Tác động của việc Mỹ rút khỏi INF tới khu vực Thái Bình Dương


Clive Williams

Khả năng sẽ có một cuộc chạy đua vũ trang mới ở khu vực Thái Bình Dương sau khi Mỹ tuyên bố chính thức bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) được ký kết giữa Mỹ và Liên Xô vào năm 1987.

Washington bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) năm 1987 vào đầu tháng 2/2019. Tổng thống Trump đã nói vào cuối năm 2018 rằng Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp ước vì “họ (người Nga) đã vi phạm Hiệp ước trong nhiều năm”. Mối lo ngại đối với Australia là sự sụp đổ của hiệp ước có thể dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang mới ở Thái Bình Dương.

Hiệp ước cấm Mỹ và Nga có tên lửa trên đất liền với tầm bắn từ 500 km – 5000 km và các bệ phóng của chúng. Để tuân thủ hiệp ước, cả hai nước đã phá hủy khoảng 2600 tên lửa phóng từ mặt đất cùng các bệ phóng.

Do Trung Quốc không tham gia hiệp ước, nước này đã dần dần xây dựng một kkho vũ khí phóng từ mặt đất đáng gờm gồm 2000 tên lửa đạn đạo và hành trình tầm trung trong nỗ lực hiện đại hóa quân sự.

Ngày 4/1/2018, Washington đã cho Nga thời hạn 60 ngày – kết thúc vào ngày 2/2/2019 – để tháo dỡ các tên lửa mà họ tuyên bố vi phạm thỏa thuận hoặc Mỹ sẽ bắt đầu quá trình 6 tháng chính thức rút khỏi hiệp ước. Vào ngày 2/2, do không có sự phản hồi từ phía Nga, Mỹ đã ra thông báo chính thức về việc rút khỏi thỏa thuận.

Cả Mỹ và Nga đều cáo buộc bên kia vi phạm hiệp ước.

Năm 2008, Mỹ cáo buộc Nga vi phạm hiệp ước khi tiến hành thử tên lửa hành trình phóng từ mặt đất SSC-8 (9M729). Cáo buộc đã được đưa ra một lần nũa vào năm 2014 và 2017. Theo các quan chức Mỹ, việc triển khai hai tiểu đoàn tên lửa của Nga được trang bị SSC-8 là vi phạm hiệp ước. Mỗi tiểu đoàn gồm 4 bệ phóng, mỗi bệ phóng có 6 tên lửa hành trình với đầu đạn hạt nhân. Mỹ tuyên bố tầm bắn tối đa của SSC-8 là 2500 km. Ngày 23/1, chỉ huy pháo binh Nga Mikhail Matveevsky nói với một cuộc họp báo rằng tầm bắn tối đa của 9M729 chỉ là 480 km.

Về phần mình, Nga cáo buộc Mỹ vi phạm hiệp ước kể từ năm 2016 khi đặt các bệ phóng cho các hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore ở Rumani và ở Ba Lan từ năm 2020. Nga tuyên bố những bệ phóng này có thể được sử dụng cho tên lửa hành trình Tomahawk và coi đây là vi phạm Hiệp ước INF. Nga còn tuyên bố rằng Mỹ triển khai các máy bay không người lái có vũ trang tầm xa MQ-9 Reaper là vi phạm Hiệp ước INF.

Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng nếu Washington có hành động đặt nhiều tên lửa ở châu Âu sau khi hủy bỏ thỏa thuận, Nga sẽ có biện pháp đáp trả tương ứng và cảnh báo rằng bất kỳ quốc gia châu Âu nào đồng ý cho đặt tên lửa của Mỹ đều có nguy cơ bị Nga tấn công.

NATO và EU rất lo lắng về việc chấm dứt hiệp ước nhưng Tổng thống Trump dường như bận tâm nhiều hơn với khả năng Trung Quốc đe dọa bá quyền của Mỹ ở Thái Bình Dương so với khả năng đe dọa tên lửa tầm trung vũ trang hạt nhân của Nga đối với châu Âu.

Nga ít lo ngại về khả năng quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc và không muốn là bên đầu tiên rút khỏi một thỏa thuận vũ khí nền tảng. Tuy nhiên, sẽ rẻ hơn nhiều cho Nga khi chế tạo tên lửa tầm trung mới để đối phó với Trung Quốc so với chế tạo máy bay ném bom tầm xa, điều mà hiện tại nước này sẽ phải thực hiện theo Hiệp ước INF.

Mặc dù có nhiều lo ngại ở phương Tây về sự trỗi dậy của Nga, nhưng nên nhớ rằng GDP của Nga không lớn hơn nhiều so với Australia và chỉ tương đương với bang Texas (Mỹ). Nga không có khả năng chạy đua vũ trang với Mỹ hoặc để chống lại khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc.

Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ước tính Mỹ chi 3,1% GDP cho quốc phòng năm 2017, trong khi Trung Quốc là 1,9% và Nga là 4,3% GDP danh nghĩa hàng năm của Mỹ, Trung Quốc và Nga vào ănm 2018 lần lượt là 20.412, 14.092 và 1.720 tỷ USD. Từ những số liệu này, chúng ta có thể giả định rằng Hoa Kỳ đang chi khoảng 610 tỷ USD mỗi năm cho quốc phòng, Trung Quốc 228 tỷ USD và Nga 66 tỷ USD.

Do đó, việc rút khỏi Hiệp ước INF sẽ cho phép Mỹ thoải mái chi tiêu nhiều hơn Bắc Kinh và nhanh chóng xây dựng một kho vũ khí mới đáng gờm trong khu vực để thách thức Trung Quốc. Việc làm này của Mỹ chắc chắn sẽ có ý nghĩa đối với các đồng minh của Mỹ ở châu Á khi Wasington có thể sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của các đồng minh để triển khai các loại vũ khí tầm trung trên đất liền và các vũ khí thông thường tiên tiến để kiềm chế Trung Quốc.

Trong khi đó, Trung Quốc sẽ tránh tham gia các hiệp ước giới hạn vũ khí và tiếp tục mở rộng kho dự trữ tên lửa đạn đạo tầm xa.

Vào tháng 2/2018, Mỹ và Nga đồng ý theo Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới (START mới) về giới hạn 1550 đầu đạn hạt nhân triển khai chiến lược. (Mỹ hiện có 6550 đầu đạn hạt nhân trong khi Nga có 6850; Trung Quốc chỉ có 280).

START mới đã có hiệu lực vào ngày 5/2/2011 và dự kiến sẽ được gia hạn vào tháng 2/2021, nhưng nếu Tổng thống Trump giành được một nhiệm kỳ mới và với cố vấn an ninh quốc gia có lập trường cứng rắn John Bolton, thì thỏa thuận này cũng có thể bị hủy bỏ để bắt đầu một cuộc đua vũ khí hạt nhân tầm xa mới.

Australia sẽ ngày càng khó khăn trong việc cân bằng mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc – và sẽ vẫn duy trì mối quan hệ tốt với cả hai bên trong 5 năm tới. Do đó, sẽ là vấn đề lớn nếu như Mỹ muốn yêu cầu Australia cho phép đặt một số tên lửa ở đây.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

TKNB – 12/02/2019

Advertisements

Đông Nam Á năm 2019 – Phần II


Liên minh kinh tế Đông Á (EAEC) sẽ hồi sinh?

Các cuộc thảo luận về cấu trúc khu vực đã trở nên hấp dẫn hơn với việc Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad trở lại cầm quyền, người rất muốn phục hồi đề xuất của mình về một EAEC cho sự hội nhập chặt chẽ hơn giữa ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc). Gần 1/2 số người tham gia khảo sát (49,2%) cho rằng “đề xuất này không còn phù hợp vì EAEC đã được thay thể bởi Hội nghị thượng đỉnh Đông Á và RCEP trong tương lai”. Những nước có quan điểm dè dặt nhất đối với EAEC là Singapore (65,6%), Indonesia (56,7%), Philippines (55,1%), Thái Lan (57,2%) và Việt Nam (52,1%).

