Bàn tay vô hình gặp con khỉ đột vô hình: Kinh tế học và tâm lý học của sức chú ý khan hiếm


Diane Coyle

Phải chăng các nhà kinh tế học đã thiếu chú ý? Bài báo này tường thuật lại một hội nghị về tâm lý học và kinh tế học của “sức chú ý khan hiếm”. Trung tâm của cuộc thảo luận là giả thiết phải chăng việc có quá nhiều thông tin khiến cho việc ra quyết định trở nên mù quáng và liệu điều này có thể giải thích tại sao rất nhiều nhà kinh tế học bỏ qua những dấu hiệu cảnh báo về một cuộc khủng hoảng.

Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính [2008 – ND], nhiều nhà bình luận đã đặt câu hỏi tại sao rất nhiều nhà kinh tế đã không dự đoán được nó – hoặc thậm chí liệu rằng kinh tế học có vai trò nào trong việc (góp phần) gây ra cuộc khủng hoảng. Một nhóm các chuyên gia Anh trong năm 2009 cho rằng việc không dự đoán được này là một dạng “tâm lý học của sự từ chối” đang đè nặng toàn bộ thế giới tài chính.[2]

Giới kinh tế từ đó tiếp tục đánh giá vai trò của mình trong thảm họa tài chính và khủng hoảng kinh tế sau này. Những giả thiết chuẩn của chủ đề này về cách mọi người đưa ra quyết định và lựa chọn hành xử là trọng tâm đặc biệt được nghiên cứu kỹ lưỡng. Phải chăng giả định rằng các sự lựa chọn đều dựa trên lý trí, vì mục đích có lợi cho bản thân, dựa trên các thông tin có sẵn, tự chính nó góp phần vào một hiểu lầm khủng khiếp của các cơ quan điều tiết và hoạch định chính sách về những gì có thể xảy ra trong các thị trường tài chính?

Kinh tế học hành vi đưa ra một số ví dụ về các quy tắc theo kinh nghiệm về hành vi khác nhau mô tả quyết định điển hình chính xác hơn so với các giả thiết chuẩn. Tuy nhiên, để giải quyết các câu hỏi một cách hệ thống, các nhà kinh tế sẽ cần phải học từ tâm lý học (cụ thể, tâm lý học về sự lựa chọn cá nhân trong tình huống mà con người phải đối mặt với một dòng thông tin liên tục, như họ thường phải đối mặt với nhiều quyết định kinh tế).

Những người tham gia một buổi hội thảo gần đây về Tâm lý học và Kinh tế học của sức chú ý khan hiếm tại trường Kinh tế Toulouse đã đề cập tới những vấn đề này (xem tóm tắt ở đây). Chủ đề chính là liệu sự hiểu biết ngày càng lớn của các nhà khoa học về tri nhận về cách “cảm nhận giác quan” chuyển thể thành hành động, với sức chú ý có hạn của con người, có đưa ra được bài học nào cho các nhà kinh tế hay không.

Một minh họa sống động về sự tương đồng tiềm năng được đưa ra trong một ví dụ do Giám đốc Nghiên cứu CNRS Kevin O’Regan của Học viện Descartes Paris về Thần kinh học và Nhận thức (Institut Paris Descartes de Neurosciences et Cognition) đưa ra, về một vụ tai nạn máy bay (trong mô phỏng) do phi công không nhìn thấy chiếc máy bay khác phía trước mình khi anh hạ cánh. Tại sao phi công giàu kinh nghiệm không nhìn thấy máy bay trên đường băng? Thật sự thì câu hỏi này cũng giống như hỏi tại sao hầu hết mọi người không nhìn thấy sự sụp đổ sắp xảy ra trong các thị trường tài chính, khi các thông tin đã có sẵn cho những người tìm kiếm cẩn thận?

“Sự mù lòa vô thức” là chuyện bình thường. Ví dụ nổi tiếng nhất liên quan đến những gì mọi người gần một nửa thời gian là không thấy khi đặt ra nhiệm vụ xem một đoạn video và đếm số lần chuyền bóng giữa hai đội bóng rổ – một con khỉ đột đi ngang trên màn hình (Chabris và Simons 2010). Các nhà thần kinh học tham gia hội thảo đã không cảm thấy thuyết phục rằng có sự giống nhau giữa sự mù lòa vô thức và việc không thể dự đoán, nhưng các nhà kinh tế cho rằng con khỉ đột vô hình có thể cung cấp cho họ một bộ giả thiết hiệu quả hơn các hơn so với bàn tay vô hình khi nói đến cách con người hình thành sở thích và đưa ra quyết định của mình.

Nếu cho rằng sự chú ý là có chọn lọc trong việc đối phó với số lượng lớn các thông tin mà các giác quan có thể thu được từ thế giới bên ngoài, thì cả hai yếu tố tự nguyện và không tự nguyện có thể đều tham gia vào việc lựa chọn đó. Kiến trúc của não nắm giữ chìa khóa để hiểu được cơ chế lựa chọn. Nhiều khu vực khác nhau của bộ não xử lý các nhận thức trực quan. Mỗi phần có chức năng chuyên biệt của mình, hoạt động đồng thời và tương tác với nhau. Hệ thống này phức tạp và ít nhiều có tính thứ bậc, và tất cả các giác quan thể hiện vai trò cùng một lúc. Có một sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các tế bào thần kinh trong quá trình chọn lọc.

Do đó, quan điểm hiện tại về sức chú ý khan hiếm là nó bắt nguồn từ kiến trúc của não. Ví dụ như trong xử lý hình ảnh, thông tin đi từ cấp thấp đến cấp cao hơn của não. Các tế bào thần kinh cấp thấp (trong vỏ não thị giác chính) rất nhạy cảm với các đặc điểm đơn giản như góc cạnh trong khi những tế bào cấp cao rất nhạy cảm với các đối tượng và phạm trù (như khuôn mặt). Ngoài ra, các tế bào thần kinh cấp thấp được kích hoạt bởi các đặc điểm trực quan tại các địa điểm cụ thể trong khi tế bào thần kinh cấp cao lại không cụ thể như vậy, và các vùng tiếp nhận tương ứng (các khu vực không gian, nơi mà sự hiện diện của một tác nhân kích thích sẽ làm thay đổi sự phản ứng của tế bào thần kinh đó) là lớn hơn. Cả hai điều này đều có nghĩa là mỗi tế bào thần kinh cấp cao có liên quan với một vài tế bào thần kinh cấp thấp – những tế bào cấp thấp này đang cạnh tranh với nhau trong một cuộc thi “được ăn cả, ngã về không”. Có một thất thoát thông tin [ở đây], và là cơ sở thần kinh của sự chú ý khan hiếm.

Có vẻ như mục tiêu rõ ràng cho việc áp dụng những bài học từ tâm lý học về cách hướng sự chú ý hiệu quả – ví dụ như, khi tìm kiếm cách trình bày thích hợp các dữ liệu về thị trường tài chính để giúp cảnh báo các cơ quan chức năng về những cuộc khủng hoảng trong tương lai. Các nhà kinh tế cũng quan tâm tới những bài học khái quát hơn cho các giả thiết về việc ra quyết định trong các mô hình kinh tế. Một lĩnh vực kinh tế mà sự chú ý là một yếu tố quan trọng là trong quảng cáo. Chúng ta có chú ý đủ đến quảng cáo để thay đổi lựa chọn mua sắm của mình không – quảng cáo có hiệu quả không?

Vấn đề về hiệu quả của quảng cáo đã trở nên cấp thiết hơn khi ngày càng nhiều phương tiện truyền thông và chi tiêu chuyển sang hoạt động trực tuyến. Các nhà quảng cáo đang xem xét nơi họ có thể truyền đạt tới người tiêu dùng hiệu quả nhất, trong khi người tiêu dùng đang phải đối mặt với các loại quảng cáo mới, và ngày càng bị “quá tải thông tin”. Quảng cáo trực tuyến tạo ra dữ liệu phong phú, và nghiên cứu kinh tế đang bắt đầu đề cập tới một số vấn đề này.

Số lần nhấp chuột vào các quảng cáo trực tuyến (clicks on ads online) chiếm 98% doanh thu của Google. Hal Varian, Nhà kinh tế trưởng (Chief economist) tại Google, cho rằng vị trí của quảng cáo trên màn hình quyết định tần suất mọi người nhấp vào nó. Sự lựa chọn vị trí một phần là do văn hóa – ví dụ, tùy thuộc vào việc người đó có đọc ngôn ngữ đó từ trái sang phải hay không – và một phần phát triển từ việc Google học hỏi dần dần từ người sử dụng và sự lựa chọn của nhà quảng cáo. Do đó, việc chọn vị trí của mỗi quảng cáo trên trang trực tuyến được quyết định bằng giá trị của vị trí mỗi nhà quảng cáo nhận được đối với họ; và sự khác biệt giữa các mức đấu giá là thước đo giá trị của sự chú ý. Nếu mọi người đều có khả năng nhấp vào bất kỳ quảng cáo trên trang web như nhau, các nhà quảng cáo sẽ không sẵn sàng trả nhiều tiền hơn để được đặt ở phía trên cùng của trang.

Sự hiểu biết thông thường về áp lực thương mại ngày càng tăng trên cả hai ngành công nghiệp báo chí và phát thanh là doanh thu của họ đang bị phá hoại bởi cả việc người dùng không sẵn lòng trả tiền cho bất cứ điều gì trực tuyến lẫn việc doanh thu từ việc quảng cáo trực tuyến thấp hơn rất nhiều so với quảng cáo ngoại tuyến (quảng cáo thông thường). Tuy nhiên, Varian lập luận rằng việc cho rằng quảng cáo ngoại tuyến đắt hơn rất nhiều là sai, vì sự so sánh thích hợp là giá của sự chú ý, chứ không phải là giá của bản thân quảng cáo.

Độc giả ngoại tuyến tạo ra 88% doanh thu quảng cáo báo chí tại Mỹ, và họ dành ra trung bình 24 phút mỗi ngày để đọc báo. Độc giả trực tuyến tạo ra 12% doanh thu quảng cáo và dành ra chỉ 1,2 phút một ngày để đọc. Vì vậy, quảng cáo ngoại tuyến rẻ hơn cho mỗi phút đọc khi so sánh với đọc báo trực tuyến, nó (quảng cáo ngoại tuyến) chiếm được gấp 20 lần sự chú ý mà chỉ tốn chi phí gấp bảy lần. Lý do có vẻ là do người ta đọc báo trực tuyến tại nơi làm việc, còn đọc báo ngoại tuyến ở nhà. Điều đó tạo nên thách thức thực sự cho báo chí để làm cho người dân dành nhiều thời gian hơn để đọc báo trực tuyến, Varian kết luận.

David Reiley (2011), nhà khoa học nghiên cứu chính (Principal Research Scientist) tại Yahoo! Research, mô tả các kết quả của một thí nghiệm nghiên cứu hơn một triệu khách hàng đã mua từ một nhà bán lẻ lớn của Mỹ và cũng là người sử dụng Yahoo! Các khách hàng được phân ngẫu nhiên vào hai nhóm xử lí và nhóm đối chứng. Nhìn vào số liệu của mỗi khách hàng về mức độ tiếp xúc với quảng cáo và việc mua sắm hàng tuần tại cửa hàng bán lẻ này, cả trực tuyến và tại cửa hàng, cho thấy tác động đáng kể về mặt thống kê và kinh tế của quảng cáo trên doanh thu. Tác động này kéo dài trong vài tuần sau khi kết thúc một chiến dịch quảng cáo, và tổng tác động lên doanh thu vượt quá chi phí của nhà bán lẻ dành cho quảng cáo. Một chiến dịch quảng cáo tốn 25.000 USD đem lại thêm doanh thu trong hai tuần là 83.000 USD (+/-70.000 USD- khoảng tin cậy rộng do số liệu doanh số bán lẻ có dao động lớn). Sau năm tuần, một chiến dịch quảng cáo được ước tính trị giá 33.000 USD đã tăng doanh số bán hàng thêm 250.000 USD +/-190.000 USD. Tuy nhiên, hầu hết các tác động của quảng cáo trực tuyến trên doanh số bán hàng là thông qua bán hàng tại cửa hàng.

