Tự do kinh doanh


Jacques GARELLO

Giáo sư đại học Aix-Marseille 3

Vincent de Gournay, rồi tiếp đến môn đồ của ông làTurgot, đã lấy lại công thức của Thomas Le Gendre: “Tự do kinh doanh”. Khi Colbert hỏi thương gia giàu có này, người sở hữu nhiều của cải ở châu Phi và châu Mĩ, là nhà vua và bộ máy công quyền có thể làm được gì để giúp thương mại thì Le Gendre đáp: “Xin cứ để cho chúng tôi làm”. Lúc bấy giờ đó là một câu trả lời, một lời thỉnh cầu và rồi sau này sẽ trở thành một cuộc cách mạng. Đó cũng là một lời tư vấn chính trị thực tiễn và rồi sau này sẽ trở thành một nguyên lí lí thuyết.

Trên quan điểm thực tiễn, tự do kinh doanh hiện ra như sự kết án học thuyết trọng thương. Nền kinh tế chỉ huy được thiết lập ngay từ thế kỉ XV đã đưa nhiều nước đến điêu tàn và sinh ra nhiều cuộc chiến không dứt và tốn kém cho tất cả các quốc gia. Bổ sung vào mô hình Anh hợp thành từ việc bảo hộ đối với nước ngoài (Luật hàng hải), nền quân chủ Pháp còn thêm vào những cản trở đối với nội thương: qui định hoá khống chế từ ban quản lí phường hội đến những cuộc hội chợ, các nghị viện làm luật trong lĩnh vực nông nghiệp, vận tải, nhà vua đã biến rất nhiều ngành nghề thành những chức hàm công cộng đi kèm với một độc quyền, một thuế khoá nhọc nhằn kết hợp những điều miễn thuế, tuỳ tiện và phức tạp. Do dó “tự do kinh doanh” là phản ứng của những cá thể năng động bị nền kinh tế chỉ huy đè nén. Đó là một thỉnh nguyện vì sự tự do kinh doanh và tự do lưu thông: cứ để cho làm, cứ để cho qua. Turgot sẽ nâng những nguyên lí của tự do kinh doanh lên mức cao nhất bằng cách thuyết phục vua Louis XVI kí sắc lệnh thiết lập tự do thương mại ngũ cốc (1774) và sắc lệnh bãi bỏ những ban quản lí phường hội (1776).

Đó là do trong thời gian trên tự do kinh doanh đã được nâng lên hàng một nguyên lí của triết học kinh tế. Đây là sự tiếp nối logic của học thuyết quyền tự nhiên và trật tự tự nhiên được Grotius, Pufendorf và nhất là Locke rao giảng trong thế kỉ XVII. Con người là một sinh vật có ý thức, có lí trí và có những quyền. Cuộc sống trong xã hội được hiểu như một mạng những quyền và nghĩa vụ mà các cá thể thừa nhận cho nhau. Quyền sở hữu là qui tắc xã hội cho phép cấu trúc hoá những tương tác này. Thật vậy, quyền sở hữu cho phép mỗi người có quyền trên sản phẩm của hoạt động của bản thân, do đó cho phép trao quyền này đổi lấy sản phẩm của hoạt động của những người khác. Mặc dù được các nhà trọng thương trình bày vụng về nhưng ý tưởng về một trật tự kinh tế tự nhiên vẫn tiến triển và cuối cùng, nhờ Turgot và Adam Smith, điều được xác lập rõ ràng là trao đổi, mà con người hướng đến một cách tự nhiên, là nguồn gốc của những lợi ích cho đôi bên, làm tăng phúc lợi của những bên tham gia và dẫn đến sự hài hoà xã hội. Do đó, mọi cản trở tự do kinh doanh, mọi giới hạn hoạt động kinh tế là một sự vi phạm đến bản chất và những quyền cơ bản của con người, đồng thời là một sự đe doạ cho trật tự kinh tế tự nhiên. Cuộc Cách mạng sẽ tuyên bố “quyền tự do của thương mại và công nghiệp”.

Tuy nhiên sự tin tưởng vào “bàn tay vô hình” và vào diễn tiến hài hoà của một nền kinh tế được tự do hoá sẽ bị những cuộc khủng hoảng gọi là “sản xuất thừa”, được xem là gắn với cuộc cách mạng công nghiệp, làm lung lay. Chính lúc này Jean Baptiste Say sẽ chứng minh về mặt lí thuyết là không thể có khủng hoảng trong một nền kinh tế dựa trên sự tự do trao đổi sản phẩm của doanh nghiệp tự do, nghĩa là trên sự trao đổi những “quyền thật sự”ra đời từ việc sáng tạo ra của cải. Một cách đối lập, J. B. Say không có đủ yếu tố để giải thích sự có mặt cụ thể thường xuyên của những cuộc khủng hoảng: đó là do các chính phủ tiếp tục vi phạm nguyên lí “tự do kinh doanh”. Do thiếu tính trung lập của tiền tệ và thuế khoá, không muốn từ bỏ việc chi phối một số mặt của sản xuất  trao đổi và việc kiểm soát quyền sở hữu tư nhân nên các nhà cầm quyền đã tạo điều kiện ưu đãi cho việc phân phối những “quyền giả tạo” (J. Rueff) và ngăn cản sự hoàn thành của những hài hoà kinh tế. Frédéric Bastiat sẽ giải thích vì sao các chính khách lại hành xử như thế. Đây là sự suy đồi của nền dân chủ đại diện, một hệ thống trong đó nhân dân không còn kiểm soát trực tiếp Nhà nước nữa mà kiểm soát gián tiếp thông qua những dân biểu, mà đối với những dân biểu này việc kiểm soát dần dần ít được ưu tiên bằng việc bầu cử. Các dân biểu dần dần thông qua những chi tiêu mới (do đó những thuế mới) nhằm mở rộng số cử tri bầu cho mình, bảo vệ người nước mình (là những cử tri) chống người nước ngoài (không phải là cử tri), qui định hoá tuỳ theo những lợi ích cục bộ có khả năng tác động đến kết quả bầu cử.

Từ ba thế kỉ nay những người ủng hộ tự do kinh doanh không ngừng đấu tranh chống lại những độc quyền, những đặc quyền, sự tuỳ tiện thuế khoá, những thao túng tiền tệ, những qui định, chi tiêu công cộng và chủ nghĩa bảo hộ và thu được những thắng lợi không đồng đều. Ngày nay toàn cầu hoá, việc “chuyển đổi sang thị trường”, sự phình to quá mức khu vực công khiến cho cuộc chiến đấu này thêm quyết liệt. Có thể là những cơ hội thành công của tự do kinh doanh sẽ lớn hơn nếu ta biết được rằng “tự do kinh doanh” không có nghĩa là điều gì. Tự do kinh doanh không có nghĩa là vô chính phủ, nhưng là sự phối hợp các hoạt động kinh tế bằng một quá trình phi tập trung: thị trường. Tự do kinh doanh cũng lại càng không có nghĩa là sự buông thả dễ dãi, thiếu vắng qui tắc nhưng là việc tôn trọng những qui tắc được một truyền thống xã hội tiến hoá thường xuyên tự do suy ra từ những quyền cá nhân. Tự do kinh doanh là một đòi hỏi trách nhiệm cá nhân, là một niềm tin vào những điều tốt lành của sự sáng tạo và hợp tác của con người.

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry (đồng chủ biên), Paris, 2001, PUF.

Cạnh tranh – Phần cuối


Pascal SALIN

Giáo sư đại học Paris-Dauphine (Paris 9)

……

Phê phán lí thuyết cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo

Mặc dù có vẻ hoàn toàn chặt chẽ – do có thể chỉ vì vẻ toán học được khoác lên lí thuyết này – nhưng lí thuyết truyền thống dẫn đến một nghịch lí không thể giải quyết được. Thật thế, trong thực tiễn gần như là không thể gặp những điều kiện nghiêm ngặt xác định một tình thế cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo. Do đó người ta buộc phải quyết định rằng một tình thế thực tế là đủ gần hay đủ xa với tình thế lí thuyết chuẩn để có thể chấp nhận là có cạnh tranh hay không. Nhưng như thế là nói rằng trong thực tiễn lí thuyết tinh vi này phải nhường chỗ cho những đánh giá cá nhân tất yếu là tuỳ tiện. Thế mà chính cách tiếp cận này gợi ý cho vô số những pháp chế về cạnh tranh. Những văn bản qui phạm này đưa đến hoặc là việc xác định những tiêu chuẩn võ đoán về cạnh tranh, ví dụ tầm quan trọng của thị phần của một nhà sản xuất hoặc là giao cho các quan toà quyền quyết định tuỳ nghi rằng trong chừng mực nào quả thật là có cạnh tranh. Thế mà xét, ví dụ, một thành tố chủ yếu của định nghĩa về cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo, tức là sự tồn tại của một số lớn nhà sản xuất của một sản phẩm nhất định, và điều này biện minh cho mối quan tâm vào thị phần của một nhà sản xuất để đánh giá sự cạnh tranh. Ta có thể, bằng một cách hoàn toàn võ đoán, định nghĩa một sản phẩm một cách rất chính xác hay rất rộng và tất nhiên kết quả sẽ là một đánh giá hoàn toàn khác về những thị phần và “quyền lực trên thị trường”. Điều này càng quan trọng hơn khi những sản phẩm sẵn có tại những địa điểm và thời điểm khác nhau là không hoàn toàn thay thế lẫn nhau và do đó không phải là những sản phẩm đồng nhất.

Trước nhận định là có một chênh lệch giữa lí thuyết và thực tế, cách tiếp cận truyền thống thường dẫn đến việc cố gắng buộc hiện thực phải phù hợp với lí thuyết, nghĩa là buộc các nhà sản xuất ứng xử như thể là có cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo. Nhưng do cạnh tranh này không tồn tại nên chuẩn được dùng để so sánh với tình thế thực tế là một chuẩn hoàn toàn ảo. Thế mà chính bằng cách đó mà người ta biện minh cho, ví dụ, những chính sách qui định hoá giá cả, quốc hữu hoá doanh nghiệp ở “thế độc quyền” hay những lệnh của toà án chia thành nhiều thực thể một doanh nghiệp được coi là có một quyền lực “quá đáng” trên thị trường hay để cấm một số sáp nhập.

Nhưng để giải quyết những khó khăn sinh ra từ chênh lệch này giữa thực tế và lí thuyết, đương nhiên còn một phương pháp khác nhằm thay đổi lí thuyết cạnh tranh sao cho lí thuyết này là một công cụ giải thích hiện thực như nó thật sự tồn tại (phương pháp này chủ yếu do các tác giả “Áo” đề xướng: đặc biệt xem Hayek[1948], Rothbard [1962], Kirzner [1973], O’Driscoll và Rizzo [1985]). Thế mà để hiểu rõ hiện thực này, thì phải có một cách nhìn động chứ không phải tĩnh. Thật thế, đặc điểm của đời sống kinh tế chính là khả năng của các tác nhân tưởng tượng ra tương lai và chấp nhận rủi ro bằng cách đổi mới. Trên quan điểm này, người ta đã sai lầm khi dùng cùng một thuật ngữ – doanh nghiệp hay nhà sản xuất –  để chỉ hai nhân vật hoàn toàn khác nhau: nhà sản xuất theo quán tính – đặc điểm của cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo – chỉ bằng lòng với việc bắt chước những nhà sản xuất khác và “hội tụ” về cùng những kĩ thuật sản xuất giống nhau; và nhà sản xuất đổi mới tìm cách tự cá biệt hoá so với những nhà sản xuất khác để làm tốt hơn họ và chiếm một thị phần lớn hơn, bằng cách sử dụng những kĩ thuật sản xuất hiệu quả hơn hay đề nghị những sản phẩm mới và rẻ hơn.

Nói cách khác lí thuyết truyền thống đáng bị phê phán vì chấp nhận một cách nhìn công nghệ về hoạt động sản xuất. Để sản xuất một sản phẩm nhất định, có một kĩ thuật tối ưu, xuất hiện một cách ngoại sinh và trong tầm tay của tất cả các nhà sản xuất. Điều này tương ứng với giả thiết theo đó thông tin là “hoàn hảo”. Thế mà thật là phi lí khi giả định một thông tin hoàn hảo vì thông tin tất yếu là một sản phẩm hiếm và việc phát triển mọi hoạt động sản xuất chính là nhằm tạo ra những tri thức mới. Một lí thuyết giả định sự tồn tại của một quĩ tri thức sẵn có một cách phổ cập không thể giải thích thế giới thực tế, chủ yếu được đặc trưng bởi việc là tri thức không có sẵn nhưng phải được các nhà đổi mới tìm ra. Lí thuyết cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo là đúng về mặt hình thức, nhưng lại áp dụng cho một thế giới không tồn tại.