Đồng thời, đứa con tinh thần của Mahathir đã tìm thấy lực kéo ở 5 nước thành viên khác. Những người tham gia khảo sát từ Brunei (55,6%), Malaysia (50,7%), Campuchia (50%), Lào (50%) và Myanmar (47,2%) cho rằng EAEC sẽ “tăng cường hơn nữa mối quan hệ của ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc”. Toàn diện hơn những người tham gia khảo sát dường như không quan tâm đến tư cách thành viên hẹp của EAEC, mà loại trừ Australia, Ấn Độ và New Zealand. Chỉ 1/5 số người tham gia khảo sát (20,6%) quan tâm đến việc 3 nước này không gia nhập EAEC. Có thể thấy rõ mối quan tâm này ở Singapore (29,7%) và Việt Nam (27,7%).

Bất ổn chính trị trong nước, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, và biến đổi khí hậu là những thách thức hàng đầu về an ninh của Đông Nam Á

Cuộc khảo sát này đưa ra 6 lựa chọn – suy thoái kinh tế, khủng bố, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, những căng thẳng quân sự gia tăng từ những điểm bùng phát tiềm tàng trong khu vực, bất ổn chính trị trong nước và sự biến đổi khí hậu – để những người tham gia khảo sát xác định 3 mối quan ngại về an ninh hàng đầu của họ. Hơn 50% người được khảo sát đưa ra 4 lựa chọn là sự bất ổn chính trị trong nước (53,7%), những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo (52,9%), sự biến đổi khí hậu (51,6%) và suy thoái kinh tế (51,1%). Khủng bố xếp ở thứ tự thấp nhất với chỉ 37,2% số người tham gia khảo sát lựa chọn.

Điều thú vị là các mối đe dọa từ “các sự kiện thời tiết dữ dội và diễn ra thường xuyên hơn do biến đổi khí hậu” đứng thứ ba, xếp trên vấn đề suy thoái kinh tế, khủng bố và những căng thẳng quân sự khu vực. Biến đổi khí hậu là mối quan ngại an ninh hàng đầu ở Lào (62,1%, cùng với suy thoái kinh tế), Philippines (62,2%, cùng với những căng thẳng quân sự trong khu vực) và Singapore (61,2%).

Mối quan ngại an ninh hàng đầu đối với các nước thành viên ASEAN lần lượt là: Brunei (suy thoái kinh tế, 80%), Campuchia (bất ổn chính trị trong nước, 75%), Indonesia (nhữung căng thẳng dân tộc và tôn giáo, 67,8%), Lào (suy thoái kinh tế và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,1%), Malaysia (suy thoái kinh tế, 63,7%), Myanmar (căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, 67,1%), Philippines (những căng thẳng quân sự trong khu vực và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,2%), Singapore (biến đổi khí hậu, 61,2%), Thái Lan (bất ổn chính trị trong nước, 78,3%), Việt Nam (những căng thẳng quân sự khu vực, 78,2%).

Người Đông Nam Á lo ngại điều gì về ASEAN

Mối lo ngại chính về ASEAN là nhận thức rằng ASEAN đã không “thực hiện đúng lời hứa” với 650 triệu dân của nó. Gần 3/4 số người tham gia khảo sát (72,6%) bày tỏ họ thất vọng vì “không nhận thấy những lợi ích rõ ràng của ASEAN”. Những người tham gia khảo sát từ 7 nước thành viên ASEAN (ngoại trừ Campuchia, Lào và Việt Nam) lựa chọn đây là mối quan ngại hàng đầu của họ. Định hình 3 mối quan ngại hàng đầu là nỗi lo sợ rằng ASEAN đang trở thành đấu trường cạnh tranh nước lớn (62%) và ASEAN “không có khả năng đối phó với những diễn biến chính trị và kinh tế hay thay đổi” (61,9%). Cảm nhận của Đông Nam Á về “sự mất kết nối” không cao (35,3%). 44% số người tham gia khảo sát chia sẻ họ quan ngại về việc ASEAN ngày càng trở nên mất  đoàn kết. Đây là mối quan ngại hàng đầu của những người tham gia khảo sát ở Việt Nam (69,4%).

Về những diễn biến ở Bán đảo Triều Tiên và vấn đề Rohingya

Cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Kim ở Singapore vào ngày 12/6/2018 là một trọng tâm chính trị của năm 2018, một minh chứng cho vị thế ngoại giao của Singapore, cũng như cho thấy ASEAN là một môi trường thân thiện và không có kẻ thù. Thực tế là chỉ 26,8% số người tham gia khảo sát cho rằng “việc ASEAN làm gì không quan trọng vì có vai trò rất nhỏ” cho thấy đa số người tham gia khảo sát mong muốn tổ chức khu vực này tiếp tục can dự vào vấn đề này.

Rất ít người tham gia khảo sát trả lời câu hỏi nhiều lựa chọn này xem xét “cách tiếp cận củ cà rốt và cây gậy” của ASEAN với chỉ 28,5% đồng ý rằng ASEAN nên “đưa ra những sự khích lệ về kinh tế cho Triều Tiên để nước này duy trì cam kết phi hạt nhân hóa” và 24,9% ủng hộ “duy trì các biện pháp trừng phạt cho đến khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc dỡ bỏ chúng”. Phần lớn (60,8%) ủng hộ cách tiếp cận ngoại giao “tiếp tục can dự với Triều Tiên một cách song phương và thông qua Diễn đàn khu vực ASEAN”. Sự can dự ngoại giao là phản ứng hàng đầu ở tất cả các nước thành viên ASEAN ngoại trừ Campuchia, nơi 75% số người tham gia khảo sát muốn ASEAN “có vai trò tích cực với tư cách là một nhà trung gian hòa giải trung thực”.

Gần hơn, vấn đề Rohingya tiếp tục ảnh hưởng khắp khu vực và xa hơn nữa. ASEAN đã bị chỉ trích vì giấu mình đằng sau bức màn “không can thiệp” khi một cuộc khủng hoảng nhân đạo tiếp tục gây thiệt hại cho hơn 500.000 người Rohingya phải di cư. Kết quả khảo sát cho thấy ASEAN cần có cách tiếp cận chủ động hơn khi lựa chọn “không làm gì vì đây là vấn đề trong nước của Myanmar” có số lượng phản hồi thấp nhất (14,6%). Ngya cả trong số những người tham gia khảo sát ở Myanmar, thì “việc không làm gì” không phải là cách tiếp cận ưa thích.

Nhìn chung, 66,5% số người tham gia khảo sát lựa chọn “làm trung gian hòa giải giữa Chính phủ Myanmar, cộng đồng quốc tế và cộng đồng người Rakhine và Rohingya” là cách tốt nhất để đạt được tiến triển. Quan điểm này được chia sẻ bởi 59,2% số người tham gia khảo sát ở Myanmar và 79,1% 73 Indonesia. Câu trả lời ưa thích thứ hai (50,9%) là “tăng cường viện trợ nhân đạo cho người Rohingya ở các trại bên ngoài Myanmar”, sau đó là “gia tăng áp lực ngoại giao đối với Myanmar” (38%).

Phản ánh thực trạng trên thực địa, ASEAN bị chia rẽ giữa lựa chọn giúp đỡ nhân đạo “an toàn hơn” và một hành động hòa giải tương đối mang tính thâm nhập hơn. Hầu hết những người tham gia khảo sát từ Brunei (77,8%), Philippines (71,2%) và Singapore (66,1%) chọn hỗ trợ nhân đạo làm phản ứng chính của họ, trong khi hòa giải là lựa chọn hàng đầu cho người tham gia khảo sát từ Indonesia (79,1%), Lào (51,7%), Malaysia (72,4%), Thái Lan (66,1%), Việt Nam (67,2%) và Myanmar (59,2%). 62,5% số người tham gia khảo sát ở Campuchia lựa chọn cả viện trợ nhân đạo lẫn làm trung gian hòa giải là câu trả lời hàng đầu của họ.

II/ Các nước lớn và sự can dự của họ ở khu vực

Phân tích quan điểm về Mỹ của các nước Đông Nam Á

Cuộc khảo sát đã yêu cầu những người tham gia khảo sát chia sẻ nhận thức của họ về (a) Mỹ như một cường quốc và ảnh hưởng toàn cầu ngày  nay so với một năm trước; (b) sự can dự của Chính quyền Trump với khu vực; và (c) độ tin cậy của Mỹ với tư cách là một đối tác chiến lược và nhà cung cấp an ninh khu vực. Đối với cả ba câu hỏi này, quan điểm chung về Mỹ là cực kỳ tiêu cực.

