Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần IV


Thời điểm trả thù

Khi Donald Trump xuất hiện trước báo chí ở Washington vào ngày 8/1, mong muốn của ông thể hiện trạng thái bình thường là rõ ràng. Ông đã đăng tải dòng tweet “mọi chuyện tốt đẹp” chỉ ngay sau đó. Ông nói rằng Iran muốn hướng đến giảm leo thang, nói như thế không có gì quan trọng đã xảy ra, như thể quân đội của ông đã không giết một trong những đại diện quan trọng nhất và được yêu mến nhất của một quốc gia nước ngoài theo mệnh lệnh của ông, đẩy Trung Đông đến  bờ vực của một cuộc chiến tranh khác.

Trump vẫn tin rằng ông có thể thực hiện một “thỏa thuận” với Tehran, mặc dù trong lập trường này ông phần lớn là đơn dộc. Có nhiều khả năng hơn là cuộc đối đầu sẽ tiếp tục, ngay cả khi các cuộc tấn công tên lửa vào 2 cơ sở mà Mỹ sử dụng đánh dấu chấm dứt chính thức chiến dịch trả đũa, ít nhất là theo lãnh đạo Iran.

Nhà ngoại giao Mỹ Brett McGurk, người mà cho đến năm 2018 trên danh nghĩa vẫn là đặc phái viên của Tổng thống trong liên minh toàn cầu chống lại IS, nói: “Mọi việc chưa kết thúc”. Ông lập luận rằng Iran bây giờ sẽ khôi phục lại chiến lược chiến tranh bất đối xứng, trong đó Tehran sử dụng các lực lượng ủy nhiệm người Shiite để thực hiện các công việc bẩn thỉu của mình.

Hassan Nasrallah – người đứng đầu lực lượng dân quân Hezbollah của Liban, có quan hệ mật thiết với Iran – đã tuyên bố rằng ông sẽ đảm bảo tất cả quân đội Mỹ rút khỏi khu vực. Ông nói rằng các cuộc tấn công vào các căn cứ, tàu chiến và binh lính, bao gồm cả sử dụng những kẻ tấn công tự sát được ưu tiên, gián tiếp tiến một bước gần hơn đến mục tiêu cuối cùng là tiêu diệt Israel.

Các chiến binh bóng tối của Iran được Qassim Soleimani hết sức hỗ trợ, là rất mạnh mẽ: Họ có khả năng tấn công binh lính Mỹ ở Afghanistan và Syria, trong khi phiến quân Houthi của Yemen cũng là đồng minh với Tehran có thể tăng cường các cuộc tấn công vào Saudi Arabia.

Những gì diễn ra trong tháng 9/2019 gợi ý về những việc chế độ Iran có khả năng thực hiện, khi dường như nước này đã thực hiện một cuộc tấn công tinh vi về mặt công nghệ sử dụng tên lửa hành trình và máy bay không người lái được trang bị vũ khí vào các cơ sở dầu của Saudi Arabia, tạm thời khiến sản lượng dầu nước này giảm một nửa. Iran chối bỏ trách nhiệm đối với vụ tấn công, nhưng Mỹ, Anh, Pháp và Đức đều kết luận rằng Tehran đã đứng sau vụ tấn công.

Giới cầm quyền Đức tin rằng mức độ đe dọa tăng lên. Theo dự đoán ban đầu của Cảnh sát hình sự Liên bang Đức: “Có lý do để lo sợ rằng kỷ nguyên của hoạt động đe dọa chính trị trong khu vực sẽ theo sau các cuộc tấn công trả đũa (bằng quân sự) của Iran cũng như các cuộc tấn công của 2 đồng minh quan trọng nhất của nước này (Hezbollah và Syria)”. Các mục tiêu rõ ràng nhất, theo lập luận, là các cơ sở ngoại giao và quân sự của Mỹ và Israel.

Iran cũng có nhiều binh sĩ trong lực lượng không gian mạng và một kho vũ khí mà sẽ có lợi trong một cuộc chiến tranh mạng. Quyết định của mỗi nước mở rộng nhanh chóng các khả năng này có thể được thúc đẩy bởi một cuộc tấn công duy nhất của phương Tây. Khoảng 10 năm trước, người Iran đã phát hiện ra nguyên nhân tại sao nhiều bộ phận của cơ sở làm giàu urani của họ ở Natanz gặp trục trặc: Một phần mềm độc hại có tên Stuxnet, được cho là do các cơ quan tình báo của Mỹ và Israel phát triển, đã phá hủy máy ly tâm của cơ sở và phá hoại chương trình hạt nhân.

Iran đã phản ứng bằng cách xây dựng quân đội mạng của riêng mình. Các tin tặc của Iran đã tấn công hệ thống kiểm soát của một con đập gần thành phố New York và cố gắng đánh sập các máy chủ của các ngân hàng lớn Mỹ và Sàn giao dịch chứng khoán New York bằng các cuộc tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS). Khi ông trùm sòng bạc người Mỹ Sharon Adelson đề nghị tấn công Iran bằng vũ khí hạt nhân, công ty tỷ đô của ông cũng đã nằm trong tầm ngắm của Iran. Cựu Giám đốc tình báo quốc gia James Clapper chỉ trích Iran và nói rằng điều đó có nghĩa là Mỹ “lần đầu tiên nhìn thấy các cuộc tấn công phá hoại trên mạng được thực hiện trên đất Mỹ bởi các thực thể quốc gia”.

Theo phân tích của trung tâm Nghiên cứu an ninh của ETH Zurich, Iran đã tiếp tục phát triển năng lực của mình kể từ đó và tích cực trên nhiều mảng của chiến tranh mạng, từ gián điệp mạng đến các chiến dịch đưa tin giả có chủ đích, đến các nỗ lực phá hoại các quy trình công nghiệp. Lữ đoàn Quds cũng có vũ khí mạng của riêng mình.

Các nhà phân tích ETH đã liệt kê một loạt các nhóm đang làm công việc liên lạc được trả tiền cho chế độ. Họ cho biết có hơn 50 nhóm chiến tranh mạng có tổ chức thuộc loại này hiện đã được xác định.

Gần đây, các tin tặc Iran đã đưa ra một dự báo trước về các hành vi trả thù trên mạng có thể xảy ra khi nước này chiếm quyền điều khiển trang mạng của Chương trình thư viện lưu giữ liên bang của Chính phủ Mỹ. Trang mạng này hiển thị một hình ảnh động trong đó một người đàn ông mặc quân phục Iran đã đấm vào mặt Trump, ở trên có lời cảnh báo rằng đây “chỉ là một phần nhỏ trong khả năng mạng của Iran”.

Quà tặng của Trump

Cậu bé khoảng 5 – 6 tuổi, đứng trong một nhóm người, cậu bé hét lên: “Tôi là Qassem!” Những người lớn xung quanh nó cổ vũ. Sau đó, cậu ta giơ nắm đấm nhỏ của mình lên không trung, khuôn mặt méo mó vì gắng sức và hét lên một, hai, ba lần nữa: “Tôi là Qassem!” Tôi là “Qassem Soleimani!”.

Một người phụ nữ, khuôn mặt ẩn sau chiếc áo trùm đen than khóc, nước mắt rưng rưng: “Người Mỹ sẽ phải trả giá!” Tôi có 2 đứa con trai. Tôi sẵn sàng hy sinh chúng để trả thù. Những người đàn ông hét lên: “Chúng tôi là Qassem Soleimani. Chúng ta đều là những người lính của ông ấy!” Và ông liên tục hét: “Chết đi nước Mỹ!”.

Những hình ảnh này đã xuất hiện trên truyền hình nhà nước Iran trong tuần này, trên tất cả các kênh cùng với một biểu ngữ màu đen chồng lên nhau. Hình ảnh những đám tang dài vô tận, những giọt nước mắt, những cơn giận dữ xuất hiện.

Những hình ảnh về cuộc đời Qassem Soleimani được xen kẽ trong tin tức: Soleimani đến thăm quân đội, bắt tay, vỗ lưng, cầu nguyên. Soleimani cúi đầu trước Lãnh tụ tối cao Iran Ali Khamenei. Và tất cả những điều này đã được nhấn mạnh bằng bài ca tụng hoa mỹ, những bài thơ tôn vinh người chết và bài hát của Trung Đông: “Ôi Qassem, Qassem của chúng tôi, chiến binh tử vì đạo yêu mến, ông sống và ông sẽ mãi sống”.

Việc giết chết chỉ huy của Lực lượng Quds đã trở thành một sự kiện quốc gia quan trọng đối với người Iran. Nhiều người lớn tuổi hơn thấy nó gợi nhớ đến lễ tang Ayatollah Ruhollah Khomeini vào năm 1989. Một người quan sát cho biết: “Nhưng cái này lớn hơn nhiều. Điều này chưa bao giờ diễn ra trong lịch sử nước Cộng hòa Hồi giáo”.

