Mỹ có thể bắt đầu với Việt Nam chưa?


Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam có thể ít phức tạp hơn như Washington mong muốn, bất chấp mối đe dọa sử dụng vũ lực chống lại Hà Nội gần đây của Bắc Kinh nhằm ngăn chặn việc khoan dầu ở Biển Đông.

Điều thú vị là chẳng có gì trong tuyên bố chung ngày 31/5 của Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói là Mỹ sẽ cam kết hỗ trợ Hà Nội trong việc đối phó với các mối đe dọa của Trung Quốc.

Những người ở Washington xem Việt Nam như một đồng minh tiềm năng chống lại Trung Quốc có thể là đã hoàn toàn bỏ qua ảnh hưởng mạnh mẽ của nền thương mại qua biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Trong khi tham dự IMDEX tại Singapore vào tháng 5/2017, một nguồn tin công nghiệp quốc phòng cấp cao của Mỹ nói rằng một cuộc họp gần đây tại Hà Nội đã kết thúc đột ngột sau khi các quan chức Bộ Quốc phòng thông báo cho phái đoàn Mỹ rằng sẽ đòi “25% hoa hồng”. Một nguồn tin thứ cấp tại Singapore cũng cho biết các quan chức Chính phủ Việt Nam đã rửa tiền tại Singapore thông qua các bà vợ của họ.

Mỹ đã cấm hoạt động kinh doanh theo cách này bằng Đạo luật Chống tham nhũng nước ngoài 1977, theo đó hối lộ sẽ là một tội hình sự liên bang. Điều này có thể giải thích tại sao Việt Nam sẽ tiếp tục dựa vào vũ khí của Nga và do đó từ chối mọi hợp tác quân sự giữa Mỹ và Việt Nam.

Thời gian gần đây đã khẳng định việc Việt Nam sẽ mua 64 xe tăng T-90S/SK từ Moskva, và Nga đang cung cấp cho Việt Nam hệ thống tên lửa phòng không S-400 và máy bay chiến đấu MiG-35 để thay thế phi đội MiG-21 về hưu của Việt Nam. Nếu Việt Nam chọn MiG-35 sẽ kết thúc mọi hy vọng, sau Indonesia, Việt nam sẽ mua F-16A/B từ Mỹ. Carl Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales (Australia) nói: “Sự hợp tác quân sự Mỹ – Việt Nam còn phải đối mặt với những vấn đề khác. Một là chính sách quốc phòng của Việt Nam “Ba không”: không có liên minh quân sự, không có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam và không phụ thuộc vào bất cứ nước nào để chống lại nước khác. Điều này “cùng với sự nghi ngờ sâu sắc của Mỹ đối với một số sĩ quan quân đội cao cấp đã về hưu và còn đương nhiệm đã làm giảm đi mọi bước tiến trong quan hệ quốc phòng”.

Tong khi đó, ông Ralph Cossa, Chủ tịch của Pacific Forum CSIS tại Honolulu nói: “Nếu chúng ta đã học được bất cứ điều gì về Việt Nam trong nửa thế kỷ qua, thì đó là không có ai thúc đẩy được Hà Nội đến bất cứ nơi nào họ không muốn đi. Không có sự mất lòng nhau giữa Hà Nội và Bắc Kinh, nhưng người Việt Nam sẽ phải cẩn thận để không công khai đứng về phía nào với bất cứ ai. Điều đó nói rằng đã có và vẫn còn là một cơ hội tuyệt vời cho Washington và Hà Nội để làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác và Trung Quốc cung cấp thêm sự khuyến khích cho cả hai để làm như vậy”.

Mỹ và Việt Nam đã ký một biên bản ghi nhớ (MOU) vào năm 2011 đề ra 5 lĩnh vực ưu tiên hợp tác: an ninh, hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai, trao đổi giữa các trường đại học quốc phòng, các viện nghiên cứu, và các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.

Tuy  nhiên, theo ông Thayer, biên bản ghi nhớ năm 2011 đã làm Mỹ thất vọng. Ví dụ, Việt Nam đã từ chối lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter cho sĩ quan quân đội Việt Nam bay và uan sát trên P8 Poseidon tuần tra hàng hải trên Biển Đông.

Từng bước có sự liên kết chặt chẽ hơn nhưng không có liên minh, ông Patrick Cronin, cố vấn cao cấp kiêm giám đốc cấp cao của Chương trình An ninh châu Á – Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh mới của Mỹ nói: “Việt Nam bảo vệ một sự cân bằng lợi ích và Mỹ sẽ nhiệt tình củng cố quốc phòng của Việt Nam hơn là cung cấp một sự bảo đảm an ninh. Điều đó nói rằng, việc này có thể chỉ phụ thuộc vào cách Trung Quốc sẽ trở thành kiên định như thế nào nếu Việt Nam không chống nổi hải quân Trung Quốc”.

Tuy nhiên, đã có hoạt động về các vấn đề bảo vệ bờ biển. Trong tháng 5/2017, Cảnh sát biển Việt Nam đã được cung cấp 6 tầu tuần tra kim loại Shark và vào tháng 4/2017, nhận bàn giao một tàu lớp Hamilton đã ngừng hoạt động của Cảnh sát biển Mỹ.

Cho đến nay, Hà Nội dường như quan tâm chủ yếu tới việc nâng cao hiệu quả răn đe qua hợp tác quốc phòng khiêm tốn với Mỹ. Ông Richard Fisher, thành viên cao cấp tại Trung tâm Chiến lược và Đánh giá quốc tế nói:

Mặc dù Việt Nam đã đa dạng hóa các nguồn vũ khí của họ trong thập kỷ qua, họ đã cẩn thận để tránh phụ thuộc vào sự bảo vệ của một cường quốc nước ngoài”.

Cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc, dù được thể hiện rất kém, đã chứng minh cho lãnh đạo Hà Nội rằng một người bạn nước ngoài sẽ không bảo vệ họ khi có nguy cơ chiến tranh với Bắc Kinh. Fisher nói:

Trung Quốc không đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ. Còn hơn thế, nó đang đẩy Hà Nội vào việc mua sắm vũ khí hạt nhân – là thứ sẽ đe dọa Bắc Kinh nhiều hơn so với một liên minh với Washington”.

Nguồn: Shephard.com

TKNB – 01/08/2017

Advertisements

Quân đội Việt Nam cần cải cách


Việt Nam cần phải bắt đầu hiện đại hóa và cải cách cơ cấu đối với quân đội một cách nghiêm túc nếu muốn chống lại sự kiểm soát ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Công bằng mà nói, các nguồn tin cho biết kể từ năm 1975, quân đội Việt Nam đã được hiện đại hóa liên tục, ngay cả khi lâm vào tình trạng thiếu thốn. Tuy nhiên, trong 10 năm qua, quân đội đã tập trung vào xây dựng năng lực; xác định lại đặc điểm của các mối quan hệ chiến lược; cải thiện cách thức theo đó các quân chủng xác định nhu cầu và lên kế hoạch mua sắm; giáo dục và huấn luyện; cũng như cấu trúc và chức năng của các doanh nghiệp quân đội khác nhau. Ví dụ điển hình nhất cho sự thành công là Viettel, nhà khai thác mạng di động lớn nhất của Việt Nam do Bộ Quốc phòng sở hữu và điều hành. Viettel đã vượt qua những trở ngại to lớn để trở thành một nhà cung cấp dịch vụ viễn thông hiện đại ngang tầm với các tập đoàn viễn thông trên thế giới. Bất chấp một số thành công trong trong các quân chủng vũ trang, nhiều ý kiến cho rằng việc tiếp tục cải thiện là điều khẩn thiết. Điều này đặc biệt đúng nếu xem xét cấu trúc lãnh đạo của quân đội. Paul Giarra, Chủ tịch công ty tư vấn quốc phòng Global Strategies & Transformation đóng tại Washington nhận định ban lãnh đạo quân đội Việt Nam “hoàn toàn chưa được tái cơ cấu”.