Gần 6/10 người tham gia khảo sát (59,1%) cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trên vũ đài toàn cầu đã suy giảm (45,6%) hoặc suy giảm đáng kể (13,5%). Ngược lại, chỉ có 19,7% cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ đã tăng lên (15,4%) hoặc tăng lên đáng kể (4,3%). 21,2%  rằng địa vị của Mỹ là không thay đổi. Để đưa ra cái nhìn về bức tranh lớn hơn này, số người tham gia khảo sát giữ quan điểm rằng Mỹ đang suy yếu nhiều gấp 3 lần số người nghĩ rằng sức mạnh của Mỹ tăng lên hoặc tăng lên đáng kể. Các nước có mức độ quan ngại cao nhất về sự suy giảm của Mỹ là Philippines (75,7%), Singapore (72,7%), Brunei (68,2%) và Malaysia (67,6%). Đi ngược lại xu hướng bi quan này là Việt Nam, nước duy nhất có quan điểm tích cực (47,1%) vượt xa quan điểm hoài nghi (31,7%).

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần cuối


Kết luận

Có ba bài học có thể rút ra từ các cuộc luận bàn này của Trung Quốc về Nhật Bản và “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Trước hết, đa số áp đảo các tư liệu học thuật, các phát ngôn chính thống và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đều không đề cập đến Nhật Bản khi xét đến tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Điều này chứng tỏ ý niệm của Trung Quốc dành rất ít không gian cho các quốc gia hàng đầu châu Á như Nhật Bản, và người Trung Quốc xem mối quan hệ Trung – Mỹ là khác biệt so với các mối quan hệ cường quốc khác trong khu vực. Mỹ nên lưu tâm tới thực tế này, cũng nên xem xét tầm nhìn của mình về trật tự châu Á – Thái Bình Dương liệu có phù hợp với ý niệm của Trung Quốc.

Thứ hai, ở tất cả các tài liệu của Trung Quốc có bàn đến Nhật Bản trong bối cảnh “quan hệ cường quốc kiểu mới”, các quan điểm về Nhật Bản đều được hiểu một cách hết sức hẹp hòi Nhật Bản được mô tả lần lượt là một cường quốc đang suy yếu và là điểm tham chiếu tương phản để đánh giá sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia mà bản thân sự trỗi dậy quyền lực kiểu gây hấn của họ là một điểm đối sánh tiêu cực với tương lai trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia có quan hệ song phương không ngang tầm với Mỹ, và vì vậy là một mẫu hình kém thuyết phục cho tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ; cũng là một quốc gia ngày càng quân phiệt và cánh hữu, đang nỗ lực kích động tình trạng bất ổn ở khu vực trong vấn đề tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Thấy rất ít sự tích cực trong những mô tả này về Nhật Bản. Hơn thế, những quan điểm này lại hoàn toàn trái ngược với những gì người Trung Quốc nhận thức về Nhật Bản ở những giai đoạn trước trong lịch sử. Chứng cứ lưu trữ hiện thời của Trung Quốc cho thấy, trong những năm 1950 – 1960, giới chức Trung Quốc đã mô tả Nhật Bản không chỉ là một kẻ xâm lược thời chiến, mà còn là một mẫu hình quốc gia hiện đại, công nghiệp hóa và đầy quyền lực, cũng là một đối tác kinh tế quan trọng đối với Trung Quốc. Mặc dù hai nước không có quan hệ ngoại giao, song các quan chức hàng đầu Trung Quốc như Thủ tướng Chu Ân Lai và Thống đốc Ngân hàng Trung Quốc Nam Hán Thần đã hoan nghênh rất nhiều nhóm các nhà tư bản công nghiệp và doanh nghiệp Nhật Bản đến Trung Quốc hồi những năm 1950, 1960 và 1970 để tư vấn giải pháp cho nền kinh tế thời hậu chiến đang phát triển của Trung Quốc. Cuối những năm 1980, vai trò của Nhật Bản với tính cách là một đối tác kinh tế đã trở nên quan trọng hơn, nhưng Trung Quốc cũng lo ngại về sức mạnh trỗi dậy của Nhật Bản, một mối lo ngại sớm muộn cũng không còn được giảm thiểu bởi bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn, trong đó Trung Quốc và Nhật Bản cùng sát cánh chống lại mối đe dọa Xô Viết. Sự hẹp hòi trong các quan điểm của Trung Quốc về Nhật Bản càng trở nên sâu sắc hơn trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh lạnh, khi các nhà lãnh đạo cộng sản ở Trung Quốc bắt đầu tiến trình “tái ghi nhớ” những hành động tàn bạo của người Nhật trong suốt Thế chiến thứ hai. Đến giữa những năm 1990, nghị trình chính thống đã đặt trọng tâm lớn vào những sai phạm chết người trong lịch sử của Nhật Bản, và chỉ trích cao độ việc tăng cường liên minh Mỹ – Nhật và mối quan hệ Nhật Bản – Đài Loan. Nghị trình này cổ vũ cho tinh thần chống Nhật mạnh mẽ trogn số đông dân chúng, dẫn đến những cuộc biểu tình quy mô lớn hồi đầu những năm 2000 liên quan đến những vấn đề như việc Nhật Bản được đề nghị một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuy nhiên, ngay tại cao trào của những tình huống căng thẳng này, nghị trình của Trung Quốc về Nhật Bản hồi đầu những năm 2000 vẫn hàm chứa rất nhiều quan điểm khác nhau. Minh chứng đáng chú ý nhất ở đây là sự hiện diện của “các nhà tư tưởng mới” – như Shi Yinhong và Ma Licheng – những người thẳng thắn nêu tranh luận cho rằng, Trung Quốc không thể hy vọng Nhật Bản mãi mãi là một quốc gia “phi chuẩn” không có quyền lực quân sự.

