Nền kinh tế ứng dụng – Phần cuối


Airbnb kiếm tiền bằng cách nào?

Amazon, Uber và Airbnb đều được tải xuống miễn phí, không bao giờ tính phí sử dụng ứng dụng và chỉ hiển thị cho bạn một vài quảng cáo, nếu có. Vậy họ kiếm tiền bằng cách nào?

Các ứng dụng thương mại điện tử trung gian “marketplace” hoặc “platform” kiểu này kết nối người mua với người bán (hoặc người đi xe với người lái xe…) và kiếm tiền hoa hồng bằng cách thu một vài khoản phí với các giao dịch mua hàng thành công. Nó giống như cách chính phủ thu tiền thông qua thuế doanh thu hoặc các đại lý bất động sản tính phí hoa hồng bất cứ khi nào họ giúp bạn mua hoặc bán một ngôi nhà.

Ví dụ: Airbnb tính “phí dịch vụ” bất cứ khi nào bạn đặt phòng thành công. Chủ nhà trả 3%, và khách hàng trả 6 – 12% tiền phí. Các khoản phí này là nguồn thu chủ yếu của Airbnb.

Các ứng dụng thương mại điện tử khác cũng thu phí hoa hồng. Uber thu 20 – 25% số tiền các lái xe kiếm được. Amazon thu phí bên bán thứ ba khi họ đưa ra danh sách sản phẩm và bán các mặt hàng của mình trên nền tảng này. Số thu chính xác là bao nhiêu sẽ thay đổi tùy theo loại sản phẩm, nhưng từ kinh nghiệm của mình, chúng tôi có thể cho bạn biết là Amazon thu về 30 – 65% lợi nhuận bán sách.

Và đó là cách kiếm tiền của hầu hết các ứng dụng thương mại điện tử trung gian. Vậy có đúng là một số ứng dụng thương mại điện tử trung gian có thể kiếm tiền mà không tính phí hoa hồng không? Chúng ta hãy đọc tiếp nhé.

Tại sao ứng dụng Robinhood cho phép bạn giao dịch cổ phiếu mà không tính phí hoa hồng?

Mua và bán cổ phiếu là một cách tuyệt vời để đầu tư số tiền bạn dành dụm được và kiếm thêm cho mình một khoản tiền, nhưng sau mỗi lần giao dịch thành công, bạn sẽ phải trả một khoản phí hoa hồng cho một nhà môi giới. Có đúng như vậy không? Ứng dụng giao dịch chứng khoán Robinhood cho phép bạn thực hiện giao dịch cổ phiếu miễn phí. Đúng vậy, họ không tính phí hoa hồng.

Vậy làm thế nào họ vẫn có lợi nhuận? Có hai phương pháp chính để Robinhood kiếm tiền.

Phương pháp thứ nhất: họ sử dụng mô hình freemium cổ điển để giúp người dùng “quyền lực” nhận được nhiều tính năng hơn. Robinhood Gold cho phép bạn giao dịch ngoài giờ (tức là vài giờ trước và sau phiên giao dịch hàng ngày, từ 9:30 sáng đến 4:00 chiều theo giờ EST) và cho phép bạn vay tiền từ Robinhood để thực hiện thêm các giao dịch vượt quá khả năng chi trả hiện tại.

Phương pháp thứ hai khá thông minh. Robinhood kiếm trước tiền lãi cho số tiền chưa sử dụng nằm trong tài khoản của người dùng, việc này giống như cách bạn nhận được tiền lãi bằng cách gửi số tiền tích trữ chưa sử dụng của mình trong ngân hàng.

Như các bạn có thể thấy, các ứng dụng ngày càng trở nên láu cá với các mô hình kinh doanh của mình. Chúng ta hãy kết thúc bài này bằng cách xem xét một số cách thức kiếm tiền thậm chí còn sáng tạo hơn.

Các ứng dụng làm thế nào để kiếm tiền mà không cần hiển thị quảng cáo hoặc tính phí người dùng

Mọi ứng dụng chúng ta đề cập cho đến giờ đều kiếm tiền bằng cách hiển thị quảng cáo hoặc tính phí người dùng (nếu không phải là trả trước, thì thông qua thuê bao, mua hàng trong ứng dụng hoặc tính phí hoa hồng). Vậy còn cách nào khác để các doanh nghiệp ứng dụng tiếp tục tồn tại và phát triển không? Các ứng dụng có thể nhận được tiền từ bất kỳ ai đó không, ngoài người dùng hoặc các nhà quảng cáo?

Hóa ra câu trả lời là có. Chúng ta hãy cùng kết thúc bài này bằng cách nghiên cứu một số mô hình kinh doanh thông minh hiện nay.

Đầu tiên, bạn có thể tính phí những người khác, ngoài người dùng hoặc nhà quảng cáo. Chẳng hạn, dịch vụ đặt vé du lịch Wanderu sẽ giúp bạn tìm vé xe buýt tốt nhất và giới thiệu bạn đến website của các tuyến xe buýt như Greyhound và Megabus để mua vé. Wanderu không tính phí người mua vé, nhưng thu một khoản phí hoa hồng nhỏ từ các hãng xe buýt cho việc đưa khách hàng đến với dịch vụ của họ.

Hoặc các ứng dụng có thể cố gắng tồn tại mà không có bất kỳ nguồn doanh thu nào. Nghe có vẻ vô lý, nhưng trong thế giới công nghệ, điều đó có thể xảy ra – ít nhất là trong ngắn hạn.

Một số ứng dụng chỉ cố gắng tồn tại trong khó khăn (và sống nhờ vào tiền của nhà đầu tư mạo hiểm), họ cung cấp dịch vụ miễn phí cho đến khi đủ lớn mạnh để có thể bắt đầu kiếm tiền – nói cách khác, khẩu hiệu của họ là “phát triển trước, kiếm tiền sau”. Ví dụ, Venmo không tính phí khi bạn thanh toán tiền hộ bạn bè, hay chuyển tiền giữa các tài khoản ngân hàng và chỉ áp dụng cùng một mức phí (3%) nếu bạn chuyển tiền từ thẻ tín dụng của mình, và đó là số tiền cần thiết để trang trải chi phí xử lý quá trình thanh toán của công ty.

Sau đó, vào năm 2018, khi đã có cơ sở người dùng đủ lớn, Venmo quyết định bắt đầu kiếm tiền. Họ thông báo rằng bây giờ bạn có thể thanh toán cho Ubers thông qua Venmo và phát hành thẻ ghi nợ. Trong cả hai trường hợp, người bán phải trả cho Venmo một khoản phí nhỏ. Một số người cũng suy đoán rằng Venmo có thể sẽ bắt đầu thực hiện các quảng cáo mục tiêu nhắm vào người dùng, vì giờ đây họ đã biết chính xác người dùng của họ tiêu tiền vào những thứ gì.

Các ứng dụng khác chỉ hy vọng có ai đó mua lại trước khi cạn tiền. Ví dụ, vào năm 2013, ứng dụng email miễn phí Mailbox ra nhập thị trường, và chẳng bao lâu sau, nó đã gửi được 60 triệu tin nhắn trong một ngày. Sau đó, trong vòng một tháng kể từ khi ra mắt, Dropbox đã mua lại ứng dụng này và nhóm điều hành đằng sau nó với giá 100 triệu USD. Tuy nhiên, kết thúc của ứng dụng này khá bi thảm: năm 2015, Dropbox khai tử nó và chuyển nhân viên sang các nhóm khác. Cứ coi như chúng ta là những người hoài nghi, nhưng rất có khả năng Mailbox phát triển mạnh mẽ và đạt được “đầu ra” hấp dẫn vì họ cung cấp dịch vụ miễn phí.

Nói tóm lại, các nhà sản xuất ứng dụng đã phải trở nên láu cá hơn bao giờ hết, bởi người dùng chỉ thích các ứng dụng được tải xuống miễn phí. Một điểm đặc biệt là dường như các nhà sản xuất ứng dụng không bao giờ ngừng sáng tạo ra những cách thông minh để kiếm tiền. Chiến lược kiếm tiền quan trọng tiếp theo của họ là gì?

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Nền kinh tế ứng dụng – Phần III


Thống trị lĩnh vực quảng cáo

Quảng cáo nhắm đúng mục tiêu rất hiệu quả và không ai làm việc này tốt hơn Google và Facebook. Hai công ty này gần như thống trị lĩnh vực quảng cáo, cùng nhau chiếm khoảng một nửa thị phần quảng cáo trên điện thoại di động. Thực tế này gây ra nhiều khó khăn hơn cho các công ty khởi nghiệp muốn kiếm tiền từ quảng cáo nhắm đúng mục tiêu, vì các nhà quảng cáo chỉ muốn mua trên Google và Facebook, vì họ có nhiều dữ liệu người dùng hơn.

Nhưng Amazon, một công ty có thể khiến bộ phận quảng cáo của Google và Facebook sợ hãi, đã trở thành nền tảng quảng cáo lớn thứ ba ở Mỹ. Hiện nay, hơn một nửa số người dùng, khi muốn tìm kiếm sản phẩm để mua hàng trực tuyến, bắt đầu tìm kiếm trên Amazon thay vì trên Google. Với lượng người dùng tăng lên, hiện nay Amazon có thể đặt quảng cáo trực tiếp trong danh sách các mặt hàng để bán, đó là nơi mà người xem rất có động cơ mua hàng. Và vì Amazon biết chính xác những gì bạn mua, nó có thể dự đoán những gì bạn có thể muốn mua với độ chính xác đáng sợ.

Nói cách khác, Amazon đã bắt đầu cạnh tranh với Google để giành lấy những quảng cáo trực tiếp dẫn đến việc mua hàng hay còn gọi là quảng cáo phản hồi trực tiếp “direct-response ads”. Vậy nên, những người chơi mới thực sự có thể tham gia vào sân chơi quảng cáo nhắm đúng mục tiêu, dù Amazon chắc chắn không còn là một công ty khởi nghiệp nhỏ nữa.

Bản dữ liệu của bạn ư? Không hẳn là như vậy.

Cuối cùng, điều quan trọng là phải nói rõ rằng: Google và Facebook – và hầu hết các công ty phần mềm khác có kinh doanh quảng cáo – không bán dữ liệu của bạn cho các nhà quảng cáo. Các nhà quảng cáo gửi quảng cáo đến Google và Facebook, và hai công ty này sử dụng dữ liệu của bạn để quyết định hiển thị quảng cáo nào đến. Dữ liệu của bạn được sử dụng rộng rãi trên các máy tính của Goolge và Facebook, nhưng chúng không bao giờ ra khỏi các công ty đó. Trên thực tế, chúng thực sự khiến Google và Facebook phải giữ lại dữ liệu của người dùng cho chính mình, vì những dữ liệu đó buộc các nhà quảng cáo tiếp tục quay lại với họ.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Facebook đã bị chỉ trích nhiều vì đã cho đi dữ liệu của người dùng mà không thông báo cho họ biết. Facebook đã hợp tác với các nhà sản xuất thiết bị như Apple và Samsung, chuyển giao dữ liệu người dùng để đổi lấy vị trí đặc biệt trên điện thoại. Facebook cũng chia sẻ dữ liệu người dùng với Amazon để đổi lấy dữ liệu của Amazon, vì những dữ liệu đó giúp tăng cường tính năng gợi ý kết bạn của Facebook.

Nói tóm lại, phần lớn các công ty sống bằng quảng cáo không bán dữ liệu của bạn. Như giới PCWorld đã nói, chính xác hơn họ đang bán bản thân bạn. Và chiến lược này thành công đến mức có thể tạo nên các công ty trị giá hàng tỷ USD mà không cần tính phí người dùng dù chỉ một đồng. Đó là điểm đặc biệt của nền kinh tế ứng dụng.