Những bằng chứng khác được trình bày tại hội thảo cho rằng cá nhân hoá quảng cáo trực tuyến thường ít hiệu quả hơn so với việc gửi thông báo chung. Việc tuỳ chỉnh quảng cáo cho mỗi cá nhân căn cứ theo hành vi duyệt web của họ – được biết đến trong ngành công nghiệp là “tái lập mục tiêu động” – là tâm điểm niềm hy vọng khổng lồ của các nhà quảng cáo để đạt được hiệu quả lớn hơn nhờ sự liên quan của quảng cáo hiển thị cho từng cá nhân. Nhưng bằng chứng từ một thí nghiệm trực tuyến được trình bày bởi Anja Lambrecht của Trường Thương mại London (London Business School), (thí nghiệm này) sử dụng tái lập mục tiêu động ngẫu nhiên cho một công ty du lịch, cho rằng quảng cáo chung có nhiều khả năng khiến cho một người tiêu dùng quyết định mua hơn là một quảng cáo cụ thể, tăng khả năng chuyển đổi thêm 60%. Những người duy nhất mà các quảng cáo cụ thể có hiệu quả hơn là những người đã đọc qua một trang web đánh giá để tìm kiếm một loại sản phẩm cụ thể. Lambrecht cho rằng sự khác biệt này có thể chỉ ra rằng nhiều người tiêu dùng ban đầu không có sở thích rõ ràng, và sử dụng các quá trình tìm kiếm để tinh chỉnh sở thích của họ. Nhưng nếu họ đã biết đủ về những gì họ muốn mua để truy cập vào một trang web đánh giá, có thể nói là họ đã có sở thích khá cụ thể. Bài học cho ngành công nghiệp quảng cáo là để có hiệu quả lớn hơn họ sẽ cần phải có cái nhìn sâu sắc hơn hiện tại về quá trình ra quyết định của khách hàng, cần phải biết sở thích của họ đã cố định đến mức nào, và theo mức độ chi tiết mà quảng cáo nhắm tới một đối tượng khách hàng cần phải có để đạt hiệu quả (Lambrecht và Tucker 2011).

Lưu Anh Trí, Nguyễn Thị Trà Giang dịch

Nguồn: The invisible hand meets the invisible gorilla: The economics and psychology of scarce attentionVoxeu.Org, 03 Dec. 2011.

Diane Coyle là Giáo sư Kinh tế, Đại học Manchester; nhà sáng lập Kinh tế học Khai minh và là đồng giám đốc của Policy@Manchester.

Advertisements

Akerlof và Shiller: Tất cả những gì bạn cần biết về thao túng thị trường tự do – Phần cuối


Làm sao chúng ta biết được?

Chúng tôi tiên đoán rằng cuốn sách này sẽ không phổ biến (thậm chí là ít phổ biến nhất) đối với những người nghĩ rằng ai cũng luôn đưa ra các quyết định tốt nhất cho bản thân mình. Họ sẽ hỏi ai là Bob và George để nói rằng cá nhân con người không bao giờ là trọng tài tốt nhất của chính mình trong việc giúp bản thân ra các quyết định có tác động đến chính họ? Tương tự như phần lớn kinh tế học, luận điểm này có ý nghĩa trừu tượng. Nhưng khi chúng tôi xem xét câu hỏi này lúc nó mô tả con người thực ra quyết định thực (như chúng tôi sẽ làm trong suốt quyển sách này), chúng tôi phát hiện ra rằng họ đã bị lừa cắn câu: và, hậu quả là họ đưa ra các quyết định mà chỉ cần vận dụng một ít trí khôn cơ bản thôi, họ sẽ nhận biết các quyết định đó không mang lại lợi ích cho họ.

Chúng ta không phải tự phụ khi thấy người ta đưa ra những quyết định như vậy. Chúng ta nhận biết được là vì chúng ta thấy người ta đưa ra các quyết định mà KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN. Henry David Thoreau đã nhấn mạnh rằng “nhiều người sống cuộc sống trong âm thầm tuyệt vọng”. Đáng chú ý, một trăm năm mươi năm sau, ở nước Mỹ, quốc gia phồn vinh nhất thế giới mà chúng ta từng biết, quá nhiều người vẫn sống trong âm thầm tuyệt vọng. Hãy nghĩ về trường hợp cô Mollie tội nghiệp ở Vegas.

KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN CẢ

Bốn vấn đề lớn cho thấy tại sao tình trạng KHÔNG AI THỰC SỰ MUỐN CẢ lại lan rộng gồm: an toàn tài chính cá nhân; ổn định nền kinh tế vĩ mô (nền kinh tế tổng thể); sức khỏe của chúng ta; và chất lượng của chính phủ. Trong mỗi vấn đề trên, chúng ta sẽ thấy rằng việc thả câu chờ kẻ đại ngốc mắc sai lầm có tác động đáng kể đến cuộc sống của chúng ta.

An toàn tài chính cá nhân. Một thực tế cơ bản của đời sống kinh tế chưa bao giờ được đưa vào sách giáo khoa kinh tế học. Hầu hết người trưởng thành, ngay cả ở các nước giàu, đều mang mối lo làm thế nào để thanh toán các hóa đơn theo lên giường ngủ mỗi tối. Các kinh tế gia cho rằng ai cũng dễ dàng gói gém chi tiêu trong ngân sách của mình. Nhưng họ quên rằng ngay cả khi chúng ta thận trọng đến 99%, thì cũng còn 1% chúng ta hành động như thể “tiền là chuyện nhỏ”, có thể hủy hoại toàn bộ lựa chọn đúng đắn trước đó. Và các doanh nghiệp biết rất rõ 1% này. Họ nhắm vào các sự kiện trong cuộc sống của chúng ta khi mà tình yêu (hay những động cơ khác) lấn át sự cẩn trọng ngân sách của chúng ta. Đối với một số người thì sự kiện đó là thông lệ tặng quà vào dịp Giáng Sinh hàng năm. Đối với những người khác thì là các nghi lễ đánh dấu những cột mốc của đời người như: đám cưới (là nghi lễ mà các tạp chí chuyên về cưới hỏi khẳng định với các cô dâu rằng chi phí của một “đám cưới trung bình” gần bằng một nửa thu nhập bình quân đầu người hàng năm); đám tang (là nghi lễ mà người điều hành dịch vụ tang lễ tỉ mỉ giới thiệu về các cỗ quan tài để dẫn dắt lựa chọn, ví dụ như, kiểu Monaco “làm bằng thép không gỉ Sea Mist, bên trong toàn bộ được lót nhung 600 Aqua thượng hạng, được chần bông và dệt chun tinh xảo”); hay sinh con (là dịp mà hãng đồ chơi Babies “R” Us sẽ phái chuyên viên tư vấn cá nhân của họ đến).

Nhưng các nghi lễ kể trên không phải là những dịp duy nhất trong đời mà việc tính toán được cho là keo kiệt. Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà ở Mỹ, vốn trong thời kỳ phồn vinh nhất từ trước đến giờ, hầu hết người trưởng thành vẫn phải lo lắng về các hóa đơn khi đi ngủ. Các nhà sản xuất rất sáng tạo trong việc khiến cho chúng ta cảm thấy cần những sản phẩm được sản xuất ra trong khi họ đáp ứng các nhu cầu có thực của chúng ta. Không ai muốn phải lo lắng về các hóa đơn khi đi ngủ. Nhưng hầu như ai cũng phải lo lắng.

Một lý do khiến chúng ta lo lắng về các hóa đơn là tình trạng bán giá quá đắt: là người tiêu dùng, chúng ta đặc biệt có xu hướng trả quá nhiều tiền khi chúng ta bước ra khỏi vỏ ốc của mình để mua một hàng hóa đắt đỏ và hiếm khi mua. Đáng chú ý là trong khoảng 30% số nhà bán được cho người mua mới, tổng chi phí giao dịch – của người mua lẫn người bán – bằng hơn phân nửa số tiền đặt cọc mà người mua phải nộp để thực hiện giao dịch. Như chúng ta sẽ thấy, nhân viên kinh doanh xe hơi, đã phát triển các kỹ thuật tinh vi để bán cho chúng ta nhiều xe hơi hơn số chúng ta thực sự muốn; và đồng thời cũng khiến chúng ta phải trả quá nhiều tiền. Không ai muốn bị mua đắt. Nhưng chúng ta vẫn phải mua hàng với giá đắt, ngay cả trong những trường hợp mua bán mà chúng ta cẩn trọng nhất trong cuộc đời của mình.

Bất ổn tài chính và bất ổn vĩ mô. Thả câu chờ kẻ đại ngốc mắc sai lầm trong thị trường tài chính là nguyên nhân lớn nhất của các cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo tình trạng suy thoái sâu. Xét về các cuộc khủng hoảng tài chính thì cụm từ thịnh hành “Lần này sẽ khác” vừa đúng vừa sai. Trong giai đoạn tăng trưởng nóng trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra, những kẻ thả câu dụ dỗ người mua về những tài sản mà họ phải bán bằng chiêu thức “lần này sẽ khác”. Ví dụ như vụ công ty sản xuất que diêm Swedish Match ở những năm 1920 (Ivar Kreuger, sáng lập viên của công ty Kreuger & Toll); vụ các công ty công nghệ dot-com ở những năm 2000 (Angelo Mozilo, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc điều hành của công ty tài chính Countrywide). Vâng, không lần nào giống lần nào cả; các doanh nghiệp khác nhau; sản phẩm của họ khác nhau. Nhưng, đồng thời, lần nào cũng vậy. Có những kẻ thả câu; và có những kẻ đại ngốc. Và khi chứng khoán do những kẻ thả câu giấu mặt dựng lên (kinh tế gia John Kenneth Galbraith gọi là “the bezzle” – sự gia tăng tài sản ảo) hiện nguyên hình, giá tài sản lao dốc. Các nhà quản lý đầu tư đã mua các gói chứng khoán có các khoản thế chấp xấu trong thời gian tích tụ nên cuộc khủng hoảng 2008 có thể đã không muốn mua chúng. Và sau đó, thật đau đớn, phản ứng phụ kinh hoàng đã diễn ra: niềm tin vỡ vụn trong toàn bộ nền kinh tế; giá chứng khoán giảm đi phân nửa; mất việc hàng loạt; và người thất nghiệp không thể tìm được việc làm. Tình trạng thất nghiệp dài hạn đạt mức cao chưa từng thấy kể từ Cuộc Đại Khủng Hoảng.

Sức khỏe. Ngay cả trong vấn đề sức khỏe, vốn dĩ là nhu cầu lớn nhất của chúng ta khi chúng ta đã được cơm no áo ấm, có nhà cửa đầy đủ, các hãng dược cũng thả câu đợi chúng ta mắc sai lầm. Vào những năm 1880, khi Daniel Pinkham, sống ở ngoại vi New York, để ý thấy có nhiều phụ nữ rất quan tâm đến bệnh thận, ông đã viết thư về nhà nhắn mọi người nên đưa bệnh thận vào danh sách các căn bệnh mà hãng thuốc Pinkham Pills của gia đình có thể chữa khỏi. Lời khuyên của ông được tiếp thu. Ngày nay, các hãng dược không còn được bổ sung bệnh vào trong danh sách nữa. Ở Mỹ, các hãng dược phải vượt qua hai cửa ải. Họ phải có được sự chấp thuận của Food and Drug Administration (Cục Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm), thông qua việc thực nghiệm đối chứng ngẫu nhiên; họ phải đồng thời thuyết phục được các bác sĩ kê thuốc của họ cho bệnh nhân. Nhưng họ cũng đã có hơn một thế kỷ lăn lộn tìm cách vượt qua các cửa ải này. Một số dược phẩm dù vượt ải thành công nhưng chỉ mang lại lợi ích rất bé. Tệ hơn, một số dược phẩm chỉ toàn gây hại, như Vioxx (một loại kháng viêm giống như Aleve) và liệu pháp thay thế nội tiết tố. Với bề dày năm năm xuất hiện trên thị trường, từ năm 1999 đến năm 2004, người ta ước lượng rằng Vioxx đã gây ra từ 26.000 đến 56.000 trường hợp tử vong do vấn đề tim mạch ở Mỹ; việc các bác sĩ và các nhà thuốc không thông báo cho phụ nữ biết những nghi ngờ về liệu pháp thay thế nội tiết tố đã gây ra khoảng 94.000 ca ung thư vú. Không ai muốn dùng thuốc dỏm cả.

Hậu quả ảnh hưởng đến sức khỏe không chỉ dừng lại ở thuốc dỏm. Nói về vấn đề ăn uống và hậu quả của nó. Khoảng 69% người Mỹ trưởng thành bị thừa cân; hơn phân nửa trong số đó (36% người Mỹ) bị béo phì. Một nghiên cứu thuần tập thực hiện trên hơn 120.000 người đã phô bày một thực trạng chính xác đáng kinh ngạc. Những người được phỏng vấn, chủ yếu là các y tá có đăng ký chính thức, được quan sát mỗi bốn năm một lần, từ cuối những năm 1970 suốt đến năm 2006. Số cân tăng trung bình mỗi bốn năm là 3,35lb (cân Anh) (tổng cộng tăng 16,75lb trong 20 năm). Phân tích thống kê cho biết 3,35lb tăng thêm là do 1,69lb snack khoai tây, 1,28lb khoai tây chiên, và 1lb thức uống có đường. Nói một cách hình tượng thì những y tá đó đã không thể ngưng nhóp nhép snack khoai tây (muối và mỡ) và khoai tây chiên (mỡ và muối) hay ngưng xì xụp các chai nước ngọt (đường). Họ lựa chọn một cách tự nguyện. Không dừng lại ở các y tá, mà khái quát hơn, các ông lớn ngành thực phẩm chi hoa hồng cho các phòng thí nghiệm khoa học để họ tính toán “các điểm cực mãn” của người tiêu dùng khiến họ thèm đường, muối, và mỡ cực độ. Tuy nhiên, không ai muốn béo phì cả.

