Trung Quốc dẫn đầu ngành công nghiệp đóng tàu hải quân toàn cầu


Trong ngành công nghiệp đóng tàu hải quân toàn cầu, dường như Trung Quốc đang là nước dẫn đầu.

Hải quân Mỹ có kế hoạch tăng quy mô hạm đội của họ và Nga cũng đang nỗ lực phục hồi lĩnh vực đóng tàu của nước này sau 25 năm suy giảm. Hải quân Nga và Trung Quốc đang nỗ lực theo cách riêng của mình kể từ khi hai nước được coi là đối thủ có tiềm năng ngang bằng với Mỹ và phương Tây. Cả hai nước đều có công nghệ quân sự tiên tiến và đang nỗ lực đóng mới tàu chiến. Tuy nhiên, nếu so sánh về mặt kinh tế thì Trung Quốc vượt xa nỗ lực xây dựng hải quân của Nga.

Ngân sách của Nga gặp khó khăn do các biện pháp trừng phạt kinh tế và giá dầu thấp. Hơn 2/3 trong số 108 tàu chiến mặt nước của Nga được trang bị từ thời Chiến tranh Lạnh. Kể từ năm 2000, hải quân Nga được trang bị 21 tàu chiến mặt nước mới, trong đó có 17 tàu hộ tống nhỏ. Tàu hộ tống của Nga có xu hướng được trang bị vũ khí phù hợp với kích cỡ và được bố trí hoạt động ở biển Baltic và Caspi. Tuy nhiên, nếu coi đây là thước đo để đánh giá khả năng công nghiệp thì tàu hộ tống nhỏ là không phù hợp.

Nga đã đóng 4 tàu khu trục mới cỡ trung bình (tương đương với kích cỡ của tàu khu trục Anzac của Australia) kể từ năm 2009, chiếc thứ 5 hoàn tất trong năm nay. Đây là những chiếc khu trục lớn nhất của hải quân Nga được trang bị kể từ năm 1999 khi tàu khu trục lớp Udaloy cuối cùng được trang bị.

Nga có thể đóng mới nhiều tàu khu trục hơn song động cơ chạy bằng khí đốt cần để cấp điện cho tàu được sản xuất tại Ukraine. Kiev đã ngừng xuất khẩu đơn đặt hàng trong năm 2014 do cuộc khủng hoảng Crimea, chính điều này đã làm trì hoãn các kế hoạch của Moskva từ 2 – 3 năm qua. Trong tương lai, nhiều khả năng Nga sẽ thúc đẩy các kế hoạch thay thế tàu chiến cỡ lớn hơn, tiếp tục nâng cấp tàu khu trục từ thời Chiến tranh Lạnh và tàu tuần dương với khả năng hiện đại.

Việc đóng tàu ngầm của Nga cũng còn chưa rõ ràng. Các dự án hiện đại cho cả hai loại tàu ngầm tấn công dùng năng lượng hạt nhân (SSN) và dùng điện – diesel (SSK) đều giảm đáng kể. Tuy nhiên, các dự án hiện đại hóa tàu SSK lớp Kilo từ những năm 1980 là phần bổ sung hiệu quả và tàu lớp Kilo là sản phẩm xuất khẩu thành công nhất của Nga. Chiếc SSN lớp Yasen thứ hai sẽ hoàn tất vào năm tới cho dù thiết kế được điều chỉnh khiến cho chiếc tàu ngầm này có giá thành đắt gấp đôi chiếc đầu tiên cùng loại. Nga chắc chắn vẫn là một trong số ít nước có khả năng đóng tàu SSN trong một vài thập kỷ tới.

Trong khi đó, rõ ràng là những tàu lớp cũ ngày càng lỗi thời và Nga đang phải nâng cấp, sửa chữa và hiện đại hóa những tàu chiến cũ để duy trì năng lực hải quân. Tuy nhiên, ngành công nghiệp hải quân của Nga nay chỉ là cái bóng so với ngành này của Xô Viết trước đây.

Trong lĩnh vực đóng tàu hải quân, Trung Quốc lại hoàn toàn khác Nga. Nhờ có được lợi thế từ tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và coi trọng vai trò ngày càng gia tăng của an ninh hàng hải, Trung Quốc đã đóng mới hàng chục tàu chiến lớn, nhỏ khác nhau. Những năm gần đây, các xưởng đóng tàu của Trung Quốc hoạt động không ngừng, duy trì ổn định đóng tàu chiến mặt nước cho hải quân.

Hải quân Trung Quốc được trang bị 15 tàu khu trục có tên lửa dẫn đường loại 052 với nhiều biến thể khác nhau kể từ năm 1994. Khoảng một nửa số này đã đi vào hoạt động kể từ năm 2014 và 8 chiếc khác sẽ được đưa vào hoạt động năm 2020. Hải quân Trung Quốc cũng được trang bị khoảng 25 chiếc tàu khu trục cỡ trung bình loại 054 kể từ năm 2005, trung bình khoảng 2 chiếc/năm và 33 chiếc tàu hộ tống nhỏ loại 056 kể từ năm 2013.

Mặc dù nhịp độ xây dựng hải quân của Trung Quốc chậm, nước này không dừng lại. Những chiếc tàu về sau có khả năng tốt hơn những chiếc trước. Không giống như Nga, Trung Quốc đang trong giai đoạn đóng tàu hải quân mạnh mẽ nhất của mình.

Nguồn: The Australian – 11/07/2017

TKNB – 12/07/2017

Advertisements

Quy tắc “Quản lý kiểu mẫu”


Quản lý kiểu mẫu bắt nguồn vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Khi đó, Nhật Bản trở thành tấm gương học tập của giới doanh nghiệp trên thế giới. Trong phong trào học tập Nhật Bản của Mỹ, công ty Xerox của Mỹ đầu tiên khai thác phương thức quản lý mà sau này họ gọi là “quản lý kiểu mẫu”. Trải qua thực tiễn lâu dài, công ty Xerox định nghĩa quản lý kiểu mẫu như sau: là một quy trình lâu dài để sánh với đối thủ cạnh tranh lớn mạnh nhất hoặc người dẫn đầu ngành về mặt sản phẩm, phục vụ và thực tiễn. Hạt nhân của nó là lấy tiêu chuẩn cao nhất của ngành hoặc tiêu chuẩn của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất làm mục tiêu để cải tiến sản phẩm và quy trình công nghệ của mình.

Bắt đầu từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, công ty Xerox liên tục duy trì địa vị lũng đoạn thị trường máy photocopy thế giới nên gặp phải sự khiêu chiến của tứ phía. Đối diện với sự uy hiếp cạnh tranh, Xerox trước hết mở ra phong trào học tập doanh nghiệp Nhật Bản, triển khai quản lý kiểu mẫu rộng rãi, thâm nhập. Toàn tâm tập trung vào phân tích so sánh, Xerox làm rõ được cơ cấu quản lý, làm việc của các công ty đó, tìm ra sự cách biệt với các đối thủ quan trọng như Canon…, điều chỉnh toàn diện chiến lược, chiến thuật kinh doanh, lấy tiêu chuẩn cao nhất của đối thủ cải tiến quy trình nghiệp vụ, nhanh chóng thu được hiệu quả, đoạt lại thị phần đã mất.

Từ sau khi công ty Xerox sử dụng phương pháp quản lý kiểu mẫu, thu được thành công lớn, phương pháp này vô tình thâm nhập vào ngày càng nhiều công ty, đặc biệt là các công ty của Mỹ đã sử dụng. Quản lý kiểu mẫu là một loại công cụ có khả năng dẫn dắt quan điểm mới, khích lệ sáng tạo, nó đều có tác dụng với các công ty lớn hay nhỏ. Công ty dầu khí Exxon Mobil đã thông qua một kế hoạch 5 năm quản lý kiểu mẫu, vào năm 2000 thực hiện được doanh số 232 tỷ USD toàn năm.