Tại sao các website tin tức lại có nhiều nội dung được tài trợ?

Khi nói đến quảng cáo, có thể bạn sẽ nghĩ đến quảng cáo biểu ngữ (banner ads): đó là những hình chữ nhật động, màu sắc sặc sỡ bắt mắt, hiển thị trên các trang web hoặc ở phần cuối có các ứng dụng. Hiện nay, loại hình quảng cáo này vẫn phổ biến trên các website, tuy nhiên, số lượng các ứng dụng lớn có quảng cáo biểu ngữ ngày càng giảm, có thể vì quảng cáo loại này gây phiền nhiễu và chiếm dụng quá nhiều không gian quý giá. Thêm vào đó, mọi người không thường xuyên nhấp chuột vào quảng cáo biểu ngữ nữa, vì vậy chúng không còn khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận. Trên thực tế, chỉ có 0,17% người dùng có ý định nhấp chuột vào các quảng cáo biểu ngữ, tức là gần bằng 1/600 quảng cáo mà bạn nhìn thấy.

Nhưng bây giờ đã xuất hiện một loại quảng cáo mới ít gây khó chịu hơn và cũng khiến người dùng khó bỏ qua hơn. Khi đọc lướt qua bảng tin trên Instagram, bạn có thể nhận ra một số bài đăng không phải từ nguồn bạn bè, mà từ các công ty đang cố gắng bán cho bạn một sản phẩm nào đó. Snapchat cho phép các nhà quảng cáo tạo ra các bộ lọc để hàng triệu người dùng có thể nhìn thấy quảng cáo của họ, và Twitter thậm chí còn cho phép các nhà quảng cáo mua các thẻ hashtag, thứ đang bắt đầu trở thành “xu hướng”.

Có một từ đi kèm tất cả những quảng cáo loại này, đó là “sponsored” nghĩa là “được tài trợ”. Nội dung được tài trợ (sponsored content), còn được gọi là “quảng cáo tự nhiên”, nghĩa là quảng cáo được trộn lẫn với nội dung bình thường, dẫn đến nhiều khả năng độc giả sẽ đọc các quảng cáo đó một cách nghiêm túc thay vì bỏ qua chúng.

Nội dung được tài trợ đang phát triển đặc biệt nhanh chóng trên các báo. Các nhà quảng cáo có thể trả tiền để đăng các bài báo có vẻ chính thống (nhưng thực ra chỉ là quảng cáo) bên cạnh các bài báo bình thường trên các website như New York Times, CNN, NBC, Wall Street Journal. Các công ty truyền thông mới hơn như BuzzFeed cũng yêu thích quảng cáo tự nhiên. HÌnh thức quảng cáo ngày càng đậm chất “báo chí” đang trở nên vô cùng hấp dẫn. Ví dụ, tờ New York Times từng đăng một bài báo viết về lý do tại sao hệ thống nhà tù truyền thống không phù hợp với các tù nhân nữ. Đó là một bài viết trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và rất lôi cuốn người đọc, nhưng hóa ra đó chỉ là một bài quảng cáo cho loạt phim của Netflix có tựa đề “Orange is the New Black” (tạm dịch: Nhà tù kiểu Mỹ).

Nội dung được tài trợ rất hiệu quả đối với các nhà quảng cáo: quảng cáo tự nhiên có số lần nhấp chuột cao gấp đôi so với quảng cáo biểu ngữ. Và nó trở thành nguồn thu dồi dào cho các ấn phẩm tin tức. Ví dụ, vào năm 2016, tờ Atlantic dự kiến 3/4 doanh thu quảng cáo kỹ thuật số của họ đến từ quảng cáo tự nhiên. Và kể từ khi Internet xóa sổ mô hình kinh doanh báo chí truyền thống, quảng cáo tự nhiên có thể là một trong số ít cứu cánh cho báo chí.

Quảng cáo tự nhiên rất hiệu quả, tuy nhiên nó nguy hiểm ở chỗ mọi người sẽ thấy khó hơn trong việc phân biệt đâu là sự thật và đâu là quảng cáo. Trên thực tế, Reuters phát hiện 43% độc giả Mỹ cảm thấy quảng cáo tự nhiên là “thất vọng hoặc lừa dối”. Và căn bản hơn, quảng cáo tự nhiên phá vỡ các bức tường trước nay vẫn ngăn cách các nhà báo và giới doanh nhân. Nói cách khác, nếu những nhà báo trước đây chỉ biết đưa tin thì nay trở thành người viết quảng cáo, như vậy tính chính trực của báo chí có thể bị mai một.

Trước thực tế đó, quảng cáo tự nhiên có hy vọng nào không? Có lẽ là có. Một nghiên cứu phát hiện 22% người tiêu dùng nghĩ rằng quảng cáo tự nhiên có tính giáo dục, so với chỉ 4% nghĩ như vậy về quảng cáo biểu ngữ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Nền kinh tế ứng dụng – Phần II


Săn cá voi

Có thể bạn đã từng trải qua chuyện này, tức là mong muốn không phải trả một đồng nào cho phần mềm: một nghiên cứu cho thấy trong số tất cả các lượt tải xuống của ứng dụng iOS, chỉ có 6% lượt tải xuống có trả phí. Trong khi đó, thậm chí chi ra 1 USD cũng là quá nhiều đối với hầu hết mọi người. Trong khi đa số người dùng sẽ không trả một đồng nào, nhưng thường thì một phần nhỏ những người sử dụng nhiều nhất một ứng dụng nhất định lại sẵn sàng trả nhiều tiền. Các nhà kinh tế gọi đây là quy tắc 80 – 20 hay quy tắc Pareto: 20% khách hàng sẽ tạo ra 80% doanh thu, và 80% khách hàng sẽ tạo ra 20% doanh thu còn lại.

Vấn đề chính của các nhà phát triển ứng dụng là tìm ra 20% những người muốn trả tiền (được gọi là “cá voi” trong ngành công nghệ, có lẽ vì họ là số ít nhưng trả nhiều tiền) và cố gắng thu từ họ nhiều nhất có thể. Những chú cá voi này khá lớn: trung bình mỗi năm một người dùng trò chơi di động chi ra 86,50 USD để mua hàng trong ứng dụng. Năm 2015, Game of War: Fire Age kiếm được gần 550 USD từ mỗi người dùng trả tiền.

Bởi vì những người sử dụng nhiều nhất một ứng dụng sẽ có khả năng trả tiền nhiều nhất, nên mua hàng trong ứng dụng hoặc thuê bao chủ yếu nhằm vào những người dùng thường xuyên nhất. Ví dụ, bạn hãy nhớ cách Tinder cho phép bạn trả tiền để “vuốt” bao nhiêu tùy thích. Hầu hết người dùng sẽ không vuốt đến vài chục lần, tức là đủ số lần được “vuốt” miễn phí mỗi ngày, nhưng những người dùng Tinder nhiệt tình nhất sẽ nhanh chóng đạt đến số lượng đó. Và bởi những người này rất thích Tinder, họ sẽ không ngại trả một vài USD để được “vuốt” nhiều hơn – trong khi hầu hết người dùng bình thường sẽ do dự ngay cả với một khoản phí rất nhỏ.

Tóm lại, chiến lược freemium là: đưa ra ứng dụng miễn phí để thu hút một lượng lớn người dùng, tìm kiếm “người dùng quyền lực” yêu thích ứng dụng và thu phí – một lần hoặc thông qua thuê bao định kỳ – khi họ muốn có thêm các tính năng.

Nhưng làm thế nào một công ty có thể kiếm tiền mà không cần tính phí người dùng? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

Facebook kiếm tiền tỷ bằng cách nào khi không tính phí người dùng?

Freemium có thể mang lại lợi nhuận cao. Nhưng chúng ta hãy xem xét trường hợp của Google và Facebook. Có thể bạn đang sử dụng các ứng dụng – từ Maps (bản đồ) và Dos (tài liệu) cho đến Instagram và Facebook – nhưng có thể trong nhiều năm qua, bạn chưa bao giờ phải trả cho họ một đồng nào. Và nếu bạn không sử dụng freemium, thì họ kiếm tiền bằng cách nào?

Câu trả lời đơn giản là quảng cáo nhắm đối tượng. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về loại hình quảng cáo này.

Đấu giá quảng cáo

Như bạn có thể thấy, đã từ lâu, các ứng dụng và website kiếm tiền qua quảng cáo. Các nhà quảng cáo sẽ phải chi một khoản tiền nhỏ để quảng cáo của họ được hiển thị trên ứng dụng hoặc website. Nhưng chính xác thì các ứng dụng và website làm thế nào để biết phải tính phí các quảng cáo đó bao nhiêu tiền? Có hai phương pháp chính.

Đầu tiên, các ứng dụng và website có thể tính một khoản phí nhỏ cho các nhà quảng cáo mỗi khi có ai đó xem một quảng cáo, chiến lược này được gọi là Pay-Per-Imperssion (PPI). Vì có rất nhiều người xem quảng cáo, các ứng dụng và trang web thường tính phí theo gia số của 1000 lượt xem; nghĩa là giá cho một chiến dịch quảng cáo có thể là 5 USD cho 1000 “lượt xem”. Vì các nhà quảng cáo thường trả tiền theo đơn vị nghìn lượt xem, nên Pay-Per-Impression (PPI) thường được gọi là Cost-Per-Mille (CPM). (Mille bắt nguồn từ tiền tố mili nghĩa là nghìn, như milimet là một phần nghìn mét).

Ngoài ra, các ứng dụng và webisite có thể tính phí nhà quảng cáo bất cứ khi nào có ai đó nhấp vào một quảng cáo, được gọi là Cost-Per-Click (CPC) – giá tiền cho mỗi lần nhấp chuột. CPC có một tên gọi khác phổ biến hơn là Pay-Per-Click (PPC).

Google và Facebook áp dụng cả hai cách tính Cost-Per-Mille (CPM) và Cost-Per-Click (CPC) để thu tiền từ quảng cáo. Nhà quảng cáo muốn đặt một quảng cáo trên các sản phẩm của Google hoặc Facebook, như trên Google Search hoặc news feed, sẽ phải đưa ra “giá thầu” của họ, tức là số tiền họ sẵn sàng trả cho mỗi lần nhấp chuột hoặc lượt xem. Mỗi khi có người truy cập tải một trang, tất cả các nhà quảng cáo sẽ trải qua một “phiên đấu giá” tức thì, và quảng cáo và người thắng thầu sẽ được hiển thị.

Đưa ra giá thầu cao hơn sẽ khiến quảng cáo của bạn có nhiều khả năng được hiển thị hơn, nhưng người trả giá cao nhất không nhất thiết sẽ là người thắng thầu. Google và Facebook còn xem xét một số tiêu chí khác, như mức độ liên quan để quyết định sẽ cho hiển thị quảng cáo nào. Tại sao lại như vậy? Các quảng cáo có liên quan hơn có thể nhận được nhiều lượt nhấp chuột hơn, vì vậy họ có thể kiếm được nhiều tiền hơn so với một quảng cáo ít liên quan nhưng có giá thầu cao hơn. Ta hãy cùng làm một phép tính: nếu bạn là Google, bạn có muốn hiển thị một quảng cáo có giá thầu là 5 USD nhận được 10 lần nhấp chuột, hay là quảng cáo có giá thầy 2 USD nhận được 100 lần nhấp chuột?