Thuốc lá và rượu là những cái cần câu khác có liên quan đến sức khỏe. Nhưng có sự khác biệt lớn giữa hai sản phẩm này. Ngày nay, không ai nghĩ rằng hút thuốc lá là sành điệu cả. Khi George viết đoạn này, ông ngồi làm việc trong một tòa nhà văn phòng lớn ở Washington, HQ1 (Trụ sở chính 1) của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Người ta cấm hút thuốc bên trong tòa nhà. Nhưng trên đường đến nơi làm việc vào buổi sáng, ông đi ngang qua một số người hút thuốc đứng lác đác bên ngoài. Những người hút thuốc đó ai nấy cũng hằn học né tránh ánh nhìn chăm chăm của ông. Tuy không nói ra, nhưng họ biết ông đang nghĩ rằng họ đang liều mạng sống của chính họ: để có được niềm vui rất không đáng. Kết quả của sự chỉ trích và tự chỉ trích này là tỷ lệ người hút thuốc lá ở Mỹ đã giảm đi hơn phân nửa tính từ cái thời tăm tối khi mà những người đáng ra biết được nhiều thông tin hơn lại thuyết phục rằng hút thuốc thực sự tốt cho sức khỏe: hút thuốc giúp bạn giảm cân.

Còn một loại chất gây nghiện hợp pháp nữa ngoài thuốc lá, có thể có hại nhiều hơn; nhưng lại ít bị chỉ trích hơn. David Nutt và các cộng sự ở Anh, cùng Jan van Amsterdam và Willem van den Brink ở Hà Lan đã thành lập các nhóm chuyên gia đánh giá tác hại tương đối của các loại chất gây nghiện ở các quốc gia của họ. Tính luôn cả tác hại đối với người khác – thay vì chỉ tính tác hại đối với bản thân người dùng – Nutt và các cộng sự đánh giá rượu là loại tệ hại nhất; van Amsterdam và các cộng sự xếp rượu ở hàng thứ hai sau ma túy, nhưng sự hơn kém về tác hại là rất nhỏ. Lát nữa chúng ta sẽ thấy (từ các nghiên cứu suốt đời) rằng việc lạm dụng rượu rất có thể là phương thuốc giảm đau thần diệu duy nhất trong đời sống người Mỹ. Hơn nữa, các quán bar, nhà hàng, hãng hàng không và bạn bè của chúng ta gặp khi tiệc tùng đều ép chúng ta uống một ly, và đôi khi thêm một ly nữa, và một ly nữa,… Không ai để ý rằng uống thêm một ly nữa là một lựa chọn quá dễ dàng. Không ai muốn trở thành kẻ nghiên rượu. Nhưng thay vì khuyên can thì người ta lại dụ dỗ.

Chính phủ tồi. Trong khi thị trường tự do ít nhất là có thể vận hành hiệu quả trong các điều kiện lý tưởng, thì nền dân chủ cũng vậy. Nhưng các cử tri lại bận rộn lo toan cho cuộc sống của riêng mình; do vậy mà các cử tri hoàn toàn không thể biết được khi nào một chính trị gia đi chệch ra khỏi mong muốn thực sự của cử tri về tăng cường pháp chế. Và cũng chỉ vì chúng ta là người trần mắt thịt, chúng ta có xu hướng bầu cho người nào khiến chúng ta cảm thấy hài lòng nhất. Do vậy, chính trị dễ bị tác động bởi trò thả mồi đơn giản nhất, theo đó các chính trị gia âm thầm huy động tiền bạc từ các nhóm lợi ích, và sử dụng nguồn tiền đó để chứng tỏ rằng họ “không khác gì các cử tri”. Chương “Thả Câu Trong Chính Trị” của chúng tôi sẽ mô tả chiến dịch vận động tranh cử năm 2004 của Charles Grassley thuộc tiểu bang Iowa, người giữ chức chủ tịch Ủy Ban Tài Chính Thượng Viện lúc bấy giờ, và là người đã tập hợp được một nguồn quỹ tranh cử trị giá nhiều triệu đô la và đã tấn công dồn dập khắp tiểu bang bằng chương trình quảng cáo trên truyền hình phát đi hình ảnh ông cũng “như dân chúng”, đang ở nhà, ngồi trên chiến xe cắt cỏ của ông ta. Không có gì quá bất thường về vai trò của tiền bạc trong cuộc vận động này. Ngược lại, chúng ta chọn cách làm như vậy vì nó quá đặc trưng. Nhưng (hầu như) không ai muốn có một nền dân chủ mà các cuộc bầu cử được mua theo cách này.

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “Akerlof and Shiller: Everything You Need to Know About Free-Market Manipulation”, Evonomics.com, 6/1/2016.

Akerlof và Shiller: Tất cả những gì bạn cần biết về thao túng thị trường tự do – Phần đầu


Nội dung dưới đây được trích từ quyển sách Phishing for Phools: The Economics of Manipulation and Deception (Thả Mồi Câu Cá Ngáo: Kinh Tế Học Của Sự Thao Túng Và Mánh Khóe Lừa Bịp) của George A. Akerlof và Robert J. Shiller. Được xuất bản bởi Princeton University Press. Chúng tôi đã được phép in lại.

James Carville, cố vấn chiến dịch vận động tranh cử chức tổng thống của Bill Clinton năm 1992, đã từng nói rằng: “It’s the economy, stupid!” (Là vấn đề kinh tế cả thôi, ngốc ơi!). Ông muốn dùng câu nói này chĩa mũi dùi vào Tổng Thống George H. W. Bush vì hàng loạt các vấn đề kinh tế có liên quan mật thiết đến cuộc suy thoái kinh tế xuất hiện trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của Bush. Tuy nhiên, về phát biểu của Carville, chúng tôi có cách hiểu khác, rộng hơn: nhiều vấn đề của chúng ta khởi sinh từ chính bản chất của nền kinh tế. Nếu doanh nhân hành xử hoàn toàn ích kỷ vì lợi ích của chính mình theo cách thức mà lý thuyết kinh tế giả định, thì hệ thống kinh tế thị trường của chúng ta có xu hướng dung dưỡng sự thao túng và mánh khóe lừa bịp. Vấn đề không phải là do có nhiều người xấu. Hầu hết mọi người đều tuân thủ luật chơi và chỉ mưu cầu cuộc sống sung túc. Nhưng, rõ ràng, áp lực cạnh tranh đè lên giới doanh nhân buộc họ phải nhúng tay vào hành vi lừa bịp và thao túng trong các thị trường tự do khiến chúng ta mua, và trả quá nhiều tiền cho những sản phẩm không cần đến; khiến chúng ta làm những công việc không mấy ý nghĩa; và khiến chúng ta tự hỏi tại sao cuộc sống của mình lại trở nên bất ổn.

Chúng tôi viết quyển sách này với tư cách là những người hâm mộ hệ thống thị trường tự do, nhưng hy vọng sẽ giúp mọi người tìm được lợi ích của mình trong đó. Hệ thống kinh tế thị trường đầy rẫy các ngón đòn gian lận, và ai cũng cần phải biết được thực tế này. Tất cả chúng ta ai cũng phải lèo lái hệ thống này để giữ gìn phẩm giá và tính chính trực của mình, tất cả chúng ta đều phải tìm cho được nguồn cảm hứng để bước tiếp bất chấp sự điên rồ xung quanh chúng ta. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới người tiêu dùng, họ chính là đối tượng cần phải cảnh giác trước vô số trò lừa bịp nhắm vào họ. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới giới doanh nhân, họ chính là những người cảm thấy chán nản trước sự hoài nghi của một số đồng nghiệp và rơi vào cái bẫy của sự không cần thiết này về mặt kinh tế. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới các quan chức chính phủ, họ là lực lượng đảm đương nhiệm vụ bạc bẽo điều tiết hoạt động kinh doanh. Chúng tôi viết quyển sách này hướng tới các tình nguyện viên, các nhà hảo tâm, các nhà hướng dẫn dư luận, họ là thành phần ủng hộ sự liêm chính. Và chúng tôi viết quyển sách này hướng tới giới trẻ, những người tự vấn làm sao họ có thể tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình khi nhìn ra quảng đời làm việc của mình phía trước. Tất cả những đối tượng này sẽ cùng có lợi từ nghiên cứu về trạng thái cân bằng lừa đảo – về các lực lượng kinh tế đã cấy sự thao túng và mánh khóe lừa bịp vào hệ thống kinh tế trừ khi chúng ta mạnh dạn đấu tranh chống lại nó. Chúng ta cũng cần những câu chuyện về những vị anh hùng, những người mà bằng chính sự liêm chính của bản thân (chứ không phải vì lợi ích kinh tế) đã cố gắng kìm hãm sự dối trá trong nền kinh tế của chúng ta ở mức có thể chung sống được. Chúng tôi sẽ kể thật nhiều những câu chuyện về những vị anh hùng này.

Các sản phẩm của kinh tế thị trường tự do

Cuối thế kỷ thứ mười chín là giai đoạn bận rộn của những nhà phát minh trong ngành xe hơi, điện thoại, xe đạp, đèn điện. Nhưng, có một phát minh khác cùng thời ít nhận được sự chú ý chính là “chiếc máy tự động dùng đồng xu”. Ngay từ khi ra đời, chiếc máy này không mang ý nghĩa như của ngày hôm nay. Khái niệm này có liên quan đến bất cứ loại “máy bán hàng tự động” nào mà khi bạn cho tiền xu vào một cái khe trống, bạn sẽ được khui một chiếc hộp. Vào những năm 1890, máy tự động dùng đồng xu được dùng để bán kẹo cao su, xì gà, thuốc lá, ống dòm (để xem nhạc kịch – ND), sô-cô-la que được quấn trong giấy gói cá nhân, thậm chí là các lượt xem nhanh tài liệu được coi là tiền thân của danh bạ điện thoại thành phố – hàng hóa gì cũng có. Sự cải tiến cơ bản chính là chiếc khóa được kích hoạt bằng đồng xu được nhét vào trong.

Nhưng rồi sau đó, người ta phát minh ra một công dụng khác. Chẳng bao lâu thì máy tự động dùng đồng xu bắt đầu bao gồm cả những chiếc máy đánh bạc. Một tờ báo lúc bấy giờ đã ghi nhận sự xuất hiện của máy tự động dùng đồng xu với ý nghĩa của thời hiện đại vào năm 1893. Lúc đầu, những chiếc máy này thưởng kẹo cho người chơi thắng thay vì thưởng tiền; chẳng bao lâu thì người ta đã gán cho sự trùng hợp hiếm hoi khi ba quả anh đào cùng xuất hiện một ý nghĩa đặc biệt.

Cuối những năm 1890, một chứng nghiện mới xuất hiện đối với trò đỏ đen trên máy đánh bạc. Vào năm 1899, tờ Los Angeles Times đã đưa tin: “Người ta có thể tìm thấy từ một cho tới nửa tá máy đánh bạc ở hầu hết các quán rượu, được vây kín bởi đám đông những người chơi suốt từ sáng đến tối … Một khi thói quen đã được hình thành, nó sẽ trở thành chứng nghiện. Người ta có thể bắt gặp các thanh niên ngồi hàng giờ liền trước máy đánh bạc. Cuối cùng, chắc chắn họ chính là những kẻ thua cuộc.

Rồi thì lực lượng quản lý đã can thiệp. Máy đánh bạc hủy hoại cuộc đời của quá nhiều người nên phải bị cấm, hoặt ít nhất là phải được kiểm soát, cùng với cờ bạc nói chung. Chúng đã biến mất khỏi đời sống cộng đồng, hầu như hoàn toàn bị cho ra rìa: được chuyển đến những nơi đặc biệt như sòng bài, và ở nơi được quản lý lỏng lẻo như Nevada, máy đánh bạc dễ dàng được tìm thấy trong siêu thị, trạm xăng, và sân bay; trung bình một người lớn ở đây nướng 4% thu nhập của mình vào bài bạc, gấp chín lần mức trung bình của người Mỹ. Nhưng ngay cả Nevada cũng có một số giới hạn: vào năm 2010, Hội Đồng Kiểm Soát Đánh Bạc Nevada đã bác bỏ đề xuất cho phép khách hàng ở các cửa hàng tiện lợi được sử dụng thẻ tín dụng trên các máy đánh bạc, mà chỉ cho phép đổi tiền lẻ như thường lệ.

