Cách mạng công nghiệp 4.0 – Phần III


2.2/ Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến quốc gia, xã hội, tổ chức và người dân

Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tác động đến tất cả các quốc gia, xã hội, tổ chức và người dân (xem Hình 1.4).Liên quan đến nội dung này, một số câu hỏi được đặt ra là:

+ Đối với các quốc gia: Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ đóng vai trò gì trong chuỗi giá trị toàn cầu, chuỗi giá trị mới trong tương lai?

+ Đối với xã hội: Làm thế nào Cách mạng công nghiệp 4.0 có thể đảm bảo cho cộng đồng một cuộc sống thịnh vượng?

+ Đối với tổ chức: Làm cách nào để xây dựng và triển khai quy hoạch tổng thể cho Cách mạng công nghiệp 4.0?

+ Đối với người dân: Làm thế nào để phát triển các kỹ năng của người dân để có việc làm tốt hơn trong các điều kiện thay đổi?

2.2.1/ Đối với quốc gia

Hiện nay, vẫn còn quá sớm để dự đoán các nền kinh tế toàn cầu và các quốc gia sẽ “đối phó” như thế nào với các ảnh hưởng, tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo các nghiên cứu gần đây, chỉ có không quá 7% các nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển bền vững của các quốc gia trong Cách mạng công nghiệp 4.0.

Trong một quốc gia, Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự thay đổi cần thiết trong quy trình sản xuất và kinh doanh của mình. Các nghiên cứu gần đây về Cách mạng công nghiệp 4.0 tập trung chủ yếu vào: quá trình đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp; quá trình thay thế lao động của doanh nghiệp; hậu quả của thất nghiệp trong quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp; các vấn đề liên quan đến toàn cầu hóa.

Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, doanh nghiệp của các quốc gia có thể sẽ phải đối mặt với một thách thức lớn với những “nguy cơ tiềm ẩn mới” về tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, dưới góc độ quan điểm vĩ mô và kinh tế vi mô, tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 vẫn là một nội dung ít được quan tâm nghiên cứu. Số lượng các báo cáo liên quan đến vấn đề tăng trưởng kinh tế và quá trình chuyển đổi của doanh nghiệp để “ứng phó” với Cách mạng công nghiệp 4.0 vẫn còn nhiều hạn chế.

Đối với các quốc gia, thách thức lớn cảu cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ là việc thực thi vai trò của các quốc gia trong việc tạo ra giá trị toàn cầu. Trong đó chi phí cho các dịch vụ hậu cần trong tương lai sẽ ít tốn kém hơn và đạt hiệu quả cao hơn nhờ áp dụng công nghệ mới của Cách mạng công nghiệp 4.0.

Một số tác động chính của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến quốc gia hiện nay:

+ Giảm nguồn năng lượng cho hoạt động vận tải để tiết kiệm chi phí. Ngày nay, chi phí về năng lượng cho hoạt động vận tải là một trong các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chi phí của chuỗi cung ứng. Các công nghệ mới (như: xe tự hành, lưu trữ năng lượng…) sẽ giúp giảm đáng kể chi phí về nguồn năng lượng.

+ Giảm chi phí lao động để tiết kiệm chi phí sản xuất. Thông thường, chi phí nhân công thường chiếm khoảng một phần ba tổng chi phí. Chi phí nhân công sẽ tăng dẫn đến sự sụt giảm về số lượng lao động trong doanh nghiệp. Trong Cách mạng công nghiệp 4.0, xe tự hành là một trong các công cụ sẽ giúp giải quyết tình trạng giảm số lượng lao động trong các nhà máy.

+ Giảm chi phí hàng tồn kho để bảo đảm phù hợp với quá trình tăng trưởng. Thông thường, chi phí hàng tồn kho hiện tại chiếm khoảng một phần tư tổng chi phí của doanh nghiệp. Cách mạng công nghiệp 4.0 với mô hình sản xuất linh hoạt theo thời gian thực sẽ giúp các doanh nghiệp đáp ứng tối ưu các yêu cầu của khách hàng, giảm mạnh chi phí hàng tồn kho.

+ Giảm chi phí thuê kho. Chi phí thuê kho hiện nay chiếm khoảng 5% tổng chi phí. Cách mạng công nghiệp 4.0 giúp thời gian giao hàng của doanh nghiệp ngắn hơn (vẫn đảm bảo sự đa dạng của các sản phẩm, dịch vụ), qua đó thúc đẩy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra nhiều thách thức, rủi ro trong đó có thể dẫn đến việc gia tăng khoảng cách giữa các quốc gia đang phát triển và đang phát triển. Từ góc độ xã hội, các quốc gia đang phát triển thường đặt mục tiêu bắt kịp sự phát triển kỹ thuật với nguồn lực đầu tư tài chính “ít ỏi”. Do đó, các quốc gia đang phát triển có thể “dịch chuyển chậm” về hướng Cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó, tập trung áp dụng các tri thức sản xuất hiện có, sử dụng các công cụ cải tiến năng suất rất có giá trị như: Lean (sản xuất tinh gọn và tăng hiệu quả), Kaizen (cải tiến liên tục), TPM, 5S… để tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0. Để đảm bảo không bị bỏ lại phía sau bởi Cách mạng công nghiệp 4.0, các quốc gia đang phát triển cần xây dựng lộ trình để theo kịp sự thay đổi về công nghệ.

Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ ảnh hưởng đến tất cả các ngành và lĩnh vực, dẫn đến sự chuyển đổi cơ cấu trong nền kinh tế toàn cầu, có thể hình thành một bộ phận lao động mới… Điều này sẽ có tác động rất lớn đến các quốc gia đang phát triển. Một làn sóng công nghệ mới (như công nghệ in 3D, xe tự hành…) sẽ khiến một số hoạt động sản xuất gia công trở nên không cần thiết, qua đó, trực tiếp hoặc gián tiếp “tước đi cơ hội” việc làm cho lao động ở các quốc gia đang phát triển. Nhiều nhà nghiên cứu dự đoán rằng Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ gây ra sự phân cực về nguồn nhân lực, trong đó tỷ lệ việc làm đối với các công việc có thu nhập cao và thấp sẽ ngày càng tăng; tỷ lệ việc làm đối với các công việc có thu nhập trung bình sẽ giảm. Do đó, các quốc gia đang phát triển có khả năng sẽ tập trung các công việc có thu nhập thấp. Vì các công việc có thu nhập cao sẽ đòi hỏi nhiều kỹ năng mà các hệ thống giáo dục của các quốc gia đang phát triển còn yếu và nhiều hạn chế. Do đó, điều này sẽ có tác động đến sự bất bình đẳng trong và giữa các quốc gia.

Mối quan tâm lớn nhất sẽ là tác động của công nghệ số đối với hệ thống việc làm ở các quốc gia đang phát triển. Tự động hóa quy trình sản xuất và vận chuyển bằng máy móc có thể loại bỏ công việc thường ngày của người lao động, gây ra sự phân cực của thị trường lao động. Mặc dù nguy cơ mất việc làm là điều không thể tránh khỏi, tổ chức UNIDO tin rằng các quốc gia đang phát triển có thể tìm thấy vị trí thích hợp, thích nghi và thực hiện các bước nhảy vọt nhờ vào tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0.

Cách mạng công nghiệp 4.0 có thể tác động làm thay đổi chuỗi giá trị toàn cầu, làm tăng tỷ lệ thất nghiệp do việc áp dụng các công nghệ mới. Tuy nhiên bên cạnh đó, tận dụng được những thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0, các quốc gia có thể có cơ hội tạo chuỗi giá trị toàn cầu mới từ: hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới; thúc đẩy sản xuất ở các quốc gia có thu nhập cao; hỗ trợ sản xuất cho các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình; chuyển giao tri thức, công nghệ mới…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Hà Minh Hiệp – Doanh nghiệp với lộ trình tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0 – NXB CTQG 2020.

Văn hóa tiêu dùng địa phương trong một thế giới đang toàn cầu hóa – Phần VI


Văn hóa tiêu dùng hàng hóa cụ thể

Nghiên cứu địa lý học về tiêu dùng có xu hướng tập trung vào một phạm trù hàng hóa tương đối hẹp, chủ yếu chỉ là thực phẩm và mốt thời trang và hẹp hơn nữa, âm nhạc và các phương tiện truyền thông khác (kể cả Internet). Đây là những vấn đề nhạy cảm cần tập trung vào theo ý nghĩa là chúng bao gồm một loạt những vùng địa lý vật chất và biểu trưng trải dài suốt một loạt phạm vi từ cơ thể, nhà cửa đến quan hệ láng giềng và dân tộc và rộng hơn nữa. Nhưng việc lựa chọn hàng hóa cũng có thể thu hẹp phạm vi cảu những không gian mà chúng ta xem xét. Rất nhiều loại hàng hóa đã được nghiên cứu trong nhân học, kể cả nghiên cứu mới đây về nhà ở và vườn tược, giấy văn phòng, những khẩu hiệu chính trị, ô tô, đồ uống có ga và đài phát thanh (cf. Miller 1998, 2001a, 2001b). Các nhà địa lý học gần đây đã bắt đầu nghiên cứu một loạt những hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng, bao gồm điện thoại di động (Laurier 2001), thuốc bổ sung (Doel và Segrott 2003) và thiết kế nội thất (Leslie và Reimer 2003). Nhưng người ta còn ít chú ý đến vấn đề có tính tương đối là liệu có thể nhận diện các loại hình văn hóa tiêu dùng hàng hóa cụ thể hay không.

Nghiên cứu mới đây của tôi về những vùng địa lý của thực phẩm và thời trang xuyên quốc gia (với Philip Crang và Claire Dwyer) đã thử cố gắng giải quyết vấn đề này, chủ yếu liên quan đến những vấn đề về bản sắc người tiêu dùng. Trong một số tài liệu, thực phẩm được coi là một dấu hiệu mạnh mẽ của bản sắc hơn là mốt thời trang bởi vì nó thật sự được hợp nhất với cơ thể (cf. Valentine 2003). Trong khi một vài nhà quan sát có xu hướng gạt bỏ ý nghĩa văn hóa của quần áo bởi tính phù du chóng tàn của mốt thời trang, những người khác lại chỉ ra sự liên kết chặt chẽ giữa quần áo và cơ thể (Entwistle và Wilson 2001). Điều này phần nào là một vấn đề của các truyền thống nghiên cứu khác nhau, ở đó các nghiên cứu văn hóa có xu hướng lựa chọn cách tiếp cận ký hiệu học tới quần áo với tính cách là tín hiệu – như được trình diễn trên các mắc áo hoặc sàn diễn thời trang – trong khi đó khoa học xã hội theo thuyết nữ quyền (feminist social science) lại rất muốn khai thác quần áo với tính cách là sự mặc (as worn), lục tìm “khắp tủ quần áo” (Guy và nhiều tác giả khác 2001) để nghiên cứu ý nghĩa xã hội của quần áo bằng lời lẽ của bản sắc bên trong của người mặc. Tuy nhiên, những thuộc tính vật chất của thực phẩm – kể cả chất lượng hữu cơ của nó – làm cho nó có ý nghĩa cao đối với người tiêu dùng, đặc biệt là về những vấn đề sức khỏe, vốn là những vấn đề đã làm cho ngành công nghiệp thực phẩm của Anh lo lắng trong những năm gần đây. Trong nghiên cứu của chúng tôi về thực phẩm và mốt thời trang xuyên quốc gia, chúng tôi nhận thấy người tiêu dùng Anh thích sử dụng đồ ăn của “Ấn Độ” nhiều hơn so với mặc quần áo của người “châu Á” như salwaar-kameez hoặc sari. Mặc dù có thể lập luận rằng mốt thời trang ở những khu phố nổ tiếng của Anh đã chịu ảnh hưởng theo những cách tinh vi hơn của nhiều phong cách châu Á (cf. Bhachu 2004) nhưng quần áo rõ ràng vẫn là thứ hàng hóa đắt tiền và không nên xem thường ý nghĩa văn hóa của nó.

Nghiên cứu mới đây của chúng tôi về chuỗi hàng hóa thực phẩm nhấn mạnh vào mức tiêu thụ các loại hàng hóa khác nhau – ở đây là thịt gà và đường – với những cường độ cảm xúc khác hẳn nhau. Thí dụ, một số người có thể coi thịt gà là một thứ hàng hóa khác, kể cả người quản lý một lò ấp trứng gà West Country mà chúng tôi phỏng vấn, ông ta lập luận rằng “tiêu tiền cho thịt gà thì chỉ thế thôi, thật sự là như vậy, bạn có thể mua nhiều thứ ngoài con gà cũng giống như bạn dùng tiền và nhiều việc khác nhau, thật sự là như vậy”. Thế nhưng sau đó cũng trong lần phỏng vấn ấy, vị quản lý này đã nói, “bạn phải trông nom chúng (những con gà) cũng giống như tôi chăm sóc vợ con tôi vậy, chúng cần được chăm sóc với sự quan tâm thực sự và đó là điều quan trọng nhất đối với chúng, thật vậy”. Khi lên án sự thiếu hiểu biết của người tiêu dùng hiện nay về xuất xứ của thực phẩm, ông ta cũng rất nhanh chóng nhắc nhở chúng ta rằng “một số người có thể chỉ nghĩ đơn giản rằng sữa là lấy từ chai (và) trứng là lấy từ một hộp bằng các-tông, nhưng có một con gà ở đoạn cuối… một sinh vật sống ở đoạn cuối”. Đã có thời việc sản xuất thịt gà là một quá trình công nghiệp hóa có cường độ cao và đồng thời là một cuộc chiến ác liệt liên tục với thiên nhiên không dễ kiểm soát. Trong khi việc sản xuất thịt gà đã bị chính trị hóa ở mức cao do một loạt những sợ hãi về thực phẩm kể cả sự bùng phát của dịch cúm gia cầm gần đây nhất, thì đường nóio chung được coi là một sản phẩm thông thường hơn nhiều bất chấp những liên kết mang tính lịch sử của nó với chế độ chiếm hữu nô lệ và dư luận xã hội hiện nay về khả năng kết thúc các khoản trợ cấp của EU.