Như thế làm thế nào định nghĩa cạnh tranh? Đơn giản bằng những từ gần với lí lẽ thông thường. Có cạnh tranh khi có sự tự do gia nhập một thị trường. Nếu có tự do này thì những nhà đổi mới sẽ thử tranh đua với những nhà sản xuất hiện có, nghĩa là họ sẽ cố gắng tự phân biệt hoá để trở thành tốt hơn những nhà sản xuất hiện có mặt trên thị trường. Do đó cạnh tranh thật sự là trái ngược hẳn với “cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo”, một khái niệm giả định là có cạnh tranh khi các nhà sản xuất cố gắng trở thành gống nhau. Chính vì thế mà ta có thể nói rằng lí thuyết truyền thống mô tả hoạt động của một nền kinh tế kế hoạch hoá– trong đó trung ương yêu cầu các đơn vị sản xuất sử dụng một công nghệ do trung ương chỉ định – tốt hơn là một hoạt động của một nền kinh tế cạnh tranh.

Như Gerald O’Driscoll và Mario Rizzo (1985) viết: “Người ta lao vào những cuộc tranh đua thể thao chính là vì không biết và không thể biết trước biến cố thể thao ai là vận động viên hay đội tuyển giỏi nhất”. Tất nhiên sẽ là không công bằng nếu thay đổi các kết quả sau khi cuộc chơi kết thúc viện cớ rằng những kết quả là không công bằng. Nhưng điều người ta không chấp nhận trong thể thao lại được đa số các nhà kinh tế chấp nhận trong hoạt động doanh nghiệp. Có được nghịch lí này bằng cách định nghĩa lại cạnh tranh sao cho thuật ngữ này hầu như chỉ điều ngược lại của cái thật sự là cạnh tranh. Nhưng “sẽ là phong phú hơn khi định nghĩa cạnh tranh như một quá trình hơn là như một trạng thái của sự vật”.

Khi có một thị trường có tự do gia nhập thì tất cả những nhà sản xuất tiềm tàng đều không tận dụng tự do này một cách giống nhau: một số nhà sản xuất có năng lực đổi mới hơn, một số khác sản xuất theo quán tính hơn. Nhưng những nhà đổi mới là những nhà sản xuất duy nhất đề nghị một kiểu sản phẩm hay dịch vụ. Bất kì nhà đổi mới nào lúc ban đầu đều có100% thị phần vì đó là người duy nhất đề nghị sản phẩm ấy, vả lại người này đã hành động và chấp nhận rủi ro vì hi vọng đạt được vị thế này. Công lớn của cạnh tranh, theo nghĩa được chúng tôi hiểu, chính là do nó kích thích việc đổi mới, nghĩa là làm khác chứ không làm giống người khác. Cạnh tranh, theo thành ngữ được Friedrich Hayek sử dụng thường xuyên là một “quá trình khám phá”. Thậm chí ta còn có thể nói rằng cạnh tranh (hiểu theo nghĩa tự do gia nhập) động viên các nhà sản xuất giành lấy một vị thế độc quyền (hiểu theo nghĩa truyền thống). Nhưng nếu còn có tự do gia nhập thị trường thì vị thế độc quyền của nhà sản xuất-đổi mới có khả năng bị đe doạ bởi những người mới gia nhập vốn là những người bắt chước hơn là những người đổi mới. Do đó nếu muốn giữ vững thị phần và lợi nhuận thì nhà sản xuất đầu tiên phải liên tục đổi mới.

Điều này giải thích vì sao cách nhìn tĩnh của cách tiếp cận truyền thống là đáng phản bác. Nếu ta nhận thấy là một nhà sản xuất chiếm một thị phần bằng 100% thì đó có thể là vì hai lí do trái ngược nhau: hoặc là vị thế này là kết quả của những năng khiếu đổi mới hoặc là kết quả của việc cấm cản người khác gia nhập thị trường. Chỉ nhìn thấy thị phần không cho phép hiểu được đâu là quá trình đang vận động.

Tương tự như thế, từ bỏ cách nhìn tĩnh về cạnh tranh và chấp nhận cách nhìn động cho phép giải thích lợi nhuận. Trong khuôn khổ của lí thuyết truyền thống, với thông tin “hoàn hảo” và khi có một kĩ thuật tối ưu (trong kinh tế không thể xác định tính tối ưu từ những dữ liệu“kĩ thuật”, nhưng phải từ những mục tiêu cá thể), tất cả các nhà sản xuất đều hội tụ về cùng một vị thế tại đấy lợi nhuận là bằng không. Điều này xảy ra vì trong thực tế điều được gọi là “lợi nhuận” trong lí thuyết truyền thống không phải là một lợi nhuận thật sự. Thật thế, lợi nhuận được định nghĩa như một thù lao dư thừa, nghĩa là cái còn lại trong thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã thanh toán những chi phí chắc chắn (lương, tiền lãi). Trong thế giới chắc chắn của lí thuyết truyền thống, lợi nhuận thật ra qui về một thù lao chắc chắn mà doanh nghiệp nhận được đổi lấy lao động của mình. Do đó nó giống với tiền lương.

Trong thế giới thực tế, thế giới của lí thuyết động về cạnh tranh, lợi nhuận là một thù lao không chắc chắn, đối phần của việc chấp nhận rủi ro cố hữu của mọi đổi mới, vả lại lợi nhuận chỉ có thể được quan niệm trong cách nhìn này thôi. Chính vì muốn thu lợi nhuận mà doanh nghiệp hành động và chấp nhận rủi ro. Khi lợi nhuận là dương tức là những dự kiến của doanh nghiệp tỏ ra đúng. Nhưng khái niệm siêu lợi nhuận nêu ở trên, như thế mất đi ý nghĩa. Thật thế chỉ có thể nói đến siêu lợi nhuận so với một chuẩn, tức là so với “lợi nhuận bình thường”. Thế mà nếu một người đổi mới – mà theo định nghĩa là người duy nhất trên thị trường ban đầu của mình – thu được lợi nhuận thì làm sao có thể xác định một lợi nhuận bình thường để có thể so sánh khi không có tình thế chuẩn? Thật vậy, nếu nhà đổi mới không nhảy vào sản xuất thì sản phẩm người này làm ra đã không tồn tại và không thể xác định tỉ suất lợi nhuận gắn với hoạt động này.

Khi lí thuyết truyền thống chứng minh rằng một tình thế độc quyền dẫn đến sự tồn tại của một “siêu lợi nhuận” thì lí thuyết này đúng về mặt hình thức, theo nghĩa lập luận là nhất quán trên cơ sở những giả thiết được chọn làm chỗ tựa cho lập luận này. Nhưng lí thuyết lại định nghĩa một khái niệm không tồn tại – siêu lợi nhuận – vì lí thuyết xuất phát từ những giả thiết không dính dáng gì đến thực tế. Chính xác hơn, cần phân biệt hai nghĩa đối lập nhau của thuật ngữ “độc quyền”, một cách song song với hai nghĩa của từ “cạnh tranh”. Thật thế, đối với lí thuyết truyền thống có độc quyền khi chỉ có một nhà sản xuất trên thị trường, bất kể lí do của độc quyền là như thế nào. Nhưng nếu ta theo một cách nhìn động về cạnh tranh thì ta thấy là sự tồn tại của một nhà sản xuất trên một thị trường có thể là kết quả hoặc của tính chất đổi mới của nhà sản xuất này hoặc của việc cấm các nhà sản xuất khác nhảy vào thị trường. Trong trường hợp đầu có một lợi nhuận (bình thường) của việc đổi mới, trong trường hợp sau có một “siêu lợi nhuận”, kết quả của một đặc quyền được độc quyền. Nói cách khác, thật sự là có siêu lợi nhuận với điều kiện nói rõ là nó chỉ xuất hiện khi một nhà sản xuất được bảo vệ chống lại mọi sự cạnh tranh bằng một hành động cưỡng bức hợp pháp, và điều này cho phép nhà sản xuất giữ lại một lợi nhuận lớn hơn lợi nhuận thu được trong trường hợp có sự tự do gia nhập thị trường. Quả thật là độc quyền vẫn tồn tại, nhưng với điều kiện là làm rõ rằng một độc quyền thật sự bao giờ cũng là kết quả của việc cấm đoán một cách hợp pháp sự cạnh tranh. Theo quan điểm này, ta có thể phê phán tất cả các văn bản pháp qui tự cho là bảo vệ cạnh tranh vì dựa trên lí thuyết truyền thống và điều này có thể dẫn đến việc lên án những độc quyền đổi mới chứ không phải là những độc quyền đặc quyền. Thật ra chính sách cạnh tranh thật sự duy nhất là tháo bỏ tất cả những cản trở cho việc tự do gia nhập các thị trường.

Rốt cuộc, tìm hiểu cạnh tranh kích thích ta quan tâm đến một trong những vấn đề chủ yếu của mọi tổ chức kinh tế, tức là việc xác định mức độ tối ưu của sự phân biệt hoá và đồng nhất hoá những hoạt động của con người. Như đã thấy, một cách tiếp cận thực tế về cạnh tranh cho phép kiến giải hiện tượng này như một lực phân biệt hoá, phù hợp với những nguyện vọng sâu sắc và thông thường của con người. Nhưng cũng có những trường hợp mà sự phân biệt hoá cực kì các sản phẩm là không nên và không được mong muốn, đặc biệt là đối với những hoạt động mạng (viễn thông, tiền tệ, v.v.). Nhưng nếu có sự tự do gia nhập thị trường thì các tác nhân – người sản xuất và người mua – sẽ luôn tìm mức độ phân biệt hoá được họ xem là nên có tuỳ theo cảm nhận có biến đổi về những nhu cầu của họ và về những tri thức họ sẽ tạo ra. Như thế ta cũng có thể đi đến, trong nhiều chuyện khác nữa, việc chấp nhận một cách tiếp cận khác về các cartel (xem Salin, 1996). Trong cách nhìn truyền thống một cartel là một nỗ lực của nhiều nhà sản xuất để giới hạn cạnh tranh, nhằm tạo nên một độc quyền và “bóc lột” người mua bằng cách áp đặt cho họ một“siêu lợi nhuận”. Nhưng một cartel cũng có thể là một phương tiện để các nhà sản xuất này đáp ứng tốt hơn một nhu cầu phân biệt hoá sản phẩm của người mua mà vẫn giữ nguyên sức mạnh đổi mới hàm chứa trong cạnh tranh. Ví dụ, đó là trường hợp khi nhiều nhà sản xuất tiền tệ thay vì sản xuất những đồng tiền với những đặc điểm khác nhau, phát hành những đơn vị tiền tệ hoàn toàn thay thế lẫn nhau được nhằm gia tăng tính thanh khoản của những đồng tiền này và do đó đáp ứng tốt hơn một nhu cầu của người sử dụng đồng tiền. Nói cách khác, khi có tự do gia nhập thị trường thì cạnh tranh kích thích các nhà sản xuất không chỉ tưởng tượng những sản phẩm tốt hơn mà cũng còn kích thích họ tưởng tượng những hệ thống tổ chức tốt hơn.

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry (đồng chủ biên), Paris, 2001, PUF.

http://www.phantichkinhte123.com/

Cạnh tranh – Phần đầu


Pascal SALIN

Giáo sư đại học Paris-Dauphine (Paris 9)

Chắc chắn là không thể hiểu được hoạt động của một hệ thống sản xuất bất kì mà không qui chiếu về khái niệm cạnh tranh. Chính vì thế điều đặc biệt quan trọng là phải có được một định nghĩa và một lí thuyết về cạnh tranh càng thoả đáng nhất có thể. Thế mà lí thuyết truyền thống về cạnh tranh, một lí thuyết tạo thành điểm qui chiếu thống trị, theo quan điểm của phân tích kinh tế cũng như trong những ứng dụng thực tiễn của phân tích này, là đáng bị phê phán vì nhiều lí do. Cần thay thế lí thuyết này bằng một cách tiếp cận khác, thuộc về một cách nhìn động.

Lí thuyết truyền thống: cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo

Trong việc tìm hiểu những cấu trúc thị trường, chuẩn được chấp nhận theo truyền thống được biết dưới tên “cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo” trong kinh văn. Mối quan tâm nằm sau lí thuyết này là tìm xem, trên một thị trường nhất định, có nhà sản xuất hay một nhóm nhỏ nhà sản xuất nào, một cách có ý thức, có khả năng tác động đến giá của sản phẩm ấy hay không. Nếu có thì trường hợp này được gọi là không có cạnh tranh. Ngược lại, một tình thế được xem là cạnh tranh khi một nhà sản xuất nhất định có một quy mô tương đối quá nhỏ so với những nhà sản xuất khác để có thể có bất kì tác động nào đến thị trường, đặc biệt là trên giá các sản phẩm.

