Bán đảo Triều Tiên có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với Mỹ? – Phần I


Vai trò lãnh đạo của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương được thiết lập từ đống tro tàn của Hiroshima và Nagasaki, và dựa trên vị thế của Mỹ là cường quốc nguyên tử đầu tiên. Sau đó vũ khí hạt nhân đã định hình rõ địa chính trị châu Á. Ngày nay, trên bán đảo Triều Tiên, công nghệ hạt nhân một lần nữa được cho là điểm đặc trưng của một sự chuyển dịch mạnh mẽ trên cán cân quyền lực của châu Á. Một cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Trump và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un có thể diễn ra trong tương lai, các sử gia tương lai đi đến nhìn nhận tên lửa đạn đạo được trang bị hạt nhân của Triều Tiên là ngòi nổ mà sẽ phá bỏ vai trò lãnh đạo chiến lược của Mỹ ở châu Á.

Để giải thích tại sao, chúng ta cần kết nối chặt chẽ 2 phần của câu chuyện về châu Á hiện đại. Thứ nhất là sự phát triển vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, nhất là thực tế rằng nếu Bình Nhưỡng chưa triển khai tên lửa đạn đạo liên lục địa, hay ICBM, thì nước này cũng đã đến ngưỡng làm vậy. ICBM của Triều Tiên là một vấn đề vô cùng khó đối với Mỹ bởi nó có tiềm năng chia rẽ Mỹ với các đồng minh của nước này. Phần thứ hai của câu chuyện này là Trung Quốc và việc nước này vươn lên vị thế siêu cường khu vực. Trung Quốc là thủy quái trong câu chuyện này và là lý do cốt lõi đằng sau vị trí ngày càng hiểm nghèo của Mỹ ở châu Á. ICBM của Triều Tiên chỉ làm trầm trọng thêm sự thay đổi này và đe dọa khởi xướng một sự sụp đổ vị trí của Mỹ.

Triều Tiên và ICBM của nước này

Các chuyên gia vẫn bất đồng về việc liệu Bình Nhưỡng hiện có thể phóng được một tên lửa gắn đầu đạn hạt nhân có tầm bắn tới các thành phố ở lục địa Mỹ hay không. Triều Tiên mới chỉ tiến hành 3 vụ thử ICBM, và chúng ta không thể chắc chắn rằng nước này có khả năng thu nhỏ đầu đạn hạt nhân cho vừa với phần mũi nhọn của một tên lửa như vậy, hoặc đầu đạn này có thể quay trở lại bầu khí quyển hay không. Nhưng Triều Tiên đang gần đạt được điều đó, nó không còn là vấn đề đối với họ. Vấn đề duy nhất là khả năng của ICBM của Triều Tiên giờ đây lớn đến mức Mỹ phải hành xử như thể đó là một thực tế mà ai cũng biết. Và Mỹ đang đáp trả. ICBM là vũ khí đã khiến Tổng thống Trump phải đe dọa Triều Tiên bằng vũ lực và hiện buộc ông phải chấp nhận đề nghị tham gia một cuộc gặp thượng đỉnh.

Chính quyền Trump nói họ chưa sẵn sàng để chấp nhận rằng Triều Tiên có khả năng tấn công Washington, New York hay Los Angeles bằng vũ khí hạt nhân. Mỹ lo sợ rằng lãnh đạo Triều Tiên “mất trí” đến mức ông ta có thể lựa chọn tấn công Mỹ bất cứ lúc nào. Nhưng đương nhiên điều đó sẽ gây ra một sự đáp trả hủy diệt từ Mỹ và có nhiều bằng chứng cho thấy Kim Jong-un đủ sáng suốt để tránh làm bất kỳ điều gì dẫn đến sự diệt vong chắc chắn xảy ra với mình.

Ý nghĩa thực sự của ICBM của Triều Tiên là nó tạo ra một hiện tượng giữa các đồng minh châu Á của Mỹ mà các nhà chiến lược gọi là “sự chia tách”. Khi việc Triều Tiên đe dọa giết hàng trăm triệu người Mỹ ngay tức khắc trở nên đáng tin, thì các đồng minh của Mỹ bắt đầu lo lắng rằng việc Mỹ cam đoan bảo vệ họ trong trường hợp Triều Tiên gây hấn đột nhiên có vẻ ít đáng tin hơn. Đó chính là lý do đặt các lực lượng vũ trang của Mỹ trong tình trạng nguy hiểm bằng việc đặt căn cứ ở Nhật Bản, Hàn Quốc và những nơi khác nằm trong phạm vi của các vũ khí có tầm bắn ngắn hơn của Triều Tiên. Nhưng liệu Mỹ có thật sự sẵn lòng đặt Los Angeles vào tình trạng nguy hiểm để cứu Seoul?

Đúng là Mỹ đã phải đối mặt với vấn đề chia tách trước đây và đã vượt qua nó. Vào những năm 1960, sau khi Liên Xô có được phương tiện để tấn công các thành phố của Mỹ, Washington đã phải thuyết phục các đồng minh NATO của mình rằng họ vẫn cam kết bảo vệ châu Âu. Washington đã giải quyết nỗi sợ hãi này bằng việc đặt các vũ khí hạt nhân nhỏ hơn trên đất của châu Âu và đưa các thành viên NATO vào trong cấu trúc chỉ huy đối với các lực lượng hạt nhân, do vậy liên kết các đồng minh lại gần nhau hơn.

Mỹ có làm được điều tương tự vào thời điểm này hay không? Các rào cản thực tế đối với việc Mỹ đưa vũ khí hạt nhân trở lại bán đảo Triều Tiên là khó vượt qua, nhưng có thể thực hiện. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề thực tiễn, mà là chính trị. Triều Tiên không phải là Liên Xô. Triều Tiên không phải là mối đe dọa sống còn mang tính toàn cầu đối với lợi ích và các giá trị của Mỹ. Chẳng những không phải là lãnh đạo của một phong trào ý thức hệ với các tham vọng toàn cầu mang tính thù địch với những lý tưởng chính trị của Mỹ, Triều Tiên còn là nhà nước ẩn dật và đẩy lùi đi xa, một dấu tích của Chiến tranh Lạnh bị lịch sử bỏ lại phía sau. Triều Tiên có một nền kinh tế với quy mô xấp xỉ Lào, và khả năng quân sự thông thường của Triều Tiên – đó là các lực lượng hải quân, bộ binh và không quân phi hạt nhân – chỉ xếp hạng hai.

Không có Chiến tranh Lạnh để đem lại cho Triều Tiên một bối cảnh lớn hơn, Bình Nhưỡng, bằng tất cả những thước đo khách quan, lại chẳng quá quan trọng, và các đồng minh châu Á của Mỹ – chủ yếu là Hàn Quốc và Nhật Bản cũng như Australia – đều biết điều đó. Đó là lý do giải thích tại sao ICBM của Triều Tiên lại là một diễn biến quan trọng đến vậy: nó cho thấy thực tế rằng lợi ích của Mỹ trên bán đảo Triều Tiên không quan trọng như những gì các đồng min có thể đã hy vọng, và nó không còn gắn kết Mỹ với khu vực như trước nữa.

Hiện nay, đòi hỏi dựa vào hiểu biết khá hẹp về lợi ích của Mỹ, hẹp hơn nhiều so với những gì các tổng thống Mỹ gần đây có, và trong các tuyên bố chính sách mà khẳng định rằng Mỹ có lợi ích sống còn ở châu Á – Thái Bình Dương và nước này phải duy trì được vị thế chiến lược ưu việt của mình. Người ta nói rằng vai trò lãnh đạo của Mỹ khiến cho khu vực trở nên an toàn hơn và hùng mạnh hơn. Mạng lưới liên minh châu Á của Mỹ là một nền tảng của vai trò lãnh đạo đó, vì vậy việc làm suy yếu một trong các liên minh này vì có sự nhúng ta của Triều Tiên sẽ là một đòn đánh vào Mỹ và trật tự quốc tế dựa trên quy tác mà Mỹ bảo vệ.

Nhưng đòn đánh đó lớn cỡ nào?

Sự trỗi dậy của Trung Quốc

Trong Chiến tranh Lạnh, câu hỏi này dễ trả lời hơn vì Mỹ tham gia cuộc đấu tranh toàn cầu nhằm đánh bại chủ nghĩa cộng sản. Đây là mục tiêu thôi thúc đằng sau mạng lưới liên minh và các căn cứ quân sự toàn cầu của Mỹ bao gồm các liên minh và căn cứ quân sự ở châu Á. Sau đó chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu sụp đổ, và Mỹ chỉ tìm thấy một mục tiêu mang tính thôi thúc mới trên trường quốc tế sau cuộc tấn công vào ngày 11/9. Nhưng cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo chưa bao giờ là một động lực mạnh mẽ đằng sau những cam kết liên minh của Mỹ ở châu Á. Thay vào đó, cấu trúc liên minh này đã tồn tại sau Chiến tranh Lạnh phần lớn là bởi chẳng có gì thách thức nó.

Nhưng hiện Mỹ đang đối mặt với một đối thủ ngang hàng thực sự ở châu Á. Theo Sách Trắng về chính sách đối ngoại của Australia năm 2017, đến năm 2030 nền kinh tế Trung Quốc có thể đạt 42.400 tỷ USD so với 24.000 tỷ USD của nền kinh tế Mỹ. Và Trung Quốc sẽ muốn nâng vị thế chiến lược của mình cho tương xứng với vị thế kinh tế. Trung Quốc dường như trước mắt không có tham vọng thách thức vị thế quân sự toàn cầu ưu việt của Mỹ, nhưng Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói rõ rằng ông coi Trung Quốc là một mô hình quản trị và phát triển toàn cầu để cạnh tranh với mô hình của Mỹ. Ít nhất, thì điều thận trọng là giả định rằng Trung Quốc sẽ không còn chấp nhận ở vị trí số 2 sau Mỹ trong chính khu vực của mình nữa. Cũng như Washington đã từ chối cho phép các cường quốc nước ngoài thống trị môi trường ngay sát sườn mình khi nước này đã vươn lên vị thế nước lớn, Trung Quốc sẽ muốn điều tương tự ở châu Á – Thái Bình Dương.