Quảng cáo là cách Google và Facebook kiếm tiền, nhưng lý do họ kiếm tiền được nhiều tiền là nhờ kỹ thuật nhắm đúng mục tiêu.

Quảng cáo nhắm đúng mục tiêu

Bạn đã bao giờ nhấp chuột vào một quảng cáo cho ghế sofa không, trừ khi bạn đang tích cực mua sắm đồ đạc? Chắc chắn là không. Đó là một trong những nguyên nhân khiến những quảng cáo mà bạn vẫn thấy trên tivi hoặc trên tạp chí không mang lại hiệu quả: có thể bạn đang lãng phí tiền bạc khi truyền tải một thông điệp đến rất nhiều người, trong khi chỉ một lượng nhỏ khán giả sẽ quan tâm. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu các nhà quảng cáo hiển thị quảng cáo ghế sofa một cách có chiến lược, vào đúng thời điểm bạn sắp chuyển đến một phòng ở mới trong khu ký túc xá, hoặc một ngôi nhà mới, và bạn đang rất cần mua đồ nội thất? Quảng cáo theo cách này có lẽ sẽ hiệu quả hơn.

Google và Facebook đã thực sự tự tạo nên khác biệt với chiến lược “quảng cáo nhắm đúng mục tiêu”. Bởi vì bạn có rất nhiều hoạt động trên các ứng dụng và website của Google và Facebook, những công ty này biết rất rõ bạn thích cái gì. Sau đó, họ sử dụng những dữ liệu này để đưa quảng cáo đến với bạn, như vậy họ sẽ kiếm được tiền từ các nhà quảng cáo trong khi cho bạn sử dụng dịch vụ miễn phí.

Ví dụ, nếu Google nhận thấy bạn nhập cụm từ tìm kiếm “hướng dẫn chọn đồng hồ” hay “giá một chiếc đồng hồ loại rẻ”, họ có thể suy luận rằng bạn đang muốn mua một chiếc đồng hồ đeo tay. Sau đó, họ có thể hiển thị các quảng cáo về đồng hồ khi bạn đang thực hiện các tìm kiếm khác. Vì những quảng cáo rất đúng mục tiêu này có liên quan đến bạn hơn, nên khả năng bạn sẽ nhấp vào chúng cao hơn so với các quảng cáo không đúng mục tiêu khác. Nhiều lần nhấp chuột hơn dẫn đến nhiều lượt mua hơn, vì vậy quảng cáo nhắm đúng mục tiêu giúp các nhà quảng cáo kiếm được nhiều tiền hơn.

Nói cách khác, quảng cáo nhắm đúng mục tiêu cải thiện “tỷ lệ nhấp chuột” (CTR – click through rate), thông qua đó giúp các nhà quảng cáo thu được nhiều lợi nhuận. Google và Facebook có nhiều dữ liệu người dùng hơn bất cứ nền tảng nào khác, nên họ rất giỏi đưa ra các quảng cáo nhắm đúng mục tiêu, và vì vậy họ có thể tính phí rất cao với các nhà quảng cáo. Mảng kinh doanh quảng cáo nhắm đúng mục tiêu dựa trên dữ liệu người dùng thu lợi rất lớn: gần như toàn bộ doanh thu của Google và Facebook đến từ quảng cáo. Facebook mỗi năm kiếm được hơn 30 tỷ USD từ quảng cáo – gần bằng 99% tổng doanh thu của họ.

Vậy các quảng cáo nhắm đúng mục tiêu là tốt hay xấu? Những người ủng hộ quyền riêng tư đang lo lắng về cách các công ty lớn này có thể theo dõi bạn sau mỗi lần nhấp chuột, và biết rất nhiều về sở thích, thói quen và hoạt động của bạn.

Nhưng có thể đó chỉ là cái giá của kinh doanh: chẳng ai cho không ai thứ gì, và thay vì trả cho các sản phẩm của Google và Facebook bằng tiền mặt, bạn đang trả cho họ bằng chính dữ liệu cá nhân của mình. Lập luận này được tổng kết thành một câu thành ngữ ở Thung lũng Silicon: “nếu bạn không trả tiền cho sản phẩm, thì bạn sẽ là sản phẩm”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Nền kinh tế ứng dụng – Phần I


Năm 2010, Apple đăng ký thương hiệu cho slogan quảng cáo “there’s an app for that” (có một ứng dụng cho việc đó). Và thực sự, các ứng dụng dường như đang thống trị thế giới này. Các công ty trị giá hàng tỷ USD như Uber (thành lập năm 2008), Airbnb (cũng thành lập năm 2008) và Snapchat (thành lập năm 2011) chỉ dựa trên một ứng dụng. Ước tính toàn bộ “nền kinh tế ứng dụng” trị giá 100 tỷ USD.

Vậy làm thế nào để những biểu tượng nhỏ xíu trên màn hình điện thoại củ bạn lại giúp thu về hàng tỷ USD trong hoạt động kinh tế? Các quy tắc áp dụng cho “nền kinh tế ứng dụng” rất khác so với các quy tắc của nền kinh tế “truyền thống”, nơi có các cửa hàng để bạn bước vào và mau những mặt hàng trên kệ. Chúng ta hãy cùng khám phá thế giới mới mẻ vô cùng kỳ lạ này.

Tại sao bạn có thể tải xuống miễn phí hầu hết mọi ứng dụng

Bạn sẽ phải trả 9,99 USD cho một chiếc bánh pizza cỡ vừa. Một lần rửa xe tiêu tốn của bạn 15 USD. Bạn sẽ phải trả khoảng 45 USD/tháng cho một gói dữ liệu.

Nhưng hầu hết mọi ứng dụng trên điện thoại của bạn là miễn phí. Instagram, Snapchat, Dropbox, Venmo, Google Maps – tất cả đều miễn phí. Trên thực tế, trong số tất cả các ứng dụng trên Android và iOS mang về lợi nhuận cao nhất, chỉ có một ứng dụng trả phí lọt vào top 100, và đó là Minecraft. (Trong khi đó, vào năm 2018, cho dù miễn phí nhưng trò chơi di động Fortnite thu về hơn 1 tỷ USD).

Chưa hết, nhiều công ty sản xuất các ứng dụng tải xuống miễn phí cũng đang thu về hàng triệu USD. Ví dụ, Snapchat hoàn toàn miễn phí nhưng công ty mẹ của ứng dụng này (Snap, Inc.) khi trở thành công ty đại chúng vào năm 2017 được định giá 33 tỷ USD. Điều đó cho thấy nền kinh tế ứng dụng khác với nền kinh tế “bình thường” như thế nào: nếu Pizza Hut nói rằng họ sẽ kiếm tiền trong khi tặng pizza miễn phí, bạn sẽ nghĩ rằng họ bị điên.

Vậy làm thế nào để các nhà sản xuất ứgn dụng kiếm tiền mà không cần bán phần mềm? Họ đã sáng tạo một số mô hình kinh doanh khá thông minh, được gọi là các chiến lược “tiền tệ hóa”. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu một trong số những ứng dụng phổ biến nhất, được gọi là “freemium”.

Freemium: trả tiền để có thêm tính năng

Nếu bạn đã từng chơi Candy Crush, bạn sẽ nhận thấy rằng ứng dụng này miễn phí, nhưng một khi bắt đầu chơi, bạn sẽ liên tục nhận được những lời đề nghị dùng tiền thật để mua thêm mạng sống hoặc để mở khóa các cấp độ mới. Tương tự, Tinder cho phép bạn “vuốt” vào những người có tiềm năng “ghép cặp” với bạn, nhưng chỉ trong phạm vi vài chục lần “vuốt” một ngày. Nếu bạn muốn “vuốt” nhiều hơn, bạn sẽ cần trả cho Tinder Plus, là phí thuê bao theo tháng”.

Mô hình kinh doanh “freemium” này khá đơn giản. Ứng dụng này miễn phí, vì vậy sẽ có rất nhiều người tải xuống, sau đó người dùng được yêu cầu trả tiền cho các tính năng bổ sung cao cấp “premium”. Freemium có ở khắp mọi nơi: đó là cách mà nhiều trò chơi di động như Candy Crush và Pokémon Go kiếm tiền, và nó rất phổ biến với các ứng dụng nổi tiếng như Tinder, Spotify, và Dropbox.

Các ứng dụng Freemium thường sử dụng một trong hai chiến lược sau để kiếm tiền: mua hàng trong ứng dụng hoặc tính phí thuê bao. Chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu cả hai chiến lược này.

Mua hàng trong ứng dụng nghĩa là bạn có thể dùng tiền thật để mua các tính năng bổ sung hoặc các vật phẩm ảo trong ứng dụng. Candy Crush, trò chơi điện tử mà chúng tôi đã đề cập ở trên, còn bán thêm mạng sống. Pokémon Go cho phép bạn mua tiền xu để có thể đổi thêm bóng Poké Balls hoặc Potions, nhằm củng cố sức mạnh cho những con quái vật cưng của bạn. Đôi khi, bạn mua hàng trong ứng dụng chỉ với mục đích thẩm mỹ: người chơi Fortnite chi ra hàng trăm USD chỉ để tùy chỉnh hình đại diện của họ với những thứ như áo sơ mi và các điệu nhảy.

Tuy nhiên, với các trò chơi, trả phí để nâng cấp chẳng phải là chuyện mới. Thậm chí, các trò chơi trên máy tính ra đời từ hàng thập kỷ trước như World of Warcraft hoặc SimCity từ lâu đã yêu cầu người chơi trả phí cho các “gói mở rộng”. Người chơi trên máy chơi game cũng được đề nghị mua hàng trong ứng dụng thông qua các nội dung có thể tải xuống (DLC – downloadable content), tức là bạn trả tiền để mua các vật phẩm, hầm ngục và thử thách mới.

Mua hàng trong ứng dụng chủ yếu được áp dụng trong các trò chơi, tuy nhiên, một số ứng dụng tiêu chuẩn cũng đưa ra những đề xuất như vậy. Ví dụ, Snapchat cho phép bạn mua bộ lọc địa lý tùy chỉnh của riêng bạn cho các sự kiện đặc biệt. Và nhiều ứng dụng Android/iOS thường hiển thị quảng cáo sẽ cho phép bạn trả tiền mua một bản nâng cấp để loại bỏ chúng.

Một lý do quan trọng khiến những người sáng tạo trò chơi và ứng dụng yêu thích mua hàng trong ứng dụng (in-app purchase) vì chúng mang lại lợi nhuận thuần mà không làm tăng thêm chi phí: khi bạn xây dựng ứng dụng hoặc trò chơi, về cơ bản chi phí để cung cấp cho người dùng các vật phẩm ảo như trang phục hoặc bộ lọc địa lý là bằng 0 (nói cách khác, chi phí biên bằng 0). Tuy nhiên, in-app purchase được thiết kế với mục đích xấu hoặc không trung thực có thể dẫn đến phản ứng dữ dội, như việc khách hàng phẫn nộ khi trò chơi miễn phí trên Facebook đánh lừa trẻ em, khiến chúng chi hàng trăm USD cho các vật phẩm trong trò chơi.

Thuê bao có trả phí

Ngoài mua hàng trong ứng dụng, một mô hình kinh doanh “freemium” quan trọng khác là các thuê bao có trả phí, tương tự như khi bạn trả hóa đơn điện thoại hàng tháng. Thông thường, các thuê bao cho phép bạn mở khóa các tính năng mới hữu ích, đổi lại hàng tháng bạn phải trả một khoản tiền nhất định. Rất dễ nhận biết thuê bao có trả phí; bạn chỉ cần tìm các ứng dụng có chữ “Plus”, “Premium” hoặc “Gold”.