Đầu năm 1992, công ty dầu khí Mobil tiến hành một cuộc điều tra chất lượng phục vụ tới 4000 khách hàng liên quan tới trạm dịch vụ của mình. Kết quả khiến cho công ty Mobil cảm thấy sự bất ngờ rất lớn: chỉ có 20% người được điều tra cho rằng giá cả là quan trọng nhất. Còn lại 80% đều giống nhau mong muốn có được 3 thứ: có thể cung cấp nhân viên giúp đỡ tốt, phục vụ nhanh và trung thành đối với phí chi trả có thể cho phép của họ. Mà trong các phương diện này, sự khác biệt của hiện trạng của Mobil và yêu cầu của khách hàng vẫn rất lớn. Kết quả điều tra khiến cấp trên của Mobil hạ một quyết tâm khó khăn, làm cho Mobil một sự chuyển biến lớn.

Mobil tổ chức các nhân viên chuyên nghiệp xuống 8000 trạm xăng dầu khắp cả nước Mỹ của họ để tiến hành khảo sát, bắt đầu suy tính làm thế nào để cải tạo. Kết quả thảo luận là, nhất trí nên thực thi quản lý kiểu mẫu. Vì vậy, công ty kiến lập ra 3 nhóm do các nhân viên chuyên môn khác nhau lập thành, được mệnh danh là tốc độ (kinh doanh), mỉm cười (phục vụ khách hàng), thăm hỏi (mức độ trung thành của khách hàng), thông qua thực tiễn tốt nhất tiến hành nghiên cứu để làm kiểu mẫu của công ty, nỗ lực khiến khách hàng lĩnh hội được bơm xăng dầu cũng là sự trải nghiệm vui vẻ.

Nhóm tốc độ tìm ra Penske, trong cuộc thi Indy 500 Penske vì có trạm xăng dầu phục vụ nhanh gọn tiện lợi mà nổi tiếng. Nhóm tốc độ quan sát tỉ mỉ Penske làm thế nào thông qua đường tắt đua xe bơm xăng dầu: nhóm này đều thống nhất mặc đồng phục, phân công tinh tế, phó hợp ăn ý. Nhóm tốc độ còn hiểu được thành công của Penske một phần nhờ vào sử dụng headphone cài lên đầu, nó giúp cho mỗi thành viên trong nhóm có thể kịp thời liên lạc với đồng nghiệp.

Nhóm mỉm cười đến “kho của nhà ở” điều tra xem sao cửa hiệu này lại có nhiều khách hàng quay lại như vậy. Ở đó họ tìm hiểu được: người quan trọng nhất của công ty là người trực tiếp giao tiếp với khách hàng. Những nhân viên không tận tình làm việc thì không thể có được những khách hàng lâu dài. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp nên bỏ thời gian và sức lực đầu tư vào việc làm thế nào để xét tuyển và huấn luyện nhân viên. Mà ở công ty Mobil, một loạt các nhân viên giao tiếp với khách hàng bị cho là không quan trọng nhất trong công ty.

Điều tra của nhóm thăm hỏi đã thay đổi quan niệm của công ty, làm cho cấp lãnh đạo nhận ra rằng vai trò của mình là giúp đỡ nhân viên, khiến họ phục vụ xuất sắc và mỉm cười với khách hàng, truyền bá ra cả bên ngoài công ty.

Trên nền tảng đó, Meifu hình thành khái niệm trạm xăng dầu mới “phục vụ tận tình”. Meifu triển khai thí nghiệm đó đến 80 trạm xăng dầu ở Florida. “Phục vụ tận tình” khác hẳn so với kiểu phục vụ truyền thống. Các khách hàng mong muốn có được sự phục vụ hết mình, một khi đến trạm bơm xăng dầu thì được tiếp đó bởi những nụ cười và sự thăm hỏi chân thành của các nhân viên. Tất cả các nhân viên đều mặc đồng phục gọn gàng, trên đầu đeo thêm headphone, để có thể kịp thời truyền đến các nhân viên tài vụ ở cửa hàng những nhu cầu của khách hàng. Các khách hàng mong muốn có được sự phục vụ nhanh chóng có thể lái xe vào lối tắt đặc biệt ngoài trạm, chỉ cần vài phút là có thể hoàn thành toàn bộ quy trình rửa xe và thu phí.

Sự đền đáp của “phục vụ tận tình” trong thời kỳ đầu khiến người ta phải phấn khởi, thu nhập bình quân hàng năm của trạm bơm xăng dầu tăng lên 10%. Năm 1997, “phục vụ tận tình” mở rộng tới tất cả 8000 trạm bơm xăng dầu của công ty.

Bạn nhất định phải không ngừng tìm hiểu đối thủ cạnh tranh của bạn. Phải thành công, thì tất phải làm những việc mà người thành công làm. Đối thủ là người thầy tốt nhất, đây chính là giá trị lớn nhất của quản lý kiểu mẫu.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Đức Lân (bs) – 99 nguyên tắc giản đơn quyết định trong cuộc sống – NXB TN 2008.

Hiệu ứng Mathew


Hiệu ứng Mathew từ một câu chuyện trong “Kinh thánh” mà ra. “Kinh tân ước – Mathew” có sự ghi chép thế này: một vị quốc vương trước khi vi hành, đưa cho 3 người nô bộc mỗi người một thỏi bạc, dặn dò họ: “Các ngươi đi làm ăn đi, đợi khi ta quay về, đến gặp ta”. Khi quốc vương quay về, người nô bộc thứ nhất nói: “Chủ nhân, 1 thỏi bạc mà người ban cho tôi, tôi đã kiếm được 10 thỏi”. Sau đó quốc vương liền thưởng cho anh ta 10 tòa thành. Người bộc thứ 2 báo cáo: “Chủ nhân, 1 thỏi bạc mà người ban cho tôi, tôi đã kiếm được 5 thỏi”. Sau đó quốc vương liền thưởng cho anh ta 5 tòa thành. Người nô bộc thứ 3 báo cáo: “Chủ nhân, 1 thỏi bạc mà người ban cho tôi, tôi luôn gói cất trong chiếc khăn tay, tôi sợ mất đi nên không đem ra”. Sau đó quốc vương liền ban lệnh thưởng cho người nô bộc thứ nhất thỏi bạc của người nô bộc thứ 3, và nói: “Phàm là ít thì kể cả anh ta sở hữu cũng phải đoạt lại. Phàm là nhiều, vẫn phải đưa anh ta, để anh ta càng giỏi hơn”. Đây chính là câu chuyện về hiệu ứng Mathew. Ngụ ý của nó là kẻ nghèo càng nghèo, kẻ giàu càng giàu.

Những năm 60 của đầu thế kỷ XX, nhà xã hội học trứ danh Bert Morton lần đầu tiên quy hiện tượng “kẻ nghèo càng nghèo, kẻ giàu càng giàu” thành “Hiệu ứng Mathew”. Ông cho rằng, trong xã hội “được ăn cả, mất về không”, quy tắc trò chơi thường là người chiến thắng có quyền định ra.

Một hiện tượng nổi bật là trong sự phân phối tài nguyên của nhân loại, lời tiên tri “kẻ nghèo càng nghèo, kẻ giàu càng giàu” trong “Tân ước – Mathew” là cực kỳ rõ rệt: người giàu hưởng nhiều thứ hơn: tiền, danh dự và cả địa vị; người nghèo thì lại thành ra một cắc bạc cũng không có.

Thí dụ trong cuộc sống hàng ngày so thử cũng đều là” người có nhiều bạn sẽ mượn sự giao thiệp rộng rãi mà kết giao thêm nhiều bạn bè, trong khi người ít bạn thì thường luôn cô độc; người có tiếng tăm ở ngoài sẽ có nhiều cơ hội xuất đầu lộ diện hơn, vì thế mà càng nổi tiếng; người có dung mạo xinh đẹp càng thu hút con mắt chú ý của mọi người, càng có sức hấp dẫn, cũng càng dễ làm người ta yêu thích, vì thế mà cơ hội của họ nhiều hơn người bình thường, thậm chí có khi cánh cửa của cơ hội chuyên mở ra cho họ, chẳng hạn làm diễn viên, người mẫu; một người tiếp thu giáo dục càng cao, thì càng có khả năng sẽ sống và làm việc trong một môi trường có văn hóa cao hơn.