Điểm có vẻ khác biệt trong nghị trình hiện thời của Trung Quốc về Nhật Bản chính là sự thiếu vắng của số nhiều các quan điểm. Thay vì thế, ta sẽ nhận ra một sự thu hẹp đáng lo ngại những ý niệm của Trung Quốc về Nhật Bản. Đôi khi vẫn có những tham chiếu đến mối quan hệ kinh tế trọng yếu ràng buộc Trung Quốc và Nhật Bản, như sự kiện hồi tháng 9/2012, ở thời điểm cao trào của những cuộc biểu tình phản kháng và tẩy chay chống Nhật đang lan rộng ở Trung Quốc, tờ Nhân dân Nhật báo đã nhắc nhở độc giả của mình rằng “bất cứ một sự đổ vỡ nghiêm trọng nào trong quan hệ thương mại song phương [giữa Trung Quốc và Nhật Bản] đều có thể gây tổn hại cho cả hai quốc gia”. Song những tham chiếu như vậy đang ngày càng trở nên hiếm hoi. Hiện nay, những nhãn mác đáng chú ý nhất trong nghị trình học thuật và chính thống của Trung Quốc về Nhật Bản là những thuật ngữ kiểu như “quyền lực suy giảm”, “xâm lược lịch sử”, “cánh hữu” và “chủ nghĩa thân tộc”, cùng với những biểu trưng của tiến trình giải trừ quân bị của Nhật Bản từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai như các Phiên tòa Tokyo, Tuyên bố Cairo, và Tuyên bố Potsdam. Những nhãn mác này đã mô tả một hình ảnh hết sức phiến diện về Nhật Bản. Dù là công cụ hay là gì khác nữa, chúng đều tạo thành quan điểm cho rằng Nhật Bản thua kém Trung Quốc, rằng lịch sử xâm lược đã khiến Nhật Bản không đủ tư cách nắm giữ vai trò cường quốc “quy chuẩn”, và hành vi “phi pháp” và “dân tộc chủ nghĩa” của Nhật Bản – chứ không phải là bất cứ hành động nào từ phía Trung Quốc – đang thách thức hiện trạng ở châu Á. Quan trọng không kém, những nhãn mác này cũng giúp giới chức và các nhà khoa học Trung Quốc đặt tương lai của Trung Quốc bên cạnh quá khứ của Nhật Bản; họ cho rằng, bởi lẽ Trung Quốc không quân phiệt và dân tộc chủ nghĩa như Nhật Bản, nên thế giới không cần phải e sợ và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Sau cùng, nghị trình này về Nhật Bản đã đặt ra những vấn đề quan trọng sống còn đối với việc trị lý hòa bình tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Như Evelyn Goh mới đây đã nhận định, “bước chuyển tiếp trật tự đang diễn ra đòi hỏi một sự tính toán cho nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản về những điều kiện để Nhật Bản tái hòa nhập với cộng đồng khu vực hiện thời” ở châu Á. Song, như đã thấy rõ từ phân tích này, những quan niệm của Trung Quốc vẫn là những quan điểm nhận thức hẹp hòi về Nhật Bản với tính cách là một thế lực gây hấn, quân phiệt và bất hợp pháp. Mọi sự tính toán cho nhau đều có vẻ như bất khả thi. Điều này có nghĩa Mỹ sẽ tiếp tục là một “nhân tố trung lập” giữa một Trung Quốc đầy năng lực cạnh tranh và Nhật Bản, từ đó dần phong hóa những nỗ lực của Trung Quốc nhằm tạo dựng một trật tự mới ở châu Á, trong đó sức mạnh và uy quyền được chia sẻ ngang bằng hơn giữa Mỹ và Trung Quốc. Tháng 10/2013, ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc đã tổ chức một hội nghị công tác quan trọng về vấn đề ngoại giao khu vực, một hội nghị có vẻ nhằm tìm cách tái thiết và phục hồi các mối quan hệ trong khu vực của Trung Quốc sau một thời kỳ khó khăn kéo dài 3 – 4 năm. Chủ tịch Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc củng cố “mối quan hệ bạn hữu” với các quốc gia láng giềng, nhận định “khu vực châu Á – Thái Bình Dương là đủ lớn để tất cả các quốc gia cùng phát triển”, đồng thời thúc giục Trung Quốc thực hiện những bước tiến tiên phong để tăng cường an ninh khu vực. Nghị trình mới này của Trung Quốc tuy có liên quan đến Nhật Bản song vẫn chưa rõ ràng. Từ trước đến nay, ta vẫn chỉ có chút ít dẫn chứng từ Trung Quốc chứng minh tư duy sáng tạo về vai trò mà một Nhật Bản đầy quyền năng có thể nắm giữ bên cạnh một Trung Quốc đầy quyền năng. Trong khi một số người, như Yuan Peng, đã thừa nhận ý nghĩa quan trọng của việc tăng cường mối quan hệ ba bên Trung – Nhật – Mỹ với tính cách là một “điều kiện tiên quyết” để đạt được “quan hệ cường quốc kiểu mới”, thì cách tư duy kiểu này vẫn là hiếm thấy. Trừ khi Trung Quốc suy xét lại vai trò của Nhật Bản ở châu Á, và việc làm thế nào để quá trình chuyển tiếp quyền lực có thể diễn ra theo cách chấp nhận được cho cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản, bằng không ta sẽ khó có thể chứng kiến thành tựu lớn từ “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc.

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Đông Nam Á năm 2019 – Phần I


Trung tâm nghiên cứu ASEAN tại Viện ISEAS-Yusof Ishak đã thực hiện cuộc khảo sát trực tuyến về “Tình trạng Đông Nam Á: 2019” từ 18/11 đến 5/12/2018 để tìm kiếm những quan điểm của người Đông Nam Á về các vấn đề khu vực. Cuộc khảo sát đã sử dụng phương pháp lấy mẫu có chủ đích, thu thập những quan điểm từ tổng số 1008 người Đông Nam Á là các chuyên gia khu vực và những người có lợi ích liên quan từ các cộng đồng chính sách, nghiên cứu, kinh doanh, xã hội dân sự và truyền thông. Do đó, kết quả của cuộc khảo sát này không có nghĩa là mang tính đại diện. Thay vào đó, nó nhằm mục đích trình bày một quan điểm chung về thái độ phổ biến giữa những người ở vào vị thế đưa ra thông tin hoặc gây ảnh hưởng đến chính sách đối với các vấn đề và các mối quan ngại chính trị, kinh tế và xã hội khu vực.

Cộng đồng học giả và tư vấn tạo thành nhóm người tham gia khảo sát lớn nhất với tỷ lệ 42%. Gần 1/3 số người tham gia khảo sát (32,9%) đến từ chính phủ, nhóm tổ chức liên chính phủ và quốc tế, mà mang lại một cơ hội hiếm hoi để tiếp cận các quan điểm từ các giới thường kín tiếng này. Cộng đồng doanh nghiệp và tài chính (10,4%), xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ (NGO) (8%), và giới truyền thông (6,7%) tạo thành 25,1% số người tham gia khảo sát còn lại.

1008 người tham gia khảo sát đã là những người ở tất cả 10 nước thành viên ASEAN nhằm đảm bảo rằng cuộc khảo sát phản ánh chính xác quan điểm khu vực. Các nước có tỷ lệ trả lời cao nhất là Myanmar (16,9%), tiếp theo là Malaysia (14,5%), Singapore (12,7%), Việt Nam (12,3%), Indonesia (11,4%), Thái Lan (11,4%), Philippines (11%), Brunei  Darussalam (4,5%), Lào (2,9%) và Campuchia (2,4%).

I/ Các quan điểm và tiến triển khu vực

Bức tranh lớn

Tâm trạng chung của khu vực là bi quan với 42,5% số người tham gia khảo sát dự đoán khu vực này sẽ gặp phải một giai đoạn không chắc chắn và một tỷ lệ nhỏ (2,2%) tỏ ra có những quan ngại về một năm đầy biến động ở phía trước. Mặt khác, 32,3% cho rằng khu vự này “ổn định” (30,3%) hoặc “rất ổn định” (2%). Gần 1/4 số người tham gia khả sát (23%) cho rằng các nguyên tắc cơ bản của khu vực “không thay đổi”. Lạc quan nhất là Lào với 68,9% người tham gia khảo sát cho rằng khu vực “ổn định” hoặc “rất ổn định”, trong khi người Singapore thì bi quan nhất, với 66,9% dự đoán năm 2019 sẽ được đánh dấu bởi những sự không chắc chắn và thậm chí là rối loạn.

Những triển vọng kinh tế

Ở tất cả các nước thành viên ASEAN, quan điểm tích cực (55,4%) về nền kinh tế khu vực vượt xa các phản ứng tiêu cực (21,3%). Hơn một nửa số người tham gia khảo sát (55,4%) mong đợi rằng khu vực này sẽ có sự tăng trưởng, dù ở mức vừa phải (49,9%) hay mạnh mẽ (5,5%). Gần 1/4 (23,3%) dự đoán một năm ổn định ở phía trước. Sự khẳng định mạnh mẽ về kinh tế có phần đáng ngạc nhiên khi có những trở ngại hiện tại từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đang diễn ra.

Mặt khác, 21,3% số người tham gia khảo sát nhận thấy khu vực này đang hướng tới sự suy giảm vừa phải (19,9%) hoặc suy giảm mạnh (1,4%). Có thể thấy những quan điểm lạc quan nhất (tăng trưởng vừa phải đến mạnh) là ở Lào (86,2%), Campuchia (66,7%) và Brunei (64,4%). Ở Malaysia (34,9%), Singapore (33,5%) và Thái Lan (32,2%) là những quan điểm bi quan nhất (giảm vừa phải đến giảm mạnh) trong khu vực.

Sự không chắc chắn về việc ký kết RCEP và tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung

Các quan điểm tích cực về khả năng phục hồi của nền kinh tế khu vực không tiếp nối tới Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Khi được hỏi về quan điểm của họ về việc kết thúc các cuộc đàm phán RCEP, “47,1% cho rằng không thể bình luận”. Điều này có thể được hiểu là không có đủ thông tin để đưa ra ý kiến, cho thấy cần phải nỗ lực nhiều hơn để đưa các bên lợi ích liên quan tham gia cuộc thảo luận này.