Công tác đào tạo và huấn luyện cho sĩ quan từ cấp cơ sở cho đến cấp cao cũng là một ưu tiên, Carl Thayer, Giáo sư thuộc Học viện Quốc phòng Australia cho rằng để thực hiện việc này cần cử thêm nhiều sĩ quan, các hạ sĩ quan hải quân, đến những nước tiên tiến để tham gia các khóa học quân sự, đặc biệt là về các chiến dịch mang tính kết hợp. Zachary Abuza, một chuyên gia về Đông Nam Á tại Đại học Chiến tranh Quốc gia ở Washington, đánh giá lực lượng trên bộ của Việt Nam vẫn được huấn luyện tốt. Tuy nhiên, một loạt vụ rơi máy bay trong 2 năm qua cho thấy họ chỉ đơn giản là không có đủ máy bay hoặc có thời gian huấn luyện chưa đủ. Lực lượng hải quân, vốn có nhiều năng lực hơn bất kỳ quân chủng nào khác, cũng chưa được huấn luyện một cách đầy đủ. Nhà phân tích Carl Thayer nói thêm rằng Việt Nam nên bắt đầu một chương trình diễn tập quân sự song phương và đa phương rộng rãi với các đối tác nước ngoài để kiểm tra khả năng chiến đấu của Việt Nam trong các lĩnh vực ưu tiên như phòng không và an ninh hàng hải. Ông Thayer khuyến nghị cần phải “xây dựng một chiến lược an ninh quốc phòng toàn diện của chính phủ để hướng dẫn việc phát triển các học thuyết, chiến lược, chiến thuật và khả năng tương tác của các quân chủng. Chuyên gia Abuza nhận định một phần của vấn đề đào tạo có liên quan đến các đơn hàng mua vũ khí từ Nga, vốn thường thiếu các gói bảo trì đồng thời những chi phí bảo dưỡng tiếp theo thường không được tính trong kết hoạch ngân sách quốc phòng dài hạn của Việt Nam, “đặc biệt là việc mua 6 tàu ngầm tấn công lớp Kilo của Nga mới đây”. Collin Koh, nhà nghiên cứu thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế Rajaratnam của Singapore, cho rằng mặc dù sự hiện đại hóa quân sự của Việt Nam chủ yếu tập trung vào mối quan hệ với Nga, nhưng về lâu dài, các quan chức quốc phòng Việt Nam ngày càng quan ngại đến hai khía cạnh của mối quan hệ này.

Thứ nhất, Nga không chỉ cung cấp vũ khí cho Việt Nam mà còn cho Trung Quốc. Cuộc khủng hoảng ở Ukraine và lệnh cấm vận của phương Tây chỉ đẩy Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau hơn trong lĩnh vực hợp tác quân sự. Hiện Nga vẫn là nhà cung cấp vũ khí chủ chốt cho Việt Nam, và Hà Nội cảm thấy không thoải mái trong vấn đề này. Ông Koh chỉ ra rằng “ít nhất thì lực lượng lục quan và không quân của Việt Nam đang dần chuyển theo hướng tìm kiếm các nguồn vũ khí không phải của Nga, nhưng quân đội nước này tiếp tục phụ thuộc nhiều vào Moskva về các hạng mục đắt tiền”.

Thứ hai, Nga cũng đã chứng tỏ là một “đại lý vũ khí thất thường”. Ví dụ, họ chỉ có thể hứa hẹn chuyển giao công nghệ các tàu khu trục lớp Gepard cho Việt Nam nếu Việt Nam mua ít nhất 6 tàu này. Nhưng đồng thời, Việt Nam cũng đã không hài lòng với tốc độ chế tạo các tàu Gepard.

Cũng theo ông Koh, về lâu dài, Việt Nam có thể làm tốt để dựa vào hai nguồn thay thế khác. Thứ nhất, là nguồn không phải từ Nga, đặc biệt là Hà Lan do Bộ Quốc phòng Việt Nam có quan hệ gần gũi với tập đoàn quốc phòng Damen. Thứ hai, là nguồn bản địa, dựa trên các chuyển giao kỹ thuật hiện có được thực hiện với Nga nhưng được sử dụng để mở rộng khả năng đóng tàu trong nước. Nhà phân tích Abuza cũng nhất trí với quan điểm này, nói rằng Việt Nam đang thực hiện tốt việc cấp phép và sản xuất vũ khí ở trong nước, tốt hơn bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào, và điều này thực sự đã giúp họ cắt giảm chi phí.

Một điểm yếu khác cần được điều chỉnh chính là hệ thống chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc, máy tính, tình báo, giám sát và trinh sát (C4ISR). Nhà phân tích Carl Thayer cho rằng Việt Nam nên tăng cường cuộc cách mạng trong các vấn đề quân sự bằng cách đảm bảo khả năng tương tác của không quân và hải quân về C4ISR tông qua chuyển giao công nghệ, đồng sản xuất và một ngành công nghiệp quốc phòng mạnh. Chuyên gia Koh đã đồng tình với ý kiến của nhà phân tích Carl Thayer và lưu ý Việt Nam cho đến nay có những vấn đề khiến họ phải cải thiện năng lực “tình báo, giám sát và trinh sát” (ISR) trên biển mạnh mẽ hơn, đặc biệt là trong đối phó với các vấn đề liên quan đến Trung Quốc ở Biển Đông. Năng lực ISR trên biển được mở rộng đòi hỏi về lâu dài phải có máy bay tuần tra và do thám trên biển tốt hơn. Sáu chiếc thủy phi cơ Viking DHC-6 Twin-Otter do Canada sản xuất hiện tại là khá hiện đại, nhưng lại có tải trọng thấp và tầm hoạt động chưa được xa để có thể bao phủ được cả khu vực Biển Đông có diện tích rộng lớn. Ông Koh khuyến nghị Việt Nam nên cân nhắc một loạt các lựa chọn, trong đó có loại máy bay của Mỹ như Orion P-3C được tân trang, máy bay Airbus C-295 được cải tiến, hoặc CASA CN235 kèm theo một gói ISR. “Lý tưởng nhất là có một hệ thống tích hợp bao gồm cả các hệ thống ISR có người lái và không người lái cũng như cảm biến từ xa để bảo vệ tốt hơn Biển Đông”. Nhà phân tích Abuza cho rằng quân đội Việt Nam dường như đang thiếu một học thuyết thực sự. “Họ chắc chắn không có học thuyết nào cho lực lượng hải quân và không quân, và hiện đã bị trễ 2 năm trong việc công bố Sách Trắng”.

Còn theo chuyên gia Koh, Việt Nam nên tiến tới một sự thay đổi về học thuyết nhằm phân cấp hơn nữa trong vấn đề chỉ huy và kiểm soát (C2), đồng thời trao quyền cho các nhà lãnh đạo cấp dưới. Không giốnng trong quá khứ, khi Hà Nội có thể dựa vào một đội quân nông dân khá lớn để thực hiện các chiến dịch du kích. Trong bối cảnh hiện tại và tương lai, họ sẽ phải dự kiến trước một chiến công nghệ cao, diễn ra nhanh chóng và mãnh liệt với những kẻ thù có thể lường trước – mà không ai khác chính là Trung Quốc. Nếu Trung Quốc đang hướng tới điều đó, không có lý do gì để Việt Nam không làm theo. Cần phải cạnh tranh ngay lập tức với Trung Quốc trong lĩnh vực này: để bù đắp cho sự thiếu hụt nhân lực và vật chất của Việt Nam so với đối tác Trung Quốc, Việt Nam cần phải cải cách mạnh mẽ hệ thống C2 của mình. Điều này có nghĩa phải tạo ra sự thỏa hiệp xét bối cảnh hệ thống chính trị hiện nay, khi quyền kiểm soát quân đội được chính trị hóa và tập trung hóa theo kiểu cộng ản. Nhưng nếu Việt Nam lựa chọn sự nguyên trạng, họ có thể đánh mất cơ hội để có sự phi đối xứng với Trung Quốc (Chiến lược chiến tranh phi đối xứng là một chiến lược trong nghệ thuật quân sự, nó là chiến lược sử dụng các trang bị, vũ khí, phương tiện và các phương pháp quân sự một cách có hiệu quả nhằm chống lại, phòng thủ, làm giảm hiệu quả các thiết bị, trang bị, phương pháp tổ chức, chiến lược quân sự của đối phương trong trường hợp đố với có trang bị, vũ khí, phương tiện, kỹ thuật, số lượng quân sự vượt trội hơn – ND). Chuyên gia Koh kết luận: “Không có cách nào để Hà Nội có thể thu hẹp khoảng cách này bằng số lượng nhân lực và vật lực của mình, nhưng ít ra họ có thể làm tốt hơn Trung Quốc trong việc phân quyền hệ thống chỉ huy và kiểm soát (C2) và trao quyền nhiều hơn cho các nhà lãnh đạo quân sự cấp thấp”.

