Ưu thế đang lên của thông tin – Phần IV


Hoa Kỳ cũng có thể hoàn tất những cam kết liên minh của mình bằng cách chuyển giao ưu thế thông tin chứ không cần thiết phải triển khai quân đội. Đặc biệt là cách viện trợ này có thể nới lỏng việc hợp nhất các quốc gia mới gia nhập các liên minh của Hoa Kỳ. Thật vậy, Hoa Kỳ đã nhấn mạnh sẽ cung cấp cho các quốc gia là “đối tác vì Hòa Bình” các hệ thống dựa trên cơ sở tình báo, coi đó là một bước nhằm tiến tới nhất thể hóa hàon toàn. Khác với việc quan hệ với các thành viên của liên minh, viện trợ thông tin có thể được cung cấp theo mức độ khác nhau cho từng nước cụ thể, tùy theo sự sẵn sàng của nước đó tiến tới thiết lập các mối quan hệ chặt chẽ hơn (thí dụ Cộng hòa Czech so với Tajikistan có thể được giúp đỡ tốt hơn). Những dữ liệu thu lượm từ xa (mỗi năm một thêm đáng giá) có thể thay thế công việc tuần tiễu biên giới vốn tốn kém và mạo hiểm. Được trang bị như vậy, các đồng minh có thể không cần phải xâm phạm qua bên kia biên giới mà vẫn có thể bảo vệ biên giới của mình chống lại mọi sự xâm nhập (chẳng hạn như cuộc truy quét năm 1995 của Thổ Nhĩ Kỳ đối với phiến loạn PKK người Kurd và Iraq).

Tương tự như trên, chuyển giao ưu thế thông tin có thể giúp phát triển an ninh khu vực. Các quốc gia cũng chỉ vì nghi kị các nước láng giềng, nên thường chuyển sang tích trữ quân bị, rồi chuyển thành xúc tiến chạy đua vũ trang. Nay nếu mọi nước đều có thể thấy rõ ý đồ của nước láng giềng muốn làm gì (nhờ có “dòng bits” do Hoa Kỳ cung cấp) và nếu mỗi nước cũng hiểu rằng việc tiếp cận với thông tin của Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc vào việc quốc gia đó từ bỏ vũ khí tiến công và giữ vững một tư thế tốt, thì mọi việc khích lệ tìm kiếm vũ khí cũng sẽ được giảm đi. Thí dụ tại châu Á, nơi có các nước tuy về mặt chính thức thì liên kết với Hoa Kỳ (Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia) nhưng lại vẫn nhìn nhau với con mắt nghi kị, thì việc viện trợ được tiến hành như trên có thể làm dịu đi các mối lo sợ cũ, đồng thời không gây thêm những mối lo âu mới.

Gìn giữ Hòa Bình có thể là một ứng dụng khác nữa. Hiệp nghị Sinai giữa Israel và Ai Cập được tăng cường bởi các hệ thống cảm ứng của Hoa Kỳ, cho phép mỗi bên theo dõi những cuộc chuyển quân có thể là dấu hiệu về một cuộc tiến công của phía bên kia. Các hệ thống thông tin đến một lúc nào đó trong tương lai sẽ được người ta triển khai trên khu vực cao nguyên Golan, có thể cung cấp các thông tin không những chỉ rõ các cuộc tấn công sắp xảy ra, mà còn cả thông tin phát hiện mục tiên – khiến bất kỳ người xâm phạm khu phi quân sự đều là nguy hiểm. Hai thí dụ về an ninh khu vực và gìn giữ hòa bình trên đây đủ minh họa việc Hoa Kỳ không cần phải cung cấp một “con người cầm một khẩu súng đứng trên mặt đất” mà vẫn có thể có tác động ảnh hưởng đến các vùng xa xôi, vì lợi ích ổn định và hòa bình.

Để phát triển và duy trì một năng lực như thế cần có một số đổi mới về trang bị lực lượng. Trong danh mục khí tài của Hoa Kỳ vốn sẵn có các hệ thống cảm ứng có năng lực nhất (như tuần dương hạm Aegis và máy bay AWACS và JSTARS) như mọi người đều thấy rõ. Năng lực đó cần được phân bổ cho các mục tiêu, làm sao có thêm nhiều đối tượng được cung cấp, bao gồm những đối tượng ít có giá trị. Cần thiết nữa là những kỹ thuật tích hợp “dòng bits” với các hệ thống tác chiến đạn dược và chỉ huy xạ kích của các nước khác và với hệ thống cảm ứng của bản thân các nước đó. Bởi lẽ các đồn gminh ngày mai có thể bao gồm cả những nước thoạt đầu còn có ý nghi ngại (như Kuwait năm 1990) hoặc những nước vốn ở bên ngoài trách nhiệm phòng vệ của Hoa Kỳ (như Hàn Quốc năm 1950), việc tích hợp cần thực hiện sao cho đạt thời gian gần thực.

Nếu chuyển giao ưu thế thông tin trở thành phương thức có ích giúp đỡ được các nước khác, thì nó có thể tác động tương đối trực tiếp đến địa chiến lược. Thí dụ, cho một “dòng bits” phải đi qua không gian, nên việc nhận “dòng bits” ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng phải chi phí tốn kém như nhau. Vì vậy trên thực tế, người ta không cần thiết phải đến tận nước Mỹ mới nhận được viện trợ.

Tuy nói như thế nhưng nhân tố địa lý vẫn là quan trọng đối với việc thu thập thông tin. Không gian tác chiến càng gần đất bạn, hoặc ít ra gần lãnh hải quốc tế, sẽ càng thuận tiện cho việc sử dụng khí cụ cảm ứng không vận hoặc đặt ở biển xanh. Xây dựng và thử nghiệm các phần mềm mô phỏng nếu không có kiến thức dựa trên quan sát trực tiếp chiến trường, sẽ trở thành một công việc khó khăn. Cũng như người ta từng ghi nhận rằng một biện pháp thuần túy chỉ dựa vào “dòng bits” thường là không thực tế. Công việc chuyển giao khoản mục cùng với việc cử nhân viên liên lạc – đó đúng là những việc có tính liên kết cụ thể. Do vậy khái niệm cho rằng viện trợ có thể được thực hiện, bất chấp địa lý, là lời nói thái quá và mỗi năm qua đi người ta càng ít nói những lời lẽ như thế.

Điều khiển học không gian xúc tiến ổn định như thế nào

Trao ưu thế thông tin cho đồng minh khiến các cường quốc lớn có thể tác động ảnh hưởng đến các sự kiện mà không mấy quan tâm đến địa lý. Và trên thực tế, kể từ năm 1945, Hoa Kỳ đã tỏ rõ năng lực sử dụng lực lượng vũ trang tại những nơi xa xôi nhất và thực hiện việc chỉ huy lực lượng với thời gian thực. Nhưng đạt tới việc chỉ đạo lực lượng của các quốc gia khác với thời gian thực – đó mới thật sự là một chiến tích. Nhưng bản thân việc đó vẫn không làm thay đổi tính toán cơ bản của một quốc gia dân tộc về an ninh quân sự.

Cái có khả năng làm thay đổi những tính toán này – đó chính là năng lực điều khiển học không gian tạo điều kiện để có thêm nhiều vai mới tham dự trò chơi an ninh, bao gồm cả những quốc gia dân tộc kém sung túc cũng như các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xuyên quốc gia, thậm chí cả các cá nhân hữu quan.

Cơ chế cơ bản của nó rất đơn giản: chỉ riêng các quốc gia dân tộc mới có quyền hợp pháp về sử dụng lực lượng vũ trang và chỉ những quốc gia giàu có mới đủ khả năng chi phí cho các hệ thống phức tạp phục vụ việc sử dụng lực lượng. Những thông tin quan trọng nhất – cơ sở của mọi tác chiến quân sự tương lai được toàn cầu hóa một cách nhanh chóng. Mọi việc trở nên minh bạch rõ ràng khiến tiến công là công việc khó khăn hơn so với việc phòng ngự và cũng khiến thách thức đối với hiện trạng là khó khăn hơn so với duy trì nó. Như vậy cũng có nghĩa là thông tin toàn cầu hóa đã bắt đầu chi phối việc sử dụng thuần túy lực lượng quân sự.