Thuê bao được áp dụng nhiều hơn với các ứng dụng không phải trò chơi, và chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Chúng tôi đã nói đến Tinder Plus, ứng dụng này cho phép bạn trả một khoản phí nhỏ hàng tháng để nhận được số lần vuốt không giới hạn và có thêm các tính năng. LinkedIn yêu cầu thanh toán hàng tháng cho LinkedIn Premium để bạn có thể gửi email cho những người mà bạn không có kết nối. Bạn có thể nghe nhạc trực tuyến miễn phí với Spotify, nhưng để xóa quảng cáo và lưu nhạc ngoại tuyến, bạn sẽ phải trả phí thuê bao Premium. Ngay cả Microsoft, công ty đã nhiều năm kiếm tiền từ việc bán Office, hiện nay đang cung cấp một số ứng dụng Office miễn phí, nhưng khuyến khích người dùng trả thuê bao hàng năm cho Office 365.

Một số website và ứng dụng cũng đã bắt đầu sử dụng thuê bao: Ví dụ, mỗi tháng, tờ New York Times cho phép bạn đọc một vài bài báo miễn phí, nhưng bạn phải trả tiền hàng tháng để nhận được quyền truy cập không giới hạn.

Có hai lý do quan trọng khiến các nhà sản xuất ứng dụng chuyển sang thuê bao. Thứ nhất, chúng mang lại một nguồn thu nhập ổn định và đáng tin cậy, trong khi mua hàng một lần chỉ giúp doanh thu tăng đột biến khi phát hành bản cập nhật mới, và sự giảm mạnh vào những thời điểm khác. Thứ hai, khách hàng thuê bao có xu hướng gắn bó với ứng dụng lâu hơn (có thể vì họ cảm thấy có một mối quan hệ lâu dài với ứng dụng thay vì chỉ tương tác một lần duy nhất), nghĩa là họ sẽ trả cho công ty nhiều tiền hơn trong suốt cuộc đời. Về mặt kinh doanh, khách hàng thuê bao sẽ có “giá trị lâu dài” (LTV – lifetime value) cao hơn, và việc tối đa hóa LTV được công nhận là chén thánh cho các doanh nghiệp kỹ thuật số.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Neel Mehta, Aditya Agashe & Parth Detroja – Gạt mở chiến lược kinh doanh ẩn sau thế giới công nghệ – NXB CT 2021

Sự tiến hóa của tiền tệ


Chúng ta hôm nay đang đối mặt với hệ thống tiền tệ quốc tế đang sắp sửa thực hiện cuộc đại tu, những điều hiếm khi xảy ra. Để hiểu được điều này, chúng ta cần phải có một phép trắc đại về tiền tệ tại những ngã rẽ không chắc chắn này. Bản đồ này giúp chúng ta định vị địa lý và xác định địa hình, nhưng cho đến bây giờ chúng vẫn chưa gắn liền với tiền bạc. Một chiếc bản đồ về hệ thống tài chính qua các thời kỳ, hé lộ hình dáng của chiếc bản đồ về tiền kỹ thuật số trong tương lai sẽ mang đến một khái niệm mới gọi là tiền phân lớp (layered money) để miêu tả về hệ thống tiền tệ đang phát triển, giúp chúng ta định vị hình thái địa lý của tiền, và giải thích các hình thái khác nhau của tiền liên quan đến nhau như thế nào.

Bằng việc lần theo sự cải tiến của tiền phân lớp, chúng ta có được cái nhìn chính xác hơn về cách và lý do tại sao con người tương tác với những loại tiền tệ mà họ chọn. Cùng với việc phân tích sự phát triển của tiền tệ, chúng ta còn phải tìm câu trả lời về tương lai của tiền tệ sẽ dẫn đến điều gì? Nhiều người nói rằng “đó là kỹ thuật số”, nhưng đối với hầu hết chúng ta, tiền dường như đã là một dạng kỹ thuật số. Chúng ta sử dụng những ứng dụng điện thoại thông minh để quản lý tài khoản thanh toán, thực hiện những thanh toán không tiếp xúc và ngày càng quen với việc không sử dụng tiền mặt. Nhưng hiện nay Bitcoin đã khơi dậy trí tưởng tượng của con người về tiền khác, tiền kỹ thuật số đã có một định nghĩa hoàn toàn mới.

Một phần lý do của sự mơ hồ này là do khoa học tiền tệ hay những nghiên cứu về tiền thiếu đi khuôn khổ mang tính lý thuyết và chuyên ngành phù hợp để hiểu về Bitcoin; nó rất cần được cập nhật để bổ sung hình thái mới này của tiền tệ. Những cập nhật về khoa học tiền tệ rất hiếm, và để giải thích cho một điều quan trọng sắp sửa xảy ra, chúng ta cần phải nhìn về quá khứ để xác định đúng ngữ cảnh về sự tác động của Bitcoin đến tiền tệ trong tương lai. Và những cập nhật này rất đáng giá; Bitcoin và những phiên bản tương đồng đang từng bước mang lại khởi đầu mới mẻ đối với tính minh bạch và những lựa chọn mà thế giới cần khi chúng ta đang đối diện với phiên bản tiếp theo của tiền tệ.

Để hiểu và giải thích cho sự tích hợp này của Bitcoin sẽ xảy ra như nào và nó sẽ thay đổi vận mệnh hệ thống tiền tệ của chúng ta ra sao, cần có cách tiếp cận dễ dàng hơn để hiểu thêm về khoa học tiền tệ, điều vốn đã được giảng dạy từ xa xưa trong bộ môn lý thuyết kinh tế học hàm tiến sĩ – bởi rất ít người thực sự hiểu tiền đến từ đâu, hay thậm chí hệ thống tiền tệ là gì.

Chúng ta cần phải hiểu được tiền tệ là một hệ thống phân lớp. Bằng cách sử dụng thuật ngữ gốc phân lớp (layered), sẽ giúp chúng giải thích tại sao con người bắt đầu sử dụng hệ thống tiền tệ thay cho tiền xu, những hệ thống này phát triển ra sao, và ngày nay chúng đã trở nên phức tạp và nhiều lớp như thế nào. Chúng ta sẽ biết được rằng, tài sản của mình đang nằm ở lớp nào của tiền và định vị giữa những lớp tiền tệ. Trong thế giới tương lai đa dạng về sự lựa chọn của các loại tiền, có thể định vị bản đồ tiền tệ sẽ rất cần thiết.

Tiền phân lớp là gì?

Trước khi bắt đầu câu chuyện về tiền phân lớp, tốt nhất ta nên xem một ví dụ minh họa ngắn gọn về cơ cấu. Ví dụ cơ bản nhất về thuật ngữ mới mẻ này có thể được minh họa bằng cách đánh giá mối quan hệ giữa đồng vàng và chứng chỉ vàng từ năm 1928 tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Trên chứng chỉ vàng có câu nói:

Tờ giấy này xác nhận rằng có 10 USD đồng vàng được đặt cọc trong Ngân khố của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ có thể trả lại cho người nắm giữ này khi có yêu cầu.

Hãy giải nghĩa câu nói này bằng cách sử dụng thuật ngữ phân lớp. Lớp đầu tiên của tiền, đồng vàng được giữ trong kho. Lớp thứ hai của tiền, chứng chỉ vàng, được in và lưu hành thay cho đồng vàng. Tờ giấy có giá trị với bất kỳ ai sở hữu tờ giấy đó trong tay, được gọi là người nắm giữ. Cả đồng vàng và chứng chỉ vàng đều là những hình thái của tiền, nhưng chúng khác nhau về mặt chất lượng. Mối quan hệ này giữa hai lớp tiền (hình 2) là một cách khác để miêu tả bảng cân đối kế toán giữa tài sản và nợ phải trả (hình 1).

Hình 1
Hình 2

Nếu chúng ta kiên trì áp dụng cơ cấu mới đối với khoa học tiền tệ và truy tìm nguồn gốc của nó, câu chuyện về toàn bộ lịch sử của đồng tiền sẽ được hé lộ. Khi những người chơi lớn trong hệ thống tiền tệ quốc tế bắt đầu công bố những loại tiền điện tử sắp tới của họ, chúng ta cần một phương pháp rõ ràng để phân tích những thay đổi sẽ phát sinh, nhưng không thể dễ dàng thực hiện điều đó với hệ thống thuật ngữ tài chính thông dụng hiện nay. Chúng ta xem tiền tệ là một hệ thống phân lớp vì đó là cách rõ ràng hơn để định nghĩa những thay đổi đang xảy ra với hệ thống tài chính của chúng ta, một hệ thống mà tạm thời sụp đổ trong sự hỗn loạn vài năm một lần chỉ có thể xoa dịu bằng cách tăng cường sự can thiệp của chính phủ và ngân hàng trung ương.

Có một con đường dẫn đến một tương lai ổn định hơn; tương lai đó phụ thuộc nhiều vào sự cải tiến của công nghệ đã hợp nhất khoa học tiền tệ với một loại khoa học từng không liên quan khác: mật mã học. Với sức lan tỏa rộng rãi trong những người tài giỏi và các thị trường trên thế giới kể từ năm 2009, khoa học mật mã đang khiến thế giới tài chính thay thế những hệ thống cũ bằng những hệ thống mới giống như Internet đã làm đối với vô số ngành công nghiệp kể từ đầu thiên niên kỷ này. Những hệ thống mới này cần được miêu tả cẩn thận, và chúng ta sẽ sử dụng cơ cấu phân lớp này để giải thích tất cả mọi thứ diễn ra như thế nào. Vai trò của tiền tệ phi chính phủ trong tương lai của chúng ta là gì? Liệu Bitcoin có tồn tại song song với tiền tệ chính phủ hay thay thế chúng? Những lớp câu hỏi này yêu cầu một nghiên cứu về tiền phân lớp. Nó bắt đầu với đồng vàng được tạo ra năm 1252.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nik Bhatia – Sự tiến hóa của tiền tệ – NXB CT 2021

Giải quyết nghịch lý thịnh vượng: Kinh tế dung nạp và tinh thần doanh nhân – Phần cuối


Vấn đề là vẫn có những cáo buộc về nạn tham nhũng tràn lan trong việc đăng ký bất động sản, bán đất và giải quyết các tranh chấp. Đối tượng bị tố cáo thường là các bên trung gain, thẩm phán và quan chức địa phương. Theo Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ, hệ thống đăng ký bất động sản ở đây vẫn không đáng tin cậy. Các hộ gia đình ở các vùng nông thôn thường bị hệ thống này bỏ qua trong suốt quá trình đăng ký hộ khẩu – thường là tài sản có giá trị nhất đối với họ – vì chính phủ đã hạn chế quyền hạn của Ngân hàng Thế giới trong các khu đô thị. Ở vùng nông thôn, những người nông dân kẹt tiền mặt ít được hưởng lợi từ các chương trình quản lý đất đai. Sự nghèo đói ở nông thôn tại Honduras không hề giảm kể từ năm 1998. Sự mơ hồ và tham nhũng thường bộc lộ rõ trong tranh chấp quyền sở hữu đất đai ở các nước phát triển. Nếu Honduras phải hứng chịu thảm họa thiên nhiên thảm khốc như Haiti vào năm 2010, các tổ chức nhân đạo như Hội Chữ thập đỏ có thể sẽ gặp khó khăn trong việc giải quyết mớ hỗn độn và triển khai công tác cứu hộ đến từng nhà.

