Cạm bẫy trên biển dành cho Trung Quốc – Phần cuối


Thứ hai, Trung Quốc cần tiến hành các cuộc đàm phán có ý nghĩa với các bên yêu sách và thiết lập dạng quy tắc nào đó cho lộ trình này càng sớm càng tốt để tránh hoặc kiểm soát các sự cố hay xung đột tiềm tàng trên biển. Trong vài năm qua, Trung Quốc và các bên yêu sách khác đã can dự vào một dạng đấu tranh “ăn miếng trả miếng” trong các tranh chấp trên biển giữa các bên. Điều đó không chỉ leo thang tình hình vốn đã căng thẳng, mà còn có khả năgn cao xảy ra sự cố hoặc xung đột. Là một bên yêu sách của hầu hết tất cả các tranh chấp trên Biển Đông và Biển Hoa Đông, và là một cường quốc đang trỗi dậy trên quy mô lục địa, Trung Quốc cần nắm thế chủ động trong việc xuống thang tình hình này. Ở biển Hoa Đông, Trung Quốc và Nhật Bản đã khởi động một cuộc đối thoại vào năm 2015 để thiết lập Cơ chế liên lạc hàng hải để sử dụng trong các tình huống khẩn cấp, một bước đi tích cực hướng tới ngăn chặn các cuộc đụng độ bất ngờ và cần được theo đuổi hơn nữa.

Ở Biển Đông, tin tốt là bất chấp phán quyết bất lợi của Tòa Trọng tài ở La Hay và chủ nghĩa dân tộc dâng cao trong nước, Trung Quốc đã cho thấy sự kiềm chế và tính linh hoạt trong việc đối phó với các vấn đề gai gác. Ngày 15 – 16/8/2016, Trung Quốc và ASEAN đã tổ chức Cuộc họp các quan chức cấp cao lần thứ 13 về việc thực hiện DOC tại Mãn Châu Lý, một thành phố nội địa xa xôi, mát mẻ, được lựa chọn kỹ càng, giáp biên giới với Trung Quốc và Nga, nơi Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân đã nói một cách ngụ ý rằng các bên có thể rút ra cảm hứng nào đó từ các cuộc đối thoại biên giới thành công giữa Trung Quốc và Nga trong những năm 1990. Cuộc họp đã kết thúc với một số  bước đột phá mang tính thăm dò về việc thực hiện DOC và tham vấn về bộ Quy tắc ứng xử (COC). Các bên đã nhất trí về nguyên tắc chỉ đạo cho một đường dây nóng trong các tình huống khẩn cấp trên biển, một tuyên bố chung về việc áp dụng Quy tắc cho những va chạm ngoài ý muốn trên biển đối với Biển Đông, và nhắc lại hi vọng và mong muốn đạt được một khuôn khổ dự thảo cho một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông vào giữa năm 2017. Trung Quốc cũng đã mời Tổng thống Philippines Rodrigo Roa Duterte tới thăm Trung Quốc vào tháng 10/2016, trong thời gian đó hai nước đã nhất trí tự kiềm chế việc tiến hành cá hoạt động ở Biển Đông mà sẽ làm phức tạp thêm hoặc làm leo thang tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định.

Thứ ba, Trung Quốc cần đề xuất các cuộc đối thoại với các bên yêu sách khác về việc đánh bắt cá và bảo vệ môi trường biển. Ngoài vấn đề chủ quyền, các xung đột nảy sinh từ việc đánh bắt cá cũng như khai thác và thăm dò dầu khí ở khu vực Biển Đông và biển Hoa Đông bị tranh chấp là những động cơ chính đằng sau các mối quan hệ đang xuống cấp giữa Trung Quốc và các bên yêu sách khác. Điều này cũng góp phần làm gia tăng căng thẳng trong khu vực Đông Á. Nếu Trung Quốc và các bên yêu sách khác có thể đạt được một thảo thuận về việc đánh bắt cá ở các khu vực tranh chấp hoặc tìm ra cách cùng khai thác và phát triển dầu khí, việc này sẽ làm giảm đáng kể một trong những nguồn căng thẳng chính. Xét lịch sử khó khăn và các yêu cầu chuyên môn phức tạp hơn trong việc khai thác và phát triển dầu khí chung ở Biển Đông, một cách đơn giản hơn nhiều để bắt đầu quá trình này sẽ là mở ra đối thoại về việc đánh bắt cá chung ở các khu vực tranh chấp hoặc một chương trình thí điểm về các địa điểm đánh bắt cá chung. Một cuộc họp riêng ở Hong Kong vào mùa Hè năm 2016 giữa cựu Tổng thống Philippines Fidel Ramos và quan chức Trung Quốc Phó Oánh, trong đó họ đã thảo luận về khả năng hợp tác giữa Trung Quốc và Philippines trong việc đánh bắt cá, là một bước tiến đáng hoan nghênh. Trong khi chờ đợi, các bên yêu sách có thể thăm dò cách để bảo vệ môi trường biển một cách hợp tác và thành lập quỹ bảo vệ môi trường biển. Những biện pháp đó sẽ giúp xuống thang tình hình và góp phần xây dựng lòng tin. Dựa trên những biện pháp và thành tựu này, các bên liên quan sau đó có thể chuyển sang giai đoạn tiếp theo là thăm dò các phương thức hợp tác phát triển dầu khí.

Thứ tư, Trung Quốc cần thăm dò đối thoại với Mỹ về các hoạt động quân sự trong các vùng đặc quyền kinh tế và việc qua lại vô hại trên biển trong vùng lãnh hải của nước này. Trung Quốc và Mỹ có những quan điểm rất khác biệt và thậm chí mâu thuẫn nhau về vấn đề này. Trung Quốc, cùng với hơn hai chục quốc gia khác, phản đối việc do thám quân sự nước ngoài và các hoạt động quân sự khác ở các vùng đặc quyền kinh tế được cho là có hại đối với an ninh của các quốc gia ven biển, trong khi Mỹ lập luận rằng nước này có quyền quy định những hoạt động này. Trung Quốc yêu cầu xin phép hoặc thông báo trước về việc di chuyển bên trong vùng lãnh hải của nó, trong khi Mỹ khẳng định việc qua lại vô hại không cần xin phép hay thông báo trước. Các cách hiểu khác nhau đã dẫn đến một số va chạm nhỏ về ngoại giao và thậm chí cả va chạm trên biển và trên không giữa Trung Quốc và Mỹ, và “Hoạt động tự do hàng hải” cùng “sự qua lại vô hại” mới đây của các tàu khu trục Mỹ và những phản ứng với giọng điệu gay gắt của Trung Quốc, đã làm nổi bật hơn nữa những khác biệt và nguy cơ của các sự cố này. Nếu Trung Quốc và Mỹ có thể đạt được một số hiểu biết hay thỏa thuận dù ngấm ngầm hay công khai, đặc biệt liên quan đến các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế, điều đó sẽ loại trừ một cái gai trong quan hệ Trung – Mỹ.

Nhìn về phía trước

Phán quyết của Tòa Trọng tài vào tháng 7/2016 ở La Hay chắc chắn là một sự thất bại đối với các tuyên bố hàng hải của Trung Quốc, và đã thu hút sự lên án và phản đối trên toàn quốc. Tuy nhiên, mặc dù giọng điệu thách thức và bất bình, Trung Quốc cho đến này đã hành xử rất thận trọng và kiềm chế. Trung Quốc đã không tuyên bố một ADIZ ở Biển Đông hay thực hiện những nỗ lực cải tạo mới ở bãi cạn Scarborough, như một số người đã dự đoán Trung Quốc sẽ làm; thay vào đó, Trung Quốc đã kêu gọi duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông và tiếp cận ASEAN và Philippines để xuống thang tình hình, mặc dù Trung Quốc lên án phán quyết và thề sẽ không công nhận hay thực hiện phán quyết đó.

Theo nghĩa này, phán quyết hẳn đã mang lại một cơ hội để xuống thang căng thẳng ở Biển Đông và một cách khả thi để thoát khỏi các tranh chấp trên biển lộn xộn, nếu tất cả các bên có thể tận dụng phán quyết này một cách khôn ngoan trong những tháng tới. Xét chiến thắng quyết định mà Philippines đã giành được từ phán quyết và thất bại đáng xấu hổ của Trung Quốc, đã đến lúc phải trở lại bàn đàm phán và cho ngoại giao một cơ hội đầy đủ.

Trong những tháng tới, nếu Trung Quốc và Philippines có thể thành công đi đến một thỏa thuận về đánh bắt cá và hợp tác trên Biển Đông, điều đó sẽ giúp làm dịu quan hệ và thậm chí có thể làm gương về cách đối phó với các tranh chấp trên biển khác. Và nếu Trung Quốc và ASEAN có thể hoàn thiện khuôn khổ dự thảo COC của mình, tốt nhất là trước cuối năm 2017, đó sẽ là một bước đột phá lớn trong việc đưa ra quy tắc trong các tranh chấp ở Biển Đông. Hơn nữa, nếu Trung Quốc và Nhật Bản hoàn thành đối thoại về việc ổn định tình hình trên biển Hoa Đông, vốn bắt đầu từ năm 2015, nó sẽ tạo cơ hội cho cả hai nước chuyển sang một giai đoạn mới từ mối quan hệ ảm đạm hiện nay. Cuối cùng, nếu Trung Quốc và Mỹ có thể đạt được một dạng đồng cảm nào đó liên quan đến quyền tự do đi lại ở các vùng đặc quyền kinh tế và lãnh hải, và Mỹ cho thấy một số kiềm chế cũng như tránh thu hút sự chú ý đến các FONOP ở Biển Đông, nó sẽ giúp ngăn chặn sự mất lòng tin ngày càng tăng giữa hai nước.