Bộ máy nhà nước Iran rất thành thạo khi tuyên truyền, và tổ chức các lễ kỷ niệm của cuộc cách mạng là những sự kiện lớn, được dàn dựng công phu. Và cỗ máy tuyên truyền đó bắt đầu hoạt động ngay sau cái chết của Soleimani. Các thành phố của Iran đã nhanh chóng được dán các tờ áp phích và biểu ngữ: Soleimani với Khameini, Soleimani trên bầu trời. Chỉ riêng trong chương trình truyền hình vào Chủ nhật, ngày đầu tiên của buổi tang lễ kéo dài ba ngày, một người quan sát ở Tehran đã đếm được 32 bài hát khác nhau mà được sáng tác và biểu diễn để tôn vinh vị tướng đã chết.

Nhưng sự thương tiếc và giận dữ của hàng trăm ngàn người ở các thành phố trên khắp đất nước còn hơn cả một sự kiện được chế độ tổ chức. Arash Mussavi, một doanh nhân ở Tehran, người từ chối cung cấp tên thật của mình, cho biết: “Có tuyên truyền, nhưng mọi người không đến vì điều đó”. Ông nói rằng Soleimani cực kỳ nổi tiếng, trong số những người bạn của ông có cả những người chỉ trích chế độ.

Cái chết của Qassem Soleimani, ít nhất trong một khoảnh khắc, đã thống nhất một đất nước bị chia rẽ và dễ bị kích động. Trump đã làm được điều mà giới lãnh đạo Iran không bao giờ làm được. Phe đối lập đã tham gia lễ tang và nhiều người Iran cảm thấy tức giận về tình hình kinh tế nghiệt ngã – sự tức giận mà chỉ vài tuần trước đã nhằm vào chế độ của chính họ hiện đã chuyển sang Mỹ.

Nhiều người Iran coi cái chết của tướng quân là một cuộc tấn công vào họ và đất nước của họ. Đám tang bao gồm không chỉ phụ nữ mặc áo chùm đen, mà cả phụ nũ đeo khăn che tóc và trang điểm nhiều. Tác giả Mahmoud Dowlatabadi, nguòi mặt khác không đặc biệt ủng hộ lãnh đạo Iran, đã gủi lời chia buồn công khai, tương tự như chính gia đối lập Mehdi Karroubi, người đã bị quản thúc tại gia trong gần 10 năm, kể từ các cuộc biểu tình của Phong trào Xanh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Chiến lược và những thứ khó hiểu khác – Phần III


Sáng hôm sau, buổi làm việc bắt đầu lúc khoảng 8h, hơi trễ so với dự định vì sau bữa tối là màn nhâm nhi rượu và xì gà kéo dài đến tận nửa đêm. Ngay sau khi mọi người đã nạp đủ caffeine, Tom và Mitch bắt đầu trình bày kế hoạch C. Các thành viên của ban điều hành bắt đầu gật gù theo từng chi tiết được diễn giải. Đầu tiên họ có một vài tranh luận chung nho nhỏ về tinh thần kế hoạch, sau đó chuyển sang  những câu hỏi về các chi tiết, ví dụ như câu hỏi của Rich, “Các anh có nghĩa việc chuyển ngân sách marketing sang quý II và quý II phản ánh đúng nhất ý định tăng tốc quảng cáo không?” Steve ngồi dựa lưng vào ghế, mỉm cười. Đến 11h, mọi người đã đạt được sự nhất trí với kế hoạch C. Henry Pritchett phát biểu trên cương vị CFO, “Kế hoạch này tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển ngân sách, đồng thời cung cấp một số lượng rất nhiều chi tiết cho việc lập kế hoạch chiến lược”.

Steve trình bày xong sơ lược các bước cần làm tiếp theo thì cũng đến giờ bắt đầu ván golf đầu tiên, và theo kế hoạch thì sau khi chơi golf mọi người sẽ ra thẳng sân bay và bay về tổng hành dinh trên máy bay riêng của công ty. Tất cả đều đồng ý rằng công việc vài ngày qua diễn ra rất hiệu quả và thời gian còn lại rất có lợi cho việc thắt chặt tình đồng nghiệp và tinh thần đồng đội. Trên đường rời khỏi phòng họp, Mitch, chuyên gia của White Hot, đưa cho Henry một phong bì; bên trong là hóa đơn mới nhất từ White Hot cho dịch vụ tư vấn định kỳ hằng tháng, trị giá 275.000 USD và các chi phí công tác kèm theo.

Thực tế: Đúng, chúng ta cực kỳ chiến lược

Toàn bộ chủ đề chiến lược đã trở nên quá rối rắm. Có vẻ như cái gì cũng phải chiến lược; nếu không thì chẳng còn quan trọng nữa. Ngay cả một bậc thầy về chiến lược, Michael Porter của trường Kinh doanh Harvard; cũng phải thú nhận, “Chiến lược là một từ bị lạm dụng theo quá nhiều cách khác nhau với quá nhiều ý nghĩa đến nỗi nó có thể trở nên vô nghĩa”. Ông hoàn toàn đúng.

Mythbuster Wisdom

Có một bài luận văn học thuật được bắt đầu như thế này, “Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu liệu chiến lược dựa trên sự ghi nhớ sự kiện, tức là một quy trình phủ nhận sự xảy ra của các sự kiện mới mẻ, có thể đạt được thông qua huấn luyện hay không”. Các bạn có hiểu câu nói này không?

Chúng ta bị  bủa vây bởi tỉ tỉ các kiểu chiến lược: kế hoạch chiến lược, suy nghĩ chiến lược, suy luận chiến lược, điều hành chiến lược, thông tin chiến lược, marketing chiến lược, xây dựng thương hiệu chiến lược, định vị chiến lược và cả oanh tạc chiến lược. Hễ cứ có chữ chiến lược đi kèm thì mọi thứ đều được nâng tầm và nâng tầm cả những người có liên quan. Chỉ cần nói, “Ồ tôi đang thực hiện một dự án chiến lược”, bạn sẽ trở thành một người cực kỳ quan trọng có khả năng thực hiện những việc lớn lao. Nhưng chính xác chiến lược là gì? Thật tiếc, hình như không ai biết cả Có vẻ như ai cũng có thể định nghĩa chiến lược theo ý họ, và đó chính là nguồn cơn của tất cả những rối rắm này. Dưới đây là một vài định nghĩa về chiến lược, một số khá mơ hồ, còn lại thì nghe rất ngu ngốc.

+ Chiến lược là cầu nối giữa chính sách và chiến thuật.

+ Chiến lược là phương thức áp dụng chính sách.

+ Chiến lược là nghệ thuật ứng dụng và phân phối nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu chính sách.

+ Chiến lược trả lời câu hỏi: Công ty chúng ta nên làm gì?

+ Chiến lược là một kế hoạch, một “phương pháp”, một phương tiện để đi từ một điểm này đến một điểm kia.

+ Chiến lược là mô hình hành động theo thời gian.

+ Chiến lược là định vị; chiến lược là triển vọng.

+ Chiến lược xuất hiện khi các dự định bị va chạm với thực tế đang thay đổi.

Tuy nhiên, không có câu nào trên này lọt vào top 3 các câu định nghĩa chiến lược kỳ quặc nhất của tôi. Giống như người ta xướng kết quả trong một cuộc thi sắc đẹp, tôi xin phép được trình bày chúng theo thứ tự từ dưới lên trên, cùng với các bình luận của tôi được in nghiêng.

3/ “Chiến lược không tồn tại nếu không đưa đến kết quả mong muốn cuối cùng”. Tôi rất thích câu này vì nó nhắc tôi nhớ về những cuộc tranh luận thâu đêm thời sinh viên bên chén rượu, về ý nghĩa cuộc đời hoặc thông điệp thực sự của bài hát “Stairway to heaven” của Led Zeppelin.

2/ “Chiến lược là một chủ đề rộng lớn và mơ hồ. Chúng ta phải tự tìm hiểu ý nghĩa cũng như định nghĩa của chúng”. A hèm, đúng là rất mơ hồ!

1/ “Chiến lược là những điều vô cùng quan trọng mà ban lãnh đạo thực hiện cho công ty của mình”. À hóa ra công việc của họ là thế!

Nói chung, cuối cùng chả có gì rõ ràng về trò chơi chiến lược này. Thế nhưng việc soạn thảo chiến lược sẽ là một việc quan trọng và có giá trị nếu nó tuân theo các nguyên tắc như – chiến lược không phải là kế hoạch 5 năm hay các câu phát biểu mập mờ mang tính cảm hứng cao nhưng tính thực tế thấp, hoặc là một cái cớ cho các vị thành viên lãnh đạo đóng dấu ấn cá nhân lên công ty. Chiến lược đưa ra định hướng và các điểm cần tập trung hành động cho công ty và tạo nền tảng cho việc lên kế hoạch tài chính và chiến thuật. Cá nhân tôi rất thích các mô tả chiến lược của Michael Porter theo dạng trả lời được hai câu hỏi: Chúng ta đang chuẩn bị tham gia vào thị trường nào? Làm thế nào để cạnh tranh được trong những thị trường như thế?

