Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần cuối


Tóm lại, từ đầu bài cho đến giờ, chúng ta có thể nhận thấy hàng loạt các hệ thống sinh sản khác nhau ở các loài động vật như hệ thống sinh sản đơn thê, tạp hôn, các kiểu hậu cung, vân vân, có thể hiểu được dựa trên khía cạnh xung đột lợi ích giữa các cá thể đực và cá thể cái. Các cá thể ở cả hai giới đều “mong muốn” cực đại hóa sản phẩm sinh sản của chúng trong suốt quãng đời của mình. Do sự khác biệt cơ bản giữa kích thước và số lượng của tinh trùng và trứng, cá thể đực nói chung có lẽ thiên về tập tính tạp hôn và thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc con cái. Cá thể cái có hai thủ đoạn đối phó chính, hai thủ đoạn đó là chiến lược anh ta-người được lựa chọnthuần hóa-hạnh phúc. Hoàn cảnh sinh thái của một loài sẽ quyết định liệu cá thể cái có thiên về một trong số các thủ đoạn đối phó đó hay không, và cũng sẽ quyết định cách thức cá thể đực phản ứng lại. Và như chúng ta đã thấy, trong thực tế, tất cả các dạng trung gian giữa chiến lược anh ta-người được lựa chọn thuần hóa-hạnh phúc đã được tìm thấy, có những trường hợp mà cá thể đực thực hiện việc chăm sóc con non nhiều hơn cả cá thể cái. Chúng tôi không bàn chi tiết về các loài động vật cụ thể, do vậy tôi sẽ không bàn luận về những điều có thể làm cho một loài thực hiện một dạng này trong số các hệ thống sinh sản chứ không phải là dạng khác. Thay vào đó, tôi sẽ cân nhắc sự khác biệt thường thấy giữa các cá thể đực và các cá thể cái nói chung, và chỉ ra cách giải thích những khác biệt đó. Do đó, tôi sẽ không nhấn mạnh các loài động vật có sự khác biệt rất ít giữa các giới tính mà chú ý đến cá thể cái ưa thích chiến lược thuần hóa-hạnh phúc.

Trước tiên, cá thể đực có khuynh hướng ham thích màu mè lòe loẹt và tạo sự hấp dẫn giới tính, cá thể cái có vẻ như tẻ nhạt hơn. Các cá thể ở hai giới tính đều muốn tránh những kẻ săn mồi, và vì vậy một vài áp lực tiến hóa đối với cả hai giới xuất hiện buộc chúng phải có màu xám. Các màu rực rỡ cũng cuốn hút kẻ săn mồi không kém gì khi chúng hấp dẫn những cá thể khác giới. Trong ngôn ngữ di truyền, điều này có nghĩa rằng các gen quy định màu sắc rực rỡ có lẽ hợp với kết cục phải ở trong bụng của kẻ săn mồi hơn so với các gen quy định màu xám. Mặt khác, các gen quy định màu xám ít có khả năng được tìm thấy ở thế hệ kế tiếp hơn các gen quy định màu sắc rực rỡ, bởi vì các cá thể màu xám gặp khó khăn trong việc hấp dẫn bạn tình. Do đó, hai áp lực chọn lọc xung đột sẽ tồn tại: kẻ săn mồi có khuynh hướng loại bỏ các gen quy định màu xám. Cũng như trong nhiều trường hợp khác, các cỗ máy sống hiệu quả có thể được xem như một sự thỏa hiệp giữa các áp lực chọn lọc xung đột. Điều gây hứng thú cho chúng ta lúc này là sự thỏa hiệp tối ưu cho cá thể cái. Dĩ nhiên, điều đó sẽ tương thích hoàn toàn với quan điểm các cá thể đực là những con bạc với rủi-ro-cao, phần-thưởng-lớn. Do một cá thể đực sản sinh hàng triệu tinh trùng cho mỗi quả trứng của một cá thể cái nên các tinh trùng có số lượng lớn hơn rất nhiều so với số trứng trong quần thể. Vì thế, bất kỳ một quả trứng nhất định nào cũng có nhiều khả năng tham dự vào quá trình hợp nhất các tế bào sinh sản hơn so với một tinh trùng. Trứng là một nguồn tài nguyên tương đối có giá, và do đó một cá thể cái không cần phải trở nên quá hấp dẫn đối với giới khác như cá thể đực đã làm để đảm bảo cho trứng được thụ tinh. Mặc dù, cá thể đực có đời sống ngắn ngủi bởi vì cái đuôi lòe loẹt của nó thu hút kẻ săn mồi hoặc bị vướng trong bụi rậm, nhưng nó vẫn có thể trở thành cha của rất nhiều con non trước khi chết. Một cá thể đực không hấp dẫn hoặc xám màu thậm chí có thể sống lâu bằng một cá thể cái, nhưng nó có ít con non và gen của nó không được truyền lại. Điều gì sẽ đem lại lợi ích cho một cá thể đực nếu nó chiếm hữu cả thế giới và mất đi gen bất tử của mình?

Sự khác biệt giới tính thường thấy nữa là các cá thể cái kén chọn đối tượng mà nó sẽ giao phối hơn so với các cá thể đực. Một trong số những lý do cho tính cầu kỳ của một trong hai giới đó là sự cần thei61t trong việc tránh cặp đôi với một thành viên của một loài khác. Sự lai tạp như vậy là một điều tồi tệ vì rất nhiều lý do. Đôi khi, như trong trường hợp một người đàn ông giao phối với một con cừu, sự giao phối này sẽ không hình thành một phôi thai, và như vậy sẽ không mất mát gì nhiều. Tuy nhiên, khi các loài có quan hệ gần gũi hơn như ngựa và lừa lai với nhau, cái giá phải trả có thể là đáng kể, chí ít cũng là đối với cá thể cái. Một cái phôi cho ra con la có thể được hình thành và sau đó nằm trong bụng của cá thể cái khoảng 11 tháng. Nó chiếm một lượng lớn trong tổng mức “sự đầu tư của cha mẹ” của cá thể cái, không chỉ ở dạng thức ăn được hấp thụ qua nhau thai và sau đó là ở dạng sữa, mà trên hết là thời gian mà cá thể cái có thể dùng để nuôi nâng những đứa con khác. Sau đó, khi con la đến tuổi trưởng thành, hóa ra nó lại vô sinh. Điều này có thể là vì các nhiễm sắc thể của ngựa và lừa không đủ tương đồng để hoạt động cùng nhau một cách thích hợp trong giảm phân, mặc dù chúng đủ tương đồng để phối hợp xây dựng nên cơ thể một con la khỏe mạnh. Dù cho bất kể lý do chính xác nào, sự đầu tư rất đáng kể của cá thể mẹ trong việc nuôi dạy con la là hoàn toàn lãng phí nếu nhìn từ khía cạnh các gen của nó. Con ngựa cái nên rất, rất cẩn thận để đảm bảo rằng cá thể mà nó giao phối là một con ngựa khác chứ không phải là một con lừa. Về mặt gen, bất kỳ gen nào của ngựa mà quy định “này cơ thể, nếu ngươi là cái, hãy giao phối với bất kỳ cá thể đực già nào, bất kể kẻ đó là lừa hay ngựa” là một gen có thể sẽ ở trong cơ thể một con la ở thế hệ kế tiếp, không lối thoát, và sự đầu tư chăm sóc của cá thể mẹ vào con la non sẽ lấy đi rất nhiều “sự đầu tư của cha mẹ” vào những con ngựa non tiềm năng khác. Mặt khác, một cá thể đực có ít thứ để mất hơn nếu như nó có giao phối với một thành viên khác loài, và mặc dù nó có thể cũng không thu được điều gì, chúng ta vẫn lường trước rằng cá thể đực ít cầu kỳ hơn trong sự lựa chọn bạn tình. Xem xét điều này ở bất kỳ đâu, chúng ta đều thấy nó đúng.

Thậm chí ở trong cùng một loài, chúng ta cũng vẫn tìm thấy nguyên do của tính cầu kỳ trong sự lựa chọn bạn tình. Giống như sự lai giống, giao phối loạn luân có thể gây ra những tổn hại di truyền. Trong trường hợp này, nguyên nhân là vì các gen lặn gây chết và chết gián tiếp được tập hợp lại và hoạt động. Một lần nữa, cá thể cái có nhiều điều để mất hơn cá thể đực, bởi vì sự đầu tư của nó vào bất kỳ một đứa con cụ thể nào cũng đều có khuynh hướng lớn hơn. Ở những nơi mà sự cấm kị loạn luân tồn tại, chúng ta cần lường trước rằng cá thể cái sẽ cứng nhắc hơn trong việc vi phạm điều cấm kỵ so với cá thể đực. Nếu chúng ta giả định rằng bạn tình già hơn trong mối quan hệ loạn luân có khả năng là kẻ khởi xướng chủ động, chúng ta nên lường trước rằng hôn nhân loạn luân trong đó cá thể đực già hơn cá thể cái thường thấy hơn hôn nhân loạn luân mà cá thể cái già hơn. Ví dụ sự loạn luân cha/con gái phải thường thấy hơn giữa mẹ/con trai. Loạn luân anh/em gái sẽ là trung gian trong các trường hợp thông thường. Nói chung, các cá thể đực có khuynh hướng giao phối bừa bãi hơn các cá thể cái. Bởi vì các cá thể cái sản sinh một lượng trứng giới hạn với một tốc độ tương đối chậm, nên nó thu được ít hơn từ việc giao phối nhiều lần với các cá thể đực khác nhau. Mặt khác, cá thể đực có thể sản sinh hàng triệu tinh trùng mỗi ngày sẽ thu được mọi thứ từ nhiều lần giao phối bừa bãi của nó. Giao phối quá giới hạn thực tế có thể không gây tổn thất nhiều cho cá thể cái, chỉ mất một chút thời gian và năng lượng, nhưng chúng cũng không tạo nên điều gì tích cực cho nó. Mặt khác, cá thể đực có thể chẳng bao giờ cảm thấy giao phối là đủ với tất cả các cá thể cái mà nó có thể có: từ “quá nhiều” không có ý nghĩa gì đối với cá thể đực.