Khi được tin học hóa, máy đánh bạc có thêm chức năng mới. Đặt theo tên của quyển sách viết năm 2012 của Natasha Schüll đến từ MIT, các chiếc máy thế hệ mới được thiết kế để gây nghiện. Mollie, người mà Schüll đã gặp tại buổi họp mặt các thành viên của tổ chức Gamblers Anonymous tại Las Vegas đã thể hiện khía cạnh con người của sự ham mê này. Mollie đã vẽ cho Schüll một sơ đồ trình bày cách thức mà cô tìm thấy bản thân mình. Sơ đồ diễn tả cô bằng hình ảnh ốm o, đơn độc, đứng cạnh chiếc máy đánh bạc, bị bao vây – mắc kẹt – trong một con đường vòng tròn. Con đường đó dẫn đến sáu nơi chốn quan trọng nhất trong cuộc đời của cô: đường MGM Grand, nơi cô làm công việc nhân viên nhận đăng ký đặt chỗ; ba điểm nơi cô chơi đánh bạc; cơ sở của tổ chức Gamblers Anonymous, nơi cô cố gắng cai bài bạc; và cuối cùng là nơi cô mua thuốc chống chứng rối loạn lo âu. Mollie hoàn toàn ý thức được vấn đề của mình: cô không tìm đến các máy đánh bạc để mong được thắng. Cô biết rằng cô sẽ thua. Đúng hơn là cô bị lôi kéo bởi sự cưỡng bức. Và khi cô đến đó chè chén say sưa, cô đơn độc; hành động trở nên nhanh và liên tục. Mollie đi vào nơi mà cô gọi là “khu vực”. Nhấn cái nút màu đỏ. Các ánh đèn và buổi diễn bắt đầu. Cô ta hoặc thắng hoặc thua. Nhấn cái nút màu đỏ một lần nữa. Và một lần nữa. Cứ thế tiếp tục cho đến khi sạch túi. Mollie không phải là trường hợp cá biệt ở Vegas. Cách đây mười năm, những cái chết do ngưng tim là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng ở các sòng bài. Đề xuất về đội cấp cứu không được thông qua. Cuối cùng thì các sòng bài tự thành lập riêng các đội kích tim được huấn luyện đặc biệt. Một đoạn video quan sát cho thấy lý do tại sao cần phải có chương trình huấn luyện đặc biệt như vậy. Trong đoạn băng, lực lượng của sòng bạc kích tim cho một người chơi bị ngưng tim, những người chơi xung quanh vẫn tiếp tục chơi, thần trí bị mê hoặc của họ vẫn bình thản, mặc dù nạn nhân rõ ràng đang nằm ngay dưới chân họ.

Thị trường mang lại cho chúng ta điều gì

Lịch sử về mặt tốt và mặt xấu của máy tự động dùng đồng xu từ những năm 1890 đến nay minh họa quan điểm sóng đôi của chúng ta về nền kinh tế. Cơ bản nhất là chúng ta ca ngợi thị trường. Thị trường tự do là sản phẩm của hòa bình và tự do, phát triển trong thời kỳ ổn định khi mà con người không sống trong lo sợ. Nhưng song song với việc tạo ra các chiếc hộp mà khi mở ra sẽ cho chúng ta một thứ chúng ta muốn thì động cơ lợi ích cũng tạo ra những chiếc máy đánh bạc với trò cờ bạc gây nghiện ưu tiên lột tiền của bạn. Hầu như toàn bộ quyển sách này sẽ minh họa mặt xấu của chiếc máy tự động dùng đồng xu, chứ không nói về mặt tốt: vì với tư cách là những người chủ trương cải cách về cả tư tưởng kinh tế lẫn nền kinh tế, chúng tôi cố gắng thay đổi những trục trặc của xã hội chứ không thay đổi những mặt tốt. Nhưng trước khi bắt đầu, chúng ta nên suy ngẫm xem thị trường đã mang lại cho chúng ta những gì.

Để làm được điều này, chúng ta cần phải nhìn lại thời kỳ cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi. Vào tháng 12/1900, chàng kỹ sư xây dựng John Elfreth Watkins Jr. đã tham gia trò giải trí dự đoán xem cuộc sống sẽ như thế nào một trăm năm nữa được đăng trên tạp chí The Ladies Home Journal. Anh ta đã dự đoán rằng chúng ta sẽ có “khí nóng và khí lạnh thoát ra từ các vòi nước”. Chúng ta sẽ có những con tàu cao tốc đưa chúng ta “đến nước Anh trong vòng hai ngày”. “Sẽ có máy bay”, chủ yếu dùng trong quân đội, nhưng đôi khi được dùng để chuyên chở hành khách và hàng hóa. “Buổi đại nhạc kịch sẽ được truyền đến tư gia bằng điện thoại và âm thanh cũng du dương như đang thưởng thức trong nhà hát”. Các dự đoán cứ thế tiếp tục.

Watkins mô tả các dự đoán của mình có vẻ “lạ, hầu như bất khả”; nhưng, đáng chú ý là thị trường tự do, với động cơ sản xuất ra những gì con người muốn, miễn là có lợi nhuận, đã khiến cho những dự đoán của anh ta trở thành hiện thực, và hơn thế nữa.

Tuy nhiên, thị trường tự do không chỉ mang lại sự phong phú mà con người muốn có. Thị trường tự do còn tạo ra trạng thái cân bằng kinh tế hết sức phù hợp với các tổ chức kinh tế muốn thao túng hay làm sai lệch sự phán đoán của chúng ta bằng các hoạt động kinh doanh tương tự như căn bệnh ung thư bám chặt vào sự cân bằng bình thường của cơ thể con người. Máy đánh bạc là một ví dụ rõ nét. Không phải tự nhiên mà chiếc máy đánh bạc phổ biến đến mức không thể ngăn chặn được trước khi chúng bị quản lý và bị cấm. Chừng nào mà chúng ta có bất kỳ điểm yếu nào trong việc nhận biết mình thực sự muốn gì, và chừng nào mà những điểm yếu đó có thể được tạo ra và nuôi dưỡng một cách có lợi, thì thị trường sẽ chớp lấy cơ hội cho chúng ta vào tròng vì những điểm yếu đó. Thị trường sẽ soi mói và lợi dụng chúng ta. Thị trường sẽ thả câu chờ những kẻ đại ngốc mắc sai lầm.

Về khái niệm Phish và Phool

Từ phish, theo Tự Điển Anh Ngữ Oxford, xuất hiện vào năm 1996 khi trang web ra đời. Tự điển này định nghĩa phish là “lừa gạt trên Internet nhằm thu thập thông tin riêng tư của cá nhân, đặc biệt là bằng cách mạo danh một công ty có uy tín; tham gia trò lừa gạt trực tuyến bằng cách lừa “câu” thông tin cá nhân. Trong quyển sách này, chúng tôi phát triển một ý nghĩa mới và rộng hơn cho từ phish. Chúng tôi sử dụng định nghĩa của ngành tin học như một phép ẩn dụ. Thay vì xem trò lừa đảo ăn cắp thông tin trên mạng (phishing) là bất hợp pháp, chúng tôi giới thiệu một định nghĩa khái quát hơn và có liên hệ với lịch sử hơn. Định nghĩa này có liên quan đến việc khiến người ta làm những điều mang lại lợi ích cho những kẻ lừa đảo ăn cắp thông tin trên mạng (phisherman), chứ không mang lại lợi ích cho người thực hiện. Định nghĩa này có liên quan đến việc câu cá, việc thả một con mồi giả xuống nước và ngồi chờ cho con cá thận trọng nào đó bơi ngang, mắc sai lầm, và cắn câu. Có rất nhiều kẻ thả câu và họ rất tài tình tạo ra vô số con mồi giả mà theo các qui luật xác suất thì chúng ta sớm muộn gì cũng đều cắn câu, cho dù chúng ta cố gắng thận trọng đến mức độ nào đi nữa. Không một ai là ngoại lệ cả.

Theo định nghĩa của chúng tôi, kẻ đại ngốc (phool) là người, vì bất kỳ lý do gì, hoàn toàn bị mắc câu. Có hai loại kẻ đại ngốc: ngốc tâm lý và ngốc thông tin. Ngốc tâm lý cũng có hai loại. Đối với loại thứ nhất, tiếng gọi của trí khôn cơ bản của kẻ đại ngốc tâm lý bị đè nén bởi cảm xúc của họ. Đối với loại thứ hai, các sai lệch về nhận thức, tương tự như ảo giác quang học, khiến cho họ hiểu sai thực tế, và họ hành động trên cơ sở hiểu biết sai lầm đó. Mollie là một ví dụ của kẻ đại ngốc cảm xúc, nhưng không phải là kẻ đại ngốc nhận thức. Cô ta rõ ràng là tự nhận thức được tình trạng của mình trước các chiếc máy đánh bạc, nhưng cô ta không thể giúp được chính mình.

Kẻ đại ngốc về thông tin hành động dựa trên các thông tin được gọt dũa có chủ đích để đánh lừa họ. Sự tăng giá của Enron cũng căn cứ trên việc sử dụng thông tin kế toán sai lệch (và sau đó là lừa bịp). Lợi nhuận bất thường của công ty này là kết quả của phương pháp hạch toán “theo giá thị trường” (mark-to-market – MTM), theo đó lợi nhuận trong tương lai của dự án đầu tư có thể được ghi nhận ngay khi dự án đó được triển khai. Thông lệ phổ biến hơn là chờ cho đến khi lợi nhuận thực sự được sinh ra. Từ năm 1995 đến năm 2000, tạp chí Fortune công bố Enron là Công Ty Sáng Tạo Nhất quốc gia. Fortune đã đúng; chỉ có điều là các biên tập viên của tạp chí đã không hiểu được bản chất của các sáng tạo của Enron.

Các doanh nhân có đạo đức tốt (hay xấu) không phải là chủ đề của quyển sách này, mặc dù đôi lúc cả mặt tốt lẫn mặt xấu của họ sẽ cùng xuất hiện. Thay vào đó, chúng ta xem xét vấn đề cơ bản là thị trường cạnh tranh tạo ra các áp lực khiến cho người ta ít cẩn trọng hơn. Thị trường cạnh tranh rất xuất sắc trong việc khuyến khích và tán thưởng các anh hùng doanh nhân tạo ra các sản phẩm mới có tính sáng tạo phục vụ cho nhu cầu thực tế. Tuy nhiên, thị trường tự do phi điều tiết hiếm khi tán thưởng loại chủ nghĩa anh hùng mà theo đó người ta tự chế ngự bản thân không lợi dụng điểm yếu tâm lý và điểm yếu thông tin của khách hàng. Do áp lực cạnh tranh, nhà quản lý nào chế ngự bản thân mình theo lối này có khả năng bị thay thế bởi người khác ít có băn khoăn về vấn đề đạo đức hơn. Xã hội dân sự và các chuẩn mực xã hội có lập ra một số cơ chế kìm hãm những hành vi lợi dụng nói trên; nhưng ở trạng thái cân bằng thị trường, nếu có một cơ hội để lợi dụng, thì ngay cả những công ty được dẫn dắt bởi tính liêm chính đạo đức thực sự cũng sẽ thường phải lợi dụng để cạnh tranh và tồn tại.

(còn tiếp) 

Trần Thị Minh Ngọc dịch

Nguồn: “Akerlof and Shiller: Everything You Need to Know About Free-Market Manipulation”, Evonomics.com, 6/1/2016.

Tư bản 4.0: Cuộc cách mạng tư duy kinh tế sắp tới?


Anatole Keletsky

Trên khắp thế giới ngày nay tồn tại một cảm giác về ngày tận thế, một dự cảm sâu sắc về sự tan rã của những xã hội đã từng ổn định trước kia. Những dòng dưới đây được trích trong tác phẩm bất hủ The Second Coming [Sự trở lại lần thứ hai] của đại thi hào W.B. Yeats:

“Mọi thứ đều tan vỡ; trung tâm không thể chống đỡ được

Sự vô chính phủ bao trùm lên khắp thế giới

Những điều tốt nhất thì thiếu niềm tin, trong khi điều tồi tệ nhất

Lại tràn đầy đam mê

Và loài quái thú hung dữ, thời của chúng cuối cùng cũng tới

Lê bước về Bethlehem để được tái sinh?”[1]

Yeats đã viết những dòng này vào tháng 1 năm 1919, hai tháng sau khi Thế chiến I kết thúc. Ông đã dự cảm rằng hoà bình sẽ sớm biến mất bởi những nỗi kinh hoàng lớn hơn.

Gần 50 năm sau đó, vào năm 1967, nhà văn người Mỹ Joan Didion đã lựa chọn SlouchingTowards Bethlehem [Lê bước về Bethlehem] làm tựa đề cho tuyển tập bài luận về những sự đổ vỡ xã hội vào cuối những năm 1960. Trong 12 tháng sau khi cuốn sách được xuất bản, Martin Luther King, Jr. và Robert Kennedy đã bị ám sát, nhiều thành phố trên toàn nước Mỹ chìm trong bạo loạn, và các cuộc biểu tình của sinh viên Pháp đã khởi đầu cuộc nổi loạn lật đổ Tổng thống Charles de Gaulle một năm sau đó.