Ví dụ, cả McDonald’s và Morton’s đều tham gia vào thị trường dịch vụ thức ăn – một dạng thị trường khá rộng mở – nhưng mỗi công ty nói trên đều có những chiến lược dự tranh rất khác nhau – và là nền tảng cho việc xây dựng các mô hình kinh doanh của họ.

Việc đơn giản hóa chiến lược giúp cho những câu hỏi căn bản liên quan đến ý  tưởng, cơ hội hoặc các sự kiện có thể tác động đến công ty trở nên đơn giản hơn rất nhiều – ví dụ như: Liệu nó có giúp chúng ta đạt được mục tiêu đề ra, và liệu nó có tương thích định vị công ty hay không? Ở công ty bán lẻ Target, câu hỏi thường trực là “Quyết định này sẽ giúp củng cố thương hiệu theo cách nào?”

Cho dù truyền thông có tâng bốc chiến lược đến đâu thì thực sự có rất ít các công ty hoặc các cấp điều hành thực sự mang tính chiến lược. Vào những lúc cấp bách, khi áp lực đạt doanh số hoặc đạt chỉ tiêu quý dâng cao, các đề xuất chiến lược thi nhau văng ra ngoài và bất kỳ điều gì không trực tiếp giúp đạt được những mục tiêu tầm ngắm này đều bị gạt sang một bên. Trong năm 2008, hàng tỷ USD chi cho việc lên kế hoạch chiến lược bị ném qua cửa sổ.

Công ty nào cũng bị mắc chứng “mèo khen mèo dài đuôi” khi nói đến chiến lược của mình. Trong báo cáo thường niên năm 2006, GM đã rất mạnh miệng, “Tại GM, chúng tôi đã đạt được những tiến triển vượt bậc trong năm qua. Điều này minh chứng cho việc chúng tôi đang có được những chiến lược đúng, và chúng đang phát huy tác dụng”. Vào thời điểm đó, chiến lược phát triển lợi nhuận của GM dựa trên việc bán được càng nhiều xe SUV và xe tải càng tốt. Khi giá dầu tăng vọt lên mức 4 USD/gallon vào giữa năm 2008 và doanh số năm giảm từ 16 tỷ USD xuống dưới 9 tỷ USD, người ta trở nên nghi ngờ việc chú trọng doanh số ở các loại xe ngốn xăng. Đến tháng 12 năm 2008 khi doanh số tụt hơn 20% trorng vòng 12 tháng, CEO Richard Wagoner đã không còn lòng dạ nào để đi phi cơ riêng mà một mình một Chevy Malibu lái đến Washington DC để van nài một khoản cứu trợ từ chính phủ. Đến tháng 3 năm 2009, ông bị sa thải và GM đứng trên bờ vực phá sản; minh chứng cho việc có được chiến lược “đúng đắn”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: David A.J. Axson – Giải độc những ngộ nhận trong quản trị – NXB TT 2011.

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần I


Giới thiệu

Gần đây, dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus corona (COVID-19) bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc và sau đó lây lan ra bên ngoài nước này đã làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng của Trung Quốc và khu vực. Ngày 31/12/2019, các nhà chức trách Trung Quốc thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về một vài trường hợp mắc bệnh viêm phổi ở Vũ Hán, và đã thực hiện những hành động chính sách chưa từng có để khống chế virus này, nhưng dịch bệnh bắt đầu lây lan sang các nền kinh tế khác trong khu vực. Ngày 30/01/2020, WHO tuyên bố dịch COVID-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Giờ đây, cuộc tranh luận xoay quanh mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh này và tác động có khả năng của nó đối với nền kinh tế trong nước và các nước khác.

Dịch bệnh tác động đến hoạt động kinh tế trên nhiều mặt trận khác nhau:

+ Ở Trung Quốc, dịch bệnh này tạo ra sức ép lớn đối với hệ thống y tế, khiến tiền lương sụt giảm và năng suất thấp hơn do người lao động nghỉ ốm và nghỉ làm. Nỗi lo sợ bị lây bệnh và nỗ lực hạn chế tình trạng lây lan có thể dẫn đến những gián đoạn về giao thông vận tải, chuỗi cung ứng trong ngành chế tạo, việc cung cấp hầu hết các dịch vụ, đóng cửa các trường học và doanh nghiệp. Do đó, việc chống lại dịch bệnh có thể có tác động đáng kể đến kinh tế.

+ Bên ngoài Trung Quốc, khả năng lây lan đã gia tăng đáng kể do sự hội nhập và kết nối trong khu vực tăng cao. Ngoài việc lây lan bệnh do lưu lượng di chuyển quốc tế khổng lồ, ngành công nghiệp hàng không, lĩnh vực du lịch và dịch vụ khách hàng, cũng như thương mại, trong đó có các chuỗi cung ứng toàn cầu là những ngành tiêu biểu cảm nhận được tác động của nó.

+ Hành vi tránh lây nhiễm của người dân và các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan có thể gây ra thêm sức ép lớn đối với các nền kinh tế khu vực. Ngoài ra, cảm giác bất trắc và nỗi sợ hãi tràn ngập khắp nơi sẽ làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng, và gia tăng tâm lý sợ rủi ro trong các thị trường tài chính và hàng hóa tiêu dùng.

Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN+3 (gồm các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và 3 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – khiến tăng trưởng giảm tốc rõ rệt, có khả năng sẽ ảnh hưởng lan rộng khắp khu vực và toàn thế giới. Những ước tính về tác động của dịch bệnh này sẽ phụ thuộc vào thời gian kéo dài, tính độc hại và khả năng lây nhiễm. Các dịch bệnh do virus trước đây, đáng chú ý là Hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) vào năm 2003, có thể đưa ra gợi ý về những thiệt hại kinh tế tiềm tàng đối với Trung Quốc, mà sau đó có thể được sử dụng để ước tính tác động đối với các nền kinh tế khác trong khu vực:

+ Tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong năm 2020 sẽ giảm nhiều nhất là 0,5%, xét tới các biện pháp hỗ trợ của chính phủ.

+ Sự giảm tốc của Trung Quốc sẽ khiến tăng trưởng của các nước ASEAN+3 giảm 0,2%. Các kênh tác động chính đối với khu vực này sẽ là thông qua (1) lưu lượng đi lại và du lịch ra nước ngoài của Trung Quốc giảm mạnh; (2) sự sụt giảm trong hoạt động đi lại và du lịch của khu vực phản ánh nỗi lo sợ lây lan dịch bệnh; (3) sụt giảm hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc qua chuỗi cung ứng khi hoạt động chế tạo bị gián đoạn và nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng: và (4) tình trạng lây lan dịch bệnh sang các nền kinh tế khu vực.

Tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc

Trong số các dịch bệnh lớn trong 2 thập kỷ qua, dịch SARS có thể đưa ra chỉ dẫn nào đó về tác động tiềm tàng của COVID-19. Dịch SARS bùng phát vào quý IV/2002, nhưng hầu hết các ca nhiễm bệnh được ghi nhận vào quý I và quý II/2003. Hơn 8000 người nhiễm SARS, chủ yếu ở Trung Quốc, ngoài ra còn ở các nơi khác trong khu vực – tương tự như COVID-19 tính đến nay. Tại thời điểm này, số lượng người nhiễm COVID-19 đã vượt xa tổng số người nhiễm SARS, và con số này dự kiến còn tăng cao hơn nữa. Tỷ lệ tử vong trung bình do SARS là gần 10% so với mức chỉ 2% của COVID-19 cho đến nay. Tuy nhiên, những ước tính ban đầu cho thấy SARS có tỷ lệ lây nhiễm thấp hơn nhiều, có khả năng là vì virus này không lây trong thời gian ủ bệnh. Một kịch bản có khả năng xảy ra là COVID-19 sẽ lây lan trong khoảng 4 tháng, tương tự như SARS; có tỷ lệ tử vong thấp hơn SARS; lây lan rộng hơn SARS, các vùng lây nhiễm chính là những trung tâm kinh tế chính của Trung Quốc.

Tác động của dịch bệnh này đối với Trung Quốc dự kiến sẽ lớn nhưng không kéo dài. Tăng trưởng trong quý I/2020 dự kiến sẽ giảm mạnh, ở cả lĩnh vực chế tạo lẫn dịch vụ. Trong ngắn hạn, những hạn chế đối với hoạt động đi lại của người dân gây tổn hại đến hoạt động sản xuất và nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các địa phương tuyên bố kéo dài kỳ nghỉ Tết Âm lịch thêm khoảng 7 ngày, điều này đồng nghĩa rằng các nhà máy và doanh nghiệp sẽ phải trì hoãn hoạt động sản xuất.

AMRO dự báo COVID-19  sẽ khiến GDP trong năm 2020 của Trung Quốc giảm 0,5%. Các kịch bản sau đây giả định rằng:

+ Trong lĩnh vực chế tạo, chuỗi cung ứng toàn cầu tập trung ở các khu vực chịu ảnh hưởng sẽ bị gián đoạn đáng kể. Tuy nhiên, sau đó, các công ty có khả năng sẽ tìm ra cách để bù đắp hầu hết (dù không phải toàn bộ) hoạt động sản xuất mất đi để đáp ứng nhu cầu, do lĩnh vực chế tạo tương đối ít bị hạn chế bởi năng lực sản xuất hơn. Do đó, lĩnh vực chế tạo có khả năng sẽ phục hồi mạnh mẽ.