Để có được “cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo” thì phải hội đủ một số điều kiện. Danh sách những điều kiện thay đổi tuỳ theo các tác giả, nhưng thường gồm những yếu tố sau: sự tồn tại của một số lớn người mua và người bán, mỗi tác nhân có một quy mô kinh tế tương đối yếu, một sản phẩm đồng nhất và chia nhỏ được, thông tin hoàn hảo. Tất nhiên điều kiện về quy mô tương đối của những tác nhân là cơ bản, những điều kiện khác coi như  là thứ yếu: thật thế, nếu một sản phẩm không phải là đồng nhất – ví dụ do tầm quan trọng của một nhãn hiệu đối với người mua (vả lại chính vì lí do này mà những người bảo vệ lí thuyết truyền thống cảnh giác đối với quảng cáo, một yếu tố phân biệt hoá) – thì mỗi nhà sản xuất sản xuất ra một sản phẩm không hoàn toàn thay thế được cho sản phẩm của những nhà sản xuất khác, khiến cho nhà sản xuất này là nhà sản xuất độc nhất của sản phẩm đặc biệt ấy. Tương tự như thế, nếu điều kiện chia nhỏ không được thoả mãn – ví dụ, vì sản phẩm được xem xét là một nhà máy điện nguyên tử – thì khó mà hình dung là có một số lớn những nhà sản xuất. Còn thông tin hoàn hảo cũng kéo theo là không thể có việc phân khúc thị trường của một sản phẩm thành từng thị trường nhỏ được định vị và có đặc thù. Do đó tất cả các điều kiện hội tụ về một mối quan tâm duy nhất: xác định những tình thế trong đó một nhà sản xuất không thể tự mình khác biệt hoá đối với vô số những nhà sản xuất khác.

Mặt khác, điều nổi bật là ta nhận thấy rằng có một điều kiện nữa được đưa thêm vào danh sách trên, tức là việc tự do gia nhập một thị trường. Nhưng trái với cách kiến giải của chúng tôi sẽ được trình bày dưới đây thì, trong khuôn khổ của lí thuyết truyền thống, bản thân điều kiện này chỉ nhằm cho phép việc thực hiện mục đích cuối cùng, tức là sự tồn tại của một số lớn những nhà sản xuất. Thật vậy, khả năng càng lớn là sự thể sẽ là như vậy khi sự tự do gia nhập thị trường càng lớn. Do đó không phải là sai khi tóm tắt lí thuyết truyền thống về cạnh tranh bằng cách xác định một đặc điểm duy nhất của lí thuyết này là sự tồn tại của một số lớn nhà sản xuất cho cùng một sản phẩm. Nếu quả thật như thế thì đối với người cung cũng như người cầu, giá là do “thị trường” cho trước và những người sản xuất không có khả năng tác động đến giá. Nói cách khác, cách tiếp cận truyền thống định nghĩa cạnh tranh từ kết quả hoạt động của các thị trường (theo khái niệm những cấu trúc sản xuất). Một cách tiếp cận khác – được xem xét dưới đây – nhằm xác định cạnh tranh từ quá trình thị trường, bất kể kết quả của diễn tiến cuộc cạnh tranh này là như thế nào đi nữa.

Những hệ quả của cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo

Nếu có một số lớn những nhà sản xuất của một sản phẩm nhất định thì giá của sản phẩm này là một dữ liệu đối với mỗi một nhà sản xuất. Bởi thế, nếu một nhà sản xuất tăng sản lượng của mình thêm một đơn vị thì doanh thu cận biên vẫn không đổi (hơn nữa điều này có nghĩa là doanh thu cận biên bằng với doanh thu trung bình). Thế thì chi phí cận biên phải gánh chịu để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm này là như thế nào? Theo truyền thống đường chi phí cận biên – nghĩa là đường thể hiện quan hệ giữa chi phí cận biên và những số lượng sản xuất – được xem là có hình chữ U, ít ra là trong ngắn hạn nghĩa là trong một khoảng thời gian mà ta không thể thay đổi những nhân tố sản xuất được. Bất kể những biện minh cho dạng đường này là như thế nào thì cũng chính đáng khi cho rằng nhà sản xuất tất yếu sẽ nằm trên phần đường mà chi phí cận biên là tăng dần: thật thế, nếu có một vùng mà trong đó chi phí cận biên giảm dần thì quyền lợi của nhà sản xuất là tăng sản lượng vì tiền lời cận biên là tăng dần (do được đo bằng hiệu giữa doanh thu cận biên – không đổi – và chi phí cận biên mà trong trường hợp này là giảm dần). Thế mà nếu ta có thể nghi ngờ ý tuởng theo đó có một đoạn của đường chi phí cận biên trên đấy chi phí này giảm dần, thì ta tất yếu phải thừa nhận là có một đoạn trên đấy chi phí này là tăng dần. Thật vậy đây là kết quả của giả thiết theo đó một nhà sản xuất là một người duy lí và trước tiên sử dụng những nhân tố sản xuất nào có khả năng nhất để sản xuất sản phẩm trước khi dùng đến những nhân tố ngày càng ít hiệu quả hơn. Do đó có một điểm tại đấy chi phí cận biên – chi phí tăng dần –gặp doanh thu cận biên – doanh thu không đổi. Tại điểm này, lợi nhuận cận biên bằng không, nghĩa là quyền lợi của nhà sản xuất là không nên sản xuất thêm nữa (mỗi đơn vị sản xuất thêm cho ra một lợi nhuận cận biên âm).

Nhưng bây giờ ta thử phân tích điều gì xảy ra cho toàn thể các nhà sản xuất trong tình thế cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo trên thị trường một sản phẩm. Trước hết hãy hình dung là lúc ban đầu có một sự phân biệt hoá nhất định giữa các nhà sản xuất, một số doanh nghiệp có những chi phí cao hơn một số khác (nghĩa là, cho một qui mô sản xuất nhất định, chi phí trung bình và chi phí cận biên là cao hơn). Mỗi doanh nghiệp ứng xử để làm bằng nhau chi phí cận biên và doanh thu cận biên, điều này cho phép tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp, với những điều kiện kĩ thuật sản xuất hiện hành.

Chính ở đây giả thiết thông tin hoàn hảo bộc lộ hết tầm quan trọng của nó. Thật vậy giả thiết này kéo theo là mọi người có thể biết và sử dụng những kĩ thuật sản xuất có hiệu quả nhất. Khả năng viện đến những kĩ thuật này do đó sẽ thu hút nhiều nhà sản xuất mới, và đương nhiên điều này kéo theo là họ có thể tự do gia nhập thị trường và những nhà sản xuất ít hiệu quả hơn buộc phải thích nghi hay biến mất. Các nhà sản xuất mới còn tiếp tục nhảy vào thị trường ngày nào còn có triển vọng có được lợi nhuận dương và cuối cùng dẫn đến một tình thế trong đó một số lớn nhà sản xuất sẽ sản xuất hoàn toàn giống nhau, nghĩa là sử dụng những kĩ thuật được coi là chỉ phải chịu những chi phí thấp nhất. Nhưng song song đó gia tăng liên tục của cung đương nhiên tạo nên một sụt giảm của giá thị trường của sản phẩm được xem xét, nghĩa là một sụt giảm của doanh thu cận biên (và của doanh thu trung bình, bằng với doanh thu cận biên). Hiển nhiên là sẽ không còn những nhà sản xuất mới gia nhập thị trường nữa khi doanh thu trung bình giảm đến mức tối thiểu của đường chi phí trung bình (ta có thể chứng minh rằng đường chi phí cận biên đi qua điểm cực tiểu của đường chi phí trung bình sao cho tại điểm này doanh thu cận biên, doanh thu trung bình, chi phí cận biên và chi phí trung bình đều bằng nhau). Thật thế, nếu doanh thu trung bình tiếp tục giảm, thì tất yếu những chi phí trung bình sẽ cao hơn doanh thu trung bình, nghĩa là tất cả các nhà sản xuất đều bị lỗ.

Bởi thế, trong khuôn khổ của lí thuyết truyền thống việc phân biệt hoá những nhà sản xuất chỉ có thể là tạm thời và ta đi đến một tình thế cân bằng cuối cùng trong đó tất cả các nhà sản xuất là hoàn toàn giống nhau, sử dụng cùng những kĩ thuật sản xuất giống nhau và có cùng một lợi nhuận bằng không. Kết luận cuối này có vẻ là nghịch lí và quả là nghịch lí thật: việc tất cả các doanh nghiệp tìm kiếm một cách riêng lẻ lợi nhuận cho bản thân đưa họ một cách tập thể đến một tình thế có lợi nhuận bằng không … Nhưng nghịch lí này có thể được xem như dấu hiệu của tính mong manh của lí thuyết truyền thống. Kể từ lúc mà quá trình đồng nhất hoá các nhà sản xuất đã hoàn tất thì việc sản xuất được tiến hành một cách lặp lại, các doanh nghiệp sản xuất đến vô tận cùng một sản phẩm với cùng những kĩ thuật và không thu được lợi nhuận.

Mặc dù có khía cạnh nghịch lí của tình thế cân bằng, nhưng tình thế này thường được xem là chuẩn để từ đấy có thể đánh giá những cấu trúc thị trường: những tình thế trong đó không có cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo được xem là không tối ưu. Viện đến một cái nhìn chuẩn tắc về cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo ngầm dựa trên ý là, trong trường hợp này, không có nhà sản xuất nào có một “quyền lực” trên thị trường, ngược lại với tình thế cạnh tranh. Nhưng việc sử dụng thuật ngữ “quyền lực” là nhập nhằng vì bình thường nó kéo theo việc sử dụng cưỡng bức. Thế mà không nhất thiết phải có sự cưỡng bức khi không có những điều kiện của cạnh tranh thuần tuý và hoàn hảo.

Lí thuyết truyền thống về cạnh tranh do đó tự nhiên dẫn đến, một cách tương phản, một lí thuyết về độc quyền. Độc quyền được định nghĩa như một tình thế trong đó chỉ có một nhà sản xuất duy nhất một sản phẩm nhất định. Như thế người ta chứng minh là nhà độc quyền có khả năng thu được một “siêu lợi nhuận”, nghĩa là một lợi nhuận cao hơn lợi nhuận bình thường, lợi nhuận bình thường này là kết quả của một tình thế cạnh tranh. Thật vậy, ngược lại với nhiều nhà sản xuất của tình thế cạnh tranh mà đối với họ cầu là một dữ liệu cho trước và họ không thể thay đổi nó, nhà sản xuất trong thế độc quyền biết được phản ứng của người cầu sản phẩm với giá cả. Do đó nhà độc quyền có thể xác định một giá tối ưu cho mình: thật thế, bằng cách làm cho cung của mình trở thành khan hiếm nhà độc quyền có thể tăng giá bán và tối đa hoá lợi nhuận của mình.

(còn tiếp) 

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: Dictionnaire des sciences économiques, Claude Jessua, Christian Labrousse, Daniel Vitry (đồng chủ biên), Paris, 2001, PUF.

http://www.phantichkinhte123.com/

Phỏng vấn Robert Skidelsky – Phần cuối


Trong Lí thuyết tổng quát, Keynes có cường điệu hoá quan niệm của các nhà cổ điển không?

Có. Không một nhà kinh tế cổ điển, cũng như không một đồng nghiệp nào của ông tin vào những điều mà Keynes cho rằng đó là quan niệm của họ. Robertson, và cả Hawtrey hay Hayek đều không phải là những nhà kinh tế cổ điển. Người duy nhất có thể là nhà kinh tế cổ điển là Pigou. Rõ ràng là Keynes đã có thành kiến. Ông đã gán những luận điểm cho các nhà kinh tế cổ điển trong lúc không một nhà kinh tế nào đồng thời với ông tin vào những luận điểm đó nữa. Tuy nhiên đó là những điều họ phải nghĩ để nhất quán với những gì họ nói. Keynes thách thức họ làm phù hợp những tiền đề với những kết luận của họ.

Nếu Lí thuyết tổng quát được viết vào 1926, phải chăng đã tránh được thảm hoạ kinh tế của thập niên 1930?