Nguồn: https://www.shephardmedia.com/news/defence-notes/reforms-are-needed-vietnams-military/

TKNB – 11/08/2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần cuối


Sự tập trung lực lượng này – với kết quả vẫn còn phải đánh giá – là một phản ứng với cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 dẫn đến kết quả ủng hộ “Brexit”.

Tác động chiến lược của “Brexit” sẽ ra sao? Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc chào đón cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 với kết quả ủng hộ “Brexit”. Pierre Razoux trong một “Ghi chép nghiên cứu chiến lược của Viện nghiên cúu chiến lược thuộc Trường Quân sự (IRSEM)”, xuất bản đầu tháng 7/2016 nói về điều này và những tác động chiến lược: “Brexit có nguy cơ gây ra gia tăng chia rẽ trong EU. Brexit khuyến khích chủ nghĩa dân túy và báo hiệu sự phá vỡ uy tín Chính sách an ninh và quốc phòng chung (CSDP) dẫn đến sự tăng cường vai trò của NATO ở châu Âu. Đặc biệt, nó dẫn đến việc Pháp trở nên đơn độc đối diện với Đức, và Vương quốc Anh đứng trước nguy cơ bị mất uy tín cả về kinh tế lẫn chiến lược, với việc có thể phải chấp nhận sự độc lập của Scotland. Nếu “Brexit” không ảnh hưởng đến hợp tác quốc phòng Pháp – Anh (Hiệp ước song phương Lancaster House, ngày 2/11/2010), nó cũng báo hiệu về trung hạn và dài hạn sự sụt giảm nỗ lực quốc phòng của Anh cũng như nguy cơ từ bỏ một phần hoặc hoàn toàn khả năng răn đe hạt nhân của London. Khi ấy, Pháp sẽ trở thành cường quốc hạt nhân quân sự duy nhất (trong phạm vi EU). Trong tình hình như vậy, các mối liên kết chiến lược giữa Mỹ và NATO sẽ suy yếu một cách sâu sắc. Để duy trì vai trò trung tâm ở châu Âu, Pháp sẽ quan tâm đến việc hiện diện với vai trò trung gian giữa Anh và EU.

Khi Anh ra khỏi EU, Pháp sẽ là quốc gia thành viên duy nhất của EU có sức mạnh hạt nhân và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Nếu các nước không chia sẻ cùng nhau trong việc cấp vốn cho chương trình vũ khí hạt nhân của Pháp, các nước thành viên khác có thể mưu toan tăng cường áp lực lên Paris để vị trí thành viên thường trực Hội đồng Bảo an của Pháp phải được chuyển sang cho EU. Cần nhắc lại rằng Đức không có đặc quyền này do trách nhiệm lịch sử của nước này trong việc phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sự ra đi của Vương quốc Anh cũng không phải không để lại hậu quả đối với quan hệ Pháp – Đức. Câu hỏi đặt ra là liệu Paris sẽ có phân tích, chiến lược và biện pháp tương xứng với mức độ, tầm vóc của vấn đề hay không: trong một EU không có Anh, làm thế nào để cân bằng lại quan hệ Pháp – Đức hướng tới lợi ích cho Berlin từ hơn một thập kỷ nay? Làm thế nào để duy trì mối quan hệ tích cực với Vương quốc Anh trong lĩnh vực quốc phòng?

Giờ đây Pháp sẽ hướng tới quốc gia nào để khởi động lại lần thứ n vấn đề phòng thủ chung châu Âu? Mùa Thu 2016, Paris một lần nữa thể hiện sự xích lại gần Đức, tuy nhiên Anh đã cho thấy họ sẽ phá hoại những nỗ lực khởi động phòng thủ châu Âu cho tới khi Anh còn trong EU. Không thể không tưởng tượng rằng Anh sẽ tiếp tục thực hiện việc này khi quốc gia này đã rời EU, thông qua những phương thức “lobby” mà họ vốn làm chủ một cách khéo léo và chính xác.

Vấn đề đáng lo ngại hơn cả khi Mỹ đã quyết định chiến lược xoay trục sang châu Á và biên giới Ukraine bị Nga đe dọa và uy hiếp nhiều lần trong năm 2014. Một cách nghịch lý, những căng thẳng với Nga đã có khía cạnh “tích cực” từ 1 đến 2 năm nay trong việc khiến một số quốc gia thành viên EU cam kết gia tăng GDP chi cho quốc phòng. Vẫn còn phải chờ đánh giá các bước đi tiếp theo cả các chương trình nói trên trong những năm tới. Kể từ khi ông Donald Trump nhậm chức ngày 20/1/2017, nhiều người mong đợi rằng tổng thống mới của Mỹ cam kết việc xác định lại mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên NATO. Còn quá sớm để nhận thấy những lợi thế còn ại trong đàm phán để thu lại nhiều hơn các khoản đầu tư của các đồng minh khác và điều gì là diễn biến tiếp theo trong giai đoạn từ nay tới cuối thập kỷ này. EU sẽ nắm bắt cơ hội này hay không?

Như vậy, trước sự kiện “Brexit”, EU đã đi vào xu hướng tan rã tương đối, với tỷ lệ đáng kể mà ta thường không nhận ra. Phải thừa nhận rằng EU đang trong thời kỳ tan rã trên trường quốc tế. Chỉ số nhân khẩu học, kinh tế và chiến lược đang chứng minh cho sự sụt giảm này.

Đáng lo ngại hơn, quá trình này còn bị thúc đẩy bởi tác động của cuộc khủng hoảng bắt đầu vào năm 2008.

“Brexit” xảy ra vào thời điểm 2019 – 2020 sẽ gia tăng sự tan rã về vị thế tương đối của EU, trên tất cả các thông số được xem xét: lãnh thổ, dân số, kinh tế, chiến lược. Làm sao điều này lại không đem đến những tác động tới sức mạnh của EU trên thế giới? Hiện giờ, “Brexit” làm suy giảm hình ảnh của EU trên toàn cầu, đặc biệt là trong cái nhìn của vị tổng thống mới của Mỹ. Sự kiện này cũng làm gia tăng phong trào dân túy và xu hướng ly khai tại các nước thành viên EU. Sau 6 thập kỷ hội nhập châu Âu, nhiều chỉ số cho thấy quá trình “phá vỡ cấu trúc châu Âu” đang bắt đầu kể từ ngày 23/6/2016, ngày trưng cầu dân ý về “Brexit”. Điều này sẽ đi đến đâu? Câu hỏi mở và thu hút sự quan tâm của nhiều nhân vật… trong đó một số có ý định lợi dụng sự suy yếu của EU.

Với những người thích hoàn cảnh nghịch lý, có ý kiến lập luận rằng những khó khăn có thể là một cơ hội lớn để tái tạo lại EU, và làm cho Liên minh mạnh mẽ hơn, tại sao không. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để đạt được điều này. Cần phải quay trở lại, làm tăng chủ quyền các nước thành viên và tăng cường các rào cản thương mại bên ngoài? Hay cần hướng tới chủ nghĩa liên bang hơn – và với giá nào, với những được mất ra sao? Cần giữ đoàn kết ở mức độ nào? Cần tái tạo chủ quyền chia sẻ ra sao? Trong mọi trường hợp, ai sẽ cổ xúy hay tiếp tục cổ xúy EU đang bị đe dọa tan rã?

