Các nước Balkans Âu – Á – Phần III


Là một nước hết thời đế chế và vẫn đang trong quá trình xác định lại bản sắc của mình, Thổ Nhĩ Kỳ bị kéo căng ra ba hướng. Phái hiện đại muốn nước này trở thành một nhà nước châu Âu và do vậy họ hướng về phía Tây; phái Hồi giáo ngả về Trung Đông và một cộng đồng Hồi giáo, do vậy họ hướng về phía Nam; còn phái chủ nghĩa dân tộc suy nghĩ về lịch sử thấy các dân tộc Thổ của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á có một nhiệm vụ mới là xây dựng một nước Thổ Nhĩ Kỳ thống soái trong khu vực và do vậy hướng về phía Đông. Mỗi góc nhìn này đều định ra một trục chiến lược khác nhau, và sự va chạm giữa chúng, lần đầu tiên kể từ sau cuộc cách mạng của người Keman sẽ tạo ra sự bất ổn ở mức độ nào đó đối với vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực.

Hơn nữa, bản thân Thổ Nhĩ Kỳ có thể trở thành nạn nhân của các cuộc xung sắc tộc trong khu vực. Tuy dân số vào khoảng 65 triệu mà chủ yếu là người Thổ Nhĩ Kỳ (khoảng 80%), còn lại là các sắc tộc như Circassia, Albani, Bosnia, Bulgaria và Arab và khoảng 20% là người Kurd. Sống tập trung ở các khu vực phía Đông đất nước, người Kurd ở đây ngày càng bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh độc lập dân tộc mà người Kurd ở Iran và Iraq đã khơi dậy. Những mối căng thẳng trong nội bộ Thổ Nhĩ Kỳ liên quan đến hướng đi chung của đất nước rõ ràng sẽ khuyến khích người Kurd gây sức ép mạnh mẽ hơn đòi vị thế dân tộc riêng.

Định hướng tương lai của Iran cũng còn nhiều vấn đề. Cuộc cách mạng của phái Shiite theo trào lưu chính thống từng chiến thắng vào cuối thập kỷ 70 vừa qua có thể đang bước vào giai đoạn lụi tàn, và điều đó làm tăng sự bất ổn cho vai trò địa chính trị của Iran. Một mặt, sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vô thần đã mở cửa các nước láng giềng phương Bắc mới độc lập của Iran để tôn giáo hóa họ; mặt khác, sự thù địch của Iran đối với Mỹ đã đưa Iran đến chỗ đi theo hướng thân Nga. Điều này cũng vì Iran lo ngại về tác động mà nền độc lập mới của Azerbaijan có thể gây ra đối với sự liên kết của chính họ.

Mối lo ngại đó phát sinh từ việc Iran không có khả năng giải quyết những căng thẳng về sắc tộc. Trong số 65 triệu dân của Iran thì chỉ có trên một nửa là người Ba Tư. Khoảng gần 1/4 người Azeri, số còn lại bao gồm cả người Kurd, Baluchi, Turkmen, Arab… Ngoài người Kurd và người Azeri, các tộc người khác hiện nay không có khả năng đe dọa sự toàn vẹn quốc gia của Iran, nhất là khi dân Ba Tư luôn có ý thức cao về quốc gia và đế chế. Những tình thế này có thể thay đổi nhanh chóng nếu có một cuộc khủng hoảng chính trị mới trên chính trường Iran.

Hơn nữa, việc tồn tại một số “công xã” Stanr mới độc lập trong khu vực và ngay cả 1 triệu dân Chechen cũng có thể khẳng định khát vọng chính trị của họ sẽ lan sang người Kurd cũng như sang cả những sắc tộc thiểu số khác của Iran. Nếu Azerbaijan thành công trong công cuộc phát triển kinh tế và chính trị ổn định thì người Azeri gốc Iran có thể sẽ ngày càng đi theo ý tưởng một nước Azerbaijan lớn hơn. Do đó, sự bất ổn chính trị và chia rẽ ở Iran có thể phát triển lên thành yếu tố thách thức sự thống nhất của nhà nước này.

2/ Cuộc đấu đa phương

Các nước Balkans cổ truyền ở châu Âu đã cuốn hút cuộc cạnh tranh trực diện giữa ba đế chế địch thủ là đế chế Ottoman, đế chế Áo – Hung và đế chế Nga. Còn ba thành viên nữa gián tiếp tham gia trận đấu, đó là Đức, Pháp và Anh. Đức sợ thế lực của Nga, Pháp chống Áo – Hung và Anh muốn một đế chế Ottoman kiểm soát vùng eo biển Dardanelles. Trong suốt thế kỷ XIX, những cường quốc này tìm cách kiềm chế các cuộc xung đột ở vùng Balkans, nhưng họ đã không làm được điều đó, mà chỉ gây hậu quả tai hại cho tất cả.

Ngày nay, cuộc cạnh tranh trong các nước Balkans Âu – Á cũng lôi kéo trực tiếp ba nước láng giềng: Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, mặc dù Trung Quốc cũng có thể trở nên một nước chủ đạo quan trọng. Tham gia vào cuộc cạnh tranh ở tầm xa còn có Ukraine, Pakistan, Ấn Độ và Mỹ.

Ba đối thủ chính tham dự vào cuộc đấu không chỉ vì tham vọng những món lợi kinh tế và địa chính trị mà còn vì những xung đột lịch sử mãnh liệt. Những nước này đã từng giữ địa vị thống soái về chính trị hoặc văn hóa trong vùng. Mỗi nước đều nhìn các nước khác bằng con mắt nghi ngờ. Tuy khó xảy ra chiến tranh trực diện giữa họ, nhưng tác động của những kình địch giữa họ có thể góp phần gây rối loạn khu vực.

Thái độ thù địch của Nga đối với Thổ gần như một nỗi ám ảnh. Báo chí Nga mô tả người Thổ có xu hướng kiểm soát khu vực, và là những kẻ xúi giục người địa phương chống Nga (vụ Chechnya cũng phần nào chứng minh điều đó), và đe dọa nền an ninh chung của Nga. Sự mô tả này vượt quá sự thật.

Người Thổ cũng có một thái độ như vậy Nga. Họ coi mình có vai trò giải phóng những cho những người anh em khỏi sự đàn áp đã kéo quá dài của Nga. Người Thổ và Iran (ba Tư) trong lịch sử đã là những đối thủ trong khu vực. Sự kình địch đó trong những năm gần đây đã sống lại.

Có thể nói, mỗi nước trong ba nước đều tìm kiếm một khu vực ảnh hưởng. Tham vọng của Nga có tầm quan trọng hơn, vì họ vẫn còn những hồi ức tương đối mới về quyền kiểm soát đế chế, sự hiện diện của hàng triệu người Nga và ý muốn đưa Nga trở lại vị trí một đại cường toàn cầu. Những tuyên bố trong chính sách đối ngoại của Nga đã chứng minh việc họ nhìn toàn bộ không gian Liên Xô cũ là khu vực lợi ích địa chiến lược đặc biệt của họ, và do đó cần phải loại trừ ảnh hưởng chính trị, và thậm chí lợi ích kinh tế của bên ngoài.

Trái lại, khát vọng của Thổ Nhĩ Kỳ muốn giành ảnh hưởng khu vực vẫn mang dấu ấn của một quá khứ đế chế xa xưa. Song, những khát vọng đó có cội nguồn từ nhận thức về một sự đồng nhất sắc tộc và ngôn ngữ với các dân tộc Thổ trong khu vực. Do sức mạnh quân sự và chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ có hạn nên họ không thể đạt được một khu vực ảnh hưởng chính trị đặc quyền. Trái lại, Thổ Nhĩ Kỳ tự coi mình như một lãnh tụ tiềm tàng của một cộng đồng lỏng lẻo những người nói tiếng Thổ, và tận dụng trình độ tương đối hiện đại, tính tương đồng về ngôn ngữ và các biện pháp kinh tế của mình để đưa nước này lên địa vị có ảnh hưởng nhất trong quá trình xây dựng quốc gia đang diễn ra trong vùng.

Tuy khát vọng của Iran vẫn chưa rõ ràng, nhưng về âu dài cũng chẳng kém phần nguy hiểm hơnt ham vọng của Nga. Đế chế Ba Tư là một ký ức xa xôi hơn. Vào lúc hoàng kim nhất, khoảng 500 trước Công nguyên, đế chế này bao gồm lãnh thổ hiện tại của ba nước vùng Kavkaz (Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan). Tuy những khát vọng địa chính trị hiện tại của Iran ở mức độ thấp hơn Thổ Nhĩ Kỳ, tức là chủ yếu nhằm vào Azerbaijan và Afghanistan, nhưng toàn bộ dân Hồi giáo (kể cả trên lãnh thổ Nga) là mục tiêu trong mối quan tâm tôn giáo của Iran. Thực ra sự hồi sinh của đạo Hồi ở Trung Á đã trở thành một bộ phận hữu cơ của những khát vọng trong giới lãnh đạo hiện tại của Iran…

Ở giai đoạn này, vai trò của Trung Quốc bị hạn chế và mục tiêu của họ không rõ ràng, vì Trung Quốc chú ý đến một tập hợp những nước tương đối độc lập ở phía Tây hơn là một đế chế Nga. Trung Quốc lo rằng, dân thiểu số Thổ Nhĩ Kỳ ở Tân Cương có thể tìm thấy ở các nước Trung Á mới độc lập những ví dụ đầy hấp dẫn đối với họ, và vì vậyTrung Quốc đã tìm cách tranh thủ sự bảo đảm của Kazakhstan rằng họ sẽ trấn áp hoạt động vượt biên của dân thiểu số. Về lâu dài, những nguồn năng lượng của khu vực sẽ là điều mà Trung Quốc đặc biệt quan tâm với mục tiêu là trực tiếp tiếp xúc các nguồn năng lượng đó mà không phụ thuộc vào sự kiểm soát của Nga. Do vậy, lợi ích địa chính trị chung của Trung QUốc có xu hướng va chạm với lợi ích đại chính trị chung của Nga.

Đối với Ukraine, các vấn đề Trung tâm là đặc điểm tương lai của cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và khả năng tiếp cận tự do hơn với các nguồn năng lượng, như vậy sẽ làm giảm sự phụ thuộc củ Ukraine vào Nga. Ở khía cạnh này, những mối quan hệ thân thiết hơn với Azerbaijan, Turkmenistan, Uzbekistan đã trở nên quan trọng đối với Ukraine và việc Ukraines ủng hộ các nước này độc lập với Nga. Do đó, Ukraine cũng đã ủng hộ cố gắng của Gruzia vươn lên địa vị làm chủ một tuyến đường chạy theo hướng Tây phục vụ cho xuất khẩu dầu Azeri. Ukraine còn hợop tác với Thổ Nhĩ Kỳ để làm suy yếu ảnh hưởng của Nga ở Biển Đen và đã ủng hộ những cố gắng của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm chuyển lưu lượng dầu từ Trung Á tới các trạm cuối của Thổ.

Hiện nay cả Pakistan và Ấn Độ đều đang quan tâm tới các nước Balkans Âu – Á mới này. Đối với Pakistan, lợi ích chính của họ là đạt chiều sâu địa chiến lược thông qua ảnh hưởng địa chính trị ở Afghanistan và không để Iran có ảnh hưởng như vậy ở Afghanistan cũng như ở Tajikistan và cuối cùng thu lợi từ việc xây dựng đường dẫn dầu nối Trung Á với biển Arab. Nhằm chống lại Pakistan và ảnh hưởng lâu dài của Trung Quốc ở khu vực này, Ấn Độ xem xét ảnh hưởng của Iran và Afghanistan là sự hiện diện lớn hơn của Nga trong không gian Liên Xô cũ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần III


Chính sách biển quốc gia là một cách gọi chung để chỉ các quy hoạch chính sách kế hoạch vĩ mô hoặc cụ thể của nhà nước và chính phủ trong giải quyết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực biển, nó thường thể hiện trong các văn bản chính sách cụ thể. Trên cơ sở nhu cầu của chiến lược phát triển quốc gia, cùng với các vấn đề và thách thức đối với phát triển kinh tế biển của Malaysia, điều đặc biệt quan trọng là việc xác định chiến lược phát triển biển và thực hiện các cơ chế cụ thể của các chiến lược liên quan thông qua việc quy hoạch chính sách hợp lý. Với sự hỗ trợ của Kế hoạch chuyển đổi kinh tế, Tầm nhìn quốc gia 2030 và Chương trình quốc gia 2020, chiến lược phát triển kinh tế biển của Malaysia đặt trọng điểm vào 3 ngành nghề trụ cột của kinh tế biển là thúc đẩy khai thác tài nguyên dầu mỏ, vận tải biển và du lịch biển. Cụ thể, trong lĩnh vực khai thác tài nguyên dầu mỏ, thông qua ngoại giao thực dụng để xây dựng môi trường hòa bình, hóa giải những tranh chấp tài nguyên, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ quốc gia. Trong phát triển kinh tế vận tải biển, cải thiện hệ thống hỗ trợ dịch vụ trong nước, tăng cường kết nối với sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc, phát triển quan hệ đối tác quốc tế và khu vực, cải thiện hiệu quả môi trường trong và ngoài nước để phát triển kinh tế vận tải biển. Trong kinh tế du lịch biển, trên cơ sở tăng cường quy hoạch, cần chú trọng cả tuyên truyền quảng bá và bảo vệ tài nguyên để xây dựng nền tảng phát triển kinh tế du lịch biển.