(còn tiếp) 

Nguồn: Australian Financial Review – 29/03/2018

TLTKĐB – 17/04/2018

Advertisements

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần cuối


Mặt khác, di sản của Chính quyền Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo làm cho chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân lẫn thị trường của Kim Jong-un có thể trở thành hiện thực. Năm 2005, chuyến thăm Triều Tiên của Hồ Cẩm Đào nhận được sự đón tiếp trọng thể, sua khi về nước lập tức xây dựng Triều Tiên thành kiểu mẫu ý thức hệ trong nước, bổ sung cho sự thiếu hụt về tính hợp pháp ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2008, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã chọn Triều Tiên trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên chính là dựa trên nhu cầu về ý thức hệ như vậy. Năm 2009, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đến thăm Triều Tiên, đã ký một loạt dự án viện trợ và hợp tác kinh tế trị giá khoảng 1 tỷ NDT, kỳ vọng vừa có thể duy trì chính quyền vừa giúp đỡ Triều Tiên mạnh dạn tiến hành cải cách thị trường hóa. Tuy mọi việc không được hoàn toàn thực hiện, sau khi cầu hữu nghị Trung – Triều được xây dựng, do Triều Tiên không làm đồng bộ đường giao thông nên không thể sử dụng, nhưng vẫn là tài sản quý giá mà Kim Jong-il để lại. Ví dụ các kiến trúc tương đối mới ở ven bờ sông Áp Lục dường như đều được Triều Tiên tận dụng xây dựng từ nguồn vốn và vật liệu giành được trong dự án của Ôn Gia Bảo; Triều Tiên cử các nhà quản lý doanh nghiệp sang Trung Quốc học tập kinh tế thị trường giống như Trung Quốc cửa cán bộ sang Đại học Harvard và Singapore học tập. Sau khi lên cầm quyền, Kim Jong-un có thể đã sửa đổi chiến lược tiên quân của cha mình, áp dụng chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân và thị trường, từ đó bên cạnh việc củng cố quyền lực vẫn có thể duy trì ổn định xã hội và kinh tế, và giành được sự ủng hộ của tầng lớp tinh hoa chính trị Triều Tiên.

Nhưng quan sát của tác giả tại Triều Tiên cũng cho thấy mức độ thị trường hóa của nền kinh tế nước này tương đối cao, đã gây dựng được tầng lớp trung lưu mới nổi thế tục, rất giống “vương quốc ẩn dật” như học giả Ralph Hassig và Kongdan Oh thuộc Viện Brookings từng mô tả. Đằng sau nó là một nền kinh tế xám khổng lồ, theo tính toán của giáo sư Kim Byung-Yeon thuộc Đại học Quốc gia Seoul, chiếm khoảng 70% GDP, gần như hoàn toàn thay thế hệ thống phân phối công cộng truyền thống, chiếm trên một nửa thu nhập quốc dân Triều Tiên. Năm 2015, GDP của Triều Tiên vào khoảng 16 tỷ USD, kim ngạch thương mại với Trung Quốc là 5,4 tỷ USD, ngoại thương với Trung Quốc chiếm tỷ lệ gần 70% kim ngạch ngoại thương của Triều Tiên, có thể nhận thấy kinh tế Triều Tiên phụ thuộc gần 50% vào bên ngoài. 70% là một con số lớn bí ẩn của nền kinh tế Triều Tiên, ví dụ như dưới thời Kim Nhật Thành, vì các cơ sở điện kém chất lượng nên tổn thất điện năng lên đến 70% tổng công suất phát điện, và ngay nay 70% lại đại diện cho mức độ thị trường hóa của nền kinh tế: như Triều Tiên dùng 3% đất đai để cung cấp gần 70% các sản phẩm nông nghiệp, và hơn 70% lực lượng lao động Triều Tiên đang làm việc cho một nền kinh tế thị trường.

Trong 6 năm qua, mặc dù nội bộ Triều Tiên có sự thay đổi quyền lực, các công ty Triều Tiên tham gia ngoại thương và xuất khẩu lao động cũng đã trải qua nhiều thay đổi, tuy hiên, trong các điểm mù chiến lược của Tập Cận Bình, dưới chiến lược mơ hồ của Tập Cận Bình đối với Triều Tiên, các công ty và người dân Triều Tiên dường như đã đầu tư vào toàn cầu hóa lấy Trung Quốc làm trung gian theo kiểu sùng bái họ Kim. Trong các nhà hàng nhỏ ở Đan Đông, chủ nhà hàng hàng ngày xử lý các đơn hàng đến từ Nghĩa Ô, sau đó chuyển giao cho thương nhân Triều Tiên và chịu trách nhiệm vận chuyển; trong các khu kinh tế, hàng chục nghìn công nhân và nông dân Triều Tiên làm việc miệt mài trong nhà máy sản xuất quần áo và phần mềm, khách hàng của họ đến từ khắp nơi trên thế giới. Đầu tháng 3/2017, lệnh cấm vận nghiêm ngặt được thực thi đã làm gián đoạn việc buôn bán than và xuất khẩu lao động đến từ Triều Tiên, nhưng các chuyến xe hàng qua lại như con thoi ở cảng Đan Đông không giảm đáng kể. Mặc dù phải đối mặt với áp lực rất lớn của cộng đồng quốc tế, nhưng chiến lược mơ hồ của Trung Quốc lại khiến các quan chức và người dân Triều Tiên dần dần thích ứng với sự chuyển đổi mô hình của thị trường, không chỉ để nuôi quốc gia, mà còn hỗ trợ các chương trình hạt nhân và cho phép Kim Jong-un thử hạt nhân, cũng giành được thời gian quý báu để chính thức thúc đẩy cải cách toàn diện theo định hướng thị trường.

Thứ hai, từ lập trường và cách sắp đặt của Trung Quốc trong mối quan hệ với Triều Tiên cho thấy quan hệ Trung – Triều vẫn còn giới hạn ở mối quan hệ liên đảng truyền thống, mà không phải mối quan hệ giữa các quốc gia bình thường. Về mặt truyền thống, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn coi Triều Tiên như một chính đảng anh em của phong trào cộng sản quốc tế và không phân biệt giữa đảng và nhà nước. Cho dù là thời kỳ liên quân kháng Nhật Đông Bắc hay là cuộc nội chiến sau năm 1946 cũng như trong mối quan hệ ba bên Xô – Trung – Triều sau năm 1949, dù liên quan đến vấn đề phân chia biên giới hay vấn đề chủ quyền vùng Đông Bắc, hoặc vấn đề quân nhân Triều Tiên và vấn đề kiều dân quay trở lại, hay các vấn đề ngoại giao thì quan hệ song phương luôn lấy mối quan hệ đặc biệt giữa hai đảng làm chủ đạo, mà không phải là chủ nghĩa quốc gia, vượt qua mối quan hệ bình thường giữa hai nước. Mối quan hệ đặc biệt này độc đáo ngay cả khi so sánh quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác. Trên thực tế, trong hầu hết cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này đều có sự tham gia của ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị phụ trách ngoại giao liên đảng Vương Hộ Ninh, đồng thời nhân vật này còn tiễn Kim Jong-un ở ga tàu Bắc Kinh; thành viên phái đoàn Trung Quốc tại cuộc gặp cũng ưu tiên nêu trước chức danh trong đảng. Trong thái độ đó với Triều Tiên, Tập Cận Bình kế thừa nguyên tắc quan hệ liên đảng, và không có ý định thay đổi việc này, điều này giống với đường lối nhấn mạnh sự lãnh đạo của đảng đối với đất nước của Tập Cận Bình kể từ Đại hội XIX tới nay.

Tuy nhiên, thái độ của Triều Tiên lại hoàn toàn khác, nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc trong quan hệ song phương. Ví dụ, sau khi Chiến tranh Triều Tiên bùng phát năm 1950, Triều Tiên luôn giữ sắc thái quốc gia dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ trong việc xử lý vấn đề thay đổi đảng tịch và quân tịch của quân nhân Triều Tiên quốc tịch Trung Quốc, nhấn mạnh sự thừa nhận dân tộc và khác biệt quốc tịch đối với quân nhân Triều Tiên có quốc tịch Trung Quốc, chứ không phải là mối quan hệ chính đảng anh em, hạn chế nghiêm ngặt việc họ trở về nước. Về vấn đề lãnh thổ và biên giới, trong khi tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, Triều Tiên tương tự lợi dụng lập trường liên đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự khác biệt tế nhị về lập trường quốc gia dân tộc của Triều Tiên để giành được lợi ích tối đa, đặc biệt là lợi dụng các cuộc tranh luận về ý thức hệ giữa chính đảng Trung – Xô để họ viện trợ cho Triều Tiên. Sau khi lên nắm quyền, Đặng Tiểu Bình ngừng xuất khẩu cách mạng, làm phai nhạt ý thức hệ, làm nhạt mối quan hệ liên đảng, quan hệ Trung – Triều cũng rơi vào lạnh nhạt trong thời gian dài. Sau Đại hội 6 năm 1980, Đảng Lao Động Triều Tiên không tổ chức đại hội trong 36 năm, chủ nghĩa Marx bị loại bỏ, Triều Tiên diễn biến thành đất nước do một người cai trị, và cuối cùng rơi vào nạn đói sau Chiến tranh Lạnh. Xét theo nghĩa này, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên không phải là bình thường từ đầu đến cuối, và nó không phải là mối quan hệ giữa hai quốc gia bình thường.

Trục mới

Nếu thế giới bên ngoài coi mối quan hệ Trung – Triều trong tương lai là một “trục mới” vượt trên mối quan hệ quốc gia bình thường thì không có gì đáng ngạc nhiên, sự tiếp nối của mối quan hệ chính đảng Trung – Triều truyền thống cũng là sự liên tưởng tự nhiên tới việc Tập Cận Bình, Kim Jong-un có thể cầm quyền suốt đời. Ngoài ra, mong muốn đối thoại trực tiếp giữa Triều Tiên và Mỹ quá mạnh, gần như có thể được xem như Triều Tiên hoặc Kim Jong-un muốn sớm thoát khỏi mối quan hệ nhà nước không bình thường này dù phải đợi hơn 30 năm sau Chiến tranh Lạnh mới có cơ hội.