Cho tới giữa những năm 1970, Mỹ thua trong chiến tranh Việt Nam. Những lực lượng Red Brigades, tổ chức Weather Underground, Quân đội Cộng hoà Ai-len, những tên khủng bố theo phong trào Tân phát xít người Ý đã lên kế hoạch những vụ tấn công trên toàn nước Mỹ và châu Âu. Đồng thời việc luận tội Tổng thống Richard Nixon khi đó đã biến nền dân chủ phương Tây thành một trò cười.

Giờ đây hơn 50 năm đã trôi qua, và thế giới lại một lần nữa bị ám ảnh bởi những nỗi sợ hãi về sự thất bại của dân chủ. Liệu chúng ta có thể rút ra bài học từ những giai đoạn đầy sự tự hoài nghi trước kia?

Trong những năm 1920, 1930, cũng như nửa cuối 1960, 1970 và thời điểm hiện tại, sự tuyệt vọng về chính trị có liên hệ với sự vỡ mộng của một hệ thống kinh tế thất bại. Trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến, chủ nghĩa tư bản có vẻ đã bị sụp đổ bởi sự bất bình đẳng không thể chấp nhận được, tình trạng giảm phát và thất nghiệp hàng loạt. Trong những năm 1960, 1970, chủ nghĩa tư bản dường như đã bị sụp đổ bởi những lý do ngược lại: tình trạng lạm phát và phản ứng dữ dội của những người nộp thuế cùng các nhóm lợi ích kinh doanh chống lại các chính sách tái phân phối của một “chính phủ lớn.”

Việc nhấn mạnh mô hình khủng hoảng lặp đi lặp lại này không phải để khẳng định rằng một số quy luật tự nhiên đã điều khiển chủ nghĩa tư bản toàn cầu rơi vào tình trạng gần sụp đổ theo chu kỳ 50 hay 60 năm. Tuy nhiên điều này nhằm mục đích công nhận rằng chủ nghĩa tư bản dân chủ là một hệ thống đang tiến hóa, và hệ thống này phản ứng với các cuộc khủng hoảng bằng cách chuyển đổi triệt để các mối quan hệ kinh tế lẫn các thể chế chính trị.

Do vậy chúng ta nên nhìn nhận tình trạng bất ổn hiện nay như một phản ứng có thể dự báo trước đối với sự sụp đổ vào năm 2008 của một mô hình tư bản chủ nghĩa toàn cầu cụ thể. Xét theo những kinh nghiệm trong quá khứ, một kết quả hợp lý có thể là một quá trình nghiêm túc nhìn nhận những vấn đề và bất ổn trong suốt một thập niên hoặc lâu hơn, cuối cùng mới dẫn đến một giải pháp mới cả về kinh tế và chính trị.

Đây là điều đã xảy ra khi Margaret Thatcher và Ronald Reagan đắc cử sau cuộc đại lạm phát vào đầu những năm 1970, và khi chính sách Kinh tế mới (New Deal) của Mỹ và “quái thú hung dữ” của sự tái vũ trang châu Âu nổi lên sau cuộc Đại Suy thoái (1929-1933). Mỗi một giải pháp hậu khủng hoảng này được đánh dấu bởi sự chuyển đổi trong tư tưởng kinh tế cũng như chính trị.

Cuộc Đại Suy thoái dẫn đến Cuộc cách mạng của Keynes (The Keynesian Revolution) trong lĩnh vực kinh tế, kèm theo đó là chính sách Kinh tế mới (New Deal). Những cuộc khủng hoảng lạm phát trong những năm 1960 và 1970 đã khơi dậy cuộc “phản cách mạng” của Milton Friedman – nhà kinh tế theo trường phái trọng tiền – và điều này đã truyền cảm hứng cho Thatcher và Reagan.

Do đó có vẻ hợp lý khi kỳ vọng vào sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản tự do tài chính để kích hoạt sự thay đổi chấn động lần thứ 4 (Tư bản 4.0, tôi đặt tên nó như vậy vào năm 2010) trong cả tư duy kinh tế và chính trị. Nhưng nếu chủ nghĩa tư bản toàn cầu thực sự đang tiến đến một giai đoạn cách mạng mới, thì những đặc điểm của nó có thể là gì?

Đặc điểm chủ chốt trong mỗi giai đoạn tiếp nối của chủ nghĩa tư bản toàn cầu là sự thay đổi về ranh giới giữa kinh tế và chính trị. Ở chủ nghĩa tư bản cổ điển thế kỷ 19, chính trị và kinh tế được lý tưởng hoá thành những lĩnh vực riêng biệt, với sự tương tác giữa chính phủ và doanh nghiệp chỉ giới hạn ở việc (cần thiết phải) tăng thuế để phục vụ các hoạt động quân sự và sự bảo vệ quyền lợi (gây hại) cho các nhóm lợi ích.

Trong phiên bản thứ hai (của Keynes) về chủ nghĩa tư bản, thị trường được nhìn nhận với sự ngờ vực trong khi những can thiệp của chính phủ được giả định là đúng. Trong giai đoạn thứ ba, do Thatcher và Reagan thống trị, những giả định này đã bị đảo ngược lại: chính phủ thường mắc sai lầm và thị trường thì luôn luôn đúng. Giai đoạn thứ tư này có thể được định nghĩa bằng sự công nhận rằng chính phủ và thị trường đều có thể mắc những sai lầm trầm trọng.

Việc công nhận những sai lầm đang diễn ra nghiêm trọng dường như sẽ khiến mọi thứ tê liệt- và tình hình chính trị hiện tại có vẻ như đang phản ánh điều này. Tuy nhiên việc công nhận những sai lầm thực sự sẽ có thể tạo nên sức mạnh bởi trong đó bao hàm khả năng cải thiện cả về kinh tế và chính trị.

Nếu thế giới trở nên quá phức tạp và khó dự đoán đối với cả thị trường và chính phủ khiến họ không đạt được những mục tiêu xã hội, thì những hệ thống kiểm soát và cân bằng mới phải được tạo ra để quá trình ra các quyết định chính trị có thể kiềm chế những động cơ kinh tế và ngược lại. Nếu đặc trưng của thế giới là sự mơ hồ và không dự đoán được thì các học thuyết kinh tế của giai đoạn tiền khủng hoảng- những kỳ vọng hợp lý, những thị trường hiệu quả, và tính trung lập của tiền tệ – cần phải được sửa đổi.

Hơn nữa, các chính trị gia phải cân nhắc lại những kiến trúc thượng tầng được dựng lên trên những giả định thị trường chính thống. Điều này không chỉ bao gồm việc bãi bỏ điều tiết tài chính, mà còn là tính độc lập của ngân hàng trung ương, sự tách biệt giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, và giả định rằng các thị trường cạnh tranh sẽ không cần tới can thiệp của chính phủ để tạo ra phân phối thu nhập hợp lý, thúc đẩy cải tiến, cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết và hàng hóa công.

Có một điều rõ ràng là công nghệ mới và sự hội nhập của hàng tỉ những nhân công bổ sung vào thị trường toàn cầu đã tạo ra những cơ hội đáng lẽ phải đồng nghĩa với sự thịnh vượng lớn hơn trong những thập kỷ sắp tới so với thời kỳ tiền khủng hoảng. Nhưng các chính trị gia “có trách nhiệm” ở khắp nơi đang cảnh báo công dân về một tình trạng “bình thường mới” của tăng trưởng trì trệ. Chẳng có gì ngạc nhiên khi các cử tri lại đang vô cùng giận dữ.

Người dân cảm nhận được rằng các nhà lãnh đạo đang có các công cụ kinh tế mạnh mẽ để có thể giúp cải thiện mức sống. Tiền sẽ có thể được in và phân phối trực tiếp đến tay người dân. Mức lương tối thiểu có thể được tăng thêm để giảm bớt sự bất bình đẳng. Các chính phủ có thể đầu tư nhiều hơn nữa vào cơ sở hạ tầng và các cải tiến sáng tạo với chi phí bằng không. Luật ngân hàng có thể khuyến khích thay vì hạn chế việc cho vay.

Tuy nhiên việc triển khai những chính sách cấp tiến như trên sẽ đồng nghĩa với việc chối bỏ những học thuyết đã thống trị kinh tế học từ những năm 1980, cùng với các thể chế dựa trên đó, như Hiệp ước Thành lập Liên minh Châu Âu (Europe’s Maastricht Treaty). Một vài cá nhân “có trách nhiệm” vẫn chưa sẵn sàng thách thức kinh tế học chính thống tiền khủng hoảng.

Thông điệp của những người theo chủ nghĩa dân tuý[2] hiện nay xoay quanh việc các chính trị gia phải tiêu huỷ hết những cuốn sách quy tắc từ thời tiền khủng hoảng và vận động một cuộc cách mạng trong tư duy kinh tế. Nếu các chính trị gia có trách nhiệm từ chối không làm điều đó, thì “những quái thú hung dữ, thời của chúng cuối cùng cũng tới” sẽ làm điều đó thay họ.

Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Anatole Keletsky, “When Things Fall Apart”, Project Syndicate, 31/03/2016.

Anatole Kaletsky là Kinh tế trưởng và đồng Chủ tịch của Gavekal Dragonomics, Chủ tịch Viện Tư duy Kinh tế Mới (The Institute for New Economic Thinking). Từng phụ trách mục bình luận tại Times of London, The New York Times và Financial Times, ông là tác giả cuốn sách Capitalism 4.0 và The Birth of a New Economy.

[1] Nguyên văn tiếng Anh:

“Things fall apart; the center cannot hold

Mere anarchy is loosed upon the world…

The best lack all conviction, while the worst

Are full of passionate intensity…

And what rough beast, its hour come round at last

Slouches towards Bethlehem to be born?”

[2] Chủ nghĩa dân túy hay chủ nghĩa đại chúng có thể xem là một hệ tư tưởng, triết học chính trị hay một dạng luận điểm của tư tưởng chính trị xã hội trong đó so sánh “nhân dân” với tầng lớp “tinh hoa”, bảo vệ nguyện vọng và quyền lợi cho nhân dân, kêu gọi sự thay đổi hệ thống chính trị và xã hội (ND).

Liệu chủ nghĩa tư bản phúc thiện có làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo nghèo hơn? – Phần cuối


Khi nói đến quy mô, trong khi số lượng cụ thể thì khó nắm bắt được, rõ ràng rằng hoạt động phúc thiện toàn cầu đang ở trong giai đoạn vàng. Gần một nửa trong số 85.000 quỹ tư nhân tại Hoa Kỳ đã được hình thành chỉ trong vòng 15 năm qua. Mỗi năm lại có thêm hàng nghìn quỹ phúc thiện tư nhân được thành lập.

Các chuyên gia có quan điểm khác nhau về sự phát triển của các quỹ riêng lẻ có thực sự làm tăng đáng kể các hoạt động từ thiện trong tương quan so sánh với các thập niên trước đây. Ray Madoff, giáo sư luật tại Đại học Boston, chỉ ra rằng tại Mỹ, tổng số hoạt động từ thiện chiếm 2% GDP từ những năm 1970, và đóng góp của các cá nhân vẫn dừng lại ở con số này trong suốt 40 năm qua, chiếm 2% tổng thu nhập khả dụng.

Mở rộng tầm nhìn ra khỏi nước Mỹ, những tuyên bố rõ ràng về sự gia tăng trong hoạt động phúc thiện toàn cầu được thực hiện dễ dàng hơn. Các học giả về phúc thiện David Moore và Douglas Rutzen cho rằng hoạt động phúc thiện toàn cầu gia tăng đáng kể trong những năm qua, một sự gia tăng “tương ứng với sự gia tăng của cải tư nhân tại Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, và những quốc gia khác”.

Sự tăng trưởng trong hoạt động phúc thiện toàn cầu bắt nguồn từ sự gia tăng tập trung của cải và sự mở rộng bất bình đẳng kinh tế – cần phải có một cái gì đó để làm dồi dào khả năng người giàu có chi ra một con số đáng kể. Sự hoan nghênh của Warren Buffett vào năm 2006 hiến tặng 30 tỷ USD cho Quỹ Gates chỉ là một ví dụ gần đây.

Nhưng cuối cùng là gì?

Điều đáng chú ý là việc gia tăng số lượng các quỹ phúc thiện trong suốt hai thập kỷ qua là việc gia tăng sự hỗ trợ không làm giảm sự bất bình đẳng về kinh tế. Trong thực tế lại xuất hiện trường hợp ngược lại. Điều gì là nguyên nhân của việc gia tăng hoạt động phúc thiện và gia tăng bất bình đẳng kinh tế lại đi cùng với nhau? Liệu phúc thiện có thực sự làm cho người giàu ngày càng giàu thêm và người nghèo ngày càng nghèo hơn?

