết tới?

RF: Không, từ trước đến nay luôn có mối quan tâm về các thí nghiệm khoa học và những hậu quả bất lợi của chúng – các hậu quả phi đạo đức hoặc không mong muốn. Đó là một phần của sự sợ hãi về những điều chưa biết.

Hãy xem đi, một ngàn năm trước không có chuyện gì xảy ra. Mỗi thế hệ trải nghiệm cuộc sống ít nhiều tương tự như những thế hệ trước, trừ một số yếu tố ngẫu nhiên về thời tiết và bệnh dịch. Nhưng, chỉ trong vòng ba trăm năm qua, khoa học đã trở nên mạnh mẽ đến nỗi có thể ảnh hưởng đến quá trình diễn biến các sự kiện. Điều đó đã xảy ra, và tôi hy vọng nó sẽ xảy ra ngày càng nhanh. Chúng ta có một cơ sở khoa học mạnh mẽ, và chúng ta đang tạo ra những khám phá mới mỗi ngày, thậm chí khi không tính đến kỹ thuật di truyền (genetic engineering).

Nhân tiện xin nói thêm, kỹ thuật di truyền đã tồn tại hàng trăm năm. Chỉ là các kỹ thuật mới của chúng ta đã đẩy nhanh tiến trình đột biến. Chúng ta đã vất vả và loay hoay với việc lai giống cây trồng va vật nuôi trong một thời gian dài. Nhưng ngày nay, nếu chỉ sử dụng công nghệ tốt nhất hiện có – không phải là kết quả của những gì thường được gọi là kỹ thuật di truyền hay biến đổi gen, mà chỉ là áp dụng các phương pháp thực tiễn tốt nhất – thì điều đó cũng có thể giúp tăng năng suất từ 2% đến 3%.

Trung Quốc là một ví dụ hay về những gì có thể xảy ra. Dân số Trung Quốc đã tăng gấp đôi kể từ năm 1960, và mức tiêu thụ thực phẩm bình quân đầu người của mức dân số tăng gấp đôi này cũng tăng 80%! Như vậy, rõ ràng là Trung Quốc có dân số đông hơn, đồng thời tiêu chuẩn thực phẩm cùng ới tuổi thọ đều tăng cao hơn nhiều. Trong nửa thế kỷ, tuổi thọ người dân của họ tăng từ 45 lên 72 tuổi. Các nước phương Tây đã mất 150 năm để tạo được bước nhảy vọt đó.

AN: Chúng ta hãy chuyển sang vấn đề giảm dân số. Việc sụt giảm dân số đang diễn ra ở Tây Âu có tầm quan trọng như thế nào?

RF: Điều này vô cùng quan trọng đối với Tây Âu. Nước Ý – tôi muốn nói đó là quê hương của Vatican – có tổng tỷ suất sinh (total fertility rate) là 1,4. Để duy trì dân số, tổng tỷ suất sinh của một quốc gia phải là 2,1, vì vậy nước Ý đang phải đối mặt với sự suy giảm nhanh chóng về dân số. Chính phủ Ý đang làm mọi thứ có thể để thúc đẩy một tỷ lệ sinh cao hơn. Nếu không, chỉ sau 100 năm nữa, Ý sẽ chỉ còn một phần ba dân số hiện tại, nếu giả sử không có người nhập cư hoặc di cư ra khỏi đấtnước, mà chỉ tính từ tiến trình sinh tử tự nhiên.

Trong số các nước giàu, chúng ta là nước duy nhất không bị thu hẹp tự nhiên về dân số. Nhân đây có sự kết hợp với cấu trúc tuổi (age structure). Nghĩa là nếu một quốc gia đang có tổng tỷ suất sinh thấp, hàm ý dẫn tới một sự thu hẹp dân số tự nhiên, nhưng họ lại đang có nhiều phụ nữ trong độ tuổi sinh sản thì sự giảm dân số sẽ không xảy ra cho tới khi có sự thay đổi về cấu trúc tuổi. Quá trình này có thể mất từ khoảng 30 đến 50 năm.