Ngay cả khi nhìn lại lịch sử cũng không thấy có gì lạ. Sau binh biến Nhâm Ngọ năm 1882, (tương đương với các cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay), vua Cao Tông của Triều Tiên năm 1887 đã cử Bak Jeongyang làm công sứ đầu tiên tại Mỹ, và sau đó còn xảy ra tranh chấp ngoại giao với Nhà Thanh xung quanh việc Nhà Thanh là thuộc quốc hay là chủ thể tự do hoàn toàn, cuối cùng đã diễn biến thành Chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Kết cục như vậy là điều nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày nay không mong muốn nhìn thấy, cũng chưa có sự chuẩn bị sẵn sàng, bao gồm sẵn sàng chấp nhận Triều Tiên là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân để làm sự kiềm chế đối với bên thứ ba – đây là sự đảo lộn cơ bản hệ thống Yalta và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Bắc Kinh đang chịu mối đe dọa của cuộc chiến thương mại của Trump, nhưng không ai dám thách thức trật tự quốc tế lấy WTO và toàn cầu hóa theo chủ nghĩa tự do làm cơ sở. Điều này về cơ bản cũng đã phủ nhận khả năng Trung Quốc và Triều Tiên sẽ hình thành một “trục mới” trên cơ sở là “các nước sở hữu hạt nhân”. Sau cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un, Trung Quốc đã nhanh chóng thông báo tình hình cho Mỹ và Hàn Quốc.

Đối với Triều Tiên, tất nhiên một mặt họ đang cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng của nước mẹ hàng nghìn năm này, tìm kiếm tính chủ thể mới trên vũ đài thế giới; mặt khác, nếu Triều Tiên vượt qua cuộc khủng hoảng hạt nhân thuận lợi, tìm được giải pháp, thì cũng sẽ thu hoạch được lợi ích kinh tế từ trong chiến lược “tống tiền hạt nhân”. Sau tất cả, trong tương lai liệu Triều Tiên có thực sự từ bỏ chương trình hạt nhân, bàn về thời gian biểu cho việc từ bỏ hạt nhân hay không thì còn nhiều tính khó lường. Kim Jong-un có thể tận dụng tính khó lường của chủ nghĩa cơ hội để biến “khoản hoa hồng từ sự tống tiền hạt nhân” thành hiện thực, sử dụng chính sách song phương giành được lợi ích tối đa từ Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, giống như Trung Quốc thực hiện cải cách và mở cửa và giành được “lợi ích từ Chiến tranh Lạnh” theo đường lối chủ nghĩa thực dụng.

Tuy nhiên, về mặt dài hạn, sự mơ hồ chiến lược của Triều Tiên, Trung Quốc và chủ nghĩa cơ hội lại có thể kiềm chế sự bình thường hóa quan hệ Triều – Mỹ trong thời gian dài, cản trở Triều Tiên gạt Trung Quốc sang một bên, ôm lấy toàn cầu hóa và trật tự quốc tế. Chu dù là trục cũ hay mới, có tồn tại hay không, sự kiên trì đối với mối quan hệ liên đảng đặc biệt giữa Trung Quốc và Triều Tiên đều đã cản trở Trung Quốc từ bỏ gánh nặng Triều Tiên, hoặc cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” thậm chí “quan hệ nuôi dưỡng” với hệ tư tưởng của Triều Tiên, về cơ bản cản trở việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cũng cản trở tiến trình Trung Quốc và Triều Tiên là quan hệ bình thường trong con mắt của cộng đồng quốc tế.

Có lẽ giải pháp duy nhất để cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” giữa Trung Quốc và Triều Tiên, giúp Trung Quốc loại bỏ sự mơ hồ chiến lược, đạt được bình thường hóa hoàn toàn quan hệ song phương, chính là thống nhất bán đảo Triều Tiên. Ví dụ, trong khi Trung Quốc thực hiện sự phục hưng quốc gia, giúp người dân ở Bắc – Nam bán đảo Triều Tiên đạt được sự thống nhất và hòa giải dân tộc. Đây mới là ý nghĩa thực tế nhất của cái được gọi là “cộng đồng chung vận mệnh của con người”.

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần đầu


Vào thời điểm tình hình Đông Bắc và Tây Thái Bình Dương phức tạp, căng thẳng chưa từng có, liệu việc hai nhà lãnh đạo Trung Quốc và Triều Tiên tuy ở rất gần nhưng chưa từng gặp nhau lại tiến hành cuộc gặp không chính thức dưới sự sắp đặt hết sức bí mật có thể làm ấm lại mối quan hệ giữa hai nước đã lạnh nhạt trong nhiều năm hay không. Ngoài ra, tại cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này, các phát ngôn như “đi thăm người thân” và “di nguyện”…, Trung Quốc và Triều Tiên sẽ khôi phục tình hữu nghị truyền thống, tiếp đến kết thành trục mới ở Đông Bắc Á, thay đổi cục diện an ninh Tây Thái Bình Dương cũng đều là những điều có giá trị nghiên cứu.

Điều thú vị có lẽ rằng đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Kim Jong-un từ khi lên làm nhà lãnh đạo Triều Tiên. Tuy chỉ là chuyến thăm không chính thức, nhưng Trung Quốc lại dành cho Kim Jong-un các biện pháp đảm bảo an ninh nghiêm ngặt chưa từng có. Đoàn tàu chở nhà lãnh đạo Kim Jong-un vừa đi qua cầu hữu nghị Trung – Triều nối giữa hai thành phố Đan Đông – Trung Quốc và Sinuiju – Triều Tiên một đoạn thì rào chắn thép được dựng lên để ngăn không cho các phóng viên dòm ngó từ khách sạn gần cầu. Từ đêm ngày 25/3 đến gần tối ngày 26/3, đoàn tàu chở Kim Jong-un đi lại rất thuận lợi trong lãnh thổ Trung Quốc. Hành trình đến Bắc Kinh của Kim Jong-un đã được kiểm soát, đến camera giám sát ở các đường giao nhau cũng bị bịt kín. Tuy nhiên, chuyến thăm Bắc Kinh ngắn ngủi của Kim Jong-un lại không phải là chuyến thăm “không chính thức”, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp đóng Kim Jong-un bằng nghi lễ quốc gia long trọng, sau Kim Jong-un về nước, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc và các phương tiện truyền thông chính thức mới đưa tin rầm rộ về cuộc gặp thân mật giữa hai nhà lãnh đạo này.

Vì vậy, vào thời điểm cục diện chính trị Đông Bắc Á có bước chuyển ngoặt thông qua hành trình bí mật trong chuyến thăm của Kim Jong-un và khói mù bao phủ trên bầu trời Bắc Kinh, cuộc gặp được tiến hành vội vã này và nội dung cuộc hội đàm mà các phương tiện truyền thông chính thức của Trung Quốc tiết lộ, đã cung cấp những thông tin vô cùng hiếm hoi để bên ngoài có thể dựa vào đó phân tích toàn diện sự phát triển của quan hệ Trung – Triều, làm sáng tỏ rất nhiều dự đoán của cộng đồng quốc tế, ví dụ như liệu Trung Quốc có vì cuộc gặp thượng đỉnh Triều – Mỹ mà bị gạt sang một bên, liệu Trung Quốc có chuẩn bị chấp nhận Triều Tiên là quốc gia sở hữu hạt nhân…, để từ đó nắm bắt hơn nữa ý đồ chiến lược của Trung Quốc. Điều đặc biệt là cộc gặp thượng đỉnh lần này diễn ra trước cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều vào tháng 4 và cuộc gặp thượng đỉnh Triều – Mỹ vào tháng 5. Cuộc gặp đầy kịch tính này dường như diễn ra trong tiến trình khó khăn của quan hệ Trung – Triều sau khi cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên ngày càng trầm trọng, bao hàm hiện trạng, bước chuyển ngoặt trong 5 năm qua và tương lai.

Nhìn lại bối cảnh

Từ khi Kim Jong-un lên cầm quyền năm 2011, Tập Cận Bình lên cầm quyền năm 2012 đến nay, hai nhà lãnh đạo 6 năm chưa gặp mặt, và 6 năm qua cũng là khoảng thời gian cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên có những diễn biến xấu nhất. Qua việc hai nguyên thủ chưa từng tới thăm nhau, gọi điện cho nhau, không thể không nói rằng quan hệ song phương rất lạnh nhạt, ở thời kỳ kém phát triển nhất kể từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992. Trong 6 năm qua, năm 2012 Lý Kiến Quốc và năm 2017 Tống Đào lần lượt đến Triều Tiên thông báo tình hình Đại hội XVIII và XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc với tư cách đặc phái viên, năm 2013 Phó Chủ tịch nước Lý Nguyên Triều và năm 2015 Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Vân Sơn đến thăm Triều Tiên, tham dự lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng Lao động Triều Tiên. Về phía Triều Tiên, từ sau chuyến thăm Trung Quốc không chính thức của Kim Jong-il năm 2011, thời kỳ Kim Jong-un cầm quyền chỉ có trợ lý thân cận là Choe Ryong-hae đến thăm Bắc Kinh vào các năm 2015, 2016 và 2017. Những chuyến thăm ít ỏi này về cơ bản không có lợi cho việc hai bên loại bỏ những cản trở của các sự việc đan xen như nhân vật số 2 của Triều Tiên thân Trung Quốc, chú rể của Kim Jong-un là Jang Song-thaek bị xử tội chết, Kim Jong-nam bị ám sát…, trái lại còn rơi vào khủng hoảng trong các cuộc thử hạt nhân và phóng tên lửa liên tiếp của Triều Tiên.

Có 4 trong 6 vụ thử hạt nhân mà Triều Tiên đã tiến hành cho đến nay được thực hiện trong 6 năm qua, đây cũng là 6 năm quan hệ Trung – Triều rơi vào lạnh nhạt, chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đã hoàn thành cuộc nhảy vọt từ bom nguyên tử đến bom H, từ thử nghiệm đến đưa vào thực tế chiến đấu, từ tên lửa đạn đạo tầm trung chưa hoàn thiện đến tên lửa đạn đạo liên lục địa, lần đầu tiên có năng lực đe dọa lãnh thổ Mỹ, khiến cho Liên hợp quốc thực hiện lệnh cấm vận nghiêm khắc chưa từng có. Trung Quốc cũng đứng vào hàng ngũ các nước lên án và cấm vận Triều Tiên. Năm 2017 quan hệ Trung – Triều ở vào thời kỳ kém phát triển nhất.