Tất cả đều là những sự không chắc chắn lớn, và dứt khoát không phải những nhiệm vụ dễ dàng. Chúng đòi hỏi tầm nhìn chiến lược, sự đồng cảm và các nỗ lực ngoại giao phối hợp từ tất cả các bên, đặc biệt là từ Trung Quốc, Mỹ, và các bên yêu sách khác.

Nguồn: Wei Zongyou – China’s Maritime Trap – The Washington Quarterly Vol. 40, 2017, No. 1.

CVĐQT – số 6/2017.

Advertisements

Thế giới với cuộc chơi quyền lực mới? – Phần cuối


Sức mạnh vẫn là trung tâm, giải pháp tham khảo và sẽ tồn tại lâu dài trong các khu vực mang tính quyết định của thế giới – nhất là trong không gian Thái Bình Dương, tuy nhiên, Mỹ không còn là cường quốc duy nhất có quyền quyết định như họ đã từng là như vậy cách đây 20 năm.

Một quốc gia khác biểu tượng cho sự trở lại đầy nghịch lý của sức mạnh là nước Nga. Đối với Nga, đây là việc thu hồi những quân bài quá yếu trước đây trong thời hoàng kim của phương Tây, và nắm lấy những cơ hội do những yếu kém và sai lầm của đối phương tạo ra, hơn là khẳng định sức mạnh có tính quyết định của họ trên thế giới. Người ta quá biết những điểm yếu của Nga khiến nước này không thể đóng một vai trò trong thế quân bình toàn cầu trong tương lai. Những yếu kém trong nước của Nga: một nền kinh tế không thể thoát khỏi logic trợ cấp (yếu kém về đầu tư và hiện đại hóa); một hệ thống trục trặc buộc phải lợi dụng các biện pháp trừng phạt của phương Tây để khởi động lại các hoạt động sản xuất. Những yếu kém bên ngoài: một môi trường ngoại giao không có những quan hệ đối tác thực sự; một bộ máy quân sự có vẻ hoành tráng như nhiều hạn chế; một nền kinh tế không sánh được với Mỹ, Trung Quốc, châu Âu vốn có khả năng ảnh hưởng thực sự tới tiến trình phát triển hay tái kiến thiết. Nga hiện nay là một cường quốc khu vực, theo tư duy logic toàn cầu – vì duy nhất chỉ có không gian khu vực của nước này là phủ rộng trên 9 múi giờ. Tất nhiên Nga đã giỏi lợi dụng những điểm yếu và những sai sót của phương Tây tại Trung Đông, tuy nhiên, Nga có thể giữ vai trò nào sau này, chẳng hạn để vực dậy các quốc gia?

Những ẩn số ở châu Á và châu Âu

Chúng ta đang chứng kiến một Trung Quốc trong một hình thái hoàn toàn khác: một sự tích lũy các công cụ sức mạnh mà ta vẫn khó xác định mục đích và sự bền vững của chúng. Trung Quốc đã có sự khẳng định rất ấn tượng từ 2 thập kỷ nay: về kinh tế, ngoại giao và cả quân sự – dù rằng Bắc Kinh còn ở cách rất xa sau các cường quốc quân sự lớn trên thế giới, tuy vậy, từ nay quân đội nước này hiện diện ở xa lãnh thổ Trung Quốc, tận rìa châu Phi và Địa Trung Hải. Đặc biệt, kế hoạch khổng lồ mở cửa (và đầu tư) sang phía Tây của Con đường tơ lụa mới đã gây ấn tượng bởi quy mô địa kinh tế và địa chiến lược của nó. Bằng việc thiết kế một con đường giao thương mới, cả trên bộ lẫn trên biển, từ lãnh thổ Trung Quốc tới các cảng của Địa Trung Hải và Bắc Âu, Bắc Kinh khẳng định rõ ràng quyết tâm thoát khỏi tình trạng bị mắc kẹt về chiến lược.

Vì thế, câu hỏi đặt ra không phải về quyết tâm của nước này mà là về tính lâu dài của những công cụ này. Nếu Trung Quốc thực sự triển khai khối lượng tài chính như đã thông báo trong khoảng thời gian ấn định, nước này có thể trở thành một cường quốc thống trị trong một phần có tính quyết định của hệ thống quốc tế (Nga, Trung Đông, Địa Trung Hải, châu Âu) với các điểm tựa lâu đời hơn tại châu Phi. Tuy nhiên, vẫn đầy nỗi băn khoăn: sự gắn kết nội bộ, sự ổn định của chế độ, sự phụ thuộc vào hệ thống thương mại thế giới và những khó khăn của nó, khả năng điều chỉnh hình mẫu tăng trưởng, các vấn đề của ổn định khu vực (quan hệ với Nhật Bản, Đài Loan, vấn đề Triều Tiên, quan hệ với Washington tại Thái Bình Dương). Cần chờ xem Bắc Kinh có sức nặng ra sao trong việc cấu trúc lại hệ thống quốc tế trong thời gian tới.

Ấn Độ đang tích lũy vũ khí, nhưng trong một logic địa chính trị thiên về khu vực hơn là toàn cầu, dù rằng nước này muốn phát triển quan hệ an ninh với Đông Nam Á và củng cố thêm các quan hệ kinh tế với các nước châu Âu. Còn Nhật Bản, vẫn rất phụ thuộc vào lịch sử khu vực và mối quan hệ của họ với Washington: Ít có khả năng rằng sự đầu tư đáng kể – dù kín đáo – của Nhật Bản về quân sự có thể trong ngắn hạn trở thành đối sách hiệu quả ngoài không gian Thái Bình Dương.

Về phần mình, Liên minh châu Âu (EU), bị giằng co giữa một bên là hệ tư tưởng hậu quốc gia, hậu quyền lực và một bên là những đòi hỏi dân tộc hồi sinh, bị suy yếu bởi tình trạng “đa khủng hoảng”, ít có khả năng nhanh chóng vượt qua được vị thế là một tổ chức quyền lực dân sự. Từ đây một câu hỏi kép được đặt ra: Liệu EU có củng cố được sức nặng kinh tế của mình? Liệu các quốc gia lớn trong EU có thể thỏa thuận với nhau để hợp thành nhóm hạt nhân hoặc tiên phong có uy lực về ngoại giao, thậm chí về quân sự, để lôi kéo những quốc gia khác? Câu hỏi kép này vẫn còn để ngỏ.

Một hệ thống đa trung tâm và đa dạng

Trong thực trạng của chính trường quốc tế hiện nay, không một cường quốc nào trong số những cường quốc này có thể tự nhận mình là nhân tố kiến tạo. Như vậy, ý tưởng về sự trở lại của sức mạnh là nghịch lý, khi mà các cường quốc quay trở về với khả năng điều chỉnh đã giảm thiểu. Hơn nữa, những cường quốc mơ tưởng vai trò toàn cầu không thể một mình thực hiện. Khi hệ thống quốc tế càng ít bị chi phối bởi ưu thế của những “nước lớn” thì không gian của các nước hạng trung càng mở rộng trong các khu vực phức tạp. Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Indonesia, Brazil, Nam Phi hoặc Nigeria, khi mà sự ổn định và phát triển của họ mang lại cho họ các phương tiện, sẽ có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ – điều chỉnh hoặc làm rối loạn – trong không gian tự nhiên của họ sau này. Sự suy yếu của những logic trung tâm làm tăng giá trị của những nước gây rối, vốn ít bị đe dọa trong các bước tiến của họ, như Hungray, Nga hoặc Iran trong các bối cảnh rất khác nhau.

Một sự chuyển đổi, nhưng hướng tới điều gì?

Bối cảnh quốc tế này, với những động thái liên quốc gia, hành động hỗn loạn của các cường quốc không theo logic tập trung, những sự hợp tác theo từng vụ việc, thậm chí những không gian bị bỏ rơi, tất nhiên chỉ là sự quá độ, nhưng nó mở ra những con đường nào? Câu trả lời phụ thuộc trước tiên vào sức nặng riêng biệt của 3 yếu tố, hoặc giá trị, theo cách thức mà chúng sẽ tương tác hoặc lấn át nhau: Giá trị lưu thông (sự giao thoa của các nền kinh tế và ý chí công dân); giá trị sức mạnh (bị hạn chế do tính chất siêu quyết định của hạt nhân, nhưng có hiệu quả trong những không gian và những mức độ hạn chế như chủ nghĩa khủng bố hay an ninh mạng); và yếu tố hệ tư tưởng: hoạch định những tương lai khả dĩ theo những sơ đồ logic và cụ thể, điều này có thể làm đảo lộn những tương quan sức mạnh thuần túy.