“Điều gì sẽ xảy ra nếu một cuốn sổ cái toàn cầu có thể ghi lại tất cả những dữ liệu này và giành được sự tín nhiệm ngay cả trong những tình huống khó khăn nhất? Có vẻ như blockchain hoạt động đặc biệt hiệu quả trong việc xử lý các giao dịch mà không cần phải có sự tham gia của những bên khác”, ông de Soto nói. “Thực tế các nước đó nghèo là do vẫn tồn tại nạn tham nhũng, do đó việc sổ cái giao dịch của bạn được lưu trữ ở tất cả các nút cùng thủ tục đáng tin cậy sẽ khiến hệ thống hoạt động hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí, đó cũng là mong muốn của những người nghèo bởi nó có thể bảo vệ quyền lợi của họ”, ông cho biết thêm. Đây là cơ chế hoạt động của quá trình đó: Blockchain là một cuốn sổ cái mở, có nghĩa là nó có thể nằm trên bàn máy tính của các quan chức Honduras để phục vụ cho công tác đối chiếu, các thiết bị di động của công nhân thực địa cần nhập liệu, và những công dân muốn duy trì một bản sao. Đây là cuốn sổ cái phi tập trung, nghĩa là không có bên nào là chủ, là một mạng lưới ngang hàng mà bất kỳ ai cũng có thể truy cập. Ở những nơi có sự tín nhiệm dành cho cơ quan công quyền thấp và hệ thống pháp luật bảo vệ quyền sở hữu tài sản kém như Honduras, blockchain bitcoin có thể giúp khôi phục lòng tin và xây dựng lại uy tín cho đất nước.

Đó là những gì mà công ty khởi nghiệp Factom từ Texas dự định làm khi hợp tác với chính phủ Honduras và tham gia cùng Epigraph, một công ty phần mềm chuyên về quyền sở hữu. Người đứng đầu công ty, Peter Kirby, đã nói: “Cơ sở dữ liệu quốc gia về cơ bản đã từng bị tấn công. Do đó, các quan chức có thể sẽ truy cập vào đó và tự tậu cho mình một biệt thự hướng ra biển”. Ông bổ sung thêm rằng 60% đất của Honduras chưa được đưa vào hồ sơ. Dù chưa đạt được thỏa thuận dứt khoát, nhưng mục đích của dự án là lưu trữ dữ liệu của chính phủ về quyền sử dụng đất trên sổ cái blockchain. Kirby nói với Router rằng Honduras có thể đi tắt đón đầu các hệ thống quản lý đã được các nước phát triển áp dụng và để lại, bằng cách triển khai công nghệ blockchain của Factom, sau cùng công nghệ này có thể áp dụng với ngành khai khoáng và hoạt động thế chấp để tăng tính bảo mật. “Thật lạ khi tài liệu về quyền sở hữu, từ bằng sáng chế cho tới bất động sản, đều được lưu trữ trên giấy tờ và không có lý do gì để giải thích cho điều này ngoài lý do lịch sử. Blockchain có thể làm việc với bất kỳ giao dịch hoặc tương tác nào mà vấn đề cần quan tâm đến chỉ là quyền sở hữu và thời gian”, Kausik Rajgopal, người đứng đầu văn phòng phụ trách hành chính và thanh toán của McKinsey ở thung lũng Silicon nói.

Cuối cùng, chúng tôi không biết liệu chính quyền Honduras có cho phép việc đưa quyền sở hữu đất đai lên blockchain không hay vẫn chấp nhận sử dụng mô hình hiện tại. Trong các nỗ lực đăng ký đất đai trước đây, chính phủ đã không ủng hộ các chi phí phát sinh cho việc nhân rộng và tạo điều kiện cho nhiều người được hỗ trợ hơn. Nhưng nếu sổ cái cung cấp dữ liệu đáng tin cậy và chống giả mạo thì các tổ chức phi chính phủ có thể nhận được dữ liệu bổ sung cần thiết để đưa ra thông báo và gây ảnh hưởng đến quyết sách cũng như công tác quản lý của nhà nước. Nếu loại bỏ 5 trong số 6 bước cần thiết để đăng ký quyền sử dụng đất ở Honduras, và cắt giảm thời gian từ 22 ngày xuống còn 10 phút, thì chi phí giao dịch phi kinh tế này sẽ giảm xuống gần như bằng 0. Có lẽ nó sẽ giúp các nhà báo cũng như nhà bảo vệ quyền lợi của cộng đồng khiến các tập đoàn lớn trên thế giới phải xấu hổ khi không mua, không xây dựng, không khai thác gỗ hoặc lấy nước từ những vùng được chỉ định, những vùng được cho phép để bảo vệ môi trường, hay đã không trả lương công bằng cho người lao động. Chúng tôi hy vọng sẽ làm được những điều như vậy!

Những thách thức khi thực hiện và cơ hội cho các nhà lãnh đạo

Công nghệ blockchain rõ ràng không phải là thuốc chữa bách bệnh cho những tai ương về kinh tế và tài chính của thế giới. Chính con người chứ không phải là công nghệ mới tạo ra sự thịnh vượng. Có những trở ngại phải vượt qua và đây là cơ hội cho các nhà lãnh đạo. Đầu tiên là về kỹ thuật. Theo dữ liệu của Liên minh Viễn thông Quốc tế, vẫn còn những lỗ hổng đáng kể trong kết nối Internet, do cơ sở hạ tầng viễn thông kém hoặc bởi phí dịch vụ quá đắt đỏ.

Thứ hai là trình độ học vấn. Sử dụng điện thoại thông minh và tương tác trực tuyến đòi hỏi người dùng phải có trình độ học vấn nhất định. Ở Mỹ, 18% người lớn trên 16 tuổi có trình độ học vấn dưới lớp 5. 30% có trình độ văn học, toán học thấp, và 43% trong tổng số những người trình độ văn hóa thấp này sống trong cảnh nghèo đói. Trình độ học vấn còn rất không đồng đều ở các nước đang phát triển. Ở nhiều quốc gia châu Phi, tỷ lệ biết chữ chỉ vào khoảng 50% và vấn đề thậm chí còn nghiêm trọng hơn khi so sánh theo giới tính. VÍ dụ: Ở những nơi như Afghanistan, Niger, Sierra Leon, Chad, Mozambique, và các quốc gia nghèo khác, khoảng cách giữa tỷ lệ nam và nữ biết đọc biết viết lên tới 20%.

Thứ ba là nạn tham nhũng. Blockchain là một công cụ mạnh mẽ, nhưng giống như tất cả các công nghệ khác, vốn dĩ nó không hoàn toàn tốt hay xấu. Mọi người có thể khai thác các công nghệ thông minh, từ điện năng, sóng phát thanh cho tới Internet, cho các mục tiêu tốt hoặc xấu. Chúng ta cần sự lãnh đạo từ các tổ chức xã hội để có thể đẩy mạnh công nghệ blockchain vì mục tiêu tốt đẹp, chẳng hạn như các tổ chức viện trợ, các tổ chức xã hội dân sự, các công ty, các chính phủ và cả những người đang kết nối với mạng lưới rộng lớn này. Chỉ khi những thách thức được đón nhận và giải quyết thì chúng ta mới có thể giúp công nghệ blockchain thể hiện đúng tiềm năng của nó – một công cụ đem lại sự thịnh vượng cùng những thay đổi tích cực cho thế giới.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Don Tapscott & Alex Tapscott – Cuộc cách mạng blockchain – NXB ĐHKTQD 2018

Phỏng vấn Edmund Phelps – Phần cuối


AN: Việc đó không liên quan gì đến hành vi thao túng tiền tệ của Trung Quốc hay sao?

EP: Không. [Cười] Xin lỗi vì đã làm thất vọng bạn bè và đồng nghiệp của chúng tôi.”

AN: Đó là tất cả những gì ông nghe thấy ở Washington.

EP: Có lẽ đó là lý do tại sao vài năm trước đây, Viện Brookings không quan tâm đến bài báo này.

AN: Những đặc điểm hoặc thể chế nào của nền kinh tế Mỹ mà ông nghĩ châu Âu nên cố gắng áp dụng, và ngược lại? Tôi biết ông là một người hâm mộ châu Âu mặc dù ông có phần bi quan về triển vọng của họ, nhưng có thể có một số điều cần học hỏi.

EP: Larry Summers đã khiến tôi hơi xấu hổ tại một cuộc tranh luận công khai mà ông ấy làm người điều phối thảo luận. Larry hỏi: “Ông có thể gọi tên một thứ mà ông thích ở châu Âu không?”, và câu hỏi này đã làm tôi rất bất ngờ. [Cười]/

AN: Và ông không thể nói đó là “Thức ăn”!

EP: Tôi thật sự đã không có thời gian để nghĩ ra được gì nhiều, điều đó không công bằng. Nếu được suy nghĩ một chút, tôi có thể nêu ra vài điều mình thích ở châu Âu.

Về kinh tế – tất nhiên, một số nước nhỏ tự hào về chủ nghĩa tập đoàn (corporatism) của mình. Họ nghĩ rằng thật tuyệt vời khi có những công đoàn tốt trong công ty. Nó giúp mọi thứ trở nên thân thiện hơn và hợp tác hơn, và điều đó thật tốt. Phải chăng người Mỹ đã sai lầm khi không hiểu điều đó? Có thể điều đó có hiệu quả ở Áo, nơi tôi thấy mọi người ai cũng giống ai. [Cười] Tất cả họ đều đến từ cùng một nơi và có những ý kiến tương đồng, vì vậy tôi có thể hiểu các công đoàn đóng vai trò thông tin nào đó.

Còn về những gì tôi thích ở Mỹ, thì thật ra không có gì hoàn hảo ở đây, nên nguòi ta sẽ có vẻ rất ngây thơ nếu tán dương điều gì. Về cơ bản, tôi có xu hướng thích sự cởi mở tương đối của xã hội. Mọi người đều có cơ hội tạo sự khác biệt và tiến lên bậc thang xã hội. Tôi có cảm giác đó ở đây, ở nước Mỹ này! Việc các dữ liệu có thật sự cung cấp bằng chứng cho điều đó hay không lại là một câu chuyện khác. Tôi đã nhìn thấy những báo cáo hoài nghi về điều đó, nhưng ở đây rõ ràng tôi có cảm giác đó: tại Mỹ người ta không chê trách một người đã làm ra điều gì đó mới mẻ và cũng không ghen tị về số tiền họ kiếm được nhờ điều đó. Tôi nghĩ điều này rất tốt cho tất cả mọi người có liên quan, và tôi cũng nghĩ đó là điều tốt cho nền kinh tế.

AN: Trong bài phát biểu nhận giải Nobel, ông nói rằng mô hình kinh tế của John Rawls đã có một cái nhìn quá hạn hẹp về những nguyên nhân mang đến sự hài lòng cho con người, và rằng đây là một quan điểm thừa hưởng từ kinh tế học cổ điển. Ông có ý gì khi nói rằng Rawls đã đưa ra một quan điểm hạn hẹp? Và vì ông rất thân thiện với Rawls, ông đã bao giờ đề cập đến điều này với ông ấy chưa? Nếu có thì ông ấy nói gì?

EP: Không, không. Cuộc nói chuyện dài cuối cùng của tôi với ông ấy có lẽ là vào tháng 1/1997, và rồi ông ấy bị đột quỵ. Trong thời gian đó thì tôi lại ngập đầu trong công việc, thật không may, và tôi không biết về bệnh tình của ông ấy. Tôi đã mất liên lạc với ông ấy trong vài năm, và vào năm 2001, khi tôi biết rõ về tình trạng của ông ấy thì đã quá muộn. Lúc đó ông ấy đã không thể nói được nữa.