2/ Khai thác tài nguyên dầu mỏ ở khu vực biển tranh chấp

Nguồn tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi là một trong những nền tảng quan trọng nhất trong phát triển kinh tế biển của Malaysia, cũng là một nguồn quan trọng đối với doanh thu tài chính quốc gia Malaysia. Chiến lược quốc gia của Malaysia về khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi chủ yếu dựa vào Đạo luật phát triển dầu khí ban hành năm 1974 và Chính sách năng lượng quốc gia năm 1979. Hai văn kiện này đã xác định việc khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ là nội dung chính trong chính sách năng lượng đa dạng, bền vững của Malaysia. Hiện nguồn năng lượng dầu mỏ của Malaysia chủ yếu là ở ngoài khơi. Malaysia đã phát hiện tổng cộng 45 mỏ dầu và 47 mỏ khí chủ yếu ở lưu vực Mã Lai, Sarawak, Sabah. Trong đó, khu vực Sarawak và Sabah đều nằm trong vùng biển Nam Hải, có thể nói Nam Hải là nơi sản xuất dầu mỏ chủ chốt của Malaysia. Trữ lượng dầu mỏ của Malaysia tại khu vực Nam Hải lớn nhất khoảng 5 tỷ thùng, đứng đầu trong số các quốc gia ven biển ở Nam Hải. Những năm 1990, 70% lượng dầu mỏ xuất khẩu của Malaysia là từ khu vực Nam Hải. Năm 2017, do bị tác động bởi khó khăn về tài chính, Malaysia tuyên bố đầu tư 2 tỷ USD để thành lập công ty thăm dò dầu mỏ và khí tự nhiên ngoài khơi tại Sarawak và hợp tác với Công ty dầu khí quốc gia được thành lập trước đó tiến hành hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí ở Nam Hải. Có thể thấy, mức độ khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải có tác động tương đối lớn đến tình hình tài chính quốc gia của Malaysia, liên quan đến tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Tầm quan trọng của kinh tế biển với trọng điểm khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải cũng quyết định đến việc Malaysia cần phải định ra chính sách Nam Hải hợp lý, đặc biệt là chính sách ở những vùng biển tranh chấp, điều này gắn với việc xây dựng môi trường hòa bình để khai thác dầu mỏ của Malaysia. Một khi xảy ra xung đột giữa Malaysia với các nước xung quanh tại Nam Hải, việc khai thác tài nguyên dầu mỏ tất yếu sẽ bị ảnh hưởng. Kể từ những năm 1980 trở lại đây, một trong những nội dung quan trọng trong chính sách Nam Hải của Malaysia là thúc đẩy hòa bình và ổn định ở Nam Hải. Năm 2018, cựu Thủ tướng Mahathir đã chỉ ra tốt nhất là Malaysia không có tàu quân sự hoạt động ở vùng nội thủy Nam Hải và eo biển Malacca, ông mong muốn Nam Hải là vùng biển hòa bình, giao thương và thương mại. Không khó để nhận ra, mặc dù vùng biển Nam Hải tồn tại tranh chấp, nhưng việc duy trì và tạo ra những lợi ích của Malaysia tại Nam Hải mới là mục tiêu hàng đầu cảu Chính phủ Malaysia, chính sách chủ yếu là thông qua ngoại giao thực dụng để xây dựng môi trường hòa bình, giải quyết các tranh chấp tài nguyên, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ ngoài khơi quốc gia.

2.1/ Xây dựng môi trường xung quanh hòa bình để Malaysia khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải

Môi trường hòa bình xung quanh là vấn đề then chốt đối với Malaysia trong khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Tranh chấp biên giới giữa các nước xung quanh bắt đầu gia tăng chủ yếu gắn liền với việc phát hiện tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Trong các nước ASEAN, các nước có tranh chấp tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải với Malaysia chủ yếu gồm Thái Lan, Việt Nam, Brunei và Indonesia. Tranh chấp giữa Malaysia với những nước này bắt đầu bùng phát từ cuối những năm 1960. Năm 1968, Ủy ban điều phối thăm dò chung nguồn tài nguyên khoáng sản ở vùng biển ngoài châu Á thuộc Ủy ban kinh tế Liên hợp quốc về châu Á và Viễn Đông công bố báo cáo điều tra thực địa đã cho thấy ở khu vực Nam Hải có nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú, đã kích thích sự ham muốn mở rộng lãnh thổ của các nước xung quanh Nam Hải. Từ đó về sau, các nước xung quanh Nam Hải đua nhau hướng sự tập trung vào thăm dò và khai thác dầu mỏ ở Nam Hải, Malaysia cũng từng bước tham gia vào đó, việc duy trì lợi ích kinh tế với trọng tâm là khai thác năng lượng ở Nam Hải trở thành những tính toán quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia của Malaysia và Malaysia cũng trở thành một trong những quốc gia ASEAN sớm nhất phát triển kinh tế thông qua khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải.

Để xoa dịu mâu thuẫn với các nước liên quan, thực hiện tối đa hóa lợi ích dầu mỏ, chính sách mà Malaysia lựa chọn là thông qua khai thác chung, thực hiện hợp tác năng lượng, tích cực xây dựng môi trường hòa bình khu vực khai thác tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải. Malaysia áp dụng mô hình khai thác chung nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải, nội dung cốt lõi của mô hình này là Malaysia và các nước láng giềng thiết lập khu vực quản lý chung theo tỷ lệ mỗi bên là 50%, thực hiện cùng nhau chia sẻ tài nguyên. Malaysia đã thực hiện hợp tác khai thác dầu mỏ ở Nam Hải đầu tiên với Thái Lan. Xung đột chủ yếu giữa Malaysia và Thái Lan là vấn đề phân định thềm lục địa. Năm 1979, hai bên đã ký Bản ghi nhớ, cùng khai thác chung tài nguyên biển ở khu vực tranh chấp và đã thành lập cơ chế đàm phán gồm các ngành như ngoại giao, năng lượng, tài chính, hải quân, trải qua 11 năm, cuối cùng đã đạt được thỏa thuận vào năm 1990. Năm 1992, tại thủ đô Kuala Lumpur, Malaysia, hai nước đã thành lập cơ chế khai thác chung Malaysia – Thái Lan. Năm 1994, hai bên đã ký thỏa thuận khai thác chung trong thời hạn 50 năm và thành lập Cơ quan quản lý chung Malaysia – Thái Lan để điều phối những mâu thuẫn lợi ích ở Nam Hải. Biện pháp này đã làm cho chính sách xây dựng môi trường khai thác tài nguyên hòa bình của Malaysia bắt đầu có hiệu quả rõ rệt. Malaysia và Việt Nam cũng tồn tại những tranh chấp tương tự. Năm 1992, hai bên đã ký Bản ghi nhớ để giải quyết vấn đề này, cũng quyết định cùng khai thác chung nguồn tài nguyên biển ở vùng biển tranh chấp. Tiếp đó, hai bên phân định khu vực khai thác chung, ký thỏa thuận thương mại khai thác chung, thành lập Ủy ban điều phối chịu trách nhiệm sắp xếp tổng thể công việc khai thác cụ thể. Brunei và Malaysia tồn tại xung đột trên biển tương đối lớn. Năm 2009, cuối cùng hai bên đã ký thỏa thuận, giải quyết tranh chấp phân định biên giới lâu dài. Năm 2010, Malaysia và Brunei đồng ý khai thác chung tại hai khu vực gần đảo Borneo, ký kết thỏa thuận khai thác chung có hiệu lực 40 năm, tháng 9/2011, tuyên bố bắt đầu khoan thăm dò. Tiếp đó, Malaysia giải quyết tranh chấp biên giới với quốc gia láng giềng Indonesia và cuối năm 2011 hai bên đã đạt được thỏa thuận cùng nhau khai thác tài nguyên dầu mỏ ở phía Tây đảo Borneo trong khu vực tranh chấp giữa hai nước. Đến thời điểm đó, ngoại giao kinh tế biển với các nước xung quanh của Malaysia đã có những tiến triển rất quan trọng, thực hiện được khai thác chung tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi với gần như toàn bộ các quốc gia láng giềng, cơ bản tạo được môi trường hòa bình với các nước xung quanh trong khai thác tài nguyên dầu mỏ ngoài khơi.

Ngoài ra, ngày 6/6/2011, tại Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á – Shangri-La, Thủ tướng Malaysia khi đó là Najib đã đề xuất thành lập cơ quan chuyên môn, tập hợp tất cả các nước lên tiếng có chủ quyền tại khu vực này, bỏ qua thành kiến chủ quyền, hợp tác khai thác tài nguyên ở Nam Hải, đặc biệt là tài nguyên dầu mỏ. Có thể thấy, tư duy của Malaysia vẫn là hợp tác khai thác là chính, xây dựng môi trường khai thác hòa bình. Cần phải nói rằng, trong hợp tác khảo sát và khoan thăm dò, các bên tranh chấp đã ngầm đạt được thỏa thuận, có thể thiết lập nguyên tắc hợp tác và quy tắc hành động mang tính tạm thời, từ đó tạo môi trường khai thác tài nguyên ổn định để các công ty tài nguyên giải quyết xung đột. Chính sách hợp tác khai thác chung năng lượng, trong mấy chục năm qua đã xoa dịu mâu thuẫn của Malaysia với các quốc gia ASEAN láng giềng. Malaysia tích cực xây dựng môi trường hòa bình khai thác tài nguyên dầu mỏ tại Nam Hải, xây dựng nền tảng khu vực tốt đẹp để giành được lợi nhuận của mình.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Định vị chủ đề cốt lõi trong chính sách của Biden với Trung Quốc


Chính quyền Biden đang chuyển sang đặt chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mạng di động thế hệ tiếp theo làm trọng tâm trong chiến lược của Mỹ đối với châu Á, đồng thời nỗ lực tập hợp lực lượng mà các quan chức gọi là “các nền dân chủ công nghệ” để chống lại Trung Quốc và các “nền chuyên chế công nghệ” khác.

Khuôn khổ mới trong cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung càng trở nên gay gắt hơn bởi sự thiếu hụt đột ngột trên toàn cầu các con chip cần thiết trong các sản phẩm ô tô, điện thoại di động và tủ lạnh. Chiến lược này sẽ tìm cách tập hợp một liên minh các quốc gia chiến đấu để giành được lợi thế trong hoạt động chế tạo chất bán dẫn và điện toán lượng tử, bỏ qua các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như kho dự trữ tên lửa và số lượng các binh sĩ.

Các quan chức chính phủ đương nhiệm và các cựu quan chức, cùng với các chuyên gia bên ngoài, cho rằng các kế hoạch của Chính quyền Biden trong lĩnh vực công nghệ là một mô hình thu nhỏ của các kế hoạch rộng lớn hơn nhằm thực hiện một cách tiếp cận theo định hướng liên minh nhiều hơn nhưng vẫn thù địch với Trung Quốc, sau khi Washington đã có một cách tiếp cận đầy hỗn loạn dưới thời Tổng thống Donald Trump.

Lindsay Gorman, chuyên gia về các công nghệ mới nổi tại Quỹ Marshall Đức của Mỹ, cho biết: “Hiện có một nhận thức mới về tầm quant rọng của chất bán dẫn trong cuộc đấu tranh địa chính trị này bởi vì các con chíp là nền tảng cho mọi công nghệ trong kỷ nguyên hiện đại. Mỹ và các đối tác dân chủ của họ đang nỗ lực để tăng cường lợi thế so sánh về công nghệ này”.

Cách tiếp cận này một phần dựa trên việc ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận với một số công nghệ nhất định càng lâu càng tốt, tìm cách chèn ép những “gã khổng lồ” Trung Quốc như Huawei Technologies Co., và thậm chí “bắt chước” cách làm của Đảng Cộng sản Trung Quốc bằng việc tăng cường sự can dự của chính phủ vào các ngành công nghiệp then chốt khi cần thiết.

Điều này diễn ra khi các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch Tập Cận Bình, dự kiến sẽ trình bày cách họ sẽ làm để đưa công nghệ trở thành trung tâm của sự phát triển trong tương lai tại kỳ họp Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc (Quốc hội), dự kiến khai mạc vào cuối tuần này.

Một số nhân vật am hiểu về hoạt động hoạch định chính sách của chính quyền Mỹ và đặc biệt là của ông Kurt Campbell – Điều phối viên khu vực châu Á của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ – cho biết ông Campbell đang hướng tới một cách tiếp cận rộng hơn và tập trung nhiều hơn vào một số đối tác chính như Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan, đồng thời triển khai các biện pháp khuyến khích nhằm đưa hoạt động sản xuất con chíp trở lại Mỹ.

Lĩnh vực sản xuất chip cũng nằm trong các kế hoạch củng cố “Bộ Tứ” (Quad) – liên minh giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ, từng được thúc đẩy mạnh mẽ dưới thời cựu Tổng thống Trump – bao gồm cả việc cuối cùng sẽ đưa thêm nhiều hoạt động sản xuất công nghệ đến Nam Á.