Sự hỗn loạn nghiêm trọng hơn hay sự quản trị tối thiểu

Những kịch bản cực đoan nào cho phép hình dung ra những yếu tố này? Giả thuyết đầu tiên là giả thuyết về một thế giới củ những hỗn loạn nghiêm trọng với vô số những toan tính biệt l65p, đóng cửa: sự tan rã từng mảng của tiến trình toàn cầu hóa thương mại, sự gia tăng kiểm soát của các quốc gia về truyền thông, các xung đột trầm trọng hơn tại các khu vực bị bỏ rơi do tính ích kỷ của các cường quốc… Cũng còn là sự bế tắc của công việc xây dựng các khu vực: khủng hoảng dai dẳng của EU, sự thoái lui của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), sự lu mờ của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) dưới sức ép của Trung Quốc, sự thất bại của Liên minh kinh tế Á – Âu (EAEU), khủng hoảng của các cuộc đàm phán quốc tế lớn… Sự mất cân bằng về sức mạnh và hơn nữa vấn đề hạt nhân đã khiến cho chính trường quốc tế phụ thuộc vào những logic quyền lực ôn hòa. Như vậy, sự trở lại của bạo lực, về tổng thể được kiểm soát nhưng khó có thể nói rằng sẽ chấm dứt. Ảo ảnh về trật tự do phương Tây điều khiển, một ngày nào đó sẽ không còn.

Một kịch bản khác nêu bật những yếu tố hợp lý. Sự bức bách của thời gian sẽ đưa tới sự hợp lý, với sự kết hợp giữa những sự hợp tác toàn cầu, khu vực và lĩnh vực. Tình trạng vô chính phủ đe dọa các trao đổi truyền thông sẽ thúc đẩy các tác nhân nhà nước và dân sự thỏa hiệp với nhau về một sự quản trị tối thiểu để tránh những mối nguy hiểm lớn hơn; các cấu trúc khu vực được tăng cường theo logic riêng của chúng và sự ổn định của chúng sẽ lan tỏa ra xung quanh; sẽ không có bất cứ hệ tư tưởng nào được áp đặt bằng cách làm đảo lộn không gian của những lý trí chính trị…

Cần phải chờ đợi một thế giới như vậy vì những động thái hiện nay quá mâu thuẫn với nó; tuy nhiên, mơ ước về nó không phải là sự điên rồ. Tại sao không hình dung rằng những người khởi xướng nó có thể xuất hiện từ Lục địa già và từ châu Á? Nói như vậy không phải là phủ nhận siêu cường Mỹ. Tuy nhiên, vì những lý do và với các cách thức khác nhau, Trung Quốc, Nga và Tây Âu cần một thế giới mới nổi lên, không phải là tiền – Mỹ cũng như hậu – Mỹ, mà sẽ là một thế giới không được tổ chức xung quanh những giả định của Mỹ, một thời kỳ không thể lường trước được. Tất nhiên, giấc mơ này giả định rằng Nga hướng tới một chiến lược hòa dịu hơn và phối hợp hơn với các đối tác châu Âu; Bắc Kinh có thể duy trì chiến lược phát triển hợp tác của họ; và EU, với 27 thành viên hoặc sắp xếp lại xung quanh các cường quốc ngoại giao và quân sự, tìm thấy một sự hiệu quả mới.

Nguồn: Viện quan hệ quốc tế Pháp

TLTKĐB – 24/12/2017

Cạm bẫy trên biển dành cho Trung Quốc – Phần IV


Có thể nói, chính sách phòng thủ chủ động của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông đã làm xa rời quan hệ của nước này với hầu hết các nước láng giềng, và gieo mầm mống nghi ngờ và mất lòng tin giữa một Trung Quốc đang trỗi dậy và một nước Mỹ có vị thế vững chắc. Nếu không được kiểm soát, không phải là không tưởng tượng được rằng Trung Quốc và Mỹ sẽ rơi vào một dạng bẫy mà đã ám ảnh mối quan hệ giữa một nước đang lên và một nước có vị thế vững chắc trong suốt lịch sử. Như sử gia Athens Thucydides đã lập luận hơn 2400 năm trước: “Chính sự trỗi dậy của Athens, và nỗi lo sợ rằng điều này được khơi dậy ở Sparta, đã khiến chiến tranh trở nên không thể tránh khỏi”.

Ngay cả khi Trung Quốc có thể tránh “Chiếc bẫy Thucydides”, các nguồn lực ngoại giao, kinh tế và đặc biệt là quân sự đã sử dụng, và chưa sử dụng, vào các tham vọng trên biển, đều không phải điềm lành cho một nước vẫn phải đối mặt với sự phát triển khó khăn trong nước và các thách thức xã hội. Trung Quốc cũng đang cố gắng hết sức để tránh “chiếc bẫy thu nhập trung bình” – tình trạng trong đó tăng trưởng kinh tế của một nước chậm lại hay đình trệ sau khi đạt mức thu nhập trung bình. Trung Quốc chưa đủ sẵn sàng về mặt thể chế, quân sự, văn hóa hay thậm chí về tâm lý để cạnh tranh với các cường quốc trên biển hàng đầu trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới, chưa kể đến đồng thời cũng phụ thuộc vào các nước này như là những thị trường xuất khẩu – ít nhất cho đến khi Trung Quốc có thể chuyển đổi nền kinh tế trong nước của mình để thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình này.

Liệu có cách nào để thoát ra?

Trong cuốn sách năm 2012 của mình, “Sự trỗi dậy của Trung Quốc chống lại logic chiến lược”, Edward N. Luttwak đã rút ra được một bài học đúng đắn từ hành vi của Đức trước Chiến tranh thế giới thứ nhất: “Việc chỉ một chiến lược lớn không đe dọa về quân sự và hòa giải về ngoại giao mới có thể đáp ứng tốt cho nước Đức – đẩy nhanh sự trỗi dậy hòa bình của mình tới tầm cao mới của sự thịnh vượng có văn hóa – là điều quá hiển nhiên khi nhìn lại. Nhưng đến năm 1907, và thực ra là trước đó rất lâu, chiến lược tốt nhất đó đơn giản là đã trở nên không thể tưởng tượng nổi đối với giới tinh hoa chính trị Đức”.

Bài học mà Luttwak rút ra có những ý nghĩa quan trọng đối với Trung Quốc ngày nay. Là một cường quốc đang trỗi dậy về quy mô lục địa, các hành vi và lời nói của Trung Quốc sẽ bị theo dõi và xem xét sát sao, và đôi lúc tầm quan trọng của chúng bị phóng đại quá mức. Chủ tịch Tập Cận Bình đã nêu rõ điểm này khi ông phát biểu trước Quốc hội liên bang Australia năm 2014: “Trung Quốc là một nước lớn với dân số hơn 1,3 tỷ người, giống như một người khổng lồ trong đám đông vậy. Những người khác chắc chắn sẽ quan sát cách người khổng lồ đi lại và cử động như thế nào, và lo lắng về việc liệu người khổng lồ sẽ va vào họ, chắn lối họ hay chiếm lãnh thổ của họ hay không”. Khi Trung Quốc trỗi dậy, các nước láng giềng của nó là những nước đầu tiên cảm nhận được những tác động và ảnh hưởng ngược trở lại, dù tốt hay xấu. Trong khi tất cả các láng giềng đều hoan nghênh những lợi ích kinh tế họ có thể gặt hái từ sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc, họ cũng cảm thấy không thoải mái về sự phụ thuộc quá mức của mình vào thị trường Trung Quốc và các tác động về chính trị cũng như an ninh của sự trỗi dậy của Trung Quốc, đặc biệt là khi một số nước có tranh chấp về lịch sử và lãnh thổ với Trung Quốc. Đây là điều Trung Quốc cần lưu ý khi đối phó với các nước láng giềng và theo đuổi các mục tiêu chính sách đối ngoại của mình.

Trong việc bảo vệ các lợi ích trên biển của mình, Trung Quốc cũng cần phải lưu ý rằng nó không thể hi vọng chiếm lại được các đảo và bãi đá mà các bên yêu sách khác đã chiếm đóng và xây dựng, trừ phi sử dụng vũ lực. Mặc dù những thiếu sót này, thế giới hậu Chiến tranh thế giới thứ 2 không còn là một thế giới mà trong đó “luật rừng” chiếm ưu thế. Phí tổn ngoại giao, kinh tế và cả quân sự sẽ là quá lớn để Trung Quốc có thể gánh chịu nếu nước này chọn cách viện đến chiến tranh để chiếm lại những cấu trúc địa hình đó. Các hoạt động cải tạo đất và cái được cho là sự quyết đoán gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông có thể nói lên tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà Trung Quốc đang phải đối mặt: trong bối cảnh cái được hiểu là sự xâm phạm của các bên khác đối với những lợi ích trên biển của mình và chủ nghĩa dân tộc đang gia tăng ở trong nước, Trung Quốc phải thực hiện một số hành động để ngăn chặn sự xâm phạm hơn nữa và làm yên lòng quần chúng trong nước, nhưng không gây ra chiến tranh và phá hỏng hoàn toàn quan hệ của mình với các nước láng giềng và Mỹ bằng cách cố dập tắt các hành vi xâm phạm của những bên yêu sách này.