Những nhận định thẳng thắng về nguyên nhân khá khó thực hiện, khi nhiều yếu tố góp phần gia tăng sự mở rộng phân cách giàu có. Nhưng có một số lý do tại sao mức độ tăng trưởng hoạt động phúc thiện có thể làm trầm trọng hơn sự gia tăng bất bình đẳng hơn là làm giảm nhẹ nó. Thứ nhất là các khoản tài trợ từ thiện làm giảm ngân quỹ từ thuế thu nhập mà nó có thể chi cho các chính sách phúc lợi tái phân phối.

Thứ hai là một tỷ lệ nhỏ đáng ngạc nhiên của ngân quỹ hỗ trợ được nhằm mục đích hỗ trợ kinh tế cho các cá nhân có thu nhập thấp. Báo cáo hàng năm từ các tổ chức như Viện Trợ giúp (Giving Institute) cho thấy rằng thường chỉ có một tỷ lệ phần trăm nhỏ dưới 10% một năm, được chi cho các sáng kiến gắn với « lợi ích xã hội công cộng » và ngược lại chi tiêu nhiều hơn cho các mục đích tôn giáo hay biếu tặng cho các trường đại học giàu có.

Một mối quan tâm khác là các hoạt động phúc thiện được sử dụng để ngăn chặn các đòi hỏi về thuế cao hơn, bảo vệ và mở rộng tài sản hơn là tái phân phối lại của cải. Phúc thiện thường mở ra các thị trường cho các tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ hay Châu Âu là đối tác của các tổ chức như Quỹ Bill and Melinda Gates để tiếp cận những người tiêu dùng mới. Cho đi nhiều hơn là một chiến lược để nhận lại nhiều hơn, trợ giúp việc tập trung của cải vào một số ít hạt nhân hẹp của những nhà môi giới quyền lực với sự tăng cường ảnh hưởng lên việc hoạch định chính sách của những tổ chức như Tổ chức Y tế Thế giới (WTO).

Các nhà phúc thiện thường chính là những người đầu tiên thừa nhận rằng hoạt động phúc thiện của họ là để nhắm đến việc bảo tồn hơn là tái phân phối của cải. Carlos Slim có lẽ là người thẳng thắn nhất thừa nhận thực tế này, tóm tắt các tiếp cận của mình đối với hoạt động từ thiện với bình luận : « Của cải cũng giống như một vườn cây ăn trái. Bạn chia sẻ trái cây, chứ không phải cái cây ».

Bình luận của Slim đã nhắc lại một niềm tin mà nó đã tạo nền tảng cho sự hào phóng của các nhà hảo tâm trước đây như Andrew Carnegie, ông vua thép. Trong những tiểu luận ảnh hưởng của mình về giá trị của việc thực hiện các hoạt động từ thiện, xuất bản trong những năm 1880 và 1890, Carnegie đã cho thấy rõ ràng rằng các hành vi phúc thiện là quan trọng trong việc cho phép người giàu củng cố của cải và đảm bảo các tiến trình sản xuất không bị đe dọa bởi sự gia tăng chiến đấu của một tầng lớp lao động đòi hỏi sự thay đổi tổ chức.

Ông đề xuất vào năm 1889 rằng phúc thiện có thể cho phép « vấn đề giàu và nghèo được giải quyết. Các quy luật về sự tích lũy sẽ được cởi trói, các quy luật về phân phối được tự do. Chủ nghĩa cá nhân sẽ tiếp tục, nhưng những triệu phú sẽ là sự ủy thác của người nghèo, được giao phó trong một thời kỳ với phần lớn sự gia tăng của cải của cộng đồng, nhưng phải quản lý nó để cho cộng đồng tốt hơn có thể hay được thực hiện tự chính nó.

Carnegie đã viết vào thời điểm bất ổn lao động lớn tại Mỹ. Rất ít người lao động của ông đã bị ảnh hưởng bởi đề xuất về cái gọi là « các quy luật tích lũy » mà nó cần phải được giữ nguyên để ông và một số người khác có thể kiểm soát không giới hạn của cải dành cho các lý do được lựa chọn.

Một số nhà viết tiểu thuyết của nữ hoàng Victoria và đầu thế kỷ 20 đã viết những lời châm biếm nền tảng tư tưởng này của Carnegie và những nhà từ thiện đi cùng. Tác phẩm Những nhà phúc thiện mặc đồ rách (The Ragged Trousered Philanthropists) của Robert Tressell, một tiểu thuyết trong một nhóm các tác phẩm của các họa sĩ gia đình, đã mở rộng châm biếm gắn nhãn hiệu « những nhà phúc thiện »  với một nhóm công nhân chấp nhận một cách nhã nhặn các yêu cầu của các ông chủ. Với sự láu cá, Tressel gợi ý rằng sự sẵn lòng của họ ban phát cho người lao động của họ thì cũng rẻ tiền như một hành động phúc thiện căn bản.

Ngày nay, hoạt động phúc thiện hầu hết đã được « làm vệ sinh » của các hiệp hội trào phúng trước đó. Từ các buổi hòa nhạc như Live Aid tới những chương trình phổ biến như The Secret Millionaire, một chương trình truyền hình nổi tiếng của Anh nơi các nhà hảo tâm ẩn mình trong các cộng đồng nghèo khó để tìm kiếm những người xứng đáng nhận từ thiện, đã đạt được một sự nổi tiếng phổ thông mà nó khiến cho hành động cho đi khó bị chỉ trích hay đặt thành vấn đề.

Ngày nay, sự hoan nghênh của công chúng, thậm chí là sự tôn kính đối với những nhà phúc thiện được thúc đẩy bởi truyền thông đa dạng và phổ rộng, làm cho người ta dễ chấp nhận và khẳng định rằng có một cái gì đó chưa từng có về phúc thiện « mang tính chiến lược » mới tại các tổ chức như Quỹ Gates.

Một số kỹ thuật đo lường có thể mới, như thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên mà nó đã xuất hiện từ những năm 1920 nhưng đã trở nên nổi bật trong giới phát triển 20 năm qua. Nhưng nỗ lực để đánh giá tác động thì không.

Tuy nhiên, nhiều lần, các nhà khoa học phúc thiện ngày nay có khuynh hướng bỏ qua những tiền nhân lịch sử. Một ví dụ điển hình là một bài báo của đồng sáng lập Napster Sean Parker trên tờ Wall Street Journal. Parker cho rằng điều bất thường đối với giới tinh hoa toàn cầu mới là tinh thần « hacker » của họ. Nói theo cách của ông ta, rằng « tầng lớp tinh hoa mới có tinh thần hacker là một sai lầm trong lịch sử của sự sáng tạo của cải ». Để chứng minh điều này, ông đã chỉ ra độ tuổi trẻ của giới tinh hoa ngày nay : thực tế là nhiều tỷ phú công nghệ đã đạt được thành công trước tuổi 40. Sau đó, ông đối sánh giới tinh hoa « hacker » mới với các quỹ phúc thiện truyền thống « trước đây » mà ông khẳng định, không quan tâm đến việc đánh giá hiệu quả.

Tuy nhiên cả hai cách đánh giá trên đều sai lầm. Carnegie và Rockeffeller từng tích lũy nhiều của cải vào những năm tuổi 30 của họ, và mỗi người đều là « hacker » trong thời đại của họ, bỏ lại đằng xa cuộc đấu tranh cho hoạt động từ thiện của mình thông qua các bố thí để cho thấy hoạt động từ thiện như một việc làm đức hạnh mà chính họ không thèm đếm xỉa đến hiệu quả thực tiễn. Trái ngược với đề xuất của Parker trong bài báo – lập luận của ông cho rằng « tuổi tác trẻ và hoạt động phúc thiện không thể được lẫn lộn về mặt lịch sử » – Rockefeller và Carnegie đã hào phóng trong suốt cuộc đời của họ nhưng không đơn thuần chỉ là niềm say mê của họ. Rockefeller đã bắt đầu nhường lại một cách có hệ thống một phần thu nhập đáng kể của mình khi ông vẫn là một người trẻ tuổi.

Rất ít bài báo gần đây của Parker trên Wall Street Journal có tính chính xác về lịch sử, một số bài được các chuyên gia chỉ ra trên website của họ như HistPhil, một trang chuyên về lịch sử của hoạt động từ thiện quy mô lớn. Tuy nhiên, Parker đã nhận được sự ủng hộ của báo chí chủ lưu, bao gồm một bài phê bình sáng lạn trên Intercept, một diễn đàn trực tuyến được tài trợ bởi Pierre Omidyar, xem cách tiếp cận của Parker thực sự mang tính đổi mới và chưa có tiền lệ như ông nói.

Omydiar, người sáng lập eBay, là một người không bình thường trong số những nhà tư bản phúc thiện bởi việc thừa nhận sự liên quan của các nhà kinh tế chính trị ban đầu trong cách tiếp cận của ông tới phúc thiện và kinh doanh ; ông đã ca ngợi Smith đã thắp sáng lên cho ông niềm tin rằng doanh nghiệp tư nhân, dưới những điều kiện thích hợp, tự do kinh doanh sẽ đem đến những lợi ích tập thể.

Nhưng đó chỉ là bức tranh ở một phần trong tác phẩm của Smith. Trong một dịp hiếm hoi khi những nhà phúc thiện mới nói về những người đi trước của mình, họ có khuynh hướng lựa chọn những phần văn bản thích hợp giúp tuyên truyền những bức họa thích hợp của các nhà kinh tế chính trị ban đầu.

Lấy bài viết của Mandeville, một nhà triết học người Hà Lan sinh năm 1670, người đã dành phần lớn sự nghiệp của mình ở Anh. Nhiều người tin rằng Adam Smith là nguồn gốc của ý tưởng rằng các cá nhân, lao động để đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của mình, sẽ mang lại lợi ích công cho cộng đồng. Nhưng nguồn gốc xa hơn của ý tưởng này thì thực sự được bắt nguồn từ Mandeville. Nó nằm trọn trọng tiểu luận có ảnh hưởng của ông, Chuyện Tưởng tượng về những Con ong (The Fable of the Bees).

Trong tiểu luận này, Mandeville áp dụng phép ẩn dụ về một tổ ong. Trong cái tổ, ông viết, có rất nhiều con ong siêng năng và tháo vát, và cũng có nhiều con không có đạo đức – chúng là những con giả dối, vô tích sự, hay thay đổi – và rồi mong muốn của chúng là tạo nên « một khối tổng thể như một Thiên đường ». Tuy nhiên, kế hoạch khéo léo của chúng, đã bắt nguồn từ thói xấu, đã giúp tạo ra một ngành công nghiệp năng động, tạo ra những thứ giúp yên phận như « Người nghèo/Liv’d Tốt hơn là Người giàu».

Tiến bộ, nói theo một cách khác, bắt nguồn từ sự tham lam về kinh tế hơn là sự kiêng khem. Trong mong muốn có được ; hơn là hạn chế chống lại sự nhận được. Ý tưởng cho rằng lợi ích tự thân có một chức năng kinh tế và đạo đức quan trọng trong dòng truyền thừa trực tiếp từ Mandeville và Smith, thông qua các nhà công nghiệp thế kỷ XIX như Carnegie và Rockefeller, tới những nhà vô địch phúc thiện ngày hôm nay.

Lấy ví dụ những người nam và nữ được phỏng vấn bởi nhà nhân học người Mỹ Karen Ho trong những nghiên cứu của mình về giới ngân hàng đầu tư trẻ Phố Wall. Các nhà ngân hàng cô gặp cho thấy họ cảm thấy thực sự trở ngại khi nhiều người bên ngoài lĩnh vực của họ nhận thấy sự thiếu vắng đạo đức trong các hoạt động của họ. Xa hơn nữa, họ tự tin rằng họ đang thực hiện những dịch vụ công căn bản. Họ nhìn thấy hình ảnh « sự phá hủy sáng tạo » của Schumpeter như một sự cần thiết để đảm bảo cho những doanh nghiệp nhỏ hơn có thể phát triển và cạnh tranh. Cũng như Mandeville, họ nhấn mạnh rằng lợi ích cá nhân tạo ra những phần thưởng công cộng.

Nhưng có một khía cạnh quan trọng trong lập luận của Mandeville thường bị bỏ quên. Trong Chuyện Tưởng tượng về những Con ong, ông viết câu sau đây :

Vì vậy Thói xấu đặt nền tảng cho lợi ích.

Khi đó, Sự công bằng bị bóp méo và ràng buộc.

Trong một phần khác, ông nhấn mạnh rằng « Thói xấu cá nhân được Quản trị khéo léo bởi một Chính trị gia có năng lực có thể chuyển thành Những lợi ích Công ». Sự tôn trọng của Mandeville đối với lợi ích kinh tế, nói cách khác, nhấn mạnh nhu cầu quản lý của chính phủ và những hạn chế về mặt pháp lý để đảm bảo rằng lợi ích công được tạo ra, thay vì, đưa đến phần thưởng công.