Dễ hiểu nguyên nhân vì sao lại như thế, chúng ta hãy xem xét “Mạng thế giới” (World Wide Web), sự vụ Rodney King, cuộc tiến công của Croatia vào Krajina và tàu vũ trụ Clementine là những báo hiệu về các nhân tố tác động ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu trong thế kỷ XXI.

a/ Mạng Web giờ đây đã là yếu tố quen thuộc trong đời sống văn hóa đại chúng Mỹ, nó trở thành một khí cụ để bất kỳ ai cũng có thể dùng nó nhắn tin vào vũ trụ. Người ta không cần biết phải chăng nó có thể trở thành thư viện lớn nhất, hoặc là tấm biển quảng cáo lớn nhất của thế giới về lĩnh vực thông tin, nhưng rõ ràng ngày càng có thêm nhiều người nhận thức rằng người ta có thể dễ dàng có được điện tín toàn cầu, đi đôi với sự xuất hiện phần mềm có khả năng dạo quanh khắp nơi để thu lượm những “sợi nhung – điện toán” đủ để may nên một bộ đồ thời trang. Trường hợp một sự thật bất kỳ, nếu có thể trình bày được, thì sẽ có thể đưa được vào mạng. Và một khi sự thật đã có mặt mà bất kỳ ai thấy hứng thú và chăm chú theo dõi thì rốt cuộc cũng đều có thể tìm thấy được.

b/ Sự vụ Rodney King chứng tỏ rõ là người ta có thể dễ dàng biến đổi đời sống đường phố trở thành một khu hành chính, ở đó khắp mọi nơi đều có mặt sự giám sát tư nhân. Trong một thành phố lớn với số dân hàng triệu của châu Á ngày mai phải chăng rồi cũng có cơ may có một sự giám sát tương tự như thế? Sự kết hợp giữa giao thông trên đường phố tấp nập với chi phí gia tăng của mọi người mua các mặt hàng tiêu phí như máy quay camera video và các hệ thống điện thoại số, chứng tỏ người ta chỉ còn trải qua một vài bước nhảy cóc nữa thôi là có thể tiến tới bước tiến vọt từ sự kiện đến hình ảnh, “dòng bits” và điện tín toàn cầu. Đương nhiên hầu hết những gì người ta thu lượn được có thể còn vụt vặt. Nhưng sau khi có đủ số lượng, chọn mẫu một cách rộng rãi, sàng lọc kỹ lưỡng, tổng hợp một cách thông minh, sẽ đủ bảo đảm rằng không một điều có ý nghĩa nào lại không được đưa vào quan sát.

Những gì con người “tài tử” bỏ qua, thì các nhà báo chuyên nghiệp sẽ nắm bắt được. Những ỹ thuật như vệ tinh truyền phát trực tiếp (đi đôi với nén ép mã số để nén tín hiệu nhiều gấp bốn đến mười lần trên mỗi kênh), cộng với cạnh tranh toàn cầu làm sao tranh thủ được nhiều hơn nữa các nhà báo đi tới nhiều vũ đài khác nhau, đều nhằm bảo đảm phổ cập thông tin rộng khắp hơn nữa. Tại một hội nghị mùa hè năm 1995 do Hội đồng chiến lược quốc gia tài trợ nhóm họp ở ngoại ô Chicago, người ta đã rõ được rằng các nhà quân sự Hoa Kỳ thừa nhận sự có mặt phổ biến của báo chí trong các cuộc xung đột ngày mai. Và người ta cũng kết luận không thể có cách gì che mắt báo chí, không cho họ biết các công việc được tiến hành.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Advertisements

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần IV


Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thực chất của cảnh báo chiến lược mà NATO nhận được về cuộc xâm lược hay gây hấn của Nga ở quy mô nhỏ hơn cũng là một vấn đề gây tranh cãi. Các giả định khác mà nghiên cứu của RAND đưa ra cũng gây tranh cãi – chẳng hạn như quy mô của lực lượng xâm lược của Nga, bản chất chính xác của chiến dịch của Nga và cách nước này tổ chức cuộc tấn công, và liệu Belarus có cố gắng duy trì lập trường trung lập hay không.

Trong suốt Chiến tranh Lạnh, có một nhất trí chung rằng những lợi thế về chất lượng của NATO trong các khả năng thông thường đã giúp bù lại cho lợi thế về số lượng lớn hơn của Hiệp ước Vácsava. Hiện nay, cân bằng quân sự NATO – Nga dọc theo đường biên giới chung của họ thể hiện một bức tranh phức tạp hơn khi các yếu tố định tính được cân nhắc, một lý do khiến các đánh giá của phương Tây về mối đe dọa quân sự của Nga đối với sườn Đông biến động và có thể thay đổi đáng kể. Chẳng hạn như, cách đây không lâu, nhiều chuyên gia đánh giá NATO có lợi thế quyết định trong trường hợp xảy ra đối đầu quân sự. Tuy nhiên, theo sự đồng thuận hiện nay, một lực lượng xâm lược của Nga có thể nhanh chóng áp đảo các tuyến phòng thủ của NATO, phần lớn là vì Nga đã thu hẹp khoảng cách về chất lượng với NATO trong các khả năng thông thường. Những người ủng hộ quan điểm này đã nhấn mạnh các diễn tiến sau:

+ Kể từ năm 2008, khi Nga phát động một chương trình cải cách và hiện đại hóa quân sự đầy tham vọng và đầy đủ nguồn lực, các khả năng phòng không của Nga đã cải thiện đáng kể. Đặc biệt đáng lo lắng là việc nâng cấp các khả năng A2/AD ở Kaliningrad với việc triển khai hệ thống phòng không S-400 mới; dàn phóng tên lửa phòng vệ bờ biển đặt trên đất liền; và các tên lửa hành trình có khả năng hạt nhân đặt trên tàu; gây ra một thách thức nghiêm trọng cho các tàu và máy bay của NATO trên vùng lãnh thổ của chính họ và trên biển Baltic.

+ Nhờ có các cơ cấu mệnh lệnh, nhân sự, vũ khí và các cuộc tập trận đượ cải thiện, các lực lượng Nga được tổ chức hiệu quả hơn, được huấn luyện và trang bị tốt hơn, và trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn so với thời gian chiến tranh với Gruzia. Điều đặc biệt quan trọng là, Nga đã tăng cường số lượng các cuộc tập trận thường xuyên và chớp nhoáng có sự tham gia của tất cả các lực lượng vũ trang, các quân khu, và các hoạt động liên ngành và liên quân thường xuyên Các cuộc tập trận này đã giúp quân đội Nga tiến bộ trong việc khắc phục các thiếu sót trong các sắp xếp chỉ huy và kiểm soát mới và thống, cùng với việc huy động và tăng cường khả năng trên khắp các quân khu của Nga.

+ Quân khu phía Tây của Nga có một số đơn vị chiến đấu trên bộ hạng nặng được chỉ định mà cực kỳ cơ động và luôn trong trạng thái sẵn sàng cao dưới sự chỉ huy của các cơ quan đầu não cấp quân đoàn. Có nguồn tin cho biết Nga đã cải thiện khả năng ra quyết định và tiếp viện nhanh, và khả năng cho các hoạt động tấn công quy mô lớn.

+ Nga có lợi thế là các tuyến thông tin liên lạc nội bộ và một mạng lưới các tuyến đường sắt mở rộng hướng đến Nga trên khắp khu vực Baltic. Cả ba quốc gia Baltic đều bị kẹp giữa Kaliningrad và nước Nga lục địa – và một số cảng và sân bay quan trọng đối với các hoạt động phòng thủ của NATO trong khu vực Baltic đều nằm trong phạm vi 30 dặm của biên giới Nga.

Tuy nhiên, trong việc đánh giá những diễn tiến này, quan trọng là phải hiểu rằng các quan chức Nga thường xây dựng hình ảnh công khai tích cực về các lực lượng vũ trang của mình vì những lý do chính trị trong nước các tuyên bố của Nga về vị thế nước lớn. Tháng 6/2016, một cuộc thanh trừng các quan chức cấp cao đã được tiến hành trong bộ chỉ huy Hạm đội Baltic vì đã bóp méo mức độ sẵn sàng trong các cuộc thanh tra chớp nhoáng. Các báo cáo khác cũng đã cho thấy các vấn đề mang tính hệ thống khi quân đội báo cáo về các cuộc thanh tra đã phóng đại sự sẵn sàng và các chỉ số biểu hiện khác. Ngoài ra còn có các dấu hiệu cho thấy các báo cáo về việc sản xuất vũ khí đã phóng đại mức độ các trang thiết bị mới và cải tiến được nhập kho thay vì các thiết bị nâng cấp và tân trang.