+ Trong lĩnh vực dịch vụ, các công ty có khả năng hạn chế trong việc bù đắp lại những ngày nghỉ. Nhu cầu đối với một vài loại hình dịch vụ như du lịch sẽ không phục hồi đáng kể, và việc cung cấp dịch vụ không thể tăng mạnh trong giai đoạn ngắn. Do đó, quá trình phục hồi về mức trước khi xảy ra dịch bệnh sẽ chậm hơn.

Tác động ước tính bao gồm: (1) lĩnh vực chế tạo khiến tăng trưởng giảm 0,15%; và (2) lĩnh vực dịch vụ khiến tăng trưởng giảm 0,35%, cao hơn một chút so với dịch SARS. Những ước tính này đã tính đến giả định của AMRO về sự hỗ trợ của chính quyền đối với nền kinh tế.

Tác động đối với Trung Quốc sẽ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đến việc làm và có khả năng cả sự ổn định tài chính. Với hơn 200 triệu người lao động di cư trên toàn quốc trở về quê nhà nghỉ ết Âm lịch, và nhiều thành phố (gồm khoảng 50 triệu dân) bị cách ly, hầu hết các lao động này không thể quay trở về thành phố nơi họ làm việc như họ thường làm sau khi nghỉ Tết – đặc biệt là những người ở khu vực miền Trung, khu vực chịu nhiều tác động nhất. Khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ chịu tác động nhiều nhất, điều có thể khiến nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Ngoài ra, vụ bùng phát dịch bệnh này có thể khiến giá cả hàng hóa ở địa phương gia tăng trong tương lai gần.

Tác động đối với khu vực ASEAN+3

Hầu hết các nước trong khu vực ASEAN đã bị lây nhiễm do dịch bệnh lây lan, và tăng trưởng của họ cũng có thể bị ảnh hưởng như đang diễn ra ở Trung Quốc. Kênh tác động chính là thông qua vận chuyển hành khách, du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung gian có liên quan đến sản xuất thành phẩm tiêu dùng trong các khu vực chịu nhiều ảnh hưởng ở Trung Quốc. Ngoài ra, các biện pháp trong nước nhằm khống chế dịch bệnh có thể làm gián đoạn sản xuất cũng như đầu tư và tác động đến tiêu dùng. Tác động này có quy mô và cường độ lớn đến mức nào có khả năng sẽ phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của dịch này. Tuy nhiên, nếu trong năm 2020 nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc hơn so với dự kiến, thì những tác động đối với các nền kinh tế khu vực có thể là khốc liệt.

(còn tiếp) 

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

Vấn đề Biển Đông trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện nay


  1. Vũ Cao Phan

Trong các nước Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia có quan hệ sâu rộng nhất với Trung Quốc, trên mọi lĩnh vực. Cùng với Myanmar và Lào, Việt Nam có đường biên giới trên bộ khá dài với Trung Quốc. Việt Nam cùng có biên giới trên biển quan trọng với nước này, không nói về “đường 9 đoạn”. Việt Nam cũng sở hữu hệ thống Mekong – Lan Thương với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á lục địa. Việt Nam cũng là nước có quan hệ kinh tế – thương mại lớn nhất với Trung Quốc.

Để thấy rằng những tính chất bất khả kháng của Việt Nam trong mối quan hệ này và cũng để thấy rằng Việt Nam phải ở tuyến đầu trong cách ứng xử với Trung Quốc. Theo cách mà Jay Batongbacan nói về vai trò của Philippines trong phán quyết của Tòa Trọng tài (đã nêu ở trên), ta cũng có thể bảo: Nếu Việt Nam không quan tâm đến vai trò tuyến đầu của mình thì không một nước nào trong hoặc ngoài khu vực có thẩm quyền (cả về mặt đạo đức lẫn pháp lý) nắm giữ vai trò ấy.

Trong ba mối quan hệ/ràng buộc đang có với Trung Quốc thì Biển Đông nằm ở trung tâm, còn kinh tế và hệ thống sông Mekong-Lan Thương rất có thể trở thành công cụ của một bên thứ ba như đã nói. Không khó để nhìn ra sự “khôn ngoan” của đối phương nhưng chưa thấy Việt Nam có một đối sách thật sự ở tầm chiến lược. Nói “thoát Trung” để bây giờ càng “dính” chặt hơn? Về hệ thống Mekong-Lan Thương cũng vậy. Trung Quốc trữ một lượng nước lớn ở thượng nguồn bằng một loạt con đập nhưng nhiều con đập không để làm thủy điện. Để làm gì? Người ta có quyền đặt câu hỏi về vấn đề này, nhất là từ lâu Trung Quốc đã có ý định tìm cách cung cấp nước cho vùng khô hạn phía đông và phía bắc của mình. Cơ chế hợp tác Lan Thương – Mekong (LMC) không cho thấy mục đích rõ ràng, dù nó nằm dưới ngọn cờ “cộng đồng chung vận mệnh” với rất nhiều tiêu ngữ bóng bẩy. Hầu như Bắc Kinh chưa đưa ra cam kết nào đối với yêu cầu quản lý và ổn định dòng chảy, bảo đảm cung cấp nước và phù sa cho hạ lưu, giữ vững hệ sinh thái. Tóm lại, vấn đề quản lý tài nguyên nước đã hoàn toàn bị bỏ qua; trong khi ở thượng lưu, chỉ với 11 con đập, Trung Quốc trữ tới 50% lượng nước của Mekong – Lan Thương vào mùa khô hạn!

Biển Đông là nơi tập trung những vấn đề chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đáng tiếc đó lại là những vấn đề tiêu cực, trái với điều Trung Quốc thường rêu rao là tình hình khu vực này ổn định (ngay cả khi xảy ra sự việc ở bãi Tư Chính nửa cuối năm 2019). Không thể hy vọng giải quyết cơ bản hoặc một lần khi các mâu thuẫn diễn ra đã mấy chục năm mà vẫn đang ngày thêm trầm trọng. Nhưng đã đến lúc yêu cầu các bên nhìn thẳng vào vấn đề với tinh thần hợp tác, không lảng tránh.

Thứ nhất, vấn đề Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Việt Nam cần nắm lấy cơ hội, buộc nước lớn này phải đàm phán thực chất trên cơ sở kiến nghị của tất cả 11 bên, đặc biệt với các nước có tranh chấp Biển Đông.

Thứ hai, vấn đề “đường 9 đoạn”. Gần đây, phía Trung Quốc đã giảm thiểu phát ngôn chính thức từ phía nhà nước về “đường 9 đoạn”. Giáo sư Robert Beckman từ Đại học Quốc gia Singapore ngày 6/1/2020 cho rằng Trung Quốc đang từ bỏ yêu sách “đường 9 đoạn” và thay thế nó bằng yêu sách chủ quyền đối với 4 cụm đảo (Hoàng Sa, Trường Sa, Pratas/Đông Sa và Macclesfield/Tây Sa). Trung Quốc sẽ không bao giờ tìm được cơ sở pháp lý cho “đường 9 đoạn” để giải thích cho chính người Trung Quốc (chưa nói quốc tế) như tuyên bố hùng hồn (rồi bỏ mặc đấy) của ông Ngô Sĩ Tồn nhiều năm về trước.

Thứ ba, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc chẳng những nói đây là đất của tổ tiên từ đời nhà Hán mà có lúc còn bảo, Trịnh Hòa thời Minh trong các lần xuất dương đã tuyên chiếm các đảo nào. Nhà báo Bertil Lintner trên trang Asia Times ngày 15/11/2019 vạch rõ, Trịnh Hòa thậm chí chưa đi qua Biển Đông. Mà dù chủ quyền thuộc về ai – thuộc về Việt Nam cũng vậy thì như phán quyết của Tòa Trọng tài, “không một cấu trúc nào ở Trường Sa có thể tạo ra các vùng biển mở rộng”.

Thứ tư, phải thừa nhận rằng, mặc dù Trung Quốc là nước lớn có tiềm lực quân sự hùng mạnh, hầu như không có công ty, tập đoàn khai thác dầu khí quốc tế nào vì lợi ích kinh tế chấp nhận lời mời chào của họ vào thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng mà Trung Quốc gọi là Vạn An (bãi Tư Chính) cũng như trong phạm vi “đường 9 đoạn”, ngoại trừ tập đoàn năng lượng Crestone (Mỹ) năm 1992. Nhưng trước sự phản đối của Việt Nam, tập đoàn này sau đó đã rút lui và Việt Nam đã xây dựng thêm 3 nhà giàn ở đây để khẳng định chủ quyền. Thất  bại đó có thể là lý do chủ yếu khiến Trung Quốc đã luôn yêu cầu COC phải có điều khoản ràng buộc “không hợp tác khai thác tài nguyên với các nước ngoài khu vực”.