Nhưng dân số châu Á vẫn đang tăng trưởng, và châu Phi, bất chấp cấu trúc tuối tác của họ, vẫn đang phát triển rất nhanh do họ có tỷ lệ sinh rất cao. Và xét về tỷ lệ so với dân số toàn thế giới, châu Phi sẽ tăng hơn gấp đôi so với cách đây nửa thế kỷ, trong khi Tây Âu, nếu xu hướng hiện tại tiếp tục, sẽ suy giảm. Và châu Á – gồm Đông Nam Á và Nam Á – sẽ gia tăng về dân số.

Vì vậy, không chỉ thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng lên ở các nước như Trung Quốc và Ấn Độ, mà còn do dân số tăng, nên đó sẽ là các nền kinh tế chiếm ưu thế trên thế giới.

Điều này đã được phản ánh qua lượng vốn của phương Tây đang đổ vào các nước này. Các kế hoạch phát triển chính của General Motors nằm ở các nước Đông Nam Á và Mỹ Latin, không phải ở Mỹ. Điều tương tự cũng xảy ra với các công ty khác như Ford hay Volkswagen. Tất cả các công ty xe hơi lớn đều đang lập kế hoạch cho tương lai theo cách tương tự.

AN: Liệu những thay đổi về dân số này có hàm ý gì rộng hơn cho châu Âu và nước Mỹ không?

RF: Nước Mỹ sẽ trở thành nhà lãnh đạo công nghệ, có lẽ là đến hết thế kỷ 21. Khi đó, có thể Trung Quốc sẽ đuổi kịp trên một số mặt, chúng ta sẽ thua họ tại một số lĩnh vực như nghiên cứu tế bào gốc, nhưng Mỹ vẫn có một lợi thế to lớn về đầu tư và nguồn nhân lực trong những lĩnh vực này. Chúng ta vẫn duy trì chủ trương đầu tư mạnh vào khoa học, đặc biệt là trong khoa học y sinh và khoa học nói chung.

AN: Vậy ông vẫn lạc quan với nước Mỹ về mặt công nghệ và tương lai?

RF: Tôi đã chọn đúng thế kỷ để được sinh ra, và những đứa cháu của tôi cũng chọn đúng thế kỷ. Không chỉ thế kỷ 20, mà thế kỷ 21 cũng là kỷ nguyên của nước Mỹ; xét về mặt thành tựu khoa học mà chúng ta đạt được, và về thành công trong kinh tế của chúng ta.

Nhưng hãy dè chừng Trung Quốc. Nếu tốc độ tăng trưởng hiện tại của Trung Quốc tiếp diễn và nếu chúng ta giả thiết tốc độ tăng trưởng ở Tây Âu và Mỹ tiếp tục duy trì như hiện nay, thì kinh tế Trung Quốc sẽ lớn hơn Mỹ và Tây Âu cộng lại vào năm 2030 hoặc 2040. Điều đó có nghĩa là thị trường sẽ lớn hơn. Nhưng nó không có nghĩa là thu nhập bình quân đầu người sẽ cao hơn.

AN: Khi nào thì Trung Quốc sẽ đạt được mức thu nhập bình quân đầu người (per capita income) ngang băng với Mỹ hoặc Tây Âu?

RF: Tôi chưa tính toán điều đó, vì vậy tôi không có câu trả lời. Nhưng nếu bạn tin vào những gì tôi nghĩ là tốc độ tăng trưởng thực sự của Mỹ, chứ không phải là con số mà chúng ta công bố trong Hệ thống Tài khoản Thu nhập và Sản phẩm Quốc gia (National Income and Product Accounts) thì tôi không nghĩ điều đó sẽ diễn ra trong thế kỷ này!

AN: Chúng tôi có một câu hỏi cuối cùng dành cho ông. Đây là một dạng câu hỏi hơi lạ, nhưng chúng tôi lại muốn được hỏi các chuyên gia mà chúng tôi phỏng vấn, và ông có thể suy nghĩ trước khi trả lời. Ông xem những ai là anh hùng, thưa ông?