Những nỗ lực này nhằm che đậy sự yếu kém trong quân đội Nga, cùng với các yếu tố hoạt động và cơ cấu khác gây tác động xấu tới hiệu quả chiến đấu của các lực lượng Nga, đã làm dấy lên nghi vấn đối với một số đánh giá mang tính báo động hơn về các khả năng thông thường của Nga. Các nhà phân tích đỡ bi quan hơn về thế cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga đã lập luận như sau:

+ Từ năm 1991 đến 2008, các lực lượng vũ trang Nga đã bị suy giảm nghiêm trọng tinh thần sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và trang thiết bị. Cuối những năm 1980, ước tính Nga đã dành 15% GDP cho quốc phòng và ngành công nghiệp quốc phòng của Nga đã tuyển dụng hơn 6 triệu người. Năm 1997, chi tiêu quốc phòng Nga chỉ chiếm hơn 4% của con số GDP nhỏ hơn nhiều và và tỷ lệ việc làm trong ngành công nghiệp quốc phòng đã giảm khoảng 50%. Chương trình cải cách và hiện đại hóa được phát động trong năm 2008 do đó đã bắt đầu từ một nền tảng vô cùng thấp. Những tiến bộ mà lực lượng vũ trang Nga đạt được trong vòng 8 năm qua cần phải được đánh giá trong bối cảnh này;

+ Những hoạt động quân sự Nga đã tham gia trong thập kỷ vừa qua không phải là một bài kiểm tra nghiêm túc về hiệu quả chiến đấu, xét bản chất của lực lượng đối kháng, địa lý, và môi trường tương đối ôn hòa trong đó các lực lượng của Nga đang hoạt động; các điều kiện chiến đấu họ sẽ phải đương đầu khi chống lại các lực lượng NATO trên mặt trận phía Đông cũng khác biệt đáng kể.  Tại Syria, các đơn vị của Nga đã cho thấy sự tổ chức, phối hợp, chỉ huy và điều khiển tốt hơn so với các đơn vị đã tham chiến với Gruzia, nhưng vẫn thiếu các loại đạn dược có độ chính xác cao và các máy bay không người lái liên tục. Hơn nữa, những vấn đề đang tiếp diễn trong việc huấn luyện và tinh thần của các lực lượng trên bộ của Nga, mà sẽ làm giảm hiệu quả chiến đấu, làm dấy lên những nghi ngờ nghiêm túc về khả năng của họ trong việc chiến đấu với những lực lượng mạnh hơn nhiều đối thủ từng gặp ở Gruzia, Ukraine và Syria;

+ Gần đây hơn, vào năm 2014, có tin cho biết Bộ tổng tham mưu Nga buộc phải tập hợp gấp một tiểu đoàn xe tăng từ các đơn vị đóng quân gần Mông Cổ để tiếp viện cho các lực lượng ly khai ở miền Đông Ukraine do thiếu nhân sự được đào tạo tốt gần khu vực hoạt động;

+ Ngoại trừ các hệ thống pháo tầm xa và hệ thống vũ khí khai hỏa trực tiếp khác, các lực lượng vũ trang Nga vẫn thua các lực lượng Mỹ và NATO về vũ khí công nghệ cao mà phần lớn các chuyên gia quân sự Nga đều tin rằng đó là trọng tâm của chiến tranh hiện đại và sẽ quyết định kết quả của một cuộc chiến. Những vũ khí này bao gồm C4ISR (chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, điện toán, tình báo, giám sát, do thám) hiện đại bậc nhất và khả năng tác chiến điện tử, các vũ khí tấn công thông thường chính xác cao, và máy bay không người lái – những thiếu hụt mà Tổng tham mưu trưởng của Nga Valery Gerasimov đã thừa nhận. Hầu hết trang thiết bị do các lực lượng trên bộ và trên không của Nga vận hành đều là phiên bản cập nhật của các mô hình thế hệ cũ của Xô viết.

+ Chương trình cải cách quân sự của Nga không thống nhất, thiếu hoàn thiện và không thể khắc phục một số thiếu sót nghiêm trọng. Những thiếu sót này bao gồm tính bền vững và tính cơ động chiến lược bị hạn chế do thiếu công tác hậu cần, hỗ trợ hậu phương, và các phương tiện vận tải; các đơn vị thường xuyên thiếu quân số và huấn luyện sơ sài, tiếp tục phụ thuộc vào số lính nhập ngũ ngắn hạn không đồng đều và một nhóm hạn chế gồm nhân viên hợp đồng và hạ sĩ quan quân đội; một ngành công nghiệp quốc phòng tiếp tục sản xuất tràn lan trang thiết bị chất lượng kém do tham nhũng, quản lý kém, công nghệ lạc hậu, mất khả năng tiếp cận các ngành công nghiệp quốc phòng chuyên biệt ở Ukraine, và các biện pháp trừng phạt của phương Tây làm suy yếu khả năng của Nga trong việc nhập khẩu các công nghệ kép và áp dụng chúng vào các hệ thống quân sự.

(còn tiếp)

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Việt Nam tận dụng xung đột Mỹ – Trung để tái cân bằng quan hệ kinh tế và an ninh


Cả châu Á đều chung tâm trạng “thấp thỏm” khi Trung Quốc và Mỹ chưa chắc liệu sau thời hạn “ngừng chiến” 90 ngày có tháo gỡ được bế tắc liên quan đến cuộc xung đột thương mại hay không. Trong khi đó, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc đang làm thay đổi mối quan hệ của Việt Nam với nước láng giềng phương Bắc và tạo điều kiện để Hà Nội đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế và an ninh.

Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc để thúc đẩy nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng vì đây là đối tác thương mại lớn nhất. Tuy nhiên, có dấu hiệu cho thấy Hà Nội đang tái cân bằng mối quan hệ này.

Người dân đã phản ứng trước dự luật thành lập 3 đặc khu, dẫn đến cuộc biểu tình rầm rộ hồi tháng 6 để phản đối kế hoạch được xem là tạo điều kiện cho Trung Quốc hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam. Quốc hội Việt Nam đã hoản bỏ phiếu vào tháng 10/2018 và lặng lẽ trì hoãn lần nữa việt xem xét dự luật này cho đến tháng 5/2019. Động thái này được coi là dấu hiệu cho thấy Việt Nam cảnh giác hơn với ảnh hưởng của Trung Quốc và đang lợi dụng sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc để tái cân bằng mối quan hệ.

Ông Nguyễn Ngọc Trường, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển quốc tế (CSSD) tại Hà Nội cho rằng về mặt chính trị, việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc rất tốt cho Việt Nam: “Quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ nếu tốt đẹp thì không hẳn là tốt cho Việt Nam, mà xấu đi cũng không phải là điều tệ với Việt Nam. Với những quốc gia nhỏ như Việt Nam, quan hệ tốt đẹp giữa hai cường quốc lại có khía cạnh nguy hiểm hơn. Dưới thời Obama, khi Mỹ và Trung Quốc có quan hệ tốt đẹp, Trung Quốc đã cố gắng làm những việc rất có hại liên quan đến các đảo nhân tạo trên Biển Đông”.

Có ý kiến cho rằng lời lẽ phản đối của Hà Nội đối với Bắc Kinh liên quan đến những tranh chấp trên biển cũng quyết liệt hơn khi Việt Nam có quan hệ với một nước Mỹ quyết đoán hơn.

Chiến lược về thương mại

Trong thương mại, Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội bùng phát cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung để trở thành điểm đến hàng đầu cho các nhà sản xuất muốn tránh đòn thuế quan.

Ông John Rockkeep, giám đốc Phòng Thương mại Mỹ chi nhánh TPHCM, cho biết ông đã chứng kiến sự gia tăng lớn về số lượng các công ty quan tâm đến việc chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc đến Việt Nam. Từ tháng 9/2018, cứ mỗi tuần, có 4 công ty tiếp cận chi nhánh của ông để được tư vấn về việc chuyển đến Việt Nam – gấp 4 lần so với các tháng trước.