Tôi đã không trình bày một cách rõ ràng về con người nhưng chắc chắn là khi chúng ta nghĩ đến những lập luận về tiến hóa như những điều tôi trình bày trong bài này, chúng ta không thể không nghĩ về chính loài người và những trải nghiệm của bản thân chúng ta. Các khái niệm về việc cá thể cái từ chối giao phối cho đến khi cá thể đực thể hiện một vài bằng chứng về lòng trung thành lâu dài có thể đánh đúng vào tình cảm quen thuộc của chúng ta. Điều đó có thể cho thấy rằng phụ nữ thường dùng chiến thuật thuần hóa-hạnh phúc hơn là chiến thuật anh ta-người được lựa chọn. Nhiều xã hội loài người thực tế là xã hội một vợ một chồng. Trong xã hội của chúng ta, “sự đầu tư của cha mẹ” ở cả cha và mẹ là lớn và không mất cân đối rõ rệt. Người mẹ chắc chắn làm nhiều việc trực tiếp hơn so với người cha, nhưng người cha thường làm việc chăm chỉ một cách gián tiếp hơn để cung cấp các nguồn tài nguyên vật chất chu toàn cho con cái. Mặt khác, một vài xã hội loài người là xã hội tạp hôn và nhiều xã hội dựa trên cơ sở hậu cung. Sự đa dạng đáng kinh ngạc đó cho thấy rằng phương thức sống còn của con người được xác định phần lớn là nhờ văn hóa chứ không phải thông qua các gen. Tuy nhiên, như chúng ta đã dự đoán trên cơ sở tiến hóa, việc người đàn ông nói chung có khuynh hướng hướng tính tạp hôn, và người phụ nữ hướng tới gia đình một vợ một chồng là có thể xảy ra. Khuynh hướng nào trong số các khuynh hướng ấy sẽ giành thắng lợi trong các xã hội cụ thể sẽ phụ thuộc vào đặc điểm chi tiết của hoàn cảnh văn hóa, cũng như là nó phụ thuộc vào đặc điểm chi tiết của các hệ sinh thái ở các loài động vật khác.

Một đặc điểm dường như được xem là bất thường của xã hội chúng ta là vấn đề phô trương giới tính. Như chúng ta vừa thấy, chúng ta phải kỳ vọng rằng trên cơ sở tiến hóa, ở đâu có sự phân biệt giới tính thì ở đó cá thể đực thích phô trương và cá thể cái là tẻ nhạt. Người phương Tây hiện đại chắc chắn là ngoại lệ trong khía cạnh này. Dĩ nhiên, một vài người đàn ông ăn mặc lòe loẹt và một vài phụ nữ ăn mặc xấu xí là chuyện có thật, nhưng tính trung bình thì trong xã hội của chúng ta những điều tương tự với đuôi của con công đực lại được xuất hiện ở nữ giới, chứ không phải ở nam giới. Phụ nữ trang điểm khuôn mặt của họ và đeo mí mắt giả. Ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như các diễn viên, đàn ông không làm vậy. Phụ nữ dường như quan tâm đến ngoại hình cá nhân của chính họ và được khuyến khích làm như vậy thông qua tạp chí và báo chí. Tạp chí của đàn ông ít bị chiếm chỗ bởi những điều gợi cảm ở nam giới, và một người đàn ông tỏ thái độ quan tâm bất thường đến cách ăn mặc và ngoại hình của mình có thể gây nghi ngờ cho cả nam giới và nữ giới. Khi chúng ta mô tả về một phụ nữ trong câu chuyện hàng ngày, có lẽ rằng vẻ đẹp gợi cảm, hoặc là không có vẻ đẹp, của cô ấy sẽ là chủ đề chính. Điều đó là sự thật, cho dù những người đang nói chuyện là đàn ông hay đàn bà. Khi nói về đàn ông, tính từ thường dùng có lẽ chẳng liên quan gì đến sự gợi cảm.

Khi đối mặt với những sự thật này, nhà isnh học sẽ buộc phải nghi ngờ rằng anh ta đang xem xét một xã hội mà ở đấy cá thể cái sẽ cạnh tranh để tranh giành cá thể đực, chứ không phải là ngược lại. Trong trường hợp chim thiên đường, chúng ta đã quyết định cá thể cái là xấu xí bởi vì chúng không cần cạnh tranh để giành giật các cá thể đực. Cá thể đực bảnh bao và thích phô trương bởi vì cá thể cái được nhiều cá thể đực ưa chuộng và có thể có quyền kén chọn. Lý do mà chim thiên đường mái được nhiều chim trống ưa chuộng là trứng của nó trở thành nguồn tài nguyên khan hiếm hơn so với tinh trùng Điều gì đã xảy ra ở người phương Tây hiện đại? Có phải đàn ông thực sự đã trở thành giới tính được săn đón, giới tính được những kẻ khác giới ưa chuộng, giới tính có quyền kén chọn? Nếu như vậy, thì tại sao?

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Advertisements

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần VII


Do đó, sự lãng phí như đuôi của chim thiên đường trống có thể đã tiến hóa nhờ một kiểu quá trình bỏ chạy không ổn định. Ở thuở ban đầu, đuôi dài hơn một chút so với bình thường có thể đã được các chim mái chọn làm phẩm chất mong muốn ở chim trống, có lẽ bởi vì nó báo hiệu một thể chất khỏe mạnh và sung sức. Đuôi ngắn ở chim trống có lẽ biểu hiện của sự thiết một vài vitamin – bằng chứng của khả năng kiếm được ít thức ăn. Hoặc có lẽ những con chim trống đuôi ngắn không giỏi trong việc chạy trốn khỏi kẻ săn mồi, và do đó đuôi của chúng đã bị cắn đứt. Hãy chú ý, chúng ta không phải giả  thiết rằng đuôi ngắn là đặc điểm di truyền được truyền lại, mà nó có vai trò như một yếu tố chỉ thị một vài tính chất di truyền thấp hơn. Dù sao đi nữa, vì bất cứ lý do gì, chúng ta hãy cứ cho rằng các con chim mái ở loài chim thiên đường cổ đại đã thích tìm đến với những con chim trống có đuôi dài hơn kích thước trung bình. Miễn là những biến đổi tự nhiên về chiều dài đuôi chim trống có một vài liến quan đến di truyền, theo thời gian, điều này sẽ làm cho đuôi chim trống trong quần thể dài thêm. Các con chim mái đã tuân theo một quy luậ đơn giản: quan sát tất cả các con chim trống và tìm đến con trống có đuôi dài nhất. Bất kỳ con mái nào không thực hiện theo quy luật này sẽ bị trừng phạt, mặc dù cái đuôi đã trở thành quá dài đến nỗi chúng gây vướng víu cho chính những kẻ sở hữu chúng. Nguyên nhân của điều này là vì bất cứ một con mái nào không sinh được chim trống có đuôi dài đều khiến cho nó ít có cơ hội trở thành kẻ hấp dẫn. Giống như thời trang quần áo của phụ nữ, hoặc thời trang về thiết kế xe hơi ở Mỹ, khuynh hướng nghiêng về những cái đuôi dài đã diễn ra và đã tạo thành phong trào của riêng mình. Nó chỉ bị dừng lại khi cái đuôi dài đến mức kỳ cục và những bất lợi hiển nhiên của chúng bắt đầu vượt xa lợi thế về sự hấp dẫn giới tính.

Đây là một ý tưởng khó có thể chấp nhận, và nó đã gây ra nhiều nghi ngờ từ lúc Darwin đề cập lần đầu tiên dưới cái tên là chọn lọc giới tính. A. Zahavi là người không tin vào giả thuyết này. Ông cũng là người đưa ra thuyết “cáo, cáo” mà chúng ta đã đề cập đến. Nguyên lý “vật cản” đối lập đầy điên rồ được A. Zahavi đề xuất để giải thích hiện tượng trên. Ông ta chỉ ra rằng sự kiện cá thể cái đang cố gắng lựa chọn những gen tốt giữa những cá thể đực sẽ mở ra cơ hội cho sự dối trá ở những cá thể đực. Các cơ bắp khỏe mạnh có thể là một phẩm chất tốt thực thụ để cá thể cái lựa chọn, nhưng vậy điều gì sẽ ngăn chặn cá thể đực không phát triển các cơ bắp giả chẳng khác gì các bả vai được lót đệm ở người? Nếu hình thành các cơ giả ở cá thể đực ít tốm kém hơn các cơ thật, chọn lọc giới tính sẽ phải ưu đãi các gen quy định hình thành các cơ giả. Tuy nhiên, điều này sẽ không thể kéo dài vì sự chọn-lọc-chống-đối sẽ tạo ra những cá thể cái có khả năng phát hiện sự dối trá. Tiền đề cơ bản của Zahavi là sự quảng bá giới tính gian dối cuối cùng sẽ bị các cá thể cái phát hiện. Do đó, ông ta kết luận rằng các cá thể đực thành công thực sự sẽ là những cá thể không quảng bá một cách dối trá, mà thể hiện rõ ràng rằng chúng không lừa dối. Nếu đặc điểm cơ bắp khỏe mạnh là điều chúng ta đang bàn luận, vậy thì những cá thể đực chỉ làm ra vẻ có ngoại hình cơ bắp sẽ sớm bị cá thể cái phát hiện. Nhưng, một khi cá thể đực chứng minh nó có cơ bắp thực thụ bằng cách nâng tạ hoặc khoe khoang chống đẩy, nó sẽ thành công trong việc thuyết phục các cá thể cái. Nói cách khác, Zahavi tin rằng cá thể anh-ta-người-được-lựa-chọn không chỉ phải là một cá thể đực có phẩm chất tốt và phẩm chất tốt đấy phải là thực sự, nếu không nó sẽ không được các cá thể cái có tính nghi ngờ chấp nhận. Do vậy phô trương sẽ tiến hóa để chỉ một cá thể anh ta-người được lựa chọn chân thật có khả năng làm được điều đó.

Cho đến thời điểm hiện tại mọi việc đều tốt. Bây giờ sẽ đến phần thực sự khó có thể chấp nhận trong lý thuyết của Zahavi. Ông ta gợi ý răng đuôi của những con chim thiên đường, chim công, các gạc lớn ở loài hươu, các đặc điểm chọn lọc giới tính khác, những điều dường như luôn luôn đối nghịch vì trông chúng có vẻ như là những vật cản cho chủ nhân của chúng, trên thực tế sẽ luôn tiến hóa bởi chúng là những vật cản. Một con chim đực có đuôi dài và cồng kềnh đang khoe với những cá thể cái rằng nó là một cá thể anh ta-người được lựa chọn mạnh mẽ, mạnh mẽ đến mức mà nó vẫn có thể sống sót bất kể cái đuôi cồng kềnh của mình. Hãy nghĩ về một người phụ nữ đang quan sát hai người đàn ông chạy đua. Nếu cả hai cán đích cùng một thời điểm, nhưng một người đã cố ý làm khó mình với một chồng than trên lưng, người phụ nữ này tự nhiên sẽ đưa ra kết luận rằng người đàn ông gánh nặng thực sự là kẻ chạy nhanh hơn.

Tôi không tin vào lý thuyết này, mặc dù tôi không tin lắm vào sự nghi ngờ của mình khi mới nghe đến nó lần đầu. Khi đó tôi đã chỉ ra rằng kết luận logic của nó sẽ phải là tiến hóa tạo ra những cá thể đực chỉ có một chân và một mắt. Zahavi, xuất thân từ Israel, đã ngay lập tức bác lại: “một vài trong số các vị tướng giỏi nhất của chúng ta chỉ có một mắt!” Tuy nhiên, vấn đề còn tồn tại là lý thuyết vật cản đường dường như chứa đựng một sự nghịch lý cơ bản. Nếu vật cản là một vật thích hợp, và cốt lõi của lý thuyết là nó phải là một vật thích hợp, thì bản thân vật cản sẽ trừng phạt con cháu một cách chắc chắn như là nó có thể hấp dẫn cá thể cái. Trong mọi trường hợp, điều quan trọng là vật cản phải không được truyền lại cho con cái non.