Những vấn đề chính trị, đạo đức và phương pháp luận

Việc nghiên cứu về văn hóa tiêu dùng và văn hóa hàng hóa cũng đặt ra những vấn đề quan trọng về chính trị, đạo đức và phương pháp luận. Tôi liên hệ cụ thể đến bài phê bình gần đây của Castree (2004), trong đó đòi hỏi sự chính xác lớn hơn trong việc sử dụng những thuật ngữ như hàng hóa, hàng hóa hóa hay làm cho trở thành hàng hóa. Những quan tâm của Castree sâu sắc hơn nhiều là đòi hỏi sự rõ ràng về ngữ nghĩa. Ông cũng ủng hộ một sự tham gia sâu sắc hơn vào những vấn đề chuẩn hóa và làm rõ vai trò của chúng ta với tư cách là những học giả “quan trọng”. Castree đưa ra một số chỉ dẫn bổ ích về cách thức đẩy tới lối nghiên cứu như vậy, phân biệt hay thuộc tính gắn liền với hình thái hàng hóa, đó là trao đổi tiền tệ và tha hóa, trích dẫn nghiên cứu của Radin (1996) trong đó hàng hóa được định nghĩa là những thứ có thể bị tha hóa về mặt pháp luật hoặc về mặt vật thể khỏi những người sở hữu hoặc sản xuất chúng. Điều này cho phép bà ta lựa chọn và bảo vệ một quan điểm đạo đức rằng không nên coi một số thứ, chẳng hạn như con cái, là hàng hóa (theo cách đẻ hộ hoặc làm nô lệ chẳng hạn), mặc dù có thể có một vài người sẵn sàng mua và bán con (để bắt đầu việc trao đổi tiền tệ). Castree hoàn toàn đúng khi thử và khai thác những câu hỏi chuẩn hóa bị lãng quên trong nghiên cứu tiêu dùng gần đây và theo đuổi những câu hỏi này về mặt thực nghiệm như trong nghiên cứu của riêng ông về thăm dò sinh học (Castree 2003).

(còn tiếp) 

Người dịch: Hoàng Hoa

Nguồn: Peter Jackson – Local consumption cultures in a globalizing world – Transactions of The Institute of British Geographies, Vol.29, Issue 2, June 2004, p.165-178.

TN 2006 – 53, 54 & 55

Cách mạng công nghiệp 4.0 – Phần II


1.2/ Sự hội tụ của các công nghệ vận hành và công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin (Information Technologies, IT) và Công nghệ vận hành (Operation Technologies, OT) là hai công nghệ lõi đang được triển khai trong các ngành công nghiệp. Có nhiều điểm chung và riêng giữa hai công nghệ này trong hệ thống sản xuất của doanh nghiệp.

Trong quá trình tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0, sự hội tụ của các OT và IT đã giúp các ngành công nghiệp truyền thống “tiến xa hơn”, “thông minh hơn”, qua đó giúp doanh nghiệp thống nhất quản lý thông tin và quản lý quy trình (xem Hình 1.3).+ Công nghệ vận hành (OT) là quá trình áp dụng các công nghệ máy tính để theo dõi “trạng thái” thay đổi của hệ thống (như: hệ thống điều khiển nhà máy điện, hệ thống điều khiển đường sắt…). Ví dụ về công nghệ vận hành trong quản lý thông tin bao gồm:

  • Bộ điều khiển logic lập trình (Programmable Logic Controller, PLC): là thiết bị điều khiển lập trình (khả trình) được cho phép thực hiện linh hoạt các thuật toán điều khiển logic thông qua một ngôn ngữ lập trình.
  • Hệ thống kiểm soát giám sát và thu thập dữ liệu (Supervisory Control And Data Acquisition, SCADA) nhằm hỗ trợ con người trong quá trình giám sát và điều khiển từ xa.
  • Hệ thống điều khiển phân tán (Distributed Control System, DCS) là hệ thống điều khiển được tin học hóa đối với một quy trình có số lượng các vòng điều khiển lớn. Trong đó, các bộ điều khiển tự động được phân phối trên toàn hệ thống, được giám sát từ nhà điều hành trung tâm. DCS khác với các hệ thống sử dụng bộ điều khiển tập trung hoặc bộ điều khiển rời rạc đặt tại phòng điều khiển trung tâm. DCS giúp tăng độ tin cậy và giảm chi phí lắp đặt bằng cách “khoanh vùng” các chức năng điều khiển gần nhà máy xử lý với sự giám sát từ xa.
  • Hệ thống điều khiển số máy tính (Computer Numerical Control, CNC) là hệ thống điều khiển tự động bằng máy tính đối với các công cụ gia công (máy khoan, máy tiện…) và máy in 3D. Một máy CNC xử lý tự động vật liệu (kim loại, nhựa, gỗ, gốm hoặc composite) theo lập trình được mã hóa để đáp ứng các thông số kỹ thuật.

+ Công nghệ thông tin (IT) là quá trình ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý quy trình kinh doanh của doanh nghiệp. Ví dụ về công nghệ thông tin trong quản lý quy trình kinh doanh bao gồm:

  • Quản lý vòng đời sản phẩm (Product Lifecycle Management, PLM) nhằm mục đích sử dụng hiệu quả thông tin sản phẩm có sẵn. Lý do là lượng thông tin về sản phẩm ngày càng tăng do sự phức tạp của các sản phẩm và các quá trình hợp tác trong suốt vòng đời sản phẩm. Các thông tin mới về sản phẩm liên tục được khám phá, bổ sung. Việc xử lý, lựa chọn các thông tin phù hợp về sản phẩm trở thành thách thức của nhiều doanh nghiệp. Vì lượng thông tin của sản phẩm quá lớn, việc nghiên cứu về chất lượng thông tin để tìm ra những thông tin phù hợp với mục đích của doanh nghiệp là hết sức cần thiết.
  • Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resouce Planning, ERP) thực hiện việc tích hợp dữ liệu và quy trình của một tổ chức torng doanh nghiệp thành một hệ thống thống nhất. Một hệ thống ERP điển hình sẽ sử dụng các phần mềm và hệ thống phần cứng máy tính để đạt được sự tích hợp tốt nhất. Cấu phần quan trọng của hệ thống ERP là cơ sở dữ liệu thống nhất để lưu trữ dữ liệu cho các module hệ thống khác nhau.
  • Các giải pháp mã nguồn mở: là các giải pháp mang tính toàn diện, bao gồm và tích hợp các quy trình trong doanh nghiệp: kế toán, nhân sự, bán hàng, quản lý quan hệ khách hàng, mua hàng, sản xuất, quản lý dịch vụ và dự án, marketing… Các giải pháp mã nguồn mở quản lý các module một cách linh hoạt. Các giải pháp mã nguồn mở hoạt động như một bộ nền tảng chuẩn giúp thay đổi theo nhu cầu của khách hàng mà không cần phải lập trình.

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội, doanh nghiệp sẽ thực hiện chuyển dổi từ hệ thống điều khiển analog sang số hóa. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, OT và IT đã có sự phát triển đột phá, cùng “hội tụ” để giúp tối ưu hóa hệ thống quản lý của doanh nghiệp ở quy mô sản xuất và kinh doanh. Sự hội tụ OT và IT sẽ trở thành một xu thế tất yếu trong bối cảnh mới.

Tích hợp OT và IT giúp doanh nghiệp có một cái nhìn tổng thể, thống nhất quản lý thông tin và quản lý quy trình. Tích hợp OT và IT bảo đảm con người, máy móc, tài sản, thiết bị… nhận được đúng thông tin, đúng định dạng và đúng thời điểm.

Tích hợp OT và IT giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình, giúp nhà quản lý đưa ra quyết định tốt hơn theo thời gian thực, giảm chi phí, rủi ro và rút ngắn thời gian… Bên cạnh đó, tích hợp OT và IT sẽ góp phần giảm giá thành công nghệ, giảm chi phí các giải pháp và chi phí phát triển sản phẩm mới…

Có thể thấy rằng, IT giúp vận hành hệ thống tự động hóa phức tạp của OT trên một nền tảng thống nhất, hiện đại. IT thúc đẩy sử dụng các hệ thống tính toán, lưu trữ, phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây… để mở rộng khả năng hiển thị, kiểm soát, quản lý đến khu vực OT, qua đó giúp doanh nghiệp có thể triển khai thành công các chương trình, chiến lược dài hạn.

2/ Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp 4.0 dẫn đến sự thay đổi mô hình sản xuất, qua đó tạo ra các ảnh hưởng quan trọng đến các quốc gia, xã hội, tổ chức và người dân.

2.1/ Cách mạng công nghiệp 4.0 chuyển mô hình sản xuất từ tập trung truyền thống sang sản xuất thông minh phi tập trung

Thế giới đang trải qua một sự chuyển đổi mô hình sản xuất mạnh mẽ nhờ sự lan tỏa của các công nghệ mới nổi trong Cách mạng công nghiệp 4.0 (như: công nghệ dữ liệu, robot tự động, điện toán đám mây, công nghệ in 3D, IoT, tích hợp hệ thống, mô phỏng, thực tế ảo, an ninh mạng…).

A.T. Kearney (Diễn đàn Kinh tế Thế giới) đã nghiên cứu các tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với các mô hình sản xuất hiện nay trên thế giới. Theo cách nhìn mới, tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Cách mạng công nghiệp 4.0 được xem là sự dịch chuyển từ mô hình sản xuất tập trung truyền thống sang mô hình sản xuất thông minh phi tập trung, trong đó:

+ Chuyển từ mô hình “thiết kế phục vụ sản xuất” sang mô hình “thiết kế không giới hạn” thông qua: tối ưu hóa thuật toán thiết kế hệ thống dây chuyền sản xuất, thiết kế sản phẩm và dịch vụ: tăng cường hoạt động sáng tạo của doanh nghiệp gắn với nhu cầu của khách hàng; thay đổi vật liệu và tính năng của sản phẩm “linh hoạt” theo yêu cầu của khách hàng…

+ Chuyển từ mô hình “sản xuất hàng loạt” sang mô hình “sản xuất linh hoạt” thông qua: tối ưu hóa quy trình nhằm thực hiện nhanh hơn, ít bước xử lý hơn; giảm số lượng công cụ, thiết bị sản xuất cơ bản; tối ưu hóa số lượng thiết bị, máy móc cố định phục vụ sản xuất; tối ưu hóa thời gian thực hiện; tăng tính linh hoạt của dây chuyền sản xuất.

+ Chuyển từ mô hình “chuỗi cung ứng toàn cầu” sang mô hình “cung ứng linh hoạt” thông qua: tích hợp hoặc hợp nhất nhiều thành phần cung ứng, không theo chuỗi; thực hiện sản xuất, kết hợp với việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngay tại nơi sản xuất; tăng hiệu suất sản xuất đồng thời thực hiện giới hạn không gian sử dụng của nhà máy, dây chuyền sản xuất (theo hướng hình thành các “nhà máy siêu nhỏ”); tăng cường quá trình sản xuất, phân phối các sản phẩm, dịch vụ…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Hà Minh Hiệp – Doanh nghiệp với lộ trình tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0 – NXB CTQG 2020.

Văn hóa tiêu dùng địa phương trong một thế giới đang toàn cầu hóa – Phần V


Những cuộc tranh cãi hiện nay và hướng nghiên cứu trong tương lai

Tôi hy vọng việc xem lại những bằng chứng trong các nghiên cứu trường hợp trên đây ở Ấn Độ, Trung Quốc và Nga đã thể hiện sự tồn tại dai dẳng của các loại hình văn hóa tiêu dùng “địa phương” và phản bác lại một vài tuyên bố đồng nhất hóa được đưa ra nhân danh “toàn cầu hóa”. Nếu các loại hình văn hóa tiêu dùng địa phương rõ ràng tiếp tục tồn tại thì nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào những lĩnh vực nào? Trong phần này, tôi xem xét một số vấn đề chưa được giải quyết trong nghiên cứu tiêu dùng hiện tại và soi sáng một số lĩnh vực có khả năng gặt hái thành công cho nghiên cứu trong tương lai.