Thứ năm, sự ủng hộ của quốc tế. Sự ủng hộ này gần như tuyệt đối khi các nước khẳng định mọi cách làm của Việt Nam đều dựa trên trật tự và quy tắc quốc tế, trong đó bao gồm Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS), cũng như quyền bảo vệ chủ quyền bằng các biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, phản ứng nói chung là tiêu cực từ các quốc gia trong ASEAN/Đông Nam Á là điều đáng chú ý. Vì nguyên tắc đồng thuận, ASEAN đã không ra được tuyên bố chung dù rằng các nước ven Biển Đông, cách này hay cách khác đều từng bị Trung Quốc xâm phạm, gây hấn.

Thứ sáu, thế giới đánh giá ra sao trước những phản ứng của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông? Với cả dư luận chính giới và truyền thông, Việt Nam được đánh giá cao khi phản ứng tích cực trước những lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nhiều nhất và liên tục. Tờ Straits Times (Singapore) viết: Hà Nội phản ứng mạnh nhất trong số các quốc gia tuyên bố chủ quyền. Asia Times nhận định Việt Nam hầu như là quốc gia duy nhất trong cuộc chiến chống lại nỗ lực của Bắc Kinh nhằm kiểm soát Biển Đông, với ba mặt liên kết: ngoại giao, thăm dò, khai thác; giảm phụ thuộc kinh tế…

Việt Nam đã trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 và ch1inh thức tiếp nhận cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2020. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức, nhất là trong cương vị Chủ tịch ASEAN. Sáu vấn đề vừa nêu trên hy vọng là những dữ kiện, những cơ sở để đề ra đối sách.

Vấn đề đầu tiên và xuyên suốt trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Việt Nam là tạo nên sự gắn kết khu vực. Cương vị Chủ tịch sẽ giúp Việt Nam có quan hệ chặt chẽ hơn, “gắn kết” hơn với ASEAN để tìm ra những cách thức “chủ động thích ứng”. Không ồn ào nhưng kiên quyết, Việt Nam phải bắt tya vào trả lời các câu hỏi, các thách thức ngay từ đầu nhiệm kỳ Chủ tịch. Nếu chỉ xử lý mỗi khi có sự cố (như cách làm hiện nay) là bất an, mạo hiểm. Chúng ta giữ quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, một quan hệ được dệt nên từ lịch sử nhưng không để “cục to, cục lớn” (đại cục) ghè chân mình.

Bị bắt nạt, chèn lấn quá lâu, đã đến lúc Việt Nam cần chứng tỏ bản lĩnh. Đã đến lúc Việt Nam cần xem việc đưa sự xâm phạm thô bạo của Trung Quốc ra Tòa Trọng tài. Không quan trọng việc Trung Quốc có tham gia hay không. Hiệu ứng chắc chắn sẽ mạnh hơn rất nhiều nếu thêm một lần phán quyết của Tòa Trọng tài được tuyên bố theo luật pháp quốc tế.

Việt Nam là nước nhỏ so với Trung Quốc. Cả về diện tích, dân số cũng như tiềm lực kinh tế, quốc phòng, Việt Nam ở một vị trí cách xa so với láng giềng phương Bắc. Câu chuyện nước nhỏ Việt Nam bắt nạt nước lớn Trung Quốc là một câu chuyện hoang đường. Việt Nam cũng không đòi hỏi nước lớn Trung Quốc phải nhường nhịn nước nhỏ Việt Nam. Việt Nam chỉ muốn Trung Quốc hành xử như một nước lớn đáng kính trọng. Tất nhiên, Việt Nam muốn duy trì tình hữu nghị với Trung Quốc, nhưng để duy trì tình hữu nghị ấy mà phải đánh đổi lợi ích của dân tộc là điều không thể. Cũng không thể nói như một nhà ngoại giao Trung Quốc rằng, để xảy ra tình trạng như vừa qua là vì Trung Quốc coi Biển Đông là câu chuyện nhỏ, còn Việt Nam lại coi là chuyện lớn. Để giải quyết vấn đề Biển Đông hãy chân thành làm việc dựa trên chuẩn luật pháp quốc tế và một sự hiểu biết lẫn nhau.

Xin đề xuất một bước tiến nhỏ: Trong khi bảo lưu quan điểm của mình, hai nước Việt Nam và Trung Quốc cần đàm phán về vấn đề quần đảo Hoàng Sa/Tây Sa. Và trước hết là sự thỏa thuận để ngư dân Việt Nam được tiếp tục truyền thống đánh cá như hàng ngàn năm nay trong quần đảo này.

Nguồn: www.nghiencuuquocte.org

TKNB – 11/03/2020

Mối đe dọa từ sự suy yếu của các cường quốc


Cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 dự báo trước 3 bước ngoặt: sự chấm dứt của kế hoạch hội nhập châu Âu; sự kết thúc của một nước Mỹ thống nhất, thực dụng; và sự kết thúc của khế ước xã hội ngầm giữa nhà nước và người dân ở Trung Quốc. Do đó, sau đại dịch COVID-19, cả 3 thế lực này sẽ bị suy yếu từ bên trong, dẫn tới khả năng lãnh đạo toàn cầu của họ bị suy giảm.

Bắt đầu với châu Âu. Cũng như cuộc khủng hoảng tại khu vực này giai đoạn 2010 – 2012, đường đứt gãy của khối hiện nay chạy qua Italy. Kiệt quệ sau hàng thập kỷ phát triển năng động và nền tài chính mong manh, vấn đề này quá nghiêm trọng đến nỗi châu Âu không thể cứu vãn và cũng quá quant rọng tới nỗi không thể để thất bại. Trong đại dịch, người Italy đã cảm thấy họ bị các đối tác châu Âu bỏ rơi khi cuộc khủng hoảng liên quan tới sự tồn vong của họ đang diễn ra, tạo ra “mảnh đất màu mỡ” cho các chính trị gia dân túy khai thác. Hình ảnh thi thể các nạn nhân của COVID-19 ở Begamo được bọc trong các túi đụng và được đoàn xe quân sự chở đi an táng mà không có người đi cùng sẽ còn khắc sâu trong tâm trí người dân Italy.

Trong khi đó, phát biểu về việc làm thế nào để giúp các quốc gia thành viên bị đại dịch, giới tinh hoa kỹ trị của Liên minh châu Âu một lần nữa sa đà vào “một loạt chữ cái thể chế” – ECB, ESM, OMT, MFF và PEPP – những từ vốn đã trở thành ngôn ngữ mặc định của họ. Các nhà lãnh đạo của lục địa đã chùn bước và do dự, từ câu nói có vẻ bị hớ của chủ tịch ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde hồi tháng 3/2020 – khi bà nói rằng: “ECB không phải ở đây để thu hẹp chênh lệch chi phí đi vay giữa các quốc gia thành viên”, đến các cuộc cãi vã về vấn đề biến các khoản nợ riêng thành nợ chung và quỹ cứu trợ COVID-19, và cả sự thay đổi dần dần một cách miễn cưỡng của thỏa thuận mới nhất. Và, gnay cả khi đạt được những tiến bộ hạn chế, tính bảo thủ trong bản năng của Đức – được minh chứng gần đây nhất bởi phán quyết của tòa án Hiến pháp Liên bang Đức về các hành động của ECB – luôn tìm cách làm suy yếu tinh thần hội nhập.

Giả sử rằng các nền kinh tế thành công vốn là cốt lõi của EU có thể phục hồi sau khủng hoảng trong khi những nền kinh tế ngoại vi bị lung lay – và điều này nhiều khả năng sẽ xảy ra. Không có kế hoạch hội nhập chính trị nào có thể tồn tại khi các quốc gia vốn luôn thuộc tầng lớp dưới không được chia sẻ sự thịnh vượng với các nước láng giềng khi tình hình còn tốt đẹp, và bị bỏ rơi khi tai họa xảy ra.

Trong khi đó, sự suy yếu của Mỹ bị thổi phồng và bị hoài nghi. Ngay cả trước cuộc khủng hoảng COVID-19, các thể chế chủ chốt của Mỹ đã báo hiệu sự sa sút: nhiệm kỳ tổng thống hành động khó kiểm soát của Donald Trump, một Quốc hội có sự sắp xếp đảng phái không thỏa đáng. Tòa án Tối cao bị chính trị hóa, chủ nghĩa liên bang rạn nứt và các thể chế lập pháp bị kiểm soát (với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ là một ngoại lệ nổi bật).