Phương diện đồng tiền cũng như thế, nếu như tỉ lệ lời lãi của đầu tư như nhau, một người có vốn nhiều gấp 10 lần người khác, thu lợi cũng nhiều gấp 10; các đại gia trong thị trường cổ phiếu có thể làm sóng làm gió, trong khi những người đầu tư khối lượng ít thường vốn không hoàn lại; doanh nghiệp tư bản hùng hậu có thể dốc sức sử dụng các kiểu thủ đoạn kinh doanh trong phát triển rộng sản phẩm của họ, trong khi doanh nghiệp nhỏ chỉ có thể tồn tại trong các khe hở.

Có thể nói, bất luận là lĩnh vực tiến hóa sinh vật, phát triển cá nhân,… hay trong sự cạnh tranh của các quốc gia, doanh nghiệp, “Hiệu ứng Mathew” đều tồn tại một cách phổ biến.

Địa vị lũng đoạn của Microsoft trong thời đại Internet cung cấp cho chúng ta một ví dụ rất tốt để lý giải Hiệu ứng Mathew.

Từ hệ thống DOS đến Windows, Microsoft liên tục nắm bắt 90% thị phần trong thị trường hệ thống thao tác máy tính cá nhân, điều đó đã tích lũy danh tín cực lớn cho Microsoft. Đa số các hãng khai thác phần cứng, phần mềm đều không thể làm một bộ sản phẩm hoặc hệ thống “không tương thích” với Microsoft, bởi vì như thế chẳng khác nào tự đào mộ cho mình. Nói cách khác, Microsoft có thể không cần suy xét đến việc phải kết hợp được với người khác, trong khi người khác nhất định sẽ suy tính đến việc phải kết hợp được với Microsoft. Mà sản phẩm có sức ảnh hưởng không lớn thì dù tính năng có ưu việt thế nào đi nữa, cũng không thể được hưởng kiểu đối đãi đó.

Quy luật tăng trưởng của mạng Internet là quy mô càng lớn, khách hàng càng nhiều, sản phẩm càng có tính tiêu chuẩn, cơ hội làm ăn tới càng nhiều, xu hướng tăng trưởng càng thêm nhanh. Do vậy, tiêu chuẩn hóa, quy mô hóa đồng nghĩa với giá thành xã hội hạ thấp xuống, lợi nhuận kinh tế nâng cao, đây là một mục tiêu mà tất cả các nhà sản xuất đều theo đuổi trong thời đại Internet này. Vì ngành thông tin điện tử còn mới, nên rất nhiều sản phẩm quy cách vẫn chưa tiêu chuẩn hóa. Ai có thể lập ra quy cách tiêu chuẩn hoặc làm theo quy cách tiêu chuẩn của các nhà sản xuất đã thành công, thì người đó chính là kẻ thắng lợi của “Hiệu ứng Mathew”.

Tập đoàn Wahaha cung cấp cho chúng ta một ví dụ rất hay khác.

Đến nay, hơn 30 sản phẩm đại chúng dưới ngọn cờ của hiệu Wahaha đều đã trở thành “ngôi sao đang nóng bỏng” của từng loạt sản phẩm đó. Sản phẩm chủ đạo của Wahaha như nước khoáng đóng chai, sản phẩm đồ uống từ sữa, cháo bát bảo đóng hộp nhiều năm trở lại lượng bán ra hàng năm luôn ở vị trí đứng nhất toàn quốc. Tổng sản lượng đồ uống của Wahaha chiếm 18% kim ngạch trong ngành, chiếm tổng số 40% trong 10 doanh nghiệp lớn nhất toàn quốc. Theo tiêu chuẩn quốc tế, với kim ngạch như thế về cơ bản đã thuộc về “tỷ lệ chiếm hữu lũng đoạn”. Người trong thị trường gọi là hiện tượng “được ăn cả” của Wahaha.

Thế nhưng, “địa vị lũng đoạn” của Wahaha so với các ngành như bưu điện, ngân hàng,… khó khăn hơn không biết bao nhiêu lần. Bởi vì đây là một thị trường hoàn toàn mở ai cũng có thể làm, đối thủ cạnh tranh quốc tế vô cùng lớn mạnh, sản phẩm thay thế cũng rất nhiều. Đối với Wahaha mà nói, độ khó khăn không chỉ như vậy. Năm 1988, khi Wahaha cho ra loại nước uống dinh dưỡng cho trẻ em, toàn quốc đã có 38 loại thức uống dinh dưỡng; đầu năm 1996, Wahaha nhảy vào thế giới nước trước tiên, toàn quốc có 2000 hãng sản xuất nước đóng chai nhìn chằm chằm vào; năm 1998 thời hưng thịnh của loại đồ uống coca, Coca Cola và Pepsi Cola đã sớm hoàn thành việc phân chia thị trường đồ uống này của Trung Quốc.

Trong sự cạnh tranh tàn khốc gay gắt như thế, Wahaha dựa vào sự định vị của sản phẩm tốt, hãng hiệu lâu dài và sự sáng tạo hệ thống bán hàng của mình, thêm vào kỹ thuật sản phẩm tiên tiến và thực lực hùng hậu về thiết bị, cuối cùng thì về cơ bản đã nâng cao năng lực hiện đại đại hóa sản xuất của mình, làm cho Wahaha có được thực lực lớn mạnh toàn diện kháng cự với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Sau khi lớn mạnh, Wahaha từng giây từng phút vẫn không quên củng cố địa vị ưu thế của mình, không bỏ lỡ thời cơ tiến hành kéo dài tên tuổi hãng hiệu của mình, làm cho tên tuổi của sản phẩm nâng cao. Thông qua tên tuổi lâu bền, Wahaha đã đưa ra hơn 30 loạt sản phẩm, các sản phẩm đó đã trở thành sản phẩm trụ cột, nâng cao thêm rất nhiều tỷ lệ chiếm hữu thị trường của Wahaha.

Đối với sự phát triển làm ăn của doanh nghiệp mà nói, “Hiệu ứng Mathew” nói cho chúng ta, trong sự cạnh tranh thị trường ác liệt, mong muốn duy trì ưu thế, tất phải tăng tốc độ phát triển, làm cho sự nghiệp của mình thêm lớn mạnh. Nếu có thể trở thành người chạy về nhất trong lĩnh vực nào đó, dù tỷ lệ lời lãi giống như những người khác, bạn cũng có thể gặt hái được lợi nhuận lớn hơn những kẻ cạnh tranh yếu ớt một cách dễ dàng. Nếu mà không có thực lực nhanh chóng duy trì ưu thế siêu phàm trong lĩnh vực nào đó, thì phải không ngừng tìm tòi lĩnh vực phát triển mới, chỉ có như thế mới có thể đảm bảo gặt hái được khoản lời tốt hơn. Cần ghi nhớ là tuyệt đối không thể dừng lại, chờ đợi, trông ngóng và cố thủ, bởi vì có thể người khác đang nhắm vào thỏi bạc trong tay bạn.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Đức Lân (bs) – 99 nguyên tắc giản đơn quyết định trong cuộc sống – NXB TN 2008.

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần cuối


Giải pháp cần thiết của cộng đồng quốc tế

Có thể dự đoán Mỹ hiện nay không thể dứt khoát tấn công quân sự đối với Triều Tiên. Nguyên nhân như sau:

Thứ nhất, sự việc chưa đến mức cấp bách như trước khi Liên Xô triển khai tên lửa mang đầu đạn hạt nhân đến Cuba vào năm 1962.