Thực tế, vấn đề nan giải là: sau Chiến tranh thế giới thứ hai, EU đã cơ bản được xây dựng bởi một phần giới tinh hoa, với việc tránh các cuộc tranh luận chính trị, vì người dân sẽ không chấp nhận chia sẻ chủ quyền với một số những kẻ thù trong quá khứ. Kết quả là, xây dựng châu Âu đã được thực hiện trong khoảng thời gian khá lâu – trong bói cảnh của 30 năm huy hoàng – nhờ vào sự đồng thuận dễ dãi của một bộ phận dư luận, với một thái độ thờ ơ. Sự thờ ơ đó đã dần dần biến thành sự mất lòng tin nếu nhìn vào tốc độ gia tăng của những cử tri không tham dự vào các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu cũng như sự gia nhập của các nhân vật với tư tưởng nghi ngờ về châu Âu trong chính Nghị viện châu Âu. Cuộc khủng hoảng tài chính từ Mỹ trong năm 2008 đã gây ra những tác động tiêu cực tại các quốc gia EU, kể cả Vương quốc Anh, với sự sụt giảm đáng kể về mức sống. Các hậu quả kinh tế, xã hội đã khuyến khích các đảng phái dân túy, cánh hữu hay cánh tả hoặc phe phái khác nữa. Chủ nghĩa dân túy là gì? Đây trước hết là một phong trào xây dựng trên lòng thù hận và lên án giới tinh hoa… và các dự án của họ. Và như thế cuộc khủng hoảng kinh tế biến thành một cuộc khủng hoảng chính trị tác động như một chiếc boomerang đến quá trình xây dựng châu Âu…, một dự án được cổ xúy bởi một phần giới tinh hoa, giờ bị ghét bỏ. Hiện tại, hệ thống nghiên cứu xã hội học của EU đang khó hồi sinh.

Trong bối cảnh này, ai sẽ tái tạo lại EU? Bao nhiêu người dân châu Âu quan tâm đến việc này? Ý định của lịch kích hoạt điều 50 Hiệp ước Lisbon vào tháng 3/2017 là làm rõ tình hình đối với các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào mùa Xuân 2019. Vào lúc này không ai biết quá trình này sẽ diễn ra thế nào, cũng như không biết tỷ lệ người dân không tham gia cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu tiếp theo (2019) là bao nhiêu, hoặc kỷ lục của các đáng phái có xu hướng hoài nghi với châu Âu là thế nào cũng như Ủy ban châu Âu tới đây sẽ ra sao. Hubert Védrine đề xuất rằng để người dân quan tâm đến dự án châu Âu, sẽ cần phải vượt qua một ngưỡng chính sách, xung quanh một lựa chọn về bản sắc và chủ quyền, thông qua một hội nghị tái thành lập cho phép làm rõ câu hỏi về phân chia, tách bạch thẩm quyền, quyết định xem đó là thẩm quyền của các khu vực, hay các quốc gia thành viên EU. Hội nghị này cần tập trung vào ba hoặc bốn nhiệm vụ lớn.

Hiện tại, kế hoạch xây dựng châu Âu đang trải qua một cuộc khủng hoảng lớn, tình trạng có thể ảnh hưởng tới địa chính trị EU và vị thế tương đối của Liên minh trên thế giới.

Điều cần thiết hơn bao giờ hết là EU tiến hành phân tích đại chính trị và thực hiện một chiến lược thực sự.

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần IV


EU đã thành lập Cơ quan đối ngoại EU (EEAS) từ năm 2009, do một Đại diện cấp cao của Liên minh chuyên trách các vấn đề Đối ngoại và An ninh đứng đầu. Các hiệp định giới hạn một cách chặt chẽ quyền hạn của Cơ quan đối ngoại nhằm ngăn ngừa sự xâm lấn vào đặc quyền về chủ quyền của các quốc gia. Nhiều ý kiến nghi ngờ các nguyên thủ quốc gia trong việc họ lựa chọn người lãnh đạo đầu tiên của EEAS là Catherine Ashton, một nhân vật người Anh không có kinh nghiệm ngoại giao, để tránh việc bà làm họ bị lu mờ. Kết quả, 3 năm đầu tiên sau khi thành lập EEAS, thành tích của cơ quan này bị đánh giá là nghèo nàn. Nhưng năm 2013 được đánh dấu bằng hai vụ can thiệp cho là tích cực, liên quan đến quan hệ Serbia/Kosovo và trong bối cảnh nối lại các cuộc đàm phán với Iran. Chẳng bên nào muốn hạ thấp giá trị của mình, mỗi bên sẽ đồng ý rằng vì lợi ích của Serbia mà tạm thời xoa dịu quan hệ với Kosovo nhằm giành lấy một cách chính thức vị trí ứng cử viên gia nhập EU. Về các cuộc đàm phán với Iran, sự hiện diện của C. Ashton đã diễn ra trước cả năm so với thời điểm đàm phán bí mật của Washington và Tehran.

Dĩ nhiên, 22 trong số 28 thành viên EU cũng là các thành viên của Liên minh chiến lược đầu tiên trên thế giới, NATO. Liên minh này trở nên mạnh mẽ hơn với những lần mở rộng vào các năm 1999, 2004 và 2009, kết nạp thêm các quốc gia trước đây là thành viên Hiệp ước Vacsava, được biết đến với việc giành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, các mối quan hệ cấu trúc giữa EU và NATO vừa là mọt đảm bảo về an ninh và dễ dàng ngăn cản EU tự thể hiện một cách độc lập về chiến lược. Các Hiệp ước Maastricht và Lisbon đặt Chính sách đối ngoại và an ninh chung (CFSP), Chính sách an ninh và phòng thủ châu Âu (ESDP) và sau này là Chính sách an ninh và quốc phòng chung (CSDP) gần như dưới sự giám hộ của NATO. Thực tế, EU phải tôn trọng các nghĩa vụ theo Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, văn bản đối với các nước là thành viên NATO, là “nền tảng quốc phòng tập thể và thiết chế thực thi hiệp ước”. Hiểu theo nghĩa đen, công thức này ở số ít có thể cấm bất kỳ sáng kiến châu Âu nào về quốc phòng. Mặt khác, câu hỏi đặt ra là, tân Tổng thống Mỹ Donald Trump, sẽ làm gì với NATO.

…bó buộc về tâm lý và ngân sách.

Tuy nhiên, những bó buộc về mặt chiến lược đè nặng EU hơn cả lại mang tính tâm lý. Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, xây dựng châu Âu đã được thúc đẩy bởi hình thức từ bỏ sức mạnh quân sự, trước hết là giữa các nước thành viên và sau đó là với thế giới. Khao khát một hình thức “hòa bình vĩnh viễn” giữa các thành viên của EU, Liên minh được coi là một quyền lực mềm, chắc chắn không phải sức mạnh cứng. EU từ chối quan điểm về thế giới như cách cảu các Nhà nước, với việc chỉ ra những đối tượng thù địch và xác định một chiến lược thực sự. EU mang trong mình sự từ bỏ tự nguyện đối với quyền lực chính trị. Về mặt bản thể học, EU không có hứng thú thực sự với quyền lực. Thúc đẩy chủ nghĩa đa phương mơ hồ chỉ là sự nghi binh trước một xu hướng nặng về bất lực. Khi xảy ra một cuộc xung đột tại biên giới EU, Liên minh thường bắt đầu bằng các cuộc thảo luận bất tận trước khi đi đến một tuyên bố muộn mằ và thường là thu gọn lại trong một mẫu số chung nhỏ nhất. Nói chung một số người hy vọng rằng Washington sẽ can thiệp vào xung đột, trong khi số khác, hướng đến hành động, tìm kiếm một cách tuyệt vọng những hỗ trợ.

Cuối cùng, EU vẫn còn thiếu các phương tiện quân sự và nền công nghiệp quốc phòng để khẳng định mình một cách độc lập về mặt chiến lược. Cuộc khủng hoảng kinh tế bùng phát năm 2008, đã thúc đẩy việc giảm ngân sách quốc phòng của các nước thành viên, phần đông cắt giảm khoảng 10% trong khoảng thời gian 2010 và 2013. Chỉ có Vương quốc Anh vào năm 2014 vẫn giữ mục tiêu chi 2% GDP cho quốc phòng (không bao gồm lương hưu) vào năm 2014. 5 thành viên – trong đó có Pháp – dành khoảng 1,5% đến dưới 2% GDP cho quốc phòng. Bảy nước dành từ 1 – 1,5% GDP – trong đó có Đức với 1,1%. Tất cả các nước thành viên khác chi tiêu ít hơn 1% GDP của họ cho quốc phòng.

Các ngành công nghiệp châu Âu ngày càng từ bỏ nhiều hơn việc sản xuất vũ khí để ưu tiên các sản phẩm dân dụng, với nguy cơ mai một chuyên môn và kinh nghiệm. Nếu xu hướng này tiếp tục, các nước thành viên EU sẽ ngày càng rơi vào tình cảnh phải mua các thiết bị của Mỹ. Điều này, đến một mức độ nào, sẽ làm thỏa mãn hệ thống quân sự – công nghiệp của Mỹ.

