Hỡi tiền tệ hãy trở thành hiện thực


Marc Chevallier & Sandra Moatti

Trẻ em nào mà không ngạc nhiên trước điều kỳ diệu này: khi đưa cho chủ cửa hiệu mượn trong vài giây đồng hồ một miếng nhựa nhỏ hình chữ nhật màu xanh, em có thể bước ra khỏi cửa hiệu với món đồ mà em mong muốn… Mãnh lực tuyệt vời của miếng nhựa này đến từ đâu?

Từ sự tín nhiệm. Cho dù được chuyền từ tay người này đến tay người khác, là bằng kim loại hay bằng giấy, hay được lưu thông lòng vòng qua trò viết kí đơn giản trên chi phiếu, qua vài cú nhấp trên phím một thiết bị đầu cuối của thẻ ngân hàng, là một lệnh chuyển khoản hay chuyển tiếp trên internet, tiền tệ lúc nào cũng là một sợi giây tín nhiệm liên kết các thành viên của một xã hội. Sự tín nhiệm trong việc nó được người khác thừa nhận và chấp nhận ở mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Sự chấp nhận mang tính nhất trí này là điều làm cho tiền tệ trở thành thước đo giá trị của mọi thứ, thứ vừng phổ quát cho phép sở hữu được mọi thứ được bày bán. Điều này làm cho tiền tệ mang tính hấp dẫn rất cao, và thậm chí hấp dẫn hơn rất nhiều so với những món đồ có thể mua được, bởi tính “tiềm năng thuần túy” của nó, theo như triết gia Georg Simmel, có nghĩa là khả năng lựa chọn vô hạn hàm chứa trong nó.

Nhưng trên thực tế, ai tạo ra thừ tiền tệ hấp dẫn như thế? Một bí ẩn khác. Ngày nay, người ta nói về “tiền pháp định (fiat money)”, như Chúa đã nói “fiat lux” (“Hỡi ánh sáng hãy trở thành hiện thực“): Hỡi tiền tệ hãy trở thành hiện thực, nhưng Chúa của tiền tệ là ai? Khi các đồng tiền được làm bằng kim loại quý, đó là việc đơn giản. Đồng Tiền không từ trên trời rơi xuống. Phải đi tìm nó trong các hầm mỏ. Hẳn là các Nhà nước luôn tím cách bớt xén một vài miligram giữa giá trị niêm yết và trọng lượng thực tế của các đồng tiền mà họ đúc ra. Ở một số nhà giả kim tà tâm, họ mơ chuyển chì thành vàng.

Ngày nay, các nhà giả kim có cửa hiệu ở mặt phố. Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, đó là các ngân hàng khi tạo ra tiền thông qua các khoản cho vay mà họ cung cấp, những hứa hẹn thu nhập trong tương lai. Ngân hàng tạo ra tiền tệ, nhưng không tạo ra sự tín nhiệm. Đây là một vấn đề khác …

Bởi vì tiền tệ không phải là chất làm lỏng duy nhất của các giao dịch, như các nhà kinh tế thường nói, nó là một thể chế. Một tờ giấy bạc 100 đô-la đáng giá một cái gì đó trên toàn thế giới. Nhưng hãy thử đi mua sắm với tờ giấy bạc bolivard của Venezuela xem sao… Vì sao? Bởi sự tín nhiệm vào Hoa Kỳ – sự ổn định chính trị, ảnh hưởng kinh tế, sức mạnh quân sự của nước này – lớn hơn so với sự tín nhiệm đặt vào Venezuela.

Đó cũng là hứa hẹn to lớn của đồng euro, đồng tiền “duy nhất” của 350 triệu người dân châu Âu: tạo ra một đồng tiền có khả năng cạnh tranh với đồng đô-la. Một cuộc khủng hoảng sau đó, đồng euro lâm vào tình thế nguy ngập. Những tay học việc đúc tiền tệ hiểu ra rằng người ta không thể đơn giản tạo ra một đồng tiền bằng cách in hình những chiếc cầu trên tờ giấy bạc và liên kết các tài khoản ngân hàng. Tuy nhiên, nếu các thị trường nghi ngờ tính vĩnh cửu của đồng euro, thì sự tín nhiệm của người dân vào đồng tiền của họ không hề bị dao động. Bằng chứng là bất chấp mọi trở lực, cái cộng đồng châu Âu này tiếp tục có ý nghĩa đối với họ.

Những cột mốc thời gian: cuộc phiêu lưu vĩ đại của tiền tệ

  • 9000-6000 TCN: Gia súc và ngũ cốc bắt đầu được sử dụng làm tiền tệ trong nhiều xã hội, vì những lý do khác nhau (giải quyết xung đột, của hồi môn, kinh doanh thương mại, tiền chuộc …)
  • 3000-2000 TCN: Người ta tìm thấy những “ngân hàng ngũ cốc” tại Babylon, ở vùng Lưỡng Hà. Đó là những ngôi đền và cung điện hoàng gia được sử dụng để lưu trữ ngũ cốc. Các chủ sở hữu nhận được các giấy tờ chứng minh về các khoản tiền gửi của họ, được sử dụng để giải quyết các khoản nợ, nộp thuế, thanh toán tiền cho các thầy tu và các thương gia.
  • 1792-1750 TCN: Năm 1902, các nhà khảo cổ người Pháp phát hiện ra bộ luật của Hammurabi, vị vua của Babylon, trong đó có quy định pháp luật về ngành ngân hàng.
  • 1200 TCN: Người Trung Quốc sử dụng các vỏ ốc, vỏ của các họ đồ sứ, làm tiền tệ.
  • 1000-500 TCN: Công cụ và vũ khí được sử dụng làm tiền tệ ở Trung Quốc.
  • 687 TCN: Theo Herodotus, những đồng tiền đầu tiên được đúc tại Lydia, ở vùng Tiểu Á.
  • 640-630 TCN: Các đồng tiền của người Lydia được đúc bằng hợp kim electrum, một hỗn hợp tự nhiên của vàng và bạc.
  • 600 TCN: Pythius, người giao dịch tại Hy Lạp và vùng Tiểu Á, là chủ ngân hàng lâu đời nhất mà người ta có được thông tin.
  • 600-570 TCN: Các đồng tiền của người Lydia lan rộng khắp Hy Lạp và thay thế những chiếc đinh được sử dụng cho tới bấy giờ.
  • 546 TCN: Crésus, vua của Lydia, bị người Ba Tư bắt. Việc trả tiền chuộc ngài đã làm phát triển việc sử dụng các đồng tiền của người Lydian (từ nay được tách thành đồng tiền vàng và đồng tiền bạc) tại Ba Tư.
  • 600-300 TCN: Các đồng tiền kim loại xuất hiện tại Trung Quốc. Người ta không chắc chắn về thời điểm xuất hiện, nhưng chúng có thể đã được sử dụng trước đó.
  • 407-405 TCN: Việc người Spartan chiếm lấy các mỏ bạc của Athens buộc người Athens phải phát hành các đồng tiền bằng đồng được bao bọc bằng bạc. Kết quả: người Athens cất giữ các đồng tiền bằng bạc của họ và cho lưu thông các đồng tiền bằng đồng. Trong vở kịch Les grenouilles(Những chú ếch), Aristophane là người đầu tiên trình bày định luật này: đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt. Một định luật mà Thomas Gresham, cố vấn người Anh của Nữ hoàng Elizabeth I, chỉ phát hiện lại vào năm 1560.
  • 394-371 TCN: Pasion, người nô lệ trở thành chủ ngân hàng đầu tiên nổi tiếng trong lịch sử. Ông mua được quyền tự do của mình và quyền trở thành công dân của Athens. Các giao dịch ngân hàng chủ yếu được thực hiện bằng tiền mặt.
  • 350 TCN: Nếu tin vào Demosthenes, nhà hùng biện người Athenes, thì lãi suất đối với các giao dịch thông thường là 10%. Đối với các giao dịch mang tính rủi ro, thì tỷ lệ này dao động từ 20% đến 30%.
  • 118 TCN: Người Trung Quốc sử dụng tiền tệ bằng da thuộc.
  • 30: “Chúa Giêsu bước vào đền thờ, ngài đuổi tất cả những người tham gia giao dịch thương mại; ngài hất ngã bàn của những người đổi tiền, và ghế của những người bán chim bồ câu” (Matthew 21-12). Tính đa dạng của đồng tiền kim loại làm cho những người đổi tiền thành những chủ ngân hàng đầu tiên. Tín dụng ngân hàng chủ yếu cung cấp tài chánh cho ngành thương mại tàu thuyền, khai thác mỏ và xây dựng các công trình công.
  • 435: Với sự xâm lược của những người “man rợ” Anglo-Saxon, các đồng tiền không còn được sử dụng ở Anh trong gần hai trăm năm.
  • 476: Sự sụp đổ của Đế chế La Mã phương Tây đặt dấu chấm hết cho các hoạt động ngân hàng, sẽ bị lãng quên ở Châu Âu.
  • 806-821: Hoàng đế Hien Tsung, phát triển việc sử dụng tiền giấy tại Trung Quốc khi phải đối mặt với tình trạng thiếu đồng.
  • 1095-1270: Nhu cầu chuyển những số tiền quan trọng cho các cuộc thập tự chinh phục hồi lại hoạt động ngân hàng. Với 9000 người dưới quyền, các chức sắc nhà dòng có một mạng lưới đặc biệt các chi nhánh.
  • 1156: Hợp đồng hoán đổi ngoại tệ đầu tiên. Hai anh em vay 115 đồng tiền bảng tại một ngân hàng ở Genoa và hoàn trả 460 đồng tiền bizant ở Constantinople. Những hợp đồng này được mở rộng vào thế kỷ XIII.
  • 1275-1292: Những chuyến hành trình của Marco Polo dạy cho phương Tây cách thức sử dụng tiền giấy tại Trung Quốc.
  • 1355: Nicolas Oresme công bố chuyên luận kinh tế đầu tiên về tiền tệ. Ông trở thành cố vấn của nhà vua Pháp Charles V.
  • 1360: “Đồng denier vàng nguyên chất mà chúng ta đang cho đúc hiện nay và có ý định tiếp tục cho đúc sẽ được gọi là đồng franc vàng.” Một sắc lệnh hoàng gia được Jean le Bon ký cho ra đời đồng Franc và quy định trọng lượng vàng của nó.
  • 1403: Yêu cầu một lãi suất trên các khoản cho vay trở nên hợp pháp ở Florence. Pháp luật chỉ làm việc xác nhận một thực hành đã phổ biến, bất chấp sự cấm cản của đạo Cơ Đốc đồng hóa lãi suất với cho vay nặng lãi.
  • 1455: Trung Quốc bãi bỏ việc sử dụng tiền giấy.
  • 1487-1492: Với những nguồn vàng đến từ châu Phi và châu Mỹ, giá trị tương đối của bạc tăng lên. Tại Đức, gia đình Fugger, người đã đầu tư vào các mỏ bạc, nổi lên là một trong những chủ ngân hàng quyền lực nhất ở châu Âu.
  • 1634-1637: Một số hành tulip, với hình dạng và màu sắc khác thường, là đối tượng của một vụ đầu cơ rất lớn ở Amsterdam và tạo ra một trong những bong bóng tài chính đầu tiên trong lịch sử.
  • 1716: John Law thành lập Ngân hàng trung ương, phát hành những tiền giấy riêng của họ. Ngân hàng trở thành Ngân hàng Hoàng gia vào năm 1718, dưới sự kiểm soát của quan nhiếp chính. Sự phá sản của ông vào năm 1720, buộc Law phải chạy trốn khỏi nước Pháp.
  • 1720: nhà vật lý Isaac Newton, phụ trách việc đúc tiền hoàng gia, thua mất 20.000 bảng khi đầu cơ vào thị trường chứng khoán và tuyên bố: “Tôi có thể tính toán sự chuyển động của các hành tinh, nhưng không thể tính toán sự điên rồ của con người“.
  • 1762: Thành lập Ngân hàng Barings. Khi nó bị phá sản vào năm 1995, thì đó là ngân hàng thương mại lâu đời nhất của Anh.
  • 1792: Thành lập thị trường chứng khoán New York.
  • 1800: Theo chân cuộc đảo chính của Napoleon Bonaparte, Ngân hàng trung ương Pháp được thành lập bởi người thân của vị Tổng tài đầu tiên. Nó trở thành một định chế của chính phủ, được các cá nhân hùn vốn vào năm 1806 và được độc quyền phát hành tiền vào năm 1848. Nó được quốc hữu hóa vào năm 1945.
  • 1848: Cuộc đổ xô đi tìm vàng tại Hoa Kỳ.
  • 1862-1863: Các sản phẩm phái sinh bắt đầu phát triển tại Hoa Kỳ. Hoạt động của chúng được quân đội phương Bắc khởi xướng, trong cuộc chiến chống lại phương Nam, nhằm tìm cách tự bảo vệ chống lại những biến động về giá yến mạch cần thiết để nuôi ngựa.
  • 1878-1882: Sự thất bại của ngân hàng Union générale, một ngân hàng Công giáo nhằm vượt qua mặt các chủ ngân hàng người Do Thái ở Paris, được dùng làm nền tảng cho cuốn tiểu thuyết của Zola, L’argent(Tiền).
  • 1910: Ngựa vẫn được người Kyrgyz ở Trung Á sử dụng làm tiền tệ. Cừu được sử dụng trong các giao dịch nhỏ và da của chúng được sử dụng làm những đồng tiền lẻ.
  • 1950: Thẻ Diner’s Clublà thẻ tín dụng đầu tiên được sử dụng để rút tiền ở nhiều cơ sở ngân hàng.
  • 1960: Ngoại trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, tất cả các hình thức tiền tệ sơ khai đều biến mất.
  • 1976: Vàng chính thức mất đi hoàn toàn vai trò tiền tệ quốc tế.
  • 1991: Đóng cửa ngân hàng TCNCI, lần đầu tiên phơi bày mức độ quan trọng của tội phạm hình sự về tài chính quốc tế.
  • 1998: Sự sụp đổ gần như không tránh khỏi của Quỹ đầu tư LTCM của Mỹ thiếu chút nữa làm sụp đổ toàn bộ hệ thống tài chính quốc tế.
  • 1999: Đồng euro ra đời, lưu thông song song với 11 loại tiền tệ quốc gia châu Âu.
  • 2002: Đồng euro thay thế 11 loại tiền tệ quốc gia.
  • 2008: Sự phá sản của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers gây ra sự lây lan của cuộc khủng hoảng các khoản cho vay dưới chuẩn sang các ngân hàng châu Âu. Ngân hàng Trung ương châu Âu bơm vào 125 tỷ euro trong một tuần để cứu vãn hệ thống ngân hàng châu Âu.
  • 2009: Ngày 5 tháng 11, Thủ tướng mới của Hy Lạp tăng mức dự báo thâm hụt ngân sách lên 12,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), dẫn đến việc các cơ quan xếp hạng hạ mức tín nhiệm của Hy Lạp, hai tháng sau đó. Đây là sự khởi đầu của cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu.
  • 2010-2011: Liên minh châu Âu cung cấp một khoản hỗ trợ tài chính lần lượt cho các nước Hy Lạp, Ireland và Bồ Đào Nhà, và Hy Lạp một lần nữa. Thành lập Quỹ ổn định tài chính của châu Âu (EFSF), Cơ chế ổn định của châu Âu (ESM) và Hiệp định của châu Âu về một hiệp ước mới (TSCG) có dự trù một một quy tắc vàng về điều phối.
  • 2012: Liên minh châu Âu đặt nền móng cho một liên minh ngân hàng.
  • 2015: Chính phủ Hy Lạp của Thủ tướng Alexis Tsipras đối đầu với Đức nhằm nới lỏng thòng lọng thắt lưng buộc bụng đang bóp nghẹt đất nước này nhưng không rời khỏi đồng euro.