Zhang Zhang Diansheng, tổng giám đốc Trung tâm dịch vụ kinh doanh Hàng Sinh, cho biết hiện tượng chuyển dịch sản xuất bắt đầu vào cuối tháng 8/2018, nhưng sự gia tăng cực kỳ rõ ràng. Trong 3 tháng, Zhang nhận được câu hỏi từ hơn 100 công ty, gấp 2 đến 3 lần số vụ so với cùng thời điểm năm ngoái. Ông tin rằng đây mới chỉ là sự khởi đầu, vì thỏa thuận đình chiến giữa Trung Quốc và Mỹ chỉ là tạm thời và xung đột thương mại là không thể ngăn chặn được.

Cuộc chiến thương mại cũng nêu bật tình trạng phụ thuộc kinh tế mang tính lịch sử của Việt Nam vào Trung Quốc và làm tăng rủi ro cho Việt Nam. Lý do là càng nhiều công ty chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam, thì càng nhiều khả năng Washington sẽ từ chối các sản phẩm của Việt Nam.

Vì vậy, cuộc chiến thương mại càng củng cố quyết tâm của Việt Nam đa dạng hóa các rủi ro và thúc đẩy phát triển dựa trên nỗ lực tích cực theo đuổi các hiệp định thương mại với nhiều đối tác.

Ông Max Maxfield Brown, người đứng đầu đơn vị tình báo kinh doanh Dezan Shira Muff phụ trách khu vực ASEAN, cho rằng không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam đã cố gắng phát triển mối quan hệ với các đối tác đầu tư lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan. Từ góc độ đầu tư, Việt Nam đang lấy những đối tác này làm đối trọng với Trung Quốc mà không phải hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam.

Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng ráo riết theo đuổi các hiệp định thương mại lớn cũng như tăng số lượng đối tác. Tháng này, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định thương mại đối tác toàn diện và tiến bộ (CPTPP – không có Trung Quốc và Mỹ) và trong năm nay cũng đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU.

Brown nói: “Đây không phải là cơ hội để Việt Nam trở thành một thế lực thống trị khu vực, vì vẫn còn Trung Quốc ở đây, nhưng Việt Nam có thể chơi bài của mình để trở thành nền kinh tế thực sự phát triển và thành công”.

Quan hệ đối ngoại

Hà Nội đã cố gắng áp dụng chính sách đa dạng hóa-đa phương hóa trong quan hệ ngoại giao. Sách lược này cũng giúp Việt Nam chống lại Trung Quốc.

Zhang Jie, nhà nghiên cứu về Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói: “Thiếu lòng tin chính trị với Bắc Kinh, trong khi an ninh không đủ mạnh, Việt Nam đã nỗ lực tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước khác để lấy làm đối trọng với Trung Quốc”.

Ở Biển Đông, Việt Nam đã thúc đẩy mạnh mẽ một giải pháp đa phương thông qua bộ quy tắc ứng xử trong ASEAN và đã tìm thấy sự ủng hộ từ chính quyền Trump quyết đoán hơn.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã gặp nhau tại Thượng Hải vào tháng 11, cam kết tăng cường quan hệ song phương, nhưng điều đó không ngăn được nhà lãnh đạo Việt Nam nêu ra những vấn đề nhạy cảm như Biển Đông.

Chỉ vài ngày sau đó, Bắc Kinh đã bị cả Washington và Hà Nội đả kích vì những động thái trên quần đảo Trường Sa: Việt Nam yêu cầu Trung Quốc ngừng vận hành các trạm thời tiết mới trên các đảo nhân tạo, nói rằng hành động của Bắc Kinh đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này; Washington lặp lại những lời chỉ trích của Việt Nam trong một động thái chưa từng có, yêu cầu Trung Quốc gỡ bỏ các cơ sở tên lửa khỏi Trường Sa, dù tại Washington vừa diễn ra cuộc họp cấp cao Mỹ – Trung về vấn đề an ninh.

Việt Nam và một Washington ngày càng quyết đoán đang tìm kiếm nhiều hiệp lực hơn trong lĩnh vực an ninh.

Tại hội nghị cấp cao ASEAN ở Singapore vào giữa tháng 11/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gặp Phó tổng thống Mỹ Mike Pence và cảm ơn Mỹ vì ủng hộ quan điểm của ASEAN về vấn đề Biển Đông. Về phía mình, ông Pence cam kết bảo vệ quyền tự do hàng hải trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Theo ông Dereck Grossman, nhà phân tích quốc phòng cao cấp của RAND Corporation, Hà Nội đã tăng cường quan hệ quốc phòng với nhiều cường quốc – bao gồm và đáng kể nhất là với Mỹ – để làm phức tạp mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông trong tương lai.

Collin Koh, chuyên gia nghiên cứu tại Chương trình An ninh Hàng Hải thuộc Đại học Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, bình luận Việt Nam là một trong những tiếng nói lớn nhất ở châu Á trong việc chống lại Bắc Kinh trên biển: “Việt Nam liên tục lên tiếng bất cứ khi nào có vấn đề gì xảy ra ở Biển Đông. Việt Nam đã phản ứng, trong khi các bên liên quan khác chỉ im lặng, và vì thế, Trung Quốc sẽ không muốn làm cho to chuyện thêm nữa”.

Song song với chiến lược đối ngoại đa dạng hóa – đa phương hóa, Việt Nam vẫn tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của mình như chính sách “ba không”: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.

Ngay cả không có Mỹ, Việt Nam cũng vẫn tiếp tục đa dạng hóa các đối tác an ninh – điều này giúp Việt Nam đối phó với những bất đồng trong quan hệ với Trung Quốc.

Trong chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind đế Việt Nam tháng trước, lãnh đạo hai nước đã nhất trí thúc đẩy hợp tác thương mại và tăng cường hợp tác về dầu khí và quốc phòng. Tổng thống Ấn Độ cũng tuyên bố hai nước có tầm nhìn chung về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với cam kết tự do hàng hải và thương mại trên biển.

Cái giá cho Việt Nam

Năm ngoái, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề nghị Việt Nam tăng mua vũ khí để giảm thặng dư thương mại lớn với Mỹ, nhưng chưa có thỏa thuận nào được công bố.

Ông Koh Koh nói: “Chính phủ Việt Nam không thể hiện là quá thân thiết với Mỹ. Ông Trump muốn bán vũ khí, nhưng vấn đề là Việt Nam không có khả năng mua được. Thay vào đó, Việt Nam có thể sẽ tập trung vào các giao dịch mua hàng ở “cấp độ thấp” như các thiết bị điện tử, thay vì các mặt hàng rất đắt đỏ. Việt Nam không muốn quá “chịu ơn” Mỹ, mà hướng đến mục tiêu duy trì một cơ sở đối tác cung cấp vũ khí đa dạng, từ Hàn Quốc đến Ấn Độ và chủ yếu là từ nguồn vũ khí truyền thống là Nga”.

Theo Reuters, Việt Nam đã mua hơn 1 tỷ USD vũ khí Nga vào tháng 9/2018 và cũng đã mua tầu ngầm tấn công, tàu chiến và máy bay chiến đấu phản lực từ Nga.

Zhang Jie thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung, việc tái cân bằng để thoát khỏi Trung Quốc sẽ xảy ra, nhưng các nước nhỏ như Việt Nam lo sợ mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát: “Đối với Việt Nam, sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ thực sự có lợi ở một mức độ nào đó và Hà Nội có thể tận dụng điều đó để chống lại Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không dễ dàng thay đổi mối quan hệ. Trung Quốc sẽ không nhượng bộ Việt Nam về vấn đề Biển Đông chỉ vì sự canh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Dù căng thẳng, Việt Nam và Trung Quốc vẫn dựa vào sự trao đổi giữa hai đảng Cộng sản ở hai nước, cũng như các hình thức hợp tác có giới hạn khác”.