Tiêu dùng và văn hóa vật chất

Từ đầu những năm 1990 đến nay đã có rất nhiều cuộc đàm luận về “tái vật chất hóa” địa lý xã hội và văn hóa. Mặc dù bước chuyển này nói chung được mọi người đón nhận, nhưng ý nghĩa gắn liền với thuật ngữ vật chất vẫn là chủ đề tranh cãi đáng quan tâm. Đối với một số nhà bình luận (như Gregson 1995), điểm nhấn được đặt vào việc tái thống nhất việc nghiên cứu các loại hình văn hóa tiêu dùng với những sự bất bình đẳng về vật chất gắn liền với các quan hệ xã hội về giới, giai cấp, chủng tộc, tính dục và khả (vô) năng. Đối với những người khác, điểm nhấn lại là cách mà chúng ta hòa nhập với thế giới vật chất, đòi hỏi một sự “miêu tả lại sâu sắc” những gì tạo nên một sự giải thích xã hội (Latour 2000). Việc hỏi tại sao mọi thứ lại quan trọng như vậy (Miller 1998) đã đặt ra những vấn đề bản thể luận về bản chất của chính vấn đề. Theo luận điểm ban đầu của Miller, tiêu dùng hàng loạt báo hiệu trước bối cảnh quan trọng mà thông qua đó mọi người gắn với thế giới hàng hóa (Miller 1987). Lập luận của Miller tập trung vào khái niệm “khách thể hóa” mà ông miêu tả bằng một quá trình ngoại hiện (hoặc tự tha hóa) và sublation (hay tái thu hút). Các khách thể vật chất, theo qua điểm của Miller, luôn luôn gắn liền với những bối cảnh văn hóa cụ thể. Những vật tạo tác là những hình thái văn hóa không chỉ với nghĩa rằng chúng “phản chiếu” hoặc “phản ánh” các mối quan hệ xã hội mà chúng nằm sâu trong đó. Đúng hơn, theo Miller, văn hóa vật chất có một đặc điểm cấu thành, đó là “vật thể hóa” các mối quan hệ xã hội.

Sự hồi quy về “cái vật thể” này được nhiều người đón nhận nhưng cũng bị nhiều người khác coi là gây thêm rắc rối. Đặc biệt, Kearnes (2003) đã thách thức việc phân đôi dứt khoát một thế giới vật chất khách quan và một thế giới văn bản hoặc biện luận chủ quan. Đối với Kearnes và những người khác, một sự (tái) hòa nhập có phê phán với thế giới vật chất cần chú ý hơn đến “sự biểu đạt không dễ dàng điều khiển” của vấn đề, bao gồm những khả năng của nó trong việc hành động bên ngoài mối quan hệ của nó với các chủ thể người. Cách tiếp cận như vậy là nhất quán với việc nhấn mạnh gần đây trong lý thuyết tác nhân – mạng (agent – network) vào tác động của các tác nhân không phải con người và vào một sự hiểu biết liên quan về các khách thể và các chủ thể (Thrift 1996; Whatmore 2002). Đây là một khái niệm khác về căn bản với sự “hồi quy” đơn thuần về một chủ nghĩa vật chất đã bị đánh mất và không giải quyết được những khái niệm quy ước về tính vật chất. Sự phê phán của Kearnes đã đặt ra những vấn đề triết học quan trọng về hiểu biết của chúng ta về thế giới vật chất, thách thức bất kỳ một nhận định dễ dãi nào về sự khác biệt giữa lời nói và kinh nghiệm, giả định về một niềm tin vào một thực tại tiền – biện luận nào đó.

Tiêu dùng với tính cách là thói quen xã hội

Lĩnh vực thứ hai của cuộc tranh luận gần đây là bản chất thực tiễn của tiêu dùng đối lập với những lời lẽ hoa mỹ về tính chủ quan của tiêu dùng. Những thứ dính dáng đến “người tiêu dùng” và đặc biệt đến “sự lựa chọn tiêu dùng” hiện đang được nhiều người coi là gây rắc rối. Trong thoại ngữ chính trị hiện nay, người tiêu dùng được giải thích theo những cách đặc biệt để phù hợp với chương trình nghị sự tư tưởng hệ hiện hành. Vì thế, ví dụ, với những cách giải thích về “văn hóa doanh nghiệp”, Dugay lập luận rằng:

Người tiêu dùng được coi như những tác nhân đơn lẻ tự trị, tự điều tiết và tự thực hiện, cố gắng tối đa hóa chất lượng sống của mình bằng cách tạo ra một phong cách sống hoặc những phong cách sống thông qua những hành động lựa chọn theo ý thích của cá nhân ở nơi họp chợ (1996, 77).

Sự nhấn mạnh gần đây của New Labour vào lựa chọn tiêu dùng cũng mang tính tư tưởng hệ không kém theo lối riêng của nó, nó đòi đặt người tiêu dùng vào vị trí trọng yếu đồng thời thay thế người tiêu dùng “thực sự”  bằng một loạt những đại diện đòi thể hiện những lợi ích của họ. Do bản chất của những thuật ngữ này là rất rắc rối, gần đây đã có những yêu cầu tập trung vào tiêu dùng với tính cách là một thói quen.

Các lý luận về thói quen thách thức sự nhấn mạnh thông thường của khoa học xã hội vào thoại ngữ và miêu tả, thay vào đó chúng tập trung vào dòng sự kiện. Chúng nhấn mạnh, cái xã hội luôn ở trong một quá trình thích nghi như thế nào, được kéo dài thông qua những mạng kết nối lâu bền nhiều hay ít và thông qua nhiều bộ máy xã hội – kỹ thuật như thế nào. Vì thế, thí dụ, trong công trình của Shove (2003) về tổ chức xã hội trong trạng thái bình thường, điểm nhấn được đặt vào vô số các nghi lễ hàng ngày tạo ra cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Tắm, giặt giũ quần áo hay bật lò sưởi trung tâm hiện đang là một phần không phải suy nghĩ trong cuộc sống hàng ngày của nhiều người. Nhưng những giải thích về sự thoải mái, sạch sẽ và tiện lợi mà những thói quen này  có thể tạo ra rõ ràng liên quan đến một loạt những thủ tục công nghệ và kỹ năng thực tiễn. Việc tiếp cận những thay đổi này trong môi trường trong nước của chúng ta thông qua những khái niệm về thói quen xã hội hơn là qua những hình thái biện luận sẽ dẫn tới những cách khái niệm hóa mới về cơ bản và, một cách tiềm tàng, tới những hình thái mới của hành động chính trị.

Áp dụng vào nghiên cứu tiêu dùng, những lý luận về thói quen đưa ra một thế án cơ bản cho lối nhấn mạnh thông thường vào việc quyết sách cá nhân. Các thói quen có thể được hiểu như là những hình thức hành vi thủ cựu và ăn sâu về mặt xã hội, đòi hỏi phải có kỹ năng và khả năng thực hiện (Williams và nhiều tác giả 2001). Theo nhà xã hội học Alan Warde (2003), nghiên cứu về tiêu dùng với tính cách là thói quen đòi hỏi phải hiểu biết về lịch sử và sự phát triển của bản thân thói quen, sự khác biệt nội tại của các vai trò và vị trí bên trong của những thói quen đó và những hậu quả đối với cách thức sắp đặt mọi ngươi và các vị trí khi tham gia. Từ góc nhìn này, Warde chò rằng “người tiêu dùng” – một nhân vật đã bỏ bùa cho các nhà khoa học chính trị và xã hội cũng như các nhà kinh tế học trong nhiều thế hệ – đã biến mất (Warde 2003, 6). Thay vào đó, Warde cho rằng, nên tập trung vào cách thức tổ chức các thói quen và ra lệnh cho các khoảnh khắc tiêu dùng. Vậy thì nghiên cứu thực hiện nên tập trung vào vấn  đề: những loại hình thói quen nào đang thịnh hành trong các tình huống khác nhau, các cá nhân cụ thể thường tham gia vào những thói quen nào hiện đang phổ biến, những tổ hợp thói quen điển hình nào diễn ra tại những thời điểm và địa điểm cụ thể.

Việc quay lại thói quen cũng đi liền với việc chuyển sang những hình thức tiêu dùng bình thường hơn (ít đáng chú ý hơn), như trong công trình của Gronow và Warde (2001) về tiêu dùng các đồ thiết yếu, như nước, khí đốt và điện, ở đó phạm vi để người tiêu dùng tạo ra “bản sắc” cho những lựa chọn của mình thông qua việc thay đổi nhà cung cấp là có hạn. Thay vào đó, công trình của họ tập trung vào kết cấu hạ tầng xã hội – kỹ thuật cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho những lựa chọn tiêu dùng đặc biệt – một cách tiếp cận có thể được áp dụng thành công vào các loại hình thói quen tiêu dùng khác. Thay vì coi tiêu dùng chủ yếu như một việc mà người ta làm khi có thời gian rỗi, kể cả việc lựa chọn “phong cách sống” của người tiêu dùng (cf. Shields 1992), việc tập trung vào tiêu dùng với tính cách là một thói quen cũng dẫn đến chỗ nhấn mạnh lại vào tiêu dùng như một công việc, được thực hiện bởi các tác nhân xã hội có kỹ xảo với các nguồn lực có hạn. Như nghiên cứu mới đây của chúng tôi về việc mua sắm đồ khô ở Portsmouth (được đề cập đến trong chú thích trước) đã cho thấy, hầu hết các lựa chọn tiêu dùng đều được định hướng xoay quanh những hoạt động mua sắm thông thường trong phạm vi ngân sách thường rất hạn hẹp của các hộ gia đình. Nghiên cứu gần đây về tiêu dùng bắt đầu nhấn mạnh vào những thói quen làm lụng, sử dụng và chiếm hữu (cf. Gregson và nhiều tác giả 2003), dẫn đến việc xem xét lại cách thức ghi sâu các thói quen tiêu dùng vào các nhịp điệu phức tạp và các lề thói hằng ngày của các hộ gia đình hiện thời.

(còn tiếp) 

Người dịch: Hoàng Hoa

Nguồn: Peter Jackson – Local consumption cultures in a globalizing world – Transactions of The Institute of British Geographies, Vol.29, Issue 2, June 2004, p.165-178.

TN 2006 – 53, 54 & 55

Cách mạng công nghiệp 4.0 – Phần I


1/ Khái quát về Cách mạng công nghiệp 4.0

Cho đến nay, 03 cuộc cách mạng công nghiệp đã dẫn đến những thay đổi “mang tính cách mạng” về mô hình và phương thức sản xuất: sản xuất cơ giới hóa thông qua động cơ hơi nước (trong Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất) được “phát triển” thành sản xuất hàng loạt trong các dây chuyền lắp ráp dựa trên sự phân công lao động (trong Cách mạng công nghiệp lần thứ hai) và sản xuất tự động hóa dựa trên nền tảng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa hơn nữa việc sản xuất (trong Cách mạng công nghiệp lần thứ ba).

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng công nghiệp 4.0) đang làm “mờ” ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Cách mạng công nghiệp 4.0 được đặc trưng bởi ứng dụng Internet kết nối vạn vật (Internet of Things – IoT), Internet kết nối dịch vụ (Internet of Services – IoS) vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp, cho phép hệ thống sản xuất của doanh nghiệp được tích hợp đa chiều và trở nên “thông minh hơn”. Sản xuất thông minh là quá trình sản xuất linh hoạt, có thể thay thế quá trình sản xuất tự động hóa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Theo Wikipedia, IoT có thể hiểu được là mạng lưới vạn vật kết nối Internet hoặc mạng lưới thiết bị kết nối Internet (xem Hình 1.1). Đây là một “kịch bản mới” khi mà mỗi vật thể, con người được cung cấp một “định danh riêng”. Trong đó, tất cả đều có khả năng truyền tải và trao đổi thông tin, dữ liệu qua một mạng duy nhất (mà không cần đến sự tương tác trực tiếp giữa người với người, hay giữa người với máy).Bên cạnh IoT, Cách mạng công nghiệp 4.0 còn được đặc trưng bởi ứng dụng của Internet kết nối dịch vụ, hay còn gọi là IoS. Trong thập kỷ qua, lĩnh vực dịch vụ (đặc biệt là dịch vụ Internet) đã trở thành một trong những lĩnh vực kinh doanh có doanh thu lớn nhất, tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Các dịch vụ được áp dụng ngày càng phổ biến hơn trong doanh nghiệp, qua đó mang lại năng suất cao hơn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp một cách dễ dàng hơn.

Một số tổ chức, tập đoàn quốc tế đã xây dựng các giải pháp công nghệ thông tin để thúc đẩy các dịch vụ giá trị gia tăng. IoS được xem là “tầm nhìn mới” về dịch vụ ở thế hệ tiếp theo được cung cấp thông qua Internet. Trong IoS, các công nghệ tiên tiến được áp dụng để tạo ra các kênh phân phối cho dịch vụ mới và mô hình kinh doanh hoàn toàn mới. Việc tạo ra các dịch vụ này được hỗ trợ bởi một nền tảng mở và kiến trúc giao diện như Kiến trúc hướng dịch vụ doanh nghiệp (Enterprise Service-Oriented Architecture, SOA của doanh nghiệp). IoS đưa cách tiếp SOA của doanh nghiệp lên một “tầm cao mới” bằng cách đơn giản hóa các dịch vụ và giao dịch. Kết hợp với các công nghệ Web 2.0, IoS được kỳ vọng sẽ là công nghệ mang lại sự đổi mới trong dịch vụ.