Huỳnh Thiện Quốc Việt dịch

Nguồn: “Que l’argent soit !“, Alternatives économiques, Hors série n. 105, avril 2015

Advertisements

Đánh giá lại về “nguyên tắc Robin Hood”


Angus Deaton

Viện trợ phát triển quốc tế được dựa trên nguyên tắc Robin Hood: lấy từ người giàu và trao cho người nghèo. Các cơ quan phát triển quốc gia, các tổ chức đa phương, và các tổ chức phi chính phủ hiện đang chuyển giao hơn 135 tỷ đô la mỗi năm từ các nước giàu sang các nước nghèo với suy nghĩ này.

Thuật ngữ trang trọng hơn cho nguyên tắc Robin Hood là “chủ nghĩa ưu tiên đại đồng” (“cosmopolitan prioritarianism”), nguyên tắc đạo đức cho rằng chúng ta nên nghĩ đến mọi người trên thế giới theo cùng một cách giống nhau, bất kể họ sống ở đâu, và sau đó tập trung sự giúp đỡ vào nơi mà nó phát huy nhiều tác dụng nhất. Những người nghèo hơn được ưu tiên hơn những người khá hơn. Triết lý này định hướng một cách âm thầm hoặc rõ ràng cho viện trợ phát triển kinh tế, viện trợ y tế, và viện trợ nhân đạo khẩn cấp.

Bề ngoài, chủ nghĩa ưu tiên đại đồng rất có lý. Người dân ở các nước nghèo có những nhu cầu bức thiết hơn, và mức giá cả thấp hơn nhiều ở những nước này khiến một đồng đô la hoặc một đồng euro có thể mua được gấp hai hay ba lần giá trị của nó so với tại những quốc gia sử dụng đô la hoặc euro. Chi tiêu tại các nước giàu không chỉ đắt đỏ hơn, mà còn đến tay những người vốn đã giàu có (ít nhất là mức tương đối, đánh giá theo các tiêu chuẩn toàn cầu), và vì thế mà ít có ích hơn.

Tôi đã suy nghĩ và cố gắng đo lường mức nghèo đói toàn cầu trong nhiều năm, và nguyên lý định hướng này nhìn chung dường như luôn đúng. Nhưng gần đây bản thân tôi cảm thấy ngày càng không chắc chắn về nó. Cả thực tế lẫn đạo đức đều đặt ra những vấn đề.

Chắc chắn đã có những bước tiến lớn trong việc giảm nghèo toàn cầu, phần nhiều là nhờ tăng trưởng và toàn cầu hóa hơn là nhờ viện trợ nước ngoài. Số người nghèo đã giảm trong 40 năm qua từ hơn 2 tỷ người xuống còn dưới 1 tỷ người – một kỳ tích đáng kể, nếu xét đến sự gia tăng dân số thế giới và tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại kéo dài, đặc biệt là từ năm 2008.

Mặc dù ấn tượng và được đón chào nồng nhiệt, giảm nghèo không phải là không có giá của nó. Quá trình toàn cầu hóa đã cứu rất nhiều người dân ở các nước nghèo nhưng lại gây hại cho một số người ở các nước giàu, khi các nhà máy và việc làm đã di dời sang nơi có lao động rẻ hơn. Điều này dường như là một cái giá có thể chấp nhận được về mặt đạo đức, bởi những người mất việc vẫn giàu có (và khỏe mạnh) hơn rất nhiều những người mới nhận được việc.

Một nguyên nhân kéo dài của sự không hài lòng là những ai đưa ra những nhận định như thế trong số chúng ta lại không ở vị trí phù hợp để đánh giá tổn thất. Như nhiều người trong giới học giả và trong ngành phát triển, tôi nằm trong số những người được hưởng lợi lớn nhất từ toàn cầu hóa – những người có thể bán dịch vụ của mình cho những thị trường ngày một lớn và giàu có hơn những gì ông cha ta có thể mơ tới.

Toàn cầu hóa ít đẹp đẽ hơn với những người không chỉ không được hưởng lợi từ nó, mà còn phải chịu tác động của nó. Ví dụ, từ lâu chúng ta biết rằng những người Mỹ có thu nhập thấp hơn và ít giáo dục hơn chỉ nhận được lợi ích kinh tế ít ỏi trong bốn thập niên qua, và đáy thị trường lao động Mỹ có thể là một môi trường vô cùng khắc nghiệt. Nhưng những người Mỹ này phải hứng chịu tồi tệ đến mức nào từ toàn cầu hóa? Họ có khá hơn nhiều so với những người châu Á đang làm việc trong những nhà máy mà trước đây từng được đặt ở quê nhà của họ hay không?

Chắc chắn là phần lớn có khá hơn. Nhưng vài triệu người Mỹ – da màu, da trắng, và gốc Latinh – lại đang phải sống trong những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người dưới 2 đô la Mỹ một ngày, về cơ bản chính là mức tiêu chuẩn mà Ngân hàng Thế giới sử dụng để định nghĩa ngưỡng nghèo cơ bản ở Ấn Độ hay châu Phi. Tìm được một nơi cư ngụ ở Hoa Kỳ với mức thu nhập đó khó đến mức nghèo ở ngưỡng 2 đô la một ngày ở Mỹ thì gần như chắc chắn tồi tệ hơn nhiều so với ngưỡng 2 đô la một ngày ở Ấn Độ hay châu Phi.