Không, tôi không nghĩ rằng Lí thuyết tổng quát có thể được xuất bản mười năm trước được. Cần phải có cơn đại khủng hoảng thì mới kết tinh thành bản cáo trạng cay độc chống các nhà kinh tế cổ điển và, vả lại cũng là chống cách vậnh hành của nền kinh tế. Những tác phẩm của Keynes đều là những phản ảnh trung thành của thời đại chúng. Cuốn Treatise on Money tóm tắt thập niên 1920 và không liên quan gì đến cơn đại khủng hoảng. Trong đó bàn đến mô hình một nền kinh tế mở khi một nước gặp phải một số khó khăn. Ngược lại Lí thuyết tổng quát là một cuốn sách về cuộc khủng hoảng thế giới, và do đó, không thể tránh được sự can thiệp của Nhà nước trong đời sống kinh tế. Nhưng dường như câu hỏi của bạn còn có nghĩa là: nếu ta được trang bị tốt hơn về mặt lí thuyết thì ta có thể chiến đấu một cách có hiệu quả hơn chăng? Thật ra, không chỉ cần một lí thuyết tốt hơn mà lí thuyết đó còn phải được chấp nhận, và đây là một điều hoàn toàn khác. Cảm tưởng của tôi là tất cả những lí thuyết kiểu keynesian, một cách ngược đời, bắt đầu yếu dần khi mọi sự trở nên thật sự khó khăn. Nói cách khác, mọi người đều là keynesian trong thập niên 1950 và 1960 khi không có khó khăn gì cả. Khi những khó khăn trở lại thì không tránh khỏi là học thuyết chính thống quay trở lại. Đây là một bí mật tâm lí: khi người ta chịu một áp lực mạnh và chung quanh là sôi động mạnh thì người ta bám víu vào những chân lí cũ nhất, chứ không vào những chân lí mới có.

Giáo sư có nghĩ rằng thiên hạ đã quá coi trọng hiệu ứng Pigou nhằm làm giảm đóng góp lí thuyết của Keynes không? Phải chăng chính Keynes đã cảm nhận ý này nhưng sau đó lại chối bỏ nó?

Điểm xuất phát là bình luận của Keynes trong thập niên 1920 về tác phẩm của Dennis Robertson, Banking Policy and the Price Level [1926] dưới mục “những thiếu hụt phái sinh”. Ông gợi ý cho Robertson hiệu ứng tiền mặt thực tế, cơ chế khiến cho tiết kiệm tăng để lập lại giá trị thực tế của tiền mặt bị lạm phát bào mòn. Tại sao Keynes không nghĩ rằng hiệu ứng có thể tác động trong chiều ngược lại khi có giảm phát? Tôi nghĩ câu trả lời là vì ông không lập luận với những khái niệm cân bằng. Tôi biết là Presley [1986] bảo vệ ý kiến ngược lại, nhưng lập luận của ông ấy không thuyết phục được tôi. Trong trường hợp hiệu ứng Pigou, tại sao Keynes lại không chấp nhận như một trường hợp để xem xét, rồi đơn giản sau đấy loại nó đi vì cho rằng không đáng kể hay quá yếu? Tôi không rõ. Keynes nhạy cảm hơn với những hậu quả làm xã hội nghèo đi hơn là những hiệu ứng điều chỉnh tự động của tiền mặt.

Trong chừng mực nào có thể nói đến cuộc cách mạng keynesian tại Vương quốc Anh và tại Hoa Kì sau cuộc thế chiến thứ hai? Giáo sư có nghĩ rằng Keynes sẽ tán thành những chính sách thường được tiến hành nhân danh ông không?

Rất khó bảo vệ ý cho rằng không có cuộc cách mạng. Tuy nhiên có một số nhà bình luận thuận theo ý này nhưng theo tôi cam kết duy trì một mức việc làm cao và ổn định là một điều mới mà các chính phủ trước đó chưa bao giờ làm. Họ đã làm gì để đạt mục đích này lại là một vấn đề khác. Nhưng họ đã có một kiểu cam kết, và ngay cả những nhà chính trị cũng bị những cam kết của họ ràng buộc. Tất nhiên, họ đã làm cam kết này trước thế chiến nếu họ có thể dựa trên một mô hình kinh tế khác và trên một kinh nghiệm nhất định về chính sách tài khoá, như sau thế chiến thứ hai. Do đó đã có một cuộc cách mạng keynesian trên bình diện thế giới, dù cho ở mỗi nước là mỗi khác. Mỗi nước đã lấy điều gì họ cho là tốt trong Keynes và thêm vào truyền thống riêng của mình.

Chừng mực nào tin tưởng được Keynes về kinh tế chính trị học? Những đóng góp của trường phái lựa chọn công cộng và của kinh văn về các chu kì chính trị-kinh tế phải chăng đã cho thấy hình ảnh một Keynes ngây thơ về chính trị?

Tôi không chia sẻ cách mô tả Keynes như thế. Bạn không thể nói một người là ngây thơ khi mà người này không sống trong giai đoạn được xem xét và không biết những sự kiện mới của giai đoạn đó. Đó không phải là một từ đúng để mô tả Keynes, và tôi nghĩ rằng những quan niệm chính trị của ông cũng chuyển biến nếu ông ấy sống đến những năm 1960 và 1970. Những tiền đề của lập luận của ông thích hợp với những thực tế của thời đại ông hơn là với những thực tế của các thời đại sau.

Ngoài Keynes ra, theo giáo sư, ai là người đã có ảnh hưởng lớn nhất đến những phát triển kinh tế vĩ mô xuất hiện sau Lí thuyết tổng quát?

Không nghi ngờ gì, đó là Friedman. Vừa là như một người cạnh tranh với Keynes, vừa là như chính một bậc thầy tư tưởng. Việc Friedman xét lại Keynes đã dẫn đến cuộc cách mạng của những dự kiến duy lí. Cần phải hiểu rằng Friedman là một nhà kinh tế vĩ mô, và ở cương vị này ông chia sẻ với Keynes một số giả định trước về vai trò của kinh tế học vĩ mô trong việc ổn định các nền kinh tế. Friedman đã luôn đề cao Tract on Monetary Reform. Hayek là một nhà kinh tế lớn khác của thế kỉ hai mươi, nhưng Hayek không tin vào kinh tế học vĩ mô. Ông ta không cho rằng đó là một khoa học thật sự vì ông là nhà kinh tế cực đoan nhất trong số những nhà kinh tế ủng hộ phương pháp luận cá thể.

Do tầm quan trong mà Keynes dành cho những dự kiến trong Lí thuyết tổng quát, theo giáo sư, ông ấy sẽ tiếp nhận như thế nào giả thiết về những dự kiến duy lí và tất cả những mô hình của các nhà cổ điển mới như Lucas?

Một lần nữa rất khó trả lời vì câu hỏi của bạn thực ra nhằm vào khoa học luận của Keynes. Điều này đưa ta quay về cuốn Treatise on Probability và về việc phải xem rằng những niềm tin là có duy lí hay không. Những dự kiến duy lí đôi lúc cũng chợt đến trong Keynes – ví dụ, bạn có thể hình dung số nhân tĩnh từ khái niệm dự kiến duy lí vì người ta dự kiến hay chờ đợi những hiệu ứng tức thì nhưng nhìn chung không nghi ngờ gì là những dự kiến, đối với ông, chủ yếu là không chắc chắn.

David Laidler [1992b] gần đây đã lưu ý đến việc các nhà kinh tế kém hiểu biết lịch sử. Ở cương vị nhà sử học và nhà kinh tế, ông có chia sẽ ý kiến này không?

Vâng, tôi cũng nghĩ thế, đặc biệt là vì những lí do tôi đã nêu trên. Các nhà kinh tế không phải là những sử gia tốt và tôi nghĩ điều này đặc biệt hiện rõ trong trườg hợp những nghiên cứu keynesian chỉ nhấn mạnh đến một cuốn sách duy nhất – Lí thuyết tổng quát – và chứng tỏ là họ không quan tâm đến việc nối kết với phần còn lại của tư tưởng Keynes và lịch sử của thời đại ông ấy. Một trong những rất ít nhà kinh tế hiểu được điều này, Axel Leijonhufvud [1968], đã coi trọng quyển Treatise on Money và đã cố gắng xây dựng một hình ảnh nằm giữa Treatise on Money và Lí thuyết tổng quát. Đây là một thử nghiệm rất lí thú. Nghiên cứu mới đã thật sự cố gắng nối kết những bài viết kinh tế cuối cùng của Keynes với những bài viết triết học trước đó của ông, nhưng lại theo một cách tiếp cận phản lịch sử kì lạ. Ví dụ, họ không xem Treatise on Money như là một tác phẩm trước 1914 trong khi một nhà lịch sử theo bản năng sẽ xếp ngay vào thời kì đó. Những nhà nghiên cứu mới này đơn giản đặt song song nó với Lí thuyết tổng quát, và khảo sát những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai văn bản. Lịch sử không phải là như thế.

Đâu là những yếu tố ngoài kinh tế ảnh hưởng nhất đến những quan niệm kinh tế của Keynes?

Tôi nghĩ là có ba yếu tố ngoài kinh tế chính. Thứ nhất là các nhà cổ điển mà ông ấy đã được học trong nhà trường. Ông đã thấm nhuần thế giới quan và phương pháp luận của họ. Trong những bài viết của ông, có rất nhiều ám chỉ đến những ngụ ngôn cổ điển. Thứ hai là thần học. Phần lớn ngôn ngữ của ông, và cách ông sử dụng nó, nặng chất thần học. Dù sao kinh tế học cũng là sự tiếp nối của thần học bằng cách giữ rất nhiều những đặc tính của thần học. Thứ ba là nghệ thuật. Đâu là mục đích của hoạt động kinh tế? Điều này hiện rõ trong những tiểu luận như “Cách nhìn kinh tế của cháu chúng ta”. Mĩ học đã ảnh hưởng đến quan niệm của ông về vai trò của kinh tế học.

Sự chống đối mãnh liệt của các nhà trọng tiền Anh nổi tiếng, như Alan Walters và Patrick Minford đối với việc Vương quốc Anh gia nhập hệ thống tiền tệ châu Âu giống một cách kì lạ với những tiến công của Keynes chống Churchill trong thập niên 1920. Hai giai đoạn lịch sử này giống nhau chăng?

Về nhiều mặt, hai giai đoạn này có nhiều điểm giống nhau. Trong cả hai trường hợp, đồng bảng Anh là quá cao và không có sự chú ý đầy đủ đến quá trình điều chỉnh. Việc Keynes chống đối bản vị vàng dựa trên lập luận rất trọng tiền được ông phát triển trongTract on Monetary Reform trong đó ông bàn đến một hệ thống trễ đối với những giá mới hay tỉ giá hối đoái. Nhưng tôi không nghĩ rằng Keynes là một người ủng hộ việc thả nổi các đồng tiền theo cách hiểu của các nhà trọng tiền của thập niên 1970. Ông muốn một hệ thống có phối hợp, và bạn đừng quên ông là một trong những kiến trúc sư chính của hệ thống Bretton Woods. Trong một thế giới không có sự kiểm tra vốn, khi mà hệ thống tài chính ít bị kiểm soát hơn thời của Keynes thì có thể giả định là ông sẽ cho rằng không thể đối đầu với những người đầu cơ và do đó hệ thống tỉ giá hối đoái cố định sẽ phải thất bại.

Mặc dù có cơn khủng hoảng của hệ thống keynesian, được rộng rãi công nhận trong thập niên 1970, một số những tư tưởng này hình như đang sống trở lại. Giáo sư giải thích điều này như thế nào? Giáo sư có thấy nổi lên một đồng thuận trong đó những tư tưởng keynesian có thể một lần nữa trở thành tiêu điểm của kinh tế học vĩ mô?

Vâng. Keynes nói hai điều mà theo tôi có một giá trị thường xuyên và phải nằm trong bất kì quan niệm nào về sự vận hành của các nền kinh tế. Thứ nhất, ông nhấn mạnh là bất trắc tạo nên mất ổn định. Đầu cơ là con lắc của các nền kinh tế và cách nó lúc lắc sinh ra bất ổn trên tất cả các thị trường. Thứ hai, ông nêu bật những tác động trên thu nhập, sản xuất và giá cả, chứ không chỉ riêng trên giá mà thôi. Hai ý này rất quan trọng và mọi hiểu biết hiện đại về tiến trình của các nền kinh tế cần phải tính đến chúng. Nếu bạn nghĩ rằng các nền kinh tế là bất ổn, rằng những cơn suy thoái thường là khá nặng và những hậu quả của chúng không tự chúng biến mất thì bạn sẽ dành một vai trò cho Nhà nước. Một số nhà kinh tế khác cho rằng Nhà nước không nên có một vai trò lớn, nhưng chỉ cần theo một vài qui tắc. Chính nơi đây mới thật là điểm tranh luận, và tôi đứng về phía Keynes. Điều này không có nghĩa là ta phải theo những chính sách Keynes chủ trương. Thời đại đã thay đổi và những chính sách mà ông ấy có thể khuyến nghị cũng thay đổi theo.