Nhìn chung, 29,2% số người tham gia khảo sát trả lời “tin tưởng” (27%) hoặc “rất tin tưởng” (2,2%) rằng RCEP sẽ được ký vào năm 2019. Ngược lại, 23,7% cho rằng các cuộc đàm phán RCEP là một vấn đề kéo dài mà “không có khả năng” (21,3%) hoặc “rất không có khả năng” (2,4%) được hoàn tất trong năm 2019. Những người tham gia khảo sát ở Campuchia là những người lạc quan nhất với 45,8% bỏ phiếu “tin tưởng” đối với một kết thúc nhanh chóng và cuối cùng, tiếp theo là Thái Lan (34,8%) và Indonesia (33,4%). Mức độ hoài nghi cao nhất là từ Singapore (35,2%), Việt Nam (30,7%) và Malaysia (30,1%) – 3 trong số 4 nước ASEAN ký kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Cũng có rất nhiều sự không chắc chắn xoay quanh những rối loạn (và lợi ích) có thể xảy ra do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung khi 39,7% số người tham gia khảo sát không rõ về tác động cảu cuộc chiến tranh thương mại đối với các nước tương ứng của họ. Tuy nhiên, nhiều người tham gia khảo sát hơn nghĩ rằng đất nước của họ sẽ phải chống chọi lại những tổn thất do cuộc chiến tranh thương mại này thay vì gặt hái được bất kỳ lợi ích nào. Gần 1/5 số người tham gia khảo sát (19,9%) chia sẻ rằng “nền kinh tế của nước họ sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực vì cuộc chiến tranh thương mại sẽ phá vỡ chuỗi cung ứng trong khu vực”. Những người tham gia khảo sát ở Singapore có cảm giác mạnh mẽ nhất về điềm gở này với 29,7% có quan điểm tiêu cực. Cảm giác lo lắng này cũng xuất hiện ở Thái Lan (27,2%) và Indonesia (21,8%). Đồng thời 13,7% số người tham gia khảo sát nhận thấy đất nước của họ “được hưởng lợi từ sự chuyển hướng đầu tư và thương mại sang khu vực này”, với Campuchia dẫn đầu sự lạc quan (29,2%), tiếp theo là Malaysia (19,9%) và Việt Nam (17%).

Một số ít người tham gia khảo sát (8,5%) cho rằng cuộc chiến thương mại sẽ dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ và chống thương mại gia tăng trong khu vực. Chỉ có 18,2% số người tham gia khảo sát thực tế coi Cộng đồng kinh tế ASEAN, RCEP và CPTPP là những nơi trú ẩn an toàn để vượt qua được cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

CPTPP có thể mở rộng?

CPTPP có hiệu lực từ ngày 30/12/2018, sau khi được 7 thành viên – Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand, Singapore và Việt Nam – đảm bảo thông qua, 4 nước ký kết còn lại – Brunei Darussalam, Chile, Malaysia và Peru – dự kiến sẽ làm theo đúng trình tự. Cuộc khảo sát đã nêu lên những quan điểm của những người tham gia khảo sát từ 6 nước thành viên ASEAN không tham gia CPTPP (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines và Thái Lan) về việc nước họ có thể gia nhập hiệp định thương mại này hay không. Trong câu hỏi nhiều câu trả lời này, phần lớn số người tham gia khảo sát (53,6%) cho rằng “tốt hơn là nên áp dụng cách tiếp cận chờ xem để xác định khả năng tồn tại của CPTPP”.

Trong khi đó, sự ủng hộ dành cho CPTPP không phải là không đáng kể với hơn 1/3 số người tham gia khảo sát (36,4%) có khuynh hướng tích cực đối với hiệp định thương mại. Trong nhóm này, 26,6% ủng hộ nước họ tham gia CPTPP khi hiệp định được thiết lập như hiện tại và 9,8% muốn nước họ tham gia lại “chỉ khi Mỹ tham gia hiệp định thương mại này”. Nước ủng hộ CPTPP dưới hình thức hiện nay mạnh mẽ nhất là Campuchia (39,1%), Philippines (38,1%) và Thái Lan (33,6%). Một số ít người tham gia khảo sát (10%) cho rằng đất nước của họ “tốt hơn hết là không gia nhập CPTPP”.

Trong câu hỏi rộng hơn về CPTPP, bao gồm các câu trả lời từ cả 10 nước thành viên ASEAN, hầu hết những người tham gia khảo sát (46,1%) đồng ý rằng CPTPP là “quan trọng trong việc giữ đà hướng tới một chế độ thương mại khu vực dựa trên quy tắc và có chất lượng cao”. 20,2% số những người tham gia khảo sát đều ủng hộ tính hữu ích của RCEP so với CPTPP; mức độ ủng hộ cao hơn dành cho RCEP so với CPTPP đến từ Lào (39,3%) và Indonesia (35,1%). Nhìn chung, 28,4% số người tham gia khảo sát nghĩ rằng CPTPP sẽ có tác động hạn chế vì không bao gồm Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ; những người tham gia khảo sát ở Campuchia tỏ ra bi quan hơn với 43,5% số người tham gia khảo sát cùng có quan điểm này.

(còn tiếp)

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần III


Họ nói thêm rằng, quan hệ kinh tế Trung – Mỹ hiện thời là một mối quan hệ cùng bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, cả Trung Quốc và Mỹ đều không tính đến việc thực thi một sự cạnh tranh kinh tế tương tự vốn đã đẩy Đức và Nhật Bản đến bờ vực chiến tranh. Song điều quan trọng là, các tác giả này và cả các học giả Trung Quốc khác đều không thừa nhận mối quan hệ kinh tế cùng bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng có thể tạo thành nền tảng cho một “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa hai quốc gia này. Thay vì thế, những học giả như Liu Jiangyong chỉ đơn thuần nhấn mạnh, quan hệ kinh tế Trung – Nhật đã phải chịu nhiều tổn thất bởi tình trạng căng thẳng về an ninh và chính trị trong quan hệ song phương.

Theo Yang Lu-hui (Dương Lỗ Tuệ), mối quan hệ của Nhật Bản với Mỹ thời hậu Chiến tranh Lạnh chính là một mẫu hình “tiêu cực” buộc phải ngăn ngừa trong tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. “Quan hệ cường quốc kiểu mới” không thể học theo mối quan hệ đó, vốn được ông mô tả như là một “liên minh quân sự giữa hai cường quốc” “không đối xứng” (buduichen), “không cân sức” (feijunhengxing), và một trong số hai quốc gia này không thỏa mãn với vị thế ngang bằng (buduideng). Vì mối quan hệ không ngang bằng ấy mà Yang Lu-hui kết luận rằng, “kiểu quan hệ cường quốc Nhật – Mỹ rõ ràng không phải là một lựa chọn chiến lược cho quan hệ cường quốc kiểu mới Trung – Mỹ”.

Trật tự thời hậu Thế chiến thứ hai: Chúng ta không thể để Nhật Bản đảo ngược trật tự quốc tế thời hậu chiến

Trong các cuộc luận bàn về “quan hệ cường quốc kiểu mới”, người Trung Quốc cũng thường xuyên tham chiếu đến trật tự quốc tế thời hậu Thế chiến thứ hai (zhanhou guoji zhixu) cùng với vị thế của Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Những tham chiếu này nhằm hai mục đích. Trước hết, chúng cho phép các nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ trích Nhật Bản vì hành vi mà họ xem là nỗ lực lật đổ trật tự thời hậu chiếu: những chuyến viếng thăm của Thủ tướng Shinzo Abe đến Đền Yasukuni, các kế hoạch xét lại Hiến pháp thời hậu chiến, và thái độ không sẵn sàng chính thức thừa nhận sự tồn tại của một cuộc tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Chẳng hạn, ở một trong những bài phát biểu mới đây về “quan hệ cường quốc kiểu mới”, Chủ tịch Tập Cận Bình đã chỉ rõ, Nhật Bản đang đe dọa lật đổ trật tự quốc tế thời hậu chiến được hình thành từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai.