Mô hình Cách mạng công nghiệp 4.0 được đưa ra với mục tiêu ban đầu là cải tiến (tự động hóa), tối ưu hoa quy trình sản xuất để nâng cao năng suất. Mục tiêu dài hạn của Cách mạng 4.0 là giúp thực hiện các hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển đổi sang các mô hình kinh doanh (với doanh thu cao hơn) dựa trên nền tảng là thông tin và dịch vụ số.

1.1/ Đặc trưng của Cách mạng công nghiệp 4.0

Đặc trưng của Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự hội tụ và ứng dụng của các công nghệ kỹ thuật số mới nổi trong đó, tiêu chuẩn được xem là nền tảng quan trọng nhất (xem Hình 1.2).Một số xu hướng công nghệ trong Cách mạng công nghiệp 4.0 gồm:

+ Dữ liệu lớn (Big Data): cho phép phân tích, tính toán để xác định các xu hướng xảy ra. Đồng  thời, dữ liệu lớn là điều kiện tiên quyết của Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence, AI).

+ Robot tự động (Autonomous Robots): là sự phát triển các máy móc để thay thế cho hoạt động của con người trong các hoạt động liên quan đến tư duy, đa chức năng và các kỹ năng vận động tinh xảo.

+ Điện toán đám mây (Cloud computing): là việc thực hiện việc lưu trữ, quản lý và xử lý dữ liệu trên Internet thông qua hệ thống các máy chủ từ xa (thay vì việc sử dụng một hệ thống các máy chủ cục bộ hoặc máy tính cá nhân).

+ Công nghệ in 3D (hay còn gọi là Sản xuất bồi đắp, Additive Manufacturing): là việc sử dụng một loạt các vật liệu (đặc biệt là vật liệu sinh học) và phương pháp tiến bộ để thực hiện “in” vật thể 3 chiều.

+ Internet kết nối vạn vật (IoT): là việc kết nối, theo dõi và quản lý các sản phẩm, hệ thống… từ xa thông qua các cảm biến nối mạng.

+ Tích hợp hệ thống (System Integration): là việc tích hợp dữ liệu khác nhau của doanh nghiệp dựa trên các tiêu chuẩn truyền dữ liệu.

+ Mô phỏng (Simulation): là việc tối ưu hóa các mạng giá trị từ các hệ thống  thông minh dựa trên dữ liệu theo thời gian thực

+ Công nghệ thực tế ảo tăng cường (Augmented Reality): là việc tạo giao diện tương tác giữa con người và máy tính trong môi trường ảo thông qua nhận diện hình ba chiều và “thực – ảo”.

+ An ninh mạng (Cybersecurity): là việc bảo vệ các hệ thống kết nối Internet (bao gồm phần cứng, phần mềm và dữ liệu) khỏi các cuộc tấn công mạng theo tốc độ phát triển của công nghệ.

Các ứng dụng công nghệ mới nêu trên đã góp phần quan trọng hình thành các đặc điểm của Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo Nghị viện châu Âu (European Parliament), một số đặc điểm chính của Cách mạng công nghiệp 4.0 bao gồm:

+ Tính tương tác: khả năng kết nối, liên lạc và trao đổi thông tin, dữ liệu giữa con người và các nhà máy thông minh (smart factory) thông qua hệ thống thực – ảo (cyber-physical system, CPS).

+ Tính ảo hóa: khả năng tạo một bản sao ảo của nhà máy thông minh (hay còn gọi là Digital Twin) trong môi trường mạng thông qua việc liên kết giữa công nghệ thu dữ liệu từ cảm biến, công nghệ phân tích dữ liệu và công nghệ mô phỏng.

+ Tính phân cấp: khả năng hệ thống thực-ảo thực hiện phân cấp trong việc tự đưa ra các quyết định sản xuất nhờ các công nghệ mới (như công nghệ in 3D, công nghệ AI…).

+ Tính liên tục: khả năng thu thập, phân tích dữ liệu và cung cấp các kết quả phân tích liên tục, theo thời gian thực.

+ Tính module: khả năng thích ứng “linh hoạt” của các nhà máy thông minh để đáp ứng sự thay đổi theo yêu cầu thông qua việc thay thế, bổ sung các modules độc lập trong dây chuyền sản xuất, kinh doanh.

+ Tính định hướng dịch vụ: khả năng dự đoán, nhận ra và đáp ứng nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng theo thời gian thực.

Như vậy, có thể thấy rằng, Cách mạng công nghiệp 4.0 được bắt đầu khi có sự tích hợp giữa thế giới kỹ thuật số Internet với các quy trình, dịch vụ trong sản xấut truyền thống nhằm tạo ra các giá trị mới có tiềm năng và “thông minh hơn”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Hà Minh Hiệp – Doanh nghiệp với lộ trình tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0 – NXB CTQG 2020.

Văn hóa tiêu dùng địa phương trong một thế giới đang toàn cầu hóa – Phần IV


Schein miêu tả “một kho thèm muốn” mà các hàng tiêu dùng như vậy có thể tạo ra, liên hệ đến sự “thèm khát cuồng dại” và “nô lệ hàng hóa” mà chúng có thể dẫn đến (Schein 1999, 347). Là một nhà nhân học, ba ta so sánh thực trạng của Trung Quốc đương đại với những thứ được  nhiều người sùng bái ở New Guinea vào đầu thế kỷ XX, nơi mà sự khao khát tiêu dùng xuất hiện một cách thần kỳ trong bối cảnh có sự khác biệt lớn về kinh tế và hàng ngoại được gắn liền với uy tín (cf. Burridge 1960; Worsley 1968). Schein dẫn lập luận của Georg Simmel rằng “chúng ta chỉ ao ước các vật thể nào chúng ta khôngc ó được ngay chúng để sử dụng hoặc thưởng thức…, chỉ khi nào chúng ta phải đạt được chúng bằng cách chinh phục khoảng cách, những cản trở và những khó khăn”, gợi ý rằng trong trường hợp này “khoảng cách” có một đặc điểm xuyên quốc gia và liên chủng tộc ghê gớm (Schein 1999, 358). Schein chỉ ra rằng ước muốn của người tiêu dùng là một cách để khắc phục những hạn chế về không gian, đạt được “tính trần tục” hay “chủ nghĩa thế giới” thông qua (thường là gián tiếp) việc tiếp cận với thế giới hàng hóa.

Ở đây rõ ràng có sự giống nhau với lập luận (nêu trên) của Hooper cho rằng mong muốn của người tiêu dùng không phải là cái Khác có tính “toàn cầu” không phân biệt được nào đó. Đúng hơn, Schein lập luận rằng người tiêu dùng các phương tiện thông tin đại chúng xuyên quốc gia ở Trung Quốc đại lục luôn hình dung họ là một phần của một cộng đồng các “đồng-sắc tộc” Trung Quốc lớn hơn, khai thác một loạt các thể thức thế án của Trung Quốc ngoài những thể thức được quảng cáo dưới các hình thức tính Trung Quốc được nhà nước quy định. Những thế án này bao gồm một niềm ao ước được tái thống nhất với những người Trung Quốc khác ngoài biên giới quốc gia Trung Quốc, nơi mà tiêu dùng có thể báo hiệu một hình thái bản sắc tập thể mới hoặc được phục hồi (cf. Yang 1997). Schein kiên trì cho rằng, cũng có thể thấy rõ lịch sử đặc biệt của Trung Quốc qua cách thức kích dục hóa ham muốn của người tiêu dùng trên các phương tiện thông tin đại chúng với những hình ảnh “đồ vật non trẻ rất gợi tình”, hoàn toàn không có trong văn hóa đại chúng thời Maoist, nhanh chóng liên kết những hình ảnh đã ăn sâu vào tiềm thức từ lâu nay của người dân về “người vợ hiền” và “người mẹ từng trải” (1999, 354). Schein kết luận rằng, chủ nghĩa tiêu dùng của Trung Quốc mang đậm dấu ấn của phương thức bá chủ toàn cầu mà trong đó hàng hóa được dùng để khêu gợi tình dục, chuyển giới tính thành giống cái, trở thành ngoạn mục và gắn liền với khoảng thời gian rỗi và tiêu dùng của người giàu có. Nhưng đồng thời nó cũng bắt rễ sâu vào những đặc thù của lịch sử Trung Quốc, dẫn đến chỗ mối quan hệ giữa tiêu dùng và khiêu dâm được thể hiện bằng một lối biểu hiện đặc biệt (1999, 366).

“Tiêu dùng nghệ thuật” ở Nga

Thí dụ thứ ba của tôi được trích từ nghiên cứu của Katerina Gerasimova (2003) về thói quen tiêu dùng của “người tiêu dùng bình thường” trong nền kinh tế Xô viết thời hậu chiến, dựa vào nghiên cứu lịch sử cuộc sống ở Leningrad và St. Petersburg và bao trùm thời kỳ từ năm 1945 đến 1991. Gerasimova nhận diện một nền văn hóa “tiêu dùng nghệ thuật”, một thuật ngữ được áp dụng không chỉ cho giai đoạn thu mua hàng tiêu dùng mà cả cho cái mà bà gọi là giai đoạn hậu hàng hóa của sử dụng và sử dụng lại (cf. Gregson và Crewe 2003). Gerasimova đưa ra tài liệu về cách thay đổi ý nghĩa của hàng hóa thông qua sử dụng, kể cả việc nhân cách hóa mọi thứ thông qua thói quen sửa chữa, truyền hàng hóa lại cho các thế hệ kế cận hoặc tìm ra các cách sử dụng mới cho những hàng hóa không còn phục vụ cho những mục đích ban đầu của chúng nữa. Gerasimova lập luận rằng trong thời kỳ Xô viết, nhiều hàng hóa đã được sản xuất ra theo cách như vậy để khuyến khích việc sửa chữa sau đó, việc vứt bỏ chúng đi được coi là phương sách cuối cùng. Quan niệm về “sự xa xỉ” và “mốt thời trang” (như là việc đổi mới quần áo theo mùa) bị phản đối, và những thứ vật chất thể hiện sự cam kết của một người với trình độ tinh thần cao hơn bị coi thường.

Gerasimova cũng lập luận rằng các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể là rất khác trong thời kỳ Xô Viết. Một chiếc ấm đun nước bị hỏng có thể được sửa chữa không phải vì nếu thay nó thì tốn kém mà vì những khách thể như vậy được coi là những chủ thể có quyền của riêng chúng. Sự cần thiết phải “sửa và làm” là dựa trên một quan niệm về tính chủ thể của các khách thể vật thể, được đối xử giống như “các đồng chí” mà cuộc đời của chúng cần được kéo dài khi còn có thể. Biết được nguyên lý hoạt động của mọi vật (hoặc thói quen làm cho chúng hoạt động trở lại) là một ưu thế có giá trị tập thể. Người tiêu dùng Xô viết rất thành thạo trong nghệ thuật tích trữ, trao đổi, đổi chác và dành dụm (“tùy trường hợp”) với nhiều hàng hóa được sử dụng khác với mục đích sử dụng ban đầu của chúng (như là sữa ăn liền cho rẻ em được dùng để làm các loại bánh ngọt, hoặc bột mì dùng để làm hồ dán tường). Đồ dùng gia đình không dùng đến nữa có thể được đưa đến dacha (nhà ở nông thôn) hoặc tặng cho một người bà con hơn là vứt bỏ nó đi. Mặc dù căn phòng của họ có thể đầy áp đồ dùng, nhưng vẫn không nên coi sự thật đó là bằng chứng của “sự tiêu dùng khác thường”. Đúng hơn, Gerasimova gợi ra, sửa chữa hoặc dừng lại là những chiến lược thiết thực trong một bối cảnh thiếu thốn kinh niên, nhưng nó cũng thể hiện một nền kinh tế quốc nội cho phép người tiêu dùng có được sự độc lập nào đó với nhà nước.

Caroline Humphrey tiếp tục câu chuyện, bà xem xét dòng hàng hóa nhập khẩu đi liền với sự xuất hiện của một nền kinh tế thị trường ở Liên Xô cũ trong những năm 1980. Không hẳn là được chào đón một cách rõ ràng, nghiên cứu của bà cho thấy rằng thái độ của người Nga đương đại đối với tiêu dùng là “phức tạp, đôi khi tiêu cực, và tùy thuộc vào sự thay đổi lịch sử nhanh chóng” (Humphrey 1995, 43). Thái độ và thói quen của người tiêu dùng, Humphrey lập luận, thể hiện mức độ dai dẳng ghê gớm của thời kỳ cuối Xô viết, những thay đổi nhanh chóng gần đây về mặt xã hội dẫn đến một dân số được phân cực hóa bởi thế hệ, tách những người được sinh ra trong thời kỳ Xô viết với những người trưởng thành trong công cuộc cải tổ của Gorbachev. Trong thời kỳ Xô viết, gần như toàn bộ hàng tiêu dùng đều do các xí nghiệp nhà nước sản xuất và được phân phối theo kế hoạch tập trung. Mặc dù chúng ta có thể được sản xuất ra cách nơi chúng được tiêu dùng một khoảng cách nào đó, hầu hết chúng đều được coi là nashi (“của chúng ta”), khác với cơn thác lũ gần đây về hàng hóa nhập khẩu dứt khoát là nenashi (không phải của chúng ta). Mặc dù đại đa số người Nga tiếp tục xoay xở để sống bằng khoản thu nhập rất thấp của mình, thái độ của họ đối với tiêu dùng hiện nay có được là nhờ sự hiểu biết rộng hơn về thế giới bên ngoài.