RF: Câu trả lời của tôi là các nhà khoa học không thực sự cần tôn vinh các hùng vì mọi kiến thức khoa học đều mang tính chất tăng tiến, lớn dần lên. Trong khoa học, chúng ta đều biết rằng mỗi cá nhân phải lệ thuộc như thế nào vào tất cả những người khác.

Chúng ta có khuynh hướng phong anh hùng cho người đầu tiên chạm tới điểm đến, nhưng thường là phía sau họ có cả chục người khác đã đuổi theo rất gần, đến nỗi bạn có thể cảm thấy hơi thở của họ sau gáy, do đó nếu một người vấp ngã, thì cũng không phải vì vậy mà dòng chảy khoa học sẽ không tiếp diễn. Nó có thể là một nhóm các nhà khoa học khác hoặc một cá nhân khác gắn liền tên tuổi với nó.

Tôi thực sự nghĩ rằng khoa học là một công việc tập thể. Những gì bạn có thể làm không chỉ phụ thuộc vào những gì đã xảy ra trước đó, mà còn phụ thuộc vào những gì mọi người xung quanh bạn đang làm. Trong khoa học, mọi người trò chuyện với nhau và hy vọng mình sẽ có một chút may mắn hơn hoặc thông minh hơn, nhưng vẫn trong khuôn khổ cạnh tranh với nhau.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.

Phỏng vấn Robert Fogel – Phần II


AN: Và điều đó xảy ra ở Châu Âu và Mỹ?

RF: Đúng vậy, Tây Âu bị suy thoái đến khoảng giữa thế kỷ 19, còn ở Mỹ là tại các thành phố lớn hơn. Vùng nông thôn được cung cấp thức ăn khá đầy đủ ngay từ đầu. Nhưng khi bắt đầu phát triển các thành phố lớn, vấn đề về đói nghèo đô thị (urban poverty) vẫn chưa được giải quyết, mãi cho đến khi bước vào thế kỷ 20.

AN: Như vậy, nhiều yếu tố về công nghệ đã đến cùng lúc. Bây giờ, chúng ta biết đây là một vấn đề được tranh cãi nhiều trong học thuật, nhưng tại sao những điều đó lại đến cùng lúc ở châu Âu và Mỹ vào thời điểm này trong lịch sử?

RF: Điều đó dựa trên một quá trình lâu dài của việc nâng cao tri thức. Sự tích lũy kiến thức là nền tảng của công nghệ hiện đại. Sau đó, nó trở thành không chỉ là kiến thức thực nghiệm, mà còn là khoa học giúp đưa ra những lý thuyết về những gì cần làm. Và những lý thuyết này ngày càng dẫn dắt hiệu quả cho sự tiến bộ về công nghệ.

Sự tiến bộ về công nghệ là nền tảng cho mọi tăng trưởng kinh tế, bao gồm cả sự phát triển có nguồn gốc từ những thứ mà tôi đề cập tới, vì bạn sẽ có công nghệ để cải thiện năng suất trong nông nghiệp. Đồng thời, người ta có thể cải thiện mặt sinh lý của con người, do đó có một sự tương tác, một sức mạnh tổng hợp.

AN: Vâng, và ông đã đưa ra một thuật ngữ mới trong quyển sách này: “sự tiến hóa về công nghệ & sinh lý” (techno-physio evolution)?

RF: Đúng vậy.

AN: Xin ông giải thích điều đó là gì và tại sao nó lại quan trọng!

RF: Đây là sự tương tác giữa cải tiến công nghệ và cải tiến về mặt sinh lý của con người. Chiều cao trung bình của nam giới ở Tây Âu tăng lên gần một foot từ năm 1864 đến nay.

AN: Đó là một tỷ lệ rất lớn trong chiều cao của cơ thể.