Cuộc chiến về con chíp – và sự chú ý mà lĩnh vực này nhận được ngay trong những ngày đầu tiên của Chính quyền Biden – đang trở nên cấp bách đối với chính quyền mới ở Nhà Trắng bởi sự cần thiết của chúng. Tình trạng thiếu hụt chíp trên toàn cầu, một phần do hoạt động dự trữ của Trung Quốc và nhu cầu tăng vọt trong thời kỳ đại dịch, đã buộc một số nhà sản xuất ô tô Mỹ phải đóng cửa các nhà máy và bộc lộ những điểm yếu trong chuỗi cung ứng của Mỹ khi họ phải phụ thuộc quá nhiều vào một số nhà sản xuất ở châu Á.

Ngày 24/2, Tổng thống Joe Biden đã yêu cầu tiến hành cuộc đánh giá chuỗi cung ứng toàn cầu đối với chíp cũng như pin dung lượng lớn, dược phẩm, khoán sản quan trọng và vật liệu chiến lược như đất hiếm. Hầu hết các chíp của Mỹ đến từ Đài Loan, nơi Trung Quốc vẫn luôn tuyên bố là lãnh thổ của mình, và gần như tất cả số đất hiếm của Mỹ đều được nhập từ Trung Quốc. Trung Quốc nhanh chóng tuyên bố rằng cam kiết tìm nguồn cung ứng thay thế là viển vông.

Các quan chức nói rằng còn quá sớm để biết được chi tiết chiến lược của Mỹ sẽ như thế nào. Ý tưởng về “các nền dân chủ công nghệ” thách thức “các nền chuyên chế công nghệ” xuất hiện trogn một bài phân tích đăng trên tạp chí Foreign Affairs vào cuối năm 2020 nhằm kêu gọi xây dựng “một diễn đàn toàn diện, trong đó các nước cùng chí hướng có thể cùng nhau đưa ra các phản ứng chung” để đáp trả thách thức đến từ Trung Quốc.

Trong buổi họp báo ngày 22/2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price cho biết: “Chúng ta phải cùng nhau đương đầu với thách thức này – sự lạm dụng của Trung Quốc, các hành vi cướp bóc của Trung Quốc xuất khẩu các công cụ mà họ sử dụng để củng cố hơn nữa chủ nghĩa chuyên chế về công nghệ”.

Cách tiếp cận này đã nhận được phản ứng tích cực từ Quốc hội, nơi các nhà lập pháp đang đề xuất một số dự luật nhằm khuyến khích đưa hoạt động sản xuất chíp trở về nước, và Đạo luật các lĩnh vực vô tận để đầu tư nhiều hơn vào tiến bộ công nghệ.

Từ máy bay F-35 tới những chiến điện thoại

Thượng nghị sĩ John Cornyn, đảng viên đảng Cộng hòa của bang Texas, phát biểu sau khi gặp ông Biden tại Nhà Trắng hôm 24/2: “Tất cả chúng ta đều hiểu điều này là quan trọng, không chỉ đối với nền kinh tế của chúng ta mà còn đối với an ninh quốc gia của chúng ta, bởi những chất bán dẫn cao cấp, tiên tiến này – chúng ta cần cho tất cả mọi thứ, từ máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ năm F-35 đến điện thoại di động của chúng ta”.

Mặc dù nhiều ý tưởng trong kế hoạch đang được xây dựng có từ thời Chính quyền Trump, song những người ủng hộ kế hoạch này nói rằng một trong những điểm khác biệt là nỗ lực gắn kết các yếu tố khác nhau thành một chiến lược thống nhất. Dưới thời Trump, cứng rắn với Trung Quốc thường xung đột với việc ông tập trung nỗ lực để đạt được một thỏa thuận thương mại với Bắc Kinh, từ đó làm xáo trộn thông điệp của Mỹ.

Những người ủng hộ Tổng thống Biden nói rằng chiến lược của ông sẽ bao gồm hợp tác chặt chẽ hơn với các quốc gia khác, tìm cách củng cố các mối quan hệ đối tác hiện có nhưng hiếm khi được sử dụng. Đứng đầu trong số đó là “Bộ Tứ” và niềm tin rằng Ấn Độ hiện nay có thể đã sẵn sàng chống lại Trung Quốc trong bối cảnh giữa hai quốc gia đông dân nhất thế giới này gần đây xảy ra căng thẳng.

Rexon Ryu, đối tác quản lý của Asia Group – một hãng tư vấn chiến lược có trụ sở ở Washington, cho biết: “Một trong những mục tiêu chính là mở rộng và làm sâu sắc thêm nền tảng quyền lực và ảnh hưởng trong khu vực và chúng ta làm điều đó tốt nhất khi chúng ta hợp tác với các đồng minh và đối tác. Không phải chúng ta nói với các quốc gia khác những gì họ không thể làm đối với mạng 5G và trí tuệ nhân tạo mà là về những gì chúng ta có thể cùng nhau làm”.

Điều này cũng dựa trên ý thức rằng Trung Quốc về cơ bản đã buộc Mỹ phải bắt đầu cắt đứt các yếu tố của quan hệ kinh doanh và công nghệ trong một kế hoạch gọi “tách rời”. Về cơ bản, Trung Quốc đã xây dựng cơ sở hạ tầng Internet của riêng mình, ngăn chặn nhiều phương tiện truyền thông và mạng xã hội của Mỹ như Twitter và Facebook, đồng thời thể hiện sự sẵn sàng sử dụng quy mô thị trường và sức mạnh kinh tế của mình như một loại vũ khí để khiến các quốc gia khác rơi vào tình thế khó khăn.

Một điều trớ trêu trong quan hệ Mỹ – Trung là bất chấp tất cả các tranh luận truyền thống của Mỹ về chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa cộng sản, lưỡng đảng Mỹ ở Washington ngày càng ủng hộ việc chính phủ đóng vai trò lớn hơn trong việc cung cấp các động lực và đầu tư vào các công ty.

Elizabeth Economy, thành viên cấp cao tại Viện Hoover của Đại học Stanford, cho biết: “Để cạnh tranh, chúng ta sẽ phải thay đổi cách chơi. Trung Quốc sẽ không thích ứng với các quy tắc mà chúng ta đặt ra, nên chúng ta phải thích ứng”.

Nguồn: www.bloomberg.com

TKNB – 04/03/2021

Các nước Balkans Âu – Á – Phần II


Trong năm nước mới độc lập ở Trung Á, Kazakhstan và Uzbekistan có vị trí quan trọng nhất. Trong khu vực này, Kazakhstan là lá chắn còn Uzbekistan là linh hồn thúc đẩy mức độ thức tỉnh dân tộc khác nhau. Tầm cỡ và vị trí địa lý của Kazakhstan che chở cho các nước khác khỏi bị sức ép tự nhiên trực tiếp của Nga, vì chỉ có Kazakhstan là giáp giới với Nga. Tuy nhiên, trong số 18 triệu dân của nước này có khoảng 36% là người Nga (dân số Nga trong toàn khu vực đang giảm dần) và thêm 20% nữa cũng không phải là dân Kozak. Thực tế này khiến các nhà cai trị Kozak mới gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng quốc gia trên cơ sở sắc tộc và ngôn ngữ. Những người Nga sinh sống ở đây cũng căm ghét tập đoàn lãnh đạo người Kozak. Đa phần trong số họ thuộc tàng lớp thực dân thống trị trước đây, có trình độ văn hóa và cương vị bởi vậy họ sợ mất đặc quyền đặc lợi. Những người này nhìn chủ nghĩa dân tộc Kozak mới với sự miệt thị lộ liễu. Do cả hai vùng Kozak Tây Bắc và Đông Bắc Kazakhstan đều bị đế chế Nga khống chế nặng nề, nên nước này đứng trước nguy cơ ly khai về lãnh thổ nếu quan hệ Kozak – Nga xấu đi. Đồng thời có nhiều người Kozak sống ở nước Nga nằm bên kia đường biên giới quốc gia và ở nước Uzbekistan về phía Đông Bắc, mà người Kozak coi là đối thủ chính tranh quyền lãnh đạo vùng Trung Á với họ.

Trong thực tế, Uzbekistan là ứng cử viên hàng đầu vào địa vị lãnh đạo khu vực ở Trung Á. Là nước nhỏ hơn, ít tài nguyên thiên nhiên hơn Kazakhstan, nhưng dân số nước này lại đông hơn (gần 25 triệu) và một điều quan trọng hơn hẳn là nước này có sự đồng nhất về sắc tộc hơn. Do tỷ lệ sinh của người bản xứ cao hơn và sự ra đi dần dần của người Nga, nên không bao lâu nữa, 75% dân số sẽ là người Uzbek và chỉ còn một thiểu số người Nga chủ yếu ở thủ đô Tashken.

Giới lãnh đạo chính trị của Uzbekistan tự cho rằng mình là hậu duệ trực tiếp của đế chế Tamerlane rộng lớn thời Trung cổ (1336 – 1404) với thủ đô Samakhan vốn là một trung tâm nổi tiếng trong khu vực về phục vụ nghiên cứu tôn giáo, chiêm tinh học và nghệ thuật. Mối liên hệ này làm cho nước Uzbekistan hiện đại có ý thức sâu sắc về tính kế thừa lịch sử và về nhiệm vụ của họ đối với khu vực hơn là các nước láng giềng. Ngay cả dân thường cũng ngày càng có ý thức tham gia vào những hoạt động xây dựng một nhà nước dân tộc hiện đại, quyết tâm không bao giờ trở lại địa vị thuộc địa bất chấp mọi khó khăn trong nước. Tinh thần này cao hơn ở bất kỳ nước Trung Á nào.

Điều kiện này làm cho Uzbekistan vừa trở thành người đi đầu trong việc nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa dân tộc hiện đại sau những chia rẽ sắc tộc và cũng vừa là đối tượng rất đáng lo ngại cho các nước láng giềng. Dù cho các lãnh tụ Uzbek bắt đầu khởi sắc trong xây dựng quốc gia và trong chủ trương tự lực khu vực, nhưng việc nước này có sự đồng nhất dân tộc và giác ngộ dân tộc sâu sắc lại khơi lên nỗi lo sợ trong các nhà lãnh đạo Turkmenistan, Tajikistan và Kazakhstan. Họ lo sợ rằng, sự lãnh đạo trong khu vực của người Uzbek sẽ phát triển lên thành sự thống trị khu vực. Nỗi lo ngại này cản trở hợp tác khu vực trong các nước mới có chủ quyền và kéo dài điểm yếu của khu vực.

Thực chất không phải Uzbekistan đã hoàn toàn thoát khỏi những căng thẳng sắc tộc. Nhiều nơi ở phía Nam Uzbekistan, nhất là quanh các trung tâm quan trọng về lịch sử và văn hóa như Samakhan và Bukhara có nhiều dân Tajik vẫn mang hận thù với các đường biên giới do Nga vẽ nên. Một yếu tố nữa làm cho vấn đề càng thêm phức tạp là sự hiện diện của người Uzbek ở phía Tây Tajikistan, sự hiện diện của người Uzbek tẫn Tajik ở thung lũng Fegana quan trọng về kinh tế (ở nơi này trong những năm gần đây đã xảy ra bạo lực sắc tộc đẫm máu). Đó là chưa kể đến sự hiện diện của người Uzbek ở Bắc Afghanistan.

Trong ba nước Trung Á vừa thoát khỏi ách thống trị của Nga (Kyrgystan, Tajikistan, Turkmenistan), chỉ có nước thứ ba là tương đối liên kết về sắc tộc. Khoảng 75% trong số 4,5 triệu dân là người Thổ còn người Uzbek và người Nga chỉ chiếm dưới 20% dân số. Được che chắn bởi Turkmenistan nên tương đối cách xa Nga, trong khi đó về mặt địa lý, Uzbekistan và Iran lại có liên quan lớn hơn đến tương lai của nước này. Một khi đường ống dẫn dầu đến vùng này được xây dựng thì các trữ lượng khí đốt thực sự khổng lồ của Turkmenistan báo hiệu một tương lai phồn vinh của nhân dân nước này.

Với con số 5 triệu dân, Kyrgystan đa dạng hơn nhiều. Chính dân Kyrgystan chỉ chiếm 55% tổng số, và dân Uzbek chiếm 13%, còn số dân Nga thì gần đây giảm từ 20% xuống trên 15%. Trước khi nước này độc lập, đa số trong thành phần trí thức kỹ thuật của nước này là dân Nga và sự ra đi ồ ạt của họ đã gây tổn thất cho nền kinh tế. Tuy giàu về khoáng sản và có cảnh quan thiên nhiên khiến một số người ví nước này là Thụy Sĩ của Trung Á, và do vậy có thể sẽ trở thành một miền đất mới cho khách du lịch. Do vị trí địa chính trị của Kyrgystan, nằm giữa Trung Quốc và Kazakhstan, khiến nước này hầu như bị phụ thuộc vào việc Kazakhstan có thành công hay không trong việc duy trì nền độc lập.