Trong bối cảnh này, kể từ Olympic Pyeongchang diễn ra hồi tháng 2 đến nay, Chính quyền Kim Jong-un đã chủ động thực hiện ngoại giao mềm dẻo qua việc cử em gái là Kim Yo-jong mở ra cánh cửa đối thoại liên Triều. Trong thời gian này, bên ngoài dường như bị mê hoặc bởi tư thế ngoại giao của Triều Tiên, ngoài cuộc đối thoại thượng đỉnh liên Triều, thượng đỉnh Triều – Mỹ đã được xác định, cuộc gặp mặt thượng đỉnh Triều – Nhật cũng đang được xem xét. Trong cuộc đối thoại Triều – Trung lần này, như thông tin mà hai bên đã chứng thực sau chuyến thăm, việc Kim Jong-un đưa ra kiến nghị đến thăm Trung Quốc, sau đó nhận được lời mời của Trung Quốc, đều được tiến hành rất vội vàng, làm theo mô hình chuyến thăm không chính thức năm 2011 của Kim Jong-il, chủ yếu là trao đổi, tiếp tục nhấn mạnh sự hữu nghị truyền thống giữa hai nước và sự trao đổi “đi thăm người thân” do cố lãnh đạo Hồ Diệu Bang từng đưa ra, không đưa ra thông cáo, cũng không có họp báo, đã để lại không gian làm ấm quan hệ song phương.

Bầu không khí thoải mái trong cuộc gặp dường như cũng cho thấy quan hệ Trung – Triều đã tìm lại được nền tảng của nhận thức chung, tức là chủ trương kiên trì phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên mà phương tiện truyền thông chính thức Trung Quốc đưa tin và Kim Jong-un thừa nhận đây là di nguyện của ông cha. Quay lại phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên có khả năng mới là nguyên nhân chính khiến Kim Jong-un thực hiện chuyến thăm lần này: Không phải sự yết kiến của nước được bảo hộ với nước bá chủ, mà là với nỗ lực ngoại giao chủ động, linh hoạt, Kim Jong-un đã phá vỡ được sự cô lập về ngoại giao.

Đây có lẽ là xuất phát điểm cơ bản để hiểu về cuộc gặp giữa Kim Jong-un và Tập Cận Bình lần này, cũng là chìa khóa để nhận định chính sách của Trung Quốc đối với Triều Tiên trong 6 năm qua thậm chí là lâu hơn thành công hay thất bại: Sau khi hoàn thành cơ bản chương trình thử nghiệm hạt nghân và có đủ các con bài, Kim Jong-un thực hiện ngoại giao song phương tích cực, không những đã thực hiện được mục tiêu đối thoại trực tiếp Triều – Mỹ mà Triều Tiên lâu nay luôn cố gắng tìm kiếm, mà còn làm tan rã mô hình ngoại giao đa phương do Trung Quốc lập ra với Đàm phán 6 bên làm trung tâm, có thể nói là đã phá vỡ sự ràng buộc và giành được sự chủ động. Đương nhiên, sự ràng buộc này cũng mất rất nhiều công sức, trên thực tế nó đã che chở cho sự nghiệp phát triển hạt nhân của Triều Tiên, giành lấy thời gian cho nước này, sau đó từ bỏ những thứ mà mình cảm thấy không còn giá trị.

Tuy nhiên, chuyến thăm chủ động với tư thế khiêm tốn của Kim Jong-un, trong đó ngày thứ 2 sau khi đến Bắc Kinh, Kim Jong-un đến tham quan triển lãm trưng bày những thành quả của Viện Khoa học Trung Quốc, xem những tiến triển vật lý hạt nhân, kính viễn vọng vô tuyến khẩu độ 500m và công nghệ tương tác thực tế (VR) của Trung Quốc, chắc chắn sẽ gây cho bên ngoài ảo giác Trung Quốc đang phát huy ảnh hưởng tích cực trong thời kỳ then chốt như lời của học giả người Mỹ Gordon G. Chang, đồng thời không bị gạt sang bên lề, nếu Trung Quốc không tích cực điều chỉnh, e rằng sẽ khó có thể đối phó với những thách thức của tình hình hoàn toàn mới ở Đông Bắc Á trong thời gian tới. Ở đây có hai vấn đề cần phải nghiên cứu:

Một là chương trình hạt nhân của Triều Tiên, trong đó có chương trình tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM), mặc dù vẫn còn cần thời gian để đưa vào thực tế chiến đấu nhưng điều không thể phủ nhận là những tiến triển mang tính đột phá mà Triều Tiên đạt được trong 6 năm qua có liên quan đến điểm mù chiến lược sau khi trung tâm chiến lược của Trung Quốc chuyển dịch sang phía Nam tạo ra, điều này cũng có nghĩa là sự mơ hồ chiến lược của Trung Quốc đối với Triều Tiên trong thời gian dài qua trên thực tế đã dung túng cho sự phát triển hạt nhân của Triều Tiên. Một mặt kể từ cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan từ giữa những năm 1990 đến nay, trung tâm chiến lược của Trung Quốc bắt đầu chuyển dịch sang phía Nam, mối quan tâm chủ yếu đặt ở Đông Hải (biển Hoa Đông), eo biển Đài Loan, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Trong 20 năm qua, Trung Quốc lần lượt xảy ra đối đầu căng thẳng với Nhật Bản, nhiều nước xung quanh Nam Hải như Philippines cũng như Đài Loan xoay quanh các vấn đề như khai thác dầu khí ở Đông Hải, chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, các đảo/đá ở Nam Hải cũng như sự thay đổi chính quyền và khuynh hướng độc lập của Đài Loan. 6 năm qua, cùng với việc Trung Quốc chủ động đưa ra và thúc đẩy chiến lược “Vành đai và Con đường”, đồng thời nhanh chóng xây dựng chiến trường ở các đảo và đá thuộc Nam Hải, cộng đồng quốc tế bắt đầu lo ngại toàn bộ Tây Thái Bình Dương đối diện với rủi ro “Phần Lan hóa”, nên mới đưa ra các biện pháp đối phó như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)…, cho đến cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ có thể sắp bùng phát.

(còn tiếp) 

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Bàn về sự mất cân bằng cán cân quân sự quốc tế


Sau vụ ám sát cựu gián điệp Serguei Skripal, căng thẳng giữa Nga và phương Tây tăng dần. Vậy liệu Nga có phải là mối đe dọa lớn nhất không? Còn Trung Quốc thì như thế nào? Những cường quốc nào là cường quốc mạnh nhất hiện nay?

Tại một cuộc họp báo ở Brussels (Bỉ), vào trung tuần tháng 3/2018, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg đã tuyên bố: “Nga đã hiện đại hóa vũ khí của họ trong suốt thập kỷ qua và đã phát triển vũ khí hạt nhân mới. Tuy nhiên, NATO sẽ không theo gương Nga, lấy xe tăng đấu xe tăng, tên lửa đấu tên lửa, hay máy bay không người lái đấu máy bay không người lái. Chúng tôi không muốn có một cuộc chiến tranh lạnh mới”.

Các nhà nghiên cứu chiến lược Bastian Giegerich và Lucie Beraud-Sudreau thuộc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS), London, đã có những trao đổi về thế tương quan lực lượng quân sự hiện nay.

Theo nhà nghiên cứu Bastian Giegerich, “lại một lần nữa, chúng ta đang tham gia một cuộc chạy đua giữa các siêu cường. Nga, Trung Quốc và Mỹ đang chuẩn bị cho xung đột. Điều đó không có nghĩa rằng chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, trò chơi “bàn tay sắt” mới này rõ ràng dẫn tới các chương trình hiện đại hóa quân sự”.

Trong Báo cáo cán cân quân sự hàng năm mới đây, IISS đã công bố về vũ khí quân sự của 171 quốc gia trên thế giới. Đây là nguồn tài liệu công khai tốt nhất trên thế giới về chủ đề này. Ông Giegerich và đồng nghiệp Lucie Beraud-Sudreau đã tham gia soạn thảo tài liệu tham khảo này và có chuyến công tác tới Brussels, theo lời mời của Viện Egmont (Viện quan hệ quốc tế hoàng gia Bỉ). Ông Giegerich giải thích: “Ưu thế về công nghệ của phương Tây tiếp tục bị xói mòn. Trong 30 năm trở lại đây, phương Tây đã không còn giữ vị thế thống trị của mình. Hiện họ đang gặp sức ép”. Sau đây là phần trả lời phỏng vấn của hai nhà nghiên cứu trên:

Báo Le Vif (-): Hai năm gần đây, người ta một lần nữa chứng kiến các tàu chiến Nga ngoài khơi bờ biển Bỉ. Liệu đây có phải là chuyện bình thường?

+ Bastian Giegerich: Đó thực sự là sự kiện có ý nghĩa. Vả lại, không phải một mình Nga, mà Trung Quốc cũng làm như vậy. Hiện có các cuộc tập trận chung Nga – Trung và các cuộc tập trận trên biển Baltic và Địa Trung Hải. Vì vậy, Trung Quốc cũng tới đây. Điều đó khiến chúng ta phải suy nghĩ. Tuy nhiên, không chỉ có điều này. Trung Quốc cũng xuất khẩu các máy bay không người lái sang Trung Đông và Trung Á. Lực lượng quân sự phương Tây hoạt động trong khu vực này nhận thấy đối phương sở hữu nhiều hơn loại vũ khí tối tân này. Máy bay không người lái thực sự làm thay đổi tình hình. Bỗng nhiên, người ta chứng kiến rõ ràng có thêm nhiều vũ khí giết người được sử dụng tại nhiều nơi ở khu vực này.

– Châu Âu phải e ngại nước nào nhất? Nga hay Trung Quốc?

+ Giegerich: Nga được coi là mối đe dọa về ngắn hạn. Moskva đã cho thấy nước này là một chủ thể xâm lược trong khu vực. Và năng lực quân sự của họ là đáng lo ngại. Về dài hạn – trong 20, 30 năm – Trung Quốc rõ ràng theo đuổi tham vọng thách thức sự bá chủ về quân sự trên thế giới. Nga và Trung Quốc đầu tư vào công nghệ hơn hẳn hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. Như thiết bị phóng tên lửa có tốc độ siêu thanh sẽ được đưa vào sử dụng từ nay cho tới giữa những năm 2020. Đây là loại thiết bị phóng tên lửa rất nhanh, rất khó để đánh chặn. Người ta phóng chúng cùng với một tên lửa đạn đạo. Ngay cả khi không có đầu đạn hạt nhân, tên lửa này có sức phá hủy rất lớn.

– Sức mạnh quân sự của Nga ra sao?