Thứ hai là cha mẹ của Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in từ phía Bắc di cư xuống phía Nam. Họ hàng của ông ở miền Bắc rất đông, có tình cảm thân thiết tự nhiên. Ông ủng hộ chủ trương làm dịu mâu thuẫn Nam – Bắc hiện nay, từ đó quyết sách của Hàn Quốc có thể phủ định tính chính đáng của việc Mỹ và Nhật Bản hiện nay sử dụng vũ lực đối với Triều Tiên.

Thứ ba, quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc đối mặt trực tiếp với quân đội Triều Tiên, “ném chuột sợ vỡ bình”.

Thứ tư, Trump bị cuốn vào cuộc đấu đá nội bộ, công việc rất nhiều, không có thời gian để quan tâm đến vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Tuy nhiên, thời gian còn lại của cộng đồng quốc tế không còn nhiều. Để ứng phó với dự báo của cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên, mọi thứ giờ đây diễn ra đúng như vậy, phải làm như câu tục ngữ “Phòng ngừa sự việc từ trước khi nó xảy ra”, chắc chắn phải thực hiện ba chính sách:

Thượng sách: Nhân cơ hội Washington sốt sắng muốn giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, khi Mỹ gia tăng sức ép quân sự, Bắc Kinh cũng tăng cường trừng phạt kinh tế đối với Triều Tiên, cả hai đều ra tay. Trước sức ép to lớn chưa từng có của quốc tế, Triều Tiên sẽ hiểu rõ thiệt hơn mà liệu đường tiến lui. Trong tình huống được đổi lấy viện trợ kinh tế, họ sẽ phải cam kết một cách thiết thực đối với việc từ bỏ vũ khí hạt nhân.

Vào thời điểm chuyển gia xuân hè năm nay, sau khi Triều Tiên lần lượt phóng thử tên lửa, Mỹ ra sức hối thúc Trung Quốc chấm dứt cung cấp dầu mỏ cho Triều Tiên. Hầu hết dầu mỏ của Triều Tiên phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu của Trung Quốc, nếu như nguồn cung cấp dầu bị gián đoạn, việc điều động lực lượng quân sự, vận chuyển vật tư và nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây có thể là một trong những cách trừng phạt kinh tế nghiêm khắc nhất mà Trung Quốc có thể thực thi.

Nhận định Bắc Kinh phải thực hiện gia tăng mức độ trừng phạt kinh tế, làm đến cùng, nếu không, Bình Nhưỡng còn chưa cảm thấy đau đớn, lại càng nung nấu căm thù, Bắc Kinh sẽ không tránh khỏi làm kẻ tiểu nhân, lại đi theo vết xe đổ như cách đối xử với Albania, Việt Nam. Điểm khác nhau là, Albania ở xa xôi tận Đông Âu, Việt Nam cách Bắc Kinh gần 3000 km lại không có tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, còn Triều Tiên lại có tên lửa hạt nhân trong tay, cách Bắc Kinh không đầy 700 km, ngày nay có thể phóng tên lửa qua biên giới, tình hình đã khác trước.

Ngoài ra, có định hướng tổ chức lại đàm pháp cấp cao; trong viện trợ kinh tế của thế giới, Trung Quốc cần gánh vác trách nhiệm nhiều hơn, không nên có tầm nhìn thiển cận, tính toán lấy gì bỏ gì cần phải đặt trong bối cảnh từ thập niên 1960, 1970 đến nay Trung Quốc đã viện trợ không biết bao nhiêu cho Triều Tiên cũng như việc Trung Quốc trỗi dậy luôn hết sức cần đến duy trì ổn định bán đảo.

Trung sách: Cộng đồng quốc tế cùng nhau trừng phạt nặng nề đối với Triều Tiên, khi đó xuất hiện chính quyết Bình Nhưỡng có xu thế bị chao đảo nghiêm trọng, Turng Quốc huy động quân đội tiến xuống phía Nam vào sâu trong lãnh thổ Triều Tiên 60 – 70 km, đồng thời tuyên bố trước thế giới, mục đích của hành động đó là thiết lập trại tị nạn, giải quyết việc ăn ở cho dân tị nạn, cung cấp viện trợ nhân đạo, khi đó tình hình dân tị nạn ổn định sẽ rút hết quân đội về phía Bắc. Cho dù khi đó quốc tế có rộ lên tiếng nói phản đối, nhưng so với hậu quả dân tị nạn bùng nổ trong lãnh thổ Trung Quốc gây chuyện đòi độc lập thì tai họa còn nguy hiểm hơn nhiều. Như vậy, vấn đề dân tị nạn tai hại sẽ để cho Hàn Quốc ứng phó sau khi thống nhất.

Hạ sách: Theo chính sách đã từng thực hiện như thông lệ trước đây, vừa đi vừa quan sát. Nhìn lại chặng đường dài đã qua, kết cục không những không tránh khỏi cục diện bán đảo “nảy sinh hỗn loạn và chiến tranh”, các bên liên quan đều oán ghét Trung Quốc, hơn nữa rất có thể buộc Trung Quốc bị lôi cuốn trực tiếp can dự vào cuộc chiến tranh khốc liệt trong bối cảnh đối đầu hạt nhân. Với hạ sách đó, nếu Trung Quốc không tùy cơ ứng biến, xác định sách lược đối phó kiên định và linh hoạt, có thể xuất hiện cục diện Triều Tiên kiên quyết chống lại Trung Quốc, từ đó dẫn đến Trung Quốc bị sa vào tiêu điểm tranh chấp quốc tế ở Đông Bắc Á, cục diện đó rất đáng lo ngại, nhất định phải tránh.

Kết cục có nhiều khả năng nhất trong cuộc đọ sức quốc tế

Nếu trong đầu thế kỷ này Bắc Kinh lựa chọn đối sách xử lý vấn đề hạt nhân của Triều Tiên như hiện nay, Triều Tiên sẽ không có khả năng đột phá hạn chế kỹ thuật trong nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân, lại càng không thể sở hữu tên lựa mang đầu đạn hạt nhân. Trước đây tính toán không kỹ, dẫn đến bế tắc khó giải quyết như hiện nay.

Bình Nhưỡng thực hiện sách lược tiến 2 bước lùi 1 bước, mỗi lẫn đều thành công tránh được sự trừng phạt nặng nề của cộng đồng quốc tế, lần này Bình Nhưỡng hiển nhiên còn muốn diễn lại chiêu thức cũ, hơn nữa Mỹ ném chuột sợ vỡ bình, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in phần nhiều muốn thực hiện chính sách thân Bình Nhưỡng. Cuộc đọ sức quốc tế này diễn ra trong điều kiện ngặt nghèo, cuối cùng Bình Nhưỡng vẫn có thể thoát thân.

Một kết cục khác của cuộc đọ sức quốc tế cũng cần phải thấy rõ. Nếu Triều Tiên đưa ra cam kết nghiêm túc với Mỹ, việc từ bỏ vũ khí hạt nhân được tiến hành theo hai bước, trước hết không nâng cấp chuyên hệ vũ khí hạt nhân, hạn chế số đầu đạn hạt nhân, đồng thời hạn chế phương tiện mang đầu đạn hạt nhân là tên lửa tầm gần và tầm trung, sau đó sẽ từ bỏ hoàn toàn trong thời gian phù hợp.

Như vậy, Mỹ có thể đi đến ký kết hiệp định với Triều Tiên. Hơn nữa, Chính quyền Trump cũng mong muốn như vậy, coi đó là thành quả ngoại giao sáng giá nhất giành được kể từ 20 – 30 năm qua.

Triển vọng đó cũng chỉ có thể xuất hiện với điều kiện tiên quyết là cộng đồng quốc tế gây sức ép mạnh mẽ về quân sự, kinh tế chưa từng có đối với Triều Tiên, cũng như đập tan giấc mộng Bình Nhưỡng muốn thống nhất bán đảo bằng vũ lực. Nếu không, Triều Tiên vẫn chứng nào tật ấy, cứ đề cập đến từ bỏ hạt nhân là không đàm phán nữa.