Hơn nữa, sự bình đẳng về cơ hội vốn được ca ngợi rất nhiều của nước Mỹ đang bị đe dọa. Các thị trấn và thành phố vốn đã để những nhà máy của họ rơi vào tay toàn cầu hóa cũng đã mất đi nguồn thuế và khó duy trì được các trường học chất lượng – lối thoát cho thế hệ tiếp theo. Những trường danh giá tuyển sinh viên giàu để chi trả những chi phí cho chúng, và mời những bộ phận dân số thiểu số vào nhằm sửa chữa lỗi lầm của hàng thế kỷ phân biệt chủng tộc; nhưng rõ ràng sự thật trên sẽ làm tăng thêm sự oán hận trong giai cấp lao động da trắng, những người mà con cái họ không thể tìm được chỗ đứng trong một thế giới mới đầy biến động này.

Công trình của tôi hợp tác cùng Anne Case cho thấy nhiều dấu hiệu đáng lo ngại hơn nữa. Chúng tôi đã ghi nhận được làn sóng “những cái chết vì tuyệt vọng” tăng cao trong số những người da trắng không có gốc Latinh – do tự tử, lạm dụng chất cồn, và các trường hợp tai nạn sốc thuốc được kê đơn hoặc thuốc bất hợp pháp. Tỷ lệ tử vong tổng thể của nước Mỹ trong năm 2015 cao hơn trong năm 2014, và tuổi thọ cũng đã giảm xuống.

Chúng ta có thể tranh luận về thước đo mức sống vật chất, về việc lạm phát có bị phóng đại và mức gia tăng mức sống có bị đánh giá thấp hay không, hay liệu các trường học có thực sự tồi tệ như vậy ở khắp mọi nơi không. Nhưng cái chết thì khó mà lấp liếm.

Tư cách công dân đi cùng với một nhóm quyền và nghĩa vụ mà chúng ta không chia sẻ với công dân ở các nước khác. Nhưng phần “đại đồng” trong định hướng đạo đức trên lại làm ngơ mọi nghĩa vụ đặc biệt mà chúng ta có với chính đồng bào mình.

Chúng ta có thể nghĩ về những quyền và nghĩa vụ này như một loại hợp đồng bảo hiểm lẫn nhau: Chúng ta từ chối chấp nhận một số hình thức bất bình đẳng đối với đồng bào mình, và mỗi người chúng ta có một trách nhiệm giúp đỡ – và một quyền được đón nhận sự giúp đỡ – khi đối mặt với những mối đe dọa tập thể. Những trách nhiệm đó không làm mất giá trị hay đứng trên trách nhiệm của chúng ta với những người đang chịu nhiều đau khổ ở những nơi khác trên thế giới, nhưng chúng đồng nghĩa với việc nếu chỉ đánh giá dựa trên nhu cầu vật chất thì chúng ta đang liều lĩnh bỏ qua những cân nhắc quan trọng.

Khi công dân tin rằng giới tinh hoa quan tâm đến người dân ở phía bên kia đại dương nhiều hơn những người ở phía bên kia đường ray, hợp đồng bảo hiểm này đã bị phá vỡ, chúng ta chia rẽ thành những phe phái, và những người bị bỏ lại trở nên tức giận và sụp đổ niềm tin với một nền chính trị giờ đây không còn phục vụ mình. Chúng ta có thể không đồng tình với những biện pháp mà họ tìm kiếm, nhưng chúng ta đang bỏ qua những bất bình thực sự của họ với cái giá là sự nguy hiểm cho họ và chính mình.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng

Nguồn: Angus Deaton, “Rethinking Robin Hood”, Project Syndicate, 13/06/2016.

Angus Deaton, chủ nhân giải Nobel Kinh tế năm 2015, là Giáo sư ngành Kinh tế và các vấn đề quốc tế tại Viện Đại học Princeton, Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốn The Great Escape: Health, Wealth, and the Origins of Inequality.

Tranh cãi về các mô hình trong kinh tế học


Dani Rodrik

Kể từ cuối thế kỷ 19, khi ngành kinh tế học ngày càng sử dụng nhiều toán học và thống kê hơn, đưa ra những tuyên bố rằng nó là một ngành khoa học, thì những người làm nghề đã bị cáo buộc hàng loạt tội danh. Các cáo buộc, bao gồm sự kiêu căng, thờ ơ với những mục tiêu xã hội ngoài thu nhập, quan tâm quá mức tới những kỹ thuật chính thống, và thiếu khả năng dự đoán những diễn biến kinh tế lớn như các cuộc khủng hoảng tài chính – thường đến từ những người ngoại đạo, hoặc từ những nhóm không chính thống bên lề. Nhưng gần đây dường như đến cả những cây đa cây đề của ngành này cũng không cảm thấy hài lòng.

Paul Krugman, một người được giải thưởng Nobel đồng thời phụ trách một mục báo (trên New York Times), đã hình thành thói quen đả kích gay gắt sự ra đời của các mô hình kinh tế vĩ mô mới nhất vì bỏ qua những sự thật lâu nay dựa trên quan điểm của Keynes. Paul Romer, một trong những nhà khởi lập thuyết tăng trưởng mới, đã buộc tội một số tên tuổi hàng đầu, bao gồm người đoạt giải Nobel Robert Lucas, về những điều mà ông gọi là “toán học hóa điên rồ” (“mathiness”) – sử dụng toán học để làm rắc rối thêm thay vì làm sáng tỏ vấn đề.

Richard Thaler, một nhà kinh tế học hành vi đáng kính tại trường Đại học Chicago, đã chỉ trích nghề này vì làm ngơ những hành vi trong thế giới thực tế để sử dụng các mô hình vốn giả định rằng con người là những kẻ tối đa hóa lợi ích có lý trí. Và giáo sư tài chính Luigi Zingales, cũng đến từ Đại học Chicago, đã buộc tội những chuyên gia tài chính đồng môn của ông là đã dẫn dắt xã hội đi lạc đường bằng việc phóng đại những lợi ích được tạo ra bởi ngành tài chính.

Hình thức phê phán bởi những tên tuổi lớn trong ngành là hoàn toàn lành mạnh và được chào đón – đặc biệt là trong một lĩnh vực mà vẫn thường thiếu nhiều sự tự nhìn nhận. Tôi cũng thường xuyên chỉ trích những quan niệm lâu đời trong bộ môn này – như thị trường tự do và tự do thương mại.

Nhưng có một ẩn ý không thống nhất trong vòng phê phán mới này cần phải được làm rõ – và phải được bác bỏ. Kinh tế học không phải bộ môn khoa học mà trong đó chỉ có một mô hình đúng duy nhất có thể áp dụng tốt nhất trong tất cả các hoàn cảnh. Vấn đề ở đây không phải là “đạt được sự đồng thuận về việc mô hình nào đúng,” như Romer đã nói, mà là để tìm ra mô hình nào áp dụng tốt nhất trong một tình huống cụ thể. Và thực hiện được điều này sẽ luôn là một nghệ thuật, chứ không phải khoa học, đặc biệt khi lựa chọn phải được đưa ra theo thời gian thực.

Thế giới xã hội khác với thế giới vật chất vì nó là thế giới nhân tạo và vì thế nó gần như có thể được uốn nắn không giới hạn. Vì thế, không giống khoa học tự nhiên, kinh tế học tiến lên về mặt khoa học không phải bằng cách thay thế những mô hình cũ bằng những mô hình tốt hơn, mà bằng cách mở rộng thư viện các mô hình, trong đó mỗi mô hình sẽ giải thích cho một sự kiện xã hội khác nhau.

Ví dụ, chúng ta giờ đây có rất nhiều mô hình thị trường cạnh tranh không hoàn hảo hoặc thông tin bất đối xứng. Những mô hình này không làm cho những mô hình tiền bối vốn dựa trên cạnh tranh hoàn hảo trở nên lạc hậu hoặc không phù hợp. Chúng chỉ cho chúng ta ý thức cao hơn về việc những hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi những mô hình khác nhau.

Tương tự như vậy, các mô hình hành vi nhấn mạnh việc ra quyết định dựa trên trải nghiệm giúp chúng ta thành những nhà phân tích giỏi hơn trong những môi trường mà những sự suy xét, cân nhắc như vậy có thể là rất quan trong. Chúng không thay thế những mô hình lựa chọn lý tính – vẫn tiếp tục là công cụ cần sử dụng đến trong một số hoàn cảnh khác. Một mô hình tăng trưởng mà áp dụng vào các nước tiên tiến có thể là một chỉ dẫn tồi cho các nước đang phát triển. Các mô hình nhấn mạnh sự kỳ vọng đôi khi là tốt nhất cho việc phân tích các mức lạm phát và thất nghiệp; nhưng trong một số thời điểm khác, các mô hình với yếu tố Keynesian lại có hiệu quả áp dụng vượt trội hơn.

Jorge Luis Borges, một nhà văn người Argentina, đã từng viết một truyện ngắn – một đoạn văn – mà có lẽ là hướng dẫn tốt nhất cho phương pháp khoa học. Trong đó, ông mô tả một vùng đất xa xôi nơi bộ môn bản đồ học – môn khoa học về vẽ bản đồ – được đẩy đến những thái cực nực cười. Một bản đồ tỉnh chi tiết đến mức có kích cỡ bằng cả một thành phố. Bản đồ một đế chế thì rộng bằng cả một tỉnh.

Dần dần, các nhà đo đạc bản đồ trở nên tham vọng hơn: họ vẽ một bản đồ như chính mô hình, thể hiện chính xác với tỷ lệ 1:1 của cả đế chế. Như Borges hài hước viết, những thế hệ sau chẳng thấy lợi ích thực tế nào của một tấm bản đồ rộng đến mức không thể cầm được như vậy. Vì thế tấm bản đồ này đã bị để tới mục ra ở sa mạc, cùng với môn khoa học địa lý mà nó đại diện.

Nhiều nhà khoa học xã hội ngày nay vẫn chưa nắm bắt được quan điểm của Borges: sự thấu hiểu đòi hỏi sự đơn giản hóa. Cách tốt nhất để đáp lại sự phức tạp của đời sống xã hội không phải là thiết kế ra những mô hình còn nhiều chi tiết hơn, mà là tìm hiểu xem những cơ chế hệ quả khác nhau hoạt động như thế nào, một cơ chế tại từng thời điểm một, và sau đó tìm ra những mô hình nào là phù hợp nhất trong một tình huống cụ thể.

Chúng ta sử dụng một bản đồ này nếu chúng ta đang lái xe từ nhà đến chỗ làm, một bản đồ khác nếu chúng ta du lịch đến một thành phố khác. Nhưng những loại bản đồ khác nhau sẽ cần được dùng nếu chúng ta đi xe máy, đi bộ, hoặc lên kế hoạch dùng phương tiện công cộng.