+ Giegerich: Nga sử dụng Syria là nơi thử nghiệm công nghệ, chiến thuật và triển khai lực lượng vũ trang của họ. Hiện họ đã gặt hái được kết quả từ đó. Đây là một sự khác biệt quan trọng so với Trung Quốc, vốn tham gia các sứ mệnh gìn giữ hòa bình, nhưng thật ra lại không thực sự có được kinh nghiệm chiến đấu.

Nga không phải không thể bị tổn thương. Chúng tôi cũng không quá phóng đại năng lực của Nga, nhưng trong một số lĩnh vực, như pháo phản lực và tác chiến điện tử, họ thực sự mạnh. Ngoài ra, họ sử dụng hiệu quả các phương tiện phi quân sự để gây ảnh hưởng về chính trị. Hãy nghĩ về các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng năng lượng, sự hỗ trợ cho các phong trào chính trị tại châu Âu và việc sử dụng các công cụ mạng.

– Chương trình hiện đại hóa quân đội Nga bị chậm trễ.

+ Giegerich: Điều đó chủ yếu là do hoạt động sản xuất vũ khí: Đối với động cơ tên lửa và các bộ phận của một số hệ thống quân sự, Nga bị phụ thuộc vào Ukraine. Và còn có các vấn đề về ngân sách.

+ Lucie Beraud-Sudreau: Từ năm 2010 tới năm 2015, chi tiêu quân sự Nga đã tăng không dưới 50%, tuy nhiên, sau khi sáp nhập Crimea, đã xuất hiện các lệnh trừng phạt của phương Tây chống Nga. Ngoài ra, giá nguyên liệu, vốn là một trong những nguồn thu chính của Nga, đã giảm. Từ đó, kinh tế Nga thêm khó khăn, và nước này đã phải tiết kiệm, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng. Năm 2016, ngân sách quốc phòng đã giảm 10%, năm 2017 giảm thêm 9%. Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng kinh tế Nga bắt đầu hồi phục, điều này giúp ổn định ngân sách quốc phòng.

– Về phần mình, Trung Quốc thông báo họ sẽ có một quân đội “đẳng cấp thế giới” vào năm 2050.

+ Giegerich: Điều thú vị là qua phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trung Quốc cho thấy rõ tham vọng gia nhập các quốc gia lãnh đạo quân sự của thế giới. Tập Cận Bình đã kiểm soát chặt chẽ quân đội. Những năm gần đây, Trung Quốc đã đầu tư nhiều vào việc hiện đại hóa. Riêng các loại tàu chiến do Trung Quốc đóng trong 4 năm gần đây , có trọng tải lớn có thể so sánh với lực lượng hải quân của Pháp. Trung Quốc cũng đầu tư vào máy tính lượng tử, nước này đang sở hữu nhiều siêu máy tính nhất thế giới. Thách thức đối với Trung Quốc là ở chỗ tập hợp các yếu tố khác nhau: công nghệ, học thuyết, đào tạo, kinh nghiệm tác chiến, nhân công. Họ đã chưa thành công.

– Chiến tranh hiện địa đã bị công nghệ xử lý dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo chi phối ở mức độ nào?

+ Giegerich: Phân tích lực lượng dữ liệu lớn đã được sử dụng trong tình báo quân sự. Giai đoạn tới, người ta sử dụng các thuật toán và trí tuệ nhân tạo để phân tích các hình ảnh vệ tinh và những động thái quân sự trên thực địa chẳng hạn. Liệu có tới lúc máy móc sẽ thay thế các quyết định của con người. Nhìn từ quan điểm đạo đức, thì thật đáng lo ngại.

– Năm 2017, chi phí về quân sự trên thế giới đã giảm. Ông bà giải thích thế nào về điều này?

+ Lucie Beraud-Sudreau: Đây là sự suy giảm rất nhỏ, ở mức 0,2%. Trong sự suy giảm này, một nửa là thuộc về 2 quốc gia: Nga và Saudi Arabia. Có những dấu hiệu cho thấy chi phí quân sự thế giới sẽ lại tăng trong những năm tới. Hầu như tất cả các quốc gia châu Âu có ý định chi phí nhiều hơn cho quốc phòng. Mỹ cũng muốn tăng thêm 7% ngân sách quốc phòng nữa cho quân đội vào năm 2018 và 2019, trong khi họ đã có ngân sách quốc phòng lớn nhất thế giới.

– Năm 2017, châu Âu là khu vực có mức tăng chi tiêu quốc phòng cao nhất thế giới. Có phải đây là hậu quả nào từ sức ép của Washington?

+ Lucie Beraud-Sudreau: Có ba yếu tố giải thích việc gia tăng chi phí quốc phòng này tại châu Âu. Tăng trưởng kinh tế đã trở lại. Sau khi Nga sáp nhập Crimea, một số quốc gia Đông Âu đã lo ngại về quốc gia hàng xóm lớn của mình. Và cuối cùng, thực tế là do sức ép từ Washington đòi hỏi châu Âu tăng chi phí nhiều hơn cho quốc phòng. Sức ép này đã có dưới thời Obama, nhưng Donald Trump đã truyền tải nó một cách rõ hơn.

– Năm 2014, các quốc gia thành viên NATO đã cam kết dành 2% GDP của họ cho quốc phòng từ nay tới 2024.

+ Lucie Beraud-Sudreau: Đây là một mục tiêu chính trị. Nó không thực sự đưa ra hình ảnh chính xác của việc sử dụng hiệu quả nguồn tiền này.

+Giegerich: Tôi e rằng tỉ lệ 2% này khó trở thành lá bùa hộ mệnh. Đây không phải là tiêu chí duy nhất. Nó chỉ đề cập đến đầu vào: Người ta dành bao nhiêu tiền cho quốc phòng? Chứ không nói tới đầu ra: Đổi lại người ta đạt được gì? Như ở Bỉ, người ta chi 33% ngân sách quốc phòng cho lương hưu – thay vì khoảng 15% – nên còn ít tiền cho nghiên cứu và phát triển, đổi mới và mua sắm trang bị. Vì vậy, nước này có quá ít phương án để hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình. Đây là một vấn đề. Điều đó gây khó khăn hơn cho Bỉ – và các quốc gia lâm vào tình huống tương tự – khi đương đầu với các thách thức trong tương lai.

– Tại hội nghị an ninh Munich tháng 2/2018, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg đã cảnh báo Liên minh châu Âu (EU) không làm điều mà NATO đã làm.

+ Giegerich: Tôi ngạc nhiên vì cách tiếp cận tiêu cực của Stoltenberg. Cuối những năm 1990, khi EU đưa ra vấn đề hợp tác quốc phòng, người ta nói điều tương tự: “Đừng cạnh tranh với NATO”. Tôi không thấy điều đó mang tính hợp tác. Điều này cho thấy sự lo lắng của Mỹ về điều mà EU dự định làm. Hai năm gần đây, quan hệ giữa NATO và EU có tính xây dựng nhiều hơn so với điều mà Stoltenberg đã nói.

– Tháng 12/2017, Hội đồng châu Âu đã thành lập PESCO, một thỏa thuận hợp tác cấu trúc thường trực về quốc phòng gồm 25 quốc gia thành viên. Sáng kiến này có tiềm năng không?

+ Giegerich: Tôi nghĩ là có. Lời hứa lớn của EU trở thành một chủ thể quân sự, luôn có khả năng tập hợp các nguồn lực quân sự và dân sự dưới một mái nhà. Hiện nay, nó không còn thực tế. Nếu PESCO có thể đóng góp vào việc này, thì đây là một điều tốt đẹp. Phần lớn các quốc gia thành viên EU cũng là thành viên của NATO. Chúng ta không thể rơi vào cái bẫy khi nghĩ rằng NATO và EU cạnh tranh với nhau. Đây là việc hỗ trợ và làm việc cùng nhau.

– Cặp đội Merkel-Macron liệu có thể thúc đẩy hình thành một quân đội châu Âu thực sự?

+ Giegerich: Bạn muốn tới lực lượng hoàn toàn nằm dưới sự chỉ huy của châu Âu? Chúng ta còn có nhiều ý kiến trái ngược nhau, tuy nhiên, điều đó không còn quan trọng nữa. Chúng ta có thể đã tiến xa qua kênh hợp tác giữa các quốc gia thành viên EU. Năm 2017, Pháp và Đức đã xác định một tham vọng chung, bao gồm các chương trình về máy bay chiến đấu tương lai. Tiếp theo, Pháp còn đưa ra các sáng kiến, có khả năng vận hành hơn. Tuy nhiên, Merkel chưa trả lời, vì ở Đức bà phải mất rất nhiều thời gian để thành lập chính phủ mới.

Nguồn: Le Vif (Bỉ)

TLTKĐB – 11/04/2018

Xung quanh những lựa chọn phòng thủ ngày càng cứng rắn của Nhật Bản – Phần cuối


Quyết định mua Aegis Ashore có ý nghĩa vì một vài lý do. Đầu tiên, hệ thống được nhắm tới việc giảm gánh nặng cho các tàu khu trục của JMSDF trang bị hệ thống Aegis – hiện nay là 4 tàu – đang được dàn trải mỏng trên phạm vi triển khai dài ở biển Nhật Bản. Các tàu của JMSDF cần được bảo dưỡng thường xuyên và kiểm tra đều đặn, điều này khiến tất cả tàu khó có thể đảm bảo việc bao phủ toàn bộ khu vực. Thông qua các kế hoạch mua sắm đã có trước đó và việc tân trang tàu, Nhật Bản sẽ bổ sung thêm 2 tàu khu trục lớp Atago trang bị hệ thống Aegis vào năm 2021, mà sẽ đưa tổng số tàu khu trục lên 8 tàu (4 tàu khu trục lớp Kongo cũ và 4 tàu khu trục lớp Atago mới). Điều này sẽ giúp cho vấn đề tiêu hao nguồn lực và cũng cho phép linh hoạt hơn trong việc triển khai ở bên ngoài biển Nhật Bản.

Lý do quan trọng thứ hai của quyết định mua Aegis Ashore là vì sự bổ sung đương nhiên của nó với nền tảng hạ tầng BMD hiện nay và khả năng tương hỗ liên tục với các tàu khu trục của JMSDF cũng như hệ thống tên lửa đánh chặn PAC-3. Ngoài Aegis Ashore, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cũng đang lên kế hoạch đưa ra một phiên bản nâng cấp hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot – PAC-3 Missile Segment Enhancement (MSE) – sớm nhất có thể. Hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot được nâng cấp sẽ có phạm vi đánh chặn lớn gấp đôi hệ thống tên lửa đánh chặn PAC-3 hiện nay đang sử dụng.