Điều dễ thấy là, cho dù xuất hiện triển vọng như vậy, việc Triều Tiên từ bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân vẫn trở thành thứ bong bóng hão huyền. Vũ khí hạt nhân của Triều Tiên không thể tạo ra mối đe dọa đối với lãnh thổ Mỹ, nhưng về lâu dài trở thành mối đe dọa đối với Đông Bắc Á. Lâu dần, cộng đồng quốc tế sẽ phải chấp nhận vũ khí hạt nhân của Triều Tiên.

Đối với lợi ích quốc gia của Trung Quốc, triển vọng đó vừa có lợi vừa có hại. Điều có lợi là bán đảo không đến mức “xuất hiện hỗn loạn và chiến tranh”, không cản trở tiến trình trỗi dậy của Trung Quốc, Nhật Bản cũng không đến mức đi vào con đường không có ngày về nếu trang bị vũ khí hạt nhân. Điều bất lợi là mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên đã được xác định không đi đến đích. Trong tình huống trung Quốc bỏ lỡ thời cơ kiềm chế Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân, triển vọng đó coi như không đáp ứng mong muốn của kẻ mạnh. Tôi cho rằng, tuy triển vọng đó không được như mong muốn, nhưng lại là kết cục có thể xuất hiện trong cuộc đọ sức quốc tế này. Điều có thể dự báo là hai bên Mỹ và Triều Tiên có khả năng sẽ trực tiếp hội đàm. Nếu không tin, xin hãy chờ xem.

Trong tình hình thích hợp, hội đàm quốc tế nhất định sẽ tiến hành. Nếu như vậy, Mỹ, Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc hình thành hội đàm 4 bên, sẽ thêm nhân tố kiềm chế, ổn thỏa hơn là hội đàm song phương Mỹ – Triều.

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần cuối


4/ Chạy đua vũ trang không có hiệp định hạn chế vũ trang

Tuy vào năm 1976 các nước ASEAN đã ký Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác và Tuyên ngôn Hài hòa ASEAN (Declaration of ASEAN Concord), tuyên bố dùng phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp, nhưng đối với việc xây dựng lực lượng quân sự của các nước thì nó lại giữ thái độ tự do, bởi vì lực lượng quân sự của các nước có sự khác nhau tương đối lớn, hơn nữa các loại vũ khí trang thiết bị hiện đại hóa quan trọng phần lớn lại nhập từ ngoài khu vực quan trọng (Trung Quốc và Nhật Bản) lại không phải là nước thành viên, bởi vậy ít có khả năng ASEAN ký các hiệp định hạn chế vũ trang. Chính vì vậy chạy đua vũ trang của các nước ASEAN là một sự chạy đua nhằm theo đuổi cân bằng lực lượng quân sự, chỉ cần có một nước tăng cường lực lượng quân sự của nó thì sẽ có thể phá vỡ thế cân bằng lực lượng quân sự vốn có. Đặc biệt, quan hệ giữa các nước hạt nhân của ASEAN – Indonesia, Malaysia và Thái Lan -, trong tình hình không có hiệp định hạn chế vũ trang thì chúng chỉ có thể thông qua hợp tác quân sự hai bên để xây dựng tín nhiệm, nhằm ngăn ngừa chạy đua vũ trang vượt ra khỏi phạm vi hợp lý.

5/ Chạy đua vũ trang nhằm hiện đại hóa quốc phòng

Chạy đua vũ trang của ASEAN cũng nhằm hiện đại hóa nền quốc phòng vốn quá phụ thuộc vào sự bảo hộ an ninh của Mỹ, thậm chí nâng cấp nền công nghiệp quốc phòng vốn có của nó. Đặc biệt là Indonesia, Malaysia và Singapore, lợi dụng việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự, đòi nước cung ứng đồng thời tiến hành chuyển giao (trao quyền) kỹ thuật hoặc mua linh kiện vũ khí trang thiết bị quân sự của nước ấy, lấy đó là điều kiện giao dịch (trade-off). Điều quan trọng hơn là không phải các nước này chủ yếu dùng vũ khí và trang thiết bị quân sự của Mỹ, họ còn mở rộng ra các nước phương Tây khác, cho tới các nước thuộc nhóm cộng sản Liên Xô cũ. Việc Malaysia mua máy bay chiến đấu của Nga chính là bước đi tiên phong mở đường, làm cho các nguồn quân bị của ASEAN đa nguyên hóa, nắm quyền chủ đạo, lựa chọn các nước cung ứng có lợi để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng.

6/ Chạy đua vũ trang có xung đột ở cường độ thấp

Chạy đua vũ trang của ASEAN là chạy đua về vũ khí truyền thống (conventional weapons) chứ không phải về vũ khí hạt nhân, do đó tính phá hoại và tính hủy diệt của nó không đến mức quá lớn, mà hạn chế ở phạm vi “xung đột cường độ thấp” (Low intensity conflict). Hơn nữa ASEAN lại có kinh nghiệm thành công trong hợp tác về kinh tế, chính trị và ngoại giao, như Tuyên ngôn về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (Zone of Peace, Freedom and Newtrality) và Khu vực Phi Hạt nhân Đông Nam Á (Southeast Asia Nuclear weapons Free Zone) và các chiến lược an ninh khác, do đó chạy đua vũ trang giữa các nước thành viên ASEAN không đến mức gây ra xung đột quân sự nghiêm trọng. Mặt khác các nước ASEAN đều tương đối nhạy cảm với các công việc quân sự trong khu vực. Gần đây tập trận hai bên giữa các nước có tăng lên. Đó là tập trận có góp phần vào việc xây dựng các giá trị tín nhiệm. Do vậy chạy đua vũ trang tuy có thể gây ra căng thẳng trong quan hệ, nhưng không đến mức phá hoại đoàn kết của ASEAN. Trong thời gian trung và ngắn hạn, không có nhiều khả năng diễn ra đụng độ quân sự trong khu vực này.

Tính chất của chạy đua vũ trang của ASEAN không đến mức làm cho trật tự trị an ninh khu vực Đông Nam Á phải chịu tác động to lớn. Bởi vì trong khi duy trì an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ASEAN đóng vai trò hai tầng: tham gia đồng đều vào quyền lực khu vực và thúc đẩy cơ chế an ninh nhiều bên, và nó đã có đóng góp quan trọng; hơn nữa xét kỷ lục lịch sử là nó đã tồn tại gần 30 năm thì việc duy trì an ninh khu vực cũng là thành tựu cực kỳ nổi bật của nó. Quan trọng hơn là nó vẫn tiếp tục thuận theo thời kỳ sau chiến tranh lạnh mà từng bước thúc đẩy cơ chế an ninh nhiều bên, tăng cường phối hợp và giúp đỡ sự phát triển kinh tế của các nước vốn là mối đe dọa tiềm tàng trong khu vực (như Việt Nam, Campuchia), mở rộng hơn nữa đồng minh, làm cho chúng trở thành đối tác, cùng giữ gìn an ninh khu vực. Đặc biệt là kế hoạch mở rộng sáu nước ASEAN thành mười nước ASEAN trong khu vực và xây dựng các loại cơ chế phi quân sự và phi quan phương nhiều bên ngoài khu vực, thu hút các nước hữu quan khác nhằm xây dựng ý thức tin cậy và nương tựa lẫn nhau, làm cho những xung đột mà ASEAN phải đương đầu có thể được hóa giải bằng phương thức đàm phán hòa bình. Hơn nữa ASEAN còn ra sức đẩy mạh đa phương hóa việc hợp tác quân sự, đưa ra đề nghị liên hợp mua vũ khí và trang thiết bị quân sự, cùng hợp tác sản xuất một phần linh kiện vũ khí và tiêu chuẩn hóa vũ khí. Trên cơ sở hợp tác quân sự hai bên đã có, dần dần tiến hành hợp tác quân sự nhiều bên. Chẳng hạn, tập trận chung giữa Mỹ và Thái Lan, vì cân nhắc đến ngân sách của Mỹ, đã kết hợp tập trận luôn với Singapore. Tương tự, tập trận giữa Mỹ và các nước ASEAN khác cũng có thể được gộp lại. Với sự giúp đỡ của Mỹ, ASEAN cũng có thể dần xây dựng quan hệ hợp tác quân sự nhiều bên. Bởi vì trong báo cáo chiến lược của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương có chỉ ra rằng: “Chiến lược của chúng ta (tức của Mỹ – BT) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trận chủ động hai bên và nhiều bên giữa quân đội Mỹ và quân đội các nước hữu nghị và các nước đồng minh”. Đương nhiên muốn làm cho ASEAN trở thành một “cộng đồng quốc phòng” đơn nhất, triển khai lực lượng quân sự tập thể thì vẫn cần một lộ trình và những thử thách cần khắc phục, cũng cần phải quan sát xem Trung Quốc có xử lý vấn đề Nam Hải bằng vũ lực quân sự hay không.