Nguồn: The South China Morning Post – 11/12/2018

TKNB – 13/12/2018

Ưu thế đang lên của thông tin – Phần III


Một đối thủ tiềm tàng làm thế nào có thể chống lại một hệ thống các hệ thống như thế? Hiển nhiên nó cần phải kiềm chân các lực lượng can thiệp ở cách xa chiến trường, xa chừng nào tốt chừng nấy. Sử dụng vũ khí giết người hàng loạt cũng có thể là một biện pháp, và cách sử dụng tốt nhất là không nhằm đe dọa quân can thiệp mà nhằm vào các quốc gia chủ nhà có thể sẽ chứa chấp quân can thiệp. Nhưng dù sao đi nữa, ở vào kỷ nguyên phổ cập kỹ thuật thông tin và phát triển mạnh mẽ các thị trường vũ khí, thì một đối tượng cạnh tranh tuy không có những vũ khí như thế (cũng như mối nguy hiểm do các loại vũ khí đó gây nên) vẫn có khả năng kiềm chế không cho Hòa Kỳ tiếp cận. Bởi vì người ta có thể tổ hợp một hệ thống các hệ thống với giá thành tương đối thấp và không tốn mấy công sức bằng cách sử dụng kỹ thuật của nước (hoặc các bên) thứ ba về ảnh vệ tinh, khí cụ hàng không không người lái, máy ảnh số, hệ thống liên lạc tế bào và kỹ thuật ảnh địa   hình chi tiết trên CD-ROM. Dựa vào những phương tiện đó, các nước chưa phải là giàu có vẫn có thể phát hiện, trông thấy được tài sản của Mỹ và do đó uy hiếp số tài sản đó ở ngay bên trong hoặc ở gần các chiến trường xung đột.

Buộc Hoa Kỳ phải hoạt động ở ngoài xa không đến nỗi làm cho tài sản của đối phương khó bị phát hiện, song nó tăng thêm tầm xa cần thiết và do vậy tăng giá chi phí đánh phá những tài sản đó – vấn đề chính là ở đó. Chống lại một kẻ địch đã phân bố thành công lực lượng quân sự của nó trong nhiều đơn vị, thì một đòn đánh từ cự ly xa là tốn kém, buộc phải tốn phí những tên lửa hành trình trị giá hàng triệu USD để tiến công một quân đội bao gồm những “kỹ thuật” quân sự (những xe tải nhẹ với vũ khí tự động). Có như thế mới đủ làm kiệt quệ một cuộc can thiệp.

Như vậy Colin đúng hay sai khi ông nói: yếu tố quyết định cuối cùng trong chiến tranh là “con người cầm súng” trên chiến trường? Câu trả lời là đúng và cũng không đúng. Đối với Hoa Kỳ, người ta có thể nói rằng trong bối cảnh thường quy của tương lai, Hoa Kỳ có thể giải giáp vũ khí hạng nặng của đối phương. Nhờ vậy, các đồng minh sở tại của Hoa Kỳ lúc ấy vẫn tiếp tục duy trì được lực lượng hạng nặng của mình, dựa vào đó sẽ có thể chi phối chiến trường, mặc dù lúc đầu họ ở vào thế yếu. Còn trong trường hợp thay vào một sự lựa chọn khác, cả hai đều không có lực lượng hạng nặng, thì vẫn cái kiến trúc đã tạo nên “dòng bits” thắp sáng chiến trường, lại được sử dụng để giúp các đồng minh. Thực hiện được như vậy, đối với Hoa Kỳ, có nghĩa là vai trò của vũ lực và địa lý càng thêm được biến đổi.

Trang bị thông tin cho đồng minh

Trong thế kỷ này Hoa Kỳ đã năm lần tiến hành các cuộc chiến tranh lớn ở ngoài nước, nhằm bảo vệ một hoặc nhiều nước đồng minh: Pháp và Anh trong chiến tranh thế giới I, Anh trong chiến tranh thế giới II và sau đó là Triều Tiên, Nam Việt Nam và Saudi Arabia. Một cách dàn xếp như thế trong điều kiện vắng mặt một đối thủ cạnh tranh tương xứng, thậm chí vẫn là một đặc điểm trong 20 năm sắp đến. Và mục đích chính hàng đầu của cuộc chiến tranh can thiệp bằng quân sự của Hoa Kỳ, sẽ nhằm che chở, bảo vệ các quốc gia khác. Khi cuộc chiến đấu kết thúc thì an ninh tương đối của các đồng minh của Hoa Kỳ sẽ là điều kiện quyết định các mục tiêu trước mắt của cuộc can thiệp.

Thông tin có thể giúp cho một cuộc can thiệp như thế được thực hiện một cách dễ dàng hơn và làm giảm đi các trở ngại về mặt địa lý vốn tồn tại rất lớn đối với những hoạt động viện trợ thông thường. Nếu cuộc chiến đấu diễn biến trở thành cuộc “trốn-và-tìm” và cùng lúc các hệ thống săn tìm có thể tách rời các lực lượng mà chúng phục vụ, thì Hoa Kỳ có thể thực hiện công việc viện trợ không những đầy đủ như bây giờ họ vẫn đang làm về trợ giúp vũ khí và nhân viên thường quy, mà sự giúp đỡ sẽ được thực hiện thường xuyên hơn, thời gian kéo dài hơn và bằng viện trợ gián tiếp chứ không phải là trực tiếp. Bằng cách cung cấp ưu thế thông tin cho đồng minh, Hoa Kỳ có thể không bộc lộ mình mà vẫn nhân gấp bội sức mạnh của đồng minh trên một số mặt tăng gấp 10, hoặc gấp 100 lần. Hoa Kỳ sẽ thực hiện như vậy bằng cách gửi cho đồng minh của mình những “dòng bits”: chủ yếu là thông tin thời gian thực về không gian tác chiến, gồm cả hồ sơ bối cảnh (thí dụ như tư liệu bản đồ) và phần mềm tích hợp, mô phỏng và bảo trì các hệ thống. Người ta cho rằng để sử dụng được những viện trợ đó, trường hợp tốt nhất đó sẽ là một đồng minh có vũ khí chính xác, yêu cầu định vị mục tiêu được đưa vào chương trình vi tính. Tuy nhiên, nếu là trường hợp đồng minh có trang bị kém hơn, thì họ vẫn có được cái lợi lớn là nắm bắt được xác thực tài sản của đối phương trong thời gian thực.

Xét trên một số mặt thì việc chuyển giao ưu thế thông tin là một biến thể của việc cung cấp vũ khí truyền thống. Nhưng so với tiếp tế vũ hí thì cung cấp “dòng bits” không để lại dấu tay như vũ khí. Hai là “dòng bits” nhân lực lượng lên gấp bội, còn vũ khí chỉ cộng thêm vào. Ba là “dòng bits” dễ dàng được chuyển giao và cũng dễ dàng được cắt bỏ (nào có ai dám chắc rằng tên lửa Stinger tiếp tế cho quân phiến loạn Afghanistan cuối cùng không rơi vào tay bọn khủng bố). Bốn là một khi “dòng bits” được sinh ra, thì một bản sao thứ hai sẽ rẻ tiền hơn, còn chiếc xe tank gửi ra nước ngoài cũng là chiếc xe tank mà không bao giờ người ta còn có nữa. Và sau hết, cung cấp cho đồng minh một hình ảnh được rọi sáng về không gian tác chiến so với sự tiếp tế về vật chất, thì chúng ta đạt được hiệu quả lớn hơn trong việc làm cho họ hiểu cách nhìn nhận của chúng ta đối với cuộc xung đột. Vả chăng trong thực tế không phải Hoa Kỳ chỉ giúp đồng minh có được các “dòng bits” chứ không giúp sức người và vật chất. Bởi vì ngay cả các đồng minh có vũ khí tinh vi, họ vẫn cần đến những đầu đạn PGM (khí tài điều khiển chính xác) thông minh và các bộ cảm ứng mặt đất. Sĩ quan liên lạc và tác chiến đặc biệt sẽ phải giúp các đồng minh về phần tích hợp ấy.

Cũng nên ghi nhận thêm một kiểu thị trường nữa tương tự thị trường vũ khí: tuy Hoa Kỳ có thể sẽ là nước đầu tiên có khả năng cung cấp viện trợ thật sự mà không bộc lộ mình trên thực tế, song phần lớn những thứ có thể tạo nên ưu thế về thông tin đều xuất xứ từ thị trường thương mại, rất ít thứ chịu sự kiểm soát chặt chẽ về công nghệ. Những năng lực này vì vậy cũng nằm trong tầm tay của nhiều cường quốc lớn tiềm tàng khác.