Nếu Keynes vẫn còn sống đến 1969, giáo sư có nghĩ rằng ông ấy sẽ được giải Nobel kinh tế đầu tiên không?

Ah [Cười]. Có thể nào trả lời khác hơn là vâng? [Cười nữa]

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: La pensée économique moderne. Guide des grands courants de Keynes à nos jours, NXB Ediscience International, Paris, 1997 (bản dịch tiếng Pháp của Fabrice Mazerolle từ nguyên tác tiếng Anh là A Modern Guide to Macroeconomics. An Introduction to Competing Schools of Thought, NXB Edward Elgar Publishing Limited, Hants, UK, 1994).

http://www.phantichkinhte123.com/

Phỏng vấn Robert Skidelsky – Phần đầu


Brian Snowdon, Howard Vane và Peter Wynarczyk

Robert Skidelsky sinh năm 1939. Ông học hết bậc trung học tại Jesus College, Oxford vào năm 1960, năm 1961 hoàn thành Master of Arts và Ph.D năm 1967 cũng tại Oxford. Ông là Research Fellow tại Nufield College Oxford (1965-68) và tại British Academy (1968-70) rồi giáo sư thỉnh giảng lịch sử tại đại học John Hopkins (1970-76), chủ nhiệm khoa lịch sử, triết học và nghiên cứu châu Âu của Polytechnic of North London (1976-78), giáo sư nghiên cứu quốc tế tại đại học Warwick (1978-90) và hiện là giáo sư kinh tế chính trị học tại đại học Warwick (từ 1990). Ông được phong hầu tước từ 1991.

Giáo sư Skidelsky là một trong những chuyên gia xuất sắc về Keynes và về giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến. Những quyển sách nổi tiếng của ông gồm: Politicians and the Slump, The End of the Keynesian Era (do ông chủ biên) (Macmillan, 1977), John Maynard Keynes, Vol I. Hopes Betrayed, 1883-1920 (Macmillan, 1983), John Maynard Keynes, Vol 2. The Economist as Saviour, 1920-1937 (Macmillan, 1992) và John Maynard Keynes, Vol 3. Fighting for Britain, 1937-1946 (Macmillan, 2000).

Những bài viết mới nhất là: “Keynes’s Political Legacy”, và “Some Aspects of Keynes the Man”, in O. F. Hamouda và J. N. Smithin (chủ biên), Keynes and Public Policy After Fifty Years, Vol. I, Economics and Policy (New York University Press, 1988), “Keynes and the State”, in D. Helm (ed.) The Economic Borders of the States (Oxford University Press, 1989).

Cuộc phỏng vấn giáo sư Skidelsky diễn ra trong văn phòng ông tại đại học Warwick ngày 9 tháng ba 1993.

Từ lúc nào giáo sư quyết định viết tiểu sử của Keynes?

Đó là kết quả của những công trình tôi làm trước đó về những năm giữa hai cuộc thế chiến. Bóng Keynes trùm lên những quyển sách trước của tôi và ông đã gợi ý cách tôi nhìn giai đoạn lịch sử này. Tôi nghĩ rằng đây là một nhân vật lí thú và nên viết một quyển sách về nhân vật này. Tôi đi đến kết luận đó sau khi đọc tiểu sử do Roy Harrod viết trong đó có nhiều điểm thiếu chính xác.

Cách kiến giải của giáo sư về cuộc đời và sự nghiệp của Keynes có khác một cách cơ bản với những cách của Harrod [1951] và Moggridge [1992] không?

Cách tiếp cận của tôi mang tính lịch sử hơn. Tôi nghĩ đó là khác biệt chính. Có một cách lịch sử và một cách kinh tế khi xem xét những hiện tượng. Không nên thử phân biệt quá cứng nhắc, nhưng các nhà kinh tế có xu hướng khái quát hoá trong lúc các nhà lịch sử lại quan tâm hơn đến điều đặc biết và điều bất ngờ… Thường các nhà lịch sử là những nhà viết tiểu sử tốt hơn các nhà kinh tế. Đối với rất nhiều nhà kinh tế, sự kiện chỉ là những dữ liệu chứ không phải là lịch sử – chất liệu của cảm hứng. Họ xử lí lịch sử theo kiểu các nhà thống kê. Đó không phải là cách soi sáng lắm để hiểu cuộc đời và sự nghiệp của một con người.

Tại sao có nhiều cách hiểu khác nhau về Lí thuyết tổng quát của Keynes? Đó là điểm yếu hay điểm mạnh của sách này?

Lí do thứ nhất là vì tư duy của Keynes là một tư duy phong phú hơn là một tư duy có hệ thống. Ông ấy viết tiểu luận hay hơn là viết chuyên khảo. Ông luôn có đầy ý và không thật sự tập trung lâu vào một đề tài đặc biệt nào. Nhiều ý đến không ngừng nghỉ. Lí do thứ hai là trong công việc của ông luôn có một chiều kích luận chiến mạnh mẽ. Ông rất muốn đạt đến mục đích của mình. Cần phân biệt giữa luận chiến và lí thuyết và không bao giờ rõ là cái nào bắt đầu ở đâu và cái kia chấm dứt ở đâu. Keynes có xu hướng dành ưu tiên chỉ cho một phần lập luận của mình để đạt đến chắc chắn hơn một kết luận thực tiễn. Lí do thứ ba là tư tưởng của Keynes luôn cung cấp nhiều cấp độ đọc khác nhau. Điều này cho phép lựa chọn những gì người đọc ông thấy hợp với mình nhất. Và cũng giải thích vì sao có nhiều cách kiến giải đến như thế.

Giáo sư xem hình ảnh nhiều chiều kích này là một điểm mạnh?

Vâng, vì cuối cùng cái lâu dài là tính phong phú chứ không phải là tính chặt chẽ. Tính chặt chẽ là tạm thời hơn tính phong phú.

Nếu ta xét hành trình tri thức từ Tract đến Lí thuyết tổng quát, thì trong số những giáo huấn của Marshall, đâu là phần Keynes chối bỏ và đâu là phần ông ấy giữ lại?

Điều rõ ràng thừa hưởng của Marshall là phương pháp đặc biệt để xét đến thời gian. Trong rất nhiều bài viết, ông phân biệt rất rõ giữa ngắn hạn và dài hạn – và điều này đặc biệt đến từ Marshall. Nhưng không nên coi điều này một cách quá cứng nhắc, vì Keynes giữ một thái độ cởi mở trong suốt cả Lí thuyết tổng quát về những gì liên quan đến phương pháp phân tích cần vận dụng – do dự giữa việc qui chiếu về ngắn hạn và cách nhìn của mất cân bằng. Mặt khác có lẽ là ông không bao giờ xa cách quá đối với lí thuyết marshallian về doanh nghiệp. Keynes không đào sâu vấn đề và có lẽ vì thế mà ông không thật sự quan tâm đến cuộc cách mạng của cạnh tranh không hoàn hảo. Nghịch lí kì lạ này luôn mê hoặc tôi. Mặc dù là một người ngưỡng mộ Sraffa, ông không bao giờ tiếp thu hết chiều kích của cuộc cách mạng cambridgian, từ bài viết của Sraffa [1926] đến quyển sách của Robinson [1933]. Điều này một phần được giải thích là do ông vẫn còn là rất marshalian trong kinh tế học vi mô, đặc biệt là đối với những gì liên quan đến phân tích về cung, và cũng chắc là trên một vài điểm này ông cũng tối nghĩa như Marshall. Keynes tin vào một lí thuyết doanh nghiệp “kiểu thứ ba”, và giả định là suy tàn tự nhiên của doanh nghiệp luôn xảy ra trước khi các doanh nghiệp kịp xác lập một vị thế độc quyền trên thị trường. Dấu vết thứ ba của ảnh hưởng marshalian là ý không nên xem nhu cầu như những dữ kiện và rằng có một thứ tự của các nhu cầu. Nhưng ngược với Marshall, ông xem thứ tự này là do triết học chứ không phải tiến hoá ấn định. Thứ tư, Keynes đã lấy lại của Marshall phiên bản của lí thuyết định lượng về tiền tệ dựa trên cầu tiền mặt. Ông luôn nghĩ đến cầu tiền tệ theo cách trên chứ không theo cách của Fisher. Chính như thế mà ông đã viết Treatise on Money [1930] và cuối cùng là Lí thuyết tổng quát. Những di sản trên của Marshall là cực kì quan trọng.

Giáo sư mô tả như thế nào quan điểm phương pháp luận của Keynes?

Tôi nghĩ rằng Keynes không bị những kiểm tra thực nghiệm quyến rũ mấy. Chắc ông sẽ không thích ý là có thể kiểm nghiệm bằng cách này hay cách khác các giả thiết – và chắc chắn là không trong lĩnh vực những khoa học đạo đức hay xã hội. Thực ra, chính trên điểm này ông chống lại kinh trắc học. Ông nghĩ rằng điều thiết yếu là một lí thuyết phải phong phú và phù hợp với trực giác của chúng ta và những sự kiện có một vai trò lớn trong việc hình thành trực giác. Làm một nhà quan sát rất cảnh giác của thế giới hiện thực: đó phải là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà kinh tế. Nhưng sự kiện phải là những sự kiện thô, không pha tạp hay chưa được tiêu hoá trước. Nhà kinh tế hiện đại làm việc với những dữ kiện đã được sản xuất trước, các đường biểu diễn được vẽ rồi. Keynes ghét những dữ kiện kinh tế trình bày dưới dạng biểu đồ – chính vì thế mà gần như ông không bao giờ sử dụng đến trong các bài viết. Vả lại biểu đồ duy nhất trong Lí thuyết tổng quát là do Harrod cung cấp. Ông luôn chuộng những dữ liệu thô. Chúng được dùng, không phải để kiểm tra những giả thiết, mà để đặt những giới hạn cho tầm hiệu lực của trực giác. Đối với ông, nếu các số liệu là hoàn toàn ngược lại với trực giác thì chắc rằng trực giác sai – nhưng đây là một kiểm nghiệm đơn sơ và tức thì, và không có tí gì giống với một lí thuyết về kiểm tra thực nghiệm. Tôi không biết là ông ta sẽ nghĩ thế nào về luận điểm của Popper về sự kiểm sai. Có thể là ông sẽ quan tâm đến luận điểm này hơn.

Trong quá trình viết tiểu sử chi tiết của Keynes, giáo sư có khám phá được điều gì thật sự mới không?

Những bất ngờ, trong chừng mực có những bất ngờ, đến từ chính cách xử lí lịch sử, nhằm đặt lại một cách chu đáo tư tưởng của Keynes trong bối cảnh lịch sử và tiểu sử, và thậm chí đạo đức, và do đó chú ý nhiều đến những bài viết mang tính phù du nhất. Thường chính trong những trang viết này mà ta có thể quan sát tư duy đang hành động, ở bên lề sự việc. Tôi cho là những bài giảng của ông trong các niên khoá 1931-1933, một cách nào đó, là lí thú hơn chính ngayLí thuyết tổng quát, vì ta có thể tìm thấy trong đó chất liệu ở dạng thô. Và ta hiểu rõ hơn – từ bên trong – bằng cách nào sự việc đã xảy ra. Trong lúc viết quyển Treatise on Probability, ông viết như sau cho Lytton Strachey: “Tôi đang biến đổi ý tưởng của tôi thành một chuyên luận hình thức hơn, và như thế sẽ làm mất hết tính độc đáo của tư tưởng mình, như cuộc sống đại học đòi hỏi”. Tất nhiên điều này không hoàn toàn đúng, và Lí thuyết tổng quát được xem là một quyển sách cách mạng lúc được xuất bản. Nhưng tôi nghĩ là một phần năng lượng dành cho việc sáng tạo đã mất đi.

Giáo sư viết rằng cảm hứng của Keynes là triệt để và chủ định của ông là bảo thủ. Bằng cách nào Keynes kết hợp hai yếu tố này?