81 năm trước, Nhật Bản đã khiến thế giới sửng sốt với “Biến cố Thẩm Dương”. Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản không chỉ gây ra những đớn đau khôn xiết cho người dân Trung Quốc, mà còn gây ra những tổn thương to lớn cho các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có nước Mỹ. Một số thế lực chính trị ở Nhật Bản hông những không truy vấn lương tâm mà còn làm sâu sắc thêm những thương tích chiến tranh đã gây ra cho các nước láng giềng và các nước châu Á – Thái Bình Dương, và đang lặp lại những sai lầm tương tự, đang diễn hài kịch “mua lại các đảo”, công khai nghi ngờ tính hợp pháp quốc tế của “Tuyên bố Cairo” và “Tuyên bố Potsdam”, làm căng thẳng thêm các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng, và vân vân. Cộng đồng quốc tế không cần tính đến nỗ lực của Nhật Bản nhằm phủ nhận các hệ quả của cuộc Chiến tranh thế giới chống chủ nghĩa phát xít, hay nhằm thách thức trật tự quốc tế thời hậu chiến. Nhật Bản nên dừng lại trước khi quá muộn, nên ngừng lại việc gây tổn hại đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc với những phát ngôn và hành động hoàn toàn sai lầm của mình”.

Tuyên bố này của Chủ tịch Tập Cận Bình cũng như những tuyên bố và văn bản chính thống khác ở Trung Quốc thời gian gần đây đều tham chiếu phổ rộng đến các biểu trưng của trật tự thời hậu chiến, như Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam. Những văn kiện pháp lý mang tầm quốc tế này đã được “ba đồng minh lớn” – Mỹ, Anh và Trung Quốc – vận dụng để soạn thảo các điều kiện đầu hàng của Nhật Bản, để ghi nhận vai trò vô cùng đặc biệt thời hậu chiến của Nhật Bản với tính cách là một quyền lực phi quân sự miễn cưỡng và “phi chuẩn”. Những tuyên bố như phát ngôn của Chủ tịch Tập Cận Bình về hồi chuông cảnh tỉnh từ phía Trung Quốc trước những gì họ xem là lời luận giải tiềm tàng cho một trật tự thời hậu chiến đã đóng vai trò là “nền tảng của các quan hệ quốc tế”. Trật tự quốc tế theo tính toán của Trung Quốc là một trật tự kiềm chế không cho Nhật Bản mở rộng tự do vị thế đặc biệt thời hậu chiến, ngăn giữ Nhật Bản thực thi các bước tiến quân sự chống phá sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc.

Thứ hai, người Trung Quốc coi trọng trật tự thời hậu chiến không chỉ bởi cách thức trật tự này giúp giải trừ quân bị ở Nhật Bản, mà còn bởi cách nó gán cho Trung Quốc (dẫu là Trung Hoa dân quốc) một vị thế đặc biệt với tính cách là một trong những cường quốc dẫn đầu trong hệ thống quốc tế. Viện dẫn những hình tượng và biểu trưng của trật tự quốc tế thời hậu chiến, như các Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam, các nhà lãnh đạo đã khôn khéo nhắc nhở nước Mỹ rằng Trung Quốc nên được nhìn nhận là một cường quốc ngang sức ngang tài và là “một điểm trong quá khứ, chứ không phải là quá khứ lâu dài, khi Trung Quốc đã sát cánh cùng các thế lực cấp tiến chống chủ nghĩa phát xít”. Thay vì nhấn mạnh những điểm khác biệt với nước Mỹ, các tài liệu của Trung Quốc chú trọng lịch sử và những giá trị chung này, như đã ca ngợi những nỗ lực của nước Mỹ hồi tháng 9/2012:

Trong suốt thời kỳ Thế chiến thứ hai, sức mạnh Mỹ là một đóng góp quan trọng để đánh bại Nhật Bản. Đóng góp lịch sử của nước Mỹ đối với người dân châu Á, trong đó có Trung Quốc, cần được đánh giá cao và tôn trọng hết mức. Nước Mỹ từ sau chiến tranh đã mang trọng trách “tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật”.

Những ý niệm về sự ngang bằng, vị thế cường quốc và đóng góp chung cho trật tự quốc tế – xuất phát từ trải nghiệm và hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai – đã giúp Trung Quốc vững tin kêu gọi một “quan hệ cường quốc kiểu mới” với nước Mỹ.

Song vấn đề là ở chỗ giới chức Trung Quốc chỉ muốn duy trì một số khía cạnh nhất định của trật tự quốc tế thời hậu chiến: vị thế cường quốc của Trung Quốc và sự giải trừ quân bị hoàn toàn ở Nhật Bản. Còn những khía cạnh khác của trật tự thời hậu chiến – nhất là liên minh Mỹ – Nhật – thì lại là vấn đề xa vời đối với Bắc Kinh. Các tư liệu và phát ngôn chính thống của Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” đã để lộ thái độ lo ngại về cách thức liên minh Mỹ – Nhật cho phép Mỹ “chuyển giao trái phép” chủ quyền ở quần đảo Điếu Ngư cho Nhật Bản hồi những năm 1970, về kế hoạch tái vũ trang của Nhật Bản trong nội bộ liên minh Mỹ – Nhật, và về cách thức hiện trở thành một nguyên tắc quan trọng cốt yếu của liên minh này trong kế hoạch “tái cân bằng” sức mạnh quân sự Mỹ ở châu Á. Đây là thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc: cơ chế thời hậu chiến cho phép giải trừ quân bị hoàn toàn ở Nhật Bản – liên minh Mỹ – Nhật – hiện đang tạo điều kiện cho kế hoạch tái vũ trang của Nhật Bản và có thể được khai thác để chống phá sự trỗi dậy của Trung Quốc. Mặc dù mong muốn duy trì trật tự quốc tế thời hậu chiến, nhưng nghị trình Trung Quốc về trật tự này lại không thừa nhận bất cứ một động thái nào trong liên minh Mỹ – Nhật. Người Trung Quốc muốn liên minh Mỹ – Nhật duy trì nguyên trạng, chỉ để khóa chốt Nhật Bản vào vị thế “phi chuẩn” thời hậu chiến. Đây là một yêu cầu quan trọng, thậm chí đã trở nên quan trọng hơn bởi thực tế là bản thân sự trỗi dậy của Trung Quốc đang làm biến đổi trật tự chiến lược ở châu Á, chắc hẳn đang thôi thúc những cường quốc như Mỹ và Nhật Bản phải đáp lời.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần cuối


Ba là cục diện an ninh toàn cầu tương đối cân bằng hiện nay có thể bị phá vỡ. Mặc dù mỗi năm trênt hế giới đều xảy ra rất nhiều sự kiện xung đột, chiến tranh cục bộ và tấn công khủng bố, nhưng nhìn chung tình hình an ninh thế giới không có nhiều biến động, cơ bản ổn định, tình hình an ninh nằm trong phạm vi có thể kiểm soát, cục diện an ninh thế giới cũng ở trạng thái tương đối ổn định và cân bằng. Tuy nhiên, việc Mỹ rút khỏi INF có thể tác động đến cục diện an ninh thế giới. Nguyên nhân do Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với Mỹ và Nga không còn sự rằng buộc, trở thành đối thủ chiến lược, hai nước đều muốn phát triển mạnh và bố trí các loại thiết bị vũ khí tiên tiến hơon bao gồm cả tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thậm chí còn có khả năng vũ trang cho các nước đồng minh.

Đối với Mỹ, chỉ khi triển khai một số lượng lớn tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, đặc biệt là khu vực phía Đông của châu Âu thì mới có thể tạo thành mối đe dọa lớn nhất đối với Nga. Hiện nay, mặc dù đa số các nước châu Âu không muốn, thậm chí phản đối sự bố trí tên lửa của Mỹ ở châu Âu, nhưng nếu Nga bố trí tên lửa ở khu vực biên giới phía Tây, tạo nên mối đe dọa thực sự đối với các quốc gia châu Âu thì các quốc gia này tự nhiên sẽ không phản đối chủ trương của Mỹ, và có khả năng chủ động mua vũ khí của Mỹ để phòng thủ. Bên cạnh đó, để tạo thành mối đe dọa ở phía Nam của Nga và tranh chấp chủ quyền với Nga ở Trung Đông, Mỹ còn có khả năng bố trí tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa ở khu vực Trung Đông.