Để minh họa thêm về khả năng ứng dụng ưu thế thông tin được chuyển giao, ta hãy nhìn qua “Chiến dịch chiến sĩ cảnh giác”. Tháng 10/1994, Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc tập trận công khai cùng với Kuwait, nhằm phản ứng đối với Iraq dường như chuyển quân về phía Nam. Cuộc tập trận này biểu thị khả năng của Hoa Kỳ sẵn sàn ngăn chặn một cuộc xâm lược có thể có. Cuộc tập trận tốn phí tới 1 tỷ USD (chống lại một việc mới chỉ là giả thiết của phía Iraq với chi phí ít tốn kém hơn nhiều). Và bây giờ ta lại xem thử cũng với 1 tỷ USD được dùng theo cách khác. Kuwait sẽ mua vài nghìn tên lửa chống thiết giáp và đem chôn rải rác trong hầm với số lượng nhiều hơn gấp 10 lần số tên lửa. Nếu thiết giáp vượt qua biên giới, các ký hiệu mục tiêu bổ sung ứng với thời gian thực do một hệ thống các hệ thống của Hoa Kỳ thực hiện, sẽ thay thế các ký hiệu mục tiêu giả trong những tên lửa đó, nhờ vậy một phần lớn lực lượng tiến công có thể bị phá hủy và bị loại bỏ khỏi vòng chiến. Việc chống thiết giáp trên đây có lẽ là thí dụ thích hợp nhất biểu hiện năng lực này, nhưng tư tưởng cơ bản của nó còn có thể được ứng dụng bằng cách sử dụng kỹ thuật để chống lại một cuộc uy hiếp đến từ trên không, hoặc chống lại các hoạt động lật đổ có thể được tiến hành một cách bí mật hơn tại các khu vực đồi núi. Với cách làm gửi “dòng bits” cho các lực lượng phòng ngự được chuẩn bị chu đáo, Hoa Kỳ sẽ không phải mạo hiểm đưa lực lượng vào mà vẫn đạt được mục đích đề ra và còn có thể hành động tự do hơn nhiều. Chưa kể như vậy Hoa Kỳ còn mở rộng hơn không gian hữu ích giữa tiếp xúc với quan sát thụ động.

Vũ trang thông tin cho đồng minh còn có những ứng dụng khác nữa. Chẳng hạn Hoa Kỳ muốn ủng hộ một phía trong cuộc xung đột không rõ rệt – như những người Hồi giáo Bosnia – mà không cần mạo hiểm đưa quân vào, hoặc không khiến các cường quốc khác phải can thiệp. Trong trường hợp này cung cấp “dòng bits” một cách bí mật có thể nhân hiệu quả tác chiến và vũ khí của phía được Hoa Kỳ giúp đỡ. Dù cho các cường quốc lớn thân hữu với phía bên kia trong cuộc xung đột có thể nghi Hoa Kỳ đang thực hiện sự viện trợ đó, song do tính chất của viện trợ là bí mật nên nó cũng ít gây phản ứng so với phản ứng do một sự viện trợ công khai gây ra.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần III


Các hành động của Nga ở Ukraine cho thấy Điện Kremlin nhìn nhận NATO và các đảm bảo an ninh của nó đối với các thành viên của mình nghiêm túc đến mức nào. Việc Nga sáp nhập Crimea và xâm lược miền Đông Ukraine là nhưng bước đi được tính toán để ngăn Ukraine tiến tới trở thành thành viên NATO và thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Nga – một diễn tiến có lẽ đã đánh dấu một thất bại chiến lược lớn đối với Nga và sự lúng túng đối với Putin, xét việc Điện Kremlin coi Ukraine như một vòng đệm thiết yếu để chống lại một NATO thù địch và bành trướng. Hơn nữa, Moskva sẽ khó có thể tái lập các hoàn cảnh có lợi trong khu vực Baltic như Nga đã có ở Crimea. Các lực lượng của Nga đã có mặt trên bán đảo này từ trước cuộc khủng hoảng và đang hoạt động từ một cơ sở hạ tầng vững chắc. Hơn nữa, như nhiều nhà quan sát đã chỉ ra, hoạt động tại Crimea chủ yếu do các đơn vị lực lượng tinh nhuệ đặc biệt của Nga tiến hành và do đó, không phản ánh đúng tình trạng chung của các lực lượng chiến đấu trên bộ của Nga. Nói một cách đơn giản, các nước Baltic đã về phe với NATO. Một cuộc tấn công quân sự thẳng thừng vào các nước này sẽ có nguy cơ dẫn đến một cuộc chiến tranh toàn lực với NATO.

Cũng quan trọng là phải hiểu rằng quyết định của Điện Kremlin đi đến chiến tranh với NATO sẽ mang tính chính trị – được thúc đẩy bởi không chỉ một số lượng nhỏ xe tăng, binh lính và máy bay. Lo ngại lớn nhất của giới tinh hoa Nga là sự sống còn của họ và hệ thống họ đã xây dựng và đầu tư; Nga có một nỗi sợ hãi sâu xa đối với bất ổn chính trị và cái được cho là những kế hoạch thay đổi chế độ của Mỹ. Như một trong những cố vấn thân cận nhất của Putin đã nói: “Mỹ đang cố gắng gây ra thay đổi chế độ ở Nga và cuối cùng sẽ chia cắt đất nước của chúng ta thông qua các sự kiện ở Ukraine”. Sẽ là cực kỳ mạo hiểm nếu Điện Kremlin đặt cược rằng các lực lượng Nga có thể tấn công liên minh quân sự hùng mạnh nhất thế giới và chiếm ưu thế trong một cuộc xung đột; vì những hậu quả của việc thua cuộc – hay thậm chí chiến thắng – ván cược đó sẽ là thảm khốc đối với giới tinh hoa của Nga và cả đất nước nói chung.

Nói cách khác, quyết định của Putin tiến hành một cuộc chiến tranh thông thường với NATO sẽ liên quan đến việc đánh giá tầm quan trọng của các mục tiêu chính trị đạt được từ một chiến thắng quân sự bất chấp những tính toán về phí tổn và rủi ro của hành động quân sự. Tất nhiên có khả năng Putin tính toán sai lầm hay đánh giá sai ý định chính trị của NATO tôn trọng cam kết trong Điều 5 của mình. Nhưng ông có thể kết luận rằng Nga cuối cùng sẽ đối mặt với toàn bộ sức mạnh của cỗ máy quân sự NATO trong việc đối phó với một cuộc tấn công của Nga – một tính toán dựa trên đánh giá của ông rằng các nhà lãnh đạo NATO và đặc biệt là tổng thống Mỹ sẽ không muốn gánh chịu những hậu quả vô cùng tiêu cực nếu liên minh này không thể thực hiện được đảm bảo an ninh của nó – sự kết thúc của liên minh và một đòn nặng nề đối với vận mệnh chính trị của các nhà lãnh đạo NATO.

Các khả năng quân sự thông thường

Nga có vị trí địa lý thuận lợi và lợi thế về mặt số lượng so với NATO về cả nhân lực và trong mỗi hạng mục lớn về vũ khí và trang thiết bị chiến đấu mà sẽ được sử dụng trong cuộc tấn công quân sự ban đầu chống lại các quốc gia Baltic. Cũng vậy ngay cả khi xem xét các lực lượng thường trực của các quốc gia Baltic, những lực lượng mà các nước thành viên NATO khác sẽ triển khai trong thời bình hoặc dựa trên cơ sở luân chuyển trong lãnh thổ Baltic (và Ba Lan), và các lực lượng triển khai sớm mà NATO đã chỉ định để tăng cường sườn phía Đông của mình nhằm đối phó lời cảnh báo chiến lược về một cuộc tấn công.

Nhân lực

Nga có 22 tiểu đoàn cơ động được triển khai tại Quân khu phía Tây và 3 tiểu đoàn ở Kaliningrad – mặc dù một vài trong số các đơn vị thiện chiến nhất ở khu vực này được giao nhiệm vụ bảo vệ các lực lượng Nga trong và xung quanh Ukraine và đóng quân ở đây trong thời bình. Hiện nay, các lực lượng của các quốc gia Baltic và các lực lượng NATO khác có thể sẵn sàng vào mở màn cho chiến dịch phòng thủ phía trước ban đầu bảo vệ lãnh thổ Baltic có tổng cộng xấp xỉ 17 tiểu đoàn; trong khi Mỹ và các đồng minh NATO thực hiện các kế hoạch cải thiện lực lượng của họ ở sườn phía Đông trong vòng 2 năm tới, liên minh này sẽ có thêm bốn tiểu đoàn đa quốc gia để triển khai luân phiên tại các quốc gia Baltic và Ba Lan. Ngoài ra, tùy thuộc vào độ dài của thời gian cảnh báo một cuộc tấn công, Mỹ có thể triển khai thêm hai đội chiến đấu lữ đoàn thiết giáp khác. Đây không phải là một lợi thế về số lượng nghiêng hẳn về phía Nga, nhưng nó không tính đến những khác biệt đáng kể về chất lượng giữa loại hình các đơn vị của mỗi bên.