Cách trả lời tốt nhất là cách của Galbraith khi ông ấy nói rằng những ai là triệt để về mặt tiền tệ thường là những người bảo thủ về mặt xã hội. Nói cách khác, có một kiểu liệu pháp giả tạo chỉ nhằm duy nhất việc giữ vững những cấu trúc hiện tồn. Nếu bạn nghĩ rằng một số những học thuyết triệt để cạnh tranh nhau vào thời đại của Keynes, đặc biệt là học thuyết marxist, thì bạn buộc phải thừa nhận rằng, nếu so sánh, thì lí thuyết của Keynes là rất bảo thủ trật tự đã được thiết lập, và bảo thủ một cách có cân nhắc. Ông thường nói rằng nếu không chấp nhận những liệu pháp ôn hoà ông đề nghị, thì sớm hay muộn cũng phải chấp nhận những biện pháp khó chịu hơn. Tôi không nghĩ rằng lí thuyết của ông chỉ đơn thuần là một công cụ duy trì trật tự xã hội sẵn có, nhưng ông có mục tiêu này trong đầu. Ông cũng nghĩ rằng khi chấp nhận một vài thay đổi nhỏ, có thể làm dịu bớt nhiều những biến động và ổn định nền kinh tế. Ông đánh giá rằng điều này là khả thi nhờ việc hoàn thiện kinh tế học. Do đó đứng về mặt lí thuyết kinh tế, cuối cùng ông là một người triệt để. Nhưng trong những ghi chú kết luận của Lí thuyết tổng quát, ông lại cho rằng lí thuyết của mình là tương đối bảo thủ.

Keynes thật sự muốn nói điều gì khi nói đến việc xã hội hoá đầu tư?

Keynes là một người có thái độ chính trị, và đây là một trong những câu ông nói cho đảng Lao động. Điều này diễn ra vào thập niên 1920 khi ông nhắc đến sự tăng trưởng của những thể chế xã hội ngay chính trong lòng hệ thống tư bản. Vào cuối thập niên 1920, ông đã nghiêm chỉnh cho rằng phần lớn những doanh nghiệp không thực sự còn là những doanh nghiệp tư nhân, và một cách nào đó, đó là những doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa vì các nhà lãnh đạo quan tâm đến sự ổn định hơn là tối đa hoá lợi nhuận trong ngắn hạn. Các doanh nghiệp đạt đến một qui mô mà chính họ cũng bắt đầu có những động cơ và trách nhiệm tập thể. Vì thế có xu hướng là doanh nghiệp được những cá nhân có dáng dấp một quan chức cao cấp hay giáo sư đại học, hơn là một nhà doanh nghiệp năng động như Schumpeter, một cách lỗi thời, thích hình dung, lãnh đạo. Do đó tôi nghĩ là việc xã hội hoá đầu tư, trong nghĩa hẹp, chỉ là đơn giản một xu hướng của tiến hoá tự nhiên của chủ nghĩa tư bản nhằm đặt cơ sở cho lựa chọn đầu tư trên một tiêu chí xã hội. Tôi nghĩ đó cũng gần với quan điểm được Galbraith bảo vệ trong The New Industrial State [1967].

Giáo sư giải thích như thế nào việc phát triển rất nhanh của những tư tưởng keynesian, đặc biệt là ở Hoa Kì?

Có thật chăng là những tư tưởng này lan truyền nhanh chóng ở Hoa Kì? Trong giới đại học thì hình ảnh có nhiều tương phản hơn. Riêng đối với Harvard, thì không có gì phải nghi ngờ. Ai cũng biết cái trục Harvard-Washington. Một khi đã rõ là phương pháp keynesian có thể có dạng những cắt giảm thuế hơn là những chi tiêu công cộng thì phương pháp này cũng được các giới bảo thủ rộng rãi ủng hộ. Cũng có thể gán cho phương pháp này những cơ sở trọng cung. Điều này giải thích là đã có một phiên bản reaganian của Keynes trong những năm 1980. Những phiên bản của thập niên 1950 và 1960, dựa trên những khái niệm ổn định tự động có lẽ khiêm tốn hơn. Về phần mình, tôi nghĩ là Keynes đã ảnh hưởng đến chính sách New Deal của Roosevelt nhiều hơn là người ta thường công nhận, đặc biệt là trong thời gian đầu của chính sách này, giai đoạn trước Lí thuyết tổng quát. Nhưng, cũng như ở Anh, phương pháp keynesian chỉ thực sự thống trị với việc triển khai kinh tế thời chiến.

Giáo sư có phân biệt rõ ràng giữa công trình của Keynes và những đóng góp của các nhà keynesian không? Đặc biệt, giáo sư nghĩ thế nào về cách kiến giải của IS-LM?

Phải luôn phân biệt giữa sự nghiệp đổi mới của một người tiên phong và sự nghiệp của những môn đồ của người đó. Tính phong phú, tính đơn giản và tính sắc bén của phiên bản nguyên thủy được thay đổi để thích nghi với diễn biến bình thường của sự việc. Keynes đã luôn luôn chú ý đến việc là một phần của lí thuyết của ông có thể được mô hình hoá, cho dù chính bản thân ông không dành nhiều thời gian cho việc này. Ông để lại việc này cho các người khác, đặc biệt là Hicks, nhưng cả Harrod và Meade. Những nhà kinh tế này qui tất cả về một tập hợp những phương trình đồng thời, dù cho cách tiếp cận này không trung thành với quan niệm của Keynes. Hicks quan tâm nhiều hơn đến các phương trình và sự nối kết của những nguyên nhân mà ông tìm cách lí giải. Ông đã tước đi tính độc đáo của Lí thuyết tổng quát, phổ cập hoá nó, và góp phần làm cho nó được biết đến rộng rãi, và đặt nền móng cho tổng hợp tân cổ điển. Đấy là một công tác giao tiếp công cộng tuyệt hảo, nhưng tôi không nghĩ rằng ông ấy đã nắm thực chất điều Keynes muốn nói. Vả lại Hicks đã công nhận điều này. Điều lí thú là phản ứng của Keynes trước cách kiến giải của Hicks. Tôi không đồng ý với Don Patinkin, nguời luôn cho rằng Keynes coi phiên bản của Hicks là cách kiến giải đúng của lí thuyết của ông. Quả thật là Keynes chưa bao giờ phê phán phiên bản của Hicks. Cảm giác của tôi, dù cho có vẻ lạ khi nói ra, là Keynes chưa bao giờ coi đó là điều lí thú và không thấy hết tầm quan trọng của nó. Ông đã không nói đó là một điều kì diệu, cũng không nói đó là điều kinh khủng, ông ấy chưa bao giờ phản ứng cả, và đó mới là điều nghịch lí. Trong lúc ông luôn chu đáo trả lời thư từ gởi cho ông, ông đã phải mất sáu tháng để trả lời cho Hicks: “Tôi không có điều gì để nói cả về vấn đề này”, trừ trên một hay hai tiểu tiết. Nhưng, theo tôi, ông không đánh giá Hicks là một nhà tư tưởng hàng đầu. Ông nói rằng Hicks là một nhà “bác học cosinus” giỏi. Điều này tất nhiên là không đúng. Trong Hicks có điều gì đó mà Keynes không thích – vả lại Kaldor cũng thế. Một hôm Kaldor nói với tôi rằng Hicks không phải là một nhà kinh tế giỏi vì “một nhà kinh tế giỏi trước hết phải là một nhà văn đả kích giỏi. Hicks là một ông quan toà, ông cân nhắc mọi thứ và lựa một đường trung dung. Đó không phải là truyền thống của Adam Smith. Thế mà Keynes thuộc truyền thống này, và tôi cũng thế. Còn Hicks thì không”. Không có gì “kết” Keynes với Hicks, chính vì thế mà Keynes khá bàng quan với những gì Hicks làm.

(còn tiếp)

Nguyễn Đôn Phước dịch

Nguồn: La pensée économique moderne. Guide des grands courants de Keynes à nos jours, NXB Ediscience International, Paris, 1997 (bản dịch tiếng Pháp của Fabrice Mazerolle từ nguyên tác tiếng Anh là A Modern Guide to Macroeconomics. An Introduction to Competing Schools of Thought, NXB Edward Elgar Publishing Limited, Hants, UK, 1994).

http://www.phantichkinhte123.com/

Các loại tiền tệ, vốn và lý thuyết phức hợp – Phần cuối


Trong giai đoạn đầu của nền văn minh, ngân sách nghiên cứu để tìm ra lửa là bằng 0, trong khi các lợi ích từ lửa là không thể kể hết. Thử so sánh điều này với chi phí phá triển các máy bay Boeing thế hệ mới, liên quan đến một vài cải tiến nhỏ trong vận chuyển hàng không. Sự thay đổi này mang theo nhiều hàm ý đối với các lợi ích ước đoán từ sự gia tăng chi tiêu công, trừ khi có điều kiện của một nền móng thấp.

Theo thời gian khi cấp độ phức hợp gia tăng, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư xã hội bắt đầu chựng lại và chuyển biến tiêu cực. Khi các dự án đơn giản cho hệ thống thủy lợi đã hoàn tất, xã hội sẽ bắt đầu các dự án lớn hơn với các đường ống dài hơn và lượng nước ít hơn. Giới chức quan liêu, ban đầu còn là nhà tổ chức hiệu quả, thì nay lại trở thành những vật cản đối với sự cải tiến khi họ quan tâm nhiều đến việc duy trì sự tồn tại của bản thân họ hơn là các dịch vụ xã hội. Giới tinh hoa quản lý các định chế xã hội cũng dần dần quay sang quan tâm đến phần chia của họ từ chiếc bánh đang nhỏ lại, thay vì chú trọng đến phúc lợi của toàn xã hội. Các nấc thang trong xã hội đã trở thành công cụ bóc lột chứ không phải là công cụ dẫn dắt như trước nữa. Giới tinh hoa hành xử như các sinh vật ký sinh trên cơ thể xã hội và kiếm tìm cái mà các nhà kinh tế học gọi là “tô kinh tế” – tích lũy sự thịnh vượng thông qua các phương tiện phi sản xuất. Nền tài chính hậu hiện đại là một ví dụ.

Tới năm 2011, đã có đủ bằng chứng cho thấy Hoa Kỳ đang xuống dốc theo đường cong lợi nhuận biên, đến điểm mà tại đó các nỗ lực lớn hơn của con người chỉ mang lại thành quả kém hơn cho xã hội, trong khi giới tinh hoa cầm nắm được phần lớn tăng trưởng trong thu nhập và lợi nhuận. Hai mươi lăm nhà quản lý quỹ phòng vệ được báo cáo lại là đã nhận được hơn 22 tỷ USD trong năm 2010, còn 44 triệu người Mỹ đang sống bằng tem phiếu thực phẩm. Lương thưởng cho các CEO đã tăng 27% trong năm 2010 so với mức của năm 2009, trong khi hơn 20 triệu người Mỹ hoặc đang thất nghiệp hoặc rời khỏi lực lượng lao động nhưng vẫn muốn có việc làm. Trong số những ai còn việc làm, số lượng làm việc cho cơ quan nhà nước cao hơn số lao động trong các ngành xây dựng, nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, sản xuất, khai thác mỏ và hạ tầng cộng lại.

Một trong các phép đo lường tốt nhất về quan hệ kiếm tìm tô kinh tế giữa giới tinh hoa và các công dân trong giai đoạn kinh tế đình trệ là hệ số Gini, một thước đo về sự bất bình đẳng trong thu nhập. Hệ số càng cao có nghĩa là sự bất bình đẳng càng lớn. Năm 2006, chẳng bao lâu trước khi đợt suy thoái bắt đầu, hệ số Gini của Hoa Kỳ đã đạt mức cao nhất mọi thời đại là 47, hoàn toàn trái ngược với mức thấp nhất từng có là 38,6 (được ghi nhận vào năm 1968 sau hai thập niên ổn định với tiền tệ được đảm bảo bằng vàng). Hệ số Gini có xu hướng đi xuống trong năm 2007 nhưng lại lên đến gần đỉnh điểm một lần nữa trong năm 2009 và đang có chiều hướng tiếp tục tăng. Hiện nay hệ số Gini của Hoa Kỳ đang gần bằng hệ số Mexico – một xã hội chính trị đầu sỏ cổ điển với đặc trưng là sự bất bình đẳng trắng trợn về thu nhập và sự tập trung của cải vào tay giới tinh hoa.

Một thang đo khác dành cho sự tìm kiếm tô kinh tế của giới tinh hoa là tỷ lệ giữa thu nhập của nhóm 20% cao nhất so sánh với nóm sống dưới mức nghèo khổ. Tỷ lệ này đi từ mức thấp là 7,7 trong năm 1968 lên cao điểm 14,5 vào đầu năm 2010. Xu hướng của cả hệ số Gini lẫn tỷ lệ thu nhập giữa nhóm giàu và nhóm nghèo tại Hoa Kỳ đều nhất quán với những gì Tainter thu được khi tìm hiểu các nền văn minh trong giai đoạn sắp sụp đổ. Khi xã hội mang đến những yếu tố đầu vào tiêu cực cho đại bộ phận người dân, họ sẽ chọn lựa để tách khỏi xã hội đó và sau cùng gây bất ổn cho chính họ và cho cả giới tinh hoa.