Nhiều người Mỹ trong thâm tâm nhận thấy sự sa sút này, nhưng bác bỏ các quan điểm cho rằng nước Mỹ đang suy giảm sức mạnh. Họ vẫn tin rằng mạng lưới các tổ chức phi nhà nước và những sức mạnh ngầm – bao gồm các trường đại học, truyền thông, tinh thần khởi nghiệp và năng lực công nghệ, cũng như vị thế của đồng USD trên toàn cầu – tạo ra khả năng phục hồi mà nước Mỹ cần để duy trì địa vị của mình. Tuy nhiên, cho đến nay, quốc gia giàu nhất thế giới vẫn là nước đối phó với đại dịch tệ nhất. Mặc dù dân số Mỹ chiếm chưa tới 5% dân số thế giới, nhưng hiện Mỹ đã chiếm khoảng 24% tổng số ca tử vong ở những người đã được xác nhận nhiễm COVID-19 và 32% tính cả các trường hợp chưa được xét nghiệm. Do đó, uy tín và sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ đã liên tục bị tổn hại nặng nề bởi hành động xâm phạm kiểu đế quốc (chiến tranh Iraq), một hệ thống kinh tế gian lận (khủng hoảng tài chính toàn cầu), rối loạn chính trị (nhiệm kỳ tổng thống của Trump), và hiện nay là khả năng đối phó với dịch COVID-19 một cách kém cỏi của Mỹ khiến nhiều người phải ngạc nhiên. Những đòn giáng liên tiếp này đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng, mặc dù nó chưa gây ra tai họa chết người.

Rất nhiều trong số những vấn đề kể trên hóa ra lại xuất phát từ sự chia rẽ sâu sắc và độc hại trong xã hội Mỹ. Quả thực như vậy, Tổng thống Trump đang kích động những người ủng hộ nổi dậy. Đến tháng 11/2020, ngay cả tiêu chí dân chủ cơ bản là tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng cuối cùng cũng có thể bị bỏ qua. Tất nhiên, sẽ là quá vội vàng và gây hoang mang khi đánh giá rằng thất bại sâu rộng của Mỹ trong việc đối phó với khủng hoảng COVID-19 sẽ đe dọa nền dân chủ và sự tồn tại của nhà nước Mỹ. Tuy nhiên, việc khăng khăng tin vào chủ nghĩa ngoại lệ Mỹ ở một thời điểm như hiện nay có vẻ như sẽ là sự phủ nhận nguy hiểm.

Cuối cùng là Trung Quốc. Kể từ thời Đặng Tiểu Bình, đất nước đã phát triển dựa trên một thỏa thuận ngầm đơn giản: Công dân giữ im lặng về vấn đề chính trị, chấp nhận bị hạn chế sự tự do và các quyền tự do, và nhà nước – nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Đảng Cộng sản Trung Quốc – bảo đảm trật tự và sự thịnh vượng ngày càng đi lên. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng COVID-19 đe dọa thỏa thuận lớn này theo hai cách.

Thứ nhất, chính quyền Trung Quốc đã xử lý đại dịch một cách tệ hại ở thời điểm đầu, đặc biệt là việc họ lấp liếm sự thật về đại dịch COVID-19 bùng phát ở Vũ Hán làm dấy lên sự nghi ngờ về tính hợp pháp và năng lực của chế độ Bắc Kinh. Xét cho cùng, thỏa thuận xã hội có vẻ kém hấp dẫn nếu nhà nước không thể đảm bảo cho công dân phúc lợi cơ bản, bao gồm cả chính cuộc sống của họ. Số ca tử vong vì COVID-19 thực sự của Trung Quốc, gần như chắc chắn cao hơn con số chính quyền đang thừa nhận, cuối cùng sẽ được đưa ra ánh sáng. Và sự tương phản rõ rệt giữa phản ứng của Bắc Kinh với phản ứng mẫu mực đối với đại dịch của các xã hội tự do hơn là Đài Loan và Hong Kong cũng sẽ được phơi bày.

Thứ hai, đại dịch có thể dẫn đến sức ép từ bên ngoài trong lĩnh vực thương mại, đầu tư và tài chính. Nếu thế giới mất cân bằng do COVID-19, các quốc gia khác gần như chắc chắn sẽ tìm cách giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc, từ đó, cơ hội thương mại của Trung Quốc sẽ bị thu hẹp. Tương tự, nhiều công ty Trung Quốc sẽ bị chặn đầu tư ra nước ngoài, và không chỉ vì lý do an ninh – như Ấn Độ gần đây đã phát đi tín hiệu. Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc – nỗ lực đáng khen ngợi của Bắc Kinh để tăng cường sức mạnh mềm bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại và truyền thông từ châu Á đến châu Âu – có nguy cơ bị đổ vỡ khi những quốc gia nghèo tham gia bị tàn phá bởi đại dịch bắt đầu vỡ nợ.

Do đó, cuộc khủng hoảng COVID-19 có thể sẽ làm tổn hại đến triển vọng kinh tế dài hạn của Trung Quốc. Những nỗi bất bình ở trong nước đã bắt đầu lan rộng. Tình trạng rối loạn ở trong nước không chắc sẽ xảy ra, bởi Chủ tịch Tập Cận Bình có thể tăng cường đàn áp mạnh hơn những gì ông đã làm. Tuy nhiên, đối với những người dân thường Trung Quốc, thỏa thuận xã hội hiện tại có vẻ sẽ ngày càng giống “thỏa thuận với quỷ dữ”.

Kiểm soát tài nguyên là điều kiện tiên quyết cho quyền lực. Tuy nhiên, như lý thuyết quan hệ quốc tế nhắc nhở chúng ta, việc triển khai sức mạnh ra bên ngoài lãnh thổ đòi hỏi phải có chút ít sự đoàn kết và nhất trí trong nội bộ.. Xã hội yếu kém, rạn nứt thì cho dù quốc gia giàu có đến đâu cũng không thể tạo ra ảnh hưởng chiến lược hoặc nắm giữ vai trò lãnh đạo quốc tế.

Chúng ta đã sống một thời gian trong thế giới lưỡng cực G-2, nơi Mỹ và Trung Quốc thể hiện sự lãnh đạo yếu kém. Cả hai quốc gia này đã và đang mang đến cho cộng đồng toàn cầu “những điều tệ hại” như chiến tranh thương mại và làm xói mòn các tổ chức quốc tế, thay vì các hàng hóa công cộng như sự ổn định, các thị trường và nền tài chính rộng mở. Bằng cách làm suy yếu thêm sự gắn kết nội bộ giữa các cường quốc hàng đầu thế giới, cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 gây ra có nguy cơ khiến thế giới trở nên hỗn loạn, bất ổn và dễ xảy ra xung đột hơn. Sự kết thúc ở châu Âu, Mỹ và Trung Quốc sẽ dẫn tới những khả năng địa chính trị nghiệt ngã như vậy.

Nguồn: project-syndicate.org

TKNB – 12/05/2020

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần III


Khi Soleimani hạ cánh ở Baghdad, thủ lĩnh Kataib Hezbollah đang ở sân bay chờ ông ta. Một số người nghĩ ông ta là người đứng sau vụ tấn công Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad. Theo tờ Guardian, Soleimani và đoàn tùy tùng ban đầu được đưa đến khu vực VIP của sân bay trong một chiếc Toyota Avalon và một chiếc xe buýt nhỏ của Hyundai Starex. Sau đó, họ dự định đi thẳng tới trung tâm thành phố.

Đoàn xe thậm chí còn chưa rời khỏi sân bay khi tên lửa bắt đầu bắn xuống vào khoảng 1 giờ sáng giờ địa phương. Soleimani và những người bạn đồng hành, bao gồm cả con rể của ông và Muhandis, đã bị giết ngay lập tức. Xác của Soleimani chỉ có thể được xác định dựa vào chiếc nhẫn hồng ngọc mà ông ta đang đeo.

Trump và những người theo lập trường cứng rắn

Mỹ và Iran là kẻ thù trong nhiều thập kỷ. Trong Chiến tranh Lạnh, CIA đã dàn xếp cuộc lật đổ Thủ tướng Iran Mohammad Mossadegh và trao quyền lực tuyệt đối cho Shah. Kể từ năm 1979, khi những người Hồi giáo theo Ayatollah Khomeini lên nắm quyền, cuộc xung đột giữa Washington và Tehran đã ít nhiều được công khai.

Người tiền nhiệm của Trump, Barack Obama, đã đảm nhận công việc mà cho đến nay là nỗ lực nghiêm túc nhất để xoa dịu sự thù địch. Cùng với người châu Âu, ông đã đàm phán một hiệp ước với Tehran vốn hứa hẹn sẽ nới lỏng các biện pháp trừng phạt đối với họ để đổi lấy việc Iran ngừng chương trình hạt nhân của nước này. Nhưng thậm chí trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016, Trump đã nói rõ rằng ông không phải là người hâm mộ thỏa thuận.

Khi Trump nhậm chức vào tháng 1/2017, ban đầu ông được bao quanh bởi những người ủng hộ thỏa thuận hạt nhân Iran. Cả Ngoại trưởng Rex Tillerson và Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis đều hối thúc ông đừng rút khỏi thỏa thuận. Khi Mattis được hỏi trong phiên điều trần ngày 3/10/2017 của Thượng viện về việc liệu ông có tin rằng thỏa thuận hạt nhân là vì lợi ích tốt nhất cảu nước Mỹ hay không, ông trả lời: “Vâng, thượng nghị sĩ, tôi tin”.