Nghiên cứu của Humphrey về tiêu dùng hiện thời ở Moscow (dựa vào chuyến đi thực tế vào giữa những năm 1990) cho thấy nhiều quen lâu đời vẫn tiếp tục tồn tại. Những thói quen này bao gồm cách sắp xếp bày biện cửa hàng, cách trưng bày hàng hóa và văn hóa xếp hàng. Dựa vào Những lá thư của một du khách Nga của Bukovskii (1981), bà cho thấy rằng những hình ảnh được xác lập lâu dài về “sự lừa gạt” (obman) gắn liền với chính quyền Xô viết cũ đã ảnh hưởng đến thái độ hiện nay đối với hàng tiêu dùng của phương Tây thông qua một thứ văn hóa quen hoài nghi, từ chối mua các mặt hàng bằng giá trị bề mặt của chúng (Humphrey 1995, 45). Nhiều công ty (cả nhà nước lẫn tư nhân) tiếp tục trả lương cho người làm công bằng các phiếu lấy hàng hoặc hóa đơn lấy hàng (những chứng từ này được miễn thuế) góp phần duy trì các hình thức phân phối được quyết định tập trung trước đây. Các công ty khác không có khả năng trả lương và phải đóng cửa công ty trong vài tháng liên tục. Do vậy, Humphrey cho biết, người Nga nói chung chia tiền của họ thành tiền mặt (nalichniye) và tiền ý niệm nợ một ai đó (beznalichniye). Do tình trạng thiếu nalichniye nói chung, nên các cửa hàng có thể đầy ắp hàng tiêu dùng hào nhoáng nhưng hầu hết người tiêu dùng buộc phải tìm những hàng thiết yếu rẻ tiền, làm tăng thêm cảm giác rằng nền kinh tế thị trường là dựa vào sự lừa gạt. Humphrey miêu tả lại những cảm n ghĩ của một du khách người Nga khi sang phương Tây:

Tất cả những thứ này chắc hản chỉ để trưng bày (napokaz) giống như trong một quầy trưng bày của một cửa hàng Xô viết và tất nhiên không ai mua chúng. Vì thế chẳng có ai xếp hàng để mua và khối lượng hàng hóa khổng lồ như vậy nằm im không bán được. Hàng thật rất khó mua (dobyvat), và chỉ tìm được (otkopit) và mua được ở bên cạnh (nalevo), từ dưới quầy hàng hoặc những nơi lén lút mà như mọi người biết là chỉ để cho những người được dành riêng (Humphrey 1995, 57).

Trong thời kỳ hậu Xô viết, người Nga hoài nghi hàng hóa của phương Tây, điều đó khẳng định  rằng người tiêu dùng nghĩ rằng họ sẽ lại bị lừa. Mặc dù hàng tiêu dùng có thể đã từng thể hiện sự bất chấp chế độ chính trị chính thức, tuy nhiên, chúng hiện đã được gắn liền với các cuộc cải tổ kinh tế của chính phủ và với sự gia tăng của một tầng lớp chủ doanh nghiệp người Nga Mới mà những vụ buôn bán mờ ám của họ đã trở thành một thí dụ hoàn hảo của quá trình đó. Mua những hàng đặc biệt “Nga” – thí dụ như đất để xây một dacha – được coi là một đầu tư sáng suốt và mong muốn đầu tư đó được thể hiện ở chỗ người tiêu dùng sẵn sàng chịu đựng như thiếu thốn để có thể mua được mảnh đất đó. Một văn hóa tiết kiệm và tiết dục đã trở thành phổ biến, mà trong đó nhiều dân thường Nga muốn dựa vào gia đình và các mạng xã hội hơn là vào những thất thường của thị trường. Humphrey kết luận, theo sự tác động của “toàn cầu hóa”, tốc độ thay đổi làm cho mọi người sửng sốt gần đây ở Liên Xô cũ không hề tạo ra một sự đồng nhất về văn hóa tiêu dùng mà tạo ra một sự tổng hợp nhiều loại hình văn hóa mà ở đó tiêu dùng (và từ chối tiêu dùng) vẫn còn ăn sâu trong thái độ xã hội lâu đời và những quan niệm đạo đức về nền kinh tế chính trị.

(còn tiếp)

Người dịch: Hoàng Hoa

Nguồn: Peter Jackson – Local consumption cultures in a globalizing world – Transactions of The Institute of British Geographies, Vol.29, Issue 2, June 2004, p.165-178.

TN 2006 – 53, 54 & 55

Văn hóa tiêu dùng địa phương trong một thế giới đang toàn cầu hóa – Phần III


Nghiên cứu riêng của chúng tôi cố gắng mở rộng công trình này thông qua việc khảo sát các loại hình văn hóa ẩm thực và thời trang xuyên quốc gia ở London và Mumbai (cf. Dwyer và Jackson 2003). Dự án này sử dụng bằng chứng của nhóm nòng cốt để đưa ra một cách lý giải “có cơ sở” hơn về toàn cầu hóa và để thách thức lối thể hiện một cách đơn giản truyền thống và hiện đại dựa trên “Đông” và “Tây” (Jackson et al. 2004). Mặc dù một vài người được nhóm nòng cốt của chúng tôi hỏi cảm thấy rằng “những đồ ăn nhanh như đồ ăn của nhà hàng McDonald đã thay thế đồ ăn của nhà hàng Mumbai”, các đồ ăn sẵn ở địa phương thường được coi là một nguồn tự hào: “Ở Bombay chúng tôi có thể mua bất kỳ thứ gì”; “Thực ra Bombay là nơi bạn có thể mua mọi thứ và bạn được thưởng thức đủ loại hình văn hóa”; “Chúng tôi ăn mọi thứ” (kể cả món ăn của Thái Lan, Trung Quốc và Mexico); “Người Ấn Độ về cơ bản thích nghi với mọi loại thực phẩm”. Hơn nữa, những người được hỏi tổ chức lễ kỷ niệm ngày năng lực của thành phố để thu hút và thích nghi với đủ các loại ảnh hưởng của nước ngoài: “Bombay hấp thụ mọi thứ”.

Một vài nhóm nòng cốt của chúng tôi liên hệ đến việc “Ấn Độ hóa món pizza (thường món này được coi là lai giữa Italy và Mỹ), kể cả một nhóm nói về món “pizza Punjabi” của Ấn Độ có thêm lớp sốt tráng trên bền mặt và món masala làm sẵn. Những nhóm khác đề cập đến việc cho thêm nước sốt tỏi và ớt vào món burger của cửa hàng McDonald’s, mặc dù đồ ăn của Trung Quốc vẫn thường được coi là của Ấn Độ hoặc Trung – Ấn và có người vẫn khăng khăng cho rằng “người Ấn Độ nấu món ăn Trung Quốc giỏi hơn người Trung Quốc nhiều”. Các truyền thống ăn uống khác nhau như đi ăn hiệu (cf. Conlan 1995) đã góp phần kéo dài sự tồn tại của các cách nấu ăn “toàn cầu” được du nhập vào đất nước này. Việc cả gia đình đi ăn nhà hàng – thường là vào tối chủ nhật – là điều hết sức bình thường và phổ biến trong mọi thế hệ. Một ông già đã nghỉ hưu nói về việc đi ăn nhà hàng ít nhất một lần một tuần và vào ngày nghỉ cuối tuần và về sự phổ biến của việc đi ăn hiệu như một chuyến picnic của gia đình.

Nghiên cứu của chúng tôi về thời trang xuyên quốc gia cũng thách thức những cách nghĩ đơn giản về việc phương Tây hóa c ách ăn mặc của người “châu Á”. Thay vào đó, chúng tôi vạch ra rằng tốc độ thay đổi là không đồng đều về mặt xã hội và không gian ở cả London và Mumbai, với bằng chứng về “nhiều kiểu hiện đại” hơn là một đường dốc Đông – Tây đơn độc. Vì thế, thí dụ, nhiều người ấn Độ mà chúng tôi phỏng vấn rất muốn nhấn mạnh vào tính hiện đại của Mumbai, dù là về nhịp độ rất nhanh của cuộc sống, khả năng thành phố này trong việc hấp thụ một loạt những ảnh hưởng quốc tế, hay là sự tự do lựa chọn đã gia tăng của người tiêu dùng hiện đại. Sự tương phản mà nhiều người thường nhận thấy giữa tính hiện đại của “phương Tây” và truyền thống của “phương Đông” không chỉ bị nhiều người tham gia nhóm nòng cốt của chúng tôi phản đối mà trong một vài trường hợp còn bị đảo ngược. Một nhóm sinh viên đại học ở Mumbai cứ khăng khăng rằng những người anh chị em họ của họ đang sống ở nước ngoài còn ăn mặc theo kiểu truyền thống hơn  họ, bởi vì ngày nay “bạn có thể mua mọi thứ ở Mumbai”. Phụ nữ trẻ làm việc trong ngành thời trang cũng quả quyết rằng bà con của họ ở bên Anh còn tụt hậu xa so với xu hướng thời trang ở Ấn Độ. Các thành viên của một trong những nhóm có trụ sở ở London của chúng tôi nhớ lại “họ đã sành điệu” ở Ấn Độ và Pakistan hơn ở Anh như thế nào:

Chúng tôi không bao giờ biết mốt ở Pakistan hoặc Ấn Độ sẽ như thế nào, và bỗng nhiên chúng tôi lạc hậu so với mốt 5 năm, nghĩa là chúng tôi đang mặc những bộ quần áo mà người dân ở đó đã mặc cách đây 5 năm và nếu bạn đi tới đó bạn sẽ cảm thấy “Ôi lạy Chúa, tôi đã lỗi mốt rồi”.

Walton-Roberts và Pratt (2004) cũng có những phát hiện tương tự từ công việc của họ với những người Ấn Độ không thường trú ở Canada và Anh, những nơi mà người ta vẫn coi Ấn Độ hiện đại về thời trang và phong cách hơn ở Anh, thách thức quan niệm ngạo mạn cho rằng sự hiện đại chỉ có ở phương Tây. Một nhóm sinh viên lai Anh – Á ở London miêu tả họ đã cố gắng “theo kịp những gì đang diễn ra trong các bộ phim của của Hollywood, những gì mà các minh tinh màn bạc đang mặc và ăn” như thế nào, thừa nhận rằng điều này có nghĩa là họ “luôn luôn lạc hậu so với mốt thời thượng như thế nào”: “Tôi luôn lạc hậu về mốt thời trang so với các anh chị em họ của tôi”.

“Chủ nghĩa dân tộc người tiêu dùng” ở Trung Quốc

Mặc dù ở một mức độ nào đó có thể hiểu sự thâm nhập của hàng tiêu dùng nước ngoài vào Trung Quốc như một trường hợp đơn giản của toàn cầu hóa với việc các công ty như Coca-Cola và Pepsi mua hết toàn bộ những công ty sản xuất đồ uống có ga của địa phương và “làm nổi bật” thương thiệu của họ, thì ở đây công trình gần đây của Beverly Hooper (2000) cũng tìm thấy bằng chứng của sự lai tạp hóa, nội địa hóa và chống lại những xu hướng này. Một số hình thức phản đối của người tiêu dùng là rất rõ ràng, như khi học sinh ở Nam Kinh hét lên Dado Maidanglao (“Đả đảo đồ ăn McDonald’s”) lúc họ diễu hành qua một nhà hàng của địa phương, hay khi một người phản đối ở Quảng Châu dựng lên một tấm áp phích trên đó ghi: “Tôi thà chết khát còn hơn uống Coca-Cola. Tôi thà chết đói còn hơn ăn các đồ ăn McDonald’s” (Hooper 2000, 452).