…nhưng năm 2015 đánh dấu một sự phục hồi bước đầu dù “Brexit” mang đến những hiệu ứng đáng kể.

Năm 2015, theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), được công bố ngày 5/4/2016, tất cả các quốc gia Tây Âu và Trung Âu tiếp tục thu hẹp đầu tư cho quân sự. Tuy nhiên, trước những hành động của Nga ở Ukraine (2014), một số quốc gia ở Đông Âu đang đẩy mạnh ngân sách quốc phòng – dù là với ngân sách khiêm tốn, đó là các nước: Litva, Ba Lan, Latvia và Estonia. Mặt khác, sau thời gian cắt giảm đáng kể ngân sách dành cho quân sự, ba cường quốc quân sự lớn – Vương Quốc Anh, Pháp và Đức – đang bước vào thời kỳ tái đầu tư quân sự kéo dài trong nhiều năm. Tại Pháp, các mối đe dọa khủng bố đã khiến người đứng đầu nhà nước đi đến quyết định dừng cắt giảm các phương tiện quốc phòng. Mùa Hè 2016, Đức công bố ý định tăng ngân sách quốc phòng lên khoảng 2% GDP, tuy nhiên cần xem xét liệu thông báo này dẫn đến kết quả nào. Liệu việc tăng ngân sách quốc phòng của Nga (+90% trong 10 năm), vấn đề biên giới quốc tế, những mối đe dọa khủng bố và các cú sốc địa chính trị ở phía Nam và phía Đông Nam EU sẽ khiến tư tưởng quốc phòng tại các nước EU trỗi dậy hay không?

Ngày 8/3/2015, trong bó cảnh cuộc khủng hoảng Ukraine, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker đã đề xuất ý tưởng thiết lập quân đội chung của EU nhằm tăng uy tín cho chính sách đối ngoại của Liên minh. Như vậy, Chủ tịch Ủy ban châu Âu khiến những cuộc tranh luận về vấn đề quốc phòng của EU trở nên sôi nổi lại.

Ngày 30/3/2015, một hội nghị cấp cao kiểu bộ ba Weimar giữa Pháp, Đức và Ba Lan, tái khẳng định tham vọng về vấn đề này. Nhưng không giống như tham vọng của Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker về thiết lập một quân đội chung của EU, đề xuất được thông qua cuối hội nghị nhấn mạnh việc phát triển ngành công nghiệp quốc phòng của châu Âu, nhằm xuất khẩu sang các thị trường quốc phòng đặc biệt là châu Phi, và bày tỏ mong muốn có bước đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển quân sự. Những kết luận từng được đưa ra tại cuộc họp trước của bộ ba này vào năm 2013. Pháp và Đức cũng đã công bố khởi động lại dự án chế tạo một vệ tinh do thám, dự án này từng được thai nghén từ hàng năm nay tuy nhiên vẫn chưa được thực hiện bởi thiếu một thỏa thuận về tài chính.

Bộ ba Weimar (Pháp, Đức, Ba Lan) cũng đề xuất sử dụng các Nhóm chiến đấu gồm khoảng 1500 lính có thể huy động được trong vòng 10 ngày và sẵn sàng tác chiến trong thời gian 4 tháng, đó chính là phôi thai của quân đội chung của EU theo đề xuất của Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker.

Khả năng tác chiến đầy đủ của các đơn vị này đã từng đạt được vào năm 2007, nhưng cho đến nay các đơn vị này vẫn chưa bao giờ được huy động. Cơ hội không phải không có: Mali, Trung Phi… đã không dẫn tới việc sử dụng các lực lượng phản ứng nhanh của Liên minh.

Việc một mình Pháp điều hành các cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy rằng, dù có quan điểm chính thức, Paris không sẵn sàng hợp tác châu Âu trong vấn đề tác chiến nhiều hơn so với London. Điều này cho thấy rằng trở ngại chính đối với việc phòng thủ châu Âu không phải vấn đề thiếu phương tiện mà chính là ý chí chính trị. Việc viện đến mối hợp tác có cấu trúc vĩnh viễn, được quy định bởi Hiệp ước Lisbon, sẽ là một cách khác để vượt qua những rào cản trong việc ra quyết định và để thiết lập một hạt nhân các quốc gia tiên phong của EU trong vấn đề quốc phòng.

Trong khoảng thời gian từ 14/11 và 6/12/2006, EU thông qua một gói biện pháp đáng kể trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng bao gồm: một kế hoạch thực hiện về an ninh và quốc phòng; một kế hoạch hành động châu Âu về quốc phòng do Ủy ban châu Âu đề xuất nhằm tối ưu hóa chi phí và hợp tác về quốc phòng; và kế hoạch thực hiện tuyên bố EU-NATO ngày 8/7/2016 dựa trên 42 biện pháp cụ thể, đặc biệt về an ninh mạng, khả năng quân sự hoặc nghiên cứu, đây là bước tiến ý nghĩa nhất trong hợp tác giữa hai tổ chức kể từ Hiệp định Berlin + năm 2013.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần III


Nền kinh tế có tốt hơn không?

Suy giảm kinh tế

Sự suy yếu tỷ trọng kinh tế tương đói của EU (A) và các yếu tố sản xuất (B) sẽ còn bị ảnh hưởng hơn nữa bởi “Brexit” (C).

A – Tỷ trọng kinh tế tương đối của EU bị suy yếu…

EU là một thị trường nội địa quan trọng. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho năm 2016, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quy đổi theo sức mua tương đương (PPP), tăng lên một cách cơ học nhờ sự nới rộng khác nhau, có thể đạt 19.748 tỷ USD khi tỷ lệ của hai cường quốc kinh tế khác của tam giác là thấp – với Mỹ 18.558 tỷ USD và Nhật Bản là 4901 tỷ. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ đạt 20.853 tỷ USD, tức là mức hàng đầu thế giới, trên EU và Mỹ. Mặc dù vậy, EU vẫn là một khu vực kinh tế hấp dẫn, là một điểm đến quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Ngoài Malta và Cyprus, 3 lần mở rộng gần đây nhất đã được thực hiện với các quốc gia từng phải chịu đựng nhiều nhất trong vòng 4 thập kỷ nền kinh tế kế hoạch và sau đó lại trải qua quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường một cách khó khăn. Ngày 1/1/2004, tổng GDP của 10 quốc gia sẽ gia nhập EU vào ngày 1/5/2004 chỉ chiếm 4,7% GDP trong khu vực EU-25, một tỷ trọng rất khiêm tốn so với tỷ trọng nhân khẩu của các quốc gia này (16,2%). Chỉ có 2 quốc gia – Vương quốc Anh và Ireland – đã không thực hiện trong năm 2004, các điều khoản tự vệ liên quan đến người lao động. Kết quả: Anh đã trở thành điểm đến ưa thích của nhiều người Ba Lan với gần 1 triệu người đã tới làm việc tại Xứ sở Sương mù… cho tới thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 xảy ra, các luồng ý kiến phản đối người nhập cư dẫn đến cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 ủng hộ “Brexit”. Không quốc gia nào trong số các nước đã gia nhập EU từ năm 2004 đạt mức độ thịnh vượng trên mức trung bình của EU-28.

Hẳn là việc mở rộng EU nằm trong chính sách địa chính trị mới của châu Âu, nhưng rất khó để giải thích với công luận rằng việc các quốc gia nghèo hơn mức trung bình EU gia nhập Liên minh là để làm giàu cho khối. Hơn nữa, các con số thống kê chứng minh điều ngược lại. Năm 2008, GDP bình quân đầu người quy đổi theo PPP trong EU-25 vẫn thấp hơn 11,4% so với EU-15 trước đây. Khoảng cách – vốn đã không nhỏ – so với Mỹ, nay lại càng tăng thêm.

Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) cho năm 2016, GDP bình quân đầu người quy đổi theo PPP trong EU-28 đạt 38.751 USD trong khi Mỹ lên tới 57.250 USD và Nhật Bản là 38.731 USD. Và để thêm thông tin so sánh, GDP bình quân đầu người quy đổi theo sức mua tương đương của Trung Quốc vào năm 2016 là 15.095 USD.

Nhìn xa hơn, sự sụt giảm tỷ trọng kinh tế của EU-28 so với kinh tế thế giới đã xuất hiện.