Tajikistan có phần đồng nhất hơn về sắc tộc. Trong số 6,5 triệu dân, có chưa đầy 2/3 là dân Tajik, hơn 25% là người Uzbek, trong khi đó số người Nga chỉ còn lại 3%. Nhưng cũng như ở nơi khác, ngay cả cộng đồng sắc tộc thống trị cũng chia rẽ rất rõ rệt theo bộ lạc, và chủ nghĩa dân tộc hiện đại chủ yếu chỉ giới hạn trong giới lãnh đạo chính trị ở thành phố. Do vậy, nền độc lập không chỉ tạo ra nội chiến mà còn tạo cớ cho Nga tiếp tục triển khai quân đến nước này. Tình hình sắc tộc càng phức tạp hơn do ở ngay bên kia biên giới trên vùng Đông Bắc Afghanistan nơi có một số đông người Tajik sinh sống. Thực ra, ở cả hai nước Afghanistan và Tajikistan số dân thuộc sắc tộc Tajik ngang nhau. Đây cũng là một nhân tố góp phần làm mất ổn định khu vực.

Tình trạng lộn xộn hiện tại của Afghanistan cũng là một di sản của Liên Xô cũ, tuy nước này không phải là một nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết. Sự chiếm đóng của Liên Xô và cuộc chiến tranh du kích kéo dài chống lại họ đã khiến Afghanistan chỉ là một nhà nước dân tộc trên danh nghĩa. Hai mươi hai triệu dân của nước này chia rẽ gay gắt theo bộ lạc, trong đó sự bất đồng lớn giữa các sắc tộc Pashtun, Tajik và Hazara ngày càng lớn. Đồng thời, phong trào Thánh chiến (jihat) chống quân Nga chiếm đóng đã làm cho tôn giáo trở nên một khía cạnh bao trùm trong đời sống chính trị của đất nước, làm cho những mối bất đồng vốn đã gay gắt càng thêm gay gắt. Do vậy, phải nhìn nhận Afghanistan không chỉ là bộ phận trong vấn đề sắc tộc hóc búa ở Trung Á, mà còn là bộ phận quan trọng về chính trị của các nước Balkans Âu – Á.

Tuy các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ cũng như Azerbaijan có đa số dân là Hồi giáo, nhưng tầng lớp tinh hoa chính trị của họ (chủ yếu vẫn là sản phẩm của Liên Xô cũ), đều mang quan điểm phi tôn giáo. Có thể nói, các nước này về hình thức là vô thần. Tuy nhiên, khi người dân chuyển từ bản sắc thị tộc hoặc bộ lạc truyền thống sang nhận thức dân tộc hiện đại hơn thì có thể họ sẽ ngày càng giác ngộ thêm về đạo Hồi. Trong thực tế, một sự hồi sinh của đạo Hồi có thể trở thành xung lực thúc đẩy những thứ chủ nghĩa dân tộc mới ngày càng lan tràn, quyết tâm chống lại việc một lần nữa đưa họ vào vòng kiểm soát của Nga, và cũng là một sự kiểm soát vô thần.

Thực ra, quá trình Hồi giáo hóa có thể lây lan sang cả dân Hồi giáo vẫn tiếp tục sinh sống ở đất Nga. Số dân này là 20 triệu – gấp hơn hai lần số người Nga bất mãn (khoảng 9,5 triệu) vẫn tiếp tụcsinh sống dưới chế độ thống trị ngoại quốc ở các nước Trung Á độc lập. Người Hồi giáo Nga chiếm khoảng 13% dân số Nga và đều muốn đòi được quyền mang bản sắc chính trị và tôn giáo rõ rệt. Dù cho yêu sách này không mang hình thức một cuộc tìm kiếm độc lập hoàn toàn như ở Chechnya thì nó cũng phải đối mặt với những bế tắc ở Trung Á vì hành động dính líu kiểu đế quốc gần đây của họ.

Có một thực tế đã làm tăng sự bất ổn ở các nước Balkans Âu – Á và làm cho tình hình sẽ có thể dễ bùng nổ hơn, đó là việc hai nhà nước sát nhau là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đều rất dễ thay đổi về xu hướng địa chính trị. Nếu hai nước này mất ổn định thì rất có thể toàn bộ khu vực sẽ bị đẩy vào rối loạn lớn và khi đó những cuộc xung đột sắc tộc và lãnh thổ đang tiếp diễn sẽ tuột ra khỏi tầm kiểm soát và thế cân bằng lực lượng trong vùng vốn đã mỏng manh lại càng bị phá hoại nặng. Do đó, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran không những là những nhân tố quan trọng về địa chiến lược, mà còn là những trung tâm địa chính trị. Điều kiện nội bộ của chính họ lại có tầm cực kỳ quan trọng đối với số phận của khu vực. Tuy hai nước đều ở tầm cỡ trung bình, nhưng khát vọng khu vực lại rất mãnh liệt và luôn tự ý thức về tầm quan trọng lịch sử của họ. Tuy nhiên vẫn chưa có gì chắc chắn về định hướng địa chính trị tương lai cũng như về sự liên kết quốc gia của cả hai nước.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần II


Sự chú trọng toàn diện phát triển kinh tế biển của Malaysia chủ yếu khởi đầu từ cuối những năm 1980. Trước hết là tăng cường xây dựng cơ chế phát triển biển quốc gia. Năm 1986, hội nghị nội các Liên bang Malaysia đã quyết định thành lập Ủy ban hàng hải quốc gia, chịu trách nhiệm quy hoạch và điều phối các vấn đề biển. Năm 1999, Cục Hàng hải Malaysia được thành lập, có trách nhiệm thúc đẩy hợp tác chiến lược về lĩnh vực biển giữa Malaysia với quốc tế, phát huy tiềm năng nghiên cứu và phát triển biển, thúc đẩy, tăng cường mục tiêu hợp tác giữa các cơ chế hàng hải trong nước. Mặt khác, xây dựng kế hoạch thống nhất và quy hoạch phát triển ngành hàng hải, tăng cường xây dựng vận tải biển, thương mại và xây dựng cảng biển, làm tốt công tác bảo vệ nguồn tài nguyên biển. Năm 1990, Malaysia thông qua Kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 6 giai đoạn 1990 – 1995, đề xuất tăng cường chú trọng thương mại biển, ngành chế tạo hàng hải trên cơ sở phát triển ngành dầu mỏ ngoài khơi và du lịch biển. Trong một vài kế hoạch phát triển quốc gia sau đó, ngành vận tải biển của Malaysia cũng được chú trọng hơn. Trong nhiều năm qua, các cảng chủ yếu của Malaysia như Port Klang, Tanjung Pelepas, Penang Johor, Kuantan, Kemaman, Bintulu, Malacca… phát triển tương đối nhanh. Năm 2018, lượng hàng hóa xuất nhập qua 8 cảng này chiếm 64% tổng lượng hàng hóa qua các cảng của Malaysia. Theo số liệu của hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển, Malaysia đứng thứ 5 thế giới về phương diện kết nối tuyến đường biển, thậm chí còn vượt cả Hà Lan và Mỹ. Cần phải nói rằng, kinh tế vận tải biển là ngành thúc đẩy chủ chốt của nền kinh tế biển Malaysia với thương mại là chủ đạo.

Tuy nhiên, về tổng thể, hiện Chính phủ Malaysia không có chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, chuyên biệt, ưu thế biển của Malaysia vẫn chưa được phát huy đầy đủ, tiềm lực kinh tế biển cần phải được đẩy mạnh khai thác hơn nữa, đồng thời việc phát triển kinh tế biển cũng đang đối mặt với một loạt các thách thức.

1.3/ Những thách thức đối với phát triển kinh tế biển

Mặc dù, Chính phủ Malaysia ngày càng coi trọng phát triển kinh tế biển, nhưng do sự thay đổi của môi trường địa chính trị, cục diện thương mại biển, kế hoạc phát triển biển quốc gia và cơ chế bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn còn khiếm khuyết, phát triển kinh tế biển Malaysia còn bị động, đối mặt với một số thách thức sau:

Một là, việc khai thác dầu mỏ ngoài khơi ở Nam Hải đang trong bối cảnh tranh chấp. Việc khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên của Malaysia gần như thực hiện toàn bộ trên biển, đặc biệt là khu vực Sabah và Sarawak ở Nam Hải. Hiện nay, Chính phủ Malaysia đã nhận thức được khả năng phòng thủ quân sự của họ còn hạn chế, cho rằng quân đội dựa vào thực lực hiện có của mình phải đối mặt với những thách thức để bảo vệ lợi ích quốc gia trong vùng biển tranh chấp. Do không thể bảo vệ khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ bằng quân sự, nên việc tạo ra một môi trường hòa bình để khai thác tài nguyên là vô cùng quan trọng đối với Malaysia. Trước năm 2010, Malaysia và các nước Thái Lan, Việt Nam, Brunei, Indonesia đã cơ bản giải quyết được vấn đề khai thác dầu mỏ ở vùng biển tranh chấp. Tuy nhiên, vẫn chưa giải quyết được mâu thuẫn với Trung Quốc, tranh chấp ở Nam Hải giữa Trung Quốc và Malaysia cũng luôn xoay quanh vấn đề khai thác tài nguyên dầu mỏ của Malaysia. Chẳng hạn, năm 2013, tàu hải cảnh của Trung Quốc đã thả neo tại cụm bãi cạn Nam Luconia, cách Sarawak của Malaysia chỉ có 84 hải lý và từng gây ra những căng thẳng đối với Malaysia và phải triệu tập phiên điều trần trước quốc hội. Phải nói rằng những tồn tại về tranh chấp ở biển Nam Hải giữa Trung Quốc và Malaysia là một thách thức biển tiềm ẩn đối với Malaysia.

Hai là, ngành vận tải biển gặp phải những trở ngại, không đủ sức cạnh tranh hàng hải trong khu vực. Thời gian gần đây, do thương mại toàn cầu chậm lại và ở vào vị thế yếu hơn trong cạnh tranh hàng hải so với Singapore, ngành vận tải biển của Malaysia càng giảm mạnh, Liên minh hãng tàu mới gồm có cac hãng tàu như CMA, CGM, COSCO, Orient Overseas, Evergreen đã chuyển dịch hoạt động kinh doanh sang Singapore, khiến chỉ riêng cảng Port Kelang của Malaysia đã mất đi hơn 1/3 doanh thu. Trong cạnh tranh với Singapore, mặc dù chi phí lao động cao hơn Malaysia nhưng quãng đường qua eo biển Malacca đến cảng Singapore ngắn hơn 600 km so với đến cảng Port Kelang nên tiết kiệm được chi phí đáng kể. Ngoài ra, cơ sở hậu cần của cảng Singapore hiện đại hơn cảng Port Kelang, hơn nữa Chính phủ Singapore không ngừng đầu tư kinh phí và khám phá những công nghệ mũi nhọn như xe dẫn đường tự động không người lái hoặc máy cảm biến thông minh. Có thể nói rằng, sự sụt giảm năng lực cạnh tranh hàng hải ở tầm khu vực và toàn cầu đã hạn chế sự phát triển của ngành vận tải biển Malaysia.

Ba là, vấn đề phá hoại nguồn tài nguyên trong phát triển kinh tế biển đang ngày càng nghiêm trọng. Cùng với sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa và khai thác tài nguyên biển gia tăng, Malaysia cũng đối mặt với rất nhiều thách thức trong việc duy trì lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường. Chẳng hạn, việc đánh bắt quá mức và mang tính tận diệt, axit hóa đại dương, phá hoại hệ sinh thái ven biển, sự cố tràn dầu và xâm nhập của sinh vật, ngoài ra có những mối đe dọa mới như rác thải đại dương… Sự tồn tại của những vấn đề này gây bất lợi đối với việc bảo vệ hệ sinh thái và tài nguyên biển, cơ bản đã tác động đến cơ sở vật chất trong phát triển kinh tế biển của Malaysia.

Bốn là, Chính sách biển quốc gia thiếu cơ chế điều phối. Từ trước đến nay, Chính phủ Malaysi thiếu cơ chế hàon thiện để điều phối sự phát triển biển quốc gia. Hai kế hoạch phát triển quốc gia của Malaysia giai đoạn 1991 – 2000 đã chỉ ra rằng chính phủ chưa tận dụng hết tiềm lực biển, sự chồng chéo thẩm quyền của Liên bang, các bang, khu vực tư nhân đã dẫn đến các vấn đề như quy hoạch và phát triển cảng biển không nhịp nhàng, chính sách vận tải biển của quốc gia không cụ thể. Báo cáo quốc gia năm 2006 của Malaysia đã chỉ ra do nước này không có chính sách rõ ràng để quản lý và sử dụng tài nguyên ven biển và đại dương nên đã gây ra sự chồng chéo trong quản lý không gia biển của các ngành khác nhau. Ngoài ra, cũng có quan điểm cho rằng việc nhà nước thiếu cơ chế điều phối giữa các cảng biển là một trong những nguyên nhân chính khiến hai cảng lớn nhất của Malaysia là cảng Tanjung Palapas và Port Kelang tụt hậu so với Singapore. Có thể thấy việc thiếu cơ chế điều phối là trở ngại chính của sự phát triển kinh tế biển của Malaysia. Việc lựa chọn phương hướng phát triển kinh tế biển của Malaysia được quyết định bởi phương hướng chiến lược kinh tế quốc gia. Từ khi thành lập nước đến nay, Malaysia đã thông qua kế hoạch phát triển và chuyển đổi mô hình quốc gia, công bố tầm nhìn và kế hoạch phát triển quốc gia để xác định mục tiêu và phương hướng phát triển trong tương lai. Một trong những đại diện đó là Kế hoạch 5 năm phát triển quốc gia. Malaysia xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm một lần, tính đến năm 2020 đã đưa ra 11 kế hoạch 5 năm, 2021 – 2025 là thời gian thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của nước này với mục tiêu chủ yếu là tăng cường thực lực kinh tế, môi trường bền vững và tái tạo xã hội. Hai là, tầm nhìn và kế hoạch phát triển quốc gia. Hiện tầm nhìn quốc gia được công bố của Malaysia được chia thành Tầm nhìn quốc gia 2020 và Chương trình quốc gia 2030. Tầm nhìn quốc gia 2020 là phương châm chính trị được cựu Thủ tướng Mahathir đưa ra tại Hội nghị Kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 6, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Malaysia trở thành quốc gia tiên tiến; Chương trình quốc gia 2030 là quy hoạch do cựu Thủ tướng Najib đưa ra năm 2016 với mục tiêu là thực hiện kinh tế phát triển bền vững và chuyển đổi kinh tế. Ngoài ra, ngày 25/10/2010, Malaysia đã khởi động Kế hoạch chuyển đổi kinh tế quốc gia, mục tiêu là nâng thu nhập bình quân đầu người tăng từ 6700 USD năm 2010 lên 15000 USD năm 2020, đưa Malaysia phát triển thành nền kinh tế thu nhập cao.