Xem xét giữa các mô hình kinh tế – lựa chọn mô hình nào hoạt động hiệu quả hơn – khó hơn rất nhiều so với việc chọn bản đồ đúng. Những người làm nghề sử dụng hàng loạt các phương pháp thực nghiệm chính thức và phi chính thức với nhiều kỹ thuật khác nhau. Và, trong cuốn sách tới đây của tôi tựa đề Các quy luật kinh tế (Economic Rules), tôi chỉ trích việc đào tạo bộ môn kinh tế vì không trang bị một cách thích đáng cho sinh viên những chẩn đoán thực nghiệm mà bộ môn này đòi hỏi.

Nhưng những nhà phê bình nội bộ trong nghề sẽ sai lầm khi cho rằng bộ môn này đã đi sai đường vì các nhà kinh tế học chưa thể đưa ra đồng thuận về những mô hình “đúng” (dĩ nhiên đó là những mô hình họ yêu thích hơn). Hãy để chúng ta tận hưởng bộ môn kinh tế học theo mọi khía cạnh đa dạng của nó – lý trí và hành vi, Keynesian và Cổ điển, tốt nhất và tốt thứ hai, chính thống và không chính thống – và dồn toàn bộ năng lượng của chúng ta vào việc trở nên khôn ngoan hơn trong lựa chọn mô hình nào để áp dụng vào lúc nào.

Biên dịch: Nguyễn Quỳnh Chi | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Dani Rodrik, “Economists vs. Economics”, Project Syndicate, 10/09/2015.

Dani Rodrik là Giáo sư ngành Kinh tế Chính trị Thế giới tại Trường Quản trị Nhà nước John F. Kennedy thuộc ĐH Harvard. Ông là tác giả của các cuốn sách One Economics, Many Recipes: Globalization, Institutions, and Economic Growth (Princeton University Press, 2009) và, gần đây nhất, là The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy (W. W. Norton & Company, 2012).

Tự do kinh doanh


Jacques GARELLO

Giáo sư đại học Aix-Marseille 3

Vincent de Gournay, rồi tiếp đến môn đồ của ông làTurgot, đã lấy lại công thức của Thomas Le Gendre: “Tự do kinh doanh”. Khi Colbert hỏi thương gia giàu có này, người sở hữu nhiều của cải ở châu Phi và châu Mĩ, là nhà vua và bộ máy công quyền có thể làm được gì để giúp thương mại thì Le Gendre đáp: “Xin cứ để cho chúng tôi làm”. Lúc bấy giờ đó là một câu trả lời, một lời thỉnh cầu và rồi sau này sẽ trở thành một cuộc cách mạng. Đó cũng là một lời tư vấn chính trị thực tiễn và rồi sau này sẽ trở thành một nguyên lí lí thuyết.

Trên quan điểm thực tiễn, tự do kinh doanh hiện ra như sự kết án học thuyết trọng thương. Nền kinh tế chỉ huy được thiết lập ngay từ thế kỉ XV đã đưa nhiều nước đến điêu tàn và sinh ra nhiều cuộc chiến không dứt và tốn kém cho tất cả các quốc gia. Bổ sung vào mô hình Anh hợp thành từ việc bảo hộ đối với nước ngoài (Luật hàng hải), nền quân chủ Pháp còn thêm vào những cản trở đối với nội thương: qui định hoá khống chế từ ban quản lí phường hội đến những cuộc hội chợ, các nghị viện làm luật trong lĩnh vực nông nghiệp, vận tải, nhà vua đã biến rất nhiều ngành nghề thành những chức hàm công cộng đi kèm với một độc quyền, một thuế khoá nhọc nhằn kết hợp những điều miễn thuế, tuỳ tiện và phức tạp. Do dó “tự do kinh doanh” là phản ứng của những cá thể năng động bị nền kinh tế chỉ huy đè nén. Đó là một thỉnh nguyện vì sự tự do kinh doanh và tự do lưu thông: cứ để cho làm, cứ để cho qua. Turgot sẽ nâng những nguyên lí của tự do kinh doanh lên mức cao nhất bằng cách thuyết phục vua Louis XVI kí sắc lệnh thiết lập tự do thương mại ngũ cốc (1774) và sắc lệnh bãi bỏ những ban quản lí phường hội (1776).

Đó là do trong thời gian trên tự do kinh doanh đã được nâng lên hàng một nguyên lí của triết học kinh tế. Đây là sự tiếp nối logic của học thuyết quyền tự nhiên và trật tự tự nhiên được Grotius, Pufendorf và nhất là Locke rao giảng trong thế kỉ XVII. Con người là một sinh vật có ý thức, có lí trí và có những quyền. Cuộc sống trong xã hội được hiểu như một mạng những quyền và nghĩa vụ mà các cá thể thừa nhận cho nhau. Quyền sở hữu là qui tắc xã hội cho phép cấu trúc hoá những tương tác này. Thật vậy, quyền sở hữu cho phép mỗi người có quyền trên sản phẩm của hoạt động của bản thân, do đó cho phép trao quyền này đổi lấy sản phẩm của hoạt động của những người khác. Mặc dù được các nhà trọng thương trình bày vụng về nhưng ý tưởng về một trật tự kinh tế tự nhiên vẫn tiến triển và cuối cùng, nhờ Turgot và Adam Smith, điều được xác lập rõ ràng là trao đổi, mà con người hướng đến một cách tự nhiên, là nguồn gốc của những lợi ích cho đôi bên, làm tăng phúc lợi của những bên tham gia và dẫn đến sự hài hoà xã hội. Do đó, mọi cản trở tự do kinh doanh, mọi giới hạn hoạt động kinh tế là một sự vi phạm đến bản chất và những quyền cơ bản của con người, đồng thời là một sự đe doạ cho trật tự kinh tế tự nhiên. Cuộc Cách mạng sẽ tuyên bố “quyền tự do của thương mại và công nghiệp”.

Tuy nhiên sự tin tưởng vào “bàn tay vô hình” và vào diễn tiến hài hoà của một nền kinh tế được tự do hoá sẽ bị những cuộc khủng hoảng gọi là “sản xuất thừa”, được xem là gắn với cuộc cách mạng công nghiệp, làm lung lay. Chính lúc này Jean Baptiste Say sẽ chứng minh về mặt lí thuyết là không thể có khủng hoảng trong một nền kinh tế dựa trên sự tự do trao đổi sản phẩm của doanh nghiệp tự do, nghĩa là trên sự trao đổi những “quyền thật sự”ra đời từ việc sáng tạo ra của cải. Một cách đối lập, J. B. Say không có đủ yếu tố để giải thích sự có mặt cụ thể thường xuyên của những cuộc khủng hoảng: đó là do các chính phủ tiếp tục vi phạm nguyên lí “tự do kinh doanh”. Do thiếu tính trung lập của tiền tệ và thuế khoá, không muốn từ bỏ việc chi phối một số mặt của sản xuất  trao đổi và việc kiểm soát quyền sở hữu tư nhân nên các nhà cầm quyền đã tạo điều kiện ưu đãi cho việc phân phối những “quyền giả tạo” (J. Rueff) và ngăn cản sự hoàn thành của những hài hoà kinh tế. Frédéric Bastiat sẽ giải thích vì sao các chính khách lại hành xử như thế. Đây là sự suy đồi của nền dân chủ đại diện, một hệ thống trong đó nhân dân không còn kiểm soát trực tiếp Nhà nước nữa mà kiểm soát gián tiếp thông qua những dân biểu, mà đối với những dân biểu này việc kiểm soát dần dần ít được ưu tiên bằng việc bầu cử. Các dân biểu dần dần thông qua những chi tiêu mới (do đó những thuế mới) nhằm mở rộng số cử tri bầu cho mình, bảo vệ người nước mình (là những cử tri) chống người nước ngoài (không phải là cử tri), qui định hoá tuỳ theo những lợi ích cục bộ có khả năng tác động đến kết quả bầu cử.

Từ ba thế kỉ nay những người ủng hộ tự do kinh doanh không ngừng đấu tranh chống lại những độc quyền, những đặc quyền, sự tuỳ tiện thuế khoá, những thao túng tiền tệ, những qui định, chi tiêu công cộng và chủ nghĩa bảo hộ và thu được những thắng lợi không đồng đều. Ngày nay toàn cầu hoá, việc “chuyển đổi sang thị trường”, sự phình to quá mức khu vực công khiến cho cuộc chiến đấu này thêm quyết liệt. Có thể là những cơ hội thành công của tự do kinh doanh sẽ lớn hơn nếu ta biết được rằng “tự do kinh doanh” không có nghĩa là điều gì. Tự do kinh doanh không có nghĩa là vô chính phủ, nhưng là sự phối hợp các hoạt động kinh tế bằng một quá trình phi tập trung: thị trường. Tự do kinh doanh cũng lại càng không có nghĩa là sự buông thả dễ dãi, thiếu vắng qui tắc nhưng là việc tôn trọng những qui tắc được một truyền thống xã hội tiến hoá thường xuyên tự do suy ra từ những quyền cá nhân. Tự do kinh doanh là một đòi hỏi trách nhiệm cá nhân, là một niềm tin vào những điều tốt lành của sự sáng tạo và hợp tác của con người.

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry (đồng chủ biên), Paris, 2001, PUF.

Cạnh tranh – Phần cuối


Pascal SALIN

Giáo sư đại học Paris-Dauphine (Paris 9)

……

Phê phán lí thuyết cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo

Mặc dù có vẻ hoàn toàn chặt chẽ – do có thể chỉ vì vẻ toán học được khoác lên lí thuyết này – nhưng lí thuyết truyền thống dẫn đến một nghịch lí không thể giải quyết được. Thật thế, trong thực tiễn gần như là không thể gặp những điều kiện nghiêm ngặt xác định một tình thế cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo. Do đó người ta buộc phải quyết định rằng một tình thế thực tế là đủ gần hay đủ xa với tình thế lí thuyết chuẩn để có thể chấp nhận là có cạnh tranh hay không. Nhưng như thế là nói rằng trong thực tiễn lí thuyết tinh vi này phải nhường chỗ cho những đánh giá cá nhân tất yếu là tuỳ tiện. Thế mà chính cách tiếp cận này gợi ý cho vô số những pháp chế về cạnh tranh. Những văn bản qui phạm này đưa đến hoặc là việc xác định những tiêu chuẩn võ đoán về cạnh tranh, ví dụ tầm quan trọng của thị phần của một nhà sản xuất hoặc là giao cho các quan toà quyền quyết định tuỳ nghi rằng trong chừng mực nào quả thật là có cạnh tranh. Thế mà xét, ví dụ, một thành tố chủ yếu của định nghĩa về cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo, tức là sự tồn tại của một số lớn nhà sản xuất của một sản phẩm nhất định, và điều này biện minh cho mối quan tâm vào thị phần của một nhà sản xuất để đánh giá sự cạnh tranh. Ta có thể, bằng một cách hoàn toàn võ đoán, định nghĩa một sản phẩm một cách rất chính xác hay rất rộng và tất nhiên kết quả sẽ là một đánh giá hoàn toàn khác về những thị phần và “quyền lực trên thị trường”. Điều này càng quan trọng hơn khi những sản phẩm sẵn có tại những địa điểm và thời điểm khác nhau là không hoàn toàn thay thế lẫn nhau và do đó không phải là những sản phẩm đồng nhất.