Nhưng cũng có những hình thức phản đối tế nhị hơn, bao gồm những hình thức được thể hiện qua ngôn ngữ của “chủ nghĩa dân tộc tiêu dùng”. Đa số hàng ngoại ở Trung Quốc là của Nhật Bản hoặc của Mỹ, và lý do người tiêu dùng ưa chuộng hàng của hai nước này được giải thích là vì chất lượng và độ tin cậy cũng như thứ hạng của chúng. Mặc dù hàng Mỹ và hàng Nhật nói chung là ngang nhau về tính hiện đại sành điệu, nhưng mức tiêu cùng chúng bị hạn chế bởi lịch sử nhiều năm Trung Quốc bị nước ngoài đô hộ và Hooper miêu tả như một trải nghiệm nhục nhã đã để lại dấu ấn không thể tẩy xóa được. Khi nói đến các cuộc biểu tình chính trị, các cuộc đình công và tẩy chay hàng ngoại trong suốt một thế kỷ qua, Hooper cũng lưu ý, các phương tiện thông tin đại chúng đã ví dụ sự du nhập của các mặt hàng tiêu dùng của nước ngoài với một “cuộc xâm lược”, mặc dù các quan chức chính phủ và các nhà sản xuất đã cố gắng thúc đẩy hàng hóa bản địa thông qua ngôn ngữ của “chủ nghĩa dân tộc tiêu dùng” (xiaofei minzuzhuyi). Vì thế, thí dụ, các nhà sản xuất địa phương sản xuất các mỹ phẩm và thức ăn nhanh đã cố gắng tư bản hóa dựa trên sự hiểu biết văn hóa sâu rộng hơn của họ về người tiêu dùng Trung Quốc, sáng tạo hoặc phục hồi truyền thống văn hóa vì những mục đích thương mại của riêng họ. Thí dụ trong cuộc cạnh tranh với Kentucky Fried Chicken, Công ty Ronghua Fried Chicken có trụ sở tại Thượng Hải đã lập luận rằng sản phẩm của họ “phù hợp hơn” với khẩu vị của người tiêu dùng địa phương (sử dụng một thứ nước sốt gồm 21 loại rau thơm truyền thống của Trung Quốc được coi là có giá trị chữa bệnh, cùng với các loại nguyên liệu đặc biệt khác được coi là để phục hồi sự cân bằng yingyang (âm dương) của người tiêu dùng (Hooper 2000, 457)). Tương tự, các nhà sản xuất địa phương chuyên sản xuất các mỹ phẩm cho tóc và sắc đẹp khẳng định rằng họ am hiểu nét khác biệt của phụ nữ “phương Đông” (Dongfang nuxing) hoặc “phụ nữ châu Á” (Yazhou nuxing). Với việc công ty L’Oreal của Pháp tuyển chọn Củng Lợi, minh tinh màn bạc và là nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc làm “bộ mặt của L’Oreal” ở nước sở tại, các công ty nước ngoài đã phản lại “chính hiện thân vẻ đẹp và tao nhã của người Trung Quốc” (Hooper 2000, 460). Việc sử dụng lối giải thích kiểu phương Đông này rõ ràng thể hiện sự lựa chọn các chiến lược đối phó, nếu không nói là chống lại thẳng thừng, dòng sản phẩm toàn cầu chảy vào Trung Quốc (cf. Davis 2000).

Louisa Schein (1999) đưa thêm những bằng chứng cho thấy tính phức tạp của mong muốn tiêu dùng ở Trung Quốc thời sau Mao mà nói chung khó có thể gói gọn một cách đơn giản trong thuật ngữ “toàn cầu hóa”. Bà ta nhấn mạnh rằng đối với nhiều người tiêu dùng Trung Quốc, nhất là những người ở các vùng nông thôn có các nguồn tài chính eo hẹp, tiêu dùng được thể hiện dưới hình thức xem hơn là mua, và các phương tiện thông tin đại chúng và quảng cáo là đối tượng của tiêu dùng hơn là chính bản thân hàng hóa. Trung tâm của hình thức tiêu dùng này là tất cả các thói quen xã hội về tưởng tượng,  thèm muốn, ước ao và khao khát, chúng biến hàng hóa thành vật kích dục dựa trên những chế độ phức tạp của tính dục và giới tính. Sự ham muốn như vậy rõ ràng đã bị “xóa bỏ lãnh thổ” theo nghĩa là người tiêu dùng có thể bước vào không gian hàng hóa ảo này nhưng không có những hàng hóa mà về mặt vật thể họ có thể tiếp cận được. Nhưng nó cũng là một hình thức tiêu dùng mang tính “địa phương” mạnh mẽ, ở chỗ ý nghĩa của các loại hàng hóa cụ thể được tạo ra bởi các lực lượng văn hóa cụ thể, như công trình nghiên cứu riêng của Schein về người thiểu số Miao ở tỉnh Quảng Đông, miền Tây – Nam Trung Quốc, đã chỉ ra. Trong bối cảnh này, những mặt hàng xa xỉ được tiếp cận qua các tạp chí phổ thông và qua truyền hình vệ tinh.

(còn tiếp) 

Người dịch: Hoàng Hoa

Nguồn: Peter Jackson – Local consumption cultures in a globalizing world – Transactions of The Institute of British Geographies, Vol.29, Issue 2, June 2004, p.165-178.

TN 2006 – 53, 54 & 55

Văn hóa tiêu dùng địa phương trong một thế giới đang toàn cầu hóa – Phần II


Như Escobar tuyên bố, nếu văn hóa vẫn “ngồi nguyên tại chỗ” bất chấp những thế lực thay thế và xóa bỏ lãnh thổ đi kèm theo toàn cầu hóa, thì nó làm được như vậy là nhờ kết quả của cái mà Escobar miêu tả là “những chiến lược địa phương hóa của sĩ quan cấp úy” (2001, 159).

Lịch sử quảng cáo quốc tế đặc biệt có hiệu quả về mặt này, rất nhiều thí dụ cho thấy những giới hạn văn hóa của toàn cầu hóa. Mặc dù rất nhiều người đã dành nhiều sức lực để tạo ra một thông điệp đơn nhất “toàn cầu”,  và bất chấp dòng người, tiền và chế phẩm xuyên quốc gia ngày càng tăng, vẫn còn lâu mới đạt được sự đồng nhất về văn hóa. Thay vì đưa sản phẩm hiện có của mình sang một thị trường không khác biệt về mặt địa lý, các nhà sản xuất lại phải làm cho thương hiệu “toàn cầu” của mình thích nghi với rất nhiều điều kiện của nơi tiêu thụ sản phẩm đó. Vậy là thật trái khoáy, chính toàn cầu hóa lại đòi hỏi các công ty phải chấp nhận và làm theo một loạt chiến lược địa phương hóa để thành công về mặt thương mại. Hai thí dụ ngắn gọn có thể minh họa cho ý này. Thí dụ thứ nhất là khảo sát của Wood và Grosvenor (1997) về sự bành trướng của công ty sản xuất bánh kẹo Anh Cadbury vào Trung Quốc. Từ khi Trung Quốc triển khai chính sách mở cửa vào cuối những năm 1970, đất nước này đã tích cực khuyến khích đầu tư nước ngoài. Làm việc thông qua một công ty lép vốn của mình ở Australia, công ty Cadbury nhanh chóng tiến tới chỗ thành lập một nhà máy sản xuất kẹo chocolate ở Trung Quốc. Nhưng đây không đơn giản là một quá trình “toàn cầu hóa” mà nhờ đó, thị hiếu của phương Tây về đồ ăn nhanh và bánh kẹo đã được xuất khẩu một cách đơn giản sang các nước khác trên thế giới. Mặc dù Cadbury vẫn rất muốn duy trì những chuẩn mực sản xuất của riêng mình, nhưng công ty này buộc phải có những thay đổi lớn về sản phẩm và quy trình sản xuất để phù hợp với guoqing (tình hình đặc thù của Trung Quốc). Giống như các công ty nước ngoài khác, Cadbury phải thích nghi với cách làm ăn của người Trung Quốc mà theo cách miêu tả của Wood và Grosvenor là “mang nặng tính cá nhân và dựa vào guanxi (theo nghĩa đen, những mối quan hệ) và xinyong (sự nổi tiếng là đáng tin cậy của ai đó)” (Wood và Grosvenor 1997, 177). Cadbury tránh thị trường đại trà cho bánh kẹo sử dụng đường mà thay vào đó tập trung vào việc phát triển các sản phẩm có nhãn hiệu cho nhiều loại người tiêu dùng. Các sản pah63m được mang những cái tên địa phương như Jibaili (may mắn và một trăm cái lợi) và công thức chế biến được thay đổi để giảm hàm lượng đường và tăng lượng chất rắn có hàm lượng cacao cao. Phải khắc phục được các vấn đề kỹ thuật như bảo quản tốt trong tủ lạnh và sẵn sàng cung cấp sữa tươi sạch, đồng thời phải tập huấn cho đội ngũ công nhân để đáp ứng những tiêu chuẩn mới lạ của riêng công ty. Việc tiếp thị và phân phối cũng đặt ra những thách thức đáng kể ở môt nước tương đối hiếm hình thức tự phục vụ và viêc mua sắm tùy hứng là tương đối mới mẻ. Vậy thì mặc dù nó có thể đại diện cho toàn cầu hóa theo một nghĩa nào đó, việc đưa chocolate của Cadbury vào Trung Quốc thể hiện rõ tính co dãn của các loại hình văn hóa tiêu dùng địa phương mà các tập đoàn xuyên quốc gia phải thích nghi nếu họ muốn thành công.

Thí dụ thứ hai liên quan đến cuộc đấu tranh chính trị trong việc tiếp thị cam của Nam Phi trong thời đại Apartheid. Trường hợp này cho thấy các điều kiện địa lý “địa phương” có thể làm thay đổi những tham vọng toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia như thế nào. Mathew và Rowcroft (2004) đưa ra tài liệu về việc Sở giao dịch Cam Nam Phi bị buộc không được đề cập đến “vốn tri thức” địa lý địa phương khi tiếp thị cam ở nước ngoài vì những mối liên hệ rắc rối của sản phẩm này với chế độ Apartheid như thế nào (Điều này trái ngược với chiến lược trước đó của Ban Tiếp thị Đế quốc về việc đề cập trực tiếp đến xuất xứ hàng hóa và thành viên Nam Phi của đế quốc Anh). Mặc dù không có sự đề cập trực tiếp đến đất nước xuất xứ, chiến dịch khuyến mãi của Sở Giao dịch Cam trong những năm 1960 và 1970 vẫn thể hiện rõ nét lịch sử của Nam Phi. Thậm chí nhãn hiệu sản phẩm “Outspan” làm cho người ta liên tưởng đến quá trình tháo ách một đàn bò đực mà các voortrekher vẫn sử dụng khi chúng đi vào vùng nội địa của nước này. Sở Giao dịch Cam cũng sử dụng một nhóm toàn “các cô gái outspan” da trắng Nam Phi để tiếp thị loại quả này. Như một nhà bình luận đương đại đã nhận xét:

Nam Phi phải biết ơn Sở Giao dịch Cam vì đã cử các nữ sứ giả trẻ này đi du lịch nước ngoài. Họ không những đã bán cam của chúng ta mà còn quảng cáo cả những phẩm chất tốt đẹp của người Nam Phi và những vẻ đẹp của các cô gái của chúng ta (Cartwright 1976, 96).

Điều có ý nghĩa đặc biệt là “các cô gái outspan” được hướng dẫn không tham gia vào các cuộc trao đổi chính trị và chỉ hạn chế các cuộc nói chuyện của họ trong phạm vi thúc đẩy hình ảnh lành mạnh về loại quả này. Các nhóm đối lập thực hiện một chính sách hoàn toàn đối lập qua việc Tổ chức Boycott Outspan Aktie (BOA) có trụ sở ở Hà Lan cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin về tình hình chính trị ở Nam Phi và biến việc tẩy chay hoa quả của Nam Phi thành một nội dugn chính của cuộc đấu tranh chống lại chế độ Apartheid. Trong một ấn phẩm (Outspan: bowwtene voor Apartheid hay Xây những viên gạch cho chế độ Apartheid), BOA đã trích dẫn trực tiếp lời của nguyên Tổng thống B.J. Vorster, người đã có lần tuyên bố: “Mỗi lần một sản phẩm của Nam Phi được bán ra là một viên gạch nữa trong bức tường tiếp tục tồn tại của chúng ta”. Được dịch sang tiếng Anh là Outspan, những trái quả đáng xấu hổ, ấn phẩm đó đã gắn việc sản xuất cam với lịch sử thực dân của Nam Phi và đầy rẫy những bất bình đẳng của chế độ Apartheid (BOA 1972). BOA đã tổ chức một loạt đợt tẩy chay của người tiêu dùng vào những năm 1970 và đưa ra thế án củ riêng họ cho “những cô cái outspan”: thuê một nhóm “cô gái inspan đa chủng tộc”, những người lôi cuốn người tiêu dùng vào cuộc thảo luận về vấn đề chính trị của Nam Phi và cố gắng tạo ra một sự liên kết trực tiếp giữa Outspan và chế độ Apartheid. Cuộc đấu tranh về những quả cam Outspan đã cho thấy rõ sự nổi bật tiếp tục của “cái địa phương” trong ngôn ngữ tiếp thị toàn cầu, cả ở những nơi có sự phối hợp nỗ lực để ngăn cấm “vốn tri thức địa lý” gắn liền với những hàng hóa cụ thể (cf. Cook và Crang 1996).

Để theo đuổi tiếp cách lập luận này, phần dưới đây sẽ đưa ra những bằng chứng cụ thể hơn về ba nơi đối lập nhau, ở đó “toàn cầu hóa” được hiểu rất khác nhau theo ngôn ngữ của các loại hình văn hóa tiêu dùng “địa phương”.