Trong kế hoạch, tầm nhìn và chương trình phát triển quốc gia gần đây của Malaysia, kinh tế biển đều là một nội dung quan trọng. Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 của Malaysia (2021 – 2025) đãoci inh tế xanh đại dương, công nghệ xanh và tái sinh nguồn năng lượng đại dương là nội dung quan trọng trong phát triển bền vững. Mục tiêu chính của Chương trình quốc gia 2020 và Tầm nhìn quốc gia 2030 đều bao gồm thúc đẩy phát triển bền vững biển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa biển, mà Kế hoạch chuyển đổi kinh tế năm 2010 của Malaysia nhằm thực hiện các điều chỉnh chiến lược đối với 12 lĩnh vực phát triển trọng điểm quốc gia, 12 lĩnh vực đề cập đến các nội dung như tài nguyên dầu mỏ, du lịch biển, ngành nghề chế tạo biển. Cần phải nói rằng những chiến lược phát triển quốc gia này đã đưa ra sự chỉ dẫn đối với Malaysia trong lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế biển. Mặc dù, Malaysia đã nâng cao mức độ coi trọng kinh tế biển, nhưng đáng tiếc nước này hiện vẫn không có kế hoạch phát triển kinh tế biển quốc gia chuyên biệt, chiến lược phát triển kinh tế biển chủ yếu thể hiện trong kế hoạch và tầm nhìn phát triển kinh tế quốc gia.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Những lỗ hổng nghiêm trọng trong tư duy chiến lược của Trung Quốc


Tuần qua, một bài xã luận trên tờ Thời báo Hoàn cầu (Global Times) của nhà nước Trung Quốc cáo buộc rằng liên minh Five Eyes gần 80 năm tuổi – gồm Australia, Canada, New Zealand, Anh và Mỹ – là “trục các nước theo thuyết “người da trắng thượng đẳng””. Những tuyên bố vô lý một cách trắng trợn như vậy khiến người khác không thể tin dược và gần như chắc chắn không kích động một phản ứng nà. Tuy nhiên, bài xã luận chỉ ra 4 lỗ hổng nghiêm trọng trong tư duy chiến lược của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) về tương lai của nước này.

Thứ nhất, là một sự nhầm lẫn cơ bản về quyền bá chủ. Khi thảo luận về Five Eyes, tờ Thời báo Hoàn cầu lập luận: “Chúng ta không thể cho phép sự ích kỷ của họ giả danh dưới hình ảnh đạo đức thế giới, và họ không thể thiết lập chương trình nghị sự của nhân loại”.

Kiểu suy nghĩ đó nhầm lẫn giữa “sự thống trị” và “khả năng lãnh đạo”. Tất nhiên, mặc dù họ có thể thống trị, nhưng quyền lực thực sự đến từ khả năng lãnh đạo. Trong nước, CCP mong muốn sử dụng quyền lực của mình để khẳng định quyền kiểm soát liên tục với người dân. Việc thực hiện kiểu kiểm soát hay quyền lực tuyệt đối này trong các mối quan hệ quốc tế là không thể và cũng không được mong muốn. Các cường quốc toàn cầu trong quan hệ quốc tế không phụ thuộc vào sự cưỡng ép, đe dọa hay kiểm soát mà dựa vào sự lãnh đạo và ảnh hưởng. Nỗ lực nhằm thách thức trật tự dựa trên luật pháp thông qua quyền lực mềm hoặc các mối đe dọa cưỡng bức và chia rẽ sẽ không mang lại quyền bá chủ cho CCP và đó không phải là trò chơi có tổng bằng không. Khi thế giới hoạt động theo trật tự dựa trên luật pháp, khuynh hướng phân chia và thống trị của CCP gần như không giúp được gì cho việc duy trì hòa bình, an ninh và thịnh vượng.

Thứ hai, quan hệ quốc tế không phải là một hoạt động phù hợp với các “lựa chọn một trong hai” hoặc việc khái quát hóa. Thật mỉa mai khi tờ Thời báo Hoàn cầu đưa ra các khái niệm về “nền văn minh Anglo-Saxon”. Giống như tư duy chiến lược chung của CCP, quan điểm này có nhiều điểm chung với những câu hỏi trong Kinh thánh lỗi thời như “Bạn đứng về phía chúng tôi hay về phía kẻ thù của chúng tôi?” – vốn là một thái độ hầu như không được chấp nhận trong văn hóa phương Tây, chưa nói đến quan hệ quốc tế.

Thứ ba, các mối đe dọa và các hành động cưỡng chế, cho dù trong lĩnh vực kinh tế hay lĩnh vực khác, đang ngày càng trở nên ít thành công hơn. Việc Trung Quốc hạn chế nguồn cung cấp đất hiếm cho Nhật Bản, và sau đó là Mỹ, khiến họ bắt đầu các chiến lược hoàn toàn mới để đảm bảo chuỗi cung ứng của mình. Các lệnh trừng phạt kinh tế của CCP đối với Australia kéo dài hơn một năm qua đã củng cố ý chí quyết tâm của Canberra và làm giảm uy tín toàn cầu của Bắc Kinh.

Cuối cùng, và quan trọng nhất, các chiến lược chia rẽ và nền chính trị bản sắc, dù ở cấp quốc gia, song phương hay khu vực, đều không tạo ra quyền lực. Mặc dù nền chính trị về bản sắc của CCP có thể có một số sức hút trong nước, nhưng nó lại thất bại trên phạm vi quốc tế. Việc kích động nền chính trị bản sắc về bản chất là vô cùng gây hại. Hành động tìm cách liên kết chính phủ của các quốc gia Five Eyess với “mối đe dọa xuyên quốc gia” ngày càng tăng của các phong trào ủng hộ thuyết da trắng thượng đẳng cực đoan và coi nhóm dân số “nhỏ” của các nước này chống lại phần còn lại của thế giới là một công cụ phản tác dụng. Nó không hề giúp củng cố cho tuyên bố ủng hộ sự đa dạng quốc tế của CCP.

CCP đang lo lắng về “chủ nghĩa đa phương hiệu quả”, vì lợi thế của họ đến từ việc xử lý vấn đề một cách song phương. Bạn có thể kiểm soát mọi thứ dễ dàng hơn nhiều khi bạn là bên lớn hơn trong mối quan hệ hai chiều. Nhà nước Trung Quốc đang sử dụng cách tiếp cận gây chia rẽ đối với chủ nghĩa đa phương. Các nhà quan sát nhận thấy họ đang sử dụng chiến lược này trong quan hệ tương tác với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các quốc gia thành viên ASEAN. Trong nhiều thập kỷ, sự phát triển kinh tế của các thành viên ASEAN đã bị cản trở bởi sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng chất lượng cao trong thời gian dài. Vấn đề không phải là thiếu mong muốn là thiếu khả năng tiếp cận vốn đầu tư. Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc đã đổ vào khu vực này trước khi Chủ tịch Tập Cận Bình công bố sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) vào năm 2013. Tuy nhiên, sự ra đời của BRI là một bước ngoặt trong phát triển cơ sở hạ tầng ASEAN. Nó cũng khiến hầu hết các thành viên ASEAN ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc về mặt kinh tế. Khoản đầu tư này, đặc biệt ở Lào và Campuchia không chỉ ảnh hưởng đến các nước này mà còn ảnh hưởngđến các phản ứng tập thể của ASEAN. Những phản ứng gay gắt đối với các hành động của CCP ở biển Hoa Nam (Biển Đông) dường như sẽ không xảy ra.

Tuy nhiên, các nước trong khu vực cũng đang nhận ra sự phụ thuộc của họ vào đầu tư của Trung Quốc. Nhận thức này đang thúc đẩy các mối liên kết mới xuất hiện trong khu vực. Các dự án mang tính biểu tượng như cầu hữu nghị Việt Nam – Australia ở Đồng Tháp và cầu hữu nghị Việt – Nhật ở Hà Nội cho thấy hiện tại vẫn có những lựa chọn thay thế.

Bài phân tích “khôi hài” của Thời báo Hoàn cầu gợi nhớ đến hoạt động tuyên truyền hồi những năm 1950 của Liên Xô. Bài xã luận cũng cho thấy rằng một trong những chiến lược thiết yếu để đối phó với các cuộc tấn công của CCP vào chủ nghĩa đa phương là duy trì cam kết đối với một trật tự dựa trên luật pháp.

Nguồn: www.aspistrategist.org.au

TKNB – 03/03/2021.

Sách lược phát triển kinh tế biển của Malaysia – Phần I


Malaysia có biển bao quanh, là quốc gia biển điển hình ở khu vực Đông Nam Á. Cùng với tầm quan trọng của biển trong phát triển kinh tế và chính trị thế giới ngày càng gia tăng, việc dựa vào tài nguyên biển và ngành nghề biển để thúc đẩy kinh tế biển trở thành nội dung quan trọng trong phát triển và chuyển đổi kinh tế quốc gia của Malaysia. Ngày 27/3/2019, tại Hội nghị hàng hải toàn quốc Malaysia, Thủ tướng Mahathir Mohamad đánh giá cao vai trò của biển đối với việc thúc đẩy chuyển đổi mô hình kinh tế và phát triển của quốc gia trong tương lai. Ông cho rằng Malaysia không được coi nhẹ sự phụ thuộc lâu dài vào biển, biển mang lại giá trị chiến lược về môi trường, xã hội và kinh tế to lớn cho quốc gia. Do đó, nghiên cứu xây dựng cơ chế và sách lược phát triển kinh tế biển đối với Malaysia là vô cùng quan trọng.

Hiện nay, nghiên cứu của giới học thuật trong nước đối với chính sách biển của Malaysia chủ yếu tập trung vào lĩnh vực an ninh biển, đặc biệt là chính sách Nam Hải (Biển Đông) của Malaysia. Các nghiên cứu về phát triển kinh tế biển của quốc gia này vẫn còn thiếu và phần lớn nằm rải rác trong các cuộc thảo luận về kinh tế biển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hoặc cả khu vực Đông Nam Á: Ví dụ như phân tích sự đóng góp của lĩnh vực biển chủ yếu của Malaysia đối với nền kinh tế quốc gia theo quan điểm của ASEAN của học giả Vương Cần; phân tích về kinh tế biển ở khu vực Đông Nam Á của học giả Vương Hiểu Huệ đã nêu về vấn đề thực trạng ngành kinh tế biển của Malaysia. Tuy nhiên, hiện các nghiên cứu độc lập về kinh tế biển của Malaysia chủ yếu vẫn do các học giả nước ngoài nghiên cứu là chính, hơn nữa mối quan tâm chính là vấn đề các ngành nghề liên quan và sự phát triển của kinh tế biển Malaysia, chẳng hạn như Rahman đã có giới thiệu tổng quan về ngành kinh tế biển của Malaysia; còn Nazery Khalid thì cho rằng Chính phủ Malaysia đã thiếu những đánh giá có giá trị về ngành kinh tế biển, thiếu quy hoạch chiến lược kinh tế biển toàn diện để sử dụng bền vững nguồn tài nguyên biển và ven biển; Mohd Rusli Yacob lấy khu du lịch đảo Redang làm ví dụ để đánh giá về giá trị kinh tế của du lịch sinh thái đối với du lịch biển của Malaysia. Phải nói rằng, những nghiên cứu hiện có chưa thực sự đi sâu tiến hành nghiên cứu, phân loại và đưa ra cơ chế cho phát triển kinh tế biển của Malaysia cùng những nguyên nhân của nó, bài viết này tiến hành nhìn nhận từ nhiều cấp độ trên cơ sở phân tích tầm quan trọng, quá trình phát triển và những thách thức của kinh tế biển Malaysia.