Nếu chúng ta trình bày lại lý thuyết vật cản theo ngôn ngữ của các gen, chúng ta sẽ có một điều tương tự như sau. Gen khiến cá thể đực hình thành vật cản, chẳng hạn như một cái đuôi dài, trở nên phổ biến trong vốn gen bởi vì các cá thể cái lựa chọn các cá thể đực có vật cản. Nguyên nhân ở đây là các gen quy định cá thể cái lựa chọn như vậy trở nên thường gặp trong vốn gen. Các cá thể cái thích cá thể đực có vật cản sẽ tự động có khuynh hướng lựa chọn cá thể đực này đã sống sót đến lúc trưởng thành mặc dù chúng có vật cản. Các gen tốt khác sẽ có ích cho cơ thể của những con non, do đó chúng có thể sống sót để phổ biến gen quy định vật cản, bên cạnh đó chúng cũng có ích cho các gen quy định chọn lựa các cá thể đực có vật cản. Lý thuyết này chỉ có thể áp dụng trong trường hợp các gen quy định vật cản chỉ ảnh hưởng đến các cá thể đực con, cũng như các gen quy định ưa chuộng các cá thể khác giới có vật cản chỉ tác động lên các con non cái. Nhưng khi lý thuyết này được trình bày bằng lời, chúng ta không thể đảm bảo liệu nó có áp dụng được hay không. Chúng ta sẽ hình dung tính khả thi của những lý thuyết như vậy tốt hơn kkhi nó được diễn đạt lại trên phương diện mô hình toán học. Cho đến nay, các nhà toán học di truyền đã thất bại khi cố gắng đưa nguyên tắc vật cản vào một mô hình có thể áp dụng. Điều này có thể là do lý thuyết đó không phải là nguyên tắc có thể áp dụng, hoặc nó có thể là vì họ chưa đủ thông minh để tạo ra đúng mô hình. Nhưng mà một trong số những nhà toán học di truyền đó lại là Maynard Smith, và linh cảm của tôi nghiêng về khả năng trước.

Nếu cá thể đực có thể thể hiện sự vượt trội của nó so với các cá thể đực khác theo cách không liên quan đến việc cố ý tạo vật cản cho mình, chắc chắn rằng cá thể đực này có thể làm tăng khả năng thành công của nó về mặt di truyền theo cách đấy. Do đó, những con hải cẩu voi chiến thắng và giữ được bầy hậu cung của chúng, không phải bằng cách tạo sự hấp dẫn bề ngoài đối với các cá thể cái, mà đơn giản là bằng hành động, đánh bại bất cứ một cá thể đực nào đang cố gắng tiếp cận. Những kẻ chiếm giữ hậu cung có khuynh hướng chiến thắng trong các cuộc chiến chống lại kẻ-có thể tiếm quyền, chỉ vì một lý do đơn giản: đây là nguyên nhân tại sao chúng lại là những kẻ nắm giữ hậu cung. Những kẻ tiếm quyền thường không giành thắng lợi trong các cuộc chiến, bởi vì nếu chúng có khả năng chiến thắng thì chúng đã làm được điều đó trước đây! Do vậy, bất kỳ cá thể cái nào chỉ cặp đối với một kẻ nắm giữ hậu cung, nó sẽ gắn các gen của mình với một cá thể đực đủ mạnh để đánh bại tất cải những thách thức liên tiếp từ vô số cá thể đực đơn độc liều mạng. Nếu may mắn, những con non của cá thể cái sẽ thừa hưởng khả năng chiếm giữ hậu cung của cá thể đực đó. Trong thực tế, hải cẩu voi cái không có nhiều lựa chọn, bởi vì ông chủ hậu cung sẽ tấn công nó nếu nó ly khai. Tuy nhiên, nguyên tắc đó vẫn duy trì, các cá thể cái chọn cách cặp đôi với cá thể đực giành thắng lợi trong các cuộc chiến, bằng cách làm như vậy, có thể mang lại nhiều lợi ích cho gen của chúng. Như chúng ta đã thấy, các cá thể cái thường thích cặp đôi với các cá thể đực chiếm giữ các vùng lãnh thổ và cũng ưu tiên các cá thể đực có vị trí cao trong quần thể có thứ bậc thống trị.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần VI


Để đơn giản hóa, tôi đã coi như cá thể đực chỉ đơn thuần là trung thực hoặc hoàn toàn dối trá. Trong thực tế, một khả năng dễ xảy ra hơn là tất cả các cá thể đực, thực ra là tất cả các cá thể riêng lẻ, đều dối trá đôi chút. Theo cách đó chúng đều được lập trình để tận dụng các cơ hội khai thác bạn tình của mình. Chọn lọc tự nhiên, bằng cách mài sắc khả năng khám phá sự không trung thực của mỗi cá thể đối với cá thể khác, đã giữ cho sự dối trá ở tỉ lệ cao giảm xuống một mức tương đối thấp. Các cá thể đực thu lợi từ sự không trung thực nhiều hơn so với cá thể cái, và chúng ta phải lường trước được rằng, thậm chí ở những loài mà cá thể đực thể hiện tính vị tha đáng kể trong việc nuôi dạy con cái, chúng sẽ luôn luôn có khuynh hướng làm việc ít hơn một chút so với cá thể cái, và sẵn sàng lẩn trốn hơn. Ở các loài chim và động vật có vú, đây là trường hợp thường gặp.

Tuy nhiên, thực tế ở một số loài, cá thể đực chăm sóc con non nhiều hơn so với cá thể cái. Những trường hợp tận tâm của người cha thường cực kỳ hiếm ở các loài chim và động vật có vú, nhưng lại rất thường gặp ở loài cá. Tại sao lại như vậy? Đây là một thách thức đối với lý thuyết gen vị kỷ, điều đã gây khó dễ cho tôi một khoảng thời gian dài. Cô T.R. Carlisle trong một bài giảng gần đây đã gợi ý cho tôi một lời giải thông minh. Cô ấy đã sử dụng ý tưởng “sự gắn bó bắt buộc” của Trivers, được đề cập ở trên. Ý tưởng của cô ấy như sau.

Nhiều loài cá không giao phối, nhưng thay vào đó sẽ phun các tế bào sinh sản của chúng vào môi trường nước. Sự thụ tinh diễn ra ở môi trường nước bên ngoài, không phải ở bên trong cơ thể của cá thể mẹ hoặc bố. Có lẽ đây là cách sinh sản hữu tính được thực hiện lúc ban đầu. Mặt khác động vật trên cạn như chim, động vật có vú và bò sát, không thể đảm bảo cho kiểu thụ tinh ngoài như vậy bởi vì các tế bào sinh sản rất dễ bị khô. Các giao tử của một giới tính, chẳng hạn cá thể đực, được đưa vào phần ẩm ướt bên trong của thành viên khác giới, cá thể cái bởi vì các tinh trùng có khả năng di động. Tất cả chỉ là sự kiện. Bây giờ tôi sẽ đề cập đến ý tưởng. Sau khi giao phối cá thể cái sống trên cạn bị bỏ lại với cái thai. Cái thai ở bên trong cơ thể cái. Mặc dù cá thể cái gần như ngay lập tức đẻ ra quả trứng đã thụ tinh, nhưng cá thể đực vẫn có đủ thời gian để biến mất, bằng cách đó buộc cá thể cái rơi vào hoàn cảnh như ý tưởng “sự gắn bó bắt buộc” của Trivers. Cá thể đực chắc chắn có được cơ hội có quyền quyết định bỏ rơi trước, khép lại khả năng chọn lựa của cá thể cái, và buộc cá thể cái phải quyết định có nên để mặc con non chế dần hay ở lại và nuôi nấng nó. Do đó, sự chăm sóc con non ở các loài động vật trên cạn thường gặp với cá thể cái hơn là cá thể đực.

Nhưng đối với cá và những động vật khác sống dưới nước, sự việc lại rất khác. Nếu cá thể đực không đưa trực tiếp tinh trùng của nó vào cơ thể của cá thể cái thì chiều hướng cá thể cái bị bỏ mặc để “nuôi giữ con non” là không cần thiết. Một trong hai con có thể chạy trốn và bỏ con khác lại với nhiệm vụ trông giữ trứng mới thụ tinh. Nhưng ở đây, cá thể đực có thể lại là cá thể dễ bị bỏ rơi lại nhất, lý do có thể giải thích cho điều này như sau. Dường như cuộc chiến tiến hóa đã nghiêng về phía kẻ đầu tiên đưa ra các tế bào sinh sản của chúng. Đối tác thực hiện điều này sẽ có lợi thế ở chỗ nó có thể bỏ rơi bạn tình của mình ngay sau đó, để nó một mình trông coi những cái thai mới. Mặt khác, đối tác đẻ trứng đầu tiên sẽ phải đối mặt với nguy cơ bạn tình tiềm năng của nó có thể sẽ không thực hiện bước thụ tinh cho trứng sau đó. Lúc này, cá thể đực là kẻ dễ bị bỏ rơi hơn, chỉ vì các tinh trùng nhẹ hơn và dễ có khả năng phát tán hơn trứng. Nếu một cá thể cái đẻ trứng quá sớm, ví dụ trước khi cá thể đực sẵn sàng, thì cũng không phải là vấn đề lớn lắm bởi vì trứng tương đối to và nặng nên chúng có khả năng gắn kết với nhau tạo thành ổ trong một khoảng thời gian. Do đó, con cái có thể sẵn sàng chấp nhận “rủi ro” từ việc đẻ trứng quá sớm thì tinh trùng của nó sẽ phát tán đi ngay trước khi cá thể cái sẵn sàng thụ tinh và sau đó có thể cái sẽ không đẻ trứng bởi vì chẳng có ý nghĩa gì khi cá thể cái làm như vậy. Do vấn đề phát tán, cá thể đực phải đợi cho đến khi cá thể cái đẻ trứng, và sau đó nó phải tưới tinh trùng của nó lên đám trứng. Nhưng cá thể cái đã có được vài giây quý giá để có thể bơi đi mất, bỏ cá thể đực ở lại trông đám trứng đã thụ tinh và buộc cá thể đực rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan mà Trivers đã đưa ra. Vậy thì, lý thuyết này giải thích một cách gọn gàng việc vì sao sự chăm sóc con non ở cá thể đực thường thấy ở những loài sống dưới nước hơn ở những loài sống trên cạn.

Bỏ qua cá, bây giờ tôi quay trở lại với một chiến lược chủ yếu khác của cá thể cái, chiến lược anh ta-người được lựa chọn. Ở những loài mà chiến lược này được áp dụng, vì mục đích của nó, cá thể cái từ bỏ việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ cha của những đứa con của chúng, và thay vào đó là tìm kiếm bằng mọi giá các gen tốt. Một lẫn nữa chúng sẽ sử dụng vũ khí từ chối giao phối của mình. Chúng sẽ từ chối cặp đôi với bất kỳ cá thể đực nào, nhưng sẽ thể hiện sự thận trọng và phân biệt cực điểm trước khi cho phép cá thể đực giao phối. Một vài cá thể đực chắc chắn sẽ có một lượng lớn gen tốt hơn các cá thể đực khác, các gen sẽ đảm bảo cho khả năng sống sót của cả những con bất kể đực, cái. Nếu một cá thể cái, bằng cách nào đó phát hiện được các gen tốt ở cá thể đực qua những dấu hiệu có thể nhìn thấy bên ngoài, cá thể cái đó có thể đem lại lợi ích cho các gen của nó bằng cách kết hợp chúng với những gen tốt đó. Nếu sử dụng thuật ngữ tương đồng của chúng ta là các đội chèo, thì một cá thể cái có thể giảm thiểu khả năng các gen của nó sẽ bị gục ngã vì có bạn đồng hành kém cỏi. Nó có thể cố gắng chọn lấy những bạn chèo tốt cho các gen của nó.