Đối với Nga, các lực lượng của Mỹ được triển khai đến đâu, Nga sẽ bám sát theo đến đó, nếu không sẽ rơi vào trạng thái bị động, chẳng hạn như trước việc Mỹ và NATO thâm nhập sâu vào Ukraine và các nước Baltic, Nga tích cực thắt chặt quan hệ với các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) như Belarus để ứng phó; đối với việc Mỹ bố trí tên lửa đạn đạo ở khu vực Trung Đông, Nga triển khai các loại vũ khí tương tự ở các nước như Iran, Syria…, tạo thành mối đe dọa đối với quân đội Mỹ đồn trú ở khu vực Trung Đông. Hai bên có khả năng bố trí các loại vũ khí tiên tiến khác nhau nhiều hơn ở các nước đồng minh của mình. Ngoài ra, hai nước còn thường xuyên tự mình hoặc phối hợp với các nước đồng minh tổ chức các hoạt động quân sự như diễn tập quân sự quy mô lớn ở các khu vực nói trên để thể hiện sức mạnh, đe dọa lẫn nhau. Mỹ và Nga thay nhau tăng cường sức mạnh quân sự trong khu vực, cường độ đối đầu leo thang theo kiểu xoắn ốc, nếu tình hình tiếp tục kéo dài nhất định sẽ khiến cán cân cân bằng sức mạnh trong khu vực bị phá vỡ, cục diện an ninh đương nhiên cũng sẽ bị phá vỡ theo.

Bốn là tình hình quốc tế có thể rơi vào tình trạng hỗn loạn trong thời gian dài. Mỹ rút khỏi INF thì Nga cũng sẽ không tiếp tục tuân thủ, khiến sự ràng buộc của hiệp ước mất đi, chỉ cần điều kiện kinh tế cho phép thì Mỹ và Nga sẽ có thể chạy đua phát triển sức mạnh quân sự, các nước, đặc biệt là các đồng minh ở khu vực điểm nóng cũng đưa nhau mô phỏng theo, nghiên cứu chế tạo hoặc mua nhiều vũ khí tiên tiến. Như tại khu vực châu Á, các nước láng giềng tiếp giáp Nga như Ukraine, Gruzia, 3 nước vùng Baltic, Ba Lan, Romania và Đức, Pháp, Nhật Bản… sẽ đi đầu phát triển sức mạnh quân sự mới, đồng thời mở rộng quy mô quân đội; Belarus với tư cách là đồng minh của Nga có thể sẽ cho phép Nga triển khai các đơn vị tên lửa trong lãnh thổ của mình hoặc tự mình tăng cường bố trí sức mạnh quân sự tương tự. Ở khu vực Trung Đông, để ứng phó với Mỹ, Israel, Saudi Arabia, rất có thể Iran sẽ mở rộng hơn nữa quy mô bố trí tên lửa đạn đạo. Để ngăn chặn các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Iran, bên cạnh việc tăng cường bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, Saudi Arabia, Israel cũng sẽ phát triển mạnh các loại vũ khí mang tính tấn công như tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa; Ấn Độ và Pakistan cũng có thể mô phỏng theo Mỹ và Nga, phát triển tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung để chiếm ưu thế trong cuộc đối đầu quân sự. Từ cuối năm 2018 đến nay, Nga đã tiếp xúc thường xuyên với 2 nước Trung Nam Mỹ là Cuba và Venezuela: bố trí hệ thống định vị vệ tinh Glonass ở Cuba, triển khai tạm thời 2 máy bay ném bom chiến lược Tu-160 ở Venezuela, đồng thời huấn luyện cho lực lượng không quân của Venezuela. Nếu quan hệ Mỹ – Nga xấu đi nghiêm trọng, không loại trừ khả năng Nga sẽ thiết lập căn cứ quân sự ở Cuba và Venezuela để đe dọa Mỹ từ hai bên sườn. Nói cách khác, Mỹ đang tăng cường sức mạnh quân sự ở khu vực Đông Âu – các cửa ngõ của Nga để đe dọa Nga. Trong khi đó, Nga lại tăng cường xây dựng các căn cứ quân sự ở khu vực Trung Nam Mỹ – sân sau của Mỹ để đối chọi với Mỹ. Sự tranh giành lợi ích giữa Mỹ và Nga gia tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các nước đồng minh trên toàn thế giới, theo đó các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt của hai bên có thể bị thúc ép cùng với Mỹ và Nga rơi vào vòng xoáy đối đầu quân sự, đọ sức chính trị và ngoại giao trên phạm vi toàn cầu. Khi đó, tình hình an ninh thế giới sẽ ngày càng phức tạp, hỗn loạn, có thể diễn biến theo chiều hướng mất kiểm soát.

Năm là khu vực châu Âu có thể bị “xé nát”. Cuối năm 2018, trước việc Mỹ tuyên bố rút khỏi INF, một số nước thành viên của NATO đã nhiều lần kêu gọi Mỹ không nên rút khỏi hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân này mà nên nỗ lực tranh thủ thúc đẩy Nga tuân thủ hiệp ước, hy vọng sẽ tránh được sự chia rẽ của NATO có thể bị Nga lợi dụng. Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg từng nói NATO không muốn khởi động một cuộc chiến tranh lạnh mới và cũng sẽ không tăng cường bố trí vũ khí chiến lược ở châu Âu để khơi mào một cuộc tranh chấp.. Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: “Chúng ta cần phải nắm chắc vận mệnh của mình”. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron lại tích cực kêu gọi xây dựng “quân đội châu Âu”, giảm thiểu sự lệ thuộc về an ninh vào Mỹ. Theo đó, các bên có liên quan đã lần lượt phát đi thông điệp phản đối Mỹ rút khỏi INF.

Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với việc khu vực châu Âu sẽ bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung, thậm chí tăng cường bố trí tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Mỹ, động thái này nhất định dẫn đến phản ứng mạnh mẽ của Nga và Nga sẽ áp dụng biện pháp đối phó tương tự để đe dọa Mỹ và các nước thuộc Tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tại cuộc họp báo thường niên vào ngày 20/12/2018 Tổng thống Nga Putin cảnh báo: Hiện nay, khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân trên toàn cầu đã ngày càng gia tăng, nếu Mỹ cố ý rút khỏi INF, đồng thời bố trí hệ thống tên lửa liên quan ở châu Âu thì Nga cũng sẽ buộc phải đưa ra sự đáp trả tương ứng. Trước đó, Tổng thống Putin cũng cảnh báo nếu châu Âu chấp nhận tên lửa của Mỹ thì tên lửa của Nga sẽ nhắm vào họ. Có thể thấy nhà lãnh đạo Nga đã thể hiện thái độ rất rõ ràng và cứng rắn.

Hiện nay, NATO không đoàn kết, các nước châu Âu cũ và mới có mâu thuẫn. Với tư cách là quốc gia chủ chốt trong NATO, Mỹ luôn thể hiện rõ hành vi bá quyền ở khắp mọi nơi, phần lớn các quốc gia châu Âu cũ đại diện là Đức, Pháp, Anh có mâu thuẫn với Mỹ và những mâu thuẫn này càng được thể hiện rõ rệt hơn sau kkhi Donald Trump lên cầm quyền. Các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô trước đây mới tham gia NATO với mong muốn nhận được sự bảo vệ của Mỹ, thắt chặt quan hệ với Mỹ, đặc biệt là Ba Lan, Romania, Czech và các nước vùng Baltic có mối quan hệ rất tốt với Mỹ, chủ động mời quân đội Mỹ đến đồn trú, phần lớn các nước đã chấp nhận quân đội Mỹ, Ba Lan tuyên bố chi 2 tỷ USD để quân đội Mỹ tu bổ các cơ sở và căn cứ quân sự. Rất dễ nhận thấy hiện nay NATO đang chia thành hai phe là rời xa Mỹ và thân Mỹ. Trong tương lai, nếu Mỹ buộc phải bố trí tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, các quốc gia châu Âu như Đức, Pháp, Anh… sẽ không chủ động tiếp nhận, thậm chí có thể ngăn cản. Trong bối cảnh đó, Mỹ có thể lựa chọn Ba Lan, Romania và các nước Baltic cũng như các nước có mối quan hệ tốt như Ukraine để triển khai, tuy nhiên, vấn đề này sẽ khiến các nước châu Âu cũ và mới xuất hiện rạn nứt mới, chia rẽ nhiều hơn. Trên thực tế, các nước châu Âu đã trở thành vật hy sinh của cuộc đọ sức giữa Mỹ và Nga.