Đây là một lằn ranh rất mong manh để bước đi và rất khó để cân bằng, như các mối quan hệ đang xuống cấp của Trung Quốc với các nước láng giềng và Mỹ, và chủ nghĩa dân tộc trong nước đang rộ lên sau phán quyết của Tòa Trọng tài, chứng thực. Nhiều cư dân mạng đã bầy tỏ sự giận dữ của mình đối với phán quyết này và một người thậm chí còn nói Trung Quốc sẽ chiến đấu đến cùng nếu ai đó dám xâm lược dù chỉ một phân vào lãnh thổ Trung Quốc. Để xử lý các tranh chấp trên biển và bảo vệ các lợi ích trên biển của mình, Trung Quốc cần nghĩ đến bức tranh lớn hơn và có tầm nhìn dài hạn hơn.

Trước hết, mặc dù việc bảo vệ các lợi ích trên biển không có gì sai, nhưng cách mà những lợi ích này được theo đuổi và bảo vệ lại có ảnh hưởng rất lớn. Bài học của nước Đức cho thấy rõ ràng rằng một chính sách đối ngoại hiếu chiến sẽ mang lại rất ít bạn bè cho cường quốc đang trỗi dậy này, đẩy nhanh xung đột của nó với các cường quốc đã có vị thế vững chắc, và cuối cùng sẽ định đoạt số phận của nó. Câu chuyện thành công về sự trỗi dậy phi thường của Trung Quốc trong 30 năm qua đã minh chứng một cách hùng hồn cho tầm quan trọng của một chính sách đối ngoại hòa giải và làm sáng tỏ sự tư lợi. Một cách tiếp cận không nhân nhượng và quyết đoán đối với các tranh chấp trên biển sẽ không buộc các bên yêu sách khác phải khuất phục hay giải quyết được vấn đề này, nó cũng sẽ không phục vụ cho mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là trỗi dậy hòa bình và phục hưng dân tộc. Một cách tiếp cận hòa giải đối với các tranh chấp trên biển sẽ báo hiệu cho thế giới bên ngoài rằng khi Trung Quốc lớn mạnh, nó sẽ không trở thành một kẻ bắt nạt hay đe dọa các nước khác – điều này có thể giúp xoa dịu các mối quan ngại và lo lắng mà các nước láng giềng có thể có đối với Trung Quốc. Đây không phải là một dấu hiệu của sự yếu đuối hay nhu nhược, như một số người theo trường phái diều hâu hay những người dân tộc chủ nghĩa tuyên bố, mà là biểu hiện của sự rộng lượng, thiện chí, và sức mạnh. Đó là một dạng đảm bảo và dấu hiệu chiến lược, mà sẽ phục vụ cho các lợi ích của Trung Quốc trong thời gian dài. Không cần phải nói, sẽ cực kỳ khó khăn cho giới lãnh đạo Trung Quốc để thấy sự rộng lượng này sau việc phán quyết của Tòa Trọng tài bị lên án rộng rãi trong nước và giữa lúc chủ nghĩa dân tộc đang dâng cao, tuy nhiên đã đến lúc phải thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự lãnh đạo thực sự.

(còn tiếp) 

Nguồn: Wei Zongyou – China’s Maritime Trap – The Washington Quarterly Vol. 40, 2017, No. 1.

CVĐQT – số 6/2017.

Thế giới với cuộc chơi quyền lực mới? – Phần I


Thế giới của quyền lực trở lại sau 2 thập kỷ ôm giấc mộng toàn cầu. Tuy nhiên, đây là một thế giới khác biệt, tan vỡ và khó nhận ra các logic của tổ chức của nó. Trong tương lai, nhiều điều phụ thuộc vào kiểu kết nối được thiết lập giữa những động lực liên quốc gia và những động lực khẳng định lợi ích của quyền lực.

Các nước phương Tây quen với việc hợp pháp hóa quyền lực trong sự lý giải khác nhau về thế giới. Vì vậy, thời hậu Chiến tranh Lạnh là một giai đoạn huy hoàng đối với họ. Khi đó, cả thể giới dường như tập hợp lại trong sự hứng khởi để phát triển công nghệ và gia nhập các giá trị được tuyên bố là chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh của họ. Tuy nhiên, sự ngờ vực đã xuất hiện cùng với sự chuyển tiếp của thế kỷ. Hình ảnh một thế giới hỗn loạn được chế ngự và đi tới thống nhất, đã nhường chỗ cho hình ảnh của một mô trường quốc tế với nhiều chủ thể không được kiểm soát, bị hủy hoại bởi sự phát triển của các logic phân cắt. Những miêu tả địa chính trị, đặt các logic xung đột cạnh nhau và biện hộ cho chúng, đang làm sống lại những logic cũ về quyền lực.

Hai thập kỷ ảo tưởng

Trong các thế kỷ do phương Tây thống trị, có ba mô hình được xem như đưa đến một thế giới yên bình, hài hòa, hoặc đơn giản là được kiểm soát: cân bằng sức mạnh (lưỡng cực), thống trị (hòa bình do đế quốc áp đặt), hợp tác (để đàm phán về một trật tự chung). Những mô hình này được diễn giải lại vào đầu những năm 1990. Khái niệm cân bằng sức mạnh dường như lu mờ sau một tiến trình toàn cầu hóa thúc đẩy nhanh những trao đổi về mọi mặt. Các cường quốc phương Tây tự thấy có trách nhiệm thực hiện một sự thống trị “nhân từ”: Những giá trị chính trị, những quan niệm kinh tế, các chiến dịch “cảnh sát” quốc tế của họ đã chỉ còn là những giá trị tham khảo. Và quan hệ hợp tác quốc tế chuyển dịch theo hướng một chủ nghĩa đa phương luôn rộng mở hơn, vốn được minh chứng bởi sự tồn tại của những lợi ích chung của nhân loại, đang ngày càng phổ biến hơn. Tuy nhiên, ưu thế này chỉ là tạm thời.

Sự thống nhất thế giới, được tuyên bố quá sớm, trước hết đã tỏ ra vừa là chân lý, vừa là ảo tưởng. Tất nhiên những yếu tố mở cửa của các xã hội, có vẻ bình đẳng, mang tính khách quan (gia tăng các trao đổi thương mại, truyền bá các hình ảnh, thông tin và sự giao lưu của con người…). Tuy nhiên, sự khác biệt về lịch sử, văn hóa vẫn còn đó, và cưỡng lại động lực hấp dẫn của toàn cầu hóa. Trái lại, sự mở cửa của các xã hội có thể dẫn tới một phản xạ ngược lại: sự thu mùnh về văn hóa, sắc tộc, bản sắc, tôn giáo, kinh tế, chính trị… Do vậy, động lực của toàn cầu hóa đang ngày càng đối lập với thực tế của một sự khác biệt vừa mang tính khách quan vừa là sự đòi hỏi ở quy mô quốc tế cũng như trong mỗi xã hội: Bản đồ bầu cử Pháp năm 2017 đã cho thấy rõ khác biệt, thậm chí là sự chia rẽ này.

Sự thất bại của phương Tây, sự hụt hơi của ngoại giao đa phương

Cuộc khủng hoảng năm 2008 và những biến động liên minh tại châu Âu gieo rắc hoài nghi về khả năng tồn tại trong dài hạn của các phương thức được công bố là mang tính quyết định từ 20 năm nay. Những giá trị thống trị chỉ đứng vững được chừng nào những logic chính trị khác vẫn được áp đặt. Vậy mà, sự nổi lên của các cường quốc kinh tế mới đang làm thay đổi ván bài. Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran chẳng hạn, từ nay đã hoàn toàn có tư cách để khẳng định, trong những tuyên bố chung, các quan niệm riêng của họ về dân chủ và nhân quyền.

Còn trật tự quốc tế, dựa trên những chiến dịch của Liên hợp quốc hay những can thiệp trực tiếp của các cường quốc thống trị (các nước phương Tây), đã tỏ ra là sự ảo tưởng. Trong những bối cảnh rất khác nhau, các nước Balkan, vùng Hồ lớn châu Phi, Sahel, Trung Đông và thế giới Arab ít ra đã cho thấy sự bất lực của những nước muốn “dạy bảo” và áp đặt trật tự của họ tại đây.

Các cường quốc có vai trò quyết định về chính trị và quân sự cho đến nay – Mỹ, châu Âu – đặc biệt trong 25 năm qua, đã chứng tỏ rằng họ không có những quan niệm cũng như phương tiện cho tham vọng của mình. Mặc dù có những kinh nghiệm thực dân, những quan niệm của họ vẫn chỉ là những quan niệm về các cuộc chiến tranh lớn theo học thuyết quân sự Clausewitz; và các phương tiện của họ tốn kém cả về tài chính lẫn nhân lực, không phù hợp với thực tế trên thực địa đòi hỏi cần phải xây dựng các xã hội vốn bị đổ vỡ.

Sau hết, quan tâm hợp tác quốc tế giữa các thực thể chính trị, được giả định là có tính chất sống còn trong một nỗ lực toàn cầu hóa, đang vấp phải nhiều trở ngại. Được nuôi dưỡng bằng hệ tư tưởng theo thuyết phổ biến trước đây, nó hướng tới chủ nghĩa đa phương mở rộng nhất, từ Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tới quy chế Tòa án hình sự quốc tế (ICC) và các hiệp định khí hậu. Phải chăng thời của toàn cầu hóa đã khép lại? Các hiệp định thương mại, tốt lắm cũng chỉ ở quy mô khu vực, và bị tranh cãi; Liên hợp quốc thường uyên hơn quay trở về quy chế cũ của nó là nơi xung đột của các cường quốc; ICC nhận thấy tính hợp pháp của mình – trong các vụ việc chưa bao giờ mang tính toàn cầu – tiếp tục giảm sút… Thời kỳ của hợp tác theo vụ việc dường như trở lại, xa rời các lợi ích chung của nhân loại.