Khi tôi đưa ra nhận xét đó, tôi đã nhớ về những phần của quyển sách – ví dụ như nửa đầu quyển sách. Tôi rất ấn tượng khi đọc về quá trình tìm một cuộc sống xứng đáng với tiềm năng của một công nhân bị thiệt thòi, Rawls đã không thể nói gì khác hơn là: “Nếu anh ấy có thể nhận được mức lương khá thì anh ấy đã có thể là một người cha tốt hơn, dẫn con đi chơi bóng và tham gia vào các cuộc họp ở nhà thờ địa phương”, những thứ tương tự như thế. Tôi nghĩ rằng quan điểm của Rawls không cần phải quá bó hẹp khi chỉ nói đến những cơ hội sống xứng đáng với tiềm năng của những người kém may mắn nhất. Tôi cho rằng họ có thể nhận được điều gì đó từ việc tham gia vào nơi làm việc, họ có thể giải quyết các vấn đề và trải nghiệm phát triển bản thân, gia tăng lòng tự trọng và tăng cường khả năng làm việc. Xu hướng tự nhiên là mọi người sẽ nói: “Vì họ rất thiệt thòi nên họ không thể làm được nhiều điều”. Tôi hiểu điều đó rất đúng, nhưng mặt khác, họ cũng không thể làm gì nhiều ở nhà. Họ không thể đọc Proust và quyển Complete Works of Aristotle cả ngày.

AN: Hoặc đọc sách của Rawls, về vấn đề đó.

EP: À, đúng rồi, đọc sách của Rawls, về vấn đề đó!!! [cười] Vì vậy, tôi nghĩ rằng Rawls lẽ ra có thể chọn cách không quá hạn hẹp như vậy. Nhưng sau đó, tôi nghĩ ông ấy muốn giữ cho mô hình đơn giản. Ông ấy muốn suy nghĩ về vấn đề tiền lương và cách mà tiền lương mở ra cơ hội cho việc sống xứng đáng với tiềm năng bên ngoài công việc. Đó là một khuôn khổ đơn giản mà Rawls có thể trình bày rõ ràng với một độc giả chăm chỉ, và nó đã có hiệu quả. Nhưng vấn đề là điều đó không có hiệu quả đối với tôi, khi tôi nghĩ về sự công bằng của chủ nghĩa tư bản. Tôi tự thấy rằng vấn đề không phải chỉ là như vậy. Nó không cho những người có tinh thần doanh nhân đang cần phát triển một ý tưởng mới cơ hội tự thể hiện nào để có thể sống đúng với tiềm năng của họ.

Chúng ta phải lo lắng về hai vấn đề thiếu cơ hội: không chỉ là sự thiếu cơ hội của những người bị thiệt thòi nhất, mà còn là sự thiếu cơ hội của toàn bộ tầng lớp doanh nhân, những người không có cơ hội hiện thực hóa các phát triển trí tuệ mà họ có khả năng làm được.

Ở trường hợp nào thì mọi việc tại đây cũng trở nên phức tạp. Theo Abraham Maslow, nếu một người đã từng đạt đến mức cao hơn trong tháp nhu cầu thì sẽ ít thỏa mãn hơn nếu bị đặt ở mức thấp, so với người khác chỉ vừa mới đạt được mức thấp đó. Bạn có thể tưởng tượng một tình huống trong đó mức thu nhập tối thiểu đã đạt được tối đa hóa thông qua chính sách thuế, nhưng không có những cơ hội kinh doanh khởi nghiệp, do đó các doanh nhân và những người làm thuê chăm chỉ thông thường sẽ cùng kiếm được mức lương thấp như nhau. Trong trường hợp đó, những người làm thuê có thể thực hiện khá tốt việc sống đúng với tiềm năng (self-realization) trong chừng mực có thể, trong khi nhóm doanh nhân thì sẽ nản lòng, không vui và không đạt được bất cứ điều gì trong công việc.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling & Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019

Giải quyết nghịch lý thịnh vượng: Kinh tế dung nạp và tinh thần doanh nhân – Phần VII


Sau kiều hối, viện trợ nước ngoài là nguồn quỹ lớn thứ hai được chuyển từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển. Công nghệ blockchain cho phép các tổ chức phi chính phủ có thiện chí hoạt động minh bạch, trách nhiệm và năng suất hơn cũng như phân phối hiệu quả hơn các dịch vụ cần thiết dù trong giai đoạn khủng hoảng hay hoàn cảnh thông thường. Tất nhiêu, bên cạnh đó vẫn còn vô số những thách thức trong công tác viện trợ cần phải vượt qua. Mọi người tham gia đều phải biết cách sử dụng công nghệ này. Các mạng lưới điện thoại di động có thể sụp đổ trong giai đoạn khủng hoảng. Các phần tử tội phạm mưu mô xảo quyệt và các chính phủ tham ô vẫn có thể tìm cách khác để chiếm đoạt tài sản của những người nghèo. Nhưng liệu đây có phải là lý do để chúng ta không nên tìm hiểu loại hình công nghệ này? Câu trả lời là không. Tình hình xã hội hiện nay rất bất ổn và có thể sụp đổ trong nhiều trường hợp. Những cá nhân quyền lực và các nhóm viện trợ có trách nhiệm xuất hiện sẽ đồng nghĩa với việc càng có thêm nhiều khoản viện trợ đến đúng tay người cần trợ giúp. Giảm bớt đói nghèo và xác định được khủng hoảng sau thảm họa là bước thang đầu tiên trên con đường tiến tới sự thịnh vượng toàn cầu. Bạn hãy thử mạo hiểm sử dụng nền ứng dụng blockchain xem.

Tài chính vi mô: Hỗ trợ thanh toán vi mô ngang hàng

Tài chính vi mô là nền công nghiệp đóng vai trò vừa cung cấp các dịch vụ tài chính vừa viện trợ phát triển. Thay vì phân phối viện trợ từ trên xuống, các tổ chức tài chính vi mô (MFI) cố gắgn trao quyền cho các cá nhân trong việc tiết kiệm, đầu tư và xây dựng những doanh nghiệp nhỏ. Thông thường, các tổ chức này tồn tại dưới dạng hợp tác xã tiết kiệm chung, nơi các thành viên trong cộng đồng cùng đóng góp quỹ và cho mọi người vay tiền theo nhu cầu ngắn hạn. Khi được triển khai và quản lý đúng đắn, các tổ chức tài chính vi mô này có thể mang lại lợi ích thực sự tới những cộng đồng đang gặp khó khăn như giúp giảm nạn đói kéo dài, tăng tiết kiệm đầu tư, trong nhiều trường hợp khác là trao quyền cho phụ nữ.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề với MFI: Thứ nhất, chúng ta khó có thể giám sát cách thức các tổ chức hoạt động và thỉnh thoảng, các tổ chức này cũng tạo điều kiện cho hoạt động vay nặng lãi và đòi nợ cưỡng bức khiến cộng đồng gặp nhiều sức ép và tuyệt vọng hơn. Thứ hai, theo cách hiểu này, chính phủ ở các quốc gia đang phát triển nhận thấy cách tốt nhất để hạn chế hành vi xấu là cấm hoặc hạn chế nghiêm các MFI do tranh cãi về MFI ở Ấn Độ năm 2010. Thứ ba, tiền quỹ cuối cùng có thể không nằm trong tay đúng người đúng việc. Chúng ta không có cách nào để đảm bảo rằng những thành viên cần tiền nhất cộng đồng sẽ nhận được nhiều nhất. Thứ tư, các hợp tác xã chỉ mới tồn tại ở từng khu vực, dẫn đến việc hạn chế cả về vốn cũng như cơ hội đầu tư và tiết kiệm.

Vậy là, những người đang đấu tranh với đói nghèo sẽ luôn tự vấn xem liệu blockchain sẽ thích hợp trong bộ công cụ nào? Làm thế nào để cải thiện những việc chúng ta đang làm?

Đầu tiên, blockchain sẽ cải thiện trách nhiệm quản lý. Với vấn đề minh bạch trong hợp tác, các nhà tài trợ sẽ bị hấp dẫn bởi bất kỳ tổ chức phi lợi nhuận nào có sử dụng blockchain để cải thiện tính minh bạch và trách nhiệm. Bên cạnh đó, nếu các khoản nợ nhỏ cũng được ghi lại trên blockchain thì khách hàng của MFI sẽ có quyền truy cập và truy tố những hành vi sai trái. Vì lý do gì mà một người vay tiền hoặc tiết kiệm tiền lại chọn hệ thống thiếu minh bạch và mù thay vì một cơ chế mở?

Thứ hai, điều này đồng nghĩa với việc phụ nữ và trẻ em sẽ được bảo vệ tốt hơn. Qua những hợp đồng thông minh, tiền được tặng cho các tài khoản do phụ nữ đứng tên, chỉ có họ mới có quyền truy cập và dùng vào các mục đích như mua bán thực phẩm, san phẩm dành cho phụ nữ, chăm sóc sức khỏe cùng những nhu yếu phẩm khác. Đàn ông không thể rút tiền để hoang phí vào thuốc lá, rượu chè hay cờ bạc. Đây đều là những vấn nạn lâu dài về tiền gửi tiết kiện hoặc tài chính vi mô.

Thứ ba, blockchain tạo điều kiện giúp chúng ta tìm kiếm quỹ và cơ hội trên toàn thế giới cũng như thu hút viện trợ toàn cầu. Các hợp tác xã như MFI thường bị giới hạn bởi địa lý. Trong tương lai, một người có ý định vay tiền có thể lên mạng và tìm giá thầu thích hợp nhất từ một số người cho vay tiềm năng, chọn người có tỷ giá, điều khoản và có danh tiếng tốt nhất. Các MFI chính thức đương nhiên vẫn tiếp tục tồn tại nhưng sẽ còn nhiều cách thức dễ dàng hơn để kết nối nhiều người qua blockchain và chúng ta sẽ không cần đến các tổ chức như thế.

Cuối cùng, trình tự thanh toán blockchain như bitcoin về cơ bản được tạo ra cho những người vay tiền nhỏ lẻ, không được hưởng quyền công dân bằng cách cho phép các thanh toán nhỏ lẻ (mà chúng ta gọi là thanh toán vi mô) và giảm chi phí xuống bằng 0. Trong thế giới nơi tiền bạc là tất cả thì người dùng nên có khả năng trả nợ, rút tiền và tiết kiệm từng chút một. Những yếu tố trên sẽ mãi là thách thức đối với thế giới tiền tệ thời kỳ blockchain. Người dùng cũng nên có khả năng thực hiện giao dịch nhanh chóng và hiệu quả, dù đói nghèo vẫn tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới nhưng quá trình thâm nhập của điện thoại di động và kết nối Internet đang ngày càng trở nên thông dụng.

An toàn như ở nhà? Con đường đến với quyền sở hữu tài sản

Đăng ký quyền sở hữu đất được Hernando de Soto gọi là một giao dịch phi kinh tế, một cuộc giao dịch kinh tế thường liên quan đến một chính quyền địa phương. Chi phí của giao dịch phi kinh tế bao gồm lãng phí tài nguyên khi chờ đến lượt đăng ký, theo dõi quyền sở hữu, hoàn thiện và sắp xếp giấy tờ, xóa bỏ nạn quan liêu, giải quyết tranh chấp, đút lót cán bộ, thanh tra,… Chi phí này ngày càng tăng ở những nền kinh tế kém phát triển, nơi có hệ thống quản lý yếu kém và đội ngũ quan chức chính phủ thiếu liêm khiết. Honduras là một ví dụ điển hình. Đây là quốc gia nghèo thứ nhì vùng Trung Mỹ với sự chênh lệch giàu nghèo đang trở thành quốc nạn. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 đã làm gián đoạn dòng chảy kiều hối, dẫn tới một cuộc đảo chính của quân đội nhằm lật đổ Tổng thống Manuel Zelaya của Đảng Dân chủ năm 2009. Cuộc đảo chính được ủng hộ bởi một trong những chủ đất lớn nhất khu vực, một ông trùm dầu cọ, người hưởng lợi đáng kể trong những lần chiếm đất trước đó, buộc nông dân phải bán đất đai của họ.