RF: Vâng, đó là một sự gia tăng rất lớn. Những người khổng lồ hiện nay là người Hà Lan. Trung bình nam giới Hà Lan cao hơn 1m83. Vào giữa thế kỷ 19 họ chỉ cao khoảng 1m63, như vậy họ đã tiến bộ rất lớn về chiều cao!

Và cùng với đó là sự cải thiện về sức mạnh của các cơ quan khác trong cơ thể – phổi khỏe hơn, tim khỏe hơn, hệ thần kinh trung ương hiệu quả hơn. Tất cả những điều này đã diễn ra nhờ những thay đổi trong công nghệ giúp cải thiện dinh dưỡng.

Hiện nay, dinh dưỡng được cải thiện không chỉ trong chế độ ăn uống, mà còn là trong phần thức ăn được chuyển hóa. Nếu bạn bị tiêu chảy, thức ăn của bạn sẽ không được chuyển hóa. Nếu một sản phụ bị tiêu chảy, thai nhi sẽ bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng và đứa bé sinh ra không chỉ sẽ có nguy cơ cao chết trong giai đoạn sơ sinh mà còn có nguy cơ cao mắc bệnh mãn tính nghiêm trọng ở độ tuổi khá sớm. Do đó bệnh mãn tính của những người đạt đến độ tuổi 65 vào năm 1900 đã đến sớm hơn từ 10 đến 12 năm so với ngày nay.

AN: Ông đang nói về các chứng bệnh tương tự như ngày nay?

RF: Phải, tôi nói về các bệnh như viêm khớp, bệnh mạch vành, các bệnh đường hô hấp. Ngày nay, các chứng bệnh này không chỉ đến trễ từ 10 đến 12 năm, mà tỷ lệ mắc bệnh cũng thấp hơn. Do đó ngày nay có một tỷ lệ lớn người sống khỏe mạnh cả đời, hoặc gần như cả đời; trong khi vào năm 1900, khoảng 80% dân số nam giới tuổi 65 trở lên bị suy yếu nghiêm trọng do các chứng bệnh mãn tính.

AN: Về vấn đề dinh dưỡng, ngày nay chúng ta đã nghe đến nhiều lo ngại về tình trạng dinh dưỡng quá mức hoặc bệnh béo phì, đặc biệt là ở các nước phát triển như Mỹ và các nước châu Âu, nhưng ông nêu ra rằng ngay cả ở các nước phát triển hiện nay vẫn còn một số vấn đề suy dinh dưỡng. Điều đó có đúng không, thưa ông?

RF: Đúng thế. Vấn đề đó ở các nước phát triển ít hơn nhiều so với ở các nước thuộc thế giới thứ ba. Nhưng ngay tại nước Mỹ này vẫn còn sự bất bình đẳng, nên vẫn có trẻ em bị suy dinh dưỡng và những đứa trẻ không được chăm sóc sức khỏe.

AN: Về vấn đề tiến hóa công nghệ và sinh lý, ông đã đề cập trong quyển sách rằng “sự tiến hóa này có thể sẽ tăng tốc trong thế kỷ này”. Tại sao lại như vậy?

RF: Đúng vậy, trước hết là công nghệ của chúng ta đang tăng tốc.

AN: Ông đo lường điều đó như thế nào? Làm cách nào ông biết rằng nó đang tăng tốc?

RF: Tôi có đưa ra một biểu đồ trong quyển sách và chứng minh nó một cách trực quan. Trên trục Y là quy mô dân số, còn trên trục X là thời gian. Và tôi chỉ ra đường cong của dân số – từ khoảng năm 1700 trở về sau, đường cong đóng trở nên gần như thẳng đứng theo tỷ lệ được thể hiện trong quyển sách. Và theo tỷ lệ đó, tôi đặt vào đó những đổi mới khoa học.