Do các cá thể cái đều có chung thông tin, nên nhiều khả năng chúng cũng đưa ra những ý kiến giống nhau về những cá thể đực tốt nhất. Do đó, một số cá thể đực may mắn này sẽ thực hiện phần lớn các cuộc giao phối. Chúng hoàn toàn có khả năng làm điều này vì tất cả những gì mà chúng phải trao cho mỗi cá thể cái chỉ là một vài tinh trùng rẻ rung. Đây cũng là sự giả định những điều đã xảy ra trong các quần thể hải cẩu voi và chim thiên đường. Các cá thể cái chỉ cho phép một vài cá thể đực trốn đi cùng với chiến lược khai thác vị kỷ lý tưởng này, chiến lược mà tất cả các cá thể đực khao khát thực hiện, nhưng các cá thể cái sẽ đảm bảo rằng chỉ những cá thể đực tốt nhất được hưởng sự xa hoa đó.

Theo quan điểm của một cá thể cái đang cố gắng chọn ra các gen tốt để cùng đồng hành với các gen của nó, thì nó sẽ tìm kiếm điều gì? Một điều mà nó muốn sẽ là bằng chứng về khả năng sống sót. Rõ ràng, bất kỳ cá thể đực tiềm năng nào, kẻ đang ve vãn cá thể cái, cũng đã chứng tỏ khả năng sống sót của nó ít ra là cho đến lúc trưởng thành, nhưng cá thể đực không cần phải chứng tỏ rằng nó có thể sống lâu hơn. Một chính sách tương đối tốt cho cá thể cái có thể là đi tìm những cá thể đực già. Cho dù khuyết điểm của cá thể già này là gì đi nữa thì ít ra chúng đã chứng tỏ rằng chúng có thể sống sót, và cá thể cái có thể để gen của nó đồng hành với các gen quy định sự trường thọ. Tuy nhiên, nếu những đứa con của cá thể cái này không thể sinh ra nhiều cháu cho nó thì cũng không có gì đảm bảo rằng chúng sẽ sống lâu. Sự trường thọ không phải là bằng chứng bề ngoài cho khả năng sinh sản của cá thể đực. Thực vậy, một cá thể đực sống lâu được có thể bởi vì nó không phải mạo hiểm để sinh sản. Một cá thể cái chọn một cá thể đực già sẽ không hoàn toàn chắc chắn sẽ có nhiều con cháu hơn một cá thể cái đối thủ, kẻ sẽ chọn một bạn tình trẻ hơn và có một vài bằng chứng khác của các gen tốt.

Vậy thì những bằng chứng khác là gì? Có rất nhiều khả năng, có thể là cơ bắp khỏe mạnh, bằng chứng cho khả năng bắt mồi, có thể là chân dài, bằng chứng cho khả năng chạy trốn kẻ săn mồi. Một cá thể cái có thể thu lợi cho gen của nó bằng cách để gen của mình đồng hành với các đặc tính như vậy, bởi vì chúng có thể là những phẩm chất hữu ích cho các con của nó, bất kể đực cái. Vậy thì để bắt đầu, chúng ta phải hình dung các cá thể cái đang lựa chọn cá thể đực dựa trên các biểu hiện thực sự hoàn hảo hoặc các dự báo có khuynh hướng trở thành bằng chứng cho các gen tốt. Nhưng bây giờ chúng ta sẽ thấy một điểm rất thú vị mà Darwin đã nhận ra và cũng được Fisher đề cập đến rất rõ. Ở một xã hội cá thể đực cạnh tranh với nhau để được cá thể cái chọn là anh ta-người được chọn, một trong những điều tốt nhất mà cá thể cái có thể làm cho gen của nó là tạo ra đứa con trai sẽ trở thành một cá thể anh ta-người được lựa chọn hấp dẫn. Nếu cá thể cái có thể đảm bảo rằng con trai của nó là một trong vài cá thể đực may mắn, kẻ chiến thắng phần lớn trong các cuộc tranh chấp để được giao phối trong xã hội mà nó trưởng thành, cá thể cái sẽ có một lượng lớn các cháu ngoại. Kết quả là, một trong các phẩm chất mong muốn nhất mà một cá thể đực có thể có trong mắt của một cá thể cái sẽ là sự hấp dẫn giới tính. Một cá thể cái cặp đôi với một cá thể anh ta-người được lựa chọn siêu hấp dẫn có thể có nhiều con trai hấp dẫn đối với các cá thể cái của thế hệ tiếp theo, và chúng sẽ sinh ra rất nhiều con cháu cho nó. Vậy thì ban đầu, chúng ta có thể xem như cá thể cái có khả năng lựa chọn cá thể đực trên cơ sở các phẩm chất hữu ích rõ ràng như cơ bắp to. Nhưng một khi những phẩm chất này được chấp nhận là lôi cuốn đông đảo các cá thể cái trong cùng loài, chọn lọc tự nhiên sẽ tiếp tục ưu ái chung, đơn giản là vì chúng hấp dẫn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần V


Nếu những con sở khanh tăng nhanh chóng đến mức chúng trở thành nhóm cá thể đực chính trong quần thể, thì những cá thể cái dễ dãi sẽ rơi vào tình huống vô cùng khó khăn. Bất kì cá thể rụt rè nào cũng sẽ có lợi thế rất lớn. Nếu một cá thể cái rụt rè bắt gặp một cá thể đực sở khanh thì sẽ không có điều gì xảy ra. Cá thể cái sẽ tiếp tục duy trì giai đoạn ve vãn kéo dài, cá thể đực sẽ từ chối và bỏ đi nhằm tìm kiếm cá thể cái khác. Sẽ không có cá thể nào phải trả giá cho chi phí lãng phí thời gian. Và cũng không có cá thể nào thu được điều gì cả bởi vì không có con non ra đời. Điều này sẽ dẫn đến việc một cá thể cái rụt rè trong quần thể toàn cá thể đực là sở khanh nhận được 0 đơn vị. Con số này có vẻ như là không nhiều, nhưng vẫn tốt hơn là -5 đơn vị, số đơn vị trung bình dành cho cá thể cái dễ dãi. Mặc dù một cá thể cái dễ dãi quyết định bỏ mặc con non của nó sau khi bị cá thể đực sở khanh bỏ rơi, nó vẫn sẽ phải trả một chi phí đáng kể cho cái trứng. Vì vậy, các gen rụt rè lại bắt đầu phát tán khắp quần thể.

Để hoàn thiện chu trình giả thuyết, khi các cá thể cái rụt rè tăng số lượng quá nhiều đến mức chúng trở thành các cá thể chính, những kẻ đã có một quãng thời gian thoải mái với những cá thể cái dễ dãi như cá thể đực sở khanh, sẽ bắt đầu cảm thấy thiếu thốn. Hết cá thể cái này đến cá thể cái khác kiên quyết phải có thời gian ve vãn dài và gian khổ. Những cá thể đực sở khanh sẽ tán tỉnh từ con này sang con khác, và câu chuyện luôn luôn xảy ra như vậy. Mức lợi ích trung bình cuối cùng cho một cá thể đực sở khanh trong quần thể toàn cá thể cái rụt rè sẽ là 0. Bây giờ nếu một cá thể đực trung thành xuất hiện, nó sẽ là cá thể duy nhất mà các các thể cái rụt rè kết bạn. Mức lợi ích của nó sẽ là +2, tốt hơn so với mức lợi ích của cá thể đực sở khanh. Vì vậy, các gen trung thành sẽ bắt đầu tăng, và chúng ta đã đi hết vòng quay.

Giống như trong trường hợp phân tích tính hiếu chiến, tôi đã kể câu chuyện như thể nó là sự dao động lặp lại không ngừng. Nhưng giống như trong trường hợp tính hiếu chiến, chúng ta có thể thấy rằng sự dao động đó sẽ không xảy ra. Hệ thống sẽ hội tụ ở một trạng thái bền vững. Nếu bạn làm phép tính tổng, bạn sẽ thấy rằng một quần thể trong đó 5/6 số cá thể cái rụt rè, và 5/8 cá thể đực trung thành sẽ bền vững về mặt tiến hóa. Dĩ nhiên, đây là do chúng ta đã sử dụng các con số cụ thể tự đặt lúc ban đầu, nhưng chúng ta cũng dễ dàng tìm ra tỉ lệ bền vững cho bất kỳ một giả định tùy tiện nào khác.

Giống như trong phân tích của Maynard Smith, chúng ta không cần phải nghĩ về việc sẽ phải có hai kiểu cá thể đực khác nhau và hai kiểu cá thể cá thể cái khác nhau. Chiến lược tiến hóa bền vững đều có thể đạt được cân bằng nếu mỗi cá thể đực sử dụng 5/8 thời gian của nó để trở thành kẻ trung thành và số thời gian còn lại là kẻ sở khanh; và mỗi cá thể cái sẽ sử dụng 5/6 thời gian của nó với vai trò là cá thể cái rụt rè và 1/6 thời gian trong vai kẻ dễ dãi. Dù chúng ta có nghĩ về chiến lược tiến hóa bền vững theo cách nào thì điều này luôn có ý nghĩa. Bất kể khuynh hướng nào làm cho các thành viên trong cả hai giới tách khỏi tỉ lệ bền vững thích hợp của chúng sẽ bị loại bỏ bớt bởi sự thay đổi tất yếu về tỉ lệ trong các chiến lược của giới còn lại, điều mà sau đó sẽ gây bất lợi cho cá thể ly khai ban đầu. Do đó, chiến lược tiến hóa bền vững sẽ được bảo tồn.

Chúng ta có thể kết luận rằng một quần thể gồm phần lớn các cá thể cái rụt rè và cá thể đực trung thành chắc chắn có thể tiến hóa. Trong một số hoàn cảnh, chiến lược thuần hóa-hạnh phúc đối với cá thể cái dường như thực sự phù hợp. Chúng ta không phải quan tâm đến phương diện sự thông đồng của các cá thể rụt rè. Tính rụt rè thực sự có thể có ích cho các gen vị kỷ của cá thể cái.

Cá thể cái ũng có thể áp dụng dạng chiến lược này trong thực tế với nhiều cách khác nhau. Tôi đã đề cập rằng một cá thể cái có thể sẽ từ chối giao phối với một cá thể đực, kẻ đã không xây được cho nó một cái tổ, hoặc chí ít là giúp nó xây dựng một cái tổ. Trên thực tế, ở nhiều loài chim có tập tính một vợ một chồng, chúng chỉ giao phối với nhau sau khi tổ của chúng được hoàn thành. Như vậy, ở thời điểm thụ thai, cá thể đực đã đầu tư khá nhiều cho đứa con, nhiều hơn so với sự đầu tư chỉ đơn thuần gồm những tinh trùng của nó.