Từ năm 1980 đến năm 2014, tỷ trọng khu vực EU-28 trong sản xuất toàn cầu quy đổi theo sức mua tương đương giảm từ 31,2% xuống 18,3%, điều này có nghĩa tỷ trọng tương đối của khu vực EU-28 chiếm dưới 2/3 tổng giá trị tỷ trọng của Liên minh cách đây 34 năm. Rõ ràng, sự sụt giảm này nằm trong sự suy giảm tương đối nói chung của các nước phát triển, do tác động từ các quốc gia mới nổi. Nhưng sự suy giảm tương đó này ảnh hưởng ngắn hạn tới Mỹ hơn so với EU và Nhật Bản.

B. …và sự suy giảm tương đối của các yếu tố sản xuất…

Triển vọng vẫn u ám khi ta xem xét hai yếu tố chính của sản xuất, vốn và lao động. Thứ nhất, thị phần của khu vực EU-28 trong đầu tư toàn cầu không ngừng giảm sút kể từ năm 1980. Nếu trước kia tỷ trọng khu vực EU-28 là 30,1% trong tổng đầu tư toàn cầu, năm 2014 con số này chỉ đạt hơn 12,7%. Sự suy giảm của EU về chỉ số này thậm chí còn nhanh hơn so với những gì liên quan đến sản xuất toàn cầu. Trong cùng khoảng thời gian đó, Mỹ giảm từ 20,6% xuống 12,3% một sự sụt giảm ít gây chú ý hơn so với bước lùi của châu Âu. Ngược lại, nhóm các nước Brazil – Ấn Độ – Trung Quốc, trước đây chiếm 9,9%, hiện nay chiếm 39%, tăng gấp bốn lần, cao hơn mức tăng tỷ trọng tương đối của các quốc gia này trong nền kinh tế thế giới.

Thứ hai, yếu tố lao động thay đổi theo một cách khác tùy theo các khu vực được xem xét.

Theo IMF, kể từ năm 2000, tỷ lệ thất nghiệp trong khu vực châu Âu chưa bao giờ thấp hơn 7%. Tỷ lệ này ở mức trung bình là gần 9% trong giai đoạn 2000 – 2013, trong khi mức trung bình này cùng thời kỳ ở Mỹ là 6,4% và ở Nhật Bản là 4,7%. Tháng 10/2016, theo số liệu sơ bộ của Cơ quan Thống kế Liên minh châu Âu – Eurostat, tỷ lệ thất nghiệp đối với cả hai giới của EU là 8,3%, Mỹ là 4,9% và Nhật Bản là 3%. Ngay cả trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, EU là khu vực gặp khó khăn hơn cả trong việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Cặp khái niệm thất nghiệp hàng loạt/thất nghiệp dài hạn dường như đóng khung vào khu vực này gây nên sự lo lắng rằng một phần của lực lượng lao động châu Âu trở nên khó được sử dụng, điều này có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến khả năng sản xuất của khu vực, cộng với những tác động của vấn đề dân số lão hóa đã từng được đề cập trên đây.

Điều này dẫn đến một tổ hợp trong đó không chỉ sản xuất của EU trên toàn cầu sụt giảm mà ngoài ra, tình trạng và triển vọng của hai yếu tố chính của sản xuất cũng làm dấy lên mối lo về sự suy giảm.

C.. sẽ còn trầm trọng hơn nữa do tác động của “Brexit”

Trong bối cảnh này, tác động của “Brexit” sẽ ra sao? Vương quốc Anh là một nền kinh tế lớn trong EU, mặc dù Anh không tham gia Khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) và trao đổi với EU dưới mức trung bình của các nước thành viên của EU, điều thường ít được nói đến. Vương quốc Anh chiếm 14% GDP của EU. Sau khi anh rời khỏi EU, GDP của EU mà không có Anh sẽ chỉ ở mức 86% so với mức trước đây. Nói cách khác, sự xuống cấp tương đối của “EU-27 bis” sẽ bị ảnh hưởng đáng kể, nhất là so với Trung Quốc và Mỹ.

Quan sát những dự báo cho năm 2016, EU-28 sẽ chiếm 17,6% GDP của thế giới tính theo sức mua tương đương. Cùng kỳ, EU không có Vương quốc Anh chỉ chiếm 15,2% GDP toàn cầu tính theo sức mua tương đương.

Bởi vì, như chúng tôi đã đề cập trước đây, mức sống ở Anh cao hơn 10 điểm phần trăm so với mức trung bình của EU, GDP bình quân đầu người của EU không có Vương quốc Anh sẽ ở mức 2% thấp hơn so với EU-28.

Cuối cùng, chúng ta xem xét triển vọng chiến lược.

Bỏ rơi hay phục hồi chiến lược?

Vượt lên những hiệu ứng công bố, cần nhấn mạnh những mâu thuẫn (A), bó buộc về mặt tâm lý và ngân sách (B) nhưng năm 2015 có thể bắt đầu một sự phục hồi dù rằng “Brexit” có thể tạo nên những hiệu ứng đáng kể (C).

Vượt lên những hiệu ứng công bố, cần nhấn mạnh những mâu thuẫn…

Trang web của Cơ quan đối ngoại châu Âu (EEAS) từng đề xuất vào năm 2014: “Từ khi Lực lượng cảnh sát thực thi sứ mạng của EU tại Bosnia-Herzegovina thành lập tháng 3/2002, khoảng 30 nhiệm vụ và các hoạt động dân sự và quân sự đã được lập ra trong khuôn khổ Chính sách an ninh và quốc phòng chung – CSDP”. Phương cách công bố một con số tập hợp các nhiệm vụ với bản chất khác nhau, khiến công luận đánh giá quá cao số lượng các hoạt động quân sự của EU, trên thực tế đã thu gọn còn 9 hoạt động từ năm 2003.

Hơn nữa, những hoạt động quân sự của Liên minh châu Âu thường được kết hợp với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hay Liên hợp quốc (LHQ), điều này chứng minh quan điểm sức mạnh được kiểm soát, dù có nguy cơ hoạt động bị tê liệt. Chính vì thế, nhiệm vụ của Lực lượng gìn giữ hòa bình của EU tại Libya, vốn được EU thông qua nhằm can thiệp vào Libya, đã bị thất bại bởi không được LHQ bật đèn xanh. Trong khi đó, các cường quốc như Mỹ và Nga đôi khi tự cho phép việc sử dụng vũ lực mà thiếu đi sự thận trọng này.

Số binh sỹ châu Âu tham gia các hoạt động quân sự của EU cũng vẫn còn khiêm tốn, khoảng 400 và 7000 người tùy theo nhiệm vụ và thời điểm, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 60.000 binh sỹ như theo thông báo dự kiến vào năm 1999, tại Hội đồng châu Âu ở Helsinki. Hiện nay, các nhiệm vụ quân sự của EU vẫn còn thiếu nguồn lực kỹ thuật và con người, nhưng đặc biệt là thiếu ý chí chính trị.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần II


Năm 1960 khu vực EU-28 từng chiếm 13,3% dân số hành tinh, thì vào năm 2015 EU-28 chỉ chiếm 6,9% dân số toàn cầu. Tác động của Brexit sẽ ra sao?

…và tính đến các tác động có thể có của “Brexit”…

Sự ra đi của Vương quốc Anh sẽ dẫn đến sụt giảm dân số EU. Dân số EU sẽ giảm từ 510 triệu người xuống còn 443 triệu , tương đương với việc dân số EU chiếm từ 6,9% dân số thế giới giảm xuống còn chiếm 5,9%. Nói cách khác, EU không có nước Anh sẽ có tổng dân số ít hơn so với EU-25 vào ngày 1/5/2004 (với 450 triệu dân). Có lẽ với tổng số chết cao hơn tổng số sinh và tốc độ tăng trưởng dân di cư giảm, EU sẽ tiến sâu hơn vào “mùa đông nhân khẩu học”. Gérard-François Dumont định nghĩa thuật ngữ “mùa đông nhân khẩu học” là “tình hình của một quốc gia nơi tỷ lệ sinh thường xuyên dưới mức sinh thay thế”. Vào năm 2050, EU như hiện nay nhưng không có Vương quốc Anh sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 4 đến 4,5% dân số thế giới. Xu hướng nhân khẩu học này, đặc trưng bởi sự lão hóa và sụt giảm số dân, sẽ tác động tới lực lượng lao động và gánh nặng phụ thuộc giữa những lớp người ngoài tuổi lao động đối với những người trong độ tuổi lao động, chưa kể đến sự sáng tạo và khả năng cạnh tranh.