Trên lý thuyết lợi tức giảm dần này, Tainter tìm ra một biến số lý giải được sự sụp đổ của nền văn minh. Nhiều nhà sử học truyền thống đã cho rằng yếu tố khiến nền văn minh sụp đổ, chẳng hạn như các trận động đất, hạn hán hoặc các cuộc xâm lăng của những tộc người man rợ, nhưng Tainter chứng minh rằng có các nền văn minh đã từng nhiều lần đẩy lùi các tộc người man rợ trước khi bị xóa sổ, và có các nền văn minh đã từng nhiều lần phục hồi sau động đất rồi cuối cùng mới bị nạn động đất chôn vùi vĩnh viễn. Kết cục sau cùng không phải là do sự xâm lược hay động đất, mà là sự phản ứng. Các xã hội không chịu thuế suất quá đáng hoặc các nghĩa vụ quá nặng nề sẽ có thể phản ứng mãnh liệt với cơn khủng hoảng và tái thiết sau thảm họa. Còn các xã hội “sưu cao thuế nặng”, người dân gồng gánh quá nhiều nghĩa vụ trên lưng sẽ chỉ đơn giản là đầu hàng cơn khủng hoảng. Khi những tộc người mọi rợ sau cùng cũng tràn ngập Đế chế La Mã, họ đã không gặp bất cứ sự phản kháng nào từ những người nông dân; mà ngược lại nông dân còn chào đón những kẻ xâm lược. Nông dân La Mã đã phải chịu đựng khổ sở trong nhiều thế kỷ, từ các chính sách giảm giá trị tiền tệ tới thuế suất nặng nề khiến lợi tức còn rất ít, do đó trong tâm trí họ thì các man tộc không thể nào tệ hơn chính quyền Rome. Thực ra, bởi vì những man tộc này đã vận hành trong các hệ thống với trình độ phức hợp thấp hơn nhiều so với cấp độ của Đế chế La Mã, nên họ có thể mang đến sự bảo vệ căn bản cho nông dân với phí tổn rất thấp.

Tainter còn đưa ra một quan điểm bổ sung nữa, có liên hệ mật thiết đến xã hội trong thế kỷ 21. Có khác biệt giữa sự sụp đổ của nền văn minh và sự sụp đổ các xã hội đơn lẻ hoặc các quốc gia trong một nền văn minh. Khi đế chế La Mã sụp đổ, đó là sự sụp đổ của cả nền văn minh bởi vì khi đó chưa có một xã hội độc lập. Ngược lại, nền văn minh Liên minh châu Âu đã không sụp đổ một lần nữa từ thế kỷ 6 sau Công nguyên, bởi vì cứ một nhà nước sụp đổ thì đã có sẵn một chính quyền khác lên thay thế. Sự suy tàn của Tây Ban Nha hoặc Venice được bù đắp bởi sự phát triển của Anh hoặc Hà Lan. Từ quan điểm lý thuyết phức hợp, một thế giới tích hợp cao độ, kế thành mạng lưới và liền lập của Đế chế La Mã, khác xa các chính quyền tự trị của châu âu thời Trung Cổ và hiện đại. Theo quan điểm của Tainter, “sự sụp đổ, nếu tái diễn trong giai đoạn hiện nay, sẽ là sụp đổ trên toàn cầu. Không thể có tình trạng một quốc gia đơn lẻ bị sụp đổ. Nền văn minh thế giới sẽ tan rã hoàn toàn”.

Tóm lại, Chaisson cho thấy cách thức mà các hệ thống phức hợp cao độ, chẳng hạn như các nền văn minh, đòi hỏi lượng năng lượng đầu vào tăng theo hàm lũy thừa để phát triển, trong khi Tainter chứng minh rằng các nền văn minh đó tạo nên các đầu ra tiêu cực từ những yếu tố đầu vào và sau cùng sẽ sụp đổ như thế nào. Tiền có thể đóng vai trò thước đo đầu vào – đầu ra trong mô hình của Chaisson bởi vì nó là dạng thức lưu trữ năng lượng. Các thị trường vốn và tiền tệ đều là các hệ thống phức hợp đầy quyền lực, được lồng vào trong nền văn minh lớn hơn theo mô hình của Tainter. Khi xã hội trở thành một hệ thống với độ phức hợp cao hơn, nó đòi hỏi khối lượng tiền tệ nhiều hơn, theo hàm lũy thừa, để hỗ trợ. Tới một mức nào đó, năng suất và thuế không thể duy trì xã hội được nữa, và giới tinh hoa lại ra sức lừa dối quy trình đầu vào bằng nghiệp vụ tín dụng, đòn bẩy tài chính, phá giá và những hình thức tiền tệ giả tạo khác để tạo thuận lợi cho quá trình tìm kiếm tô kinh tế từ sản xuất. Các cách thức này mang lại hiệu quả trong thời gian ngắn để rồi sau đó ảo ảnh của sự phát triển giả tạo nhờ vay nợ bị xóa sạch bởi thực tiễn là mất đi sự thịnh vượng và bất bình đẳng về thu nhập ngày càng tăng.

Tới lúc đó thì xã hội có 3 chọn lựa: đơn giản hóa, chinh phục hoặc sụp đổ. Đơn giản hóa có nghĩa là một nỗ lực tự nguyện để thu hẹp quy mô xã hội và đi lùi lại một tỷ lệ đầu vào – đầu ra bền vững và có năng suất hơn. Một ví dụ về sự đơn giản hóa hệ thống trong bối cảnh đương đại là: Washington D.C. trao lại các quyền lực chính trị và tài nguyên kinh tế cho 50 tiểu bang trong một hệ thống liên bang mới được tiếp thêm sức mạnh. Chinh phục tức là cố gắng sử dụng vũ lực để giành giật ài nguyên từ các quốc gia láng giềng nhằm tiếp thêm các yếu tố đầu vào mới. Các cuộc chiến tranh tiền tệ cũng chính là một dạng chinh phục mà không sử dụng bạo lực. Sụp đổ chỉ là một dạng thức bất thình lình, không chủ ý và hỗn loạn của sự đơn giản hóa.

Liệu Washington có phải là một Rome thời hiện đại? Phải chăng Washington và một số chính quyền khác đã đi quá xa trên lộ trình thuế cao, nhiều quy định, quan liêu hơn và hành vi tư lợi nhiều hơn đến mức các yếu tố đầu vào của xã hội đã sản sinh ra hậu quả tiêu cực? Có phải một số nhân vật tinh hoa trong kinh doanh, tài chính và các định chế đã quá gắn kết với chính phủ đến mức tất cả những người này đều cùng nhau nhận lãnh những khoản tiền thưởng khổng lồ vì đã tạo ra những tiện ích xã hội tiêu cực? Những cái được gọi là “thị trường” hiện có đang bị bóp méo bởi sự thao túng, sự can thiệp và giải cứu đến nỗi chúng không thể đưa ra những dấu hiệu giá cả đáng tin cậy để phân bổ nguồn lực hay không? Có phải chính những bên chịu trách nhiệm lớn nhất về việc bóp méo các dấu hiệu giá cả cũng lại là những bên nhận được các nguồn lực theo sự phân bổ sai lầm? Khi các man tộc xuất hiện, dưới bất cứ hình thức nào, đâu là phần bù đắp dành cho các công dân bình thường vì họ đã phản kháng lại thay vì cứ để cho hệ thống sụp đổ và mặc cho giới tinh hoa tự xoay xở?

Theo lịch sử và lý thuyết phức hợp, các câu hỏi trên đây mang tính phân tích chứ không mang tính ý thức hệ. Sự thích đáng của những câu hỏi này được xác nhận từ trải nghiệm của rất nhiều nền văn minh trong vòng 5 thiên niên kỷ và từ việc nghiên cứu các hệ thống tự nhiên đã gia tăng cấp độ phức hợp qua hàng chục tỷ năm. Khoa học và lịch sử đã giúp hình thành nên khung mẫu hoàn hảo để có thể ứng dụng kiến thức về năng lượng, tiền và hệ thống phức hợp nhằm hiểu được các rủi ro khi đồng đôla sụp đổ trong một cuộc chiến tranh tiền tệ.

Điều quan trọng hàng đầu là các hệ thống đáng quan ngại nhất – các loại tiền tệ, các thị trường vốn và các công cụ phái sinh – đều là những phát minh xã hội và do đó có thể được xã hội cải tạo. Vẫn có thể tránh được trường hợp xấu nhất, đó là khi không còn động lực để thực thi việc cải tạo này. Vẫn chưa quá muộn để có thể lùi một bước khỏi bờ vực sụp đổ và phục hồi lại một ranh giới an toàn trong hệ thống tiền tệ toàn cầu dựa trên đồng đôla. Không may là giới tinh hoa – lại dàn xếp để đi ngược lại những giải pháp theo lẽ phải thông thường. Giảm bớt lợi nhuận biên là điều tệ hại đối với xã hội, nhưng họ lại thấy tốt cho những người tiếp nhận các yếu tố đầu vào – ít nhất cho tới khi nào cạn kiệt những đầu vào đó. Ngày nay, các nguồn lực tài chính bị bòn rút khỏi xã hội và chảy vào giới tinh hoa dưới nhiều dạng thức: thuế, chi phí giải cứu, thế chấp gian lận, các lãi suất và chi phí cắt cổ dành cho người tiêu dùng, các công cụ phái sinh và những khoản tiền thưởng dối trá. Vì các công dân đang bị nghiền nát dưới sức nặng của việc bòn rút tô kinh tế nên nguy cơ sụp đổ ngày càng cao. Nền tài chính phải quay về vai trò đúng đắn của nó là tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại, chứ bản thân tài chính không phải là cứu cánh. Lý thuyết phức hợp đã chỉ ra con đường tìm đến sự an toàn, thông qua các định chế được đơn giản hóa và có quy mô được thu nhỏ hơn. Thật không thể tin được rằng Bộ trưởng Ngân khố Geithner và Nhà Trắng lại đang tích cực tạo điều kiện thuận lợi cho một ngành ngân hàng có quy mô lớn hơn và tập trung hơn, bao gồm cả nguyên bản cho một ngân hàng trung ương toàn cầu đặt tại IMF. Bất cứ thành công nào trong nỗ lực trên của Bộ Ngân khố và Nhà Trắng cũng chỉ đơn giản là đẩy nhanh “giai đoạn cuối” của đồng đôla.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rickards – Các cuộc chiến tranh tiền tệ – NXB Trẻ 2014.

Các loại tiền tệ, vốn và lý thuyết phức hợp – Phần VI


Từ các minh chứng cho thấy cách thức vận hàn của các hệ thống phức hợp và việc đồng đôla có thể suy yếu như thế nào khi người dân không còn niềm tin, ta có thể nhận ra các tuyến đầu trong cuộc chiến tranh tiền tệ để biết những lý thuyết thể hiện trong thực tế ra sao.

Lịch sử của các cuộc chiến tranh tiền tệ thứ I và II chứng minh rằng các cuộc chiến tranh tiền tệ là cách đối phó sau cùng đối với các vấn đề khó khăn lớn hơn nhiều trong kinh tế vĩ mô. Cách đây hơn 100 năm, các bài toán kinh tế vĩ mô khó giải từng là những vấn đề liên quan đến nợ quá mức và không thể thanh toán nổi. Bây giờ, lần thứ ba trong vòng một thế kỷ, gánh nặng nợ trong cấu trúc vốn không cho phép tiến hành đầu tư tối ưu lại bóp nghẹt sự phát triển và khơi mào cuộc chiến tranh tiền tệ, trên quy mô toàn cầu. Các chính phủ châu Âu mắc nợ và các ngân hàng châu Âu còn đang trong tình trạng tệ hơn so với điều kiện của chính phủ và giới ngân hàng Mỹ. Sự phát triển bùng nổ thị trường nhà ở tại Ireland, Tây Ban Nha và một số quốc gia khác cũng chứa đựng đầy rủi ro không thua gì những diễn biến tương tự tại Hoa Kỳ. Ngay cả Trung Quốc, từng phát triển mạnh hơn tương đối và đạt thặng dư thương mại lớn trong năm ngoái, cũng có một hệ thống ngân hàng “ngầm” đang sử dụng đòn bẩy quá mức và chịu sự chi phối từ các chính quyền tỉnh thành. Gia tăng cung tiền quá lớn và một bong bóng nhà ở có thể nổ tung bất cứ lúc nào.