Trump thấy mình phải đối mặt với một vấn đề nan giải: Ông ta muốn ép buộc ý chí của mình lên Iran, nhưng cảnh giác với cuộc xung đột quân sự. Và trong nhiều tháng, không có gì nhiều xảy ra. Brian Hook, người được bổ nhiệm làm đại diện đặc biệt của Mỹ tại Iran, đã làm cho người châu Âu có ấn tượng rằng Trump sẵn sàng đàm phán lại các phần của thỏa thuận thay vì từ bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, mọi chuyện đã sớm trở nên rõ ràng rằng Hook không hành động theo mệnh lệnh từ Nhà Trắng.

Vào tháng 3/2018, Trump đã sa thải Tillerson cùng với Cố vấn an ninh quốc gia H.R. McMaster trong cùng tháng đó. Cả hai đều được thay thế bởi những người có lập trường cứng rắn ưa thích một quan điểm không khoan nhượng đối với Iran. Tillerson được thay thế bởi Mike Pompeo – người đã lên tiếng chống lại thỏa thuận hạt nhân với tư cách là nghị sĩ và sau đó, với tư cách là giám đốc CIA, đã thiết lập quan hệ chặt chẽ với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Pompeo là một người đàn ông vô cùng sùng đạo, với một số quan chức thấy ông giống một Giáo chủ của Cơ đốc giáo. Trong một cuộc phỏng vấn mạng lưới truyền hình Cơ đốc giáo vào tháng 3/2019, Ngoại trưởng Pompeo cho rằng có thể Thiên Chúa đã gửi Trump đến để bảo vệ Israrel.

Trong khi đó, cố vấn an ninh quốc gia mới của Trump, John Bolton là một người có lập trường cực kỳ cứng rắn và đã luôn thể hiện công khai niềm tin của mình rằng Mỹ nên lật đổ chế độ tại Tehran, bằng bạo lực nếu cần thiết. Khi đàm phán với Iran về việc thỏa thuận hạt nhân đã đi đến hồi kết vào mùa Xuân 2015, Bolton đăng một bài viết trên New York Times với tiêu đề: “Để ngăn chặn những quả bom của Iran, hãy ném bom Iran”.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng để cứu vãn thỏa thuận trong chuyến thăm tới Washington vào tháng 4/2018. Ông nói với tổng thống Mỹ rằng các cuộc đàm phán với đại diện đặc biệt về Iran, Brian Hook đầy hứa hẹn. Theo New York Times, Trump phản ứng “Ai là Brian Hook”.

Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Pompeo có một bài phát biểu quan trọng về Iran theo lời mời của Heritage Foundation có lập trường cực kỳ bảo thủ, trong đó ông coi Tehran là một chế độ bất lương. Trong bài phát biểu của mình, ông đã đề cập đến một cái tên mà nhiều người trong số thính giả của ông có khả năng chưa bao giờ nghe đến trước đây: Ông nói rằng Qassem Soleimani đã sử dụng toàn bộ số tiền nhận được từ thỏa thuận hạt nhân vào mục đích xấu xa.

Ông Pompeo không chỉ yêu cầu chấm dứt chương trình hạt nhân Iran, mà ông còn nhấn mạnh rằng Iran phải từ bỏ những tham vọng quyền lực trong khu vực và chấm dứt hoạt động phổ biến tên lửa đạn đạo. Vào tháng 8, Trump đã áp đặt trở lại toàn bộ biện pháp trừng phạt đối với Iran mà đã bị loại bỏ như một phần của hiệp ước hạt nhân.

Vài tháng sau, tổng thống loan báo Bộ trưởng Quốc phòng Mattis từ chức. Ông là một người luôn kiên định tránh leo thang với Iran. Rõ ràng ông đã từ chối việc Nhà Trắng yêu cầu chuẩn bị cho các phương án tấn công Iran.

Hiện nay Trump được cố vấn bởi những người sẵn sàng lật đổ chế độ của Tehran bằng vũ lực. Vào đầu tháng 5, Bolton tuyên bố kế hoạch đưa tàu sân bay USS Abraham Lincoln đến vịnh Persia. Ngay sau đó, Chính phủ Mỹ đã áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt đối với Tehran, vốn được mở rộng để gây ảnh hưởng đến hoạt động thương mại thép, đồng và nhôm. Thành quả kinh tế của Iran đã nhận một đòn đau đớn hơn nữa.

Cuộc đối đầu quân sự đầu tiên giữa Mỹ và Iran diễn ra vào tháng 6/2019, khi không quân Iran bắn hạ một máy bay không người lái giám sát của Mỹ trên eo biển Hormu. Dường như sự trả đũa là không thể tránh khỏi và cuối cùng Trump đã đưa ra một kế hoạch tấn công mà có thể khiến tới 150 người thiệt mạng. Trên Twitter, Trump viết rằng mặc dù vũ khí của quân đội Mỹ đã “khóa mục tiêu và lên nòng”, nhưng cái chết của 150 người sẽ là một phản ứng quá mức đối với việc bắn hạ một máy bay không người lái.

Điều này đánh dấu thất bại đầu tiên của những người có lập trường cứng rắn thân cận với Pompeo. Mặc dù Trump đã đẩy tất cả các nhóm ôn hòa ra khỏi chính phủ của mình, nhưng ông vẫn không muốn thúc đẩy thành một cuộc chiến tranh với Iran.

Tuy nhiên, những mâu thuẫn không thể tránh khỏi trong chính sách Iran của ông đã buộc ông phải hành động, khi Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad bị tấn công. Một mặt, trong chiến dịch tranh cử của mình, Donald Trump khẳng định rằng ông sẽ chấm dứt các cuộc chiến dài bất tận ở Trung Đông. Mặt khác, ông không muốn bị coi là một kẻ nhút nhát. Rốt cuộc, Trump đã nhiều lần chế nhạo Obama vì đã vạch ra một ranh giới đỏ trong cuộc nội chiến ở Syria nhưgn cuối cùng quyết định không can thiệp khi chế độ ở Damascus sử dụng vũ khí hóa học chống lại thường dân.

Sự việc Soleimani cho thấy rõ ràng việc đưa ra quyết định của Nhà Trắng đã trở nên thất thường như thế nào. Hội đồng an ninh quốc gia có nhiệm vụ thông báo cho tổng thống về các điểm rắc rối trên thế giới trong nhiều thập kỷ, nhưng không có tổng thống nào sa thải nhiều nhân viên trong một khoảng thời gian ngắn như vậy. Trong ba năm, Trump đã  sử dụng tới ba cố vấn an ninh quốc gia. Robert O’Brien đã nắm giữ vị trí này kể từ khi John Bolton rời đi vào tháng 9/2019, và điều quan trọng nhất là Robert O’Brien không mâu thuẫn với Donald Trump.

Douglas A. Silliman, Đại sứ Mỹ tại Iraq cho đến năm 2019, cho biết: “Tôi không tin rằng Tổng thống Trump nói chung được chỉ dẫn đầy đủ về những hậu quả nhiệm kỳ thứ hai và thứ ba” trong các quyết định của ông. “Và ông ấy luôn không chú ý đến chỉ dẫn chi tiết về những gì có thể xảy ra sau đó”.

Silliman nhớ những ngày mà Mỹ có một chiến lược về Iran. Ông nói: “Vấn đề mà chính quyền này gặp phải là họ không thể khẳng định rõ ràng những thay đổi chính sách mà họ đã tìm kiếm từ Iran”.

Liệu họ có muốn chấm dứt chương trình hạt nhân? Hay để Iran từ bỏ các mục tiêu bá quyền của mình? Hay liệu cuối cùng có lật đổ chế độ này hay không?        Bằng việc giết Soleimani, Trump hy vọng giải quyết vấn đề Iran một lần và mãi mãi, nhưng ông chỉ thành công trong việc làm cho vấn đề này trở nên lớn hơn. Cuộc xung đột với Tehran sẽ theo ông cho đến hết nhiệm kỳ tổng thống.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Dịch COVID-19 thúc đẩy tiến trình tách rời giữa Mỹ và Trung Quốc


Vào tháng 11/2019, cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger có mặt ở Bắc Kinh để tham dự Diễn đàn Kinh tế mới do Bloomberg tổ chức. Tại đây, ông Kissinger cảnh báo rằng Mỹ và Trung Quốc đang ở chân đồi của một cuộc Chiến tranh Lạnh và cuộc xung đột này có thể tồi tệ hơn Chiến tranh Thế giới thứ Nhất nếu cứ để nó tiếp diễn một cách không giới hạn.

Theo Asia Times, những bình luận của ông Kissinger được đưa ra trong bối cảnh những năm gần đây, căng thẳng leo thang trong lĩnh vực thương mại; nguy cơ xung đột quân sự giữa hai bờ eo biển Đài Loan và trên Biển Đông gia tăng; các cáo buộc liên quan đến hoạt động gián điệp và ảnh hưởng đến chiến dịch bầu cử xuất hiện. Nói cách khác, đây là một cuộc cạnh tranh toàn diện để xác định các quy tắc và giá trị làm nền tảng cho trật tự quốc tế. Một điều đáng chú ý nữa là một tháng sau, nghĩa là vào tháng 12/2019, dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 đã bùng phát ở thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc dẫn tới sự hoảng loạn trên toàn thế giới và sự cách ly trên thực tế của nền kinh tế Trung Quốc do nhiều thành phố của nước này bị phong tỏa, hoạt động kinh doanh ngừng trệ và bởi lệnh cấm đi lại của cộng đồng quốc tế.