Một khu vực địa lý chính trị mới, những bối cảnh địa chính trị mới

Bản đồ nào của thế giới được dựng lên hiện nay? Trước tình trạng liên quốc gia hóa do toàn cầu hóa về trao đổi mang lại và trước các cuộc khủng hoảng, mọi thứ diễn ra như thể bức tranh địa lý chính trị thế giới trở lại như trước đây: các nhà nước kề bên nhau. Các quốc gia này – khắp nơi có lẽ trừ châu Phi – là những cấu trúc chính trị gần kề nhất trước làn gió khiêu khích của toàn cầu hóa; chúng cũng là sự cứu viện trong trường hợp khủng hoảng – kinh tế, y tế, khí hậu, quốc tế – và, đặc biệt tại châu Á, là những phương tiện cho sự cất cánh về kinh tế và tái cấu trúc khu vực. Vậy, phải chăng thế giới hiện nay có thể được lập bản đồ theo sự biến đổi của các cường quốc – được xác định theo khả năng làm chủ của họ đối với không gian nội địa và khả năng hành động bên ngoài, và lý lẽ của họ về vùng kiểm soát, ảnh hưởng và chiến lược? Vả phải chăng là sự trở lại của địa chính trị, thể hiện những xung đột về ý chí trong không gian? Phải chăng địa lý quyền lực đang khẳng định lại sự thắng thế đối với giới truyền thông có ý định hạ bệ nó? Có lẽ vậy. Nhưng các cường quốc đang thay đổi về sức mạnh và thậm chí tính chất của họ.

Trên thế giới, mọi thứ đã thay đổi…

Người ta biết rằng nước Mỹ đang sở hữu những sức mạnh vô địch như hiện nay. Sức mạnh về kinh tế được thúc đẩy nhờ khả năng gần như tự túc về năng lượng. Sức mạnh về văn hóa có sức hấp dẫn trên toàn cầu. Sức mạnh của đồng USD. Sức mạnh về ngoại giao và quân sự: Mỹ vẫn là nước duy nhất có thể triển khai sức mạnh quân sự có vai trò quyết định khắp mọi nơi trên thế giới. Đặc biệt, sức mạnh công nghệ để khống chế việc thiết lập và các phương tiện chính của xã hội truyền thông thế giới. Người ta cũng biết những hạn chế của Mỹ – điều được chứng tỏ qua sự kiện Donald Trump đắc cử Tổng thống. Sự ngờ vực chính mình: về hành động quốc tế và những hệ quả trong nước của các chiến lược kinh tế trong những thập kỷ qua. Sự phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài (Trung Quốc, Nhật Bản) để cứu vãn ngân sách bị thâm hụt và ổn định tiền tệ. Hình ảnh nước Mỹ sa sút trên thế giới: Sau một ông Bush “du đãng” và một ông Obama luôn do dự, thì nay tính khí khó lường của ông Trump không làm yên lòng các đồng minh và đối tác của Mỹ. Sau hết là tính hạn chế về hiệu quả quân sự của Mỹ: nếu như Mỹ có tất cả để áp đặt trong chiến tranh, thì họ lại thiếu hiệu quả trước mọi biểu hiện khác của bạo lực – giống như các quốc gia khác, nhưng chắc chắn là hơn các quốc gia khác do văn hóa chiến lược, văn hóa cam kết thô bạo và quyết đoán của Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện quan hệ quốc tế Pháp

TLTKĐB – 24/12/2017

Cạm bẫy trên biển dành cho Trung Quốc – Phần III


Một cái bẫy trên biển?

Trung Quốc đã có hơn 30 năm hòa bình, ổn định và tăng trưởng kinh tế lớn lao, phần nào là do hòa giải với Mỹ và Nhật Bản vào đầu những năm 1970, mở cửa với bên ngoài vào cuối những năm 1970, và hội nhập kinh tế thế giới kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001. Trung Quốc không chỉ là một trong những nước chính định hình nên môi trường thuận lợi này, mà còn là bên hưởng lợi lớn nhất từ đó. Chỉ trong hơn một thế hệ, Trung Quốc đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo cùng cực và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Giai đoạn thế hệ này cũng là lúc Trung Quốc bắt đầu chiến dịch gây cảm tình với các nước láng giềng, và kết quả là quan hệ của Trung Quốc với những nước này phần lớn đều ấm áp và gẫn gũi. Mặc dù Trung Quốc đã có tranh chấp trên biển với một số nước, nhưng những tranh chấp này nhìn chung đều được gác sang một bên và chưa bao giờ trở thành một vấn đề lớn.

Bắt đầu từ năm 2010, một phần do những lý do nêu trên và một phần do sức mạnh và sự tự tin dân tộc gia tăng, Bắc Kinh đã bắt đầu xem xét lại chính sách đã có từ lâu của mình là “gác lại và tạm hoãn” các tranh chấp trên biển và đã bảo vệ những lợi ích đó một cách mạnh mẽ hơn. Tập Cận Bình đã đẩy nhanh xu hướng này, sắp xếp lại các cơ quan thực thi pháp luật trên biển lộn xộn và cồng kềnh của Trung Quốc, và thiết lập Lực lượng Hải giám Trung Quốc đầu tiên cho đến nay để thực thi pháp luật trên biển và bảo vệ các lợi ích trên biển của Trung Quốc một cách mạnh mẽ hơn. Và kể từ cuối năm 2013, Trung Quốc đã bắt đầu các hoạt động cải tạo đất quy mô lớn trên Biển Đông.

Trong khi chính sách “phản ứng quyết đoán” mới này đã giành được nhiều hoan nghênh và tán thưởng ở Trung Quốc, đặc biệt từ những người ủng hộ chính sách đối ngoại hiếu chiến, nó hầu như không giành được sự đồng cảm từ các nước láng giềng và trên thế giới. Thay vào đó, nó đã làm xa cách mối quan hệ của Trung Quốc với các nước ASEAN và phá hỏng những thành tựu đạt được từ những năm 1990. Dù ngấm ngầm hay công khai, nhiều nước ASEAN đang bày tỏ quan ngại rằng Trung Quốc đang ngày càng sẵn sàng sử dụng sức mạnh cứng thay vì sức mạnh mềm để làm theo ý mình. Và họ cũng lo ngại rằng Trung Quốc đang tạo ra những thực tế trên thực đại để khẳng định các tuyên bố chủ quyền của mình trong khi thách thức tuyên bố chủ quyền của các nước khác.

Quan hệ của Trung Quốc với Nhật Bản đã đạt mức thấp kỷ lục kể từ năm 2010. Mặc dù quan hệ giữa hai nước láng giềng này chưa bao giờ ấm áp và gần gũi về mặt chính trị, nhưng quan hệ căng thẳng và thậm chí là đối đầu giữa hai nước từ năm 2010, đặc biệt kể từ khi Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012 và 2013 tương ứng, đã khiến nhiều chuyên gia khu vực lo ngại. Cuộc đối đầu trên biển năm 2012 tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư bị tranh chấp giữa các tàu hải giám của Trung Quốc và Nhật Bản đã trở thành một sự kiện thường xuyên và đã khuấy động chủ nghĩa dân tộc gia tăng ở cả hai nước. Những thái độ tiêu cực đối với nước kia đã dâng cao trong những người dân thường, với những quan điểm không thiện chí của Nhật Bản về Trung Quốc gia tăng từ 71% lên đến 86% và quan điểm không thiện chí của Trung Quốc về Nhật Bản đã tăng từ 70% lên 81% trong giai đoạn 2006 – 2016. Tập Cận Bình hiếm khi đàm thoại với Shinzo Abe, mặc dù họ đã gặp gỡ ba lần một cách nhanh chóng tại các cuộc họp đa phương, và các chuyến thăm cấp cao giữa hai nước đã giảm xuống mức tối thiểu. Hai nước thậm chí còn dính líu vào một dạng ngoại giao “đâm lê” ở khu vực Đông Á và xa hơn nữa – với việc Nhật Bản cung cấp hỗ trợ về mặt ngoại giao cũng như hỗ trợ an ninh cho các bên yêu sách ở Biển Đông ngoại trừ Trung Quốc, trong khi Trung Quốc đã đề xuất sáng kiến “Vành đai, Con đường” và thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) để cạnh tranh với tầm ảnh hưởng về kinh tế của Nhật Bản và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) do Nhật Bản dẫn đầu.

Australia, nước có quan hệ gần gũi về kinh tế và tốt đẹp về chính trị với Trung Quốc, cũng không tán thành các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông. Bộ trưởng Ngoại giao Australia Julie Bishop đã nhiều lần làm rõ sự phản đối của bà về việc Trung Quốc thiết lập ADIZ ở biển Hoa Đông và mối quan ngại về hoạt động cải tạo của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong Sách Trắng Quốc phòng mới nhất năm 2016, mặc dù không nhắc tên Trung Quốc một cách cụ thể, Australia đã bày tỏ lo ngại rằng “việc cải tạo đất và hoạt động xây dựng của các bên yêu sách đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực. Australia phản đối việc sử dụng các cấu trúc nhân tạo ở Biển Đông vì các mục đích quân sự. Australia cũng phản đối việc khẳng định các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và quyền hàng hải liên quan không phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS)”.