Một lý do quan trọng khác đối với quyết định tăng cường BMD thông qua các khả năng của hệ thống Aegis là việc Lockheed Martin, Raytheon và nhà thầu quốc phòng lớn nhất của Nhật Bản là công ty công nghiệp hạng nặng Mitsubishi (MHI) cùng nhau sản xuất hệ thống Aegis ở Nhật Bản. Do vậy, những lợi ích công nghiệp quốc phòng ở Nhật Bản đóng một vai trò chủ chốt nữa trong quá trình phát triển phòng thủ tên lửa. Điều này cũng có thể là một phần lý do tại sao Nhật Bản đã không chọn việc mua Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD). THAAD, hệ thống đánh chặn BMD giai đoạn cuối, được sản xuất bởi Lockheed Martin và hiện nay không có kế hoạch phát triển cùng với các nhà thầu Nhật Bản như MHI.

Mặc dù triển khai THAAD không có khả năng diễn ra trong tương lai gần, nhưng JMOD có thể xem xét lại vấn đề nếu các căng thẳng tiếp tục tăng cao. Quả thực THAAD cung cấp những khả năng khác với hệ thống Aegis và sẽ tập trung vào sự bảo vệ lớn hơn khỏi những tên lửa ở giai đoạn cuối, đặc biệt là những quả tên lửa nhằm vào các khu vực đô thị như Tokyo. Lợi ích của việc triển khai THAAD ở Nhật Bản sẽ là sự hiện diện của một hệ thống đa lớp thực sự, với các tàu khu trục Aegis và các hệ thống tên lửa nhằm thực hiện đánh chặn ở giai đoạn giữa, trong khi hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot và THAAD sẽ nhằm vào giai đoạn cuối. Tính độc đáo của THAAD từ hệ thống PAC-3 là khả năng đánh chặn tầm cao của nó (được cho là vào khoảng 200 km so với 20 – 30 km của PAC-3 MSE) cùng với hệ thống radar vượt trội của nó. Do đó, về lý thuyết, một khả năng đánh chặnt thành công ở giai đoạn cuối sẽ giảm thiểu khả năng để lọt tên lửa nhằm vào một khu vực đô thị.

Những lựa chọn tấn công?

Một tranh cãi khác xoay quanh các vòng phòng thủ ở Tokyo là sự phát triển tiềm năng cái được gọi là những lựa chọn tấn công – như là việc mua sắm và triển khai tên lửa hành trình – mà sẽ cung cấp cho Nhật Bản các khả năng phản công trong trường hợp bị tấn công. Một lựa chọn liên quan khác, nhưng mang tính khiêu khích hơn, là triển khai những khả năng tấn công này như là một lựa chọn “chặn trước” trong trường hợp có một cuộc tấn công vào Nhật Bản sắp diễn ra. Tranh cãi xung quanh các khả năng tấn công không phải là mới và điều này đã được tranh cãi dai dẳg trong suốt quá trình phát triển chính sách quốc phòng của Nhật Bản, và mối quan hệ đồng minh của Nhật Bản với Mỹ qua vài chục năm qua. Nhưng, mặc dù lập luận không mới, nhưng có nhiều cuộc tranh luận rất gay gắt và công khai hơn về vấn đề này với một bản báo cáo nghiên cứu được ủng hộ bởi LDP vào đầu năm nay và một số lượng người ủng hộ có ảnh hưởng đó với một sự thay đổi trong tư thế của Tokyo.

Mặc dù một số người quan ngại rằng theo đuổi lựa chọn tấn công sẽ là không phù hợp với hiến pháp ở Nhật Bản, thật sự không có bất kỳ lệnh cấm rõ ràng nào đối với những khả năng như vậy hay những lựa chọn như vậy nếu nó được thực hiện để phòng vệ. Quả thực, vào năm 1956, cựu Thủ tướng Ichiro Hatoyama đã bình luận, “thật vô lý khi nghĩ rằng mục đích của Hiến pháp là để Nhật Bản phải ngồi và đợi cái chết đến khi phải chịu cuộc tấn công bằng tên lửa và các vũ khí khác”. Dù vậy, có thể sẽ có sự cân nhắc kỹ lưỡng trong nội bộ Nhật Bản về một khả năng tấn công, đặc biệt do mục tiêu gây tranh cãi của Abc là sửa đối hiến pháp của đất nước. Toyko cũng sẽ phải chuẩn bị ứng phó với tác động mà một động thái như vậy sẽ gây ra cho những quan hệ khác của họ trong khu vực, đặc biệt với Trung Quốc và Hàn Quốc.

Thúc đẩy các năng lực trên biển

Mặc dù trọng tâm là răn đe và – nếu cần thiết – phòng thủ chống lại các mối đe dọa từ Triều Tiên, nhưng Nhật bản cũng vẫn tập trung chú ý vào việc tăng cường các khả năng an ninh trên biển của mình do sự quyết đoán của Trung Quốc ở biển Hoa Đông. Mức độ xâm nhập của các tàu Trung Quốc ở vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku đã phần nào ổn định nhưng vẫn hay thay đổi và bản chất của những cuộc xâm nhập này (bao gồm cả việc qua lại vùng lãnh hải) đang thay đổi. Điều này tiếp tục là một động lực quan trọng trong việc đặt kế hoạch quốc phòng của Nhật Bản khi tìm cách cân bằng các nguồn ngân sách khan hiếm (ngân sách quốc phòng của Nhật Bản vẫn đang lơ lửng ở mức 1% tổng GDP, bất chấp những sự gia tăng rất khiêm tốn dưới Chính quyền Abe) với sự đa dạng của các mối đe dọa. Nâng cấp nền tảng hạ tầng BMD của Nhật Bản – mà rất tốn kém – là một trong những thách thức đáng kể nhất trong ngắn hạn.

Trong khi một số năng lực cốt lõi mà Nhật Bản cần là tính lưỡng dụng hiệu quả (như là triển khai thêm các tàu khu trục thuộc JMSDF), ở một số năng lực khác là tập trung hẹp hơn vào an ninh trên biển và bảo vệ quần đảo ở phía Tây Nam Nhật Bản hay Nansei-shoto. Trong bối cảnh này, NDPG hiện nay nhấn mạnh tới việc tập trung vào phát triển khả năng tình báo, giám sát, do thám (ISR), và vận tải trong khi vẫn tập trung chuẩn bị các tình huống bất ngờ cho các cuộc tấn công trên các hòn đảo ở xa. Về phía ISR, Nhật Bản có thể sẽ tìm cách tiếp tục nhấn mạnh việc tăng cường các khả năng tuần tra thông qua việc triển khai máy bay tuần tra cánh cố định và máy bay trực thăng đỗ trên tàu. Đến năm 2023, Nhật Bản hi vọng có thể triển khai ít nhất 80 máy bay trực thăng tuần tra, cũng như tăng số lượng tàu ngầm từ 16 lên 22 tàu. Tokyo cũng hướng tới việc cải cách JMSDF qua việc đưa ra thêm các tàu khu trục (bao gồm các tàu không trang bị hệ thống Aegis) và mở rộng số lượng các tàu quét mìn.

Phù hợp với sự thay đổi linh hoạt hơn đối với phòng thủ năng động mà đã bắt đầu với NDPG 2010, Nhật Bản cũng sẽ tổ chức lại Lực lượng phòng vệ trên bộ (GSDF) để đương đầu với những thách thức đang ngày càng phát triển. Ví dụ điển hình là sự phát triển của những sư đoàn và lữ đoàn triển khai nhanh nhằm đáp trả bất kỳ cuộc tấn công nào lên các hòn đảo ở xa. Những thay đổi này được phác thảo trong khái niệm phòng thủ năng động, mà nhằm biến đổi GSDF từ tư thế lỗi thời rất cồng kềnh với các lữ đoàn và xe tăng lớn sang một đơn vị nhanh nhạy hơn có năng lực tiến hành các cuộc chiến tranh hiện đại. Để rõ hơn về điều này, Nhật Bản đã giảm số lượng xe tăng từ 900 xe vào năm 1996 xuống còn khoảng 300 xe hiện giờ. GSDF cũng sẽ tiếp tục tự chuyển mình hướng sang phía Nam hơn nữa khi mà các mối đe dọa dịch chuyển khỏi Nga sang phía Trung Quốc nhiều hơn. Về vấn đề các mối đe dọa trên biển GSDF cũng sẽ đóng một vai trò chủ chốt thông qua việc thành lập một lữ đoàn đổ bộ triển khai nhanh trong tương lai, mà sẽ được giao nhiệm vụ đặc biệt để đáp trả các cuộc tấn công vũ trang vào quần đảo Nhật Bản.

Từ phía Lực lượng phòng vệ trên không, những lựa chọn của Nhật Bản bị giới hạn trong các khoản ngân sách do khoản mua sắm F-35 lớn của nước này – đây sẽ là trọng tâm của việc dự trữ máy bay chiến đấu cho những năm tới. Điều đó để nói rằng ASDF sẽ vẫn tập trung vào việc tăng cường các đơn vị kiểm soát và cảnh báo sớm để cung cấp khả năng cải tiến ISR. Nhật Bản cũng sẽ đặt 3 máy bay không người lái Global Hawk từ Mỹ để hỗ trợ thu thập thông tin tình báo và ISR.

Kết luận

Thích ứng và lên kế hoạch cho các tình huống bất ngờ từ Trung Quốc và Triều Tiên sẽ chiếm phần lớn trong chính sách quốc phòng và những vấn đề về việc mua sắm của Nhật Bản. Sự bất ổn trên bán đảo Triều Tiên và nỗ lực cho nền tảng hạ tầng BMD hiệu quả tiếp tục định hình chính sách quốc phòng của Nhật Bản và sẽ là một động lực quan trọng nhất. Mặc dù vậy, nhưng có những nhân tố quan trọng khác – bao gồm việc luôn thấy lo ngại về sự hiện đại hóa quân sự và các hoạt động trên biển của Trung Quốc ở biển Hoa Đông và biển Đông.