IV/ Kết luận

Thời kỳ sau chiến tranh lạnh bắt đầu, ASEAN có cảm giác không xác định và không an toàn ngày càng tăng do Mỹ rút giảm lực lượng quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương. Nó có nhận thức mới về mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và việc nó nâng cấp lực lượng quân sự của mình cũng là biện pháp tự vệ đương nhiên. Đặc biệt, cảm giác về mối đe dọa Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quốc phòng những năm gần đây, sự suy giảm trong hoạt động phiến loạn của Hồi giáo và Cộng sản ở trong nước làm cho ASEAN cần phải nâng cấp việc hiện đại hóa quân sự quốc phòng. Hơn nữa kinh tế của các nước ASEAN cũng đang từng bước tăng trưởng nhanh chóng, các tổ hợp quân sự – công nghiệp của các nước ASEAN lại có sức ảnh hưởng và địa vị nhất định trong nền chính trị trong nước. Kinh tế tăng trưởng nhanh, lại có các nguồn của cải đầy đủ để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng. Hơn nữa thời kỳ chiến tranh lạnh đã kết thúc, thị trường vũ khí trang thiết bị quân sự thế giới cung lớn hơn cầu, là thị trường người mua. Những điều đó làm cho ASEAN đứng trước sự thách đố là các nước thành viên của nó tích cực tiến hành chạy đua vũ trang. Nhưng do việc chạy đua vũ trang của các nước ASEAN là dựa trên thể chất của bản thân ASEAN nên có các tính chất là: không thể tránh khỏi, không có kẻ thù rõ ràng, mua vũ khí và trang thiết bị của nước ngoài, hiện đại hóa quốc phòng, xung đột cường độ thấp và không có hiệp định hạn chế vũ trang. Những tính chất đó làm cho bên cạnh xung đột vũ trang, giữa chúng cũng có quan hệ hợp tác quân sự. Đặc biệt là Mỹ vẫn có lợi ích và sức ảnh hưởng ở khu vực này. Có thể trên cơ sở kinh nghiệm thành công trước đây của ASEAN trong việc giữ gìn an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, giúp ASEAN để trong khi đương đầu với chạy đua vũ trang, nó vận dụng thành công các tổ chức an ninh nhiều bên, từ đó loại bỏ khả năng xảy ra xung đột quân sự hoặc chiến trnah, phá hoại trật tự an toàn khu vực.

Nhưng muốn làm cho ASEAN trở thành một “cộng đồng quốc phòng” đơn nhất, triển khai lực lượng quân sự tập thể, thì vẫn phải có một lộ trình và những thử thách cần khắc phục. Bởi vì khác biệt giữa các nước thành viên bên trong ASEAN là rất lớn. Cũng cần quan sát vai trò lực lượng quân sự của Trung Quốc trong khu vực này. Đặc biệt là trong việc xử lý các vấn đề ở Nam Hải, đương nhiên vấn đề Đài Loan cũng là một giác độ tốt để ASEAN quan sát lực lượng quân sự của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Nga – Trung: Một liên minh bề nổi?


Liên minh giữa Nga và Trung Quốc dường như vững chắc đến mức có thể kết nạp được hai nước láng giềng thù địch Ấn Độ và Pakistan cùng làm thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Như vậy, khoảng 40% dân số thế giới nằm trong một tổ chức quốc tế không do phương Tây quản lý.

Hình ảnh liên minh Nga – Trung mang tính biểu tượng lớn, theo đánh giá trên trang The Conversation (26/6) của giảng viên đại học Cyrille Bret, trường Khoa học Chính trị Sciences-Po nổi tiếng của Pháp. Tuy nhiên, ông cũng đặt câu hỏi: Liên minh này gắn bó đến mức nào? Liệu liên minh này có bị tan vỡ ở Trung Á? Vì tại chính khu vực này, nằm trong tầm ảnh hưởng của Nga, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình muốn xây dựng một “con đường tơ lụa mới”. Chẳng lẽ liên minh này lại không vấp phải sự bất cân bằng về kinh tế và dân số giữa các nước đối tác? Tác giả bài viết cho rằng đằng sau liên minh bề nổi, xuất hiện nhiều vết rạn nứt.

Quan điểm chung về đối ngoại

Sau những lần căng thẳng và xích lại gần nahu trong thời kỳ Sa Hoàng và cộng sản, quan hệ Nga – Trung nhanh chóng được bình thường hóa. Năm 1996, hai nước ký kết thỏa thuận đối tác chiến lược và năm 2001 cùng ký một hiệp định hữu nghị thể hiện quan điểm chung về đối ngoại: Chặt chẽ trong việc tôn trọng chủ quyền quốc gia, áp dụng đúng từng từ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và mỗi nước có quyền thảo ra mô hình phát triển của riêng mình. Cuối cùng, vào năm 2004, hai nước giải quyết dứt điểm mọi tranh chấp lãnh thổ.

Sự đồng nhất về chính trị của hai nước được thể hiện rõ trong việc chống lại quyền bá chủ của Mỹ. Vì thế, việc Mỹ can thiệp vào Kosovo (1999) và Iraq (2003) đồng loạt bị Bắc Kinh và Moskva lên án là hành động xâm phạm chủ quyền của những nước đó.

Đối với Moskva và Bắc Kinh, cần phải cảnh cáo mọi ý định can thiệp ở Đài Loan, Triều Tiên, Kavkaz hay Ukraine. Tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Nga có thể thường xuyên dựa vào Trung Quốc vì từ năm 2007, Bắc Kinh đã 7 lần sử dụng quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo an và luôn phủ quyết cùng với Nga.

Tương tự, cả Nga và Trung Quốc khẳng định quan điểm gần giống nhau về vấn đề hạt nhân Iran, cuộc nội chiến Syria và chủ nghãi khủng bố Hồi giáo quốc tế.

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải – mối liên kết an ninh

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), được thành lập năm 2001, nhằm hình thành một liên minh về an ninh. Nga và Trung Quốc liên kết quanh mình các nước thuộc liên bang Xô Viết trước đây ở Trung Á và hiện trở thành các chủ chốt của châu Á. Các đối tác trong khối muốn căn trở các cuộc cách mạng ở Trung Á; họ muốn kiềm chế sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, tại Afghanistan và ở Trung Đông với thành công là đóng cửa các căn cứ không quân của Mỹ tại Uzbekistan và Kyrgyzstan, sau thượng đỉnh SCO tại Astana (thủ đô của Kazakhstan) năm 2005.

Quan hệ hợp tác Nga – Trung được thúc đẩy nhất trong lĩnh vực quân sự. Vào các năm 2005, 2007, 2009, 2010 và mùa Hè 2017, Trung Quốc và Nga cùng tiến hành các cuộc tập trận hàng hải và trên bộ có quy mô lớn trong vùng biển Baltic với tên gọi “Sứ mệnh Hòa bình” dưới sự bảo trợ của SCO. Quan hệ hợp tác song phương đặc biệt mạnh mẽ trong lĩnh vực vũ khí đạn đạo. Sau năm 1989, do liên tiếp bị trường phạt vì vụ thảm sát Thiên An Môn, Trung Quốc chuyển sang nhập vũ khí của Nga. Vì vậy, trong những năm 1990, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ của 50% lượng vũ khí xuất khẩu của Nga.