Thế giới từ sau năm 2010 sẽ khác biệt so với thế giới trong các thập niên 1920 và 1970 xét theo nhiều khía cạnh. Cái không đổi theo thời gian là những động cơ được sản sinh ra từ khối lượng nợ quá lớn, không thể thanh toán nổi, và không bền vững. Đó là những động cơ thúc đẩy việc giảm bớt đòn bẩy tài chính và giảm phát của khu vực tư nhân, bị bù trừ bởi các nỗ lực gây lạm phát và phá giá tiền tệ của các chính phủ. Thực tế cho thấy các chính sách lạm phát và phá giá tiền tệ trong quá khứ đã từng gây ra những thất bại kinh tế, nhưng đến nay chúng vẫn được đem ra áp dụng lại.

Đâu là những quan điểm để tránh được những hậu quả bất lợi này? Làm thế nào để có thể giảm bớt gánh nặng nợ toàn cầu, hiện đang ngăn cản hoạt động đầu tư tối ưu, nhằm thúc đẩy sự phát triển? Một số nhà phân tích cho rằng các cuộc đấu tranh chính trị hiện nay về vấn đề chi tiêu công chỉ là hình thức bề ngoài, chứ không phải là thực chất; và rằng một khi vấn đề trở nên cấp bách và những cuộc bầu cử then chốt đã xong thì những cái đầu chín chắn mới ngồi lại để làm việc cần làm. Một số khác lại dựa vào những dự phóng hiện đang gây rất nhiều tranh cãi về phát riển, lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp và những yếu tố then chốt khác để nhận xét rằng sự thâm hụt là chỉ báo cần thiết để đạt sự bền vững. Có đủ lý do để hoài nghi, thậm chí bi quan, về những dự phóng này. Lý do chính yếu là các động cơ của bản thân xã hội. Bản thân các cuộc chiến tranh tiền tệ và các thị trường vốn đều là những ví dụ về các hệ thống phức hợp, do đó chúng còn trở thành bộ phận cấu thành của các hệ thống phức hợp lớn hơn mà chúng tham gia tương tác. Những hệ thống lớn hơn cũng giống như các hệ thống bộ phận xét về cấu trúc và các động cơ – khác biệt chỉ là quy mô lớn hơn và khả năng sụp đổ cao hơn.

Các nhà lý thuyết phức hợp là Eric J. Chaisson và Joseph A. Tainter đã mang đến các công cụ cần thiết để giúp chúng ta hiểu rằng tại sao nguyên tắc chi tiêu sẽ có thể thất bại và tại sao kéo theo sau thất bại đó là các cuộc chiến tranh tiền tệ và một đồng đôla sụp đổ. Chaisson, một nhà vật lý thiên văn học, đã đi đầu trong cuộc cách mạng của lý thuyết phức hợp. Tainter, một nhà nhân chủng học, cũng là nhà lý thuyết phức hợp hàng đầu vì lý thuyết này liên quan đến sự sụp đổ của nền văn minh. Các lý thuyết của họ, vừa xem xét vừa ứng dụng vào các thị trường vốn trong điều kiện chịu ảnh hưởng từ nền chính trị đương đại, có thể khiến chúng ta ngập ngừng.

Chaisson coi tất cả các hệ thống phức hợp, từ vũ trụ đến cấu trúc dưới nguyên tử, chú trọng đến sự sống nói chung và nhân loại nói riêng, đều là các hệ thống cao độ nhất đã được khám phá. Trong tác phẩm Cosmic Evolution, ông xét đến các yêu cầu về năng lượng liên quan đến cấp độ phức hợp ngày càng tăng và, đặc biệt là, “mật độ năng lượng” của một hệ thống, liên quan đến năng lượng, thời gian, cấp độ phức hợp và quy mô.

Chaisson cho rằng vũ trụ này được nhận thức tốt nhất khi coi nó là dòng năng lượng miên man tuôn chảy giữa bức xạ và vật chất. Dòng động lực trong khi chuyển hóa có tạo ra năng lượng nhiều hơn mức cần thiết, hình thành nên “năng lượng tự do” củng cố cho hệ thống phức hợp. Đóng góp của Chaisson là: thông qua thực nghiệm, định nghĩa hệ thống phức hợp như tỷ lệ giữa dòng năng lược tự do so với mật độ trong hệ thống đó. Nói đơn giản, hệ thống có mức độ phức hợp càng cao thì nó càng cần nhiều năng lượng để duy trì quy mô và không gian của nó. Các lý thuyết của Chaisson đã nhận được nhiều sự ủng hộ, từ các định luật nguyên thủy trong nhiệt động lực học đến những quan sát phức tạp mới đây về trật tự và độ phức tạp trong vũ trụ.

Người ta vẫn cho rằng mặt trời sử dụng năng lượng nhiều hơn so với năng lượng của một bộ não người rất nhiều. Mặt trời còn lớn hơn não người rất nhiều. Nhưng khi tính toán sự khác biệt thì hóa ra não người lại sử dụng năng lượng nhiều hơn 75.000 lần so với mặt trời, theo các đơn vị đo lường của Chaisson. Chaisson còn định nghĩa một thực thể có mức độ phức hợp cao hơn não người rất nhiều: xã hội dưới hình thức văn minh. Điều này không làm ngạc nhiên; suy cho cùng, một xã hội với những cá nhân có đầu óc có thể tạo nên những thứ có cấp độ phức hợp cao hơn nhiều so với cấp độ của chính những cái đầu đó. Điều này hoàn toàn phù hợp với lý thuyết phức hợp, nền văn minh cũng là thuộc tính hợp trội của các cá nhân, theo đó xã hội rộng lớn hơn kết quả phép cộng từng cá nhân. Kết quả quan trọng mà Chaisson tìm thấy là: nền văn minh, có điều chỉnh theo mật độ, sử dụng năng lượng lớn hơn 250.000 lần so với năng lượng mà Mặt Trời sử dụng và hơn 1 triệu lần so với năng lượng mà dải Ngân Hà sử dụng.

Để hiểu được những hàm ý của lập luận trên đối với kinh tế học vĩ mô và các thị trường vốn, ta hãy bắt đầu với cách hiểu rằng tiền tệ là dạng năng lượng được lưu trữ. Định nghĩa cổ điển về tiền tệ có bao gồm nội dung cho rằng tiền là “công cụ lưu trữ giá trị”, nhưng chính xác thì đó là giá trị gì? Theo cách điển hình, giá trị là đầu ra của sức lao động và vốn, cả hai yếu tố này đều chứa đựng nhiều năng lượng. Trong tình huống đơn giản nhất, một người thợ để làm ra ổ bánh mì phải cần có các nguyên vật liệu, trang thiết bị và sức lao động, tất cả đều sử dụng năng lượng hoặc sản phẩm của một dạng thức năng lược. Khi cần bánh mì để lấy tiền, số tiền thu được chính là đại diện của những năng lượng lưu trữ qua quá trình làm bánh. Năng lượng này lại có thể giải phóng khi người làm bánh đi mua một số hàng hóa dịch vụ khác, chẳng hạn như sơn nhà (trả tiền cho thợ sơn). Năng lượng trong đồng tiền lúc này được giải phóng dưới dạng thức thời gian, nỗ lực, nguyên vật liệu và thiết bị của thợ sơn. Tiền vận hành đúng y như viên pin. Pin được nạp năng lượng, lưu trữ trong một khoảng thời gian và giải phóng năng lượng khi cần. Tiền cũng tích trữ năng lượng theo cách thức y như vậy.

Hiểu ý nghĩa năng lượng trong tiền là điều cần thiết để có thể áp dụng nghiên cứu của Chaisson đối với vận hành thực tế của các thị trường và xã hội. Chaisson thảo luận tại cấp độ vĩ mô nhất thông qua sự ước lượng toàn bộ con người, mật độ và dòng năng lượng của xã hội loài người. Tại cấp độ tương tác kinh tế của cá nhân trong xã hội, cần phải có một đơn vị để đo lường các dòng năng lượng tự do theo nghiên cứu của Chaisson. Tiền chính là đơn vị thuận tiện nhất và có thể định lượng để đáp ứng mục tiêu này.

Nhà nhân chủng học Joseph A. Tainter đã tận dụng mạch tư duy này khi đề xuất một phân tích có liên quan mà còn tinh tế hơn về dòng đầu vào – đầu ra, cũng ứng dụng lý thuyết phức hợp. Để hiểu được lý thuyết của Tainter, cũng cần sử dụng mô hình “tiền là năng lượng”.

“Món đặc sản” của của Tainter là sự sụp đổ của các nền văn minh. Đây từng là một chủ đề được ưa thích đối với nhiều nhà sử học và sinh viên kể từ khi sử gia Herodotus ghi chép lại sự phát triển và sụp đổ của nền văn minh Ba Tư cổ đại trong thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Trong tác phẩm đầy tham vọng tựa đề Sự sụp đổ của các xã hội phức hợp, Tainter đã phân tích sự sụp đổ của 27 nền văn minh khác nhau trong suốt thời gian 4500 năm, từ nền văn minh Kachin tại cao nguyên Burma ít ai biết cho đến đế chế La Mã và Ai Cập cổ đại nổi danh. Ông xem xét rất nhiều yếu tố liên quan đến nguyên nhân sụp đổ, bao gồm việc cạn kiệt tài nguyên, thiên tai, xâm lược, suy thoái kinh tế, khuyết tật xã hội, tôn giáo và chính quyền quan liêu thiếu năng lực. Công trình của ông là một thành tựu xuất sắc về lịch sử, trình bày các nguyên nhân và quá trình sụp đổ của các nền văn minh.

Tainter cũng dựa trên nền tảng được Chaisson và các nhà lý luận phức hợp nói chung sử dụng khi minh chứng rằng các nền văn minh cũng là các hệ thống phức hợp. Ông tranh luận rằng khi cấp độ phức hợp của một xã hội tăng lên, thì các yếu tố đầu vào cần có để duy trì xã hội đó cũng tăng theo hàm lũy thừa – đúng như những gì mà Chaisson sau đó lượng hóa khi trình bày tổng quát về lý thuyết phức hợp. Đối với các yếu tố đầu vào, Tainter không đề cập cụ thể đến đơn vị năng lượng theo cách thức của Chaisson, nhưng đối với nhiều loại giá trị năng lượng có tiềm năng dự trữ (bao gồm sức lao động, thủy lợi, vụ mùa và hàng hóa) thì chúng đều có thể được chuyển đổi thành tiền và thường là nhằm mục đích giao dịch. Tuy nhiên, Tainter còn phân tích thêm một bước nữa và cho thấy rằng: không những các yếu tố đầu vào gia tăng theo quy mô của nền văn minh và các chính phủ còn suy giảm theo đơn vị đàu vào, nếu đo lường bằng khối lượng hàng hóa dịch vụ công.

Đây là hiện tượng rất quen thuộc với các bạn tân sinh viên kinh tế học vi mô – quy luật lợi tức giảm dần. Thực ra, xã hội khi đó yêu cầu các thành viên nộp thuế ngày càng cao và họ lại nhận về các dịch vụ công ít hơn. Hiện tượng lợi nhuận biên có thể được đồ thị hóa bằng một đường cong: thoạt đầu đi lên đẹp mắt, sau đó đi ngang và bắt đầu đi xuống. Đường con lợi nhuận biên này cũng phản ánh sự phát triển đi lên, suy giảm rồi sụp đổ của các nền văn minh.

Quan điểm chủ chốt của Tainter là mối quan hệ giữa những con người và xã hội của họ xét từ góc độ các lợi ích và nghĩa vụ sẽ có thay đổi lớn theo thời gian. Cách tốt nhất để giải quyết những cuộc tranh cãi về việc “nhà nước tốt hay xấu” hoặc “thuế đang cao hay thấp” là đầu tiên phải định vị xã hội trên đường cong lợi nhuận nói trên. Trong giai đoạn đầu của một nền văn minh, các mức lợi nhuận từ đầu tư vào các hệ thống phức hợp, dưới hình thức đầu tư của chính phủ, thường rất cao. Một khoản đầu tư thời gian và nỗ lực nho nhỏ vào một dự án thủy lợi cũng có thể mang về các lợi ích rất lớn xét theo khối lượng lương thực đầu ra của một nông dân. Các giai đoạn toàn dân thi hành nghĩa vụ quân sự ngắn ngày có thể mang lại kết quả lớn lao là hòa bình và an ninh. Một bộ máy quan chức khá gọn nhẹ nhằm tổ chức công tác thủy lợi, quốc phòng và các nỗ lực khác cũng có thể đạt hiệu quả cao hơn hẳn cách giám sát ngẫu nhiên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: James Rickards – Các cuộc chiến tranh tiền tệ – NXB Trẻ 2014.