Trước nhận định là có một chênh lệch giữa lí thuyết và thực tế, cách tiếp cận truyền thống thường dẫn đến việc cố gắng buộc hiện thực phải phù hợp với lí thuyết, nghĩa là buộc các nhà sản xuất ứng xử như thể là có cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo. Nhưng do cạnh tranh này không tồn tại nên chuẩn được dùng để so sánh với tình thế thực tế là một chuẩn hoàn toàn ảo. Thế mà chính bằng cách đó mà người ta biện minh cho, ví dụ, những chính sách qui định hoá giá cả, quốc hữu hoá doanh nghiệp ở “thế độc quyền” hay những lệnh của toà án chia thành nhiều thực thể một doanh nghiệp được coi là có một quyền lực “quá đáng” trên thị trường hay để cấm một số sáp nhập.

Nhưng để giải quyết những khó khăn sinh ra từ chênh lệch này giữa thực tế và lí thuyết, đương nhiên còn một phương pháp khác nhằm thay đổi lí thuyết cạnh tranh sao cho lí thuyết này là một công cụ giải thích hiện thực như nó thật sự tồn tại (phương pháp này chủ yếu do các tác giả “Áo” đề xướng: đặc biệt xem Hayek[1948], Rothbard [1962], Kirzner [1973], O’Driscoll và Rizzo [1985]). Thế mà để hiểu rõ hiện thực này, thì phải có một cách nhìn động chứ không phải tĩnh. Thật thế, đặc điểm của đời sống kinh tế chính là khả năng của các tác nhân tưởng tượng ra tương lai và chấp nhận rủi ro bằng cách đổi mới. Trên quan điểm này, người ta đã sai lầm khi dùng cùng một thuật ngữ – doanh nghiệp hay nhà sản xuất –  để chỉ hai nhân vật hoàn toàn khác nhau: nhà sản xuất theo quán tính – đặc điểm của cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo – chỉ bằng lòng với việc bắt chước những nhà sản xuất khác và “hội tụ” về cùng những kĩ thuật sản xuất giống nhau; và nhà sản xuất đổi mới tìm cách tự cá biệt hoá so với những nhà sản xuất khác để làm tốt hơn họ và chiếm một thị phần lớn hơn, bằng cách sử dụng những kĩ thuật sản xuất hiệu quả hơn hay đề nghị những sản phẩm mới và rẻ hơn.

Nói cách khác lí thuyết truyền thống đáng bị phê phán vì chấp nhận một cách nhìn công nghệ về hoạt động sản xuất. Để sản xuất một sản phẩm nhất định, có một kĩ thuật tối ưu, xuất hiện một cách ngoại sinh và trong tầm tay của tất cả các nhà sản xuất. Điều này tương ứng với giả thiết theo đó thông tin là “hoàn hảo”. Thế mà thật là phi lí khi giả định một thông tin hoàn hảo vì thông tin tất yếu là một sản phẩm hiếm và việc phát triển mọi hoạt động sản xuất chính là nhằm tạo ra những tri thức mới. Một lí thuyết giả định sự tồn tại của một quĩ tri thức sẵn có một cách phổ cập không thể giải thích thế giới thực tế, chủ yếu được đặc trưng bởi việc là tri thức không có sẵn nhưng phải được các nhà đổi mới tìm ra. Lí thuyết cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo là đúng về mặt hình thức, nhưng lại áp dụng cho một thế giới không tồn tại.

Như thế làm thế nào định nghĩa cạnh tranh? Đơn giản bằng những từ gần với lí lẽ thông thường. Có cạnh tranh khi có sự tự do gia nhập một thị trường. Nếu có tự do này thì những nhà đổi mới sẽ thử tranh đua với những nhà sản xuất hiện có, nghĩa là họ sẽ cố gắng tự phân biệt hoá để trở thành tốt hơn những nhà sản xuất hiện có mặt trên thị trường. Do đó cạnh tranh thật sự là trái ngược hẳn với “cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo”, một khái niệm giả định là có cạnh tranh khi các nhà sản xuất cố gắng trở thành gống nhau. Chính vì thế mà ta có thể nói rằng lí thuyết truyền thống mô tả hoạt động của một nền kinh tế kế hoạch hoá– trong đó trung ương yêu cầu các đơn vị sản xuất sử dụng một công nghệ do trung ương chỉ định – tốt hơn là một hoạt động của một nền kinh tế cạnh tranh.

Như Gerald O’Driscoll và Mario Rizzo (1985) viết: “Người ta lao vào những cuộc tranh đua thể thao chính là vì không biết và không thể biết trước biến cố thể thao ai là vận động viên hay đội tuyển giỏi nhất”. Tất nhiên sẽ là không công bằng nếu thay đổi các kết quả sau khi cuộc chơi kết thúc viện cớ rằng những kết quả là không công bằng. Nhưng điều người ta không chấp nhận trong thể thao lại được đa số các nhà kinh tế chấp nhận trong hoạt động doanh nghiệp. Có được nghịch lí này bằng cách định nghĩa lại cạnh tranh sao cho thuật ngữ này hầu như chỉ điều ngược lại của cái thật sự là cạnh tranh. Nhưng “sẽ là phong phú hơn khi định nghĩa cạnh tranh như một quá trình hơn là như một trạng thái của sự vật”.

Khi có một thị trường có tự do gia nhập thì tất cả những nhà sản xuất tiềm tàng đều không tận dụng tự do này một cách giống nhau: một số nhà sản xuất có năng lực đổi mới hơn, một số khác sản xuất theo quán tính hơn. Nhưng những nhà đổi mới là những nhà sản xuất duy nhất đề nghị một kiểu sản phẩm hay dịch vụ. Bất kì nhà đổi mới nào lúc ban đầu đều có100% thị phần vì đó là người duy nhất đề nghị sản phẩm ấy, vả lại người này đã hành động và chấp nhận rủi ro vì hi vọng đạt được vị thế này. Công lớn của cạnh tranh, theo nghĩa được chúng tôi hiểu, chính là do nó kích thích việc đổi mới, nghĩa là làm khác chứ không làm giống người khác. Cạnh tranh, theo thành ngữ được Friedrich Hayek sử dụng thường xuyên là một “quá trình khám phá”. Thậm chí ta còn có thể nói rằng cạnh tranh (hiểu theo nghĩa tự do gia nhập) động viên các nhà sản xuất giành lấy một vị thế độc quyền (hiểu theo nghĩa truyền thống). Nhưng nếu còn có tự do gia nhập thị trường thì vị thế độc quyền của nhà sản xuất-đổi mới có khả năng bị đe doạ bởi những người mới gia nhập vốn là những người bắt chước hơn là những người đổi mới. Do đó nếu muốn giữ vững thị phần và lợi nhuận thì nhà sản xuất đầu tiên phải liên tục đổi mới.

Điều này giải thích vì sao cách nhìn tĩnh của cách tiếp cận truyền thống là đáng phản bác. Nếu ta nhận thấy là một nhà sản xuất chiếm một thị phần bằng 100% thì đó có thể là vì hai lí do trái ngược nhau: hoặc là vị thế này là kết quả của những năng khiếu đổi mới hoặc là kết quả của việc cấm cản người khác gia nhập thị trường. Chỉ nhìn thấy thị phần không cho phép hiểu được đâu là quá trình đang vận động.

Tương tự như thế, từ bỏ cách nhìn tĩnh về cạnh tranh và chấp nhận cách nhìn động cho phép giải thích lợi nhuận. Trong khuôn khổ của lí thuyết truyền thống, với thông tin “hoàn hảo” và khi có một kĩ thuật tối ưu (trong kinh tế không thể xác định tính tối ưu từ những dữ liệu“kĩ thuật”, nhưng phải từ những mục tiêu cá thể), tất cả các nhà sản xuất đều hội tụ về cùng một vị thế tại đấy lợi nhuận là bằng không. Điều này xảy ra vì trong thực tế điều được gọi là “lợi nhuận” trong lí thuyết truyền thống không phải là một lợi nhuận thật sự. Thật thế, lợi nhuận được định nghĩa như một thù lao dư thừa, nghĩa là cái còn lại trong thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã thanh toán những chi phí chắc chắn (lương, tiền lãi). Trong thế giới chắc chắn của lí thuyết truyền thống, lợi nhuận thật ra qui về một thù lao chắc chắn mà doanh nghiệp nhận được đổi lấy lao động của mình. Do đó nó giống với tiền lương.

Trong thế giới thực tế, thế giới của lí thuyết động về cạnh tranh, lợi nhuận là một thù lao không chắc chắn, đối phần của việc chấp nhận rủi ro cố hữu của mọi đổi mới, vả lại lợi nhuận chỉ có thể được quan niệm trong cách nhìn này thôi. Chính vì muốn thu lợi nhuận mà doanh nghiệp hành động và chấp nhận rủi ro. Khi lợi nhuận là dương tức là những dự kiến của doanh nghiệp tỏ ra đúng. Nhưng khái niệm siêu lợi nhuận nêu ở trên, như thế mất đi ý nghĩa. Thật thế chỉ có thể nói đến siêu lợi nhuận so với một chuẩn, tức là so với “lợi nhuận bình thường”. Thế mà nếu một người đổi mới – mà theo định nghĩa là người duy nhất trên thị trường ban đầu của mình – thu được lợi nhuận thì làm sao có thể xác định một lợi nhuận bình thường để có thể so sánh khi không có tình thế chuẩn? Thật vậy, nếu nhà đổi mới không nhảy vào sản xuất thì sản phẩm người này làm ra đã không tồn tại và không thể xác định tỉ suất lợi nhuận gắn với hoạt động này.