Trung Quốc cũng nhận thấy quan hệ của nước này với Mỹ đang xuống cấp. Mỹ đang ngày càng quan ngại về các hành vi quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông và biển Hoa Đông, cũng như các ý định lâu dài của nước này. Một Trung Quốc ngày càng tự tin có thể nhắm tới việc đánh bật tầm ảnh hưởng của Mỹ và thiết lập quyền bá chủ của riêng mình trong khu vực. Trong bài phát biểu trước Câu lạc bộ Kinh tế Washington, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc bấy giờ Ashton Carter đã liệt kê Trung Quốc và Nga là hai trong số 5 thách thức lớn mà Mỹ đang phải đố mặt trong bối cảnh hậu Chiến tranh Lạnh đang thay đổi nhanh chóng, và cảnh báo rằng “gần đây Nga và Trung Quốc đã trở nên thù địch hơn nhiều”, và “bất chấp tất cả các khát biệt giữa họ, Nga và Trung Quốc đang gây ra những mối đe dọa rất giống nhau”. Ngoại trưởng của Donald Trump, Rex W. Tillerson, thậm chí đã đe dọa trong buổi đầu tiên phê chuẩn chức vụ của mình vào tháng 1/2017 rằng Mỹ sẽ ngăn cản Trung Quốc tiếp cận những hòn đảo nước này đã xây dựng ở Biển Đông.

Để cân bằng các hành vi và tầm ảnh hưởng của Trung Quốc, cũng như để đảm bảo với các đồng minh và đối tác của mình ở Đông Á, Mỹ đã can dự ngày càng sâu vào các tranh chấp trên biển kể từ chiến lược xoay trục/tái cân bằng sang châu Á của mình trong năm 2011. Mỹ không chỉ mở rộng hỗ trợ ngoại giao của mình cho các bên yêu sách, mà còn cung cấp đảm bảo hay viện trợ quân sự cho các đồng minh và đối tác của mình. Chẳng hạn, sau khi Trung Quốc thiết lập vùng ADIZ ở biển Hoa Đông trong năm 2013, Mỹ đã ngay lập tức cử máy bay ném bom B-52 bay qua vùng ADIZ của Trung Quốc để thách thức các nỗ lực của Trung Quốc. Cựu Tổng thống Mỹ Obama và các quan chức cấp cao khác đã thường xuyên trấn an những người đồng cấp Nhật Bản của họ rằng quần đảo Điếu Ngư/Senkaku thuộc phạm vi hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật, điều này đã được Tổng thống Mỹ Trump và Thủ tướng Nhật Bản Abe khẳng định lại trong Tuyên bố chung tháng 2/2017. Tháng 5/2015, tại cuộc Đối thoại An ninh Shangri-La thường niên được tổ chức tại Singapore, Bộ trưởng Carter đã tuyên bố một chương trình viện trợ quân sự trị giá 425 triệu USD cho các nước Đông Nam Á trong vòng 5 năm tới. Trong Đạo luật phê chuẩn ngân sách quốc phòng cho năm tài khóa 2016, cam kết đó đã được đưa thành luật như một “Sáng kiến Biển Đông” mới theo mục 1263, cho phép một khoản viện trợ quân sự trị giá 50 triệu USD để hỗ trợ và huấn luyện cho Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Brunei, Singapore và Đài Loan, “nhằm mục đích tăng cường a ninh hàng hải và nhận thức về phạm vi hàng hải của các nước ngoài dọc theo Biển Đông”.

Bắt đầu từ năm 2015, Mỹ cũng đã kêu gọi Trung Quốc dừng việc cải tạo đất, xây dựng và quân sự hóa các đảo và bãi đá nước này chiếm đóng, và đã tiến hành Các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) để trực tiếp thách thức các tuyên bố chủ quyền và lập trường của Trung Quốc về “sự qua lại vô hại và các hoạt động quân sự” tại các vùng đặc quyền kinh tế kéo dài 200 hải lý tính bờ biển của một quốc gia. Mỹ cũng đã khuyến khích Nhật Bản, Australia và các nước khác tiến hành các hoạt động tuần tra chung và FONOP trong năm 2015. Mỹ cũng đã theo đuổi cá mà một số người có thể gọi là khía cạnh “vạch mặt chỉ tên” trong chiến lược của mình, không ngừng vạch trần các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, từ việc cho các máy bay quân sự và dân sự hạ cánh trên các hòn đảo và bãi đá đang được xây dựng cho đến việc triển khai các cơ sở dân sự và có thể là quân sự mới, điều này đã gây tổn thất danh dự rất lớn cho Trung Quốc.

Bên cạnh đó, kể từ năm 2013 khi Philippines viện đến Tòa Trọng tài, Mỹ đã có sự ủng hộ ngoại giao đối với sự tiếp cận của Philippines tại một số dịp song phương và các diễn đàn đa phương. Mỹ và Trung Quốc thậm chí còn dính vào một dạng công kích và phản công về ngoại giao trong những tháng và tuần trước phán quyết của Tòa Trọng tài vào tháng 7/2016 tại La Hay với hi vọng giành được nhiều tình cảm và sự ủng hộ trên toàn thế giới, với việc Trung Quốc tuyên bố hơn 70 quốc gia ủng hộ các lập trường của mình, còn Mỹ nghi ngờ con số đó và cũng cho thấy số người ủng hộ nó.

(còn tiếp) 

Nguồn: Wei Zongyou – China’s Maritime Trap – The Washington Quarterly Vol. 40, 2017, No. 1.

CVĐQT – số 6/2017.

Cạm bẫy trên biển dành cho Trung Quốc – Phần II


Sự thèm khát năng lượng và vấn đề an ninh

Sự phát triển nhanh chóng và sự trỗi dậy phi thường của Trung Quốc đã biến nước này thành một bên tiêu thụ năng lượng mạnh mẽ. Từ năm 2000 – 2014, tổng tiêu thục năng lượng của Trung Quốc đã nhảy vọt từ 1161 triệu TOE (hệ số quy đổi sang tấn dầu tương đương) lên đến 3034 TOE. Năm 2009, Trung Quốc lần đầu tiên vượt Mỹ để trở thành nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới. Và sau đó vào năm 2013, Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành nước nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới, sự phụ thuộc vào dầu từ nước ngoài của nước này đã đạt mốc 60% trong năm 2015. Khu vực Trung Đông và Bắc Phi cung cấp hơn 60% trong số này, trong đó hầu hết được vận chuyển bằng đường biển.

Sự phụ thuộc nặng nề của Trung Quốc vào dầu từ Trung Đông và Bắc Phi đã khiến các nhà lãnh đạo nước này phải nghiêm túc xem xét vấn đề an ninh năng lượng và an ninh các tuyến thông tin liên lạc trên biển. Đầu thế kỷ này, đã có những thảo luận liên tục về thế tiến thoái lưỡng nan ở Malacca, ám chỉ việc an ninh năng lượng của Trung Quốc đặc biệt dễ tổn thương trước sự phong tỏa hoặc gián đoạn trên biển tiềm tàng ở eo biển Malacca; hơn 80% lượng nhập khẩu dầu của Trung Quốc quá cảnh qua tuyến đường biển này.

Sự thèm khát năng lượng và các lo ngại về an ninh năng lượng của Trung Quốc cũng đã khiến việc thăm dò cũng như việc khoan dầu khí ở các “vùng biển gần”, đặc biệt là Biển Đông, trở nên hấp dẫn hơn. Trong quá khứ, nước này khá thờ ơ với việc thăm dò như vậy, chủ yếu là do công nghệ khoan thăm dò còn lạc hậu và chính sách kiềm chế trên biển của mình. Tuy nhiên, với nhu cầu năng lượng ngày càng tăng và đột phá công nghệ trong việc khoan thăm dò nước sâu, các công ty dầu khí và chính quyền địa phương của Trung Quốc ngày càng ủng hộ tiến hành khoan thăm dò ở Biển Đông và bảo vệ hơn nữa các lợi ích trên biển của mình.

Sự thất bại của chính sách “gác lại tranh chấp, cùng phát triển”

Vào những năm 1980, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã đề xuất ý tưởng “gác lại tranh chấp, cùng phát triển” trong việc giải quyết các vấn đề gai góc về các tranh chấp trên biển ở Biển Đông và biển Hoa Đông. Nguyên nhân chính đằng sau chính sách này là, xét các quan điểm xung đột gay gắt của các bên yêu sách về vấn đề chủ quyền trên biển, việc giải quyết sớm những vấn đề này vào bất cứ lúc nào là không thực tế, và tốt hơn hết là hoãn lại cho các thế hệ tương lai. Trong khi đó, tất cả các bên liên quan có thể tìm ra cách cùng nhau phát triển các nguồn lực trong khu vực tranh chấp, theo tinh thần hợp tác. Hiểu biết thực tế này đã giúp làm êm đẹp mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong khoảng một thế hệ và đã tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc.