Tất nhiên, việc Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập EU có thể sẽ thay đổi tình hình, không chỉ từ góc độ dân số, tuy nhiên đấy là một chủ đề khác. Tình hình chính trị gần đây tại Thổ Nhĩ Kỳ khiến cho triển vọng gia nhập EU của nước này trong 10 năm tới trở thành một việc cần được cân nhắc thận trọng hơn.

Tình trạng “mùa đông nhân khẩu học” được giải thích bởi nhiều yếu tố. Trong khi dân số thế giới đã tăng gấp đôi kể từ năm 1960, các nước châu Âu lại ghi nhận tỷ lệ sinh dưới mức sinh thay thế, kể từ giữa những năm 1970. Năm 2015, tỷ lệ sinh của EU-28 là 1,6 con/1 phụ nữ, trong khi lẽ ra tỷ lệ này phải là hơn 2,1 để đạt được mức sinh thay thế. Vậy nên, ta có thể ước lượng một cách hình ảnh rằng mỗi một phụ nữ EU còn thiếu “0,5 con”. Một mặt tình hình “mùa đông nhân khẩu học” mang lại những tác động tích lũy trong 4 thập kỷ vừa qua, mặt khác, những lần mở rộng EU từ đầu thế kỷ 21 không bù đắp cho những thiếu hụt mà lại củng cố xu hướng này. Thực tế, 5 trong số 13 quốc gia gia nhập EU trong những năm 2004, 2007 hay 2013 tiệm cận mức trung bình EU (1,6) vào năm 2016, nhưng 2 quốc gia đông dân nhất lại ở dưới mức này. Ba Lan (38,4 triệu dân) ghi nhận chỉ số sinh là 1,3; và Romania (19,8 triệu dân) với chỉ số sinh là 1,2. Trong năm 2016, dân số EU-28 có nhiều người già hơn so với người trẻ, chỉ có 16% người dưới 15 tuổi so với 19% số người trong độ tuổi từ 65 trở lên và ở Đức, tỷ lệ người cao tuổi còn cao hơn, 21%.

Đóng góp của nhập cư?

…để thấy rằng dù có sự đóng góp của vấn đề di cư, Eu vẫn ghi nhận sự suy giảm dân số tương đối.

Kể từ đầu những năm 1990, chính những người nhập cư là động lực thực sự của tăng trưởng dân số ở khu vực châu Âu. Hơn nữa, người nhập cư là người trẻ và thúc đẩy tỷ lệ sinh.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng năm 2008 đánh dấu một sự chuyển hướng thường không được đề cập trong các cuộc thảo luận công khai. Ngay từ năm 2009, số lượng người di cư tới khu vực EU-28 đã giảm, với con số từ hơn 1,4 triệu người xuống còn 851.335 người. Các số liệu tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo, cụ thể là 925.223 vào năm 2010, 872.332 vào năm 2011 và 653.100 vào năm 2013. Nói cách khác, dù không có sự thay đổi đáng kể nào trong chính sách nhập cư, cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm giảm đáng kể sự hấp dẫn của EU đối với người di cư. Đặc biệt phải nói đến tình hình của các quốc gia phía Nam như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, nơi sự sụt giảm kinh tế đã làm tình hình thay đổi hoàn toàn, từ vị trí các nước nhập cư mạnh trở thành nước có nhiều dân di cư. Sự chuyển đổi mang tính biểu tượng này với ngưỡng dưới một triệu người nhập cư mỗi năm sẽ tác động đến triển vọng nhân khẩu học của EU và do đó tác động đến tỷ trọng tương đối của EU trên toàn cầu. Với việc giảm đi một nửa “động lực chính” tăng trưởng dân số đồng thời sự gia tăng tự nhiên không thể đảm bảo tăng trưởng dân số, cuộc khủng hoảng kinh tế đã thúc đẩy hơn nữa sự suy giảm dân số của EU.

Sự chuyển hướng thứ hai diễn ra vào năm 2015. Thời điểm này, EU đã phải đối mặt với một dòng di cư đông đảo, tổng cộng là hơn một triệu người, gồm những người chạy trốn khỏi các khu vực chiến tranh – trong đó có Afghanistan và Syria – và di dân kinh tế rời khỏi khu vực được quản trị kém, đặc biệt là sau những biến đổi tại các quốc gia Arập trong khoảng thời gian từ 2010 – 2011. Sự gia tăng di cư đột ngột này nằm ngoài dự kiến của EU. Điều này đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng chính trị, một phần trong số người dân và các chính phủ lo lắng về dòng người nhập cư này. Nhiều chính phủ đã từ chối chủ trương phân bổ người nhập cư của EU, đầu tiên là Hungary, quốc gia đặc biệt ảnh hưởng bởi vấn đề này vì vị trí địa lý nằm gần “tuyến đường Balkan”. Tháng 10/2016, Thủ tướng V. Orban đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề này. Với 40% người dân tham gia cuộc trưng cầu dân ý, điều này không đủ để cho kết quả cuộc trưng cầu dân ý có giá trị, nhưng phản ứng của những người tham dự thì lại là hơn 96% người tuyên bố phản đối việc Hungary tiếp nhận người nhập cư. Một tác động khác của cuộc khủng hoảng di cư 2015 – 2016, Hiệp ước Schengen đã trải qua một thời điểm khó khăn, các quốc gia thành viên Schengen đã thiết lập lại việc kiểm soát biên giới bên trong EU, điều chỉ được tiến hành, theo quy định của Hiệp ước, trong trường hợp khủng hoảng Ví dụ, Pháp đã tái lập kiểm soát biên giới với Italy, đặc biệt là gần Ventimiglia. Việc này được tiến hành trong khi, kiểm soát biên giới bên ngoài EU vẫn rất thiếu thống nhất.

Năm 2015, lần đầu tiên, tổng số tăng trưởng dân số của EU đến từ sự gia tăng dân nhập cư, bởi vì gia tăng tự nhiên ở mức âm, với tổng số chết nhiều hơn tổng số sinh. Thực tế, dân số EU-28 ở mức 510,1 triệu người vào ngày 1/1/2016. Lần đầu tiên, EU ghi nhận vào năm 2015 gia tăng dân số tự nhiên âm, với số lượng chết (5,226 triệu) vượt quá số lượng sinh là 135.200 người. tăng dân số tự nhiên âm ghi nhận tại 13 quốc gia, trong đó có 8 nước Đông Âu. Những quốc gia ghi nhận con số đang lưu ý hơn cả là Bulgari (-0,62%), Croatia và Hungary (-0,4%). Pháp lại ghi nhận gia tăng tự nhiên đạt 0,3%.

Trong năm 2015, lần đầu tiên, tổng tăng trưởng dân số của EU hoàn toàn do lượng người nhập cư mang lại, với 1,898 triệu người. Các quốc gia ghi nhận sự gia tăng nhiều nhất là Luxembourg (2,33%), Áo (1,44%), Đức (1,18%). Tại Pháp, tăng trưởng là 0,37%. Ngược lại, Litva (-1,13%), Latvia (-0,87%) và Croatia (-0,82%) ghi nhận mức giảm lớn nhất. Các nước Đông Âu, thành viên EU từ năm 2004, chiếm 7 trong số 11 quốc gia thuộc EU ghi nhận giảm, 4 quốc gia khác ở Nam Âu cũng ghi nhận sụt giảm là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Italy và Tây Ban Nha.

Nói cách khác, năm 2015, EU hoàn toàn phụ thuộc vào gia tăng số lượng người nhập cư cho sự gia tăng dân cư trong khu vực.