Yêu cầu người bạn đời tiềm năng phải xây một cái tổ là cách thức hữu hiệu mà cá thể cái dùng để bẫy cá thể đực. Trên lý thuyết chúng ta có thể nghĩ rằng phần lớn những thứ gây tốn kém cho cá thể đực sẽ thành công, mặc dù chi phí đó không được chuyển trực tiếp thành lợi ích cho đứa con sắp sinh. Nếu tất cả cá thể cái của một quần thể buộc cá thể đực thực hiện một vài công việc khó khăn và tốn ém như săn hạ một con rồng hoặc leo lên một ngọn núi trước khi chúng đồng ý giao phối, thì về mặt lý thuyết, chúng thể làm giảm những cám dỗ lôi kéo cá thể đực bỏ đi sau. Bất kỳ cá thể đực nào bị cám dỗ đến mức bỏ rơi bạn tình và cố gắng phân tán các gen của nó nhiều hơn thông qua các cá thể cái khác sẽ bị thoái trí với ý nghĩ rằng nó sẽ phải giết một con rồng khác. Tuy nhiên, trong thực tế, các cá thể cái không hẳn sẽ áp đặt những nhiệm vụ tùy tiện như giống rồng hay đi tìm chiếc cốc thánh đối với những kẻ theo đuổi nó. Bởi vì một cá thể cái đối thủ khác, những kẻ đưa ra một nhiệm vụ không kém phần khó khăn nhưng hữu ích hơn cho nó và con của nó, sẽ có lợi thế hơn nhiều so với những cá thể cái luôn nghĩ đến những điều lãng mạn, yêu cầu sự khổ sai vô ích vì tình yêu. Xây dựng một cái tổ có thể không lãng mạn bằng việc săn hạ một con rồng hoặc bơi qua biển Hele nhưng nó lại hữu ích hơn nhiều.

Một hành động khác cũng hữu ích cho cá thể cái là hành động cung cấp thức ăn trong thời gian tán tỉnh của cá thể đực mà tôi đã đề cập đến trước đây. Ở những loài chim, hành động đó thường được gọi là một loại tập tính trẻ hóa cá thể cái. Cá thể cái cầu xin cá thể đực, sử dụng cùng kiểu điệu bộ như một con chim non sử dụng. Người ta cho rằng cử chỉ này sẽ tự động hấp dẫn cá thể đực, giống như việc một người đàn ông thấy cách nói nhịu hoặc tương tự như cái bĩu môi đầy hấp dẫn ở một người phụ nữ trưởng thành. Con chim cái lúc đó sẽ cần tất cả nguồn thực phẩm mà nó có thể có, bởi vì nó đang tích lũy nguồn dự trữ cho những cố gắng để hình thành những quả trứng khổng lồ của mình. Cung cấp thức ăn cho cá thể cái trong thời kỳ ve vãn có thể đại diện cho sự đầu tư trực tiếp của cá thể đực vào trứng. Do đó, nó có tác dụng làm giảm sự khác biệt giữa hai cá thể bố mẹ trong giai đoạn đầu tư ban đầu cho đứa con.

Một loài vài nhện và côn trùng cũng bộc lộ hiện tượng cung cấp thức ăn ở giai đoạn tán tỉnh. Ở đây, đôi khi sự giải thích khác đi lại rất rõ ràng. Bởi vì, như trong trường hợp những con bọ ngựa, cá thể đực có thể ở trong tình trạng có nguy cơ bị cá thể cái lớn hơn ăn thịt, nên bất cứ điều gì mà cá thể đực làm để giảm khẩu vị của cá thể cái đều có thể mang đến lợi ích cho nó. Trong một số hoàn cảnh tàn khốc, con bọ ngựa đực bất hạnh có thể được coi là đã đầu tư cho những đứa con của nó. Cá thể đực được sử dụng như một nguồn thức ăn để giúp tạo nên những quả trứng mà sau đó sẽ được thụ tinh bởi các tinh trùng dự trữ của chính cá thể đực đã chết.

Một cá thể cái thực hiện chiến lược thuần hóa-hạnh phúc bằng cách quan sát những cá thể đực và cố gắng nhận diện trước những phẩm chất trung thành sẽ đặt nó vào tình trạng dễ bị lừa dối. Bất kỳ cá thể đực nào lừa dối chính mình qua việc thể hiện đặc điểm dễ thuần hóa và trung thành nhưng thực tế nó đang che đậy khuynh hướng bỏ rơi và không trung thành, có thể thu được nhiều lợi nhuận. Chừng nào mà người vợ cũ bị bỏ rơi còn có chút khả năng nuôi nấng thành công một vài đứa con của nó, thì kẻ sở khanh chắc chắn sẽ để lại được nhiều gen hơn so với một cá thể đực đối thủ, kẻ đóng vai trò một người chồng và người cha trung thực. Các gen quy định sự lừa dối hữu hiệu của các cá thể đực sẽ có khuynh hướng được phát tán trong vốn gen.

Ngược lại, chọn lọc tự nhiên sẽ có khuynh hướng ưu ái những cá thể cái giỏi trong việc nhận diện sự dối trá như vậy. Cá thể cái có thể sử dụng một cách là “làm cao: khi cá thể đực mới tán tỉnh chúng, nhưng vào mùa sinh sản kế tiếp chúng lại sẵn sàng nhanh chóng chấp nhận sự tiến tới của bạn tình mùa trước. Cách thức này sẽ tự động loại bỏ những cá thể đực trẻ tham gia vào mùa sinh sản đầu tiên của chúng, bất kể những cá thể đực này có thực sự là kẻ lừa dối hay không. Một nhóm cá thể cái ngây thơ lần đầu bước vào mùa sinh sản sẽ có khuynh hướng mang một tỉ lệ tương đối cao các gen của các cá thể đực không trung thành, nhưng những cá thể đực trung thành sẽ có lợi thế ở năm thứ hai và những năm tiếp theo trong mùa sinh sản của một cá thể cái bởi vì chúng không phải trải qua nghi thức ve vãn kéo dài tốn thời gian và lãng phí năng lượng như trước. Nếu đa số cá thể trong quần thể là con của các cá thể cái có kinh nghiệm hơn chứ không phải là ngây thơ, thì với một giả định hợp lý ở bất kỳ một loài sống lâu nào, các gen quy định tính cách người cha tốt, trung thực sẽ trở thành phổ biến trong vốn gen.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Chia sẻ – Phần cuối


Lợi thế của quá trình này là rõ ràng. Nếu bạn có ý tưởng, bạn có thể tìm nguồn tài trợ từ bất cứ ai nhận thấy tiềm năng trong sản phẩm của bạn. Bạn không cần sự cho phép của ngân hàng hay những người có tiền bạc. Nếu bạn nỗ lực làm việc và thành công, những người hỗ trợ vốn cho bạn cũng sẽ thành công theo. Mặt khác, những bất lợi của nó cũng dễ thấy. Nếu không có sự kiểm tra, giám sát và thực thi, đầu tư giữa các cá nhân dễ trở thành thỏi nam châm thu hút trộm và lừa đảo. Những nghệ sĩ bịp bợm có thể hứa hẹn những thành quả tốt đẹp, lừa lấy tiền của bạn và đổi lại thất bại trong tác phẩm của họ. Những người lớn tuổi có thể mất số tiền tiết kiệm cả đời. Tuy nhiên, giống như công nghệ mới của eBay giúp ngăn chặn gian lận trong buôn bán giữa các cá nhân, những rủi ro trong chia sẻ cổ phần giữa các cá nhân có thể được giảm thiểu nhờ vào những tiến bộ kỹ thuật như bảo hiểm, tài khoản bảo chứng và các loại hình tạo dựng niềm tin khác.

Bản thân những ý tưởng sáng tạo có thể là một nguồn huy động. Công ty General Electric (GE) trong nhóm 500 công ty lớn nhất Hoa Kỳ đang lo lắng rằng các kỹ sư của họ không thể bắt kịp tốc độ phát minh nhanh chóng, nên họ đã tạo ra nền tảng Quirk để bất cứ ai cũng có thể gửi ý tưởng cho một sản phẩm mới của GE. Mỗi tuần một lần, các nhân viên của GE sẽ bỏ phiếu cho một ý tưởng tốt nhất tuần và sau đó sẽ thực hiện ý tưởng đó. Nếu ý tưởng được chuyển thành sản phẩm, người gửi ý tưởng cũng sẽ kiếm được tiền. Đến nay, GE đã sản xuất hơn 400 sản phẩm mới bằng phương pháp huy động ý tưởng từ công chúng. Một ví dụ điển hình là Egg Minder, khay giữ trứng trong tủ lạnh có thể gửi tin nhắn đến bạn để nhắc nhở bạn sắp xếp lại trứng.

Một ví dụ nổi tiếng khác về huy động ý tưởng đại chúng nữa ban đầu có vẻ giống một cuộc thi hơn là một sự cộng tác. Đó là khi một nhu cầu thương mại thúc đẩy một cuộc thi để chọn ra giải pháp tốt nhất. Công ty sẽ trao giải cho giải pháp tốt nhất trong số những ý tưởng được đưa ra. Chẳng hạn, Neflix đã từng công bố phần thưởng trị giá 1 triệu USD dành cho lập trình viên có thể làm ra thuật toán có khả năng đề xuất phim tốt hơn 10% thuật toán đã có 40 nghìn nhóm lập trình viên gửi đến Neflix thuật toán của họ để giúp cải thiện thuật toán hiện tại, nhưng chỉ có một đội đạt được mục tiêu đề ra và thắng giải thưởng đó. Những nhóm còn lại thì làm việc không công. Các trang như 99Designs, TopCoder hay Threadless cũng sẽ tổ chức những cuộc thi như thế. Khi bạn cần một cái logo, bạn sẽ trả tiền cho thiết kế tốt nhất. Số tiền càng cao, càng có nhiều người tham gia thiết kế. Trong số hàng trăm thiết kế gửi đến, bạn sẽ chọn ra một bản thiết kế tốt nhất và trả công cho người thiết kế đều được công khai, và mỗi người tham gia lại cố gắng làm ra những sản phẩm tốt hơn của người khác. Từ góc nhìn của khách hàng, những người tham gia đã làm ra những thiết kế có lẽ cò tốt hơn nhiều thiết kế mà họ chỉ có được từ một nhà thiết kế đã đặt hàng với mức giá tương tự.

Vậy chúng ta có thể huy động ý tưởng chế tạo ô tô không? Có đấy, Local Motors, với trụ sở ở Phoenix, áp dụng phương pháp nguồn mở này để thiết kế và sản xuất những ô tô hiệu suất tùy chỉnh thấp. Và một cộng đồng gồm 150.000 người đam mê ô tô đã gửi kế hoạch cho một trong hàng ngàn bộ phận cần thiết để sản xuất một chiếc ô tô. Một vài bộ phận được lấy từ những chiếc xe đã có Một số khác là những phần ô tô được thiết kế riêng trong các nhà máy nhỏ trên khắp nước Mỹ và một số bộ phận có thể được in 3D ở bất cứ cửa hàng nào. Chiếc ô tô mới nhất của Local Motors là một chiếc xe điện được in 3D thiết kế và chế tạo bởi cộng đồng.