Khi lí thuyết truyền thống chứng minh rằng một tình thế độc quyền dẫn đến sự tồn tại của một “siêu lợi nhuận” thì lí thuyết này đúng về mặt hình thức, theo nghĩa lập luận là nhất quán trên cơ sở những giả thiết được chọn làm chỗ tựa cho lập luận này. Nhưng lí thuyết lại định nghĩa một khái niệm không tồn tại – siêu lợi nhuận – vì lí thuyết xuất phát từ những giả thiết không dính dáng gì đến thực tế. Chính xác hơn, cần phân biệt hai nghĩa đối lập nhau của thuật ngữ “độc quyền”, một cách song song với hai nghĩa của từ “cạnh tranh”. Thật thế, đối với lí thuyết truyền thống có độc quyền khi chỉ có một nhà sản xuất trên thị trường, bất kể lí do của độc quyền là như thế nào. Nhưng nếu ta theo một cách nhìn động về cạnh tranh thì ta thấy là sự tồn tại của một nhà sản xuất trên một thị trường có thể là kết quả hoặc của tính chất đổi mới của nhà sản xuất này hoặc của việc cấm các nhà sản xuất khác nhảy vào thị trường. Trong trường hợp đầu có một lợi nhuận (bình thường) của việc đổi mới, trong trường hợp sau có một “siêu lợi nhuận”, kết quả của một đặc quyền được độc quyền. Nói cách khác, thật sự là có siêu lợi nhuận với điều kiện nói rõ là nó chỉ xuất hiện khi một nhà sản xuất được bảo vệ chống lại mọi sự cạnh tranh bằng một hành động cưỡng bức hợp pháp, và điều này cho phép nhà sản xuất giữ lại một lợi nhuận lớn hơn lợi nhuận thu được trong trường hợp có sự tự do gia nhập thị trường. Quả thật là độc quyền vẫn tồn tại, nhưng với điều kiện là làm rõ rằng một độc quyền thật sự bao giờ cũng là kết quả của việc cấm đoán một cách hợp pháp sự cạnh tranh. Theo quan điểm này, ta có thể phê phán tất cả các văn bản pháp qui tự cho là bảo vệ cạnh tranh vì dựa trên lí thuyết truyền thống và điều này có thể dẫn đến việc lên án những độc quyền đổi mới chứ không phải là những độc quyền đặc quyền. Thật ra chính sách cạnh tranh thật sự duy nhất là tháo bỏ tất cả những cản trở cho việc tự do gia nhập các thị trường.

Rốt cuộc, tìm hiểu cạnh tranh kích thích ta quan tâm đến một trong những vấn đề chủ yếu của mọi tổ chức kinh tế, tức là việc xác định mức độ tối ưu của sự phân biệt hoá và đồng nhất hoá những hoạt động của con người. Như đã thấy, một cách tiếp cận thực tế về cạnh tranh cho phép kiến giải hiện tượng này như một lực phân biệt hoá, phù hợp với những nguyện vọng sâu sắc và thông thường của con người. Nhưng cũng có những trường hợp mà sự phân biệt hoá cực kì các sản phẩm là không nên và không được mong muốn, đặc biệt là đối với những hoạt động mạng (viễn thông, tiền tệ, v.v.). Nhưng nếu có sự tự do gia nhập thị trường thì các tác nhân – người sản xuất và người mua – sẽ luôn tìm mức độ phân biệt hoá được họ xem là nên có tuỳ theo cảm nhận có biến đổi về những nhu cầu của họ và về những tri thức họ sẽ tạo ra. Như thế ta cũng có thể đi đến, trong nhiều chuyện khác nữa, việc chấp nhận một cách tiếp cận khác về các cartel (xem Salin, 1996). Trong cách nhìn truyền thống một cartel là một nỗ lực của nhiều nhà sản xuất để giới hạn cạnh tranh, nhằm tạo nên một độc quyền và “bóc lột” người mua bằng cách áp đặt cho họ một“siêu lợi nhuận”. Nhưng một cartel cũng có thể là một phương tiện để các nhà sản xuất này đáp ứng tốt hơn một nhu cầu phân biệt hoá sản phẩm của người mua mà vẫn giữ nguyên sức mạnh đổi mới hàm chứa trong cạnh tranh. Ví dụ, đó là trường hợp khi nhiều nhà sản xuất tiền tệ thay vì sản xuất những đồng tiền với những đặc điểm khác nhau, phát hành những đơn vị tiền tệ hoàn toàn thay thế lẫn nhau được nhằm gia tăng tính thanh khoản của những đồng tiền này và do đó đáp ứng tốt hơn một nhu cầu của người sử dụng đồng tiền. Nói cách khác, khi có tự do gia nhập thị trường thì cạnh tranh kích thích các nhà sản xuất không chỉ tưởng tượng những sản phẩm tốt hơn mà cũng còn kích thích họ tưởng tượng những hệ thống tổ chức tốt hơn.

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry (đồng chủ biên), Paris, 2001, PUF.

http://www.phantichkinhte123.com/

Cạnh tranh – Phần đầu


Pascal SALIN

Giáo sư đại học Paris-Dauphine (Paris 9)

Chắc chắn là không thể hiểu được hoạt động của một hệ thống sản xuất bất kì mà không qui chiếu về khái niệm cạnh tranh. Chính vì thế điều đặc biệt quan trọng là phải có được một định nghĩa và một lí thuyết về cạnh tranh càng thoả đáng nhất có thể. Thế mà lí thuyết truyền thống về cạnh tranh, một lí thuyết tạo thành điểm qui chiếu thống trị, theo quan điểm của phân tích kinh tế cũng như trong những ứng dụng thực tiễn của phân tích này, là đáng bị phê phán vì nhiều lí do. Cần thay thế lí thuyết này bằng một cách tiếp cận khác, thuộc về một cách nhìn động.

Lí thuyết truyền thống: cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo

Trong việc tìm hiểu những cấu trúc thị trường, chuẩn được chấp nhận theo truyền thống được biết dưới tên “cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo” trong kinh văn. Mối quan tâm nằm sau lí thuyết này là tìm xem, trên một thị trường nhất định, có nhà sản xuất hay một nhóm nhỏ nhà sản xuất nào, một cách có ý thức, có khả năng tác động đến giá của sản phẩm ấy hay không. Nếu có thì trường hợp này được gọi là không có cạnh tranh. Ngược lại, một tình thế được xem là cạnh tranh khi một nhà sản xuất nhất định có một quy mô tương đối quá nhỏ so với những nhà sản xuất khác để có thể có bất kì tác động nào đến thị trường, đặc biệt là trên giá các sản phẩm.

Để có được “cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo” thì phải hội đủ một số điều kiện. Danh sách những điều kiện thay đổi tuỳ theo các tác giả, nhưng thường gồm những yếu tố sau: sự tồn tại của một số lớn người mua và người bán, mỗi tác nhân có một quy mô kinh tế tương đối yếu, một sản phẩm đồng nhất và chia nhỏ được, thông tin hoàn hảo. Tất nhiên điều kiện về quy mô tương đối của những tác nhân là cơ bản, những điều kiện khác coi như  là thứ yếu: thật thế, nếu một sản phẩm không phải là đồng nhất – ví dụ do tầm quan trọng của một nhãn hiệu đối với người mua (vả lại chính vì lí do này mà những người bảo vệ lí thuyết truyền thống cảnh giác đối với quảng cáo, một yếu tố phân biệt hoá) – thì mỗi nhà sản xuất sản xuất ra một sản phẩm không hoàn toàn thay thế được cho sản phẩm của những nhà sản xuất khác, khiến cho nhà sản xuất này là nhà sản xuất độc nhất của sản phẩm đặc biệt ấy. Tương tự như thế, nếu điều kiện chia nhỏ không được thoả mãn – ví dụ, vì sản phẩm được xem xét là một nhà máy điện nguyên tử – thì khó mà hình dung là có một số lớn những nhà sản xuất. Còn thông tin hoàn hảo cũng kéo theo là không thể có việc phân khúc thị trường của một sản phẩm thành từng thị trường nhỏ được định vị và có đặc thù. Do đó tất cả các điều kiện hội tụ về một mối quan tâm duy nhất: xác định những tình thế trong đó một nhà sản xuất không thể tự mình khác biệt hoá đối với vô số những nhà sản xuất khác.

Mặt khác, điều nổi bật là ta nhận thấy rằng có một điều kiện nữa được đưa thêm vào danh sách trên, tức là việc tự do gia nhập một thị trường. Nhưng trái với cách kiến giải của chúng tôi sẽ được trình bày dưới đây thì, trong khuôn khổ của lí thuyết truyền thống, bản thân điều kiện này chỉ nhằm cho phép việc thực hiện mục đích cuối cùng, tức là sự tồn tại của một số lớn những nhà sản xuất. Thật vậy, khả năng càng lớn là sự thể sẽ là như vậy khi sự tự do gia nhập thị trường càng lớn. Do đó không phải là sai khi tóm tắt lí thuyết truyền thống về cạnh tranh bằng cách xác định một đặc điểm duy nhất của lí thuyết này là sự tồn tại của một số lớn nhà sản xuất cho cùng một sản phẩm. Nếu quả thật như thế thì đối với người cung cũng như người cầu, giá là do “thị trường” cho trước và những người sản xuất không có khả năng tác động đến giá. Nói cách khác, cách tiếp cận truyền thống định nghĩa cạnh tranh từ kết quả hoạt động của các thị trường (theo khái niệm những cấu trúc sản xuất). Một cách tiếp cận khác – được xem xét dưới đây – nhằm xác định cạnh tranh từ quá trình thị trường, bất kể kết quả của diễn tiến cuộc cạnh tranh này là như thế nào đi nữa.

Những hệ quả của cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo

Nếu có một số lớn những nhà sản xuất của một sản phẩm nhất định thì giá của sản phẩm này là một dữ liệu đối với mỗi một nhà sản xuất. Bởi thế, nếu một nhà sản xuất tăng sản lượng của mình thêm một đơn vị thì doanh thu cận biên vẫn không đổi (hơn nữa điều này có nghĩa là doanh thu cận biên bằng với doanh thu trung bình). Thế thì chi phí cận biên phải gánh chịu để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm này là như thế nào? Theo truyền thống đường chi phí cận biên – nghĩa là đường thể hiện quan hệ giữa chi phí cận biên và những số lượng sản xuất – được xem là có hình chữ U, ít ra là trong ngắn hạn nghĩa là trong một khoảng thời gian mà ta không thể thay đổi những nhân tố sản xuất được. Bất kể những biện minh cho dạng đường này là như thế nào thì cũng chính đáng khi cho rằng nhà sản xuất tất yếu sẽ nằm trên phần đường mà chi phí cận biên là tăng dần: thật thế, nếu có một vùng mà trong đó chi phí cận biên giảm dần thì quyền lợi của nhà sản xuất là tăng sản lượng vì tiền lời cận biên là tăng dần (do được đo bằng hiệu giữa doanh thu cận biên – không đổi – và chi phí cận biên mà trong trường hợp này là giảm dần). Thế mà nếu ta có thể nghi ngờ ý tuởng theo đó có một đoạn của đường chi phí cận biên trên đấy chi phí này giảm dần, thì ta tất yếu phải thừa nhận là có một đoạn trên đấy chi phí này là tăng dần. Thật vậy đây là kết quả của giả thiết theo đó một nhà sản xuất là một người duy lí và trước tiên sử dụng những nhân tố sản xuất nào có khả năng nhất để sản xuất sản phẩm trước khi dùng đến những nhân tố ngày càng ít hiệu quả hơn. Do đó có một điểm tại đấy chi phí cận biên – chi phí tăng dần –gặp doanh thu cận biên – doanh thu không đổi. Tại điểm này, lợi nhuận cận biên bằng không, nghĩa là quyền lợi của nhà sản xuất là không nên sản xuất thêm nữa (mỗi đơn vị sản xuất thêm cho ra một lợi nhuận cận biên âm).