Phân tích một cách toàn diện, việc Mỹ rút khỏi INF chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc đọ sức gay gắt mới giữa Mỹ và Nga, có tác động tiêu cực tới tình hình an ninh và phát triển kinh tế thế giới, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc xung đột mới hoặc chiến tranh ủy nhiệm cục bộ, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ những vấn đề diễn biến tiếp theo.

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019

Vấn đề Biển Đông đặt liên minh Philippines – Mỹ vào thế khó


Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tuyên bố “chia tay Mỹ” trong chuyến thăm đầu tiên của ông đến Trung Quốc. Hai năm sau đó, Philippines đã chính thức kêu gọi đánh giá lại mối quan hệ đồng minh lâu đời với Mỹ.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana – cựu tùy viên quốc phòng tại Washington – đã nhấn mạnh rằng Manila không loại trừ khả năng hủy bỏ Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines năm 1951. Trong khi việc đánh giá này có thể giúp điều chỉnh quan hệ đồng minh Mỹ – Philippines, vốn bị trục trặc bởi những bất đồng và những vấn đề về cam kết trong những năm gần đây, nhưng nó chẳng khác nào là “con dao hai lưỡi”.

Rút cục, những người đề xuất mối quan hệ nồng ấm hơn với Bắc Kinh có thể vận động hành lang để hạ thấp quan hệ liên minh Philippines – Mỹ nhằm ủng hộ sự trung lập về chiến lược, đặc biệt nếu hai bên không nhất trí các nâng cấp cần thiết.

Lời kêu gọi đánh giá lại mối quan hệ Mỹ – Philippines đã gây sốc và hoài nghi cho nhiều nhà quan sát, họ kỳ vọng một sự cởi mở tức thì và duy trì quan hệ song phương sau khi Washington trả lại Bộ chuông Balangiga nổi tiếng cho Philippines. Ông Duterte đã hoan nghênh việc trả lại các vật phẩm lịch sử, vốn bị quân đội Mỹ lấy đi từ một nhà thờ Philippines trong thời kỳ thuộc địa và coi đó là kết thúc một chương đen tối trong lịch sử chung của hai nước. Thậm chí, người ta hi vọng rằng ông Duterte, người đã có 3 chuyến thăm chính thức đến Trung Quốc, cuối cùng sẽ nhận lời mời thăm Mỹ từ lâu của Nhà Trắng.

Tuy nhiên, ngay cả việc thiết lập phòng thủ chung, vốn là nền tảng trong quan hệ đồng minh song phương, Philippines dường như cũng đang thể hiện sự thất vọng ngày càng lớn trước sự mâu thuẫn chiến lược của Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines đã công khai than vãn về lập trường “mâu thuẫn” của Washington trong việc thực hiện các cam kết với Philippines, đặc biệt trong tranh chấp ở biển Hoa Nam (Biển Đông). Ông đặt câu hỏi liệu Hiệp ước phòng thủ chung có “còn liên quan đến an ninh của Philippines” hay chỉ phục vụ “lợi ích của các quốc gia khác”, cụ thể là Mỹ.

Vấn đề đầu tiên với liên minh chính là văn bản của hiệp ước. Theo Chương V của Hiệp ước phòng thủ chung, “một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào một trong hai bên được coi bao gồm một cuộc tấn công vũ trang vào lãnh thổ đô thị của một trong hai bên, hoặc các vùng đảo thuộc thẩm quyền của mình ở Thái Bình Dương hoặc vào các lực lượng vũ trang, tàu hay máy bay của mình ở Thái Bình Dương”.

Tuy nhiên, Washington đã nói lập lờ, chưa xác định rõ về phần “đô thị” và “các vùng lãnh hải dưới thẩm quyền của mình của Philippines là gì. Do đó, đồng minh của Mỹ chỉ biết đứng nhìn khi Trung Quốc năm 1994 chiếm đóng Đá Vành Khăn mà Philippines tuyên bố chủ quyền, cũng như trong cuộc đối đầu hải quân Philippines – Trung Quốc kéo dài nhiều tháng ở Bãi cạn Scarborough hồi năm 2012.

Mỹ đã liên tục từ chối làm rõ liệu các cam kết của hiệp ước có áp dụng tại Biển Đông hay không, nơi Philippines đang mâu thuẫn với một số quốc gia có tuyên bố chủ quyền khác.

Hơn nữa, có những hoài nghi liệu hiệp ước có cung cấp sự giúp đỡ quân sự thích hợp trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Philippines với bất kỳ bên thù địch thứ ba nào hay không. Theo Chương IV của hiệp ước, mỗi bên “sẽ hành động để đối phó các mối đe dọa chung (trong thẩm quyền khu vực của họ) phù hợp với các quy trình hiến pháp của nó”.

Điều này có nghĩa Quốc hội Mỹ, và rộng hơn là dư luận Mỹ, có thể trì hoãn và từ chối các nỗ lực can thiệp quân sự khẩn cấp bởi bất kỳ chính quyền Mỹ nào dưới danh nghĩa đồng minh Philippines.

Thậm chí tệ hơn, ví dụ Washington đã làm rõ Hiệp ước An ninh Mỹ – Nhật 1951 áp dụng cho tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku tại Biển Hoa Đông. Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Nhật cũng quy định rằng quân đội Mỹ đóng tại Nhật Bản có thể được sử dụng để đóng góp… cho an ninh của Nhật Bản nhằm chống lại tấn công vũ trang từ bên ngoài”.

Vấn đề lớn khác nằm ở cách giải thích  hạn hẹp của Mỹ về hiệp ước phòng thủ chung. Khởi đầu với chính quyền Nixon vào những năm 1970 của thế kỷ trước, Washington đã tới hạn các cam kết của mình đối với bất kỳ “cuộc tấn công nào của các lực lượng (Philippines) được triển khai nhằm vào nước thứ ba”, nhưng không phải trong các tình huống “nơi việc triển khia nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ Philippines”.

Mỹ chính thức duy trì “sự trung lập” đối với hiện trạng chủ quyền của các đảo tranh chấp tại Biển Đông, nơi Philippines chiếm đóng 9 thực thể.

Manila lo lắng liệu họ có thể trông cậy vào sự hỗ trợ quân đội của Mỹ hay không nếu Trung Quốc các quốc gia đối thủ có tuyên bố chủ quyền khác trực tiếp đe dọa các tuyến đường cung ứng và quân đồn trú của mình tại khu vực này.

Bằng việc kêu gọi đánh giá lại quan hệ, việc thiết lập phòng thủ với Philippines có thể hy vọng hối thúc Mỹ xem xét lại nội dung và cách giải thích của Hiệp ước phòng thủ chung theo cách khiến hai bên thỏa mãn. Đổi lại, Manila có thể sẽ cho phép quân đội Mỹ mở rộng tiếp cận các cơ sở quân sự của họ, cụ thể là căn cứ không quân Bautista và Basa ở Biển Đông.

Dù vậy, quá trình đánh giá này cũng mở ra khoảng trống cho những chỉ trích cũng như những đề nghị cho các mối quan hệ nồng ấm hơn với Trung Quốc nhằm kêu gọi Philippines chính thức chấp nhận một chính sách trung lập về chiến lược và, theo đó, hạ thấp quan hệ liên minh song phương Philippines – Mỹ.

Điều này nhiều khả năng sẽ xảy ra nếu Washington vẫn giữ chính sách mơ hồ về chiến lược trước các cam kết của mình với Philippines tại Biển Đông. Ba năm trong nhiệm kỳ của Tổng thống Duterte, quan hệ đồng minh Philippines – Mỹ đang tạo ra một bước ngoặt lịch sử.

Nguồn: www.scmp.com

TKNB – 12/02/2019