1/ Quá trình phát triển và những thách thức của kinh tế biển Malaysia

1.1/ Tầm quan trọng của kinh tế biển đối với Malaysia

Trong hệ thống toàn cầu, biển không chỉ có hàm ý chính trị, mà còn mang nội hàm kinh tế sâu sắc. Kinh tế biển đã trở thành bộ phận cấu thành và động lực phát triển quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Chủ yếu thể hiện ở những mặt sau:

Thứ nhất, kinh tế biển là trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc dân đối với quốc gia biển. Bắt đầu từ đầu những năm 1990, kinh tế biển ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong các quốc gia biển. Giả sử tổng giá trị ngành kinh tế biển trên toàn cầu hàng năm tương đương với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một quốc gia, thì biển là nền kinh tế lớn thứ 7 của thế giới, với tổng giá trị tài sản biển chủ yếu vượt trên 24.000 tỷ USD.

Hai là, sự phát triển kinh tế biển trở thành tiêu chí quan trọng để đánh giá sức mạnh tổng hợp quốc gia. Các ngành kinh tế biển hiện đại chủ yếu gồm ngành dầu mỏ, vận tải biển, du lịch biển và nghề cá, các ngành kinh tế biển phát triển và hệ thống phân công lao động thường đồng nghĩa với trình độ phát triển kinh tế ở mức tương đối cao. Hơn nữa, sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các nước trên thế giới lại không thể tách rời trụ cột ngành hàng hải. HIện nay, kinh tế biển đã trở thành một trong những bộ phận không thể thiếu trong hệ thống tiêu chuẩn đánh giá kinh tế quốc dân, trở thành phương tiện truyền đạt quan trọng để mở rộng không gian phát triển kinh tế, xã hội và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh tổng hợp quốc gia.

Ba là, kinh tế biển cũng là nội dung quan trọng trong cạnh tranh giữa các quốc gia biển. Lịch sử quan hệ quốc tế trong thế kỷ 20 đã thể hiện rõ tầm quan trọng của biển và quyền lợi biển. Bất luận là thời kỳ chiến tranh thế giới hay trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh về tài nguyên biển, kinh tế biển và khoa học kỹ thuật biển sẽ trở thành sự lựa chọn tất yếu. Tranh giành, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên biển, phát triển mạnh mẽ kinh tế biển đã trở thành sự lựa chọn chiến lược trong phát triển của các quốc gia biển.

Kinh tế biển có vai trò vô cùng quan trọng đối với Malaysia. Hiện nay, tài nguyên dầu mỏ đã trở thành sản phẩm xuất khẩu đơn lẻ lớn nhất của Malaysia, việc khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ phong phú đã mang lại lợi ích to lớn cho Malaysia. Số liệu báo cáo tài chính nội bộ của Công ty dầu khí Malaysia cho thấy lợi nhuận ròng dầu khí của nước này năm 2011 đạt 20,1 tỷ USD, năm 2016 doanh thu từ tài nguyên dầu mỏ chiếm hơn 20% doanh thu tài chính. Đồng thời, kinh tế biển là trụ cột quan trọng trong phát triển kinh tế công nghiệp Malaysia. Năm 2016, tổng kim ngạch vận tải của Malaysia là 1480 tỷ Ringgit, 98,4% thương mại toàn quốc được thực hiện thông qua đường biển; năm 2016, ngành công nghiệp đóng tàu biển đã tạo ra doanh thu 7,36 tỷ Ringgit, đã cung cấp một lượng lớn việc làm; hải sản là một trong những nguồn chủ yếu trong các món ăn của Malaysia, có khoảng 400.000 hộ gia đình mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá. Cuối cùng, ngành du lịch cũng dựa nhiều vào biển để bán sản phẩm là chủ yếu và du lịch biển đang trở thành nguồn thu nhập chủ yếu ngoài dầu mỏ và vận tải biển của Malaysia. Năm 2018, du lịch biển là ngành đóng góp lớn thứ 3 cho GDP của Malaysia, tỷ lệ đóng góp vào GDP khoảng 5,9%. Thông qua phân tích định lượng, một số học giả đã đánh giá ngành du lịch biển của Malaysia có ưu thế cạnh tranh điển hình, điều này cũng nói lên tầm quan trọng của ngành du lịch biển trong phát triển kinh tế của Malaysia.

1.2/ Quá trình lịch sử phát triển kinh tế biển của Malaysia

Từ quá trình lịch sử phát triển kinh tế biển của Malaysia có thể thấy mặc dù kinh tế biển vô cùng quan trọng, nhưng trong thời kỳ đầu, Chính phủ Malaysia chưa quan tâm đúng mức đến kinh tế biển, mức độ quy hoạch không cao.

Năm 1963, sau khi thành lập nước, Malaysia không thành lập cơ quan quản lý biển chuyên trách. Xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế quốc gia, chính sách kinh tế biển Malaysia giai đoạn đầu chủ yếu là khai thác tài nguyên dầu mỏ, đặc biệt coi trọng khai thác nguồn tài nguyên dầu mỏ ở Nam Hải với cách làm chủ yếu là cơ chế chuyển nhượng quyền khai thác. Năm 1974, Công ty dầu khí quốc gia Malaysia được thành lập, chịu trách nhiệm chính về thăm dò, khai thác dầu khí và quản lý tất cả các trình tự thủ tục cấp phép liên quan. Hiện nay, Công ty dầu khí quốc gia Malaysia là doanh nghiệp duy nhất của Malaysia nằm trong top 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới. Malaysia có cơ sở sản xuất khí tự nhiên hóa lỏng lớn nhất trên thế giới, tính đến năm 2018, Malaysia là quốc gia xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng lớn thứ 3 thế giới. Việc phát triển ngành dầu mỏ ngoài khơi đã trở thành một trong những nội dung cốt lõi trong chính sách kinh tế biển của Malaysia. Vào những năm 1970, ngành du lịch biển bắt đầu được chính phủ quan tâm, được đưa vào Kế hoạch phát triển quốc gia Malaysia lần thứ 2 giai đoạn 1971 – 1975. Năm 1972, Malaysia đăng cai tổ chức hội nghị Hiệp hội du lịch khu vực Thái Bình Dương lần thứ 21 nhằm mở rộng du lịch biển, cũng trong năm đó đã thành lập Công ty phát triển du lịch, thay Bộ Du lịch chịu trách nhiệm phát triển ngành du lịch biển quốc gia. Tuy nhiên, xét về tổng thể, từ khi thành lập nước đến những năm 1970, mức độ coi trọng của Malaysia đối với kinh tế biển vẫn còn tương đối hạn chế, điều này có thể nhận thấy thông qua 5 kế hoạch phát triển quốc gia của Malaysia từ năm 1960 đến năm 1990.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

CVĐQT số 11/2020.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần I


Ở châu Âu, ngôn từ “các nước Balkans” thường gợi lên những hình ảnh xung đột sắc tộc và những cuộc kình địch khu vực giữa các nước lớn. Khu vực lục địa Âu – Á cũng có “các nước Balkans”, nhưng đó là những nước lớn hơn, đông dân hơn, thậm chí còn hỗn tạp xét về mặt tôn giáo và sắc tộc. Những nước này nằm trong một khu vực hình thuôn rộng lớn, là trung tâm của những bất ổn trên thế giới. Hình thuôn này cũng trùm lên nhiều bộ phận thuộc Đông Nam Âu, Trung Á cũng như nhiều phần thuộc Nam Á, khu vực vịnh Ba Tư và Trung Đông.

Các nước Balkans Âu – Á nằm gọn bên trong của hình thuôn rộng đó. Các nước này khác với khu vực ngoài ở một điểm đặc biệt quan trọng: là một khoảng trống quyền lực. Tuy đa số các nước nằm ở vịnh Ba Tư và Trung Đông cũng mất ổn định, song ở đó lại có sự hiện diện của Mỹ với tư cách như một trọng tài. Do vậy, khu vực bất ổn ở vòng ngoài là một khu vực chỉ có một nước bá quyền và quyền lực của nó đã làm tình hình dịu đi. Trái lại, các nước Balkans Âu – Á lại gợi nhớ tới các nước Balkans cổ xưa hơn và quen thuộc hơn của Đông Nam Âu: Không chỉ những thực thể chính trị của vùng này bất ổn mà chúng còn như một miếng mồi hấp dẫn với ý đồ xâm lược của các nước láng giềng hùng mạnh. Mỗi nước láng giềng này đều quyết tâm chống nước khác đô hộ khu vực. Chính sự kết hợp của hai yếu tố khoảng trống và sức hút quyền lực đã làm cho “các nước Balkans Âu – Á” xứng với tên gọi này.

Trong cuộc đấu tranh giành địa vị thống trị châu Âu, các nước Balkans cổ truyền là một phần thưởng địa chính trị tiềm tàng. Do vị trí nằm án ngữ trên hệ thống đường vận tải hai cực Tây – Đông giàu nhất và cần cù nhất của lục địa Âu – Á nên các nước Balkan Âu – Á còn có tầm quan trọng về địa chính trị. Hơn nữa, ở khía cạnh an ninh và tham vọng lịch sử thì những nước này có tầm quan trọng đối với ít nhất ba trong số các nước láng giềng gần cận nhất và hùng mạnh nhất, đó là Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Trung Quốc cũng ngày càng thể hiện sự quan tâm chính trị đối với khu vực này.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy các nước Balkans Âu – Á còn có tầm quan trọng hơn nhiều. Trong khu vực này tập trung nhiều khoáng sản quan trọng, nhiều dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên, kể cả vàng. Trong hai hoặc ba thập kỷ tới, mức tiêu thụ năng lượng của thế giới sẽ tăng rất nhiều. Bộ Năng lượng Mỹ dự báo nhu cầu của thế giới sẽ tăng thêm hơn 50% trong khoảng từ năm 1993 đến năm 2015, và những nước tiêu thụ năng lượng sẽ tăng nhiều là ở Viễn Đông. Động lực phát triển kinh tế của châu Á hiện đang tạo ra nhiều sức ép lớn đòi thăm dò và khai thác những nguồn năng lượng mới. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên của khu vực Trung Á và lòng chảo biển Caspian có khả năng vượt xa trữ lượng của Kuwait, vịnh Mexico hoặc Biển Bắc. Có được nguồn tài nguyên đó và chai sẻ sự giàu có tiềm tàng ở khu vực này là những mục tiêu và tham vọng của nhiều nước, làm sống lại những tham vọng đế quốc và thổi bùng lên những mối kình địch quốc tế. Tình hình này càng thêm biến động vì vùng này không chỉ là một khoảng trống quyền lực mà còn có bất ổn nội bộ. Mỗi nước ở đây đều phải chịu những khó khăn nội bộ nghiêm trọng. Tất cả các nước trên đều bị các nước láng giềng bá chủ hoặc đang có hận thù sắc tộc, chỉ có một số ít nước là đồng nhất về dân tộc. Một số nước đang chìm đắm trong xung đột lãnh thổ, sắc tộc hoặc tôn giáo.

1/ Lò nung sắc tộc

Vùng Balkans Âu – Á có 9 nước ít nhiều đang ở trong tình trạng trên. Chín nước đó là Kazakhstan, Kirgistan, Tajikistan, Uzbekistan, Turkmenistan, Azerbaijan, Armenia, Gruzia (tất cả đều là một phần của Liên Xô cũ) và Afghanistan. Bổ sung vào danh sách này trong tương lai có thể là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Cả hai nước này đều có sức sống chính trị và kinh tế, đều tích cực tranh giành ảnh hưởng khu vực trong số các nước Balkans, và do vậy, đều là những đấu thủ địa chính trị quan trọng trong khu vực. Bởi, cả hai nước đều dễ bị tổn thương vì những cuộc xung đột sắc tộc nội bộ, và nếu hai nước này mất ổn định thì những vấn đề nội bộ của khu vực sẽ trở nên rối ren. Đồng thời, từ đó những cố gắng nhằm hạn chế Nga chiếm địa vị bá chủ trong vùng có thể trở nên vô tác dụng.

Có thể nói ba nước vùng Kavkaz là Armenia, Gruzia và Azerbaijan dựa trên cơ sở dân tộc thực sự trong lịch sử. Do vậy, chủ nghĩa dân tộc của họ vừa lan tỏa, vừa sâu sắc và những xung đột bên ngoài là thách thức chủ yếu đối với sự thịnh vượng của họ. Trái lại, có thể nói năm nước Trung Á mới thành lập đang trong giai đoạn xây dựng đất nước với đặc tính bộ lạc và sắc tộc còn mạnh, nên khó khăn lớn nhất của họ là sự bất đồng nội bộ. Cả hai kiểu nhà nước ấy đều có những điểm yếu để các láng giềng mạnh hơn và có tư tưởng đế quốc khai thác.

Các nước Balkans Âu – Á như một bức tranh đan xen các sắc tộc. Những nhà vẽ bản đồ độc đoán của Liên Xô những năm 1920 và 1930 đã vẽ đường biên giới của các nước thuộc khu vực này khi từng nước cộng hòa Xô viết được chính thức thành lập. (Afghanisatn là trường hợp ngoại lệ vì họ chưa bao giờ nằm trong Liên bang Xô viết). Các đường biên giới của họ chủ yếu được vạch ra theo nguyên tắc sắc tộc, nhưng cũng phản ánh ý đồ của Kremlin, nhằm làm cho khu vực Nam đế chế Nga trong tình trạng chia rẽ nội bộ để thuận lợi hơn cho việc thống trị.