Cùng với sự thay đổi chính sách Trung Quốc của Washington, từ can dự tới ngăn chặn và đến thời của Tổng thống Donald Trump là tách rời, một số nhà quan sát như Curtis Chin, một thành viên châu Á tại Viện Milken, tin rằng virus COVID-19 đang đẩy nhanh việc tách rời với Trung Quốc khi các nước và các doanh nghiệp buộc phải “suy xét về một chuỗi cung ứng cho dài hạn”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross chia sẻ quan điểm này và coi cuộc khủng hoảng đại dịch ở Trung Quốc là một cơ hội để đưa việc làm trở lại Mỹ. Trong khi đó, giới diều hâu Mỹ tiếp tục gây áp lực tối đa để tẩy chạy, loại bỏ và trừng phạt (BDS) Trung Quốc với cảnh báo rằng, Bắc Kinh đang tiến hành chiến tranh sinh học thông qua một phòng thí nghiệm virus ở Vũ Hán và Mỹ cần từ chối hỗ trợ y tế với Trung Quốc, để virus thổi bùng cơn giận dữ đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ cho rằng, các quan chức Mỹ đã bị lợi dụng như những người đại diện bất đắc dĩ của Trung Quốc và Trung Quốc cần phải tiếp tục áp đặt biện pháp thuế quan thương mại cũng như nhiều biện pháp trừng phạt đối với nền kinh tế Trung Quốc.

Báo cáo trên cho biết thêm trong những năm gần đây, các nhà theo dõi Trung Quốc đang gia tăng báo động về sự xuống cấp nhanh chóng trong quan hệ Mỹ-Trung. Ngày nay, người ta thường nghe thấy những tranh luận cảnh báo về sự phân chia nền kinh tế toàn cầu thành các phạm vi ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc. Cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd cảnh báo rằng, nếu quả thực chúng ta đang ở trong một thế giới hoàn toàn tách rời, đây sẽ là điềm báo sự trở lại của một “bức màn sắt” giữa phương Đông và phương Tây và là “sự khởi đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang thông thường và vũ khí hạt nhân mới với tất cả sự bất ổn chiến lược và rủi ro của nó”.

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Tôn Vận thuộc Trung tâm Stimson, Mỹ và Trung Quốc đã tham gia cuộc chiến tiêu hao đẩy nhanh sự tách rời trong quan hệ kinh tế giữa hai nước. Nguyên nhân là do cả Mỹ, Trung Quốc và bên thứ ba đều thay đổi thành phần và phương hướng trong chuỗi cung ứng của họ, chuyển đi nơi khác. Tôn Vận cảnh báo nếu việc tách rời ở hai nước làm biến mất tất cả các lợi ích chung, để lại những lợi ích xung đột thô sơ và thuần túy, đó sẽ là một con đường nguy hiểm, dẫn đến đối đầu quân sự. Trung tướng về hưu Karl Eikenberry của Quân đội Mỹ cũng có chung quan điểm.

Trong một phát biểu gần đây tại Đại học Stanford, tướng Eikenberry đã cảnh báo về một “tai nạn quân sự hoặc tính toán sai lầm trong hành động” tiềm tàng giữa các lực lượng vũ trang của cả hai nước trong bối cảnh xảy ra sự tách rời nêu trên. Trong quá khứ đã có một vài trường hợp đụng độ quân sự gần như nổ ra vào năm 2018, một tàu khu trục Trung Quốc và tàu khu trục hải quân Mỹ suýt va chạm ở Biển Đông. Trước đó vào tháng 4/2001, một máy bay hải quân Mỹ đã va chạm với một máy bay chiến đấu của Trung Quốc và buộc phải hạ cánh xuống Hải Nam. Năm 1996, Mỹ đã vô tình ném bom trúng đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade. Nhưng không trường hợp nào dẫn đến chiến tranh.

Cùng với việc căng thẳng giữa hai nước gia tăng, sự tiến bộ nhanh chóng về công nghệ trong lĩnh vực tiêu dùng trong khi mặt trận đã mở rộng sang lĩnh vực công nghệ và không gian mạng, tướng Eikenberry cho biết, Washington hiện đang tập trung vào “an ninh hóa các trao đổi kinh tế”. Như vậy, các thỏa thuận không còn bó hẹp trong phạm vi cân bằng thâm hụt thương mại mà đã mang ý nghĩa bảo mật rộng hơn. Nếu xảy ra một sự cố ngoại giao hoặc quân sự nào trong bối cảnh căng thẳng này, tướng Eikenberry tin rằng hậu quả sẽ lớn hơn nhiều.

Asia Times lại cho biết, bên cạnh lĩnh vực kinh tế và quân sự, sự tách rời còn diễn ra trên phương diện trao đổi học thuật và giao lưu nhân dân ở cấp địa phương. Tháng 6/2019, Bloomberg đăng tải một bài viết tiết lộ rằng, Mỹ đang thanh trừng các nhà khoa học người Trung Quốc, bao gồm cả công dân Mỹ gốc Hoa. Những người này đang nghiên cứu ung thư tại các cơ sở hàng đầu của Mỹ cũng như tham gia các dự án khác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Nhiều cơ sở đã hợp tác với FBI, giám sát các nhà khoa học và học giả Trung Quốc, dẫn đến nỗi sợ hãi của người Mỹ gốc Á. Đây có thể là sự chuyển dịch nguy hiểm dẫn tới hoang tưởng và định kiến chủng tộc, tương tự như chiến dịch định kiến chủng tộc của Trung Quốc nhằm vào người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương. Trên thực tế từ năm 2015, Nghị sĩ Ted Liêu (D-Torrance) và 42 thành viên Quốc hội đã nêu ra những quan ngại này với Bộ Tư pháp Mỹ. Nhưng trước một môi trường ngày càng đáng sợ và căng thẳng trong các tổ chức học thuật, trao đổi học thuật và hợp tác nghiên cứu song phương giữa Mỹ và Trung Quốc đã xuất hiện sự lạnh nhạt và tiến trình tách rời có vẻ sẽ còn tiếp tục.

Căn cứ vào những quan sát tiên đoán của cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, tại thời điểm quan trọng này, sự xuất hiện của những cảnh báo của ông liên quan đến một cuộc Chiến tranh Lạnh mới có vẻ đúng. Paul Haenle, cựu cố vấn châu Á của các Tổng thống Mỹ G. Bush và B. Obama, cho biết thêm: “Nếu bạn nói chuyện với những người ở Lầu Năm Góc, họ sẽ không còn tranh luận về việc Trung Quốc có phải là kẻ thù hay không. Họ đang lập kế hoạch cho chiến tranh và nếu bạn nói về sự hợp tác, bạn sẽ được nhìn nhận như những kẻ ngây thơ”.

Cây bút Evan Osnos của tờ The New  Yorker lưu ý cách Kissinger so sánh tình hình quan hệ song phương hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc với sự tương đồng đáng lo ngại về Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Theo Evan Osnos, chiến tranh thương mại là một tín hiệu đáng ngại về sự phân cực kinh tế. Đây thường là khúc dạo đầu của một cuộc chiến tranh thực sự. Điều tương tự đã đẩy Anh chống lại Đức trước năm 1914. Còn ông Kissinger cho rằng nếu nhìn vào lịch sử thì không ai trong số các nhà lãnh đạo bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ Nhất sẽ làm như vậy nếu họ biết cuối cùng thế giới sẽ như thế nào. “”Đó là tình huống chúng ta phải tránh”, cựu Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh.

Nhà sử học Odd Arne Westad thuộc Đại học Yale đồng ý với quan điểm trên và lưu ý rằng tương tự như giai đoạn trước năm 1914, tất nhiên không chỉ là trỗi dậy của Đức. Những gì chúng ta cần nghĩ, cần tập trung vào là điều gì thực sự dẫn đến chiến tranh. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh đó là nỗi sợ hãi của người Đức về vị thế của đất nước họ trong tương lai sẽ không còn được hùng cường như là ở thời điểm mùa Hè năm 1914 khi sức mạnh của Đức là vô hạn.

Cây bút Osnos cảnh báo rủi ro lớn nhất hiện nay là sự mù quáng sinh ra từ thiếu hiểu biết, tính kiêu ngạo hoặc ý thức hệ. Như những gì xảy ra gần đây trong quan hệ đưa Mỹ – Iran đến bờ vực chiến tranh thì sự hiểu lầm đã làm dẫn đến tính toán sai lầm và leo thang xung đột. Do đó, theo Osnos, nếu Washington đánh cược vào an ninh quốc gia với những dự đoán sai lầm và ý thức hệ trong lĩnh vực thương mại, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Và nếu nhận thấy Mỹ quyết tâm loại trừ Trung Quốc khỏi sự thịnh vượng và nhấn chìm Trung Quốc, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có thể hiểu lầm điều này như là chuốc lấy nỗi bất hạnh cho chính mình.

Nguồn: TKNB – 20/02/2020.