Tuy nhiên, vào giai đoạn chuyển giao thế kỷ, cảm xúc đã tăng lên giữa các học giả và chuyên gia Trung Quốc về sự thiếu hụt, hay thậm chí là thất bại, của chính sách “gác lại và tạm hoãn” này, đặc biệt là ở Biển Đông. Hơn 30 năm đã trôi qua, và gần như không đạt được thỏa thuận cùng phát triển nào ở Biển Đông. Thay vào đó, các bên yêu sách khác đang bận thăm dò khoan và khai thác các nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt riêng cho dân mình. Trong số các bên yêu sách, Malaysia và Việt Nam là tích cực nhất trong việc phát triển các nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt thông qua việc thiết lập các dự án liên doanh với Trung Quốc, hoặc cho các công ty dầu khí nước ngoài khác ngoài Trung Quốc thuê lại. Trong khi đó, Trung Quốc, vốn tuyên bố chủ quyền với toàn bộ các đảo trên Biển Đông, đã tụt xa so với các bên khác trong việc phát triển các nguồn lực do chính sách “gác lại và tạm hoãn” cùng các công nghệ khoan thăm dò dầu khí biển sâu lạc hậu của mình.

Nhiều người Trung Quốc cũng cảm thấy rằng chính sách “gác lại và tạm hoãn” này theo một cách nào đó đã cho các bên yêu sách khác đủ thời gian để củng cố những gì họ chiếm được một cách bất hợp pháp. Từ những năm 1970, các bên yêu sách này đã xây dựng các cơ sở dân sự và quân sự để tạo ra các thực tế trên thực địa. Mặc dù Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với toàn bộ các đảo và bãi đá ở Biển Đông, nhưng trên thực tế nước này chỉ kiểm soát 8 cấu trúc địa hình (bao gồm một cấu trúc bị Đài Loan chiếm đóng) ở quần đảo Trường Sa, tất cả các cấu trúc địa hình ở quần đảo Hoàng Sa sau cuộc chiến năm 1974 với Việt Nam, và bãi cạn Scarborough sau xung đột với Philippines năm 2012 – trong khi Việt Nam chiếm 29 cấu trúc địa hình, Philippines chiếm 8, và Malaysia chiếm 6 tính đến nay. Cụ thể kể từ năm 2009, Việt Nam đã đẩy nhanh đáng kể tốc độ cải tạo đất, cải tạo hơn 60 hecta đất từ năm 2004 – 2014, theo Bộ Quốc phòng Mỹ.

Làm cho các vấn đề trở nên tồi tệ hơn, Việt Nam, Philippines và Malaysia đã bắt đầu thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về pháp lý trên Biển Đông bằng cách đưa các tuyên bố của họ lên Ủy ban Liên hợp quốc về giới hạn thềm lục địa (CLCS) vào năm 2009. Trung Quốc coi đây là một nỗ lực nghiêm túc nhằm thay đổi hiện trạng; nếu Liên hợp quốc chấp nhận những tuyên bố này, cuối cùng nó sẽ vô hiệu hóa chính sách “gác lại tranh chấp, cùng phát triển” của Trung Quốc. Năm 2010, Nhật Bản lần đầu tiên đã bắt giữ và xem xét đưa ra xét xử một thuyền trưởng người Trung Quốc khi tàu đánh cá của ông này đâm vào một tàu hải giám của Nhật Bản ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư bị tranh chấp. Và sau đó vào năm 2012, Chính phủ Nhật Bản đã “quốc hữu hóa” 3 hòn đảo thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, một hành động vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận ngầm giữa Trung Quốc và Nhật Bản làm trì hoãn vấn đề chủ quyền và không thay đổi nguyên trạng.

Một số người cho rằng các tranh chấp trên biển ngày càng căng thẳng và các hành động đơn phương của các bên khác kể từ năm 2009 đã nói lên sự kém cỏi, nếu không phải là hoàn toàn thất bại, của chính sách hàng hải hiện nay. Những tiếng nói kêu gọi một phản ứng mạnh mẽ và bảo vệ hiệu quả các lợi ích trên biển của Trung Quốc đã gia tăng. Những người chỉ trích thậm chí còn nhắc tới chính sách trì hoãn như là một tư tưởng “Ổn định là trên hết” mà nên bị loại bỏ. Thay vào đó, Trung Quốc nên “nhe nanh” và đặt việc “bảo vệ lợi ích” lên trước việc “duy trì ổn định”, chứ không phải ngược lại. Cảm thấy bị phản bội, Trung Quốc đã bắt đầu xem xét lại chính sách của mình.

Giấc mộng phục hưng dân tộc

Ngay sau khi Tập Cận Bình trở thành chủ tịch nước, năm 2013 ông đã đưa ra sáng kiến “Giấc mộng Trung Hoa” để phục hưng dân tộc. Trong số các yếu tố của “Giấc mộng Trung Hoa”, một xã hội thịnh vượng và một quốc gia hùng mạnh là quan trọng nhất. “Một xã hội thịnh vượng” có nghĩa là một công dân Trung Quốc bình thường có thể hưởng lợi và tận hưởng những thành tựu phát triển kinh tế và có một cuộc sống sung túc. “Một quốc gia hùng mạnh” nghĩa là Trung Quốc sẽ trở nên vĩ đại và mạnh mẽ, có thể bảo vệ các lợi ích của mình trên trường quốc tế và tận hưởng sự tôn trọng và phẩm giá xứng đáng với một quốc gia vĩ đại. Xét thương mại hàng hải mở rộng của nước này và tầm quan trọng của các tuyến thông tin liên lạc trên biển đối với sự lành mạnh và phúc lợi kinh tế, giấc mơ phục hưng dân tộc và nhiều người ủng hộ nó đã lập luận rằng Trung Quốc cũng nên trở thành một cường quốc hàng hải để bảo vệ các lợi ích trên biển của mình.

Trong bối cảnh này, “Giấc mộng Trung Hoa” có một yếu tố cấp bách là bảo vệ các lợi ích trên biển cũng như xây dựng một lực lượng hải quân mạnh mẽ để bảo vệ chúng. Logic cơ bản khá đơn giản: Nếu Trung Quốc không thể bảo vệ các lợi ích trên biển của mình, hoặc lãnh thổ và các quyền lịch sử của mình, làm thế nào Trung Quốc có thể hình dung ra việc trở thành một quốc gia hùng mạnh và xã hội thịnh vượng? Trung Quốc đã tuyên bố nó sẽ phát triển thành một cường quốc hàng hải trong Đại hội lần thứ 18 của mình. Nếu Trung Quốc nghiêm túc về việc trở thành một cường quốc hàng hải, bước đi hợp lý đầu tiên của nước này sẽ là bảo vệ các lợi ích trên biển của mình và ngăn chặn sự xâm phạm của các nước khác.

Ngoài ra, việc bảo vệ các lợi ích trên biển của Trung Quốc và việc thực hiện hóa “Giấc mộng Trung Hoa” đã bổ sung yếu tố chống bá quyền đối với Mỹ do sự can dự ngày càng tăng của nước này vào các tranh chấp trên biển. Chính sách xoay trục sang châu Á của Chính quyền Obama và sau đó là việc tăng cường cũng như mở rộng quan hệ quân sự với các đồng minh và đối tác an ninh châu Á của Mỹ; sự ủng hộ về ngoại giao và hỗ trợ an ninh đối với Việt Nam, Philippines và các bên yêu sách khác; các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của các tàu khu trục Mỹ trong phạm vi 12 hải lý của các đảo và bãi đá của Trung Quốc ở Biển Đông, tất cả đều được hầu hết người dân Trung Quốc coi là bằng chứng rõ ràng về sự can thiệp của Mỹ vào, và xu hướng chống lại, các tuyên bố chủ quyền trên biển của Trung Quốc. Một số người thậm chí còn coi đó như là một âm mưu của Mỹ nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc hoặc như một nỗ lực nhằm hạ nhục Trung Quốc. Họ lập luận rằng Trung Quốc nên đương đầu với sự khiêu khích và áp lực của Mỹ, và thể hiện cho các đồng minh và đối tác của nước này thấy rằng Trung Quốc sẽ không bị coi thường.

(còn tiếp) 

Nguồn: Wei Zongyou – China’s Maritime Trap – The Washington Quarterly Vol. 40, 2017, No. 1.

CVĐQT – số 6/2017.

Cạm bẫy trên biển dành cho Trung Quốc – Phần I


Wei Zongyou

Ngày 12/7/2016, phán quyết của Tòa Trọng tài ở La Hay, đáp ứng hầu hết các yêu cầu của Philippines ở Biển Đông, vô hiệu hóa “đường 9 đoạn” và các hoạt động hàng hải khác của Trung Quốc, đã giáng một đòn nặng nề lên các tuyên bố chủ quyền trên biển của Trung Quốc. Đây là thất bại đầu tiên về mặt pháp lý trên trường quốc tế đối với các nỗ lực của Trung Quốc nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển của mình, và các tác động đối với những tham vọng trên biển của Trung Quốc có thể rất lớn.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã ngày càng chú ý đến vùng biển này cũng như các quyền và lợi ích trên biển của mình. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 vào năm 2012, Trung Quốc đã chính thức đưa ra tầm nhìn về việc xây dựng sức mạnh hàng hải để nâng cao khả năng thăm dò các nguồn tài nguyên biển và phát triển kinh tế biển, bảo vệ các hệ sinh thái biển, và bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển của mình. Cùng với tầm nhìn này, Trung Quốc đang phát triển công nghệ hàng hải để thăm dò dầu mỏ và khí đốt, cùng với các nguồn tài nguyên khác ở vùng biển sâu, cũng như hiện đại hóa và tăng cường hải quân để bảo vệ các lợi ích trên biển của mình.