Nguồn: https://thediplomat.com/2017/11/japans-increasingly-tough-defense-choices/

TLTKĐB – 24/02/2018

Nghiên cứu xây dựng cơ chế hóa hợp tác Biển Đông – Phần cuối


5/ Xem xét thúc đẩy cơ chế hóa hợp tác Nam Hải

Từ trước đến nay, vấn đề Nam Hải luôn bị vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ các đảo đá và quyền lợi biển chi phối, tiến triển của hợp tác chậm chạp, hợp tác biển của các nước ven biển thể hiện trạng thái hỗn loạn, nguồn tài nguyên chưa được khai thác có hiệu quả. Tăng cường hiệp thương trao đổi, thúc đẩy hợp tác Nam Hải luôn là nhận thức chung của các nước liên quan, vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào để thúc đẩy và tăng cường hợp tác. Tại Hội thảo về Nam Hải thường niên ở Diễn đàn châu Á Bác Ngao năm 2017, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân đã trình bày rõ ràng ý tưởng cảu Trung Quốc đối với cơ chế hợp tác liên quan: “Các nước ven biển Nam Hải nên tích cực làm theo kinh nghiệm thành công của các khu vực khác trên thế giới, với tiền đề không ảnh hưởng đến chủ trương của các bên, có thể khởi xướng và xây dựng cơ chế hợp tác liên quan, xây dựng một diễn đàn hiệu quả để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, tăng cường hợp tác và chia sẻ lợi ích.

Trong điều kiện có lợi – tình hình căng thẳng của Nam Hải hạ nhiệt, cơ hội hợp tác trong khu vực lớn hơn thách thức, các nước nên nắm bắt cơ hội, thúc đẩy hợp tác Nam Hải, xuất phát từ sự quan tâm chung và lợi ích chung của các nước ven bờ Nam Hải, nghiên cứu tính khả thi và con đường thực hiện của việc xây dựng cơ chế hợp tác. Trong quá trình xây dựng cơ chế hợp tác, các nước ven bờ có thể tăng cường quản lý chung đối với Nam Hải, khai phá tiềm lực hợp tác, đồng thời tăng thêm sự minh bạch và tính có thể dự đoán của chính sách, thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau đi vào chiều sâu, tạo ra môi trường có lợi cho các nước thông qua đàm phán để giải quyết hòa bình tranh chấp Nam Hải.

Chuyển đổi ý thức, thể hiện nguyện vọng chính trị của hợp tác. Hiện nay, Nam Hải tồn tại thực tế vì thiếu hụt lòng tin mà làm cho nguyện vọng hợp tác của các bên trong khu vực tương đối thấp, nhưng sự khác biệt về chế độ chính trị, ý thức hệ và tranh cãi về chủ quyền không phải là nhân tố cản trở hợp tác, mấu chốt vẫn nằm ở việc tìm kiếm sự quan tâm chung của các bên ở Nam Hải, lấy lợi ích chung để triển khai và thúc đẩy hợp tác đi vào chiều sâu. Từ kinh nghiệm hợp tác trên các vùng biển khác cho thấy trong tình hình thiếu hụt lòng tin chính trị, tranh chấp vẫn chưa được giải quyét, các bên cũng có thể triển khai hợp tác an ninh phi truyền thống, điều quan trọng nhất là đưa ra nguyện vọng chính trị của hợp tác. Hiện nay, điều mà phần lớn các nước xem xét nhiều hơn khi đề cập đến vấn đề Nam Hải là các vấn đề an ninh phi truyền thống như chủ quyền lãnh thổ… mà xem nhẹ tầm quan trọng của an ninh phi truyền thống đối với tình hình Nam Hải và quản lý biển. Các nước cần phải hội tụ nhận thức chung, chủ trương một cách hợp lý quyền lợi biển, thực hiện một cách có thiện chí nghĩa vụ theo UNCLOS, đồng thời tránh làm cho tinh thần dân tộc trong nước trở thành trở ngại của hợp tác, từ đó tạo bầu không khí chính trị tốt đẹp cho hợp tác Nam Hải.

Thúc đẩy hợp tác từ lĩnh vực bảo vệ môi trường biển và nghề cá. Xét thấy tình trạng phức tạp của điều kiện địa lý và tranh chấp quyền tài phán trên Nam Hải, trong tình hình các bất đồng lớn vẫn chưa được giải quyết, phải thúc đẩy từ dễ đến khó hợp tác ở khu vực này, bắt đầu tư các lĩnh vực ít nhạy cảm hoặc có nhận thức chung cao như bảo vệ môi trường biển, quản lý tài nguyên nghề cá, cứu trợ nhân đạo…, hoàn thành mục tiêu hợp tác theo từng giai đoạn, cuối cùng xây dựng cơ chế hợp tác hoàn thiện trên các lĩnh vực liên quan. Sự hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm có thể sẽ nảy sinh hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy sự hợp tác trong các lĩnh vực khác. Như trên lĩnh vực hợp tác nghề cá, mục tiêu gần có thể là hợp tác điều tra hiện trạng tài nguyên cá và lượng cho phép được đánh bắt, vạch ra phương án căn bản quản lý hợp tác nghề cá trong khu vực; mục tiêu xa là khi điều kiện thích hợp thiết lập ủy ban quản lý hợp tác khu vực, phụ trách việc hoạch định chính sách nghề cá chung ở Nam Hải. Các nước ven biển Nam Hải vẫn có thể hiệp thương xây dựng cơ chế hợp tác giải quyết vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp, các cơ quan thực thi pháp luật giữa các nước cần phải phối hợp, cùng hành động với các quan chức ngoại giao và chuyên gia pháp luật.

Phát huy vai trò diễn đàn của cơ chế hiện nay. Khu vực Nam Hải có một số cơ chế hợp tác liên quan, như cuộc họp các quan chức cấp cao Trung Quốc – ASEAN về thực hiện DOC và cơ chế nhóm công tác chung, dưới cơ chế này đã thành lập Ủy ban kỹ thuật bảo vệ môi trường và nghiên cứu khoa học biển. Ngoài ra, còn có một số diễn đàn hợp tác biển của Chương trình môi trường Liên hợp quốc, nhưng chức năng tương đối phân tán và ảnh hưởng thì có hạn. Các nước ven biển Nam Hải có thể xem xét thúc đẩy và đạt được công ước khung về hợp tác trên lĩnh vực ít nhạy cảm, đưa hợp tác đơn phương và đa phương hiện nay vào trong hệ thống kết cấu hợp tác khu vực. Có học giả ở khu vực Đông Nam Á cho rằng Trung Quốc đề xuất xây dựng cơ chế hợp tác giữa các nước ven biển Nam Hải là sáng kiến rất tốt, nhưng kiến nghị không nên đi theo con đường khác, mà nên lựa chọn cơ chế hiện nay của Nam Hải để kế thừa và mở rộng.

Coi việc xây dựng Hội đồng hợp tác Nam Hải làm mục tiêu nỗ lực. Trên thực tế có không ít sáng kiến về cơ chế hợp tác an ninh môi trường ở Nam Hải được đưa ra, nhưng điều đáng tiếc là phần lớn những sáng kiến này đều chưa thể trở thành thực tế. Có thể xem xét việc thành lập hội đồng hợp tác Nam Hải là mục tiêu lâu dài, xây dựng hội đồng này thành diễn đàn liên chính phủ do các nước ven biển Nam Hải thông qua hiệp thương hữu nghị để thúc đẩy và tăng cường hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực như kinh tế, bảo vệ môi trường… trong khu vực, đồng thời tích cực tiến hành đối thoại và hợp tác với các quốc gia hoặc tổ chức ngoài khu vực. Cơ cấu tổ chức của hội đồng hợp tác Nam Hải nên chủ yếu bao gồm nước chủ tịch, nước thành viên và nước quan sát. Nước chủ tịch có thể do các nước thành viên đảm nhận luân phiên trong 2 năm. Nước thành viên là các nước ven biển chủ yếu của Nam Hải (Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Philippines và Indonesia). Khi mới thành lập, nước chủ tịch hội đồng hợp tác Nam Hải sẽ thành lập ban thư ký, đến thời điểm thích hợp thiết lập ban thư ký lâu dài, cũng có thể xem xét bố trí các nhóm công tác như bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên nghề cá, phát triển bền vững, xây dựng lòng tin… Hội đồng còn thiết lập quỹ hợp tác và phát triển Nam Hải, cung cấp bảo đảm nguồn vốn mang tính cơ chế cho sự vận hành và công tác của hội đồng. Về hoạt động cụ thể của hội đồng hợp tác Nam Hải, giai đoạn đầu có thể làm theo kinh nghiệm thành công của Hội đồng Bắc Cực, với cơ sở là luật mềm, ký tuyên bố hoặc bản ghi nhớ trước. Các nước thành viên là nòng cốt cảu hội đồng hợp tác Nam Hải, mọi quyếtt định của hội đồng phải do hội nghị quan chức cấp cao quyết định, đồng thời tất cả các nước thành viên đạt được sự nhất trí mới có thể thông qua. Nếu điều kiện cho phép, trên cơ sở hiệp thương thống nhất các nước thành viên có thể cho các nước ngoài khu vực xin gia nhập hội đồng hợp tác Nam Hải với vị thế nước quan sát viên lâu dài, quan sát viên chính thức hoặc nước quan sát đặc biệt, nước quan sát không có quyền bỏ phiếu quyết sách.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 17 & 18/04/2018

Xung quanh những lựa chọn phòng thủ ngày càng cứng rắn của Nhật Bản – Phần đầu


Berkshire Miller

Với mối đe dọa của Triều Tiên đang ở mức độ chưa từng có, Tokyo đang đối mặt với những lựa chọn khó khăn về phòng vệ.

Vào buổi sáng sớm 29/8/2017, nhiều người dân Nhật Bản ở các tỉnh phía Bắc đã giật mình tỉnh giấc bởi tiếng báo động chói tai của hệ thống báo động vệ tinh (J-Alert) cảnh báo có một quả tên lửa từ Triều Tiên đang hướng về phía Nhật Bản. Vụ thử tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) mới của Bình Nhưỡng – được gọi là Hwasong-12 – có quỹ đạo bay qua đảo Hokkaido nằm ở phía Bắc Nhật Bản. Vụ thử tên lửa đã làm tăng thêm cảm giác dễ tổn thương của Nhật Bản khi đối mặt với các mối đe dọa đang gia tăng ở khu vực. Quả thực, vụ thử tên lửa diễn ra vào ngày 29/8 đã phá vỡ giới hạn bay của tên lửa đạn đạo khi bay qua không phận Nhật Bản – một hành động không chính thức mà Triều Tiên đã tránh né cho tới thời điểm đó. Sau đó, Bình Nhưỡng đà bồi thêm vào vụ thử ban đầu qua Nhật Bản bằng một vụ thử tên lửa Hwasong-12 sau đó vào tháng 9. Vụ thử đó cũng có quỹ đạo bay qua phía Bắc Nhật Bản nhưng bay xa hơn so với lần bắn trước đó.