Tiêu dùng và “văn hóa đại chúng” ở Ấn Độ

Thí dụ thứ nhất rút từ nghiên cứu gần đây của riêng tôi (với Phil Crang, Claire Dwyer và Nicola Thomas) về địa lý của văn hóa tiêu dùng xuyên quốc gia ở Mumbai. Nghiên cứu của chúng tôi được gợi hứng bởi truyền thống nghiên cứu lâu đời về “văn hóa công cộng” ở Ấn Độ, một thuật ngữ được nghe quen dần từ công trình có sức ảnh hưởng lớn của Habermas năm 1989 về sự thay đổi của lĩnh vực công cộng. Theo cách dùng của Appadurai và Breckenridge, văn hóa công cộng là nói về không gian giữa cuộc sống bản địa và các dự án của nhà nước – dân tộc – ở đó các nhóm xã hội khác nhau (các giai cấp, các nhóm sắc tộc, các giới) hình thành nên bản sắc của họ nhờ kinh nghiệm của họ về các hình thái văn hóa được các phương tiện thông tin đại chúng truyền đi, liên quan đến các thói quen của cuộc sống thường ngày (1995, 495).

Dự án “văn hóa công cộng” của Appadurai và Breckenridge tiêu biểu cho một sự can thiệp vào các cuộc tranh luận về toàn cầu hóa nói chung và về hiện đại hóa ở Ấn Độ nói riêng. Về toàn cầu hóa, họ cố gắng thách thức những ai cho rằng “Mỹ hóa hoặc hàng hóa hoặc McDonald hóa (hoặc một biến thể tương tự như vậy) đang làm cho thế giới trở thành giống nhau và tạo ra một thế giới phảng phất thế giới của Mỹ” (Appadurai và Breckenridge, 1995, 1). Về hiện đại hóa ở Ấn Độ, họ cố gắng nhấn mạnh vào ý nghĩa địa phương của tính hiện đại liên quan đến các hình thái cụ thể của tính chủ quan, sự môi giới, sự thích thú và kinh nghiệm chứa đựng trong đó. Nghiên cứu của họ thể hiện vai trò tích cực của người tiêu dùng trong việc hình thành nên kinh nghiệm này, với văn hóa công cộng nổi lên như một địa điểm chính để đọ sức về mặt văn hóa. Truyền thống “văn hóa công cộng” vẫn còn rất sống động vì vẫn có thể nhìn thấy nó từ tờ tạp chí mang tên của người khởi xướng và trong các nghiên cứu mới về sân khấu công cộng, về nghệ thuật kể chuyện, phim ảnh và văn hóa tạp chí ở Ấn Độ (Dwyer và Pinney, 2001).

(còn tiếp) 

Người dịch: Hoàng Hoa

Nguồn: Peter Jackson – Local consumption cultures in a globalizing world – Transactions of The Institute of British Geographies, Vol.29, Issue 2, June 2004, p.165-178.

TN 2006 – 53, 54 & 55

Văn hóa tiêu dùng địa phương trong một thế giới đang toàn cầu hóa – Phần I


Peter Jackson

Tóm tắt

Tập trung vào tính co dãn của các loại hình văn hóa tiêu dùng địa phương khác nhau, bài viết thách thức một vài tuyên bố có ảnh hưởng sâu rộng được đưa ra nhân danh “toàn cầu  hóa”. Việc suy nghĩ về một thế giới đang toàn cầu hóa hơn là đã được toàn cầu hóa hoàn toàn kích thích chúng ta xem xét kỹ lưỡng bản chất của khái niệm gây tranh cãi sâu sắc này, khảo sát tỉ mỉ bản chất không đồng đều về mặt địa lý của những biến đổi kinh tế, chính trị và văn hóa gần đây. Bài viết tiếp cận toàn cầu hóa với tính cách là một nơi diễn ra cuộc đấu tranh hơn là một thực tế đã được chính thức hóa, nhấn mạnh sự cần thiết phải có những nghiên cứu dựa vào kinh nghiệm thực tế về tác động của toàn cầu hóa đối với các loại hình văn hóa tiêu dùng trong các bối cảnh địa lý khác nhau. Bài viết nghiên cứu kỹ cách thức các nhà sản xuất điều chỉnh các sản phẩm của mình theo thị hiếu của khách hàng cho các thị trường khác nhau (sử dụng những bằng chứng có được ở Trung Quốc và Nam Phi). Sau đó bài viết xem xét bằng chứng của các nghiên cứu trường hợp (case studies) về 3 loại hình văn hóa tiêu dùng đối lập nhau: “tiêu dùng và văn hóa đại chúng” ở Ấn Độ, “chủ nghĩa dân tộc người tiêu dùng” ở Trung Quốc, và “tiêu dùng nghệ thuật” ở Nga. Bài viết kết thúc bằng việc nhận diện một số cuộc tranh luận gần đây và phác ra một vài hướng nghiên cứu trong tương lai, kể cả việc nhấn mạnh lại vào văn hóa tiêu dùng và văn hóa vật chất; khảo sát tỉ mỉ tiêu dùng với tính cách là một thực tiễn xã hội; mô tả các loại hình văn hóa tiêu dùng hàng hóa cụ thể và một vài biểu hiện của các vấn đề chính trị, đạo đức và phương pháp luận đang được đặt ra trong nghiên cứu về tiêu dùng đương đại…

Toàn cầu hóa với tính cách là nơi diễn ra cuộc đấu tranh

“Toàn cầu hóa” là một khái niệm gây tranh cãi sâu sắc và chiếm vị trí gần như có bùa phép trong những năm gần đây. Giống như những thuật ngữ bùa phép khác, nhiều tuyên bố đao to búa lớn đã được đưa ra nhân danh nó. Theo Peter Dicken, từ ngày bắt đầu xuất hiện trong các khoa học xã hội vào những năm 1960 trong một cuộc tranh luận rộng rãi về tác động xã hội của các công nghệ truyền thông mới. Thuật ngữ này được coi là báo trước một thế giới trong đó các nhà nước – dân tộc không còn là những tác nhân quan trọng hoặc những đơn vị kinh tế đáng kể nừa; trong đó thị hiệu và văn hóa tiêu dùng được đồng nhất hóa và được thỏa mãn thông qua việc cung cấp những sản phẩm chuẩn hóa toàn cầu do các tập đoàn toàn cầu sản xuất ra mà không tính đến nét riêng biệt của từng nơi và từng cộng đồng sử dụng chúng (Dicken, 2000, 315).

Manuel Casstell, người thường được coi là chống lại quan điểm này, lập luận rằng các công nghệ thông tin đang sản sinh ra một thế giới không có xích mích hoặc “không gian của các dòng chảy” thay thế cho “không gian của các nơi chốn” quen thuộc trước đây (Castells, 1991, 1996). Hay nói cách khác, toàn cầu hóa phải chịu trách nhiệm về sự xói mòn khác biệt giữa các vùng, nơi mà những o ép về địa lý đối với những sắp đặt xã hội và văn hóa đang lùi xa dần và con người đang ngày càng ý thức được rằng họ đang lùi xa dần (Waters, 1995).

Trong bài viết này tôi hợp lực với tất cả những ai từng cố gắng thể hiện tính co dãn của các nền văn hóa địa phương chống lại một vài tuyên bố đao to búa lớn được đưa ra nhân danh toàn cầu hóa. Làm theo David Held (2004), tôi thích nói về một thế giới “đang toàn cầu hóa” hơn là suy nghĩ về một thế giới “đã được toàn cầu hóa” hoàn toàn. Mặc dù tốc độ và cường độ của biến đổi xã hội đã gây ấn tượng mạnh nhưng tác động về mặt địa lý của nó rất không đồng đều. Cho nên, cần “đặt nền” ngay cho việc nghiên cứu toàn cầu hóa thông qua điều tra thực nghiệm về những địa điểm cụ thể và cần lịch sử hóa những chuyển hóa đã diễn ra trong ký ức sống. Vì vậy, Hirst và Thompson, chẳng hạn, đã nhắc nhở chúng ta rằng toàn cầu hóa hoàn toàn không phải là một khái niệm mới, và rằng các thế hệ trước đây đã chứng kiến những chuyển hóa xã hội gây xúc động tương tự như hiện nay sau những giai đoạn bành trướng trước đây của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, trong công trình tái nghiên cứu rất có uy tín của Bayly (2004) về lịch sử tiêu dùng dưới ánh sáng của những phê bình hậu thực dân gần đây cũng vậy, ông đã nêu ra một trường hợp có sức thuyết phục rằng thế giới trong thế kỷ XVIII và XIX được toàn cầu hóa ở mức cao hơn nhiều so với những gì mà mọi người vẫn thường nghĩ. Những tài liệu nói về sự liên kết lẫn nhau trên toàn cầu như vậy nhấn mạnh rằng tính hiện đại có nguồn gốc ở nhiều nơi, và chỉ ra rằng sức mạnh của châu Âu, dù ngày càng chiếm ưu thế, vẫn gây tranh cãi kịch liệt. Từ góc nhìn như vậy, trong kỷ nguyên  hiện nay, nói đến “toàn cầu hóa” là nói đến một công cụ tu từ, được sử dụng để ủng hộ một chương trình nghị sự chính trị (tự do mới) cụ thể (cf. Larner, 2003). Nhưng toàn cầu hóa có ảnh hưởng gì đến văn hóa tiêu dùng? Ở đây, cũng có thể dập tắt một số tuyên bố phóng đại quá mức được đưa ra nhân danh sự chuyển đổi kinh tế toàn cầu. Vì thế những nghiên cứu gần đây đã cho thấy sự tiến triển chậm chạp và sự thâm nhập không đều của hình thái hàng hóa ngay cả trong các nền kinh tế phương Tây và nhiều hình thức chống lại sự lan rộng hơn nữa của nó (William 2003; Williams & Windebank, 2003).

Khi xem xét kỹ, luận đề “toàn cầu hóa” có vẻ kém ấn tượng hơn rất nhiều, các lực lượng thúc đẩy việc xóa bỏ lãnh thổ (dù là về kinh tế, chính trị, công nghệ hay văn hóa) luôn bị phụ thuộc vào việc tái lập lãnh thổ của các lực lượng đối ứng. Mặc dù cán cân lực lượng luôn có sự chênh lệch lớn, nhưng có lẽ nên nghĩ về toàn cầu hóa như là một nơi diễn ra cuộc đấu tranh hơn là một kết quả được tiên đoán chắc. Vì, như Watts đã lập luận, toàn cầu hóa đòi hỏi một sự nhạy cảm đối với cách thức tái thời thượng hóa một địa điểm, một bản sắc và một cộng đồng ở những nơi chưa hoàn toàn được toàn cầu hóa: “Toàn cầu hóa không đánh dấu nhiều việc xóa bỏ nơi chốn, mà góp phần, theo một cách khác thường, vào sự tái sinh của nó” (Watts, 1996, p64). Từ cách nhìn này, toàn cầu hóa nổi lên như một quá trình chưa hoàn thiện, không đồng đều và gây tranh cãi: một dự án chưa hoàn thành mà nội dung của nó được tạo nên bởi những thực tiễn văn hóa và xã hội đặc thù của địa phương.

Các loại hình văn hóa tiêu dùng địa phương

Trong phần này, tôi muốn xem xét tính co dãn của các loại hình văn hóa tiêu dùng địa phương trước hiện tượng toàn cầu hóa và đưa ra tài liệu về một số phương thức mà theo đó các thế lực toàn cầu này “đã bị bản địa hóa” (bị chế ngự và địa phương hóa) trong các bối cảnh tiêu dùng cụ thể. Tiêu dùng rõ ràng là một nội dung chính trong các tranh cãi về toàn cầu hóa, nó đụng chạm đến vô số những thương hiệu, như McDonald và Coca-Cola, vốn đã trở thành gần như đồng nghĩa với thuật ngữ này, nhưng hiện nay vẫn có nhiều bằng chứng dân tộc học thách thức nhiều tuyên bố được phóng đại nhân danh toàn cầu hóa.

Hiện nay người ta đánh giá phổ biến rằng ngay cả những thương hiệu “toàn cầu” nhất như McDonald hoặc Coca-Cola cũng có ý nghĩa văn hóa khác nhau và được tiêu dùng một cách hoàn toàn khác nhau ở những nơi khác nhau. Nghiên cứu của Miller (1998) về các thói quen tiêu dùng ở Trinidad và nghiên cứu dân tộc học của Gillespie (1995) về thanh niên Punjabis ở Southall, Tây London chỉ là hai trong số rất nhiều thí dụ về sự nội địa hóa ý nghĩa này. Appadurai có lập luận sắc bén hơn, ông cho rằng “các thế lực từ nhiều trung tâm khác nhau được đưa vào các xã hội mới nhanh chừng nào thì chúng có xu hướng bị bản địa hóa bằng cách này hay cách khác nhanh chừng ấy” (1996, 32). Vì vậy, đối với nhà nhân học người Thụy Điển Ulf Hannerz, đặc trưng của thế giới đương đại là “sự tác động qua lại liên tục, mạnh mẽ và toàn diện giữa cái bản địa và cái được du nhập” (1996, 5). Không một xã hội đơn lẻ nào có thể tuyên bố rằng mình là quê hương “đáng tin cậy” của bất kỳ một hàng hóa hoặc một hình thái vă hóa cụ thể nào. Đúng hơn, như Miller đã lập luận, tính tương đối đích thực ngày càng như nhau.