Từ giữa thập niên 1990, Ngân hàng Thế giới và các tổ chức phi chính phủ toàn cầu khác đã tài trợ 125,3 triệu USD cùng với các hỗ trợ về chuyên môn để Honduras có thể thiết kế và quản lý các dự án phát triển liên quan đến đất đai nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của đất nước. Chúng tôi đã đưa ra kế hoạch kết hợp các cơ sở dữ liệu không gian để hỗ trợ gắn thẻ thông tin cho dữ liệu về quyền sở hữu và sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thời tiết và các nguy cơ thiên tai, cùng điều kiện kinh tế xã hội mà các đô thị có thể sử dụng để thông báo kế hoạch chiến lược và đầu tư, cũng như việc tích hợp cơ sở dữ liệu của các dự án đất đai với cơ sở dữ liệu của dự án quản lý thiên tai, thảm họa ở cấp quốc gia và địa phương. Có thể thấy đây là một công việc khá triển vọng.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Don Tapscott & Alex Tapscott – Cuộc cách mạng blockchain – NXB ĐHKTQD 2018

Phỏng vấn Edmund Phelps – Phần II


AN: Tôi muốn hỏi về ba điều thú vị mà ông đã đề cập trong bài phát biểu nhận giải Nobel và mong ông giải thích đó là những gì, và vì sao chúng lại quan trọng. Thứ nhất, Nhà quản lý Nelson/Phelps là gì?

EP: Khái niệm Nhà quản lý Nelson/Phelps (Nelson/Phelps Manager) muốn nhắc đến một nghiên cứu năm 1966 của Richard Nelson và tôi, trong đó chúng tôi đã vẽ nên một người quản lý – ví dụ như một người quản lý trang trại vừa mới nhận được thông tin mới qua thư quảng cáo về một loại phân bón mới. Câu hỏi đặt ra là liệu anh ta có chấp nhận nó hay không, liệu anh ta có thử sử dụng không? Luận điểm của Nelson/Phelps là sẽ có một sự khác biệt lớn nếu người quản lý nông trại là một người có trình độ học vấn tương đối cao, ví dụ như giáo dục khai phóng.

Ý tưởng này xuất phát từ Alexander Meiklejohn, cựu chủ tịch của Đại học Amherst trong một khoảng thời gian vào thập niên 1920. Tôi đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta phải học đại học? Lý do là gì?; và quan điểm của ông ấy là: “Không phải là vì những gì chúng ta sẽ học ở đây là những thứ chúng ta áp dụng sau này; mà đó là vì những gì học được ở đây sẽ giúp chúng ta có được khả năng học hỏi tốt hơn những điều mới hơn, so với việc không học ở đây”. Những điều mới mẻ quan trọng cần học phụ thuộc vào bất cứ thứ gì mới lạ diễn ra trong cuộc sống của chúng ta. Châm ngôn của ông ấy là “Giáo dục đại học là việc học cách học (learning to learni)!” Vì vậy, Nelson và tôi đã lập luận rằng một nhà quản lý hiệu quả cần biết một ít về hóa học, một ít về kinh tế học, để hiểu được việc sử dụng phân bón mới có phải là một sự lựa chọn mạo hiểm tốt hay không.

Tương tự, một nhà quản lý khác ở một nơi nào đó có thể hưởng lợi từ sự hiểu biết về ngoại ngữ. Bài báo này được viết ra vào cái thời mà chúng ta còn học nhiều ngoại ngữ trong trường đại học, và người ta cũng học nhiều toán hơn, tôi nghĩ vậy. Toán học có thể được áp dụng nhiều nơi.

Học thuyết Nhà quản lý Nelson/Phelps không phải là một thuật ngữ trong văn học. Nó chỉ là một thuật ngữ để mô tả dạng nhà quản lý mà nghiên cứu của Nelson và Phelps ca tụng là quan trọng đối với sự phổ biến kiến thức mới.

AN: Vậy những dạng nhà quản lý này rất quan trọng đối với tính năng động về kinh tế?

EP: Tôi nghĩ là vô cùng hữu ích. Nói một cách nhẹ nhàng hơn – chính xác nhất có lẽ là rất quan trọng.

AN: Tiếp theo lại là một thuật ngữ khác. Người tiêu dùng Amar Bhide là gì, thưa ông?

EP: Một người tiêu dùng Amar Bhide (Amar Bhide Consumer) là một người tiêu dùng mạo hiểm – theo cách nói của ông ấy, đó là một người thích thử nghiệm cái mới. Cho nên có một chút khác biệt với khái niệm Nhà quản lý Nelson/Phelps. Một nhà quản lý Nelson/Phelps có thể không vui vẻ gì từ quyết định về việc sử dụng phân bón – mặc dù ông ta có thể vui rằng mình có thể đưa ra quyết định tốt hơn so với một số người khác. Người tiêu dùng mạo hiểm là một ý tưởng hơi khác, nói về niềm vui đi đến trung tâm mua sắm vào buổi sáng thứ bảy để nhìn ngắm những thứ mới và sau đó tận hưởng niềm vui khi tìm ra cách sử dụng chúng ngày càng tốt hơn ở nhà! Điều đó cũng rất quan trọng. Nếu không có những người tiêu dùng như vậy thì những công ty đổi mới sẽ không tạo ra sáng kiến nữa (với hy vọng thu hút được những người tiêu dùng nó trên!).

AN: Những người tiêu dùng này được đào tạo, tự nhiên mà có, hay họ ở đâu đó giữa hai thái cực? Điều gì khiến cho họ xuất hiện ở một vài nơi chứ không ở những nơi khác?

EP: Tôi sẽ khá thận trọng. Tôi sẽ không nói rằng một số nước sản sinh ra nhiều người tiêu dùng như vậy hơn các nước khác, dựa trên bất kỳ nền tảng hệ thống nào. Tôi có khuynh hướng nghĩ rằng do họ lớn lên cùng với nền văn hóa khác nhau, hoặc nếu mọi người cùng lớn lên với một nền văn hóa giống nhau ở khắp mọi nơi, thì một số yếu tố văn hóa trong đó đã tác động vào một vài người trong số họ bởi những tư tưởng xã hội mới. Chỉ vài thế kỷ trước thôi, việc đi trung tâm mua sắm ngắm đồ mới còn được xem là phù phiếm. Mọi người cho rằng cần phải suy nghĩ về những thứ có giá trị cao hơn trong cuộc sống, chứ không chỉ là đi shopping tầm thường! Trong một số trường phái tư tưởng và một số triết lý, hàng hóa vật chất n1oi chung không thực sự quá quan trọng. Do đó đã có những nền văn hóa can thiệp khác kích thích sự thích thú cảu người tiêu dùng đối với vật chất và sự tò mò của họ về cái mới.

AN: Vấn đề cuối cùng mà ông đề cập đến trong bài phát biểu là nhà tài chính Marschak/Nelson (Marschak/Nelson Financier).

EP: Đúng vậy. Mô hình này nhắc đến một bài nghiên cứu của Tom Marschak (con của Jacob Marschak) và Richard Nelson. Nó xuất hiện trên một tạp chí thực sự không có ai đọc, có lẽ ngoại trừ tôi, và tôi cũng không chắc là tôi đã nhìn thấy nó. Hình như tên nó là tạp chí Metro Economic. Trong bài nghiên cứu này, họ đã trình bày một vấn đề có vẻ khá cơ bản trong lý thuyết chủ nghĩa tư bản, đó là lý do tại sao có một nhà tài chính nào chịu bỏ tiền cho một người muốn trở thành doanh nhân? Mặc cho lý thuyết về chủ nghĩa tư bản khẳng định rằng không có gì đảm bảo rằng điều này sẽ có hiệu quả, thậm chí còn mơ hồ liệu việc phát triển công ty có thành công hay không, và thật khó hiểu chính xác suy nghĩ của các doanh nhân… vậy làm thế nào doanh nhân đó có thể nhận được tiền tài trợ cho dự án khởi nghiệp của mình?

Tất nhiên là có nhiều câu trả lời, nhưng câu trả lời trong bài báo của Marschak và Nelson là những gì các nhà tài chính nên làm là đầu tư từng phần, liên tục tài trợ nhỏ giọt, trong khi theo dõi từng bước: Đến nay doanh nhân đó làm việc thế nào? Ông ấy có đạt được mục tiêu chưa? Giờ đây, 50 năm sau, chúng ta đều biết rất rõ rằng các quỹ đầu tư mạo hiểm vẫn luôn đặt ra các thước đo và mục tiêu. Đó là một chủ đề lớn và hấp dẫn.

AN: Tư duy về những dạng nhà quản lý, người tiêu dùng và nhà tài chính nói lên ảnh hưởng như thế nào đến quan điểm của ông vê triển vọng của châu Âu và Trung Quốc?

EP: Tôi nghĩ Trung Quốc là một trường hợp rất đặc biệt, nên chúng ta hãy bắt đầu từ châu Âu trước. Tôi đã khá lo lắng vào năm 1999 khi bắt đầu xem xét dữ liệu về tỷ lệ lao động ở châu Âu có bằng đại học. Tôi đã rất lo lắng: Chúa ơi, theo tỷ lệ phần trăm thì tỷ lệ này ở Ý chỉ có một chữ số. Chỉ có 9% lực lượng lao động có bằng đại học. Có lẽ Áo thậm chí còn tồi tệ hơn, với 8%, hoặc ngược lại. Như thế, các doanh nhân khởi nghiệp kiếm đâu ra những người lao động thích giải quyết các vấn đề mới, sẵn sàng đương đầu với những thứ mới mẻ, kiếm đâu ra những khách hàng muốn thử những thứ mới mẻ đó? Tôi luôn thấy rằng về mặt thống kê, sự khác biệt về tỷ trọng lực lượng lao động có trình độ đại học dường như có thể giải thích sự khác biệt về hiệu quả kinh tế giữa các nước OECD.

Bạn đã đề cập đến Trung Quốc. Amar Bhide và tôi đã viết một bài báo nghiên cứu về Trung Quốc, trong đó chúng tôi đã nói rằng một phần đặc tính đặc biệt của Trung Quốc xuất phát từ thực tế rằng người tiêu dùng Trung Quốc không tích lũy nhiều vốn nhân lực dưới dạng kinh nghiệm đối với hàng tiêu dùng phương Tây. Bạn có thể đặt họ ngồi vào chiếc xe, nhưng họ không thể biết cách để khiến chiếc xe di chuyển. Và vì biết rằng mình không biết cách lái xe, họ có thể không mua xe hơi!