Vũ trang hạng nặng

Ba nước Baltic có 11 tiểu đoàn bộ binh hoặc các tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ; trong một kịch bản cảnh báo hạn chế, Mỹ có lữ đoàn chiến đấu Stryker được triển khai sớm tới sườn phía Đông. Ngược lại, Nga có bố trí mạnh hơn – 22 tiểu đoàn ở Quân khu phía Tây, 13 tiểu đoàn là các đơn vị bộ binh xe tăng, cơ giới hóa hoặc cơ khí hóa, cùng với sơ đồ tổ chức và trang thiết bị có hỏa lực chiến đấu mạnh hơn nhiều.

Pháo binh và tên lửa đất đối đất

Các lực lượng Nga có thể sử dụng nhiều hệ thống hỏa lực trực tiếp và gián tiếp hơn, gây sức ép đáng kể cho khả năng của các lực lượng NATO ngăn chặn cuộc tấn công ban đầu của Nga và giữ vững lãnh thổ. Nga có 10 tiểu đoàn pháo binh ở Quân khu phía Tây, và hầu hết các hệ thống này có phạm vi và tốc độ khai hỏa lớn hơn so với các đối tác NATO của họ. Ngoài ra, 5 tiểu đoàn tên lửa đất đối đất (SSM) cũng hỗ trợ cho các đội hình pháo binh này. Đặt trong tương quan so sánh, các lực lượng NATO phải chịu thâm hụt nghiêm trọng về pháo ống, súng phóng tên lửa, và SSM. Nói tóm lại, các lực lượng hạng nhẹ hơn của NATO đang thua Nga về hỏa lực.

Máy bay chiến đấu và trực thăng tấn công

Nga có 27 phi đội chiến đấu trên hông được triển khai tại Quân khu phía Tây và 6 tiểu đoàn trực thăng tấn công – hầu hết đều là những máy bay tân tiến nhất sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu của Nga. Các lực lượng không chiến của NATO có thể có mặt ngay từ khi bắt đầu chiến sự hoặc trong vòng 7 ngày kể từ khi bắt đầu cuộc chiến có tổng cộng gần 19 phi đội (nếu, và đây là trường hợp dễ xảy ra, Thụy Điển từ bỏ thái độ trung lập và cho phép một vài trong số các đơn vị này hoạt động từ các căn cứ của Thụy Điển). Giống như Nga, các đơn vị này thường có máy bay hiện đại và thiện chiến nhất của liên minh. Đây không phải một lợi thế về mặt số lượng trên giấy tờ của các lực lượng Nga, nhưng các lực lượng không quân của NATO sẽ hoạt động trong một môi trường vô cùng cạnh tranh trên chiến trường.

Tóm lại, Nga sẽ tấn công với một lực lượng lớn và trang bị hạng nặng hơn nhiều, được hỗ trợ thiết giáp, vũ khí và cảm biến tân tiến và một hệ thống phòng không tinh vi cùng các hệ thống khai hỏa trực tiếp tầm xa. Cho đến khi Mỹ và NATO thực hiện kế hoạch cải thiện lực lượng trong vòng vài năm tới, liên minh này sẽ phải đẩy lùi cuộc tấn công ban đầu bằng một lực lượng yểm trợ hạng nhẹ. Máy bay chiến đấu, các khả năng tên lửa tầm xa, và khả năng tăng viện cho các quốc gia Baltic trên không, trên biển và trên đất liền của liên minh này sẽ ngày càng bị thách thức bởi các khả năng chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập khu vực (A2/AD) của Nga trong và xung quanh Kaliningrad.

Tình hình này đã dẫn đến việc chuyên gia quốc phòng phương Tây chấp nhận đánh giá của một nghiên cứu của RAND gần đây rằng NATO bị Nga “lấn át về số lượng, tầm bắn và hỏa lực” ở vùng ngoại vi phía Đông của liên minh. Theo các tác giả của nghiên cứu này, “nếu Nga tiến hành một cuộc tấn công không báo trước vào các nước Baltic, các lực lượng của Moskva có thể tràn xuống vùng ngoại ô thủ đô Talinn của Estonia và thủ đô Riga của Latvia trong vòng 36 đến 60 tiếng”. Hành lang Suwalki – một dải lãnh thổ dài 65 dặm trên biên giới phía Đông của Ba Lan, nằm giữa Kaliningrad và Belarus và đóng vai trò kết nối đất liền duy nhất giữa Estonia, Latvia, Litva và phần còn lại của NATO – là một mối lo ngại đặc biệt đối với các nhà lập kế hoạch của NATO.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Lý do Việt Nam hủy bỏ các cam kết quốc phòng với Mỹ


Ngày 11/12, Viện Yusof Ishak thuộc ISEAS (Singapore) đăng bài viết của Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp đánh giá về những động thái liên quan đến việc Việt Nam chủ động giảm dần hợp tác quốc phòng với Mỹ trong thời gian gần đây.

Theo bài viết, vào giữa tháng 10/2018, Giáo sư Carl A. Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Đại học New South Wales (Học viện Quốc phòng Australia), cho biết Việt Nam đã lặng lẽ hủy bỏ 15 hoạt động quốc phòng với Mỹ, dự kiến diễn ra vào năm 2019, liên quan đến các cuộc trao đổi song phương giữa các lực lượng hải, lục và không quân. Với việc tái lập quan hệ hợp tác chiến lược mạnh mẽ giữa 2 nước trong những năm gần đây, bất chấp sự không chắc chắn do Chính quyền Tổng thống Donald Trump tạo ra, quyết định của Việt Nam đã đặt ra câu hỏi: Điều gì giải thích cho sự thay đổi đột ngột này trong thái độ của Việt Nam?

Quyết định này có thể liên quan đến những nỗ lực của Mỹ vận động Việt Nam mua trang thiết bị quân sự của nước này với chi phí ngang với Nga. Việt Nam có thể đã xem động thái này là một sự can thiệp vào công việc nội bộ của mình. Điều này là hoàn toàn có thể xảy ra với thực tế là Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật trừng phạt các đối thủ của Mỹ (CAATSA) để trừng phạt các quốc gia mua sắm vũ khí và thiết bị quân sự từ Nga. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã tìm kiếm sự miễn trừ từ Quốc hội Mỹ cho Việt Nam, quốc gia với 90% vũ khí và thiết bị quân sự có nguồn gốc từ Nga, nhưng không có quyết định cuối cùng nào được đưa ra. Do đó, Việt Nam có thể đã hủy bỏ các cam kết quốc phòng với Mỹ như một chiến thuật thương lượng để đảm bảo rằng Washington sẽ đưa ra sự miễn trừ cho nước này.

Đồng thời, quyết định này cũng có thể là một trong những phản ứng của Hà Nội đối với cuộc cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Khi cuộc đối đầu giữa hai gã khổng lồ này trở nên rõ ràng hơn, Hà Nội có thể thấy ngày càng khó khăn hơn trong việc củng cố mối quan hệ phòng thủ chặt chẽ hơn với một cường quốc mà không làm mếch lòng nước kia. Đối mặt với rủi ro này, Hà Nội có thể đã lựa chọn duy trì một mức độ thấp trong hợp tác chiến lược với Mỹ, ít nhất là tạm thời, để không kích động Bắc Kinh.