Trung Quốc cũng trở nên lớn tiếng hơn nhiều trong việc khẳng định các tuyên bố chủ quyền và lợi ích trên biển của mình. Sau gần 2 thập kỷ đặt ưu tiên cho việc “duy trì ổn định” lên trên việc “bảo vệ lợi ích”, kể từ năm 2012 Trung Quốc đã đảo ngược tiến trình và tập trung vào việc thứ hai. Trung Quốc không chỉ đều đặn cử các tàu đánh cá và tàu thực thi pháp luật bên trong phạm vi 12 hải lý của quần đảo Điếu Ngư/ Senkaku bị tranh chấp sau khi Chính phủ Nhật Bản “quốc hữu hóa” ba hòn đảo này vào tháng 9/2012, một hành động mà Trung Quốc coi là một sự đơn phương thay đổi hiện trạng, mà nước này còn thiết lập một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông vào tháng 11/2013, bao gồm cả quần đảo bị tranh chấp. Tháng 4/2012, Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough sau một sự đối đầu giằng co giữa tàu đánh cá của Trung Quốc và Philippines trong đầm phá và vùng biển bị tranh chấp. Tháng 5/2014, tập đoàn dầu khí quốc doanh Trung Quốc đã di chuyển giàn khoan dầu nước sâu trị giá hàng tỷ USD của mình, chiếc Hải Dương Thạch Du 981, tới vùng biển gần quần đảo Hoang Sa bị tranh chấp ở Biển Đông, dẫn đến một cuộc đối đầu kéo dài hàng tháng trời giữa các tàu đánh cá và tàu thực thi pháp luật của Trung Quốc và Việt Nam, cũng gây ra các cuộc biểu tình lan rộng và thậm chí cả bạo loạn chống lại các nhà máy và doanh nghiệp Trung Quốc ở Việt Nam. Và vào cuối năm 2013, Trung Quốc bắt đầu cải tạo đất trên quy mô lớn ở một vài bãi đá ngầm và bãi đá nổi ở Biển Đông, thu hút sự chú ý và mối quan tâm toàn cầu cụ thể là từ Mỹ, Nhật Bản, Australia và các nước ASEAN.

Đối với nhiều người Trung Quốc, dường như chính sách bảo vệ các lợi ích trên biển này không có gì sai. Xét cho cùng, Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với những hòn đảo và bãi đá ngầm này ít nhất là từ những năm 1930 khi Quốc dân đảng (KMT) đang nắm quyền ở Trung Quốc đại lục, trước khi nó bị đánh bại trong cuộc nội chiến Trung Quốc và chạy trốn sang Đài Loan vào năm 1949. Ngoại trừ 2 trận chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam về các tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa tương ứng vào năm 1974 và 1988, Trung Quốc phần lớn đã kiềm chế sử dụng vũ lực để chiếm lại những hòn đảo và bãi đá mà các bên yêu sách khác đã chiếm đóng.

Những hành động này, trong khi vô hại dưới con mắt của Trung Quốc, dường như không phải như vậy dưới góc nhìn từ bên ngoài. Như học giả Aaron L. Friedberg đã hùng hồn lập luận: “Ngay cả nếu Trung Quốc bị khiêu khích trong những trường hợp này hoặc trường hợp khác, họ không nhất thiết phải phản ứng quyết liệt như họ đã làm. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã liên tục chọn cách leo thang thay vì làm dịu các tranh chấp đang diễn ra”. Kết quả là, các hoạt động gần đây của Trung Quốc đã không chỉ làm xa cách mối quan hệ của mình với những nước Trung Quốc trực tiếp có tranh chấp trên biển, mà còn phủ bóng đen lên mối quan hệ với Mỹ và Australia, những nước không tham gia tranh chấp nhưng có lợi ích trong sự ổn định và hòa bình củ khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Điều này đặt ra câu hỏi: Nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự thay đổi tư duy trong chính sách hàng hải của Trung Quốc kể từ năm 2012, đặc biệt liên quan đến các tranh chấp trên biển, là gì? Cách tiếp cận mới này liệu có nguy cơ khiến Trung Quốc rơi vào một cái bẫy trên biển hay không, cái bẫy mà sẽ đẩy nước này vào quá trình xung đột với các nước láng giềng trên biển của mình, làm xa cách quan hệ với Mỹ, và thậm chí làm nó chệch hướng khỏi việc phát triển kinh tế trong nước cấp thiết hơn? Nếu vậy, cần phải có biện pháp nào để tránh cái bẫy này? Làm thế nào để các bên tham gia tranh chấp có thể đưa ra một giải pháp chấp nhận được sau phán quyết của Tòa Trọng tài ở La Hay?

Sự phát triển của một cường quốc lục địa phức tạp

Theo hầu hết các tiêu chí, Trung Quốc là một cường quốc đất liền điển hình. Nước này có tổng diện tích đất lên tới 9,3 triệu km2, giáp ranh với 14 nước láng giềng trên đất liền. Trung Quốc cũng có quân đội thường trực lớn với tổng số lên tới hơn 2,3 triệu binh lính, là một trong những quân đội lớn nhất thế giới, và vượt xa lực lượng hải quân chưa đến 240.000 người về cả số lượng và chất lượng. Trung Quốc cũng có truyền thống lâu đời là ưu tiên đất liền hơn biển trong tư duy chiến lược và di sản văn hóa của mình. Trong hơn 1000 năm, mối đe dọa đối với an ninh nước này gần như rõ ràng là đến từ dân du mục phương Bắc, với chỉ một giai đoạn ngắn trong thế kỷ 19 khi nó bị các cường quốc biển phương Tây và Nhật Bản tấn công từ biển.

Khác với các cường quốc không giáp biển là Đức hay Nga, những nước hầu như không có cảng nước ấm, Trung Quốc nổi bật với một đường bờ biển dài hơn 18.000 km, khiến nó giống một nước đất liền – biển kết hợp hơn là một cường quốc đất liền thuần túy. Và trong lịch sử lâu đời của mình, Trung Quốc hơn một lần từng là một cường quốc hàng hải mạnh mẽ, ít nhất là ở Đông Á, đặc biệt dưới triều Nam Tống (1127 – 1279), triều Nguyên (1271 – 1368) và triều Minh (1368 – 1644). Ngoài ra, thương mại trên biển của Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á, Nam Á, Trung Đông, và thậm chí cả châu Âu cũng cạnh tranh với Con đường tơ lụa nổi tiếng của nước này trên lục địa Á – Âu, kết nối nước này gần gũi với thế giới hàng hải kể từ thời cổ đại.

Kể từ khi bắt đầu cải cách kinh tế và mở cửa với thế giới bên ngoài vào năm 1978, Trung Quốc đã tái khám phá ra giá trị của biển. Tất cả 14 thành phố mở cửa thí điểm đầu tiên của nước này, những nơi Trung Quốc đã mở cửa như một thử nghiệm kinh tế theo định hướng thị trường, điều đặt ở các vùng ven biển để tận dụng vận chuyển và giao thông biển tương đó rẻ và thuận tiện, và Trung Quốc đã đặc biệt quan tâm đến việc nuôi dưỡng các mối quan hệ hữu nghị với các cường quốc hàng hải như Mỹ, Nhật Bản và các nước láng giềng biển của mình. Chính sách “hướng ra biển và phương Tây” này đã chứng tỏ là một thành công to lớn. Trung Quốc không chỉ kiếm được tiền, công nghệ và các kỹ năng quản lý cần thiết để điều hướng và phát triển nền kinh tế lần đầu định hướng thị trường của mình, mà còn tiếp cận được các thị trường nước ngoài khổng lồ dành cho các sản phẩm trong nước.

Kết quả là, Trung Quốc đã tận hưởng một phép màu phát triển kinh tế với mức tăng trưởng bình quân hàng năm đạt gần 10% trong vòng 30 năm qua, và trong năm 2010 đã vượt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Nước này cũng đã thành công trong việc đưa hơn 700 triệu người thoát khỏi đói nghèo và trở thành “công xưởng của thế giới”. Đáng chú ý là, các tỉnh ven biển nằm trong số những khu vực phát triển và năng động nhất của Trung Quốc, với 9 tỉnh ven biển và 2 đô thị đã tạo ra hơn một nửa tổng thu nhập bình quân (GDP) của Trung Quốc trong năm 2014, cũng là trung tâm của các ngành công nghiệp sản xuất định hướng xuất khẩu và là nam châm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Khi giá trị và tầm quan trọng của biển trong sự phát triển kinh tế của Trung Quốc gia tăng, các nhà chiến lược và các nhà hoạch định chính sách đang thảo luận ngày càng nhiều về việc biến Trung Quốc thành một cường quốc hàng hải thay vì một cường quốc đất liền thuần túy. Điều này đã dẫn tới việc chính thức tán thành xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc hàng hải tại Đại hội lần thứ 18 trong năm 2012.

(còn tiếp) 

Nguồn: Wei Zongyou – China’s Maritime Trap – The Washington Quarterly Vol. 40, 2017, No. 1.

CVĐQT – số 6/2017.