Điều này đã dẫn chúng tôi đến một ý tưởng cũ, đó là khả năng hấp thụ (absorption capacity), khái niệm từng được sử dụng trong các tài liệu từ thập niên 1950 và 1960. Người tiêu dùng Trung Quốc ngày nay cũng chỉ có thể hấp thụ những thứ mới nhanh chóng như vậy thôi. Nhưng năng suất thì bùng nổ rất nhanh tại Trung Quốc. Các nhà sản xuất đang học cách tạo ra rất nhiều sản phẩm mới. Vì người tiêu dùng Trung Quốc luôn bị tụt lại phía sau, Trung Quốc không thể tránh khỏi việc phải có thặng dư xuất khẩu lớn. Đó là lý thuyết của chúng tôi, dù đúng hay sai.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling & Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019

Phỏng vấn Edmund Phelps – Phần I


Edmund Phelps là giáo sư Kinh tế chính trị danh hiệu McVickar, là Giám đốc Trung tâm về Chủ nghĩa Tư bản và Xã hội của Đại học Columbia, và là người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2006. Ông là thành viên của Viện Khoa học Quốc gia (National Academy of Science) và cũng là thành viên kiệt xuất, Cựu Phó Chủ tịch của Hiệp hội Kinh tế Mỹ (American Economic Association). Vào năm 2001, Phelps cùng với Roman Frydman thành lập Trung tâm về Chủ nghĩa Tư bản và Xã hội tại Đại học Columbia (hiện nay là một đơn vị thành viên của Trường Nghệ thuật và Khoa học) để tiến hành và thúc đẩy nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản.

Arnold Kling & Nick Schulz (AN): Trong bài báo có tựa đề “Dynamism of Nations”, ông đã đặt ra câu hỏi và trả lời một vấn đề thú vị: “Điều gì cần thiết để có hiệu suất cao?”, và câu trả lời của ông là: “Về cơ bản, đó là sự thay đổi về hiệu suất mà tôi gọi là tính năng động kinh tế (economic dynamism)”. Xin ông hãy cho ví dụ về một nền kinh tế không có tính năng động kinh tế.

Edmund Phelps (EP): Tôi cho rằng Pháp là một ví dụ khá tốt về một nền kinh tế có năng suất cao mà không có nhiều đổi mới bản địa của các dạng thành công thương mại. Không có nhiều sự thay đổi trong danh sách 50 công ty hàng đầu, vì vậy các công ty không bị đánh bật khỏi vị trí hiện có. Nếu không có nhiều đổi mới và cách tân, thì nơi làm việc có lẽ là khá trì trệ, và bạn có thể thấy điều này qua các dữ liệu báo cáo về mức độ hài lòng thấp của mọi người trong công việc, đúng như vậy đấy!

AN: Ông cho rằng tính năng động đó thực sự làm biến đổi nơi làm việc và giúp tạo ra những công việc có tính thỏa mãn cao hơn, và rằng ngày càng có nhiều bằng chứng về điều này. Đó là những gì ông phát hiện?

EP: Đúng vậy. Tôi nghĩ rằng có bằng chứng về chuyện đó. Tôi không muốn nói rằng đó là các bằng chứng áp đảo hay không thể chối cãi. Nhưng các quốc gia xếp hạng cao bởi một số chỉ số tiêu chuẩn về tính năng động (dynamism), chẳng hạn như sự ra đời và biến mất của doanh nghiệp và quy trình áp dụng đổi mới nhanh chóng, cũng có xu hướng xếp hạng cao về sự hài lòng trong công việc và sự cam kết của nhân viên.

AN: Trong cuộc phỏng vấn với Financial Times, ông đã nói về thực tế chủ nghĩa tư bản như sau: “Đó là một hệ thống của sự rối loạn. Doanh nhân chỉ có hình ảnh mơ hồ nhất về tương lai mà họ đang đặt cược, ngoài ra còn có sự bất định. Họ không biết khi nào nên đẩy đòn bẩy này hay đòn bẩy kia để nhận được kết quả kỳ vọng. Đó là quy luật kết quả không lường trước được”. Và rồi ông phát biểu một điều thú vị: “Điều này không có trong sách giáo khoa kinh tế học và nhiệm vụ của tôi vào cuối sự nghiệp là… đưa nó vào sách giáo khoa”. Tại sao một điều có vẻ rất cơ bản đối với hoạt động và thay đổi về kinh tế như vậy lại không nằm trong sách giáo khoa kinh tế học? Và việc nó có xuất hiện trong sách hay không sẽ tạo ra sự khác biệt thực tế nào, thưa ông?

EP: Vâng, đó là một câu hỏi rất hay. Nếu hệ thống có sẵn đầy đủ và được bảo vệ chống lại các ý định phá hoại hệ thống, thì tôi đoán nó sẽ không quá quan trọng như vậy để con người hiểu đúng về nó. Nhưng tôi e rằng nếu chúng ta không hiểu rõ về nó, thì khi đến lúc phải bảo vệ hệ thống chống lại những người muốn thay đổi nó thì sẽ tồn tại một số nguy hiểm. Mọi người có thể không thích một phần của nó và muốn thay đổi tương ứng, nhưng không nhận ra rằng: một số thay đổi có thể tốt, một số thay đổi khác lại có thể dẫn đến điều tồi tệ hơn nhiều. Tôi nghĩ cần thực sự hiểu nhiều hơn về hệ thống tư bản chủ nghĩa so với những gì ta biết hiện nay. Điều này rất khó, vì không có một hệ thống kinh tế thực tế nào chính xác là hệ thống tư bản.

AN: Ý của ông là những phê bình không hiểu khía cạnh này của tinh thần kinh doanh, hay họ cố ý bỏ qua nó? Đó là một lỗ hổng về hiểu biết hay lỗ hổng trong việc truyền đạt nó?

EP: Tôi chắc chắn họ hiểu rằng có sự tồn tại của doanh nhân trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Mussolini phải hiểu rằng có doanh nhân trong hệ thống tư bản chủ nghĩa. Ông ấy nghĩ rằng họ không tốt. [Cười] Ông ấy nghĩ mình có thể làm tốt hơn với một hệ thống có tính thống kê hơn, tính kinh tế chỉ huy hơn, và chỉ có một vài bộ óc tinh vi như Friedric Hayek cố gắng giải thích cho những người đó rằng, hãy nhìn xem, ở đây có một số điều tinh vi mà bạn có thể không nhận thức được và tốt hơn hết là bạn hãy nên hiểu rõ hơn trước khi bạn gỡ bỏ hệ thống này.

AN: Ông đã được đón nhận như thế nào khi ủng hộ bổ sung những kiến thức này vào trong các sách kinh tế học chuẩn mực? Ông có bị kháng cự không?

EP: Có hai hoặc ba phản ứng. Tôi nghĩ rằng một trong số đó cho rằng điều đó rất khó thực hiện và…

AN: Tại sao lại như vậy?

EP: À, tôi nghĩ chúng ta hiểu khá ít về sự bất định và sự mơ hồ (uncertainty & amiguity). Chúng ta không chắc chắn về những gì có thể và không thể được suy ra từ một mô hình khá tốt. Vì vậy, phản ứng đầu tiên là hoài nghi rằng những tiến bộ theo hướng nghiên cứu đó sẽ lớn và đến sớm.

Một phản ứng khác nằm ở ranh giới của sự thù địch vì nhiều người đã đầu tư rất nhiều vào các mô hình ngẫu nhiên, có trạng thái tĩnh với kỳ vọng hợp lý. Họ không thích người khác bảo với họ rằng tất cả các kết quả họ phát triển được giỏi lắm thì cũng đáng nghi ngờ, còn một số thậm chí chắc chắn là vô giá trị. Và họ không thích người ta nói rằng những gì họ làm đã không khai sáng thế giới.

AN: Một dạng vấn đề kinh điển của những người hoặc tổ chức đã tồn tại lâu, những “cây đa cây đề”?

EP: Đúng vậy. [Cười]

AN: Điều đó cản trở những người sáng tạo, người đổi mới…

EP: Chắc chắn là như vậy. Mặc dù, có lẽ bạn không bao giờ thực sự biết được một kiến thức phức tạp hơn. Nó có thể đến sớm hơn nhiều so với tưởng tượng của chúng ta. Nó có thể đến như một cơn bão tuyết. Tôi nghĩ rằng có một hoặc hai bước tiến khổng lồ có thể được thực hiện khá sớm nhờ vận may, và nếu điều đó xảy ra thì thật tuyệt, chúng ta bắt đầu đường đua. Nhưng nó cũng có thể không xảy ra.

AN: Trong bài phát biểu nhận giải Nobel, ông đã nói “Nhiều thuộc tính khác nhau về văn hóa kinh tế của một quốc gia có tác động đến các doanh nhân, và thậm chí là khuyến khích họ, bằng cách cung ứng cho họ một lực lượng lao động và thị trường sẵn sàng tiếp thu những sáng kiến của họ”. Khái niệm văn hóa kinh tế (economic culture) này rất thú vị, vì nó có thể mang ý nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau. Ông có thể thảo luận chi tiết hơn ý kiến của ông về văn hóa này, đặc điểm của nó, cách chúng ta xác định nó….?

EP: Nếu là vài năm trước thì tôi đã nói rằng điều đó có nghĩa là khát khao cái mới, chịu đựng những điều không chắc chắn, và chấp nhận sự mơ hồ – thậm chí có thể là trong vui vẻ, và dù không thể hiểu rõ tất cả nhưng vẫn phải hành động. Keynes đã gọi đó là gì nhỉ? À, là “tinh thần động vật, bản năng hoang dã” (animal spirits).

Một vài năm trước tôi đã suy nghĩ theo hướng đó, nhưng vào mùa xuân năm 2006, tôi có ý tưởng rằng cần đưa các biến số văn hóa vào phía bên phải của các phương trình hồi quy, công cụ mà tôi dùng trong nỗ lực dự đoán năng suất, tình trạng thất nghiệp, mức độ hài lòng về công việc, và các chỉ số khác về hiệu quả kinh tế. Tôi đã có thể tập hợp một số trợ lý nghiên cứu rất giỏi từ Đông Âu, và tôi yêu cầu họ tìm kiếm dữ liệu. Họ tìm thấy một số dữ liệu từ Đại học Michigan, những bảng khảo sát về giá trị trên thế giới. Tôi đã không tìm được mọi thứ mà mình muốn dù đã thử nhiều cách. Nhưng tôi lại phát hiện ra một số thứ hấp dẫn mà mình không tưởng tượng ra được. Những người tham gia trả lời điều tra được hỏi về sự sẵn sàng phát huy khả năng lãnh đạo của họ, sự sẵn sàng chấp nhận làm người đi theo (ý nói những nhân viên cấp dưới của nhà lãnh đạo – ND), về cảm nhận của họ đối với sự cạnh tranh trong công việc, đối với sự thay đổi, và khi họ tìm việc, thì sự thú vị của công việc đóng vai trò quan trọng như thế nào.

Và chúng tôi đã đưa ra các biến số tính toán giá trị trung bình cho mỗi quốc gia, tỷ lệ phần trăm những người trả lời nhấn mạnh vào những vấn đề này. Đôi khi có lý do để nghĩ rằng điều gì đó sẽ ảnh hưởng đến năng suất, nhưng không phải là thất nghiệp. Và đôi khi có lý do để nghĩ rằng một trong những thái độ văn hóa đó có thể ảnh hưởng đến thất nghiệp nhưng không ảnh hưởng đến năng suất. Do đó chúng tôi đưa ra các biến số này – tôi xem chúng là các thái độ tại nơi làm việc – và hãy chú ý, hầu hết mỗi thứ trong số đó đều có vai trò đáng kể trong việc giải thích một vài biến số về hiệu suất. Tôi đã kết thúc nghiên cứu với ấn tượng chung rằng sự khác biệt giữa các quốc gia về những thể chế đã được định nghĩa rõ ràng (well-defined institution) không quan trọng bằng những sự khác biệt trong văn hóa kinh tế.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Arnold Kling & Nick Schulz – Từ đói nghèo đến thịnh vượng – NXB THTPHCM 2019