Tất nhiên, cũng có nhiều thứ quá phức tạp, quá đơn giản, trong thời gian quá dài hay quá rủi ro để có thể cấp vốn hoặc huy động những khách hàng tiềm năng cho sản phẩm. Ví dụ, một tên lửa hành khách đến sao Hỏa, một chiếc cầu nói giữa Alaska và Nga hoặc một cuốn tiểu thuyết dựa trên các mẩu tweet có lẽ là những dự án ngoài khả năng huy động vốn đại chúng trong tương lai gần.

Nhưng hãy nhớ đến bài học truyền thông xã hội: tận dụng sự chia sẻ của công chúng sẽ đưa bạn đi xa hơn bạn tưởng và nó luôn là điểm tốt nhất để bắt đầu.

Chúng ta đã bắt đầu khám phá những gì công chúng có thể làm. Phải có đến 2 triệu cách khác nhau để công chúng huy động một ý tưởng hoặc tổ chức nó hay thực hiện nó. Và phải có đến một triệu cách nữa để chia sẻ những thứ mới lạ theo những cách không ngờ tới.

Trong ba thập kỷ tới, những phát minh và đổi mới về văn hóa thú vị và giàu có nhất sẽ nằm ở phương hướng phát triển này. Những công ty lớn nhất, phát triển nhanh nhất và thu về nhiều lợi nhuận nhất trong năm 2050 sẽ là những công ty tìm ra cách tận dụng các khía cạnh chia sẻ còn chưa dễ thấy và chưa được đánh giá cao hiện nay. Mọi thứ đều có thể được chia sẻ, từ suy nghĩ, cảm xúc đến tiền bạc, sức khỏe và thời gian đều sẽ được chia sẻ trong những điều kiện thích hợp, khi người chia sẻ thu được những lợi ích thích hợp. Mọi thứ đã và đang được chia sẻ sẽ còn được chia sẻ tốt hơn, nhanh hơn, dễ dàng hơn, lâu dài hơn và theo hơn một triệu cách mới mà chúng ta chưa từng biết. Đến thời điểm đó, chia sẻ một thứ trước đây chưa được chia sẻ, hoặc chia sẻ một thứ đã được chia sẻ nhưng theo một cách mới chính là cách chắc chắn nhất để nâng cao giá trị của thứ đó.

Trong tương lai gần, một ngày của tôi sẽ diễn ra như sau: Tôi là kỹ sư trong một nhóm hợp tác với các kỹ sư khác trên toàn thế giới. Nhóm của tôi được sở hữu và quản lý tập thể không phải bởi nhà đầu tư, người nắm cổ phiếu mà bởi chính 1200 kỹ sư  chúng tôi. Tôi kiếm tiền bằng các thiết kế của mình. Gần đây tôi mới tìm ra cách để cải thiện hiệu suất cho bánh đà của phanh tái tạo trong ô tô điện. Nếu thiết kế của tôi được sử dụng ở bất cứ đâu, kể cả khi nó được áp dụng cho một chiếc ô tô khác và với mục đích khác, tôi cũng sẽ được thanh toán tự động. Chiếc xe càng bán chạy, tôi càng được trả công cao. Tôi mừng khi thấy bản thiết kế của mình được sử dụng rộng rãi, nó càng được chia sẻ nhiều thì càng tốt. Việc này cũng giống như các bức ảnh của tôi được chia sẻ hiện nay. Khi tôi đăng một bức ảnh lên mạng, thông tin đăng nhập của tôi được mã hóa trong bức ảnh để web có thể theo dõi nó và đảm bảo bất cứ tài khoản nào sử dụng lại bức ảnh đó đều sẽ phải trả tôi một khoản tiền nho nhỏ. Bất kể bức ảnh của tôi được sao chép bao nhiều lần, tôi đều sẽ được trả công. So với thế kỷ trước, hiện nay bất cứ ai cũng có thể dễ dàng làm một video hướng dẫn vì họ có thể thu nhập những phần sẵn có (ảnh, cảnh quay và thậm chí là nền – layout) từ những nhà sản xuất và mặc định phải trả đang tạo ra cũng sẽ được sản xuất bởi công chúng, nhưng không như những thập kỷ trước, mọi kỹ sư có đóng góp vào chiếc xe, dù là những bộ phận nhỏ nhất, cũng sẽ được trả công tương xứng.

Tôi có khảong 10000 nhóm hợp tác có thể tham gia. (Không nhiều người trong thời đại của tôi muốn làm việc cho các tập đoàn). Mỗi nhóm hợp tác có mức trả công, lợi ích khác nhau và quan trọng nhất là nhũng nhóm đồng nghiệp khác nhau. Tôi sẽ cố gắng dành nhiều thời gian cho nhóm hợp tác yêu thích vì họ trả công cao hơn và dần dần tôi tận hưởng và yêu thích việc hợp tác với những đồng nghiệp giỏi nhất, dù chúng tôi chưa bao giờ gặp nhau ngoài đời thực. Đôi khi, việc khiến sản phẩm của mình được công nhận trong những nhóm hợp tác chất lượng cao là không hề dễ dàng. Những đóng góp trước đây của bạn, tất cả đều có thể tìm lại được trên web, tất nhiên phải thực sự nổi bật và có giá trị. Các nhóm hợp tác chất lượng cao đòi hỏi những người tham gia tích cực phải liên tục đóng góp cho các dự án trong nhiều năm với nhiều luồng thanh toán tự động khác nhau, điều đó chứng tỏ người đó làm việc tốt trong nền kinh tế chia sẻ.

Khi tôi không tham gia đóng góp vào dự án nào, tôi giải trí bằng cách chơi trong một thế giới ảo tối đa hoàn toàn xây dựng và kiểm soát bởi chính người dùng. Tôi đã dành sáu năm để xây dựng ngôi làng trên núi của mình, tạo ra từng bước tường đá và từng mái ngói phủ rêu. Tôi thu được rất nhiều điểm tích lũy cho một góc phủ tuyết, nhưng điều quan trọng hơn đối với tôi là nó phải phù hợp một cách hoàn hảo vào thế giới ảo tuyệt vời mà chúng ta đang xây dựng. Hơn 30.000 trò chơi khác nhau thuộc mọi thể loại (bạo lực/phi bạo lực, trò chơi chiến thuật/bắn súng) đang vận hành trên nền tảng của thế giới ảo này mà không cần sự can thiệp thêm nào. Nền tảng này rộng lớn gần bằng mặt trăng. Trên đó có hơn 250 triệu người đang xây dựng các trò chơi, mỗi người lại có một khu đất riêng và hoạt động trên con chip kết nối của riêng họ.

Theo một cách lặp lại kỳ lạ, con người đang tạo các nhóm và sự hợp tác trong thế giới ảo để làm ra những thứ trong thế giới thực. Họ nhận ra rằng các công cụ hợp tác được cải tiến nhanh hơn trong thế giới ảo. Tôi đang đóng góp vào một dự án hackathon để cùng thiết kế và gây quỹ cho một máy thăm dò hai chiều lên sao Hỏa, với mục tiêu lần đầu tiên mang được những hòn đá sao Hỏa về Trái Đất. Các nhà địa chất học và các họa sĩ đồ họa đều tham gia. Gần như mọi hoạt động hợp tác công nghệ cao đều đang đóng góp nguồn lực, kể cả là làm theo giờ, vì từ lâu mọi người đã hiểu ra rằng những công cụ tốt nhất và mới nhất được tạo ra trong quá trình cộng tác lớn như thế này.

Chúng ta đã chia sẻ các sản phẩm của mình trong hàng thập kỷ, từ các bức tranh, video, và những dòng tweet được viết cẩn thận. Về bản chất, đó chính là hoạt động chia sẻ thành quả. Nhưng chỉ mới trong thập kỷ trước con người mới nhận ra rằng mình đang học hỏi nhanh hơn và làm việc tốt hơn khi chia sẻ cả những kinh nghiệm thất bại. Bởi vậy, trong mọi hoạt động cộng tác, chúng ta lưu trữ và chia sẻ mọi email, các đoạn hội thoại trên mạng, thư từ, các phiên bản trung gian chưa hoàn chỉnh và bản nháp của mọi thứ chúng ta làm. Lịch sử nhân loại đang mở ra Chúng ta chia sẻ quá trình, chứ không phải chỉ sản phẩm cuối cùng. Mọi ý tưởng chưa hoàn thiện, mọi thất bại và những lần làm đi làm lại một sản phẩm là những tư liệu quý giá cho cả bản thân và những người muốn thực hiện việc tương tự một cách suôn sẻ hơn. Khi cả quá trình được công khai, bạn sẽ khó mắc lỗi và dễ xác định được hướng đi đúng trong công việc hơn. Ngay cả lĩnh vực khoa học cũng áp dụng phương pháp chia sẻ này. Khi một thí nghiệm không thành công, các nhà khoa học cũng phải chia sẻ những kết quả chưa tốt. Tôi đã học được một điều trong quá trình cộng tác làm việc là khi bạn chia sẻ quá trình càng sớm, việc học hỏi và thành công cũng đến với bạn sớm hơn. Tôi sống trong một sự kết nối liên tục. Những gì tôi chia sẻ, và những gì được chia sẻ với tôi ngày càng tăng lên, dù chỉ là những tiến bộ nhỏ nhất, những phiên bản cải tiến những điều nhỏ nhặt nhất, và những chỉnh sửa, thay đổi chi li nhất cho sản phẩm. Những điều này cũng giúp tôi tiến bộ lên từng ngày. Việc chia sẻ sẽ còn tiếp tục trong một thời gian. Kể cả sự yên lặng cũng sẽ được chia sẻ.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.

Cuộc chiến giữa các giới tính – Phần IV


Chúng ta vừa mới xem xét một số điều mà cá thể cái có thể làm nếu nó bị bạn tình bỏ rơi. Nhưng tất cả các ví dụ đó đều tạo ra những điều tốt nhất có thể trong một hoàn cảnh xấu. Liệu có một điều gì khác mà cá thể cái có thể làm để làm giảm mức độ bị bạn tình của nó lợi dụng ngay từ ban đầu? Cá thể cái đang có một quân bài mạnh trong tay. Nó có thể từ chối giao phối. Cá thể cái là “cầu” trong một thị trường của những kẻ “cung”. Đó là bởi vì cá thể cái có của hồi môn là một quả trứng lớn và giàu dinh dưỡng. Một cá thể đực giao phối thành công với một cá thể cái sẽ thu được lượng thức ăn giá trị cho con cháu của nó. Có thể nó đang ở vị trí dàn xếp được mọi thỏa thuận có lợi nhất cho nó trước khi đồng ý giao phối. Một khi cá thể cái đã giao phối nghĩa là nó đã sử dụng con át chủ bài của mình và trứng của nó đã thuộc về cá thể đực. “Ép buộc kẻ khác nhất trí với lợi ích của mình” có vẻ là chiến lược tốt, nhưng chúng ta biết rất rõ rằng trên thực tế nó không giống như vậy. Trên thực tế, liệu có cách nào để một chiến lược nào đó tương đương với sự thỏa thuận nghiêm ngặt có thể tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên? Tôi sẽ cân nhắc hai khả năng chính được gọi là chiến lược thuần hóa – hạnh phúc, và chiến lược anh ta – người được lựa chọn.