Cường độ của chương trình tên lửa của Triều Tiên – xét cả về tần suất bắn thử và tốc độ các năng lực được tăng cường – đang đưa ra những lựa chọn chiến lược rất khó cho cộng đồng phòng thủ của Nhật Bản. Cộng đồng phòng thủ Nhật Bản đang vừa vật lộn với các khoản ngân sách hạn chế, vừa ngày càng lo ngại về vai trò của Mỹ ở khu vực, và một loạt các nhu cầu khác ngoài việc ngăn chặn và bảo vệ chống lại sự hiếu chiến của Bình Nhưỡng. Nêu lưu ý rằng ưu tiên làm giảm các mối đe dọa từ Triều Tiên không phải là một sự tiến triển mới ở Tokyo. Quả thực, Bình Nhưỡng đã tiến hành các vụ phóng qua Nhật Bản ở 4 thời điểm trước đó (năm 1998, 2009, 2012 và 2016). Mặc dù điểm khác nhau chính là các vụ thử trước đó là phóng vệ tinh và nó không quay trở lại khí quyển trái đất. Hãy đố chiếu điều này với 2 vụ thử IRBM qua Nhật Bản năm nay mà liên quan đến các tên lửa đạn đạo có khả năng mang một đầu đạn hạt nhân.

Sự phát triển hạt nhân đồng thời của Triều Tiên khiến không chỉ Tokyo, mà còn cả khu vực rộng hơn, càng thêm lo ngại – sự phát triển này được chứng minh bởi việc thử nghiệm một quả bom Hydro vào tháng 9/2017 và những cải tiến nhanh chóng của nước này trong quá trình thu nhỏ một đầu đạn hạt nhân để vừa với đầu tên lửa đạn đạo của họ. Bình Nhưỡng nỗ lực hoàn thiện khả năng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) cũng đã làm dấy lên những quan ngại trong khu vực. Triều Tiên đã thử thành công hệ thống phóng thông qua các bài kiểm tra quỹ đạo bay “cao hơn bình thường” vào tháng 7/2017. Những tiến triển này đã càng thuyết phục Tokyo hơn trong việc gia tăng nỗ lực răn đe cùng với đồng minh Mỹ của mình và mong đợi thúc đẩy hợp tác an ninh 3 bên với Hàn Quốc cho dù có căng thẳng giữa 2 bên hiện nay.

Bất ổn trên bán đảo Triều Tiên, cùng với sự không chắc chắn và lo lắng về giọng điệu phi truyền thống từ Nhà Trắng, tiếp tục định hình chính sách quốc phòng của Nhật Bản. Cũng có những động lực quan trọng khác, đặc biệt là sự gia tăng khả năng nhận biết đe dọa ở Toyko liên quan tới sự quyết đoán của Trung Quốc ở khu vực và sự hiện đại hóa nhanh chóng của lực lượng hải quân thuộc Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) và Lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc. Điểm chạm của mối bận tâm của Nhật Bản tập trung vào khu vực trên biển, nơi mà Tokyo và Bắc Kinh bị lôi kéo vào một cuộc tranh chấp dai dẳng xung quanh quần đảo Senkaku, Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, ở biển Hoa Đông. Trung Quốc và Nhật Bản cũng có những bất đồng trên các đường biên giới trên biển và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở biển Hoa Đông. Hơn nữa, Tokyo tiếp tục tập trung áp lực, cả bằng con đường ngoại giao và thông qua những nỗ lực xây dựng năng lực của mình với các nước vùng duyên hải ở Đông Nam Á, vào chiến lược “cắt lát Salami” của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Ngoài những mối quan ngại cấp thiết nhất từ bán đảo Triều Tiên và kiểm soát thách thức dài hạn của Trung Quốc, Nhật Bản cũng tiếp tục đối mặt với nhiệm vụ không nguy hiểm, nhưng vẫn đòi hỏi nguồn lực tập trung, là kiểm soát các cuộc xâm nhập không phận thường xuyên – và dài lâu – từ Nga xung quanh Hokkaido tỉnh rộng lớn ở phía Bắc của nước này. Trong khi ít quan chức quốc phòng Nhật Bản lo ngại về những mục đích của Moskva hay khả năng xung đột vũ trang, vấn đề này góp phần vào làm kiệt quệ nguồn lực, như đã được chứng minh bằng một số lượng lớn các cuộc cất cánh đột ngột diễn ra hàng năm của các lực lượng phòng vệ trên không của Nhật Bản (ASDF) đố phó với việc máy bay chiến đấu của Nga xâm phạm.

Kế hoạch phòng thủ và Chính quyền Abe

Vào ngày 22/10/2017, đảng cầm quyền của Nhật Bản – Đảng Dân chủ tự do (LDP) – đã giành một chiến thắng quyết định trong một cuộc bầu cử sớm do Thủ tướng Shinzo Abe kêu gọi. Chiến thắng này đảm bảo cho sự ổn định chính trị ở Tokyo trong ngắn hạn và chỉ ra rằng Abe đang đi đúng hướng để thực hiện nốt nhiệm kỳ thứ 3 và cuối cùng của ông trên cương vị chủ tịch LDP mà sẽ kết thúc vào năm 2021. Một trong những điểm ưu việt của Abe trong cuộc bầu cử vào tháng 10 là việc ông kiểm soát chắc chắn các vấn đề an ninh – nhất là khi những khiêu khích từ Triều Tiên gia tăng. Kể từ cuộc bầu cử vào cuối năm 2012, Abe cũng đã đầu tư rất nhiều vào việc cải tiến cấu trúc an ninh quốc gia và quốc phòng lỗi thời của Nhật bản thông qua một loạt các cải cách an ninh và quốc phòng, bao gồm điều luật mới mà đã có hiệu lực vào năm ngoái.

Đến cuối năm 2018, Bộ Quốc phòng Nhật Bản (JMOD) sẽ đệ trình Chương trình quốc phòng trung hạn (MTDP) mới cho giai đoạn 4 năm cho đến năm 2022. Trước đó, Bộ này sẽ đệ trình những đề xuất lên nội cách Abe sau khi xem xét các bản Đường lối chủ đạo chương trình phòng thủ quốc gia (NDPG) hiện nay và MTDP. Abe đã yêu cầu xem lại cả hai văn bản chính sách đầu năm nay trong bối cảnh căng thẳng ở bán đảo Triều Tiên đang gia tăng. NDPG hiện nay được soạn thảo vào năm 2013 và được dự định kéo dài trong 10 năm.

Phòng thủ tên lửa đạn đạo

Do những phát triển nhanh chóng của các chương trình tên lửa của Bình Nhưỡng, nên người ta mong đợi rằng Đường lối chủ đạo mới sẽ tập trung nhiều vào phòng thủ tên lửa đạn đạo. Hiện nay, Nhật Bản có một hệ thống phòng thủ tên lửa 2 lớp với các tàu khu trục thuộc Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản (JMSDF) được trang bị hệ thống chiến đấu Aegis – thường xuyên đặt ở biển Nhật Bản – mà sẽ được sử dụng như lớp phòng thủ đầu tiên. Về cơ bản, tàu khu trục thuộc JMSDF hoạt động như tuyến phòng thủ đầu tiên của Nhật Bản trong trường hợp có mối đe dọa tên lửa đạn đạo và có khả năng – phụ thuộc vào quỹ đạo phóng – ngăn chặn một quả tên lửa trong giai đoạn giữa đường bay. Các tàu khu trục được trang bị hệ thống Aegis được bổ sung “một lớp thứ hai” theo hình thức các hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot PAC-3 đặt trên đất liền, mà có thể thực hiện các đòn đánh chặn trong giai đoạn cuối của đường bay tên lửa, với giả định mục tiêu là lãnh thổ của Nhật Bản. Cả hai hệ thống được hợp nhất và phối hợp thông qua Hệ thống phòng thủ không phận Nhật Bản đặt trên mặt đất (JADGE).

Với tần suất khiêu khích từ Bình Nhưỡng đang gia tăng đáng kể, song song với những cải tiến nhanh chóng về chất lượng của các khả năng tên lửa của Triều Tiên, Nhật Bản đang tìm cách để tăng cường an ninh hơn nữa chống lại mối đe dọa tên lửa đạn đạo và có một cú đẩy từ Abe và những người khác trong LDP để tăng cường ngân sách của JMOD để mua sắm thêm. Hầu hết các dấu hiệu từ Tokyo cho thấy JMOD đang tập trung mua sắm hệ thống Aegis Ashore – một phiên bản của hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) đặt trên đất liền mà hệ Nhật Bản có cùng với các tàu khu trục của JMSDF ở biển Nhật Bản. Như các tàu của JMSDF, hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore mới sẽ được trang bị tên lửa đánh chặn SM-3 bay với độ cao vào khoảng 500 km so với mặt nước biển.

Cuối cùng, hệ thống Aegis ở Nhật Bản cũng sẽ được trang bị tên lửa đánh chặn SM-3 Block IIA mà Tokyo đang phát triển cùng với Washington. Tên lửa đánh chặn SM-3 Block IIA mới đã được thử nghiệm thành công hai lần trong năm nay, nâng cấp khả năng của tên lửa đánh chặn SM-3 hiện nay bằng việc tăng cường phạm vi độ cao đánh chặn, cũng như tăng cường khả năng can thiệp cùng lúc. Các tên lửa đánh chặn mới, được đề xuất triển khai vào năm 2021, cũng sở hữu nhiều khả năng hơn để hoạt động xung quanh các tên lửa đạn đạo có công nghệ tránh đánh chặn – như đạn mồi hay tên lửa với quỹ đạo cao hơn bình thường. Nhật Bản cũng hi vọng rằng họ có thể triển khai hệ thống radar AN/SPY6 vẫn đang được phát triển trên hệ thống Aegis của họ để thay thế cho AN/SPY1 hiện nay. Hệ thống radar Spy-6 X-band sẽ cung cấp mức độ bao phủ lớn hơn so với hệ thống radar hiện nay. Dù vậy, phát triển của hệ thống radar mới vẫn bị trì hoãn và không được đề xuất triển khai trên tàu của Mỹ, ít nhất là tới năm 2022.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://thediplomat.com/2017/11/japans-increasingly-tough-defense-choices/

TLTKĐB – 24/02/2018