Năm 2005, sau cuộc tập trận chung “Sứ mệnh Hòa bình 2005”, Trung Quốc đã đặt mua rất nhiều máy bay chiến đấu và máy bay vận tải của Nga. Trong lĩnh vực tên lửa cũng vậy, Trung Quốc thường xuyên đặt mua từ ngành công nghiệp Nga, dù mới đây, Ấn Độ đã vượt Trung Quốc để trở thành quốc gia hàng đầu nhập khẩu vũ khí của Nga.

Hợp tác kinh tế mới được chú trọng

Từ lâu, trao đổi kinh tế là điểm yếu trong mối quan hệ Nga – Trung. Tuy nhiên, từ đầu những năm 2010, Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế hàng đầu của Nga, với mục tiêu được hai nước đề ra là nâng trao đổi thương mại từ 90 tỷ USD lên thành 200 tỷ USD mỗi năm.

Mặt hàng trao đổi bên phía Nga lại không đa dạng: chỉ riêng dầu mỏ đã chiếm đến 80% lượng xuất khẩu của Nga sang Trung Quốc, nhưng vì vẫn bất đồng về giá bán và thái độ dè chừng từ phía Moskva nên việc xây dựng hệ thống ống dẫn khí và ống dẫn dầu bị chậm trễ nghiêm trọng.

Phải đến năm 2010, Nga mới mở đường ống dẫn dầu đầu tiên sang Trung Quốc và đến năm 2014, dự án đường ống dẫn khí “Sức mạnh Siberia” mới hình thành. Nhờ đó Bắc Kinh và Moskva đã ký một thỏa thuận cung cấp 38 tỷ m3 khí đốt mỗi năm kể từ năm 2018 với tổng trị giá được thẩm định là 400 tỷ USD và thời hạn hợp đồng kéo dài 30 năm.

Trong lĩnh vực tài chính, thông qua tổ chức BRICS (Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Nam Phi), Trung Quốc và Nga tìm cách phát triển một hệ thống ngân hàng và tài chính song song với thị trường tài chính của các nước phương Tây. Tuy nhiên trên thực tế, liên minh kinh tế lại khập khiễng vì tình trạng chênh lệch kinh tế giữa các nước đối tác.

Một liên minh bị hạn chế vì các chủ đề căng thẳng về cơ cấu

Liệu liên minh Nga – Trung có thể đối chọi được sức mạnh phối hợp của Mỹ và châu Âu không? Không có gì là chắc chắn vì quan hệ đối tác vấp phải nhiều trở ngại về cơ cấu. Quan điểm địa chính trị của hai cường quốc không hẳn liên kết với nhau. Hiện Nga đi theo chiến lược việc đã rồi, với mục đích thay đổi thế cân bằng tại châu Âu và Trung Đông. Trong khi đó, Trung Quốc lại tỏ ra bảo thủ hơn và chú ý đến việc đối xử khéo léo với một Mỹ hung hăng hơn của Donald Trump.

Tương tự, về việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea, Trung Quốc không nhiệt tình ủng hộ Nga vì điều này tác động xấu đến đường hướng chung của hai nước trong việc bảo vệ nguyên tắc không can thiệp. Ngoài ra, Nga cũng nhận thấy Trung Quốc là một đối thủ tại Trung Á, nên viễn cảnh về tương lai của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải có thể trái ngược với nhau. Mở rộng thẩm quyền của SCO sang cả phạm vi kinh tế là ý muốn của Bắc Kinh, nhất là để tăng thêm ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua dự án con đường tơ lụa mới. Đây là điều Moskva dè chừng.

Để giảm bớt trọng lượng của Trung Quốc trong tổ chức, Nga đã ủng hộ hai nước Ấn Độ và Pakistan gia nhập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Như vậy, đằng sau sự nhất quán bề ngoài đó còn ẩn giấu những cạnh tranh đáng ngờ.

Trong lĩnh vực quân sự, Moskva không ngần ngại cung cấp trang thiết bị quốc phòng cho các đối thủ của Trung Quốc trong vùng (Ấn Độ, Việt Nam…). Và Moskva cũng ngày càng thận trọng hơn trong việc chuyển giao công nghệ trọng điểm cho Trung Quốc.

Năm 2004, chính quyền Nga đã ngừng xuất khẩu máy bay chiến đấu Sukhoi SU-35 và máy bay oanh tạc Tupolev Tu-22M cho Trung Quốc vì bất đồng trong việc bảo vệ công nghệ đối với máy bay Sukhoi SU-27SK, được Trung Quốc gọi là Thẩm Dương (Shenyang) J-11. Nói tóm lại, Nga sợ các phiên bản sao chép của Trung Quốc.

Trong lĩnh vực kinh tế, Nga tỏ ra ngập ngừng tham gia chính sách “xoay trục của Trung Quốc”. Thực vậy, chính quyền Moskva giám sát hạn chế các nguồn đầu tư Trung Quốc vào Nga. Như năm 2002, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (China National Petroleum Corporation), được cho là sẽ thắng thầu tập đoàn Slavneft của Nga, cuối cùng lại bị chính quyền Nga loại khỏi thương vụ.

Tóm lại, rất nhiều bất trắc đang đè lên tương lai của liên minh này. Tình đoàn kết giữa Trung Quốc và Nga trước chính quyền của Donald Trump sẽ đi đến đâu? Trong khi nền kinh tế Nga lại không đa dạng lắm, thì liệu hợp tác kinh tế được định hình bời dự án “Sức mạnh Siberia” có đạt đến tầm cao như trong hợp tác quân sự và trong các hình ảnh đầy tính tượng trưng trên truyền thông hay không? Nếu như cơ cấu liên minh Nga – Trung có vẻ vững chắc vẻ bề ngoài, thì lại dễ vỡ khi nhìn từ bên trong.

Nguồn: TKNB – 12/07/2017

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần III


Ngày Nhật Bản trang bị vũ khí hạt nhân còn đầy khó khăn

Một viên tướng của Lực lượng phòng vệ trên không của Nhật Bản từng nói khi Triều Tiên sở hữu tên lửa liên lục địa, lấy đó làm lá bùa hộ mệnh, có thể lấy bang California làm quân bài mặc cả. Mỹ phải bàng quan đối với hành động mạo hiểm của Triều Tiên vì bị bắt làm con tin khiến Nhật Bản không thể tin tưởng mù quáng vào cam kết an ninh của Mỹ đối với Nhật Bản. Vũ khí hạt nhân mà Nhật Bản sở hữu mới là biện pháp đáng tin cậy nhất để bảo vệ an ninh của nước này. Nhận thức của giới hoạch định chiến lược của Nhật Bản đối với giới hạn đỏ của vấn đề hạt nhân Triều Tiên rất rõ ràng. Cho dù Triều Tiên có sở hữu bom khinh khí và tên lửa liên lục đại hay không thì kho vũ khí hạt nhân của nước này cũng đã có từ 40 đến 50 đầu đạn hạt nhân, có thể kích động Nhật Bản chế tạo vũ khí hạt nhân. Nguyên liệu hạt nhân của Nhật Bản cất giữ rất nhiều, cơ sở khoa học kỹ thuật, công nghiệp rất vững mạnh, năng lực tài chính lớn, một khi đã đưa ra quyết định chính trị chế tạo vũ khí hạt nhân, trong vài năm có thể sỡ hữu hàng trăm đầu đạn hạt nhân. Trong các cường quốc hạt nhân được công nhận, Trung Quốc đã ở trong vòng vây hạt nhân từ lâu, tình thế chiến lược rất xấu. Sau khi Nhật Bản sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, không những tình hình chính trị của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong con mắt của Mỹ thay đổi mà môi trường của vành đai hạt nhân xung quanh Trung Quốc ngày càng nguy hiểm hơn.