Với mưu đồ đó, Nga bác bỏ đề nghị của các nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Á hòa nhập nhiều dân tộc Trung Á thành một đơn vị chính trị đơn nhất mang tên “Turkestan” hơn là tạo nên 5 “nước cộng hòa” riêng biệt. Có thể do một tính toán tương tự, Nga đã từ bỏ các kế hoạch thành lập một liên bang các nước Kavkaz. Vì thế, không có gì là ngạc nhiên sau sự sụp đổ của Liên Xô, cả 3 nước vùng Kavkaz và 5 nước Trung Á đều không thật sẵn sàng cho vị thế độc lập mới cũng như chưa sẵn sàng thực hiện sự hợp tác khu vực cần thiết.

Ở vùng Kavkaz, chưa đầy 4 triệu dân Armenia và trên 8 triệu dân Azerbaijan đã nhanh chóng bị cuốn vào một cuộc chiến tranh công khai đòi vị thế cho vùng Nagorny-Karabakh, một vùng lõm với đa số dân Armenia trong lòng Azerbaijan. Cuộc xung đột gây ra những vụ tàn sát sắc tộc quy mô lớn, trong đó hàng trăm, hàng nghìn dân tha hương tháo chạy theo cả hai hướng. Do Armenia theo đạo Thiên chúa, còn Azerbaijan theo đạo Hồi, nên cuộc chiến tranh mang màu sắc của một cuộc xung đột tôn giáo. Cuộc chiến tranh gây ra sự tàn phá về kinh tế, và việc xây dựng địa vị độc lập ổn định của cả hai nước đều rất khó. Armenia bị xô đẩy đến chỗ dựa nhiều hơn vào Nga, trong khi đó, Azerbaijan phải hi sinh vùng Nagorny-Karabakh để đổi lấy nền độc lập và ổn định nội bộ.

Vị trí của Azerbaijan đã khiến nước này trở thành một điểm then chốt địa chính trị. Có thể mô tả nó là chiếc “nút chai” có tầm quan trọng sinh tử, vì nó khống chế đường vào “chiếc chai” có chứa những tài nguyên giàu có của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á. Một nước Azerbaijan độc lập nói tiếng Thổ, có đường ống dẫn dầu chạy đến Thổ Nhĩ Kỳ, có quan hệ sắc tộc và ủng hộ về chính trị sẽ ngăn cản Nga độc quyền vào khu vực và do vậy khiến họ mất đi ảnh hưởng chính trị có tính quyết định đối với các chính sách của các nước Trung Á mới. Tuy vậy, Azerbaijan rất dễ bị tổn thương trước áp lực của nước Nga hùng mạnh ở phương Bắc và của Iran ở phương Nam. Ở Tây Bắc Iran có tới 20 triệu dân Azerbaijan, gấp đôi số sắc tộc này sống trên lãnh thổ Azerbaijan. Thực tế đó khiến Iran lo sợ về một chủ nghĩa ly khai tiềm tàng trong dân tộc Azerbaijan ở ngay Iran và do đó khiến họ lập lờ nước đôi đối với vị thế chủ quyền của Azerbaijan, mặc dù hai nước cùng theo đạo Hồi. Do vậy, Azerbaijan đã trở thành đối tượng để cả Nga và Iran cùng gây áp lực nhằm hạn chế họ làm ăn với phương Tây.

Khác với Armenia và Azerbaijan, 30% trong 6 triệu dân Gruzia là dân thiểu số. Hơn nữa những cộng đồng bé nhỏ này lâu nay vẫn căm ghét sự đô hộ của Gruzia. Do vậy, khi Liên Xô giải thể, các sắc tộc Osetia và Abkhazia đã lợi dụng sự ẩu đả chính trị nội bộ của Gruzia mưu toan ly khai chấp nhận sức ép của Nga buộc họ yên phận trong cộng đồng các quốc gia độc lập (lúc đầu Gruzia muốn hoàn toàn tách khỏi cộng đồng này), buộc phải chấp nhận các căn cứ quân sự Nga trên lãnh thổ của họ, tránh sự nhòm ngó của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về văn hóa và ngôn ngữ, bốn trong năm nước mới độc lập ở Trung Á là một phần của thế giới người Thổ. Tajikistan có ngôn ngữ và văn hóa thuộc vùng Ba Tư, còn Afghanistan (nằm ngoài Liên Xô cũ) thì có nhiều sắc tộc đan xen như Patha, Tajik, Pashtun và Ba Tư. Tất cả sáu nước này đều theo đạo Hồi và đã nhiều năm chịu ảnh hưởng của các đế quốc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga. Tuy vậy, trải nghiệm đó không có tác dụng gắn kết họ cùng chung mối quan tâm khu vực. Trái lại, thành phần sắc tộc đa dạng đã khiến họ dễ bị tổn thất trước những cuộc xung đột bên trong và bên ngoài. Các yếu tố này đã tạo ra sức hấp dẫn các nước láng giềng hùng mạnh hơn xâm lược.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Chiến sự Nagorny-Karabakh: Bài học đối với Nga và khu vực – Phần cuối


Nga đã bước vào cuộc chiến trên mặt trận ngoại giao và đạt được thắng lợi về mặt chiến thuật. Sau cuộc đàm phán kéo dài 11 tiếng đồng hồ tại Moskva, Armenia và Azerbaijan đã ký kết được một thỏa thuận đình chiến nhân đạo vào ngày 10/10 để trao đổi thi thể của những người thiệt mạng và tù binh. Đối với Nga, đây là thành công đầu tiên trên mặt trận ngoại giao vì một số lý do.

Thứ nhất, Nga đã bảo toàn được địa vị là bên trung gian hòa giải chính giữa hai nước và buộc họ phải đến Moskva để ký kết hiệp định đình chiến cơ bản.

Thứ hai, điểm 4 của thỏa thuận chỉ rõ việc duy trì nguyên trạng theo định dạng của các cuộc đàm phán, và đây chính là động thái đáp trả Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia đang cố gắng thay đổi nguyên trạng thông qua hành động leo thang quân sự. Và như vậy, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chưa thể tham gia quá trình này, trong khi Nga đã gạt họ ra bên lề.

Thứ ba, Nga đã kích hoạt mặt trận ngoại giao trên cơ sở đồng tình với các quan điểm của phương Tây, và việc này có lợi cho Điện Kremlin trong khuôn khổ chính sách đối ngoại rộng rãi hơn của họ nhằm khôi phục quan hệ với phương Tây, cho dù các lệnh trừng phạt và các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp diễn sau năm 2014.

Những nhận thức khác nhau

Tất nhiên, bản thân thỏa thuận ngừng bắn đã đổ bể ngay trong ngày đầu tiên. Trên thực tế, văn bản thỏa thuận và phản ứng của các bên với nó ngay từ đầu đã báo hiệu rằng nỗ lực đầu tiên nhằm dập tắt cuộc xung đột này sẽ thất bại. Vì vậy, điều kỳ diệu đã không xảy ra. Những người yêu nước ở cả hai chiến tuyến đã coi thỏa thuận này là khoảng lặng trước trận chiến tiếp theo. Các bên vẫn tin tưởng vào thắng lợi của mình, và do đó chưa sẵn sàng nhượng bộ. Đối với họ, chiến tranh vẫn chưa kết thúc, không có sự tin tưởng lẫn nhau, và bất kỳ cuộc đàm phán nào dưới sức ép của bên ngoài đều là mánh lới tạm thời, có thể lợi dụng làm công cụ trong cuộc chiến.

Azerbaijan phản ứng gay gắt với thỏa thuận ngừng bắn. Theo dõi các bình luận trên mạng xã hội và tuyên bố sau đó của Tổng thống Ilham Aliyev, họ coi thỏa thuận ngừng bắn là cơ hội để Armenia chỉnh đốn lực lượng, nghỉ ngơi và chuẩn bị tốt hơn cho các tuyến phòng thủ và thậm chí là một cuộc phản công. Họ tin rằng Azerbaijan đã gây tổn thất lớn về mặt quân sự cho Armenia, và do đó bất kỳ cuộc đình chiến nào cũng sẽ là vô nghĩa. Họ chỉ có thể tấn công.

Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ đón nhận thỏa thuận ngừng bắn với thái độ hoài nghi. Một mặt, họ ủng hộ ý tưởng đình chiến vì mục đích nhân đạo, nhưng mặt khác, họ không được hưởng lợi từ các thỏa thuận không có sự tham gia của họ. Do đó, có vẻ như để giành lại thế chủ động, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ phải tìm cách phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn và tham gia định hình các cuộc đàm phán tiếp theo.

Việc tiếp tục gây sức ép thông tin đối với Thổ Nhĩ Kỳ sau khi các tài liệu xác minh sự hiện diện của lính đánh thuê Syria ở Karabakh xuất hiện ngày càng nhiều đang tạo điều kiện thuận lợi cho Armenia xây dựng câu chuyện phản biện của họ về một Armenia không chỉ phòng thủ trước ngoại xâm mà còn đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Và điều này sẽ giúp ích cho các nỗ lực vận động hành lang. Quốc hội Cyprus và Hà Lan đã thông qua các nghị quyết lên án Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan, cả về vấn đề chiêu mộ lính đánh thuê nước ngoài. Không loại trừ việc Ankara sẽ tìm cách siết chặt các luồng thông tin về người Syria hoặc giảm bớt sự can dự của họ vào cuộc chiến ở Karabakh.

Trong tương lai gần, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không ngừng nỗ lực tham gia giải quyết vấn đề Nagorny-Karabakh bằng cách tăng tỷ lệ đặt cược vào việc sử dụng sức mạnh quân sự hoặc gây áp lực ngoại giao.

Cho dù điều gì đang diễn ra ngoài mặt trận, thì điều hết sức quan trọng đối với Ankara là họ phải giành cho mình một chỗ đứng trong số các lực lượng khống chế ở Nam Kavkaz: bằng cách tham gia các định dạng hiện có như nhóm Minsk của OSCE (và qua đó làm mới nó) hoặc lý tưởng nhất là tạo ra một định dạng thay thế nhóm Minsk để đàm phán với Nga, tương tự như những gì Nga đã làm với Syria khi tạo ra “định dạng Astana” làm đối trọng với “định dạng Geneva”.

Sáu bài học từ cuộc xung đột

Nhà nghiên cứu hàng đầu Andrei Kortunov của Hội đồng chính sách đối ngoại Nga nêu ra sáu bài học quan trọng đối với Moskva từ cuộc xung đột ở Nagorny-Karabakh như sau:

Thứ nhất, phải thừa nhận rằng sự leo thang xung đột ở Nam Kavkaz là một thiếu sót nghiêm trọng của Nga. Phản ứng đầu tiên của Moskva trước sự bùng nổ chiến tranh cho thấy tình báo Nga đã bỏ qua sự chuẩn bị lâu dài của Azerbaijan cho một cuộc tấn công chiến lược mới nhằm vào Karabakh. Nhiều khả năng Moskva trong một thời gian dài cũng đã đánh giá thấp mức độ khó chịu của Baku trước tình trạng quá trình đàm phán trong khuôn khổ nhóm Minsk kéo dài mà không có kết quả. Sau khi Nikol Pashinyan lên nắm uyền ở Yerevan, lập trường của người Armenia không dễ thay đổi. Ngược lại, Pashinyan, một chính trị gia ít kinh nghiệm, đã đưa ra các quan điểm đàm phán gay gắt mà những người tiền nhiệm lão luyện hơn, chẳng hạn như Serzh Sargsyan, đã cố gắng tránh.

Thứ hai, khác với các cuộc đụng độ nhỏ hơn vào mùa Hè ở biên giới Karabakh trong tháng 4/2016 và tháng 7/2020, cuộc xung đột hiện tại khiến cho việc khôi phục nguyên trạng là điều không thể. Cho dù cuộc đối đầu đang diễn ra kết thúc thế nào, thì nó sẽ không thể quay trở lại tình trạng ban đầu. Công thức truyền thống được áp dụng ở Nga – “hãy để các thế hệ tương lai giải quyết các vấn đề” – không còn hiệu quả nữa. Khó có thể “đóng băng” xung đột trong một thời gian dài. Điều này có nghĩa là cần phải tìm kiếm công thức và giải pháp mới.

Thứ ba, một nhân tố bên ngoài năng động và đôi khi khó đoán đối với người Thổ Nhĩ Kỳ rõ ràng đã xuất hiện trong cuộc xung đột ở Nam Kavkaz. Trước mắt chúng ta, Nga đang đánh mất vị thế là lực lượng bên ngoài giữ vai trò chính yếu trong cuộc xung đột Armenia-Azerbaijan mà có thể vừa duy trì sự cân bằng giữa hai quốc gia, vừa ngăn chặn sự trở lại của các hành động thù địch. Dù người ta đánh giá thế nào về các mục tiêu của Erdogan ở Nam Kavkaz, thì một điều đã trở nên rõ ràng là Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không rời khỏi khu vực. Ankara đang trở thành một nhân tố thường trực trong cán cân quyền lực khu vực, cho dù trên thực tế họ vẫn chưa can thiệp trực tiếp vào cuộc xung đột (về điểm này, các bên hiếu chiến chiếm vị trí đối lập trực tiếp) mà chỉ ủng hộ Baku về mặt chính trị và đạo đức.