Trong ngắn và trung hạn, EU có lẽ vẫn là khu vực có dân số già nhất thế giới (trừ Nhật Bản), điều này chắc chắn sẽ dẫn đến vấn đề về chi phí cho lương hưu, hiện tượng giảm mật độ dân số trong khu vực rộng lớn, căng thẳng trong các vấn đề nhập cư và hội nhập, nhất là qua vấn đề cộng đồng nước ngoài.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt – Mỹ và ảnh hưởng đối với Trung Quốc – Phần cuối


4/ Làm cho tình hình an ninh xung quanh Trung Quốc trở nên phức tạp hơn

Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, tình hình an ninh xung quanh Trung Quốc đã được cải thiện toàn diện, “môi trường an ninh xung quanh về tổng thể ổn định, láng giềng hữu nghị, hợp tác cùng có lợi là xu hướng chính trong quan hệ của các nước xung quanh đối với Trung Quốc”. Tuy nhiên, bên cạnh việc duy trì cục diện ổn định tổng thể, môi trường an ninh xung quanh Trung Quốc vẫn tồn tại rất nhiều nhân tố không ổn định và thách thức an ninh, đặc biệt là từ khi quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương đến nay, Mỹ trở thành nhân tố bên ngoài chủ yếu nhất ảnh hưởng đến môi trường an ninh xung quanh của Trung Quốc. Những năm gần đây, Mỹ đẩy nhanh tiến độ bố trí ở khu vực xung quanh Trung Quốc, như tăng cường sự hiện diện quân sự và thâm nhập quân sự ở khu vực xung quanh Trung Quốc, tăng cường quan hệ với các đồng minh ở châu Á, lôi kéo các nước không phải là đồng minh làm cho các nước này trở thành lực lượng kiềm chế Trung Quốc, để xây dựng vòng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc. Đông Nam Á và xung quanh Nam Hải là trọng điểm trong chiến lược châu Á của Mỹ, phát triển quan hệ, tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng với Việt Nam, cũng như tranh thủ giành lấy căn cứ quân sự ở Việt Nam là bước đột phá quan trọng trong chiến lược quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. Việc Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí đối với Việt Nam không phải là “không liên quan đến Trung Quốc” như Tổng thống Mỹ Obama từng nói, không những có ý đồ đối đầu với năng lực quân sự của Trung Quốc, mà còn nâng cao trình độ vũ khí và năng lực tác chiến quân sự, làm cho Việt Nam ngày càng cứng rắn hơn với Trung Quốc trong tranh chấp Nam Hải. Ngoài ra, một khi quân đội Mỹ tiến vào vịnh Cam Ranh, khả năng can thiệp quân sự của Mỹ sẽ được nâng cao rõ rệt, phòng tuyến bao vây của Mỹ đối với hướng Nam của Trung Quốc cũng vững chắc hơn, an ninh quốc gia của Trung Quốc sẽ đối diện với mối đe dọa hiện thực gay gắt hơn.

IV/ Kết luận

Sự phát triển của quan hệ Việt – Mỹ là hiện tượng đáng để quan tâm trong quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Dưới sự thúc đẩy của các nhân tố như Mỹ quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương, “tái cân bằng châu Á – Thái Bình dương”, đọ sức địa chiến lược Trung – Mỹ và tranh chấp Nam Hải giữa Trung Quốc và Việt Nam…, hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt còn có thể phát triển hơn nữa. Tuy Tổng thống Mỹ Donald Trump ký sắc lệnh hành chính Mỹ chính thức rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP), đây là điều có lợi cho Trung Quốc về kinh tế, nhưng trong thời gian tranh cử Donald Trump đã gắn mác quân sự hóa cho các hoạt động của Trung Quốc ở Nam Hải, đồng thời phê phán các hành vi không chính đáng của Chính phủ Trung Quốc. Trong nhiệm kỳ của mình, Donald Trump có thể áp dụng nhiều hành động hơn nữa trong vấn đề Nam Hải, tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt, tạo thành thách thức về địa chính trị và an ninh quân sự đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự phát triển của quan hệ Mỹ – Việt cũng chịu sự hạn chế của nhiều nhân tố, trong tình hình hiện nay Mỹ và Việt Nam khó có thể xây dựng liên minh quân sự.

Một là do chế độ chính trị của hai nước khác nhau và sự đối lập về ý thức hệ, chắc chắn sẽ làm cho hợp tác an ninh và quốc phòng giữa hai nước không thuận lợi. Từ lâu nay, Mỹ chưa từng từ bỏ việc lợi dụng vấn đề “dân chủ” và “nhân quyền” để thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, còn thường thông qua thương mại vũ khí để can thiệp công việc nội bộ Việt Nam. Từ trước đến nay Chính phủ Việt Nam luôn duy trì cảnh giác cao độ đối với “sự thâm nhập” và “lật đổ” của Mỹ, cộng thêm sự tổn thương do chiến tranh gây ra cho Việt Nam khó có thể xóa bỏ, vì vậy không khó để hiểu được “bất kỳ hành động cụ thể nào nhằm nâng cao quan hệ an ninh Mỹ – Việt đều sẽ làm gay gắt hơn quan hệ căng thẳng giữa nhóm thân phương Tây và nhóm thân Trung Quốc trong tầng lớp cấp cao trong Bộ Chính trị Việt Nam”. Hai là cho dù giữa Trung Quốc và Việt Nam tồn tại bất đồng, nhưng với tư cách là nước láng giềng của nhau, không gian hợp tác rộng rãi, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện đã trở thành nhận thức chung của hai bên.

Ba là chiến lược “cân bằng nước lớn” của Việt Nam đã quyết định tính hạn chế của hợp tác Việt – Mỹ. Trong tình hình thực lực có hạn, Việt Nam áp dụng chiến lược cân bằng nước lớn – dựa vào một nước lớn để cân bằng một nước lớn khác, đồng thời tránh xích lại quá gần với một nước lớn nào đó  mà kích thích một nước lớn khác. Một mặt Việt Nam phát triển quan hệ kinh tế, ngoại giao và quân sự với Mỹ, dựa vào sức mạnh của Mỹ để kiềm chế hành động của Trung Quốc ở Nam Hải; mặt khác lại thúc đẩy mối liên hệ kinh tế và quan hệ chính trị với Trung Quốc đi vào chiều sâu, tìm sự trợ giúp để chống lại “diễn biến hòa bình”, đồng thời thừa nhận “xảy ra đối đầu quân sự với Trung Quốc sẽ là tai họa đối với Việt Nam”.

Tuy nhiên, cho dù hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt đi đến mức độ nào, đều sẽ nảy sinh ảnh hưởng đối với lợi ích quốc gia của Trung Quốc, Trung Quốc chắc chắn sẽ phải quan tâm và coi trọng nhiều hơn để tích cực đối phó. Một là thúc đẩy sự phát triển của quan hệ Trung – việt. Tình hữu nghị của Trung Quốc và Việt Nam không những có truyền thống lịch sử, mà còn có tính tất yếu của hiện thực. Trung Quốc và Việt Nam phải thông qua phương thức hiệp thương và đàm phán song phương để giải quyết bất đồng và tăng cường hợp tác trong vấn đề Nam Hải, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt. Hai là tăng cường quan hệ Trung Quốc – ASEAN, sự phát triển của quan hệ Trung Quốc – ASEAN có lợi cho việc thúc đẩy quan hệ Trung – Việt và ngoại giao của ASEAN đối với Trung Quốc khi đối diện với ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài như Mỹ… Vì vậy, bên cạnh việc tích cực thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại với ASEAN, phải tích cực thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau về chính trị và hợp tác an ninh với tổ chức này, làm cho quan hệ láng giềng hữu nghị tin cậy lẫn nhau Trung Quốc – ASEAN được phát triển toàn diện, xây dựng cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN. Ba là nỗ lực xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới Trung – Mỹ; tuy Trung Quốc và Mỹ tồn tại bất đồng trong không ít vấn đề, nhưng lợi ích chung mà hai nước có luôn là quan trọng nhất. Hai bên phải tăng cường hợp tác song phương, khu vực và quốc tế, tăng cường đối thoại và trao đổi, để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, tôn trọng lới ích cốt lõi và sự quan tâm của nhau, quản lý tốt mâu thuẫn và bất đồng, làm cho quan hệ Trung – Mỹ tiếp tục phát triển lành mạnh và ổn định, thực hiện hợp tác cùng thắng. Bốn là tăng cường hợp tác chiến lược Trung – Nga, nhất là hợp tác an ninh và quốc phòng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, làm giảm sức ép quân sự do Mỹ quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương đối với Trung Quốc. Năm là phải tăng cường xây dựng quốc phòng và quân đội, hoàn thiện chiến lược an ninh xung quanh, nâng cao năng lực đối phó với khủng hoảng an ninh xung quanh.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 16, 17/08/2017