Nhưng bây giờ ta thử phân tích điều gì xảy ra cho toàn thể các nhà sản xuất trong tình thế cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo trên thị trường một sản phẩm. Trước hết hãy hình dung là lúc ban đầu có một sự phân biệt hoá nhất định giữa các nhà sản xuất, một số doanh nghiệp có những chi phí cao hơn một số khác (nghĩa là, cho một qui mô sản xuất nhất định, chi phí trung bình và chi phí cận biên là cao hơn). Mỗi doanh nghiệp ứng xử để làm bằng nhau chi phí cận biên và doanh thu cận biên, điều này cho phép tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp, với những điều kiện kĩ thuật sản xuất hiện hành.

Chính ở đây giả thiết thông tin hoàn hảo bộc lộ hết tầm quan trọng của nó. Thật vậy giả thiết này kéo theo là mọi người có thể biết và sử dụng những kĩ thuật sản xuất có hiệu quả nhất. Khả năng viện đến những kĩ thuật này do đó sẽ thu hút nhiều nhà sản xuất mới, và đương nhiên điều này kéo theo là họ có thể tự do gia nhập thị trường và những nhà sản xuất ít hiệu quả hơn buộc phải thích nghi hay biến mất. Các nhà sản xuất mới còn tiếp tục nhảy vào thị trường ngày nào còn có triển vọng có được lợi nhuận dương và cuối cùng dẫn đến một tình thế trong đó một số lớn nhà sản xuất sẽ sản xuất hoàn toàn giống nhau, nghĩa là sử dụng những kĩ thuật được coi là chỉ phải chịu những chi phí thấp nhất. Nhưng song song đó gia tăng liên tục của cung đương nhiên tạo nên một sụt giảm của giá thị trường của sản phẩm được xem xét, nghĩa là một sụt giảm của doanh thu cận biên (và của doanh thu trung bình, bằng với doanh thu cận biên). Hiển nhiên là sẽ không còn những nhà sản xuất mới gia nhập thị trường nữa khi doanh thu trung bình giảm đến mức tối thiểu của đường chi phí trung bình (ta có thể chứng minh rằng đường chi phí cận biên đi qua điểm cực tiểu của đường chi phí trung bình sao cho tại điểm này doanh thu cận biên, doanh thu trung bình, chi phí cận biên và chi phí trung bình đều bằng nhau). Thật thế, nếu doanh thu trung bình tiếp tục giảm, thì tất yếu những chi phí trung bình sẽ cao hơn doanh thu trung bình, nghĩa là tất cả các nhà sản xuất đều bị lỗ.

Bởi thế, trong khuôn khổ của lí thuyết truyền thống việc phân biệt hoá những nhà sản xuất chỉ có thể là tạm thời và ta đi đến một tình thế cân bằng cuối cùng trong đó tất cả các nhà sản xuất là hoàn toàn giống nhau, sử dụng cùng những kĩ thuật sản xuất giống nhau và có cùng một lợi nhuận bằng không. Kết luận cuối này có vẻ là nghịch lí và quả là nghịch lí thật: việc tất cả các doanh nghiệp tìm kiếm một cách riêng lẻ lợi nhuận cho bản thân đưa họ một cách tập thể đến một tình thế có lợi nhuận bằng không … Nhưng nghịch lí này có thể được xem như dấu hiệu của tính mong manh của lí thuyết truyền thống. Kể từ lúc mà quá trình đồng nhất hoá các nhà sản xuất đã hoàn tất thì việc sản xuất được tiến hành một cách lặp lại, các doanh nghiệp sản xuất đến vô tận cùng một sản phẩm với cùng những kĩ thuật và không thu được lợi nhuận.

Mặc dù có khía cạnh nghịch lí của tình thế cân bằng, nhưng tình thế này thường được xem là chuẩn để từ đấy có thể đánh giá những cấu trúc thị trường: những tình thế trong đó không có cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo được xem là không tối ưu. Viện đến một cái nhìn chuẩn tắc về cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo ngầm dựa trên ý là, trong trường hợp này, không có nhà sản xuất nào có một “quyền lực” trên thị trường, ngược lại với tình thế cạnh tranh. Nhưng việc sử dụng thuật ngữ “quyền lực” là nhập nhằng vì bình thường nó kéo theo việc sử dụng cưỡng bức. Thế mà không nhất thiết phải có sự cưỡng bức khi không có những điều kiện của cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo.

Lí thuyết truyền thống về cạnh tranh do đó tự nhiên dẫn đến, một cách tương phản, một lí thuyết về độc quyền. Độc quyền được định nghĩa như một tình thế trong đó chỉ có một nhà sản xuất duy nhất một sản phẩm nhất định. Như thế người ta chứng minh là nhà độc quyền có khả năng thu được một “siêu lợi nhuận”, nghĩa là một lợi nhuận cao hơn lợi nhuận bình thường, lợi nhuận bình thường này là kết quả của một tình thế cạnh tranh. Thật vậy, ngược lại với nhiều nhà sản xuất của tình thế cạnh tranh mà đối với họ cầu là một dữ liệu cho trước và họ không thể thay đổi nó, nhà sản xuất trong thế độc quyền biết được phản ứng của người cầu sản phẩm với giá cả. Do đó nhà độc quyền có thể xác định một giá tối ưu cho mình: thật thế, bằng cách làm cho cung của mình trở thành khan hiếm nhà độc quyền có thể tăng giá bán và tối đa hoá lợi nhuận của mình.

(còn tiếp) 

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry (đồng chủ biên), Paris, 2001, PUF.

http://www.phantichkinhte123.com/

Phỏng vấn Robert Skidelsky – Phần cuối


Trong Lí thuyết tổng quát, Keynes có cường điệu hoá quan niệm của các nhà cổ điển không?

Có. Không một nhà kinh tế cổ điển, cũng như không một đồng nghiệp nào của ông tin vào những điều mà Keynes cho rằng đó là quan niệm của họ. Robertson, và cả Hawtrey hay Hayek đều không phải là những nhà kinh tế cổ điển. Người duy nhất có thể là nhà kinh tế cổ điển là Pigou. Rõ ràng là Keynes đã có thành kiến. Ông đã gán những luận điểm cho các nhà kinh tế cổ điển trong lúc không một nhà kinh tế nào đồng thời với ông tin vào những luận điểm đó nữa. Tuy nhiên đó là những điều họ phải nghĩ để nhất quán với những gì họ nói. Keynes thách thức họ làm phù hợp những tiền đề với những kết luận của họ.

Nếu Lí thuyết tổng quát được viết vào 1926, phải chăng đã tránh được thảm hoạ kinh tế của thập niên 1930?

Không, tôi không nghĩ rằng Lí thuyết tổng quát có thể được xuất bản mười năm trước được. Cần phải có cơn đại khủng hoảng thì mới kết tinh thành bản cáo trạng cay độc chống các nhà kinh tế cổ điển và, vả lại cũng là chống cách vậnh hành của nền kinh tế. Những tác phẩm của Keynes đều là những phản ảnh trung thành của thời đại chúng. Cuốn Treatise on Money tóm tắt thập niên 1920 và không liên quan gì đến cơn đại khủng hoảng. Trong đó bàn đến mô hình một nền kinh tế mở khi một nước gặp phải một số khó khăn. Ngược lại Lí thuyết tổng quát là một cuốn sách về cuộc khủng hoảng thế giới, và do đó, không thể tránh được sự can thiệp của Nhà nước trong đời sống kinh tế. Nhưng dường như câu hỏi của bạn còn có nghĩa là: nếu ta được trang bị tốt hơn về mặt lí thuyết thì ta có thể chiến đấu một cách có hiệu quả hơn chăng? Thật ra, không chỉ cần một lí thuyết tốt hơn mà lí thuyết đó còn phải được chấp nhận, và đây là một điều hoàn toàn khác. Cảm tưởng của tôi là tất cả những lí thuyết kiểu keynesian, một cách ngược đời, bắt đầu yếu dần khi mọi sự trở nên thật sự khó khăn. Nói cách khác, mọi người đều là keynesian trong thập niên 1950 và 1960 khi không có khó khăn gì cả. Khi những khó khăn trở lại thì không tránh khỏi là học thuyết chính thống quay trở lại. Đây là một bí mật tâm lí: khi người ta chịu một áp lực mạnh và chung quanh là sôi động mạnh thì người ta bám víu vào những chân lí cũ nhất, chứ không vào những chân lí mới có.

Giáo sư có nghĩ rằng thiên hạ đã quá coi trọng hiệu ứng Pigou nhằm làm giảm đóng góp lí thuyết của Keynes không? Phải chăng chính Keynes đã cảm nhận ý này nhưng sau đó lại chối bỏ nó?

Điểm xuất phát là bình luận của Keynes trong thập niên 1920 về tác phẩm của Dennis Robertson, Banking Policy and the Price Level [1926] dưới mục “những thiếu hụt phái sinh”. Ông gợi ý cho Robertson hiệu ứng tiền mặt thực tế, cơ chế khiến cho tiết kiệm tăng để lập lại giá trị thực tế của tiền mặt bị lạm phát bào mòn. Tại sao Keynes không nghĩ rằng hiệu ứng có thể tác động trong chiều ngược lại khi có giảm phát? Tôi nghĩ câu trả lời là vì ông không lập luận với những khái niệm cân bằng. Tôi biết là Presley [1986] bảo vệ ý kiến ngược lại, nhưng lập luận của ông ấy không thuyết phục được tôi. Trong trường hợp hiệu ứng Pigou, tại sao Keynes lại không chấp nhận như một trường hợp để xem xét, rồi đơn giản sau đấy loại nó đi vì cho rằng không đáng kể hay quá yếu? Tôi không rõ. Keynes nhạy cảm hơn với những hậu quả làm xã hội nghèo đi hơn là những hiệu ứng điều chỉnh tự động của tiền mặt.