Cái còn thiếu trong sự nhiệt thành đầy hăng hái của các nhà tư bản phúc thiện ngày nay đó là sự thừa nhận một cách đầy đủ những cuộc đấu tranh trong lịch sử giữa lợi ích cá nhân và lợi ích công đã định hình các mối quan hệ lao động chí ít từ thời của Mandeville. Khi họ thừa nhận lịch sử, vốn không thường có, các nhà tư bản phúc thiện ngày nay đã khen ngợi một phiên bản vô thừa nhận của kinh tế chính trị buổi ban đầu, một phiên bản mà nó bỏ qua sự nhấn mạnh mà Mandeville và sau đó là Adam Smith đặt ra một đòi hỏi về sự điều tiết của chính phủ.

Doanh nghiệp tư nhân có thể có được lợi ích công cộng. Như chỉ khi các nhân tố nhà nước, thông qua « Sự quản trị khéo léo », có thể quản trị sự giàu có theo cách mà nó đảm bảo rằng những lợi ích công được đáp ứng cũng như các lợi ích tư. Mandeville, người anh hùng buổi ban đầu của chủ nghĩa tư bản phúc thiện, đã thực sự là một nhà vô địch của một chính quyền can thiệp, quyền lực. Không có gì ngạc nhiên khi những nhà tư bản phúc thiện ngày nay có khuynh hướng bỏ qua ông.

Người dịch: T.Giang – SCDRC

Nguồn: http://evonomics.com/does-philanthropy-actually-make-the-rich-richer-and-the-poor/

Liệu chủ nghĩa tư bản phúc thiện có làm cho người giàu giàu hơn và người nghèo nghèo hơn? – Phần đầu


Linsey McGoey

Lần đầu tiên Bill Gates gặp Puff Daddy, một tay chơi Rap và một doanh nhân thời trang, cuộc gặp có một chút căng thẳng.

Cuộc gặp diễn ra tại New York, nơi Gates đi cùng Bono và những người bạn khác ở phía sau một quán bar. Puff Daddy đã tiếp cận Gates và nhóm của ông. Anh ta dừng lại trước Gates và cúi đầu.

“Ông là đồ chết tiệt”

Đôi mắt của Gates hướng về phía người đàn ông. Thật đáng nghĩ khi người đàn ông làm phúc thiện (philanthropy) hào phóng nhất thế giới thường xuyên phải nghe những lời nhận xét như vậy.

Daddy tiếp tục với chuỗi chỉ trích của mình: “ Ông là đồ chết tiệt. Cái ông đang làm với chương trình tiêm chủng ở Botswana là gì vậy? Chết tiệt”.

Gates ngả lưng vào ghế và thư giãn, nhận ra rằng Daddy đã cho ông một lời khen ngợi đáng giá.

Cuộc gặp gỡ này được công bố bởi Matthew Bishop và Micheal Green trong cuốn sách của họ Chủ nghĩa tư bản phúc thiện (philanthrocapitalism): Người giàu đã cứu thế giới như thế nào.

Được xuất bản lần đầu năm 2008, cuốn sách đã trở thành một cuốn kinh thánh tạo ra một loại mới những nhà phúc thiện hứa sẽ tái định hình thế giới bằng việc thực hiện các công việc vận hành các quỹ phúc thiện (philanthropic foundations) thay cho các doanh nghiệp vị lợi nhuận. Trong thế giới này, Gates đã được ca ngợi như là “MacDaddy” của hoạt động phúc thiện mới. Bishop và Green đã đưa ra một trích dẫn từ Bono về sự hấp dẫn về công việc phúc thiện của Gates: “Jay-Z, tất cả những chàng trai hip-hop, đều yêu mến anh ấy. Bởi vì ông ta không được nhìn nhận như một nhân vật lãng mạn – tốt thôi, có thể lãng mạn theo cái cách mà Neil Amstrong lãng mạn, một nhà khoa học chứ không phải một nhà thơ. Ông ấy đã làm được”.

Hãy dọn rác rưởi đi. Bạn có thể nghe thấy những cụm từ khác thay thế cho nó. Những nhà phúc thiện mới tuyên bố những hoạt động định hướng kết quả và hiệu quả hơn những nhà tài trợ phúc thiện trước đó. Họ muốn cách mạng hóa lĩnh vực cuối cùng không bị ảnh hưởng bởi thế giới siêu cạnh tranh, định hướng lợi nhuận của chủ nghĩa tư bản tài chính: thế giới của hoạt động từ thiện. Thay vì bị sa lầy vào sự quan liêu, họ có kế hoạch để dọn sạch đống rác rưởi.

Những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản phúc thiện cho rằng cách tiếp cận giống như kinh doanh đối với hoạt động phúc thiện là một điều hoàn toàn mới. Được truyền cảm hứng bởi cụm từ được tạo ra bởi các nhà lý thuyết quản trị Mark Kramer và Micheal Port “giá trị chia sẻ”, những nhà phúc thiện mới chỉ ra rằng cái thiết lập cách tiếp cận của họ so với mô hình cũ là một sự nhấn mạnh mới vào việc đo lường các kết quả của hoạt động phúc thiện thay vì đảm bảo rằng hoạt động phúc thiện tạo ra được nhiều nhất những lợi ích xã hội có thể theo cách hiệu quả nhất: vấn đề là đưa ra phép tính đúng về chi phí – lợi ích.

Vào năm 1999, chẳng hạn, Kramer và Porter đã đăng một bài báo trên tạp chí HBR cho rằng có quá ít quỹ phúc thiện “suy nghĩ một cách có chiến lược về việc làm thế nào họ có thể tạo ra giá trị nhiều nhất cho xã hội với những nguồn lực mà họ có. Đã có rất ít nỗ lực để đo lường các kết quả. Ngược lại, các quỹ thường xem xét đo lường hiệu quả hoạt động không liên quan đến sứ mệnh thiện nguyện của họ”.

Đó chỉ là một vấn đề của đề xuất này. Đó là một sai lầm có thể hiểu được. Trên thực tế, các tiếp cận giống như kinh doanh, định hướng tác động đến hoạt động từ thiện đã mang lại lợi ích lớn cho hoạt động phúc thiện trong ít nhất 120 năm qua, kể từ khi các nhà công nghiệp như Carnegie và Rockefeller tuyên bố áp dụng các kỹ thuật kinh doanh vào lĩnh vực phúc thiện. Chỉ cần nhìn vào nhà tư vấn phúc thiện chính của Rockefeller, cựu mục sư Baptist có tên là Frederick T. Gates: Gates rời đoàn mục sư Baptist vào cuối những năm 1880 và tiếp tục dành hàng thập niên để tư vấn trước hết cho Rockefeller, và sau đó là con trai ông John D. Rockefeller về cách tốt nhất để giải ngân nguồn vốn phúc thiện. Một người hâm mộ Phong trào Hiệu quả (Efficiency Movement), một trường phái tư tưởng được phát triển từ những năm 1890 đến đầu những năm 1930 nhắm đến mục tiêu áp dụng các nguyên tắc quản lý của Taylor cho mọi lĩnh vực kinh doanh và xã hội, Gates tiếp tục khuyên Rockefeller cố gắng tận dụng chi tiêu phúc thiện của mình theo những cách mà nó có thể đạt được những điều tốt đẹp có thể thấy được.

William Schambra, một chuyên gia về hoạt động phúc thiện tại Viện Huston, đã nhắc lại điều này trong suốt cuộc phỏng vấn: “Quan điểm cho rằng chúng ta nên tổ chức các hoạt động phúc thiện theo cách chúng ta tổ chức các công ty của mình – là ý tưởng bắt nguồn từ John D. Rockfeller. Đó là việc chúng ta thiết lập một loại hình cấu trúc công ty với việc ra quyết định quan liêu và cẩn trọng. [Chủ nghĩa tư bản phúc thiện] thì không chỉ như vậy”.

Khi những người đề xướng chủ nghĩa tư bản phúc thiện tuyên bố rằng hoạt động phúc thiện “mới” mang tính định hướng tác động và giống như kinh doanh hơn các cách tiếp cận trước đây, họ đang ngang nhiên phớt lờ di sản của những phong trào như Trường phái Hiệu quả. Nhà sử học Stanley Katz đã thẳng thừng chỉ ra điều này. Ông đã viết: “Phần lớn các bài hùng biện quảng bá cho quỹ hiện nay”, “dường như cho tôi thấy một sự thiếu hụt kiến thức lịch sử về các quỹ có quy mô và lớn của Mỹ”.

Quay trở lại xa hơn, vào thế kỷ mười tám, sự tương đồng giữa các nhà tư bản phúc thiện ngày nay và các thế hệ trước đó trở nên nổi bật hơn. Thoạt nhìn, đặc tính nghịch hợp của một cụm từ như “chủ nghĩa tư bản phúc thiện” dường như thực sự khá rõ ràng. Dường như chẳng có mấy thứ không phù hợp nhau hơn phúc thiện, lĩnh vực vị tha, và chủ nghĩa tư bản, lĩnh vực tìm kiếm lợi nhuận cá nhân. Tuy nhiên, nhìn lại lịch sử, tính mới lạ có ý nghĩa của ý tưởng này biến mất.

Tuyên bố chủ yếu của hoạt động phúc thiện “mới” là các thị trường và đạo đức không phải là những hiện tượng riêng biệt, mà là những hàng hóa tương xứng. Bằng cách khai thác sức mạnh của thị trường, chủ nghĩa tư bản phúc thiện đóng góp cho sự thịnh vượng của một cộng đồng lớn hơn. Đây là một ý tưởng mạnh mẽ, nhưng không phải là một điều mới. Ngược lại, nó phản ánh những giả định lâu dài về lợi thế xã hội của doanh nghiệp tư nhân. Thật vậy, người ta có thể nói rằng đó là nền tảng sáng tạo của nền kinh tế chính trị hiện đại, xuất hiện xa xưa nhất từ những bài viết của Bernard Mandeville và Adam Smith, những nhà kinh tế chính trị đã đưa ra ý tưởng rằng các cá nhân lao động để đáp ứng những mục tiêu kinh tế tự thân đóng góp một cách tự nhiên cho hàng hóa công chung.

Nhà triết học Slavoj Žižek là một trong số ít những nhà quan sát quan trọng chỉ ra cái ý nghĩa lạ lùng của cái được thấy tràn ngập trong những lời hùng biện của những người ủng hộ chủ nghĩa tư bản phúc thiện. Ông đã chỉ ra rằng những châm ngôn marxist của họ cũng giống như “một phiên bản hậu hiện đại về bàn tay vô hình của Adam Smith: thị trường và trách nhiệm xã hội không đối lập nhau, mà có thể cùng thống nhất vì lợi ích chung… mục tiêu của họ không phải là kiếm tiền, mà là thay đổi thế giới (và như một sản phẩm phụ, làm ra thậm chí nhiều tiền hơn).

Žižek đưa ra một điểm tốt. Nhưng có hai điều mới về hoạt động phúc thiện mới. Một là về quy mô. Cái kia là cái cách các nhà tài trợ trực tiếp tổ chức chứ không che giấu khả năng sử dụng phúc thiện để làm giàu cá nhân.

(còn tiếp) 

Người dịch: T.Giang – SCDRC

Nguồn: http://evonomics.com/does-philanthropy-actually-make-the-rich-richer-and-the-poor/

Các phương pháp nghiên cứu văn hóa học


G.A. Avanesova

Phương pháp nghiên cứu của văn hóa học là tập hợp các phương thức, thao tác và biện pháp được sử dụng để phân tích văn hóa và, ở mức độ nhất định, tạo nên đối tượng của nghiên cứu văn hóa.

Do văn hóa học là một lĩnh vực kiến thức tích hợp, thu thập kết quả nghiên cứu của một loạt khoa học chuyên ngành (nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học, sử học…), cho nên thao tác phân tích được thực hiện thông qua sự tổng hợp các phương pháp và mục đích nhận thức, tập hợp xung quanh một trung tâm: văn hóa và các bình diện của nó. Điều này đã cho phép tư duy lại nhiều quan niệm và khái niệm đang tồn tại trong khuôn khổ mỗi chuyên ngành hợp thành văn hóa học. Trong quá trình phân tích văn hóa học, các phương pháp cụ thể của từng chuyên ngành khác nhau được sử dụng một cách có chọn lọc, tính đến khả năng giải quyết các vấn đề, phân tích chúng trên phương diện văn hóa học. Không hiếm khi chúng được sử dụng không phải với tư cách các thao tác hình thức, mà giống như các cách tiếp cận trong nghiên cứu xã hội hoặc nghiên cứu nhân văn. Tất cả những điều này tạo nên cơ sở để biểu hiện về sự biến thái nhất định các phương pháp chuyên ngành, về sự tích hợp chúng trong khuôn khổ các nghiên cứu văn hóa, và đó, cuối cùng, chính là tác nhân kích thích sự phát triển nhận thức văn hóa học nói chung.