Cuối cùng, tình hình lắng dịu hơn ở Biển Đông trong những tháng gần đây và các thỏa thuận ngạoi giao của Bắc Kinh, như mục tiêu đã tuyên bố công khai là đạt được thỏa thuận với các nước ASEAN về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong vòng 3 năm tới, có thể là một yếu tố khuyến khích Hà Nội làm chậm lại mối quan hệ chiến lược với Mỹ. Cuối cùng, Hà Nội sẽ không từ bỏ chính sách truyền thống là duy trì sự cân bằng giữa Bắc Kinh và Washington, miễn là lợi ích quốc gia của Việt Nam ở Biển Đông được bảo vệ tốt. Hiện vẫn phải chờ xem quyết định của Hà Nội sẽ ảnh hưởng như thế nào đến triển vọng hợp tác chiến lược Việt – Mỹ. Việc Việt Nam sẽ đảo ngược quyết định của mình và tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với Mỹ hay không sẽ phụ thuộc vào chính các yếu tố có thể làm chậm lại tiến trình này: a) liệu Mỹ có miễn trừ CAATSA cho Việt Nam hay không; b) định hướng tương lai của cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung và c) liệu Trung Quốc có có những động thái quyết đoán mới ở Biển Đông hay không.

Trong khi vấn đề đầu tiên là một câu hỏi ngắn hạn có thể được trả lời sớm, thì có nhiều sự không chắc chắn hơn về hai câu hỏi còn lại. Trong trường hợp Washington đồng ý miễn trừ cho Hà Nội khỏi các lệnh trừng phạt của CAATSA nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục hủy bỏ hoặc trì hoãn các cam kết quân sự có ý nghĩa với Mỹ, chúng ta có thể giả thiết rằng nỗi e sợ của Hà Nội trong việc đối nghịch với Bắc Kinh là lý do chính khiến họ không muốn tăng cường hợp tác quốc phòng với Washington. Trong trường hợp đó, do sự đối địch chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc rất có thể sẽ tiếp diễn trong tương lai, các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông có thể trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định quỹ đạo tương lai của quan hệ chiến lược Việt – Mỹ.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Mục tiêu cuối cùng của Donald Trump


Nhiều người trong giới quan chức và trí thức Trung Quốc đã tỏ ra kinh ngạc trước những kỹ năng chiến lược và chiến thuật của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Theo Mark Leonard, Giám đốc Hội đồng châu Âu về Quan hệ quốc tế, chỉ có một ít người trong giới quan chức và trí thức Trung Quốc mà ông đã trao đổi có ý nghĩa rằng mối quan tâm hàng đầu của Donald Trump là làm cân bằng thâm hụt thương mại song phương giữa Mỹ và Trung Quốc. Viết trên tờ Financial Times ngày 24/7, ông Leonard cho biết những người Trung Quốc mà ông đã nói chuyện đều cho rằng nếu vì vấn đề thâm hụt thương mại thì ông Trump đã liên kết với EU, Nhật Bản và Canada, chứ không phải đưa các đồng minh của mình vào chung rọ áp thuế mà ông đã đặt ra.

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc He Yafei bày tỏ lo ngại cạnh tranh chiến lược đã trở thành một cách thức mới và cho rằng chiến tranh thương mịa chỉ là “một phần rất nhỏ của tảng băng mà thôi”.

Theo những người này, mục đích của Tổng thống Trump không gì ngoài việc muốn lập lại trật tự thế giới. Ông Trump cho rằng mình cần phải dẫn dắt nước Mỹ chống lại sự sụt giảm vị thế của nước Mỹ. Không phải là trật tự thế giới hiện nay không đem lại lợi ích cho nước Mỹ. Vấn đề ở chỗ là trật tự thế giới hiện nay mang lại lợi ích cho một số nước khác nhiều hơn là cho Mỹ. Một vấn đề nữa là hiện nay, Mỹ đang rót hàng tỷ USD vào để hỗ trợ hàng loạt thể chế quốc tế mà ông Trump cho rằng các thể chế này làm kìm hãm nước Mỹ và tạo cơ hội để Trung Quốc lớn mạnh nhanh chóng.

Trong mắt của những người Trung Quốc, họ coi những biện pháp trả đũa của ông Trump là hình thức “hủy diệt một cách đầy sáng tạo”. Tổng thống Trump đang hủy diệt một cách có hệ thống các thể chế quốc tế hiện nay – từ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cho đến Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và vấn đề Thỏa thuận hạt nhân Iran, là những bước đi đầu tiên để tiến tới đàm phán lại trật tự thế giới, xóa bỏ những điều khoản để có lợi hơn cho Mỹ tại các thể chế quốc tế. Một khi trật tự này bị xóa bỏ, giới tinh hoa Trung Quốc tin rằng ông Trump sẽ tiếp bước sang giai đoạn 2: đàm phán lại mối quan hệ của nước Mỹ với các nước lớn khác trên thế giới. Bởi vì, nước Mỹ hiện nay vẫn là nước mạnh nhất trên thế giới, họ sẽ có thể đàm phán với từng nước lớn khác trên vị thế của nước mạnh hơn. Điều này sẽ thuận lợi hơn là thông qua các thể chế đa phương thường sẽ giúp các nước yếu hơn trong khi đàm phán và buộc các nước mạnh phải chấp nhận sự mặc cả nào đó từ các nước yếu hơn.

Một số trong giới tinh hoa Trung Quốc khi trao đổi với Giám đốc Mark Leonard đã nói Donald Trump là vị tổng thống Mỹ đầu tiên trong 40 năm qua đã tấn công Trung Quốc đồng thời trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế, quân sự và tư tưởng. Những người này đã mô tả Trump là bậc thầy về mặt chiến thuật, tập trung đánh vào từng vấn đề một, và cố gắng bắt đối phương nhượng bộ nhiều nhất có thể. Giới quan chức Trung Quốc cũng nói về cách thức tài tình mà ông Trump đã ứng xử với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Những người này đã đưa ra ví dụ như cách thức ông Trump xử lý vấn đề Triều Tiên. Ông đã thuyết phục được Tập Cận Bình đồng ý với những lệnh trừng phạt của Liên hiệp quốc đối với Triều Tiên, tạo ra sức mạnh siết chặt kinh tế nước này. Họ cũng đánh giá Trump như một nhà chiến lược, sẵn sàng tuyên bố đình chiến trên từng lĩnh vực khi thấy không thể đòi hỏi nhượng bộ thêm được nữa, và sau đó chuyển sang tấn công ở một mặt trận mới.

Đối với người Trung Quốc, việc Trump tán dương cuộc họp báo với Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Helsinki vừa qua là hoàn toàn có mục đích chiến lược. Họ nhìn nhận giống như những gì Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã làm hồi năm 1972. Đó là tách Trung Quốc ra khỏi trục của Liên bang Xô viết để tạo ra sức ép đối thủ thực sự của Mỹ lúc đó là Liên Xô. Ngày nay, Trump lại hướng tới Nga để nhằm cô lập Trung Quốc.

Trước mắt, Trung Quốc đang thể hiện sự cứng rắn đáp trả lại cuộc tấn công thương mại của Trump. Đồng thời, họ đang nỗ lực triển khai mặt trận lớp lang để chống lại Trump bằng cách xích lại gần với EU, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia Trung Quốc đang âm thầm kêu gọi việc cần nghĩ lại một chiến lược dài hạn. Họ muốn chuẩn bị cơ sở cho những mặc cả to lớn mới với Mỹ dựa trên những vị trí quân sự mà Trung Quốc nắm giữ kiểm soát. Nhiều người có cảm giác Tập Cận Bình đã phản ứng hơi mạnh và lo ngại cho rằng đó là một sai lầm khi phản háng Mỹ trên phương diện kinh tế và quân sự tại biển Hoa Nam (Biển Đông). Trên thực tế, Trung Quốc đã có chủ trương nhượng bộ về mặt kinh tế và giảm bớt chiến thuật lấn lướt mà chính sách ngoại giao của Trung Quốc gần đây theo đuổi. Trung Quốc đã kêu gọi sự thay đổi đó là dựa vào sự tăng trưởng của thị trường nội địa hơn là gây ảnh hưởng đến kinh tế của các nước do xuất khẩu dư thừa sản phẩm công nghiệp sang các nước khác.

Vậy Donald Trump thực sự là người như thế nào? Một người liều lĩnh hủy diệt những mối quan hệ đồng minh quan trọng hay là một “thiên tài vững chãi” – người đang gây sức ép đối với Trung Quốc? Câu trả lời dường như phụ thuộc vào việc bạn đưa ra câu hỏi này ở đâu. Mọi nhìn nhận, đánh giá về Trump sẽ rất khác giữa cái nhìn từ Bắc Kinh hay EU.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018