Nếu tạm coi Nhật Bản chưa trang bị vũ khí hạt nhân thì việc Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân cũng có thể thúc đẩy Hàn Quốc, Đài Loan đi theo. Nhật Bản trước hết có thể mở rộng năng lực răn đe hạt nhân của họ đến vùng biển Đài Loan đang tranh chấp. Đây có thể là điều chắc chắn. Điều tệ hại hơn là lãnh thổ Nhật Bản hỏ hẹp, hơn một nửa dân số và phần lớn của cải xã hội tập trung ở vành đai ba thành phố lớn là Tokyo, Kyoto – Osaka – Kobe và Chukyo. Khi đối phương phát động một đợt tấn công bằng vũ khí hạt nhân đầu tiên, Nhật Bản sẽ đối mặt với mối đe dọa của tiệt chủng mất nước. Có thể thấy, trong một trận chiến bằng vũ khí hạt nhân với cường quốc, Nhật Bản sẽ bị rơi vào tình thế khó xử hoặc phải sử dụng trước hoặc hoàn toàn mất đi giải pháp phản kích bằng vũ khí hạt nhân. Do đó Nhật Bản không thể kiềm chế nổi việc sử dụng vũ khí hạt nhân trước.

Tóm lại, nếu trong tương lai gần, cộng đồng quốc tế vẫn không thể đạt được mục tiêu phi hạt nhân bán đào Triều Tiên, thì Bắc Kinh không thể kỳ vọng bán đảo này không nảy sinh hỗn loạn và chiến tranh, không tránh khỏi phi hạt nhân hóa trở thành ảo tưởng. Còn việc Bắc Kinh kêu gọi Triều Tiên ngừng thử tên lửa và vũ khí hạt nhân để đổi lấy việc Mỹ và Hàn Quốc ngừng tập trận chung một năm một lần cũng chỉ là điều mong muốn. Đó là nguyên vọng của riêng Trung Quốc, Bình Nhưỡng và Washington không hề nghe theo. Ngoài ra, bãi thử hạt nhân của Triều Tiên cách Bình Nhưỡng xa nhất nhưng lại tiếp giáp biên giới với Trung Quốc. Tình hình ngân sách Triều Tiên rất khó khăn, kỹ thuật hạt nhân khá lạc hậu, một khi xảy ra sự cố nghiêm trọng thì chắc chắn sẽ gây ô nhiễm hạt nhân đối với vùng Đông Bắc của Trung Quốc. Ngạn ngữ có câu” Muốn tránh hậu quả lớn do hỏa hoạn, biện pháp trước tiên là phải bỏ bớt củi ở dưới nồi. Sau khi hỏa hoạn xảy ra, dân chúng cố sức chữa cháy cũng “sứt đầu mẻ trán”, đối với hậu quả lớn do hỏa hoạn gây ra thì chỉ tốn công vô ích.

Từ đó có thể thấy, nếu Trung Quốc không loại trừ tại họa từ trước khi xảy ra, thì một trong những giới hạn đỏ của Trung Quốc đối với vấn đề hạt nhân của Triều Tiên là hoạt động hạt nhân của Triều Tiên tuyệt đối không để gây ô nhiễm đối với vùng Đông Bắc Trung Quốc, không thể là lời nói suông.

“Hành động chặt đầu” Triều Tiên dường như không khả thi

Dư luận thế giới về việc Mỹ sẽ thực hiện “hành động chặt đầu” đối với Triều Tiên trong gần hai năm qua khá ầm ĩ. “Chặt đầu” là một thuật ngữ quân sự chỉ việc sử dụng tên lửa hành trình và tên lửa điều khiển chính xác cao tấn công đối với kẻ địch, thông qua sự tấn công chính xác, trước hết sẽ tiêu diệt người đứng đầu và cơ quan đầu não của đối phương, đập tan hoàn toàn ý chí chống trả của đối phương.

Nhân tố quan trọng của “hành động chặt đầu” là nhanh chóng, chính xác và có nội ứng. Tư duy này phù hợp với câu tục ngữ “Đánh rắn phải đánh dập đầu” của Trung Quốc. Tuy nhiên, mức độ khó khăn của việc Mỹ thực hiện “hành động chặt đầu” Triều Tiên rất lớn.

Trước hết phải phá vỡ rào cản của tư duy chiến lược. Từ khi vũ khí hạt nhân xuất hiện đến nay, khả năng hủy diệt với quy mô lớn của nó đã hạn chế tính chất của hành động quân sự. Đây chính là nguyên nhân khiến cho giữa hai quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân chưa từng bùng nổ chiến tranh, xung đột biên giới với quy mô lớn cũng chưa hề xảy ra. Đối với việc một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân khi sử dụng cũng chỉ để xóa bỏ mối đe dọa hạt nhân thực tế hoặc tiềm ẩn, nhưng đến nay chưa từng có tiền lệ nào như vậy trên thế giới. Đối với việc Triều Tiên đã sở hữu vũ khí hạt nhân, Mỹ thực sự cảm thấy bế tắc, muốn “hành động chặt đầu” trước hết phải phá bỏ rào cản tâm lý này.

Thứ hai là cân nhắc về cấp độ kỹ thuật. Mỹ thật sự muốn hành động tập kích Kim Jong-un, phá hủy cơ sở hạt nhân và vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, đều cần kế hoạch tỉ mỉ và chi tiết khi bày binh bố trận. Đặc biệt, Mỹ phải rất thận trọng trong thời điểm then chốt vừa không thể quá chậm trễ, trước khi Kim Jong-un hạ quyết tâm cuối cùng, tránh Bình Nhưỡng ấn nút hạt nhân trước; vừa không thể quá sớm nhằm tránh mất đi cơ hội thông qua con đường ngoại giao để giải quyết vấn đề nan giải còn tồn tại. Ngoài ra, khi thực hiện “hành động chặt đầu”, Mỹ có hủy diệt cùng một lúc vũ khí hạt nah6n và cơ sở hạt nhân của Triều Tiên hay không? Làm thế nào mới có thể tránh hậu quả nghiêm trọng như vụ nổ hạt nhân và ô nhiễm hạt nhân?

Cuối cùng, về lý luận chiến lược hạt nhân có một quan điểm đó là một nước lớn hạt nhân sử dụng vũ lực đối với một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân nhỏ hơn nhiều thì chưa chắc đã tiêu diệt được lãnh đạo cao nhất hoạch định chính sách của nước đó. Nguyên nhân là ở chỗ những người hoạch định chính sách ở nước đó cuối cùng có thể ra lệnh cho quân đội ngừng mọi hoạt động đối đầu và công khai lộ diện đàm phán với kẻ địch. Nếu họ không làm như vậy quân đội nước đó có thể sử dụng biện pháp cực đoan, do đó không có lợi cho việc kết thúc sớm chiến trah. Tính toán này có thể phù hợp với quan điểm hoạch định chính sách của Mỹ khi xử lý vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Lực lượng tấn công bằng vũ khí hạt nhân của Triều Tiên hiện nay vẫn nằm trong sự kiểm soát đầy sức mạnh của Kim Jong-un. Một khi ông gặp tai họa bất ngờ, lực lượng này có thể mất kiểm soát và có hành động khó lường. Tình hình tiếp sau đó như thế nào thì không ai có thể dự đoán được.

Tóm lại, “hành động chặt đầu” dường như bất khả thi. Cho dù Mỹ sử dụng vũ lực đối với Triều Tiên, “hành động chặt đầu” cũng chỉ là một bộ phận của tấn công quân sự về tổng thể. Khả năng Mỹ đơn thuần thực hiện “hành động chặt đầu” đối với cơ quan đầu não của Triều Tiên mà không liên quan đến hành động quân sự quan trọng khác là rất nhỏ.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017