Thứ tư, cuộc xung đột một lần nữa cho thấy các mối đe dọa thực sự đối với an ninh của Nga không đến từ phía Tây mà xuất phát từ sự bất ổn ở phía Nam – từ khu vực Đại Kavkaz và về lâu dài có thể là từ Trung Á. Ở phía Nam, lợi ích của Mosva và các thủ đô phương Tây nhìn chung trùng khớp nhau, và điều này khiến Nga, Pháp và Mỹ có thể nhanh chóng nhất trí về một tuyên bố ba bên liên quan đến tình hình ở Karabakh. Một tình huống nghịch lý đã xuất hiện – hai thành viên hàng đầu của NATO là Mỹ và Pháp đã hợp tác với Nga (kẻ thù chiến lược của liên minh này) để gây ảnh hưởng đến thành viên có ảnh hưởng thứ ba của NATO là Thổ Nhĩ Kỳ.

Thứ năm, đối với tất cả các cường quốc, bao gồm cả Nga, việc nối lại chiến sự ở Nam Kavkaz là một tín hiệu rõ ràng cho thấy việc liên tục sử dụng các tiêu chuẩn kép khi vận dụng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế (quyền tự quyết của các quốc gia và nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia) sẽ không mang lại kết quả tốt đẹp. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải thống nhất về cách tiếp cận phổ quát đối với tất cả các tình huống như vậy. Khó có thể đạt được sự thống nhất về vấn đề hết sức nhạy cảm này. Thế nhưng, nếu không đạt được sự đồng thuận quốc tế, thì những tình huống như xung đột Karabakh chắc chắn sẽ nhân rộng trên toàn thế giới.

Thứ sáu, cần ngăn chặn tình trạng đổ máu đang diễn ra. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách đảm bảo với Azerbaijan rằng vấn đề Nagorny-Karabakh sẽ không tiếp diễn trong 30 hay 50 năm nữa. Nhóm Minsk, vốn được cho là tìm cách giải quyết hòa bình xung đột Karabakh, cần phải kiên trì hơn và hành động nhiều hơn. Nếu không, người dân Azerbaijan sẽ cho rằng Ilham Aliyev đã thất bại. Tương tự,  Yerevan nên sẵn sàng nhượng bộ theo công thức “hòa bình để đổi lấy lãnh thổ”. Trước hết, điều này liên quan đến bảy vùng đệm của Azerbaijan mà hiện nằm dưới sự kiểm soát của Chính quyền Nagorny-Karabakh.

Nguồn: Tổng hợp báo chí Nga

CVĐQT số 10/2020.

Chiến sự Nagorny-Karabakh: Bài học đối với Nga và khu vực – Phần IX


Hikmet Hajiev, trợ lý Tổng thống Azerbaijan về chính sách đối ngoại, đã viết trên Twitter: “Các lực lượng vũ trang Armenia đã tiến hành một cuộc tấn công bằng tên lửa nhằm vào thành phố công nghiệp Mingechevir ở Azerbaijan. Tại Mingechevir có một hồ chứa nước và một nhà máy điện giữ vai trò quan trọng. Khi tuyệt vọng, người ta dễ làm liều”. Azerbaijan khẳng định rằng tổ hợp tên lửa chiến thuật Tochka-U do Liên Xô sản xuất, với tầm bay của các tên lửa lên tới 120 km, đã khai hỏa nhằm vào nhà máy thủy điện Mingechevir nhưng lại không nêu ra thiệt hại cụ thể.

Tochka-U dường như cũng được trang bị cho lực lượng phòng thủ Karabakh. Bất luận trong trường hợp nào, Azerbaijan và Armenia cũng nói rằng việc các tổ hợp này được điều chuyển từ Armenia sang Cộng hòa Nagorny-Karabakh (NKR) chưa được công nhận vào năm 2016. Theo Azerbaijan, ít nhất một trong bốn tên lửa được phóng từ tổ hợp Tochka-U đã bị rơi ở khu vực sát nhà máy thủy điện Mingechevir. Còn tại Stepanakert và Yerevan, người ta phủ nhận sự thật về vụ pháo kích.

Tuy nhiên, chủ đề về mối đe dọa tên lửa đối với một trong những mục tiêu chiến lược quan trọng của Azerbaijan thường xuất hiện mỗi khi xung đột giữa Baku và Yerevan trở nên trầm trọng hơn. Chẳng hạn như tháng 7 vừa qua, trong bối cảnh một vụ rắc rối xảy ra tại khu vực phía Bắc đường biên giới Armenia-Azerbaijan, Bộ Quốc phòng Azerbaijan đã cảnh báo rằng nếu Armenia phá hủy đập Mingechevir, thì quân đội Azerbaijan sẽ đáp trả bằng việc tấn công nhà máy thủy điện hạt nhân Metsamor, chỉ cách Yerevan 30 km.

Trong thời gian xảy ra vụ rắc rối ở biên giới, những lời đe dọa như vậy giống như một bài tuyên truyền. Thế nhưng trên thực tế, nhà máy thủy điện Mingechevir, cách Stepanakert và biên giới Armenia khoảng 100 km, là một mục tiêu quân sự hiểm yếu và quan trọng về mặt chiến lược. Tấn công nhà máy thủy điện Mingechevir có nghĩa là một nửa đất nước Azerbaijan sẽ bị xóa sạch khỏi mặt đất.

Điều này đồng nghĩa với một thảm họa nhân đạo và môi trường to lớn. Không nên để điều này xảy ra trong bất cứ trường hợp nào. Thế nhưng, về mặt lý thuyết, không thể loại trừ khả năng xảy ra trường hợp thứ nhất: Armenia sử dụng các tổ hợp Iskander để thực hiện một cuộc phản kích. Tổ hợp này, với sự trợ giúp của tên lửa, được sử dụng để phá hủy các mục tiêu cơ sở hạ tầng của đối phương. Các tổ hợp Iskander-E (phiên bản xuất khẩu) tại căn cứ Gyumri có tầm bắn tên lửa dưới 280 km, chứ không phải 500 km như phiên bản tiêu chuẩn của Iskander-M do quân đội Nga sở hữu.

Chuyên gia quân sự Pavel Felgenhauer nói với báo Vzylyad: “Vẫn chưa rõ tầm bắn chính xác của loại tên lửa Iskander hiện có tại Amernia là bao nhiêu”. Theo quan điểm chính thức, Nga không nên bán cho Armenia các tổ hợp phiên bản 500 km vì việc này vi phạm các điều ước quốc tế mà Moskva tham gia. Ngoài ra Iskander-E chỉ có một chứ không phải hai tên lửa trên bệ phóng để phù hợp với các thỏa thuận về kiểm soát công nghệ tên lửa quốc tế. Theo giải thích của Felgenhauer, việc chỉ phóng một tên lửa vào nhà máy thủy điện Mingechevir sẽ không đủ để gây thiệt hại đáng kể cho con đập.

Tầm bắn của Iskander trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng. Chuyên gia quân sự Nga Bagdasarov lý giải rằng về lý thuyết, nhà máy thủy điện Sangachal, mà cung cấp điện năng cho Baku (cách khu vực xung đột khoảng 500 km), nằm ngoài tầm với của đòn tấn công bằng tên lửa. Cần lưu ý rằng một loạt mục tiêu hạ tầng quan trọng nhất của Azerbaijan, chẳng hạn như tổng kho khí đất Sangachal, nhà máy lọc dầu Baku trên bán đảo Absheron và nhà máy lọc dầu Garadag gần bờ biển Caspi, cũng nằm ngoài khu vực tấn công của tên lửa Armenia.

Bagdasarov giải thích: “Mục tiêu số một trên lãnh thổ Azerbaijan đối với Armenia và tên lửa Iskander-E trong kịch bản xấu nhất của cuộc xung đột có lẽ là đường ống dẫn dầu Baku-Tbilisi-Djeykhan”, cụ thể là đoạn cách biên giới phía Bắc của Cộng hòa tự xưng Nagorny-Karabakh khoảng 40 km, nằm giữa hai thành phố Ganja và Yevlakh. Chặn nguồn cung cấp dầu khí cho Thổ Nhĩ Kỳ là phá hoại nền kinh tế của Azerbaijan và Gruzia. Một đường ống dẫn dầu khác từ Baku đến cảng Supsa của Gruzia và đường ống dẫn khí đốt Baku-Tbilisi-Erzurum cũng chạy qua vùng Ganja. Tuy nhiên, nếu Azerbaijan tấn công Stepanakert, thì Amernia có thể sẽ tấn công Ganja.

Sergey Khatylev, nguyên Chủ nhiệm binh chủng tên lửa phòng không thuộc Bộ chỉ huy Lực lượng đặc nhiệm Không quân Nga, lưu ý: “Những tổ hợp tên lửa Iskander-E do Armenia mua về được triển khai tại căn cứ 102 của Nga ở Gyumri. Iskander mà Armenia thực sự sở hữu có thể không tồn tại. Đây chỉ có thể là những tổ hợp thuộc căn cứ quân sự của Nga”.

Quan điểm này mâu thuẫn với những tuyên bố chính thức của Bộ Quốc phòng Armenia. Năm 2016, Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là Vigen Sargsyan đã nói với hãng thông tấn RIA Novisti: “Việc chuyển giao cho Armenia tổ hợp tên lửa Iskander là điều mà mọi người đều biết rất rõ, bởi vì họ đều tận mắt nhìn thấy chúng. Tôi cũng có thể khẳng định chắc chắn 100% rằng chúng thuộc quyền sở hữu của Lực lượng vũ trang Armenia”.

Theo một ấn phẩm mới đây của Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) tại London, Armenia có từ 4 – 8 tổ hợp Iskander-E. Đồng thời, giới chuyên gia nghiên cứu quân sự cũng nhận định rằng Armenia sẽ không cho phóng Iskander nếu chưa có sự nhất trí của Nga, và Moskva sẽ không cho phép Yerevan sử dụng loại vũ khí như vậy chống lại Baku.

Theo Khatylev, việc tiêu diệt các tổ hợp Iskander trên lãnh thổ Armenia đối với không quân Azerbaijan là rất khó khăn. Xét tới khả năng chiến đấu và sự phân bố theo địa hình, có thể nói hệ thống phòng không của Armenia đã phát huy hiệu quả trong các hoạt động tác chiến. Quân đội Armenia có các tổ hợp tên lửa phòng không S-300, các tổ hợp Osa của lục quân, cũng như các loại pháo phòng không tự hành Buk và Shilka.

Về phần mình, Bộ trưởng Quốc phòng Azerbaijan Hasanov khẳng định cuộc tấn công trả đũa của quân đội nước này sẽ nhằm đúng vào những vị trí đứng chân của các tổ hợp Iskander, đồng thời đe dọa lấy nhà máy điện hạt nhân Armenia ở Metsamor làm mục tiêu. Felgenhauer nói: “Azerbaijan có vũ khí tên lửa tầm xa với độ chính xác cao của Israel, nhưng có đầu đạn nhỏ hơn Iskander. Vì lẽ đó, chúng có thể tấn công các mục tiêu ở Yerevan, chẳng hạn như tòa nhà Quốc hội hoặc Bộ Tổng tham mưu. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Azerbaijan, trong trường hợp nhà máy điện hạt nhân bị phá hủy, quy mô thảm họa sẽ không kém việc phá hủy đập thủy điện.

Có thể nói rằng cả Armenia và Azerbaijan đều đe dọa sử dụng vũ khí sát thương hàng loạt để tấn công lẫn nhau. Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng khả năng những mối đe dọa này trở thành hiện thực là rất thấp.

Ba chiến thắng và sáu bài học đối với Nga

Sau hai tuần diễn ra chiến sự tại Nagorny-Karabakh, một chuyên gia chính trị người Ukraine khẳng định rằng Thổ Nhĩ Kỳ đã không thành công trong cuộc tấn công chớp nhoáng. Trong khi đó, Nga đã bước vào cuộc chiến trên mặt trận ngoại giao và giành thắng lợi về mặt chiến thuật. Đồng thời, chuyên gia này cũng cảnh báo rằng Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không chấp nhận mọi việc như vậy.

Dựa trên kết quả của hai tuần căng thẳng tại Nagorny-Karabakh, có thể khẳng định rằng Azerbaijan đã không thành công trong cuộc tấn công chớp nhoáng và cũng không có được bước đột phá đáng kể nào trên chiến trường. Họ chỉ tiến được vài cây số tính từ giới tuyến và chiếm được một số làng ở phía Bắc và phía Nam. Tuy nhiên, rõ ràng là họ đã thấy bại trong việc tách hẳn Karabakh khỏi đường biên giới với Iran, đột phá theo hành lang phía Nam, hay đánh chiếm các trung tâm hành chính lớn và các điểm cao khống chế ở phía Bắc. Chưa có đủ tài liệu để xác nhận những thay đổi đáng kể về lãnh thổ và đưa ra một kết luận cụ thể hơn. Tuy nhiên, đã có những thay đổi đáng kể trên trường quốc tế.

(còn tiếp)

Nguồn: Tổng hợp báo chí Nga

CVĐQT số 10/2020.