Phiên bản đơn giản nhất của chiến lược thuần hóa – hạnh phúc như sau. Cá thể cái quan sát những cá thể đực, cố gắng tìm ra những dấu hiệu của sự trung thành và dễ thuần hóa trước tiên. Chắc chắn sẽ có những biến thể trong quần thể các cá thể đực về khuynh hướng trở thành bạn tình chung thủy. Nếu cá thể cái nhận diện được những phẩm chất đó trước, chúng có thể sẽ có lợi khi chọn những cá thể đực đó. Cá thể cái cũng có thể làm được điều này bằng cách “làm cao” trong một khoảng thời gian dài hay giữ vẻ e thẹn rụt rè. Bất kỳ cá thể đực nào không đủ kiên nhẫn để chờ đợi cho đến khi cá thể cái đó chấp nhận cùng giao phối có lẽ không chắc đã là người bạn tình chung thủy. Bằng cách kiên trì với giai đoạn tán tỉnh lâu dài, cá thể cái sẽ sàng lọc những kẻ tán tỉnh qua đường, và cuối cùng chỉ giao phối với một cá thể đực, kẻ đã chứng minh được phẩm chất trung thực và kiên định trước đó. Trên thực tế, sự rụt rè e lệ nữ tính rất phổ biến ở các loài động vật, và thời gian ve vãn hoặc giai đoạn tán tỉnh kéo dài cũng vậy. Như chúng ta đã thấy, sự tán tỉnh lâu dài cũng có thể mang lại lợi ích cho cá thể đực nhất là khi nó có nguy cơ bị lừa phải chăm sóc đứa con của cá thể đực khác.

Các hình thức ve vãn thường bao gồm sự đầu tư đáng kể của cá thể đực trước giai đoạn giao phối. Cá thể cái có lẽ sẽ từ chối giao phối cho đến khi cá thể đực xây xong tổ cho nó. Hoặc cá thể đực có lẽ phải cung cấp cho cá thể cái nhưng nó cũng thể hiện một phiên bản khác của chiến lược thuần hóa – hạnh phúc. Liệu cá thể cái có thể buộc cá thể đực đầu tư quá nhiều cho đứa con của chúng trước khi nó chấp thuận giao phối đến nỗi cá thể đực sẽ chẳng có lợi gì khi bỏ đi sau đó? Ý tưởng này khá hấp dẫn. Một cá thể đực sẽ phải từ bỏ cơ hội giao phối với những cá thể cái khác và sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian, năng lược cho việc tán tỉnh. Vào thời điểm cá thể đực được phép giao phối với một cá thể cái nào đó, chắc chắn nó đã quá “ràng buộc” với cá thể cái đó. Nếu cá thể đực biết rằng bất cứ một cá thể cái nào mà nó muốn tiếp cận cũng sẽ chần chừ như vậy trước khi thực sự muốn tiến hành giao phối, nó sẽ thấy việc từ bỏ cá thể cái mà nó đã giao phối ít hấp dẫn hơn.

Như tôi đã nêu trong một bài báo, có sự nhầm lẫn trong các lập lậun của Trivers ở đây. Trivers đã nghĩ rằng đầu tư ban đầu vào một cá thể sẽ ràng buộc bản thân nó vào sự đầu tư mới trong tương lai. Đây là nền kinh tế ảo tưởng. Một doanh nhân không nên nói “tôi đã đầu tư quá nhiều vào hãng hàng không Concorde (ví dụ) đến nỗi bây giờ tôi không thể có đủ sức để bỏ rơi nó”. Thay vào đó, anh ta nên hỏi liệu anh ta có được lợi trong tương lai hay không khi cắt lỗ và ngừng dự án hiện tại, cho dù đã đầu tư rất nhiều vào nó. Tương tự như vậy, sẽ chẳng có ích gì khi cá thể cái ép một cá thể đực đầu tư nhiều cho nó với hi vọng rằng sẽ làm cho cá thể đực không bỏ đi sau đó. Phiên bản chiến lược thuần hóa – hạnh phúc này phụ thuộc vào một giả định quan trọng sâu xa hơn, đó chính là đa số cá thể cái có thể được coi là cùng thực hiện một chiến lược giống nhau. Nếu trong quần thể có những cá thể cái thua cuộc, sẵn sàng chào đón những cá thể đực đã bỏ rơi bạn tình của chúng, thì cá thể đực này vẫn luôn có lợi cho dù nó có đầu tư cho con của nó với bạn tình cũ bao nhiêu đi chăng nữa.

Do đó, mức độ nhiều ít như thế nào sẽ phụ thuộc vào hành vi của đa số cá thể cái trong quần thể. Nếu chúng ta được phép nghĩ có sự thông đồng của những cá thể cái, thì sẽ chẳng có vấn đề gì. Nhưng sự thông đồng của những cá thể cái không thể tiến hóa xa hơn của các cá thể bồ câu mà chúng ta đã xem xét. Thay vào đó, chúng ta phải tìm ra chiến lược tiến hóa bền vững. Chúng ta hãy cùng sử dụng phương pháp phân tích các cuộc đấu hiếu chiến của Maynard Smith, và áp dụng nó vào giới tính. Việc áp dụng phương pháp này ở đây có lẽ hơi phức tạp hơn so với trường hợp các chiến lược diều hâubồ câu, bởi vì chúng ta sẽ có hai chiến lược cho các cá thể cái và hai chiến lược cho các cá thể đực.

Giống như ở trong các nghiên cứu của Maynard Smith, từ “chiến lược” ở đây sẽ đề cập đến một chương trình tập tính vô thức mù quáng. Hai chiến lược cho cá thể cái của chúng ta sẽ được gọi là rụt rè dễ dãi, và hai chiến lược dành cho cá thể đực sẽ được gọi là trung thànhsở khanh. Các quy luật tập tính của bốn kiểu chiến lược sẽ như sau. Cá thể cái rụt rè sẽ không giao phối với một cá thể đực cho đến khi cá thể đực trải qua một giai đoạn tán tỉnh lâu dài và tốn kém, kéo dài vài tuần lễ. Cá thể cái dễ dãi sẽ giao phối ngay lập tức với bất cứ cá thể đực nào. Cá thể đực trung thành được xem là tiếp tục tán tỉnh trong khoảng thời gian dài và sau giao phối chúng vẫn ở với cá thể cái và giúp chúng nuôi con. Cá thể đực sở khanh sẽ nhanh chóng mất kiên nhẫn: nếu cá thể cái không giao phối với nó ngay lập tức, nó sẽ bỏ đi và tìm kiếm một cá thể cái khác; sau giao phối, nó cũng không ở lại để đóng vai một người cha tốt mà sẽ bỏ đi để tìm kiếm những cá thể cái mới. Giống như trong trường hợp các cá thể diều hâubồ câu, đây không hẳn là những chiến lược duy nhất có thể, nhưng dù sao đi nữa nó sẽ giúp làm sáng tỏ việc nghiên cứu số phận của các cá thể.

Cũng giống như Maynard Smith, chúng ta sẽ sử dụng một vài giá trị giả thiết bất kỳ cho việc đánh giá những lợi ích và cái giá phải trả khác nhau. Khái quát hơn, chúng ta có thể đánh giá thông qua các ký tự đại số, nhưng các con số giúp chúng ta dễ hiểu hơn nữa. Giả sử rằng mức lợi ích di truyền thu được cho mỗi cá thể bố hoặc mẹ khi một đứa con được nuôi nấng thành công là + 15 đơn vị. Chi phí nuôi nấng một đứa trẻ, thức ăn của nó, thời gian sử dụng để chăm sóc nó, gánh tất cả những nguy hiểm thay cho đứa con, tổng cộng là – 20 đơn vị. Chi phí này mang dấu âm bởi vì bố mẹ phải “bỏ ra”. Đây cũng là chi phí của sự lãng phí thời gian trong giai đoạn tán tỉnh kéo dài. Chúng ta coi chi phí này là -3 đơn vị.

Hãy tưởng tượng chúng ta có một quần thể bao gồm toàn thể cá thể cái rụt rè, và tất cả cá thể đực đều là những kẻ trung thành. Đó chính à một xã hội một vợ một chồng lý tưởng. Ở mỗi cặp, cá thể đực và cá thể cái đều nhận được mức lợi ích trung bình như nhau. Chúng nhận được +15 đơn vị khi nuôi một đứa con; chúng cùng chia sẻ chi phí nuôi dưỡng (-20 đơn vị) ngay nhau, như vậy trung bình mỗi cá thể sẽ trả -10 đơn vị. Chúng cũng phải bỏ ra -3 đơn vị vì lãng phí thời gian cho sự ve vãn kéo dài. Mức lợi ích trung bình của mỗi cá thể do đó sẽ là +15 – 10 – 3 = 2.

Bây giờ giả sử rằng một cá thể cái dễ dãi đơn độc xâm nhập vào quần thể đó. Cá thể cái này sẽ làm rất tốt. Nó không phải trả chi phí cho việc chậm trễ, bởi nó không thích thú với sự ve vãn kéo dài. Do tất cả những cá thể đực trong quần thể là trung thành, nên nó có thể tin cậy vào việc tìm thấy một người cha tốt cho con của nó, kẻ đó có thể là bất cứ cá thể đực nào mà nó giao phối. Mức lợi ích trung bình của nó cho mỗi đứa trẻ sẽ là +15 – 10 = +5. Như vậy, nó có nhiều hơn 3 đơn vị so với đối thủ rụt rè. Từ đó, các gen dễ dãi sẽ bắt đầu phát tán trong quần thể.