Một trong những luận điểm của tôi là phải mất 4000 năm để đi từ việc phát minh ra cái cày đến việc tìm ra được buộc cái cày vào con ngựa. Và chúng ta mất 65 năm để đi từ chuyến bay đầu tiên (trên một cỗ máy nặng hơn không khí) đến việc đưa được con người lên mặt trăng. Việc này không chỉ xảy ra trogn một thời gian ngắn, mà còn có hơn 1 tỷ người trên khắp thế giới đã chứng kiến điều đó xảy ra. Như vậy chúng ta đã có một cuộc cách mạng viễn thông trong một khoảng thời gian rất ngắn. Tôi có thể đưa ra một thước đo chính xác, nhưng điều đó không có nhiều ý nghĩa. Nó sẽ không cho bạn nhiều thông tin hơn so với biểu đồ mà tôi vừa nói đến.

AN: Chắc chắn rồi, hoặc không nhiều thông tin hơn so với chính những giai thoại đó!

RF: Đúng vậy.

AN: Trong quyển sách, ông đã nhận thấy nhu cầu ngày càng cao về nghỉ ngơi, nghỉ hưu, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Trong những cuộc tranh luận hiện nay, đặc biệt là ở Washington, có vẻ như người ta mong muốn nhận được thêm An sinh Xã hội (Social Security), chi tiêu cho giáo dục và Bảo hiểm Y tế (Medicare) nhiều hơn. Chúng ta có thể tránh né, ngăn chặn xu hướng Chính phủ liên quan, dính dáng quá nhiều đến những việc này được không? Ông nhận thấy điều đó như thế nào?

RF: Xu hướng? Ồ, bạn cần phải phân biệt giữa ngôn từ hoa mỹ và thực tế.

Hiện tại chúng ta đã thông qua luật tăng tuổi hưởng đầy đủ phúc lợi An sinh Xã hội lên 68 tuổi, và đang có triển vọng sẽ tăng lên 70 – Quốc hội đang tranh luận khá nhiều về việc này. Đồng thời, người dân nghỉ hưu sớm hơn. Độ tuổi nghỉ hưu trung bình hiện nay khoảng 62, mức này khá cao so với Tây Âu (ở Pháp là 59 tuổi!). Vì vậy, rất có thể là khi con trai tôi nghỉ hưu, sẽ có 10 năm nó phải tự chủ tài chính, và sẽ không có trợ cấp hưu trí của chính phủ. Như thế, có thể nói hệ thống hưu trí đã bị “tư nhân hóa” hơn 50%.

Có thể chúng ta sẽ dần chuyển sang hệ thống hưu trí tư nhân, mặc dù vấp phải sự phản đối. Điều này đã tồn tại ở một số nước: người ta yêu cầu tất cả người lao động phải đóng góp 30% thu nhập của họ vào một quỹ để chăm sóc giai đoạn nghỉ hưu, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Tại một số nước, họ cho phép bạn vay mượn từ quỹ này để mua nhà. Điều này gần với những gì giới học thuật Mỹ đang có. Bạn không thể giảng dạy tại các trường đại học ở Mỹ mà không có TIAACREF. Tại các trường đại học Mỹ, bạn được yêu cầu dành ra từ 12,5% đến 17% thu nhập (tùy trường đại học) gửi vào quỹ này để khi bạn nghỉ hưu thì không phải cầm ly thiếc ngồi xin ăn và nói rằng: “Tôi đã từng là một giáo sư giỏi, mọi người ơi, xin hãy giúp tôi”. Đó là một hệ thống hưu trí bắt buộc. Nó có lợi thế hơn Bảo hiểm xã hội ở chỗ Chính phủ không thể lấy những khoản tiền đó đi đâu được!

Bên cạnh đó, bất kỳ lúc nào tôi đều có thể gọi đến và tìm hiểu số tiền tôi có được tại ngày hôm đó. Đó là tiền của tôi, và tôi có thể để lại nó như một di sản cho con cháu. Không chỉ vậy,  những ai đã làm như tôi, khi CREF xuất hiện, và đầu tư ba phần tư tài sản vào cổ phiếu và một phần tư vào trái phiếu  thì ngày nay đều trở thành triệu phú.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling và Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019.