Sự nhận biết như vậy không có nghĩa là dẫn đến loại bỏ sự cần thiết phân thành những nhóm đặc biệt và nghiên cứu chuyên sâu các phương pháp phân tích của văn hóa học. Trong hệ phương pháp của văn hóa học cũng áp dụng sự chia tách, phổ biến đối với các khoa học xã hội và nhân văn khác, là chia thành các phương pháp phục vụ cho việc nghiên cứu tri thức cơ bản và các phương pháp gắn với việc thu nhận tri thức kinh nghiệm. Cũng có thể tách thêm một nhóm đặc biệt các phương pháp nghiên cứu lĩnh vực tri thức văn hóa học ứng dụng. Trong những thập niên gần đây trong khuôn khổ tri thức ứng dụng đã xuất hiện các phương pháp và kỹ thuật của các chuyên ngành văn hóa học mới nhất như nhân học sinh thái, nhân học đô thị, dự án văn hóa-xã hội, tổ chức các liên kết và quan hệ liên thiết chế (trong đó có tư vấn thích ứng, giao tiếp cộng đồng…

Một cách phân nhóm các phương pháp nghiên cứu văn hóa học khác bắt nguồn từ cách phân chia truyền thống trong lịch sử, chia các khoa học thành khoa học về tự nhiên và khoa học về tinh thần. Đến thế kỷ XX các nhà nghiên cứu bắt đầu nói đến việc sử dụng trong phân tích xã hội và phân tích văn hóa các phương pháp của nghiên cứu văn hóa nhân văn và nghiên cứu văn hóa xã hội theo hệ thuật ngữ của tư duy khoa học Nga. Khi nói về các ngành khoa học nhân văn, người ta muốn nói đến tổ hợp các phương pháp của nghiên cứu ngữ văn, nghiên cứu văn học, sử học, lý luận văn hóa, nghiên cứu tôn giáo, nghệ thuật học, dân tộc chí, nhân học văn hóa, triết học, đạo đức học,… Còn khi nói đến các khoa học xã hội, người ta đưa vào nhóm này các phương pháp của kinh tế học, chính trị học, dân tộc học, xã hội học,… Trong nhóm thứ nhất, nhiệm vụ cơ bản là nghiên cứu tính chất cá thể của văn hóa, so sánh chúng, mô tả các tư liệu xuất phát điểm của văn hóa. Còn thao tác tổng quát trong trường hợp này chỉ là nhiệm vụ thứ yếu. Đồng thời người ta cũng sử dụng các phương pháp gắn liền với việc đi sâu thấu hiểu văn hóa, thâm nhập vào ý nghĩa bên trong của các hiện tượng và giá trị của nó, bằng cách này hay cách khác, gắn với quan điểm giá trị của khuynh hướng thực chứng. Trong số chúng, có tầm quan trọng đặc biệt là các phương pháp dân tộc học thực địa (mô tả, phân loại, phương pháp tàn dư,…), phương pháp quan sát, phỏng vấn mở của tâm lý học và xã hội học, các phương pháp của sử học (trong đó có phương pháp lịch sử – so sánh), phân tích văn bản trong khuôn khổ hệ hình của giải minh học,… Trong nhóm thứ hai, ngược lại, nhiệm vụ chủ yếu là tìm ra các qui luật và nguyên tắc, cho phép đi từ những qui luật chung đến thấu hiểu các hiện tượng riêng. Trong nhóm này, các thực tế riêng lẻ ít có giá trị hơn các tổng kết mang tính hệ quan niệm, phân tích tính chất chung của các hiện tượng và liên kết chúng với rất nhiều hiện tượng khác. Trong trường hợp này, việc sử dụng các phương pháp này hay khác chủ yếu là hướng tới việc làm rõ về mặt nhận thức các chức năng của văn hóa, nêu bật những mối liên hệ nhân – quả, khách quan, bên trong của nó, thấu hiểu một cách có phê phán các hiện tượng tinh thần của đời sống văn hóa. Bên cạnh đó, các phương pháp, nguyên tắc và phạm trù nhận thức bị cuốn hút về mô hình lý tưởng phân tích hệ hình của khoa học tự nhiên và phương thức xây dựng đề án-công cụ để vận dụng chúng. Theo khuynh hướng này được sử dụng rộng rãi là các phương pháp và thủ pháp cụ thể của phép phân tích trong các nghiên cứu kinh tế học, chính trị học, xã hội học – đó là cách tiếp cận cấu trúc – chức năng, phương pháp phân loại, phân tích sự kiện và các hợp phần, mô hình hóa đi đôi với áp dụng phân tích toán học, trưng cầu dư luận xã hội, nghiên cứu văn bản bằng phương pháp phân tích nội dung,…

Như vậy, nhóm các phương pháp thứ nhất ở mức độ cao hơn, có khả năng phản ánh thế giới không gian vật thể và sự kiện cụ thể của văn hóa, phản ánh dòng chảy kinh nghiệm văn hóa còn phân lập yếu của con người, cũng như các đặc tính của hiện tượng văn hóa như những sự khác nhau, giống nhau, rất khó biểu đạt, những gì độc nhất vô nhị. Các phương pháp này có thể phản ánh những hiện tượng dễ thay đổi hoặc toàn vẹn của văn hóa, nhưng thật khó xác định hình thức của bản thân tính hay thay đổi và tính toàn vẹn đó.

Nhóm các phương pháp thứ hai, ngược lại, dựa vào thế mạnh của trừu tượng hóa khách quan, giải quyết tốt hơn loại nhiệm vụ biểu lộ rõ cái chung nhất, cái toàn thể gắn với nhau về mặt chức năng bằng cách phân tích các cấu trúc điều chỉnh phân tầng. Các phương pháp đó có hiệu quả tốt nhất với các đơn vị văn hóa trung mô và cho phép nghiên cứu những gì đã được phân hóa, chia tách, đã có hình thức biểu hiện rõ ràng, nhưng rất khó cấp cho hình thức đó một nội dung nhân văn mang tính cá nhân, độc đáo, vốn hết sức quan trọng trong văn hóa.

Bên cạnh đó, khi sử dụng các phương pháp này hay khác cũng không thể đưa ra một ranh giới rõ rệt giữa chủ thể của phép phân tích với khách thể được nghiên cứu. Đặc tính đó liên kết tất cả các phương pháp phân tích xã hội và phân tích nhân văn lại, phân biệt chúng với các phương pháp của khoa học tự nhiên, của toán học, kỹ thuật ứng dụng, mà việc sử dụng chúng có nền tảng vững chắc dựa trên thể thức giải thích và hầu như không quan tâm lắm đến thể thức thấu hiểu. M. Weber là một trong những người đầu tiên chú ý đến đặc điểm vừa nêu của các khoa học về xã hội và văn hóa, nơi không thể chia tách khách thể và chủ thể của việc phân tích. Vì thế ông cho rằng các khoa học này cần sử dụng đồng thời cả phương pháp thấu hiểu lẫn phương pháp giải thích. Cái thể thức có thể liên kết chúng làm một được M. Weber gọi là “sự thấu hiểu có giải thích”. Từ đó việc công nhận xã hội và văn hóa là những đối tượng đặc biệt của phân tích khoa học và đòi hỏi những phương pháp đặc biệt trên phương diện tổng hợp, thường xuyên được đề cập tới ở nước ngoài trong khuôn khổ các khuynh hướng khoa học như xã hội học thấu hiểu (Ph. Znaneski, U. Tomas…), hiện tượng học (A. Sius …), xã hội học văn hóa (Ph.Kh. Tenbruk, P.Bourdier…), và trong khoa học Nga là những người bênh vực văn hóa học xã hội và xã hội học văn hóa. Trong khuôn khổ các trường phái và khuynh hướng nghiên cứu văn hóa vừa nêu, ở những thập niên gần đây xuất hiện nỗ lực của nhiều nhà nghiên cứu muốn khắc phục những điểm hạn chế của cả cách mô tả dân tộc học, lẫn chủ nghĩa hình thức của các phương pháp cấu trúc chức năng và hình thành những phương pháp phân tích bằng con đường thấu hiểu văn hóa, cho phép chuyển thành sự diễn giải xã hội học các tư liệu lịch sử văn hóa.

Cách đặt vấn đề về sự cần thiết giải quyết các nhiệm vụ phức tạp như vậy đã được chuẩn bị bằng cả một thời kỳ trước đó trong sự phát triển của tri thức văn hóa học: trong nó in rõ dấu ấn của một loạt giai đoạn tuần tự, trong khuôn khổ của chúng, các phương pháp đặc thù của phân tích văn hóa đã tạo dựng và hình thành nên các mô hình nhận thức nhất định.

Giai đoạn đầu tiên trong phân tích văn hóa một dân tộc hoặc một thời kỳ lịch sử xa xôi nào đó được phát triển trong khuôn khổ giải quyết các vấn đề nhân văn của tư liệu, chủ yếu mang tính chất mô tả kinh nghiệm. Ở giai đoạn này, các phương pháp được sử dụng cho phép các nhà nghiên cứu tháo gỡ những rào cản “không hiểu” thời đại khác hoặc nền văn hóa khác. Ở đây, việc sử dụng các phương pháp phân tích khác nhau là nhằm hướng tới làm rõ các chứng cớ để giải thích và đạt tới cấp độ lý luận. Đồng thời, được tạo dựng và được phổ biến là mô hình phân loại và mô hình miêu tả để nhận biết văn hóa. Các mô hình này chỉ đưa ra những mô tả cấu hình hoặc mô tả nền văn hóa như những chỉnh thể mà không chỉ rõ được mối quan hệ nhân quả và các chức năng của hiện tượng được nghiên cứu.

Giai đoạn tiếp theo sử dụng các phương pháp tiếp cận văn hóa học so sánh các nền văn hóa khác nhau, điều này đòi hỏi phải sử dụng một quang phổ rộng hơn các phương tiện phân tích và khái niệm chuyên ngành đặc thù. Đồng thời, các nhà văn hóa học thường hay sử dụng các phương pháp của triết học, lôgíc học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lý học, ký hiệu học, sử học, cũng như các thể thức phân tích trên phương diện liên ngành – cách tiếp cận cấu trúc, chức năng, mô hình hóa,… Trong khuôn khổ của cấp độ phân tích này, các mô tả đặc tính và mô tả văn hóa riêng lẻ dường như vẫn còn tản mạn, chưa gắn kết với nhau do sự không đồng loại của chúng. Ở giai đoạn này, các mô hình nhận thức văn hóa được xây dựng là mô hình liên tưởng và mô hình chức năng.

Một giai đoạn khác của phân tích văn hóa gắn liền với việc làm lộ rõ các đặc điểm tổng hợp, chủ đạo, quyết định của văn hóa: cơ cấu cốt lõi và tính ổn định của nó, các cấu trúc và khuôn mẫu quan trọng nhất (những đặc điểm thế giới quan, các thiết chế truyền thống,…). Còn một cấp độ phân tích văn hóa nữa gắn với việc tìm hiểu và giải thích các xu hướng và đặc điểm của văn hóa dường như đối lập với cơ cấu cốt lõi, với các hệ hình quan trọng nhất của nó, nhưng không xuất hiện như những gì xa lạ đối với các hệ hình đó, mà tương quan với chúng theo một cách thức xác định (đó có thể là các tà thuyết, các cuộc cách mạng cực đoan, các hiện tượng phản văn hóa,…). Ở hai bình diện phân tích cuối cùng, xem xét văn hóa trên cấp độ những biến đổi năng động qui mô lớn của nó và sự phát triển của văn minh nói chung không thể không sử dụng các phương pháp của khoa học nhân văn, vốn có khả năng khái quát lớn, khả năng nhận thức lớn để nhìn thấy đằng sau các hiện tượng cụ thể bên ngoài của văn hóa các mối quan hệ sâu xa và các sơ đồ ý thức. ở cấp độ phân tích văn hóa này xuất hiện nhu cầu xây dựng các mô hình hệ thống, cũng như các mô hình động trong nhận biết văn hóa.

Cuối cùng, có một nhóm các phương pháp phân tích văn hóa trong khuôn khổ các trường phái và khuynh hướng khoa học, trước hết là thuyết tiến hóa, thuyết khuyếch tán, cấu trúc luận, chức năng luận, nhân học hành động, nhân học nhận thức,… Như vậy, trong tri thức văn hóa học chỉ sử dụng các phương pháp có khả năng giải quyết các nhiệm vụ ở cấp độ nhận thức phức hợp, có thể kết hợp sự lựa chọn của các phương pháp hoàn toàn khác nhau, lấy từ các hệ hình khái niệm lý thuyết khác nhau. Mỗi một phương pháp sẽ mất đi tính chất tự thân trọn vẹn trước kia, và tiếp nhận những đặc tính bổ sung tương hỗ, sự liên hợp đặc biệt với các nguyên tắc nhận thức, các thể thức và thủ pháp phân tích khác nhau. Điều đó cho phép có được những nghiên cứu văn hóa học phản ánh đúng cái đối tượng siêu phức tạp của nó là văn hóa.

Người dịch: Từ Thị Loan

Nguồn: Bách khoa toàn thư văn hóa học thế kỷ XX