Người dân Trung Phi trong những bộ complê, các bộ phim quảng cáo ủy mị nhiều kỳ của Indonesia và các thương hiệu của Nam Á không còn là những bản sao không đáng tin cậy đối với những người đã bị mất nền văn hóa của riêng mình sau khi nơi họ sống tràn ngập những thứ mà chỉ những người Bắc Mỹ và châu Âu mới “nên” sở hữu. Đúng hơn, tính tương đối đích thực là như nhau, nó làm cho không một ai trong số chúng ta trở thành một mô hình tiêu dùng thực và làm cho tất cả chúng ta trở thành những biến thể sáng tạo của các quá trình xã hội dựa trên việc sở hữu và tiêu dùng hàng hóa (Miller, 1995, p144).

(còn tiếp)

Người dịch: Hoàng Hoa

Nguồn: Peter Jackson – Local consumption cultures in a globalizing world – Transactions of The Institute of British Geographies, Vol.29, Issue 2, June 2004, p.165-178.

TN 2006 – 53, 54 & 55

Biện minh cho toàn cầu hóa kỹ thuật số – Phần cuối


Có ba kiểu chính sách hạn chế luồng dữ liệu: yêu cầu địa phương hóa dữ liệu, các rào cản chung đối với các luồng dữ liệu qua biên giới và các tiêu chuẩn quốc gia về bảo mật dữ liệu.

Kiểu chính sách đầu tiên là địa phương hóa dữ liệu, bao gồm các chính sách theo đó các quốc gia yêu cầu các công ty lưu trữ dữ liệu trên các máy chủ nằm trong biên giới của họ. Những chính sách này có thể là các quy định trên quy mô rộng cho phần lớn hoặc tất cả các loại dữ liệu, hoặc chúng có thể được tập trung vào những loại dữ liệu cụ thể. Các quốc gia có các yêu cầu địa phương hóa dữ liệu trên quy mô rộng bao gồm Trung Quốc, Malaysia, Nigeria, Nga và Việt Nam. Ấn Độ cũng đang xem xét một biện pháp bao quát. Các quốc gia khác thông qua những biện pháp hạn hẹp hơn, như yêu cầu thanh toán sẽ được xử lý ở địa phương, hoặc yêu cầu thông tin cá nhân như hồ sơ bệnh án hoặc hồ sơ thuế sẽ được lưu giữ trong nước.

Yêu cầu địa phương hóa dữ liệu làm tăng chi phí hoạt động kinh doanh bằng cách buộc các công ty Internet và các nền tảng trực tuyến xây dựng các địa điểm máy chủ dự phòng. Chi phí làm như vậy thường được chuyển cho người tiêu dùng địa phương. Một nghiên cứu ước tính rằng đối với những công ty ở quốc gia có luật địa phương hóa dữ liệu, luật phát làm tăng giá máy tính lên 30 đến 60 phần trăm. Ở các thị trường nhỏ hơn, chi phí xây dựng các máy chủ dữ liệu ở địa phương có thể tạo ra sự thiếu hiệu quả mà các dịch vụ Internet cung cấp lựa chọn cùng thoát khỏi thị trường đó.

Những người ủng hộ địa phương hóa dữ liệu thường biện minh cho nó với rất nhiều lý do. Một là nó bảo vệ dữ liệu khỏi sự giám sát của các chính phủ nước ngoài. Nhưng nhiều chuyên gia bảo mật không gian mạng bác bỏ lập luận này, họ cho rằng vị trí của một máy chủ không ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương đối với các tin tặc nước ngoài hoặc sự giám sát của chính phủ. Lập luận thứ hai là việc địa phương hóa cho phép các chính phủ duy trì quyền truy cập vào dữ liệu được lưu trữ trên lãnh thổ của mình. Chẳng hạn, Trung Quốc đòi hỏi các công ty phải chia sẻ các chìa khóa bảo mật của một số loại dữ liệu cho các quan chức chính phủ. Cuối cùng, các nhà hoạch chính sách ở nhiều quốc gia tin rằng các yêu cầu địa phương hóa dữ liệu sẽ tạo ra các việc làm về công nghệ ở địa phương. Nhưng các trung tâm dữ liệu ngày nay chủ yếu tự điều chỉnh và tự chủ, đòi hỏi rất ít nhân công. Ví dụ như trung tâm dữ liệu khổng lồ của Facebook ở Thụy Điển chỉ tuyển dụng 150 người, tức là chỉ có một kỹ thuật viên cho khoảng 25.000 máy chủ.

Kiểu bảo hộ thứ hai là những hạn chế chung hơn về luồng dữ liệu. Điều quan trọng ở đây là phân biệt giữa các hạn chế đối với hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp. Việc hỗ trợ các luồng dữ liệu tự do tất nhiên không nên mở rộng tới các hoạt động bất hợp pháp – giống như các nguyên tắc thương mại tự do cho phép cấm buôn bán những loại hàng hóa cụ thể như ngà voi hoặc ma túy, sự lưu thông dữ liệu tự do cũng có thể loại trừ các tài liệu kỹ thuật số bất hợp pháp như khiêu dâm trẻ em, nội dung số bất hợp pháp hoặc phần mềm độc hại. Thật vậy, rất nhiều quốc gia trong đó có Đan Mạch, Italy, Thổ Nhĩ Kỳ và vương quốc Anh đều chặn các trang web bán nội dung số bất hợp pháp. Tuy nhiên, nhiều quốc gia như Trung Quốc kiểm duyệt Internet hoặc hạn chế truy cập đối với cả các trang web nước ngoài hợp pháp (tức là không phạm tội).

Kiểu chính sách thứ ba phổ biến nhất, bao gồm những thay đổi trong các yêu cầu bảo mật dữ liệu quốc gia. Các quốc gia khác nhau có những quan điểm khác nhau về mức độ riêng tư về dữ liệu người tiêu dùng. Chẳng hạn, châu Âu đặt những hạn chế gay gắt về khả năng các công ty thương mại hóa hoặc bán dữ liệu người tiêu dùng, trong khi Hoa Kỳ lại khoan dung hơn. Tuy nhiên, đối với các công ty toàn cầu, việc thủ vô số nguyên tắc quốc gia có thể nặng nề. Việc hài hòa các yêu cầu quyền riêng tư, hoặc tạo ra các khuôn khổ pháp lý hoặc luật pháp quốc tế để đối phó với sự khác biệt giữa các quốc gia, sẽ mang lại nhiều lợi ích. Ví dụ như Khuôn khổ bảo vệ quyền riêng tư giữa Hoa Kỳ – EU và Hoa Kỳ – Thụy Sĩ là một thỏa thuận tạo ra các tiêu chuẩn về việc các công ty Hoa Kỳ nên xử lý dữ liệu cá nhân như thế nào về công dân châu Âu, nhằm tạo thuận lợi cho thương mại xuyên Đại Tây Dương trong khi giải quyết các mối quan ngại về quyền riêng tư ở châu Âu. Thỏa thuận này đưa ra các quy tắc về quyền truy cập dữ liệu cá nhân của chính phủ Hoa Kỳ và tạo cơ chế giải quyết tranh chấp cho những cá nhân cảm thấy dữ liệu của họ bị lạm dụng. Các công ty Hoa Kỳ đăng ký chương trình, và Bộ thương mại Hoa Kỳ thực hiện đánh giá để đảm bảo việc tuân thủ. Đăng ký là tự nguyện, nhưng các công ty không tham gia đều bị EU truy tố vì không tuân thủ luật bảo mật kỹ thuật số của họ.

Lá chắn bảo mật rất quan trọng để cho phép các doanh nghiệp quốc tế hoạt động. Một nghiên cứu cho thấy một nửa trong số các công ty Hoa Kỳ đăng ký cho chương trình đã làm vậy để xử lý dữ liệu và hồ sơ cá nhân về các nhân viên tại châu Âu của chính họ. Trong trường hợp không có khuôn khổ này, việc chia sẻ và chuyển thông tin qua biên giới sẽ là bất hợp pháp, tạo ra chi phí khổng lồ và thiếu hiệu quả đối với các công ty toàn cầu và làm giảm năng suất của họ vào thời điểm cần tăng trưởng năng suất nhanh hơn ở cả hai bờ Đại Tây Dương.

Con đường phía trước

Trong bối cảnh ngày càng có nhiều phản ứng chống lại toàn cầu hóa, thì nhu cầu về các quy tắc mới để đảm bảo luồng dữ liệu tự do đang trở nên cấp bách. Tin tốt lành là nhiều luật thương mại hiện có với các điều khoản có thể làm mô hình trong vấn đề này bằng cách cung cấp điểm xuất phát cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Đây có thể là điểm xuất phát hữu ích cho đàm phán, giúp các quốc gia đạt được các thỏa thuận cân bằng cho phép lưu thông dữ liệu tự do đồng thời bảo vệ an ninh và quyền riêng tư.

Chẳng hạn, Thỏa thuận Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có một chương về thương mại điện tử đại diện cho cách tiếp cận hiện đại và toàn diện về tự do hóa dữ liệu cho đến nay. Trong số các điều khoản là các biện pháp ngăn cấm rõ ràng các quốc gia không được đòi hỏi phải lưu trữ dữ liệu trên các máy chủ địa phương, áp đặt các nhiệm vụ về luồng dữ liệu và hàng hóa số, hoặc buộc các nhà cung cấp dịch vụ phải chia sẻ mã nguồn có giá trị với các chính phủ nước ngoài hoặc các công ty đối thủ. Chương này cũng đặt ra các tiêu chuẩn sử dụng việc chứng thực và chữ ký kỹ thuật số, bắt buộc các bên ký kết TPP phải ban hành các luật bảo vệ người tiêu dùng khỏi các email không mong muốn và hoạt động trực tuyến gian lận khác. Mặc dù Hoa Kỳ đã rút khỏi TPP hồi tháng 1, nhưng có thể khôi phục lại chương trình thương mại điện tử trong các hiệp định thương mại khác.

Một thỏa thuận thương mại khác có thể giải quyết các luồng dữ liệu là Thỏa thuận Thương mại Dịch vụ (TISA), một thỏa thuận 23 bên bao gồm cả Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản và Australia. Hiện nay khoảng gần một nửa thương mại dịch vụ toàn cầu diễn ra dưới dạng số, và thị phần này đang gia tăng nhanh chóng. Điều này giúp TISA trở thành một thỏa thuận quan trọng để thúc đẩy các quy tắc về thương mại điện tử tự do. Thỏa thuận hiện đang được đàm phán bao gồm các đề xuất mở cửa thị trường và thiết lập các quy tắc rõ ràng hơn trong các ngành công nghiệp như cấp giấp phép, các dịch vụ tài chính, viễn thông và vận tải. Đây sẽ là một bước nhỏ để mở rộng TISA bao gồm các đề xuất bảo vệ luồng dữ liệu tự do

Những giao dịch thương mại đa phương này không phải là con đường duy nhất để thiết lập các quy tắc. Chẳng hạn, Tổ chức Công nghệ thông tin Đổi mới (ITIF) đã tranh luận về thỏa thuận dịch vụ dữ liệu tại WTO rằng sẽ cam kết các nước để bảo vệ luồng dữ liệu xuyên biên giới. Tổ chức ITIF cũng đề nghị đưa ra các Công ước Geneva về dữ liệu. Giống như Công ước Geneva đặt ra các quy tắc quốc tế về chiến tranh, công ước dữ liệu giả định này cũng sẽ thiết lập một bộ giao thức chuẩn để xử lý và bảo vệ dữ liệu và tôn trọng quyền riêng tư mà các nhà quản trị mạng, các chuyên gia IT và các cơ quan quản lý nhà nước trên toàn thế giới sẽ phải tuân thủ. Các công ước này sẽ hệ thống hóa các thủ tục và giúp các quốc gia tạo ra sự minh bạch quy định lớn hơn cho các công ty.

Giống như toàn cầu hóa thương mại, toàn cầu hóa kỹ thuật số không phải là một trò chơi tổng bằng không. Sự tham gia của một quốc gia không nhất thiết bằng chi phí của quốc gia khác. Nền kinh tế kỹ thuật số đã đưa ra một loạt mối quan tâm hợp pháp mới, nhưng điều quan trọng là phải giải quyết những vấn đề này thông qua các khuôn khổ không giới hạn những lợi ích đáng kể mà toàn cầu hóa kỹ thuật số có thể mang lại. Bây giờ hơn bao giờ hết, đã đến lúc các quốc gia thiết lập một khuôn khổ cho phép họ tận dụng các cơ hội vượt ra ngoài biên giới của họ.

Người dịch: Minh Vân

Nguồn: Susan Lund & James Manyika – Defending Digital Globalization – Foreign Affairs, 20/04/2017

TN 2017 – 33