Nếu sự thành công của các cá thể cái dễ dãi là quá lớn đến mức chúng trở thành thống trị trong quần thể, thì phía những cá thể đực cũng sẽ có điều gì đó bắt đầu thay đổi. Cho đến lúc này, các cá thể đực trung thành vẫn có sự độc quyền. Nhưng bây giờ nếu một cá thể đực sở khanh xuất hiện trong quần thể, nó sẽ bắt đầu thu được lợi hơn so với những đối thủ trung thành của mình. Trong một quần thể mà toàn bộ cá thể cái là những kẻ dễ dãi, những lợi nhuận thực tế dành cho kẻ sở khanh là rất nhiều. Nó sẽ có được +15 đơn vị nếu một con non được nuôi dưỡng trưởng thành, và nó sẽ không phải trả một chi phí nào cả. Điều thực sự có ý nghĩa đối với kẻ sở khanh khi không phải trả một chi phí nào là nó sẽ được tự do bỏ đi và giao phối với những cá thể cái mới. Một bà vợ không may của nó sẽ phải vật lộn một mình với đứa con, phải trả toàn bộ chi phí -20 đơn vị, mặc dù những bà vợ đó không phải trả bất cứ chi phí nào cho việc lãng phí thời gian trong lúc tán tỉnh. Mức lợi ích trung bình cuối cùng cho một cái thể cái dễ dãi khi nó gặp một cá thể đực sở khanh sẽ là +15 – 20 = -5; và lợi ích trung bình của kẻ sở khanh sẽ là +15. Trong một quần thể mà tất cả cá thể cái đều dễ dãi, các gen của kẻ sở khanh sẽ lan rất nhanh.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Chia sẻ – Phần V


Phải mất một ít thời gian nhưng chúng ta cũng hiểu rằng dù sự quản lý từ trên xuống là cần thiết nhưng chúng ta không cần nó quá nhiều. Những gì được tạo ra từ trí óc tập thể là những nguyên liệu thực phẩm thô phong phú mà những thiết kế thông minh có thể dựa vào đó để “chế biến”. Sự biên tập và các kiến thức chuyên môn giống như các vitamin trong món ăn. Bạn chỉ cần một chút những vitamin này cho cả cơ thể, quá nhiều sẽ gây độc, hoặc không hấp thụ được. Liều lượng thích hợp cho sự phân cấp là chỉ vừa đủ để mang đến sinh khí cho cả một tập thể lớn.

Biên giới đang mở rộng của ngày hôm nay là vô số cách mà theo đó chúng ta có thể kết hợp một tập thể lớn với một sự kiểm soát nhỏ. Đến kỷ nguyên này, công nghệ vẫn nắm quyền kiểm soát từ trên xuống dưới. Và dù có kiểm soát, nó vẫn có những lộn xộn. Chưa bao giờ chúng ta tạo ra những hệ thống vừa được kiểm soát lại vừa lộn xộn như thế. Chúng ta đang hối hả lao đến lãnh địa đầy tiềm năng của sự phân quyền và chia sẻ mà trước đây chúng ta chưa thể tiến đến vì công nghệ chưa phát triển. Trước thời đại Internet, chúng ta không có cách nào để một triệu người phối hợp cùng lúc hay để một trăm nghìn người cùng cộng tác trong một dự án kéo dài một tuần. Nhưng giờ thì chúng ta có thể, và chúng ta đang nhanh chóng khám phá ra nhiều cách mới để kết hợp quyền kiểm soát với tập thể trong vô số sự hoán đổi.

Tuy nhiên, nỗ lực thúc đẩy mạnh mẽ từ dưới lên chỉ có thể đưa chúng ta đi nửa đường tới đích đến mà ta muốn. Trong hầu hết các khía cạnh của cuộc sống chúng ta đều cần có kiến thức chuyên môn và sự chuyên sâu. Nhưng có khả năng là chúng ta sẽ không có được mức độ chuyên môn mà chúng ta kỳ vọng nếu không nhờ đến các chuyên gia.

Đó là lý do tại sao chúng ta không nên ngạc nhiên khi biết rằng Wikipedia tiếp tục phát triển theo cách nó đang làm. Mỗi năm Wikipedia lại có nhiều tầng cấu trúc mới. Những bài viết gây tranh cãi sẽ bị các biên tập viên hàng đầu “khóa” lại để nó không thể bị biên tập bởi một người dùng bất kỳ mà chỉ được chỉnh sửa bởi biên tập viên đã chỉ định. Có nhiều luật lệ hơn về những gì được phép viết, nhiều yêu cầu trình bày hơn và cần nhiều sự chấp nhận được thông qua hơn. Nhưng chất lượng bài viết cũng được nâng cao. Tôi đoán rằng trong 50 năm nữa một phần lớn các bài viết trên Wikipedia sẽ được biên tập, kiểm tra, khóa xác minh, cấp chứng chỉ xác nhận, vân vân. Đó đều là những điều sẽ mang đến lợi ích cho người đọc. Mỗi bước này là một lần sự quản lý từ trên xuống giúp bù đắp cho những thiếu sót trong hệ thống người dùng từ dưới lên.

Nhưng nếu trí tuệ tập thể có nhiều thiếu sót đến vậy thì tại sao chúng ta còn cần chúng? Bởi vì trí tuệ tập thể vẫn đủ thông minh để làm rất nhiều việc.

Theo hai cách: thứ nhất, trí tuệ tập thể từ dưới lên luôn đưa chúng ta đi xa hơn những gì ta tưởng tượng. Dù chưa phải là lý tưởng, Wikipedia vẫn tốt hơn rất rất nhiều những gì người ta đã kỳ vọng. Nó luôn là chúng ta phải ngạc nhiên. Tương tự, các đề xuất cá nhân của Netflix đến từ hàng triệu người dùng khác đã đạt được nhiều thành tựu hơn những gì các chuyên gia đã dự báo. Nói đến mức độ bình luận, chiều sâu và sự đáng tin cậy, Netflix còn hữu dụng hơn những nhà phê bình phim thông thường. Các trao đổi ảo giữa những người dùng lạ mặt trên eBay được dự đoán là không thể thành công, nhưng dù không hoàn hảo, nó cũng tốt hơn rất nhiều những nhà bán lẻ khác. Dịch vụ taxi theo yêu cầu vận hành giữa các cá nhân tài xế và người dùng của Uber hoạt động hiệu quả đến nỗi nó gây ngạc nhiên cho chính những nhà tài trợ của nó. Nếu có đủ thời gian, những tri thức còn nhiều thiết sót khi được kết nối có thể trở nên thông minh hơn ta tưởng.

Thứ hai, dù chỉ riêng các tri thức phân tán thì không đủ, nhưng nó gần như là cách tốt nhất để bắt đầu. Nó nhanh, rẻ và không bị kiểm soát. Các rào cản trong việc bắt đầu một dịch vụ tạo ra  bởi công chúng càng ngày càng giảm. Một trí tuệ tập thể có thể gia tăng quy mô một cách trơn tru và nhanh chóng.

Ngày nay chúng ta không bất ngờ trước một cộng đồng nhỏ chia sẻ một niềm đam mê ít ai biết đến mà chúng ta lại ngạc nhiên nếu không có cộng đồng ấy. Chúng ta có thể tự tin rằng mình sẽ phát hiện ra trên những mục ít tương tác nhất của Amazon, Netflix, Spotify hoặc Google rằng ai đó đã đoán trước về sở thích kỳ quặc nhất của chúng ta và đã có cả một diễn đàn hoặc một tác phẩm đã hoàn thành về sở thích đó. Mỗi sở thích mới của một nhóm nhỏ được phát triển là một bước chúng ta tiến ra xa các tác phẩm bán chạy.

Ngày nay khách hàng là Thượng đế. Thế còn những nhà sáng chế? Ai sẽ trả lương cho họ trong nền kinh tế chia sẻ này? Những hoạt động sáng tạo của họ sẽ được tài trợ như thế nào nếu sản phẩm đều được chia sẻ dễ dàng? Câu trả lời đáng ngạc nhiên là: một công nghệ chia sẻ mới khác. Không phương pháp nào mang đến lợi ích cho nhà sáng chế nhiều như huy động vốn đại chúng, trong đó các khán giả chính là người tài trợ cho việc tạo ra tác phẩm. Các fan cùng nhau chi trả cho những tác phẩm/tác giả họ yêu thích. Công nghệ chia sẻ giúp các fan sẵn sàng trả tiền cho các nghệ sĩ và tác giả có thể tập hợp dễ dàng và cùng với hàng trăm fan khác đóng góp được một số tiền lớn.

Năm 2013, tôi là một trong khoảng 20.000 người tham gia gây quỹ thông qua Kicskstarter. Một vài người bạn và tôi đã tạo ra một tiểu thuyết đồ họa có màu, hay còn được gọi là sách tranh cho người lớn. Chúng tôi đã tính toán rằng mình cần 40.000 USD để trả cho các tác giả và họa sĩ để có thể sáng tác và in tập thứ hai của bộ truyện với tên gọi The Silver Cord (Chiếc dây bạc). Sau đó, chúng tôi đến Kicskstarter và làm một video để quảng bá cho cuốn sách.

Kicskstarter đã vận hành một dịch vụ bên thứ ba khéo léo để toàn bộ số tiền gây quỹ (trong trường hợp của chúng tôi là 40.000 USD) chỉ được chuyển đến nhà sáng chế khi số tiền được thu thập đầy đủ. Chỉ cần thiếu 1 USD vào ngày cuối cùng của chuỗi 30 ngày gây quỹ, toàn bộ tiền ngay lập tức được trả về những nhà tài trợ và những người kêu gọi quỹ (tức chúng tôi) sẽ không nhận được gì. Cách vận hành này nhằm bảo vệ các fan, vì các dự án không được gây quỹ đủ thường thất bại. Kicskstarter thường vận dụng kinh tế học mạng lưới cổ điển khi biến những người hâm mộ của bạn thành nhà tiếp thị chính của bạn. Vì một khi đóng góp cho dự án, họ bị thôi thúc phải đảm bảo mục tiêu được thực hiện bằng cách tuyển dụng bạn bè của họ vào chiến dịch của bạn.

Đôi khi, những dự án được đông đảo người hâm mộ tài trợ đến không ngờ đã thu về thêm một triệu USD so với mức dự tính. Chiến dịch thành công nhất của Kicskstarter thu về 20 triệu USD gây quỹ cho một chiếc đồng hồ điện tử Có khoảng 40% dự án đạt được mức gây quỹ mong đợi.

Mỗi nền tảng trong số 450 nền tảng huy động vốn có những luật lệ riêng để phục vụ những nhóm sáng tạo riêng hoặc đế nhấn mạnh đến những kết quả khác nhau của dự án. Các trang huy động vốn có thể tập trung vào hỗ trợ các nhạc sĩ (PledgeMusic, SellaBand), gây vốn cho các dự án phi lợi nhuận (Fundly, FundRazr), cấp cứu y tế (GoFundMe, Rally) và thậm chí là khoa học (Petridish, Experiment). Một vài trang huy động vốn (Patreon, Subbable) được lập ra để hỗ trợ liên tục cho các dự án đang diễn ra như tạp chí hoặc kênh video. Một số nền tảng khác (Flattr, Unglue) lại hỗ trợ các sản phẩm đã được công bố.

Nhưng cho đến nay, vai trò tương lai tiềm năng nhất của huy động vốn đại chúng nằm ở cổ phần của người hâm mộ. Thay vì đầu tư vào một sản phẩm, những người ủng hộ đầu tư vào công ty và từ đó họ có thể mua cổ phiếu của công ty đó. Đây chính xác là những gì bạn làm khi mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Bạn trở thành một phần của quyền sở hữu nguồn huy động vốn. Mỗi khoản cổ phần của bạn là một phần nhỏ của toàn bộ doanh nghiệp và số tiền thu được từ việc bán cổ phiếu được sử dụng để phát triển kinh doanh. Lý tưởng nhất là công ty có thể kiếm tiền từ chính khách hàng của mình, dù trên thực tế các quỹ hưu trí và quỹ đầu tư thanh khoản mới là người mua hàng lớn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Kevin Kelly – 12 xu hướng làm thay đổi thế giới công nghệ – NXB ĐHKTQD 2018.