Trong chừng mực nào có thể nói đến cuộc cách mạng keynesian tại Vương quốc Anh và tại Hoa Kì sau cuộc thế chiến thứ hai? Giáo sư có nghĩ rằng Keynes sẽ tán thành những chính sách thường được tiến hành nhân danh ông không?

Rất khó bảo vệ ý cho rằng không có cuộc cách mạng. Tuy nhiên có một số nhà bình luận thuận theo ý này nhưng theo tôi cam kết duy trì một mức việc làm cao và ổn định là một điều mới mà các chính phủ trước đó chưa bao giờ làm. Họ đã làm gì để đạt mục đích này lại là một vấn đề khác. Nhưng họ đã có một kiểu cam kết, và ngay cả những nhà chính trị cũng bị những cam kết của họ ràng buộc. Tất nhiên, họ đã làm cam kết này trước thế chiến nếu họ có thể dựa trên một mô hình kinh tế khác và trên một kinh nghiệm nhất định về chính sách tài khoá, như sau thế chiến thứ hai. Do đó đã có một cuộc cách mạng keynesian trên bình diện thế giới, dù cho ở mỗi nước là mỗi khác. Mỗi nước đã lấy điều gì họ cho là tốt trong Keynes và thêm vào truyền thống riêng của mình.

Chừng mực nào tin tưởng được Keynes về kinh tế chính trị học? Những đóng góp của trường phái lựa chọn công cộng và của kinh văn về các chu kì chính trị-kinh tế phải chăng đã cho thấy hình ảnh một Keynes ngây thơ về chính trị?

Tôi không chia sẻ cách mô tả Keynes như thế. Bạn không thể nói một người là ngây thơ khi mà người này không sống trong giai đoạn được xem xét và không biết những sự kiện mới của giai đoạn đó. Đó không phải là một từ đúng để mô tả Keynes, và tôi nghĩ rằng những quan niệm chính trị của ông cũng chuyển biến nếu ông ấy sống đến những năm 1960 và 1970. Những tiền đề của lập luận của ông thích hợp với những thực tế của thời đại ông hơn là với những thực tế của các thời đại sau.

Ngoài Keynes ra, theo giáo sư, ai là người đã có ảnh hưởng lớn nhất đến những phát triển kinh tế vĩ mô xuất hiện sau Lí thuyết tổng quát?

Không nghi ngờ gì, đó là Friedman. Vừa là như một người cạnh tranh với Keynes, vừa là như chính một bậc thầy tư tưởng. Việc Friedman xét lại Keynes đã dẫn đến cuộc cách mạng của những dự kiến duy lí. Cần phải hiểu rằng Friedman là một nhà kinh tế vĩ mô, và ở cương vị này ông chia sẻ với Keynes một số giả định trước về vai trò của kinh tế học vĩ mô trong việc ổn định các nền kinh tế. Friedman đã luôn đề cao Tract on Monetary Reform. Hayek là một nhà kinh tế lớn khác của thế kỉ hai mươi, nhưng Hayek không tin vào kinh tế học vĩ mô. Ông ta không cho rằng đó là một khoa học thật sự vì ông là nhà kinh tế cực đoan nhất trong số những nhà kinh tế ủng hộ phương pháp luận cá thể.

Do tầm quan trong mà Keynes dành cho những dự kiến trong Lí thuyết tổng quát, theo giáo sư, ông ấy sẽ tiếp nhận như thế nào giả thiết về những dự kiến duy lí và tất cả những mô hình của các nhà cổ điển mới như Lucas?

Một lần nữa rất khó trả lời vì câu hỏi của bạn thực ra nhằm vào khoa học luận của Keynes. Điều này đưa ta quay về cuốn Treatise on Probability và về việc phải xem rằng những niềm tin là có duy lí hay không. Những dự kiến duy lí đôi lúc cũng chợt đến trong Keynes – ví dụ, bạn có thể hình dung số nhân tĩnh từ khái niệm dự kiến duy lí vì người ta dự kiến hay chờ đợi những hiệu ứng tức thì nhưng nhìn chung không nghi ngờ gì là những dự kiến, đối với ông, chủ yếu là không chắc chắn.

David Laidler [1992b] gần đây đã lưu ý đến việc các nhà kinh tế kém hiểu biết lịch sử. Ở cương vị nhà sử học và nhà kinh tế, ông có chia sẽ ý kiến này không?

Vâng, tôi cũng nghĩ thế, đặc biệt là vì những lí do tôi đã nêu trên. Các nhà kinh tế không phải là những sử gia tốt và tôi nghĩ điều này đặc biệt hiện rõ trong trườg hợp những nghiên cứu keynesian chỉ nhấn mạnh đến một cuốn sách duy nhất – Lí thuyết tổng quát – và chứng tỏ là họ không quan tâm đến việc nối kết với phần còn lại của tư tưởng Keynes và lịch sử của thời đại ông ấy. Một trong những rất ít nhà kinh tế hiểu được điều này, Axel Leijonhufvud [1968], đã coi trọng quyển Treatise on Money và đã cố gắng xây dựng một hình ảnh nằm giữa Treatise on Money và Lí thuyết tổng quát. Đây là một thử nghiệm rất lí thú. Nghiên cứu mới đã thật sự cố gắng nối kết những bài viết kinh tế cuối cùng của Keynes với những bài viết triết học trước đó của ông, nhưng lại theo một cách tiếp cận phản lịch sử kì lạ. Ví dụ, họ không xem Treatise on Money như là một tác phẩm trước 1914 trong khi một nhà lịch sử theo bản năng sẽ xếp ngay vào thời kì đó. Những nhà nghiên cứu mới này đơn giản đặt song song nó với Lí thuyết tổng quát, và khảo sát những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai văn bản. Lịch sử không phải là như thế.

Đâu là những yếu tố ngoài kinh tế ảnh hưởng nhất đến những quan niệm kinh tế của Keynes?

Tôi nghĩ là có ba yếu tố ngoài kinh tế chính. Thứ nhất là các nhà cổ điển mà ông ấy đã được học trong nhà trường. Ông đã thấm nhuần thế giới quan và phương pháp luận của họ. Trong những bài viết của ông, có rất nhiều ám chỉ đến những ngụ ngôn cổ điển. Thứ hai là thần học. Phần lớn ngôn ngữ của ông, và cách ông sử dụng nó, nặng chất thần học. Dù sao kinh tế học cũng là sự tiếp nối của thần học bằng cách giữ rất nhiều những đặc tính của thần học. Thứ ba là nghệ thuật. Đâu là mục đích của hoạt động kinh tế? Điều này hiện rõ trong những tiểu luận như “Cách nhìn kinh tế của cháu chúng ta”. Mĩ học đã ảnh hưởng đến quan niệm của ông về vai trò của kinh tế học.

Sự chống đối mãnh liệt của các nhà trọng tiền Anh nổi tiếng, như Alan Walters và Patrick Minford đối với việc Vương quốc Anh gia nhập hệ thống tiền tệ châu Âu giống một cách kì lạ với những tiến công của Keynes chống Churchill trong thập niên 1920. Hai giai đoạn lịch sử này giống nhau chăng?

Về nhiều mặt, hai giai đoạn này có nhiều điểm giống nhau. Trong cả hai trường hợp, đồng bảng Anh là quá cao và không có sự chú ý đầy đủ đến quá trình điều chỉnh. Việc Keynes chống đối bản vị vàng dựa trên lập luận rất trọng tiền được ông phát triển trongTract on Monetary Reform trong đó ông bàn đến một hệ thống trễ đối với những giá mới hay tỉ giá hối đoái. Nhưng tôi không nghĩ rằng Keynes là một người ủng hộ việc thả nổi các đồng tiền theo cách hiểu của các nhà trọng tiền của thập niên 1970. Ông muốn một hệ thống có phối hợp, và bạn đừng quên ông là một trong những kiến trúc sư chính của hệ thống Bretton Woods. Trong một thế giới không có sự kiểm tra vốn, khi mà hệ thống tài chính ít bị kiểm soát hơn thời của Keynes thì có thể giả định là ông sẽ cho rằng không thể đối đầu với những người đầu cơ và do đó hệ thống tỉ giá hối đoái cố định sẽ phải thất bại.

Mặc dù có cơn khủng hoảng của hệ thống keynesian, được rộng rãi công nhận trong thập niên 1970, một số những tư tưởng này hình như đang sống trở lại. Giáo sư giải thích điều này như thế nào? Giáo sư có thấy nổi lên một đồng thuận trong đó những tư tưởng keynesian có thể một lần nữa trở thành tiêu điểm của kinh tế học vĩ mô?

Vâng. Keynes nói hai điều mà theo tôi có một giá trị thường xuyên và phải nằm trong bất kì quan niệm nào về sự vận hành của các nền kinh tế. Thứ nhất, ông nhấn mạnh là bất trắc tạo nên mất ổn định. Đầu cơ là con lắc của các nền kinh tế và cách nó lúc lắc sinh ra bất ổn trên tất cả các thị trường. Thứ hai, ông nêu bật những tác động trên thu nhập, sản xuất và giá cả, chứ không chỉ riêng trên giá mà thôi. Hai ý này rất quan trọng và mọi hiểu biết hiện đại về tiến trình của các nền kinh tế cần phải tính đến chúng. Nếu bạn nghĩ rằng các nền kinh tế là bất ổn, rằng những cơn suy thoái thường là khá nặng và những hậu quả của chúng không tự chúng biến mất thì bạn sẽ dành một vai trò cho Nhà nước. Một số nhà kinh tế khác cho rằng Nhà nước không nên có một vai trò lớn, nhưng chỉ cần theo một vài qui tắc. Chính nơi đây mới thật là điểm tranh luận, và tôi đứng về phía Keynes. Điều này không có nghĩa là ta phải theo những chính sách Keynes chủ trương. Thời đại đã thay đổi và những chính sách mà ông ấy có thể khuyến nghị cũng thay đổi theo.

Nếu Keynes vẫn còn sống đến 1969, giáo sư có nghĩ rằng ông ấy sẽ được giải Nobel kinh tế đầu tiên không?

Ah [Cười]. Có thể nào trả lời khác hơn là vâng? [Cười nữa]

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: La pensée économique moderne. Guide des grands courants de Keynes à nos jours, NXB Ediscience International, Paris, 1997 (bản dịch tiếng Pháp của Fabrice Mazerolle từ nguyên tác tiếng Anh là A Modern Guide to Macroeconomics. An Introduction to Competing Schools of Thought, NXB Edward Elgar Publishing Limited, Hants, UK, 1994).

http://www.phantichkinhte123.com/